Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: menthuong trong 28 Tháng Mười, 2009, 05:00:58 pm



Tiêu đề: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 28 Tháng Mười, 2009, 05:00:58 pm
Việt Nam ngày nay là sự kế thừa đương nhiên của nhà nước Văn Lang thời các Vua Hùng. Nhưng trải mấy nghìn năm lịch sử cương vực nước ta đã nhiều lần thay đổi. Để có diên mạo như ngày nay, tổ tiên người Việt đã đổ bao mồ hôi và xương máu. Tìm lại lịch sử việc giữ vững biên cương, mở mang lãnh thổ cũng lắm lý thú. Rất tiếc thời đi học chúng tôi ít được các thầy chỉ rõ và đến nay tài liệu cũng còn tản mát.

Vốn ưa tìm hiểu, tôi cố gắng lục tìm tư liệu nhưng thấy thiếu nhiều và lắm khi lại trái ngược nhau. Một điều dễ thống nhất là: Việc mở mang lãnh thổ của ta chủ yếu là là quá trình “Nam tiến” (南進,The March to the South) của người Việt. Còn việc các nhóm Mông – Dao di cư thì  đến nay vẫn tiép diễn nhưng không có tác dụng mở mang lãnh thổ.

Quá trình Nam tiến của đại Việt như sau: Đời nhà  Đinh và Tiền Lê: miền Bắc và miền Trung đến đèo Ngang ; Đời nhà  Lý: mở rộng đến Cửa Việt (sông Hãn thuộc Quảng Trị, 1069); Đời nhà  Trần: thêm đến đèo Hải Vân (1306); Đời nhà  Hồ: đến Quảng Ngãi (1402); Đời nhà  Lê: đến Khánh Hòa (1470); Chúa Nguyễn: - hết miền Trung (Phan Thiết, 1697); Đời nhà  Nguyễn hết miền Nam: Lục Tỉnh (1765).

Trong khi quan quân, dân chúng  Đại Việt chiếm, lấn, vượt qua Chiêm Thành và xuống đồng bằng sông Cửu Long thì người Hoa cũng từ Trung Quốc Nam tiến xuống vùng đất này. Quá trình nam tiến của người Hoa chủ yếu bằng đường biển và nó gắn chặt với tiến trình lịch sử phát triển của Đàng Trong, tình hình vùng duyên hải Nam Trung Hoa. Quá trình này khởi nguồn từ năm 1600 khi Nguyễn Hoàng cát cứ, thâu nhận nhân lực và qua 4 giai đoạn: Giai đoạn I: Từ cuối thế kỷ XVI đến trước năm 1645, chủ yếu là thương nhân; Giai đoạn II: Từ 1645 đến 1678, chủ yếu là nạn dân, trong đó có thể có một số ít thương nhân và các sĩ phu; Giai đoạn III: Từ 1678 đến trước năm 1685, chủ yếu là di thần nhà Minh, trong đó đông đảo là binh lính; Giai đoạn IV: Từ 1685 trở đi, thành phần đa dạng hơn bao gồm cả thương gia, trí thức Nho giáo, các nhà sư. Quá trình lịch sử người Hoa các vùng duyên hải phía nam Trung Quốc di cư đến Đàng Trong sinh sống đã làm phong phú thêm tiến trình lịch sử phát triển của Đàng Trong. Người Hoa đã được các chúa Nguyễn trọng dụng, được cư dân bản địa tiếp nhận và hỗ trợ, các cộng đồng người Hoa đã lần lượt ra đời. Những cố gắng và cống hiến của người Hoa đã tạo cho hó có chỗ đứng vững chắc và vị trí khá quan trọng trong lòng xã hội Đàng Trong. Người Hoa giữ được bản sắc dân tộc nhưng không đồng hoá được dân Việt và dân bản địa và vùng đất họ sinh sống mau chóng thuộc về Đại Việt.

Như vậy, cuộc Nam tiến của Đại Việt là quá trình đánh trả, ngăn chặn rồi lấn lướt những chính quyền hiếu chiến ở biên Nam. Đồng thời cũng được thi hành ôn hòa qua kế hoạch dinh điền, mở mang khai phá đất đai bị bỏ hoang ở biên trấn, sống hòa lẫn cùng dân bản địa, vừa canh chừng giặc, vừa sản xuất lương thực theo đường lối “ngụ binh ư nông” mà Đại Việt đã khôn ngoan áp dụng từ khi thu hồi được độc lập. Công bằng mà xét thì công cuộc này được mở màn từ thời Tiền Lê ở thế kỷ X, quyết liệt trong thời Lý, tương đối hòa bình trong thời Trần, vừa đánh, vừa lấn vừa đàm ở thời Hồ, thời Hậu Lê đối với Chiêm Thành. Tới thời các chúa Nguyễn, Đại Việt đã biết lợi dụng cuộc nội tranh trong vương thất các nước Chiêm Thành, Chân Lạp mà thực hiện vừa bảo hộ, vừa lấn, vừa dần chiếm rồi dứt điểm xác lập chủ quyền cả về đất đai và dân cư. Điều đáng chú ý là tuy không phải là người mang gươm đi mở đất nhưng Đại Việt đã có những phụ nữ đóng góp đáng kể cho sự nghiệp này. Đó là Công chúa Huyền Trân thời Trần (1306) đã chính thức đem lại vùng Thuận Hoá về cho đất nước; là Công nữ Ngọc Vạn (1620) và Ngọc Khoa (1631) thời các chúa Nguyễn đã mở đường cho công cuộc làm chủ Nam Trung bộ và Nam Bộ của người Việt .

Muộn hơn hướng Nam tiến là việc xác lập quyền cai trị vùng độn với láng giềng ở Tây, Tây-Bắc. Quá trình đó diễn ra liên tục từ khi xác lập quyền tự chủ đến thế kỷ XIX. Đó là quá trình xác lập chủ quyền đối với vùng Tây Nguyên (năm 1830 bởi vua Minh Mạng 明命仁皇帝), Tây Bắc (1841)...

Như vậy, trong buổi đầu lịch sử cương vực nước ta chỉ gồm vùng đồng bằng, trung du miền núi Bắc bộ nay. Đầu thời phong kiến tự chủ mới đến bắc dãy Hoành Sơn. Thời Lý (thế kỷ XI) đã ổn định biên giới vùng Đông Bắc và về phía Nam kéo tới sông Thạch Hãn (Quảng Trị). Sang đời Trần bắt đầu kinh dinh vùng Tây Bắc và Tây Nghệ An, Thanh Hoá vào kéo cương giới phía Nam đến đèo Hải Vân và nhà Hồ tiếp tục phát triển vào đến Quảng Ngãi. Nhà Hậu Lê đã ổn định biên giới phía Tây và mở mang bờ cõi phiá Nam tới Bình Định. Họ Nguyễn phát triển lãnh thổ vào đến Hà Tiên, Cà Mau và bắt đầu kinh dinh vùng cao nguyên phía Tây.

Trong thời hiện đại, sau 30 năm chiến tranh (1945-1975) và những tranh chấp về đường biên mốc giới kéo dài hơn 10 năm, tới cuối thế kỷ XX Chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp ước biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia và nước Việt Nam có diện mạo ngày như ngày nay. Tất nhiên trên thực địa và trong thực tế hàng ngày vẫn còn va chạm, những điểm chưa nhất quán, đặc biệt là với Trung Quốc và Campuchia.
Riêng vùng lãnh hải và Biển Đông, vịnh Thái Lan thì còn nhiều điểm bất đồng bởi những phức tạp do lịch sử để lại.

Qúa trình mở mang lãnh thổ về phía Nam, xác định chủ quyền ở phía Bắc, phía Tây thường diễn ra ở những vùng mà cư dân bản địa vốn không thuần là người tộc Việt. Nhưng công cuộc hoàn thiện lãnh thổ của Việt Nam đã cơ bản hoàn thành vào thế kỷ XIX và hơn 100 năm qua cộng đồng dân tộc Việt Nam đã trở thành khối thống nhất, hoà hợp. Suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn là địa bàn chiến lược xung yếu, là “phên dậu” trấn giữ, bảo vệ biên cương Tổ quốc. Có thể nói: nếu không có ý chí ngoan cường, tinh thần 先发制人“tiên phát chế nhân” của vua quan, tính thần khai khẩn đất hoang cần cù của quan quân và dân chúng, sự hi sinh cao đẹp của “người đẹp” Đại Việt thì có lẽ đất nước của Vua Hùng đã bị đế chế Hoa Hán nuốt chửng hoặc bị vương quốc Chân Lạp, Chăm Pa, Ai Lao, Nam Chiếu lấn lướt từ lâu và đâu có được diện mạo hình chữ S như ngày nay

Những năm gần đây, trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng- an ninh, góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Song do nhiều nguyên nhân, vấn đề dân tộc, sắc tộc ở nhiều nước đang diễn biến hết sức phức tạp đã ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta. Sự bùng nổ trào lưu ly khai dân tộc trên thế giới hiện nay, ngoài nguyên nhân bên trong (vấn đề lịch sử để lại, những mâu thuẫn nội tại...) còn là sự kích động, tiếp tay của các thế lực hiếu chiến phản động, sự can thiệp lật đổ, gây ảnh hưởng khu vực và phục vụ cho chiến lược toàn cầu của các thế lực bên ngoài. Các thế lực thù địch đã kích động, chia rẽ khối đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, đẩy mạnh truyền đạo trái phép, nhất là truyền đạo ở các vùng dân tộc thiểu số với các thủ đoạn mị dân, nhằm tập hợp, lôi kéo quần chúng vào các tổ chức phản động núp dưới các hình thức tôn giáo; ráo riết tổ chức lực lượng để hình thành cái gọi là “Nhà nước Đề ga độc lập” ở Tây Nguyên, “nhà nước Khơ-me Crôm độc lập” ở Tây Nam bộ, “Vương quốc Mông” ở vùng miền núi phía Bắc, “Vương quốc Chămpa” ở miền Trung…tăng cường các hoạt động giành giật quần chúng với ta ở cơ sở, kích động bạo loạn.

Mong các bậc trí giả quan tâm chỉ giáo thêm!



Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 28 Tháng Mười, 2009, 05:11:36 pm
Tìm hiểu về quá trình mở mang và hoàn thiện lãnhthổ Đại Việt (Việt Nam nay) tôi thấy xuất hiện tên một số vương quốc mà thời cận đại đã không còn tồn tại và thời đi học chúng tôi cũng chưa được biết đến. Sau đây là chút hiểu biết của tôi, chắc chắn còn sơ lược, thậm chí nhầm lẫn nên rất mang được CBCS trong QSVN bổ sung, sửa chữa và chỉ dẫn thêm.

Về một số vương quốc cổ:

 1. Bồn Man:

Tiểu quốc của người Thái này được thành lập vào khoảng năm 1369 sau khi nhà Nguyên mất quyền kiểm soát ở Vân Nam vào tay nhà Minh - Trung Quốc. Các bộ tộc người Thái ở phía nam Vân Nam, với sự hậu thuẫn của hoàng thân quan quân Đại Lý mất nước chạy xuống, dành được cơ hội độc lập trong lãnh thổ với phía tây và phía nam là vương quốc Lan Xang (Lão Qua), phía đông và phía bắc là Đại Việt. Vương quốc được các tù trưởng thuộc dòng họ Cầm 琴 cai trị ở Sầm Nưa (ngày nay là thị xã Sầm Nưa của Lào), dân số ước chừng 9 vạn hộ.

Năm Mậu Thìn (1448) Bồn Man (phía đông nam giáp tỉnh Nghệ An, tỉnh Quảng Bình, phía tây bắc giáp tỉnh Hưng Hóa, tỉnh Thanh Hóa của Đại Việt và phía tây tới tận Hủa Phăn của Lạn Xang) xin nội thuộc Đại Việt, Nhà Lê đặt làm châu Qui Hợp . Nhưng các thổ hào ở đây vẫn luôn quấy phá Đại Việt. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), triều Lê Thánh tông sai “Bảo chính công thần nhập nội Thiếu bảo trụ quốc” Lê Hy Cát (1438-1483) chỉ huy quân đi dẹp.

Năm 1478, Cầm Công (琴公,thủ lĩnh của Bồn Man) liên kết với Lão Qua (là đất Thượng Lào- tức Luang Prabang - ở phía Tây Bắc nước ta, có khi còn gọi là nước Nam Chướng) đem binh quấy nhiễu, cướp bóc ở khu vực phía tây của Đại Việt. Mùa Thu năm Kỷ Hợi (1479) Lê Thánh Tông sai “thái úy Lê Thọ Vực làm Chinh tây tướng quân, đi theo đường chính phủ Trà Lân; đô đốc Đông quân phủ Trịnh Công Lộ làm Chinh di tướng quân, đi theo đường An Tây; Trấn lỗ tướng quân Lê Đình Ngạn đi theo đường Ngọc Ma; Du Kỵ phó tướng quân Lê Lộng đi theo đường Thuận Châu và Mỗi Châu; Thảo tặc phó tướng quân Lê Nhân Hiếu đi theo đường phủ Thanh đô” từ Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa đi đánh dẹp phá tan quân Bồn Man và Lão Qua. Nhân thế thắng, kéo vào thành Lão Qua, lấy được của báu. Vua Lão Qua phải chạy trốn, quân Đại Việt truy đánh tới lưu vực sông Mê Kông (Kim Sa) giáp với Miến Điện ngày nay. Sau đó, để dẹp loạn tận gốc, Thánh Tông lại sai Lê Niệm  cầm quân sang đánh Bồn Man, tù trưởng Bồn Man là Cầm Công bị thua chết, người Bồn Man đều xin hàng. Sau khi Cầm Công bị giết, Lê Thánh Tông đã sát nhập lãnh thổ Bồn Man vào Đại Việt, đặt tên là xứ Trấn Ninh 鎮寧府 (Sầm Nưa sau này gọi là Sầm Châu) và giao cho một người họ hàng của Cầm Công là Cầm Đông 琴冬 làm Tuyên úy Đại sứ nhưng việc quản lý thực sự vẫn do các quan binh Đại Việt nắm. Đây là lần tây chinh xa nhất của Đại Việt. Từ đó, phần lãnh thổ này thuộc về Việt Nam.

 Khi người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise,東洋聯邦, theo Sắc lệnh của Chính phủ Cộng hoà Pháp ký ngày 17 tháng 10 năm 1887, sau đó vào ngày 18/4/1899 có Sắc lệnh sát nhập thêm Lào) đã dựa theo địa hình và cắt tỉnh Houaphan (Hủa Phăn) giao về lãnh thổ Lào. Đây là vấn đề đã được lịch sử an bài !

Ngày nay, so với tuyến Tây nam và tuyến phía bắc thì vấn đề biên giới Việt-Lào tương đối yên ắng hơn. Đến 6/2008, hai bên đã thống nhất nội dung các văn kiện pháp lý, kỹ thuật, phục vụ việc thực hiện Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam-Lào, để báo cáo hai Chủ tịch Ủy ban liên hợp cắm mốc biên giới Việt Nam-Lào xem xét, thông qua.

2. Nước Dã Năng:

Lý Bí 李畚,503-548) đánh thắng quân Lương (đầu 544), tự xưng là Nam Việt đế (南越帝,542-548), đặt tên nước là Vạn Xuân (萬春, 544-602). Tháng 6 năm 545, vua Lương Vũ đế cử Dương Phiếu, Trần Bá Tiên, Tiêu Bột đi đánh Vạn Xuân. Trần Bá Tiên là tướng giỏi nhà Lương. Quân Lương đến Giao Châu, Lý Nam đế mang quân ra đánh bị thua nặng mấy trận, mất thành Gia Ninh (545), lui về Tân Xương là vùng của người Lạo, lại bị quân Lương đánh úp tại hồ Điển Triệt (546), phải ẩn náu trong động Khuất Lạo, giao lại binh quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục 趙光復.

Trong khi đó, Lý Phật Tử 李佛子 cùng anh Lý Nam  Đế là Lý Thiên Bảo 李天寶 đem 3 vạn người vào Cửu Chân, đánh chiếm được Đức Châu (Hà Tĩnh), giết tướng nhà Lương là Trần Văn Giới. Sau đó, hai tướng họ Lý mang quân ra đánh Ái Châu (Thanh Hóa), Trần Bá Tiên mang quân tới đánh, Thiên Bảo và Phật Tử bị thua, bèn thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao.

Lý Thiên Bảo thấy động Dã Năng 也能 ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được mới đắp thành để ở, lấy tên đất mà đặt quốc hiệu. Đến bây giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương 郎王. Lý Phật Tử là tướng dưới quyền.  Năm 555, Thiên Bảo chết không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi. Sau đó áp dụng kế thống gia, lấy được mũ đâu mâu móng rồng dùng để đánh giặc của Triệu Việt Vương (趙越王, 546-571) đã đánh bại, truy đuổi buộc Triệu nhẩy xuống biển tự vẫn (cửa Đại Nha) lên làm vua cả nước, đóng đô ở Phong Châu. Vì Phật tử cũng xưng là Lý Nam Đế, nên đời sau gọi là Hậu Lý Nam Đế (後李南帝; 571-602) để phân biệt với nhà Lý 前李氏 của Lý Bí.

Năm 602, Tùy Văn Đế 隋文帝 cử Thứ sử Qua Châu là Lưu Phương. Vua Tùy xuống chiếu sai Phương thống lĩnh 27 doanh quân sang đánh sang đánh Vạn Xuân. Phương lấy họa phúc mà dụ. Hậu Lý Nam Đế sợ hãi xin đầu hàng, bị quân Tuỳ bắt đưa về Bắc rồi chết. Vạn Xuân của Lý Nam đế và Dã Năng chấm dứt.

3. Đại Lịch quốc:

Đầu thế kỷ XI vùng châu Quảng Nguyên 廣源州 người Nùng (bên TQ gọi là Choang) hay nổi loạn gây mất ổn định vùng biên cả Đại Việt và Đại Tống. Nùng Tồn Phúc 儂存福 được Lý Thái Tông phong ở châu Thảng Do 儻猶州, em là Nùng Tồn Lộc 儂存祿 được phong ở châu Vạn Nhai, em vợ là Dương Đức được phong ở châu Vũ Lạc. Năm 1038, Nùng Tồn Phúc nổi dậy ở phía bắc nước Đại Cồ Việt, giết chết Nùng Tồn Lộc và Dương Đức chiếm lấy đất, tự xưng là Chiêu Thánh hoàng đế 昭聖皇帝, lập A Nùng 阿濃 làm Ninh Đức Hoàng hậu, đặt quốc hiệu là Trường Sinh quốc (長期國,Chang Qi Guo) rồi đem quân đi đánh phá các nơi. Có lẽ vì Tồn Lộc và Dương Đức không đồng tình với việc phản nhà Lý của Tồn Phúc nên bị giết. Năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh, bắt được Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Tri Thông đem về kinh xử tử. A Nùng  và Nùng Trí Cao chạy thoát được.

Năm Tân Tị (1041) Nùng Trí Cao (儂智高; 1025-1055) hoặc Nông Trí Cao cùng với mẹ về lấy được châu Thảng Do (gần châu Quảng Nguyên) lập ra nước Ðại Lịch 大曆國, sau lại đổi thành Nam Thiên Quốc 南天國 với cương giới gần phủ kín hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông. Thái Tông sai tướng lên đánh, bắt được Nùng Trí Cao. Vua thương tình tha tội chết và cho làm Quảng Nguyên Mục và gia phong cho tước Thái Bảo. Nhưng năm Mậu Tý (1048), Nùng Trí Cao lại nổi dậy, chiếm giữ động Vật Ác (phía tây Cao Bằng), xưng là Nhân Huệ hoàng đế 仁惠皇帝, quốc hiệu là Ðại Nam 大南 chống lại triều đình.Vua sai tướng Quách Thịnh Dật 郭盛溢 lên đánh, Trí Cao lại đầu hàng. Tuy nhiên, theo giai thoại của người Tày - Thái địa phương, khi quân Lý tới nơi, ông nói với Quách Thịnh Dật đừng tiến quân, ông sẽ không gây hấn với nhà Lý nữa mà sẽ tiến sang phương Bắc.

Năm 1052, Nùng Trí Cao lại nổi dậy lần nữa, tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam. Để tăng thêm thanh thế, ông xin phụ thuộc vào Trung Quốc, vua Nhân Tông nhà Tống không cho. Trí Cao bèn đem quân sang đánh Trung Quốc. Được sự hậu thuẫn của các thủ lĩnh người Thái - Tày ở Quảng Tây là Nùng Trí Trung, Nùng Kiến Hậu, thanh thế Trí Cao càng thêm lớn mạnh. Ông đánh lấy Ung châu, rồi sau đó chiếm cả thảy được 8 châu ở đất Quảng Đông và Quảng Tây, bao gồm: Hoành châu 橫, Quý châu 貴, Cung châu 龔, Tầm châu 潯, Đằng châu 籐, Ngô châu 梧, Khang châu 康, Đoan châu 端州. Do đó Phong sử có câu:

Mở mang, mang chạy lên rừng,
Ta hay mang chạy ta đừng mở mang.
Nhà Tống lo sợ. Lý Thái Tông dâng biểu sang Trung Quốc xin mang quân phối hợp đánh Nùng Trí Cao. Khi quân Đại Cồ Việt sắp vào biên giới, tướng nhà Tống là Địch Thanh can Tống Nhân Tông rằng: “Có một Nùng Trí Cao mà đất Lưỡng Quảng không chế được, lại phải nhờ quân ngoại quốc vào đánh giúp. Nếu có ai nhân đó mà nổi loạn, thì làm thế nào?”. Vua Tống nghe lời bèn sai các tướng Dư Tĩnh và Tôn Miện đi đánh Nùng Trí Cao và sai sứ nói với Lý Thái Tông rằng không cần quân Lý giúp. Dư Tĩnh đánh mãi không được, nhà Tống lấy làm lo. Nhân khi Trí Cao dâng biểu xin lĩnh chức Tiết độ sứ Ung châu và Quý châu, vua nhà Tống đã toan thuận cho, Địch Thanh lại can không nên chấp thuận và xin đem quân đi đánh.

Đầu năm 1053, Địch Thanh ra hợp quân với Dư Tĩnh và Tôn Miện đóng ở Tân Châu (Liễu Châu tỉnh Quảng Tây), hội các tướng lại cấm không cho ra đánh nhau. Bấy giờ có quan Kiềm hạt tỉnh Quảng Tây là Trần Thự trái tướng lệnh đem quân đi đánh bị thua, Địch Thanh đem chém, rồi lệnh cho quân nghỉ 10 ngày. Quân đi thám biết chuyện về báo Trí Cao biết. Trí Cao tưởng là quân nhà Tống không dám đánh, bèn không phòng giữ. Địch Thanh đem quân đến cửa Côn Lôn (gần phủ Nam Ninh) đánh Nùng Trí Cao. Lúc đang đánh nhau, Địch Thanh đem quân kỵ đánh hai bên tả hữu áp lại, quân của Trí Cao tan vỡ, tướng dưới quyền là Hoàng Sư Mật và 57 người tử trận. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2200 quân của Trí Cao. Ông đốt thành bỏ chạy.
Tháng 10 năm 1053, Trí Cao sai thủ hạ là Lương Châu đến cầu cứu Đại Cồ Việt. Lý Thái Tông sai chỉ huy sứ Vũ Nhị đi tiếp ứng cho Trí Cao. Nhưng quân Lý chưa tới nơi thì Trí Cao lại bị Địch Thanh đánh bại, phải chạy trốn sang nước Đại Lý. Quân Lý rút về.

Năm 1055, thời vua Lý Thánh Tông ở Việt Nam, Đô giám nhà Tống là Tiêu Chú lại theo đường Đặc Ma (Vân Nam) đánh úp, bắt được mẹ Trí Cao là A Nùng, em Trí Cao là Trí Quang, con là Kế Phong. Quân Tống lại mộ những người cảm tử vào đất Đại Lý để lùng tìm Trí Cao. Quân cảm tử chưa tới thì người nước Đại Lý ngại gây hấn với nhà Tống đã bắt Nùng Trí Cao chém chết, mang đầu đem nộp nhà Tống. Nhà Tống giết luôn gia quyến của Trí Cao. Nhưng sử Trung Hoa gọi ông là Lưu Trang đã theo Triệu Khuông Dẫn về thủ đô nước Tống được đối đãi trọng hậu với tước Hầu trong hàng quí tộc nước Tống sau bị Tống Thái Tổ giết vì muốn dùng rượu độc để hạ sát Tống Thái Tổ. Con Nùng Trí Cao là Nùng Trí Hội được nhà Tống cho coi châu Qui Hoá (1073).

Hiện nay còn di tích thành Na Lữ, nơi ông đóng quân, ở gần thị xã Cao Bằng. Đền Khâu Sầm (Kỳ Sầm) đại vương thờ Nùng Trí Cao vẫn còn ở Cao Bằng, lễ hội đền Khâu Sầm vẫn được tổ chức hằng năm.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 01 Tháng Mười Một, 2009, 04:59:43 pm
Điều đáng chú ý là trong quá trình "mở cõi" tuy không phải là người mang gươm đi mở đất nhưng Đại Việt đã có những phụ nữ đóng góp đáng kể cho sự nghiệp này. Đó là Công chúa Huyền Trân thời Trần (1306) đã chính thức đem lại vùng Thuận Hoá về cho đất nước; là Công nữ (có sách chép là Công chúa, mặc dù cha của nàng chưa hề làm Vua) Ngọc Vạn (1620) và Công nữ Ngọc Khoa (1631) thời các chúa Nguyễn đã mở đường cho công cuộc làm chủ Nam Trung bộ và Nam Bộ của người Việt.

Đúng như lưu bút của bà Trương Mỹ Hoa, nguyên phó chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lưu tại Huyền Trân Công Chúa Điện, Huế, 2008 : "Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ Quốc gia, có những vấn đề của Quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ".

Ngoài 3 vị trên có ai biết thêm một phụ nữ nào khác có công mở cõi không và sự tích chi tiết của họ là gì?


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: caytrevietnam trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 12:40:29 am
Chỉ xin có vài ý với bác menthuong như sau:

Nam tiến như trong bài viết trên của bác và như phần đông chúng ta đang hiểu là sự khai phá, chiếm đóng, mở rộng lãnh thổ. Do đó bác lấy trường hợp nhóm Mông – Dao di cư hay sự chạy loạn, “tị nạn” của quan dân nhà Minh gọi là Nam tiến thì nghe có vẻ không hợp.

Các nhóm người Minh chạy loạn đó, 1 số khi đến đã xin thần phục chính quyền chúa Nguyễn hoặc làm quan cho Chân lạp (như Mạc Cửu chẳng hạn)

Về Tây tiến, vùng đất nay là Tây Bắc đã thuộc về Đại Việt từ lâu, ít nhất là phần lớn đã được triều Lê kiểm soát chứ không phải đến thời Nguyễn mới “có được”

Còn công cuộc mở mang lãnh thổ, nói là về cơ bản đã hoàn thành vào thế kỷ XIX cũng chưa chính xác mà đúng hơn là nó đã bị chặn lại bởi cuộc xâm lược của Pháp, nếu không…

Trong bài thứ 2 về các vương quốc cổ

Bồn Man thực ra cùng lắm chỉ là một lãnh địa tự trị, đầu thời Lê đã xin nội thuộc nước ta nhưng cứ quấy phá, nên danh nghĩa là thuộc đất ta mà thực ra là độc lập. Đến cả khi quân Lê báo tin thắng trận Ai lao, khi về qua đó còn bị chặn lại cơ mà. Xứ này có lẽ rộng lớn, một phần nay thuộc vào đất Nghệ An

Nước Dã Năng thì chỉ thấy sử chép vậy,các nhà nghiên cứu sau này cũng chả truy xem nó thực ra nằm ở đâu

Còn có một số “nước khác” bị mất trong quá trình mở nước của người Việt. Theo như bài “VN xưa đã thôn tính mấy nước” đăng trên tạp chí Tri tân số 15 (19/9/1941) có kể ra các nước sau: Qua Oa (khoảng Bình Thuân đến Bà Rịa Vũng Tàu), Tam Phật Tề (khoảng Mỹ Tho, bến Tre ngày nay), Mãn Thích Da (khoảng Vĩnh Long, Trà Vinh)

Về những phụ nữ có đóng góp vào quá trình mở nước, thời xưa trọng nam kinh nữ, mấy ai chép mà biết được hết, đến như bà Huyền Trân là nổi nhất còn bị người đời đặt lời ca chê bai … Thời Lê có bà công chúa được gả cho vua Lào, không rõ có đóng góp ý không hay chỉ để liên kết, tạo sự ổn định như sách lược gả con gái cho các tù trưởng của các vua Lý


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 06:52:25 am
Chỉ xin có vài ý với bác menthuong như sau:

Nam tiến như trong bài viết trên ....

Các nhóm người Minh chạy loạn ...

Về Tây tiến...

…

Trong bài thứ 2 về các vương quốc cổ...

Về những phụ nữ có đóng góp vào quá trình mở nước, thời xưa trọng nam kinh nữ, mấy ai chép mà biết được hết, đến như bà Huyền Trân là nổi nhất còn bị người đời đặt lời ca chê bai … Thời Lê có bà công chúa được gả cho vua Lào, không rõ có đóng góp ý không hay chỉ để liên kết, tạo sự ổn định như sách lược gả con gái cho các tù trưởng của các vua Lý

Đúng là những ý kiến góp ý bổ ích và chân tình. Tôi sẽ nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi ngay trong suy nghĩ của mình. ::)
Cám ơn .

Bước Nam tiến lần thứ Hai
 của Đại Việt  và vai trò của Công chúa Huyền Trân

Từ sau trận đánh của Lý Thường Kiệt vào năm 1104, các vua Chiêm trở nên thần phục Đại Việt hơn, đây là giai đoạn Chiêm Thành và Đại Việt có mối giao hảo tốt đẹp. Nhưng từ khi Thái Tông (陳太宗, 1225-1258) nhà Trần lên thay nhà Lý (1225), Chiêm Thành lại quấy phá do đó vua thân Nam chinh vào năm 1252 bắt nhiều cung phi và quân dân Chiêm. Từ đó việc giao hảo trở lại bình thường trong khi Đại Việt lo chống giặc Nguyên Mông. Thắng lợi vang dội của Đại Việt đã buộc Toa Đô rút khỏi Chiêm Thành và là đòn răn đe vua tôi họ Chế về sức mạnh của Đại Việt.
 
Thực hiện lời hứa hôn từ 1301, năm 1306 nhà Trần gả công chúa Huyền Trân (玄珍公主, sinh năm Đinh Hợi 1287, là con Trần Nhân Tông) cho vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Mân (制旻, Jaya Simhavarman IV, trị vì 1287-1307). Đổi lại Chế Mân dâng đất cho Đại Việt gồm Châu Ô (tên cũ của vùng đất từ đèo Lao Bảo đến lưu vực sông Thạch Hãn (nay là sông Quảng Trị) và Châu Rí (tên cũ của vùng đất Hóa Châu đời nhà Trần, ngày nay gồm các huyện Phú Lộc, Hương Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên và các huyện Duy Xuyên, Hoà Vang thuộc tỉnh Quảng Nam).

Các vùng đất này được vua Trần Anh Tông Thuyên (陳英宗,1293-1314) đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu, nay thuộc vùng nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Đây là bước Nam tiến thứ hai, bước mở đất hoà bình: “Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười, Vốn đà không mất lại thêm lời, Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm, Một gái Huyền Trân của mấy mươi !”.Về Chiêm được hơn năm thì chồng mất (5/1307), Công chúa được vua Trần sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu thoát được Huyền Trân khỏi tuẫn táng theo chồng. Tháng 8/1308, Huyền Trân về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh), dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng. Huyền Trân viên ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340). Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là "Thần Mẫu" và lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn.

Lãnh thổ Đại Việt phía nam lúc này đã tới đèo Hải Vân và người Việt biết đến kĩ thuật canh tác và cấy lúa nước vụ hè gọi là vụ “Chiêm”. Trong việc này dân gian có lúc đã không công bằng khi nói về mối quan hệ giữa Công chúa và tướng quân Trần Khắc Chung:

Tiếc thay hạt gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm.

Những năm đầu thời kỳ nhà Hồ 胡氏 (1400-1407) nhằm tránh thế “lưỡng đầu thọ địch” đã liên tục đem quân tấn công Chiêm Thành (1400, 1402, 1403) và đã mở mang được lãnh thổ từ đèo Hải Vân tới bắc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay, lập ra các Châu Thăng 升, Châu Hoa 花 và Châu Tư 思, buộc dân Việt vào khai khẩn. Nhưng nhà Hồ không uy hiếp được kinh thành Đồ Bàn nên phần lãnh thổ này bị Chiêm Thành lấy lại sau khi nhà Hồ sụp đổ (1407). Khi đánh nhà Hậu Trần của Đại Việt, Trương Phụ chỉ tiến đến Hoá Châu (1413), không tiến xuống phía Nam tiếp.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:27:08 am
Bước Nam tiến thứ Tư
và vai trò của 2 Công nữ Chúa Nguyễn

Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, do áp lực từ các cuộc tấn công của chúa Trịnh từ phương bắc và nhu cầu mở rộng đất đai về phương nam, các chúa Nguyễn đã bắt đầu một công cuộc mở mang nhanh, mạnh bờ cõi Việt Nam về phía nam. Quá trình này chấm dứt sự tồn tại 17 thế kỷ của vương quốc Chăm Pa. Bước này chia thành nhiều giai đoạn khác nhau:

Năm 1611, Nguyễn Hoàng (阮潢,1558-1612) đánh Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Phú Yên chia ra làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuyên Hòa, nay thuộc Phú Yên.

Khi đó, vùng đất Nam Bộ nay thuộc quyền cai quản của Thủy Chân Lạp còn là vùng đất sình lầy, nước mặn, chẳng trồng trọt gì được, thỉnh thoảng mới có một một vùng đất cao để làm vườn làm nhà, đường giao thông lại không có, dân cư thưa thớt. Các quan lại Thủy Chân Lạp (di huệ của Chân Lạp) cũng quản lý rất lỏng lẻo, đất đai bỏ hoang, trộm cắp hoành hành, thú dữ rập rình. Trong bối cảnh đó, đồng thời với việc Chúa Nguyễn tổ chức khai thác miền đất đã chiếm được của Chiêm Thành, nhiều dân Việt ở Đàng Trong bỏ dải đất miền Trung khắc nghiệt, vào khai khẩn đất làm ruộng ở Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai, phải tốn công đắp đê ngăn nước mặn, đào mương, đúc cống, chật vật và họ cũng tổ chức buôn bán ở Sài Gòn. Trong quá trình đó họ không gặp phản kháng gì đặc biệt của Chân Lạp.

Nhằm rảnh tay đối phó với Chúa Trịnh ở Đàng ngoài và tranh giành ảnh hưởng với người Bồ ở Chiêm Thành, năm 1631 Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (阮福元, 1613-1635) học tập vua nhà Trần đã đi một nước cờ cao “đổi giai nhân lấy bình yên”.

  Một trong những người thiếp của ông là Nguyễn Thị Giai (阮氏, 1578-1630) trưởng nữ của Khiêm vương Mạc Kính Điển 莫敬典 mà Kính Điển lại chính là cháu Mạc Đăng Doanh (莫登瀛, 1530-1540), chắt Mạc Đăng Dung (莫登庸, 1527-1530). Khi nhà Mạc thất cơ (1592), Kính Điển tử trận em là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng có đem theo con Kính Điển cùng đi. Người con gái đó được  Nguyễn Thị Ngọc Dương (vợ Cảnh Huống, dì Phúc Nguyên)  tiến cháu vào hầu Phúc Nguyên khi cha Sãi vương là Nguyễn Hoàng còn tại vị và vì thế nên con Mạc Kính Điển lại mang họ Nguyễn. Chính Nguyễn Thị Giai là thân mẫu của Nhị Công nữ Ngọc Van 玉萬公女  và Tam Công nữ Ngọc Khoa, hai giai nhân góp công trong việc mở mang bờ cõi Đại Việt về phía Nam. Như vậy 2 Công nữ của Chúa Nguyễn có công đặt bàn đạp Nam tiến cho Đại Việt là thuộc dòng dõi nhà Mạc (1527-1592) vốn phát tích ở Cổ Trai, Dương Kinh, Hải Phòng và là hậu duệ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:28:00 am
 Năm 1623 chúa Nguyễn Phúc Nguyên (阮福元, Chúa Sãi, 1613-1634) gây áp lực với Chân Lạp, “mượn” vùng đất Prey Nokor (Sài Gòn ngày nay) đặt trạm và quan chức thu thuế lưu dân Việt đang sinh sống xung quanh ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa. Nhờ sự tác động của hoàng hậu Somdach Prea Peaccayo dey Preavoreac Ksattecey (tức Ngọc Vạn Công nữ 玉萬公女, người con gái thứ hai của Sãi Vương được Chúa gả cho vua Chân Lạp là Chey-Chetta II vào năm 1620), vua Chân Lạp đồng ý cho người Việt đến đó canh tác. Đây là lần đầu tiên quan binh Đại Việt chính thức đặt chân lên đất Chân Lạp, và Mô Xoài là bàn đạp để người Việt dần dần tiến xuống đồng bằng sông Cửu Long, một bước đặt nền từ chủ trương hôn phối.

Năm 1631 Sãi vương gả tam Công nữ là Ngọc Khoa 玉姱公女 cho vua Chiêm Porome kết tình hoà hiếu và đây cũng là nguyên nhân mà từ 1639 người Bồ Đào Nha không giao thương với Chiêm nữa. Truyền thuyết cũng như tục ngữ Chiêm Thành đều có ý trách cứ, nếu không muốn nói là phẫn nộ, cho rằng bà Ngọc Khoa đã làm cho vua Po Romê trở nên mê muội và khiến cho nước Chiêm sụp đổ. Năm 1653 vua nước Chiêm Thành là Bà Thấm nhằm đòi lại đất Phú Yên đã đưa quân ra đánh chiếm. Chúa Hiền là Nguyễn Phúc Tần (阮福瀕,1648-1687) sai quan cai cơ là Hùng Lộc sang đánh. Bà Thấm phải dâng thư xin hàng. Chúa Nguyễn để từ sông Phan Lang trở vào cho vua Chiêm, còn từ sông Phan Lang trở ra lấy làm phủ Thái Ninh, sau đổi làm phủ Diên Khánh, nay thuộc Khánh Hòa. Tại đây đặt dinh Thái Khang để Hùng Lộc làm thái thú.

Năm 1658, vua nước Chân Lạp mất, nội bộ nước Chân Lạp lục đục vì tranh giành ngôi. Chúa Nguyễn Phúc Tần (阮福瀕, 1648-1687) đã giúp một hoàng thân Chân Lạp lên ngôi, đáp lại vị vua mới của Chân Lạp đã ký hiệp ước triều cống chúa Nguyễn hàng năm và cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, Đồng Nai và Bà Rịa. Lúc này Tiêm La (hậu duệ của Phù Nam cũ) đã mạnh nên muốn giang tay ra phía Đông tới đây nhưng vì nhà Nguyễn đang mạnh nên phải thôi. Tại khu vực này lưu dân Việt sinh sống ngày càng đông đúc, chúa Nguyễn đã cử một đội quân mạnh để giữ gìn an ninh cũng như đặt các quan cai trị và thu thuế.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:28:52 am
Năm 1679 có quan nhà Minh gồm Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến là Tổng binh Trấn thủ đất Long môn (Quảng Tây), Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình là tổng binh châu Cao, Lôi, Liêm (Quảng Đông) không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3000 người cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Đại Việt. Chúa Hiền nhân muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vào ở đất Đông Phố (Gia Định). Những người này chia nhau ở đất Lộc Đã (Đồng Nai), Ban Lân (Biên Hòa) và Mỹ Tho (Tiền Giang), cày ruộng, làm nhà, lập ra phường phố, có người phương Tây, người Nhật Bản, người Chà Và đến buôn bán khá đông.

Năm 1680 Mạc Cửu, người gốc Quảng Đông, khi nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh đã cùng gia quyến bỏ sang Chân Lạp, mở sòng bạc và cai quản 7 xã gồm toàn lưu dân, gọi là Hà Tiên. Mạc Cửu mở rộng đất đai gồm vùng đất Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc vốn thuộc Chân Lạp nhưng Chân Lạp không kiểm soát được. Năm 1718 để tránh áp lực thường xuyên của Xiêm La sang cướp phá, Mạc Cửu đã dâng đất khai phá xin nội thuộc về chúa Nguyễn, chúa Phúc Chu đổi tên thành Trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu làm chức Tổng binh, cai quản đất Hà Tiên. Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ lại được làm chức đô đốc, tiếp tục cai quản Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và đưa người về dạy học để khai hóa đất Hà Tiên.

Năm 1693 với lý do vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn Phúc Chu (阮福周, Chúa Quốc,1691-1725) sai quan tổng binh là Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi đánh bắt được Bà Tranh cùng thân thuộc về Phú Xuân (Huế). Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận Phủ, nay thuộc Bình Thuận. Đất này cho con cháu của Bà Tranh làm đề đốc trấn giữ, bắt đổi y phục như người Việt Nam để phủ dụ dân Chiêm Thành.

Tuy nhiên, do sự kháng cự của người Champa và cũng cần tập trung cho việc khai phá đồng của Chân Lạp nên qua năm 1695, chúa Quốc đổi Thuận Phủ ra làm Thuận Thành Trấn, dành cho người Chăm cơ chế tự trị nhưng vẫn thuộc sự bảo hộ của chúa Nguyễn. Đến năm 1832, vua Minh Mạng (明命皇帝,1820-1840) xóa bỏ cơ chế tự trị, lập thành tỉnh Bình Thuận.Việc này đồng nghĩa với việc Vương quốc Chăm Pa chính thức không còn tồn tại.

Năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu  (阮福啁, 1691-1725) sai Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp. Ông chia đất Đông Phố của những người Tàu ra làm dinh, làm huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phúc Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Ông đặt Trấn Biên dinh (Biên Hòa), đất Trấn Biên thì lập làm xã Thanh Hà, và Phan Trấn dinh (Gia Định), đất Phan Trấn thì lập làm xã Minh Hương, rồi sai quan vào cai trị. Chúa Nguyễn lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ nước Việt. Năm 1699, triều đình Chân Lạp tổ chức một cuộc phản công nhằm dành lại nhưng bị thất bại.
Năm 1739 Mạc Thiên Tứ mở rộng đất đai kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Sóc Trăng. Đưa thêm các vùng đất mới này vào Trấn Hà Tiên thuộc lãnh thổ Đàng Trong của chúa Nguyễn
Năm 1753, biết vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thông sứ với chúa Trịnh ở ngoài Đàng Ngoài để lập mưu đánh chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊,Võ Vương, 1738-1765) sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên. Năm 1755, Nặc Nguyên (Ang Tong) thua bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ, rồi xin dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là Long Xuyên và Cần Thơ) cho chúa Nguyễn để cầu hòa.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:30:40 am
Năm 1757 Nặc Nguyên (Ang Tong) mất, chú họ là Nặc Nhuận đang xin chúa Nguyễn phong cho làm vua thì bị người con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Quan tổng suất là Trương Phúc Du thừa kế sang đánh thắng Nặc Hinh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, 1738-1765) cho lập Nặc Tôn (Outey II), con Nặc Nhuận, vốn đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên trong lúc hoạn nạn, làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh) để tạ ơn chúa Nguyễn. Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ (5 phủ này về sau khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dương đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takéo và Kampot). Vương quốc Chân Lạp chính thức chấm dứt sự tồn tại. Mạc Thiên Tứ đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn, chúa cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản.

Cuộc Nam tiến của Đại Việt đến đây kết thúc bởi phía trước đã là biển (Vịnh Thái Lan). Sau này quan dân Đại Việt luôn tâm niệm về cội nguồn Văn Lang của mình:

Từ thủa mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thắng Long.

Nguồn:
http://hoptuyenlsvh.blogspot.com/2005/02/tn-mn-v-qu-trnh-m-mang-b-ci-t-nc-vit.html
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_ti%E1%BA%BFn
http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3nh_th%E1%BB%95_Vi%E1%BB%87t_Nam_qua_t%E1%BB%ABng_th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3
http://www.vn.net/article.php/2008053123023240


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: lonesome trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 02:14:14 pm
Năm 1757 Nặc Nguyên (Ang Tong) mất, chú họ là Nặc Nhuận đang xin chúa Nguyễn phong cho làm vua thì bị người con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Quan tổng suất là Trương Phúc Du thừa kế sang đánh thắng Nặc Hinh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, 1738-1765) cho lập Nặc Tôn (Outey II), con Nặc Nhuận, vốn đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên trong lúc hoạn nạn, làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh) để tạ ơn chúa Nguyễn. Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ (5 phủ này về sau khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dương đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takéo và Kampot). Vương quốc Chân Lạp chính thức chấm dứt sự tồn tại. Mạc Thiên Tứ đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn, chúa cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản.

Cuộc Nam tiến của Đại Việt đến đây kết thúc bởi phía trước đã là biển (Vịnh Thái Lan). Sau này quan dân Đại Việt luôn tâm niệm về cội nguồn Văn Lang của mình:

Từ thủa mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thắng Long.

Nguồn:
http://hoptuyenlsvh.blogspot.com/2005/02/tn-mn-v-qu-trnh-m-mang-b-ci-t-nc-vit.html
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_ti%E1%BA%BFn
http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3nh_th%E1%BB%95_Vi%E1%BB%87t_Nam_qua_t%E1%BB%ABng_th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3
http://www.vn.net/article.php/2008053123023240


Từ thời anh em Sử Lễ Đài TTVNOL viết cái Hợp Tuyển đấy đến nay thì bên đó có nhiều bài mới hay hơn nhiều, bạn có rảnh qua đó cập nhật thông tin nhé.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Mười Một, 2009, 05:01:37 pm

Nguồn:
http://hoptuyenlsvh.blogspot.com/2005/02/tn-mn-v-qu-trnh-m-mang-b-ci-t-nc-vit.html
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_ti%E1%BA%BFn
http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3nh_th%E1%BB%95_Vi%E1%BB%87t_Nam_qua_t%E1%BB%ABng_th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3
http://www.vn.net/article.php/2008053123023240


Từ thời anh em Sử Lễ Đài TTVNOL viết cái Hợp Tuyển đấy đến nay thì bên đó có nhiều bài mới hay hơn nhiều, bạn có rảnh qua đó cập nhật thông tin nhé.

Một sự mách nước hay nhưng chưa đủ bởi với trình độ "tinh ví" "a ma tơ" như tui khó mò lắm, giá mà có đường dẫn...Dù sao vẫn cám ơn nhiều!


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: hoangphi trong 18 Tháng Năm, 2012, 10:17:03 pm
Quả thực trong quá trình mở mang bờ cõi chúng ta đã "đưa nhiều quốc gia" vào trong lịch sử.....nhưng xét trong thời cuộc lúc bấy giờ "nước lớn nuốt nước nhỏ" cũng tạm coi là chuyện "bình thường" bất quá cho ta nhiều suy ngẫm....

Dù gì đi nữa cả dân tộc chúng ta cũng đang tiến những chặng dài trên con đường phát triển của thế giới.....

Trên những chặn đường mở mang bờ cõi hãy nhìn về các mối quan hệ của ta với các nước lân bang Đông Dương mà quan trọng nhất là Chiêm Thành....

QUAN HỆ VỚI CHIÊM THÀNH


Cựu Đường thư (sách của Trung Quốc) ghi rằng Chiêm Thành đã ba lần đánh phủ An Nam, năm 831, năm 862 và năm 865. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, và bị giết hại năm 979. Ngô Nhật Khánh, con rể vua, chạy sang Chiêm Thành xin giúp lấy lại ngôi vua.  Vua Chiêm Thành Paramecvarman cho hơn một nghìn chiếc thuyền của thuỷ quân Chiêm Thành tiến ra Đại Cồ Việt, nhưng gần đến Hoa Lư thì bị bão, cả hạm đội bị đắm, Ngô Nhật Khánh bị chết đuối, chỉ có vua Chiêm Thành thoát chết về được nước. Đây là lần đầu tiên một vua Chăm đem quân đánh nước Đại Cồ Việt độc lập có chủ quyền.

Ngược lại vua Lê Đại Hành sau khi đăng quang đã cử Tư Mục và Ngô Tử Canh đi sứ sang Chiêm Thành, nhưng vua Chăm Paravecvarman đã bắt giữ sứ giả Việt. Vua Lê Đại Hành nổi giận cất quân đánh thẳng vào kinh đô Indrapura, chém vua Paravecvarman (Phê Mi Thuế) tại trận, bắt được nhiều tù binh, san phẳng thành trì.  Quan hệ giữa Chiêm Thành và Đai Cồ Việt đã bắt đầu như thế: một bên muốn thông hiếu, một bên lại gây chiến, báo hiệu một tương lai hoà mục bất trắc.

Thời Lý, năm 1011 Chiêm Thành dâng sư tử.  Năm 1020 Khai Thiên Vương Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân theo đường biển đánh trại Bố Chính, chém tướng Chăm, quân Chiêm chết quá nửa. Năm 1043, sau khi được nhà Tống phong vương, vua Chiêm Thành Sịmhavarman đem quân cướp ven biển Đại Việt, bị quân ta đánh lui.

Năm 1043 vua Lý Thái Tông giận Chiêm Thành không cử sứ sang Đại Việt quyết định đánh Chiêm Thành. Năm 1044 vua thân chinh chỉ huy quân đi đánh Chiêm Thành.  Quân Lý chém được vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu, chiếm thành Phật Thệ (Vijaya, nay là Quy Nhơn). Trên đường về tới Lý Nhân (Phủ Lý hiện nay), nhà vua cho gọi Mị ê, cung phi của Sạ Đẩu, sang hầu thuyền vua, nhưng Mị Ê nhảy xuống sông tuẫn tiết.  Vua khen là trinh tiết và cho lập đền thờ.

Năm 1055 Chiêm Thành sang cống. Năm 1065 , 1066 tiếp tục cống. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân đem quân đi đánh Chiêm Thành, kéo quân đến kinh thành Chiêm Thành bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) đưa về Thăng Long. Chế Củ được tha về nước sau khi chịu nhượng cho Đại Việt ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh (nay là vùng Quảng Bình và Quảng Trị).

Năm 1112 đời Lý Nhân Tông, Chiêm Thành cống voi trắng * Năm 1118, vua Chiêm Thành cử sứ sang Thăng Long; nhân dịp này vua Lý mời sứ đi dự hội Thiên Phật để khánh thành chùa Thắng Nghiêm thánh thọ.

Năm 1120 Chiêm Thành sang cống. Năm 1130, 1135 Chiêm Thành sang cống. Năm 1152, người nước Chiêm Thành cầu viện, vua Lý Anh Tông cử thượng chế Lý Mông đem 5.000 người ở Thanh Hoá, Nghệ An sang Chiêm Thành để lập Vamcaraja làm vua.  Nhưng Vamcaraja và Mông bị vua Jaya Harivarman I đánh bại, cả Lý Mông và Vamcara.ja đều chết. 

Năm 1154, vua Chế Bi-la-bút (Jaya Harivarman I) dâng con gái cho vua Lý Anh Tông, vua nhận.  Năm 1170 vua Chăm Jaya Indrravarman cử sứ sang thông hiếu với Đại Việt sau đó năm 1177 tiến đánh Chân Lạp, đốt phá kinh thành Angkor. Năm 1181 vua Chân Lạp Jayavarman VII giải phóng được Chân Lạp và chuẩn bị đánh trả đũa Chiêm Thành. Việc vua Chăm Jaya Indravarman ông Vatuvv lại đánh Chân Lạp một lần nữa là cơ hội để vua Chân Lạp Jayavarman VII cho quân đi đánh Chiêm Thành. Quân Chân Lạp chiếm được kinh thành Vijaya (Bình Định), bắt vua Jaya Indravarman giải về Chân Lạp và lập một ông hoàng Khơ Me làm vua Chiêm Thành, nhưng ít lâu sau ông vua này bị dân chúng nổi lên đánh đuổi về Chân Lạp và đưa một ông hoàng Chăm lên thay.

Năm 1203 ông hoàng Chân Lạp Ong Dhanapatigrama đánh đuổi được vua Vidyananda mà năm 1199 vua Lý Cao Tông đã phong vương. Vua Vidyanandana sang Đại Việt cầu cứu với trên hai trăm chiếc thuyền chiến.  Sự xuất hiện một hạm đội chiến thuyền làm cho Đại Việt nghi ngờ và định trừ khử nhưng kế hoạch bị lộ quân Nghệ An bị đánh tan vỡ. Từ năm 1203, như trên đã nói, Chiêm Thành trở thành lãnh địa của Chân Lạp cho đến 1220.

Từ 1225 nhà Trần thay thế nhà Lý.

Tại Chiêm Thành, năm 1220 kết thúc cuộc chiến tranh một trăm năm (1170- 1220) với Chân Lạp và cũng là kết thúc sự thống trị của Chân Lạp (1203-1220) trên đất Chiêm Thành. Quan hệ Đại Việt - Chăm trong thời gian này nói chung là không có vấn đề lớn .

Từ năm 1258 đến 1288, Đại Việt phải đối phó với âm mưu chinh phục của Nguyên - Mông trong cuộc đấu tranh ngoại giao ( 1258 đến 1 284) và ba cuộc xâm lược (1258, 1285, 1288) Chiêm Thành đồng thời cũng phải chống cuộc xâm lược của Nguyên - Mông (1283- 1285).

Nhà Nguyên muốn mượn đường Đại Việt để đi đánh Chiêm Thành đồng thời xâm chiếm luôn Đại Việt nhưng các vua Trần kiên quyết phản đối buộc quân Nguyên phải đi đường biển, mặt khác Đại Việt lại giúp quân Chiêm Thành chống lại quân Nguyên.

Có thể nói trong thời gian này đã có sự liên minh thật sự giữa Đại Việt và Chiêm Thành: Đại Việt chặn con đường bộ đi tới Chiêm Thành, Chiêm Thành cầm chân quân Nguyên không cho phối hợp với quân Nguyên đang xâm chiếm Đại Việt.

Quan hệ Đại Việt - Chăm tuy thưa thớt nhưng vẫn hữu nghị. Năm 1239 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con (vua Anh Tông) và làm Thượng hoàng. Năm 1301, nhân có sứ Chiêm Thành sang cống, Thượng hoàng đi thăm Chiêm Thành và lưu lại triều đình Chiêm Thành chín tháng.

Thượng hoàng hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Simvaharman III (sử ta gọi là Chế Mân). Trong triều nhiều ý kiến cho là không nên, nhưng Thượng hoàng vẫn giữ lời hứa và năm 1306 Huyền Trân công chúa đi Chiêm Thành. Sính lễ cầu hôn bao gồm việc dâng hai châu Ô, châu Lý (ở Bắc đèo Hải Vân). Đây là lần thứ hai cắt đất cho Đại Việt. Năm 1307 quan hành khiển Đoàn Nhữ Hài được cử cai trị hai châu này, và đổi tên hai châu.

Vua Chế Chỉ (lên thay vua Simhavarman năm 1307) thần phục nhà vua Trần Anh Tông nhưng vẫn muốn lấy lại hai châu Ô, châu Lý. Sau một cuộc kháng cự trong quân đội Chăm, Chế Chỉ bị bắt giải về Thăng Long và mất tại hành cung Gia Lâm và hoả táng theo tục lệ Chăm. Con Chế Chỉ là Chế Dà bà A Niêm (Chế Năng) được đưa lên thay.

Chế Năng cũng mưu lấy lại hai châu ô, châu Lý, năm 1318 xua quân đi tái chiếm hai châu nhưng bị quân Phạm Ngũ Lão đánh bại phải trốn sang Java. Triều đình nhà Trần đưa một tướng Chăm tên là Chế A Nan lên thay. Nhưng ý vẫn tính lấy lại hai châu.  Huệ Túc vương Đại Niên năm 1326 đi dẹp không được Khi Chế A Nan chết, con rể là tể tướng Trà Hoà cướp ngôi vua.

Năm 1346 con Chế A Nan là thái tử Chế Mổ trốn sang Đại Việt cầu viện. Vua Trần Dụ Tông cho quân sang Chiêm Thành. Đoàn quân Đại Việt không gặp được đoàn thuyền tiếp lương phải quay về Đại Việt. Chế Mổ cũng phải quay trở lại Đại Việt mất ở đó ít lâu sau. Nhân việc kéo quân về này, Trà Hoà đêm quân đánh hai châu Ô châu Lý nhưng bị thất bại.

Trà Hoà mất năm 1360, Chế Bồng Nga lên thay. Từ đây đến 1390, Chế Bồng Nga liên tục tiến công Đại Việt và ba lần kéo quân vào Thăng Long, lần thứ ba lưu lại Thăng Long mấy tháng liền, quân Đại Việt không đánh lại được.

Năm 1367, vua Duệ Tông thân mang mười hai vạn quân kéo vào cửa biển Thị Nại, chuẩn bị kéo quân vào thành Chà Bàn.  Đại tướng Đỗ Lễ can vua, vua không nghe chê Đỗ Lễ là đàn bà và ra lệnh lấy áo đàn bà mặc cho Đỗ Lễ. Vua thúc quân vào thành bị quân Chế Bồng Nga phục kích xông ra đánh. Vua và các đại tướng đều chết tại trận, quân ta tan vỡ.

Năm 1390 Chế Bồng Nga lại đem quân ra Đại Việt, đang chỉ huy đoàn chiến thuyền về Thăng Long thì bị đạn của ta chết tại trận. Quân Chiêm Thành mất đại tướng chỉ huy phải tháo chạy về nước. La Khải lên làm vua và mất năm 1401, Ba Địch Lai (Vrasu Tndravarmadeva) lên thay.

Hồ Quý Ly, sau khi lập triều Hồ, chuẩn bị 150.000 quân để đi đánh Chiêm Thành. Năm 1402 đi đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm mới lên ngôi nên cử một hoàng thúc điều đình vời Hồ Quý Ly rút quân và Chiêm Thành chịu nhượng Indrapura cho Đại Việt sau nhân nhượng thêm cả miền Amaravati (tức Quảng Nam ngày nay). Đây là lần mất đất thứ ba của Chiêm Thành.

Hồ Quý Ly chuẩn bị một đạo quân mới 200.000 người với ý định đánh đến kinh thành Vijaya (Quy Nhơn), nhưng ý đồ đó không thực hiện được do quân Minh tiến vào Đại Việt.  Vùng đất Chiêm Thành mới nhượng được chia làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và việc cai trị giao cho một người con lưu vong của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan.

Năm 1434 vua Chiêm Thành tìm cách thu hồi hai châu, nhưng sau vài trận đụng độ nhỏ lại giảng hoà với Đại Việt.

Năm 1444, 1445 vua Maha Vijaya (Ma Ha Bi Cái) cho quân cướp phá Hoá Châu. Năm 1446 Đại Việt đánh chiếm thành Vijaya (Quy Nhơn) rồi rút, bắt vua Maha Vijaya và đoàn cung phi, Vua Maha Vijaya được trao lại tước vương nhưng phải ở lại Đại Việt. Dân chúng tôn Maha Quý tai lên làm vua nhưng vị vua này lại bị em là Maha Quý Đô phế truất và bắt giam năm 1449. Maha Quý Đô bị giết năm 1458. Maha Trà Nguyệt lên thay sau nhường ngôi cho em là Trà Toàn.

Năm 1468 rồi 1469 vua Trà Toàn, với hơn 100.000 quân và một đoàn kỵ binh hùng mạnh, tấn công Hoá Châu. Năm 1470-1471 vua Lê Thánh Tông, từ hai hướng thuỷ bộ, đã đánh dữ dội vào kinh thành Vijaya, bắt được Trà Toàn, chia nước Chiêm Thành làm ba tiểu quốc, đưa biên giới Đại Việt đến núi Thạch Bi.

Nước Văn Lang đã được lập nên trước nước Chiêm Thành nhưng sau đó đã bị đế chế Trung Hoa đô hộ trong nghìn năm. Nước Chiêm Thành đã ra đời khoảng thế kỷ thứ VI trong lúc Việt Nam còn bị nhà Đường thống trị. Khi đó cả hai nước Việt Nam và Chiêm Thành đều là những nước nhỏ, Việt Nam chỉ đến vùng Đèo Ngang, Chiêm Thành từ vùng Phan Rang đến vùng Đèo Ngang. Cả hai nước đều muốn mở rộng lãnh thổ của mình.

Hai nhà nghiên cứu người Chăm Dorohiêm và Dohamide, trong cuốn Dân tộc Chăm lược sử, đã cho rằng ý đồ xâm chiếm những cánh đồng màu mỡ của miền Nam Đại việt đã mang lại hậu quả ngược lại là người Việt đã lấy đó làm cớ xâm chiếm lãnh thổ từ Đèo Ngang trở vào.

Lịch sử quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành là từ đời Đinh đến hết đời Lê, trong khoảng sáu thế kỷ. Đây là thời kỳ các quốc gia bất kể lớn nhỏ quan hệ với nhau bằng ngoại giao vũ lực, lớn nuối bé, mạnh đánh yếu. Khi nhà Tống đánh Đại Việt, Mông Cổ tiêu diệt Vương quốc Tây Hạ rộng hơn 600.000 km2. Chiêm Thành đánh Đại Việt, Đại Việt đánh Chiêm Thành cũng như Chiêm Thành, Chân Lạp đánh nhau, thôn tính nhau.

Vấn đề thắng hay bại, còn hay mất tuỳ thuộc tiềm lực và bản lĩnh của mỗi nước, mỗi dân tộc. Công pháp quốc tế ngày nay đã loại bỏ việc sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và đặt hoà bình và an ninh trên cơ sở những nguyên tắc khá dứt khoát. Mặc dầu vậy chủ quyền của nhiều nước vẫn bị xâm phạm, chiến tranh cục bộ vẫn còn xảy ra.

Vấn đề tồn vong của Chiêm Thành đã trở thành một vấn đề lịch sử như lịch sử của bao quốc gia khác, của bao đế quốc đã bị diệt vong. Vấn đề hiện nay là nhân dân Chăm phát huy tài năng của mình trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, cùng nhau xây dựng nước Việt Nam phồn vinh.



Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 22 Tháng Năm, 2012, 06:04:14 am
Quả thực trong quá trình mở mang bờ cõi chúng ta đã "đưa nhiều quốc gia" vào trong lịch sử.....nhưng xét trong thời cuộc lúc bấy giờ "nước lớn nuốt nước nhỏ" cũng tạm coi là chuyện "bình thường" bất quá cho ta nhiều suy ngẫm....
...
Nhưng chúng ta đã để các châu Tung Lăng, Hòang Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ , Khiêm Châu  vốn thuộc phủ An Tây thừa tuyên Hưng Hóa của Đại Việt về tay Thanh triều từ Thế kỷ XVIII mà họ gọi là Lục Mãnh).  Ai có rành mấy châu trên nay là cấp gì và mang địa danh nào trên bản đồ Vân Nam không nhỉ ?


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: hoangphi trong 23 Tháng Năm, 2012, 09:03:52 pm
Quả thực trong quá trình mở mang bờ cõi chúng ta đã "đưa nhiều quốc gia" vào trong lịch sử.....nhưng xét trong thời cuộc lúc bấy giờ "nước lớn nuốt nước nhỏ" cũng tạm coi là chuyện "bình thường" bất quá cho ta nhiều suy ngẫm....
...
Nhưng chúng ta đã để các châu Tung Lăng, Hòang Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ , Khiêm Châu  vốn thuộc phủ An Tây thừa tuyên Hưng Hóa của Đại Việt về tay Thanh triều từ Thế kỷ XVIII mà họ gọi là Lục Mãnh).  Ai có rành mấy châu trên nay là cấp gì và mang địa danh nào trên bản đồ Vân Nam không nhỉ ?

tìm nhiều mà vẫn không ra.....vẫn đang tìm tiếp......chỉ biết nay thuộc Vân Nam trung quốc...
bác tham khảo cái này nghen...http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_%C4%91%C6%A1n_v%E1%BB%8B_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_V%C3%A2n_Nam  ....tham khảo thôi....


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: lonesome trong 04 Tháng Mười Một, 2012, 02:05:06 pm
Tản mạn về quá trình mở mang bờ cõi đất nước VN qua các thời kỳ

...........................
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
............................

A. Vài lời nhận xét

Tử thuở xưa, các dân tộc Việt chưa có một vùng lãnh thổ xác định, đất nước tồn tại chủ yếu dưới hình thức các bộ lạc. Tiếp sau đó VN lại rơi vào cảnh bị các triều đại TQ nhòm ngó và thôn tính, xen lẫn với các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa. Đất nước vì thế cứ hết bị sáp nhập lại tách ra...nên chưa thể gọi là có một vùng lãnh thổ xác định rõ ràng. Vậy ta sẽ lấy mốc là thời kỳ đất nước đã bước vào thời đại tự chủ, tức là từ nhà Ngô (938) để xem xét quá trình "mang gươm đi mở cõi" của cha ông ta ngày xưa.

Thực ra cũng chưa có một tài liệu lịch sử nào xác định rõ ràng cương giới của VN trong và sau thời kỳ Bắc thuộc (những năm đầu) (hoặc có mà tôi ko biết ! ). Tuy nhiên, dựa vào một số mốc ta có thể tạm suy đoán như sau (hì hì, "suy luận" và " đánh giá" cũng là một trong những cách học sử, phải không các bác nhể ? ): Trong Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim) có ghi rằng năm Kỷ Mão (678) Đường Cao Tông biên TQ đã "quy hoạch" lại VN thành 12 châu, 59 huyện. Trong đó có các châu Giao Châu (Hà Nội, Nam Định), Lục châu (Quảng Yên, Lạng Sơn), Ái Châu (Thanh Hoá), Hoan Châu (Nghệ An)....
Như vậy, có thể nói rằng trong những năm (cuối) của thời kỳ Bắc thuộc đến các triều đại sau của VN biên cương lãnh thổ nước ta đã được định hình một cách tương đối, kéo dài từ vùng rừng núi phía Bắc (Lạng Sơn) đến Bắc Trung Bộ (Nghệ An).

Đất nước từ thời còn manh mún, rời rạc cho đến lúc ấy đã có một sự phát triển đáng kể. Tuy nhiên, có lẽ sự mở rộng lãnh thổ trong thời kỳ đó chỉ mang tính tự phát (di dân..) hoặc do ý muốn của các quan Tàu muốn sáp nhập các vùng lại để cai trị cho "gọn" hơn. Ý chí mở mang bờ cõi (một cách chủ động) trong thời kỳ này hầu như chưa xuất hiện. Phải bắt đầu bước vào thời đại tự chủ sau hơn một ngàn năm đằng đẵng đau khổ dưới ách ngoại xâm, công cuộc mở mang bờ cõi mới đuợc chú ý thực sự. Cha ông ta đã có ý thức tự lực tự cường rất cao. Một mặt lo quan sát, đề phòng Bắc phương, mặt khác không ngừng ra sức mở mang bờ cõi để đất nước ngày một giàu mạnh, ít lệ thuộc vào ông hàng xóm khổng lồ kia.

Cũng xin nói rằng quá trình mở rộng bờ cõi của đất nước trong tất cả các thời kỳ đều chỉ gói gọn trong hai chữ: Nam Tiến. Có bác sẽ thắc mắc hỏi rằng tại sao chúng ta không phát triển một cách "đồng đều" cho đất nước nó vuông vuông một tí, khôn phải "dẹt " như hình dáng ngày nay. Xin thưa rằng không phải cha ông ta không muốn nhưng do hoàn cảnh "khách quan" mà điều đó không thể thực hiện được. Phía Đông ta giáp biển, dĩ nhiên là không thể "mở" gì được cả. Phía Bắc thì lại "đụng" anh TQ, lo thủ chưa xong làm gì mà dám lấn tới! (Có lẽ trong LS VN chỉ có một vua Quang Trung Nguyễn Huệ là dám có tư tưởng Bắc Tiến táo bạo, nhưng hỡi ôi, trời chẳng chiều người.). Phía Tây thì gặp phải địa hình rừng núi, thung lũng... đầy hiểm trở, cũng không thể "xơ múi"gì nhiều. Vậy thì chỉ còn lại phía Nam: đất đai bằng phẳng, nhân tình ôn hoà, lại toàn là các nước nhược tiểu (dĩ nhiên là so với VN!) nên cha ông ta cứ thế mà thẳng tiến. Và quá trình Nam tiến liên tục được tiếp nối cho đến khi gặp phải mũi Cà Mau thì (đành) dừng lại.

Nhân đây cũng xin nói thêm về vấn đề "chính nghĩa" của quá trình mở cõi. Một số sử gia có khuynh hướng cho rằng việc mở mang bờ cõi của VN ta là điều "tất yếu ?!" phải xảy ra, bởi lẽ dân số ngày một nhiều mà đất đai thì có hạn. Nhưng nếu "ní nuận" theo kiểu đó thì té ra anh TQ cũng có lý lẽ để thôn tính nước ta, và thậm chí ngay cả Chiêm Thành cũng có thể làm điều đó nếu có thực lực (và thực tế là họ đã "thử" nhưng không được). Theo tôi thì việc xâm chiếm, thôn tính lẫn nhau là lẽ đương nhiên, nhất là trong thời kỳ loạn lạc bấy giờ. Trong LS thế giới đã có biết bao những cuộc sát nhập, phân khai giữa các vùng lãnh thổ, có những cuộc thành công cho đến tận bây giờ, nhưng cũng có những cuộc thôn tính bất thành. Lý lẽ ở đây là mạnh được yếu thua. Dân tộc nào còn giữ được bản sắc văn hoá thì còn có cơ khôi phục, còn không sẽ bị đồng hoá và trở thành một bộ phận của nước đi thôn tính. Bởi thế, theo quan điểm của tôi, chúng ta nên cho điều đó là tự nhiên, không cần biện hộ một cách khiên cưỡng làm gì.

Sau đây xin đi vào một số mốc cụ thể của quá trình mở đất của cha ông ta từ thuở xưa cho đến những năm sau này của thời kỳ cận đại

Một số mốc cụ thể trong quá trình Nam tiến, mở rộng bờ cõi của đất nước:

Như đã nói ở trên, khi đất nước bắt đầu bước vào độc lập thì ý chí và hoạt dộng mở mang lãnh thổ đã được "liên tục phát triển". Lãnh thổ được mở rộng dần theo kiểu "tằm ăn dâu", tuy nhiên vẫn có một số mốc cụ thể để ta xác định các bước của quá trình Nam Tiến (Sẽ được đề cập sau).

Nói ngắn gọn thì quá trình mở nước của cha ông ta chỉ gồm 2 bước
1. Xâm chiếm và "nuốt dần" nước Chiêm Thành cho đến khi nước này mất hẳn.
2. Xâm chiếm và chiếm của Chân Lạp (Cam-pu-chia) một vùng đất rất "đáng kể", trong đó có đồng bằng Sông Cửu Long (vựa lúa lớn nhất nước của VN ngày nay).

Tuy nhiên, các bước trên được tiến hành dần dần, mỗi triều đại góp một chút công, để cuối cùng, đến triều Nguyễn, khi dấu chân của người VN đã đặt lên mảnh đất địa đầu Cà Mau thì nhiệm vụ cao cả đó được xem như hoàn thành. (Ngoài ra ta cũng đã xâm nhập một tí (gọi nôm na là "chấm mút") lãnh thổ của anh bạn láng giềng "dễ thương" là nước Ai Lao (Lào) nhưng nói chung là không đáng kể.)

Giai đoạn đánh chiếm Chiêm Thành:

Dưới thời nhà Đinh

Như trên đã nói, khi nước ta bước vào thời kỳ tự chủ, bắt đầu từ nhà Ngô thì lãnh thổ đã kéo dài từ miền Lạng Sơn phía Bắc đến Nghệ An phía Nam, giáp ranh với Chiêm Thành. Sau đó, đất nước không may rơi vào thời kỳ loạn lạc 12 sứ quân, lãnh thổ lại bị chia năm xẻ bảy. Đến năm 968 Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lãnh thổ bao gồm cả miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cho đến Hoành Sơn.
Giai đoạn này, đất nước ta mới thống nhất, quan hệ với Chiêm Thành nói chung là "êm đẹp".

Dưới thời nhà Tiền Lê

Năm 981, dưới thời Lê Hoàn, nước ta lần đầu tiên đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành , chiếm được Địa Lý Châu (gồm Quảng Ninh, Quảng Bình). Chiêm Thành đã phải dời kinh đô (Yudrapura) từ miền Trà Kiệu vào thành Phật Thệ (Vijaya) (tức Bình Định ngày nay). Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt: Chiêm Thành từ trước vẫn là một nước lớn (đối với VN) nhưng từ sau sự kiện này đã trở thành một "tiểu quốc", chịu thần phục Đại Việt, và có thể nói, đã tạo "tiền đề" cho các cuộc Nam tiến của các triều đại sau này.

Dưới thời nhà (Hậu) Lý

Sau khi chiếm được Địa Lý Châu, Lê Đại Hành đã trả lại cho Chiêm Thành, nhưng công cuộc Nam tiến thì vẫn được nhà Lý tiếp nối mạnh mẽ.
Năm 1044, vua Lý TháiTông đem quân đánh Chiêm Thành, giết được vua Chiêm là Sạ Đẩu, chiếm được kinh đô, bắt cả vợ cả và vợ lẽ của Sạ Đẩu (!!!) nhưng sau đó lại rút về.
Năm 1068, vua Lý Thánh Tông thân chinh đem quân chinh phạt Chiêm Thành. Nhưng khác với các lần chinh phạt trước( quân ta chỉ lo đánh thắng Chiêm Thành rồi "trưng dụng" của cải, bắt vua Chiêm phải cống nộp chứ không có ý muốn lấy đất), lần này, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, quân ta không chỉ chiến thắng vẻ vang mà còn bắt Chiêm Thành phải nộp cống, không chỉ của cải mà còn là ba châu: Địa Lý ( nay thuộc Quảng Bình), Ma Linh (Quảng Trị) và Bố Chính (Quảng Bình). (LTK là người có tầm nhìn chiến lược. Ông đã nhận thấy sự chật hẹp của đồng bằng Bắc Bộ và nhận định rằng muốn phát triển đất nước hùng mạnh, bắt buộc phải mở rộng bờ cõi về phương Nam. Có thể nói, ông là người có công lớn trong việc thu phục lãnh thổ của Chiêm Thành).
Năm 1103, nhân vụ Lý Giác làm phản chạy sang Chiêm Thành, xúi giục vua Chiêm tiến quân đòi lại 3 châu, Chiêm Thành bèn rục rịch kéo quân nhưng đã bị Lý Thường Kiệt đánh cho một trận đại bại, không còn dám "đòi" lại nữa.(Nhân đây cũng xin nói thêm rằng nước ta từ thời ấy, sau nhiều sự kiện "oanh liệt" với Chiêm Thành, đã trở thành một "tiểu đế quốc" ở phương Nam. Các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao... đều "xưng thần" và hàng năm triều cống rất chu đáo ! Tất nhiên, tiểu quốc mà lơ là thì đại quốc phải đem quân sang hỏi tội thôi. (Kể cũng oai ra phết!)).

Dưới thời nhà Trần

Thời nhà Trần có thể được xem là giai đoạn thịnh nhất trong lịch sử nước ta thời phong kiến (giống như nhà Đường được xem là thời kỳ rực rỡ nhất của chế độ phong kiến ở TQ). Tuy nhiên, đáng tiếc là trong thời kỳ này nước ta phải nhiều phen anh dũng chống ngoại xâm (Mông Cổ) nên công cuộc Nam tiến không "phát huy" được nhiều.
Năm 1306 vua Trần Anh Tông thực hiện một cuộc "đổi giai nhân lấy đất" vô tiền khoáng hậu, tạo nên một trong những giai thoại "hấp dẫn" nhất của lịch sử VN. Nhà Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy 2 châu" châu Ô và châu Lý. Đến năm 1037 VN chính thức tiếp quản 2 châu này: đưa dân vào, thiết lập chính quyền và đổi lại tên thành Thuận Châu và Hoá Châu.
Sau đó nhà Trần trở nên suy yếu dần, các vua đời sau chỉ lo ăn chơi hưởng lạc.
Trong các năm 1353 và 1367 dưới thời Trần Dụ Tông nước ta đã hai phen đem quân chinh phạt Chiêm Thành nhưng đều thu lấy thất bại nặng nề, làm ảnh hưởng đến uy tín với các nước lân bang. Lại "không may" cho VN là lúc này Chiêm Thành có một vị vua rất giỏi là Chế Bồng Nga. Nhân lúc nhà Trần ngày càng suy vi, CBN không những đã đem quân đòi lại các châu bị mất ở các thời vua trước mà còn nhiều lần đem quân đến tận Thăng Long, tàn phá kinh thành, làm vua tôi nhà Trần phải trốn chạy rất vất vả, quả là một hình ảnh không đẹp chút nào.

Dưới thời nhà Hồ

Tuy Hồ Quý Ly tại vị không được lâu và nói chung trong thời nhà Hồ, nội tình trong nước còn nhiều rối ren, nhưng HQL cũng đã kịp ghi cho mình một số chiến công trong việc chinh phục lãnh thổ của Chiêm Thành.
Năm 1402 tướng nhà Hồ là Đỗ Mãn cử binh sang đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm là Ba Địch Lại phải dâng đất Chiêm Động (nay thuộc tỉng Quảng Nam) để được yên. Tuy nhiên, nhà Hồ còn "vòi" thêm cả đất Cổ Luỹ (Quảng Ngãi) nữa rồi di dân vào, đặt nền hành chính của nước ta ở các nơi mới thu phục.
Sau đó, nhà Hồ bị sụp đổ. Đất nước lại rơi vào tay Bắc phương. Công cuộc Nam chinh xem như bị đình lại.

Dưới thời nhà Hậu Lê

Dưới thời nhà Hậu Lê, nước ta đã tiến một bước khá dài trong công cuộc Nam tiến.
Sau những năm đầu lo ổn định tình hình chính trị, kinh tế (và cả lo diệt trừ công thần, bè phái, đấu đá lẫn nhau nữa!), đến thời Lê Thánh Tông, nước ta đã có những cuộc chinh phạt Chiêm Thành mới.
Năm 1470, nhân có vụ Chiêm Thành "khiêu khích" trước, vua Lê Thành Tông thân chinh đem 26 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm đại bại. Quân ta đánh rốc vào tận kinh đô Đồ Bàn, giết được vua Chiêm. Nhằm làm cho Chiêm Thành yếu đi, LTT thực hiện chính sách "chia để trị" (xem ra không chỉ người Pháp mà cả người VN ta cũng rành món này!), chia nước Chiêm thành 3 phần: Chiêm Thành, Hoá Anh và Nam Phan, giao cho các cựu thần của nước Chiêm cũ cai trị. Đồng thời vua "thu hồi" lại các đất Đồ Bàn, Đại Chiêm và Cổ Luỹ, lập ra đạo Quảng Nam để "nhập" vào nước ta. Trận đánh này làm nước Nam lừng danh, khôi phục lại uy tín cũ, các nước lân bang lại tới tấp sang chầu và xưng thần !
Có thể nói, sau chiến công oanh liệt này, Chiêm Thành đã đi vào chỗ suy vi, không còn có cơ hội cường thịnh trở lại. Vì vậy, các triều đại sau, tuy không thật mạnh nhưng công cuộc chinh phạt Chiêm Thành vẫn được tiến hành từng bước vững chắc, và cho đến các đời sau này, Chiêm Thành cứ mất dần mất dần cho đến khi bị tiêu diệt hẳn vào đời chúa Nguyễn.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: lonesome trong 04 Tháng Mười Một, 2012, 02:06:26 pm
Thời kỳ loạn lạc

Nhà Lê, sau các triều vua đầu anh minh, đã trở nên suy vi với các vị vua kém tài kém đức, dẫn đến việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đẩy đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng triền miên, sự nghiệp Nam tiến một lần nữa lại bị đình lại.

Dưới thời chúa Nguyễn

Sau khi sự nghiệp "Diệt Mạc phù Lê" thành công thì hai họ Trịnh Nguyễn lại quay sang đấu đá lẫn nhau. Trịnh ở phía Bắc, Nguyễn ở phía Nam. Để khuếch trương lực lượng nhằm có thể "chiến đấu lâu dài" với họ Trịnh hùng mạnh ở Bắc Hà, chúa Nguyễn đã tiến hành "mở rộng" lãnh thổ về phương Nam.
Năm 1611 Nguyễn Hoàng đem quân vào đánh Chiêm Thành, chiếm đất lập ra phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hoà.
Năm 1617 chúa Nguyễn chiếm thêm đất Chiêm Thành, lập ra dinh Trấn Biên.
Năm 1653 Chiêm Vương là Bà Thấm "không biết điều", đem quân quấy nhiễu phủ Phú Yên, bị quân Nguyễn đánh bại. Nhà Nguyễn, nhân cơ hội đó, tiếp tục lấy thêm đất của Chiêm Thành, lập ra phủ Diên Khánh (nay thuộc tỉnh Khánh Hoà).
Năm 1693 Chiêm vương Bà Tranh bỏ tiến cống. Nhà Nguyễn không bỏ lỡ cơ hội này. Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai tổng binh Nguyễn Phúc Kính đem quân "hỏi tội", bắt được vua Chiêm. Đất đai của Chiêm chiếm được bị đổi thành phủ Thuận Thành, sau đổi lại thành phủ Bình Thuận, lại lấy đất Phan Lý (Phan Tri), Phan Lang (Phan Rang) làm huyện Yên Phúc và huyện Hoà Đa.
Từ đó Chiêm Thành xem như mất hẳn.
Như vậy trong khoảng chưa đến một thế kỷ mà nhà Nguyễn đã thôn tính được hoàn toàn Chiêm Thành, điều mà những triều đại trước tốn bao công sức mà không gặt hái được nhiều thành công. Điều này có nguyên do rất lớn từ bản thân Chiêm Thành. Thực ra quân lực chúa Nguyễn không phải là quá mạnh, nhưng kể từ sau thất bại trước vua Lê Thánh Tông nhà Lê, rồi bị chia thành 3, Chiêm Thành đã ngày càng suy yếu, không thể gượng dậy được và chỉ còn chờ ngày diệt vong.

Giai đoạn đánh chiếm Chân Lạp

Các cuộc xâm chiếm đất Chân Lạp (Cam-pu-chia) để mở mang bờ cõi về phương Nam của người VN diễn ra có phần êm thắm hơn. Nguyên do dải đất miền Trung của cúa chúa Nguyễn vốn không được màu mỡ. Đất đai cằn cỗi, làm ăn khó khăn, lại thêm hoạ chiến tranh Trịnh-Nguyễn nên người dân dần dần di cư vào Nam, lúc ấy còn thuộc Chân Lạp, rất nhiều.
Cả miền Đông Nam Bộ và ĐB SCL bây giờ thời ấy còn khá hoang vu, đất rộng người thưa. Đất đai lại trù phú, màu mỡ, thành ra người Việt di cư vào đó ngày càng đông.
Trong những năm 1658 đến 1674, Chân Lạp có loạn tranh giành quyền lực, có phe lại "mời" chúa Nguyễn vô "giải quyết dùm". Nhà Nguyễn được thể cứ kéo binh vào "bình định", mỗi năm lại mở rộng thêm tầm ảnh hưởng của mình ở đấy.
Năm 1679 có quan nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến vì bất mãn nhà Thanh nên theo về. Chúa Nguyễn nhân cơ hội đó, muốn khai khẩn thêm đất ở Chân Lạp, bèn cho họ vào ở đất Đông Phố, đất Lộc (nay thuộc Gia Định, Đồng Nai), Mỹ Tho...
Năm 1698 chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Kính làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông phố ra làm dinh , huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Nhà Nguyễn bắt đầu củng cố địa vị và quyền lực của mình ở rẻo đất phía Nam màu mỡ này.
Thời bấy giờ có người TQ là Mạc Cửu, nhân vì hoạ nhà Thanh, lưu lạc sang đất Chân Lạp. Ông chiêu mộ lưu dân , lập nên 7 xã gọi là Hà Tiên.
Năm 1708 Mạc Cửu xin thuộc về nhà Nguyễn. Lãnh thổ nước ta lại được mở rộng thêm một phần.
Trong khoảng thời gian đó, nước Chân Lạp xảy ra biến luôn, các vua tranh giành quyền lực rồi lại chạy sang nhờ chúa Nguyễn hay Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên. Sau mỗi lần bình ổn ta lại được vua Chân Lạp "tạ ơn", mỗi lần vài huyện... Cuối cùng đất đai 6 tỉnh Nam Kỳ đều thuộc về VN.
Đến sau khi Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn thì VN còn có nhiều dịp "can thiệp vào nội bộ" của Chân Lạp, nhưng tiếc là các quan ta hành xử không khéo nên không "mở" thêm được bờ cõi mấy.
Đến đây, công cuộc "mang gươm" đi mở cõi của cha ông ta có thể xem như đã hoàn thành.

Nhìn chung cuộc Nam tiến chiếm đất của Chân Lạp được diễn ra tương đối thuận lợi. Bởi lẽ Chân Lạp thời ấy đã suy vi, các triều vua lo tranh giành quyền lực, không ngó ngàng gì đến lãnh thổ đất nước. Các vua được nước ta đưa về nắm chính quyền thì lại sung sướng, sẵn sàng "tặng" đất để tỏ lòng biết ơn. Có thể nói, VN ta đã có những cơ hội "trời cho" hết sức quý giá để mở rộng được lãnh thổ về phương Nam. Trong đó đáng kể nhất là miền Đông Nam Bộ (nay là đầu tàu của nền công nghiệp VN) và ĐBSCL (mà theo một số chuyên gia, nếu quy hoạch khéo có thể trở thành vựa lúa của cả khu vực Đông Nam Á).

Đôi điều nhìn lại


Đến đây xin mời các bác chúng ta cùng nhìn lại quá trình Nam tiến từ thuở xưa cho đến thời Cận đại một lần nữa.
Có thể nói, lãnh thổ nước ta từ thuở Bắc thuộc, chỉ là một dải đất chật hẹp ở đồng bằng Bắc Bộ, cho đến thời kỳ Cận đại, vươn dài đến tận mũi đất Cà Mau, đã trải qua một quá trình phát triển rất dài và nhiều biến động. Cuộc Nam tiến vĩ đại đó đã chứng tỏ một tinh thần anh dũng, quật cường và ý chí vươn lên của dân tộc ta.

Ta hãy nhớ lại. Từ thời nước ta vẫn còn là những miền đất manh mún, chia cắt và bị đè nặng dưới ách ngoại xâm thì Chiêm Thành đã là một nước lớn ở phía Nam. Ấy thế mà theo thời gian VN ta đã lớn mạnh dần và ngày càng cường thịnh còn Chiêm Thành ngày càng lụn bại, và cuối cùng bị VN thôn tính. Như vậy, có thể nói, chúng ta có quyền tự hào về sức sống mãnh liệt của dân tộc, về các võ công oai hùng của cha ông thuở trước.

Có thể có người còn thương xót, luyến tiếc cho Chiêm Thành một thuở oanh liệt với lầu son gác tía, với đền đài lộng lẫy của một nền văn hoá rực rỡ. Có thể có người đứng nhìn những tháp Chàm đổ nát trơ gan cùng tuế nguyệt mà cảm khái, không khỏi cảm thấy cha ông ta ngày xưa đã có phần "quá đáng" (!?). Một trong những người tỏ lòng luyến tiếc với quá khứ "tiêu biểu" nhất có lẽ là nhà thơ Chế Lan Viên. Trong tập thơ Điêu tàn nổi tiếng với sắc màu đầy vẻ huyền bí, hư ảo của mình, ông đã bộc lộ một tâm trạng nhớ thương, đồng cảm với nỗi đau mất nước của một trong những dân tộc đã có thời mạnh mẽ, lẫy lừng vào bậc nhất Đông Nam Á: dân tộc Chăm-pa.

Vâng, tất cả những điều đó dường như rất đáng để chúng ta mủi lòng. Nhưng..., hãy thử nhìn nhận vấn đề dưới một khía cạnh khác xem sao. Thực ra, việc Chiêm Thành bị tiêu diệt không hẳn chỉ do "dã tâm" của dân tộc Việt. Bản thân họ đã phải trả giá cho những sai lầm của chính họ. Ngay từ thời nước ta còn đang trong vòng nô lệ của giặc Hán, Chiêm Thành đã không ít lần "thừa nước đục thả câu", sang quấy nhiễu, cướp bóc nước ta, thậm chí đã có lần táo gan "đề nghị" phía TQ cho nước ta trở thành một vùng nội thuộc của Chiêm Thành để ...dễ "quản lý" ! Cho đến khi nước ta giành được độc lập thì Chiêm Thành vẫn không để yên, thường sang quấy nhiễu biên giới VN luôn. Hầu hết những cuộc chinh phạt Chiêm Thành của các triều đại VN đều bắt nguồn từ những vụ xâm phạm, cướp bóc biên giới của phía Chiêm Thành. Có một điều rất lạ là đã bao lần quân Chiêm bị quân ta đánh cho đại bại, nhiều lần bị đánh đến tận kinh đô, không ít lần vua bị giết, bị bắt sống. Ấy thế nhưng họ vẫn không "tỉnh ngộ", vẫn không chịu "thần phục" để đến nỗi rước lấy cái hoạ mất nước (thậm chí đến thời chúa Nguyễn, lãnh thổ chỉ còn một tẹo, vậy mà vua Chiêm vẫn còn đem quân quấy nhiễu Phú Yên (!), để rước lấy nhục vào thân và phải dâng gần hết đất, dẫn đến việc kết thúc sự tồn tại của nhà nước Chiêm Thành). Sử xưa có chép, người Chiêm Thành vốn tính tình hung dữ, ngang tàng... phải chăng đó là nguyên do cho sự tàn lụi của họ?!

Về Chân Lạp, dù có cấu kết với Chiêm Thành nhưng thực ra "ân oán" với nước Đại Việt có thể nói là chưa nhiều. Tuy nhiên, do thời thế mà miền đồng bằng trù phú phía Nam đã trở thành một phần của lãnh thổ VN. Phải chăng, đó là một hình thức đền bù của trời đất, muốn dành cho cho VN mảnh đất giàu có ấy để thay thế cho miền Lưỡng Quảng rộng lớn đã bị mất về tay TQ (?!).

Dẫu sao đi nữa thì lãnh thổ của VN, cùng với các nước xung quanh, ngày nay cũng đã định hình (và được quốc tế thừa nhận!), và trong tương lai cũng khó có thể biến cải gì lớn. Nhắc lại chuyện xưa chỉ như để hồi tưởng lại một thời quá khứ hào hùng của dân tộc, cái thuở ngàn năm "đem gươm đi mở cõi" ấy.

cdtphuc@ttvnol.com


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: nemesisgau trong 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:47:51 pm
Bài của bác lonesome nhặt từ bên ttvnol về cũ rồi bác ạ. Nhất là cái đoạn Quang Trung Nguyễn Huệ thì sặc mùi ttvn luôn.
Nói về đánh TQ, có 2 vị của Việt Nam đã làm rồi, chứ không chỉ là nói đòn gió để củng cố ba quân:
- Lý Thường Kiệt. Vị này không định chiếm đất nên cũng chỉ tính là 50-50.
- Nùng Trí Cao. Đánh loạn xạ cả lên, nhà Tống đánh dẹp mãi mới xong được. Nhiều người cho rằng có liên minh ngầm giữa vị này và nhà Lý, bởi khi nhà Tống đánh không được thì vua Lý "bắn tin" ý đi đánh dẹp hộ. Đến khi Nùng Trí Cao sắp thua trận thì nhà Lý vẫn lấy cớ đánh dẹp giúp nhưng cử quân sang thật. Có điều quân chưa tới nơi thì đã vỡ trận rồi, đành kéo về.
Còn Nguyễn Huệ, nói cho thực lòng thì chả có đủ lực mà đánh TQ. Có sống thêm 10 năm hay 20 năm còn chưa chắc đã đánh nổi Nguyễn Ánh, một bên dựa vào vùng đất đã bạc màu, một bên có hẳn đồng bằng Sông Cửu Long làm bệ đỡ. Còn vua nào thì cũng là vua, phong kiến hết. Cũng sưu dịch, cũng bị dân ghét. Chuyện lính hết bỏ ngũ bên này sang bên kia là thường tình.
Còn em thấy nếu nói về lãnh thổ và ảnh hưởng thì Minh Mạng xếp đầu bảng. Biên giới kéo sang tận Savanakhet ( Trấn Man), bảo hộ Chân Lạp.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: kc135 trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 11:22:27 am
còn có vua Trần Thái tông đánh Khâm châu,Liêm Châu vào cuối thời Tống,sao không thấy ai nhắc vậy?
chúa Trịnh Tráng cũng từng sai tướng đem 500 thuyền sang đánh Quãng Đông,giải vây cho Quân Thanh năm 1665


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: vanhaubg trong 17 Tháng Mười Hai, 2012, 07:07:03 pm
Hồi học lịch sử lớp 8 hay lớp 9 gì ấy thì dưới thời vua Minh Mạng hay Minh Mệnh (1820-1841) nhà Nguyễn bản đồ của ta mở rộng tới biên giới Thái Lan. Bao gồm cả Cam Pu Chia và Lào ngày nay. Về quân đội cũng mạnh lắm. Vì bản đồ vẽ tổng quát quá nên chỉ khoảng khoảng ấy thôi. Bác nào thông thạo trả lời giúp em nhé!


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: linhtapsu trong 19 Tháng Mười Hai, 2012, 12:54:14 am
Thời Minh Mạng nghe sát nhập Cam vào Việt Nam nghe hoành tráng , nhưng thực chất quân ta ở đó khoảng vài năm , không làm nên trò trống gì cả nên rút về , mà đưa quân sang Chân Lạp thời đó cũng là 1 sai lầm của nhà Nguyễn , vì làm cho quốc khố trống trơn , dân tình điêu đứng vì phu phen ! Minh Mạng đưa quân qua Chân Lạp cũng gần giống như kiểu " 1 phút anh hùng rồi chợt tắt " Thời đó nước ta đã quá tụt hậu so với phương Tây , nhưng vẫn cứ nghĩ mình là số 1  ;D ;D Minh Mạng mất ta rút quân về thì hơn 10 năm sau Pháp bắt đầu đánh Việt Nam , lúc đó nhà Nguyễn mới bộc lộ những yếu kém !!
Cái chuyện bản đồ vẽ Chân Lạp thuộc Việt thời đó là 1 kiểu " tự sướng " thì đúng hơn , thì cũng giống như vụ sứ thần các nước như Hà Lan , Bồ Đào Nha , Indo vv qua nước ta giao bang , nhưng các vua nhà Nguyễn thời đó đưa các nước đó vào danh sách các nước .. chư hầu thần phục của mình  ;D ;D


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: vanhaubg trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 02:22:13 pm
Vua nhà Nguyễn " cùi bắp" thế nào thì qua truyện " vi hành" của Bác Hồ em đã biết. Ai đời lại " đèn dầu treo ngược". Thế là cũng có tý chút đúng ạ, em có xem qua 1 lần bản đồ đó ở 1 cuốn sách cũ vẽ không chi tiết lắm, tới thời em học thì không còn nữa. Nhưng qua đây em mới thấy bác nói thế chứ có thấy tài liệu nào ghi lại đâu nhỉ? Dạo trước có đọc nhiều sách lịch sử nói về vua triều Nguyễn nhưng vấn đề này chưa hề được đề cập... Bác có dẫn chứng nào cụ thể không?
Mà 7.000 quân do Nguyễn Tri Phương không đánh trả nổi 200 quân do Gaclile đánh thành Hà Nội năm 1873 nhỉ???


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: Omon trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 02:52:42 pm
Vua nhà Nguyễn " cùi bắp" thế nào thì qua truyện " vi hành" của Bác Hồ em đã biết. Ai đời lại " đèn dầu treo ngược". Thế là cũng có tý chút đúng ạ, em có xem qua 1 lần bản đồ đó ở 1 cuốn sách cũ vẽ không chi tiết lắm, tới thời em học thì không còn nữa. Nhưng qua đây em mới thấy bác nói thế chứ có thấy tài liệu nào ghi lại đâu nhỉ? Dạo trước có đọc nhiều sách lịch sử nói về vua triều Nguyễn nhưng vấn đề này chưa hề được đề cập... Bác có dẫn chứng nào cụ thể không?
Mà 7.000 quân do Nguyễn Tri Phương không đánh trả nổi 200 quân do Gaclile đánh thành Hà Nội năm 1873 nhỉ???
7000 mà giáo mác, súng kíp, thần công so với 200 mà súng trường đời mới, súng máy với pháo dây giật yểm trợ, kể cả bên thủ thành có công sự (thành)? Chênh lệch vũ khí rồi quan điểm chiến thuật của 2 bên. Í t là tấn công, bên đông có tấn công hay chỉ đơn thuần phòng thủ thụ động. Rồi bối cảnh chung lúc ấy nó tác động vào 2 bên tham chiến như thế nào? Nhìn rộng ra một tý đi bác, em tưởng bác là lính quân đoàn 2 thì cái này bác phải biết, phải được học chứ? Bộ đội như bác mà thế này thì bỏ xừ...
Nếu quân đông mà không đánh trả nổi đối phương theo cái kiểu tư duy hay đặt câu hỏi như bác thì lịch sử chiến tranh phải viết lại từ trận Marathon - quân Ba Tư đông gấp hơn chục lần quân Hy Lạp.
Nói đơn giản cho bác dễ hiểu là lúc nào về quê, bác rủ bọn trẻ con đánh trận giả. Bên bác vài chục nhưng cần que củi. Bên kia 10 đứa thôi, mà chúng nó bắn ná dây thun - loại dùng để bắn chim sẻ ấy (hồi bọn em thỉnh thoảng vẫn thấy, chả biết bác có hình dung nổi không) và đá bắn thả dàn thì bác sẽ biết.
Hay ngắn gọn là bác lên Google, đánh từ khóa liên quan đến Pháp đánh thành HN lần thứ nhất, cuối bài người ta có phân tích đấy. Mà nếu như không phân tích tận miệng thì đọc bài, em nghĩ là bác không đến nỗi không hiểu được.
Em thì thấy kiểu tìm mọi cách spam để lên quân hàm như thế này nó thế nào ấy, nói chung là không đàng hoàng.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: vanhaubg trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 04:50:53 pm
Bác trách nhầm em rồi! Em có phải là lính tráng gì đâu. Chưa hề đào tạo qua 1 khóa QĐ nào, chỉ được học GDQP ở cấp 3 thôi còn sắp tới mới được đi học Quân Sự. Chiến sĩ quân đoàn 2 là ước muốn từ hồi THPT em vẫn là sinh viên mà. Còn google thì em đọc lâu rồi nhưng cách đánh như thế nào, trang bị chỉ nói là thô sơ thôi thì bác hỏi em phải hiểu như thế nào. Nguồn Wiki có bác trong diễn đàn khuyên chỉ nên tham khảo thôi. Sách giáo khoa mình học thì cũng nói qua loa. Mình muốn tìm hiểu sâu thì phải hỏi chứ? Còn spam hay không thì em không biết đừng vội đổ tội cho người khác như thế? Em thấy có chủ đề nào không hiều thì em hỏi đàng hoàng. Không phải mỗi lần viết bài là phải dài dài mà cần giải đáp được khúc mắc của người đọc. Nếu ai cũng cần post bài thì cần chi tham khảo ý kiến người khác làm gì. Suy nghĩ chủ quan của mỗi người là khác nhau và sai đúng đều không biết. Như bác nói " súng kíp" đã sai cơ bản rồi. Súng hỏa mai thì có thể nghe được dùng đạn đốt cháy bắn đi nhưng không được xa và 1 lần nạp đạn rất lâu. Súng kíp mới có thôi bác à! Em từng được bắn 1 lần nhưng không chính xác. Về trang bị thì không tới nỗi hiện đại như bạn nói, mình chỉ được biết là quân triều đình uể oải, tinh thần tác chiến kém+ trang bị kém. Về trận đánh bạn nói thì chỉ là 1 địch 10, còn đây 1 địch mấy bạn biết chứ? Thế thôi còn banj nói cao quá, xa quá mình không hình dung được.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: Omon trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 05:15:28 pm
Bác trách nhầm em rồi! Em có phải là lính tráng gì đâu. Chưa hề đào tạo qua 1 khóa QĐ nào, chỉ được học GDQP ở cấp 3 thôi còn sắp tới mới được đi học Quân Sự. Chiến sĩ quân đoàn 2 là ước muốn từ hồi THPT em vẫn là sinh viên mà. Còn google thì em đọc lâu rồi nhưng cách đánh như thế nào, trang bị chỉ nói là thô sơ thôi thì bác hỏi em phải hiểu như thế nào. Nguồn Wiki có bác trong diễn đàn khuyên chỉ nên tham khảo thôi. Sách giáo khoa mình học thì cũng nói qua loa. Mình muốn tìm hiểu sâu thì phải hỏi chứ? Còn spam hay không thì em không biết đừng vội đổ tội cho người khác như thế? Em thấy có chủ đề nào không hiều thì em hỏi đàng hoàng. Không phải mỗi lần viết bài là phải dài dài mà cần giải đáp được khúc mắc của người đọc. Nếu ai cũng cần post bài thì cần chi tham khảo ý kiến người khác làm gì. Suy nghĩ chủ quan của mỗi người là khác nhau và sai đúng đều không biết. Như bác nói " súng kíp" đã sai cơ bản rồi. Súng hỏa mai thì có thể nghe được dùng đạn đốt cháy bắn đi nhưng không được xa và 1 lần nạp đạn rất lâu. Súng kíp mới có thôi bác à! Em từng được bắn 1 lần nhưng không chính xác. Về trang bị thì không tới nỗi hiện đại như bạn nói, mình chỉ được biết là quân triều đình uể oải, tinh thần tác chiến kém+ trang bị kém. Về trận đánh bạn nói thì chỉ là 1 địch 10, còn đây 1 địch mấy[/color] bạn biết chứ? Thế thôi còn banj nói cao quá, xa quá mình không hình dung được.
Thì nó nằm ở tinh thần chiến đấu xuống đến mức không thể thấp hơn do bị tác động từ những hành động của triều đình cùng với việc bê trễ trong tâp luyện ấy. Cái vế sau bác tìm hiểu xem từ thời Minh Mạng sang đến Tự Đức, quân triều đình được huấn luyện, trang bị thế nào á.
Thế bác muốn biết sâu mở mức nào? Vì cái nguyên nhân tại sao 200 lính Pháp có thể đánh bại 7000 quân phòng thủ thành HN á? Hay sâu như thế nào khác?
Gạch chân: đấy gọi là spam đấy. Với chủ quan hay khách quan thì phải có cơ sở nào đó, dựa vào, đặt vào mà nghĩ chứ, chả nhé bác chưa bao giờ nghĩ trước khi phát ngôn à?
Em xin lỗi, bác biết lúc ấy trang bị của quân Pháp so với quân Nguyễn chênh lệch như thế nào không? Như thế đã được gọi là "hiện đại" chưa? So với bối cảnh thế kỷ 19 ấy.
Wiki các bác ý bảo không tin được bởi vì nó sửa được và sửa thế nào là do người sửa có mục đích như thế nào, kể cả là sửa để nghịch hay "quăng bom". Nhưng như thế không có nghĩa là không dùng tham khảo được, bác hiểu chứ? Đọc wiki vì nó là cái nguồn dễ tìm nhất, sau đó tìm chỗ khác đọc thêm, ôm cả sách giáo khoa đọc cũng được, hay là quyển Lịch sử Việt Nam dày cộp của nhà xuất bản văn hóa thông tin thì phải ấy. Thiếu gì nguồn, vấn đề là có chịu đọc hay không.
Mà hình như so sánh, đặt vào bối cảnh, em viết ở bài trên, bác không làm thì phải vì nếu làm đã không có mấy câu lảm nhảm như mấy câu em gạch chân.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: vanhaubg trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 06:18:20 pm
Bác quá tự tin vào những phát ngôn của mình rồi đấy. Biết đâu bạn nói không có căn cứ và em cũng không nhất thiết phải nghe những lời bác nói. Bài viết thì em không ít nhưng tổng thể  chỉ được bao nhiêu bài lên quân hàm. Cái đó là 80/ 57 bạn hiểu chứ? Qua diễn đàn mong muốn chia sẻ những điều mình biết và hỏi những vấn đề chưa thông. Đây không phải là nơi thể hiện cái " tôi" bác hiểu chứ? Hồi trước nếu nói về lịch sử thì em và 1 ông bạn nữa nói gì cũng có thể tin được, biết đâu đấy trong lời nói của mình sai mà không biết. Ví dụ như ngày thành lập Hải Quân em cứ nghĩ là 5/8/1964 ai dè qua đây mới biết là năm 1955 đã có rồi... Còn nhiều vấn đề trong quân đội sao mà biết được. Con người chứ không phải máy tính mà có thể nhớ hết những gì trong lịch sử. Lịch sử nước ta cũng được hình thành dựa trên ghi chép cụ thể. Nếu bác là MOD diễn đàn thì chắc diễn đàn của bác cũng không tồn tại 1 ngày đâu. Các MOD ở đây đều tham khảo và góp ý chứ không "thẳng thừng" thế đâu. Em gửi bác 1 câu: "Biết lắng nghe rồi hãng phát biểu không phải lúc nào mình cũng đúng".


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: Omon trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 07:22:01 pm
Biết đâu bạn nói không có căn cứ -> bác chỉ ra trong các bài trên em viết chỗ nào là không có căn cứ cái, trừ cái chỗ súng kíp thì em nhầm thật vì lúc ấy em cũng không nhớ ra tên súng nên gõ liền.
Cái tỷ lệ ấy em thề là em không hiểu bác lôi ra ở đâu và để chứng minh cái gì. Trong khi cái tỷ lệ quân Pháp/Việt đánh thành HN lần đầu tiên là 1/35 (lấy phân số 200/7000 ấy.
Thế các câu em hỏi, bác có trả lời được không thì nói em biết 1 tiếng để em rút, nhường bác là người nói sau cùng, chứ cái kiểu này có vẻ như em đang nói chuyện với "chôn" chính hiệu.
Các MOD ở đây đều tham khảo và góp ý chứ không "thẳng thừng" thế đâu -> các bác, các chú, các anh ý không chấp kiểu trẻ con hay vùng vằng, giận dỗi đâu. Quá quắt, nhố nhăng lắm thì người ta mới nhắc ví dụ như mở topic theo cảm xúc copy&paste ở kiến thức quốc phòng này hay là vụ cờ quạt gì đó ở trên fb rồi về đây hỏi luyên thuyên bị Smod nhắc 1 lần duy nhất này. Hay là trước đấy bị đánh giá là spam ở Bảng tin bị treo nick này....
Câu hỏi của em thì chắc thôi, nhỉ, hỏi thế, hỏi nữa, hỏi mãi thì bác cũng lảng thôi. Đừng hỏi câu nào, ở đâu nhé, trẻ con lắm!

Trả lời câu:
Mà 7.000 quân do Nguyễn Tri Phương không đánh trả nổi 200 quân do Gaclile đánh thành Hà Nội năm 1873 nhỉ???
Tin hay không tùy bác, đến vật nuôi trong nhà nhiều khi em quát chúng nó cũng có nghe đâu. Thêm nữa thì quần áo em bẩn hết.

Nguồn
http://baigiang.violet.vn/present/same/entry_id/5178712 (tóm tắt)

Các yếu tố tác động gián tiếp

Tình hình Kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam trước khi thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất 1873
Tình hình Việt Nam trước khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất.
- Kinh tế: sa sút do mất 6 tỉnh Nam Kì, bồi thường chiến phí ( theo Hiệp ước 1862 )
- Chính trị, xã hội: nạn thổ, hải phỉ hoành hành, mâu thuẫn xã hội gia tăng; khởi nghĩa nổ ra nhiều nơi.
- Những đề nghị cải cách - duy tân đều bị triều đình khước từ.
+ Nông nghiệp bê trễ
+ Công thương nghiệp không có gì khác trước
+ Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn

Ý đồ đánh chiếm Bắc Kỳ của Pháp: muốn chiếm toàn bộ VN
Âm mưu:
- Dựng lên vụ Đuypuy ( cho Đuypuy gây rối ở sông Hồng )
- 20-11-1873 Lấy cớ giải quyết vụ Đuypuy, Pháp đem quân đánh thành Hà Nội và chiếm các tỉnh Bắc Kì ( từ 23-11 đến 12-12-1873)

Diễn biến + yếu tố tác động trực tiếp:
Đêm 19, rạng 20 tháng 11 năm 1873, Gác-ni-ê đánh úp thành Hà Nội. Gươm giáo không thể địch lại súng ống và cả đại bác - chênh lệnh về vũ khí, trình độ và tinh thần => chống không lại số quân ít hơn rất nhiều mà mất thành.


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: vanhaubg trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 08:18:43 pm
Nói chung mình định không viết nữa nhưng theo lời của bạn thì mình có vẻ hơi chuyên quyền. Số liệu 200-7.000 lính thì sách lịch sử có ghi lại đàng hoàng mình có hỏi thì cô cũng chỉ trả lời như mình nêu ban trước. Số liệu đó để chứng minh sự chênh lệch quân đội đông tới cỡ nào mà vẫn thua... Mình thừa nhận vào đây mình không biết tý chút gì về QĐ mà có thì chỉ là tham khảo chưa có 1 ngày kinh nghiệm trên Thao trường. Chưa phải đổ 1 giọt mồ hôi nào trong QĐ. Yêu thích lịch sử nhưng không thể hiểu hết về. Mình có thằng bạn học Sư Phạm Lịch Sử năm cuối rồi hỏi nhiều cái vẫn còn tranh luận. Về lịch sử Việt Nam thì mình tốt hơn hẳn nó nhưng lịch sử thế giới thì mình chịu đặc biệt là sử Trung Quốc. Các triều đại, trận đánh, tướng tá TQ nó đều thông thạo chắc tại nó dân tộc Hoa mình dân tộc kinh nên thế? Nếu như tranh luận bao giờ cũng chỉ là góp ý... Vì là bạn bè nên thoải mái. Nhưng khi đưa ra dư luận ắt hẳn phải tôn trọng nhau, cái thứ trẻ con ai cũng có, người già còn có nhưng tùy từng hoàn cảnh. Vào 1 môi trường mà mình thích thử hỏi ai không muốn biết mà :" Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học". Nếu như bạn có thể giỏi rồi thì mình chịu thua. Quay trở lại vấn đề nước ta từ ngàn đời nay bị dân " Phương Bắc" đô hộ sử sách ghi chép lại đều thành đống " tro tàn". Tài liệu mỗi cái ghi 1 kiểu ngay các nhà sử học còn đang tranh luận những chủ đề đưa ra bàn bạc góp ý nhỏ thôi. Ngay như tấm bản đồ của TQ dùng để tranh chấp quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam biết là không có đấy nhưng biết bao ý kiến phản hồi chả nhẽ không nghe ai chắc. Biết bao câu hỏi đặt ra...


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: linhtapsu trong 20 Tháng Mười Hai, 2012, 11:48:33 pm
Bác trách nhầm em rồi! Em có phải là lính tráng gì đâu. Chưa hề đào tạo qua 1 khóa QĐ nào, chỉ được học GDQP ở cấp 3 thôi còn sắp tới mới được đi học Quân Sự. Chiến sĩ quân đoàn 2 là ước muốn từ hồi THPT em vẫn là sinh viên mà. Còn google thì em đọc lâu rồi nhưng cách đánh như thế nào, trang bị chỉ nói là thô sơ thôi thì bác hỏi em phải hiểu như thế nào. Nguồn Wiki có bác trong diễn đàn khuyên chỉ nên tham khảo thôi. Sách giáo khoa mình học thì cũng nói qua loa. Mình muốn tìm hiểu sâu thì phải hỏi chứ? Còn spam hay không thì em không biết đừng vội đổ tội cho người khác như thế? Em thấy có chủ đề nào không hiều thì em hỏi đàng hoàng. Không phải mỗi lần viết bài là phải dài dài mà cần giải đáp được khúc mắc của người đọc. Nếu ai cũng cần post bài thì cần chi tham khảo ý kiến người khác làm gì. Suy nghĩ chủ quan của mỗi người là khác nhau và sai đúng đều không biết. Như bác nói " súng kíp" đã sai cơ bản rồi. Súng hỏa mai thì có thể nghe được dùng đạn đốt cháy bắn đi nhưng không được xa và 1 lần nạp đạn rất lâu. Súng kíp mới có thôi bác à! Em từng được bắn 1 lần nhưng không chính xác. Về trang bị thì không tới nỗi hiện đại như bạn nói, mình chỉ được biết là quân triều đình uể oải, tinh thần tác chiến kém+ trang bị kém. Về trận đánh bạn nói thì chỉ là 1 địch 10, còn đây 1 địch mấy bạn biết chứ? Thế thôi còn banj nói cao quá, xa quá mình không hình dung được.

Trang bị thì quân nhà Nguyễn cũng chẳng lạc hậu hơn là bao đâu bạn à , trong diễn đàn này có bài viết của huyphuc về các loại vũ khí thời đó đấy , bạn thử tìm hiểu xem !
Cái thua của quân nhà Nguyễn là về chiến thuật lạc hậu nữa , giai đoạn này đại bác bắn mảnh phát triển mạnh ! Thành trì cao to thì cũng chỉ làm bia để đại bác tập bắn mà thôi , thời kỳ này ngang với cuộc Nội Chiến ở Mỹ và 1 loạt cuộc chiến ở Châu Âu , chiến thuật dùng chiến hào đã phổ biến ! Còn nhà Nguyễn vẫn cứ theo chiến thuật thời thời Trung Cổ dùng bạch khí , thành cao hào sâu làm gì chẳng thua ??


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: vanhaubg trong 21 Tháng Mười Hai, 2012, 10:13:25 pm
Bác nói vậy còn quá chung chung nhưng còn chấp nhận được. Vì là lịch sử tồn tại đã hàng trăm năm nên khó xác định rõ ràng lắm! Qua đây có khúc mắc muốn hỏi anh em rồi cùng bàn luận đưa ra ý kiến để làm căn cứ sau này có dịp còn dùng đến chứ. Mỗi người 1 quan điểm và đọc 1 sách khác nhau nên các số liệu khác nhau là điều tất yếu. Nghe đâu quân nhà Nguyễn tan trận chỉ trong vòng 1h đồng hồ thôi.....


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: linhtapsu trong 21 Tháng Mười Hai, 2012, 11:05:33 pm
Bác nói vậy còn quá chung chung nhưng còn chấp nhận được. Vì là lịch sử tồn tại đã hàng trăm năm nên khó xác định rõ ràng lắm! Qua đây có khúc mắc muốn hỏi anh em rồi cùng bàn luận đưa ra ý kiến để làm căn cứ sau này có dịp còn dùng đến chứ. Mỗi người 1 quan điểm và đọc 1 sách khác nhau nên các số liệu khác nhau là điều tất yếu. Nghe đâu quân nhà Nguyễn tan trận chỉ trong vòng 1h đồng hồ thôi.....

Muốn biết chính xác hơn thì tìm đọc nhiều sách , rồi phân tích xem cái nào phù hợp hơn ! Muốn đọc về thời đó thì thiếu gì sách đâu bạn , trên mạng chỉ cần bạn qua lichsuvn thôi cũng có 1 đống về vấn đề này rồi !

Quân nhà Nguyễn lúc đó thì yếu mọi mặt nhất là về tinh thần , trận đánh thành Ninh Bình có 8 lính Pháp 2 lính người Việt mà hạ được thành có 1700 lính , đánh thành Nam Định có 15 lính , thì bạn đủ hiểu quân nhà Nguyễn bạc nhược thế nào rồi chứ ?


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: Kebaothu trong 22 Tháng Mười Hai, 2012, 12:16:51 am
em thấy "đồn" (tại vì nguồn chính thống không muốn xác nhận), đó là có ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo vào trong các quyết định của quan nhà Nguyễn, bởi vì chính các ông này đi theo tôn giáo lạ đó.



Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: menthuong trong 22 Tháng Mười Hai, 2012, 07:33:10 am
Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông 李英宗 cùng Tô Hiến Thành 蘇憲誠 đã chinh Tây, tiến hành thu phục các tù trưởng 牛吼 dân tộc thiểu số ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai và nhập vùng đất đó vào lãnh thổ Đại Việt. Trong 12 lộ 路, 6 phủ 府, 25 châu 州 mà Lý Thánh Tông (李聖宗, 1054-1072) định ra khi đổi quốc hiệu là Đại Việt 大越 chép ở Toàn thư 全書 thì châu Chân Đăng 真登州 (hay đạo Lâm Tây 林西道) có đất vùng Tây bắc nay.
 
Đến năm 1469, vua Lê Thánh Tông chia đạo thừa tuyên Hưng Hóa thành 3 phủ gồm 4 huyện, 17 châu. Trong đó có Phủ Yên Tây 安西府 quản lĩnh 10 châu: Lai Châu 萊州, Luân Châu 倫州, Quỳnh Nhai 瓊崖, Chiêu Tấn 昭晉, Hợp Phì 合淝, Kiêm Châu 謙州, Tuy Phụ 綏阜, Hoàng Nham 黃岩, Lễ Toàn 醴泉 và Tung Lăng 嵩陵.

Nhưng vào khoảng giữa thế kỷ XVIII  Hoàng Chất chiếm động Mãnh Thiên 猛天. Khi Chất chết, con là Công Toản chạy sang Vân Nam "đem theo" các châu Tung Lăng, Hòang Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ , Khiêm Châu  nội thuộc nhà Thanh.

Như vậy đất “mở ra” rồi lại bị “hẹp lại”! Chưa thấy ai cung cấp các chấu của Đại Việt giờ thuộc Đại Hán nhưng dưới địa danh nào?


Tiêu đề: Re: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ
Gửi bởi: hosidulich trong 30 Tháng Tư, 2013, 09:43:12 pm
em vẫn chưa hiểu tại sao Nguyễn Tri Phương lại được coi là vị tướng giỏi đời Nguyễn được 7000 không đánh được 200 còn cái vụ phòng tuyến của quân Pháp có 1 nghìn quân trải dài 10km mà sợ không lên nếu thấy quan địch có súng sao không ghép ván có sắt đệm mà lên súng hỏa mai đại bác yểm trợ quân kỵ chạy vòng đằng sau móc ( :D mới có 18 tuổi đầu đấy chỉ là ý kiến của em thôi các bác góp ý dùm )