|
Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 01 Tháng Mười, 2009, 08:06:17 am Tác giả: Trần Kiếm Qua
Người dịch: Nguyễn Đồng Thoại Nhà xuất bản: Văn học Năm xuất bản: 2004 Số hoá: ptlinh, hoanghahongha THƯ GỬI NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC VÀ BẠN ĐỌC VIỆT NAM Nhà xuất bản Văn học Việt Nam và bạn đọc Việt Nam thân mến! Cuốn Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương này do Nhà xuất bản Thế giới đương đại Trung Quốc xuất bản vào tháng 4 năm 2000, đến nay đã được hơn một năm: Hoàng Hà là dòng sông mẹ của Trung Quốc. Hồng Hà là dòng sông mẹ của Việt Nam. Cuốn sách nói về một câu chuyện có thực, ghi lại những thực tế về cuộc chiến đấu kề vai sát cánh giữa hai Quân đội, hai Đảng, hai nước Trung Quốc và Việt Nam, phản ánh thực tế nhất về tình hữu nghị truyền thống của nhân dân hai nước Trung-Việt. Gia đình của chúng tôi chính là tượng trưng của tình hữu nghị đó. Hoàng Hà và Hồng Hà sẽ mãi mãi chảy xuôi tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung-Việt cũng sẽ mãi bền vững với thời gian. Cuốn Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương sau khi được đồng chí Nguyễn Đồng Thoại dịch ra tiếng Việt một cách tinh tế và chuẩn xác cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của Nhà xuất bản Văn học Việt Nam, cuối cùng đã ra mắt bạn đọc, cho phép tôi gửi lời chúc mừng đền các bạn. Chúc nhân dân hai nước Trung-Việt cùng nhau tiến bước, phát triển mạnh mẽ trong hình thế mới của công cuộc cải cách, đổi mới và trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa vĩ đại. Xin gửi tới các bạn lời chào trân trọng nhất! Kính thư! Phu nhân tướng Nguyễn Sơn TRẦN KIẾM QUA Bắc Kinh, ngày 22 tháng 9 năm 2001 (http://img17.imageshack.us/img17/9343/loitacgia.jpg) GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ TÁC GIẢ Trần Kiếm Qua, tên gốc là Trần Ngọc Anh, người huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, tốt nghiệp Trường Nữ học sư phạm của tỉnh Sơn Tây. Năm 1933 tham gia cách mạng. Tháng 10 năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 1 năm 1938, tại căn cứ kháng Nhật Tấn-SáT-Ký, bà kết hôn với Hồng Thủy - tức tướng quân Nguyễn Sơn, vị tướng tài ba của cả Trung Quốc và Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, bà từng làm Chủ nhiệm Hội Phụ nữ cứu quốc huyện Ngũ Đài, giáo viên văn hóa ở Phân hiệu 2 Trường Đại học Kháng Nhật, Trưởng khoa Khoa Giáo dục và nuôi dưỡng của Trường Mầm non số hai Diên An. Sau khi Trung Quốc được giải phóng bà làm Viện trưởng Viện Giáo dục mầm non "1/6" Bắc Kinh, rồi làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bắc Kinh. Năm 1983, bà nghỉ hưu. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 01 Tháng Mười, 2009, 08:07:50 am LỜI TỰA của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Nguyên bản tiếng Việt) Tôi rất vui mừng được chị Trần Kiếm Qua, vợ anh Nguyễn Sơn nhờ viết lời tựa cho cuốn sách "Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương”. Ghi chép lại những hồi ức của chị, nó bất giác gợi cho tôi nhớ lại những ngày tháng sống và chiến đấu cùng anh Nguyễn Sơn. Anh Nguyễn Sơn từ nhỏ đã tham gia phong trào thanh niên và được vinh hạnh học tập tại trường quân sự nổi tiếng của Trung Quốc - Trường Quân sự Hoàng Phố. Khi anh Nguyễn Sơn về nước, thì quân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nước ta cũng bước vào thời kỳ kháng chiến lâu dài. Trong cuộc họp của thường vụ, Bác Hồ, anh Trường Chinh và tôi yêu cầu anh Nguyễn Sơn vào miền Nam, nơi chiến sự ác liệt. Khi tôi đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch ủy ban Quân sự toàn quốc (sau này đổi tên thành ủy ban Kháng chiến toàn quốc), anh Nguyễn Sơn được cử làm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đây là một chức vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện lòng tin của Đảng và Chính phủ đối với anh. Anh Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cách mạng ưu tú của Đảng, là một tướng lĩnh có công với quân đội ta. Đặc biệt anh đã từng tham gia cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài ở Trung Quốc, là vị tướng nước ngoài duy nhất của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, cho nên khi các đồng chí láng giềng nhắc tới anh đều với một tình cảm tôn trọng và sâu nặng. Năm 1993, sang thăm Trung Quốc, được gặp vợ và các con anh Sơn, tôi rất vui và yên lòng khi thấy họ có một tinh thần lạc quan. Những đứa con bên đó cũng giống như những đứa con đang sống trong gia đình bên này, đều đã thực hiện được những điều mà thế hệ cha anh mong đợi, cần cù phấn đấu học tập và công tác. Do vậy, có thể nói tướng Nguyễn Sơn là một tấm gương sáng, là một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tếcủa Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Trung Quốc. Tướng Nguyễn Sơn là một chiến sĩ Cộng sản kiên định, là một người có khí phách và cũng là một vị tướng tài ba. Tài ba của anh Sơn không chỉ ở lĩnh vực quân sự, mà còn trong các lĩnh vực chính trị, tuyên truyền, văn nghệ. Nguyễn Sơn còn có một phong cách riêng, vô cùng độc đáo Ví dụ, khi làm chủ hôn đã yêu cầu cô dâu, chú rể làm thơ ngay tại hôn lễ, điều này chỉ có anh Nguyễn Sơn mới làm được. Cho dù ở Trường Lục quân Quảng Ngãi, hay ở Trường Quân chính Quân khu 4, anh Sơn luôn rất coi trọng đào tạo cán bộ. Trong phong trào luyện binh, anh đã rất thành công và đưa ra một hình thức huấn luyện được áp dụng trong toàn quân và nhân dân: "Đại Hội Tập". Anh tôn trọng bạn bè và mọi người, coi trọng bồi dưỡng đội ngủ xung quanh. Có thể nói, trong giai đoạn Cách mạng Tháng Tám vừa mới thành công, Cách mạng Trung Quốc còn chưa giành được thắng lợi, Đảng và nhân dân ta đã phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chính quyền non trẻ trong điều kiện bị bao vây và cực kỳ khó khăn phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và Đảng, toàn dân đoàn kết, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, từ xây dựng dân quân đến xây dựng sư chủ lực đầu tiên. Chúng ta đã nêu cao tinh thần tự lực tự cường, đã đứng vững và lớn mạnh, đặt nền móng vững chắc cho việc tiếp thu và sử dụng có hiệu quả sự viện trợ hết lòng của các nước anh em, đặc biệt là Trung Quốc sau này. Tôi phải nhắc đến một tài liệu năm 1949 do Pháp công bố, trong tài liệu đó, Pháp đã buộc phải thừa nhận "dùng lực lượng quân sự không thể thắng nổi Việt Minh". Anh Sơn đã về nước chính vào những ngày khó khăn đó Anh đã tích cực tham gia các cuộc thảo luận về quân sự chiến tranh, đã đưa ra nhiều ý kiến sâu sắc về vấn đề bồi dưỡng cán bộ, tác chiến, xây dựng bộ đội chủ lực, xây dựng lực lượng dân quân v.v... đặc biệt anh rất coi trọng vấn đề xây dựng dân quân. Trong các cuộc hội nghị, anh phát biểu rất sôi nổi và thu hút được sự chú ý của mọi người. Trong quan hệ với bạn bè, anh tôn trọng đồng chí, bạn chiến đấu, thường tâm sự với mọi người thâu đêm suốt sáng, làm mọi người có cảm giác thoải mái và quyến rũ. Thời gian về nước của anh không dài, nhưng anh đã có những đóng góp hết mình. Mùa hè năm 1950, do phân công công tác, anh đã đến Bắc Kinh. Mặc dù xa quê hương đã lâu, bôn ba hoạt động cho cách mạng ở bên ngoài, nhưng không có giờ phút nào anh không nhớ tới Tổ quốc mình. Khi bệnh tình nguy kịch, mặc dù đã được bạn bè hết lòng cứu chữa, thậm chí gửi sổ y bạ đi hội chẩn ở Liên Xô, nhưng anh không thể qua nổi. Theo nguyện vọng của anh, Đảng đã đón anh về nước. Anh đã từ trần trong niềm thương tiếc vô hạn của người thân, bạn bè chiến hữu trên mảnh đất quê hương. Mặc dù mất sớm, nhưng anh đã để lại hình ảnh của một người Cộng sản suốt đời cúc cung tận tụy cho sự nghiệp cách mạng nước ta và đất nước anh em hữu nghị, hình ảnh một đồng chí, một người bạn chiến đấu thân thiết và hết sức chân thành. Anh mãi mãi được ghi nhớ trong trang lịch sử cách mạng Việt Nam và khắc sâu trong trái tim mỗi chúng ta. Hà Nội, ngày 22-12-1999 Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 01 Tháng Mười, 2009, 08:09:42 am LỜI DẪN Tôi sinh ra ở Tam Tấn, nơi đã sản sinh ra nền văn minh Trung Quốc cổ đại và đã có mối tình sâu nặng với vùng đất sông Hồng, Việt Nam. Trên thế giới này, tôi đã trải qua tám mươi sáu năm dài, còn ông chỉ lưu lại trên đời bốn mươi tám mùa xuân. Ông là người Việt Nam, sinh ra tại Hà Nội. Mới mười lăm tuổi, ông đã tự đi sang nước Pháp để tìm chân lý và đã gặp được Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, từ đó đi theo con đường cách mạng. Tên thật của ông là Vũ Nguyên Bác, sau đổi là Nguyễn Sơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật gọi ông là "Chú Sơn”. Ông đã đích thân chỉ huy trong chiến tranh chống Pháp ở miền Nam và miền Trung Việt Nam. Do có công lao to lớn nên ngay từ năm 1948, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phong cho ông quân hàm thiếu tướng. Ở Việt Nam, ông được mọi người gọi là "Vị tướng nhân dân". Cũng có thể coi ông là người Trung Quốc vì trong cuộc đời ngắn ngủi bốn mươi tám xuân xanh, ông đã chiến đấu trên đất nước Trung Quốc tới hai mươi bảy năm. Năm 1924, ông rời Việt Nam tới Quảng Châu tìm gặp Hồ Chí Minh, rồi tham gia vào cuộc Đại cách mạng của Trung Quốc. Ông đã ba lần tới Trung Quốc, ba lần vượt "Núi tuyết" và “Thảo nguyên" trong Vạn lý trường chinh, ba lần bị khai trừ khỏi Đảng nhưng không quản sóng gió cuộc đời, ông vẫn vững vàng, không lay chuyển, thẳng tiến về phía trước. Tên Trung Quốc của ông là "Hồng Thủy”. Mao Trạch Đông thân mật gọi ông là "Tiểu Hồng”, nhân dân Trung Quốc trao cho ông vinh dự cao quý là một trong những vị tướng khai quốc của nước cộng hòa, và được thưởng ba loại huân chương hạng nhất. Trong Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc ông là người nước ngoài duy nhất được phong quân hàm cấp tướng, trong quân đội trên thế giới người được hai nước cùng phong tướng như ông cũng là điều hãn hữu. Hồng Thủy mới mười sáu tuổi đã tham gia cách mạng, từ Việt Nam sang Trung Quốc, từ Trung Quốc về Việt Nam, suốt đời là chiến đấu. Trong lần cuối trở về Tổ quốc thân yêu của mình, ông chỉ còn sống được ba tuần. Khi ông ly biệt Trung Quốc, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và nhiều nhà lãnh đạo khác, đã đến chào từ biệt. Hơn hai trăm vị khai quốc công thần đã đi tiễn ông. Khi ông tạ thế, nhân dân Việt Nam đã long trọng cử hành lễ quốc tang. Tôi là người vợ Trung Quốc của Hồng Thủy. Trên hai bờ Hoàng Hà, chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu. Trong khói lửa của chiến tranh kháng Nhật, chúng tôi đã kết thành bạn đời. Khói lửa chiến tranh liên miên đã vô tình chia chúng tôi thành hai ngả. Những biến cố đã chia lìa âm dương, để lại trong chúng tôi những tiếc thương, hối hận suốt cuộc đời. Hồng Thủy đã ra đi vừa bi tráng, vừa vội vã. Trái tim của tôi vẫn như lá rơi về cội, hướng về Việt Nam. Đã bao năm qua tiếng réo của Hoàng Hà, tiếng sóng vỗ của sông Hồng vẫn vang vọng trong trái tim tôi. Hoàng Hà hùng dũng, sục sôi đã ghi lại trong chúng tôi biết bao nhiêu tình, Hồng Hà mãi mãi chảy xuôi, đã mang đi của tôi biết bao nhiêu nỗi nhớ. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 03 Tháng Mười, 2009, 04:49:47 pm PHẦN ĐẦU Kết hôn với một người ngoại quốc, trong Bát lộ quân, ở biên khu Tấn-Sát-Ký, ở huyện Ngũ Đài lúc đó, là một chuyện chưa ai từng nghe nói. Lúc đó, trước những lời can ngăn thật lòng của nhiều người, tôi âm thầm suy nghĩ: Hồng Thủy mới mười sáu tuổi đã tới Trung Quốc tham gia cách mạng. Vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc, ông đã chịu mọi gian truân, chẳng quản mọi hy sinh của bản thân. Là một người phụ nữ cách mạng của Trung Quốc, lại là nữ trí thức, tại sao tôi lại không thể cùng một đồng chí cách mạng ngoại quốc như thế kết hôn? Cách mạng không có biên giới quốc gia, lẽ nào tình yêu lại có quốc giới hay sao? Chương I MỐI TÌNH SÂU NẶNG VỚI VÙNG ĐẤT HOÀNG HÀ Năm 1914, tôi được sinh ra trong một gia đình lớn, dòng họ Trần ở trấn Đông Dã, huyện Ngũ Đài tỉnh Sơn Tây. Tháng 10 năm 1914, tôi được sinh ra trong một gia đình lớn, dòng họ Trần ở trấn Đông Dã, huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây. Theo qui định trong gia phả dòng họ Trần, nếu là con gái cùng đời với tôi thì tên phải có đệm chữ Ngọc. Cha mẹ tôi đặt tên cho tôi là Ngọc Anh. Dòng họ Trần chúng tôi đã nhiều đời cư trú trong một khu trang viện lớn, nhà cửa quay hướng bắc, ở một nơi được gọi là Ngõ nhà Trần, trên một triền đồi quay về bắc ở trấn Đông Dã. Trên cánh cửa lớn sơn đen có mấy chục chiếc đinh lớn thếp vàng lấp lánh. Ai mới đến trấn Đông Dã, đi qua ngõ nhà Trần đều biết ngay đây không phải là một nhà giàu thông thường. Khi còn bé, tôi đã nhiều lần đếm thử xem trên cổng có khoan đóng bao nhiêu chiếc đinh. Sau giải phóng, khi đã vào Bắc Kinh, tôi mới được biết rõ ý nghĩa của việc số đinh đóng trên cổng dòng họ. Số lượng đinh thếp vàng đóng nhiều ít là tùy theo địa vị và sự giàu có của dòng họ quyết định. Nếu ở cửa, dọc ngang có chín hàng tám mươi mốt đinh, là tượng trưng cho nhà đó thuộc hoàng tộc. Xem như vậy thì biết khi đang thịnh, dòng họ Trần trước đây cũng là dòng họ rất quý phái. Đời cụ cố tôi ở trấn Đông Dã là một đại địa chủ có tiếng tăm. Cụ cố tôi có một em trai, hai người có tất cả tám người con trai. Trong khu trang viện có cánh cửa to sơn đen đó, anh em họ đã xây tám ngôi nhà lớn ốp gạch men xanh, ngói nâu. Đời ông tôi, mỗi người con trai đều được ở một tòa nhà lớn như vậy. Nhà xây chữ môn, gồm một dãy phòng chính rộng rãi, quay mặt phía bắc. Hai dãy nhà ngang gồm nhiều phòng làm kho. Mỗi người lại được chia không ít ruộng ở các thôn lân cận. Thế nhưng, đa số trong tám người anh em đều đểnh đoảng, lười biếng, có người còn nghiện hút. Gia nghiệp tổ tông để lại lâm vào cảnh "miệng ăn núi lở”. Tiếp đến đời sau, dòng họ Trần đã sa sút lụn bại. Đến đời tôi sinh ra, phong thái của dòng họ Trần đã sa sút hẳn, chỉ còn cái vỏ. Những chiếc đinh vàng trên cửa lớn đã bị bóc hết, còn trơ lại những lỗ thủng rêu mốc. Dòng họ Trần một thời hiển hách, giàu sang đã bị khánh tận. Thời cải cách ruộng đất, cũng có người đề xuất phải chia tài sản dòng họ Trần. Đội công tác cải cách ruộng đất điều tra qua một số người làm công cũ để nắm rõ tình hình. Họ đều nói: "Những người của họ Trần cũ nay chẳng giống như chúng tôi sao? Chẳng còn đồ đạc gì nữa, lại còn một lũ mẹ góa con côi, còn gì nữa mà phân với chia?" Căn cứ vào tình hình kinh thọ Trần lúc đó, khi phân định thành phần, ông nội tôi được phân định là trung nông. Thành phần giai cấp của dòng họ Trần đã thay đổi. Rời khỏi ngõ nhà họ Trần, đi xuống dốc, rẽ thẳng về hướng tây là phố trung tâm thương nghiệp của trấn Đông Dã. Mặt đường của thị trấn được phủ một lớp "đá củ đậu”, to nhỏ khác nhau. Hai bên phố là các cửa hiệu, hàng ăn, các hàng tạp hóa đủ loại. Trước cửa nhà nào cũng bày thêm sạp hàng. Vì vậy, đường phố xây vốn đã không rộng nay lại càng trở nên chật hẹp. Thị trấn Đông Dã, ở ven tây nam huyện Ngũ Đài, một thị trấn nhỏ, thế nhưng nó lại được coi là trung tâm thương nghiệp văn hóa của huyện Ngũ Đài, còn được gọi là "Tiểu Thái Nguyên". Ở đây có nhiều dấu tích phong phú, sâu sắc của văn hóa Hà Đông thuộc Hoàng Hà. Tại trấn Đông Dã có một tòa miếu Văn Xương không lớn. Miếu chỉ là một tòa nhà đã cũ. Nghe nói, tiền xây miếu Văn Xương là do các hòa thượng ở núi Ngũ Đài quyên góp được. Mỗi năm vào mùa xuân, trấn lại cử hành lễ hội tại miếu. Già trẻ lớn bé ở các làng, xã lân cận đều đến miếu Văn Xương dâng hương, cúng bái. Nhân dân ở trấn Đông Dã còn rất tin "Ông địa". Nhà nhà đều có bàn thờ ở cạnh cửa, trên có bài vị thờ "Ông địa". Mọi người đều cảm nghĩ rằng "Ông địa" là người nắm họa phúc của mỗi nhà nên đều cầu xin "Ông địa" cho mưa thuận gió hòa, lúa gạo đầy sân, cả nhà yên bình. Ở đường phố phía tây trấn Đông Dã có một sân khấu lớn. Sân khấu lớn này có tự bao giờ, không ai biết. Vùng Tam Tấn, thôn, làng nào cũng có đền miếu, đền miếu nào cũng có diễn tuồng, kịch. Dân Đông Dã ham xem tuồng kịch đã từ lâu. Mỗi năm ba mùa: xuân, hạ, thu, chính quyền các thôn đều mời các ban tuồng kịch đến biểu diễn. Chỉ cần nghe tiếng chiêng trống gióng lên, già trẻ lớn bé ở các thôn chung quanh đã rùng rùng kéo tới đứng chật trước sân khấu. Dân Đông Dã đặc biệt thích xem "Tấn kịch". Chỉ cần mặc áo tuồng xanh đỏ, chít khăn màu, lên sân khấu, thì ở dưới đã hò reo náo nhiệt. Càng náo nhiệt hơn, khi đến những đoạn hát đối, mượt mà êm dịu, những động tác múa lông đuôi trĩ điêu luyện, điệu múa mọi người đều khoái trá. Lúc bé tôi cũng rất thích xem tuồng kịch, đặc biệt các vở "Ngọc Đường Xuân" và "Tam nương giáo tử” (ba phụ nữ dạy con), cho đến giờ tôi vẫn nhớ như in. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 03 Tháng Mười, 2009, 04:50:24 pm Vùng đất Tam Tấn từ cổ đã lập thư viện, hiếu học đã thành phong trào. Trấn Đông Dã nhỏ bé cũng không phải là ngoại lệ. Năm đầu Dân quốc, ở đây đã nổi lên cao trào Tân học (Học kiểu mới), đã mở các trường nam, nữ cao đẳng tiểu học, lớp trẻ con lớn, bé hơn tôi, rất nhiều đứa được đến trường. Cô cháu dòng họ Trần chúng tôi đều tốt nghiệp cao đẳng tiểu học. Tật bó chân cho con gái cũng rất hiếm thấy. Các em gái tôi thậm chí cũng chẳng thèm xỏ lỗ tai, đeo hoa tai.
Vùng Đông Bắc Tấn có huyện Ngũ Đài dựa vào "Thái Hàng Sơn", giáp giới với huyện Phụ Bình của tỉnh Hà Bắc. Ở đây núi non lồi lõm, đất đai cằn cỗi, giao thông từ cổ đã không tiện lợi, đời sống của dân rất nghèo nàn. Mọi người sống nhờ trồng cao lương, tiểu mạch, gạo, kiều mạch và các củ làm thuốc ở trên núi (như củ mài, củ chụp). Vì vậy ở huyện Ngũ Đài có một đoạn ca dao truyền từ lâu đời: Sáng ninh củ chụp Trưa ninh củ mài. Tối ăn củ chụp nấu giả thành cơm Mỗi củ phân đôi ăn cả ngày. Ngũ Đài là vùng đất nghèo, nhưng lại là một vùng đất thần kỳ. Trung Quốc có năm ngọn núi lớn được gọi là "Phật giáo danh sơn" thì đứng đầu là Ngũ Đài Sơn của huyện Ngũ Đài. Dải núi Ngũ Đài, diện tích chiếm mấy trăm dặm, do năm ngọn Vọng Hải, Cẩm Tú, Quải Nguyệt, Diệp Đấu, Thúy Nham cao lớn, hiểm yếu quây tụ lại thành. Trên núi xây nhiều đền chùa miếu mạo, có rừng già xanh tốt, thác chảy ào ào, phong cảnh vô cùng đẹp. Nghe nói ở Ngũ Đài Sơn có ba trăm sáu mươi tòa đền chùa, miếu mạo. Ở các thanh miếu người chủ trì gọi là Hòa thượng, ở các hoàng miếu gọi là Lạt ma. Trên Ngũ Đài Sơn có bao nhiêu Hòa thượng, bao nhiêu Lạt ma, không ai biết được. Mỗi đền, miếu đều có sự tích, mỗi miếu đền đều có bao nhiêu huyền thoại. Diêm Tích Sơn, "ông vua con" của Sơn Tây (Thổ Hoàng đê) được sinh ra ở một làng ven sông thuộc huyện Ngũ Đài. Không hiểu tại sao một con người, kinh doanh thì thất bại, tòng quân thì không thành, dân thường chế giễu là "Lão Diêm dấm thối"lại được sang Nhật lưu học. Khi học ở Trường Quân sự chuyên tu "Trấn Vũ Đường”của Nhật Bản, Diêm làm quen được với Tôn Trung Sơn lúc đó đang lưu vong tại Nhật. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, khởi nghĩa Vũ Xương bùng nổ. Diêm Tích Sơn tích cực hưởng ứng, đem quân chiếm được Thái Nguyên, Phả Thự. Cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên thành công, ông ta trở thành đô đốc Sơn Tây, đã được Tôn Trung Sơn khen: "Nước Cộng hòa thành lập được, đô đốc Sơn Tây đã có công đầu”. Vì vậy, ông ta độc đoán chiếm toàn bộ đại quyền quân chính ở Sơn Tây. Năm 1921, Cách mạng Tân Hợi thất bại, ông ta lại quay sang núp bóng Viên Thế Khải, giải tán Quốc dân đảng trong toàn tỉnh, truy bắt những người thuộc đảng cách mạng. Diêm Tích Sơn thống trị được Sơn Tây hai mươi sáu năm, qua được nhiều triều đại, ngoài việc đầu cơ về chính trị, còn luôn lợi dụng vấn đề đồng hương để củng cố thế lực cá nhân. ở Sơn Tây có một câu nói mỉa mai được truyền tùng "Chỉ cần học nói đúng giọng Ngũ Đài là đã có thể múa may được". Vì vậy ông ta đã trở thành "ông vua con" độc bá vùng Tam Tấn. Ở thời Diêm Tích Sơn đang rùm beng đầu cơ về chính trị, ông ta đã bỏ tiền riêng sáng lập ra Trường Sư phạm Quốc dân Sơn Tây. Trái với nguyện vọng của Diêm Tích Sơn khi thành lập, trường này đã trở thành trung tâm của phong trào cách mạng của học sinh tỉnh Sơn Tây. Từ đây đã sản sinh ra Từ Hướng Tiền, Bạc Nhất Ba, Trình Tử Hoa, những nhà quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ở đối diện bên sông làng quê của Diêm Tích Sơn, có một làng nhỏ Vĩnh An của trấn Đông Dã đã sản sinh ra một nhân vật có tầm cỡ không kém gì Diêm Tích Sơn, đó là Từ Hướng Tiền, nguyên soái khai quốc của nước Cộng hòa. Trong số hai mươi vị nguyên soái và đại tướng của nước Cộng hòa, những tinh anh của giới quân sự xuất chúng Trung Quốc, duy nhất chỉ có một mình Từ Hướng Tiền là người sinh ra ở miền bắc Trung Quốc, hơn nữa là người của huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây. Ngoài những thành tích công lao vĩ đại của nguyên soái Từ Hướng Tiền ra, không thể không nói tới truyền thống sâu xa của vùng đất Hoàng Hà. Sơn Tây, vùng đất Hoàng Hà đã sản sinh ra nền văn minh Hoa Hạ và truyền thống huy hoàng của dân tộc Trung Hoa. Hoàng Hà dài muôn dặm, phát xuất từ Côn Lôn, chảy về Đào Hoàng, ven sa mạc lớn, xuyên qua hẻm núi cao, gồm chai khúc mười tám vịnh, từ vịnh Quan Lão Ngưu thẳng về Nam, trong tiếng sóng réo Hoàng Hà đã vọng lên nền văn minh thiên cổ Hoa Hạ: Đại chiến Viêm Hoàng Trác Lộc, Nghiêu kiến Đô, Vũ trị Thủy, Thần nông tặng Bách Thảo, Hậu Tắc reo ngũ cốc, quy tụ những phú giả của thiên hạ, trải đều khắp nơi là danh sơn thắng cảnh, văn có Vương Bột, Vương Duy, Tư Mã Quang, Bạch Cư Dị, La Quán Trung, là các văn hào thời đại, võ có Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, Quan Công, Dương Gia Tướng, là các danh tướng một thời... Lịch sử tiếp diễn đến thế kỷ XX. Trên dải đất Hoàng Hà thần kỳ, những người con ưu tú của Trung Hoa lại viết tiếp trang sử huy hoàng của dân tộc Trung Hoa vĩ đại Sau sự biến 7-7-1937 (Lư Cầu Kiều) bùng nổ, huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trở thành "căn cứ kháng Nhật tại hậu phương địch" đầu tiên của Trung Quốc. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:36:29 pm Tóc tôi cũng không dài, song tôi quyết cắt luôn đuôi sam. Có người gọi tôi là: "Con ranh Cộng sản".
Cha tôi có bốn anh em đều ở trong ngõ nhà họ Trần. Khi các chú lập gia đình, có con cái, ngồi nhà ngói to của tổ tiên không chứa đủ, bèn tách ở riêng. Cha tôi sinh được sáu anh em chúng tôi, bốn trai, hai gái, vào lúc nhà của tổ tiên hư hại nhiều, bèn dọn cả nhà tám người xuống mấy gian nhà ngang phía nam của ông bác để ở riêng. Lúc đó giá nhà chưa cao, nếu bán nhà cũ, có thể mua một ngôi nhà riêng kha khá, song cha tôi không chịu rời đất thừa kế của dòng họ Trần. Cha tôi là con người nổi tiếng có hiếu. Tuy có bốn anh em, song chỉ cha tôi phụng dưỡng ông bà nội tôi. Đối với các chú, thím cha tôi cũng hết sức quan tâm. Cha tôi là một người thật thà, tử tế, đã từng dạy học ở Trường Tiểu học Đà Dương của trấn. Vì lương quá thấp không nuôi nổi gia đình, ông phải vào làm ở quân đội của Diêm Tích Sơn, làm lính của Tấn Quân. Sau đó ông được thăng làm về quân nhu. Cha tôi tuy là đồng hương với Diêm Tích Sơn, song cả đời ông e dè giữ mình, là người chinh phái, không màng đến chính trị, lại không biết nịnh nọt a dua. Vì vậy, ở lâu trong Tấn Quân, nhưng ông chẳng có cơ hội thăng tiến. Vì cha tôi đi làm việc bên ngoài, lại có nhà ở cũ, nên sinh hoạt của gia đình tôi cũng không đến nỗi túng. Mẹ tôi là một người đàn bà Trung Quốc truyền thống, hiền dịu, thật thà. Bà hoàn toàn phục tùng chồng, không bao giờ cãi lại một câu. Từ bé mẹ tôi đã bị bó chân theo tục cũ, chân bé xíu. Suốt ngày bà chỉ ngồi trên giường khâu vá. Quần áo bốn mùa của chồng con, bà đều giặt sạch vá kỹ, sắp xếp ngăn nắp. Bà không biết chữ, nên chẳng nói đạo lý sách vở. Khi các con làm sai, bà chỉ nhắc: "Cha con đi làm việc ở ngoài vất vả lắm, đừng làm cho cha bực mình", chưa bao giờ thấy bà nổi nóng, chửi mắng con cái. Gia đình tôi có một bà thím vô cùng đanh đá, muốn chửi ai thì chửi, ông bà nói chẳng được. Trong nhà của cha mẹ tôi, có cái gì vừa mắt là bà lấy mang về nhà mình ngay. Giữa vùng đất hai nhà, cha tôi trồng một giàn nho, bà cũng độc chiếm luôn. Trừ con cái bà ra, không ai được động đến, nếu không bà sẽ la hét, chửi bới om sòm. Có một lần, anh hai tôi hái mấy chùm nho, bị bà trông thấy đánh cho mấy roi. Thấy để giàn nho, điếc tai hàng xóm, cha tôi bực mình, chặt bỏ. Mẹ tôi thật thà, nhu nhược, tự nhiên thành cái đích cho bà ta rêu rao. Mẹ tôi chịu không nổi, bèn kéo tất cả anh em chúng tôi lên xe lừa kéo, lếch thếch đi lên huyện Trường Trị, khu Tấn Đông Nam, là nơi cha tôi công tác. Từ đó chúng tôi theo cha, sinh hoạt theo kiểu thị trấn ồn ào, nhộn nhịp. Trong các anh chị em, cha tôi yêu tôi nhất. Em gái tôi còn quá bé. Suốt một thời gian dài, trừ bốn thằng con đầu trọc, chỉ có tôi là con gái. Cha tôi dạy là phải lễ phép, chăm học, không được hỗn láo với người lớn. Ở trong nhà, tôi được ưu ái nhất. Hai anh trai tôi lười học, có lần cha nổi nóng, phạt bắt quỳ. Chỉ có tôi xin, thì cha mới tha. Không lâu sau đó, cha tôi lại bị điều động đi nơi khác công tác, mẹ con tôi lại bìu ríu kéo nhau về quê. Các anh em trai tôi lớn lên, lần lượt lập gia đình. Nhân khẩu gia đình càng trở nên đông. Trong một gia đình truyền thống của Trung Quốc đã có nhiều chị em dâu tất sinh lục đục cãi cọ. Tôi là bà cô trong gia đình cũng bị dính lây. Mỗi lần người nào có chuyện đến kể lể với tôi tôi đều chăm chú nghe, sau mới tính dùng lời lẽ để thuyết phục, thành ra phán xử. Sinh hoạt của tôi từ bé được tự do, thoải mái, cha mẹ tôi chẳng bao giờ can thiệp hay bắt buộc. Lâu rồi thành quen, đã tạo cho tôi tính quật cường và nhanh nhạy. Tôi muốn làm điều gì, đều do mình độc lập, tự chủ, dũng cảm tự quyết định. Lúc bé, ở thôn tôi con gái ai cũng kết tóc thành một đuôi sam dài, gốc đuôi sam buộc một sợi dây đỏ thật dài. Trên toàn đuôi sam còn trang điểm thêm các dây nhỏ ngũ sắc. Đặc biệt khi tết đến, nhà nhà đều may quần áo mới cho con gái, có hoa hồng trước ngực, mặc quần màu xanh màu lam hay màu tím. Mỗi khi các cô đi đứng, quay mình uyển chuyển, đuôi sam sau lưng uốn éo chuyển động theo trông rất đẹp. Riêng tôi, lúc còn bé, không hiểu sao tóc tôi lại không dài, từ bé chỉ buộc thành hai bím, vừa thô vừa cứng như hai bàn chải. Vì xung quanh tôi toàn là con trai, cũng tạo cho tôi tính cách can đảm và thoải mái, không thích mặc quần áo hoa. Mẹ tôi không có cách nào khác, mỗi lần may quần áo cho các con, tất cả đều phải dùng màu xanh lam, khi may quần áo cho tôi, thì mẹ chỉ sửa thêm có hai dải đeo yếm quần của con gái. Ấy vậy mà, giữa đám bạn gái, tự nhiên tôi lại nổi bật nhất, rất có cá tính. Các bạn gái rất thích tôi, một là do tôi học giỏi, thường giảng giải và kèm cặp thêm bài vở cho họ, hai là tử bé tôi đã được theo cha "tung hoành nam bắc", nhìn nhận thế giới bên ngoài và hiểu biết cũng nhiều. Các bạn gái thường yêu cầu tôi kể lại và giảng giải cho về sự thế bên ngoài. Năm 1926, cha tôi được điều về công tác tại Thái Nguyên. Cả nhà tôi lại theo ông về ở Thái Nguyên. Năm đó, tôi mười hai tuổi, đã lên lớp 5 tiểu học. Thấy mỗi ngày phải lấy lược chải tóc rất phiền phức, tôi bèn lấy kéo tự cắt đuôi sam, chỉ để tóc ngắn ngang vai. Phụ nữ cắt tóc kiểu như vậy thời đó trên đường phố Thái Nguyên là không thể coi được. Tôi đi đường thấy mọi người đi đường chỉ chỉ trỏ trỏ, bàn tán sau lưng: "Trông con bé kia kìa, giống như một con ranh con Cộng sản". Lúc đó, tôi thực sự chưa biết Đảng Cộng sản là gì vậy và cũng vì thế từ năm ấy, tôi luôn nhớ tới ba chữ Đảng Cộng sản. Hồi bé, tôi đã từng nghe người già kể lại, trước đây nam nữ ai ai cũng phải để tóc đuôi sam. Ông tôi, cha tôi, chú bác tôi cũng đeo lủng lẳng chiếc đuôi sam sau lưng Cách mạng Tân Hợi đã lật đổ hoàng đế. Tôn Trung Sơn đã làm Đại Tổng thống của Trung Hoa Dân Quốc. Thay triều đổi đại rồi, Dân Quốc không ưng đàn ông còn để đuôi sam. Năm đầu Dân Quốc, trấn Đông Dã vẫn tổ chức lễ hội đền chùa miếu mạo như những năm trước. Năm đó, người đến dự lễ hội để cúng, để buôn bán đông hơn nhiều, người người chen chân, chật như nêm cối. Đột nhiên hội lễ như bị bỏ bom, mọi người bỏ chạy tứ tán, người nấu lật chảo, người đang ăn lật mâm bàn, vỡ hết chén bát để bỏ chạy. Chỉ thấy những người có đuôi sam cắm đầu bỏ chạy Giữa đám đông có người la toáng lên: "Chạy mau đi, đội cắt đuôi sam đã tới!” "Đội cắt đuôi sam đã tới!” Đám quan quân mặc áo đen, người người hùng hổ, tay cầm kéo, đuổi theo những người có tóc đuôi sam trong đám đông. Bắt được ai, họ dùng kéo cắt ngay cái đuôi sam đen nhánh. Đàn ông hoảng hốt chạy như chuột. Không may có người bị cắt đuôi sam thì cúi gục đầu ngồi bệt xuống đất ôm đầu khóc thút thít. "Trời ơi! Cái đuôi sam của tôi! Mệnh của tôi thế là hết rồi!” Người già kể lại chuyện cũ để cho vui. Riêng tôi cứ âm thầm tự hỏi: Nam giới bỏ đuôi sam là cách mạng. Nữ giới bỏ đuôi sam là Cộng sản. Vậy giữa cái cách mạng và Cộng sản có quan hệ ra sao? Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:37:52 pm Để hiểu rõ thế nào là Đảng Cộng sản, tôi nhờ người dẫn lên trụ sở Đảng bộ Quốc dân đảng tỉnh Sơn Tây để thăm một phạm nhân trọng yếu của Đảng Cộng sản đang bị bắt giam.
Năm 1927, Tưởng Giới Thạch phát động cuộc chính biến phản cách mạng "Ngày 21 tháng 4", một số đảng viên Đảng Cộng sản bị Quốc dân đảng bắt giam. Cuộc khủng bố trắng lan ra khắp đại lục Trung Quốc. Vì rằng Diêm Tích Sơn liên miên nhiều năm tham gia vào cuộc "Quân phiệt hỗn chiến" khiến tỉnh Sơn Tây không lúc nào ngớt khói lửa chiến tranh, dân không được một ngày yên ổn. Trong tâm trí trẻ con của tôi lúc đó đã âm ỉ ghét cái nòi giống của chính phủ phản động Quốc dân đảng. Bạn học cùng lớp tôi lúc đó có Trương Thu Phương là quý tôi nhất. Chị thật thà, đôn hậu. Chị hơn tôi vài tuổi tình cảm của chị đối với tôi như đồi với em ruột. Mẹ của Trương Thu Phương khi ấy mới hơn ba mươi tuổi đã phải ở góa nuôi con, sinh hoạt gia đình tương đối khó khăn. Vì vậy, tuy Thu Phương còn đang học tiểu học, mẹ chị đã phải đem chị hứa gả cho người ta. Bạn trai của chị họ Ngụy, công tác tại Đảng bộ Quốc dân đảng, tỉnh Sơn Tây. Một hôm Trương Thu Phương ghé tai tôi thì thào: "Ngọc Anh, có phải em muốn biết Đảng Cộng sản là như thế nào không?" Tối qua, Tỉnh Đảng bộ vừa bắt được một phạm nhân Cộng sản quan trọng, nghe nói là Vương Doanh. Anh ta bị giải ngay về nhà ngục thành Thái Nguyên. Chuyện Vương Doanh bỉ bắt là do anh chàng họ Ngụy lộ cho Thu Phương, chị nói lại cho tôi biết. Thế là tôi nảy ra ý định đến xem mặt Vương Doanh để tìm hiểu cho rõ Đảng Cộng sản là như thế nào. Tôi bàn với chị Phương tìm cách đến xem mặt Vương Doanh bằng cách nhờ anh bạn trai của chị dẫn tôi đến Tỉnh Đảng bộ Sơn Tây để cõi, chị đồng ý giúp tôi. Một hôm, đã tối chị Trương Thu Phương tới nhà tôi, gọi tôi ra ngoài ghé tai nói nhỏ: "Ngọc Anh, trưa mai bạn của anh Ngụy, tiểu đội trưởng Lý, là đồng hương của anh, sẽ đảm nhiệm trực ban, chị có thể dẫn em đi xem anh chàng Cộng sản đó, nhưng động tác phải nhanh đấy”. Trưa hôm sau, tôi tính toán, mặc một chiếc áo khoác trắng, một chiếc quần tây vải đen, quàng khăn trắng, đi giầy đen, đúng mốt trang điểm của học sinh. Tôi lẳng lặng đi theo chị Phương đến cơ quan Tỉnh Đảng bộ, tỉnh Sơn Tây. Anh chàng Ngụy dẫn tôi và chị Phương đến bên ngoài phòng giam Vương Doanh, trao chúng tôi cho anh Lý dẫn, còn ghé tai dặn dò anh Lý rồi mới đi làm công việc của mình. Lúc đó đang giữa mùa hạ, trời nóng như thiêu như đốt trên cây, ve sầu kêu ra rả. Tôi đứng ngoài cửa nhìn qua kính, mở thật to mắt nhìn vào bên trong: một căn phòng rất rộng, không có đồ đạc gì, chỉ ở gần cửa sổ kê một chiếc giường đơn. Tôi tập trung nhìn cái người có tên Vương Doanh, "Tên tội phạm nguy hiểm", người của Đảng Cộng sản. Anh ta đang ngủ, nằm mặt quay ra cửa sổ Nhìn kỹ thấy anh còn rất trẻ, tóc dài chải hất ra phía sau, trông trầm tĩnh, bình thản, say sưa ngủ như sau khi làm việc cật lực. Tôi ngắm anh một lúc lâu, chơ tới lúc thấy có ai kéo vạt áo, mới nhận ra chị Phương đã đứng sát bên tôi từ lúc nào. "Ngọc Anh, em dã thấy rõ người của Đảng Cộng sản như thế nào chưa?" "Cô bé! Nói nhỏ một chút Thế nhưng đấy là tội phạm quan trọng, người của Đảng Cộng sản đấy”. Tiểu đội trưởng Lý nói nhỏ để nhắc tôi. Tôi vẫn cứ ngắm nhìn anh ta chằm chằm, rất mong anh ta tỉnh ngủ mở mắt ra. "Cô bé ơi, đi thôi! Ngắm thế đủ rồi!" Anh Lý thúc chúng tôi rời khỏi đây ngay. Lần đầu tiên, tận mắt nhìn thấy một Đảng viên Cộng sản chân chính. Thần thái của anh coi cái chết bình thường đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Lòng kính trọng của tôi với người Cộng sản đã bắt nguồn từ đó. Ít lâu sau, Trương Thu Phương cho biết anh Vương Doanh đã bị bọn phản động sát hại rồi. Nỗi thương tâm cứ day dứt trong tôi suốt mấy ngày liền. Vợ anh Vương Doanh là chị Chu Chí Hàn, nhà ở cùng ngõ nhà tôi. Chị Chu Chí Hàn cũng bị chính phủ phản động bắt giam. Vì chị đang mang thai nên sau khi Vương Doanh hy sinh rồi chị được tha về. Dân trong phố và hàng xóm láng giềng đều đến thăm chị. Vì sự hiếu kỳ, tôi cũng đến và vào thẳng trong vườn nhà chị coi. Chỉ thấy ở cửa ra vào, bên cửa sổ đông nghịt người, chị Chu Chí Hàn phớt hết mọi người, lẳng lặng ngồi sửa soạn lại đồ đạc ở trên giường, bộ mặt xanh nhợt của chị không biểu lộ một chút cảm xúc nào. Nhìn thấy chị, tự nhiên tôi thấy cay cay ở mũi, và nước mắt cứ thế trào ra. Cho mãi tới đầu những năm 80, khi đọc quyển sách đã được xuất bản Sự thực lịch sử về sự thống trị tỉnh Sơn Tấy của Diêm Tích Sơn, tôi mới hiểu chính xác một số tình huống trong việc "Vương Doanh tựu nghĩa". Trong thời kỳ Mặt trận Thống nhất, Quốc Cộng hợp tác tại Tỉnh Đảng bộ Quốc dân đảng tỉnh Sơn Tây, có đảng viên Quốc dân đảng, lại cũng có đảng viên Cộng sản. Tỉnh Sơn Tây lúc đó có chín tỉnh ủy viên, năm người của Quốc dân đảng, bốn người của Đảng Cộng sản do Vương Doanh đứng đầu, phụ trách trưởng ban tổ chức. Tỉnh ủy viên dự bị chỉ có năm người, một mình Chu Chí Hàn là Đảng viên Cộng sản. Chị phụ trách Ban Phụ nữ. Sau cuộc chính biến phản cách mạng ngày 21 tháng 4 năm 1927, Trung ương Quốc dân đảng phát động phong trào "Làm trong sạch đảng”, đưa tất cả thành viên Cộng sản trong Quốc dân đảng ra khỏi đảng, hơn nữa còn bắt giam và sát hại. Được chỉ thị "Làm trong sạch đảng” Diêm Tích Sơn lập ra ngay một danh sách mười người phải thực hiện ngay. Vương Doanh và Chu Chí Hàn bị liệt vào danh sách đầu bảng. Lúc đó cả hai vợ chồng họ đang đi họp ở Vũ Hán, còn các đảng viên Cộng sản khác đã rời Thái Nguyên nên không bị địch sát hại. Ngày 15 tháng 7 năm 1927, tại Vũ Hán, Uổng Tinh Vệ phát động cuộc chính biến phản cách mạng (ngày 15 tháng 7), ba trấn của Vũ Hán bị dìm trong bể máu. Tháng Tám năm đó, vợ chồng Vương Doanh từ Vũ Hán quay về Sơn Tây, để tránh tai mắt của mọi người, họ bí mật đì theo đường Đại Đồng, và từ vùng Tấn Bắc theo quốc lộ xuôi về Nam. Khi đi qua huyện Quách, bị người của Quốc dân đảng phát giác. Đảng bộ huyện đó báo tin cho Cục cảnh sát bắt trói họ. Đầu tiên họ bị giải về Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây trao cho "Uỷ ban Thanh đảng”, sau đó lại chuyển xuống Tòa án địa phương Thái Nguyên xét xử. Vì thế Tòa án địa phương Thái Nguyên mới lập phiên tòa đặc biệt để thẩm vấn Vương Doanh và Chu Chí Hàn. Không tới một tháng sau, do Diêm Tích Sơn phê chuẩn, bị kết vào tội danh làm "Nhiễu loạn hậu phương”, xử Vương Doanh tử hình, thi hành án ngay trong ngày, Chu Chí Hàn bị kết án tù chung thân... Đọc tới đoạn ký sự đó, khiến tôi nhớ lại tình cảm lúc đương thời. Khi ấy tôi đã khóc, nước mắt ròng ròng. Để xây dựng nên một nước Trung Hoa mới, có biết bao nhiêu bậc cách mạng đàn anh đã phải hy sinh tính mệnh của mình, trong đó Vương Doanh là một đại biểu ưu tú. Sau này trong những bước thăng trầm của mình khi tham gia cách mạng, tôi luôn nhớ lại hình ảnh Vương Doanh. Có thể nói Vương Doanh đã trở thành thần tượng của tôi buổi đầu tham gia cách mạng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:38:47 pm Tháng 9 năm 1928, mười bốn tuổi, tôi thi đỗ vào Trường Sư phạm nữ Thái Nguyên, học khóa mười sáu.
Trước Cách mạng Tân Hợi, ở tỉnh Sơn Tây chưa có trường chuyên dạy cho nữ sinh. Sau Cách mạng Tân Hợi, dưới ảnh hưởng'tư tưởng dân chủ của Cách mạng tư sản, đề ra nam nữ bình đẳng, giải phóng phụ nữ, do yêu cầu xã hội, số nữ sinh muốn được tiếp thu giáo dục cấp huyện ngày một tăng. Vì thế, tại Thái Nguyên, lần lượt mở hai trường trung học chuyên cho nữ sinh, một trường, mọi người quen miệng gọi là Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên, còn một trường gọi là Trường Nữ trung học tỉnh Thái Nguyên. Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên được thành lập từ năm 1913, đóng ở phố quốc Sư, phía đông thành Thái Nguyên. Chế độ học của trường này là sáu năm, sơ cấp ba năm, trung cấp ba năm. Mỗi năm chỉ có một khóa. Từ ngày lập trường đến năm tôi vào học đã là mười sáu khóa. Đầu những năm 20, Trường Sư phạm Thái Nguyên bỏ lối dạy kiểu cũ phong kiến, nhai lại giáo điều, đã có phong cách học dân chủ nhất định, đề xướng, khích lệ, bồi dưỡng học sinh có tinh thần độc lập, sáng tạo. Học sinh có tính chủ động nhất định. Giáo sư nói chung là không phê phán và can thiệp. Nhà trường đề xướng thể dục quốc dân, cho học sinh được đi dã ngoại, học ngoại khóa để rèn luyện thân thể. Trường còn thường tổ chức những khóa thi đấu các loại môn bóng. Lúc bé, tôi rất khỏe, người chắc nịch, đấu bóng các loại đều thích, đặc biệt bóng chuyền. Dù rằng tôi không được cao, song động tác lại rất linh hoạt, tiếp bóng và chuyền bóng đều tốt. Tôi đã là đội viên đội bóng toàn trường. Tại Thái Nguyên, ở ngay gần trường, có một tòa Văn Miếu, là nơi chuyên thờ phụng Khổng Tử. Ăn cơm chiều xong, mấy người bạn thân chúng tôi thường hay dạo chơi. Chúng tôi nhảy nhót, cười đùa, ca hát, có lúc còn trèo lên cây, ngồi trên chạc cành để ngắm trời. Hai ngàn năm nay, tầng lớp thống trị phong kiến nhiều triều đại của Trung Quốc đã phong Khổng Tử là thánh nhân. Chúng tôi, một lũ con gái coi trời bằng vung, chịu ảnh hưởng của phong trào Phản Phong "4/5" (Ngũ Tứ) đã bỏ cả lễ nghĩa của Khổng Mạnh, như vậy có điều "Vô pháp, vô thiên" vậy. Khi tôi học ba năm đầu sơ cấp sư phạm, cũng là thời đại của "Quân phiệt hỗn chiến”. Đặc biệt năm 1930, khi cuộc đại chiến "Đánh đổ Tưởng” bị thất bại, Diêm Tích Sơn kéo tàn quân của Tấn Quân quay về vùng Tấn Bắc, ngoài ra còn thu thập tàn quân của các lộ quân đã liên hợp tác chiến với Diêm, rút về đóng trong địa phận Sơn Tây, gây biết bao nhiêu tổn thất và tai ương. Thời đó, quân ngoại tỉnh kéo về đóng ở Sơn Tây có trên mười vạn người. Lương thực và nhu yếu phẩm, đồ dùng của bọn quân này đều do dân địa phương phải cống nạp. Nếu cung cấp không đủ, chúng dùng vũ lực để uy hiếp lấy đi. Chúng đi đến đâu cũng cưỡng dâm phụ nữ, cướp của cải của dân, không tội ác nào không làm. Thêm vào đó, tên quân phiệt Khổng Điện Anh còn chuyên sản xuất ra ma túy, á phiện, bán ra hàng loạt, bắt huyện trưởng sở tại phải đứng ra làm đại lý bao tiêu ép dân mua. Tên quân phiệt Lưu Như Minh còn đem thuốc này phân phối sang các huyện khác, không những chỉ gây độc hại cho dân chung quanh mà còn lan sang các huyện vùng Tấn Trung và cả tỉnh lỵ Thái Nguyên. Để mở rộng chiến tranh, Diêm Tích Sơn còn phát hành trái phiếu của riêng mình, gọi là "Tấn phiếu”. Theo đà thế lực liên tục phát triển "Tấn phiếu” được lưu hành ra các vùng Bình, Tân, Ký, Sát, trên một dải đất mênh mông. Khi cuộc chiến "Đánh đổ Tưởng” bị thất bại, Diêm lui về giữ Sơn Tây, các loại "Tấn phiếu” cũng theo quân đội của Diêm lui về Sơn Tây, gây lạm phát. Các nhà có thế lực dùng trái phiếu để mua tích trữ đồ vật, thậm chí còn mua cả quan tài của các xưởng mộc bằng trái phiếu để tích lại. Bộ mặt của tỉnh lỵ Thái Nguyên cực kỳ hỗn loạn, nhà giàu phá sản, hiệu buôn đóng cửa, kinh tế xã hội bị khủng hoảng, mà người bị hại nhiều nhất là quảng đại quần chúng nhân dân. Thành quả lao động cả năm của mọi người chỉ được đổi lấy "Tấn phiếu”, những tờ giấy lộn. Giá cả tăng vọt khiến cho sinh hoạt của nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng. Sự hủ bại của chính quyền Quốc dân đảng, và kinh tế quốc gia bị suy sụp làm cho tôi vô cùng bất mãn với sự thống trị hắc ám của Tưởng Giới Thạch và Diêm Tích Sơn. Tinh thần bất mãn đó phản ánh vào trong trường học bằng việc tiến hành phản kháng và đòi đuổi giáo sư bảo thủ lạc hậu. Trong trường tôi lúc đó có một giáo sư quốc văn họ Phan, trong khi toàn dân đã phổ biến "Tân văn học, viết văn bạch thoại" (theo ngôn ngữ thường dùng), ông ta vẫn khư khư ôm một đống sách cũ đã mục nát ra dạy, suốt ngày luôn dùng văn cổ "chi, hồ, giả, dã" ra giảng. Các học trò rất tức giận. Lối dạy cũ của ông với chúng tôi những thanh niên đã tiếp thu tư tưởng mới, là không thể chấp nhận được. Thế là các học sinh tiến bộ của khóa mười sáu chúng tôi dán biểu ngữ khắp trường, bãi khóa, viết thư yêu cầu nhà trường, đã làm cho ông thầy "Lão phu tử” đó bị đuổi. Tiếp theo chúng tôi cũng làm cho cả ông hiệu trưởng Ngô Bính Nam cũng phải ra đi nốt. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:40:24 pm Sự biến "18/9" đã phá vỡ sự yên tĩnh của trường tôi. Dưới sự dẫn dắt của giáo sư tiến bộ, tôi tham gia cách mạng.
Mùa thu năm 1931, khóa 16 chúng tôi chuyển từ sơ cấp lên trung cấp. Trường vừa mới khai giảng, sự biến "18/9" chấn động thế giới bùng nổ (Nhật xâm chiếm ba tỉnh đông bắc Trung Quốc, lập Mãn Châu Quốc). Do thái độ quỳ gối trước Nhật của chính phủ Quốc dân đảng Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch qua chủ trương "Bất đề kháng”, quân Nhật đã trực tiếp xâm lược đất đai Trung Quốc, lần lượt nơi này đến nơi khác bị gót sắt của quân đế quốc chủ nghĩa Nhật giày xéo, nhân dân Trung Quốc đã dần dần thấy rõ nguy cơ bị làm nô lệ. Học sinh toàn quốc đã nổi lên một cao trào "Kháng Nhật cứu vong”. Học sinh Thái Nguyên cũng hăng hái tiến hành bãi khóa, mít tinh, diễu hành và tổ chức các đoàn đại biểu đến chính quyền tỉnh, thị xã, phản đối chủ nghĩa "Bất đề kháng”, yêu cầu chính phủ Quốc dân đảng phải xuất binh kháng Nhật, thu lại các vùng đất bị chiếm. Sự biến "18/9” nổ ra đã phá vỡ sinh hoạt yên tĩnh của nhà trường. Tinh thần kháng Nhật của học sinh ngày càng bồng bột, sôi nổi hẳn lên. Ở khóa chúng tôi, có chị Lôi Hán Chiêu và Lý Thục Anh lớn hơn mọi người vài tuổi, biết nhìn xa, trông rộng, có kinh nghiệm xã hội lại có năng lực tổ chức, tự nhiên thành đại biểu của khóa mười sáu chúng tôi. Khóa chúng tôi rất nhanh chóng trở thành một trong những khóa có thái độ chính trị sôi nổi và năng động của nhà trường. Chúng tôi đồng lòng, hăng hái cùng tham gia vào phong trào "Kháng Nhật cứu vong”. Tôi tích cực tham gia dán khẩu hiệu và các phong trào chống "Nhật hóa". Chúng tôi còn tổ chức những đội tuyên truyền đến các khu phố phồn hoa nhất của tỉnh lỵ Thái Nguyên để tuyên truyền kháng Nhật với dân phố. Phong trào kháng Nhật ở tỉnh Sơn Tây phát triển rất nhanh. Tháng 12, tại thị xã Thái Nguyên, học sinh đã lập nên "Hội Liên hiệp học sinh kháng Nhật cứu quốc tỉnh Sơn Tây” (gọi tắt là Học Liên). Lôi Hán Chiêu và Lý Thục Anh là đại biểu Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên tham gia "Học Liên" của tỉnh và được bầu ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Hội Học Liên. Để yêu cầu các nhà đương cục quân chính của tỉnh Sơn Tây phải xuất quân đánh Nhật, thu hồi lại đất đai bị mất, một số học sinh đã đi đến tận Nam Kinh đưa tờ thỉnh nguyện. Học sinh cả trường tôi, dưới sự lãnh đạo của hồi học sinh tự trì, toàn thể đã bãi khóa, và cùng mấy ngàn học sinh của Thái Nguyên, tay cầm cờ, đội ngũ trùng trùng tiến về nhà số 1 đường Đông Tập Hổ, là trụ sở Đảng bộ Quốc dân đảng tỉnh Sơn Tây, để tiến hành thị uy lớn, đưa yêu sách với họ. Chúng tôi yêu cầu: Thừa nhận phong trào "Kháng Nhật cứu vong" là hợp pháp và được tự do hoạt động. Bãi bỏ pháp lệnh cấm phong trào học sinh "Kháng Nhật cứu vong”. Cách chức Trưởng phòng Giáo dục Mao Bội Thành. Chuyển những yêu cầu về "Kháng Nhật cứu vong” mà học sinh toàn tỉnh Sơn Tây đã đưa ra tới Trung ương Quốc dân đảng. Sáng 18 tháng 12, khi đội ngũ của đoàn yêu cầu đến trước Tỉnh Đảng bộ, ở đó đã tổ chức phòng bị nghiêm ngặt, đối đãi học sinh với thái độ thù nghịch. ở hai bên đường cạnh cửa ra vào có các lỗ châu mai và ở trên lầu, đội kiểm soát quân sự đã súng cầm tay, đạn lên nòng như sắp đánh nhau lớn. Đoàn yêu cầu của học sinh đến đối diện với đội kiểm soát vũ trang, dàn hàng thứ tự trên quảng trường trước trụ sở. Phía sau đội ngũ chúng tôi chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe thấy phía trước ầm ầm, huyên náo. Một lúc sau có tin truyền xuống, hơn hai chục đại biểu học sinh tiến vào Tỉnh Đảng bộ đưa đơn đã bị đội kiểm soát vũ trang bao vây và đánh đập tàn nhẫn. Thế là trong đội ngũ lập tức bùng nổ cuộc biểu tình. Các học sinh một mặt vừa hô khẩu hiệu, một mặt xông thẳng vào cửa lớn. Tôi bị kẹt giữa đám đông, bị xô lên, đẩy xuống, nghiêng ngả một lúc. Bỗng nhiên tiếng súng nổ "pằng, pằng, pằng...", đội kiểm soát vũ trang đứng đông nghẹt ở hai bên đường và trên lầu đã nã súng thẳng vào đầu đoàn biểu tình. Đội ngũ biểu tình bị tan, chúng tôi từng tốp hai, ba người lui về trường, lòng đầy căm phẫn. Buổi chiều chúng tôi được tin bạn Mục Quang Chính ở Trường Trung học Sơn Tây bị bắn chết tại chỗ, máu chảy lênh láng. Hơn mười đại biểu học sinh, trong đó có Lý Thục Anh, bị bọn kiểm soát vũ trang đánh bị thương. Đó chính là vụ án thảm sát 18/12 kinh động toàn tỉnh Sơn Tây do Đảng bộ Quốc dân đảng tỉnh gây ra. Ngày hôm sau vụ thảm sát, toàn thành Thái Nguyên, công nhân bãi công, học sinh bãi khóa, thương nhân bãi thị, tất cả đều cực kỳ căm phẫn, yêu cầu phải trừng phạt hung thủ giết người. Diêm Tích Sơn từ lâu đã bất hòa với Tỉnh Đảng bộ Quốc dân đảng. Hắn lợi dụng cơ hội này xóa luôn Tỉnh Đảng bộ Quốc dân đảng để trừ hậu họa bị kìm chế, một mặt khác hắn tổ chức xử án ở một địa phương khác trong tỉnh, thực tế là tha bổng hung thủ, để tranh thủ làm vừa lòng Tưởng Giới Thạch. Vụ thảm sát "18/12" làm kinh động nhân dân toàn tỉnh và đã bóc trần bộ mặt xấu xa bỉ ổi của bọn phản động Quốc dân đảng trước nhân dân toàn tỉnh. Trên thực tế, bọn phản động làm vậy là ngu muội. Có thể là chính Diêm Tích Sơn đã đẩy chúng tôi, những học sinh yêu nước, nhiệt tình kháng Nhật, hướng về cách mạng, hướng về Đảng Cộng sản. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:41:09 pm Mùa hạ năm 1932, tại Thanh Đảo đã tiến hành giải thi đấu bóng chuyền của nữ học sinh của các tỉnh, thành thuộc Hoa Bắc. Tôi được tham gia với tư cách đội viên đội tuyển nữ bóng chuyền của Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên
Vừa xuống ga Thanh Đảo, chúng tôi đã được đưa đến ở một trường trung học gần nơi thi đấu và bị cấm trại để huấn luyện. Cho đến khi làm lễ khai mạc, mặt mũi, hình dáng Thanh Đảo ra sao, chúng tôi không được biết. Trong lễ khai mạc, thị trưởng Thanh Đảo Thẩm Hồng Liệt nói chuyện với chúng tôi. ông ta nói: "Thanh Đảo là nơi nằm trong phạm vi thế lực của Nhật Bản, người Nhật Bản ở đây rất đông. Các vận động viên khi ra ngoài đừng có làm điều gì nhiễu sự, vì nếu xảy ra việc gì chính phủ khó xử trí”. Nghe thị trưởng Thẩm Hồng Liệt nói xong, trong lòng tôi tức điên lên: người Trung Quốc đánh bóng trên đất đai của nước mình, lẽ nào lại bị người Nhật hạn chế. Giữa đám đông, tiếng la ó nổi lên ầm ầm. Tham gia vào giải có các đội đại biểu của nhiều nơi ở vùng Hoa Bắc, học sinh Bắc Bình (Bắc Kinh) kể lại tình hình ở Đông Bắc và các tội ác dã man của giặc Nhật. Các vận động viên dự giải người nào cũng căm phẫn ngút trời. Trong giải này, đội Nữ sư phạm Thái Nguyên của chúng tôi bị loại, nhưng cũng giúp cho chúng tôi được tận mắt thấy đế quốc Nhật đã cướp đất đai của nước ta. Trước khi rời Thanh Đảo, ban tổ chức cho các vận động viên được nghỉ nửa ngày. Do đó, chúng tôi đi thăm suốt bờ biển Thanh Đảo. Tôi và các bạn trong đội thuận bước đến phố Trung Sơn, một phố phồn hoa, đi tới một cây cầu xi măng mới xây. Đập ngay vào mắt tôi là một đội hiến binh Nhật Bản đang diễu võ dương oai; một đám đàn bà con gái Nhật mặc kimônô, đi dép gỗ, mặt đầy phấn son, vừa đi trên phố vừa nói liến thoắng. Chúng tôi vào một vài hiệu buôn lớn thì toàn do người Nhật mở. Trong lòng tôi nổi lên nỗi buồn đau và phẫn uất. Tôi cứ thế bâng khuâng vừa đi vừa ngắm cảnh tuyệt đẹp dọc bờ biển và một số ngôi nhà lợp mái đỏ lấp ló trong vườn cây, nghĩ lại thấy giận mình không đi sâu được xuống lòng biển để được đại dương ôm ấp vào lòng. Chúng tôi dừng lại bên cầu ở mũi biển, lên một cái gác nhìn ra mênh mông, hướng vào đại dương hét thật to: "Chúng tôi là người Trung Quốc... là người Trung Quốc... người Trung Quốc". Chúng tôi hét như vậy là muốn đem tất cả nỗi căm phẫn, buồn phiền uất ức trong lòng trao cho biển khơi. Chúng tôi cứ đứng thế trên bờ biển rất lâu, những mong được nghe hồi âm của biển. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:41:48 pm Không lâu sau đó, trường chúng tôi có một hiệu trưởng mới, tên là Triệu Thành Trai, người huyện Ngũ Đài, Sơn Tây.
Hiệu trưởng mới là một nhân sĩ thông minh, cởi mở và tiến bộ. Việc học sinh tham gia hoạt động "Kháng Nhật cứu vong” và các yêu cầu tiến bộ của học sinh, không những ông không gây trở ngại mà ở mức độ nào đó còn giúp dỡ nữa. Ông mời thêm mấy vỉ giáo sư có tư tưởng tiến bộ đến trường giảng dạy cho học sinh. Thầy giáo mới đến giảng về quốc văn Lý Trác Ngô, khoảng bốn mươi tuổi trở lại, người tầm thước, mặc một bộ quần áo Trung Sơn màu xám, nghe giọng nói giống như người ở miền Nam. Các học trò đều rất yêu mến ông. Ông thường tuyên truyền cho học sinh những tư tưởng tiến bộ về chống đế quốc, chống phong kiến, tuyên truyền "Kháng Nhật cứu quốc". Ông bị bệnh đau dạ dày, người rất suy nhược. Đứng trên bục giảng, ông luôn dùng tay ôm bụng. Có lúc mặt ông vàng vọt, mồ hôi chảy ròng ròng trên má. Khi giáo sư Lý giảng bài, cả lớp im phăng phắc. Các học sinh đều tập trung chăm chú nghe ông giảng. Ngoài giờ lên lớp, một số học sinh ham tiến bộ có lúc đã tìm đến nhà trọ của thầy, nghe ông giảng về đạo lý cách mạng. Có lúc ông còn cho mượn một số sách báo, truyện, tạp chí tiến bộ, như truyện của Lỗ Tấn AQ chính truyện, Thím Tường Lâm... ông còn kể cho chúng tôi nghe ở giáp giới phía bắc Trung Quốc có một quốc gia vĩ đại gọi là Liên Xô do Lênin sáng lập, hiện do Xtalin lãnh đạo, là một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên toàn thế giới. Ở đó đã tiêu diệt chế độ xã hội "người bóc lột người”, toàn dân đều được sống hòa bình, hạnh phúc... Những điều giáo sư Lý giảng giải, chúng tôi đều cảm thấy rất mới mẻ và đặc biệt thu hút. Chúng tôi ngầm đoán ông có thể là Đảng viên Cộng sản. Thế nhưng không ai trong chúng tôi dám nói, dám hỏi. Bởi lẽ dưới sự thống trị của bọn phản động Quốc dân đảng, lại trong thời kỳ khủng bố trắng, là đảng viên Cộng sản có nghĩa là bị mất đầu. Để bảo đảm an toàn, giáo sư Lý thường thay đổi chỗ trọ luôn, và ít lâu sau chúng tôi không thấy ông nữa. Chúng tôi đoán rằng có lẽ bọn phản động định bắt ông, nên ông đã bí mật rời trường. Trường chúng tôi cũng có một giáo sư sử học tên là Địch Cảnh Tương. Khi đến trường ông còn trẻ và rất hào hoa phong nhã. Ông dạy cho chúng tôi tại sao công nhân, nông dân bị bóc lột áp bức, tại sao đế quốc Nhật lại muốn xâm lược Trung Quốc... Ông còn giảng cho chúng tôi về lịch sử phát triển xã hội loài người, nói rõ cho chúng tôi về đạo lý: Thế giới cũ tất sẽ diệt vong, thế giới mới nhất định sẽ sinh thành. Sau đó ông thi đỗ vào học ở Trường Đại học sư phạm Bắc Kinh và rời trường. Chịu ảnh hưởng của những giáo sư tiến bộ, tôi bắt đầu chủ động tìm đọc các sách báo tiến bộ như: Báo tuần Sinh hoạt đại chúng và Bình Tông Ức Ngữ của Châu Thao Phấn chủ biên, Tạp chí phụ nữ do Thẩm Tư Cửu chủ biên... Những sách báo đó đã giúp tôi nhận thức thế giới, tiền đồ của tổ quốc và vận mệnh của cá nhân, giúp tôi từ một thanh niên đang mông lung, trở thành người cách mạng tự giác. Tôi dần nhận thấy rằng chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể cứu được Trung Quốc, từ đó tất cả hy vọng của tôi đều đặt vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mùa đông năm 1933, do bạn học Tống Ngâm Mai giới thiệu, tôi tham gia vào tổ chức quần chúng của Đảng Cộng sản, "Hội Liên hiệp những người nghiên cứu Chủ nghĩa xã nội khoa học" gọi tắt là "Xã Liên". Cũng từ ngày đó, tôi chính thức tham gia cách mạng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:43:09 pm Tôi không do dự từ bỏ chí hướng thi vào đại học. Chuẩn bị đi Tân Cương tham gia công tác cách mạng.
Năm 1934, khóa mười sáu của chúng tôi tốt nghiệp. Đa số bạn học của tôi không chuẩn bị học lên nữa, có người thì tính tìm công tác tại Thái Nguyên, có người muốn về quê dạy học. Tôi chuẩn bị đi Bắc Bình, một mặt ôn thi để chuẩn bị thi vào đại học, mặt khác vì Bắc Bình là trung tâm của phong trào thanh niên, nên tôi đến đó để tìm theo cách mạng. Cha tôi đến trường thăm tôi để xem tôi tính toán làm gì sau khi tốt nghiệp, tôi bèn kể hết những suy tính cá nhân. Cha tôi khi nghe xong nhăn nhó nói: "Cha hiện nay thôi công tác, mẹ con lại bệnh, cả nhà một đống miệng ăn, cha không có đủ tiền để cho con học lên đại học". Nghe cha nói, tôi òa lên khóe. Thấy tôi khóc, cha tôi mủi lòng vội nói: "Con cứ đi đi để cha liệu”. Tết Trung thu năm đó, tôi và Dương Kim Minh cùng một vài bạn học rời Thái Nguyên đi bằng xe hỏa tới Bắc Bình. Riêng Lý Thục Anh, bạn cùng khóa với tôi, vì bị chị nuôi và gia đình bên nhà trai đang hỏi, thúc bách phải kết hôn ngay, đã trốn lên Bắc Bình trước. Mọi người chúng tôi đều góp một số tiền để giúp chị. Lý Thục Anh là một phần tử tích cực, năng động của phong trào học sinh tỉnh Sơn Tây. Trong vụ thảm sát "18/12" chính chị là một đại biểu học sinh đi đàm phán, đã ra vào trụ sở Quốc dân đang tỉnh Sơn Tây. Tên của chị đã bị chính quyền phản động Sơn Tây ghi vào sổ đen, mọi hành động đều bị theo dõi. Chị đến Bắc Bình không lâu thì bị bọn Quốc dân đảng ở Bắc Bình bắt giam. Ở trong ngục Lý Thục anh gặp người thẩm vấn mình là Lý Úc Tài, người của Khoa Chỉnh huấn Cục công an Bắc Bình. Đó là một tên phản bội đầu hàng. Sau khi biến chất, phản bội, nó được phân công chuyên đối phó với Đảng Cộng sản, Lý Thục Anh bị Lý Úc Tài dùng mọi cách mềm rắn để o ép, cuối cùng chị từ bỏ cách mạng. Sau khi ra tù, chị còn lấy Lý Úc Tài. Khi mới tới Bắc Bình, chúng tôi thuê một căn nhà nhỏ trong khu dân cư lớn nằm ven sông, phía tây Tiền Môn. Lúc đầu chúng tôi còn chưa biết sự biến chất của Lý Thục Anh. Chị ta thường xuyên dẫn Lý ục Tài đến thăm chúng tôi, giữa họ và chúng tôi đều qua lại thăm nhau. Lúc đó về chính trị chúng tôi còn rất ấu trĩ, sau này mới thấy thật là mất cảnh giác. Lý Úc Tài thường tới chỗ chúng tôi lấm lét, nhòm nhòm, ngó ngó, nói vài câu "ba điều bốn sợi". Tôi và Dương Kim Minh chỉ cúi xuống chăm chú đọc sách, chẳng quan tâm đến việc lui tới của hắn. Mặc thái độ của chúng tôi, Lý Úc Tài cứ dăm ngày ba lượt lại mò đến. Hắn hy vọng thông qua tiếp xúc với các học sinh tiến bộ để lần ra đường dây hoạt động bí mật của Đảng Cộng sản ở Bắc Bình. Chúng tôi đến Bắc Bình để học dự bị đại học, xe in tình hình thi tuyển vào đại học năm tới. Việc nộp đơn vào trường nào còn phải xem phương thức tuyển chọn của trường và khả năng thi của mình mới có thể quyết định được. Qua hai tháng ôn luyện thi vừa khẩn trương, mệt mỏi, buồn chán, mấy người cùng tới Bắc Bình với tôi, do vô vàn nguyên nhân khác nhau, đã từ bỏ chí hướng thi vào dại học. Chỉ còn lại hai người: Tôi và Dương Kim Minh. Tôi biết tiền cha tôi cho tôi ăn học không phải dễ dàng gì. Tôi phải cố gắng học cho thành đạt để báo đáp tấm lòng của cha tôi. Tôi tập trung mọi nỗ lực vào học thi, không dám màng tới chuyện đi thăm danh lam thắng - cảnh của Bắc Bình, các vườn của hoàng gia, ngay thậm chí đến các điểm ở trung tâm thành phố như Cố Cung, Bắc Hải đều cũng chưa qua. Sau khi chúng tôi tới Bắc Bình, có hai người là thầy dạy cũ ở Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên thường đến thăm chúng tôi, hai người đều đã tốt nghiệp đại học, một người tên là Địch Cảnh Tương ở Đại học Sư phạm Bắc Bình, một người ở Đại học Thanh Hoa tên là Lưu Đại Phong1 (Địch Cảnh Tương: Sau giải phóng làm Phó Chủ nhiệm Ban thường vụ Hội đồng nhân dân thành phố Thượng Hải. Lưu Đại Phong: Sau giải phóng làm Phó Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế quốc gia). Họ đều là người đồng hương Sơn Tây với chúng tôi nên thường đem nhiều tin tức đến kể lại như: Tình hình toàn quốc kháng Nhật trước mắt, hướng mới về việc Quốc Cộng hợp tác, hoạt động của các sinh viên tiến bộ Bắc Bình trong các trường đại học. Các anh còn chỉ dẫn thêm cho chúng tôi trong việc chuẩn bị thi vào đại học. Mùa đông đã tới, ngôi nhà nhỏ của chúng tôi vừa tồi vừa lạnh. Tiền chúng tôi mang theo không nhiều, kinh tế mỗi ngày một khó. Môn số học chúng tôi học giỏi, song môn tiếng Anh thì chưa được, lòng tin thi đỗ vào đại học của chúng tôi suy giảm. Đêm đến, cuộn mình trong chiếc vỏ chăn mỏng lạnh giá, nghe tiếng gió lạnh Tây Bắc gào rít ngoài cửa sổ, làm lòng tôi cũng nguội lạnh đi. Cùng thời đó, Tống Ngâm Mai, người đã giới thiệu tôi vào "Xã Liên” cũng đến Bắc Bình. Nghe nói chị ở một trường trung học. Chúng tôi chưa gặp lại chị lần nào. Một hôm đột nhiên chị Mai đến chỗ chúng tôi trọ. Tôi và Đương Kim Minh hết sức ngạc nhiên và mừng rỡ. Đi ngoài trời gió lạnh, mặt chị đỏ ửng lên, nói với chúng tôi với điệu bộ mừng ra mặt: "Ngọc Anh, Kim Minh, mình dân tới cho các vị một vị khách đây!” Cùng với lời giới thiệu đầy nhiệt tình của chị Mai, chúng tôi nhìn thấy một thanh niên trẻ trạc hai mươi bốn, hai mươi nhăm tuổi. Anh ta mặc một chiếc áo khoác màu tro, quàng cái khăn màu da lừa, nhìn có vẻ nho nhã. Anh đưa mắt từ tốn quan sát ngôi nhà nhỏ kiểu Bắc Bình với các cửa sổ dán giấy trắng. Nhìn xong anh có vẻ bực ra mặt còn tôi và Dương Kim Minh thì không chịu nổi phì cười. Chị Mai nhanh mồm, nhanh miệng giới thiệu vắn tắt với cả hai bên: Anh là Vương Nghiêu, người Sơn Tây... Nhìn thái độ phấn khởi của chị Mai, tôi đoán có thể anh Nghiêu là người hên lạc của tổ chức bí mật của Đảng Cộng sản với các thanh niên tiến bộ. Anh Nghiêu tới làm cho ngôi nhà nhỏ vừa tối, vừa lạnh của chúng tôi như tràn ngập sức sống. Anh trở thành khách quen của chúng tôi. Dưới sự dẫn dắt chỉ bảo, giúp đỡ của anh, tôi và Dương Kim Minh càng thấy bức thiết phải làm cách mạng. Sau đó ít lâu, anh giới thiệu chúng tôi gia nhập Đoàn thanh niên Cộng sản. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:44:09 pm Một hôm Vương Nghiêu mang đến cho chúng tôi một tin làm nức lòng người: "Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân công nông đã phá vỡ vòng vây quét của bọn Tưởng Giới Thạch Quốc dân đảng, đang thẳng đường thắng lợi tiến về phía Bắc..."
Vương Nghiêu động viên chúng tôi đi Tân Cương. Nơi đó rất gần Liên Xô, có thể nhận được sự viện trợ trực tiếp của Liên Xô. Anh rủ chúng tôi đi đón Hồng quân đang tiến lên Bắc để kháng Nhật. Mỗi lời của anh đều làm cho tôi phấn chấn hẳn lên. Được sự cổ vũ của anh Nghiêu, tôi và Dương Kim Minh đã đổi chí thi vào đại học, chuẩn bị cùng anh đi Tân Cương tham gia công tác cách mạng. Đúng lúc chúng tôi cao hứng nhất, Lý Úc Tài, như từ dưới đất chui lên, đứng trước mặt chúng tôi... "Một bộ mạt vô cùng nhiệt tình, cuốn hút. Một người con trai vừa đẹp trai, vừa có duyên". Với tài đánh hơi của tên phản cách mạng, Lý Úc Tài đoán thấy ở Vương Nghiêu có một thân phận khác người, một mặt đi vội ra cửa, một mặt nói rất khách sáo: "A, có khách mới. Các bạn cứ nói chuyện đi, nói đi, tôi không dám làm phiền”. Lý Úc Tài vừa ra khỏi cửa, Vương Nghiêu cảnh giác hỏi: "Anh ta là ai vậy?" Tôi bèn trả lời thẳng thắn: “Là chồng của Lý Thục Anh, một học sinh của Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên, hắn là một tên phản bội". Sắc mặt Vương Nghiêu thay đổi hẳn, nghiêm hẳn lại nói: "Tại sao các cô lại cho bọn phản bội đi lại ra vào như vậy? Thật hết sức mất cảnh giác. Phải chuyển nhà ngay." Tôi với chị Minh không biết nói gì cho phải, đành ngậm miệng không nói. Theo chỉ thị của anh Nghiêu, ngay đêm hôm đó, chúng tôi dọn đi ngay, đến ở một nhà nghỉ nhỏ, ngoại vi nam thị trấn trong khu vực của người Triều Dương (Sán Đầu, Quảng Đông). Chúng tôi thuê một phòng nhỏ phía đông khu nhà nghỉ, cửa sổ nhìn tháng ra cửa ra vào của khu. Khu nhà nghỉ còn có khá nhiều sinh viên người Triều Dương đến thuê trọ. Một bữa tối, Vương Nghiêu mang đến một bọc. Mở ra xem toàn là truyền đơn in dầu đủ các màu xanh, đỏ, vàng, còn thơm phức mùi mực. “Đây là truyền đơn kháng Nhật do tổ chức bí mật của Đảng Cộng sản ở Bắc Bình in, trao cho các cô tán phát trong khu đại học Triều Dương. Chúng ta hoàn thành một lần nữa nhiệm vụ của Đảng trao cho". Sau khi bàn giao, bố trí đâu đó xong, anh Vương Nghiêu đi ngay. Trời đã tối khuya, tôi và Dương Kim Minh, dưới ánh đèn mờ, ngồi lẩm nhẩm đọc từng câu, từng chữ của truyền đơn. Đây chính là tiếng nói của Đảng! Tôi cảm thấy máu trong người như sục sôi. Đây là nhiệm vụ đầu tiên do tổ chức Đảng trực tiếp trao cho chúng tôi. Để rải truyền đơn cho tiện, chúng tôi đem từng tờ gấp thành hình tam giác để trong cái vali nhỏ mà chúng tôi mang từ Thái Nguyên tới. Tôi còn cố tình giữ lại một tờ. Sáng hôm sau, đúng giờ anh Nghiêu tới nhà nghỉ, chúng tôi thảo luận kỹ kế hoạch hành động rồi xuất phát. Tôi xách vali nhỏ đi trước, Vương Nghiêu và Dương Kim Minh đi sát theo sau để yểm hộ. Chúng tôi thong dong đi tới Đại học Triều Dương. Lúc này vườn trường rất tĩnh mịch, sinh viên đang lên lớp Chúng tôi lần theo đường bao của vườn, chọn một chỗ tương đối kín đáo. Tôi nhanh chóng mở vali. Tôi, chị Minh, anh Nghiêu, ba người ra sức bốc từng nắm truyền đơn ném tung vào trong vườn. Các tờ truyền đơn xanh, đỏ, vàng được tung bay vào vườn như những cánh én mùa xuân bay lượn. Mấy ngày sau, Vương Nghiêu rất phấn khởi báo cho chúng tôi là các bạn sinh viên Đại học Triều Dương khi đọc xong những tờ truyền đơn do chúng tôi rải hết sức phấn chấn. Ngày mà bốn trăm triệu đồng bào vui sướng nhất sẽ là lúc bọn xâm lược Nhật Bản bị tống cổ khỏi đất nước Trung Quốc. Cuối năm ấy, ở Bắc Bình đã phát động phong trào học sinh "9/12" nổi tiếng. Từ đó đã đẩy phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo lên một cao trào mới. Cùng vào thời điểm này chúng tôi lâm vào tình hình nghiêm trọng. Vương Nghiêu yêu cầu chúng tôi phải đề cao cảnh giác. Gần đây các trường dại học đều phát hiện thấy truyền đơn kháng Nhật của Đảng bộ Bắc Bình, do đó Thị ủy Quốc dân đảng đã phái nhiều bọn đặc vụ cải trang thường dân hoạt động ở chung quanh các trường đại học, chúng tôi khi hành động gì phải không được để sơ sẩy một lì. Vương Nghiêu còn quy định các ám hiệu báo động khi xảy ra tinh hình bất trắc. Sau khi chúng tôi dọn nhà đi không lâu, Lý Úc Tài đã phát hiện ra chỗ ở mới của chúng tôi. Hắn cử một tên đặc vụ đến ở hẳn trong một ngôi nhà nhỏ đối diện với nhà nghỉ để theo dõi chúng tôi sát sao hơn. Trung tuần tháng 3, chúng tôi chuẩn bị đi Tân Cương. Trừ Vương Nghiêu, Dương Kim Minh và tôi ra, còn một đồng chí nam họ Lý cùng đi với chúng tôi. Để bảo đảm an toàn khi đi, tổ chức Đảng yêu cầu chúng tôi phải đóng làm hại cặp vợ chồng giả: Tôi và Vương Nghiêu thành một cặp và chúng tôi đã quyết định xong. Một ngày trước khi xuất phát, Tống Ngâm Mai đến tiễn. Tối hôm đó, chị ngỉl lại cbỗ chúng tôi. Nghĩ tới ngày mai bước lên đường đấu tranh cách mạng, lòng chúng tôi vô cùng xốn xang, cả ba chúng tôi đều thức thãi đến tận khuya. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:36:49 am Tôi đã chọc thủng giấy bịt cửa sổ theo ám hiệu quy định, nhưng vẫn không có hiệu quả, chúng tôi đều bị bắt.
Tiếng gõ cửa ầm ầm làm chúng tôi bừng tỉnh, có chuyện rồi. Chúng tôi liếc nhìn nhau, từ từ mặc quần áo vừa suy nghĩ tìm cách đối phó. Nguyên do, Lý Úc Tài cử thêm bốn, năm tên đặc vụ. Nhóm trưởng là tên ở nhà đối diện với chúng tôi liền tiến hành lục soát nhà ở của chúng tôi. Chúng xông vào lệnh cho chúng tôi giơ tay lên, quặp vào sau gáy, đứng góc cửa sổ và không được động đậy. Trừ hành trang của chúng tôi ra, chúng lục tung đồ đạc, thậm chí cả các cục đất đá to ở nền nhà. Không may, chúng đã tìm thấy tờ truyền đơn tôi còn giữ lại được cất giấu trong nhà xí, để ở một hốc đá, có một hòn đá chặn trên. Như vậy kẻ địch đã có được chứng cứ. Tôi rất lo cho Vương Nghiêu, mong sao anh đừng đến vào lúc này. Tôi chợt nhớ tới ám hiệu báo động mà anh Nghiêu đã quy định trước đây mấy ngày, bèn dùng ngón tay phải nhè nhẹ chọc thủng mấy lỗ nhỏ trên giấy bịt cửa sổ. Bọn đặc vụ dẫn chúng tôi đi và tổ chức mai phục căn nhà chúng tôi ở. Theo thời gian đã ước định Vương Nghiêu tới nhà nghỉ. Anh vội vội vàng vàng đi vào khu nhà ở, bước thẳng vào căn phòng chúng tôi. Vừa vào cửa, anh sững lại. Hai tên đặc vụ đã kẹp chặt hai bên tay anh. Vương Nghiêu cũng bị bắt nốt. Nghe nói người đồng chí nam, họ Lý, sau đó cũng tới khu nhà nghỉ, anh cảnh giác phát hiện thấy ám hiệu ở giấy bịt cửa sổ, liền quay đầu chạy luôn. Khi bọn đặc vụ chạy ra đuổi thì anh đã chạy mất tăm. Trong phòng thẩm vấn của Thị ủy Bắc Bình, Lý Úc Tài tự thân tiến hành hỏi cung chúng tôi. Ngày thẩm vấn tôi tôi thất kinh thấy Vương Nghiêu đã bị trói quặt hai tay đang quỳ giữa tòa nhà thẩm vấn. Trong lòng tôi rất bực, thầm trách Vương Nghiêu: "Tại sao anh lại phải như thế?” Lý Úc Tài bắt đầu hỏi cung tôi: “Trần Ngọc Anh, cô ở Bắc Bình tham gia tổ chức nào?" “Tôi chỉ đang ôn luyện, chuẩn bị thi vào đại học, không tham gia tổ chức nào cả". Nghĩ một chút tôi bổ sung thêm: "Chỉ đã từng tham gia tổ chức Xã Liên". Nghe thấy câu trả lời của tôi, đôi mắt ti hí của Lý Úc Tài giật giật. Hắn biết tôi nói vậy là có ý cho hắn nghe, vì chính vợ hắn, Lý Thục Anh, cũng đã từng tham gia "xã Liên", hơn nữa còn là một phần tử cốt cán nữa. Tôi chủ động nói đã tham gia "Xã Liên" để che giấu việc tham gia Đoàn thanh niên Cộng sản. Lý Úc Tài lại chỉ vào Vương Nghiêu đang quỳ trên đất hỏi tôi: "Cô và anh chàng họ Vương đây có quan hệ gì?" "Chúng tôi là người cùng quê Sơn Tây”. "Tại sao cô lại định rời Bắc Bình?" "Tiền tôi mang theo đã hết rồi, chuẩn bị về quê tìm việc làm...” Cuộc hỏi cung ba chị em chúng tôi của Lý Úc Tài thất bại. Hai ngày sau, chúng tôi bị tống vào nhà giam của Cục công an thị, bị giam vào nhà giam dành cho phụ nữ. Nhà giam nữ gồm bốn dãy nhà nhỏ xây quây lấy nhau. Gian chính giữa to hơn quay về hướng bắc, đã giam hơn hai mươi nữ tù hình sự. Ba chúng tôi là "chính trị phạm" bị giam riêng ở phía tây. Trong nhà giam của chúng tôi còn có một bà đã đứng tuổi, làm nữ khán thủ. Bà phục vụ cho bọn phản động, bị giam vì tội "ăn vụng". Đối với chúng tôi bà ta chẳng quan tâm đến quan điểm, cũng chẳng cần biết chúng tôi đã làm gì, chỉ nói một cách thờ ơ: "Thật đáng thương, mấy cô bé thế mà lại bỉ tống vào đại ngục". Mỗi ngày tù nhân chỉ được ra tắm nắng một lần. Vì khuôn viên giữa các gian nhà ngục rất hẹp nên tù nhân xếp thành hàng, đứng vây quanh một cây hòe lớn mọc giữa khu nhà. Chúng tôi ba người thì thường ngồi lâu ở bậc thềm trước ngục để hưởng một chút nắng yếu ớt xuyên qua các cành cây, luân phiên xoa bóp gáy cho nhau, ngắm nhìn mặt trời. Buổi tối, nằm trong nhà ngục lạnh ngắt, hôi thối sặc sụa, tôi cứ âm thầm suy nghĩ lại, xem lại sự việc nào chúng tôi làm không chặt chẽ, khiến kẻ địch sinh nghi. Tôi lần lượt nhớ lại từng tình tiết trước khi bị bắt: Lý Úc Tài bất chợt gặp Vương Nghiêu ở chỗ chúng tôi, nếu chúng tôi bình tĩnh không vội dọn nhà thì... Chúng tôi vội vã bí mật dọn nhà tức là đã làm cho Lý Úc Tài cảnh giác với công việc của chúng tôi làm. Chỗ chúng tôi ở mới là một nhà trọ, có đông sinh viên Triều Dương ở, mà nơi có nhiều sinh viên lại chính là mục tiêu mà kẻ địch tập trung sục sạo... Lý Úc Tài cử đặc vụ đến ở hẳn trước nhà chúng tôi để giám sát, nhưng chúng tôi cũng chẳng biết... Thế không phải là trong mỗi chi tiết cụ thể đó đều bộc lộ rõ nhược điểm chết người của chúng tôi. Chúng tôi mới tham gia cách mạng, còn Vương Nghiêu người lãnh đạo chúng tôi thì ngay đến ám hiệu báo động do chính mình quy định cũng không chú ý... Tôi càng nghĩ càng thấy hối hận. Các cành nhánh của cây hòe bắt đầu xanh, các nhánh từ từ nở lộc. Trong nhà ngục buồn tẻ, chúng tôi chỉ nhìn những biến đổi của cây để nắm được sự thay đổi mùa ở bên ngoài. Chúng tôi bị giam hơn bốn mươi ngày, vì kẻ địch không tìm thấy chứng cứ xác thực, nên đến cuối tháng Tư, chúng tôi được phóng thích. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:38:05 am Trước khi ra tù, Lý Úc Tài đến nhà tù huấn thị cho chúng tôi và yêu cầu mỗi người ký tên vào tờ cam đoan. Trong tờ đó có một điều: Phải tôn thờ chủ nghĩa Tam Dân. Tôi kiên quyết không ký vào tờ cam đoan và trả lời chính thức nghiêm túc rằng: "Tôi thờ chủ nghĩa Tam dân hay không là quyền tự do của cá nhân tôi".
Ép mãi không được, Lý Úc Tài tức giận mặt tím bầm. Song vì đã có lệnh thả, hắn buộc lòng phải để chúng tôi ra tù. Chúng tôi mỗi người lại tự quay về quê hương. Trước khi rời Bắc Bình, tôi quay lại nhà giam thăm Vương Nghiêu, mang cho anh mấy bộ quần áo và bảo anh là tôi chuẩn bị quay về Thái Nguyên. Sau này được tin anh bí giải về "trạm phản tỉnh" của Quốc dân đảng tỉnh Sơn Tây đặt tại Thái Nguyên. Tháng Năm là mùa hoa hòe nở thơm ngát, lòng tôi thì u uất, nặng nề. Đi Tân Cương công tác không còn có khả năng thực hiện, bị giam hơn bốn mươi ngày, công phu ôn tập dự thi đại học đành vứt bỏ, việc thi vào đại học tan như bong bóng xà phòng. Tình hình kinh tếgia đình thì tôi rất rõ từ lâu. Trong tay không một xu dính túi không thể ở lại Bắc Bình. Tôi trở về Thái Nguyên với nỗi lòng buồn rầu, mệt mỏi. Về Thái Nguyên, tôi ở nhờ tạm nhà bà thím. Không có nguồn kinh tế, việc đó không thể lâu dài. Tôi nhờ người tìm hộ việc làm, song không có tin tức trả lời. Vừa may lúc ấy, bạn học của tôi, Lưu Nhã Đình, đi theo chồng là Lại Nhược Ngu1 (Lại Nhược Ngu: Sau giải phóng làm Chủ tịch Tổng công hội Trung Quốc, Uỷ viên Trung ương, Đại biểu Đại hội Đảng khóa VIII), xuất ngoại để tiến hành hoạt động cách mạng. Chị ta nhường lại cho tôi chỗ dạy trong một trường tiểu học tại huyện Bình Dao. Tôi dạy được hơn một tháng thì trường lại đóng cửa nghỉ đông. Sau nhờ bè bạn giới thiệu, tôi đi dạy ở một trường tiểu học ở ngoại thành Thái Nguyên, gần Tấn Từ. Một hôm nhân viên bưu chính đưa đến cho tôi một phong thư, chữ viết ngoài bì thư rất tháu. Hết giờ giảng, tôi vội về ngay phòng làm việc, tranh thủ lúc vắng người mở vội thư và đọc rất kỹ. Cuối thư có một câu làm cho tôi cảm thấy nghi hoặc... "Tôi rất hiểu chị như hiểu anh ta vậy". Đọc lại tên người gửi thấy rõ mình chưa quen biết. Song thư rõ ràng là gửi cho tôi. Tôi đoán có lẽ tổ chức Đảng cử người đến tìm mình, nhưng lại sợ vô ý rơi vào âm mưu của kẻ xấu. Tôi thử gửi cho anh ta một bức thư mang tính chất thăm dò. "Tôi không biết anh nói anh ta là ai, có thể tôi đã quên mất. Cũng có thể anh nhận nhầm người. Nếu anh muốn gặp tôi thì đến ngày X xin mời anh tới”. Thư gửi đi, chẳng thấy trả lời. Cho mãi sau sự biến "7/7" (Nhật đánh Lư Cầu Kiều, phát động chiến tranh xâm lược Trung Quốc), tôi về huyện Ngũ Đài mới rõ đầu đuôi câu chuyện. Nguyên do là tổ chức Đảng cử một đồng chí bắt liên lạc với tôi. Đồng chí này vừa gửi thư đi cho tôi thì được lệnh rời khỏi Thái Nguyên ngay. Vì vậy thư của tôi đã không có ai trả lời. Tôi sống ở Thái Nguyên được một năm, đa phần thời gian là lâm vào cảnh thất nghiệp túng quẫn, nếm đủ dư vị đau khổ của cảnh trí thức trong xã hội cũ, tốt nghiệp xong là thất nghiệp. Chúng tôi thường cùng với một số bạn đồng học tụ tập lại với nhau. Mỗi khi chúng tôi cùng cất tiếng hát bài ca: Trên sông Tùng Hoa, mọi người đều rơi nước mắt, có lúc vừa hát vừa khóc. Cứ nghĩ tới tình cảnh bị nô lệ mất nước của đồng bào ruột thịt ở ba tỉnh Đông Bắc, thì chúng tôi lại như thấy làn roi da của bọn quỷ Nhật đang vụt vào thịt da mình. Có người thanh niên có trái tim yêu nước nồng nhiệt nào lại không thấy đau xót? Năm 1936, bệnh mẹ tôi nặng lên, tôi từ Thái Nguyên quay về quê hương Đông Dã để chăm sóc mẹ. Bệnh của bà không giảm và sau đó không lâu bà qua đời. Ngày mẹ tôi qua đời, tôi khóc thảm thiết. Người yêu và cưng tôi nhất là mẹ tôi đã ra đi rồi... Vì tâm địa rối bời, không chú ý, tôi bị ngã và trẹo chân. Ở địa phương lúc đó theo phong tục cũ, khi đưa ma, ai bị ngã là mất luôn cả hồn. Hồn đã đi rồi thì tự nhiên là mệnh sẽ tiêu luôn. Tiếng khóc đưa tang mẹ tôi rền rã vang đến tận ngõ họ Trần. Để giữ gìn tính mạng cho con gái yêu, cha tôi hết sức nén đau thương, vừa đưa tang về, ông đã trèo lên nóc nhà để gọi hồn cho tôi. "Ngọc Anh ơi quay về thôi, Ngọc Anh ơi quay về thôi..." Mặt trời đã xuống thấp dưới mái nhà, nhà nhà đã nổi lửa khói bay nghi ngút, cha tôi vẫn chưa ngừng gọi. Tình cảnh thê thảm đó thật nát cả tim gan. Qua ngày kỵ của mẹ tôi, cha tôi lo tôi quá thương nhớ mẹ, không muốn thấy tôi quá đau thương, cha giục tôi quay về Thái Nguyên. Anh cả tôi là một người rất có tài năng về âm nhạc. Các nhạc cụ truyền thống của Trung Quốc như: sáo nhị, hồ, anh tôi đều chơi rất hay. Chỉ vì không tìm thấy lối thoát cho cuộc đời, khốn quẫn, hoang mang khiến anh nản chí tiến thủ. Anh tôi tập hút thuốc phiện. Sau khi mẹ tôi qua đời không lâu, anh bị chết đói tại Thái Nguyên. Chị dâu tôi tái giá với người khác, do cuộc sống bất hạnh, nhảy xuống giếng tự tử. Dân tộc thì lầm than, gia đình thì nỗi bất hạnh tiếp nối nhau ập tới, "Nước mất nhà tan". Trong những ngày dài phiêu bạt ấy, bên cạnh tôi không có người thân, không có tổ chức, không có đồng chí, tôi như sống trong đêm tối mờ mịt, bàng hoàng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:39:31 am Chương II NỖI LUYẾN HOÀNG HÀ Hồng Thủy nhận lệnh "Đông chinh”. Nghe nói tiếng réo của Hoàng Hà như vạn ngựa hí vang, ông vô cùng thích thú... Ngày 7 tháng Bảy năm 1937, quân xâm lược Nhật Bản chiếm Lư Cầu Kiều, thuộc huyện Uyển Bình, tây nam Bắc Bình, gây nên sự biến "7/7" chấn động cả trong nước và ngoài nước. Cuộc kháng chiến chống Nhật bùng nổ. Dân tộc Trung Hoa bước vào một bước ngoặt mang tính chất "Sinh, tử tồn vong”. Ngày 8 tháng Bảy, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phát đi bức "Điện thông báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc quân Nhật tiến công Lư Cầu Kiều”, kêu gọi đồng bào cả nước: "Bình, Tân nguy cấp! Hoa Bắc lâm nguy! Dân tộc Trung Hoa lâm nguy! Con đường sống duy nhất của chúng ta là phải tiến hành toàn dân kháng chiến". Cuối tháng Tám, Hồng quân công nông đổi thành Bát lộ quân của quân cách mạng quốc dân. Căn cứ vào phương châm chiến lược của Trung ương và Mao Chủ tịch là thành lập Mặt trận Thống nhất kháng Nhật và độc lập tự chủ tiến hành du kích chiến ở miền rừng núi, Tổng tư lệnh Chu Đức soái lĩnh Bát lộ quân gồm các sư đoàn 115, 120, 129, lần lượt vượt sang đông Hoàng Hà, tạo lập các căn cứ địa kháng Nhật ở các vùng Tấn Đông Bắc, Tấn Đông Nam và Tấn Tây Bắc. Ngày 5 tháng Chín, Chu Ân Lai, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương đến Thái Nguyên để hội đàm với Diêm Tích Sơn, vạch kế hoạch và bố trí lực lượng để bảo vệ tỉnh Sơn Tây, quyết định thành lập Hội đồng tổng động viên của Chiến khu 2 (gọi tắt là Động ủy hội) để phát động và tổ chức quần chúng triển khai chiến tranh du kích kháng Nhật. Căn cứ vào chỉ thị của Mao Chủ tịch phải khẩn trương thành lập chiến khu du kích vùng núi Ngũ Đài và theo lệnh của Tổng bộ Bát lộ quân, Nhiếp Vinh Trăn soái lĩnh sư đoàn 115 của Bát lộ quân tiến vào Tấn Đông Bắc, lấy Ngũ Đài Sơn làm trung tâm, lập ra căn cứ kháng Nhật trong địch hậu số 1 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tức "Căn cứ kháng Nhật Tấn, Sát, Ký”. Các đồng chí Vương Dật Quần, Hồng Thủy thuộc Bộ Dân vận của Bát lộ quân được lệnh cùng sư đoàn 115 xuất phát từ Tam Nguyên, tỉnh Thiểm Tây, nhập vào hàng chục vạn binh mã của Bát lộ quân tiến về đông để lên tiền tuyến kháng Nhật, vượt Hoàng Hà tại Vi Thành. Hoàng Hà từ khúc quanh Trại Bắc thẳng về xuôi như một lưỡi kiếm sắc cắt đôi vùng cao nguyên đất vàng, dòng sông chỗ đó sâu, kẹp giữa hai dãy núi cao tạo thành một hẻm sâu. Hoàng Hà từ vùng núi cao đổ xuống, tiếng gầm như sấm, thành giao long, thành một vật chướng ngại lớn giữa vùng đất mênh mông Tấn, Thiểm. Nó luôn sục sôi, hùng dũng, lao thẳng, tiến ra biển cả. Nó là biểu tượng tượng trưng của dân tộc Trung Hoa, là tượng trưng cho sức mạnh bất khả chiến thắng của dân tộc. Hồng Thủy mặc trên mình bộ quân phục màu xám đã phai màu, tư thế hiên ngang đứng trên bờ Hoàng Hà, hai tai mũ mềm rủ xuống, đôi mắt tinh anh, sắc sảo ngắm nhìn dòng Hoàng Hà cuồn cuộn chảy. Hoàng Hà từ xưa đến nay đã có sức mạnh làm rung động lòng người. Nghe nói tiếng sóng Hoàng Hà gầm thét như vạn ngựa hí, trong lòng Hồng Thủy vô cùng xao xuyến. Lúc đó ông đã là một người trung niên, tuổi gần ba mươi, ông đến Trung Quốc lần thứ hai, thấm thoát đã mười năm. Từ ngày thành lập lực lượng vũ trang công nông Trung Quốc, ông đã hòa mình vào đạo quân cách mạng cứu nước này, tham gia biết bao chiến trận. Nghe tiếng sóng của Hoàng Hà, ông phảng phất thấy như Hoàng Hà đang nổi giận. Đó cũng chính là lòng căm giận của bốn trăm triệu nhân dân Trung Quốc đang đứng lên chống lại quân đế quốc xâm lược Nhật Bản. Ông ngẩng đầu lên, mắt dõi về xa, ánh mắt như vượt qua "thiên sơn vạn thủy”. Ông như nhìn thấy Tổ quốc của mình - Việt Nam, đất đai của Tổ quốc mình cũng đang bị giày xéo dưới gót giày quân xâm lược, đồng bào ruột thịt của mình cũng đang bị bọn thực dân Pháp chà đạp tiếng sóng vỗ cuồn cuộn của sông Hồng đã hình thành trong lòng Hồng Thủy một bản giao hưởng về căm thù và uất hận. ông nắm chặt tay, tự đáy lòng phát ra lời thề ước: "Nhất định phải tống cổ bọn xâm lược ra khỏi Trung Quốc! Tống cổ chúng ra khỏi bán đảo Đông Dương”. Một tháng sau khi sự biến "7/7" nổ ra, quân Nhật từ Nam Hà Bắc hướng xuống Nam, tiến công vào toàn tỉnh Sơn Tây. Các huyện ở Ngạn Bắc lần lượt bí vây hãm. Trước sự tiến công cuồng bạo của quân Nhật, quân đội Quốc dân đảng lần lượt thua chạy, rút vội về tuyến Bình Hình Quan, Nương Tử Quan. Lúc đó đến huyện Ngũ Đài ở đâu cũng thấy bàn bạc sôi nổi, khí thế rất khẩn trương. Chính vào thời điểm quan trọng này, Bát lộ quân tiến ra tiền tuyến đánh Nhật, đến vùng đất núi Ngũ Đài, và là một niềm cổ vũ rất lớn cho nhân dân huyện Ngũ Đài lúc đó đang bối rối, hoảng sợ. Hồng Thủy và các đồng chí trong Bộ Dân vận vừa tới huyện Ngũ Đài đã lập tức tổ chức một cuộc mít tinh ở trước cửa miếu "Lữ Tổ”. Tại cuộc mít tinh này, Hồng Thủy đã lên nói chuyện về chống Nhật cứu nước hết sức khảng khái, kích động lòng người. ông đã tuyên truyền về chủ trương "Chống Nhật cứu nước" của Đảng Cộng sản Trung Quốc, bóc trần những luận điệu nói láo, vu khống đối với Bát lộ quân của các thếlực ngoan cố. Nghe Hồng Thủy nói chuyện, mọi người vô cùng phấn chấn, lòng dân sục sôi, nhất trí phải đánh lại bọn đế quốc xâm lược Nhật Bản. Bài nói chuyện của Hồng Thủy đã có tác dụng thôi thúc nhất đinh, thúc đẩy các huyện hình thành cao trào "Kháng Nhật cứu vong”. Bộ Dân vận tới huyện Ngũ Đài cũng là lúc các lực lượng vận chuyển của Diêm Tích Sơn đang cưỡng đoạt tài sản của dân, định lấy lừa ngựa của dân đi vận chuyển, ý kiến trong dân rất xôn xao, có nơi đã xảy ra xung đột. Hồng Thủy tự thân đến từng nơi, một mặt tiến hành tuyên truyền giáo dục quân Diêm Tích Sơn, một mặt giảng giải phải trái với dân, phát động quần chúng buộc quân phái hữu Diêm Tích Sơn phải rút. ông vận động các nông dân có lừa, ngựa, bò kéo tổ chức thành các đội dân công, chia từng đoạn từng thôn theo lối chạy tiếp sức giúp quân đội của Diêm vận chuyển vật tư. Các thôn sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển của đoạn mình phụ trách sẽ tự dẫn gia súc về nhà. Như vậy vừa bảo đảm được lợi ích của dân vừa giữ được quan hệ với quân phái hữu, nhằm vào đại cục là giữ được "Mặt trận Thống nhất kháng Nhật". Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:41:14 am Sau đó ít lâu, thành lập Đặc ủy Tấn Đông Bắc, Vương Dật Quần làm Bí thư, Hồng Thủy làm Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Tuyên truyền. Để có thể thâm nhập vào quảng đại quần chúng, phát động quần chúng, Đặc ủy quyết định toàn thể cán bộ của Bộ Dân vận lấy danh nghĩa "Động ủy hội" (Hội đồng Động viên) đến tất cả các khu, trấn thuộc huyện Ngũ Đài. Vì vậy Hồng Thủy thâm nhập xuống khu bốn huyện Ngũ Đài mà trung tâm là trấn Đông Dã để triển khai công tác.
Ngày xưa, huyện Ngũ Đài chia làm sáu khu. Từ khu một đến khu sáu gồm thành Ngũ Đài, trấn Cảnh, thôn Đậu trấn Đông Dã, trấn Dao Đầu, trấn Đài Hoài là trung tâm. Tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc tại huyện Ngũ Đài đã được thành lập từ năm 1932, địa điểm hoạt động chủ yếu là vùng chung quanh trấn Đông Dã. Mùa đông 1934, mới chính thức có chi bộ Đảng ở trường trung học và trở thành chi bộ Đảng được xây dựng sớm nhất ở huyện Ngũ Đài. Theo chỉ thị của "Công ủy ' thuộc tỉnh Sơn Tây, tháng Chín năm 1935, tại thôn Đại Kiến An thuộc khu bốn, huyện Ngũ Đài, thành lập khu ủy Ngũ Đài Đầu năm 1936, khi Hồng quân sắp vượt Hoàng Hà sang bờ đông để đáp ứng nhu cầu tạo thành hình thế kháng chiến cho Hồng quân sau khi qua sông, "Công ủy thuộc tỉnh Sơn Tây của Đảng Cộng sản quyết định thành lập huyện ủy huyện Ngũ Quách Định, lấy khu ủy Ngũ Đài làm cơ sở gồm ba huyện: Ngũ Đài, huyện Quách, Định Tượng, thành huyện ủy lớn. Tháng Hai năm 1937 khu ủy khu trung tâm Đông Dã do Chu Hiệu Thành, Triệu Bằng Phi1 (Chu Hiệu Thành: Sau giải phóng giữ chức Bí thư Đảng ủy Học viện Khoa học địa chất Trung Quốc. Triệu Bằng Phi: Sau giải phóng từng làm Chủ nhiệm Văn phòng Viện Kiểm sát Trung ương) đứng ra tổ chức. Các đồng chí đó lấy hoạt động của học sinh tiểu học Đông Dã và các thôn lân cận làm trung tâm để triển khai công tác tuyên truyền kháng Nhật cứu quốc và Mặt trận Dân tộc thống nhất. Vùng Đông Dã thực tế đã trở thành trung tâm của các hoạt động cách mạng của huyện Ngũ Đài. Sau sự biến "7/7", tôi từ Thái Nguyên trở về Đông Dã. Lúc đó tôi đã cảm thấy được khí thếcách mạng của vùng Đông Dã, và đã thấy rõ là có hoạt động của tổ chức Đảng ở đây. Hồi đó người yêu của Chu Hiệu Thành là Dương Thu Dương đang làm giáo viên tiểu học ở Trường Cao đẳng Nữ học trấn Ngũ Đài. Chị là người của thôn Cấu Nam, tuy chưa phải là đảng viên Cộng sản nhưng chị có tư tưởng tiến bộ, cách mạng. Chúng tôi thường thảo luận với nhau về tình hình thời sự lớn hiện nay của đất nước. Ít lâu sau thông qua Dương Thu Dương tôi làm quen với chồng chị là Chu Hiệu Thành và các đảng viên Cộng sản khác như Triệu Bằng Phi, Lý Lực An, Từ Kế Chi1 (Lý Lực An. Sau giải phóng từng làm Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hắc Long Giang. Từ Kế Chi: Nguyên giáo viên Trường Tiểu học Vũ Miếu, Đông Dã, sau bị địch giết bằng cách "chôn sống”). Có thể nói từ khi trở về Đông Dã, dù có tự giác hay không, tôi đã chịu ảnh hưởng sự lãnh đạo của tổ chức Đảng khu Đông Dã. Tháng Chín năm 1936, dưới sự lãnh đạo và tổ chức của Bạc Nhất Ba và một số đảng viên Cộng sản khác, tại Sơn Tây đã thành lập các đoàn thể quần chúng "Kháng Nhật cứu quốc" nằm trong Mặt trận Thống nhất và Hội "Đồng minh hy sinh cứu nước". Hội "Đồng minh hy sinh cứu nước" đề xuất "Không phân đảng phái, không phân nam nữ, không phân biệt chức vụ, động viên tất cả những người không cam tâm làm nô lệ mất nước đứng lên, tất cả tích cực tham gia vào phong trào "Cứu vong” mà Tổng cương lĩnh đã vạch ra". Toàn tỉnh Sơn Tây đã triển khai phong trào quần chúng "Cứu vong" chưa từng có. Tháng Tám năm 1937, Hội "Đồng minh hy sinh" tỉnh Sơn Tây lại thành lập "Đội Thanh niên quyết tử kháng địch" Sơn Tây. Đó là đội vũ trang tiến bộ của Mặt trận Thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Một ngày vào đầu tháng Chín, đột nhiên có một đoàn người mặc quân phục về trấn Đông Dã, lưng đeo đùm quần áo, vai đeo súng trường. Nghe nói đó là Đội "Quyết tử kháng chiến" dưới sự lãnh đạo của Bạc Nhất Ba về Đông Dã để tuyên truyền "Kháng Nhật cứu vong". Đó là một đội quân, quân dung chỉnh tề, khí thế rất sôi nổi. Dân ở trấn Đông Dã chưa từng gặp được một đội quân nào như thế, và họ ra vây quanh để quan sát. Các chiến sĩ lợi dụng ngay cơ hội này để tuyên truyền kháng Nhật luôn. Họ hò vè, rải truyền đơn, hô khẩu hiệu kháng Nhật, nói chuyện về kháng Nhật. Dân chúng đến mỗi ngày một đông. Giáo viên tiểu học Từ Kế Chi của Trường Tiểu học “Đền Trấn Vũ” cử người mời tôi đến trường để họp. Đến họp có Triệu Bằng Phi, Mã Chí Viễn1 (Mã Chí Viễn: Sau giải phóng làm Viện trưởng Học viện Thủy lợi tỉnh Sơn Tây), Dương Thu Dương và tôi, tổng cộng hơn hai chục người. Từ Kế Chi vô cùng phấn khởi báo với mọi người "Đội Thanh niên quyết tử kháng địch" Sơn Tây, do đồng chí Bạc Nhất Ba lãnh đạo đã về trấn Đông Dã chúng ta. Họ một mặt tuyên truyền kháng Nhật, một mặt làm tiền trạm cho Bát lộ quân đang tiến ra tiền tuyến kháng Nhật sẽ tới tiếp. Trong cuộc họp Từ Kế Chi cũng tuyên bố thành lập một đội công tác để giúp đỡ "Đội Quyết tử" hoàn thành nhiệm vụ. Tôi và Dương Thu Dương phụ trách giúp đỡ các nữ chiến sĩ "Đội Quyết tử”, dẫn đường cho họ đến các đường phố của Đông Dã và cả ở các làng chung quanh để tuyển truyền cho các bà, các chị về kháng Nhật, động viên họ khâu giày vải, đến thăm hỏi và ủng hộ "Đội Quyết tử". Các nam chiến sĩ "Đội Quyết tử" đều đóng tập trung ở Trường Tiểu học Đền Trấn Vũ, nữ chiến sĩ đóng tại Trường Nữ cao đẳng Đông Dã. Tôi và Dương Thu Dương sớm ra đã tới chỗ họ ở, dẫn họ đi vào từng phố, từng nhà. Các nữ chiến sĩ và chúng tôi đều là nữ thanh niên ở tuổi đôi mươi, tinh thần yêu nước rất cao, không ngại vất vả hầu như đĩ hết các hộ ở các thôn lân cận trấn Đông Dã. Những lời lẽ tuyên truyền của họ đã thức tỉnh sâu sắc chị em phụ nữ. Tôi và Dương Thu Dương động viên chị em khâu giày cho bộ đội, hoàn thành rất thuận lợi Chị em phụ nữ đã nói là làm, nạp đế giày, khâu vải thân giày, có người thậm chí còn nộp luôn cả giày vải đã làm cho chồng con, anh em. Chúng tôi nhận được của nhà này một đôi, nhà kia hai đôi, chuẩn bị tập trung lại mang đến chỗ trú quân của "Đội Quyết tử". Mấy bữa sau, vào lúc sáng sớm tôi và Dương Thu Dương đang vui vẻ háo hức, lưng vác bao giày vải mới, đến Trường Nữ cao đẳng Đông Dã thì chẳng còn thấy bóng dáng ai. Chúng tôi vội vã sang Trường Tiểu học Đền Trấn Vũ, tình hình cũng vậy. Nguyên do là, vì giữ bí mật mọi hành động của mình, "Đội Quyết tử” đã im lặng ra đi trong đêm tối, không chào từ biệt ai. "Đội Quyết tử" đến trấn Đông Dã tuy chỉ có vài ngày ngắn ngủi, song đã khêu lên ngọn lửa quyết kháng Nhật ở Đông Dã. Dân chúng lần đầu tiên được thấy một đội quân như vậy, nên càng tha thiết trông mong Bát lộ quân sớm tới quê nhà. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:42:42 am Hồng Thủy vỗ bà nói: "Đúng! Phải là Trần Ngọc Anh”.
Tôi trở thành nữ ủy viên duy nhất của Hội đồng Động viên khu bốn. Hồng Thủy dẫn một bộ phận các đồng chí của Bộ Dân vận Bát lộ quân đến Đông Dã. Đặc khu ủy Tấn Đông Bắc cử ông làm chủ nhiệm Hội đồng Động viên khu bốn, huyện Ngũ Đài, tiến hành công tác trù bị để thành lập ngay Hội đồng Động viên của khu bốn huyện Ngũ Đài, trụ sở công tác tại Trường Tiểu học Đà Dương. Cán bộ chiến sĩ của Bát lộ quân khi tời đóng tại trấn Đông Dã đều được phân về ở nhà dân. Họ ăn nói hòa nhã, mỗi ngày đều giúp dân gánh nước, bổ củi, quét nhà. Khi dân nấu ăn, họ giúp kéo bễ thổi lửa, mặt khác lại ' tìm hiểu về gia đình như là người trong một nhà. Nhất cử nhất động của họ đều được bà con quý mến, tương phản hoàn toàn với tác phong thổ phỉ của đội quân thua trận Quốc dân đảng và Diêm Tích Sơn, đến đâu cũng đánh chửi dân, cướp phá của cải của họ. Dân chúng nói: "Đám bại quân Diêm Tích Sơn đến làng thì chim cũng bay, chó cũng chạy. Bát lộ quân mới thực sự là con em của nhân dân". Dân thấy Bát lộ quân ăn cơm không có thức ăn, thường - đem củ cải đỏ đã muối, dưa chua, thậm chí còn mang cả món măng chua mà dân Sơn Tây rất thích tặng cho bộ đội. Cuối tháng Chín, tại Bình Hình Quan, sư đoàn 115 của Bát lộ quân do Lâm Bưu và Nhiếp Vểnh Trăn soái lĩnh đã thắng một trận rất lớn, bao vây tiêu diệt sư đoàn "Pan Than", đội quân tĩnh nhuệ của Nhật Bản, đánh cho chúng người ngựa tan tác, thây chất ngổn ngang. Thắng lợi lớn ở Bình Hình Quan đã vang dội lớn cả trong và ngoài nước. Đó là trận chiến đầu tiên của Bát lộ quân từ khi xuất quân lên tiền tuyến Hoa Bắc, đồng thời cũng là trận đại thắng đầu tiên tử ngày Trung Quốc kháng chiến. Nó đập tan luận điệu hoang đường "Quân Thiên hoàng là bất khả chiến thắng”. Tin tức truyền đến huyện Ngũ Đài, nhân dân vô cùng vui sướng. Uy tín của Bát lộ quân trong dân càng cao. Hồng Thủy nắm ngay được tình hình rất tốt sau thắng trận Bình Hình Quan, nên vừa tới Đông Dã ông đã triển khai công tác ngay. Ông dựa hẳn vào tổ chức cơ sở Đảng địa phương, thâm nhập thôn, trấn điều tra nghiên cứu, và được sự giúp đỡ của Từ Kế Chi, Triệu Bằng Phi... đã nhanh chóng thu được danh sách "Hội đồng Động viên kháng chiến" cũ của địa phương. Thành phần của Hội đồng Động viên gồm có các đảng viên hoạt động bí mật ở Đông Dã, các thành phần xã hội đồng tình kháng Nhật, các phần tử trí thức tiến bộ và đại biểu nhân sĩ tập hợp tổ chức thành. Đến tối, ông triệu tập ngay cuộc họp đầu tiên tại Trường Tiểu học Đà Dương, gồm các thành viên cốt cán của Hội đồng Động viên. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu lạc, Hồng Thủy tay trái thì cầm tờ danh sách các ủy viên đọc chăm chú, tay phải cầm tẩu thuốc rít lấy rít để Chỉ thấy lông mày ông nhíu lại, miệng nhả khói, ông chỉ vào tờ danh sách từ tốn nói với Từ Kế Chi đang đứng cạnh: "Tại sao trong danh sách này không có một đồng chí nữ nào cả?” Từ Kế Chi liếc nhìn sang Triệu Bằng Phi bên cạnh, tuy miệng không nói gì song lòng thì cứ bồi rối tự trách, lúng túng trả lời: "Ở vùng này từ xưa, các công việc phải xuất đầu lộ diện thường do đàn ông làm, vì thế, khiến chúng tôi cũng quên mất việc cho các đồng chí là phụ nữ”. Hồng Thủy cũng không trách cứ họ, ông vừa hút thuốc, vừa thủng thẳng nói: "Hội đồng Động viên nên thêm một nữ ủy viên. Tổ chức được phụ nữ vùng lên tức là đã nắm được một nửa huyện Đông Dã đứng lên kháng Nhật. Các đồng chí thử nghĩ xem, cố tìm một người có văn hóa, gan dạ cùng mình, có thể làm được việc lớn để bổ nhiệm". Từ Kế Chi nhắc lại những điều kiện do Hồng Thủy đề xuất miệng lẩm bẩm: "Có văn hóa... ở trấn Đông Dã, phụ nữ tốt nghiệp cao đẳng tiểu học thiếu gì người. Gan dạ cùng mình... Có khả năng...". Anh chợt lóe lên một ý nghĩ, và nói rất khẳng định: "Đó chính là Trần Ngọc Anh!". Từ Kế Chi bèn đem tình hình của tôi, giới thiệu một hồi với Hồng Thủy, ông liền vỗ bàn nói: "Đúng! Phải là Trần Ngọc Anh". Tất cả mọi người ngồi đó đều tán thành. Hồng Thủy lại nói thêm một câu: "Đồng chí Từ này, nhờ anh báo cho Trần Ngọc Anh ngày mai đến "Hội đồng Động viên" làm việc." Sớm hôm sau, Từ Kế Chi đưa tôi đến "Hội đồng Động viên” khu bốn. Vừa bước tới cửa phòng làm việc của Hội đồng, Hồng Thủy đã đoán ra tôi là Trần Ngọc Anh. Ông chìa tay ra bắt và nói: "Hoan nghênh đồng chí, đồng chí Trần Ngọc Anh! Mọi chuyện về đồng chí, đồng chí Từ Kế Chi đã giới thiệu đầy đủ. Tổ chức đã nghiên cứu và quyết định, từ nay trở đi đồng chí sẽ là ủy viên Hội đồng Động viên khu bốn, phụ trách công tác phụ nữ”. Bắt tay với một vị cán bộ của Bát lộ quân, được nghe những lời ông nói tuy ngắn gọn nhưng rất chân tình, lòng tôi vô cùng xúc động. Hồng Thủy mời tôi và Từ Kế Chi ngồi xuống đối diện với ông, giới thiệu giản đơn về tình hình công tác của Hội đồng Động viên và yêu cầu dối với tôi. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:43:57 am Lúc đó, tôi chú ý quan sát đánh giá vị cán bộ Bát lộ quân mới chừng ba mươi tuổi này. Người tầm thước, tóc đen rậm chải hất về phía sau, da ngăm đen, trên khuôn mặt xương xương nổi bật lên đôi mắt đen rất có thần sắc Đặc biệt là giọng nói sang sảng, động tác cử chỉ rất đàng hoàng, đã gây cho tôi ấn tượng đầu tiên rất sâu sắc.
"Có khó khăn gì không?" ông hỏi rất thân thiết, quan tâm. "Tôi chưa có kinh nghiệm làm công tác phụ nữ, rất mong được đồng chí Hồng Thủy giúp đỡ chỉ bảo cho". Từ Kế Chi ở bên cạnh đế vào luôn: "Chúng ta ở đây ai mà chả theo đồng chí Hồng Thủy vừa làm vừa học sao?" Hồng Thủy nói: "Được. Chúng ta đây, ba anh thợ da thối thành một Gia Cát Lượng, quyết đồng lòng làm tốt công tác ở khu bốn này”. Thế là tôi trở thành nữ ủy viên duy nhất của Hội đồng Động viên khu bốn huyện Ngũ Đài. Cũng lúc đó, tôi nhận được thư của Vương Nghiêu. Trong thư anh báo đã tới được Diên An, hy vọng tôi cũng đi Diên An. Trong thư còn hướng dẫn đường đi để tới Diên An. Tuy rằng Vương Nghiêu đã từng giúp đỡ tôi tham gia cách mạng, song tôi có trực cảm anh chỉ là một con người sách vở. Tôi không có cảm tình với giọng điệu trong thư của anh, bèn đem tất cả sự tình nói cho Hồng Thủy và nói rõ ý mình: "Đồng chí Hồng Thủy, ngày nay ngọn lửa kháng Nhật đã lan khắp toàn Trung Quốc, đi Diên An là cách mạng, ở lại công tác cũng là cách mạng". Hồng Thủy gật gật đầu tán thành. Hồng Thủy tuy rất nóng tính, nhưng lại rất nhiệt tình. Dù ông phải phụ trách toàn diện công tác của “Hội đồng Động viên" nhưng ông vẫn không bỏ lỡ dịp để giúp đỡ cụ thể và chỉ đạo cho từng ủy viên. Hội đồng Động viên chỉ có tôi là nữ ủy viên, nhưng phụ nữ lài chiếm tới nửa phần. Đặc biệt trong công tác chi viện tiền tuyến, gánh nặng của công tác phụ nữ tương đối lớn. Hồng Thủy rất coi trọng công tác phụ nữ, rất nhiều lần ông nói với tôi, công tác phụ nữ hiện nay là tổ chức động viên đại bộ phận phụ nữ tham gia kháng Nhật, do đó nhất định phải phát động quần chúng, làm cho tuyệt đại đa số phụ nữ hiểu được mối quan hệ giữa việc giải phóng dân tộc giải phóng giai cấp với việc tự giải phóng mình, tích cực tham gia vào sự nghiệp vĩ đại là tiến hành chiến tranh kháng Nhật. ông còn đặc biệt nhấn mạnh, công tác phải hết sức tỉ mỉ cẩn thận, tuyệt đối không được nôn nóng. "Vạn sự khởi đầu nan" (Mọi việc lúc bắt đầu đều khó). Dương Thu Dương, người bạn cộng tác đắc lực của tôi, sinh con nên phải về thôn Cấu Nam, ở phía nam thành Ngũ Đài nghỉ đẻ. Tổ chức cốt cán của phụ nữ như thế nào là vấn đề đầu tiên tôi vấp phải. Tôi quyết định trước hết phải bắt rễ vào một sống thanh niên tiến bộ có văn hóa, động viên họ phá bỏ những ràng buộc của gia đình phong kiến, đi vào làm nhiệm vụ kháng Nhật, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, để làm gương. Sau khi động viên nhiều lần, một bộ phận tham gia vào công tác của Hội đồng Động viên. Lại qua sự phát động của họ, ít ngày sau đã tổ chức được mười chín người. Lúc đầu tôi phải đích thân dẫn họ xuống các thôn lân cận trấn Đông Dã để tuyên truyền, tổ chức phụ nữ. Sau đó rất nhanh chóng, họ đã có thể độc lập triển khai công tác được. Mỗi khi chúng tôi đến một thôn, xóm nào việc đầu tiên là thông qua nông hội để nắm tình hình trong thôn. Sau đó mời phụ nữ toàn thôn họp, dùng lời lẽ ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu để tuyên truyền, phát động, khích lệ tình cảm dân tộc của chị em, gây cho họ lòng căm thù đế quốc Nhật cho họ hiểu rõ rằng bốn trăm triệu đồng bào dân tộc Trung Hoa phải kiên trì thực hiện trường kỳ kháng chiến toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc mới có thể giành thắng lợi cuối cùng của chiến tranh kháng Nhật. Tôi thường dùng hình tượng này để ví dụ: "Một chiếc đũa, dùng tay bẻ gãy ngay. Một bó đũa dùng hết sức cũng bẻ không được. Điều đó nói lên đoàn kết là sức mạnh". Tôi động viên chị em phụ nữ đoàn kết nhất trí, hưởng ứng lời hiệu triệu của Đảng Cộng sản, đem hết sức chi viện kháng chiến, chi viện Bát lộ quân. Căn cứ vào đặc điểm chị em phụ nữ rất bận việc nhà, khó tập trung, các cán bộ cốt cán đến làm việc tại giường, tại bếp từng nhà. Qua việc thâm nhập của chúng tôi, qua một khối lượng công việc lớn, tính tích cực kháng Nhật của phụ nữ khu bốn đã được nâng cao. Chị em phụ nữ tranh nhau xin nhận công tác. Căn cứ vào sự bố trí của Đặc ủy Tấn Đông Bắc và Hội đồng Động viên khu bốn, chúng tôi tổ chức cho chị em canh gác, cảnh giới, làm giày vải cho quân đội, may quân phục, động viên nam giới khoẻ mạnh trong gia đình tòng quân, đi dân công. Do sự tác động của chị em, rất nhiều người tham gia dân quân. Họ mang theo cả lừa, ngựa của nhà để thành lập đội chi viện mặt trận, vận chuyển lương thực, đạn dược cho Bát lộ quân và xây dựng công sự. Mỗi khi Hội đồng Động viên bố trí nhiệm vụ chi viện mặt trận, chị em phụ nữ hoàn thành nhiệm vụ vừa nhanh vừa tốt. Hồng Thủy rất hài lòng khi thấy việc phát động phụ nữ toàn khu tiến hành rất nhanh, công tác được triển khai rất tỉ mỉ. Ông lại nhắc nhở tôi, khi đã đạt được thành tích công tác ngày một tốt, càng phải giữ gìn, khiêm tốn, càng phải cẩn thận chu đáo, tránh những va vấp lớn. Nói thật ra, công tác của chúng tôi cũng không phải là thuận buồm xuôi gió. Cá biệt có vợ con các gia đình địa chủ do bản tính giai cấp của họ, đã bằng mặt chẳng bằng lòng, hoàn thành nhiệm vụ của Hội đồng Động viên giao chd chưa được tốt. Họ đã dùng giẻ rách nát làm đế giày, thậm chí giữa đế giày còn kẹp giấy bản. Khi chúng tôi đến kiểm tra nghiệm thu, vừa dùng tay bẻ đế giày đã vỡ làm đôi. Thế là chúng tôi triệu tập ngay đại hội phụ nữ, đem vật phẩm làm dối đó cho mọi người xem. Mọi người rất phẫn nộ nói: "Đi cái loại giày này làm sao đánh được giặc?" "Đây chẳng phải là giúp cho giặc hay sao? Lòng dạ thật xấu xa!” Những lời phát biểu đó rất sinh động, đã giáo dục quần chúng bằng sự thực phản diện. Phụ nữ khu bốn đã mở ra một phong trào thi đua, người người đều muốn trở thành "Chiến sĩ thi đua" chi viện cho tiền tuyến. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:45:06 am Nghe nói Hồng Thủy là người Việt Nam, tôi hết sức kinh ngạc.
"Anh nói tiếng Trung Quốc sao mà giỏi đến vậy!” Để tiến thêm một bước, mở rộng tuyên truyền kháng Nhật Hội đồng Động viên triệu tập quần chúng ở khu sân khấu lớn trấn Đông Dã, đồng chí Hồng Thủy, Chủ nhiệm Hội đồng Động viên lên nói chuyện. Sau cuộc nói chuyện còn diễn một vở kịch ngắn kháng Nhật. Vở kịch ngắn do Hồng Thủy biên đạo, tôi và Hồng Thủy đóng vai chính. Vở kịch đã có ảnh hưởng rất lớn ở trấn Đông Dã. Thời kỳ đầu kháng chiến, tư tưởng phong kiến trong dân Đông Dã còn rất nặng nề, việc phụ nữ dám xuất đầu lộ diện trước đám đông diễn thuyết, diễn kịch là một việc không coi được, thậm chí còn bị đơm đặt điều ong tiếng ve. Người trong nhà tôi tuy không công khai phản đối, song cũng rất không vừa lòng. Đối với những lời đàm tiếu sau lưng, tôi chẳng để ý. Tôi nghĩ, quốc nạn là việc hàng đầu, tuyên truyền kháng Nhật là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc. Nhà tù của bọn phản động Quốc dân đảng, tôi đã từng ngồi, thì nay đứng lên tuyên truyền kháng Nhật cứu nước ở ngay quê hương bản quán của mình có gì mà sợ? Tôi lại là nữ ủy viên duy nhất trong Hội đồng Động viên mà không dám đứng ra nói chuyện, thì với chị em khác, bao giờ mới mạnh dạn xuất đầu làm công tác? Mọi người càng coi thường phụ nữ, thì tôi càng phải vì phụ nữ mà đấu tranh. Hồng Thủy thấy tôi trước những lời gièm pha vẫn không nhụt chí liền động viên tôi: "Đồng chí Trần Ngọc Anh, cô làm vậy là rất đúng, rất dũng cảm. Chỉ cần cô trụ vững là các phụ nữ cốt cán sẽ học cô, theo cô để làm việc". Nghe lời Hồng Thủy cổ vũ, lòng tin của tôi càng vững hơn. Dần dần, tôi và Hồng Thủy đã quen thân hơn, trong công tác nghiên cứu cũng không bị câu thúc nữa. Hồng Thủy trong sáng, lạc quan, giản dị, dễ gần, với đồng chí rất nhiệt tình. Ông nói chuyện có sức cổ vũ thu hút ghê gớm, năng lực công tác cũng chẳng giống người thường, thực là một con người rất hấp dẫn. Về sau, nghe người khác nói, Hồng Thủy là người Việt Nam, tôi rất ngạc nhiên. Người Việt Nam ư? Sao cũng cao không kém người Trung Quốc? Ông nói chuyện, diễn thuyết bằng tiếng Trung Quốc lưu loát như vậy, hơn nữa lại toàn dùng ngữ điệu tiếng phổ thông. Chữ Trung Quốc ông viết cũng rất đẹp. Đặc biệt khi ăn cơm, ông cũng ngồi xếp như mọi người, tay trái cầm một cái bát to tổ bố, tay phải cầm đôi đũa vừa vàng vừa cứng, một mặt và cơm ăn, một mặt vẫn nói cười cùng các đồng chí khác. Về căn bản không thể nhận ra ông là người ngoại quốc. Có một lần, sau khi đã báo cáo xong công việc, tôi thử thăm dò ông: "Đồng chí Hồng Thủy, nghe nói anh là người Việt Nam, có thật không?" "Tất nhiên là thật rồi!" "Thế tại sao không giống nhỉ?" "Thế theo cô, người Việt Nam là phải như thế nào?" Ông vừa cười vừa hỏi lại tôi. "Tôi cũng không biết. Tôi chỉ cảm thấy người Việt Nam và người Trung Quốc phải không giống nhau”. "Tôi đúng là người Việt Nam. Tôi sinh tại Hà Nội, đến Trung Quốc mười bốn năm rồi. Tên Việt Nam của tôi là Vũ Nguyền Bác, Hồng Thủy là tên mới đổi sau khi đến Trung Quốc". Thấy Hồng Thủy không có vẻ khó chịu trước vấn đề mình hỏi, tôi đánh bạo hỏi sâu thêm: "Đồng chí Hồng Thủy, sống ở Trung Quốc, anh có quen không?" "Ô sao lại không quen? Người cách mạng bốn bể là anh em. Đồ ăn thức uống của Sơn Tây, cô không thấy tôi ăn rất ngon hay sao? Tôi cũng giống như người Sơn Tây thích "húp giấm". Hai tiếng "người Sơn Tây” và "húp giấm", Hồng Thủy bắt chước giọng Ngũ Đài nhăn mặt nói bằng giọng mũi. Tôi nhịn không được, phá lên cười. … "Thế còn, cha mẹ của anh, người thân của anh nữa? Anh có nhớ Tổ quốc mình không?..." Một loạt các câu hỏi của tôi làm cho Hồng Thủy trầm hẳn lại. Ông biết rằng giải thích cho rõ các câu hỏi của tôi không chỉ trong chốc lát. Vì thế ông nói để chuyển vấn đề. "Chuyện đó dài lắm, sau này từ từ lúc nào rỗi rãi, tôi sẽ kể cho cô nghe. Bây giờ có một chuyện quan trọng khác". Ông rất tự nhiên chuyển câu chuyện sang một vấn đề khác: "Đồng chí Trần Ngọc Anh. Đồng chí đến công tác ở Hội đồng Động viên đã hơn một tháng, tiến bộ rất nhanh, rất có năng lực. Tổ chức đang chuẩn bị nghiên cứu vấn đề gia nhập Đảng của đồng chí. Hôm nay muộn rồi, đồng chí hãy về suy nghĩ, xem xét lại quá trình công tác đã làm, trình bày thành một bản báo cáo tóm tắt, báo cáo tổ chức". Nghe nói đến việc sắp kết nạp tôi vào Đảng, mí mắt tôi rưng rưng. Tôi không biết nói gì cho phải. Đêm hôm đó, nằm trên giường, cảm thấy miệng như được ngậm kẹo ngon, lòng thấy dịu dàng, êm ái, tôi phấn khởi không sao ngủ được. Hồi tưởng lại quá trình bản thân tham gia cách mạng dện nay: Từ 1933, tại Thái Nguyên, tôi đã tham gia "Xã Liên” (Hội Liên hiệp những người nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học) một tổ chức quần chúng của Đảng, đến nay tham gia công tác ở Hội đồng Động viên, đã vừa tròn bốn năm. Tôi đã trải qua nhiều độ, từ tìm cách đến với Đảng, phấn đấu, rồi có lúc buồn nản, bàng hoàng, nhưng vẫn ước vọng có một ngày trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, để được lao vào dòng thác vĩ đại của cách mạng Trung Quốc... rồi đến nay tham gia Hội đồng Động viên được hơn một tháng, được rèn luyện thực sự, ngọn lửa cách mạng giống như một núi lửa... Đồng chí Hồng Thủy là một người rất có ý tứ. Một người Việt Nam đến tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng của Trung Quốc đằng đẵng mười mấy năm trời. Nghe nói ông đã tham gia cuộc Trường chinh hai vạn năm ngàn dặm. Thật không đơn giản. Chỉ một tháng ngắn ngủi đồng chí Hồng Thủy đã giúp đỡ tôi trưởng thành, công lao thật lớn. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:47:24 am Hồng Thủy mỗi lần gọi tôi lên họp thường gửi cho tôi một trang viết tay riêng. Ông cố ý dùng cách biểu hiện ấy để làm tôi phải chú ý.
Tại trấn Đông Dã, quần chúng đã được phát động phong trào kháng Nhật. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Động viên không ngừng mở rộng, nhân viên công tác không ngừng đông thêm. Đặc biệt là tổ công tác phụ nữ may trang phục cho quân đội, làm áo bông, càng thêm nhiều người. Hồng Thủy quyết định đưa tổ công tác phụ nữ đến một địa điểm công tác mới ở ngay công quán nhà Dương Ái Nguyên. Dương Ái Nguyên là họ hàng thân thích của Diêm Tích Sơn. Lúc mới kháng chiến hắn là Tư lệnh trưởng tập đoàn quân 6 thuộc Chiến khu 2. Trước kháng chiến dân thường mà lại dám bén mảng tự do ra vào công quán của "Tổng” tư lệnh Dương là không thể được. Bát lộ quân đã đến. Lưng của bà con cũng bắt đầu cứng hơn. Hội đồng Chi viện hỏi mượn luôn khu viện nằm ở mặt tiền của công quán để làm địa điểm hoạt động cho tổ công tác phụ nữ. Hàng ngày chị em nườm nượp vào ra khu viện cao lớn đó, bàn bạc việc đại sự chống Nhật, làm cho mọi người đều cảm thấy nở mày nở mặt. Tháng Mười, ở Tấn Đông Bắc, khí ấm tan dần, giá lạnh kéo đến. Các chị em phụ nữ kháng Nhật khẩn trương may áo bông cho Bát lộ quân. ở Ngũ Đài đã vào mùa đông mà tướng sĩ ở tiền phương vẫn còn mặc quần áo mỏng, đi giày cỏ bện. Một hôm, có một vị mặc quân phục bằng vải thô, màu xám, một vị thủ trưởng của Bát lộ quân, người cao lớn, lanh lợi, bước vào công quán họ Dương. Đi theo ông còn mấy chiến sĩ của Bát lộ quân. "Các đồng chí vất vả quái Nghe nói công tác phụ nữ ở khu triển khai tốt lắm!" Chị em dừng tay kim tay chỉ, yên lặng ngắm nhìn người lạ mới tới. "Tôi là Từ Hải Đông!". Vị thủ trưởng Bát lộ quân nói giọng sang sảng của một người chuyên cầm quân đánh trận tự giới thiệu với mọi người. Từ Hải Đông! Ôi, cái vị lữ trưởng Bát lộ quân nổi tiếng đánh giặc như mãnh hổ, kẻ địch mới nghe tên đã hồn xiêu phách lạc, là ông ta đây! Chị em nhìn nhau rồi bật cười rũ rượi. Từ Hải Đông lại gần chuyện trò thân thiết với mọi người, đến từng người hỏi tên là gì. Trong Hội đồng Động viên có bao nhiêu nữ đồng chí. Trong công tác có khó khăn gì không. ông động viên chúng tôi nỗ lực công tác, đoàn kết được ngày càng nhiều chị em phụ nữ tham gia kháng Nhật. Từ Hải Đông bình dị, dễ gần, hòa nhã, đáng mến, rất nhanh chóng được chị em vây quanh. Mấy cô trẻ tuổi kéo tay Từ Hải Đông xin ông cho đi theo đánh trận. Lữ trưởng Từ rất khoái trả lời luôn: "Được! Tất cả chúng ta đều đi đánh trận Thế áo bông thì ai may nhỉ? Chắc không thể để Bát lộ quân, khoác áo lá bàng, đi chân đất để đánh giặc Nhật chứ?" Các cô liền im. Tôi đại diện cho chị em phụ nữ, phát biểu với thủ trưởng Từ Hải Đông: "Thủ trưởng cứ yên tâm, chúng tôi sẽ may nhiều áo bông, giày vải, chi viện cho Bát lộ quân đánh thắng trận!" Tổ công tác phụ nữ dọn đến công quán nhà Dương Ái Nguyên, cách Trường Tiểu học Đà Dương nơi Tổng bộ Hội đồng Chi viện tiền phương đóng rất gần, ngay bên kia đường. Mỗi ủy viên hội đồng cứ chiều đến lại họp giao ban. Tôi và Hồng Thủy ngày nào cũng gặp nhau. Thế nhưng Hồng Thủy vẫn thường dùng một tờ giấy trắng, viết một giấy triệu tập họp cho tôi: Đồng chí Trần Ngọc Anh. Chiều nay ba giờ, xin mời đúng giờ đến Tổng bộ Hội đồng Chi viện để họp. Hồng Thủy Chữ của ông viết rất nghiêm chỉnh và đẹp, bay bướm. Tôi thấy rõ đây là một biểu hiện cố ý muốn làm cho tôi chú ý. Tháng Mười năm 1937, do Từ Kế Chi, Triệu Bằng Phi, hai đồng chí đó giới thiệu, tôi được gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lễ tuyên thệ kết nạp Đảng được tổ chức trong một phòng học của Trường Tiểu học Đà Dương. Phòng tuy trang hoàng giản đơn nhưng rất nghiêm trang. Ở giữa bảng đen treo một lá cờ Đảng đỏ tươi. Tham gia tuyên thệ là các đảng viên mới được phát triển trên tuyến đầu kháng Nhật thuộc khu bốn Ngũ Đài, trong đó duy nhất chỉ có tôi là nữ. Chúng tôi mười mấy người xếp thành hai hàng, mắt nhìn Đảng kỳ, tay phải nắm giơ lên ngang vai, đồng chí Hồng Thủy đứng chủ lễ tiến hành tuyên thệ. Ngày hôm đó, suốt đời tôi không bao giờ quên. Từ tháng Mười năm 1937 trở đi, quân Nhật từ Nhạn Bắc, hình Hình quan, Nương Tử Quan chia nhiều đường tấn công Sơn Tây. Quân Diêm Tích Sơn thua chạy tan tác Đầu tháng Mười một quân Nhật chiếm được tỉnh ly Thái Nguyên. Cuộc đấu tranh vũ trang chống Nhật tại Sơn Tây bước vào một giai đoạn cực kỳ gian khổ. Cũng vào lúc đó, Hồng Thủy đột nhiên bị điều đi, không ở Hội đồng Chi viện khu bốn nữa mà trở về Đặc ủy Tấn Đông Bắc đóng tại huyện lỵ Ngũ Đài. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:48:58 am Hồng Thủy đặt cho tôi một cái tên đầy tính chiến đấu: Trần Kiêm Qua
Do công tác quần chúng của Bát lộ quân ngày càng sâu rộng, nên đã có rất nhiều thanh niên hăng hái tham gia đội ngũ cách mạng. Để nâng cao trình độ tư tưởng, hiểu biết vận dụng chính sách và năng lực công tác thích ứng với yêu cầu của tình hình mới, Đặc ủy Tấn Đông Bắc quyết định mở ba lớp huấn luyện ngắn hạn. Lớp huấn luyện ngắn hạn này do Hồng Thủy phụ trách chung, địa điểm đặt tại Vương Gia Trang, cách huyện lỵ Ngũ Đài một dặm. Lớp huấn luyện thứ nhất mở vào cuối tháng Mười một. Đặc ủy điều hơn một trăm cán bộ của các huyện Định Tượng, huyện Quách, huyện Ngũ Đài tham gia học tập. Tôi cũng tham gia vào lớp thứ nhất. Đã lâu rồi không gặp Hồng Thủy, tôi vẫn luôn nhớ ông da diết. Một ngày trước hôm khai mạc, tôi sắp xếp công tác ở Hội đồng Chi viện xong là vội vã lên đường ngay. Gió lạnh ở cao nguyên Tấn Đông Bắc thổi vun vút, các đỉnh núi cao xa xa đã phủ tuyết trắng phau. Tôi đi theo đường đất, xuyên tắt các thôn để lên huyện dưới làn gió bắc rét cắt da. Hai tay tôi đông cứng lại, mặt bị cát thổi như kim đâm, nhưng nghĩ sắp dược gặp Hồng Thủy, lòng tôi như ấm lại. Nghĩ thế tôi lại cắm đầu rảo bước. Trời vừa tối, tôi đến Vương Gian Trang, đẩy cửa phòng làm việc của Hồng Thủy bước vào. Thấy tôi xuất hiện trước mặt, Hồng Thủy vui tựa như gặp lại người thân lâu ngày xa cách, hỏi han tíu tít, một mặt mời tôi ngồi nghỉ. Anh lấy ca trà của mình, róc đầy một ca nước sôi đưa mời tôi và giục: "Ủ tay vào nhanh, cho nó ấm. Thật không ngờ, cô lại đến được sớm thế. Đi đường có mệt không?" Thấy Hồng Thủy nhiệt tình như thế, lòng tôi xốn xang, xúc động. Tôi quan sát chung quanh gian phòng vừa là phòng làm việc, vừa là phòng ngủ của Hồng Thủy. Dựa vào bức tường sát núi là chiếc giường lò (giường bằng đất dưới đốt lửa sưởi), giữa giường là chăn đệm gấp rất chỉnh tề, cạnh đệm một cái bàn lò nhỏ, trên bàn có một cái đèn dầu. Trừ cái bàn và một chiếc ghế dài kiểu cổ, trong phòng chẳng còn đồ đạc gì. Trên tường sát bàn treo một miếng vải trắng chừng một mét vuông. Trên vải trắng (Kế hoạch học tập và tiến độ biểu của lớp tập huấn cán bộ khu Tấn Đông Bắc) có một hàng chữ tiêu đề to, dưới là ba hàng chữ nhỏ rất đẹp "Nội dung học tập", "Kế hoạch dạy và học”, "Thứ tự các khóa trình"... Đây là một tập quán của Hồng Thủy trong quá trình lâu dài tham gia công tác giáo dục của Đảng mà hình thành. Tôi liếc nhìn vào nội dung từng biểu: Ban Huấn luyện do Hồng Thủy tổng phụ trách... Hồng Thủy, Hồ Khai Minh, Trương Liên Khuê1 (Hồ Khai Minh: Sau giải phóng làm Bí thư Tỉnh ủy An Huy. Trương Liên Khuê: Sau giải phóng làm Bộ trưởng Bộ Công nghiệp cơ giới số 3)... là mấy người trong Đặc ủy lãnh đạo các đồng chí thụ khóa... Khoa mục học tập chủ yếu là kiến thức cơ bản về Đảng, tình hình và nhiệm vụ trước mắt, mười điểm của cương lĩnh chính trị về kháng Nhật cứu vong, vấn đề Mặt trận Dân tộc thống nhất kháng Nhật... Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp thu sự giáo dục chính quy, có hệ thống tri thức về Đảng và các chính sách, một cơ hội học tập hiếm có lúc bấy giờ. Tôi không cầm được lòng thốt lên: "Rất tốt!" Khi tôi quay lại thì thấy Hồng Thủy đang chăm chú quan sát tôi. Hai gò má tôi cảm thấy nóng bừng. Cơm tối xong, Hồ Khai Minh lại đến phòng Hồng Thủy để tán dóc. Cũng may các học viên khác đều chưa đến. Ba chúng tôi có thể tha hồ nói chuyện trời chuyện đất với nhau một cách thoải mái. Hồng Thủy và Hồ Khai Minh tụt giày ngồi lên giường lò, mỗi người một bên bàn lò và đều rút tẩu thuốc của mình ra. Cả hai, dưới ánh đèn vàng yếu ớt, lấy thuốc sợi nhét đầy tẩu, dùng ngón cái ấn chặt, rồi châm lửa. Chỉ một lát sau cả gian phòng mù mịt khói thuốc. Chuyện của Hồng Thủy bắt đầu từ Ngũ Đài Sơn: "Tôi đến huyện Ngũ Đài mấy tháng rồi. Mỗi lần nhìn lên núi Ngũ Đài, lòng lại thấy buồn bực. Cô có thấy núi Ngũ Đài chạy dài xa tít không, thế nhưng năm ngọn núi lại như bị dao chém đứt rời ra vậy?" Hồ Khai Minh thì cứ phì phèo nhả khói, chẳng nói câu nào. Tôi ngồi trên chiếc ghế dài cạnh giường lò, tiếp lời Hồng Thủy: "Tôi cũng không thể coi là người của Ngũ Đài Sơn, vì rằng tuy trấn Đông Dã chỉ cách Ngũ ĐạI Sơn hơn hai trăm dặm, song tôi cũng chưa tới Ngũ Đài Sơn lần nào!" Ngừng một lát tôi nói tiếp: "Bất quá cũng chỉ nghe các cụ già kể lại, từ xa xưa, hình dáng của Ngũ Đài Sơn không giống như hiện nay. Năm tòa núi cao ngút mây nhưng hoang vắng, không có nguồn nước, Đức Văn Thù Bồ tát, người nắm và quản lý trí tuệ toàn nhân loại, rất thông cảm với dân sở tại. Người bèn mượn một hòn đá "Yết Long” của Long vương Đông Hải mang về đây, từ đó Ngũ Đài Sơn biến thành nơi non xanh nước biếc, mưa gió điều hòa. Còn Long vương Đông Hải khi biết tin, nổi giận lôi đình, vì ông ta cho rằng chỉ có riêng mình được cái quyền "Hô phong, hoán vũ”. Vì thế ông ta phái năm con giao long xuống, đinh khiêng hòn đá "Yết Long” đi. Văn Thù Bồ tát không chịu. Năm con giao long bèn lấy đuôi quét một vòng, bạt luôn năm đỉnh núi nhọn, thành ra năm ngọn núi đầu bằng hiện nay”. Hồng Thủy và Hồ Khai Minh chăm chú ngồi nghe. Riêng Hồng Thấy lại hỏi thêm cho rõ ngọn nguồn: "Thế Văn Thù Bồ tát cũng chịu hay sao?" "Văn Thù Bồ tát tất nhiên không chịu, liền biến năm con giao long thành năm tảng đá lớn, đem nhốt ở động Triều Long. Dân ở Ngũ Đài Sơn đời đời, kiếp kiếp biết ơn Văn Thù Bồ tát, họ cầu thần bái phật, đầu tiên là bái Văn Thù Bồ tát”. Hồng Thủy nghe xong câu chuyện truyền thuyết luôn miệng khen: "Trần Ngọc Anh, cô thật không đơn giản chút nào!" Hồng Thủy lại nhét thêm thuốc vào tẩu, rít liền hai hơi. Mắt đăm đăm vào đám khói thuốc đang lơ lửng bay, ông như chợt nghĩ ra một điều gì đó: "Trần Ngọc Anh, cô có học vấn cao đấy, song tên của cô lại rất bình thường, không có một chút tính chiến đấu nào". Hồ Khai Minh biết Hồng Thủy hay đùa, lại hay lý sự liền nói chen vào: "Tên của người ta do cha mẹ đặt. Tên con gái Trung Quốc chẳng thường đặt là "Anh" này, "Phượng” này hay sao?" Hồng Thủy vẫn giữ ý mình: "Như tên tôi là Hồng Thủy (nước lũ lớn) - Hồng Thủy, Mãnh Thú, quân địch nghe thấy đã hồn xiêu phách lạc". Tôi không muốn Hồng Thủy mất hứng, tiện mồm hỏi luôn: “Thế anh đặt cho em cái tên mang tính chiến đấu đi!" Hồng Thủy vừa hút thuốc, vừa nhẩn nha nói: "Trần Ngọc Anh, cô làm việc mạnh bạo, dứt khoát như dao phát cỏ, tiếng của cô trong trẻo, lanh lảnh như đao kích khua vang, tính cách thì lại đàng hoàng, lịch thiệp, từ nay nên đổi tên thành..." Thấy Hồng Thủy nói thật, không phải đùa, Hồ Khai Minh cười và cũng chọc thêm: "A, thật là thú vị. Vừa như đao kiếm, vừa như vũ khí lạnh của binh sĩ, tinh tinh choang choang, thật là lợi hại. Cứ theo ý của anh Hồng Thủy tôi nghĩ hai chữ "Ngọc Anh" phải đổi thành "Kiếm Qua" mới đúng" (Kiêm: gươm, Qua: giáo). Hồng Thủy nghe thấy thế, đặt cốc nước xuống. ông vỗ tay xuống bàn nói: "Đúng, nên gọi là Kiếm Qua". Ấy thế là tên của tôi, Hồng Thủy đã đổi thành Kiếm Qua. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:56:30 am Chương III CHINH CHIẾN Ở NƯỚC KHÁC Mới mười sáu tuổi, Hồng Thủy đã đến Qảng Châu tìm gặp Hồ Chí Minh, tham gia cuộc đại cách mạng của Trung Quốc. Sinh hoạt học tập trong lớp tập huấn rất khẩn trương nhưng cũng rất lý thú, tuy nội dung học tập đều liên quan tới tri thức cơ bản về Đảng, tình hình trước mắt và nhiệm vụ của Đảng đã quy đính trong khóa trình. Hồng Thủy đã căn cứ vào cục diện hình thái đang phát triển của chiến tranh chống Nhật, căn cứ vào thực trạng cuộc đấu tranh chống địch của vùng Tấn Đông Bắc, đem lý luận của Đảng kết hợp với sách lược, chính sách đấu tranh chống địch và các vấn đề cụ thể phát sinh ngay quanh chúng tôi để giảng dạy, làm cho nội dung vô cùng phong phú. ông giảng bài thật có thanh, có sắc. Tôi vô cùng khâm phục Hồng Thủy về tri thức uyên bác, trình độ giảng dạy và tài ăn nói của ông. Mỗi lần trong lớp có vấn đề gì không hiểu, tôi đều chủ động hỏi ông. Đối với các vấn đề tôi đề xuất, ông không những giảng giải thấu đáo mà còn dẫn giải rất lý thú. Hồng Thủy thấy rằng những vấn đề tôi đề xuất mang tính chất tiêu biểu nhất định cho mọi người, nên thường đem các vấn đề đó lên lớp để phân tích có tính cách điển hình. Tôi khâm phục Hồng Thủy còn vì lẽ nữa, là một đồng chí Việt Nam mà đối với nhân dân Trung Quốc ông hiểu thật sâu sắc về lý luận và ủng hộ nhiệt tình. Đối với lý luận của cách mạng Trung Quốc, nắm được thuần thục như Hồng Thủy, nếu không phải tự thân kinh qua phong ba bão tố của cuộc đại cách mạng, hoàn toàn không thể giảng dạy sâu sắc đến như vậy. Học tập ở lớp tập huấn tuy khẩn trương, song so với công tác túi bụi ở Hội đồng Động viên thì cũng có phần thoải mái hơn. Trên lớp thì Hồng Thủy là thầy, ngoài lớp chúng tôi trở thành đôi bạn tri kỷ. Mỗi khi rảnh rỗi, chúng tôi thường cùng nhau tâm sự, phát biểu cách nhìn riêng của mình về hình thế kháng Nhật, nói rõ về lý tưởng và ước vọng, cũng có lúc kể lại chuyện khi còn bé và gia đình. Nhớ lại, tôi đã từng kể huyên thuyên cho đồng Thủy nghe những câu chuyện thú vị khi mình còn bé: Tôi đã tự cắt đuôi sam như thếnào, đã đến Đảng bộ Quốc dân đảng tỉnh Sơn Tây để nhìn Vương Doanh, đã đến Thanh Đảo thi đấu bóng chuyền rồi tham gia biểu tình kháng Nhật ra sao, đi Bắc Bình để học dự thi đại học, bị Quốc dân đảng bắt cầm tù... Khi tôi kể về "Lịch trình cách mạng" của mình Hồng Thuỷ nghe rất chăm chú, tình cảm của ông cũng thay đổi theo những biến đổi của tôi, có lúc lại bình luận và tán thưởng: "Ôi, Trần Kiếm Qua, thật không đơn giản! Mới hai mươi bốn tuổi đầu mà đã có lịch trình cách mạng thật phong phú, có thể gọi cô là "Lão cách mạng" được rồi!" "Đồng chí Hồng Thủy, em làm sao mà so được với anh? Những việc em làm đều là bồng bột mơ hồ, tự phát thôi, có việc thậm chí là ấu trĩ nữa". "Ồ đâu có chúng ta mỗi người sống trong một thời đại và hoàn cảnh khác nhau. Ví dụ em là rất có cá tính, lại tự tin, từ nhỏ đã cố tìm chân lý. Công tác của chúng ta cực kỳ cần những nữ đồng chí như em”. Tôi sợ Hồng Thủy lại nói có ý khác nữa, liền vội chuyển đề câu chuyện: "Đồng chí Hồng Thủy, anh còn món nợ chưa trả em đấy!” Hồng Thủy trầm ngâm suy nghĩ một lát và lập tức nhớ tới lời hứa của anh với tôi khi còn ở Hội đồng Động viên trấn Đông Dã, ông nói: "Được! Anh sẽ kể chuyện về anh ở Việt Nam!" Hồi ức có lúc là hạnh phúc, có lúc là khổ đau. Một người đã trải qua mười bốn năm chiến đấu gian khổ, đã đến tuổi "Tam thập nhi lập" như Hồng Thủy, rất khát khao ở nơi đất khách quê người có được tình cảm và duyên tình, có một người bạn tri kỷ khác giới để tâm sự và trao đổi. Tôi hết sức yên lặng lắng nghe câu chuyện Hồng Thủy kể. Hồng Thủy sinh ngày 1 tháng Mười năm 1908, tại thành phố Hà Nội, Việt Nam. Cha ông là người huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội), là chủ một dãy nhà cho thuê và một địa chủ có tiếng. Nguồn sống cả nhà toàn bộ dựa vào tiền cho thuê nhà và địa tô. Hồng Thủy có sáu anh chị em, ông là thứ tư, có ba người anh, một em trai và một em gái. Ông từ bé đã thông minh, lanh lợi. Lúc năm tuổi, ông bắt đầu học ở trường tiểu học Công giáo do người Pháp mở tại Hà Nội. ông chăm học và đạt thành tích xuất sắc. Năm mười lăm tuổi, ông nhập học Trường Sư phạm Bắc Kỳ ở Hà Nội. Thời đó cả Đông Dương bao gồm ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia chỉ có một trường sư phạm đó. Trong thời gian học ông rất cần cù chịu khó, và vẫn giữ vững được thành tích học tập xuất sắc. Vào thời kỳ Hồng Thủy còn ở tuổi nhi đồng và thiếu niên, Tổ quốc của ông đã bị thực dân Pháp xâm chiếm. Pháp và vương triều Bảo Đại tay sai đã thống trị nhân dân cực kỳ dã man, khiến nhân dân vô cùng bất mãn và quyết liệt phản kháng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:57:26 am Tư tưởng tiến bộ của người cha Hồng Thủy đã có liên hệ mật thiết từ lâu với các chí sĩ yêu nước và lãnh tụ cách mạng. ông đã mang khá lớn tiền của, tài sản của gia đình để ủng hộ cách mạng. ông đã cùng cha mình (ông nội Hồng Thủy) tham gia vào cuộc chiến đấu chống Pháp năm 1884 ở Hà Nội. Tháng Chín năm 1908, tức là ít ngày trước khi Hồng Thủy chào đời, tại Hà Nội đã xảy ra sự kiện một số chí sĩ yêu nước đã lén vào các trại lính Pháp và tiến hành đầu độc (Hà thành đầu độc). Bọn thực dân Pháp và lũ bù nhìn tay sai mượn cớ đó bắt giam hàng loạt các chí sĩ yêu nước, Hà Nội bị trùm lên làn sóng "Khủng bố trắng”. Cha của Hồng Thủy trước tình hình đó rất buồn phiền. Ông ngày càng sầu muộn, mượn rượu giải khuây, và năm 1922 ông bị bệnh mất sớm.
Ba người anh của Hồng Thủy chịu ảnh hưởng của nỗi sầu muộn của cha, cũng buồn bã yếm thế, chưa quá bốn mươi tuổi đều mất cả, để lại ba người vợ góa và hơn một chục đứa con côi, gia đình rơi vào cảnh khó khăn. Mẹ của Hồng Thủy là một người Việt Nam hiền thục, khoát đạt. Bà có tư tưởng tiến bộ, đồng tình với cách mạng. Theo Hồng Thủy nhớ lại, mẹ ông thường kể cho ông các câu chuyện về hoạt động đấu tranh của các chí sĩ yêu nước như "Đông kinh nghĩa thục", "Hà thành đầu độc dạy ông đọc những câu thơ yêu nước "Quốc thù vị phục đầu tiên bạch, kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma"1 (Thù nước chưa xong đầu đã bạc Mấy độ mài gươm dưới ánh trăng. Thơ của Đặng Dung, con Đặng Tất, người đã phò tá Trần Quý Khoáng chống lại quân Minh để khôi phục lại nhà Trần, song không thành công), gây dựng cho con lòng yêu nước. Được sự cổ vũ của tinh thần cách mạng của các chí sĩ yêu nước, chịu ảnh hưởng của những lời dạy dỗ mưa dầm thấm sâu của mẹ, chàng thiếu niên Hồng Thủy tiếp thu tư tưởng tiến bộ, bắt đầu đồng tình và quan tâm chú ý đến cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân, tiến lên một bước là chọn con đường vào đời của mình khác hẳn của cha và của các anh - con đường xả thân làm cách mạng. Năm 1923, mới mười lăm tuổi, Hồng Thủy lúc đó còn đang học tại Trường Sư phạm Bắc Kỳ đã lợi dụng kỳ nghỉ hè đi sang Pháp để khảo sát, học tập. Ở đó ông gặp được Hồ Chí Minh, nhà cách mạng vô sản Việt Nam tiên phong nhất, được tiếp xúc với chủ nghĩa Mác. Từ đó con đường ông đi có một bước ngoặt quan trọng và đã trở thành một trong những đồng chí chiến đấu sớm nhất của thời kỳ cách mạng do Hồ Chí Minh dẫn dắt. Sau đó Hồng Thủy về Việt Nam, học tại Nam Định, một thành phố gần Hà Nội, đồng thời tham gia hoạt động cách mạng. Ông đã mấy lần phát động và lãnh đạo phong trào học sinh chống lại bọn thực dân Pháp và phong kiến thống trị. Cuối năm 1924, hai chí sĩ yêu nước Việt Nam được Hồng Thủy vô cùng kính yêu là hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh bị bắt ở Thượng Hải giải về. Nghe nói cụ Phan Chu Trinh bị giết hại, ông vô cùng đau xót. Ông rời bỏ cuộc sống gia đình sung túc, rời bỏ người vợ mới cưới và đứa con gái mới lọt lòng, quyết tâm đi Trung Quốc để tìm gặp Hồ Chí Minh. Ông theo người liên lạc của Hồ Chí Minh trèo đèo lội suối, vượt hiểm cửa quan, đi vòng vèo mãi, cuối cùng đến được Quảng Châu - trung tâm của cách mạng Trung Quốc thời đó. Khi ông mới tới Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã giữ ông ở với mình để giúp việc. Ông thường giúp Hồ Chí Minh truyền đạt tin tức và đôi khi đảm nhiệm một số công tác liên lạc cụ thể. Một số nhà cách mạng Trung Quốc mà Hồ Chí Minh đã từng rất quen thuộc từ khi ở Pháp như Chu ân Lai, Lý Phú Xuân, Thái Xướng, Trần Diên Niên, Trần Kiều Niên... cũng lần lượt về Quảng Châu. Tất cả đều chú ý đến, ở bên cạnh Hồ Chí Minh, có một chàng thiếu niên tuấn tú khôi ngô, thông minh, lanh lợi, đầy sức sống, ai cũng yêu mến. Vì vậy mọi người đều chóng trở nên thân thuộc với Hồng Thủy, và trở thành những người anh, người chị cách mạng của Hồng Thủy. Hồng Thủy đã tốt nghiệp trường sư phạm, vào thời đó cũng có thể coi là một trí thức không nhỏ. Hồng Thủy chọn bí danh của mình là nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong cuộc đấu tranh cách mạng, tên của ông thường phải thay đổi luôn. Đến Quảng Châu không lâu ông đổi tên là "Hồng Tú” vì ở giữa dải Trường Sơn chạy dọc Việt Nam ở miền Trung Bộ có một ngọn núi tên là "Hồng Lĩnh" hoặc "Hồng Sơn". Ông chọn tên Hồng Tú là có ý nhắc nhở mình trong cuộc đấu tranh cách mạng vô sản Việt Nam phải trở thành người ưu tú, tuấn kiệt. "Hồng Tứ” theo âm đọc Quảng Đông lại trùng với "Hồng Thủy”. Thời đó, bọn phản động trong Quốc dân đảng thường gọi người Cộng sản là "Hồng Thủy”, "Mãnh Thú” (nước lũ và mãnh thú). Ông bèn đổi tên là Hồng Thủy để biểu thị quyết tâm của mình là hoàn toàn tương phản với bọn phản động Quốc dân đảng. Tháng Mười một năm 1925, Hồ Chí Minh quyết định để Hồng Thủy một mặt vẫn ở bên Người giúp đỡ công việc một mặt chính thức tham gia học lớp chính trị của "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", một tổ chức do chính Người sáng lập. Ở đây Hồng Thủy đã tiếp thu được một cách toàn diện lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, kiên định lòng tin của mình với cách mạng. Trong lớp học, Hồng Thủy gia nhập "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", trở thành một trong những người Cộng sản của Việt Nam thời kỳ đầu. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:58:41 am Ngày 16 tháng Sáu năm 1924, Trường Quân sự Hoàng Phố được thành lập tại Quảng Châu. Trường do hai đảng Quốc, Cộng hợp tác sáng lập nên để bồi dưỡng về quân sự chính trị cho cán bộ cốt cán của quân đội cách mạng. Nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Chu Ân Lai, Uẩn Đại Anh, Tiêu Sở Nữ, Trần Nghị, Nhiếp V nh Trăn, Diệp Kiếm Anh... đã từng đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu ở đây. Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Trung Hạ, Tô Triệu Chính, Ngô Ngọc Chương... đã từng lên lớp giảng dạy cho học viên nhà trường. Trường còn mời cố vấn Liên Xô giảng dạy về lý luận và các chế độ quân sự của Liên Xô. Do tiếng tăm của Trường Quân sự Hoàng Phố bay rất xa, nên ở các nước lân cận như Triều Tiên, Việt Nam, Singapo, Miến Điện... đều cử nhiều thanh niên cách mạng tới học ở trường.
Tháng Ba năm 1926, do Lý Phú Xuân, Thái Xướng đề cử, Hồng Thủy được vào học Trường Quân sự Hoàng Phố khóa bốn. Học cùng khóa với Hồng Thủy còn có các đảng viên Cộng sản Trung Quốc như Lưu Chí Đan, vương Thanh, Quách Hóa Nhược, Đường Thiên Tế... Các môn học của Trường Quân sự Hoàng Phố rất nhiều. Rèn luyện quân sự ở đây rất nghiêm túc, khẩn trương. Trời vừa sáng đã phải vùng dậy mặc quần áo, đi giày tập hợp khẩn cấp, thời gian không được vượt quá ba phút, ăn cơm không quá mười phút. Từ các khoa mục chiến thuật, động tác cá nhân, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn chiến đấu và hành quân, trú quân, đến việc liên lạc hiệp đồng ở từng cấp, đều được thao luyện thực tế. Hồng Thủy mới mười tám tuổi, sức sống dồi dào, tinh thần phơi phới lại thêm tư chất rất thông mmh, phản ứng nhanh, năng lực tiếp thu tốt, nên đã nhanh chóng trở thành một học viên ưu tú, được mọi người yêu mến. Tháng Mười năm 1926 khóa bốn Hoàng Phố tốt nghiệp. Đại bộ phận học viên tốt nghiệp đều lên đường tham gia Bắc phạt. Hồng Thủy theo chỉ thị của Hồ Chí Minh tiếp tục ở lại Trường Quân sự Hoàng Phố công tác. Năm 1927, bọn phản động trong Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã tiến hành các kế hoạch phản động như: sự biến phản cách mạng 12 - 4 tại Thượng Hải, sự biến tàn sát đại quy mô ở Quảng Châu, sự biến phản cách mạng 15 - 7 ở Vũ Hán, giết hại hàng loạt đảng viên Cộng sản, trong đó có một số đồng chí là người Việt Nam. Thực tế tàn khốc của cuộc đấu tranh đã khiến Hồng Thủy ngày càng nhận rõ bộ mặt phản động của Quốc dân đảng. Do vậy tháng Tám năm đó, Hồng Thủy ra khỏi Quốc dân đảng, bí mật gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để phản kích lại những hoạt động bạo ngược của Quốc dân đảng, ngày 11 tháng Mười hai năm 1927, dưới sự lãnh đạo của Trương Thái Lôi, Uẩn Đại Anh, Nhiếp Vĩnh Trăn, Diệp Kiếm Anh, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa vũ trang công nông binh Quảng Châu, vang dội bốn phương. Hồng Thủy và hơn ba mươi đồng chí Việt Nam đang học tập và công tác tại Trường Quân sự Hoàng Phố đã nhất tề tham gia khởi nghĩa, trong đoàn Giáo đạo thứ tư thuộc phương diện quân Đệ nhị do Diệp Kiếm Anh chỉ huy. Trong quá trình khởi nghĩa Hồng Thủy và các chiến sĩ thuộc đoàn Giáo đạo đã đồng lòng, vượt qua mưa bom bão đạn, xung phong hãm trận, đánh lui các cuộc tiến công của địch hết lần này đến lần khác, biểu hiện rõ tinh thần, ý chí chiến đấu của những người chiến sĩ cách mạng của Đảng Cộng sản. Cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại. Bọn phản động Quốc dân đảng tiến hành một cuộc đại tàn sát thảm khốc chưa từng có. Hồng Thủy theo Nhiếp Vĩnh Trăn, Diệp Kiếm Anh và một số nhà lãnh đạo khởi nghĩa rút về Hồng Kông. Để bảo vệ sinh lực của cách mạng, theo sự bố trí của "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", các đồng chí Nhiếp Vĩnh Trăn và Diệp Kiếm Anh đồng ý để Hồng Thủy rời Hồng Lông đi Thái Lan, tiến hành hoạt động cách mạng trong cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:59:48 am Do Chu Ân Lai đề nghị, Hồng Thủy với tư cách là đại biểu "Dân tộc thiểu số” tham gia Đại hội nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa. Ông trúng cử ủy viên Ban chấp hành Trung ương.
Tháng Mười năm 1927 Mao Trạch Đông soái lĩnh đội ngũ tham gia cuộc khởi nghĩa Mùa thu về đến Tĩnh Cương Sơn thuộc Giang Tây, sau đó Chu Đức, Trần Nghị đưa đội ngũ khởi nghĩa Tương - Nam (tức bộ phận còn lại của cuộc khởi nghĩa Nam Xương) cũng về Tĩnh Cương Sơn hội sư, thành lập Hồng quân công nông Trung Quốc, Quân đoàn bốn (gọi tắt là Hồng tứ quân). Để chi viện cho Quân đoàn bốn Hồng quân, duy trì đấu tranh vũ trang ở Tĩnh Cương Sơn, Tỉnh ủy Quảng Đông thông qua "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” yêu cầu Hồng Thủy trở lại Trung Quốc, một lần nữa tham gia cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng. Được Hồ Chí Minh đồng ý, tháng Sáu năm 1928, Hồng Thủy tới Trung Quốc lần thứ hai, trước tiên làm công tác tổ chức phong trào công đoàn thủy thủ Hồng Kông, sau đó mới tham gia lại Hồng quân công nông. Đầu tháng 1 năm 1929, quân địch ở hai tỉnh Tương, Càn (Hồ Nam - Giang Tây) chia năm đường tiến công Tĩnh Cương Sơn, đồng thời thực hiện bao vây kinh tế khu căn cứ thật chặt chẽ. Mao Trạch Đông, Chu Đức, Trần Nghị liền đem quân chủ lực của Quân đoàn bốn Hồng quân đánh về phía nam Tương, Càn, sát tới Đông Giang của tỉnh Quảng Đông. Lúc đó Quân đoàn bốn Hồng quân yêu cầu Tỉnh ủy Quảng Đông tăng cường thêm cho cán bộ quân sự. Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông lúc đó là Nhiếp Vĩnh Trăn đã phái Hồng Thủy và một số đồng chí nữa đến Quân đoàn bốn. Nhưng khi Hồng Thủy đến được vùng Đông Giang, thì Quân đoàn bốn đã di chuyển về đông Giang Tây, vì vậy Hồng Thủy phải ở lại Đông Giang tham gia Quân đoàn mười một, và lao mình vào cuộc chiến tranh du kích ở địa phương. Trong đội du kích Đông Giang, ông làm chính trị viên đại đội, tham gia rất nhiều trận đánh. Trong chiến đấu, ông thường dẫn đầu binh sĩ, chiến đấu dũng cảm và biểu hiện rõ tài năng lãnh đạo. Ông đã có nhiều cống hiến trong việc thành lập hai tiểu khu Xô viết của Hồng quân công nông là Bát Hương Sơn và Đại Nam Sơn. Quân đoàn bốn do Mao Trạch Đông và Chu Đức trực tiếp lãnh đạo, ba lần xuất kích ngoài căn cứ địa cùng phối hợp với tổ chức đảng địa phương Tây Mân (Mân là tên cổ của Phúc Kiến) do Trương Đỉnh Thừa, Đặng Tử Khôi lãnh đạo, lập thêm được căn cứ địa cách mạng Tây Mân và đem năm trung đoàn Xích Vệ của địa phương biên chế thành Quân đoàn Hồng quân thứ mười hai. Để tăng cường lực lượng chỉ huy cho Quân đoàn mười hai Hồng quân, theo chỉ thị của Đảng, tháng Tư năm 1930, Hồng Thủy được điều tới Quân đoàn mười hai. Sau đó Quân đoàn mười hai được sát nhập vào Quân đoàn một do Chu Đức làm Tổng chỉ huy, Mao Trạch Đông làm Chính ủy kiêm Bí thư Tiền phương ủy của Hồng quân. Từ đó Hồng Thủy bắt đầu cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Mao Trạch Đông và Chu Đức. Tháng Tám năm 1930 Quân đoàn một hội sư cùng Quân đoàn ba Hồng quân tại Lưu Dương, Hồ Nam và thành lập nên Phương diện quân số một của Hồng quân công nông Trung Quốc. Theo chỉ thị của Trung ương phải đánh thành Trường Sa, thủ phủ của tỉnh Hồ Nam, song đánh mãi vẫn chưa chiếm được. Lúc đó, Mao Trạch Đông, Bí thư Tổng tiền ủy của Phương diện quân một Hồng quân, nhận thấy thế lực chưa đủ, quyết định rời khỏi Trường Sa, cùng với Tổng tư lệnh Chu Đức đưa Phương diện quân một tới biên giới Tương, Càn nghỉ ngơi đợi thời cơ. Họ tranh thủ đánh chiếm Cát An, cắt đôi Càn Giang, làm cho quân viện địch lúng túng cả chiến lược và chiến thuật, hạ liền mấy huyện Cát An, Thái Hòa, An Phú, Cát Thủy, nối hến hai khu Xô viết Tây Càn và Tương Càn, thúc đẩy sự phát triển cách mạng ở địa phương. Hồng Thủy tham gia liền ba tháng đánh vận động của Quân đoàn mười hai, cảm nhận được sự sáng suốt vĩ đại của tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông. Sau đó ít lâu, Hồng quân công nông lại thu được thắng lợi toàn diện trong việc đánh bại lần "vây quét" thứ nhất của quân Tưởng. Trong thực tiễn vĩ đại của đấu tranh vũ trang cách mạng, Hồng Thủy đã trưởng thành, lĩnh hội sâu sắc nghệ thuật chỉ huy quân sự của Mao Trạch Đông. Năm 1932, Hồng Thủy trở thành cán bộ lãnh đạo sư đoàn của Hồng quân công nông Trung Quốc. Trong máu lửa đấu tranh, kể cả quân sự và chính trị, ông đã nắm thuần thục, có lý luận và kính nghiệm thực tiễn phong phú, đúng vào lúc Trung ương quyết định thành lập Học viện Quân chính Trung ương ở "Thủ đô đỏ" Thụy Kim, cần một số đông các đồng chí có văn hóa, có lý luận, kinh nghiệm thực tế để làm giáo viên. Trung ương quyết định điều Hồng Thủy về đó giảng dạy. Cùng làm giáo viên chính trị của Học viện thời đó còn có các đồng chí Ngũ Tu Quyền, Trương ái Bình, La Quý Ba, Thành Phương Ngô, Lý Nhất Miên... Tại Học viện Hồng quân, giữa giáo viên và học viên không có sự phân biệt nghiêm cách. Mọi người cùng ăn, cùng ở, cùng thao tác, cùng nhau thảo luận mọi vấn đề. Giáo viên và học viên chan hòa thành một khối, thân thiết như anh em. Hồng Thủy hết sức đề cao trách nhiệm, thái độ dạy học rất chu đáo, gây cho mọi người một ấn tượng sâu sắc. Cuối năm đó, Hồng Thủy và Lý Bá Chiêu, Triệu Thẩm Tam, chủ nhiệm câu lạc bộ của học viên cùng một số phần tử tích cực khác, lần đầu tiên trong lịch sử Hồng quân lập nên đoàn kịch số một - Đoàn kịch Lam San, Hồng Thủy làm trưởng đoàn kịch, Lý Bá Chiêu làm Bí thư chi bộ. Từ đó đến tháng Mười năm 1934, trước khi Hồng quân tiến hành trường chinh, trong khoảng thời gian hơn một năm, Hồng Thủy tập trung mọi tinh lực vào công tác văn hóa của khu căn cứ. Ông dạy cho mọi người chơi đàn, ca hát, nhảy múa, làm sôi nổi hẳn sinh hoạt văn hóa của khu căn cứ. Ông còn lên lớp cho trường kịch nghệ trung ương Thụy Kim, tuyên truyền lý luận văn nghệ của chủ nghĩa Mác. Ông lại thường xuyên cùng Tiền Tráng phi, Lý Bá Chiêu, Thôi Âm Ba (người Triều Tiên), Trương Ái Bình, Tưởng Diệu Đức, Thiết Luân biên soạn và diễn kịch. Hồi đó ở khu Xô viết Trung ương có dàn dựng một vở kịch nói tên là "Khói lửa Thượng Hải". Vở kịch phản ánh sự kiện ngày 28 tháng Hai năm 1932, làm náo nức lòng người: nhân dân Thượng Hải đã nhất tề đứng lên cùng với Lộ quân mười chín của Quốc dân đảng đánh bại quân xâm lược Nhật Bản. Hồng Thủy và Tưởng Diệu Đức chủ nhiệm quân y của Học viện, đóng vai chính, trương ái Bình làm đạo diễn, diễn xuất rất thành công, được quảng đại nhân dân Thụy Kim nhiệt liệt hoan nghênh. Các nhà lãnh đạo Trung ương như Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Chu Đức, Hạng Anh đều tới xem, rất hai lòng đoàn kịch công nông và động viên tất cả "hãy nắm vững vũ khí nghệ thuật để tiến hành đấu tranh với địch”. Hồng Thủy còn viết mấy vở kịch, song do hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, trường kỳ, bị tán lạc mất, không giữ lại được. Do ảnh hưởng của đoàn kịch công nông trong khu Xô viết Trung ương rất lớn, nên tiếng tăm của Hồng Thủy mồi ngày một lan rộng. Tháng 1 năm 1934 ở “Thủ đô đỏ” Thụy Kim, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ hai của nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa, qua sự nghiên cứu và đề cử của Trung ương, Hồng Thủy là đại biểu tham dự đại hội. Vì ông là người ngoại quốc, nên các đại biểu có chút nghi vấn về tư cách đại biểu của ông. Cuối cùng, Chu Ân Lai đề ra một giải pháp tuyệt hảo: đồng chí Hồng Thủy với tư cách đại biểu "Dân tộc thiểu sổ” tham gia Đại hội Đại biểu nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa. Trong phiếu bầu phát ra, bên cạnh tên Hồng Thủy có chú thích. Trong kỳ đại hội này, Hồng Thủy trúng cử làm ủy viên Ban chấp hành Trung ương nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa. Hồng Thủy và đồng chí Tất Sĩ Đễ, người Triều Tiên, là hai ủy viên người nước ngoài tham gia chính phủ Dân chủ của khu Xô viết công nông Trung ương. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 10:01:07 am Vì đối đầu trực tiếp với Trương Quốc Đào, Hồng Thủy bị gán cho tội "Gián điệp quốc tế”. Nhờ có Chu Đức, Lưu Bá Thừa bảo vệ, ông mới tránh khỏi bị hại. Ông đã ba lần vượt "Núi tuyết qua "Thảo nguyên”. Lần thứ ba, ông một mình "Đơn thương độc mã" lên được Diên An.
Từ tháng Chín năm 1933 đến mùa hè năm 1934, Hồng quân ở khu Xô viết Trung ương phải tiến hành đánh trả cuộc "vây quét lần thứ năm. Do người lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Bác Cổ (Tần Bang Hiến) và cố vấn quân sự Lý Đức (tên thật là Otto Brawn, đảng viên Cộng sản Đức, được Quốc tế Cộng sản phái đến làm cố vấn) thực hiện chiến lược tiến công mạo hiểm (theo cách đánh dàn trận chính quy), sau đó lại quay về chiến lược phòng ngự bị động rất bảo thủ, do đó Hồng quân càng đánh càng bất lợi, khu Xô viết ngày càng bị thu hẹp. Đến đầu tháng Mười, Quốc dân đảng mở cuộc tấn công đánh thẳng vào trung tâm của khu Xô viết Trung ương, nhanh chóng chiếm được Tuyến Hưng Quốc, Ninh Đô, Thạch Thành. Khu vực đất đai để cơ động của Hồng quân càng bị bó hẹp, việc đánh bại cuộc "vây quét, lần thứ năm của Quốc dân đảng không còn có khả năng, buộc phải rút khỏi khu Xô viết, thực hiện chiến lược di chuyển. Cũng vào lúc này Hồng Thủy bị những người lãnh đạo "cơ hội chủ nghĩa tả khuynh” chụp cho cái mũ "Đặc vụ cao cấp" và bị khai trừ luôn khỏi Đảng. Tháng Mười năm 1934, Hồng quân bắt đầu cuộc trường chinh. Hồng Thủy bị điều khỏi Học viện và đưa về Đoàn cán bộ Trung ương. Do Chu Đức và Lưu Bá Thừa quan tâm và bảo hộ, ông được điều về đội trực thuộc, phụ trách công tác tuyên truyền và động viên trung đội trong quá trình trường chinh. Từ năm 1932, Hồng Thủy đã là cán bộ lãnh đạo cấp cao, cấp sư đoàn của Hồng quân công nông, nay tự nhiên bị giáng chức, ông cũng chẳng hề buồn rầu, vẫn bình thản kiên quyết theo Đảng, kiên quyết theo Hồng quân Trung ương, đi lên Bắc kháng Nhật. Đoàn cán bộ Trung ương đi theo Hồng quân, xuất phát từ Giang Tây, chuyển xuống Hồ Nam, Quảng Tây, đột phá bốn tuyến ngăn chặn của địch. Tháng 1 năm 1935, vượt qua Ê Giang, chiếm thành Tuân Nghĩa, ở đây Bc chính trị đã triệu tập một hội nghị có ý nghĩa lịch sử vĩ đại: Hội nghị Tuân Nghĩa, xác lập vị trí lãnh đạo toàn Đảng của Mao Trạch Đông. Cũng tại Tuân Nghĩa, được Đảng ủy Tung đội hành quân Trung ương phê chuẩn, đã xóa bỏ việc xử án sai cho Hồng Thủy, và khôi phục lại đảng tịch cho ông. Hội nghị Tuân Nghĩa như ngọn đèn làm sáng tỏ tâm can của Hồng Thủy. Từ đó ông lại cao đầu thẳng tiến, lòng tin ở cách mạng càng kiên định. Sau Hội nghị Tuân Nghĩa, Mao Trạch Đông trực tiếp lãnh đạo Phương diện quân thứ nhất, vượt Xích Thủy, vây Quý Dương, bức Côn Minh, một mặt thẳng tiến về phía trước, một mặt quay sau đánh vận động vào quân truy đuổi, có lúc đi qua mũi kẻ địch, phá vỡ vòng đai ngăn chặn của địch. Khi vượt Xích Thủy, Đoàn cán bộ Trung ương phải trực tiếp tham gia hai lần ác chiến. Cán bộ, chiến sĩ ai ai cũng dũng cảm xông lên, đánh thật dũng mãnh ngoan cường. Hồng Thủy chiến đấu rất dũng cảm, được Lưu Bá Thừa khen ngợi. Đoàn cán bộ Trung ương do Lưu Bá Thừa trực tiếp chỉ huy, đã khôn khéo chiếm bến vượt Giảo Bình, sông Kim Sa, bảo đảm an toàn cho Hồng quân Trung ương vượt sông Kim Sa. Sau đó họ lại xung phong hãm trận, vượt sông Đại Độ bằng sức mạnh, liên tục vượt qua bốn quả Núi tuyết lớn thuộc dãy Giáp Kim Sơn quanh năm tuyết phủ, đến được Tứ Xuyên, hội sư cùng Phương diện quân thứ tư. Sau khi hai phương diện quân một và bốn hội sư, Trung ương quyết định chia Hồng quân thành hai lộ quân tả và hữu để tiến lên phía bắc. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền soái lĩnh lộ quân hữu, có cả thành phần của hai phương diện quân hợp lại; Chu Đức, Trương Quốc Đào, Lưu Bá Thừa soái lĩnh lộ quân tả. Thượng tuần tháng Tám, Chu Đức, Lưu Bá Thừa dẫn một bộ phận của lộ quân tả xuất phát từ Trắc Khắc Cơ thuộc Mã Nhi Khang, đến hội hợp với một bộ phận khác của lộ quân tả tại A - Bá, sau đó vượt thảo nguyên rồi hội sư với cánh quân hữu vượt thảo nguyên ở Mao Nhĩ Cái. Đại thảo nguyên, khu đồng cỏ hoang, ngang dọc sáu trăm lý (300km) không một bóng người, muông thú rất hiếm, chỉ thấy tít tắp toàn là cỏ dại, xen lẫn đầm lầy, nếu sa xuống, càng giãy càng thụt sâu cho tới khi chìm nghỉm. Ở đây đêm ngày nóng, lạnh rất khác biệt. Tháng Tám ở thảo nguyên không có mưa, chỉ có sương mù mịt, đi chẳng được là bao, toàn thân bùn đất be bét, đêm nằm bị gió lạnh cao nguyên thổi, rét run cầm cập. Trong hoàn cảnh ác liệt gian khổ như vậy, Hồng Thủy vẫn giữ được tinh thần cách mạng, hăng hái. Ông cùng các bạn chiến đấu giúp đỡ nhau vượt khó, mỗi ngày chỉ được mấy trái cây xanh, chủ yếu là ăn rau dại và củ dại để vượt qua thảo nguyên mênh mông. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 10:01:43 am Lộ quân tả đến cầu Nhật Can thuộc sông Cát Khúc, đang tới thời điểm quan trọng vượt sông, Trương Quốc Đào mượn cớ nước sông Cát Khúc đang dâng cao, qua cầu Nhật Can không có đường, phản đối việc Bắc tiến, đem quân bản bộ quay về Nam. Hồng Thủy kiên quyết ủng hộ chủ trương đúng đắn của Chu Đức, Lưu Bá Thừa, ủng hộ đường lối chính xác của Trung ương Đảng phải tiến lên Bắc để kháng Nhật, nên đã trực tiếp tranh luận kịch liệt với Trương Quốc Đào, kết quả là Trương Quốc Đào nổi giận lôi đình, ghép cho Hồng Thủy tội "Gián điệp quốc tế” và khai trừ ông ra khỏi Đảng một lần nữa, rồi có ý định mưu sát ông. Nhờ có Chu Đức, Lưu Bá Thừa hết sức che chở, ông mới thoát nạn.
Hạ tuần tháng Chín, lộ quân tả từ A - Bá chính thức quay về Nam, đi về hướng Thiên Kim - Lư Sơn. Hồng Thủy phải theo Chu Đức, Lưu Bá Thừa cùng số lớn cán bộ chiến sĩ một lần nữa vượt thảo nguyên, trèo Núi tuyết, lại một lần khốn khổ. Lộ quân tả khi tiến về Nam, tuy có đánh thắng nhiều trận, song trong hình thái địch mạnh, ta yếu, bị Quốc dân đảng bao vây, truy đánh, cộng thêm sự chỉ huy sai lầm của Trương Quốc Đào nên cuối cùng đã bị tổn thất rất nặng nề. Trong hoàn cảnh đó, đơn vị sở tại của Hồng Thủy bị quân địch đánh tan, chỉ còn một mình, với quyết tâm về với bộ đội, ông tiếp tục Bắc tiến. Ông hóa trang thành dân địa phương, lần thứ ba vượt "Núi tuyết" và "Thảo nguyên", "đơn thương độc mã" thẳng tiến về Diên An. ông tìm sao Bắc Đẩu để xác định phương vỉ cho mình. ông nghĩ, còn hơi thở còn Bắc tiến, tìm đến cho được Hồng quân Trung ương do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Trên đường đi ông đã phải chăn dê, dắt lừa, miễn có cái đút vào bụng, cuối cùng một thân, một mình ông đã mò được tới Diên An. Khi Hồng Thủy mặc bộ đồ người Tạng vừa rách vừa bẩn, người gầy như que củi, từ phía sau tiến lên trước mặt các đồng chí của mình, không ai nhận ra nổi ông. Các đồng chí khi biết chuyện đều rất cảm động trước tinh thần cách mạng bất khuất của ông. Hồng Thủy đến Diên An đã là đầu năm 1936. Hồng Thủy ba lần vượt "Núi tuyết" và "Thảo nguyên", thật là thiên nan, vạn hiểm. ông là một trong bốn người nước ngoài cùng Phương diện quân một của Hồng quân công nông Trung Quốc hoàn thành cuộc trường chinh dài hai vạn năm nghìn lý (12.500km). Sau khi Hồng Thủy tới Diên An, một lần nữa Trung ương Đảng lại xóa bỏ án tịch của Hồng Thủy (do Trương Quốc Đào xử), khôi phục lại Đảng tích cho ông. Nghe Hồng Thủy kể về cuộc đời hoạt động của mình, trái tim tôi vô cùng xúc động. Tôi bàng hoàng nói với anh: "Đồng chí Hồng Thủy, nửa cuộc đời của anh đã bị bao nhiêu lần đả kích, chịu biết bao gian khổ, hiểm nguy. Những nỗi khổ cực, khó khăn đó, người thường dễ mấy ai chịu nổi. Anh còn sống được đã là một kỳ tích. Thật không dễ dàng chút nào!" Nghe lời khen của tôi, mắt anh lộ vẻ kiên quyết: "Đó chính là cách mạng. Nếu một người đã có quyết tâm tham gia cách mạng thì phải chịu được mọi loại thử thách và đả kích, kể cả khi bị đồng chí của mình làm sai, nếu không làm sao có thể trở thành một người cách mạng chân chính được?" Tôi khe khẽ gật đầu, đồng thời rất thương cảm, khen anh: "Đồng chí Hồng Thủy, anh là một người Việt Nam đến Trung Quốc tham gia hoạt động cách mạng, có thể nói là một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế chân chính”. Hồng Thủy tủm tỉm cười, rút ở áo ra một quyển sách nhỏ đã quá cũ kỹ, trong sách toàn chữ Pháp, tôi thì một chữ'cũng không biết, chỉ thấy trong sách có hàng chữ gạch chân bằng bút chì đỏ, hoặc đánh dấu nhằng nhịt. Hồng Thủy dùng tiếng Pháp đọc vài câu, rồi dịch sang tiếng Trung: "Công nhân không phân biệt Tổ quốc... Chí ít là liên hợp hành động của các quốc gia văn minh, đó là một trong điều kiện quan trọng hàng đầu để giành được giải phóng cho giai cấp vô sản”. Anh còn bảo tôi, trong lời kết của "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”, hai người thầy của cách mạng, Mác và Ăng - Ghen còn viết lên lời kêu gọi hùng tráng của thời đại. Các ông hô hào: "Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!" Tôi chăm chú lắng nghe anh giải thích tiếp: "Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới có quan hệ lẫn nhau. Một quốc gia muốn giành được thắng lợi cũng rất cần những người cách mạng trên thế giới giúp đỡ và ủng hộ. Tôi đến Trung Quốc tham gi.a cách mạng là để học tập kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc, để tích lũy lực lượng cho cách mạng Việt Nam. Cuộc chiến tranh kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc cũng giúp đỡ và ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam". Hồng Thủy có phần bị kích động, càng nói càng to. Tôi đã thật sự rõ tại sao Hồng Thủy lại không bị dao động trước quá trình sống chết của mình, bị đe dọa, vẫn dũng cảm tiến lên. Vì rằng trong trái tim anh đã có ngọn đèn sáng soi bốn bể, và ngọn đèn đó cũng sáng trong trái tim tôi. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 10:03:02 am Tại trường đại học của Hồng quân, Hồng Thủy đã được các đồng chí lãnh đạo Trung ương, Mao Trạch Đông, Chu Đức... quý mến.
Ngày 1 tháng Sáu năm 1936, trường đại học của Hồng quân công nông Trung Quốc chính thức khai giảng lần đầu; Mao Trạch Đông làm Chính ủy. Lâm Bưu làm Hiệu trưởng, La Thụy Khanh là Chủ nhiệm huấn luyện. Trường có ba khoa. Khoa thứ nhất, học viên chủ yếu là cán bộ cấp trung đoàn và sư đoàn. Trưởng khoa là Trần Quang, La Vinh Hằng là Chính ủy khoa. Học viên gồm có La Vinh Hằng, Lâm Bưu, La Thụy Khanh, Lưu Á Lầu, Trần Quang, Trương ái Bình, Bành Tuyết Phong, Dương Thành Vũ, Đàm Chấn, Vương Bình, Cảnh Tiên, Mạc Văn Hoa, khoảng bơn mươi người. Hồng Thủy và Vũ Đình người Triều Tiên, là học viên ngoại quốc trong số đó. Lâm Bưu, La Vĩnh Hằng, La Thụy Khanh, Lưu Á Lầu, Trần Quang, Mạc Văn Hoa những vị này vừa là học viên vừa là cán bộ của Trường Đại học Hồng quân. Trường Đại học Hồng quân lúc mới mở ở Ngõa Diêu Bảo tỉnh Thiểm Bắc. Chính phủ cách mạng Thiểm Cam Ninh cũng đóng ở đó. Cuối tháng Sáu, Quốc dân đảng đột nhiên oanh kích Ngõa Diêu Bảo. Trường Đại học Hồng quân theo chính phủ Thiểm Cam Ninh chuyển đến huyện Bảo An. Nhà trường ở trên sườn dốc đá ở đông nam huyện Bảo An. Ở đây có mấy chục hang đá hoang vu không người ở. Học viên không phân chức vụ cao thấp, ai cũng phải lao động để xây trường sở, dọn dẹp môi trường, quét sạch hang đá. Họ dùng đá để lấp bớt cửa động, rồi ghép gỗ phế liệu làm cửa ra vào, dùng cỏ bện thành các rèm cửa. Một số hang nhỏ được dùng làm phòng ngủ, một hang to nhất dùng làm giảng đường. Các hang này trước đây dùng để dốt dê mùa chăn thả, Hồng Thủy và các bạn đồng học phải ra sức dọn sạch phân dê, cỏ rác, quét sạch sẽ, rồi dựng một phiến đá giáp vách đá làm bảng đen, dùng đá kê làm bàn ghế ngồi học. Trường rời đến Bảo An không lâu, Mao Trạch Đông đến giảng bài. Học viên lấy ván ghép thành một biểu ngữ treo trước cửa phòng học, trên đề bốn chừ lớn "Chào mừng Chủ tịch”. Một buổi sáng, Mao Trạch Đông, Trương Văn Thiên, Bác Cổ (Tần Bang Hiến), Từ Đặc Lập cùng đến thăm trường. Mao Trạch Đông giới thiệu với học viên các vị cùng đi xong, liền nói với học viên: "Hình thái của thời kỳ cách mạng trước đây không tốt, khiến chúng ta phải chạy một chuyến dài hai vạn năm nghìn lý (12.500km). Hồng quân đã từng có mấy chục vạn quân, nay chỉ còn hai đến ba vạn. Nếu không có Lưu Chí Đan. chuẩn bị một nơi tốt để an bài như hiện nay, không biết chúng ta còn phải đi đến đâu nữa". Tiếp sau đó ông còn giảng về hình thái trước mắt, nói rõ tại sao ta phải đổi khẩu hiệu "Chống Tưởng, kháng Nhật” sang "Bức Tưởng, kháng Nhật”. Ông nói: "Đối với Tưởng Giới Thạch, trước mắt phải lôi kéo, sau lưng phải thúc mạnh, buộc hắn phải bước lên con đường kháng Nhật. Nếu hắn không chịu đi, thì chỉ có là Hán gian, là giặc bán nước, tiếng xấu để muôn đời. Vì thế, hắn còn đang đắn đo suy nghĩ”. Cuối cùng, Mao Trạch Đông nói về sự cần thiết phải học tập. Hồng Thủy chăm chú lắng nghe, ghi chép cẩn thận, để không sót lời giảng của Mao Trạch Đông. Nghe những lời phân tích sâu sắc của Mao Trạch Đông, có nhiều điểm trúng ý nghĩ của mình ông cười tủm tỉm. Sau khi giảng trên lớp học Mao Trạch Đông đi đến chỗ ăn, ở của học viên, nhìn thấy các dụng cụ bằng đá do học viên làm ra, ông nói khôi hài: "Các đồng chí sinh hoạt như thời kỳ đồ đá, nhưng lại học khoa học tiên tiến nhất - chủ nghĩa Mác - Lênin. Các đồng chí là con cháu của "Nguyên thủy thiên tôn" đang tu luyện trong hang đá. Thế lúc nào thì hạ sơn? Khi nào thiên hạ đại loạn các đồng chí sẽ xuống núi?" Mao Trạch Đông khuyên mỏi người yên tâm học tập để nghênh tiếp và xúc tiến cao trào cách mạng dân tộc kháng Nhật đang tới. Khi Mao Trạch Đông tới hang của Hồng Thủy ở, ông vui vẻ hỏi: "Chú Hồng, chú sinh ra ở phương Nam, với sinh hoạt ở miền Bắc có chịu được và quen không?" Hồng Thủy cười trả lời: "Báo cáo Chủ tịch, mọi việc đều quen rồi ạ". Trước việc Mao Trạch Đông quan tâm đến cá nhân mình, Hồng Thủy vô cùng cảm kích. Sau đó, trong khóa này, Mao Trạch Đông còn đến giảng thêm mấy bài. Nội dung giảng dạy là: "Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung Quốc", sau này được in thành sách. Đến Trường Đại học Hồng quân giảng bài còn có Trương Văn Thiên, Khải Phong, Bác Cổ Dương Thượng Côn, Lý Duy Hán, Từ Đặc Lập... Hồng Thủy và các học viên hết sức tranh thủ thời gian quý báu, một mặt đọc tài liệu, một mặt liên hệ bản thân rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về đấu tranh chính trị, quân sự trong mười năm qua, làm trong sạch về tư tưởng, làm tốt việc tổng kết. Trong các cuộc hội thảo Hồng Thủy rất tích cực phát biểu. Thời gian ban ngày không đủ, ban đêm họ đọc sách tiếp dưới ánh nến của địa phương làm. Lúc đó bài giảng được in trên mặt sau của giấp đã dùng rồi, còn xanh, đỏ lòe loẹt, in rất mờ. Thế nhưng học viên ngồi trên ghế đá, tỳ trên bàn đá vẫn say sưa đọc. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 10:03:52 am Trung ương rất quan tâm đến đời sống, sinh hoạt của học viên khóa một, yêu cầu mỗi tuần phải có một con lợn hoặc dê cho học viên có thịt ăn. Chính ủy La Vinh Hằng tổ chức cho học viên đi xa mấy chục cây số để về các làng, các chợ mua dê, lợn. Hồng Thủy hăng hái đi ngay. Ông cùng các học viên khác mua được hơn mười con lợn và mười mấy con dê. Trước đó học viên ăn cơm chỉ có đậu răng ngựa, ớt, rau cải bẹ và đậu phơi khô, nay có thêm thịt lợn, thịt dê, mọi người đều khoái chí.
Học viên khóa một Trường Đại học Hồng quân lúc ấy đều còn trẻ tuổi. Hồng Thủy cũng mới có hai mươi tám tuổi Để làm cho sinh hoạt ngoại khóa thêm phong phú, La Vinh Hằng trực tiếp tổ chức chơi bóng rổ. Không có bảng bóng, họ đóng bốn cây gỗ, trên đóng mấy ván gỗ làm bảng, vòng rổ thì lấy đai thùng cố định trên bảng. Thế là họ tự tạo ra sân chơi bóng rổ. La Vinh Hằng lại cho người tìm một tấm da dê khâu lại làm bóng tự tạo, không có bơm học viên thay nhau phùng mang trợn mắt thổi. Hoạt động bóng rổ đã được triển khai như vậy. Ngoài ra, còn tổ chức diễn kịch vào ngày nghỉ. Tất cả các việc trên, Hồng Thủy đều là một trong những thành viên tham gia tích cực nhất. Ngày 7 tháng Mười năm 1936, ba phương diện quân một, hai, ba đều hội sư tại Cam, Túc, Hội, Ninh. Cuối tháng Mười một, Chu Đức, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Quan Hướng ưng đều đến được Bảo Anh Học viên Trường Đại học Hồng quân và nhân dân địa phương đi đón chật đường, vừa đi vừa đánh trống khua chiêng, thổi sáo ầm ĩ. Hồng Thủy và các bạn học cùng nhau đến hang Chu Đức ở để thăm thì đã thấy ở cửa, người chen chật như nêm cối. Chu Đức khi trông thấy người đã đến Diên An trước ông là Hồng Thủy, rất vui mừng nói: "Chú Hồng, sau chiến dịch Bách Trượng, nghe nói đơn vị của chú bị đánh tan, rất lâu không được tin tức gì của chú, ai dè chú lại đến Diên An trước tôi. Chú gặp tai nạn lớn không chết, tất có phúc về sau”. Hồng Thủy cười nói với thủ trưởng cũ: "Dạ thưa, tôi hiện nay còn đang được học ở Trường Đại học Hồng quân chính là phúc về sau vậy!” Từ đó về sau, mỗi khi rỗi rãi Chu Đức thường đến trường để đánh bóng rổ. Ông thường đánh ở vị trí tiên phong. Có lúc ông là cầu thủ, có lúc lại làm trọng tài. Nếu gặp khi có chị Khang Khắc Thanh (vợ Chu Đức) cùng đến thi đấu, lại cùng ở một bên với Chu Tổng tư lệnh thì lập tức có chuyện tức cười. Mỗi khi bóng được chuyển tới tay Chu Đức, chỉ cần chị Khang kêu khẽ "chuyền đây" hay hét to "Lão Tổng" Chu Tổng tư lệnh lập tức chuyền bóng ngay sang cho chị Khang, làm cho mọi người lại bò ra cười rũ rượi. Hồng Thủy cũng là một phần tử tích cực của dân bóng rổ. ông thường cùng chơi một bên với Chu Tổng tư lệnh, tình cảm giữa hai người càng thêm sâu sắc. Ngày 12 tháng Mười hai năm đó xảy ra sự biến Tây An. Phản ứng của học viên trong trường rất mãnh liệt. Hồng Thủy bản tính hiếu động, lúc này càng bị kích động hơn. Mọi người đều yêu cầu giết béng Tưởng Giới Thạch đi. Hai ngày sau, trong một buổi đại hội ở bảo An, Mao Trạch Đông nói chuyện về vấn đề này: "Hiện giờ đã bắt được Tưởng Giới Thạch, mọi người thấy nên làm như thế nào?" Mao Trạch Đông vừa dứt lời, Hồng Thủy và mọi người đã hét vang: "Giết hắn đi!" Mao Trạch Đông nói: "Tôi biết mọi người thế nào cũng trả lời như vậy. Giết hắn đi rất dễ, chỉ một nhát đao, một viên đạn là xong, thế nhưng đầu người chỉ có một cái, không ghép lại được. Người ta ai cũng phải chết, có người chết già, chết bệnh, trên chiến trường đánh nhau bị chết, có người chết đứng, có người chết ngồi, chết nằm. Tưởng Giới Thạch cũng phải chết. Thế nhưng chủ trương chưa bắt hắn rơi đầu, vì giết hắn rồi là vở tuồng hết. Đối với việc kháng Nhật là bất lợi. Huống hồ giết hắn đi sẽ còn Tưởng Giới Thạch thứ hai, Tưởng Giới Thạch thứ ba. Trung ương cũng không chủ trương giam hắn lại mà là thả hắn ra. Trước đây, Gia Cát Lượng đã bảy lần phóng thích Mạnh Hoạch, đối với Tưởng Giới Thạch sao không thả hắn một lần nhỉ?" Mao Trạch Đông dùng ngôn ngữ bình thường nhưng sâu sắc, khiến Hồng Thủy thấy sáng tỏ và chịu phục. Qua bảy tháng học tập khẩn trương tháng 1 năm 1937, Hồng Thủy tốt nghiệp Trường Đại học Hồng quân. Lúc đó trường đổi tên là Trường Đại học Quân chính kháng Nhật khóa hai. Hồng Thủy được học thêm một thời gian nửa ở trường, sau đó được phân về công tác ở Bộ Dân vận Tổng bộ chính trị Hồng quân công nông. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 28 Tháng Hai, 2010, 10:04:48 am Tại Ngũ Đài, Sơn Tây, vì chọc vào tổ "ong vò vẽ” Diêm Tích Sơn, lần thử ba Hồng Thủy lại bị khai trừ khỏi Đảng.
Nguyên nhân vì sao Hồng Thủy lại bị điều đi khỏi trấn Đông Dã, về sau tôi mới hiểu. Khi Hồng Thủy công tác tại Tấn Đông Bắc, mọi việc không phải thuận buồm xuôi gió. Quê hương của "ông vua con" Diêm Tích Sơn là thôn Hà Biên, huyện Ngũ Đài, nằm trong khu bốn, địa bàn công tác của Hồng Thủy. Bố đẻ, bố vợ, anh em nội ngoại, họ hàng thân thích của Diêm Tích Sơn là những kẻ nhiều tiền lắm súng, có quyền có thế, có ảnh hưởng rất lớn ở địa phương. Hội đồng Động viên đề ra khẩu hiệu "Có tiền xuất tiền, có súng góp súng, có người góp người, có tri thức xuất tri thức, đoàn kết nhất trí, kháng Nhật cứu quốc”, thế nhưng họ hàng thân thích của Diêm Tích Sơn chỉ hô hào suông về đánh Nhật, thực tế không xuất tiền, không góp súng, góp người, xuất lực, đối với công tác của Bát lộ quân còn gây khó dễ nhiều bề. Dân chúng địa phương rất sợ Diêm Trưởng Quan, không dám nghe lời Bát lộ quân, khiến công tác phát động quần chúng gặp trở ngại. Các phần tử tích cực kháng Nhật rất bất mãn với thế lực ngoan cố này, bèn dựa vào mục đóng đảm phụ có nêu khoản "đảm phụ hợp lý”, đến nhà Diêm Tích Sơn và họ hàng đào lấy súng, lấy vải vóc, điều đó cổ vũ dân chúng địa phương rất lớn. Hồng Thủy chiếu theo chỉ thị của Bộ Dân vận Bát lộ quán phải vận dụng khẩu hiệu do Diêm Tích Sơn đề ra "Đóng đảm phụ hợp lý” để tiến hành đóng đảm phụ hợp lý chân chính, nên đã ủng hộ quần chúng, tạo chỗ dựa cho quần chúng hành động. Thế nhưng làm như vậy đã chọc đúng tổ ong vò vẽ của Diêm Tích Sơn. Diêm Tích Sơn đánh điện cho thủ hạ do hắn sắp xếp là Tống Thiệu Văn, Chủ nhiệm khu hành chính một, kiêm Huyện trưởng huyện Ngũ Đài (thực tế là Đảng viên Đảng Cộng sản hoạt động bí mật). Ông ta nổi trận lôi đình, nói nhà ông ta ở thôn Hà Biên, Ngũ Đài bị Bát lộ quân vào cướp của, yêu cầu Tống Thiệu Văn phải nhanh chóng đi điều tra xử lý. Với lý do là Mặt trận Thống nhất bị phá hoại, Diêm Tích Sơn gửi kháng nghị tới Bát lộ quân. Tin tức này được truyền bá rất nhanh tới đồng chí Nhiếp Vinh Trăn, Tư lệnh quân khu Tấn-Sát-Ký. Tư lệnh Nhiếp rất bực bội, ông chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong phòng. Ông gọi Hồng Thủy đến lộ Tư lệnh quân khu Tấn-Sát-Ký, bực dọc phê bình một trận. Một người tướng yêu quý, đã từng đi theo ông từ rất sớm, lại làm một chuyện rắc rối ngay tại căn cứ địa mới thành lập làm sao ông không khỏi bực mình? Thực ra Tư lệnh Nhiếp Vinh Trăn luôn quan tâm, chú ý tới Hồng Thủy, mỗi lần cách mạng có tình thế khẩn cấp, ông đều nghĩ tới người Việt Nam này, và hết sức trọng dụng. Thời "Đại cách mạng”, Hồng Thủy đã từng theo Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh và cá đồng chí lãnh đạo khác tham gia khởi nghĩa Quảng Châu. Khi khởi nghĩa thất bại, ông cũng đã từng theo Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh lui về Hồng Kông. Từ lúc đó hai người đã có tình hữu nghị nồng thắm. Đầu mùa hạ năm 1928, trong thời kỳ cuộc đấu tranh ở Tĩnh Cương Sơn tàn khốc nhất, để chi viện cho Quân đoàn bốn Hồng quân duy trì được đấu tranh vũ trang ở Tĩnh Cương Sơn, Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông lúc đó là Nhiếp Vinh Trăn thông qua Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đã liên lạc với Hồng Thủy, hy vọng ông lại đến Trung Quốc tham gia cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng. Hồng Thủy trở lại Hồng Kông. Tại chỗ ở của Nhiếp Vinh Trăn, hai người đã trò chuyện rất sôi nổi, nhiệt tình. Chính Nhiếp Vinh Trăn đã bố trí Hồng Thủy làm công tác tổ chức trong công đoàn thủy thủ Hồng Kông, sau đó lại đưa ông trở về đội ngũ Hồng quân công nông. Đầu năm 1929, khi Mao Trạch Đông, Chu Đức đang soát lãnh Quân đoàn bốn đồng quân yêu cầu Tỉnh ủy Quảng Đông tăng cường cán bộ quân sự, lại chính Nhiếp Vinh Trăn tiến cử Hồng Thủy với Quân đoàn bốn Hồng quân. Tháng 1 năm 1934 tại "Thủ đô đỏ" Thụy Kim, Hồng Thủy và Nhiếp Vinh Trăn lại trùng phùng hội ngộ tài Đại hội Đại biểu lần thứ hai nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa và cả hai đều trúng cử ủy viên. Thấy Hồng Thủy trải qua mấy năm rèn luyện trong đấu tranh vũ trang đã trở thành cán bộ lãnh đạo cấp sư đoàn của Hồng quân công nông, Nhiếp Vinh Trăn thực sự vui mừng. Nhìn thấy Tư lệnh Nhiếp hầm hầm bực dọc, Hồng Thủy không nói một lời. Ông biết rằng điện của Diêm Tích Sờn đã thổi phồng sự việc. Tuy rằng vấn đề xảy ra từ quần chúng, song sự việc lại diễn ra ở khu bốn do chính mình lãnh đạo, để bảo vệ tính tích cực kháng Nhật của quần chúng cách mạng khu bốn, ông chủ động nhận trách nhiệm toàn bộ về mình. Mặc dù Đặc khu ủy Tấn Đông Bắc hết sức ủng hộ Hồng Thủy, khẳng định thành tích công tác của ông, thế nhưng lãnh đạo quân khu Tấn-Sát-Ký vì để lôi kéo, đoàn kết Diêm Tích Sơn kháng Nhạt, quyết định xử khai trừ Đảng Hồng Thủy, cách chức Chủ nhiệm Hội đồng Động viên khu bốn, và đưa ông về toà soạn báo "Kháng địch”, cơ quan ngôn luận của Cục chính trị quân khu Tấn-Sát-Ký, để ngồi viết kiểm thảo. Ông bị điều về công tác ở Đặc khu ủy. Hồng Thủy không hề nói với tôi về việc bị khai trừ Đảng. Tôi thực sự không ngờ rằng, ở lớp tập huấn, trong khi ông hết sức hăng hái giảng bài thao thao bất tuyệt, thì trên lưng ông đang bị gánh nặng kỷ luật đè lên. Ông không biểu lộ một chút gì bất mãn, trước sau vẫn phơi phới lửa nhiệt tình, xả thân vì sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Trung Quốc. Tư lệnh Nhiếp Vinh Trăn và lãnh đạo quân khu Tấn-Sát-Ký đối với cán bộ tuy nghiêm khắc song vẫn thương yêu. Đầu năm 1938, khi Hồng Thủy bị điều về Trường Quân chính kháng Nhật, tổ chức quân khu lại xóa bỏ kỷ luật cho Hồng Thủy. Cuộc đời đầy sắc màu lạ kỳ của Hồng Thủy đã làm trái tim tôi rung động sâu sắc. Vì cách mạng, ông không nề gian khổ, không sợ khó khăn, không sợ hy sinh tính mạng, trước sau vẫn giữ vững tinh thần cách mạng. Có thể nói, ông là một người cách mạng triệt để. Hình tượng của Hồng Thủy trong lòng tôi ngày càng lớn dần lên. Thế nhưng trong lòng tôi vẫn còn canh cánh một nỗi niềm chưa gỡ mở. Khi lớp học tập huấn sắp kết thúc, tôi nén không được liền hỏi Hồng Thủy: "Đồng chí Hồng Thủy, anh xa Tổ quốc đã mười mấy năm, lẽ nào anh không nhớ tới người vợ mới cưới và con gái của anh sao?" Nghe tôi nói, mặt Hồng Thủy buồn hẳn, ông liền kể lại cho tôi tình tiết lúc rời nhà ra đi. Khi rời Pari về Hà Nội, Hồng Thủy còn đang rất trẻ trung, hăng hái, không thể chịu được sự thống trị của vương triều phong kiến phản động Bảo Đại. Năm 1924, khi nghe tin Hồ Chí Minh đã về đến Trung Quốc, cách mạng Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ, khiến ông vô cùng bị kích động. Đến Trung Quốc tìm Hồ Chí Minh đầu quân làm cách mạng đã trở thành ý chí không gì lay chuyển nổi của Hồng Thủy. Ở Việt Nam lúc đó, tham gia cách mạng là bị chặt đầu, liên lụy đến chính họ. Hồng Thủy trước khi rời quê hương đã phải chuẩn bị kỹ càng. Để không ảnh hưởng đến người nhà, ông đã phải diễn một màn kịch tự biên thật náo động. Vào buổi tối trước khi ra đi, Hồng Thủy cố ý uống thêm ít rượu làm ra vẻ say khướt. Ông đến trước mành trúc che của nhà bố vợ, thì thấy bố vợ đang bế cháu gái mới sáu tháng tuổi đứng sau rèm nựng cháu. Không nói không rằng ông lao vào nhà, chửi bới om sòm, sau đó là cơn điên của kẻ say, đập phá cửa kính cửa chớp nhà vợ. Đêm hôm đó Hồng Thủy mất tích. Hàng xóm láng giềng cho rằng, ông cãi chửi nhà vợ quá tệ, nên bỏ trốn, không ai nghĩ đó là một màn kịch náo loạn do ông dựng nên. Gia đình nhà vợ không bị liên lụy chút gì. Còn người vợ trẻ đợi một số năm vẫn bặt vô âm tín, nên đã tái giá, rời khỏi gia tộc họ Vũ. Khi biết rõ Hồng Thủy hiện nay là một người độc thân, tôi lại có phần áy náy. Tại sao mình lại hỏi anh ấy vấn đề này nhỉ? Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 11 Tháng Tư, 2010, 06:56:29 pm Chương IV HAI TRÁI TIM CÙNG NHỊP ĐẬP Cách mạng không có biên giới quốc gia, lẽ nào tình yêu lại có quốc giới hay sao Hồng Thủy cầu hôn với tôi, tôi rất vui mừng bằng lòng. Một tháng tập huấn nhanh chóng kết thúc. Hơn một trăm đồng chí học cùng khóa với tôi đều được nâng cao rất nhiều về trình độ giác ngộ chính trị, tư tưởng và trình độ hiểu biết về lý luận, chính sách. Riêng đối với tôi còn một thu hoạch khác, đó là giữa tôi và Hồng Thủy đã có sự hiểu biết nhau hơn. Cái tên Hồng Thủy đã trở thành một dấu ấn sâu đậm trong trái tim tôi. Căn cứ vào nhu cầu của hình thế kháng Nhật, để động viên và tổ chức một cách rộng rãi chị em phụ nữ toàn huyện gia nhập phong trào kháng Nhật cứu vong, Đặc khu ủy quyết định thành lập Hội Phụ nữ cứu vong huyện Ngũ Đài. Khi lớp tập huấn kết thúc, Đặc khu ủy giữ tôi lại để phụ trách công tác trù bị thành lập Hội Phụ nữ cứu vong. Một hôm, sau khi đi họp ở Đặc khu ủy Tấn Đông Bắc về, Hồng Thủy đi thẳng về Hội Phụ nữ. Ông dặn người bảo vệ chờ ở ngoài, rồi đẩy cửa ào ào bước vào. Không hiểu điều gì làm ông có vẻ rất cao hứng. Tôi cẩn thận, lặng lẽ nhìn ông. Ông thuận tay bê một chiếc ghế dài đặt ngồi trước mặt tôi, rồi nói luôn là muốn cầu hôn với tôi. Tôi vốn rất có tình cảm với Hồng Thủy, nhưng khi ông đột ngột đề xuất việc lấy nhau, tôi không biết nói thế nào cho phải: "Có tin mừng gì mà anh vui vẻ thế?" "Kết hôn chẳng phải là tin mừng sao? Trần Kiếm Qua, chúng ta lấy nhau nhé!" Hồng Thủy lại nhắc lại một lần nữa, đôi mắt của anh đăm đăm nhìn tôi và chờ câu trả lời. Nhìn bộ dạng náo nức, rộn ràng, thành khẩn của Hồng Thủy, cứ như bàn với tôi về chuyện công tác do cấp trên mới phân, tôi không tự chủ được và trả lời: "Được.” Vừa bật nói xong, mặt tôi bỗng đỏ dừ, tim đập thình thịch. "Thế nhé! Cứ như thế nhé". Không đợi tôi trả lời, với bộ dạng sung sướng mãn nguyện, anh kéo người bảo vệ cùng đi luôn. Trai khôn lấy vợ, gái lớn gả chồng, đó là lẽ thường của trời đất, thế nhưng ai lại trước một phụ nữ trẻ, thẳng thừng cầu hôn, phía nữ lại bằng lòng ngay, không có ý của cha mẹ. Đặc biệt trong xã hội cũ, làm gì có việc người con gái tự mình quyết định việc kết hôn mà không hỏi ai! Ngay trong đội ngũ cách mạng, một số đôi đã có ý với nhau, tâm đầu ý hợp, vẫn phải nhờ tổ chức giới thiệu, hay nhờ bạn thân mai mối. Còn tôi, tôi đã rất vui sướng đáp ứng lời cầu hôn của Hồng Thủy. Mấy chục năm nay, vẫn có người hỏi tôi về chuyện đó "Khi Hồng Thủy cầu hôn với chị kiểu ấy, có phải là đóng kịch không?" Tôi không hề do dự trả lời họ: "Tôi và Hồng Thủy chưa nói đã ưng nhau. Nếu nói theo cách ngày nay, là trái tim của chúng tôi đã đập cùng một nhịp". Lúc đó, khi thấy tôi và Hồng Thủy sắp cưới, có người hỏi lại tôi: "Trung Quốc có ngàn, ngàn vạn người, tại sao chị lấy một người ngoại quốc?" "Cô đã hiểu rõ Hồng Thủy chưa?" "Sau này anh ta về Việt Nam thì cô tính sao?" Đối với những lời khuyên đầy thiện ý, tôi rất hiểu. Vả lại nói thẳng, kết hôn với người nước ngoài ở huyện Ngũ Đài, ở biên khu Tấn-Sát-Ký, ở trong Bát lộ quân chưa ai từng nghe nói. Hồng Thủy mới mười sáu tuổi đã đến Trung Quốc. Vì cách mạng Trung Quốc, ông chẳng quản mọi hy sinh bản thân. Ông đã yêu mến nhân dân Trung Quốc như thế, là một người phụ nữ cách mạng Trung Quốc, lại là một nữ trí thức, tại sao tôi không thể cùng một đồng chí ngoại quốc như vậy kết hôn? Cách mạng không có biên giới quốc gia, lẽ nào tình yêu lại có quốc giới hay sao? Đối với ý tốt của mọi người lo cho mình, tôi chỉ vui vẻ cười trả lời: "Cảm ơn các anh, chị quan tâm. Rất tiếc là muộn mất rồi. Tôi đã quyết định". Ở nhà tôi khi nghe tôi sẽ lấy Hồng Thủy, mọi người đều không đồng ý song không phản đối. Vì rằng từ khi còn nhỏ, mọi việc lớn, cha tôi đều nghe theo ý kiến của tôi có thể nói tôi là "cục cưng” của ông. Mọi người trong nhà chỉ bàn phải có một tiệc cưới, thực ra chỉ là một bữa cỗ tất niên ở thôn quê. Đôi bên đồng ý. Ngày Ba mươi tết năm đó, tôi và Hồng Thủy từ huyện Ngũ Đài về trấn Đông Dã, ông tôi ở nhà đã chuẩn bị bữa "tiệc cưới” cho chúng tôi, nhờ người nấu cỗ. Cũng chỉ là món bánh mì trắng, mì chiên, thịt đông, thịt nướng... như các bữa cỗ ba mươi tết mọi năm. Tôi và Hồng Thủy rất sung sướng mời các anh ở ủy ban huyện như Từ Kế Chi, Triệu Bằng Phi, Mã Chí Viễn và mấy đồng chí cùng công tác đến uống rượu. Dự lễ cưới chỉ có người nhà và mấy đồng chí nên không có lễ nghi khách sáo gì. Ông tôi vui mừng nói luôn miệng, ra công rót rượu và mời mọi người ăn uống. Vào lúc mọi người đã bắt đầu bốc men, Mã Chí Viễn đứng dậy, giở cuộn giấy hồng đào đọc thơ coi như đồ mừng cưới: "Hồng lãng uống dương quán Đài Đông Thủy bình giải hậu thoại trường chinh Ngọc nhân tố bão kháng Nhật chí Anh hùng tảo hoài du kích tâm Luyến quân đan mâu xuất An Nam Ái nùng song đao phách Nhật Bản Kỷ công thống nhất tư tráng chí Niệm niệm bất vong Bát lộ quân. Tạm dịch: Sông Hồng sóng cuộn về Đài Đông Trường chinh bèo dạt, phận long đong Người đẹp hằng ôm chí kháng Nhật, Anh hùng du kích quyệt lập công Chồng yêu đơn thương từ Việt Nam Vợ quý song đao chém Nhật Bản Gặp nhau chí lớn nên nghiệp lớn Mãi mãi không quên Bát lộ quân. Mã Chí Viễn chỉ tay vào các chữ đầu câu của bài thơ đọc to: "Hồng Thủy - Ngọc Anh luyến ái kỷ niệm". (Kỷ niệm tình yêu của Hồng Thủy - Ngọc Anh) Mọi người đều vỗ tay ran và tán thưởng: "Hay, Mã Chí Viễn, đúng là một nhà thơ còn náu mình”. Ông tôi vừa cười vừa gật đầu lia lịa. Thế nhưng trong bữa tiệc cưới này, ông vẫn còn một điều áy náy. Ông tôi biết cha tôi rất thương tôi, cha tôi lại không có nhà, ông tôi cũng muốn có mấy câu dặn dò. Ông lúng túng đứng dậy, tay nâng ly rượu, cảm động để rượu sánh ra ngoài. Ông nhìn tất cả cử tọa, rồi cuối cùng nhìn vào Hồng Thủy nói: "Hôm nay là ngày đại hỷ của cháu Ngọc Anh và Chủ nhiệm Hồng Thủy. Cha của Ngọc Anh không có nhà. Tôi là ông của cháu chỉ có một lời thôi là mong cho cháu Ngọc Anh và Chủ nhiệm Hồng Thủy trăm năm đầu bạc". Hồng Thủy lập tức đứng dậy rót đầy một ly rượu cho mình. Hồng Thủy nâng chén rượu lên kính cẩn hướng về phía ông tôi nói: "Thưa ông, xin ông cứ yên tâm, cháu và Ngọc Anh trên trời như đôi cánh chim, dưới đất như hại cành lý, sẽ cách mạng cho đến chết, kết bạn suốt đời!". Nói xong Hồng Thủy uống cạn chén rượu không sót một giọt. Sau vài tuần rượu, sắc mặt ngăm ngăm của Hồng Thủy đã ửng hồng, đôi mắt vốn tính nhanh của anh nay càng rạng rỡ. Anh rất vui vẻ phấn khởi vì mười mấy năm gian khổ chiến đấu nơi đất khách quê người nay lại tìm được người bạn đời, có được một người bạn an ủi trái tim mình, có một gia đình êm ấm: Ngày hôm đó, Hồng Thủy đã hoàn toàn hòa nhập vào gia đình dân tộc Trung Hoa. Hôm ấy, nhân ngày cưới, tôi và Hồng Thủy đến một hiệu ảnh nhỏ ở trấn Đông Dã chụp một tấm ảnh kỷ mềm, tấm ảnh quý báu đó, suốt đời tôi giữ ở bên mình. Trời dần tối, trong ngõ nhà họ Trần, trước cửa lớn nhà nào cũng treo một đôi đèn lồng, nhà tôi ở giữa trang viện cũng đốt một đống lửa trước cửa nhà. Sau đấy, mỗi nhà làm một bó đuốc cuốn rỗng ở giữa, trong đặt chất đốt cao chừng hai mét. Đến đêm đốt đuốc lên. Đó là tục lệ của người Ngũ Đài vào buổi tối tất niên, để xua đuổi quỷ thần, giữ cho gia đình bình yên vô sự. Đuốc cháy càng mạnh, lửa cháy vù vù, nổ lép bép. Mọi người đứng quanh dộng lửa cười cười, nói nói. Ánh lửa trong đềm bùng sáng, tôi có cảm tưởng rằng mọi người của trấn Đông Dã đều đang chúc phúc cho vợ chồng tôi... Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 11 Tháng Tư, 2010, 06:58:06 pm Vì việc lấy vợ Hồng Thủy bị phê bình. Tin truyền đến Diên An, Mao Chủ tịch và Chu Tổng tư lệnh cảm khái nói: "Đây là lòng quân rồi!"
Vừa tiến vào "động phòng”, tửu hứng của Hồng Thủy vẫn còn, ông bỗng nổi hứng ngâm thơ, vừa đi lại vừa cao giọng ngâm bài thơ đã làm rung động Hoa Hạ của thi sĩ Vương Bột đầu đời Đường, bài thơ "Đằng Vương Các" bất hủ. Khi ông đang say sưa ngâm đến câu: "Lạc hà dữ cô vụ tề phi; Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc" là hai câu thơ hay tuyệt trần, tôi nhịn không được cười rũ ra: "Anh vừa làm rể của Trung Hoa, lại vừa muốn làm "thiếu niên tài tử" của Trung Quốc nữa cơ đấy!" Hồng Thủy dừng đi lại, quay về hỏi tôi: "Kiếm Qua, em có biết Vương Bột là nhân sĩ đất nào không?" "Tất nhiên là em biết! Ông ta là người Hà Tân, Sơn Tây, là "thiếu niên tài tử" của quê em. Ông được coi là người đứng đầu "Tứ kiệt" thời đầu nhà Đường”. "Thế em có biết ông ta chết chôn ở đâu không?" Tôi lắc đầu, im tịt. "Vương Bột chết chôn ở Việt Nam". Tôi nghĩ rằng có lẽ trong khi vui mừng ngày cưới, Hồng Thủy lại da diết nhớ về Việt Nam chăng, nên tôi không dám hỏi. Hồng Thủy bỗng nhiên cười phá lên "Người Sơn Tây và Việt Nam có duyên với nhau vậy!" Bấy giờ tôi mới rõ là Hồng Thủy chúc mừng chúng tôi thành đôi lứa. Về vấn đề Vương Bột gặp nạn tại đâu, sách sử Trung Quốc không có ghi chép chính xác. Thế là Hồng Thủy kể cho tôi nghe truyền thuyết Việt Nam về Vương Bột gặp nạn. Cha của Vương Bột là Vương Phúc Kỳ, một huyện lệnh của quận Giao Chỉ thời đó (nay là Việt Nam). "Đằng Vương Các tự" là tác phẩm của Vương Bột sáng tác tại Nam Dương, Sơn Tây, trên đường về Nam, sang Giao Chỉ thăm người thân. Mùa thu năm 676 (sau công nguyên) Vương Bột cùng gia đình cả thảy bảy người đi thuyền sang Giao Chỉ. Sắp tới nơi thì biển nổi bão lớn, thuyền chìm, tất cả đều chết. Theo truyền thuyết thì sau khi thuyền chìm, chỉ duy nhất xác Vương Bột nổi lên và trôi dạt vào bờ bắc sông Lam (ở Trung Bộ Việt Nam). Thời đó Vương Phúc Kỳ làm quan được lòng dân, nên dân chúng tổ chức chôn cất Vương Bột tử tế. Từ đó, cứ nửa đêm ở hai ven sông lại vang lên tiếng Vương Bột ngâm hai câu thơ tuyệt cú: "Lạc hà dữ cô vụ tề phi Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc." Tạm dịch: Ráng chiều theo cánh chim cô đơn Nước mùa thu lẫn trời một sắc. Dân chúng Việt Nam bèn lập một đền thờ Vương Bột để cầu cho vong hồn của một thiếu niên từ cao nguyên Hoàng Thổ đến đây gặp nạn. Ít lâu sau người cha của Vương Bột là Vương Phúc Kỳ tạ thế. Dân chúng địa phương đem ông về cùng chỗ con, và thành kính thờ hai vị phúc thần của dân chúng. Hơn một nghìn năm đã trôi qua, hương khói của đền nay vẫn được duy trì liên tục. "A, anh còn là một nhà Trung Quốc học". Tôi mỉm cười khen anh. "Kiếm Qua, em còn nhớ hai câu thơ khác của Vương Bột cũng đã được lưu truyền thiên cổ không?" Hải nội tồn tri kỷ Thiên nhai nhược tỉ lân" Tạm dịch: "Bốn bể còn tri âm Chân trời xa, mà gần". Tôi và Hồng Thủy thực sự là hợp ý nhau. Khi ấy hai trái tim của chúng tôi đã hòa cùng nhịp đập. Một hôm, Bí thư Đặc khu ủy Tấn Đông Bắc, Vương Dật Quần, mời tôi lên phòng làm việc của ông. Ông mặc một chiếc áo bông dài, hai tay đút vào hai ống tay áo, đi đi lại lại mặt có vẻ đăm chiêu. Tôi nghi ngại không hiểu ra sao. Ông dừng lại và hỏi thẳng: "Nghe nói cô và Hồng Thủy kết hôn rồi, có phải không?” Tôi gật đầu, cảm thấy có điều bí ẩn. "Cô có biết Bát lộ quân có một điều quy định, không cho phép quan binh kết hôn trong thời gian kháng Nhật không?” Tôi lắc đầu: "Không biết ạ". Lúc đó mặt tôi đỏ bừng lên. Bản tính tôi rất bướng, thế mà lúc ấy vì chuyện kết hôn bị phê bình, thật chẳng biết làm thế nào cho phải. Thấy thái độ phản ứng của tôi, Vương Dật Quần dịu giọng hơn: "Việc này không trách cô được, điều quy định này chỉ do Bát lộ quân quy định. Cô cũng lớn tuổi rồi, ở huyện Ngũ Đài, người tuổi như cô thì đã con bồng, con mang rồi". Vương Dật Quần không phê bình tôi nữa, song trong lòng tôi rất không yên. Điều quy định chỉ áp dụng với người trong Bát lộ quân, thế nhưng "sai lầm" đó đều do chúng tôi gây nên. Nghĩ lại tôi vô cùng lo lắng cho Hồng Thủy. Vì việc lấy vợ này, Hồng Thủy bị phê bình, song ông không nói nữa lời cho tôi hay. Hồng Thủy là người tính tình quả cảm, chỉ cần thấy đúng là ông dám làm và cũng dám chịu. Trời có sập, thì một mình đội, quyết không để ai bị liên lụy, và nét mặt vẫn bình thản như không. Tôi hiểu rõ tính cách của Hồng Thủy. Việc ông Vương gọi tôi lên nói, tôi cũng không kể lại với anh. Tôi nghĩ, Hồng Thủy đã chịu đả kích quá nhiều, lẽ nào tôi lại gây thêm nỗi đau lòng cho anh! Hồng Thủy đã ba mươi tuổi rồi, thời gian ở trong Bát lộ quân đâu còn là ngắn. Hàng ngày anh vẫn vui vẻ, nói nói, cười cười, không lúc nào thấy anh lộ vẻ buồn rầu. Một người chịu nhiều những đả kích như thế, nếu không có ý chí cách mạng kiên cường thì sao còn giữ vững được niềm lạc quan như vậy. Việc Hồng Thủy và tôi lấy nhau, nghe nói trong Bát lộ quân thời đó là việc xảy ra đầu tiên. Một số cán bộ lởn tuổi đều cười: "Hồng Thủy đã bắn phát pháo đầu tiên rồi, chúng ta lớp lớn tuổi chắc có hy vọng sẽ được thay đổi!" Sau đó nghe nói, tin ấy được truyền về Diên An, Mao Chủ tịch và Chu Tổng tư lệnh cảm khái nói: "Đây là lòng quân rồi! Con đường cách mạng Trung Quốc quá dài, rất nhiều chú bé ngày nào vào bộ đội, súng đeo dài lê thê, tham gia chống vây quét, trường chinh, đánh trận, đánh rồi, đánh nữa, nay đã quá tuổi, yêu cầu lấy vợ ngày càng bức thiết. Địa bàn của khu giải phóng có hạn, con gái vốn dĩ đã thiếu, nay lại về đóng thêm bao nhiêu quân, tỷ lệ nam nữ chênh lệch rất lớn. Tại Diên An tỷ lệ đó đã đạt tới mười tám nam trên một nữ. Tranh đàn bà con gái của dân, thì làm sao còn được lòng dân. Phải nghĩ ra một kế, hạn chế việc bộ đội kết hôn thôi, chứ không cấm hẳn”. Các anh bàn đi tính lại rồi ra một quy định gọi là "28 + 7 + đoàn” (Đoàn: trung đoàn), tức người đã đủ hai mươi tám tuổi, có bảy tuổi quân, là cán bộ cấp trung đoàn, phù hợp với điều kiện trên thì được phép kết hôn. Tuy có quy định nghiêm như vậy, song số lượng nữ đồng chí quá ít. Vì vậy bộ đội chiến đấu có thêm một nhiệm vụ nữa: mỗi khi đến một nơi nào, hết sức thu nạp nữ thanh niên tham gia quân đội, làm cán bộ. Nói đến huyện này, các đồng chí lớn tuổi hồi đó đến nay vân còn nói: "Phải cảm ơn Hồng Thủy đã nổ phát súng đầu tiên!" Sự việc tôi và Hồng Thủy kết hôn đã làm kinh động đến Mao Chủ tịch và Chu Tổng tư lệnh là điều ngoài suy nghĩ của tôi. Nó chứng tỏ vào thời ấy tôi còn rất ấu trĩ, làm việc còn theo tình cảm rất nhiều. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 11 Tháng Tư, 2010, 06:59:00 pm Đôi chim uyên ương không có tổ.
Công tác trù bị cho việc thành lập Hội Phụ nữ cứu vong huyện Ngũ Đài tiến triển rất thuận lợi. Chỉ khoảng một tháng sau, Đại hội Đại biểu phụ nữ lịch sử lần thứ nhất của phụ nữ toàn huyện đã được khai mạc tại một giáo đường Thiên chúa giáo của thôn Cấu Nam. Trong đại hội này tôi được bầu làm Chủ nhiệm "Hội Phụ nữ cứu vong" của huyện. Khi đại hội kết thúc, tôi tuyên đọc “Thư gửi phụ nữ toàn huyện" kêu gọi chị em phụ nữ toàn huyện, dưới sự lãnh đạo của "Hội Phụ nữ cứu vong” huyện, đoàn kết lại tham gia công tác "Kháng Nhật cứu vong”, tìm mọi cách giúp đỡ Bát lộ quân giải quyết khó khăn trong sinh hoạt, như khâu giày, may, giặt quần áo, làm mọi việc theo khả năng để góp vào kháng Nhật và trong cuộc đấu tranh đó, tranh thủ sự tự thân giải phóng cho phụ nữ. "Thư gửi phụ nữ toàn huyện" được toàn thể đại hội nhất trí thông qua. Việc thành lập "Hội Phụ nữ cứu vong” huyện là một sự kiện trọng đại có ý nghĩa đối với phong trào "Kháng Nhật cứu vong” chung của huyện Ngũ Đài. Từ khi thành lập hội, phong trào phụ nữ huyện từ chỗ trước đây các thôn hoạt động độc lập dưới sự lãnh đạo của huyện ủy thì nay đã được tổ chức chặt chẽ hơn, làm cho phong trào phụ nữ huyện Ngũ Đài bước vào một giai đoạn phát triển mới. Lúc mới lấy nhau, cũng là lúc tôi vừa được bầu làm Chủ nhiệm Hội Phụ nữ cứu vong huyện. Buổi đầu kháng chiến, hình thế đấu tranh phát triển rất nhanh, do đó việc điều động cán bộ thay đổi luôn luôn. Đầu năm khi lớp tập huấn ngắn ngày của Đặc khu ủy Tấn Đông Bắc mở vừa kết thúc, Hồng Thủy được điều lên Bộ chính trị quân khu Tấn-Sát-Ký đóng ở chùa Trấn Hải, Ngũ Đài Sơn; tháng Ba anh về toà soạn báo "Kháng địch"; sau đó rất ngắn anh lại được điều tới Trường Cán bộ quân chính quân khu. Tôi và Hồng Thủy tuy mang tiếng là lấy nhau, đã lập gia đình, nhưng hãi cánh chim uyên ương cách mạng không có một chỗ để tạm an cư, càng không dám nói đến chuyện xây dựng tổ ấm. Tôi chỉ tranh thủ được cơ hội đi công tác tiện đường đến thăm anh. Có lúc chưa ngồi ấm chỗ, anh chưa hút hết tẩu thuốc đã phải chia tay. Tất cả cán bộ thời đó đều cũng một cảnh như chúng tôi chỉ biết có công tác, căn bản không có khái niệm về gia đình. Tình cảm của chúng tôi, tấm lòng của chúng tôi gắn bó với nhau xuyên qua sợi chỉ đỏ là lý tưởng cách mạng. Tôi vô cùng quý trọng vinh dự mà phụ nữ toàn huyện đã dành cho tôi, và cũng ý thức sâu sắc trách nhiệm đè nặng trên vai mình. Làm thế nào để phát động được chị em phụ nữ toàn huyện vùng đứng lên? Chỉ có cách dựa hẳn vào quần chúng. Trấn Đông Dã thuộc khu bốn là một vùng có trình độ văn hóa khá cao của huyện Ngũ Đài, số phụ nữ trẻ đã học qua sơ cấp tiểu học và cao đẳng tiểu học khá nhiều, thêm vào đó, công tác của Bát lộ quân tại vùng bốn tiến hành hiệu quả, nên đã đào tạo, rèn luyện, bồi dưỡng được một số lớn cán bộ nữ. Trong đó một số được điều đi các khu khác trong huyện để đảm nhiệm chức chủ nhiệm "Phụ nữ cứu vong” ở các khu. Sau khi thành lập xong Hội Phụ nữ cứu vong ở huyện và các khu khác, chúng tôi liền tổ chức đến Hội Phụ nữ cứu vong các thôn: Cán bộ hội ở các thôn đa số là phụ nữ gia đình bần cố nông, hoặc là phụ nữ đã có con mọn. Tinh thần cách mạng của họ rất cao song rất nhiều người còn mù chữ. Để nâng cao trình độ cho chị em, thoát khỏi cảnh tối tăm ngu dốt, hội phụ nữ huyện, khu đều tổ chức các chị em có văn hóa mở lớp "Xóa mù chữ" cho họ. Đối với chị em phụ nữ sống trong tầng lớp tột cùng của xã hội, bị áp bức tàn tệ, thì nhu cầu tham gia cách mạng càng mãnh liệt. Khi họ hiểu được sứ mạng của bản thân thì sẽ rất nhanh chóng trở thành lực lượng cốt cán của Hội Phụ nữ cửu vong của thôn xóm mình. Họ tích cực tham gia công tác tuyên truyền của Hội Phụ nữ cứu vong của thôn xóm. Họ tích cực tham gia tuyên truyền giảm tô, giảm tức, động viên chồng con anh em tham gia Bát lộ quân, đội tự vệ kháng Nhật, tổ chức dân công phục vụ tiền tuyến và đã phục vụ một cách xuất sắc. Huyện Ngũ Đài là quê hương bản quán của Diêm Tích Sơn. Do Diêm Tích Sơn đã dày công, trường kỳ xây dựng, nên thế lực phản động ở huyện Ngũ Đài cũng cực kỳ ngoan cố, hình thái đấu tranh vì vậy cũng rất phức tạp. Bát lộ quân đến huyện Ngũ Đài, triển khai căn cứ địa dân chủ kháng Nhật Tấn Đông Bắc đã gặp phải sự chống đối và phá hoại điên cuồng của thế lực ngoan cố Diêm Tích Sơn. Diêm Tích Sơn đã xây dựng tổ chức vũ trang phản động là Trung đoàn "Chủ trương công đạo” mà hạt nhân của tổ chức chính trị của địa chủ phú nông là Mặt trận "Dân chúng phòng cộng”, Trung đoàn "Bảo an huyện"... và chúng luôn luôn có xô xát với Bát lộ quân. Một số địa chủ thoái hóa, các phần tử lưu manh, bọn tay sai của địa chủ phú nông cũng thừa cơ phá hoại. Một hôm rằm tháng Giêng, tôi và một chị cán bộ phụ nữ tới khu ba (thôn Đậu) để giải quyết công việc. Vì không muốn phiền bà con, để họ làm lễ Nguyên tiêu được thoải mái, nên buổi tôi, sau khi bàn xong việc với cán bộ khu, chúng tôi ra ngủ ở trường tiểu học cạnh thôn. Cả ngày bận rộn, ai cũng mệt. Chị cán bộ đi cùng với tôi vừa đặt mình xuống đã ngủ say tít. Tôi ngồi trông ra cửa sổ, đang xem xét lại công tác trong ngày xem có sơ suất gì không, đột nhiên ngoài song cửa thấp thoáng bóng người, nghe có tiếng người rón rén bước vào nhà. Tôi lập tức đánh thức chị bạn dậy, nhảy xuống giường, cầm lấy chiếc rìu, một mặt hô hoán thôn trưởng là có kẻ phá hoại, một mặt xông ra đuổi theo chúng. Nghe tiếng hô hoán của chúng tôi, bọn phá hoại vội vọt qua đường chạy mất. Sự việc trên đã dạy cho tôi một bài học rằng chúng tôi đã đánh giá tình hình địch trong thôn không đầy đủ. Từ đó chúng tôi đề cao cảnh giác, mỗi lần xuống cơ sở đều ở trong nhà dân. Huyện Ngũ Đài đa phần là vùng núi, đường sá gập ghềnh, thôn xóm cách nhau khá xa. Từ trụ sở phụ nữ huyện Ngũ Đài đến trấn Cảnh của khu hai đường dài hơn bốn mươi cây số, đến trấn Đài Hoài khu sáu hơn chín mươi cây số. Chúng tôi xuống thôn công tác toàn đi bộ. Trời vừa mờ mờ sáng, từ thành Ngũ Đài vừa thức giấc nhắm về ngọn núi thôn Hoài, đi vòng vèo theo các khe núi, tối mịt chúng tôi mới tới được khu đã định. Có ngày chúng tôi phải đi tới bốn mươi hay bốn mươi nhăm cây số, có lúc đi hàng bao nhiêu cây số chẳng có bóng người, chỉ nghe thấy tiếng thình thịch của chân mình đang rảo bước. Tôi từ bé đi học, có bao giờ phải đi xa như vậy, lúc mới đầu chưa quen, khi nghỉ tối, bàn chân bị rộp lên sưng vù, hai bắp đùi tê cứng, vừa tới nơi là lăn ra ngủ. Thế nhưng vừa nghĩ tới nhiệm vụ phải làm sao phát động được càng nhiều phụ nữ đứng lên tham gia kháng Nhật, chi viện tiền tuyến, là tôi về căn bản không còn cảm thấy khổ và mệt nữa. Một mình đi trên đường dài đến tận thôn cùng, ngõ hẻm, tôi chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi. Bây giờ ngồi nghĩ lại, tại sao lúc đó mình lại gan dạ đến thế? Không sợ khổ và cũng không sợ mệt. Nguyên nhân chính là trong lòng mình có một lý tưởng cách mạng sâu sắc, cho nên mọi gian khổ trong công tác, và điều kiện sinh hoạt đều nhanh chóng làm quen được. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 11 Tháng Tư, 2010, 07:00:05 pm Ngũ Đài Sơn có một phong tục xấu, hòa thượng, lạt ma thường đến thôn "ngồi đầu giường chị em”. Tôi rất đau lòng trước cảnh một bốn chị em phụ nữ bị lăng nhục.
Trấn Đài Hoài ở trung tâm Ngũ Đài Sơn, hàng loạt đền chùa miếu mạo vây quanh. Ở đây hẻo lánh, bần cùng khốn khổ, bị tôn giáo phong kiến thống trị thâm căn cố đế thêm vào đó thiếu cán bộ phụ nữ, vì vậy việc triển khai công tác có khá nhiều khó khăn. Vì thế, tôi lưu lại công tác ở đây thời gian lâu nhất để giúp cho Hội Phụ nữ cứu vong ở cơ sở triển khai công tác. Ngũ Đài Sơn có hơn ba trăm đền chùa miếu mạo, chủ trì ở đó là hòa thượng, lạt ma, số lượng không rõ là bao nhiêu. Đất đai chung quanh chùa, miếu đều là đất chùa. Nông dân ở chân núi trồng trọt đều là đất chùa nên bị hòa thượng, lạt ma, một loại địa chủ biến tướng bóc lột áp bức thậm tệ. Ngũ Đài Sơn địa thế cao, lạnh, đất đai cằn cỗi, chỉ có thể trồng khoai tây, mạch đen làm lương thực. Nông dân sau khi trao địa tô cho nhà chùa xong, chẳng thừa được bao nhiêu, sống quanh năm bữa no, bữa đói. Còn hòa thượng, lạt ma ở khắp các đền chùa to nhỏ đều dựa vào tiền cúng lễ, dâng hương của khách thập phương, và bóc lột thu nhập của nông dân để sống dựa, không hề lao động. Nghe nói trước khi Bát lộ quân tiến vào Ngũ Đài Sơn, các phật tử giàu có ở các khu, tỉnh chung quanh, thậm chí từ Tân Cương, Tây Tạng và các vùng biên giới xa xôi đều dùng lừa, ngựa, lạc đà chở tiền hoặc lễ vật đến dâng hương ở các đền miếu to nhỏ ở Ngũ Đài Sơn. Tuy rằng đất đai ở Ngũ Đài Sơn cằn cỗi nghèo nàn, nhưng trong đền chùa thì lại rất sang trọng, người chủ trì đều khá giàu có. Đặc thù của huyện là sự khác biệt giàu nghèo, dẫn đến các phong tục bất lương ở trấn Đài Hoài. Để sinh tồn, không ít phụ nữ phải làm chuyện ám muội, bị bọn sư hổ mang lừa dối, làm nhục. Có một số tên sư hổ mang không chịu tu tỉnh, mỗi ngày làm xong phận sự ở chùa lập tức đi ngay, thần không hay quỉ không biết, phóng như bay xuống các thôn lân cận, chúng mang theo các đồ cúng hoặc mua ở chợ như thịt thà, bột thơm, vải hoa, vừa vào nhà đã tụt giày nhảy lên giường lò ấm của các quả phụ hoặc các phụ nữ trẻ đã có chồng. Một số chị em đã ăn quen của cúng của chùa, liền dẻo miệng kêu "Sư bác", "Người anh em lớn". Các hòa thượng, lạt ma "đến thăm" thế là quên hết mọi sự. Đàn ông trong thôn từ mờ sáng đã phải rời nhà đi trồng tỉa, việc vợ làm ở nhà họ đều biết, nhưng chẳng còn cách nào. Khi đàn ông về ướt đẫm mồ hôi, vợ họ đã sẵn sàng ở bàn ăn, thì còn nói gì được. Ai bảo mày nghèo? Đến ở trấn Đài Hoài thì phải ăn của chùa vậy. Biết bao năm nay, lối sống của trấn Đài Hoài không tốt đã nổi tiếng gần xa. Các nữ đồng chí của Hội Phụ nữ cứu vong đều không muốn vào thôn. Tất cả hoạt động ở đây đều phải nhờ vào các đồng chí nam của nông hội giúp chúng tôi làm tiền trạm; họ thay thế chúng tôi tập hợp tất cả phụ nữ trong thôn đến một ngôi chùa lớn, sau đó cán bộ phụ nữ mới làm công tác. Các đồng chí nam trong nông hội tuổi thường đã lớn, nghe họ khi về kể lại: "Vào thôn đến nhà nào cũng thấy một sư đã ngồi chồm hỗm trên giường nói láo là về thăm nhà bà cô, đến thăm họ hàng... nói dối như cuội", mọi người đều phì cười. Cười thì cười, song tôi rất đau lòng trước cảnh một số chị em bị lăng nhục. Trong ngôi chùa lớn, tôi đã tổ chức cho chị em học lớp "xóa mù chữ", dạy học hát các bài ca cách mạng, tuyên truyền cho họ hiểu về kháng Nhật cứu quốc, động viên họ khâu giày cho Bát lộ quân, lên lớp giảng giải cho họ đạo lý cách mạng. Tóm lại là nghĩ mọi cách để nâng cao giác ngộ cho họ. Tôi nói với họ, phụ nữ cần nỗ lực tham gia lao động sản xuất thì mới có thể thực hiện bình đẳng nam nữ một cách chân chính, không nên sống ỷ lại vào nam giới, càng không thể dựa vào các biện pháp kiếm tiền không chính đáng, sống như vậy là một điều sỉ nhục của phụ nữ. Lời tôi giảng rất nghiêm khắc, mọi người đến họp chẳng ai hé răng. Ngày thứ hai, cán bộ thôn đến tìm tôi, nói rằng phụ nữ trong thôn rất bất mãn với lời tôi giảng cho họ, khi về thôn, họ mồm năm miệng mười, nói bậy cũng không ít có người còn xỉ mũi nói: "Lẽ nào chúng tôi muốn sống như thế hử? Chỉ vì khốn cùng mà thôi”. "Chúng tôi đến Ngũ Đài cũng chỉ vì cuộc sống thôi!" "Chỉ dựa vào đàn ông trồng tỉa, liệu có thể nuôi nổi lớn bé, cả đống người không?". "Nước mắt của chúng tôi từ trong bụng đói mà trào ra”. Những lời trách móc của chị em phụ nữ đã giáo dục cho tôi. Những lời của họ chính là những lời tố cáo đầy máu và nước mắt cái xã hội thối nát ăn thịt người. Tôi là cán bộ phụ nữ xuất thân từ học sinh, đối với những điều đen tối, ám muội của xã hội chỉ căm ghét thôi thì chưa đủ, còn cần phải gần gũi, thông cảm với chị em bị áp bức, đồng tình với những cảnh ngộ đau khổ, làm cho họ hiểu những nguyên nhân xã hội tạo ra khổ đau cho họ, dần dần nâng cao giác ngộ giai cấp của chị em. Như vậy chị em mới có thể tự giác đứng lên phản kháng ách áp bức của thế hệ phong kiến, quét sạch mọi ảnh hưởng bất lương do chế độ cũ mang lại. Chỉ nói chung mà không sát thực tế, chỉ trích mà không có phân tích sẽ bất lợi cho việc đoàn kết các chị em bị áp bức. Từ đó về sau trong công tác tôi luôn chú ý đi sâu sát, thâm nhập quần chúng, hiểu rõ những nỗi khổ đau của họ, khuyến khích họ tự giác phá bỏ cái gông cùm phong kiến đang đè trên đầu trên cổ họ. Cục diện công tác ở khu sáu từng bước được tiến hành tất hơn. Tháng Bảy năm 1938 tại thôn Thạch Truy, khu hai huyện Ngũ Đài đã tiến hành Đại hội Đại biểu phụ nữ biên khu Tấn-Sát-Ký lần thứ hai. Tôi vinh dự được làm đại biểu cho phụ nữ huyện Ngũ Đài tham gia đại hội này. Mao Chủ tịch khen ngợi Nhiếp Vinh Trăn đã lãnh đạo biên khu Tấn-Sát-Ký trở thành "Khu căn cứ địa kháng Nhật kiểu mẫu”. Tôi nghĩ là trong đó có một phần cống hiến của chị em phụ nữ huyện Ngũ Đài chúng tôi. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 11 Tháng Tư, 2010, 07:02:00 pm Tại biên khu Tấn-Sát-Ký do Nhiếp Vinh Trăn lãnh đạo, tôi và Hồng Thủy đã trở thành "hai chiên sĩ kỳ cựu” trên mặt trận văn hóa.
Ngày 18 tháng Mười một năm 1937, cơ quan lãnh đạo Tấn-Sát-Ký từ huyện Ngũ Đài di chuyển xuống huyện ly huyện Phụ Bình thuộc tỉnh Hà Bắc. Tư lệnh quân khu Nhiếp Vinh Trăn, Chủ nhiệm Cục chính trị Dư Đồng và Bí thư Đảng ủy biên khu Hoàng Kính bàn bạc với nhau cho ra một tờ báo Đảng của đặc khu Tấn-Sát-Ký. Chủ nhiệm chính trị quân khu Dư Đồng kiêm nhiệm làm chủ nhiệm báo. Làm báo trong hoàn cảnh chiến tranh thật vô cùng vất vả Lúc đầu báo "Kháng địch” phải dùng đá li tô để viết chữ ngược, in một mặt bằng giấy dó, mỗi tờ báo có hai trang, một nghìn năm trăm số do cơ quan chính trị quân khu phát hành qua quân bưu, các chi ủy địa phương, và được phát miễn phí. Ngày 5 tháng Ba năm 1938, khi đang in số báo thứ hai mươi bốn thì máy bay Nhật ném bom huyện ly huyện Phụ Bình, tung cả toà báo, đá in li tô bị phá hủy. Nhân viên toà báo lại phải theo cơ quan lãnh đạo quân chính quân khu di chuyển về chân Ngũ Đài Sơn ở thôn Đại Cam Hà bên sông Thanh Thủy, ở cùng với chủ nhiệm chính trị quân khu. Lúc đó Hồng Thủy vừa mới được điều từ Đặc khu ủy Tấn Đông bắc về Cục chính trị quân khu Tấn-Sát-Ký công tác. Cục chính trị quân khu lại điều ông về báo "Kháng địch" làm Phó chủ nhiệm, chủ trì công tác hàng ngày. Để khôi phục việc xuất bản tờ "Kháng địch", Cục chính trị quân khu triệu tập Hội nghị Động viên toàn quân khu. Trong hội nghị quyết định Hồng Thủy phải tổ chức đội ngũ biên tập và in ấn, làm suốt đêm để cho ra mắt số hai mươi lăm của tờ "Kháng địch" nhằm cổ vũ ý chí chiến đấu của quân dân thuộc biên khu. Dưới sự lãnh đạo của Hồng Thủy toàn thể nhân viên toà báo làm việc ngày đêm, biên tập, khắc đá, in ấn, số hai mươi lăm "Kháng địch” với nội dung phong phú, hình thức sáng sủa, nhanh chóng ra mắt quân và dân biên khu. Rất nhiều người cho rằng đây là số báo đáng nhớ nhất của quá trình ra tờ báo "Kháng địch". Tư lệnh Nhiếp Vinh Trăn cũng đánh giá cao sự đóng góp của Hồng Thủy trong việc lãnh đạo biên tập và xuất bản tờ báo. Để phù hợp với hình thế chiến tranh du kích của buổi đầu kháng chiến, Hồng Thủy một mặt lãnh đạo việc ra báo, một mặt nhanh chóng có kế hoạch để cải tạo, trang bị mới về kỹ thuật cho tờ báo. Trong thời kỳ này ủy ban Kháng chiến của quân khu liên huyện Cân Định thuộc Ký Trung huy động được một số thiết bị in, một số chữ chì, như máy in ti pô Bụt Khai, chữ chì số hai và số ba... Hồng Thủy cùng nhân viên toà báo ra tay tự lắp trang thiết bị, máy in cũng được chở tới Cho tới khi Hồng Thủy rời toà soạn, báo "Kháng địch" đã xuất bản được thêm năm kỳ. Cùng với việc vùng giải phóng Tấn-Sát-Ký được mở rộng, ảnh hưởng của tờ báo cũng lan rộng theo, đạt được hiệu quả tuyên truyền rất lớn. Sau đó tờ "Kháng địch" đổi tên thành "Nhật báo Tấn-Sát-Ký”, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng ủy biên khu, do Đặng Thác thay Dư Đồng, Hồng Thủy làm Chủ nhiệm. Đặng Thác1 (Đặng Thác là một nhà báo, một tác giả, học giả lịch sử nổi tiếng. Sau giải phóng ông làm Tổng biên tập "Nhân dân nhật báo", Trưởng ban Bí thư thành ủy Bắc Kinh) vì kính phục tinh thần chiến đấu của Hồng Thủy có làm một bài thơ tặng ông khi chia tay: Tặng Hồng Thủy đồng chí Hồi thủ Hồng Hà, sáng thông thâm Nhân gian tòng thử, nhiệm phù trầm Bắc lai tráng trí long tiên vận Nam quốc thi tình thiên hạ tâm Thập tải phong ba tam vạn lý Thiên thu huyết lệ nhất sinh ngâm Đông phương vọng nhãn lãng triều cấp Mạc đạo phiêu phùng trục đáo kim. Tạm dịch: Vết thương sông Hồng, đau buốt thân Cuộc đời từ đó trải thăng trầm Chí trai phương Bắc, thời xương vận, Lai láng hồn thơ, nhớ nước Nam Ba vạn lý dài, đầy sóng gió Ngàn năm huyết lệ, một đời ngâm Phương Đông đã nổi, triều dâng sóng Lênh đênh, đời vẫn nhuộm phong trần. Sau khi rời báo "Kháng địch" Hồng Thủy vẫn tiếp tục viết bài đăng trên các báo của khu giải phóng, tích cực tuyên truyền cho đường lối, phương châm, chính sách kháng Nhật cứu quốc. ông còn viết nhiều bài có tính chất thông tin, tổng kết kinh nghiệm, lý luận văn chương cho các báo tập san của khu như "Tiền tuyến", "Nhật báo Tấn-Sát-Ký”, "Kháng địch nguyệt san ', có ảnh hưởng lớn thời đó. ông còn viết một số kịch thơ như "Xuân canh”, "Tòng quân triều”, viết nhiều thơ, văn, bài thơ dài "Thiên chân đích bi kịch" phải in liên tục trên ba số "Nhật báo Tấn-Sát-Ký”, làm cho hàng ngàn, hàng vạn thương binh ở tiền tuyến thêm dũng khí chiến đấu ngoan cường, khắc phục khó khăn, đồng thời đề cao tinh thần cảnh giác phòng gian, phòng gián điệp. Do tình hình kháng chiến phát triển, lực lượng Bát lộ quân ngày càng lớn mạnh, để chuẩn bí bảo đảm quân trang mùa đông cho quân đội, quân khu lập một xưởng quân trang ở trấn Cảnh. Vì việc chuẩn bị quân trang mùa đông rất gấp, nên tôi được điều khỏi Hội Phụ nữ cứu vong huyện Ngũ Đài, vào Bát lộ quân, làm chính trị viên phòng nữ công của xưởng quân trang. Trong xưởng có hơn năm mươi công nhân, đại đa số là phụ nữ trung niên của trấn Cảnh. Họ đều có nhiệt tình kháng Nhật rất cao, công tác rất tích cực, có trách nhiệm, đoàn kết cũng rất tốt. Tôi là chinh trị viên nhưng hầu như không có công tác động viên chính trị nào phải làm, thường xuống cùng họ làm áo bông, may chăn bông. Các đồ chúng tôi làm ra được chuyển liền ra tiền tuyến. Cùng một lúc với việc quân khu lập ra báo “Kháng địch", một đội công tác văn hóa ở địch hậu “Đoàn kịch kháng Nhật" cũng ra đời. Lúc mới thành lập đoàn kịch, diễn viên rất hiếm, đặc biệt là diễn viên nữ. Do nhu cầu công tác, tổ chức lại điều tôi sang làm diễn viên của đoàn kịch. Khi rời khỏi xưởng quân trang tôi cũng kéo theo năm cô gái trẻ nữa. Có thể nói, tôi cũng như Hồng Thủy, đã trở thành hai chiến sĩ kỳ cựu trên mặt trận văn hóa ở biên khu Tấn-Sát-Ký do Nhiếp Vinh Trăn lãnh đạo. Lúc mới đầu, "Đoàn kịch kháng địch" không dựng nổi một vở hoàn chỉnh, tiết mục chủ yếu của chúng tôi là hát những bài ca cách mạng, tiến hành tuyên truyền cổ động kháng Nhật. "Tiễn chồng ra mặt trận" là bài ca để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi, khiến cho đến nay tôi vẫn còn nhớ được lời: Chiếc đèn nho nhỏ leo lét cháy, Chồng tôi đánh trận, tôi ở lại Không buồn, không đau, không rầu rĩ Tôi may cho chiếc áo thật ấm, thật mềm A! Hây a! May cho anh chiếc áo vừa ấm, vừa mềm Ngủ đi con ngoan, không quấy mẹ, Mẹ đang may áo mới cho chiến sĩ. Không khóc, không nghịch, mau mau lớn khôn; Để con lớn lên lại đi đánh giặc Nhật A! Hây a! Để con lớn lên lại đi đánh giặc Nhật. Trong Truyện về Nhiếp Vinh Trăn xuất bản năm 1994 có đoạn viết: "Khi mới thành lập "Đoàn kịch kháng địch" ở Phụ Bình, lúc đầu gọi là đội tuyên truyền của Cục chính trị quân khu Tấn-Sát-Ký. Lúc đó chỉ diễn được những tiết mục đơn giản như một số điệu múa của Hồng quân, một số ca khúc kháng chiến, để phối hợp hai nhiệm vụ trung tâm là tác chiến và phát động quần chúng. Sau này có một số trí thức từ thành thị tới như Lưu Giai, Hồ Khả, Đỗ Phong, tiết mục có phong phú hơn. Đầu năm 1939, bắt đầu có các nữ diễn viên Hồ Bằng, Trần Kiếm Qua, Trần Quần... trình độ diễn viên lại tiến thêm một bước, có thể diễn những vở kịch nói nhiều màn”. Tuy rằng trình độ diễn xuất lúc đó chưa cao, song Tư lệnh Nhiếp Vinh Trăn, mỗi khi rảnh rỗi thường đến xem. Có lúc vở hay, ông rất phấn khởi hô lên: "Diễn hay lắm, diễn hay lắm!" Ông dẫn đầu cổ vũ để khích lệ chúng tôi. Tư lệnh Nhiếp nói: "Các cô chú nên lần lượt xuống diễn ở các phân khu để cho các đồng chí ở dưới cùng được thưởng thức". Trong những năm tháng khói lửa chiến tranh, những người làm công tác văn hóa ở biên khu Tấn-Sát-Ký đã dùng văn hóa làm một thứ vũ khí sắc bén để đả kích quân địch, đoàn kết giáo dục nhân dân và đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh chống Bật. Từ những đội tiên phong trong công tác văn hóa đã xuất hiện hàng loạt những tài năng ưu tú về văn nghệ như đạo diễn, sáng tác Ngụy Nguy, Đinh Lý, Hồ Xô Uổng Dương, về biểu diễn nổi tiếng có các nghệ sĩ Hồ Bằng, Điền Hoa... Thực ra thời gian tôi công tác trong "Đoàn kịch kháng địch" rất ngắn, nhưng tôi đã là một thành viên sớm nhất trong đội ngũ những người làm công tác văn hóa cách mạng của biên khu và tôi cảm thấy rất tự hào. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 11 Tháng Tư, 2010, 07:03:01 pm Bác sĩ Bation tự tay mổ cho Hồng Thủy, Hồng Thủy ba lần thỉnh cầu khi mổ không cần dùng thuốc tê.
Tháng Tư năm 1938, Hồng Thủy bị trĩ rất nặng, phải đến bệnh viện dã chiến của quân khu đóng tại Tùng Nham Khẩu, khu hai, Ngũ Đài để chạy chữa. Lúc đó bác sĩ Bation cũng vừa từ Diên An đến biên khu Tấn-Sát-Ký, đang bắt đầu việc điều trị ở bệnh viện dã chiến. Hồng Thủy và Bation là hai chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế vì mục tiêu chung mà gặp nhau trên đất Trung Quốc. Mới gặp mặt, họ đã cảm thấy rất thân thiết, ôm chầm lấy nhau, Hồng Thủy biết tiếng Anh nên có thể giao thiệp trực tiếp với bác sĩ Bation. Bác sĩ Bation lúc đó hơn năm mươi tuổi. Ông rất khiêm tốn nói với Hồng Thủy: "Hồng, anh đến Trung Quốc đã mười mấy năm, đã là chiến sĩ cũ, còn tôi mới chỉ là một chàng tân binh". Hồng Thủy vội giải thích: "Nếu nói tham gia Bát lộ quân, chúng ta đều là tân binh cả". Bation hiểu được ý tứ của Hồng Thủy, cả hai cùng cười ha hả. Bation kể lại cho Hồng Thủy, khi xuất phát rời Diên An, Mao Trạch Đông đã thân mật tiếp ông, còn nói về chuyện "Thủy hử" có Lỗ Trí Thâm đã từng "Đại náo Ngũ Đài Sơn". Mao Trạch Đông rất thú vị nói ví von: "Ngũ Đài Sơn trước có Lỗ Trí Thâm, nay có Nhiếp Vinh Trăn. Ngũ Đài Sơn thuộc biên khu Tấn-Sát-Ký, vì thế nhiếp Vinh Trăn chính là Lỗ Trí Thâm ngày nay”. Bation nói về cảm tưởng của ông khi tới khu giải phóng Tấn-Sát-Ký, lại còn nói đến ý tưởng của ông định xây một bệnh viện kiểu mẫu tại Tùng Nham Khẩu. Bation quyết định tự mình mổ cho Hồng Thủy. Thời kháng chiến, thuốc men ở khu giải phóng vô cùng quý hiếm. Thuốc tê là loại thuốc không thể thiếu khi mổ chấn thương. Vì muốn dành thuốc tê cho các đồng chí bị thương ở tiền tuyến, Hồng Thủy ba lần thỉnh cầu Bation khi mổ cho ông tuyệt đối không cần dùng thuốc tê. Bation đồng ý. Hồng Thủy biết rõ là bác sĩ Bation khi mổ xẻ rất ghét nghe thấy bệnh nhân kêu rên. Trước khi mổ, Bation đưa cho Hồng Thủy một miếng lụa để ông cắn chặt lại khi đau quá để tránh tổn thương răng và lưỡi. Hồng Thủy không dùng đến. Mổ xẻ dù nhỏ cũng là cắt thịt da! Khi dao mổ đã hạ xuống, Hồng Thủy đau đến nỗi nổ đom đóm mắt, da dẻ nhợt nhạt, mồ hôi từ lông mày chảy tong tong. ông cắn chặt răng, tay nắm lại, gắng hết sức không để phát ra tiếng kêu rên. Sau đó, ông nhắm mắt lại thở dốc, từ đầu đến cuối không kêu rên một tiếng. Mổ xong, Bation giơ một ngón tay cái lên, khen: "Hồng, cừ lắm! Anh thật dũng cảm!" Hồng Thủy được bác sĩ Bation tận tâm chăm sóc, chữa chạy, nên khỏi bệnh rất nhanh. Khi tôi đến trấn Cảnh thăm anh, anh đã có thể đi lại được. Nghe nói Hồng Thủy khi mổ không dùng thuốc tê, lòng dạ tôi xót xa. Tinh thần vì cách mạng, hy sinh bản thân của anh, một lần nữa làm tôi xúc động sâu sắc. Hai ngày sau, phải họp ở huyện, tôi lại tất tả rời trấn Cảnh về huyện họp. Tháng Mười năm 1939, tại bệnh viện hậu phương Cam Hà Tịnh, phân khu một, bác sĩ Bation khi mổ cho thương binh bị sọ não, ngón giữa tay trái của ông bị gãy xương, ông lại bị cảm rất nặng. Tiếp ngay đó ông tham gia trận tiêu diệt chiến Nhạn Túc Nhai và trận đánh bao vây công thành Hoàng Thổ Lĩnh, ông đã mổ cho rất nhiều thương binh dưới làn pháo hỏa của địch. Mặc dầu bệnh tình đã phát nặng, ông vẫn nghiến răng chịu đau, liều mình trước hiểm nguy khi quân tăng viện của Nhật đến sát kề bên, chỉ tới khi kết thúc chiến đấu ông mới rời khỏi chiến trường. Nghe tin bác sĩ Bation hy sinh Hồng Thủy khóc thương ông. ông vô cùng thương tiếc người bạn chủ nghĩa quốc tế vĩ đại vừa mới quen biết nhau trên mặt trận kháng chiến. Để tỏ lòng tiếc thương đồng chí Bation, ngày 1 tháng Mười hai năm 1939, các giới ở Diên An đã tổ chức lễ truy điệu. Mao Chủ tịch đã gửi thư chia buồn, sau đó ít ngày Mao Chủ tịch viết một bài văn nổi tiếng "Nhớ Bation". Bài văn này là một tài sản tinh thần quý báu của Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc. Trong bài văn, Mao Chủ tịch đã viết: "Đồng chí Bation là Đảng viên Cộng sản Canada. Đã hơn năm mươi tuổi rồi, vì muốn giúp đỡ cuộc chiến tranh kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc, đồng chí đã được Đảng Cộng sản Canada và Đảng Cộng sản Mỹ cử đi. Không ngại đường xa vạn dặm đồng chí đã đến Trung Quốc. Mùa xuân năm ngoái đồng chí đã tới Diên An, sau đó đến công tác ở Ngũ Đài Sơn, chẳng may bị nạn. Một người ngoại quốc không hề có động cơ cá nhân, coi sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc như sự nghiệp của đời mình, đó là tinh thần gì vậy? Đó là tinh thần chủ nghĩa quốc tế, đó là tinh thần chủ nghĩa Cộng sản. Mỗi đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc đều phải học tập tinh thần đó". Khi đọc bài văn "Nhớ Bation" này, lòng tôi lại tràn đầy tinh cảm quý mến. Nhớ tới Bation tôi lại nghĩ ngay đến Hồng Thủy. Cả cuộc đời của Hồng Thủy là một tấm gương sống dộng về tinh thần Chủ nghĩa Cộng sản. Ông đã vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc, vì công cuộc xây dựng và phát triển của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, vì sự nghiệp xây dựng và phát triển tình hữu nghị lâu bền giữa hai đảng, hai nước, hai quân đội, mà đã hiến dâng đến giọt máu cuối cùng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 11 Tháng Tư, 2010, 07:04:26 pm Hồng Thủy vung tay nói lớn: "Không cần biết đến năm nào, tháng nào ta chết, hãy cứ quyết định chúng ta sinh ra cùng tháng cùng ngày, điều đó đã làm cho tôi sững sờ, dở khóc, dở cười.
Một lần, tiện đường tôi qua chỗ ở của Hồng Thủy, tôi rất vui mừng được nhìn thấy anh. Vì tôi đến bất ngờ, anh mừng ra mặt. Tôi chưa kịp ngồi, bỗng thấy sắc mặt anh thay đổi, và nói với tôi bằng một giọng trịnh trọng: "Đồng chí Trần Kiếm Qua, người bạn trai họ Vương của đồng chí vừa gửi thư cho tổ chức, yêu cầu cho đồng chí đi Diên An. Tổ chức cũng đã bàn với tôi". Nghe Hồng Thủy nói một hồi, tôi ngơ ngác chẳng biết đầu cua tai nheo ra sao, bụng nghĩ "Có chuyện gì vậy nhỉ?" Tôi không nói câu gì đi thẳng vào nhà, tư lự một mình: Tôi biết Hồng Thủy nói người bạn trai họ Vương đó chính là Vương Nghiêu. Mùa xuân 1935, chúng tôi đã chuẩn bị đi Tân Cương. Để đảm bảo bí mật an toàn khi đi đường, tổ chức đã quyết định bốn người chúng tôi đóng giả thành hai cặp vợ chồng. Tôi và Vương Nghiêu là một cặp. Việc đi Tân Cương không thành, kịch hạ màn. Tôi chưa bao giờ có ý nghĩ là mình với Vương Nghiêu sẽ thành vợ chồng. Khi Vương Nghiêu ra khỏi nhà phản tỉnh của Quốc dân đảng tỉnh Sơn Tây, anh ta có ý mời tôi về quê anh ta làm giáo viên tiểu học và ở ngay nhà anh. Tôi đoán anh có ý muốn hỏi tôi làm vợ. Tôi và Vương Nghiêu có quan hệ tới lui nhiều lần nhưng chỉ là tình đồng chí cách mạng, không có tình cảm nào khác. Tôi cự tuyệt lời mời của anh. Từ đó chúng tôi chẳng bao giờ gặp nhau cũng không có thư từ qua lại. Thật là lạ, tại sao Vương Nghiêu lại biết tin tức và địa chỉ của tôi? Tại sao Hồng Thủy lại đột nhiên đặt vấn đề này ra? "Không được, nhất định phải lên gặp tổ chức, làm rõ ngọn ngành!” Tôi trở lại phòng, chuẩn bị chào anh đi, chỉ thấy anh ngồi trên giường lò bình chân như vại, rít thuốc, ngửa cổ thổi từng vòng khói thuốc lên trời. Thấy bộ dạng tôi khi trở lại, anh gõ gõ tẩu thuốc thả tàn thuốc ra, rồi phá lên cười. Lúc đó tôi mới hiểu, ra anh trêu đùa tôi. Tức hết chỗ nói, tôi xông đến, nắm hai tay đấm thùm thụp vào hai vai anh, oán hận quá trời: "Anh thật bậy. Mấy ngày không gặp nhau mà anh còn đùa ác thế. Ghét anh lắm!". Hồng Thủy tính hay đùa tếu, trong Hồng quân Trung ương, trong Bát lộ quân, ở biên khu Tấn-Sát-Ký đều rất nổi tiếng. Cho dù có gặp hoàn cảnh cực kỳ gian khổ, khó khăn, anh vẫn rất lạc quan. Anh đã từng kể lại cho tôi nghe trong lúc đang trường chinh, đồng chí Trần Canh là đoàn trưởng đoàn cán bộ Trung ương (trong đó có Hồng Thủy) cũng là một cây đùa tếu có hạng. Hai người suốt đường dài trong đói khổ vẫn trêu chọc nhau thật lực vì cả hai đều là những người thích đùa. Lại nói về ngày sinh của tôi, Hồng Thủy có ý ghi lại ngày sinh của tôi trùng với ngày sinh của anh, nói làm thế cho dễ nhớ. Tôi sinh tháng Chín âm lịch, ở nông thôn trước đây không có lịch dương, cho nên cả cha và mẹ tôi cũng không nhớ nổi sinh tôi vào ngày nào theo dương lịch. Hồng Thủy là người Hà Nội, dùng dương lịch, sinh vào ngày 1 tháng Mười. Hồng Thủy nhất định bắt tôi điều chỉnh lại ngày sinh cũng vào ngày 1 tháng Mười dương lịch. Tôi nghĩ, đấy chẳng phải là vấn đề gì có tính nguyên tắc nên cũng làm theo anh. Thế là được thể, anh càng quấy hơn. Anh bắt chước giọng tuồng, ồm ồm hát lên đoạn trích trong vở "Ba người kết nghĩa vườn đào". "Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi tuy khác họ, nhưng kết nghĩa anh em, đồng tâm hiệp lực, cứu khốn phò nguy, trên báo quốc gia, dưới yên dân chúng; không mong sinh cùng ngày, năm, tháng, chỉ ước là cùng ngày, cùng tháng, cùng năm được cùng chết mà thôi". Tiếp theo, anh quắc mắt lên, đứng đối diện với tôi, nắm lấy hai cánh tay tôi vừa lắc vừa hát: "Hôm nay, dù Hồng Thủy, Kiếm Qua sinh ra không cùng một nước nhưng tương thân tương ái kết làm vợ chồng, sẽ trăm năm đầu bạc, không bàn chuyện năm nào, tháng nào, giờ nào sẽ chết, chỉ quyết định sinh ra cùng tháng, cùng ngày”. Lời nói và động tác của anh giản dị, thẳng thắn, khiến cho tôi sững sờ, dở khóc, dở cười. Hồng Thủy có hai điều thích: Một là thích hút thuốc, hai là thích ăn thịt. Hồng Thủy nghiện thuốc rất nặng, suốt ngày tẩu không rời miệng, nửa đêm tỉnh dậy cũng làm vài hơi. Sống chung vài ngày thì chưa đáng kể, sống lâu rồi, ngày ngày trong khói thuốc, làm cho người ngoài rất khó chịu. Chúng tôi là vợ chồng, không thể tách đôi, đành chịu vậy Tôi chưa hề trách anh về chuyện hút thuốc, nếu tôi nói không thích khói thuốc, anh còn cố ý đến trước mặt hút thuốc phả khói ra để trêu chọc. Hồng Thủy thích ăn thịt, có lúc như trẻ con. Có một lần không biết anh kiếm ở đâu ra một tảng thịt lợn bảo tôi rửa, thái giúp anh. Tôi từ bé không thích ăn thịt, ngay ngày tết, tôi cũng ít động đũa tới, ở nhà mọi người thường làm món rau tươi thêm cho tôi. Rửa, thái thịt sống đối với tôi thật khó. Thấy tôi không rửa thịt, Hồng Thủy nổi cáu đem quăng thịt xuống đất. Tôi chẳng nói một lời, chạy thẳng về đơn vị công tác của mình. Hồng Thủy khi đã cáu, nổi nóng dữ dội, song nóng với tôi thì chỉ duy nhất có lần đó. Anh biết tôi tính bướng ngầm, mỗi khi xảy ra chuyện gì, tôi không cãi, mà toàn im lặng tạm tránh. Sau một thời gian mọi người bình tâm là ổn thỏa. Về sau nghe nói, người cần vụ đã rán thịt cho anh, lại còn lên phố mua thêm rượu. Rượu thịt vào rồi, cơn nóng qua đi. Lại cũng có một lần, Hồng Thủy nấu một nồi thịt chó mời tôi ăn. Tôi vội xua tay từ chối và nhăn nhó nói: "Anh thật ghê quá, thịt chó cũng ăn, thiếu nước ăn cả thịt chuột nữa". Anh vẫn phớt lờ lời tôi nói, một mặt vừa ăn vừa xuýt xoa, một mặt vừa nói với tôi: "Thịt chó ngon lắm nhé. Người Sơn Tây các cô đúng là dạ dày bằng đất, cái này không ăn, cái kia kiêng”. Mặc anh muốn nói thế nào cũng kệ, tôi không dám ghé mắt nhìn. Anh đành phải gật gù ăn một mình, thỉnh thoảng lại thốt ra: "Ôi ngon tuyệt”. Chị Trương Thụy Hoa, vợ của Tư lệnh Nhiếp Vinh Trăn, đã sớm biết Hồng Thủy từ ngày còn ở Quảng Đông. Hai vợ chồng chị đều rõ tính cách của Hồng Thủy. Trong một lần Đại hội Đại biểu phụ nữ biên khu chị Hoa cười hỏi tôi: "Đồng chí Hồng Thủy rất hoạt bát, hiếu động như vậy còn cô thì trầm mặc, kín đáo, làm sao lại hợp nhau được nhỉ?" Tôi không giấu giếm gì trả lời chị: "Bởi vì em chịu nhường nhịn anh ấy”. "Ôi thế là chủ nghĩa trọng nam rồi còn gì!" Chị Hoa vừa như nói đùa, lại như có ý dặn dò tôi. Tôi lại gần chị, ghé tai nói nhỏ: "Anh ấy cầm tinh con khỉ, em cầm tinh hổ, trong núi không còn hổ nữa nên khỉ làm vua". Chị Hoa phá lên cười. Hồng Thủy đã có lần giảng cho tôi rằng phần lớn phong tục của dân Việt Nam cũng giống Trung Quốc. Về tên họ, cách đặt và gọi cũng tương tự người Hán, trong năm cũng có hai mươi bốn tiết khí, các ngày lễ tết như nguyên đán, thanh minh, đoan ngọ, trung thu cũng như Trung Quốc. Ở Việt Nam cũng có mười hai con giáp và thứ tự cũng như rung Quốc, chỉ khác nhau là ở Trung Quốc năm Mão thuộc về con thỏ, ở Việt Nam năm Mão là năm con mèo. Anh cầm tinh con khỉ, tôi con hổ. Ở Trung Quốc và Việt Nam đều hiểu như nhau. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 27 Tháng Sáu, 2010, 04:15:53 pm Chương V ĐAU LÒNG VÌ MẤT CON GÁI YÊU Đoá hoa danh tướng thành phân bón ở Thái Hàng Sơn. Tháng Mười hai năm 1939, quân xâm lược Nhật có ý đồ tiến công biên khu Thiểm - Cam - Ninh (Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ) nên chúng dùng máy bay điên cuồng đánh phá Diên An. Phái ngoan cố trong Quốc dân đảng bắt đầu phong toả biên khu Thiểm - Cam - Ninh, gây cho biên khu những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, tài chính. Nó làm cho số đông thanh niên cách mạng ở những vùng Nhật tạm chiếm và các vùng do Quốc dân đảng thống trị khó có thể vượt qua tuyến phong toả để chạy đến Diên An. Để phá vỡ sự phong toả của địch, tiện việc bồi dưỡng cán bộ cho tiền tuyến, và dễ dàng tiếp nhận số lớn thanh niên trí thức yêu nước ở vùng địch tạm chiếm tới học, đồng thời cũng dễ dàng tiếp thu được những kinh nghiệm đấu tranh phong phú của tiền tuyến, giảm nhẹ khó khăn về kinh tế, tài chính của biên khu theo chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng bộ Trường Đại học Kháng Nhật đã phái một số giáo viên, học viên tiến vào các căn cứ dịa ở địch hậu như Tấn Đông Nam, Tấn-Sát-Ký dể thành lập các phân hiệu một và hai. Hiệu bộ của Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật được đặt tại Hàn Tín Đài ở đông bắc Trần Gia Trang huyện Linh Thọ, tỉnh Hà Bắc. Khóa một của Phân hiệu hai khai giảng vào tháng Hai năm 1939. Hồng Thủy được điều từ quân khu Tấn-Sát-Ký về Phân hiệu hai làm Phó Chủ nhiệm Khoa Giáo dục chính trị. Tháng Ba năm 1939, tôi cũng được điều về công tác ở phòng hậu cần Phân hiệu hai. Lần đầu tiên tôi được mặc quân phục, đội mũ mềm, thắt lưng da, lại còn quấn xà cạp nữa. Từ đó tôi chính thức trở thành nữ cán bộ của Bát lộ quân. Chính tại Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật là nơi tôi và Hồng Thủy được sống chung trong một đoạn thời gian dài nhất. Học tập ở địch hậu, nhất là những vùng sâu như căn cứ địa Tấn-Sát-Ký thì khó khăn không thể tưởng tượng nổi. Khu căn cứ địa không có địa giới cố định, địch có thể đánh tới bất cứ lúc nào, cự ly cách địch của nhà trường chỉ có chưa đầy một trăm lý (50 km). Mỗi ngày khi lên lớp phải chuẩn bị sẵn sàng tự vệ, thậm chí trực tiếp tham gia chiến đấu, căn bản là không có hoàn cảnh điều kiện yên ổn để dạy và học. Trong tình huống như vậy tính lưu động và tính chiến đấu của trường vô cùng đột xuất. Toàn thể mấy ngàn học viên không có chỗ ở cố định, cứng chẳng có giảng đường. Nhà dân, đình quán đều là chỗ ở của chúng tôi, núi đồi, đồng hoang, bờ sông, rừng cây đều là giảng đường của chúng tôi. Địu lưng làm ghế, đầu gối làm bàn học, trong điều kiện nghèo nàn, giản đơn như vậy, trường bắt đầu khai giảng khóa học mới. Từ ngày thành lập, được thủ trưởng quân khu Nhiếp Vinh Trăn lãnh đạo và quan tâm và Tổng bộ La Thụy Khanh phụ trách, Phân hiệu hai Trường Đại học Kháng Nhật lớn mạnh hẳn. Trường tuyển chọn trong bộ đội Tấn-Sát-Ký một số giáo viên chính trị, văn hóa. Số này, đại bộ phận có trình độ tú tài (phổ thông trung học) hoặc tốt nghiệp trường sư phạm, một số nhỏ là sinh viên đại học. Hồng Thủy cũng ở trong số đó. Anh là Phó Trưởng khoa Giáo dục chính trí, đồng thời lại được nhà trường chỉ đinh làm chủ nhiệm giáo viên chính trị. Hồng Thủy hoàn toàn như các đồng chí Trung Quốc, không có gì đặc biệt, đồi với cuộc sống gian khổ không kêu ca phàn nàn. Anh học tập không mệt mỏi, hết sức cần mẫn trong việc dạy học chính trị và công tác lãnh đạo giáo dục chính trị. Từ tháng Mười một năm 1938 trở đi căn cứ địa Tấn-Sát-Ký bước vào thời kỳ củng cố, phát triển. Tin thắng lợi từ các phân khu dồn dập báo về. Đặc biệt là thu đông năm 1939, Bát lộ quân đã đánh ba trận lớn ở vùng núi địa hình phức tạp của Tấn Đông Bắc, triệt để đập tan cuộc "vây quét mùa đông của giặc Nhật. Tháng Chín, sư đoàn 120 chủ lực của Bát lộ quân do Hạ Long làm sư trưởng và Quan Hướng ứng làm chính ủy cùng với một bộ phận quân của Tấn-Sát-Ký đã đánh một trận phục kích vào quân Nhật và quân Ngụy ngay tại khu vực của Phân hiệu hai đang ở là Trần Gia Trang, huyện Linh Thọ, tỉnh Hà Bắc, đánh bại ý đồ của quân Nhật và Ngụy định tìm diệt chủ lực Bát lộ quân. Sau đại thắng Trần Gia Trang, bộ đội khu Tấn-Sát-Ký đều nóng lòng muốn đánh thắng một trận lớn nữa, về phía quân Nhật chúng cũng thề sẽ rửa hận cho thất bại Trần Gia Trang. Sáng ngày 3 tháng Mười một, trung tướng Abê Norihide lữ đoàn trưởng lữ đoàn 2 (quân đóng ở Trương Gia khẩu biên chế thành) đã cử đại tá Mêmưra Kankichi dẫn một nghìn năm trăm quân Nhật, Ngụy hỗn hợp, chia các hướng đánh vào Thủy Bảo, Tẩu Mã Dịch, Ngân Phương. Quân ta ở Nhạn Túc Nhai nhử địch vào sâu rồi cắt đứt đường rút, phong toả hai bên vách, dùng chiến thuật đánh kẹp hai bên quân địch. Khi quân địch vào đến Trương Gia Phần, chủ lực của ta bất ngờ xuất kích, đánh kẹp hai bên, quân địch tan đàn xẻ nghé, bị tiêu diệt toàn bộ. Lữ đoàn 2 độc lập, tổ chức hỗn hợp, là bộ đội tinh nhuệ của quân Nhật, lữ đoàn trưởng Abê Norihide đã hơn năm mươi tuổi, được giới quân sự Nhật Bản khen là "giỏi đánh miền núi”, là "đoá hoa của hàng danh tướng”. Abê là người cơ trí linh hoạt, chỉ huy quyết đoán, thay đổi cách đánh luôn, thế nhưng hắn lại là người cực kỳ kiêu ngạo, tự phụ, tàn bạo. Trước đó một tháng, Abê vừa được thăng cấp Trung tướng. Khi nghe toàn bộ quân của Mêmưra Kankichi bị tiêu diệt, hắn cảm thấy như bị tát vào mặt. Bốn ngày sau, ngày 7 tháng Mười một, hắn mặc kệ tất cả các lời khuyên, tự dẫn quân vào vùng địa hình phức tạp của căn cứ địa. Tại khu xóm trên của Hoàng Thổ Lĩnh, hắn bị rơi vào bảy, bị quân Dương Thành Vũ lớp lớp bao vây, Abê Norihide bị giết. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 27 Tháng Sáu, 2010, 04:17:04 pm Diệt được sĩ quan cấp Trung tướng, trên chiến trường Hoa Bắc là lần thứ nhất, trong lịch sử kháng chiến toàn quốc của Trung Quốc cũng là lần đầu. Trong lời điếu của Tư lệnh Phương diện quân Hoa Bắc Okamura của quân Nhật Bản (trên báo Triều Nhật Tân văn) có viết "Đoá hoa danh tướng đã tàn trên Thái Hàng Sơn". Lời điếu cũng than thở: "Một sĩ quan cấp Trung tướng bị giết tại trận, trong lịch sử Quân đội Hoàng gia Nhật từ ngày thành lập, là chưa hề có".
"Đoá hoa hộ quốc đã tàn lụi" Đoá hoa độc “Abê" sặc mùi phát xít đã bị các chiến sĩ Bát lộ quân anh hào, chôn vùi ở Hoàng Thổ Lĩnh, gây chấn động lớn ở Nhật Bản. Khi chiến thắng Hoàng Thổ Lĩnh bay về Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật, Hồng Thủy vui sướng thốt lên: "Hoa đã tàn, hoa không còn, mà trở thành phân bón rồi!" Thế là, ông phỏng theo thể thơ của nhà thơ Xô viết nổi tiếng hồi đó là Maiakôpxki làm một bài thơ điếu với tên "Đóa hoa danh tướng trở thành phân bón trên Thái Hàng Sơn" để ca ngợi thắng lợi vĩ đại của cuộc chiến chống càn quét năm đó: Toàn văn bài thơ: "Chiến thuật Mũi dao nhọn thọc sâu” "Phân công hợp kích" "Phân khu càn quét" … Còn có trò nào Có thể làm Bày ra cho hết! Hỡi các anh hùng "Hoàng Khuẩn"! (Hoàng Quân) "Chín mũi tiến công)” "Bảy vòng vây quét" … Đã bao phen Mộng xâm lược tan như bèo bọt Thế nhưng Như lợn chết, không sợ giội nước sôi: Lại muôn tới Lại phải tới Lại mò cho đến nơi. Chiến dịch Trần Gia Trang Bài học đó Vẫn không dạy nguội sâu sắc Trận tiêu diệt Ngân Phương, Nhạn Túc Cũng chưa làm ngươi mở mắt Cho nên "Trung tướng Abê", con người xuất sắc, Thân chinh xuất mã Là danh tướng, tỏ rõ uy phong Nở hệt cỡ "Đoá hoa danh thướng” Tiếc thay! Hoa đẹp mà sao "mệnh bạc" "Danh tướng chi hoa" Cũng chẳng sao tránh nổi Mệnh vận bi thảm trời dành Ê hô! Ra ma! Đường sao mà hiểm ác. Như báo "Triều Nhật" đã nêu Đúng đấy... Những con đường Đường Trung Quốc Bọn xâm lược đi trên đường Trung Quốc Thì đâu đâu, cũng là hiểm ác Dù ở phương nam Hay lên miền Bắc "Trung tướng” Cũng chẳng còn đường nào khác. … Ngoài những con đường hiểm ác... Vậy làm sao Miệt mài, Lặn lội, ông cố gắng Miệt mài Mò mẫm, Từ Trương Gia khẩu tới được Mã Dịch xong, Là đến... Chỗ cuộc đời ông đi tong! "Trung tướng” Cái vận ông đen như chó mực Không! Cái vận tối của Thiên hoàng mới là đích thực, Đã hại ông. Biến ông thành cây mục Chẳng nhận nổi hình dung. Biển báo đường Đã đề rất rõ: "Trương Gia khẩu” từ chữ "khẩu” mà ra "Trương Gia Phần" theo chữ "phần" mà tiến (Xin lỗi ông, Đừng nổi cáu! Trung Quốc không có họ "Abê” Trong tính danh trăm họ Họ Trương1 (Chữ “Trương” tiếng Trung Quốc đọc đồng âm chữ "Trang” (nghĩa trang)) là họ đứng đầu. Vậy nên, ông, Vừa tới địa giới "Phần”1 (Chữ “Phần" trong "Trương Gia Phần" đồng âm với chữ "Phần" mộ) Đạn pháo, Lũ đạn pháo thật là vô lễ Đã đợi ngài tới nổ ầm ầm. Ông đã tới nơi ông định tới, Miệt mài, Mò mẫm Mải mê Mới tới được nơi muốn tới: "Phần mộ Abê" (trên nghĩa trang đã ghi) "A di đà phật!" Quan thế âm Bồ tát, Xin cứu khổ cho ông Cứu nạn cho ông ấy, Khổ nạn của ông do chiến tranh xâm lược đấy! "Trung tướng" Ngài thương kẻ dưới trướng lắm nhỉ Thương chàng đội trưởng Kankichi Ngài thương hắn... Hết lòng chiến đấu Khổ cực Bên vực Nhạn Túc Chết rục Ngài rơi lệ Ngài nắm tay kêu Và bèn cùng hắn Chết theo Ôi gương "nhân ái" thực là đáng nêu Chúng tôi Đám con cháu Của Thái Hàng Sơn Xin cảm ơn ngài Từ huyện Thạch Sơn Quê hương ngài yêu dấu. Đã miệt mài Mò mẫm Đến tặng cho Mảnh đất khô cằn Thêm được ít phân bón Đoá hoa danh tướng Nay thành phân bón cho Thái Hàng Sơn. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 27 Tháng Sáu, 2010, 04:18:32 pm Bộ đội bị bao vây, tôi mang nặng cái thai tám tháng, không rút kịp theo bộ đội đành phải ẩn trong hẻm núi.
Năm 1941, chiến tranh kháng Nhật bước vào giai đoạn cầm cự. Quân đế quốc Nhật và bọn Hán gian tiến hành ngày càng mạnh những cuộc càn quét rất tàn khốc, khiến căn cứ địa kháng Nhật bước vào thời kỳ khó khăn, gian khổ nhất. Từ trung tuần tháng Tám trở đi, Tư lệnh phương diện quân Hoa Bắc của Nhật Okamura tập trung điều năm sư đoàn, sáu lữ đoàn hỗn hợp và quân Ngụy, tổng cộng trên bảy vạn quân. Chúng dùng các cách đánh "Dùng bức tường thép hợp vây”, "Càn quét theo kiểu lược chải", "Càn quét di động”, tiến hành càn quét đại quy mô vào căn cứ, ý đồ tiêu diệt cơ quan lãnh đạo Đảng, chính quyền và bộ đội chủ lực, đập tan căn cứ địa kháng Nhật Tấn-Sát-Ký. Dưới sự chỉ dẫn phương châm hành động chính xác do Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch đề xuất, toàn thể quân dân khu giải phóng Tấn-Sát-Ký đã anh dũng đấu tranh, triển khai việc "chống càn quét", "chống cướp phá lương thực", "chống đốt phá xóm làng”. Chủ lực của Bát lộ quân chọn thời cơ thích hợp đã luồn vào hậu phương địch, phối hợp với các đội du kích và dân quân quấy rối, ngăn chặn địch. Quân dân ở miền núi và đồng bằng phối hợp, chi viện lẫn nhau, đánh mạnh vào quân cướp Nhật Bản. Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật ở trong khu giải phóng Tấn-Sát-Ký, trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật đã bồi dưỡng số lớn nhân tài chỉ huy quân sự ưu tú cho Bát lộ quân, cung cấp cho địa phương một số lớn cán bộ lãnh đạo và tổ chức xuất sắc, cho nên rất sớm đã trở thành "cái gai trước mắt” của quân địch và đã nhiều lần trở thành mục tiêu vây quét trọng điểm của giặc Nhật. Năm 1940, tôi là chính trị viên đội nữ sinh của trường, sau khi đội nữ sinh tốt nghiệp tôi lại được điều về công tác ở Hội Phụ nữ cứu vong huyện Linh Thọ. Tháng Tám năm 1941, tôi mang thai gần tám tháng. Lãnh đạo cho tôi trở về Phân hiệu hai để nghỉ. Cuối tháng Tám, Phân hiệu hai nhận được mệnh lệnh của trên di chuyển đến huyện Hành Đường, ở về đông bắc huyện Linh Thọ. Một bộ phận của phòng chính trị, đoàn văn công, phòng hậu cần, được biên chế thành thê đội 2 do chủ nhiệm khoa công tác trực thuộc lúc đó là Hồng Thủy phụ trách chỉ huy. Tôi cũng đi theo thê đội 2. Đoàn giáo đạo quân khu cử ba tiểu đoàn, do các tiểu đoàn trưởng độc lập chỉ huy làm nhiệm vụ yểm hộ. Để giữ bí mật mục tiêu hành động, ban ngày chúng tôi giấu quân trong hẻm núi, trời tồi hẳn mới hành quân. Tôi mang cái thai tám tháng, đi lại lặc lè, theo bộ đội hành quân, cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Trời thì tối đen như mực, đường hẻm trên núi quanh co khúc khuỷu, hành quân bước thấp bước cao, không va phải đá thì cũng vấp phải cây, vô ý mà bước thụt hố thì ngã lăn quay. Gặp chỗ dốc đứng và trơn thì chỉ có ngồi bệt mà tụt dốc. Tôi quá mệt, mồ hôi chảy ra như tắm, há hốc mồm thở dốc, chỉ muốn ngồi lại nghi một lát. Tôi biết rằng ngồi lại nghỉ là lạc đội ngũ, chết là cái chắc. Tôi chỉ có một ý nghĩ phải theo kịp bộ đội, nên cắn chặt răng, kiên trì cùng bước theo các đồng chí của mình. Quân địch tiến vào vùng núi non hiểm trở của quân khu, ngoài việc thực hiện chính sách "Tam quang” (đốt sạch, giết sạch, phá sạch), chúng chủ yếu tìm đánh bộ đội chủ lực của ta. Thế nhưng chúng toàn vồ hụt hoặc bị đánh úp tơi tả. Vì thế chúng điên cuồng phá hoại điều kiện sinh tồn của quân và dân ta. Bọn quỷ đó đi đến đâu là đập phá tan tành, thậm chí còn đào bới lương thực của bà con giấu dưới giường lò và trong lò bếp, chúng thực sự như một bầy lang sói. Chúng cũng rút kinh nghiệm những bài học từ thất bại nên có lúc chúng hết sức bí mật tiến hành phục kích quân ta. Qua mấy ngày liên tục cấp tốc hành quân, đến khi chúng tôi tiến vào địa giới huyện Hành Đường, tiến về phía núi Ngao Ngư, thì xảy ra sự việc ngoài dự kiến. Đêm hôm đó trời không trăng sao, tối đen như mực, xòe bàn tay trước mặt cũng chẳng nhìn thấy gì. Bốn bề yên ắng, chỉ nghe thấy chân người bước lạo xạo và văng vẳng tiếng chó sủa ở xóm xa vọng lại. Đột nhiên bộ đội dừng lại, theo lệnh từ trên truyền xuống thì tất cả nghỉ tại chỗ chờ lệnh. Mọi người rất nóng ruột, đoán già đoán non chắc có việc gì xảy ra. Vì trời quá tối, đội hình hành quân do người dẫn đường dẫn lạc xuống một thôn nhỏ dưới chân núi Ngao Ngư. Khi phát hiện sai, người dẫn đường đã bỏ trốn. Chúng tôi mất liên lạc với bộ đội yểm hộ, mất luôn cả phương hướng. Đơn vị đã vào sát thôn, không biết ở trong đó có địch hay không. Thế là Hồng Thủy cho bộ đội dừng lại, và cho phái trinh sát mò vào thôn nắm tình hình địch. Lúc đó quân địch đã nghe thấy tiếng lừa, ngựa ngoài thôn song không biết tình hình hư thực của quân ta ra sao, chúng bắn mấy phát súng rồi leo lên chiếm điểm cao khống chế ở bắc núi. Chờ đến khi người của riêng Thủy phái vào thôn đã nắm rõ tình hình địch thì bổ đội đã nằm trong tầm hỏa lực của địch. Đã xảy ra một số thương vong. Cho tới khi đoàn giáo đạo quân khu đi sau tới dùng hỏa lực yểm hộ thì đoàn quân của ta mới rút được ra. Tình huống này, mãi khi tìm được về đơn vị nghe kể lại tôi mới biết. Khi bắt đầu súng nổ, Lý Ninh, một nữ y sĩ trẻ của Phân hiệu hai, đã dẫn tôi vào ẩn ở một hẻm núi cây cối um tùm, nấp tạm ở đó. Không ngờ vì thế chúng tôi mất liên lạc với bộ đội. Sau khi bộ đội rút đi, quân địch bắt đầu sục sạo vào núi, tiếng nói của chúng nghe rõ mồn một. Chúng tôi nín thở, ngồi im không dám động đậy và chuẩn bị nếu vạn nhất bị địch phát hiện, thì chúng tôi quyết liều chết với chúng, không để bị bắt làm tù binh. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 27 Tháng Sáu, 2010, 04:19:13 pm Trời sáng rõ, bốn bề im ắng. Xem ra, cuộc sục sạo vào núi của địch đã kết thúc. Hồng Thủy đã dẫn các đồng chí đi về đâu? Quân địch đã rút hết chưa? Tôi và Lý Ninh đều rất lo lắng. Vì chưa nắm được động tĩnh của địch ra sao, chúng tôi vẫn phải tiếp tục ẩn náu trong hẻm núi đó.
Cho mãi đến chiều, chúng tôi mới nhìn thấy một cụ già vào hẻm núi lấy ngô, tôi mừng quá gọi: "Cụ ơi…” Vừa nghe tiếng gọi, cụ già đã cắm cổ chạy. Không biết làm thế nào, một mặt chúng tôi đoán thử hướng đi của các đồng chí, một mặt động viên lẫn nhau. Vì chúng tôi mặc quân phục, lại chưa rõ địch ra sao, không dám lộ mặt làm bừa. Trời dần dần tối, bên ngoài vẫn hoàn toàn vắng lặng. Chúng tôi đoán rằng địch đã rút hết về đồn bốt, nếu tiếp tục chờ, bộ đội đi càng xa, càng khó tìm về. Thế là chúng tôi rời hẻm núi, bò lên đỉnh, quyết tâm tìm về với các đồng chí của mình. Lên đến đỉnh núi, tôi và Lý Ninh đều hoảng. Bốn bề toàn núi cao trùng điệp, nhìn không thấy một xóm thôn nào, không một bóng người, chỉ thỉnh thoảng có một vài tiếng súng từ xa vọng lại. Lúc đó tôi mới sực nhớ, đã một ngày một đêm không ăn uống gì, bụng đói cồn cào. Tôi đảo mắt nhìn quanh, mừng rỡ khi nhìn thấy một cây to, giữa đám lá xanh có những đốm đỏ, tôi trỏ xuống sườn dốc bảo Lý Ninh: "Chúng ta trước tiên phải lấy táo kia nhét vào bụng cái đã”. Hai người chúng tôi mặc gai táo đâm vào tay đã vặt táo ngốn lấy ngốn để. Trời đã tối rồi. Biết tìm bộ đội ở đâu? Chúng tôi vừa niệt vừa lo, lăn ra ngủ như chết. Rời khỏi bộ đội, lại nằm giữa vòng vây của địch, địch ở xa chúng tôi bao nhiêu? Các đồng chí ta ở đâu? Tất cả đều không biết, cứ như đứa con đang nấp dưới sự săn sóc của bố mẹ nay bỗng nhiên bị bỏ rơi, trong lòng rất chua xót. Trong lúc ngủ say, nỗi suy tư lại biến thành một giấc mộng đẹp. Trong mộng, tôi gặp lại đồng đội, Hồng Thủy dùng tẩu thuốc chỉ vào tôi nói: "Trần Kiếm Qua, nếu em không trở về là chúng ta mất ba mạng người đấy!" Tôi cúi xuống nhìn cái bụng to của mình, mỉm cười. "Vì trong đó còn một tí nhóc yêu quý đang ngủ đấy!" Ở hướng đông, trời vừa hửng sáng. Tôi tỉnh dậy mắt vẫn còn đọng giọt lệ sung sướng vì giấc mộng đẹp. Tôi đem chuyện trong mơ của mình kể cho Lý Ninh nghe. Cô ta rất phấn khởi nói: "Chính trị viên, điềm báo hôm nay thế nào chúng ta cũng tìm thấy bộ đội!" Chúng tôi men theo khe núi hai ngày, bốn bề đều là núi, trừ cây tùng và thông ra, núi đầy các tảng đá to chồng chất, tôi và Lý Ninh đã không biết phương hướng đi ra sao, chỉ còn cách tìm dân ở gần đó để hỏi tin tức về nơi ở của bộ đội. Chúng tôi trèo lên một đỉnh núi nhỏ, phật hiện dưới núi có một xóm nhỏ, có chừng hơn hai mươi nóc nhà, khói bốc lên lơ lửng, có thể nhìn rõ hình dáng chuyển động của người trong thôn. Chúng tôi đoán chắc trong thôn không có địch nên vội vã xuống làng gặp bà con vẫy tay, lên tiếng gọi. Người trong thôn nghe thấy tiếng gọi lại không nhìn rõ là ai, bèn cho rằng quân địch lại đến, người lớn trẻ con hấp tấp chạy ra ngoài thôn. Điều đó làm chúng tôi bấn cả lên, vội nhanh chóng chạy xuống núi. Khi bà con nhìn rõ là hai nữ chiến sĩ Bát lộ quân mới thôi chạy. Nguyên do là, mấy ngày nay, dân trong thôn đều bỏ làng chạy tránh cuộc càn của địch. Địch đã rút về pháo đài rồi nên nay mới lục tục kéo về. Vừa may, trong làng có một người vừa đi dẫn đường cho bộ đội của Phân hiệu hai mới về, biết được hướng đi của bộ đội, và sau chính nhờ ông ta dẫn đường, chúng tôi tìm về được đơn vị. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 27 Tháng Sáu, 2010, 04:20:28 pm Tiếng khóc oa oa chào đời của một bé sơ sinh cắt ngang sấm vang chớp giật, một sinh mệnh ra đời trong gió táp mưa sa.
Vì chiến đấu ở núi Ngao Ngư bất lợi, bộ đội có thương vong, tôi và Lý Ninh lại bị lạc, không biết ra sao, nên Hồng Thủy rất buồn, bực bội, điều đó cũng dễ hiểu. Khi chúng tôi trở về đơn vị không lâu, tôi và Hồng Thủy bất đắc dĩ lại phải chia tay nhau. Tôi sắp ở cữ, thực không thể thích ứng được với sinh hoạt chiến đấu khẩn trương của bộ đội, nếu tiếp tục di chuyển theo bộ đội chỉ tăng thêm phiền phức cho đồng đội. Tổ chức quyết định để Lý Ninh ở lại cùng tôi, ẩn náu trong một thôn nhỏ miền núi của huyện Hành Đường, đợi trận càn của địch kết thúc, sẽ lại đón về với bộ đội. Khi chia tay, người hay chuyện như Hồng Thủy mà cũng chẳng nói được nên lời. Anh lẳng lặng ngắm tôi hồi lâu rồi mới nói: "Anh không có cách gì lo được cho em, em phải giữ gìn cẩn thận. Hết càn quét chúng ta gặp lại nhau, em nhất định phải hết sức chú ý đề phòng”. Tôi hiểu Hồng Thủy rất lo cho tôi nên an ủi anh: "Anh cứ yên tâm, em và cô y sĩ Lý Ninh ở cùng nhau, lại còn bà con chung quanh, không có vấn đề gì đâu, em đã chuẩn bị tư tưởng, khó khăn lớn đến mấy cũng không đánh gục được em." Hồng Thủy gật đầu nói: "Anh biết em rất kiên cường”. Anh nhắc lại: "Hãy tự mình hết sức giữ gìn em nhé". Không ngờ rằng thời gian của cuộc càn đặc biệt dài, tôi đã gặp phải vô vàn khó khăn không tưởng tượng nổi. Sau khi chiến tranh chống Nhật bắt đầu, Đảng thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức ở đại bộ phận nông thôn, tranh thủ đại đa số địa chủ, phú nông đứng về phía chính quyền dân chủ kháng Nhật. Chính sách sáng suốt đó đã có hiệu quả rõ rệt. Lúc bắt đầu, cán bộ thôn suy nghĩ rằng gia đình phú nông có điều kiện kinh tế tốt hơn, liền gửi tôi và Lý Ninh ở nhờ một gia đình phú nông. Lúc đầu họ đồng ý cho chúng tôi ở lại nhà họ. Thế nhưng thời gian cuộc càn quét ngày một dài, dân toàn thôn phải ở trường kỳ trong khe núi để tránh địch, gia đình họ cũng tránh vào đó, nhưng ở cách xa chúng tôi vì sợ bị liên lụy. Cuộc càn của địch không phải dăm ba ngày kết thúc. Không có quần chúng che chở làm sao chúng tôi trụ lại được? Thế là cán bộ thôn lại đưa chúng tôi đến ở nhờ hang của một gia đình bần nông. Gia đình này quá là nghèo. Trên chiếc giường lò có một cái chiếu rách, chiếc chăn thì thủng hết lỗ này đến lỗ khác, ngoài ra chẳng có một đồ vật gì đáng kể. Ông chủ nhà và cậu con trai lớn đã đi dân công phục vụ tiền tuyến, ở nhà chỉ còn mỗi bà chủ. Chị tuổi ngoài bốn mươi, người rắn chắc, mới nhìn đã biết là người hay lam hay làm và cứng rắn. Chị rất nhiệt tình dẫn chúng tôi vào hang động nhà mình, nhìn cái bụng đã gần chín tháng của tôi chị hỏi tôi với vẻ ái ngại: "Này cô em lớn? Em thật không giản đơn chút nào. Bụng mang dạ chửa thế kia lại còn dám hành quân chiến đấu." Chị một mặt sắp xếp chỗ nghỉ cho chúng tôi, một mặt nói thao thao bất tuyệt: "Ôi dào, đàn bà con gái mà, đó là cái số mệnh vậy. Bọn quỷ Nhật trời đánh kia rồi sẽ có ngày Bát lộ quân tóm cổ hết chúng mày”. Chị chuyển sang nói bảo đảm với ông trưởng thôn: "Thôn trưởng, ông cứ yên tâm. Mọi người trong Bát lộ quân thay chúng em đánh giặc. Hai cô này đến nhà em, nhà em sẽ coi như người nhà. Nhà em nhất định sẽ săn sóc các cô ấy thật tốt." Cuộc càn quét của địch mỗi ngày một quyết liệt, bọn giặc ba ngày hai lần đánh vào thôn, không thể nào chịu đựng nổi. Thế là thôn trưởng kéo toàn thể bà con, già trẻ lớn bé vào một hẻm núi ở gần một vùng núi rừng rậm rạp để ẩn náu. Nếu không phải là chiến tranh, cái hẻm núi này là một nơi phong cảnh tuyệt đẹp: trên đỉnh là tùng mọc, sườn núi suối róc rách chảy, từng hàng cây mọc xanh thẫm, từng vạt hoa rừng thơm ngát. Từng vạt, từng vạt táo quả mọc sum sê. Các quả táo vừa đỏ, vừa tươi, chiu chít, vít cành gần như là là sát đất. Nhưng tình hình khó khăn trước mắt khiến chẳng ai còn tâm địa ngắm cảnh. Trong hẻm núi, bên này là chỗ nằm của một nhà, bên kia là chỗ nằm của hộ khác, lại có mấy người nông dân đang bị sốt rét, không thầy, không thuốc, họ nằm co quắp trên đám cành cây xếp lổn nhổn. Nhìn thấy họ sốt rên hừ hừ, tôi thực chịu không nổi. Đã bước vào mùa thu, trời bắt đầu lạnh. Toàn bộ hành lý đồ dùng của tôi đã bị mất trong trận núi Ngao Ngư, chỉ còn hai chiếc áo đơn đang mặc. Chúng tôi sống ở ngoài trời, gió mưa dồn dập, rải trên đất có chiếc chiếu rách của chị nông dân, chăn đắp thì cũng chỉ còn chiếc chăn rách lòi cả bông của chị. Sau khi mặt trời khuất núi, gió lạnh bắt đầu, người rét run cầm cập. Vì không muốn làm phiền chị chủ nhà và Lý Ninh, tôi không kêu ca một lời. Lần vào núi này, chúng tôi không mang theo được đồ ăn gì cả. Chị chủ nhà vốn đã đói ăn, thiếu mặc, cuộc sống đã vô cùng khốn khổ, vì quân Nhật càn quét liên tục, đốt sạch, cướp sạch, phá sạch. Mùa màng thu hoạch cũng chẳng được bao nhiêu. Trong hoàn cảnh tàn khốc đó kiếm cái ăn ở đâu ra? Nếu nhà còn có chút lương - thực thì cũng phải giấu kỹ, để dành. Vào lúc đó, táo mọc đầy cây, đầy rừng đã là món ăn cứu mạng cho chúng tôi. Chúng tôi đói thì ăn táo, khát thì xuống uống nước khe. Táo ở rừng vừa to vừa ngọt, thế nhưng ăn táo thay cơm trong một thời gian dài thì chịu không nổi. Vỏ táo không lợi cho tiêu hóa, ăn nhiều sẽ bị trướng bụng, mấy ngày không đại tiện được, vô cùng khó chịu. Y sĩ Lý Ninh đi theo giúp đỡ tôi vào núi ẩn náu đã phải chịu khổ lây rất nhiều. Cô tới Phân hiệu hai Trường Đại học Kháng Nhật, đầu tiên trực thuộc ban nữ sinh. Tôi đã từng làm chính trị viên của cô. Lúc đó, cô chưa đầy hai mươi tuổi, là nữ thanh mền học sinh đến từ khu Quốc Thống, mang theo một hình thức đẹp, yêu kiều của một phụ nữ Giang Nam. Cô không ưa nói nhiều, song tính cách khá quật cường, mạnh mẽ. Một buổi sáng tháng Mười, tôi đột nhiên đau quặn lưng, bụng co thắt từng cơn, sau đó là những cơn đau dữ dội. Tôi biết rằng sắp tới lúc sinh. Vào lúc đó, bọn giặc Nhật luôn sục vào làng để phục, chúng tôi không về được Còn ở đây giữa núi non hoang dã, đến một chỗ ẩn náu cũng khó. Làm thế nào bây giờ? Lý Ninh và chị chủ nhà lo lắng cuống cuồng. Tôi thì cứ từng cơn, từng cơn đau dữ dội, cố gắng thều thào bảo họ: "Cứ bình tĩnh, có cuống lên cũng vô ích, nếu như không về làng được thì chọn một chỗ nào kín đáo, yên tĩnh là được. May là hôm nay thời tiết tốt." Chị chủ không biết kiếm đâu ra được một cái rìu, nhanh chóng chặt xếp được một đống cỏ mềm, phủ lên một tấm đá phẳng ở một chỗ kín đáo. Lý Ninh nhẹ nhàng dìu tôi nằm xuống. Thời tiết ở vùng núi thay đổi trong nháy mắt. Vừa mới trời quang, mây tạnh, mặt trời chói chang, một lát mây đen đã phủ tồi trời, cuồng phong nổi dậy. Gió trong hẻm núi thật dữ dội, các cây nhỏ ở trên núi bị thổi ngả nghiêng. Xen vào đó những trận mưa núi, nước đổ ào ào như thác dội xuống. Chị chủ, Lý Ninh và tôi đều như mới lội ở sông lên, người ướt sũng. Cái thai trong bụng quẫy dữ dội, giờ sinh tới rồi. Không nói tới việc một chỗ ẩn náu không có, chỉ cần một cái hang nhỏ để vượt cạn cũng chịu. Chị chủ nhà dùng hai cái gậy chống kẹp cái chiếu rách để "che mưa chắn gió" cho tôi. Lý Ninh thì chuẩn bị để đỡ đẻ. Chiếc chiếu che trên đầu tôi bị gió thổi lúc sang trái, lúc sang phải, chị chủ dùng hai tay nắm chặt hai bên chiếu để căng ra, giữ chặt cho gió khỏi cuốn tung. Nhìn nước mưa chảy từ đỉnh đầu chị ào ào, tóc ướt bết vào má, che cả mắt, tôi vô cùng cảm động, trong cơn đau miệng vẫn lắp bắp cám ơn chị. Gió vẫn rít, mưa vẫn bay, từng cơn đau dữ dội làm cho tôi đờ hết người. Đột nhiên một tiếng khóc của trẻ sơ sinh cắt ngang sấm vang chớp giật, tiếng khóc nghe sao trong trẻo và êm ái, một sinh linh mới đã ra đời trong gió táp mưa sa. "Chính trị viên ơi, là một cháu gái." Lý Ninh nâng cháu bé lên, phấn khởi reo to. "Tốt, tốt, một cô bé gái", chị chủ vẫn căng chiếu che cho tôi, nhưng quay đầu lại ngắm cháu bé trong tay Lý Ninh. Cháu bé sinh ra rồi, không nói tới quần áo, tã lót, ngay đến một miếng vải bọc thân cũng không có. Lý Ninh không nói không rằng, xé luôn cái khăn trắng của mình làm đôi. Như vậy cháu bé cũng có cái bọc cho ấm, không đến nỗi phải phơi thân lộ thể. Việc sinh cháu bé được thuận lợi, mưa bão cũng đã dừng. Tôi chưa hết mệt mỏi sau khi sinh nở, chị chủ nhà và Lý Ninh cũng mệt bở hơi tai, ngồi bên cạnh tôi, không nói được lời nào. Trên đỉnh núi phía đông "cây tin tức" báo yên đã được hạ xuống, như vậy là quân Nhật đang xuất quân mò tới. Thế là chị chủ nhà bế cháu bé, Lý Ninh dìu tôi, lại phải đi theo dân chúng trong thôn di chuyển vào khe núi sâu hơn ở phía tây. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 27 Tháng Sáu, 2010, 04:21:19 pm Không một giọt sữa, không một hạt gạo, con gái tôi được bế đi khắp mọi nhà để "xin ăn”
Sau cuộc di chuyển vội vã đó, tôi mới có dịp ngắm kỹ con gái yêu của mình, khuôn mặt trái xoan trắng hồng, lông mi dài và cong, cái mũi nhỏ, cái miệng môi cong luôn mút mát, hít hà. Tôi liền vạch áo chuẩn bị cho con bú. Bấy giờ tôi mới phát hiện ra, đôi bầu vú lúc mang thai cương mọng lên, từ khi sinh con sao đã nhão nhoẹt thế này? Tôi cố gắng nặn hai bầu vú, song không một giọt sữa nào chảy ra. Tôi run rẩy cả người, làm thế nào đây? Đây là nơi núi non hoang dã, một hạt gạo cũng không có, tôi làm sao nuôi sống nổi đứa con yêu vừa mới chào đời? Nước mắt tôi bỗng trào ra, rớt cả xuống khuôn mặt trắng mịn bé bỏng của con tôi. Vì sinh hoạt dã ngoại, hành quân chiến đấu vất vả, tôi ăn không tốt, ngủ cũng kém. Hơn một tháng nay, tôi lại chỉ sống nhờ ăn táo rừng, khi đẻ xong, một hớp cháo, một thìa mì để húp cũng không, lại phải chạy đi chạy lại tránh địch càn quét, tự nhiên mất sữa hoàn toàn. Con tôi đói khóc vang lên, tiếng khóc như mũi dao đâm suốt tim tôi. Thế nhưng tôi còn làm gì được? Hay là đến xin bú nhờ các bà mẹ có con mọn? "Nào, đưa cháu bé cho tôi Trong hẻm núi này có mấy chị đang nuôi con bú. Tôi sẽ nói xin họ cho bú nhờ, tôi không thể tin được cháu bé như thế này lại chịu chết đói”. Chị chủ nhà bế cháu đi khắp nơi thương lượng "Này các bà mẹ hảo tâm ơi! Đây là cháu bé, con của Bát lộ quân. Cha nó đang ở tiền tuyến đánh Nhật. Chúng ta hãy mỗi người cho cháu một miếng sữa, hãy cứu lấy cháu bé này!" Các chị em tốt bụng khi nghe chị chủ nhà tôi nói vậy đều xăng xái, cởi áo vạch vú cho cháu bú nhờ. Ban ngày, chị chủ nhà bế cháu đi khắp nơi xin sữa. Ban đêm thì chịu không biết làm sao. Mọi người chạy giặc cả ngày rất mệt, cần nghỉ ngơi cho khỏe. Chúng tôi làm sao dám quấy rầy họ? Cứ đến tồi, con gái tôi lại đói, khóc sa sả. Tôi bế cháu lên, vỗ về, nựng nịu, cũng chẳng ăn thua, đặt cháu nằm xuống đất để cháu lạ, nín một chút cũng không được, vẫn cứ ra rả khóc. Chị chủ nhà và Lý Ninh đã quá mệt, lăn ra ngủ say như chết. Tôi không còn dám nhờ vả gì họ. Tôi lại bế con lên, lại ru, lại vỗ về Lúc đầu cháu vẫn khóc gào lên, song dần do mệt quá, tiếng khóc nhỏ dần, cuối cùng không còn sức mà khóc nữa, ngủ thiếp đi. Mỗi đêm đều cứ phải xoay xở như vậy, tôi không chợp được mắt, chạy giặc đã mệt, đêm con lại đói, khóc, tôi chẳng sao ngủ được. Cuối cùng tôi mắc phải chứng mất ngủ nghiêm trọng. Mỗi đêm tôi nằm ngắm sao, sao mọc rồi sao lại lặn. Các đồng chí bây giờ ở đâu? Anh Hồng Thủy ơi, anh ở đâu? Tôi mơ mơ, màng màng tìm ở các vì sao trên không trung... Rời bộ đội, rồi tôi cũng phải chạy giặc chung với dân, Lý Ninh vì tôi đã bị khổ lây. Thế nhưng cô vẫn vui vẻ, lạc quan, không hề tỏ ra hoang mang, dao động, chưa hề thốt ra một lời kêu ca, oán trách. lại luôn luôn tỏ thái độ vui vẻ Cô biết tôi sinh cháu xong, người suy nhược, sợ tôi ăn không tiêu, càng cố gắng chăm sóc tôi. Mỗi lần di chuyển, cô đều bế cháu hộ. Cháu chỉ có hai chiếc tã tàm tạm, không kịp thay, chốc thì nước đái, lát thì dính phân. Lý Ninh không chút nề hà, thấy tã bẩn lập tức mang xuống suối giặt sạch ngay, rồi căng lên cây, rải trên thảm cỏ để nắng chiếu, gió thổi chóng khô. Lý Ninh ngày càng gầy hẳn đi, tôi vừa cảm kích, vừa đau lòng. Có lúc thấy cô không chú ý, tôi lẻn xuống suối tự giặt tã lót cho cháu. Đã cuối thu, trời càng ngày càng lạnh. Tôi vẫn chỉ có hai cái áo đơn để mặc. Đêm đến gió lạnh gào rú, toàn thân rét run. Tôi ước ao sao có được bát canh nóng, hay một bát nước sôi cũng tốt. Cái rét đã làm ta khổ cực, nhưng cực nhất là tôi chỉ có hai chiếc áo đơn mặc cả trên người, không sao thay ra để giặt được. Mồ hôi, nước mưa, bùn đất và các chất bẩn trên người quyện vào nhau, khiến người tôi bốc mùi hôi. Vì sinh con giữa gió rét mưa sa, sau tháng ở cữ, toàn gối đất nằm sương, tôi không hiểu mình bị bệnh quái ác gì, toàn thân sưng phù. Trên người ghẻ lở, đầu tóc toàn chấy. Sắp tới đông, ruồi nhặng vù vù bâu quanh, đuổi không nổi. Tôi đi đâu, ruồi nhặng bay quanh từng đàn. Tôi không dám đi tới chỗ đông người, bất cứ di chuyển tới đâu cũng phải tìm chỗ nằm cách xa mọi người. Cuộc càn quét lần này của giặc Nhật là cuộc càn quét dài ngày nhất và cũng tàn khốc nhất trong cuộc kháng chiến. Lúc đó, không quản mọi cực nhọc, tôi đã chịu đựng, cơ thể rất suy nhược, song tôi không hề mất tinh thần. Vì tôi vẫn tin chắc rằng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch, quân dân Tấn-Sát-Ký anh hùng nhất định sẽ đập tan cuộc càn quét của giặc Nhật, chúng tôi nhất định sẽ được trở về Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật, đại gia đình ấm cúng của chúng tôi. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên nhất là cháu bé được sinh ra trong gió mưa bão táp, suốt ngày chịu nắng gió, sống bữa đói bữa no, tuy thân hình cháu nhỏ bé, ngoài bị một số mụn do viêm nhiễm, cháu không hề mắc bệnh gì nữa. Phần lớn là nhờ được cô Lý Ninh có mang theo thuốc đỏ, mỗi ngày đều bôi cho cháu vài lần, các chỗ viêm nhiễm không những không phát triển mà dần dần khỏi hẳn. Chúng tôi xa bộ đội đã hai tháng. Một hôm, vào trung tuần tháng Mười, tin tức về việc quân dân Tấn-Sát-Ký đã giành thắng lợi "Chống càn" được truyền tới. Chúng tôi cùng bà con trở về làng. Từ sau khi sinh nở, lần đầu tiên tôi được ăn một bát mì nước còn bốc khói, ăn một chút lương thực. Trong cái động nhỏ của chị chủ nhà, tôi ngủ được một giấc yên ổn, ngủ rất ngon và rất sâu. Khi tỉnh dậy nhìn thấy con gái dầu mỏ, đưa đôi tay nhỏ bé về phía mẹ. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 27 Tháng Sáu, 2010, 04:22:17 pm Đáng thương cho con gái, vừa mới mở mắt chào đời đã lại rời bỏ nhân gian.
Trở về làng không lâu, Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật quả nhiên đã cử người về đón chúng tôi. Tôi và Lý Ninh mang theo một cháu bé gầy yếu như một con gà mới nở, may mà không chết đói, vô cùng cảm ơn và bịn rịn chia tay chị chủ nhà bần nông đã đối đãi với chúng tôi như người ruột thịt. Phải đi bộ khoảng chín mươi lý (45 km), cuối cùng chúng tôi cũng về được đến nơi Phân hiệu hai đang ở. Vừa tới cửa trường, Hồng Thủy và các đồng chí đã ra đón. Mọi người dìu tôi vào nhà. Người đi lấy nước rửa mặt cho tôi, người nấu cho tôi một bát mì nóng hổi. Bác sĩ ở đội quân y cũng đến khám cho tôi. Trở về giữa một tập thể ấm cúng, gặp lại người thân của mình, những nỗi đắng cay, đau khổ trong hai tháng qua dâng lên trong tôi, tôi không tự chủ nổi, bật khóc hu hu. Mọi người đều an ủi tôi, khuyên tôi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Một lúc lâu sau tôi mới bình tĩnh trở lại, ăn được liền ba bốn bát mì, thật là ngon. Trong nồi mì còn có hai quả trứng gà. Tôi được tắm rửa, thay quần áo, mùi hôi trên người được tẩy sạch. Sau khi mọi người đi rồi, Hồng Thủy đỡ tôi vào giường nằm nghỉ do anh đã tự tay sắp xếp. Anh bế con gái và vỗ về chăm chú ngắm con. Cháu bé đã được uống nước xúp do các đồng chí nấu, ăn no cháu ngủ ngon lành. Hồng Thủy ngồi ghé bên giường hỏi tôi tỉ mỉ về tình hình tôi và đồng bào chạy giặc trong hai tháng qua. Tôi lộn xộn kể lại những nỗi khổ sở mà tôi và cháu bé đã phải chịu, tuôn ra cho hết nỗi lòng. Kể được xong, tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng dễ chịu. Hồng Thủy lặng yên ngồi bên cạnh tôi, lắng nghe tất cả nỗi niềm tâm sự của tôi, mặt anh rất buồn, mãi sau mới thốt ra một câu: "Em và con sống trở về được như thế này thật không dễ chút nào! Giả dụ em và con bị chết thì thật anh ân hận suốt đời". "Ấy là nhờ chị chủ nhà bần nông và y sĩ Lý Ninh, và còn biết bao bà con đáng quý nữa, nếu không em và con không thể trở về được". Hồng Thủy không nói một lời, trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng anh đứng dậy nói một cách khẳng định: "Đó chính là sức mạnh của Đảng! Là sức mạnh của dân đó!" Khi tinh thần hoàn toàn bình phục thì sức khỏe tôi lại suy sụp Tôi nằm bẹp tại giường, không dậy nổi. Tôi đã đổ bệnh rồi. Khi về tới Phân hiệu hai xong, mọi người đặt cho cháu bé một cái tên để kỷ niệm việc ra đời trong hoàn cảnh bão táp mưa sa của cháu: "Phong Ba". Hồng Thủy suốt ngày bận công tác, tôi thì nằm bẹp, đành phải gửi cháu nhờ một bà ở thôn bên nuôi dưỡng. Nhìn thấy con mỗi ngày một phổng phao, trông thật đáng yêu. Không ngờ, ở với bà được sáu tháng, thì con bà mắc bệnh sởi, cháu bị lây, không lâu sau chuyển sang viêm phổi. Đáng thương cho bé "Phong Ba", vừa mới mở mắt chào đời đã phải lìa bỏ nhân gian. Đó là đứa con đầu lòng của tôi và Hồng Thủy! Cháu đã chịu bao nhiêu gian khổ đâu có dễ mà sống được. Mấy ngày mấy đêm hến, tôi không sao ăn ngủ được, cảnh con ra đời cứ từng màn, từng màn lại diễn ra trong đầu tôi. Tinh thần của tôi cơ hồ bị suy sụp. Đồng chí Tôn Nghị, Hiệu trưởng của chúng tôi, đến thăm và an ủi tôi: "Cháu bé dù sao cũng đã mất rồi, cô không nên quá đau buồn, nên giữ gìn sức khỏe cho tốt”. Hiệu trưởng còn động viên tôi thêm: "Đường đi còn dài, cần phải tiếp tục làm tốt công tác của Đảng nữa!" Lời của Hiệu trưởng Tôn Nghị đã làm cho tôi phấn chấn trở lại. Tôi tuy đã phải chịu khổ không tưởng tượng nổi, nhưng vẫn còn sống trở về, còn có thể tiếp tục công tác vì Đảng, đấy không phải là hạnh phúc lớn nhất hay sao? Cuối cùng tôi cũng vượt qua được sự thử thách lần này. Qua thời gian chạy chữa, tôi dần dần khỏi bệnh và lại bước vào cuộc chiến đấu mới. Để tránh nhớ lại những kỷ niệm đau buồn, từ đó về sau, tôi và Hồng Thủy không bao giờ nhắc tới tên thôn đó. Trong suốt một năm nằm bẹp chữa bệnh, Hồng Thủy thường ở bên tôi, nắm tay tôi nói những lời âu yếm, có lúc anh còn đùa ghẹo tôi. Thời đó chiến tranh kháng Nhật đang ở giai đoạn cầm cự, điều kiện sống rất gian khổ. Về vật chất, Hồng Thủy không có gì cho tôi, nhưng về tinh thần anh đã an ủi tôi rất lớn, giúp tôi vượt qua những tháng ngày đau khổ. Sau khi khỏe hẳn, tôi được phân về làm giáo viên văn hóa, dạy môn toán, ở đại đội bốn của trường. Chính lúc tôi đang chuyên tâm vào việc dạy học thì bất ngờ lại bị sốt rét. Cơn sốt thường vào ban đêm, nhưng dù đêm bị sốt, ngày tôi vẫn gắng lên lớp. Đối với tôi đó cũng là một thử thách nho nhỏ. Năm 1942, địch lại quay sang càn quét lớn khu "Ký Trung". Khu Ký Trung chi viện lương thực cho khu Bắc Nhạc nhưng không vận chuyển được. Phân hiệu hai chỉ nhận được một số đậu đen - thực phẩm của ngựa. Các đầu bếp đã xay đậu thành bột, nấu lên cho người ăn. Vì có một số đậu đen để lâu đã sinh độc tố, đậu nấu ra vừa đắng vừa sạn, nuốt không trôi, chúng tôi phải hái cả lá, cả hoa, cả quả của cây dương, cây liễu, cây du để ăn cho đỡ đói. Cho đến khi gạo được chuyển đến, tình hình mới có sự thay đổi. Trong thời kỳ Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật gặp phải điều kiện gian khổ nhất, Hiệu trưởng Tôn Nghị và Chính ủy Lý Trí Dân của chúng tôi đã đồng cam, cộng khổ, cùng đi gùi lương thực, cùng đào củ rừng, cùng đi tăng gia với chúng tôi. Đó là công tác chính trị tư tưởng không phải dùng lời. Các đồng chí ấy đã được toàn thể giáo viên, công nhân viên ủng hộ nhiệt liệt. Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, gian khổ, Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật đã bồi dưỡng được hơn một vạn bốn ngàn học viên, cống hiến tích cực cho việc củng cố và phát triển khu giải phóng Tấn-Sát-Ký. Ngày nay, mỗi khi nhớ lại giai đoạn lịch sử này, mọi người "không hẹn mà nên” đều thừa nhận rằng trong đó có một phần tâm huyết của một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế Đồng chí Hồng Thủy. Hơn năm mươi năm qua, tôi không gặp lại được y sĩ Lý Ninh, và chị chủ nhà bần nông, và cũng không nhận được tin tức gì của các chị, cảm ơn các chị, cũng xin cảm ơn các đồng chí ở Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật. Tôi và Hồng Thủy sinh hoạt và chiến đấu ở Phân hiệu hai hơn bốn năm. Nhớ lại những năm tháng gian khổ và tuyệt vời đó tôi lại có thể kiên trì đấu tranh, quyết không khuất phục, đó chính là sức mạnh to lớn mà Đảng và nhân dân đã truyền cho tôi. Đó cũng là điều suốt đời tôi không bao giờ quên. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:11:39 pm Chương VI TỔ QUỐC ĐANG VẪY GỌI Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề xuất với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, hy vọng các đồng chí Việt Nam đang công tác ở Trung Quốc trở về nước để tham gia chiến tranh chống Nhật, đặc biệt là đồng chí Hồng Thuỷ. Từ năm 1941 trở đi, chiến tranh kháng Nhật bước vào giai đoạn cầm cự, quân Nhật, Ngụy điên cuồng tấn công vào các khu giải phóng trên toàn quốc. Vì bị địch vây quét, và kinh tế bị phong tỏa, đời sống của quân và dân các khu giải phóng đều vô cùng khó khăn. Để giảm bớt sự đóng góp của dân, Trung ương Đảng quyết định thực hiện tinh binh, giản chính, đưa một số lớn cán bộ từ các khu giải phóng điều về Diên An, tham gia học tập chỉnh phong. Tôi và Hồng Thủy cùng được điều về Diên An trong tình hình đó. Sau này, tôi mới được biết, Hồng Thủy được điều về Diên An còn một nguyên nhân trọng yếu hơn nhiều. Tháng Mười hai năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, bọn quân phiệt Nhật xâm chiếm Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và đồng chí Hồ Chí Minh nhiều lần đề xuất, hy vọng các đồng chí Việt Nam đang công tác trong Đảng và quân đội Trung Quốc có thể về nước để tham gia chiến tranh kháng Nhật, đặc biệt là đồng chí Hồng Thủy. Đồng chí Hồng Thủy đã đến Trung Quốc hai mươi năm, trên các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, công tác quần chúng, công tác địa phương, xây dựng chính quyền cách mạng, đều đã tích lũy được kinh nghiệm rất phong phú. Đây là lúc đồng chí về nước, phát huy được tác dụng nhất. Đồng chí Hồ Chí Minh đã nhiều lần cùng với các đồng chí Chu ân Lai, Diệp Kiếm Anh, những đồng chí cùng công tác với Người ở Cục Phương nam Quốc tế cộng sản, bàn bạc về vấn đề này. Qua nghiên cứu, Trung ương Đảng quyết định trước hết điều Hồng Thủy về Diên An, tham gia học tập chỉnh phong ở Trường Đảng Trung ương để tu dưỡng thêm, sau đó sẽ chuyển về Việt Nam. Tháng Tư năm 1943, tôi và Hồng Thủy rời huyện Linh Thọ, tỉnh Hà Bắc về Diên An, cùng đi có bảy, tám đồng chí khác. Có một tiểu đội đi theo hộ tống, ngoài ra còn có một chú cần vụ riêng cho Hồng Thủy, họ Tống, mới mười lăm tuổi. Đoàn còn được cấp hai con lừa để thồ hành lý. Chúng tôi đi dọc theo tuyến đường dây Phụ Bình, Hà Bắc, Phồn Tự Sơn Tây, Huyện Đại, Ninh Vũ, Khả Phong, Huyện Hưng, rồi vượt Hoàng Hà ở bến Bát Bảo thuộc huyện Giám, tỉnh Sơn Tây, đến Tuy Đức thuộc Thiểm Bắc. Hành trình dài hơn hai nghìn năm trăm lý (1250 km). Đường đi của chúng tôi toàn qua các khu vực hoang vắng, nghèo nàn, lại phải vượt qua mấy tuyến phong tỏa của địch, đặc biệt là phải vượt qua Ma Thiên Lãnh ở tây bắc huyện Ninh Vũ. Ở đây một lần nữa, chúng tôi lại gặp phải cơn hiểm nguy sống còn. Ma Thiên Lãnh, quanh năm tuyết phủ, dốc cao, đường trơn, vốn gọi là "Núi tuyết nhỏ". Khi chúng tôi lên núi, thời tiết rất tốt, không thấy có gì là khó khăn. Nhưng khi leo đến lưng chừng núi, thời tiết đột nhiên thay đổi, cuồng phong, bão tuyết ập tới. Đoàn chúng tôi gần hai mươi người bị bão tuyết đánh cho tan tác đội hình. Hồng Thủy, chú Tống và tôi dẫn lừa nấp sau một sườn núi để tránh gió. Khoảng một giờ sau, gió lớn đã ngừng, tuyết cũng dừng bay. Chúng tôi dắt lừa rời khỏi vách núi ra đường tiếp tục leo lên. Khi chúng tôi ra tới đường núi thì đã không tài nào phân biệt nổi đâu là đường, đâu là vực. Tuyết dầy phủ khắp mọi nơi, chúng tôi đành lò dò, vừa tiến vừa tìm đường vì nếu bước sai là có thể lăn xuống vực sâu hàng ngàn thước. Một con lừa của chúng tôi trượt chân lăn xuống vực chết. Toàn bộ hành lý của chúng tôi bị mất theo. Xuống được núi rồi, chúng tôi đến một thôn thuộc huyện Khả Phong, dừng chân tại một nhà dân. Các đồng chí cùng đi bị bão tuyết thổi chạy tan tác, không gặp lại được. Nghe bà con nói ở trên núi có một số người bị chết cóng. Chúng tôi vì tạt vào tránh được trong một vách núi chắn gió nên mới còn sống sót. Qua ba tháng đường dài, Diên An của chúng tôi mỗi ngày một gần lại. Vào một buổi chiều giữa hè, cuối cùng chúng tôi đã tới được đất thánh cách mạng - Diên An... Nhìn thấy ngọn Bảo Tháp cổ kính rực đỏ dưới ánh nắng chiều tà, nhìn cảnh núi Thanh Lạng rực rỡ, hùng vĩ trong ánh tịch dương, lòng tôi vô cùng xúc động, mong ước bao năm có được hôm nay, tôi đã được trở về trong vòng tay đất mẹ Diên An. Chúng tôi men theo dòng sông Diên trong vắt tận đáy để về nhà khách (Chiêu Đãi Sở) Trung ương, nhìn đâu cũng thấy mới lạ. Hai bên bờ sông Diên, mọi người tụm năm tụm ba, giặt quần áo, tán chuyện, té nghịch nước, ca hát... một cảnh tượng thật êm ấm, hiền hòa. Tuy gọi là giữa mùa hè, song trên cao nguyên Thiểm Bắc, khí hậu ngày đêm khác biệt, trời vừa tối đã se lạnh. Tôi hít thật sâu làn không khí khô ráo, mát mẻ, bao nhiêu nỗi mệt nhọc do hành quân lâu ngày tiêu tán hết. Đêm đến trăng sáng vằng vặc, vô vàn vì sao lấp lánh trên không, ở các sườn núi ánh đèn của từng dãy hang động cũng tỏa sáng. Nhìn ánh đèn từ xa lấp lánh, cũng như các vì sao trên không, khiến cho ta khó phân biệt đâu là sao trên trời đâu là sao dưới đất, có cảm giác quanh mình toàn sao đang tỏa sáng. Đêm ở Diên An thật đẹp! Về đến Diên An như trở về nhà. Tôi mừng thỏa ước bấy lâu, còn Hồng Thủy thì như cá gặp nước. Diên An có biết bao thủ trưởng cũ, bao bạn chiến đấu cũ, mỗi ngọn cỏ cành cây của Diên An, anh đều quen thuộc. Trên núi Bảo Tháp, bên bờ sông Diên, ở sân bóng rổ, tại vũ đài ở Đại lễ đường Trung ương mọi người thường thấy một người đầu đội mũ đã bạc màu, dáng đi nhanh nhẹn. Không cần nói, mọi người đều nhận ra anh, quý mến anh, một người Việt Nam: Hồng Thủy. Ôi, anh đã trở lại rồi! Để khắc phục khó khăn nghiêm trọng về sinh hoạt vật chất của khu giải phóng, ngoài việc tiến hành "tinh binh giản chính", Trung ương Đảng đồng thời đề ra phương châm chung "Phát triển kinh tế, bảo đảm cung cấp Tại biên khu Thiểm Cam Ninh thì triển khai phong trào "Tăng gia sản xuất lớn". Lữ đoàn 359 của Bát lộ quân tiến hành khai hoang trồng trọt ở vịnh Nam Ni, không những có thừa để tự cấp còn đem phân nửa lương thực cung cấp cho cơ quan trung ương đóng tại Diên An... Lữ đoàn 359 đã trở thành lá cờ đầu của phong trào "Tăng gia sản xuất lớn". Phong trào "Tăng gia sản xuất lớn” của Diên An không những làm giảm sự đóng góp cho nhân dân biên khu, mà còn góp phần cải thiện đời sống cho cơ quan trung ương và cán bộ, chiến sĩ của quân đội. Khi tôi và Hồng Thủy tới Diên An, nhà bếp của Trường Đảng Trung ương đã được tổ chức rất tốt. Mỗi bữa cơm trưa đều có ba, bốn món ăn, lại có cả thịt. Mỗi lần bưng bát cơm ngon lên ăn, tôi lại nhớ tới các đồng chí cũ hiện ở tiền phương, trong lòng dâng lên một nỗi niềm thương xót. Cán bộ ở tiền phương về cũng tham gia ngay vào phong trào sản xuất lớn của biên khu. Đa số người chọn cách quay xa, xe sợi. Họ đem sợi đã xe đi đổi lấy bông và vải vóc cũng có người lại trồng rau ở ven sông, như vậy cũng giải quyết được thức ăn và vải mặc cho bộ đội. Hồng Thủy cũng học xe sợi, song do tính hiếu động, ngồi một chỗ không yên, cuối cùng học chẳng thành. Sinh hoạt văn hóa ở Diên An lúc đó cũng rất phong phú. Ở Cục 2 Trường Đảng, nơi tôi và Hồng Thủy ở, thường tổ chức cho cán bộ học nhảy điệu múa hữu nghị. Mỗi lần mở vũ hội, đèn măng sông sáng trưng, cả nhà như ban ngày. Mọi người đến dự vũ hội rất đông, có người vào học nhảy, nhưng đa số đứng vây ngoài để xem, rất huyên náo. Tôi cũng là một trong số những người xem nhảy. Tôi không những chỉ xem nhảy mà còn lợi dụng ánh đèn sáng, ngồi một bên vũ đài tranh thủ khâu đế giày như thói quen hồi còn công tác ở Hội Phụ nữ huyện Ngũ Đài, đã tổ chức phụ nữ khâu đế giày cho bộ đội để gửi ra tiền tuyến. Có một số người là trí thức ở các thành thị lớn đến đây thấy vậy nhìn tôi chỉ chỉ trỏ trỏ có vẻ buồn cười. Tôi phớt lờ không để ý. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:12:43 pm Chị Thái Xướng hòa nhã, dễ gần, đã để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc.
Mùa xuân năm 1942 Đảng Cộng sản Trung Quốc mở cuộc vận động "Chỉnh phong" ở Diên An... Đảng thành lập đã hơn hai mươi năm, có những kinh nghiệm thành công, lại cũng có những bài học thất bại. Thế nhưng đối với những sai lầm "tả” khuynh, "hữu” khuynh chưa được phê phán, tổng kết một cách có hệ thống. Toàn Đảng chưa nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm của các khuynh hướng sai lầm này. Ở một số khu vực, không lúc này thì lúc khác vẫn xuất hiện các khuynh hướng sai lầm đó. Để toàn Đảng, toàn thể cán bộ, quần chúng xác lập chính xác lập trường, quan điểm, phương pháp, dựa trên chủ nghĩa Mác để định ra đường lối, phương châm, chính sách chỉ đạo cho công tác toàn Đảng, Trung ương quyết định toàn Đảng mở một cuộc vận động "Chỉnh phong”. Tháng Năm năm 1941, tại hội nghị cán bộ Diên An, Mao Chủ tịch đã đọc báo cáo "Cải tạo lại việc học tập của chúng ta". Tháng Hai năm 1942, Mao Chủ tịch đã mở màn việc học tập chỉnh đốn tác phong của Đảng. Trong cuộc vận động chỉnh phong, cán bộ, quần chúng trước tiên phải học tập văn kiện chỉnh phong, sau đó từng cá nhân liên hệ kiểm tra tư tưởng và công tác đã làm, triển khai phê bình, tự phê bình, làm rõ nguyên nhân sai lầm của chủ nghĩa chủ quan trong công tác, đạt cho được mục đích "Giơ cao đánh khẽ, trị bệnh cứu người". Thông qua học tập chỉnh phong, toàn thể đảng viên đã nâng cao trình độ lý luận, tư tưởng, khắc phục được tư tưởng sai lầm của chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa bè phái. Toàn Đảng đã đoàn kết lại hơn bao giờ hết. Năm 1943, một số lớn cán bộ ở các khu giải phóng lục tục kéo về Diên An tham gia học tập chỉnh phong, trong đó có một số đại biểu đến Diên An chuẩn bị tham gia Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn một số thông qua học tập, vũ trang tư tưởng, thích ứng được với nhu cầu của thời kỳ mới, lại trở về các chiến trường. Trường Đảng Trung ương chia thành ba bộ phận. Bộ phận thứ nhất gồm các đồng chí là Đại biểu Đại hội Đảng lần thứ 7, bộ phận thứ hai gồm các cán bộ cấp huyện và trung đoàn trở lên, bồ phận ba gồm các cán bộ từ cấp huyện, cấp trung đoàn trở xuống và nhân viên cơ yếu Tôi và Hồng Thủy được xếp vào bộ phận thứ hai. Vì cán bộ học ở Trường Đảng Trung ương từ cả nước đến nên không hiểu biết nhau, trừ lúc học tập văn kiện là học chung ra, còn chủ yếu là triển khai phê bình và tự phê bình, bộc lộ những sai lầm khuyết điểm của bản thân về tư tưởng, tác phong, công tác. Sau đó mọi người căn cứ vào tình hình tự phê bình, tiến hành phân tích, giúp đỡ, đề cao nhận thức. Do bộ phận hai, được Chủ nhiệm Trương Đỉnh Thừa và Phó Chủ nhiệm An Tử Văn nghiêm túc chấp hành chính sách, nên cuộc vận động chỉnh phong được tiến hành rất bình ổn. Nhưng trong khi học tập văn kiện chỉnh phong đã xảy ra một chuyện nực cười. Sau ngày học đầu tiên, tôi đặt văn kiện chỉnh phong trên bàn, đến ngày thứ hai thì mất. Mất tài liệu văn kiện chỉnh phong là phạm sai lầm lớn. Tôi đứng ngồi không yên. Mọi người giúp tôi tìm, trên bàn dưới bàn, lục lọi mọi nơi, thậm chí cả hố xí, trên sườn núi, cũng chẳng thấy tăm tích. Cuối cùng có một đồng chí phát hiện chân tường có một hang chuột, anh liền nói đùa: "Có lẽ chuột tha tài liệu vào hang rồi". Mọi người chỉ còn một chút hy vọng, bèn đào thử hang chuột. Quả nhiên văn kiện bị chuột tha vào tổ đã cắn nát tung, dù sao tài liệu không mất, tôi mới nhẹ cả người. Đến Diên An không lâu, Hồng Thủy dẫn tôi đi thăm chị Thái Xướng. Anh là người quen cũ của chị, Hồng Thủy đã biết chị Thái Xướng từ khi còn công tác bên Hồ Chí Minh ở Quảng Châu. Khi ấy anh là một thanh niên trẻ, mới mười bảy tuổi. Chị Thái Xướng rất quý cái anh chàng trẻ tuổi Việt Nam thông minh, lanh lợi này. Năm 1926 cũng chính chị đã cùng với đồng chí Lý Phú Xuẩn giới thiệu Hồng Thủy vào học khóa bốn Trường Quân sự Hoàng Phố. Lúc tôi được gặp chị, chị đã là Tổng thư ký Trung ương Hội Phụ nữ Trung Quốc, lãnh đạo phụ nữ cách mạng Trung Quốc. Tôi theo Hồng Thủy đến hang chị ở và công tác với tấm lòng kính yêu vô hạn. Chị Thái Xướng rất nhiệt tình dẫn chúng tôi vào hang, còn mang táo đỏ đãi chúng tôi. Chị mặc một bộ đồ chế phục màu xám đã bạc màu gần như trắng, nét đẹp trời cho của chị càng thêm vẻ đoan trang, rất phong độ. Anh Hồng Thủy bắt đầu bằng việc giới thiệu tôi với chị: "Đây là đồng chí Trần Kiếm Qua, vợ em. Cô ấy là người Ngũ Đài, Sơn Tây”. Chị Thái mỉm cười gật đầu, thân mật bắt tay tôi vừa nói: "Hoan nghênh em!" Sau đó, chị vui vẻ nói với Hồng Thủy: "Tiểu Hồng, chú nay đã làm rể Trung Quốc. Chúng ta càng như người một nhà." Trước mặt chị Thái hiền hòa, thân thiết, Hồng Thủy có vẻ hơi bẽn lẽn. "Chú Hồng, chú rời Diên An thoáng một cái đã năm, sáu năm rồi, hãy kể lại chuyện ở Tấn Sát Ký cho chị nghe với." Hồng Thủy bèn kể tóm tắt chuyện công tác của mình ở huyện Ngũ Đài, ở báo "Kháng địch", ở Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật cho chị nghe. Chị Thái nghe kể thấy tôi đã có lúc làm công tác phụ nữ ở biên khu Tấn-Sát-Ký, chị vui ra mặt, liền hỏi tôi nhiều vấn đề liên quan đến sinh hoạt và công tác phụ nữ ở biên khu. Khi tôi kể, chị hết sức chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại gật đầu vẻ tán thành. Chị còn thân thiết hỏi han chúng tôi về tình hình sinh hoạt học tập của vợ chồng tôi hiện giờ ra sao. Đến trưa, chị dẫn chúng tôi xuống nhà ăn của cơ quan Trung ương. Ăn ở đây tràn là các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Đồ ăn thức uống ở đây cũng giống hệt ở trường tôi, không có chút gì đặc biệt. Trong nhà ăn và trên hành lang chúng tôi gặp một số đồng chí là các thủ trưởng Trung ương trong đó có Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai. Gặp những cán bộ bình thường như chúng tôi, các đồng chí rất nhiệt tình chào hỏi. Trên đường trở về trường, tôi nói với Hồng Thủy: "Anh xem, chị Thái là người lãnh đạo công tác phụ nữ có công lao lớn, tham gia Đảng rất sớm, vậy mà không có dáng bộ gì ra vẻ quan cách, rất hòa nhã, bình dân, dễ gần”. Anh trả lời: "Đó là tác phong lãnh đạo của Trung ương Đảng ta, họ chính là mẫu mực cho chúng ta học tập chỉnh phong”. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:14:38 pm Được uống sữa do Chu Tổng tư lệnh phê cấp, Tiểu Phong rất khỏe, còn hay dùng bàn tay nhỏ bé đánh lại.
Đến Diên An, tôi lại có mang. Còn cách hai tháng trước khi sinh nở, tôi được vào quân y viện Trung ương nằm dể theo dõi. Nếu đem điều kiện ở Diên An so với khi sinh cháu Phong Ba ở trong hẻm núi giữa bão táp mưa sa thì thật khác nhau một trời một vực. Bây giờ đã là cuối năm 1943, thời điểm rét nhất ở Thiểm Bắc. Trên cao nguyên Hoàng Thổ rộng lớn gió rít không ngừng, chung quanh động tuyết rơi trắng trời. Trong động của quân y viện Trung ương thì lại ấm nóng bừng bừng. Hang động rộng thoáng, giường bệnh êm ái, thức ăn ngon miệng, lại được phục vụ tận tình, chu đáo, hòa nhã của các thầy thuốc và y tá có tay nghề cao. Đặc biệt Hồng Thủy thường xuyên đến quân y viện thăm hỏi, làm cho tôi rất mát lòng hả dạ, người béo thêm, da dẻ hồng hào. Cháu bé trong bụng tôi thật là ngang ngược, lúc thì đạp bên này, lúc thì húc bên kia, mỗi động tác của cháu lại làm cho tim tôi thêm hồi hộp. Ngày 15 tháng 1 năm 1944, cháu bé chào đời. Tiếng khóc đầu tiên của cháu sao mà to, khỏe thế. Chỉ nghe tiếng khóc của cháu, tôi đã đoán là con trai. Hồng Thủy đã ba mươi sáu tuổi, "mừng có quý tử” anh sướng rơn người. Anh ôm chặt lấy con quay vòng chung quanh phòng bệnh, rồi lại dâng cao lên trên đỉnh đầu luôn miệng nói: "Con trai ngoan, đợi con lớn khôn, cha sẽ dẫn con đi đánh trận!" Tôi nằm bên nói chen vào "Con lớn khôn phải xây dựng nước Trung Hoa mới như nhân dân Liên xô được sống trong hòa bình hạnh phúc chứ!" Anh ôm con vào lòng, vỗ về, tập trung ngắm nhìn khuôn mặt bé nhỏ của con. "Đúng thế, chúng ta ngày nay chịu khổ là để chúng được sung sướng” Năm đó sản xuất lớn của Diên An được mùa to (tiếng Trung Quốc là phong thu). Để kỷ niệm điều tốt đẹp ấy, Hồng Thủy đặt tên con trai là Tiểu Phong. Cháu Tiểu Phong vừa sinh xong thì khó khăn mới lại ập đến. Vì lúc sinh con đầu lòng tôi không có chút gì được bồi dưỡng nên không có sữa, đến khi sinh con thứ hai, sứa chỉ có rất ít. Làm sao bây giờ? Không lẽ để con chết đói. Trong hoàn cảnh bất đắc dĩ, Hồng Thủy bèn viết thư báo cáo rõ với Chu Tổng tư lệnh, nhờ ông giúp đỡ giải quyết khó khăn đó. Ngay lập tức, Chu Tổng tư lệnh phê cấp cho cháu mỗi ngày một hộp sữa, giải quyết khó khăn cho chúng tôi. Thời kháng Nhật, sữa ở Diên An là quý hiếm, sữa chỉ đủ cung cấp cho một số rất ít các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Sữa mà Chu Tổng tư lệnh phê cấp cho con tôi là rút từ nguồn cung cấp ít ỏi dành để bồi dưỡng cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Tôi rất cảm ơn lãnh đạo đã quan tâm song trong lòng luôn áy náy. Đó không phải chỉ là lon sữa bò nhỏ bé mà nó thể hiện lòng thương yêu và sự quan tâm của Chu Tổng tư lệnh với cán bộ cấp dưới. Ân tình của đồng chí Chu Đức tôi suốt đời không quên. Sau này khi cháu Phong đã lớn, đã hiểu biết, tôi thường giáo dục nhắc nhở cháu Phong: "Con nhờ sữa của Chu Tổng tư lệnh cấp cho nên mới khỏe mạnh khôn lớn lên được, sau này phải công tác cho thật tốt để khỏi phụ lòng bác Chu và Đảng”. Từ trước đến giờ Trường Đảng Trung ương không nhận các cán bộ nữ có con mọn vào học vì để cho mẹ chuyên tâm săn sóc con. Nghe nói Trung ương quyết định vậy là vì lo trong hoàn cảnh chiến trường, nuôi các cháu rất khó khăn, thế nhưng ở Diên An thì lại phải xem xét lại vấn đề này. Hồng Thủy và một đồng chí cán bộ của Đảng ủy Thái Hàng Sơn đã viết một báo cáo liên danh, yêu cầu nhà trường cho các nữ đồng chí có con nhỏ vẫn được tham gia học tập. Trung ương phê chuẩn yêu cầu đó. Tôi và một chị nữa họ Lưu được dọn đến ở Bộ phận hai của Trường Đảng. Lúc bắt đầu chỉ có hai chúng tôi, dần dần người đông thêm, nên mới tổ chức thành một "Chi bộ các bà mẹ". Các đồng chí trong chi bộ các bà mẹ đều rất quan tâm, săn sóc lẫn nhau. Chi bộ chúng tôi có một chị tên là Phương Minh, từ "Hậu phương lớn" tới. Chị đến Diên An có mang theo đường kính và cho tôi một túi. Do đó cháu Phong uống sữa lại được pha thêm đường. Tháng Mười một năm 1946, khi chúng tôi rút khỏi Diên An, chị Phương Minh còn đem một thẻ vàng đến dúi cho tôi và nói: "Chị một mình dắt theo hai con nhỏ sơ tán, không dễ dàng gì, trên đường chắc chắn sẽ rất nhiều khó khăn. Khi nào cần tiền, chị bán đi mà dùng”. Tôi không có cách nào từ chối lòng tốt của chị, nhận tặng vật mà lòng vô cùng xúc động. Ở Bộ phận hai Trường Đảng, tôi và Hồng Thủy sinh hoạt ở hai chi bộ khác nhau. Anh ở chi bộ sáu, còn tôi ở chi bộ mười bốn, chúng tôi mỗi người lại ở một nơi. Ở Diên An, các hang động có nhiều tầng cao thấp khác nhau. Các bà mẹ nuôi con như chúng tôi được chiếu cố, tôi dẫn cháu Phong đến ở hang thấp nhất. Hồng Thủy thì ở hang chót vót trên đỉnh. Vì vậy cháu Phong chỉ được mình tôi chăm nom. Nuôi con nhỏ mà tham gia học tập tập thể lại phát sinh mâu thuẫn. Có lúc tôi phải đi nghe báo cáo nửa ngày, đành để cháu Phong ở lại hang một mình. Không có người chăm sóc, đói ư, khát ư, chỉ biết khóc toáng lên, ỉa đái dầm dề, đầy giường, bôi đầy mình, có lúc bôi cả lên mặt, lên miệng. Đi nghe báo cáo về xong, tôi lại phải rửa ráy, dọn dẹp hàng nửa ngày trời Năm 1945, trước khi Hồng Thủy về Việt Nam, chúng tôi mới lại được ở cùng nhau. Được uống sữa do Chu Tổng tư lệnh cấp cho, Tiểu Phong lớn rất nhanh, mười tháng tuổi đã có thể men theo giường, lẫm chẫm đi lại. Không có ai đùa với mình, có lúc cậu ta cộc đầu mình vào tường để tự chơi. Vừa đầy năm, cháu đã có thể chạy phăm phăm quanh viện. Vì cháu Phong lớn lên rất giống bố Hồng Thủy, một chú bé Việt Nam điển hình, trán dô, mặt bụ bẫm, mắt sâu, lanh lợi, nên mọi người rất yêu. Cháu Phong rất bướng, chỉ thích dùng bàn tay ếch nhỏ xíu đánh lại, thêm bố cháu vui vẻ, hay tán chuyện cười, nên các đồng chí trong bộ phận hai chúng tôi ai cũng yêu thích. Cơm chiều xong, tôi và Hồng Thủy bế cháu Phong đi dạo chơi dọc ven bờ sông Diên. Có lúc quá phấn khởi, Hồng Thủy ôm cháu Phong, chạy ào ào xuống mép nước, tôi tất tả chạy theo. Thằng cu con không chịu cho ai sờ mó, động đến mình, có ai dữ dữ là đấm trả ngay. Hồng Thủy phấn khởi cười ha hả. Tôi đi bên vừa ngắm vừa thấy sung sướng, suy nghĩ: Đúng là hai hòn ngọc quý biết nói của mình. Ở Diên An, Hồng Thủy nổi danh là một cây "vui nhộn”, lại còn làm huấn luyện viên cho đội bóng rổ nữ toàn Diên An. Có lúc vừa bế con xuống dốc, gặp lúc sân bóng đang tổ chức thi đấu, tiếng reo hò, kêu gọi ầm ĩ ở sân bóng đã cuốn hút anh. Anh trao vội con cho tôi rồi chạy tới bên sân nhảy nhót chỉ trỏ. Anh có lúc là huấn luyện viên, có lúc làm trọng tài, có lúc làm cầu thủ. Anh thường chơi ở vị trí tiên phong, chạy khắp sân, luôn la hét, chỉ huy đội. Tôi bế Tiểu Phong ngồi trên "khán đài" rất vui thích xem họ thi đấu. Khi còn ở Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên, tôi cũng đã từng là thành viên tích cực của đội bóng nhà trường, nếu không phải bế con thì tôi cũng lao vào sân, thử sức xem sao. Thấy sân bóng vui vẻ, nhộn nhịp, cháu Phong đứng trên đùi tôi cũng nhún nhẩy bi ba, bi bô hét. Những ngày sống ở Diên An là những ngày sung sướng hạnh phúc nhất của gia đình tôi. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:18:55 pm Hồng Thủy nhờ Nhiệm Bật Thời trông nom hộ vợ con rồi với tình cảm lập công báo quốc rời Diên An về nước.
Khi tôi biết tin Hồng Thủy sẽ về Việt Nam lòng dạ tôi đau thắt lại. Tôi lại vừa mang thai, Hồng Thủy ra đi lần này chưa biết đến bao giờ trở lại, bao giờ gặp được đứa con còn nằm trong bụng mẹ. Thế nhưng nghĩ lại, Hồng Thủy là người Việt Nam, anh đã vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc mà phấn đấu suốt hơn hai mươi năm. Tôi yêu Tổ quốc của tôi - Trung Quốc. Anh đương nhiên cũng yêu Tổ quốc của anh - Việt Nam. Anh là con em nhân dân Việt Nam, bất kể lúc nào, chỉ cần Tổ quốc cần, anh nhất định sẽ đáp lại lời kêu gọi của Tổ quốc chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa giải phóng dân tộc mình. Một người có tinh thần chủ nghĩa quốc tế như anh nhất định cũng là một chiến sĩ yêu nước. Tôi cố nén nỗi đau phải ly biệt, không nói một lời lưu luyến hoặc bàn đến việc tương lai, việc tôi một mình nuôi hai con sẽ gặp bao nhiêu khó khăn, để cho anh khỏi buồn phiền nản chí. Đối với nỗi đau lòng sầu ly hận biệt, Hồng Thủy cũng phải đấu tranh kích liệt. Nhưng anh chưa hề trực tiếp nói với tôi về việc anh sẽ về Việt Nam. Một buổi tồi, anh hút thuốc liên tục, hết điếu này đến điếu khác. Anh nhìn lên khói thuốc đang tan rồi mới nói với tôi: "Kiếm Qua, việc anh cần về Việt Nam, chắc em đã nghe nói. Tương lai một mình em nuôi hai con khó khăn sẽ rất lớn. Anh đi rồi, em gặp khó khăn thì làm thế nào? Anh nghĩ mãi không yên”. Nghe anh nói mấy lời đó, mũi tôi bỗng cay cay, nước mắt muốn trào ra. Tôi cố gắng kìm nỗi thương cảm của mình, dịu dàng an ủi anh: "Chỉ cần sau khi về Việt Nam, anh nỗ lực công tác, lập được thành tích xuất sắc, đồi với em đó là niềm an ủi nhất. Ở Diên An còn có tổ chức, tổ chức chắc chắn sẽ giúp đỡ em, em nhất định chiến thắng được khó khăn, nguy hiểm, anh cứ yên tâm mà đi!" Hồng Thủy nhắm mắt lại như đang suy nghĩ song không nói thêm một lời. Anh biết rằng chia tay lần này để ra tiền tuyến, chiến đấu để giải phóng Tổ quốc mình, sống chết chưa biết ra sao, rất khó nói có thể sống sót mà trở về, anh thực sự không yên lòng về mẹ con tôi. Trước khi rời Diên An vài ngày, anh lại nói với tôi: "Từ nay về sau, chắc chắn em sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhưng anh tin rằng em sẽ không khuất phục khó khăn. Anh đã gửi hai mẹ con em nhờ đồng chí Nhiệm Bật Thời, Trưởng ban Bí thư Trung ương Đảng săn sóc, giúp đỡ, có khó khăn gì, em cứ tìm gặp ông ấy”. Anh dừng lại một lát, rồi âu yếm nhìn tôi. "Kiếm Qua, em còn nhớ bài thơ của Vương Bột "Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhiệm Thục Xuyên” (Tiễn Đỗ Thiếu Phủ đi nhậm chức ở Thục Xuyên). Chỉ một thoáng, tôi hiểu ngay dụng ý của anh, cả hài chúng tôi đều không hẹn mà cùng đọc lên bài thơ đó: Thành khuyết phụ Tam Tần Phong yên vọng Ngũ Tân Dữ quân ly biệt ý Đồng thị hoạn du nhân Hải nội tồn tri kỷ Thiên nhai nhược tỉ lân Vô vị tại kỳ lộ Kỷ nữ cộng chiếm cân. Tạm dịch: Thành quách giữ Tam Tần1 (Ba huyện của tỉnh Thiểm Tây) Khói mây vọng Ngũ Tân2 (Con sông lớn ở Tứ Xuyên có năm nhánh) Tiễn nhau bao lưu luyến Đời quan lang kết thân Bốn bể còn tri âm Chân trời xa, mà gần Đừng như tình nhi nữ Lệ tuôn trào đẫm khăn. Đọc xong, chúng tôi cảm thấy trong lòng vui vẻ, cởi mở, dễ chịu hơn. "Kiếm Qua, em yên tâm, về Việt Nam anh sẽ không kết hôn nữa”. Tôi gật đầu, tỏ lòng tin tưởng anh. Tôi chỉ nhắc lại anh về nước, trong công tác nên tôn trọng lãnh đạo, đoàn kết tốt với các đồng chí khác, phải giữ gìn sức khỏe đừng quá gắng sức. Để cho tôi đỡ vất vả, trước khi đi, anh đưa cháu Phong vào Trường Mầm non số hai Diên An để trường nuôi dưỡng. Lúc đó cháu Phong mới một tuổi rưỡi, là cháu bé nhất trường, cũng giống như các cháu khác, phải ở hẳn trong trường là do hoàn cảnh bắt buộc thôi. Cháu Phong cứ bám chặt lấy đùi bố vừa khóc vừa la, không cho bố đi. Hồng Thủy là một người đàn ông cứng rắn, nhưng lại là một người có văn hóa, giàu tình cảm. Hồng Thủy yêu quý con, nghe Tiểu Phong khóc thét lên như vậy, liền quỳ xuống, nhẹ nhàng lau nước mắt cho con, bế con lên chầm chậm đi quanh viện vài vòng. Anh khe khẽ vỗ về, xoa mặt con, rồi lại đọc cho con một bài hát giản đơn của lớp mẫu giáo, sau đó anh đưa nhanh con cho người nuôi trẻ đón, rồi đi luôn không dám quay đầu lại. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:20:03 pm Về việc Tiểu Phong không chịu vào Trường Mầm non, lại còn khóc gào, quấy phá, khi về anh không nói lại với tôi một câu. Anh chỉ kể: "Trường Mầm non số hai Diên An là do Tổng tư lệnh Chu Đức và vợ ông, chị Khang Khắc Thanh, quan tâm sáng lập, điều kiện chăm sóc rất tốt, rất chính quy, em cứ yên tâm!"
Vào ngày đầu tháng Tám năm 1945, Hồng Thủy phải ra đi, trước khi đi, anh nắm hai tay tôi nhìn tôi với ánh mắt rất buồn vì phải chia tay, và lại dặn dò thêm một lần nữa: "Kiếm Qua, em phải hết sức giữ gìn sức khỏe, rồi có ngày chúng ta lại cùng nhau đoàn tụ!" Tôi đứng ở cửa hang, nhìn anh xuống dốc, dõi nhìn theo bóng anh xa dần. Hồng Thủy từ sân bay Diên An đáp máy bay đi Trùng Khánh, rồi theo đường bộ xuống Vân Nam, Quảng Tây để về Việt Nam. Sau khi tới Trùng Khánh, anh mua và nhờ người gửi về một súc vải hoa màu xanh nhạt cho tôi, biểu thị chút lòng yêu thương đối với đứa con sắp sinh. Tháng Hai năm 1946, đứa con thứ hai của chúng tôi ra đời lại là con trai. Để kỷ niệm về Tổ quốc của cha cháu, tôi đặt tên cho cháu là Tiểu Việt. Sau khi sinh Tiểu Việt, tôi lại gặp khó khăn là mất sữa. Tôi xoay xỏa rất lâu, đủ cách, song vẫn chịu. Trong tình huống bất đắc dĩ, tôi chỉ còn cách viết cho đồng chí Nhiệm Bật Thời. Rất nhanh, trên lãnh đạo lại phê cấp cho Tiểu Việt mồi ngày một hộp sữa. Nhận được sữa, tôi cảm động ứa nước mắt. Lúc thường tôi không bao giờ khóc, ngay cả khi ở ranh giới giữa sống và chết, tôi nghĩ vậy. Thế nhưng, sau khi nhận được sữa của đồng chí Nhiệm Bật Thời phê cấp, tôi cầm lòng không được đã bật khóc. Tôi làm sao có thể báo đáp ân tình của đồng chí Tổng tư lệnh Chu Đức và đồng chí Nhiệm Bật Thời đối với mẹ con tôi? Tôi nghĩ chỉ còn cách đem thân ra phụng sự cho sự nghiệp của cách mạng, của Đảng, không dao động trước mọi gian nan, trở ngại, vĩnh viễn giữ lấy đức trung, tích cực cần cù trong mọi công tác của Đảng trao cho, chỉ có như vậy mới xứng đáng với sự quan tâm của cá đồng chí lãnh đạo Trung ương, của tổ chức đối với mình. Ngày 15 tháng Tám năm 1945, Thiên hoàng Nhật Bản Hirohito tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cuộc chiến tranh kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc đã giành thắng lợi cuối cùng. Dưới chân núi Bảo Tháp, ven đôi bờ sông Diên, niềm vui ngất trời. Chúng tôi đánh trống, khua chiêng, đón mừng đại thắng. Trong những ngày đó nỗi vui mừng của chúng tôi không bút nào tả xiết. Những ngày phải sống trong cảnh nô lệ mất nước của nhân dân Trung Quốc đã qua, không bao giờ trở lại nữa, hỏi chúng tôi làm sao không vui cho được! Lúc này, Hồng Thủy đang trên đường trở về Việt Nam. Nếu được tin vui này chắc anh sẽ vô cùng xúc động và vui sướng. Bởi vì đây là thắng lợi chung của nhân dân Trung Quốc nhưng cũng là của riêng anh. Thế nhưng thắng lợi của chiến tranh kháng Nhật lại chưa đem lại cho nhân dân Trung Quốc một cuộc sống hòa bình, yên ổn. Quốc dân đảng, Tưởng Giới Thạch, một mặt tích cực chuẩn bị tiến hành nội chiến, ý đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản và Bát lộ quân; một mặt vờ vịt mời Mao Chủ tịch đến Trùng Khánh để đàm phán, tỏ vẻ cũng rất muốn hòa bình nhằm che giấu ý đồ lừa gạt về chính trị. Để tranh thủ cục diện mới "hòa bình, dân chủ, đoàn kết”, tranh thủ thạch động về chính trị cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Chủ tịch không kể đến an nguy của bản thân, đã cùng Chu ân Lai, Vương Nhược Phi... được Trương Trị Trung, đại biểu Chính phủ Quốc dân đảng, và đại sứ của Mỹ ở Trung Quốc (Charly) đi cùng, đến Trùng Khánh vào ngày 28 tháng Tám, đàm phán với Quốc dân đảng và Tưởng Giới Thạch. Khi được tin Mao Chủ tịch sẽ đi Trùng Khánh, quảng đại quân dân Diên An đều rất lo lắng. Bởi vì chúng tôi đã quá rõ Tưởng Giới Thạch là phần tử lưu manh về chính trị, bội tín phi nghĩa, bất cứ việc "thương thiên hại lý” nào hắn cũng dám làm, Mao Chủ tịch tự mình tới Trùng Khánh chẳng khác gì đưa mình vào miệng cọp vậy? Hồng Thủy sau khi tới Trùng Khánh lại không về Việt Nam ngay. Cuộc đàm phán Quốc Cộng sắp khai mạc, anh nhận được điện báo từ Diên An, chưa rời Trùng Khánh, đợi Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Vương Nhược Phi tới, và mời anh tham gia đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồng Thủy tinh thông bốn thứ tiếng, Pháp, Anh, Hoa, Việt, nên rất thích hợp với công tác này. Anh rất vui vẻ ở lại. Mao Chủ tịch ở Trùng Khánh bốn mươi ba ngày đêm thì quân dân Diên An cũng thấp tha thấp thỏm bốn mươi ba đêm ngày. Ngày 10 tháng Mười năm 1945, sau khi hai bên Quốc Cộng ký bản "Ghi nhớ về cuộc hội đàm giữa Chính phủ và Đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc” tức "Hiệp định Song Thập", Mao Chủ tịch trở về Diên An bình yên vô sự, mọi người mới như cất được gánh nặng trong lòng. Sau khi về Diên An, Mao Chủ tịch nói chuyện với Đảng ủy Trường Đảng Trung ương và học viên về cuộc đàm phán "Trùng Khánh". Tất cả cán bộ, học viên của Bộ phận hai Trường Đảng chúng tôi đều được đi nghe. Mao Chủ tịch nói chuyện rất sinh động, ví dụ khôi hài, tư thế mạnh mẽ, thu hút người nghe một cách sâu sắc Hội trường lúc thì cười Oà lên, lúc thì tiếng vỗ tay như sấm. Mao Chủ tịch nói giọng Hoa Nam khá nặng, nên người Sơn Tây như tôi nghe khá mệt, song có một câu mà tôi nhớ như in: "Trên thế giới không có con đường nào là thẳng tắp, phải chuẩn bị mà đi đường vòng vèo, khúc khuỷu. Chúng ta đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, cùng nỗ lực, nhất đinh có thể vượt muôn vàn khó khăn, đạt được mục đích”. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:21:33 pm PHẦN GIỮA Hồng Thủy nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc trở về Việt Nam, chỉ huy chiến đấu chống Pháp ở tuyến đầu. Tôi dẫn hai con còn ấu thơ đi theo đoàn quân lớn "Ngựa thồ nôi cũi" vượt qua chặng đường dài ba ngàn lý (1500 km). Năm năm sau, đúng vào dịp trung thu năm ấy, gia đình chúng tôi đoàn tụ tại Bắc Kinh. Ở Trung Nam Hải, tôi đã khóc nức nở, nhìn vầng trăng soi đáy nước, tôi bực dọc vô cùng. Tôi rời khỏi ngay nơi Hồng Thủy ở, không hề luyến tiếc. Chương VII RÚT KHỎI DIÊN AN Khi rút khỏi Diên An, lòng tôi như bâng khuâng trống rỗng, cố quay đầu nhìn lại chiếc hang yên ấm một lần nữa. Ngày 26 tháng Sáu năm 1946, bọn Quốc dân đảng, Tưởng Giới Thạch xé bỏ "Hiệp định đình chiến”. Cuộc nội chiến toàn diện bắt đầu bùng nổ. Tháng Mười một năm 1946, Hồ Tôn Nam, Tư lệnh chiến khu một của Quốc dân đảng điều động hai mươi lăm vạn quân, ngang nhiên mở cuộc tấn công cuồng bạo vào Diên An, trụ sở của các cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Về phía ta, binh lực của quân giải phóng nhân dân ở Diên An chỉ có hơn hai vạn người. Theo sự lãnh đạo của Mao Chủ tịch và Trung ương, quân dân Diên An thực hiện chiến lược rút bỏ Diên An, nhử địch vào sâu để tiêu diệt sinh lực địch, anh dũng đánh trả quân địch hơn ta gấp mười lần. Để chuẩn bị đánh địch, Trung ương yêu cầu tất cả các đơn vị không làm nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp, phải nhất loạt rút khỏi Diên An, di chuyển đến các khu giải phóng khác. Các học viên ở Bộ phận hai Trường Đảng Trung ương, một số đã phân công tác đi các địa phương, một số nữa đã rút khỏi Diên An. Tôi được bố trí chuyển sang bộ phận ba, cùng với các nữ đồng chí, đại bộ phận là có con mọn, cùng Trường Mầm non số hai Diên An chuẩn bị theo bộ đội di chuyển đến khu giải phóng Thái Hàng mà trung tâm của khu là vùng Tấn Đông Nam, Sơn Tây. Về công tác chuẩn bị trước khi xuất phát, trên lãnh đạo đã sắp xếp chu toàn. Lần di dời này về phía nữ đại đa số là chị em có con mọn. Làm thế nào để thu xếp cho các cháu di dời an toàn là cả một vấn đề. Lãnh đạo đã quyết định đóng cho mỗi cháu nhỏ một cũi gỗ có thể đặt trên ngựa thồ, yêu cầu thiết kế cũi phải hết sức khoa học: có thể bố trí đơn độc từng cái, cũng có thể được ghép lại buộc chặt trên giá ngựa thồ, trong khi hành quân, các cháu có thể ngồi chơi, có thể nằm ngủ sao cho thoải mái, an toàn và chắc chắn. Lúc đó đã vào mùa đông. Gió rét cuốn theo bụi đất vàng mù mịt. Các bà mẹ lấy gối chèn, đắp chân bông cho các cháu, còn đội mũ bông, đeo khẩu trang. Các cháu bị bọc kín chỉ hở hai con mắt đen láy vẫn nhấp nháy vui vẻ Trước khi xuất phát tôi đón Tiểu Phong từ Trường Mầm non số hai về. Lúc đó, cháu Phong mới được hai tuổi rưỡi, Tiểu Việt mới được tám tháng. Lãnh đạo xét thấy tôi phải mang hai cháu còn quá bé, hành quân rất khó khăn, bèn phân cho tôi chú cần vụ họ Tống, người đã theo tôi và Hồng Thủy về Diên An, đi cùng để giúp tôi Ngày 12 tháng Mười một, chúng tôi bắt đầu rời Diên An. Ăn sáng xong, tất cả đã chuẩn bị sẵn sàng. Tôi cõng cháu Việt, tay dắt cháu Phong ra tập hợp ở chân núi Bảo Tháp. Vừa bước ra khỏi hang, tôi đột nhiên cảm thấy trong lòng bâng khuâng trống rỗng. Tuy rằng tôi và Hồng Thủy cùng ở đây không lâu nhưng ở đây chính là cái nhà êm ấm của chúng tôi. Tôi không nén nổi, quay đầu lại, nhẹ nhàng vuốt ve mỗi vật còn để lại. ở đây vẫn phảng phất hơi hướng của Hồng Thủy, còn lưu lại tiếng cười vui của một gia đình hạnh phúc. Tôi từ từ đi ra cửa, nhìn khắp lượt mảnh đất thân yêu, hít một hơi dài, bước ra khỏi động với lòng lưu luyến khôn nguôi. Tôi và chú Tống dắt lừa xuống dốc. Ngày hôm xuất phát, trời rất rét. Từng trận gió rét thổi ù ù qua cánh đồng vắng lặng, nước sông Diên chưa đóng băng, vẫn nổi sóng lăn tăn, êm ả chảy về đông. Sương trắng bàng bạc đã phủ quanh núi Bảo Tháp. Người chuẩn bị rút khỏi Diên An đông nghìn nghịt, tập hợp bên bờ sông dưới chân núi Bảo Tháp, ngựa hí, người kêu inh ỏi. Tiểu Việt chưa tròn tuổi tôi rất thích ngồi trên giường bằng gỗ, hai mắt nhỏ nhìn ngó, nhìn nghiêng, hai bàn tay nhỏ khua lung tung. Cậu ta thích vì thấy bao nhiêu là người. Tiểu Phong, hai tuổi rưỡi đã quen nhìn cảnh bên ngoài, có vẻ người lớn hơn, lăng lặng đưa cặp mắt to quan sát hai bên. Tôi đã có thói quen, sửa soạn quần áo, đội mũ nghiêm chỉnh cho hai cháu, muốn chúng trên đường hành quân được dễ chịu hơn. Tôi ngước lên tòa Bảo Tháp ở Diên An sừng sững trên đỉnh núi, lầm rầm tự hứa với Hồng Thủy: "Hồng Thủy ơi! Anh cứ yên tâm. Hôm nay em dẫn hai con rút khỏi Diên An, em tin nhất định rồi sẽ lại trở về. Em và các con Phong, Việt sẽ ở Diên An chờ anh thắng lợi trở về!”. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:22:40 pm "A, dẫn bấy nhiêu cháu còn khóc oe oe thế này hành quân đường dài!" Tôi chắc phải đổ mồ hôi hột vì chúng đây.
Đứng bên cạnh đội ngũ các bà mẹ ở bộ phận Trường Đảng chúng tôi, còn có một chi đội đông hơn, lớn hơn - đại quân "Ngựa thồ nôi cũi”. Đó là đội ngũ Trường Mầm non Diên An số hai cùng chúng tôi rút khỏi Diên An và kề vai hành tiến. Đó là một chi đội có gần một trăm lừa, ngựa thồ, hai bên lưng thồ hai giường cũi nhỏ, đằng sau hơn hai mươi lừa, ngựa thồ hành trang và cấp dưỡng. Trong mỗi giường cũi trên lưng ngựa thồ là một cháu bé hoạt bát, đáng yêu, làm cho tôi chú ý. Các cháu bé này lớn thì chưa quá bảy, tám tuổi, bé thì chưa tới hai tuổi Bọn trẻ lần đầu tiên được ngồi trên giường do ngựa thồ đều kinh ngạc nhưng lại rất khoái trá. Mấy cháu trai lớn hơn một chút thì phục trên giá gỗ, giương khẩu súng gỗ nhỏ đang ngắm bắn nhau, chơi trò đánh trận giả Các cháu gái, có chỗ hai cháu một, ngồi trên giường cũi quay sang nhau chơi trò "quay dây” hoặc vỗ tay đánh đố Các cháu bé hơn thì giương mắt quay nhìn các phía, có cháu còn khóc đòi mẹ... "A, dẫn bấy nhiêu cháu còn khóc oe oe đi hành quân!”. Tôi chắc phải đổ mồ hôi hột vì chúng đây. Khi có một tiếng còi dài rúc lên, cái chi đội "Ngựa thồ nôi cũi" này yên lặng hẳn. Chỉ thấy một đồng chí nam còn trẻ, dáng uy phong, mặc một bộ quân phục đã bạc màu đứng trên dốc đất trước mặt đội hình hành quân. Anh đưa mắt nhanh nhẹn lướt nhìn khắp đội ngũ, sau đó với giọng sang sảng, anh nói mấy lời ngắn gọn để động viên hành quân: "Các đồng chí! Tưởng Giới Thạch, Hồ Tôn Nam điều động hai mươi lăm vạn quân Quốc dân đảng bao vây biên khu Thiểm Cam Ninh chúng ta. Để bảo đảm an toàn cho các cháu bé, Trung ương Đảng yêu cầu chúng ta lập tức di chuyển hướng về khu giải phóng Thái Hàng. Trong chi đội của chúng ta có một trăm ba mươi sáu cháu bé. Cha mẹ các cháu đang chiến đấu trên tiền tuyến, không nên coi nhẹ một trăm ba mươi sáu cháu bé ấy Chúng là bảo bối đang được cất giấu của các lộ đại quân. Mỗi việc ảnh hưởng đến với các cháu là rung động đến mấy vạn con tim đấy! Chúng ta đưa các cháu đến khu giải phóng Thái Hàng được an toàn, nhiệm vụ cực nặng, trách nhiệm rất lớn, dù có gặp gian nan hiểm trở đến đâu chúng ta cũng phải sẵn sàng không ngại hy sinh thân mình để đảm bảo an toàn cho các cháu. Người lớn còn, trẻ con còn, người lớn không còn,trẻ em vẫn phải còn! Các đồng chí có quyết tâm khắc phục khó khăn không?" Lời anh vừa dứt, các nhân viên trông trẻ đồng thanh đáp: "Có”. Một số các cháu lớn hơn một chút cũng hô theo. Đồng chí nam đó tuy chỉ là dẫn một đội "nhóc con”, song tư thế khí phách của anh như đang chỉ huy "thiên binh vạn mã". Tôi ngó nhìn sang đội ngũ của họ, đại quân "Ngựa thồ nôi cũi" ấy hàng ngũ rất chỉnh tề. Các cháu, tùy theo tuổi, được chia thành hai trung đội, dưới trung đội còn có tiểu đội. Mỗi tiểu đội có ba, bốn nhân viên công tác. Đồng chí đó đi xuống đơn vị kiểm tra tỉ mỉ từng đội một. "Xuất phát”, chỉ nghe thấy lệnh ấy của anh, đại quân "Ngựa thồ nôi cũi” đã rùng rùng tiến bước. Gọi họ là đại quân "Ngựa thồ nôi cũi” là có chút khoa trương, chứ làm gì có ngựa, lừa cao lớn cho cam, trừ bốn con ngựa và lừa già ra hầu hết là loại mã lý (ngựa lùn lông dài). Chúng tôi, đội ngũ các bà mẹ ở Bộ phận ba Trường Đảng, đi sau đại quân của các cháu. Bắt nhịp tiếng chân lừa, ngựa lốc cốc, leng keng, mọi người vẫy tay chào tạm biệt Diên An, bước lên đường hành quân di chuyển dài. Toàn đoàn hành quân trên cao nguyên Thiểm Bắc. Đội tiền trạm đi trước đã nhờ chính quyền địa phương giúp đỡ cho đoàn người, ngựa việc dẫn đường, bố trí tốt chỗ ăn ở, huy động dân công và ngựa thồ cho đoạn đường sau. Cứ như thế, ngày đi đêm nghỉ, chúng tôi xuất phát từ Diên An đã qua các huyện An Tái, Tử Trường, Thanh Giản, Tuy Đức, Ngô Bảo, tiến về hướng Tấn Tây Bắc. Bọn phỉ Hồ Tôn Nam từ khi bắt đầu tiến vào Thiểm Cam Ninh đã liên tục phái máy bay trinh sát động hướng chung quanh Diên An. Trong khi hành quân chúng tôi thường bị máy bay địch bổ nhào bắn phá để chặn đường. Khi chúng tôi đến thôn Bảo, đông nam huyện Tuy Đức, khoảng ba mươi lý (15 km) thì gặp phải máy bay địch. Tôi và chú Tống nhanh chóng bế hai cháu từ trên giường cũi xuống, chạy vào chân núi ẩn nấp. Máy bay địch bổ nhào bắn quét, đạn cày trên đất vàng làm tung lên các đụn cát màu vàng. Do mọi người ẩn nấp kịp thời nên không ai bị thương vong. Chưa rời khỏi biên khu Thiểm Cam Ninh chúng tôi đã mấy lần bị máy bay địch oanh tạc Để tránh máy bay địch, chúng tôi chuyển sang đêm đi ngày nghỉ, cuối cùng, đến sáng sớm ngày 24 tháng Mười một chúng tôi đến được bến vượt Hoàng Hà ở huyện Ngô Bảo. Đây là khúc mà Hoàng Hà chảy quanh co nhất, mặt sông rộng, nước chảy xiết, chỉ có chiếc thuyền gỗ nhỏ chở người qua sông. Mặt trời vừa lặn, toàn đội người, ngựa đều vượt Hoàng Hà an toàn. Từ Hà Tây đến Hà Đông, cuối cùng chúng tôi đã đặt chân lên khu giải phóng Tấn Tuy, đến được trấn Liễu Lâm, huyện Phần Dương, tỉnh Sơn Tây. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:23:24 pm Sáng ra, vào khoảng 9 giờ, máy bay địch lượn trên bến vượt để trinh sát, hai bờ Hoàng Hà đã không còn bóng người.
Được nghỉ mấy ngày ở trấn Liễu Lâm, chúng tôi chẳng có một tin tức gì liên quan đến mình cả. Nghe các đồng chí ở Trường Mầm non số hai nói, nếu muốn tiếp tục tiến về khu giải phóng Thái Hàng, phải đi qua một ngọn núi lớn, quanh năm có tuyết là Miên Sơn. Lại nghe nói vượt Miên Sơn phải chọn mùa và khi vượt đỉnh phải vào buổi trưa, nếu không sẽ có nguy cơ bị chết cóng. Tư lệnh Bành Đức Hoài từ tiền phương về Diên An, đi qua trấn Liễu Lâm. Khi được biết Trường Mầm non số hai định đưa các cháu tới khu giải phóng Thái Hàng, Tư lệnh Bành Đức Hoài liền đến bảo: "Hiện nay trời rất lạnh. Mùa này mà vượt Miên Sơn, chưa nói trẻ con đến người lớn cũng chịu không nổi đấy!" Ông yêu cầu mọi người dừng lại ở Liễu Lâm thêm một thời gian, đến mùa xuân sang năm khi trời ấm lên hãy đi tiếp. Thế là chúng tôi dừng lại ở Liễu Lâm. Trên đường, chúng tôi cùng đi, cùng ở với Trường Mầm non số hai, tiếp xúc với nhau nhiều mới biết chỉ huy đoàn quân đặc biệt này là hiệu trưởng của trường Trương Sì Xương, và là người không đơn giản! Mùa thu năm 1944 là thời điểm chiến tranh kháng Nhật đã giành được thắng lợi có tính quyết định, các cán bộ từ tiền tuyến về Diên An học và các đại biểu Đại hội Đảng lần thứ 7 cần phải quay trở lại tiền tuyến nhanh để tranh thủ giành thắng lợi cuối cùng cho chiến tranh kháng Nhật. Trong số ấy có rất nhiều người có con còn thơ ấu. Lúc đó Diên An chỉ có Trường Mầm non số một và nhà trẻ Trung ương (Nhà trẻ Los Angelès). Hai cơ quan nuôi dạy trẻ này không sao thu nạp nổi. Vì thế các cơ quan Trung ương hữu quan trù tinh lập Trường Mầm non số hai thu nhận con em còn nhỏ của các cán bộ đang chiến đấu và các cháu mồ côi, con liệt sĩ gửi từ vùng bị tạm chiếm tới. Việc triển khai xây dựng trường đã được Tổng tư lệnh Chu Đức và chị Khang Khắc Thanh đặc biệt quan tâm và chỉ đạo. Chu Đức tự mình đi xem, xác định vị trí, bố trí cho trường ở một sườn núi ven bờ suối nhỏ phía nam Vườn Táo. Ở đây không khí trong lành, sáng sủa, điều kiện về hoàn cảnh chung quanh rất tốt. Ngày 1 tháng Sáu năm 1945, dù chưa xây xong, song do có rất nhiều gia đình phải ra tiền tuyến gấp, nhà trường vẫn tiếp nhận các cháu được gửi. Hồng Thủy nhận lệnh về nước, đem cháu Phong gửi tới trường cũng vào thời điểm này. Khi mới thành lập, bộ phận lãnh đạo thay luôn vì vậy không tạo được hạt nhân lãnh đạo nên việc nuôi dạy trẻ chưa vào quỹ đạo. Chị Khang Khắc Thanh bàn với Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Hồ Diệu Bang và cuối cùng quyết định điều Trương Sĩ Xương từ cơ quan quân sự về đảm nhiệm hiệu trưởng Trường Mầm non số hai Diên An. Trương Sĩ Xương là một quân nhân trẻ ở bộ đội chiến đấu, đã cầm quân đánh giặc, sau về làm công tác quân sự ở cơ quan hậu phương. Anh chưa có vợ, nên căn bản chưa có kinh nghiệm về nuôi con. Sau khi lãnh đạo thuyết phục mãi, anh mới đồng ý về công tác ở Trường Mầm non. Trương Sĩ Xương một khi nhận nhiệm vụ là như người lính nhận nhiệm vụ chiến đấu, không do dự, xông lên chiến trường. Ở Diên An, trong thời kỳ chiến tranh, chưa hình thành đội ngũ lực lượng nuôi dạy trẻ, các cô nuôi dạy trẻ đa số là các cô gái trẻ ở nông thôn Hà Bắc được động viên. Khi rời nhà, các cô được biết sẽ đến Diên An tham gia công tác kháng Nhật. Các cô vượt qua sự cản trở của gia đình, vượt suối trèo đèo, nếm đủ mùi khó khăn, nguy hiểm, đến được Diên An, kết cục lại làm cô nuôi dạy trẻ. Các cô nghĩ mãi không thông, có cô khóc rưng rức, nói bậy rằng rời quê hương ra đi đâu để làm "vú em", thậm chí có bốn cô còn bị "tâm thần". Công tác nuôi dạy trẻ không có cách gì làm tốt được. Chu Tổng tư lệnh rất quan tâm đến mọi mặt của Trường Mầm non, dù bận tối ngày, ông vẫn cố dành thời gian, mấy lần đến trường quan sát, chỉ đạo công tác. Từ tình hình sức khỏe của các cháu, tiêu chuẩn cấp dưỡng, phòng bệnh truyền nhiễm, công tác tư tưởng với các cô nuôi dạy trẻ.v.v... ông đều nhất nhất quan tâm. Sự quan tâm, chăm sóc của Chu Tổng tư lệnh khiến Trương Sì Xương hết sức phấn khởi. Anh nghĩ, muốn làm tốt công tác nuôi dạy trẻ của trường việc đầu tiên là phải làm tốt công tác tư tưởng. Thế là anh lấy cảm nghĩ thiết thân của mình nói với chị em để thuyết phục họ: "Tôi cũng muốn đánh trận ở tiền tuyến, sung sướng biết bao khi một viên đạn hạ gục một quân thù. Cách mạng phải có phân công chứ? Bát lộ quân muốn đánh trận, liệu có thể kéo theo các cháu bé lên chiến trường chăng? Các chị các cô thấy đấy, Chu Tổng tư lệnh của chúng ta đến trường ta hết lần này đến lần khác. Tại sao vậy? Vì rằng ở đây cũng là chiến trường' Chu Tổng tư lệnh cũng đang chỉ huy chúng ta đánh giặc. Các chị các cô thấy đấy, công tác tư tưởng của trường ta có quan trọng hay không?" Hiệu trưởng Trương không những chỉ quan tâm việc chỉ đạo công tác cho các cô nuôi dạy trẻ mới đến, mà còn rất quan tâm đến đời sống của các cô. Số cô không an tâm công tác đã dần thông hiểu nhiệm vụ của mình cũng là một phần của công tác cách mạng, chỉ có quan tâm, săn sóc tốt các cháu thì cha mẹ các cháu ở tiền phương mới không lo lắng mà đánh thắng trận. Tư tưởng thông rồi, trong lòng vui vẻ hơn, tính tích cực trong công tác tự nhiên cũng được nâng cao. Để củng cố thành tích về công tác tư tưởng kịp thời, trường phát động "Người mẹ hiền". Tháng Mười hai năm 1945, Chu Tổng tư lệnh thân mật tiếp mấy nhân viên có những thành tích về hộ lý, chữa bệnh của trường. Ngày 8 tháng 3 năm 1946, nhân ngày Quốc tế phụ nữ, có mấy cô nuôi dạy trẻ được tặng danh hiệu "Cô nuôi dạy trẻ gương mẫu” của khu căn cứ cách mạng Diên An. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:24:24 pm Vượt qua tuyến phong tỏa, không thấy Tiểu Phong đâu, tôi cuống cuồng như kiên bò trên chảo rang.
Tháng 2 năm 1947, trên cao nguyên đất vàng, trời rét như cắt da. Nhận được thông tri của cấp trên, yêu cầu đơn vị chúng tôi phải lập tức xuất phát, đi thật nhanh tới sông Phấn, qua Lưỡng Độ khẩu để nhanh chóng vượt tuyến phong tỏa của địch. Lưỡng Độ khẩu ở đông bắc huyện Linh Thọ thuộc Tấn Trung, là con đường bắt buộc phải qua, nếu đi từ Tấn Tây Bắc xuống Tấn Đông Nam. Phía tây Lưỡng Độ khẩu là sông Phấn, phía đông Lưỡng Độ khẩu là đường sắt Đồng Bồ. Bộ đội của Diêm Tích Sơn giữ chặt Lưỡng Độ khẩu để chia cắt con đường giao thông liên lạc giữa khu giải phóng Tấn Tây Bắc và khu giải phóng Tấn Đông Nam. Chúng tôi phải vượt qua tuyến phong toả của địch ở đó vượt sông Phấn, đi qua đường sắt Đồng Bồ. Mùa xuân đang qua, toàn đơn vị xông pha gió rét, xuất phát từ trấn Liễu Lâm đi qua huyện Ly Thạch, tiến về hướng sông Phấn. Đơn vị đến thị tứ thôn Bắc Thiên dừng lại chỉnh đốn, đợi lệnh. Đầu tiên, đơn vị được thông tri nhanh chóng đến Giả Gia Trang, thị trấn phía tây huyện Hiếu Nghĩa, cách sông Phấn chừng năm mươi km. Sau khi đơn vị xuất phát lại có thông tri cho biết là có địch, mọi người phải quay về thành Bắc Thiên. Hôm đó, một trung đoàn của lữ đoàn 359 đánh bại được bộ đội Diêm Tích Sơn đang canh phòng giữ Lưỡng Độ khẩu, bắc một cầu phao tạm thời qua sông Phấn. Khi được tin cầu phao đã bắc xong, toàn đơn vị khẩn cấp hành quân đến Giả Gia Trang, sau tiếp tục đi gấp về Lưỡng Độ khẩu huyện Linh Thọ. Trên bờ sông Phấn lúc đó tụ tập đến hơn một vạn người, ngựa, gồm Bộ phận ba Trường Đảng của chúng tôi, Trường Mầm non số hai Diên An, Vườn trẻ Los Angelès Diên An, Viện Điều dưỡng Trung ương, và một số dân công, bộ đội vận tải của khu giải phóng Tấn Tuy. Bằng ấy người ngựa ào ào vượt qua tuyến phong tỏa, vượt nhanh qua sông Phấn, băng qua đường sắt Đồng Bồ, người kêu ngựa hí, náo động một vùng. Ở ngoài xa, địch liên tục bắn pháo sáng, sáng như đèn trời. Về sau được biết lúc đó quân địch tưởng lực lượng lớn quân giải phóng vượt tuyến phong tỏa, vì vậy chúng nằm im, không dám động cựa. Lại nói về chuyện đội quân "oe oe" vượt sông Phấn. Đi tận đến nơi, tôi mới biết mặt cầu phao làm bằng nhiều ván ghép lại, chiều ngang chỉ hơn một mét. Vì người vượt qua trước đã nhiều, cầu phao ngập dưới mặt nước một chút, đi ở trên rùng rình chếnh choáng. Tôi sợ nhỡ giường cũi lăn xuống sông thì hết cứu, không dám để hai cháu ngồi trên mà vượt sông. Trước khi vượt sông, tôi và chú Tống đã kéo hai cháu bọc chặt lại để địu sau lưng. Tôi địu Tiểu Việt, chú Tống địu Tiểu Phong, người phu lừa đi sau lừa. Khi qua cầu, giày, tất ướt hết, lên bờ xong lại phải tiếp tục đi ngay. Từ Giả Gia Trang đến Lưỡng Độ khẩu, chúng tôi đã đi gần một trăm lý (50 km) sau đó lại vượt sông Phấn, lưng địu con. Đi ngày một mệt, ruột gan nóng cồn cào, chúng tôi muốn đứt hơi, muốn dừng lại nghỉ một chút, thế nhưng không được đành phải cắn răng bước tiếp, sợ lạc đơn vị. Chính lúc tôi đang thở hổn hển, chưa bước nổi thì đồng chí Mai, Chủ nhiệm Bộ phận ba Trường Đảng cưỡi ngựa đi qua. Tôi gọi ông lại nhờ ông chở cháu Việt đi tới chỗ nghỉ trước. Chủ nhiệm Mai đón cháu đưa lên lưng ngựa đi trước. Bớt được gánh nặng sau lưng, trong người cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái hơn nhiều, tôi rảo bước đi lên trước. Trong khi đi, nghe nói có hai cháu bé ở Trường Mầm non bị rơi xuống sông Phấn, tôi biết sông Phấn nước không sâu, không thể cuốn các cháu được. Thế nhưng nhỡ uống nước, bị nghẹt thở cũng rất nguy hiểm, thêm nữa thời tiết lúc đó cực lạnh. Sau tôi lại nghe đã cứu được hai cháu, do bộ đội yểm hộ vượt sông cứu, tim tôi mới như cất được hòn đá tảng đè lên. Đơn vị vượt qua sông Phấn, băng qua cầu Đại Khổng trên tuyến đường sắt Đồng Bồ, vượt qua đoạn tranh chấp giữa hái bên Quốc, Cộng, dừng lại nghỉ ở một thôn nhỏ của khu núi Thái Nhạc. Chủ nhiệm Mai đưa trả cháu Việt cho tôi. Tôi vừa nhìn thấy thì cháu Việt đã khóc sướt mướt. Cháu Việt vừa đầy tuổi tôi, chưa rời mẹ bao giờ, nay không biết mẹ đi đâu, khóc thảm thiết. Tôi lấy khăn tay lau mắt, mũi cho cháu. Đột nhiên, tôi nghĩ ra điều gì, tim giật thót lại: "Còn Tiểu Tống? Sao không đi kịp đơn vị?" Tôi lo quá chóng cả mặt, không còn lòng dạ nào nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Tôi đứng chờ ở cổng một lúc lâu, rồi đi một đoạn ngược lại con đường vừa tới. Trời tối đen như mực, tôi chờ mong mỏi mắt vẫn chưa thấy bóng chú Tống và cháu Phong, lại quay vào nhà đợi. Cứ như thế đi đi lại lại, quay ra quay vào, tôi cuống cuồng như kiến bò trên chảo rang, không ngừng đi lại, thật là kêu trời không thấu, gọi đất chẳng hay. Nếu mất Tiểu Phong, tôi biết ăn nới với Hồng Thủy ra sao? Cái gọi là rối rít cuống cuồng, bữa nay tôi mới nếm đủ. Trời sáng hẳn, chú Tống mới địu cháu Phong tới, Tiểu Phong đang ngủ ngon lành. Nguyên do là, vượt qua được tuyến phong tỏa, chú Tống khát quá vào một nhà dân xin nước uống, nước uống chưa xong, ngồi bên giường lò ngủ quên đi mất. Chú Tống quá mệt. Thực ra, chú vẫn chỉ là một cậu bé thôi! Mà nay chú đã phải mang trọng trách trên vai như người lớn. Chú Tống và cháu Phong về được bình an là tôi mừng lắm rồi. Tôi không thể vì nỗi lo lắng cháu Phong bị lạc mà trách cứ chú Tống, chỉ tự trách mình thật vô ý, không nghĩ tới việc chú có thể rời đơn vị. Tôi vỗ vỗ vai chú Tống bảo chú đi ăn cơm, chuẩn bị tiếp tục xuất phát. Qua được tuyến phong tỏa, các chi đội phân chia đi theo các đường dự định. Chi đội chúng tôi chỉ còn lại Trường Mầm non số hai và đội các bà mẹ của Bộ phận ba Trường Đảng đi cùng nhau. Trước mặt còn phải vượt qua mấy núi lớn, tôi và chú Tống địu các cháu đi theo đội hình. Người phu lửa dẫn lừa đi theo phía sau. Đường trên núi quanh co khúc khuỷu, vừa chật vừa dốc, lại còn nhiều chỗ sườn đá cheo leo bên vực thẳm, nếu không chú ý ngã xuống vực rất nguy hiểm. ở các đoạn đường khuất nắng, mặt đường còn phủ băng, trơn đến nỗi không dám bước nhanh, phải dò dẫm mà tiến. Khi qua một vách núi được biết có một con lừa của Trường Mầm non bị lăn xuống hang núi. Nhân viên công tác phải buộc dây bảo hiểm tụt xuống để cứu cháu bé, lừa thì bị chết. Cháu bé thì vẫn không sao, chỉ bị một phen kinh hoàng, đang khóc toáng lên gọi mẹ. Vì cũi gỗ làm rất chắc, trong khi bị rơi từ vách núi xuống, bốn cọc trụ đâm xuống đất xong cũi vẫn không bị vỡ, cháu bé vì cuốn chặt chăn gối nệm nên may không bị thương. Thật nguy hiểm, nếu không cháu bé đã không còn rồi. Chúng tôi qua được tuyến phong tỏa rồi địch mới biết đây là một chi đội toàn là đàn bà, trẻ con, không có sức chiến đấu, không phải bộ đội chiến đấu của giải phóng quân. Thế là chúng cho quân truy đuổi. Cũng may do đường núi rất khó đi, địch đuổi theo một hồi thấy khó quá, liền thôi không đuổi theo nữa. Xuất phát từ thôn thành Bắc Thiên chúng tôi đi thêm hai ngày đường nữa. Chiều tối ngày thứ hai, chúng tôi đến được một nơi có doanh trại trú quân, ở thôn Quân Trại, đông bắc huyện Linh Thọ. Đây là vùng tranh chấp, địch hay tới sục sạo. Để tránh địch tập kích không thể ở đây lâu được Thế nhưng qua mấy ngày liền hành quân cấp tốc, mọi người vừa đói vừa mệt, hai ngày qua chưa được ăn uống gì, trời lại đang có tuyết lớn, làm sao có thể tiếp tục hành quân đường dài được? Bao nhiêu con nít thế này liệu có chịu nổi không, nếu nghỉ lại một đêm, nhỡ địch tới thì làm thế nào? Giữa lúc chưa biết tính toán làm sao cho phải thì vừa may Tư lệnh Từ Hướng Tiền cũng qua đường này. Ông được biết đơn vị đặc biệt toàn đàn bà, con trẻ đã phải liên tục hành quân cấp tốc mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt rồi. Thế là ông lệnh ngay cho đồng chí Trần Canh phái đến một tiểu đoàn để bảo vệ thôn Quân Trại, cho mọi người được nghỉ một đêm yên ổn. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:26:40 pm Hồng Thủy nhờ Lý Ban chuyển cho tôi một bức thư. Tôi thì đã rời Diên An đi ngày càng xa.
Xuất phát từ thôn Quân Trại, trong ngày đơn vị đã đến chân núi Miên Sơn, ở lại hai ngày trong một thôn nhỏ trên núi để chuẩn bị vượt Miền Sơn. Miên Sơn là con đường bắt buộc phải đi qua để đến khu giải phóng Thái Hàng. Vượt Miên Sơn là phải liên tục vượt qua mười tám đỉnh núi. Dân bản địa đặt cho Miên Sơn cái tên "Mười tám núi lớn phải bò lên”. Đỉnh Miên Sơn quanh năm tuyết phủ, còn có tên gọi là "Núi tuyết nhỏ". Mùa đông, hầu như không có người nào ở các thôn lân cận vượt núi. Trên núi gió rất mạnh, kể cả những ngày nắng ráo cũng rất lạnh, nếu như lên phải ngày trời âm u tuyết rơi, thì gió tuyết giao nhàu tung hoành, đi lại vô cùng khó. Lãnh đạo của đội đến hỏi bà con ở địa phương về kinh nghiệm vượt núi. Họ nói để vượt "Mười tám ngọn phải bò" thì trời chưa sáng đã phải lên núi, giữa trưa phải leo ngọn cao nhất, trước khi mặt trời khuất núi đã phải xuống tới chân núi, nếu không sẽ chết cóng ở trên núi. Bà con còn nói "Mười tám ngọn núi này” vừa cao vừa dốc, đường vừa hẹp vừa trơn, dắt theo súc vật, lừa, ngựa là không có cách gì leo núi được. Căn cứ vào tình hình trên, lãnh đạo đội quyết định không dùng lừa, ngựa nứa, tháo các giá thồ ra, để cho các dân công coi lừa, dẫn gia súc của họ quay về nhà, nhờ dân công do chính quyền địa phương phái tới địu các cháu vượt Miên Sơn. Đường càng đi càng thấy xa, càng đi càng thấy khó. Ngày mai là phải vượt “Núi tuyết nhỏ". Tôi thực sự không nản lòng. Nghĩ lại năm 1943, khi tôi và Hồng Thủy cùng về Diên An, tại Ma Thiên Lãnh, tây bắc huyện Ninh Vũ, đột nhiên gặp bão tuyết, đội ngũ bị đánh tan, lừa bị vùi chết, không ít đồng chí mất tích. Lúc đó đứng bên cạnh Hồng Thủy tôi cảm thấy rất vững vàng. Lần này qua "Núi tuyết nhỏ", các con tôi có chịu đựng được không? Các con tôi đã ngủ rồi. Tôi ngồi dưới ánh đèn le lói, đang luồn từng đường kim sợi chỉ để may áo bọc cho chúng vượt "Núi tuyết”. Hồi đó chưa có áo khoác dài, tôi chỉ có thể đem áo bông ngắn của chúng nối dài thành một kiểu áo bọc hình vuông. Tay thì khâu, trong lòng vẫn nghĩ: Nếu nói khó khăn thì các đồng chí ở Trường Mầm non số hai còn khó khăn hơn tôi nhiều. Họ phải dẫn một trăm ba mươi sáu cháu bé... Còn anh Hồng Thủy lần thứ ba vượt "Núi tuyết" và "Thảo nguyên chỉ có một mình, gặp khó khăn biết bao, anh đã một mình "đơn thương độc mã" về được tới Diên An... Chúng tôi ở đây có biết bao đồng chí chung quanh, lài có chính quyền địa phương giúp đỡ, nhất định khắc phục được khó khăn, vượt "Núi tuyết nhỏ" thành công. Đang mải suy nghĩ thì chú Tống bước vào phòng. Chú bé này đã cùng tôi hành quân hơn ba tháng nghĩ cũng thật ái ngại. Nhìn bộ mặt hớn hở của chú, tôi chạnh lòng hỏi: "Chú Tống, mấy ngày vừa qua, chú có mệt không?" "Không mệt, chị ạ!" Chú dùng hai tay xoa xoa sau gáy, rồi ngượng ngùng nói tiếp: "Cũng có lúc hơi mệt". Tôi lại hỏi tiếp: "Ngày mai vượt Miên Sơn, chú có sợ không?" Chú Tống có vẻ hơi không bằng lòng vì chú cho rằng tôi đã coi thường chú, chú cau mặt nói: "Có gì mà đáng sợ! Nếu sợ đã không tham gia cách mạng. Năm trước đi theo thủ trưởng Hồng Thủy qua Ma Thiên Lãnh, bão tuyết lớn như vậy em cũng chẳng sợ nữa là!" "Giỏi thật đấy, đội ngũ cách mạng chúng ta rất cần những "tiểu anh hùng” như chú, một không sợ khổ, hai không sợ chết. Ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau vượt Miên Sơn”. Được tôi khen và động viên, chú ngượng ngùng, lúng túng. Để củng cố tinh thần tư tưởng cho chú, tôi kể lại cho chú nghe câu chuyện anh hùng về Hồng quân "Vượt Núi tuyết, qua Thảo nguyên". Chú Tống đi rồi, tôi tiếp tục công tác chuẩn bị thật tốt. Hai cháu từ Diên An đến đây, nhiều lúc tôi và chú Tống đã phải địu trên lưng, dây địu vẫn còn rất chắc. Ngày thứ hai, trời chưa sáng, chúng tôi đã dậy cả. Trước lúc xuất phát, tôi một mặt vừa đội mũ, đeo găng, đeo khẩu trang cho các con, một mặt vừa giảng giải chầm chậm cho chúng hiểu: "Tiểu Phong, Tiểu Việt, các con rất ngoan, hôm nay các chú địu các con đi qua "Núi tuyết nhỏ", như các bác Hồng quân..." "Các bác Hồng quân vượt là "Núi tuyết lớn" chứ?" Tiểu Phong đã hiểu được ít nhiều cải chính lời tôi. "Đúng, các bác Hồng quân vượt là "Núi tuyết lớn", còn Tiểu Phong, Tiểu Việt là vượt "Núi tuyết nhỏ". Các con đi theo các chú không được khóc, không được quấy phá, nếu không sẽ gặp nguy hiểm đấy. Các con nhớ chưa?” Tiểu Phong gật gật đầu, Tiểu Việt chẳng hiểu gì, căn bản cháu chưa biết được những gì tôi nói. Chú Tống mặc áo bọc cho các cháu, rồi lại dùng dây thừng thắt ở cổ áo cho khỏi tuột. Các cháu chỉ còn lộ có hai con mắt tinh nhanh, trông giống như một bọc bông vậy Cứ như thế này thì dù có gặp bão tuyết lớn cũng không thổi được, rét không làm cho các cháu bị cóng. Trời sắp sáng, dân công đã địu các cháu lên đường. Chúng tôi, những bà mẹ, vội vã đi theo các cháu. Núi vừa cao vừa dốc. Trên đường cành cây nhiều, lại thêm kết một lớp băng dầy ở trên, đi lại vô cùng khóc Để cho chúng tôi đi được nhẹ, các đồ dùng của chúng tôi dân công gùi hộ. Chúng tôi đi tay không leo núi, vậy mà vẫn mệt vã mồ hôi, thở hồng hộc. Đã đi không ai dám dừng lại, cố gắng trước ngọ vượt núi chính. Vượt được ngọn núi này, trước gọi là "Mười tám ngọn phải leo" đây. Các đồng chí vừa vất vả leo lên, vừa động viên, cổ vũ lẫn nhau. Gặp các vách núi cao khó vượt hoặc các khe hẻm khó luồn, mọi người đều dìu nhau để tránh nguy hiểm và không để ai tụt lại. Cuối cùng, trước ngọn chúng tôi đã leo hết núi chính. Mọi người thường nói, leo núi còn dễ, xuống núi mới khó. Vào lúc đó trời lạnh đất cứng, đường dốc núi rất trơn, nếu cứ bước từng bước xuống thì chỉ tính từng tấc rất khó đi. ở một số dốc, chúng tôi ngồi bệt xuống tụt dốc, như vậy dễ chịu hơn. Đến sẩm tối, toàn đội đã xuống hết núi mọi người mới thấy mệt rã rời. Chúng tôi lại vào vùng tranh chấp, không thể dừng, phải đi tiếp luôn trong đêm. Trên đường đi tôi chợt nghĩ, vượt Miên Sơn tuy rất gian nan nhưng chúng tôi cũng có nhiều thuận lợi. Chính quyền và dân công khắp nơi đã ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi Chúng tôi làm việc gì cũng không tách rời được nhân dân. Mao Chủ tịch nói: "Dân và quân là gốc của thắng lợi”. Câu nói đó thật vô cùng chính xác. Sau một thời gian rất dài, tôi mới biết, chính lúc tôi phải mang hai con tiến hành cuộc viễn chỉnh gian nan, thì Hồng Thủy có nhờ một đồng chí Việt Nam tên là Lý Ban1 (Lý Ban từng làm Thứ trưởng Bộ Ngoại thương nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) chuyển cho tôi một bức thư. Không hiểu vì nguyên nhân nào, Lý Ban không tìm được tôi cùng các cháu và cũng không biết từ đâu ông ta được tin tôi và hai cháu trên đường rút khỏi Diên An đã bị máy bay Quốc dân đảng bắn chết... Ông ta đã mang những tin sai đó về Việt Nam. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:28:29 pm Chương VIII NGỰA THỒ NÔI CŨI Trong cuộc hành quân, tôi đảm nhiệm chính trị viên của đại quân "Ngựa thồ nôi cũi”. Trung tuần tháng Hai năm 1947, chúng tôi đến thôn Nam Lý Tín, huyện Tương Viên, tỉnh Sơn Tây. Trong cuộc hành trình trên ba tháng đầy gian khổ chúng tôi đã đi hơn hai ngàn lý (1000 km), qua mười ba huyện, gồm Thiểm Tây có An Tái, Tử Trường, Thanh Giản, Tuy Đức, Ngô Bảo, Sơn Tây có Liễu Lâm, Ly Thạch, Phần Dương, Hiếu Nghĩa, Linh Thọ, Thấm Nguyên, Huyện Thấm và Tương Viên. Sau khi đến thôn Nam Lý Tín, lãnh đạo quyết định dừng lại ở đây và xây dựng lại trường. Thế là cuối cùng chúng tôi cũng có được những ngày tương đối yên ổn. Trường Mầm non số hai Diên An có một trăm ba mươi sáu cháu, được các cô nuôi dạy trẻ tận tâm chăm sóc và che chở, đã cùng chúng tôi đến được thôn Nam Lý Tín an toàn. Thật là một kỳ tích! Sau khi đến thôn Nam Lý Tín, các đồng chí ở Bộ phận ba Trường Đảng lần lượt được phân công công tác. Chú Tống cũng được điều đi. Chỉ còn lại Trương Nguyên, Lý Lệ Thiên, Liễu Mân và tôi, gồm sáu bà mẹ, chúng tôi được phân công đến Trường Mầm non số hai Diên An công tác. Trước đó, sáu người chúng tôi đều chưa quen biết nhau. Trương Nguyên dẫn theo ba con, tôi và Lý Lệ Thiên, mỗi người dẫn hai con, Liễu Mân có một con. Được biết, có nên nhận chúng tôi hay không, lúc đầu Hiệu trưởng Trương Sì Xương suy nghĩ, vì chúng tôi dẫn theo nhiều con quá. Nhưng khi suy xét thấy Dồn chúng tôi trình độ văn hóa tương đối cao, nếu nhìn về lâu dài, sẽ có lợi cho việc đề cao trình độ giáo dục chung của trường. Cuộc chiến đấu không biết còn kéo dài bao lâu từ nay về sau lũ trẻ sẽ lần lượt lớn dần lên, chúng ta quyết không thể trao cho nước Cộng hòa mới thành lập một lũ trẻ mù chừ được! Chính vì thế, sau hai ba lần suy đi nghĩ lại anh quyết định nhận chúng tôi về. Tôi được cử làm chính trị viên của Trường Mầm non số hai - "Ngựa thồ nôi cũi" này. Khi trên lãnh đạo báo - tin điều tôi về công tác ở Trường Mầm non, tôi có phần nào không vừa ý. Tôi vẫn muốn ra tiền tuyến hoặc đến công tác ở một đơn vị có quan hệ trực tiếp với tiền tuyến, song vì vướng hai đứa con. Tôi nghĩ Hồng Thủy đã về Việt Nam xa xôi, chỉ còn có tôi trông nom dạy dỗ hai con, làm sao mà đưa chúng ra tiền tuyến được chứ! Nếu xảy ra vấn đề gì với chúng, tôi biết nói năng thế nào với Hồng Thủy. Khi anh rời Diên An thì Tiểu Việt chưa ra đời. Tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm chăm nom con cái cho tốt. Nếu bây giờ ra tiền tuyến, thực tình tôi cũng có những khó khăn nhất định. Vì thế, tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ mà lãnh đạo phân công cho mình. Tôi cũng không lường tới chính từ đây đã hình thành một chức trách, một nghề nghiệp suốt đời tôi. Lại nói về Trường Mầm non số hai, vấn đề đầu tiên đặt ra đối với tôi là phải vừa nuôi dạy tốt con mình vừa dạy tốt hơn một trăm cháu khác ở trường. Từ Diên An đến thôn Nam Lý Tín, tôi tự mình dẫn hai cháu, lại có chú Tống giúp đỡ mà còn khó khăn. Bây giờ thêm hơn một trăm cháu nữa, tôi làm sao có đủ sức làm? Khi rời Diên An, Tiểu Việt mới tám tháng tuổi. Trải qua hơn ba tháng hành quân, cháu đã tròn một tuổi. Vì phải gò bó động tác suốt ba tháng trời trong sinh hoạt hành quân, nên cháu không khỏe mạnh như Tiểu Phong, đến nay vẫn chưa biết đi và vẫn dính chặt lấy mẹ. Nhưng nghĩ lại, tôi tham gia cách mạng đã lâu, tổ chức phân công tôi về đây là muốn tôi giáo dục tốt thế hệ cách mạng cho đời sau. Nếu tôi và Trương Nguyên, Lý Lệ Thiên, Liễu Mân mấy người chỉ lo chăm sóc cho con mình, còn một trăm ba mươi sáu cháu bé khác sẽ như thế nào? Cha mẹ chúng đang đổ máu chiến đấu và công tác ở tiền tuyến. Trong số các cháu ở đây, còn có con liệt sĩ. Các cháu ở đây đều là những nỗi nhớ nhung day dứt trong trái tim cha mẹ chúng, và chúng cũng vậy trái tim chúng cũng nhớ nhung mẹ cha lắm chứ! Các tướng sĩ ở tiền tuyến đều trông cậy vào chúng tôi. Làm chính trị viên đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" này, gánh nặng đâu phải nhẹ nhàng! Nghĩ lại về các đồng chí ở trường này, ngay từ khi bắt đầu lộ trình đầy gian nan, họ phải dẫn một trăm ba mươi sáu cháu nhỏ vượt hơn hai nghìn lý (1000 km), các cháu đều khỏe mạnh, thì đó quả là một việc phi thường, không hề dễ chút nào. Họ dựa vào cái gì mà làm được thế Trên đường đi, mọi người đều nhìn tận mắt: Họ dựa vào một tập thể kiên cường, mạnh mẽ và dựa vào mỗi nhân viên công tác dồi với các cháu đều có tấm lòng yêu thương của người mẹ. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:29:12 pm Nhớ lại khi vượt gấp sông Phấn, mẹ của hai cháu bé bị rơi xuống sông chính là một nhân viên của trường, Trình Nghi Bình. Đêm hôm đó, trời tối đen, cầu phao vừa lắc vừa trơn. Chính lúc bộ đội đang cấp tốc tiến về phía trước trong bóng đêm mù mịt thì ở phía sau truyền lên một tin:
"Hai đứa con của chị Trình Nghi Bình ở Trường Nuôi dạy trẻ số hai bị rơi xuống sông Phấn, cháu lớn cứu sống được, còn cháu bé bị chết chìm rồi". Nghe tin đó chị Trình Nghi Bình như sét đánh ngang tai, muốn quay lại sông Phấn ngay lập tức để đón đứa con lớn được cứu sống. Thế nhưng nghĩ tới bốn cháu bé mình đang dẫn, lại còn một thùng công văn, bỏ không được Chị cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên vai vì thế chị lau khô nước mắt, nén chặt đau thương văn tiến lên. Sau khi đơn vị đến trấn Hàn Hồng, quân khu Thái Nhạc, trường bất ngờ nhận được một bức điện do Tư lệnh Trần Canh gửi: "Hai đứa con của Trình Nghi Bình hiện rất khỏe, sắp tới sẽ phái người đưa các cháu về trường". Nghe được tin bất ngờ này, Trình Nghi Bình mừng phát khóc. Không những chỉ là tìm thấy con cái của mình, mà trọng yếu hơn, chị tự mình cảm thấy Đảng Cộng sản chúng ta sở dĩ lãnh đạo sự nghiệp không thể bị đánh bại chính là vì mỗi người trong đội ngũ đều đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết. Phó Trưởng khoa Nuôi dạy trẻ Diêu Thục Bình là một nữ sinh chạy thoát khỏi cuộc thảm sát Nam Kinh. Chồng của chị cũng về Việt Nam sau Hồng Thủy một chút, một Hoa kiều ở Việt Nam, tên là Lương Cạnh Sinh. Diêu Thục Bình dẫn theo hai con. Chị trao hai con cho các cô nuôi dạy trẻ để tập trung tâm lực vào công tác. Nhớ lại ngày bộ đội rời trấn Liễu Lâm, cũng đúng vào lúc đại hàn. Lừa ngựa và giá thồ đi từ Diên An nay thay toàn bộ bằng xe ngựa lớn màu xanh. Vừa xuất phát không lâu thì trên ù ù tiếng máy bay. Trương Sĩ Xương và Diêu Thục Bình dẫn các chị em nhân viên khẩn trương nhưng rất có trật tự đỡ các cháu bé từ xe ngựa xuống, nhanh chóng đưa vào ẩn nấp ở một hẻm dưới chân núi. Lúc đó có một xe ngựa bị phi cơ địch bắn, ngựa sợ chạy lồng lên, được một đoạn thì bị lật đổ xuống một thửa ruộng ven đường. Ngựa chổng bốn vó lên trời, xe lật úp chợt nghe có tiếng trẻ khóc. Máy bay địch vẫn lồng lộn trên đầu, tiếng đạn rít ào ào trên không. Một cô nuôi dạy trẻ không tiếc thân mình, vọt xông ra cứu cháu bé. Cô ôm đứa bé sợ quá khóc không thành tiếng vào lòng như một bà mẹ đẻ, dùng vạt áo của mình lau nước mắt và bùn đất cho cháu. Cháu bé đó chính là con đẻ của Diêu Thục Bình mới hai tuổi rưỡi. Nghĩ đến đây, tôi quyết định gửi Tiểu Phong, Tiểu Việt vào nuôi chung cùng với hơn một trăm cháu khác. Trường Mầm non số hai là một gia đình lớn, đối với từng cháu trong trường tôi đều coi như con đẻ của mình. Sự gương mẫu của cán bộ là một mệnh lệnh không lời, là công tác chính trị tư tưởng tốt nhất. Sau đó không lâu, tôi và Trương Nguyên, Lý Lệ Thiên, Liễu Mân đã trở thành cốt cán, hạt nhân của trường. Sau đấy, tôi đảm nhiệm Trưởng khoa Khoa Giáo dục - mầm non của trường, Trương Nguyên làm Chính trị hiệp lý viên của trường phối hợp với Trương Sì Xương nắm công tác chính trị tư tưởng. Chị phụ trách lên lớp về chính trị, tuyên truyền về đường lối của Đảng và về thời sự. Chị lợi dụng lúc mọi người ăn để đọc báo, báo cáo tin tức thắng lợi của quân giải phóng nhân dân để cổ vũ mọi người. Trong mười ba tháng, trường đóng ở thôn Nam Lý Tín, các cháu được phân ở nhờ trong nhà dân. Địa điểm ở rất phân tán, đêm đến chó sói gào quanh. Công tác của nhân viên nuôi dạy trẻ rất vất vả, trách nhiệm rất lớn. Để động viên tinh thần của nhân viên nuôi dạy trẻ, Trương Nguyên và Lý Lệ Thiên nghĩ ra một cách hay để biểu dương người tốt, việc tốt: sáng sớm tinh mơ, khi gà gáy, trước cửa nhà ăn còn chưa mở, viết lên báo bảng đen, thu hút người đến ăn lại xem. Mọi người chưa ăn sáng vội đọc hết báo bảng đen cái đã, sau đó vừa ăn vừa bình luận. Ở trường có một công nhân gánh nước tên là Quan Bảo. Sáng ra anh ta thường dậy muộn, nước gánh cho nhà ăn và các ban đều không đủ dùng. Một hôm anh ta hỏi Lý Lệ Thiên: "Tại sao trên báo bảng đen không thấy nêu tên tôi?" Lý Lệ Thiên trả lời anh ta: "Nếu ngày nào anh cũng chịu khó dậy sớm, gánh nước đủ dùng, ba ngày sau chắc chắn báo bảng đen sẽ có bài biểu dương anh". Anh chàng Quan Bảo vừa nghèo vừa dốt quả nhiên hạ quyết tâm. Sáng nào cũng dậy sớm, trước khi trời sáng, các vại, thạp nước đều đầy, từ đó trở thành một nhân viên công tác gương mẫu. Báo bảng đen không những chỉ nêu người tốt việc tốt mà còn động viên nhiệt tình học tập của các nhân viên, mọi người tự giác học văn hóa, tích cực viết bài cho báo bảng đen. Ở nơi trú quân hay trên đường hành quân, báo bảng đen vẫn cứ được tiếp tục ra đúng kỳ hạn. Khi Trường Mầm non tiến vào Bắc Bình, báo bảng đen đã ra được hơn một nghìn kỳ và chính thức lấy tên "Nhật báo nuôi dạy trẻ". Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:30:24 pm Yêu trẻ là yêu đồng chí, yêu bộ đội, tức là chi viện cho tiền tuyến đánh thắng trận.
Trên lộ trình gian nan ba ngàn lý (1.500 km), chi đội đại quân "Ngựa thồ nôi cũi" của chúng tôi đã phải qua năm lần hành quân đường dài, bốn lần tạm trú. Dù rằng điều kiện gian khổ đến đâu thì tôn chỉ kiên định không thay đổi của chúng tôi vẫn là "Tất cả vì cách mạng, tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì các cháu nhỏ". Xưởng phim Thượng Hải có chiếu một bộ phim truyện mầu "A, cái nôi", trong đó rất nhiều hình tượng nhân vật nguyên mẫu là lấy từ Trường Mầm non số hai Diên An. Trước khi đơn vị rời Diên An, ở trường đã có mười chín cháu bị chốc lở đầu, dân gian gọi là "bệnh mà lươn". Để tiện việc chữa trị, đề phòng lây bệnh tràn lan, khoa quân y đã tách các cháu ra ở cách ly, do khoa quân y trực tiếp lãnh đạo. Ngoài ra còn chọn cử một nhân viên tên là Tiêu Quanh làm trưởng ban. Sau khi đơn vị đến trấn Liễu Lâm, ban cách ly đó gặp một vấn đề, các giết.ng trong thôn đều bị nhiễm phèn nặng. Lúc đầu, các nhân viên không biết, lấy nước giếng cho các cháu gội đầu, giặt quần áo. Kết quả đầu bị lở loét, không chải được tóc, quần áo vừa dính bết vừa cứng queo. Đến sau mới biết dân địa phương căn bản không dùng nước giếng làng mà đi gánh nước ngọt từ ngoài về ăn. Toàn đơn vị kể các cháu và nhân viên có hơn hai trăm người đều lấy nước sôi ở nhà bếp. Ban cách ly lấy nước về chỉ đủ cho các cháu uống, không có nước dư cho các cháu rửa mặt, gội đầu, giặt quần áo. Các cháu khi chơi ban ngày, luôn tay gãi đầu, tối đến khi đi ngủ, mủ máu dính bết gối. Nhìn thấy tình cảnh các cháu như vậy, các cô nuôi dạy trẻ vừa thương, vừa lo. Trưởng ban Tiêu Quanh dẫn mấy cô nhân viên đi tìm nước ngọt cho các cháu. Họ phát hiện ở gần chỗ trú quân có một hang đá, nước ngọt trong vắt từ trên đỉnh hang tí tách rơi xuống. Chung quanh đó cũng có một vài nơi dân địa phương đến lấy được nước ngọt. Vì không để ảnh hưởng đến nguồn nước dùng của dân, Tiêu Quanh quyết định đi lấy nước vào ban đêm. Chị bố trí chỉ để một cô ở nhà trông các cháu, còn tám người khác thì lập thành bốn tổ luân phiên lấy nước. Vào dịp đại hàn, gió bấc rít từng cơn, gió rét cắt da, xuyên qua cả quần áo bông khiến thịt da tê tái. Nửa đêm canh ba đến bốn giờ sáng, còn thêm tiếng mèo rừng gào, chó sói hú, lạnh tim, sởn tóc gáy, mỗi tổ hai cô bé ở trong hang vắng lặng bóng người, tối đen như mực vẫn còn phải hứng nước, trong lòng không khỏi lo sợ. Nhưng khi nghĩ tới cảnh thương tâm, các cháu bé đáng yêu gãi móc da móc thịt trên đầu, lòng các cô cảm thấy đau quặn lại. Các cô quyết không do dự, đi vào đêm tối giá rét. Đơn vị ở thôn Liễu Lâm hơn hai tháng, các nhân viên ở ban cách ly đã hứng nước liên tục ngày đêm suốt cả thời gian đó. Khi nhìn đầu các cháu lên vảy, lên da non, dần dần khỏi, các cháu tung tăng chơi đùa, đêm đến ngủ ngon lành, cảm thấy gần giống như sinh hoạt vui vẻ yên bình khi còn ở Diên An. Đường đi khó, phòng bệnh còn khó hơn. Hơn một trăm cháu phải đi một đoạn đường dài như vậy, xuân hạ thu đông, dãi nắng dầm mưa, các bệnh truyền nhiễm lần lượt đến thăm đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" này. Một cháu mắc bệnh lập tức truyền nhiễm cho một số khác ngay. Trong vòng hai năm, chốc lở quai bị, ho gà, bạch hầu, đậu sởi... đều có cả. Vào mùa hè năm đó ở thôn Nam Lý Tín, trong thôn có dịch quai bị. Vì vi trùng quai bị lây qua đường nước bọt nên lan rất nhanh, rất khó ngăn chặn. Hơn bốn mươi phần trăm các cháu trong trường bị mắc, trong đó hơn hai mươi cháu hạch nước bọt sưng rất to, có cháu bị cả hai bên, sốt cao, bệnh tình rất nghiêm trọng. Để phòng bệnh lây lan kéo dài, nhà trường quyết định phải triệt để cách ly, nghiêm chỉnh chấp hành chế độ cách ly tiêu độc đã được định ra từ thời ở Diên An. Lúc này, chiến tranh giải phóng nhân dân đã triển khai toàn diện, tin thắng lợi của các dã chiến quân về dồn dập. Toàn thể nhân viên chúng tôi chỉ có một điều tâm niệm, tìm mọi cách để chữa khỏi bệnh cho các cháu. Yêu các cháu tức là yêu đồng chí, yêu bộ đội, là chi viện cho tiền tuyến đánh thắng trận. Để nhanh chóng làm xẹp bớt các u quai bị lớn, các cô nuôi dạy trẻ đã mang nhiều nồi nước sôi đến, dùng vải xô bọc bông thấm nước chườm liên tục vào chỗ sưng cho các cháu. Để giữ nhiệt độ nước, các cô đã phải đốt lò than dể đun, hâm nước liên tục. Trời đang giữa trưa hè, mồm đeo khẩu trang, mặc quần áo cách ly đứng cạnh lò than và các nồi nước sôi sùng sục, chườm liên tục cho các cháu, ai nấy đều ướt đẫm mồ hôi. Một cháu bị quai bị, lớn hơn một chút, nhìn thấy các cô dì ướt sũng mồ hôi vội vàng nói: "Dì ơi, mang tai cháu đỡ đau rồi, dì đi uống nước lau mồ hôi đi". Sau khi chườm nóng, bệnh các cháu dần dần thuyên giảm, hai bên cằm sưng vù nay đã từ từ xẹp đi. Khi viện có dịch quai bị, cháu Tiểu Phong cũng bị lây Tôi suốt ngày bận công tác của trường, căn bản không còn thời giờ để chăm sóc con mình, thậm chí cũng không có lúc nào được ngồi bên an ủi con. Tôi hoàn toàn yên tâm vì tất cả nhân viên nuôi dạy trẻ đều tận tụy làm tròn chức trách của mình. Để giải quyết khó khăn về việc thiếu thuốc men trong thời kỳ chiến tranh, các đồng chí ở khoa quân y đã hỏi dân địa phương về cách trị quai bị và nơi có cây cỏ làm thuốc. Họ đã lấy về nấu thành cao, bôi chỗ quai bị sưng cho các cháu. Thuốc rất linh nghiệm, chưa tới một tuần, các cháu bị quai bị về cơ bản đã khỏi bệnh. Điều kiện thời chiến rất khó, không thể tiêm chủng phòng bệnh được Chúng tôi phải lấy phòng bệnh là chính, thực hành quy chế phòng bệnh giữ sức khỏe, đã giảm bớt được nhiều bệnh truyền nhiễm lưu hành và kéo dài. Trú quân ở nông thôn, điều kiện sinh hoạt tương đối kém, chúng tôi tùy theo thời tiết chú ý thông gió phòng ở, một tuần phơi chăn đệm các cháu một lần, thường thường dẫn các cháu ra đồng hoặc lên sườn dốc để vui chơi. Giữa giờ học lại đưa các cháu ra sân tập các bài thể dục cho nhí đồng do trường tự biên. Tố chất thân thể và sức đề kháng bệnh của các cháu được nâng cao nhiều so với ngày bắt đầu rời Diên An. Khi hành quân, trẻ con khác người lớn, đang đi mà muốn đại tiểu tiện là không nhịn được. Đề phòng máy bay địch bắn phá, chúng tôi thường hành quân đêm. Một lần, trong tiểu đội có cháu bé nhất muốn tiểu tiện, cô nuôi dạy trẻ sợ cháu lạnh bèn đem ca của mình đút vào trong chăn cho cháu tè. Sáng hôm sau, anh bạn nhỏ thấy cô giáo của mình dùng cái ca mà nó đã tè để lấy nước rửa mặt, xúc miệng, còn lấy cơm ăn, chú ta khua cái tay bé nhỏ nói: "Ấy dì ơi, bẩn quá!" Cô giáo cười nhẹ nhàng xoa đầu cháu. Nụ cười ấy, bàn tay xoa đầu ấy thấm đượm tình yêu trẻ từ sâu trong trái tim cô. Tháng Ba năm 1948, tiếp theo những thắng lợi liên tiếp của cuộc chiến tranh giải phóng, Thạch Gia Trang, một trọng trấn của Hoa Bắc, được giải phóng. Trường Mầm non được lệnh từ thôn Nam Lý Tín di đến thôn Lưu Giạ Hội thuộc huyện Bình Sơn tỉnh Hà Bắc. Trước đó cấp trên quyết định đưa vườn trẻ Phúc Lợi đang ở trấn Lộc Đầu nhập vào Trường Mầm non số hai, do tôi phụ trách công tác tiếp nhận. Tiến hành hợp nhất ở Dã Đào rồi cùng di chuyển về thôn Lưu Gia Hội, huyện Bình Sơn. Lúc đó Trường Nuôi dạy trẻ số hai được đặt tên là "Viện Nuôi dạy trẻ thực nghiệm Hoa Bắc". Vườn trẻ Phúc Lợi ở Dã Đào có ba ban, đại, trung, tiểu có tám mươi mấy cháu. Tuy rằng Trường Nuôi dạy trẻ số hai có một số cháu lớn đã chuyển đi học ở trường tiểu học "Dục tài" (giáo dục nhân tài) thế nhưng đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" đã mở rộng thêm, có hơn một trăm tám mươi cháu. Trung tuần tháng Tư năm 1948 "Viện Nuôi dạy trẻ thực nghiệm" từ Dã Đào xuất phát, tiếp tục hành quân đường dài. Hành trình dài hơn bảy trăm lý qua Vũ An, Hàm Đan, Thạch Gia Trang, hơn hai mươi ngày sau đến thôn Lưu Gia Hội huyện Bình Sơn. Cuộc đi dài ngày lần này là cuộc di chuyển trong tình thế thắng lợi, nếu so với cuộc di chuyển từ Diên An đến Nam Lý Tín thì điều kiện tốt hơn nhiều. "Ngựa thồ nôi cũi" đổi sang các đoàn xe ngựa kéo màu xanh tươi. Trên đường đi vang vọng tiếng ca, rộn rã tiếng cười. Hai bên đường, các đóa hoa đồng nội rực rỡ đã thu hút các cháu. Chúng phấn khởi reo lên: "Dì ơi, dì xem đóa hoa vàng kia có đẹp không?" "Dì ơi, dì xem chỗ mấy bông hồng kia có mấy con bướm vàng đang đậu kìa". "Dì ơi, cháu muốn hái bông hoa loa kèn". Các cô nuôi dạy trẻ nhảy xuống hái từng bó hoa tươi. Một lúc sau, lũ trẻ vui vẻ trước cảnh lá xanh, hoa đẹp, chúng vỗ tay và cất giọng ca trong trẻo. Tiếng hát, tiếng cười xen lẫn tiếng nhạc ngựa vui tai, cũng như hoa cúc dại đầy đồng chen lẫn hoa lan tháng Hai tô điểm cho đường hành quân. Tôi hít thật sâu không khí trong lành có hương hoa rừng xen lẫn hương cỏ non xanh trong lòng chưa bao giờ thấy khoan khoái dễ chịu như hôm nay. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:31:37 pm Đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" trong hoàn cảnh chiến tranh đã sáng tạo nên ngành giáo dục mầm non được chị Khang Khắc Thanh rất tán thưởng.
Khi sáng lập Trường Mầm non số hai Diên An, chị Khang Khắc Thanh có đề xuất phương châm của trường là "Nuôi dạy trẻ hợp nhất”. Trong hoàn cảnh chiến tranh chúng tối đã sáng tạo nên chi ngành giáo dục mầm non, kiên trì phương châm đó. "Các cháu bé là tương lai của Tổ quốc, nếu đến ngày toàn quốc giải phóng, các cháu ở trường nuôi dạy trẻ đều cao, lớn, nhưng trong đầu lại rỗng tuếch không có chút tri thức nào thì như vậy là không hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức Đảng trao cho chúng tôi". Câu nói đó đã thành câu nói cửa miệng của Hiệu trưởng Trương Sí Xương. Do văn hóa của các cô nuôi dạy trẻ thấp, hoàn cảnh chiến tranh không có tài liệu giáo khoa và dụng cụ học tập đã trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của trường. Dưới sự dẫn dắt của hiệu trưởng, chúng tôi đã "tay không mà dựng nhà”, phát động các cô tự sáng tác bài hát mẫu giáo chuyện kể, trò chơi và các bài tập thể thao từ đơn giản đến phức tạp, sau đó khoa nuôi dạy trẻ chỉnh lý, biên tập lại dần dần nâng cao và hoàn thiện, hình thành nên tài liệu giáo khoa có hiệu quả tốt nhất, thích hợp với thời chiến để trường sử dụng. Họa báo Nhi đồng là một trong những hình thức mà các cháu thích thú nhất. Trên một tấm bảng đen nhỏ vẽ lên các loại hình thêm một vài câu chữ thuyết minh, nội dung trong đó là: Biểu dương cháu ngoan, nhắc nhở các cháu phải làm như thế nào. Họa báo do các cháu tự vẽ, các cô hỗ trợ. Các cháu xem họa báo thường thấy được biểu dương vì việc tốt do mình đã làm, càng hăng hái hơn. Đồ chơi có thể giúp các cháu có tư duy hình tượng, có lợi cho việc phát triển trí lực, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh, làm đồ chơi tốt cho các cháu, kể cả về điều kiện và kinh tế không có khả năng. Cuối năm 1947, trường trú quân ở thôn Nam Lý Tín. Năm mới sắp đến, Hiệu trưởng Trương phát động toàn thể nhân viên công tác làm đồ chơi cho các cháu, coi như là quà mừng tuổi năm mới. Việc này do Khoa Nuôi dạy trẻ lo tổ chức, thực hiện. Tôi là Trưởng khoa Khoa Nuôi dạy, phụ trách công tác chính trị tư tưởng. Diêu Thục Bình, Phó Trưởng khoa phụ trách công tác dạy và học. Tôi và Diêu Thục Bình bàn bạc với nhau, phát động mọi người động trí não, tìm biện pháp, hiến kế sách, khoa chỉ đạo tiến hành tạo hình. Sau hai mươi ngày đêm miệt mài, nhân viên toàn trường đã làm được bảy mươi bảy loại và ước hơn một nghìn một trăm đồ chơi. Con trai thích nhất đồ chơi bằng gỗ có xếp hình, súng ngắn, súng tiểu liên, đại đao, bảo kiếm. Đồ chơi bằng vải có búp bê, mèo nhỏ, chó nhỏ, con hổ, được các bé gái thích nhất. Bằng giấy thì có hoa giả, xe cánh quạt, ống điện thoại, bằng tôn thì có thùng nước nhỏ, liềm hái và các đồ dùng làm bếp nhỏ. Các cháu ở trường đều sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh, có bao giờ được thấy nhiều đồ chơi như vậy! Chúng cầm cái này lại sờ cái kia, không biết chơi cái nào, chẳng muốn rời tay. Việc làm đồ chơi đã gắn chặt tâm huyết của chúng tôi, gắn chặt hơn mọi người qua tấm lòng yêu trẻ. Hiếu động, nghịch ngợm là tính bẩm sinh của trẻ con, đặc biệt là lũ con trai lớn và nhơ nhỡ. Khi ở đâu lâu một chút, hoàn cảnh chung quanh đơn điệu, hơn nữa nơi ở lại phân tán, chúng luôn tìm cách chạy ra ngoài trèo cây bắt tổ chim để chơi, thậm chí có cháu lại còn chọc phá tổ ong. Đối với các hành động có tính dũng cảm, chúng tôi dẫn dắt các cháu làm đúng. Để đề phòng sự việc bất trắc do hiếu động gây ra, chúng tôi, Khoa Nuôi dạy trẻ, kết hợp đặc điểm hoạt bát, hiếu động của các cháu, trước sau bày ra mấy loại trò chơi phù hợp với các cháu: trò đánh trận giả, trò cấp cứu thương binh, nấu ăn ngoài dã ngoại, đóng giả tích anh hùng Lưu Hồ Lan. v.v... Các cháu xuất xứ không giống nhau nên khi biểu diễn cũng có sắc thái khác nhau, điều đó không những làm cho vui thêm, mà còn phát triển trí lực, học được phương thức biểu diễn tình cảm trong các hoàn cảnh khác nhau. Các cháu càng chơi, càng thấy mới, tăng thêm tình thân ái hợp tác, hứng thú sáng tạo, tinh thần làm chủ càng được nâng cao. Ở trường, chín mươi lăm phần trăm các cháu có bố mẹ ở tiền tuyến, có lúc một cháu nhớ mẹ thế là cả đàn khóc theo, bắt các dì phải dẫn chúng đi tìm mẹ. Đó chính là việc làm cho các nhân viên đau lòng nhất nhưng cũng cảm động nhất. Để giải quyết vấn đề các cháu nhớ mẹ, ở trường lập ra chế độ "đón con trong những ngày lễ tết” do các dì nuôi trẻ thay mẹ, mỗi khi có lễ tết đều đón hai ba cháu về chỗ mình ở. Nhà bếp chuẩn bị cho các cháu các bữa điểm tâm hoặc kẹo bánh khi "về nhà". Các dì còn chuẩn bị đồ chơi khiến cho trẻ cảm thấy không khí gia đình êm ấm, cảm thấy như "có mẹ", bù đắp cho các cháu những thiệt thòi về tình cảm. Trong thời kỳ đại quân Lưu, Đặng (Lưu Bá Thừa, Đặng Tiểu Bình) tiến vào Đại Biệt Sơn, Trường Mầm non nổi lên một cao trào úy lạo giải phóng quân. Các nhân viên của trường dùng tiền vặt dành dụm được mua vật phẩm úy lạo, viết thư thăm hỏi, bọc trong những túi tự may lấy, tập trung để gửi ra tiền tuyến. Các cháu trông thấy vây quanh các dì nói: "Dì ơi! Chúng cháu cũng muốn úy lạo, thăm hỏi các chú giải phóng quân!" Để hướng dẫn nhiệt tinh của các cháu, chúng tôi triển khai việc chế tác thủ công. Các cháu lớn tuổi được sự giúp đỡ của các cô nuôi dạy trẻ, học tập để tự may các túi đựng quà úy lạo. Trong thời chiến đó, nhà trường không thể nào chuẩn bị cho các cháu được mấy chục chiếc kim khâu quần áo, các cô đã phải lấy gai táo chua thay thế kim khâu. Các cô chỉ cho các cháu lấy gai xuyên vải thành một cái lỗ nhỏ, sau đó dùng chỉ xuyên qua. Thế là khâu được một mũi. Bọn trẻ mắt tinh, tay khéo, một hồi lâu rồi cũng khâu được một túi đựng đồ úy lạo, các cô lại giúp các cháu viết thư úy lạo, cầm tay cháu để ký tên. Trong những người nhận những túi quà thăm hỏi động viên này rất có thể có người là cha mẹ các cháu. Nếu nhìn thấy con mình khỏe mạnh, khôn lớn, họ chắc vui sướng lắm! Cha mẹ trên chiến trường biên cương đổ máu chiến đấu con cái ở đội quân "Ngựa thồ nôi củi' cũng khôn lớn khỏe mạnh. Vùng Đông Bắc đã được giải phóng, có một vị cán bộ công tác ở Đông Bắc đã bốn năm không được gặp con gửi ở Diên An. Con ông giờ ở đâu? ông không biết được. Thế là ông viết một bức thư gửi thẳng cho chị Khang Khắc Thanh (vợ đồng chí Chu Đức). Không ngờ thư gửi đi chỉ năm ngày đã có hồi âm. Thư của chị Khang Khắc Thanh gửi cho ông viết: Đồng chí ôn Vũ Phong, Thư của đồng chí ngày 9 tháng Sáu tôi đã nhận được. Con trai của đồng chí, cháu An Lợi, khi rời khỏi Diên An năm 1946 đã chuyển từ Trường Mầm non số một sang Trương Mầm non số hai. Tháng Ba năm 1947 cháu đã đến huyện Hương Nguyên, Thái Hàng an toàn. Cháu An Lợi về thể lực, trí lực bình thường. Tháng Ba năm 1948 cháu đã được gửi đến Trường Tiểu học Dục tài (tức trường tiểu học của con em cán bộ Diên An). Hiện tại cháu ở thôn Cao Lũy, huyện Hành Đường, tỉnh Hà Bắc, không lâu nữa sẽ chuyển về Bắc Bình. Tin tức xác thực này tôi lấy từ Trường Mầm non số hai. Vì thế đồng chí có chuyên tâm. Ở Đông Bắc, nếu đồng chí biết được có đồng chí nào gửi con ở Trường Mầm non số hai thì hãy báo cho họ, cho đến hôm nay, các cháu đều an toàn khỏe mạnh, các cháu lớn hơn một chút đã được lên trường tiểu học. Kính. Khang Khắc Thanh 14 tháng Sáu Nhiều năm sau, trong một ngày lễ kỷ niệm thành lập nhà trường, cháu An Lợi được nói trong thư đã đem bản sao bức thư gửi tặng trường. Mỗi khi đọc lại bức thư đó, trong người tôi lại bừng lên nỗi xúc động, tự hào về nghề nghiệp. Bức thư đó không chỉ thể hiện lòng yêu mến của chị Khang Khắc Thanh với thế hệ con cháu mà đồng thời chị còn khẳng định một cách đầy đủ trách nhiệm công tác của Trường Mầm non số hai Diên An. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:32:25 pm Hồng Thủy gửi cho Diêu Thục Bình một lá thư báo chồng của chị sau khi về Việt Nam không lâu đã bị Đặc vụ Quốc dân đảng đầu độc chết.
Anh không hề gửi cho tôi một tin nào cả. Mùa thu năm 1948, chiến tranh giải phóng nhân dân Trung Quốc bước vào giai đoạn quyết chiến, chiến lược. Quân giải phóng Hoa Đông đã giải phóng Tế Nam, mở màn cho cuộc chiến quyết định về chiến lược giữa Giải phóng quân và quân Quốc dân đảng. Dã chiến quân Đông Bắc đánh chiếm Cẩm Châu, cắt đứt liên hệ của Quốc dân đảng ở trong và ngoài quan, chiến dịch Liêu Thẩm đã giành thắng lợi có ý nghĩa bước ngoặt. Cuối tháng Mười, khi ở Uy Mỗ, trong đội hình quân Quốc dân đảng ở Đông Bắc, Tưởng Giới Thạnh đã ra mật lệnh cho Truyền Tác Nghĩa: đánh úp Thạch Gia Trang... Trường chúng tôi lúc đó ở thôn Lưu Gia Hội, chỉ cách Thạch Gia Trang năm mươi nhăm lý (27,5 km). Để bảo vệ cho trẻ, trên chỉ thị cho chúng tôi di chuyển cấp tốc về huyện Bình Định tỉnh Sơn Tây. Từ tháng Chín năm 1938, tôi từ địa phương chuyển đến công tác ở xưởng quân trang của Bát lộ quân và rời khỏi quê hương, chuyển qua ba tỉnh Tấn - Ký - Thiểm. Cho mãi tới cuối năm 1948, sau khi Trường Mầm non di chuyển về huyện Bình Định, tôi mới có thể thu xếp thời gian quay về trấn Đông Dã một lần, một mặt để thăm gia đình, mặt khác muốn động viên mấy em gái họ tôi ra tham gia công tác ở Trường Mầm non. Các em tôi bằng lòng ngay. Đang lúc ra đi, có mấy tên lính của bộ đội Diêm Tích Sơn lùng sục vào trấn Đông Dã giết mấy cán bộ ở trụ sở xã Bọn lính đó còn sục vào nhà chú bác tôi, ngang ngược bắt chú bác tôi phải làm cơm đãi chúng. Con ngựa mà tôi cưỡi về được buộc trong một ngõ hẻm trong trang viện. May mắn làm sao, nó không kêu hí gì, nếu không sẽ xảy ra nguy hiểm. Sáng sớm hôm sau, người nhà ải cũng giục tôi rời ngay Đông Dã. Mấy cô em sợ quá đều đánh bài lùi. Đặc biệt là Ngọc Lâm, cô em gái ruột tôi, không thể rời nhà tham gia công tác cách mạng được, vì vậy, suốt đời tôi cứ tiếc mãi. Sau khi Hồng Thủy rời Diên An về nước, tôi luôn nghĩ tới anh. Tôi thường nghĩ, anh có bình an trở về đến việt Nam không? Hoàn cảnh và điều kiện ở Việt Nam so với Trung Quốc gian khổ hơn nhiều, ác liệt hơn nhiều, anh có gặp nguy hiểm gì không? Tại sao anh không gửi thư từ gì cho tôi? Anh có bị thương không? Có thể bị hy sinh không? Đến bao giờ tôi mới có câu trả lời? Tôi chỉ có thể nghĩ thầm mà thôi. Thế nhưng khi trường rời về huyện Bình Định không lâu Hồng Thủy lại gửi cho Diêu Thục Bình một lá thư, báo một tin cực kỳ xấu: Lương Cạnh Sinh, chồng của Diêu Thục Bình về tới Việt Nam không lâu, cơ quan của Quốc dân đảng đóng tại Việt Nam mời tới dự tiệc, trong bữa ăn chúng bỏ thuốc độc. Đêm đó Lương Cạnh Sinh trúng độc chết. Tin đó giáng một đòn cực mạnh vào Diêu Thục Bình, chị gào khóc thất thanh. Tất cả chúng tôi đều rất cảm thông với nỗi đau thương của chị. Để làm giảm bớt nỗi đau thương và tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, Hiệu trưởng Trương quyết định tổ chức lễ truy điệu đồng chí Lương Cạnh Sinh. Lương Cạnh Sinh thực tế là Hoa kiều ở Việt Nam. Cha ông là người Trung Quốc, tổ tiên ở Thâm Quyến, Quảng Đông. Mẹ ông là người Việt Nam. Lương Cạnh Sinh được sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, mọi người quen gọi ông là người Việt Nam. Thời kỳ đại cách mạng, khi Tổ quốc của cha mình yêu cầu, ông dĩ nhiên là đứng vào hàng ngũ cách mạng Trung Quốc. Năm 1924, ông tham gia vào Đoàn thanh niên Cộng sản Trung Quốc, năm 1927 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau đó, ông tới Diên An, làm y sinh ở xưởng bào chế thuốc Quang Hoa, Diên An ông là Hội viên Hội nghiên cứu trung y biên khu Thiểm Cam Ninh, Hội viên Hội nghiên cứu y dược, đã từng là thành viên Đoàn chủ tịch ủy viên Ban chấp hành Đại hội Đại biểu Hiệp hội văn hóa biên khu Thiểm Cam Ninh lần thứ nhất, còn tham gia cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An. Diêu Thục Bình quen Lương Cạnh Sinh là do quá trình đến khám bệnh ở xưởng chế thuốc Quang Hoa. Đó là vào mùa đông năm 1940, Diêu Thục Bình bị ho không dứt. Nghe nói ở xưởng dược Quang Hoa có bác sĩ Lương cạnh Sinh chữa bệnh rất giỏi, thuốc vào là khỏi bệnh, nửa tin nửa ngờ chị bèn đi khám bác sĩ. Uống vài thang thuốc của thày thuốc Lương quả nhiên linh nghiệm. Thật là thần y. Lương Cạnh Sinh và Diêu Thục Bình dần dần quen nhau. Ngày mùng 1 tháng Tám năm 1941, tại phòng học tập của xưởng dược Quang Hoa, Diên An, họ làm lễ cưới. ở Diên An, Diêu Thục Bình sinh được hai con. Khi có cuộc đàm phán Trùng Khánh, Lương Cạnh Sinh theo Chu Ân Lai đáp máy bay từ Diên An đi Trùng Khánh, sau đó về Việt Nam. Khi ngồi trên máy bay Lương Cạnh Sinh còn nói với Chu Ân Lai về vấn đề vào Đảng của Diêu Thục Bình. Thật không ngờ, ông mới về đến Việt Nam, lại gặp thảm họa do bàn tay độc ác của bọn phản động Quốc dân đảng. Sau khi Diêu Thục Bình nhận được thư của Hồng Thủy, lòng tôi rất băn khoăn, tâm tính lâu lâu lại mất bình tĩnh, vì nghĩ rằng, Hồng Thủy có thể viết thư cho Diêu Thục Bình, tại sao không có câu nào hỏi thăm tôi và các con? Nghĩ lại thì khi Hồng Thủy rời Diên An đã biết Thục Bình đang công tác nuôi dạy trẻ, đương nhiên có thể thông qua tổ chức tìm được chị. Khi bộ đội rời Diên An, tôi được điều về đội các bà mẹ ở Bộ phận ba Trường Đảng. Hướng đi của tôi và hai con, Hồng Thủy chưa biết tìm chúng tôi làm sao được. Tôi tự mình an ủi như vậy nên lòng cũng dịu đi đôi phần. Mỗi khi gặp những việc đồng cảnh sinh tình, tôi thường nghĩ tới Hồng Thủy, tự mình đặt ra rất nhiều vấn đề, sau đó lại tự mình phân giải, chưa hề biểu lộ suy nghĩ trước mặt mọi người, chưa hề vì thế mà ảnh hưởng đến công tác. Tôi nén chặt trong tim những điều suy nghĩ về Hồng Thủy. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:33:22 pm Đêm hôm trước ngày đại lễ thành lập nước, chi đội "Ngựa thồ nôi cũi" của chúng tôi đã thắng lợi tiến vào Bắc Bình, về bên cạnh Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch.
Cùng với tiếng pháo gầm vang của chiến tranh giải phóng, thắng lợi của ba chiến dịch lớn Liêu - Thẩm, Bình - Tân, Hoài Hải đã đẩy vương triều họ Tưởng đến chỗ diệt vong. Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc với thế dời non lấp biển vượt Trường Giang giải phóng toàn Trung Quốc. Ngày 25 tháng Ba năm 1949, Mao Chủ tịch cùng cơ quan Trung ương về Bắc Bình và quyết định lấy Bắc Bình làm thủ đô nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới thành lập. Một ngày tháng Bảy năm đó, chúng tôi nhận được thông tri của trên, Viện Nuôi dạy trẻ thực nghiệm Hoa Bắc cũng tiến về Bắc Bình theo cơ quan Trung ương Đảng. Được tin đó, toàn thể nhân viên công tác đều vui như tết, rất nhiều người chảy nước mắt. Những năm tháng chiến tranh khói lửa, Trường Mầm non số hai đã dẫn hơn hai trăm cháu nhỏ di chuyển ba ngàn lý (1.500 km) trong thời gian hai năm mười tháng, mỗi bước đều gặp khó khăn, gặp vô vàn nguy hiểm. Song mọi người đều tin tưởng cách mạng nhất định thắng lợi, được các thủ trưởng quân chính luôn luôn quan tâm, được quần chúng nhân dân hết sức ủng hộ, cuối cùng trước ngày khai sinh nước Trung Quốc mới đã về được bên cạnh Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch. Suốt hành trình dài ba ngàn lý, trong những lúc gian khổ, khó khăn nhất, ngay cả khi nằm dưới làn đạn của máy bay địch, chúng tôi chưa hề rơi nước mắt. Thế nhưng lần này tất cả đều khóc hết. Đây là những giọt lệ mừng thắng lợi, những giọt nước mắt đầy hạnh phúc. Đúng lúc ấy lại là thời điểm Quân giải phóng nhân dân tung hết lực lượng nhằm cô lập và tiêu diệt tàn quân Quốc dân đảng, giành thắng lợi hoàn toàn, nên nhiệm vụ vận chuyển của đường sắt cực kỳ khẩn trương. Tuy vậy lãnh đạo Bộ Giao thông đường sắt vẫn vô cùng quan tâm tới các cháu bé của trường, điều riêng cho hai toa, một xe ghế nằm cứng, một xe ghế ngồi cứng. Lãnh đạo viện đặt ra kỷ luật khi đi xe lửa thật nghiêm, yêu cầu là nhất định phải đưa được các cháu mạnh khỏe an toàn về đến bên Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch. Trước đây khá lâu, vào tháng Tám năm 1947, chúng tôi đã đưa một số cháu đầu tiên về với cha mẹ chúng. Lúc đó vùng Đông Bắc mới được giải phóng, chúng tôi nhận được thông tri của Trung ương Cục "Tấn - Ký - Lô - Dự”, yêu cầu chúng tôi đưa một số cháu là con em cán bộ được Trung ương phái lên công tác ở Đông Bắc về Kharbin (Cáp Nhĩ Tân). Trường đã chọn hai nhân viên nuôi dạy trẻ cốt cán, phụ trách dẫn và nuôi dạy các cháu, thêm nhân viên y tế và quản lý sinh hoạt hộ tống ba mươi bảy cháu đi. Khi các cháu xuất phát, trên cả nước còn nhiều nơi chưa được giải phóng. Nhân viên công tác và các cháu phải hóa trang thành một số gia đình đi tị nạn, từ Tấn - Sát - Ký đến Sơn Đông, đi qua khá nhiều tuyến phong tỏa, đến cảng Hắc Điểu Tử, Giao Đông, rồi từ đó xuống hai chiếc thuyền buồm gắn máy hoạt động giao liên bí mật, đi trên biển, bí mật đổ bộ ở Liêu Đông. Trên biển có tàu tuần la của Quốc dân đảng lùng sục, bắn pháo sáng, đạn vạch đường sáng rực từng vùng, tình hình rất nguy hiểm. Hai chiếc thuyền buồm gắn máy phải phân tán, mò mẫm đi biển trong đêm, tìm cách lọt qua những chỗ sơ hở của tàu tuần la. Kế hoạch của họ lúc đầu là đổ bộ vào Đại Liên, đi tàu hỏa qua tuyến Khata để đến Cáp Nhĩ Tân. Thế nhưng lúc đó đường giao thông ở khu Đông Bắc còn bị Quốc dân đảng khống chế, họ lại phải đổi sang ngồi thuyền của bưu điện ra Hoàng Hải, đi qua vịnh Triều Tiên, vịnh Nhật Bản, để đổ bộ lên cảng Thanh Tân ở Bắc Triều Tiên. Thuyền bưu điện phải đi trên biển bảy, tám ngày. Khi đi qua vịnh Đối Mã, gió to sóng lớn, người lớn và trẻ con đều nôn thốc, nôn tháo. Các thuyền bưu điện đều chạy máy than, dưới đáy chất đầy than, tàu lắc, bọn trẻ bị bụi than nhuộm cho toàn thân đen nhẻm. Các nhân viên công tác phải cố gắng khắc phục say sóng và nộn mửa, để lo việc rửa ráy thay quần áo cho các cháu. Qua sáu ngàn lý (3000 km) đi trên đất liền và trên biển cả, cuối cùng bọn trẻ đã được đưa an toàn đầy đủ đến Cáp Nhĩ Tân, trụ sở của Cục Đông Bắc thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ba mươi bảy cháu bé này khi vừa trông thấy bố mẹ vô cùng thờ ơ. Nghe nói khi các nhân viên công tác rời Cáp Nhĩ Tân, tất cả bọn chúng đều khóc. Bọn trẻ không muốn rời các dì mà chúng coi như mẹ chứng. Còn cha mẹ chúng, những người cách mạng chuyên nghiệp vốn không hề nao núng trước mũi lê, họng súng quân thù, vậy mà lúc đó cũng không nén nổi những giọt nước mắt cảm động. Trong ba mươi bảy cháu đó, có một cháu trai tên là Vương Tiểu Hoài. Ngày Quốc khánh năm 1953, cháu được làm Đại biểu Đội Thiếu niên tiền phong tặng hoa Mao Chủ tịch và được đứng cạnh Mao Chủ tịch suốt buổi lễ. Tiếng còi tàu rúc một hồi dài, lại làm cho tôi liên tưởng đến hình tượng một người nữ anh hùng thuộc tộc Mông Cổ tư thế rất oai phong. Chị tên là U Lan, là mẹ của cháu Asơlin được gửi tới trường. U Lan và chồng chị là Khơlicanh đều là những nhà cách mạng chuyên nghiệp. Khi chị được lệnh rời Diên An để về khu Đông Bắc công tác chị đem cháu Asơlin mới một tuổi đến gửi ở Trường Nuôi dạy trẻ. Lúc đó cháu Asơlin chưa biết đi, cũng chưa biết nói. Asơlin tiếng Mông Cổ có nghĩa là "Sư tử nhỏ". U Lan ôm "Sư tử nhỏ" của chị âu yếm, nước mắt đầm đìa. U Lan là loại nữ tướng "hai tay hai súng", trên chiến trường hét ra lửa. Làm mẹ thì chị lại dịu dàng, tình cảm. Mỗi khi chiến đấu dừng, nghĩ tới con, lòng chị lại thương nhớ da diết. Đặc biệt, khi ở nhà dân, các cháu còn khóc oe oe đối với chị đều là bầy sư tử con. Nỗi nhớ con lại đau lòng thắt ruột. Cuối năm 1948, U Lan ở trong Đoàn Đại biểu Trung Quốc đi Hunggari tham gia Hội nghị Đại biểu phụ nữ quốc tế Sau khi về nước, chị luôn nhớ tới Trường Nuôi dạy trẻ số hai ở huyện Bình Định, tỉnh Sơn Tây, chị quyết định thu xếp thời gian đi thăm "Sư tử con" của chị. Chị đến huyện Bình Định vào lúc nửa đêm. Vì sốt ruột muốn gặp con, chị chẳng kể gì đường từ huyện về trường còn hơn ba mươi lý (15 km) đường núi, cũng chẳng sợ sài lang và thổ phỉ ở vùng núi, hăm hăm hở hở đi ngay. Trời mờ sáng chị đã đứng ở cửa lớn của trường. Lúc đi thì hăm hở là vậy thế mà khi tới cổng trường chị lại không dám đẩy cửa bước vào. Chị không biết cái gì đang chờ đợi chị. Khi Asơlin như con hươu non chạy tới lao vào vòng tay chị, người nữ anh hùng trên chiến trường đó một lần nữa lại nghẹn ngào. Chị đã hoàn toàn đắm mình vào tình mẫu tử như biển cả. Chúng tôi đã không phụ lòng của tổ chức Đảng đã ủy thác. Tháng Mười một năm 1946, trường đưa một trăm ba mươi sáu cháu nhỏ rút khỏi Diên An. Hôm nay chúng tôi đã đưa hơn một trăm tám mươi cháu khỏe mạnh về Bắc Bình, đưa được nhiều hơn các cháu bé về bên bố mẹ các cháu: Các cháu bé đó sau này sẽ trở thành những người xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp nuôi dạy các cháu ở tuổi mầm non này thật là một sự nghiệp vĩ đại và cao quý! Sáng sớm ngày 25 tháng Chín đoàn tàu từ từ tiến vào ga "Đức Thắng Môn". Trên sân ga, các cháu mặc quân phục xếp thành hàng, đội ngũ chỉnh tề, các khuôn mặt nhỏ bé hớn hở ngước nhìn ánh mặt trời mới ló giống như các dũng sĩ từng trải ngước nhìn lên vinh quang thắng lợi. Nhìn các cháu trưởng thành từ chi đội "Ngựa thồ nôi cũi", cao to hơn, béo tốt hơn, lại chắc chắn nữa, tất cả chúng tôi đều không nén nổi nỗi vui mừng từ đáy lòng mình. Cuối cùng, hôm nay chúng tôi đã đưa được các cháu tiến vào Bắc Bình, về bên cạnh Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:35:24 pm Chương IX VỊ TƯỚNG NHÂN DÂN Hồng Thủy về Việt Nam được bổ nhiệm làm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, lãnh đạo chiến tranh chống Pháp trên tuyên đầu. Việt Nam ở vào phía đông bán đảo Đông Dương, vị trí ấy có ý nghĩa chiến lược, trọng yếu. Chủ nghĩa đế quốc coi Việt Nam là một bàn đạp để xâm lược Trung Quốc và Đông Nam Á. Từ giữa thế kỷ 19, bọn thực dân Pháp đã coi Việt Nam là "cái chìa khóa để mở cánh cửa lớn vào Đông Nam Á”. Năm 1858, hạm đội Pháp cùng tàu chiến Tây Ban Nha đã bắn vào cửa biển Đà Nẵng, phát động cuộc xâm lược vũ trang với Việt Nam. Năm 1884, vương triều phong kiến Việt Nam bị bức phải thừa nhận "quyền bảo hộ" của nước Pháp thực dân chủ nghĩa. Từ đó, Việt Nam hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp. Cuối năm 1924, Hồng Thủy rời Tổ quốc chính là vì không cam chịu sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc và vương triều phong kiến, đến Trung Quốc để tìm chân lý Cách mạng. Anh vẫn hy vọng một ngày nào đó có thể cống hiến cho công cuộc giải phóng đất nước. Cuộc xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp ngay từ đầu đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt ngoan cường của quân dân yêu nước Việt Nam. Năm 1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của nhân dân Việt Nam đã bước vào một thời kỳ lịch sử mới. Chiều ngày 30 tháng Tám năm 1945, tại cửa Ngọ Môn cố cung ở Huế đã tổ chức một cuộc mít tinh hơn năm vạn người. Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, tuyên bố thoái vị. Đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời do ông Trần Huy Liệu làm trưởng đoàn tiếp nhận ấn vàng và bảo kiếm từ tay vua Bảo Đại triều Nguyễn và tuyên bố vĩnh viễn xóa bỏ chế độ quân chủ hàng ngàn năm. Ngày 2 tháng Chín năm 1945, hơn mười vạn quần chúng đã tập hợp ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội để dự lễ tuyên bố độc lập của Việt Nam. Hồ Chí Minh đã đọc bản "Tuyên ngôn độc lập". Người long trọng công bố với toàn thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập tự do đã chính thức được thành lập! Để báo đáp lại Tổ quốc, sau khi công tác ở cuộc đàm phán Trùng Khánh kết thúc, Hồng Thủy hối hả về Việt Nam ngay. Đang trên đường trở về nước, nhận được tin cách mạng Việt Nam thắng lợi, ông rất sung sướng và cố gắng về càng nhanh càng tốt, và đến đầu tháng Mười một năm 1945 thì ông về đến Hà Nội. Xa Tổ quốc đã hơn hai mươi năm, giờ ông đã trở về trong vòng tay của nhân dân. Ngước nhìn lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên bầu trời Hà Nội, nhìn nét mặt rạng rỡ tươi cười của đồng bào ruột thịt, ông thấy vô cùng phấn kích, bất giác thốt lên: "Tổ quốc ơi, con đã về đây!” Về đến quê hương, Hồng Thủy lấy tên là Nguyễn Sơn. Vì trong lịch sử Việt Nam có phong trào cách mạng nông dân nổi tiếng là phong trào Tây Sơn với vị anh hùng Nguyễn Huệ, để biểu thị lòng ngưỡng mộ của mình, ông đã đổi tên như vậy. Về đến Hà Nội, việc đầu tiên của Hồng Thủy là đến thăm các vị lãnh đạo Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái. Hồ Chí Minh nhìn cậu thanh niên đầy khí phách hơn hai mươi năm trước công tác cạnh mình, nay là một người đàn ông trung niên tuấn kiệt, trưởng thành, Hồ Chí Minh vui sướng vỗ vai Hồng Thủy nói: "Chú Sơn tốt lắm! Tổ quốc đang chờ chú đấy!" Đế quốc Nhật vừa tuyên bố đầu hàng thì bọn thực dân Pháp xâm lược quay gót trở lại. Ngày 23 tháng Chín năm 1945, tức là chỉ sau ba tuần khi Việt Nam tuyên bố độc lập, bọn xâm lược Pháp được Mỹ ủng hộ và dung túng đã thừa cơ phát động tấn công miền Nam Việt Nam, hòng khôi phục lại chế độ thống trị thực dân của chúng ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam Việt Nam bùng nổ. Hồng Thủy được Trung ương Đảng Việt Nam bổ nhiệm làm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Lúc đó ở miền Nam Trung Bộ chia làm hai chiến khu Năm và Sáu. Hồng Thủy được cử làm Tư lệnh và Chính ủy cả hai chiến khu đó (sau đó làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến khu Năm) lãnh đạo trực tiếp cuộc chiến tranh chống Pháp ở miền Nam Việt Nam. Trong hơn một năm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam Việt Nam, ông luôn chú ý căn cứ vào tình hình thực tế đấu tranh ở chiến khu, vận dụng các kinh nghiệm cách mạng của Trung Quốc mà ông thu nhận được. Ông nắm chắc việc xây dựng Đảng, quân đội chính quyền, thâm nhập quần chúng để phát động "Toàn dân kháng chiến". Khi Hồng Thủy mới về nước, Quân đội nhân dân Việt Nam vừa mới thành lập, chưa có những trận đánh lớn. Một lần quân đội muốn diệt một cứ điểm do một trung đội quân địch chiếm giữ. Cứ điểm được rào kín bằng dây thép gai và các cự mã. Hàng rào dây thép gai vừa dày, vừa nhọn, chỉ cần đạp lên là xuyên thủng cả đế giày. Cứ điểm đó đã bị quân ta đánh mấy lần nhưng chưa thành công. Là Tư lệnh Chiến khu Năm, ông quyết định phải đánh một trận thắng ròn rã để cổ vũ sĩ khí cho toàn quân khu. Ông cho xây dựng một cứ điểm giả để cho bộ đội tập Không có giày đinh để có thể vượt qua hàng rào kẽm gai, Hồng Thủy cho bộ đội buộc ván vào chân thay giày sắt, ông trực tiếp huấn luyện. Quân địch cho rằng cứ điểm của chúng vững vàng, rắn như thép, nên tối đến đều yên ngủ hết chỉ canh phòng ở cửa. Hồng Thủy thân tự chỉ huy trận công kiên này. Trong điều kiện địch mạnh ta yếu, ông quyết định công kích vào ban đêm. Đêm đến, các chiến sĩ bí mật tiếp cận đồn, chuẩn bỉ giày ván để vượt rào. Dưới sự yểm hộ của hỏa lực, các chiến sĩ anh dũng vượt xông vào cứ điểm, tiêu diệt toàn bộ quân địch. Đó là trận công kiên giành thắng lợi đầu tiên của quân đội nhân dân ở mặt trận miền Nam Việt Nam. Tháng Mười hai năm 1946, bọn thực dân Pháp ỷ vào ưu thế vũ khí của chúng và được các nước Mỹ, Anh ủng hộ, lại phát động cuộc tiến công toàn diện cả nước Việt Nam. Chúng chọn phương châm "đánh nhanh thắng nhanh”, chiếm rất nhanh các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng... khống chế vùng tam giác châu thổ sông Hồng, đồng thời đổ bộ lên Đà Nẵng, chiếm Quảng Trị, Huế là các thành phố bậc trung chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tạm thời rút khỏi Hà Nội, đi lên Việt Bắc để lãnh đạo toàn quốc kháng chiến. Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ để một bộ phận binh lực để khống chế quân Pháp ở Hà Nội và Hải Phòng, còn chủ lực rút về nông thôn và miền núi thực hiện chiến tranh du kích. Đầu năm 1947, Hồng Thủy được điều về đảm nhiệm chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu Bốn, một nơi có vị trí là yết hầu nối liền giữa hai miền Nam, Bắc. Ở Khu Bốn, Hồng Thủy có hai trọng trách: giữ vững địa bàn chiến lược ở Trung Bộ, và chi viện cho toàn quốc. Khi mặt trận Thừa Thiên Huế bị vỡ, phải ngăn chặn cuộc tiến công của địch, bảo toàn lực lượng của quân đội ông đã chỉ huy đánh địch mãnh liệt, hơn nữa vừa chiến đấu, vừa xây dựng phát triển lực lượng vũ trang. Ông tổ chức lực lượng đánh cứ điểm số mười tám của địch, đồng thời xây dựng Trung đoàn 18 của Quảng Ngãi, sau đó xây dựng Trung đoàn 95 của Quảng Trị, sau chiến thắng Thanh Hương xây dựng Trung đoàn 101 của Thừa Thiên, từ đó thành lập Sư đoàn 325 anh hùng, rồi Sư đoàn 304 nổi danh, lực lượng quân sự địa phương cùng với chủ lực cũng lớn mạnh hẳn lên, các đội tự vệ cũng rất phát triển. Hồng Thủy đã phát huy đầy đủ tác dụng các lực lượng vũ trang như quân chủ lực, các đội du kích, dân quân, tổ chức hiệp đồng tác chiến đánh địch, tiếng tăm vang dội. Một lần, bộ đội do ông chỉ huy đã tổ chức đánh địch ở đèo Hải Vân trên đoạn quốc lộ một dọc ven biển, một trận mãnh liệt diệt trên một trăm tên. Một lần khác trên quốc lộ 9 (đường núi sang Lào), bộ đội dưới quyền ông đã đánh địa lôi, diệt hai tăng địch và một trung đội. Hồng Thủy, không chỉ giỏi về đánh trận và làm công tác chính trị, tư tưởng mà còn biết dựa hẳn vào quần chúng để chỉnh đốn chi bộ Đảng cơ sở và dân quân, củng cố cơ sở Chính quyền, đồng thời tổ chức quần chúng phát triển sản xuất, tranh thủ tự cấp, tự túc được về kinh tế, công tác ở Liên khu Bốn đã có một cục diện mới. Dưới sự lãnh đạo của Hồng Thủy, Liên khu Bốn đã được xây dựng thành một căn cứ địa vững chắc khiến quân Pháp nghe thấy đã kinh hoàng, không dám tiến đến xâm phạm. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:36:23 pm Trong rừng sâu, Hồng Thủy đã sáng lập nên một trường quân sự Chính quy ở Việt Nam.
Ở Chiến khu Năm và Sáu, Hồng Thủy đảm nhiệm toàn diện các mặt công tác kháng chiến, có thể nói gánh nặng trên vai quá lớn, ngày đêm lo nghĩ. Làm sao nâng cao dược thực lực của bộ đội từ yếu thành mạnh, đánh bại quân xâm lược Pháp trang bị hiện đại? Đây là vấn đề ông suy nghĩ nhiều nhất. Trong đấu tranh thực tế, ông thấy việc bồi dưỡng số lớn cán bộ là rất bức thiết, có tính chất trọng yếu trong việc đề cao chất lượng tổng hợp cho họ. Ông thường nghĩ lại những ngày ở Trung Quốc. Trong hai mươi năm đấu tranh vũ trang, dù điều kiện gian khổ, đấu tranh tàn khốc đến đâu thì Mao Chủ tịch vẫn đặt việc lập các trường quân chính là một việc trọng yếu. Các trường quân chính đó đã là nguồn bồi dưỡng lực lượng mới, bồi dưỡng được một số lớn người chỉ huy quân sự tài năng và người lãnh đạo công tác chính trị giỏi. Những hình ảnh học tập, sinh hoạt, chiến đấu ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trường Quân chính Trung ương ở Thụy Kim, Giang Tây, Trường Đại học Kháng Nhật Diên An, Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật, Hà Bắc, cứ lần lượt hiện ra trong đầu ông, đã kích thích ông phải lập ra cho được một trường quân sự chính quy ngay trên đất nước mình. Để nâng cao chất lượng hiểu biết về quân sự chính trì và hiệu năng chiến đấu của cán bộ quân chính, việc đầu tiên Hồng Thủy phải làm là thu hút nhân tài, đã dám thi hành một chính sách chiêu mộ nhân tài cởi mở, rộng rãi, thậm chí còn dùng cả bốn sĩ quan Nhật, sau khi Nhật đầu hàng, đồng tình với Việt Nam và dùng họ làm sĩ quan huấn luyện trong bộ đội dưới quyền ông. Trong rừng sâu tỉnh Quảng Ngãi thuộc Quân khu Năm, ông đã lập nên "Trường Võ bị lục quân Quảng Ngãi", một trường quân sự chính quy đầu tiên của Việt Nam và tự mình đảm nhiệm luôn chức hiệu trưởng. Khóa một của Trường Võ bị lục quân Quảng Ngãi khai giảng ngày tháng Sáu năm 1946 và kết thúc vào 30 tháng Mười hai cùng năm, đã bồi dưỡng được hơn bốn trăm cán bộ quân đội. Trong số đó có nhiều người sau này thành những người lãnh đạo chủ yếu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Đoàn Khuê, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, trước đây ông đã từng làm Tổng đội trưởng Tổng đội học sinh của trường. Tại Trường Lục quân Quảng Ngãi, vì hiệu trưởng văn võ đều giỏi; biết diễn giảng, có tài hùng biện, nói rất hay nên học viên vừa kính trọng vừa khâm phục. Mỗi tuần ông nói chuyện với học viên hai lần. Ông không hề có gì chuẩn bị, không mang theo bài giảng, lên bục là giảng. Ông vừa hút thuốc, vừa giảng, có thể nói một mạch từ sáng tới trưa. Có lúc thời gian giảng đã dài, lo học viên mệt mỏi, không tập trung tinh lực, ông cao giọng hỏi: "Các đồng chí đã mệt chưa?" Tất cả đều đồng thanh đáp: "Chưa mệt." Một lúc sau, ông lại hỏi: "Các đồng chí còn muốn nghe nữa không?" Mọi người lại nhất tề hô to: "Muốn ạ!" Không khí hội trường lập tức sôi nôi hẳn lên. Hồng Thủy thường xuống với học viên, giới thiệu với họ về cách mạng Trung Quốc, giảng giải các tác phẩm "Bàn về đánh lâu dài", "Luận về mâu thuẫn", "Luận về thực tiễn" của Mao Trạch Đông, giảng chính trị, giảng quân sự, giảng lịch sử, giảng văn nghệ, giảng công tác dân quân, giảng công tác chính quyền địa phương, giảng tình hình trong và ngoài nước... Ông cảm thấy cần gì là giảng nấy, học viên yêu cầu ông giảng gì ông giảng nấy. Có lúc liên tục mười mấy ngày, sáng nào ông cũng giảng suất buổi sáng, không mang tài liệu hoặc bài giảng. Ông giảng có lý, có lẽ, không trùng lặp, không sai sót, không phải bổ sung hoặc cải chính. Các học viên nói: "Hiệu trưởng Nguyễn Sơn có tri thức vô cùng phong phú, có vẻ như là không có vấn đề gì ông không biết, hơn nữa mỗi một vấn đề ông đều có kiến giải độc đáo, phân tích sâu sắc và lý luận hệ thống. ông nói rất sinh động, công nhân, nông dân, trí thức đều thích nghe, thật là hấp dẫn tất cả mọi người". Trong huấn luyện, Hồng Thủy yêu cầu học viên rất nghiêm khắc. Sáng nào học viên cũng phải tập chạy, mỗi lần chạy bốn đến năm cây số. Hồng Thủy chạy trước đầu hàng quân, học viên chạy theo, ai không chạy không xong. Qua sông, suối nhỏ hoặc hố nước, ông cũng không dừng, cố ý dẫn học viên chạy luôn xuống nước. Về đến chỗ trú quân ông lại dẫn mọi người ra sông tắm, trời lạnh một chút cũng tắm. Khi luyện tập hành quân, ông lệnh cho mọi người phải đeo nặng, vũ khí, lương thực, túi nước hoặc ống nước bằng tre đổ đầy. Tiến hành hành quân cấp tốc đường dài, không ai được rơi rớt, lấy yêu cầu khó khăn, nghiêm cách, thực tiễn của chiến đấu để rèn luyện học viên. Rất nhiều học viên khi mới vào bộ đội người rất yếu, qua huấn luyện như vậy, dần dần khỏe mạnh, cường tráng hẳn lên, sức chịu đựng khá lên, thành cốt cán trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Hồng Thủy phê bình rất thẳng và nghiêm. Mới đầu các học viên đều rất sợ ông. Sau này khi tiếp xúc nhiều, lại phát hiện thấy ông bình dị, dễ gần. Ông cùng học viên nói nói cười cười, cùng ngắm trời, cùng uống rượu, cùng chơi đùa, hoàn toàn như mọi người bình thường. Thế là học viên dần hết sợ ông và không bị gò bó, ngoài giờ học họ thường thân mật gọi "Anh cả Nguyễn Sơn". Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:37:15 pm Mỗi khi đi tập về, học viên phải xếp hàng đi đều và hát. Mỗi đại đội chia làm ba khối luân phiên hát một bài. Mỗi lần có dịp đi qua thị xã Quảng Ngãi (tỉnh lỵ tỉnh Quảng Ngãi), tiếng ca càng được cất vang lên. Dân hai bên đường phố nghe thấy tiếng hát của họ đều đổ xô ra xem, vỗ tay cổ vũ. Trước mặt đồng bào xuất hiện một đội ngũ: người cao lớn, ăn mặc ka ki đồng phục, đi giàn đồng nhất ca vang khúc quân hành. Tình cảm và ý chí của quần chúng vì vậy cũng được nâng cao.
Hồng Thủy cũng đã lưu dùng bốn sĩ quan Nhật để làm giáo viên Trường Lục quân Quảng Ngãi, còn trọng dụng nữa. ông yêu cầu các giáo viên huấn luyện quân sự chính quy cho học viên. Trong đó có một người Nhật tên là Nakahara Mitsunobu sau này gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam, còn được về công tác ở Bộ Tổng tham mưu. Một người nữa tên Việt Nam là Nguyễn Minh Ngọc. Sau này khi về Nhật Bản, ông từng đảm nhận Hội trưởng Hội hữu nghị Nhật - Việt. Ông Nakahara Mitsunobu trong bài Nhớ tướng Nguyễn Sơn có một đoạn viết rất cảm động: "Năm cuối cùng của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đầy biến động khôn lường đã đi qua nhanh chóng, thoáng một cái đã tới năm 1946. Trên đất nước Việt Nam, từ thành thị đến nông thôn, đến đâu cũng thấy cờ đỏ sao vàng tung bay, khẩu hiệu "Việt Nam độc lập muôn năm" vang lên như tiếng sấm rền dậy đất. Vào thời điểm đó sinh hoạt của chúng tôi rất dễ chịu, vì chúng tôi rất sớm có thể về nước. Chúng tôi cũng rất lo, không biết đến bao giờ những người đến tiếp nhận chúng tôi mới tới Việt Nam. "Tháng một ở Huế trời se lạnh, dễ chịu, tĩnh mịch. Thỉnh thoảng lại có mấy đứa trẻ mang theo đồ nghề vào trong trại cắt tóc cho lính. Dân chúng ra vào chỗ đóng quân của chúng tôi so với trước thoáng hơn, dễ dàng hơn. "Một hôm, một chiến sĩ cảnh vệ dẫn một người đàn ông vào khoảng bốn mươi tuổi đến để gặp chúng tôi. Sau khi vào phòng ông mỉm cười và giơ tay bắt tay Tham mưu trưởng Egawa và tôi, cứ như chúng tôi là bạn lâu ngày của ông. ông ta ngăm ngăm đen, gò má hơi cao, ánh mắt tỏ ra cảm tình dễ mến. Tôi lập tức cảm thấy ông ta là một người không bình thường, hơn nữa lại là một người có cuộc sống từng trải, gian nan và trắc trở. Chúng tôi dùng tiếng Trung xen với tiếng Việt lơ lớ để trao đổi nói chuyện với nhau. "Ông ta nói: Tôi là Nguyễn Sơn. Tôi thường nghe người ta nói về các ông. Tôi đã từng công tác ở Trung Quốc. Sau khi về nước, tôi được chính phủ bổ nhiệm làm Tư lệnh Trung Bộ và Chiến khu Nam Bộ, hiện nay tôi đang trên đường để tiếp nhận nhiệm vụ mới. "Câu chuyện của chúng tôi chuyển sang nói về hình thế chiến trường trong nước Việt Nam. Gặp chỗ có những từ khó hiểu, chúng tôi liền viết bằng chữ, dùng lối bút đàm. Ông ta viết: "Trong cuộc chiến tranh này, chúng tôi nhất định giành thắng lợi, nhân dân việt Nam nhất định được giải phóng và độc lập". "Khẩu khí của vị Tư lệnh này gây cho tôi một ấn tượng rất khó quên. Chúng tôi trao đổi nói chuyện với nhau khoảng một tiếng đồng hồ, ông ta đứng dậy nói: Thôi, tôi xin cáo từ, vì còn chút việc bận. Anh có thể cùng tôi đi vào miền Nam không? "Lời đề nghị này hết sức đột ngột. Với lối nói của ông giống như chỉ là mời tôi đi uống cà phê vậy. Lúc đó, tôi không nghĩ tới: đây là tướng Nguyễn Sơn, một con người mà sau này có cống hiến rất lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam. "Tháng Hai năm 1946, chúng tôi rời Đà Nẵng theo quốc lộ 1 đi về phía nam, mất hai ngày mới đến Quy Nhơn, Bình Định. Từ Quy Nhơn chúng tôi đến Ba Lai, một thị trấn cổ, lại đi tiếp mấy cây số đến trấn Phong Phú. Ở đây có một bộ phận đại diện của ủy ban Kháng chiến Nam Trung Bộ (Chiến khu Năm). Lúc đó mọi người gọi tướng Nguyễn Sơn là Chủ tịch ủy ban Kháng chiến Nam Trung Bộ, hoặc Tư lệnh Chiến khu Năm. Vì tôi lại được gặp tướng Nguyễn Sơn lần nữa nên tôi đặc biệt vui mừng. "Một lần, tôi nói với tướng Nguyễn Sơn, Quân đội nhân dân Việt Nam vừa mới thành lập, biên chế còn lộn xộn, sẽ hạn chế sức chiến đấu. Chúng tôi còn bàn về năng lực tác chiến của cán bộ chỉ huy quân đội và vấn đề thiếu vũ khí trang bị. Sau này khi tôi hỏi tướng Nguyễn Sơn, cần phải làm thế nào để có trang bị vũ khí, ông mỉm cười có vẻ như chẳng sợ cái gì hết, trả lời tôi: Vũ khí là phải lấy từ tay địch mà có. Quân đội chúng tôi một mặt chiến đấu, một mặt phải tự trang bị vũ khí. Quân đội chúng tôi đấu tranh để giải phóng nhân dân nên nhất thiết là phải làm như vậy! "Những lời của tướng Nguyễn Sơn sau này đã được hàng loạt các sự kiện chứng minh là đúng đắn". Sau này Hồng Thủy được điều rời khỏi Khu Bốn, lên Khu giải phóng Việt Bắc làm Hiệu trưởng Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, trường quân sự duy nhất lúc đó của Quân đội nhân dân Việt Nam. Rất nhiều học viên của trường sau này đã trở thành các tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:38:43 pm Hồng Thủy mới ba mươi chín tuổi đã được Quân đội nhân dân Việt Nam phong quân hàm thiếu tướng. Chủ tịch Hồ Chỉ Minh tặng ông một bài thơ mười hai chữ. Nhân dân Việt Nam gọi người anh hùng huyền thoại là "Vị tướng nhân dân”.
Mùa thu năm 1947, quân Pháp đã chiếm lĩnh các thành thị lớn và vừa, các đường giao thông huyết mạch Việt Nam, hình thành thế bao vây căn cứ địa Việt Bắc. Ngày 7 tháng Mười năm đó, chúng mở cuộc tấn công thu đông 1947, chia ba cánh quân tiến đánh vào căn cứ Việt Bắc, ý đồ tiêu diệt quân chủ lực, đập tan cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam đã dùng chiến thuật nhử địch vào sâu, chia cắt để bao vây tiêu diệt, chuẩn bị sẵn mồ chôn chúng, kiên quyết đánh trả quân xâm lược, tiêu diệt sáu nghìn tên, giành thắng lợi trong chiến dịch Thu Đông 1947 ở Việt Bắc. Chiến khu Bốn do Hồng Thủy chỉ huy đã phối hợp tác chiến chặt chẽ với Việt Bắc góp phần đánh bại kế hoạch muốn đánh nhanh, thắng nhanh của địch. Để làm tăng thêm uy thế cho quốc gia và quân đội, tháng 1 năm 1948, Hồ Chủ tịch ban bố sắc lệnh phong quân hàm cho một số đồng chí lãnh đạo quân đội. Được phong Đại tướng có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Được phong Trung tướng có đồng chí Nguyễn Bình. Được phong Thiếu tướng gồm có đồng chí Nguyễn Sơn, và tám đồng chí nữa. Hồng Thủy vừa qua ngày sinh thứ ba mươi chín, đang là Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến khu Bốn, đang phải kiên trì kháng chiến trong hậu phương địch. ông có một số ý khác trong việc phong quân hàm lần này, mong đem quân hàm thiếu tướng chuyển phong cho đồng chí khác nhưng vì ở xa trong địch hậu, không thể trực tiếp nói với Hồ Chủ tịch lúc đó đang ở căn cứ địa Việt Bắc. Vì thế, ông hến gửi một bức "công văn hỏa tốc" lên Hồ Chủ tịch. Khi Hồ Chủ tịch nhận được "công văn hỏa tốc" do nhân viên bảo mật đưa tới là lúc Người đang tiếp ông Hoàng Đạo Thúy, người lãnh đạo Trường Thiếu sinh quân, trong một cánh rừng già. Sau khi nhìn qua "công văn hỏa tốc", Người mỉm cười, gật gật đầu: "Tôi biết rồi". Sau đó một lúc, Người bảo nhân viên văn thư đưa cho Người một cây bút và một tấm danh thiếp. Suy nghĩ một lúc, Người dùng chữ Hán, viết một bài thơ mười hai chữ để tặng: Thiếp thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tướng Nguyễn Sơn năm 1948 Tặng Sơn đệ Đảm dục đại Tấm dục tế Trí dục viên Hành dục phương HỒ CHÍ MINH Tạm dịch: Tặng chú Sơn Dũng cảm phải lớn Tấm lòng phải tế nhị Suy nghĩ phải trọn vẹn Hành động phải chín chắn HỒ CHÍ MINH Người lệnh cho nhân viên công tác lập tức gửi vào Chiến khu Bốn trao cho Hồng Thủy. Ít ngày sau, Hồng Thủy đọc tấm danh thiếp do giao thông viên mang tới, hiểu Hồ Chí Minh đã trích dẫn bài thơ thời Đường, Tùy của một nhà y học trứ danh Trung Quốc, Khổng Tư Mạc, gửi tặng bạn ông Lưu Chiếu Lâm, nguyên văn là: Đảm dục đại nhi tâm dục tiểu Trí dục viên nhi hành dục phương Niêm niệm hữu như lâm đế nhật Tâm tâm thường tụ quá kiều thời. Hồ Chí Minh bỏ hai câu sau lấy hai câu đầu cắt thành bốn câu, lại đem ý "tâm dục tiểu” đổi thành "tâm dục tế”, ý nói rằng: Hồng Thủy "đảm đại, tâm tể" (gan dạ, tấm lòng tốt), khi suy nghĩ vấn đề nên chu đáo, trọn vẹn, hành động phải nhìn toàn đại cục. Đó là lời giảng giải cực kỳ sâu xa, lại cũng rất hy vọng ở Hồng Thủy có thể phát huy cao độ tinh thần theo hướng đó; vừa là biểu dương, vừa là dặn dò. Hồng Thủy đương nhiên hiểu rất rõ dụng ý của Hồ Chủ tịch, lập tức cảm thấy tinh thần thoải mái, sẵn sàng tiếp nhận sự xếp đặt của Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng, tích cực bàn với đại biểu Trung ương là Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch tổ chức lễ tiếp nhận quân hàm với nghi thức long trọng tại nơi Khu bộ Khu Bốn đóng quân và làm tại sân vận động huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Trong buổi lễ trang nghiêm tất cả mọi người ngước nhìn lên cờ đỏ sao vàng hát vang lời bài quốc ca hùng tráng: Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc... Nhân dân quanh vùng hàng chục cây số chen vai sát cánh về để dự buổi lễ long trọng này, nó không những đã đề cao được uy thế của Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn cổ vũ cho sĩ khí chiến đấu của quân dân Khu Bốn. Uy tín của Hồng Thủy trong cán bộ và nhân dân Việt Nam rất cao. Nhân dân Việt Nam gọi ông là "Vị tướng nhân dân”. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:39:36 pm Hồng Thủy là con người ham học tập, ham nghiên cửu các vấn đề. Nhân dân Việt Nam coi ông là nhà lý luận quân sự cách mạng.
Hồng Thủy là một người rất ham học tập, ham tổng kết, luôn dùng tư duy độc lập để suy nghĩ về mọi vấn đề. Ông đã tham gia hai mươi năm đấu tranh vũ trang tại Trung Quốc, từ khi Quân dội nhân dân Trung Quốc - mới thành lập cho đến thắng lợi của tám năm kháng chiến chống Nhật, Hồng Thủy đã học tập tích lũy được kinh nghiệm phong phú trong đấu tranh cách mạng. Làm thế nào để đem những điều đã học được ở Trung Quốc vận dụng vào cuộc đấu tranh chống Pháp của Việt Nam? Hồng Thủy không máy móc, mù quáng theo các sách vở lý luận của cách mạng Trung Quốc mà căn cứ theo tình hình cụ thể của nước nhà, căn cứ vào đặc điểm của từng chiến dịch để chỉ huy chiến đấu thật linh hoạt. ở miền Nam và miền Trung Việt Nam, ông đã lãnh đạo đấu tranh kháng Pháp năm năm. Nhân dân Việt Nam nói: Tướng Nguyễn Sơn là người đã có cống hiến rất lớn trong chiến tranh kháng Pháp. Giáo sư Phạm Xanh, Trường Đại học Khoa học xã hội Việt Nam, có một bài viết nhan đề Tướng Nguyễn Sơn, nhà lý luận quân sự cách mạng, trong bài có đoạn viết: "Gần đây, tôi mới nhìn thấy một bức ảnh chụp nửa người của tướng Nguyễn Sơn. Cầm bức ảnh trong tay, tôi chợt nghĩ, đây thật là một con người rất có tính cách, giống như nhận định về ông của các bạn bè, chiến hữu và cả học trò ông. Tôi liên tưởng đến nhân vật "Trapaép" của nước Nga. "Mọi người nói với tôi, ông đã viết rất nhiều sách. Nhưng tôi mới chỉ tìm thấy ba cuốn "Chiến thuật", "Dân quân, một lực lượng chiến lược", "Chủ nghĩa Lênin". Trong ba cuốn đó thì hai cuốn đầu có liên hệ tới vấn đề tôi định giới thiệu: Tướng Nguyễn Sơn, nhà lý luận quân sự cách mạng. "Cuốn Chiến thuật trong tay tôi là một cuốn in dầu bằng thủ công gồm hai mươi hai trang do Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu Chiến khu Năm phát hành. Cuốn sách này có thể do Bộ Tư lệnh Chiến khu Bốn xuất bản lần thứ nhất, cùng thời xuất bản cuốn thứ hai vì rằng trang cuối có thể nhìn thấy hai dòng chữ đóng khung hình vuông: - Lần thứ nhất in 900 cuốn. - In xong: 20/2/1949 "Cuốn sách này được in trên giấy bồi, nay đã vàng khè, chữ in đã mờ không rõ, cho nên đọc rất vất vả. Theo ý tôi, cuốn sách này là một phần nằm trong bộ sách mà tướng Nguyễn Sơn viết về chiến lược, chiến thuật, chiến dịch, chiến đấu. Vì ở cuối cuốn sách này có một câu viết: "Hết phần I". Có thể là lúc đó ở Khu Năm, điều kiện về giấy má, mực in thiếu thốn, các đồng chí ở đó chỉ in lại một phần tập sách đã được Khu Bốn xuất bản năm 1949. "Cuốn sách Chiến thuật có hai chương. Chương một là "Bàn về chiến thuật", chương hai là "Nguyên tắc và cơ sở của chiến thuật". "Trong chương một, ông dùng ba trang đầu để nói về tính tất yếu phải học tập, tu dưỡng về chiến thuật: "Trong việc chỉ đạo quân đội và nhân dân tiến hành thực hành chiến tranh, khâu trung tâm là phải bồi dưỡng người chỉ huy, nâng cao trình độ chiến thuật”. Mấy trang sau đó ông nói rõ “Thế nào là chiến thuật”. Theo cách nhìn của ông, chiến thuật là phương pháp chiến đấu, là phương pháp đánh địch và tiêu diệt quân địch khi trực tiếp giao chiến với kẻ địch trên chiến trường; chiến thuật là hình thức tác chiến của đơn vị cấp sư đoàn, trung đoàn; chiến thuật còn là khi hai bên giao chiến biết tùy tình huống địch, địa hình, nhiệm vụ của mình, mục dịch trực tiếp của cuộc chiến để quyết định bố trí bộ đội, quy tắc tiến lui, phối hợp binh chủng v.v... "Căn cứ vào định nghĩa trên, trung tâm nghiên cứu chiến thuật là các chỉ huy trung cấp. Theo quan điểm của Nguyễn Sơn mà xét, tất cả mọi người trong quân đội từ chiến sĩ chỉ huy sơ cấp đến chỉ huy cao cấp đều phải hiểu về chiến thuật. Như vậy, từ ra lệnh chiến đấu đến việc chấp hành mệnh lệnh mới có thể phối hợp được. "Trong tiến hành chiến đấu, có thể chia ba tầng thứ? chiến lược, chiến thuật, chiến đấu. Ba tầng đó tương đối ứng với ba lớp đẳng cấp của người chỉ huy: cấp tướng (chiến lược), cấp tá (chiến thuật), cấp úy chiến đấu), vì vậy thậm chí tổ chức quân đội cũng phải chia làm ba tầng thứ tương ứng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 23 Tháng Bảy, 2010, 08:40:23 pm "Trong chương thứ hai, Nguyễn Sơn đề xuất và giải thích nguyên tắc chiến thuật và bốn nguyên tắc cơ bản của vô số loại hình chiến đấu. Đó là: tích cực tiến công, giữ gìn thanh thế, áp đảo quân địch, tập trung lực lượng đánh vào chỗ yếu của địch và cơ động linh hoạt trong vận động chiến thuật.
"Về nguyên tắc cơ bản thứ nhất, Nguyễn Sơn thấy rằng đó là do điều kiện chính trị, kinh tế xã hội quyết định. Trong một số nước thuộc địa và nửa thuộc địa, nhân dân thực hành chiến lược chiến tranh giải phóng dân tộc, thường thường lúc đầu lâm vào cục diện bị động, chống đỡ. Vì thế chúng ta phải dùng tinh thần tích cực tiến công chiến thuật, để tạo cho cục diện bị động về chiến lược dần dần chuyển thành chủ động tiến công phản công) về chiến lược, như vậy mới có thể bảo đảm thắng lợi triệt để. "Trong buổi đầu chiến tranh chống Pháp, do thiếu vũ khí, thiếu huấn luyện, thiếu kinh nghiệm và tinh thần tích cực tiến công địch, vì thế mới sản sinh một loại chiến thuật đặc thù: Chiến thuật du kích. Loại chiến thuật này cùng tồn tại với các loại chiến thuật chính quy, nâng cao sức chiến đấu của nó. "Căn cứ vào quan điểm của Nguyễn Sơn, trong chiến tranh, tích cực tiến công không có nghĩa mù quáng, đánh ẩu Muốn tích cực tấn công có nghĩa là phải chú ý việc trinh sát, nắm vững tình hình địch, chủ động tìm ra những chỗ yếu của địch. Tích cực tiến công còn có ý là phải lợi dụng mọi điều kiện có lợi cho ta, tìm địch mà đánh, giành lợi, tránh hại. Nó còn có ý nghĩa là trong chiến đấu thì dù tiến công hay phòng thủ đều phải giữ thạch động. "Nguyên tắc cơ sở thứ hai là giữ vững thanh thế, áp đảo quân địch, là tư tưởng hàng đầu, chỉ xuất kích khi có thể giành thắng lợi (đánh chắc thắng), như vậy mới có khả năng giữ gìn lực lượng của ta lâu dài. Mục đích chủ yếu của bộ đội chủ lực của ta là tiêu diệt địch, các mục đích khác cần lợi dụng lực lượng của nhân dân để thực hiện. Bất cứ vào lúc nào cũng không thể đem bộ đội chủ lực phân tán về các nơi, nếu không khi cần thiết không thể tập trung lực lượng tiêu diệt địch. Khi đã quyết tâm tiêu diệt địch thì phải tập trung lực lượng người và vũ khí) làm cho quân ta đông hơn địch gấp bội, nhưng không được chủ quan, khinh địch và hao phí lực lượng mình. "Thế nhưng tập trung lực lượng đánh như thế nào chứ? Tướng Nguyễn Sơn dẫn chúng ta tới nguyên tắc cơ sở thứ ba - tập trung lực lượng đánh vào chỗ yếu của địch. "Ông cho rằng, chọn đánh vào chỗ yếu của địch là một vấn đề cực kỳ trọng yếu trong chiến thuật. Ông nêu ra một loạt những điểm yếu có thể có của địch làm ví dụ để mọi người có thể căn cứ vào đấy tự mình chọn chiến thuật của mình. Ông còn cho rằng điểm yếu của địch không những chỉ là những điểm yếu vốn có của địch ta phát hiện ra mà còn có điểm yếu địch do ta tạo nên cho chúng. Ví dụ, ta dùng chiến tranh du kích buộc địch phải phân tán lực lượng, làm cho chúng mệt mỏi, rêu rã, sau đó mới đánh chúng bằng những đòn quyết định. "Một nguyên tắc cuối cùng là vận dụng chiến thuật phải cơ động linh hoạt. Tướng Nguyễn Sơn nhận định rằng: cơ động linh hoạt là chiến thuật dùng binh nhanh, khéo léo để điều động bộ đội và phối khí hỏa lực, khiến cho có thể phối hợp mật thiết đáng tin cậy, đạt được hiệu quả tác chiến tốt nhất. Khi sử dụng nguyên tắc chiến thuật này, bộ binh là binh chủng chủ yếu, nhưng cần phải phối hợp chặt chẽ với các binh chủng khác. Cần điều động bộ đội thật nhanh chóng, quân đội phải rèn luyện phương pháp hành quân, có sức bền chịu đựng và có tổ chức trong hành quân, khiến cho hành quân được nhanh chóng, kín đáo và thục luyện. Đó là nói về điều động bộ đội trước chiến đấu. Còn về điều động bộ đội trong chiến đấu, Nguyễn Sơn yêu cầu hỏa lực tập trung để chuẩn bị xung phong. Vì hỏa lực trợ chiến chỉ có tác dụng trong một phạm vi hẹp cho nên Nguyễn Sơn cho rằng phương pháp dùng binh phải chú ý tới động tác xung phong của bộ đội, đó là đâm lê, ném lựu đạn v.v… "Vì thế, ông yêu cầu binh sĩ phải tập các động tác xung phong thật thành thục". Trong bài trên, giáo sư Phạm Xanh còn nói đến một cuốn khác của Hồng Thủy Dân quân, một lực lượng chiến lược. Ông đã phê bình và phân tích sâu sắc tư tưởng chiến lược quân sự của Hồng Thủy. Đọc xong bài viết này lòng tôi vô cùng cảm khái. Hồng Thủy không phải là một nhà lý luận quân sự bẩm sinh. Kinh nghiệm của ông được rút ra, tổng kết lại là từ những trận chiến ác liệt, từ những bài học xương máu. Tôi nhớ mãi trận đánh ở núi Ngao Ngư, bộ đội do Hồng Thủy chỉ huy bị một số thương vong. Đối với các đồng chí hy sinh, bị thương, ông vô cùng đau xót. Sở dĩ tôi khâm phục Hồng Thủy là bởi vì ông rất ham học, rất chịu khó tổng kết, biết rút những bài học từ thất bại. Trong bảy năm tôi và Hồng Thủy sống chung, không kể ở Ngũ Đài, Sơn Tây, ở Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật, hoặc ở Diên An, đêm đã rất khuya, dưới ánh đèn dầu yếu ớt, vẫn thấy ông ngồi xếp chân bằng tròn trên giường lò hoặc cúi mình trên bàn nghiên cứu các sách lý luận của cách mạng Trung Quốc và các trước tác về quân sự của Mao Chủ tịch. Bất kể ngày hè oi bức hay mùa đông rét buốt, không quản công tác bận đến đâu, chiến đấu khẩn trương đến đâu, ông không bao giờ để gián đoạn học tập. Nếu như nói rằng trong kháng chiến chống Pháp ở Việt Nam, nghệ thuật chỉ huy quân sự của ông đã có tiếng vang, thì đó cũng là có cơ sở từ hơn hai mươi năm ông tham gia cách mạng Trung Quốc và tích lũy được, đó cũng chính là sự rèn luyện từ máu lửa mà có được. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:36:27 pm Chương X DỨT TÌNH Ở TRUNG NAM HẢI Để tăng cường quan hệ giữa hai Đảng, hai nước, hai quân đội Trung - Việt, Hồng Thủy đến Trung Quốc lần thứ ba. Chúng tôi gần nhau trong gang tấc mà cảm thấy như cách hẳn phương trời. Vào lúc nhân dân Trung Quốc đón mừng ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đầy tin tưởng bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì cuộc chiến tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam cũng có bước ngoặt, tình hình cũng rất nhiều khó khăn. Tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật đến thăm Trung Quốc, đề ra yêu cầu với Trung ương Đảng Trung Quốc giúp Việt Nam đánh Pháp không quản là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới thành lập, đang xây dựng lại trên đống tro tàn, lại đang phải đứng trước nhiệm vụ vô cùng lớn là "Kháng Mỹ viện Triều”, song các nhà lãnh đạo Trung ương Đảng Trung Quốc Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai đều quyết định đem nỗ lực lớn nhất để cung cấp viện trợ toàn diện các nhu cầu cho chiến tranh chống Pháp của Việt Nam. Đồng thời cử ngay La Quý Ba làm đại biểu liên lạc của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (sau được cử làm Đoàn trưởng Đoàn cố vấn chính trị) và cử Vi Quốc Thanh làm Đoàn Trưởng Đoàn cố vấn quân sự đến Việt Nam công tác, ngoài ra còn phái Trần Canh làm Đại biểu Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong quá trình tổ chức và chỉ huy chiến dịch biên giới. Chiến dịch biên giới đại thắng đã làm cho căn cứ địa Việt Bắc được củng cố, mở rộng, đã nối liền Việt Nam với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa thành một dải. Hình thế chiến tranh chống Pháp đã có một bước chuyển biến lớn. Hồ Chí Minh khi tiếp La Quý Ba có đề xuất muốn cử Hồng Thủy tới Trung Quốc để tăng cường liên lạc giữa hai Đảng, hai nước, hai quân đội để hai bên có thể giải quyết mọi tình huống tốt hơn, hiệp đồng điều chỉnh các công việc liên quan đến việc viện trợ Việt Nam chống Pháp. La Quý Ba lập tức báo cáo về Trung ương. Đảng Cộng sản Trung Quốc và đã nhanh chóng được trả lời đồng ý để Hồng Thủy về Trung Quốc. Đầu tháng Chín, La Quý Ba tự thân đi tiễn Hồng Thủy tận biên giới hai nước. Hồng Thủy lại đến Trung Quốc lần thứ ba. Trung tuần tháng Chín, Hồng Thủy đến Bắc Kinh. Mao Chủ tích, Chu Tổng tư lệnh bố trì ông ở tại Trung Nam Hải. Như vậy, ông thường gặp mặt những người lãnh đạo Trung Quốc, có thể trao đổi mọi điều. Sau đó ông được xếp về công tác ở Bộ Mặt trận Thống nhất Trung ương, là người phụ trách Tổ Việt Nam thuộc Cục 2. Năm 1948, tôi đã được nghe lời đồn, Hồng Thủy đã lấy vợ ở Việt Nam, nhưng tôi không tin vì Hồng Thủy khi rời Diên An đã chủ động, chân thành nói với tôi khi về Việt Nam sẽ không kết hôn nữa. Ông còn nói đợi đến ngày Tổ quốc giải phóng ông sẽ trở về đoàn tụ với mẹ con tôi. Sau khi Viện Thực nghiệm nuôi dạy trẻ vào Bắc Bình, địa chỉ Viện ở phía Tây Cổ Lầu, số 1 đường Quả Tử Thị (nay là chỗ của đại diện khu tự trị Tây Tạng tại Bắc Kinh), được Bộ Giáo dục phê chuẩn, Viện đổi tên là "Viện Mẫu giáo 1/6 Bắc Kinh”. Tiểu Phong và Tiểu Việt sau khi về thành cũng ở trong “Viện Mẫu giáo 1/6!”. Viện Mẫu giáo vừa chuyển vào thời bình, rất nhiều việc phải làm: sửa chữa nhà cửa, bố trí thêm đồ đạc theo nhu cầu của các cháu, bố trí kế hoạch dạy và học, cung cấp lương thực, may quần áo mới, sưởi ấm mùa đông... hàng loạt vấn đề đều được đặt ra. Nước Trung Hoa mới thành lập, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ, các tổng cục thuộc Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh... đều ào ạt về Bắc Kinh, các cháu còn ở tuổi mẫu giáo cũng theo cha mẹ về. Các cháu mẫu giáo ở trường đã tăng lên rất nhanh, gấp mấy lần khi mới về. Gánh nặng công việc đè lên vai có lẽ còn hơn nhiều so với thời chiến. Tôi bận suốt ngày, hai cháu chỉ được mẹ đón về chiều thứ bảy, ngủ nhà một đêm, chiều chủ nhật lại phải vào trường. Một hôm, vào hạ tuần tháng Chín năm 1950, có một đồng chí nam không quen đến tìm tôi tại Viện Mẫu giáo 1/6, giới thiệu với tôi rất khách khí: "Thưa đồng chí Trần Kiếm Qua, tôi công tác ở Cục 2, Bộ Mặt trận Thống nhất, Tổ Việt Nam, tên là..." Nghe đến hai chữ Việt Nam trong lòng tôi đã hồi hộp. Tôi mời đồng chí đó ngồi ghế đối diện ở bàn làm việc của tôi, mời uống nước. Tôi không dám nói, cũng không dám hỏi, chỉ im lặng nhìn anh ta xem thái độ và ánh mắt của anh để dò xem tình thể ra sao. Thời gian trôi qua chỉ khoảng mười mấy giây mà tôi cảm thấy rất lâu. Đồng chí đó liếc nhìn quanh phòng làm việc của tôi một lát. Tôi đoán ra có lẽ anh ta lựa lời để nói. Anh càng không nói, lòng tôi càng rối bời. "Đồng chí Hồng Thủy đã tới Trung Quốc rồi". Cuối cùng anh ta cũng mở miệng. Tôi lúng túng nói: "Thế à?" Anh nói nhỏ hẳn đi: "Đồng chí Hồng Thủy đã kết hôn ở Việt Nam". Anh dừng lại một chút quan sát phản ứng của tôi để chờ nói tiếp. Trong nháy mắt, tôi thấy trời đất như quay cuồng, đầu như bị búa tạ giáng trúng, lại như có hai bàn tay lạnh giá đang bóp chặt tim tôi, người tôi như chết cứng. Tôi còn có thể nói gì được? “Sau khi đồng chí Hồng Thủy tới Bắc Kinh mới được biết chị và hai cháu vẫn còn sống. Anh vừa vui mừng, vừa kinh ngạc, muốn đến gặp chí và các cháu ngay. Thế nhưng hoàn cảnh hiện nay của anh thật khó xử. Cũng may là vợ con của anh tạm thời vẫn chưa tới Trung Quốc. Anh nói muốn chờ ý kiến của chị rồi mới quyết định”. Người đến nói có vẻ thành thật, song cũng rất lúng túng khi giải thích. Tôi quay cuồng cả người, sau đó nói gì tôi cũng không còn nhớ nữa. Khi ra về, anh ta còn nói với tôi vài câu an ủi, khuyên tôi nên giữ gìn sức khỏe, còn nói một ngày gần đây đồng chí Hồng Thủy sẽ đến Viện Mẫu giáo thăm tôi. Đồng chí ở Bộ Mặt trận Thống nhất về rồi, tôi ngồi một mình trong phòng làm việc muốn khóc không được, muốn kêu không xong. Lời đồn là đúng, lại còn có sự thêm thắt. Ở bên đó Hồng Thủy đã được tin tôi và hai con bị máy bay bắn chết rồi. Tôi không còn làm sao mà hiểu nổi, đầu óc cứ rồi bời. Nhìn sao sa, nhìn trăng sáng đều chỉ có ước mong Hồng Thủy trở về. Làm sao lại có kết cục này? Tôi không thể tha thứ cho Hồng Thủy về việc làm khinh suất này được! Đêm hôm đó, tôi trăn trở mãi không sao ngủ được, cứ dằn vặt mãi không biết nên đối xử ra sao trước việc này: oán hận ông, cãi vã xỉ vả ông, đây không phải là thái độ tôi nên làm trong hoàn cảnh chiến tranh, sống chết không thể lường, huống hồ Hồng Thủy lại là một đồng chí ngoại quốc; bình tâm tĩnh trí để cùng nhau nối lại quan hệ vợ chồng chăng? Thế còn người vợ Việt Nam của ông thì làm thế nào? Nếu chia tay cùng Hồng Thủy, tương lai đối với cháu Phong, cháu Việt, tôi sẽ phải xử sự ra sao? Quyết tâm để giải quyết vấn đề này sao khó thế! Tối hôm sau, một chiếc xe đen lái qua cổng Viện, đỗ ở khoảng trống trước bức tường treo ảnh. Người của Bộ Mặt trận Thống nhất hôm qua đến gặp tôi, dẫn Hồng Thủy đến Viện. Trương Sì Xương và Diêu Thục Bình đang nhiệt tình tiếp đón họ ở gian phòng khách nhỏ. Đằng đẵng năm năm không gặp nhau, tôi có biết bao điều muốn kể lể với Hồng Thủy, thế nhưng nay tôi biết nói gì? Tôi ngồi trong một góc ở phòng khách, không nói năng gì, chỉ nhìn qua Hồng Thủy. Ông vẫn mạnh khỏe, tinh thần vẫn vậy, không có gì khác mấy so với khi rời Diên An. Một đôi vợ chồng thương yêu, sau năm năm chia tay, trong thời chinh chiến, vào chết ra sống, hôm nay gặp lại được nhau đâu có dễ dàng. Chúng tôi gần nhau trong gang tấc mà sao lại cảm thấy xa vời vợi, nhìn không thấy, sờ không được, phảng phất như cách hẳn một phương trời. Hồng Thủy và Trương Sì Xương, Diêu Thục Bình nói chuyện với nhau về tình hình Viện Mẫu giáo và tình hình Việt Nam. Khi họ kể đến chuyện đội quân các bà mẹ của Bộ phận ba Trường Đảng và Trường Mầm non số hai sau khi rút khỏi Diên An đã qua cả một lịch trình gian nan, trông mặt Hồng Thủy có vẻ buồn bứt rứt. Tôi ngồi im tựa lưng vào ghế không nói nửa lời, như ngồi trước một người không quen biết, nếu một khi nói ra là không thể nào còn khống chế được tình cảm của mình. Tôi cố nén nỗi bi thương không để cho nước mắt trào ra. Hồng Thủy không biết vì hối hận hay là sợ va phải đinh, ông không ngừng hút thuốc, không trực tiếp nói với tôi một lời. Hồng Thủy biết tính tôi rất quật cường, đã nói là thẳng, nếu tôi nói ra những lời không phải, ông không có cách gì ngăn được. Buổi gặp nhau đầu tiên sau năm năm xa cách đã kết thúc trong im lặng như vậy. Thực ra tôi không phải không có lý trí, không phải làm những điều làm cho anh mất mặt. Tôi hết sức nén nỗi giày vò, không làm gì phỉ báng anh, đặc biệt khi trước mặt người ngoài. Vả lại bây giờ trách móc anh, phỉ báng anh, thậm chí chửi mắng anh phỏng có tác dụng gì? Cuộc sống của một con người, tất nhiên có điều bất hạnh, song phải dùng ý chí ngoan cường để đối mặt với nó. Không thể oán trời, trách người, tiêu cực bi quan, càng không thể làm tổn thương cá nhân anh. Lạnh lùng, bình tĩnh xử lý điều bất hạnh đột phát đó là điều lựa chọn duy nhất của tôi. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:37:49 pm Ở Trung Nam Hải, tôi đã đau đớn khóc nức nở. Vì vợ con Việt Nam của anh, tôi đã cự tuyệt Hồng Thuỷ.
Hai ngày sau vừa đúng vào dịp trung thu. Sau ba năm phiêu bạt trên đường dài, trú quân nơi chiến địa, đây là lần đầu tiên Viện Nuôi dạy trẻ được ăn một cái tết Trung thu trong hoàn cảnh hòa bình. Nhà bếp đã làm cho các cháu những chiếc bánh trung thu thơm phức, lại chuẩn bị hoa quả. Các bạn nhỏ còn tập luyện tiết mục văn nghệ để biểu diễn vào lúc chờ ngắm trăng. Chiều hôm đó, chiếc xe hòm đen lại đến Viện Mẫu giáo 1/6. Hồng Thủy muốn đón tôi và các cháu đến nơi anh ở, nhà số 2 cửa Tây, Trung Nam Hải, cả nhà có mặt trong cuộc họp đoàn viên. Một gia đình đã phân ly năm năm đâu có dễ đoàn tụ, trong con mắt người ngoài thật là một việc đáng vui, đáng mừng. Đặc biệt là Tiểu Việt, khi sinh ra đã không được nhìn thấy mặt cha đẻ của mình. Khi Hồng Thủy rời Diên An, Tiểu Phong mới chỉ có một tuổi rưỡi. Trong ký ức của các cháu chưa hề có ấn tượng về cha. Khi Hồng Thủy đến Viện lần đầu, các cháu đã đi ngủ. Hôm nay là lần đầu tiên cả nhà đoàn tụ. Tiểu Phong vốn hoạt bát, sáng dạ. Khi được biết cha đón mình liền chạy lao vào vòng tay bố, sau đó ôm lấy cổ Hồng Thủy kêu "Ba ơi, ba ơi!" liên tục. Hồng Thủy nâng bổng Tiểu Phong lên cao, vô cùng phấn khởi nói: "Tiểu Phong lớn như thế này rồi. Ba sắp không bế được con nữa". Anh ôm Tiểu Phong vào lòng thơm mãi lên khuôn mặt bụ bẫm, nhỏ bé của cậu con trai. Anh đặt Tiểu Phong xuống, lại bế Tiểu Việt. Tiểu Việt đứng ngây người nhìn bố, không hiểu là lạ hay sợ. Cháu chạy lại ôm lấy đùi tôi chỉ để thòi ra hai cái chân nhỏ bé, gọi mẹ. Tôi bế Tiểu Việt lên, nhẹ nhàng nói với cháu: "Con ngoan của mẹ, có phải con vẫn bảo lớn lên sẽ đi tìm ba? Hôm nay ba về thăm con đấy!". Tiểu Việt liếc nhìn trộm Hồng Thủy một cái rồi chợt nhoẻn miệng cười. Anh đón cháu Việt từ tay tôi, áp khuôn mặt xinh xắn của con vào bộ mặt gầy, dày dạn phong sương của đời chinh chiến. Mắt anh nhòa lệ, rất lâu không nói được gì. Cho đến khi đặt Tiểu Việt xuống anh mới rầu rầu nói với tôi: "Kiếm Qua, mấy năm qua em vất vả quá!" Tôi nhìn thẳng vào Hồng Thủy song chỉ ừ hữ cho qua, không tỏ vẻ gì cả. Hồng Thủy dắt tay hai con ra ô tô, tất cả chúng tôi đều đến chỗ ở của Hồng Thủy để đón tết Trung thu. Tôi và Hồng Thủy đều ngả người vào đệm lưng xe, anh bế Tiểu Phong, tôi bế Tiểu Việt. Người lái xe nhấn ga, xe vọt ra phố lớn. Tiểu Phong làm quen với bố rất nhanh, suốt dọc đường cha con không dứt chuyện. Xe xuyên qua phố lớn ở Tây Cổ Lầu rồi rẽ phải. Cháu Phong vừa phát hiện được điều gì vội nói ngay với bố: "Ba ơi, ba ơi, ba xem Cảnh Sơn kìa! Các bạn trong lớp của con đã đi thăm công viên Cảnh Sơn rồi nhé, con còn leo lên đỉnh cao nhất nữa kia". Tiểu Việt ngắm xe cộ chạy đi chạy lại qua cửa, liên tục chỉ cho tôi xem: "Mẹ ơi, mẹ xem kìa, xe ngựa lớn đấy!" "Mẹ ơi, cái xe buýt mũi to kìa!" Hồng Thủy theo tay trỏ của Tiểu Việt, ngắm ra ngoài. Xe vượt qua Đoàn thành, Tiểu Phong lại phấn khởi khoe với bố. "Ba ơi! Ba xem kìa? Đây là công viên Bắc Hải. Cô giáo đã dẫn chúng con đến đây đi chơi thuyền to đấy!". Trên đường đi, đối với mỗi điều các con hỏi và nói anh đều hết sức vui thích, luôn miệng trả lời các con. Xe rẽ về phố Phủ Hữu, tiến vào cửa Tây, Trung Nam Hải. Xem ra anh đã có chuẩn bị trước, trên chiếc bàn nước dài của phòng khách đã bày đủ các quà trung thu: bánh trung thu, lê, nho và một số kẹo ngon. Hồng Thủy ngồi trên ghế xô-pha, tay ôm mỗi cháu ngồi một bên lòng. Các cháu vừa ăn bánh trung thu, vừa nghe bố kể truyền thuyết về "Thỏ ngọc“, hỏi bố liên tục. Tôi vẫn ngồi lặng im, lơ đãng ngắm nhìn lầu các, đái, đỉnh, sắc núi Hồ Quang trong Trung Nam Hải và cũng không có hứng thú gì để nói chuyện với Hồng Thủy. Nhìn cha con vui sướng khi lần đầu tiên được đoàn tụ, được hưởng tình cha con, giữa tình cảm và lý trí của tôi lại xung đột kịch liệt. Tôi làm sao có thể nhẫn tâm chia rẽ cha con họ được chứ? Cơm tối xong, Hồng Thủy bảo người dọn giường, phòng. Đã đến lúc phải có quyết định dứt khoát rồi. Tôi ngồi cũng không yên, một mình chạy ra ngoài vườn khóc nức nở vì nỗi đau riêng. Ngồi trên một chiếc ghế dài bên bờ hồ trong Trung Nam Hải, nhìn ánh trăng soi bóng nước, lòng tôi như tơ vò trăm mói. Hôm nay là tết Trung thu, lại là lần đầu cả nhà tôi đoàn tụ, tôi ngồi riêng một chỗ khóc tức tưởi, vì hoàn cảnh trước mắt phải tha thứ cho Hồng Thủy. Hồng Thủy với tôi tình sâu, nghĩa nặng, đối với con rất mực yêu thương. Thực lòng ra tôi không oán hận gì anh. Nếu như anh chủ động nêu vấn đề ly hôn ra với tôi, tôi có thể dễ chấp nhận. Thế nhưng anh cứ một mực chờ ý kiến của tôi rồi mới quyết định. Thế chẳng phải là làm cho tôi đứt ruột, đứt gan sao? Làm thế nào bây giờ? Vẫn vợ chồng với nhau như trước kia sao? Điều đó không thể được rồi. Anh đã có gia đình mới. Quan hệ giữa chúng tôi đã có vết rạn nứt không sao hàn gắn nổi. Tôi lại đặt địa vị tôi vào một người phụ nữ khác để suy nghĩ. Người vợ Việt Nam của anh cũng đã có một đứa con, lại đang có mang, giống hệt tôi khi chia tay với Hồng Thủy. Cô ta trẻ hơn tôi nhiều, rèn luyện trong cách mạng cũng còn ít, có thể chịu nỗi đau như thế này không? Lúc đó có thể cô ta sẽ kêu la với Hồng Thủy để bắt không được bỏ mẹ con cô. Cô ta thật ra cũng không tội tình gì! Tôi đau khổ cùng cực. Nhắc đi, nhắc lại, suy đi tính lại không biết giải quyết ra sao. Bao nỗi đau trong lòng biết tỏ cùng ai? Chỉ một làn gió nhẹ thoảng qua mặt là tôi đã rưng rưng nước mắt, chỉ một cành liễu mềm mại cũng làm quặn trong lòng tôi nỗi đau. Tôi không biết ngồi đã bao lâu, khóc bao nhiêu, suy nghĩ những gì... Cuối cùng bình tâm trở lại, tôi quyết định tự mình sẽ hy sinh để cho gia đình Hồng Thủy được toàn vẹn. Tôi quay về phòng, chuẩn bị dẫn hai con về Viện Mẫu giáo Hồng Thủy và các con quyến luyến không nỡ rời nhau. Khi xe sắp nổ máy, anh vịn cửa nói: "Đưa các con về xong, em quay lại nhé!" Tôi quả đoán lắc, lắc đầu, thay câu trả lời. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:40:04 pm Hồng Thủy nói: Tôi đã không phụ lòng sáu trăm triệu nhân dân Trung Quốc nhưng đã phụ lòng một người phụ nữ Trung Quốc.
Ngày 1 tháng Mười năm 1950 là ngày kỷ niệm lần thứ nhất thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và cũng là ngày mà tôi và Hồng Thủy Ước định lấy làm ngày sinh chung. Ngày hôm đó, tại Quảng trường Thiên An Môn đã long trọng, nhiệt liệt tổ chức lễ diễu hành ngày Quốc khánh và bắn pháo hoa ban đêm. Hồng Thủy là đại biểu quan khách đã cùng nhân dân thủ đô và hàng trăm triệu nhân dân Trung Quốc vui mừng đón ngày lễ lớn. Đội ngũ diễu hành hùng dũng, hồ hởi diễu qua trước lễ đài Thiên An Môn, mỗi người dân Trung Quốc với tư thế làm chủ đất nước mừng vui phơi phới. Người người cầm hoa tươi, vẫy cao cờ đỏ, sản xuất công nghiệp báo công, tin vui nông nghiệp được mùa, các cháu thiếu niên nhi đồng lanh lợi, hoạt bát, đấng yêu, cười tươi như hoa... Lễ hội pháo hoa đêm càng làm cho nhiều niềm vui ngày quốc lễ lên tới cao trào. Từng loạt pháo hoa đủ loại sắc màu tung bay lên trời đêm, trên quảng trường mọi người vui sướng ca hát, nhảy múa, các loại pháo sáng cực mạnh quyện lẫn các lễ hoa tung bay, toàn thể Quảng trường Thiên An Môn như một biển người hoan lạc. Những quang cảnh làm nức lòng người đó khiến Hồng Thủy rất vui. Tuy nhiên trong lòng anh vẫn còn nặng nề, anh vẫn luôn nhớ tới tôi và hai con. Sáng sớm hôm sau, anh lại đến Viện Mẫu giáo 1/6. Người cảnh vệ Việt Nam của anh tên là Cự dẫn các cháu Phong và Việt đến sân khấu của trường xem biểu diễn. ở đó có nhiều trò chơi, trồng người trên giá, leo cột mỡ, lướt thuyền ván... Từ xa, tiếng con trẻ reo hò, cười vui vọng lại. Hồng Thủy ngồi trong phòng nhỏ của tôi ở, Hồng Thủy kể lại cho tôi nghe những nỗi đau trong những năm qua, nói rõ nguyên nhân tại sao anh lại kết hôn lần nữa. Sau khi về tới Việt Nam, anh lập tức được cử tới miền Nam Việt Nam chỉ huy chiến tranh chống Pháp. Trong khói lửa chiến tranh, anh túi bụi công việc suốt ngày đêm. Mỗi khi chiến đấu tạm dừng anh đều nhớ tới tôi và hai con. Lúc đó anh thường lấy ảnh của hai chúng tôi chụp trong ngày cưới và ảnh nhỏ, anh bế tiểu Phong, ra ngắm nghía. Anh rất muốn viết thư cho tôi song lúc đó các đường giao thông chủ yếu của Việt Nam đều bị quân Pháp khống chế. Trong nước Việt Nam lúc ấy cũng chẳng có giao lưu bình thường huống hồ lại gửi thư sang Trung Quốc. Cuối năm 1946, anh đã nhờ Lý Ban chuyển cho tôi một bức thư, song lại nhận được tin trở lại là tôi và hai con khi rút khỏi Diên An, trên đường đã bị máy bay Quốc dân đảng bắn chết. Được tin đó anh đau lòng lắm, song đúng lúc toàn quốc kháng chiến, Tổ quốc yêu cầu, anh lại phải ra đi chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Đầu năm 1947, khi về Chiến khu Bốn công tác thì có một cán bộ cách mạng là Huỳnh Thị Đổi bước vào cuộc sống của anh và sinh được một con gái. Thế nhưng trải qua cách mạng trường kỳ và cuộc sống trong chiến đấu rất gian khổ, hiểm nguy nên tư tưởng của chị thay đổi. Sau khi vừa sinh con, chị ta đã bỏ Hồng Thủy và cả con mà đi mất. Để Hồng Thủy có hoàn cảnh sinh hoạt tương đối ổn định, tổ chức đứng ra giới thiệu cho anh một cô kế toán còn trẻ công tác trong quân đội, tên là Lê Hằng Huân. Trước đó hai người căn bản chưa quen biết, có thể nói là còn chưa biết mặt... Thái độ của Hồng Thủy rất thành khẩn như một cậu học trò nhỏ phạm sai lầm đang giải thích trước cô giáo về quá trình mắc sai lầm. Thế nhưng về cơ bản lúc đó tôi không nghe lọt tai những điều khổ ải của anh, chỉ cố chặn nỗi đau trong nội tâm với nỗi uẩn khuất của mình, thái độ bình thường và nói với anh: "Không cần phải giải thích nữa, chỉ đáng oán trách mình thôi. Lúc đầu định lấy anh, gia đình tôi đều phản đối các đồng chí cũng khuyên tôi không nên lấy người ngoại quốc, chỉ trách tôi, ai nói cũng không nghe nên mới đến nông nỗi này”. Nghe tôi nói vậy, Hồng Thủy không nói một lời, anh đau khổ tự trách mình. Sau đó, Hồng Thủy có nói với một đồng chí khác: "Suốt cả đời tôi chưa hề phụ lòng sáu trăm triệu nhân dân Trung Quốc, nhưng lại đã phụ lòng một phụ nữ Trung Hoa". Tôi và Hồng Thủy không làm bất cứ thủ tục gì và cứ thế chia tay. Sau đó, anh vẫn luôn luôn đến Viện thăm các con. Hai chúng tôi vẫn không nói với nhau một lời. Một lần, Hồng Thủy đắc ý mặc một bộ quân phục mới tinh, anh nói muốn chụp ảnh với Tiểu Phong và Tiểu Việt Tôi dẫn hai con cùng Hồng Thủy đến một hiệu chụp ảnh gần đó. Theo sự chỉ dẫn của người thợ ảnh, anh để Tiểu Việt ngồi trên lòng mình, tay phải quàng Tiểu Phong. Các cháu được ngồi trong lòng bố cười rất tươi, chúng đã cùng cha lưu lại một kỷ niệm lâu dài. Đó là tấm ảnh duy nhất của ba cha con. Tôi đứng nhìn, không nói một lời. Tôi rất hiểu Hồng Thủy, trong nụ cười mỉm của con người vốn vui vẻ xởi lởi ấy bao hàm một nỗi buồn đau khó nói. Hồng Thủy đã thay đổi hẳn. Anh vốn là người hiếu động, hay nói, nay đã thành một người bình tĩnh, trầm mặc, ít nói, ít cười. Có một lần, Hồng Thủy lại đến Viện, đồng thời có mấy vị khách đến gặp tôi. Tôi bận tiếp khách nên không chào anh. Khi Hồng Thủy về, tôi còn nói thẳng với anh: "Từ nay, anh đừng đến thăm tôi nữa, đừng tự làm khổ mình". Ít lâu sau, Hồng Thủy viết cho tôi một phong thư, trách tôi không hiểu anh. "... Sau khi về, đứng xem đánh bóng rổ, anh đã bị ngất ngay ở sân bóng..." Có người nói, trái tim tôi khô cứng, tôi có cách nào làm khác được? Trong lòng tôi rất hiểu, về tình cảm không thể nào không vương vấn, song trái lại mọi người đều khó vượt qua. Khóc khóc, mếu mếu, buồn buồn, tủi tủi không phải là tính cách của tôi. Tiểu Phong và Tiểu Việt dần dần hiểu chuyện, nụ cười ấm áp của cha cứ từng chút từng chút một in sâu trí nhớ trẻ thơ. Đặc biệt những nụ hôn yêu quý của cha đã sưởi ấm lòng các cháu. Mỗi chiều thứ bảy khi bước vào nhà, Tiểu Phong đã hỏi luôn: "Mẹ ơi, ngày mai là chủ nhật, ba có đón chúng mình đến Trung Nam Hải chơi không?" Trước lời hỏi của con, trái tim tôi như rỉ máu, mắt rưng rưng lệ. Tôi cố gắng mỉm cười, đau đớn trả lời Tiểu Phong: "Con ngoan của mẹ, ba còn phải đi kháng Mỹ viện Triều, không ở Bắc Kinh. Khi nào ba về nhất định lại dẫn con đến Trung Nam Hải". Các con tôi tin là thật. Tôi không dám nói thẳng sự thật với các con vì sợ chúng bị thương tổn do việc tôi và Hồng Thủy phải chia tay. Đồng thời, tôi cũng báo cho anh: "Tôi không muốn đem việc của chúng ta nói cho các con. Tôi chỉ nói là anh đã đi tham gia kháng Mỹ viện Triều. Từ nay, anh không nên đến trường gặp các con nữa, nếu không tôi sẽ không biết đối xử với chúng ra sao." Mặc dù rất yêu các con mình song anh vẫn kiên trì giữ đúng như lời tôi dặn. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:42:10 pm Phải đối mặt với một đòn về tinh thần đột ngột như vậy, tôi đã chọn con đường vì sự nghiệp, chọn sự kiên cường để sống.
Tôi và Hồng Thủy đều là cán bộ xuất thân là trí thức. Giữa chúng tôi chỉ cần một nháy mắt, một nụ cười, nhất cử nhất động là đối phương đã thông cảm và hiểu hết ý nhau. Khi ở Hội đồng Động viên Đông Dã, chúng tôi ở gần nhau trong gang tấc, thế mà Hồng Thủy mỗi lần triệu tập họp đều viết một tờ giấy gửi cho tôi. Không cần nói cũng biết trong cuộc sống gia đình cũng rất giàu sắc thái lãng mạn. Thế nhưng hoàn cảnh chiến tranh, chúng tôi không có cách nào để hưởng hương vị êm ấm của cuộc sống gia đình, săn sóc nhau về mặt tình cảm. Cho đến ngày vợ chồng gặp lại thì tôi và Hồng Thủy lại phải cạn chén, không phải là mật ngọt mà là rượu đắng. Buồn bã, phá phách hay làm một người có cuộc sống mạnh mẽ. Trước đòn tinh thần đột nhiên giáng xuống, tôi đã chọn con đường lấy sự nghiệp làm chính, chọn lấy cách sống phải kiên cường. Sau khi Viện Mẫu giáo về thành, một số đồng chí cũ được điều đi công tác nơi khác. Trương Nguyên về làm thư ký cho chị Đặng Dĩnh Siêu, Liễu Mân là thư ký của chị Khang Khắc Thanh, Lý Lệ Thiên về công tác ở Hội liên hiệp phụ nữ. Viện lại có thêm một số người mới, có giáo viên, nhân viên nuôi dạy trẻ và cán bộ quản lý. Các cán bộ còn ở lại cũng có sự điều chỉnh trong phân công công tác. Trương Sì Xương vẫn là Viện trưởng, tôi là Phó Viện trưởng kiêm Bí thư chi bộ, Diêu Thục Bình đảm nhiệm Khoa trưởng Khoa Nuôi dạy. Địa điểm của Viện tại phố lớn, Quả Tử Thị nguyên là một vương phủ của triều nhà Thanh. Kiến trúc cổ kiểu cung điện vừa to, vừa cao, lại còn rất nhiều bệ dài, cao, rất dễ xảy ra tai nạn cho các cháu, không thích hợp với việc sử dụng làm viện mẫu giáo... Địa điểm mới chọn để xây dựng là ở gần cầu Thanh Long, chân núi Ngọc Tuyền, gần núi kề sông, phong cảnh hữu tình. Viện trưởng Trương phụ trách công tác xây dựng trường sở mới. Gánh nặng công việc thường ngày ở Viện lại đặt trên vai tôi và Diêu Thục Bình. Bản thân tôi từ trẻ đã thẳng thắn, vui vẻ. Phải chia tay với Hồng Thủy, tôi quyết không nghĩ tới câu chuyện đau lòng đó. Tôi cho ràng nhớ lại chuyện cũ là để hiểu được tương lai, vững bước đi tới. Nếu việc cũ không muốn nhớ tới thì tốt nhất là cố gắng quên nó đi. Tôi là một người công tác mẫu giáo. Bên cạnh tôi có biết bao cháu nhỏ lanh lợi hoạt bát. Chúng là những bông hoa của đất nước, tương lai của Tổ quốc. Vườn mẫu giáo là nhà của tôi là cương vị chiến đấu của tôi khi công tác cho Đảng. Tiểu Phong, Tiểu Việt mỗi ngày một lớn. Chúng đã vào học ở trường tiểu học nội trú, chỉ có chủ nhật mới về nhà. Tôi thấy mình có được cơ hội rảnh rang lao mình vào công tác. Ban ngày, ngoài việc hoàn thành một số công việc sự vụ ra, tôi thường xuống các lớp nghe giảng, kiểm tra kế hoạch dạy và học, chơi dùa với các cháu. Tôi cũng quan tâm đến công việc của nhà bếp, khẩu phần dinh dưỡng, tình hình sức khỏe của các cháu... Buổi tối sau khi tổng kết công tác trong ngày, tôi thường đi từng nhà ngủ của các cháu, xem có cháu nào đạp tung chăn ra không, các cô mẫu giáo trực đêm có mặt không, xem đường hành lang, các nơi trong Viện có chỗ nào không bảo đảm an toàn dễ gây tai nạn cho các cháu không, cho đến khi mọi việc yên ổn, tôi mới quay về nghỉ. Tuy rất bận song tôi lại cảm thấy khoan khoái, trong ngày làm không hết việc. Những năm 50, về lý luận và kinh nghiệm dạy mẫu giáo nước ta chủ yếu học tập Liên Xô. Năm 1950, Bộ Giáo dục quốc gia mời hai chuyên gia về dạy mẫu giáo Kalina và Annalienka đến Trung Quốc giảng dạy và đã lấy ba cơ sở để tiến hành cụ thể việc thực nghiệm: Viện Mẫu giáo 1/6, Vườn mẫu giáo Bắc Hải và Vườn mẫu giáo Phân Tư Sảnh. Kalina và Annalienka trực tiếp xuống chỉ đạo ở Viện 1/6. Các chị rất kinh ngạc khi thấy nước Trung Hoa mới vừa thành lập mà đã có nền giáo dục mẫu giáo có quy phạm, có hệ thống như thế. Khi họ nghe thấy ngay trong năm tháng chiến tranh, trường chúng tôi đã nhấn mạnh việc quán triệt phương châm "nuôi dạy hợp nhất" và "khỏe mạnh là số một", đối với sinh hoạt thường ngày của các cháu đã tăng cường nghiên cứu, đặt ra quy định tỉ mỉ, cụ thể, khiến cho sinh hoạt, việc dạy học, các hoạt động ngoại khóa đều có bài bản, có lý luận hẳn hoi, các chị vô cùng mãn ý, gật đầu lia lịa. Đối với kinh nghiệm tiên tiến về giáo dục mẫu giáo của Liên Xô, chúng tôi tiếp thu một cách có chọn lọc. Ví dụ, Liên Xô gọi các giáo viên ở lớp mẫu giáo là giáo viên nuôi dạy trẻ. Tôi rất tán thành vì nó là sự thể hiện nguyên tắc nuôi dạy hợp nhất. Thế nhưng bộ phận giáo viên trong Viện không đồng ý gọi như vậy vì cho rằng giáo viên chỉ cần dạy học, quản lý sinh hoạt là việc của các cô nuôi dạy trẻ. Trước tình hình đó, tôi tổ chức một cuộc hội thảo chuyên đề để nhấn mạnh lại quan điểm nuôi và dạy hợp nhất. Tôi cho rằng dạy dỗ các cháu mẫu giáo không giống dạy dỗ các cháu thiếu niên nhi đồng. Trẻ con ở tuổi mẫu giáo tiếp thu một sự việc mới trước tiên là thông qua cảm quan, cảm giác về mọi vật đại bộ phận tồn tại trong sinh hoạt hàng ngày, vì thế, công tác dạy học cho trẻ mẫu giáo không phải chỉ là dạy tri thức trên giảng đường mà là cần quan tâm các cháu cả trong quá trình sinh hoạt, bồi dưỡng cho các cháu phẩm đức tư tưởng tốt, năng lực độc lập trong sinh hoạt, đồng thời phát triển trí lực cho các cháu. Các giáo viên khi tham gia quản lý sinh hoạt đã tăng thêm cảm tình của các cháu, càng rất lợi cho việc dạy học. Thông qua giáo dục các giáo viên dần dần tiếp thu quan điểm này, các nhân viên công tác nuôi dạy trẻ có phân công song không tách rời hai nhiệm vụ ra cho từng loại người, vì thế đã nâng cao được trình độ dạy học của Viện và cũng nâng cao năng lực công tác cho mỗi người. Trong việc nuôi dạy trẻ mẫu giáo, Liên Xô đặc biệt coi trọng hoạt động vui chơi vì cho rằng vui chơi là hoạt động của trẻ, thông qua vui chơi để huấn luyện năng lực hoạt động cơ bắp còn nhỏ bé, đẩy mạnh sự phát triển đầu óc và trí lực. Tôi rất đồng ý với quan điểm giáo dục này' Sau khi tôi được điều về Sở Giáo dục Bắc Kinh phụ trách công tác giáo dục mầm non toàn thành, tôi tích cực chủ trương các vườn trẻ cần phải sáng tạo điều kiện để triển khai việc vui chơi cho các cháu. Tôi cũng tích cực đề nghị Sở Giáo dục phải tổ chức có cơ cấu sản xuất đồ chơi cho phù hợp với từng loại tuổi của nhi đồng, có phối trí về thể dục và dụng cụ văn nghệ, ngoài ra còn kiến nghị các vườn trẻ tổ chức các ban nghiên cứu giáo dục, sáng tác cho nhi đồng và biên soạn, tập một số trò du hí có ý nghĩa với các cháu. Năm 1953, Viện Mẫu giáo 1/6 được chuyển địa điểm mới ở chân núi Ngọc Tuyền, Bắc Kinh. Hai phòng thiết bị dạy học hoàn chỉnh, sinh hoạt thì được bố trí ở một ngôi nhà hai tầng có thể chứa mười hai ban dạy học. Mỗi ban dạy học đều có một giảng đường rộng rãi, sáng sủa, quy cách tương đồng, có nhà ngủ, phòng vệ sinh thành một khối hoàn chỉnh. Ở khu hoạt động vui chơi ngoài trời rộng, có các loại dụng cụ, đồ chơi thích hợp cho các em ở từng độ tuổi khác nhau. Toàn Viện còn có một hội trường nhỏ, một bể bơi nhỏ và vườn hoa nhỏ. Trong hai năm làm Viện trưởng, tôi còn nắm công tác phủ xanh toàn trường, đề nghị với Bộ Giáo dục Trung ương xin được mười vạn nhân dân tệ, chuyên dùng cho việc trồng cây phủ xanh toàn Viện. Tôi cùng với các đồng chí trong Khoa Giáo vụ chuyên môn đến vườn giống cây trồng của Trường Đại học Nông nghiệp Bắc Kinh chọn các giống cây tốt nhất phù hợp, đặc biệt còn mời được một công nhân có tay nghề rất cao của Công ty Cây xanh đến Viện phụ trách công tác đó của Viện. Viện 1/6 biến thành một vườn hoa lớn đầy hương sắc. Mùa xuân trăm hoa đua nở, mùa hạ cây cối xanh um, mùa thu quả treo trĩu cành, mùa đông tùng bách vẫn xanh. Đặc biệt là khi nhìn lũ trẻ lớn khôn, từ đây ra đi thì cái hoài cảm về sự nghiệp, hoài cảm tự hào, không phải mọi người bình thường có thể cảm thấy được. Tháng Mười năm 1954, tôi được điều về Sở Giáo dục Bắc Kinh, công tác ở Khoa Giáo dục mầm non... Kể từ khi tôi làm chính trị viên đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" cho đến khi rời Viện Mẫu giáo 1/6, đã trải qua hành quân trong lửa đạn, trú quân ở chiến trường và hòa bình kiến thiết, ở các hoàn cảnh giáo dục không giống nhau. Nó không những giúp tôi được rèn luyện và nâng cao năng lực công tác mà còn tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm quý báu, nên khi tôi về lãnh đạo công tác giáo dục mầm non ở Sở Giáo dục Bắc Kinh, quản lý công tác đã có một cơ sở vững chắc. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:43:41 pm Trong phong trào "Tam phản" (ba chống), vì tội "bao che người xấu” tôi đã bị giam bốn tháng.
Sau khi nước Trung Hoa mới thành lập, trong cao trào nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội, một số nhà tư bản phạm pháp vì muốn thu được lợi nhuận siêu ngạch đã dùng thủ đoạn hối lộ, mua chuộc, làm hủ hóa nhột số đảng viên cộng sản. Một số không vượt qua được thử thách, hủ hóa biến chất, biến thành phần tử tham ô. Để cứu cán bộ, đả kích sự tấn công điên cuồng của giai cấp tư sản, đầu năm 1952, Trung ương Đảng phát động phong trào "Tam phản" (ba chống): chống tham ô, chống lãng phí, chống chủ nghĩa quan liêu trong cơ quan Đảng và Chính phủ, trên lĩnh vực kinh tế mở rộng phong trào "Ngũ phản" năm chống): chống hối lộ, chống trốn lậu thuế, chống trốn công, giảm nguyên liệu, chống lừa dối lấy tài sản quốc gia, chống tiết lộ tình báo quốc gia. Các cuộc vận động "Tam phản", "Ngũ phản” đã giáo dục được quảng đại cán bộ, cứu được một số đồng chí phạm sai lầm, đả kích các nhà tư bản phạm pháp. Trong giới công thương gia, tiến hành phổ biến là giáo dục tuân thủ pháp luật đã đạt được thắng lợi to lớn. Nhưng cũng trong cuộc vận động đó lại có khuynh hướng không điều tra nghiên cứu, không thực sự cầu thị, chủ quan trong đánh giá và xử lý, khuếch đại hóa vấn đề. Thậm chí cá biệt có kẻ muốn lập công trong một thời, không tiếc làm thương tổn đồng chí mình. Có một số đơn vị xuất hiện hiện tượng đấu tố quá mức. Trong phong trào “Tam phản” của Viện Mẫu giáo 1/6 cũng tồn tại những sai lệch như vậy. Viện trưởng Trương Sĩ Xương đã bị đối xử không công bằng, chính trực. "Tam phản” vừa bắt đầu, Bộ Giáo dục Trung ương đã phái tổ công tác xuống Viện 1/6 để lãnh đạo cuộc vận động. Đồng thời còn đưa về một chi đội "Đả hô”. “Đội Đả hô” sau khi tới Viện, không đi sâu tìm hiểu tình hình trong Viện. Họ đương nhiên cho rằng việc xây dựng nhà viện mới ở gần cầu Thanh Long tốn không ít tiền. "Núi cao rừng sâu, tất có hổ lớn". Trương Sì Xương chủ quản hành chính lại là người phụ trách xây dựng viện mới, nên bị coi là "hổ lớn". Thế là Trương Sì Xương bị cách chức Viện trưởng, không được tiếp xúc với bất cứ ai. Tôi là Phó Viện trưởng của Viện Mẫu giáo kiêm Chủ nhiệm ủy viên Hội tiết kiệm là người lãnh đạo, tiến hành "Tam phản" ở Viện. Theo lý mà nói thì khi "Đội Đả hổ” xuống Viện phải phối hợp với "Uỷ viên Hội tiết kiệm" để triển khai công tác. Nhưng các vấn đề trong Viện liên quan đến "Tam phản”, "Đội Đả hổ” cứ tự đến, tự đi tự tung, tự tác, không bàn qua với tôi một câu. Thái độ của cán bộ, công nhân viên chức đối với cuộc vận động này khác hẳn nhau. Có người vốn không biết gì về tình hình kinh tế trong Viện lại muốn làm phần tử tích cực "đả hô”, tìm trăm phương nghìn kế để cá nhân nổi trội, có người tuy biết rõ tình hình của Viện, cả người và việc, song giừ thái độ "ít nói là tốt hơn", ngậm miệng ăn tiền, cốt giữ mình là chính. Đối với Trương Sì Xương, tôi hiểu quá rõ. Từ cái ngày rời khỏi Diên An, chúng tôi vẫn cùng hành quân. Trong công tác ở Trường Nuôi dạy trẻ, anh hết lòng hết dạ, bỏ ngủ quên ăn để làm việc, mỗi cử chỉ, lời nói của anh mọi người đều tán thưởng. Cho đến khi xây dựng nhà viện mới cũng không có vấn đề tham ô, tôi thấy là phải trọng sự thật, phải coi trọng điều tra nghiên cứu. Nhưng trước tình hình cuộc vận động ở Viện như hiện nay tôi phải làm thế nào? Tôi biết rất rõ, nếu nói rõ tình bình tư tưởng chân thực của mình ra, dĩ nhiên là sẽ gặp phải sự đả kích. Nhưng là một đảng viên cộng sản phải công bằng, chính trực, vô tư, không giấu giếm quan điểm của mình. Tôi hạ quyết tâm dù có phải chịu sự đả kích như thế nào cũng vẫn phải là một đảng viên cộng sản chân chính, dám đứng trên lập trường công bằng, chính trực, dám đề ra ý kiến về cách nhìn của mình. Thế là tôi gõ cửa phòng người phụ trách tổ công tác. Người phụ trách này chăm chú nghe các tình hình do tôi phản ánh và trả lời một cách thành khẩn, nhất định sẽ dựa theo chính sách của Đảng, điều tra nghiên cứu, thực sự cầu thị để xử lý vấn đề Trương Sĩ Xương. Thế nhưng mấy hôm sau người phụ trách này bị điều đi với lý do "Phát nhưng không động" được phong trào. Người phụ trách mới tới thì "đao to, búa lớn", phàm bất cứ nhân viên công tác nào của Viện mà công việc dính tới tiền tài, vật tư, thì tất cả "người người qua cửa quan", làm cho "người người đều khốn đốn". Tôi có tham gia một cuộc họp phê đấu của Viện. Chỉ thấy một cô cán bộ của tổ công tác đề xuất ra một số vấn đề được thêu dệt lên rất lớn xong thì chất vấn một công nhân về điện: "Anh tham ô bao nhiêu tiền?" "Tôi không tham ô". Vị cán bộ nữ lại đập bàn nói: "Anh dám nói anh không tham ô?" Chị ta quay sang bảo người thư ký: "Ghi hắn ta lấy một trăm tệ". Lại hỏi: "Anh tham ô tất cả bao nhiêu?" "Tôi không tham ô." Chị cán bộ lại đập bàn: "Anh còn dám nới anh không tham ô." "Ghi cho hắn ta hai trăm". Người công nhân điện nghẹn họng không biết nói gì nữa. Lúc đó, tôi cảm thấy rất nực cười, làm công tác vận động chính trị mà lại tiến hành bức cung như thế sao? Cái cô cán bộ này trình độ vận dụng chính sách quá kém. Do tôi không đồng ý với cách làm của tổ công tác nên giữ vẻ bàng quan, "Đội Đả hô” cho rằng thái độ của tôi không tích cực, rất không bằng lòng với tôi. Thế là tôi bị triệt tiêu chức Chủ nhiệm ủy viên Hội tiết kiệm và đưa tôi về giam ở Bộ Giáo dục Trung ương. Ban ngày, tôi bị đưa vào phòng học tập để chỉnh đốn nhận thức về cuộc vận động, ban đêm, có một nữ đồng chí ngủ cùng phòng với tôi đề phòng tôi tự sát, ăn cơm do nhà bếp mang lại, cách ly hẳn với mọi người. Quyền tự do cá nhân của tôi đã bị tước đoạt. Sau này nghe trong Đại hội cán bộ do Bộ Giáo dục triệu tập có công bố tội danh của tôi là bao che cho tội phạm đại tham ô Trương Sĩ Xương. Tôi thực không hề chuẩn bị cho tình huống là mình bị bắt đi, khi rời Viện định mang theo mấy quyển sách nhưng vì đi quá gấp, tiện tay cầm lấy một quyển là tập ca khúc "Bạch Mao nữ”. Ban ngày viết xong bản "kiểm tra", tôi bèn lấy tập bài hát đó ra tập, đầu tiên hát bài giản đơn "Gió bấc thổi", "Sợi dây hồng buộc tóc" sau học đến lời ca "Định bức ta chết, thì mi thủng con ngươi, ta là dòng nước không gì ngăn nổi, là ngọn lửa không gì có thể dập tắt được..." Không biết ai báo cáo lên trên, một vị lãnh đạo Bộ Giáo dục mời tôi lên phòng làm việc nói chuyện, phê bình tôi: "Trần Kiếm Qua, chị đâu giống một đồng chí kỳ cựu? Không kiểm thảo sai lầm bản thân còn hát "Bạch Mao nữ", có phải định chống đối cuộc vận động này không? Từ nay trở đi vấn đề của chị ngày càng nghiêm trọng đấy!" Nghe mấy lời phê bình bất công đó, tôi rất buồn, muốn khóc. Chẳng qua tôi chỉ nói vài lời thẳng thắn, thế là bị bắt giam. Bảo vệ chân lý thật khó vậy chăng? Tôi rất không thông. Tôi bị giam giữ ở Bộ Giáo dục bốn tháng trời. Lúc đó Tiểu Phong vừa vào lớp một bậc tiểu học, Tiểu Việt vẫn ở mẫu giáo. Chia tay với Hồng Thủy tôi bị một vết thương lòng không mấy ai chịu nổi, tình cảm của tôi trút cả cho hai con. Mỗi ngày thứ bảy về nhà chúng không có cha mẹ thì không biết đi đâu, đành theo cô giáo trực ban ở cho qua ngày chủ nhật buồn tẻ, hết tuần này đến tuần khác. Sinh hoạt bị đả kích, chính trị bị bôi nhọ, không được thăm con cái, suốt ngày tôi rất đau khổ, dằn vặt. Tôi càng sốt ruột về công tác của Viện Mẫu giáo 1/6. Tôi rất nhớ các đồng chí đã hàng ngày gặp mặt và hơn hai trăm cháu nhỏ mà Đảng đã trao cho tôi dạy dỗ. Tôi cũng thường tìm hỏi tình hình của họ. Nghe nói Trương Sì Xương bị chỉnh đốn đến nỗi tinh thần thất thường, suốt ngày đứng tựa lưng vào tường không động cựa gì. Lòng tôi nóng như lửa đốt song không có cách gì giúp được anh. Lúc đó, có một chủ nhiệm bộ môn ở Viện là Trương Đức Kiến, nhìn cảnh chướng tai gai mắt đó, chịu không nổi liền viết một bức thư cho Trương Nguyên lúc đó là thư ký riêng của chị Đặng Dĩnh Siêu (vợ Thủ tướng Chu Ân Lai) nói rõ việc Trương Sì Xương bị chỉnh đấu, tôi bị giam. Trương Nguyên, không do dự, quyết ra tay giúp. Chị đã tìm đến chị Khang Khắc Thanh (vợ đồng chí Chu Đức) nhờ cả chị giúp. Hai chị lập tức phái người đến Bộ Giáo dục để nắm tình hình Trương Sì Xương, yêu cầu đưa ngay anh vào bệnh viện chữa chạy. Nhờ vậy mới cứu sống được Trương Sì Xương. Sau khi kết thúc cuộc vận động "Tam phản", Trương Sì Xương được xét không có vấn đề tham ô và được điều về công tác ở Cục ô tô Bộ Cơ khí. Không lâu sau anh bị viêm gan, rồi chuyển thành xơ gan. Bị xử lý không công bằng, chính trực và bị đả kích làm tổn hại đến sức khỏe của anh. Vấn đề Trương Sì Xương "tham ô" không thành, việc "Trần Kiếm Qua bao che tội phạm tham ô" cũng đi theo luôn. Tôi được thả ra và được Bộ Giáo dục bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Mẫu giáo 1/6. Diêu Thục Bình làm Phó Viện trưởng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:45:07 pm Chương XI SINH LY, TỬ BIỆT (Sống chia ly, chết vĩnh biệt) "Tôi tên là Hồng Thủy (nước lũ), cái tên bọn phản động muốn bôi nhọ người cách mạng đã gọi là "Hồng Thủy, mãnh thú” ấy..." Cả trong và ngoài hội trường nổi lên tiếng vỗ tay và tiếng cười vang như sấm dậy, cắt ngang lời ông. Để tăng cường mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc với các Đảng Cộng sản trên thế giới, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định thành lập Bộ Liên lạc Trung ương (Ban Liên lạc đối ngoại). Cuối 1950, Hồng Thủy và các đồng chí ở Vụ 2, Bộ Mặt trận Thống nhất được tách ra, nhập vào đơn vị mới. Ông tham gia công tác chuẩn bị và tổ chức thành lập cơ quan này. Vì thế, phòng làm việc của Hồng Thủy không ở Viện Cửa Tây, Trung Nam Hải mà chuyển đến đường Tiền Kỳ, phụ cận Tây Sơn. Xếp sắp công tác xong thì Lê Hằng Huân, người vợ Việt Nam, cùng hai con của ông đến Trung Quốc. Lê Hằng Huân sinh vào tháng Tư năm 1926, tại Hà Nội. Cụ thân sinh ra bà là một học giả lịch sử có tiếng ở Việt Nam, một người có lòng yêu nước nồng nàn. Cuối năm 1946, khi bọn thực dân Pháp chiếm Hà Nội, cụ Lê Dư đưa cô con gái Lê Hằng Huân vừa tròn hai mươi tuổi rời Hà Nội về tỉnh Thanh Hóa thuộc Chiến khu Bốn nơi Khu bộ Khu Bốn đóng và cùng với bộ đội lập nên một xưởng làm giấy - "Xưởng chế tạo giấy Đồng Minh". Cụ làm xưởng trưởng, con gái làm kế toán, hai cha con từ đó tham gia vào cách mạng. Mùa hạ năm 1948, chiếu cố về sinh hoạt của Hồng Thủy, tổ chức giới thiệu thu xếp cho Lê Hằng Huân và Hồng Thủy kết hôn. Đúng như Hồng Thủy đã nói với tôi trước đó, ông và Lê Hằng Huân căn bản chưa quen biết nhau, thậm chí cũng chưa biết mặt. Lê Hằng Huân là một người dịu dàng, hiền thục, có nhiều đức tính tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. Khi Hồng Thủy và Lê Hằng Huân kết hôn, ông cũng đã kể hết cho bà nghe về hoàn cảnh ba. cuộc hôn nhân trước của mình. Cho đến trước khi sang Trung Quốc mới được biết vợ con người Trung Quốc của Hồng Thủy còn sống, trong lòng bà tự trách, cho rằng mình đã có điều không phải với người thân của Hồng Thủy ở Trung Quốc. Bà đã viết cho các chị em ruột của mình một bức thư, nói rõ thái độ của mình. Đầu tiên bà tính sẽ không đi sang Trung Quốc; nếu có đi Trung Quốc xảy ra tình huống gì bà sẽ về Việt Nam ngay. Ngày 15 tháng 1 năm 1951, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thành lập Học viện Quân sự tại Nam kinh. Ít lâu sau, Hồng Thủy rời khỏi Bộ Liên lạc Trung ương (Ban đồi ngoại Trung ương) đến tham dự lễ khánh thành nhà trường và khai giảng khóa một, sau đó vào học luôn hệ cơ bản khóa một và ở ban học tập một, kiêm luôn Bí thư chi bộ Đảng của ban. Học viện Quân sự của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc lấy gốc là hai trường Đại học Quân chính của Hoa Bắc và Hoa Đông để xây dựng nên. Tiêu chí thành lập của nó là Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã từ giai đoạn kiến quân sơ cấp lên giai đoạn kiến quân cao cấp. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là tổ chức cho học viên học tập một cách có hệ thống học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác và tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông, tổng kết kinh nghiệm chiến đấu phong phú của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, học tập các kinh nghiệm bổ ích của quân đội nước ngoài và trên cơ sở các tố chất hiện có của Quân giải phóng, bồi dưỡng các sĩ quan chỉ huy và tham mưu cao cấp đủ năng lực chỉ huy tác chiến hiệp đồng các quân binh chủng trong chiến tranh hiện đại, nhanh chóng xây dựng Quân giải phóng nhân dân thành một quân đội chính quy, hiện đại. Dưới chân núi Trung Sơn, cảnh đẹp như tranh, Hồng Thủy bắt đầu học tập lý luận quân sự chính quy có hệ thống. ông đã kết hợp thực tiễn của bản thân suốt hơn hai mươi năm qua sống trên lưng ngựa, với việc gian khổ phấn đấu học tập các khóa trình lý luận quân sự chính trị, ghi chép một số bút ký lớn. ông còn đem những điều tâm đắc trong học tập, tiến hành chỉnh lý những điều đã thu hoạch được, phân biệt chủng loại đóng thành sách. Từ ngày tôi quen biết Hồng Thủy đã thấy ở anh có một thói quen đáng quý là học tập. Hồng Thủy còn đem các phần tinh hoa nhất mà mình đã chỉnh lý dịch sang Pháp văn và Việt văn, hy vọng có thể đem những kinh nghiệm quý báu của việc xây dựng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giới thiệu về Việt Nam. Hồng Thủy cũng là người không thể ngồi yên được, ông không những tích cực tham gia các hoạt động văn hóa thể thao trong Học viện mà còn đảm nhiệm thêm một số nhiệm vụ chính trị, xã hội. Ví dụ, Học viện Quân sự các cơ quan trường học của tỉnh Giang Tô và thành phố nam Kinh thường mời hồng Thủy đến kể lại hồi ức về Vạn lý trường chinh để giáo dục truyền thống cách mạng cho mọi người. Tôi đã từng được đọc bài báo của một đồng chí vào thời đó nghe Hồng Thủy nói chuyện và đã viết lại cảm tưởng của mình trên báo Chiều Dương Tử, trong đó có đoạn viết: "Năm 1952, tôi đang học Trường Nam - Trung học, Nam Kinh. Trường có mời một vị thủ trưởng Giải phóng quân đến nói cho chúng tôi nghe về truyền thống cách mạng. Vị thủ trưởng đó hơn bốn mươi tuổi, người cao vừa phải, trông rất nghiêm trang, đĩnh đạc. Hồi ấy hội trường chưa có máy phóng thanh, song tiếng của ông ta sang sảng, ngay các thầy giáo và học sinh ngồi ngoài hành lang cũng nghe thấy. "Ông dùng tiếng phổ thông nói rất to: “Tôi tên là Hồng Thủy (nước lũ lớn) là cái danh từ mà bọn phản động vì muốn bôi nhọ những người cách mạng đã gọi họ là lũ "Hồng Thủy, mãnh thú ấy...". "Lúc đó, cả trong lẫn ngoài hội trường tiếng vỗ tay và tiếng cười ầm ầm như bão tố, cắt ngang lời ông nói. Ông lại nói tiếp: "Tôi là người Việt Nam, tên Việt Nam của tôi là Vũ Nguyên Bác". "Hội trường lại nổi lên tiếng vỗ tay nhiệt liệt. Cứ thế buổi nói chuyện của ông chốc chốc lại ầm ầm lên tiếng vỗ tay, điều đó rất sâu sắc, đã lưu lại trong đầu tôi. Mùa hè năm đó, cha tôi từ quê ở Sơn Tây lên Bắc Kinh thăm tôi ở ngay trong Viện Mẫu giáo 1/6. Cũng vừa dịp may trúng vào kỳ nghỉ hè của Học viện Quân sự Hồng Thủy tranh thủ về Bắc Kinh thăm tôi và các con. Tôi sợ cha tôi biết chuyện tôi và Hồng Thủy chia tay sẽ buồn lòng nên không nói. Tôi đặc biệt nhắn mời Hồng Thủy về nhà ăn một bữa cơm. Thời mới giải phóng, không ít cán bộ quân nhân vẫn giữ phương thức sinh hoạt như trong thời chiến, chưa có ý thức mạnh mẽ về cuộc sống gia đình như hiện nay. Rất nhiều đồng chí vì bận công tác thường ăn ngủ tại phòng làm việc, rất ít về nhà. Hồng Thủy và tôi không sống chung nhau, ngay cha tôi cũng không cảm thấy có điều gì nghi hoặc. Hồng Thủy về nhà ăn cơm, thái độ rất vui vẻ kể cho con nghe hết chuyện này đến chuyện khác. Cha tôi thấy con gái, con rể hòa thuận, hai đứa cháu ngoại hoạt bát, đáng yêu, trong lỏng rất phấn khởi. Cũng là vừa may, trong dịp hè, Viện Mẫu giáo tổ chức cho các cháu ra trường đi xe lửa lên bờ biển Bắc Đới Hà nghỉ mát, cha tôi liền đi cùng chúng tôi lên Bắc Đới Hà. Đây là lần đầu tiên trong đời cụ được nhìn thấy biển. Nhìn ông cháu vui đùa với nhau, lòng tôi thấy cũng có phần nhẹ nhõm. Ngay sau đó, Hồng Thủy phải về Nam Kinh tiếp tục học tập. Cha tôi ở lại Bắc Kinh nửa năm thấy tôi yên ổn nên yên tâm trở về quê ở Ngũ Đài. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:47:57 pm Hồng Thủy được Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc phong cấp quân hàm thiếu tướng và phong tặng ba loại huân chương hạng nhất. Trên thành lầu Thiên An Môn, Mao Chủ tịch đã "bênh vực" ông.
Mùa hè năm 1954 , Hồng Thủy tốt nghiệp Học viện Quân sự với thành tích ưu tú. Về việc xếp sắp công tác cho ông, các đồng chí lãnh dạo Trung ương cũng mất một phen suy nghĩ. Trước khi đi Nam Kinh học, ông công tác ở Bộ Liên lạc của Trung ương ban đồi ngoại nhưng suy tính kỹ thì từ thời kỳ đại cách mạng đến nay, hơn ba mươi năm ông đều công tác trong bộ đội suốt, các lão nguyên soái đều yêu cầu giữ lại ông ở bộ đội. Mao Chủ tịch và Chu Tổng tư lệnh nghiên cứu thấy Hồng Thủy đã nhiều năm công tác giáo dục quân sự, có kinh nghiệm nhất định về vấn đề này. Cuối cùng, Diệp Kiếm Anh xin Hồng Thủy về chỗ mình. Đầu tiên, Hồng Thủy làm Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh trực thuộc Quân ủy Trung ương. Cuối năm, Cục Điều lệnh lại được chuyển về Tổng cục Huấn luyện Bộ Tổng tham mưu, Hồng Thủy được làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập tạp chí Huấn luyện chiến đấu thuộc Tổng cục Huấn luyện. Lê Hằng Huân, người vợ Việt Nam của Hồng Thủy cùng các con cũng về ở Bắc Kinh. Lê Hằng Huân về công tác ở Ban Quốc tế của Hội liên hiệp phụ nữ. Hồng Thủy đảm nhiệm tạp chí Huấn luyện chiến đấu không lâu thì một hôm Chu Tổng tư lệnh đến thăm ông. Năm đó Chu Tổng tư lệnh đã là một người già gần bảy mươi tuổi. Hồng Thủy rất cảm động, đỡ ông ngồi vào ghế bành ở trong phòng làm việc, nói với ông với tấm lòng tôn kính. "Tổng tư lệnh, người tuổi đã cao rồi lại đây thăm tôi thật là không phải. Tháng trước, chẳng phải tôi mới đến thăm thủ trưởng mà?" Gia đình của Hồng Thủy trú ở nhà số 29 "Thúy Vi lộ” thuộc khu Bắc Kinh mới1 (Tân Bắc Kinh: Những năm 50, người Bắc Kinh gọi khu tây nhà thờ công giáo ở Phúc Hưng lộ là Tân Bắc Kinh), trong một căn nhà nhỏ, có một cửa ra vào, rất gần nhà Chu Đức ở "Vạn Thọ lộ". Ăn cơm tối xong, Hồng Thủy thường đi bách bộ qua đường Vạn Thọ chơi hay rẽ vào thăm thủ trưởng cũ nói chuyện hàn huyên. Hồng Thủy và Chu Tổng tư lệnh tình cảm rất nồng hậu. Năm 1935, khi ở "Tả lộ quân", vì kiên trì đường lối đúng đắn tiến lên Bắc kháng Nhật, Hồng Thủy đã có những trận tranh cãi tay đôi với Trương Quốc Đào, nếu không có Chu Tổng tư lệnh kiên quyết che chở thì đã bị Trương Quốc Đào xử bắn rồi. Vốn hòa nhã, hiền từ, Chu Tổng tư lệnh ngồi trên ghế bành, quan tâm hỏi han Hồng Thủy về sức khỏe, về gia đình, về sự bố trí sình hoạt. Sau khi về Bắc Kinh lại hỏi về công tác ở tòa soạn của tạp chí. Hồng Thủy báo cáo đầy đủ. Chu Tổng tư lệnh còn động.viên ông: "Tiểu Hồng à, công tác của chú rất trọng yếu đấy. Tạp chí Huấn luyện chiến đấu là của toàn quân, thậm chí yêu cầu phát hành xuống tận cơ sở đại đội, đối với công tác chiến đấu của bộ đội có ý nghĩa chỉ đạo cụ thể về chiến lược. Nhất định phải làm cho tờ báo này thật tốt”. "Xin Chu Tổng tư lệnh cứ yên tâm, tôi sẽ cố gắng hết sức!” Lúc đó Chu Tổng tư lệnh đứng dậy nhờ đồng chí Hàn Thủ Văn, thư ký riêng của Hồng Thủy, lấy cho người một cây bút, ông tự đề bốn chữ lớn: "Huấn luyện chiến đấu lên bìa tạp chí với nét chữ rất khỏe khoắn. Năm đó, tin tức thắng lợi từ Việt Nam dồn dập truyền tới Từ tháng Ba đến tháng Năm, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam có sự góp sức của đoàn cố vấn quân đội Trung Quốc đã tổ chức chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ giành được thắng lợi trọng đại, tiêu diệt toàn bộ quân địch gồm các lực lượng tinh nhuệ nhất của quân xâm lược Pháp và quân Ngụy, tổng số trên mười sáu nghìn tên, buộc nước Pháp phải ký hiệp định Genève về Đông Dương vào tháng Bảy năm 1954, rút hết quân về nước. Miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Trong thời gian nhân dân Việt Nam tiến hành chiến tranh chống Pháp, Trung Quốc đã chi viện, cung cấp cho Việt Nam một khối lượng lớn vũ khí, trang bị, gồm hàng chục vạn súng, hàng ngàn pháo cối, số lớn đạn dược, khí tài thông tin, công binh và các vật tư quân nhu khác. Trung Quốc đã hết sức vô tư ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam về đạo nghĩa, về quân sự, trang bị vật tư, Hồng Thủy vô cùng cảm kích. Mỗi khi có đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam thì tất cả mọi người với cấp bậc khác nhau đều phải tập trung về Bắc Kinh học tập. Trung ương phái Hồng Thủy đến giảng cho họ, giới thiệu về địa lý, khí hậu, phong tục và tình hình chiến đấu trong nước Việt Nam. Mỗi khi chiến tranh Việt Nam diễn ra các chiến dịch lớn, các đồng chí lãnh đạo Trung ương đều mời Hồng Thuỷ đến giới thiệu, giảng giải tình hình chiến cuộc, giúp cho Trung ương việc nghiên cứu ra quyết sách được khoa học và chỉ đạo chỉ huy. Hồng Thủy đã thành "tham mưu trưởng” không chính thức cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Ngày 27 tháng Chín năm 1955, đối với Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mà nói, là một ngày đặc biệt. Ngày hôm đó, tại Hoài Nhân Đường, Trung Nam Hải đã làm lễ thụ phong quân hàm và phong tặng huân chương cho Quân giải phóng, nên ở đây sắc thái rất vui vẻ và long trọng. Buổi sáng, các nguyên soái khai quốc mặc lễ phục mới màu nước biển đã tề tựu sẵn. Những người bạn chiến đấu cùng vào chết ra sống với nhau, hôm nay cùng tụ tập ở lễ đường, hỏi thăm nhau, nhớ lại những kỷ niệm đáng nhớ, có lúc vui cười nhỏ nhẹ, có lúc phá lên cười thoải mái. Đúng 9 giờ, Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và các đồng chí lãnh đạo quốc gia khác lục tục tiến vào hội trường, thời khắc trang nghiêm đã đến. Trước hơn một nghìn ba trăm quan khách dự buổi lễ nghi thức long trọng này, Mao Chủ tịch đã trao quân hàm nguyên soái và huân chương cho mười vị nguyên soái khai quốc. Chiều hôm đó, Quốc vụ viện (Chính phủ) tổ chức nghi lễ trao quân hàm cấp tướng và huân chương. Chu Ân Lai, Thủ tướng Quốc vụ viện dã trao quân hàm cho mười mười đại tướng, năm mươi bảy thượng tướng, một trăm bảy mươi bảy trung tướng và tám trăm thiếu tướng. Hồng Thủy được phong quân hàm thiếu tướng và được phong tặng huân chương Bát nhất hạng nhất, huân chương Độc lập hạng nhất và huân chương Giải phóng hạng nhất. Tuy rằng trong hơn một ngàn tướng lĩnh khai quốc chiến công rực rỡ thì Hồng Thủy chưa phải là nổi trội nhất nhưng ông là người ngoại quốc duy nhất đứng trong hàng tướng lĩnh cao cấp của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:50:38 pm Suốt ngày 27 tháng Chín năm 1955, Hồng Thủy cảm thấy vinh dự và cảm động. Trong hếch sử Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, phong quân hàm cấp tướng và huân chương cao nhất cho một người ngoại quốc là lần đầu tiên và cũng chỉ có một lần. Trong hàng thiếu tướng mà lại được phong huân chương hạng nhất cả ba loại như ông cũng có rất ít người đạt được. Từ đáy lòng, Hồng Thủy cảm tạ nhân dân Trung Quốc đã trao tặng cho ông vinh dự cao quý đó.
Tay đỡ ba tấm huân chương hạng nhất sáng chói, mắt Hồng Thủy rưng rưng. Hơn ba mươi năm xa quê chinh chiến, gối đất nằm sương, gian nan vô kể, không sợ mọi gian nguy thử thách vì chân lý, toàn bộ đều gói gọn trong ba tấm huân chương này. Đó không phải chỉ là sự biểu dương khen ngợi cho riêng ông, mà đó là lời cảm tạ, lòng kính trọng của nhân dân Trung Quốc đồi với những chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế vô tư đã hy sinh đổ máu tham gia vào sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc. Hồng Thủy đã cống hiến tất cả vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam, quyết không phải vì công danh, tranh địa vị cho cá nhân. Khi bình cấp Hồng Thủy chỉ được bình thiếu tướng cấp sư đoàn. Có người bực tức thay cho ông, cho rằng bình như vậy là quá thấp. Nhưng, ông không bao giờ nói với ai chuyện đó và cũng chẳng vì chuyện bình cấp mà ảnh hưởng đến tinh thần tư tưởng. Sau này, có người kể lại với tôi, Hồng Thủy là học viên Trường Quân sự Hoàng Phố từ khóa bốn, đã tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, từ năm 1932 đã là cán bộ chức sư đoàn của Hồng quân công nông Trung Quốc. Lúc đầu, các cơ quan hữu quan đã báo cáo lên trên đề nghị phong trung tướng, vì rằng Hồng Thủy là người Việt Nam nên phải suy nghĩ tới quan hệ giữa hai nước, hai Đảng, hai quân đội Trung - Việt. Khi bình cấp, cơ quan cán bộ của quân đội ta đã có xin ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch cho rằng quân hàm nên tương đồng với quân hàm của Quân đội nhân dân Việt Nam đã trao và cấp bậc nên giữ như biên chế tương đương mà xét thì tốt hơn. Vì thế cuối cùng quân hàm của ông đã được định ở mức thiếu tướng... Ngày 1 tháng Mười năm 1955, các sĩ quan, chiến sĩ của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mặc quân phục mới, mang quân hàm, với phong thái đổi mới, xếp hàng ở Thiên An Môn, chờ đón Mao Chủ tịch duyệt binh. Trên bước đường dài xây dựng hiện đại hóa, quân đội ta đã có bước tiến mới. Trên thành lầu Thiên An Môn, các tướng soái khai quốc mặc lễ phục quân đội màu nước biển, quân hàm trên vai rực rỡ, ngực lấp lánh huân chương, tinh thần, khí thế vô cùng phấn chấn, lần lượt chờ vào tiếp kiến Giao Chủ tịch. Mao Chủ tịch mặc bộ đồ Trung Sơn màu xám, khỏe mạnh, bước tới giữa các hàng tướng soái, bắt tay từng người một, nói chuyện với mỗi người vài câu ngắn và dí dỏm. Khi Mao Chủ tịch đến trước Hồng Thủy, Người rất phấn khởi, hai bàn tay to lớn của Người nắm chặt tay Hồng Thủy, nhìn ngắm xem Hồng Thủy có khỏe mạnh không và sắc thái thế nào, rồi lại nhìn đến quân hàm thiếu tướng trên vai ông và hỏi rất quan tâm: "Tiểu Hồng, chú được phong cấp bậc gì?" Hồng Thủy không trả lời không được phải báo cáo thực. Mao Chủ tịch nói ngay với các đồng chí lãnh đạo hữu quan đi cùng: "Như vậy là không thích hợp. Đồng chí Hồng Thủy tham gia quân đội từ thời Hoàng Phố, có thể sửa lại là cấp quân đoàn được không?". Do sự quan tâm trực tiếp của Mao Chủ tịch, Tổng cục Chính trị Quân giải phóng sửa quyết định lại, phong Hồng Thủy là thiếu tướng cấp quân đoàn. Trong bản nhận xét để phong quân hàm cho đồng Thủy có viết: "Sau khi Đại cách mạng thất bại, nhập Đảng trong thời kỳ khủng bố trắng, đối với Đảng, với nhân dân trung thành, trong sáng, ý chí cách mạng kiên định. Trong những hoàn cảnh tàn khốc nhất, khó khăn nhất như bạo động Quảng Châu, Trường chinh trước sau vẫn tích cực, hăng hái chiến đấu, luôn luôn đứng vững trên lập trường đường lối chính xác của Đảng để công tác. Trong khi công tác ở Phương diện quân bốn đã luôn luôn kiên trì đường lối của Trung ương. Trong chiến tranh kháng Nhật ở Tấn Đông Bắc đã có khả năng độc lập tổ chức quần chúng, thành lập Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang. Ở Việt Nam đã lãnh đạo đúng đắn cuộc chiến tranh chống Pháp ở các chiến khu Năm, Sáu và Bốn, củng cố các căn cứ địa của các chiến khu, khiến cho nó có thể đứng vững suốt hơn bảy năm đấu tranh, cuối cùng giành thắng lợi. Trong đấu tranh chống địch và đấu tranh xử lý nội bộ luôn kiên trì và chính xác, giữ vững nguyên tắc. Đối với sự phân công công tác của Đảng, quyết định của Đảng, nhiệm vụ mà Đảng trao cho đều phục tùng và chấp hành, chưa bao giờ có hành động, biểu hiện chống quyết định của Đảng, không phục tùng tổ chức. Trong các cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng (chỉnh phong, thẩm can, tam phản, chỉnh đảng v.v...) đều tích cực tham gia, dũng cảm bộc lộ những sai lầm của mình, của người khác và luôn luôn tích cực học tập”. Đó là lời bình xét công bình và chính xác nhất. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:53:24 pm Trên phổi của Hồng Thủy đã mọc một u ác tính to bằng quả trứng gà. Thủ tướng Chu Ân Lai đã trực tiếp chỉ thị cho Bộ Y tế mời những thầy thuốc giỏi nhất để mổ cho Hồng Thủy.
Đã từng tham gia suốt quá trình cách mạng từ lúc mới thành lập Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cho đến chiến tranh kháng Nhật, nay Hồng Thủy lao mình vào sự nghiệp vĩ đại mới là xây dựng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến lên chính quy hóa, hiện đại hóa. ông làm việc không kể ngày đêm và còn rất nhiều việc phải làm. Làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập tạp chí, ông phải xử lý các công việc thường ngày của báo, của huấn luyện quân sự, lại thường tự mình tuyển chọn những luận văn có liên quan đến học thuật và chiến thuật của huấn luyện quân sự, còn viết những bài về đề tài xây dựng quân đội đăng trên tạp chí Huấn luyện chiến đấu và tạp chí Bát Nhất do Tổng cục Chính trị là chủ biên. Là Bí thư Đảng ủy của tạp chí, ông phải lãnh đạo toàn tòa soạn tham gia các phong trào chính trị do Đảng vận động. Khi có các đoàn đại biểu quân sự hai nước Trung - Việt qua lại, các đồng chí lãnh đạo Quân ủy đều yêu cầu Hồng Thủy đến nói chuyện, ngoài ra còn tham gia vào hoạt động đối ngoại ở cấp cao. Tháng Mười một năm 1955, quân đội ta đã tổ chức nhột cuộc diễn tập chống đổ bộ đường biển ở bán đảo Liêu Đông có quy mô lớn nhất kể từ ngày thành lập xước Trung Hoa mới. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh là Tổng chỉ huy cuộc diễn tập này. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài, Lưu Bá Thừa, Trần Nghị, Hạ Long, La Vinh Hằng, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn đều đến tham quan cuộc diễn tập hiệp đồng quân chủng của ba quân chủng: lục, hải, không quân. Hồng Thủy theo Diệp Kiếm Anh đến Liêu Đông tham gia công tác chỉ huy diễn tập. Ông đã hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách xuất sắc, nhờ hết sức đề cao trách nhiệm và làm hết sức miệt mài. Cuộc diễn tập này đã tổng kết kinh nghiệm về công tác tổ chức và chỉ huy trong các tình huống giả định có sử dụng vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học. Hồng Thủy hết lòng tận tụy công tác vì Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mà ông hằng yêu mến, song ông không một phút giây nào quên Tổ quốc của mình. ông có một máy chữ đánh chữ Pháp, tranh thủ lúc rỗi ông lại đem các trước tác quân sự của Mao Trạch Đông, các luận văn của các nguyên soái lão thành Trung Quốc có giá trị là tư liệu có ích trong thực tế chỉ huy của Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ cần tài liệu phát biểu công khai, ông tự dịch sang tiếng Pháp hoặc tiếng Việt, tự đánh máy lưu lại thành kinh nghiệm quý báu, chuẩn bị sau này mang về Việt Nam. Hồng Thủy vốn là người có tinh lực đặc biệt sung mãn, tưởng như không có gì đánh gục được, song ông hút thuốc lá ngày càng nhiều, hết điếu này đến điếu khác. Lúc đầu Hàn Thủ Văn, thư ký riêng của ông, cứ khoảng mười ngày lại mua cho ông một cây thuốc lá thơm "Hằng Đại" hay "Đại Tiền Môn", về sau một tuần một cây thuốc không đủ. Đầu năm 1956, Hồng Thủy ho mãi không dứt. Qua kiểm tra X quang phát hiện có một vết mờ bên phổi trái, to bằng đồng tiền. Bác sĩ chẩn đoán có thể ở phổi có một nhân do xơ hóa. Bác sĩ cho thuốc tiêu đờm, chữa ho và dặn ông tiếp tục theo dõi bệnh tình, có tình hình gì mới đến bệnh viện kiểm tra. Hồng Thủy uống thuốc xong bệnh không giảm, vẫn ho không dứt và ngày càng kịch liệt, có lúc cảm thấy khó thở. Một lần khi ho trong đờm có tia máu. Qua kiểm tra X quang, vết mờ ở phổi phát triển làm cho các bác sĩ quan tâm chú ý cao độ, thấy không xóa được vết mờ đó bèn lập tức yêu cầu Hồng Thủy vào viện để mổ. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh vô cùng quan tâm, lo lắng đến bệnh của Hồng Thủy, trực tiếp nghe báo cáo về bệnh tình của ông, nhiều lần cùng bàn với các bác sĩ phương án chữa bệnh cho Hồng Thủy và báo cáo tình hình lên Thủ tướng Chu Ân Lai. Trung ương Đảng rất quan tâm đến bệnh tình ông. Thủ tướng Chu ân Lai trực tiếp chỉ thị cho Bộ Y tế: "Cần chọn những thầy thuốc giỏi nhất để mổ cho đồng chí Hồng Thủy". Hồng Thủy đã cảm thấy bệnh tình của mình là nghiêm trọng, nên trước khi vào bệnh viện đã có ý riêng, đến Sở Giáo dục Bắc Kinh thăm tôi. Lần đến thăm đó là vì Hồng Thủy không yên tâm về tôi và các con, song ông không nói cho tôi biết một chút gì về bệnh tình. Hai chúng tôi ngồi dưới bóng cây dương ở ngoài phòng làm việc. Hồng Thủy hình như có nhiều điều muốn nói với tôi nhưng lại không nói một lời. Cả hai chúng tôi đều im lặng. Tôi nhìn sắc thái Hồng Thủy rất không tốt, thỉnh thoảng lại ho khan một trận. Khi chia tay, Hồng Thủy hỏi tôi: “Tại sao em không kết hôn nữa?". Tôi dứt khoát đáp lại ngay: "Chả nhẽ tôi lại tìm bố dượng cho các con sao?". Nghe lời tôi nói, Hồng Thủy như người bị hóc xương, mặt rất đau khổ. Ông không nói năng gì chỉ lặng lẽ nhìn tôi rồi rời khỏi Sở Giáo dục ra về với nỗi lòng uẩn khúc. Sau đó, tôi mới biết ông vào nằm bệnh viện. Không ngờ rằng, lần gặp mặt đó của chúng tôi là lần vĩnh biệt. Mùa hè năm đó, tôi có cơ hội may mắn được đi thăm nước ngoài. Các tổ chức của Trung Quốc và Liên Xô tổ chức các đoàn thăm hỏi, giao lưu giữa hai nước. Đoàn tham quan của Trung Quốc lúc đó gồm năm người: Bí thư Đảng ủy Bệnh viện Triều Dương, Bắc Kinh: Từ Dĩ Tân, Phó Chủ nhiệm Khoa nội Bệnh viện Nhi đồng Bắc Kinh: Hồ Nghiệp Mỹ, còn hai đồng chí là công nhân nhà máy. Tôi cũng được xếp vào đoàn tham quan. Đoàn chúng tôi đi thăm ba nước Liên Xô, Ba Lan và Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức). Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:54:33 pm Trong mắt tôi, Liên Xô là một quốc gia vĩ đại và thần kính. Cả một đời người, một thế hệ nay mới được đến thăm Liên Xô, đối với tôi, đó là hạnh phúc lớn trong đời. Chúng tôi đi dạo trên Hồng trường Mátxcơva. ở đấy, nhà cửa, đường sá, kiến trúc cổ kính, nghệ thuật điêu khắc và bức tường đỏ điện Kremli đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc.
Mùa hè Mátxcơva mát mẻ, dễ chịu. Khi chúng tôi đến Hồng trường thì trước lăng Lênin và Xtalin, dòng người xếp hàng đã dài, chúng tôi xếp hàng cùng họ, trong đó có nhiều người từ các nước trên thế giới đến viếng và chiêm ngưỡng. Lênin, người thầy cách mạng vĩ đại, là một lãnh tụ cách mạng mà từ khi mới có khuynh hướng cách mạng, tôi đã rất tôn sùng. Chúng tôi chầm chậm bước theo đoàn người vào viếng. Trước quan tài của Lênin bằng kính, tôi đã kính cẩn nghiêng mình. Chúng tôi cũng đến viếng Xtalin như vậy. Đầu những năm 60, khi hai đảng Trung - Xô tiến hành tranh luận công khai, tôi mới được biết sau năm 1956, Khơrútxốp đã đưa thi hài của Xtalin ra khỏi Hồng trường đem đi hỏa táng. Tôi rất phẫn nộ và cũng rất buồn phiền. Sau khi đi thăm Liên Xô, chúng tôi thăm Ba Lan và Đông Đức. Ở Beclin, chúng tôi đã đến thăm bức tường Beclin. Bức tường vừa dài vừa cao này đã chia Beclin thành hai phần Đông và Tây. Tại cửa lớn qua lại hai bên, các lực lượng vũ trang của cả Đông và Tây đều đứng gác. Không có người qua lại cổng đó. Đứng bên bức tường Béclin, lòng tôi rất xót xa. Nó như một lưỡi dao sắc chặt đôi một quốc gia, cắt đứt mạch máu của một dân tộc. Hồng Thủy được đưa vào Bệnh viện 309 của Quân giải phóng và được chuyên gia phẫu thuật lồng ngực nổi tiếng là giáo sư Ngô Anh Khải và bác sĩ Trương Đại Vi mổ. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh cử trợ lý, thiếu tướng Diệp Sở Triển và thư ký riêng của Hồng Thủy Hàn Thủ Văn túc trực bên ngoài phòng mổ, để có thể báo cáo trực tiếp với ông khi có tình huống gì xảy ra trong quá trình mổ. Hồng Thủy nằm yên dưới ánh đèn mổ, vẫn bình thường, thản nhiên. Trong hơn ba mươi năm cách mạng, chinh chiến, ông đã nhiều lần vượt qua ngưỡng cửa cái chết. Hôm nay, ông lại phấn đấu sống còn chống lại bệnh tật. Lồng ngực của Hồng Thủy đã được mở, hai vị chuyên gia phẫu thuật lồng ngực đứng sững người. Họ đã phát hiện bên ngực trái của Hồng Thủy, gần tim, có một u ác tính sần sùi to bằng quả trứng gà, không có cách gì mà cắt bỏ được. Các bác sĩ phải mời thiếu tướng Diệp Sở Triển và thư ký Hàn Thủ Văn sau khi đã làm vệ sinh tiêu độc thật nghiêm ngặt, vào trực tiếp coi bệnh tình của Hồng Thủy, báo cáo ngay cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh và các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Bệnh tình của Hồng Thủy cực kỳ nghiêm trọng, các bác sĩ đành phải bó tay buồn rầu lặng lẽ khâu đóng lồng ngực lại cho Hồng Thủy. Vết mổ đã khâu đóng lại, sau một thời gian điều dưỡng cẩn thận, sức khỏe của Hồng Thủy có khá hơn, song đám mây mù nghi vấn vẫn nặng trĩu trong đầu, ông nóng lòng muốn biết bệnh tình của mình, nhiều lần hỏi bác sĩ: "Khối u đã cắt bỏ chưa? Tình hình ra sao?" Hồng Thủy là một người thông minh, rất muốn biết rõ, không cần giấu giếm. Trước các câu hỏi của Hồng Thủy, các bác sĩ rất khó nói. Trong tình thế lúc đó mà kết luận "u ác tính" phải giữ tuyệt đối bí mật đồi với người bệnh. Nói cho họ biết chẳng khác gì bác sĩ trao cho anh ta bản án "tử hình". Hồng Thủy là một đồng chí ngoại quốc đến tham gia cách mạng Trung Quốc từ thời kỳ Đại cách mạng nên lãnh đạo Trung ương cực kỳ quan tâm đến "kết quả phẫu thuật" của ông, không tiếc tiền, tiếc của để chạy chứa cho ông. Vì điều kiện chữa bệnh và trình độ y học của Trung Quốc lúc đó có hạn, để kéo dài cuộc sống của ông, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định đưa ông sang Liên Xô để chữa bệnh. Trình độ chữa bệnh của Liên Xô có thể nói là vào loại tiên tiến trên thế giới, lúc đó đã dùng phóng xạ côban để trị các khối u ác tính. Phóng xạ côban có thể rút nhỏ phần nào khối u, kéo dài cuộc sống của người bệnh nhưng không thể giải quyết vấn đề về căn bản. Riêng đối với Hồng Thủy, khói u đã phát triển thời kỳ cuối, hiệu quả tác dụng cũng rất ít. Để lấy ý kiến của Hồng Thủy về phương án chữa bệnh, qua nghiên cứu kỹ, tổ chức quyết định nói thực cho Hồng Thủy biết về bệnh tình. Hồng Thủy là một người đàn ông cứng rắn trên con đường cách mạng chông gai, không chịu cúi đầu trước khuynh hướng đường lối sai lầm, không lùi bước trước khó khăn gian khổ. Thẳng thắn, kiên cường, lạc quan, rộng rãi, đó là tính cách sống của con người Hồng Thủy. Thế nhưng, khi nghe tin các thầy thuốc giỏi nhất Trung Quốc đã phải bó tay với khối u trong ngực của mình, ông ứa nước mắt. Là một quân nhân cả đời chiến đấu, nay chính là lúc đang "niên phú, lực cường” lại không thể chết trên chiến trường, tại biên cương mà lại bị bệnh tật tuyên án "tử hình". Ông không muốn nhưng buộc phải chấp nhận cái hiện thực tàn khốc, trớ trêu đó. Ông biết dùng côban phóng xạ đối với bệnh ông lúc đó hiệu quả không lớn, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, trong quan hệ giữa hai đảng Trung - Xô đã có nguy cơ chính trị xung đột đang dần hiện rõ, do đó Hồng Thủy kiên quyết không đi Liên Xô chữa bệnh và nghẹn ngào nói với Diệp Kiếm Anh, người thủ trưởng cũ của mình. "Rất cám ơn” sự quan tâm của lãnh đạo Trung ương, tôi không đi Liên Xô, Trung ương không cần phải lãng phí tiền của vô ích vì tôi". Trong lòng ông lúc đó chỉ có một nguyện vọng được chết trên Tổ quốc mình: Việt Nam. Mấy chục năm sau, khi bàn về chuyện Hồng Thủy không chịu đi Liên Xô chữa bệnh, tướng quân Tiêu Khắc đã vô cùng cảm khái nói: "Đồng chí Hồng Thủy coi trọng tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc còn hơn cả sinh mệnh bản thân”. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 08:55:46 pm Hồng Thủy nói: Hiểu tấm lòng tôi, không ai hơn Trần Kiêm Qua, chúng tôi có trái tim đồng điệu. Cả đời tôi điều đau khổ nhất là tới tận bây giờ cô ta vẫn không thể thử lỗi cho tôi.
Mấy tháng sau, tình hình sức khỏe của Hồng Thủy ngày càng giảm sút, không thể không nằm lâu dài ở bệnh viện Bắc Kinh để chữa bệnh, kéo dài cuộc sống. Mỗi buổi chiều, Hàn Thủ Văn đều đến bệnh viện thăm ông, một là đưa cho ông báo chí văn kiện, hai là nắm tình hình để báo cáo cho thủ trưởng Quân ủy Trung ương. Thêm vào đó, theo lời dặn dò của Hồng Thủy, xếp sắp chỉnh lý sách, vở, tài liệu, vật phẩm của ông để chuẩn bị cho ngày về nước. Hàn Thủ Văn, bí thư của Hồng Thủy, là người cùng quê tỉnh Sơn Tây với tôi ở huyện Tích Dương. Mùa hè năm 1954, khi Hồng Thủy tốt nghiệp Học viện Quân sự Nam Kinh, Hàn Thủ Văn được điều về công tác bên cạnh ông, lúc đó anh mới hai mươi ba tuổi, nhưng cũng đã tham gia cách mạng được bảy, tám năm. Năm 1947, anh tham gia Giải phóng quân, theo đại quân Lưu, Đặng (Lưu Bá Thừa - Đặng Tiểu Bình) đánh xuống Trung Nguyên, giải phóng Đại Tây Nam, luôn ở bên hai thủ trưởng Lưu - Đặng làm công tác cơ yếu. Thời kỳ đầu kháng Nhật, Hồng Thủy đã công tác ở huyện Ngũ Đài, Sơn Tây một đoạn thời gian, lại thêm duyên cớ có lẽ tôi cũng là người Sơn Tây nên giữa Hồng Thủy và Hàn Thủ Văn tình cảm càng đặc biệt thân thiết. Năm 1955, bộ đội và cán bộ cơ quan nhà nước được bỏ chế độ cung cấp chuyển sang hưởng chế độ tiền lương. Hồng Thủy trực tiếp lo tiền sinh hoạt phí cho hai cháu Tiểu Phong và Tiểu Việt. Mỗi tháng đến ngày, ông lại cừ Hàn Thủ Văn mang tiền sinh hoạt phí của hai cháu trao cho tôi. Tôi và Hồng Thủy đã có ước định trước yêu cầu ông tránh đến thăm con vì vậy vô tình Hàn Thủ Văn đã là sợi dây liên lạc giữa hai chúng tôi, tôi và bí thư Hàn dần dần quen biết và thân thiết. Tại bệnh viện Bắc Kinh, mỗi buổi sáng, hồng Thủy đều phải đi kiểm tra hay chữa trị theo lệnh bác sĩ. Buổi chiều, sau khi ngủ trưa xong, Hồng Thủy liền bày bàn cờ sẵn, đợi Hàn Thủ Văn đến. Chơi cờ tướng là một thú vui lớn của Hồng Thủy. Ông chơi cờ cũng bình thường, chưa phải là loại cao thủ nhưng cũng là một tay cờ kỳ cựu Ngay từ năm 1932, ở Trường Quân chính Trung ương ở Thụy Kim, Giang Tô, Hồng Thủy đã bắt đầu chơi cờ. Các cán bộ, chiến sĩ thuộc hạ của ông trong tòa soạn hầu hết đều đã nhiều lần là "đối thủ” của ông. Lúc này Hồng Thủy bày cờ ra đánh không phải chỉ là để giết thời gian, ngoài việc giải tỏa nỗi lòng nặng nề mà quan trọng hơn là để có dịp "thổ lộ nỗi lòng”. Ông biết mình chẳng còn sống được bao lâu, trong ông lại có nhiều điều muốn nói. Trong những đêm dài tĩnh mịch mất ngủ, ông lược lại từng sự việc trong dòng sông dài ký ức, rất muốn có một người tri kỷ để nói lại về cả một quá trình cuộc đời không dễ tìm hiểu và đầy thủ thách. ông cũng muốn nói ra những nỗi đau lòng đã phải nén rất lâu, rất lâu rồi. Người vợ Việt Nam của ông còn quá trẻ những điều ông muốn nói ra chưa dễ đã có sự thông cảm thật mãnh liệt. Còn tôi với ông thì chẳng có cơ hội để nói chuyện với nhau. Thế là ông đã kể lại không biết mệt cho Hàn Thủ Văn quá trình hơn ba mươi năm tham gia cách mạng của ông đầy gian khổ, đầy truyện truyền kỳ. Mỗi chiều hai thày trò đều chơi ba ván cờ, ai được hai là thắng cuộc, sau đó Hồng Thủy từ tốn kể lại cho Hàn Thủ Văn nghe về cuộc đời mình, Hàn Thủ Văn trở thành một người bạn tri kỷ của thủ trưởng Hồng Thủy. Từng đoạn đời làm rung động lòng người, từng câu chuyện sinh động nghe mà phấn chấn, Hồng Thủy dẫn Hàn Thủ Văn đi sâu vào tìm hiểu mảnh đất Đông bán đảo Đông Dương đau thương mà đáng kính, dẫn anh đến các cảnh mưa bom bão đạn của khởi nghĩa Quảng Châu, đến cuộc trường chinh hai vạn năm ngàn lý gian khổ tuyệt vời, dẫn anh tới Ngũ Đài Sơn buổi đầu kháng Nhật, đến rừng sâu Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp... Hồng Thủy là người rất giàu tình cảm, nói năng rất hay, mỗi một câu chuyện, mỗi một quãng đời, ông kể lại đều có thanh, có sắc. Tôi sống chung với Hồng Thủy bảy năm. Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, ông không có thời gian để kể hết đầu đuôi câu chuyện về cuộc đời cách mạng của ông cho tôi nghe. Những điều chi tiết tỉ mỉ tôi biết về ông phần lớn là do bí thư Hàn kể lại cho tôi nghe sau này. Đoạn đời khi ông đến Trung Quốc lần đầu, tôi cũng được biết qua bí thư Hàn kể lại. Cuối năm 1924, Hồng Thủy được Nguyễn Công Thu, một liên lạc viên của Hồ Chí Minh tìm đến, với đầy đủ ám, tín hiệu quy định, yêu cầu đi cùng ông bí mật tới Quảng Châu nhằm tập hợp lực lượng cách mạng. Lúc đó điều kiện cách mạng ở Việt Nam chưa chín muồi. Trong nước diễn ra tình hình khủng bố trắng. Nguyễn Công Thu quay lại Trung Quốc chỉ dẫn được theo một mình Hồng Thủy. Họ chuẩn bị vượt biên giới ở khu tiếp giáp Việt Bắc và tỉnh Vân Nam, nơi núi cao rừng sâu, bộ đội biên phòng của Quốc dân đảng bố trí tương đối mỏng, dân hai bên đường biên rất nhiều nhà là thông gia, do đó vượt biên sang cũng như là người đi thăm họ hàng thân thích. Thế nhưng ở đó địa thế hiểm yếu, phải qua một khu rừng nguyên thủy đầy rắn độc, mãnh thú. Để tránh địch chú ý, họ chỉ mặc một áo cánh màu chàm, cái quần cộc, tay cầm một cái gậy để đề phòng mãnh thú, rắn độc, không có một hành trang nào khác, nhờ dân địa phương dẫn đường, vượt đèo lội suối, qua biết bao gian khổ, hiểm nguy, cuối cùng vượt biên thắng lợi, rồi chuyển về Quảng Châu. Một lần, trong khi đang say sưa kể lại chuyện đã "chọc tổ ong vò vẽ” Diêm Tích Sơn tại Ngũ Đài, Sơn Tây, không biết tại sao ông bỗng trầm hẳn lại, mặt buồn, hơi rơm rớm lệ, nói với Hàn bí thư: "Chú Hàn ạ, trong đời tôi, người hiểu nỗi lòng tôi nhất là Trần Kiếm Qua, có thể nói là tim chúng tôi đồng điệu. Nỗi đau lòng nhất của tôi là đến tận giờ cô ta vẫn không thể thứ lỗi cho tôi". Anh chàng bí thư Hàn trẻ tuổi cúi đầu xuống, không dám nhìn bộ dạng đau thương của thủ trưởng mình. Ông bảo bí thư Hàn đến tìm tôi, nói ông muốn gặp tôi và hai con lần nữa. Nghe nói Hồng Thủy bị bệnh nan y, lòng tôi rất xót xa. Tại sao bao nhiêu nỗi khốn khổ và bất hạnh lại cứ đè lên vai anh mãi! Tôi muốn ngay lập tức dẫn Tiểu Phong và Tiểu Việt đến thăm anh, để chúng có thể nhìn thấy cha đẻ của chúng một lần cuối. Nhưng nghĩ lại, bệnh của anh nặng như vậy, tôi và các con đến thăm chắc chắn sẽ gây xúc động và kích thích rất lớn, đối với bệnh tình của anh càng không có lợi, gây đau khổ thêm cho anh. Tôi khóc sụt sịt trả lời bí thư Hàn: "Tôi không thể làm hại tới sinh mạng Hồng Thủy được…” Mùa hè năm đó, khi đồng chí Hoàng Quốc Việt Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam sang thăm Trung Quốc, Hồng Thủy nhờ ông chuyển lời với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Hồ Chủ tịch cho ông được về nước. Yêu cầu của Hồng Thủy được Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đồng ý chấp thuận. Bí thư Hàn mang theo tâm ý của ông đến chỗ tôi ở, hỏi tôi xem có thể ra ga tiễn ông được không. Tôi biết rằng đây là cơ hội cuối cùng để nhìn thấy Hồng Thủy, là "sinh ly từ biệt". Nhưng tôi lại nghĩ đến vợ con Việt Nam của anh sẽ cùng theo anh về nước, lại có biết bao nhiêu thủ trưởng đi tiễn đưa. Tôi ra đưa tiễn, thủ trưởng và các bạn chiến đấu cũ sẽ nhìn anh như thế nào? Một lần nữa, tôi lại cự tuyệt anh. Tôi nhờ bí thư Hàn mang về cho anh một bức ảnh tôi chụp cùng hai con để anh lưu lại làm kỷ niệm và để anh có thể nhìn thấy những người ruột thịt trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:05:07 pm Khi Hồng Thủy rời Trung Quốc, Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai và các vị lãnh đạo Trung Quốc đã gặp chia tay thân thiết. Hơn hai trăm vị công thần khai quốc đã gạt lệ tiễn biệt ông.
Nhận được báo cáo về bệnh tình của Hồng Thủy và yêu cầu của ông xin về nước, Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp thu xếp, lo cho Hồng Thủy về nước. Việc đầu tiên, ông yêu cầu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Bành Đức Hoài và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành phê chuẩn cấp cho Hồng Thủy ba vạn nhân dân tệ bằng tiền mặt. Đó là một số tiền lớn, Hồng Thủy kiên quyết không nhận số tiền ấy. Ông nói: "Trong các đồng chí lãnh đạo Trung ương Việt Nam, lương cao nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người mỗi tháng cũng chỉ nhận ba mươi lăm nghìn đồng, tương đương ba mươi lăm tệ. Các đồng chí khác chỉ nhận được tương đương ba mươi tệ. Làm sao tôi có thể nhận số tiền lớn thế này được!" Bành Đức Hoài và Hoàng Khắc Thành nói: "Đây là do Trung ương quyết định. Chúng tôi không những chịu trách nhiệm trước đồng chí mà còn phải chịu trách nhiệm trước Đảng và Chính phủ Việt Nam. Điều kiện của Việt Nam hiện giờ còn vô cùng gian khổ, khó khăn rất nhiều. Số tiền này là để đồng chí chữa bệnh, không thể để Đảng và Chính phủ Việt Nam phải gánh vác thêm". Hồng Thủy không cưỡng nổi, đành phải nhận. Sau khi về nước, Hồng Thủy cũng không dùng đến số tiền đó để chữa bệnh. Trước mặt vợ con và người thân thuộc ông đã trao lại cho quốc gia. Thủ tướng đem việc Hồng Thủy phải về nước báo cáo Mao Chủ tịch, Mao Chủ tịch quyết định tự mình sẽ gặp mặt Hồng Thủy để tiễn biệt. Hôm đó, Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, Bành đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Hoàng Khắc Thành v.v… và các vị lãnh đạo Trung Quốc đã ở trong phòng họp của lễ đường quốc hội. Trong một thoáng, khi nhìn thấy Hồng Thủy người suy nhược mặc một bộ quân phục cấp tướng bước vào phòng hội nghị, Mao Chủ tịch lập tức đứng dậy tiến về phía trước. Các đồng chí lãnh đạo khác cũng đứng dậy theo. Mao chủ tịch dùng đôi bàn tay ấm áp nắm chặt tay Hồng Thủy, chú ý nhìn qua khuôn mặt phù thũng của ông, trong lòng tràn đầy yêu mến và luyến tiếc. Người mời anh vào hàng ghế lãnh đạo giữa ông và Thủ tướng Chu Ân Lai, quan tâm hỏi anh: "Tiểu Hồng, tết Quốc khánh năm ngoái, tôi gặp chú trên lầu thành Thiên An Môn, chú còn rất khỏe, thân hình chắc nịch, thế mà sao nay lại bệnh tật thế này? Chúng tôi đã không chăm sóc chú được tốt, chưa chăm sóc tốt”. Hồng Thủy vội trả lời: "Dạ, đâu có ạ, Chủ tịch và Trung ương đã vô cùng quan tâm, chiếu cố tôi. Tôi vẫn thường được gặp Tổng tư lệnh Bành và Tổng tham mưu trưởng Hoàng luôn. Tổng tư lệnh Bành còn đến thăm gia đình chúng tôi. Nguyên soái Diệp là lãnh đạo cũ của tôi nên càng được gặp nhiều”. Bành Đức Hoài nói chen vào: "Tôi vẫn còn nhớ rõ bóng dáng của Hồng Thủy khi đóng kịch nói, tại Thụy Kim. Lúc đó, Hồng Thủy còn rất trẻ và rất hăng hái!" Mọi người đều chen vào nói, mỗi người một câu nhớ lại những ngày quen nhau trong những năm tháng chiến tranh. Mao Chủ tịch quay sang hỏi Thủ tướng Chu Ân Lai tỉ mỉ về bệnh tình của Hồng Thủy, hoàn cảnh gia đình, việc xếp sắp cho vợ con ông ra sao. Diệp Kiếm Anh nói: "Phía Việt Nam đề nghị chúng ta đưa Hồng Thủy về đến Mục Nam Quan, sau đó mọi việc sẽ do các đồng chí Việt Nam sắp xếp. Chúng tôi đề nghị để đồng chí Hàn Thủ Văn, nhân viên quân y và cảnh vệ sẽ hộ tống Hồng Thủy về tận Hà Nội, bố trí xếp sắp ổn định xong mới quay về nước, Hồ Chủ tịch đã đồng ý Phương án đó". Mao Chủ tịch rất hài lòng nói: "Đồng chí Hồng Thủy đã cống hiến vô tư suốt mấy chục năm cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc mãi cảm ơn đồng chí”. Sau đó, người nói với Hàn Thủ Văn: "Phiền chú nhé, chú hãy săn sóc đồng chí Hồng Thủy thật tốt, đến Việt Nam nếu còn khó khăn gì kịp thời liên lạc với chúng tôi". Người lại quay sang Hồng Thủy ân cần nói: "Tiểu Hồng, chú về bên đó cố chữa trị cho tốt, bệnh khỏi rồi chúng tôi hy vọng chú sẽ lại trở về”. Thủ tướng Chu Ân Lai và các đồng chí cùng ngồi đó, Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Hoàng Khắc Thành... đều cùng trao đổi dặn dò Hồng Thủy như vậy. Hồng Thủy hiểu rõ đây là lần vĩnh biệt. Lần đầu tiên ông khóc thật sự. Mao Chủ tịch nước mắt rơm rớm, các đồng chí ngồi đó ai cũng chảy nước mắt. Tối hôm đó, Hồng Thủy đóng cửa phòng bệnh nằm khóc một mình. ông dặn bí thư Hàn đem tất cả huân chương, huy chương, quân hàm, quân hiệu đến cả sao trên mũ, gói lại đặt trong vai của ông. Ông muốn mang tất cả về Việt Nam để lưu giữ làm kỷ niệm. Theo lời dặn dò của Hồng Thủy, bí thư Hàn xếp sắp lại hành trang cho ông. Cả đời Hồng Thủy ham đọc sách, bốn cái hòm lớn trang bị để hành quân chứa toàn là sách. Khi mở các hòm đó ra có hai mươi bọc sách. Nào cổ kim trong ngoài nước, chính trị, quân sự, thiên văn, địa lý... Có sách được cấp phát, có sách tự mua, có sách do các đồng chí biếu tặng... còn có sách do ông tự viết hoặc dịch ra. Lúc mới giải phóng, vừa mới vào thành, gia đình cán bộ cao cấp mà có nhiều sách như thế không phải là nhiều. Trước khi về nước, ông yêu cầu gia đình mình chỉ mang theo quần áo đồ dùng cần thiết, còn để lại hết. Ông đem chiếc áo khoác dài bằng lông da dê của mình, quần áo mùa đông của vợ con và cả các đồ dùng hàng ngày tặng cho các đồng chí ở bên mình còn khó khăn, nhưng bốn hòm sách của ông, một quyển cũng không được để lại. Đó là tài sản quý báu mà ông tích lũy hơn ba mươi năm bằng tâm huyết và cả sinh mệnh của mình. Ông muốn đem tài sản quý báu đó hiến cho Tổ quốc mình. Khi Hồng Thủy đứng dậy, Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành còn trực tiếp trao nhiệm vụ cho bí thư Hàn, người sẽ trực tiếp hộ tống Hồng Thủy, Bành Đức Hoài nói: "Đồng chí Hồng Thủy bị bệnh rồi, các đồng chí đưa đồng chí ấy về. Khi gặp Hồ Chủ tịch phải báo cáo rõ ràng, đồng chí Hồng Thủy có cống hiến rất lớn cho cách mạng Trung Quốc, do quá vất vả mà sinh bệnh, nhân dân Trung Quốc vĩnh viễn cảm ơn ông." Hồng Thủy từ khi vào bệnh viện chưa hề về ngôi nhà nhỏ của mình, số 22 phố Thúy Vi ở khu Tân Bắc Kinh. Khi rời Trung Quốc, ông trực tiếp đi từ bệnh viện Bắc Kinh ra ga xe lửa Tiền Môn. Hồng Thủy được hộ tống theo quy cách do lãnh đạo quốc gia Trung Quốc định. Toa xe ông ngồi là loại xe chuyên xa, Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu ân Lai thường ngồi. Các cơ quan phụ trách đã may cho ông một bộ com lê bằng len màu ghi, một cà-vạt nâu. Mặc bộ đồ đó vào mặc dù bệnh tình trầm trọng, song trông ông vẫn đàng hoàng, khí thế lắm. Bộ tóc đen dày chải mượt, đôi mắt sâu, rất to vẫn sáng quắc như xưa. Suốt đời mình Hồng Thủy rất kiên cường, lạc quan. Mặc dù sức khỏe, tinh lực đã bị hao tổn vì bệnh tình, trước lúc chia tay, ông vẫn giữ phong độ là một người lính. Ông muốn giữ trong ký ức của nhân dân Trung Quốc một Hồng Thủy mãi mãi kiên cường, cương nghị. Trước thềm ga xe lửa Tiền Môn, Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Hoàng Khắc Thành, Tiêu Khắc, Tôn Nghị và hơn hai trăm vị công huân khai quốc, các lãnh đạo Bộ Ngoại giao, các tổng bộ trực thuộc Quân ủy, các quân, binh chủng, các nhân viên công tác của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc đều tới tiễn ông. Hồng Thủy tuy mặc đồ tây song trông ông vẫn là một quân nhân uy nghiêm. Đứng giữa Bành Đức Hoài và Diệp Kiếm Anh cùng hơn hai trăm vị thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đi tiễn, Hồng Thủy đã được chụp một tấm ảnh lưu niệm quý báu mang tính lịch sử. Mọi người ra tiễn lần lượt bắt tay, ôm chặt Hồng Thủy, động viên ông chiến thắng bệnh tật, hy vọng ông có thể trở về cùng góp vào việc xây dựng đất nước Trung Hoa. Đó là những bạn chiến đấu cũ của Hồng Thủy đã cùng nhau vào chết ra sống trên chiến trường. Đó là những vị tướng đã được tôi luyện trong phong sương khói lửa, rắn như thép, hét ra lửa, thế mà lúc này đây đều nước mắt lưng tròng. Hàn Thủ Văn đỡ Hồng Thủy lúc đó đã suy nhược bước lên toa xe. Ông cứ đứng mãi ở cửa xe, ánh mắt ông chăm chú nhìn từ đầu đến cuối đoàn người ra tiễn, hy vọng được nhìn thấy Tiểu Phong và Tiểu Việt một lần cuối. ông lại chuyển ánh mắt nhìn vào các bạn chiến đấu cũ của ông trong hơn ba mươi năm qua, nước mắt long lanh ở hai khóe mắt. Ông dùng hết sức bình sinh, cất cao giọng sang sảng, đầy tính chiến đấu cả một đời người, hô lớn: “Tạm biệt các bạn chiến đấu! Tình hữu nghị Trung - Việt muôn năm!”. Đoàn xe lửa cất một hồi còi dài bi tráng từ từ lăn bánh rời ga, mọi người lòng lưu luyến, đưa mắt tiễn người bạn chiến đấu đang đi xa mãi mãi. Đó là ngày 27 tháng 9 năm 1956. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:06:24 pm Lần cuối cùng về đến Tổ quốc, ông chỉ còn sống nổi ba tuần. Hồ Chí Minh gạt lệ tiếp ông. Sau khi ông mất, đã cử hành lễ quốc tang có quy mô lớn.
Đoàn xe đặc biệt chạy về hướng nam, đến Nhạc Dương, Hồ Nam thì chuyển hướng về Nam Ninh. Trong địa phận Trung Quốc, cứ đến một ga lớn đều có các vị lãnh đạo Đảng - Chính - Quân địa phương lên xe hỏi thăm, 9 giờ 30 phút tàu đến ga Bằng Tường thuộc Quảng Tây. Đoàn xe của Quân đội nhân dân Việt Nam sang đón đỗ tại sân ga Bằng Tường. Đoàn xe chạy thẳng về biên giới đi đầu là một xe jeep dẫn đường, Hồng Thủy, bí thư Hàn, bác sĩ Trương Đại Vi, gia đình ông và một số người tùy tùng chia ra ngồi ở ba xe con, đằng sau có một xe ca chở hành lý, hòm sách và một xe ca chở bộ đội cảnh vệ. Đoàn xe qua Mục Nam Quan tiến vào lãnh thổ Việt Nam. Đoàn xe vừa qua đường biên giới, Hồng Thủy yêu cầu dừng xe. Ông xuống xe, đến bên lề đường cúi xuống bốc một nắm đất bùn lẫn cỏ xanh ông nắm chặt bàn tay đặt ngang ngực. ông nhắm mắt lại hít một hơi dài. Đứa con xa Tổ quốc nay đã trở về, nhưng ai có thể tưởng tượng nổi tướng quân Nguyễn Sơn đã thành một chiếc lá vàng rơi về cội. Khi đoàn xe về đến Lạng Sơn, Hồng Thủy xuống xe nghỉ. Trên chiếc bàn song mây đã để các thứ hoa quả quê hương để đãi ông: dứa, chuối tiêu, xoài... Hồng Thủy ngồi trên chiếc ghế mây nhấm nháp uống trà, sung sướng ngắm nhìn đất đai của cố hương xanh tươi bốn mùa. Lần đi xa này thấm thoát đã sáu năm rồi. Ông hít lấy hít để hương thơm của cỏ cây xen mùi bùn đất, thoang thoảng không khí trong lành của quê nhà. Nghe nói, khi tướng quân Nguyễn Sơn về đến nơi, bà con, họ hàng thân thích vây quanh ông. ông cùng với họ hàng, bà con ruột thịt xa lâu mới gặp nay ríu rít chuyện trò, lúc nói tiếng Việt, lúc nói tiếng Trung, có lúc lại nâng cốc cười vui. Lúc đó Hồng Thủy đặc biệt cảm động, lòng vui vẻ, chan hòa, đúng như đứa con xa nhà nay trở về trong vòng tay mẹ. Hồng Thủy và vợ con Việt Nam của ông được bố trí ở trong một ngôi nhà lầu nhỏ xây kiểu Pháp cách Phủ Chủ tịch không xa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số cán bộ, tướng lĩnh cao cấp của quân đội đã chờ sẵn ông ở đây. Mọi người trao đổi nói chuyện với nhau rất lâu trong phòng khách của ngôi nhà này. Ngày hôm sau là 1 tháng Mười, Hồng Thủy đã kỷ niệm ngày sinh thứ bốn mươi tám của mình tại Hà Nội. Hồng Thủy dẫn bí thư Hàn cùng đến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong phòng tiếp khách của Người, Hồ Chí Minh ngắm nhìn vị tướng đa tài đa nghệ, nhớ lại cậu học trò thông minh, đầy năng lực năm nào, xa lâu mới gặp nay lại sắp vĩnh viễn phải chia tay, đau lòng vô hạn. Người nhìn kỹ Hồng Thủy gầy ốm xanh xao lại nhớ từ năm 1923, hai thầy trò đã ngày đêm bên nhau, trải qua bao sóng gió, hai thầy trò cứ ôm nhau khóc. Được Hồ Chủ tịch trực tiếp quan tâm, Hồng Thủy được đưa ngay vào điều trị tại bệnh viện Hồng Thập tự. Mặc dầu bận trăm công ngàn việc, song Người luôn quan tâm theo dõi bệnh tình của Hồng Thủy. Ngày 8 tháng Mười, bí thư Hàn sau khi đã hoàn tất mọi việc hộ tống Hồng Thủy do thủ trưởng Quân ủy Trung ương Trung Quốc trao cho đã vào bệnh viện Hồng Thập tự chào chia tay với Hồng Thủy, người thủ trưởng kính yêu của mình. Khi thấy bệnh tình của Hồng Thủy xấu đi rất nhanh, ông cảm thấy vô cùng thương xót. Hồng Thủy nhờ bí thư Hàn thay mình cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc, cảm ơn các thủ trưởng và đồng chí. Bí thư Hàn hiểu rất rõ tâm tư của Hồng Thủy, bên giường bệnh ông ghé đầu hỏi nhỏ: "Thủ trưởng còn điều gì muốn nói với mẹ con Tiểu Phong không?" Lúc này, Hồng Thủy rất bình tĩnh, trong hốc mắt đã sâu hõm của ông long lanh một giọt lệ. Ông cố gắng cựa quậy người, cố gắng lấy hơi, rồi nói chậm, đứt quãng: "Chú Hàn, nhờ chú nói lại với Trần Kiếm Qua, tôi xin lỗi cô ấy... Trần Kiếm Qua rất kiên cường... những năm chiến tranh, điều kiện rất gian khổ, cô ấy đều vượt qua... tôi không lo về sinh hoạt, nếu có vấn đề gì bảo cô ấy tìm tổ chức... chỉ mong cô ấy nói cho các con tôi Tiểu Phong và Tiểu Việt, cha của chúng suốt đời tận sức vì tình hữu nghị Trung - Việt... hy vọng các con tôi cố hết sức làm như thếch đời sau... hy vọng có một ngày Tiểu Phong của tôi... Tiểu Việt của tôi... có thể đoàn tụ với chị, em trai và các em gái Việt Nam của chúng." Tiếng nói của Hồng Thủy nghẹn lại. Bí thư Hàn ghi lòng tạc dạ lời dặn của Hồng Thủy, ông đứng dậy cáo biệt Hồng Thủy. Hồng Thủy cố gắng ngồi dậy, đón nhận cái chào theo quân lễ cuối cùng của bí thư Hàn với người tướng của mình. Nhìn theo bóng dáng của Hàn Thủ Văn đi xa, ông thấy trong người rực hẳn lên, mối liên hệ cụ thể có thể trông thấy được giữa ông và Trung Quốc đã dứt, nước Trung Hoa quen thuộc nay thành một quốc gia xa xôi, một đời phấn đấu nay đã thành bức tranh mờ mờ trong ký ức, bay lên không trung. Trong mắt của Hồng Thủy ươn ướt một màu sương, tích lại thành những giọt lệ từ từ lăn xuống. Trong ngày cuối đời, Hồng Thủy không thể ăn uống gì nổi. Ông không những bị cơn đau thể xác giày vò mà trong lòng cũng còn nhiều điều day dứt: Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào ruột thịt còn bị sông Hiền Lương chia cắt thành hai miền Nam Bắc, tám đứa con trai, gái, đứa ở Trung Quốc, đứa ở Việt Nam bao giờ chúng mới có thể đoàn tụ được... Hồng Thủy về nước vẻn vẹn được hai mươi ngày, bệnh tật đã cướp đi cuộc sống của ông. Ba giờ ba mươi phút chiều ngày 21 tháng Mười năm 1956, Hồng Thủy tạ thế, mới bốn mươi tám tuổi đời. Đài phát thanh Việt Nam loan báo tin tướng Nguyễn Sơn tạ thế với đồng bào cả nước. Ngày 22 tháng Mười, Đảng, Chính phủ Việt Nam và nhân dân Hà Nội đã tổ chức lễ quốc tang quy mô lớn nhất hồi đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến viếng và tặng vòng hoa. Tham dự lễ truy điệu có Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bố trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên giáp, cùng các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước, Quốc hội, các đồng chí phụ trách các cơ quan quân dân chính đảng và các đoàn thể quần chúng, đại biểu quân đội của Chiến khu Bốn và Chiến khu Năm nơi Hồng Thủy đã từng công tác. Trong lễ tang, đi đầu là một xe chở đầy hoa viếng, tiếp sau xe mang quân kỳ "Quyết thắng”, xe chở linh cữu của Hồng Thủy rồi đến xe tiêu binh hộ tống. Đi đưa tang Hồng Thủy là một đội hình xe nhìn không hết, mọi người trong tiếng khóc đau thương đã vĩnh biệt một "Tướng quân nhân dân”. Sau lễ tang di hài của Hồng Thủy được đặt tại nghĩa trang ngoại thành Hà Nội. Khi Hồng Thủy rời Trung Quốc, tôi không thể đi tiễn anh được, song lòng tôi không phút giây nào không nhớ tới anh. Tôi biết Hồng Thủy không lâu nữa sẽ ra đi mãi mãi. Tôi âm thầm khóc vì anh. Lòng tôi tràn đầy nhớ thương và đau khổ nhưng biết thổ lộ cùng ai? Suốt ngày tôi hốt hoảng không yên, người ngồi trong phòng làm việc nhưng tâm trí để đâu đâu. Tôi chỉ có thể lặng lẽ đếm từng ngày từ khi Hồng Thủy rời Trung Quốc. Một hôm, tôi đang giao ban có người mang tin Hồng Thủy đã tạ thế báo cho tôi. Tim tôi đập dồn dập, nước mắt ào ra như mưa. Tôi không giữ nổi tình cảm riêng quá đau đớn, tôi kêu thất thanh trước tất cả mọi người trong phòng làm việc. "Anh ấy mới có bốn mươi tám tuổi đầu? Sao mà anh đi sớm thế..." Lúc đó, tôi không những chỉ đau thương mà còn hối hận nữa. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:07:59 pm Chương XII NHỮNG NĂM THÁNG ĐAU THƯƠNG Hồng Thủy đã vĩnh viễn ra đi. Trong những đêm dài mất ngủ, tôi âm thầm suy nghĩ, nhớ thương. Hồng Thủy đã ra đi, ra đi vĩnh viễn, để lại cho tôi nỗi nhớ thương vô hạn và những đêm dài mất ngủ. Có đồng chí trách tôi là oán hận Hồng Thủy thái quá, sau khi chia tay không nên đối xử lãnh đạm với anh như vậy Việc Hồng Thủy mất sớm, tôi rất đau lòng. Thử nghĩ, cự tuyệt người chồng mà mình yêu quý thì phải chịu sự giày vò đau khổ nặng nề đến thế nào. Tôi biết, Hồng Thủy rất trọng tình cảm. Sự lãnh đạm của tôi khiến cho trái tim anh bị day dứt, khổ đau. Tôi không cho anh gặp mặt các con, đồi với anh chẳng khác cắt đứt mạch máu. Ngoài đau khổ ra, trong đáy lòng tôi là hối hận. Tự trách: Việc Hồng Thủy mất sớm với tôi không phải là không có quan hệ. Bình tâm lại mà xét, trừ việc về Việt Nam lại lập gia đình, việc đó về mặt tình cảm khó chấp nhận ra, tôi không có điểm gì không vừa ý với Hồng Thủy. Ở anh, tư duy mẫn tiệp, thẳng thắn, kiên cường, cầu tiến hiếu học, hoạt bát cởi mở, đối với tôi rất tế nhị, đối với con sâu nặng nghĩa tình. Nhìn thấy anh bộ dạng rầu rĩ, đau khổ và mâu thuẫn, tôi không phải không tan nát cõi lòng. Thế nhưng tôi không hối tiếc về quyết định của mình. Nếu tôi không hận lòng, hạ quyết tâm tự hy sinh, thì vợ con Việt Nam của anh sẽ ra sao? Như vậy không phải Hồng Thủy gặp nỗi đau khổ khác cũng như thế sao? Khi rút khỏi Diên An, tôi mang theo hai con vượt qua hành trình ba nghìn lý (1500 km) trong ba năm, khổ cực biết bao. Thế nhưng trong trái tim tôi vẫn le lói tia hy vọng, vẫn tin rằng sẽ có ngày tôi và các con được đoàn tụ với Hồng Thủy. Sau khi chia tay với Hồng Thủy, tôi cố rũ bỏ nỗi ràng buộc vì đau khổ, không nghĩ rồi cuộc đời sẽ ra sao, lao mình vào công tác để xóa nỗi đau lòng. Muốn nói thế nào cũng được, vì lúc đó Hồng Thủy còn sống. Không cần biết số phận mình ra sao, nhưng tôi tin rằng máu sẽ chảy về tim, rồi có ngày các con của Hồng Thủy sẽ đến cùng anh. Thế nhưng giờ đây, Hồng Thủy đã vĩnh viễn rời xa chúng tôi. Trong lòng tôi chưa bao giờ hoang mang như thế. Còn có gì xé nát trái tim tôi hơn là sự thương tiếc và hối hận. Làm thế nào để đối mặt với cuộc sống từ nay về sau? Có nên nói cho hai con còn ấu thơ về tin Hồng Thủy đã mất không? Nhiều đêm dài tôi đã suy nghĩ miên man không sao nhắm nổi mắt. Hai đứa con tôi còn nhỏ, thời gian gần gũi với cha rất ngắn, song ký ức thì rất đẹp. Tôi không thể phủ bóng đen u ám, đau khổ lên hai trái tim trẻ thơ. Khổ sở về vật chất trong sinh hoạt chẳng tính làm gì, tâm linh bị cào xé là điều người ta khó chịu nổi? Nỗi bi thương và ức chế của thời kỳ tang tóc, nỗi khổ tâm không biết nói cùng ai đã tích lũy trong lòng tôi. Bụng đau quặn từng đợt kịch liệt, sốt cao đột nhiên, chỉ trong một đêm da dẻ và mắt tôi đã vàng như nghệ. Tôi đổ bệnh rồi, phải vào nằm viện, bác sĩ chẩn đoán tôi bị viêm gan cấp. Tôi nằm trên giường bệnh, vừa truyền dịch vừa suy nghĩ, tự nhắc mình: Trần Kiếm Qua, không nên quá đau thương như vậy? Nếu ngã xuống rồi còn hai đứa con sẽ ra sao? Chúng đã mất cha, không thể để chúng không còn mẹ. Vì các con, ta phải đứng vững. Mình đã là đảng viên bao nhiêu năm, mới bốn mươi hai tuổi, đường đời còn dài, còn nhiều việc cần làm. Mình phải vững vàng lên, nhìn thẳng về phía trước. Bí thư Hàn sau khi từ Việt Nam trở về nước đã đến thăm tôi mấy lần, nói lại những lời Hồng Thủy ủy thác và di nguyện. Bí thư Hàn đã theo Hồng Thủy công tác hai năm. Ngoài việc hàng tháng đưa sinh hoạt phí lại cho Tiểu Phong, Tiểu Việt ra, phàm các việc đưa Hồng Thủy đến thăm tôi, hoặc cần trao đổi với tôi điều gì, đều qua bí thư Hàn. Tình cảm giữa hai chúng tôi, anh đều chứng kiến và cũng rất khổ tâm. Mỗi lần đến thăm tôi ở bệnh viện, anh đều lựa lời an ủi tôi vài câu: "Chị Trần ơi, về việc chị và thủ trưởng Hồng Thủy phải chia tay, chúng em không ít người không đau lòng, tiếc thay cho chị. Chị và thủ trưởng là bạn bè, cứng nhau chiến đấu, đồng cam cộng khổ, cùng chịu hoạn nạn, trở thành vợ chồng. Nếu không vì được tin chị và các cháu ngộ nạn trên đường rút khỏi Diên An thì chắc ông cũng đã không tái lập gia đình. Huống hồ Việt Nam có tình hình riêng của nước họ, thủ trưởng tái lập gia đình là do tổ chức quyết định và giới thiệu: trong chiến tranh chống Pháp, thủ trưởng ngày đêm phải lo nghĩ trăm phương nghìn kế, cống hiến lớn cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam, về sinh hoạt cũng phải có người chăm sóc. Sự việc này xảy ra trong những năm tháng đặc biệt, trong hoàn cảnh đặc thù, thủ trưởng cũng có nhiều khổ đau, không nói ra được. Lại nói, thủ trưởng đã vì cách mạng Trung Quốc cống hiến đến hơi thở cuối cùng. Em thấy Mao Chủ tịch, Chu Tổng tư lệnh, Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên soái Diệp Kiếm Anh và các vị lãnh đạo Trung Quốc khác đều vô cùng yêu mến ông... Thủ trưởng không còn nửa, chị nên giữ gìn sức khỏe, đừng nên oán hận ông nữa”. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:08:34 pm Bí thư Hàn là một người có tâm, mỗi lời của anh đều thấu lý đạt tình. Tôi cũng luôn nghĩ lại: Đúng vậy, có một số sự tình không thể chỉ dừng lại ở tình cảm cá nhân mà xét đoán được, cần phải khách quan hơn, phải đặt mình vào đó mà thứ lỗi cho Hồng Thủy.
Hồng Thủy cương quyết, thông minh, tính tình thẳng thắn. Nhưng thông minh, thẳng thắn thì cuộc đời lại gian truân. Nhớ lại, Hồng Thủy đã ba lần tới Trung Quốc, ba lần vượt "Núi tuyết - Thảo nguyên", ba lần bị khai trừ đảng tịch... Trong đời người ngắn ngủi, anh đã nếm đủ khổ đau, nhưng anh vẫn trung kiên bất khuất, không nản lòng tin. Đằng sau cái bề mặt: tinh thần kiên nhẫn không xao xuyến, tính cách vui vẻ, lạc quan, phải thừa nhận anh đã chịu áp lực nội tâm rất nặng. Nếu không, anh chẳng thể rời cõi nhân gian trong lúc còn trẻ như thế này. Nhờ các bác sĩ, y tá tận tình chạy chữa và chăm sóc, bệnh tình của tôi đã nhanh chóng khỏi. Mỗi lần qua khỏi bệnh nặng hiểm nghèo cũng coi như được cứu sống lại khiến cho con người ta suy xét thêm nhiều về đạo lý cởi bỏ được những vướng mắc trong lòng, hóa giải được nhiều ân oán. Nhận thức và lý giải được về Hồng Thủy, nỗi đau khổ trong tâm can tôi cũng vơi dần. Tôi nghĩ, bây giờ chỉ còn cách vui vẻ, hết lòng công tác cho tốt, dạy dỗ hai con nên người, mới có thể được cấp trên và mọi người quan tâm giúp đỡ, mới có thể cáo biệt được với Hồng Thủy nơi suối vàng. Có thể nói, những năm tôi công tác trên trận tuyến giáo dục mẫu giáo có thành tích cũng là những năm tôi bị những đả kích về tinh thần lớn nhất và cũng là những năm nội tâm đau khổ nhất. Sau khi được điều từ Viện Mẫu giáo 1/6 về Sở Giáo dục Bắc Kinh, trước tiên tôi làm Khoa trưởng Khoa Giáo dục mẫu giáo, sau kiêm nhiệm Chủ nhiệm văn phòng Sở Giáo dục, lại được bầu vào Thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ Bắc Kinh. Năm 1958, Khoa Giáo dục mẫu giáo đổi thành vụ, tôi lại làm Vụ trưởng Vụ Giáo dục mẫu giáo. Đến trước "Cách mạng văn hóa", tôi đã phải kiêm nhiệm sáu loại chức vụ. Điều đó thực trái với nguyện vọng bản thân, tôi đã nhiều lần yêu cầu lãnh đạo sở tốt nhất cho tôi thôi chức Chủ nhiệm văn phòng của Sở, để tôi chuyên tâm vào công tác giáo dục mẫu giáo vì tôi rất yêu quý sự nghiệp giáo dục mầm non này. Sau khi nước Trung Hoa mới được thành lập, sự nghiệp giáo dục mẫu giáo của thành phố Bắc Kinh phát triển nhanh vùn vụt. Năm 1949, khi Bắc Bình vừa được giải phóng, các loại vườn mẫu giáo chỉ có vẻn vẹn mười lăm vườn, thu nhận được hơn một ngàn cháu nhỏ. Đến năm 1958, các loại hình vườn mẫu giáo đã tăng lên hơn năm nghìn tám trăm cơ sở. Hệ thống giáo dục, cơ quan xí nghiệp, cư dân ở các đường phố, các công xã nhân dân đều lập các vườn mẫu giáo, số các cháu được gửi đến cũng tăng vọt gần bốn trăm nghìn. Số lượng các vườn trẻ, mẫu giáo và số các cháu được gửi đều tăng gấp bốn trăm lần trước giải phóng. Hoàn cảnh và điều kiện giáo dục cũng được cải thiện đáng kể. Khi được điều về quản lý công tác giáo dục mẫu giáo, tôi phát hiện lực lượng giáo viên dạy ở vườn trẻ, mẫu giáo thiếu nghiêm trọng nên đã đề xuất vấn đề này ở Hội nghị tổ chức Đảng của Sở, hy vọng lãnh đạo coi trọng và giải quyết. Năm 1955, nhờ sự nỗ lực của các bộ môn có liên quan Trường Sư phạm giáo dục mẫu giáo Bắc kinh chính thức thành lập. Đó là sự bảo đảm đáng tin cậy cho việc cung cấp lực lượng giáo viên mẫu giáo được huấn luyện chuyên môn có chất lượng cao. Để nâng cao trình độ giáo dục cho các giáo viên, nhân viên mẫu giáo đang tại chức, chúng tôi mở các lớp tập huấn ngắn ngày với các loại hình khác nhau. Năm 1958, trên cơ sở những lớp tập huấn này đã thành lập Trường Chuyên tu giáo dục mẫu giáo Bắc Kinh. Để tăng cường sự chỉ đạo công tác giáo dục mẫu giáo toàn thành phố, năm 1955, Sở Giáo dục Bắc Kinh thành lập phòng nghiên cứu giáo dục mẫu giáo do Vụ Mẫu giáo phân công quản lý. Phòng nghiên cứu thành lập không lâu sau biên tập một tập san tên là Người bạn của giáo viên mẫu giáo để chỉ đạo công tác này trong toàn thành. Phản ánh của độc giả cả nước và Bắc Kinh về tập san này rất tốt. Từ 1959 đến 1965, chúng tôi còn hợp tác với Đài phát thanh nhân dân Bắc Kinh mở một chương trình phát thanh chuyên đề về giáo dục mẫu giáo được các đồng nghiệp ở Bắc Kinh hoan nghênh. Tôi nghĩ, sinh mệnh của một con người nếu gắn liền được với sự nghiệp mà mình yêu quý, tầm mắt sẽ mở rộng, công việc bên mình sẽ làm không hết, đồng thời cũng từ sự nghiệp đó đạt được lạc thú vô tận. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:12:42 pm "Mẹ ơi, kháng Mỹ viện Triều kết thúc rồi sao mãi không thấy ba về?” trước câu hỏi đó của con trẻ, tôi bất đắc dĩ phải nói rõ thực tình.
Sau khi Hồng Thủy mất, tôi nén chặt trong lòng nỗi đau khổ, nỗi nhớ thương, trước mặt các con cố gắng giữ vẻ bình thản. Trẻ con trai thường hay nghịch ngợm. Cứ mỗi chiều thứ bảy, hai anh em vừa ra khỏi trường là như hai con chim sổ lồng, vừa đi vừa chơi đùa, đến tối mịt mới về đến nhà. ăn cơm tối xong, làm vệ sinh cá nhân rồi leo lên giường một lát đã ngủ say. Chiều chủ nhật lại vào trường. Cứ thế, sau khi Hồng Thủy đã mất gần hai năm, tôi vẫn kiên cường giừ kín. Những năm 50, điều kiện nhà ở của cán bộ nhân viên cơ quan thuộc thành phố Bắc Kinh còn tương đối kém. Như tôi, cán bộ cấp vụ trưởng cũng chỉ được một gian phòng nhỏ 12 m2. Một cái giường to, một cái bàn có ba tầng ngăn kéo, một cái tủ bằng vải dày, một cái bàn ăn nhỏ và bốn cái ghế ăn, đó là toàn bộ gia sản của tôi. Tôi không hề so sánh với các gia đình khác, cũng không hề có cảm giác thua kém. Ở những năm đó, so bì điều kiện sinh hoạt là một việc không chính đáng, thậm chí còn đáng xấu hổ. Đối với khó khăn về sinh hoạt, không bao giờ tôi phàn nàn trước mặt các con vì không muốn trái tim non trẻ của chúng lưu lại những nặng nề của cuộc sống. Các con tôi dần dần lớn lên. Đối với mọi sự vật chung quanh, chúng đã độc lập phân tích, có năng lực giải quyết. Các con có lúc bất chợt hỏi tôi: "Mẹ ơi, ở lớp con, bố của bạn... là chí nguyện quân, ông ấy đã từ Triều Tiên trở về, sao ba mãi không về hả mẹ?” Đối với câu hỏi của các con như vậy, tôi thường dùng lý lẽ chiến tranh Triều Tiên còn chưa kết thúc để giấu các con. Song tôi biết rằng cái kế này cũng không thể dùng lâu dài. Căn cứ vào "Hiệp định đình chiến Triều Tiên", cuối năm 1958, toàn bộ chí nguyện quân Trung Quốc rút khỏi Triều Tiên. Lúc này, Tiểu Phong đã học trung học cơ sở năm thứ hai, Tiểu Việt đã tốt nghiệp tiểu học. Trước các câu hỏi dồn của các con, tôi không còn cách nào để giải thích, đành phải nén đau, mở vết thương lòng, nói rõ sự thật. Tôi nghĩ, Tiểu Phong đã mười bốn tuổi, tới tuổi vào đoàn. Hồng Thủy mới mười lăm tuổi đã tự mình đi Pháp để tìm chân lý và từ đó bước lên đường cách mạng. Tôi, mười ba tuổi, đã hướng về cách mạng. Trong cuộc khủng bố trắng, khi Đại cách mạng thất bại, đã dám vào Tỉnh Đảng bộ Quốc dân đảng ở Sơn Tây để thăm người cách mạng. Ngày nay, các cháu được nuôi trong lồng kính cũng cần phải để cho chúng hiểu trách nhiệm trên vai mình. Đem thân thế của cha chúng nói rõ với chúng, báo tin cha chúng đã mất, chắc chắn chúng sẽ đau khổ, nhưng từ nay về sau sẽ có lợi cho sự tiến bộ của chúng, làm kích động chí khí phấn đấu, khiến chúng sẽ nỗ lực chuyên cần học tập hơn. Một buổi chiều thứ bảy, tôi lấy trong tủ vải ra hai tấm ảnh lồng kính nhỏ, một tấm ảnh Hồng Thủy mặc bộ quân phục cấp tướng chụp nửa người, còn tấm kia là một bức ảnh duy nhất chụp chung ba cha con. Tôi lau mặt kính của hai tấm ảnh, ngắm nghía hồi lâu, sau đó đặt chúng vào giữa chiếc bàn ăn nhỏ. Tôi ngắm thật kỹ Hồng Thủy ở trong tấm ảnh, đợi hai con tan học trở về. "Tiểu Phong, Tiểu Việt, các con nay đã lớn rồi. Không phải các con vẫn thường hỏi mẹ bao giờ ba trở về? Hôm nay, mẹ sẽ nói với các con về chuyện của ba con”. Các con tôi thấy không khí trong gia đình hôm nay không bình thường, ngơ ngác nhìn tôi. Tôi cố gắng nén tình cảm của mình, thế nhưng "chuyện của ba con" tôi đã không biết bắt đầu như thế nào. "Cha của các con sẽ không trở về nữa. Hai năm trước, ba con đã mất ở Việt Nam rồi.." Tôi không nói tiếp được nữa, nước mắt chảy giàn giụa. Các con tôi sững người ra một lát rồi òa lên khóc nức nở. Nhìn thấy bộ mặt trẻ thơ của chúng đầy nước mắt đau thương, tôi thấy như tan nát cả lòng. Khóc thương tâm nhất là Tiểu Việt. Nó được gần cha vẻn vẹn chỉ có mấy ngày. Cho đến khi nó hiểu biết, khi bắt đầu khao khát tình phụ tử thì cuộc sống đã đáp lại một cách tàn khốc vô tình. Tiểu Việt đã hỏi thầy giáo chủ nhiệm lớp một câu hỏi kinh thiên động địa: "Thưa thầy, các bạn học của con đều có ba, tại sao con lại không có ba ạ?" Cho đến tận nay, chỉ cần nhớ lại chuyện đó, lòng tôi vẫn đau như cắt. Báo cho các con tin Hồng Thủy chết là ý tôi muốn chúng càng phải kiên cường để chúng cũng giống Hồng Thủy, suốt đời ngay thẳng mà tiến thủ, không phải cầu xin ai. Thế là tôi kể lại thân thế của Hồng Thủy câu được, câu chăng cho các con nghe: Hồng Thủy mới mười sáu tuổi đã tới Trung Quốc, ba lần bò "Núi tuyết, vượt "Thảo nguyên"; từ việc ông tham gia tám năm kháng chiến đến việc ông chỉ huy lãnh đạo năm năm trong chiến tranh kháng Pháp; từ sinh hoạt học tập ở Trường Quân sự Hoàng Phố, rồi tại Trường Đại học Kháng chiến ở Diên An đến là học viên ưu tú ở Học viện Quân sự Nam Kinh... tôi tạo lại hình tượng một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế đã tự nhận công việc giải phóng toàn nhân loại. Đó chính là người cha đẻ đã quá cố của chúng - Hồng Thủy. Điều an ủi tôi nhất là Tiểu Phong và Tiểu Việt không vì chuyện mất cha mà hư hỏng. Chúng như được tiếp sức từ cha mình, phấn đấu học tập, tích cực tiến thủ. Năm 1960, Tiểu Phong do có thành tích học tập xuất sắc nên được lên thẳng cấp III (phổ thông trung học) ở Trường Trung học thứ 4 Bắc Kinh. Hai năm sau, Tiểu Việt cũng thi đỗ vào trường này. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:14:29 pm Trong hội phê đấu của "Cách mạng văn hóa”, tôi chỉ cúi đầu chứ không khom lưng vì suốt đời tôi vẫn thẳng lưng.
Sau khi "Cách mạng văn hóa" bắt đầu, giới giáo dục bị đánh đầu tiên. Cũng như nhiều cán bộ cũ khác, tôi cũng bị đả kích. Trong Sở Giáo dục Bắc Kinh, tôi chỉ là cán bộ bậc trung, tôi tự nhủ trong công tác mình không có sai lầm về đường lối nên vẫn rất thản nhiên. Tháng Ba năm 1967, sau cái gọi là sự kiện "61 tên phản bội" bị bộc lộ, toàn quốc nổi lên một phong trào hung mãnh "bắt phản bội, tóm gián điệp" (đặc vụ). Rất nhiều các đồng chí trước giải phóng đã bị bọn phản động Quốc dân đảng bắt giam cho đến các đồng chí hoạt động bí mật trong lòng địch, nếu không bị coi là phản bội thì cũng bị bôi nhọ là gián điệp (đặc vụ). Có một thời, ở hai bên các đường phố chính của Bắc Kinh hoặc trên tường một số nhà cao tầng đều vẽ đầy các dòng chữ lớn "Vạch mặt tên phản bội...", "Đào bật tên đặc vụ của Quốc dân đảng... đã chui sâu vào hàng ngũ cách mạng”. Năm 1935, tôi đã bị bắt ở Bắc Bình cho nên cũng không tránh khỏi tai ương này. Sau mưa thu lất phất, gió thu hiu hiu thổi, đường Vạn Lý lá rụng bay xào xạc. Một đêm, ở trên tường nhà trụ sở của Sở Giáo dục Bắc Kinh ở Lục Bộ Khẩu, đường Trường An; ở hai bên cửa của tòa nhà lớn Bắc Kinh Điện Báo; ở trên panô quảng cáo của Viện Điện ảnh thủ đô, xuất hiện biểu ngữ lớn đập vào mắt người xem "Đả đảo tên đại phản bội Trần Kiếm Qua”. Tôi chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao thì phái tạo phản ở Vụ Giáo dục mẫu giáo đã tuyên bố tôi bị cách ly để thẩm vấn, đeo cho tôi cái tội danh gọi là "Tội phạm có lịch sử phản bội". Tôi nghiêm chỉnh nói với phái tạo phản, tôi tuy đã có bị bắt nhưng không phải là kẻ phản bội. Trước hết, khi bị bắt, tôi chưa phải là đảng viên Cộng sản, sau khi bị bắt không bán rẻ đồng chí, và tôi cũng không chịu viết bản tự thú. Phái tạo phản hung hăng nói: “Trần Kiếm Qua, đừng có dẻo mồm nói láo, tài liệu có liên quan về việc mày bị giam ở nhà lao Quốc dân đảng, chúng tao đã tra xét trong hồ sơ lưu trữ của địch, Ngụy của Sở Công an thành phố. Mày còn dám không nói thật!" Tôi giận điên người lên đáp lại họ: "Các người đã tra cứu hồ sơ lúc tôi bị bắt thế thì tốt quá rồi? Thế các người có thấy tài liệu nào về việc Trần Ngọc Anh khai báo bán rẻ đồng chí và có bản tự thú không?" Phái tạo phản về lý lẽ bị đẩy đến chân tường, song vẫn cứ khăng khăng: "Khi bị bắt, mày đã nhận tham gia "Xã Liên", đấy là hành vi tự thú rồi!" Số người trẻ tuổi ấy chẳng hiểu gì về giai đoạn lịch sử đó cũng không cần nghe giải thích, không cho bào chữa, tôi bị đẩy vào loại người "phản bội, đặc vụ, hắc bang, phái đi con đường tư bản chủ nghĩa". Sau khi bị liệt thành "phản bội", tôi thường bị lôi đi phê, đấu. Trong Sở Giáo dục, bị phê đấu nhiều nhất là Giám đốc sở Khổng Quốc Lương. Bình thường ông là người dám nghĩ, dám làm, dũng cảm phê bình, lại là người lãnh đạo cao nhất của Sở Giáo dục, cứ theo luận điểm thời đó là phái đương quyền tối cao trong Sở bị phê, bị đấu là lẽ đương nhiên. Phái tạo phản có lúc dẫn ông vào thành phố phê đấu, có lúc lại kéo về khu. Giám đốc Khổng bị kéo đi đâu thì tôi cũng bị kéo thẹo đến đấy để "bồi đấu” (đấu thêm). Trong hội phê đấu quần chúng của hệ thống giáo dục mẫu giáo của Bắc Kinh thì tôi lại là người bị đấu chính, lãnh đạo sở lại là "bồi đấu”. Tội phạm chủ yếu của tôi bị quy ngoài vấn đề phản bội ra, phái tạo phản còn phê bình tôi sa vào đường lối giáo dục của "chủ nghĩa xét lại". Vì trong Hội nghị viện trưởng các viện mẫu giáo Bắc Kinh tôi đã từng phát biểu, trong giáo dục các cháu mẫu giáo còn quá bé, chẳng hiểu đấu tranh giai cấp là cái gì cả, không nên nêu các yêu cầu không sát thực tế với các cháu, nên quán triệt phương châm giáo dục của Đảng: trong vườn mẫu giáo thể dục là hàng đầu. Cần phát triển toàn diện đức, trí, thể. Phái tạo phản cho tôi là mạt sát đấu tranh giai cấp, đem các bông hoa của Tổ quốc bồi dưỡng thành mầm mống của chủ nghĩa xét lại. Đối với người khác, tôi giữ thái độ "thực sự cầu thị" để phản ánh, không chịu theo sự hoạch định của phái tạo phản để cung cấp các chứng cớ giả vu oan cho các đồng chí cũ khác, tôi bị chụp mũ là "thái độ không tốt", "không thật thà". Vì không theo ý đồ của phái tạo phản là tố cáo lãnh đạo sở, tôi lại thêm một tội nữa là "phái bao che cho bọn đi con đường tư bản". Khi phái tạo phản phê đấu tôi, tôi kiên trì chỉ cúi đầu không khom lưng. Trong một lần họp mặt phê đấu, một kẻ trong phái tạo phản chủ tọa thấy tôi không chịu khom lưng, hầm hầm đi xuống đấm tôi một cái thật mạnh. Vì không chuẩn bị tinh thần trước, tôi ngã nhào xuống sàn. Tôi lồm cồm bò dậy song vẫn chỉ cúi đầu, không khom lưng. Tôi nghĩ mình không phải là kẻ phản bội, cũng không phải là "phần tử tam phản". Trong công tác, tôi hoàn toàn chấp hành nghị quyết và quyết định của Đảng, quán triệt đường lối giáo dục của Đảng. Tại sao lại phê, đấu tôi? Lại bắt tôi phải khom lưng như phạm nhân? Tôi rất giận, kiên quyết không phục tùng, vì cả đời tôi, lưng tôi lúc nào cũng thẳng. Lúc đầu, trong cuộc vận động này, thấy các hành động quá trớn của một số người, tôi còn coi như có thể lý giải được nhưng qua một thời gian sau, có nhiều đồng chí lãnh đạo bị đấu đến bị thương, bị chết, thậm chí chết thảm thương, tôi cảm thấy rằng mục đích của cuộc vận động này là đối với người không phải đối với công việc, là chỉnh người chứ không phải chỉnh đốn tư tưởng, do đó sinh ra bất mãn và chống lại. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:15:20 pm Tháng Mười một năm 1968, Sở Giáo dục Bắc Kinh bị quân quản. Tôi và cán bộ, công nhân, viên chức của Sở Giáo dục Bắc Kinh bị đưa đi đến Sông Sa, huyện Xương Bình, Bắc Kinh để tiến hành "Đại học lao động” đấu, phê, cải, sau đó lại bị tập trung về Trường Đảng vào "Ban Học tập". Suốt mười bốn năm dài, tôi bị tước đoạt quyền lợi được làm việc cho Đảng. Khi nhìn thấy các đồng chí khác bận rộn công tác còn mình ngồi không trong lòng không yên nổi. Trong lúc đang thời "niên phú lực cường” mà bị mất đi cơ hội được làm việc, không được cống hiến cho dân, tôi cảm thấy đau lòng vô hạn.
Tháng 1 năm 1980, do tổ chức Thành ủy trực tiếp bố trí, tôi được khôi phục lại công tác và được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bắc Kinh. Cũng không ngờ tới, một người đã sáu mươi sáu tuổi như tôi lại tiếp tục trở về công tác. Đó là sự coi trọng công tác giáo dục mẫu giáo, cũng là tín nhiệm tôi. Tôi vô cùng cảm ơn tổ chức Đảng đã chú ý tới mình. Sau khi bước lên cương vị lãnh đạo Sở Giáo dục Bắc Kinh rồi cần phải đối xừ ra sao với những đồng chí đã đấu mình trong "Cách mạng văn hóa"? Đó là một sự khảo nghiệm đồi với tôi về trình độ tư tưởng và đức độ. Một Viện trưởng Viện Mẫu giáo cũng bị phê đấu với tôi đã hỏi: "Giám đốc Trần, chị có hận những người đã đấu chúng ta không?" Tôi trả lời: "Không hận." Chị ta nói: "Tôi thì tôi hận." Thấy tôi nhíu lông mày, chị ta liền giải thích nói: "Giám đốc Trần, tôi vốn không tính toán chuyện ân oán cá nhân, chỉ cảm thấy một số người thật đáng hận. Bọn họ vì để tỏ ra mình là cách mạng, không đếm xỉa lương tâm làm hại người khác". Tôi nhẫn nại nói cho chị hiểu trong hệ thống giáo dục mẫu giáo của chúng ta, số người trẻ tuổi nhiều, thiếu kinh nghiệm đấu tranh chính trị, trong điều kiện lịch sử như "Cách mạng văn hóa", một số người bị kích động biểu hiện thiên lệch, thậm chí làm một số việc không cần làm, nhưng có thể lý giải được. Cần phải tính sổ với "bè lũ bốn tên". Làm các việc đáng tiếc đó, tuyệt đại đa số là mơ hồ, đương nhiên cá biệt, phẩm chất không tốt vì tư thù, nhìn cho rõ là được. Dù bất cứ lúc nào cũng phải tin vào đại đa số quần chúng, không thể đem các tật bệnh của cuộc vận động chính trị đổ trách nhiệm lên đầu quần chúng, không thể trách cứ quần chúng, càng không thể vứt bỏ quan điểm quần chúng. Đó là một điểm thể hội của riêng tôi sau khi Cách mạng văn hóa kết thúc. Hệ thống giáo dục mẫu giáo của Bắc Kinh qua cơn đại loạn trở lại bình thường, các mặt công tác dần ổn định rồi tiến lên. Tôi lại nhiệt tình sôi nổi lao vào sự nghiệp giáo dục mẫu giáo mà tôi hằng yêu thích, vui vẻ tiếp xúc với các đồng chí chung quanh, cùng họ tiếp tục công tác nghiên cứu. Tôi biết mình đã sáu mươi sáu tuổi, thời gian trên cương vỉ công tác không còn dài, trong lòng chỉ có một điều tâm nguyện: nhất định phải bù đắp cho thời gian đã mất. Các đồng chí trong Vụ Giáo dục mẫu giáo do tôi phụ trách cho rằng việc đầu tiên phải nắm là đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ giáo dục mẫu giáo nên đã soạn ra "Quy phạm về đạo đức nghề nghiệp của nhân viên công tác giáo dục mẫu giáo Bắc Kinh" (dự thảo) và đề cao trình độ dạy học chỉnh thể của hệ thống giáo dục mẫu giáo. Chúng tôi tổ chức biên soạn "Đại cương và tài liệu giáo khoa về dạy và học của Vườn mẫu giáo Bắc Kinh" (thực hành), mở các loại hình hội nghị trao đổi kinh nghiệm, sáng lập ra nguyệt san chuyên nghiệp mẫu giáo, phát hành trên phạm vi cả nước như "Thông tin về dạy trẻ nhỏ" sau đổi tên là "Dạy trẻ trước tuổi đến trường”. Khi thấy các khu (huyện) xa ở ngoại thành Bắc Kinh thiếu giáo viên mẫu giáo nghiêm trọng, số đang dạy thì trình độ vô cùng lạc hậu đã hạn chế rất lớn, tôi kiến nghị ngay với lãnh đạo có liên quan và lên tiếng tại các cuộc hội nghị của sở, vụ. Đề nghị của tôi được phê chuẩn, Trường Sư phạm mẫu giáo số 2 Bắc Kinh được thành lập tại Thạch Cảnh Sơn. Để cho các cháu có thể phát triển, trở nên hoạt bát, sinh động, trong Hội nghị Tổ chức Đảng của sở, tôi đã nỗ lực trình bày, thuyết phục và cuối cùng cũng tranh thủ được một tài khoản hai trăm nghìn nhân dân tệ để cấp cho các vườn, trường mẫu giáo sắm thêm các đồ chơi lớn, các dụng cụ văn nghệ, thể dục. Sau khi "Hội nghiên cứu dạy trẻ trước tuổi đến trường" được thành lập, tôi đảm nhiệm hội trưởng, đã tích cực tổ chức các công việc đi trước một bước như nghiên cứu khoa học giáo dục mẫu giáo, giao lưu học thuật, bồi dưỡng giáo sư... Cứ như vậy, tôi và các đồng chí cùng công tác trên mặt trận giáo dục mẫu giáo đã khẩn trương công tác suốt bốn năm liền. Tháng 12 năm 1983, tôi đã xấp xỉ tuổi bảy mươi. Để bồi dưỡng lực lượng mới trên mặt trận giáo dục mẫu giáo, tôi chính thức làm thủ tục nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu, tôi vẫn phát huy nhiệt tình và sức khỏe còn lại đảm nhiệm các chức vụ danh dự trong "Hội nghiên cứu dạy trẻ trước tuổi đến trường Bắc Kinh” và "Hiệp hội Giáo dục mẫu giáo Bắc Kinh". Hôm nay, trước ngày giao thời hai thế kỷ, tôi đã chiến đấu và công tác trên mặt trận giáo dục mẫu giáo, dưới sự lãnh đạo của Đảng vừa tròn năm mươi ba năm. Năm 1947, trên đường hành quân từ Diên An đi Tấn Đông Nam, tôi được Đảng xếp về công tác tại Trường Mầm non số hai Diên An, khởi đầu cho việc dấn đời mình vào công tác giáo dục mẫu giáo, từ đó, tôi đã kết thành duyên nợ không thể dứt ra được với nó. Dù trong sáu mươi sáu năm công tác cách mạng, tôi đã bị rất nhiều đả kích lớn, mất con gái yêu quý, mất đi người chồng yêu thương, bị chỉnh oan trong mấy cuộc vận động chính trị, nhưng trong cuộc đời gian truân vất vả, tôi trước sau vẫn coi sự nghiệp là lẽ sống chủ yếu của mình và là niềm vui lớn nhất trong cuộc sống. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:17:05 pm Tôi và Hồng Thủy cùng hai con được ghi vào sách "Ghi chép về các nhân vật đương đại huyện Ngũ Đài”, trong đó chỉ có Hồng Thủy không có hộ tịch, quê quán ở đó mà còn là người ngoại quốc.
Năm 1983, tôi chính thức làm thủ tục nghỉ hưu. Theo quy định, cán bộ lão thành được đảm bảo mọi mặt để về thăm quê một lần. Tôi đã ở sát tuổi "cổ lai hy” nhưng còn khỏe mạnh, đi lại dễ dàng. Mùa hè năm 1984, tranh thủ kỳ nghỉ hè của Tiểu Việt, tôi quyết định về thăm quê nhà. Dải đất màu vàng đó đã thu hút tôi ghê gớm, không chỉ vì đó là quê hương tôi, mà quan trọng nữa là ở đó còn lưu lại dấu tích chiến đấu của Hồng Thủy. Trong thời gian lưu lại ở thành phố Thái Nguyên, chúng tôi đi thăm đền Tấn. Nhớ lại mùa hè năm 1934, khi các học sinh của khóa mười sáu Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên của chúng tôi tốt nghiệp ra trường, nhà trường đã tổ chức cho chúng tôi đi tham quan đền Tấn. Chúng tôi đang còn là những thiếu nữ thanh xuân. Trong cảnh núi non đẹp như tranh vẽ, bên bờ suối nước trong veo, vườn cây xanh tươi, có cầu vắt ngang xem cá nhảy, bọn chúng tôi ước mơ về tương lai, bàn bạc với nhau về lý tưởng của mình. Vài đứa nghịch ngợm còn bò ra đài soi mình dưới nước làm điệu bộ soi gương khiến cho mọi người phì cười. Thế nhưng, chỉ có mấy tháng ngắn ngủi sau đó, số mệnh của rất nhiều người chúng tôi đã có sự thay đổi lớn. Có người trở thành những nhà cách mạng kiên định, có người lại chống lại cách mạng. Tôi ngắm nhìn kỹ lưỡng từng nơi quen thuộc cũ ở dền Tấn. Năm mươi năm đau thương biến đổi ghê gớm chỉ thoáng như một cái vẫy tay? Đền Tấn vẫn đẹp như xưa còn tôi đã thành một bà già tóc bạc, bất giác tôi thấy cảm xúc trong người bâng khuâng vô hạn. Số phận mỗi cá nhân chúng ta đều gắn chặt với số phận quốc gia, dân tộc bất cứ ai, dù năng lực như thế nào cũng phải đi theo trào lưu tiến bộ của xã hội, nếu không sẽ bị lịch sử đào thải. Sau khi thăm nhà kỷ niệm liệt sĩ Lưu Hồ Lan và xưởng rượu thôn Hạnh Hoa, huyện Phần Dương, Sơn Tây, chúng tôi quay về Ngũ Đài. Thật vừa may, Tiểu Phong cũng cần đi Tấn Đông Bắc có việc nên có thể cùng đi với chúng tôi. Thật là một cơ hội hiếm có. Cả nhà chúng tôi cùng nhau đi trên con đường về cố hương. Lần này về Ngũ Đài, tôi có ý định muốn cho hai con tôi hiểu rõ quá trình chiến đấu của cha chúng - Hồng Thủy - tại huyện Ngũ Đài. Tôi muốn nói cho các con biết cha chúng, một người ngoại quốc, đã đổ xương máu, mồ hôi trên mảnh đất màu vàng này, đã đem toàn bộ tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc. Sau khi xem phong cảnh khu núi non của Ngũ Đài Sơn, trên đường quay về Thái Nguyên, chúng tôi ghé thăm quê cũ. Qua mỗi một nơi Hồng Thủy đã từng công tác tôi đều bảo lái xe dừng lại, dẫn Tiểu Phong và Tiểu Việt đi xem, để cho chúng hiểu được hoàn cảnh công tác của cha chúng: Hồng Thủy. Tôi kể lại tỉ mỉ diễn biến các chuyện xảy ra ở từng nơi. Tôi đặc biệt dẫn các con về thăm chùa Trấn Hải. Năm đó khi còn công tác ở Cục Chính trị quân khu Tấn-sát- Ký, Hồng Thủy đã đóng ở đó. Chùa Trấn Hải ở nam trấn Đài Hoài, cách Ngũ Đài Sơn khoảng năm km, trên một eo núi hẹp giữa hai núi cao, rừng bách cổ thụ xanh rì, hoa núi đầy nương, bên chùa có dòng suối trong róc rách, phong cảnh thật tuyệt vời. Tôi nói với các con: "Năm 1938, mẹ và ba con kết hôn xong đã không có một chỗ ở cố định, cứ như một đôi chim uyên ương không có tổ. Trong khoảng thời gian mẹ công tác tại Hội Phụ nữ cứu vong huyện, ba các con ở chùa Trấn Hải. Mẹ thường tranh thủ có dịp qua đây mới ghé vào thăm ba con được. "Điều kiện sinh hoạt ở biên khu Tấn-Sát-Ký rất gian khổ song ba con vẫn rất vui vẻ, hay cười đùa, thích nói tếu. Gặp lúc rỗi, cha mẹ thường dắt tay nhau xuống núi đi dạo ven núi hay trên cánh đồng, ngắm cảnh, thở hít không khí trong lành. "Có vợ một đồng chí lãnh đạo rất khoái được như cha mẹ về nói với chồng: nhìn nhà Hồng Thủy sao mà vui thế, dắt tay vợ đi chơi khắp nơi. Vào thời đó, các đồng chí lãnh đạo chưa dám công khai dắt tay vợ đi chơi. Ba ở Việt Nam, chịu ảnh hưởng văn hóa châu Âu tương đối lớn nên về phương diện này rất lãng mạn, thoải mái”. Câu chuyện của tôi được bắt đầu từ chùa Trấn Hải. Xe ô tô chạy về thôn Tùng Nham Khẩu, cách huyện lỵ Ngũ Đài khoảng bốn mươi nhăm km. Chúng tôi dừng lại chỗ xưa là địa chỉ "Bệnh viện kiểu mẫu” mà bác sĩ Bation từng công tác. Bệnh viện này được phục chế lại năm 1974. Giữa viện có một bảo tháp cao khoảng ba thét rưỡi, có dựng tượng Bation, chính diện khắc bài văn "Kỷ niệm Bation” của Mao Chủ tịch, còn ba mặt có lời đề của Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Bạc Nhất Ba. Thời đó, trong quá trình phục vụ quân dân Trung Quốc kháng Nhật, bác sĩ Bation đã tự đề xướng, thiết kế, thi công bệnh viện, đem sửa lại một tòa miếu Long vương thành phòng mổ, phòng vô trùng, phòng y vụ của bệnh viện ngoại khoa chửa chạy cho thương binh ở chiến trường, bồi dưỡng cán bộ y tịch biên khu Tấn-Sát-Ký, phát huy được tác dụng rất lớn. Tất cả những chuyện xa xôi đó, nay lại như hiện ra trước mắt tôi. Tôi nói với các con: "Bác sĩ Bation từ Diên An về đến tiền tuyến Tấn-Sát-Ký đầu tiên tới Tùng Nham Khẩu. Lúc đó bệnh viện dã chiến chưa được thành lập. Trong điều kiện cực kỳ thiếu thốn, sơ sài, bác sĩ Bation đã mổ cho ba con. Tại đây hai chiến sĩ quốc tế đó đã trở thành bạn thân của nhau”. Xe phóng như bay trên đường lớn. Hai hàng dương cao vút bên đường loang loáng qua mắt chúng tôi. Bốn mươi nhăm năm trước, khi tôi xuống trấn Đài Hoài để giúp đỡ địa phương công tác thì đây còn là một cánh đồng hoang vắng, chỉ có một con đường mòn, nay đã thành đường lớn. Sự thay đổi thật quá lớn. Về tới trấn Đông Dã càng gần, lòng tôi càng bồi hồi xúc động. Xa chương biền biết ba mươi sáu năm, hôm nay tôi mới dẫn được con cái trở về thăm. Xe tiến vào trấn Đông Dã, leo lên dốc nhà họ Trần. Một lũ trẻ làng đã vây kín chung quanh. Chúng líu lo cất giọng Sơn Tây hỏi chúng tôi muốn tìm nhà ai. Nghe giọng nói quê hương từ lâu không được nghe, tôi rất cảm động. Đúng là về tới nhà rồi. Lần về thăm quê này, tôi chưa báo trước cho gia đình biết. Lũ trẻ nhiệt tình khi biết chúng tôi về ngõ nhà họ Trần đã tranh nhau phóng lên trước báo tin. Chỉ một lát sau, chị dâu thứ hai, em trai thứ ba, em gái và các con cái họ đã ùa ra như ong vỡ tổ đón chúng tôi vào nhà. Các bà con họ hàng ở xa nghe tin tôi về cũng lũ lượt đến thăm. Tuy điều kiện sinh hoạt của bà con thân thuộc thời đó còn rất khó khăn nhưng đã mang những thứ ngon nhất của gia đình đến để chim.u đãi người thân ở xa về. Thời kỳ đầu cải cách mở cửa, nông thôn Ngũ Đài chưa có thay đổi gì lớn. Phố buôn bán trung tâm của trấn Đông Dã vẫn là một con đường hẹp lát bằng đá củ đậu. Nhà cửa của ngõ họ Trần vẫn cũ kỹ như xưa. Mọi thứ ở quê hương, tôi đều rất quen, chỉ có nhiều người tôi không biết mặt, biết tên. Chẳng phải là một loáng mà đã hơn ba mươi năm. Sáng sớm ngày thứ hai ở quê, tôi dẫn Tiểu Phong, Tiểu Việt xuống dốc họ Trần, thuận theo phố chính về hướng tây. Tôi chỉ cho các con xem những nơi tôi đã quá quen thuộc như công quán Dương ái Nguyên, tiểu học Đà Dương, sân khấu lớn, miếu Văn Xương... tiếp sau đó ở mỗi nơi đều kể lại một cách chân thực các sự kiện xảy ra tại đó. Các con tôi hết sức chăm chú lắng nghe. Chúng vô cùng sùng kính cha mình, đem hết sức ra ghi nhớ, ghi nhớ kỹ. Chúng sẽ đem các câu chuyện truyền kỳ trong sinh hoạt và chiến đấu trên dải đất màu vàng này của lưỡng quốc tướng quân Hồng Thủy để kể lại cho bạn bè chúng và cho cả đời sau. Khi tôi bịn rịn chia tay dải đất quê hương nơi tôi cùng Hồng Thủy kề vai sát cánh chiến đấu và tình yêu của chúng tôi đơm hoa kết trái, trong lòng tôi thấy nhớ thương da diết, vì có thể đây là lần cuối tôi về thăm được cố hương. Tháng Chín năm 1997, cuốn sách nhan đề Ghi chép về những nhân vật đương đại huyện Ngũ Đài xuất bản. Sách ghi lại tên của hơn một ngàn người quê gốc ở huyện Ngũ Đài thời qua đã là các nhà cách mạng, các chuyên gia, học giả, các nhân sĩ nổi danh. Tên của tôi và Hồng Thủy cùng hai con đã được ghi lại trong Ghi chép về những nhân vật đương đại huyện Ngũ Đài, dưới tên mỗi người đều có một đoạn tiểu sử. Trong hơn một ngàn nhân vật đương đại đó chỉ có mình Hồng Thủy là không phải quê gốc ở Ngũ Đài mà là một người ngoại quốc. Nhân dân anh hùng của Ngũ Đài đã không hề quên người chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa đã quên mình chiến đấu và công tác trên dải hoàng thổ này: người đó là Hồng Thủy. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:20:56 pm Công tác mà các con tôi làm đều là những công việc rất bình thường, không có địa vị gì nổi bật, cũng không có thu hoạch giàu có gì. Chúng tôi đã tự dựa vào sức mình, nỗ lực gian khổ để tiến lên dần từng bước.
Hồng Thủy chỉ sống vẻn vẹn bốn mươi tám năm, song đã công tác ở Trung Quốc hai mươi bảy năm ròng. Trong việc sáng lập và xây dựng tình hữu nghị chiến đấu cách mạng giữa hai Đảng, hai nước, hai quân đội, Hồng Thủy đã có những cống hiến thật lớn lao. Về tác dụng lịch sử của Hồng Thủy, hai nước Trung - Việt đều công nhận và đã trải qua khảo nghiệm của lịch sử. Các việc Hồng Thủy làm cho Đảng, cho nước, cho quân đội trước đây đều thuộc về bí mật của Đảng, bí mật quân sự không tiện tuyên truyền công khai. Cho đến giữa những năm 80, những bài báo, những tác phẩm văn học liên quan đến "Lưỡng quốc tướng quân" Hồng Thủy và viết về cuộc hôn nhân của tôi với một người nước ngoài mới đăng trên các sách, tạp chí như: Nhân vật, Trung Quốc nhi nữ, Tư âm, Tác giả Văn trích, Viêm Hoàng Xuân Thu, Các tướng soái khai quốc và các con của họ. Mọi người rất thông cảm, lại đặt ra nhiều vấn đề để hỏi. Không ít người hỏi tôi: "Chị Trần, cả cuộc đời chị cực khổ cũng lắm, bị đả kích rất nặng. Theo chị, điều gì là điều an ủi lớn nhất đối với chị?" Tôi đã trả lời mọi người rất rõ ràng: "Đối với tôi, điều an ủi lớn nhất là hai con tôi đều mạnh khỏe, trưởng thành nên người, nỗ lực làm việc vì dân. Chúng đều trung thực, chính phái và có một gia đình vui vẻ, hạnh phúc". Trong cuộc chiến tranh cách mạng trường kỳ, tôi bị mất liên lạc với gia đình. Chỉ mãi khi Trường Mầm non số hai hành quân đi đến Bình Định, Sơn Tây, tôi mới tranh thủ thời gian về thăm qua nhà. Cha tôi đang công tác ở tỉnh ngoài nên cha con tôi không được gặp nhau. Vì có quân lính của Diêm Tích Sơn lùng sục, tôi chỉ ở nhà được ba ngày rồi lại vội vội vàng vàng rời đi ngay. Sau khi giải phóng có địa chỉ cố định, tôi và cha tôi mới có dịp thư từ qua lại, tôi mới biết được tình hình ở nhà. Việc làm tôi đau lòng nhất là em gái Ngọc Lâm tự sát. Khi mẹ tôi mất Ngọc Lâm còn rất bé. Sau khi cha tôi cưới vợ và mẹ kế lại sinh thêm một con gái, bà không cho Ngọc Lâm đi học, bắt ở nhà bế em. Từ rất bé, em đã cảm thấy cuộc đời đơn bạc nên tính cách dần dần trở nên yếu đuối, tự ti và ưu tư. Sau khi lấy chồng sinh được một con trai thì bị bà mẹ chồng mê tín, không cho chồng được nhập phòng thăm vợ nữa. Thế là em gái tôi uất ức lấy dao sắc cắt cổ, sớm lìa khỏi cuộc đời. Tình hình khác của trong nhà cũng không tốt, anh hai tôi buôn bán nhỏ ở trấn Đông Dã, em trai thứ ba của tôi làm phu hồ ở Thái Nguyên, sau đó đều thất nghiệp. Chỉ còn em trai thứ tư của tôi công tác tại Cục Đường bộ tỉnh Sơn Tây. Cha tôi tuổi ngày một già, lại ốm đau luôn, phải dựa vào bà mẹ kế làm ruộng rẫy để sống. Trừ em trai thứ tư ra, sinh hoạt của mọi người trong gia đình đều khó khăn. Tình cảm của tôi với cha tôi rất sâu nặng, không lời nào tả xiết. Nghĩ lại, xã hội cũ đã đem đến cho gia đình tôi biết bao bất hạnh và đau thương, nhà tan, người mất, tôi thấy mình có trách nhiệm phải giúp gia đình giải quyết khó khăn. Thế nhưng trước năm 1955, nước nhà thực hiện chế độ cung cấp. Tất cả các vật dụng sinh hoạt đều do nhà nước cấp phát, chỉ còn rất ít tiền tiêu vặt. Tiền tiêu vặt lúc đó nếu có gửi giúp gia đình thì cũng chỉ như muối bỏ bể. Từ năm 1955, thực hiện chế độ tiền lương, dù lương tôi cũng không cao, song tôi cũng hết sức dè sẻn phần mình, mỗi tháng gửi cho cha tôi và em trai thứ ba hai phần ba số lương của mình để đỡ đần họ, về sau lại thêm anh thứ hai của tôi nữa. Số tiền còn lại tôi dùng vào sinh hoạt của ba mẹ con và mua sắm lặt vặt cho các cháu. Khi các con tôi đã biết, thấy các bạn học có bút máy, kèn ácmônica, có vợt bóng bàn thì rất thích, về hỏi tôi có thể mua cho chúng được không. Vì gánh nặng giúp đỡ cho gia đình ở Sơn Tây rất lớn, tôi không thể đáp ứng yêu cầu của các cháu được. Tôi thường nói với các con: "Ông ngoại con và các cậu ở nông thôn sinh hoạt rất khó khăn, ăn không đủ no. Chúng ta chịu khó sống eo hẹp một chút, đem tiền tiết kiệm được gửi giúp họ, mọi người sẽ không bị đói. Ba và mẹ tham gia cách mạng cũng là vì muốn mọi người sống tốt hơn, ai cũng có cơm ăn”. Qua lời tôi nói, tuy các cháu cũng không thích lắm song không nói gì nữa. Thực ra, sinh hoạt của riêng tôi phải hết sức tiết kiệm, rất ít mua thêm quần áo, ăn uống cũng rất đơn giản, trong nhà chỉ mua các món ăn loại hai thậm chí loại ba. Rau cải trắng mua về thường mọi người cắt vứt cuộng khá nhiều, tôi thì lấy rửa sạch, chẻ ra, cắt nhỏ, xào, muối để ăn. Tôi cố gắng dè sẻn thêm để có thể giúp gia đình ở Sơn Tây giải quyết phần nào khó khăn về sinh hoạt, đó là điều tôi luôn tâm niệm là cần thiết. Mãi cho tới khi thời Cách mạng văn hóa, lương của tôi bị cắt thì việc gửi tiền giúp gia đình mới dừng lại. Về sinh hoạt, tôi yêu cầu các con rất nghiêm, không được lãng phí bất cứ thứ gì. ở nhà chúng tôi hiện nay vẫn dùng các đồ đạc do Sở Giáo dục Bắc Kinh cấp cho từ những năm 50. Trong nhà, phàm thứ gì có thể sửa chữa dùng lại thì các con tôi đều tự sửa. Tôi cho rằng chịu được khổ là một đức tính tốt. Đặc biệt với các cháu đang tuổi thiếu niên thì để cho chúng chịu khổ một chút không phải là hà khắc mà là tài sản tinh thần cho chúng. Tôi cho rằng, mọi sự đều có tính hai mặt, điều kiện gian khổ quyết không phải là việc đáng tiếc. Nếu bọn trẻ không biết thế nào là khổ thì cũng không biết cần phải phấn đấu để phát triển. "Hàn gia xuất quý tử“ câu nói cổ đó không phải là không có lý. Nghĩ đến sự sa sút của dòng họ Trần của tôi là một ví dụ rõ nhất. Các ông tôi, chú bác tôi đều ăn không ngồi rồi, kết quả là miệng ăn núi lở. Họ Trần hiển hách một thời chẳng bao lâu đã sa sút, bại vong. Tôi là một người công tác giáo dục càng đặc biệt chú trọng giáo dục phẩm đức, tư tưởng, bồi dưỡng tác phong gian khổ phấn đấu cho các con. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:21:50 pm Hai con trai tôi đều thông minh, hiếu học, có phẩm dực tốt. Tiểu Phong và Tiểu Việt đều tốt nghiệp ở Trường Trung học số 4 Bắc Kinh. Năm 1963, Tiểu Phong thi đỗ vào Đại học Bắc Kinh. Sau khi tôi gặp hàng loạt những đòn đả kích bất hạnh thì chúng là những niềm an ủi lớn nhất của tôi.
Sau khi Hồng Thủy rời Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc rất chiếu cố đến hai con ông ở Trung Quốc. Tiểu Phong và Tiểu Việt đều được Chính phủ Trung Quốc cho hưởng trợ cấp của con liệt sĩ, mỗi cháu được hai mươi đồng nhân dân tệ mỗi tháng. Trước khi có "Cách mạng văn hóa”, Tiểu Việt đã tròn mười tám tuổi, đã là người trưởng thành. Tôi chủ động báo cáo lên tổ chức đề nghị thôi trợ cấp cho các con tôi. Bước vào "Cách mạng văn hóa", tôi bị phái tạo phản phê đấu, hưởng trọn mọi sự giày vò hành hạ. Lương của tôi mỗi tháng hơn một trăm đồng bị cắt, chỉ cấp cho tôi sinh hoạt phí cơ bản mười tám đồng tệ. Nguồn nuôi sống của các con tôi không có bảo đảm. Tiểu Phong lúc đó đương ở đại học, biết tôi rất gian nan, một đứa con trai mới trên hai mươi tuổi đầu đã không dám xin tôi về sinh hoạt phí. Bạn đồng học của cháu, Lâm Song Song, đã sẵn sàng vô tư giúp đỡ. Lâm Song Song là con gái thứ hai của Lâm Phong, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Năm 1963, cháu Lâm cùng vào học Đại học Bắc Kinh với Tiểu Phong, Tiểu Phong học hệ triết học, Song Song học hệ hóa học. Cả hai đều ham mê thể dục, thể thao, hai anh chị thanh niên trẻ tuổi đã quen biết nhau bên một bờ hồ chưa có tên. Tiểu Phong ở trong đội bóng bàn của trường. Song Song ở trong đội bơi lội. ở Trường Đại học Bắc Kinh, thành viên các đội tuyển thể thao của nhà trường ăn riêng một bếp. Một người là học sinh giỏi của Trường Trung học số 4, một người là một nữ sinh nổi tiếng ở Trường Sư phạm nữ Bắc Kinh, "tình duyên" trời se khiến cho chúng thân nhau không rời. Buổi đầu “Cách mạng văn hóa" cha mẹ của Song Song bị vây chặt và bị tống giam vào nhà ngục Thái Thành. Song Song thành con gái của "Hắc bang” (bè lũ đen tối). Trong những ngày Song Song bị thất lạc mẹ cha, bị mê muội, cô độc thì Tiểu Phong vẫn cứ đến trò chuyện cùng cô cùng nhau đánh cầu lông, bóng bàn và trở thành bạn cùng cảnh ngộ của cô. Đơn vị cũ của cha mẹ cô chỉ phát cho cô mỗi tháng hai mươi lăm đồng sinh hoạt phí. Khi Song Song biết hoàn cảnh của tôi rất đồng tình với Tiểu Phong. Cô mua phiếu ăn cho Tiểu Phong, giúp Phong cả tiền tiêu vặt. Cả hai chỉ dùng tiền sinh hoạt phí của Song Song, cứ thế qua hai năm cuối vất vả ở trường đại học. Cuối năm 1968, Tiểu Phong, Tiểu Việt đều ở dạng tốt nghiệp chờ phân công công tác. Vì vấn đề "phản bội" của tôi chưa được tổ chức kết luận, các con tôi cũng phải chịu ảnh hưởng. Tiểu Phong tốt nghiệp đại học triết, học xong không được dùng, bị phân về một xưởng phân hóa học của huyện Bình Định, tỉnh Sơn Tây. Tiểu Việt tốt nghiệp trung học, cùng với các bạn học, bị điều về đội lao động nông thôn ở huyện Văn Hỷ, tỉnh Sơn Tây để tiếp thu việc giáo dục lại của bần nông và trung nông lớp dưới. Khi các cháu rời Bắc Kinh tôi còn đang bị cách ly để thẩm tra, hội quân quản không đồng ý cho tôi đi tiễn chúng. Khi tốt nghiệp, Song Song do liên quan vì bố mẹ nên bị điều về công tác tại xưởng phân hóa học huyện Ngũ Đài tỉnh Sơn Tây. Năm 1970, Tiểu Phong và Song Song kết hôn. Chúng cùng về công tác ở xưởng phân hóa học huyện Bình Định, tỉnh Sơn Tây trong mấy năm. Tại xưởng phân hóa học huyện Bình Định, Tiểu Phong phải làm thợ lò, mãi đến sau Cách mạng văn hóa mới được điều về văn phòng xưởng làm Bí thư đoàn, sau đó về tổ biên soạn thuộc Văn phòng tỉnh ủy Sơn Tây. Lúc này cháu mới đổi tên là Trần Hàn Phong. Tiểu Phong và Song Song chỉ có một con gái lấy tên Trần Nguyễn Lăng. Cái tên này do bà nội Trần Kiếm Qua, ông nội Việt Nam là Nguyễn Sơn và ông ngoại Trung Quốc, Lâm Phong, ba họ ghép lại. Riêng họ Lâm và tên Lăng là đồng âm. Trần Nguyễn Lăng sinh năm 1971, năm 1992 tốt nghiệp đại học. Là thanh niên của thập kỷ 90, cháu có tình cảm, trách nhiệm với thời đại, rất thuần phác và cẩn trọng. Tiểu Việt khi tốt nghiệp trung học năm 1966 gặp thời "Cách mạng văn hóa" không thể học lên đại học. Năm 1972, vào học ở Học viện Sư phạm Bắc Kinh. Sau khi tốt nghiệp đã làm giảng viên ở học viện. Để mở rộng giao lưu kinh tế Trung - Việt, Tiểu Việt nay là Tổng Giám đốc Công ty tư vấn giao lưu và hợp tác quốc tế "Thăng Long” của Bắc Kinh. Vợ của Tiểu Việt là Lý Vân Khởi, nguyên là công nhân xưởng cán bông số 2 của Bắc Kinh, nay đã nghỉ hưu. Con trai của hai cháu là Trần Nguyễn Chinh cũng đã ra công tác. Các con tôi biết cả đời tôi gian nan lại còn bị nhiều đả kích. Không kể là con trai, con dâu, cháu nội trai, gái đối với tôi đều rất hiếu thuận, rất hiếm khi làm tôi bực mình. Đặc biệt là Tiểu Việt, sống chung cùng tôi. Mọi sinh hoạt của tôi đều được vợ chồng Tiểu Việt săn sóc chu đáo. Tuổi tôi mỗi ngày một cao, có lúc sinh bệnh, đi lại khó khăn. Tiểu Việt thường cõng tôi lên, xuống gác, dẫn tôi tới bệnh viện khám bệnh. Hàn Phong sau đó rời Sơn Tây về công tác tại Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Hàn Phong rất giống Hồng Thủy, ham học, thích viết văn. Cháu đã có một số bài bàn về xây dựng kinh tế của tỉnh Sơn Tây, luận văn về chế độ của Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và cùng một số đồng chí khác biên tập, tuyển chọn viết nên các luận văn như: "Tăng cường xây dựng chế độ Đại hội Đại biểu nhân dân trong thời kỳ cải cách", "Các bài nói về chế độ Đại hội Đại biểu nhân dân", "Trung Quốc quốc tình đại từ điển", "Sổ tay của công chức Trung Quốc", "Lịch sử pháp chế nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa", trong đó cuốn "Lịch sử pháp chế nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" đã được nhiều giải thưởng về sách báo ở Trung Quốc. Tên của Trần Hàn Phong còn được ghi trong cuốn "Trung Quốc chuyên gia đại từ điển" do Bộ Nhân sự quốc gia biên tập. Công tác mà các con tôi làm đều là những công việc rất bình thường, không có địa vị gì nổi bật, cũng không có thu hoạch giàu gì. Chúng đã tự dựa vào sức mình nỗ lực gian khổ để tiến lên từng bước một. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:24:08 pm PHẦN CUỐI Hồng Thủy rời khỏi thế gian này khá sớm để lại tám đứa con ruột thịt không cùng quốc tịch, không cùng họ. Trong bốn mươi hai năm dài, gió mây biến ảo, các anh em, chị em "tình đồng thủ túc" đã tìm kiếm, chờ đợi, không giờ phút nào không ước ao có một ngày được đoàn viên. Còn tôi, lần đầu tiên bước vào cửa nhà chồng đã là một bà già tám mươi tư tuổi. Trước mộ Hồng Thủy, lòng tôi lại trào dâng nỗi nhớ thương day dứt suốt nửa thế kỷ. Chương XIII NỖI NHỚ HỒNG HÀ Để hiểu rõ về cha mình, Tiểu Phong khi đang học trung học đã viết cho Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Trần Tử Bình, một lá thư. Việt Nam là Tổ quốc của Hồng Thủy và cũng là Tổ quốc thứ hai của các con Trung Quốc của ông. Gia đình chúng tôi có mối tình thân không thể gì chia cắt được với nhân dân Việt Nam. Năm 1962, sáu năm sau khi Hồng Thủy tạ thế, Tiểu Phong lúc đó đang học cấp ba ở Trường Trung học số 4 Bắc Kinh, để hiểu rõ hơn về người cha thân yêu của mình, Tiểu Phong đã viết một bức thư gửi đồng chí Trần Tử Bình, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Trần Tử Bình là bạn chiến đấu cũ của Hồng Thủy. Năm 1929, họ đã cùng đánh du kích ở Đông Giang, Quảng Đông. Lúc đó, Trần Tử Bình là đại đội trưởng đại đội 1, trung đoàn 46, quân đoàn Hồng quân 11, Hồng Thủy là chính trị viên đại đội. Đại sứ Trần Tử Bình rất phấn khởi đọc hết bức thư của Tiểu Phong. Ông tin chắc rằng cơ hội để nối lại mối liên hệ với các thân nhân Trung Quốc của Hồng Thủy đã đến. Đại sứ hẹn cháu Phong đến gặp mình tải Sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc. Đại sứ quán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Trung Quốc đặt tại khu sứ quán, đường Quang Hoa, ở vùng ven phía đông Bắc Kinh. Bước vào cổng sứ quán, ngước nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trên cao, lòng Tiểu Phong vô cùng xúc động. Dân tộc sinh ra cha mình là một dân tộc dũng cảm, kiên cường, đã có lịch sử quang vinh lâu đời chống ngoại xâm. Khi Tiểu Phong xuất hiện ở đại sảnh của sứ quán ở tầng một, Đại sứ Trần đã rất phấn khởi ra đón cháu, ngắm kỹ tử đầu đến chân, dùng hai tay nắn đôi vai chắc nịch của Tiểu Phong, vui vẻ thốt lên: "Giống cha cháu quá. Ôi đây là con trai Hồng Thủy!" Đại sứ Trần dắt tay cháu Phong cùng bước vào phòng khách. Trên bức tường chính diện của phòng khách có treo một tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Trên bức tường bên là một bức tranh thủy mặc lớn rất đẹp và sinh động, vẽ về phong cảnh và sinh hoạt của nhân dân Việt Nam. Bố trí của nhà khách vừa long trọng, vừa nhã nhặn, mang phong cách nước ngoài rất rõ. Tiểu Phong mơ màng như đang ở trên Tổ quốc của cha mình. Đại sứ Trần và cháu Phong cùng ngồi trên một chiếc đi-văng dài và trao đổi chuyện trò. "Cháu năm nay bao nhiêu tuổi rồi?” Đại sứ Trần hỏi. "Dạ, mười tám ạ." "Cha cháu lần đầu tới Trung Quốc mới mười sáu tuổi. Khi chúng ta cùng nhau chiến đấu, ông ấy rất dũng cảm. Lúc đó, người ông gày gày, trông rất đẹp trai." Đại sứ Trần nói một hồi bằng tiếng Trung Quốc, hai bác cháu nói với nhau không cần phiên dịch. Họ nói chuyện với nhau thân thiết, nhiệt tình, thoải mái không bị câu thúc. Đại sứ Trần hỏi han kỹ về tình hình gia đình chúng tôi, nói cho cháu Phong biết Bác Hồ cũng luôn luôn nhớ tới các thân nhân Trung Quốc của Hồng Thủy, đã dặn ông mấy lần là phải hên hệ với thân nhân của Hồng Thủy. Khi cuộc gặp mặt sắp kết thúc, Đại sử hỏi với vẻ rất quan tâm: "Tiểu Phong, bác có thể giúp cháu liên hệ với thân nhân Việt Nam". Tiểu Phong thắc mắc hỏi: "Gia đình cháu ở Việt Nam còn những ai?" Đại sứ Trần nói cho Tiểu Phong biết ở Việt Nam cháu còn một bà mẹ Việt Nam rất dịu dàng, hiền hậu Lê Hằng Huân và sáu anh chị em cùng bố khác mẹ. Tiểu Phong nghe nói vậy mặt có vẻ buồn rầu. Đại sứ Trần trông thấy Tiểu Phong như được nhìn thấy con trai mình ở Việt Nam. Với thái độ thân tình như cha con, ông an ủi, động viên Tiểu Phong và đem việc tôi và Hồng Thủy phải chia tay, kể tóm tắt đại khái cho cháu nghe. "Tiểu Phong, cha của cháu là bạn chiến đấu của bác, bác rất hiểu ba cháu. Ba cháu là một người hiếm có được nhân dân hai nước Trung - Việt rất mực yêu mến. Mẹ của cháu cũng vậy, là một phụ nữ Trung Quốc phi thường vĩ đại, có trái tim bằng vàng. Cháu hãy tự hào vì cha mẹ mình”. Tiểu Phong rất yêu mẹ, người đã dẫn dắt cháu trong hoàn cảnh gian nan, khốn khổ, đồng thời cũng rất yêu cha, người đã từng ôm cháu, âu yếm kể chuyện cho cháu nghe. Đối với việc cha mẹ chia tay nhau, cháu không khỏi có phần thương cảm. Đại sứ Trần rất thông cảm, yêu thương cháu: "Cháu Phong, chiến tranh đã tạo nên bi kịch phải chia tay nhau của cha mẹ cháu. Đó là điều đáng buồn do lịch sử để lại, không sao cứu vãn nổi. Chúng ta phải nhìn về phía trước. Cháu là cốt nhục của hai nước Việt Trung, có trách nhiệm thực hiện lời di nguyện của cha cháu, làm sứ giả hữu nghị cho đời sau giữa nhân dân hai nước Việt - Trung. Đó là ước muốn của Bác Hồ kính yêu và cũng là mong muốn của bác đối với cháu”. Tiểu Phong thông minh, hiểu biết, tinh cách rộng rãi, đã thành khẩn nói với Đại sứ: "Bác Trần ơi, thế thì nhờ bác giúp cháu liên hệ với mẹ cháu và các chị em cháu ở Việt Nam". Đại sứ Trần Tử Bình mỉm cười, gật đầu. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:25:43 pm Tiểu Phong đã liên hệ được bằng thư từ với người thân ở Việt Nam, những mối liên hệ đó nhanh chóng bị cắt đứt.
Được sự giúp đỡ của Đại sứ Trần Tử Bình, Tiểu Phong được tin về những người thân ở Việt Nam rất nhanh chóng. Sau khi Hồng Thủy mất, Lê Hằng Huân đã đem số tiền ba vạn đồng nhân dân tệ mà Chính phủ Trung Quốc cấp cho Hồng Thủy để chữa bệnh trao cho nhà nước, chủ động xin rời khỏi ngôi biệt thự do Pháp xây, dẫn năm con về ở một ngôi nhà bình thường hai gian ở khu dân cư. Bà chỉ dựa vào lương mình nuôi năm con chưa trưởng thành, sống vô cùng thanh bạch. Ít lâu sau, Tiểu Phong giữ được liên lạc thư từ với các em trai, gái ở Việt Nam. Nhận được thư của người thân ở Việt Nam, Tiểu Phong rất phấn khởi. Trong thư các em đều kể về tình hình sinh hoạt, học tập của chúng, mỗi đứa còn gửi cho anh Phong một tấm ảnh nhỏ đằng sau có đề tên mình bằng chữ Trung Quốc. Tiểu Phong đem dán chúng trong quyển anbum nhỏ của mình. Lúc đó em gái lớn Nguyễn Mai Lâm vừa lên trung học, bé nhất là Nguyễn Việt Hằng chưa đi học. Gia đình chúng tôi là một gia đình Trung - Việt hỗn hợp, các con tôi có cảm tình tự nhiên với dân tộc Việt Nam. Sau khi dần dần lớn lên, chúng đặc biệt chú ý theo dõi tình hình liên quan đến Việt Nam qua đài, báo. Từ năm 1961, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam, một cuộc chiến do Mỹ xuất tiền, xuất súng, chính quyền Ngụy ở Nam Việt Nam xuất người. Ngày 5 tháng Tám năm 1964, Mỹ lại dựng lên "Sự kiện vịnh Bắc Bộ", mượn cớ có hai tàu chiến Mỹ bị bắn ở vịnh Bắc Bộ, ngang nhiên đưa máy bay oanh tạc miền Bắc. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, Mỹ lại đổ bộ thủy quân lục chiến lên cảng Đà Nẵng, rồi không ngừng tăng quân, phát động cuộc "Chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam, hơn nữa còn mở rộng các cuộc tập kích bằng hỏa lực của hải quân và không quân ra miền Bắc Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, được sự ủng hộ của đồng bào ruột thịt ở miền Bắc, đã tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước gian khổ thần thánh, lần lượt đánh bại các kế hoạch xâm lược của Mỹ. Trong những năm tháng gian khổ, đánh trả quân xâm lược Mỹ của nhân dân Việt Nam, Mao Chủ tịch đã nhiều lần phát biểu rõ lập trường kiên định ủng hộ cuộc đấu tranh "Chống Mỹ cứu nước" của nhân dân Việt Nam. Ngày 19 tháng Tám năm 1963, Mao Chủ tịch đã phát biểu "Tuyên bố về việc phản đối đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm xâm lược và giết hại nhân dân miền Nam Việt Nam". Ngày 20 tháng Mười hai năm 1967, khi Mỹ từng bước mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang đứng trước tình thế rất hiểm nghèo, Mao Chủ tịch trong bức điện mừng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập được bảy năm, có đoạn viết: "Bảy trăm triệu nhân dân Trung Quốc là chỗ dựa vững chắc, đất nước Trung Quốc bao la là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam". Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố. "Nhân dân Trung Quốc sẽ dùng mọi biện pháp cần thiết, thậm chí kể cả sự hy sinh lớn nhất của dân tộc, chi viện hết lòng cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, của cả ba nước Đông Dương, cho đến khi đánh bại hoàn toàn bọn xâm lược Mỹ”. Ngày 20 tháng Năm năm 1970, Mao Chủ tịch lại phát biểu "Tuyên bố ngày 20 tháng Năm" nổi tiếng nêu rõ: "Nhân dân ba nước Đông Dương tăng cường đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, kiên trì chiến tranh nhân dân lâu dài, nhất định sẽ khắc phục được muôn vàn khó khăn, giành được thắng lợi triệt để". Dù trong những năm tháng khói lửa chiến tranh hay trong hòa bình kiến thiết, Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc vẫn nghĩ những điều nhân dân Việt Nam nghĩ, lo những điều nhân dân Việt Nam lo, nhường cơm sẻ áo, tận lực chi viện cho nhân dân Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc đã ủng hộ, chi viện cho nhân dân Việt Nam cả người, vật tư và cả trên phương diện đạo nghĩa, thực hiện nghĩa vụ quốc tịch nghĩa của mình và điều đó thể hiện giữa nhân dân hai nước Trung - Việt vốn có tình sâu nghĩa nặng như anh em một nhà. Trong giai đoạn đó, cả gia đình chúng tôi theo dõi sát sao, lo lắng, buồn vui theo tình hình phát triển chiến sự ở Việt Nam. Trái tim chúng tôi hòa cùng nhịp với cả Trung Quốc và Việt Nam. Sau khi "Cách mạng văn hóa” bắt đầu, liên hệ giữa các con tôi và những người thân ở Việt Nam bị cắt đứt. Song lời di nguyện của Hồng Thủy đã ngấm vào trong máu các con tôi. Chúng cũng như cha chúng, dùng sinh mệnh của mình làm sợi dây nối tình cảm của hai nước Trung - Việt. Tháng Bảy năm 1972, Tiểu Phong lúc đó đang công tác tại xưởng phân hóa học Bình Định, Sơn Tây, đã báo cáo lên Bộ Ngoại giao Trung Quốc xin được về tảo mộ cha đồng Thấy. Sau khi Bộ Ngoại giao liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam, sứ quán đáp ứng ngay và xin chỉ thị trong nước. Ngày 2 tháng Chín năm 1972, kỷ niệm ngày Quốc khánh lần thứ hai mươi bảy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc mời tôi dự buổi chiêu đãi phim tại lễ đường Quốc hội. Vì Tiểu Phong còn đang công tác ở Sơn Tây, Tiểu Việt đưa tôi đi dự. Trong buổi chiêu đãi phim tôi được xem những phim phản ánh cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước và cuộc sống thực tế của nhân dân Việt Nam. Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với văn hóa Việt Nam, lần đầu tiên được nhìn thấy phong cảnh nhiệt đới tươi đẹp, làm tăng thêm mối cảm tình của tôi với nhân dân Việt Nam. Ngày 20 tháng Mười hai năm đó, Đại sứ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại Trung Quốc lại mời chúng tôi đến dự chiêu đãi phim tại "Bắc Kinh Phạn Điếm” để chúc mừng hai mươi năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ đó về sau cứ đến mỗi ngày tết, ngày Quốc khánh của Việt Nam, tôi và các con tôi đều được mời đến dự các hoạt động chúc mừng cử hành tại Đại sứ quán Việt Nam. Năm 1973, cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định, ngày 29 tháng Ba năm đó, những đợt quân Mỹ cuối cùng phải cuốn gói rời khỏi Việt Nam. Đầu tháng Sáu, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng, Chinh phủ thăm chính thức Trung Quốc. Tôi và Tiểu Việt được mời dự buổi dạ tiệc do Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Việt Nam chủ trì để đáp lễ cử hành tại phòng đại tiệc của nhà Quốc hội. Khi Thủ tướng Chu Ân Lai đi cùng với đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng bước vào phòng tiệc thì các quan khách đã đứng thành hàng ở cửa vỗ tay chào mừng. Thủ tướng Chu vừa mỉm cười vẫy tay chào, vừa bước tới, lần lượt bắt tay quan khách. Khi Thủ tướng Chu tới trước mặt tôi, một quan chức lễ tân giới thiệu tôi với ông: "Đây là vợ của đồng chí Hồng Thủy”. Thủ tướng thân thiết bắt tay tôi, nhìn tôi rất chăm chú như đang liên tưởng lại trong hồi ức, mỉm cười gật đầu chào tôi, vai phải lắc lắc một hồi. Đó là một động tác đặc biệt khi bắt tay các bạn bè thân thiết nhất. Biết bao năm đã trôi qua nhưng ánh mắt nhìn sâu sắc đó vẫn lưu lại trong trí nhớ tôi. ánh mắt đó như để khẳng định, cảm ơn, nhớ thương người chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa Hồng Thủy, lại như hy vọng ở tình hữu nghị nhiều đời giữa nhân dân hai nước Trung - Việt. Tiếp theo các đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng lần lượt qua trước mặt tôi. Biết tôi là vợ Hồng Thủy hai ông dừng lại rất lâu bắt tay tôi. Đặc biệt đồng chí Phạm Văn Đồng, ông là bạn chiến đấu cũ của Hồng Thủy. Năm 1925, khi Hồ Chí Minh tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội thì ông cùng ở với Hồng Thủy. Được dự đại tiệc quốc gia là một vinh dự. Đối với riêng tôi thì điều làm tôi được an ủi nhất là nguyện vọng cuối cùng của Hồng Thủy đã được thực hiện - nhân dân Việt Nam anh dũng đã đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược việc thống nhất Tổ quốc không còn xa nữa. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:27:22 pm Mười bảy năm sau ngày mất của Hồng Thủy, các con Trung Quốc của ông lần đầu tiên được đặt chân lên đất đai Tổ quốc của cha mình.
Tháng Tám năm 1973, lời yêu cầu được về tảo mộ Hồng Thủy đã được phê chuẩn. Cả nhà tôi đều xúc động không biết nói sao. Tiểu Phong, Tiểu Việt đã lớn khôn thành người. Trong nhiều năm, chúng được các bác các chú quen biết nói rất nhiều chuyện về Hồng Thủy, trong lòng chúng cảm thấy tự hào về cha mình. Trước khi các cháu lên đường, tôi có hàng ngàn, hàng vạn lời muốn dặn dò. Tôi cũng rất muốn đi cùng các cháu để thăm lại Hồng Thủy, để cầu nguyện cho anh, đem theo nỗi lòng xót xa, thương nhớ chôn chặt đáy lòng suốt mười bảy năm qua. Thế nhưng nghĩ lại, tôi vừa được giải phóng khỏi "Ban học tập Cách mạng văn hóa", tổ chức chưa phân công công tác, biết nói gì với Hồng Thủy? Thế hệ chúng tôi đều coi trọng nhất là sinh mạng chính trì. Tôi nuốt nước mắt giúp các con chỉnh lý hành trang, nghĩ đi, nghĩ lại, chỉ dặn các con một câu: "Tiểu Phong, Tiểu Việt, khi đến trước mộ ba hãy thay mẹ vái ba vái”. Từ năm 1945, khi Hồng Thủy rời Trung Quốc, tôi đã phái ngậm đắng nuốt cay, nuôi các cháu lớn khôn. Các cháu rất hiểu lòng mẹ, chỉ im lặng gật đầu. Ngày 24 tháng Mười một, Tiểu Phong, Tiểu Việt, Song Song và cháu gái Lâm Lâm chưa đầy hai tuổi, con Tiểu Phong, lên tàu đi Hà Nội. Các con tôi lần đầu tiên về Việt Nam, ở Hà Nội một tháng. Về Bắc Kinh chúng đem tất cả những điều tai nghe mắt thấy tại Việt Nam kể lại tường tận cho tôi. Do quân Mỹ ở miền Nam vừa mới rút, miền Nam chưa hoàn toàn giải phóng, đất nước bị chia cắt thành hai miền, kinh tế quốc gia vô cùng khó khăn. Mặc dù vậy, Chính phủ Việt Nam vẫn cố gắng bảo đảm cung cấp và giúp đỡ các cháu mọi phương diện trong việc ăn, ở, đi lại được đầy đủ. Tại Hà Nội, Lê Hằng Huân đã nhiệt tình đón các cháu về ở tại nhà. Các em trai, em gái chúng, tất cả đã vào bộ đội ở nhà chỉ có mình bà. Nhà ở đơn sơ gọn gàng. Ở tại nhà, điều kiện có kém một chút song các cháu cảm thấy thoải mái, tự nhiên, tùy ý. Trong thời kỳ công tác tại Trung Quốc, Lê Hằng Huân đã học tiếng Trung Quốc, bà viết chữ rất đẹp và có thể nói chuyện lưu loát với các con bằng tiếng Trung Quốc. Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có kế hoạch cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho các cháu. Lê Hằng Huân nghĩ mọi cách để đãi các con những món ăn ngon. Sáng ra ăn bánh cuốn có giò chả, trưa ăn cơm có thịt gà xé phay, rau muống chấm nước mắm ngon, tối thường có món nem rán và một số món xào. Đó là món ăn mà người Việt Nam rất thích nhưng vào thời khó khăn đó, đấy là món quý, rất hiếm khi được ăn. Tuy sinh hoạt rất giản đơn nhưng mồi thân tình của Lê Hằng Huân đã làm ấm lòng các con. Có lúc ăn tối xong, Song Song, Tiểu Việt dẫn cháu Lâm Lâm đi ngắm cảnh phố phường Hà Nội. Tiểu Phong ở lại coi nhà với mẹ Huân. Lê Hằng Huân thích văn học, thích ngâm thơ, đọc tiểu thuyết. Tiểu Phong là người học triết học, tính khoan hậu, hay nói chuyện. Tiểu Phong và bà Lê Hằng Huân chuyện trò cùng nhau không bao giờ dứt. Bà Lê Hằng Huân kể cho Tiểu Phong rất nhiều "Chuyện về ba của con”, giới thiệu cho Tiểu Phong họ hàng thân thuộc và nói rất rõ cho Tiểu Phong về tình hình chị, các em gái, em trai. Chị cả, Vũ Thanh Các, sinh năm 1924 tại Hà Nội. Mẹ của chị là bà Hoàng Thị Diệm, lớn hơn Hồng Thủy bốn tuổi. Khi Hồng Thủy đang học ở Trường Sư phạm Bắc Kỳ, bố mẹ đứng ra hỏi vợ. Lúc đó Hồng Thủy mới mười lăm tuổi. Cuối năm 1924, Hồng Thủy đến Trung Quốc tham gia cách mạng, Thanh Các chưa tròn một tuổi. Hồng Thủy lo sao cho mẹ con bà Hoàng Thị Diệm khỏi bị chính phủ phản động bức hại, trong tình hình không có ai hay biết Hồng Thủy đã đi theo liên lạc viên của Hồ Chí Minh là Nguyễn Công Thu bí mật rời khỏi Hà Nội, một mạch đi hai mươi năm, bặt vô âm tín. Bà Hoàng Thị Diệm đột nhiên mất tích chồng, cho rằng Hồng Thủy đã chết vì chuyện chẳng may, đã lập bài vị thờ trong nhà. Trong xã hội phong kiến nghiêm khắc cổ hủ, một phụ nữ trẻ mới hai mươi tuổi lại phải đèo theo một đứa con ẵm ngửa là cực kỳ khó khăn để sống. Năm Thanh Các mười tuổi, bà buộc phải tái giá và đi đến một tỉnh rất nghèo ở miền núi phía Bắc là tỉnh Tuyên Quang để mưu sinh. Năm 1952, bà Hoàng Thị Diệm tạ thế. Thanh Các không chịu được sự ngược đãi của bố dượng, mười hai tuổi, một mình bỏ trốn về Hà Nội ở nhờ nhà dì, một gian nhà rách nát, sống một đoạn đời khốn khổ khó ai tưởng tượng nổi. Tháng Mười một năm 1945, Hồng Thủy trở về Tổ quốc. Nỗi mừng như trên trời rơi xuống, Thanh Các đang cùng đường lại tìm thấy cha mình. Hồng Thủy cũng vui mừng vô cùng khi tìm được con gái nay đã trưởng thành. Không lâu sau đó, cha con vừa mới gặp nhau lại buộc phải chia tay, cha phải vào Nam tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1946, qua tiết xuân, Vũ Thanh Các, hai mươi hai tuổi, đã mạo hiểm một mình từ Hà Nội ra đi tìm vào phía Nam đến Bộ Tư lệnh Chiến khu Năm lúc đó đóng tại tỉnh Quảng Ngãi, tìm được cha và tham gia cách mạng. Thanh Các làm quản lý ở cơ quan hậu cần của Bộ Tư lệnh, trở thành một thành viên trong đội ngũ cách mạng. Em gái lớn Nguyễn Mai Lâm sinh vào tháng Giêng năm 1948 tại tỉnh Thanh Hóa, thuộc Trung Bộ Việt Nam, đúng vào lúc cuộc chiến tranh chống Pháp quyết liệt. Mẹ của Mai Lâm, bà Huỳnh Thị Đổi, sinh năm 1915 ở tỉnh Vĩnh Long, Nam Bộ. Cha của bà là một người cách mạng lão thành đã kiên quyết chống lại đế quốc Pháp thống trị và vương triều phong kiến Bảo Đại. Chịu ảnh hưởng và theo sự dẫn dắt của cha, mới mười lăm tuổi Huỳnh Thị Đổi đã tham gia cách mạng. Ít lâu sau, quân địch bắt giam cả hai cha con, đưa họ đầy đi ngục Côn Đảo, một địa ngục trần gian. Côn Lôn là một hòn đảo nhỏ ở Nam Bộ Việt Nam. Năm 1934, cha của Huỳnh Thị Đổi bị bệnh, chết trong ngục. Sau đó, bà cùng một số đảng viên cộng sản liều mạng tổ chức vượt ngục. Huỳnh Thị Đổi đến Chiến khu Bốn ở Trung Bộ Việt Nam, ở đây bà kết hôn với Hồng Thủy. Đáng tiếc là trải qua cuộc sống gian nan, nguy hiểm và lâu dài trong đấu tranh cách mạng, tư tưởng của Huỳnh Thị Đổi đã thay đổi, biến chất. Sinh ra Mai Lâm không lâu bà bỏ luôn Chiến khu Bốn, bỏ luôn Hồng Thủy ra đi. Bé Mai Lâm sinh ra không được sự chăm sóc của mẹ, một đồng chí ở Hội liên hiệp phụ nữ Khu Bốn nuôi dưỡng. Trong hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, Mai Lâm đã phải qua cuộc sống cực kỳ gian khổ. Cho mãi tới khi tính mệnh nguy hiểm, Hồng Thủy về đến Hà Nội mới đón được con đưa về nhà. Cô bé tám tuổi gảy gò, nhút nhát là Mai Lâm được sống cùng với cha vài ngày thì cha lại phải vào bệnh viện. Sau khi Hồng Thủy tạ thế, Mai Lâm về sống với mẹ Lê Hằng Huân. Năm 1967, khi Mai Lâm tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội hệ trung cấp thì cũng là lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Nam Việt Nam bước vào thời kỳ quyết liệt nhất. Mai Lâm hăng hái khoác quân phục, dũng cảm tham gia vào đoàn văn công của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:28:40 pm Hồng Thủy cùng Lê Hằng Huân sinh được bốn người con, một trai, ba gái. Như vậy, ngoài Mai Lâm, Tiểu Phong, Tiểu Việt còn một em trai và ba em gái.
Người con thứ năm của Hồng Thủy là Nguyễn Thanh Hà, sinh vào tháng Tám năm 1949 tại tỉnh Thanh Hóa ở Trung Bộ Việt Nam, là nơi Khu bộ Khu Bốn đóng quân. Lúc đó chiến tranh chống Pháp đang quyết liệt. Cuối năm 1950, Hà theo mẹ sang Trung Quốc, lúc đầu ở Nam Kinh, sau về Bắc Kinh, ở vườn trẻ rồi vào tiểu học, sống ở Trung Quốc sáu năm. Tháng Chín năm 1956, Hà theo cha lúc đó bị bệnh nặng về Việt Nam, năm 1967 vào Quân đội nhân dân Việt Nam và được vào học Trường Đại học Kỹ thuật quân sự, tốt nghiệp Khoa Thông tin vô tuyến. Người con thứ sáu Nguyễn Cương là con trai. Tháng Chín năm 1950, Cương được sinh ra tại tỉnh Thái Nguyên thuộc căn cứ địa Việt Bắc. Vừa tròn một tháng tuổi bé Cương đã theo mẹ sang Trung Quốc. Năm 1968, Cương vào bộ đội và cũng như Thanh Hà vào học Trường Đại học Kỹ thuật quân sự, tốt nghiệp Khoa Thông tin vô tuyến. Đứa con thứ bảy, Nguyễn Việt Hồng và con thứ tám Nguyễn Việt Hằng đều sinh tại Trung Quốc, Việt Hồng sinh năm 1953 tại Nam Kinh. Nguyễn Việt Hằng là Út, sinh tháng 1 năm 1955 tại Bắc Kinh và khi theo cha về nước mới hơn một tuổi. Năm 1973, Việt Hằng vào bộ đội Việt Nam. Trong thời kỳ Việt Nam tiến hành chiến tranh chống Mỹ cứu nước, các con của Hồng Thủy một cháu vào Nam, ra tiền tuyến, ba cháu vào bộ đội, không phải chạy cửa sau kiếm tiền mà muốn đóng góp vào cuộc chiến đấu của đất nước. Năm 1967, Thanh Hà tốt nghiệp trung học, do có thành tích học tập tốt, nhà nước quyết định cho đi học nước ngoài, sau đó lại quyết định cho Nguyễn Cương đi lưu học tại Liên Xô. Trước những "tin mừng” đó, Lê Hằng Huân dứt khoát từ chối. Bà nói: "Nước nhà đang đánh nhau, mọi người đang chiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, là con của Nguyễn Sơn thì phải cống hiến cho quốc gia". Các con ra đi chỉ còn Lê Hằng Huân lủi thủi một mình nhưng bà cảm thấy có làm như vậy mới có thể đáp lại tấm lòng của người chồng nơi chín suối. Hồng Thủy ra đi đã mười bảy năm, lần đầu tiên các con Trung, Việt của ông mới được gặp nhau tại Hà Nội. Một hôm, Thanh Hà, Nguyễn Cương, Việt Hằng được bộ đội cho nghỉ về nhà thăm các anh trai, chị dâu Trung Quốc. Lê Hằng Huân còn đặc biệt cho mời chị cả Vũ Thanh Các lại. Cả nhà ăn một bữa cơm đoàn tụ thật sự náo nhiệt. Đối với lần gặp mặt đoàn tụ này, mỗi đứa con dâu có bao nhiêu điều muốn nói. Vì ngôn ngữ bất đồng thành phải nhờ mẹ Huân làm phiên dịch. Các con của Hồng Thủy gặp nhau thân mật vô cùng, cứ như chúng cùng sinh trưởng chung với nhau. Những lời nói từ đáy lòng chúng đã làm cho mẹ Huân vô cùng cảm động. Bà cố nuốt nước mắt dặn các con: "Cha của các con là người rất yêu con cái. Đối với mỗi con, ông đều thương đều yêu như nhau. Trước khi lâm chung, ông nhắc đi nhắc lại với mẹ: "Bà Huân à, các con Trung Quốc cũng như các con Việt Nam đều là ruột thịt của tôi. Hy vọng có một ngày chúng có thể đoàn tụ lại". Nghe lời mẹ Huân nói, tình cảm của các con trầm hẳn xuống. Đáng tiếc là Mai Lâm đang ở miền Nam, nơi tiền tuyến đánh Mỹ, Việt Hồng đang lưu học tại Tiệp Khắc Sáu anh chị em được gặp nhau tuy chưa hoàn toàn đầy đủ. Chúng tin rằng có một ngày cả tám anh, chị em có thể đoàn tụ trong một nhà. Sau khi tới Hà Nội không lâu, Tiểu Phong, Tiểu Việt có các em trai, em gái đi cùng tới tảo mộ cha. Mộ của Hồng Thủy được đặt tại một nghĩa trang giữa cánh đồng lúa nước. Từ đường cái vào phải đi qua một con đường nông thôn ngoằn ngoèo. Cùng yên giấc ngàn thu ở đó với Hồng Thủy có các đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, đồng chi Nguyễn Chánh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Quanh khu mộ là một hàng cây xanh mướt, trước mỗi mộ là một tấm bia đá giản dị trên khắc bằng chữ Việt: "Mộ của tướng Nguyễn Sơn", dưới là mấy hàng chữ nhỏ tóm tắt tiểu sử Hồng Thủy. Trước mộ, các con Trung Quốc của ông cúi đầu làm lễ. Các con Việt Nam đều là bộ đội giơ tay chào theo nghi lễ quân đội. Sau đó, tất cả im lặng để tưởng nhớ. Tiểu Phong là con trai trưởng thay mặt mọi người khấn, nói lên những điều tự đáy lòng: "Ba yêu quý, các con Trung Quốc của ba đã đến Hà Nội thăm ba..." Lời vừa nói ra đã nghẹn lại. Các con đứng lặng tưởng nhớ cha, sau đó dọn cỏ quanh mộ và cùng nghĩ tới cha một đời chiến đấu, vô cùng thương nhớ ông. Trong thời gian ở Hà Nội, Lê Hằng Huân còn đặc biệt dẫn các con lên phố ăn món "phở bò". Bà nói cho các con biết đây là món ăn mà cha chúng, Hồng Thủy, thích nhất. Lúc còn ở Bắc Kinh, Hồng Thủy đã dẫn Cự, người bảo vệ Việt Nam, lùng khắp Bắc Kinh, từ phố to đến ngõ hẻm, chỉ thấy món thịt bò Lan Châu hoặc món dê tái Tây An, không đâu có món "phở” của quê hương. Khi Hồng Thủy bệnh nặng phải về nước, đi qua Lạng Sơn có dừng lại nghỉ. Ông hỏi thân tình đồng chí Hoàng Minh Phương, Vụ trưởng Đối ngoại, Bộ Quốc phòng Việt Nam, người đã sang Bằng Tường, Quảng Tây để đón ông: "Phương này, theo cậu Tổ quốc là gì hả?" Hoàng Minh Phương bị bất ngờ không đoán được tâm tư của ông nên chưa biết trả lời ra sao Hồng Thủy bỗng phá lên cười khoái trá: "Tổ quốc là món phở bò!” Khi những người thân thuộc mang đến cho ông một bát "phở bò" của quê hương, ông vui như con trẻ, ánh mắt sáng lên niềm thích thú tuổi ấu thơ. Các con tôi từ Việt Nam đã trở về. Cháu gái nội Lâm Lâm mới hai tuổi vừa bước vào nhà đã sà vào lòng tôi nói: "Bà nội ơi, bà có biết ông Nguyễn Sơn là ai không?" Không đợi tôi trả lời, Lâm Lâm đã liến thoắng nói "Bà nội ơi, ông Nguyễn Sơn là ông nội cháu đấy." Sau đó, cháu lại ghé vào tai tôi nói với vẻ thần bí: "Bà nội ạ, cháu đã lễ ông sáu lễ, ba cháu bảo: Ba lễ là của cong còn ba lễ nữa là của bà nội". Nghe lời con trẻ nói thật thà, ngây thơ, lòng tôi bỗng quặn đau, nước mắt cứ tự nhiên trào ra. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:29:50 pm Mai Lâm nắm chặt tay nguyên soái Diệp Kiêm Anh nói một thôi một hồi bằng tiếng Việt Nam, không ai hiểu nói gì, các quan chức cùng đi rất ngạc nhiên.
Tháng Mười một năm 1974, đoàn nghệ thuật của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đến thăm và biểu diễn tại Trung Quốc. Mai Lâm và chồng đều là thành viên của đoàn. Sau khi đoàn đến Bắc Kinh đã được các cơ quan hữu quan của Trung Quốc nhiệt tình đón tiếp, được bố trí ở khu nhà lầu mới xây của "Bắc Kinh Phạn Điếm". Đại Sứ quán của Chính phủ lâm thời Cách mạng miền Nam Việt Nam ở Trung Quốc đã sắp xếp cho Tiểu Việt và Mai Lâm được gặp nhau tại sứ quán. Mai Lâm và chồng tham gia suốt chiến tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Nam Việt Nam. Khi hai anh trai về Việt Nam tảo mộ cha, rất tiếc là không gặp được Mai Lâm. Lần này hai anh em được gặp nhau ở Bắc Kinh, một việc thật đáng mừng. Hôm đoàn nghệ thuật diễn buổi khai mạc tại Nhà hát kịch nhân dân thì Tiểu Phong cũng tử Sơn Tây mới về bèn cùng Tiểu Việt đi xem. Trong những năm 60, điệu múa sạp của Việt Nam rất được ưa thích ở Trung Quốc. Mỗi khi nghe tiếng tre đập “Tang, tang, tang, tang, tang, tang” lòng tôi lại thấy rộn lên khó tả. Làm nền cho điệu múa là một tấm phông có cảnh núi non, rừng già, rặng tre, suối nhỏ. Các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam mặc quân phục xám, đội mũ lá và các cô gái áo trắng váy xám, tóc đen dài tha thướt cũng nhảy điệu múa sạp khiến cho người xem cảm thấy như được vào rừng thẳm của Việt Nam, sống giữa nhân dân đang ăn mừng thắng lợi. Chiếc màn lớn từ từ kéo lên, các tiết mục điêu luyện đã phản ánh cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Nam Việt Nam, phản ánh cuộc sống của các dân tộc ở miền Nam Việt Nam, được người xem vỗ tay cổ vũ nhiệt liệt. "Tiết mục tiếp theo, đơn ca nữ cao. Người biểu diễn: Nguyễn Mai Lâm". Lời giới thiệu vừa dứt, một cô gái trẻ Việt Nam rất đẹp, dáng thon thả nhẹ nhàng bước ra sân khấu, cô mỉm cười nhìn khán giả, khẽ nghiêng mình. Tiểu Việt không nén được nỗi vui mừng dùng khuỷu tay huých vào sườn Tiểu Phong ngồi bên, cả hai cùng bật lên nói: "Xem kìa, Mai Lâm lên sân khấu rồi." Tiếng ca của Mai Lâm cao vút, ngọt ngào, được người xem vỗ tay nhiệt liệt. Bài hát thứ ba của Mai Lâm là ca khúc Việt Nam, lúc đó được mọi người ở cả hai nước ưa thích: "Việt Nam - Trung Hoa". Mai Lâm lần lượt hát cả bằng hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Trung. Việt Nam... Trung Hoa Núi liền núi Sông liền sông Mối tình hữu nghị lớn như biển Đông … Khi hát lại lần thứ hai, Mai Lâm hát bằng tiếng Trung Quốc. Lúc đó không khí hội trường đã bốc lên thành cao trào. Người xem vỗ tay theo nhịp và cùng hát theo Mai Lâm. Hây Hây Chúng ta hô vang Muôn năm Mao Trạch Đông - Hồ Chí Minh! Tiếng vỗ tay kéo rền không dứt, Mai Lâm phải ra sân khấu mấy lần để cảm ơn khán giả. Tiểu Phong và Tiểu Việt ở dưới cũng vỗ tay nhiệt liệt chúc mừng cho em gái. Về đến nhà, cả hai anh em vẫn chưa hết phấn khởi. Chúng nói với tôi, em Mai Lâm biểu diễn là được hoan nghênh nhất. Khi buổi biểu diễn kết thúc, nguyên soái Diệp Kiếm Anh lên sân khấu gặp các diễn viên. ông đến trước Mai Lâm thì dừng lại rất lâu. Khi nguyên soái Diệp đến trước mặt Mai Lâm, ông dừng bước, bắt chặt tay Mai Lâm và thân thiết nói: "Hoan nghênh cháu đến thăm Trung Quốc! Cháu hát hay lắm!" Mai Lâm dùng cả hai tay nắm chặt tay nguyên soái Diệp nói một thôi, một hồi bằng tiếng Việt, không ai biết nói gì, các quan chức Trung Quốc đi cùng hết sức ngạc nhiên. Người phiên dịch chạy vối đến bên nguyên soái Diệp và Mai Lâm, vội dịch những lời cô muốn nói với nguyên soái. "Bác Diệp ơi, bác không nhận được ra cháu ư? Cháu là con gái của tướng quân Hồng Thủy, là Nguyễn Mai Lâm đây ạ." Nguyên soái Diệp Kiếm Anh mỉm cười hiền từ vỗ vào vai Mai Lâm. "Ôi cháu bé gái, bây giờ đã lớn thế này rồi! Thảo nào nhìn mặt thấy quen, hóa ra chúng ta là người quen cũ." Năm 1961, nguyên soái Diệp đến Việt Nam có ghé thăm gia đình Hồng Thủy. Ông có thay mặt quân đội Trung Quốc tặng các cháu một số món quà, trong đó có một chiếc đàn áccoóc loại tốt. Chính vì có cái đàn đó mà Mai Lâm dần dần bước vào con đường âm nhạc. Lãnh đạo đoàn nghệ thuật giới thiệu với nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Mai Lâm không phải là người bình thường, cô từ Hà Nội vào miền Nam, theo đoàn văn công miền Nam Việt Nam lội suối, trèo đèo đi khắp nơi, tiếng hát của cô đã vang vọng từ trận địa tiền tiêu đến các vùng sơn lâm cùng cốc. Nguyên soái Diệp lại bắt tay Mai Lâm lần nữa và khen cô: "Cháu giỏi lắm, cháu lớn lên rất giống cha cháu, lòng dũng cảm của cháu cũng giống như cha." Lúc đó, đôi mắt to và đẹp của Mai Lâm đầm đìa nước mắt vì cảm động và vui sướng bởi ở nơi mà ba cô đã xa quê lặn lội chiến đấu, cô đã gặp lại người thủ trưởng cũ của cha mình, gặp được các anh trai ruột thịt, biểu diễn lại thành công, thật không gì sung sướng cho bằng. Khi kết thúc cuộc gặp gỡ, nguyên soái Diệp Kiếm Anh kéo Mai Lâm đến đứng cạnh mình để chụp một tấm ảnh kỷ niệm. Cảnh tượng hôm đó suốt đời Mai Lâm không bao giờ quên. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:31:24 pm Chương XIV LẠI NỐI TIẾP MỐI TÌNH SÔNG HỒNG Cách hai mươi hai năm sau, con cái Trung - Việt của Hồng Thủy mới có dịp gặp lại nhau. Cái gia đình lớn của chúng tôi được lập nên là từ trong cuộc chiến đấu chung của nhân dân hai nước chống chủ nghĩa đế quốc. Mối giao hảo, hòa bình, hữu nghị giữa hai nước có liên quan mật thiết đến cái gia đình "xuyên quốc gia” này. Từ năm 1977, trong khoảng thời gian gần mười năm, quan hệ giữa những người thân trong gia đình bị cắt đứt, mối quan hệ giữa chúng tôi và Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc cũng vậy. Hai nước Trung - Việt có mối quan hệ như "môi với răng”. Sự giao hảo nhiều đời giữa nhân dân hai nước đã kết thành tình hữu nghị truyền thống sâu nặng. Cùng với thời gian trôi qua, việc thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã trở thành nguyện vọng chung của nhân dân hai nước. Tháng Mười hai năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam được triệu tập, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Ông đề xuất chủ trương đổi mới và mở cửa, đồng thời xúc tiến việc lập lại quan hệ bình thường giữa hai nước. Bước vào những năm 90, Thủ tướng Lý Bằng trong Hội nghị Thường vụ Trung ương lần thứ XV khóa 7 nêu ra "Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc, trước việc giải quyết vấn đề Cămpuchia công bằng, hợp lý, Trung Quốc muốn cùng Việt Nam thảo luận vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa hai nước". Bốn ngày sau, ngày 1 tháng Chín năm 1990, phía Việt Nam đã có phản ứng tích cực. Trong buổi lễ mừng Cách mạng Tháng Tám và kỷ niệm lần thứ 45 ngày Quốc khánh của Việt Nam, ở Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đỗ Mười, trong bài diễn văn có đoạn nói: "Nhân dân Việt Nam nhận thức rất sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi giành được trong lịch sử đấu tranh cách mạng của mình đều gắn liền với sự thân thiết đồng tình và giúp đỡ vô tư của bè bạn quốc tể'. ông đặc biệt nhấn mạnh đến "tình nghĩa đoàn kết chiến đấu” của nhân dân Trung Quốc với nhân dân Việt Nam và "viện trợ có hiệu quả” của Trung Quốc với nhân dân Việt Nam. ông đề xuất: "Vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình khu vực và toàn thế giới, tôi hy vọng cùng Trung Quốc thực hiện việc bình thường hóa quan hệ". Cùng thời điểm đó, Chính phủ Việt Nam cử một đoàn đại biểu hữu nghị do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, làm trưởng đoàn sang tham dự Đại hội Nghiệp đoàn lần thứ XI của Trung Quốc. Thủ tướng Lý Bằng đã đến nơi Đại tướng nghỉ, tại nhà khách quốc tế Điếu Ngư Đài để gặp Đại tướng. Trung tuần tháng Mười một, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, khi trả lời các nhà báo dã biểu lộ rõ lòng tín tưởng chắc chắn rằng việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Trung - Việt "không còn xa xôi nữa". Ngày 27 tháng Sáu năm 1991, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Trong ngày bế mạc Đại hội Đảng lần thứ VII của Việt Nam, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân đã gửi điện cho đồng chí Đỗ Mười, gửi lời "chân thành chúc mừng” ông và chúc ông "trên cương vị lãnh đạo trọng yếu giành được nhiều thành tích", "chúc Việt Nam thu được nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và đổi mới". Từ ngày mồng 5 đến mồng 10 tháng Mười một năm 1991, nhận lời mời của Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Chính phủ Việt Nam đã chính thức thăm Trung Quốc. Ngay chiều ngày đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam tới Bắc Kinh, lãnh đạo hai nước đã tiến hành hội đàm tại Đại lễ đường nhân dân. Đồng chí Giang Trạch Dân nói: "Sau một thời gian quan hệ hai nước có nhiều trắc trở, cuộc gặp cấp cao hôm nay của lãnh đạo hai nước Trung - Việt có ý nghĩa rất to lớn. Đây là cuộc gặp mặt nhằm "Khép lại quá khứ, nhìn vào tương lai". Hai nước đã bình thường quan hệ nhất định sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến việc phát triển quan hệ giữa hai nước". Đồng chí Đỗ Mười nêu rõ: "Hai nước Việt - Trung là láng giềng gần, nhân dân hai nước vốn có truyền thống hữu nghị lâu đời, việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước là một tất yếu lịch sử". Cuộc gặp mặt giữa Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Tổng Bí thư Đỗ Mười như một làn gió xuân ấm áp phá tan tảng băng đã ngưng kết hơn mười năm qua giữa hai nước, khiến cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nước Trung Việt trở nên bình thường hóa. Cuối năm đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc gửi cho tôi một thiếp chúc Tết. Cũng từ đó, liên hệ của gia đình tôi và các thân thuộc ở Việt Nam được nối lại sau mười bốn năm bị đứt đoạn. Từ tháng Mười một năm 1991, sau khi hai nước thực hiện việc bình thường hóa quan hệ để thúc đẩy các mặt quan hệ của hai nước không ngừng phát triển, các đoàn đại biểu đủ loại qua lại tấp nập. Đặc biệt mỗi năm đều tổ chức một cuộc họp cấp cao. Thủ tướng Lý Bằng, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân lần lượt qua thăm Việt Nam. Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng lần lượt tới thăm Trung Quốc. Cùng với việc ở cấp cao liên tiếp có những cuộc thăm hỏi, tìm hiểu, hai nước quyết định lập mối quan hệ hợp tác hữu nghị lâu dài, toàn diện, hướng tới tương lai. Từ đó mở rộng các lĩnh vực hợp tác mậu dịch, kinh tế, khoa học kỹ thuật, cho các xí nghiệp hai bên những điều kiện có lợi để đầu tư tương hỗ, mậu dịch qua đường biên giữa hai nước cũng dần dần phát triển một cách vững chắc. Cửa của quốc gia đã mở, kinh tế thành cao trào, người qua kẻ lại ngày càng đông. Các con trai, gái của Hồng Thủy cũng từng bước tiến vào cơn sóng đang dâng của kinh tế thị trường. Cùng đồng thời với việc phát triển quan hệ kinh tế mậu dịch giữa hai nước, mối quan hệ qua lại thăm hỏi của Tiểu Phong, Tiểu Việt và bà con thân thích, bạn bè cũng được tăng cường. Từ thư của Thanh Hà gửi sang được biết mẹ Huân của các cháu bị ung thư dạ dày đã mất năm 1991. Chị Vũ Thanh Các đã được nghỉ hưu. Sau khi cả nước giải phóng, Mai Lâm đã xuất ngũ, vào học nâng cao ở Học viện âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh. Tốt nghiệp xong, Mai Lâm đã về Sở Văn hóa thành phố công tác. Bản thân Thanh Hà và em là Nguyễn Cương sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Kỹ thuật quân sự đều phục vụ bộ đội, đều là trung tá của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau đổi mới và mở cửa, cháu cùng em trai nghỉ hưu. Rời quân ngũ, cả hai chị em đều lao vào hoạt động trong trào lưu kinh tế thị trường. Em gái Việt Hằng là sĩ quan cấp đại úy trong quân đội, được sang Liên Xô vừa học, vừa làm. Chỉ có Việt Hồng sức khỏe không tốt phải nằm viện để chữa trị. Tháng Tám năm 1992, Tiểu Việt theo một đoàn đại biểu mậu dịch của Trung Quốc sang thăm Việt Nam, đến khảo sát tại tỉnh Nghệ An. Trong thời gian lưu lại tại Hà Nội, Tiểu Việt đã gặp được các em trai, em gái mà gần hai mươi năm qua bặt vô âm tín. Năm 1973, khi gặp nhau lần đầu, tất cả còn rất trẻ, đến nay đã thành cha, thành mẹ, con cái cũng đã lớn. Tất cả đều mong muốn trong điều kiện hai nước đều “cách tân, khai phóng” hoặc "đổi mới mở cửa" thì gia đình càng cố gắng đi lại thăm nhau, coi như dâng thêm một đóa hoa cho tình hữu nghị Trung - Việt trong thời kỳ mới. Thời gian Tiểu Việt thăm Việt Nam cũng là dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp mừng thọ tám mươi tuổi. Cháu Việt đến thăm để chúc thọ Đại tướng. Khi nghe thấy có con trai Trung Quốc của người bạn chiến đấu cũ Nguyễn Sơn (Hồng Thủy) đến thăm, Đại tướng rất phấn khởi. Tuy đã nghỉ, song ông vẫn rất khỏe, người nhanh nhẹn, rắn chắc, khí sắc rất tốt. Ông vui vẻ kể lại cho Tiểu Việt những câu chuyện về tình bạn và những chuyện lý thú của hai người. Từ năm 1993 trở đi, Thanh Hà và Việt Hằng nhiều lần tới Bắc Kinh. Chúng đều thân thiết gọi tôi là "mẹ". Việt Hằng thường ở chỗ tôi, được anh Tiểu Việt và chị dâu Lý Vân Khởi làm thày dạy tiếng Trung Quốc. Đến nay anh em đã có thể trao đổi với nhau bằng tiếng Trung Quốc. Năm 1995, Trần Hàn Phong được Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng Việt Nam mời sang thăm. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Phong được gặp cả nhà chị Vũ Thanh Các và em gái Mai Lâm. Chị Các nay đã bảy mươi, con cháu đầy nhà. Còn gia đình em gái Mai Lâm cuộc sống rất tốt đẹp Nhắc lại năm 1974, gặp nhau ở Bắc Kinh, Hàn Phong và Mai Lâm còn nhớ như in, ấy vậy mà đã xa nhau hai mươi mốt năm trời. Tháng Hai năm 1996, Tiểu Việt lại sang thăm Việt Nam một lần nữa, tập trung đi vào thành phố Hồ Chí Minh để gặp chị Các và em Lâm. Mùa hè năm 1996, con gái của Thanh Hà là Hà Tường Thu đến Bắc Kinh thi vào Trường Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh. Mỗi kỳ nghỉ hay lễ tết, cháu đều ở nhà tôi. Tôi coi cháu như cháu ngoại ruột thịt của mình. Mùa hè năm 1998 cháu tốt nghiệp, phấn khởi nhận bằng tốt nghiệp, vui vẻ quay về Việt Nam. Cùng với việc quan hệ hai nước Trung - Việt có bước phát triển, nhân dân hai nước hữu nghị qua lại ngày càng nhiều, tình cảm của đại gia đình Trung - Việt của tôi cũng được trao đổi thuận lợi, ngày càng nồng thắm, nhộn nhịp hơn. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:33:07 pm Nguyễn Thanh Hà kể với tôi về mẹ cháu: Lê Hằng Huân.
Trước đây, cũng đã từng có người nói với tôi về người vợ Việt Nam của Hồng Thủy, nói bà là người có những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, dịu dàng, nhân hậu, thẳng thắn và chính trực. Đối với những chuyện về Lê Hằng Huân, tôi chỉ nghe để vậy. Mỗi lần có người đề xuất đến bà, tôi không hề bình luận. Tôi nghĩ rằng Hồng Thủy và gia đình mới của anh đã có bốn đứa con đáng yêu, tôi cũng chỉ còn hy vọng họ sẽ hạnh phúc mỹ mãn, trăm năm đầu bạc. Đâu có ngờ rằng, mới kết hôn được tám năm, Hồng Thủy đã tạ thế. Lúc đó, Lê Hằng Huân mời tròn ba mươi tuổi. Nguyễn Thanh Hà là con đầu lòng của Hồng Thủy và Lê Hằng Huân, là đứa con được ở cùng Hồng Thủy lâu nhất lại thêm Hồng Thủy mất sớm, cháu trở thành người thân thiết của mẹ. Thanh Hà thẳng thắn, thông minh và hoạt bát, là cô gái có thể giao lưu rộng rãi với mọi người. Khì Việt Nam tiến hành đổi mới, cháu cả quyết bước vào kinh doanh, đảm nhiệm Giám đốc Trung tâm hợp tác Việt - Trung thuộc Công ty phát triển công nghiệp Hà Nội, bắt đầu công tác tạo mối liên hệ hợp tác kinh tế, mậu dịch giữa hai nước Việt - Trung Về mặt này, Thanh Hà có được điều kiện trời phú cho và đã trở thành thành viên có thể qua lại gặp nhau được nhiều nhất của đại gia đình Trung - Việt chúng tôi. Vì nhu cầu công tác và giao lưu Thanh Hà chịu khó học tập tiếng Trung Quốc. Từ bé, cháu đã có tư chất thông minh lại chăm chỉ hiếu học, trong các con Việt Nam của Hồng Thủy, cháu là người nói tiếng Trung Quốc lưu loát nhất, ý tứ rõ ràng, diễn đạt rất chuẩn xác. Thanh Hà không bao giờ quên lời mẹ dặn lúc lâm chung đợi đến khi nào hai nước Việt - Trung khôi phục lại tình hữu hảo, nhất định con phải đến Bắc Kinh thăm mẹ Trung Quốc của con". Thanh Hà quay trở lại Bắc Kinh sau ba mươi bảy năm xa cách. Cháu ở Bắc Kinh hơn một tháng, lúc đầu ở nhà tôi sau ở nhà Hàn Phong. Từ đó về sau, mỗi lần tới Trung Quốc, cháu đều đến thăm tôi. Đối với tôi, Thanh Hà rất tôn kính, đối với các anh trai, chị dâu Trung Quốc, cháu trai, cháu gái đều đặc biệt thân. Trong khi tiếp xúc, Thanh Hà cảm thấy tôi là bà mẹ Trung Quốc rất rộng lòng, khoát đạt nên đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện liên quan đến mẹ đẻ cháu. "Kể từ khi bắt đầu hiểu và nhớ được mọi chuyện, con nhớ là cha, mẹ và con, em Cương và em gái Hồng ở Nam Kinh, Trung Quốc, trong một căn nhà lầu nhỏ. Chăm sóc chúng con có một cô tên là Hợi, người Việt Nam. Đó là vào năm 1953, lúc con tròn bốn tuổi. "Năm 1954, chúng con đến Bắc Kinh, Trung Quốc, ấn tượng sâu sắc nhất của con lúc nhỏ là: chúng con rất hạnh phúc. Chị em chúng con được cả cha lẫn mẹ đều yêu thương, nhưng thời gian đó rất ngắn. "Thời bé thơ của con là ở Trung Quốc. Trừ có cô Hợi theo mẹ từ Việt Nam sang, chung quanh chúng con toàn là người Trung Quốc. Cha mẹ thường dạy chị em con nói tiếng Việt. Trong nhà chỉ nói tiếng Việt. Bố mẹ thường dùng tiếng Việt dạy các con phải làm điều tốt, đứng đắn, dùng tiếng Việt để dạy thêm hiểu biết cho các con, dùng tiếng Việt để tỏ tình âu yếm cũng như khuyên răn các con. Ở trong nhà, nếu con và em Cương nói với nhau bằng tiếng Trung Quốc là bố không bằng lòng ngay. Còn trẻ thơ, con không rõ tại sao bố lại làm như vậy? Bố rất yêu Trung Quốc, hơn nữa cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc. Khi lớn lên con mới rõ, bố không muốn các con quên Tổ quốc của mình. "Con nhớ rằng, khi còn ở Bắc Kinh, có một lần không biết bố mượn được ở đâu về một đĩa hát, trong đó có một bài thơ phổ nhạc "Đêm nay Bác không ngủ”. Suốt mấy ngày liền bố liên tục nghe bài hát đó, lấy giấy ra chép lại dạy chúng con học cho thuộc bài hát. Chúng con là lũ trẻ chưa vào tiểu học làm sao hiểu được về Bác Hồ Chí Minh, có tình cảm nhớ thương được? Và cũng chưa hiểu hết dụng tâm của bố mẹ? "Sau đó, tai ương ập tới. Bố có u ở phổi. Sau khi mổ ở Bắc Kinh được mấy tháng, bố dẫn chúng con về Việt Nam. Lũ trẻ chúng con rất ngạc nhiên, không biết tại sao lại về quê hương Hà Nội. Chưa hết kinh ngạc thì bố đã chết. "Sau lễ tang rất long trọng, suốt trong một thời gian dài, mẹ con rơi vào trạng thái đau thương, âu sầu, ảm đạm. Lũ trẻ chúng con bị mất bố, tất cả đều ngơ ngác. Tuy lúc ấy con mới bảy tuổi, mới vào tiểu học, nhưng kể từ đó con hình như trở thành bạn tri kỷ của mẹ con. Tâm sự của mẹ trọng cuộc sống, những khó khăn gặp phải ở cơ quan, cho đến niềm hy vọng của mình, mẹ cũng đều nói với con. Cũng có lúc, hai mẹ con ôm chặt lấy nhau, mẹ khóc, con cũng khóc... "Mẹ của con rất đẹp và rất thông minh. Còn trẻ như vậy mà mẹ đã gặp phải đau thương quá lớn. Điều quan trọng bậc nhất của mẹ bây giờ là làm thế nào để nuôi dưỡng các con thành người, thành con người biết tự trọng, tự lập, có lòng nhân ái. Mẹ thường dạy các con phải sống làm sao đừng để hổ danh bố Nguyễn Sơn và cũng không được lợi dụng danh dự của bố để mưu lợi bản thân và cũng không được làm điều không hay ảnh hưởng đến danh dự của bố. Trong lý lịch của chúng con khi lên cấp học, khi tham gia quân đội, tham gia công tác thông thường chỉ ghi như sau: Bố là Nguyễn Sơn, cán bộ quân đội đã chết vào tháng Mười năm 1956. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:33:57 pm "Con nhớ rất rõ, lúc còn nhỏ, cuộc sống của chúng con rất khó khăn. Tiền lương của mẹ con chỉ có bảy mươi đồng Việt Nam một tháng, chúng con năm đứa, mỗi đứa được mười hai đồng Việt Nam. Cả nhà sáu người mỗi tháng, kể cả tiền trợ cấp của các con, được tất cả một trăm ba mươi đồng Việt Nam. Số tiền đó chi dùng cho ăn mặc, tiền nhà, tiền điện nước, học phí. Cả một thời gian dài, chị em chúng con mỗi đứa chỉ có hai bộ quần áo, mặc bộ này, giặt bộ kia, nếu chẳng may gặp mưa dầm là phải mặc quần áo bẩn.
"Có lúc cả nhà ăn hết gạo, gạo cung cấp của nhà nước chưa có, chị em chúng con phải ăn ngô, khoai lang trừ bữa. Tình hình như vậy có lúc kéo dài hàng phục ngày. Khi nghe tin có gạo cấp, con và chị Mai Lâm, cả cậu Cương nữa phải căn giờ dậy thật sớm để đi xếp hàng lĩnh gạo. Lúc đó, gạo do nhà nước cấp đa phần đã có mọt. Vậy mà chỉ có một nồi cơm, một bát tô rau muống luộc một bát nước chấm là cả nhà đã xì xụp ăn ngon lành. "Mẹ con cả đời không bao giờ nặng về vật chất. Mẹ con thường nói với chúng con: Bố Nguyễn Sơn khi từ Trung Quốc trở về, Chính phủ Trung Quốc đã cấp cho bố con rất nhiều tiền Bố bảo rằng: Tôi đi sang Trung Quốc để tham gia cách mạng chứ không phải đi làm công. Từ nay về sau, nếu tôi còn sống, số tiền đó sẽ nộp cho nhà nước, nếu tôi chết thì có thể gửi vào tiết kiệm lấy số lãi hàng tháng mà nuôi con. Sau khi bố mất, mẹ con cũng không muốn giữ số tiền đó, trao toàn bộ cho nhà nước. "Sau này, khi đã trưởng thành, năm chị em chúng con đều thi đỗ vào đại học, con, em Cương, em Việt Hằng đều trở thành sĩ quan quân đội. Chị Mai Lâm năm 1967 vào miền Nam tham gia chiến tranh chống Mỹ cứu nước, năm 1975 chị học thêm hệ cao học ở Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ có em Việt đồng lưu học tại Tiệp Khắc, thành tích học tập rất tốt. Đúng lúc tốt nghiệp, chẳng may em mắc chứng tâm thần phân liệt. "Năm 1978, mẹ con đã nghỉ hưu, em Hồng con bệnh ngày một nặng, đập phá hết đồ đạc trong nhà. Chí em chúng con đề nghị với mẹ để cho con đứng ra làm đơn xin lại một phần số tiền của bố để chữa chạy cho em Hồng. Mẹ con mắng chúng con và không cho nhắc lại chuyện đó. "Lúc đó mẹ con mới nói rõ cho con biết Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã cấp cho bố con số tiền là ba vạn đồng nhân dân tệ. Theo giá tiền cũ năm 1956 có thể đổi thành ba mươi triệu đồng Việt Nam. Bố con đã lấy ra hai triệu để mua quà tặng họ hàng, bạn bè và bạn chiến đấu, còn lại hai mươi tám triệu đồng Việt Nam. Theo chị Thanh Các cho biết, với giá tiền của năm 1956, một triệu đồng có thể mua một tòa biệt thự ở trung tâm Hà Nội. Khi mẹ con trao tiền cho nhà nước, các chú trong Bộ Quốc phòng đã viết biên nhận đầy đủ cho mẹ con. Mẹ con quyết không giữ lại, đã đốt bỏ trước mặt các chú để làm chứng. "Khi còn bé, mẹ con có một cách động viên chúng con hăng say học tập. ẩy là cứ đến ngày 19 tháng Năm hàng năm, ngày sinh của Bác Hồ, chúng con phải viết thư lên chúc thọ Bác. Ai được giấy khen thì viết thư vào sau giấy khen để gửi lên báo cáo với Bác. Ai phải viết thư trên giấy vì không được khen thưởng thì khổ tâm vô cùng. Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, cho biết, tất cả thư chí.ng con viết vẫn còn được bảo tồn. "Mỗi năm, Bác Hồ thường cho mời cả sáu mẹ con vào ăn cơm với Bác. Mỗi lần gặp Bác, mẹ con lại báo cáo với Bác về tình hình học tập của chúng con. Bác Hồ nghe báo cáo rất vui và ôm chúng con rất lâu. Bác Hồ tặng kẹo cho chúng con, có lúc khen, có lúc dặn dò. Bác cũng thường động viên khuyến khích mẹ con. "Từ lúc còn bé, mẹ con thường nói cho các con rõ, các con còn bốn anh chị cùng cha khác mẹ, trong đó có hai anh Tiểu Phong và Tiểu Việt là con mẹ Trần Kiếm Qua, là vợ người Trung Quốc của bố. Trong bốn người vợ của bố, chỉ có mẹ Trần Kiếm Qua là người duy nhất là bạn chiến đấu, là đồng chí của cha trong quá trình bôn ba gian khổ vì cách mạng. Hai người đã lấy nhau từ tình yêu nảy nở trong cuộc đấu tranh cách mạng. "Các chú cùng công tác với bố ở thời kỳ đầu đánh Pháp đều kể lại cho con biết, lúc mới về nước công tác bố luôn nhớ tới mẹ Trần Kiếm Qua và hai con còn ở Trung Quốc, vẫn nhớ tới gia đình hòa mục, êm ấm của mình. Tối đến bố con thường tâm sự với các chú và đưa ảnh của mẹ Trần Kiếm Qua, của anh Tiểu Phong ra cho các chú xem. Hy vọng có ngày đoàn tụ với gia đình." Nghe lời kể của Thanh Hà, lòng tôi bỗng thấy xót xa. Vì cớ gì mà những nỗi thống khổ và bất hạnh lại cứ giáng xuống đầu những con người có đức hạnh, chính trực, trong sạch, tử tế, vô tư thế nhỉ? Có người nói do số mệnh. Tôi không mê tín nhưng cả hai chúng tôi đều chịu những đòn đả kích của số mệnh từ rất sớm. Mấy chục năm qua, tôi và Lê Hằng Huân, trên bước đường đời của mình đã nếm đủ mùi cay đắng nhưng chúng tôi đều kiên cường đứng vững và tiến lên, các con của chúng tôi đều khỏe mạnh, trưởng thành. Sau khi trải qua cuộc đời gian nan cùng cực, tôi rút ra một điều chân lý: "Người ta không thể lường hết tương lai, song đường đi là ở dưới chân mình." Tôi và Lê Hằng Huân chưa hề gặp mặt nhau, bà tạ thế rồi, chỉ sống được sáu mươi lăm tuổi. Trong gia đình Trung - Việt của Hồng Thủy hiện chỉ còn mình tôi là trưởng lão còn tại thế. Tôi nghĩ: tâm nguyện của tôi và Lê Hằng Huân là giống nhau, muốn dạy dỗ các con mình thành những con người tự trọng, tự lập, có phẩm chất và tình cảm tốt đẹp, có ích cho quốc gia, cho nhân dân. Chúng tôi đều mong muốn tất cả tám người con trai, gái Trung - Việt có thể được đoàn tụ. Tôi tin rằng cái ngày đó sắp đến. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:35:33 pm Dù Hồng Thủy chỉ công tác và chiến đấu ở Việt Nam thời gian không tới năm năm nhưng tên của ông đã được khắc sâu Vào trái tim nhân dân Việt Nam.
Ở Việt Nam, về cuộc đời của Hồng Thủy đã có vô số huyền thoại. Tuy rằng thời gian của ông tham gia cách mạng phần lớn ở Trung Quốc, thời gian chiến đấu và công tác trong nước không tới năm năm, nhưng cái tên Nguyễn Sơn đã được khắc sâu vào trái tim nhân dân Việt Nam. Nhân dân ở Thanh Hóa, Nghệ An đã lưu truyền nhiều giai thoại về tướng Nguyễn Sơn. Nhân dân ở đó vô cùng ngưỡng phục ông. Trên núi Hồng Lĩnh thuộc phía tây Hà Tĩnh, nhân dân đã lập miếu thờ ông, hy vọng được tướng Nguyễn Sơn phù hộ. Không chỉ giới quân sự truyền tụng mà cả những người dân bình thường cũng thết sức ca ngợi ông. Hồng Thủy giỏi về khả năng đoàn kết mọi người. Ông bình dị, dễ gần, với ai cũng có thể nói chuyện được. Ông đặc biệt có khả năng đoàn kết được trí thức, dám dùng người trí thức. Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, tuy bận nhiều về công tác quân sự, dồn dập, khẩn trương song ông vẫn thường tiếp xúc với các nhân sĩ trí thức và giới văn nghệ sĩ, tập trung họ lại trong Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác và Hội liên hiệp văn học nghệ thuật, đặc biệt tạo điều kiện sáng tác cho họ để họ phục vụ cách mạng. Mỗi một người trí thức đó đều có nét đặc sắc riêng của họ. Nếu ai mắc sai lầm, đồng Thủy kịch liệt đấu tranh, đồng thời giúp họ sửa chữa sai lầm. Thậm chí ông còn dám tập hợp cả các quan chức dưới cựu triều Bảo Đại, dẫn họ ra mặt trận, sử dụng sở trường của họ. Trong số này có bốn người nổi bật nhất. Một người là Nguyễn Tiến Lãng, con nuôi Toàn quyền Đông Dương, có bố vợ là thượng thư bộ lại, bản thân ông ta đã từng làm phủ doãn Thuận Hóa (tương đương thị trưởng của Huê). Trình độ văn hóa của ông ta cao, tiếng Pháp rất giỏi. Hồng Thủy động viên ông tham gia cách mạng, sau ông thành một nhà văn nổi danh. Một người là Đinh Ngọc Liên, là đội trưởng đội âm nhạc của Bảo Đại. Sau Cách mạng Tháng Tám và đến kháng chiến, đội nhạc giải tán mỗi người về một phương. Hồng Thủy kéo ông vào đội ngũ cách mạng, mời ông về Khu Bốn trao nhiệm vụ khôi phục lại đội quân nhạc và dĩ nhiên trao cho ông làm đội trưởng. Cái đội quân nhạc này là tiền thân của quân nhạc Quân đội nhân dân Việt Nam sau này. Trong chiến tranh chống Pháp, điều kiện ở Khu Bốn vô cùng gian khổ, thiếu thốn, đội quân nhạc lập ra nhưng lại không có kèn đồng, họ bèn lấy trúc khoét thành sáo, toàn đội gồm bốn mươi cây sáo trúc trầm bổng tạo thành. Trong hồi ký của mình, trung tá Đinh Ngọc Liên đã viết: "Trong cuộc đời quân nhạc của tôi có hai lần rất đặc biệt xúc động, đau thương, đó là khi đưa tang tướng Nguyễn Sơn và trong lễ truy điệu Bác Hồ. Tôi vừa chỉ huy đội quân nhạc vừa khóc". Một người là Nguyễn Phan Chánh, một họa sĩ nổi danh ở cung đình. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Phan Chánh về quê ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, lấy nghề vẽ truyền thần để kiếm sống nhưng thu nhập cũng không nhiều. Có lẽ để giảm bớt công, ông thường vẽ hình thể người với các loại quần áo trước, ai muốn vẽ truyền thần thì chọn các bức vẽ trước về hình thể và phục trang, còn ông chỉ cần vẽ thêm phần đầu và mặt là xong. Như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian vẽ nhìn trực tiếp Không ngờ, có một lần, một vị khách mặc quần áo nông dân đến yêu cầu Nguyễn Phan Chánh vẽ cho ông ta một bức truyền thần mặc quân phục cấp tướng. Nguyễn Phan Chánh đâu có biết quân phục cấp tướng thời hiện đại ra sao? ông chỉ vẽ sẵn một hình người nặc quần áo tướng quân thời cổ và một hình mặc quân phục kiểu "Napoléon". Ông liền đem hai bức hình đó ra cho khách chọn để vẽ tiếp. Ai có ngờ, người khách đó lại là tướng Nguyễn Sơn. Sau câu chuyện vui ấy, hai người rất hiểu nhau. Rồi không lâu sau, Nguyễn Phan Chánh dẹp tiệm vẽ truyền thần của mình về khu tham gia Hội liên hiệp văn nghệ Khu Bốn. Còn một người nữa vốn là lái xe của Bảo Đại. Hồng Thủy thuyết phục anh tham gia quân đội nhân dân, về sau anh ta trở thành Phó Cục trưởng Cục Quản lý xe, máy của Bộ Quốc phòng Việt Nam. Hồng Thủy là người rất thích thơ ca và âm nhạc, thông thạo về văn nghệ. Có người nói Hồng Thủy là một nhà hùng biện, nói rất hay. Trí nhớ của ông cực kỳ tốt, khi diễn giảng xưa nay ông đều không dùng văn bản viết sẵn. Tri thức của ông rất phong phú, biết nêu và dẫn dắt vấn đề. Nhưng sinh động nhất, hấp dẫn nhất người nghe là sau một đoạn nói dài ông lại lẩy Kiều (Kim Vân Kiều truyện). … "Kim Vân Kiều truyện" là một thiên trường thi của Nguyễn Du, nhà đại văn hào Việt Nam, dài hơn ba nghìn câu. Truyện thơ dài này mượn cốt ở một tiểu thuyết của Trung Quốc do Thanh Tâm Tài Nhân viết … với cùng tên "Kim Vân Kiều truyện". Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:36:30 pm Hơn một trăm năm nay, nó đã được nhân dân Việt Nam lưu truyền rộng rãi, nhà nhà đều hiểu, lớn bé già trẻ đều biết.
Câu chuyện kể về cuộc đời bi thảm của Thúy Kiều, một người con gái con nhà tử tế, nổi danh tài sắc bị các thế lực đen tối của xã hội phong kiến chà đạp, bức hại, trải qua biết bao thăng trầm mới làm lại được cuộc đời mới. Truyện Kiều, một câu chuyện dài bằng thơ, Hồng Thủy không những có thể đọc thuộc từ đầu đến cuối, có thanh, có sắc mà về hoàn cảnh lịch sử và giá trị của nó ông có thể giảng giải một cách sâu sắc và có những bình luận độc đáo. Trong quá trình kể, ông đã điểm lại, bình giảng, mổ xẻ phân tích sự cấu thành của xã hội phong kiến, những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, xã hội, địa vị xã hội của phụ nữ, tính tất yếu của những phong trào khởi nghĩa của nông dân và nguyên nhân thất bại, vạch trần những điều hủ bại, đen tối của xã hội phong kiến. ở Khu Bốn lúc đó, có nhiều người đã từng được nghe Hồng Thủy nói chuyện. Có lần ông nói liên tục trong bảy ngày. Chuyện tướng Nguyễn Sơn giảng truyện Kiều ở Khu Bốn cho đến nay vẫn là một giai thoại được lưu truyền trong rất nhiều quân nhân và người lớn tuổi ở Việt Nam. Giáo sư Vũ Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, còn giữ nguyên được bản ghi chép từ tháng Mười năm 1949 về bài giảng về truyện Kiều của tướng Nguyễn Sơn ở Trường Thiếu sinh quân Khu Bốn. Giáo sư Vũ Tuấn là con của người em trai thứ năm của hồng Thủy Vũ Nguyên Sư. Bản ghi chép về bài giảng đó là một tư liệu lịch sử có giá trị. Một ký giả Việt Nam tên là Thái An đã từng phát biểu về "Tướng Nguyễn Sơn" trong tập Tìm hiểu nhân vật dài khoảng ba nghìn chữ. Khi tôi đọc bài viết này được dịch sang Trung văn, tôi thấy bút pháp của tác giả khá sắc bén. Trong bài viết đó, ký giả Thái An nêu bật lên hai vấn đề cá nhân thường được mọi người bàn tán. "Có một số người cùng thời đại với tướng Nguyễn Sơn có bình luận rằng, ông là một người tướng đa tài, đa nghệ, dám nói, dám làm, đa mưu quyết đoán, tính cách mạnh mẽ. Tuy nhiên lại có một số nói, ông là người kiêu ngạo, tự đại, có tài nhưng có khuyết điểm, cho nên cuộc đời ông cũng lắm gian truân. Mặc dù vậy, tướng Nguyễn Sơn vẫn là một hình tượng đáng kính nể trong lòng quân dân Việt Nam." Ký giả Thái An không bình luận gì về một số điều dị nghị của người đời mà thông qua những ví dụ thực tiễn có tính chất thuyết phục nhất thuật lại cuộc đời của Hồng Thủy, tư tưởng chiến lược và chiến tích của ông trong chiến tranh chống Pháp, ông đã chiêu hiền nạp sĩ đoàn kết được và cảm hóa các nhân sĩ trí thức tham gia công tác cách mạng và có thể nói rất ít người tài hoa được như ông để làm sáng tỏ về Hồng Thủy và ca ngợi ông. Ký giả còn đề xuất đến bốn lần hôn nhân của Hồng Thủy: “Phải nói thật rõ rằng là vì cuộc sống riêng của đời ông không bình thường nên có người ngộ nhận là ông có vấn đề về đạo đức và tác phong. “Tôi cho rằng biện pháp giải quyết tốt nhất là công bố đời tư của tướng Nguyễn Sơn từ lúc ra đời đến nay. Tướng Nguyễn Sơn trong những tình huống không giống nhau đã có bốn lần kết hôn, song không hề có hành vi hư hỏng hoặc không chính đáng... Vợ và con cái của tướng Nguyễn Sơn phải trải qua đường đời không phẳng lặng, tôi rất đồng tình, thông cảm sâu sắc. "Khi tôi viết bài này tôi đã gặp các con của tướng Nguyễn Sơn và bà Lê Hằng Huân. Trung tá Nguyễn Thanh Hà, thiếu tá Nguyễn Cương, đại úy Nguyễn Việt Hằng. Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, các con của tướng Nguyễn Sơn hầu như đều lên đường nhập ngũ. Đường đời của họ cũng không phải là "thuận buồm xuôi gió” cả. Trong lời kết, vị ký giả còn viết: "Tôi xin mượn lời nói của một nhà khoa học: "Nếu như có Đại bách khoa toàn thư Việt Nam, trong tập quân sự nhất định phải có từ mục "Nguyễn Sơn". Còn tại Trung Quốc, trong cuốn Trung Hoa danh tướng từ điển đã có lời đánh giá rất cao những cống hiến của tướng quân Hồng Thủy trong lịch trình cách mạng Trung Quốc". Hồng Thủy mất đã hơn bốn mươi năm, nhân dân Việt Nam vẫn nhớ thương ông. Gần đây nhất Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đặt tên cho một con đường lớn của thành phố là “đường Nguyễn Sơn". Tại Hà Nội "Đường Nguyễn Sơn" ở Gia Lâm, từ vườn hoa Gia Lâm đến sân bay Gia Lâm, khoảng tám km. Tại thành phố Hồ Chí Minh "Đường Nguyễn sơn" được đặt ở Tân Bình, dài khoảng hai km. Hai con đường mang tên Nguyễn Sơn nói lên rằng nhân dân Việt Nam đời đời vẫn nhớ tới tướng Nguyễn Sơn. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:37:22 pm Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói với con tôi: "Trong huyết quản cháu có dòng máu Trung Quốc, lại có dòng máu Việt Nam, phải đảm nhiệm việc tăng cường tình hữu nghị Trung - Việt và có thể làm tốt được việc trọng đại ấy”.
Hồng Thủy là một trong những người phá đá mở đường cho tình hữu nghị Trung - Việt thời cận đại. Cả một đời chiến đấu của ông là tượng trưng cho tình hữu nghị Trung - Việt. Đảng, Chính phủ, Quân đội Việt Nam rất coi trọng và ủng hộ việc nghiên cứu về cuộc đời của Hồng Thủy, coi trọng và ủng hộ việc xuất bản những tác phẩm liên quan đến Hồng Thủy, động viên và ủng hộ các hoạt động kỷ niệm về Hồng Thủy. Có một số chuyên gia, học giả chuyên nghiên cứu về cuộc sống của Hồng Thủy. Ngày 31 tháng Mười hai năm 1993, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và Viện Nghiên cứu lịch sử Việt Nam tổ chức kỷ niệm 85 năm ngày sinh của tướng Nguyễn Sơn. Các giới nhân sĩ hơn ba trăm người đến dự lễ kỷ niệm. Tại buổi hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu, ông có những đánh giá rất cao cuộc đời của Hồng Thủy. Tháng Tám năm 1995, Nhà xuất bản Lao động ở Việt Nam đã xuất bản một tập gồm nhiều luận văn, hồi ức, tạp văn viết về Hồng Thủy của nhiều tác giả, nhan đề Tướng Nguyễn Sơn, coi như một tặng phẩm kỷ niệm Quân đội nhân dân Việt Nam tròn năm mươi tuổi. Bài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được in ở đầu cuốn sách. Tháng Tư năm 1996, Nhà xuất bản Lao động của Việt Nam lại cho ra cuốn sách thứ hai viết về Hồng Thủy vợi nhan đề Lưỡng quốc tướng quân. Trước đó vào tháng Sáu năm 1995, con trai lớn của tôi Trần Hàn Phong, được Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam mời sang thăm Việt Nam thời gian mười lăm ngày. Lần sang này là để tìm hiểu thêm những gì liên quan đến cha cháu - Hồng Thủy - trong thời chiến tranh chống Pháp, sưu tầm và tích lũy tài liệu lịch sử. Lúc ở Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cho cháu được gặp tại nhà riêng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉnh lý bài phát biểu của ông tái "Lễ kỷ niệm ngày sinh thứ 85 của tướng Nguyễn Sơn", và ký tên tặng cho Trần Hàn Phong. Đại tướng nói với cháu Phong: "Trong huyết quản cháu có dòng máu Trung Quốc, lại có dòng máu Việt Nam, phải đảm nhiệm việc tăng cường tình hữu nghị Trung-Việt và có thể làm được việc trọng đại ấy". Đồng chí Võ Nguyên Giáp lại nhấn mạnh một lần nữa: "Hai nước Việt-trung cần đoàn kết, đoàn kết, đoàn kết nữa." Để tưởng nhớ tới cha, để nêu bật được tinh thần quốc tịch nghĩa của cha mình và muốn cho tình hữu nghị truyền thống của hai nước Trung - Việt luôn tỏa sáng, tử năm 1962 trở đi, Trần Hàn Phong đã cố gắng sưu tầm từng chút một, dần dần thành số lượng lớn những tư liệu lịch sử liên quan đến cha mình qua các thủ trưởng Trung, Việt cũ của Hồng Thủy, các bạn chiến đấu cu, những người có thời cùng công tác với ông, các học trò. người thân quen của Hồng Thủy, các nhà nghiên cứu về Hồng Thủy, những người thân thích ở Việt Nam. Hàn Phong cũng lần lượt viết nhiều bài đăng trên nhiều tạp chí, tập san của hai nước Trung - Việt, thu hút được sự chú ý và đồng tình của nhân dân hai nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách đầy đủ những cống hiến của Hồng Thủy trong cuộc đấu tranh cách mạng của hai nước Việt - Trung, những đóng góp mà ông đã phát huy được đối với việc phát triển tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước. Dù Hồng Thủy đã mất hơn bốn mươi năm rồi, song tình cảm trân trọng và nhớ thương ông của Chính phủ và nhân dân Việt Nam không suy giảm. Lòng trân trọng và nhớ thương đó được biểu hiện qua sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam với những người trong gia đình chúng tôi. Hơn bốn mươi năm qua, trong những ngày Trung - Việt hữu hảo, trong những ngày tết, ngày lễ, các đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc như: Ngô Thuyền, Ngô Minh Loan, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Văn Quảng, Đặng Nghiêm Hoành và Đại sứ đương nhiệm Bùi Hồng Phúc đều mời cả nhà chúng tôi đến sừ quán để cùng đón mừng. Các tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam như đại tá Nguyễn Ngọc Y, đại tá Lê Khôi và tùy viên quân sự đương nhiệm đại tá Phạm Trung Minh đều thay mặt lãnh đạo quân đội đến thăm chúng tôi và còn rất quan tâm giúp đỡ chúng tôi. Từ sau năm 1991, lãnh đạo hai Đảng, hai nước Trung - Việt qua lại thăm hỏi ngày càng nhiều. Mặc dù lịch đi thăm chính thức bố trí rất sít sao nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn cố gắng xếp sắp thời gian để gặp mặt tiếp tôi và các cháu. Trong thời gian năm năm từ 1992 đến 1997, những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã đến thăm Trung Quốc là: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyễn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Thượng tướng Lê Khả Phiêu (hiện là Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam), Thượng tướng Trần Văn Quang, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, tất cả đều tiếp chúng tôi tại Đại sứ quán Việt Nam. Tôi vô cùng cảm ơn lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Quân đội Việt Nam. Hơn bốn mươi năm đã trôi qua, họ không những không quên những cống hiến của Hồng Thủy với cách mạng Trung Quốc, cách mạng Việt Nam và tình hữu nghị Việt - Trung mà còn nhớ tới các người thân Trung Quốc của Hồng Thủy. Đầu năm 1997, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười trước khi mãn nhiệm đã sang thăm chính thức Trung Quốc một lần cuối. ông đã gặp mặt tôi và các con tôi mời tôi vào thời gian nào thuận tiện cùng các con cháu sang Việt Nam thăm những người thân và tảo mộ Hồng Thủy. Sau khi Tổng Bí thư Đỗ Mười ngỏ lời mời, thấy tuổi tác tôi đã cao nên các cơ quan hữu quan phía Việt Nam đã tích cực thu xếp việc này. Cuối năm, Bộ Quốc phòng Việt Nam chính thức gửi giấy mời qua Bộ Quốc phòng Trung Quốc mời cả nhà chúng tôi bảy người sang thăm Việt Nam, gồm có tôi và con trai trưởng Trần Hàn Phong, con dâu trưởng Lâm Song Song, cháu nội gái Trần Nguyễn Lăng cùng con trai thứ Trần Tiểu Việt, con dâu thứ Lý Vân Khởi, cháu nội trai Trần Nguyễn Chinh. Qua một năm chuẩn bị của hai phía Trung - Việt, đối với gia đình tôi cuộc về thăm có ý nghĩa to lớn này cuối cùng đã được thực hiện. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:40:03 pm Chương XV GHI CHÉP VỀ CHUYẾN THĂM VIỆT NAM Trước khi mãn nhiệm, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã thân thiết mời cả nhà tôi sang thăm Việt Nam. Lần đầu tiên bước vào cửa nhà chồng, tôi đã là một bà già tám mươi tư tuổi. Trung Quốc có một câu châm ngôn "Thất thập bất viễn hành" (người đã bảy mươi tuổi không nên đi xa), huống hồ tôi đã là một bà già tám mươi tư tuổi, sức yếu, bệnh nhiều. Thầy thuốc, đồng sự, bạn bè đều có ý tốt khuyên tôi không nên đi xa. Nhưng để hoàn thành ước nguyện cuối cùng của Hồng Thủy trước khi ra đi và cũng để góp một chút sức tàn vào việc tăng thêm tình hữu nghị truyền thống của nhân dân hai nước Trung - Việt, tôi vẫn quyết tâm hoàn thành việc về thăm Việt Nam lần đầu. Ngày 16 tháng Ba năm 1998, tôi và con trai thứ hai Trần Tiểu Việt, con dâu thứ hai Lý Vân Khởi đi chuyến tàu quốc tế thứ năm về Hà Nội. Trần Hàn Phong công tác ở ủy ban Thường vụ Đại hội nhân dân toàn quốc (Quốc hội) mà Đại hội lần thứ 9 đang vào lúc bận rộn nhất nên không đi cùng. Cả nhà chúng sẽ đáp máy bay đến Hà Nội. Cháu nội tôi Trần Nguyễn Chinh vì có việc nên không thê về thăm lần này. Rất lâu rồi, tôi không đáp xe lửa đi xa. Lúc bắt đầu tôi không quen với chuyện tàu lắc và ồn, phải mất một thời gian mới thích ứng được tiết tấu nhịp nhàng đó. Tiểu Việt và Vân Khởi lo cho tôi đi xa sinh bệnh, giúp tôi sửa soạn chỗ nằm thật thoải mái, bắt tôi nằm nghỉ nhiều, ít nói chuyện để tránh bị hưng phấn và kích động. Đã trải qua một đời, tám mươi tư xuân thu, nóng lạnh, đối với tôi mà nói, nỗi bi tráng của cuộc hôn nhân khác quốc tịch, những nỗi gian truân khốn khổ trong cuộc sống nay đã là những chuyện rất xa vời. Tôi không còn như những thanh niên tràn trề sức sống, dễ hưng phấn và kích động, cũng không giống những người còn trung niên, trong lòng trăm sự bộn bề, dễ tức cảnh sinh tình. Lúc này đây tôi càng bình tĩnh và thanh thản. Xe tốc hành chạy hơn ba mươi tiếng đồng hồ, trưa hôm sau mới tới Nam Ninh, thủ phủ của Quảng Tây. Sau khi dừng lại kiểm tra hai tiếng đồng hồ, đoàn xe lửa số 5 cắt lại năm toa, rồi tiếp tục đi về phía nam. Vào khoảng 11 giờ đêm xe tới Bằng Tường, một thị trấn giáp biên giới Việt Nam. Tại đây chúng tôi dừng lại để làm thủ tục xuất cảnh. Sau hai tiếng, xe hỏa tiếp tục chạy. Mờ sáng ngày 18, xe tiến vào địa giới tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam. Tại thị trấn Đồng Đăng của tỉnh Lạng Sơn, chúng tôi chuyển sang xe lửa Việt Nam chạy đường khổ hẹp và làm thủ tục nhập cảnh. Tiểu Việt và Vân Khởi đỡ tôi xuống xe. Trên sân ga, tôi đảo mắt nhìn quanh thấy trời vẫn tối mờ mờ, trừ cảnh núi non liên miên chạy theo hai bên đường tàu còn không nhìn thấy gì khác. Lúc đó tự nhiên trong lòng tôi vốn dĩ rất bình thản nay tự nhiên thấy xao xuyến, rạo rực hẳn lên, tôi đã đến Tổ quốc của Hồng Thủy, tính đến nay vừa tròn sáu mươi năm, lần đầu tiên tôi bước vào cửa nhà chồng. Trời sáng dần, đoàn xe lửa tiếp tục tiến về phía nam. Nhìn qua cửa sổ, từng tòa nhà, núi cao vùn vụt chạy về phía sau. Xuyên qua một đoạn đèo hẹp quanh co, đoàn tàu tiến vào đồng bằng sông Hồng nổi tiếng thế giới, hiện lên trước mắt là cả một vùng ruộng lúa mênh mông xanh mơn mởn. Lúc này là lúc lúa xuân đang xanh tốt. Tôi tự nhiên lại nhớ lại sáu mươi năm trước. Khi mới tới Ngũ Đài, Sơn Tây, Hồng Thủy với tình cảm yêu quê hương sâu đậm đã nói cho tôi nghe về đất nước tươi đẹp của mình. ông đã từng kể với tôi, Việt Nam là một mảnh đất phì nhiêu, mọi người thường ví hình dáng của đất nước như "một đòn gánh gánh hai thúng thóc", còn ví các sản vật tài nguyên của đất nước là "non vàng, biển bạc". Hồng Thủy vẽ lên giấy một bức bản đồ Việt Nam đơn giản để chỉ cho tôi "chiếc đòn gánh" là chỉ dải đất hẹp của Trung Bộ Việt Nam, ông chỉ cho tôi "hai thúng thóc" là chỉ đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Mê Lông, hai khu vực sản xuất lương thực nổi tiếng trên thế giới. ở phía bắc và phía tây Việt Nam là vùng núi, là những dải rừng sâu nhiệt đới hên miên như biển xanh, ở đó có các loại gỗ lim, sến, táu, và các loại gỗ quý khác, hàng ngàn loại dược liệu, ở đó còn có biết bao loài chim muông cầm quý, dưới đất còn giấu biết bao khoáng sản quý hiếm vì vậy mới nổi tiếng là "núi vàng”. Việt Nam có ba nghìn hai trăm km bờ biển, có lãnh hải rộng lớn, mật độ sông hồ dày đặc, tài nguyên thủy sản rất phong phú, vì vậy mới có cái tên đẹp là "biển bạc". Hồng Thủy nói đợi đến khi Trung Quốc và Việt Nam được giải phóng sẽ dẫn tôi đi thăm Việt Nam. Không ngờ rằng, lần đầu tiên được bước về nhà chồng, tôi đã là một bà già tám mươi tư tuổi. Sau đó, mỗi lần xe dừng ở một ga, có những phụ nữ và trẻ con mặc áo cánh, quần rộng ống, chân trần, đi rao bán quà bánh. Trong thúng và mẹt bằng tre đan của họ xếp đầy hoa quả, kẹo, bánh chưng, bánh nếp, những món thực phẩm đặc sắc của địa phương. Xe chưa tới Hà Nội song trên đường đi chúng tôi đã được ngắm qua "phong thổ nhân tình" của Việt Nam. Một giờ chiều, đoàn xe lửa như một chàng dũng sĩ hồi hương, vượt qua cầu sắt sông Hồng, vào tới thủ đô của Việt Nam - Hà Nội. Mọi người đến đón đã đứng chờ sẵn ở ga. Nguyễn Thanh Hà và chồng Hà Trọng Tuyên, Nguyễn Việt Hằng, thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại, Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Quốc phòng, là người thân thích của gia đình ở Việt Nam, các quan chức của cơ quan tùy viên quân sự, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam và còn nhiều họ hàng thân thích khác. Họ tặng tôi từng bó, từng bó hoa tươi rất đẹp. Mọi người vui vẻ phấn khởi đứng chụp ảnh lưu niệm cùng tôi tại sân ga. Chúng tôi lên xe về nhà khách Bộ Quốc phòng. Trên đường, tôi tận ngắm vẻ đẹp vùng nhiệt đới của thủ đô Hà Nội. Hai bên đường là hàng cây cao, xanh tốt, sum sê mùi hoa sữa làm nao lòng người, từng khoảnh từng khoảnh đất xanh um, từng luống từng luống hoa tươi, từng phố lại có công viên nhỏ. Hoa tươi muôn mầu, muôn sắc đua nở. Thành cổ ngàn năm Hà Nội giống như một vườn hoa lớn, cây xanh, hoa đẹp. Xe tiến qua cổng sắt lớn của nhà khách Bộ Quốc phòng. Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng, đại tá Vũ Tần đã đứng chờ đón tôi ở cửa. Các con khác của Hồng Thủy: Vũ Thanh Các, Nguyễn Mai Lâm, Nguyễn Cương và vợ Nguyễn Ngọc Chi, các cháu hơn một chục người đã chờ đón tôi ở nhà khách. Các con, cháu đều mặc những bộ đồ Việt Nam rất đẹp, tay ôm hoa tươi, mặt mày tươi cười, vui vẻ, hạnh phúc. Khi tôi xuống xe, các cháu đã tặng hoa và vây kín chung quanh. Chúng dùng tiếng Trung Quốc chưa thật sõi, kêu tôi ríu rít nào "Mẹ", nào "Bà". Những tiếng nói thân thiết, nhiệt tình đó như róc vào tai tôi. Nhà khách Bộ Quốc phòng ở ven sông Hồng, rộng rãi và tĩnh mịch. Trong vườn chung quanh nhà khách trồng hàng loạt cây xà cừ, cây sấu, cây nhãn, ngọc lan, vạn niên thanh, mít, sum sê, cao lớn của vùng nhiệt đới. Ở chính diện khu nhà khách là tòa nhà lầu hai tầng do người Pháp xây tử cuối thế kỷ XIX, đã từng là nhà cho toàn quyền Pháp, sau là nhà tư lệnh quân đội Pháp. Ở bên trái khu nhà khách là một tòa nhà bốn tầng được xây từ những năm 50, 60, phòng xây một bên, cửa sổ quay ra một con đường hành lang lộ thiên, ở bên phải khu nhà khách là một tòa nhà cao tầng hiện đại mới xây xong gần đây. Nhìn qua kiến trúc của khu nhà khách có thể thấy lịch sử thay đổi đã đưa Việt Nam đến những chuyển biến rất lớn. Chúng tôi được bố trí ở tầng một tòa nhà do Pháp xây ở chính diện khu nhà khách. Tầng một gồm bốn khu phòng ở cao ráo, thoáng mát, trang trí hào hoa, thiết bị đầy đủ. Tôi, Hàn Phong và Song Song, Tiểu Việt và Vân Khởi , Nguyễn Lăng, Thanh Hà, chia nhau ở bốn phòng trong đó. Tầng một của nhà khách này vốn dành cho quý khách nước ngoài loại một, cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ở. Có thể thấy, Bộ Quốc phòng đã tiếp đãi chúng tôi thật chu đáo, trân trọng. Các con cháu ngồi vây quanh tôi, hỏi han mọi chuyện. Mọi người trao đổi thật sôi nổi, thân tình. Nhìn anh em chúng thân thiết tình ruột thịt máu mủ, lòng tôi vui sướng không sao tả xiết. Trời đã khuya, dù rằng ở bên nước, tôi có thói quen đi ngủ sớm nhưng hôm nay cũng thức vui đoàn tụ cả nhà. Ở ngôi lầu nhà tôi ở, có lúc có thể nghe thấy tiếng nước sông Hồng chảy. Sông Hồng, con sông mẹ của dân tộc Việt Nam, đỏ màu phù sa vùng nhiệt đới, nguồn của nó từ cao nguyên Vân - Quý, gồm các nhánh sông Nguyên, sông Đà, sông Lô, ba sông đó hợp lưu mà thành, kéo dài ngàn dặm. Nó xuyên núi, luồn đèo, quanh co uốn khúc, có lúc gào thét cuồn cuộn, có lúc êm ả trôi xuôi đổ dồn xuống vùng tam giác châu thổ sông Hồng. Nó mang dòng phù sa dồi dào, tươi mát nuôi dưỡng nhân dân Việt Nam nhiều đời sống trên mảnh đất phì nhiêu đó Sông Hồng đã cùng theo làm bạn động viên khích lệ nhân dân Việt Nam chống Mỹ cứu nước lâu dài và gian khổ. Cuối cùng, dân tộc Việt Nam đã được giải phóng hoàn toàn. Ngày nay, nó vẫn chảy xuôi để phụng sự nhân dân Việt Nam xây dựng ngày mai tươi đẹp hơn. Tôi cũng như mọi người Việt Nam khác, nghe tiếng sóng vỗ của sông Hồng như được nghe tiếng mẹ ru, chìm nhanh vào giấc mộng quê hương. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:41:57 pm Nếu Hồng Thủy biết được tôi và các con đang ở trên Tổ quốc của ông ngắm cảnh đẹp kỳ quan "Bạch Long rỡn sóng" chắc ông sẽ mỉm cười nơi chín suối.
Sáng sớm ngày thứ hai, tôi và vợ chồng Tiểu Việt được Nguyễn Thanh Hà và Quách Hữu Nhà dẫn đi xem phong cảnh vịnh Hạ Long, một khu du lịch nổi tiếng của Việt Nam, cả đoàn đi bằng xe hơi. Vịnh Hạ Long là một vịnh biển đẹp nhất, ở tỉnh Quảng Ninh, bắc Bộ Việt Nam, nằm ở phía tây vịnh Bắc Bộ, cách Hà Nội một trăm sáu mươi lăm km. Phong cảnh vịnh Hạ Long nổi tiếng nhất là từ mặt bể nổi lên các mỏm núi đá kỳ hình quái dạng, lớn nhỏ có hơn ba ngàn mỏm. Người Việt Nam gọi Quế lâm là "Hạ Long” trên cạn. Người Trung Quốc thì lại gọi vịnh Hạ Long là "Quế Lâm trên biển". Vẻ đẹp "non và nước" của Quế Lâm đã từng được coi là nhất thì cũng có thể thấy "nước và non" của vịnh Hạ Long cũng đẹp mê hồn không đâu sánh kịp. Chúng tôi xuất phát từ Hà Nội, ô tô chạy trên quốc lộ 5 nối giữa Hà Nội và Hải Phòng, sau chuyển sang quốc lộ 18 chạy về hướng Đông Bắc. Sau gần năm tiếng đồng hồ, chúng tôi đến Bãi Cháy của thành phố Hạ Long, ở kề ngay biển. ở đây tựa vào núi, trông ra biển có rất nhiều khách sạn, tiệm ăn cho khách du lịch và các viện điều dưỡng. Ở trên sườn và chân núi giữa các dải cây xanh mát mắt là các loại nhà lầu, biệt thự được xây dựng quay mặt ra hướng biển. Chúng tôi được nghỉ tại nhà khách Hạ Long xây ở sườn núi. Đứng trên sân thượng nhìn cảnh biển đẹp tuyệt vời phô diễn mút tầm con mắt. Phía dưới, thông và phi lao xanh ngắt um tùm dọc hai bên đường. Cơm chiều xong, tôi và các con đi dạo ven bờ biển. Mặt trời đã sắp khuất đầu non, ánh nắng chiều tà của nó nhuộm hồng trời xanh và biển biếc, chiếu sáng lấp lánh trên các nóc nhà, các chóp nhọn trên sườn núi. Sóng biển từng đợt một lướt vào như xoa như vuốt bờ biển yên bình. Chúng tôi đi chân đất trên cát mịn, tận hưởng cái thú êm ái của buổi hoàng hôn trên bờ biển. Lúc này cảnh biển lại phảng phất như hai câu thơ tuyệt vời của chàng trai trẻ Sơn Tây Vương Bột. "Lạc hà dữ cô vụ tề phi; Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc". Trời tối không biết từ lúc nào. Đêm ở các nhà khách, tiệm ăn trên sườn núi và các công trình kiến trúc đã bừng sáng. Cảnh tượng núi và biển tương phản thật là hùng vĩ, trang nghiêm. Chúng tôi vẫn vừa hóng gió biển, vừa tận hưởng cảnh đêm đẹp tuyệt vời của Bãi Cháy, Hạ Long, thực đúng là được du ngoạn trong tranh. Tại bến phà Bãi Cháy, Hạ Long, chúng tôi lên một chiếc tàu du lịch do thượng tá Quách Hữu Nhà chuẩn bị trước. Qua làn sương mờ mờ ảo ảo, cảnh đẹp như vẽ, như thơ, cứ lần lượt hiện ra, xem không chán mắt. Giữa mặt biển những mỏm núi đột nhiên mọc lên hình thù kỳ lạ trăm dạng ngàn hình. Người ta đã đặt cho những mỏm núi bằng những cái tên thú vị, đặt ra những câu chuyện đẹp về nó làm người nghe không khỏi ngẩn ngơ liên tưởng. Trên biển nổi lên một mỏm núi giống cái lư hương thì gọi là núi Lư Hương, giống đôi đũa thì gọi là núi Đũa. Núi Mã Yên thì giống như một con tuấn mã đang nhoài thân phóng trên sóng biên, núi Song Điểu như một đôi vợ chồng chim đang ân ái, dù cuồng phong bào tố, dù sấm rền chớp giật, dù sóng cả dập vùi, chúng vẫn tựa nhau không rời, tương thân tương ái, trung trinh bất khuất. Tàu cứ lướt sóng, người như mơ trong tranh. Hàng ngàn núi biếc bao quanh bởi nước biển xanh rờn, nước biển in hình từng ngọn núi xanh, non xanh nước biếc; khiến cho ý họa lung linh, tình thơ dào dạt. Người hướng dẫn du lịch nói với chúng tôi, phong cảnh của vịnh Hạ Long tùy theo từng mùa, từng giờ cũng có những điểm đặc sắc, không giống nhau. Ví dụ vịnh Hạ Long vào mùa hè thì sôi sục, mùa thu thì yên tĩnh như hiện nay, giữa mùa đông qua, xuân tới thì là mùa mây mù sương phủ trên vịnh. Thếch nên nhìn các núi nhấp nhô xa xa trên sóng biển bao phủ mây mù như làn khói xanh, lúc ẩn, lúc hiện, mờ mờ ảo ảo, trông như một bức tranh thủy mặc lớn được treo trên mặt biển ở chân trời. Du thuyền đi lách qua kẽ núi, người hướng dẫn du lịch kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện lý thú. Theo truyền thuyết cổ đại, có một đoàn rồng trắng từ phương trời xa bay tới bị hấp dẫn bởi phong cảnh tuyệt vời của vùng vịnh, đã từ trên trời lao xuống tận đáy biển, rồi vùng vẫy làm dậy sóng, làm nổi lên hàng ngàn hòn đảo trăm hình ngàn dạng như hiện nay. Việt Nam và Trung Quốc giống nhau là đều có truyền thuyết về rồng. Ngoài việc thích thú ra, lòng tôi tự nhiên lại thấy xao xuyến. Tôi nhớ lại ngày tham gia lớp tập huấn ngắn ngày ở huyện Ngũ Đài, tôi đã kể cho Hồng Thủy nghe truyền thuyết về giao long ở Biển Đông nổi giận đã lấy đuôi bạt bằng năm đỉnh núi của Ngũ Đài Sơn. Hồng Thủy nghe rất chăm chú và rồi cười vang, cảnh tượng đó vẫn in sâu trong trí óc tôi Không thể ngờ rằng, hôm nay, sau sáu mươi năm, tôi lại tới được Tổ quốc của Hồng Thủy, đến được vịnh Hạ Long cảnh đẹp như tranh. Nếu như Hồng Thủy biết tôi và các con đang đứng ngắm cảnh đẹp kỳ quan "Bạch Long rỡn sóng” chắc ông sẽ ngậm cười nơi chín suối. Lúc đó, luồng suy nghĩ của tôi bị cắt ngang bởi vì trước mặt du thuyền là một dãy núi đứng sừng sững chắn ngang như một bức tường thành. Đúng vào lúc sơn cùng thủy tận, chúng tôi chắc rằng người lái sẽ cho tàu quay mũi thì không ngờ ở trước mũi tàu lại có đường lách qua, đưa chúng tôi vào một khu vực mới còn đẹp và kỳ diệu hơn... Một điều thú vị nữa trong chuyến du hành ở vịnh Hạ Long là được tự gia công và thưởng thức hải sản tươi sống ngay trên tàu. Tàu đã chuẩn bị sẵn cho du khách dụng cụ để gia công nấu nướng hải sản như lò nướng, lẩu v v... Quách Hữu Nha đã mua của tàu một số tôm, cua còn sống. Tất ca mọi người đều xắn tay làm một loáng đã luộc, nướng xong. Thêm vào một ít gia vị Việt Nam, thế là được ăn tươi ngon tuyệt. Có thể nói vừa no lòng, vừa khoái khẩu. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:42:52 pm Đứng trước mộ Hồng Thủy, tôi không thể nào ngăn nổi tình cảm của mình, những nỗi thống khổ, ủy khuất, bi thương đã dồn nén trong trái tim tôi bao nhiêu năm nay lại bùng phát.
Sáng ngày 23 tháng Ba, tôi với Hàn Phong, Song Song, Tiểu Việt, Vân Khởi, Nguyễn Lăng, cùng các con cháu Việt Nam của Hồng Thủy tất cả hơn mười người được thượng tá Quách Hữu Nha, quan chức của Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng và một số nhân viên đi cùng, đã đi tảo mộ Hồng Thủy tại nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch, một nghĩa trang liệt sĩ quốc gia ở ngoại ô Hà Nội. Nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch rất trang nghiêm, yên tĩnh, được bố trí ở giữa một vùng cây cao, xanh tươi, mát mẻ. Đối diện với cửa lớn có một tòa tháp cao, là đài kỷ niệm các liệt sĩ cách mạng. ở chính giữa tháp có khắc bốn chữ Việt lớn "Tổ quốc ghi công”. Cạnh tháp có một bức tường xây vòng trên khắc "Đời đời nhớ ơn liệt sĩ" bằng tiếng Việt. Các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội việt Nam như Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng cho đến các cán bộ cao cấp của Đảng, chính quyền, quân đội, các nhân sĩ xã hội nổi tiếng, sau khi tạ thế đều được an táng tại đây. Năm 1976, khi xây xong nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch thì mộ của Hồng Thủy cũng được di về an táng tại nghĩa trang này. Tùy viên quân sự của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, đại tá Hàn Dụ Gia và trợ lý tùy viên trung tá Lâu Tân ân, đã chờ sẵn ở đây. Họ đại diện cho Chính phủ và Quân đội Trung Quốc cùng tham gia tảo mộ Hồng Thủy với chúng tôi. Bộ Quốc phòng Việt Nam và Đại sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam đều có một vòng hoa tươi bện với các cây cỏ xanh. Tôi chú ý thấy vòng hoa của Việt Nam có phong cách khác với của Trung Quốc, có băng đỏ dán chéo qua vòng hoa, trên có dòng chữ tưởng niệm Hồng Thủy, đúng là phong cách đặc biệt của quân nhân. Những người tảo mộ khiêng vòng hoa, ôm hoa tươi, dìu đỡ tôi từ từ tiến vào trước mộ Hồng Thủy. Mọi người đặt hoa phía sau mộ theo thứ tự chủ khách, đứng xếp thành hàng trước mộ. Tôi chú ý quan sát phần mộ của Hồng Thủy, trước mộ là một tấm bia đá màu đen xanh không lớn. Ở phần trên mặt bia có gắn ảnh đồng Thủy mặc quân phục Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, đeo quân hàm thiếu tướng. Dưới ảnh là một bản tóm tắt lịch sử của Hồng Thủy được khắc trên đá. Bia mộ giản đơn, trang trọng. Những người tham gia tảo mộ đều kính cẩn, rất nhiều người nước mắt đã trào tuôn. Tôi lại càng đau lòng, bốn ngươi hai năm đã trôi qua, lần đầu tiên tôi mới dẫn con cháu từ Bắc Kinh, Trung Quốc đến Hà Nội để tảo mộ Hồng Thủy, nước mắt không cầm nổi cứ tuôn tràn. Trước mộ Hồng Thủy mọi người làm lễ tưởng niệm, cúi đầu ba vái rồi theo tập tục tôn kính tiền nhân của nhân dân hai nước Trung - Việt, đốt vàng, đốt hương, dọn cỏ quanh mộ, sau đó lại tập hợp ở trước mộ. Hoàn thành xong mọi nghi thức, chúng tôi một lần nữa lại đứng trước hành lễ lần cuối trước vong linh Hồng Thủy. Qua làn nước mắt, tôi chăm chú ngắm nhìn hình Hồng Thủy, trong lòng còn biết bao nhiêu điều muốn thổ lộ. Mọi người sợ tôi quá bi thương, muốn dìu tôi rời đi. Tôi gạt tay mọi người, muốn đứng thêm một lát. Cuối cùng, tôi không thể nào ngăn nổi được tình cảm của mình, biết bao năm qua, những nỗi thống khổ, những điều ủy khuất, những nỗi bi thương dồn nén trong tim đến nay tất cả đều bùng phát. Tôi đứng rất lâu trước mộ Hồng Thủy thầm thổ lộ với Hồng Thủy đang nằm dưới mộ những nỗi lòng của mình: "Anh Hồng Thủy thân yêu, anh có nghe thấy em nói không? Em là Trần Kiếm Qua, người vợ Trung Quốc của anh đây. Em đã dẫn các con của anh Tiểu Phong, Tiểu Việt từ Bắc Kinh, Trung Quốc xa xôi về thăm anh đây. Chính phủ và Quân đội Trung - Việt đã tạo cơ hội hiếm có này cho em. Em và các con đang đứng trước mộ anh đây. "Hồng Thủy, anh chia tay với em đã bốn mươi hai năm rồi. Em và các con không giờ phút nào không nhớ tới anh. Ai có ngờ rằng lần gặp anh ở Sở Giáo dục là lần chúng ta vĩnh biệt: khi anh bệnh nặng rời Trung Quốc em không đi tiện được. "Trong những ngày cuối cùng của đời anh, em cũng không thể nói được một lời thân thiết, an ủi anh. Em biết rằng, khi rời Trung Quốc, khi đi khỏi thế gian này, lòng anh vẫn nhớ thương và đau khổ. Với em, những nỗi khổ đau cũng không biết thổ lộ cùng ai... "Anh Hồng Thủy ơi, anh sống vì chân lý, chiến đấu vì chân lý, không khuất phục, không sờn lòng, cái tình thần kiên quyết, tiến thủ ấy vẫn sống trong em suốt nửa thế kỷ phong ba bão táp. Nay em đã là một bà già tám mươi tư tuổi. Các con của chúng ta đều là những người trung niên, trên năm mươi tuổi rồi. Chúng đều chăm chỉ phấn đấu trong công tác và đều có một gia đình hạnh phúc mỹ mãn. Cả nhà đều rất tự hào vì có một người thân là anh, một chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa vĩ đại. "Anh Hồng Thủy thân yêu, nguyện vọng cuối cùng của anh nay đã được thực hiện. Dân tộc Việt Nam đã được thống nhất, đang tiến nhanh trên con đường đổi mới, mở cửa. Tám con của anh, trai gái, đều đã đoàn tụ ở Hà Nội. Chúng nó là máu mủ ruột thịt nên thân thiết thương yêu nhau vô hạn. Dòng máu của anh đã gắn các con lại dù không cùng quốc tịch". Đứng trước mộ đồng Thủy, lòng tôi lại trào dâng lên những tâm tư suốt nửa thế kỷ... … Xe hơi đã chạy chầm chậm rồi nhưng tôi vẫn âm thầm khấn anh: "Hãy yên tâm, anh Hồng Thủy. Bài thơ dài về tình hữu nghị giữa hai nước Trung - Việt sẽ được các con ta, cháu ta viết tiếp. Anh hãy yên nghỉ trong vòng tay của đất nước Mẹ thân yêu”. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:43:45 pm Trong Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh cho đền nay vẫn còn trân trọng giữ được tấm danh thiếp quý báu mà Người đã Việt tặng Hồng Thủy năm nào.
Buổi sáng ngày 24 tháng Ba, do quan chức Bộ Quốc phòng Việt Nam và Nguyễn Thanh Hà dẫn đường, tôi đưa Hàn Phong, Tiểu Việt, một đoàn sáu người vào viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiêm ngưỡng di hài của Người. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hùng vĩ, trang nghiêm được xây dựng ở Quảng trường Ba Đình, mặt quay về hướng tây. Đây chính là vị trí của lễ đài Ba Đình, nơi lúc còn sống Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chủ tọa các cuộc mít tinh, đại hội lớn. Lăng mộ được xây từ tây sang đông có nhiều nét hiện đại nhưng lại mang phong cách dân tộc Việt Nam. Đỉnh lăng, thân lăng và nền lăng đều được xây bằng đá hoa cương. Đỉnh lăng màu xám. Trước mặt lăng có năm chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" bằng đá màu ngọc bích xẻ ra thành chữ ghép vào trông rất nổi. Nền lăng có ba bậc tam cấp là một màu đen trang trọng, thâm nghiêm. Có hơn một chục cột chống ghép bằng đá hoa cương màu xám bao quanh khu lăng màu đỏ sẫm. Có hai chiến sĩ ở đội nghi thức khiêng vòng hoa đi trước. Chúng tôi từ tử đi theo tiến vào cửa chính, đặt vòng hoa trước lăng mộ Người. Vòng hoa được tết bằng các loại hoa quý của Việt Nam, hương thơm ngan ngát. Hai dải băng trắng từ hai bên vòng hoa rủ xuống. Băng tang bên phải ghi: "Bác Hồ kính yêu sống mãi trong lòng chúng con". Băng tang bên trái ghi tên tôi và tên các cháu Trung, Việt của Hồng Thủy. Bước vào tiền. sảnh, trên bức tường bằng đá hoa cương đỏ có một dòng chữ có chữ ký của Hồ Chủ tịch, được gắn bằng màu vàng kim: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Chúng tôi từ từ bước vào đại sảnh, nơi Hồ Chủ tịch yên nghỉ. ở giữa đại sảnh có một bệ bằng đá ngọc thạch đen được xẻ mỏng, có chạm khắc hoa văn, ở trên để áo quan bằng thủy tinh trong đó Hồ Chủ tịch đang yên nghỉ, chung quanh có các lan can màu đỏ. Trên chính diện của đại sảnh có hai lá cờ, đảng kỳ và quốc kỳ được ghép bằng các loại đá ngọc thạch rất quý, nền là đá đỏ, sao vàng và búa liềm là đá màu vàng kim. Chúng tôi xếp thành hàng trước quan tài bằng thủy tinh của Hồ Chủ tịch, cung kính vái Hồ Chủ tịch ba vái, sau đó đi vòng qua quan tài kính để chiêm ngưỡng di hài của Người. Hồ Chủ tịch mặc một bộ quần áo cán bộ bằng ka ki, dưới thân đắp một chăn mỏng nằm yên nghỉ trong quan tài kính trong suốt. Trông Người rất thư thái, cứ như đang yên nghỉ sau khi mới công tác bận rộn. Với tấm lòng sùng kính, tôi ngó nhìn bộ mặt thanh thản, hiền từ của Người, tự nhiên thấy lòng xúc động, nước mắt trào ra. Hồ Chủ tịch là người dẫn đường cho Hồng Thủy bước vào cuộc đời cách mạng. Người lãnh tụ cách mạng Việt Nam là người thầy mà Hồng Thủy kính phục nhất. Năm 1924, Hồng Thủy tìm đến Quảng Châu theo Hồ Chí Minh tham gia cuộc Đại cách mạng của Trung Quốc, học tập kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc, tìm đường để giải phóng dân tộc Việt Nam. Trong khóa huấn luyện của tổ chức Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí do Hồ Chí Minh sáng lập, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Hồng Thủy và một số đồng chí khác, tổng cộng chín người, đều đổi họ Lý, thành "Chín anh em họ Lý”. Chính Hồ Chí Minh là người đã sớm truyền đạt một cách có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin cho Hồng Thủy, để Hồng Thủy lưu lại ở Trung Quốc dài ngày, để học chính trị, học quân sự, học tập các loại bản lĩnh, để tương lai có thể cống hiến lớn cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam. Tôi sống chung với Hồng Thủy bảy năm trời, Hồng Thủy đã kể cho tôi nghe nhiều tình hình liên quan đến Việt Nam, trong đó ông nói nhiều nhất là về Hồ Chí Minh. Mỗi lần nói đến Hồ Chí Minh mặt ông lại biểu lộ vẻ kính phục vô bờ. Hồng Thủy luôn giữ bên mình một quyển bút ký riêng. Ngoài một số bài thơ Trung Quốc được chọn lọc, có hai trang kẹp nhau ông dán đầy những ảnh Hồ Chí Minh mà ông cắt được tử các báo. Báo chí thì nay đã ố vàng, đã nát, ảnh của Hồ Chí Minh đã mờ. Qua hai mươi năm chiến đấu gian khổ, đồ đạc của cá nhân khó giừ vẹn toàn, vậy mà quyển sách nhỏ ấy Hồng Thủy vẫn cất kỹ, mang theo mình. Mãi tới năm 1945, khi rời Trung Quốc về tham gia chiến tranh chống Pháp ở Việt Nam, Hồng Thủy mới trao cho tôi cất giữ. Quyển sách nhỏ đó tôi đã trân trọng giữ gìn cẩn thận trong suốt năm mươi năm qua. Hồng Thủy mất sớm, Hồ Chí Minh vô cùng thương tiếc. Trước di hài của Hồ Chủ tịch, tôi dừng bước. Tôi muốn thưa với Người rằng: Chú Sơn của Người cả một đời vì tình hữu nghị Việt - Trung. Các con cháu Trung - Việt của Nguyễn Sơn cũng như vậy, đời đời sẽ giữ gìn và phát triển tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước. Ra khỏi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cảnh quan đẹp đẽ trang nghiêm của Quảng trường Ba Đình trải dài trước mắt. Trung tâm quảng trường là một thảm cỏ xanh mướt chia ra thành từng ô, có những cụm hoa tươi đẹp. Chung quanh quảng trường toàn cây cao nhiệt đới xanh tốt. Nhà cơ quan Trung ương Đảng, Nhà Quốc hội, Hội trường Ba Đình, Phủ Chủ tịch Việt Nam, Nhà Bộ Ngoại giao đều ở bao quanh Quảng trường Ba Đình. Nhà Bộ Ngoại giao là ngôi nhà sơn màu vàng nhạt, nằm lọt giữa khu vườn cây cao, râm mát, rất khác biệt, trang nhã, vừa có đặc điểm dân tộc vừa có phong cách châu Âu, vừa có nét truyền thống, vừa có vẻ hiện đại. Phong cảnh nhiệt đới đó làm người xem rất mê say. Cũng giống như Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh, Quảng trường Ba Đình trong con mắt, trái tim nhân dân Việt Nam là tượng trưng cho Tổ quốc, tượng trưng cho cách mạng. Năm 1945 sau khi Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam thành công, để kỷ niệm cuộc đấu tranh kháng Pháp gần một thế kỷ, ở Hà Nội mới lập ra Quảng trường Ba Đình. Ngày 2 tháng Chín năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc "Tuyên ngôn độc lập" của Việt Nam tại đây, tuyên cáo với thế giới việc ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lễ diễu hành Quốc khánh và các cuộc họp lớn đều được cử hành tại đây. Tháng Mười một năm 1945, khi Hồng Thủy về đến Việt Nam, việc đầu tiên của ông là đến Quảng trường Ba Đình, ngước nhìn lên ngọn cờ đỏ sao vàng ở trên cao đang tung bay trước gió, trang nghiêm tuyên thệ trước Tổ quốc mẹ hiền. Đứng trên Quảng trường Ba Đình, chúng tôi phảng phất như thấy có dấu chân Hồng Thủy. Chúng tôi chụp ảnh đứng trước lăng mộ Hồ Chủ tịch. Phủ Chủ tịch là nơi Đảng Việt Nam và các nhà lãnh đạo quốc gia tiến hành các hoạt động nhà nước ở cấp cao. Sau khi Hồ Chủ tịch mất, ở đây đã mở cửa cho công chúng vào xem. Nhân dân Việt Nam và du khách của các nước trên thế giới có thể đến đây tham quan chiêm ngưỡng nơi ở của Hồ Chủ tịch. Trong khu vườn Phủ Chủ tịch là hàng loạt các cây cao của vùng nhiệt đới xanh um tùm, che rợp ánh nắng của trời xanh. Bên ven một hồ nhỏ tĩnh mịch có một căn nhà sàn bằng gỗ rất bình thường. Đây chính là chỗ ở nổi tiếng thế giới của Hồ Chủ tịch. Dưới nhà sàn là các "chân", đó là mấy cây cột bằng gỗ cao chừng hơn hai mét, quây lại một không gian thành phòng họp trống bốn bề. Các hàng ghế dựa được xếp chỉnh tề chung quanh phòng. Hồ Chủ tịch thường triệu tập các cuộc họp hoặc tiếp khách ở đây. Năm 1956, khi Hồng Thủy về nước, Hồ Chủ tịch đã rưng rưng nước mắt tiếp ông ở đây và nói chuyện với ông rất lâu. Tầng trên của những cột gỗ là phòng đọc sách và phòng ngủ của Hồ Chủ tịch. Trong phòng không có thiết kế gì là hào hoa, rất giản dị và trang nhã. Đó chính là sự phản ánh chân thực về cuộc sống vĩ đại mà bình dị của Hồ Chủ tịch. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:44:17 pm Giáo sư Nguyễn Huy Hoan, Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh vừa nghỉ hưu đã nhiệt tình tiếp đãi chúng tôi.
Để hiểu rõ hơn về lịch sử và hoàn cảnh cách mạng trước khi Hồng Thủy tham gia cách mạng, tôi hết sức tập trung lắng nghe lời giới thiệu của giáo sư Nguyễn Huy Hoan về cuộc đời cách mạng của Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch sinh ngày 19 tháng Năm năm 1890, tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nghệ An là một nơi phong cảnh tuyệt đẹp song điều kiện tự nhiên lại vô cùng khắc nghiệt, núi nhiều, đất ít, ruộng đất cằn cỗi. Vào giữa hè, mỗi khi gió Tây Nam "gió Lào" thổi về thì ruộng đất nứt nẻ, cây cối héo khô. Thế nhưng nhân dân Nghệ An trong cuộc đấu tranh lâu dài với thiên nhiên khắc nghiệt và chống ngoại xâm đã hình thành một truyền thống kiên trì, khắc khổ, đoàn kết phấn đấu. Chiều ngày 3 tháng Sáu năm 1911, Hồ Chí Minh đã đến xin việc làm trên chiếc chiến hạm của Pháp "Đô Đốc La Touche Tréville" lúc dó đang cập bến cảng Sài Gòn. Một thủy thủ thấy Người chất phác, đáng mến, đứng đắn, liền dẫn Người lên gặp thuyền trưởng. Người thanh niên Hồ Chí Minh vì để tìm đường cứu nước, cứu dân đã kiên định dấn thân vào một cuộc hành trình dài muôn phần hiểm nguy. Cũng từ đó, Hồ Chì Minh bắt đầu lịch trình dài ba mươi ba năm gian khổ và cuối cùng đã tìm được con đường giải phóng dân tộc. Trước tiên Người đến Pháp, sau đó đến nhiều quốc gia khác ở châu Phi, châu âu và châu Mỹ, lại đến Liên Xô, Trung Quốc. Tên của Người truyền khắp bốn phương và là sự hóa thân của lòng tin tưởng của dân tộc Việt Nam. Ngay thời kỳ hoạt động cách mạng từ rất sớm ở Pháp, Người đã tạo lập được sự quan hệ với những người cách mạng Trung Quốc có tình hữu nghị sâu sắc như Chu Ân Lai và các đồng chí khác. Được sự giới thiệu của Hồ Chí Minh, năm đồng chí Triệu Thế Viêm, Trần Diên Niên, Trần Kiều Niên, Vương Nhược Phi, Túc Tam đã được gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Trong những năm tháng gian nan của cách mạng Trung Quốc, Hồ Chủ tịch luôn luôn bằng hành động thực tế ủng hộ cách mạng Trung Quốc, cùng chia sẻ hoạn nạn với nhân dân Trung Quốc. Tháng Mười một năm 1924, Hồ Chí Minh đến Quảng Châu làm phiên dịch cho Bôrôđin và Tôn Trung Sơn. Người đồng thời là Uỷ viên Đông phương bộ, Quốc tế cộng sản, kiêm Uỷ viên Đoàn Chủ tịch của Quốc tế nông dân, có cống hiến rất lớn cho cách mạng của nhân dân Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Khi giáo sư Nguyễn Huy Hoan giới thiệu đến mối quan hệ thân thiết giữa Hồ Chủ tịch và các nhà lãnh đạo Trung Quốc có một câu chuyện như sau: Ngày 21 tháng Mười một năm 1956, trong bữa tiệc chiêu đãi Thủ tướng Chu ân Lai lần đầu sang thăm Việt Nam, Hồ Chủ tịch giới thiệu với những người phụ trách Đảng, Chính Phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam đến dự tiệc: "Đối với tôi Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã cùng sướng khổ có nhau, cùng làm công tác cách mạng với nhau. Ba mươi năm trước, chúng tôi đã là bạn chiến đấu thân thiết của nhau”. Thủ tướng Chu vui vẻ nói tiếp: "Ba mươi tư năm trước, tôi được quen Hồ Chủ tịch ở Pari, Người đã là người dàn đường cho tôi. Lúc đó, Người thông hiểu, nắm vững chủ nghĩa Mác, còn tôi thì mới vừa vào Đảng Cộng sản. Người là người anh lớn của tôi". Lúc này, không khí buổi tiệc vui nhất, khách, chủ đều nâng cốc chúc tình hữu nghị Trung - Việt mãi mãi xanh tươi. Giáo sư Nguyễn Huy Hoan cho chúng tôi biết, trong Viện Bảo tàng còn lưu giữ được tấm danh thiếp của Hồ Chủ tịch gửi cho Hồng Thủy nhân dịp phong quân hàm cấp tướng năm 1948, trên đó viết một bài thơ chừ Hán. Hơn bốn mươi năm nay, lời tặng trên tấm danh thiếp của Hồ Chủ tịch cho Hồng Thủy đã được sách báo, tạp chí dẫn đăng và được truyền tụng rộng rãi trong quần chúng Việt Nam. Câu chuyện chân thực đó nói lên tình thương yêu vô hạn và sự cảm thông của Hồ Chủ tịch đối với Hồng Thủy, nói lên được ở Hồ Chủ tịch tri thức uyên bác, tư tưởng sâu sắc công tác chu đáo, tế nhị, đồng thời cũng nêu lên được tác phong và tính cách Hồng Thủy khoáng đạt, mọi việc làm đều xuất phát từ đại cục. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:44:48 pm Nhờ sự giúp đỡ của hai Đảng, hai nước, hai quân đội Việt - Trung, ước vọng đại đoàn tụ của con cái Hồng Thủy đã được thực hiện.
Sau khi cả nhà Hàn Phong và Song Song tới Hà Nội, các con cái của Hồng Thủy đã tổ chức một cuộc gặp mặt, đoàn tụ lớn tại nhà Nguyên Thanh Hà. Buổi tối đó, trừ việt Hồng đang nằm viện không dự được còn bảy con trai, gái đều đến dự đủ, mang theo các cháu. Thiếu tướng Nhuyễn Đồng Thoại ở Bộ Quốc phòng Việt Nam, vì là họ hàng thân thích nên cũng được mời dự cuộc họp này. Sau khi đổi mới và mở cửa, mức sống của nhân dân Việt Nam có những thay đổi lớn. Chỉ nhìn sự thay đổi sinh hoạt của gia đình Thanh Hà là cũng đủ rõ. Thanh Hà nguyên là một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, bộ đội giảm quân số lớn, một số lớn sĩ quan, chiến sĩ phục viên, chuyển ngành, về hưu. Năm 1988, Thanh Hà nghỉ hưu, rời khỏi quân đội lúc đó chưa tới bốn mươi tuổi. Trước khi đổi mới, mở cửa, tình hình Thanh Hà cũng như mọi người khác, việc bảo đảm do quốc gia gánh: từ ăn ở, đến tiền hưu, nhà ở, chữa bệnh. Sau khi đổi mới, mở cửa, Thanh Hà cũng như nhiều người Việt Nam khác lao vào cao trào của kinh tế thị trường, cháu làm công tác môi giới, khai thông quan hệ mậu dịch, kinh tế của hai nước Việt - Trung, vừa đóng góp cho sự phát triển kinh tế quốc gia, vừa tăng thêm thu nhập cho mình. Thanh Hà xây cho mình một ngôi nhà bốn tầng nhỏ tại đường Bưởi, quận Ba Đình, Hà Nội, hoàn toàn tự lực và cuộc sống mỗi ngày một nhấm khá lên. Việc con cái của Hồng Thủy có thể gặp mặt, đoàn tụ đông đủ như thế này thực chẳng dễ dàng gì. Mọi người đều rất quý trọng cơ hội này. Tôi ngồi giữa chúng cũng mừng vui lây vì chúng. Để cho các con cái của Hồng Thủy gặp mặt đầy đủ, một buổi sáng, tôi và tất cả các con đi xe tới thăm Nguyễn Việt Hồng đang nằm viện. Bệnh viện mà Việt Hồng nằm là do tổ chức Unicef và Hội Chữ thập đỏ quốc tế giúp đỡ xây dựng nên. Khung cảnh bệnh viện rất yên tĩnh, thiết bị đầy đủ. Việt Hồng là con thứ bảy của Hồng Thủy, rất thông minh khi đi học các môn đều học tốt, suốt từ bé thành tích học tập đều xuất sắc Việt Hồng và một thanh niên Tiệp Khắc yêu nhau. Do ở Việt Nam lúc đó tư tưởng và chính sách "tả” còn ảnh hưởng rất nặng, nên tình yêu của đôi trai gái này bị cấm và cắt đứt, Việt Hồng vì thế mà mắc bệnh tâm thần. Qua chữa chạy, bệnh của cháu đã đỡ, song vẫn cần nằm viện để điều dưỡng. Việt Hồng đã không thể đem tài trí thông minh của mình cũng như tri thức đã học được để cống hiến cho đất nước, thật vô cùng đáng tiếc. Mới gặp Việt Hồng, tôi có cảm giác cháu không giống như các anh, các chị, hoạt bát, hiếu động. Mắt đờ đẫn, tinh thần mệt mỏi. Tôi rất đồng tình thông cảm với cháu. Tôi có đọc nhiều bài báo viết về các cuộc hôn nhân khác quốc gia, ở các nước phương Đông những cuộc hôn nhân đó thường dẫn đến bi kịch. Nguyên nhân về vấn đề này có nhiều, có thể ảnh hưởng do quan niệm về truyền thống, do tập quán dân tộc, trở ngại về ngôn ngữ và do việc đóng cửa biên cương, khu vực. Tôi nghĩ việc tăng cường sự tiến bộ xã hội, giao lưu quốc tế, đặc biệt là việc xúc tiến tiến trình hòa bình thế giới, việc hôn nhân khác quốc gia sẽ dần dần trở nên những chuyện đáng vui. Ở trong sân vườn giữa viện, các con vây quanh Việt Hồng. Mọi người quan tâm hỏi thăm Việt Hồng về bệnh tình, hy vọng em an tâm điều dưỡng, động viên em tin tưởng nhất định khỏi bệnh. Cuối cùng, ở bệnh viện, các con của Hồng Thủy mới có dịp đoàn tụ cả tám anh chị em. Trong số anh chỉ em các cháu, cháu được ở với cha lâu nhất là bảy năm, cháu ngắn nhất chỉ được vài ngày. Khi chia tay với cha, có cháu còn hoàn toàn chưa biết gì. Tám anh chị em ruột không cùng quốc tịch, không cùng mang họ, song hết năm này tháng khác, không lúc nào nguôi hy vọng ngày đoàn tụ, mong đợi cái giờ phút đó mau tới. Chúng đã ngóng trông suốt bốn mươi hai năm ròng. Rất nhiều người có lòng tốt, thậm chí cả người nước ngoài cũng đã nghĩ tới việc trợ giúp cho các con cái của Hồng Thủy được một lần đại đoàn tụ. Được sự giúp đỡ của Đảng, Chính phủ, Quân đội của hai nước Việt - Trung, mong ước đó nay đã được thực hiện. Ngoài nỗi mừng vui ra cũng có điều làm người ta cảm thấy cuộc đại đoàn tụ này có phần bi tráng, thậm chí còn những điều chua xót không nói ra được và nó đã diễn ra quá muộn. Chị cả của chúng, Vũ Thanh Các, nay đã tới tuổi bảy mươi tư, nhỏ nhất là em gái Nguyễn Việt Hằng cũng đã bốn mươi hai tuổi. Ánh sáng lóe lên liên hồi. Tiếng máy ảnh "tách tách”, "tách tách” liên tục. Mọi người liên tục đổi chỗ để chụp ảnh, để cho cái cảnh tượng không thể quên được này, cái thời khắc xúc động này, để cho cảnh đoàn tụ đã chờ đợi từ lâu này được lưu giữ lại vĩnh viễn. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:45:55 pm Về thăm quê hương của Hồng Thủy, tôi càng hiểu thêm và kính phục ông.
Quê cha đất tổ của Hồng Thủy là thôn Kiêu Kỵ, xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, phía đông thành Hà Nội. ông nội của Hồng Thủy, Vũ Trường Xương, là một phú hào giàu nhất thôn Kiêu Kỵ và cả huyện Gia Lâm. ở đây hình thành dòng họ Vũ có thế lực lớn. Số người trong họ ngày một nhiều và trở thành một dòng họ có số nhân khẩu rất lớn. Họ phân tán trên khắp mọi miền đất Việt, nghe nói chỉ riêng ở Hà Nội đã có ba, bốn trăm người. Họ thành lập Hiệp hội họ Vũ, chuyên nghiên cứu lịch sử dòng họ Vũ. Nghe nói chúng tôi về thăm Việt Nam, Hội trưởng Hiệp hội họ Vũ và ba hội viên đã đến nhà khách Bộ Quốc phòng thăm tôi. Trước tiên, họ giới thiệu tình hình Hiệp hội họ Vũ đang nghiên cứu lịch sừ họ Vũ, sau đó lại nói về Hồng Thủy. Họ nói, dòng họ Vũ sinh ra được Vũ Nguyên Bác là rất vinh quang. Là người được hai nước cùng phong tướng, trên lịch sử thế giới rất hiếm thấy. Ở Trung Quốc là trường hợp duy nhất và cũng là mềm tự hào của họ Vũ Tướng Nguyễn Sơn được nhân dân Việt Nam coi là người anh hùng dân tộc. Câu chuyện về ông được lưu truyền mọi nơi. Nguyễn Sơn là một đại biểu kiệt xuất. Họ có kế hoạch bảo vệ, giữ gìn nhà họ Vũ ở thôn Kiêu Kỵ xây dựng thành một nơi giáo dục truyền thống cách mạng, giáo dục các thế hệ con cháu đời sau dòng họ Vũ kế thừa tinh thần cách mạng của tiền bối. Có Thanh Các, Mai Lâm, Thanh Hà, Việt Hằng đi cùng, chúng tôi về thăm ngôi nhà tổ họ Vũ ở thôn Kiêu Kỵ, xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm. Thôn Kiêu Kỵ và thôn Đa Tốn ở cạnh trước đây vốn là cùng một xã, là điển hình tiên tiến toàn quốc Việt Nam về hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Năm 1994, khi Thủ tướng Lý Bằng tới thăm Việt Nam cũng đã có về đây tham quan. Các vị phụ trách huyện Gia Lâm, thôn Kiêu Kỵ đón chúng tôi như người thân, nhiệt tình mời chúng tôi vào phòng khách ngồi và giới thiệu với chúng tôi về tình hình huyện Gia Lâm, thôn Kiêu Kỵ. Thôn Kiêu Kỵ là quê cha đất tổ của tướng Nguyễn Sơn. Tướng quân tuy sinh ra ở Hà Nội song lúc nhỏ thường về xã Kiêu Kỵ luôn. Hiện tại, người trong dòng họ Vũ đều ra đi, toàn xã cơ hồ không còn người mang họ Vũ. Thế nhưng toàn thôn, toàn xã, thậm chí trong toàn huyện, ai ai cũng ngưỡng mộ ông. Được cán bộ huyện, xã đi cùng và dẫn đường, chúng tôi về thăm ngôi nhà tổ họ Vũ. Ngôi nhà tổ họ Vũ là một ngôi nhà gạch năm gian lợp ngói, mặt chính quay về hướng nam, na ná nhà gạch xây ở phương nam Trung Quốc. Ở hai bên đường có gắn bia đá trên khắc bằng chữ Hán, ghi tóm tắt lịch sử phát tích và một số sự kiện lớn của dòng họ Vũ. ở hai bên ngôi nhà chính, quay mặt về các hướng đông và tây là hai dãy nhà ngang cũng xây gạch lợp ngói song thấp hơn ngôi nhà chính một chút, dùng để nấu bếp, làm kho, chuồng trâu bò, chuồng lợn. Khuôn viên của nhà tổ họ Vũ khá rộng, tường xây quanh do quá lâu nên đã bị đổ gần hết chỉ có bức tường phía nam là còn nguyên. Trên cửa lớn có khắc năm xây dựng 1933. Trải qua hơn nửa thế kỷ phong sương nhưng nét chữ số năm xây dựng vẫn rõ. Nhìn hiện nay, ngôi nhà đã cũ, có vẻ nhỏ một chút song phong thái vẫn đàng hoàng, so trong xã Kiêu Kỵ vẫn là lớn nhất. Thăm nhà tổ họ Vũ, tôi càng hiểu sâu thêm và kính phục Hồng Thủy. Hồng Thủy được sinh ra trong một gia đình giàu sang, có thế lực, đương nhiên có thể được hưởng vinh hoa phú quý suốt đời nhưng từ bé ông đã có chính khí căm thù sự hủ bại của triều đình phong kiến Bảo Đại và sự tàn ác cùng cực của bọn thực dân xâm lược Pháp. ông đã yêu tha thiết Tổ quốc mình, nhân dân mình, nuôi khát vọng phải giải phóng Tổ quốc mình khỏi gót sắt của quân xâm lược và sự áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến, để đồng bào ruột thịt của mình được hưởng cuộc sống tự do, hạnh phúc. Ông cũng căm ghét cái cuộc đời hưởng lạc, tham sống sợ chết của con cái nhà giàu thời đó dứt khoát rời bỏ cuộc sống cao sang do hoàn cảnh gia đình mang lại, đi theo Hồ Chí Minh, bước vào con đường cách mạng. Trên con đường cách mạng lâu dài, Hồng Thủy đã nếm đủ mọi khổ cực, chịu đựng bao sự giày vò nhưng lòng tin vào cách mạng và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của ông không hề lay chuyển, ông đã hiến dâng toàn bộ sinh mệnh mình. Cái tinh thần ấy của Hồng Thủy là một thứ của cải tinh thần quý báu nhất lưu lại cho toàn bộ gia đình chúng tôi. Trong thời gian thăm Việt Nam, tộc trưởng họ Vũ là Vũ Hầu đã tổ chức một bữa tiệc gia đình để mừng đón chúng tôi. Vũ Hầu là con trai trưởng của anh cả của Hồng Thủy, gọi ông là chú ruột. Hồng Thủy có sáu anh chị em. Anh cả là Vũ Nguyên Khôi, anh thứ hai là Vũ Nguyên Đức, anh thứ ba là Vũ Nguyên Đạo, em trai là Vũ Nguyên Sư, em gái là Vũ Thị Đại. Hồng Thủy là thứ tư tên là Vũ Nguyên Bác. Các anh chị em dòng họ Vũ đều đã qua đời vũ Hầu đương nhiên trở thành tộc trưởng dòng họ Vũ Vũ Hầu năm nay đã gần tám mươi tuổi, những năm sáu mươi đã từng làm Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, sau đó lại làm Tổng lãnh sự, Lãnh sự quán Việt Nam ở Nam Ninh, Trung Quốc, nay đã nghỉ hưu. Khi còn đang tại chức ở Trung Quốc, Vũ Hầu đã nhiều lần gặp Tiểu Phong, Tiểu Việt. Mấy năm gần đây, khi Tiểu Phong, Tiểu Việt về thăm Việt Nam, Vũ Hầu đều triệu tập người trong họ gặp mặt đón mừng hoặc tổ chức bữa tiệc gia đình để đãi các em trong tình nghĩa ruột thịt, họ hàng. Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:46:46 pm Khuôn viên nhà của Vũ Hầu rất rộng, mở một cuộc họp một trăm tám mươi người cũng không thành vấn đề ở góc khuôn viên xây một ngôi nhà ba tầng nhỏ, tầng hai, tầng ba để ở, tầng một là một gian nhà khách lớn. Có thể vì Vũ Hầu là tộc trưởng, thường phải tổ chức các hoạt động của gia tộc, khách qua lại nhiều nên mới xây dựng nhà kiểu đó.
Họ hàng thân thuộc của Hồng Thủy ở Hà Nội có khoảng ba, bốn trăm người nhưng cùng thế hệ với Hồng Thủy thì nay chỉ còn mình tôi ở trần thế, đương nhiên tôi trở thành người duy nhất của thế hệ đó. Hơn nữa, tôi lại là một lão thành cách mạng, ở Việt Nam cũng có lưu truyền một số chuyện về tôi, như thế lại càng thêm sắc thái thần bí về tôi. Họ hàng thân thuộc của Hồng Thủy ai ai cũng muốn đến gặp. Vũ Hầu tính chuyện, tôi đã là ruột người già tám mươi tư tuổi nên không thể làm gì quá mệt, do vậy ông đã chọn một số đại biểu họ hàng, thế mà cũng đã mấy chục người, tổ chức một cuộc họp nhặt mừng đón có tính chất gia đình. Đây là một cuộc họp dòng họ Vũ có quy mô lớn nhất trong một số năm gần đây, phàm ai được mời đều cảm thấy vinh hạnh. Mọi người thân thuộc của Hồng Thủy vui như tết, đỡ già, dắt trẻ, phấn khởi vui mừng đến nhà Vũ Hầu ngồi chật trong phòng khách và cả bên ngoài, chuyện trò thăm hỏi vui vẻ, thoải mái. Cuộc họp mừng đón chúng tôi do Vũ Hầu chủ trì, ông vốn xuất thân là quan chức ngoại giao nên nói năng lưu loát phong độ chững chạc, lời phát biểu thấu tình đạt lý lại chu đáo nhiệt tình. Lời phát biểu của ông được mọi người vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng. Thanh Hà ngồi cạnh tôi làm phiên dịch. Sau đó, mỗi gia đình cử đại biểu lên giới thiệu với tôi tình hình gia đình mình từ già đến trẻ, từ thành tích công tác đến sự biến đổi trong cuộc sống. Mặc dù Vũ Hầu đã nhiều lần nhắc phải nói ngắn gọn nhưng mọi người vẫn cứ muốn nới, có rất nhiều người chưa kịp phát biểu. Không biết có ai kêu lên: "Chụp ảnh trước đã! Chụp ảnh đã Mọi người lúc đó mới phát hiện mặt trời đã sắp xuống thấp dưới mái nhà, trời đã bắt đầu xế bóng. Thế là dừng nói chuyện, tất cả ùa ra sân như ong vỡ tổ. Mọi người trong họ đều vây quanh tôi. Theo sự sắp xếp của Vũ cầu, tử nhà anh cả của Hồng Thủy đến các em của ông, từng nhà theo thứ tự trong phả hệ, lần lượt chụp ảnh cùng chúng tôi, sau đó các cháu trai, gái của đồng Thủy, rồi đến các cháu gọi Hồng Thủy bằng ông, đến các chắt... Mọi người vừa cười vừa gọi nhau rất náo nhiệt. Tôi cũng không hiểu họ nói gì nhưng có thể thấy tất cả trong lòng đều rất vui. Trời dần dần tối, buổi tiệc gia đình đã bày xong. Người đến dự buổi tiệc rất đông, bàn ăn bày cả trong nhà khách và ngoài sân, mọi người chỉ có thể ngồi ghế dài, bàn nào cũng chật. Trên bàn bày đầy các món ăn đặc sắc theo truyền thống Việt Nam: Nem cuốn, chả giò, thịt gà luộc, gà rán, tôm, cua v. v... lại còn rất nhiều hoa quả nhiệt đới, muốn cho chúng tôi được hưởng phong vị ẩm thực của Việt Nam. Người đến dự tiệc hôm nay đủ các loại cương vị chức trách, không ít người đã tới Trung Quốc, hoặc có việc qua lại Trung Quốc, hoặc có mối quan hệ này khác với Trung Quốc. Ai cũng vừa ăn vừa nói. Do ngôn ngứ bất đồng nên Thanh Hà, Thanh Hằng và một số người biết tiếng Trung Quốc phải đứng ra dịch cho mọi người. Cho đến khi toàn Hà Nội đã lên đèn, mọi người vẫn còn nói chưa dứt. Theo đề nghị của Vũ Hầu, mọi người nâng cốc. Vì niềm tự hào của dòng họ Vũ: Vũ Nguyên Bác, Hồng Thủy, Nguyễn Sơn, cạn chén! Vì cuộc đại đoàn tụ chưa từng có của dòng họ Vũ, cạn chén! Vì tinh thần hữu nghị muôn đời của nhân dân hai nước Việt - Trung, cạn chén! Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:47:24 pm Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nói: Gia đình này là đại biểu cho việc hai nước Việt - Trung là một nhà, vì vậy càng nên năng qua lại tham nhau. Qua cuộc thăm viếng hữu nghị này, nhất định tăng cường tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước.
Trong thời gian thăm Việt Nam, Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam đã bố trí lịch trình cho chúng tôi thật chặt chẽ chu đáo, vừa khẩn trương mà đầy đủ, vừa hết sức thân tình. Chúng tôi được sống trong không khí ,thân ái, hòa hợp. Ngoài việc tảo mộ và thăm hỏi gia đình còn tổ chức một số bữa tiệc và trao đổi thân tình. Khi sắp kết thúc cuộc về thăm Việt Nam của chúng tôi 3 giờ chiều ngày 26 tháng Ba, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã thân mật tiếp chúng tôi tại nhà lớn của cơ quan Trung ương Đảng. Khi Tổng Bí thư còn đang đảm nhiệm là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đã gặp tôi và các con tôi tại Bắc Kinh. Vì thế, có thể nói lần gặp này ở Hà Nội đã là chỗ quen biết nên Tổng Bí thư hết sức vui. Tôi trao tặng Tổng Bí thư một bức tranh thêu chữ "Phúc", vì mọi người thường muốn được phúc thọ trường, chừ phúc đây là cả nhà tôi đều một ý muốn chúc ông được phúc thọ an khang. Tổng Bí thư Lê rất hòa nhã, khiêm tốn, hỏi chúng tôi tỉ mỉ về tình hình thăm Việt Nam, còn hỏi tình hình gia đình, sinh hoạt, công tác của từng con tôi. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nói: "Tình hữu nghi chiến đấu Việt Trung là do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông, những nhà cách mạng lớn của giai cấp vô sản, tạo dựng nên, trong đó tướng Nguyễn Sơn đã phát huy được tác dụng trọng yếu. Gia đình ta đến thăm Việt Nam lần này như là về nhà vậy, vì là người một nhà thân thích, mong chị và các cháu đến Việt Nam luôn. Gia đình này là đại biểu cho việc hai nước Việt - Trung là một nhà, vì vậy càng nên qua lại thăm viếng. Hiện nay, hai nước Việt - Trung đều cải cách mở cửa rất cần ủng hộ lẫn nhau, cùng hợp tác, cùng học tập lẫn nhau để thúc đẩy việc phát triển sự nghiệp kiến thiết của hai nước. Về phương diện này, gia đình ta càng có điều kiện tiện lợi, có thể làm được nhiều việc. Nếu có thể được mỗi năm gia đình ta có thể đến thăm Việt Nam một lần, để đi lại, xem xét và tự thể nghiệm, cảm thụ sự thay đổi của Việt Nam sau khi đổi mới ở mọi ngành nghề và trong đời sống nhân dân". Để thực hiện nguyện vọng cuối cùng của Hồng Thủy, để cống hiến chút sức tàn của mình cho tình hữu nghị đời đời của nhân dân hai nước Trung - Việt, đã nhiều năm nay tôi vẫn suy nghĩ, trong những năm còn sống phải hoàn thành một quyển hồi ký, tự thuật lại câu chuyện về cuộc hôn nhân khác quốc gia giữa tôi và đồng chí Hồng Thủy, qua đó phản ánh tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị thân thiết, anh em của nhân dân hai nước Trung - Việt được các nhà cách mạng vĩ đại của giai cấp vô sản Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp nên trong quá trình đấu tranh cách mạng gian khổ, cao đẹp, gần một thế kỷ của nhân dân hai nước chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Đặc biệt là sau khi cả nhà tôi được sang thăm Việt Nam do Tổng Bí thư tiền nhiệm Đỗ Mười mời, tháng Hai năm 1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm Trung Quốc, đã cùng với Tổng Bí thư Giang Trạch Dân xác định khuôn khổ mới cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước hướng vào thế kỷ 21 thành công tốt đẹp, trong lòng tôi lại cảm thấy càng bức xúc. Cuối cùng tôi cũng hoàn thành được tác phẩm này ở vào tuổi tám mươi sáu. Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương được ra mắt đông đảo bạn đọc vào lúc giao thời thế kỷ và kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, tôi thực sự vô cùng sung sướng. Do đồng chí Hồng Thủy ra đi sớm, tư liệu trong tay tôi có hạn, nên để hoàn thành tác phẩm này có một số khó khăn nhất định. Hơn ba mươi năm nay, các con Trung, Việt của Hồng Thủy vì lòng nhớ thương và tôn kính đối với cha đã trường kỳ thu thập tư liệu về cha mình, từng điểm, từng giọt một đã cung cấp cho tác phẩm những tài liệu, yếu tố chân thực. Bí thư của Hồng Thủy, Hàn Thủ Văn, đồng chí Hồng Tả Quân ở Bộ Liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí Lý Ninh Phòng sáng tác Bộ Tư lệnh pháo binh 2, đồng chí Hà Diên Giồng ở Nhà xuất bản Bắc Kinh, đã cung cấp cho cuốn sách những tư liệu lịch sử rất có giá trị. Trong quá trình sáng tác Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương nữ văn sĩ Châu Yến đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Bà đã phỏng vấn những người có liên quan, thu thập rất nhiều tư liệu và đã gia công chỉnh lý bản thảo cuốn sách, góp nhiều công sức về văn chương, từ ngữ. Vì vậy tôi xin biểu lộ lòng cảm ơn vô hạn. Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các cơ quan của Đảng, Chính phủ và Quân đội hai nước Việt - Trung về việc xuất bản cuốn sách này, về việc đã quan tâm giúp đỡ cho các con cái Trung, Việt của Hồng Thủy được đại đoàn tụ. Xin cảm ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người thủ trưởng cũ, người bạn chiến đấu cũ của Hồng Thủy, đã viết lời tựa cho cuốn sách. Cảm ơn sự giúp đỡ của Đại sứ Bùi Hồng Phúc, Tham tán Phạm Văn Chúc, Tùy viên quân sự Phạm Trung Minh của Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc. Trung Quốc, Việt Nam, núi sông liền kề, Hoàng Hà, Hồng Hà mãi mãi chảy xuôi. Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung - Việt "Vạn cổ trường thanh". Tác giả Tháng Ba năm 2000 Tiêu đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương Gửi bởi: hoanghahongha trong 31 Tháng Bảy, 2010, 09:48:30 pm NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM. NGƯỜI CHIẾN SĨ ANH HÙNG CỦA CÁCH MẠNG TRUNG QUỐC Nhà văn Trung Quốc Ngụy Nguy bình về cuốn hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương" Tướng quân Hồng Thủy (Nguyễn Sơn) mới 16 tuổi đã rời Việt Nam, Tổ quốc đang đau thương, xa gia đình, một gia đình tài chủ rất có thế lực, ra đi vì lý tưởng cách mạng, sự nghiệp tráng lệ của nhân loại; năm 1924 theo Hồ Chí Minh đến Trung Quốc, tham gia cuộc Đại cách mạng Trung Quốc ở Quảng Châu, rồi gia nhập lực lượng vũ trang công nông Trung Quốc từ ngày mới thành lập cho tới suốt quá trình kháng Nhật đến thắng lợi. Trong cách mạng, chiến đấu, công tác Hồng Thủy đã quen biết nữ tác giả cuốn sách này và rồi họ trở thành đôi bạn đời thân yêu và đã có hai đứa con trai đáng yêu. Nhưng lửa chiến tranh vốn vô tình, Hồng Thủy đáp lời kêu gọi của Tổ quốc, về Việt Nam tham gia kháng chiến chống Pháp, chỉ huy chiến đấu trên tiền tuyến, lập công lớn, được Quân đội nhân dân Việt Nam phong quân hàm thiếu tướng. Ông vẫn luôn hy vọng có một ngày được đoàn tụ với vợ con còn lưu lại ở Trung Quốc. Đột nhiên ông nhận được tin báo "Vợ và con đã bị máy bay Quốc dân đảng bắn chết". Bất hạnh thay tin đó lại không đúng. Sau đó ông lập gia đình tại Việt Nam. Người nữ chu nhân cuốn sách này, lúc đó một nách hai con, phải đối mặt với vết thương lòng sâu sắc, về chính tri lại bị đả kích nặng nề, đã không khuất phục số mệnh, kiên quyết xử lý nỗi bất hạnh đột xuất trong cuộc đời với lý trí và lòng khoan dung, dốc toàn lực vào sự nghiệp giáo dục mầm non. Tấn bi kịch của một cuộc tình và hôn nhân khác quốc gia, trải qua bốn mươi hai năm dài giông tố cuối cùng đã được kết tinh trong tình hữu nghị Trung- Việt. Cuộc gặp mặt đoàn tụ của tất cả các con trai, gái khác quốc tịch của họ đã được thực hiện. Đời Hồng Thủy đã ba lần tới Trung Quốc, ba lần bị khai trừ đảng tịch, ba lần vượt "Núi tuyết", "Thảo nguyên", cực kỳ gian truân, cống hiến suốt hai mươi bảy năm cho sự nghiệp cách mạng Trung Quốc, mới bốn mươi tám tuổi đầu đã từ giã cuộc đời. Sau khi nước Trung Hoa mới được thành lập, Hồng Thủy Lại đến Trung Quốc (lần cuối) được Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng và trở thành "Lưỡng quốc tướng quân", một điều hiếm thấy trên thế giới. Cuốn hồi ký Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương của đồng chí Trần Kiếm Qua vừa được Nhà xuất bản "Thế giới đương đại" xuất bản, phát hành. Đồng chí Trần Kiếm Qua, đã tám mươi sáu tuổi mà còn hoàn thành được tác phẩm văn học, thể hồi ký, ghi lại được những kỷ niệm về cuộc sống và chiến đấu của bà với "Lưỡng quốc tướng quân Hồng Thủy" (Nguyễn Sơn) thật là một sự kiện đáng trân trọng. Tôi xin biểu lộ lời chúc mừng bà. Đối với đồng chí Hồng Thủy (Nguyên Sơn) tôi đã được quen biết từ rất sớm, chúng tôi đều đã cùng sống và chiến đấu tại căn cứ kháng Nhật trong địch hậu "Tấn - Sát – Ký” một vùng đất cháy bỏng, khó quên. Đối với Hồng Thủy, một con người có một cuộc đời oanh liệt và tinh thần cách mạng triệt để, tôi rất kính trọng. Đồng chí Hồng Thủy đã ba lần tới Trung Quốc, sau Hồ Chí Minh, ông là một trong những đồng chí cách mạng Việt Nam đến Trung Quốc sớm nhất, là tượng trưng cho tình hữu nghị chiến đấu giữa hai Đảng và hai Quân đội Trung - Việt. Ông là một trong bốn người nước ngoài đã tham gia Vạn lý trường chinh, lúc đầu trong đội ngũ của Phương diện quân 1 Hồng quân công nông, sau đó lại đi cùng Phương diện quân 4 Hồng quân, trải qua chiến đấu cực kỳ gian khổ, ba lần vượt "Núi tuyết", "Thảo nguyên", cuối cùng chỉ một mình, đơn thương độc mã, đói ăn khát uống, tìm đến được Diên An; sau khi học xong Đại học Hồng quân. Đại học kháng Nhật, lại lên tiền tuyến kháng Nhật, góp công sức cống hiến cho việc thành lập và phát triển căn cứ địa kháng Nhật "Tấn-Sát-Ký”. Ông là người giỏi cả văn lẫn võ "đa tài đa nghệ", đã để lại ấn tượng sâu sắc với mọi người. Hồng Thủy trong bài thơ mới "Đóa hoa danh tướng nay thành phân bón cho Thái Hàng Sơn" đã dùng ngòi bút sắc bén, ngôn ngữ sinh động, lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Nhật, nhiệt tình ca ngợi thắng lợi vĩ đại của nhân dân Trung Quốc trong chiến tranh kháng Nhật. Ông đã hoàn toàn hòa mình vào cuộc đấu tranh của cách mạng Trung Quốc, thậm chí khiến cho rất nhiều người quên hẳn ông là một người nước ngoài. Khi Tổ quốc mình yêu cầu, ông đáp ứng ngay và trong chỉ huy chiến đấu trên tuyến đầu chống Pháp, vận dụng tư tưởng chiến tranh nhân dân đạt thành tích nổi bật, có cống hiến quan trọng trong chiến tranh chống Pháp. Trong cuộc đời ngắn ngủi bốn mươi tám xuân xanh, ông đã công tác và chiến đấu trên đất Trung Quốc hai mươi bảy năm dài, đem hết tuổi xuân tươi đẹp, hiến tặng vô tư cho nhân dân Trung Quốc, thậm chí đến hơi thở cuối cùng. Năm 1956, khi Hồng Thủy công tác ở Tổng bộ Quân huấn của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, do quá sức thành bệnh, không may bị ung thư phổi, Trung ương Đảng đã hết sức quan tâm, tìm mọi cách chữa trị..., tất cả những việc ấy, mọi người nay còn nhớ như in. Các nhà lãnh đạo Đảng và Quân đội như Mao Trạch Đông, chu Đức, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh đều rất quý mến Hồng Thủy, điều đó ai ai cũng biết. Mấy năm trước để kỷ niệm đồng chí Hồng Thủy, tôi có đề tặng ông hai câu "Người con ưu tú của nhân dân Việt Nam Người chiến sĩ anh dũng của cách mạng Trung Quốc” Tôi nghĩ, đó là hình ảnh chân thực nhất về cuộc đời cách mạng của ông. Cuốn "Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương” lấy "nhớ” và "thương” là ý chủ đạo đã thể hiện chân thực một thời 11 đại vĩ đại suốt bảy mươi lăm năm qua, nhiệt tình ngợi " ca tinh thần Hoàng Hà, Hồng Hà, tinh thần dân tộc kháng chiến. Nhân vật chủ yếu nam cũng như nữ trong cuốn sách đã cùng biểu hiện rõ tinh thần chủ nghĩa quốc tế vĩ đại, tinh thần yêu nước nồng nàn, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, và đó cũng là sự thăng hoa của tinh thần dân tộc kháng chiến. Tác giả lần lượt qua những câu chuyện sinh động về cuộc đời lên thác xuống ghềnh, đã thể hiện lòng nhẫn nại khó bì, tấm lòng cao đẹp khiến mọi người đều cảm phục. Lý tưởng, niềm tin, lòng quả cảm, kiên trinh được nêu trong "Hoàng Hà nhớ, đồng Hà thương” là chủ đề có ý nghĩa thời đại. Thường, người ta hay ca ngợi "Paven” (nhân vật chinh trong tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy của N.A.Otropxki), tôi cho rằng đó chính là ngợi ca cái thời đại người người sục sôi cách mạng, ca ngợi tinh thần của thời đại đó. Tinh thần Hoàng Hà, Hồng Hà thực ra cũng là một đại biểu cho cái thời đại vĩ đại đó vậy! Ngoài ra bằng bút pháp tinh tế, tác giả đã khắc họa nên dung mạo, thể hiện phong cách, tính chất của nhân vật nam nữ chính, và dùng cách viết tự truyện lần lượt nêu lên các tình tiết phức tạp một cách chân thực, rõ ràng, cung cấp cho bạn đọc, khiến cho ai đọc xong cũng cảm thấy cả ngọt bùi lẫn thương cảm. Dù xét về giá trị văn học hay ý nghĩa giáo dục, cuốn sách này xứng đáng ra mắt đông đảo bạn đọc. Tạp chí Giao lưu văn hóa Trung Quốc - nước ngoài - số ra ngày 15/11/2000 |