phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2009, 04:07:07 pm » |
|
Nguyễn Thị Như TrangVÙNG ĐẢO YÊU THƯƠNG Bút kýNgày 12 tháng...Chúng tôi rời nhà khách vào lúc thành phố đã lên đèn. Mặt trời vừa lặn sau dàn ăngten đài phát hình của thành phố. Gió chiều đã nổi lên, dịu dàng lùa qua những cành me xanh nõn trước sân nhà khách và xua đi cái nóng oi nồng của một ngày hè gay gắt ở phương nam Sài Gòn vào giờ này là lúc thành phố tấp nập nhất, các quán cơm bình dân đông nghịt người, những hàng cà phê đã lập lòe đèn xanh đỏ. Tôi nhìn đám đông đang ăn uống, vui cười và lo âu, hạnh phúc và đau khổ, thảnh thơi và bận rộn lo toan, chợt nghĩ liệu có ai trong số nhưng người này biết rằng, lúc này đây, trên đời vẫn có những người lính đang phải sẵn sàng chiến đấu - chiến đấu với đúng nghĩa tàn khốc của danh từ này với một kẻ thù cụ thể, những con tàu lạ thường xuyên lảng vảng ẩn hiện quanh vùng hải phận nước ta với những âm mưu thâm hiểm khôn lường. Và súng đã nổ, sóng biển đã hòa lẫn máu người, đã có những con tàu của chúng ta ra đi mãi mãi cũng trong một buổi chiều tuyệt đẹp như buổi chiều nay... Phải mất gần nửa giờ len lách giữa những đường phố đông đúc, xe chúng tôi mới ra đến quân cảng. Đã khá đông người với lỉnh kỉnh những gói tặng phẩm lớn nhỏ đứng lố nhố dưới cầu tàu. Đồng chí thuyền phó dẫn tôi về chỗ ở giữa trung tâm con tàu. Anh ân cần nói: - Đây là phòng của em, chị ở đây cùng với mấy cô diễn viên, tha hồ mà vui. Chị và các eô cứ tự nhiên. Hàng ngày hết ca trực em sẽ đến xem chị và các cô có cần gì không? Thấy tôi vào, mấy cô gái đang chí chóe nói cười chợt im bặt, nhưng chỉ vài giây sau, một cô thanh mảnh có đôi mắt đến là đẹp nói liến thoáng: - U ơi, chúng con ưu tiên u nằm giường dưới này nhé. Còn chúng mày - Cô nghiêm mặt ra lệnh - hai đứa leo lên tầng trên nằm im nhắm mắt. Ngủ! Tôi bật cười. Và chúng tôi lập tức thân nhau, rồi bốn cô gái, những diễn viên trong đoàn ca múa tạp kỹ của Nhà hát Tuổi trẻ cộng một mụ đàn bà nhanh chóng biến căn phòng vốn ngăn nắp và hết sức sạch sẽ của đại úy thuyền phó thành hậu trường của sân khấu. Những mắc áo quần biểu diễn treo la liệt khắp các xó xỉnh, trên mặt thảm vương vãi những hạt ô mai, giấy gói kẹo và mùi son phấn, mùi nước hoa thoảng bay ra đến tận cuối hành lang. Tôi cho rằng mình đã gặp may trong chuyến đi, tuy trong thâm tâm tôi thầm ghen với tuổi trẻ. Nhưng cần biết dẹp bỏ tính lẩm cẩm của người đứng tuổi, tôi sẽ có dịp được nhìn lại chính mình về những năm tháng không bao giờ còn trở lại. Điều đó thật thú vị. Tôi thầm nghĩ và ngủ thiếp đi trong tiếng máy rung đều đều và tiếng sóng sông Sài Gòn vỗ về mạn tàu. Sớm mai tàu sẽ nhổ neo. Ngày 13 tháng ...Buổi chiều, Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Hải quân họp báo trong phòng câu lạc bộ sĩ quan. Bản đồ vùng biển và thềm lục địa treo trên cao. Anh Xuân Thanh nói rành rẽ: - Chúng ta đang đi vào vùng dầu khí thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khoảng một tiếng nữa, với tốc độ con tàu từ 11 đến 13 hải lý/giờ, chúng ta sẽ ngang qua vùng bãi Tư Chính, đến trạm dịch vụ kinh tế, khoa học và kỹ thuật Ba Kè thuộc lô 6 vùng dầu khí. Ở khoảng này - chiếc thước nhỏ trong tay anh khoanh một vùng biển thuộc vùng dầu khí - xin các đồng chí lưu ý, vùng bãi Tư Chính đây thường xuất hiện những con tàu lạ xâm phạm trái phép vùng thềm lục địa nước ta. Còn ở gần hai đảo Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa đã xảy ra những trận chiến đấu của hai quân ta nhằm giữ gìn toàn vẹn vùng biển Tổ quốc... Cuộc họp khá đông lặng phắc. Nghe rõ cả tiếng khẽ nhấn nút máy ghi âm của phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam. Người của báo Sài Gòn Giải phóng thì chăm chú ghi lia lịa. Lại có ánh sáng đèn máy ảnh ai đó vừa lóe lên... Còn tôi cứ miên man nghĩ về những con thuyền gỗ mỏng manh xưa kia cha ông đã vượt sóng ngược xuôi một hành trình vạn lý gian nan để làm chủ những hòn đảo ngày ấy còn có chung một cái tên "Quần đảo Bão tố" và "Bãi cát vàng" (Đại Hoàng Sa) từ bao thế kỷ trước. Hẳn rằng ngày ấy, với trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, trên những đội thuyền đi khai thác hải sản và những hóa vật các con tàu bị đắm ngoài khơi ở hai vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa bây giờ, các cụ còn chưa biết rằng, dưới những dặm sâu mặt nước xanh đậm đặc và những bãi san hô tầng tầng lớp lớp dưới đáy thềm lục địa còn ẩn chứa thứ khoáng sán quý hiếm, đó là dầu khí, mà giờ đây chúng ta có nguồn vàng đen ấy trong tay, đất nước sẽ nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kinh tế lạc hậu hiện giờ. Nhưng dẫu là thế nào mặc lòng, người ta chỉ có thể xây những tòa nhà chọc trời với tất cả những tiện nghi hiện đại nhất trên cơ sở phải có một nền đất vững chắc dưới chân. Bởi thế, các thế hệ con cháu bây giờ xin ghi ơn sâu những cánh tay vạn chài vạm vỡ đã phát hiện, đã dựng miếu thờ, đã trồng cây, đào giếng nước ngọt và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo như nhà bác học Lê Quý Đôn đã ghi trong Phủ biên tạp lục từ năm 1776. - Xin chú ý ! Tàu chúng ta đang đi vào khu vực dầu mỏ Bạch Hổ. Mời các đại biểu lên boong tham quan... Tiếng loa truyền thanh chợt vang lên. Cuộc họp nhanh chóng kết thúc. Mọi người xô ra đứng trên boong. Nắng đã dịu. Gió phóng khoáng thổi tràn trề trên vô vàn những con sóng gợn một phút bọt trắng liên tiếp xô vào mạn tàu. Biển xanh đến nao lòng. Và mỏ dầu Bạch Hổ ngay bên trái mạn tàu đang cuồn cuộn nha những cuộn khói đen khổng lồ lên nền trời hè lồng lộng. Ai đó đứng cạnh tôi thốt xuýt xoa. - Mỗi ngày chúng ta mất gần hai tỉ đồng khí đốt bay đi mất ! Một người cầm chiếc đài pin lên tiếng: - Cứ yên tâm, trong tháng 10 tới, công ty Petrô Việt Nam có thể sẽ đưa chất khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ vào nhà máy điện Bà Rịa. Lúc ấy bà xã ông và vợ tôi sẽ thả sức dùng ga nấu cơm và kho cá. Còn xoong nồi thì sạch bóng, khoái phải biết. Tối. Trên mặt boong sau đuôi tàu có cuộc liên hoan nhỏ. Đèn pha dưới chân cột cờ bật sáng lóa. Biến trong đêm trở nhàu đen đặc. Sóng bồng bềnh và âm nhạc đắm say như thực như mơ. Tôi ghé đến bên máy trưởng Phạm Văn Tường: - Đêm đẹp quá. Ngay mai biển lặng chứ? Tường nheo mắt nhìn đường chân sóng trả lời điềm đạm: - Sẽ có gió khoang cấp 5, cấp 6, tàu lắc ít nhiều đấy. Chị chịu sóng được chứ? Tôi lắc đầu thú nhận: - Mình không biết nữa. Có lẽ ... Tường cười: - Đi tàu lớn chị khỏi lo. Gió cấp 5 tàu mới lắc sơ sơ thôi. Trước, ngày em còn làm máy trưởng tàu nhỏ 2.000 sức ngựa, một lần bọn em lọt vào mắt bão gặp gió cấp 14 suốt một đêm ngày. Sóng cao tới cả thục mét liên tục nhồi lắc con tàu không phút giây nào yên. Thủy thủ ngồi trong khoang bị hất từ vách tàu bên này sang bên đối diện rồi bật trở lại, người cứ nhũn ra như tàu dưa héo không còn sức bò dậy nữa. Mọi người trên tàu đã ôm nhau khóc, tưởng không thể sống sót qua trận ấy. Còn em thì đái ra máu vẫn phải bám máy, vì chỉ cần để máy chết một giây là tàu bị sóng nhấn chìm ngay. Chị biết không? Lần ấy thoát được về bờ, em đã thề không xuống tàu nữa. - Nhưng rồi Tường vẫn đi biển. Vì sao ? - Có lẽ vì vì lính tàu bọn em, dù cực khổ mấy cũng không thể sánh được với lính đảo. Bọn em lênh đênh xa bờ hàng tháng, thỉnh thoảng vẫn còn được đặt chân lên đất liền. Còn bọn họ... Em kể chị nghe chuyện này nhé. Hồi ấy em còn ở tàu trắc nghiệm thực địa. Một hôm tàu em neo gần đảo B, đang đo dòng chảy và bãi cạn thì thấy hai người từ trong đảo đang bơi ra tàu. Đến nơi, các cậu ấy khẩn khoản đề nghị thuyền trưởng tụi em cho chở một người bạn họ trên đảo đang đau nặng đi cấp cứu ngay. Thuyền trưởng từ chối, vì công việc ấy không thuộc nhiệm vụ bọn này. Hơn nữa, tàu em cũng đang hoàn thành gấp công việc dang dở. Nhưng rồi cả đêm ấy mọi người trên tàu không ai nhắm mắt được vì lo cho người ốm. Chẳng may nếu có chuyện bất trắc xảy ra rồi mình ân hận suốt đời. Sáng ra, thuyền trưởng lệnh cho liên lạc với đảo, đồng ý chở bệnh binh về đảo lớn có bác sĩ điều trị, nếu vì thế mà tàu trắc nghiệm bị cấp trên khiển trách anh sẽ chịu trách nhiệm. Quyết định của anh ấy khiến mọi người trên tàu thở ra nhẹ nhõm. Bọn em đứng hết lên boong nhìn về đảo ngóng đợi. Khoảng 15 phút sau thấy đảo trưởng ôm người ốm, còn bốn người khác thì bơi cạnh dìu xuống. Cả người ốm lẫn người khỏe đều ướt đầm nước mặn, còn may là sóng chưa lật xuồng. Khi kéo người ốm lên tàu, em có cảm giác cậu ta chỉ nặng chừng 30 kg tính gộp cả tóc tai quần áo. Người bệnh nằm bằn bặt, chân tay lạnh, thở thoi thóp. Cậu ta bị đau nặng đã bốn ngày đêm chỉ húp được vài thìa cháo loãng. Bọn em nhẹ nhàng đặt cậu ta lên giường, trước tiên cần lột bỏ tất cả những thứ gọi là quần áo bẩn cậu ta mang trên người rồi lấy nước ấm lau rửa khắp cái cơ thể hơi hám chỉ còn da bọc xương. Tới đây thì người ốm tỉnh dần, cậu ta chợt thì thào: "Đừng giặt quần áo tôi, phí nước, chỉ cần phơi ra gió". Bọn em nhiều người đã bật khóc. Trời đất! Đã gần chết cậu ta còn lo tiết kiệm nước ngọt. Tường chợt im, lát sau anh nói tiếp: - Thế đấy trong lúc lính đảo cực khổ đến thế mà em lên bờ làm sao còn dám nhìn thẳng mọi người. Chị hiểu chứ ? Tôi gật đầu trầm ngâm: - Còn người ốm? - Cậu ta bị đau ruột thừa, sau khi được mổ ở đảo Trường Sa Lớn đã khỏi, về đất liền rồi. Trăng đầu tháng mỏng như lá liễu treo lơ lửng bên mạn Tàu. Tiếng đàn hát vẫn nhộn nhịp. Vừa chuyển sang tiết mục song ca giữa lính tàu với ca sĩ Mai Anh: Ai đem bắc nhịp cầu tre, cho chàng... là chàng bên ấy thương em... là em bên này... ờ hơ ớ hơ.. . Hát đến đây, cậu chàng hộ pháp vững chãi như bức tượng đồng đen ngượng nghịu liếc người đứng cạnh, tai đo đến tận chân tóc. Khán giả vỗ tay, cười hào hứng. Đêm liên hoan kết thúc khá khuya: Bữa ăn tối được dọn lên. Mì nấu thịt hộp. Mấy cô gái nhộn nhạo xúm quanh chậu mì bốc khói. Mai Anh láu táu: - Tao tưởng đi đảo khổ lắm. Ai ngờ được ăn ngon thế này. Xong đợt biểu diễn mà lên cân, người yêu tao không nhận ra nữa thì chết. Cô diễn viên múa cướp lời: - Thì mày xuống đây với anh thủy thủ hát Nhịp cầu tre với mày đi. Tao thấy hai người nhìn nhau tình ra phết. Chàng cao to, đen, hơi vụng về rất đúng mốt thời đại nhé. Kiểu ấy là chiều người yêu phải biết, chả hơn bọn con trai thành phố bạch diện thư sinh, nói thì dẻo quẹo nhưng bụng dạ chẳng biết thế nào, nay tán em này mai theo em khác ư? Cô ca sĩ ngước mắt bâng khuâng: - Ôi, nhưng ai người ta thiết đến mình. Mày không thấy các anh ấy gọi bọn ta là "đồ thờ cúng", chả ai dám đụng vào đấy ư? Đến "dứa" 1 cũng còn ngại. Cô bạn sôi nổi: - Trời ơi, thế thì mày phái chủ động "dứa" trước chứ. Đồ ngu ơi là ngu. Lại cười. Chậu mì hết veo từ lúc nào. ------------------------- Chú thích: 1. Quả dứa miền Nam gọi là trái thơm, tức là hôn văn công.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 09:01:41 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2009, 04:08:16 pm » |
|
Ngày 14 tháng...
Khoảng 15 giờ tàu ghé đảo chìm đầu tiên trong cuộc hành trình dài ngày. Một chiếc nhà chòi từa tựa cái tháp nước giữa phố phường, có khác chăng, phần nền móng của căn nhà là những cột bê tông lớn phải có búa máy đặc dụng của giàn khoan dầu khí đóng lút xuống nền san hô sâu thẳm.
Tôi leo lên sân thượng nhà sàn. Đứng cạnh giàn ăngten parabôn, dưới chân lá cờ đang phần phật bay trong gió bấc, đồng chí thượng úy đảo phó chăm chú nhìn qua máy ngắm quan sát mặt biển. Tôi đến gần: - Chào anh, có nhìn thấy gì không? Thượng úy lắc đầu: - Bữa nay biển động, ít thuyền ra khơi lắm. - Thế những ngày sóng yên? - Thì thỉnh thoảng có thuyền đánh cá đến trình sổ, lính đảo với dân thuyền có dịp trao đổi dăm ba câu. Họ thường cho bọn em ít cá con làm mồi câu cải thiện. Thế là vui rồi. Đến mùa biển động mới thật là cực, tàu tiếp tế không ra được, lính xơi toàn thịt hộp, ăn mãi thịt hộp, đến khi ốm ngửi mùi thịt hộp thấy ớn sởn da gà.
- Mình có nhìn thấy mấy khay rau của các cậu. - Ở đây bọn em không gọi rau. Đấy là hoa. Hoa của đảo được bọn em chăm sóc còn hơn cả hồng vàng Đà Lạt. Mỗi tuần một lần bọn em được hái một nắm con dền đỏ vớii mấy ngọn rau sam nấu canh. Thế đã là may lắm. Được ngửi mùi rau xanh thấy người khỏe ra. Ở đảo, rau còn quý hơn thuốc bổ, chả thế, suất nước ngọt của lính đảo một ngày bốn ca, đứa nào cũng tự nguyện dành nửa ca tưới rau. Có đêm gió bấc nổi lên không kịp che chắn, sáng ra thấy rau héo hết, lính buồn cả tuần.
Tôi không dám gợi thêm nữa những hy sinh thầm lặng và đằng đẵng khôn cùng ở những người lính sống trên nhà sàn. Mà cần hỏi thêm làm gì nữa, khi tôi đã đặt chân lên cái sân xi măng nóng rẫy trên những cột thép lênh đênh - một cái chấm quá nhỏ nhoi giữa bao la trời và mênh mông nước mặn. Hình như đồng chí thượng úy cảm nhận được những suy nghĩ trong tôi, anh đặt tay lên vai tôi cười nhẹ: - Chị yên tâm. Bây giờ lính đảo bọn em khá hơn trước nhiều rồi. - Nghĩa là ... - Bây giờ đã có chế độ luân phiên, cứ 18 tháng một lần thay quân. Và ở đảo, mọi chế độ đều được hưởng gấp đôi đất liền. - Nhà sàn này chịu được sóng gió cấp mấy? - Theo tính toán thì nó chịu được sức gió cấp 12. Nhưng không một thứ sắt thép nào chịu đựng nổi nước mặn đâu. Chị biết không? Chỉ cần sóng cấp 9 là những dây chằng to cỡ bắp chân thay nhau đứt phừn phựt, nhà sàn bắt đầu lắc lư. - Làm thế nào lúc đó ? - Tôi thốt băn khoăn. - Làm gì ư? Chúng em sẽ điện báo cho đất liền nếu nhà sàn nghiêng. Còn lính đảo thì ôm phao thức suốt đêm chờ nhảy xuống biển. Chứ làm gì được nữa ?
Anh lại cười. Còn tôi thì im lặng. Nói gì thêm cũng là vô ích. Cả đồng lương nghiệt ngã và suất ăn tiêu chuẩn gấp đôi đất liền có là gì nếu người ở đảo có giây phút nào đó ngã lòng trước thiên nhiên hoang sơ và bạo liệt ? Ở đây, nếu thiếu đi tình thương yêu và sự gắn bó máu thịt giữa những người đồng đội và nỗi thèm khát đất liền chợt nguội lạnh trong tim họ, thì người lính sẽ bị nỗi cô đơn và sự sợ hãi đè bẹp tức khắc trước đại dương gầm thét trong những đêm biển động, hoặc mỗi khi có dấu hiệu thù địch xuất hiện trong vòng kính ngắm.
Đồng chí thượng úy chợt nghiêng đầu lắng nghe. Có lẽ các đại biểu trên tàu đã lên nhà sàn đông đủ. Chúng tôi đứng dậy cùng bước xuống cầu thang. Trên chiếc bàn làm việc độc nhất của đảo trưởng đầy ắp những tặng phẩm. Thiếu tướng Trần Cư, đại diện Hội cựu Chiến binh Việt Nam có vẻ rất xúc động: - Chúng tôi, những người lính già lớp trước các em, dẫu bây giờ sức lực đã suy giảm, vai đã chồn, chân đã mỏi, nhưng chúng tôi cũng như nhân dân cả nước luôn luôn ở bên cạnh các em trong nhiệm vụ khó khăn bảo vệ chủ quyền của đất nước.
Trên đảo chìm không tổ chức được sàn diễn. Văn công đành hẹn lính đảo gặp nhau trên boong tàu tối nay. Còn bây giờ: Bích Ngọc xin hát tặng các anh bài hát "Quê hương".
Tất cả bỗng lặng bặt, chỉ còn nghe thấy tiếng gió lùa phần phật trên lả cờ nơi sân thượng hòa quyện với những hương cau, vị khế, và bóng dáng mẹ già xiêu xiêu trên lối mòn chân đê, hai gấu quần mẹ găm đầy hoa cỏ may...
Tối 14 tháng...
Không thấy đồng chí thượng úy đảo phó cùng xuống tàu xem văn nghệ với anh em. Hỏi ra thì biết, cậu ta tự nguyện ở lại trực điện đài thay lính thông tin mới ra đảo...
Xong buổi diễn, lính đảo cỡn dùng dằng nán lại. Cô diễn viên múa đon đả lại gần: - Các anh ơi, ở lại chơi với bọn em đi. Họ chỉ chờ có thế. Mấy chiếc chiếu con được trải trong quầng sáng đèn pha. Lính đảo ngồi xen giữa những cô gái Hà Nội, sung sướng và ngượng nghịu, vụng về. Cô bé Hà ngồi cạnh chàng trai đen nhất trong tốp lính đảo. - Anh này, hàng ngày ở trên ấy các anh làm gì ? - Bọn anh phải thường xuyên quan sát mặt biển và trên không, ngoài ra, bảo quản súng đạn và trồng rau, câu cá. - Có câu được cá to bao giờ không? - Một lần được cá gần hai chục ký... - Thích nhỉ. Em cũng rất thích đi câu cơ. Giá em được ở đây. - Ừ, em mà được ở lại thì bọn anh hoan nghênh lắm... Nhưng con gái các em không chịu khổ được đâu... - Ví dụ? - Phải ăn nước cháo thay canh. - Một này. - Phải tập bơi giỏi để chiến đấu với cá mập khi cần thiết. - Hai này. - Không có nước ngọt gội đầu đâu. Em sẽ gọt trọc như bọn anh thôi. - Eo ơi. Vậy sao em thấy áo quần các anh trắng bóc cả thế này cơ mà. - Vì ... vì nghe tin bọn em sắp ra, các anh đã sửa soạn chờ đón cả tuần nay. Ngày hôm qua đảo trưởng còn ra một mệnh lệnh đặc biệt, cấp cho mỗi người hẳn một xô nước tắm thoải mái. Một cô gái chợt buồn: - Ôi, giá được ước một điều. - Em muốn điều gì nào? - Em ước khong có đảo để các anh khỏi khổ. Lính đảo cười: - Nếu dưới đảo có dầu khí hay kim cương chẳng hạn? Thì ... thì em ước được ra đây luôn với các anh.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 09:04:29 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2009, 04:12:48 pm » |
|
Ngày 15 tháng ...
Tôi chợt tỉnh giấc lúc có tiếng xích sắt va nhau loảng xoảng. Rồi lao vội ra boong. Mưa rồi. Sóng cấp 7. Mặt biển thơ mộng đêm qua đã hoàn toàn biến dạng, nó tự đào những thung lũng sâu hoáy, lại chợt vun lên chao đảo những ụ nước sôi sục bọt trắng. Máy tời thả neo vấn rít lên rổn rảng trên boong. Thuyền trưởng mặt nhợt đi, chắc hẳn vì đã thức suốt đêm. Tàu thả neo hàng chục lượt không có kết quả còn gì. Chỉ có một chuyến xuồng chở văn công và thủ trưởng lên đảo. Tôi lặng lẽ trở về phòng, rồi tàu lắc, bị nôn. Thuyền trưởng đi ngang qua nhìn thấy, đưa cho một gói bạc hà và ngồi nán lại uống một chén trà nóng.
- Chị biết không, vách đảo An Bang dựng đứng như khuỷu tay em đây này. Đã thế, dòng chảy quanh đảo rất xiết và luôn luôn không ổn định. Mỗi lần ra đây bọn em rất cực, có lần đi suốt hai ngày đêm ra đến đảo, thả một lần neo ăn ngay. Anh em mừng hết chỗ nói, nhưng rồi sóng đánh đứt neo luôn, đành phải quay về bờ lấy neo khác. Anh em ở đảo nhìn tàu quay mũi, nhiều cậu ôm mặt khóc. Chị đừng cho là chúng em yếu đuối. Chờ đợi từ nửa năm mới có tàu ra để có rau xanh, nước ngọt, có báo chí và thư từ của bạn bè, người yêu, thế mà đành vuốt mắt trông theo tàu, ai mà cầm lòng được. Lính đảo khóc, lính trên tàu cũng khóc nhìn theo nhau mà đành chịu.
Thuyền trưởng 37 tuổi, giọng nói rất khỏe của vùng biển Quảng Bình. Anh tốt nghiệp nghề chỉ huy tàu biển ở Ba Lan, đã có một vợ hai con. Vợ anh người Huế, chị vốn là sinh viên khoa luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là thẩm phán một quận trên thành phố.
Hổ kể: - Ngày còn học phổ thông em và cô ấy cùng học một trường. Cô ấy rất giỏi văn và làm bí thư chi đoàn. Còn em học khá các môn khoa học tự nhiên, là lớp phó. Những ngày cùng học thì em đùa chơi vậy thôi chứ em cũng không cảm tình đặc biệt gì với cô bí thư. Học hết cấp 3 em đi bộ đội. Còn cô ấy ra Hà Nội thi đại học. Một thời gian sau em được tuyển chọn đi học ở Ba Lan, phải tập trung học ngoại ngữ ở khu Thanh Xuân Bắc. Nào ngờ trường ngoại ngữ lại đối diện với trường cô ấy. Chị coi, chuyện của bọn em cứ như là duyên số vậy. - Mình đã nhìn thấy cô ấy trên bờ quân cảng trước lúc tàu nhổ neo. Con gái Huế có nét riêng, dễ nhận ra lắm.Có vẻ phu nhân của thuyền trưởng rất xao xuyến mỗi khi chồng ra khơi. Hổ cười, nói một câu văn vẻ: - Cô ấy lo em vất vả. Đàn bà là rắc rối lắm, không vững tay lái có lúc chìm xuồng trong nước mắt của họ mất. Tôi cười trêu anh: - Thế thuyền trưởng đã lần nào suýt bị chìm xuồng chưa? - Em chưa định để cho xuồng mình chìm. Câu trả lời khá oái oăm. Đã chìm xuồng mà còn định, tức là người đàn ông phải có bản lĩnh lắm, phải luôn giành thế chủ động trong mọi lúc nguy nan. - Xuồng chưa chìm nhưng neo thì có lần đã mất, cô ấy lo là phải. - Bọn em củng lo lắm chứ. Chị thấy đấy, một con tàu hiện đại đầu tiên của quân chủng được giao cho mình điều khiển, không lo sao được. Lỡ sơ sảy, mình mang tội với mọi người. Mà biển thì sóng gió khôn lường, còn sức người là hữu hạn, em nói đúng không ? Tôi gật đầu: Anh nói tiếp: - Em còn nhớ mãi một lần tàu em được lệnh cấp tốc đi cứu anh em mình gặp nạn. Dạo ấy ở các đảo chìm chưa có các nhà sàn chắc chắn như bây giờ, nên mùa gió lính tàu vất vả lắm. Hôm ấy các đồng chí trên lữ đoàn cho biết, vào lúc quá nưa đêm, anh em thông tin của lữ nhận được điện khẩn từ lô 3 đánh về: "Nhà sàn đang nghiêng". Chỉ có thế, rồi im bặt. Tàu em lập tức ra khơi, máy xả hết tốc lực chạy suốt ngày. Đến khu vực gặp nạn, tàu vớt được bốn người thì trời đã gần tối. Anh em trên tàu đứng hết lên boong, tất cả im lặng nhìn xoáy xuống những con sóng bạc đầu xung quanh. Tuy chẳng một ai đám nói ra, nhưng trong lòng người nào cũng đã thất vọng. Chợt một người bỗng kêu lên, hình như cậu ta vừa thoảng thấy một cánh tay giơ lên. Mọi người vội xô về phía ấy thì cũng vừa lúc cái thùng phuy - chiếc phao cứu sinh của người đang gặp nạn bị sóng đánh văng xa đến hai chục mét. Khi được vớt lên, khắp người cậu ta sây sát tướp máu. Đó là người cuối cùng được vớt lên tàu. - Tức là ngày ấy đảo chỉ có năm người - Tôi hỏi. - Không, còn ba người nữa. - Vẫn sống chứ? Tôi thảng thốt.
Nhưng thuyền trưởng không trả lời. Anh chỉ im lặng khẽ cúi đầu. Tôi chợt hiểu và một thoáng lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Thuyền trưởng nói tiếp, giọng đều đều: - Sau chuyến ấy về em buồn mất mấy ngày. Vợ em cứ băn khoăn: "Hay là mình xin chuyển ngành?". Cô ấy không nói một địa chỉ cụ thể, nhưng em biết cô ấy muốn em về công ty dầu khí, ở đấy em có những bạn bè cùng học đang có mức thu nhập một tháng 5, 6 trăm đô la: Còn giờ đây, thuyền trưỏng cấp thiếu tá, mỗi tháng đi biển không phải tiêu pha tốn kém cũng chỉ phụ giúp vợ năm, sáu trăm ngàn thêm tiền nuôi con. Buổi tối ấy hai đứa đi ngủ sớm. Cô ấy cứ im lặng day trở hoài. Em bỗng thấy thương vợ thấm thía, vừa thương vừa phục đồng chí bí thư chi đoàn trường cũ quá đi. Cô ấy khá vất vả với hai đứa con còn nhỏ, phải tiêu pha dè sẻn, lại thường xuyên lo lắng về chồng, mà cũng phải đắn đo sau trước nhiều đêm rồi cô ấy mới dám gợi ý dè dặt như thế. Còn mình, nào phải gỗ đá gì mà không nghĩ ngợi. Nhưng có điều, tiền bạc đâu phải là tất cả, còn sự gắn bó với anh em cùng chung nhiệm vụ, còn lòng đồng cảm sâu nặng với bạn bè trên đảo nữa, đó cũng là danh dự của một người lính, phải không chị.
Ngày 16 tháng... .
"Lũ vịt con" đã trở về tàu. Lập tức căn phòng lại rối tung rối mù và nồng ấm hơi người. Các con bé oai oái tranh nhau vào phòng tắm trước, rồi chẳng ai chịu nhường ai, cả bốn đứa cùng ùa vào một lượt. Cửa phòng tắm vẫn để ngỏ. Ừ, có ai đâu mà ngại, chỉ mấy u con mình với nhau thôi mà. Nước nóng bốc hơi mờ mờ. Những thân hình mảnh dẻ, những cặp đùi nà nuột. Chao ôi, ngày xưa Từ Thức gặp tiên rồi quên đường về hạ giới chắc cũng chỉ đến thế này chứ gì . Thật tuyệt vời là vẻ đẹp cơ thể của thiếu nữ . "Lũ vịt con" vừa xả nước rao rào vừa tranh nhau kể chuyện: - U ơi, chúng con đáng hát thì máy nổ hỏng, chỉ còn một ánh đèn pin chiếu lên mặt vẫn hát hết bài này đến bài khác, mà các anh ấy vỗ tay mới khiếp chứ. Con được tặng một nhánh san hô, còn cái Hà được con ốc đẹp ơi là đẹp.
- U ơi, các anh ấy thịt hai con chó thết khách. Con nhìn thấy chúng nó bị trói. Thương quá, con bảo anh quản lý: "Em lạy anh đừng giết nó. Anh cứ cho chúng em ăn thịt hộp cũng được. Anh ấy bảo: "Không thể được. Lần đầu tiên các em ra với chúng tôi vất vả thế này, lính đảo có thể suốt đời ăn thịt hộp, nhưng để khách quý phải ăn cái thứ đáng nguyền rủa ấy thì chúng tôi không đáng mặt con trai" . Thế rồi các anh ấy lẳng lặng đưa chó ra tít cuối đảo, để chúng con khỏi nhìn thấy mà. - Nhưng đến bữa mấy đứa có gắp không? Tôi hỏi. - Nhất định không. Tuyệt đối không. Chúng con chỉ ăn cơm nhạt thôi, vừa ăn vừa thương các anh ấy quá. Lính đảo được phát mỗi tháng một người một cân đỗ xanh ngâm giá nhưng làm sao để ngâm giá được bằng nước mặn ? Vì nước ngọt cả đảo chỉ được dùng rất dè sẻn. Tôi lại hỏi : - Nghe nói ở đảo này có rất nhiều ruồi và gián ? - Không, bữa nay sạch lắm, cả đảo rất sạch. Bọn con nằm không màn cũng không thấy có muỗi, chỉ dột, mưa to dột ghê lắm. Buồn cười, cả đảo chỉ trơ trọi mỗi cây dừa, các anh ấy bảo để dành lá cuối năm gói bánh chưng. - Gói bánh chưng bằng lá dừa? - Thế mới thần tình chứ. Là vì nhớ đất liền, nhớ nhà quá phải kỳ công gói bánh chưng cho có tết. Các anh ấy còn dặn, lần sau ai ra nhớ mang cho đảo mấy thẻ hương. Đến tết thì ở đâu mà chả phải thắp hương.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 09:06:57 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2009, 04:20:02 pm » |
|
Ngày 17 tháng...
Lính đảo Thuyền Chài nói: - Ở đây chúng em mỗi khi có việc đến các điểm đón quân, từ điểm nọ đến điểm kia nếu có xuồng tốt đi hai giờ thì đến. Từ cuối năm 91, sau khi thủ trưởng Tổng cục Chính trị ra thăm đảo, bọn em mới được trang bị thuyền máy. Trước đó, mỗi lần họp chi bộ hay có việc gì khẩn cấp, anh em toàn phải lội bộ. - Chà, lội bộ trên mười hải lý ! - Vâng, có cách nào khác đâu chị ? Trên mười hải ly tức là gần hai chục cây số. Quãng đường ấy giá ở đất liền, với sức lực bọn em đi bộ thì chẳng mùi mẽ gì, nhưng ở đây là bãi san hô lởm chởm, sơ ý bước sẩy chân là què, chỗ nào nước nông thì đứng chân được, nhiều quãng phải bơi. - Lính đảo Thuyền Chài bơi giỏi nhỉ. Chả trách cậu nào cũng đen như củ thục. Đã ai gặp cá mập chưa? - Mập cũng có nhiều loại chị ạ. Chỉ mập hoa mới thích ăn người, còn mập nhỏ, hai ba chục ký bơi cạnh nó không sao đâu. Còn chuyện lính đảo Thuyền Chài đen hơn ở nơi khác là tất nhiên thôi. Ở đây may mắn có nền san hô rộng tương đối bằng phẳng, bọn em có điều kiện bắt ốc và kiếm được cá ăn thường xuyên. Chả thế, những đêm tối trời có cậu đứng gác, chim hải âu còn thản nhiên sà xuống đậu trên vai lính, nó coi mình như cái cọc gỗ lim vậy. Chim đậu chán lại bay đi, ít lâu sau lại thấy nó quay về sống bình yên với lính. Ở đây thỉnh thoảng còn có cò từ đất liền bay ra, lại cả chim chích nữa. - Bịa hả ? - Em thề với chị đấy. Những chú chim bé bỏng thương đến là thương, từ đâu đến chả hiểu, đáp xuống lỗ châu mai tha rác về làm tổ. - Lại bịa nữa. Ở đây thì kiếm đâu ra rác? - À, chuyện ấy thì ... đã có bọn em xé tướp những áo lót rách sẵn sàng giúp đỡ một tay cho cô nàng xây dựng lâu đài hạnh phúc.
Tôi cười. Lính đảo ăn nói văn hoa ghê. Vừa chuyện trò với đám lính trẻ, tôi vừa đưa mắt nhìn quanh. Một con tàu chuyển vật liệu xây đựng đang cẩu những khối xi măng lên đảo. Xa hơn chút nữa, vài con thuyền nhỏ xíu lúc hiện lúc mất. Chỉ có thế, nhìn biển đã thấy vui con mắt, đã bớt đi vẻ hoang dại cô đơn, và màu xanh lục lạnh lẽo của đại dương như ấm hẳn lại.
Chúng tôi trở về tàu vào lúc những con sóng phía trời còn thấm đẫm màu nắng. Đồng chí bí thư huyện đảo Trường Sa, Lê Xuân Bạ chỉ cho tôi thấy một con thuyền gỗ đang tiến về phía tàu chúng tôi. - Đấy là thuyền thuộc vùng huyện đảo. - Họ đi xa vậy ? - Vâng, thuyền câu cá mập. Cá mập không mấy khi vào gần bờ, có khi họ phải ra xa gần hải phận quốc tế.
Chúng tôi đi về phía con thuyền vừa cập mạn tàu. Anh Bạ lên tiếng trước: - Câu được mập không? - Hai con - Ông già ria bạc đáp: - Mấy tạ? - Con lớn trên năm tạ. - Tốt rồi. Câu nữa chứ? - Hết nước ngọt rồi. - À, cần nhiều ít? - Mười can thôi. - Anh Bạ dễ dãi gật đầu. - Bảo mấy đứa xách can sang đây.
Ông già đưa mắt cho mấy người đứng sau lái, ba thanh niên lực lưỡng lập tức xách những can nhựa bước sang tàu. Rồi chỉ thoáng sau, những can rỗng sắp một dãy dài quanh vòi nước đang chảy xối xả. Tôi đến bên anh Bạ, khẽ nhắc: - Ông già hỏi xin có mười can. Bí thư huyện đảo trả lời thản nhiên: - Cứ đế họ lấy cho đủ. Đi biển mà thiếu nước ngọt còn làm ăn gì. Có khi câu chưa được con cá nào hết nước phải quay về. Chị không biết chứ, có lần họ còn hỏi xin cả dầu chạy máy. - Chắc khó ? - Được thôi. San sẻ cho họ ít .nhiều, giúp đỡ bà con khác phục khó khăn cũng còn là nhiệm vụ của bọn tôi. Nói chung đời sống bà con dân chài huyện đảo còn cực lắm. Bà con ra khơi chỉ trông vào kinh nghiệm bản thân, chứ chẳng có la bàn hay bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. Cả tháng trời lênh đênh trên biển, những lầu gặp bão chìm thuyền đôi khi vẫn xảy ra. Có khi thuyền họ còn trôi dạt đến tận đất Philíppin hay bờ biển Thái Lan nữa kia. - Phải giải quyết cách nào? -À, sau đó bên ấy họ lại thả cho về. Với dân đánh cá các nước vùng ven biển tiếp giáp nhau, chuyện ấy cũng là thường tình. Nhưng có thể trong thời gian tới, bọn tôi đã có kế hoạch để bà con ở hẳn ngoài đảo trong những tháng mùa cá. Ở gần ngư trường đánh bắt thuận lợi, nhất định sản lượng cá tôm sẽ tăng lên đáng kể, đồng thời mức hao phí xăng dầu giảm hẳn. Cái lời thì đã nhìn thấy rõ, nhưng muốn được như thế cũng còn có nhiều việc phải chuẩn bị. Ví như muốn sơ chế vật phẩm ở đảo phải có thêm nhiều nước ngọt, phải củng cố và mở rộng thêm cơ sở y tế, phải xây thêm nhà cho dân, phải cải tạo môi trường, môi sinh trên đảo. Nói chung, còn khá nhiều cái phải làm, khó khăn không ít, nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước luôn quan tâm đến huyện đảo Trường Sa, nhất định chúng tôi sẽ làm được những công việc đã dự tính. Và trước mắt, phải hoàn thành cầu cảng ở Đảo Lớn, tạo điều kiện cho tàu hải quân và những thuyền cá vào ra dễ dàng.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 09:08:38 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2009, 10:35:58 am » |
|
Ngày 18 tháng... Các đồng chí ở Bộ Tư lệnh Hải quân vùng I kể rằng: Trong những năm tháng cách mạng miền Nam gian nan nhất, có một con thuyền gỗ mỏng manh xuất phát từ những cánh rừng đước vùng Đất Mũi vượt trên hai ngàn cây số đường biển ra hậu phương miền Bắc để báo cáo với Trung ương rằng: "Hãy cho chúng tôi súng đạn, thật nhiều súng đạn, để nhân dân miền Nam giết giặc tự vệ mình. Hơn hai chục năm rồi đã có quá nhiều máu chảy, những đám cháy địch đốt nhà đã kết thành mây, hầu hết các cán bộ trung kiên của phong trào đã hy sinh hoặc bị cầm tù. Không có vũ khí, cách mạng miền Nam sẽ thất bại. Từ đấy đoàn tàu không số ra đời, và đã có hàng ngàn tấn vũ khí được đưa từ hậu phương lớn vào tiền tuyến để làm nên những chiến thắng giòn giã ở Ấp Bắc, Vạn Tường, Bình Giã... Nhưng kẻ địch qủy quyệt cũng đã bắt đầu nghi ngờ những con tàu nhỏ vóc dáng lạ. Chúng tăng cường lực lượng đêm ngày rà soát khắp vùng biển ven bờ. Rồi một ngày kia, chuyện đau lòng tất yếu đã xảy ra, một con tàu của chúng ta gặp nạn. Bị những tàu địch kèm sát, và trên đầu họ, máy bay giặc mỗi lúc xiết chặt thêm vòng lượn. Chúng quyết bắt sống con tàu lẻ loi của ta. Trong tình thế muôn phần hiểm nghèo, anh vẫn bình tĩnh tìm mọi cách để đồng đội thoát lên bờ. Khi còn lại một mìh với con tàu, anh còn kịp quay về hướng bắc chắp tay tạ từ đất liền, rồi xòe diêm châm ngòi nổ khối bộc phá lớn vẫn giấu kín dưới khoang lái có sức công phá đủ mạnh để cả con tàu, cả số vũ khí nó mang theo, và cả cơ thể nóng ấm đầy sức sống của anh phút chốc tan vụn trong bọt biển".Phan Vinh ơi, tên anh hòa cùng sóng nước, trở thành tên đảo mến yêu ... Có một bài hát được ác chiến sĩ luôn hát đã viết về người anh hùng của Hải quân Việt Nam như thế. * * * Đứng trên boong tàu nhìn xuống, đảo Phan Vinh rất giống một con tàu bị mắc cạn, mà ống khói con tàu là đài quan sát xây cao nhất giữa những mái nhà lợp tôn xung quanh. Con tàu đắm ấy nằm giữa một vùng nước đổi màu xanh lá mạ - một "hòn mồ côi" giữa những con sóng bạc đầu. Đại tá Hưng, cán bộ lữ đoàn 147 đứng cạnh tôi, bỗng nói : - Anh em mình trên đảo Phan Vinh khá lắm. Mấy năm liền họ đều đạt đơn vị Quyết thắng, chỉ năm nay có trục trặc. - Chuyện gì hả anh ? Tôi hỏi . - À, năm nay các cậu ấy bị vướng tí kỷ luật. Chẳng là lần trước bọn tôi đi kiểm tra các đảo, đến Phan Vinh bỗng thấy hiện tượng lạ. Có một đôi ngỗng đang dắt nhau đi lang thang dưới chân sóng. Hỏi ra thì được biết, có một thuyền đánh cá mới ghé vào đảo, đem cho anh em đôi ngống này. - Tốt quá, ở giữa biển, có tiếng ngỗng kêu cũng vui cửa vui nhà. Anh Hưng nhìn tôi cười độ lượng: - Đàn bà luôn luôn có trái tim thật đa cảm, người ta nói thế quả không sai. Tôi hơi phật ý : - Như thế là xấu ư? - Không, tôi không định nói thế. Chỉ có điều chị nhớ cho, ở đây cách đảo Châu Viên, nơi quân Trung Quốc chiếm đóng trái phép chưa đến 50 hải lý. Bản thân những con ngỗng thẳng tội vạ gì. Nhưng trong việc này anh em ta ở đây có hai cái sai. Một, để người lạ bước chân lên đảo là điều cấm kỵ. Hai, hiện giờ khoa học kỹ thuật quân sự phát triển đến mức tối tân, biết đâu ở một nơi nào đó trong đôi ngỗng ấy, kẻ địch có thể gài những máy móc tinh vi. - Có thể các anh lo quá xa ? - Bởi vì chính kẻ địch đã dạy chúng tôi những bài học cảnh giác không bao giờ là thừa. Chị biết không? Mới đây thôi, có một xuồng máy xin cập đảo cấp cứu người bị nạn. Ta đồng ý cho người đau lên bờ. Nhưng sau khi bác sĩ trên đảo khám kỹ đi đến kết luận, kẻ lạ mặt đã tự chặt vào cánh tay để có lý do xin lên đảo. Tất nhiên họ lên đảo của chúng ta không phải để chơi ngắm cảnh. Chị hiểu chứ. Thế đấy, chúng ta đang phải đối mặt với những kẻ có tham vọng lớn và quỷ quyệt vô cùng. Đã có lần lợi dụng đêm tối, họ thả bè nổi cắm cờ nước láng giềng đi vào bãi san hô vùng thềm lục địa nước ta neo lại đó. Sáng ra quân ta nhìn thấy cờ bèn đến thu lại, thế là đôi bên nổ súng. Mà súng đã nổ làm sao tránh được chuyện đổ máu, phải không chị ? Tôi im lặng. Quả thật sự đa cảm ở đây là không cần thiết. Chiến tranh khốc liệt với những tình huống nan giải phải được nhìn nhận với đúng nghĩa của nó. Ở giữa đại dương trong tầm nhìn xa, mọi vật đều có thể thiếu chính xác. Bởi vậy, khi đặt chân lên "con tàu đắm" tôi thấy vui vui. Ở đây vườn rau xanh bề thế, nhiều chủng loại hơn các nơi chúng tôi đã đến. Ở đây có khoảng sân rộng đủ chỗ làm sàn diễn, lại có giàn ăngten parabôn để anh em được xem chương trình truyền hình thời sự trên ti vi mỗi buổi tối. Có lẽ chính vì thế, lính đảo Phan Vinh vui vẻ, hồ hởi, tự tin hơn. Trong buổi hội ý với các cán bộ chủ chốt của đảo và Bộ Tư lệnh Hải quân vùng I, đồng chí trung tướng phát biểu như nói lên một tâm sự. - Lần này chúng ta đi kiểm tra các đảo cũng là dịp ta kiểm tra lại chính bản thân mình. Ta cần xem lại sự gắn bó, lòng tin cậy giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới có điều gì cần bàn. Vì đây là vấn đề rất quan trọng ở một môi trường đời sống vật chất và tinh thần có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như trên các đảo. Ở đây, mối quan tâm đến đời sống bộ đội được thể hiện ở những việc làm cụ thể. Tôi đề nghị các đồng chí ở Bộ Tư lệnh Hải quân phải có phương án sửa chữa ngay những giàn ăngten, những ti vi và đài điện bị hỏng hóc, không được để anh em bị gián đoạn thông tin hàng ngày. Phải chở tôn ở đất liền ra sửa chữa ngay những nhà bị dột. Ở những báo cáo định kỳ phải cụ thể tình hình vật chất hàng ngày về rau xanh, nước ngọt, cả đến thuốc đánh răng và mì chính, không được coi đấy là những vấn đề nho nhặt. Còn về phần các đồng chí ở đơn vị cần quán triệt vấn đề này: chúng ta có chế độ luân phiên, nhưng không được có tư tưởng tạm bợ, chỉ như thế ta mới tạo được một cuộc sống vui vẻ, phấn khởi để bộ đội yên tâm làm nhiệm vụ... Đảo trưởng Nguyễn Sinh Vịnh nói: - Báo cáo thủ trưởng Tổng cục và các đại biểu, xin các đồng chí hãy tin tưởng chúng tôi, anh em trên đảo Phan Vinh nguyện không tiếc thân giữ vững vùng biển chủ quyền của Tổ quốc. Tôi hiểu, đây không phải là lời hứa có tính chất nghi thức. Bởi ở nơi này, những tàu chiến lạ đã có lần đến cách đảo chỉ 3, 4 hải lý. Ở đây, những nòng súng được lau chùi và kiểm tra thường xuyên, và những đêm tối trời đầy giông gió các chiến sĩ và những con chó tinh khôn của đảo vẫn thường xuyên canh gác nghiêm ngặt quanh đảo, dưới chân ngôi mộ một người đồng đội của họ đã hy sinh được đặt nằm trên một mỏm đất khô ráo phía sau cột mốc chủ quyền. Tối nay ở đảo là một ngày hội. Lính trẻ mời văn công đến thăm từng nhà. Trong các bếp sức nức mùi cá rán. Bọn con gái tranh nhau công việc bếp núc. Riêng đảo trưởng Nguyễn Sinh Vịnh suốt từ sau cuộc vui chung vẫn ngồi cặp kè với ca sĩ Trọng Thủy. Khuya lắm rồi. Máy nổ đã tắt. Một ngọn đèn tọa đăng đặt giữa chiếu trong chòi quan sát cạnh những bát chè còn đầy và đĩa mực khô xé nhỏ. Tiếng ghi ta xa vắng và giọng Thuỷ đầm ấm: " Ta còn, em cây bàng mồ côi mùa đông. Ta còn em, góc phố mồ côi màu đông ... Mùa đông năm ấy, tiếng dương cầm trong căn nhà đổ. Tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân ... "Đảo trưởng bỗng ghé vai người ngồi bên: - Về xách cho anh cả can rượu ra đây: Hôm nay đảo ta ăn tết trước. Nhanh lên em. Cả chị cũng uống với những thằng em nhá. Người nghe tụ tập quanh chiếu đông dần. Rượu rót tràn trề. Ai uống cứ tự nhiên. Đợi Thủy hát dứt, thiếu tá Mừng từ nãy vẫn ngồi nghe chăm chú, chợt hắng giọng: - Mời anh Thủy uống cạn chén này với em. Rồi em xin hát một bài góp vui . Vịnh vỗ tay hào hứng: - Đấy nhá. Người của đảo tài ba ra phết đấy. Xin được trân trọng giới thiệu, đồng chí đảo phó của chúng tôi quê Hà Bắc hát quan họ rất hay. Hoan hô. Trọng Thủy nâng chén rượu uống một hớp, tủm tỉm nhìn Mừng gần như âu yếm. Có lẽ đã lâu lắm anh mới có dịp trở về sống trong lòng đồng đội và hát cùng bè bạn như thời gian anh còn là một lính mới thuộc bộ đội xăng dầu trong chiến tranh chống Mỹ trước đây. Từ lâu, Trọng Thủy đã trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp. Những chương trình ca nhạc chọn lọc trên ti vi ít khi thiếu vắng anh, tên tuổi chất giọng trầm ấm của anh được nhiều người hâm mộ. Anh những tưởng mình đã quá quen với những tràng vỗ tay của đám cử tọa chọn lọc giữa phố phường, quá quen với ánh đèn sân khấu lộng lẫy, vậy mà trong một đêm như đêm nay, ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu trải giữa trời sao mênh mông ở đảo, giữa những người lính khiêm nhường giản dị này, anh bỗng thấy lòng mình tràn ngập niềm cảm xúc khó tả. Bởi anh biết rằng, chỉ lát nữa thôi đêm sẽ hết, một ngày mới sẽ đến, anh lại tiếp tục cuộc hành trình đến những miền đất khác, còn những người bạn đã thật tình yêu quý anh, đã cùng anh uống hết một can rượu đầy với những miếng khô mực nồng vị biển, đã cùng anh hát với nhau suốt một đêm trắng, biết sau này ta có còn được gặp lại nhau chăng? Bất giác, anh cùng cất tiếng hát với đồng chí đảo phó những câu hát cổ xưa nói về nỗi đợi chờ mòn mỏi: "Thương nhớ ờ nơi đây, chim ơi đêm sắp tàn, trăng tà. Người đi xa có nhớ ai về trông cánh chim trời sao chẳng thấy ai ... ". Trăng tà, đêm sắp tàn rồi sao? Không, đường chân trời đã rạng lên chút xanh nhạt, mơ hồ, chỉ còn biển vẫn cồn cào trong màu tím đen. Đêm tàn thật rồi! Biệt ly, nhớ nhung từ đây... Đừng, những lời này đâu phải để cho những người đàn ông nói với nhau lúc chia biệt. Nhưng dẫu sao, khi xa nhau có ai vui bao giờ. Ôi còi tàu như xé đôi lòng... Ngày đã rạng rồi! Tôi chợt cảm thấy mắt mình đã nóng lên, bởi tôi biết rằng, sau đây dẫu ở nơi nào mặc lòng, dẫu tôi hạnh phúc hay phiền muộn, cô đơn, không bao giờ tôi có thể quên những bạn bè tôi đã gặp trong chuyến đi này, không thể quên Trường Sa bão tố - vùng đảo yêu thương, nơi mà tôi đã được sống những giờ phút đáng ghi nhớ trong một đời người ngắn ngủi như đêm nay. Tháng 5-1994 N.T.N.T
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2009, 01:19:18 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2009, 10:38:18 am » |
|
Nguyễn Trí HuânCÔ GÁI VÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH ĐẢO Bút ký Cô gái ngập ngừng bước lên boong tàu. Lễ đón Đoàn Quân sự cấp cao ra thăm quần đảo Trường Sa vừa kết thúc. Một cánh hoa trắng muốt như một cánh bướm mỏng manh đậu lại trên sàn tàu. Cô cúi xuống nhặt cánh hoa, áp chặt vào đôi bàn tay mình. Người ta nói các chiến sĩ trên đảo thèm thấy từng ngọn cỏ, từng cánh hoa, thì cô sẽ đem cánh hoa lẻ loi ấy đến với họ. Cô sẽ hát cho họ nghe về hoa sữa, hoa xoan, về hoa cỏ may ... Cô vốn là sinh viên năm thứ ba của một trường đại học. Cuộc đời làm một giáo viên văn học suôn sẻ đang mở ra trước mắt cô. Nhưng nghệ thuật ca hát đã cuốn hút cô một cách mãnh liệt là thế là cô giấu ba mẹ nộp đơn xin thi vào trường Nghệ thuật Quân đội. Với dáng người mảnh mai, đôi mát sáng và một giọng hát trời cho, cô đã chiếm được cảm tình của ban giám khảo ngay từ những giây phút đầu tiên. Sau này, có người hỏi cô tại sao lại xin thi vào Trường Nghệ thuật Quân đội mà không thi tuyển vào Nhạc viện? Cô đã không trả lời câu hỏi ấy. Cô yêu những người lính và chỉ nghĩ đến việc được đi, được đến những miền đất xa xôi của Tổ quốc, trái tim cô đã đập rộn lên vì xúc động. Bây giờ thỉ cô đang ở trên một con tàu lớn. Một con tàu, nói theo cách nói của các thủy thủ, mang đầy chiến tích trên mình nó sau sự biến năm 1988. Xung quanh cô, mọi người đang hối hả chuẩn bị cho chuyến đi. Tiếng xích sắt nhổ neo vang động trên mặt sông. Tiếng máy tàu và tiếng cười. Một sĩ quan trẻ đến bên cạnh cô. Cô ngước lên nhìn anh, một cái nhìn vừa bối rối, vừa tin cậy. " Bạn nên trở về phòng thu xếp chỗ nghỉ. Tàu sắp rời bến rồi !". Anh nói đoạn cúi xuống đỡ chiếc túi xách trên tay cô. Cô ngoan ngoãn đi theo anh và giật mình khi nghe tiếng còi tàu. Anh bảo đó là con tàu đang từ giã đất liền. Cô nghe sao tiếng còi như tiếng người. Lúc đó cô không hề biết rằng, cái tiếng còi nôn nao như tiếng ngươi ấy sẽ còn vang động mãi trong cuộc đời của cô. *** Cách đây ít ngày, một đạo diễn phim Truyền hình Quân đội đến trường tìm cô, mời cô đi Trường Sa giúp anh làm một cuốn phim ca nhạc. Để chuẩn bị cho chuyến đi, cô đã đọc khá nhiều sách báo viết về Trường Sa nơi mà những người lính thủy vẫn quen gọi là quần đảo bão tố. Cô hình dung ra từ rất xa xưa vào các triều vua từ thời Hậu Lê, những con thuyền buồm, những chiếc bè mảng ghép công phu bằng tre và bảy chục trai đinh khỏe mạnh tuyển dụng từ phủ Quy Nhơn đã lênh đênh trên sóng ra quần đảo ba bốn tháng ròng mỗi năm để đánh bắt hả sản và thu lượm đồ vàng, bạc từ các con tàu đắm mang về cống nạp cho triều đình. Cha ông chúng ta đã khẳng định chủ quyền bằng những chuyến đi gian khổ và mạo hiểm ấy. Một sĩ quan tham mưu của Quân chủng Hải quân, trong thời gian nhàn rỗi trên tàu cũng kể cho cô nghe về những chuyến đi huyền thoại của những con tàu không số do anh làm thuyền trưởng. Những con tàu hiện đại hơn so với những con thuyền buồm, những bè mảng thời xưa song vẫn hết sức nhỏ nhoi giữa biển cả. Những con tàu đó chở đầy vũ khí thường xuất phát từ cảng Hải Phòng. Dưới đáy tàu cột sẵn một khối thuốc nổ lớn, để khi cần, cả tàu và người có thể nổ tung xóa sạch dấu vết không để lọt vào tay địch. Không ít những con tàu ra đi rồi vĩnh viễn không trở về Những con tàu may mắn hơn đã cập được vào các cửa sông ở Quảng Ngãi, Kiên Giang và cả đất mũi Cà Mau ... Anh bảo chuyến đi nào, các anh cũng rẽ vào một trong vô số những hòn đảo của quần đảo Trương Sa để tìm nước ngọt,nhặt trứng chim bổ sung lương thực cho cuộc hành trình Những ngay đó, quân ngụy chỉ đủ sức chiếm giữ một vài hòn đảo có cây cối. Còn lại là đảo hoang. Cư dân trên đảo là những bầy chim hải âu, những đàn vích đông tới hàng ngàn con. Vào những buổi chiều cả một vùng biển san hô hừng lên một màu xanh ngọc và những đàn hải âu bay rợp một góc trời. Vậy mà sau năm 1975, nhiều quốc gia trong vùng đều lên tiếng tuyên bố quần đảo hoang vắng thuộc chủ quyền cửa họ. Nhất là khi các quốc gia giàu có, giật mình nhận ra rằng, nguồn tài nguyên trên đất liền mà họ đã khai thác một cách vô tội vạ bắt đầu cạn kiệt. Và thế là họ đổ xô ra biển. Đã xảy ra những cuộc xung đột đẫm máu trên quần đảo vào năm 1988. Hơn một chục chiến sĩ đã ngã xuống bảo vệ chủ quyền của vùng biển đang giấu trong lòng nó một trữ lượng dầu lửa và hải sản rất lớn. Có những con tàu đã được lệnh lao vào bãi san hô ngầm, tự đánh đắm mình, lấy cả con tàu làm một cột mốc chủ quyền ... Vào ngày thứ ba, tàu đến đảo Đá Lớn. Những ấn tượng đầu tiên cửa cô về hòn đảo thật đặc biệt, vừa sửng sốt vừa cảm động. Trên mặt biển mênh mông một màu xanh đậm bỗng hiện lên một vùng xanh ngọc lấp lánh ở giữa quầng xanh sáng ấy là một ngôi nhà từa tựa một chiếc lô cốt. Một ngọn cờ đỏ tung bay trên nóc nhà. Đó là nơi ở, là điểm tựa của các chiến sĩ giữ đảo. Sở dĩ các chiến sĩ hải quân gọi đảo Đá Lớn và nhiều hòn đảo khác là đảo chìm vì toàn bộ bề mặt của đảo nằm sâu dưới mặt nước. Chỉ khi nước thấy triều rút, đảo mới được nhận dạng một cách đầy đủ nhờ những tảng đá nằm lô nhô trên mặt nước. Bởi vậy, tàu không thể cập được vào bờ mà phải neo đậu ở xa. Muốn vào đảo phải dùng xuồng và cũng chỉ vào hoặc ra khi nước thủy triều lên cao nhất. Lúc ấy, trên bờ đảo những người lính đã xếp hàng tề chỉnh quần xanh, áo trắng đón đoàn theo nghi thức của biển. Cô bỡ ngỡ bước lên bờ. Mọi cặp mắt tin cậy, trong trẻo đổ dồn vào cô. Cô nắm lấy bàn tay của từng người. Người lính nào cũng muốn lưu giữ bàn tay cô trong bàn tay mình lâu hơn. Da họ đen cháy, nụ cười trắng xóa và mái tóc thì đỏ hoe như tóc cửa các ca sĩ nhạc Rốc. Cô theo những người lính lên đảo. Họ đẫn cô vào căn bếp ám khói chật chội, dẫn cô đi thăm những chậu rau muống, rau sam còi cọc. Cô leo lên sân thượng. Sân thượng vừa là đài quan sát, vừa là trận địa phòng thủ, vừa là sân phơi những con hải sâm, một sản vật quý giá của biển. "Bọn tôi còn nuôi cả đồi mồi nữa". Một chiến sĩ nói. Cô ngẩn người khi chợt nhận ra rằng biển hào phóng bao nhiêu thì lại chật hẹp bấy nhiêu. Suốt ngày đêm, quanh năm suốt tháng, những người lính đảo chỉ có vài chục mét vuông để sống, ăn uống và đi lại. - Cô đừng lo. Không có gì lính đảo không thích nghi được. Một người khác an ủi cô - Chỉ có nỗi nhớ đất liền. Đêm hôm ấy, trên con tàu, cô đã hát cho các chiến sĩ đảo Đá Lớn nghe những bài hát về đất liền, về tình yêu lứa đôi. Khác với các diễn viên của đoàn văn công Hải quân mặc sắc phục biển, cô mặc áo dài, chiếc áo màu hoàng yến của cô như một ráng mây sà xuống làm sáng chói cả boong tàu. Cô có cảm giác chưa bao giờ mình hát hay như vậy. Trước mắt cô, những khuôn mặt trẻ trung, cháy nắng ngẩng lên chăm chú nhìn cô khích lệ, khao khát. Sau lưng họ là biển cả, là những ngày đêm dài dặc nối tiếp nhau. Hai chục mét vuông. Liệu họ sẽ làm gì khi công việc cũng không thể làm nỗi nhớ đất liền của họ khuây khỏa. Đến bài hát cuối cùng, cô ngập ngừng dừng lại: - Lần đầu tiên em đến với các anh - Cô nói - Thời gian quá ư ngắn ngủi. Sớm mai em lại phải theo con tàu đi rồi. Em xin hát tặng các anh bài "Giã bạn". Bài hát này, lần đầu tiên trong đời, cô đã hát trong nước mắt.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2009, 01:22:19 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2009, 10:42:21 am » |
|
Hầu như tất cả các đảo chìm đều từa tựa giống nhau. Những khuôn mặt trẻ trung, cởi mở. Hai chục mét vuông phơi đầy những con hải sâm, cá thu, ốc nón và cuộc đón tiếp không ồn ào nhưng đằm thắm. Có đảo, do hành trình ngắn, văn công đi xuồng vào biểu diễn ban ngày trên đảo. Còn phần lớn, tàu dừng lại ban đêm, đón các chiến sĩ lên xem trên tàu. Họ thường đến sớm, tranh thủ tắm giặt, gặp bạn bè, mua sắm một vài thứ do căng tin tàu nhượng lại. Sau đêm diễn, họ ngồi xem video trên sàn tàu suốt đêm cho đến khi mặt biển đổi màu, sáng bạc trước mắt họ. Ở đảo chìm Đá Nam, cô được nghe kể một trong những câu chuyện kỳ vĩ nhất của đảo. Một huyền thoại. Đó là vào năm 1989 khi ngôi nhà trên đảo, hồi đó chỉ là một chiếc pông-tông lớn được neo chặt xuống nền san hô. Hơn mười chiến sĩ ăn ngủ, sinh hoạt giữ đảo trên chiếc pông-tông đó. Số phận đã xô đẩy họ vào một cơn bão lớn. Những sợi xích sắt khổng lồ neo tàu bị đứt, máy liên lạc hỏng, chiếc pông-tông đã cùng họ trôi giạt hơn mười ngày trên biển và nơi cập bến của họ thật oái oăm: một hàng không mẫu hạm Mỹ. Trước khi chấp nhận lời đề nghị cứu hộ, các cán bộ và chiến sĩ trên đảo đã đề nghị với viên sĩ quan liên lạc Mỹ, chiếc pông-tông, ngôi nhà thân yêu của họ phải được kéo đi theo. Lúc đã tập kết đầy đủ trên chiếc tàu của kẻ thù cũ, khi được hỏi nguyện vọng, các chiến sĩ đều nói rằng họ cần được trao trả về Tổ quốc, về đảo Đá Nam của họ. Lời đề nghị ấy đã được viên đô đốc hàng không mẫu hạm Mỹ chấp nhận. Họ sẽ được đưa về Philippin, nơi có sứ quán Việt Nam và cũng là nơi gần con tàu nhất. Nhưng chiếc pông-tông cũ kỹ thì không thể đưa đi được . "Phải hủy bỏ". Viên sĩ quan liên lạc nói. Biết không còn cách nào khác, các chiến sĩ đảo Đá Nam đồng ý, với điều kiện họ phải được nhìn thấy chiếc pông-tông chìm trước mắt mình. Nửa giờ sau, họ được đưa vào một căn phòng lớn, có màn hình và khi khối thuốc nổ gắn dưới đáy pông-tông lòe lên một tia chớp, những người lính đảo Đá Nam đã ôm nhau khóc. Họ đã vĩnh biệt ngôi nhà thân yêu của mình như vậy. "Tôi không hiểu các ngài - Viên sĩ quan liên lạc nói - Đó chỉ là một chiếc pông-tông cũ kỹ". Đảo chìm có nhiều chuyện vui, nhưng cũng không ít những chuyện buồn. Đó là khi các chiến sĩ trên đảo háo hức nhận quà của một công ty thuốc lá. Một món quà thật đáng kể bởi mỗi người được tới hai ba, cây thuốc. Dù chỉ là loại thuốc bình dân nhưng cũng vô cùng quý giá đối với lính đảo. Nhưng đến khi bóc thuốc hút thì mọi người đều sững sờ vì tất cả đều là thuốc mốc. Điều này đã gây ra không ít phiền muộn cho những người lính. Đó là khi một chiến sĩ ốm. Bữa ăn trên đảo trở nên nhợt nhạt, vô nghĩa. Mọi người cuống quýt lo lắng. Ốm nặng thì phải điện xin xuồng đưa người bệnh lên đảo nổi, nặng nữa thì phải chờ đất liền... Có lần, đoàn của cô lên biểu diễn ban ngày trên đảo Cô Lin. Một chiến sĩ ốm không ngồi dậy được. Lập tức, sàn diễn được tổ chức ngay cạnh giường người bệnh. Trong lúc các ca sĩ biểu diễn cô ngồi quạt cho anh. Cô biết rằng, những lúc như thế này, các anh cần một mái ấm gia đình, cần mẹ bao nhiêu mà cô, dù thế nào cũng không thể thay thế. Cô nhớ tới những ngôi mộ côi cút trên những hòn đảo nổi. Đó là mộ của các chiến sĩ đã hy sinh trong sự biến năm 1988, một vài người mất vì tai nạn khi vác đá xây đảo, có người chết vì bệnh tật... Mắt cô bỗng cay xè. Đúng lúc đó, người dẫn chương trình giới thiệu cô lên hát. Làm sao cô có thể hát trong trạng thái mà chỉ cần một xúc động nhỏ thôi cô sẽ òa lên khóc. Phải nửa giờ sau, cô mới đứng dậy được, lưng tựa vào tường nhà với một khuôn mặt buồn rười rượi. Buổi gặp gỡ, biểu diễn trở thành buổi chia tay. Cả người đi, người ở đều cảm thấy có một việc gì đó chưa được làm trọn vẹn. Cô bứt rứt ân hận. Cho đến lúc đã ngồi trên xuồng trở lại tàu, cô vẫn như thấy đôi mắt sáng rực trong cơn sốt của anh chiến sĩ và bàn tay anh, một bàn tay gân guốc như còn đốt lửa trong bàn tay nhỏ bé cửa cô. *** Cuộc sống của các chiến sĩ trên đảo nổi khác nhiều so với cuộc sống trên những hòn đảo chìm. Từ rất xa trên boong tàu, cô đã có thể nhìn thấy một màu xanh thưa thớt của lá cây nổi bật giữa màu xanh đậm đặc của biển cả. Đó là những vạt rừng phong ba, những rặng bàng vuông và những cây dừa cao vọt lên, lẻ loi. Bờ đảo mọc lan man những dây muống biển. Riêng nước ngọt thì cả đảo nổi, đảo chìm đều quý hiếm như nhau. Có đêm trên đảo Nam Yết, giữa lúc mọi người đang xem video thì một cơn dông bất chợt nổi lên. Một vài hạt mưa rắc nhẹ trên mặt đảo. Lập tức, các chiến sĩ vội vã chạy ùa về nhà và chỉ lát sau, tiếng máng tôn, tiếng xoong chậu va nhau đã náo động khắp đảo. Nhưng trời đã không mưa. Cơn dông chỉ thoáng qua như một giấc mơ ngắn ngủi. Đảo nổi còn có giàn ăngten parabôn mới được lắp đặt. Máy thu hình ở đây nét và đẹp không thua kém gì ở Hà Nội. Duy chỉ có sự thiếu thốn tình cảm là giống nhau. Đất liền! Hai tiếng ấy luôn vang động trong tâm tưởng những người lính đảo. Lính đảo nhớ đất liền, nỗi nhớ thường trực, cồn cào, họ thèm một bát canh cua, một quả cà pháo, thèm một góc phố với những quán phở ám khói đầy bụi. Cái mà những người lính đảo mong đợi nhiều nhất và hầu như không bao giờ thỏa mãn là những lá thư từ đất liền. Vào một buổi trưa trên đảo Sinh Tồn Đông, cô đang đứng trên bờ đảo mê mải nhìn những đợt sóng ào ạt đổ qua bãi đá ngầm. Sát mép sóng là ba chiến sĩ, ngực trần đỏ au đang xách những tay lưới màu xanh thong thả bước trên nền cát san hô trắng xóa. Bỗng có tiếng gọi từ sân đảo: - Có thư. Anh em ơi, ra mà nhận thư! Cả ba người lính cuống cuồng cất vội những tay lưới trên một chạc cây phong ba rồi cũng chạy lao lên bờ. Cát lún sâu dưới đôi bàn chân họ. Ở khắp các dãy lán trên đảo, tiếng chân chạy vang lên. Gió biển thổi ồn ao. Hàng trăm người bỏ dở những giấc ngủ, những quân bài đổ dồn về sân đảo, nơi người đưa thư đang chờ họ. Có cả một bó thư lớn. Những bàn tay giơ lên, chen chúc. Những tên người lần lượt được đọc to theo bì thư. Người có thư nhận như chụp giật lấy lá thư, mướt mải len ra vòng ngoài xé thư hấp tấp rồi đứng đọc ngay giữa sân đảo, dưới trời nắng hừng hực. Họ không đủ kiên nhẫn mang những lá thư đó về nhà. Sân đảo ầm ĩ, huyên náo, bụi cát cuốn lên mù mịt. Rồi vòng người tản ra thưa dần. Sau rốt, chỉ còn lại một vài người. Khuôn mặt họ thẫn thờ, xá đi tê tái vì thất vọng. Người lính cuối cùng rời khỏi sân đảo một cách uể oải. Mồ hôi túa ra trên trán anh. Anh gục đầu vào thân một cây bàng vuông. Lòng cô se lại. Cô nghĩ những người thân của anh thật tàn nhẫn. Nếu họ biết anh khao khát những lá thư của họ đến mức nào, hẳn họ sẽ không vô tình đến như thế. Cô chợt nhớ tới những lá thư các bạn gái trong chi đoàn của cô gửi cho các chiến sĩ trên đảo. Cô vội chạy về phòng, lục tìm trong túi xách rồi lặng lẽ đến bên anh, gọi khẽ: - Anh ơi, có thư này! Người chiến sĩ chợt quay phắt lại. Đôi mắt anh đỏ hoe. Anh ngẩn ngơ nhìn cô, bàn tay khẽ run lên. "Cảm ơn em. Anh nói - Cũng chỉ vì bọn anh nhớ đất liền quá!". Đôi mắt của anh đã ám ảnh cô. Một đôi mắt lạ lùng. Buổi chiều, cô tìm ra phân đội hỏa lực. Lúc đó anh đang ngồi với nhưng lá thư trên bờ đảo, dưới tán lá của những cây phong ba cằn cỗi. Cô ngồi xuống bên cạnh anh, nói với anh về những đứa bạn gái trong chi đoàn của mình. Cô lo ngại những lá thư xa lạ kia không làm cho anh thỏa mãn. Thoạt đầu cô thấy anh bối rối bởi sự xuất hiện đột ngột của mình. Anh thở gấp, đôi mắt hằn lên những vệt đo đỏ. Bằng sự mẫn cảm của một người con gái, cô nhận thấy ở anh có một điều gì đó không bình thường. Giọng anh lạc đi. Cô sợ hãi đứng dậy nhưng không kịp. Anh đã ôm choàng lấy cô. "Đừng anh !". Cô kêu lên và cố gắng nhoài ra khỏi bàn tay rắn chắc của anh. Anh chồm dậy theo rồi bất chợt khựng lại, ngơ ngác. Người anh rũ ra. Cô chạy lao về phòng. Cô không hiểu tại sao anh lại làm như vậy. Tại sao một con người yếu đuối lại bất chợt trở nên suồng sã bất cần đến như vậy. Cô thương anh nhưng không thể tha thứ. Cô khóc như trong cô có một cái gì rất đẹp đang đổ vỡ. Phải cho đến lúc đứng trước hàng trăm khuôn mặt cháy nắng im lặng một cách trang nghiêm trong đêm diễn cô mới lấy lại được bình tĩnh. Cô không dám vừa hát vừa xuống gần những người lính như mọi đêm trước. Cô e ngại nhưng đã hát bằng tất cả tâm hồn mình. Một tâm hồn đằm thắm đầy cảm thông. Và tình yêu, có gì mà tình yêu không thể tha thứ. Cô đã đem mùi hoa hoàng lan, hoa sữa, mùi thơm thân thuộc của hoa cau đến với họ. Sau mỗi bài hát là những tràng vỗ tay thật dài, thật lâu. Lòng cô tràn ngập hạnh phúc. Khi hát xong bài "Hương thầm", một bài hát chia tay đượm buồn, hơn một chục người lính tràn lên sàn diễn. Họ tới tấp tặng cô những cành phong lan, cành phong ba những bông hoa bàng vuông, cả những gói quả đựng đầy những con ốc biển. Trong số những người đó, cô nhận ra anh lính ban chiều. Anh nắm lấy bàn tay của cô, nói nhỏ: "Lính đảo là như vậy. Em đã đưa tôi vào một giấc mơ. Chiều nay có gì không hay, không phải mong em bỏ quá cho". Rồi anh cầm micơrô, bước ra ánh đèn, tự giới thiệu mình và cất tiếng hát. Một bài hát sôi động. Sân đảo ồn lên. Nhiều người lính bước lên sàn diễn. Đêm vũ hội đã được khởi đầu như vậy. Tất cả các diễn viên trong đoàn, các thủy thủ trên tàu đều bị cuốn vào các điệu nhảy lam bát đa, discô ồn ã và náo nhiệt. Kết thúc đêm hội, anh dừng bên cạnh cô: - Ít bữa nữa về đất liền cho tôi gửi lời hỏi thăm các bạn gái của em. Dẫu sao, bọn tôi cũng rất cảm ơn em, cảm ơn đoàn. Chiều nay có gì không hay, không phải ... - Anh đừng nói nữa, em hiểu. Sáng hôm sau, con tàu của cô rời đảo Sinh Tồn rất sớm. Cô không hề biết rằng, dưới gốc một cây bàng vuông già, có một bóng người đứng bất động trên bờ đảo. Đôi mắt sáng của anh em nhìn theo mãi, cái nhìn như muốn níu kéo, thu gọn bóng dáng mỗi lúc một xa dần, nhạt dần của con tàu. Cô cũng không hề biết rằng, đối với người chiến sĩ trên đảo bữa ấy, con tàu đến rồi đi bất chợt như trong một giấc mơ.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2009, 01:25:45 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2009, 10:45:55 am » |
|
Chặng đường cuối cùng cuộc hành trình mười ngày trên biển của cô ca sĩ trẻ là đảo Song Tử Tây. Đó là một trong những hòn đảo lớn nhất quần đảo. Cách Song Tử Tây ba hải lý về phía nam là đảo Song Tử Đông do quân đội Philippin chiếm giữ. Chắc chắn cha ông ta từ xa xưa đã có những huyền thoại kể về sự tích của hai hòn đảo anh em này. Vậy mà bây giờ mỗi đảo một nơi. Nó đã bị chia lìa, cũng như đảo Thái Bình, Gạc Ma, Chữ Thập... đang bị xâu xé bởi các quốc gia bầu bạn.
Trên đảo Song Tử Tây có nước ngọt. Điều này đối với cô gái thật lạ lùng. Cô không sao giải thích nổi trước một hòn đảo không lớn, chỉ cao hơn mặt biển vài mét, bốn bề là sóng cả mênh mông lại có những giếng nước ngọt trong vắt. Mặt đảo, ngoài màu xanh của cây cối còn được phủ lên một thảm cỏ. Những ngôi nhà hai tầng gấp rút xây dựng. Một đài khí tượng thủy văn cùng với những nhân viên dân sự trẻ cũng đã được lắp đặt ở phía bắc đảo. Cô đã đến hát trong ngôi nhà vừa là nơi làm việc, vừa là nơi ở của hai nhân viên khí tượng. Một anh chàng lém lỉnh nói: "Thế là đã có một cô gái xinh xắn đến xông nhà của chúng tôi rồi. Nhất định năm nay bọn tôi sẽ có vợ". Họ là những nhân viên dân sự duy nhất trên đảo. Sau những ngày đi liên miên, những buổi diễn liên miên cô và các bạn trong đoàn văn công Hải quân đều thấm mệt. Có ca sĩ đã lả đi nôn thốc nôn tháo vì say sóng nhưng khi xuồng cập vào bờ đảo là lập tức vục dậy được ngay. Dường như đảo đã tiếp sức cho họ. Nhưng sau đêm diễn và nhảy cuối cùng ở Song Tử Tây, mọi người đều lăn vào giấc ngủ mê mệt. Giọng cô đã khàn đi, không thể hát dược nữa.
Buổi sáng khi cô thức dậy thì nắng đã tràn ngập trên đảo. Một sĩ quan bước vào. Anh ôn tồn đánh thức mọi người. Giọng anh đầy phiền muộn: - Lính đảo đang trách chúng ta, nhất là các cô. Họ bảo các cô cao ngạo, nằm chết gí một chỗ, không thèm đến thăm ai. Gặp lính, mặt cứ vác lên. Họ giận đấy. Nhanh lên mà đến với họ.
Cô và các bạn đều ngồi bật dậy, bối rối vì biết mình có lỗi. Nhưng quả thật mọi người đều rất mệt. Cô nhớ còn một phân đội nữa đoàn chưa kịp đến. Họ chờ các cô đã cả tháng rồi.- Người sĩ quan nói tiếp - "Cũng cần phải thông cảm với họ" .
Cô chải vội tóc, điểm trang qua loa rồi cùng với hai ngươi nữa đi về hướng người sĩ quan vừa chỉ. Dưới bóng mát của những cây phong ba quen thuộc, hơn một chục chiến sĩ ngồi im lìm bên chiếc bàn xi măng vững chãi. Họ lãnh đạm nhìn các cô ca sĩ như không hề có những ngày ngóng đợi bồn chồn, như chẳng có một mối liên hệ nào và sự có mặt của các cô cũng chẳng hề khuấy động mảy may nếp sống đạm bạc và thanh cao của họ... Biết những người lính đảo đang giận, cô và các bạn rẽ vào. Nhưng đáp lại nụ cười chào của cô là nhưng lời đáp khách khí, mát mẻ. Họ dẹp chỗ, vẫn không nói thêm một câu nào. Dưới chân họ vương vãi những điếu thuốc Mai, Đà Lạt còn nguyên vẹn hoặc đốt dở. Cô hiểu, họ đã hút cả thuốc mốc trong khi chờ đợi. Kinh nghiệm mười ngày trên đảo cho biết, họ cần bóng dáng của một người con gái trên đảo hơn là cần một diễn viên hát. Đối với họ, một cô gái xấu, đẹp không thật quan trọng. Điều quan trọng hơn là họ có thể gặp đất liền qua một mái tóc đài, một gương mặt, một giọng nói khác mà họ hằng nhớ nhung, khao khát. Nhưng giây phút đầu tiên thật nặng nề, nghe rõ cả tiếng lá bàng khô vỡ ở đâu đó. "Bọn em mệt quá, chưa kịp đến thăm các anh - Cô nói - Các anh giận, bọn em chi có năm người, còn đảo thì vừa dài vừa rộng. Nói đến đây, cổ cô nghẹn lại. Các anh không thông cảm, không thương thì thôi, mắc gì các anh lại giận" ? Cô òa khóc, tức tưởi. Lời nói và những giọt nước mắt tủi hờn của cô làm những người lính hoảng sợ. Họ nhìn nhau. Đúng là vì quá mong mỏi mà họ đã giận dỗi một cách vô lý, đã nhận xét oan uổng về các cô. Hơn một tháng nay, khi được trên thông báo, có ngày nào họ không ngồi nhắc với nhau về một con tàu, một con tàu ra đi từ đất liền và sẽ đến với họ cùng thư từ, sách báo và đặc biệt là những người con gái.
- Đừng chấp bọn anh làm gì ?- Một người lính ngồi cạnh cô thở dài. Bọn anh khổ nên dễ vui, dễ giận. Giờ bọn em đã đến thế là các anh thỏa mãn rồi. Sau câu nói ấy, không khí xung quanh bàn khác hẳn. Những khuôn mặt giãn ra. Họ ngượng nghịu vào lán lấy nước. Một vài người an ủi, xin lỗi cô. Đến lượt cô dỗi, cô vùng vằng. Tiếng cười làm lành chẳng bao lâu đã vang lên trên một góc đảo. Một cây đàn được mang đến. "Các anh thích hát bài gì, tụi em chiều".
Cô trở nên dịu dàng như một nàng công chúa giữa những chú lùn tốt bụng và vụng về trong một câu chuyện cổ.
Cô lên dây đàn rồi cất tiếng hát. Tiếng hát mong mảnh trong buổi sáng đầy nắng.
" Có một hòn đảo thần tiên trên biển vắng. Những con sóng triền miên kể chuyện một mối tình. Con tàu đến rồi đi. Em ơi, khoảng trống lòng anh ai lấp được...". Đó là buổi biểu diễn cuối cùng của cô trên quần đảo.
Đêm, cô và các bạn đồng nghiệp trở lai tàu. Con tàu rời Song Tử Tây giữa đêm để kịp về đất liền. Từ đây tới quân cảng Cam Ranh còn hơn ba trăm dặm biển. Tạm biệt Trường Sa thân yêu. Tạm biệt các anh. Đến hẹn em lại ra. Cô hiểu, đó là lời hẹn của đất liền, của tình yêu không bao giờ vơi cạn đối với những vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc.
- Anh phát ghen với những người lính đảo. Hình như em quý họ hơn đám thuỷ thủ bọn anh. Thấy cô đứng mãi trên boong tàu, mắt nhìn như hút về phía hòn đảo đang chìm sâu vào đêm biển. Người sĩ quan trẻ cô gặp đầu tiên trên tàu, đến bên cạnh cô, nói thoảng trong gió mặn.
Cô quay lại phía anh, cười buồn. - Các anh cũng vất vả, gian khổ, nhưng sau mỗi chuyến đi, các anh còn gia đình, đất liền. Riêng họ thì cứ hun hút như vậy.
- Nhưng họ chỉ có hai năm, ba năm là sẽ trở về đất liền vĩnh viễn. Còn bọn anh thì lênh đênh một đời - Anh kêu lên rồi bỗng cười xòa - Ghen tỵ với những người đồng đội của mình thì thật vớ vẩn phải không em.
Cô không trả lời, nhưng cô nghĩ, có những năm tháng, thậm chí có những ngày, người ta đã sống, đã yêu bằng cả cuộc đời.
1993 N.T.H
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2009, 01:26:43 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:04:21 pm » |
|
Hồng Diệu TRƯỜNG SA TÙY BÚT Tùy bútMỗi lần - nhất là trong những ngày vừa rồi - nghĩ về hình dạng bản đồ Tổ quốc, tôi lại thêm một lần khâm phục tổ tiên. Không biết tự ngày nào, với những chiếc bè thô sơ và nhưng con thuyền lá tre không trang bị một chút máy móc, cha ông ta đã vượt hàng trăm, hàng ngàn ki-lô-mét đường biển đay sóng gió bão tố, chống chọi với thiên nhiên, làm chủ cả hai vành đai đảo án ngữ suốt một dải bờ biển dài hơn ba nghìn ki-lô-mét. Bên trong thì từ Cô Tô qua Bạch Long Vĩ đến Hòn Mê, Hòn Mát, Cồn Cỏ, rồi Côn Đảo, Phú Quốc (tôi chỉ kể qua một số đảo dễ nhớ nhất) ... Và bên ngoài thì Hoàng Sa, Trường Sa! Bao nhiêu con thuyền đã bị nhấn chìm? Bao nhiêu con người đá vĩnh viễn vùi thân dưới biển thẳm? Bao nhiêu mồ hôi và máu đã hòa vào muối mặn ? ... Hình như, nhiều khi ta chưa thấy hết giá trị của đảo, của biển, ít nhất là về kinh tế. Từ thế kỷ trước, một nhà bác học đã tiên tri trên những luận cứ vững chắc: "Tương lai của con người nằm ngoài biển". Gần đây, nhiều người còn khẳng định: Thế kỷ XXI là thế kỷ của Thái Bình Dương. Cũng chưa thấy người nào đánh đổ được cái thuyết của các nhà khoa học cho rằng vùng đảo Trường Sa là cái "rốn" của một kho dầu lửa khổng lồ. Theo chỗ tôi biết từ một nguồn tin đáng tin cậy, quần đảo Trường Sa còn có một sản vật đặc biệt, ít được biết đến: san hô đỏ. Loại san hô này phải có kỹ thuật mới khai thác được. San hô đỏ Trường Sa chủ yếu có ba loại, tuổi đời khác nhau: 800 năm, 1000 năm và 1200 năm. Giá bình quân một kilôgam hiện nay là 140.000 USD! Mới chỉ có Nhật và Cộng hòa liên bang Đức biết sử dụng san hô đỏ. Người ta phao tin rằng san hô đỏ dùng làm đồ trang sức cho phụ nữ. Thật ra, đó chỉ là cách nói ngụy trang cho một sự thực: san hô đỏ có tác dụng chống phóng xạ nguyên tử. Ta dễ hiểu, sẽ có gì xảy ra trong chiến tranh hạt nhân (nếu có kẻ nào đó liều lĩnh gây ra) khi tiềm năng của san hô đỏ được tận dụng?... Rồi việc dựng hải đăng giúp tầu bè quốc tế đi lại giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nếu kênh đào của Thái Lan hoàn thành. Rồi việc dẫn đường cho máy bay các nước qua biển Đông. Mà mỗi hoạt động như vậy là một nguồn thu ngoại tệ. Chưa kể những kho hải sản khác hầu như vô tận. Mai Hà, con gái tôi, thấy bố "đi Trường Sa" về, câu đầu tiên nó hỏi: "Bố có nhìn thấy bia chủ quyền không?". Câu hỏi của con bé mười tuổi làm tôi giật mình. Thì ra cháu chỉ xem ti vi mà có ấn tượng về Trường Sa đến thế ! Tôi không dám so sánh, và cũng nghĩ là sẽ không đúng khi so sánh hiểu biết của trẻ con và người lớn. Tôi chỉ thầm nghĩ, dù cuộc sống bây giờ còn trăm nghìn việc phải lo, sao lại có thể không biết, hoặc biết ít, về vùng đất đặc biệt ở ngoài khơi cùng những gì liên quan đến nó; sao lại có thể không biết, hoặc biết ít, về một nơi mà mồ hôi và cả máu xương con em ta, đồng đội ta đã gửi lại ? Văn chương, phim ảnh mấy năm gần đây phê phán đúng một lối tư duy rất có hại tồn tại từ rất lâu: chúng ta chỉ ưa ca ngợi Tổ quốc giàu đẹp, bạc bể tiền rừng, ít thích để tâm đến những gì nghèo nàn lạc hậu và những khó khăn phải vượt qua để có được tiền rừng bạc bể. Ngay nói về hải quân, cũng nào là biển cả trùng dương, mênh mông sóng biếc... nghĩa là toàn những thơ, những mộng. Mới "lướt sóng ra khơi" trên một con tầu vận tải cỡ lớn (tầu lớn thì thuận lợi hơn tầu nhỏ khi đi biển) cùng các chiến sĩ tầu HQ.701 anh hùng có ba ngày ba đêm, từ Hải Phòng đến Nha Trang, tôi đã nằm bẹp hơn hai ngày hai đêm liền hầu như không dậy, và không ăn uống, và nôn và mửa, và biết thế nào là say sóng - dù mới gặp sóng cấp năm, cấp sáu. Anh bạn nhà văn Khuất Quang Thụy cùng đi, chịu đựng được sóng, thấy tôi nằm bẹp, gọi to: "Dậy, dậy mà xem trăng trên biển!". Dù là người rất mơ mộng, rất yêu trăng, tôi cũng đành chịu ! Những người đi biển lâu năm xác nhận rằng xưa nay chưa có ai chết vì say sóng. Nhưng cái cực của say sóng thì chả kém một cái cực nào trên đời. Ngồi trên một con tầu neo ở bến cảng sau những ngày sóng gió, một thuyền trưởng dày dạn sóng nước kể cho tôi nghe câu chuyện vui: Có một thanh niên vốn rất thích gái đẹp - nói cho đúng, người con trai thích những cô gái đẹp là chuyện bình thường, không thích mới là điều bất bình thường - trong một chuyến đi biển, anh say sóng nằm mê man mới có một ngày. Thủy thủ bảo anh chọn một trong hai điều kiện, điều kiện thứ nhất - anh chỉ cần say sóng thêm nửa ngày nữa, rồi sẽ khỏi và được cấp một căn hộ đầy đủ tiện nghi ở ngay giữa thủ đô Hà Nội, và được lấy một cô gái cực kỳ xinh đẹp, cô ta yêu anh và anh cũng yêu cô ta, tất nhiên; điều thứ hai - anh khỏi say sóng ngay bây giờ và tất nhiên không được nhà và không được lấy cô gái anh ta vùng ngay dậy kêu to: "Cho tôi nhận điều kiện thứ hai, cho tôi được khỏi say sóng ngay bây giờ!". Hai chúng tôi cùng cười vang. Không biết người thuyền trưởng vui tính kia có bịa không... Xin đừng tưởng tất cả những người lính hải quân đều không say sóng, đều tránh được say sóng. Say sóng ít nhất cũng phụ thuộc vào hoạt động của tiền đình trong não và thể lực của mỗi người. Biết bao nhiêu chiến sĩ hải quân hay rối loạn tiền đình và thể lực yếu, nhưng vì nhiệm vụ vẫn không được rời biển, vẫn phải đi đảo hết chuyến này đến chuyến khác, và hàng ngày hàng giờ vẫn phải chống chọi với những cơn say có khi nôn cả ra máu. Ấy là chưa nói đến chuyện say đất, có khi còn cực hơn say sóng. Say đất là cái say sau khi từ tầu lên bờ, đầu óc choáng váng, đất trời chao đảo và nôn và mửa. Tôi cũng đã được nếm cái say này tuy ở mức độ thấp: sau mấy ngày đi biển, nằm trên giường mà vẫn tưởng như đang nằm trên một chiếc võng luôn luôn đung đưa, bên dưới võng là tiếng rì rầm đều đều không dứt của sóng vỗ và của máy nổ, lưng thì như có ai nghiêng hai bàn tay mà chém vào liên hồi, đầu thì âm âm u u khó mà ngủ được! Đến gần một tuần sau mới khỏi hẳn! Tôi bỗng nhớ hồi trước, những cậu học sinh trường phổ thông cấp III, chúng tôi nhập ngũ, vào học trường văn hóa Bộ Tổng Tư lệnh bấy giờ đang ở Lạng Sơn. Những chàng trai mười bảy mười tám, đang tuổi ăn tuổi ngủ ấy có một thời gian dài về trung đoàn Thủ đô thuộc sư đoàn 308 diễn tập, với những đêm hành quân một mạch từ tối đến sáng, vai nặng trĩu ba lô, nặng trĩu súng đạn và gạo, nặng đến mức tưởng không thể đi được; thế mà rồi cuối cùng cũng đi đến nơi về đến chốn. Một câu thơ của Hà Phạm Phú bạn tôi, từ vô tư đến có lý, nói thật đúng tâm trạng chúng tôi lúc ấy, trong những năm chống Mỹ đi qua các vùng núi rừng heo hút Trường Sơn và cho đến bây giờ, tôi còn nhớ: Vì nặng quá nên không nặng nữa! Phải chăng, các anh, những người lính Trường Sa, các anh cúng đã chịu đựng được sóng gió, chịu đựng gian khổ đến mức thấy "Vì khổ quá nên không khổ nữa!" Tôi sẽ có lỗi, nếu không nói dù chỉ vài lời ở đây về các chiến sĩ bảo vệ đảo - những người mà mấy năm trước, nhiều khi không được thấy bóng đáng một người con gái, không được đọc một bức thư, không được xem một bộ phim... ( bây giờ thì đã khá hơn nhiều). Công việc thường nhật xong rồi, chiều chiều các anh ra ngồi một mình ngoài mép đảo ngóng về đất liền. Người chỉ ngồi với ý nghĩ trong đầu, người bập bùng ghi ta, người cầm trong tay một tấm ảnh (bạn gái hay người yêu, hay vợ hay con?). Mà họ ngồi không phải hàng ngày, hàng tuần, mà hàng tháng, hàng năm ? Họ đã, đang và sẽ chịu đựng nỗi buồn cách xa ấy suốt trong những tháng ngày đằng đẵng, và có được thấy gì ngoài chim chóc, mây trời, sóng nước. Hôm ở cảng Hải Phòng, lúc tầu Sông Thao nhổ neo rời bến đưa chúng tôi cùng các chiến sĩ tầu HQ.701 đi Nha Trang trên đường đến Trường Sa, tôi đứng trên buồng chỉ huy, nhìn về cầu cảng thấy một tốp có người mẹ trẻ bế con bên mấy người có tuổi, đứng ngóng mãi đến khi con tầu đi khuất (tầu đi rồi tôi mới biết, đó là bố mẹ và vợ con của Luỵ - máy trưởng trên tầu). Tôi chú ý đến bà cụ hơn. Trông bà với dáng lưng còng (hay ít ra tôi cũng tưởng tượng là như thế), bất giác tôi nhớ mấy câu thơ Nguyễn Bính, nhà thơ đã từ lâu tôi yêu mến: Có lần tôi thấy một bà già Đưa tiễn con đi trấn ải xa Tầu chạy lâu rồi bà vẫn đứng Lưng còng đổ bóng xuống sân ga. Những câu thơ viết đã hơn nửa thế kỷ. Nhưng tấm lòng thương con, lo cho con đi chiến trận cửa các bà mẹ xưa nay nào có bao giờ khác nhau? Tôi sẽ còn có dịp gặp những bà mẹ như thế, trên bán đảo Sơn Trà trong buổi lễ truy điệu và tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh và mất tích ở Trường Sa, do đoàn 53 công binh hải quân tổ chức. Các bà mẹ, trẻ và già, người chậm rãi như cố ghìm lại nhớ thương, người vội vã như sợ không còn dịp, qua những dòng nước mắt, kể cho tôi nghe con trai họ lớn lên như thế nào, tính tình ra sao, nhập ngũ bao giờ, thăm nhà mấy ngày... Buổi tối hôm trước, chuẩn bị cho lễ truy điệu, các anh trong ban chỉ huy đoàn đi nhờ thu băng bản nhạc Chiêu hồn tử sĩ. Người ta bận bịu thế nào đó chỉ thu cho một lần dài năm sáu phút. Họp xong rồi,các anh phải dùng máy cát sét chuyển sang băng khác, sao cho có thể phát liền trong một giờ là thời gian truy điệu. Đã quá nửa đêm, trong căn phòng dành cho chúng tôi, Khuất Quang Thụy thì cặm cụi ngồi viết, tôi thì nằm nghe những âm thanh u sầu, buồn thảm. Là người đa cảm, hồi còn nhỏ lắm, tôi đã thấm cái giai điệu Đêm khuya âm u ... ai khóc than trong gió đàn. .. Gần đây thôi, tôi đã gặp lại nỗi buồn man mác ấy từ Chiêu hồn tử sĩ trong lễ tang nhà thơ Xuân Diệu, và nhà văn Nguyễn Tuân, ở Hà Nội. Bản. nhạc như một tiếng than kéo .dài, như những tiếng nấc vô tận mà người nhạc sĩ phải đồng cảm lảm với nỗiđau của con người mới thể hiện được. Nghe Chiêu hồn tử sĩ vào nhưng lúc ấy, ta phải tự hỏi: Kẻ nào, kẻ nào đã gây ra những nỗi đau, đã bắt người đời phải khóc than, phải sầu thảm như vậy? Tôi nằm, miên man nghĩ về cuộc đời, về số phận con người, về đồng đội, về mẹ tôi, về đứa em duy nhất của tôi đã ngã xuống chiến trường Trị Thiên những năm chống Mỹ, đến nay chưa biết hài cốt nằm đâu! Có một thời, ta giản đơn thơ ngây cho rằng không nên nói đến nỗi buồn (và tình yêu); động nói đến là sợ, sợ mọi người sẽ yếu đuối, bi quan. Có phải không, ta đã làm xơ cứng một tình cảm rất tự nhiên của con người ? Thử hỏi, một người lúc nào cũng vui - kể cả khi chịu đau thương, mất mát - thì có còn là người bình thường nữa không? Gặp ở Đà Nẵng một anh bạn đi Trường Sa vừa về tôi hỏi: - Nếu phải nói thật ngần gọn một nhận xét gây ấn tượng mạnh nhất về chiến sĩ Trường Sa, cậu sẽ nói gì ? Không cần suy nghĩ, anh trả lời: - Mình sẽ nói: người lính không hề run sợ, đang vững vàng, quyết tâm bảo vệ đảo ! Thế đấy, những người lính vừa mới hôm qua chứng kiến những con tầu ngay bên cạnh đảo mình bị bắn chìm bắn cháy, những người lính vừa mới hôm qua còn thả tầu xuôi ngược tìm đồng đội mình nổi trôi trên biển, những người lính đang ngày đêm đối mặt với những con tầu to, những khẩu pháo lớn sẵn sàng tiến công mình bất cứ lúc nào - nghĩa là nhưng người lính luôn luôn chấp nhận khổ đau, chết chóc, đã tỏ rõ ý chí của mình như vậy! Nỗi buồn về sự hy sinh của bạn bè họ và của chính họ, đâu có làm họ bi quan, buông lỏng tay súng! Những ý chí ấy cua người lính, sức mạnh của họ, niềm an ủi đối với họ còn được quyết định bởi tình cảm của bà con ruột thịt, của anh em bè bạn. Chưa bao giờ chiến sĩ xúc động theo dõi phong trào "Cả nước hướng về Trường Sa" và thế giới nghĩ về Trường Sa như những ngày này. Họ quây quần trên đảo xem báo, nghe đài, theo dõi tiếng nói khắp nơi về Trường Sa. Họ đọc những bức thư của các em nhỏ gửi cho mình ... Những lúc ngày, họ như thấy có thêm sức mạnh. Đêm ấy, một đêm không trăng sao, con tầu đi Trường Sa bí mật, lặng lẽ nhổ neo. Tình hình ngoài đảo còn đang căng thẳng, đụng độ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trên tầu có Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương. Cánh văn nghệ chỉ có hai cán bộ của Điện ảnh Quân đội (một đạo diễn, một quay phim). Hai nhà văn chúng tôi phải ở lại! Thế là công chờ đợi ở Bộ Tư lệnh Hải quân, công lênh đênh mấy ngày trên biển trở thành ... công cốc! Nhưng nói thế thôi, chứ chúng tôi biết còn bao nhiêu người, bao nhiêu thứ cấp bách đối với Trường Sa hơn chúng tôi nhiều! Sau chuyến đi ít lâu, được Tư lệnh Hải quân tiếp, tôi mới kể chuyện đi Trường Sa... hụt, ông ngạc nhiên: "Sao cậu không nói với mình?" Tôi chỉ biết im lặng, vì chuyện đi, ở do cơ quan Bộ Tư lệnh sắp xếp, mà tôi thì có một thói quen: rất sợ làm phiền cho người khác. Dẫu sao, chúng tôi - những người viết văn - chúng tôi tự tìm đến với những người lính hải quân bằng một tình cảm chân thành, chỉ không biết có để lại được một chút ấn tượng nào? Tuy vậy, với riêng tôi, tôi được gặp nhiều cán bộ chiến sĩ đã và đang bám trụ Trường Sa, được họ tin cậy thổ lộ tâm tình, được họ quý mến, tôi có thêm một địp để tự an ủi mình, tự thấy mình không phải là người vô tích sự mỗi khi có đôi chút "bi quan" về cái nghề ... văn chương mơ mộng: Người ta đi kiếm giàu sang cả Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông! (Thơ NGUYỄN BÍNH) 1985 H.D
|
|
|
|
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:07:53 pm » |
|
Chu Lai HOÀNG HÔN MÀU LÁ MẠ Bút kýĐến với Trường Sa hôm nay, giữa mùa biển lặng này, dường như cái khái niệm về sự gian khổ thiếu thốn không còn nhiều lắm nữa. Nhưng đó chỉ là bề nổi. Một khi con người không phải vật vã với cái đói khát, cái dữ dội bên ngoài nữa thì cái thế giới bên trong mới được dịp quậy phá lộng hành.Cái bên trong nhiều khi lại khốc liệt hơn cái bên ngoài gấp nhiều lần. "Có một con tàu từ đảo Sơn Ca đưa một bệnh binh bị nhiễm trùng máu vào đất liền nhưng cách bờ bốn chục hải lý thì máy hỏng. Nước sâu, không neo được, thế là đành thả trôi theo dòng hải lưu. Hàng ngày vẫn bắt được liên lạc nhưng vì trên tàu không có máy định vị nên bản thân nó cũng không thể báo về cụ thể đang ở vĩ độ, kinh độ nào mà đến cứu". Ngay buổi sáng đầu tiên, chuẩn đô đốc Lê Văn Xuân, thân hình cao ráo, có dáng một giáo sư hàng hải hơn là một tướng lĩnh hải quân báo cho tôi điều đó với cái vẻ lo toan thường nhật của một người đang gánh chịu sự an toàn cho hết thay một triệu cây số vuông mặt nước thềm lục địa. ĐẢO NHÀ CHÒI Hình hài đảo nhà chòi trông xa tựa cái tháp canh trong đồn địch. Gần hơn chút nữa, nó mang dáng một cái tháp nước giữa phố phường. Cuối cùng, nó thật giống cái giàn khoan thu nhỏ. Nhưng rút cuộc nó vẫn chỉ là cái nhà chòi với những cái chân sắt khổng lồ cao hàng chục mét để nâng nổi một cái đầu dềnh dàng bằng thép, diện tích chừng một trăm mét vuông, vách cao đến ba, bốn mét. Có một số con người sống trên đó, ngồi trên đống vật liệu trị giá sáu tỷ đồng. Con số này chỉ thật có nghĩa khi trên nóc nhà đang phần phật bay lá quốc kỳ mà vì dãi dầu nắng gió, màu đỏ nền và màu vàng sao gần như hòa vào nhau thành một màu bạc phếch. - Không một thứ sát thép nào chịu nổi với nước mặn - Thượng úy đảo trưởng nói với tôi - Dây chằng to bằng bắp chân toàn loại thép đặc biệt, nhưng cứ thay nhau đứt phừn phựt. Chỉ cần sóng cấp ba, cấp bốn là cả căn nhà chung chiêng, rợn lắm. Khi đó, lính tráng ôm phao vào lòng, suốt đêm không dám ngủ để ... nếu có nghiêng là nhảy. Tháng trước cũng có một cái nhà như thế này đổ ụp xuống, do để pông-tông trượt khỏi thềm san hô. - Thoát cả không ? - Hy sinh hết. Anh bảo, đất liền ở xa hai ngày hai đêm rong ruổi, tàu trực cũng còn lo tránh bão, dòng hải lưu ở đây lại chảy mạnh như lũ, đến lúc sóng yên biển lặng, tàu to, tàu nhỏ chia nhau đi tìm thì không còn một ai nữa ! Bão Trường Sa kinh khủng lắm! Cần thiết, sóng có thể dựng lên, vượt qua luôn cá mái nhà cao ba mươi ba mét này. Thành ra số phận những chiếc tàu trực cũng thật mỏng manh. Đã có một chiếc xoay xỏa kịp, cùng một lúc gió và nước vặn theo chiều vỏ đỗ, bị lật nhào, chìm nghỉm... - Này! Mình cảm thấy cái chòi này cũng có vẻ thế nào ấy? Tôi hỏi để cố xóa đi cái kết cục tất nhiên của con tàu bị vặn vỏ đỗ ấy. - Có vẻ gì nữa, anh! - Một trung úy bác sĩ, ria mép lơ thơ, có dáng dấp thành thị chêm vào - Nghiêng đứt đuôi con nòng nọc, nghiêng mấy tháng nay rồi. Chỉ ở xa mới biết là nghiêng. Ở tại chỗ không có máy đo không biết đâu. Bọn em cứ căn cứ vào lượng nước mưa mà khẳng định thôi. - Nước mưa thì có dính dáng gì vào đây? - Dính ngon. Năm ngoái, mỗi trận mưa bọn em hứng được hai téc nước. Năm nay, chỉ còn một téc. Như vậy là nhà bọn em đã nghiêng đi một téc nước. Cậu bác sĩ nói xong, cười. Cái cười bình thản và phớt đời. Nhưng tôi không cười được - Làm thế nào? - Bọn em hạ quyết tâm: cứ bám trụ. Nghiêng đến đâu, bám đến đó. Đến lúc không bám được nữa, mới xuống tàu. Nhìn ra xa, ruột tôi chợt thắt lại. Chao ôi! Kinh phí đại dương! Con người thì nhỏ nhoi mà tiền của lại như muối bỏ bể đến thế. Ngay như cái phao định vị điểm neo tàu kia, chỉ bập bềnh nhỏ xíu như một cái thứ phao chơi mà đã phải vất vào đó tới một trăm năm mươi triệu đồng mới giữ nó đứng được thì cả cái nhà chòi sừng sững này, sáu tỷ đồng đâu có phải là nhiều. Tương lai và hiện tại. Thoạt nghe đã thấy cái nghiệt ngã của lẽ sinh tồn nhân thế. - Sao tóc đồng chí lại cắt trụi đi thế? Cho mát à ? - Một đại tá trong đoàn hỏi. - Nấm đó - Cậu ta xoa đầu cười ngượng nghịu - Ở đây ai cũng bị nấm hết. Ngứa quá, cắt trụi đi cho khỏe. - Chỉ nấm thôi ư ? - Nhiều. Tháng đầu ra đây lên cân, ăn ngủ như điên. Mấy tháng sau chững lại. Tháng sau chững lại. Tháng sau nữa là sụp dần, khớp chân, khớp tay sưng hết. Kỳ quá! Chắc là do thiếu rau. Bầu bí chỉ để dành được vài tháng. Giá hộp ăn hoài, nuốt hổng vô. Thịt hộp chỉ mới nhìn đã ớn lạnh xương sống lưng rồi. Cứ mỗi lần đi qua hộp thịt, tụi em kêu là "cái tai nó không vẫy'. Tiền ăn ở đây đã được tăng hai lần so với đầu năm, nhưng thời giá lại tăng gấp ba. Một hộp thịt vốn chỉ có sáu ngàn, nay phải mua mười sáu ngàn. Năm người một hộp trong một ngày. Thì ra ở đảo xa xôi, nơi người lính đang đánh mất dần khái niệm về vật chất, đã quên đi thói quen tiêu tiền, có người chưa được nhìn thấy tờ giấy bạc năm ngàn lần nào, lại cũng ngày ngây phải chịu sức ép nghiệt ngã của thời giá từ trong đất liền thổi ra. "Đảo" đã nghiêng đi một téc nước... Rau muống khô tải ra đã xơ cứng không ăn được... Những mái đầu xanh đang trụi tóc... Những bắp chân mất dần da thịt. Trời mênh mông, nước mãi mãi mênh mông... Chúng tôi đi rồi, các chàng trai, hầu hết đều ở độ tuổi trên dưới hai mươi, gồm hầu hết các tỉnh trong nước thì ở lại... im lặng. Đợi chờ. Biết bao giờ lại có một con tàu cập mạn? Bao giờ ? Màn đêm đang trùm xuống. Đợi chờ... Con tàu chở bệnh binh trôi nổi ở phương nào vẫn chưa tìm ra. Chỉ có tín hiệu mỏng manh bất lực gọi về. Mạn tàu, cá heo đang uốn mình vọt lên giỡn sóng. Cá heo đi trước cơn bão vài ngày. Ngày đó, liệu căn nhà chòi trên thềm san hô trắng này sẽ nghiêng đi mấy téc nước nữa ?
|
|
|
|
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
|