Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:16:10 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á  (Đọc 106720 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #20 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:33:44 pm »

Ngày 12 tháng 11 năm 1945, Đại tướng Suđiman được bầu làm Tổng tư lệnh đầu tiên của quân đội. Ngày 17 tháng 11, ông Amir Giariphuđin, một đảng viên cộng sản, được chỉ định làm Bộ trưởng Bộ Quân đội an ninh nhân dân. Ngay sau khi nhậm chức, ông Amir Giariphuđin đã đưa ra tuyên bố về "Những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Quân đội an ninh nhân dân", trong đó xác định rõ bản chất xã hội - chính trị của quân đội mới. Khác với quân đội của các chính quyền thuộc địa hay quân đội chiếm đóng trước đây, Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia mới ra đời là quân đội của dân, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, bảo vệ lợi ích chung của các dân tộc Inđônêxia; họ tình nguyện vũ trang và được vũ trang để bảo vệ nền độc lập của Inđônêxia.


Chỉ vài ngày sau khi Quân đội an ninh nhân dân được thành lập, trên các đảo Giava và Xumatơra, các cuộc đấu tranh vũ trang chống lại quân đội Anh - Hà Lan đã liên tiếp nổ ra. Cuộc chiến đấu của Quân đội an ninh nhân dân chống quân đội thực dân Anh và Hà Lan trong thời kỳ này đã thu được nhiều thắng lợi, gây được tiếng vang và lòng tin trong cả nước; tiêu biểu là trận tiến công nổi tiếng ở Surabaya (10.1945). Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1945, trên các đảo Giava và Xumatơra, nơi chính quyền của nước cộng hoà đã được thiết lập, đã hình thành 16 sư đoàn TKR (10 sư đoàn trên đảo Giava và 6 sư đoàn trên đảo xumatơra), gồm 100 trung đoàn (400 tiểu đoàn). Để chỉ huy lực lượng này, Bộ tham mưu quân đội thống nhất đã thành lập 4 bộ chỉ huy trên các đảo Giava và Xumatơra (3 bộ chỉ huy trên đảo Giava và 1 bộ chỉ huy trên đảo Xumatơra). Về sau, 3 bộ chỉ huy ở Giava là Bộ chỉ huy phía Đông, Bộ chỉ huy phía Tây và Bộ chỉ huy Trung tâm được sáp nhập thành một Bộ chỉ huy thống nhất.


Trong những ngày đầu mới thành lập, Quân đội an ninh nhân dân đã thực sự trở thành hạt nhân của phong trào đấu tranh bảo vệ nền độc lập. Tuy nhiên, do được tổ chức và xây dựng trong điều kiện hết sức khó khăn, lại trong một thời gian ngắn ngủi nên Quân đội an ninh nhân dân chưa đáp ứng được những yêu cầu mà “Những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội" đã đặt ra. Trong Quân đội an ninh nhân dân còn tồn tại nhiều quan điểm trái ngược nhau về xây dựng lực lượng vũ trang. Giữa những người chỉ huy quân sự (Bộ tham mưu quân đội thống nhất) và những người lãnh đạo chính trị (Bộ Quốc phòng) thường xuyên xảy ra các vụ xích mích; thậm chí đã xảy ra những cuộc xung đột vũ trang giữa một số đơn vị quân đội. Việc thiếu sĩ quan cao cấp có kinh nghiệm đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc đề ra chiến lược chung cũng như chỉ huy chiến dịch, đến công tác tham mưu và huấn luyện.


Bên cạnh những mâu thuẫn trên, tình trạng thiếu vũ khí trang bị trầm trọng cũng là một yếu tố làm hạn chế sức mạnh của quân đội. Cuối năm 1945, trong Quân đội an ninh nhân dân mới chỉ có khoảng 27,3 nghìn khẩu súng trường, 600 súng máy, 700 khẩu súng cối, 56 khẩu pháo các loại, 30 súng phun lửa và khoảng 43 triệu viên đạn các loại1 (Các số liệu ở đây dẫn theo: Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Đấu tranh vũ trang vì tự do và độc lập của nhân dân các nước châu Á (1945-1980), Nxb. Nauka, Mátxcơva, 1984. tr.103); tất cả đều là chiến lợi phẩm thu được của Nhật. Số vũ khí trên chỉ đủ trang bị cho khoảng 100 tiểu đoàn; nhiều đơn vị hoàn toàn không có vũ khí mà chỉ được trang bị các vũ khí thô sơ như gậy gộc, giáo mác hay các loại bạch khí khác.


Mâu thuẫn chính trị nội bộ Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia càng trở nên gay gắt khi chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, tranh thủ lợi dụng tình hình đó để tiến hành các hoạt động phá hoại ngầm. Trong quân đội cũng như trong đời sống chính trị đất nước nói chung hình thành hai xu hướng, cách mạng và dân tộc hẹp hòi. Những người lãnh đạo chính trị theo xu hướng cách mạng cố gắng sử dụng quân đội để đấu tranh vì nền độc lập dân tộc cũng như bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động. Trái lại những người theo xu hướng dân tộc hẹp hòi chỉ coi quân đội như một công cụ để hạn chế cuộc cách mạng trong phạm vi quyền lợi của tư sản dân tộc, quý tộc phong kiến và tăng lữ Hồi giáo; nói cách khác, họ muốn sử dụng quân đội như một công cụ bảo vệ chính quyền của các giai cấp bóc lột.


Theo đuổi đường lối xây dựng một quân đội cách mạng của quần chúng, BỘ trưởng Quốc phòng A. Giariphuđin đã tìm cách củng cố mối quan hệ giữa quân đội với quần chúng cách mạng và các đảng phái chính trị của họ để thông qua đó giác ngộ chính trị cho hàng ngũ binh sĩ. Ông đã cố gắng đưa những đội quân Pexiđô trung thành với cách mạng vào hàng ngũ TKR. Cuối năm 1945, theo sáng kiến của Giariphuđin, Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia đã xây dựng Trường Bồi dưỡng cán bộ chính trị quân đội; trong Bộ Quốc phòng tổ chức ra Phòng chính trị gồm đại diện của các đảng phái có thế lực nhất.


Tháng 5 năm 1946, Trường Bồi dưỡng cán bộ chính trị đã làm lễ tốt nghiệp cho 55 sĩ quan chính trị và tất cả số sĩ quan này đều được đưa về các sư đoàn, sau này không ít người trong số họ đã trở thành cán bộ chủ chốt trong Quân đội Inđônêxia. Năm 1946, cuộc đấu tranh vũ trang của những người yêu nước Inđônêxia chống quân Anh và Hà Lan đã lan rộng trong cả nước. Lúc này, nhân dân và các lực lượng cánh tả trong Quốc hội Anh kịch liệt phản đối sự hiện diện của quân đội thực dân Anh ở Inđônêxia; đồng thời, ở ấn Độ, phong trào đòi rút quân Anh - Ấn do J.Nêu lãnh đạo cũng phát triển mạnh mẽ; vì vậy, việc Anh rút quân khỏi Inđônêxia chỉ là vấn đề ngày một, ngày hai. Trước khi rút quân khỏi Inđônêxia, quân Anh phối hợp với quân Hà Lan tiến hành một loạt chiến dịch đánh chiếm các khu vực quan trọng của Inđônêxia nhằm ngăn chặn việc mở rộng chính quyền cộng hoà. Do trình độ chỉ huy, khả năng tác chiến và vũ khí, trang bị hạn chế, quân đội Inđônêxia chủ yếu thực hiện chiến thuật phòng ngự tích cực không thực hiện được những trận tiêu hao, tiêu diệt lớn quân địch nên không thể giữ được các thành phố Sukabumi và Băngđung trên đảo Giava; thành phố Palembang trên đảo Xumatơra cũng bị đe dọa. Tình hình đó đòi hỏi phải nhanh chóng xoá bỏ tình trạng duy trì các đội quân manh mún của các đảng phái chính trị và thành lập một quân đội chính quy đủ sức đánh bại quân xâm lược. Chính phủ Inđônêxia chủ trương tổ chức lại quân đội, hợp nhất tất cả các đơn vị vũ trang của nước cộng hoà vào Quân đội quốc gia Inđônêxia. Chính phủ đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội lên hàng đầu, coi đây là nhiệm vụ sống còn của nhà nước cộng hoà non trẻ. Ngày 3 tháng 6 năm 1947, Tổng thống Xucácnô ra sắc lệnh hợp nhất tất cả các đơn vị vũ trang Inđônêxia thành Quân đội quốc gia Inđônêxia (TNI). Tuy nhiên, việc hợp nhất các lực lượng vũ trang của nước cộng hoà đã bị gián đoạn do các cuộc chiến tranh tái xâm lược của thực dân Hà Lan cuộc Chiến tranh thực dân lần thứ nhất, từ 20-7-1947 đến 17-1-1948; cuộc Chiến tranh thực dân lần thứ hai, từ 18-12-1948 đến 15-8-1949).


Cuối năm 1949, nhân dân Inđônêxia giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chống thực dân Hà Lan và đế quốc Mỹ; nước Cộng hoà Inđônêxia ra đời, được nhiều nước trên thế giới công nhận và trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc (tháng 10 năm 1950). Lịch sử Inđônêxia bước sang một thời kỳ mới với nhiều biến động mới, trong đó luôn in đậm dấu ấn của quân đội.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #21 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:35:03 pm »

2. Quá trình xây dựng, phát triển của Quân đội quốc gia Inđônêxia từ sau chiến tranh giải phóng

Khi Inđônêxia có điều kiện vững bước trên con đường độc lập dân chủ cũng là lúc các phe nhóm, đảng phái bắt đầu cuộc đấu tranh giành quyền lực, thường xuyên gây nên tình trạng bất ổn trong nước. Tình hình đó đã tác động trực tiếp, theo những chiều hướng khác nhau, đến quá trình xây dựng và phát triển của quân đội Inđônêxia. Cũng như các lực lượng chính trị của đất nước, sau chiến tranh, trong quân đội Inđônêxia ngày càng thể hiện rõ xu hướng phân hoá giai cấp, bị giằng xé giữa các đảng phái và hệ quả tất yếu là sẽ không đứng ngoài các cuộc tranh giành quyền lực.


Ngay từ thời kỳ chiến tranh giải phóng, do vai trò quan trọng của quân đội trong việc đánh bại thực dân, đế quốc nên chính quyền dân sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào giới chỉ huy quân sự. Sau năm 1949, quân đội bắt đầu tước đoạt nhiều chức năng của bộ máy dân sự. Giới chỉ huy quân sự ở các địa phương có xu hướng xây dựng một bộ máy song song với chính quyền dân sự và không phụ thuộc vào nó. Những người theo xu hướng này thâu tóm được những địa vị quan trọng ở địa phương và đã tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ sĩ quan, chủ yếu xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản, làm giầu bằng nhiều cách bất minh. Thực ra, ngay trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, nhiều sĩ quan quân đội đã bị lôi cuốn vào con đường làm giầu bất chính. Tướng A. Nasution, tổng tư lệnh lục quân Inđônêxia trong những năm chiến tranh đã phải thừa nhận: "Việc quân đội tham gia buôn bán đã trở nên rất phổ biến... Rất nhiều sĩ quan chỉ huy, từ cấp thấp đến cấp cao, đều tham gia; một số người tham gia buôn bán với quy mô lớn, có "công ty cổ phần" và "tập đoàn". Điều này dẫn đến số lượng lớn các vụ vi phạm. Nhiều khoản dự trữ đường, cà phê, chè, thuốc men... của Nhà nước và của dân bị đánh cắp"1 (Dẫn theo: R. E. Xevôchian, Quân đội trong thể chế chính trì của các nước phương Đông hiện đại, Nxb Nauka, Mátxcơva, 1973, tr.64, 66, 67).


Sau chiến tranh, Inđônêxia lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện và gay gắt, "khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, khủng hoảng quân sự, khung hoảng đạo đức, khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực. Một cuộc khủng hoảng ngày càng gay gắt kể từ khi giành được chủ quyền. Tình hình trong nước bất ổn, đời sống nhân dân sa sút, sự bất đồng gia tăng... Chính phủ rõ ràng bất lực trước tình hình trước hết bởi không được sự ủng hộ của nhân dân, thứ hai là do sự yếu kém của nhà nước". Các hiện tượng tiêu cực xã hội như buôn lậu, móc ngoặc, tham nhũng, hối lộ... nảy sinh từ thời thuộc địa nay tiếp tục phát triển tràn lan, xâm nhập ngày càng sâu vào hàng ngũ lực lượng vũ trang. Đặc biệt, tình trạng thiếu thốn vũ khí, quân trang, quân lương... đôi khi đã buộc chỉ huy các cấp phải tìm cách tự bảo đảm; do đó họ tìm cách móc nối với giới chức trách, với các nhà buôn, với những kẻ đầu cơ... Việc giao tiếp với những thành phần như vậy không thể không tác động tiêu cực đến một bộ phận sĩ quan quân đội, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc rút ruột nhà nước và nạn hối lộ phát triển. Ngoài ra, sau chiến tranh, địa vị quan trọng của hàng ngũ sĩ quan trong bộ máy chính quyền và chức năng quản lý hành chính của họ được mở rộng đã dẫn đến tình trạng những người trước đây có công với đất nước nay trở thành những người thoái hoá, biến chất. Điều đáng nói là họ không phải số ít, mà là một lực lượng giai cấp, một lực lượng chính trị mới.


Vào đầu những năm 50 của thế kỷ trước, giới quân sự tham gia hoạt động chính trị với một sức sống mới. Nếu như trong những năm chiến tranh cách mạng, quân đội không công khai đòi hỏi tham gia giải quyết những vấn đề hệ trọng nhất của quốc gia thì giờ đây, với lý do đã góp phần làm nên truyền thống cách mạng của Quân đội quốc gia, đã từng tham gia chiến tranh giải phóng..., hàng ngũ sĩ quan cao cấp đặt vấn đề đó ngày càng quyết liệt. Tất cả các nhóm và phe phái sĩ quan trong lục quân đều đòi quyền tham gia trong đời sống chính trị và giải quyết các vấn đề quốc gia đại sự. Song song với quá trình phân hoá lực lượng chính trị trong xã hội, trong hàng ngũ sĩ quan cũng có sự phân hoá giữa các nhóm và phe phái với những đòi hỏi quyền lợi khác nhau. Một bộ phận sĩ quan chân chính nhận thấy con đường của cách mạng Inđônêxia đã bị đảo ngược; họ bất bình trước tính chất thiếu dân chủ của hệ thống nghị trường, trước sự áp đặt của những người trước đây tham gia bộ máy chính quyền thực dân, hợp tác với người Hà Lan. Một bộ phận khác cho rằng phải có sự thay đổi trong hệ thống chính trị mới có thể tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề nóng bỏng của xã hội; họ phê phản nền dân chủ nghị trường với những cuộc cãi vã triền miên giữa các đảng phái. Các sĩ quan cao cấp kiến nghị tập trung quyền lực cho tổng thống và quân đội; họ muốn khôi phục hiến pháp năm 1945 và cho rằng đó là con đường phục hồi những lý tưởng cách mạng. Cuối cùng, một bộ phận đáng kể trong hàng ngũ sĩ quan, chủ yếu là những người từ các vùng biên đảo mà ở địa bàn của mình họ là những "ông hoàng", kiểm soát toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị ở địa phương. Những người này cho rằng việc quân đội nắm quyền lãnh đạo đất nước sẽ đem lại cho họ nhiều đặc quyền, đặc lợi và mở đường cho họ làm giầu. Các sĩ quan này có quan hệ mật thiết với các nhóm tư sản liên quan đến ngoại thương hoặc xuất thân từ các gia đình quý tộc và tư sản Hồi giáo. Các quan hệ này được thiết lập theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Về phần mình, các nhà tư sản mới hồi sinh cho rằng việc thực hiện chế độ quyền uy dựa vào sức mạnh quân sự sẽ tạo cho họ những điều kiện rất thuận lợi để bảo vệ quyền lợi của mình.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #22 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:39:45 pm »

Trong những năm đầu chuyển sang thời kỳ "dân chủ có định hướng" (1957-1965), một bộ phận sĩ quan quân đội công khai chuyển sang lập trường thân đế quốc; sự phân hoá trong hàng ngũ lực lượng vũ trang Inđônêxia càng trở nên sâu sắc. Các phần tử tư sản phản động trong quân đội đã tập hợp lại nhằm giáng một đòn mạnh, tiến tới lật đổ Chính phủ Trung ương ở Giacácta. Các cuộc bạo động và phá hoại do các phần tử này tổ chức với sự ủng hộ của các đảng phái hữu liên tiếp nổ ra ở vùng biên đảo, dẫn đến các vụ xung đột giữa các đơn vị vũ trang. Đây thực sự là những cuộc bạo động phản cách mạng với sự trợ giúp của các thế lực phản động nước ngoài. Tướng Nasution khẳng định: "Đây là những cuộc bạo loạn mà những người tham gia đã công khai hợp tác với nước ngoài... Các nhóm phá hoại, phân liệt và phản cách mạng đã nhận được sự giúp đỡ về vũ khí từ nước ngoài..., thậm chí có những máy bay hiện đại hơn của nước Cộng hoà Inđônêxia"1 (Dẫn theo: R. E. Xevôchian, Sđd, tr.68). Tình hình diễn biến phức tạp đến mức Inđônêxia phải áp dụng tình trạng thiết quân luật trong một thời gian dài.


Việc một bộ phận sĩ quan quân đội công khai chuyển sang lập trường thân đế quốc trong giai đoạn 1957-1961 cho thấy quá trình phân hoá xã hội trong quân đội Inđônêxia đã có thêm một xu hướng mới. Các phần tử phản động nhất đã tập hợp lại trong liên minh quân - dân sự nhằm ngăn cản sự phát triển các xu hướng tiến bộ trong đời sống chính trị Inđônêxia. Tuy nhiên, đa số trong quân đội cùng Bộ Tổng tư lệnh đã đứng lên bảo vệ sự toàn vẹn của đất nước.


Việc ban bố tình trạng thiết quân luật ở Inđônêxia do các cuộc bạo loạn liên tiếp xảy ra trong những năm 50 của thế kỷ trước đã dẫn đến sự mở rộng chức năng quản lý hành chính của những sĩ quan trung thành với chính phủ. Nhiều tổ chức kinh tế và tổ chức nhã nước được đặt dưới sự kiểm soát của lực lượng vũ trang. Bộ máy hành chính của quân đội ở nhiều địa phương hoạt động độc lập và không phụ thuộc chính quyền dân sự. Đến năm 1958, quân đội kiểm soát việc quản lý dân sự trên 80% lãnh thổ đất nước; gần 4.000 sĩ quan được đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế để quản lý những tài sản tịch thu của người Hà Lan1 (R. E. Xevôchian, Sđd, tr.69). Đại diện của quân đội kiểm soát hoạt động xuất, nhập khẩu, phân phối lương thực và tất cả các loại phương tiện vận tải.


Năm 1959, Inđônêxia trở lại thực hiện hiến pháp năm 1945. Không cần phải tiến hành đảo chính để giành quyền lực, các nhà hoạt động quân sự thời kỳ này trở thành một trong những nhân tố có vai trò quyết định trong hệ thống quyền lực bên cạnh bộ máy dân sự.


Việc giới quân sự tăng cường can thiệp vào công việc quản lý nhà nước, trước hết là nắm trong tay các chức năng quản lý kinh tế, đã dẫn đến hậu quả hai mặt. Thứ nhất, quân đội hoàn toàn biến thành một kênh quan trọng nhất của sự vận động xã hội, trở thành tầng lớp giầu có. Nếu như trước đây, các quân nhân lợi dụng ảnh hưởng của mình để làm giầu cá nhân một cách bất hợp pháp thì với việc thiết lập chế độ thiết quân luật, họ có thể làm việc này hầu như tự do và với quy mô lớn chưa từng thấy. Thứ hai, việc quân đội tích cực tham gia vào công việc hành chính, kinh tế và chính trị diễn ra trong giai đoạn khi mà sự phân hoá trong hàng ngũ sĩ quan do các cuộc bạo loạn gây ra đã lên đến đỉnh điểm. Những người chỉ huy quân đội trung thành với Chính phủ Trung ương thực chất đã quay súng chống lại những đồng chí của mình, những người đã cùng chiến đấu chống thực dân Hà Lan. Đôi khi, với sự giúp đỡ của các tổ chức cách tả, quân đội cũng tiến hành đàn áp các nhóm thân đế quốc phản động nhất trong giới quân sự và dân sự.


Các lực lượng dân tộc yêu nước trong xã hội đã không thiết lập được một liên minh với giới quân sự. Được đặt vào địa vị đặc quyền, đặc lợi, đội ngũ sĩ quan Inđônêxia muốn thúc đẩy quá trình củng cố ảnh hưởng của mình để có thể làm giầu. Quá trình thoái hoá, biến chất bộ phận cấp tiến trước đây trong quân đội diễn ra nhanh chóng. Khác với các đảng phái khác không có đầy đủ ảnh hưởng trong các bộ và trong bộ máy nhà nước nói chung, quân đội giống như một "lực lượng thứ ba", thực sự là một "đảng nhà nước". Chính thực tế đó đã dẫn đến việc quân đội có khả năng tăng cường giám sát các tổ chức dân sự, kiểm soát toàn bộ sự vận động chính trị, xã hội của đất nước.


Trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, ngày càng có nhiều phe nhóm chính trị Inđônêxia phải lệ thuộc vào lực lượng vũ trang. Duy nhất Xucácnô còn giữ được thế độc lập tương đối. Một điều đáng lưu ý là chính quân đội đã đóng vai trò là lực lượng chính mở đường cho xucácnô lên cầm quyền; ngay tư tưởng trở lại hiến pháp năm 1945 của ông cũng là do tướng Nasution hiến kế. Song, quân đội lúc này không phải là quân đội chỉ đấu tranh đòi được công nhận là một lực lượng chính trị như ít năm trước đó mà là một quân đội khác, một quân đội nhận thức được đầy đủ sức mạnh của mình. Điều đó có nghĩa là tầng lớp sĩ quan cao cấp sẽ không dừng lại ở những gì họ đã đạt được; họ không thoả mãn với địa vị hiện có trong “thế chân vạc" Xucácnô - quân đội - Đảng Cộng sản. Trong điều kiện đó, Xucácnô bắt tay vào thực hiện chủ trương dân chủ định hướng" mà thực chất là xác lập thiết chế tổng thống. Tháng 3 năm 1960, nghị viện bầu cử bị giải tán và thay vào đó là một nghị viện chỉ định (theo nguyên tắc hợp tác qua lại). Năm 1963, Xucácnô được tuyên bố là tổng thống suốt đời. Hoạt động của các đảng bị hạn chế và đặt dưới sự kiểm soát của quân đội và nhà nước. Báo chí cũng bị kiểm soát chặt chẽ, việc phê phán chính phủ bị nghiêm cấm. Các cuộc mít tinh, tuần hành và hội họp chỉ được tiến hành khi được chính quyền cho phép.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #23 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:40:34 pm »

Từ năm 1960, các sĩ quan cao cấp của lục quân Inđônêxia bắt đầu mở chiến dịch tập hợp liên minh chính trị mới. Mặc dù Xucácnô có ý định “phân chia lại" và cải tổ thể chế hiện hành nhằm chia nhỏ nhiều chức năng của chính quyền cho các phe nhóm khác nhau, song các phần tử giầu có đã tìm cách câu kết với nhau dưới sự che chắn của một bộ phận đáng kể các sĩ quan quản lý hành chính ở trung ương và các địa phương.


Mặc dù trong những năm 60, đảng tư sản phái hữu lớn nhất là Đảng Masumi và Đảng Xã hội bị cấm hoạt động, nhưng các đảng viên của hai đảng này vẫn tiếp tục giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước và các bộ. Các đảng phái hữu khác hoạt động hợp pháp cũng có ảnh hưởng lớn trong bộ máy nhà nước. Đây là kênh quan trọng để các phe nhóm phái hữu duy trì sự hợp tác. Một kênh khác là sự tham gia ngày càng rộng rãi của lực lượng vũ trang trong hoạt động quản lý hành chính đã tạo điều kiện cho họ hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương. Trong những năm "dân chủ định hướng", sĩ quan quản lý hành chính, người đứng đầu chính quyền địa phương, chánh án và một loạt quan chức khác câu kết thành một nhóm quyền lực, kiểm soát toàn bộ đời sống của địa phương. Hình thức quản lý đa đảng này ở các địa phương cũng phản ánh mối quan hệ giữa các thể chế chính trị và quan liêu trên quy mô cả nước, trong đó thể hiện xu hướng gia tăng áp lực của quân đội ngày càng rõ nét. Trong cơ cấu quyền lực đó, trước khi xảy ra sự kiện ngày 30 tháng 9 năm 1965 khó có thể xác định hệ thống nào đảm đương trách nhiệm chính. Trong mối quan hệ giữa bộ máy quân sự và dân sự, việc phân đỉnh lĩnh vực hoạt động của họ cũng không rõ ràng. Sự đan xen, chồng chéo chức năng giữa các quan chức quân sự và dân sự trong liên minh rất không hoàn thiện này đã làm cho họ xích lại gần nhau. Biểu hiện cụ thể của sự hợp tác giữa các nhóm quân sự và dân sự là năm 1964, các đảng phái hữu với sự hỗ trợ của giới chỉ huy quân đội tổ chức ra cái gọi là Hội bảo vệ chủ nghĩa Xucácnô. Chính sự chồng chéo chức năng giữa cáo quan chức quân sự và dân sự đã dẫn đến nhiều vụ vi phạm pháp luật trong xã hội và quân đội nói riêng.


Nói tóm lại, "dân chủ định hướng" đã không đem lại cho Inđônêxia một sự ổn định chính trị cũng như sự phát triển kinh tế. Tình trạng khủng hoảng trong nước ngày càng trầm trọng, Inđônêxía rút khỏi tổ chức Liên hợp quốc1 (Năm 1965, lnđônêxia tuyên bố rút khỏi Liên hợp quốc, nhưng sau 1 năm lại trở lại mà không cần phải tiến hành các thủ tục kết nạp). Đến năm 1965, sự phân hoá lực lượng đã làm cho thể chế chính trị rêu rã đến mức chỉ cần một "cú hích” nhỏ cũng có thể làm nó sụp đổ. "Cú hích" đó là "Phong trào 30 tháng 9" với cuộc đảo chính đêm 30-9 rạng ngày 1-10-1965, một cuộc đảo chính mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước nói chung và quân đội Inđônêxia nói riêng.


Nhằm ngăn chặn kế hoạch của một số tướng lĩnh câu kết với CIA tiến hành đảo chính lật đổ Chính phủ vào đầu tháng 10, đêm 30 tháng 9 rạng ngày 1 tháng 10 năm 1965, trung tá Untung, tiểu đoàn trưởng thuộc Trung đoàn cận vệ Trácrabirav của Tổng thống đã chỉ huy một số sĩ quan và binh sĩ, có một số người lãnh đạo Đảng Cộng sản tham gia, tấn công vào nhà ở của 7 tướng lĩnh đứng đầu quân đội, bắt và tiêu diệt 6 người, Bộ trưởng Quốc phòng Nasution may mắn thoát chết. Ngày hôm sau, tướng Xuháctô, Tư lệnh lực lượng dự bị chiến lược nắm quyền chỉ huy lực lượng lục quân đã huy động lực lượng trấn áp những người tham gia "Phong trào 30 tháng 9", nhất là các đảng viên Đảng Cộng sản và các nhân sĩ cánh tả.


Sau "sự kiện 30 tháng 9", giới lãnh đạo quân đội do Xuháctô đứng đầu chủ trương chuyển sang thực hiện chế độ “trật tự mới" thay cho "dân chủ định hướng"; trước mắt cố gắng giải quyết một số nhiệm vụ chính trị cơ bản:

1. Biến quân đội thành một cơ cấu duy nhất và trung thành với những người lãnh đạo mới, có khả năng quản lý đất nước trong khuôn khổ học thuyết hai chức năng của quân đội Inđônêxia (phòng thủ, bảo đảm an ninh nội địa và phát triển);

2. Làm mất uy tín, hạ bệ Tổng thống Xucácnô và trấn áp triệt để bất kỳ sự chống đối nào của cánh tả;

3. Tổ chức lại hệ thống chính trị của đất nước sao cho các đảng và các thể chế chính trị không thể cản trở việc thành lập một nhóm quyền lực tối cao cứng rắn và tập trung;

4. Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội tương đối rộng rãi và vững mạnh của chế độ mới, điều đó chỉ có thể đạt được trên cơ sở thực hiện thắng lợi các cải cách kinh tế.


Nhằm từng bước phế truất Xucácnô, trước tiên quân đội tiến hành thanh trừng tay chân của Tổng thống trong giới chóp bu của chính quyền dân sự. Tháng 3 năm 1966, Xucácnô trên thực tế bị tước toàn quyền tổng thống; sau đó kỳ họp đặc biệt của Đại hội hiệp thương nhân dân lâm thời (tháng 3 năm 1967) chỉ định Xuháctô làm Quyền tổng thống. Một năm sau, tháng 3 năm 1968, Đại hội hiệp thương nhân dân với thành phần gồm những người ủng hộ chế độ mới bầu Xuháctô làm Tổng thống toàn quyền của đất nước.


Để tập trung quyền lực, trước tiên chinh quyền mới tiến hành cải cách quân đội. Những tướng lĩnh không chiếm được lòng tin của người lãnh đạo mới, tướng Xuháctô, đã phải từ bỏ chức vụ của mình. Tất cả các binh chủng được đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Bộ trưởng Quốc phòng. Để kiểm soát chặt chẽ tất cả các đơn vị quân đội đóng quân ở mọi miền đất nước, quân đội tổ chức 6 bộ tư lệnh phòng vệ khu vực; các tư lệnh phải định kỳ luân chuyển chức vụ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #24 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:41:46 pm »

Theo học thuyết về hai chức năng của quân đội, việc kiểm soát chức năng bảo đảm an ninh nội địa và phát triển là trách nhiệm của toàn bộ cơ cấu hành chính. Hệ thống chỉ huy lực lượng vũ trang theo lãnh thổ được tổ chức gồm các bộ chỉ huy quân sự tỉnh (Côđam), dưới đó là ban chỉ huy quân sự huyện (Côđim) và cuối cùng là các chức vụ chỉ huy dưới cấp huyện (Côramil). Mỗi làng có một hạ sĩ quan "phát triển nông thôn". Toàn bộ hệ thống này vừa làm nhiệm vụ phòng thủ lãnh thổ và an ninh nội địa, vừa tham gia giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội.


Trước các sự kiện mùa thu năm 1965, ảnh hưởng của giới quân sự trong bộ máy hành chính địa phương đã rất đáng kể; sau cuộc đảo chính, ảnh hưởng này càng rõ nét. Nếu như năm 1965, giới quân sự chỉ nắm quyền đứng đầu ở 12 trong tổng số 25 tỉnh của cả nước thì năm 1968 tăng lên 17 tỉnh1 (Đ.V. Môxiacốp, V.A. Chiurin, Lịch sử Đông Nam Á, Trưởng Đại học tổng hợp Phương Đông xuất bản, Mátxcơva, 2004, tr.314); ở bộ máy hành chính các cấp dưới, giới quân sự tham gia với tỷ lệ cũng không ít hơn.


Cuộc bầu cử quốc hội năm 1971 được tiến hành dưới sự kiểm soát hoàn toàn của quân đội và thắng lợi thuộc về Đảng Golkar được thành lập năm 1964 với tên gọi đầy đủ là Ban thư ký thống nhất các nhóm chức năng; đây là Công cụ chính trị quan trọng của giới lãnh đạo quân sự, "người anh em ruột thịt của lực lượng vũ trang"). Sau cuộc bầu cử dưới áp lực của chế độ quân sự, các đảng hoàn toàn mất đi tính độc lập về tổ chức và chủ động chính trị. Cuối cùng, trong vô số các đảng muôn màu muôn vẻ, ngoài Golkar chỉ còn lại hai đảng nữa là Đảng Hồi giáo thống nhất và phát triển (PER) và Đảng Dân chủ Inđônêxia (DPI); nhưng trong suốt một thời gian dài hai đảng này không gây được ảnh hưởng đáng kể trong đời sống chính trị của đất nước.


Chế độ "trật tự mới" được định hình về mặt pháp lý tại kỳ họp Đại hội hiệp thương nhân dân năm 1973. Cũng tại kỳ họp này, tướng Xuháctô được bầu làm Tổng thống nhiệm kỳ 5 năm tiếp theo; đồng thời, những quyền hạn đặc biệt của tổng thống được quy đinh từ năm 1 966 vẫn tiếp tục có hiệu lực.


Trong thời kỳ "trật tự mới", nhờ giữ được tình hình tương đối ổn định và thực hiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng xuất khẩu dầu mỏ, nền kinh tế Inđônêxia phát triển rất nhanh. Đến năm 1980, tổng sản phẩm quốc nội đã tăng gần gấp đôi so với năm 1970. Điều quan trọng là trong suốt thời kỳ từ những năm 70 đến cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, Inđônêxia duy trì được nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định và ở mức cao, trung bình hàng năm tăng 7-8%, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.000 USD/năm1 (Đ.V. Môxiacốp, V.A. Chiurin, Sđd, tr.317).


Nền kinh tế phát triển nhanh và khá vững chắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Chính phủ Inđônêxia đã không ngừng hiện đại hoá quân đội với ba quân chủng hải, lục và không quân; trong đó đặc biệt hải quân và không quân đã được ưu tiên đầu tư phát triển và từng bước trở thành lực lượng quân sự mạnh, có khả năng phản ứng nhanh, đối phó hiệu quả với tình hình bất ổn định trong nước và tham gia ngăn chặn xung đột khu vực.


Trong quá trình phát triển, quân đội Inđônêxia đã và đang có những nỗ lực trong quá trình thực hiện chính quy và hiện đại hoá. Inđônêxia chủ trương trang bị cho quân đội theo hai nguồn: mua sắm từ bên ngoài và tự chế tạo trong nước. Về mua sắm, họ chủ trương đa phương hoá, không quá tập trung phụ thuộc vào một nguồn nào, một nước nào. Về tự chế tạo, Inđônêxia có chiến lược phát triển ngành công nghiệp quốc phòng từ rất sớm. Nền công nghiệp quốc phòng Inđônêxia có khả năng chế tạo tốc hạm nhỏ và các loại máy bay chiến đấu theo thiết kế có sẵn. Quân đội Inđônêxia đã từng bước chế tạo nhiều chi tiết, phụ tùng máy bay và chọn ngành hàng không làm mũi nhọn. Do đó, hiện nay Inđônêxia có các cơ sở công nghiệp chuyên sản xuất và sửa chữa máy bay vận tải quân sự và máy bay lên thẳng đa năng, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cho một số nước trong khu vực. Công nghiệp quốc phòng Inđônêxia đã chế tạo được loại trực thăng chở trên các hạm tàu để yểm trợ cho hải quân đánh bộ...


Tiếp theo cuộc cải cách quân đội tiến hành vào đầu thời kỳ "trật tự mới", những năm đầu thập niên 80 (thế kỷ XX), giới lãnh đạo quân đội Inđônêxia tiếp tục tiến hành một cuộc cải cách sâu rộng trong quân đội. Quá trình đó được thực hiện theo các giai đoạn sau:

- Giai đoạn thứ nhất, từ tháng 12 năm 1982 đến tháng 5 năm 1983: Nội dung cải cách chủ yếu là chuyển giao thế hệ. Đội ngũ lãnh đạo cấp cao trong quân đội Inđônêxia dần được trẻ hoá, lớp cán bộ lão thành đã tự nguyện rút khỏi chính trường và quân đội, nhường chỗ cho lớp cán bộ trẻ được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao, đủ sức đảm đương nhiệm vụ trong những điều kiện và hoàn cảnh mới.

- Giai đoạn thứ hai, từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1983: Biện pháp chủ yếu ở giai đoạn này là tổ chức bộ máy cấp bộ. Cụ thể, tách Bộ Quốc phòng và An mình thành bộ độc lập thay vì trước đó trực thuộc Bộ các lực lượng vũ trang; đồng thời tiếp tục trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp bộ. Bộ Quốc phòng và An ninh có nhiệm vụ hoạch định các kế hoạch và chính sách có liên quan đến an ninh và phòng thủ quốc gia. Ngoài ra, bộ này còn có trách nhiệm làm kế hoạch ngân sách quốc phòng. Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang đồng thời là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và An ninh. Cơ quan Tổng hành dinh các lực lượng vũ trang Inđônêxia có nhiệm vụ chỉ huy và điều hành tác chiến đói với tất cả các bộ tư lệnh quân khu, bộ tư lệnh các quân, binh chủng.

- Giai đoạn thứ ba, từ tháng 4 năm 1985 đến tháng 3 năm 1986: Nội dung cải cách cụ thể là tổ chức lại cơ cấu trong quân đội, chủ yếu tập trung Ơ các quân khu, quân đoàn và lực lượng chiến thuật; đồng thời tổ chức lại hệ thống các trường đào tạo trong quân đội, củng cố lực lượng bộ đội địa phương.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #25 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:44:13 pm »

Inđônêxia thực hiện chế độ quân dịch theo nghĩa vụ kết hợp tình nguyện. Thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự là 2 năm; tuổi phục vụ cao nhất là 55. Quân hàm có 4 cấp 18 bậc; cấp tướng có đại tướng, trung tướng, thiếu tướng và chuẩn tướng; cấp tá có đại tá, trung tá và thiếu tá; cấp uý có đại úy trung úy, thiếu úy, chuẩn úy bậc 1 và chuẩn úy bậc 2; hạ sĩ quan, binh lính có các bậc: thượng sĩ nhất, trung sĩ, hạ sĩ, binh nhất, binh nhì.


Theo luật sĩ quan quân đội Inđônêxia, độ tuổi nghỉ hưu đối với sĩ quan là 55 tuổi. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, độ tuổi này có thể xê dịch sớm hơn hoặc muộn hơn. Riêng đối với Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, việc nghỉ hưu phải do Tổng thống phê chuẩn. Cho đến thời điểm trước năm 1982, đại đa số sĩ quan cao cấp trong quân đội Inđônêxia đều thuộc thế hệ đã từng tham gia chiến đấu chống quân xâm lược Hà Lan. Thế hệ này còn được gọi là "Thế hệ trước 1945”. Xuất phát từ đặc thù mang tính lịch sử đó vấn đề chuyển giao thế hệ được coi là một trong những trọng tâm của chương trình cải cách quân đội. Kết quả, sau 5 năm thực hiện cải cách (kể từ 1982), quân đội Inđônêxia đã có một diện mạo mới, số sĩ quan trưởng thành trong chiến đấu được thay thế bằng đội ngũ sĩ quan trẻ, được đào tạo cơ bản, có đủ trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để đảm đương những nhiệm vụ trong giai đoạn lịch sử mới.


Quá trình "chuyển giao thế hệ" nói trên trong quân đội Inđônêxia đã diễn ra trên tinh thần hết sức chân tình và đoàn kết, lớp cán bộ "già" có nhiều cống hiến đã sẵn sàng nhường chỗ và truyền thụ kinh nghiệm cho lớp cán bộ trẻ trong quân đội.


Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn tiếp theo trong chương trình cải cách quân đội là tổ chức lại các bộ tư lệnh quân khu, cơ cấu lại các quân, binh chủng... Kết quả, đã giảm số bộ tư lệnh các quân khu từ 16 xuống còn 10; xoá bỏ bộ tư lệnh phòng vệ hỗn hợp tại 6 khu vực, đồng thời xoá bỏ sở chỉ huy cấp lữ đoàn; chức năng yểm trợ của lữ đoàn trước đây nay giao cho các bộ tư lệnh quân khu; các đơn vị quân chính quy được đưa về bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố nhằm tăng cường khả năng tác chiến và sẵn sàng chiến đấu. Theo mô hình tổ chức mới, mỗi bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố có ít nhất một tiểu đoàn bộ binh.


Inđônêxia chủ trương ưu tiên phát triển lực lượng hải quân và không quân. Hiện tại, trang bị của hai quân chủng này chưa thật tương xứng với chức năng và nhiệm vụ được giao, bởi Inđônêxia có hàng chục nghìn kilômét bờ biển. Do vậy, Inđônêxia đã chủ trương dựa vào Mỹ để tranh thủ viện trợ vũ khí hiện đại, tham gia các cuộc tập trận song phương và đa phương nhằm nâng cao khả năng chiến đấu cho quân đội.


Đến cuối năm 2005, quân thường trực Inđônêxia có số lượng khoảng 582.000 người, trong đó lục quân có 233.000; hải quân có 45.000; không quân 24.000 và 280.000 quân địa phương. Ngoài số quân thường trực kể trên, Inđônêxia còn có khoảng 400.000 quân dự bị và 195.000 cảnh sát chiến đấu.


Cụ thể tổ chức của ba quân chủng trong quân đội quốc gia Inđônêxia như sau:

Lục quân

Lục quân được coi là quân chủng có tầm quan trọng bậc nhất, có số quân đông nhất so với hải quân và không quân bởi đây không chỉ là quân chủng có vai trò quyết định thành bại của chiến tranh, theo quan điểm truyền thống, mà chủ yếu là vì lục quân thực hiện đầy đủ các chức năng cơ bản của lực lượng vũ trang nước Cộng hoà Inđônêxia.


Do nhu cầu của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, lục quân là quân chủng ra đời sớm nhất và có truyền thống chiến đấu vẻ vang nhất trong cuộc đấu tranh đó. Sau khi giành được độc lập, lục quân vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong mọi biến cố và mọi sự kiện chính trì lớn của đất nước.


Trong cơ cấu quyền lực của nhà nước Inđônêxia, lục quân có số đại biểu bao giờ cũng đông nhất so với các thành phần lực lượng vũ trang khác. Điều này chứng tỏ vai trò, vị trí của lục quân trong quân đội và trong chính trường Inđônêxia; và cũng hợp lý khi mà quân số lục quân luôn luôn chiếm đại đa số và hùng hậu nhất trong lực lượng quân thường trực cả nước.


Bảng cơ cấu lực lượng vũ trang và quân đội Inđônêxia từ 1983-1993 cho thấy điều đó1 (Asia Pacific Arms Biuldups. lnstitute of lnternalional Relations, opcid., p.16):


Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #26 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:44:55 pm »

Với tư cách là lực lượng quân sự nòng cốt trong công cuộc phòng thủ đất nước, lục quân đã cụ thể hoá quan điểm toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh tổng lực từ bên ngoài tới. Các nhà chiến lược quân sự Inđônêxia đã xác định một chiến lược kháng chiến gồm ba giai đoạn nối tiếp nhau và khẳng định, thắng lợi của chiến lược đó phụ thuộc vào mối quan hệ mật thiết quân dân; dựa vào mối quan hệ đó, lực lượng vũ trang nói chung và lục quân nói riêng sẽ tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp xã hội và các dân tộc Inđônêxia. Chiến lược kháng chiến ba giai đoạn đòi hỏi phát huy tối đa khả năng tác chiến và sức mạnh tổng hợp của cả nước, trước hết là của các địa phương và của cả ba thứ quân: lực lượng chủ lực, lực lượng bảo vệ lãnh thổ địa phương và lực lượng bán vũ trang.


Để có sức mạnh và giành thắng lợi trong chiến tranh, ngay từ trong thời bình, Inđônêxia thường xuyên chú trọng xây dựng cho lục quân một lực lượng dự bị hùng hậu và một lực lượng thường trực có số quân cần thiết; thực hiện sự kết hợp thoả đáng giữa quốc phòng và kinh tế. Với quan điểm lấy chất lượng làm trọng, bên cạnh việc hoàn thiện tổ chức, thực hiện chế độ huấn luyện nghiêm ngặt, Inđônêxia còn tích cực cải tiến và đổi mới vũ khí, trang bị quân sự.

Về tổ chức, lực lượng lục quân Inđônêxia được tổ chức theo hai hệ thống cơ bản:

Hệ thống thứ nhất là lực lượng lục quân chính quy ở các quân khu, các tỉnh và bên cạnh nó là lực lượng dân phòng. Lực lượng chính quy đóng vai trò chủ yếu trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Inđônêxia. Cơ quan điều hành cao nhất của lực lượng lục quân ở các quân khu, vùng lãnh thổ là bộ tư lệnh các quân khu. Bộ tư lệnh quân khu thường do các sĩ quan quân hàm thiếu tướng làm tư lệnh; đây là những sĩ quan có uy tín và năng lực cao trong quân đội. Các bộ tư lệnh quân khu thực hiện quyền chỉ huy của mình thông qua các bộ tư lệnh cấp dưới, đó là bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố do các đại tá đứng đầu và dưới nữa là cấp quận, huyện, do các sĩ quan từ đại úy đến trung tá chỉ huy.


Hiện nay, toàn bộ lãnh thổ Inđônêxia được chia thành 10 quân khu sau.

- Quân khu 1: Bắc Xumatơra; sở chỉ huy: Medan;

- Quân khu 2: Nam Xumatơra; sở chỉ huy: Palembang;

- Quân khu 3: Tây Giava; sở chỉ huy: Băngđung;

- Quân khu 4: Trung Giava; sở chỉ huy: Gióc Giacácta;

- Quân khu 5: Đông Giava; sở chỉ huy: Surabaya;

- Quân khu 6: Kalimantan; sở chỉ huy: Balikpapan;

- Quân khu 7: Sulavêxi; sở chỉ huy: Ugiungpanđang;

- Quân khu 8: Tây Irian; sở chỉ huy: Giayapura;

- Quân khu 9: Bali và Đông Timo; sở chỉ huy: Bali;

- Quân khu 10: Thủ đô Giacácta.


Từ năm 2000, Đông Timo tách ra thành lập quốc gia độc lập do đó Quân khu 9 chỉ còn khu vực Bali.
Lực lượng các quân khu gồm có 63 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đổ bộ đường không, 8 tiểu đoàn ky binh thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo mặt đất, 9 tiểu đoàn phòng không và 1 phi đội trực thăng.


Hệ thống thứ hai của lực lượng lục quân Inđônêxia là lực lượng dự bị chiến lược, đặt dưới sự chỉ huy và điều hành của Bộ tư lệnh lực lượng dự bị lục quân chiến lược (KOSTRAD); có sở chỉ huy tại Giacácta. Lực lượng này bao gồm hai khung sư đoàn, 13 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn ky binh thiết giáp, 2 lữ đoàn đổ bộ đường không, 5 trung đoàn pháo mặt đất, 4 trung đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn công binh. Tư lệnh KOSTRAD là một sĩ quan cấp thiếu tướng; chỉ huy các sư đoàn là sĩ quan cấp chuẩn tướng.


Trong thành phần của lục quân còn có một số đơn vị thuộc Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt (KOPASSUS) làm nhiệm vụ tác chiến đặc biệt, bao gồm một số binh đoàn cơ động, thường gọi là "lính mũ nồi đỏ". KOPASSUS là lực lượng được huấn luyện thành thục nhất trong quân đội quốc gia Inđônêxia. Lực lượng này gồm những binh sĩ có kinh nghiệm, có sức khoẻ, chấp hành nghiêm kỷ luật, phải trải qua các cuộc kiểm tra nghiêm ngặt về tâm lý và kỹ thuật. KOPASSUS có hai nhóm hoạt động chiến đấu đặc biệt, một nhóm hoạt động bí mật, một đơn vị chống khủng bố (đơn vị 81) và Trung tâm huấn luyện. Sở chỉ huy đóng tại Giacácta. Hầu hết các hoạt động của KOPASSUS được thực hiện bởi các nhóm nhỏ, trong đó các nhân viên đều có đủ kỹ năng đáp ứng bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào, vì họ được huấn luyện hoàn hảo và đồng bộ các chuyên ngành như chiến thuật, kỹ thuật tình báo, thông tin, y tế, phá hoại, các hoạt động bán quân sự... Phần lớn nhân viên của KOPASSUS phục vụ trong đơn vị gần như suốt thời gian đương nhiệm, kể cả những sĩ quan không được thăng quân hàm nhưng có ý thức chấp hành nghiêm kỷ luật. Những đòi hỏi nghiêm ngặt và toàn diện đó chính là những yếu tố tạo nên sức mạnh của KOPASSUS.


Nhằm giải quyết kịp thời và hiệu quả những tình huống khẩn cấp tại các vùng khác nhau trong quần đảo, mới đây lục quân Inđônêxia còn tổ chức "Lực lượng phản ứng nhanh", thường gọi là “Lính mũ nồi xanh". Lực lượng này gồm chủ yếu các binh đoàn sẵn sàng chiến đấu của lục quân cùng với một số đơn vị hải quân và không quân. Đây là một lực lượng được tổ chức theo kinh nghiệm của nhiều nước và xuất phát từ yêu cầu phản ứng mau lẹ của Inđônêxia, một nước có nhiều đảo và diện tích rộng. Để bảo đảm sẵn sàng phản ứng nhanh của lực lượng này, lục quân đã xây dựng các phương án huấn luyện, có diễn tập phối hợp với các lực lượng hải quân và không quân, cũng như phối hợp với lực lượng quân đội các nước trong vùng.


Lục quân Inđônêxia được trang bị các loại xe tăng, thiết giáp, pháo, cối và các loại vũ khí bộ binh khác; trong thành phần lục quân còn có lực lượng tên lửa phòng không và không quân của lục quân.


Theo tài liệu nước ngoài, lực lượng lục quân Inđônêxia được biên chế thành 70 tiểu đoàn bộ binh, 13 tiểu đoàn bộ binh không vận, 4 tiểu đoàn đặc biệt, 8 tiểu đoàn thiết giáp 10 tiểu đoàn pháo mặt đất, 10 tiểu đoàn pháo phòng không, 10 tiểu đoàn công binh và 2 phi đoàn không quân1 (Janes, World Army. lssue 6.2002, p.299-300).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #27 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:45:55 pm »

Hải quân

Là một quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới, với tổng chiều dài bờ biển 25.547 km, Inđônêxia có một vùng đặc quyền kinh tế rộng tới 1.577.300km2, có trên 300 cơ sở khai thác dầu lửa và các tài nguyên khác. Inđônêxia có vị trí chiến lược, án ngữ các tuyến giao thông hàng hải quan trọng từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương qua eo biển Malắcca, nơi chiếm tới hơn 1/3 tổng lượng hàng hoá thông thương bằng đường biển trên thế giới.


Xuất phát từ đặc điểm địa chiến lược trên, ngay từ những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, Chính phủ Inđônêxia đã tập trung nỗ lực phát triển lực lượng hải quân. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế, chính trị lúc đó, lực lượng hải quân Inđônêxia vào cuối những năm 50 cũng chỉ mới được trang bị khoảng hơn 1 chục tàu tuần tra cũ kĩ mua từ các nước châu Âu và Úc.


Vào đầu những năm 60, do những biến động chính trị trong nước và khu vực, đặc biệt là các cuộc tranh chấp về chủ quyền lãnh hải giữa các nước láng giềng, Inđônêxia đã tập trung trọng điểm vào việc phát triển lực lượng hải quân. Chỉ tính riêng trong 4 năm, từ năm 1959 đến năm 1963, Inđônêxia đã mua hàng chục tàu chiến cỡ trung và nhỏ từ Liên Xô và các nước Đông Âu; bên cạnh đó, hàng chục nhà máy sửa chữa tàu cũng được xây dựng ở nhiều nơi trên đất nước. Thời gian đó, hải quân Inđônêxia được xếp vào hạng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Việt Nam - nước đang có chiến tranh và Philippin - nơi có các cơ sở hải quân lớn của Mỹ.


Tuy nhiên, tình trạng đó kéo dài không lâu. Sau cuộc đảo chính lật đổ Đảng Cộng sản Inđônêxia vào năm 1965, quân đội Inđônêxia nói chung và lực lượng hải quân nói riêng rơi vào tình trạng đình đốn. Nhiều sĩ quan cấp cao trong quân đội Inđônêxia bị sa thải do bị tình nghi có quan hệ mật thiết với cộng sản; binh lính hoang mang, dao động, sức chiến đấu trong quân đội giảm sút rõ rệt. Sự kiện đó dẫn tới tình trạng toàn bộ vũ khí, trang bị của lực lượng hải quân không sử dụng được và không có phụ tùng thay thế.


Đến đầu những năm 70, được sự đầu tư thoả đáng của Chính phủ mới, đứng đầu là Tổng thống Xuháctô - một cựu tướng lĩnh trong quân đội, lực lượng hải quân Inđônêxia bước sang một giai đoạn phát triển mới. Năm 1974, Inđônêxia bắt đầu mua các tàu chiến cỡ~àu hạm đội của Mỹ. Năm 1980, Inđônêxia đưa ra kế hoạch "phát triển lực lượng hải quân trong 20 năm". Với kế hoạch đó, trong những năm đầu thập niên 80, Inđônêxia đã mua hàng loạt tàu chiến các loại của Anh, Mỹ, Đức... Cụ thể, năm 1982, mua 14 tàu tuần tra, 18 tàu tuần tiễu duyên hải của Anh, Đức. Tiếp đó, năm 1985, mua 3 tàu chiến lớp Tribal của Anh; năm 1986, mua 6 tàu chiến lớp Van Speijk của Hà Lan. Ngoài ra, vào cuối những năm 80, Inđônêxia còn mua nhiều tàu quét mìn, tàu đổ bộ, tàu phóng lôi Mk-46 và hệ thống vũ khỉ Harpoon của Đức, Nam Tư... Điều làm cho lực lượng hải quân Inđônêxia trở thành lực lượng mạnh nhất khu vực Đông Nam Á vào cuối những năm 80 là nước này đã mua 2 tàu ngầm lớp 209 của Đức và đưa vào trang bị cho hải quân năm 1989.
Bên cạnh việc mua sắm và trang bị cho lực lượng hải quân các trang thiết bị, vũ khí hiện đại, trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, Inđônêxia rất chú trọng phát triển lực lượng không quân hải quân. Vào những năm đó, lực lượng không quân hải quân Inđônêxia đã được trang bị các loại máy bay tương đối hiện đại như máy bay trinh sát hải quân tầm trung Airtech CN-235-100, máy bay trực thăng, máy bay vận tải...


Từ những năm đầu thế kỷ XXI, Inđônêxia rất chú ý phát triển quân chủng hải quân. Hiện nay, hải quân Inđônêxia có các nhiệm vụ: duy trì sự giám sát chặt chẽ đối với các vùng biển thuộc chủ quyền và vùng đặc quyền kinh tế, chống lại các hoạt động đánh bắt cá trái phép và bảo vệ các dàn khoan ngoài biển; làm nhiệm vụ cảnh sát biển, thực hiện luật pháp của nhà nước chống buôn lậu qua đường biển, ngăn chặn nạn cướp biển và đối phó với những trường hợp khẩn cấp khác trên vùng biển; kiểm soát đường giao thông trên biển chạy qua lãnh thổ Inđônêxia, nhất là tại các eo biển Sunđa, Lombok, Ombai và Uêta; yểm trợ hải quân một số nước láng giềng để kiểm soát eo biển chiến lược Malắcca; phối hợp với hải quân các nước trong khu vực khi cần thiết trong các vấn đề thuộc về an ninh và phòng thủ khu vực.


Hải quân Inđônêxia có quân số thường trực từ 4 đến 5 vạn: Năm 1990 có gần 42.000 người; năm 1991 có 42.500; năm 1995 là 43.060; hiện tại có 40.000 người trong đó kể cả hải quân đánh bộ và không quân của hải quân...).


Hải quân tổ chức thành hai hạm đội: Hạm đội miền Đông, có Bộ chỉ huy đóng tại Surabaya và Hạm đội miền Tây có Bộ chỉ huy đóng tại Giacácta.


Hải quân Inđônêxia có trên 100 tàu các loại, chủ yếu là tàu hộ vệ, tàu tuần tiễu, quét mìn, các tốc hạm có trang bị tên lửa hoặc ngư lôi và các hệ thống thiết bị điều khiển điện tử thích hợp với chức năng, nhiệm vụ bảo vệ và phòng thủ. Hải quân có một số tàu ngầm, tàu quét mìn, tàu đổ bộ, tàu bảo đảm..., ngoài ra còn có trên 50 máy bay chiến đấu máy bay vận tải và trực thăng sử dụng cho nhiệm vụ tuần tra biển. Inđônêxia có các căn cứ hải quân nổi tiếng như Gorotalo, Kemgiaran, Surabaya, Giacácta.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #28 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:46:53 pm »

Không quân

Cũng giống như lực lượng hải quân, lực lượng không quân Inđônêxia được manh nha hình thành từ rất sớm. Năm 1946, chỉ hơn 1 năm sau khi Inđônêxia tuyên bố độc lập lực lượng không quân đã trở thành một quân chủng trong cơ cấu của Quân đội an ninh nhân dân (TKR). Vào thời điểm đó, toàn bộ lực lượng không quân Inđônêxia mới chỉ có vài phi công người bản địa với một số máy bay cũ và các sân bay cỡ nhỏ trên các hòn đảo do thực dân Hà Lan để lại Trước năm 1945, toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị của không quân thuộc quyền quản lý của quân đội thuộc địa Hà Lan và chủ yếu làm các nhiệm vụ dân sự như: đưa các quan chức trong bộ máy thuộc địa đi thanh sát các đảo;cùng với các đơn vị cảnh sát bảo vệ các trọng điểm kinh tế của Hà Lan tại Inđônêxia,v.v...


Sau khi giành độc lập, Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia (TKR) đã tiếp quản toàn bộ số cơ sở vật chất trên. Tuy nhiên, trong suốt nhiều năm sau khi giành độc lập, do điều kiện kinh tế, đặc biệt là những bất ổn chính trị trong nước, lực lượng không quân Inđônêxia không phát triển được nhiều. Đến đầu những năm 70, được sự quan tâm đặc biệt của Tổng thống Xuháctô và sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, Inđônêxia bắt đầu đẩy mạnh chương trình phát triển lực lượng không quân. Đến giữa những năm 80, Inđônêxia đã mua một số lượng lớn máy bay của Mỹ và các nước khác, trong đó có các loại máy bay F-16s (8-As, 4-Bs). Năm 1993 đưa vào trang bị cho lực lượng không quân 24 máy bay phản lực Hawk, mua từ Anh...


Do phải bảo vệ một vùng trời rộng lớn từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, tương đương với không phận của nước Mỹ, nên nhiệm vụ của không quân Inđônêxia rất nặng nề. Không quân có trách nhiệm tuần tra, trinh sát, giám sát vùng trời, ngăn chặn các vụ vi phạm không phận, hải phận và vùng đặc quyền kinh tế, luôn luôn duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu chống lại và ngăn ngừa các mối đe doạ đến quốc phòng và vận mệnh của đất nước.


Xuất phát từ đặc thù nhiệm vụ trên đây, từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Inđônêxia chủ trương và có kế hoạch từng bước hiện đại hoá, đổi mới trang bị, phương tiện cho không quân; bên cạnh đó, tập trung xây dựng thêm và nâng cấp các căn cứ không quân hiện có, đặc biệt là căn cứ không quân trên đảo Giava, căn cứ không quân ở Ranai và căn cứ không quân Isahuydi. Đến năm 1992, đa số các sân bay của lực lượng không quân đã có thể tiếp nhận được các loại máy bay chiến đấu, thậm chí cả các loại máy bay dân dụng hiện đại.


Năm 1990, không quân Inđônêxia có 3 phi đội máy bay tiến công và đánh chặn; hai phi đội chống bạo loạn và trinh sát biển; 3 phi đội trực thăng; 4 phi đội vận tải và 3 phi đội huấn luyện với gần 120 máy bay chiến đấu và vận tải các loại, 47 trực thăng và 72 máy bay huấn luyện.


Năm 1995, lực lượng không quân Inđônêxia có khoảng 25.000 quân; 2 phi đội máy bay tiêm kích với 28 máy bay A-4/A-4E; 2 phi đội tiêm-cường kích với 10 máy bay F-5E, 10 máy bay F-16 AJB, ngoài ra còn có các phi đội máy bay vận tải, trinh sát, huấn luyện và các phi đội máy bay lên thẳng, với tổng số máy bay lên tới hơn 140 chiếc các loại1 (Quân đội và trang bị các nước ASEAN, Trung tâm Thông tin khoa học công nghệ môi trường - Bộ Quốc phòng, số 3-1995, tr.9).


Năm 1999, lực lượng không quân Inđônêxia có khoảng 27.000 quân, trong số đó có khoảng 4.000 lính dù (được biên chế trong 4 tiểu đoàn, thuộc Lực lượng không quân phản ứng nhanh) cùng hàng trăm máy bay chiến đấu và phục vụ chiến đấu các loại.


Bộ tư lệnh không quân Inđônêxia có tổng hành dinh đóng tại Giacácta, dưới bộ là 5 cục và bộ tư lệnh trực thuộc: Cục thiết b! và hậu cần, đóng tại Băng đung; Cục huấn luyện chiến đấu, đóng tại Surabaya; 2 cục tác chiến Ko-op I, đóng tại Giacácta và Ko-op II, đóng tại Ugiungpanđang và Bộ tư lệnh phòng không quốc gia, cũng đóng tại Giacácta.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #29 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 07:49:00 pm »

III. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội quốc gia Inđônêxia trong lịch sử và hiện tại

Ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Hà Lan thống trị, quân đội Inđônêxia đã cùng với các tầng lớp nhân dân đấu tranh hoàn thành sứ mạng lịch sử cao cả của mình là giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị thực dân, giành độc lập dân tộc.


Sau khi giành độc lập (1945), quân đội Inđônêxia tuy còn non trẻ nhưng đã trải qua 4 năm chiến đấu hy sinh đầy gian khó, từng chiến đấu trong các khu rừng núi hiểm trở bằng những vũ khí hết sức thô sơ, từ gậy gộc, giáo mác đến súng trường, súng cối để chống lại đội quân xâm lược hùng mạnh đến từ châu Âu.


Truyền thống đấu tranh anh dũng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của ngoại bang đã~ trở thành nét đẹp tiêu biểu trong quân đội Inđônêxia, đó cũng là nền tảng, cơ sở để quân đội Inđônêxia hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành, các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy quân đội Inđônêxia luôn ý thức được điều đó. Tuy nhiên họ cũng cho rằng, để quân đội có thể phát triển một cách vững chắc, đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ mới, nếu chỉ dựa vào những thành tích của quá khứ thì chưa đủ mà còn phải thường xuyên đổi mới, đào tạo và huấn luyện cho thế hệ thanh niên những tri thức mới dựa trên nền tảng ý thức dân tộc và truyền thống vẻ vang của quân đội không ngừng cải tiến, hiện đại hoá tổ chức và trang bị, nhất là mỗi thành viên phải ý thức được nghĩa vụ của mình đối với đất nước.


Quân đội - bộ phận nòng cốt, chủ yếu của lực lượng vũ trang Inđônêxia luôn có trách nhiệm trong hai lĩnh vực:

- Quốc phòng và an ninh.

- Các công việc xã hội và chính trị.

Nhiệm vụ quốc phòng và an ninh của Inđônêxia là xây dựng và phát triển khả năng phòng thủ của đất nước nhằm đối phó có hiệu quả trước các mối đe doạ từ bên trong và bên ngoài, trong đó lực lượng quân đội và cảnh sát quốc gia là những lực lượng vũ trang chủ yếu đảm đương nhiệm vụ.


Theo đạo luật quốc phòng và an ninh của Cộng hoà Inđônêxia, hệ thống quốc phòng và an ninh bao gồm các thành phần:

- Lực lượng vũ trang, trong đó quân đội là thành phần chủ yếu.

- Hệ thống bảo vệ cộng đồng là thành phần đặc biệt.

- Tài nguyên thiên nhiên và các cơ cấu hạ tầng quốc gia là thành phần hỗ trợ.


Hệ thống quốc phòng và an mnh của Inđônêxia được xây dựng và phát triển trên nguyên tắc cơ bản: Quốc phòng và an ninh là của nhân dân, có nghĩa là các lực lượng vũ trang và toàn dân có trách nhiệm như nhau trong việc duy trì an ninh quốc gia và quốc phòng. Mỗi làng xã pr Inđônêxia thường có một đội của "Tổ chức phòng thủ dân sự” gồm thanh niên trong làng xã, chịu trách nhiệm về trật tự, an ninh và có nhiệm vụ giúp đỡ dân làng trong các trường hợp khẩn cấp.


Trên nguyên tắc toàn dân làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và giữ gìn an mnh như quy định của hiến pháp, quân đội Inđônêxia chỉ được phép duy trì một lực lượng thường trực thời bình không quá 30 vạn. Tuy số quân thường trực được duy trì ở tỷ lệ thấp so với số dân, nhưng bên cạnh đó số dân ở lứa tuổi nghĩa vụ quân sự có tới 25 - 30 triệu người cũng là một lực lượng rất quan trọng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu động viên khi cần thiết. Inđônêxia có lực lượng dự bị của quân đội rất lớn; lực lượng này cùng với tổ chức phòng thủ dân sự của các làng xã trong nước là những lực lượng có thể huy động bất cứ lúc nào và trong một thời gian ngắn để mỏ rộng các thành phần quân chính quy trong trường hợp đất nước bị đe doạ.


Lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng của nước Cộng hoà Inđônêxia có hai chức năng cơ bản không thể tách rời:

Một là, bảo vệ đất nước khi có ngoại xâm và duy trì an ninh trong nước.

Hai là, tham gia quá trình phát triển của đất nước.

Chức năng của lực lượng vũ trang Inđônêxia được xác định vừa là một lực lượng phòng thủ và an ninh, đồng thời là một lực lượng chính trị - xã hội.


Trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, lực lượng vũ trang (trong đó nòng cốt là quân đội) không những là một lực lượng quân sự mà còn là một lực lượng chính trị - xã hội; đồng thời tham gia quá trình phát triển đất nước, không chỉ đảm đương những nhiệm vụ trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng mà cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị. Chính vì vậy, quân đội có đại biểu trong các cơ quan lập pháp theo chỉ định mà không qua tổng tuyển cử. Trong quốc hội thường có khoảng một phần ba số đại biểu là quân đội và trong thành phần nội các Inđônêxia có một phần hai là sĩ quan tại chức hoặc đã nghỉ hưu.


Từ ngày thành lập, nước Cộng hoà Inđônêxia luôn theo đuổi 5 nguyên tắc (Pancasila) xây dựng đất nước, được hiến pháp ghi nhận1 (Panca có nghĩa là 5; Sila có nghĩa là nguyên tắc):

- Sila 1: Niềm tin ở đấng tồi cao;

- Sila 2: Nhân đạo chính đáng và văn minh;

- Sila 3: Thống nhất quốc gia;

- Sila 4: Dân chủ trên nền tảng nhất trí của các đại biểu;

- Sila 5: Công lý xã hội cho toàn thể nhân dân Inđônêxia.


Các nguyên tắc trên đây được coi là cơ sở tư tưởng chỉ đạo hành động của quân đội Inđônêxia. Mỗi quân nhân đều phải tự giác chấp hành hiến pháp, thường xuyên nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác huấn luyện quân sự, canh phòng, sẵn sàng chiến đấu cũng như tham gia sản xuất và đề cao ý thức hoàn thành nhiệm vụ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM