Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:31:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101053 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #60 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:05:32 pm »

lúa bớt đi vài cáp; Ngài sắc đem tên ấy chém ngay; dụ Đình thần rằng: "gần ở đây còn có đứa dám làm tệ như thế, thời biết rằng bọn tham đô chỗ nào cũng có, phải truyền dụ ra nghiêm cấm".

Mới đặt chức Tri phủ 4 phủ: Tân Bình, Định Viễn, Phước Long và Kiến An ở trấn Gia Định; cho Biên tu Hà Quyền, Phan Hữu Tánh, Võ Đức Khuê, Phan Bá Đạt thăng bổ chức ấy. Bọn Hà Quyền vào trước bệ từ tạ xin đi. Ngài dụ rằng: " Tấn sĩ triều ta từ bọn mầy là đầu, mà dân Gia Định biết nghĩa để dạy, phải nghĩ tuyên đức hóa khuyên phong tục, cho xứng ý ta".

Khi trước dân Thổ trấn Hưng Hóa là tên Lý Khai Ba làm giặc, tự xưng Lý Hoàng, dân Mọi theo nhiều; quan Tổng trấn sai Chưởng cơ thống quân Nguyễn Khắc Toản đi theo bờ phía bắc sông Thao, Nguyễn Đức Niên đi theo bờ phía nam, đều tấu quân lên; tư tờ cho quan Trấn thủ Tuyên Quang là Đào Văn Thành đem binh ứng tiếp; giặc giữ nơi hiểm yếu, thường chống với quân ta, ta phải thêm quan Quản thủ Quốc Oai là Phan Bá Hùng, Phấn võ vệ úy Lê Văn Túc đóng quân giữ, mà dục Nguyễn Khắc Toản tấn quân đánh. Đến khi Khắc Toản đến Điêm Khê, Thành đem quân tới hội, tấn quân đến động Cam Đàng đánh lấy được đồn giặc, chia quân đuổi theo phá luôn, bắt được Quốc lão giặc là Lý Văn Nhị và quân tiên phong hơn 10 người, lấy được giấy tờ, ấn tín và súng ống, khí giớ của giặc nhiều lắm. Báo tiệp lên, Ngài phát kho: hoa hồng, mộc hồng, tố sô sa, mỗi thứ 5 cây, giao cho quan Tổng trấn thưởng cấp Lý Khai Ba sau bị người Tàu là Vi Trung Tú bắt được giải nạp giặc Hưng Hóa đều yên.

Tháng 12, đổi dinh Quảng Đức làm phủ Thừa Thiên, Thanh Bình làm Ninh Bình, Sơn Nam Thượng làm Sơn Nam, Sơn Nam Hạ làm Nam Định, Kinh Bắc làm Bắc Ninh, Yên Quảng làm Quảng Yên; 3 phủ: Đức Thọ, Anh Sơn, Lý Nhân; 3 huyện: Phong Danh, Phúc Thọ, Hàm Yên đều đặt tên mới.

Năm Quý Vị thứ IV (1823), tháng giêng, mới định lệ thưởng các thọ quan, thọ dân.

Duyệt tuyển 4 trấn: Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận (Phú Yên, Bình Hòa được số nhiều mà Phú Yên nhiều hơn; những quan duyệt tuyển trấn Phú Yên được thưởng ký lục 2 thứ, quan duyệt tuyển trấn Bình Hòa một thứ).

Tháng 2, lại đào sông Vĩnh Tế, khiến Lê Văn Duyệt đổng lý việc ấy. Khi trước Duyệt nghe Hưng Hóa có giặc, mật tâu xin hoãn việc đào sông; đến nay thì giặc bình rồi, lại bắt binh dân đào nữa; chưa được bao lâu, Duyệt đau, Ngài khiến quan Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu thay việc cho Duyệt.

Lê Văn Duyệt tâu: "các chánh đội, Đội trưởng ở đồn Oai Viễn đều người Mọi cả, xin đặt tên họ cho chúng nó, để biến đổi thói Mọi". Ngài chuẩn y, lại cho áo mão để khuyên chúng nó.

Tháng 3, sách Ngự chế đế hệ kim sách làm xong. Từ khi tháng giêng, Ngài thân định bộ chữ nhật 20 chữ để truyền làm huy hiệu cho các vua nối sau; và Mỹ tự về hệ Hoàng thân, mỗi hệ 20 chữ, để phân biệt kẻ thân người sơ; ấy là bắt chước nhà Châu xưa, bói xem coi thử làm vua được mấy đời và mấy trăm năm.

Tháng 4, hoãn việc đào sông Vĩnh Tế. Vì nhơn đến tiết mùa Hạ, mà việc đào sông chỉ còn hơn 1.700 trượng, Ngài bèn truyền cho thôi đào, và thưởng hàng lụa cho Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu cùng bọn Giám tu và vua Chân Lạp còn bọn Phiên liêu đốc làm đó cũng cho quần áo; lại cho Duyệt một cái đai ngọc.

Cấm bọn Thị vệ khi phụng mạng sai ra việc gì, không được yêu sách.

Tháng 5, định quy trình dưỡng mông trong nhà Tập thiện (trường học các ông Hoàng Tử) cả thảy 12 điều; đều là Ngô Đình Giới nghĩ ra.

Tháng 6, tha thuế ruộng Thanh Hóa, Ninh Bình vì bị tai nạn.

Tháng 7, định trình hạn lệ hạch trường Quốc tử giám thượng tuần 4 tháng trọng (1) thời xét hạch, trung tuần tháng làm sổ tâu, chậm thời phải tham xử, lại sắc cho các địa phương phàm những cống cử Học sanh mà đã cho làm hạng Giám sanh thời tha thuế thân, lại cấp cho áo mão.

------------------
(1) Bốn tháng trọng là: tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #61 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:06:56 pm »

Trấn Nghệ An tâu xin trù tể. Ngài dụ bộ Hộ rằng: "trấn ấy đất xấu, dân nghèo, bị  mất mùa luôn, thuế lúa mùa trước đã cho nạp tiền, nhưng ta còn nghĩ dân cùng cũng như người đau lâu chưa khá, ta thương lắm, thuế thân năm nay 10 phần tha cho 5, tiền lúa còn thiếu, hoãn cho sang năm sẽ thâu".

Định lệ các địa phương tâu báo hỏa tai. Khi trước huyện Nghi Xuân, La Sơn, Chân Lộc ở trấn Nghệ An mà dân bị cháy cả thảy hết 682 nóc nhà, quan trấn tâu lên, Ngài khiến cấp cho mỗi nhà 2 quan tiền và 1 hộc lúa. Dụ cho quan địa phương rằng: "từ nay dân gian trong một ngày mà bị cháy lây từ 100 nhà trở lên, lệ nên chẩn cấp, thời phải tâu ngay; còn cháy tầm thườn, thời thôi".

Sửa viên tẩm của ông Anh duệ Hoàng Thái tử.

Tháng 8, quan Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt dâng biểu xin ra chầu, Ngài cho, khiến quan Thự tiền quân Trần Văn Năng làm Phó tổng trấn coi thay việc.

Khiến quan Tổng trấn Gia Định lựa những sanh đồ ở trấn hạt ai có thể làm việc quan được, thời sung bổ làm thơ lại 6 phòng.

Cho Thanh Hóa, Ninh Bình hoãn thuế thân mùa hạ 10 phần hoãn 5. Ngày lời dụ đến nơi, thời dân đã nạp gần xong, quan địa phương tâu lên. Ngài ban rằng: "ta nghĩ 2 hạt ấy không may bị tai hạn, nên gia ơn hoãn thuế; nay dân gấp việc lại sợ phép nước, mà đem nạp như thế, có lẽ nào không cho dân nhuần thấm ơn ta? Vậy thời thuế mùa đông này cho đóng như số ấy".

Kinh sư gió lớn mưa dữ, cột cờ trên kỳ đài gãy, Ngài khiến dựng lại, nhơn gió lại gãy; lại khiến làm cái khác và sắc cho lính thủ hộ rằng: "ba từng đài ấy ai không có cớ gì thời cấm không được lên".

Tháng 9, cho quan Phó đốc học là Nguyễn Đăng Sở làm Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Đăng Sở vào bệ kiến, Ngài hỏi: "học trò trấn Gia Định thế nào? -Tâu rằng: học trò xứ ấy nhiều kẻ toán tú, dễ dạy. - Ngài ban rằng: năm ngoái truyền cho Cống cử Học sanh, sao không thấy cử tên nào: - Tâu rằng: tờ sắc xuống không thấy hỏi đến học thần, nên tôi không dám việt chức mà cử". Ngài liền khiến quan Tổng trấn hỏi quan Đốc học lựa người nào nên sung cống thời tâu lên.

Định lệ thu thẩm: mỗi năm đến mùa thu xét việc hình, thời bộ Hình lục những tội trọng đứa tù đáng chết, chia làm 3 sổ: 10  Tình chân; 20    Hoãn quyết; 30    Căng nghi, giao cho các quan Đình thần duyệt cho kỹ, bàn lại tâu lên; cho quan Thiêm sự sáu bộ cũng được dự bàn việc ấy.

Tháng 10, năm ấy hạn và lụt, hoãn thuế cho phủ Thừa Thiên, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nghĩa, Quảng Nam, và Bình Định.

Định phẩm trật Tri phủ và Tri huyện (Tri phủ tùng ngũ phẩm, Đồng tri chánh lục, Tri huyện tùng lục).
 
Tháng 12, Đinh Phiên có tội phải cách chức (vì trấn thuộc là Hoàng Nghĩa Hựu, Nguyễn Văn Lược làm sắc thần mà còn để làm chữ hiệu của Ngụy Tây); con làm Tri phủ Bình Thuận là Đinh Văn Phác xin giải chức theo nuôi cha. Ngài cho.

Ngài cùng Thị trần bàn việc học, nhơn dạy rằng: "có một ngày ta chợt nhớ việc nhà Minh, mà quên tên người, hỏi các ngươi cũng không ai biết cả, hay chưa học sử Minh chăng?". Phan Huy Thực tâu rằng: "từ đời nhà Lê đến nay, học cử nghiệp chỉ đọc sử Hán, Đàng, Tống để mau đi thi mà thôi". Ngài ban rằng: "từ nhà Nguyên, nhà Minh đến nhà Thanh sáu bảy trăm năm, mà từ nhà Tống trở lên đã thành ra xưa lắm, bỏ gần cầu xa làm gì?". Hỏi quan Thiêm sự Lê Văn Đức, Đức tâu rằng: "chúng tôi cũng học cử nghiệp mà thôi". Ngài ban rằng: "đã lâu nay văn cử nghiệp làm cho người ta lầm như thế, ta nghĩ rằng văn chương vốn không nhất định, nay văn cử nghiệp chỉ câu nệ lối hủ lậu mà khoe với nhau, mỗi nhà lập riêng mỗi cách học, nhơn phẩm cao hay thấp, khoa trường lấy hay bỏ, đều theo nề nếp ấy. Lối học như thế, nên nhơn tài kém lần đi, nhưng thói quen đã lâu, đổi ngay cũng khó, vài năm sau sẽ lần lân bàn mà đổi lại".

Vua nước Diến Điện khiến Sứ qua thông hảo. Khi trước quan trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt khiến thuộc là Nguyễn Văn Độ đi thuyền buôn qua nước Hồng Mao mua đồ binh khí, nhơn gió trôi vào trấn Đào Oai nước Diến Điện, Diến Điện biết là người nước ta, hậu đã đưa về, khiến Bồi thần đem quốc thơ và phẩm vật qua dâng: (1 tấn vàng, 40 cái nhẫn, 1 hộp trầu sơn son, 1 chuỗi châu bất nhiên, 1 bức mền
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #62 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:08:45 pm »

tơ đỏ, đại hồng ti trừu, tố hông ti trừu mỗi thứ 2 bức), xin ta đừng giao hiếu với Xiêm nữa. Ngài nghĩ rằng: không nên bỏ tình giao hiếu mà gây sự cừu thù, không cho. Ngài lại nghĩ Sứ thần từ xa vượt biển mà tới, bèn trả đồ cống lại mà tặng hảo quốc vương và thưởng Sứ thần (tặng hảo quốc vương 32 cân quế, sa, lụa, hàng, trừu, mỗi thứ 100 cây, đàng cát 1.000 cân; thưởng Chánh sứ 100 lượng bạc, Phó sứ
80 lượng bạc, mỗi người một cái áo bào song khai bằng đoạn thêu hình mảng và một cái quần; cho Bồi sứ 5 người, mỗi người 60 lượng bạc, một cái áo nhung trung khai, và một cái quần; cho tùng quân 40 tên, mỗi tên 4 lượng bạc, một cái áo đoạn bỏ trung khai và một cái quần), làm tờ thơ đáp lại; chỉ lấy một cái nhẫn khảm bằng bửu thạch đó, để cho bằng lòng người Diến Điện mà thôi, khiến Quản cơ Nguyễn Văn Uẩn, Chánh tuần hải quận dinh Hoàng Trung Đông đem thuyền binh đưa Sứ đến giáp giới Diến Điện rồi về; lại đem việc ấy báo cho Xiêm biết, Xiêm đưa thơ qua tạ.

Năm Giáp Thân thứ V (1824), tháng giêng, khiến quan Tham tri bộ Hình là Võ Xuân Cẩn, Thủy quân là Hồ Tấn Hiệu, Thiêm sự là Nguyễn Công Đàm chia đi phát chẩn cho dân đói ở Nghệ An.

Tháng 2, trấn Thanh Hóa bị hạn, đất động, quan trấn không tâu; Ngài nghe, ban quở. Trấn ấy lại bị mất mùa, gạo kém, Ngài khiến phát lúa kho bán cho dân.

Lại đào sông Vĩnh Tế (năm ngoái còn lại 1.700 trượng, nay lại đào, đến tháng 5 mới xong, dựng bia làm ghi).

Lại định cấm thuế Nha phiến.

Tháng 4, tha thuế điền mùa hạ bị tai cho Thanh, Nghệ và Ninh Bình; Thanh Hóa thời tha cả; huyện Đông Thành ở Nghệ An cũng tha cả; còn huyện Quỳnh Lưu không có ruộng hạ, mà ruộng hạ Đông Thành thời bị hại lắm, truyền cho mượn lúa giống hơn 6.000 hộc.

Khiến Tổng trấn Bắc thành là Lê Chất thống lãnh 4 vệ lính Kinh, đi kinh lược các địa phương ở Thanh, Nghệ (hai trấn ấy đói, trộm cướp nổi lên).

Ban An dụ khắp trong ngoài, cho tha thuế khác nhau.

Vua nước Chân Lạp là Nặc Chân đưa thơ cho quan Bảo hộ Nguyễn Văn Thụy xin cắt đất 3 phủ: Lợi Kha Bát, Chân Sum, Mật Luật để trả ơn ôngThụy, cũng như việc trả ơn ông Mạc Thiên Tứ đời xưa. Thụy đem thơ ấy báo thành Gia Định, quan thành ấy tâu lên, Ngài khiến Đình thần bàn; Lê Văn Duyệt tâu rằng: "vua Chân Lạp không phải bản tâm báo ơn Thụy, chẳng qua vì người Xiêm nuôi em nó, nên nó muốn cho ta bảo hộ được bền vững đó thôi; ta mà nhận cả, thời giống như tham, mà người Xiêm có điều nói được; ta mà khước cả, thời e không phải ý đức Thế tổ Cao Hoàng đế ta trù nghĩ việc ngoài biên; vả lại đất 3 phủ ấy thời đất Lợi Ý Bát hơi xa, khước đi cũng phải, còn đất Chân Sum, Mật Luật thời ở chính giữa đất Châu Đốc và Giang Thành ta, xin nhận lấy đất mà đừng thâu thuế, khiến cho nó biết Triều đình ta chỉ  lo việc ngoài biên, không phải vì tham lợi, nhơn đó mà thương yêu dân, khiến chúng nó dầm thấm ơn ta, vui lòng thần phục, ngày sau cũng có thể dùng được; nay mà không lấy, ngoài biên nếu có việc gì, thời Châu Đốc, Hà Tiên ta chưa chắc giữ được, mà phiên lỵ thành Gia Định phải yếu". Trịnh Hoài Đức bàn rằng: "Duyệt bấy lâu nay giữ nơi trọng khốn, đã biết tình thế ngoài biên, xin châm chước mà dùng lời tâu ấy". Ngài cho phải, khiến Thụy nhận lấy dân phủ Chân Sum và Mật Luật, coi ngó dạy bảo, còn thuế thời cứ giao cho vua nước nó; nhưng phải làm tờ thơ mà đáp lại cho Chân Lạp.

Tháng 5, khiến quan Tổng trấn Bắc thành Lê Chất về lỵ sở (khi trước ông Chất phụng mạng đi Kinh lược Thanh, Nghệ).

Trấn Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây và Bắc Ninh từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa; lúa, khoai, đậu khô héo nhiều, mà dân không báo tai, trấn không có án khám, quan Tổng trấn đem tình trạng dân cực khổ tâu lên, Ngài truyền tùy bậc tha thuế.

Cho thân huân công thần lúc trung hưng cả thảy 10 người được tùng tự trong nhà Thế miếu.

Cho quan Lang trung bộ Lại là Nguyễn Công Trứ, quan Lang trung bộ Lễ là Thân Văn Quyên đều thọ chức Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Vì Hoàng Kim Hoán tâu: "hai ông ấy, một ông là khoa mục giỏi, một ông là cống cử có tiếng, có thể làm khuôn phép được". Nên Ngài mới bổ cho chức ấy.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #63 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:09:46 pm »

Tháng 6, sông Gia Định 6 ngày nước trong suốt hơn 10 dặm, quan Tổng trấn tâu lên, Ngài nghĩ sông trong hai lần, ấy là trời cho điềm tốt, càng kính sợ thêm; khiến quan lập một đàn kính tế.

Mới đánh thuế đinh đất Hà Tiên, dân Hán, dân Minh Hương khác nhau; còn sản nghiệp thời người Chân Lạp không so với dân Hán được, chỉ mỗi năm thâu tiền suất đinh mà thôi.

Tháng 7 nhuận, cho dân đói trấn Hải Dương mượn lúa.

Tháng 8, nước Xiêm khiến Sứ tới cáo tang vua Phật vương, quanTổng trấn Gia Định tâu lên, Ngài khiến bãi triều 3 ngày. Sứ Xiêm đến Kinh, Ngài cho lên điện, ban hỏi rằng: "Xiêm với Diến Điện thù oán đời đời, nay Hồng Mao đánh Diến Điện, nếu được thời chắc sẽ đánh luôn đến Xiêm, vậy thời Xiêm có thể lo, không thể mừng đâu". Bèn hậu đãi cho về, liền khiến Sứ đem đồ tới điếu.

Chưởng cơ Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Văn Thắng dâng sớ xin về nước; Ngài cho.

Lại định thuế kim hộ Quảng Nam: Định thuế vàng mỗi năm một người nạp 3 đông 3 phân, tha khỏi thuế thân.

Tháng 10, tha thuế ruộng mùa thu bị tai cho huyện Đông Thành ở Nghệ An, lại hoãn đòi lúa giống cho mượn khi trước.

Tháng 11, quan Thị đốc học sĩ hưu trí là Trần Văn Tuân có tội phải giảo giam hậu. Tuân khi trước bảo hộ nước Chân Lạp, người Chân Lạp tin yêu; đến khi về Gia Định, người Chân Lạp thường qua lại đưa đồ và hỏi thăm; gặp khi ấy có tên Thông ngôn Lê Văn Chân riêng qua đất Chân Lạp. Lê Văn Duyệt bắt được, nhơn lấy được thơ vua Chân Lạp đưa cho Văn Tuân, mới đem việc ấy tâu tham, xin cứ luật "Giao thông ngoại cảnh" mà nghĩ trị.

Tháng 12, nước Đại Pháp khiến người đem Quốc thơ và phẩm vật tới xin thông hiếu, tàu đến cửa Đà Nẵng, quan dinh Quảng Nam tâu lên, Ngài ban rằng: "nước Pháp với Anh Cát Lợi thù nhau, năm truớc nước Anh thường cầu nạp khoản, ta khước không chịu, nay có lẽ nào cho nước Pháp thông hiếu nhưng ta nghĩ đức Hoàng khảo ta khi mới khai quôc, có khiến ông Anh Duệ thái tử qua nước Pháp, vẫn có ơn cũ, nếu khước ngay đi, e không phải ý đãi người xa". Bèn khiến làm tờ thơ sở Thương bạc trả lời và thưởng cấp cho về; còn quốc thơ và phẩm vật không cho dâng lên.

Quan thành Gia Định tâu: "Đạo Quang Hóa giáp với Chân Lạp, ngoài tiếp Thuận Thành, trên thông Ai Lao, thành ấy rất là quan yếu, nhơn nay yên lặng, nên phải giữ phòng; xin lượng trích dân phụ cận 50 người lựa bổ vào lính Phiên bình hậu cơ, thúc làm đội nhì Phiên võ, để cho người quen thủy thổ và tiện phòng giữ". Ngài theo lời tâu.

Ưng hòa công là Mỹ Đàng có tội, truất làm thứ nhơn (Mỹ Đàng là con ông Anh Duệ). Năm Ất Dậu thứ VI (1825), tháng giêng, tha thuế thân năm ấy cho trong ngoài các trấn.
Khiến quan Quốc tử giám lựa cử Giám sanh tùy tài mà dùng. Quan tế tửu Trần Trọng Tuân, Tư nghiệp Thân Văn Quyền vì dạy bảo không chăm, tuyển cử không tinh, phải truất; khiến các quan xét hạch sanh viên, phân biệt kẻ hay người dở, hạng ưu là bọn Nguyễn Quốc Tá 7 người, cho thọ làm Khiển thảo; hạng bình ở lại học; hạng thứ đình một tháng bổng; còn hạng liệt thời thải về.

Tháng 2, mới đặt chức Tri huyện huyện Long Xuyên và Kiên Giang.

Hiệp tá đại học sĩ Trịnh Hoài Đức mất. Trịnh Hoài Đức là trọng thần trong nước, khi mới trung hưng, được yêu dùng nhiều; đi sứ nước Đại Thanh, cầm quyền thành Gia Định, công nghiệp rỡ ràng; kịp khi mất, Ngài thương tiếc lắm, tặng cho chức Thiếu bảo Cần chánh đại học sĩ, tên Thụy là Văn Khắc, cho tế và cấp tuất hậu lắm.

Tháng 3, đào sông Vĩnh Định ở Quảng Trị. Vì bấy giờ các trấn lâu không mưa, giá gạo hơi cao, Triều đình bàn khởi việc công dịch để lấy tiền nuôi dân. Sông đào xong, tùy bậc thưởng cấp.

Tháng 4,  trấn Thanh, Nghệ giá gạo hạ mau lắm, quan trấn chưa tâu báo, Ngài ban dụ quở. Cách vài ngày tờ tâu đến, Ngài xem mừng lắm; nhơn sắc cho các địa phương cứ giá gạo nơi lỵ sở, một
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #64 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:12:30 pm »

tháng tâu một lần; gặp có gió, mưa, hạn, lụt khác thường, phải cứ biệt tập tâu ngay, do tòa Khâm thiên giám chuyển tâu lên.

Ngài ngự tuần thú dinh Quảng Nam. Ngày Ất Vị từ Kinh sư ra đi, ngày Đinh Dậu qua núi Hải Vân, rồi đi biển đến cửa Đà Nẵng. Bấy giờ có tàu buôn Thái Tây nghe thuyền Ngài đến, phát 21 tiếng súng mừng, là theo quốc tục lễ mừng vua. Ngài khiến đem trâu và ngựa ra cho. Ngày Mậu Tuất thuyền Ngài đến bến Hóa Quê, ngự lên núi Ngũ Hành; ngày Canh Tí đến dinh Quảng Nam, tha thuế thân toàn hạt ấy 10 phần cho 3 phần; ngày Quý Mão trở về; tùy bậc thưởng tiền cho lính hầu ngự.

Lại đào sông Vĩnh Điện. Ngài đi nam tuần xem thấy đàng sông hẹp, nên khiến đào cho sâu.

Mới chế tiền đồng nặng 9 phân; vì nghĩ chất tiền mỏng thời hay hư, mới ban thức cho trường đúc tiền ở Kinh và cuộc Bảo tuyền (1) ở Bắc thành đúc lại; còn thứ tiền đồng cũ nặng sáu phân thời không dùng nữa, chỉ có tiền kẽm nặng sáu phân thời cứ tiêu dùng như cũ.
Đồn Oai Viễn tại Gia Định xin cải đồ y phục theo như tục Hán; Lê Văn Duyệt tâu lên, Ngài cho. Tháng 7, có năm huyện ở Hải Dương, Nam Định thuộc về Bắc thành, nhơn trời hạn, nước mặn lên, có nơi không cấy được, có nơi cấy mà bị hạn, quan Tổng trấn tâu lên, Ngài khiến khám xét nơi nào không cấy được thời tha thuế, nơi nào tổn hại thời cứ lệ mà tha cho.

Trấn Nghệ An, Nam Định bị gió bão, thuyền chìm, nhà hư, người chết đuối nhiều, Ngài khiến phát tiền chẩn cấp.

Ngày Giáp Tuất, sao Chổi mọc phương đông nam, về phần sao Mão, chỉ qua Tây Bắc, sau lần lần nhỏ lại, đến đầu tháng 11 mới lặn.

Tháng 9, lại định phép dạy, phép khảo, phép hạch, phép thi học trò và phân biệt các học thần kẻ hay người dở. Các phép ấy kể từ năm thứ 7 hiệu Minh Mạng thi hành là đầu.

Tháng 10, trấn Nghệ An có trộm cướp, Ngài cho Trương Văn Minh làm Trấn thủ, Nguyễn Đức Nhuận làm Tham hiệp. Nhuận đến trấn rồi, trộm càng nhiều, Nhuận tự xin đem binh trong trấn tùy cơ nã bắt. Ngài cho.

Định lệ quan văn quan võ các trấn xin ý kiến nhau (vì bấy giờ quan văn quan võ lấy phẩm hàm chống nhau, vậy nên mới định từ nay phàm quan Hiệp trấn và Tham hiệp tới lỵ sở, mà thuộc biền đến yết kiến, nếu thuộc biền hàm cao, thời làm lễ hai ấp, quan văn đáp lại 4 ấp; hàm ngang nhau, thời làm lễ 4 lạy, quan văn cũng 4 ấp; hàm thấp thua phải 4 lạy; quan văn cứ ngồi chấp tay giơ lên).

Tháng 11, quan thành Gia Định tâu: "Sổ đinh biệt nạp trong hạt chỉ có dân hạng tráng, hạng lão và hạng tàn tật mà thôi; mà Minh Hương lại có hạng cùng khỏi thuế; vả chăng trong 10 đinh thời được kể một tên cùng, là lệ dân thiệt nạp, nay Minh Hương cũng biệt nạp như dân khác, thời giống như bên khinh bên trọng; xin phàm trong sổ những hạng cùng đem làm hạng tráng cả, cứ lệ mà lấy thuế". Ngài theo lời tâu.

Quan Tế tửu Quốc tử giám là Phan Bảo Định điều trần 5 việc: 1. là mở kinh diên; 2. là trừ trộm cướp; 3. là nghiêm răn việc tang hối; 4. là cấm cờ bạc; 5. là định lệ tuần ty thâu thuế (xin sai thuộc viên biền binh thâu thuế chánh cung, nếu có kẻ cướp thời hiệp với lính đồn nã bắt, vậy thời làm một việc mà được hai). Ngài ban khen.

Năm Bính Tuất thứ VII (1826), tháng giêng, đòi hiệp trấn Nghệ An Võ Xuân Cẩn về Kinh để thăng chức khác, đem Tham tri Nguyễn Khoa Hào thay chức.

Quan Bắc thành tâu: "Trong 13 huyện trấn Hải Dương nhơn đói lưu tán hết 108 làng, ruộng bỏ hoang hết 12.700 mẫu, thuế mùa đông năm ngoái không lấy gì nạp được". Ngài khiến tha thuế cả.

Khiến Trấn thủ Bình Hòa Nguyên Văn Quế, Trấn thủ Phú Yên Trương Văn Chánh, Trấn thủ Thuận Thành Nguyễn Văn Vĩnh chia 3 đạo quân tới đánh giặc Mọi.

--------------------
(1) Bảo tuyền là cuộc đúc tiền.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #65 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:13:44 pm »

Tháng 2, ngự Thổ trấn Nam Định là Võ Đức Cát (nguyên nó làm Thủ ngự ở đồn Ba Thắc, vì con nó giết người nên phải cách) củ  tập bọn Phan Bá Vành, Nguyễn Hạnh mưu khởi ngụy, cướp phủ Trà Lý và Lân Hải; Thủ ngự Đặng Đình Miễn, Nguyễn Trung Diễn bị hại; Trấn thủ Lê Mậu Cúc đánh với nó bị chết; quan quân chết vài mươi người, còn thời tan chạy cả; súng, khí giới, thuyền mất hết. Quan Tổng trấn nghe báo, liền khiến Thống chế Trương Phúc Đặng theo đánh giặc tan, làng Đông Hào (về huyện Giao Thủy) bắt được Võ Đức Cát đem nạp, giết ngay.

Hữu Tham tri bộ Hình Nguyễn Hựu Nghi và Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh bị truất: vì mùa thu năm ngoái đi chấm trường Nghệ An trái phép, phái quan trấn là Võ Xuân Cẩn tâu tham.

Tháng 3, mới đặt lính Giáo dưỡng: cho từ con Suất đội trở lên tình nguyện thời cấp cho lương tháng, khiến quan Đại thần chuyên quản, cho  học võ nghệ.

Tháng 4, Ngài ngự tới dinh Quảng Bình, tha thuế thân năm ấy cho dinh Quảng Bình, Quảng Trị, 10 phần cho 3. Lại nghĩ hai hạt ấy tiết thứ báo tai, tha khỏi khám và tha thuế điền 10 phần cho 5.

Tháng 5, đặt vệ quân Kiên hùng ở Hà Tiên. Hà Tiên có dân Chân Lạp biệt nạp, hơn 500 người, quan thành Gia Định xin thúc làm 10 đội; đặt một Chánh đội, một phó đội, một Trưởng chi, theo như lệ đồn Oai Viễn; phàm những họ, tên đều đổi tiếng Mọi mà dùng chữ Hán. Ngài cho.

Tháng 6, giặc Thổ ở Thanh, Nghệ đều yên, tướng giặc Ninh Đăng Tạo trốn xa; Ngài khiến triệt binh về. Sau tên Tạo đến Bắc thành đầu thú, đem giết ngay.

Tháng 7, Gia Định có bệnh dịch, binh và dân chết đến 18.000 người; từ Bình Thuận đến Quảng Bình báo tai. Ngài khiến lập đàn tế cầu tại Kinh, các trấn đều lập đàn tế cả; lại tha thuế năm ấy cho Gia Định.

Chưởng hậu quân Quận công Lê Chất mất. Ngài thương xót, đình triều 3 ngày, tặng chức Thiếu phó thụy là Đõng Nghị.

Nước Xiêm khiến Sứ qua tạ ơn và báo tang Tổ mẫu trong nước. Khi Sứ tới Kinh, Ngài thong thả hỏi rằng: "Hồng Mao với Diến Điện sắp đánh nhau, ta nghĩ như để hai nước nó giữ nhau, thời Xiêm tính việc trong nước được; nếu có một bên được, thời Xiêm có thể không yên". Rồi hậu tặng cho về.

Ngài mở địa đồ chỉ bảo các quan rằng: "Ta nghe Xiêm La với Hồng Mao cấu kích nhau; nếu đánh nhau, thời đất Hà Tiên là nơi hai nước xung đột, ta nên trù tính thế nào mà phòng bị; huống Xiêm là lân hiếu với ta, như nó cấn nạp, nên cứu hay không, thiệt là khó xử".

Thuyền chủ nước Đại Pháp là Cốt Tu My tới buôn ở cửa Đà Nẵng, đem dâng đồ hóa vật của Nguyễn Văn Chấn gởi qua; Ngài khiến đem để vào kho, mà trả giá 7.680 lượng bạc; lại tha thuế thuyền nhập cảng 10 phần cho 5; phát phẩm vật trong kho gởi cho ông Chấn, ông Thắng và gởi sắc dụ hỏi thăm.

Định lại lệ thuế xã Minh Hương biệt nạp ở các xứ: nỗi người nạp một năm hai lượng bạc, dân đinh già yếu cho nạp một nữa, dungg dịch thời tha cả.

Định điền thuế người Tàu ở Gia Định. Đất Gia Định núi chầm nhiều lợi, người tỉnh Mân, Quảng đến ở ngày càng đông, làm nghề buôn, nghề ruộng, mỗi năm nạp tiền dung dịch mỗi người 6 quan 6 tiền, hạng cùng làm thuê thời tha thuế; nhưng thường năm xét người nào có tư cơ thời mới lấy thuế.

Thuộc hạt trấn Hải Dương thường năm mất mùa luôn, giặc phá, dân lưu tán; quan Tổng trấn không tâu. Ngài dụ ban quở. Nguyễn Hữu Thận mới trích những sự cực khổ 37 làng tâu lên. Ngài khiến những thuế phải nạp năm ấy và tiền lúa năm trước còn thiếu đều tha cả.

Tháng 8, cấp cho Khâm thiên giám một cái Phong vũ xích và một cái Hàn thử xích; lại cấp cho thành Gia Định mỗi thứ hai cái và cho xứ Cực bắc là trấn Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cực nam là 3 trấn Hà Tiên mỗi trấn một cái Hàn thử xích để trắc nghiệm, cuối năm hội biên đưa về Bộ để tâu.

Cho Lễ Chung tập phong tước Ứng Hòa hầu, ban sách mạng để chủ việc tế ông Anh Duệ hoàng thái tử.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #66 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:14:47 pm »

Thuyền buôn nước Anh Cát Lợi bị nạn đậu tại BìnhThuận, Ngài khiến quan trấn đem tiền gạo cấp cho; rồi bọn nó có 7 người thiện tiện qua thành Gia Định, Ngài khiến đưa vào Gia Định cả, chờ gió thuận đưa về.
Tháng 9, trong Kinh kỳ bị lụt, bão, nước tràn; Nam, Nghĩa cũng báo tai; Ngài khiến chẩn cấp. Tháng 10, phân phái những Cống giám đậu Khiêu hơn 60 người ra hậu bổ Tri huyện các thành,
dinh, trấn, để học tập chánh sự, huyện nào khuyết thời cho đi quyền, làm việc giỏi thời cho thiệt thọ
ngay. Ngài cho bọn ấy bái kiến tại Đông Các, đinh ninh cáo dụ: trước dạy nghĩa vua tôi, cha con, sau dạy đạo làm quan tận chức; rồi mỗi người 20 lượng bạc và cho đi trạm; những Hương cống hậu bổ ấy số người Nghệ An nhiều hơn, Ngài mới ban hỏi quan Tham tri Phan Huy Thực, Thực tâu rằng: "học trò Nghệ An chăm học nhiều hơn". Ngài ban rằng: "ta xem người Nghệ An khí phách hào mại, trừ Phú Xuân, Gia Định ra, còn các trấn đều tha cả, nên Liệt thánh xưa lựa thân binh người Nghệ An phần nhiều".

Khiến dân châu Bố Chánh ở Quảng Bình đổi cách ăn mặc.

Tháng 11, mới định lệ thưởng phạt về việc hình án hơn kém, kể từ tháng giêng hiệu Minh Mạng thứ 8 làm đầu (như những kiện: mạng, trộm, địa giới, trộm trâm, giảo, thời trong 3 tháng kết án cho xong).

Tặng cho Tri huyện Phù Ninh ở Sơn Tây là Nguyễn Thế Cát hàm đồng Tri phủ. Bấy giờ tướng giặc ở Sơn Tây là Lê Trọng Liên ăn cướp làng Viên Lãng, hạt Phù Ninh, dân làng bắt được đảng ấy 6 tên; Thế Cát qua khám giải về, đi qua đàng Tử Đà, giặc xông ra đánh, cướp lấy tù, Cát bị hại; việc tâu lên, Ngài ban gia ơn truy tặng và cho tiền 50 quan. Sau quan dinh bắt được tên Liên, đem giết (Thế Cát sau được liệt tự vào miếu trung nghĩa).

Tháng 12, giặc Thổ ở Nam Định là Phan Bá Vành với Nguyễn Hạnh (ngụy xưng Hữu quân) đem hơn 5.000 quân xâm cướp các huyện Nghi Dương và Tiên Minh ở Hải Dương; lại liên  kết với đảng Tàu Ô cướp ngoài biển, chống với quan quân, quan Trấn thủ là Nguyễn Đăng Huyên đánh không được, quan Tổng trấn Bắc thành tâu lên, Ngài thăng cho Trương Văn Minh  hàm Tiền phong đô Thống chế chuyên quản lính Bắc thành, hiệp đồng với Nguyễn Hữu Thận coi việc quân.

Chuẩn cho quan Tham hiệp Thanh Hóa là Nguyễn Công Trứ, Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Hữu Thận, Trương Văn Minh tham tán việc quân; binh Nghệ An thời giao cho Đức Nhuận đem qua sai phái; khiến Quản cơ Thanh Hóa là Võ Văn Bảo coi 4 chiếc thuyền quân; Quản cơ Nghệ An là Trương VănTín coi 14 chiếc, mau tới Hải Dương hội hiệu.

Năm Đinh Hợi thứ VIII (1827), tháng giêng, Hoàng hậu lục tuần đại khánh tiết, ban 13 điều ân chiếu ra trong ngoài.

Khiến quan trấn Nam Định xét thiệt trạng quan, lại, binh, dân tâu lên.

Phan Bá Vành lại tụ chúng ở phủ Thiên Trường và Kiến Xương, quan Bắc thành xin phái thêm lính Kinh với thuyền và súng cho mạnh thêm thế quân. Ngài khiến quan Hậu quân phó tướng Ngô Văn Vĩnh đem quân Hậu bảo Vệ nhì qua Bắc thành hội tiễu, lại phái Trung dinh Tả dinh vệ quân Thần sách ở Nghệ An mỗi dinh một viên Vệ úy theo sai phái ngoài Bắc thành.

Tháng 2, cho Thân Văn Duy quyền coi tào binh Bắc thành, nhưng cho tham tá việc quân. Duy thấy giặc lâu chưa yên, dâng sớ xin đi, Ngài khen mà cho.

Tên Vành đem quân vây Phạm Đình Bửu ở chợ Quán. Phạm Văn Lý, Nguyễn Công Trứ chia 3 đạo quân tới cứu, trong ngoài giáp đánh, giặc tan, Vành chạy vào làng Trà Lũ, đắp thành, đào hào, làm mưu cố giữ.

Giặc Thổ ở Gia Định yên. Vành ở làng Trà Lũ, quan quân vây giữ thế nó cùng, toan nhơn đêm chạy ra biển, phái Phan Bá Hùng đón giữ, quan quân thẳng vào đến nơi, bắt được tên Vành và đảng nó hơn 760 người, thuyền và súng lấy được hết, tờ báo tiệp tâu lên, Ngài tùy bậc ban thưởng.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #67 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:16:03 pm »

Tháng 3, khiến quan Thống chế lãnh Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu, Hình bộ Thượng thơ là Hoàng Kim Xán kinh lược trấn Sơn Nam và Nam Định,Thân Văn Duy tham tá việc kinh lược; khiến đình thần bàn mấy điều khoản: "thương yêu dân điêu tàn, chỉnh đốn các quan lại"; chuẩn cho thi hành.

Vạn Tượng với Xiêm đánh nhau, Ngài nghĩ thượng đạo Cam Lộ thông với Xiêm, bèn khiến Quản đạo Tống Văn Uyển dò xét việc ấy.

Ứng Hòa hầu Lệ Chung đổi phong làm Thái Bình hầu.

Tháng 4, các quan Kinh lược đến Nam Định, xét hỏi những điều cực khổ dân, nơi nào bị giặc phá đốt thời cấp tiền lúa, nơi nào bị hại thời cho tiền tuất; xét việc kiện cáo và việc gian tham, quan lại ai cũng sợ hãi. Chánh án ở  Nam Định là Phạm Thanh, thơ ký Bùi Khắc Kham tham nhũng lắm, khiến giải đến chợ chém ngang lưng, tịch gia sản phát cho dân cùng; Tri phủ Nguyễn Công Tuy tham tàng, tội phải chết; lại xét Đồng tri phủ Ưng Hòa là Phạm Thọ Vực, Tri huyện Đại An Nguyễn Văn Nghiêm để nha lại làm những điều tệ, phải cách chức cả; còn những người nào không xứng chức cũng phải bãi về hết thảy.

Đúc lại tiền đồng lớn hiệu Gia Long thông bửu, cứ nặng một đồng cân làm chừng (là muốn tỏ rõ mỹ hiệu Hoàng Khảo Cao Hoàng Đế cho lâu dài).
Tháng 5, mới đúc tiền đồng lớn hiệu Minh Mạng thông bửu, cứ nặng một đồng cân làm chừng. Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nổ đánh với Xiêm bị thua, con là Chiêu Ba Thắc bị Xiêm bắt, A Nổ chạy ra Tam Động xin phụ làm dân ngoài biên, dâng chức cống, để cầu cứu. Ngài khiến đem lính Thanh, Nghệ giữ bờ cõi nước mình.

Khiến quan Thống chế dinh Long Võ là Phan Văn Thúy sung chức Kinh lược biên vụ đại thần, khiến lãnh chức Trấn thủ Nghệ An; Phó tướng Nguyễn Văn Xuân sung chức Bang tá đại thần; Đoàn Văn Trường, Lê Văn Xuân sung chức Bang tá đại thần; Đoàn Văn Trường, Lê Văn Quyền đều sung chức Bang tá; Thượng thơ Trần Lợi Trinh sung chức Tham tán, đem 2.000 lính Kinh, 30 con voi; lại khiến quan Thái y đi theo quân điều hộ, tới cứu Vạn Tượng và phòng giữ Xiêm.

Tháng 5 nhuận, người Xiêm đánh tiếng: trước lấy Vạn Tượng rồi sau lấy Lạc Hoàn. Ngài dục bọn Phan Văn Thúy tấn quân và đưa thơ cho A Nỗ, nói rằng: "quan binh đã tới đó, thêm quân đóng giữ, ngươi nên chọn nơi đóng vững, đừng sợ gì".

Khi trước Nguyễn Văn Chấn có dâng hai cái thước đồng Thái Tây tên là Đồng Nhật Khuy, Ngài để một cái trong cung, một cái cho Khâm thiên giám, chưa ai biết phép dùng thế nào. Ngài thường thong thả xem, biết được phép, mới bảo Phan Huy Thực, Nguyễn Danh Bi rằng: "thước đồng nầy bằng, nghiêng, cao, thấp, phân biệt độ số, gần thời đo được núi non, xa thời xem được trời đất, phép tài lắm". Nhơn chỉ bảo rõ ràng, khiến tự suy nghiệm.

Cho giảm thuế ruộng trấn Định Trường, Sơn Nam, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương; vì mùa đông năm ngoái phải tai hạn, sắc cho các trấn dâng án khám rồi sẽ nghĩ cho giảm, mà trấn Định Tường đã khiến dân nạp xong rồi, Ngài cho chiếu theo số được giảm, để khấu thuế năm sau, mà phạt bổng quan trấn.

Phan Văn Thúy đến Nghệ An, ủy cho Nguyễn Văn Xuân, Lê Văn Quyền tấn quân đóng ở đất Kỳ Sơn, Đoàn Văn Trường đóng quân ở đất Quy Hợp, Nguyễn Công Tiệp tá lý việc quân; Thúy đem quân tiếp đến, khiến người đi mật thám, thời lính Xiêm đã đi rồi, người mật thám đến thành Vạn Tượng đưa thơ rồi trở về.

Đoàn Văn Trường từ Quy Hợp tấn quân đóng Tam Động, A Nỗ nghe quan binh đến, lại về ở Tam Động.
 
Kinh lược sứ Nguyễn Văn Hiếu tâu xin trù tể trấn Sơn Nam và Nam Định, Ngài khiến tha thuế năm nay và thuế còn thiếu năm trước, binh diêu tạp dịch cũng đều hoãn cho cả.

Tháng 6, tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Nội xin theo ngạch dân mình. Trấn Ninh nguyên thuộc về nước ta, đời Gia Long mới đem đất ấy cho Vạn Tượng; đến đây Nam Chưởng nhờ thanh thế Xiêm tới xâm Trấn Ninh, vừa người mật thám ta đến, Chiêu Nội lại mưu theo về nước ta và xin tân binh để ngăn
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #68 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:17:15 pm »

Nam Chưởng. Ngài dụ cho bọn Nguyễn Văn Xuân qua Trấn Ninh đóng quân giữ'; bọn Văn Xuân khiến Vệ úy Tạ Quang Cự, Nguyễn Văn Linh đem 600 lính đi trước; nhơn tâu rằng: "từ Kỳ Sơn đến Trấn Ninh, khe núi hiểm mà cao, vận chở không được". Ngài dụ rằng: "Trấn Ninh trả về ta, ta nhơn mà chịu lấy, danh nghĩa rất đáng, huống chi rộng được bờ cõi cho ta, mạnh được phiên hàn cho ta, cơ hội ấy không nên bỏ mất. Nay đồn Lãn Điền hiện chứa muối gạo hơn 3.000 phương, vận qua cũng tiếp được, nên trước khiến người truyền bảo cho Chiêu Nội, phải chứa lương cho nhiều; Lê Văn Quyền đóng lại Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Trinh lập tức lựa tinh binh tấn phát, mỗi người mang lương và bạc mà qua; hễ ngày nào đến nơi thời trù lương hướng, sửa thành đồn, yêu ủy cho dân Mọi sở tại, hỏi cho rõ những các ngạch thuế đất đai và dân đinh, mà nhứt thiết những công việc sắp đặt ngày về sau, thời tùy việc tâu lên".

Ngài cùng các quan bàn việc ngoài biên rằng: "đất Trấn Ninh hiểm yếu, khi trước Lê Duy Mật giữ đó được hơn 30 năm hình thế rất hiểm; chỉ có việc Vạn Tượng thiệt khó xử mà thôi; nay nên đưa thơ cho Xiêm, rồi sẽ liệu lý mới phải". Thống chế Trần Văn Long tâu rằng: "Xiêm là lân quốc ta, nay dùng binh mà không nói với ta, ấy là giấu ta, thời ta giả như không biết, đưa A Nỗ về nước, còn phải đưa thơ làm gì". Tống Phúc Lương tâu rằng: "Xiêm cùng ta giao hiếu đã lâu, ta giúp Vạn Tượng mà không đưa thơ cho Xiêm, thời được bên này mất bên kia, không phải kế vẹn toàn, xin nghĩ cho kỹ".

Định lệ mỗi năm cấp tiền công nhu cho lục Bộ các nha (năm ấy tiền đầu đèn tốn hết 1.000 quan).

Tháng 7, nước Xiêm nghe quân ta đến gần cõi, mới để lại vài trăm lính cùng với em A Nỗ là Ấp
 
Ma Hạt đóng ở thành Vạn Tượng; còn bao nhiêu đem về cả. Ngài nghe từng việc ấy, dụ cho Đoàn Văn Trường lựa 1.000 lính tinh tráng ở lại giữ Quy Hợp, Phan Văn Thúy đem đại đội binh tượng về thành Nghệ An nghỉ ngơi.

Nguyễn Văn Xuân, Trần Lợi Trinh đem quân đến Trấn Ninh, quan Nam Chưởng nghe tiếng bỏ đi rồi quân ta lượng để lónh khỏe mạnh 300 đóng lại giữ, bọn Văn Xuân đều triệt quân về Nghệ An, cho Quốc trượng Vạn Tượng là A Nỗ trú ở công quán Nghệ An, khiến A Nỗ cho đứa con Ấp Ma Hạt về, để xem tình thế thế nào (nguyên mẹ con Ma Hạt 4 người theo A Nỗ chạy về mình).

Bắc thành lụt lớn, Sơn Tây, Sơn Nam và Nam Định vỡ đê, ruộng ngập, người chết đuối nhiều; quan Bắc thành phái người đi phát chẩn và đem việc ấy tâu lên, Ngài dụ cho quan trấn cấp thêm.

Tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Nội biên những số dân và đất đai trong hạt đem dâng (đinh 3.000 người, ruộng 28 sở) xin định lệ cống. Ngài cho Chiêu Nội làm chức Phòng ngự sứ, quản lý việc phủ Trấn Ninh; còn Thổ mục 7 huyện thời đều cho làm chức Thổ tri huyện, huyện thừa, đều dụ khiến cho giữ đất trị dân, kính tuân triều cống, cấm không được theo làm việc với Vạn Tượng nữa.

Tháng 9, khiến quan Giám thành Lê Đức Lộc, Nguyễn Công Tấn đem binh trấn Nghệ An, một đàng theo Quy Hợp qua Lạc Hoàn, một đàng theo Lãng Điền qua Trấn Ninh, đều thẳng đến thành Vạn Tượng; phàm đi qua núi sông nào hình thế hiểm yếu hay là bình dị và dân cư xa hay gần, nhà ở nhiều hay ít, đều phải vẽ đồ dâng lên.

Tháng 10, lại truyền dụ khuyên răn những tệ cũ của quan lại ngoài Bắc thành.

Tháng 11, mới định lệ cấp tiền công nhu cho địa phương, chiếu theo nơi nhiều việc, ít việc mà cấp (lệ cũ: lấy tiền mân trong thuế đinh, tiền thập vật trong thuế điền mà dùng, nay nạp về kho cả).

Có 3 tên Tù trưởng Mọi huyện Cam Cát, Cam Môn, Cam Linh về châu Trịnh Cao phủ Ngọc Ma trấn Nghệ An tới dâng đồn thổ sản, xin nội thuộc và chức cống. Ngài đều cấp cho dấu kiềm bằng gỗ, đồ ký bằng đồng, phong chức Thổ tri huyện, Huyện thừa, lại thưởng cho bạc; còn lễ cống cho sang năm sẽ hay.

Hoàng thái hậu lục tuần đạo khánh tiết, nước Chân Lạp khiến Sứ dâng lễ khánh hạ (đậu khấu, sa nhơn, cánh kiến, mỗi thứ 5 cân, 2 cái ngà voi, 2 cái sừng tê ngu, 2 đôi lộc nhung. Lạc Hoàn, Tam Động mỗi châu dâng 4 cái ngà voi, 1 cái sừng tê ngu).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #69 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:18:37 pm »

Tháng 12, đặt 9 châu, 15 tổng về đạo Cam Lộ. Lúc bấy giờ các Mọi dâng sổ đinh, điền; dân đinh được 10.790 người, ruộng được 922 xứ. Ngài cho Sà trưởng đều làm Tri châu; Thổ đầu mục đều làm Chánh tổng.

Mới cấp tiền công nhu cho phủ; huyện; còn tiền lệ lấy của dân nhất thiết bãi hết. Khi trước tính lệ không có lương, nay cũng cho phân ban mà chi cấp.

Năm Mậu Tý thứ IX (1828), tháng giêng, trấn Hưng Hóa thám nghe nước Nam Chưởng chứa lương nơi biên địa, mưu phạm phủ Trấn Ninh, bèn đem việc ấy vào tâu; Ngài nghĩ Trấn Ninh mới phụ, làm thế nào để yên cho nó, mới cho quan Tư vụ Nguyễn Văn Lễ cải làm chức Cẩm y vệ hiệu úy, qua đó trú phòng; khởi phục Nguyễn Văn Hưng, Đinh Pbiên làm chức Chủ bộ, bang tá việc trú phòng; lại khiến phái 100 lính thần sách ở Nghệ An theo đi thú, bổng lương thời cứ quan Phòng ngự sử là Chiêu Nội cung cấp.
Tháng 2, mới mở ruộng tịch điền (1).

Tháng 3, châu Mang Vinh về phủ Cam Lộ dinh Quảng Trị có tên phạm trốn là A Điền Cáo họp 600 người Mọi phá dân châu ấy. Quan trấn khiến Nguyễn Văn Thạch đem quân đánh và dâng sớ về tâu. Ngài khiến Phó vệ úy Tôn Thất Chư đem quan Hiệp trấn Nguyễn Công Đàm qua Cam Lộ trấn áp. Thị lang bộ Lễ là Hà Quyền nghĩ mình từng coi việc nơi biên khổn, giữ gìn không cẩn thận, để cho tên Cáo vượt ngục trốn, làm hại dân ngoài biên, bèn dâng sớ nhận tội, xin đi. Ngài khen mà cho. Quyền đến Mang Vinh, Cáo nghe tiếng trốn trước, Quyền chiêu yên dân Thổ, khiến cho trở về  làm ăn, rồi Quyền về Kinh.

Cho Thị lang Nguyễn Công Trứ làm chứ Dinh điền sứ. Khi trước Công Trứ dâng tờ sớ xin 3 điều: 10 nghiêm phép cấm để tuyệt bọn trộm cướp; 20 rõ thưởng phạt để khuyên răn quan lại; 30 mở ruộng hoang để giúp cho dân nghèo. Ngài cho, vì thế cho làm chức ấy.

Tháng 4, lại phái đội quân Tùng Thiện Nghệ An qua Tân Cương phủ Trấn Ninh, khiến Trú phòng là Nguyễn Văn Lễ quản lãnh kiểm thúc, đặt ra thập, ngũ, cấp cho lương tháng; lại lựa nơi hoang mảng, sức cho Chiêu Nội lượng cấp trâu cày, đồ làm ruộng, khiến đội quân ấy khai khẩn thành ruộng, để làm của riêng.

Khiến quan đi Kinh lược phủ Trấn Ninh. Nguyên A Nỗ nói rằng: "đã khiến người chiêu dụ bộ lạc ứng theo đượng gần vạn người; xin nhờ quan binh đưa đến giáp giới đánh tiếng cứu viện, để tôi đem binh thẳng đến thành cũ; nếu gặp binh Xiêm ngăn trở, tôi xin tự đương; việc xong rồi nếu Xiêm có lại khuấy nữa, thời tôi xin liều giữ thành trì, không dám như lối trước nữa". Ngài ban tờ sắc khuyên bảo A Nỗ và khiến Phan Văn Thúy sung chức Kinh lược đại thần, Nguyễn Văn Xuân làm phó, Nguyễn Khoa Hào sung chức Tham tán, đem 3.000 quân, 20 con voi qua Trấn Ninh đóng giữ; phái biền binh đưa A Nỗ về nước, khiến sứ kết hòa hiếu với Xiêm, để cho bỏ hiềm cũ với Vạn Tượng (tặng vua Xiêm 2 cân kỳ nam, sa, địa mộc, sa bông, vải nhỏ, mỗi thứ 100 cây; cho vua thứ 2 một cân kỳ nam, 1 cân quế, sa, địa mộc, sa bông, vải nhỏ, mỗi thứ 50 cây).

Mới đặt phủ Trấn biên ở Nghệ An, những huyện Sa Hổ, Sầm Tộ, Man Soạn, Mang Lan, Trình Cố, Sầm Na, và Man Xuy đều đem thuộc phủ ấy.

Người huyện Đăng Xương, Quảng Trị là Nguyễn Đăng Khoa dâng ấn ngọc, khắc 4 chữ triện: "Vạn thọ vô cương". Vừa gặp tiết Vạn Thọ, Ngài dụ từ nay trở về sau gặp tiết Vạn Thọ ban ân chiếu, thời dùng ấn này để ghi lấy việc tốt.

Phát thuốc chữa bệnh trong kho ra cho tướng sĩ sở Kinh lược; khiến quan Phòng ngự sứ Chiêu Nội chứa lương ở Lạc Điền để quân dùng; lại khiến quan trấn chở 3.000 lượng bạc trong kho đến nơi quân thứ.

------------------------
(1) Tịch điền là ruộng vua cày, để lấy gạo tế nhà tôn miếu và khuyên dân làm ruộng; vua chỉ đứng bờ ruộng đẩy cày 3 lần để làm gương.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM