Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:10:10 am



Tiêu đề: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:10:10 am
Lý thuyết quân sự Trung Hoa
[/size]
 Nguyễn Duy Chính dịch www.thuvien-ebook.net
Mục Lục
Chương thứ nhất: Dẫn nhập
1. QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ SỨC MẠNH QUÂN SỰ
2. KỸ THUẬT TÂN TIẾN VÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HIỆN ĐẠI
3. CÔNG CUỘC CANH TÂN QUÂN SỰ CẬN ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG TRÊN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
4. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ THAY ĐỔI TRONG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ CỦA TRUNG HOA
5. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BỐ CỤC
6. TÀI LIỆU
Chương 2: Nghiên cứu về các lý thuyết quân sự cổ điển của Trung Hoa
1. NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH CỦA TRIẾT HỌC QUÂN SỰ CỔ ĐIỂN TRUNG HOA
2. BỐI CẢNH XÃ HỘI -CHÍNH TRỊ VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ TRÊN TRIẾT HỌC QUÂN SỰ ĐỜI TIÊN TẦN 3. Ý NIỆM QUỐC PHÒNG VÀ ĐẠI CHIẾN LƯỢC THỜI TIÊN TẦN
4. CÁC NGUYÊN TẮC CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN THUẬT CHÍNH YẾU ĐỜI TIÊN TẦN
5. VIỆC PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUÂN SỰ TRUNG HOA SAU ĐỜI TẦN
Chương 3: Cuộc chiến tranh nha phiến và sự chuyển hóa của hệ thống quân sự Trung Hoa
1. HỆ THỐNG QUÂN SỰ TRUNG HOA TRƯỚC NHA PHIẾN CHIẾN TRANH
2. ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC CHIẾN TRANH NHA PHIẾN VÀ PHẢN ỨNG CỦA TRUNG HOA
3. SỰ TRỖI DẬY CỦA CÁC LỰC LƯỢNG ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÔNG CUỘC CANH TÂN QUÂN SỰ CỦA TRUNG HOA
4. VIÊN THẾ KHẢI VÀ HỆ THỐNG QUÂN SỰ MỚI CỦA TRUNG HOA
5. KẾT LUẬN
Chương 4: Sự phát triển của tư tưởng quân sự trong thời kỳ đầu của nền cộng hòa
1. TÌNH TRẠNG QUÂN PHIỆT VÀ SỰ THOÁI BỘ CỦA HIỆN ĐẠI HÓA QUÂN SỰ
2. CÁC ĐÒI HỎI CẢI CÁCH QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ ĐẦU CỦA NỀN CỘNG HÒA
3. SÁI NGẠC VÀ QUÂN SỰ HÓA TRUNG HOA
4. BÁC SĨ TÔN DẬT TIÊN VÀ QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG
5. TƯỞNG BÁCH LÝ VÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
6. KẾT LUẬN
Chương 5: Tư tưởng quân sự của Tưởng Giới Thạch
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG TƯỞNG GIỚI THẠCH
 2. QUAN DIỂM VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
3. QUAN NIỆM VỀ CHIẾN TRANH CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH
4. NGHỆ THUẬT ĐIỀU BINH
5. TƯ TƯỞNG VỀ CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ
6. KẾT LUẬN -ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH TRONG CANH TÂN HÓA QUÂN SỰ
Chương 6: Tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông
1. BỐI CẢNH XÃ HỘI -CHÍNH TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ MAO TRẠCH ĐÔNG
2. NHẬN THỨC LUẬN CỦA MAO VỀ CHIẾN TRANH
3. XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VÀ CÁC QUAN NIỆM CHỦ YẾU CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
4. CÁC CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN THUẬT CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
5. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIÊN VÀ CHÍNH TRỊ NẮM QUYỀN
6. KẾT LUẬN
Chương 7: Những đường hướng của tư tưởng quân sự Trung Hoa hiện nay
1. TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH QUÂN SỰ CỦA ĐẶNG TIỂU BÌNH
2. CHUẨN BỊ CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG HOA TRONG THẬP NIÊN 1980
3. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG HOA TRONG TƯƠNG LAI GẦN
Chương 8
KẾT LUẬN


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:12:01 am
 Chương thứ nhất: Dẫn nhập
Kể từ giữa thập niên 1970, xu hướng chính trị thế giới đã dần dần tách ra khỏi đạo lộ đối cực để đi vào một hệ thống đa phương. Theo nhiều tài liệu khác nhau, những trung tâm quyền lực chính trị mới của thế giới có thể gồm cả Cộng đồng Âu Châu, Liên Xô, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Hoa. Trên định nghĩa kinh tế và quân sự, Trung Hoa có lẽ kém xa hai siêu cường kia và cũng chưa mạnh như hai cường lực còn lại trong một tương lai gần. Tuy nhiên, nếu nhìn vào dân số to lớn, tài nguyên dồi dào và một diện tích địa lý vĩ đại thì không ai dám phủ nhận là nếu không có những khủng hoảng xã hội -chính trị nội tại nghiêm trọng, Trung Hoa sẽ tiến lên trở thành siêu cường thứ ba và có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên chính trị toàn cầu và an ninh thế giới. 
Thương lượng trong hòa bình vốn dĩ phổ thông trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia. Thế nhưng tương quan quốc tế cũng phần lớn bị khống chế bởi các cường lực. Không vấn đề quốc tế nào liên quan đến những bất đồng lại không được hậu thuẫn bằng sức mạnh của quốc gia đứng sau các cuộc đàm phán. Quyền lực quốc gia bao gồm sức sản xuất kinh tế, kỹ thuật, tinh thần dân tộc, các điều kiện địa lý chính trị, và quân sự ... Nói gì thì nói, lực lượng quân sự luôn luôn là biểu tượng của sức mạnh quốc gia. Một quốc gia có một quân lực hùng hậu cần phải có một tư tưởng quân sự mạnh mẽ chỉ đạo các lực lượng võ trang trong tổ chức, huấn luyện cũng như lựa chọn chiến lược và chiến thuật. Không có một tư tưởng quân sự thích hợp, một lực lượng quân sự dù có vũ khí và trang bị tân tiến cũng chưa bảo đảm được sẽ thắng trận. Trái lại, nếu có một tư tưởng thích ứng hướng dẫn việc điều động các lực lượng, hiệu năng có thể lên cao và có thể đánh bại một lực lượng địch trang bị tối tân hơn nhưng thiếu tư tưởng hay chiến lược quân sự. Cho nên có thể nói rằng việc thể hiện một tư tưởng quân sự tới một mức độ nào đó phản ảnh việc phát triển kỹ thuật quân sự, và là linh hồn của quân đội. Nó có thể giúp cho quân đội hoàn thành sứ mạng. Đó là lý do chính yếu tại sao cuốn sách này tập trung vào các tư tưởng quân sự hiện đại của Trung Hoa.
 Kể từ thập niên 1950, các học giả phương Tây khi nghiên cứu về quân sự Trung Hoa đã chú trọng đặc biệt tới Nhân Dân Giải Phóng Quân (PLA), lý thuyết về chiến tranh nhân dân hay những nguyên tắc quân sự, chủ thuyết và chính sách quốc phòng của Cộng Sản Trung Hoa. Rất ít người nghiên cứu sâu hơn về các hệ thống quân sự cận đại hay lịch sử phát triển các tư tưởng quân sự hiện đại. Nghiên cứu lịch sử phát triển của các tư tưởng quân sự hiện đại Trung Hoa không chỉ liên quan đến việc hoạch định chính sách mà còn quan trọng trong việc hiểu biết Trung Hoa cận đại và các hệ thống quân sự của họ vì hệ thống hiện đại nào cũng bắt nguồn từ lịch sử. Đó là lý do tại sao nghiên cứu này bàn cả tới một phần triết học quân sự Trung Hoa thời cổ để tìm hiểu sự liên tục và ảnh hưởng tới việc phát triển tư tưởng quân sự Trung Hoa ngày nay.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:14:52 am
1.   QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ SỨC MẠNH QUÂN SỰ
Trước khi Tổng Thống Woodrow Wilson đề nghị thành lập Hội Quốc Liên vào năm 1920 sau Đệ Nhất Thế Chiến, không có một hệ thống quốc tế nào có thẩm quyền đưa ra qui tắc để giải quyết các xung đột giữa các quốc gia. Luật áp dụng là luật của kẻ mạnh. Kẻ nào có sức mạnh thì kẻ đó đại diện cho công lý. Vì thế, chính trị quốc tế cũng như mọi loại chính trị khác, là một cuộc tranh đấu quyền lực. Từ khi có những cơ quan quốc tế thành lập, tương quan giữa các quốc gia đã dần dần cải thiện. Nhiều xung đột quốc tế nghiêm trọng đã được giải quyết bằng đàm phán hòa bình hay thảo luận. Tuy nhiên, bản chất của các tương quan quốc tế vẫn như cũ. Hans Morgenthau đã viết ”cái mục tiêu cuối cùng của chính trị quốc tế là gì chăng nữa thì sức mạnh luôn luôn là phương tiện trước mắt ... Khi nào người ta cố gắng thực hiện mục tiêu bằng chính trị quốc tế thì lúc ấy họ sử dụng sức mạnh”. Quan niệm đó vẫn tồn tại trong tâm khảm các lãnh tụ chính trị đương thời. Chẳng hạn như Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush đã công khai tuyên bố là ông chủ trương bảo vệ những quyền lợi của người Mỹ bằng một chính sách hòa bình hậu thuẫn bởi sức mạnh. 
 Sức mạnh là khả năng kiểm soát kẻ khác. Khi việc sử dụng sức mạnh giữa các quốc gia liên quan đến việc thi triển bạo lực vật chất thì người ta phải dựa vào lực lượng quân sự. Cho nên, trên chính trường quốc tế, đe dọa hay ngầm đe dọa bằng sử dụng quân sự là yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo lập sức mạnh chính trị của một quốc gia.   
A.   Mục tiêu và quyền lực quốc gia ”
Sức mạnh là một phương tiện để đạt mục tiêu chứ tự nó không phải là mục tiêu ”. Là phương tiện để đạt những mục tiêu, lực lượng quân sự đóng một vai trò trọng yếu trên chính đàn quốc tế cũng như quốc gia để bảo vệ quyền lợi của một nước. 
Khi thảo luận về những mục tiêu của quốc gia, Morton Kaplan đã phân biệt cảm xúc hay xung động với mục tiêu đích thực. Cảm xúc hay xung động không hẳn là mục tiêu quốc gia và đối tượng của nó có thể nhất thời nhưng cũng rất quan trọng trong tiến trình quyết định trong đó các quyền lợi quốc gia và phương tiện sử dụng để bảo vệ các quyền lợi này được ấn định. Cảm xúc và xung động trong nhiều trường hợp là sự biểu hiện tự hào về quốc gia mình và được nhìn khi đúng khi sai như là quyền lợi của đất nước. 
Khi sử dụng như phương tiện phục vụ quyền lợi đất nước, vai trò của lực lượng quân sự có thể được xếp vào 3 loại tương quan với chính sách của một quốc gia. Theo Arnold Wolfers, chính sách đối ngoại có thể chia làm ba đề mục là bành trướng lãnh thổ, tự vệ và từ bỏ chủ quyền. Từ bỏ chủ quyền tự ý nghĩa nguyên thủy đã là một hành vị chịu thiệt thòi nên không cần đến sự ủng hộ của quân đội ngoại trừ trường hợp phải chống lại những người phản đối chính sách đó. Khi một quốc gia theo đuổi chính sách bành trướng thì thường phải tìm kiếm một sự thay đổi tình trạng hiện thời. Mục tiêu có thể là để gia tăng sức mạnh, thống trị một dân tộc khác hay mở mang lãnh thổ nhưng cũng có thể để đòi lại đất đai trước đây bị mất hay để giải quyết một bất bình đẳng sẵn có. Dù dưới động lực nào chăng nữa, một khi quốc gia theo đuổi một chính sách bành trướng họ sẽ không sao tránh khỏi việc đối kháng quân sự từ quốc gia khác. Cho nên, cần phải có một quân lực mạnh để đương đầu với chiến tranh chống kẻ thù hay đe dọa dùng võ lực để cho đối phương phải khuất phục hay chịu ngồi vào bàn hội nghị.
B.   Chính trị quốc tế và An ninh quốc gia
 Không phải quốc gia nào trên thế giới cũng theo đuổi một chính sách bành trướng lãnh thổ và cũng chẳng phải quốc gia nào cũng có khả năng làm chuyện ấy. Có nhiều quốc gia chỉ muốn giữ nguyên trạng hiện tại hơn là thay đổi. Wolfers gọi đó là chính sách quốc gia tự tồn. Tuy nhiên, dưới danh nghĩa an ninh quốc gia, đòi hỏi độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cũng có thể bao gồm một số mục đích sống còn khác như an ninh và các vùng ảnh hưởng để đầu tư ... 
Thực hiện chính sách quốc gia tự tồn không có nghĩa là chỉ tự vệ khi bị tấn công. Nhu cầu an ninh quốc gia vượt qua tự vệ và bảo tồn, trong nhiều trường hợp ”có tham vọng biến thành một chính sách bành trướng vô hạn định”. Nghiên cứu về các xung đột quân sự giữa các siêu cường từ sau thế chiến thứ hai, người ta thấy rằng một quốc gia theo đuổi an ninh quốc gia không thể ngừng lại trước khi chinh phục xong toàn thể địa cầu. 
Dẫu rằng tự vệ để bảo tồn lãnh thổ hay theo đuổi một chính sách bành trướng, việc sửa soạn một lực lượng quân sự thích hợp luôn luôn cần thiết. Không một quốc gia nào có thể yên ổn lâu dài nếu không có một lực lượng tối thiểu để bảo vệ an ninh. Vấn đề này áp dụng cho cả chính trị quốc tế lẫn địa lý chính trị. Trong khi các siêu cường và các cường quốc tranh giành ảnh hưởng, hầu hết các quốc gia cỡ trung và cỡ nhỏ lại phải đối phó các vấn đề địa lý chính trị với lân bang. Thí dụ như tại Trung Đông và Phi châu. Mặc dầu các siêu cường muốn đàm phán để tài giảm binh bị cho toàn thế giới, kỹ nghệ quân sự và buôn bán vũ khí trên thị trường thế giới vẫn cực kỳ sôi động. Chiến tranh khu vực bảo đảm cho việc thương mại quốc phòng luôn luôn thịnh vượng.
C.   Vai trò chính trị của quân sự trong các quốc gia đang mở mang
 Thế giới hiện nay có hơn 160 quốc gia nhưng chỉ có độ hơn 20 quốc gia được gọi là phát triển về cả chính trị lẫn kinh tế. Phần còn lại được gọi là đang mở mang hay chậm tiến. Đa số đều ở trong tình trạng tiền kỹ nghệ hay kỹ nghệ sơ khai có các đặc tính là kinh tế yếu kém và chính trị độc tài.
 Vấn đề an ninh quốc gia của các nước này không phải là sự đe dọa từ nước ngoài ; trái lại vấn đề chính yếu là bất ổn từ bên trong. Vì chưng thiếu những truyền thống dân chủ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội chính trị, việc đấu tranh tại các quốc gia đang mở mang thường tiềm ẩn nhiều bạo lực. Quân đội thường can thiệp và thay thế chính quyền dân sự. Ngay cả khi không thay chính quyền dân sự bằng một chế độ quân phiệt, họ vẫn có ảnh hưởng mạnh đối với chính phủ. Đó là hiện tượng phổ biến nhất trong thế giới thứ ba ngày may. Philippines, Nam Hàn hay Pakistan là những thí dụ điển hình. Quân đội trong các quốc gia này luôn luôn đóng một vai trò chủ chốt trong việc giữ gìn ổn định chính trị.
 Quân đội cũng đóng góp trong việc phát triển xã hội -kinh tế dù có hay không có một chính thể quân sự. Nói chung, các chính thể quân phiệt tại các quốc gia đang mở mang không có thành tích đáng kể trong phát triển kinh tế ngoại trừ Nam Hàn, nơi mà giới quân nhân liên tục đè nén việc đòi hỏi dân chủ chính trị và dồn nỗ lực vào việc phát triển kinh tế. Đây là một trong số ít ỏi mô hình kỹ nghệ hóa trong các nước đang mở mang.
 Thêm vào đó, với trang bị tối tân và tổ chức hữu hiệu, quân đội có thể đảm trách các công trình xây dựng xã hội -kinh tế để thúc đẩy canh tân đất nước. Tuy nhiên, đây chỉ là một ảo tưởng trong hầu hết các quốc gia đang mở mang vì lực lượng võ trang tại các nước này nhiều khi là những kẻ nắm quyền và hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Họ không chịu phục vụ như một lực lượng lao công hay cơ ngũ sản xuất. Tuy nhiên, nếu được chính trị điều động và giáo dục về ý thức, các đơn vị quân sự có thể trở thành những lực lượng sản xuất then chốt và có thể sử dụng một phần nhân sự và trang bị trong các kế hoạch kinh tế. Việc dùng quân sĩ khẩn hoang thời trước ở Trung Hoa và các hoạt động kinh tế tại Trung Hoa hiện tại là những ví dụ xác đáng. Điểm này sẽ được khai triển thêm ở những chương sau.
 Dù không trực tiếp điều động trong các hoạt động kinh tế, các lực lượng quân sự tại các quốc gia đang canh tân vẫn có thể hỗ trợ phát triển. Họ có thể cho mượn các dụng cụ tối tân dùng vào việc huấn luyện tân binh, cho họ tham gia các chương trình phát triển kinh tế khi giải ngũ, hoặc giúp đỡ các viên chức địa phương huấn luyện nhân sự ngõ hầu gia tăng khả năng kỹ thuật giúp phần vào phát triển đất nước. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:15:42 am
2.   KỸ THUẬT TÂN TIẾN VÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HIỆN ĐẠI 
Nếu chiến tranh có nguyên ủy sâu xa thuộc về bản chất con người thì việc sử dụng vũ khí trong chiến tranh là một tài nghệ đặc biệt của nhân loại. Việc phát triển kỹ thuật có những hậu quả không thể phủ nhận được trong lãnh vực quân sự, trong tổ chức, chiến lược và chiến thuật. Nói một cách khác, việc phát triển kỹ thuật quân sự không tránh khỏi ảnh hưởng đến việc phát triển các tư tưởng quân sự.
A.   Hệ thống xã hội -kinh tế và lực lượng quân sự
Một cách tổng quát, vào thời kỳ đầu của lịch sử, kỹ thuật còn rất thô sơ. Dụng cụ dùng hàng ngày cũng là vũ khí trong chiến tranh. Khi kỹ thuật sản xuất cải tiến, vũ khí dần dần tách rời khỏi dụng cụ sản xuất. Vũ khí chỉ dùng cho nhu cầu chiến đấu. Khi nghiên cứu lịch sử thế giới, một tư tưởng gia quân sự cận đại Trung Hoa, Tướng Tưởng Bách Lý (Jiang Baili), tìm ra rằng một khi phương tiện mưu sinh và dụng cụ dùng trong chiến đấu nếu đồng dạng với nhau thì quốc gia sẽ mạnh, trái lại sẽ yếu và có thể đi đến diệt vong. Theo sự khám phá của ông, việc kết hợp phương tiện mưu sinh và nhu cầu chiến tranh có thể đạt được bằng hai cách : một là dụng cụ, hai là hệ thống xã hội -kinh tế.
 Con ngựa của người Mông cổ và chiếc thuyền của người Âu châu là thí dụ về dụng cụ sinh sống, còn hệ thống ” tất cả nam nông dân đều ở trong quân trừ bị” của Trung hoa thời cổ cũng như chế độ động viên của Âu châu hiện nay là hình thức thứ hai. Ông Tưởng cố gắng chứng minh rằng có một liên hệ sống còn giữa kinh tế quốc gia và lực lượng quốc phòng.
 Tương tự như khám phá của ông Tưởng, Paul Kennedy đã đưa ra một kết luận trong nghiên cứu của ông về lịch sử thế giới 500 năm cận đại ở cuốn Thăng Trầm của các Đại Cường (The Rise and Fall of the Great Powers). Ông ta cho thấy liên hệ giữa lực lượng quân sự và kinh tế chỉ đạo sự tiến bộ của các quốc gia. Dựa trên những số liệu lịch sử phong phú , ông đưa ra một tương quan rõ rệt trên đường dài giữa việc phát triển và suy tàn trong kinh tế với việc thăng trầm trong sức mạnh quân sự của các đại cường vì tài nguyên kinh tế cần thiết để yểm trợ các đại đơn vị quân sự. Theo ông, khi còn quan tâm đến chính trị quốc tế thì tài sản và sức mạnh luôn luôn liên quan chặt chẽ với nhau. Điều đó cũng tương tự như các lý thuyết tìm thấy trong triết học quân sự Trung Hoa thời xưa, sẽ được bàn tới trong chương hai của cuốn sách này.
  Kennedy không tìm cách đưa ra một thuyết chung về hình thức xã hội và tổ chức xã hội -chính trị nào thích hợp nhất cho giai đoạn chiến tranh nhưng ông nhấn mạnh hậu quả của kinh tế và thay đổi kỹ thuật, và tương quan giữa chiến lược và kinh tế trong vai trò của các đại cường trên bàn cờ quốc tế. Tuy nhiên, ông đã cho chúng ta thấy kinh tế thị trường và hệ thống đa nguyên của các trung tâm cường lực Âu châu từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 19 đã thúc đẩy kinh tế và phát triển kỹ thuật bằng phương thức cạnh tranh. Khi nói như thế, ông đã đưa ra một kết luận là việc tập trung quyền hành theo kiểu chuyên chế Á Đông bất lợi trong việc kích thích thay đổi kỹ thuật trừ khi những thay đổi đó do chính nhà cầm quyền đề xướng. Hệ thống xã hội -chính trị sau triều Minh ở Trung Hoa dưới mắt Kennedy là một thí dụ điển hình.
B.   Ảnh hưởng của kỹ thuật hiện đại trên sự quân bằng quyền lực 
Khi tướng Tưởng Bách Lý đề cập đến tương quan giữa phương tiện sinh nhai và chiến đấu ông đã hàm ý là kỹ thuật cận đại của xã hội có ảnh hưởng đến lực lượng quân sự. Paul Kennedy đi xa hơn để chứng minh rằng sự phát minh ra máy chạy bằng hơi nước vào cuối thế kỷ 18 không chỉ khởi đầu cho cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Âu Châu mà quan trọng hơn là nó di chuyển cán cân quyền lực về phía Tây Phương trong suốt 200 năm qua. Kỹ thuật mới tìm ra trong lãnh vực kỹ nghệ được áp dụng vào quân sự và hải lực một vài thập niên sau đó. Đường xe lửa, điện tín, súng liên thanh, sức nổ hơi ép và các tàu bọc sắt kế tiếp nhau du nhập vào lãnh vực quân sự và trở thành một dấu hiệu quan trọng của sức mạnh. Các kỹ thuật đó gia tăng hỏa lực và cơ động tính của các lực lượng Âu Châu và giúp họ bành trướng thế lực ra khỏi địa bàn.
Trong khi người Âu Châu thu hoạch những thành quả của kỹ thuật mới thì các quốc gia Á Châu, điển hình là Ấn Độ và Trung Hoa lại vẫn gắn chặt với phương pháp cổ điển. Họ chẳng những không biết gì về kỹ thuật mới mà lại còn bỏ mất một số các kỹ thuật vốn một thời có giá trị và tiến bộ của chính họ. Thí dụ như vua nhà Minh bãi bỏ kỹ nghệ đóng tàu của Trung Hoa khiến cho các hạm đội hùng hậu trên biển cả phải mai một vào giữa thế kỷ 15. Cho nên khi các lực lượng Âu châu tiến vào nước Tàu, người Trung Hoa đành bó tay không chống nổi. Cuộc chiến tranh Nha Phiến giữa Anh và Trung Hoa đã xảy ra trong tình trạng như thế hồi thập niên 1840. Từ đó, Trung Hoa chìm đắm trong cơn ác mộng dài một thế kỷ và phải nỗ lực tuyệt vọng để canh tân quân sự hầu có thể sống còn.
C.   Ảnh hưởng của kỹ thuật hiện đại trên Chiến lược và Chiến thuật quân sự 
Ngày hôm nay, ai cũng hiểu rằng một khi vũ khí thay đổi sẽ lập tức ảnh hưởng đến tổ chức quân đội cùng chiến lược và chiến thuật của nó. Tuy nhiên vào đầu thế kỷ thứ 19 khi kỹ thuật mới đem áp dụng vào quân sự thì không ai biết như thế. Theo Kennedy, các cấp chỉ huy quân sự tại Âu Châu chỉ bắt đầu tu chính lại quan niệm của họ về chiến thuật chiến lược nhiều thập niên sau khi lục quân và hải quân đã được trang bị với vũ khí mới chế tạo ra từ cuộc cách mạng kỹ nghệ. Tại Trung Hoa, thay đổi trong chiến lược phải mất đến gần 100 năm sau.
Kinh nghiệm của người Trung Hoa trong công cuộc canh tân binh bị cho thấy là những cấp lãnh đạo quân sự vào thế kỷ 19 đã cố gắng để có được vũ khí mới nhưng lại đến 40 năm sau mới nghĩ tới sự cần thiết phải thay đổi trong tổ chức và chiến lược. Họ bắt đầu xây dựng kỹ nghệ quân sự và mô phỏng súng ống của Tây phương hồi đầu thập niên 1860 nhưng họ chỉ bắt đầu du nhập hệ thống quân sự Tây phương và chương trình huấn luyện vào đầu thế kỷ 20 sau khi bị người Nhật và các cường quốc Âu châu kế tiếp đáng bại. Một phần của sự trì hoãn này là vì thiếu ngân khoản và các cơ sở kỹ nghệ để cung cấp đủ vũ khí mới cho các lực lượng quân đội toàn quốc. Hầu hết các lực lượng quân sự vẫn trang bị bằng các loại vũ khí cổ điển ngoại trừ các đơn vị thuộc quyền Lý Hồng Chương (Li Honzhang) và Tả Tông Đường (Duo Zongtang). Cho đến giữa thế kỷ 19, nhiều cấp chỉ huy quân đội cũng chưa cảm thấy cần thiết phải thay đổi hình thức tổ chức.
 Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất có lẽ là vì hình thức cũ kỹ trong việc tuyển chọn cấp chỉ huy. Chưa có các học hiệu quân sự để huấn luyện một chương trình tiêu chuẩn cho các học viên. Cũng giống như các quan lại hành chánh, các cấp võ quan được tuyển chọn qua các kỳ khảo hạch của triều đình, mà nguyên tắc căn bản dựa trên tài cưỡi ngựa và bắn cung của thí sinh. Cho nên, các võ quan tuyển chọn theo hệ thống này không có kiến thức gì về võ khí Tây phương và nhất là về hệ thống quân đội. Họ không quan tâm gì đến việc thay đổi tổ chức binh bị. 
Ngoài ra, thành phần quan lại Nho sĩ với một mặc cảm tự tôn về Trung quốc cũng có khuynh hướng chống lại lại những quan niệm và phương pháp của nước ngoài. Sự nhục nhã trong việc thua trận càng khiến cho người ta đề kháng việc mô phỏng hệ thống Tây phương. Ngay đến cuối thế kỷ thứ 19, nhiều viên chức vẫn kêu gọi triều đình sử dụng các loại vũ khí cổ điển để chống lại liệt cường Tây phương. Trong hoàn cảnh như thế thì việc trì hoãn không dám thay đổi quyết liệt trong tổ chức quân sự là chuyện tất nhiên. Mãi đến thập niên 1920, khi xã hội Trung Hoa đã thay đổi từ căn bản sau cuộc cách mạng và nội chiến, lúc ấy các cấp chỉ huy quân sự mới thấy quan tâm đến nhu cầu phải cải cách tận gốc rễ.
 Sự hình thành tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông không có nghĩa là việc canh tân quân sự của Trung Hoa đã thành công, cũng không phải đã dựa trên ưu điểm của võ khí hiện đại. Trái lại, các tư tưởng quân sự này xây dựng trên việc đối phó với năng lực to lớn của vũ khí mới do đối phương của ông ta sử dụng. Các tư tưởng đó được công nhận là một trong vài chiến lược quân sự quan yếu trong thế kỷ này. Tuy nhiên, hoàn cảnh của thập niên 1980 hoàn toàn khác hẳn hoàn cảnh thời thập niên 1930 khi Mao chiến đấu trong một vị trí yếu kém. Hiện nay, Trung Hoa có một kỹ nghệ quân sự tương đối tân tiến, quân đội được trang bị vũ khí hạch nhân và hỏa tiễn, chỉ đứng sau hai siêu cường Mỹ và Nga. Khi nỗ lực hiện đại hóa các lực lượng quốc phòng, họ bắt buộc phải đánh giá lại một cách nghiêm chỉnh cái gọi là chiến tranh nhân dân một thời có giá trị để có thể thay đổi cần thiết cho việc áp dụng các kỹ thuật mới và vũ khí họ có trong tay.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:16:55 am
3.   CÔNG CUỘC CANH TÂN QUÂN SỰ CẬN ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG TRÊN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
Kể từ 1949, dưới chế độ Cộng Sản có hai trào lưu chính yếu thúc đẩy canh tân hóa quân sự. Trong khi trào lưu hiện thời bắt đầu từ cuối thập niên 1970 đến nay vẫn chưa hoàn tất, trào lưu trước khởi động từ đầu thập niên 1950 sau cuộc chiến Triều Tiên và bị bỏ dở vì lý do chính trị. Cả hai đều có ảnh hưởng đến chủ thuyết chiến tranh nhân dân.
A.   Cuộc canh tân sau chiến tranh Triều Tiên và hậu quả của nó
 Chính vì tham dự vào chiến tranh Triều Tiên, Trung Hoa có cơ hội thử sức với lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới trong một cuộc chiến qui ước. Tuy được thế giới nể vì, họ phải chịu một tổn thất nặng nề. Từ đó, họ hiểu được vai trò quan trọng của vũ khí hiện đại và đẩy mạnh canh tân hóa quân đội sau khi chiến tranh chấm dứt.
Trong khi giới lãnh đạo ủng hộ việc canh tân hóa, các cựu chiến binh chiến tranh Triều Tiên và các sĩ quan trẻ chống lại lãnh đạo chính trị bằng cách phản đối quyền tối thượng của Đảng và hệ thống chính trị viên trong quân đội. Xung đột đó đã đưa đến việc hạ bệ Thống Chế Bành Đức Hoài (Peng Dehuai), lãnh tụ của phe đổi mới và những người theo ông ta, đưa đến một biến động quân sự nghiêm trong trong quân đội và toàn quốc. Chính vì thế, công cuộc canh tân hóa bị diên trì, ít nhất cũng phần nào trong hơn một thập niên. 
Các yếu tố quốc tế khác cũng ngăn trở trào lưu hiện đại hóa. Sự suy thoái trong quan hệ Trung Hoa -Liên Xô hồi 1958 và việc triệu hồi các trợ giúp quân sự và kinh tế của Liên Xô đóng một vai trò chủ yếu trong việc làm chậm lại cộng cuộc canh tân hóa của Trung Hoa. Người Trung Hoa phải tự lực cánh sinh. Dưới cái gọi là chính sách ”đi trên hai chân”, họ theo con đường hiện đại hóa một cách độc lập, không dựa vào sự trợ giúp từ nước ngoài. Tuy nhiên, khả năng kỹ thuật của Trung Hoa không đủ sức yểm trợ đòi hỏi của một lực lượng quân sự hiện đại trong thời đó. Thế nhưng tình trạng căng thẳng giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ ngày càng gia tăng, từ vụ kinh đào Suez năm 1956 đến việc Mỹ đổ quân vào Lebanon năm 1958, đã khiến cho giới lãnh đạo Trung Hoa tin tưởng rằng một cuộc đụng độ quân sự Mỹ -Hoa không thể nào tránh khỏi, và Trung Hoa phải chuẩn bị chiến tranh trong phạm vi họ có thể làm. Nếu Trung Hoa bắt buộc phải tham gia một cuộc chiến chống Mỹ mà không có sự yểm trợ quân sự từ phía Liên Xô, điều họ chỉ có thể làm là tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân ngay trên đất của họ. Kết luận đó khiến cho giới lãnh đạo Trung Cộng cách mạng hóa Nhân Dân Giải Phóng Quân (People's Liberation Army hay PLA) và gia tăng tối đa hệ thống dân quân bằng cách đoàn ngũ hóa tất cả đàn ông, đàn bà còn khả năng chiến đấu vào các đơn vị dân quân tại các vùng nông thôn để chuẩn bị chống xâm lăng. Họ đưa ra một chủ thuyết là đế quốc không thể nào tiêu diệt toàn thể Trung Quốc bằng vũ khí hạch tâm mà phải đem quân vào chiếm đóng lãnh thổ. Khi họ đặt chân lên đất Tàu, họ sẽ lập tức bị dân quân và GPQ bao vây. Họ sẽ bị sa lầy vào chiến tranh biển người và sẽ dần dần bị tiêu diệt.
Trong thời kỳ cao điểm của chiến dịch chuẩn bị chiến tranh, Thống Chế Lâm Bưu (Lin Bao) lại gia tăng chính trị hóa Hồng quân và mở rộng vai trò chính trị của quân đội để làm phương tiện tranh giành quyền lực trong Cách Mạng Văn Hóa và bãi bỏ các huấn luyện quân sự. Đó chính là hậu quả quan trọng nhất của Cách Mạng Văn Hóa và Trung Hoa phải trả cái giá sau này trong cuộc đụng độ Trung-Xô tại Đảo Trân Bảo (Zhenbao, tên Nga là Damansky) năm 1969 và cuộc chiến biên giới Hoa-Việt năm 1979. Những bài học chua cay đó khiến cho Trung Hoa một lần nữa phải quay về chương trình canh tân hóa quốc phòng vào cuối thập niên 1970 sau khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền. Chương trình canh tân hóa quân sự là một trong Tứ Hiện Đại Hóa đứng sau kỹ nghệ, nông nghiệp và khoa học kỹ thuật. Chính quyền Trung Hoa muốn canh tân hóa quân sự trên cơ sở thành công về kinh tế và phát triển kỹ thuật.
B.   Hiện đại hóa quân sự ngày nay và những tranh luận về chiến lược 
Sau gần hai thập niên rối loạn chính trị, những nhà lãnh đạo Trung Hoa bắt đầu hiểu rằng đấu tranh nội bộ trong Đảng gây ra thiệt hại nghiêm trọng trong việc phát triển xã hội -kinh tế và quân sự. Trước khi từ trần, Thủ tướng Chu Ân Lai đã quyết định nỗ lực hiện đại hóa quốc gia, nhưng chương trình chỉ được đưa ra thành quốc sách khi bọn Tứ Nhân Bang bị thanh trừng năm 1976 sau khi Mao Trạch Đông qua đời.
 Vào lúc chương trình hiện đại hóa quốc phòng bắt đầu vào cuối thập niên 1970, tình hình trong nước và bên ngoài hoàn toàn khác hẳn thập niên 1950. Năm 1978, khi Đặng lên nắm quyền, mặc dù Trung Hoa vẫn còn bị áp lực nặng từ phía Liên Xô dọc theo biên giới, việc tái lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ khiến cho các lãnh tụ Trung Cộng cảm thấy an toàn hơn hồi thập niên 1950. Dưới chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình, Trung Hoa phần nào có được cơ hội du nhập kỹ thuật và khí giới mới của Tây Phương. Việc đó khiến cho vấn đề hiện đại hóa có nhiều cơ hội thành công hơn.
 Khi vấn đề canh tân quân sự được đưa trở lại chính sách hồi năm 1978, Trung Cộng lúc đó đã có hỏa tiễn bắn vòng cầu tầm trung, bom khinh khí, vệ tinh trên không trung và đang sắp sửa thử nghiệm hỏa tiển liên lục địa (ICBM) .Các lãnh tụ Trung Hoa vì thế biết rõ hơn về sức tàn phá của vũ khí mới và ở trong điều kiện thuận lợi hơn về canh tân hóa quân sự.
 Ngoài ra, mặc dầu nhiều người vẫn đòi giới hạn vai trò của quân đội trong các hoạt động chính trị để khỏi đi vào vết xe trong thời Cách Mạng Văn Hóa, không lãnh tụ nào công khai phủ nhận quyền lãnh đạo tối cao của Đảng trong quân đội. Trái lại, các nhà lãnh đạo vẫn bao gồm cách mạng hóa, định lệ hóa và hiện đại hóa là ba mục tiêu của canh tân quân sự. Ít nhất họ cũng đồng ý bề mặt về công tác chính trị trong quân đội và giảm bớt được nhiều phong trào chống đối các chính trị viên nơi các đơn vị. Vốn dĩ là một chính trị viên lão luyện, Đặng Tiểu Bình cũng góp phần dập tắt những mầm mống đối kháng. Nói như thế không có nghĩa là hoàn toàn không ai chống lại việc hiện đại hóa Hồng quân. Thực tế, tranh luận trên việc áp dụng chủ thuyết chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông tới nay vẫn chưa hoàn toàn dứt hẳn. Một số cấp tướng lãnh tiếp tục cho rằng nếu như ngày mai xẩy ra chiến tranh thì Trung Hoa vẫn ở thế yếu và Hồng quân phải chuẩn bị một cuộc chiến tranh nhân dân với sự trợ lực của đại khối dân quân và lực lượng du kích ... Các nhà lãnh đạo chủ trương canh tân trái lại cho rằng tuy họ không phủ nhận giá trị của chiến tranh nhân dân nhưng phải được biến chuyển để phù hợp với tình thế mới, hoàn cảnh thực tế và kiên quyết bảo vệ lập trường cải tiến hệ thống võ khí, tái tổ chức quân đội và nhấn mạnh vào huấn luyện quân sự. 
Nhờ tình hình chính trị tương đối ổn định, Trung Hoa đã gặt hái được những thành tựu đáng kể trên cả hai bình diện canh tân kinh tế và quân sự. Họ tiếp tục giữ được mức gia tăng tổng sản lượng bình quân hàng năm 7% mà lại giảm chi quân sự từ 17.5% tổng số ngân sách hồi 1979 còn 8.2% trong năm 1987. Dù sao chăng nữa, thế giới cũng phải kinh ngạc về thành quả của họ về các loại hỏa tiển liên lục địa và hỏa tiễn khác, xe tăng và súng ống diễn hành nhân ngày Quốc Khánh. Họ giảm 1 triệu quân trong vòng 2 năm, thiết lập một qui chế hồi hưu cho sĩ quan, đưa ra một chế độ quân dịch tốt đẹp hơn, cải thiện hệ thống quân sự học hiệu và dần dần khôi phục truyền thống cấp bậc trong quân ngũ. Tất cả những điều đó cần thiết cho một lực lượng quân sự tân tiến. Nhờ những thành quả gặt hái được nên Triệu Tử Dương, lúc đó đương kim Tổng Bí Thư của Trung ương Đảng và là Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Ủy Ban Quân sự Trung ương đã có thể tuyên bố công khai trong một phiên họp là ”qui chiếu các vấn đề chiến lược của các lực lượng võ trang, chúng ta phải tập trung vào việc hiện đại hóa quân đội và huấn luyện chứ không phải vào nguyên tắc chiến tranh nhân dân cổ điển”. Trong một dịp khác, họ Triệu còn đi xa hơn để nói rằng Trung Hoa phải bắt đầu lượng định một cách chính xác về một cuộc chiến có thể xảy ra trong tương lai, viễn tượng của vấn đề quốc phòng và phương hướng phát triển tiềm năng quân sự. Tài liệu đó cũng cho hay chính quyền Trung Hoa đã tái xét lại kế hoạch hiện đang áp dụng. Họ cố gắng hình thành một mục tiêu trung gian cho cải cách quân sự và kế hoạch quốc phòng trước khi đưa ra sơ đồ chiến lược quân sự cho thế kỷ sắp tới.
 Qua những tài liệu đó, chúng ta không còn nghi ngờ gì về việc Trung Hoa đang hình thành một thay đổi quan trọng trong tư tưởng quân sự nói chung và chiến lược quân sự nói riêng. Họ không chỉ suy nghĩ về một tương lai mười năm sắp tới mà có thể 20 hay xa hơn nữa. Không ai biết chính xác Trung Hoa sẽ thay đổi như thế nào trong chiến lược hiện tại và sẽ thay đổi tới mức độ nào. Tuy nhiên, căn cứ vào một số dữ kiện chính yếu chúng ta có thể nhận định về một hướng đi khả dĩ xảy ra.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:18:13 am
4.   NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ THAY ĐỔI TRONG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ CỦA TRUNG HOA 
Khi một quốc gia quyết định về chiến lược quốc phòng, các lãnh tụ quân sự và chính trị phải hình dung ra những tình trạng họ có thể phải đối phó. Họ còn phải tiên tri những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai khi sự phát triển quốc gia và quốc tế đến một mức độ nào đó. Đưa ra những giả thuyết đó, những nhà lãnh đạo phải quyết định các chiến lược đoản kỳ, trung kỳ và trường kỳ trong công tác quốc phòng. Có thể có vô số yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự chọn lựa của những người hoạch định chính sách nhưng quan trọng nhất có thể giới hạn trong 6 yếu tố sau đây : 
A.   Viễn tượng chiến tranh và Tình trạng Quốc tế
 Mục tiêu đầu tiên của quốc phòng và chiến lược là để đối phó với các cuộc chiến tranh có thể xảy ra và có thể thủ thắng. Cho nên, kế hoạch quốc phòng và chiến lược của một quốc gia phải căn cứ trên một lượng định chính xác về viễn tượng của những cuộc chiến trong tương lai. Liệu có cuộc chiến sắp tới nào đe dọa đến quốc gia không ? Nếu câu trả lời là có, thì kẻ thù là ai ? Đó là một cuộc đại chiến hay một cuộc chiến khu vực ? Có nguy cơ nào đi tới chiến tranh hạch tâm không ? Đi xa hơn nữa, nếu không tránh được, thì bao giờ nó xảy ra ? Trong vòng 5 năm ? Trong một thập niên ? hay trong một tương lai không định trước được ?
 Các chiến lược gia phải phân giải các tin tức có thể có để đưa ra một nhận định chính xác và từ đó vẽ ra kế hoạch và chiến lược quốc phòng sao cho phù hợp.
 Sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, cuộc chiến tranh lạnh giữa các quốc gia tư bản Tây phương và khối Cộng Sản ngày càng mãnh liệt. Một cuộc chiến qui mô có thể sẽ xảy ra bắt nguồn từ các cuộc chiến khu vực. Vì độc quyền trong vũ khí nguyên tử, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã chọn một chiến lược tương đối hùng hổ. Đó là chiến lược ”trả đũa qui mô” cho phép Hoa Kỳ khởi động chiến tranh trên bất cứ tầm vóc nào kể cả chiến tranh hạch tâm để đối phó với các cuộc đụng độ địa phương. Từ cuối thập niên 1950, mức chênh lệch trong vũ khí hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Liên Xô bắt đầu thay đổi. Hoa Kỳ mất vị trí uy thế tuyệt đối và bắt đầu quan tâm về một cuộc chiến nguyên tử sẽ tận diệt cả hai bên khiến họ phải từ bỏ chủ thuyết trả đũa qui mô và chấp nhận một chủ thuyết mềm dẻo hay trả đũa có tính toán vào thập niên 1960. Khi Nixon lên nắm quyền hồi 1969, sự bất ổn trong nước do chiến tranh Việt Nam kéo dài khiến ông phải theo đuổi chính sách hòa hoãn với Liên Xô và đích thân du hành thăm Trung Hoa để giải trừ mối hiềm khích sâu xa giữa Trung Hoa và Mỹ.
 Trước khi Tổng Thống Hoa Kỳ Nixon viếng thăm lục địa, chính quyền Trung Hoa vẫn khẳng định là một cuộc đại chiến giữa đế quốc và các quốc gia xã hội chủ nghĩa sẽ không sao tránh khỏi và chiến thắng sẽ vào tay khối Cộng Sản. Vì tin tưởng như thế nên Trung Hoa hằng chuẩn bị một cuộc chiến sử dụng vũ khí hạch tâm. Họ còn loan báo là nếu như chiến tranh không thể tránh được, thì họ muốn đánh sớm chứ không muốn để trễ. Khi Liên Xô bất đồng ý với chiến lược của Trung Hoa và cắt hết các chương trình yểm trợ quân sự và kinh tế, thì không những không từ bỏ quyết định, Trung Hoa lại tự chuẩn bị một cuộc chiến tranh nhân dân. Như đã đề cập trước đây, họ tăng cường lực lượng bằng cách động viên tất cả đàn ông đàn bà còn khả năng vào các đội dân quân. Chiến lược đó không thay đổi gì đáng kể cho đến khi Đặng Tiểu Bình lên cầm quyền vào cuối thập niên 1970. Tuy nhiên, sự chuyển hướng chỉ trở nên rõ rệt vào giữa thập niên 1980 khi người ta ghi nhận là họ Đặng đã phát biểu như sau :
-Chúng ta đã thay đổi quan niệm cũ vốn cho rằng nguy hiểm chiến tranh đang cận kề. Hiện nay chúng ta có thể trông chờ một thời kỳ hòa bình tương đối dài, ít nhất cũng tới cuối thế kỷ. Điều đó không phải là ảo vọng.
 Từ đó, Trung Hoa đã tiến hành những đề án canh tân quân sự trong thời bình. Ngoài những việc khác, họ cũng giải ngũ khoảng một triệu lính trong tổng số 4 triệu quân nhân vào năm 1986.
 Triệu Tử Dương cũng đã nói trong một cuộc họp quan trọng về quân sự là dựa trên tương quan ngoại giao hiện thời của Trung Hoa với các quốc gia khác và những điều kiện chung của cộng đồng thế giới thì chiến tranh qui mô lớn sẽ không xảy ra. Tuy nhiên ông ta vẫn cảnh giác các nhà lãnh đạo Trung Hoa là có thể có những xung đột khu vực. Với giả định đó, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh bắt đầu nghĩ tới việc tái tổ chức quân đội, phối trí lực lượng biên phòng và thực hiện nhiều cải tổ quân sự. 
Từ khi lên cầm quyền hồi 1985, Mikhail Gorbachev cũng tiếp tục gia tăng nỗ lực giải trừ các vấn đề lịch sử giữa Liên Xô và Trung Hoa để cải thiện mối bang giao giữa hai bên. Công việc đó càng xác tín thêm quan điểm của Trung Cộng về tình hình lắng dịu của thế giới và đưa kế hoạch xây dựng quân sự và chiến lược mới vào một cơ sở vững chắc hơn.
B.   Hậu quả của trang bị và kỹ thuật
 Hậu quả quan yếu của kỹ thuật trên sức mạnh quốc gia và sức mạnh quân sự đã bàn luận ở trên. Ở đây, chúng ta cần đưa ra thêm là trong khi lực lượng của Trung Hoa có thể ưu thắng hay ít nhất tương đồng với các lực lượng khu vực tại Á châu và có thể thực hiện một chiến lược quốc phòng tân tiến hơn, một cuộc phòng vệ tấn công trong những xung đột khu vực, họ vẫn còn kém so với các siêu cường. Cho nên, nếu có chiến tranh với một trong những siêu cường, Trung Hoa khó mà có thể có tiến hành một chiến lược tấn công. Thay vào đó, họ có thể nghĩ tới một quan điểm phòng ngự thoái lui (retrograde defense) hay phòng ngự vị trí (positional defense) dọc theo biên giới. Với các trang bị hiện đại, Hồng quân sẽ lệ thuộc nhiều vào tiếp vận các sản phẩm kỹ thuật từ các trung tâm kỹ nghệ của Trung Hoa. Cho nên không ai nghĩ rằng Hồng quân sẽ từ bỏ các khu vực kỹ nghệ để rút lui về nông thôn và vùng cao nguyên hầu thực hiện các nguyên tắc chiến tranh nhân dân trước khi ngăn chặn kẻ thù ngoài biên ải và các khu vực kinh tế chiến lược.
 Tuy nhiên, cũng sẽ sai lầm khi nghĩ rằng trong một cuộc chiến tự vệ chống lại các siêu cường ngay trên lục địa Trung Hoa, Hồng quân sẽ hoàn toàn từ bỏ các nguyên tắc cổ điển của chiến tranh nhân dân. Nó sẽ vẫn còn hữu hiện một khi các lực lượng bắt buộc phải rút lui ra khỏi các vùng biên giới. Để cho phù hợp với tình trạng mới, người Trung Hoa phải áp dụng chiến lược phòng ngự 3 giai đoạn gồm chiến tranh vị trí, chiến tranh lưu động và chiến tranh du kích. Dưới chiến lược này, kẻ xâm lăng sẽ phải đối phó với sự chống trả mãnh liệt của Hồng quân ngay tại các vị trí kiên cố nơi biên giới trước hết. Nếu phòng tuyến này bị chọc thủng, một cuộc chiến tranh lưu động với các lực lượng cơ hữu như thiết giáp, nhảy dù và các đơn vị khác sẽ chận đánh khi quân địch tiến vào đất liền. Nếu cả hai chiến lược này đều không ngăn chặn được địch quân, chiến tranh du kích sẽ được phát động và là chiến lược sau cùng để chiến đấu. Dĩ nhiên nó khác với chiến tranh du kích theo lối cổ điển vì được trang bị vũ khí tương đối hiện đại hơn.
C.   Lịch sử và Văn Hóa
 Chiến lược quân sự đến một mức nào đó ảnh hưởng bởi nét đặc thù của quốc gia trong đó có cả lịch sử và văn hóa. Lịch sử là thành tích của kinh nghiệm ; văn hóa là những tin tưởng tập quán, hệ thống xã hội và các di sản vật chất truyền từ đời này sang đời khác. Tất cả những cái đó làm thành truyền thống dân tộc.
  Là một trong những quốc gia có một nền văn hóa lâu đời nhất thế giới, với hơn 4000 năm lịch sử, Trung Hoa có một di sản về quân sự dồi dào. Việc phát triển kỹ thuật quân sự tân tiến, sự giao tiếp với lý thuyết quân sự nước ngoài, và liên tiếp bị liệt cường Âu Tây đánh bại đã phá vỡ quan niệm độc tôn về lý thuyết quân sự cũ nhưng vẫn còn được coi trọng và tiếp tục ảnh hưởng đến sự suy nghĩ của các cấp chỉ huy quân sự Trung Hoa. Cho nên, khi phân tích các tư tưởng quân sự mới của Trung Hoa, việc tìm hiểu nguồn gốc của triết học cổ truyền về quân sự là điều rất cần thiết. Sự phát triển các chiến lược quân sự của Trung Hoa trong tương lai không phải là việc nhất thời phát minh ra một lý thuyết hoàn toàn mới mà chỉ là tu chính lại những chiến lược cũ từng bước một mà thôi. Cho nên, hiểu biết các tư tưởng quân sự mới của Trung Hoa một cách cặn kẽ kể cả tư tưởng của Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông giúp chúng ta có thể tiên đoán những thay đổi về xã hội -chính trị của Trung Hoa thời đại hôm nay.
D.   Lý thuyết quân sự của ngoại quốc
 Trước cuộc Nha Phiến Chiến Tranh, các cấp chỉ huy quân sự Trung Hoa không quen thuộc với các lý thuyết quân sự Tây phương. Ngay cả sau khi bị liệt cường đánh bại, người Tàu cũng chưa sẵn sàng thay đổi các tư tưởng quân sự. Trái lại, những lần bại trận này lại chỉ đánh dấu việc khởi đầu của một tiến trình dài và gian nan trong việc đưa các lý thuyết Tây phương đến với các cấp lãnh đạo Trung Hoa. Ngay cả khi người Trung Hoa chấp nhận các lý thuyết quân sự ngoại quốc qua việc liên minh, viện trợ quân sự, mua bán vũ khí, giao tiếp về kinh tế và văn hóa họ cũng chỉ sao chép bề ngoài chứ không thực sự du nhập sao cho phù hợp với hiện tình của đất nước. Vì thế, khi lực lượng Trung Hoa phải đối phó với quân xâm lăng, họ thường dễ dàng bị đánh bại cho tới khi họ nhận chân được làm sao có thể áp dụng các chủ thuyết quân sự nước ngoài vào thực trạng xã hội -kinh tế của nước Tàu. Do đó, tư tưởng quân sự mới của Trung Hoa không chỉ là một kế tục đơn giản của truyền thống quân sự cổ điển hay chỉ sao chép các tư tưởng nhập cảng từ bên ngoài. Đó là một lý thuyết mới bao gồm cả di sản cũ và tư tưởng của ngoại quốc. Từ khi áp dụng chính sách mở cửa vào thập niên 1970, người Trung Hoa có thêm nhiều dịp tiếp xúc với quân sự Âu Tây qua những cuộc viếng thăm trao đổi và nhập cảng vũ khí, kỹ thuật. Kết quả là các lý thuyết quân sự Tây phương sẽ ảnh hưởng đến Trung Hoa trong những năm tháng sắp tới.
E.   Các ý thức hệ chính trị cận đại
  Ý thức hệ là một hệ thống quan điểm về đời người hay văn hóa. Franz Schurmann định nghĩa đó là một hệ thống ý niệm có hậu quả đưa tới hành động. Mặc dầu Schurmann dùng các từ này nhằm vào vai trò của nó trước hết trong việc phục vụ mục tiêu một tổ chức, quan điểm về ý thức hệ cũng có thể áp dụng vào hành vi của con người. Nó có thể hướng dẫn thái độ hay đường lối suy nghĩ của một cá nhân.
 Các lý thuyết quân sự cổ điển của Trung Hoa nguyên thủy dựa trên các tư tưởng chính trị của Khổng gia, Đạo gia, Kiêm ái hay Mặc gia. Tuy nhiên, khi các tư tưởng quân sự hiện đại bắt đầu phát triển, ảnh hưởng của các ý thức chính trị truyền thống của Trung Hoa giảm dần và các ý thức chính trị ngoại quốc tăng lên. Khuynh hướng đó song hành với việc canh tân quân sự của Trung Hoa. Tăng Quốc Phiên (Deng Guofan), viên chức chỉ huy tối cao quân đội Thanh triều trong việc dẹp loạn Thái Bình và là một chiến lược gia quân sự lỗi lạc thời đó đã phát triển các tư tưởng quân sự của ông dựa trên Lý Học, một trường phái Khổng giáo thịnh hành đời Tống và đời Minh. Khi quân Quốc Dân Đảng đánh nhau với Cộng Sản ở tỉnh Giang Tây vào thập niên 1930, Tưởng Giới Thạch vẫn còn dùng một phần lý thuyết của Tăng Quốc Phiên để huấn luyện quân đội. Từ khi bắt đầu cuộc chiến Trung -Nhật, nhờ có viện trợ quân sự và tiếp xúc chính trị với các quốc gia Tây phương, tư tưởng quân sự và ý thức hệ Tây phương mới ảnh hưởng bao trùm trên tư tưởng quân sự cổ điển của Tưởng và các lãnh tụ Quốc Dân Đảng. Cũng tương tự như thế, chủ nghĩa Marx-Lenin có một ảnh hưởng vô cùng to lớn đến việc phát triển tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông và các lãnh tụ Cộng Sản.
  Hồng quân do Đảng Cộng Sản trực tiếp lãnh đạo và thường tự đồng hóa với những người bị hà hiếp trong xã hội và dựa vào họ để chiến thắng. Vì thế, Mao Trạch Đông phát triển chiến tranh nhân dân dựa trên sự ủng hộ của quần chúng võ trang. Khi theo đuổi chính sách mở cửa và cải cách chính trị hiện tại, chủ thuyết Marx Lenin đã phải xét lại và du nhập thêm một số yếu tố mới từ thế giới Tây phương. Sự thay đổi về ý thức hệ chính trị này sớm muộn sẽ ảnh hưởng đến chiến lược của Trung Hoa và tư tưởng quân sự trong tương lai. 
F.   Cá tính con người 
Việc phát triển nhân cách là một đề mục vốn dĩ đưa đến nhiều cuộc tranh luận sôi nổi giữa các tâm lý gia và nhân chủng gia trong một thời gian dài. Có một sự đồng ý chung là cá tính con người đầu tiên bị nắn khuôn theo hoàn cảnh mà người đó được nuôi dưỡng. Nói cách khác, sự phát triển cá tính ảnh hưởng căn bản bởi gia đình và xã hội qua giáo dục chính thức và không chính thức. Cho nên, lịch sử quốc gia, văn hóa và các điều kiện xã hội -chính trị như đã bàn ở trên đều có ảnh hưởng đến cá tính. Tuy nhiên một số học giả lại tin rằng ảnh hưởng của hoàn cảnh trên việc hình thành nhân cách chỉ là một phần mà thôi. Một phần khác do di truyền từ nòi giống. Chưa có một kết luận nào đạt được từ phản đề này. 
Dù yếu tố nào đóng góp vào việc phát triển nhân cách chăng nữa thì cá tính đặc biệt của người ấy cũng biểu lộ qua các tư tưởng quân sự của họ. Chẳng hạn như Tưởng Giới Thạch, với cá tính anh hùng của một quân nhân chuyên nghiệp thường đòi hỏi các tướng lãnh của ông tử thủ tại vị trí trong khi Mao Trạch Đông hành động giống như Gia Cát Lượng, một chiến lược gia lỗi lạc thời Tam Quốc, không đòi hỏi sự hi sinh cá nhân của những người cộng sự mà trái lại thích áp dụng chiến thuật ẩn hiện với kẻ địch, luôn luôn sẵn sàng tấn công để tiêu diệt khi có cơ hội.
  Khi các đặc tính đó thể hiện trong tư tưởng quân sự, Tưởng hay nhấn mạnh về đức tính quả cảm và gan lì. Ông thường viết rằng một người có thể địch mười người hay mười người có thể địch một trăm người nếu binh sĩ sẵn sàng chiến đấu cho tới chết. 
Mặc dù Mao không bỏ qua đức tính đó, trong tư cách một chiến lược gia và một người đánh cờ, ông rõ ràng thích dựa vào chiến lược hơn là sức mạnh vật chất. Tư tưởng của ông ta là một chống mười trong chiến lược nhưng mười chống một trong chiến thuật.  Trong khi những yếu tố đó có tính chất sống còn với sự phát triển tư tưởng quân sự, nó có thể không ảnh hưởng đến cá nhân một cách đồng đều. Một số yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ trong khi yếu tố khác có thể biến mất hay lệ thuộc vào hoàn cảnh mà người ta gặp phải. Do đó, những yếu tố này sẽ được sử dụng như những hướng dẫn tổng quát dựa trên những điều kiện vật chất mà người ta có được


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:19:29 am
5. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BỐ CỤC
A. Phương hướng
 Việc phát triển các tư tưởng quân sự hiện đại của Trung Hoa như đã thảo luận ở trên liên hệ mật thiết đến hai yếu tố : việc phát triển của lịch sử Trung Hoa trên phương diện xã hội -chính trị nói chung và tiến trình của canh tân quân sự Trung Hoa nói riêng. Cho nên, công trình nghiên cứu này sẽ dựa vào lịch sử để phân tích vấn đề hiện đại hóa quân sự của Trung Hoa trên nhiều mức độ khác nhau theo chiều hướng phát triển của Trung Hoa hiện nay. Chúng tôi sẽ đối chiếu tình hình xã hội -kinh tế và hoạt động chính trị vào từng thời kỳ để tìm kiếm tương quan giữa các nguyên nhân lịch sử và hậu quả của những biến động xã hội.
 Đi tìm nguyên nhân của từng chuyển biến xã hội -chính trị cũng cần phải đào sâu vào hệ thống xã hội hiện hữu để đưa ra những yếu tố góp phần vào thay đổi. Dựa trên các giả định đó, hệ thống xã hội -chính trị, điều kiện kinh tế và hệ thống quân sự ngay trước cuộc Chiến tranh Nha Phiến năm 1840 sẽ được tìm hiểu ngõ hầu đưa ra một bối cảnh tổng quát. 
Trong khi hệ thống xã hội -chính trị cổ thời của Trung Hoa trước năm 1840 có thể cung cấp những căn bản cho thay đổi sắp xảy ra và thúc đẩy cải cách, cuộc chiến tranh Nha Phiến và các biến cố theo sau là động lực xúc tác trực tiếp cho cuộc canh tân và trên hết là cải cách quân sự. Người Trung Hoa phản ứng đối với cuộc chiến tranh Nha Phiến như thế nào ? Thái độ của sĩ phu Trung Hoa ra sao ? Quan điểm của thành phần ưu tú trong hệ thống xã hội và chính trị sẽ là tiêu điểm cho các phân tích tại thời kỳ này để giải thích giai đoạn mở đầu hiện đại hóa quân sự của Trung Hoa. 
”Tư tưởng phát xuất từ lịch sử ”. Những tư tưởng quân sự hiện tại là một sản phẩm của lịch sử. Các cấp chỉ huy quân sự trong giai đoạn này đã đóng góp hoặc nhiều, hoặc ít cho kết quả sau cùng của các tư tưởng hiện tại. Trước khi phân tích các quan điểm quân sự cá nhân, quá trình học vấn và xã hội -chính trị và tư cách con người sẽ được nhắc qua để đi tìm những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển tư tưởng của người đó. 
Chiến tranh giữa các lực lượng xã hội -chính trị khác nhau sau khi hệ thống cổ truyền sụp đổ đã tạo nên các thay đổi chính trị trong một thời gian dài và gần như hủy diệt toàn bộ quốc gia. Tuy nhiên, sau những đấu tranh dai dẳng và gian nan, Trung Hoa đã thoát ra được những đổ vỡ và đi đến thống nhất. Trên quan điểm kỹ thuật, trong giai đoạn thập niên 1940, công cuộc canh tân quân sự của Trung Hoa còn một quãng dài trước khi hoàn tất. Ngoài những yếu tố khác, việc đưa ra được một tư tưởng quân sự hiện đại là chìa khóa để chiến thắng trong chiến tranh giải phóng và thống nhất quốc gia thoát ra khỏi thời kỳ nội chiến. Phân tích kỹ lưỡng về tư tưởng quân sự của Mao và của Tưởng và tình trạng độc đáo đưa đến những phát triển của họ sẽ cho chúng ta một khái niệm về các nhà lãnh đạo Trung Hoa đã hình thành chủ thuyết của họ như thế nào, làm sao vượt qua được những thử thách của thời kỳ chiến tranh khốc liệt, và sau đó cho chúng ta thấy đại khối quần chúng Trung Hoa đã được vận động ra sao để tham gia vào phong trào giải phóng quốc gia. Phong trào đó vốn dĩ không tiên liệu trước được, nhưng đến một mức nào đó bao gồm cả động viên lực lượng xã hội, kết hợp các tương quan rộng lớn, kêu gọi tham gia đại chúng và tinh thần quốc gia để xúc tiến xây dựng xã hội mới và công cuộc canh tân.
 B. Bố cục
  Cuốn sách này được chia thành 8 chương : ngoài phần mở đầu và phần kết luận, 6 chương kia sẽ được khai triển để phân tích các đề mục sau đây :
 -Chương hai là một nghiên cứu tổng quát về triết học quân sự cổ điển của Trung Hoa. Chương này không những tóm tắt các trường phái và nội dung của các lý thuyết quân sự cổ thời mà còn phân tích bối cảnh xã hội -kinh tế đã sản sinh ra các lý thuyết đó và tại sao hấp dẫn được con người trong suốt mấy ngàn năm không thay đổi.
-Chương ba liên quan đến cuộc chiến tranh Nha Phiến và sự chuyển đổi hệ thống quân sự Trung Hoa. Chúng tôi sẽ thảo luận về hệ thống quân sự cổ điển trước chiến tranh, ảnh hưởng của chiến tranh, thái độ của người Trung Hoa và trên hết phản ứng của giới sĩ phu và quan lại. Tư tưởng canh tân quân sự và chính sách của triều đình chẳng hạn như cuộc Dương vụ vận động và Tự cường vận động, việc xuất hiện các đạo quân địa phương như Tương quân, Hoài quân và hậu quả tác động trên việc canh tân quân sự của Trung Hoa những năm về sau sẽ được phân tích kỹ lưỡng hơn.
Các tư tưởng quân sự riêng của Lâm Tắc Từ (Lin Zexu), Ngụy Nguyên (Wei Yuan), Phùng Quế Phương (Pheng Guifen), Tăng Quốc Phiên (Deng Guofan), Lý Hồng Chương (Li Hongzhang), Tả Tông Đường (Duo Zongtang) hay Viên Thế Khải (Yuan Shihkai) sẽ được phân tích từng người một.
-Chương bốn căn bản là sự tiếp tục và giai đoạn chuyển tiếp của thời kỳ hậu cách mạng Tân Hợi 1911. Các tư tưởng về kiềm chế lực lượng quân sự và ép buộc giải ngũ quân đội, việc hình thành các lực lượng võ trang của các đảng chính trị cũng như bối cảnh xã hội chính trị sẽ được thảo luận chi tiết hơn. Ngoài ra chúng tôi sẽ phân tích về quan điểm quân sự của một số nhân vật như Lê Nguyên Hồng (Li Yuanhong), Sái Ngạc (Cai E), Bác Sĩ Tôn Dật Tiên (Sun Yatsen) và Tưởng Bách Lý (Jiang Baili).
-Chương năm và chương sáu hoàn toàn bàn về lý thuyết quân sự của Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông. Họ là những đại diện tiêu biểu nhất của lý thuyết quân sự Trung Hoa hiện đại.
-Chương bảy phân tích một cách ngắn gọn công cuộc cải cách quân sự của Đặng Tiểu Bình và sự phát triển chiến lược quốc phòng của Trung Hoa từ cuối thập niên 1970 tới nay.  6. TÀI LIỆU  Các tài liệu trong tập sách này chủ yếu tham khảo từ bốn nguồn thư tịch : 
A.    Tài liệu cá nhân của Tác giả
  Một phần công trình nghiên cứu về lý thuyết quân sự cổ thời của Trung Hoa, các tác phẩm của Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch và sự phát triển hiện nay về quân sự của Trung Hoa và Đài Loan trong các báo chí, tạp chí trong sưu tập riêng của tác giả.
B.    Các thư viện Bắc Mỹ
  Một số lớn các tài liệu dùng trong sách này tìm thấy trong các thư viện East Asia Institutes của đại học Toronto, Canada và Đại học Harvard và Stanford, Hoa Kỳ.
C.   Sưu tập tại Đài Loan
 Bằng cả lời mời chính thức của chính quyền lẫn yêu cầu cá nhân, tác giả đã được phép sử dụng các nguồn tài liệu của Viện Á Đông, Đại học Quốc Gia Chengchi và Đại học Quân sự Chính trị Quốc Dân Đảng.
D.   Tư liệu từ Trung Hoa
 Dưới sự bảo trợ của Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Bắc Kinh, tác giả đã lưu lại Trung Hoa trong ba tuần để họp với nhiều học giả lỗi lạc chuyên về quân sử. Đặc biệt nhất là các cuộc hội nghị với các thành viên của Quân Sự Học Hiệu GPQ tại Bắc Kinh. Những buổi gặp gỡ đó làm sáng tỏ một số vấn đề then chốt và giúp sưu tầm thêm tài liệu.  Những cuộc du hành nghiên cứu tại Hoa Kỳ, Đài Loan và Trung Hoa đều được Ủy Ban Nghiên Cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn Canada bảo trợ tài chánh.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:20:47 am
Chương 2: Nghiên cứu về các lý thuyết quân sự cổ điển của Trung Hoa
1.   NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH CỦA TRIẾT HỌC QUÂN SỰ CỔ ĐIỂN TRUNG HOA 
Tài liệu đầu tiên đề cập đến nghệ thuật chiến tranh tại Trung Hoa có thể truy nguyên là truyền thuyết về Hà Đồ và Lạc Thư, vốn được coi như những trận thế do một số lãnh tụ bộ lạc ở tỉnh Thiểm Tây, gần sông Hoàng Hà đặt ra cách đây từ 6000 đến 7000 năm trước. Một ngàn năm sau, Phục Hi, một tù trưởng khác tại Hà Nam, cảm ứng từ các hình vẽ này đã đặt ra Bát Quái, tức 8 quẻ, được coi như là những trận đồ cao siêu hơn. Tuy nhiên những công trình đó không phải là sách thật vì thời đó chữ viết chưa xuất hiện tại Trung Hoa. Theo nhiều tài liệu lịch sử cổ khác nhau thì dường như Hoàng Đế, thủy tổ khai sáng ra nước Tàu, đã viết một số sách về chiến pháp. Tuy nhiên, sách vở Trung Hoa về nghệ thuật chiến tranh chỉ bắt đầu phát triển từ cuối triều đại nhà Chu. Kể từ đó, hơn một ngàn tác phẩm đã được xuất bản. 
Theo Lục Đạt Tiết (Lu Dajie), tác giả cuốn Trung Quốc Lịch Đại Binh Thư Khái Luận (Hongkong 1969) có tất cả 1340 tác phẩm, tổng cộng trên 6830 tập. Tuy nhiên, đa số những sách này đã thất truyền. Chỉ còn lại 288 cuốn, tổng cộng 2160 tập còn lưu lại đến ngày nay. Hơn nữa, một số lớn các di phẩm này hoặc chỉ còn một bản hay do tư nhân sưu tập không phổ biến cho đại chúng. Thành ra chỉ có 178 tác phẩm là có bán ngoài thị trường.
 Họ Lục lượng định số lượng sách vở còn tồn tại dựa trên tài liệu của bộ đại từ điển Tứ Khố toàn thư đời Càn Long là một tổng hợp vĩ đại của mọi học giả, mọi ngành xuất bản hồi cuối thế kỷ 18. Từ đó tới nay, Trung Hoa đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh và chắc chắn là một số các binh thư này lại bi hủy hoại hay hư hỏng nữa. Cho nên, số sách hiện tại còn lưu giữ đến hôm nay chắc ít hơn con số họ Lục đưa ra nhiều, mặc dù không thể đưa ra được một con số chính xác. 
Từ những cuốn sách còn lại, các nhà nghiên cứu đã nêu ra một số đặc điểm độc đáo của triết học quân sự Trung Hoa. Trước hết, lý thuyết quân sự của Trung Hoa đầu tiên được phát triển hồi cuối đời Chu hay còn gọi là Xuân Thu (770 -476 trước TL) và Chiến Quốc (475 -221 trước TL). Từ đó trở về sau, sự phát triển của tư tưởng quân sự Trung Hoa thiên về giải thích binh thư cũ hay giải đáp một số vấn đề kỹ thuật và chi tiết. Một số tác phẩm còn bàn luận về những nghi thức mê tín như bùa chú, bói toán và chiêm tinh. Những sách về sau chỉ phụ đề cho các sách in trước, rất ít sách đóng góp đáng kể về lý thuyết. Cho nên, khi nghiên cứu về triết học quân sự cổ truyền của Trung Hoa người ta thường chỉ nhấn mạnh về các tác phẩm có trước đời Tần hay con gọi là Tiên Tần và rất ít chú trọng đến những sách đời sau. Việc lược bỏ đó không ảnh hưởng nặng nề đến công tác nghiên cứu triết học quân sự Trung Hoa. Lục Đạt Tiết đã viết:
Những chiến lược gia lỗi lạc nhất của Trung Hoa thời cổ là Tôn Tử và Ngô Khởi. Các tư tưởng do những người trước Tôn và Ngô đều được họ kế thừa, trong khi những người đi sau Tôn và Ngô lại cảm hứng từ họ mà có. Mặc dầu có những thay đổi vô cùng to lớn trong việc phát triển nghệ thuật chiến tranh trong kỷ nguyên vừa qua tại Trung Hoa, những thay đổi đó cũng không vượt ra khỏi con đường Tôn và Ngô đã vạch. Vì thế, không ngại ngùng gì mà nói rằng tất cả những binh thư sau Tôn Ngô cũng là của Tôn Ngô.
Đối với nhiều học giả nghiên cứu trong ngành này, lời nói đó có quá giản lược, nhưng cũng đúng nếu nói rằng triết học quân sự cổ điển của Trung Hoa hình thành được nét đặc thù của nó đời Hậu Chu là do Tôn Tử và Ngô Khởi và từ đó tới sau không có gì thay đổi một cách rõ rệt. Lý do của hiện tượng này sẽ bàn tới sau, nhưng ở đây đủ để cho chúng ta hiểu rằng điều kiện kỹ thuật, xã hội-kinh tế và hệ thống chính trị đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến triết học quân sự.
Thứ hai, triết học quân sự cổ điển Trung Hoa không chỉ giới hạn trong các binh thư hay các tác phẩm của các chiến lược gia quân sự mà nằm rải rác trong các tác phẩm không bàn về quân sự của các triết gia và chính trị gia. Các sách về thuyết Kiêm Ái, Khổng Giáo, Đạo giáo và nhiều sách khác đều chứa đựng một số quan điểm về chiến tranh và có ảnh hưởng rất nhiều đến lý thuyết của các chiến lược gia. Nói chung, tất cả các sách nói về chiến tranh đều dựa trên các học thuyết chính trị của Trung Hoa thời cổ. Chẳng hạn như Tôn Tử thường nói là ảnh hưởng bởi Đạo Giáo trong khi Ngô Khởi thì nói là ảnh hưởng của Khổng Giáo. Cả hai công trình tuy nhiên đều cho thấy các nguyên tắc nhân bản đã chi phối chủ yếu quan điểm của tác giả về chiến tranh. Là một môn đồ Khổng Giáo, Ngô Tử khuyên các nhà cai trị nên phản ảnh tinh thần đạo đức và thi hành nhân chính trong việc trị dân. Nhà vua phải đạt được Tứ Hòa trước khi có thể có chiến tranh với nước khác. 
Nhấn mạnh vào sự quan trọng của đạo đức trong chiến tranh, Tôn Tử cho rằng phải theo đuổi chiến lược ” Toàn ” nghĩa là làm sao không phải giết người. Ông viết: 
Điều tốt nhất là chiếm được nước địch một cách toàn vẹn, còn phá hủy là không bằng. Cũng như thế, tốt hơn hết là bắt giữ một đạo quân hơn là tiêu diệt họ.1
 Quan niệm nhân bản được các chiến lược gia thừa nhận khi bàn về chiến tranh nên muốn hiểu rõ nghệ thuật điều binh của Trung Hoa thời xưa không thể không biết qua về triết học chính trị và hệ thống giá trị cũ. Tăng Quốc Viên trong tác phẩm Triết học chiến tranh đời Tiên Tần (Tiên Tần Chiến Tranh Triết Học, Đài Bắc, 1972) đã viết rằng triết học chính trị trước đời Tần bao gồm cả triết học quân sự trong đó nữa. Cho nên tới một mức độ nào đó, người ta không thể không dẫn chứng triết học chính trị khi bàn luận về lý thuyết quân sự của Trung Hoa.
 1Nguyên văn: Phù dụng binh chi pháp, toàn quốc vi thượng, phá quốc thứ chi, toàn lữ vi thượng, phá lữ thứ chi, toàn tốt vi thượng, phá tốt thứ chi, toàn ngũ vi thượng, phá ngũ thứ chi. ( Tôn Tử Binh Pháp, Mưu Công Thiên ) 
Thứ ba, trong việc dùng các binh thư cổ, người ta gặp vấn đề các tài liệu giả gọi là Ngụy Thác hay Ngụy Thư. Cả hai đều chỉ những sách vở đáng ngờ nhưng không hoàn toàn giống nhau. Ngụy Thư nói về sách cổ đã tìm ra là bị giả mạo, không đúng niên kỷ hay đề sai tác giả. Ngụy Thác không ra ngoài những định nghĩa trên nhưng nhấn mạnh về việc sách mới soạn giả vờ là sách xưa.
 Ngụy Thư và Ngụy Thác không chỉ nằm trong các loại binh thư mà còn liên quan đến những đề mục đáng ngờ. Như Tăng Quốc Viên đã viết:
Các sách vở xuất hiện trước đời Tần thường lẫn lộn các dữ kiện đáng ngờ với các chi tiết giả ... thường hay tìm thấy trong các loại Chí trong khi các loại Kinh thường hay bị mạo hóa. Theo Lục Đạt Tiết, ngoài tên tác giả, các loại binh thư cổ đa số là Ngụy Thác. Không thể tin được rằng Hoàng Đế và Huyền Nữ mỗi người đã soạn hơn một chục quyển sách, Thái Công (Khương Thượng), Hoàng Thạch Công, Gia Cát Lượng và Lý Vệ Công (Lý Tĩnh) mỗi người viết từ 10 đến 30 cuốn sách. Người càng xưa lại càng viết nhiều. Theo thường lý thì chuyện đó không thể nào tin được. Lý do có quá nhiều Ngụy Thư bởi vì nhiều sách cổ không do chính tác giả viết mà phần lớn do các môn đệ hay hậu duệ góp nhặt và san định sau. Cho nên không khỏi không có một số thêm thắt và tài liệu sai lầm được đưa vào. Các loại Ngụy Thư này, theo Tăng Quốc Viên có thể dùng được không đáng ngại. Nếu một quyển sách hoàn toàn ngụy tạo, có thể dùng được hay không là do định được thời gian nó được viết ra. Nếu một cuốn sách bàn về triết học chiến tranh cổ được làm giả trước đời Tần bởi một người sống cùng thời, ngụy thư đó có thể chứa đựng một số dữ kiện giá trị của niên đại ấy. Vì thế nó vẫn có thể dùng được. Đối với các binh thư cũ, Tăng cho rằng phần lớn lai lịch bất minh nhưng vì không có tài liệu nào khác nên muốn dùng phải hết sức thận trọng và căn cứ vào nhận định riêng mà cho là có giá trị hay không.
Với những vấn đề như thế và những mục tiêu giới hạn đề ra riêng cho chương này, chúng ta cần phải đưa ra những tổng tắc để phân tích ngõ hầu tránh khỏi những mâu thuẫn không cần thiết:
1/ Mặc dầu các binh thư cổ chỉ còn độ 20% những gì Lục Đạt Tiết đã nêu ra nhưng cũng sẽ quá tham lam nếu duyệt qua tất cả. Hiện nay, việc đó không những không thể làm được mà cũng chẳng cần làm vì theo Lục Đạt Tiết thì một số lớn chỉ bàn về triết học chiến tranh hay bình chú những tác phẩm khác. Dù chỉ tìm hiểu những tác phẩm chính, chúng ta cũng không bỏ sót những điểm quan trọng. Do đó, những sách về lý thuyết quân sự dùng trong phân tích này phần lớn liệt kê trong bộ Trung Quốc Binh Pháp Đại Toàn của Lý Dục Nhật (Li Yuri). Bộ này gồm 15 tập bao gồm hơn 30 tác phẩm chính.
2/ Về triết học chiến tranh, các tài liệu chủ yếu dựa trên các binh thư nổi tiếng. Những tác phẩm không thuộc về quân sự chỉ được dùng trong những trường hợp cá biệt để dẫn chứng về nguồn gốc triết học và ý thức về chiến tranh. Cuốn sách này không chủ trương đào sâu về Khổng học, Đạo học hay Mặc học trừ trường hợp hết sức cần thiết. 
3/ Sẽ nhấn mạnh về những lý thuyết nằm trong sách vở trước đời Tần hơn là những đời sau vì khung hình tư tưởng được phát triển trong thời kỳ này. Những giá trị các tác phẩm sau đời Tần, trên nhãn quan lý thuyết không đáng kể. Tuy nhiên sẽ có một đối chiếu ngắn trước khi dứt chương. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:21:47 am
2.   BỐI CẢNH XÃ HỘI -CHÍNH TRỊ VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ TRÊN TRIẾT HỌC QUÂN SỰ ĐỜI TIÊN TẦN
  Lịch sử Trung Hoa có từ trước đời Tần rất xa. Trong huyền sử đã có nhiều khái niệm về nghệ thuật chiến tranh và như đã đề cập trước đây có thể tìm thấy từ đời Hoàng Đế và Phục Hi (từ 6000 đến 7000 năm trước Tây Lịch). Tuy nhiên những truyền thuyết này không có gì xác thực nên không thể dùng trong việc phân tích một cách nghiêm chỉnh. Cũng giống như hầu hết các học giả nghiên cứu về triết học quân sự cổ điển Trung Hoa, tác giả cũng chỉ thu hẹp định nghĩa của Tiên Tần vào thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc, vì hầu hết những tác phẩm giá trị là do những nhân vật đời này soạn ra.
Xuân Thu và Chiến Quốc là thời đại hoàng kim của văn minh cổ Trung Hoa. Những tác phẩm vĩ đại về triết học quân sự và các ngành triết học khác của Trung hoa cổ xuất hiện giai đoạn này. Những học giả nghiên cứu về Trung Hoa đều đồng ý rằng đây là thời kỳ có một không hai và cũng chưa từng có trên lãnh vực phát triển văn hóa. Thời kỳ đó quả xứng danh là ”bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng). Khổng học, Đạo học, Mặc học ... và nhiều ngành triết học khác ngự trị khung cảnh chính trị-xã hội Trung Hoa hơn 2500 năm qua là điển hình của một giai đoạn phát triển văn hóa sôi động. Tại sao người Trung Hoa có thể hình thành những triết học vĩ đại như thế và trên hết, những lý thuyết quân sự vào thời kỳ ấy ? Và tại sao không có những tác phẩm giá trị ngang ngửa xuất hiện sau đời Tần ? Câu trả lời có thể tìm thấy trong bối cảnh chính trị-xã hội của thời đại này.
A.   Bối cảnh xã hội-chính trị thời Hậu Chu 
Triều đại nhà Chu bắt đầu vào năm 1118 trước TL sau khi lật đổ nhà Thương. Thời đó, Trung Hoa được hưởng một thời gian dài hòa bình và thịnh vượng chưa từng có trong lịch sử cho tới khi bị người Khuyển Nhung (Quanrong), một giống rợ sống thành bộ lạc vùng tây bắc Trung Hoa xâm lăng vào năm 771 trước TL. Liên kết với bố vợ của U Vương (tức Thân Hầu, cha của Khương Hậu), quân Khuyển Nhung chiếm kinh thành và giết U Vương. 
Khi Bình Vương nối ngôi, ông bắt buộc phải dời kinh đô từ đất Cảo (gần Tây An thuộc Thiểm Tây ngày nay) sang phía đông đến Lạc Dương (tỉnh Hà Nam hiện nay). Vì Lạc Dương nằm ở phía đông đất Cảo, nhà Chu sau năm 771 trước TL được sử gọi là Đông Chu. Từ năm 771 trước TL đến khi bị lật đổ năm 249 trước TL, nhà Đông Chu không bao giờ còn có thể trở lại thời kỳ thịnh vượng và ổn định như trước nữa. Một thời kỳ loạn lạc bắt đầu.
Vì sự suy sụp của triều đình trung ương, các vương hầu bắt đầu mở rộng bờ cõi bằng chinh phạt quân sự. Vào thế kỷ thứ 8 trước TL, khi nhà Đông Chu mới thành lập, Trung Hoa có khoảng 200 tiểu quốc nhưng sau các nước sáp nhập lại thành 7 nước lớn (với vài biệt lệ) và vẫn tiếp tục đánh nhau hơn 250 năm nữa trước khi nhà Tần thống nhất toàn quốc năm 221 trước TL. 
Trong suốt gần 5 thế kỷ binh đao, triều đình trung ương yếu dần và hậu quả là cả nước rơi vào một tình trạng vô chính phủ. Sự phân hóa của hệ thống chính trị và sự yếu kém của giai cấp lãnh đạo đã đưa tới cơ hội cho người bình dân có thể lên cầm quyền. Đạo đức xã hội không còn nữa, dân chúng sống trong những điều kiện cực kỳ khốn khổ. Những biến đổi về xã hội và chính trị có ảnh hưởng rất quan trọng trên triết học quân sự của Trung Hoa. 
Từ khi triều đình bị suy yếu và về sau biến mất, các vương hầu đánh lẫn nhau để tranh giành quyền lực. Vì thế, việc kiểm soát tư tưởng của nhà cầm quyền không còn nữa và các ngành học thuật được hoàn toàn tự do không bị cấm đoán. Thay vào đó, các trường tư được hoạt động. Dường như thời này dân chúng được hưởng quyền tự do ngôn luận và đi lại. Không những người dân muốn nói gì thì nói mà họ còn có thể đi từ nước này sang nước khác để dạm bán các tư tưởng của họ cho những nhà lãnh đạo nào chịu nghe. Trong hoàn cảnh đó, kẻ nào có tài và có đầu óc muốn phò tá các vương hầu đều có thể tiến thân rất nhanh trên lãnh vực quân sự. Thời đại đó thai nghén cho giai đoạn trăm nhà đua tiếng (bách gia tranh minh). Nhiều hệ phái triết học và lý thuyết quân sự khác nhau được giai cấp Sĩ thời đó phát huy, trong đó gồm cả người bình dân có học lẫn danh gia tử đệ.
B.   Các tư tưởng chính trị cận đại và ảnh hưởng của nó trên các lý thuyết quân sự 
Đời sống quần chúng cơ cực là vì triều đình trung ương suy thoái và các vương hầu đánh lẫn nhau. Các Nho gia tin rằng nếu tôn Chu nghĩa là quay trở lại thời kỳ cũ, tôn trọng trật tự chính trị thì loạn lạc sẽ chấm dứt. Khổng Tử chống lại việc chiến tranh giữa các tiểu quốc và việc soán nghịch của các vương hầu. 
Mặc dầu các Nho gia không thành công trong việc khôi phục nhà Chu và chấm dứt chinh chiến, nhưng những quan điểm của họ như việc tôn phò nhân chính (hành vi mẫu mực của người cầm quyền) sự quan trọng của đạo đức trong một xã hội phú cường, đã trở thành tư tưởng chủ đạo cho những chiến lược gia quân sự và ảnh hưởng đến lý thuyết của họ về chiến tranh.
 Khoảng một trăm năm sau khi Khổng Tử tạ thế, Mặc học trở nên một trường phái phổ thông. Người ta nói rằng Mặc Địch, sáng tổ của Mặc học đã theo học Nho gia nhưng sau đó không thỏa mãn với Khổng học nên quay lại chống đạo Nho. Trong giai đoạn đầu thời Chiến Quốc, Mặc học là đối thủ chính của Khổng học. Mặc gia đồng ý với Khổng gia là cần một chính quyền tốt và khôi phục hệ thống chính trị cũ để cải thiện đời sống người dân. Họ cũng chống lại chiến tranh chinh phạt nhưng ủng hộ chiến tranh tự vệ. Mặc Địch đã có lúc cùng các môn đệ giúp nước Tống chống lại nước Sở xâm lăng. Chiến tranh chống xâm lược, hay phi công (feigong) có liên quan mật thiết đến thuyết kiêm ái của Mặc gia nghĩa là mở rộng tình yêu thân quyến, bằng hữu đến yêu thương tất cả mọi người. 
Bước đầu của kiêm ái là đừng ghét ai. ”Thù ghét là nguồn gốc lớn nhất của chiến tranh”. Triết học Mặc gia về phi công căn cứ trên quan điểm thực dụng vì những mất mát và đau khổ do chiến tranh đem tới vượt xa những lợi lộc đem lại. Tuy nhiên họ không phủ nhận chiến tranh tự vệ. Xấu xa chỉ có khi đi xâm lăng, chinh phạt người khác. Nếu con người không xâm lăng lẫn nhau thì thiên hạ sẽ thái bình.
 So với Khổng học và Mặc học, Đạo học có thái độ tiêu cực hơn đối với cả hệ thống chính trị lẫn chiến tranh. Triết học Đạo giáo vẫn được coi là huyền bí. Nguyên thủy của vũ trụ là Đạo, là nguyên lý tối thượng của hình thành mọi việc. Đối với Đạo gia, Đạo là mẹ của mọi sự nhưng cũng không là gì cả. Mọi vật từ hư không (Vô) mà ra là định luật của tự nhiên.
Đối với các trường phái triết học cổ điển khác, Đạo được xem như một nguyên tắc chung của con người, một định luật luân lý chứ không phải định luật thiên nhiên. Khi ứng dụng vào nghệ thuật dùng binh, Tôn Tử và Ngô Tử coi như một định luật luân lý.
 Đạo gia chống lại mọi loại chiến tranh, nhưng điều đáng quan tâm là thái độ thụ động của họ lại có một ảnh hưởng đáng kể trên các lý thuyết của các chiến lược gia quân sự cổ thời của Trung Hoa. Đạo gia tin rằng tĩnh có thể chế động, kẻ yếu có thể chống được kẻ mạnh. Tương tự, nhu có thể chế cương. Nước bản chất là nhu, thuận theo mọi hình thái của đất nhưng có thể làm vỡ đê điều và phá hủy những gì ngăn cản nó. Tôn Tử so sánh trạng thái của nước với hình thức của quân đội.
  ”Một đạo quân cũng chẳng khác gì nước cũng như nước chảy tránh chỗ cao mà tuôn vào chỗ thấp nên quân cũng tránh mạnh mà đánh vào yếu. Cũng như nước theo hình thế của đất, quân cũng thủ thắng theo tình trạng của địch”2
 Khác với tất cả các nhà khác, Pháp gia là trường phái lỗi lạc nhất và tích cực nhất trong các thế lực xã hội, hết tâm hết sức chuyển theo các biến đổi xã hội đời Tiên Tần. Họ còn nóng lòng đề xướng cải cách nhiều hơn nữa. 
Sáng tổ của Pháp gia là Quản Trọng nước Tề. Là quan Tể Tướng, Quản Trọng đưa ra một loạt chính sách để củng cố binh bị và hệ thống kinh tế. Các chính sách của ông có thể thâu tóm vào hai chữ ổn định và hùng cường. Để ổn định, ông nhấn mạnh vào việc áp dụng luật pháp, để hùng mạnh ông xây dựng hệ thống dân quân. Nó được gọi là dùng quân lệnh để phục vụ hành chính (Dĩ quân lệnh vụ nội chính, Gi Junling Yu Neizheng) , một cái tên nhấn mạnh sự liên kết giữa quân đội và hệ thống hành chánh địa phương. Hệ thống này không những đưa Tề lên ngôi bá chủ mà còn tạo được một tình trạng tương đối hòa bình giữa các chư hầu trong hơn 40 năm, ảnh hưởng đến hệ thống quân sự Trung Hoa và triết học chiến tranh.
2Nguyên văn:: Phù binh hình tượng thủy, thủy chi hình, tị cao nhi xu hạ. Binh chi hình, tị thực nhi kích hư. Thủy nhân địa nhi chế lưu, binh nhân địch nhi chế thắng (Tôn Tử Binh Pháp, Hư Thực Thiên)
  Mặc học sau này cũng được áp dụng bởi hầu hết các nước theo nhiều mức độ khác nhau. Hệ thống dân quân làm cho quân đội bành trướng và vì thế chiến lược, chiến thuật cũng như điều động chỉ huy trở nên vô cùng phức tạp và các tướng lãnh phải chọn những người có khả năng chuyên môn. Cho nên, các những người có kiến thức đặc biệt về quân sự được các vương hầu bổ nhiệm trong những chức vụ trọng yếu. Có lẽ chính vì thế mà những tác phẩm lỗi lạc nhất về binh bị xuất hiện trong thời kỳ này. 
Sự thay đổi trong hệ thống binh bị khiến cho chi phí quốc phòng trở nên rất cao. Thương vong cũng rất nặng nề và ảnh hưởng đến thái độ của các triết gia Trung Hoa đối với chiến tranh. Các Nho gia, Mặc gia, Đạo gia đều có thái độ tiêu cực theo nhiều mức độ khác nhau. Chẳng hạn như Mạnh Tử, một Nho gia lỗi lạc thời Chiến Quốc, đã đả kích chiến tranh và kết án nặng nề những chiến sĩ lỗi lạc thời đó. Ông viết:
Kẻ nào thiện nghệ trong chiến đấu đáng bị trừng phạt nặng nề. Tử hình không đủ cho những kẻ giết người đầy mặt đất3
  Thái độ đó ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các chiến lược gia cổ thời. Hầu hết đều thận trọng hơn và đưa đến khuynh hướng thủ nhiều hơn công, ít nhất cũng trong giai đoạn khởi động chiến tranh.
 Phái Pháp gia được hoàn toàn áp dụng tại nước Tần dưới sự lãnh đạo của Thương Ưởng. Các chính sách của ông ta có thể giản lược trong hai điểm: hệ thống tưởng thưởng trong quân đội và luật pháp. Nông dân nước Tần đều phải gia nhập dân quân, họ được huấn luyện để cày ruộng trong thời bình và chiến đấu trong thời chiến. Dựa trên hệ thống tưởng thưởng, kẻ nào giết được nhiều địch nhất sẽ được khen thưởng nhiều nhất. Chính sách thứ hai là bảo đảm quyền tối thượng của luật pháp, ngay cả thái tử nếu phạm luật cũng bị trừng phạt. Các chính sách này giúp Tần bá chủ 6 nước còn lại và dần dần thống nhất Trung Hoa vào năm 221 trước TL sau 5 thế kỷ rưỡi chiến tranh.
 3 Nguyên văn: Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã, tranh thành dĩ chiến, sát nhân doanh thành, thử sở vị tốt thổ địa nhi thực nhân nhục, tội bất dung ư tử (Mạnh Tử, Ly Lâu Thượng)
Phái Pháp gia chia làm ba phái mỗi phái nhấn mạnh một chính sách khác nhau: một phái nhấn mạnh vào thẩm quyền của người cai trị, phái khác nhấn mạnh hệ thống tổ chức, đường lối và thủ đoạn các vương hầu và phái thứ ba chú trọng về luật pháp. Cả ba sau gom lại làm một do Hàn Phi. Dưới lý thuyết hợp nhất này, bậc chí tôn của một nước có thẩm quyền hoàn toàn không những trong việc làm luật mà còn có quyền quyết định luật pháp có bị vi phạm hay không và một người sẽ bị trừng phạt như thế nào. Việc nhấn mạnh vào đường lối, thủ đoạn cho phép vua chúa muốn dùng phương tiện gì cũng được để đạt tới mục tiêu. Khi áp dụng vào thực tế, họ trở thành bạo chúa, luật pháp là để áp chế quần chúng và một người dù phạm tội nhỏ cũng có thể bị xử tử.
  Vì nhấn mạnh vào quân đội, phái Pháp gia đời Chiến Quốc đều là những chiến lược gia quân sự, và ngược lại. Lý Lý (hay Lý Khôi), Thương Ưởng đều có cầm quân và viết binh thư và đều thuộc phái pháp gia. Ngô Khởi vừa là chiến lược gia vừa là Pháp gia. Cho nên các học giả về triết học quân sự ở Đài Loan, chẳng hạn như Tăng Quốc Viên, đồng hóa các chiến lược gia cổ thời với Pháp gia. Việc nhấn mạnh vào kỷ luật quân đội, quyền tối thượng và tuyệt đối của cấp chỉ huy, và được quyền mưu mẹo, lừa đảo cả với kẻ thù lẫn với binh sĩ có thể được giải thích như là việc áp dụng các nguyên tắc của Pháp gia.
C.   Tương quan giữa các chư hầu và Lý Thuyết quân sự
  Quan niệm của người Trung Hoa là muốn có thái bình thì toàn thể phải thống nhất dưới sự lãnh đạo của một chính quyền trung ương. Thực vậy, lịch sử đã chứng minh rằng khi chính quyền trung ương sụp đổ, nhiều lãnh tụ địa phương có tham vọng gây chiến để lên ngôi hoàng đế chứ ít có ai chấp nhận thành lập một thể chế chính trị riêng của mình. Vì thế việc các chư hầu thiết lập được một tương quan bền vững là điều rất khó khăn. Biệt lệ duy nhất cho định luật này trong lịch sử Trung Hoa là thời Chiến Quốc, khi đó các chư hầu thành công trong việc hình thành một tương quan bình đẳng giống như nguyên tắc ngoại giao ngày nay.
  Như đã trình bày ở trên, vào thế kỷ thứ 7 trước TL, khi chính quyền trung ương suy yếu, việc phân hóa chính trị của Trung Hoa khiến các bộ tộc ở miền Bắc (và sau cả miền Nam) có cơ hội xâm lấn trung nguyên. Có thời quân rợ đe dọa trực tiếp việc tồn vong của một số nước. Vì an ninh chung, các vương hầu bắt buộc phải tạm thời gác những dị biệt để hình thành một liên minh chống di địch. Tề Hoàn Công, được Tể Tướng Quản Trọng phò tá, đã đạt được bá quyền các nước khác và kêu gọi hợp tác với nhau dưới khẩu hiệu tôn phò vương thất, chống lại hung nô. Ông đã đem quân chinh phạt 28 lần trong thời gian 43 năm trị vì. Để củng cố nghiệp bá, Hoàn Công mời các chư hầu họp thượng đỉnh với nhau 26 lần. Các thỏa ước được ký kết trong đó có khoản các chư hầu thề không xâm lấn lẫn nhau. Hoàn Công sẽ là trọng tài nếu có tranh chấp. Mặc dầu có vài vi phạm, tình hình tương đối ổn định giữa các nước. 
Sau khi ông chết, các nước đánh lẫn nhau để tranh ngôi bá chủ và Tấn Cảnh Công sau cùng thay thế Hoàn Công. Trong thời gian tranh ngôi bá, Cảnh Công khôn ngoan xúi nước này đánh nước kia, tìm những đồng minh và cô lập các kẻ thù và do đó đánh bại từng nước một. Không bị lệ thuộc vào nước nào, năm 546 trước TL, một nước nhỏ là nước Tống đề xướng một hội nghị giữa các nước lớn. Một thỏa ước đa phương và một thệ ước không xâm lăng các nước láng giềng đã đạt được sau nhiều vận động ngầm. Hiệp định đó dọn đường cho một thời gian hòa bình kéo dài hơn 40 năm.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:25:18 am
3.   Ý NIỆM QUỐC PHÒNG VÀ ĐẠI CHIẾN LƯỢC THỜI TIÊN TẦN
 Như đã đề cập trước đây, nhiều cuộc tranh luận về tác giả và thời kỳ soạn thảo được đặt ra cho một số binh thư nói là viết thời Xuân Thu, Chiến Quốc. Tuy nhiên, hầu hết các học giả nghiên cứu về triết học quân sự của Trung Hoa đều đồng ý trên nguyên tắc rằng Lục Thao, Tôn Tử, Ngô Tử, Tư Mã Pháp và Úy Liễu Tử quả thực được sản sinh vào thời Xuân Thu hay Chiến Quốc. Cho nên thảo luận của chúng tôi nơi đây chỉ giới hạn trong những tác phẩm không bị nghi vấn mà thôi. 
Tại Trung Hoa thời cổ, không có một phân định rõ rệt giữa cấp chỉ huy quân sự và quan lại. Những nhà quí tộc làm quan trong thời bình cũng được huấn luyện và giữ nhiệm vụ binh bị trong thời chiến. Người Trung Hoa hãnh diện gọi hệ thống này là Văn Võ Hợp Nhất, có nghĩa là kết hợp giáo dục văn chương với kỹ thuật binh bị chiến đấu. Trong nhiều trường hợp, các sách vở chỉ đề cập sơ lược đến quân sự mà thôi. Tuy nhiên theo quan niệm tân thời, những vấn đề không liên quan đến quân sự được đề cập đến trong sách có thể coi như những quan niệm căn bản của chiến lược quân sự. Hai chương đầu của sách Lục Thao bàn về các đề mục xã hội kinh tế và chính trị và đã được Từ Bội Căn (Xu Peigen) coi như những chiến lược cách mạng hay chiến lược chính trị. Ngô Tử bắt đầu bằng thiên Đồ Quốc (Tuguo) liên quan chính đến nguyên tắc cai trị. Úy Liễu Tử bàn về tương quan giữa hành quân và hệ thống xã hội -chính trị nhiều hơn bất cứ tác giả nào khác. Ông còn để tâm đến cả quản trị thị trường vì điều đó hữu ích cho việc sưu tầm tin tức và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Ông viết:
 Nếu người ta bỏ quên quản trị thị trường, thì không thể thắng trận dù cho họ có một lực lượng khéo tổ chức. 
Tôn Tử tập trung chính yếu vào các đề mục quân sự nhưng ông cũng không bỏ qua sự quan trọng của các chiến lược chính trị. Quan niệm quốc phòng và đại chiến lược thảo luận trong các binh thư cổ có thể giản lược như sau: 
A.   Thái độ đối với Chiến Tranh
 Rất ít chiến lược gia Trung Hoa thời cổ chịu đưa ra một định nghĩa về thế nào gọi là chiến tranh trong sách của họ nhưng họ đều quan tâm việc làm sáng tỏ nguyên nhân và mục đích của chiến tranh. Khi thảo luận về các tiết mục này hầu hết đưa ra một thái độ rõ ràng về chiến tranh. 
Dựa vào các động lực dẫn đến chiến tranh, các chiến lược gia Trung Hoa thời cổ chia ra làm hai loại: chiến tranh công chính và chiến tranh không công chính. Chiến tranh công chính có thể chấp nhận, còn không công chính nên tránh.
  Là một nhà cách mạng, Thái Công tin rằng chiến tranh cách mạng chỉ có thể khởi sự khi Trời đã chứng tỏ sự bất bình với một bạo chúa bằng hình thức thiên tai. Nói khác đi, một cuộc dấy loạn chỉ có thể được hợp thức khi chính quyền hết sức áp bức. Ngô Tử liệt kê năm động lực cho phép nhà cầm quyền gây chiến: danh tiếng, lợi điểm, oán thù, rối loạn và đói kém. Dựa trên những đông lực đó, ông tiến xa hơn để xếp loại chiến tranh vào công chính, hung hăng, cuồng nộ, nghịch ngợm và nổi loạn. Chiến tranh để trấn áp bạo quyền hay dẹp loạn là công chính. Các loại khác là không công chính.
  Cũng như Ngô Tử, Úy Liễu Tử được coi như Pháp gia nhưng những quan điểm về chiến tranh của ông lại rút ra từ các nguyên tắc của Khổng giáo.
 Chiến tranh không được dùng để tấn công một quốc gia hiền lương và giết người vô tội ... Chỉ nên dùng để trừng trị những kẻ gây ra tội ác như bạo loạn, tàn độc, chuyên chế và ngăn chặn các hành vi bất chính. Như thế, Úy Liễu Tử cũng chống lại chiến tranh không công chính. 
Về phần Tôn Tử, lý do duy nhất của chiến tranh là Lợi. Ngoài lợi ra, không còn gì khác. Tuy nhiên, thái độ cẩn trọng của ông đối với chiến tranh khiến cho người đọc cảm thấy có sự phân biệt giữa công chính và không công chính trong tư tưởng của ông. Chẳng hạn như ông viết là ”môt quốc gia không nên gây chiến chỉ vì giận dữ, một tướng lãnh không chiến đấu chỉ vì hận thù”4. Vì thế, ”nếu không nguy thì đừng đánh ” (phi nguy bất chiến). Điều đó cho thấy ông chỉ ủng hộ chiến tranh tự vệ và không xâm lăng mà thôi.
4 Nguyên văn: Chủ bất khả dĩ nộ nhi hưng sư, tướng bất khả dĩ uẩn nhi chí chiến, Tôn Tử Binh Pháp, Hỏa Công Thiên
Từ quan niệm về chiến tranh và các mục tiêu của nó, rõ ràng là đa số các chiến lược gia Trung Hoa thời xưa nhìn thấy chiến tranh là phương tiện để gìn giữ công chính và ngăn ngừa không công chính. Phát biểu tiêu biểu có thể rút ra từ Tư Mã Pháp5, vốn được các học giả Trung Hoa coi như mô thức cho các luật lệ quân sự thời cổ chỉ đạo quốc phòng thời Tiên Chu:
 Thời xưa, vua cai trị quốc gia bằng điều nhân trên nguyên tắc của điều nghĩa. Đó là hình thức thông thường. Tuy nhiên, nếu nhân trị không đạt được kết quả thì phải dùng lực. Có thể giết kẻ gây rối loạn và mất an ninh cho quần chúng, cũng có thể tấn công một quốc gia để cứu hay giải phóng nhân dân khỏi ách bạo ngược. Dùng chiến tranh để ngăn ngừa chiến tranh là điều có thể chấp nhận được.6
 Có ba loại chiến tranh công chính tại Trung Hoa thời cổ:
 Loại đầu tiên là chính quyền trung ương khởi binh để trừng trị các chư hầu chống lại triều đình. Đây là hình thức được chấp nhận là công chính trong hệ thống chính trị cổ truyền. 
Loại thứ hai là chiến tranh khởi loạn hay chiến tranh cách mạng, chỉ được coi là công chính khi nhà vua vượt quá giới hạn của người cầm quyền và gây nhiều khổ sở cho dân. Loại chiến tranh này cũng được triết học cổ Trung Hoa ủng hộ. Các Nho gia thường nhắc lại lời Mạnh Tử công chính hóa một cuộc cách mạng và xử tử một vị vua bạo ngược:
Tư Mã Pháp không phải là tên người. Điền Nhương Tư nước Tề thời Xuân Thu được phong chức Tư Mã nên thường gọi là Tư Mã Nhương Tư (lại đừng lầm với Tư Mã Tương Như là một thư sinh có tiếng đàn tuyệt diệu). Tư Mã là chức quan võ trước đời Chu, đời Hán đổi thành Đại Tư Mã là một trong Tam công, trông coi binh mã của một quốc gia (sau đổi thành Binh Bộ Thượng Thư) (Theo Trung Quốc Lịch Sử Từ Điển, Nghiêm Thái Bạch, Hi Đại Thư Cục 1981, Đài Bắc trang 56). Tư Mã Pháp nghĩa là Tư Mã Binh Pháp, tác phẩm do Điền Nhương Tư viết (cũng như Tôn Tử Binh Pháp, Gia Cát Lượng binh pháp ...). Đời sau hay lẫn lộn tưởng Tư Mã Pháp là tên người họ Tư Mã (như Tư Mã Ý). Trong tác phẩm này cũng không phân định rõ rệt, đôi chỗ tưởng như tên người. Để tôn trọng nguyên văn, chúng tôi chỉ dịch theo tác giả 6 Nguyên văn: Cổ giả, dĩ nhân vi bản, dĩ nghĩa trị chi chi vi chính. Chính bất hoạch ý tắc quyền quyền xuất ư chiến, bất xuất ư trung nhân. Thị cố, sát nhân an nhân, sát chi khả dã. Công kỳ quốc, ái kỳ dân, công chi khả dã. Dĩ chiến chỉ chiến, tuy chiến khả dã. (Tư Mã Pháp quyển thượng, Nhân Bản thiên)
Kẻ nào làm mất đức nhân là kẻ trộm cướp, kẻ nào làm mất đức nghĩa là kẻ tàn bạo. Tặc và tàn chỉ là dung phu. Tôi nghe nói có giết một kẻ tên là Trụ, nhưng tôi không nghe nói giết vua.7
 Loại thứ ba là chiến tranh khởi đầu bởi một chư hầu chống lại một chư hầu khác. Hiện tượng đặc biệt này xảy ra khi thiên tử vô cùng suy yếu. Dù như vậy, vẫn bị ảnh hưởng bởi quan niệm chính trị cổ nên các chiến lược gia quân sự cũng gắn liền với nguyên tắc công chính. Tuy nhiên các chiến lược gia thời đại này cũng thận trọng vì ảnh hưởng quan niệm chung của các triết gia là chống chiến tranh. Tôn Tử, như đã đề cập ở trên, cảnh cáo các nhà cai trị là ”không nguy hiểm thì đừng gây chiến”. Ngô Tử nói với Văn Hầu là ”có vua Hữu Hỗ (Yu Hu) chỉ thị vào sức mạnh quân sự nên bị mất ngôi”8. Ông cũng nói là ”thắng trận thì dễ nhưng giữ được cái kết quả của sự thắng trận mới là khó” 9. Cho nên bậc quân vương không nên gây chiến chỉ để vui chơi. Úy Liễu Tử cũng có một triết lý tương tự là chiến tranh không thể chi phí bằng tiền của nhân dân chỉ để cho vua thỏa mãn cái tư tâm của mình. Ông chỉ đồng ý với chiến tranh tự vệ mà thôi. 
Khi cần phải sử dụng võ lực, chúng ta không nên khởi chiến mà chỉ phản công khi kẻ địch đã động binh. Thế nhưng dù không gây chiến cũng phải chuẫn bị sẵn sàng để chiến đấu tự vệ.
Tư tưởng biện minh cho thái độ này cũng tìm thấy trong Tư Mã Pháp như sau:
Nước lớn mà ham chiến tranh cũng sẽ mất, thiên hạ tuy yên mà không chuẩn bị chiến tranh ắt cũng sẽ nguy10
 7 Nguyên văn: Tặc nhân giả vị chi tặc, tặc nghĩa giả vị chi tàn. Tàn tặc chi nhân, vị chi nhất phu. Văn tru nhất phu Trụ hĩ, vị văn thí quân dã. (Mạnh Tử, Lương Huệ Vương hạ)
8 Nguyên văn: Hữu Hỗ thị chi quân, thị chúng hiếu dũng, dĩ táng kỳ xã tắc, (Ngô Tử binh pháp, Đồ quốc thiên)
9 Nguyên văn: Nhiên chiến thắng dị, thủ thắng nan
10Nguyên văn: Cố quốc tuy đại, hiếu chiến tất vong. Thiên hạ tuy an, vong chiến tất nguy. (Tư Mã Pháp, Nhân Bản thiên)
Triết học đó đã ảnh hưởng rất lớn đến thái độ của người Trung Hoa về chiến tranh. Thái độ đó còn tồn tại đến ngày nay. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:25:56 am
B.   Loại trừ các nguyên nhân gây ra Chiến tranh
 Theo quan điểm cũ về thiên hạ, Trung Hoa không giống một quốc gia thời nay. Vua nước Tàu được gọi là Thiên Tử, được coi là biểu tượng của đạo đức và hòa hài. Ngày nào nhà vua còn thi hành nhân chính, đối xử thân ái và gương mẫu cho mọi người, Trời còn thương và giúp cho thanh bình trù phú, ngày đó còn có Mệnh Trời. Mọi người sống trong thiên hạ đều là thần dân và phải có nhiệm vụ trung thành với nhà vua. Qui tắc đó không phải chỉ áp dụng cho người Trung Hoa mà trên một mức độ nào đó áp dụng cho cả những dân tộc man di ở biên giới. 
Để làm tròn nhiệm vụ gìn giữ hòa bình và trật tự, nhà vua có trách nhiệm loại trừ tất cả những gì đang hoặc có thể gây ra bạo loạn làm gián đoạn thanh bình của vương quốc. Sự rối loạn tồi tệ nhất chính là chiến tranh. Chiến lược quốc gia dùng trong trấn áp bạo loạn và ngăn ngừa chiến tranh là phú và cường. Giàu có nhờ quản trị kinh tế quốc gia, mạnh mẽ nhờ chuẩn bị quân sự.
  Như Thái Công đã đề cập trong Lục Thao, nếu quốc gia nghèo (hay chưa đủ giàu có), thì không có cách gì có thể thi hành đức Nhân. Cho nên, nhà vua phải tìm cách làm cho nước giàu. Thực tế là có giàu mới mạnh được. Theo Thái Công, bậc quân vương phải quản trị cho khéo léo 3 kho lẫm: nông nghiệp, kỹ nghệ và thương mại. Khi nhân dân được phép làm ăn riêng, quốc gia sẽ đủ ăn, đủ dùng và nhà vua sẽ được yên ổn. 
Tư Mã Pháp khuyên nhà vua nên cai trị hợp với đạo trời và phát triển kinh tế. Có như thế, các chư hầu mới có thể tuân phục và được các lân bang liên minh. Được vậy thì ngục thất trống rỗng và chiến tranh sẽ không xảy ra. 
Tôn Tử và Ngô Tử, trên cương vị một chiến lược gia, không để ý nhiều đến các chính sách xã hội -chính trị trong các vấn đề họ đưa ra ngoại trừ nhận định rằng những vấn đề đó có thể ảnh hưởng đến tiềm năng chiến tranh. Chẳng hạn như Tôn Tử cho rằng người lãnh đạo phải vun trồng Tu Đạo (Xiu Dao) và duy trì một tổ chức hay hệ thống thích hợp (Bảo Pháp) ngõ hầu đưa tới những chính sách thắng lợi.11
 Nếu được như thế, dân chúng sẽ hoàn toàn ủng hộ nhà cầm quyền và sẽ theo tới cùng không nề nguy hiểm.12
 Ngô Tử tin rằng nếu bậc quân vương chuẩn bị chiến tranh với một nước khác, trước hết ông phải dạy cho dân và thể hiện tình lân tuất đối với họ. Nếu người dân biết rằng nhà vua yêu thương và xót xa khi họ chết, họ sẽ sát cánh với nhà vua đối phó với các vấn đề khó khăn và cảm thấy tiến lên chết cho quốc gia là một điều vinh hạnh, xấu hổ khi thụt lùi để bảo tồn mạng sống.13 
Tôn Tử và Ngô Tử thực sự quan tâm chỉ là làm sao thắng trận. Hòa hài và trật tự là những điều họ đề cập nhưng không nói tới phát triển kinh tế. 
Úy Liễu Tử nhấn mạnh vào chiến thắng bằng Đạo hay ảnh hưởng luân lý. Thắng bằng Đạo là thắng lợi của nhà cầm quyền, là thắng lợi mà không cần phải dương oai diệu võ. Làm sao có thể đạt tới thắng lợi đó ? 
Bậc quân vương phải quan tâm đến tất cả mọi người dân sống trong nước và không để một tấc đất bỏ hoang. Khi đất được cày cấy, nước sẽ giàu và dân sẽ no đủ. Do đó, dân tăng lên và được cai trị một cách thích dáng, nước sẽ yên. Khi nước giàu có và yên ổn, thì nhà cầm quyền đủ tư cách để cai trị Thiên Hạ. Những chiến lược gia thời cổ dường như tin rằng nếu nhà vua cai trị quốc gia bằng đạo đức
 11 Nguyên văn: Thiện dụng binh giả, tu đạo nhi bảo pháp, cố năng vi thắng bại chi chính. (Tôn Tử Binh Pháp, Quân Hình Thiên)
 12 Nguyên văn: Kim dân dữ thượng đồng ý, khả dữ chi tử, khả dữ chi sinh, nhi bất úy nguy dã.(Tôn Tử Binh Pháp, Thủy Kế Thiên)
13 Nguyên văn: Tích chi đồ quốc gia giả, tất tiên giáo bách tính nhi thân vạn dân. Dân tri quân chi ái kỳ mệnh, tích kỳ tử, nhược thử chi chí, nhi dữ chi lâm nan, tắc sĩ dĩ tiến tử vi vinh, thoái sinh vi nhục hĩ. (Ngô Tử Binh Pháp, Đồ Quốc thiên)
và nhân chính thì không những có thể giữ cho đất nước thanh bình và trật tự mà còn có thể khiến cho các nước khác thần phục Trung Hoa. Nếu được như thế thì rối loạn hay chiến tranh sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, không phải vì thế mà loại hẳn việc quân sự. Khổng Tử nhấn mạnh đến cả lương thực lẫn khí giới đối với một chính quyền. Ông còn nhắc nhở là nếu nhà vua không dạy cho thần tử kỹ thuật binh bị thì cũng là bỏ rơi họ.14 Úy Liễu Tử cho rằng chuẩn bị chiến tranh cũng quan trọng chẳng khác gì chiến đấu. 14 Dĩ bất giáo dân chiến, thị vị khí hĩ. (Luận Ngữ, Tử Lộ).
 Đối với các chiến lược gia cổ thời, khi nào đất nước còn phú cường, thì còn khiến cho vui lòng kẻ gần và lôi cuốn kẻ xa. Triết học đó sau này được các Pháp gia chấp nhận và nhấn mạnh vào sự quan trọng của sức mạnh trong tương quan giữa nước này với nước khác. Họ tin rằng khi nước mạnh thì các nước chung quanh sẽ thần phục, còn khi nước yếu thì lại phải triều cống nước khác. Do đó, các Pháp gia nhấn mạnh vào canh nông và chiến đấu là những chính sách chủ yếu trong nhiều nước thời Chiến quốc.
C.   Việc liên minh 
Thay vì dựa hoàn toàn vào việc loại trừ chiến tranh, các chiến lược gia thời xưa thường liên minh với các quốc gia khác để ngăn ngừa hay thủ thắng trong chiến trận. 
Như đề cập ở trên, vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc, các vương hầu đã phát triển tương quan giữa các quốc gia tương tự như liên hệ ngoại giao ngày nay để ngăn ngừa chiến tranh. Về sau, khi chiến tranh không thể tránh được, việc liên minh trở nên một phương thức quan trọng để làm mạnh cho ta và làm suy yếu địch. Tôn Tử có nói rằng:
Phá hủy sự liên minh của địch là phương thức hạng nhì trong việc thủ thắng, chỉ đứng sau việc tấn công vào chiến lược của địch. Đó là hình thức thắng mà không cần chiến tranh.
 Khi Ngô Tử bàn về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định của bậc quân vương có nên có chiến tranh hay không, ông nói rằng ” khi lân bang không đến giúp kẻ địch, thì có thể đánh mà không cần phải bói toán gì cả. Trái lại khi khắp nơi đổ về giúp đỡ và nước địch lại được các nước lớn giúp đỡ (tứ lân chi trợ, đại quốc chi viện), thì tốt hơn hết là nên tránh đi ”. Úy Liễu Tử lại không tin vào liên minh. Theo ông, một nước phải triều cống, nhượng đất để được đồng minh giúp đỡ thì đồng minh đó chưa thể tin được vì không binh lính nào đánh cho nước khác mà lại cũng hăng hái như đánh cho nước mình.
 Quan niệm tìm kiếm đồng minh trong thời Xuân Thu, Chiến Quốc là một hiện tượng độc nhất vô nhị giữa các chư hầu. Theo truyền thống Trung Hoa, nếu vì lý do nào đó mà vua đem quân đánh chư hầu hay nhung địch, thì nhà vua chỉ cần hặc tội người đó và truyền lệnh cho các nước khác đi theo chinh phạt. Các chư hầu bắt buộc phải theo mệnh vua mà đem quân đến giúp. Cho nên không có liên minh giữa Thiên Tử và chư hầu. 
Hình ảnh rõ rệt nhất về việc liên minh để giành quyền lực giữa các quốc gia sau thời Xuân Thu, Chiến Quốc là thời Tam Quốc. Vận dụng ngoại giao giữa các nước Ngụy, Thục, Ngô là những thí dụ rõ ràng trong việc tìm liên minh và phá liên minh của địch. Cùng với việc sử dụng gián điệp, việc liên minh và phá liên minh đã trở thành những phần vụ quan trọng trong chiến lược của người Trung Hoa. Dưới lý thuyết chiến tranh nhân dân, hoạt động bí mật do các tiểu tổ Cộng Sản đã có tác dụng hết sức lớn lao trong việc chiến thắng giữa Quốc Dân Đảng của Đảng Cộng Sản vào năm 1949. Mặt Trận Liên Minh là một chiến lược tuyệt diệu của Mao dùng để liên minh với nhiều giai tầng trong xã hội để chống lại kẻ thù. Tất cả những chiến lược đó đều tìm thấy trong các binh thư cổ. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:27:56 am
D.   Chuẩn bị chiến tranh
 Trước khi quyết định đi tới chiến tranh, cần phải chuẩn bị một số giai đoạn thì mới có thể bảo đảm chiến thắng.
a/ Lượng giá lực lượng địch và đặt kế hoạch cho chiến tranh
 Như Tôn Tử đã nói, chiến tranh là việc quan trọng sinh tử cho một quốc gia, con đường sống còn hay bị tiêu diệt. Cho nên, trước khi khởi chiến, nhà vua và cận thần phải đánh giá chính xác lực lượng địch trên cả hai phương diện chiến lược và chiến thuật để xem có thể thắng hay không và thắng như thế nào.
 Trên phương diện chiến lược, đấng quân vương và triều đình phải quan tâm đến các vấn đề sau: tình trạng kinh tế và xã hội chính trị của địch, các tương quan quốc tế, tài nguyên chiến tranh, khả năng chiến đấu và đạo đức của quân địch, tổ chức cơ ngũ của họ và khu vực chiến trường. 
Các vấn đề chiến thuật quan trọng nhất là việc sử dụng lực lượng quân sự trong những điều kiện có sẵn để đạt một số mục tiêu chiến lược. Cơ ngũ của địch, tinh thần binh sĩ, tiếp liệu và địa hình , thời tiết và các yếu tố ngẫu nhiên khác trên chiến địa cũng có thể hưởng đến hành quân cần phải lượng giá một cách chính xác vào thời gian các tướng lãnh tại mặt trận.
 Trong việc lượng giá sức mạnh của địch, một số chiến lược gia thời xưa như Tôn Tử và Thái Công chẳng hạn thảo luận cả chiến lược lẫn chiến thuật một cách chi tiết, những người khác chỉ đề cập sơ qua mà không phân biệt đâu là chiến lược đâu là chiến thuật.
 Trong phần này chúng tôi sẽ chủ yếu bàn về các vấn đề chiến lược còn các vấn đề chiến thuật sẽ để ở phần sau. 
Theo Tôn Tử, chiến tranh bị chi phối mạnh mẽ bởi 5 yếu tố quan trọng. Đó là tinh thần binh sĩ, thời tiết, địa hình, cấp chỉ huy, quân luật và tổ chức. Khi quyết định những điều kiện quân sự, các yếu tố đó được dùng làm căn bản để so sánh với 7 trạng thái: vua nào có chính nghĩa, tướng nào có tài hơn, quân đội nào có lợi thế về thiên nhiên và địa hình, bên nào quân luật và lệnh lạc được thi hành nghiêm chỉnh hơn, quân đội nào mạnh hơn, bên nào có các cấp chỉ huy huấn luyện kỹ hơn, bên nào thưởng phạt công minh hơn.15 
Nếu tính toán kỹ lưỡng dựa trên những yếu tố và trạng thái nêu trên, người ta có thể tiên đoán bên nào thắng, bên nào bại.
 Để lượng giá địch quân, Ngô Tử đưa ra một số nhận xét về tình trạng quân sự của các quốc gia căn cứ vào tính chất và tình trạng chính trị của mỗi nước. Ông không phân biệt các vấn đề chiến lược với các vấn đề chiến thuật. Chẳng hạn như khi lượng giá về tình trạng địch quân, ông đưa ra 8 điều kiện có thể đánh mà không cần bói toán. Tất cả những trường hợp đó đều có những lợi điểm đặc biệt trên chiến trường khiến có thể tấn công ngay. Thí dụ ”vào lúc có gió lớn hay đại hàn địch quân dậy sớm để phá băng nên mỏi mệt, thứ hai là nóng nực giữa mùa hạ dậy trễ ...thứ tám là khi địch quân chưa hàng ngũ chỉnh tề, chưa đóng trại hay khi tiến vào vùng đồi núi ...16
 Tất cả những dữ kiện trên thuộc về chiến thuật. Tuy nhiên, ông cũng liệt kê 6 tình huống hoàn toàn nên tránh tấn công địch vì là những vấn đề chiến lược. Chẳng hạn như:
Thứ nhất là địch quốc rộng, dân đông và giàu có.
Thứ hai, khi người trên yêu thương kẻ dưới và lòng nhân của họ lan tràn khắp nơi.
 Thứ ba là thưởng phạt phân minh và cai trị thích đáng.
Thứ tư là người có tài được trọng dụng, người khôn ngoan được giao trách nhiệm và người có khả năng được giao công việc.
 Thứ năm là quân đội lớn và trang bị đầy đủ.
 Thứ sáu là được sự giúp đỡ khắp mọi nơi và những nước mạnh phò tá.
Nói chung là nếu không bằng địch quân trong những điều kiện này thì nên tránh.17

15 Nguyên văn: Sở vị ngũ cá cơ bản vấn đề bất ngoại hồ đạo, thiên, địa, tướng dữ pháp. Cố kinh chi dĩ ngũ sự, hiệu chi dĩ kế, nhi sách kỳ tình: nhất viết đạo, nhị viết thiên, tam viết địa, tứ viết tướng, ngũ viết pháp. Viết quân thục hữu đạo, tướng thục hữu năng, thiên địa thục đắc, pháp lệnh thục hành, binh chúng thục cường, sĩ tốt thục luyện, thưởng phạt thục minh, ngô dĩ thử tri thắng phụ hĩ. (Tôn Tử Binh Pháp, Thủy Kế Thiên)
16 Nguyên văn: Phàm liệu địch, hữu bất bốc nhi dữ chi chiến giả bát: nhất viết tật phong đại hàn, tảo hưng ngụ quyển, phẫu băng tế thủy, bất đạn gian nan. Nhị viết thịnh hạ viêm nhiệt, yến hưng vô gián, hành khu cơ khát vụ ư thủ viễn ... Bát viết trận nhi vị định, xá hi vị tất, hành phản thiệp hiểm, bán ổn bán xuất, chư như thử giả kích chi vật nghi. (Ngô Tử Binh Pháp, Liệu Địch Thiên)
17 Nguyên văn: Nhất viết thổ địa quảng đại, nhân dân phú chúng. Nhị viết thượng ái kỳ hạ, huệ thi lưu bố. Tam viết thưởng tín hình sát, phát tất đắc thời. Tứ viết trần công cư liệt, nhiệm hiền sử năng. Ngũ viết sư đồ chi chúng, binh giáp chi tinh. Lục viết tứ lân chi trợ, đại quốc chi viện. Phàm thử bất như địch quân, tị chi vật nghi. (Ngô Tử Binh Pháp, Liệu Địch Thiên)
 Sáu trường hợp này cũng tương tự với 5 yếu tố căn bản mà Tôn Tử đã nói tới, là những điều triều đình cần phải lượng định chính xác trước khi ra quân. Không một yếu tố nào trong những yếu tố này lại có thể quyết định tại mặt trận sau khi đã khởi binh.
 Để chuẩn bị cho chiến tranh, Úy Liễu Tử nhấn mạnh sự cải thiện tình trạng kinh tế -xã hội và chính trị quốc gia. Việc củng cố các trung tâm kinh tế và dân cư, việc khẩn hoang, lôi cuốn dân ngụ cư để quốc gia thêm trù phú an ninh đều là những chiến lược quan trọng. Để theo đuổi những chiến lược này, theo Úy Liễu Tử, bậc quân vương phải bành trướng thẩm quyền ra khắp thiên hạ mà không phải dùng đến việc binh. 
Ông không bàn cãi về việc làm cách nào để lượng giá địch và làm sao để quyết định là có gây chiến hay không ngoại trừ việc nói là ”khi nhìn thấy có thể thắng, thì hãy đánh, nếu không thì tránh đi”. Tuy nhiên, ông đề nghị một kế hoạch năm giai đoạn cho chiến tranh: trước hết, quyết định những chiến lược căn bản trong buổi họp với bách quan, cử nguyên soái, đặt kế hoạch tấn công và chiến lược tự vệ, và sau cùng là khởi chiến. Ông nhấn mạnh vào chiến lược phá hủy tinh thần quân địch để ép chúng phải rút lui mà không cần đánh. 
Thái Công thảo luận về những vấn đề chiến lược trong gần một nửa đầu của cuốn Lục Thao. Ông phân tách các chiến lược chính trị kể cả các chính sách quốc nội, các chính sách cá nhân, việc sử dụng thủ đoạn, và các nguyên tắc hành quân. Một số những vấn đề này liên quan tới việc lượng định sức mạnh của địch.
 Thái Công rất quan tâm về việc củng cố sức mạnh của lực lượng cách mạng và làm suy yếu sức mạnh của địch trước khi khởi sự. Ông khuyên Văn Vương vun trồng đức độ, kính trọng hiền tài và thi hành nhân chính trong nước để được đại chúng ủng hộ. Đồng thời, ông đề ra nhiều thủ đoạn kể cả hối lộ, mỹ nhân kế, gián điệp hầu tạo ra tham nhũng, mất trật tự, và loạn lạc trên đất địch để phá vỡ sự đoàn kết chính trị và quân sự. Ông cẩn thận quan sát những thay đổi trên các chính sách của địch, đạo đức và tính hạnh của từng cá nhân, những cận thần tâm phúc và những người thân với vua hay bị vua xa lánh. Khi thấy kẻ địch bị thiên tai và nhân họa nặng nề, ông mới khuyên Văn Vương nổi dậy. Ông lượng định tình trạng của nhà Thương và nói với Văn Vương là ”thiên tử nhà Thương đã bị bao vây bởi cận thần phản phúc và xấu xa và đắm mình trong sắc dục với tì thiếp, không làm tròn nhiệm vụ. Hơn nữa, ruộng nhiều cỏ hơn là lúa, triều đình nhiều kẻ xấu và gian hơn là trung lương hiền đức, quan lại áp bức nhân dân không còn đếm xỉa gì đến luật lệ hay lương tâm. Đây là lúc nước đang sắp đổ”. Sau khi phân tích như thế, Thái Công khuyên Văn Vương nếu giương cao ngọn cờ cách mạng và khởi binh thì quân đi đến đâu, mọi người sẽ công nhận quyền lãnh đạo và theo ông tới đó.
Trên phương diện chiến thuật, Thái Công cũng giống Tôn Tử và Ngô Tử. Ông nhấn mạnh các nguyên tắc quan sát trực tiếp tại mặt trận và áp dụng mưu mẹo tùy theo địa hình, thời tiết và các điều kiện khác. Những vấn đề đó sẽ được bàn trong những phần sau. 
Cũng như Úy Liễu Tử, khi bàn về chuẩn bị chiến tranh, Tư Mã Pháp chú trọng đặc biệt đến việc thiết lập pháp chế, cắt đặt đúng người, vận động để cho nhân dân ủng hộ chiến tranh và tích trữ chiến cụ ... Sau đó, nhà vua còn phải xét 5 yếu tố: thiên nhiên, vật liệu, tinh thần, địa hình và khí giới. Dùng những yếu tố đó để lượng định, nhà vua có thể tiên tri được sẽ thắng hay không. Đó là những vấn đề chiến lược cần quan tâm nghiên cứu trước khi ra quân. Khi bàn về những nguyên tắc của hoạt động chiến thuật tại chiến trường, Tư Mã Pháp thực sự chỉ liệt kê trong hoàn cảnh nào phải làm gì. Thí dụ như ”không đoàn quân nào bị bắt phải chiến đấu liên tục trên ba ngày, không binh đội nào phải chiến đấu liên tục trên nửa ngày và không binh sĩ nào bị bắt phải chiến đấu liên tục trên 2 giờ”
 b/ Việc tuyển tướng và tính độc lập của đạo làm tướng
  Việc đề cử các tướng và tính độc lập của tư cách chỉ huy luôn luôn là những vấn đề quan yếu trong nghệ thuật chiến tranh thời xưa. Tài năng và đức độ của một vị tướng được coi là những yếu tố quan trọng có thể ảnh hưởng đến kết quả trận chiến. Khi một vị tướng được chỉ định thống lãnh quân đội ra trận, việc đăng đàn bái tướng là một đại sự. Đích thân nhà vua phải chủ tọa và hành lễ trao toàn quyền để vị tướng có thể hành xử một cách độc lập tại mặt trận mà nhà vua không được can thiệp đến. 
Theo Tôn Tử, một tướng giỏi phải có những đức như khôn ngoan, thành thực, nhân hậu, can đảm và nghiêm minh. Nếu có đủ những đức tính đó và được trao cho binh quyền thì nhà vua phải tin tưởng vào sự quyết định của vị tướng đó mà không tự mình chỉ huy quân lính. Một đấng quân vương có thể đem lại đại họa nếu không biết gì về việc binh mà lại muốn nắm quyền ban hành lệnh lạc. Cho nên, Tôn Tử đề nghị là có những trường hợp lệnh của vua không phải thi hành.18
Ngô Tử tin rằng vị tướng phải có cả khả năng cai trị lẫn khả năng điều quân. Ông ta phải chú tâm vào 5 vấn đề: hành chánh, chuẩn bị, quyết tâm, cẩn trọng và kinh tế. Dĩ nhiên ông ta phải hết sức đức độ, nhân từ và can đảm để lãnh đạo. Nếu đất nước có những vị tướng như thế ắt sẽ mạnh. Nếu mất các người tài như thế sẽ bị tổn hại lớn.19
18 Nguyên văn: Bất tri tam quân chi sự, nhi đồng tam quân chi chính, tắc quân sĩ hoặc hĩ. Bất tri tam quân chi quyền, nhi đồng tam quân chi nhiệm, tắc quân sĩ nghi hĩ. Tam quân ký hoặc thả nghi, tắc chư hầu chi nạn chí hĩ. Thị vị loạn quân dẫn thắng. (Tôn Tử, Mưu Công thiên)
19 Nguyên văn: Cố tướng chi sở thận giả ngũ: nhất viết lý, nhị viết bị, tam viết quả, tứ viết hình, ngũ viết ước. Nhiên kỳ uy đức nhân dũng, tất thị dĩ tất hạ an chúng, bố địch quyết nghi, thi lệnh nhi hạ bất phạm, sở tại khấu bất cảm địch. Đắc chi quốc cường, khứ chi quốc vong, thị vị lương tướng. (Ngô Tử, Luận Tướng Thiên)
  Úy Liễu Tử ví tướng như trái tim mà phụ tá như chân tay. Khi vị tướng chỉ huy tại trận tiền, ông phải hoàn toàn chỉ huy dựa trên phán đoán của mình chứ không dựa vào thiên văn hay địa lý (theo nghĩa huyền bí) . Ông ta cũng phải bỏ qua lệnh của nhà vua và không màng đến sự hiện diện của kẻ thù. Ông ta phải can đảm như hổ lang và hành động nhậm lẹ như sấm chớp. Ông ta cũng không dễ dàng nổi nóng hay bị mua chuộc. Những đức tính đó là căn bản để cho vị tướng có thể được ban cho toàn quyền chỉ huy. Úy Liễu Tử nhấn mạnh đặc biệt vào kỷ luật nghiêm minh. Không dung tha bất cứ ai phạm pháp. Tử hình là hình phạt duy nhất. Ông viết:
Ta nghe nói tướng giỏi thời xưa kẻ nào dám giết đi một nửa quân của mình nếu họ phạm tội là kẻ bình được thiên hạ, dám giết đi một phần ba thì làm nên nghiệp bá, kẻ nào dám giết một phần mười thì chắc chắn rằng lệnh ban ra quân sĩ phải theo.
 Kỷ luật nghiêm khắc có một hậu quả to lớn đối với quân đội của Trung Hoa. Tuy nhiên không phải Úy Liễu Tử chỉ đặt nặng vấn đề giết chóc. Ông cũng đề cao việc tướng lãnh phải có đức độ để làm gương cho sĩ tốt. Chẳng hạn như khi gặp khó khăn, kẻ làm tướng phải đích thân tham gia, chia xẻ khó khăn với binh lính. Ông viết:
Tướng không được che dù khi trời nắng gắt, cũng không được mặc áo ngoài khi trời lạnh giá. Khi có đường khó trước mặt, tướng phải xuống xe, xuống ngựa đi bộ với lính. Không đủ nước cho binh sĩ thì không được uống, không đủ thực phẩm cho binh sĩ thì không được ăn, không được dựng lều khi lính chưa hạ trại. Dù khó khăn tới mức nào thì tướng lãnh cũng phải chia xẻ với binh lính. Nếu tướng lãnh còn giữ được như thế thì binh đội còn tinh thần.
Khi đề cập đến việc độc lập trong chỉ huy, Thái Công đã viết thêm: 
Vấn đề quân sự không lệ thuộc vào lệnh của nhà vua. Mọi lệnh lạc đều do tướng.
Để bảo đảm rằng tướng có quyền chỉ huy độc lập, Thái Công nhấn mạnh vào nghi thức phong tướng. Nhà vua phải công khai tuyên bố một cách nghiêm trang giao toàn quyền cho vị nguyên nhung.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:28:21 am
c/ Các vấn đề hậu phương và tiếp liệu từ quân địch
 Bất cứ viên chức chỉ huy quân sự nào cũng biết rằng tiếp liệu thiếu thốn sẽ làm suy giảm nghiêm trọng sức chiến đấu. Nếu thiếu thốn quá, sự tồn vong của đoàn quân cũng bị đe dọa. Các chiến lược gia cổ thời của Trung Hoa rất quan tâm tới vấn đề này. Tôn Tử bàn rất chi tiết. Khi tính toán sự tốn phí của một đạo quân 10 vạn người, ông viết:
 Trong việc điều hành chiến đấu, nếu trên chiến trường có một ngàn cỗ xe, một ngàn cỗ xe bọc da trâu, mười vạn giáp binh, mang lương đủ cho một ngàn dặm, cả chi phí tại mặt trận lẫn ở nhà, kể cả đãi khách, từ món nhỏ như keo sơn, tiền tiêu cho các cỗ xe sẽ lên tới 1000 lạng bạc một ngày. Đó là tiền nuôi một đoàn quân mười vạn người.20
 Theo Tôn Tử, khi một đoàn quân giáp chiến, khí giới bị cùn nhụt, tổn thất, việc chiến phí quân dụng gia tăng càng gấp bội. Nếu chiến dịch kéo dài, quốc khố sẽ hao kiệt và hậu quả sẽ không biết ra sao. Để giải quyết vấn đề đó, ngoài việc khuyên nên thần tốc trong chiến tranh, ông còn đề nghị rằng ”kẻ giỏi dùng binh không phải đi chinh phạt đến hai lần, lương không vận tải quá ba bận” 21 .Thay vào đó, ông đưa ra ý kiến lấy lương thực của địch. Tôn Tử nói là ”quân lính có thể đem trang bị từ nước mình nhưng phải dựa vào lương thực của phía địch. Như thế thì sẽ có dư dả thực phẩm”. Nếu lấy được của địch thì ”một hộc của địch bằng hai mươi hộc của ta, một lượng của địch bằng hai mươi lượng của ta” 22
20 Nguyên văn: Phàm dụng binh chi p háp, trì xa thiên tứ, cách xa thiên thặng, thiên lý quĩ lương, tắc nội ngoại chi phí, tân khách chi dụng, giao tất chi tài, xa giáp chi phụng, nhật phí thiên kim, nhiên hậu thập vạn chi sư cử hĩ. ( Tôn Tử binh pháp, Tác Chiến Thiên)
 21thiện dụng binh giả, dịch bất tái tịch, lương bất tam tải
22cố trí tướng vụ thực vu địch, thực địch nhất chung, đương ngô trấp chung, kị cán nhất thạch, đương ngô trấp thạch
 Thực ra, Tôn Tử còn đề ra tư tưởng thu đoạt trang bị cũng như lấy binh lính của địch xung vào quân của mình. Khi lấy được chiến xa thì chỉ cần thay thế cờ hiệu là thành của mình. Các tù binh cũng phải đối đãi cho tử tế. Cái đó gọi là ”thắng một trận thì mạnh thêm lên” 23
 Dường như Ngô Tử không đồng ý với nguyên tắc này vì ông không cho phép binh lính cướp bóc các thị trấn chiếm được.
Khi quân hạ trại không được chặt cây, lấy hoa màu, giết gia súc hay đốt kho lẫm24
 Dù sao chăng nữa, quan điểm của Tôn Tử ”lấy của địch để cung cấp cho ta” đã hoàn toàn được các chiến lược gia Trung Hoa chấp nhận.
23thắng địch nhi ích cường (Tôn Tử Binh Pháp, Tác chiến thiên )
 24quân chi sở chí, vô san kỳ mộc, phát kỳ ốc, thu kỳ chúng, sát kỳ lục súc, phàn kỳ tích tụ.(Ngô Tử binh pháp, Ứng Biến thiên)


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:28:54 am
4.   CÁC NGUYÊN TẮC CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN THUẬT CHÍNH YẾU ĐỜI TIÊN TẦN
 Không có từ nào tương đương với hai chữ chiến lược và chiến thuật trong các tác phẩm quân sự đời xưa. Những từ dùng trong sách vở có ý nghĩa tương tự với chiến lược và chiến thuật có lẽ là thao lược và trận. Chữ trên có thể hiểu như chiến lược, chữ dưới chỉ có thể dịch ra là đội hình hay bố trí và theo một nghĩa rộng cũng là chiến thuật. Cũng như nhiều tác giả Trung Hoa trong các lãnh vực khác, các chiến lược gia quân sự thời xưa không đưa ra một định nghĩa nào cho những khái niệm này. 
Trong những tác phẩm hiện đại của Tây phương người ta không thể nào lẫn lộn giữa chiến thuật và chiến lược. Chẳng hạn như theo Karl V. Clausewitz, rõ ràng ông đặt hai vấn đề nêu trên ở hai mức độ khác nhau. Chiến lược nói về một cấp độ toàn thể và cao hơn trong khi chiến thuật có tính chất cục bộ và thấp hơn. Ông định nghĩa chiến thuật là lý thuyết dùng các lực lượng quân sự trong tác chiến, còn chiến lược là lý thuyết dùng kỹ thuật chiến đấu vào mục tiêu của chiến tranh. Trong khi vai trò của chiến thuật là quyết định đánh một trận cách nào và hình thức gì dùng trong trận đánh, vai trò của chiến lược liên quan tới khi nào, ở đâu và dùng lực lượng gì để đánh trận. Chúng tôi sẽ tóm lược các nguyên tắc chiến lược, chiến thuật chính trong các binh thư cổ của Trung Hoa và dành việc thảo luận sâu hơn về các vấn đề này trong các chương kế tiếp.
A.   Nguyên tắc Đánh Lừa
 Chiến tranh là một khoa học hay một nghệ thuật ? Clausewitz có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử hiện đại đặt câu hỏi một cách nghiêm chỉnh. Ông tin rằng nếu đứng trên lãnh vực trù liệu thì chiến tranh là một khoa học nhưng khi đánh giá thì lại nằm trong lãnh vực nghệ thuật. Các luật lệ hay nguyên tắc được đặt ra một cách khoa học còn áp dụng các nguyên lý đó vào chiến đấu thì lại là một nghệ thuật. Không có một thảo luận nào tương tự như thế trong các binh thư cổ của Trung Hoa nhưng trong các tác phẩm của Tôn Tử, Ngô Tử và nhiều người khác cho thấy là các chiến lược gia Trung Hoa đã bao gồm cả phương pháp khoa học lẫn nghệ thuật áp dụng trong chiến tranh trước Clausewitz đến 2500 năm. Chẳng hạn như Tôn Tử bắt đầu tác phẩm bằng chương trù liệu và tính toán (Thủy Kế Thiên) liệt kê 5 yếu tố căn bản có thể dùng để lượng giá tình trạng của địch quân và của chính mình. Kết quả của các lượng giá đó có thể giúp tiên tri được khả dĩ thắng hay bại. Những chi tiết tương tự cũng có thể tìm thấy trong Ngô Tử và các sách khác. Lượng giá tình hình địch được coi như ưu tiên một trước khi khởi chiến. 
Việc áp dụng các nguyên tắc khoa học vào trong chiến tranh có liên quan mật thiết với tin tức chính xác. Các tác giả binh thư cổ của Trung Hoa chú trọng đặc biệt tới việc thu lượm tin tức. Tôn Tử đã viết:
Biết được địch và biết chính mình, đánh một trăm trận sẽ không bao giờ nguy hiểm. Không biết địch mà chỉ biết mình, thắng hay thua có thể bằng nhau. Còn chẳng biết mình cũng chẳng biết gì về địch thì trận nào cũng nguy.25 
Tiến trình của biết chính thực là thu lượm và phân tích tin tức trong chiến tranh. Tin tức chính xác và lượng giá tình hình một cách đúng đắn về địch lẫn ta có thể cho ta cơ hội thắng trận. Thế nhưng nó không đương nhiên bảo đảm một chiến thắng. Người ta còn phải ngăn ngừa không cho địch biết tình trạng thực của mình và cho địch biết những tin tức sai lạc để đưa địch tới những quyết định khiến cho địch phải thua. Các chiến lược gia quân sự cổ thời gọi là áp dụng kỹ thuật đánh lừa. Nó đã trở thành một khuôn vàng thước ngọc trong các chiến dịch của Trung Hoa. Đây là một nghệ thuật. Trong việc áp dụng vào chiến tranh, Tôn Tử là người đầu tiên và cũng là người coi trọng nguyên tắc này nhất:
 Khi có khả năng thì làm như yếu đuối, khi hoạt động thì làm như không hoạt động. Khi ở gần thì làm như còn ở xa, khi ở xa làm như đã tới gần. Đem mồi nhử địch, làm như mất trật tự để đánh địch ... Làm cho tướng địch tức giận và rối loạn. Giả vờ như yếu kém để cho địch thêm kiêu căng. Làm cho địch căng thẳng để cho mỏi mệt. Khi địch đoàn kết thì chia rẽ họ. Tấn công lúc không phòng bị, bất ngờ khi địch không mong đợi.26
25 Nguyên văn: Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi. Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ. Bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại. (Tôn Tử binh pháp, Mưu Công Thiên)
26 Nguyên văn: Quỷ đạo giả, cố năng nhi thị chi bất năng, dụng nhi thị chi bất dụng, cận nhi thị chi viễn, viễn nhi thị chi cận. Lợi nhi dụ chi, loạn nhi thu chi, thực nhi bị chi, cường nhi tị chi, nộ nhi nhiểu chi, ti nhi kiêu chi, trật nhi lao chi, thân nhi li chi. Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý, thử binh gia chi thắng, bất khả tiên truyền dã. (Tôn Tử binh pháp, Thủy Kế Thiên)
 Thái Công cũng trình bày ý niệm tương tự trong Âm Mưu và Dụng Gián trong sách Lục Thao. Cả hai từ ngữ này đều nói về các mẹo dùng gián điệp. Ông ta gọi mưu kế đó là Văn Phạt nghĩa là gửi các điệp viên sang nước địch hoạt động. Những người đó không phải chỉ thu lượm tin tức mà còn dùng đủ mọi cách để gây rắc rối cho nước địch. Tiền bạc và nữ nhân là những phương tiện quan trọng dùng để làm cho địch băng hoại và để mua các gián điệp đôi.
Đánh lừa còn là một chiến lược quan trọng khi chiến dịch đang tiến hành. Thái Công nói với Văn Vương ”cho địch thấy mình rối loạn trong khi thực ra mình chỉnh tề, cho địch thấy mình đói trong khi mình no, cho địch thấy mình chậm lụt yếu đuối trong khi thực ra mình sắc xảo, mạnh mẽ ... nếu muốn tấn công bên tây thì đánh bên đông trước”. Những điều đó cũng y hệt các lời khuyên của Tôn Tử.
 Mặc dù nguyên tắc này vốn dĩ được áp dụng trong chiến tranh đã lâu nhưng vẫn thường bị chỉ trích. Các nho sĩ cho rằng việc dùng mưu kế, lừa dối vô hạn định trong chiến tranh là vô luân. Cho nên một số có khuynh hướng tán dương Ngô Tử trong việc nhấn mạnh nguyên tắc cổ truyền là đức nhân từ và đức chính trực trong chiến tranh. Tuy nhiên nếu tin rằng Ngô Tử không dùng mưu trong chiến tranh là điều ngây thơ. Câu sau đây cho ta thấy Ngô Tử nghĩ về mưu kế như thế nào:
Nếu tướng địch ngu ngốc hay tin vào kẻ khác thì ta có thể lừa y, đưa y vào bẫy. Nếu y tham lam vô sỉ thì có thể đút lót. Nếu y vô mưu và hay thay đổi ý, làm cho y mệt và kiệt sức. Nếu người trên giàu có, kiêu căng, người dưới nghèo khó, hận thù, thì chia rẽ họ.27 
27 Nguyên văn: Kỳ tướng ngu nhi tín nhân, khả trá nhi dụ, tham nhi vật danh, khả hóa nhi lộ, khinh biến vô mưu, khả lao nhi khốn, thượng phú nhi kiêu, hạ bần nhi oán, khả li nhi gián (Ngô Tử Binh Pháp, Luận Tướng Thiên)
Úy Liễu Tử cũng tin rằng dùng mưu là một phần cần thiết cho chiến tranh. ”Khi có lực, giả vờ như không, khi không có, làm như là có, phải luôn luôn cho địch những tin tức sai lầm để cho địch quyết định sai”
 Lý thuyết dùng mưu kế như một nghệ thuật áp dụng trong chiến tranh không giới hạn ở đó. Nó còn được dùng vào nguyên tắc Kỳ và Chính, Hư và Thực.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:29:44 am
 B/ Nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực 
Nếu người ta chấp nhận nguyên tắc lừa dối như là một lý thuyết căn bản trong Tôn Tử Binh Pháp thì người ta phải tin rằng nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực là một thực hành cần thiết cho việc dụng mưu. Tất cả những phân tích quan trọng của Tôn Tử đều liên quan đến Kỳ-Chính, Hư-Thực.
 Kỳ là viết tắt của Kỳ Binh, có thể được diễn dịch là lực lượng bất thường, Chính là Chính Binh là đối nghịch của Kỳ Binh hay có thể dịch ra là lực lượng bình thường.
 Hư là trống rỗng, Thực là chắc chắn dùng để chỉ sức mạnh của đội hình. Hư là khu vực yếu, Thực là khu vực mạnh. Kỳ -Chính, Hư -Thực là hai đôi đối nghịch chỉ các lực lượng có nhiệm vụ bổ túc lẫn nhau. Chẳng hạn như người ta có thể dùng lực lượng bình thường để đối trận nhưng dùng lực lượng bất thường để chiến thắng. Trong khi lực lượng bình thường cầm chân địch tại trận tiền thì lực lượng bất thường tấn công vào bên hông hay tập hậu. Phối hợp hai lực lượng này một cách thích hợp trong chiến dịch sẽ đem lại thắng lợi. Dù một lực lượng quân sự lớn cách mấy vẫn có mặt mạnh, mặt yếu. Nếu biết dùng lực lượng thực của ta đánh vào chỗ hư của địch, kết quả cũng như dùng đá chọi trứng.
 Không lời bình luận nào nói về sự quan trọng của nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực và những nhiệm vụ phụ rõ ràng hơn lời Đường Thái Tông nói với Lý Vệ Công (Lý Tĩnh):
Theo ta không cuốn binh thư nào hơn Tôn Tử, trong đó không gì quan trọng hơn nguyên tắc Hư -Thực ... Dạy cho tướng lãnh cách áp dụng Kỳ và Chính vào chiến trận trước và rồi cách điều binh theo Hư -Thực. Nếu ngươi không biết cách dùng Kỳ như Chính, Chính như Kỳ thì không mong rằng họ biết rằng Hư cũng có thể dùng như Thực, Thực cũng như Hư. Việc dùng Kỳ hay Chính trên căn bản là theo mình nhưng tình trạng Hư hay Thực là theo đội hình của địch. Sự thay đổi dùng Kỳ hay Chính phải hợp với đội hình địch Hư hay Thực. Nếu địch Thực, ta phải dùng Chính binh, nếu địch Hư ta phải dùng Kỳ binh. Nếu một viên tướng không biết dùng Kỳ -Chính thì dù có biết khai thác chỗ yếu, chỗ mạnh của địch thì cũng không áp dụng được cho chu đáo.
 Mặc dầu nhiều bình luận gia nghi ngờ về sự chân xác của lời độc thoại này và đặt câu hỏi về giá trị của việc áp dụng Kỳ -Chính, những nguyên tắc căn bản và quan hệ hỗ tương giữa Kỳ -Chính, Hư -Thực vẫn còn có thể chấp nhận được.
 Quả thực không một cuốn binh thư nào bàn về nguyên tắc này một cách rõ ràng hơn Tôn Tử. Ngô Tử, Úy Liễu Tử và Thái Công thỉnh thoảng có dùng các từ ngữ đó trong sách của họ nhưng không đưa ra một lý luận có hệ thống. Mục tiêu của việc dùng Kỳ -Chính, Hư -Thực là tập trung một lực lượng ưu thắng đánh vào một vị trí đã chọn trong một cuộc tấn công bất ngờ.
 C/ Ưu thế quân số
 Quan điểm bình thường nhất cũng biết là nguyên tắc sơ đẳng trong chiến trận là tập trung lực lượng vào một mặt để áp đảo đối phương bằng ưu thế lực lượng. Khi Tôn Tử bàn về chiến lược tấn công, ông viết: ”khi ta mười mà địch một thì bao vây, khi ta gấp năm địch thì tấn công, khi gấp đôi địch thì chia cắt họ”28 
28 Cố dụng binh chi pháp, thập tắc vi chi, ngũ tắc công chi, bội tắc phân chi. (Tôn Tử Binh Pháp, Mưu Công Thiên)
Dựa vào đó chúng ta hiểu rằng Tôn Tử rất chuộng ưu thế về quân số. Khi lực lượng dưới các tiêu chuẩn ông đưa ra người ta mới phải dùng đến nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực để vận dụng tình thế. Ngay cả khi lực lượng gấp đôi địch quân, người ta cũng không tấn công nếu không chia cắt một phần ra khỏi trận địa để làm cho địch suy yếu ngõ hầu đạt được ưu thế tuyệt đối về quân số. Cho nên khi lực lượng ngang với địch Tôn Tử cũng không dám quyết thắng. Còn khi lực lượng yếu hơn địch thì ông đề nghị rút lui để tránh bị địch bắt. 
Mặc dầu các chiến lược gia khác như Ngô Tử, Úy Liễu Tử, Thái Công không nhấn mạnh vào sự quan trọng của ưu thế quân số như Tôn Tử nhưng họ cũng đề nghị nên áp đảo đối phương bằng một lực lượng mạnh hơn. Thái Công chẳng hạn đề cao nguyên tắc ” nhất ”. Ngoài những vấn đề khác, nhất có nghĩa là lực lượng phải luôn luôn tập trung vào một điểm hay một mặt. Có như thế, viên tướng mới có thể đánh địch bắng sức mạnh tối đa mà ông ta có. Nguyên tắc tương tự cũng tìm thấy trong Úy Liễu Tử. Ông ta nói rằng môt đoàn quân có thể thắng trận nếu biết tập trung lực lượng đúng mức, và có thể thua nếu bị phân tán và chia cắt.
Ngô Tử hầu như không nói gì tới lợi ích của ưu thế về số lượng. Trái lại, ông thường nhấn mạnh tới nguyên tắc có thể đánh bại một quân địch đông đảo hơn bằng một đạo quân ít nhưng thiện chiến, ông thường khẳng định rằng nếu biết chọn cách tấn công thích đáng thì có thể thắng một quân địch đông gấp mười. 
Trên thực tế, người ta không thể luôn luôn mong được quân số đông hơn địch và cũng không thể chỉ rút lui khi yếu sức hơn. Ngay cả Tôn Tử cũng không nghĩ rằng hễ cứ ít quân hơn là tránh né mà phải biến đổi những bất lợi đó bằng cách dùng Kỳ -Chính hay Hư Thực. Tôn Tử nói là ”quân phải đối phó với tấn công của địch mà không bị đánh bại nhờ vào phép kỳ chính ”29.Phối hợp kỳ chính vô cùng vô tận, không ai có thể dùng hết được30 
Nếu biết dùng nguyên tắc Kỳ -Chính, người ta giữ được thế chủ động tại mặt trận. Muốn làm chủ tình thế, phải chọn được thời gian và địa điểm chiến trường, phải làm sao cho địch không biết ta điều quân ra sao trong khi ta biết rõ cách bố trí của địch. Như thế thì khi ta muốn đánh, dù địch có ẩn sau thành cao hào sâu cũng không tránh được vì có thể ta sẽ tấn công vào những vị trí mà địch không đề phòng. Khi muốn tránh đối trận thì ta có thể vạch một lằn ranh trên mặt đất, kẻ địch không tấn công được vì ta có thể dụ địch đi đâu thì đi.31 
Nếu người ta có thể làm được như Tôn Tử đề ra thì sẽ có thể tập trung lực lượng trong khi địch chia rẽ. Do đó, ta có thể dùng toàn lực tấn công vào một phần bộ của địch và như thế sẽ có ưu thế trội về quân số.32
 29tam quân chi chúng, khả sử tất thụ địch nhi bại giả, kỳ chính thị dã. Tôn Tử Binh Pháp, B inh Thế Thiên
30Chiến thế, bất quá kỳ chính. Kỳ chính chi biến, bất khả thắng cùng dã
31Nguyên văn: Cố ngã dục chiến, địch tuy cao điệp thâm câu, bất đắc bất dữ ngã chiến giả, công kỳ sở tất cứu dã. Ngã bất dục chiến, tuy hoạch địa nhi thủ chi, địch bất đắc dữ ngã chiến giả, quai kỳ sở chi dã (Tôn Tử Binh Pháp, Hư Thực Thiên
32 Ngã chuyên vi nhất, địch phân vi thập, thị dĩ thập công kỳ nhất dã)


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:30:35 am
 D/ Địa Hình và Chiến Thuật
  Hoạt động của con người bị ảnh hưởng bởi hình thể địa lý dưới nhiều mức độ khác nhau. Tùy theo mục đích của từng người, ảnh hưởng của địa thế trên hành động có thể tiêu cực hay tích cực. Nếu một vị tướng nắm được chủ động thì sẽ khai thác được địa lợi. Đó là lý do tại sao Tôn Tử nói rằng địa hình có thể hỗ trợ rất lớn cho chiến đấu.
  Trong các chiến lược gia thời xưa, không ai bàn nhiều về địa hình địa vật như Tôn Tử. Trong 13 thiên Tôn Tử Binh Pháp, ông dành 4 chương bàn về ảnh hưởng của các loại địa thế trong chiến trận. Ông xếp loại các thế đất quan trọng và liệt kê những bất lợi trong việc hành binh. Ông cũng chỉ cho phải ứng phó với từng loại địa hình như thế nào. Ông không bàn về làm cách nào khai thác ưu điểm của từng loại hình thế trên mặt trận nhưng không vì thế mà chúng ta có thể phủ nhận việc Tôn Tử áp dụng chiến đấu theo địa hình. Ngược lại, ông khẳng định rằng lực lượng bạn phải luôn luôn đến trước để nắm vững hình thế ngõ hầu chiếm được thượng phong. Ông viết: 
Nói chung, kẻ nà chiếm được chiến địa để đợi địch sẽ nhàn nhã, kẻ nào đến sau vội vã sẽ mệt mỏi. Trong khi ta nghỉ ngơi thì địch kiệt sức. Đó là kiểm soát được các yếu tố vật chất.33
33 Nguyên văn: Phàm tiên xứ chiến địa nhi đãi địch giả dật, hậu xứ chiến địa nhi xu chiến giả lao. (Hư Thực Thiên)
Tuy Tôn Tử nhấn mạnh về sự quan trọng của ưu thế quân số, ông cũng nhận ra rằng đông hơn chưa phải là yếu tố quyết định. Với nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực Tôn Tử không bỏ qua việc khai thác lợi điểm của địa hình. 
Mặc dù Tôn Tử đưa ra việc áp dụng địa thế một cách có hệ thống và thay đổi chiến thuật theo từng vùng, chính Ngô Tử mới là người chú trọng nhất vào lợi dụng hình thể mặt đất. Ông nhấn mạnh vào sự quan trọng của địa hình tăng cường cho một quân số ít người. Ông thường viết là quân số không phải yếu tố quyết định cho cuộc chiến. Một đội ngũ có kỷ luật được huấn luyện kỹ và biết cách khai thác địa thế có thể đánh bại một lực lượng đông gấp mười. Khi Vũ Hầu hỏi về việc tấn công một địch quân đông đảo hơn, ông trả lời:
Nếu đất dễ thì nên tránh, nếu đất hiểm yếu thì nên tấn công. Cho nên khi một chống mười thì không gì bằng nơi đất hiểm, khi mười chống trăm thì không gì bằng đất dốc, khi ngàn chống vạn, không gì bằng đường đèo. Nếu chúa công có một lực lượng nhỏ bất thần tấn công kẻ địch nơi đường hẹp, lại đánh trống khua chiêng thì dù địch có lớn cũng phải kinh sợ. Cho nên nói rằng nếu cầm quân nhiều thì nên tìm đất dễ, cầm quân ít thì phải tìm đất hẹp.34
 Dựa trên nhận thức đó, Ngô Tử liệt kê thế đất là một trong bốn yếu tố mà một vị tướng phải quen thuộc trước khi điều quân. ”Khi đường hẹp và nguy hiểm, nơi có núi cao và đèo hình cổ chai thì là chỗ mười người phòng thủ, nghìn người không qua được chính là nhờ vào thế đất” 35
34Nguyên văn: Vũ Hầu vấn viết: Nhược địch chúng ngã quả, vi chi nại hà ? Khởi đối viết: Tị chi ư dị, yêu chi ư ách. Cố viết, dĩ nhất kích thập, mạc thiện ư ách, dĩ thập kích bách, mạc thiện ư hiểm, dĩ thiên kích vạn, mạc thiện ư trở. Kim hữu thiểu tốt, tốt khởi, kích kim minh cổ ư ách lộ, tuy hữu đại chúng, mạc bất kinh động. Cố viết, dụng chúng giả vụ dị, dụng thiểu giả vụ ải.(Ngô Tử Binh Pháp, Ứng Biến Thiên)
 35lộ hiệp đạo hiểm, danh sơn đại tắc, thập phu sở thủ, thiên phu bất quá, thị vị địa cơ (Ngô Tử, Luận Tướng)
 Vũ Vương cũng đã nhiều lần hỏi Thái Công về những chiến thuật sử dụng theo từng địa thế khác nhau. Cũng tương tự như Tôn Tử và Ngô Tử nhưng Thái Công đào sâu hơn vào vấn đề và chú trọng đến hành quân tại những vùng đất đai hiểm trở nhất là trong trường hợp tấn công. 
Trong vai trò một nhà cách mạng phải đối phó với quân đội hùng mạnh của nhà Thương, Thái Công biết rằng sẽ không thể đánh bại kẻ địch bằng một lực lượng nhỏ hơn để thay thế triều đại này nếu ông không tìm ra một chiến thuật mới làm cho địch rối loạn.
Để đạt tới mục tiêu đó, Thái Công phác họa một loại chiến xa mới kéo bằng bốn con ngựa và vô số khí giới mới. Để sử dụng các loại vũ khí mới này, ông cũng đề ra những chiến thuật mới. Thái Công là chiến thuật gia cổ thời đầu tiên bàn về các hoạt động phối hợp nhiều loại lực lượng khác nhau trên nhiều hình thế đất đai khác nhau, bàn về việc dùng chiến xa và các đội kỵ binh và sử dụng bộ binh trong những tình trạng khác nhau.
 Trong cuộc thảo luận dài với Vũ Vương về chiến thuật quân sự, ông bao gồm đủ loại các chiến dịch trên đủ loại địa hình như tại vùng núi non, sông hồ và rừng rú. Rõ ràng là trong vai trò một cách mạng gia, Thái công nghiêng về công kích. Tuy nhiên, khi phân tích tiềm năng các lực lượng trên các thế đất, ông vẫn có cái nhìn rất cân đối. Ông không bỏ qua ưu thế của địa hình trong phòng ngự nhất là khi thảo luận về nguyên tắc tấn công một kẻ địch đông đảo bằng một lực lượng nhỏ bé. Ông nhấn mạnh vào việc lợi dụng các hình thế đặc biệt như lòng chảo hay dốc đá để ngăn chặn kỵ binh và chiến xa của địch quân. 
Khi thảo luận về các chiến dịch vùng núi non, Thái Công đưa ra một chiến thuật đặc biệt gọi là Ô Vân Trận (Wuyunzhen), trong đó quân đội được bố trí nhịp nhàng phòng thủ tất cả các hướng có thể xâm nhập. 
Theo Tướng Từ Bội Căn trong Thái Công Lục Thao Kim Chú Kim Dịch (Đài Bắc, Thương Vụ 1976) ô vân trận giống như đàn quạ và đám mây tan hợp di động một cách nhịp nhàng. Một lực lượng trừ bị được giữ lại để đối phó với những nhu cầu bất ngờ. Thái Công có lẽ là người đầu tiên phân biệt lực lượng tấn công và lực lượng trừ bị. 
Trong việc khai thác địa hình, Tư Mã Pháp đề nghị nên chọn đất cao ở phía sau và phía bên phải, đất hiểm và đất dốc bao che một bên hông.
E.   Đánh bại địch bằng cách làm suy bại tinh thần địch
  Ngoài việc có ưu thế quân số và lợi điểm địa hình, người ta còn phải khai thác những cơ hội đặc biệt để tấn công bất ngờ hầu đánh bại địch dễ dàng. Tôn Tử gọi là nguyên tắc kiểm soát luân lý, tinh thần, vật chất và yếu tố hoàn cảnh. (khí, tâm, lực, biến-Tôn Tử, Quân Tranh Thiên) 
Tôn Tử thường nhấn mạnh rằng một vị tướng phải luôn luôn khai thác tình trạng quân địch và tìm lợi thế để dẫn đến thắng lợi. Dùng lực lượng chiến đấu cũng chẳng khác gì lăn gỗ hay lăn đá. Khi gỗ đá ở ”trên đất bình ổn thì củng bình ổn, trên đất không bình ổn thì nó chuyển động. Nếu nó vuông thì nó đứng nhưng nếu nó tròn nó sẽ lăn. Vì thế sức mạnh của quân đội được điều động thích đáng chẳng khác gì các tảng đá tròn lăn trên triền núi cao xuống”36 
Không giống như ưu thế quân số và lợi điểm địa hình, cái gọi là tình trạng ở trên liên quan đến tâm hồn và điều kiện vật chất do ảnh hưởng bởi thời tiết, tiếp liệu và điều kiện sinh sống. Tôn Tử có nói rằng ”lấy quân ở gần chiến trường đợi địch đến từ xa, trong tình trạng nghỉ ngơi trong khi địch kiệt sức, được nuôi dưỡng đầy đủ trong khi địch đói khổ”37 Nếu bắt được giây phút đó để đối địch thì thắng dễ như lăn đá từ trên một triền dốc cao xuống. Lực dùng một phút mà kết quả thì vô cùng to lớn. 
Một cơ hội khác còn đắc dụng hơn để tấn công là khi địch hàng ngũ, sắp xếp chưa tề chỉnh, rối loạn và tinh thần xuống thấp vì chỉ huy kém hay vì nội bộ bất hòa. Tôn Tử đã từng nhắc nhở là một vị vua chúa kiêu căng can thiệp vào việc binh có thể làm cho quân ngũ rối loạn và gieo nghi kỵ trong các cấp chỉ huy. Nếu quân ở trong tình trạng như thế thì sẽ rất dễ bị đánh bại trên chiến trường. Có lẽ vì thế mà Tôn Tử nói rằng ”một đội quân có thể bị cướp đi tinh thần và tướng mất hết can đảm”38. Nếu quân suy nhược thì tướng mất tinh thần.
36Nguyên văn: Cố thiện chiến giả, cầu chi ư thế, bất quí ư nhân cố năng trạch nhân nhi nhiệm thế.Nhiệm thế giả, kỳ chiến nhân dã, như chuyển mộc thạch. Mộc thạch chi tính, an tắc tĩnh, nguy tắc động, phương tắc chỉ, viên tắc hành. Cố thiện chiến chi thế như chuyển viên thạch ư thiên nhận chi sơn giả, thế dã. (Tôn Tử, Binh Thế Thiên)
37dĩ cận đãi viễn, dĩ dật đãi lao, dĩ bão đãi ngạ (Tôn Tử, Quân Tranh Thiên)
38 cố tam quân khả đoạt khí, tướng quân khả đoạt tâm (Tôn Tử, Quân Tranh Thiên)
 Khi bàn về vấn đề này Ngô Tử nhiều trường hợp cụ thể chứ không phải chỉ lý thuyết chung. Ông liệt kê 8 hoàn cảnh có thể tấn công mà không nghi ngại gì. Đó là các trường hợp quân địch mỏi mệt, xuống tinh thần vì thời tiết khắc nghiệt, thiếu tiếp tế hay tương quan giữa cấp trên cấp dưới không thuận thảo. 
Ngoài ra, có những trường hợp địch lâm vào thế bất lợi, hàng ngũ dễ rối loạn và có thể bị đánh tan không mấy khó khăn chẳng hạn như địch đang tiến tới chưa chỉnh đốn kịp, hạ trại nhưng chưa bố phòng. Khi gặp những trường hợp đó cần phải tấn công thần tốc và thường là thắng trận.
  Là nhà cách mạng, chiến lược chủ yếu của Thái Công là lấy một chống mười hay đánh bại một lực lượng đông bằng quân số ít nhưng tinh nhuệ. Để đạt mục tiêu đó ông đề ra nhiều chiến thuật khác nhau. Ông phân tích kỹ càng thời điểm tấn công. Chẳng hạn như ông liệt kê 14 hoàn cảnh mà địch quân có thể bị tiêu diệt dễ dàng. Khi địch kinh hoàng, kiệt sức, hạ trại hay khi có bão và vì thế bố phòng khó khăn thì phải lợi dụng ngay để tấn công. Ông thích đánh bại kẻ địch đông gấp mười. 
Tư Mã Pháp mô tả tương tự về cách nào để chọn cơ hội tấn công ngõ hầu đánh bại kẻ địch một cách dễ dàng. Ông cho rằng thời điểm thích hợp để tấn công là khi địch quân chưa chỉnh tề hay đang vội và khi địch quân đang kinh khiếp thì nên đánh bồi thêm. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:31:59 am
F.   Thu lượm tin tức và Sử dụng Gián điệp
  Nói chung, thành quả một chiến dịch tùy thuộc vào sự phán đoán của người chỉ huy, và việc đó lại do cách nào có được tin tức chính xác về tình trạng bố phòng của địch. Tôn Tử nói rõ là ”biết mình biết người trăm trận không nguy”. Ông cũng nhấn mạnh vào việc cần thiết phải bảo mật với địch để có thể tự do trong hành động. Ông nói:
Nếu ta có thể biết được địch bố trí ra sao trong khi ta dấu kín được thì ta ta tập trung mà địch chia cắt ... Nơi đó, ta có ưu thế vế quân số.39
Nếu biết sử dụng tin tức về địch một cách thích đáng, ta có thể chọn được thời gian và địa điểm và do đó cơ hội thắng sẽ cao hơn. Trái lại nếu không biết gì về địch, người chỉ huy không biết được chiến địa hay thời gian giao tranh và do đó lực lượng nọ không thể tiếp ứng lực lượng kia. 
Biết mình và biết người đòi hỏi một quá trình phức tạp trong thu lượm tin tức ở hai cấp độ: chiến lược và chiến thuật. Trên bình diện chiến lược, tin tức cần thiết bao gồm cả tình trạng xã hội -chính trị, kinh tế và quân sự của nước địch. Tin tức này có thể thu lượm hoặc từ tài liệu chính thức phổ biến cho công chúng, hoặc do gián điệp và đặc vụ thu thập. Tin tức chiến thuật chủ yếu do chính lực lượng chiến đấu thu thập ngay tại mặt trận. 
Tôn Tử bỏ riêng một chương trong Tôn Tử Binh Pháp để bàn về vấn đề này. Theo ông, trong một trận chiến quyết định nếu không biết gì về tình trạng của địch thì là thiếu lòng nhân. Minh quân hiền tướng có thể đánh bại địch quân dù họ có biến hóa thế nào chăng nữa chính là vì ”biết trước” và điều đó ”không phải từ thần thánh hay suy ra từ việc cũ, hay do tính toán mà phải từ những người biết rành rẽ tình trạng của địch”40. Người của Tôn Tử đề cập ở đây chính là gián điệp.
  Tôn Tử cho rằng gián điệp là tài sản quí của một quốc gia. Không kẻ nào trong quân ngũ liên hệ mật thiết với viên tướng hơn gián điệp. Theo Tôn Tử, một tướng lãnh nếu không khôn ngoan, nhân từ, công bình không thể dùng gián điệp được. Có lẽ ông là chiến lược gia quan tâm đến dụng gián nhiều hơn cả. Không những ông gửi điệp viên sang trại địch mà còn hiểu được tầm quan trọng của việc chiêu mộ dân bản xứ và nội gián ngay trong quốc gia địch hay doanh trại địch. Ông còn quan tâm phát triển gián điệp nhị trùng bằng cách mượn ngay điệp viên của địch. Ông nói về điệp viên sống mang tin về nhưng cũng dự trù cả những người đưa tin sai cho địch và có thể bị giết khi địch thua. Theo Tôn Tử thì ”không chỗ nào mà không dùng đến gián điệp” (vô sở bất dụng gián dã)
39 Nguyên văn: Cố hình nhân nhi ngã vô hình tắc ngã chuyên nhi địch phân. Ngã chuyên vi nhất, địch phân vi thập, thị dĩ thập công kỳ nhất dã. Tắc ngã chúng nhi địch quả ...(Tôn Tử, Hư Thực Thiên)
40 Nguyên văn: Cố minh quân hiền tướng, sở dĩ động nhi thắng nhân, thành công xuất ư chúng giả, tiên tri dã. Tiên tri giả, bất khả thu ư quỉ thần, bất khả tượng ư sự, bất khả nghiệm ư độ, tất thu ư nhân tri địch chi tình giả dã. (Tôn Tử, Dung Gián Thiên)
 Việc thu lượm tin tức chiến thuật tại mặt trận phải do chính quân đội thực hiện bằng trực tiếp quan sát. Tôn Tử tóm tắt những hiện tượng thông thường và ý nghĩa của nó dựa trên kinh nghiệm của một chiến sĩ. ”Khi địch ở gần mà nằm yên ắt là cậy địa thế hiểm yếu. Khi địch khiêu chiên từ xa, ắt là muốn cho ta tiến lên vì họ có địa lợi hay ở đất dễ. Khi cây lay động là địch đang tới, khi chim bay lên là dấu hiệu địch mai phục, khi cầm thú hoảng hốt chạy là ta phải đề phòng. Bụi tung thẳng lên cao là dấu hiệu có chiến xa. Bụi thấp và tản rộng là bộ binh đang tiến ”41 
Các chiến dịch bí mật được Ngô Tử để vào điều kiện thứ ba trong bốn điều kiện sử dụng quân đội. ”Khéo léo dùng gián điệp và tình báo” là danh ngôn của ông. Phối hợp hành động giữa khinh binh được dùng để chia cắt địch, Ngô Tử sử dụng gián điệp và tình báo để gây mâu thuẫn giữa vua với quan và tạo cho người trên kẻ dưới phiền trách lẫn nhau. Dần dần địch sẽ bị suy thoái. Ngô Tử gọi việc sử dụng mật vụ là tiềm năng liên quan đến thực trạng chiến dịch.42
41Nguyên văn: Cận nhi tĩnh giả, thị kỳ hiểm dã. Viễn nhi khiêu chiến giả, dục nhân chi tiến dã. Kỳ sở cư dị giả, lợi dã. Chúng thụ động giả, lai dã. Điểu khởi giả, phục dã. Thú hãi giả, phúc dã. Trần cao nhi nhuệ giả, xa lai dã, ti nhi quảng giả, đồ lai dã. (Tôn Tử, Hành Quân Thiên)
42Thiện hành gián mưu, khinh binh vãng lai, phân tán kỳ chúng, sử kỳ quân thần tương oán, thượng hạ tương cữu thị vị sự cơ. (Ngô Tử, Luận Tướng Thiên)
 Úy Liễu Tử không bàn đến việc sử dụng điệp vụ như Tôn Tử nhưng ông đề nghị một hệ thống tự bảo mật trong quân đội để đề phòng tình báo địch xâm nhập, tiết lậu tin tức ra ngoài. Phương thức ông sử dụng là trách nhiệm liên đới, cấp chỉ huy và quân sĩ chịu trách nhiệm chung và bị phạt chung nếu có kẻ vi phạm quân luật mà không ngăn chặn hay phát giác. Phương thức thứ hai ông đưa ra là kiểm soát liên lạc tin tức giữa các đơn vị. Khi quân lính hạ trại, không được phép đi từ trại này sang trại kia ngoại trừ trình được mật hiệu. Bất cứ ai vi phạm đều bị tử hình nhất là tại mặt trận. Nếu thi hành các phương thức đó, Úy Liễu Tử tin rằng quân đội sẽ có thể bảo mật được.
  Thái Công cũng đặt vấn đề mật vụ và thu lượm tin tức quan trọng như Tôn Tử. Ông liệt kê 12 phương pháp bí mật có thể tóm tắt như sau: lũng đoạn vua quan địch bằng quà cáp và nữ sắc, hối lộ các đại thần và cấy gián điệp trên đất địch, kết thân với các thành phần lỗi lạc và các cấp lãnh đạo. Tin tức thu lượm được từ các nguồn này giới hạn vào trong các vấn đề chiến lược. 
Trong việc thu lượm tin tức chiến thuật, Thái Công đưa ra các dấu hiệu để phân biệt địch mạnh và địch yếu. Khi một viên tướng thấy các dấu hiệu đó thì có thể đưa ra những phán đoán chính xác có nên tấn công hay tránh đối đầu với địch. 
Tư Mã Pháp dùng bốn chữ để chỉ phương pháp thu lượm tin tức. Đó là Gián Viễn, Quan Mi (Jianyuan Guanmei) có nghĩa là nếu địch ở xa thì dùng gián điệp để dò xét, còn ở gần thì quan sát trực tiếp.
G.   Chiến tranh chính trị và chiến tranh tâm lý 
Trong những phần trước, chúng tôi đã đề cập đến ảnh hưởng tinh thần trong chiến đấu. Chẳng hạn như Ngô Tử coi luân lý là một trong bốn tiềm năng mà một viên tướng phải biết trước khi điều quân. Úy Liễu Tử cho rằng một viên tướng sở dĩ thắng trận là bởi vì binh sĩ đưới quyền sẵn lòng chiến đấu. Khi họ có tinh thần cao thì họ đánh trận giỏi và khi tinh thần xuống thấp thì chỉ muốn rút lui. Cả Ngô Tử lẫn Úy Liễu Tử đều nhấn mạnh vào sự quan trọng của việc phá hoại tinh thần chiến đấu của địch trong khi vẫn giữ được tinh thần quân mình. Điều đó cũng tương tự như chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị thời nay.
Chiến lược tiến hành chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị có thể áp dụng tại nhiều mức độ khác nhau. Trước hết, nhà vua và vị nguyên soái phải vun trồng đức độ ngõ hầu gia tăng sự hòa hợp giữa thiên tử với thứ dân. Trương Dự nói rằng ”nếu nhà vua đối đãi với nhân dân bằng nhân nghĩa, đạo lý, tin tưởng ở họ thì quân sĩ sẽ một lòng và vui vẻ phụng sự bề trên”
Ảnh hưởng tinh thần được hầu hết các binh gia bàn đến. Theo Ngô Tử, tứ hòa là những lý thuyết quan trọng bậc nhất cho một vị quân vương thi hành trước khi khởi chiến. Khi quốc gia, quân đội, trận thế và chính chiến dịch đều hòa hài, thì cả nước sẵn sàng chiến đấu và sẽ thắng. Nếu không được thế thì đừng giao chiến. Ngô Tử nhấn mạnh vào giáo dục chính trị bằng lễ nghi và đạo đức để gây hăng hái cho ba quân. Ông viết ”cần phải dạy cho quần chúng bằng cách dùng lễ nghi, và động viên họ bằng lẽ phải để tạo tinh thần liêm sỉ. Chỉ người có liêm sỉ mới có thể chiến đấu, không thì chỉ có thể tự phòng mà thôi”43 
43phàm chế quốc, trị quân, tất giáo chi dĩ lễ, lệ chi d ĩ nghĩa, sử hữu sỉ dã. Phù nhân hữu sỉ, tại đại túc dĩ chiến, tại tiểu túc dĩ thủ dã (Ngô Tử, Đồ Quốc Thiên)
Đây có lẽ là lý thuyết sớm sủa nhất về giáo dục chính trị và vận động quân sĩ.
 Úy Liễu Tử coi chiến thắng bằng tinh thần là thành tựu bậc nhất trong việc dụng binh. Theo ông đó là chiến tranh chính trị. Ông nói: ”liên tục cải tiến sức mạnh chính trị, kinh tế, quân sự và tăng cường kiến thức về địch ngõ hầu làm suy yếu và phá hủy tinh thần địch. Dẫu địch còn đó nhưng không còn chiến đấu được nữa. Thế gọi là chiến thắng bằng ảnh hưởng tinh thần” 
Mặc dù Úy Liễu Tử không dùng từ ngữ chiến tranh chính trị và chiến tranh tâm lý, chúng ta cũng hình dung ra được là nếu có thể dánh bại kẻ địch mà không cần tiêu diệt lực lượng họ thì không thể nào không dùng đến chiến tranh tâm lý hay chính trị. 
Có lẽ chiến lược gia đầu tiên của Trung Hoa và có thể của cả thế giới thảo luận chiến tranh tâm lý và chính trị một cách có hệ thống là Thái Công. Thay vì dùng từ ngữ hiện đại là chiến tranh tâm lý hay chiến tranh chính trị, Thái Công chọn chữ Văn Phạt (Wenfa) diễn tả một quan niệm tương tự. Văn phạt theo tiếng Hán có nghĩa là ”tấn công bằng những biện pháp phi quân sự” hay ”tấn công mà không dùng vũ khí”. Trên nghĩa rộng có thể áp dụng cho cả địch lẫn cho mình. Khi nhắm vào quân mình, chủ yếu là vào tinh thần quân sĩ.
Khi áp dụng vào địch, Thái Công đề ra 3 phương pháp để đối phó với nhiều hạng người khác nhau.
 * Đối với vua địch và các cận thần, chiến lược căn bản của Thái Công là tạo mâu thuẫn, chữ Hán gọi là Ly Gián. Thái Công đưa ra 12 phương pháp có thể tóm tắt trong đút lót, nữ sắc, điệp viên để làm suy bại, gây nghi ngờ giữa vua và tả hữu và ngay cả mua kẻ cộng tác trong các cận thần. 
* Với quân địch, ta cũng áp dụng chiến thuật tương tự. Ngoài ra, một chiến lược đặc biệt được đưa ra để sao cho địch nhân tưởng lầm ta yếu đuối nên khinh địch và đâm ra kiêu căng, dễ sa bẫy và bị đánh bại. Thái Công gọi chiến lược này là ”tấn công một kẻ địch mạnh để làm cho mình mạnh hơn” (công cường ích cường). 
* Đối với dân chúng nước địch, chiến lược của Thái Công là chia rẽ họ với chính quyền bằng cách dụ dỗ theo mình. Thái Công gọi là Tán Chúng Ích Chúng (Sanzhong yizhong).
 * Đối với quân mình, mục tiêu đầu tiên đặt ra khi áp dụng chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị là nâng cao tinh thần trong suốt cuộc chiến ngõ hầu có thể thắng trận.
Để đạt mục tiêu đó Thái Công đòi hỏi cấp chỉ huy phải chia vui xẻ buồn với binh lính. Ông viết: “Tướng khôn ngoan mùa đông không mặc áo cừu, mùa hạ không dùng quạt, mưa không che dù, chịu đựng gió sương cùng với binh sĩ nếu không sẽ không thể hiểu được thực trạng của quân mình. Tướng can đảm xuống ngựa đi bộ cùng với binh sĩ qua những khe đá, nếu không sẽ không biết được nỗi khó nhọc mà binh lính phải chịu. Khi lính đã hạ trại, tướng mới đóng trại, khi bữa ăn của lính chưa nấu xong, tướng chưa được ăn.. Đó là một viên tướng tiết chế được sự ham muốn của mình. Nếu làm tướng mà chia xẻ nóng lạnh, đói khát, sướng khổ với quân sĩ, họ có thể chiến đấu tới chết để thắng trận.” 
Tương tự như thế, Úy Liễu Tử đưa ra cùng một chiến lược để bảo tồn tinh thần binh sĩ giống như công tác chính trị hiện nay. Tôn Tử có một phương pháp tình cảm hơn. Ông ví tướng với quân chẳng khác gì cha với con. Ông viết: Nếu tướng coi lính như con em, thì sẽ phải cùng đi với họ vào khe núi sâu. Đối xử với họ như con đẻ thì họ sẽ sống chết với mình.44
44 Nguyên văn: Thị tốt như anh nhi, cố khả dỉ chi phó thâm cốc, thị tốt như ái tử, cố khả dữ chi câu tử.
Quan niệm ”phụ tử binh” nay trở thành một chủ thuyết quan trọng của Trung Hoa, là một tin tưởng vững chắc trong quân đội. Các lãnh tụ hiện đại cũng đề cập tới nhiều lần. Chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị đã trở nên một phần bộ quan trọng trong chiến lược ngày nay được cả cán bộ dân sự lẫn quân sự áp dụng. Hệ thống chính trị viên trong cả Hồng Quân lẫn quân đội Quốc Dân Đảng tuy mới được Tưởng Giới Thạch du nhập từ Liên Xô hồi thập niên 1920 nhưng vai trò của nó vốn dĩ hiện hữu trong các tư tưởng quân sự Trung Hoa từ thời thượng cổ. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:32:53 am
5.   VIỆC PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUÂN SỰ TRUNG HOA SAU ĐỜI TẦN 
Ngay từ đầu chương này, chúng ta đã nhận rõ là các lý thuyết quân sự của Trung Hoa đã phát triển đầy đủ trước khi nhà Tần gồm thâu lục quốc. Từ đó về sau các học thuyết trở nên trì trệ. Dẫu có một số lớn tác phẩm về đề tài này được viết ra nhưng nội dung chủ yếu không thay đổi gì mấy. Dựa trên nhận định đó, nghiên cứu này chỉ duyệt qua một số tác phẩm chọn lọc về lý thuyết quân sự đời Tiên Tần chứ không mở rộng sự bàn luận tới mọi tác phẩm, mọi thời đại. Tuy nhiên chúng tôi cũng lược qua một số tác phẩm sau đời Tần để khỏi có một khoảng trống lớn giữa thời thượng cổ và thời hiện đại.
Theo những tài liệu đã tìm thấy, hầu hết các binh thư từ đời Tần trở về sau chỉ được soạn thảo trong một vài thời kỳ của một số triều đại. Theo con số của Lục Đạt Tiết thì 60% của tổng số 850 tác phẩm sau đời Tần được soạn ra trong ba triều đại. Thời Minh khởi sắc nhất gồm 286 tác phẩm, thời Tống thứ nhì với 104 tác phẩm và thời Thanh thứ ba với 101 tác phẩm. Cả ba triều đại này đều phải đối phó với cường địch từ bên ngoài và luôn luôn bị xâm lấn. Cho nên lý thuyết quân sự cũng là một sản phẩm của nhu cầu xã hội. Khủng hoảng khiến con người phải đấu tranh để sống còn và từ đó nảy ra nhiều tư tưởng mới. 
Tuy nhiên đó chỉ mới làm gia tăng số lượng sách vở chứ không đưa tới một sáng tạo mới nào trên lãnh vực lý thuyết. Thất bại đó cũng bởi vì xã hội Trung Hoa quá trì trệ do sự độc tôn chính trị và văn hóa sau đời Tần và nhất là sau đời Hán. Trước và trong thời Xuân Thu, chỉ các quan lại mới được giao phó việc binh bị. Huấn luyện quân sự không tách rời khỏi giáo dục dân sự. Quân sĩ có cả huấn luyện quân sự và dân sự. Đến thời Chiến Quốc, vì sự suy thoái của giai cấp sĩ phu và sự đe dọa của chiến tranh, giới nông dân trở thành xương sống của lực lượng quân sự thay thế tầng lớp quan lại. Khả năng của một người lính bình thường có sút giảm ít nhiều nhưng xã hội lúc đó vẫn phát triển trên cả văn hóa lẫn quân sự. Đến khi thống nhất đời nhà Tần và nhà Hán, xã hội Trung Hoa mất đi tính năng động vì sự chuyên chế của nhà cầm quyền. Huấn luyện quân sự tách rời khỏi giáo dục dân sự, quân lính không còn biết làm thơ và người nông dân cảm thấy xa lạ với các vấn đề quốc sự nên miễn cưỡng gia nhập quân ngũ. Sự thay đổi đó làm cho Trung Hoa mất cái tinh thần võ dũng. Giáo sư Lôi Bá Luân (Lei Bai-lun) đã mô tả hiện tượng đó là ”văn hóa mà không có quân sĩ”. Phẩm chất của quân đội Trung Hoa vì thế càng xuống dốc. Đo có lẽ là một trong những lý do tại sao rất ít binh thư xuất sắc trong suốt cả một thời kỳ dài sau nhà Tần và nhà Hán. 
Hơn nữa, một số lớn các tác phẩm quân sự trong giai đoạn này lại do các nho sĩ soạn chứ không phải tướng lãnh. Không có kinh nghiệm chiến đấu, những nhà nho này thường vay mượn nhiều của các tác phẩm xưa như Tôn Tử, Thái Công và viết quá nhiều về những chuyện lặt vặt. Sau đây là vài điểm phác họa về sự phát triển lý thuyết quân sự của thời kỳ này. 
A.   Trận thế 
Trận thế là phương thức sắp xếp binh lữ trong chiến trận còn gọi là trận đồ (ngày nay gọi là đội hình), có thể áp dụng cho cả phòng ngự lẫn tấn công. Vũ khí và trang bị là những yếu tố ảnh hưởng đầu tiên vào các nguyên tắc chiến lược và chiến thuật. Hệ thống vũ khí ngày nay khác hẳn với gươm giáo cung tên thời xưa. Cho nên, các trận thế cổ không thể nào áp dụng cho việc điều binh thời nay nếu không thay đổi tận gốc rễ. 
Nói chung, các chiến lược gia Trung Hoa trước đời Tần chỉ đề cập một số nguyên tắc căn bản của trận đồ. Chẳng hạn như Tôn Tử thảo luận về nguyên tắc trận thế chiến thuật (hình) một cách chi tiết, nhưng đề cập đến trận đồ (trận) chỉ giản lược đôi lần mà không đi sâu. Ngô Tử cũng không thảo luận chi tiết về vấn đề này. Úy Liễu Tử và Thái Công chỉ đưa ra vài lời chỉ về nguyên tắc lập trận. Thí dụ Úy Liễu Tử viết:
“Nói chung, mọi thế trận đều phải đối diện với địch. Tuy nhiên có những trận đồ sắp xếp binh sĩ hướng cả vào trong lẫn ra ngoài trong đội hình tự vệ và cũng có những trận đồ bắt lính đứng hay ngồi. Đứng là để tấn công trong khi ngồi là để phòng thủ.”
  Sau đời Tần, trận pháp trong nhiều trường hợp trở thành đề tài chính. Một vài tác giả còn đề cập đến những trận đồ đặc biệt.
 Hà Lương Thần (He Liangchen), một trong số ít người soạn binh thư thời nhà Minh có kinh nghiệm về chiến đấu đã đưa ra một hình ảnh tổng quát về sự bệnh hoạn của việc phát triển trận đồ. Kết luận của ông là trận đồ càng phức tạp thì càng khó áp dụng. Nếu ai dùng nó trên chiến trường sẽ không tránh khỏi bị đánh bại. Vua Tống Thần Tông đã chỉ ra những trận thế không thực dụng của một số người gọi là chuyên viên:
Hiện nay, các lý thuyết gia quân sự thường mượn những hình ảnh về trận đồ trong Âm Phù Kinh của Lý Thuyên để hù dọa người khác. Nó vô dụng. Dựa trên những lý thuyết này thì dường như khi hai đoàn quân thù địch gặp nhau trên chiến trường, họ phải gửi sứ giả tới để thỏa thuận về ngày giờ và địa điểm sẽ đụng độ, rồi sau đó sai người đến chặt bụi cây dọn sạch cỏ, san đất lấp hố để có một khu đất trống rộng rãi ngõ hầu có thể lập trận. Ta chắc chắn rằng điều đó không thể nào hữu hiệu. 
Quả thực những nghiên cứu về trận đồ sau đời Tần đã đi quá xa hoàn toàn vượt ra khỏi thực tế. Nếu những nghiên cứu đó chỉ giới hạn trong mức độ chiến thuật thì có lẽ cũng không bị chỉ trích đến thế. Vấn đề là một số người tự xưng là chuyên môn thường cố đưa ra những trận pháp dùng đến cả chục vạn quân. Chẳng hạn như Phi Trận của Hứa Đồng đã sắp xếp cho một đạo quân 100,000 người. Nếu như thế lời phê phán của vua Thần Tông quả thực viễn kiến. 
B.   Việc chú trọng đến phát triển kỹ thuật
  Hầu hết các binh thư trước đời Tần đều đưa ra nguyên tắc mà không đi sâu vào những điểm nhỏ nhặt. Hiện tượng đó đã bắt đầu thay đổi ngay từ cuối đời Chiến Quốc. Lục Thao và Tôn Tẫn Binh Pháp mới khai quật được chứng tỏ khuynh hướng đó. Mao Anh Bạch (Mao Yingbai) tác giả cuốn Giới thiệu sơ lược về binh pháp Tôn Tử và Tôn Tẫn (Tôn Tử binh pháp dữ Tôn Tẫn binh pháp giản giới, Hương Cảng, Anh Hoa 1979) đã viết là vì chưng Tôn Tử đã đưa ra một số lý thuyết không ai sánh kịp coi như hoàn chỉnh, những người đi sau Tôn Tử dường như không thêm được mấy. Cho nên, họ phải viết các chi tiết kỹ thuật. Khuynh hướng đó trở nên rất phổ biến trong các tác giả sau đời Hán và đời Đường. Thí dụ trong Vệ Công binh pháp tập, Lý Tịnh đã thảo luận về nhiều đề mục kỹ thuật, về sau được Lý Thuyên (Li Quan) dùng lại trong tác phẩm Thái Bạch Âm Kinh (Taibaiyinjing) của ông. Những sách đó mô tả chi tiết các kỹ thuật xây tường, đắp lũy, đào hầm, đào hào, phóng nỏ liên châu và các khí cụ khác cũng như các dụng cụ qua sông, hỏa công, sắp xếp yến tiệc ... Trong Hổ Kiềm Kinh, Hứa Đồng đời nhà Nguyên bàn về cách dùng cờ xí, trống và cứu thương ngoài mặt trận ... Trong Bạch Chiến Kinh Vương Minh Hạc (Wang Minghe) để nhiều trang bàn về huấn luyện. Ông không những vẽ hình các trận đồ và đóng trại mà còn họa cả hình chỉ những cách lên xuống ngựa. 
Việc phát triển này cũng có những chỗ sở dụng. Binh lính và các đội trưởng trẻ chưa có kinh nghiệm trận mạc có thể dùng các tài liệu này làm cẩm nang để huấn luyện và giải quyết các vấn đề hàng ngày.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:33:30 am
C.   Họa kiểu vũ khí
Nhiều tác phẩm quân sự đời Minh và Thanh bàn về các kiểu vũ khí. Một số vẽ vũ khí trong sách, dạy cách sử dụng và cả cách chế tạo. Vương Minh Hạc mô tả về các súng điểu thương và hỏa mai, công thức của thuốc đạn và cách làm. Một tác giả vô danh khác, dùng bút hiệu là Huệ Lộc Sái Dân (Huilu Jiumin) viết một cuốn sách nhan đề Bình phích bách kim phương (Binhpi Baijin phang). Ông mô tả nhiều loại vũ khí và chiến cụ phòng thủ cũng như đi vào chi tiết nhiều trận đồ. Ông không những làm những gì Vương Minh Hạc đã làm trong việc mô tả các phương thức chế tạo vũ khí mới như súng hỏa mai, thần công và thuốc súng mà còn vẽ hình các loại thương, đao, cung. Ông còn cho các trị số đo đạc tường và vọng gác.
  Việc thảo luận về hệ thống vũ khí trong các sách vở về quân sự thời Minh và Thanh có những căn bản lịch sử đáng kể. Kể từ giữa triều Minh, việc thông thương giữa Trung Hoa và Âu Châu đã bành trướng mãnh liệt. Khí giới Tây phương được nhập cảng vào Trung Hoa trong thời kỳ này. Theo Hà Lương Thần, tác giả cuốn Trận Kỷ (Zhanji), súng trường do môt số người man di ở phương nam đưa vào, có lẽ từ Âu Châu qua Đông Dương vào Trung Hoa. Ông so sánh khả năng súng của Tây Phương với súng của Nhật và các loại hỏa tiển cổ truyền của Tàu. 
Mặc dầu hỏa khí thỉnh thoảng vẫn được dùng trong quân đội Trung Hoa thời nhà Minh và nhiều binh thư cũng thảo luận chi tiết về khả năng các loại võ khí mới nhưng không chiến lược gia nào phân tích về vai trò của các loại vũ khí này trên mặt chiến lược và chiến thuật. Thật ra, thảo luận về các trận đồ đã đến một mức thiếu thực dụng, và đã ngự trị tư tưởng của các chiến lược gia Trung Hoa suốt mấy thế kỷ cho đến cuối thế kỷ 19, sau khi nước Tàu liên tiếp bị liệt cường phương Tây đánh bại. Những người chỉ huy quân sự Trung Hoa như Tăng Quốc Phiên hay Lý Hồng Chương đã nhận thấy huấn luyện quân sự như kiểu Vạn Thắng Quân của Gordon có khác kiểu Tàu và bắt đầu phần nào thay đổi tổ chức quân sự và chiến thuật khi súng trường và súng điểu thương được dùng trong binh đội Trung Hoa. Dù thế chăng nữa, họ vẫn theo sát quan niệm về trận pháp cổ điển. Trong một lá thư gửi cho các tướng lãnh, Tăng Quốc Phiên đề cao trận thế trong Ác Kỳ Kinh (Woqijing) do Lý Thuyên soạn. Tuy nhiên Tăng vẫn linh động không đích thân kiểm soát hành vi của các tướng. Ông nói với một tì tướng là ”một đại đội thì đội hình Uyên Ương hay Tam Tài rất quan trọng, một tiểu đoàn thì đội hình nào cũng phải giữ nguyên tắc một chính binh, hai kỳ binh, một đơn vị trừ bị và một đơn vị mai phục”. Ngoài ra, ông để các tướng tự chọn lấy đội hình của mình. 
Thật ra người Trung Hoa chưa bao giờ hiểu hoàn toàn vai trò của vũ khí mới trên chiến lược quân sự và chiến thuật dùng trong thời kỳ ấy và do đó không tái tổ chức quân đội theo những quan niệm mới về chiến lược chiến thuật. Mãi đến thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, dưới sự lãnh đạo của Viên Thế Khải (Yuan Shikai), Trung Hoa mới du nhập hoàn toàn lối tổ chức và phương pháp huấn luyện của Âu Tây. Tuy nhiên, sự thay đổi về chiến lược và chiến thuật thì lại càng chậm hơn. Đến thời nội chiến và chiến tranh kháng Nhật 1930 -40 Trung Hoa mới thực sự áp dụng vì phải động viên toàn lực cả vật chất lẫn tinh thần. Một vài lãnh tụ Trung Hoa bắt đầu khai triển chiến lược và chiến thuật riêng cho phù hợp với tình trạng họ phải đối phó và dùng được những phương tiện có trong tay. 
D.   Âm Dương và Mê tín
Thật dễ hiểu các nhà lãnh đạo cổ thời dựa một phần lớn vào mê tín để trị dân. Thế nhưng các binh gia Trung Hoa thời xưa lại không áp dụng. Không một tác phẩm nào đời Tiên Tần lại dựa vào mê tín một cách quá đáng. Tôn Tử và Ngô Tử không đề cập đến Âm Dương hay các việc mê tín khác còn Úy Liễu Tử hoàn toàn phủ nhận công dụng của Âm Dương. Thật vậy, ông trả lời Lương Huệ Vương:
“Hoàng Đế trừng phạt kẻ vô đạo bằng binh lực và cai trị xã tắc bằng đức độ. Ông ta không xem trăng sao, Âm Dương, bói toán để quyết định bao giờ”. 
Thái Công là binh gia duy nhất áp dụng một vài thuyết mê tín vào việc quân sự. Ông có lẽ là người đầu tiên muốn thành lập một cách thức tiên tri kết quả trận đánh bằng cách xem thiên văn tại trận tiền. Tướng Từ Bội Căn giải thích thuyết của Thái Công bằng khoa thiên văn hiện đại như hướng gió, chiều bụi bay, khói bay nhưng có lẽ đó không phải là chủ ý của Thái Công nên quan điểm của Từ không có sức thuyết phục lắm.
Các tác phẩm viết sau đời Tần, đời Hán bàn nhiều về Âm Dương, Ngũ Hành, thiên văn, bói toán, tinh tượng trong việc hành quân. Tư tưởng Đạo gia và Âm Dương được nói tới đầu tiên trong Âm Phù Kinh (Yinfujing), do Lý Thuyên đời Đường thác danh là Hoàng Đế viết. Thay vì bàn về chiến sự, suốt 30 đề mục ông chỉ nói về trời, đất, vũ trụ, thiên nhiên, lý, cơ và âm dương, đầy những từ huyền học. Vì thế các binh gia vẫn cho rằng lý thuyết quân sự cổ thời bị ảnh hưởng của Đạo Giáo. Trong nhiều sách khác cùng thời kỳ này cũng có hiện tượng ấy. Rõ rệt nhất là Hứa Đồng tác giả Hổ Kiềm Kinh (Huqian jing) bao gồm 120 tập, 450 trang. Ông dùng gần một nửa quyển sách để bàn về thiên văn, bói toán, điếu tang và các trò mê tín khác. Nguyên 7 tập toàn bàn về các thiên văn và bói toán và các tập khác cũng viết những điều liên quan đến vấn đề này. 
Thuyết âm dương, ngũ hành và bói toán có thể tìm thấy từ thời Hoàng Đế, Phục Hi và nhiều người khác nhưng chỉ trở nên một trường phái triết học chính yếu trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Dần dần nó phổ cập vào mọi phương diện xã hội. Thực vậy, khi Hán Vũ Đế quyết định bãi bõ tất cả các trường phái triết học chỉ giữ lại Khổng Giáo trong ý thức trên toàn quốc thì quan niệm Âm Dương, Ngũ Hành vẫn tồn tại nơi quần chúng và ngay trong các cận thần của vua. 
Theo nhiều học giả thì các chiến lược gia cổ thời như Tôn Tử chẳng hạn bị ảnh hưởng bởi Đạo giáo và học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành rất nhiều. Mặc dầu rất khó chứng minh các tin tưởng này đúng hay sai, nhưng có lẽ đúng nếu nói rằng Tôn Tử và những người khác đã phát triển lý thuyết của họ trước đời Tần thì ít bị ảnh hưởng bởi Đạo giáo, Âm Dương, Ngũ Hành như những người ở thời Hán và thời Đường. Lý do đó quá rõ ràng. Các tư tưởng gia quân sự đại diện một phần của văn hóa quốc gia và bắt nguồn từ đó nên sự phát triển các lý thuyết quân sự không thể tách rời khỏi ảnh hưởng của dòng văn hóa đất nước.
E.   Kết luận 
Bốn điểm vừa đưa ra để phân tích là những đặc điểm chính của sự phát triển lý thuyết quân sự Trung Hoa sau đời Tần nhưng không phải là những điểm duy nhất. Có nhiều tác phẩm giá trị chưa được nhắc tới. Có ba lý do căn bản cho việc bỏ sót này:
 Trước hết, một số tác phẩm có thể hay nhưng lại không có ý nghĩa đặc biệt nào về quân sự. Tố Thư (Sushu) của Hoàng Thạch Công (Huang Shigong) chẳng hạn được viết để dạy các nhà lãnh đạo làm sao sống hòa với quần thần và làm sao cai trị đất nước. Không có gì liên quan đến quân sự cả. Còn Tam Lược (Sanlue) cũng của Hoàng Thạch Công mặc dầu vẫn được coi là binh thư từ lâu nhưng chỉ đề cập sơ qua đến quân sự. Đại Tướng Ngụy Nhữ Lâm (Wei Rulin), tác giả cuốn Hoàng Thạch Công Tam Lược Kim Chú Kim Dịch (Huang Shigong Sanlue Jinzhu Jinyi) đã nói rằng cuốn sách chỉ chú trọng đến nguyên tắc cai trị và bình định quốc gia. Ngoài ra, việc chân ngụy của tác phẩm và người tác giả huyền sử, Hoàng Thạch Công còn là một câu hỏi. Cuốn sách có lẽ sáng tác của người ở một thời đại sau rất lâu. 
Thứ đến, một lý do nữa tại sao có nhiều sách bị bỏ qua không bàn tới là vì nó có rất ít ý kiến mới mẻ mà chỉ phiên dịch lại những tác phẩm xưa. Đối thoại của Đường Thái Tông và Lý Vệ Công là một thí dụ điển hình. Nội dung chủ yếu nằm trong Tôn Tử binh pháp, tập trung vào các đề tài Kỳ -Chính, Hư -Thực như đã đề cập trước đây trong chương này. Ngoài ra, một số tác giả còn theo hình thức của Tôn Tử hay chỉ muốn chú giải lịch sử chiến tranh mà thôi. Sau cùng, chúng tôi bỏ qua một số sách khác vì một vài vấn đề, đạo làm tướng chẳng hạn, vốn dĩ rất quan trọng trong hầu hết các cổ thư thì nay không còn đặc sắc lắm. Các binh gia thời xưa nhấn mạnh vấn đề này vì trước đây thiếu các chương trình huấn luyện chính thức cho các võ quan khiến các tướng lãnh khó khăn trong việc chọn tì tướng. Hệ thống tuyển mộ và chương trình huấn luyện chính thức hiện nay đã giải quyết phần lớn các vấn đề này. Không ai trong thời hiện kim lại có thể được giao một chức vụ chỉ huy quan trọng mà không được huấn luyện chu đáo và đầy đủ kinh nghiệm. Sự kiện đó không những cải thiện đức tính của thành phần sĩ quan mà còn giải quyết phần nào khó khăn của các viên chức cao cấp trong tiến trình tuyển mộ. Cho nên, thời buổi này vấn đề đó không còn quan trọng như thời xưa.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:34:07 am
 Chương 3: Cuộc chiến tranh nha phiến và sự chuyển hóa của hệ thống quân sự Trung Hoa
1.   HỆ THỐNG QUÂN SỰ TRUNG HOA TRƯỚC NHA PHIẾN CHIẾN TRANH
 Trên quan điểm phát triển, các học giả nghiên cứu về canh tân hóa đồng ý rằng thay đổi là một hiện tượng hằng cửu hiện hữu trong mọi xã hội, trong mọi thời gian. Thực ra, quan niệm về thay đổi không phải là một quan điểm mới mẻ mà ít nhất đã có trong lịch sử 2500 năm trước tại Tây phương. Tại Trung Hoa, từ đời Chu quan niệm về biến dịch đã được chấp nhận như luật của trời đất. Tuy nhiên, nhiều học giả chuyên nghiên cứu về Trung Hoa (sinologist) cho rằng lịch sử nước Tàu từ đời Tần trở đi trở nên bất động và không có gì thay đổi mạnh mẽ cho tới thời kỳ hiện đại. Chẳng hạn như Lôi Bá Luân (Lei Bailun), dưới nhan đề ” Một nền văn hóa không binh lính” đã viết là lịch sử Trung Hoa trước đời Tần rất năng động luôn luôn có những thay đổi về xã hội -chính trị nhưng từ đó về sau trở nên trì trệ. Có những chu kỳ trật tự, rối loạn và chuyển động mãnh liệt nhưng không có những thay đổi thực sự. Cho nên, trong những điều kiện xã hội cố định, những chu kỳ chính trị tương tự luân chuyển thay đổi nhau. Cũng có thể nói rằng lịch sử chính trị Trung Hoa từ đời Hán về sau chỉ là những triều Hán được lập đi lập lại. Theo họ Lôi, về phương diện quân sự, đặc tính văn hóa Trung Hoa từ đời Hán cũng không có những quân nhân đúng nghĩa. Nói như thế ông ngụ ý rằng không có con người và cũng không có sinh hoạt chính trị. Nói một cách giản dị, ông cho rằng hiện tượng đó là một nền văn hóa không có binh lính.
 Việc Trung Hoa được thống nhất dưới một chính quyền trung ương có thể chính là nguyên nhân gây ra sự mất mát về năng động chính trị. Tuy nhiên, thay đổi là một định luật thiên nhiên. Một chính quyền không điều hướng được thay đổi xã hội một cách hiệu quả và bình ổn trong trường kỳ không thể tránh khỏi một cuộc cách mạng đột xuất. Sự lập đi lập lại trong lịch sử chính trị Trung Hoa thực ra là những cuộc cách mạng liên tục để đem lại những cải cách xã hội. Quyền lực gây ra hủ bại và quyền lực tuyệt đối gây ra hủ bại tuyệt đối. Một chính quyền càng nắm quyền lâu thì càng trở nên thối nát. Vương triều trung ương của Trung Hoa cũng giống như các hệ thống quân chủ khác không thoát ra khỏi qui luật chính trị này. Việc mất tính năng động trong hệ thống quân chủ chuyên chế không những nói lên sự thất bại của nó trong việc mang lại những thay đổi xã hội cần thiết mà còn biểu hiện sự bất lực trong việc duy trì môt hệ thống quân sự hữu hiệu.
 Cho nên không sai nếu nói rằng hệ thống quân sự Trung Hoa thời phong kiến là nạn nhân của sự hủ bại chính trị. Họ Lôi cũng cho rằng lực lượng quân sự nhiều khi không khác gì bọn giặc cướp được trang bị vũ khí. Tuy nhiên xét vấn đề dưới quan niệm văn hóa cũng cưa đúng hẳn khi nhìn vào những thất bại của Trung Hoa trong việc chống xâm lăng từ bên ngoài theo hiện tượng ”văn hóa không binh lính” như họ Lôi đã nhận định. Nếu các yếu tố văn hóa của một thời này hay thời khác có gây nên sự suy thoái của hệ thống quân sự thì đó cũng không phải là hiện tượng độc nhất chỉ có tại Trung Hoa. Thật ra trước thời hiện đại, không quốc gia nào đã phát triển được một hệ thống dân chủ bảo đảm quyền công dân và quyền chính trị. Giáo sư Vương Nhĩ Mẫn (Wang Ermin), một sử gia quân sự hiện đại đã phê bình kết luận của Lôi Bá Luân là một phát biểu nặng cảm tính ảnh hưởng bởi nỗi xúc động vì nỗi Trung Hoa không có khả năng tự vệ trong thời cận kim. 
Theo giáo sư Vương thì sự thất bại của hệ thống quân sự trong thời kỳ này chẳng qua chỉ là môt phần của sự phá sản toàn bộ của hệ thống chính trị dưới thời nhà Thanh. Phiền trách lực lượng quân sự của Trung Hoa bị đánh bại trong chiến tranh mà không đề cập tới ảnh hưởng của sự suy bại về tình trạng xã hội -kinh tế và chính trị như một bối cảnh chung sẽ chưa hoàn toàn đầy đủ. Cho nên, xét qua về tình trạng xã hội -kinh tế và chính trị của Trung Hoa trước khi xẩy ra cuộc Nha Phiến Chiến Tranh có thể giúp chúng ta nhìn thấy một hình ảnh rõ ràng về điều kiện của hệ thống quân sự nước Tàu thời đó và từ đó dọn đường cho việc phân tích các đề nghị cải cách sau này.   
A.   Các vấn đề Xã hội -Kinh tế 
Vào đầu thế kỷ 19, nhiều quốc gia Âu Châu đã hoàn thành cuộc cách mạng kinh tế, chính trị và ngay cả tôn giáo của họ. Được trang bị bằng niềm tin vào tinh thần quốc gia, Cơ Đốc giáo và chủ nghĩa tư bản, lại được hậu thuẫn bằng lực lượng quân sự hiện đại với vũ khí tối tân nhất, người Tây Phương bắt đầu bành trướng ra khỏi châu Âu. Trong khi đó, Trung Hoa dưới sự cai trị của người Mãn Châu đang đi vào thời kỳ suy thoái sau một giai đoạn tương đối huy hoàng và thịnh vượng. 
Là một quốc gia nông nghiệp, Trung Hoa luôn luôn bị tình trạng thiếu đất canh tác. Chính quyền nào giải quyết được vấn đề đất đai thì họ sẽ xây dựng được một thời kỳ thanh bình và no ấm mà không có những rắc rối trầm trọng. Trong giai đoạn đầu của lịch sử Trung Hoa, nhà nước có thể phát đất cho từng người đến tuổi thành niên. Sau đó, khi dân số tăng lên quá đông chính quyền không còn có thể bản đảm mỗi người có đất riêng để canh tác nữa. Việc thiếu đất nghiêm trọng và kinh tế khó khăn đã không tránh khỏi đưa đến nông dân nổi dậy và dần dần lật đổ được chính quyền. Triều đại Mãn Thanh vào đầu thế kỷ 19 chính là vừa đến thời điểm đó. 
Theo Hồ Thằng (Hu Sheng), tổng số đất khả canh của Trung Hoa vào năm 1820 vào khoảng 808 triệu mẫu, ít hơn đất canh tác hồi nhà Minh (1393) 40 triệu mẫu. Tuy nhiên dân số đã gấp mấy lần hồi 1393. Vào năm 1835, trước vụ Chiến Tranh Nha Phiến, dân số Trung Hoa là 400 triệu người, gấp ba dân số thế kỷ 17 và gấn đôi dân số hồi thập niên 1740 khi vua Càn Long vừa lên ngôi. 
Người ta bảo rằng trung bình mỗi người có 2 mẫu đất hồi 1835 nhưng thực tế thì kém xa vì đất tập trung trong tay một số người. Theo Mưu An Thế (Mu Anshi), trong thời Càn Long vừa lên ngôi, 50 đến 60% đất khả canh thuộc về địa chủ. Ngoài ra, hoàng gia và cái gọi là Bát Kỳ tông tộc cũng làm sở hữu một số lớn đất đai. Thành thử, nông dân, chiếm hơn 90% dân số lại chỉ chiếm được 40% tổng số đất. Khi thuê mướn ruộng, tá điền phải trả 50% hoa màu thu hoạch cho địa chủ. Họ chẳng còn mấy tí để nuôi gia đình. 
Trong tình trạng đó, nông dân Trung Hoa bị khó khăn kinh tế đè nặng. Cả xã hội giống như một hỏa diệm sơn sắp sửa nổ tung, nông dân nổi dậy là điều hiển nhiên. Chỉ cần một mồi lửa châm ngòi. Khi Chiến Tranh Nha Phiến xảy ra, chỉ vài năm sau là loạn lạc khắp nơi. 
B.   Sự hủ bại về chính trị
  Nhà Thanh bắt đầu cai trị năm 1644 nhưng mãi đến năm 1683 mới dẹp xong các cuộc nổi dậy, sáp nhập Đài Loan vào lãnh thổ và thống nhất Trung Hoa dưới một chính quyền trung ương. Sau đó, dưới các đời vua Khang Hi, Ung Chính và Càn Long, triều đại nhà Thanh hưởng được 100 năm huy hoàng và thịnh trị, chinh phạt mở rộng biên cương. Tuy nhiên, suy thoái chính trị cũng bắt đầu xuất hiện và trở nên nghiêm trọng vào cuối đời Càn Long khiến cho quốc gia kiệt quệ về kinh tế -xã hội trong đầu thế kỷ 19 và vương triều không bao giờ có thể hồi phục khi bị đánh bại trong cuộc Nha Phiến Chiến Tranh 40 năm sau. Chính trị hủ nát vốn dĩ làm nông dân khổ cực bấy lâu nay khiến cho quốc gia bước đến bờ vực thẳm. Hai thí dụ sau đây giúp chúng ta hình dung tham nhũng lan tràn tới mức nào. 
Cũng như ông nội là vua Khang Hi, vua Càn Long thích đi du hành khắp nước. Trong thời gian trị vì, ông tuần thú phương nam tới Giang Tô và Triết Giang sáu lần, di về phương đông tới tỉnh Sơn Đông năm lần, về phương đông bắc tới Thịnh Kinh của Mãn Châu ba lần, đi về phương tây tới Ngũ Đài Sơn 6 lần và tới Hà Nam một lần. Ông thường nghỉ hè tại Nhiệt Hà, đi săn hàng năm ở Mộc Lan vào tháng tám âm lịch và đi chơi các vùng lân cận Thiên Tân, thăm các lăng tẩm ở phía đông nhiều đến nỗi không sách vở nào chép hết. Tháp tùng Hoàng Đế luôn luôn có Hoàng Thái Hậu, Hoàng Hậu, hàng ngàn kẻ hầu người hạ và cận vệ. Mỗi chuyến đi kéo dài ít nhất vài tháng. Hơn nữa, mỗi lần nghỉ hè ở Nhiệt Hà kéo dài cũng trên hai tháng. Các quan chức địa phương lại cố gắng tột cùng để chiều lòng Kim Thượng, tiêu pha rất xa xỉ. Các chi phí đó lẽ dĩ nhiên đổ lên đầu dân chúng khiến cho họ càng thêm khổ cực. 
Theo Vương Đồng Linh (Wang Tongling) trong Trung quốc toàn sử, nhiều quan lại đã cố gắng khuyên vua ngưng các chuyến tuần du tốn kém đó vì gánh nặng tài chánh đổ trên đầu dân địa phương nhưng Càn Long nổi giận và trừng phạt họ một cách không nể nang. Về sau chẳng ai còn dám hé răng can ngăn nữa. 
Khi vua viễn du khỏi kinh thành, ông giao lại quyền bính cho viên quan thân tín, Hòa Khôn (He Shen), một kẻ nổi tiếng là tham lam khiến càng thêm hủ bại. Dưới quyền Hòa Khôn, hối lộ trở nên thông dụng trong đám quan lại, không ai còn trọng đạo đức, các chức vụ trong quan trường đều có thể bỏ tiền mua. Kẻ nào biết luồn cúi, nịnh bợ chiều lòng Hòa Khôn thì muốn làm gì thì làm và có thể ăn hối lộ giàu có trong một sớm một chiều.
 Chuyện thứ hai là việc ngăn ngừa lũ lụt luôn luôn là một công tác quan trọng tại Trung Hoa mà chính quyền nào cũng phải thực hiện. Nhà Thanh cũng giống như các triều đại khác. Dưới thời Càn Long, chức quan hộ đê lại trở thành một chức béo bở cho những người theo Hòa Khôn hay những người muốn kiếm tiền trên hoạn lộ. 
Chính vì thế, dù quốc gia có tiêu bao nhiêu tiền vào việc đê điều và ngăn ngừa lụt lội thì cũng chẳng đi đến đâu mà chỉ làm giàu cho những kẻ có chức quyền. Về sau lụt lội trở nên thường xuyên hơn, gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản. Theo con số của Vương Đồng Linh, thời vua Càn Long trị vì, trong 45 năm sông Hoàng Hà vỡ đê 20 lần tại Hà Nam và Giang Tô, đổ đồng hai năm là một năm lụt. Sau khi vua Càn Long băng hà, trong 22 năm có 17 lần lụt lội tại các sông khác. Triều đình phải bỏ ra nhiều triệu lượng bạc để tu bổ đê đập khiến cho các quan lại có dịp phát tài. Nông dân vùng lụt một cổ hai tròng, trong khi nhà tan người mất lại còn phải gánh vác việc hộ đê. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:34:40 am
C.   Các vấn đề quân sự
Trong thời cổ, hệ thống quân sự lý tưởng vẫn từ lâu là Binh Nông Hợp Nhất (Bingnong Heyi) hay Ngụ Binh Ư Nông (Yubing Yunong) kết hợp nông dân với binh lính. Mỗi nông dân hay nhóm nông dân phải bắt buộc phục vụ trong quân ngũ một thời gian trong đời. Tuy nhiên không triều đại nào trong lịch sử Trung hoa áp dụng hệ thống này được lâu. Nói chung nó chỉ được thi hành trong giai đoạn đầu của một số triều đại, lơ là trong thời bình và dần dần bãi bỏ. Hệ thống Kỳ Binh (Banner Army) của nhà Thanh gần với ý niệm Binh Nông hợp nhất của Trung Hoa nhưng số phận rồi cũng như những chính sách của tiền triều. Dù hệ thống còn tồn tại sau khi chinh phục được nước Tàu, tinh thần thượng võ của họ mất đi sau một thế hệ vì không còn là một tổ chức các chiến sĩ mà chỉ còn là một bọn ăn bám vào giới cầm quyền. Họ đã trở nên thối nát không còn chiến đấu được nữa. 
Kỳ binh đời nhà Thanh chia ra làm 3 nhóm : Mãn Châu Bát Kỳ, Mông Cổ Bát Kỳ và Hán Tộc Bát Kỳ. Mãn Châu Bát Kỳ là một tổ chức chính trị quân sự dựa trên căn bản bộ lạc được tập trung sức mạnh để chinh phục Trung Hoa. Các lá cờ khác màu dùng để xác định 8 nhóm quân đội. Tất cả binh lính và cấp chỉ huy đều là người Mãn Châu. Họ được sử dụng vào việc trấn thủ kinh thành và các khu vực chiến lược sau khi người Mãn Châu lên nắm quyền. Các chức vụ trong Kỳ Binh này do thế tập nên cha truyền con nối. Vì thế một đứa trẻ sơ sinh cũng có thể đã là một người lính và được trả lương dẫu rằng sau này chẳng được huấn luyện quân sự và chẳng biết gì về việc binh nhung.
 Mông Cổ sáp nhập với Mãn Châu trước khi họ chiếm Trung Hoa. Cũng như Mãn Châu, người Mông Cổ cũng được tổ chức theo bộ lạc trong Bát Kỳ. Họ được người Mãn Châu tín cẩn nhất và được dùng nhiều trong việc chinh phục trung nguyên. Cho nên các Kỳ binh của họ rất có giá trị. Mông Cổ Bát Kỳ vốn dĩ là kỵ binh và vẫn còn giữ được khả năng chiến đấu mà không mấy suy giảm mãi tới cuối thế kỷ 19 khi họ bị đánh bại trong một chiến dịch chống với Niệm Quân (Nian Army) vào thập niên 1860. 
Bát Kỳ Hán Tộc là người những Trung Hoa cộng tác với người Mãn Châu từ trước khi họ xâm lấn. Tương tự như Mãn Châu Bát Kỳ gồm những binh sĩ có liên hệ với nhau. Thành thử tuy không tổ chức theo từng sắc dân nhưng trong các đơn vị màu sắc họ hàng tông tộc rất nổi bật. Điều đó khiến cho Hán Kỳ khác với Lục Doanh hay Lục Đội, được tổ chức bao gồm tàn quân nhà Minh và vẫn giữ theo hệ thống cũ của họ. 
Sau khi thống nhất Trung Hoa, nguồn chính yếu bổ xung vào Lục Doanh là người Trung Hoa tình nguyện nhập ngũ. Không như Bát Kỳ, Lục Doanh không có tính thế tập. Khi nào người lính già họ sẽ bị giải ngũ.
 Người ta bảo rằng Kỳ Binh, tổng cộng 24 Kỳ, gồm 280,000 người khi họ chiếm Trung Hoa. Đây là quân đội tại trận tiền. Lục Doanh Binh, trái lại không những gồm cả binh lính đánh trận mà còn cả lực lượng sai nha giữ việc bảo vệ đường giao thông và bảo đảm an ninh công cộng. Có khoảng nửa triệu người trong Lục Doanh vào thời gian đầu triều Thanh.
 Những tướng lãnh của Mãn Kỳ đều là người Mãn Châu và các chức vụ chỉ huy cao cấp trong các kỳ khác cũng là người Mãn Châu. Người Trung Hoa chỉ được giữ các cấp chỉ huy thấp trong Hán Kỳ và Lục Doanh. 
Cũng như Mãn Kỳ, sau một thời gian quốc gia thanh bình Lục Doanh cũng trở nên thối nát mất khả năng quân sự và kỷ luật. Hơn nữa, lương lính quá thấp nên thường khó khăn tuyển mộ người thay thế các nhiệm vụ bỏ trống và không mấy người tình nguyện. Các sĩ quan thường phải mướn thường dân tạm thời thế chỗ cho đủ người mỗi khi có cấp trên thanh tra và họ giữ lương những chỗ trống đó bỏ túi. Người ta bảo rằng ngay cả những chức vụ chỉ huy trong Lục Doanh cũng mua được. Điều đó khiến cho phẩm chất các cấp tướng lãnh xuống thấp mà còn khuyến khích các hoạt động bất hợp pháp như ăn hối lộ hay hà lạm lương của lính. Đôi khi con số lính ma lên đến 50%.
 Một quân đội như thế không thể nào có thể bảo vệ tổ quốc một cách hữu hiệu trong thời chiến. Rủi thay, đó lại chính là tình trạng của lực lượng quân sự Trung Hoa vào giữa thế kỷ 19. Ngoài ra, khí giới và trang bị cũng lỗi thời khiến không thể bù vào sự yếu kém trong chỉ huy và đạo đức.
Vào giữa thế kỷ 19, các nước phương Tây đã bắt đầu dùng các loại võ khí tân tiến. Súng trường, súng liên thanh, súng cối và địa lôi đã được dùng nhiều trong cuộc Nội Chiến của Mỹ thập niên 1860, ngư lôi và thủy lôi đã dùng trong các cuộc hải chiến nhưng dùng giáo, thương, cung tên và đao kiếm vẫn là vũ khí chính của người Trung hoa trong Chiến Tranh Nha Phiến. Mười năm sau cuộc Nha Phiến Chiến Tranh lần thứ nhất, Tương Quân (Xiangjun) của Tăng Quốc Phiên vẫn còn trang bị bằng súng điểu thương và thần công khi chống với quân Thái Bình Thiên Quốc hồi thập niên 1850. Súng trường được du nhập vào Trung Hoa do Vạn Thắng Quân của F. T. Ward và C. G. Gordon chỉ huy hồi thập niên 1860 khi họ giúp triều đình chống lại loạn Thái Bình nhưng chưa được trang bị cho quân đội Trung Hoa. Hoài Quân (Huaijun) của Lý Hồng Chương có lẽ là lực lượng đầu tiên dùng các vũ khí mới này vào đầu thập niên 1860. Tuy nhiên, mãi đến thập niên 1880 súng trường mới là vũ khí tiêu chuẩn cho quân đội Trung Hoa. 
Lục quân tình trạng bết bát như thế, hải quân thì sao ? Người Trung Hoa trước kia gọi hải quân là thủy binh. Trong khi các nước Tây phương đã dùng máy chạy hơi nước và súng mới để phát triển chiến thuyền thì người Trung Hoa vẫn còn dùng các loại thuyền chèo tay nhỏ mỏng manh hay các loại thuyền buồm trang bị bằng ít súng cũ kỹ. Vũ khí cá nhân của thủy binh cũng không khác gì các Kỳ Binh : đao, cung, giáo vẫn dùng trên các chiến thuyền. Nhiều pháo đài dọc theo duyên hải thiếu tu bổ nên không thể hoạt động được. Theo báo cáo của Vu Khiêm (Yu Qian), Phó Tổng Đốc Lưỡng Giang (Giang Tô -Triết Giang) thì tình trạng thủy binh Triết Giang trước thời Nha Phiến Chiến Tranh rất tồi tệ. Trong một cuộc thao dượt, chỉ có một sĩ quan biết cách sử dụng súng phòng hải, người khác chẳng biết phải dùng bao nhiêu thuốc đạn để bắn nữa. Lý lẽ thông thường cũng cho ta thấy rằng nếu binh sĩ không học cách sử dụng vũ khí, thì dù có tối tân cách mấy cũng thành vô dụng. Khi một giáo sĩ Cơ Đốc Tây Phương và cũng là một thương gia nha phiến nhìn thấy tình trạng đó, ông ta viết lại sau này là ”cả một hạm đội Trung Hoa gồm hơn ngàn chiến thuyền lớn nhỏ cộng lại cũng không đương cự được với một chiến thuyền của ta”. Dẫu rằng có thể ông ta phóng đại sức mạnh của chiến thuyền Au châu, nhưng xét cũng không xa sự thực là mấy. 
Ngoài ra, việc tham nhũng cũng làm cho thủy binh yếu kém đi. Các quan trình rằng các pháo đài duyên hải tại Thiên Tân xây hồi mùa xuân thì đến mùa thu cùng năm đã sập. Binh sĩ sau khi nhận hối lộ của các nhà thầu, chỉ dùng nửa số thuốc đạn thường dùng để bắn thử ngõ hầu thông qua được các cuộc giám sát. Tuy nhiên về sau khi súng được dùng với số thuốc súng đủ lượng, nhiều pháo đài đã sụp đổ. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:36:06 am
2.   ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC CHIẾN TRANH NHA PHIẾN VÀ PHẢN ỨNG CỦA TRUNG HOA
A.   Buôn bán nha phiến và cuộc chiến tranh thuốc phiện
Ngay từ thế kỷ 16, người Tây phương đã đem á phiện vào bán cho các nước ở Viễn Đông. Những thương nhân đầu tiên là người Bồ Đào Nha, theo sau là người Tây Ban Nha, Hòa Lan và rồi người Anh. Các thương nhân nha phiến Tây phương thời gian đó không khác gì bọn giặc biển và thường đụng độ với quân Thanh. Phần lớn lực lượng Trung Hoa có thể đánh đuổi được họ ra khỏi bờ biển. Đến thế kỷ thứ 19, chính phủ Anh gửi lực lượng quân sự giúp đỡ các thương nhân và dùng võ lực mở đường vào Trung Hoa.  
Ý thức được nguy hại của thuốc phiện về sức khỏe cũng như kinh tế quốc gia, Thanh triều bắt đầu cấm buôn bán từ năm 1729, nhưng chỉ là hành động tượng trưng và không được áp dụng một cách nghiêm chỉnh cho đến khi số lượng thuốc phiện buôn bán mỗi ngày một nhiều. Khi luật cấm mới ban hành thì chỉ độ 200 thùng một năm nhưng 40 năm sau lên tới 1000 thùng mỗi năm. Nha phiến đầu tiên dùng làm dược liệu, nhưng sau khi người Anh chiếm được Ấn Độ thành lập Công Ty Đông Ấn để đảm trách việc sản xuất và buôn bán thuốc phiện thì việc dùng nha phiến trở nên khác hẳn. Năm 1838, trước chiến tranh, Trung Hoa nhập cảng tổng cộng 34,776 thùng một năm. Con số đó gấp 35 lần năm 1767.  
Tới thế kỷ thứ 17, người Anh dùng một số lớn bạc để nhập cảng trà của Trung Hoa. Tuy nhiên, vì lượng thưốc phiện buôn bán gia tăng đáng kể nên không những họ cân bằng được mậu dịch với Trung Hoa mà còn hưởng một số thặng dư vĩ đại. Theo con số của Mưu An Thế, trong 17 năm từ 1817 đến 1833, các thương nhân Anh-cát-lợi đem ra khỏi Quảng Đông 51,961,000 lượng bạc. Ngoài ra, từ năm 1930 đến 1832, Công Ty Đông An chuyển ra khỏi Quảng Đông 4,441,000 lượng bạc. Việc hao hụt bạc làm cho lạm phát gia tăng mãnh liệt khiến Thanh đình phải báo động. Năm 1810, một lượng bạc đổi được 1000 lượng đồng thì đến 1833, một lượng bạc đổi được đổi 1382.8 lượng đồng. Nông dân bị ảnh hưởng nặng nề và gây ra những vấn đề kinh tế nghiêm trọng tại Trung Hoa.
Để ngăn chặn việc thất thoát bạc thêm nữa và cũng để bảo vệ sức khỏe dân chúng, sau khi đình nghị, Thanh triều quyết định cấm việc buôn bán thuốc phiện. Luật lệ ngày càng khắt khe hơn. Năm 1838, Trung Hoa đi đến kết luận là việc bãi bỏ buôn bán nha phiến không những cần thiết mà còn là chuyện sống còn. Vì thế, Thanh triều bổ nhiệm Lâm Tắc Từ (Lin Zexu) làm Khâm Sai Đại Thần đến Quảng Đông để đối phó. Khi tới đây vào năm 1839, ông lập tức bắt tay vào việc thi hành lệnh cấm buôn bán nha phiến. Trong khi đó, chính phủ Anh vì hưởng lợi quá nhiều trong việc buôn bán thuốc phiện nên miễn cưỡng không muốn bãi bỏ. Dưới áp lực của các thương nhân và cũng vì thái độ hống hách của vua Thanh từ chối tiếp các phái đoàn, người Anh quyết định dùng võ lực để mở cửa bước vào thị trường Trung Hoa.  
Các học giả phương Tây khi viết về lịch sử cuộc Chiến Tranh Nha Phiến thường xếp loại quan lại Trung Hoa là thành phần cứng rắn hay ôn hòa dựa trên thái độ của họ đối với việc buôn bán á phiện. Lâm Tắc Từ được coi như cứng rắn trong khi Kỳ Thiện (Ki Shan), người kế vị Lâm lại là người hiếu hòa. Đối với sử gia Trung Hoa, Lâm Tắc Từ không những là người hết sức tán thành việc bãi bỏ thuốc phiện mà còn là người liêm khiết, mẫn cán, yêu nước và biết điều. Khi ông được bổ làm Tổng Đốc Hồ -Quảng, ông không những thi hành nhiệm vụ bãi bỏ việc buôn bán nha phiến mà còn chỉnh đốn lực lượng trong phạm vi quản hạt. Thành ra khi chiến tranh xảy ra, ông đã chặn được quân Anh tại nhiều nơi và thắng trận đầu tiên.  
Các sử gia Trung Hoa không mấy ưa Kỳ Thiện. Thái độ đó không phải vì y là người hiếu hòa mà vì Kỳ rất tham ô, thiếu khả năng và ngu độn. Khi điều đình ký thỏa ước ngưng bắn và tạm ước Xuyên Tị (Chuanbi) năm 1841, Kỳ bằng lòng trả chiến phí, nhượng đất Hương Cảng và nhượng bộ nước Anh nhiều khoản. Trong vai trò tổng tư lệnh quân đội Quảng Đông sau khi kế nhiệm Lâm Tắc Từ đáng lẽ phải tiếp tục chính sách của Lâm trong việc củng cố lực lượng bố phòng trong khi vẫn tiếp tục đóng vai điều đình công việc thương mại thì Kỳ lại không làm như thế. Không những ông ta bãi bỏ hoàn toàn chính sách của Lâm mà còn chọn một thái độ rất thụ động để có thể thương thuyết vãn hồi hòa bình. Tệ hơn nữa là y tin cẩn một thuộc hạ sau này đã làm phản. Về sau y bị hoàn toàn vướng vào cái bẫy của người Anh nên thua trận và mất chức.  
Mặc dầu Lâm Tắc Từ chuẩn bị chiến tranh khi ông cấm đem nha phiến vào Trung Hoa nhưng các viên chức tham ô tại các vùng khác không cảnh giác và đo đó không củng cố lực lượng phòng ngự. Khi quân viễn chinh Anh gặp khó khăn trong việc phá vỡ lực lượng phòng thủ của Lâm, họ rút lui và tiến lên mạn bắc. Họ thất bại trong việc chiếm bờ biển Phúc Kiến và phải giương buồm thẳng lên Triết Giang, tấn công bất ngờ vào đám quan quân không chuẩn bị và chiếm được đảo Chu San (Zhoushan) ngoài bờ biển Trấn Hải (Zhenhai). Khi Anh quân tiến vào hạ lưu sông Dương Tử và tiến lên Đại Cô Khẩu (Daguko), Hoàng đế và triều đình mất tinh thần nên quyết định thương thuyết nghị hòa. Khi ký hòa ước Nam Kinh năm 1842, người Tàu lại phải nhượng bộ nhiều hơn nữa và bồi thường chiến phí. Tuy nhiên đó không phải là kinh nghiệm bại trận cuối cùng của người Trung Hoa. Còn nhiều lần ngoại quốc xâm lấn và nhiều lần nhục nhằn. Một phần lớn lãnh thổ bị ngoại nhân kiểm soát và còn có nguy cơ bị liệt cường chia cắt. Thời kỳ này có hai điều ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng quân sự hiện đại Trung Hoa đáng đề cập. Đó là tư tưởng quân sự của Lâm Tắc Từ và dân quân nổi dậy trong cuộc chiến công Tam Nguyên Lý (Sanyuanli).  
a/ Tư Tưởng quân sự của Lâm Tắc Từ  
Việc ông tán trợ việc bãi bõ buôn bán nha phiến khiến nhiều học giả Tây Phương coi là có óc bài ngoại nhưng thực ra không phải như thế. Đó chỉ là một phần trong suy nghĩ của ông về quốc phòng. Trong cuộc tranh luận về tại sao nên cấm bán nha phiến cho dân Trung Hoa, ông đã tâu lên vua là cho phép hút thuốc phiện sẽ gây ra tác hại vô cùng to lớn cho nước Tàu. ” Nếu chúng ta vẫn ngần ngại không dám quyết định hành động để bãi bỏ thuốc phiện, chỉ trong mười năm chúng ta sẽ không còn một người lính nào có thể dùng để bảo vệ đất nước khỏi ngoại bang xâm lấn, mà cũng chẳng còn tiền để nuôi quân. Chúng ta há không sợ khi nghĩ đến điều đó sao ? ”
 Để chống lại tấn công bằng hải quân của người Anh, Lâm cũng cho ta thấy ông hiểu rõ tình hình trước mắt mà ông đang phải đối phó và biết cách vận dụng một cách thích hợp. Nói chung, tư tưởng quân sự của ông vốn được khai triển trong thời Chiến Tranh Nha Phiến có thể phân tích trên hai mặt.  
Trước hết, ông tin rằng vũ khí đóng một vai trò quan trọng nếu không nói là quyết định cho kết quả trận đánh và biết rằng lực lượng quân Anh có tàu chiến kiên cố và súng ống hữu hiệu hơn hẳn người Trung Hoa. Cho nên ông công khai nói rằng Trung Hoa phải học các kỹ thuật mới của kẻ thù và phải cố gắng tự mình đóng chiến thuyền và chế tạo súng ống. Trước khi Trung Hoa có thể tự chế được vũ khí thì phải mua của ngoại quốc ngay cả từ người Anh. Ông cũng mua lại một chiến thuyền mà người Anh dùng để đánh lại Trung Hoa vài tháng trước.  
Thứ hai, ông nhận thức được sức mạnh của quần chúng trong chiến tranh chống lại xâm lăng và phải dựa vào họ để chống lại người Anh. Đã có lần ông nói với các tay buôn lậu nha phiến và bọn buôn chiến tranh là nếu người Anh không chịu ngừng việc xuất cảng thuốc phiện, ông sẽ kêu gọi dân chúng tham gia chiến đấu và họ sẽ có thừa để ” làm cho quân địch phải nhục nhã ”. Ông cũng công khai tuyên bố là nếu hải quân Anh dám ngang nhiên theo sông tiến vào nội địa, thì dân chúng địa phương sẽ tiêu diệt họ. Khi hải quân Anh chiến thành Định Hải (Dinghai) và đảo Chu San (Zhoushan), ông khuyên vua rằng ” thay vì giao chiến với địch trên biển cả mà không nắm chắc phần thắng, tốt hơn là nên dụ địch vào đất liền nơi đó không ai giúp đỡ và sẽ dễ dàng bị đánh bại ”. Đây là một khai triển nguyên tắc chiến lược rút lui để phòng ngự (retrograde defence).  
Cũng trong tấu chương đó, Lâm đưa ra quan niệm về chiến tranh du kích. Ông tâu vua là triều đình nên cho quân lính mặc quần áo thường dân cùng với dân địa phương trà trộn trở lại những nơi bị chiếm đóng. Khi nào số lính giả dạng này đông hơn quân địch thì sẽ nổi dậy chống lại chúng. Làm như thế, họ có thể quấy nhiễu quân Anh dễ dàng. Quan niệm của Lâm dựa vào ưu thế quân số tràn ngập kẻ thù bằng biển người rất giống lý thuyết về chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông. Mặc dầu nhà vua không nghe lời tâu của ông, dân chúng tại Triết Giang đã áp dụng chiến lược của Lâm và tự ý đánh đuổi quân Anh khi hải quân của họ đổ bộ trên vùng này. Một số quân địch bị giết và bị nông dân bắt bằng cách này.  


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:36:24 am
b/ Dân quân Tam Nguyên Lý và Chiến Tranh nhân dân 
Khi Kỳ Thiện thay thế Lâm Tắc Từ làm Tổng Đốc Hồ -Quảng tại Quảng Đông, lực lượng Anh cũng đã rời Đại Cô Khẩu trở về Quảng Đông tin chắc rằng Kỳ Thiện sẽ sẵn sàng thỏa mãn các yêu sách của họ. Khi thấy Kỳ Thiện không có quyền đáp ứng đòi hỏi của họ nhưng cũng không chuẩn bị chiến đấu, họ chụp lấy cơ hội và tấn công ngay. Tuyến phòng ngự của quân Tàu dễ dàng bị chọc thủng. Trong khi tiến vào Quảng Đông, Anh quân cướp bóc, phá phách, vũ nhục phụ nữ và giết người không nương tay khiến dân Trung Hoa cực kỳ phẫn nộ. Khi một phụ nữ bị lính Anh hiếp, người chồng cùng với một số nông dân khác đứng lên chống lại. Chẳng bao lâu, đa số nông dân tại Tam Nguyên Lý được động viên, hơn 15000 người trang bị bằng giáo mác, gươm đao và cả cuốc xẻng gia nhập dân quân và thủy binh sẵn sàng chiến đấu. Từ 29 tới 31 tháng 5 năm 1841, nông dân bao vây một tiểu đoàn Anh trước đây đã tấn công họ. Anh quân nhờ có mưa bão và được các viên chức địa phương cứu thoát nên chỉ tổn hại không nặng lắm. Chiến công này khiến cho tinh thần dân địa phương lên cao và trở thành một huyền thoại về vận động dân quân trong lịch sử Trung Hoa cận đại. Hậu quả không chỉ là quân Anh phải rút ngay ra khỏi Quảng Đông mà còn được dùng làm khuôn mẫu hữu dụng cho chiến tranh nhân dân và chứng tỏ cho thế giới biết rằng nông dân có thể đóng một vai trò quan trọng trong chiến tranh chống lại các thế lực đế quốc. Trận đánh này vì thế cần được phân tích thêm.
 Một cách tổng quát, nông dân là một thành phần quần chúng tương đối bảo thủ. Khung cảnh hoạt động của họ hạn chế trong một khu vực nhỏ. Họ rất ít quan tâm về những chuyện bên ngoài làng họ đang sống. Chính thế mà Marx và Lenin không nhấn mạnh vào sự quan trọng của nông dân trong các sơ đồ cách mạng. Thế nhưng nông dân sẵn sàng chiến đấu đến chết nếu có một lý do đủ mạnh để động viên họ. Trong trường hợp Tam Nguyên Lý, sự đối xử tàn tệ của quân Anh đã khiến họ công phẫn và khích động được. 
Tuy nhiên nếu chỉ có sự tàn ác của quân Anh là động lực duy nhất thì qui mô của nông dân sẽ giới hạn trong một hoặc vài làng mà thôi nhưng trường hợp Tam Nguyên Lý đã vượt qua mức độ đó. Khi 15,000 nông dân được động viên và trang bị trong vài ngày, ít nhất phải có hai điều kiện. Trước hết, phải có một lý do chung vượt qua giới hạn thôn xóm để có thể huy động được một số đông dân chúng trong một địa bàn rộng lớn. Thứ hai, phải có người nào đó đứng ra lãnh đạo nông dân.  Lý do chung:
Lý do chung khiến có thể động viên một số đông nông dân tham gia quân đội chính là lòng yêu nước. Người Anh tấn công Trung Hoa được xem như hành vi xâm lược. Thanh quân thua chạy mà không giao chiến khiến cho tự hào của người Trung Hoa bị tổn thương nặng. Khi Kỳ Thiện ký hòa ước đình chiến với Đại Tá Hải Quân Charles Elliot ngày 27 tháng 5 năm 1841 nước Tàu coi là một quốc nhục. Những ai sống ở vùng gần thành phố Quảng Đông chứng kiến tiến trình của biến cố này và cá nhân bị thương tổn ngay khi hòa ước ký kết. Cơn giận của họ có cơ bùng nổ. Người phụ nữ bị hiếp lập tức động viên sự công phẫn của họ. 
Sự lãnh đạo: Trong vai trò một giai cấp xã hội, nông dân không thích hành động tập thể ngoại trừ có ai lãnh đạo và tổ chức họ. Những học giả nghiên cứu về Trung Hoa hiện đại thường đề cập đến sự hợp tác giữa nông dân, nho sĩ và các cấp chỉ huy quân đội trong việc làm cách mạng. Dựa trên giả thuyết này, họ đưa ra lý lẽ để giải thích sự hợp tác của nông dân với Đảng Cộng Sản. Theo C. P. Fitzgeralt, trong khi nông dân ngày nay vẫn chỉ đóng vai trò ủng hộ và đi theo như tổ tiên họ đã làm, Đảng Cộng Sản thay thế các nho sĩ lãnh đạo cách mạng.
 Dưới một góc cạnh khác, Lôi Bá Luân, một sử gia Trung Hoa cũng tới một kết luận tương tự. Theo Lôi, lịch sử Trung Hoa có thể coi như một vở kịch trong đó vai trò hướng dẫn thay phiên giữa văn và võ. Thời bình, giai cấp sĩ đóng vai lãnh đạo và kiểm soát được giai cấp vũ dũng. Tuy nhiên khi trật tự chính trị tan vỡ và quốc gia rối loạn thì kẻ sĩ trở nên bất lực và phải nhường quyền cho giới quân nhân. Dẫu sao, khi kẻ vũ nắm được quyền họ vẫn cần kẻ sĩ giúp sức. Kẽ sĩ có đầu óc còn họ chỉ có bắp thịt. Cộng tác với nhau trật tự mới có thể thành lập. Người nông dân thì luôn luôn chỉ có một vai trò.
 Áp dụng các lý thuyết này vào trường hợp Tam Nguyên Lý, rõ ràng khi nông dân tức giận và sẵn sàng chiến đấu, họ được bố trí thành đơn vị chiến đấu bởi các nho sĩ và cấp chỉ huy quân đội trong vùng. 
Tại vùng Tam Nguyên Lý, có một lớp học đêm do một trưởng giả là Cử Nhân Hà Ngọc Thành (He Yucheng) và thầy đồ tên là Hoàng Bưu (Huang Biao) trông coi. Ngoài việc dậy lớp học đêm cho nông dân, những nho sĩ này còn tổ chức họ thành những đơn vị tự phòng để trị an và đóng một vai trò trong việc kháng cự của dân quân Tam Nguyên Lý. 
Ngoài ra còn có một viên chức chỉ huy thủy binh cũng tham gia. Theo nhật ký của người này thì ông ta có triệu tập một buổi họp để vận động họ ủng hộ và ủng cố phòng vệ địa phương vào ngảy 29 tháng 5 năm 1841, và có đông đảo đại diện của nhiều hương (xiang, như một làng của ta). Các nguyên tắc chung về tổ chức lực lượng địa phương và hành quân chiến đấu chứ không đi vào chi tiết hành động. Tuy nhiên, một biến cố khác xảy ra tại Đông Hoa Lý (Donghuali) cũng vào hôm đó đã khơi mào cho toàn thể chiến địch. Theo chính các ghi nhận của ông ta thì dường như ông này đóng một vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo công tác hành quân.
 Tam Nguyên Lý không phải là địa điểm kháng cự duy nhất trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Nha Phiến nhưng chỉ tại đây mới có tổ chức, ngoài ra các nơi khác chỉ là chiến đấu lẻ tẻ. Tuy nhiên cuộc đối kháng của dân binh có một tác dụng tâm lý đối với quân Anh mà cao điểm là trận đánh Tam Nguyên Lý. Việc này khiến quân Anh phải rút khỏi Quảng Đông vài ngày sau để ký kết thỏa ước đình chiến. 
Không có chứng cớ nào nói rằng cuộc kháng cự của Tam Nguyên Lý là một phần của chuẩn bị quân sự do Lâm Tắc Từ đưa ra khi ông làm Tổng Đốc Hồ -Quảng. Thế nhưng cũng rất có thể vì khi còn ở Quảng Đông, ông luôn luôn hô hào quần chúng nổi lên chống lại người Anh nếu họ dám tiến vào đất liền như đã đề cập trước đây. 
Từ đó tới nay, vận động dân binh đã được dùng trong nhiều chế độ trong nhiều thời kỳ khác nhau nhưng phần lớn là được tổ chức để bảo vệ trị an địa phương, mãi tới Trung-Nhật chiến tranh hồi thập niêm 1940, Cộng Sản Trung Hoa mới tổ chức chiến tranh du kích trong các vùng bị Nhật chiếm đóng. 
Lợi thế địa hình : Tong hầu hết mọi trường hợp, lực lượng dân quân thường không có vũ khí và trang bị tâm tiến mà cũng chẳng được huấn luyện quân sự để chiến đấu theo kiểu qui ước chống lại một kẻ thù trang bị đầy đủ hơn. Cơ hội để dân quân thắng trận theo kiểu thông thường rất nhỏ. Vì thế họ cần được hỗ trợ bằng lợi thế địa hình hay lực lượng chính qui hoặc cả hai. Dân quân trong chiến dịch Tam Nguyên Lý nhờ vào thủy binh và lợi thế của khu vực. 
Cuộc chiến trước tiên xẩy ra ở vùng đồi núi Ngưu Lan Cương (Niulan gang) nơi có một dải đầm lầy ở trước mặt. Dân quân hiểu rõ địa thế xung quanh và có lợi điểm là được chọn chiến trường và dùng được lực lượng trước khi quân địch tiến vào. Tôn Tử có nói : ” kẻ nào giữ được trận địa trước và đợi địch thì nhàn nhã, kẻ nào đến sau xông tới thì mệt nhọc ” (phàm tiên xứ chiến địa nhi đãi địch giả dật, hậu xứ chiến địa nhi xu giả lao -Hư Thực Thiên). Khi quân Anh tới chiến trường thì dân quân đã đợi sẵn. Một trận mưa bão đúng lúc khiến cho thuốc súng của Anh quân bị ẩm ướt không bắn được. Khi cận chiến, giáo mác của dân quân có lợi thế hơn lưỡi lê của địch. Quân Anh thoát nguy chính là nhờ quan quân Trung Hoa can thiệp. 
Trận đánh Tam Nguyên Lý đã được coi là một mẫu hình của dân quân chiến đấu tại Trung Hoa thời hiện đại. Tuy không có thể nói là vận động đại chúng trong thời cận kim là do chiến công Tam Nguyên Lý thì cũng sẽ không đúng nếu nói rằng tư tưởng của Mao Trạch Đông hoàn toàn không liên hệ gì tới chiến dịch này. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:37:05 am
B.   Phản ứng của thành phần trí thức
 Trí thức bao giờ cũng nhậy bén về chính trị hơn tất cả các thành phần khác trong xã hội và thường phản ứng lại những thay đổi về xã hội -chính trị. Thái độ của họ thường phản ảnh quan điểm quần chúng và là lực lượng dẫn đạo cho các cải cách chính trị. 
Vào thời kỳ người Trung Hoa tỉnh giấc sau khi bị đánh bại trong Chiến Tranh Nha Phiến, phản ứng của sĩ phu Trung Hoa chú trọng ưu tiên vào các để tài liên quan đến quân sự mà họ tin rằng là yếu tố then chốt dẫn đến tai họa cho đất nước.
Trong số những thảo luận các sử gia hiện đại thường nhắc tới quan điểm của Ngụy Nguyên (Wei Yuan) và của Phùng Quế Phương (Pheng Guifen) coi như quan điểm tiêu biểu của thành phần trí thức và sau này có ảnh hưởng đáng kể trên những chính sách quốc gia. 
Ngụy Nguyên là một người bạn của Lâm Tắc Từ và cùng trong một nhóm sĩ phu. Vì được tiếp xúc với Lâm nên Ngụy Nguyên biết rõ về sự chênh lệch giữa lực lượng Trung Hoa và lực lượng của Anh và cả những vấn đề quốc tế. Quan điểm của ông trên bình diện tổng quát rất gần với quan điểm của Lâm và có ảnh hưởng rộng rãi. 
Tác phẩm chính của Ngụy Nguyên là Hải Quốc Đồ Chí (Đại Từ điển về Các Quốc Gia Ngoài Biển) ấn hành lần đầu tiên năm 1842 sau khi Hòa Ước Nam Kinh ký kết. Tư tưởng của ông liên quan đến vấn đề quân sự chủ yếu nằm trong một loạt bài nhan đề Trù Hải Thiên (Kế Hoạch Phòng Thủ Duyên Hải) tóm tắt như sau :
 a/ Học hỏi từ kẻ thù :
Cũng như Lâm Tắc Từ và đa số các nhà trí thức khác, Ngụy Nguyên biết rằng khí giới của Tây Phương hơn xa Trung Hoa. Muốn bảo vệ đất nước, Trung Hoa cần nhiều tàu chiến và súng ống. Thay vì nhập cảng khí giới từ nước ngoài, ông cho rằng Trung Hoa phải học cách chế tạo. Tuy nhiên, Ngụy còn đi xa hơn và khẳng định rằng ưu thắng của Tây Phương không chỉ nằm trong phạm vi chiến thuyền kiên cố và súng ống tối tân mà còn cả lương cao bổng hậu cho quân sĩ, sự huấn luyện chu đáo và kỷ luật chặt chẽ. Vì lính được trả lương cao nên chọn được thành phần ưu tú, vì huấn luyện chu đáo và kỷ luật nghiêm nhặt nên binh sĩ luôn luôn nghe lời của người chỉ huy. ” Dẫu rằng có tàu bè chắc chắn, súng ống hiệu năng nhưng không kiểm soát được chặt chẽ thì cũng chẳng khác gì không có súng ống, không có chiến thuyền. Nếu không có hệ thống đãi ngộ xứng đáng thì cũng không thể tuyển được người có tài năng. Cho nên, trước khi mộ lính và huấn luyện họ thì phải cải cách lương bổng trước. Thà ít quân mà lương cao còn hơn”
b/ Chiến lược rút lui để phòng ngự và dẫn địch vào sâu trong đất liền :
 Ngụy Nguyên cực lực bài bác ý kiến thông thường cho rằng ” phòng vệ trong sông rạch không bằng chống địch ngoài cửa biển, phòng địch ngoài cửa biển không bằng đánh địch từ ngoài khơi ”. Ông cho rằng thật ra trên đại dương bao la, tàu địch di chuyển dễ nên khó tiêu diệt, bờ biển nước Tàu quá dài khó phòng ngự chặt chẽ. Nếu Trung Hoa cố bảo vệ toàn thể duyên hải, họ sẽ bị kiệt sức trong khi kẻ thù thảnh thơi, Trung Hoa bị chia cắt mà kẻ thù dễ tập trung. Thành thử, nếu phòng thủ cửa biển sẽ dễ hơn phòng thủ ngoài khơi và phòng thủ các thủy đạo (sông rạch) dễ hơn phòng thủ các cửa biển. 
Điều Ngụy Nguyên cố gắng đưa ra là chiến lược rút lui để phòng ngự. Dùng chiến lược này, ông có ý dụ địch vào một trận địa đã sắp xếp trước trong đất liền, lùa địch vào một khu vực chọn sẵn để địch rơi vào nơi đã bố trí cẩn thận và sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Ông dùng chiến công Tam Nguyên Lý để hỗ trợ quan điểm của mình.
c/ Dùng rợ kiềm chế lẫn nhau :
Khi thảo luận về phòng ngự, Ngụy Nguyên đưa ra một chiến lược cổ điển là dùng rợ này kiểm soát rợ kia. Ông nghĩ rằng nếu Trung Hoa có thể liên minh với Nga, Pháp và Mỹ thì có thể dụ cho Nga tấn công Đông Ấn từ trong đất liền, còn Pháp và Mỹ chạm trán quân Anh ngoài biển. Với chiến lược đó, người Anh có thể bị đánh bại dễ dàng mà không phải gửi một người lính ra mặt trận. 
Chiến lược của Ngụy Nguyên dựa trên giả thuyết là Nga, Pháp và Mỹ là kẻ thù của Anh và Trung Hoa có thể khuyến dụ họ chống lại Anh như trước đây Trung Hoa vẫn thường vẫn dùng để chống lại các giống rợ ngoài biên ải. Tuy nhiên, thực tế lại không giản dị như ông nghĩ. Chính thế mà Phùng Quế Phương đã phê bình ông là ”giống như bỏ mình qua một bên, dùng mưu mà không tự mình làm cho mình mạnh thêm”. Dầu sao chăng nữa, nếu các vấn đề Ngụy Nguyên bàn chỉ giới hạn trong phạm vi ngoại giao và liên minh quân sự với các nước khác thì vẫn có thể dùng được trong việc tìm kiếm giúp đỡ trong cộng đồng quốc tế. 
d/ Mở cửa cho ngoại quốc vào buôn bán :
Có lẽ Ngụy Nguyên là người đầu tiên trong thời đại của ông nhận thức được về sự lợi ích và cần thiết của việc mở cửa cho nước ngoài vào buôn bán và giao thiệp. Khi đề cập đến vấn đề này, ông không theo quan điểm cổ điển là dùng thương mại để vỗ an nhung địch, mà vì lợi ích của cả đôi bên trong các hoạt động kinh tế. Giáo sư Phùng Hữu Lan (Pheng Youlan) cho rằng đây là một quan niệm tiến bộ trong vấn đề tương quan quốc tế. 
Trước đây người Tàu vẫn thường dùng hàng hóa trao đổi như một chiến lược nhằm mục tiêu ngoại giao để kiềm chế các nước láng giềng. Tuy nhiên, họ chưa bao giờ dùng thương mại làm chiến lược cải thiện tình trạng kinh tế như Ngụy Nguyên đưa ra. 
Nếu nhà Thanh nhìn thấy lợi ích của chiến lược thông thương trong thế kỷ 19, họ đã tránh được một số xung đột với các nước Tây Phương. Ít nhất họ cũng mua được một số kỹ thuật và vũ khí mới để củng cố kinh tế và quốc phòng. Tiếc thay, Thanh triều không tiếp nhận đề nghị của Ngụy Nguyên kịp lúc nên họ chỉ mua khí giới trả tiền mặt mà không mở rộng công việc xuất nhập cảng. 
Tác phẩm của Ngụy Nguyên nổi tiếng và được nhiều người đọc trong thập niên 1840 sau khi thua trận chiến tranh Nha Phiến và Trung Hoa nóng lòng đi tìm những phương cách cứu nước. Quan niệm của ông về việc học hỏi phương Tây và xây dựng những xưởng đóng tàu chiến, khí giới về sau được các chính quyền chấp nhận và thực hiện trong Dương vụ vận động (Yangwu Movement) mà chúng tôi sẽ bàn đến trong các phần kế tiếp.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:37:37 am
C.   Phùng Quế Phương và ảnh hưởng của ông
Phùng ít tuổi hơn Ngụy và tác phẩm đầu tiên của ông được biết đến vào thập niên 1860 sau khi Ngụy đã qua đời. Trên bình diện tổng quát, tư tưởng của ông tương tự như của Ngụy Nguyên nhưng đào sâu hơn trong một số vấn đề. Ông chứng tỏ một nhãn quan rộng rãi về thế giới Tây phương và đưa ra những cải tổ xã hội -chính trị cần thiết cho Trung Hoa. Cho nên ảnh hưởng của ông đối với xã hội trung Hoa còn sâu sắc hơn. 
a/ Học hỏi phương Tây và Tự cường :
Cũng tương tự như Ngụy Nguyên, Phùng công nhận rằng chiến hạm của Tây phương kiên cố và súng ống của họ đắc dụng hơn và vì thế Trung Hoa phải sử dụng các khí giới đó. Trong việc học hỏi Tây Phương, ông nhấn mạnh vào hai điểm và đó chính là chỗ khiến ông ảnh hưởng nhiều đến xã hội Trung Hoa hơn Ngụy Nguyên. 
Trước hết, Phùng nhận định rằng khi Trung Hoa muốn học hỏi của Tây phương thì họ không những phải mua khí giới mà còn phải học cách chế tạo, không phải chỉ bắt chước mà còn phải phát minh ra các kiểu mới từ từ sẽ chế tạo, sửa chữa và sử dụng khí giới chẳng khác gì Âu Mỹ. Trung hoa phải cố gắng hết sức để thông thạo các kỹ thuật này và biến thành kỹ thuật Trung Hoa. Có như thế, người Tàu mới đủ sức phòng vệ và thoát ra khỏi những đe dọa của nước ngoài. Cái đó gọi là tự cường. 
Thứ hai, ông tin rằng nếu Trung Hoa muốn thông thạo các kỹ thuật của Tây Phương thì phải cải cách hệ thống giáo dục và những ai học kỹ thuật phương Tây đạt đến một mức độ nào đó cũng được cấp bằng tương tự như học trình cũ. Đề nghị của ông không hạn chế vào kỹ thuật mà cả những khoa học căn bản như toán, hóa, vật lý và cả thiên văn. Học những khoa học đó, Trung Hoa không những cải tiến được kỹ nghệ quốc phòng một cách nhanh chóng mà còn có thể kiến tạo nền móng cần thiết cho việc phát triển trường kỳ của hệ thồng kinh tế -xã hội.
Ngoài ra, Phùng đề nghị chính quyền Trung Hoa nên xây dựng các trường học ngoại ngữ hay các trung tâm phiên dịch ở Quảng Đông và Thượng Hải để dạy thanh niên tiếng nước ngoài ngõ hầu họ dịch thuật được sách ngoại quốc. Việc đó giúp cho kiến thức của Tây Phương tràn vào mạnh mẽ hơn. 
b/ Về lực lượng quân sự :
Khi bàn về hậu quả của khí giới đối với năng lực chiến đấu của một lực lượng võ trang, Phùng bàn sơ qua về hai điểm : 
Trước hết, việc Thanh quân bị quân Anh đánh bại không chỉ hoàn toàn vì yếu kém trên lãnh vực tàu chiến và khí giới mà việc huấn luyện và đội hình chiến đấu của kẻ địch cũng có nhiều ưu điểm hơn quân đội Trung Hoa. 
Thứ hai, Trung Hoa không thể chỉ dựa vào nhập cảng khí giới để trang bị quân đội mà phải cấp tốc kiến tạo những xưởng đúc súng riêng. Nếu không họ sẽ không thể phát động tấn công ra ngoài biên cương đánh thẳng vào căn cứ địa và tiêu diệt kẻ thù ngay trên đất của họ. Đây quả thực là một ý kiến cực kỳ táo bạo theo như tình hình lúc bấy giờ. Tuy nhiên quan điểm của Phùng Quế Phương đã chứng minh là đúng trong nhiều trường hợp trong lịch sử. Mua khí giới thì lực lượng quân sự đủ mạnh để đàn áp các cuộc nổi dậy trong nước, nhưng lại không đủ sức để chống lại những nước cung cấp vũ khí và chiến cụ cho mình. Thật khó khăn nếu trông cậy vào vũ khí ngoại quốc để tự phòng và lại càng không thể trông chờ nước ngoài cung cấp trang bị để thành lập một lực lượng quân sự đủ khả năng tấn công kẻ thù bên ngoài lãnh thổ. 
Về phương diện tổ chức quân đội, Phùng Quế Phương cực lực ủng hộ một lực lượng nhỏ nhưng tinh nhuệ. Ông cho thấy Trung Hoa có khoảng 1 triệu quân trong đó 200,000 chuyên giữ việc hộ đê. Họ không thể dùng vào việc trị an hay chống lại tấn công của địch. Thành thử phải giải thể các đơn vị này. Phùng Quế Phương cũng cho hay nhiều đơn vị khác không đủ quân số. Theo những con số ông đưa ra, nhiều quân lữ thiếu đến 40, 50% và 20% không tác chiến được vì già yếu. Thành ra không đến 50% có thể dùng để chiến đấu. 
Dựa trên các phân tích đó, Phùng Quế Phương đưa ra một đề nghị táo bạo là giải ngũ 2/3 quân số, nhưng tăng lương những người còn lại lên gấp ba. Ông cũng đề nghị không ưu đãi chủng tộc, người Hán hay người Mãn đều được đối xử bình đẳng nếu họ còn đủ tiêu chuẩn phục vụ trong quân đội.
 c/ Triết lý Thể Dụng (Tiyong) và ảnh hưởng trên việc canh tân Trung Hoa:
Theo Phùng Quế Phương, Trung Hoa không cần phải học hỏi các nước Âu Tây về cải cách xã hội -kinh tế vì Trung Hoa có thể tiến bộ hơn ngoại quốc nếu họ theo sát tinh thần và nguyên tắc của Khổng học cộng với kỹ thuật tân tiến của Tây phương. Như thế đủ để làm cho xã hội cường thịnh. Khuynh hướng đó sau được phát triển để thành thuyết Thể Dụng (Tiyong), giữ các truyền thống giá trị của Trung Hoa làm nền tảng cho xã hội và dùng kỹ thuật Tây Phương làm phương tiện. Thuyết đó ngự trị các phát triển chính trị của Trung Hoa trong nhiều thập niên hậu bán thế kỷ 19. 
Về sau các nhà cách mạng phê bình thuyết Thể Dụng và cho là nguyên nhân làm cuộc Dương Vụ vận động thất bại. Tuy nhiên, nếu quan sát các cuộc canh tân cận kim trong các quốc gia đang mở mang, thuyết Thể Dụng đã được theo đuổi theo nhiều mức độ khác nhau và cũng được các học giả chấp nhận coi như một hiện tượng trong sáng. Văn hóa dân tộc và truyền thống càng ngày càng được coi trọng trong tiến trình cải cách trong hầu hết các nước đang phát triển. Về phần Trung Hoa hiện đại, chính phủ Quốc Dân Đảng không bao giờ chấp nhận Âu hóa hoàn toàn trong suốt cuộc cách mạng dai dẳng mà họ theo đuổi, còn Cộng Sản thì sau những thời kỳ rối loạn đã chứng tỏ họ phải chấp nhận truyền thống văn hóa Trung Hoa là điều trước đây họ dứt khoát đào thải không nhân nhượng. Trong khi họ vận dộng cho Tứ Hạng Hiện Đại Hóa (Four Modernizations) hiện nay, họ thường giương cao ngọn cờ Tứ Kiên Trì dùng như Thể để du nhập kỹ thuật Tây Phương ngõ hầu kích động kinh tế bằng một cuộc Dương Vụ vận động mới. 
Tuy nhiên, khi lý thuyết này đem áp dụng vào hiện đại hóa quân sự, khẳng định phải theo hệ thống cổ truyền của Trung Hoa đã gây nên vô số vấn đề khiến cho các phương tiện tân tiến của ngoại quốc không dùng được và không bảo vệ quốc gia khỏi bị xâm lăng. Vì thế, vấn đề then chốt là phân biệt truyền thống nào có thể giúp hay ít nhất không ngăn trở tiến trình canh tân hóa và phần nào hoàn toàn lỗi thời có thể gây nguy hại đến công cuộc đổi mới. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:38:14 am
D.   Sự bất ổn xã hội và Tự cường Vận động
  Chưa đến 10 năm sau khi ký hòa ước Nam Kinh, trật tự xã hội nước Tàu trở nên hết sức tồi tệ. Các cuộc nổi dậy mà nổi bật nhất là loạn Thái Bình và giặc Niệm suýt nữa lật đổ được triều đình vốn đã lung lay. Chỉ trong hai năm, từ một làng nhỏ ở tỉnh Quảng Tây, binh lính của giặc Thái Bình gia tăng nhanh chóng dễ dàng chiếm cả miền nam và trung nước Tàu. Sau khi chiếm Nam Kinh vào tháng 3 năm 1853, họ có khả năng đem quân tiến về phương bắc uy hiếp triều đình và kinh đô. Quân Trung Hoa chưa phục hồi sau khi bại trận trong chiến tranh Nha Phiến nên không ngăn nổi quân Thái Bình tại vùng Dương Tử. Hoàng đế bắt buộc phải xuống chiếu kêu gọi lực lượng dân quân của tỉnh Hồ Nam do Tăng Quốc Phiên chỉ huy để chống giặc. Phiến quân chỉ bị dẹp tan khi chiếm lại được Nam Kinh vào năm 1864. Dù sao, tài nguyên quốc gia cũng bị kiệt quệ và triều đình càng thêm khó khăn.
 Trong khi quân triều đình phải lo chống nhau với giặc Thái bình và giặc Niệm thì cuộc Chiến Tranh Nha Phiến lẩn thứ hai bắt đầu vào năm 1856, nhà Thanh đối diện một hoàn cảnh vô cùng nan giải. Kết quả của việc lưỡng đầu thọ địch là Thanh triều phải ký thêm hai hòa ước bất bình đẳng nhường thêm cho các nước Tây Phương nhiều quyền lợi khác. Mối quốc nhục và tình trạng bất ổn của xã hội đã đưa đất nước vào một hiện tình khó khăn chưa bao giờ có. Sĩ phu Trung Hoa đòi hỏi cải cách để cứu nước khỏi bị bại liệt hoàn toàn bởi liệt cường Tây Phương. 
Trong tình trạng thôi thúc canh tân như thế, quần chúng sẵn sàng nghe bất cứ đề nghị nào. Vì thế các tác phẩm của Ngụy Nguyên và Phùng Quế Lan được nhiều người đọc. Sách của Phùng hoàn tất và được trình lên cho Tăng Quốc Phiên vào năm 1860 khi Tăng vẫn còn chỉ huy Tương quân (Xiangjun) dẹp loạn Thái Bình. 
Mặc dầu tác phẩm của Phùng Quế Phương chỉ được in ra sau khi ông chết, việc Tăng Quốc Phiên khen ngợi khiến cho nhiều người tìm đọc và lưu hành trong giới quan lại và sĩ phu. Ý kiến về Tự Cường (Ziqiang) được xã hội nhanh chóng chấp nhận. Tuy nhiên, triều đình nhà Thanh chỉ để ý đến nững đề nghị về các vấn đề kỹ thuật chẳng hạn như xây dựng kỹ nghệ quân sự và mở các trường dạy ngoại ngữ. Họ không quan tâm đến các đề nghị về cải tổ giáo dục hay thay đổi hệ thống quân sự và chính trị để có thể hội nhập được với tình thế mới. Nếu Thanh triều chấp nhận các đề nghị về cải tổ hệ thống giáo dục và quan lại, thì chỉ đến cuối thế kỷ 19 họ đã xây dựng được một nền móng vững chắc cho việc canh tân kinh tế của Trung Hoa nói chung và quân sự nói riêng. Rủi thay, các đề nghị này đến cuối thế kỷ mới được đem ra thi hành. 
Tự Cường vận động còn được biết đến nhiều hơn dưới cái tên Dương vụ vận động (Yangwu Movement). Chương trình cải tổ này bắt đầu vào năm 1860 khi hòa ước Bắc Kinh được ký kết và hoàn toàn thất bại năm 1895 khi Trung Hoa đại bại trong cuộc chiến Trung -Nhật và phải bắt buộc ký Hiệp Ước Shimonoseki trong đó Trung Hoa mất rất nhiều đất đai và quyền lợi. 
Vô số sách vở viết về Dương vụ vận động tại Trung Hoa và hải ngoại trong những năm gần đây. Dù nhà nghiên cứu có thái độ nào chăng nữa, họ cũng thường thường đồng ý là động lực nguyên thủy của vận động này là nhằm cải thiện tình trạng quân sự của Trung Hoa. Nói khác đi, mục tiêu đầu tiên là du nhập kỹ thuật Âu Tây để đóng tàu chiến và đúc súng ống. Tuy về sau vận động bành trướng sang các kỹ nghệ không quân sự và dịch nhưng mục tiêu nguyên thủy vẫn quan trọng hơn hết. 
Từ năm 1860 đến năm 1895, qua những nỗ lực của các chính trị gia Dương Vụ, lực lượng quân sự của Trung Hoa đã đạt tới một trình độ tương đối tân tiến nói về súng ống và tàu chiến. So với lực lượng Nhật, hải quân Trung Hoa và bộ binh số lượng đông hơn. Thế nhưng lực lượng Trung Hoa bị đánh bại và nhiều trường hợp bị phá hủy hoàn toàn mà không có giao tranh nặng nề. Nhiều cuộc bàn luận về sự thất bại của Dương Vụ vận động nói chung và xây dựng quân sự nói riêng. Hồ Thằng, chủ tịch Học viện Khoa học Xã hội Trung Hoa tin rằng Dương Vụ vận động thất bại lý do chính là vì tương quan sản xuất lỗi thời của xã hội phong kiến Trung hoa đã không xây dựng được một nền tảng vững chắc cho phát triển kỹ nghệ, nhất là kỹ nghệ quân sự tân tiến. Tôn Ngữ Đường (Sun Yutang), một sử gia thì cho rằng sở dĩ Trung Hoa dưới thời Nhà Thanh thất bại trong kỹ nghệ quân sự mới là vì chỉ biết nhập cảng từ nước ngoài mà không phát xuất từ cơ sở vững chắc về hệ thống xã hội -kinh tế của nước Tàu. Khi xét về lực lượng Trung Hoa vào thời kỳ ấy, người ta còn tìm ra rằng mặc dù quân đội được trang bị súng ngoại quốc, và do huấn luyện viên nước ngoài dạy theo nguyên tắc quân sự Âu Mỹ, họ không thực sự hiểu họ đang làm gì và tại sao phải làm như thế. Nói khác đi, trên phương diện tinh thần và tâm lý, binh sĩ Trung Hoa trong nhiều phương diện không được chuẩn bị để chiến đấu một cuộc chiến hiện đại. Thay vì học tập một cách nghiêm chỉnh, binh sĩ và sĩ quan giống như đóng trò trên sân khấu. 
Một sĩ quan hải quân Anh đã phê bình như sau khi ông duyệt một đơn vị Trung Hoa xem cách họ thao tác huấn luyện :
Từ những gì tôi nhìn thấy trong cách họ trình diễn, những người lính hành động giống như họ chỉ đóng vai binh lính chứ không phải lính thật. Điều đó làm cho chúng ta tin rằng họ thực sự chẳng biết tí gì về mục tiêu thực sự của những trò buồn cười mà họ đang đóng... Tôi e rằng trong trường hợp họ đụng trận thực sự, họ sẽ quên hết những gì họ đã thực tập còn nhanh hơn khi họ học nữa. 
Để làm chứng, ông ta đưa ra hai thí dụ chỉ cho ta thấy binh sĩ Trung Hoa không chuẩn bị tinh thần và vô kỷ luật đến mức nào. 
Thứ nhất, sau khi bắn bia, những người lính đó rửa súng dưới một dòng suối mà dĩ nhiên là không sạch sẽ gì lắm. 
Thứ hai, khi cấp chỉ huy muốn khoe người khách ngoại quốc về binh sĩ thực tập thành công tới mức nào trong trường hợp khẩn cấp. Một đêm thanh vắng, cùng với người khách, viên chỉ huy rung chuông báo động để cho quân vào vị trí ứng chiến. Ông ta cố hết sức bằng đủ mọi cách nhưng không ai phản ứng gì. Họ tiếp tục trong doanh trại cười cợt nghĩ rằng viên sĩ quan đùa nghịch như những lần trước. Thành ra họ muốn cho ông ta một vố. 
Tình trạng hải quân cũng không khá hơn. Năm 1870, Trung Hoa mướn Đại Tá Luxmore, một sĩ quan hải quân Anh, chỉ huy chiến hạm lớn nhất có tên Dương Vụ. Viên quan nhà Thanh cao cấp nhất trên chiến hạm đó là một Đề Đốc (Tidu, tương đương cấp tướng). Đại Tá Luxmore mô tả ông ta như sau :
Tôi không biết ông Đề Đốc làm gì trên chiến thuyền này vì ít khi thấy ông ta ở trên tàu. Mỗi khi ông đến ông thường đóng cửa chặt trong phòng riêng, trong đó có tượng Mã Tổ (Mazu) mà người ta tin rằng độ trì cho thuyền trên biển. Ông lão ở trong phòng chẳng làm gì ngoài việc tụng kinh và nhập định ... Chẳng hiểu sao viên tướng già này lại được giao chức vụ này vì ông ta chẳng biết gì về máy hơi nước hay Anh ngữ là ngôn ngữ chỉ huy duy nhất dùng trên chiến hạm. 
Dương Vụ vận động nhằm tập trung canh tân quân sự nhưng tới 1880 tình trạng vẫn còn như thế. Theo tác giả cuốn Hải Trình Lupwing (The Navigation of Lupwing), vấn đề của lực lượng Trung Hoa là thiếu kỷ luật, thiếu tổ chức, thiếu lãnh đạo và thiếu đạo đức. Ông viết :
Ai ai cũng biết rằng một quân đội chỉ có nhân sự mà không có kỷ luật và tổ chức thì không những vô dụng mà còn có hại nữa. Hơn nữa, ngay cả hạm đội hay quân đội có năng lực nhất cũng sẽ bị đánh bại nếu người chỉ huy không có khả năng, hiểu biết và khôn ngoan. Nói về lực lượng vĩ đại của quân đội Trung Hoa, người ta thấy rằng các cấp chỉ huy thiếu khả năng lãnh đạo nặng nề.
 Lời phê bình sau cùng của ông ta như sau :
Đánh giá theo tiêu chuẩn Tây Phương, quân đội Trung Hoa hình thức khá hơn thực chất. Tổ chức, nếu chữ đó có thể để mô tả hệ thống của người Tàu thì quả thực là một trò cười. Quân lực Trung Hoa chỉ giản đị là một đám người ô hợp có trang bị nhưng không có kỷ luật gì cả. 
Những trích dẫn đó giúp chúng ta nhận thức được sự thất bại của Dương Vụ vận động và trên hết việc hiện đại hóa quân sự ở mức độ này không phải chỉ tại sự lạc hậu của tương quan sản xuất hay năng lực kỹ nghệ. Nó chính yếu là tùy thuộc vào sự hiểu biết không thấu đáo về tinh thần của canh tân hóa. Đa số dân Trung Hoa kể cả các đại thần và binh sĩ chưa sẵn sàng thay đổi thái độ để đạt được những gì việc hiện đại hóa đòi hỏi. Không thể nào nghi ngờ gì về việc chính quyền cũng như lực lượng quân sự cực kỳ thối nát như trên đây đã đề cập cũng là những trở lực khiến cho canh tân quân sự không thành công. Làm cách nào có thể tổ chức quân đội cho thích hợp với các vũ khí mới mua cũng như áp dụng các chiến thuật chiến lược thì chỉ có một số ít ỏi cấp lãnh đạo sáng suốt nhìn ra được nhưng đại đa số quân sĩ thì hoàn toàn mù tịt. Chính thế mà nỗ lực tiên khởi của Trung Hoa trong việc canh tân quân sự đã thất bại. Ngoài ra, như đề cập trước đây, các nhà lãnh đạo Trung Hoa không nhận thức được căn bản của cải cách hệ thống giáo dục cần phải làm trước để không những tạo nên một sinh thái thay dổi trong xã hội mà quan trọng hơn là đặt được nền móng vững chắc cho công cuộc hiện đại hóa. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:39:12 am
3.   SỰ TRỖI DẬY CỦA CÁC LỰC LƯỢNG ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÔNG CUỘC CANH TÂN QUÂN SỰ CỦA TRUNG HOA
  Sau khi Trung Hoa bị đánh bại trong trận chiến tranh Nha Phiến lần thứ hai và ở trong tình trạng luôn luôn bị các cuộc nổi dậy của nông dân đe dọa, Thanh đình bắt buộc phải đề xướng duy tân. Nếu Tự Cường vận động là kết quả của phản ứng xã hội đối với sự thất bại trong chiến tranh Nha Phiến lần thứ hai thì các lực lượng võ trang địa phương, Tương quân và Hoài quân, lại là sản phẩm chính trong việc dập tắt các vụ nội loạn. Những người hưởng ứng vận động Tự Cường vốn dĩ là trí thức và những người chỉ huy Tương quân, Hoài quân và những chính sách chủ yếu trong vận động này tập trung vào canh tân quân sự. Vì thế kết quả tức thời của các phong trào xã hội là sự lớn mạnh của các lực lượng địa phương sau này có những ảnh hưởng đáng kể trên sự phát triển xã hội -chính trị của Trung Hoa. 
A.   Tăng Quốc Phiên và Tương Quân
  Tăng Quốc Phiên là một nho sĩ có liên hệ chặt chẽ với thành phần trí thức và vì thế ủng hộ các quan điểm về vận động tự cường. Khi loạn Thái Bình lan tới miền trung nước Tàu, ông đang chịu tang mẹ nên ở nhà tại Tương Hương (Xiangxiang) trong tỉnh Hồ Nam. Chung một nỗi sợ như dân trong vùng về giặc Niệm và giặc Thái Bình, ông tha thiết muốn giúp triều đình chống giặc. Vì thế khi vua Hàm Phong (Xianfeng) xuống chiếu mời ông giúp việc tổ chức các lực lượng dân quân địa phương ở Hồ Nam, ông lập tức hăm hở lao mình vào việc năm 1853. Nhận thức được nhược điểm của hệ thống quân sự trong Bát Kỳ Binh và Lục Kỳ Quân, ông bắt đầu phát huy tư tưởng quân sự riêng trong việc tổ chức dân binh sau này gọi là Tương Quân, và từ đó xuất hiện những lực lượng địa phương sau này trở thành những quân phiệt trong thời cận đại Trung Hoa. 
a/ Cải cách của Tăng Quốc Phiên trong tổ chức quân sự :
Quân đội Trung Hoa vào giữa thế kỷ 19 thường bị phê phán ít nhất trên 3 nhược điểm: 
Trước hết, quân đội Trung Hoa thiếu huấn luyện nên chiến đấu không hữu hiệu. 
Thứ hai, lương bổng quân sĩ ít ỏi nên họ không có động cơ để thi hành nhiệm vụ cho thích đáng 
Thứ ba, trong chiến trận thường là tổng hợp lính của nhiều đơn bị khác nhau và do một viên chỉ huy nhất thời nên binh sĩ không tin tưởng nên thiếu tinh thần tập thể 
Nhận thấy các khuyết điểm đó, Tăng Quốc Phiên quyết định thành lập một hệ thống quân sự mới tránh được các vấn đề đó. 
Khi ông nhận lệnh tổ chức dân quân ở tỉnh Hồ Nam, ông ra lệnh cho quan lại các huyện tổ chức dân chúng thành các đơn vị dân quân và huấn luyện sơ khởi họ. Sau đó ông chọn những thành phần khá nhất và đem về Tràng Sa (Changsa), thủ phủ tỉnh Hồ Nam huấn luyện kỹ càng hơn. Đích thân ông trông coi công tác và cũng chính ông chỉ huy các đội dân binh tinh nhuệ này ra trận. Sau khi thử thách thành công đánh thắng quân Thái bình ở Hồ Nam, vua Hàm Phong ra lệnh cho ông tiến ra khỏi biên giới tỉnh. Lực lượng dân quân thay thế cho Lục Kỳ Quân chủ động trong các chiến dịch chống phiến loạn. 
Phấn khởi vì các thắng lợi ban đầu và để đáp ứng được nhu cầu chiến tranh, ông quyết định bành trướng lực lượng. Ông viết quân luật để trình bày tổ chức, cấp số và chương trình huấn luyện quân sự. Lực lượng dân quân biến thành một lực lượng võ trang hùng mạnh sau này được gọi là Tương Quân. 
Trong tổ chức, Tăng Quốc Phiên theo một hệ thống hoàn toàn mới. đích thân ông chọn các tì tướng và lại giao cho họ việc chọn những người phụ tá của họ. Cứ như thế mà áp dụng tới mọi cấp xuống tận tiểu đội rồi tiểu đội trưởng tuyển ấy lính của mình. Binh sĩ phải và chỉ tuân lệnh cấp chỉ huy trực tiếp mà thôi. Tổ chức như thế, quân đội đương nhiên phát triển liên hệ chặt chẽ giữa người chỉ huy và các phụ tá, cũng như tình cha con và do đó tinh thần lên rất cao. 
Khi những vấn đề Lục Quân trước đây gặp phải đã được giải quyết thì một vấn đề mới dần dần hình thành gây ra những vấn đề rắc rối về quân sự và chính trị trong những năm về sau. Trong hệ thống Lục Kỳ và Bát Kỳ lực lượng quân sự dưới quyền kiểm soát trực tiếp của chính quyền trung ương. Họ thuộc về quốc gia chứ không phải của cá nhân nào. Hoàng Đế, qua Thượng Thư bộ Binh có toàn quyền bổ nhiệm các cấp chỉ huy và người đó chỉ huy tất cả các đơn vị dưới quyền. Tuy nhiên, từ khi dân quân hồ Nam thành lập triều đình không còn giữ quyền chỉ huy được nữa, người lính chỉ nghe lời người tuyển mộ họ và làm việc với người đó. Quân đội hóa thành một lực lượng tư nhân. Theo hệ thống này một khi người chỉ huy bị bãi chức thì cả bộ tham mưu và có khi toàn thể đơn vị cũng phải giải tán và một người chỉ huy mới sẽ có thể tuyển họ lại để có thể có liên hệ chặt chẽ với những người này. 
Vì là quân địa phương nên nhiều năm sau, Tương Quân vẫn chưa được coi như một đơn vị chính qui của Trung Hoa. Trong thời gian đài đằng đẵng đó, họ không được triều đình trả lương mà do viên chức sở tại và vì thế họ được trả cao hơn binh lính thường. Sự cách biệt về lương bổng khiến cho triều đình phải cố gắng tăng lương cho các lực lượng chính qui. 
b/ Thuyết Lý Học và Giáo dục Chính Trị của Tương Quân
  Khi Tăng Quốc Phiên bắt đầu xây dựng dân quân sau trở thành Tương Quân, ông muốn sửa chữa những tệ đoan hiện hữu trong lực lượng quân sự thời đó và chấn chỉnh tác phong quân đội. Ông là một nho sĩ thuộc phái Lý Học, một trường phái mới trong Nho giáo phát triển vào đời Tống và đời Minh. Phái này đòi con người phải tự soi chiếu cá nhân mình để hướng dẫn các hoạt động tinh thần ngõ hầu tránh được những lệch lạc khỏi lương tâm. Tăng Quốc Phiên nhấn mạnh vào việc tu thân để lương tâm tiến đến chỗ toàn thiện. Để tăng cường phẩm chất đạo đức trong quân đội ông áp dụng lý học vào tiến trình tuyển mộ và chương trình huấn luyện để cho phù hợp với các nguyên tắc Khổng giáo.
 Là một nho sĩ thuần thành, Tăng Quốc Phiên rất bất bình với giặc Thái Bình vì họ tự nhận là người Cơ Đốc. Trong lời hịch của ông truyền đi chống lại giặc Thái Bình, ông tố cáo quân đội này đang nỗ lực phá hủy truyền thống Nho giáo. Cho nên ông kêu gọi ai là người còn dũng khí và biết lẽ phải hãy chiến đấu để bảo vệ văn minh dân tộc. 
Để dạy Tương Quân tư tưởng Khổng giáo, ông chọn các sĩ quan trong hàng nho sĩ. Tin tưởng vào thành phần này trong bộ tham mưu, ông bắt đầu xây dựng một căn bản đạo đức mới cho các lực lượng võ trang của Trung Hoa. Ngoài ra, ông tuyển mộ binh lính trong số nông dân vùng núi tỉnh Hồ Nam. Ông cố ý loại ra ngoài những tên du thủ du thực ở thành thị không cho gia nhập quân đội vì ông nghĩ rằng tinh thần chất phác của nông dân thích hợp với một quân đội kỷ luật hơn. 
Khi huấn luyện binh sĩ, Tăng Quốc Phiên nhấn mạnh vào nguyên tắc ” trung thành, công chính, can đảm và cao thượng ”. Trung thành và công chính là tinh thần cốt tủy của Khổng giáo, nền tảng cho văn minh Trung Hoa. Trung thành đòi hỏi mỗi người phải phụng sự vương triều và cấp trên. Công chính bắt người ta hành sử hợp với thiên lý và luân lý không vướng vào tội lỗi. Can đảm và hướng thượng là mục tiêu của mọi quân nhân. 
Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa một lực lượng quân sự nhận thức được các giá trị văn hóa cổ truyển và sử dụng như vũ khí để chống giặc. Huấn luyện ý thức trong quân đội đã phần nào đóng góp vào sự thành công của Tăng Quốc Phiên.
 Như đã đề cập trước đây, các sĩ quan của Tương Quân đều là nho sĩ và vì thế họ là những huấn luyện viên chính trị xuất sắc. Ngoài ra, có các huấn luyện viên chuyên môn luôn luôn ở tại đại bản doanh của Tăng. Các sĩ quan này có nhiệm vụ trông coi các vấn đề thuộc về ý thức. 
c/ Chiến lược của giặc Thái Bình và giặc Niệm và hậu quả của nó đối với tư tưởng quân sự của Tăng Quốc Phiên
 Là một nho sĩ nên Tăng Quốc Phiên không có kinh nghiệm gì về quân sự trước khi nhà vua ra lệnh cho ông huấn luyện dân binh hồi năm 1853. Cho nên, tư tưởng quân sự của ông chỉ phát triển trong tiến trình dẹp giặc Thái Bình và giặc Niệm. 
Chiến tranh lưu động của phiến quân : Trong giai đoạn đầu mới nổi dậy, quân giặc còn yếu nên họ không chiến đấu trong một vị trí cố định. Thay vào đó, họ hay dùng chiến tranh du kích và lưu động chơi trò trốn tìm với kẻ thù để cho quan binh kiệt sức. Khi có cơ hội họ sẽ ập tới tiêu diệt. 
Khi giặc Thái Bình và giặc Niệm bắt đầu nổi lên, họ cũng theo nguyên tắc đó để tránh đụng độ với quân Thanh trong một cuộc chiến vị trí. Từ 1850 đến 1852, quân Thái Bình đã đánh tới Hồ Nam bằng chiến lược này. Họ chiếm được nhiều thành thị mà không phải chiến đấu quyết liệt cho tới tận Tràng Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam ở miền trung nước Tàu. Họ vây thành hơn hai tháng rất hung hãn nhưng không chiếm được. Cho nên họ bỏ sang phía đông xuôi dòng Dương Tử chiếm Vũ Xương và Nam Kinh. Vì tấn công bất ngờ nên quân Thanh trở tay không kịp để cho phiến loạn chiếm được dễ dàng. Sau khi chiếm Nam Kinh quân Thái Bình lập kinh đô tại đây. Thay vì tập trung quân đánh lên phương Bắc, họ chỉ bảo vệ kinh thành và các vùng lân cận. Mặc dầu họ vẫn làm chủ chiến trường ở trung bộ nước Tàu nhiều năm nữa và tiếp tục dùng chiến tranh lưu động trong khu vực này nhưng họ mất thế chiến lược ban đầu và rơi vào chiến đấu vị trí một cách thụ động. 
Thế nhưng giặc Niệm vẫn dùng chiến thuật lưu đông cho đến khi tàn lụi. Họ thua vì không có một căn cứ vững chắc chứ không phải không kiểm soát được cục diện. Trong một lá thư gửi cho em là Tăng Nguyên Phủ (Deng Ranpu) (Nguyên Phủ là hiệu, tên thật là Tăng Quốc Thuyên), một tướng lãnh của Tương Quân, Tăng Quốc Phiên mô tả Niệm quân đã dùng chiến thuật lưu động chống lại quân triều đình như sau :
“... Họ có khả năng chiến đấu nhưng không bao giờ đụng trận một cách khinh suất. Họ chờ cho ta di chuyển rồi tấn công khi ta đang đi. Đây chính là chiến lược của quân Thái Bình trong giai đoạn đầu mới nổi lên. Thứ tư, họ hành đông nhanh như bão táp. Có khi họ đi nghìm dặm trong vài ba ngày mà không ngừng, khi khác họ vòng vòng bao vây một đội quân nhỏ” ... 
 Cũng trong lá thư đó, ông còn ghi lại chính lời của Niệm để chỉ rõ sức mạnh của chiến thuật di động. Ông viết :
Nếu ta chạy vòng vòng một lúc quân triều đình đuổi theo sẽ kiệt lực. Tăng Vương (một viên tướng Mông Cổ tên thập là Tăng Cách Lâm Tấm) thua trận chính là vì quân Niệm dùng chiến thuật này. 
Trong khi Tăng Quốc Phiên rất coi trọng các ưu điểm của chiến thuật địch áp dụng, ông cũng không bỏ qua các bất lợi của nó để phác họa chiến lược của ông. Chẳng hạn như ông viết cho em như sau :
 Quân Niệm có ba nhược điểm. thứ nhất, chúng không có hỏa khí và vì thế không đánh được những đồn bót kiên cố. Thành thử nếu quân triều đình giữ được thành và dân binh giữ được các làng xã thì quân Niệm không làm gì được và cũng chẳng cướp được đồ ăn. Thứ hai, chúng không đóng quân mà vào trong nhà các nông trại để ở ban đêm. Cho nên dễ bị tấn kích. Thứ ba, chúng luôn luôn mang theo hành lý, vợ con, xe cộ, gia súc theo khi hành quân. Nếu quân triều đình lấy được hành lý đồ đạc là họ tổn thất lớn.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:39:45 am
 Dựa trên các phân tích về lợi điểm và nhược điểm của kẻ thù, ông phát triển chiến lược, chiến thuật riêng.  Các nguyên tắc quân sự của Tăng Quốc Phiên 
a/ Tập trung lực lượng :
Khi Tăng Quốc Phiên bắt đầu chiến dịch chống giặc Thái Bình và giặc Niệm, ông thường thiếu các tướng lãnh có khả năng chỉ huy độc lập tại chiến trường và phải chống lại một quân địch đông đảo hơn quân của ông nhiều lần. Thành thử ông luôn luôn khuyên các tướng lãnh nên tập trung quân vào một mặt trận đừng dùng tại nhiều nơi. Ông viết cho em :  Chia quân ra là điều hết sức khó. Nếu không có người chỉ huy giỏi đễ đảm trách các cánh quân thì sẽ dễ bị tổn thất.
 b/ Cẩn trọng trong khi điều binh :
 Là một nho sĩ nghiêm cẩn hiểu sự khác biệt giữa quân của mình và quân phiến loạn, ông cẩn thận luôn luôn khuyên các tướng lãnh giữ thái độ cẩn trọng tránh thái độ kiêu căng. Ông thường trích dẫn cả Khổng Tử lẫn Lão Tử để điều chỉnh lý thuyết của mình. ” Khi hai đoàn quân đối địch, bên nào có lòng lân tuất thì bên đó sẽ thắng ” ” Khổng Phu Tử luôn luôn cẩn trọng khi gặp chuyện gì ” ” Người nào canh cánh giữ mình thì người đó sẽ không kiêu căng ” Đối với Tăng Quốc Phiên, kiêu căng là đầu mối của thất bại. Người ta phải luôn luôn đau buồn khi phải dùng binh. Ông từng viết : ” Chiến tranh là điều đại bất tường. Con người phải luôn luôn nhìn vấn đề đó hết sức lân tuất chẳng khác gì đang đưa đám tang cha mẹ, phải nghiêm chỉnh và cung kính như khi đang lễ bái ”
 c/ Kẻ phòng ngự là kẻ làm chủ chiến trường :
 Vì Tăng quá cẩn trong với việc binh đao nên ông thường hay giữ thế thủ và chống lại thế công, ngay cả khi quân ông phải tham gia một chiến dịch diệt địch. Ông thường hay nói là ” kẻ phòng thủ luôn luôn làm chủ chiến trường và kẻ tấn công là khách ... Trong chiến đấu, kẻ nào bắn trước là khách, kẻ nào bắn sau là chủ. Trong cận chiến bằng giáo mác, kẻ đánh trước là khách, kẻ phản công lại mới là chủ ” 
Lý thuyết của Tăng Quốc Phiên về chủ khách chưa chắc đúng hẳn. Nếu luôn luôn sợ tấn công trước, người ta không thể nào có được lợi thế thượng phong vốn rất quan trọng trong hành quân. Ông cẩn thận đến nỗi để cho quân đợi trước quân địch tới khi nào địch nhào ra tấn công. Có thể cho rằng Tăng Quốc Phiên đưa ra chiến lược này nhằm đối phó với chiến tranh lưu động của phiến quân. 
d/ Giữ một lực lượng tấn kích :
 Mặc dầu Tăng Quốc Phiên chuộng chiến lược phòng ngự, ông thường bảo các tướng giữ một lực lượng tấn kích dùng trong tấn công. Dựa trên ý niệm đó, ông chia lực lượng ra làm hai đơn vị. Một đơn vị gọi là quân ngốc (khải binh, Dai Bing) còn đơn vị kia là quân hoạt (hoạt binh, Huo Bing). Thành phần thứ nhất dùng để cầm chân địch tại vị trí dù công hay thủ, thành phần còn lại dùng để tấn kích mà theo ngôn từ quân sự mới hôm nay là lực lượng xung kích hay trừ bị. Ông nhắc đi nhắc lại với các tướng là phải giữ ít nhất một nửa làm lực lượng xung kích. Theo Tăng Quốc Phiên, thà giữ hoạt binh đông còn hơn là khải binh đông. Một nửa nọ nửa kia là lý tưởng. Thế nhưng xem ra có vẻ mâu thuẫn giữa lý thuyết chủ khách và lý thuyết khải binh hoạt binh. Nếu nhấn mạnh vào vai trò tích cực của hoạt binh thì dường như thiên về tấn công hơn là phòng thủ. 
Quân trừ bị vốn dĩ hiện hữu từ lâu trong lịch sử quân sự Trung Hoa nhưng các binh gia đời xưa không coi là một lực lượng chủ yếu như đã đề cập trước đây ngoại trừ quan niệm về Kỳ binh. Vì thế, sự nhấn mạnh phải giữ một đơn vị trừ bị của Tăng Quốc Phiên trên mặt trận là một điểm xuất sắc. Tuy nhiên thuyết trừ bị của ông có thễ dẫn độc giả đến câu hỏi : Quân trừ bị lớn bao nhiêu ? Một nửa nọ nửa kia xem ra quá lớn. 
e/ Sự nhấn mạnh vào yếu tố Con Người hơn Khí Giới : Mặc dù Tăng Quốc Phiên là người cực lực hưởng ứng vận động tự cường và là một trong só ít ỏi người tiên phong xây dựng kỹ nghệ quân sự của Trung Hoa hồi giữa thế kỷ 19 để bắt chước chế tạo vũ khí, ông vẫn khẳng định ai trò ưu việt của con người hơn súng đạn trong chiến đấu. Trong vài trường hợp, ông để cho người ta nghĩ rằng ông coi thường kỹ thuật quân sự Âu Tây và chống lại sự trang bị các lực lượng của ông bằng vũ khí tân tiến. Có lần ông viết cho bạn như sau :
Yếu tố đáng tin cậy nhất trong cả thủ lẫn công, theo ý tôi là con người chứ không phải vũ khí. Tôi từng nhiều lần dạy cho em tôi đừng quá tin tưởng vào súng ống ngoại quốc ... Ưu thế của lực lượng quân sự nước ngoài chính yếu dựa trên kỷ luật nghiêm khắc và tính năng của tổ chức. Họ thắng trận không phải chỉ vì tin vào vũ khí ... Cho nên, rõ ràng rằng không có đường lối nào chắc chắn thắng trận mà chỉ dựa vào vũ khí. 
Câu nói đó cho chúng ta thấy Tăng Quốc Phiên không đánh giá quá cao hiệu năng của hỏa khí nước ngoài như nhiều người khác, mà còn chứng tỏ ông nhấn mạnh vào yếu tố nhân sự trong chiến tranh quan trọng hơn vũ khí. Cho nên, Tăng quả thực là tiền nhân của các chiến lược gia chống lại lý thuyết vũ khí quyết định thắng lợi hiện thời.  Nói chung, Tăng Quốc Phiên không đóng góp chuyện gì bất thường như một chiến lược gia lỗi lạc. Tuy nhiên ông lôi cuốn được những người tài đến giúp ông và vì thế đã đánh bại được giặc Thái Bình. Lý Hồng Chương và Tả Tông Đường là những người lỗi lạc nhất trong bộ tham mưu của ông. họ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng quân sự Trung Hoa hiện đại.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:41:01 am
B.   Lý Hồng Chương và Canh tân quân sự Trung Hoa
  Cũng như Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương cũng là một nho sĩ. Ông đỗ Tiến Sĩ là bằng cấp cao nhất trong hệ thống thi cử của triều đình lúc bấy giờ. Trước khi gia nhập bộ chỉ huy của Tăng Quốc Phiên, ông đã từng huấn luyện dân quân và đánh nhau với giặc Niệm và giặc Thái Bình nhiều năm tại quê ông. Ông được Tăng Quốc Phiên ca ngợi từ trước khi ông cộng tác với Tương Quân và vì thế ông được Tăng gửi đi tổ chức một lực lượng võ trang ngay tại quê ông là tỉnh An Huy. Lực lượng đó sau có tên là Hoài Quân (Huaijun), cũng theo hệ thống tổ chức như Tương Quân ngoại trừ việc đưa các nho sĩ nắm quyền chỉ huy. Các sĩ quan của Hoài Quân được tuyển mộ từ nhiều thành phần khác nhau và không có lý tưởng như cấp chỉ huy của Tương Quân vì những người này cảm thấy mình có trọng trách bảo vệ văn minh Trung Hoa và nhất là có tư cách nhà nho. Còn động lực của các sĩ quan Hoài Quân chỉ là muốn lập công danh và vì bản thân mà thôi. Vì lý do đó, kỷ luật của Hoài Quân không được chặt chẽ như Tương Quân. Quân sĩ thường hay cướp bóc không nghi ngại gì khi đi hành quân. Đôi khi họ còn đánh cả dân quân sở tại nếu những ngưởi này ngăn họ không cho cướp phá.  
Khi giặc Thái Bình tấn công Thượng Hải vào năm 1862, Tăng Quốc Phiên sai Lý Hồng Chương dẫn một đạo quân đến tiếp cứu. Sau khi ông đập tan một vụ tấn công và chiếm lại một phần đất của tỉnh Giang Tô trước đây bị giặc Thái Bình chiếm, ông được bổ làm Tuần Vũ (Xunfu) tức là chức quan chỉ huy toàn quân trong tỉnh. Từ đó ông kế nhiệm Tăng Quốc Phiên từng bước từ xử lý Tổng Đốc Lưỡng Giang sang Khâm Sai Đại Thần chiến dịch phá giặc Niệm, Tổng Đốc Lưỡng Giang dần dần lên Tổng Đốc Trực Lệ (Zhili) và Tổng Lý Bắc Dương quân sau khi Tăng Quốc Phiên từ trần.  
Trong chiến dịch chống giặc Thái Bình, vì chỉ là một cấp chỉ huy địa phương, ông không đưa ra một chiến lược hay chiến thuật nào cá biệt khác với của Tăng. Ngay cả khi ông thay thế Tăng làm Tổng Tư Lệnh chiến dịch dẹp giặc Niệm, ông cũng chỉ theo những chiến lược vốn dĩ Tăng dùng mà không thay đổi gì rõ rệt. Chẳng hạn như khi Tăng đối phó với chiến thuật lưu đông của giặc Niệm bằng các đắp đồn lũy chặn các nơi hiểm yếu và các đường dây liên lạc thì Lý đưa ra một chiến lược củng cố phòng ngự và khai quang đồng ruộng để ngăn giặc Niệm khỏi cướp thóc gạo. Ông viết :  
Nếu muốn tìm ra một chiến lược hữu hiệu để phá giặc Niệm thì không có cách nào khác hơn là dạy cho dân bản xứ trong các tỉnh Hà Bắc, An Huy, Hà Nam dọn sạch ruộng vườn và củng cố phòng thủ ... Nếu không quân giặc vẫn có thể cướp thực phẩm và tăng cường lực lượng. Nếu các tỉnh không chịu huấn luyện quân sĩ chặn giữ các nơi hiểm yếu ngăn không cho giặc qua lại tự do ... thì chúng ta không thể nào vây hãm và tiêu diệt chúng nó được.
 Khi chiến lược này đã thành công, ông tổ chức các lực lượng phản công để đánh quân Niệm và dần dần thắng trận.  
Trong việc đánh giá sự đóng góp của ông vào việc canh tân quân đội, thành quả lớn nhất của Lý Hồng Chương là đưa các khí giới mới của Âu Tây vào Trung Hoa, xây dựng những kỹ nghệ quốc phòng tân tiến, thành lập một lực lượng hải quân hiện đại và nhiều hệ thống quân sự thích đáng khác.
 a/ Giới thiệu vũ khí Tây phương một cách có hệ thống :
Mặc dầu người Trung Hoa đã biết sự hiệu quả của vũ khí Tây Phương từ hồi Nha Phiến Chiến Tranh năm 1840 nhưng chưa có đơn vị nào được trang bị cả. Như đã đề cập trước đây, khi Lý Hồng Chương đến Thượng Hải vào năm 1862, ông chứng kiến sức mạnh của hỏa khí Âu Tây trong các đơn vị ngoại quốc đánh thuê chỉ huy bởi F. Wards và thường viết thư cho Tăng Quốc Phiên và các đồng sự của ông trong Tương Quân ca ngợi họ. Mặc dù Tăng vẫn nghi ngờ về sự hiệu quả đó nhưng không ảnh hưởng đến thái độ tiễn mộ võ khí Tây Phương của Lý Hồng Chương. Ông bắt đầu trang bị đơn vị của mình bằng các loại súng mới và mướn huấn luyện viên trong các sĩ quan Âu Châu ở Thượng Hải để huấn luyện lực lượng bằng các tài liệu Tây phương. Việc đó không những giúp ông đánh bại quân Thái Bình ở Thượng Hải và chiếm lại Giang Tô khỏi tay địch mà còn giúp ông thắng giặc Niệm sau này. Khi ông được lệnh tiễu trừ giặc Niệm vào năm 1865, Hoài Quân của ông đã hoàn toàn được trang bị bằng súng và đại pháo của Tây Phương. Ông đã tâu vua năm 1865 như sau :
Vì hỏa pháo của Tây Phương mạnh hơn của Trung Hoa nhiều nên từ năm 1863 thần đã ra lệnh cho các đơn vị mướn huấn luyện viên ngoại quốc để dạy cho về cách sử dụng súng và đại pháo. Sau khi cần mẫn học tập, họ đã thông thạo bí mật của việc sử dụng các loại súng này rồi.
 Theo tấu chương của ông, một tiểu đoàn gồm 500 người được trang bị 400 súng trường và đại pháo. Cần phải chở đến vài tấn đạn dược mới đủ đánh một trận. Khi di chuyển cần phải hàng chục chiếc thuyền hay toa xe để chở đạn, hành lý và trang bị. Không còn ngờ gì, đây là đoàn quân tối tân nhất Trung Hoa trong thập niên 1860. Thái độ tích cực của ông đối với võ khí Âu Tây ảnh hưởng đến các cấp chỉ huy quân sự khác và vì thế đã thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa quân sự của Trung Hoa nhanh hơn. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp của khí giới mới, người Trung Hoa không còn bằng lòng với việc mua khí giới của Âu Tây và muốn tự chế tạo lấy. Tham vọng đó khiến Trung Hoa phải kiến tạo những cơ sở kỹ nghệ quân sự hiện đại. Lý Hồng Chương là một trong những lãnh tụ quan trọng thúc đẩy công tác này.
 b/ Xây dựng các cơ sở kỹ nghệ quân sự : Trong thời gian tự cường vận động, có một lý thuyết rất phổ thông tại Trung Hoa là ” trị nước phải dựa trên tự cường. Muốn tự cường trong hoàn cảnh này thì phải xây dựng một quân đội hữu hiệu. Ưu tiên một của kiến tạo quân sự là có vũ khí ”. Dựa trên thuyết này, hầu hết các nhà lãnh đạo Trung Hoa đều nóng lòng xây dựng các cơ sở quân sự trong phạm vi quản hạt của mình. Lý Hồng Chương có lẽ là người xuất sắc nhất đã xây dựng các xưởng đúc vũ khí ở Thượng Hải và Tô Châu (Suzhou) vào năm 1862. Mặc dầu lúc đầu còn nhỏ nhưng vì quân đội của ông cần nhiều nhưng chỉ trong một thời gian ngắn các cơ xưởng này nhanh chóng mở rộng để cung cấp đạn dược cho các đơn vị của ông.
 Năm 1863, ông đã có thể nhận huấn luyện các binh sĩ từ triều đình gửi xuống để học các kỹ thuật chế tạo vũ khí Tây Phương tại các cơ xưởng của ông.  
Năm 1865, ông mua lại một xưởng máy ở Thượng Hải và tự hào là ” máy móc dùng để chế tạo máy móc ” vì có thể chế được nhiều loại máy khác. Theo bản tâu của ông lên Hoàng Đế, người Trung Hoa có thể bắt chước và chế tạo bất cứ máy móc nào họ cần mà không lo gì về việc người ngoại quốc cản trở. Tuy nhiên ông cũng đề cập riêng trong lời tâu là vào giai đoạn này cần ưu tiên chế tạo vũ khí. Sau khi kết hợp với các cơ xưởng ông đang có ở Thượng Hải, ông đặt tên là Tổng Công Xưởng Giang Nam là kỹ nghệ quân sự lớn nhất Trung Hoa hồi thập niêm 1860. Cũng thời gian đó, ông di chuyển cơ xưởng ở Tô Châu xuống Nam Kinh đặt tên là Công Xưởng Kim Lăng (Jinling) và cũng bành trướng lớn. Hai năm sau, một xưởng tương tự như Giang Nam Công Xưởng được dựng lên ở Thiên Tân gần Bắc Kinh cũng do ông trông coi khi ông được bổ nhiệm làm Tổng Đốc Trực Lệ năm 1870. Từ đó, nhiều cơ xưởng tầm cỡ khác nhau được xây tại các thủ phủ và tỉnh lỵ. Một số không những sản xuất vũ khí đạn dược mà còn đóng tàu và máy chạy hơi nước. Chẳng hạn như Công Xưởng đóng tàu Phúc Châu do Tả Tông Đường (Duo Zongtang), Tổng Đốc Mân Triết (Minzhe) xây năm 1866 là xưởng đóng tàu lớn nhất Trung Hoa cận đại trong nhiều năm trường.  
Như trước đây đã đề cập, kỹ nghệ quân sự là một trong những vấn đề cốt cán của Dương Vụ vận động trong thập niên 1860. Khi Dương Vụ vận động hoàn toàn bị phá sản vì Trung Hoa bị đánh bại trong trận chiến Trung -Nhật năm 1894 và Bát Quốc Liên Quân năm 1901 nhưng các kỹ nghệ quân sự cũng không bị bãi bỏ. Trái lại, nó trở thành nền tảng cho việc canh tân kỹ nghệ của Trung Hoa bằng cách chuyển một phần năng lực sang sản xuất hàng hóa như tàu chạy hơi nước hay máy móc dùng trong kỹ nghệ.  


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:41:19 am
c/ Tăng cường phòng vệ hải phận và xây dựng hải quân:
Từ khi được Tăng Quốc Phiên gửi tới Thượng Hải tăng viện, sự nghiệp của Lý Hồng Chương hướng về hai ngả. Thứ nhất hầu hết thời giờ ông làm việc tại vùng hải vực kế cận. Thứ hai ông có nhiều cơ hội tiếp xúc với người Tây Phương, các quan lại và dân sự hơn người khác. Điều đó không những khiến ông nổi danh là một người thông thạo các vấn đề Dương Vụ mà còn là người chuyên môn về phòng vệ hải phận. 
Chiến lược quốc phòng và lý thuyết của ông được ghi lại trong điều trần về vấn đề phòng vệ hải phận và lời bình của ông trong điều trần của Tổng Lý Nha Môn (Zongli Yamen) về chiến lược quốc gia năm 1874. 
Lý thuyết căn bản của Lý Hồng Chương về quốc phòng là ” bọn Tây dương chỉ sợ sức mạnh chứ không sợ đạo lý. Nếu Trung Quốc yếu mà muốn dùng lý thuyết phục chúng thì không xong. Cho nên cần phải củng cố lực lượng quân sự. ” Theo ông, kẻ thù của Trung Hoa vào thế kỷ 19 không giống như các kẻ thù trước đây thường từ tây bắc đánh xuống. Trung Hoa có biên cảnh phân cách các nước láng giềng tại vùng tây bắc, thì cũng có 10,000 dặm bờ biển ở mạn đông và đông nam và người tây dương có thể dùng tàu để tới. Nếu Trung Hoa không bảo vệ được bờ biển khỏi ngoại quốc xâm lấn thì sẽ nguy hiểm vô cùng. Đây là một hoàn cảnh mà Trung Hoa chưa bao giờ gặp phải. Cho nên, triều đình phải hành động ngay để đối phó với tình thế mới chứ không thể suy nghĩ theo lối xưa được.
 Lý Hồng Chương muốn nhà vua và các đại thần từ bỏ đường lối suy nghĩ sẵn có từ trước là bảo vệ biên cương đồng nghĩa với bảo vệ miền tây bắc như Tân Cương (Xinjiang) và tập trung tài nguyên hạn hẹp vào việc xây dựng phòng vệ hải phận ở mạn đông. 
Để có thể thuyết phục được Hoàng Đế, ông lý luận rằng ngay cả thời bình vẫn phải tiêu đến 3 triệu lượng bạc chi phí cho quan quân và các cơ sở tiếp vận cho lực lượng trú đóng ở Tân Cương mỗi năm. Nếu triều đình muốn tiễu trừ giặc Hồi ra khỏi vùng đó bằng quân sự thì cần phải bỏ thêm quân phí mà như thế thì quốc gia không kham nổi nếu không thì phải cắt tất cả các dự án quan trọng khác. Ngoài ra, khi Trung Hoa còn yếu, các quốc gia ở vùng biên cảnh Tân Cương như Nga-la-tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ thuộc Anh ngày càng thêm mạnh. Họ chăm chăm chờ cơ hội chiếm lấy vùng này. Nếu Trung Hoa khởi chiến tại Tân Cương thì họ có cớ để nhúng tay vào và tình trạng thêm bi đát. Vì thế ông tâu vua nên ngưng các cuộc hành quân vượt ải Ngọc Môn (Yumen) sang phía Tây và còn triệu hồi về nếu đã qua rồi. Trong hiện tình ông đề nghị chỉ nên phòng thủ Ngọc Môn Quan mà thôi.
 Mặc dầu nhà vua không nghe lời ông và Tả Tông Đường chiếm lại được Tân Cương sau mười năm giao chiến mà Anh và Nga không can thiệp tới nhưng kế hoạch phòng thủ hải phận của ông được triều đình đồng ý. 
Khi phác họa hệ thống hải phòng, Lý Hồng Chương tin rằng Trung Hoa là một quốc gia lục địa, không có hải lực mạnh sánh được với các quốc gia khác. Cho nên, trước hết phải dựa vào bộ binh phòng thủ duyên hải và các cửa biển được hỗ trợ bằng một số tàu chiến để ngăn chặn địch không cho đổ bộ. Dựa trên quan niệm đó, ông đề nghị một chiến lược hai mặt. Trước hết, hải cảng và các khu vực chiến lược phải được các đơn vị trú phòng bảo vệ có các pháo đài kiên cố, tàu trang bị súng và thủy lôi. Thứ hai, một binh đoàn và hạm đội thao tác phải được thành lập sẵn sàng và kịp thời tấn công quân địch khi họ đổ bộ. 
Để hoàn thành chiến lược thứ nhất, Lý Hồng Chương đề nghị thành lập các lữ đội phòng thủ tại các hải cảng chiến lược và khu vực duyên hải. Đồng thời, ông đưa ý kiến kiến tạo 3 hạm đội lấy tên là Bắc Dương (Beiyang), Nam Dương (Nanyang) và Đông Dương (Dongyang). 
Trong vòng 20 năm, triều đình đã thực hiện được chiến lược phòng thủ mặt biển của Lý Hồng Chương. Trước cuộc chiến tranh Trung -Nhật năm 1894, Lý Hồng Chương có duyệt hai hạm đội Bắc Dương và Nam Dương và thấy các chiến hạm trong tình trạng tốt.
 Tuy nhiên chỉ 4 tháng sau, khi họ đụng trận với hải quân Nhật, chỉ trong vài tuần hầu như hoàn toàn bị đánh đắm.
 Có nhiều lý do người ta đưa ra để giải thích sự bại trận của Trung Hoa. Tuy nhiên, trên nhãn quan quân sự, lý do chính có lẽ là vì Lý Hồng Chương và chiến lược phòng thủ hải phận của ông quá chú trọng đến vũ khí mà bỏ quên tinh thần của hệ thống quân sự Tây phương. Tống Dục Nhân (Song Yuren), tác giả Nghiên cứu về các vấn đề thời sự phê bình trước khi xảy ra chiến tranh về chính sách của Lý Hồng Chương là ” họ ( các chuyên gia Dương vụ ) chỉ biết sao lại các vũ khí của Tây Phương mà không học được các nguyên tắc cơ bản hay phương pháp bày trận phòng thủ biển. Cho nên, họ làm hao kiệt tài nguyên quốc gia mà không đạt được mục tiêu là cường và thịnh ”. 
d/ Mở đầu của Hệ Thống Giáo dục Quân Sự hiện đại -Thành lập Quân Sự Học Hiệu :
Nếu lời phê bình của Tống Dục Nhân về việc học hỏi hệ thống quân sự Tây Phương đúng, Lý Hồng Chương không hoàn toàn bỏ quên tinh thần của hệ thống Tây Phương. Ông đã tâu vua thay đổi hệ thống thi cử cổ điển trong việc tuyển chọn các viên chức chỉ huy quân đội. Thay vì thi cưỡi ngựa bắn cung, ông nhắc lại lời đề nghị của các nhà lãnh đạo khác và thêm các đề mục mới như bắn súng, binh pháp Tây phương , dương vụ ...
 Năm 1872, Trung Hoa bắt đầu gửi sinh viên sang các nước Tây Phương để học hỏi kỹ thuật chế tạo, cách điều khiển tàu chiến và sử dụng súng ống. Trong tấu chương về việc bổ nhiệm các sĩ quan hồi hương, ông phân tích thêm về sự khác biệt giữa Trung Hoa và các nước Tây phương trong việc tuyển chọn võ quan. Ông đề nghị nên thoe phương pháp Âu Tây để cải tiến hệ thống của Trung Hoa. Ông viết:
 Mặc dầu nghệ thuật dùng binh của Trung Hoa và Tây Phương tương tự nhau, phương pháp tuyển chọn sĩ quan thì hoàn toàn khác biệt. Trong khi Trung Hoa chọn người nào qua được các thử thách trên chiến trường thì các nước Tây Phương lại đào tạo sĩ quan trong các học hiệu quân sự. 
Dựa trên sự hiểu biết đó, Lý Hồng Chương thiết lập các trường huấn luyện quân sự ở Thiên Tân và Trực Lệ do ông giám sát. Như đã đề cập trước đây, Tả Tông Đường thành lập Công xưởng đóng tàu Phúc Châu năm 1866, trong đó cũng có một trường huấn luyện kỹ sư. Đây có lẽ là trường đầu tiên thuộc loại này ở Trung Hoa. Lý Hồng Chương thành lập Hải Quân học hiệu năm 1881. Một năm sau, ông thành lập Hải Quân Cơ Khí học hiệu trong đó dạy các môn mới như thiên văn, địa lý, vật lý, toán học, trắc địa và họa đồ. Năm 1885, ông thành lập Quân Sự học hiệu. Để khuyến khích sinh viên ghi tên học các trường này, ông còn xin vua cho họ đặc quyền khi thi các kỳ khảo hạch tại các tỉnh năm 1887. Từ đó, Trung Hoa bắt đầu huấn luyện sĩ quan trong các học viện quân sự mới. Tuy nhiên, còn quá sớm để nghĩ rằng những ai tốt nghiệp các trường này sẽ đem lại ảnh hưởng cách mạng trong những thập niêm kế tiếp, vì lực lượng bảo thủ trong hệ thống quân sự vẫn còn cản đường và chưa chịu nhường các chức vụ lại cho người mới. 
Dương Vụ vận động và sự nghiệp chính trị của Lý Hồng Chương bị thương tổn nặng nề khi Trung Hoa bại trận trong Trung -Nhật chiến tranh năm 1894 và Bát Quốc Liên Quân năm 1900, nhưng ảnh hưởng của Lý Hồng Chương trên công cuộc canh tân quân sự không hoàn toàn bị phủ nhận. Việc ông quá chú trọng vào canh tân vũ khí mà không đi kèm với những canh tân cần thiết của toàn bộ hệ thống quân sự phần nào do xã hội Trung Hoa nói chung còn thiếu hiểu biết về tinh thần của công cuộc hiện đại hóa và đám quan lại bảo thủ chống đối mạnh mẽ công cuộc cải cách. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:42:18 am
C.   Tư Tưởng Quân Sự của Tả Tông Đường
  Tả Tông Đường người tỉnh Hồ Nam đỗ Cử Nhân. Ông từng làm cố vấn quân sự 8 năm cho viên Tuần Phủ tỉnh ông trước khi gia nhập với Tăng Quốc Phiên vào năm 1860. Với kinh nghiệm và tiếng tăm sẵn có, Tả Tông Đường được giao ngay trông coi một cánh quân, gọi là Sở Quân (Chujun) gửi ra đánh giặc Thái Bình tại tỉnh Giang Tây. Sau khi thắng nhiều trận liền, ông được cử chỉ huy lực lượng quân sự và sau này phong làm Tuần Phủ tỉnh Triết Giang năm 1862. Dần dần ông được thăng lên làm Tổng Đốc Mân Triết (Phúc Kiến và Triết Giang) năm 1864. 
Sau chiến thắng quyết định của chiến dịch chống giặc Thái Bình năm 1864, ông đề ra kế hoạch phòng vệ bờ biển và chương trình kỷ nghệ quân sự. Tuy nhiên trước khi hoàn thành các công tác này, ông được thăng Tổng Đốc Thiểm Cam (Thiểm Tây và Cam Túc) năm 1865 và giao cho việc tiễu trừ giặc Hồi Hồi (Moslem) ở đó. Tả Tông Đường không những đánh bại được giặc, tái lập trật tự mà còn chiếm được Tân Cương năm 1877 và sáp nhập vào thành một tỉnh của Trung Hoa. 
Sự nghiệp quân sự của ông tại Tây Bắc Trung Hoa khiến ông suy nghĩ khác hẳn Lý Hồng Chương. Ông cũng thúc đẩy phòng vệ hải phận nhưng lại phản đối Lý Hồng Chương và những ai đề nghị bỏ Tân Cương để củng cố mặt biển. Tả Tông Đường đòi hỏi một chính sách quân bằng hơn trong lãnh vực quốc phòng và đưa ra một chiến lược hung hăng hơn trong việc đối phó với Nga-la-tư và Anh-cát-lợi xâm lăng Tân Cương. Thái độ quật cường và chuẩn bị chu đáo của ông đã khiến cho nhà vua ủng hộ và chiếm lại được khu vực chiến lược Y Lê (Yili) vùng Tân Cương từ tay người Nga mà hai nước không phải giao binh.
 a/ Phòng vệ hải phận và xây dựng Kỹ Nghệ Đóng Tàu hiện đại :
 Năm 1866 trước khi từ chức Tổng Đốc Mân Triết sang nhận chức Tổng Đốc Thiểm Cam, ông dâng một bản điều trần về việc đóng tàu. Mặc dầu ông nhấn mạnh vào mục tiêu kinh tế và tài chánh nhưng thực ra là một kế hoạch kỹ nghệ quân sự. Ông tâu vua rằng " nếu muốn tránh các bất lợi mà thu hoạch các lợi ích của biển cả thì đường lối duy nhất là tăng cường thủy quân, mà muốn xây dựng thủy quân thì chúng ta phải xây một bãi đóng tàu để chế tạo tàu chạy máy hơi nước ". 
Khi biết được người Nhật sẽ có tàu chạy hơi nước trong vòng vài năm, ông bắt đầu lo ngại. Nếu Trung Hoa không sớm đuổi kịp thì một ngày nào đó họ sẽ phải đụng độ với Nhật Bản trên mặt biển, ” khi họ có phương tiện, chúng ta chẳng có gì cả. Cũng chẳng khác gì qua sông người khác chèo thuyền thì chúng ta đi bè, cưỡi lừa chạy đua với người cưỡi ngựa".
 Với sự trợ giúp của hai sĩ quan Pháp, d'Aiguebelle và Giquel, bãi tàu Phúc Châu được xây dựng dưới sự giám đốc của Trầm Bảo Trinh (Shen Baozhen), một người tâm phúc của Tả Tông Đường. Đến năm 1874, ngoài bến bãi, sân và công xưởng dùng cho việc đóng tàu, xưởng này còn thêm một đơn vị chế tạo vũ khí và đạn dược, đúc thép để sản xuất sắt dát mỏng, một ban phiên dịch và một trường dạy tiếng Pháp, tiếng Anh, toán, vẽ và hải trình học. Xưởng mướn hai ngàn người Tàu và 50 người ngoại quốc. Nó trở nên một trong bốn xưởng quân cụ lớn nhất Trung Hoa. Nhờ sự thành công của cơ xưởng Phúc Châu, lực lượng hải quân Trung Hoa nhất là vùng Phúc Kiến được trang bị bằng các sản phẩm của xưởng này. Tuy nhiên, dự phóng chiến lược quốc phòng của Tả Tông Đường không chỉ giới hạn trong các thành tựu đó và cũng không chỉ nằm trong các kế hoạch phòng thủ bờ biển. Việc tham gia chiến dịch tiễu trừ giặc Hồi Hồi ở Tân Cương cho ông một nhãn quan mới mẻ về các nỗi nguy cơ của Trung Hoa và ông nhanh chóng chuyển mối quan tâm của ông sang phòng ngự đất liền.
 b/ Loạn Hồi Hồi và ảnh hưởng trên tư tưởng quân sự của Tả Tông Đường :
Nhiều vua chúa Trung Hoa ở nhiều triều đại đã đi chinh phạt vùng Tân Cương. Một số thành công nhưng bị thiệt hại nặng nề, một số khác bị thảm bại. Chiến dịch này tự nó đã rất khó khăn ngay cả khi đất nước cường thịnh. Một chế độ thối nát suy bại như Thanh triều sau khi bị đánh bại liên tiếp bởi các nước Âu Tây và lung lay vì loạn Thái Bình và giặc Niệm xét ra không có khả năng chinh phạt vùng ấy. Vì thế Lý Hồng Chương đã đề nghị từ bỏ viễn chinh. Đầu năm 1875, Chiến dịch dẹp loạn Hồi Hồi ở Cam Túc và Thiểm Tây kết thúc thành công. Nhà Thanh chuẩn bị cho quân đi lấy lại đất Tân Cương đang ở trong tay người Nga vốn dĩ yểm trợ cho người Hồi. Khi ấy, cuộc tranh luận trong triều đình về ưu tiên củng cố hải phận hay thu hồi lãnh thổ Tây Bắc vẫn đang tiếp tục. Lý Hồng Chương đứng đầu phe cương quyết đòi rút quân ra khỏi phía tây Ngọc Môn Quan và giữ một vị thế phòng thủ đằng sau để giảm bớt chi phí tài chánh và củng cố các đồn lũy vùng biển. 
Khi nhà vua hỏi ý về việc này, Tả Tông Đường cực lực phản đối quan điểm của Lý Hổng Chương và xin vua giữ vững quan điểm tái chiếm Tân Cương. Ông biện luận rằng các nước Tây phương chỉ chú trọng đến thương mại. Ngày nào Trung Hoa còn cho họ buôn bán, ngày ấy họ vẫn chưa gây rắc rối gì. Tuy vậy, người Nga và cả người Anh ở Ấn Độ đang cố chiếm đất của Trung Hoa ở Tân Cương. Hơn nữa, sau khi xây dựng thành công Bãi Đóng Tàu Phúc Châu, ngân sách hiện tại đủ để duy trì sản xuất tăng cường phòng vệ mặt biển. Không cần phải thêm tiền gia tăng các căn cứ đồn trú, cũng không gấp gáp phải ngừng và rút lực lượng viễn chinh ở Tân Cương để chuyển ngân khoản sang phòng thủ mặt biển. Điểm quan trọng nhất là nếu Trung Hoa từ bỏ Chiến dịch Thu hồi Tân Cương thì sẽ mất hết các điểm chiến lược quan yếu trong việc quốc phòng. Ông viết:
 Nếu chúng ta chỉ phòng vệ đằng sau Ngọc Môn Quan và không cố gằng tái chiếm Ô Viên (Wuyuan) thì sẽ không còn điểm chiến lược nào để phòng thủ đất nước được nữa ... Nếu không, chẳng những vùng Lũng Hữu (Longyou) sẽ bị đe dọa, ngay cả bắc Thiên Sơn (Tianshan) như Khoa Bố Đa (Kebuduo) và Ô Lý Nhã Tô Đài (Wuliyasutai) ... cũng sẽ rơi vào tay địch. Cho nên thần ngại rằng chưa biết củng cố hải phòng đã lợi gì chưa mà đưa quân viễn chinh từ phương tây về, phòng thủ biên cương sẽ bị nguy cơ rất lớn. 
Nhà vua nghe lời và cử ông làm Khâm Sai, Tiết Chế thống lĩnh quân thu hồi Tân Cương ngay trong tháng đó. 
c/ Vấn đề tiếp liệu của quân viễn chinh và giải pháp của Tả Tông Đường :
Trong thời kỳ giặc Thái Bình và giặc Niệm, các chiến dịch thường đánh tại vùng dông nam và trung bộ nước Tàu là những nơi trù mật nhất của Trung Hoa. Vì thế cấp chỉ huy có thể, nếu không nói là dễ dàng, kiếm thực phẩm cho binh sĩ tại địa phương. Tuy nhiên, ở xa như vùng tây bắc Trung Hoa, không những là nơi chiến tranh tàn phá mà còn là vùng rất nghèo. Sản xuất nông nghiệp không đủ cung ứng tối thiểu cho dân địa phương huống chi là quân của Tả Tông Đường có đến vài chục vạn người. 
Một câu ngạn ngữ của Trung Hoa có nói : Đồ ăn và cỏ khô đến trước, binh mã đến sau. Tả Tông Đường biết ông không thể trông đợi kiếm đủ thực phẩm cho binh sĩ tại vùng đổ nát này và ông phải giữ một nguồn tiếp liệu dài gần 10,000 km mà không có xa lộ hay đường xe lửa để bảo đảm cung cấp cho đều đặn. Thực tế đã ảnh hưởng to lớn đến chiến lược của ông trong kỳ chinh phạt này. 
Năm 1866, Tả Tông Đường bắt đầu thiết lập một hệ thống tiếp vận. Trước hết, ông xây 5 trung tâm hậu trạm tại Trung Hoa chia đều từ đông nam đến tây bắc (gồm ở Thượng Hải tại tỉnh Giang Tô, Thiên Tân trong tỉnh Hà Bắc, Phần Châu ở Sơn Tây, Bao Ninh và Thuận Tân ở Tứ Xuyên) và từ đó lương thực, vũ khí và các loại khí cụ khác được mua để chở tới mặt trận. Các trạm cung ứng dịch vụ quân đội ở gần hay tại mặt trận như ở Tây An vùng Thiểm Tây, Thiên Thủy vùng Cam Túc được thành lập để nhận vật liệu chở từ hậu trạm tới và cung cấp cho lực lượng ở trận tiền bằng cáng, xe hay lạch đà xuyên qua hàng ngàn cây số sa mạc. Giữa các trạm dịch vụ chính và hậu trạm có môt hay nhiều trạm trung gian để nhận và giao vật dụng. Hán Khẩu chẳng hạn dùng làm hậu trạm phân phối thóc gạo cho mặt trận Thiểm Cam, từ đó tiếp liệu được chở tới Tây An thoe nhiều đường khác nhau. Với hệ thống cung cấp như thế, Tả Tông Đường có thể giữ cho tiếp vận không bị gián đoạn.
 Cho quân đồn trú khai phá đất hoang : Ngoài việc thiết lập đường tiếp liệu từ các khu vực duyên hải, Tả Tông Đường còn theo đuổi một chiến lược cổ điển để giải quyết các vấn đề lương thực. Ông ra lệnh cho quân sĩ khai phá các đất hoang trong khu vực doanh trại để sản xuất thóc gạo cho riêng họ. Chiến lược này vốn dĩ dùng từ thời nhà Hán trong thế kỷ thứ nhất và thứ hai cho đến cuối thế kỷ 18 khi nhà Thanh đóng quân ở Tân Cương. 
Khai phá đất hoang tại các vùng biên giới chủ yếu là một chiến lược giải quyết các vấn đề tiếp liệu nhưng cũng có những ảnh hưởng xã hội -kinh tế đáng kể. Thay vì đóng quân để khai hoang, có khi triều dình cho hạt giống, nông cụ, gia súc và chia đất cho nông dân rồi để họ cày cấy. Sau mùa gặt, nhà nước mua hoa màu thặng dư để nuôi quân. Chính sách đó gọi là Dân Đồn (Mintun) nghĩa là để cho dân làm ruộng. Việc đó giúp cho chính quyền sở tại bình định được nông dân và tái lập trật tự. 
Quân sĩ đồn trú khai phá đất trong thời chiến, giống như trường hợp Tân Cương trong chiến dịch này, là một chiến lược đặc biệt ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu và có thể gây tổn thất khi hành quân. Vì thế, khi nào có thể được, các quan chức cao không ngại ngùng gì mà không giao lại ruộng đã khai khẩn cho dân địa phương mà không đòi chi phí gì cả.
 Ngoài ra, Tả Tông Đường cũng ra lệnh cho quân sĩ của ông tu sửa các hệ thống thủy lợi, dắp đường và trồng cây. Trong suốt chiến dịch này, quân của ông đã khai phá được hơn 19,000 mẫu, trồng 568,000 cây, làm được 96 cái cầu, đắp 800 dặm đường và sửa 13 hệ thống dẫn nước và sông rạch. Những công trình đó không những khiến cho cuộc Chinh phạt thành công mà còn giúp cho phục hồi được trật tự chính trị và xã hội -kinh tế thời hậu chiến. Chiến lược đó đã có ảnh hưởng đáng kể trên hệ thống quân sự hiện đại.
 Tiến chậm nhưng hành động nhanh : Để cho phù hợp với sự khó khăn của tiếp liệu, Tả Tông Đường phải chọn một chiến lược đặc biệt. Chiến lược đó gọi là Hoãn Tiến Tốc Chiến (Huan Gin Su Zhan) nghĩa là " di chuyển chậm nhưng quyết định nhanh trong chiến đấu ". Nói một cách khác, chiến lược của ông là dùng nhiều thời gian để chuẩn bị cho các hành động quân sự. Ông chỉ dùng lực lượng sau khi tiếp liệu đã đầy đủ. Khi mọi sự sẵn sàng, ông tấn công nhanh vào những vị trí đã chọn và tiêu diệt địch càng nhanh càng tốt. Cho nên, về phương diện chiến lược là một cuộc chiến kéo dài nhưng trên phương diện chiến thuật là một chuỗi các cuộc tấn công nhanh và chắc chắn vào kẻ thù. 
Để bảo đảm rằng quân sĩ sẽ nhận được tiếp liệu đầy đủ và được bảo vệ trong khi di chuyển, ông tiến quân từng bước cho phù hợp với việc chuẩn bị quân dụng. Ông viết: 
Trước khi nhóm thứ nhất bắt đầu di chuyển từ Tô Châu tới Ngọc Môn, thực phẩm và cỏ khô phải được chở từ Cam Tuyền và Lương Châu tới Ngọc Môn trước. Khi nhóm thứ nhất đến Ngọc Môn, họ sẽ chất các vật dụng cần thiết lên lạc đà và xe đi xa hơn tới An Tây ... Các nhóm khác sẽ tiến lên theo cùng một cách như thế. Các nhón quân sẽ nghỉ ở An Tây rồi tiến lên Cáp Mật mang theo thực phẩm riêng cho mình. Cả đoàn quân sẽ tiến như thế, từng toán một, từng bước một để giữ sức cho người và cho vật và để cho tinh thần luôn luôn cao. Có như thế mới tránh được những tai họa.
 Trước khi đại bác được dùng rộng rãi trong chiến tranh, chiến thuật cốt yếu của Trung Hoa muốn chiếm một vị trí hiểm yếu là bao vây rồi cắt đường lương thực nhiều tháng hay năm cho địch chết đói và làm cho họ phải ra ngoài đánh. Chiến lược bao vây kéo dài này được dùng nhiều trong các chiến dịch đánh giặc Thái Bình của Tăng Quốc Phiên. Chẳng hạn như khi đánh Nam Kinh, thủ phủ của giặc Thái Bình, Tăng Quốc Thuyên đã dùng khoảng 50,000 quân bao vây thành trì kiên cố này hơn 2 năm trước khi hạ được thành năm 1864 khi quân Thái Bình phải phá vòng vây. 
Nếu Tả Tông Đường dùng chiến thuật tương tự như thế trong chiến dịch chinh phạt ông sẽ gặp khó khăn rất nhiều về việc tiếp vận. Vì thế ông phải chọn chiến thuật đánh nhanh. Chiến thuật phối hợp hành động của nhiều đơn vị trong chiến đấu là một phương pháp xuất sắc để thực hiện việc đánh nhanh trong cả chiến dịch. Tả Tông Đường thường tập trung đại pháo và kỵ binh vào những mặt trận chính phối hợp với bộ binh. Đánh ban đêm và đánh bất ngờ là những chiến thuật tiêu biểu dùng trong những trận quyết định.
Pháo binh cũng đã được nhóm Vạn Thắng Quân dùng nhiều trong chiến tranh ở Trung Hoa thời đó để chống giặc Thái Bình. Tương Quân cũng theo cách đó. Tuy nhiên không một lực lượng nào của Trung Hoa đã dùng nhiều trong chiến đấu để sau này thành một chiến thuật mới đáng kể như về sau này. Chiến thuật tiêu biểu của quân đội Tả Tông Đường để chiếm các vị trí kiên cố là đem đại pháo ra trước lúc trời tối cho thật gần rồi bắn phá trước khi trời sáng.
Sau khi oanh kích sẽ tấn công bất thình lình bằng bộ binh. Thường thì họ chiếm được chiếc đồn đổ nát ấy mà không mấy thiệt hại.
 Việc phối hợp hành động trong hành quân và việc dùng nhiều đại pháo để tấn công đã giảm được nhiều thời gian chiến đấu và cả chiến dịch chinh phạt. Theo Lư Phụng Các (Lu Fungge), Tả Tông Đường dùng khoảng 6 năm để chuẩn bị cho việc tây chinh nhưng ông chỉ mất một năm rưỡi là hoàn thành việc thu hồi cả Tân Cương ngoại trừ Y Lê vẫn do Nga chiếm đóng và chỉ trả lại cho Trung Hoa sau khi thương thuyết một thời gian dài. 
Là một trong những cấp chỉ huy quân sự xuất sắc của thời kỳ Phục hưng Đồng Trị, những đóng góp của Tả Tông Đường cho việc hiện đại hóa quân sự có thể sánh ngang với Lý Hồng Chương. Chẳng hạn như ông xây dựng các bãi đóng tàu và xưởng đúc khí giới ở Phúc Châu và Lan Châu. Chiến lược quân sự và chiến thuật của ông trong kỳ chinh phạt huy hoàng hơn bất cứ cấp chỉ huy nào đồng thời với ông. Theo Lư Phụng Các, hệ thống tiếp liệu của ông và tổ chức quân đội ngoài mặt trận gần giống như hệ thống của người Đức dung trong chiến tranh Áo -Phổ (Prussian -Austrian) năm 1866. Tuy nhiên theo Lư, Tả Tông Đường không học của người Đức mà tự ông nghĩ ra. 
Ngoài ra, chương trình khai khẩn đất hoang bằng quân đội và dân sự cũng như các kế hoạch khác trong việc vãn hồi trật tự xã hội -kinh tế địa phương đã vượt ra khỏi chiến lược quân sự trong việc giải quyết vấn đề tiếp liệu. Những kế hoạch đó có ảnh hưởng trường kỳ trên vấn đề kinh tế khu vực và phát triển chính trị.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:42:58 am
4.   VIÊN THẾ KHẢI VÀ HỆ THỐNG QUÂN SỰ MỚI CỦA TRUNG HOA
  Sau khi chấm dứt chiến dịch tiễu trừ giặc Niệm vào giữa thập niên 1860, Lý Hồng Chương và Hoài Quân ngự trị khung cảnh quân sự Trung Hoa trong vòng 30 năm đến khi bị thảm bại và hầu như hoàn toàn bị tiêu diệt trong trận chiến Trung Nhật năm 1894. Sau khi bị đánh bại, cả chính quyền lẫn quần chúng đều hiểu rằng Trung Hoa phải hoàn toàn từ bỏ hệ thống quân sự cũ và xây dựng một hệ thống mới dựa trên phương pháp của Tây Phương. Được dân chúng tán đồng, Viên Thế Khải cũng như nhiều người khác đệ trình lên triều đình một bản đề nghị xây dựng hệ thống quân sự mới. 
Khác với Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương hay Tả Tông Đường, Viên Thế Khải không đậu một bằng cấp nào và vì thế không phải là một quan lại nho sĩ. Thế nhưng ông ta cũng không phải là người thất học. Nhờ ông chú quen biết, ông ta được gia nhập Hoài Quân năm 1880 và sau đó được đưa sang Triều Tiên theo quân đội Trung Hoa. Khi viên chỉ huy bị triệu hồi hai năm sau, Viên Thế Khải lên kế nhiệm và trở thành thủ lãnh của Thanh binh tại Triều Tiên. Ông ta nổi tiếng là người có khả năng. Có lẽ vì liên hệ với Hoài Quân, ông được Lý Hồng Chương hết sức nâng đỡ. Sau khi được Tống Lục (Rong Lu), một viên quan thần thế trong Ủy Ban Quân Sự (Quân Cơ Xứ, Junji Chu), hỏi chuyện, ông được cử trông coi việc huấn luyện đội tân binh ở Tiểu Trạm (Xiaozhan) gần Thiên Tân trong tỉnh Hà Bắc. Trong tờ trình đầu tiên của ông lên Đốc Biện (Duban) của đội tân binh, ông viết : 
Mặc dầu lý do chúng ta bị đánh bại có thể phần nào do lỗi lầm chỉ huy, nhưng chính yếu là vì sự yếu kém của hệ thống quân sự. Nếu chúng ta không thay đổi toàn bộ và du nhập phương pháp Âu Tây trong huần luyện quân đội, tôi e rằng kinh nghiệm trước đây về việc bại trận sẽ lại xảy ra trong tương lai. 
Trong đề nghị của ông, Viên Thế Khải cho rằng nếu Trung Hoa quyết định dùng phương pháp huấn luyện Âu Tây thì cũng phải chấp nhận tổ chức quân sự theo kiểu Tây Phương nếu không sẽ không hiệu quả trong thời chiến. Theo sự hiểu biết của Viên, sư đoàn là đơn vị lớn nhất trong hệ thống Âu Tây, gồm khoảng 12,000 binh sĩ và các đơn vị pháo binh, kỵ binh và công binh. 
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, vì quốc gia đang gặp khó khăn về tài chánh nên chỉ tổ chức mỗi đơn vị 7000 người, trong đó bao gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn kỵ binh và một tiểu đoàn công binh. Mỗi tiểu đoàn bộ binh và pháo binh có 1000 quân trong khi kỵ binh và công binh chỉ có 500. Vào giai đoạn tiên khởi này, đơn vị mới thành lập sẽ mở rộng thành 5 đơn vị trong vòng 3 năm và được đặt tên là Võ Vệ Quân (Wuwei Giun). Mỗi đơn vị có khoảng 10,000 người. Viên Thế Khải được chỉ định chỉ huy Hữu Quân (Yujun). Trong số ngũ quân, chỉ có Hữu Quân của Viên Thế Khải là tuyển lựa kỹ càng và huấn luyện kỹ lưỡng, các đơn vị khác phần thì chuyển từ các đơn vị cũ sang hay tuyển từ nhiều thành phần mà không huấn luyện cho chu đáo.
 Khi Võ Vệ Quân bị Liên Quân tiêu diệt năm 1900 sau khi có loạn Quyền Phỉ (Boxer Rebellion), chỉ có Hữu Quân của Viên Thế Khải thoát được vì được dùng trấn thủ Sơn Đông nên xa nơi biến động. 
Khi Lý Hồng Chương chết và Viên Thế Khải chỉ huy đạo quân mạnh nhất nước Tàu đã đưa ông ta lên chức vụ quyền thế nhất là Tổng Đốc Trực Lệ (Hà Bắc) và Bộ Trưởng Bắc Dương. Quân của ông ta được đưa về Tiểu Trạm. Sau khi ký hòa ước Tân Sửu (1901), ông ta tái thành lập lại Tân Quân. Viên Thế Khải không những có đủ quyền hành muốn làm gì thì làm mà ông ta cũng có những ý kiến sáng suốt về một hệ thống quân sự mới. Cho nên, hệ thống quân sự mới mà ông ta thành lập vào thập niêm đầu tiên của thế kỷ 20 tương đối gần giống như hệ thống của Tây Phương ngày nay. 
Năm 1895, Viên Thế Khải quyết định theo hệ thống tổ chức của Đức và mướn một số huấn luyện viên người Đức để giúp ông ta huấn luyện binh sĩ. Năm 1901, ông lại đổi qua hệ thống người Anh và tái tổ chức quân đội với những đặc tính như sau :
A.   Lực lượng hiện dịch và lực lượng trừ bị
 Lực lượng hiện dịch là lực lượng hiện hữu trong tổ chức thường trực trên căn bản thời bình cũng như thời chiến. Lực lượng trừ bị có nghĩa là những quân nhân đó không tại ngũ nhưng có thể bị động viên. 
Vào thời xưa, dưới hệ thống Binh Nông Hợp Nhất hay Ngụ Binh Ư Nông, quân đội kết hợp với nông dân. Mỗi nông dân đều bị tự động đưa vào danh sách trừ bị trừ khi đang tại ngũ, thiếu sức khỏe hay già cả. 
Tuy nhiên, hệ thống này đã bãi bỏ từ lâu. Đời nhà Thanh không có quân trừ bị, mọi lực lượng trong Kỳ Binh đều là hiện dịch như đã đề cập trước đây. Chấp nhận hệ thống quân sự hiện đại của Tây Phương, Viên Thế Khải quyết định thành lập cả quân trừ bị lẫn quân hiện dịch. Dẫu rằng thời gian đó, quân trừ bị chưa thành lập nhưng ý tưởng đó vẫn có giá trị trong việc phát triển của công cuộc hiện đại hóa quân sự Trung Hoa.
a/ Quân đội hiện dịch :
Trong hệ thống quân đội mới của Viên Thế Khải, đơn vị cao nhất trong quân đội là cấp Quân gồm hai Trấn (Zhen). Mỗi trấn gồm hai Hiệp (Xie) bộ binh, một Tiêu (Biao) kỵ binh, một tiêu pháo binh, một doanh (Ying) công binh và một doanh hậu cần. Mỗi hiệp có hai tiêu, mỗi tiêu có ba doanh, mỗi doanh có bốn Liên (Lian), mỗi liên có ba Bài (Pai) và mỗi bài có ba Bằng (Peng).Tiêu kỵ binh tương đương với bộ binh chỉ khác là mỗi bài chỉ có hai bằng.1
1Đây là các đơn vị tương đương với hệ thống Việt Nam hiện đại. -Bằng : tiểu đội (squad) Bài : trung đội (platoon) -Liên : đại đội (company) -Doanh : tiểu đoàn (battalion) -Tiêu : trung đoàn (regiment) -Hiệp : lữ đoàn (brigade) -Trấn : sư đoàn (division) -Quân : quân đoàn (army) 
 Mỗi tiêu pháo binh gồm có ba doanh, mỗi doanh có ba liên, mỗi liên có ba bài, mỗi bài có ba bằng.
 Mỗi doanh công binh có ba liên, mỗi liên có ba bài, mỗi bài có ba bằng. 
Mỗi doanh hậu cần có bốn liên, mỗi liên có hai bài, mỗi bài có ba bằng. 
Trong mọi đơn vị, mỗi bằng gồm có 14 người kể cả 4 binh nhất, 8 binh nhì, một bằng trưởng và một bằng phó. Có tổng cộng 12,512 binh sĩ trong mỗi trấn, gồm có 748 sĩ quan và thư ký, 10,436 binh sĩ chiến dấu và 1328 công nhân không chiến đấu.
Hệ thống này sau được hầu hết các tỉnh theo khi họ muốn tổ chức quân đội mới. Có thay đổi đôi chút trong mỗi vùng cho thích hợp với từng tình trạng. Tuy nhiên, hệ thống vẫb giữ được những liên hệ chung trong vài thập niên mãi tới thập niên 1930, khi Trung Hoa phải chuẩn bị kháng Nhật. Thế nhưng cũng chỉ thay đổi nhỏ.
b/ Lực lượng trừ bị (Xubeijun) : Trong hệ thống quân sự mới của Viên Thế Khải, theo đúng nguyên tắc các binh sĩ trong quân hiên dịch sẽ được giải ngũ sau ba năm phục vụ. Khi trở về đời sống dân sự, họ sẽ vẫn còn được trả lương một phần và đăng ký là một thành viên của Lực Lượng Trừ Bị, và khi có chiến tranh vẫn bị động viên trở lại. Chính quyền sẽ cử một sĩ quan trông coi lực lượng trừ bị trong vùng nếu con số lên tới một trăm hay hơn. Mỗi năm một lần, họ phải đi huấn luyện quân sự một tháng. Thành phần này gọi là lực lượng trừ bị hạng nhất hay Tục bị quân (Xubeijun). 
Sau ba năm trong Tục bị quân, người lính được xếp qua Lực lượng Trừ bị hạng hai tức Hậu bị quân (Houbeijun). Những người này được trả 50% lương của lực lượng trừ bị hạng nhất và được gọi huấn luyện hai năm một lần, mỗi lần một tháng. Sau bốn năm trong hạng hai, họ được giải ngũ lần thứ hai và không còn bị gọi đi huấn luyện nữa. Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị động viên trong thời chiến cho đến khi đáo hạn 45 tuổi, lúc đó mới vĩnh viễn không còn nghĩa vụ quân sự nào nữa.
 Hệ thống quân sự hiện đại của Âu Tây dựa trên quan niệm cưỡng bách tòng quân trong đó những nam công dân đủ điều kiện đều bắt buộc phải phục vụ trong quân đội trong một thời gian nào đó. Sau thời kỳ hiện dịch, họ được giải ngũ và tự động nằm trong danh sách trừ bị. Tuy nhiên, tại Trung Hoa đời nhà Thanh không có luật cưỡng bách tòng quân. Tâu Quân Đội của Viên Thế Khải vẫn còn đặt trên hệ thống tự nguyện. Binh sĩ không cần phải giải ngũ sau ba năm hiện dịch. Thế nhưng hồi đó không có hệ thống trừ bị. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:43:31 am
B.   Cấp Sĩ Quan và Huấn Luyện Sĩ Quan
  Tiếp theo những thay đổi trong tổ chức quân đội, hệ thống quân giai cũng thay đổi theo. Trước cuộc biến cách năm 1901, hệ thống quân giai không được minh định rõ rệt. Trong tân quân đội, Viên Thế Khải tái sắp xếp các sĩ quan vào ba hạng, mỗi hạng lại chia làm ba cấp. Tổng cộng sĩ quan có 9 cấp. Hạng cao cấp nhất tương đương với cấp tướng ngày nay, gồm có đại tướng, trung tướng và thiếu tướng. Hạng thứ hai tương đương với cấp tá gồm có đại tá, trung tá và thiếu tá. Hạng ba tương đương với cấp úy gồm có đại úy, trung úy và thiếu úy. 
Kể từ 1880, Tả Tông Đường, Lý Hồng Chương và nhiều nhà lãnh đạo khác đã bắt đầu tổ chức quân sự học hiệu trong phạm vi quản hạt của họ. Vì các trường này luôn luôn gắn liền với một đơn vị nào đó nên các sinh viên sau khi tốt nghiệp thường được bổ vào phục vụ ngay tại đơn vị này. Tuy nhiên, vì các viên chức cao cấp không mấy cộng tác, và những người này lại không biết gì về vũ khí và phương pháp huấn luyện mới của Tây Phương, nên các sinh viên tốt nghiệp ra thường chẳng được giữ chức vụ chỉ huy mà chỉ được giao cho những việc không thích đáng. Trong khi hành quân, vẫn những sĩ quan già chỉ huy. Vì thế, những sĩ quan mới tốt nghiệp chẳng có thể nào thay đổi lực lượng quân sự Trung Hoa cho phù hợp với hệ thống Tây Phương mà họ học trong trường. 
Khi Viên Thế Khải giữ chức Tổng Đốc Trực Lệ và bắt đầu huấn luyện theo phương pháp Âu Tây. ông ta thành lập một quân sự học hiệu ở Bảo Định (Baoding) thuộc tỉnh Hà Bắc, bao gồm ba cấp : thấp, trung và cao cấp. Mỗi chương trình học 4 năm. Bảo Định Quân Sự Học Hiệu được tổ chức chu đáo và trở thành môt khuôn mẫu cho hệ thống huấn luyện quân sự của Trung Hoa. Chính tại nơi đây, thế hệ sĩ quan thứ nhất của hệ thống quân sự mới của Trung Hoa được đào tạo và họ trở thành những người chủ chốt trên diễn đàn quân sự và chính trị ở các thập niên kế tiếp. 
C.   Tổ chức Tham Mưu
 Ngày xưa ở Trung Hoa, các viên chức chỉ huy luôn luôn có một bộ tham mưu để cố vấn cho họ. Tuy nhiên không có tổ chức chính thức hay được qui định rõ rệt nào về những vai trò của thành phần tham mưu này. Khi Viên Thế Khải được cử huấn luyện Tân Quân ở Tiểu Trạm năm 1895, ông bắt đầu thành lập nhiều hệ thống tham mưu khác nhau với những nhiệm vụ được minh định rõ ràng. Đến năm 1901, hệ thống này được phát triển thêm khi ông giữ chức Tổng Đốc Trực Lệ và Bộ Trưởng Bắc Dương.
 Tham mưu trong Bộ Chỉ Huy Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự -hay Luyện Binh Xứ (Lian Bing Chu) được gọi là Văn Phòng Quân Vụ -hay Quân Vụ Xứ (Junwuchu). Bộ tham mưu này chia thành ba Nha : Nha Tham Mưu, Nha Giáo Dục và Nha Quân Trang. Nha Tham Mưu đảm trách nhiệm vụ kế hoạch hành quân, Nha Giáo Dục trông coi huấn luyện còn Nha Quân Trang coi về vũ khí, trang bị và tiếp liệu. Hai năm sau, tổ chức tham mưu thay đổi và được đặt tên là Quân Lĩnh (Chỉ huy quân sự), Quân Học (Giáo dục quân sự), Quân Chính (Hành chánh quân sự). Từ đó trở đi được coi như hệ thống tiêu chuẩn và được chính quyền trung ương và các địa phương thừa nhận.
 Theo tiêu chuẩn hiện đại, tổ chức tham mưu của Viên Thế Khải chưa hoàn chỉnh, thế nhưng đó có lẽ là tổ chức đầu tiên về loại này trong lịch sử quân sự Trung Hoa.
D.   Lực lượng Quân Cảnh
Kể từ khi ký điều ước Tân Sửu 1901 với lực lượng Liên Quân, Trung Hoa không được trú đóng binh đội tại Thiên Tân. Để đáp ứng nhu cầu và bảo vệ trị an, Viên Thế Khải chuyển một phần quân đội sang lực lượng cảnh sát để họ có thể ở lại Thiên Tân mà không vi phạm điều ước. Điều đó trở thành một ý kiến hay. Nhiều tỉnh theo chân Viên Thế Khải và tổ chức lực lượng cảnh sát. Chương trình này sau được triều đình chấp nhận và một Thượng Thư được đặt ra để trông coi ngành cảnh sát vào năm 1905. 
Tuy nhiên, cảnh sát quân đội được thành lập sau cảnh sát dân sự. Có lẽ vào khoảng 1908 dựa trên Điều Lệ Thí Nghiệm về Lực Lượng Quân Cảnh đo Thượng Thư Bộ Binh ban hành. Mặc dầu không có chứng cớ gì để nói là Viên Thế Khải đề xuất nhưng cũng gần giống như ý niệm về cảnh sát dân sự. 
E.   Ấn hành Tài Liệu Huấn Luyện Quân Đội
 Mặc dầu đóng góp cơ bản của Viên Thế Khải vào việc canh tân hóa quân sự là việc du nhập hệ thồng quân sự Âu Tây vào Trung Hoa nhưng không phải chỉ có thế. Là người chịu trách nhiệm huấn luyện Tân Quân, ông cũng chủ biên các tài liệu huấn luyện, luật lệ và qui tắc. Một bộ sáu cuốn nhan đề Tổng Kết Chương Trình Huấn Luyện Quân Sự của Tân Quân (Tân Kiến Lục Quân Binh Lược Lục Tồn-Xinjian Lujun Binglue Lucun) và một bộ 12 cuốn nhan đề Ký lục và Đồ họa Tài Liệu Huấn Luyện (Huấn Luyện Thao Pháp Tường Tích Đồ Thuyết -Xunlian Caofa Xiangxi Tushuo) được lần lượt ấn hành năm 1898 và 1899. 
Cả hai tác phẩm này đều có những luật lệ tổng quát, các điều cấm kỵ, các huấn lệnh, và qui định về thực tập quân sự. Bộ sau còn trình bày các phương pháp truy kích hành quân, thủ và công trong các địa thế khác nhau, việc dùng các đơn vị pháo binh, kỵ binh và công binh trong khi hành quân. 
Nói chung, những sách này đã thu góp tinh hoa của các tài liệu huấn luyện Âu Tây nói chung và tài liệu của Đức nói riêng. dĩ nhiên, các ấn bản này còn trình bày quan niệm quân sự riêng của Viên Thế Khải nữa. Trong bộ Ký lục và Đồ họa Tài Liệu Huấn Luyện, ông đưa ra hai triết lý hướng đạo quan trọng có ảnh hưởng đến thái độ chính trị của lực lượng ông ta sau này. Thứ nhất, ông nhấn mạnh vào huấn luyện chính trị. Binh sĩ được dạy phải trung thành và thẳng thắn với Hoàng đế. Ông viết trong Huấn Luyện Bị Yếu như sau: 
Ông cha các ngươi đã được hưởng ân sủng của đất nước, không gì không phải là của triều đình. Dù không phải là lính chăng nữa, các ngươi cũng phải đền đáp ân tình của Thánh Thượng. Còn là quân nhân các ngươi được lương cao bổng hậu, nếu không trung với vua thì còn mặt mũi nào nhìn lại tổ tiên ? 
Vì trung thành và ngay thẳng là để đáp lại ơn vua chứ không phải cho tổ quốc, họ dễ dàng bị chuyển qua trung với cá nhân Viên Thế Khải trong lực lượng địa phương trong đó đòi hỏi người lính chỉ nhận lệnh từ cấp chỉ huy trực tiếp là người đã tuyển mộ họ. Khuynh hướng này càng được củng cố với truyền thống cha con, chủ tớ được áp dụng vào tương quan giữa sĩ quan và binh lính dưới quyền. 
Triết lý hướng đạo thứ hai trong tài liệu huấn luyện của ông ta là chủ trương vị lợi. Ông khuyến khích binh sĩ làm việc tích tực để được thăng chức và hưởng lương cao. Ông viết trong cùng bài ấy:
 Không có ngăn trở nào khiến các ngươi không được thăng cấp và hưởng lương cao theo từng nấc một, những thứ đó có thể làm được dễ dàng... Từ cố chí kim nhiều tướng lãnh và tể tướng vốn xuất thân từ lính trơn mà lên... Nếu các ngươi may mắn trong chiến đấu mà bình an trở về, các ngươi sẽ tự động được thăng cấp.
Từ các câu nói trên, người ta thấy hai chủ thuyết hướng đạo thường không phù hợp với nhau. Trong khi khuyến khích binh sĩ trọng lợi để đi theo những đòi hỏi cá nhân, họ sẽ bỏ qua tinh thần trung thành và chính trực trở thành những lãnh chúa hay kẻ cướp. Đó có thể cũng là một trong những lý do tại sao chiến tranh và rối loạn kéo dài sau khi Thanh triều bị lật đổ. 
Viên Thế Khải là một con người có nhiều điểm đáng bàn trong lịch sử cận đại. Người ta trách ông đã phản bội nền Cộng Hòa và toan tái lập đế chế tại Trung Hoa cũng như gây ra nạn quân phiệt tương tranh làm tan nát đất nước sau khi ông qua đời. Mặc dù Viên Thế Khải khong có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và không để lại chiến thuật hay chiến lược nào vĩ đại, nhưng rõ ràng ông là người có óc tổ chức, đã đi một bước xa hơn những người đi trước như Tăng, Lý, Tả trong việc hiện đại hóa tổ chức và phương pháp huấn luyện quân sự Trung Hoa. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:43:56 am
5.   Kết luận
 Người Trung Hoa đã dùng hơn nửa thế kỷ để canh tân các lực lượng võ trang của họ nhưng mãi tới đầu thế kỷ 20 mới bước sang việc hiện đại hóa khí giới và tổ chức. Sự chậm trễ đó một phần có thể do hệ thống chính trị mục nát của nhà Thanh và các thế lực bảo thủ trong xã hội, một phần do các nhà lãnh đạo quá nhấn mạnh về hệ thống vũ khí và cải tiến kỹ thuật mà không để tâm tới việc thay đổi hệ thống và các cải cách xã hội -chính trị khác. Viên Thế Khải là người đầu tiên trong thời cận đại đề ra một chương trình cải cách có hệ thống về tổ chức quân sự và những tài liệu huấn luyện. Mặc dầu phần lớn sao chép của các nước Tây phương, nhất là của hệ thống nước Đức nhưng cũng mỡ ra một kỷ nguyên mới về hệ thống quân sự. Con đường cải cách nay đã rõ ràng. Không ai còn muốn trở về thời đại cũ, cũng không ai muốn ngăn trở việc du nhập thêm hình thức của Tây Phương. Những bước đi kế tiếp của việc hiện đại hóa là làm cách nào phát triển một loạt các chiến thuật chiến lược mới thích đáng hơn và thích hợp với thực tế của người Trung Hoa mà không bị gián đoạn.
Mặc dầu các lãnh tụ Trung Hoa bị trách cứ là quá chú trọng đến việc hiện đại hóa kỹ thuật và vũ khí mà không chú trọng nhiều đến các cải cách xã hội -chính trị và tổ chức, việc họ đầu tư rất tốn kém vào kỹ nghệ quân sự là điều không thể phủ nhận được. Nếu họ không làm như thế, việc kỹ nghệ hóa của Trung Hoa có thể bị chậm trễ vài chục năm vì không một nhà doanh nghiệp nào có thể huy động đủ vốn và tài năng để khởi công xây dựng kỹ nghệ mới và nhất là kỹ nghệ quốc phòng. Vì lý do đó, Bác Sĩ Tôn Dật Tiên, lãnh tụ của cuộc cách mạng và là người dựng nên nền Cộng Hòa của Trung Hoa, vẫn tán thành các đầu tư công cộng và sự lãnh đạo của chính quyền trong các ngành kỹ nghệ then chốt, phần vì những ngành đó quá tốn phí không tư nhân nào kham nổi hoặc quá quan trọng khiến quần chúng phải quan ngại nếu để cho tư nhân đảm trách. 
Các kỹ nghệ then chốt là sở hữu của quốc gia hay công chúng đầu tư sau này chế độ Quốc Dân Đảng tiếp tục chủ trương sau khi Trung Hoa được thống nhất vào thập niên 1930. Chính quyền vẫn tiếp tục kiểm soát sự phát triển của các quân xưởng. Từ thập niên 1950, dưới chế độ Cộng Sản, quốc doanh là hệ thống duy nhất cho mọi xí nghiệp. Mặc dầu chính sách mở cửa gần đây cho phép tư nhân điều hành môt số xí nghiệp nhỏ, chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ chính quyền sẽ cho phép tư nhân quản trị các kỹ nghệ quốc phòng. Thực ra, trong 40 năm qua, dù nhiều khủng hoảng chính trị đã xảy ra và sự phát triển kinh tế có bị gián đoạn nhưng kỹ nghệ quốc phòng vẫn bị Đảng và chính quyền kiểm soát hết sức chặt chẽ, không để cho chính trị ảnh hưởng tới. Sự thành tựu trong lãnh vực vũ khí mới và kỹ thuật cao sẽ không to lớn như thế nếu chính quyền không đóng vai trò chỉ đạo trong lãnh vực này. Có lẽ những thành quả đó phần nào có sự đóng góp của những nỗ lực đầu tiên của thời Dương vụ vận động.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:44:28 am
Chương 4: Sự phát triển của tư tưởng quân sự trong thời kỳ đầu của nền cộng hòa
1.   TÌNH TRẠNG QUÂN PHIỆT VÀ SỰ THOÁI BỘ CỦA HIỆN ĐẠI HÓA QUÂN SỰ 
Công cuộc hiện đại hóa quân sự đã gặp phải những thoái bộ nhất thời sau cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911. 
Trong giai đoạn cuối của thời kỳ Từ Hi cai trị, Viên Thế Khải đã quá quyền uy khiến ông ta bị một số người trong hoàng tộc và quan lại cao cấp nghi ngờ thù ghét. Dẫu rằng Viên Thế Khải đã tự nguyện giao lại một phần quyền hành cho hoàng gia nhưng ông ta vẫn bị cách hết chức tước ngay khi Thái Hậu Từ Hi vừa tạ thế. 
Vua Quang Tự (Guangxu) và Thái Hậu Từ Hi (Ci-xi) chỉ chết cách nhau hai ngày vào giữa tháng 11 năm 1908. Cháu của vua Quang Tự mới ba tuổi lên nối ngôi lấy niên hiệu là Tuyên Thống (Xuantong). Cha của Tuyên Thống là hoàng tử Tải Phong (Zaifeng) nhiếp chính, giữ hết mọi quyền bính. Nhiếp chính vương giận Viên Thế Khải đã phản anh mình (tức vua Quang Tự) trong việc tranh chấp quyền hành giữa Từ Hi và Quang Tự và cái gọi là cuộc Duy Tân Trăm Ngày (Bách Nhật Tân Chính) năm 1898 nên định giết Viên Thế Khải. Nhờ có các đại thần can ngăn mà họ Viên mới khỏi chết. Viên Thế Khải bị đuổi về quê nhưng vẫn ngầm liên lạc với các sĩ quan trước đây dưới quyền. Khi ông ta quay trở lại chính trường, triều đình Mãn Châu phải bắt buộc giao quyền lại cho Viên Thế Khải và loạn sứ quân bắt đầu.
A.   Nguồn gốc của cuộc Cách Mạng Trung Hoa hiện đại
 Kể từ khi Trung Hoa bị đánh bại trong trận chiến tranh nha phiến, chế độ Mãn Châu bị liên tiếp loạn lạc do nông dân nổi dậy, và càng nhiều trong những năm cuối của triều đại này. Hưng Trung Hội (Xingzhonghui), tiều thân của Quốc Dân Đảng (Guomindang) thành lập năm 1894 sau chiến bại nhục nhã của Trung Hoa trong trận chiến Trung -Nhật và thực hiện cuộc khởi nghĩa đầu tiên năm 1895. Trong vô số những phong trào hồi đó, Hưng Trung Hội không phải là đoàn thể mạnh nhất lúc ban đầu nhưng lại là tổ chức cách mạng về sau thành công nhất và dần dần lật đổ được nhà Thanh. 
Hưng Trung Hội đầu tiên do các thành phần sĩ phu cấp tiến của Trung Hoa tổ chức, và thoạt kỳ tủy thành lập bẹn ngoài nước Tàu. Việc đó không những khiến cho họ được các Hoa kiều hải ngoại và người Tây Phương ủng hộ, mà còn khỏi bị nhà Thanh đàn áp chính tri khi còn quá yếu không chống nổi với kẻ thù.
 Vì thành phần sáng lập đều là sĩ phu nên họ dễ dàng đưa ra được một chương trình lôi kéo được sự ủng hộ của quần chúng Trung Hoa. Những vụ nông dân nổi dậy mà không có trí thức lãnh đạo thường bị khuyết điểm là không đưa ra được một mục tiêu đường dài và tổ chức không thích đáng. Họ thường nổi dậy vì đói kém hoặc kinh tế khó khăn nên hay ngả về các mục tiêu kinh tế. Khi tình trạng sinh sống đã cải thiện, sự ủng hộ các phong trào này nhạt dần. Các chương trình chính trị mạnh mẽ chỉ có thể có khi các phong trào này được lãnh đạo hay có sự tham gia của trí thức là những người có khả năng chính trị. 
Hơn nữa, hầu hết các lãnh tụ Hưng Trung Hội đều không phải gốc quân nhân mà là những người tổ chức và xách động giỏi. Điều đó khiến họ có thể chỉ đạo nổi dậy và chiến đấu mà không cần phải đích thân tham dự, giảm thiểu mức hi sinh các nhân vật đầu não và vẫn có thể tiếp tục đấu tranh sau nhiều lần bị đánh bại. Các lãnh tụ nông dân trái lại là chiến sĩ thường trực tiếp tham dự trận mạc. Cuộc nổi dậy thường dứt ngang khi cấp chỉ huy bị giết tại trận tiền. Trước khi thành công vào tháng 10 năm 1911, Hưng Trung Hội đã 10 lần thất bại nhưng tổ chức cách mạng không bị tiêu diệt. 
Vì tính chất tổ chức như thế, Hưng Trung Hội và sau này là Đồng Minh Hội (Tongmonhui) đã chứng tỏ được hai tính chất độc đáo trong các chiến dịch cách mạng chống lại Thanh triều. Trước hết, họ có liên hệ chặt chẽ với những người Trung Hoa trong các bang hội bí mật chống người Mãn Châu trong giai đoạn đầu mới nổi dậy. Từ khi người Mãn Châu chinh phục trung nguyên hồi thế kỷ 17, nhiều thần tử của nhà Minh trước đây đã lui vào tổ chức các hội kín lẫn với nông dân và thợ thuyền. Đến cuối thế kỷ 19, mặc dầu hầu hết đã mất các sinh mệnh chính trị, nhưng vẫn sống ngoài vòng kiềm tỏa của nhà Thanh, nhất là những người định cư ở Hongkong hay trong các cộng đồng Hoa kiều hải ngoại. 
Khi Đồng Minh Hội bắt đầu các hoạt động bài Mãn, họ vận động được sự ủng hộ của những nhóm này một cách dễ dàng. Người ta bảo rằng trong cuộc khởi nghĩa lần đầu tiên của Hưng Trung Hội năm 1895, có đến 3000 người gốc là hội viên của Tam Hợp Hội (Sanhehui) ở Hongkong. Khi chuẩn bị khởi nghĩa lần thứ hai, Hưng Trung Hội hợp nhất với Tam Hợp Hội và Ca Lão Hội (Gelaohui) thành Hưng Hán Hội (Xinghanhui). Chủ tịch là Bác Sĩ Tôn Dật Tiên hồi năm 1899. Những hội kín có thể có tinh thần yêu nước nhưng vốn dĩ phi chính trị. Vì thế sau khi nhà Thanh bị lật đổ, họ biến mất ngay khỏi chính trường và không bao giờ đóng một vai trò gì đáng kể trong thời kỳ hậu cách mạng. 
Thứ hai, trong giai đoạn sau của cách mạng, Dồng Minh Hội, hậu thân của Hưng Trung Hội, chủ yếu dựa vào sự ủng hộ của binh sĩ và các sĩ quan trẻ của quân đội Thanh triều trong các cuộc khởi nghĩa võ trang. Như đã viết trong chương trước, sau khi Viên Thế Khải được chỉ định huấn luyện tân quân ở Tiểu Trạm, triều đình cũng ra lệnh cho mỗi tỉnh phải tổ chức một hoặc hai trấn hoặc tái tổ chức những đơn vị cũ theo hình thức quân đội mới. Mặc dần các đơn vị tân quân phát triển mạnh nhưng cũng vẫn còn nhiều đơn vị cũ trong thời kỳ tiền cách mạng. Hai hệ thống song song khiến tình trạng thêm phức tạp và tạo những xung đột trầm trọng trong quân đội Thanh triều. Nhưng cũng nhờ thế mà các đảng cách mạng có một cơ hội bằng vàng để tuyển thêm người ngay trong các binh đội nhất là những sĩ quan và binh sĩ trẻ có tinh thần yêu nước. Sự phát triển đó đóng góp rất nhiều cho lực lượng cách mạng trong những lần khởi nghĩa sau cùng. Dù Đồng Minh Hội không hoàn toàn ủng hộ họ vẫn tự mình thực hiện một số cuộc binh biến. Ngay cả cuộc nổi dậy sau cùng ngày 10 tháng 10 năm 1911 ở Vũ Xương (Wuchang) cũng toàn là do các sĩ quan Thanh quân lãnh đạo. Mãi sau các lãnh tụ cách mạng mới tiếp nhiệm quyền chỉ huy.
 Trong khi các bang hội bí mật rút ngay ra khỏi các hoạt động chính trị sau năm 1911, các lực lượng quân sự thân cách mạng lại không đủ lớn mạnh chống lại với Bắc Dương Quân của Viên Thế Khải. Hơn nữa, một số các sĩ quan tinh thần cách mạng chưa đủ cao nên khi triều đại nhà Thanh vừa dứt, dưới sự thao túng của viên, nhiều người nhảy vào tham gia các trận chiến giữa các quân phiệt để mưu đồ riêng. Tình thế đó khiến cho Quốc Dân Đảng không biết dựa vào đâu để củng cố quyền lực và thống nhất đất nước sau khi cách mạng và cũng khiến cho tình hình chính trị của Trung Hoa thêm phân hóa, kéo dài thời kỳ sứ quân.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:44:58 am
B.   Bối cảnh Lịch Sử của thời kỳ Quân Phiệt tại Trung Hoa
 Trong chương 2, chúng tôi đã trích từ sách của Lôi Bá Luân là Trung Hoa là một quốc gia không có quân nhân. Ông thường so sánh người binh sĩ Trung hoa với kẻ cướp. Theo ông, từ khi hệ thống dân quân sụp đổ dưới đời Hán, nước Tàu không còn những binh sĩ đúng nghĩa. Quân lính thường tuyển trong đám vô lại, ăn cướp, du thủ du thực và chỉ trung thành với viên tướng nào trị nổi họ. Quân đội không còn là của quốc gia mà là một lực lượng thuộc về cá nhân. Khi đất nước thanh bình và nhà vua có thể trả lương hậu hĩ thì binh lính còn trung thành. Nếu không được như thế, hay khi quốc gia rối loạn, một vài viên tướng nhiều tham vọng sẽ thừa cơ chiếm lấy ngai vàng lập ra triều đại riêng cho mình. Các tướng khác thành kẻ cướp. Đất nước chỉ hết loạn khi một trong những tướng lãnh đang tranh giành quyền bính thống nhất được giang sơn. Tiến trình đó nhiều khi kéo dài cả mấy chục năm. Những thời như thế thì xã hội tan nát, các sinh hoạt kinh tế và văn hóa bị ngưng lại. Nhiều khi, loạn lạc không những chăn đứng phát triển xã hội mà còn phá hủy cả những công trình có sẵn gây ra tình trạng thoái hóa. Tình trạng nước Tàu vào thập niên 1920 là một thời kỳ điển hình những gì Lôi Bá Luân mô tả. Quân phiệt tương tranh không chỉ nhất thời làm hỏng cách mạng và đất nước mà còn tổn hại cả công cuộc hiện đại hóa quân sự vốn dĩ là ưu tiên số một của quốc gia trong hơn nửa thế kỷ qua. 
Dưới thời nhà Thanh, khi Tăng Quốc Phiên bắt đầu tổ chức Tương Quân thì các Kỳ Binh vẫn còn do trung ương nắm giữ. Không theo truyền thống Mãn Châu là tập trung lực lượng quân sự, ông thành lập một lực lượng địa phương dựa trên nguyên tắc cá nhân kiểm soát. Lý Hồng Chương và Viên Thế Khải cũng đi theo phương thức này khi họ huấn luyện quân đội riêng của họ. Các học giả gọi các lực lượng này là quân địa phương để phân biệt với quân lực quốc gia do trung ương kiểm soát. 
Khi Viên Thế Khải được giao cho nhiệm vụ huấn luyện tân quân ở Trực Lệ, Trương Chi Động (Zhang Zhidong), Tổng Đốc Hồ-Quảng, cũng bắt đầu huấn luyện quân đội riêng ở Hồ Bắc, thường được gọi bằng ba tên : Tự Cường Quân (Ziqiangjun), Nam Dương Quân (Nanyangjun) và An Quân (Anjun). Là những đơn vị thiện chiến nhất Nam Trung Hoa, Tự Cường Quân nổi tiếng chẳng kém gì Bắc Dương Quân trên miền Bắc. Hài lòng với những thành quả xây dựng quân đội đó, triều Thanh vội vã quyết định mở rộng tân quân ra tới 36 Trấn (sư đoàn). Để sớm thành tựu, năm 1901, triều đình ra lệnh chính thức là các quan lại tỉnh thị phải thành lập các đội quân riêng theo mẫu Bắc Dương Quân hay Tự Cường Quân. Đến năm 1906, triều đình lại ra đạo dụ bắt buộc ngân sách dành cho quân sự mỗi tỉnh phải tối thiểu là 20% tổng số. Mặc dầu mục tiêu 36 trấn không đạt được nhưng quân lực của địa phương cũng bành trướng lớn. Việc gia tăng khả năng quân sự cho các viên chức địa phương đã đặt nền móng cho chiến tranh quân phiệt sau này và chứng minh rằng thuyết triều nọ thay triều kia của Lôi Bá Luân là đúng. 
C.   Loạn Quân Phiệt và sự Thoái Bộ của Hiện đại hóa Quân sự Trung Hoa
 Sau khi quân cách mạng chiếm Vũ Xương vào ngày 10 tháng 10 năm 1911, Thanh triều lập tức sai Phùng Quốc Chương (Pheng Guozhang) và Đoàn Kỳ Thụy (Duan Kirui) đem quân tới dẹp loạn. Cả Phùng lẫn Đoàn đều là bộ tướng của Viên Thế Khải trước đây và vẫn có liên lạc chặt chẽ với chủ cũ. Theo lời xui của Viên Thế Khải, hai tướng này cố tình trì hoãn việc tiến binh. Thành ra, Thanh triều bắt buộc phải xuống chiếu mời Viên ra chỉ huy việc đem quân đánh giặc. 
Nếu cố tình Viên Thế Khải có thể dẹp tan cuộc cách mạng Vũ Xương không mấy khó khăn. Thế nhưng Viên hận triều đình bãi chức ông ta hai năm trước nên lòng không còn muốn giúp nhà Thanh và muốn lật đổ chế độ để tự mình lên làm vua. Sau mấy tuần thương lượng, Viên Thế Khải đạt được thỏa hiệp của phe cách mạng cùng nhau phế bỏ triều đại Mãn Thanh. Ông ta được cử làm Tổng Thống Lâm Thời của Cộng Hòa Trung Hoa vào tháng 2 năm 1912 và hứa sẽ ủng hộ chế độ cộng hòa. 
Việc nhận lời làm tổng thống chỉ là bước đầu trong tham vọng chính trị của Viên Thế Khải. Ông ta không ưa gì nền Cộng Hòa mà cũng không thích chức hư vị hình thức làm việc dưới quyền một hệ thống nghị viện do những nhà cách mạng đưa ra ở Nam Kinh ngày 11 tháng 3 năm 1912. Viên Thế Khải không muốn bị quốc hội hay nội các hạn chế quyền hành của mình. Vì thế, ngay từ giờ phút đầu tiên giữa Viên và chính phủ cách mạng đã có những bất đồng không thể hàn gắn được. 
Vào đầu năm 1913, đảng Quốc Dân Trung Hoa mới thành lập bằng cách sáp nhập một số đoàn thể chính trị vào Đồng Minh Hội, đạt được đa số ghế trong một kỳ bầu cử thượng viện. Tống Giáo Nhân (Song Jiaoren), một người hăng say ủng hộ chế độ nghị viện và hiện là lãnh tụ của Đảng, có thể sẽ được chọn làm Thủ Tướng. Tuy nhiên Tống Giáo Nhân bị ám sát tại Thượng Hải khi ông sắp đi Bắc Kinh ngày 20 tháng 3 năm 1913. Khi bị khám phá ra chính là người chủ mưu vụ ám sát, Viên Thế Khải không còn cách nào hơn là dùng lực lượng để đàn áp cách mạng. Quốc Dân Đảng phải bắt buộc chống lại vào thánh 7 năm 1913. Người ta gọi đây là Cuộc Cách Mạng lần thứ hai.
 Sau khi Bắc Dương Quân đánh bại được các lực lượng võ trang ủng hộ Quốc Dân Đảng, Viên Thế Khải loại trừ tất cả các cấp chỉ huy thân cách mạng ra khỏi các chính quyền trung ương cũng như địa phương, giải tán Nghị Hội và đặt Quốc Dân Đảng ra ngoài vòng pháp luật để dọn đường cho ông ta lên ngôi hoàng đế. Từ 1914 đến cuối năm 1915, Viên dùng đủ mọi cách để vận động quần chúng và thúc đẩy việc đòi hỏi tái lập đế chế. Dưới sự đe dọa, Quốc Hội bỏ phiếu hoàn toàn tán thành việc ủng hộ ông ta lên ngôi Trung Hoa Đế Quốc (Zhonghua Diguo) vào cuối tháng 11 năm 1915. Viên Thế Khải dự định sẽ đăng quang lên ngôi cửu ngũ vào đầu năm 1916.
 Thế nhưng ông ta đã đánh giá sai quần chúng, không biết rằng toàn thể nhân dân Trung Hoa đã được cách mạng vận đông để hủy bỏ chế độ quân chủ. Ngày 25 tháng 12 năm 1915, Sái Ngạc (Cai E)(tức Sái Tùng Pha), một hội viên của Đồng Minh Hội và cũng là một tướng lãnh lỗi lạc, tuyên bố tỉnh Vân Nam độc lập và tổ chức một lực lượng chinh phạt họ Viên. Hành động ly khai đó sau này gọi là Hộ Quốc Chiến Tranh (Huguo Zhanzeng). Mặc dầu lực lượng của Sái Ngạc không đủ sức lật đổ Viên Thế Khải nhưng hành động quả cảm đó được nhiều cấp chỉ huy các tỉnh khác hưởng ứng, trong đó có cả một số tay chân thân tín của Viên. Sau cùng Viên Thế Khải phải bắt buộc bãi bỏ hệ thống quân chủ ngày 22 tháng 3 năm 1916. Sự thất bại bất ngờ đó khiến cho ông ta suy nhược cả tinh thần lẫn thể xác nên 3 tháng sau thì chết. 
Như đã đề cập trước đây, Viên Thế Khải coi Bắc Dương Quân như một quân đội riêng và huấn luyện họ chỉ trung thành với ông ta mà thôi. Sau khi ông ta từ trần, không ai có thể chỉ huy đoàn quân này như ông ta được nữa. Những lãnh tụ hạng nhì như Phùng Quốc Chương hay Đoàn Kỳ Thụy bắt đầu tự xây dựng một quân đội riêng cho mình. Phùng lãnh đạo phe Trực Lệ, Đoàn lãnh đạo phe An Phúc (Anfu). Theo chân hai người, các cấp chỉ huy quân sự cấp nhỏ hơn tại địa phương hoặc cùng phe, hoặc khác phe Bắc Dương cũng bành trướng lực lượng thành lập những quân đội riêng.
 Nhiều cấp chỉ huy quân sự trong các tỉnh tây nam, hoặc trước đây có chân trong Đồng Minh Hội, hoặc có tham gia khởi nghĩa năm 1911, nay cũng mất hết tinh thần cách mạng. Họ không những đi theo các quân phiệt để tìm danh lợi mà còn có khi quay súng chống lại đảng cách mạng và các lãnh tụ nữa. Những người như Sầm Xuân Huyên (Ken Chunxuan), Đường Kế Nghiêu (Tang Jiyao), Lục Vinh Đình (Lu Rongting), Mạc Sùng Tân (Mo Rongxin) và Trần Quýnh Minh (Chen Jiongming) phản Tôn Dật Tiên, lúc ấy là Tổng Tư Lệnh quân đội bảo vệ Hiến pháp lâm thời 1918, cùng nhau thỏa ước đình chiến với Bắc Dương quân khiến cho Tôn Văn không biết nương tựa vào đâu. Trần Quýnh Minh lại còn đảo chính chống lại Tôn Văn ở Quảng Châu, ném bom vào tư thất của ông khiến Tôn Văn phải chạy ra một chiếc chiến thuyền để lánh nạn. 
Từ năm 1916 là khi Viên Thế Khải chết đến năm 1922 là năm Tôn Văn phải từ bỏ chiến dịch Bắc Phạt, không biết bao nhiêu trận đánh đã xảy ra giữa các quân phiệt. Họ chia nước Tàu thành nhiều khu độc lập theo chính sách cai trị bằng súng đạn. Trung Hoa rơi vào một tình trạng hết sức hỗn loạn và đen tối và càng ngày càng xuống dốc cho đến khi Tưởng Giới Thạch hành quân Bắc Phạt đánh bại các sứ quân và thống nhất nước Tàu trên danh nghĩa vào năm 1930. 
Quân lính và súng đạn trong thời kỳ chiến tranh dai dẳng này nhiều hơn triều đại nhà Thanh nhưng theo nghĩa hiện đại hóa quân sự thì không tư tưởng mới mẻ nào được khai triển ngoại trừ việc kêu gọi tiết giảm quyền hành của các quân phiệt và giải giới quân đội. Hầu hết các quân sự gia đều bận chinh chiến và tranh giành quyền lực và trở nên hủ nát. Họ không ngần ngại giết những ai không theo họ nhưng chính họ thì lại chẳng trung thành với ai. Lường gạt và phản trắc là chuyện thường tình trong đám này. Mặc dầu luôn luôn đánh lẫn nhau nhưng không sứ quân nào quan tâm đến vấn đề huấn luyện quân đội, học hỏi chiến thuật chiến lược. Thực ra không có lực lượng quân sự mà chỉ có những băng đảng võ trang. Khi Quốc Dân Đảng thống lãnh được các lực lượng này đưa ra chiến trường chống với du kích Cộng Sản và quân Nhật mà không huấn luyện thích đáng, nhiều đơn vị bị đánh bại dễ dàng. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:45:27 am
2.   CÁC ĐÒI HỎI CẢI CÁCH QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ ĐẦU CỦA NỀN CỘNG HÒA
  Trong thời quân phiệt, một số lãnh tụ kêu gọi tài giảm của các lực lượng địa phương và tiến hành cải cách quân sự. Cũng có người bàn về việc chuẩn bị chiến đấu vì tình hình sẽ không sao tránh khỏi việc đụng độ với quân Nhật. Vào cuối thập niêm 1930, khi cuộc Nội Chiến giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản xảy ra, các tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch bắt đầu hình thành. Cả Mao lẫn Tưởng đều thống lãnh quân đội hiện đại của Trung Hoa và chính đàn trong suốt nửa thế kỷ. Các lý thuyết quân sự của họ đã được những cấp dưới tôn sùng và là những dòng tư tưởng chính nên sẽ được phân tích riêng trong những chương sau. Trong chương này chúng tôi chỉ bàn về ý kiến của Lê Nguyên Hồng (Li Yuanhong), Sái Ngạc (Cai E), Hoàng Hưng (Huang Xing), Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và Tưởng Bách Lý (Jiang Baili) là những người đóng góp ít nhiều và sự hình thành của tư tưởng quân sự Trung Hoa hiện đại.
A.   Đề Nghị Tước Giảm Binh Quyền của Lê Nguyên Hồng
  Lê Nguyên Hồng là lữ đoàn trưởng (hiệp trưởng) của quân nhà Thanh đóng ở Vũ Xương, tỉnh Hồ Nam trong thời kỳ tiền cách mạng 1911. Ông được một số sĩ quan trẻ vốn đã gia nhập Đồng Minh Hội tôn lên làm Đô Đốc để chỉ huy cuộc khởi nghĩa. Mặc dầu ông không phải là đảng viên cách mạng hay cảm tình viên nhưng ông là một cấp chỉ huy được nhiều người kính trọng trong vùng. Vì thế khi loạn quân cần một nhân vật uy tín làm thủ lãnh, ông là người duy nhất có thể chọn. 
Vì vai trò lãnh đạo trong thời kỳ đầu cách mạng Tân Hợi, về sau ông được chọn làm Phó Tổng Thống Lâm Thời đầu tiên của Cộng hòa Trung Hoa (Bác Sĩ Tôn Dật Tiên là Tổng Thống Lâm Thời đầu tiên) và trở nên một khuôn mặt chính trị sáng giá trong thập niên sau đó. Ông sau lại được bầu làm Phó Tổng Thống trong thời kỳ Viên Thế Khải làm Tổng Thống và kế nhiệm Tổng Thống hai lần trong thời hậu Viên khi có loạn sứ quân. 
Sự liên hệ của ông với Viên Thế Khải những năm sau đã làm hỏng tình giao hảo của ông với các đoàn thể cách mạng. Tuy nhiên vì ông từ chối không ủng hộ Viên phục hồi đế chế nên cũng giữ lại được phần nào thanh danh là một lãnh tụ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập nền Cộng Hòa.
 a/ Sự tách rời quân sự và dân sự :
Mặc dầu nhiều sử gai cận kim đồng hóa ông với quân phiệt nhưng Lê Nguyên Hồng khác hẳn các sứ quân khác vì ông tích cực đưa ra một chính sách tước bớt quyền của các võ quan địa phương và nhất định đòi tách rời quân sự với dân chính. Ông đưa ra chủ trương đó từ đầu của nền cộng hòa cho đến khi ông rút lui khỏi chính trường năm 1923. Các điểm chính được giải thích cặn kẽ trong điện văn dài nổi tiếng của ông gửi Viên Thế Khải ngày 10 tháng 4 năm 1912. Những điểm đó Viên Thế Khải tón tắt thành” mười điều hại” và ”ba điều không”. Mười điều hại nói về những tác hại cho xã hội và quốc gia nếu để quyền hành quân sự lẫn dân sự cho một người, Đô Đốc (Dudu) hay Đốc Quân (Dujun), còn ba điều không nói về các ảnh hưởng tiêu cực nếu để tất cả các quyền đó trong tay viên chỉ huy quân sự tỉnh.
Mười điều hại có thể tóm tắt thành 4 điểm:
•Thứ nhất, cả quân sự lẫn hành chánh đều đòi hỏi chuyên môn. Khó có thể kiếm người thông thạo cả hai mặt và hành chánh địa phương do đó sẽ bị hư hỏng.
•Thứ hai, nếu đặt quốc gia dưới quyền quản trị của quân đội, thiết quân luật sẽ được dùng đến và dân chúng sẽ bị nguy hiểm về nạn các chỉ huy quân sự lạm dụng quyền hành.
 •Thứ ba, cuộc tranh giành quyền lực giữa các sứ quân địa phương sẽ đưa đến giao chiến gây thêm khổ cho dân.
•Thứ tư, các lãnh tụ địa phương bành trướng quyền lực sẽ khiến họ không chịu tuân lệnh trung ương để thêm độc lập và kết quả là đất nước sẽ bị chia thành nhiều mảnh bởi các sứ quân như đời Chu và đời Đường. 
Còn ba điều không, hay ba ảnh hưởng tiêu cực của nạn sứ quân cát cứ có quân đội xuống cấp. thể tóm tắt như sau:
•Trước hết, các sứ quân sẽ gây ra nạn tham nhũng trong quân đội và làm thương tổn đến tinh thần binh sĩ.
•Thứ hai, quân nhân sẽ coi thường kỷ luật và luật pháp sẽ làm cho cơ chế
•Thứ ba, binh sĩ sẽ không còn tinh thần trách nhiệm và lơ là trong nhiệm vụ. 
Ông cũng cho rằng đời sống sa đọa của binh lính đã làm họ không màng đến chuyện luyện tập, không biết gì về chiến thuật chiến lược. Nếu có chiến tranh, họ không đủ sức bảo vệ tổ quốc và nhân dân.
 Vì các lý do đó, Lê Nguyên Hồng đề nghị rằng các Đô Đốc hay Đốc Quân phải bị hạn chế quyền hành, để các việc không thuộc lãnh vực quân sự cho các cấp chỉ huy dân chính. Có như thế, các cấp chỉ huy quân đội mới tập trung vào nhiệm vụ quân sự. Để chứng tỏ sự thành tâm, ông đích thân từ nhiệm các chức vụ dân sự và yêu cầu hội đồng tỉnh chọn một tỉnh trưởng dân sự cho tỉnh Hồ Bắc.
b/ Cưỡng bách tòng quân và Mỗi người dân là một người lính :
 Ngoài ra, Lê Nguyên Hồng còn đề nghị một quy chế cưỡng bách nhập ngũ thay thế cho qui chế tự nguyện đương thời. Ông gọi là chính sách " mỗi người dân là một người lính ". Chính quyền quốc gia sẽ cử sĩ quan tới các tỉnh để huấn luyện binh sĩ trưng tập ngay tại địa phương. Mọi người sau khi huấn luyện xong đều được giải ngũ và trả về nhà. 
Để giải quyết các vấn đề trong quân đội lúc đó, ông còn dám đưa ra chính sách là ”bãi bỏ các chức Tổng Đốc và giảm bớt binh lính” (Phế Đốc Tài Quân -Feidu Caijun). Mặc dầu ý kiến đó được nhiều người tán thành và được hậu thuẫn của nhiều lãnh tụ sáng giá trong đó có cả Bác Sĩ Tôn Dật Tiên, nhưng các quân phiệt không chịu vì chỉ họ là những người thiệt thòi. Lê Nguyên Hồng từ chức Tổng Thống năm 1923 và rút lui khỏi chính trường Trung Hoa mà không bao giờ thi hành được các chính sách của ông. Tuy nhiên, ảnh hưởng của các đề nghị cải cách đó trên hệ thống quân sự không thể hoàn toàn bỏ qua vì các đề mục đó lại xuất hiện khi quốc gia thống nhất vào thập niên 1930.
B.   Tư tưởng quân sự của Hoàng Hưng
Hoàng Hưng (Huang Xing) là một trong những lãnh tụ cách mạng lỗi lạc của Trung Hoa trong thời cận kim. Ông sinh năm 1874 tại Trường Sa, Hồ Nam và là người thành lập đảng cách mạng Hoa Hưng Hội năm 1903. Ông định khởi nghĩa tại thành phố Trường Sa năm 1904 nhưng bị nhà đương cục Mãn Thanh phát giác và phải chạy qua tị nạn bên Nhật Bản. Tại đây, ông gặp Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và gia nhập vào tổ chức của Tôn Văn năm 1905. Ông sát cánh với Tôn Dật Tiên tới khi ông mất. 
Trong suốt thời kỳ hoạt động cách mạng trước năm 1911, Hoàng Hưng thường phải đóng vai lãnh tụ của Đồng Minh Hội vì Tôn Văn bị trục xuất khỏi Hongkong, Nhật Bản và các quốc gia Á Châu khác. Đích thân Hoàng Hưng chỉ huy nhiều cuộc nổi dậy hơn ai hết nên được coi là cấp chỉ huy quân sự lỗi lạc nhất của Đảng trong những năm đầu. Khi Cách mạng xảy ra ở Vũ Xương, ông lập tức từ Hongkong đến mặt trận và trở thành Tổng Tư Lệnh lực lượng cách mạng. Ông ở tại đó 24 ngày để chống lại quân Thanh, đủ thời gian cho quân nổi dậy vận động được các tỉnh khác hưởng ứng đứng lên đòi hủy bỏ chế độ quân chủ và thành lập một nước cộng hòa.
 Sau khi nền cộng hòa được thành lập, ông được chính phủ lâm thời cử làm Bộ Trưởng Bộ Quân Lực và Tham Mưu Trưởng các Lực Lượng năm 1912. Khi Viên Thế Khải thay thế Bác Sĩ Tôn Dật Tiên làm Tổng Thống lâm thời và chuyển kinh đô lên Bắc Kinh, ông ta yêu cầu Hoàng Hưng ở lại Nam Kinh để thanh toán một số công việc chưa hoàn tất. Ông liền từ chức và không còn tham chánh trở lại. 
Trong thời gian dài đấu tranh cách mạng, Hoàng Hưng được coi như một thực hành gia còn Tôn Dật Tiên thì được coi như một lý thuyết gia. Hoàng Hưng không để lại nhiều di cảo, những gì chúng ta biết về tư tưởng quân sự của ông rút từ một số điện tín và diễn văn của ông. Tuy nhiên, trong vai trò lãnh tụ tối cao của quân cách mạng, ảnh hưởng của ông đối với sự phát triển tư tưởng quân sự trong thời kỳ đầu của cộng hòa vẫn rất đáng kể. Vì thế, dù ít tài liệu, chúng ta cũng nên tóm tắt một số quan điểm của ông.
 a/ Giáo dục Phổ thông về Quân sự cho các học sinh :
 Có lẽ ông là lãnh tụ đầu tiên trong lịch sử cận đại đề nghị một chương trình giáo dục phổ thông về quân sự cho mọi học sinh. Năm 1916, khi nói với các Nghị Viên Nghị hội các tỉnh miền Nam, ông cho rằng vì thiếu giáo dục quân sự chung nên tình trạng quân sự mới tệ hại như thế. Nhắc đến việc các quốc gia Âu Châu động viên những quân đội khổng lồ, ông tin rằng chỉ có quân sự hóa giáo dục Trung Hoa thì thời chiến mới có được một quân số to lớn. Ông viết:
 Trung Hoa phải nhấn mạnh vào việc quân sự hóa giáo dục quốc gia. Nếu chúng ta thêm một vài môn quân sự vào chương trình học của học sinh tại mọi cấp -từ trung học đến đại học -thì chúng ta sẽ huấn luyện được nhiều người hơn. Nếu có chiến tranh, lệnh đông viên buổi sáng thì chúng ta có ngay 10 triệu quân buổi chiều. Đây là cuộc cải tổ quân sự tôi nghĩ trong đầu đã từ lâu, nhưng chưa bao giờ nói trước công chúng. 
Rõ ràng khi Hoàng Hưng nói về một chương trình giáo dục quân sự phổ quát cho mọi trẻ em Trung Hoa, ông đã có một kế hoạch cưỡng bách tòng quân trong đầu. Mặc dầu không kiếm ra được gì thêm về vấn đề ông nói, tư tưởng của ông cũng đã rõ ràng, nếu không không thể nào hình dung được quân số 10 triệu sẵn sàng trong vòng 12 tiếng đồng hồ. 
b/ Giảm bớt vai trò Quân đội trong các vấn đề Dân Chính :
 Cũng như Lê Nguyên Hồng, người đã đề nghị chính sách tài giảm các nhiệm vụ dân sự của các cấp chỉ huy quân sự cấp tỉnh và cấp địa phương, Hoàng Hưng cũng có những đề nghị tương tự khi ông làm Bộ Trưởng Bộ Quân Lực và Tham Mưu Trưởng Quân Đội trong chính phủ lâm thời của Quốc Dân Đảng năm 1912.
 Ngay từ tháng hai năm 1912, chỉ hơn một tháng sau ngày Cộng Hòa thành lập, ông bắt đầu gửi điện tín đến các Đô đốc và Đốc quân các tỉnh yêu cầu họ giải tán các chính quyền quân sự địa phương ngoại trừ những nơi có chiến tranh, để cho các viên chức dân sự giữ việc hành chánh bản xứ. 
Hoàng Hưng biết được nguy cơ quân phiệt. Sau Cách mạng Tân Hợi, các lãnh tụ cách mạng nóng lòng muốn giảm bớt quyền hành của các cấp chỉ huy quân sự vì họ chỉ mong rối loạn để chiếm thêm quyền hành. Chỉ có những người mà Hoàng Hưng, Lê Nguyên Hồng, Sái Ngạc có ảnh hưởng trực tiếp mới chịu từ bỏ quyền hành dân sự. 
c/ Các cải tổ quân sự khác : Sau khi tuyên bố giải tán các hệ thống quân sự địa phương, Hoàng Hưng cũng bắt đầu giải ngũ các đơn vị quân sự dưới quyền ông. 
Như trước đây đã đề cập, Hoàng Hưng được cử đứng đầu chính phủ ở Nam Kinh vào tháng 4 năm 1912 khi Viên Thế Khải dời chính phủ lên Bắc Kinh. Lý do bổ nhiệm có lẽ vì Viên Thế Khải muốn dùng uy tín của Hoàng Hưng để kiểm soát các lực lượng ở miền nam Trung Hoa mà thành phần này Viên Thế Khải không quản lý được. 
Từ mồng 6 tháng 4 đến cuối tháng 5, Hoàng Hưng tái tổ chức các lực lượng dưới quyền. Hơn 20,000 binh sĩ bị giải ngũ cho về nhà, nhiều lữ đoàn (hiệp), sư đoàn (trấn) và cả quân đoàn (quân) trưởng đồng ý giải thể đơn vị, trong khi những người khác đồng ý giải ngũ một phần. Ngày 13 tháng 5, Hoàng Hưng báo cáo là nhiệm vụ ông đã hoàn tất và xin từ chức. 
Việc giải tán quân đội là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp. Sau Cách Mạng 1911, Trung Hoa vẫn còn trong tình trạng rối loạn và không thống nhất về bất cứ phương diện gì. Giải binh muốn thành công cần những ngân khoản đáng kể, thời ấy Trung Hoa không cáng đáng nổi. Các lính bị phục viên chỉ được tiền lộ phí. Không ai sắp xếp để họ có việc gì làm thay vào. Thành thử, một số lớn ở lại thành phố, cũng gây ra nhiều vấn đề xã hội. Một số gia nhập binh đoàn khác và một số thành ăn cướp. Hoàng Hưng ra lệnh cho các cấp chỉ huy địa phương trấn áp các thành phần này. 
Công cuộc cải cách quân sự của Hoàng Hưng ở Nam Kinh không được các sứ quân Bắc Dương noi theo. Đã thế họ lại tiếp tục bành trướng quân đội. Một số tướng lãnh của Hoàng Hưng lén lút không tuân lệnh và tiếp tục gia tăng lực lượng. Rõ ràng những gì Hoàng Hưng đề xuất không được hưởng ứng rộng rãi. Đơn phương giải giới, ông đã tự mình làm mình thua trận trong cuộc Đệ Nhị Cách Mạng chống lại Viên Thế Khải sau khi Tống Giáo Nhân bị ám sát. Tuy nhiên, hành động dứt khoát của ông đã hình thành một khuôn mẫu cho tương lai. Vào thập niêm 1950, Trung Hoa đã nỗ lực canh tân quân đội trong đó có giải ngũ một phần quân số khổng lồ của họ.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:46:05 am
3.   SÁI NGẠC VÀ QUÂN SỰ HÓA TRUNG HOA
 Sái Ngạc (Cai E) có lẽ là quân sự gia lỗi lạc nhất trong những năm đầu của Dân Quốc. Ông được mọi người kính trọng vì hành dộng anh hùng bảo vệ nền cộng hòa vào năm 1916.
 Sái Ngạc sinh tại Thiệu Dương, Hồ Nam năm 1882. Ông là học trò của Lương Khải Siêu (Liang Qichao), một nho sĩ lỗi lạc ủng hộ chính thể quân chủ lập hiến vào đầu thế kỷ 20. Nhờ Lương giúp đỡ, Sái Ngạc được gửi sang Nhật Bản vào học Trường Võ Bị Nhật năm 1903. Sau khi trở về Trung Hoa, ông làm huấn luyện viên và quản đốc cho các quân sự học hiệu ở Quảng Tây và Vân Nam trong nhiều năm. Nhờ thế ông nổi tiếng trong giới quân nhân nhất là ở nam Trung Hoa và được bổ nhiệm lữ đoàn trưởng ở Vân Nam năm 1911. Cùng với các sĩ quan trẻ ủng hộ, ông tuyên bố tham gia cách mạng chỉ ít ngày sau cuộc khởi nghĩa Vũ Xương ngày 10 tháng 10 năm 1911 và được chọn làm Đô Đốc (Dudu) của tỉnh Vân Nam. 
Vì ủng hộ chính thể Dân Quốc nên Sái Ngạc bị Viên Thế Khải bãi chức Tổng Đốc Vân Nam và triệu về Bắc Kinh năm 1913 vì y định tái lập chế độ quân chủ. Cuối năm 1915, Sái Ngạc trốn được về Vân Nam và tuyên bố chống lại Viên Thế Khải vì ông ta đã phản bội nền Cộng Hòa. Viên Thế Khải bị hạ bệ năm 1916. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau khi chiến tranh chấm dứt, Sái Ngạc từ trần vì bệnh ung thư tại Nhật Bản. Ông để lại một số tác phẩm quân sự. Tư tưởng của ông có thể tóm tắt vào những điểm sau:
A.   Phục hồi Tinh Thần Võ đạo quốc gia
Năm 1900, khi mới 19 tuổi, Sái Ngạc viết một tiểu luận nhan đề Bàn Về Chính sách quân sự quốc gia (Quân Quốc Dân Thiên -Giun Guomin Pian) đăng trên một tờ báo ở Nhật. Sái Ngạc xoáy mạnh vào một điểm là người Trung Hoa đã mất tinh thần võ đạo và trở nên một dân tộc hèn yếu. Cách duy nhất để khỏi bị chinh phục và xâu xé bởi các cường quốc là phục hồi tinh thần thượng võ.
Có nhiều lý do khiến cho người Trung Hoa mất tinh thần thượng võ nhưng yếu tố chính là hệ thồng giáo dục giết chết óc sáng tạo của trẻ con vì chỉ dạy cho chúng theo những đức tính tôn chỉ của Nho giáo như nhân, nghĩa, trí và tam cương ngũ thường. Hệ thống giáo dục đó hoàn toàn bỏ quên thể dục rất quan trọng cho việc phát triển của trẻ em. 
Ngoài thể dục, ông nhấn mạnh vào việc giáo dục tinh thần quốc gia, lịch sử đất nước và các mẫu anh hùng, thánh nhân để khơi dậy tự hào dân tộc. 
B.   Việc đề cao các đức tính trong quân đội
 Như đề cập trước đây, việc hủ nát của quân đội trong thời kỳ đầu của Dân Quốc hết sức nghiêm trọng khiến cho không sao phân biệt được đâu là quân đâu là cướp. Sái Ngạc cho rằng nếu tính hạnh vô kỷ luật của binh sĩ không thay đổi, tinh thần võ sĩ càng cao thì chiến tranh càng tàn khốc và dân chúng càng khổ sở. Dựa trên nhận định đó, Sái Ngạc thu thập soạn ra một tờ truyền đơn nhan đề Danh ngôn của Tăng (Quốc Phiên) và Hồ (Lâm Dực) về Hành chánh Quân đội năm 1911 phát cho sĩ quan để làm tăng tinh thần đạo đức và chỉ huy. 
Theo ông, dường như đạo đức quân đội bắt nguồn từ lòng trung thành, chính trực, can đảm và hướng thượng. ” Những ai có các đức tính căn bản sẽ đương nhiên có những đức khác và tài chỉ huy. Trái lại, nếu không có những đức tính căn bản thì khó mà có tài có đức khác được ”.
 Theo đó, Sái Ngạc giản dị hóa các đức tính quân sự của Trung Hoa từ xưa là khôn ngoan, trung thành, nhân từ, chính trực, can đảm và nghiêm khắc. Những điều này ngày nay được coi như huấn lệnh chung trong các quân kỷ và sổ tay của Trung Hoa. Ông cũng đề nghị một cấp chỉ huy luôn luôn phải theo lương tâm, can đảm và ngay thẳng. Các đức tính đó quan trọng hơn cả. 
C.   Kế Hoạch quốc phòng và Cưỡng Bách tòng quân
 Nếu bài Quân Quốc Dân Thiên kê ra những bệnh trạng của người Trung Hoa thì bài viết về ”Kế Hoạch Quân sự” là thuốc chữa các căn bệnh đó. 
Trong tác phẩm lớn sau cùng của ông, Sái Ngạc hoạch định một kế hoạch quốc phòng cho Trung Hoa. Nhằm các mục tiêu xây dựng quân đội và hệ thống giáo dục binh sĩ, ông phân tích tương quan giữa sức mạnh quốc gia, sức mạnh quân sự, các lực lượng võ trang, hệ thống tiếp liệu, hệ thống vũ khí và tổ chức quân đội. Tuy các đề tài đó quen thuộc với các cấp chỉ huy quân đội Âu Tây nhưng với Trung Hoa thì còn mới mẻ. Cho nên, việc phân tích một cách có hệ thống của ông có một ảnh hưởng to lớn đối với tổ chức quân sự hiện đại của Trung Hoa và nhất là hệ thống cưỡng bách tòng quân và giáo dục quân sự. 
Theo Sái Ngạc, quốc gia nào cũng có nét đặc thù riêng để kế thừa và sống còn. Ông gọi đó là Quốc Bản (nền tảng của quốc gia), bắt nguồn từ nhựng đặc tính của lịch sử và điều kiện địa lý. Dựa trên nền tảng đó, một nước mới đề ra các chính sách sao cho phù hợp với những tình trạng khác nhau và bảo vệ an ninh. Một chiến lược quốc gia phát sinh từ đó. Mâu thuẫn chiến lược giữa các nước sẽ gây ra chiến tranh và vì vậy phải có quân đội, là khí cụ chính để thực hiện các chiến lược và chính sách. Không quốc gia nào sao nhãng vấn đề quân sự lâu mà không ảnh hưởng đến an ninh và quyền lợi.
 Khi còn quan tâm đến việc xây dựng lực lượng, các cường quốc đưa ra chế độ cưỡng bách tòng quân ít ra trong thời chiến. Thế nhưng mãi đến thập niên 1930, Trung Hoa vẫn dựa trên căn bản tự nguyện. Mặc dầu Viên Thế Khải có đề nghị môt hệ thống cưỡng chế trong tấu chương gửi Thanh triều hồi thập niên 1890 nhưng không bao giờ đem ra thi hành. 
Một hệ thống quân sự căn bản phải cung cấp đủ cho lực lượng võ trang những chiến sĩ quả cảm nhất. Theo Sái Ngạc thì chỉ có việc phổ thông hóa quân sự mới có thể hoàn thành được mục tiêu này.  ”Nếu quốc gia muốn có một lực lượng tinh nhuệ bằng một ngân sách giới hạn thì phải theo đuổi một hệ thống cưỡng bách tòng quân, vì chỉ có hệ thống này mới có đủ lính, không làm giảm khả năng trong một ngân sách hạn chế. Chính sách ấy khiến cho quốc gia có thể chỉ giữ lực lượng hiện dịch ở mức tối thiểu trong thời bình nhưng tiếp tục huấn luyện quân trừ bị càng nhiều càng tốt. Miễn là quân trừ bị được tiếp tục tái huấn luyện thường xuyên, họ sẽ chiến đấu có hiệu quả trong thời chiến” 
Cưỡng bách tòng quân chỉ có thể thực hiện khi có đủ năm điều kiện
 -Trước hết, báo cáo đúng thời hạn về tình trạng tân binh
-Thứ hai, họ phải được huấn luyện chu đáo
-Thứ ba, lính giải ngũ khi về nhà đời sống được bảo đảm
-Thứ tư, họ phải trình diện ngay khi có lệnh gọi
-Thứ năm, khi tập trung được thì họ phải chiến đấu có hiệu năng 
Theo Sái Ngạc, những điều kiện tiên khởi này chỉ có thể đạt được khi chính quyền và quân đội được tổ chức chặt chẽ. 
D.   Phổ thông hóa huấn luyện và Quân sự hóa
 Với kinh nghiệm về huấn luyện và giám sát, Sái Ngạc khẳng định giáo dục quân sự là cần thiết. Mục tiêu chính yếu của giáo dục quân sự là đạt được tinh thần hòa hợp, thống nhất quân đội. Tuy nhiên, những điều đó không phải từ trường ra mà ở trong các đơn vị chiến đấu. Theo Sái Ngạc, bằng chế độ cưỡng bách, chính quân đội là các học hiệu quân sự cho công dân trong thời bình. Ông viết :
 Binh sĩ là những công dân ưu tú của quốc gia. Việc huấn luyện quân đội cho thành tựu và thích đáng sẽ ảnh hưởng đến đạo đức xã hội. Nếu công dân nào cũng mạnh khỏe, lương thiện thì quốc gia sẽ hùng cường ... Huấn luyện một binh sĩ cho tốt chính là huấn luyện công dân.
Quan điểm của Sái Ngạc về quân sự hóa quốc gia thực ra là một kế hoạch vĩ đại để quân sự hóa công dân ngõ hầu thay đổi sự suy nhược của dân tộc Trung Hoa như đã đề cập ở trên.  Để đạt được mục tiêu căn bản về giáo dục quân sự -hòa hợp và thống nhất -Sái Ngạc đưa ra 4 điều kiện : khéo léo, hợp tác, kỷ luật và yêu nước. 
Một hệ thống huấn luyện quân sự phải dạy cho người lính thành thạo các loại vũ khí và cộng tác với đồng đội. Muốn thế, phải huấn luyện họ theo một tiến trình từ hình thức đến tinh thần nghĩa là người lính nào cũng phải đồng nhất bên ngoài và thống nhất bên trong. Người lính phải mặc đồng phục, đi đều bước và thao diễn đồng loạt.
 Một hệ thống huấn luyện quân sự cũng còn phải gia tăng kỷ luật trong quân ngũ. Theo Sái Ngạc, kỷ luật là máu huyết của quân đội, dựa trên tinh thần tin tưởng chung. Người lính tin tưởng vào cấp chỉ huy và tuân lệnh không nghi ngại, họ tin rằng cấp chỉ huy và các bạn đồng đội không bỏ họ. Chính sự tin tưởng lẫn nhau gắn bó quân đội và khiến họ hợp tác chân thành để quyết tâm chiến thắng kẻ thù.
 Sau cùng, một hệ thống huấn luyện quân sự còn phải tạo cho quân sĩ tràn đầy tinh thần yêu nước, đó là động lực cơ bản khiến cho người lính chiến đấu cho quê hương đến hơi thở cuối cùng. Theo Sái Ngạc, hệ thống huấn luyện phải dạy cho người lính hãnh diện phục vụ quốc kỳ, quốc ca, học lịch sử, địa dư để gia tăng lòng ái quốc. Ông đề nghị phát triển bản sắc chính trị trong quân đội khiến cho mọi người lính đề thuộc về một chính quyền trung ương ngõ hầu chấm dứt nạn sứ quân ở Trung Hoa trong thời đầu Dân Quốc.
E.   Chiến lược và Chiến thuật
  Như đã bàn đến trong chương trước, Tăng Quốc Phiên thường hay nhắc đến guyên lý Chủ và Khách trong chiến lược, chiến thuật. Ông thích chọn vai chủ trên chiến trường bằng cách ở trong tư thế phòng thủ. Trên bình diện tổng quát, Sái Ngạc đồng ý với quan điểm bảo thủ của Tăng Quốc Phiên. Ông viết: “ ... trong việc thảo luận về chiến lược, Tăng (Quốc Phiên) và Hồ (Lâm Dực) đều chuộng thuyết Chủ Khách. Chủ là phòng thủ, Khách là tấn công ... Lý thuyết đó phù hợp với quan điểm của các chiến lược gia Tây Phương trước cuộc chiến tranh Pháp -Phổ ...” Những lý thuyết của họ (Tăng và Hồ) đều đã được thực nghiệm trong chiến tranh và trui rèn bằng kinh nghiệm, phù hợp với các lý thuyết của các chiến lược gia tân thời trên thế giới. Khi suy ngẫm về lời của các vị này, tôi không khỏi không thán phục.
 Thế nhưng Sái Ngạc không nhắm mắt theo lời Tăng Quốc Phiên một cách mù quáng. Ông biết rằng sau cuộc chiến Pháp -Phổ và Nga -Nhật, các chiến lược gia đã bàn về ưu điểm của thế công. Không ai còn muốn giữ thế thủ trừ khi lực lượng mình quá yếu, hay vì tình trạng đặc biệt thế thủ lợi hơn thế công.
 Thế nhưng ông cũng không đi theo lý thuyết tấn công của thời ông một cách vô điều kiện. Ông tin rằng ”trong việc chọn chiến lược và chiến thuật, người ta phải chú ý đến tình trạng thực tế chứ không nên tùy thuộc vào một lý thuyết nào. Nếu không hiểu các nguyên tắc căn bản của lý thuyết mà chỉ áp dụng một cách mù quáng, thì thể nào cũng thất bại chẳng khác gì người què mà muốn chạy cho nhanh”.
 Sau khi so sánh lực lượng của Trung Hoa với các nước địch theo các tiêu chuẩn huấn luyện, vũ khí, tiếp liệu và thông tin liên lạc, Sái Ngạc phi bác các lợi điểm chiến thuật tấn công và đưa ra ý kiến riêng mà theo các chiến lược gia Trung Hoa thì là để áp dụng theo tình trạng riêng của đất nước. Sái Ngạc viết : 
Nếu Trung Hoa có chiến tranh với một quốc gia khác trong một tương lai gần, thì tốt hơ nên theo chiến thuật Boer hơn là hi sinh hết mọi thứ để đánh liều theo môt chiến lược khác. Trước hết, Trung Hoa phải trì hoãn đụng trận và rút lui theo chiến lược phòng ngự để bảo tồn lực lượng, dụ địch vào sâu. Khi địch kiệt sức và không đủ quân để hỗ trợ lẫn nhau, Trung Hoa chỉ cần đánh một trận là quét sạch. Kinh nghiệm của người Nga trong việc đánh bại quân đội Napoléon Trung Hoa có thể học nếu phải đối phó với ngoại xâm.
 Sái Ngạc là cấp chỉ huy quân sự lỗi lạc nhất của thời ông. Không những ông kiến thức rất rộng mà tư cách cũng rất đáng trọng. Ông không bao giờ chiếm công vi tư, trái lại ông chọn thái độ rút lui để đất nước sớm thống nhất. Tư cách của ông càng làm cho các tư tưởng quân sự cũng như chính trị được ưa chuộng hơn nhiều người khác và tăng thêm ảnh hưởng trong việc hình thành các quan điểm quân sự hiện đại. Thực thế, Danh Ngôn của Tăng và Hồ về Hành chánh quân đội đã được tái bản với lời giới thiệu của Tổng Tài Tưởng Giới Thạch và phát cho các sĩ quan và sinh viên tại Học Hiệu Quân Sự Hoàng Phố (Huangpu) khi ông Tưởng chỉ huy trường này.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:47:24 am
4.   BÁC SĨ TÔN DẬT TIÊN VÀ QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG
A.   Tôn Văn và cuộc Cách Mạng Tân Hợi  
Bác Sĩ Tôn Dật Tiên (Sun Yatsen) sinh năm 1866 tại Hương Sơn (Xiangshan), Quảng Đông hai năm sau khi quân Thanh chiếm lại Nam Kinh và hoàn toàn tiêu diệt giặc Thái Bình.
 Thời còn nhỏ, Tôn Văn được nghe không biết bao nhiêu chuyện về giặc Thái Bình. Cảm tình của ông đối với họ khiến cho ông thâm thù Mãn Châu và càng ngày càng mạnh khi thấy tình trạng chính trị -xã hội của Trung Hoa ngày cành tệ hại. Năm 1879, ông đi Hawaii để theo đuổi giáo dục Tây phương. Năm 1886, ông vào học trường Y Khoa Trung Hoa tại Hongkong và mở một bệnh viện ở Macau sau khi tốt nghiệp năm 1892, nhưng chỉ được vài tháng thì phải đóng cửa vì các bác sĩ Âu Châu cạnh tranh. Ông phải dọn về Quảng Châu.
 Theo hồi ký của ông về biến cố Luân Đôn, ông gia nhập Hưng Trung Hội (Xingzhonghui) năm 1892 và bắt đầu dấy động chính trị ở Macau.
 Sau khi Hưng Trung Hội thành lập ở Hawaii năm 1894, Tôn Dật Tiên trở thành lãnh tụ tối cao và đích thân ông chỉ huy cuộc khởi nghĩa võ trang đầu tiên ở Quảng Châu năm 1895. Sau đó ông bôn ba nhiều nước khắp thế giới để kêu gọi các Hoa kiều hải ngoại ủng hộ cách mạng.
 Như đề cập trong chương trước, sau những cuộc khởi nghĩa bạo động, Tôn Văn bị trục xuất ra khỏi nhiều quốc gia tại Á Châu. Thành ra ông không còn có thể trực tiếp lãnh đạo hoạt động cách mạng và khởi nghĩa. Lực lượng cách mạng càng được tăng cường khi Hưng Trung Hội và Hoa Hưng Hội sáp nhập để thành Đồng Minh Hội năm 1905. Tôn Văn lúc ấy có thể để cho người khác, như Hoàng Hưng và Tống Giáo Nhân, lãnh đạo việc thường ngày để dành thời giờ vào công việc xây dựng lý thuyết. Ngoài ra, ông vốn dĩ du hành nhiều nước Âu Tây, lại giỏi Anh ngữ nên vì thế đưa được nhiều quan điểm chính trị Tây phương vào trong suy nghĩ của ông. Cho nên ông là lãnh tụ ý thức của Đồng Minh Hội.
 Trong cuộc đời, ông xuầt bản nhiều tác phẩm hơn các lãnh tụ khác của Đảng. Những tác phẩm danh tiếng của ông gồm có Tam Dân Chủ Nghĩa, Học Thuyết Tôn Văn, Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Hoa. Mặc dầu các tác phẩm này được xuất bản hồi thập niên 1920 nhưng mãi về sau này các tư tưởng căn bản trong đó vẫn còn được nhiều người nói đến
 • Tam Dân Chủ Nghĩa là sự kết hợp của tư tưởng quốc gia Tây Phương, chủ nghĩa dân chủ và chủ nghĩa xã hội cùng với lời giải thích riêng của Tôn Văn về các tư tưởng chính trị -xã hội cổ truyền của Trung Hoa, được sử dụng như hướng dẫn tổng quát cho Cách Mạng. Nó cũng còn được dùng để định chế hóa hệ thống xã hội -chính trị của Trung Hoa Dân Quốc. Hai tác phẩm kia phác họa việc xây dựng nền tảng tinh thần cũng như vật chất của Cộng Hòa Trung Hoa và tư tưởng quân sự của ông phần nào phản ảnh các căn bản này.
• Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Hoa (Quốc Tế Khai Phát Kế Hoạch) được đưa ra cho một số cường quốc Âu Tây năm 1921 để thuyết phục các lãnh tụ chính trị đầu tư các năng lực nhân sự, trang bị và kỹ nghệ đang giải thể của họ vào Trung Hoa để Trung Hoa xây dựng các kế hoạch giao thông và một nền kỹ nghệ hiện đại. Trên quan điểm quân sự, Trung Hoa sẽ trở nên hùng mạnh nếu các kế hoạch của Tôn Văn được thực hiện.
• Tôn Văn Học Thuyết (Sun Wen Xue Shuo) viết để thuyết phục dân Trung Hoa đi theo kế hoạch xây dựng Trung Hoa hiện đại của ông. Trong cuốn sách này, Tôn Văn nhấn mạnh vào một nguyên tắc duy nhất : biết làm cách nào khó hơn thực hiện một công việc (tri nan hành dị). Dựa trên tiền đề đó, ông khuyến khích các Đảng viên và thường dân Trung Hoa thực hiện công tác cách mạng sao cho phù hợp với lý thuyết cách mạng. Nếu Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Hoa là một sơ đồ kiến thiết vật chất của nước Cộng Hòa sơ sinh thì Tôn Văn Học Thuyết nhắm vào củng cố quyết tâm đạt tới những mục tiêu của Cách Mạng. Lấy chính kinh nghiệm của mình để làm gương, Tôn Văn lập đi lập lại với dân Trung Hoa, nhất là với đảng viên và quân sĩ, nhấn mạnh về yếu tố tinh thần trong công cuộc đấu tranh cách mạng.
 Tôn Văn được bầu làm Tổng Thống Lâm Thời đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc năm 1912 nhưng ông từ chức nhường cho Viên Thế Khải để đánh đổi lấy sự ủng hộ của ông ta với nền Cộng Hòa. Tuy nhiên, việc Viên phản bội, mưu toan tái lập đế chế và cái chết của ông ta sau khi các tướng lãnh nổi dậy chống lại đã gây ra một thời kỳ nội chiến và quân phiệt dài trong lịch sử.  
Trong khi cách mạng Trung Hoa chịu hết nạn này tới nạn khác thì cuộc Cách Mạng Cộng sản tại Nga thành công. Việc đó đã ảnh hưởng đến thái độ chính trị của Tôn Văn. Với sự cố vấn của các chuyên gia Liên Xô trong Cộng Sản Quốc Tế, ông tái tổ chức Quốc Dân Đảng theo khuôn mẫu của đảng Cộng Sản. Ông cũng quyết định thành lập một quân đội cách mạng hay lực lượng võ trang của đảng theo kiểu Liên Xô. Ông gửi Tướng Tưởng Giới Thạch làm đặc sứ của ông sang Liên xô để học về hệ thống quân sự và chính trị của họ. Khi trở về, Tưởng Giới Thạch được cử làm hiệu trưởng trường võ bị Hoàng Phố (Hoàng Phố quân quan học hiệu) để dùng những sở học vào việc xây dựng một quân đội cách mạng. Chính tại nơi đây mà hệ thống chính ủy được đề ra. Hệ thống đó trở nên một phần bộ thường trực và thiết yếu của quân đội Trung Hoa trong cả Quốc Dân Đảng lẫn Cộng Sản.
 Là lãnh tụ cách mạng và trên hết một lý thuyết gia, các tác phẩm chính trị của Tôn Văn phong phú và có hệ thống hơn các tác phẩm quân sự của ông nhiều. Tuy nhiên, tư tưởng của ông ảnh hưởng sâu đậm trên hệ thống quân sự tân thời hơn nhiều lãnh tụ quân sự khác và vì thế đáng cho chúng ta nghiên cứu kỹ càng.
B.   Kế Hoạch Quốc Phòng và Phát Triển Kinh Tế  
Trong một lá thư viết cho Liêu Trọng Khải (Leo Zhongkai) năm 1921, Bác Sĩ Tôn Dật Tiên đã cho hay ông dự định viết một quyển sách về vấn đề quốc phòng của Trung Hoa. Ông tính lấy tên là Kế Hoạch Mười Năm về Quốc Phòng và ông liệt ra 62 vấn đề ông sẽ bàn đến. Không có chứng cớ nào là ông đã viết cuốn sách đó nên chúng ta không thể tìm hiểu lý thuyết của ông về quốc phòng một cách có hệ thống. Dẫu sao, một số chi tiết trong danh sách ông kê ra cũng có thể tìm thấy trong các diễn văn hay các bài viết khác của ông. 62 điểm đó bao gồm một khu vực to lớn, có thể tóm tắt trong 10 đề mục sau đây:  
1/ các nguyên tắc, phương hướng và chính sách quốc phòng  
2/ quốc phòng và vấn đề đối ngoại  
3/ quốc phòng với hệ thống chính trị quốc gia kể cả hiến pháp, chính quyền trung ương và địa phương.  4/ kinh tế và quốc phòng : thảo luận về các kế hoạch liên quan đến kỹ nghệ quân sự, nông nghiệp, hầm mỏ, thương mại, giao thông vận tải và giáo dục. Cũng bao gồm cả tương quan giữa quốc phòng và sự phát triển kỹ nghệ quốc gia.
 5/ các kế hoạch xây dựng quân sự và hệ thống quân đội bao gồm lục quân, không quân và hải quân.  
6/ giáo dục quân sự và trao đổi các quan điểm quân sự với nước ngoài.  
7/ quốc phòng và nhân văn, kể cả các ý kiến tái định cư nhân dân các vùng nhân mãn ra vùng biên giới.  
8/ hệ thống võ khí -tiêu chuẩn hóa võ khí.  
9/ kế hoạch hành quân và thao luyện.  
10/ so sánh giữa giáo dục quân sự về tinh thần và thể chất.
  Những tài liệu liên quan đến một nửa các đề tài này có thể tìm thấy trong các văn kiện và diễn văn của ông. Tương quan giữa quốc phòng và kinh tế quốc gia chẳng hạn có thể tìm thấy trong Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Ho. Các ý niệm về giáo dục quân sự và nguyên tắc chiến lược, chiến thuật có thể tìm trong diễn văn của ông trước các lực lượng.
Có người cho rằng kế hoạch phát triển kỹ nghệ của Tôn Văn chính là kế hoạch quốc phòng được cắt giảm cho phù hợp với nhu cầu của Trung Hoa. Theo ông, việc phát triển kỹ nghệ là một vấn đề thiết yếu quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của Trung Hoa.
Các phương án mà Tôn Văn đưa ra nhắm trọng tâm vào việc giải quyết các vấn đề vận tải -ông để 4 trong 6 phần trong cuốn sách thảo luận về đề mục này. Chỉ có cải tiến giao thông thì quyền hành của Trung Hoa tại các vùng biên cảnh mới có thể duy trì và mới thể di dân tới các nơi đó cũng như mới có thể tiếp tế được cho những nơi gặp khó khăn. Ngoài ra, chỉ có cách cải thiện giao thông thì Trung Hoa mới tiếp nhận được kỹ thuật, hàng hóa, tài nguyên từ các nước Âu Tây để duy trì và kích tích phát triển kỹ nghệ. Kế hoạch của Tôn Văn gọi là phát triển kỹ nghệ xe hơn và hầm mỏ.
Những kế hoạch về phát triển giao thông vận tải ông đề ra giới hạn vào việc cải tiến hải cảng, đường hỏa xa, hệ thống sông ngòi và đường sá.
Trước hết, Tôn Văn dự tính kiến tạo 3 hải cảng bậc nhất dọc theo bờ biển Trung Hoa được gọi là Đại Bắc Cảng Trực Lệ ở Hà Bắc, Đại Đông Cảng Hàng Châu ở Triết Giang hay Thượng Hải và Đại Nam Cảng ở Quảng Châu. Ngoài ra, vài chục hải cảng hạng nhì, hạng ba cũng được xây cất hoặc dọc theo bờ biển hoặc trong các sông chính tại nội địa.
Tôn Văn cũng nhấn mạnh vào sự quan trọng của việc cải tiến giang hành trên sông Dương Tử và Vận Hà (Grand Canal) để nối liền các vùng trù phú trong đất liền với Đại Đông Cảng. Việc xây cất các hải cảng hạng nhì, hạng ba dọc theo sông ngòi là biện pháp ông đưa ra.  
Để nối liền các hải cảng đề ra trong kế hoạch với các vùng kinh tế và chiến lược trong toàn quốc, ông phác họa 7 hệ thống thiết lộ chính.
 Hệ thống thiết lộ Tây Bắc đi từ Đại Bắc Cảng chạy ngang qua Mông Cổ, Tân Cương đến biên giới Nga Hoa. Các đường nhánh sẽ nối các thị trấn biên giới và khu vực chiến lược như Mông Cổ, Cam Túc, Tân Cương với đường chính. Tôn Văn sẽ thiết kế một kế hoạch di cư để đưa dân từ các vùng đông đúc trong nội địa đến các vùng biên cảnh vì cả lý do kinh tế lẫn quân sự. Kế hoạch của thiết lộ này dự trù khoảng 7000 km.
 Ngoài ra ông dự tính thiết lập hai đường thiết lộ nối Đại Đông Cảng với các thành phố bên trong đất liền và các vùng biên giới. Các đường này gọi là hệ thống Thiết Lộ Trung Ương và hệ thống Thiết Lộ Đông Nam. Đường Trung Ương chạy dọc theo sông Dương Tử đến các tỉnh phía Tây của Tây An trong tỉnh Thiểm Tây, tới Trùng Khánh ở Tứ Xuyên rồi ngoặt lên Bắc Mông Cổ và Tân Cương nối liền với hệ thống Thiết Lộ Tây Bắc. Đường Đông Nam chạy về miền nam qua các tỉnh Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Hồ Bắc và Hồ Nam xuống Đại Nam Cảng ở Quảng Châu. Hai đường này dự trù dài 16,600 km và 9,000 km.
 Một thiết lộ thứ tư Tôn Văn dự trù sẽ dùng để biến Đại Nam Cảng thành một cửa biển hạng nhất. Ông đề nghị đường thứ tư này chạy từ Nam Cảng qua Hồ Nam, Quí Châu, Quảng Tây, Vân Nam đến giên giới Hoa -Miến và Hoa -Việt. Ngoài 4 đường chính nên trên, Tôn Văn cũng đề ra 3 hệ thống khác. Một đường tên là hệ thống Thiết Lộ Cao Nguyên chạy qua Tây Tạng, Thanh Hải, một phần Tân Cương, Tứ Xuyên, Vân Nam và Quí Châu. Hệ thống này giúp Trung Hoa ngăn chặn được các cuộc tấn công từ Ấn Độ và Đông Dương. Đường thứ hai tên là Thiết Lộ Đông Bắc hay Mãn Châu, nối liền Mãn Châu với Đại Bắc Cảng và các vùng khác của tỉnh Hà Bắc. Con đường này nhằm củng cố lực lượng phòng vệ Nga hay Nhật xâm lăng Mãn Châu. Con đường thứ ba gọi là hệ thống Thiết Lộ Tây Bắc kéo dài. Khi hoàn tất, con đường này sẽ đi tới mọi thị trấn chiến lược ở biên giới tại Tân Cương và Mông Cổ nhằm ngăn chặn Nga Sô khỏi đánh qua biên giới.
 Sau hết, Tôn Văn đưa ra kế hoạch xây dựng 1,000,000 km xa lộ để gia tăng hệ thống giao thông vận tải.  Các mục tiêu khác của Tôn Văn là kế hoạch phát triển kỹ nghệ xe hơi và hầm mỏ. Ông đặc biệt nhấn mạnh về sự quan trọng của khai thác sắt thép, than đá, dầu hỏa và đồng cũng như sự phát triển các nhà máy chế tạo máy móc.  
Trong các dự án đưa ra, Tôn Văn nhấn mạnh vào lợi ích có thể có nếu các cường quốc giúp Trung Hoa phát triển kỹ nghệ. Điều ông không nói ra nhưng cũng đã rõ ràng là kết quả của những kế hoạch này sẽ làm cho Trung Hoa gia tăng sức mạnh quân sự và chấm dứt sự xâm lấn của nước ngoài.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:47:46 am
C.   Sự thành lập các Lực Lượng Cách Mạng 
Mặc dầu Đồng Minh Hội đã có lần mở một trường võ bị tại Tokyo năm 1902 để huấn luyện cán bộ cách mạng và cũng giúp các sinh viên Trung Hoa xin vào học các quân sự học hiệu của Nhật Bản nhưng Tôn Văn và Quốc Dân Đảng mãi đến 1924 mới xây dựng lực lượng cách mạng, khi Quân quan Học hiệu Hoàng Phố thành lập. 
Tôn Văn không định nghĩa rõ ràng thế nào là ”lực lượng cách mạng” nhưng ông có cố gắng phân biệt giữa một quân đội cách mạng với lực lượng quân sự khác dựa trên tinh thần, chiến thuật và sự trung thành với các nguyên tắc cách mạng. Từ những thảo luận sau đây chúng ta có thể hình dung được quan điểm về lực lượng cách mạng. 
Trong việc phân biệt lực lượng võ trang cách mạng với lực lượng quân sự khác, Tôn Văn nói là ”mỗi chiến sĩ cách mạng có thể đánh lại 100 hay ít nhất cũng 10 kẻ thù. Khi hai chữ cách mạng được áp dụng cho một binh đội, một nghìn chiến sĩ quân đội cách mạng có thể đánh bại 10 hay ngay cả 100 nghìn kẻ thù. Có thể đánh bại một địch thủ quân số đông đảo gấp bội như thế chính là tiêu chuẩn đo lường Quân đội Cách Mạng”. 
Một đánh một là nguyên tắc thông thường của đối trận. Chỉ có những trường hợp đặc biệt một chiến sĩ mới có thể đánh được nhiều hơn một người. Cho nên tiêu chuẩn của Tôn Văn cho quân đội Cách Mạng quả thực không bình thường. Theo ông, cách mạng là một công tác đặc biệt và vì thế chỉ có một lực lượng cách mạng đặc biệt mới thực hiện nổi. Cách duy nhất để thành lập một lực lượng cách mạng là học hỏi các đảng viên cách mạng. Cần phải học tinh thần đấu tranh và lòng can đảm để một có thể chống 100. Chính là như thế vì Tôn Văn có nói : ”Nếu một lực lượng chiến đấu không khác gì một đảng viên cách mạng thì mới được gọi là Quân đội Cách Mạng”. Từ đó, người ta biết rằng quân đội cách mạng là một lực lượng đặc biệt nhấn mạnh vào yếu tố tinh thần. Với tinh thần chiến đấu đặc biệt đó, môt lực lượng cách mạng có thể đánh bại một lực lượng đông đảo hơn. 
Trước khi thành lập quân đội cách mạng, Tôn Văn và Quốc Dân Đảng phải chủ yếu dựa vào sự ủng hộ của các lực lượng địa phương ở các tỉnh miền Nam. Ông thường nghĩ đến việc chuyển họ sang thành lực lượng cách mạng. Ông nói : ”Nếu chúng ta muốn dựa vào các lực lượng hiện hữu để hoàn thành công cuộc cách mạng, nhiệm vụ chính yếu của các đảng viên là phải làm sao chuyển hóa các binh sĩ thành đảng viên, có thế họ mới sẵn sàng hi sinh thân mình cho Tam Dân Chủ Nghĩa”. 
Nhưng rõ ràng Tôn Văn không thành công trong việc biến các đơn vị địa phương thành một lực lượng cách mạng lý tưởng. Vì thế ông phải thành lập trường võ bị Hoàng Phố để đào tạo lực lượng cách mạng riêng. Tôn Văn thán phục cách mạng Nga và dự tính huấn luyện lực lượng của ông theo khuôn mẫu nước Nga. Đã có lần ông viết cho Tướng Tưởng Giới Thạch năm 1924 là ”cuộc cách mạng của chúng ta sẽ không bao giờ thành công nếu chúng ta không học hỏi người Nga”. Học cái gì đây ? Tôn Văn viết : ”Để hoàn thành công cuộc cách mạng, chúng ta phải học phương pháp, tổ chức và huấn luyện theo kiểu Nga”. Hậu quả là ông tái tổ chức Quốc Dân Đảng và thành lập một lực lượng cách mạng.
D.   Các Chiến Thuật Cách Mạng của Tôn Văn
 Nếu Bác Sĩ Tôn Dật Tiên đã từng khai triển một chiến lược quân sự cho quân đội cách mạng thì nguyên lý của nó phải là _lấy ít thắng nhiều._ Ông nhắc đi nhắc lại nguyên tắc đó trong nhiều bài diễn văn và bài viết. Một lần, ông viết cho Tưởng Giới Thạch về một quân đội lý tưởng như sau ”Nếu quân đội được tổ chức và huấn luyện theo ý của tôi và do tôi chỉ huy, tôi dám chắc sẽ đánh bại được một lực lượng đông gấp mười hay gấp trăm. Chiến lược này chưa từng chiến lược gia nào đề cập đến trong binh thư cả”.
Thế nhưng nếu nói nghiên tắc này của ông là không đúng. Đánh bại một quân lực đông hơn đã có từ lâu. Các quân sự gia đời xưa đã bàn về nguyên tắc này. Trong khi các binh gia đời xưa đã phát triển một số lý thuyết để thực hiện chiến lược lấy ít chống nhiều, Tôn Văn không để lại một phương pháp nào đáng tin về việc thực hiện chiến lược đó, ngoại trừ việc nhấn mạnh về tinh thần cách mạng và chiến thuật du kích.
 Lấy thí dụ về đội cận vệ của ông trong biến cố Quan Âm Sơn (Guanyin shan) năm 1922, ông nói rằng 30 người trang bị bằng súng lục đã giữ vững vị trí hơn mười tiếng đồng hồ chống lại được vài nghìn loạn quân đến khi họ hết đạn. Tôn Văn nói ”Chỉ có các cận vệ chiến đấu tại Quan Âm Sơn mới xứng đáng là mẫu người lính lý tưởng của quân đội cách mạng : một người chống lại một trăm”. Theo Tôn Văn, các quân nhân đó có thể chiến đấu như thế vì họ không sợ chết và sẵn lòng hi sinh cho cách mạng.
 Ngoài yếu tố tinh thần, một phương pháp duy nhất Tôn Văn cho rằng quân đội cách mạng có thể đánh lại một quân địch đông hơn là dùng chiến thuật du kích hay Du Dũng (You Yong).
 Dường như Tôn Văn lấy ý kiến về chiến thuật du kích từ chiến tranh Boer, trong đó người Boer chống lại quân Anh ở Nam Phi bằng chiến thuật phục kích. Người Việt Nam cũng dùng chiến thuật tương tự để chống Pháp và có lẽ điều đó đã ảnh hưởng đến Tôn Văn. Cho nên, ông đề nghị dùng chiến thuật du kích chống lại quân xâm lăng ngoại quốc và quân phiệt Bắc Dương. 
Nói chung, các bàn cãi của Tôn Văn về chiến tranh du kích chỉ giới hạn trong các vấn đề kỹ thuật. Theo ông, có 5 loại kỹ xảo trong chiến thuật Du Dũng cần phải học : bắn mục tiêu, phục kích, chịu đựng gian khổ, đi bộ và ăn uống đạm bạc. Khi thảo luận về tác xạ mục tiêu, Tôn Văn có dề cập đến nguyên tắc lấy tiếp liệu của địch tróng chiến tranh du kích. Tôn Văn viết ”việc tiếp liệu đạn dược có thể từ hậu cần hay ngay tại mặt trận. Tuy nhiên, lực lượng du kích không thể nào có tiếp tế nên phải lấy của địch để dùng. Thành thử, tiếp liệu của họ không phải từ sau mà từ trước.” Về vấn đề "chịu đựng gian khổ, đi bộ và ăn uống kham khổ" đó không phải là kỹ năng mà là huấn luyện thể xác giúp cho quân du kích vượt qua được những khiếm khuyết hay yếu kém về vũ khí và trang bị. Sau cùng, từ ngữ ”phục kích” có thể dùng trên tầm vóc kỹ thuật hay chiến thuật. Nếu nói về kỹ thuật là nhấn mạnh về an toàn cá nhân bằng cách dùng các điều kiện thiên nhiên như địa thế để ẩn náu hầu tránh khỏi hỏa lực của địch. Nếu nói về chiến thuật là nhấn mạnh vào việc tấn công địch bất ngờ. Thảo luận của Tôn Văn nhắm vào kỹ thuật nhiều hơn. 
E.   Yếu tố quyết định của chiến tranh -Con Người
 Tôn Văn không đưa ra một chiến lược hay chiến thuật đặc biệt nào để khiến cho một có thể chống mười, chống trăm. Chiến lược duy nhất ông nhắc đi nhắc lại là sự ưu việt của tinh thần đấu tranh cách mạng. Như đã đề cập trong phần trước, ông nhấn mạnh vào bản chất phi thường của chiến tranh cách mạng và do đó tin rằng cần có những tinh thần đấu tranh phi thường.
Thực vậy, Tôn Văn nói ”phải tự hỏi có tinh thần cách mạng hay không, nếu có thì thành công của cách mạng mới bảo đảm”.  Tinh thần là gì? Ông định nghĩa rất giản dị : ”những gì không phải là vật chất là tinh thần”.
Tinh thần và vật chất hỗ tương không thể tách rời. Tuy nhiên theo Tôn Văn, tinh thần là yếu tố chính, vật chất là yếu tố phụ. Vũ khí thuộc về vật chất nên chỉ được sử dụng thích đáng bởi những con người có tinh thần. Cho nên, yếu tố quyết định trong chiến tranh chủ yếu là tinh thần con người mà Tôn Văn cho rằng quan trọng gấp chín lần vật chất. Câu sau đây hình dung sự quan trọng mà Tôn Văn nói về tinh thần trong chiến tranh:
 Nếu người ta có vũ khí dồi dào nhưng tinh thần yếu kém thì họ chỉ muốn bỏ vũ khí lại cho địch lấy khi phải ra trận. Quân đội như thế chẳng khác gì toán tiếp vận trang bị cho địch quân. Cho nên, khi hai lực lượng thù nghịch muốn hủy diệt khả năng chiến đấu của nhau, thì chỉ cần phá hủy tinh thần chiến đấu của nhau.
 Hầu hết mọi người đều đồng ý là tinh thần là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả chiến tranh nhưng nhiều người cho rằng Tôn Văn hơi đánh giá vai trò tinh thần quá cao trong chiến đấu. 
Nói chung, tình hình thực tế thường không cho các lãnh tụ nhiều chọn lựa nên họ thường đề cao vai trò tinh thần. Thực tế, các đơn vị cách mạng thường kém trang bị và không được tiếp liệu đều đặn. Nếu lãnh tụ cách mạng khăng khăng là vũ khí quan trọng hơn ý chí con người thì khác nào tự mình đánh bại mình. Trong hầu hết mọi trường hợp, người Trung Hoa phải chiến đấu bằng những vũ khí cũ kỹ chống lại kẻ thù trang bị tối tân hơn nhiều. Cho nên, họ phải tự nhủ là tinh thần ưu thắng. Chẳng hạn như Mao Trạch Đông gọi bom nguyên tử là con cọp giấy vì tuy nhìn thì kinh khủng nhưng thực tế thì không. Lý do thực sự sau lời phát biểu đó là lúc đó Trung Hoa chưa có vũ khí hạch tâm. Ông ta không muốn Quân đội Giải Phóng Nhân Dân phải chùn bước khi nghĩ đến có thể phải đụng độ với một kẻ thù có bom nguyên tử.
Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng việc nhấn mạnh vào tinh thần coi đó là yếu tố quyết định đã trở thành một tính chất quan yếu trong tư tưởng quân sự của Trung Hoa. Chỉ có điều mỗi lãnh tụ quân sự lại nhìn theo một mức độ khác. 
F.   Vai trò của Tuyên Truyền Chính Trị trong Chiến Tranh
  Chiến lược của Tôn Văn là dùng một lực lượng nhỏ để đánh bại một lực lượng lớn hơn nên đòi hỏi tinh thần phải rất cao. Nâng cao tinh thần chiến đấu của quân ta trong khi hủy hoại tinh thần quân địch trở thành chìa khóa chiến thắng của lực lượng cách mạng. Theo Tôn Văn, đường lối hay nhất là dùng tuyên truyền. Ông nói : ”Sau khi tái tổ chức Quốc Dân Đảng, chúng ta phải nhấn mạnh vào tuyên truyền vận động chứ không phải phương tiện quân sự”.
  Tuyên truyền có thể biến địch thành bạn. Chẳng hạn như trong cuộc Cách Mạng Tân Hợi, tại Vũ Xương sở dĩ thành công là vì chính quân Thanh cũng nổi dậy. Họ nổi dậy chính là nhờ cách mạng tuyên truyền. Ông viết : ”Nhờ tuyên truyền vận động, chúng ta đã làm cho họ hiểu được Tam Dân Chủ Nghĩa khiến họ sẵn sàng chiến đấu cho cách mạng. Cho nên, sự thành công của cách mạng là nhờ vào sự thành công của tuyên truyền”.
 Ngoài ra theo ông nếu không có tuyên truyền thì một lực lượng cách mạng cũng không thắng trận được vì "nếu chúng ta không vận động tuyên truyền binh sĩ của ta, thì họ chẳng biết vì sao mà họ phải chiến đấu cho cách mạng". Vì thế, Tôn Văn nói là ”phương pháp nhanh nhất để tiến hành cách mạng là 90% dựa vào tuyên truyền, chỉ 10% dựa vào lực lượng”.
 Việc nhấn mạnh vào tuyên truyền trong chiến tranh không những là một phần bộ quan trọng của chiến lược cách mạng Tôn Văn mà còn là nền tảng cho hệ thống chính ủy trong quân đội Trung Hoa hiện đại. Có thể tin rằng khi Mao Trạch Đông cương quyết chống lại quan điểm quân sự thuần túy của Hồng quân trong thời còn ở Tỉnh cương sơn (Jinggangshan) có thể phần nào bắt nguồn từ triết lý của Tôn Văn. 
G.   Ngưng chiến và Giải Ngũ quân đội
  Khi bàn về bản chất chiến tranh, Tôn Văn tin rằng chiến tranh chẳng qua chỉ là sự thể hiện tính bản ác của con người. Ông cũng tin rằng con người càng tiến bộ thì càng ít cơ hội cho cái tính ác ấy biến thành chiến tranh. tuy nhiên, một nguyên tắc chung cho thế giới hiện đại là ai chiến đấu được sẽ sống còn, ai không chiến đấu được sẽ khổ sở. Cho nên ”người ta phải chiến đấu chính là vì muốn ngưng chiến”. Đó chính là một phần của triết học quân sự cổ điển của Trung Hoa và hiện vẫn còn chi phối tâm hồn của những quân sự gia tân thời. 
Giải ngũ lực lượng đã trở thành một vấn đề chính yếu sau cách mạng 1911. Tiếng nói của Tôn Văn về vấn đề này không những đáng kể mà còn có tính thuyết phục hơn những người khác vì ông đưa ra một khung hình trong đó lính giải ngũ có việc làm trong khu vực kỹ nghệ. Ông nói rằng ”giải ngũ binh sĩ không phải là bỏ cho họ thất nghiệp lang thang mà phải biến họ thành công nhân để hoàn thành chính sách gia tăng kiến tạo kỹ nghệ bằng lực lượng quân sự”. Chính sách đó gần đây cả Cộng Sản lẫn Quốc gia đều đã thực hiện tại Hoa lục và ở Đài Loan sau năm 1949. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:48:55 am
5.   TƯỞNG BÁCH LÝ VÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
 Nói chung là không có một sự phát triển nào xuất sắc trong tư tưởng quân sự tân thời tại Trung Hoa trong thời kỳ Dân quốc mới thành lập. Một trong những biệt lệ là Tướng Tưởng Bách Lý (Jiang Baili). Ông không những giới thiệu các lý thuyết quân sự cận đại của ngoại quốc và hệ thống của họ vào Trung Hoa mà còn phát triển lý thuyết riêng dựa trên những hoàn cảnh đặc biệt của xã hội Trung Hoa. Thành quả của ông tuy không vĩ đại như các chiến lược gia lỗi lạc nhưng ông vẫn được coi như một người tiên phong trong lãnh vực lý thuyết quân sự hiện đại.
A.   Bối cảnh Xã Hội -Chính trị của Tưởng Bách Lý 
Tưởng Bách Lý sinh năm 1882 tại huyện Hải Nham (Haiyan), tỉnh Triết Giang. Thuở nhỏ và thiếu thời ông học cổ văn và đỗ Tú Tài (Siucai) trong kỳ thi hương năm 1898 lúc 17 tuổi. Đến khi ông học một trường công dành riêng cho con quan ông mới hiểu được nỗi nhục nhằn của Trung Hoa khi thua trận chiến tranh Trung Nhật năm 1894 và cuộc chiến tranh Bát Quốc Liên Quân năm 1900. Tưởng Bách Lý trở nên ủng hộ cách mạng và sang Nhật du học năm 1901.
 Cũng như các sinh viên Trung Hoa khác, ông muốn được vào một trường võ bị. Sau khi học một số lớp chuẩn bị quân sự ở Thành Thành học hiệu năm 1901 và phục vụ như một sĩ quan không chính thức trong quân đội Nhật, sau cùng ông được vào trường Võ bị Nhật Bản năm 1904. 
Ông đỗ đầu lớp tháng 12 năm 1905 và được Nhật Hoàng tặng cho một thanh kiếm. Việc đó khiến ông nổi danh trong cộng đồng Hoa Kiều tại Trung Hoa cũng như tại Nhật Bản.
 Sau khi về nước, ông được mời làm Tham Mưu Trưởng cho Tổng Đốc Mãn Châu lúc ấy là Triệu Nhĩ Tốn (Zhao Erxun), người đã đỡ đầu cho ông ghi tên vào trường võ bị Nhật Bản. Chỉ vài tháng sau, viên Tổng Đốc lại gửi ông đi học thêm về khoa học quân sự tại Đức. Thay vì ghi tên học một trường quân sự Đức, ông gia nhập quân đội Đức và phục vụ như một sĩ quan tập sự cho đến 1910. 
Trong thời gian ở Đức, Tưởng Bách Lý dùng rất nhiều thì giờ để học văn chương Tây Phương, lịch sử và triết học. Vì thế, khi về nước ông không những thông hiểu khoa học quân sự Tây Phương mà còn biết nhiều về văn hóa, lịch sử và tình trạng xã hội -chính trị của họ nữa. Sự thông thạo của ông trên các lãnh vực đó đã giúp ông rất nhiều khi sau này ông được Tưởng Giới Thạch cử làm đặc sứ đi Âu Châu trong công tác ngoại giao và quân sự hồi Thế Chiến thứ hai. 
Sau khi trở về Trung Hoa, ông nhận chức vụ tiểu đoàn trưởng Ngự Lâm Quân một vài tháng. Sau đó ông lại theo người chủ và đỡ đầu cũ là Tổng đốc Triệu Nhĩ Tốn trở lại làm Tham mưu trưởng. Tuy nhiên trong những ngày trước cách mạng Tân Hợi, Tưởng Bách Lý bị trục xuất khỏi Mãn Châu bởi Tuần Phòng Quân (Xunfang giun) là lực lượng chống lại Tân quân (Xinjun) và bị kết tội là thân cách mạng. Thực ra đến lúc đó ông vẫn chưa gia nhập cách mạng. Khi Dân quốc thành lập, ông chỉ chấp nhập một cách thụ động chứ không theo. Vài tháng sau cách mạng, ông về Bắc Kinh gia nhập lực lượng của Viên Thế Khải khi ông này giữ chức Tổng Thống lâm thời đầu năm 1912. Tưởng Bách Lý nhận chức Chỉ Huy Trưởng Quân Sự học hiệu Bảo Định cùng năm đó. Tuy nhiên, vì không được chính quyền Bắc Kinh yểm trợ nên sau khi làm việc sáu tháng ông toan tự tử. Ông không chết nhưng phải rời trường. Ông tiếp tục làm cố vấn cho Tổng Thống đến năm 1918, ngoại trừ một thời gian ngắn năm 1916 khi ông gia nhập lực lượng cách mạng miền nam chống lại Viên Thế Khải vì y phản bội nền Cộng hòa. 
Năm 1918, ông được mời tham gia một phái đoàn quan sát Âu Châu hậu chiến. Cuộc du hành đó giúp ông quen thuộc với sự phát triển của tư tưởng quân sự phương Tây từ hồi ông đến đây lần trước tới bấy giờ. 
Từ 1918 tới 1930, Trung Hoa liên tiếp bị nội chiến. Không đi theo các quân phiệt, Tưởng Bách Lý dành hết thời giờ soạn các luận văn về quân sự. Ông làm việc đó tới giữa thập niên 1920 thì có một số sứ quân mời ông theo họ. Ông nhận chức Tham Mưu Trưởng cho tướng Ngô Bội Phu (Wu Peifu) năm 1925. Nhưng chỉ vài tháng sau ông lại ra đi.
 Có vẻ như không khi nào ông thực tâm muốn gia nhập quân của chính phủ Dân Quốc, ngay cả sau khi ông được chính Tưởng Giới Thạch tiếp đón năm 1927. Ông cũng bị Tưởng Giới Thạch bỏ tù hồi 1930 và bị giam mấy năm vì có liên hệ với loạn tướng Đường Sinh Trí (Tang Shengzhi). Trong thời gian tại ngục, ông lại dùng thì giờ để viết. Ông ấn hành tác phẩm ”Nghiên cứu Lịch sử các Nguyên tắc Kinh Tế Căn Bản của Vấn đề Quốc Phòng” năm 1934. Có lẽ nhờ cuốn sách này, ông được Tưởng Giới Thạch bổ làm Cố Vấn cho Ủy Ban Quân Sự. Từ đó ông bắt đầu sự nghiệp trong chính quyền Quốc Dân Đảng và dồn hết nỗ lực vào cuộc chiến tranh kháng Nhật. 
Sau năm 1936 ông được Tưởng Giới Thạch hai lần cử đi công cán Âu Châu. Một lần đi điều tra về các hệ thống động viên năm 1936, lần khác với mục đích ngoại giao nhằm ngăn chặn sự liên minh mới của Đức, Ý và Nhật năm 1937. Lịch sử đã chứng minh rằng ông không thành công trong sứ mạng này. Tuy nhiên, một lần nữa nắm lấy cơ hội để mở mang kiến thức về quân sự và giúp ông ấn hành nhiều tác phẩm quân sự khác khi ông trở về Trung Hoa. 
Năm 1938 là một năm quan trọng cho đời ông. Ngoài những việc khác, ông còn được cử xử lý thường vụ Hiệu Trưởng trường Võ bị, đồng thời vẫn giữ chức cố vấn cao cấp cho Ủy Ban Quân Sự. Ông tận tụy làm việc và du hành nhiều nơi, trong 3 tháng viết 8 luận văn. Tuy nhiên, vì lao tâm lao lực quá độ nên ông gục ngã và chết vì bệnh đau tim ở Nghi Sơn (Yishan), một tỉnh vùng núi non Quảng Tây ở Tây Nam Trung Hoa, khi mới 57 tuổi. 
B.   Tư Tưởng Quân Sự của Tưởng Bách Lý
 Trong cuốn Cuộc Đời Tưởng Bách Lý lúc về già và Tư Tưởng Quân sự (Tưởng Bách Lý đích vãn niên cập kỳ quân sự tư tưởng), Giáo sư Tiết Quang Tiền (Xue Guangqian) đã chia sự phát triển tư tưởng của ông ra làm 4 thời kỳ :
 ¤ Thời kỳ thứ nhất gồm giai đoạn ông học về khoa học quân sự, từ 1901 đến 1910. Cũng như nhiều cấp chỉ huy quân sự trẻ cùng thời với ông, ông là một quân sự gia yêu nước, có chí muốn xây dựng một hệ thống quốc phòng mạnh mẽ.
¤ Thời kỳ thứ hai từ 1912 đến 1930. Trong thời kỳ này, ông mưu tính dùng cuộc đời vào việc giáo dục quân sự nghĩa là đào tạo các cấp chỉ huy quân sự cho đất nước ông. Ông theo những đòi hỏi của thuở ấy là bãi bỏ chức Tổng Đốc và giải tán quân đội, ông viết bài đưa ra hệ thống dân quân qui mô, cưỡng bách tòng quân và truyền thống Ngụ Binh Ư Nông.
¤ Thời kỳ thứ ba kéo dài từ Sự biến Mãn Châu ngày 18 tháng 9 năm 1931 đến vụ Lư Cầu Kiều (Marco Polo Bridge Incident) ngày 7 tháng 7 năm 1937, là nguyên nhấn chính thức khởi đầu Trung -Nhật chiến tranh. Để đáp ứng nhu cầu thời thế, ông dồn nỗ lực vào việc phát triển quan niệm về kinh tế quốc phòng. Dần dần ông đưa ra được nguyên tắc quân sự căn bản dựa trên tương quan giữa hệ thống kinh tế quốc gia và đòi hỏi của chiến tranh.
¤ Thời kỳ sau cùng từ năm 1937 tới khi ông chết năm 1938. Nỗ lực của ông trong giai đoạn này tập trung vào việc kêu gọi nhân dân Trung Hoa tiếp tục chiến đấu. Phương pháp của ông có cả tiên đoán rằng nhất định Trung Hoa sẽ thắng lợi.
 Mặc dầu Tưởng Bách Lý đã xuất bản một số sách trong thời kỳ thứ nhất nhưng hầu hết chỉ lập lại những tư tưởng phổ biến hồi đó như chủ nghĩa quân sự quốc gia và chí hướng muốn xây dựng một quân đội mạnh. Ông không đưa ra được một tư tưởng nào độc đáo. Ngay cả nhiều tác phẩm ấn hành trong thời kỳ thứ hai cũng không hoàn toàn là tư tưởng của ông vì một số đề mục quan trọng rõ ràng rút ra từ Kế Hoạch Quân Sự của Sái Ngạc đã bàn tới trước đây trong chương này. Nhiều nguồn tài liệu cho hay là Sái Ngạc đã gửi bản thảo Kế Hoạch Quân Sự cho Tưởng Bách Lý để nhờ phê bình và hiệu đính hồi năm 1913. Tưởng Bách Lý có lẽ cũng thêm một số ý kiến của mình, nhưng nguyên thủy là của Sái Ngạc và vì thế sẽ sai lầm nếu nói rằng các lý thuyết này là công trình của Tưởng Bách Lý. 
Rõ ràng là các tác phẩm quan trọng về quân sự, Tưởng Bách Lý ấn hành vào thời kỳ thứ ba của cuộc đời ông. Chẳng hạn như thuyết kinh tế là nền tảng cho quốc phòng ấn hành lần đầu vào giữa thập niên 1930. Thuyết Động Viên trình bày về các vấn đề kinh tế liên quan đến việc động viên trong chiến tranh, được khai triển trong các chuyến du hành quan sát ở Âu Châu năm 1936. Những bàn luận của ông về vai trò kinh tế trong chiến tranh đã được nhiều học giả coi là lý thuyết quốc phòng chứ không phải tư tưởng quân sự thuần túy. Tuy nhiên nhiều học giả khác như Tiết Quang Tiền hay Vương Nhiễm Chi (Wang Ranzhi) vẫn cho rằng đó là tư tưởng quân sự. Cắt bỏ các phần này là loại ra một phần bộ rất đáng kể trong tư tưởng quân sự của Tưởng Bách Lý.
 a/ Sự Kết Hợp các Phương Tiện Sinh sống và Đòi Hỏi của Chiến Tranh Trong tác phẩm Sơ Lược về Vấn Đề Quốc Phòng, Tưởng Bách Lý đã viết : ”Trong lịch sử thịnh suy của một quốc gia, tôi tìm ra một nguyên lý căn bản. Đó là, khi phương tiện sinh sống và đòi hỏi của chiến tranh ăn khớp với nhau thì đất nước mạnh; nếu không phù hợp với nhau thì yếu; còn nếu trái ngược với nhau thì nguy hiểm hay diệt vong”. Cũng nguyên tắc đó ông nhắc lại trong tài liệu ”Nghiên cứu Lịch Sử các Nguyên Tắc Căn Bản của Vấn Đề quốc Phòng”. Theo ông, sự kết hợp phương tiện sinh sống và đòi hỏi của chiến tranh có thể đạt được bằng hai cách : một là qua các dụng cụ, đồ đạc, còn phương pháp kia là qua hệ thống kinh tế -xã hội. Con ngựa của người Mông Cổ, chiếc thuyền của người Âu Châu là những thí dụ về phương tiện sinh sống cũng lại là khí cụ chiến tranh. Phương pháp động viên tại Tây Phương và hệ thống tỉnh điền (chia đất thành 9 ô theo hình chữ tỉnh) đời nhà Chu là những thí dụ điển hình về phương pháp thứ hai. 
Người Mông Cổ đã từng kiến tạo được một đế quốc bằng kỵ binh hùng mạnh của họ, trong đó con ngựa là tối cần thiết. Gần đây hơn, thuyền bè đối với các quốc gia sống bằng nghề biển vốn dĩ là một phương tiện sinh sống nhưng đã được người Âu Châu biến thành vũ khí lợi hại, giúp họ chinh phục thế giới trong gần 2 thế kỷ qua.
 Hệ thống động viên phát triển trong Thế Chiến thứ nhất không phải chỉ hoàn toàn là công tác quân sự mà cũng có những ý nghĩa kinh tế. Sau hết, hệ thống xã hội -kinh tế căn bản đời nhà Chu là phép tỉnh điền, cũng lại là đơn vị bố phòng của thời ấy. Hệ thống tỉnh điền có lẽ là hình thức đầu tiên của Ngụ Binh Ư Nông, huấn luyện và đưa tất cả đàn ông vào danh sách lực lượng trừ bị. Theo Tưởng Bách Lý thì đây cũng được tổ chức để thành một trận thế hình vuông ngăn chặn sự tấn công của kỵ binh và chiến xa địch.
 Dựa trên những thí dụ đó, ông kết luận là ”để kết hợp phương tiện sinh nhai với đòi hỏi của chiến tranh là tinh túy của kinh tế quốc phòng”. 
b/ Kinh tế Quốc Phòng
Trong ”Hướng Phát Triển mới của Tình Trạng Quân Sự Thế Giới”, dựa trên kinh nghiệm Thế Chiến thứ nhất, Tưởng Bách Lý đã đưa ra là sức mạnh kinh tế của một quốc gia chính là khả năng chiến đấu của quốc gia đó, hai bên không thể tách rời. Nếu một quốc gia muốn củng cố sức mạnh thì bắt buộc phải theo đuổi một chính sách kinh tế tự túc. 
Sức mạnh kinh tế của một quốc gia gồm 3 yếu tố : nhân lực, tài nguyên và tổ chức. Rất ít nước nào trên thế giới hoàn toàn tự tú được về cả ba lãnh vực. Theo kinh nghiệm của Đức, Tưởng Bách Lý cho rằng để giảm bớt tối đa sự lệ thuộc vào nước ngoài thì một nước phải cố gắng xây dựng kỹ nghệ sản xuất bằng lao công nội địa và bằng tài nguyên mà họ có. Có như thề, quốc gia mới có thể củng cố lực lượng và xây dựng kinh tế quốc phòng.
 Để giải quyết tình trạng khiếm khuyết nhân lực, Tưởng Bách Lý cho rằng một quốc gia phải có một hệ thống cưỡng bách tòng quân hữu hiệu. Dùng chính sách đó, một nước có thể sử dụng một ngân sách giới hạn mà vẫn huấn luyện được nhiều tân binh thời bình. Đó chính là hệ thống Đức đã áp dụng trước và trong thế chiến thứ nhất. Sau đó bằng hệ thống tổng động viên, người Đức đã có thể huy động hàng triệu binh sĩ trong nháy mắt trong khi vẫn có một lực lượng hiện dịch làm nòng cốt.
 c/ Hệ Thống Động Viên 
Từ mùa thu năm 1935 đến tháng 11 năm 1936, Tưởng Bách Lý đã du hành qua Ý, Pháp, Đức, Anh và Mỹ để học hỏi về hệ thống động viên của họ. Khi về lại Trung Hoa, ông đã viết một số tờ trình về các hệ thống đó. 
Trong ba yếu tố của sức mạnh quốc gia đã đề cập, Tưởng Bách Lý cho rằng người Tàu rất kém về khả năng tổ chức. Trong tờ trình ”Tóm lược về Tổng Động Viên số 2”, ông cho rằng môt hệ thống động viên có thể giúp Trung Hoa cải tiến khuyết điểm đó. Ông viết :
Qua cuộc du hành điều tra, tôi phải trình lên một vấn đề là xây dựng khả năng tổ chức quốc gia. Hình thức hữu hiệu nhất để thực hiện công tác này là hệ thống tổng động viên ... Phát triển khả năng tổ chức đất nước cũng là công tác xây dựng quốc phòng.
 Để hỗ trợ cho quan niệm động viên, ông đưa ra một nguyên tắc quân sự cổ của Trung Hoa : ”Có thể không bao giờ dùng tới quân đội trong một trăm năm, nhưng không thể để một ngày không chuẩn bị”. Theo Tưởng Bách Lý, chữ bị cũng còn một nghĩa khác là sẵn sàng hay hoàn bị. Theo nghĩa thứ nhất, một quốc gia phải luôn luôn quân đội sẵn sàng để đối phó với mọi tình huống ngõ hầu thủ thắng. Theo nghĩa thứ hai, mọi việc phải thực hiện một cách toàn hảo. Cũng theo ông, mọi việc cũng không giới hạn vào những công tác quân sự. Vì thế, từ ngữ tổng động viên phải được dùng thay chữ động viên quân sự. Tưởng Bách Lý viết : 
Động viên quân sự, chủ yếu nhắm vào tổ chức đoàn ngũ, thu hút tài nguyên xã hội để biến thành lực lượng bảo vệ quốc gia. Tổng động viên là nhắm vào toàn thể đất nước, kết hợp mọi thứ trong một quốc gia biến thành lực lượng. Khi một quốc gia có sức mạnh đó thì nó có thể tự vệ và các công dân mới sống còn được.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:49:14 am
 d/ Chiến Tranh Trường Kỳ và Quyết Định Nhanh Chóng 
Những bàn luận trên đây cho thấy rõ ràng là vì nhu cầu tự túc, kinh tế quốc phòng đòi hỏi một chuẩn bị lâu dài, một quốc gia không thể nào đạt tới mục tiêu nếu không có một nỗ lực thường xuyên và trường kỳ. Vì thế, một quốc gia phải có một chiến lược dài hạn, chuẩn bị toàn bộ từng bước một, từng năm một. 
Việc cần phải động viên, trên cả nghĩa quân sự lẫn tổng quát, lại hoàn toàn khác hẳn. Động viên đòi hỏi hành động nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu chiến tranh. Dựa trên dữ kiện đó, sau chuyến công du Âu Châu năm 1936, Tưởng Bách Lý kết luận rằng trong tình trạng chiến tranh tổng quát (toàn thể tính chiến tranh -Quantixing Zhanzheng), vấn đề quốc phòng phải sắp xếp sao cho được hữu hiệu. Việc này đòi hỏi chuẩn bị lâu dài. Tuy nhiên, khi nói về thực hiện thì lại cần phải tấn kích nhanh chóng. Trường kỳ là nói về chiến lược chính trị hay đại chiến lược, nhanh chóng là nói về chiến lược quân sự. Tưởng Bách Lý viết : 
Từ quan điểm chiến lược, một quốc gia phải tấn kích nhanh chóng chứ không thể diên trì để tránh gánh nặng cho kinh tế quốc gia. Nhanh chóng ở giai đoạn cuối trong khi kéo dài ở giai đoạn tập trung phương tiện. 
Để có thể đạt tới mục tiêu tấn kích nhanh chóng trong chiến dịch, Tưởng Bách Lý nhấn mạnh vào quan điểm chiến tranh lưu động, trong đó phải khởi động tấn công chứ không phải đóng quân tại những vị trí cố định. Quan niệm của ông về chiến tranh lưu động đương nhiên đòi hỏi gia tăng động tính của quân đội. Ông viết :  Mặc dầu theo đuổi chiến tranh diên trì, nhưng những đòi hỏi tiên khởi là gia tăng lưu động tính của lực lượng vì chúng ta phải đạt mục tiêu trường kỳ bằng cách tấn kích chớp nhoáng.
  So sánh chiến tranh trường kỳ của Tưởng Bách Lý với chiến lược di chuyển chậm, tấn công nhanh của Tả Tông Đường có thể làm cho hình ảnh rõ ràng hơn. Chiến tranh diên trì của Tưởng nói về chính sách quốc gia hay đại chiến lược chứ không phải chiến lược quân sự. Tưởng Bách Lý bàn về chuẩn bị xã hội kinh tế trước khi xảy ra chiến tranh, Tả Tông Đường bàn về di chuyển quân sĩ trong khu vực chiến trường và chỉ đề cập đến chiến lược quân sự.
 Nói về tấn kích nhanh, Tả Tông Đường nói về hành quân đơn thuần hay chiến dịch và chỉ ở mức độ chiến thuật trong khi Tưởng Bách Lý nói đến mọi hành động quân sự, trên cả chiến lược lẫn chiến thuật. 
Trong cuộc Trung Nhật chiến tranh, người Trung Hoa thường nói đến cuộc đấu tranh của họ là Trường Kỳ Kháng Chiến, có thể là nói cả về đại chiến lược lẫn chiến thuật quân sự.
 Sau cùng, chiến tranh lưu động theo Tưởng Bách Lý tùy thuộc vào trang bị tân tiến như chiến xa, xe vận tải, đại pháo để gia tăng hoạt tính của quân đội. Vì thế, chiến lược này khác với chiến lược nổi tiếng của Giải Phóng Quân trong chiến tranh Trung Nhật và nội chiến nhấn mạnh vào việc dụ địch ra khỏi vị trí để tấn công khi họ đang di chuyển.
 e/ Tân Chiến Tranh Du Kích
 Từ khi chiến tranh du kích được dùng trong cuộc Nội Chiến ở Nga, nó đã trở thành một chiến lược phổ thông dùng trong trường hợp một lực lượng yếu phải chống một lực lượng mạnh hơn. Sai khi đọc một tác phẩm viết về chiến tranh du kích của Thiếu Tá Heinz, người Đức, Tưởng Bách Lý giới thiệu vào Trung Hoa trước thời chiến tranh Trung Nhật.
 Theo Heinz, có hai loại chiến tranh du kích. Ông phân biệt loại cổ điển dùng trong Nội Chiến Nga nhấn mạnh vào tấn công bằng một lực lượng du kích tương đối lớn vào quân thù trong các khu vực bị chiếm đóng để gây ra bất ổn chính trị. Chiến thuật đó thường gây ra thiệt hại nhân mạng nặng nề khi quân thù càn quét dân địa phương. Vì thế, Heinz đưa ra một loại chiến lược du kích mới, trong đó các lực lượng du kích chia thành toán nhỏ khoảng 6 người -trang bị bằng bom nổ chậm, bom lửa, thuốc độc, vũ khí hóa học và súng hãm thanh. Các toán đặc công này chủ yếu phá hoại các trung tâm tiếp liệu của địch hơn là giết người. Theo Heinz thì loại cũ chỉ gây thiệt hại cho một quân thù yếu và tổ chức không chặt chẽ, trái lại nếu kẻ thù mạnh và có tổ chức thì kiểu cũ không thành công nhiều. 
Tưởng Bách Lý đã đồng ý với quan điểm đó. Tuy nhiên ông cho rằng chiến tranh du kích kiểu cũ vẫn còn hữu hiệu trong một số trường hợp như hoàn cảnh của Trung Hoa chẳng hạn. Ông viết:
 Tình trạng hệ thống giao thông yếu kém của Bắc Trung Hoa có thể áp dụng chiến tranh du kích kiểu cũ của Nga. Chiến tranh du kích kiểu mới áp dụng vào Nam Trung Hoa và vùng duyên hải. 
Trong chiến tranh du kích hiện đại, người ta không phân biệt kiểu cũ hay kiểu mới. Cả hai quan niệm được kết hợp thành du kích tân thời.
 f/ Không Quân
 Quan điểm chính của Tưởng Bách Lý bàn về vai trò của không quân trong chiến tranh hiện đại được trình bày trong một bài dài nhan đề ”Nền Tảng Sức Mạnh của Không Quân”.
 Mặc dầu không quân xuất hiện trong thế chiến thứ nhất nhưng vai trò của nó vẫn còn là một đề tài mới mẻ đối với hầu hết các chiến lược gia trong những năm sau chiến tranh. Vai trò trong chiến tranh tương lai, vị trí trong hệ thống quân sự, tổ chức và điều hành là những đề mục nhiều người bàn đến. Giulio Douhet ấn hành tác phẩm ”Ra lệnh trên không” năm 1922 nhưng mãi 10 năm sau người ta mới coi đó là một lý thuyết có ảnh hưởng tối quan trọng trong vấn đề không lực. Cũng như các cấp chỉ huy quân sự Âu Châu, Tưởng Bách Lý dần dần cũng theo thuyết này. Khi ông đi du hành Âu Châu trở về, ông giới thiệu bản dịch tiếng Hoa cuốn Đại Cương về Thuyết của Douhet do Thống Chế Badon người Pháp viết. Trong tác phẩm đó, Badon hết sức tán dương cuốn Ra Lệnh Trên Không coi như một lý thuyết cách mạng về quân sự có ảnh hưởng tuyệt đối đến chiến tranh trong tương lai.
Như đã bàn đến, Tưởng Bách Lý quan tâm đặc biệt đến cơ sở kinh tế trong quốc phòng. Ông cũng đặt vấn đề đó với không quân. Khi bàn về không quân, ông nhấn mạnh không hững về tài nguyên, khả năng kỹ nghệ và kỹ thuật cao cần thiết cho việc phát triển một không lực hiện đại mạnh mẽ mà còn bàn cả ảnh hưởng của tốc độ nhanh, tầm hoạt động xa và khả năng phá hủy to lớn của phi cơ trên mặt kinh tế đối với các quốc gia tham chiến. Thành ra, các nước kém mở mang sẽ phải trân mình chịu đựng các cuộc không kích của kẻ thù. Tuy nhiên, những tổn thất của các quốc gia nghèo đói sẽ không nhiều như những quốc gia kỹ nghệ. 
Khi nói về tình trạng Trung Hoa, ông đưa ra hai đề nghị về tổ chức không quân, cả hai đều tương ứng với thuyết của Douhet. 
Thứ nhất, không quân phải độc lập với hải quân và bộ binh và có thể hoàn thành trách nhiệm một cách độc lập dưới quyền chỉ huy của các tướng lãnh không quân. Các cấp chỉ huy không quân được phép ra lệnh cho lực lượng phòng không và các đơn vị truyền tin để có thể hợp tác chặt chẽ ngõ hầu đáp ứng được nhu cầu phòng thủ không phận. 
Theo Tưởng Bách Lý, vai trò quan trọng của không quân là yểm trợ bộ binh và hải quân trong tác chiến nhưng không quân vẫn có thể hành quân độc lập. Vai trò đó càng ngày càng quan trọng và ưu tiên hơn các nhiệm vụ khác vào thập niên 1930. Vì sự phát triển đó, Tưởng Bách Lý thích tổ chức không quân theo cách thức nào có thể thi hành vai trò tấn công hiệu quả nhất. 
Không quân Trung Hoa hồi thập niên 1930 còn rất nhỏ và không có máy bay oanh tạc. Mặc dù trên hình thức tổ chức độc lập, nhiệm vụ chính yếu của nó là phòng không và yểm trợ các lực lượng trên bộ. Vì thế họ không thể hoạt động riêng rẽ. Không quân chỉ đảm trách một số vai trò trong chiến dịch. Đề nghị của Tưởng Bách Lý chưa được thi hành ngay trong giai đoạn này. 
Tưởng Bách Lý cũng bàn về một số đề tài quân sự như hệ thống cưỡng bách nhập ngũ và giải giới. Cưỡng bách tòng quân sao chép lại của Sái Ngạc trong Kế Hoạch quân sự rất nhiều và đã bàn trong phần 3. Về việc giải giới, Tưởng Bách Lý đóng góp nhiều hơn những người cận đại vì ông chú trọng đặc biệt đến tiến trình giải ngũ và sự cần thiết của việc sắp xếp đời sống và việc làm cho những quân nhân phục viên. Tiếc thay, giai đoạn đó tình trạng kinh tế -xã hội của Trung Hoa quá yếu kém nên những gì ông đưa ra không thi hành được. Tuy nhiên, nếu các nhà lãnh đạo quan tâm đến những đề nghị của ông thì nhiều vấn đề có thể tránh được khi chiến tranh Trung Nhật chấm dứt vào năm 1945. Dẫu sao những gì ông viết về đề tài này cũng có ảnh hưởng. Sau khi nội chiến chấm dứt năm 1949, cả Trung Cộng lẫn Đài Loan đều đưa ra những chính sách giải ngũ quân đội dựa trên những nguyên tắc tương tự như ông đề ra. 
Mặc dầu người ta vẫn công nhận Tưởng Bách Lý là một bộ óc quân sự lỗi lạc nhưng những thành quả của ông cũng chỉ giới hạn trong việc giới thiệu các quan điểm mới. Tưởng Bách Lý không giống các lãnh tụ quân sự thời đại ông. Ông là người học cao am tường cả văn hóa Đông phương lẫn Tây phương. Với tài năng xuất chúng, phẩm chất học giả và nhất là có cơ hội đi quan sát nghiên cứu tại ngoại quốc, ông đã đưa ra sự so sánh và phân tích trong những tác phẩm của ông. Ông đã trình bày rõ ràng tình hình thực tế, khuynh hướng phát triển và căn bản lý luận trong những để tài ông bàn đến. Ngoài ra, Tưởng Bách Lý cũng không chỉ sao chép lại các hệ thống của nước ngoài, ông cố gắng áp dụng vào hiện trạng của Trung Hoa. Điều đó khiến người ta có cảm tưởng rằng ông đã đạt tới được môt bước ngoặt thoát ra khỏi một thời kỳ dài (bắt đầu thập niên 1850) Trung Hoa chỉ sao chép các ý tưởng của ngoại quốc.
 Đúng ra Tưởng Bách Lý có thể đóng góp được nhiều hơn trong tư tưởng quân sự hiện đại. Ông tin rằng ông có khả năng trở thành vĩ đại nhưng ông không làm được vì ông không để lại một công trình có hệ thống như nhiều người tin rằng ông có thể làm được. Thất bại đó phần nào cũng vì ông chết sớm. Một lý do khác nữa là ông không tập trung vào một số đề tài chọn lọc. Ông đã chia thời giờ và năng lực giới hạn của ông cho nhiều vấn đề không cần thiết. Như Tiến Sĩ Vương Nhiễm Chi, tác giả của Tướng Tưởng Bách Lý và Tư tưởng quân sự (Tưởng Bách Lý tướng quân dữ quân sự tư tưởng) đã viết, nếu chỉ tập trung vào một đề tài thì thành tựu của ông ắt đã hơn nhiều. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:49:37 am
6.   KẾT LUẬN 
Kể từ cách mạng Tân Hợi đến khi Tưởng Bách Lý từ trần, Trung Hoa đã trải qua tình trạng chiến tranh liêm miên không dứt giữa các sứ quân, tái thống nhất trong thời kỳ đầu của chiến tranh giải phóng, rồi Trung -Nhật chiến tranh. Trong thời kỳ rối loạn đó, một thế hệ trẻ sáng sủa hơn đã dần dần thay thế thành phần già nua thủ cựu, tàn tích của Thanh triều. Mặc dầu nội chiến liên tục khiến cho cuộc hiện đại hóa quân sự phải trì hoãn và có khi thụt lùi nhưng thời kỳ này vẫn để lại những ảnh hưởng tích cực trong công cuộc canh tân của Trung Hoa. Việc hình thành một tư tưởng quân sự mới nảy sinh ra từ thời này. Những người tiên phong hầu hết là thế hệ trẻ, hoặc được học các trường ngoại quốc hoặc do Cách Mạng đào tạo. Họ không những chống lại đám quân phiệt thối nát mà còn đưa ra những quan niệm mới, chẳng hạn như cưỡng bách tòng quân hay quân sự hóa là những tư tưởng du nhập từ Tây phương. Tuy nhiên, những biến cố đáng kể nhất của thời này trong lãnh vực tư tưởng quân sự hiện đại là sự hình thành các lực lượng cách mạng và chính trị hóa quân đội. Thay đổi này do Bác Sĩ Tôn Dật Tiên đề xướng nhưng về sau được cả Quốc Dân Đảng lẫn Cộng Sản áp dụng trên qui mô lớn. Thay đổi đó làn hững phản ứng căn bản của cách mạng chống lại các lực lượng tham ô quân phiệt. 
Ngoài ra, các chương trình phát triển kỹ nghệ của Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và lý thuyết của tướng Tưởng Bách Lý về động viên và kinh tế quốc phòng đều nối kết giữa phát triển kinh tế với chiến lược quốc phòng. Dẫu rằng các tư tưởng đó không được thực hiện khi họ còn sống nhưng ảnh hưởng của họ trên hệ thống quân sự mới không phải nhỏ. Những năm hậu chiến, cả Hoa lục lẫn Đài Loan đều nỗ lực để hoàn thành những chương trình mà Tôn Dật Tiên và Tưởng Bách Lý đưa ra.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:50:13 am
Chương 5: Tư tưởng quân sự của Tưởng Giới Thạch
 Cuộc nội chiến giữa các quân phiệt trong thập niên 1920 đã gần như hủy hoại toàn thể quốc gia và đưa Trung Hoa đến bên bờ vực thẳm. Tuy nhiên, một biến cố bất ngờ đã xảy ra năm 1924 trong Quốc Dân Đảng làm đổi hướng chính trị của Trung Hoa chỉ trong vài năm và ảnh hưởng sâu đậm đến hệ thống quân sự của Trung Hoa. 
Như đã đề cập trong chương trước, Quốc Dân Đảng triệu tập Đại Hội đầu tiên năm 1924, trong đó Đảng ngoài những công tác khác còn quyết định thành lập Quân Sự học hiệu riêng để xây dựng lực lượng tương tự như Liên Xô. Sau khi đại hội bế mạc, Tưởng Giới Thạch, một tướng lãnh trẻ tuổi và là người thân tín của Bác sĩ Tôn Dật Tiên, được chỉ định làm hiệu trưởng trường này tháng 3 năm 1924. Từ đó, Tưởng Giới Thạch trở thành một ngôi sao đi lên của cách mạng Trung Hoa. Chỉ trong vài năm ông đã nắm quyền lãnh đạo Đảng sau khi đánh bại các quân phiệt bằng lực lượng cách mạng mới đào tạo. Ông thống nhất Trung Hoa dưới một chính quyền trung ương, ít ra trên hình thức. Ông liên tục đóng vai trò chủ chốt trên chính trường Trung Hoa trong 25 năm cho đến 1949, khi ông phải chạy khỏi lục địa. Ông định cư ở Đài Loan, nơi ông tiếp tục kiểm soát hòn đảo bằng chính sách độc tài cá nhân 25 năm nữa đến khi ông mất năm 1975. 
Trong suốt thời gian dài nắm quyền ở Trung Hoa cũng như tại Đài Loan, vai trò quân sự được củng cố chặt chẽ và ông đẩy việc canh tân hóa tiến một bước dài. Thực vậy, mặc dầu ông bị thất bại trong trận nội chiến chống lại Cộng Sản nhưng không thể vì thế mà có thể phủ nhận thành tích ông đạt được. Cho nên, nghiên cứu tư tưởng quân sự của ông, chúng ta sẽ bắc được nhịp cầu giữa thời kỳ đầu Dân Quốc với giai đoạn Mao Trạch Đông khai triển quan niệm về chiến tranh nhân dân vào thời tương tranh Quốc -Cộng và chiến tranh giải phóng. 
1.   BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG TƯỞNG GIỚI THẠCH 
Tưởng Giới Thạch sinh năm 1887, 8 năm trước cuộc Trung Nhật chiến tranh và 13 năm trước nạn Quyền Phỉ (Boxer Rebellion) và Bát Quốc Liên Quân tấn công Trung Hoa. Các thất bại này khiến người Trung Hoa ai ai cũng thấy nhục nhã. Cũng như bao nhiêu thanh niên Trung Hoa thời bấy giờ chứng kiến nỗi quốc thống ấy, Tưởng Giới Thạch trở nên yêu nước và theo chủ nghĩa quốc gia. 
Thời thơ ấu và gần hết tuổi thiếu niên ông sống tại quê nhà, thôn Khê Khẩu (Xikou), huyện Phụng Hóa (Fenghwa), tỉnh Triết Giang (Zhejiang). Ông học theo lối cổ tại một trường tư đến năm 17 tuổi (1903) thì được vào Phượng Lộc học đường (Fenglu) tại huyện Phụng Hóa, thời đó đã áp dụng một chương trình giáo dục mới mẻ hơn. Về sau ông được ông thầy là Cố Thanh Liêm (Gu Qinglian) khuyên nên ra nước ngoài học quân sự ngõ hầu sau này giúp nước chống ngoại xâm. Cố Thanh Liêm còn đạy cho ông về Tôn Tử Binh Pháp và về cuộc cách mạng do Bác Sĩ Tôn Dật Tiên chủ xướng. Dưới ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ ấy, sự nghiệp cá nhân của Tưởng Giới Thạch bắt đầu định hướng và dần dần phát triển. Ông nhất quyết ra ngoại quốc học và đi theo cách mạng sau này.
 Tưởng Giới Thạch sang Nhật học năm 1906 nhưng chỉ vài tháng sau lại quay về. Chỉ ít lâu sau ông được nhận vào học ở Bảo Định Quân Sự Học Hiệu (Baoding) và vào trường mùa hè năm 1907. Tuy nhiên ông chỉ ở vài tháng rồi lại qua Nhật đầu năm 1908 khi ông cùng với khoảng 60 thanh niên khác được Nhật nhận cho học về quân sự. 
Ông được vào học tại Chấn Võ học đường (Zhenwu) khi ông tới Tokyo năm 1908. Ông hoàn tất chương trình huấn luyện dự bị ba năm và đến năm 1910 được gửi tới một đơn vị Nhật Bản thực tập với tư cách binh nhì, là điều kiện bắt buộc cho những ai muốn vào học các trường võ bị của Nhật Bản. Trước khi ông hoàn tất một năm tập sự thì xảy ra cách mạng Tân Hợi ở Vũ Xương nên ông trở về Trung Hoa ngay khi nhận được thư của Trần Kỳ Mỹ (Chen Qimei), một người bạn thân và cũng là một lãnh tụ quan trọng của Đồng Minh Hội. Từ lúc đó, ông bước chân vào võ nghiệp. 
Vào tháng 6 năm 1910, khi Tưởng Giới Thạch còn học tại trường Chấn Võ bên Nhật, Trần Kỳ Mỹ có giới thiệu ông với Bác Sĩ Tôn Dật Tiên. Sau lần gặp đó, Tôn Văn nói với Trần là ”anh ta là thành phần vô giá của Đồng Minh Hội. Một ngày nào đó, không còn ngờ gì, anh ta sẽ trở thành một người thực hành công cuộc cách mạng" (Cách mạng thực hành gia -Geming Shixing Gya). 
Nhờ Trần Kỳ Mỹ sắp đặt, Tưởng Giới Thạch tham dự vào chiến dịch, thành công trong việc chiếm dinh Tuần Phủ Triết Giang tại Hàng Châu. Sau đó Trần cử ông làm tiểu đoàn trưởng chỉ huy một tiểu đoàn mới thành lập nhưng mấy tháng sau ông từ chức để sang Đức học quân sự tiếp. Thế nhưng ông không bao giờ tới Đức vì bị cuốn vào cuộc Cách Mạng lần thứ hai năm 1913. Sau khi cuộc cách mạng thất bại, Tưởng Giới Thạch phải chạy qua Nhật tị nạn cùng với các lãnh tụ khác và từ đó trở đi, liên hệ của ông với Bác Sĩ Tôn Dật Tiên càng thêm mật thiết và nhận lệnh trực tiếp của người lãnh tụ. Ông trở thành một người tâm phúc của Tôn Văn. 
Sau khi Viên Thế Khải chết, Tôn Văn từ Quảng Đông lãnh đạo cuộc hành quân Bắc Phạt để đánh các sứ quân Bắc dương năm 1917. Tuy nhiên, các tranh chấp nội bộ vẫn chưa dứt. Ngay cả tính mạng của Tôn Văn có lần cũng nguy hiểm vì cuộc nổi loạn của Trần Quýnh Minh (Chen Jionming) Trong thời kỳ khó khăn đó, Tưởng Giới Thạch đã chứng tỏ dạ trung thành với Tôn Văn khi ông hối hả chạy tới Quảng Đông sát cánh chống lại Trần Quýnh Minh hồi tháng 6 năm 1922.
 Sau khi dẹp tan được vụ nổi loạn năm 1923, thì rõ ràng là không có lực lượng hiện hữu nào dưới quyền chỉ huy của cách mạng có thể tin cậy được. Tôn Văn phải xây dựng lực lượng riêng để tiến hành công cuộc cách mạng. Vì lý do đó, ông quyết định thành lập một trường võ bị để đào tạo sinh viên sĩ quan. Ông cử Tưởng Giới Thạch du hành quan sát tại Liên Xô vào tháng 8 năm 1923 để học hỏi hệ thống quân sự Xô Viết. Tưởng lưu lại Nga ba tháng và khi trở về làm một báo cáo lên Tôn Dật Tiên. 
Chỉ một năm sau ngày Tưởng Giới Thạch đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy Trưởng trường võ bị Hoàng Phố thì Tôn Văn đột ngột từ trần trong khi đi Bắc Kinh thương thuyết thống nhất Trung Hoa bằng đường lối hòa bình với chính phủ miền Bắc. Cái chết của Tôn Văn khiến cho quyền lãnh đạo trong Quốc Dân Đảng trở nên rối loạn. Nhờ đó Tưởng Giới Thạch có cơ hội vận động những phe nhóm khác nhau trong đảng để chính ông lên nắm quyền. Hợp tác với quân đội Quảng Tây, ông thống nhất được Quảng Đông, Quảng Tây trong hai năm. Năm 1927, Tưởng tiến hành Bắc Phạt và sẵn sàng thống nhất quốc gia bằng võ lực. 
Theo quan niệm chính trị cổ thời, một nhà lãnh đạo lý tưởng phải là một bậc Thánh quân (Shengjun) tức là một ông vua toàn thiện theo nghĩa triết học. Để trở nên thánh quân, người cầm quyền phải lỗi lạc về mọi phương diện. Ông ta phải đưa ra được những khuôn mẫu đạo đức vượt thời gian, nhân từ, uyên bác. Áp dụng vào chính trị Trung Hoa hiện đại, một lãnh tụ chẳng khác gì hình ảnh của Đấng Tối Cao. Không chỉ là một chính trị gia mà còn phải là một tư tưởng gia, chiến lược gia, kinh tế gia và triết gia. Hình ảnh đó ít nhiều đã phản ảnh vai trò của Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, trong 50 năm cầm quyền đã để lại cho đời nhiều tác phẩm bàn về nhiều lãnh vực trong đó có chính trị, quân sự và triết học. Những tác phẩm đó bao gồm cả chính tư tưởng của ông và của người khác.
 Tưởng Giới Thạch là môn đệ trung thành của Vương Dương Minh (Wang Yangming), một triết gia thời Minh. Ông tin rằng nếu Trung Hoa muốn đánh bại được chủ nghĩa đế quốc Nhật thì trước hết người Trung Hoa phải đánh bại được tinh thần Võ Sĩ Đạo (Bushido) của Nhật, vốn dĩ dựa theo học thuyết của Vương Dương Minh mà thành. Cho nên ông đề nghị mọi người phải học triết học Vương Dương Minh và thực hành nó. Ông giáo dục các sĩ quan phải hành động sao cho phù hợp với lương tâm (Chí Lương Tri).
Ngoài ra, vì du học tại Nhật nên những tác phẩm viết về quân sự sơ khởi của ông mang ảnh hưởng nhiều tính cách của Nhật. Tuy nhiên, nhờ có viện trợ Mỹ những năm về sau, các tư tưởng quân sự Tây Phương lại ghi dấu trong những tác phẩm thời kỳ này.
 Vì theo con đường của Tôn Dật Tiên nên ông cũng ảnh hưởng nhiều. Ông theo chính sách của Tôn Văn và vì thế muốn huấn luyện một lực lượng cách mạng trang bị tinh thần cách mạng, có can đảm chống lại một lực lượng đông đảo hơn vì mọi người đều sẵn sàng chết vì cách mạng.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:51:26 am
2.   QUAN DIỂM VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
 Một quốc gia không thể nào tồn tại được lâu nếu không có một lực lượng để tự vệ và quân đội chính là tâm điểm của quốc phòng. Vì thế, xây dựng một lực lượng võ trang thường là ưu tiên số một của quốc gia.  Khi bàn đến xây dựng quân đội, không thể không đặt ra một số câu hỏi: Mục đích của quân đội quốc gia? Lực lượng võ trang nào quốc gia cần để hoàn thành sứ mạng? Các lực lượng đó xây dựng như thế nào?
A.   Việc thành lập trường võ bị Hoàng Phố 
Một lần ở Đài Loan, Tưởng Giới Thạch đã nhắc lại quan điểm của ông về xây dựng lực lượng quân sự. Ông nói rằng khi ông còn trẻ, ông đã mơ đến việc thành lập một trường võ bị để huấn luyện những thanh niên Trung Hoa nhiệt huyết theo đường lối của ông. Trường võ bị đó không những có thể xây dựng nên một lực lượng hiện đại để hoàn thành việc Bắc Phạt mà còn để xây dựng một quốc gia tân tiến. 
Từ báo cáo của ông lên Bác Sĩ Tôn Dật Tiên khi ông từ Liên Xô trở về, người ta có thể biết được ông tin tưởng mạnh mẽ vào việc xây dựng một trường võ bị như thế nào. Ông viết:
Muốn quốc gia cường thịnh thì trước hết phải thống nhất. Muốn thống nhất thì phải tiêu diệt các quân phiệt. Muốn tiêu diệt các quân phiệt thì phải xây dựng và củng cố lực lượng võ trang của ta. Cho nên, quốc gia thống nhất và phú cường tùy thuộc vào việc xây dựng một trường võ bị. 
Mặc dầu ông coi rằng mục tiêu tối hậu của việc thành lập trường võ bị là để đất nước phú cường nhưng mục đích trước mắt lại là hoàn thành mục tiêu của Cách Mạng. Thành thử, lực lượng võ trang xây dựng nên phải là lực lượng cách mạng và do Đảng kiểm soát. Đó phải là lực lượng của Đảng (Đảng quân) và chiến đấu vì mục tiêu cách mạng. Khi trường thành lập năm 1924, tên chính thức của nó là Trung Quốc Quốc Dân Đảng Lục Quân Quân Quan Học Hiệu (Zhongguo Guomindang Lujun Junguan Xuexiao). Người ta còn gọi là Trường Võ Bị Hoàng Phố vì thiết lập tại Đảo Hoàng Phố xuôi giòng Châu Giang, cách Quảng Châu độ 10 km. 
Tưởng Giới Thạch không phải là người đầu tiên trong lịch sử Trung hoa cận đại thành lập một trường võ bị. Như đã đề cập ở Chương 3, ảnh hưởng của Dương Vụ Vận Động, Lý Hồng Chương và Tả Tông Đường cũng đã mở những trường quân sự. Nhiều trường tương tự cũng đã được các Tổng Đốc Nam Kinh, Vũ Xương và Quảng Châu thành lập. Sau cuộc Trung -Nhật chiến tranh và loạn Quyền Phỉ, triều đình cũng ra lệnh cho các quan chức địa phương huấn luyện Tân Quân và yêu cầu các tỉnh thành lập các trường võ bị. Tuy nhiên, trong khi cả nước ào ạt thành lập quân quan học hiệu và tổ chức quân đội thì chính quyền lại không đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn. Thiếu sót đó gây ra việc địa phương hóa quân đội Trung Hoa và có thể đã gây ra nạn quân phiệt ly khai trong thập niên 1920. 
Vào khoảng 1906, triều đình Mãn Thanh nỗ lực lần cuối để tập trung lực lượng trong tay chính quyền trung ương và cũng tiêu chuẩn hóa các trường quân sự. Một hệ thống giáo dục quân sự ba cấp được soạn thảo. Trường võ bị bậc ”tiểu học” thành lập tại mỗi tỉnh lỵ. Ba trường võ bị bậc ”trung học” được thành lập tại Thanh Hà Trấn (Qinghe Zhen) ở Hà Bắc, Vũ Xương ở Hồ Nam và Nam Kinh ở Giang Tô. Một trường võ bị (Binh quan học đường -Bingguan Xuetang) và một đại học quân sự được thành lập ở Bảo Định, Hà Bắc. Sau cách mạng Tân Hợi, những trường này đều bị đóng cửa vĩnh viễn, ngoại trừ trường võ bị và đại học quân sự Bảo Định về sau mở lại năm 1912.
 Nhiều lãnh tụ quân sự Trung Hoa cận đại trong Quốc Dân Đảng được huấn luyện tại Bảo Định quân sự học hiệu và các trường võ bị khác mở tại các tỉnh. Khi trường Hoàng Phố được thành lập, trái ngược với các trường cũ của triều đình, có rất ít vũ khí và trang bị. Các sinh viên hoàng Phố chỉ có chí nguyện chiến đấu đánh tan các lực lượng chống đối để thống nhất đất nước. Cho nên, ở đây đặc biệt nhấn mạnh đến sự quan trọng của tinh thần sẽ lướt thắng mọi khiếm khuyết vật chất. 
B.   Sự thành lập Các Lực Lượng Quân Sự của Đảng và Hệ Thống Chính Ủy
 Trường võ bị Hoàng Phố được lập ra nhằm mục đích hoàn thành những mục tiêu cách mạng còn dang dở. Nhưng làm thế nào xây dựng được môt lực lượng cách mạng? Theo Tưởng Giới Thạch thì ”chỉ những quân nhân nào hoàn toàn quán triệt lý thuyết của Đảng (Đảng Nghĩa) mới tuân lệnh của Đảng, chỉ những cán bộ nào tin vào chủ nghĩa của Đảng mới thành lập được một lực lượng cách mạng”.
 Để bảo đảm rằng lực lượng quân sự sẽ tuân lệnh của Đảng và chiến đấu cho mục tiêu cách mạng thì Đảng phải kiểm soát được cả tổ chức lẫn ý thức quân đội. Để đạt được mục tiêu đó, Quốc Dân Đảng du nhập hệ thống Chính Ủy của Hồng quân Liên Xô. Khi Tưởng Giới Thạch được giao cho chức vụ chỉ huy trưởng trường võ bị Hoàng Phố năm 1924, Ủy Ban Trung Ương Quốc Dân Đảng cũng đồng thời cử Liêu Trọng Khải (Leo Zhongkai) làm đại diện của Đảng tại đây. Một Ban Chính trị được thành lập chịu trách nhiệm về sắp xếp chương trình chính trị, tuyên truyền và điều hành các công tác chính huấn để biến các sinh viên thành những cán bộ cách mạng nhiệt tình. Tất cả các sinh viên sĩ quan và sĩ quan được gia nhập Đảng. 
Theo lệnh của Quốc Dân Đảng, các đơn vị địa phương bắt đầu hành quân Đông Phạt đánh Trần Quýnh Minh năm 1925. Các sinh viên sĩ quan Hoàng Phố được tổ chức thành ”hiệu quân” (quân đội nhà trường -xiaojun) và sau này biến thành ”đảng quân” (quân đội đảng -Dangjun) để tham gia chinh phạt. Tổ chức đảng cũng thành lập song song với quân đội. Liêu Trọng Khải trở thành Quân ủy và chỉ đạo các hoạt động chính trị của quân đội. Một hệ thống tương tự được thành lập tới cấp đại đội, đảm nhiệm công tác chính trị. 
Năm 1926, khi Quốc Dân Đảng chuẩn bị hành quân Bắc Phạt, dựa trên kinh nghiệm của lần Đông Phạt, họ đưa ra 2 qui tắc để điều hành công tác chính trị trong quân đội. Một qui tắc là ”Luật lệ qui định về đại diện Đảng trong Quân đội Cách mạng Quốc gia” và qui tắc kia là ”Luật lệ tổ chức Ban huấn luyện Chính trị”. Sau đó, hệ thống tổ chức chính trị được chính thức thành lập trong mọi đơn vị do Quốc Dân Đảng chỉ huy. 
Trong một bài diễn văn đọc trước tổ Tuyên truyền của ban Huấn luyện Chính trị tại Từ Châu (Xuzhou), Tưởng Giới Thạch khẳng định lại quan điểm xây dựng các đơn vị chính trị trong quân đội. Nhiệm vụ ban đầu chỉ hạn chế trong tuyên truyền và chính huấn. Ông kêu gọi các cán bộ chính trị phải làm gương để tạo được niềm tin cho binh sĩ. Dường như ông đòi hỏi cán bộ chính trị đóng vai thầy giáo cho quân đội.
Hệ thống chính ủy trong quân đội Quốc Dân Đảng không được lâu và sụp đổ sau Biến Cố Tế Nam (Jinan) ngày 3 tháng 5, 1928. Tưởng Giới Thạch cách chức tất cả các chính ủy và giải tán cơ chế này từ cấp trung đoàn xuống tới đại đội. Về sau giải tán cả cấp sư đoàn. Sau cùng hệ thống chính ủy chỉ còn giữ lại ở cấp quân đoàn mà thôi. 
Lý do của sự thay đổi mãnh liệt đó, theo tác giả của cuốn Lịch sử Chiến Tranh Chính Trị trong Quân đội Cách Mạng Quốc gia gồm có hai mặt: một là khả năng kém cỏi của các chính trị viên và hai khó khăn về tài chính. Một lý do khác cũng có thể là vì tương quan giữa cấp chỉ huy quân sự và chính trị viên ngày càng đi xuống. Như Tưởng Giới Thạch đã nói với các chính trị viên năm 1929, hầu hết các đại diện Đảng và các chính ủy hoặc là Cộng Sản, hoặc thân Cộng. Sau khi trục xuất được các thành phần Cộng Sản ra khỏi Đảng, các chính trị viên không còn được binh sĩ tin tưởng nữa. Ngoài ra, các cấp chỉ huy và binh sĩ, ngay từ đầu vốn không ưa các đại diện Đảng và chính trị viên. Chỉ vì sợ nên không ai dám phê bình người của Đảng. Thành ra nhân cơ hội thanh trừng các thành phần Cộng Sản, họ chống luôn cả các chính trị viên và toàn bộ hệ thống. Thái độ bất hợp tác của binh sĩ với chính trị viên thực ra không có liên quan gì tới việc các chính ủy có liên hệ với Cộng Sản cả, mà vì càng ngày quyền hành càng lớn khiến cho các cấp chỉ huy quân sự bị mất tự do. Tưởng Giới Thạch có nói:
Lý do quan trọng nhất liên quan lới việc kiểm soát và can thiệp của Đảng và các chính ủy trên các hoạt động quân sự khiến cho các cấp chỉ huy quân đội mất tự do gây ra mâu thuẫn giữa hai bên. 
Khi hệ thống này được đưa ra thực hiện trong quân đội, hầu hết các cấp lãnh đạo trong Quốc Dân Đảng không nhận thức được sự quan trọng của nó nên không tham gia. Trái lại, thành phần Cộng Sản trong Đảng rất quan tâm. Họ tích cực tình nguyện và chiếm đa số trong các đại diện Đảng và chính trị viên. Sau khi họ bị loại trừ, Quốc Dân Đảng không đủ người có đủ khả năng thay thế các chỗ trống. Những người đến thay thành phần Cộng Sản trong nhiệm vụ chính trị viên không biết cách làm việc. Nhiều người còn lạm dụng quyền hành để mưu lợi riêng. Thành thử hệ thống bị hỏng.
 Tới thập niên 1930, hệ thống được tái lập và củng cố để chống lại Cộng Sản trong trận nội chiến. Tuy nhiên, hệ thống đó không cạnh tranh được với hệ thống chính ủy của Giải Phóng Quân cho đến thập niên 1950 khi Quốc Dân Đảng thiên di ra Đài Loan và người con trưởng của Tưởng Giới Thạch là Tưởng Kinh Quốc (Jiang Jingguo) được bổ nhiệm chức vụ Giám Đốc Tổng Nha Chiến Tranh Chính Trị. Tưởng Kinh Quốc hữu hiệu hơn những người tiền nhiệm, không phải vì ông giỏi hơn nhưng vì ông là người duy nhất có đủ quyền lực trấn áp những thành phần có thể chống đối trong quân đội. Vừa là một quân nhân chuyên nghiệp, vừa là một lãnh tụ chính trị đầy tham vọng, Tưởng Giới Thạch luôn luôn cảnh giác để bảo vệ quyền hành. Là Tổng Tư Lệnh quân đội Quốc Dân Đảng, ông muốn kiểm soát lực lượng võ trang bằng cách nhấn mạnh vào lòng trung thành của cá nhân hơn là dựa vào hệ thống chính trị viên. Vì thế, không có những đại diện Đảng nhiều quyền hành, có thể vượt lên trên các quyết định của các cấp chỉ huy quân sự như tổ chức Hồng quân. Dẫu sao, khi quân Quốc Dân Đảng bị đánh bại và phải di chuyển sang Đài Loan, tình hình đã quá tệ hại khiến cho Tưởng Giới Thạch bắt buộc phải củng cố hệ thống chính trị trong quân đội ngõ hầu tránh được sự xâm nhập của các cán bộ Cộng Sản. Dưới sự lãnh đạo của Tưởng Kinh Quốc, hệ thống chính ủy được mở rộng quyền hành để có thể hoàn thành nhiệm vụ. Việc kiểm soát chính trị đối với quân sự tại Đài Loan sẽ thảo luận sau. Hiện tại chúng ta cần phân tích tinh thần của các lực lượng võ trang cách mạng. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:52:04 am
C.   Nguồn gốc và Tinh thần Cách Mạng
 Ngoài việc kiểm soát trên tổ chức của các lực lượng quân sự bằng hệ thống chính trị, kiểm soát đáng kể nhất với binh sĩ đạt được qua việc học tập chính trị để chuyển biến các quan điểm về cuộc đời. Làm như thế, các nhà lãnh đạo Đảng và các cấp chỉ huy quân đội hi vọng sẽ tăng cường ý nguyện chiến đấu cho cách mạng của người lính. Từ các bài diễn văn của Tưởng Giới Thạch nói chuyện với sinh viên sĩ quan ở Hoàng Phố, người ta thấy rằng ông đặc biệt chú trọng đến yếu tố tinh thần trong chiến tranh. Theo ông, một quân đội cách mạng phải dựa vào tinh thần cách mạng đặc biệt để chiến thắng quân thù. ”Nếu không có tinh thần đó thì không thể chiến thắng và cũng không còn là một quân đội cách mạng”.
 Một quân đội có được gọi là quân đội cách mạng hay không cũng là trên căn bản tinh thần. Nếu nó có tinh thần cách mạng, đó là một lực lượng cách mạng, nếu không thì không thể gội là một quân đội cách mạng. Tưởng Giới Thạch cho rằng tinh thần gồm những đặc tính sau đây:
 a/ Can đảm dám chết
Theo Tưởng Giới Thạch, thái độ biểu lộ của tinh thần cách mạng là dám liều. Ông nói ”Nếu một người không dám liều mình thì không có cách nào chứng tỏ được tinh thần của người đó. Chỉ có ai dám chiến đấu chống quân thù tới hơi thở cuối cùng thì người đó mới mong thắng trận”. 
Một người dám liều thân hay không tùy thuộc vào quan niệm của người đó về sự sống và sự chết. Tưởng Giới Thạch lập đi lập lại vấn đề này với các khóa sinh nhiều lần. Khi đọc bài diễn văn đầu tiên trong tư cách hiệu trưởng trường võ bị Hoàng Phố, ông giải thích quan niệm đó một cách xác quyết. Ông kêu gọi mọi tân khóa sinh đặt cho mình một mục tiêu cuộc đời. Ông nói:
 Mục tiêu của cuộc đời mỗi người không phải nhắm vào bản thân mình mà là phụng sự nhân loại. 
Nếu hiểu đúng nghĩa cuộc đời thì ai ai cũng hiểu được giá trị của sống và chết. Trong cùng bài diễn văn đó, Tưởng Giới Thạch nói với sinh viên:
 Nhiệm vụ của một quân nhân chỉ có thể diễn tả bằng chữ ”chết”, và đó là mục đích của sinh mạng một chiến sĩ ... Nếu người nào không hiểu vấn đề đó mà chỉ nghĩ tới bảo tồn mạng sống mình không đếm xỉa gì đến công lý, thì kẻ đó chẳng những không xứng đáng là một chiến sĩ mà cũng chẳng xứng đáng là một con người ... Cuộc đời chúng ta không chỉ giới hạn trong kiếp này mà phải lưu danh muôn thuở. Một cuộc đời đích thực còn tồn tại hàng nghìn năm sau khi ta nằm xuống. Nếu cuộc đời ta còn được hậu thế nhắc nhở thì có xá gì xác thân ta hủ nát.
 Ngày xưa có người nói rằng ai ai cũng phải chết. Nếu cái chết của ta ích lợi cho nhân quần thì nó nặng như non Thái, trái lại, nếu không làm được gì cho xã hội thì nó nhẹ như lông hồng. Những lời của Tưởng Giới Thạch cũng có ý nghĩa như thế. Ngoài quan niệm về sống chết, lời giải thích của ông còn một nghĩa rộng hơn. Dưới nhãn quan một cấp chỉ huy, nếu binh sĩ không còn quan tâm tới mạng sống của họ, sẵn sàng chết trong những trận chiến quyết định thì đội quân đó là đội quân vô địch. Một lực lượng cách mạng thường là không được trang bị đầy đủ nên cần phải dựa vào tinh thần siêu việt để bù lại những khiếm khuyết. Lời của Tưởng Giới Thạch là nhằm mục đích đó.
b/ Một chống Mười
 Tưởng Giới Thạch cũng trình bày một chiến lược tương tự như Bác Sĩ Tôn Dật Tiên nói với các khóa sinh. Ông nói:
Trường võ bị này không phải như các trường khác. Đây là quân sự học hiệu của một đảng cách mạng. Như Tổng Lý (Tôn Văn) của chúng ta thường nói ”để trở thành quân đội cách mạng thì một người lính của ta phải đánh được trăm tên địch”. Theo tôi, nếu một quân nhân cách mạng nếu vững tay súng và bắn cho trúng mục tiêu thì chẳng phải chỉ một chống trăm mà có thể chống cả ngàn, cả vạn tên địch ... Sao có thể như thế? Chính là tại không sợ chết. 
Từ câu nói trên, người ta có cảm tưởng rằng phương pháp thiết yếu để một người địch trăm người là thiện xạ, bình tĩnh đối địch trên chiến trường. Tuy nhiên, trong những trường hợp khác, ông lại đưa ra một phương pháp ba giai đoạn để thành ông trong chiến lược cách mạng. Chiến lược thứ nhất là tinh thần đoàn kết. Theo Tưởng Giới Thạch, vì sự bất lợi về nhân số và trang bị, các lực lượng cách mạng cần phải chứng tỏ tinh thần đoàn kết cao độ trong chiến đấu, nếu không sẽ khó mà thắng được. Chiến lược thứ hai là tập trung lực lượng vào một mặt trận đã chọn. Có như thế, lực lượng cách mạng mới chuyển hóa tư thế hạ phong thành thế thượng phong, và như vậy sẽ thắng trận dễ dàng. Sau thành công đầu tiên, sẽ mở rộng chiến thắng bằng cách đánh vào mạng sườn hay tập hậu địch. Chiến lược sau cùng theo Tưởng là "can đảm dám liều" chỉ lập lại nguyên tắc "không sợ chết". Triết lý của ông là nếu một người không sợ kẻ thù thì chính kẻ thù phải sợ mình, nếu địch dọa cho mình sợ được thì họ càng thêm can đảm.
 c/ Nhấn Mạnh về Kỷ Luật
 Kỷ luật rất quan yếu đối với quyền lực của quân đội. Không có kỷ luật thì một đoàn quân chỉ còn là một bọn cướp có võ trang. Không có kỷ luật, họ không thể nào chiến đấu cho hiệu quả khi gặp địch mạnh trên chiến trường. Nghiêm đã từ lâu được coi là một trong 5 đức tính của cấp chỉ huy quân sự của người Trung Hoa. Không một quân sự gia tài ba nào trong lịch sử mà không nổi tiếng về nghiêm lệnh. Người ta thường hay đồng hóa kỷ luật với trừng phạt, nghiêm khắc với tàn ác hay bạo ngược. Cho nên, kỷ luật thường gắn liền với quân pháp. Kỷ luật theo nguyên ngữ gồm kỷ là nguyên tắc và luật là định chế, lề lối. Thành ra quân kỷ cũng là quân luật. Tuy nhiên ngày nay, kỷ luật không chỉ giới hạn trong việc trừng phạt mà thôi.
 Sái Ngạc đã bàn trong chương trình quân sự của ông không phải đạo đức mà cũng chẳng phải trừng trị đủ giữ người lính chiến đấu trường kỳ và gian khổ. Lòng yêu nước cũng mờ nhạt khi tình thế quá khó khăn, trừng phạt không đủ ngăn quân sĩ bỏ chạy khi áp lực địch quá mạnh. Vì thế ông nhắc lại thuyết của Darwin trong đó nói rằng tin tưởng có thể giữ binh sĩ lại với nhau trong những tình huống gian nan trong chiến trận. Với niềm tin, binh sĩ tin rằng cấp chỉ huy sẽ đưa họ tới chiến thắng và không bao giờ cấp trên bỏ họ mà chạy. Tin tưởng hỗ tương đó chính là cốt tủy của quân kỷ. 
Quan điểm của Sái Ngạc về quân kỷ được áp dụng rộng rãi trong quân đội cách mạng vì hầu hết các chiến sĩ đều có một niềm tin khiến cho họ sẵng sàng hi sinh mạng sống mà không ân hận. 
Mặc dầu niềm tin quan trọng đối với quân đội nhưng không ai phủ nhận vai trò của luật pháp trong việc duy trì những vai trò cần thiết cho quân kỷ. Ngay cả Sái Ngạc cũng không phủ nhận điều đó. 
Tư tưởng của Tưởng Giới Thạch tương tự như Sái Ngạc. Ông nói: ”Quân sĩ phải tuân lệnh cấp trên và không bao giờ được mất niềm tin vào các sĩ quan. Nếu người nào không làm như thế thì ắt là họ không hiểu rõ lý thuyết của Đảng và không phải là một con người cách mạng thực sự.” Theo Tưởng Giới Thạch thì căn nguyên của kỷ luật là niềm tin trong đó có cả tin vào cấp trên, tin vào đồng đội và tin rằng mình là một quân nhân cách mạng tốt chiến đấu vì Đảng.
 Nếu như thế thì quan niệm về niềm tin của Tưởng Giới Thạch bao gồm một số nguyên tắc đạo đức. Ông coi sự thành công của Đảng và sự thịnh vượng của quốc gia là trách nhiệm luân lý của các sinh viên và do đó đòi hỏi họ chịu đựng gian khổ, làm việc chăm chỉ, tỏ ra xứng đáng và học tập mọi phương pháp giúp họ hoàn thành trách nhiệm cách mạng. 
Tuy nhiên, đối với ông thỉ ông thấy rắng việc trừng phạt có tác dụng với quân kỷ quan trọng hơn tin tưởng và đạo lý. Ngay từ 1924, chỉ vài tháng sau khi thành lập trường võ bị Hoàng Phố, một điều luật về trách nhiệm liên đới (Liên tỏa pháp) được ban hành. Theo luật đó thì những ai liên hệ tới phạm nhân cũng bị trừng phạt. Từ cấp quân đoàn xuống cấp tiểu đội, nếu cấp chỉ huy nào không được lệnh mà bỏ bị trí thì sẽ bị xử tử. trái lại, nếu đơn vị bỏ chạy để viên chỉ huy cho địch giết thì tất cả các phụ tá sẽ bị hành quyết. Nếu một tiểu đội trưởng bị bỏ lại và bị giết thì tất cả lính trong tiểu đội sẽ bị xử tử. Tưởng Giới Thạch nói với các sinh viên sĩ quan: 
Ngay khi liên tỏa pháp có hiệu lực, mọi người trong quân đội sẽ cảm thấy có một lưỡi dao trên trên đầu và một sợi dây buộc lấy chân. Mọi người sẽ phải trông chừng lẫn nhau và buộc chặt vào nhau ở mọi cấp và không ai còn dám đào ngũ khỏi vị trí trong thời chiến. 
Quan niệm trách nhiệm liên đới đã có từ lâu trong lịch sử Trung Hoa. Người ta tìm thấy đầu tiên trong sách của Úy Liễu Tử. Để bảo đảm rằng mọi lệnh ban ra được thi hành, tử hình thường là hình phạt mà các tướng lãnh dùng và vì thế quan niệm nghiêm lệnh xem có vẻ tàn ác và bạo ngược. 
Cứ theo lý mà suy thì binh sĩ trong một đoàn quân cách mạng đều là tình nguyện, việc họ chiến đấu được thúc đẩy bằng động cơ cách mạng. Nếu phải lấy cái chết để ép họ chiến đấu thì không còn đáng gọi là quân cách mạng nữa. Cách mạng tự nó sẽ sụp đổ vì các đoàn viên đã mất nhiệt tình. 
Đảng quân và việc quá nhấn mạnh trên sức mạnh của tinh thần cách mạng đã có những hậu quả phức tạp trong việc phát triển chính trị trong những thập niên sau. Trong khi lực lượng Quốc Dân Đảng đánh bại các lực lượng quân sự địa phương và thống nhất đất nước, họ không hoàn toàn trừ khử được vấn đề quân đội thuộc về cá nhân. Thực tế là quân đội của Đảng vẫn chỉ trung thành với lãnh tụ. Việc đảng cầm quyền thường có khuynh hướng dùng sức mạnh đàn áp các đối lập chính trị cũng không có gì lạ. Mặt khác, khi một đảng đối lập chính quyền, họ cũng có khuynh hướng dùng sức mạnh để chiếm quyền lực. Những tranh chấp đó xảy ra tại Trung Hoa nhưng không phải chỉ Trung Hoa mới có. Nếu một quốc gia có hai hay nhiều đảng, mỗi đảng có quân đội riêng thì đất nước đó sẽ lâm vào nội chiến liên miên như trường hợp Lebanon ngày nay. Trong những trường hợp đó, một hệ thống dân chủ khó lòng mà phát triển xuông xẻ. Ngoài ra, những chính đảng có quân đội riêng thường không tránh khỏi khuynh hướng thiết lập chế độ chuyên chế hay độc tài.
 Cách mạng trên căn bản là một chuyển đổi chính trị mãnh liệt thường xảy ra trong một thời gian tương đối ngắn có hoặc không đổ máu. Nếu một cuộc cách mạng kéo dài nhiều chục năm thì mục đích của nó có thể thay đổi. Cùng một khẩu hiệu nhưng không cùng ý nghĩa. Cũng tương tự như thế, tinh thần cách mạng, được Tưởng Giới Thạch giải thích là ”dám liều chết” không còn mãi mãi như thế. Cuộc Đông Phạt (đánh Trần Quýnh Minh) và Bắc Phạt đều thường được coi như một lực lượng nhỏ nhưng có tinh thần cách mạng đã đánh bại một quân số đông hơn. Tuy nhiên, từ chính những lời của ông Tưởng thì người ta thấy rằng chỉ năm năm sau khi thành lập trường võ bị Hoàng Phố thì tinh thần cách mạng của quân đội đã bắt đầu xuống dốc. Năm 1929, ông nói: ”Đảng quân nay chỉ có cái tên là lực lượng cách mạng chứ tinh thần và tư thế xưa đã mất rồi. Tham nhũng, sa đọa, thiếu kỷ luật nay đầy rẫy trong quân đội”.
 Trong khi tinh thần cách mạng không chắc đã đủ để thắng trận, thì đạo đức vẫn còn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến những hậu quả của chiến tranh. Dù sao, cũng không thể chỉ dựa vào những hấp dẫn của chủ thuyết chính trị và ý niệm về sống và chết. Còn phải có huấn luyện, tổ chức, điều động và những điều kiện tự nhiên và vật chất của lực lượng vào một thời điểm nhất định.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:52:44 am
3.   QUAN NIỆM VỀ CHIẾN TRANH CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH 
Khi bắt đầu hành quân Bắc Phạt năm 1926, quân đội Quốc Dân Đảng đã bành trướng mạnh mẽ. Sau khi thắng trận, tổng số binh sĩ cầm súng lên tới 2.2 triệu người, chưa kể các lực lượng địa phương như ở Mãn Châu, Tứ Xuyên và Vân Nam. Sự bành trướng đó khiến cho việc tổ chức quân đội cách mạng trở nên vô cùng phức tạp, các lính mới phần nhiều tuyển từ lực lượng của các quân phiệt vừa bị đánh bại, hầu hết là vô kỷ luật, thiếu huấn luyện và hủ hóa. Là hạt nhân của quân đội cách mạng, các sĩ quan tốt nghiệp trường võ bị Hoàng Phố được nhanh chóng thăng cấp nhưng nhiều khi cũng không được lãnh đạo đúng mức nên cũng bị sa ngã. 
Thực như thế, theo như chính Tưởng Giới Thạch đưa ra thì quân đội Quốc Dân Đảng không còn giữ được chút tinh thần cách mạng hay động lực nào. Vì thế cần kíp phải làm một cái gì để chuẩn bị để đối phó với những đấu tranh khó khăn sắp tới, kể cả nội chiến chống Cộng lẫn Nhật Bản. Nhu cầu cải cách càng thúc bách hơn khi Tưởng bị Cộng Sản đánh bại phải rút lui ra Đài Loan.
 Ngoài những cải cách khác, công thức đầu tiên mà ông đề ra để cải tiến phẩm chất sĩ quan là nâng cao trình độ huấn luyện quân sự. Nhiều bài ông viết được dùng làm học liệu cho sinh viên, vì thế những gì ông viết ra lắm khi giống bài giảng của một giáo sư hơn là một đại chiến lược gia. 
A.   Quan niệm triết học của Chiến Tranh
 Mặc dầu Tưởng Giới Thạch nói nhiều về triết học cách mạng nhưng chưa thể nói rằng ông đã hình thành được một lý thuyết có hệ thống về chiến tranh. Hầu hết các quan niệm của ông về triết học quân sự chưa đưng trong các lời bình về huấn luyện quân sự. Những gì ông bàn về triết học quân sự chỉ liên quan đến tình trạng thực tế của quân sự hơn là những vấn đề trừu tượng. 
Theo Tưởng Giới Thạch thì Nhật Bản sở dĩ tiến lên hàng cường quốc không phải là vì học hỏi được những kiến thức khoa học Âu Tây mà vì theo triết lý Vương Dương Minh ”làm theo cái lương tâm của mình” (Chí Lương Tri) mà cốt tủy của lý thuyết đó là Tri Hành hợp nhất (biết và làm là một). 
Theo ông, tinh thần quốc gia của người Nhật là Võ Sĩ Đạo (Bushido), chính là dựa trên thuyết của Vương Dương Minh. Nhờ theo thuyết này mà người nhật đã thực hành được các lý thuyết trong khi người Trung Hoa chỉ bàn lý thuyết xuông mà không làm. Vì thế, Trung Hoa trở thành mồi ngon cho Nhật Bản và các nước Âu Châu trong thế kỷ 19. Ông nhắc lại lời của Tôn Dật Tiên để nói với các sĩ quan là ”học để hiểu một lý thuyết đằng sau một kế hoạch nhiều khi khó khăn hơn thực hiện kế hoạch đó” (tri dị hành nan). Vì thế, ông khuyến khích họ nên tìm hiểu các nguyên nhân tiến hành cách mạng để cho phù hợp với kế hoạch kiến quốc của Tôn Văn và chủ nghĩa Tam Dân. 
Sau khi quân đội Quốc Dân Đảng phải chạy sang Đài Loan năm 1949, Tưởng Giới Thạch cho rằng thất bại là do các sĩ quan thiếu huấn luyện quân sự. Vì thế ông thường nhắc nhở các sĩ quan là vấn đề đáng quan tâm nhất trong chiến tranh không phải là sức mạnh của địch mà là không đủ tinh thần, kiến thức và ý tưởng về chính quân mình. Với quan điểm đó, ông dấn thân vào việc cải tiến hệ thống huấn luyện quân sự và đích thân giảng về các vấn đề quốc phòng như triết học, khoa học và nghệ thuật quân sự. 
a/ Bản chất của Chiến Tranh: Ân Đức hay Không Khoan Nhượng 
Triết học quân sự là gì? Tưởng Giới Thạch không phải phiền toái định nghĩa nó như một học giả thường làm mà chỉ giản dị nói là ”triết học quân sự là triết học chiến tranh, là sự học hỏi về sự tự đào luyện tinh thần và đạo đức quân sự. Có như thế chúng ta mới có một ý niệm rõ ràng về chiến tranh, không bao giờ chần chừ khi giao tranh, không đặt giá trị mạng sống của riêng mình trên nhiệm vụ và danh dự trong những giờ phút khẩn cấp”. Cho nên, theo ông bài học đầu tiên của triết học quân sự là vấn đề của sống và chết. Tưởng Giới Thạch cho rằng mục đích của nhân sinh là giúp ích cho nhân quần xã hội chứ không phải để vinh thân phì gia. Cho nên, con người phải có can đảm để chết vì nước và vì dân tộc. 
Trong vô số những tín niệm về triết học chiến tranh của ông, Tưởng Giới Thạch đặc biệt nhấn mạnh vào hai nguyên tắc quan trọng nhất là ”nhân” và ”bất dung”. Nhân là đối với người bên mình, còn không thương xót là đối với kẻ thù. Ông nói: ”Nếu ta thương xót kẻ thù chẳng khác gì ta tàn nhẫn với đồng đội”. Để giải thích thêm về hai nguyên tắc có vẻ đối nghịch này, ông nói:
“ ... bản thể của chiến tranh là nhân từ nhưng khi áp dụng thì cần phải tàn ác. Mục đích của chiến tranh là hòa bình, nhưng phương tiện dùng tong chiến tranh thì tàn bạo. Để đạt tới mục tiêu trường cửu là hòa bình lâu dài, thì phải chịu những thống khổ giai đoạn ... Chúng ta cần phải bạo ngược hơn kẻ thù thì mới có thể đàn áp được đối phương và thắng trận. Đó là con đường duy nhất để loại bỏ chiến tranh hầu đạt tới mục tiêu hòa bình.”
  Triết học Trung Hoa cổ điển cũng thường nhấn mạnh vào giá trị của sống và chết, nhất là đối với các chiến sĩ. Người ta tán dương cái chết tại chiến trường và xỉ mạ kẻ nào tham sống đầu hàng địch. Tuy nhiên, niềm tin và nguyên tắc mà Tưởng Giới Thạch đưa ra về việc không khoan thứ cho kẻ thù chẳng phải chỉ dựa trên lý luận mà là một bài học đau thương ông có được trong thời kỳ đánh nhau với Cộng Sản. Tưởng Giới Thạch muốn áp dụng nguyên tắc không thương xót trên chiến trường để vượt qua được những yếu kém về tâm lý của quân đội ông chỉ huy. Theo ông thì khi học về triết học cách mạng, người ta phải tập trung vào lý thuyết của Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và triết học của chính ông. Như đã đề cập trên đây, lý thuyết của Tôn Văn có thể tóm tắt vào 4 chữ ”tri nan hành dị” (làm thì dễ, biết mới khó) còn lý thuyết của Tưởng Giới Thạch là ”lực hành triết học” (hết sức áp dụng vào thực tế). Nói khác đi, Tưởng tổng tài muốn binh sĩ hết sức thực hiện những gì họ học ở ông.
 b/ Đức tính của cấp chỉ huy và Nhiệm vụ trong chiến đấu
 Một cấp chỉ huy nếu đã rõ ràng thế nào là sống và chết, đã học hỏi không thương xót kẻ thù và nhân đạo đối với người bên mình, nhất quyết thực hành các nguyên tắc đó nhưng vẫn còn phải tu thân và học tập các đức tính cổ truyền như cương quyết, bình tĩnh, thư thái, chín chắn thì mới có thể thành công. Theo sách Đại Học thì tiến trình phải như sau: 
Khi biết được phải đến đâu mới ngừng, thì mục tiêu theo đuổi đã định được. Khi đã định được mục tiêu, thì lòng không còn chộn rộn. Lòng đã yên thì đạt tới trạng thái yên tĩnh. Trong tình trạng thư thái, yên tĩnh thì tâm hồn mới chín chắn, và có chín chắn thì mới đạt được mục đích sau cùng.1 
1Nguyên văn: Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc. (Đại Học)
Khi giải thích tuần tự này, Tưởng công đặc biệt nhấn mạnh đến khởi đầu là hai chữ tri chỉ (biết chỗ ngừng lại). Theo lời bình của Chu Hi, Tưởng Giới Thạch tin rằng ”mục tiêu mình theo đuổi” chính là chỗ ”ngừng lại”. Đối với một cấp chỉ huy quân sự cách mạng thì thực hành Tâm Dân Chủ Nghĩa ở Trung Hoa là mục tiêu sau cùng và tốt đẹp nhất của mọi đảng viên. Đã chọn mục tiêu này rồi thì phải theo đuổi chứ không được chao đảo, ngả nghiêng. Có như thế trong lòng mới thư thái, an tĩnh. An tĩnh rồi mới suy nghĩ và mới tới được mục đích sau cùng. 
Về sau Tưởng Giới Thạch cũng nối kết tuần tự này với binh thư Tôn Tử. Ông cho rằng định mục tiêu cũng tương tự như việc kiểm soát yếu tố luân lý (Trị Khí), yên tĩnh cũng như kiểm soát các yếu tố tinh thần (Trị Tâm), còn thư thái là kiểm soát các yếu tố vật chất (Trị Lực), suy nghĩ chín chắn tương đương với đặt kế hoạch và chiến lược là vấn đề chủ chốt của thành công hay thất bại.
   Trạng huống lý tưởng mà Tưởng Giới Thạch mong mỏi các tướng lãnh nỗ lực đạt tới trong việc tu thân được mô tả tron bốn chữ triết lý: nguy, vi, tinh, nhất (nguy hiểm, vi tế, tinh thuần, nhất quán). Đây là chữ lấy từ Kinh Thư (Shujimg), là lời giáo huấn huyền vi vua Nghiêu truyền cho vua Thuấn, vua Thuấn truyền cho vua Vũ. Nguyên văn là:
 Trong khi tâm hồn con người ngày càng chông chênh, nguy hiểm thì các định luật của thiên nhiên hết sức vi diệu. Phải giữ mình thật cẩn thận, theo sát đường ngay thẳng để có thể giữ được đạo trung dung.2 2Nguyên văn: Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi. Duy tinh duy nhất, doãn chấ p quyết trung
  Điểm chính yếu của câu này là lòng người hay bị sa ngã vì cám dỗ của tham muốn nên hay rơi vào nguy hiểm. Các định luật thiên nhiên thì mờ mịt, xa xôi và nhỏ bé. Nếu muốn giữ đạo trung dung, vốn là luật tối thượng của trời đất, thì phải cẩn thận giữ gìn lòng mình đừng để nghiêng ngả. Tuy nhiên, khi Tưởng Giới Thạch áp dụng các nguyên lý đó vào việc tu thân của các sĩ quan, ông lại giải thích hoàn toàn khác hẳn. Chẳng hạn, ông khuyên các sĩ quan luôn luôn cảnh giác về những "nguy hiểm" có thể có trong khi hành quân và phải hết sức giữ gìn để khỏi bị địch quân đánh úp. Khi bàn về chữ ”vi tế”, ông nói rằng các tin tức biết được về địch thường rất nhỏ nhặt. Muốn thắng trận cần phải nhìn được những gì thật mờ nhạt và không rõ rệt để nắm được cơ hội. Chữ ”tinh thuần” áp dụng vào lượng định và kế hoạch cần phải chính xác và minh bạch. Còn chữ ”nhất quán” ông giải thích là tập trung. ”Khi ta tập trung, địch chia rẽ” ”Khi ta tập trung tại một điểm, địch chia ra làm 10 điểm. Điều đó cũng như lấy mười chống một”. 
Nếu một cấp chỉ huy đào luyện được các tính nguy, vi, tinh, nhất thì người đó liệu được địch tình chính xác chẳng khác gì thần tiên và sẽ không bao giờ đánh hụt mục tiêu. 
Giáo dục triết học như đã đề cập ở trên, sẽ giúp cho một cấp chỉ huy có thể giữ vững tinh thần trong trường hợp nguy hiểm mà không chao đảo, tính toán cẩn thận để có được quyết định và chiến lược chính xác, đồng thời thái độ bình tĩnh và thư thái của người chỉ huy có thể ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ, giúp họ tin tưởng rằng thắng lợi sau cùng sẽ đến với họ. Tuy nhiên, chiến tranh hiện đại từ bản chất đã khoa học. Một đoàn quân vì không có tinh thần chiến đấu cao nên không sử dụng vũ khí và trang bị cho hiệu quả nhưng cũng không đúng nếu cho rằng chỉ nhờ tinh thần cao mà một đoàn quân trang bị yếu kém có thể đánh bại một đoàn quân được huấn luyện và trang bị chu đáo. Tưởng công cũng biết điều đó. Ông cũng biết rằng quân sĩ của ông không đủ kiến thức khoa học cần thiết cho một cuộc chiến thời đại mới. Vì thế, trong lịch trình huấn luyện ông đưa ra, khoa học nói chung và khoa học quân sự nói riêng là những đề mục ngay đứng ngay sau triết học..


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:53:18 am
B.   Nhận thức Khoa Học của Chiến Tranh
 Theo Tưởng Giới Thạch, khoa học cần thiết cho quân sự trên hai cấp độ khác nhau: cấp độ kỹ thuật và cấp độ chỉ huy. Cấp độ kỹ thuật liên quan đến vũ khí, trang bị và chiến dịch. Cho nên nó liên quan trực tiếp đến binh sĩ và các sĩ quan cấp thấp. Cấp độ chỉ huy liên quan đến tổ chức, tin tức, kế hoạch và chỉ huy. Vì thế căn bản áp dụng cho cấp chỉ huy và sĩ quan tham mưu. Ông nói: ”Nếu một binh sĩ có kiến thức khoa học, thì anh ta có thể sử dụng được máy móc và vũ khí tân tiến. Nếu một tướng lãnh không hiểu biết về khoa học thì ông ta không chỉ huy được các đơn vị tân tiến và không đảm nhiệm được một cuộc chiến khoa học”.
 Lý do thầm kín trong việc Tưởng tổng tài nhấn mạnh vào vấn đề này là vì khả năng thấp kém của các sĩ quan chỉ huy trong giai đoạn đầu. Ông tin rằng sĩ quan cấp thấp có học hơn sĩ quan cấp trung và những người này lại còn khá hơn các tướng lãnh. Tuy nhiên, tất cả các nhà quân sự tài ba như ông nhắc lại lời Napoleon đều phải coi chiến tranh như một khoa học thực sự.
Khi bàn về triết học chiến tranh, ông đã nói rằng tin tức về phía địch thì thường mờ mịt và nhỏ bé về số lượng và do đó, người chỉ huy phải cố gắng hết sức để phân tích mọi chi tiết cẩn thận và chính xác ngõ hầu tìm ra điều nào đúng và hữu ích và mới đi tới quyết định đúng và chọn chiến lược thích hợp. Đây chính là đề tài mà khoa học quân sự phải giải quyết. Vì thế Tưởng Giới Thạch nhìn thấy những tương quan mật thiết trong vai trò của khoa học quân sự và triết học quân sự. Thực vậy, ông nói rằng tinh tủy của khoa học là tìm sự thật và xác định tính chất chính xác tuyệt đối của vấn đề phải tìm. Trên khía cạnh quân sự thì khoa học đứng trên triết học khi bàn về dữ kiện và độ chính xác. Tuy nhiên ông lại tin rằng trên mặt giáo dục quân sự thì triết học lại quan trọng hơn khoa học. Điều này khiến cho ta có thể kết luận là ông cũng như nhiều binh gia thời cổ đặt nặng vấn đề tinh thần lên trên các yếu tố vật chất.
Các phương pháp khoa học áp dụng vào quân sự trẹn mức độ chỉ huy nhắm vào kế hoạch và hoạt động phối hợp. Trong khi kế hoạch liên quan tới chuẩn bị cho một chiến dịch, kể cả việc lượng giá địch thì phối hợp liên quan đến hành quân nhiều hơn. Cả hai đều cần chính xác và hợp tác và đều dựa trên tổ chức chu đáo. Vì thế Tưởng Giới Thạch có nói: ”Khi bàn về khoa học quân sự, then chốt của nó là tổ chức nghĩa là đạt tới trình độ cao của phối hợp tác chiến”. 
Mặc dầu mục tiêu của khoa học quân sự là đạt tới chính xác nhưng không thể so sánh với toán học. Tưởng công nói: 
Lẽ dĩ nhiên chúng ta phải theo câu nói của Tôn Tử là tính toán nhiều mới thắng còn tính toán ít thì không. Thế nhưng chúng ta cũng biết Tăng Quốc Phiên đã nhận định nếu không dám đánh thì nhất định sẽ thua dù tính toán cho thấy rằng có thể thắng. Cho nên khi chúng ta nói về khoa học, chúng ta chớ có quá nhấn mạnh vào nguyên tắc toán học vì kế hoạch hành quân không phải là một đẳng thức.
C.   Nhận thức Nghệ Thuật của Chiến Tranh
 Tại Tây phương, các chiến lược gia quân sự đã bàn cãi sôi nổi về chiến tranh là một nghệ thuật hay không phải là nghệ thuật. Một số người như Henri Jomini nghiêng về nhấn mạnh vào khía cạnh nghệ thuật của chiến tranh trong khi nhiều người khác nghiêng về các đặc điểm khoa học. Tuy nhiên, không ai hoàn toàn phủ nhận mặt này và chỉ chấp nhận mặt kia. Về đề tài này, Tưởng Giới Thạch đã từng trích dẫn rất nhiều các chiến lược gia Tây Phương và đi tới kết luận của riêng ông là ”mặc dầu chỉ huy trong chiến tranh là một nghệ thuật nhưng khoa học vẫn là căn bản của chiến tranh và giáo dục quân sự”. Tuy nhiên ông vẫn nhắc nhở các sĩ quan là đừng quá chú trọng về mặt học vấn khoa học mà quên tinh tủy của chiến tranh, đừng bao giờ coi chiến tranh thuần túy khoa học và nghĩ rằng có thể thắng hai hay nhiều trận bằng cùng một nguyên tắc và phương pháp. 
Có vẻ như Tưởng công đặt tương quan giữa triết học, khoa học và nghệ thuật quân sự theo hình tam giác. Triết học quân sự theo ông là đáy tam giác vì nó là nền tảng của mọi giáo dục quân sự và vì thế là phương tiện để cho một cấp chỉ huy gắn chặt quân sĩ của mình với nhau. Hơn nữa, triết học quân sự là nguồn gốc tinh thần, là yếu tố quyết định của thắng bại. Khoa học quân sự là sự phát triển rộng lớn của triết học trong đó cần chính xác, chân thực là nền tảng của hoạch định và hợp tác hành động trong chiến dịch. Tuy nhiên, khoa học quân sự thường thiên về vật chất chủ nghĩa. Vì thế, khi hòa nhập với truyền thống Trung Hoa và tình trạng xã hội -kinh tế thực tế của nước Tàu, Tưởng Giới Thạch dù vẫn nhấn mạnh vào sự quan trọng của phương pháp khoa học, luôn luôn giành một vai trò thiết yếu cho triết học và nghệ thuật.
 Khi đối diện với vấn đề nghệ thuật trong chiến tranh, Tưởng Giới Thạch chỉ giản dị định nghĩa là phương tiện cần thiết để đánh bại địch thủ trong chiến tranh. Nghệ thuật có thể được áp dụng tại hai cấp độ: một là để chỉ đạo hành quân và điều binh, hai là cá tính và tu dưỡng của cấp chỉ huy khiến cho cấp dưới phục tòng. 
Trong việc áp dụng nghệ thuật quân sự vào hành quân, Tưởng Giới Thạch nhắc lại nguyên tắc của Tôn Tử về dùng mưu và sự thay đổi dùng kỳ binh, chính binh theo cách tốt nhất. ”Khi áp dụng những nguyên tắc này, dù chỉ có Kỳ và Chính, nhưng cách dùng biến hóa bao la như sự thay đổi của ngũ âm, ngũ sắc, ngũ vị. Không biết cơ man nào các trường hợp dùng với hai nguyên tắc trên nên không ai dùng hết được”. Tuy nhiên, trong việc dùng các nguyên tắc này, muốn giải đoán mỗi tình huống cho chính xác cần tới tài năng và khéo léo của chính người chỉ huy. Không lề luật nào có thể theo cả. Cho nên, nhấn mạnh vào tài năng cá nhân đã đưa tới những tranh luận về sự quan trọng của nghệ thuật trong chiến tranh. 
Tưởng Giới Thạch không cho rằng chỉ học quân sử và binh thư là có thể đạt tới nghệ thuật quân sự cao mà còn tùy vào bẩm tính của mỗi người. Vì thế ông lại liên kết nghệ thuật chiến tranh với triết học quân sự. Ông nói: 
Nếu người ta có thể thực sự suy nghĩ và áp dụng các nguyên lý triết học để đạt tới sự toàn mỹ bằng trí óc siêu việt, can đảm tột cùng và tài năng thì người ta có thể đạt tới hậu quả phi thường của tinh thần và nghệ thuật. Đó chính là hiểu biết cái gốc và chính là trí thức tối thượng vậy. 
Theo Tưởng Giới Thạch, nghệ thuật chiến tranh không hoàn toàn tách rời khỏi khoa học quân sự mà là một hệ thống kết hợp với nhau. Tuy nhiên, hai bên ở hai mức độ phát triển khác nhau. Khi khoa học quân sự đã phát triển thêm một mức thì trở thành nghệ thuật chiến tranh. Nếu thiếu một căn bản vững chắc trong khoa học thì người ta cũng không đạt tới trình độ tuyệt hảo trong nghệ thuật. Trái lại, nếu đã thuần thục trong phương pháp khoa học thì có thể đạt được trình độ nghệ thuật bằng cách áp dụng các kiến thức khoa học một cách toàn vẹn. 
Mặc dầu triết học quân sự, khoa học và nghệ thuật đều là những yếu tố cốt tủy thể hiện khả năng tác chiến của một cấp chỉ huy, việc sử dụng lực lượng quân sự vẫn thường được các binh gia coi chủ yếu là một nghệ thuật, trong đó bao gồm cả điều binh, đưa ra các chiến lược và chọn các chiến thuật. Nếu một cấp chỉ huy có thể chọn chiến lược và chiến thuật một cách thích đáng cho phù hợp với tình trạng và thực hiện một cách hoàn hảo thì có nhiều hi vọng thắng trận.
Sau đây chúng ta sẽ thảo luận về những quan điểm căn bản của Tưởng Giới Thạch về chiến thuật, chiến lược và các nguyên tắc của chiến tranh. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:53:56 am
4.   NGHỆ THUẬT ĐIỀU BINH
  Tới đây chúng ta đã thấy rõ là mặc dầu vẫn coi kiến thức khoa học là quan trọng nhưng Tưởng Giới Thạch vẫn nghiêng về nhấn mạnh vào nghệ thuật điều binh trong chiến địch. Nghệ thuật đó bao gồm quân lệnh, tham mưu, hậu cần và sự chọn lựa chiến thuật, chiến lược như tấn công hay phòng ngự, tiến hay thoái, Kỳ hay Chính, Hư hay Thực, gần hay xa, lực lượng chính và lực lượng trừ bị, giao thông liên lạc. 
A.   Quan niệm của Tưởng công về Chiến lược và Chiến thuật
 Từ khi đảm nhiệm chức vụ tổng tư lệnh quân đội Quốc Dân Đảng vào giữa thập niên 1920, Tưởng Giới Thạch đích thân chỉ huy lực lượng trong hầu hết các chiến dịch lớn cho đến khi ông từ trần vào năm 1975. Tuy nhiên chỉ sau năm 1949, khi chạy ra Đài Loan ông mới có thì giờ thảo luận các vấn đề chiến lược một cách có hệ thống, tái thiết lập một trường võ bị và cải thiện hệ thống huấn luyện quân sự. Đích thân ông giảng dạy về chiến lược và chiến thuật dựa trên kinh nghiệm bản thân và các nghiên cứu về chiến lược tân tiến của nước ngoài. Những quan niệm chiến lược chiến thuật của ông trước 1949 chủ yếu rút ra từ các lời bình luận về kết quả các chiến dịch. Do đó, các khái niệm đó thường là những huấn lệnh và phê bình của một vị tổng tư lệnh hơn là phân tích lý thuyết. Tuy nhiên, khi giảng dạy tại trường quân sự Đài Loan, ông chẳng khác gì một giáo sư kỳ cựu. Dường như Tưởng công muốn đem hết cái sở học bình sinh của mình truyền lại cho các sinh viên ngõ hầu một ngày nào đó họ dùng cái đại chiến lược ông thiết kế để quang phục lục địa. Vì thế, một số các bài giảng của ông về chiến lược, chiến thuật vẫn còn xếp loại mật và các nhà nghiên cứu không được đọc.
  Trong một bài diễn văn quan trọng về chiến lược, Tưởng Giới Thạch phân tích một cách có hệ thống về sự phát triển của quan niệm chiến lược của Liên Xô và các quốc gia Tây phương. Ông bắt đầu phân tích bằng truy tầm các quan niệm từ thời Machiavelli, Frederick Đại Đế, Napoleon, Jomini và Clausewitz. Tiếp đó, ông phân tích các chiến lược gia hiện đại và quan điểm của họ trước khi đưa ra định nghĩa của chính ông về chiến lược. Mặc dầu ông phê bình các quan niệm chiến lược hiện thời của Tây phương trong việc đối phó với chiến lược toàn cầu của Liên Xô, nhưng các quan điểm của ông vẫn chứng tỏ ông bị ảnh hưởng Tây Phương mạnh mẽ, nhưng ít thấy ảnh hưởng từ phía Liên Xô. Chỉ có một phương diện ảnh hưởng của Liên Xô chủ yếu là quan điểm của ông về chiến tranh chính trị trong đó ông coi Liên Xô là khuôn mẫu và bằng chính kinh nghiệm riêng của ông.
 Dựa trên tình hình quốc tế thực tại và nhu cầu chính trị của chính phủ Quốc Dân Đảng tại Đài Loan, Tưởng Giới Thạch định nghĩa chiến lược như sau:
 Chiến lược là nghệ thuật kiến tạo và khai thác các tình thế thuận lợi để đạt được mục tiêu của chiến tranh, chiến dịch hay những trận đánh quyết định cho một quốc gia hay một nhóm quốc gia để gia tăng mức độ khả dĩ thành công và chiến thắng cuối cùng.
 a/ Đại Chiến Lược
 Theo định nghĩa của Tưởng Giới Thạch ”đại chiến lược là chiến lược của các quốc gia đồng minh với nhau vì cùng quan tâm về một vấn đề nên kết hợp và phối trí các lực lượng để đạt các mục tiêu chung”. Sự khẳng định về một kẻ thù chung, các phương pháp đối phó với địch, mục tiêu ưu tiên và những hành động có thể xảy ra đều là những quan tâm hàng đầu của đại chiến lược. 
b/ Chiến lược quốc gia 
”Chiến lược quốc gia là nghệ thuật xây dựng và sử dụng các lực lượng quốc gia, phát triển việc thống nhất các lực lượng để đạt mục tiêu quốc gia”.
Theo Tưởng Giới Thạch thì chiến lược quốc gia kể cả việc định hướng chính quyền trong các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lý và quốc phòng. Chiến lược quốc gia có thể chi ra làm chiến lược chính trị, chiến lược kinh tế, chiến lược tâm lý và chiến lược quân sự.
 Tưởng công cho rằng chiến tranh hiện đại là chiến tranh tổng thể (tổng thể chiến) bao gồm cả chính trị, kinh tế, văn hóa và quốc phòng không thể chỉ chiến thắng bằng quân sự. Dựa trên quan niệm đó, ông đặc biệt nhấn mạnh vào sự quan trọng của việc hợp nhất các phương diện khác nhau của quốc gia. Chiến lược chính trị phải yểm trợ chiến lược quân sự trong khi chiến lược quân sự phải tuân theo chiến lược chính trị, nếu không quốc gia sẽ thất bại. Ông cũng tin rằng chiến lược chính trị bao gồm hai cấp độ. Một cấp độ nói về ”quyết định của các nhà lãnh đạo chính trị về những câu hỏi sau: liệu quốc gia có chiến tranh không, có thể tránh được chiến tranh không, khi nào là cơ hội tốt nhất để tham chiến, những hành động nào cần phải có để đạt được mục tiêu”. Cấp độ thứ hai của chiến lược chính trị nói về ”các yếu tố tinh thần của môt lực lượng trong chiến đấu, tình trạng quân địch trên các phương diện ý nguyện quốc gia, tổ chức quân đội, lực lượng hiện dịch và trừ bị, tài nguyên và hệ thống chính trị”. Cấp độ thứ hai nhiều tính chất quân sự hơn cấp độ thứ nhất nặng về chiến lược chính trị. 
Để phối hợp hành động của nhiều phân bộ chính quyền và để tránh những xung đột có thể xảy ra và mâu thuẫn giữa các cấp lãnh đạo chính trị và quân sự, Tưởng Giới Thạch nhất định cho rằng cần có một thỏa thuận giữa các nhà lãnh đạo ngõ hầu thống nhất được các chiến lược chính trị và quân sự. Định lệ đó có thể đạt được nếu theo các hướng dẫn sau đây:
 1. Sự chọn lựa một chiến lược quân sự quan trọng cần phù hợp với các mục tiêu chính trị quốc gia và các nguyên tắc chiến lược chính trị.
2. Mặc dầu các nhà lãnh đạo quân sự không được phép tự ý quyết định các chiến lược, họ phải được quyền chọn chiến thuật mà các nhà chính trị không được quyền can thiệp vào.
3. Vì các nhà lãnh đạo chính trị chịu trách nhiệm điều động chiến tranh và các vấn đề chiến lược, họ phải hiểu rõ các nguyên tắc chiến tranh và lãnh đạo chiến đấu một cách tích cực. Tuy nhiên họ không được quyền can thiệp vào việc hành quân. ”Bên ngoài cửa thành là thuộc quyền điều động của tướng lãnh”.
 4. Các nhà lãnh đạo quân sự phải hợp tác với các nhà lãnh đạo chính trị trong việc quyết định các vấn đề chiến lược. 
Vốn là một quân nhân chuyên nghiệp, Tưởng Giới Thạch đặc biệt chú ý đến các mâu thuẫn có thể có giữa các chính trị gia và các tướng lãnh. Cho nên, ông nhấn mạnh vào việc hợp tác chặt chẽ giữa hai bên. Đồng thời ông cũng nhắc đi nhắc lại là các chính trị gia không nên xen vào việc quyết định tiến trình hành quân và cấp độ chiến thuật.
 c/ Chiến lược Quân Sự
 Chiến lược quân sự là cây cột quan trọng nhất chốn đỡ chiến lược quốc gia. Chiến lược này đề cập đến các ý niệm tổng quát về hoạt động quân sự trong thời chiến, việc xây dựng lực lượng và chuẩn bị chiến tranh dựa trên các nhu cầu cần đến và nhân lực có sẵn, hệ thống động viên và thời gian cần thiết để thành lập các đơn vị ... Theo quan niệm chiến tranh tổng thể, Tưởng Giới Thạch coi chiến tranh quân sự cũng ngang với chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế và chiến tranh tâm lý. Trong thời bình mỗi thứ chiếm 25% tổng số. Tuy nhiên, trong thời chiến, quân sự tăng lên 30% tổng số và vì thế chiến lược quân sự lúc đó cũng cao hơn chiến lược chính trị, chiến lược kinh tế và chiến lược tâm lý. 
d/ Chiến lược Mặt Trận
 Chiến lược mặt trận còn gọi là chiến lược khu vực trong lực lượng quân sự Mỹ vì được dùng chủ yếu để điều động các chiến dịch quân sự tại những khu vực khác nhau. Tuy nhiên, vì chiến lược khu vực thường phần nào nằm trong quản hạt của Bộ Tổng Tham Mưu và các bộ tham mưu lục quân, hải quân, không quân nên Tưởng công thích gọi là chiến lược mặt trận hay chiến lược trận địa. 
Quan niệm về chiến lược mặt trận theo nhiều người không rõ ràng dễ bị lẫn lộn với chiến thuật và hành quân. Thực ra hai bên khác nhau xa. Theo Tưởng Giới Thạch, ”chiến lược mặt trận là nghệ thuật kiến tạo và khai thác các cơ hội trước khi thiết lập chiến tuyến, trong khi chiến thuật là nghệ thuật điều động quân đội di chuyển và chiến đấu sau khi chiến tuyến đã thiết lập”. Hơn nữa ”trong khi hành quân là vạch ra đội hình và hành động cho quân mình trong một trận đánh để có thể thắng, chiến lược mặt trận là chỉ huy quân sĩ và đội hình trước khi đánh”. Điểm chính của chiến lược mặt trận là tính toán và sử dụng thì giờ, diện địa và lực lượng trong khi giao tranh.
Mục đích của việc chọn lựa một chiến lược cá biệt là nhằm thắng trận và do đó, nó phải đi sát với những thay đổi về phối trí lực lượng của địch. Có những nguyên tắc căn bản làm qui luật cho việc áp dụng chiến lược và điều binh. Các chiến lược gia thường gọi là nguyên tắc chiến tranh. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:54:57 am
B.   Mười Nguyên Tắc Chiến Tranh của Tưởng Giới Thạch
 Mặc dầu hầu hết các chiến lược gia coi việc điều động binh đội trên chiến trường chủ yếu là một nghệ thuật, họ cũng đồng ý là binh bị tự nó có những qui luật khách quan riêng. Cho nên, một cấp chỉ huy vẫn phải theo một số nguyên tắc quan trọng trong việc điều động lực lượng.
 Các nguyên tắc chiến tranh tại Tây Phương đã có mất trăm năm trước từ thời Napoleon, Jomini và Clausewitz. Các nhà lãnh đạo Trung Hoa bị ảnh hưởng tư tưởng quân sự Tây Phương nên cũng du nhập những nguyên tắc tương tự trong tiến trình canh tân hóa quốc phòng. Cả Mao Trạch Đông lẫn Tưởng Giới Thạch đều phát triển những nguyên tắc riêng. Trong khi những nguyên tắc nổi tiếng của Mao được hình thành trong những năm nội chiến vào thập niên 1940 thì các nguyên tắc của Tưởng được khai sinh khoảng 10 năm sau đó. Các nguyên tắc của Tưởng nguyên thủy do trường Đại Học Quân Sự viết ra nhưng sau được ông tu chính và chấp nhận. Ông bắt đầu thảo luận một cách chi tiết về các nguyên tắc này với các sinh viên tại Đại Học 10 năm sau khi được hoạch định.
Ông không phủ nhận ảnh hưởng của tư tưởng ngoại quốc trong việc hình thành 10 nguyên tắc nhưng cũng nhấn mạnh vào chính kinh nghiệm của riêng ông. Mười nguyên tắc đó là:
1.Mục tiêu và điểm chính
2.Chủ động và uyển chuyển
3.Tấn công và chuẩn bị
4.Tổ chức và nhiệm vụ
5.Đoàn kết và hợp tác
6.Tập trung và tiết kiệm
7.Điều động và tốc độ
8.Tảo thanh và đánh lừa
9.An toàn và tin tức
10.Tinh thần và kỷ luật
 Mỗi nguyên tắc bao gồm 2 phần. Phần đầu không khác gì các nguyên tắc cổ điển ai cũng biết trong thế giới Tây Phương, phần thứ hai do chính Tưởng công thêm vào. Chẳng hạn như mục tiêu và điểm chính trình bày hai quan niệm kết hợp hỗ tương. Khi từ mục tiêu được kết hợp với từ điểm chính, nguyên tắc này nhắc nhở người chỉ huy khi chọn mục tiêu trong chiến dịch thì nên nhớ rằng chỉ có một điểm chính chí tử dẫu rằng có thể có nhiều mục tiêu. Các mục tiêu khác được coi như mục tiêu phụ. Điểm chính cũng không phải chỉ nói về chọn lựa mục tiêu mà còn nói về bố trí lực lượng. Chủ động là nguyên tắc căn bản của chiến dịch trong mọi trường hợp nhưng Tưởng Giới Thạch cũng cho rằng uyển chuyển mới là tinh thần chính yếu của chủ động. Cho nên ông kết hợp chủ động và uyển chuyển làm một.
 Mặc dầu ông đưa ra mười điểm nhưng những nguyên tắc hết sức quan trọng liên quan đến điều binh chỉ không đến quá nửa. Chẳng hạn Tưởng Giới Thạch quan niệm là nguyên tắc căn bản của các cuộc chiến trong tương lai chống lại lục địa sẽ bao gồm uyển chuyển, điều động, tập trung và an toàn. Trong một trường hợp khác, ông trích ra tấn công toàn lực, hành quân ngoại vi, ưu thế lực lượng đánh vào yếu điểm, đánh tập hậu và mạn sườn và tiêu diệt là các đại nguyên tắc của hành quân nhằm đạt được mục tiêu chủ động. 
Cũng tương tự như thế, Thượng Tướng Tưởng Vĩ Quốc (Jiang Weiguo), con thứ của Tổng Tài cho rằng mười nguyên tắc của cha ông xoay quanh một số điểm quan trọng. Ông tổng quát hóa các tư tưởng chỉ huy của phụ thân vào 6 nguyên tắc: tiêu diệt, tấn công, tập trung, điều động, đánh vào yếu điểm và chiến tranh chính trị. Ông cũng nói là nguyên tắc sau cùng của cha ông, tinh thần và kỷ luật, là nguyên tắc độc nhất vô nhị trên thế giới. Nguyên tắc này sẽ được thảo luận sau. 
Nói chung, các nguyên tắc hành quân của Tưởng Giới Thạch rất tương đồng với các nguyên tắc hiện đại của Tây Phương. Ngay cả chiến tranh chính trị cũng không phải nguyên thủy của Trung Hoa mà du nhập từ Liên Xô. 
Trong mười nguyên tắc, Tưởng công đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tấn công trong các kế hoạch dự định để tấn công vào Hoa lục. Mặc dầu tấn công vẫn được các chiến lược gia tân thời coi là một nguyên tắc chính của chiến tranh nhưng khi nhắc lại nguyên tắc này Tưởng Giới Thạch không chỉ lập lại quan điểm của Tây Phương. Ông rút ra nguyên tắc này từ chính kinh nghiệm cá nhân. Ngoài ra, tình trạng thực tế của thập niên 1960 không cho phép ông một chọn lựa nào khác hơn là tấn công nếu muốn khôi phục lại Trung Hoa. 
Trong sự nghiệp quân sự của ông, Tưởng Giới Thạch đã từng thắng nhiều chiến dịch chống lại những kẽ thù có quân số trội hơn bằng các dùng nguyên tắc tấn công toàn lực. Trong các trận đánh Trần Quýnh Minh ông đã dùng chiến lược tấn công đánh bại địch bằng một lực lượng nhỏ. Cũng phương thức đó ông dùng trong Hành Quân Bắc Phạt năm 1927 chống các quân phiệt. Ông khởi đầu cuộc Bắc Phạt bằng một lực lượng chưa tới 10 vạn người nhưng đánh bại bằng cách tấn công từng sứ quân một, tính ra tổng số trên một triệu tất cả. Tưởng giới Thạch đã thống nhất đất nước trong vòng hai năm. Tuy nhiên khi ông bắt đầu chiến dịch ”bao vây và trấn áp” chống lại Hồng Quân ở tỉnh Giang Tây năm 1930, ông quân số đông hơn nhưng chỉ thắng một trận sau khi thua bốn trận. Ông cũng đông quân hơn năm 946 nhưng đã đại bại và sau bốn năm phải chạy ra Đài Loan. 
Từ những nguyên tắc đó, Tưởng Giới Thạch biết rằng quân số chưa phải là yếu tố quyết định và chiến lược tấn kích có lẽ là phương thức dùng cho một lực lượng quân số nhỏ hơn để giữ thế chủ động và chiến thắng. Do đó, ông thường nhắc nhở các sĩ quan phải giữ chiến lược tuyệt đối tấn công trong trận chiến đánh với Hồng Quân tại lục địa trong tương lai. Ông nói: 
Nói chung là trong chiến dịch phản công Cộng Sản, chúng ta phải nhấn mạnh vào tinh thần chủ động, điều hợp và di động ... trong mọi chiến dịch. Tấn công mặt tiền và bên hông, tấn công mạng sườn, tấn công không ngừng ... chúng ta phải liên tục đánh bằng một lực lượng sấm sét, giống như một tảng đá lăn từ núi cao chót vót xuống thung lũng.
C.   Những chiến thuật của Tưởng Giới Thạch -Đội Hình Tam Giác
 Trong khi bàn về chiến thuật, Tưởng công chủ yếu tập trung vào việc phân tích chiến thuật của địch. Ông cố tìm một phương thức hữu hiệu để đối phó và tránh bị địch hãm trận. Trong chiến dịch bao vây trấn áp Cộng quân vào thập niên 1930, sau khi nếm nhiều thất bại ông đã áp dụng chiến thuật của Tăng Quốc Phiên. Theo ông thì tình trạng thập niên 1930 tương tự như thập niên 1850 khi Tăng Quốc Phiên đánh giặc Thái Bình. Tưởng công dùng chiến thuật củng cố trong đó ông thiết lập các vị trí vững chãi hoàn toàn triệt tiêu các đường tiếp liệu của địch của Hồng Quân để bắt buộc chúng từ bỏ căn cứ.
Trong chiến tranh Trung -Nhật và cuộc Nội Chiến chống Cộng sau đó, quân đội Dân Quốc thường bị tấn công nên thiệt hại nặng nề. Tưởng Giới Thạch dùng nhiều thì giờ thảo luận các chiến thuật của địch và ông khuyến khích các sĩ quan nên học hỏi từ địch quân. Các loại thảo luận như thế càng thường xuyên hơn khi Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan. Ông ít nhất đã dành 2 buổi nói chuyện về chiến thuật của Hồng quân nhất là của Thống Chế Lâm Bưu.
 Đội hình tam giác được Đài Loan coi là đóng góp độc đáo của Tưởng Giới Thạch vào các chiến thuật quân sự. Nó còn được gọi là Ba Mặt Giáp Công vì các công năng của nó hữu dụng nhất khi dùng để tấn công. 
a/ Chiến thuật Bất Bại
 Theo Tưởng thì đội hình này gần như là một chiến thuật không thể thất bại và có thể dùng đối phó với mọi phương cách điều binh của địch. Ông nói:
 Theo kinh nghiệm và hiểu biết riêng của tôi, nguyên tắc tam giác có thể áp dụng như một nguyên tắc chiến thuật căn bản để đối phó với mọi đội hình của địch ... Tôi tin rằng dù thế giới có tiến bộ đến đâu, dù vũ khí có tối tân thế nào, dù nghệ thuật điều binh có thay đổi sao nữa thì nguyên tắc chiến thuật này vẫn tồn tại mãi.
Để nhấn mạnh vào khả năng vô hạn của đội hình này, cố Tổng Tài đã đi xa hơn để nói rằng đội hình tam giác có thể dùng để đánh bại chiến thuật nhất điểm lưỡng diện (Yidian Liangmian) của Thống Chế Lâm Bưu vốn được coi là chiến thuật tấn công. Tưởng công cũng liệt kê mọi loại hình thức của đội hình tam giác để cho thấy là ”nó có thể khai triển thành vô số trận thế chống được với các loại các chiến thuật phỉ quân (Hồng Quân) dùng”.
Là người khai sinh ra đội hình tam giác tại Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch không định nghĩa rõ ràng việc áp dụng trận thế này. Công việc đó dành cho con trai của ông thực hiện. Tướng Tưởng Vĩ Quốc đã xác minh quan điểm và còn giới hạn cả việc áp dụng. Ông viết:
Khi lãnh tụ của chúng ta (tức Tưởng Tổng Tài) nói về đội hình tam giác, ông nói về ba góc của một tam giác chứ không phải ba cạnh. Ba góc nói về vị trí tương ứng của ba đơn vị của lực lượng ta. Đó không phải là ba điểm cố định, cũng chẳng phải là theo hình tam giác và nhất là chẳng phải tam giác đều. Đội hình thay đổi cho phù hợp với tình trạng địch quân, lực lượng của ta, thời tiết và địa thế để giữ được thế chủ động và duy trì tính uyển chuyển trong việc dùng binh. 
b/ Giới Hạn của việc Áp Dụng
 Mặc dầu Tưởng công nhấn mạnh vào khả năng áp dụng vô giới hạn của đội hình tam giác và Tướng Tưởng Vĩ quốc cố kèm thêm tính linh động trong việc đối phó với các hình thái phản công nưng thực tế không phải trường hợp nào cũng có thể áp dụng đội hình này. Ngay cả Tưởng Vĩ Quốc cũng nhận ra điều đó khi ông bàn về tư tưởng quân sự của phụ thân.
 Theo Tưởng Vĩ Quốc, mặc dầu đội hình cũng có thể áp dụng cho trường hợp phòng thủ nhưng được hoạch định chủ yếu cho tấn công. 
Ngoài ra, đội hình cũng được đề ra áp dụng chủ yếu vào cấp độ chiến thuật. Đơn vị chiến thuật lớn nhất của quân đội Dân Quốc tại Đài Loan là cấp trung đoàn. Cho nên đội hình này chỉ áp dụng tới cấp trung đoàn mà thôi. Theo Tưởng Vĩ Quốc, ngay cả Tưởng Tổng Tài cũng đã xác định là chủ yếu áp dụng vào cấp tiểu đoàn và trung đoàn mà thôi, cấp sư đoàn khi nào có thể nhưng đối với các đơn vị hơn thì trở thành vô nghĩa. 
Ngoài ra, đội hình cũng chỉ áp dụng cho lục quân chứ không áp dụng cho không quân hay hải quân. Mặc dầu tướng Tưởng Vĩ Quốc cho rằng hải quân và không quân cũng có thể áp dụng đội hình này nhưng ông không nói họ bắt buộc phải lệ thuộc vào đó. Hơn nữa, khi áp dụng cho lục quân thì điều đó không có nghĩa là dùng để thay thế các chiến lược khác mà chỉ dùng làm cơ bản.
 Tinh túy của đội hình tam giác là dùng trong chiến dịch nhất là khi tấn công, vị trí của ba đơn vị chủ chốt thường nằm ở ba nơi hợp thành những hình tam giác cân, tam giác lệch, tam giác vuông, tam giác nhọn, tam giác tù như chính lời của Tưởng công mô tả. Nếu tướng lãnh nào nghe theo lời ông một cách nghiêm chỉnh thì sẽ không khỏi gặp những vấn nạn khi cần phải sắp xếp đội hình tam giác trong khi nhiều trường hợp cần điều binh hàng dọc hay hàng ngang. Nếu cần điều binh hàng dọc, một cấp chỉ huy phải thu hẹp mặt tiền, đơn vị nọ kế tiếp đơn vị kia. Nếu cần điều binh hàng ngang thì phải trải rộng để đảm trách một khu vực rộng lớn. Trong các trường hợp đó, đội hình tam giác không thích hợp. Để giải quyết các nạn đề này, Tưởng Vĩ Quốc đã đặc biệt nhắc nhở các sĩ quan là họ không nên giới hạn vào đội hình tam giác. Họ có thể sắp xếp lực lượng bằng hình thức nào thấy cần tùy theo tình hình địch, địa thế, và mục tiêu của mình. Việc đó có thể bao gồm cả đội hình hàng dọc và hàng ngang khi cần sắp xếp ba đơn vị. 
Để có thể sử dụng chiến thuật tam giác, quân đội Dân Quốc đã từ lâu tổ chức theo hình thức tam tam chế, mỗi đơn vị chia thành 3 đơn vị nhỏ hơn. Theo Tưởng Vĩ Quốc thì ngay cả đơn vị thiết giáp tuy không tổ chức theo tam tam nhưng vẫn có thể áp dụng đội hình tam giác mà không gặp trở ngại gì đáng kể. 
Muốn biết chiến lược tam giác này có hiệu quả không ngoài các phân tích của các chiến lược gia thì chỉ khi nào có chiến tranh mới biết được. Dù rằng được coi là có hiệu quả chăng nữa thì một cấp chỉ huy cũng quá ngây thơ nếu nghĩ rằng chỉ đội hình là đủ thắng địch trong mọi chiến dịch, trong mọi trường hợp. Dù sao cũng chỉ là đội hình căn bản chứ không phải là một siêu chiến thuật thần kỳ.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:56:00 am
5.   TƯ TƯỞNG VỀ CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ
  Như đã đề cập trước đây, hệ thống chính ủy bị bãi bõ vào cuối thập niên 1920 và chỉ được tái lập vào đầu thập niên 1930 khi chiến dịch ”bao vây và trấn áp” chống Hồng quân tại tỉnh Giang Tây được tiến hành. Hệ thống đó dần dần lan ra tới mọi lực lượng võ trang kể cả các đơn vị cũ của các quân phiệt sáp nhập vào quân đội Dân Quốc sau khi thống nhất quốc gia. 
Sau khi Nhật đầu hàng trong Thế Chiến thứ hai, quần chúng Trung Hoa cũng như chính quyền Mỹ đã bắt thành phần lãnh đạo của Quốc Dân Đảng và Cộng Sản phải ngồi lại với nhau để đàm phán về tương lai của Trung Hoa. Trong thời kỳ này, hệ thống quân chính của Quốc Dân đảng trở thành một mục tiêu hàng đầu cho cả Cộng Sản lẫn không Cộng Sản. Đối lập đòi Quốc Dân Đảng phải rút ra khỏi quân đội để cho quân đội chỉ là quân sự thuần túy chứ không phải là lực lượng riêng của Đảng. Đòi hỏi đó được người Mỹ yểm trợ và đo đó chính quyền Quốc Dân Đảng phải bắt buộc bãi bỏ chế độ chính ủy vào năm 1946. Thay vào đó là một phòng thông tin được thành lập để đảm trách việc giáo dục chính trị và tuyên truyền. Việc đàm phán hòa bình sụp đổ và các thất bại quân sự trong cuộc nội chiến khiến Quốc Dân Đảng phải quyết định phục hồi hệ thống chính ủy năm 1947. Thế nhưng cũng không có những cải tổ rõ rệt mãi tới 1950 khi Quốc Dân Đảng đã di chuyển ra Đài Loan thì mới phát động một cuộc thay đổi sâu rộng nhân dịp tái tổ chức quân đội. Dưới sự lãnh đạo của Tưởng Kinh Quốc, vai trò của hệ thống chính ủy trong quân đội mới bành trướng mạnh mẽ. 
A.   Tưởng Kinh Quốc và Cải Cách Hệ Thống Chính Ủy
 Tưởng Kinh Quốc là con trai lớn của Tưởng Tổng Tài, rời Trung Hoa từ thập niên 1920 để du học tại Liên Xô. Ông ở đây hơn 10 năm cho đến cuối thập niên 1930 khi cuộc chiến Trung Nhật xảy ra mới trở về. 
Sau một vài năm làm việc tại địa phương tỉnh Giang Tây, ông được bổ nhiệm Giám đốc Nha Công Tác Chính trị kiêm Giám đốc Viện Chính Huấn Chính Ủy của Thanh Niên Quân năm 1944. Mặc dầu Thanh Niên Quân không được đưa ra chiến trường nhưng Tưởng Kinh Quốc rất có lợi thế nhờ đảm trách công tác lãnh đạo chính ủy dù chỉ một thời gian ngắn.
Năm 1949, Tưởng Tổng Tài cử ra một ủy ban duyệt xét tình trạng quân đội để tìm phương thức cải cách. Khi đề án hoàn thành, ông lập tức bổ nhiệm con ông, Tưởng Kinh Quốc làm Giám Đốc Tổng Nha Công Tác Chính Trị năm 1950 và yêu cầu ông phát động cải tổ. 
Như đã đề cập trước đây, trong tổ chức cũ, nhiệm vụ chính của hệ thống chính ủy là giáo dục chính trị và tuyên truyền. Tổ chức mới tiếp nhiệm tất cả các công tác cũ. Ngoài ra, hệ thống mới cũng đảm trách nhiều nhiệm vụ khác, chẳng hạn như bảo đảm an ninh cho lực lượng và sau này tổ chức công tác hành chánh tại chiến tuyến (Chiến Địa Chính vụ -Zhandi Zhengwu) và hệ thống chính ủy cho lực lượng du kích. Sau này họ còn chịu trách nhiệm tổ chức các quân nhân giải ngũ khai khẩn đất hoang và các hoạt động kinh tế khác. 
Năm 1954, sau hai nhiệm kỳ làm công tác này, Tưởng Kinh Quốc được bổ nhiệm Phó Tổng Thư Ký của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia và chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động tình báo của chính quyền Đài Loan. Trong chức vụ này, ông vẫn trông coi công tác chính trị quân đội. 
Năm 1963, Tổng Nha Công Tác Chính Trị trở thành Tổng Nha Chiến Tranh Chính Trị của Bộ Quốc Phòng. Hệ thống chính ủy mọi cấp cũng mang danh xưng đó. Ngoài ra, lần đầu tiên trong lịch sử quân đội Dân Quốc, các chính ủy chính thức mang danh sĩ quan chiến tranh chính trị (Chính trị Tác Chiến Quân quan). Với cấp bậc mới và danh xưng mới, các chính ủy từ đó có thể được bổ nhiệm làm sĩ quan chỉ huy đơn vị trong quân đội. Sự phát triển đó giúp cho Tưởng Kinh Quốc và những người ủng hộ ông mở rộng quyền hành trong quân đội. 
Ngoài ra, sau khi Tưởng Kinh Quốc rời chức vụ Giám Đốc, chính phủ cũng bổ nhiệm một số sĩ quan cao cấp vào chức vụ Giám đốc Tổng Nha Chiến Tranh Chính Trị. Ngoài ra, các sĩ quan chiến tranh chính trị trong mọi cấp của quân đội phải đảm trách nhiệm vụ tham mưu trưởng cho cấp chỉ huy trong những vấn đề liên quan đến chính trị. Những sự kiện đó trên một qui mô lớn giải trừ các hiềm khích giữa các sĩ quan với các chính trị viên. Kết quả là một lần nữa Tưởng Kinh Quốc lại củng cố được sự kiểm soát chính trị của ông với quân đội. 
Sau khi cha ông chết, Tưởng Kinh Quốc sẽ trở thành Tổng Thống trong vòng hai năm. Thời gian đó ông bành trướng quyền hạn tới mọi lãnh vực quân sự. Trong khi ông vẫn dựa vào các chính trị viên để kiểm soát quân đội, ông e ngại khi thấy nhóm sĩ quan trong tổ chức chiến tranh chính trị có quá nhiều quyền hành. Ông bắt đầu tước dần quyền của họ.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:56:15 am
B.   quan điểm của Tưởng Kinh Quốc về Chiến Tranh Chính Trị
 Như đã đề cập trước đây, Tưởng Tổng Tài đã nói là chiến tranh hiện đại bao gồm quân bình các yếu tố quân sự, chính trị, kinh tế và tâm lý. Trên thực tế, ông vẫn tin rằng quân sự là yếu tố quan trọng nhất trong 4 yếu tố. 
Khi thảo luận về quan điểm chính trị, ông đưa ra hai mức độ. Với nhãn quan chặt chẽ thì chính trị gồm có chính trị quốc nội và chính trị quốc tế. Trên một quan điểm rộng rãi hơn, chính trị theo từ ngữ chiến tranh bao gồm mọi thứ trừ quân sự. Nó có cả kinh tế, tâm lý và xã hội. định nghĩa đó dự trên quan niệm về chiến tranh toàn diện của ông, trong đó ông định nghĩa là một cuộc chiến trong đó mọi người, mọi thứ trong nước phải trực tiếp hay gián tiếp tham gia. 
Dựa trên quan niệm đó, Tưởng Tổng Tài phát triển lý thuyết về chiến tranh chính trị của ông. 
a/ Định nghĩa Chiến Tranh Chính Trị 
Theo Tưởng Giới Thạch, chiến tranh chính trị bao gồm chiến tranh tâm lý, tổ chức và quần chúng cùng với hoạt động tình báo và mưu kế. Các hoạt động ngoại giao, kinh tế và xã hội cũng có thể được xếp loại vào chiến tranh chính trị. Do đó, ông đưa ra một định nghĩa như sau: ”ngoài những gì trực tiếp dùng vũ khí chống kẻ thù, các hoạt động khác đều có thể coi là chiến tranh chính trị”.
Để nhấn mạnh vào sự quan trọng của chiến tranh chính trị, Tưởng công còn nói thêm là ”mọi loại chiến tranh hiện đại, dù giới hạn hay toàn thể, chỉ có khi nào người ta thắng được mặt trận tâm lý thì các hoạt động võ trang mới hiệu quả. Do đó, một cuộc chiến hiện đại thực sự là chiến tranh chính trị”. Ông đặc biệt nhấn mạnh về các hoạt động hỗ tương giữa nhiều hoạt động khác nhau của chiến tranh chính trị. Ông nói: 
Một chiến dịch ý thức hệ chỉ có thể thực hiện được bằng chiến tranh tâm lý, trong khi chiến dịch tình báo chỉ thực hiện khi có đủ tin tức. Đối với chiến tranh tổ chức thì hoàn toàn dựa trên kết quả của chiến tranh đại chúng. Cho nên, khi bản thể là chiến tranh ý thức thì phương tiện dùng đến phải là chiến tranh tâm lý. Khi chiến tranh mưu kế là mục tiêu thì phương tiện là chiến tranh tình báo, khi chiến tranh đại chúng là cốt tủy của chiến dịch tổ chức thì nó được dùng làm phương tiện thiết yếu của chiến tranh ý thức và mưu kế. 
Trong khi các loại chiến tranh ý thức, mưu kế và tổ chức được dùng chủ yếu để định hướng tại mức độ chiến lược thì chiến tranh tâm lý, tình báo và đại chúng được áp dụng tại mức độ chiến thuật. Những loại chiến tranh đó có thể tiến hành bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, do bất cứ ai bằng bất cứ phương pháp nào và cũng có thể theo cách thông thường hay bất thường, trực tiếp và công khai hay bí mật và vô hình. Các loại chiến tranh đó đều là ”chiến tranh căn bản dựa trên trí thông minh nhưng cũng không loại bỏ trường hợp phải dùng sức bởi vì những loại chiến tranh đó dựa trên việc chứng tỏ sức mạnh mà không phải đánh hay bằng nổi dậy và bạo động có võ trang”.
  Các chiến dịch chính trị luôn luôn hiện hữu. Nó khởi sự trước khi chiến dịch quân sự bắt đầu và tiếp tục sau khi cuộc chiến chấm dứt. Chiến tranh chính trị sử dụng chiến tranh tâm lý, chiến tranh du kích và đặc công phá hoại hậu cần hay mặt tiền của địch. Cũng có thể áp dụng tại những vùng mới chiếm để ngăn chặn các toán du kích của địch khỏi gây rối. Chiến tranh chính trị không dựa trên sức mạnh mà dựa trên thông minh và khôn ngoan. Theo Tưởng Giới Thạch, chiến tranh chính trị là phần vụ tế nhị và cao siêu nhất của chiến tranh.
 b/ Chiến Tranh Đại Chúng 
Dựa trên sự giải thích của Tưởng Giới Thạch về ảnh hưởng hỗ tương giữa 6 loại chiến tranh chính trị, rõ ràng là chiến dịch chủ yếu tập trung vào chiến tranh đại chúng vì cả 6 loại, trừ chiến tranh mưu kế đều nhắm vào quần chúng hoặc do quần chúng đảm trách. Mục tiêu của chiến tranh tuyên truyền hay chiến tranh tâm lý là nhằm ảnh hưởng vào quần chúng. Chiến tranh tổ chức là nhằm xách động quần chúng chiến đấu cho một mục tiêu. Cho nên chiến tranh đại chúng là tâm điểm của chiến tranh chính trị.
 Xách động quần chúng là công tác thiết yếu của chiến tranh đại chúng đạt được bằng phương thức tổ chức và vận động. Trước khi đoàn ngũ hóa được quần chúng, họ cần được vận động bằng tuyên truyền hay thuyết phục. 
Khi thảo luận về vận động và tổ chức quần chúng, Tưởng Giới Thạch đề cập đến hai nguyên tắc mà trên một qui mô lớn tương tự như của Cộng Sản.
  Nguyên tắc thứ nhất là ”đi vào quần chúng”. Tưởng công nói rằng đây là ”lệnh và chí nguyện của Đảng ... Đó là bước đầu để tổ chức quần chúng”.
 Phương thức tổ chức quần chúng nổi tiếng của Cộng Sản bao gồm hai phần: từ quần chúng đi ra và trở lại với quần chúng. Nó đã được Cộng Sản đề ra như một tiến trình lý tưởng của việc đưa ra một chính sách. Trước khi đề ra một chính sách, các lãnh tụ Đảng đi tới quần chúng để thu thập tin tức hay lắng nghe những ý kiến của dân chúng địa phương: đây là tiến trình ghi nhận. Sau khi cân nhắc cẩn thận những ý kiến khác nhau của quần chúng, đảng ủy mới đề ra chính sách sơ khởi và đem trở lại để quần chúng thảo luận về giải pháp đó. Nếu có những phản ứng gì nổi bật đối với đề nghị đó, đảng sẽ lượng giá phản ứng của quần chúng để điều chỉnh hay sửa đổi những gì cần. Sau giai đoạn này, đảng sẽ dùng tuyên truyền để phổ biến bản sửa đổi đó cho quần chúng. Quần chúng sẽ chấp nhận và thi hành nghị quyết sau cùng đó. 
Mặc dầu Tưởng Giới Thạch không nói cách nào để việc đi vào quần chúng phù hợp với việc đề ra chính sách nhưng ông có nói là ”hoạt động của Đảng trong đại chúng không giới hạn vào việc lôi kéo họ mà phải phải làm thế nào để nhận được những tin tức cần thiết từ họ”. Nếu như thế Tưởng Giới Thạch cũng có khái niệm về vận động quần chúng trong đầu.
 Nguyên tắc thứ hai là một mặt trận thống nhất. Cộng Sản gọi là Thống Nhất Chiến Tuyến (Tongyi Zhanxian) trong khi Quốc Dân Đảng gọi là Liên Hợp Chiến Tuyến (Lianhe Zhanxian). Thật ra hai đảng cùng nói về một vấn đề.
Nếu người ta tin rằng nguyên tắc ”đi vào quần chúng” được đưa ra nhằm tổ chức thường dân, mặt trận thống nhất là một dụng cụ để tổ chức các nhóm chính trị -xã hội đặc biệt. Theo Tưởng Tổng Tài, mặt trận thống nhất căn bản nhắm vào các tổ chức chính trị hay đảng phái hoặc trung lập trong xung đột giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản hay chống Cộng nhưng độc lập với Quốc Dân Đảng. Chuyển hóa tính chất trung lập thành chống Cộng và kéo họ vào đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc Dân Đảng là mục tiêu chính yếu của mặt trận thống nhất.
”Chủ nghĩa trung lập” nếu là một chiến lược, có thể được dùng trong chiến tranh chính trị cho những mục tiêu khác nhau. Nếu có những phần tử chống Quốc Dân Đảng hay thân Cộng thì đảng trước hết thuyết phục họ để họ giữ trung lập ngõ hầu tránh được việc tạo thêm kẻ thù. 
Nếu nhóm đó giữ thái độ trung lập thì đảng sẽ dùng đủ cách có thể làm để đưa họ vào con đường thân Quốc gia. Ngoài ra, khi đảng trong vị thế phòng ngự, tổ chức đảng sẽ dùng chiến lược trung lập để bảo vệ các căn cứ nằm trong quần chúng. Chiến lược đó rất giống các chiến lược của Cộng Sản. 
Trong việc xách động quần chúng, Tưởng Giới Thạch biết rằng việc xách động đó không thể dùng như một công cụ mà phải nhắm vào việc nâng cao trình độ giác ngộ của quần chúng. Trong quá khứ, xách động quần chúng thường được coi là một trò ma tịt do một số tay chuyên nghiệp giỏi về mị dân. Khi màn trình diễn chấm dứt thì xách động cũng xong. Vì thế, Tưởng công đòi hỏi Quốc Dân Đảng đổi phương hướng. Đảng phải nhận thức được rằng quần chúng là mục tiêu thiết yếu của cách mạng và kiến quốc. Không có mục tiêu nào ngoài những gì quần chúng quan tâm.
 c/ Chiến tranh chính trị trong vùng địch
 Vào cuối thập niên 1950, chính phủ Quốc Dân Đảng tuyên bố là ”những nguyên tắc chiến lược của họ trong chiến tranh phản công chống lại chế độ Cộng Sản tại Hoa lục chủ yếu là một cuộc chiến tranh chính trị, quân sự chỉ đóng vai hỗ trợ”. Chiến trường chính là lục địa chứ không phải là eo biển Đài Loan vì đây chỉ là một hậu cứ yểm trợ các chiến dịch tại Hoa lục. 
Dựa trên viễn cảnh đó, Tưởng Giới Thạch tuyên bố thêm là cuộc chiến tranh cách mạng chống lại Cộng Sản trong tương lai sẽ được thực hiện trong lòng địch hay tại hậu cứ của địch. Ông khẳng định là phương pháp của ông sẽ tập trung 70% vào vùng địch chiếm và chỉ dùng 30% tại trận tiền. Ông còn tưởng tượng ra rằng khi chiến dịch trong lòng địch thành công, ông không những lấy được của địch lương thực mà cả súng ống đạn dược. Dưới con mắt của Tưởng Giới Thạch thì việc đó bảo đảm thắng lợi cuối cùng trong một cuộc chiến trường kỳ chống lại Cộng Sản. 
Từ nhãn quan chiến lược đó, ông đề ra nguyên tắc tối thượng đằng sau các chiến thuật chống Cộng là tấn công kẻ thù từ hông hay từ sau. Ông muốn làm cho địch hoang mang bằng cách tấn công từ phía sau và bên hông, sau đó sẽ phá hủy các cơ sở và chặt đứt các đường giao thông.
 Nói chung, tư tưởng của ông về việc đưa chiến tranh chính trị vào đằng sau địch là sản phẩm của hoàn cảnh. Sự chênh lệch về lực lượng giữa hai bên, sự thiếu yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ và các quốc gia không Cộng Sản khác trong việc thực hiện một chiến dịch tấn công vào Hoa lục bắt buộc ông phải nhấn nạnh vào chiến tranh chính trị trong lục địa mà không chính thức phát động một hành vi quân sự nào. 
d/ Hành chánh Quân sự trong Khu vực Chiến tranh  Điểm sau cùng trong các quan niệm của Tưởng Giới Thạch về chiến tranh chính trị đáng đề cập đến ở đây là hành chánh quân sự trong khu vực chiến tranh.
 Quân chánh đã có từ lâu trong lịch sử. Tuy nhiên nếu được coi như một vấn đề có tầm kích quan trọng trong chiến tranh thì tương đối mới phát triển và là sản phẩm của thời đại ngày nay. Quân chánh tại khu vực chiến tranh thành công và nổi tiếng nhất trong lịch sử hiện đại là hành chánh quân sự tại Đức và Nhật do các lực lượng Đồng Minh thành lập cuối Thế Chiến Thứ Hai. Mục tiêu của hành chánh là giúp cho phục hồi trật tự xã hội và hành chánh địa phương, bắt giữ và xử các can phạm chiến tranh và bảo vệ xã hội khỏi bị phá hoại.
 Tại Trung Hoa mới, sau khi Cộng Sản đánh bại Quốc Dân Đảng, họ cũng thành lập quân chánh tại các vùng mới chinh phục nhất là các đô thị lớn. Họ gọi là Quân Quản tức là cai trị bởi quân đội. Quốc Dân Đảng thì mãi tới thập niên 1950 mới coi vấn đề quân chánh là quan trọng khi họ đặt vấn đề có thể sẽ phản công tái chiếm lục địa. Quân chánh lúc đó thuộc về Tổng Nha Công Tác Chính Trị.
 Dùng nguyên tắc của chiến tranh chính trị, Tưởng Giới Thạch định nghĩa quân chánh trong vùng chiến tranh như sau:
 Hành chánh quân sự trong vùng chiến tranh được xếp loại là một chiến dịch chính trị. Mọi người phải biết rằng chiến thắng quân sự chỉ là bước đầu, sự thành công của quân sự hành chánh mới thực sữ và là chiến thắng sau cùng. Cho nên, hành chánh quân sự quan trọng hơn chiến dịch quân sự. 
Vì hành chánh quân sự là một phần trách nhiệm của hệ thống chính ủy, do đó là nhiệm vụ của các chính trị viên. họ không những phải đảm nhiệm vai trò chính quyền địa phương và đảng bộ tại vùng mới khôi phục mà còn là nhân sự chính trong các công tác tổ chức, văn hóa, kinh tế trong thời kỳ tái thiết xã hội.
 Dựa trên quan diểm đó, khi chiến dịch quân sự kết thúc, việc đầu tiên của các chính trị viên phải làm là thành lập chính quyền địa phương và vãn hồi trật tự xã hội. Theo sau đó, chính quyền bắt đầu truy tầm các thành phần địch còn lẩn trốn và các kẻ phá hoại trị an khác. Sau khi tái lập trật tự, các cơ quan hành chánh bắt đầu các công tác tái thiết xã hội và kinh tế để yêm trợ cho chiến dịch quân sự đang tiềp diễn. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:57:02 am
6.   KẾT LUẬN -ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH TRONG CANH TÂN HÓA QUÂN SỰ
 Tưởng Giới Thạch là một quân sự gia chuyên nghiệp đã tham gia hầu hết các cuộc chiến tranh lớn trong lịch sử Trung Hoa cận đại. Chính ông là người chỉ huy quân đội Dân Quốc thống nhất Trung Hoa và kháng Nhật nhưng lại thua Mao Trạch Đông trong trận Nội Chiến. Những gì được và mất của cá nhân ông ảnh hưởng lớn trên sự phát triển của lịch sử chính trị Trung Hoa trong những năm gần đây. Thật khó có thể đánh giá ông một cách khách quan vì có quá nhiều khuynh hướng có thể làm thiên lệch cái nhìn của người bình luận. 
Trong lịch sử Trung Hoa cận đại, Tưởng Giới Thạch là một khuôn mặt chủ chốt trong tiến trình canh tân hóa quân sự. Từ thời Dương Vụ vận động vào giữa thế kỷ 19, các nhà cải cách Trung Hoa đã cố gắng nhiều cách để canh tân hệ thống quân sự Trung Hoa, nhưng không đạt được một kết quả khả quan cho tới đầu thế kỷ này, khi Viên Thế Khải bắt đầu du nhập phương pháp quân sự của Tây Phương để huấn luyện tân quân. Đây là một bước nhảy vọt trong tiến trình hiện đại hóa.
Sau khi thống nhất một nước Trung Hoa bị các quân phiệt chia cắt thành nhiều mảnh, Tưởng Giới Thạch đã đứng vào một vị trí hết sức thuận lợi cho công cuộc canh tân quân sự và xây dựng một quân đội thống nhất. Tuy nhiên ông chỉ thành công phần nào. Lý do quan trọng nhất của kết quả bất như ý này tình trạng hỗn loạn bất tận về chính trị và quân sự của giai đoạn đó. Từ khi hành quân Bắc Phạt thành công vào năm 1928, Trung Hoa trải qua khoảng 20 cuộc nổi loạn, nội chiến và xâm lăng của nước ngoài trong vòng chưa đầy một thập niên. Có lần chỉ vài tháng, có lần cả vài năm. Có việc ảnh hưởng một địa bàn rộng lớn, lan ra vài ba tỉnh. Những tranh chấp nội bộ đó chỉ ngừng lại khi quốc gia bắt buộc phải tham gia một cuộc chiến tranh tổng thể với Nhật Bản sau biến cố Lư Cầu Kiều (Marco Polo bridge incident) ngày 7 tháng 7 năm 1937. Tám năm Trung -Nhật chiến tranh cộng thêm 4 năm nội chiến Quốc -Cộng đã không cho phép Tưởng Giới Thạch hoàn thành các chương trình cải cách quân sự.
Nước Tàu vốn dĩ đã gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng về tài chánh nay lại phải gánh vác các cuộc chiến liên tục nên rơi vào tình trạng vỡ nợ. Người ta nói rằng năm 1928, 80% ngân sách quốc gia tiêu vào quân sự. Có khoảng 3 triệu người lính phải nuôi và con số càng gia tăng trong thời Trung Nhật chiến tranh và Nội Chiến. 
Việc gia tăng quân số không đi đôi với phát triển kỹ nghệ quân sự nên không thể duy trì khả năng chiến đấu cho thích hợp. Để giải quyết vấn đề này, các giới chức quân sự không còn gì khác hơn là mua vũ khí của các lái buôn quốc tế hay nhận viện trợ từ nước ngoài. Khi vũ khí ngoại quốc tăng lên, thì cũng gia tăng cố vấn quân sự là những người được mời tới để giúp việc sử dụng các loại võ khí nhập cảng này. Các vũ khí nhập cảng càng làm cho việc tiêu chuẩn hóa vũ khí cho binh sĩ Trung Hoa thêm khó khăn. Ảnh hưởng của các cố vấn quân sự ngoại quốc cũng có thể làm cho tình trạng thêm phức tạp và trì hoãn việc tiến hành công cuộc hiện đại hóa quân sự. 
Những cố vấn đó cũng du nhập nhiều mô hình tổ chức cá biệt tại nhiều cấp độ khác nhau của quân đội Trung Hoa. Thế nhưng người Trung Hoa lại chẳng rành rẽ một loại mô hình nào. Khi liên quan đến huấn luyện chiến thuật chiến lược thì người Tàu hầu hết chỉ bắt chước các nước Tây phương mà không cải biến cho phù hợp với tình thề của Trung Hoa. Trong khi đó, nghệ thuật quân sự cổ truyền không còn được các sĩ quan trẻ quan tâm đến nữa. Thành thử, quân đội quốc gia cũng chẳng hơn gì quân lực của nhiều quốc gia mới giành độc lập vốn dĩ không được các chính quốc huấn luyện chu đáo về chiến thuật chiến lược.
 Sau khi chạy ra Đài Loan, Tưởng Giới Thạch không thể làm gì khác hơn là tùy thuộc vào sự yểm trợ về cả chính trị lẫn quân sự của người Mỹ. Quân đội Quốc Dân Đảng bắt đầu tiêu chuẩn hóa vũ khí dùng các vũ khí Hoa Kỳ. Họ cũng du nhập mô hình tổ chức và huấn luyện theo lối Mỹ. Một hệ thống giáo dục quân sự toàn bộ được thành lập. Các sĩ quan phải trải qua những khóa tái huấn luyện. Những công tác đó khiến cho quân đội Dân Quốc tiến bộ rõ rệt tương ứng với các vấn đề chiến lược chiến thuật. 
Ngoài ra, sau khi Trung Cộng thử trái bom nguyên tử đầu tiên năm 1964, Tưởng Giới Thạch quyết định thành lập các chương trình nghiên cứu riêng để phát triển các vũ khí tân tiến bao gồm cả vũ khí hạch tân, hỏa tiễn và hệ thống điện tử từ năm 1965. Ông tập trung nỗ lực của mười ngàn khoa học gia và kỹ thuật gia và đổ hàng trăm triệu dollars mỗi năm cho các dự án này. 
Theo các tổng kết trên báo chí, sau hai mươi năm làm việc tích cực, chính phủ Đài Loan đã đạt được những thành quả đáng khích lệ. Nhiều loại hỏa tiễn đã thực hiện thành công. Không quân Đài Loan cũng có một trong năm loại máy bay huấn luyện. Máy bay này gần đây đã được biến chế để thành chiến đấu cơ A3. Các xưởng đóng tàu của Đài Loan cũng sản xuất nhiều loại chiến hạm tối tân thay thế các tàu lỗi thời. Họ cũng đã chế tạo một loại chiến xa mãnh liệt cỡ trung có tên là M48H.
Để đánh dấu sự tiến bộ của Quốc Dân Đảng và tri ân sự lãnh đạo của cố Tổng Tài, Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Đài Loan mới đây đã đặt một máy phản lực do Dân Quốc chế tạo dùng trong chiến đấu cơ TFE-1042 trước mộ của Tưởng Giới Thạch.
Những thành tựu về phương diện vũ khí có lẽ chưa có thể cạnh tranh được với các siêu cường và cũng chưa làm cho Đài Loan không phải lệ thuộc vào cung cấp của nước ngoài và cũng chưa đủ hữu hiệu bảo vệ Đài Loan khỏi bị Cộng Sản xâm lấn. Thế nhưng trên nhãn quan lịch sử, người ta không thể không đồng ý rằng người Trung Hoa, bao gồm cả Đài Loan lẫn Hoa lục, đã đạt được một tiến bộ vượt bực trong kỹ nghệ quân sự từ khi có cuộc Dương Vụ Vận Động bắt đầu vào thập niên 1860 tới nay. Dù sao chăng nữa, Tưởng Giới Thạch đã đóng góp vào những thành tựu ấy.
  Là tổng tư lệnh quân đội Dân Quốc, trên nguyên tắc, Tưởng Giới Thạch là người có vai trò thích hợp nhất để thực hiện những phát triển đáng kể trong tư tưởng quân sự. Tuy nhiên, dù để lại nhiều công trình, những tác phẩm của ông không được phân minh và có sức thuyết phục như người ta chờ đợi ở một đại lãnh tụ. Tư tưởng của ông không được sắp xếp theo một cơ cấu hợp lý. Nhiều bàn luận thời gian đầu chỉ là phê bình liên quan đến một số vấn đề chứ không chứa đựng những nguyên tắc vĩ đại. Những công trình thực hiện tại Đài Loan đã cho thấy ông dành phần cuối của cuộc đời viết về quân sự nhất là triết học quân sự. Một số cố đưa ra những nguyên tắc chung trong khi một số khác nhằm giải quyết các vấn đề riêng biệt. Dù sao chăng nữa thì hầu hết đều chứng tỏ một khuynh hướng truyền thống. Nhiều thảo luận của ông về triết học, chiến lược, chiến thuật giống như những bài giảng nhập môn do môt giáo sư soạn. Những bài đó không cho thấy cái nhãn quan sắc bén mà người ta mong đợi ở một đại chiến lược gia khi bàn về vấn đề. Nhiều bài chỉ là những kiến thức căn bản mang tính lý đương nhiên. Ông dành nhiều thời giờ bàn về các vấn đề triết học để tăng cường tính tu dưỡng của các sĩ quan. Tuy nhiên, dường như ông quá cường điệu ảnh hưởng triết học đối với khả năng chỉ huy quân sự trong chiến tranh. Ông nói về một cuộc phản công chống lại Cộng Sản trong tương lai, nhưng không có gì chứng tỏ rằng quan điểm của ông về chiến tranh đã thay đổi nhiều. Thực thế, những chiến lược, chiến thuật mà ông thích đưa ra vẫn chỉ để đối phó với kẻ địch cũ dùng chiến thuật cũ.
Dù Tưởng Giới Thạch và quân đội của ông đã sao chép các hệ thống quân sự ngoại quốc trong một thời gian dài, tư tưởng của ông cũng thiếu sáng tạo đáp ứng những thay đổi phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ông vẫn đóng góp cho sự canh tân hóa quân sự của Trung Hoa. Sau nhiều thập niên nhận viện trợ quân sự của người Mỹ trong cả vũ khí lẫn huấn luyện, Tưởng Giới Thạch và các tướng lãnh của ông đã đạt tới trình độ trưởng thành. Họ đã thuần thục triết học quân sự Âu Tây và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc áp dụng. Với những thành tựu đó, không thể nào nghi ngờ gì về khả năng của họ đi từ giai đoạn sao chép sang giai đoạn tự tìm kiếm những phát kiến trong lãnh vực này. Tưởng Giới Thạch đã bắt đầu phê phán sự yếu kém về chiến lược của kẻ đỡ đầu cũ là người Mỹ. Cho nên, sau khi duyệt lại sự phát triển về tư tưởng quân sự của ông so sánh với các giai đoạn trước đó, chúng ta có thể nói rằng Tưởng Giới Thạch đã đưa quân đội Dân Quốc từ một giai đoạn chỉ biết bắt chước hệ thống ngoại quốc sang giai đoạn có thể tự tìm lấy phương thức riêng để thích ứng với hoàn cảnh đặc thù của mình.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:57:35 am
Chương 6: Tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông
Cuộc cách mạng vô sản Nga thành công năm 1917 đã có một ảnh hưởng hết sức to lớn đối với giới trí thức Trung Hoa lúc ấy đang đấu tranh cam go với vấn đề quân phiệt. Cuộc Ngũ Tứ Vận Động (May 4th Movement) càng làm cho người Trung Hoa nhìn ra nước ngoài để tìm kiếm những mô thức mới về văn hóa và chính trị. Sự thành tựu mau chóng của cuộc Cách Mạng Nga đã lôi cuốn sự chú ý của sĩ phu Trung Hoa và chẳng mấy chốc, chủ nghĩa Mác Xít đã được họ đón nhận như một mô thức mới thay thế cho cuộc Cách Mạng Tân Hợi. Ngay cả Bác Sĩ Tôn Dật Tiên cũng ngạc nhiên về sự thành công của Liên Xô nên gửi Tướng Tưởng Giới Thạch hướng dẫn một phái đoàn du hành quan sát sang Liên Bang Xô Viết năm 1923 và sau đó đã thiết lập quan hệ ngoại giao. Với các khích lệ và cơ hội như thế, Cộng Sản không ngại ngùng gì mà không bành trướng chủ nghĩa Mác sang Trung Hoa. Được sự giúp đỡ của các cán bộ Cộng Sản Quốc Tế (Comintern) như Gregory Voitinsky, Henricus Sneevliet (còn gọi là Maring), một nhóm nhỏ trí thức Trung Hoa thành lập Đảng Cộng Sản Trung Hoa vào tháng 5 năm 1921, và tổ chức một cuộc họp gồm 12 đại biểu vào tháng 7 cùng năm tại Thượng Hải. Buổi họp đó sau này được coi là đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Đảng và Mao Trạch Đông là một trong 12 đại biểu đầu tiên. 
Chỉ hai năm sau khi thành lập, một lần nữa có sự yểm trợ của đại biểu Cộng Sản quốc tế, đảng Cộng Sản Trung Hoa bắt đầu hợp tác với Quốc Dân Đảng. Các đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa được quyền gia nhập Quốc Dân Đảng. Sau khi tái tổ chức, Quốc Dân Đảng họp đại hội toàn quốc lần thứ nhất vào tháng giêng năm 1924, Mao Trạch Đông và nhiều lãnh tụ Cộng Sản được bầu vào Ủy Ban Trung Ương. Sự hợp tác đó không được lâu nhưng nó đã mở cửa cho Đảng Cộng Sản Trung Hoa bước chân vào chính trường. 
Sau khi hợp tác Quốc -Cộng sụp đổ năm 1927, các đảng viên Cộng Sản bị loại trừ một cách triệt để khỏi Quốc Dân Đảng. Nhiều đảng viên bị giết trong cuộc Chính Biến Tháng Tư. Mao Trạch Đông chạy được về Tỉnh Cương Sơn (Jinggangshan) cùng với một nhóm nhỏ dân quân nhưng về sau có Chu Đức (Zhu De) và nhiều lãnh tụ khác sáp nhập. Một chế độ Cộng Sản tách biệt có vũ trang được thành lập trong vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam. Từ đó trở đi, Mao tiến lên thành phần lãnh đạo của Cộng Sản Trung Hoa và chẳng mấy chốc ảnh hưởng đã lan khắp nước và thế giới. Trong công cuộc chiến đấu với kẻ thù không đội trời chung là Tưởng Giới Thạch, Mao đã ngự trị chính đàn Trung Hoa suốt 50 năm. Cũng chính trong giai đoạn chống nhau với Tưởng mà tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông bắt đầu hình thành. 
Các cuộc chinh chiến tại Trung Hoa chống lại chủ nghĩa đế quốc của nước ngoài cũng như giữa các thế lực thù địch bên trong đã đưa công cuộc hiện đại hóa tiến lên mấy bước, hoàn toàn thoát khỏi được giai đoạn chỉ biết sao chép các hệ thống của ngoại quốc. Phần lớn các thành tích đó là của phe Mao và đảng Cộng Sản vì họ bị cô lập trong nội địa và bắt buộc phải chiến đấu để sống còn mà không nhận được nhiều giúp đỡ từ bên ngoài. Cho nên tư tưởng của Mao cũng ít bị ảnh hưởng tư tưởng quân sự ngoại quốc. Tuy thế, Mao vẫn dựa trên ý thức căn bản Mác Xít, dùng duy vật biện chứng làm phương pháp khai triển các chiến lược và chiến thuật. Ngoài ra, các yếu tố xã hội -chính trị đương thời cũng ảnh hưởng đến tư tưởng quân sự của Mao.
1.   BỐI CẢNH XÃ HỘI -CHÍNH TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ MAO TRẠCH ĐÔNG
A.   Giáo dục và Hoạt động Chính Trị lúc Thiếu thời
 Mao Trạch Đông sinh năm 1893 trong một gia đình nông dân tại huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam miền giữa Trung Hoa. Khi còn nhỏ, ông ta nhận thức được cái nhục thua trận của Trung Hoa trong Trung Nhật chiến tranh năm 1984, sự thất bại của cải cách đời vua Quang Tự (Guangxu) năm 1898 và loạn lạc thời Quyền Phỉ và Bát Quốc Liên Quân năm 1900. Những biến cố nhục nhã đó đã làm ông ta gia nhập quân đội cách mạng chống lại Thanh triều khi Cách Mạng Dân quốc xảy ra năm 1911. Tuy nhiên, khác với Tưởng Giới Thạch là Mao không cố gắng theo đuổi binh nghiệp bằng cách ghi tên theo học một trường võ bị và chỉ ở trong quân đội vài ba tháng. Thay vào đó, ông theo học trường Cải Cách đầu tiên ở Tràng Sa năm 1913 nơi ông gặp được người thầy và cũng là nhạc phụ tương lai, Dương Xương Tế (Yang Changji). Dương không những dạy ông ta về triết học Trung Hoa mà còn giảng về triết học Tây Phương và quan trọng hơn cả, cho ông ta đọc các tạp chí như Tân Thanh Niên (Xin Qing Nian), một tờ báo được nhiều người đọc do Trần Độc Tú (Chen Duxiu), Khoa Trưởng Văn Chương đại học Bắc Kinh làm chủ nhiệm. Trần sau này là lãnh tụ đầu tiên của Đảng Cộng Sản Trung Hoa.
 Sau khi thuyên chuyển đến đại học Bắc Kinh, Dương Xương Tế giới thiệu Mao cho Lý Đại Chiêu (Li Dazhao), Giám Đốc Thư Viện Đại Học để cho Mao làm phụ tá quản thủ năm 1919. Từ đó Mao Trạch Đông bắt đầu đọc về chủ nghĩa vô chính phủ và gia nhập một nhóm nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội do Lý Đại Chiêu và Trần Độc Tú bảo trợ. Hoạt động đó ảnh hưởng sâu rộng đối với Mao và đưa ông ta tới việc dấn thân vào Cách Mạng Cộng Sản suốt cuộc đời. 
Sau Ngũ Tứ Vận Động, Mao bắt đầu hoạt động trong các công tác xã hội -chính trị đầu tiên là tại tỉnh nhà Hồ Nam. Ông thành lập Tương giang Bình Luận (Xiangjiang Pinglun), một tờ báo tuyên truyền cho ý nghĩa của cuộc vận động ngũ tứ. Mao cũng tổ chức biểu tình phản đối các chế độ quân phiệt địa phương và sự áp bức của người Nhật ở Tràng Sa. Năm 1920, ông tổ chức một nhóm Cộng Sản tại Hồ Nam và hoạt động trong phong trào công nhân, do đó đã được tham dự Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ nhất năm 1921 tại Thượng Hải. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:58:03 am
B.   Ảnh hưởng của Quân Sự cổ điển Trung Hoa với Mao Trạch Đông
Trước khi được theo đuổi học trình chính thức tại các trường công, Mao Trạch Đông rất ham mê đọc các truyện cổ Trung Hoa và từ đó ông học được các tư tưởng quân sự cổ điển và lịch sử quân sự. Các bộ tiểu thuyết ông ưa thích là Tam Quốc Chí và Thủy Hử. 
Tam Quốc Chí không chỉ là một tác phẩm văn chương trác tuyệt mà còn là một tác phẩm chứa đựng nhiều lý thuyết quân sự Trung Hoa cổ điển. Các nguyên tắc Kỳ Chính, Hư Thực vốn dĩ là các nguyên tắc chính yếu của Tôn Tử Binh Pháp, được áp dụng một cách lớp lang cho các hoạt động quân sự trong sách này. Thông thường nhất của nguyên tắc Hư Thực là khi Thực thì làm như hư và ngược lại khi Hư thì giả như Thực. Tác giả không những áp dụng nguyên tắc này cho hầu hết các chiến dịch trong sách mà còn đánh lừa thêm một mức nữa. Ông cho rằng có thể địch đoán ra mình đánh lừa nên đôi khi phải ”khi mình thực thì cứ làm như là thực, và khi mình hư thì cứ làm như là hư”.
 Người ta bảo rằng Mao đọc Tam Quốc Chí giống như các dữ kiện lịch sử nên không đặt câu hỏi là các biến cố đó có thực hay không. Khi một giáo sư sử ký nói rằng đây chỉ là một cuốn truyện chứ không phải lịch sử, Mao đã vận động một số bạn học phản đối. Ông còn kiện lên tới ông Thị Trưởng Tràng Sa, đòi cách chức ông hiệu trưởng vì ông hiệu trưởng cùng phe với thầy giáo. Sự kiện đó không những nói lên tính cứng đầu cứng cổ của Mao mà còn khiến chúng ta ngạc nhiên vì Mao chấp nhận các quan điểm của cuốn sách không nghi vấn. 
Thủy Hử có lẽ là cuốn sách thứ hai ảnh hưởng đến tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông chỉ sau Tam Quốc Chí. Trong vài trường hợp, Mao đã nhắc lại một số ví dụ ở đây để giải thích các chiến lược, chiến thuật ông dùng. Chẳng hạn cuộc tấn công vào Chúc gia trang được coi như một mô hình lý tưởng để làm cách nào một cấp chỉ huy chọn chiến thuật sao cho thích hợp với tình thế trước mặt. 
Mặc dầu Mao quả quyết rằng ông chỉ đọc Tôn Tử Binh Pháp có một lần trước khi ông viết các thiên nghị luận về quân sự có lẽ cốt phủ nhận là ông bị ảnh hưởng bởi cuốn sách, nhưng chúng ta lại thấy ông gián tiếp nhận những bài học từ cuốn sách danh tiếng này. Những lý thuyết quân sự của Tôn Tử chẳng những được La Quán Trung mô tả đầy rẫy trong Tam Quốc Chí mà còn hiện diện trong rất nhiều sách sử ký và văn chương khác. Nếu ai từng đọc Mao cũng phải công nhận rằng ông có một kiến thức rộng rãi về lịch sử Trung Hoa và thừa kế truyền thống văn hóa nước Tàu một cách chọn lọc. Câu nói sau đây ngoài việc chứng tỏ thái độ của ông với lịch sử và văn hóa mà còn nói lên ông chỉ muốn du nhập lý thuyết Mác Xít -Lên nin nít vào văn hóa Trung Hoa trong những hoàn cảnh đặc biệt:
 ... Nhiệm vụ của chúng ta là học tập truyền thống lịch sử và dùng phương pháp Mác Xít để phê phán tổng hợp nó. Lịch sử chúng ta đã có mấy nghìn năm, có những nét đặc thù và vô số điều quí báu... Lịch sử Trung Hoa cận đại phát xuất từ Trung Hoa trong quá khứ, những người Mác Xít chúng ta trên con đường làm lịch sử thì không thể bỏ quên lịch sử. Chúng ta tổng kết lịch sử từ Khổng Tử tới Tôn Dật Tiên và thừa hưởng gia tài quí giá của họ... Chúng ta chỉ có thể thực hành chủ nghĩa Mác khi nào chúng ta nối kết được với những tính chất đặc thù của đất nước và đạt được một hình thái hoàn toàn quốc gia. 
Với cái nhìn về quá khứ như thế, thật khó mà tin rằng Mao không chịu ảnh hưởng các lý thuyết của Tôn Tử hay các chiến lược gia quân sự cổ thời khác.
 Mao thừa kế những gì từ triết học quân sự cổ điển của Trung Hoa là một đề tài còn phải thảo luận nhưng hầu hết các học giả đều đồng ý trên hai phương diện: việc nhấn mạnh vào yếu tố con người trong chiến tranh, và du kích hay chiến tranh lưu động. Nguyên tắc thứ nhất không những khiến cho các chiến lược quân sự của Mao thích hợp với tình trạng thực tế về xã hội -kinh tế của Trung Hoa cận đại mà còn hỗ trợ cho lý thuyết về vận động chính trị quần chúng và dân quân mà Chiến Tranh Nhân Dân đòi hỏi. Cộng Sản bắt mọi người hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia vào nỗ lực chiến tranh.
 Chiến thuật du kích và chiến tranh lưu động của Mao cũng chủ yếu dựa trên tư tưởng Tôn Tử. Như đã đề cập trong chương 2, Tôn Tử tin rằng mọi loại chiến tranh đều phải đánh lừa. Cho nên ”khi có khả năng thì làm như yếu đuối, khi hoạt động thì làm như bất động. Khi địch tập trung thì chuẩn bị để chống họ. Chỗ nào địch mạnh thì mình tránh... Tấn cộng khi địch không phòng bị, bất ngờ khi địch không mong đợi ”1 
Người nào đọc kỹ cũng có thể tìm thấy những sự tương đồng giữa lời Tôn Tử và công thức về chiến thuật du kích của Mao viết khi còn ở Tỉnh Cương Sơn:
Địch tiến thì ta rút lui, địch dừng lại đóng trại thì ta quấy phá, địch mỏi mệt không muốn đánh thì ta tấn công, địch rút lui thì ta truy kích.2 
1Quỷ đạo giả, cố năng nhi thị chi bất năng, dụng nhi thụ chi bất dụng. Thực nhi bị chi, cường nhi tị chi... Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý... Tôn Tử Binh Pháp, Thủy Kế Thiên 2Địch tiến, ngã thoái -Địch đình, ngã loạn -Địch tị, ngã công -Địch thoái, ngã truy
Cũng như nhiều binh gia Trung Hoa khác, Mao cũng dùng những câu ”quấy nhiễu ở bên đông nhưng tấn công ở bên tây, xuất hiện ở bên nam nhưng lại ở bên bắc” để nói về các chiến thuật làm địch hoang mang. Đó cũng là những áp dụng của thiên mưu công.
Ngoài ra Mao cũng rút tỉa một phần từ các cổ thư Trung Hoa trong đó có ghi những trận đánh lớn thời xưa. Cuộc chiến giữa nước Tề với nước Lỗ đời Xuân Thu chép trong Tả Truyện (Duo Zhuan) là một thí dụ mà Mao dùng về môt lực lượng yếu đánh bại môt lực lượng mạnh. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:58:37 am
C.   Ảnh hưởng của Tư tưởng ngoại quốc -chủ nghĩa Mác
Không ai thể ngờ gì về việc Mao bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chủ nghĩa Mác. Vấn đề là lý thuyết Mác đã ảnh hưởng những gì tới tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông. Theo Stuart Schram, Mao chỉ là một triết gia Mác Xít loại thường, chẳng đóng góp gì đáng kể trong phần hình nhi thượng trừu tượng của chủ nghĩa này. Tuy nhiên, từ những tác phẩm của ông người ta thấy Mao không mấy quan tâm đến phần lý thuyết thuần túy, mà trái lại có khuynh hướng nối kết mọi vấn đề vào đấu tranh giai cấp và một số giá trị khác.
 Schram vì thế không sai khi phê bình Mao không có tính chất triết gia. Thực ra, Mao cũng đã nói rõ là ông ta học chủ nghĩa Mác -Lê chỉ để ”học một khoa học làm cách mạng”. Vì thế không những ông ta muốn học các nghiên cứu cặn kẽ của lý thuyết này về đời sống thực và kinh nghiệm cách mạng ”mà còn muốn học những lập trường cùng phương pháp tìm hiểu và giải quyết vấn đề”. 
Thái độ đó cũng tìm thấy được ở một trong số vài bài luận thuyết ông viết, trong đó Mao đặc biệt nhấn mạnh việc áp dụng luật mâu thuẫn trong chiến lược quân sự: 
Trong chiến tranh, công và thủ, tiến và thoái, thắng và bại đều là những hình thái hỗ tương đối nghịch. Cái này không thể hiện hữu nếu không có cái kia. Hai mặt đó đối chọi nhưng đồng thời hỗ tương lệ thuộc lẫn nhau và điều đó nói lên toàn thể tính của một cuộc chiến, thúc đẩy cho nó phát triển và giải quyết những vấn đề nó đẻ ra.
 Dựa trên nhận thức đó, Mao đã nhấn mạnh về đặc tính của mâu thuẫn để giải quyết vấn đề cách mạng đặc thù của Trung Hoa. Khi phê bình chủ nghĩa giáo điều trong đảng Cộng Sản, ông nhấn mạnh về sự quan trọng của ”học tập tính đặc biệt của mâu thuẫn trong những sự vật vững chắc mà chúng ta phải đối diện ngõ hầu tìm cách thực hiện con đường cách mạng”.
Từ những thí dụ trên, chúng ta có thể nói rằng ảnh hưởng tiên khởi của chủ nghĩa Mác -Lê đối với tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông là phương pháp luận của nó. Nhận định đó có thể xác định bằng chính bài viết của ông ta nhan đề ”Các vấn đề của chiến lược đấu tranh cách mạng Trung Hoa”, trong đó ông hoàn toàn áp dụng duy vật biện chứng pháp để phân tích chiến tranh cách mạng Trung Hoa, từ luật chiến tranh đến chiến lược, chiến thuật, từ nguyên tắc tổng quát đến các tình trạng đặc biệt. Những thí dụ tương tự cũng có thể tìm thấy trong các luận văn khác như ”Các vấn đề của Chiến Lược Du Kích kháng Nhật”, ”Trường Kỳ Kháng Chiến”, và ”Các vấn đề Đấu Tranh và Chiến Lược”. 
Ngoài ảnh hưởng về phương pháp luận, Mao cũng đã hoàn toàn gắn liền chủ thuyết Mác -Lê Nin với chiến tranh du kích và hệ thống dân quân trong tư tưởng quân sự của ông. Trong lời giới thiệu tác phẩm Mao Trạch Đông bàn về Chiến Tranh Du Kích (Mao Tsetung on Guerilla Warfare), S. Griffith đã cho rằng các lý thuyết chiến lược, chiến thuật của Mao, dưới sự soi sáng của luật mâu thuẫn, dường như áp dụng quan niệm triết học cổ điển của Trung Hoa về Âm Dương thể hiện hai đối cực, đại diện cho nam nữ, sáng tối, nóng lạnh, tiêu trưởng. 
Nói chung, Mao kế thừa các quan niệm về bản chất, xếp loại và nhiều vấn đề khác nói về tri thức luận chiến tranh từ chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, Mao cũng chấp nhận chặt chẽ định nghĩa của Clausewitz về tương quan giữa chiến tranh và chính trị. 
D.   Ảnh hưởng của tình trạng Kinh Tế trên tư tưởng của Mao Trạch Đông
 Tình trạng vật chất thường quyết định đến kết quả của chiến tranh. Tôn Tử đã viết từ 500 năm trước Tây lịch là ”một đội quân thiếu trang bị nặng, cỏ khô, lương thực và tiếp liệu sẽ thất trận”. Khi quân đội ra trận, vấn đề tiếp liệu càng trở nên phức tạp và tốn phí. Lương thực nếu phải chở hàng ngàn dặm ới tới mặt trận. Ngoài ra, các chi phí ở nhà cũng như tại trận tiền, lương bổng và bảo trì cùng các phí tổn khác có thể ”tới mức một ngàn lượng vàng một ngày. Có được khoản tiền đó thì mới nói tới chuyện thành lập một đạo quân mười vạn người”. 
Vì sự lan rộng mọi phạm vi chiến tranh và sự phát triển kỹ thuật mới, một cuộc chiến hiện đại có thể vô cùng tốn phí và ảnh hưởng của điều kiện vật chất đối với kết quả cuộc chiến còn đễ đoán hơn thời trước. 
Là một người Mác xít, Mao hoàn toàn nhận thức được sự kiện là điều kiện vật chất trên một qui mô lớn có thể quyết định được chiến cuộc. Tuy nhiên, trong hầu hết cuộc đời lãnh đạo quân sự, ông phải bắt buộc chiến đấu trong môt tình trạng vật chất hết sức yếu kém. Trong cuộc chống càn bao vây trấn áp tại vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam, Hồng quân lúc ấy còn non nớt đã bị quân đội Quốc Dân Đảng cướp hết toàn bộ lương thực và vũ khí. tuy nhiên họ vẫn phải chiến đấu để sống còn. Một tình trạng tương tự cũng xảy ra hồi chiến tranh Trung Nhật tại vùng biên giới nơi chính quyền Cộng Sản và quân du kích trú đóng. Các đường tiếp tế của Cộng Sản thường bị Quốc Dân Đảng và quân Nhật cắt đứt. Để giải quyết vấn đề lương thực, Mao thực hiện thành công một số chính sách tại vùng biên cương. Chẳng hạn ông tung ra một chiến dịch xã hội vận động nông dân gia tăng sản xuất và ra lệnh cho đảng thi hành chính sách ”chiến đấu giỏi hơn, hành chánh giản dị hơn”. Chính sách đó nhằm củng cố quân đội bằng cách giảm nhân viên hành chánh và chi tiêu. 
Ông cũng ra lệnh cho Hồng quân khai phá đất hoang để cày cấy hầu có thể tự túc về lương thực. Đồng thời, ông áp dụng phương cách tương trợ cổ truyền của nông dân ở vùng Bắc Thiểm Tây để bành trướng lực lượng từ mặt nông nghiệp. Mao gọi đường lối này là Lao Võ kết hợp (Laowu Jiehe) có nghĩa là kết hợp nhiệm vụ lao động với công tác quân sự. Nhờ cách đó chẳng những ông có thể giải quyết được vấn đề lương thực tại mạn biên giới mà còn củng cố chế độ Cộng Sản và lực lượng quân sự đến một mức độ đáng kể. Tuy nhiên, để vượt qua được những cách biệt về nhân số cũng như vũ khí giữa Hồng quân và lực lượng Quốc Dân Đảng, Mao phải kêu gọi các tướng lãnh của ông sáng tạo các chiến thuật chiến lược mới. Ông nhận chân được vai trò quyết định của vật chất trong thắng bại nhưng theo đường lối cổ truyền là nhấn mạnh vào yếu tố con người trong chiến đấu. Mao viết:
Không thể nghi ngờ gì, thắng hay bại quyết định chính yếu bởi quân sự, chính trị, kinh tế và những điều kiện địa lợi của cả hai bên. Thế nhưng bấy nhiêu chưa đủ. Nó còn được quyết định bằng khả năng điều động chiến đấu chủ quan của mỗi bên. Muốn thắng trận, một quân nhân không thể vượt qua được những giới hạn của những điều kiện vật chất nhưng nhất định phải thắng bằng được trong phạm vi những giới hạn này. Khi nói về vai trò của con người, Mao không quá nhấn mạnh vào sức mạnh tinh thần như Tưởng Giới Thạch. Ông chỉ cố làm sao để dùng được các chiến thuật, chiến lược để lướt thắng những bất lợi vật chất mà thôi. Chiến lược du kích và chiến tranh lưu động, tập trung để có ưu thế quân số trong chiến dịch, nhấn mạnh vào hành quân ban đêm, tấn công bất ngờ, dân chủ quân đội, hệ thống chính trị viên trong quân ngũ và việc động viên võ trang quần chúng để yểm trợ mặt trận đều được đề ra nhằm thay đổi những tình trạng bất lợi của Hồng quân. Đó chính là tinh hoa của chiến tranh nhân dân.
E.   Cá tính con người Mao và tư tưởng quân sự
Schram nói rằng muốn tìm hiểu tư tưởng của họ Mao thì phải nối kết các tư tưởng hiện thời của các nước ngoài cùng truyền thống của Trung Hoa và cá tính của chính con người ông ta. 
Các nhà viết tiểu sử về Mao cũng như các học giả nghiên cứu về Trung Hoa thường kể lại những câu chuyện thuở thiếu thời để dựa vào đó móc nối với các tư tưởng của ông sau này kể cả tư tưởng quân sự mà cho rằng thể hiện từ tấm bé. Thật thế, Mao đã biết cách dùng quan điểm liên minh trong gia đình giữa mẹ và các anh chị em ông để chống lại người cha độc đoán. Ông cũng biết dùng chiến lược đe dọa để bắt cha ông chiều ý mình. Ông rất ghét làm ruộng nhưng rất thích đọc sử như Tam Quốc là những chứng cớ về khuynh hướng khi còn nhỏ đã định ra cuộc đời sau này. 
Một vài nhà nghiên cứu từ các mẩu chuyện này lại đi đến những kết luận khác nhau, nhưng không ai phủ nhận được Mao đã chứng tỏ có một khuynh hướng quan sát và phân tích các đối tượng chung quanh để khai thác bằng chính chiến lược của mình từ khi còn là một cậu bé con. Cho nên cũng không sai nếu nói Mao từ bản chất đã là một chiến lược gia. Truyền thống quân sự Trung Hoa rút ra từ Tam Quốc và phương pháp học từ duy vật biện chứng chỉ giúp ông ta phát huy khả năng tiềm tàng của một con người lỗi lạc.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 12:59:53 am
2.   NHẬN THỨC LUẬN CỦA MAO VỀ CHIẾN TRANH
 Sau một thời gian dài loạn lạc, con người phải chịu nhiều đau thương thường tự hỏi cái gì đã gây ra chiến tranh? Hơn nữa, người ta lại hỏi Những ai tham gia? Bản chất chiến tranh là gì? Đó là những câu hỏi liên quan đến nhận thức luận (epistemology) về chiến tranh. Một chiến lược gia hay một chính trị gia cũng đặt những câu hỏi đó nhưng lại vì những lý do khác. Họ phải đối phó với chiến tranh và phải cố làm sao thắng trận. Thành thử, họ cần phải phân tích cho tường tận để đưa ra một chiến lược cho thích hợp. Vì thế chúng ta cần biết nhận thức của Mao về chiến tranh. 
A.   Nguyên nhân của Chiến Tranh
 Như đề cập tới trước đây, Mao tin rằng chiến tranh là sự nối dài của chính trị. Tuy nhiên, chiến tranh có những bản sắc riêng nên không thể đồng đẳng với chính trị trên bình diện tổng quát. Do đó, ông ta tin rằng ”chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác”. Để phân biệt hai chữ ”phương tiện”, Mao nói rằng ”khi chính trị phát triển tới một mức độ nào đó mà không thể vượt qua được bằng những phương tiện thông thường thì chiến tranh xảy ra để quét sạch những chướng ngại cản đường nó”. Ông cũng không giới hạn chiến tranh vào những xung đột quân sự trực tiếp, mà nhấn mạnh vào điểm dùng vũ khí làm phương tiện sau cùng để giải quyết vấn đề. Và vì thế, Mao viết ”chính trị là chiến tranh không đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu”. Quan niệm ”chiến tranh là phương tiện của chính trị để đạt những mục tiêu chính trị” được Clausewitz đưa ra được Lenin và các lý thuyết gia Cộng Sản khác lập lại. Và Mao cũng thừa hưởng của Lenin. Tuy nhiên, một quan điểm tương tự như thế cũng đã hiện hữu ở Trung Hoa trước khi Clausewitz và Lenin nói tới từ lâu. 
Theo Tư Mã Pháp, chiến tranh là phương cách để người cầm quyền cai trị quốc gia phải dùng đến khi các phương thức thông thường để đạt các mục tiêu chính trị không hữu hiệu. Phương thức thông thường là cai trị bằng nhân đức. Trong thời kỳ loạn lạc, người cai trị có thể dùng bạo lực để trấn áp ngõ hầu phục hồi trật tự xã hội.
 Theo lý thuyết Marx Lenin thì chiến tranh là cao điểm của sự phát triển các mâu thuẫn của xã hội mà theo duy vật biện chứng thì tồn tại trong mọi vật.
 Mặc dầu mâu thuẫn là một hiện tượng phổ quát nhưng sự phát triển của nó gia tăng nhanh chóng trong những xã hội có quan niệm tư hữu. Thật vậy, khi con người bắt đầu tranh chấp về sở hữu thì chiến tranh không thể nào tránh khỏi. Cho nên, theo Lenin, quyền tư hữu là nguồn gốc của chiến tranh và khi nào hay ở đâu nó còn tồn tại thì chiến tranh còn tồn tại.
 Khi mâu thuẫn xã hội tới một mức độ nào đó, thì nó trở thành đấu tranh giữa các nhóm người khác nhau chi phối hoàn toàn sự phát triển của lịch sử loài người. Marx gọi đó là đấu tranh giai cấp. Ông ta viết trong Tuyên Ngôn Cộng Sản (Manifesto of the Communist Party):
Lịch sử của mọi xã hội hiện hữu là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Người tự do và kẻ nô lệ, quí tộc và bình dân, lãnh chúa và nông nô, chủ xưởng và thợ thuyền hay nói chung là kẻ áp bức và người bị áp bức, lúc nào cũng ở thế đối nghịch, tiến hành một cuộc chiến liên tục khi ngấm ngầm, khi công khai. Cuộc chiến đó chỉ có thể chấm dứt hoặc bằng một cuộc cách mạng tái cấu trúc, hoặc phải xóa bỏ toàn bộ mọi giai cấp. 
Mao cũng đi xa hơn khi phát biểu chung về bản chất và nguồn gốc của chiến tranh.  Chiến tranh là hình thái đấu tranh cao cấp nhất để giải quyết các mâu thuẫn khi đã phát triển đến một mức độ nào đó giữa các giai cấp, quốc gia, tiểu bang hay các nhóm chính trị vì nó đã hiện hữu từ khi xuất hiện tư hữu và giai cấp. 
Mặc dù các Mác xít gia tin rằng tư hữu thúc đẩy sự phát triển mâu thuẫn trong xã hội, và mâu thuẫn đó khi lên cao trở thành cách biệt giai cấp, thù hận và chiến tranh nhưng họ không khẳng quyết rằng tư hữu là nguyên nhân duy nhất của chiến tranh. Còn nhiều yếu tố khác tác động vào sự phát triển của mâu thuẫn và do đó đưa đến chiến tranh. Các chiến lược gia Trung Hoa thời cổ như Ngô Tử chẳng hạn cho rằng có 5 động lực thúc đẩy một chư hầu gây chiến là tiếng tăm, lợi lộc, thù oán, bất ổn nội bộ và đói kém. Một vài tranh chấp không do tham vọng kinh tế hay lãnh tổ trực tiếp thúc đẩy nên Ngô Tử đã phân loại chiến tranh ra chiến tranh công chính, chiến tranh xâm lược, chiến tranh thịnh nộ và chiến tranh dấy loạn. Chiến tranh dùng để trấn áp bạo lực tái lập trật tự được coi là công chính, các loại chiến tranh khác không phải là công chính. Mao cũng đi đến một kết luận tương tự về xếp loại chiến tranh mặc dù dưới nhãn quan khác. Ông ta cũng chia thành chiến tranh công chính và chiến tranh không công chính.
B.   Chiến tranh công chính và không công chính
 Mao viết: Trong lịch sử chỉ có hai loại chiến tranh, công chính và không công chính. Chúng ta ủng hộ chiến tranh công chính và chống lại chiến tranh không công chính. 
Định nghĩa của Mao về công chính và không công chính căn cứ vào chiến tranh đó có phải là chiến tranh cách mạng hay không vì theo ông ta mọi loại chiến tranh phản cách mạng đều không công chính, mọi loại chiến tranh cách mạng đều công chính. Dựa trên giả định đó, ông kêu gọi mọi người chống lại chiến tranh không công chính và ủng hộ chiến tranh công chính. 
Những người Mác xít cho rằng ”quốc gia” chẳng qua chỉ là sản phẩm của giai cấp, là công cụ áp bức của giai cấp này đối với giai cấp khác, nên vì thế ”không thể tránh được việc gây ra nội chiến trong mọi xã hội một khi đấu tranh giai cấp cường điệu tới một mức nào đó”. Lý thuyết quốc gia là công cụ áp bức đã được áp đặt không chỉ vào việc giải thích nội chiến mà cả cho chiến tranh giữa nước này với nước khác mà cao điểm là chiến tranh đế quốc thời đại mới, theo Lenin là phương pháp các chính quyền và giai cấp thống trị của các đại cường dùng để chinh phục thuộc địa, bóc lột và trấn áp sự vùng lên của giai cấp công nhân của các nước khác. 
Dựa vào thuyết đó, người Mác xít đã coi mọi loại nội chiến chống chính quyền, mọi chiến tranh chống đế quốc xâm lược đều là chiến tranh cách mạng. Điểm duy nhất khác biệt giữa hai hai loại là một số Mác xít gia cho rằng chiến tranh chống đế quốc là chiến tranh quốc gia hay chiến tranh giải phóng. 
Đi theo con đường tư tưởng đó, Mao thêm vào chiến tranh giai cấp, chiến tranh cách mạng giải phóng quốc gia và chiến tranh phản cách mạng trong cách xếp loại của ông. Chiến tranh giai cấp cách mạng hay phản cách mạng chỉ nằm trong phạm vi nội chiến trong khi chiến tranh cách mạng hay phản cách mạng giải phóng liên quan đến những mâu thuẫn giữa các quốc gia. 
Có vẻ như Mao không gọi mọi loại nội chiến là xung đột giai cấp. Chẳng hạn ông nói rằng cuộc hành quân Bắc Phạt, Cách Mạng Nông Dân hay chiến tranh kháng Nhật đều là chiến tranh cách mạng vì tất cả đều là những người cách mạng chống lại phản cách mạng. 
Cuộc hành quân Bắc Phạt do Quốc Dân Đảng liên minh với Cộng Sản tiến hành chống các quân phiệt, Mao gọi là nội chiến nhưng không phải đấu tranh giai cấp, hoặc ít ra cũng không phải đấu tranh giai cấp theo nghĩa gay gắt. Cuộc chiến tranh Cách Mạng Nông Dân do Cộng Sản phát động chống lại Quốc Dân Đảng từ 1927 đến 1936, Mao coi là chiến tranh cách mạng giai cấp chống giai cấp địa chủ và tư sản. 
Trong việc ủng hộ chiến tranh cách mạng và chống lại chiến tranh phản cách mạng, Mao có khác Lenin một chút. Lenin không những công khai tuyên bố ủng hội nội chiến và chiến tranh giải phóng trên chính nước ông ta mà còn khẳng định sự ủng hộ các cuộc chiến tranh cách mạng của giai cấp công nhân các nước khác. Lenin viết: ”Trong các trường hợp đó, chiến tranh của bên ta ắt phải là chiến tranh hợp pháp và công chính. Đó là cuộc chiến vì chủ nghĩa xã hội, vì tự do của các dân tộc khác chống lại giai cấp tư sản.” 
Cái mà ông ta gọi là quyền hợp pháp và công chính của các quốc gia xã hội chủ nghĩa tiến hành chống giai cấp tư bản nơi các quốc gia khác vì chủ nghĩa xã hội đã được Liên Xô coi là một lý do chính đáng để can thiệp vào nội bộ của các quốc gia trong khối Cộng Sản ở Đông Âu. Tuy nhiên một lý thuyết tương tự không hiện hữu trong tư tưởng của Mao Trạch Đông. Mặc dù Mao có giúp Triều Tiên và Việt Nam tiến hành chiến tranh chống xâm lược nước ngoài, Trung Hoa không dùng vũ lực chống lại các quốc gia khác và can thiệp vào các vấn đề chính trị nội bộ của họ như Liên Xô đã làm. Ngay cả cuộc chiến biên giới Việt Hoa năm 1979 cũng không thể coi là một thí dụ về việc can thiệp vào một quốc gia khác. Đó chỉ có thể coi là chiến tranh ủng hộ việc giải phóng dân tộc Cam pu chia hay chiến tranh giữa hai quốc gia thù nghịch cũng như cuộc chiến Ấn Hoa năm 1962. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:00:28 am
C.   Dùng chiến tranh để ngăn chặn chiến tranh
 Mặc dầu người Cộng Sản chỉ công nhận chiến tranh giai cấp cách mạng và chiến tranh giải phóng quốc gia, họ vẫn tin rằng sự loại bỏ hoàn toàn chiến tranh là điều không thể làm được. Theo Mao, chỉ có thể kết thúc chiến tranh bằng nỗ lực của con người. ”Khi xã hội tiến tới một thời điểm mà giai cấp và chính quyền đã bị loại bỏ, chiến tranh cũng không còn dù cách mạng hay phản cách mạng, công chính hay không công chính mà là thời kỳ hòa bình vĩnh cửu của nhân loại”.
Dựa trên giả thuyết chung về tương quan tất yếu giữa chiến tranh và đấu tranh giai cấp trong một nước, lời phát biểu của Mao bàn về sự loại trừ chiến tranh cũng tương tự như của Lenin. Lenin nói rằng ”chiến tranh không thể loại bỏ trừ khi xóa được giai cấp và thành lập chủ nghĩa xã hội”. ”Chỉ khi nào chúng ta đã lật đổ, xóa bỏ hoàn toàn giai cấp tư sản trên khắp thế giới, chứ không phải chỉ tại riêng một quốc gia thì lúc ấy chiến tranh mới không còn xảy ra”. Khác biệt giữa Mao và Lenin chỉ là mức độ chứ không phải ở quan niệm. Mao không nói rõ cần phải lật đổ giai cấp tư sản trong các bài viết về quân sự của ông trong thập niên 1930. 
Một lý do sở dĩ Mao hòa hoãn hơn Lenin vì tình trạng của ông khi đó khác với những gì Lenin phải đối phó. Mao phát biểu về vấn đề này vào tháng 12 năm 1936 ở Diên An (Yanan) lúc ấy đang mưu toan thực hiện chiến lược mặt trận liên minh kháng Nhật và đang cần sự hỗ trợ của giai cấp tư sản trong nước. Thành thử ông ta cần nhẹ nhàng hơn để tránh những hiềm khích tong vấn đề hận thù giai cấp. Quả thực lúc ấy Mao hế sức cần ngưng chiến với Quốc Dân Đảng ngõ hầu giải trừ các áp lực quân sự. Nếu không có vụ Tây An sự biến trong cùng tháng ấy thì Hồng quân đã bị đánh tan. 
Dù lời lẽ có hòa hoãn cách mấy nhưng Mao cũng như Lenin đều tiến hành quan điểm lấy chiến tranh để chấm dứt chiến tranh. Ông ta muốn ”lấy chiến tranh để đối phó với chiến tranh, lấy chiến tranh cách mạng chống với chiến tranh phản cách mạng, lấy chiến tranh cách mạng giai cấp chống với chiến tranh phản cách mạng giai cấp.” Nếu đứng trên nhãn quan lịch sử thì đây không phải chỉ là đường lối Mác xít mà cũng là triết học quân sự truyền thống của Trung Hoa. Tư Mã Pháp chẳng hạn đã viết về vấn đề này như sau: “giết những kẻ đe dọa tới hòa bình và an ninh của người khác là công chính, cũng có quyền tấn công một quốc gia để giải cứu nhân dân ở đấy khỏi ách bạo ngược. Dùng chiến tranh ngăn chặng chiến tranh là điều có thể chấp nhận được.” 
Không có chứng cớ nào bảo rằng Lenin bị ảnh hưởng bởi Tư Mã Pháp nhưng rõ ràng có sự tương đồng của hai bên. Cả hai đều đồng ý tiến hành chiến tranh giải phóng một quốc gia khác. 
Chiến tranh có thể hoàn toàn loại trừ được khỏi xã hội loàn người hay không tùy thuộc vào việc tiêu diệt được giai cấp bằng cách loại bỏ quyền tư hữu và xóa bỏ biên cương giữa các quốc gia. Câu hỏi lý luận thứ hai là liệu giai cấp xã hội có thể hoàn toàn loại bỏ, chiến tranh có thể tự nhiên biến mất nếu xã hội vô giai cấp? Một câu hỏi khác là liệu con người có còn duy trì được nếp sống văn minh nếu không có quốc gia hay một cơ chế tương tự thực hiện những nhiệm vụ của quốc gia. Câu hỏi đó chưa có câu trả lời đích xác và đây cũng không phải là nơi bàn cãi vấn đề này một cách tường tận. Tuy nhiên chúng ta cũng nên lập lại những gì đã đưa ra ở trên. Tư hữu không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra các xung đột trong xã hội và cũng không phải là nguyên nhân duy nhất đưa đến giai cấp và đấu tranh giai cấp. Loại trừ hoàn toàn quyền tư hữu chưa chắc đã ngăn chặn được việc phân thành giai cấp và hận thù giai cấp. Thực tế là khác biệt xã hội vẫn tồn tại trong các quốc gia Cộng Sản và xung đột giai cấp vẫn rõ rệt. 
Lenin cho rằng quốc gia sẽ tự nhiên biến mất nếu giai cấp vô sản dùng đó làm phương tiện lật đổ giai cấp tư sản, tịch thu toàn bộ của cải của họ. Tuy nhiên, ông ta cũng chống lại chủ thuyết vô chính phủ loại trừ chính quyền trong một thời gian chớp nhoáng. Ông theo đuổi quan điểm để cho quốc gia từ từ tàn lụi (witheringaway) nghĩa là quốc gia sẽ tồn tại khi nào còn cần thiết và cuối cùng ”nó trở nên không cần thiết từ mặt này đến mặt khác rồi tự nó biến đi”. 
Thật ra, quyền lực chính quyền trong các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội trở nên mạnh mẽ không quốc gia tư bản nào sánh kịp. họ không những chẳng loại trừ được các đối kháng xã hội mà cũng chẳng giảm bớt được các xung đột giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa mà trái lại dường như tranh chấp và mâu thuẫn có chiều gia tăng. Thành ra, dù người Mác xít có hoàn toàn làm chủ thế giới thì chiến tranh cũng không thể nào loại bỏ được.
D.   Các qui luật của chiến tranh và sự phát triển của nó
 Trong khi các chiến lược gia thời cổ của Trung Hoa (chẳng hạn như Tôn Tử) đã thiết lập những căn bản dùng các phương pháp khoa học phân tích tình trạng chiến tranh, các tác giả Trung Hoa về sau thường có quan niệm là các binh gia thời xưa có khuynh hướng coi việc điều binh như một nghệ thuật. dựa trên nhãn quan đó, danh từ Binh Pháp (Bing Pha) được dịch thành Nghệ Thuật Chiến Tranh mặc dù Pháp theo đúng nghĩa là luật lệ, phương thức, đường lối. Tôn Tử đã viết rằng vấn đề quân sự ”là chìa khóa của các binh gia để chiến thắng. Không thể nói trước được”3 Nhiều tác giả đã dựa vào câu này để khẳng dịnh rằng điều binh là một nghệ thuật.
3Thử binh gia chi thắng, bất khả tiên truyền dã (Tôn Tử, Thủy Kế Thiên)
 Đôi khi người ta cũng kết hợp chữ Pháp với Tâm để thành Tâm Pháp có nghĩa là một vấn đề mà chỉ có thể tự mình sở đắc bằng nghiền ngẫm hay trí tuệ chứ không ai có thể dạy ai. Cho nên chỉ có khi nào đối địch mới nảy sinh chứ không sao đưa ra những định luật trước được. Trong các tác phẩm của chiến lược gia thời đại ngày nay chúng ta cũng vẫn tìm thấy những giải thích như thế. 
Tuy nhiên khuynh hướng truyền thống đó lại bị Mao bác bỏ. Ông đặc biệt nhấn mạnh về các định luật khách quan của chiến tranh và các đặc tính khoa học của chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Không có chứng cớ nào cho ta thấy Mao cho rằng điều binh là một nghệ thuật. Ông định nghĩa chiến tranh một cách rõ ràng như sau: ”Mọi luật lệ và lý thuyết quân sự tự bản chất là định luật về kinh nghiệm của chiến tranh trong quá khứ được tổng kết trong thời đại trước hay thời đại ngày nay”; những luật lệ đó cũng ”giống các luật lệ chi phối mọi vấn đề khác, phản ảnh các thực tế khách quan của tâm hồn chúng ta”.
Khi thảo luận về học tập chiến tranh như thế nào, Mao khẳng định là ”qui luật chiến tranh là các vấn đề mà ai ai điều binh phải học và giải quyết”. Ông cũng viết: ”Ai cũng biết rằng khi ta muốn làm gì thì chúng ta phải hiểu rõ hiện trạng, bản chất và tương quan với các vật khác. Có thế chúng ta mới biết rõ các định luật chi phối nó, biết cách thực hiện và thực hiện được chu đáo”. 
Như đề cập trong phần trước, Mao chú tâm đặc biệt đến mâu thuẫn hơn tính phổ biến của sự vật. Cũng phương cách đó, ông nhấn mạnh đặc biệt vào các qui luật của chiến tranh. Ông cho rằng chiến tranh cách mạng Trung Hoa có những qui luật riêng khác hẳn các qui luật chiến tranh bình thường. Cho nên ông ta khuyên các cấp lãnh đạo quân sự là họ phải học tập ”không chỉ qui luật chiến tranh chung mà phải cả những qui luật riêng biệt của chiến tranh cách mạng Trung Hoa”. Vì hoàn cảnh khác biệt và bản chất của từng cuộc chiến, các đặc tính của qui luật chiến tranh mỗi lúc một khác. Mao vì thế chống lại quan điểm sao chép lại tư tưởng quân sự của nước ngoài và của cả Trung Hoa thời xưa nguyên văn không suy suyển. Ông ta cảnh cáo các sĩ quan là làm thế chẳng khác nào cắt ngón chân cho vừa với giày, và như thế chỉ đi đến thất bại. Mao còn chống luôn cả quan niệm chép y bản các tài liệu huấn luyện của Liên Xô vì tài liệu đó chỉ thích hợp cho những điều kiện đặc biệt của cuộc nội chiến và Hồng quân Liên Xô mà thôi, nhiều khía cạnh khác hẳn hoàn cảnh Trung Hoa.
 Tuy chống việc sao chép các kinh nghiệm cũ một cách mù quáng, Mao không bảo là những tư tưởng đó hoàn toàn vô dụng. Trái lại Mao muốn các cấp chỉ huy cẩn thận chọn lựa trong các qui luật của người xưa những gì còn có thể áp dụng. Sau đó kết hợp các quan điểm đó với quan điểm riêng của họ để đưa ra những khuynh hướng đối phó với một tình trạng cá biệt. 
Thử nghiệm luật lệ và kinh nghiệm của người khác trong chiến tranh rồi thêm thắt các kinh nghiệm riêng của mình có thể giúp cho suy ra một số nguyên tắc hữu ích trong việc điều quân. Tuy nhiên, tiến trình đó cũng vẫn chưa đủ hữu dụng vì chiến tranh không bất biến mà phát triển luôn luôn. Theo Mao các qui luật và kinh nghiệm thu thập từ người đi trước có thể lỗi thời vì những qui luật khác nhau được quyết định theo từng tình trạng khác nhau của mỗi cuộc chiến khác thời gian, khác địa điểm, khác bản chất. Theo thời gian cả chiến tranh lẫn qui luật đều phát triển, mỗi hoàn cảnh lịch sự có những trạng huống đặc biệt riêng, và qui luật chiến tranh của khung cảnh đó không thể nào áp dụng một cách máy móc vào trường hợp khác. 
Nhờ quan điểm lý thuyết quân sự phát triển, Mao không những thoát khỏi mô thức sao chép nước ngoài mà còn thoát ly được tư tưởng quân sự Trung Hoa cổ điển tuy vẫn chấp nhận những cái hay của nó. Có lẽ đó là lý do chính yếu tại sao Mao có thể khai triển được một lý thuyết độc đáo và thành công về chiến tranh nhân dân để đối địch. 
Lý thuyết phát triển đó là một phần của duy vật biện chứng pháp được cả người Mác xít lẫn người không Mác xít dùng trong nhiều cách khác nhau. Mao đem áp dụng vào chiến tranh du kích, vào việc tuyển mộ quân đội từ cấp thấp tới cấp cao và áp dụng vào việc chọn lựa các chiến lược, chiến thuật trong khi hành quân. Đó là cốt tủy đi sâu vào toàn bộ hệ thống tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông làm nó thêm uyển chuyển và năng động. Chúng ta sẽ thảo luận vào chi tiết sau. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:01:03 am
3.   XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VÀ CÁC QUAN NIỆM CHỦ YẾU CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
 Hầu hết các chiến lược gia Tây phương khi nghiên cứu về lý thuyết quân sự của Mao thường dựa vào hai tác phẩm. Một là Bàn về Chiến Tranh du kích của Mao Trạch Đông, hai là Chiến Tranh Nhân Dân muôn năm! của Thống Chế Lâm Bưu. Cả hai đều do Samuel Graffith dịch và trở nên rất phổ thông hồi thập niên 1960 trong thời chiến tranh Việt Nam và Cách Mạng Văn Hóa ở Trung Hoa đang lên cao. Thành ra, lý thuyết quân sự của Mao thường được gọi là chiến tranh du kích hay chiến tranh nhân dân. 
Đô đốc J.C. Wylie, tác giả cuốn Chiến Lược quân sự: Lý Thuyết tổng Quát về Kiểm soát Quyền Lực đã liệt lý thuyết chiến tranh của Mao là một trong bốn lý thuyết quân sự được công nhận trong thời đại mới. Ba thuyết kia là lý thuyết về lục địa chiến, hải chiến và không chiến là những lý thuyết nổi danh trong thế giới Tây phương ít ra cũng một nửa thế kỷ. Ông ta đặt cho thuyết của Mao là ”chiến tranh giải phóng” mà ”đó là lý thuyết chiến tranh phổ biến nhất hiện nay. Lý thuyết đó rõ ràng hơn mọi lý thuyết khác, chỉ rõ mục tiêu và đưa ra hệ thống đo lường thành quả”. Wylie không gọi thuyết của Mao là du kích chiến vì như thế ”quá giới hạn và dễ dẫn tới hiểu lầm như một nhan đề mô tả”. 
Thực ra, cả chiến tranh giải phóng lẫn chiến tranh du kích đều không mô tả trọn vẹn lý thuyết của Mao. Có lẽ nhan đề ”chiến tranh nhân dân” chỉ ra quan điểm căn bản rõ ràng hơn vì cốt tủy của lý thuyết Mao Trạch Đông xây dựng trên việc vận động, tổ chức, trang bị toàn bộ nhân dân đưa họ vào chiến đấu.
Sái Hiếu Càn (Cai Xiaoqian), tác giả cuốn Nghiên cứu về Tư Tưởng và Chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông4 chia nội dung chiến tranh nhân dân thành hai phần: một là chiến lược chỉ đạo và hai là phương pháp tiến hành. Chiến lược chỉ đạo bàn về những quan điểm căn bản của chiến tranh nhân dân như một đại chiến lược hay chiến lược chính trị, phương pháp thực hiện liên quan đến chiến lược và chiến thuật quân sự dùng trong hành quân.
 4Mao Trạch Đông quân tranh tư tưởng hòa nhân dân chiến tranh chi nghiên cứu -Đài Bắc 1971
Theo Sái Hiếu Càn, lý thuyết căn bản của chiến tranh nhân dân khởi thủy vào khoảng thập niên 1920 và đầu thập niên 1930, được phát triển trong Trung Nhật chiến tranh và Chiến Tranh Giải Phóng. Về đại chiến lược thì chiến tranh nhân dân không thay đổi mấy từ khi hình thành tại Giang Tây-Hồ Nam tới nay. Tuy nhiên chiến lược và chiến thuật hành quân được phát triển thêm trong thời chiến tranh với Nhật Bản. Không những các lực lượng du kích vốn nằm trong vị thế chiến thuật nay được nâng lên hàng chiến lược mà còn hình thành một kế hoạch chuyển chiến tranh du kích sang chiến tranh lưu động rồi sang chiến tranh qui mô bằng cách cải tiến tổ chức, trang bị và huấn luyện. 
Chiến tranh nhân dân còn được coi là chiến tranh chính trị vì nó đặc biệt chú ý đến vận động quần chúng và các lực lượng võ trang. 
Chúng tôi sẽ bàn về việc phát triển các quan niệm căn bản của chiến tranh nhân dân trong xây dựng quân đội ở phần sau. Các vấn đề chiến lược, chiến thuật trong hệ thống chính ủy cũng được bàn tới.
 Mặc dù nói rằng chiến tranh nhân dân do Mao khởi thủy đề xuất tại vùng biên giới Giang Tây-Hồ Nam nhưng sẽ thiếu sót lớn nếu không đề cập tới những văn bản đầu tiên ông viết như ”Phân tích về giai cấp trong xã hội Trung Hoa” hay ”Tường trình về Điều Tra Nông Dân khởi nghĩa tại Hồ Nam”. Nếu nghiên cứu các tài liệu đó người ta sẽ thấy rằng một phần các quan điểm xây dựng quân đội của Mao tại vùng biên giới chỉ là khai triển các quan điểm từ trước. Nói khác đi, lý thuyết về chiến tranh nhân dân có thể tìm thấy từ hai văn kiện này.
A.   Phân tích về Cấu Trúc Giai Cấp của Trung Hoa và Quan Điểm Xây Dựng Quân Đội của Mao Trạch Đông
 a/ Liên Minh Cách Mạng -Nông Dân
 Ngay từ đầu phân tích của ông về giai cấp trong xã hội Trung Hoa, Mao đã khẳng định là muốn bảo đảm sự thành công của cách mạng, người Cộng Sản phải quan tâm đến việc kết hợp với mọi thành phần bạn thực sự để tấn công thành phần địch thực sự. Muốn phân biệt thế nào là bạn thực sự và thế nào là địch thực sự ”chúng ta phải phân tích tổng quát về tình trạng kinh tế của các giai cấp khác nhau trong xã hội Trung Hoa và thái độ tương ứng của họ với cách mạng”. 
Mao chia dân chúng Trung Hoa thành 5 nhóm tùy theo tình trạng kinh tế. Đứng đầu 5 nhóm là giai cấp địa chủ và các thành phần cấu kết mà theo Mao luôn luôn ngả về chủ nghĩa đế quốc tạo nên một bè lũ phản cách mạng. 
Giai cấp tư sản được coi là đại diện cho liên hệ sản xuất tư bản tại thành thị cũng như nông thôn. Họ có thái độ chống lại cách mạng. 
Giai cấp thứ ba theo cách xếp loại của Mao là tiểu tư sản trong đó bao gồm nông dân có ruộng đất, các thợ cả (đứng đầu một nhóm thợ), thành phần trí thức cấp dưới, các viên chức công quyền, thư ký, luật sư nhỏ và tiểu thương... Thành phần này ủng hộ cách mạng theo nhiều mức độ khác nhau.
Kế tiếp giai cấp tiểu tư sản là giai cấp bán vô sản gồm đa số nông dân vừa có đất vừa cày thuê, bần nông, thợ tiểu công nghệ, công nhân trong các tiện bán hàng và kẻ bán hàng rong. Thành phần này muốn xã hội thay đổi để đời sống được cải thiện.
Giai cấp sau cùng Mao gọi là vô sản được coi là thành phần tiến bộ nhất trong xã hội và là lực lượng lãnh đạo cách mạng Trung Hoa. Tổng số giai cấp này vào thập niên 1920 không quá hai triệu gồm các công nhân kỹ nghệ của Trung Hoa. 
Tóm tắt phân tích, Mao kết luận rằng kẻ thù của họ gồm tất cả những ai liên minh với đế quốc -quân phiệt, thư lại, giai cấp hợp tác, đại địa chủ và thành phần phản động trong giai cấp trí thức. Trong khi đó lực lượng lãnh đạo cách mạng là công nhân vô sản, các đồng minh của họ bao gồm toàn bộ giai cấp bán vô sản và tiểu tư sản. Thành phần tư sản thì phe hữu là địch, phe tả là bạn -nhưng vẫn phải cảnh giác coi chừng đừng để họ gây rối hàng ngũ cách mạng. 
Trong phân tích này, mặc dù Mao phong cho công nhân danh hiệu ”lực lượng lãnh đạo vận động cách mạng”, ông vẫn nhìn thấy nông dân (bán vô sản) là thành phần bạn thân thiết nhất. Ông đi thêm một bước khẳng định vai trò cách mạng quan trọng của nông dân trong điều tra về khởi nghĩa nông dân tại tỉnh Hồ Nam.
 b/ Thành phần Tiền Phong của Cách Mạng -Bần Cố Nông
 Trước khi việc hợp tác Quốc Dân Đảng -Cộng Sản sụp đổ vào thời kỳ đầu của hành quân Bắc Phạt, Cộng Sản đã từng tích cực tham gia vào các cuộc vận động nông dân ở bất cứ nơi nào họ hiện diện. Mao đã từng du hành quan sát 5 huyện thuộc Hồ Nam để tìm hiểu sự thực ngõ hầu giải quyết các ta thán trong và ngoài Đảng. Báo cáo của ông ta sau này cũng minh định là nông dân là lực lượng cách mạng đáng được Đảng tiến hành vận động giống như kết luận của phân tích về giai cấp tại Trung Hoa. Trong số những vấn đề ông đưa ra, có ba điểm trong báo cáo này là nòng cốt cho các chiến lược quân sự và chính trị trong cuộc cách mạng sắp tới. 
Thứ nhất, ông tìm ra là ”bần nông luôn luôn là lực lượng chính yếu trong những trận đánh khốc liệt tại nông thôn... Họ đáp ứng việc lãnh đạo của đảng Cộng Sản tích cực nhất. Họ là kẻ thù không đội trời chung với cường hào ác bá và tấn công chúng không ngần ngại”.
 Theo tìm hiểu của Mao tại huyện Trường Sa (Changsha), bần nông chiếm đến 70% tổng số dân chúng tại nông thôn, là xương sống của các hiệp hội nông dân và là đội quân tiên phong trong việc đánh đổ các thế lực phong kiến. ”Nếu không có bần nông thì không cách nào đưa tới được tình trạng cách mạng như hiện nay tại nông thôn... Không có bần nông thì không thể có cách mạng”. Thành ra ông nói rõ là kẻ nào phủ nhận vai trò nông dân thì kẻ đó phủ nhận cách mạng.
 Thứ hai, ông tìm ra là sau khi lật đổ được các thế lực phong kiến địa phương, cường hào ác bá, các hiệp hội nông dân dễ dàng nắm được quyền lực ở dưới cấp huyện và trở thành quyền lực chính trị chủ yếu tại khu hay thôn đó. Trong xã hội Trung Hoa ngày xưa, các quyền lực chính trị địa phương dưới cấp huyện tại nông thôn thường nằm trong tay giai cấp địa chủ và hào phú. 
Theo Mao, giới hào phú cai trị nông thôn chẳng khác gì vua chúa. Sau khi nông dân nổi dậy, quyền lực của giai cấp địa chủ thường bị đánh đổ và các cơ chế hành chánh nông thôn dễ dàng bị tàn lụi.
 Khi các thành phần bần nông có tổ chức dễ dàng phá hủy nhanh chóng giới chức quyền thế địa phương để thay bằng các hiệp hội nông dân thân Cộng có thể đã khiến Mao khai triển thành chiến lược lấy nông thôn bao vây thành thị và trở thành một phần bộ quan trọng trong chiến tranh nhân dân đánh bại lực lượng Quốc Dân Đảng trong cuộc chiến Quốc Cộng sau này. 
Thứ ba, nông dân võ trang là lực lượng quan trọng nhất của Hồng Quân. Chính họ giúp cho đảng Cộng Sản kiểm soát được nông thôn và đạt được mục tiêu chiến lược là lấy nông thôn bao vây thành thị. 
Tại nông thôn Trung Hoa, lực lượng võ trang thường do chính quyền địa phương, thân hào và địa chủ kiểm soát thường gọi là võ trang tự vệ hay an ninh. Khi các hiệp hội nông dân cướp chính quyền từ tay thân hào địa chủ họ không mất thời gian tái lập kiểm soát và tổ chức các lực lượng này theo nhu cầu. Các lực lượng đó tuy số lượng không nhiều nhưng được trang bị súng trường và các vũ khí nhẹ và gồm cả những lực lượng thiện chiến ở nông thôn.
 Ngoài ra, các hiệp hội nông dân cũng trang bị các hội viên với giáo mác hay những gì họ kiếm được ở nông thôn và tổ cức họ thành các đội quân. So với các lực lượng tự vệ trang bị đầy đủ thì khí giới của họ quá thô sơ nhưng bù lại có số đông nên trở thành một lực lượng đáng kể hỗ trợ cho quyền lực của nông dân ở thôn quê. Họ có thể đương cự được với các lực lượng địa phương, cảnh sát và sai nha tổng huyện không cho vào làng. Ngay cả khi cá viên chức chính quyền có việc phải xuống nông thôn họ cũng run sợ trước khí thế giáo mác không dám nhũng nhiễu. 
Khi Mao viết bản báo cáo này vào tháng ba năm 1927 thì ông ta không nghĩ rằng việc hợp tác với Quốc Dân Đảng lại đổ vỡ nhanh đến thế. Vì thế ông không tổ chức nông dân võ trang như một phần bộ của Hồng quân. Thế nhưng việc tương tranh xảy ra chỉ sau cuộc chính biến tháng Tư một vài tháng. 
Theo Mao, công cuộc vận động nông dân ở Hồ Nam đạt được nhiều thành quả to lớn mà Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và Quốc Dân Đảng tốn mấy chục năm không làm được. Ông còn nhận thấy các hiệp hội nông dân biến đổi nông thôn như một cuộc cách mạng quét sạch hệ thống cũ kỹ kéo dài hàng nghìn năm lật úp mọi thứ chỉ trong một đêm. Dựa trên những gì ông thấy và ông tưởng tượng, ông đi đến kết luận sau đây thể hiện rõ ràng phần nào chiến lược quân sự và chính trị trong cuộc cách mạng sắp tới.
Chỉ một thời gian ngắn, từ các tỉnh trung nam bắc của Trung Hoa hàng trăm triệu nông dân đứng dậy như một cơn bão táp, như một trận cuồng phong, một lực thật nhanh chóng, thật vũ bão mà không lực nào dù lớn đến đâu có thể ngăn lại được. Cơn bão đó đập tan mọi xiềng xích tiến lên đường giải phóng. Nó quét sạch đế quốc, quân phiệt, tham quan ô lại, cường hào ác bá xuống mồ sâu. Mọi đảng cách mạng, mọi cán bộ cách mạng sẽ được cơn bão đó thử thách, chấp nhận hay khai trừ. Chỉ có ba trường hợp. Tiến lên phía trước để lãnh đạo nó ư?. Hay đi theo phía sau, chỉ trỏ phê bình?. Hay đứng ngăn đường chống lại nó? Mọi người Trung Hoa có quyền tự do lựa chọn nhưng các biến cố sẽ bắt các anh lựa chọn thật nhanh.
Mao chọn trường hợp đầu tiên ông đưa ra. Ông quyết định lãnh đạo nông dân hoàn thành cuộc cuộc cách mạng. Nông dân vũ trang trở thành lực lượng nòng cốt của ông ta và tiên phong cho cách mạng, giúp cho ông ta và đảng Cộng Sản nắm được quyền.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:02:05 am
B.   Cuộc tranh đấu ở Tỉnh Cương Sơn (Jinggangshan) và sự hình thành Chiến Tranh Nhân Dân
 Cái tên ”chiến tranh nhân dân” xuất hiện trong tác phẩm Mao viết đầu thập niên 1940 trước khi Trung -Nhật chiến tranh kết thúc nhưng lý thuyết của nó đã được phát triển từ khi Mao bắt đầu đấu tranh võ trang chống lại Quốc Dân Đảng ở Tỉnh Cương Sơn trong vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam.
 a/ Vụ chính biến tháng Tư năm 1927 và nổi dậy của Đảng Cộng Sản
 Chỉ một năm sau khi Bác Sĩ Tôn Dật Tiên tạ thế, mối quan hệ giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản Đảng trở nên căng thẳng. Sự phát triển của Cộng Sản trong nội bộ Quốc Dân Đảng cũng như ảnh hưởng của họ với nông dân và công nhân khiến cho Quốc Dân Đảng e ngại và xung đột giữa các viên chức địa phương, quân đội và các tổ chức công nông do Cộng Sản lãnh đạo bùng nổ từng đợt. 
Khi lực lượng Bắc Phạt đánh về phía hạ lưu sông Dương Tử, các vận động công nông của cộng Sản cũng lan sang vùng này. Phong trào nông dân ở Hồ Nam được Mao nghiên cứu trong báo cáo của ông chỉ là một trong nhiều trường hợp tương tự. Các hoạt động công nhân của họ cũng kiểm soát Thượng Hải, trang bị cho công nhân các loại vũ khí mới trước khi quân đội Quốc Dân Đảng tới đây và hoạt động chính của họ là tấn công người ngoại quốc và các thương gia người Hoa. Rối loạn đã khiến cho người ta e ngại một sự can thiệp quốc tế của các lực lượng đế quốc đóng trong khu vực này. Việc đó khiến cho Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng có cớ đem quân đàn áp các tổ chức công nhân và những người đỡ đầu cho họ là Cộng Sản. 
Biến cố đó xảy ra trước hết tại Nam Kinh ngày 24 tháng 3 năm 1927 khi quân đội tiến vào thành phố tấn công những người ngoại quốc và cướp của, mà chủ yếu là các chính trị viên Cộng Sản phải chịu trách nhiệm. Khi mỗi lúc một thêm hỗn loạn lan tới Thượng Hải, Tưởng giới Thạch ra lệnh cho quân đội đàn áp tại Thượng Hải vào ngày 12 tháng 4 chiếu nghị quyết của Ủy Ban Kiểm Sát Trung Ương Quốc Dân Đảng ban hành vài ngày trước. Cuộc trấn áp đó cũng được quân phiệt Trương Tác Lâm (Zhang Dao Lin) đồng thời tiến hành tại Bắc Kinh ngày 6 tháng 4, trong đó một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng Sản là Lý Đại Chiêu (Li Dazhao) bị treo cổ. 
Dù bị đàn áp tại ba nơi Thượng Hải, Nam Kinh và Bắc Kinh nhưng không vì thế mà Cộng Sản rút lui hoàn toàn ra khỏi Quốc Dân Đảng. Họ lợi dụng sự rạn nứt nội bộ của Quốc Dân Đảng nên nhờ Uông Tinh Vệ (Wang Jingwei) và cánh tả của ông ta tại Vũ Hán (Wuhan) bảo vệ được 4 tháng tới cuối tháng 7 thì Uông cũng đi theo cánh hữu của Quốc Dân Đảng mà loại trừ Cộng Sản ra khỏi Đảng. 
Chính quyền Vũ Hán trục xuất Cộng Sản đã mở đường cho Mao Trạch Đông xách động nông dân nổi lên mà ông ta tiên tri là sẽ đập tan xiềng xích và quét sạch quân thù. 
Sau vụ thanh lý Vũ Hán, các lực lượng võ trang dưới quyền Cộng Sản tập trung tại Nam Xương (Nanchang), thủ phủ tỉnh Giang Tây và quyết định nổi dậy chống lại Quốc Dân Đảng vào ngày mồng 1 tháng 8. một tuần sau, một buổi họp khẩn cấp được triệu tập tại Cửu Giang (Jiujiang) và ngoài những việc khác, kỳ này đại hội Đảng đã đề cử Mao vào chức vụ Bí Thư Ủy Ban tiền phương của Khởi Nghĩa Mùa Thu để chỉ huy Hồng Quân chiếm Vũ Hán và các tỉnh khác. Chiến dịch thất bại và Hồng quân tổn thất nặng nề. Mao bị coi là có trách nhiệm và vi phạm mệnh lệnh nên bị cách chức. Tuy nhiên, trước khi nghe lệnh bãi chức, ông đem hết quân bản bộ đến vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam lập căn cứ và xây dựng các Xô viết tại thị trấn Gia Lăng (Jialing) gần đó. Từ đó ông chính thức xây dựng Hồng Quân để củng cố thế lực tại vùng Tỉnh Cương Sơn.
 b/ Xây dựng Căn Cứ Địa và Cách Mạng Nông Dân
  Khi Mao đến vùng biên giới, ông lập tức quyết định đưa ra một loạt chính sách để thúc đẩy nổi dậy làm cách mạng trên toàn quốc. Chính sách đó là thiết lập căn cứ địa, thành lập một lực lượng chính trị, tiến hành cách mạng nông dân và bành trướng quân đội nhân dân bằng cách xây dựng Vệ Binh từ các thôn ấp trở thành quân đội chính qui. Ngay khi các công tác đó hoàn tất, lực lượng chính trị độc lập sẽ lan ra toàn quốc theo từng đợt. 
Xây dựng căn cứ địa: Một cơ chế chính trị độc lập muốn sống còn thì phải có quân đội hỗ trợ. Trong chiến tranh qui ước hay chiến tranh du kích, quân đội bao giờ cũng cần một căn cứ địa an toàn để bảo vệ họ khỏi bị tấn công bất thần. Nếu không có căn cứ thì họ khó lòng có thể thực hiện công tác. Vấn đề đó còn nghiêm nhặt hơn khi một lực lượng du kích phải thực hiện chiến lược ngay trong lòng địch. Sau khi thất bại trong Khởi Nghĩa Mùa Thu, Mao phải chạy tới vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam và hết sức cần một địa bàn an toàn ngõ hầu có thể tái tổ chức lực lượng bắt đầu một cuộc đấu tranh mới. Vì thế Mao coi việc thành lập căn cứ là công tác số một phải làm.
Mười năm sau thời Tỉnh Cương Sơn, khi bàn về việc thành lập một căn cứ địa trong vùng Nhật chiếm, Mao tóm lược kinh nghiệm cũ của ông bằng cách đưa ra phương thức làm sao để biến một căn cứ du kích thành căn cứ địa. Ông đưa ra những điều kiện căn bản như sau:
 ... Khi một lực lượng địch đông đảo đã bị quấy phá hay đánh bại, khi chính quyền bù nhìn đã bị phá vỡ, quần chúng nức lòng muốn hành động, các tổ chức quần chúng kháng Nhật đã thành lập, dân quân địa phương đã phát triển, quyền lực chính trị chống Nhật đã hình thành.
  Khi Mao bắt đầu thành lập thế lực chính trị vùng biên giới, ông đã có kinh nghiệm trong thời kỳ đấu tranh quân sự để lật đổ các thế lực địa phương và quân đội của họ. Cho nên ông chú trọng đến việc tiến hành sâu rộng cách mạng ruộng đất để bành trướng ảnh hưởng chính trị trong vùng biên giới và do đó củng cố lực lượng vừa thành lập. 
Cải cách ruộng đất: Cải cách ruộng đất còn được gọi là chia đất cho dân hay đấu tranh giành lại điền sản. Mặc dầu đây là một chương trình quan trọng của Cộng Sản trong công tác vận động nông thôn nhưng nó còn được dùng như một phương tiện của Đảng để xách động nông dân, đoàn ngũ hóa, võ trang họ để mở rộng Hồng Quân. Nếu không có phân chia ruộng đất đảng không thể nào đạt được mục tiêu cộng tác quân sự từ phía nông dân. 
Trong thời Trung Nhật chiến tranh, dưới chiêu bài Mặt Trận Liên Hiệp , chính sách phân chia ruộng đất được thay bằng chính sách ”giảm tô, giảm lãi”. Khi các chính quyền địa phương tỉnh Giang Tô tạm thời ngưng các chương trình này tại căn cứ của họ, nhiệt tình của nông dân trong việc ủng hộ du kích giảm xuống. Thành thử, Đảng Cộng Sản bắt buộc phải tái lập các chính sách đó dù bị Quốc Dân Đảng phản đối. Cho nên có thể nói rằng mục tiếu trước mắt của cải cách ruộng đất là quân sự hơn là chính trị trong những năm chiến tranh.
 Vận động nông dân các cơ cấu của đảng và chính quyền địa phương chỉ có thể thực hiện được nếu có Hồng quân hỗ trợ. Cho nên, các đảng bộ tại vùng căn cứ địa phải coi cải cách ruộng đất là ưu tiên. 
c/ Thành lập các Thế Lực Chính Trị
 Mao đã từng lập đi lập lại về sự cần thiết và khả dĩ thành lập các thế lực chính trị độc lập tại vùng biên giới dù hoàn toàn bị địch bao vây. Khi bàn về tại sao phe Cộng có thể duy trì một thực lực chính trị trong một thời gian dài, Mao đưa ra 5 lý do, là những vấn đề khách quan và tất yếu đã khiến cho các cơ chế tại biên giới tồn tại được. Đó là: thứ nhất, một quốc gia có một nền kinh tế lạc hậu bán thuộc địa do đế quốc cai trị một cách gián tiếp, thứ hai, chiến tranh liên miên giữa các thành phần của tần lớp cai trị khiến họ không tập trung được lực lượng để thanh toán Hồng quân, thứ ba, việc kiên trì phát triển cách mạng lên bình diện quốc gia, thứ tư, sự hiện diện thường trực của Hồng quân với một lực lượng tương đối mạnh bảo vệ căn cứ địa khỏi bị phá hoại hay tấn công và sau cùng nhưng không phải kém quan trọng nhất là có một tổ chức đảng để chỉ đạo chiến đấu. 
Có hai trong năm điều kiện quan trọng hơn các điều kiện khác, đó là tình trạng kinh tế và sức mạnh của Hồng quân.
 Khi Mao bàn về tình hình kinh tế, ông nhấn mạnh về đặc tính lạc hậu và kinh tế nông nghiệp địa phương. Ông cho rằng các kẻ địch lẫn lực lượng của họ phải tùy thuộc nặng nề vào khu vực nông nghiệp. Do đó, nếu có thể kiểm soát một khu vực biên giới tương đối khá về sản xuất nông phẩm thì Hồng quân có thể tồn tại một thời gian lâu dù bị cắt đứt các tiếp vận từ đô thị. Tuy nhiên, ông không quên tình trạng nghiêm trọng khi bị kẻ địch phong tỏa. Ông luôn luôn nhắc nhở Đảng phải cảnh giác về việc giải quyết các vấn đề kinh tế tại khu vực biên giới.
 Vì cuộc đấu tranh tại đây chủ yếu là quân sự, cả đảng lẫn quần chúng đều phải đặt trong tình trạng chiến đấu. Làm sao đối địch là một vấn đề. Theo Mao, một chế độ độc lập phải có lực lượng quân sự. Nếu không có chiến thuật đối phó thích hợp, thiếu chuẩn bị thì sẽ bị quân thù đè bẹp dù có trú đóng ở đâu chăng nữa. Dân chúng trong chiến khu thường được trang bị nhưng các Hồng vệ binh này chỉ thích hợp trong việc bảo vệ trị an hay đàn áp địa chủ chứ không đủ sức chiến đấu chống các lực lượng chính qui. Vì thế hết sức khẩn yếu ”không thể nào thành lập được một chế độ độc lập... nếu chúng ta không có một lực lượng chính qui đủ mạnh”. Mao đã viết như thế.
 Một lực lượng chính qui mạnh là một vấn đề quan trọng để bảo đảm cho chế độ tồn tại được nhưng quân đội chính qui đó muốn phát triển và bành trướng thì phải dựa vào sự hỗ trợ của quần chúng võ trang. 
d/ Quần chúng võ trang và sự Bành trướng của Hồng quân
 Động viên và trang bị quần chúng: Hồng quân vùng biên cương Giang Tây-Hồ Nam vào cuối thập niên 1920 phải thực hiện nhiều công tác không nằm trong phạm vi chiến đấu. Mao viết:
 Hồng quân là một bộ phận võ trang để thực hiện những công tác chính trị của cách mạng... Hồng quân chiến đấu không phải chỉ cho chiến đấu mà để thực hiện công tác tuyên truyền trong quần chúng, tổ chức, trong bị họ, giúp họ thành lập sức mạnh chính trị cách mạng. Nếu không có những mục tiêu này thì chiến đấu không còn ý nghĩa và Hồng quân không còn lý do tồn tại. 
Ông dùng những từ đó để phê bình cái gọi là quan niệm quân sự thuần túy của Hồng quân tại căn cứ địa. Tuy nhiên, ông không chủ trương là vai trò quan trọng của chiến đấu có thể làm ngơ. Thực tế, điều Mao thực sự muốn nhấn mạnh về vai trò không quân sự của Hồng quân là củng cố và bành trướng các đơn vị này.
 Trong việc động viên quần chúng, quân chính qui tổ chức nhân dân trong căn cứ thành nhiều nhóm khác nhau tùy theo tuổi tác, điều kiện thể lực, quá trình chính trị và huấn luyện quân sự... Nói chung, mọi nông dân đều được tổ chức để hoặc gia nhập Hồng quân , hoặc nằm trong các cơ sở ngoại vi của nó. Những người từ 18 đến 23 thuộc thành phần lý lịch tốt được đưa vào thanh niên tiền phong, người nào tỏ ra xuất sắc trong thao diễn quân sự, có lý lịch tốt được đưa vào đội kiểu mẫu. Người nào dưới 18 tuổi và trên 40 tuổi không đủ điều kiện gia nhập Hồng quân hay cơ sở ngoại vi thường được tổ chức vào các đội giặt giũ, văn nghệ hay thiếu nhi... Mọi người đều được trang bị với những gì khả dĩ trong thời đó và được chỉ định tập luyện các công tác quân sự, chính trị thời chiến.
 Các hoạt động tổ chức quần chúng tiếp tục và mở rộng thêm trong thời Trung -Nhật chiến tranh và thời Vận Động Công Xã cuối thập niên 1950 khi chiến dịch Mỗi Người Là Một Người Lính tới cao điểm. Để nối kết các tổ chức này lại với nhau, toàn dân vùng biên giới và sau này toàn quốc trở thành một binh đội. 
Ba Cấp độ Tuyển Mộ của Hồng Quân: Mặc dầu Cộng Sản thành lập các trường quân sự riêng của họ tại vùng biên giới vào thập niên 1930 để huấn luyện sĩ quan nhưng đặc điểm nổi bật nhất trong xây dựng quân đội của họ là công tác bén rễ. Phần vì tình trạng đặc biệt, phần vì quan điểm quần chúng, Mao đã đưa ra một hệ thống quân sự ba cấp bảo đảm cho việc chiến đấu khỏi bị kiệt quệ về nhân sự trong thời chiến. Hệ thống ba cấp đó gồm có quần chúng võ trang, Hồng quân địa phương và Hồng quân chính qui. 
Dưới cùng của ba cấp độ này là quần chúng võ trang được tổ chức thành những đơn vị ngoại vi hay Hồng Vệ Binh. Các tổ chức ngoại vi thành lập nơi thôn xã còn cấp Vệ binh thành lập nơi quận huyện. Trong khi Vệ binh trang bị súng trường và các võ khí tối tân khác, các tổ chức ngoại vi của công nông chỉ được trang bị giáo mác. Họ được coi như lực lượng võ trang địa phương trong thời kỳ đầu của cải cách ruộng đất. Trong thời chiến, Vệ binh được giao nhiệm vụ du kích quân chống xâm nhập, các tổ chức ngoại vi chủ yếu dùng để duy trì trật tự và hỗ trợ Vệ binh trong chiến đấu. 
Hệ thống đó sau được cải tổ cho chặt chẽ hơn theo một tiến trình phát triển toàn diện từ xã lên đến toàn vùng biên giới. Mao viết: ... mở rộng lực lượng nhân dân võ trang bằng một tiến trình toàn diện về xây dựng đầu tiên là Vệ Binh hàng thôn đến Vệ Binh hàng tổng lên Vệ binh hàng huyện, lên Hồng quân địa phương lên đến Hồng Quân chính qui. 
Theo hệ thống ba cấp, Vệ Binh bao gồm cả các tổ chức ngoại vi và Vệ binh không còn được coi là lực lượng võ trang địa phương nữa. Thay vào đó nay có một tổ chức mới với cái tên là Hồng Quân Địa Phương nằm giữa Vệ Binh và Hồng quân chính qui. Vệ binh tùy từng thời kỳ có khi được giao cho nhiệm vụ đơn vị tự phòng, dân quân, tổ chức ngoại vi công nông, đội kiểu mẫu và thanh niên tiền phong... đại diện cho lực lượng võ trang quần chúng, gắn chặt với chính quyền địa phương làng xã, tổng huyện. Đa số các trường hợp họ hoạt động bán thời gian và không được quyền tách rời khỏi vai trò chính yếu là sản xuất dù là công nhân hay nông dân. 
Hồng Quân Địa Phương được phát triển như các lực lượng khu vực trong thời gian sau này, chủ yếu được giao nhiệm vụ bảo vệ một địa phương nơi họ trú đóng khác với lực lượng chính qui có thể dùng để tiến đánh bất cứ nơi đâu.
 Trong khi Vệ binh chủ yếu động viên để củng cố căn cứ, mục tiêu tối hậu của họ là cung cấp một nguồn tiếp liệu vô tận về nhân lực để mở rộng Hồng quân chính qui. Dây là một trong những lý do chính của hệ thống ba cấp. Trước khi Trung Hoa thi hành hệ thống cưỡng bách nhập ngũ vào cuối thập niên 1950, Hồng Quân chủ yếu dựa vào hệ thống này để tuyển mộ binh lính. Một số đơn vị hay cá nhân xuất sắc trong Vệ Binh, hay dân quân sau này, thường được vận động gia nhập Hồng Quân địa phương, nơi Hồng quân chính qui lấy người bổ xung. Hệ thống tuyển bổ theo cấp bậc này thường được goi là thăng, theo đó Vệ binh và Hồng quân địa phương có thể được nâng lên theo từng bậc. Ngay cả sau khi chế độ cưỡng bách áp dụng vào năm 1957, cũng chỉ chọn lựa trong các đơn vị dân quân là tổ chức thay thế Vệ binh trong xã hội Trung Hoa. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:03:00 am
C.   Từ Nhân Dân mà ra, vì Nhân Dân mà Chiến Đấu
  Khi phân tích các phương thức đối phó của chính quyền Quốc Dân Đảng trong Trung Nhật chiến tranh, Mao phân biệt hai chiến tuyến giữa Cộng quân và Quốc quân. Ông tuyên bố rằng có một ”lộ tuyến nhân dân” mà đảng Cộng Sản Trung Hoa phải tìm được để đoàn kết tất cả những công dân yêu nước trong ”một cuộc chiến toàn dân để đi tới chiến thắng”. 
Mặc dầu Mao không định nghĩa từ ngữ ”lộ tuyến nhân dân” nhưng chúng ta có thể hiểu được, tuy nhiên nó cũng tương tự như quan niệm về lộ tuyến quần chúng trong đó có nghĩa là một đảng chính trị hay một chính quyền phải đưa ra những chính sách phù hợp với nguyện vọng hay lợi ích tối đa cho quần chúng và phải dựa vào họ để thi hành các chính sách đó. Người Cộng Sản gọi lực lượng võ trang của họ là quân đội nhân dân, chiến đấu cho nguyện vọng của đại chúng và toàn quốc. Mao viết ”Nhiệm vụ then chốt của quân đội là sát cánh với nhân dân Trung Hoa, đem hết tâm nguyện ra phục vụ họ”. 
Trong bản Báo cáo về Điều Tra phong trào Nông Dân tại Hồ Nam, Mao khẳng định là đảng cách mạng phải hiểu được sức mạnh của phong trào nông dân và phải thay đổi thái độ đối với họ. Chỉ có thế thì tương lai cách mạng mới bảo đảm. Về sau, ông cũng đi xa hơn mà nói rằng ”nguồn sức mạnh phong phú nhất để chi viện cho chiến tranh là quần chúng”, ”tập hợp quần chúng trên một bình diện rộng lớn là phương thức duy nhất bảo đảm nguồn năng lượng vô tận đáp ứng mội đòi hỏi của chiến tranh”. Khi Hồng quân tự đặt mình vào trong quần chúng và được nhân dân coi là quân đội của họ thì sẽ trở thành vô địch. 
Dựa trên các nhận định đó, Mao dồn nỗ lực xây dựng quân đội vào việc động viên quần chúng và võ trang họ. Dần dần phát triển thành hệ thống quân sự ba cấp. Trong hệ thống này, khi nào ba lực lượng còn phối hợp được với nhau trong chiến đấu, nó sẽ còn là ”một cuộc chiến tranh nhân dân thực sự. Chỉ có chiến tranh nhân dân mới có thể đánh bại một kẻ quốc thù”. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:03:54 am
4.   CÁC CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN THUẬT CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
  Chúng ta đã bàn đến các quan điểm căn bản của Mao về chiến tranh nhân dân và các nguyên tắc tổng quát trong việc tiến hành một cuộc chiến cách mạng, các chiến lược và chiến thuật đặc biệt phản ảnh các tính chất của nhân dân võ trang chưa bàn tới.
 Như đề cập từ trước, theo Mao, mỗi cuộc chiến có những đặc tính riêng mà luật lệ của cuộc chiến này không thể áp dụng y nguyên vào cuộc chiến khác, vì mỗi cuộc chiến có những luật lệ riêng bắt nguồn từ tình trạng riêng rẽ như bản chất, thời gian, địa điểm. Về vấn đề thời điểm thì ”cả chiến tranh và luật lệ của nó được hình thành, mỗi giai đoạn lịch sử có những đặc tính riêng của nó. Cho nên, các nguyên lý của chiến tranh mỗi thời đại có những đặc tính riêng, không thể chỉ áp dụng một cách máy móc vào một thời kỳ khác”. 
Thay vì đi sâu vào chi tiết các chiến thuật, chiến lược của Mao Trạch Đông, trong phần này chúng tôi sẽ phân tích về những yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến phương cách chọn chiến lược, chiến thuật và thay đổi thao từng thời kỳ để đáp úng với các khó khăn mới như thế nào. Cho nên, các phân tích sẽ cố đưa ra những câu trả lời cho những câu hỏi như:
• Mao hình thành các quan điểm chiến lược, chiến thuật và chiến dịch như thế nào? • Các tương quan của nó ra sao?
• Các giả thuyết căn bản Mao dựa vào để phác họa các chiến lược, chiến thuật trong cuộc chiến tranh cách mạng Trung Hoa? • Mao dùng chiến thuật để thay đổi những bất lợi trong chiến lược như thế nào?
• Mao hướng dẫn các thay đổi chiến lược, chiến thuật tùy theo sự phát triển của chiến tranh như thế nào?
•   Mao đã viết một loạt nguyên tắc quân sự dựa trên các kinh nghiệm riêng của ông trong việc chỉ đạo chiến tranh cách mạng Trung Hoa. Đến mức độ nào thì những nguyên tắc đó có thể coi là những nguyên lý chung về chiến tranh, có giá trị trường cửu hay chỉ giới hạn? 
A.   Quan điểm Chiến Lược, Chiến Thuật và Chiến Dịch của Mao Trạch Đông
 Trong một văn kiện quân sự quan trọng, Mao phân tích kỹ càng về chiến lược nhưng lại không đưa ra một định nghĩa chính xác. Ông chỉ nói một các đơn giản là ”đối tượng của khoa học chiến lược là học hỏi các luật lệ chỉ đạo chiến tranh chi phối tình trạng chiến đấu một cách toàn cục”. 
Trong định nghĩa giản dị này, có ba từ ngữ mang tính quan niệm: đó là khoa học, luật lệ chỉ đạo chiến tranh và tình trạng chiến đấu toàn cục. 
Khi bàn về nhận thức của Mao về chiến tranh trong phần hai của chương này, chúng tôi đã nói là thái độ của ông đối với vấn đề chiến tranh có tính khoa học hơn là tính nghệ thuật. Luật lệ chiến tranh là ”sự phản ảnh của những đối tượng thực sự trong đầu chúng ta”. Theo Mao, mọi việc ở bên ngoài đầu óc là đối tượng thực tế, theo từ ngữ chiến tranh, kể cả mọi tình huống của địch và của chính ta.
Người ta phải ”làm quen chính mình với mọi tình cảnh để tìm ra luật lệ điều khiển hoạt động của cả hai bên và làm dùng các luật đó vào việc điều binh của chính mình”. ”Cách thức duy nhất dùng để học hỏi luật lệ chỉ đạo chiến tranh một cách toàn cục là phải động não (suy nghĩ thấu đáo)... chứ không còn cách nào khác”. 
Từ những phát biểu đó, chúng ta thấy rõ ràng là Mao coi chiến lược là một khoa học, việc học hỏi các luật lệ chiến tranh ”chi phối toàn cục tình hình” chứ không thể học từng phần. Các luật lệ chiến tranh chi phối một phần được coi là khoa học chỉ đạo chiến dịch hay chiến thuật. 
Tình trạng toàn cục chính là điểm then chốt của khoa học chiến lược mà Mao đã tốn nhiều công sức để phân tích. Ông viết:
 Ở đâu có chiến tranh thì ở đó có tình trạng chiến tranh toàn cục. Tình trạng chiến tranh toàn cục có thể bao trùm toàn thế giới, có thể bao trùm một quốc gia hay chỉ bao trùm một vùng du kích cá biệt hoặc chỉ một mặt trận quan trọng. Mọi tình trạng chiến tranh đòi hỏi một sự hiểu biết thấu đáo về mọi phương diện, mọi mức độ tạo ra một tình trạng toàn cục.
Trong khi tình trạng toàn cục có thể áp dụng vào nhiều mức độ từ toàn cầu đến một quốc gia, một khu vực du kích hay một mặt trận quan trọng, quan điểm về chiến lược cũng có thể chia ra thành những mức độ tương tự và do đó gần giống như cách xếp loại của Tưởng Giới Thạch về chiến lược như đại chiến lược, chiến lược quốc gia, chiến lược quân sự, chiến lược trận tiền... 
Thế nào thì có thể coi là một tình trạng toàn cục? Theo Mao, các vấn đề tập hợp đơn vị và đội hình, tương quan giữa các chiến dịch, tương quan giữa các cấp độ hành quân khác nhau và tương quan giữa các hoạt động của ta nói chung và các hoạt động của địch nói chung, đều là những đề mục cần phải đề cập. Ngoài ra, ông còn liệt kê không dưới 15 đề mục mà các cấp chỉ huy phải đưa ra như những vấn đề trên cấp độ chiến lược. Nói chung, các vấn đề quan yếu của chiến lược tập trung vào những dữ kiện có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với toàn cục cuộc chiến dù thắng hay bại. 
Khi có cuộc chiến trong tình trạng toàn cục thì phải có chiến tranh trong tình trạng phần bộ, được chỉ đạo bởi các luật lệ về chiến tranh mà khoa học, chiến dịch hay chiến thuật đã được Mao định nghĩa sẵn. 
Tuy Mao hết sức chú trọng đến chiến tranh toàn cục nhưng ông cũng không bỏ qua các vai trò của chiến tranh phần bộ là những vấn đề thuộc về chiến dịch và chiến thuật. Trái lại, ông nói là tình trạng toàn cục ”không thể tách rời khỏi các phần bộ để trở thành độc lập với các phần tử đó, vì nó là tổng thể của mọi phần bộ”. Tuy nhiên, ông không coi mọi phần bộ đều như nhau vì những hậu quả của mỗi phần bộ không giống nhau. 
Một số thất bại hay chiến bại trong hành quân chiến thuật hay chiến dịch không dẫn tới sự suy thoái của chiến tranh toàn cục vì nó không to lớn hay có tính quyết định. Thế nhưng nếu thua trong các chiến dịch tạo nên chiến tranh toàn cục, hay một hai chiến dịch có tính quyết định thì sẽ lập tức thay đổi cục diện.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:04:25 am
B.   Các yếu tố dùng để quyết định chiến lược 
Trong khi bàn đến các đặc tính của chiến tranh cách mạng Trung Hoa để khám phá các luật chiến tranh chi phối hoạt động của cả đôi bên, Mao dùng 5 yếu tố để đưa ra tiến trình phân tích trong việc chọn lựa các chiến lược trong cuộc Trung Nhật chiến tranh, bao gồm tình trạng địch, tình trạng ta, địa hình, thời điểm và bản chất cuộc chiến. Mọi yếu tố đó -ngoài yếu tố sau cùng -là những yếu tố tiêu biểu mà các cấp chỉ huy phải sử dụng đến trong chiến dịch. 
a/ Tình trạng địch
  Tình trạng địch không chỉ đề cập đến lợi điểm của địch mà cả những bất lợi của họ. Chẳng hạn như Nhật Bản là một đế quốc mạnh trong cuộc chiến với Trung Hoa vì họ có một lực lượng quân sự, kinh tế, chính trị, tổ chức mạnh nhưng bất lợi về số lượng. Nhật Bản ”là một quốc gia tương đối nhỏ, hạn chế về nhân sự, quân sự, tiền bạc và tài nguyên nên không thể theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ”. 
b/ Tình trạng ta
 Trong cuộc chiến tranh kháng Nhật, Trung Hoa là một quốc gia bán thuộc địa, bán phong kiến. Trung Hoa cũng còn là một quốc gia yếu kém và ở thế hạ phong so với địch về quân sự, kinh tế, chính trị và tổ chức. Mao viết là ”ở đây chúng ta thấy chiến tranh không thể tránh được và Trung Hoa cũng không thể nào thắng nhanh được”.
 c/ Địa hình
  Trong khi Nhật Bản là một quốc gia nhỏ, thiếu tài nguyên, Trung Hoa là một nước lớn, đất rộng, tài nguyên dồi dào, dân đông không thiếu nguồn nhân lực chiến đấu và có khả năng theo đuổi chiến tranh lâu dài. 
d/ Thời điểm
Theo Mao, trong thời gian cuối thập niên 1930, Trung Hoa vẫn yếu nhưng trong thời gian một thế kỷ qua đã tích tụ được nhiều phát triển và phong trào giải phóng không còn giống như trước đây. Dù các lực lượng trong và ngoài nước đẩy lùi tiến bộ nhưng cũng đồng thời khích động quần chúng Trung Hoa. Cho nên, trong thời kỳ tiền chiến tranh Trung Nhật, Trung Hoa đã tiến bộ hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử. Dựa trên lập thuyết đó, Mao tin rằng chiến tranh giải phóng của Trung Hoa sẽ kéo dài nhưng cuối cùng sẽ đi đến thành công.
 e/ Bản chất cuộc chiến
 Ngoài những điều kiện vật chất, Mao tin rằng có một yếu tố tinh thần cần phải tính đến. Vì cuộc chiến Trung Nhật là một cuộc chiến đế quốc xâm lược do Nhật khởi xướng nên bản chất phản động và dã man không thể không khơi dậy tính căm thù của nhân dân Trung Hoa và các dân tộc khác. Mao viết ”Chiến tranh không công chính chỉ được hỗ trở rất ít ỏi là một qui luật và đó là bản chất đích thực của chiến tranh Nhật Bản”. Trái lại ”Trung Hoa được sự ủng hộ của thế giới vì bản chất tiến bộ và công chính của cuộc chiến mà chúng ta đang tiến hành”. Đó chính là lợi điểm to lớn của Trung Hoa.
 Dựa trên phân tích đó, Mao đi đến kết luận là bản chất mâu thuẫn của hai đối tượng trong cuộc chiến Trung Nhật đã quyết định mọi chính sách và chiến lược quân sự cũng như chiến thuật của cả hai bên và đi đến sự khẳng định là ”tính chất trường kỳ và các hệ luận của nó đã đưa tới chiến thắng tối hậu cho nhân dân Trung Hoa chứ không phải Nhật Bản” 
Phân tích này và kết luận của nó không chỉ làm nền tảng cho chiến lược ”trường kỳ kháng chiến” chống Nhật mà còn quyết định cả chiến lược du kích trong Trung Nhật chiến tranh. Theo Mao, chiến tranh du kích trong một nước nhỏ chỉ có thể hỗ trợ cho chiến dịch và quân chính qui trong một thời gian ngắn hay nói khác đi chỉ có thể yểm trợ chiến thuật chứ không chiến lược. Mặt khác, nếu một quốc gia mạnh thì quân xâm lăng bị đánh đuổi nhanh chóng hay chỉ chiếm được một vùng nhỏ. Tuy nhiên khi một quốc gia lớn nhưng yếu như Trung Hoa bị một quốc gia nhỏ nhưng mạnh như Nhật Bản tấn công, kẻ thù có thể chiếm một khu vực rộng của quốc gia lớn nhưng không đủ quân để kiểm soát chặt chẽ và tạo nên nhiều kẽ hở trong khu vực bị chiếm đóng. Cho nên chiến tranh du kích kháng Nhật không chỉ giới hạn vào các chiến dịch nội tuyến yểm trợ quân chính qui mà còn phải thực hiện các chiến dịch độc lập thuộc phạm vi ngoại tuyến. nói một cách khác, chiến tranh du kích có thể đóng cả vai trò chiến lược trong đấu tranh.
 Phân tích này đã trở thành một lý thuyết nền tảng cho Cộng Sản Trung Hoa để phát triển chiến tranh du kích trong các vùng bị chiếm đóng chuyển vai trò các lực lượng du kích từ chiến thuật sang vai trò chiến lược.
 Tuy nhiên trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã chứng tỏ là tầm vóc một quốc gia không còn quan trọng mấy trong việc quyết định vai trò chiến lược hay chiến thuật của lực lượng du kích vì quân du kích Việt Nam cũng không giới hạn nhiệm vụ của họ trong chiến thuật dù lãnh thổ của họ so với Trung Hoa nhỏ hơn nhiều. 
C.   Thay đổi Biện Chứng trong Tương quan Lực Lượng
 Như đã đề cập trước đây, duy vật biện chứng là phương pháp phân tích đã ảnh hưởng đến Mao một cách đáng kể. Ông thường nói là phải nhìn sự vật trên hai mặt ”nhận diện và đấu tranh giải quyết... Trong những điều kiện nào đó, hai mặt mâu thuẫn của một vấn đề chuyển qua thành mặt bên kia”.
 Dường như rút ra từ lý thuyết tương quan mâu thuẫn này mà Mao khai triển lý luận biện chứng về tương quan giữa thủ và công, tiến và thoái, thắng và bại, chiến thuật và chiến lược. Trên một mức độ nào đó, ông nối kết quan điểm triết học cổ điển Âm Dương với luật mâu thuẫn và cải biến tương quan mâu thuẫn này thành lý thuyết đắp đổi hỗ tương. Như thế, ông có thể biến đổi tương quan lực lượng từ những bất lợi thành lợi điểm. 
Một quân đội chiến đấu trong nội tuyến chiến lược phải chịu rất nhiều bất lợi... Thế nhưng trong các chiến dịch và trận đánh chúng ta có thể và tuyệt đối có thể thay đổi tình trạng này. Chúng ta có thể biến một chiến dịch bao vây, càn quét to lớn do địch phát động thành những chiến dịch riêng biệt nhỏ của chúng ta bao vây và càn quét địch... Chúng ta có thể chuyển đổi ưu thế chiến lược của địch thành ưu thế của chúng ta trên bình diện chiến dịch và chiến trận. Chúng ta có thể tạo cho một kẻ địch vốn dĩ mạnh về chiến lược thành một kẻ địch yếu về chiến dịch và chiến trận. Cái đó gọi là ngoại tuyến bên trong nội tuyến, bao vây càn quét bên trong bao vây càn quét, phong tỏa bên trong phong tỏa, thế công trong thế thủ, tìm ưu trong liệt, tìm mạnh trong yếu, tìm lợi trong bất lợi, chủ động trong bị động. Sự thắng lợi trong tự vệ chiến lược tùy thuộc chủ yếu vào sự tính toán này -tập trung lực lượng.
 Không có gì mới mẻ trong nguyên tắc tập trung lực lượng, vấn đề là làm sao áp dụng một cách hiệu quả vào việc điều quân. Các nhà lãnh đạo quân sự Trung Hoa đã bàn về chiến thuật cách mạng trong nhiều thập niên bằng cách ”lấy một chống mười, lấy mười chống trăm” và ngay cả ”lấy một chống trăm, chống ngàn”, nhưng không ai nhìn vấn đề một cách nghiêm chỉnh và biến đổi sao để có thể đem ra thực hành. Thành thử, vẫn chỉ là một khẩu hiệu, nói thì hay nhưng không ích lợi gì trong chiến đấu. Tuy nhiên, dưới sự vận dụng của Mao Trạch Đông, nó đã trở thành một chiến thuật thực tiễn. Ông nói:
 Chiến lược của chúng ta là ”lấy một chống mười” nhưng chiến thuật của chúng ta là ”lấy mười chống một”. Đó là một trong những nguyên tắc căn bản để khống chế kẻ thù. 
Đây là một tỉ dụ điểm hình về việc Mao dùng một phương pháp chiến thuật phá vỡ sự ưu thắng chiến lược của địch quân. 
Mao nhắc đi nhắc lại nguyên tắc này nhiều lần trong các binh pháp do ông soạn. Ông thường nói ”tập trung lực lượng ưu thế diệt địch từng đơn vị một” ”Hậu quả của phương pháp chiến đấu này là, trước hết, tiêu diệt toàn bộ và thứ hai, quyết định nhanh chóng”. 
Những gì ông nói ra có thể không mới mẻ đối với các cấp chỉ huy nhiều kinh nghiệm, nhưng sự kết hợp các nguyên tắc này áp dụng vào những hạn chế đưa lại những kết quả hết sức vẻ vang.
 Khi bàn về tập trung lực lượng để chiếm ưu thế, ông thường nói là ”quân ta phải tập trung để đạt ưu thế tuyệt đối -gấp sáu, năm, bốn hay ít nhất gấp ba quân địch -rồi chọn một thời điểm thích đáng bao vây tiêu diệt một trung đoàn (hay tiểu đoàn) trước.” Khi nói về tiêu diệt địch, ông khẳng quyết là ”làm bị thương mười ngón tay không bằng chặt đứt một lóng, cầm chân mười sư đoàn chẳng bằng diệt một sư đoàn” 
Việc áp dụng thành công các chiến lược và chiến thuật này đã trở thành các yếu tố quyết định giúp cho Cộng Sản thắng trong cuộc nội chiến năm 1949.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:06:47 am
D.   Các Nguyên Tắc điều binh của Mao
 Từ khi Cộng Sản Trung Hoa bắt đầu võ trang nổi dậy ngày mồng 1 tháng 8 năm 1928 ở Nam Xương (Nanchang), tỉnh Giang Tây (Jiangxi), đích thân Mao chỉ huy cuộc chiến đấu quân sự chống cả nội địch lẫn ngoại thù trong suốt 20 năm. Vào năm 1947, hai năm sau khi cuộc chiến với Quốc Dân Đảng bắt đầu, Mao tổng kết các kinh nghiệm quân sự trong cuộc chiến tranh cách mạng Trung Hoa, nhất là hai năm sau cùng, và các nguyên tắc nổi tiếng trong điều binh dẫn đến thắng lợi sau cùng trong cuộc chiến Quốc -Cộng. Nếu các nguyên tắc đề cập trong các phần trước có thể coi như áp dụng các nguyên tắc quân sự tổng quát của Mao vào tình trạng đặc biệt của nước Tàu, các nguyên tắc điều binh sau đây mới thực sự đại biểu các nguyên tắc rút ra từ kinh nghiệm của Trung Hoa trong cuộc chiến tranh nhân dân và có thể áp dụng vào những nước có hoàn cảnh tương tự. 
Bản chính các nguyên tắc này do Mao đưa ra vào ngày mồng 1 tháng 9 năm 1947 như những điều hướng chiến lược của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản cho quân đội trong năm thứ hai của cuộc chiến. Các nguyên tắc đó được cải tiến và báo cáo lên Trung Ương Đảng bốn tháng sau. Các nguyên tắc đó như sau:
1. Tấn công chia cắt, cô lập lực lượng địch trước, tấn công các lực lượng mạnh, tập trung sau.
 2. Chiếm các thành phố cỡ nhỏ, cỡ trung và các nông thôn bao quát trước, các thành phố lớn sau.
 3. Mục tiêu chính là quét sạch các lực lượng tinh nhuệ của địch chứ đừng coi việc chiếm giữ một địa điểm hay một thành phố là chính. Tiêu diệt được các lực lượng tinh nhuệ của định thì tất nhiên sẽ chiếm được thành thị hay địa điểm và một vị trí chỉ có thể giữ được khi chuyển qua chuyển lại nhiều lần.
4. Trong mọi trận đánh, tập trung một lực lượng ưu thế tuyệt đối (gấp hai, ba, bốn hay đôi khi sáu bảy lực lượng địch), bao vây hoàn toàn, cố tiêu diệt hoàn toàn không để một tên nào thoát lưới. Trong những điều kiện đặc biệt, dùng phương pháp đánh chí mạng, nghĩa là tập trung hết lực lượng đánh mặt trước và một hoặc hai bên sườn, nhằm mục đích quét sạch một phần, truy kích một phần để quân ta có thể nhanh chóng đưa quân đến đập tan các lực lượng khác. Cố tránh các trận đánh tiêu hao vì như thế ta thua nhiều hơn được hay hòa. Theo cách đó, dù tổng số lực lượng ta có ít hơn (trên số lượng) , chúng ta vẫn ưu thắng trên mọi tình huống, mọi chiến dịch, bảo đảm thắng lợi trên mặt trận. Dần dà, chúng ta sẽ có ưu thế tổng thể và từ từ quét sạch mọi lực lượng địch.
5. Không bao giờ đánh mà không chuẩn bị, không bao giờ đánh mà không chắc thắng, cố gắng tối đa để chuẩn bị cho mỗi trận đánh, cố gắng tối đa để bảo đảm cho thắng lợi trong những điều kiện có được của địch và ta.
 6. Thể hiện toàn bộ phương cách chiến đấu của chúng ta -can đảm trong chiến trận, không sợ hi sinh, không sợ mệt mỏi, chiến đấu liên tục (có nghĩa là đánh thắng liên tiếp trong một thời gian ngắn không nghỉ ngơi).
7. Cố gắng quét sạch địch bằng chiến tranh lưu động. Cùng một lúc, chú trọng vào chiến thuật tấn công vị trí và chiếm giữ các vị trí hiểm yếu và thành phố của địch.
8. Khi tấn công các thành phố, cố gắng chiếm giữ các vị trí quan yếu và các thành phố kém phòng bị. Nắm lấy các cơ hội khi địch phòng thủ yếu và cho ta hoàn cảnh thuận tiện. Nếu các vị trí và thành thị phòng bị chặt chẽ, chờ thời cơ chín mùi hãy chiếm.
 9. Bổ xung lực lượng bằng vũ khí và nhân sự chiếm được của địch. Tài nguyên chính yếu của quân đội ta về nhân sự và vật liệu lấy từ mặt trận.
10.Lợi dụng tối đa thời gian giữa hai trận đánh để dưỡng sức, huấn luyện và củng cố hàng ngũ. Thời kỳ nghỉ ngơi, huấn luyện và củng cố nói chung không nên dài để quân địch không có thì giờ lại sức. 
Như đã nêu ra từ trước, các nguyên tắc hành quân của Mao có những đặc tính khác với nguyên tắc quân sự thông thường, có thể tóm lược như sau: 
Thứ nhất, hầu như một nửa các nguyên tắc là chiến lược tránh né các cường điểm, tấn công các nhược điểm của địch. Đó cũng là chủ thuyết sáng giá nhất trong Tôn Tử binh pháp. Mao đã áp dụng vào tình trạng cố định của chiến tranh cách mạng Trung Hoa. 
Thứ hai, ông ta nhấn mạnh vào sự cần thiết của bồi dưỡng lực lượng ta bằng tiếp liệu của địch nơi mặt trận. Theo Tôn Tử, một quân đội có thể dựa vào lương thực của địch nhưng quân cụ phải mang từ nhà đi. Theo Mao, không những lương thực mà cả khí giới, nhân sự cũng có thể lấy từ phía địch. Nói chung trong chiến tranh hiện đại, dựa vào địch để cướp đoạt tiếp liệu trang bị cho mình là điều hết sức khó khăn. Tuy nhiên, đối với một lực lượng cách mạng, trong giai đoạn đầu thường không có nguồn tiếp vận đáng kể thì cũng có thể tự trang bị bằng những gì cướp được từ tay địch nơi chiến trường.
 Thứ ba, Mao không đề cập đến chiến lược nổi tiếng của ông là lấy nông thôn bao vây thành thị trong các nguyên tắc hành quân. Thay vào đó, ông khuyên quân của ông nên chiếm các vùng nông thôn rộng rãi và các thành thị nhỏ và vừa trước. Tuy nhiên, ông cũng minh xác trong các tác phẩm khác là, dù khó khăn khi dựa vào nông thôn chống lại thành thị, người ta vẫn có thể từ nông thôn đánh bại địch bằng cách bao vây và cô lập các thành phố. 
Lý thuyết dùng nông thôn để bao vây và chống lại thành thị trở nên một chiến lược nổi danh toàn thế giới từ khi Thống Chế Lâm Bưu ấn hành bài báo nhan đề ”Chiến Tranh Nhân Dân Vạn Tuế” vào giữa thập niên 1960. Lâm còn đi xa hơn diễn giải chủ thuyết này trên một nghĩa quốc tế. Ông ta coi Hoa Kỳ cùng các quốc gia kỹ nghệ phát triển ở Tây Âu và Nhật Bản là các thành phố của thế giới trong khi vô số các quốc gia đang phát triển ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ Latin là khu vực nông thôn rộng lớn của thế giới. Nhân dân cách mạng của vùng nông thôn này sẽ đánh bại Hoa Kỳ và các cường quốc trong thành phố của thế giới bằng cách chiếm lĩnh các địa bàn nông thôn. 
Sau cùng, khi Mao khuyên quân đội của ông nên tập trung gấp bốn, năm hay sáu bảy lực lượng địch để quét sạch từng đơn vị một, độc giả thường có khuynh hướng cho rằng ông lạm dụng lực lượng trên chiến địa. Nói chung, hai đến ba lầm lực lượng địch cũng đủ để khống chế chiến trường và quét sạch địch. Tuy nhiên, có hai điểm đáng đề cập. Thứ nhất, các lực lượng du kích hai quân cách mạng thường không được trang bị đầy đủ như kẻ địch nên cần phải gấp hai, gấp ba tiêu chuẩn thông thường thì mới bảo đảm được chiến thắng. Thứ hai, nguyên tắc này liên quan chặt chẽ với lý thuyết cọp giấy của Mao. Theo Mao, ”chúng ta phải coi thường địch trên chiến lược và hết sức coi trọng địch trên chiến thuật”. Khi ông nói coi thường địch trên chiến lược là ông nói tới địch như toàn khối giai cấp cai trị mà Mao coi là một giai cấp phản động và chỉ là con cọp giấy. Tuy nhiên, khi đụng trận trên chiến trường thì con cọp giấy trở thành con cọp thật, nên phải đối phó hết sức thận trọng. Cho nên, phải tập trung toàn bộ lực lượng để có ưu thế tuyệt đối chống địch từng đơn vị một.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:07:17 am
E.   Sự phát triển về Chiến Lược và Chiến Thuật 
Như đề cập trong phần trước, một đặc tính của lý thuyết quân sự của Mao là nhận thức rằng những định luật chiến tranh thay đổi luôn luôn tùy theo sự phát triển của tình trạng. Vấn đề này được ông phân tích cặn kẽ trong ”Chiến Lược Chiến Tranh Cách Mạng của Trung Hoa”. Ông tin rằng mỗi giai đoạn lịch sử có những đặc tính riêng cho nên định luật chiến tranh mỗi thời một dị biệt không thể áp dụng một cách máy móc vào một giai đoạn khác. Dựa trên ý thức đó, Mao tỏ ra uyển chuyển trong việc chọn chiến lược và chiến thuật và giữ cho phát triển đều đặn theo sự thay dổi của tình trạng phải đối phó.
 a/ Biến đổi của Lực Lượng Du Kích và Chiến Tranh Du Kích
 Mặc dầu Mao không coi chiến tranh nhân dân và chiến tranh du kích là một nhưng rất quan trọng khi nhận định rằng chiến tranh du kích gần như là chiến lược duy nhất mà một lực lượng cách mạng phải dùng đến khi bắt buộc phải chiến đấu chống một kẻ thù mạnh mẽ và trang bị đầy đủ hơn nhiều. Khi xét về vai trò quan trọng của chiến tranh du kích trong tiến trình cách mạng, Lâm Bưu viết:
Chiến tranh du kích là phương thức duy nhất để động viên và áp dụng toàn bộ sức mạnh nhân dân chống lại kẻ địch, phương thức duy nhất bành trướng lực lượng ta trong tiến trình chiến đấu, làm suy yếu và tan rã hàng ngũ địch để dần dần thay đổi sự quân bằng lực lượng giữa địch và ta.
Từ các kinh nghiệm của chiến tranh cách mạng Trung Hoa, không còn nghi ngờ gì lực lượng du kích luôn luôn là lực lượng tiên phong của một quân đội cách mạng để gây nội chiến. Tuy nhiên, khi chiến tranh cách mạng tiến đến một mức độ cao hơn thì chiến tranh qui ước hình thành và các lực lượng du kích biến thành lực lượng chính qui trên tầm vóc cũng như trên tổ chức. Nếu không khó có thể đáp ứng đòi hỏi của chiến tranh. Chính đó là chỗ Mao khẳng định là ”các đơn vị du kích và chiến tranh du kích sẽ không tồn tại như cũ mà sẽ phát triển lên một cấp độ cao hơn dần dần tiến hóa thành những đơn vị chính qui và chiến tranh qui ước”.
 Sự phát triển và biến hóa của các lực lượng và chiến tranh du kích đã khiến cho lý thuyết của Mao đặc sắc hơn lý thuyết của Marx và Lenin. Theo Marx, các đơn vị du kích ”là phương tiện duy nhất để một nước nhỏ có hi vọng chống lại một kẻ địch có ưu thế hơn về số lượng cũng như trang bị. Đó là cách một lực lượng yếu thắng một kẻ địch mạnh và tổ chức qui củ hơn”. Lenin cho rằng chiến tranh du kích là hình thức đấu tranh không thể không dùng tới khi vận động quần chúng đã trưởng thành đến thời kỳ nổi dậy và khoảng cách giữa các trận đánh lớn trong cuộc nội chiến ngắn dần đi. Cả Marx lẫn Lenin đều không nói rõ là các lực lượng du kích có thể chuyển thành lực lượng chính qui để đảm trách một vai trò tích cực hơn trong chiến tranh hay không. 
Trong những giai đoạn đầu trong đấu tranh võ trang của Cộng Sản Trung Hoa, chiến tranh du kích được chủ yếu dùng trong mức độ chiến thuật, được nêu rõ trong chiến thuật căn bản của Mao về chiến tranh du kích như sau:  Địch tiến, ta lui. Địch đóng trại, ta quấy phá. Địch mệt mỏi, ta tấn công. Địch rút lui, ta truy kích. 
Chẳng bao lâu, Mao bắt đầu chuyển hóa các lực lượng du kích. Vì mục tiêu này, ông kịch liệt chống lại ý thức duy trì các lực lượng loạn quân di động mà nhất định đói thành lập căn cứ và bành trướng Hồng quân. 
Mao mô tả sự biến đổi từ chiến tranh du kích sang chiến tranh qui ước ở giai đoạn đầu chiến tranh là ”theo kiểu Trung Hoa, chính qui chỉ trong việc tập trung lực lượng cho chiến tranh lưu động và đến một mức độ tập trung và hoạch định nào đó trong chỉ huy và tổ chức. Trên các phương diện khác vẫn mang tính chất du kích”. Nói khác đi, việc nâng cấp quân đội và chiến tranh du kích vẫn phải theo từng bước tùy theo tình trạng thực tế.
 b/ Ba giai đoạn phát triển chiến lược trong chiến tranh trường kỳ  Chiến lược của chiến tranh trường kỳ có ở Trung Hoa đã lâu trước thời chiến tranh Trung Nhật. Tuy nhiên, viễn tượng và xu thế phát triển còn mơ hồ cho tới khi Mao đưa ra ”Trường Kỳ Kháng Chiến” năm 1938. Mao cho rằng chiến tranh trường kỳ phải trải qua ba thời kỳ phát triển và chuyển biến tương quan lực lượng và chấm dứt bằng chiến thắng của Trung Hoa. 
Việc Nhật Bản đột ngột đầu hàng sau khi người Mỹ thả hai trái bom nguyên tử lên Nagasaki và Hiroshima khiến cho ba giai đoạn chuyển hóa chiến lược của Mao không hoàn tất. Tuy nhiên, sau này nó được hình thành trên một mức độ đáng kể trong cuộc chiến chống lại Quốc Dân Đảng. 
Theo Mao, giai đoạn đầu nằm trong thời kỳ địch sử dụng chiến lược tấn công và Trung Hoa trong chiến lược phòng thủ. Vì là phía yếu, Trung Hoa phải trước hết theo sát chiến tranh lưu động, hỗ trợ bằng di kích và chiến tranh vị trí. Vì sự kháng cự mãnh liệt của người Trung Hoa và sự kiệt quệ về tài chánh và kinh tế của người Nhật, động lực tấn công của địch bị khựng lại vào giữa giai đoạn này và chuyển ngay vào giai đoạn cuối.
 Giai đoạn thứ hai có thể coi là chiến lược bế tắc. Vào cuối giai đoạn thứ nhất ”quân địch bị bắt buộc phải sửa chữa một số cứ điểm của chiến lược phản công vì thiếu quân và sự phản công mãnh liệt của ta và tới giai đoạn này họ phải chấm dứt giai đoạn phản công để bước vào giai đoạn bố phòng các vùng đã chiếm được”. 
Vì sự trải rộng quá đáng và không đủ quân, quân địch chỉ có thể kiểm soát một số điểm chiến lược và trục lộ giao thông, bỏ trống vùng nông thôn. Việc đó khiến cho quân đội Trung Hoa có cơ hội xâm nhập và thực hiện chiến tranh du kích. Cho nên, tại thời kỳ này, ”đội hình chiến đấu của Trung Hoa chủ yếu là chiến tranh du kích, hỗ trợ bằng chiến tranh lưu động”. Chiến tranh du kích trong giai đoạn này do chủ lực quân đảm trách, khác với chiến tranh du kích khi còn ở Giang Tây-Hồ Nam đầu thập niên 1930.
Việc gia tăng hoạt động du kích trong vùng địch chiếm, theo Mao không còn nằm trong phạm vi chiến thuật mà đã trở thành hoạt động chiến lược. Quân đội tiến vào hậu cứ của địch để thành lập những căn cứ du kích, lưu động và nông dân võ trang, để bắt đầu tranh giành lãnh thổ với kẻ địch. Thời kỳ này dái hay ngắn tùy theo mức độ thay đổi trong tương quan lực lượng giữa hai bên và sự thay đổi trong tình hình quốc tế. Theo Mao nó ”sẽ trở thành giai đoạn chuyển tiếp của toàn cuộc chiến... Trung Hoa sẽ từ giai đoạn đó chiếm được quyền lực để chuyển từ yếu sang mạnh”. 
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn phản công để tái chiếm các vùng đất bị mất. Khi Trung Hoa chuyển chiến tranh sang phản công chiến lược và ngoại tuyến ”đội hình chiến đấu chính yếu sẽ là chiến tranh lưu động nhưng chiến tranh vị trí sẽ tiến lên trở thành quan trọng...”. Chiến tranh du kích sẽ một lần nữa yểm trợ chiến lược hỗ trợ bằng chiến tranh lưu động và chiến tranh vị trí nhưng không còn là mô hình chính yếu như các giai đoạn trước. 
Sự phát triển và chuyển hóa chiến lược, chiến thuật ở mỗi giai đoạn chiến tranh sẽ chủ yếu tùy thuộc vào sự thay đổi trong tương quan lực lượng của cả hai bên. Vai trò của các lực lượng du kích, dẫu vẫn là phũ thuộc trên bản chất, sẽ trở nên chiến lược hơn là chỉ đóng vai trò chiến thuật. Các căn cứ du kích và nông dân võ trang trong vùng địch xây dựng từ thời kỳ đầu sẽ đóng một vai trò quan trọng trong chiến đấu tổng phản công. Tuy nhiên, lý thuyết của Mao về chiến tranh du kích trên mức độ chiến lược tùy thuộc vào địa bàn rộng lớn của quốc gia. Như đã đề cập tới trước đây, nếu một nước nhỏ sẽ không đủ chỗ cho lực lượng du kích hoạt động trong vùng địch chiếm. 
c/ Sự thực thi Chiến Tranh Nhân Dân của Mao trong chiến tranh Quốc -Cộng
 Cuộc nội chiến giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản xảy ra ngay sau Trung Nhật chiến tranh. Người Mỹ cố gắng thương lượng một giải pháp hòa bình nhưng việc đó chỉ diên trì chiến tranh được vài tháng. Khi chiến tranh không còn tránh được nữa, Mao áp dụng lý thuyết chiến tranh nhân dân của ông mặc dầu không hoàn toàn giống như Mao tiên đoán. 
Vào lúc đầu của cuộc chiến, tương quan lực lượng giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản cách biệt rất xa. Cộng Sản ở vào thế phòng thủ chiến lược. Tuy nhiên, tình trạng khác hẳn cuộc nội chiến thứ nhất lẫn chiến tranh kháng Nhật vì Cộng Sản có trong tay khoảng một triệu quân chính qui và hai triệu rưỡi dân quân. Vì thế Mao có thể tiến hành một cuộc chiến tranh lưu động ngay từ thời đầu của cuộc nội chiến như ông hình dung giai đoạn đầu chiến tranh kháng Nhật. Chiến tranh du kích trở nên kém quan trọng trong kế hoạch chiến lược của ông. 
Trong cuộc nội chiến hiện nay, vì tình hình đã đổi khác nên phương pháp chiến đấu cũng phải đổi theo. Việc tập trung lực lượng dùng trong chiến tranh lưu động phải ưu tiên đầu, sự phân tán lực lượng chiến đấu du kích chỉ còn là phụ thuộc. 
Trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến, Hồng quân có thể ngăn chặn chiến lược tấn công của Quốc Dân Đảng tại một số vùng trong vòng một năm và đến tháng 2 năm 1947, Mao có thể phản công tại một số mặt trận. Tình trạng sớm hơn dự liệu đó khiến Mao có thể đưa chiến tranh vào vùng Quốc Dân Đảng làm chủ từ giữa năm 1947 và thiết lập các căn cứ du kích ngay giữa Trung Hoa. Giai đoạn chiến lược cam go chỉ kéo dài một giai đoạn ngắn trước khi Mao tung ra công cuộc tổng phản công tối hậu. 
Từ tháng 9 năm 1947 đến tháng 10 năm 1948, quân đội Quốc Dân Đảng chịu nhiều tổn thất nặng nề trên một số mặt trận và vì thế phải bắt buộc lui về phòng thủ chiến lược. Hồng quân chặn đánh quân Quốc Dân Đảng trong một số chiến dịch then chốt tại Mãn Châu, Từ Châu (Xuzhou) và Bắc Kinh từ cuối năm 1948 đến đầu năm 1949 và hầu như tiêu diệt toàn bộ. Vì thế, khi chiến tranh bước vào năm thứ tư, chế độ Quốc Dân Đảng bắt đầu sụp đổ và bắt buộc phải rút lui trên khắp các nơi và sau cùng hoàn toàn ra khỏi lục địa đầu năm 1950. Cuộc nội chiến gần như chấm dứt ngoại trừ Đài Loan và một số đảo ngoài khơi còn do quân đội Quốc Dân đảng kiểm soát mãi tới ngày nay.   


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:07:58 am
5.   HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIÊN VÀ CHÍNH TRỊ NẮM QUYỀN
 Ai ai cũng công nhận rằng Hồng Quân là một lực lượng võ trang của đảng Cộng Sản đóng vai một đoàn cán bộ chính trị trong chiến tranh cách mạng Trung Hoa. Vì thế, khi gặp phải hệ thống chính ủy trong Hồng quân và quyền tối thượng của Đảng đối với quân đội người ta thường tự hỏi tại sao Trung Cộng lại phát triển hệ thống này? Hệ thống ấy hoạt động ra sao trong quân đội? Hồng quân làm việc như một đoàn cán bộ chính trị như thế nào? Và sau cùng, tương lai của hệ thống này ra sao? Nói một cách khác, tương quan giữa đảng Cộng Sản và Hồng quân sẽ thay dổi ra sao? Các phân tích dưới đây tập trung vào các câu hỏi đó.
A.   Bối cảnh lịch sử của Hệ Thống Chính Ủy
 Như đã đề cập trong phần hai của chương này, theo chủ nghĩa Marx, quyền tư hữu là nguyên nhân nẩy sinh ra đấu tranh giai cấp và từ đó sinh ra quốc gia. Cho nên, quốc gia là sản phẩm và là tuyên ngôn của việc không thể hòa giải giữa các giai cấp, là một bộ phận của giai cấp thống trị và là một công cụ để giai cấp này áp bức giai cấp khác.
 Muốn duy trì giai cấp cai trị một cách hiệu quả, bạo lực là phương tiện không thể thiếu được của tầng lớp thống trị được thể hiện bằng một cơ chế tổ chức là quân đội quốc gia.
Trong giai cấp đấu tranh giữa tầng lớp trưởng giả và vô sản, mục tiêu của Cộng Sản trong vai trò tiền phong của giai cấp vô sản, có nhiệm vụ đưa gai cấp này lên hàng thống trị và dùng quyền chính trị tối thượng của họ để tịch thu toàn bộ tài sản của giai cấp trưởng giả, tập trung tất cả các phương tiện sản xuất trong tay nhà nước.
Để đạt mục tiêu đó, giai cấp vô sản phải có lực lượng võ trang ngõ hầu lật đổ giai cấp tư sản. Vì thế Lenin khẳng định là người vô sản phải được trang bị ”cho mục tiêu chế ngự, tước đoạt và giải giới bọn tư sản... Chỉ sau khi giai cấp vô sản giải giới được bọn tư sản thì lúc ấy mới có thể... quăng hết khí giới vào thành một đống sắt vụn...” Sau cuộc cách Mạng tháng 10, 1917, Lenin lập tức thành lập một hệ thống chính ủy trên toàn bộ quân đội. Chính trị viên đại diện cho đảng nắm quyền kiểm soát chính trị các cấp chỉ huy quân sự. Làm như thế mới có thể biến các lực lượng võ trang Sa hoàng thành Hồng quân trong vòng vài ba năm. 
Sự thành tựu của Liên Xô có một ảnh hưởng hết sức to lớn đối với Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Bác Sĩ Tôn Dật Tiên cử Tướng Tưởng Giới Thạch đi một vòng nghiên cứu hệ thống của Liên xô năm 1923 và sau này đưa ra một hệ thống đại diện Đảng trong trường Võ Bị Hoàng Phố năm 1924, sau mở rộng ra toàn bộ quân đội cách mạng như đã đề cập trong chương 5. 
Khi Quốc Dân Đảng thành lập trường võ bị Hoàng Phố, dưới thỏa hiệp hợp tác mới ký kết, nhiều cán bộ Cộng Sản như Chu Ân Lai hay Diệp Kiếm Anh (Ye Jiangying) được đưa vào làm việc tại Hoàng Phố và các đơn vị quân đội khác. Nhiều người được đề cử làm đại diện đảng hay chính trị viên trong quân đội Quốc Dân Đảng. Thành thử, hệ thống đảng trong quân đội Dân Quốc đã ảnh hưởng tới sự cấu trúc của quân đội Cộng Sản. 
Việc hợp tác Quốc Cộng sụp đổ và tổn thất nhân mạng lớn lao trong chính biến tháng Tư năm 1928 đã khiến các lãnh tụ Cộng Sản quyết định thành lập quân đội riêng do chính Đảng Cộng Sản kiểm soát. Trong tập ”Các vấn đề Chiến Tranh và Chiến Lược”, Mao đã viết là tại Trung Hoa hiện đại ”kẻ nào có quân đội thì kẻ đó có quyền hành”. Các chính đảng không có quân đội hay không muốn có quân đội riêng không thể chia chác các chức vụ trong chính quyền. Mao kết luận:
 Đảng nào có súng là có quyền, kẻ nào nhiều súng có nhiều quyền. Trong tình trạng như thế, đảng của giai cấp vô sản phải nhìn thấu đáo tâm điểm của vấn đề. 
Người Cộng Sản không chiến đấu để giành quyền lực cho cá nhân mà họ chiến đấu cho quyền lực quân sự của Đảng, cho quyền lực quân sự của nhân dân... Mỗi người Cộng Sản phải nhìn thẳng vào sự thực ”quyền lực chính trị phát xuất từ nòng súng”. 
Tương quan giữa khẩu súng và đảng ra sao? Đảng Cộng Sản có để cho các cấp chỉ huy quân sự ra lệnh không? Bản thân Mao không phải là một quân nhân. Hơn nữa, cuộc chiến bất tận giữa các quân phiệt đã làm hình ảnh người lính trở nên xấu xa. Không thể nào Cộng Sản lại giao tương lai đảng vào tay những quân phiệt. Vì thế, Mao khẳng định rằng ”nguyên tắc của chúng ta là Đảng chỉ huy khẩu súng, khẩu súng không bao giờ được phép chỉ huy Đảng. Có súng chúng ta có thể thực hiện tổ chức Đảng”
 Với quá trình lịch sử như thế, hệ thống chính trị viên được đưa vào Hồng quân ngay từ buổi ban đầu. Ngay bản thân Mao cũng đảm nhận vai trò chính trị viên hơn là vai trò chỉ huy quân sự thời còn ở Tỉnh Cương Sơn. Sau đó ông thành lập một khuôn mẫu cho hệ thống chính ủy và tương quan giữa Đảng và quân đội.
B.   Tổ chức Đảng và Nhiệm Vụ trong Quân Đội
 Với hệ thống chính ủy, Mao không những kiểm soát được chính trị mà còn biến quân dội thành một đoàn cán bộ chính trị thi hành các chương trình chính trị của Đảng trong thời chiến. Đó là khác biệt chính yếu giữa hệ thống chính ủy của Hồng quân và hệ thống của Quốc Dân Đảng.
 a/ Tổ chức Đảng trong Quân Đội
 Ngày nay ai ai cũng biết là trong quân đội, đảng Cộng Sản có một hệ thống chính trị viên tổ chức chu đáo. Đứng đầu là Ủy Ban Quân Sự (Quân Ủy Trung Ương) là nơi đưa ra các quyết định về chính sách luôn luôn do những lãnh tụ tối cao của đảng chủ tọa.
Dưới Quân Ủy là Tổng Bộ Chính Trị, chịu trách nhiệm về ý thức, kỷ luật, đạo đức và giáo dục chính trị cho quân đội. Tổ chức kéo dài từ bộ tổng tham mưu Hồng quân xuống đến cấp đại đội. Tại mỗi cấp, đứng đầu là một chính trị viên hoặc giám đốc, hoặc cả hai. Nói chung, thường có một chính ủy và một giám đốc chính trị tại những đơn vị cao cấp nhưng dưới cấp trung đoàn thì chỉ có một giám đốc chính trị mà thôi. Chính ủy là lãnh tụ đảng trong đơn vị, thay mặt đảng giám sát quân đội còn giám đốc chính trị chịu trách nhiệm các công tác chính trị hàng ngày. Trong trường hợp không có chính ủy thường trực thì giám đốc chính trị đảm nhiệm vai trò đó. Dưới cấp đại đội, Đảng viên thường tổ chức thành tiểu tổ do giám đốc chính trị và chi bộ Đảng đại đội chỉ huy. 
Trong những năm đầu của chiến tranh cách mạng, quyền lực của các chính trị viên trong nhiều trường hợp còn lớn hơn cấp chỉ huy trưởng, vì nhiều chỉ huy trưởng gốc là tù binh được thăng lên. thành ra, Mao đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các đại diện đảng ở cấp đại đội. Ông nói: ”Nhiều dữ kiện đã cho thất đại diện đảng cấp đại đội càng giỏi, thì đại đội đó càng kiện khang vì nhiều đại đội trưởng không làm được vai trò chính trị quan trọng”. Những vai trò Mao muốn các đại diện Đảng làm tròn bao gồm giám sát huấn luyện chính trị binh sĩ, lãnh đạo các công tác vận động quần chúng và làm bí thư chi bộ đảng... Mao còn nói là thật sai lầm lớn nếu tin rằng các chỉ huy trưởng, nhất là những người tù hàng binh được thăng lên, lại có thể làm trò các nhiệm vụ đó mà không có các chính trị viên. 
b/ Huấn luyện Chính Trị trong quân đội  Vào thời kỳ đầu của cách mạng Trung Hoa, Hồng quân thường tổn thất nặng nề mỗi khi đụng độ ác liệt và do đó nhân sự trở nên thiếu thốn trầm trọng. Để bổ xung quân số, họ bắt buộc phải tuyển những người cùng đinh và các tù binh, số này sau lại nhiều hơn nông dân, công nhân và trở nên nguồn nhân sự chính yếu. Mao biết rằng nhiều thành phần này quá không được hay cho quân đội và cho đảng nhưng không có cách nào khác hơn. Giải quyết của Mao là tăng cường huấn luyện chính trị để cải hóa họ thành các binh sĩ trung kiên với cách mạng. Công tác đó tương tự như công tác mà bác sĩ Tôn Dật Tiên đã làm là cải hóa các lực lượng gốc quân phiệt nhưng không thành công. 
Huấn luyện chính trị bao gồm học tập lý thuyết hay tuyên truyền nhưng không phải chỉ có thế mà còn cả các sinh hoạt thường nhật và đời sống tinh thần của binh sĩ nữa. Chẳng hạn như trong tình trạng kinh tế ngặt nghèo, binh sĩ không được trả lương đều đặn, dân chủ trong quân ngũ và bãi bỏ nhục hình khiến họ cảm thấy vinh dự chưa bao giờ có và do đó sẵn lòng sát cánh chiến đấu cùng với đảng. có vẻ như phương pháp huấn luyện rất thành công. Mao từng viết: 
Sau khi được huấn luyện chính trị, Hồng quân trở nên có tính bén nhậy giai cấp cao, học được cách thức cần thiết để chia ruộng, xây dựng quyền lực chính trị, võ trang nông dân và công nhân... và họ biết họ đang chiến đấu cho chính họ, cho giai cấp công nhân, cho giai cấp nông dân. Thành ra họ chịu được gian khổ, chiến đấu cam go mà không phàn nàn.
c/ Kiểm soát chính trị và quyền tối thượng của Đảng
 Mục tiêu của huấn luyện chính trị gồm hai phần:
 1/ cải biến hay cải tiến phẩm chất của lực lượng võ trang
2/ ngăn ngừa đường lối bị lệch hướng 
Cả hai đều được hoạch định nhằm bảo đảm cho đảng quyền lãnh đạo tối thượng và quyền kiểm soát trên quân đội. Tuy nhiên, để ngăn ngừa quân đội có thể đi lệch với đường hướng của dảng, thỉnh thoảng đảng cũng cần dùng một số phương thức như kiểm thảo, dùng áp lực của ý kiến quần chúng, và cả đe dọa trừng phạt. Nghe nói rằng thời còn ở Giang Tây-Hồ Nam nhiều binh sĩ cho rằng quân sự và chính trị chống chõi nhau và không chịu nhìn nhận quân sự chỉ là một phương tiện để đạt những mục tiêu chính trị, một số còn đòi phải để các chính trị viên dưới quyền của chỉ huy trưởng. Vì thế Mao cho rằng ”nếu để cho phát triển, quan diểm này sẽ đưa đến nguy cơ rời xa quần chúng, quân đội kiểm soát chính quyền và tách khỏi quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản -và sẽ đi theo con đường quân phiệt”. 
Để ngăn chặn việc nảy sinh chủ nghĩa quân phiệt và có thể tách khỏi sự lãnh đạo của đảng, Mao đưa ra phê kiểm trong và ngoài đảng để tiêu diệt quan điểm này và truy tầm sự phát triển của nó. Phương pháp sửa sai đó như sau:
1. nâng cấp chính trị trong đảng bằng cách giáo dục, hủy diệt các nền tảng lý lẽ của quan điểm thuần túy quân sự
 2. tăng cường huấn luyện chính trị sĩ quan và binh sĩ nhất là các tù binh cũ
 3. động viên chi bộ địa phương phê bình chi bộ đảng trong quân đội và dùng các cơ chế chính trị quần chúng phê bình Hồng quân để tạo ảnh hưởng cho chi bộ đảng, sĩ quan và binh sĩ Hồng quân
4. tích cực tham gia và thảo luận các công tác quân sự -mọi công tác phải thảo luận và do đảng quyết định trước khi các cấp có thể đem ra thi hành
5. đưa ra những luật lệ và nguyên tắc cho Hồng quân nêu rõ công tác, tương quan giữa quân đội và cán bộ chính trị
 Công tác huấn luyện chính trị dùng để sửa chữa các nguy cơ tiềm ẩn này trên căn bản tương tự như đã đề cập trước đây. Phê bình hay áp lực quần chúng đã được khai triển thành một phương pháp độc đáo tại Trung Hoa nói chung và tại Đảng, quân dội nói riêng. Mao cố gắng dựa vào lộ tuyến quần chúng để giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội -chính trị và quân sự trong suốt cuộc đời ông. Dường như đó là ”thuốc trị bách bệnh” và trở thành một phần bộ của hệ thống xã hội mới dựng nên.
 Việc chi bộ đảng tham gia vào tiến trình quyết định đã giúp cho họ củng cố mạnh mẽ việc kiểm soát quân đội và bảo đảm luôn luôn đi theo lộ tuyến đảng. Phương pháp kiểm soát chính trị đó đã được chính tức hóa từ đó. 
Nếu các phương pháp này vẫn còn hiệu lực trong việc ngăn ngừa quân đội lệch hướng chỉ đạo của đảng, công tác thanh lý tiếp theo các vận động xã hội -chính trị lại cần thiết. Việc khai trừ Bành Đức Hoài (Peng Dehuai) và Lâm Bưu (Lin Biao) là những thí dụ điển hình gần đây. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:08:28 am
C.   Vai trò chính trị của Hồng quân
 Mao không chỉ muốn các lực lượng võ trang dưới quyền kiểm soát của đảng mà còn muốn dùng quân đội như một phương tiện đáng tin cậy để thu hoạch những mục tiêu xã hội -chính trị. Không đi vào chi tiết, chúng tôi chỉ tóm tắt lại trên vài điểm như sau: 
a/ Giúp đỡ thành lập các Chi Bộ địa phương và các nhóm quyền lực chính trị 
Không ai còn đặt câu hỏi về một cơ cấu quyền lực võ trang độc lập như Cộng Sản vùng biên giới thập niên 1930 sẽ không thể tồn tại nếu không có một lực lượng võ trang hỗ trợ. Vấn đề cá biệt là quan điểm của Mao đòi hỏi Hồng quân chẳng những phải làm nhiện vụ hỗ trợ một cơ chế chính trị hiện hữu là đảng Cộng Sản mà còn phải tạo nên một cơ chế chính trị khác cho đảng. Mao còn đòi hỏi quân đội phải xây dựng một chi bộ đảng tại mỗi địa phương chiếm được nếu nơi đó chưa có cơ cấu của đảng. ”Hồng quân phải gánh vác những trách vụ quan trọng chẳng hạn như... giúp họ thành lập các cơ cấu chính trị và tổ chức đảng”.
 b/ Vừa cầm súng vừa làm công tác chính trị 
Một con người cách mạng có thể đồng thời là một chiến sĩ hay quân nhân nhưng một quân nhân chưa chắc dã là một người làm cách mạng. Tuy nhiên theo thuyết xây dựng quân đội của Mao Trạch Đông, người lính Hồng quân phải là một chiến sĩ, một tuyên truyền viên, một tổ chức viên chính trị và một người thu thập tin tức. Mao đã nặng lời phê bình những quân nhân nào cho rằng nhiệm vụ duy nhất của họ là chiến đấu và từ chối làm các công tác khác. Ông tuyên bố là ”Hồng quân Trung Hoa là một bộ phận võ trang đảm trách các công tác chính trị cho cách mạng... Nếu không có những công tác này, chiến đấu mất đi ý nghĩa và Hồng quân không còn lý do tồn tại”. 
Mao quyết liệt chống đối việc hạn chế vai trò quân đội trong nhiệm vụ chiến đấu nhất là thời kỳ đấu tranh ở Tỉnh Cương Sơn. Ông muốn họ phải làm công tác tuyên truyền quần chúng, tổ chức và trang bị họ vì vận động quần chúng là chìa khóa để dẫn đến chiến thắng.
 c/ Công tác vận động quần chúng
 Mao nói là ”nguồn năng lực phong phú nhất để đảm phụ chiến tranh là khối quần chúng... Quân đội với quần chúng phải là một để họ coi là đoàn quân của chính họ. Một quân đội như thế không thể nào đánh bại.” Công tác chính trị của quân đội giúp cho họ hoàn thành mục tiêu đó. 
Mao định nghĩa công tác chính trị của quân đội dưới ba tầm vóc: sự đoàn kết giữa sĩ quan và binh sĩ, sự đoàn kết giữa quân đội và nhân dân, và sự phân hóa của kẻ thù. Vấn đề đầu tiên là công tác nội bộ nên chúng ta có thể bỏ quan không bàn đến. Vấn đề thứ hai chủ yếu có thể đạt được do công tác vận động quần chúng, bao gồm cả tuyên truyền trong nhân dân, tổ chức và võ trang họ. 
Theo Mao vận động qui mô thừa sức giải quyết vấn đề cách biệt về trang bị và các điều kiện vật chất khác giữa quân cách mạng và đối thủ. Mao viết:
Vận động này hết sức quan thiết, là vấn đề quan trọng hàng đầu vì việc ta thua sút về võ khí và các vật dụng chỉ là thứ yếu. Vận động thường dân trên toàn lãnh thổ sẽ tạo nên một biển cả đánh đắm kẻ thù, tạo những điều kiện giải quyết việc ta thua sút về vũ khí và các thứ khác, tạo điều kiện tiên quyết cho lướt thắng mọi khó khăn của chiến tranh.
 Vai trò vận động quần chúng bao gồm hai mặt: một là khích động nhân dân bằng cách nói cho họ biết quốc gia đang lâm nguy và tương lai của chính họ sẽ bị hủy hoại nếu bị kẻ thù xâm lăng và vì thế khiến cho họ đứng dậy cho sự tồn vong của giang sơn và chính bản thân họ. Hai là tổ chức quần chúng. Số lượng nhân dân không lồ kia không thể nào biểu dương được sức mạnh nếu không tổ chức họ. Cho nên, đối với Mao, vận động quần chúng luôn luôn gắn liền với tổ chức. Trong bài viết ”Hãy tổ chức” Mao nói là ”để vận động và tổ chức quần chúng thành một đại quân lao động không chừa một thành phần có năng lực nào” ”Đây là con đường duy nhất để giải phóng dân tộc, con đường duy nhất đi từ nghèo đói đến thịnh vượng, con đường duy nhất đến thắng lợi”. 
Ý niệm một biển người do vận động quần chúng tạo nên đã đưa đến những phê phán gắt gao từ phía đối nghịch với Mao liên tưởng quan điểm đó với nguyên tắc tập trung để lấy ưu thế quân số tuyệt đối. Họ đả kích cho là thiếu nhân tính, tàn nhẫn và độc ác vì ép buộc binh sĩ tấn công các vị trí địch theo từng lớp sóng người không đếm xỉa gì đến tổn thất về nhân mạng. 
Dẫu rằng các lời phê phán đó không phải hoàn toàn sai khi nhìn về số tử vong trong chiến tranh nhưng cũng không xác đáng khi mô tả ý niệm của Mao về biển người. Khi Mao nói tới biển người, ông muốn nói là dưới sự che chở của vận động quần chúng, các toán du kích có thể di động an toàn và tự do như cá bơi trong nước. Bao giờ còn nước thì cá còn có thể sinh tồn. Kẻ thù, trái lại, sẽ chết chìm trong biển cả những người thù địch. 
D.   Xung đột giữa Hồng và Chuyên
 Trên lý thuyết, dưới sự lãnh đạo của đảng, các cấp chỉ huy quân đội và các chính trị viên phải cộng tác mật thiết và êm thắm. Thế nhưng, thực tế, tương quan không hoàn toàn tốt đẹp như mong đợi. Xung đột giữa hai nhóm trên nhiều mức độ khác nhau của cách mạng đã tạo nên những vấn đề chính trị nghiêm trọng. Các học giả Tây phương khi nghiên cứu về các vấn đề quân sự Trung Hoa đã gọi đây là xung đột giữa hồng và chuyên. 
Xung đột giữa hai nhóm bắt nguồn từ hồi thập niên 1920 khi Hồng quân vẫn còn trong thời kỳ non trẻ. Như đã đề cập trước đây, giải pháp của xung đột đầu tiên là đưa chính trị kiểm soát và phục hồi quyền lãnh đạo tối cao của đảng. Đấu tranh quân sự quyết liệt thời chiến tranh cách mạng thường bắt các cấp chỉ huy quân sự và chính trị viên hợp tác chặt chẽ để chiến thắng. Thế nhưng khi chiến tranh chấm dứt và Trung Hoa quyết định hiện đại hóa quân đội trong đầu thập niên 1950, rạn nứt giữa hai nhóm lại tái phát chi phối chính đàn Trung Hoa hơn một thập niên. 
Có một thỏa hiệp quốc gia về sự cần thiết canh tân quân sự trong thập niên 1950 sau chiến tranh Triều Tiên. Mọi người đều đồng ý rằng phải nỗ lực cải tiến kỹ thuật quân sự và trang bị, cần giành nhiều thời giờ và năng lực để huấn luyện quân đội để nâng cao mực độ chiến thuật và kỹ thuật. Tuy nhiên, vì ảnh hưởng lý thuyết quân sự Liên Xô, các sĩ quan Trung Hoa bắt đầu nhận thức sự quan trọng của vũ khí trong chiến tranh hiện đại và đồng ý rằng quân sự đứng hàng đầu chứ không phải chính trị trong việc quyết định thắng bại trong chiến tranh. Một số sĩ quan Trung Cộng công khai chấp nhận quan điểm này và một số đi xa hơn bài xích việc tôn sùng tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông vốn nhấn mạnh chính trị đứng trên quân sự là yếu tố then chốt dẫn đến chiến thắng. 
Quan điểm này rất phổ biến trong đám binh sĩ từ mặt trận Triều Tiên trở về và các sĩ quan trẻ. Ho cho rằng không những chi bộ đảng là một chướng ngại cho việc đơn vị hoạt động hữu hiệu mà còn nghĩ là họ không đủ khả năng cáng đáng các vấn đề quân sự. Họ bắt đầu tước bớt quyền hành và giới hạn hoạt động của các chi bộ trong công tác lãnh đạo và chính trị. Trước khi tái tổ chức hệ thống kiểm soát chính trị tháng 7 năm 1960, số lượng đảng viên tong các lực lượng võ trang cũng giảm dần, có khoảng 7000 đại đội không có chi bộ đảng, và nhiều nơi có nhưng cũng không hoạt động. 
Các chính trị viên và một số cấp chỉ huy quân sự lão thành cảm thấy bực bội và tìm cơ hội trả miếng. Có nhiều lý do để các chính ủy đối kháng nhưng lý do quan trọng nhất là sự thách đố quyền lãnh đạo tối cao của đảng. Khi chính trị nắm quyền thị mọi thứ đề phải đứng sau. Do giả thiết đó, cơ chế chính trị trong quân đội có quyền xen vào bất cứ chuyện gì trong đơn vị. Họ không thể để cho các sĩ quan trẻ quá hăng say trong công việc hiện đại hóa khiến vị trí của họ bị lung lay. Khi họ bắt đầu phản công, mục tiêu đầu tiên là Thống Chế Bành Đức Hoài, Bộ Trưởng Quốc Phòng và Hoàng Khắc Thành (Huang Kecheng), Tổng Tham Mưu Trưởng Hồng quân, cả hai mất chức hồi cuối năm 1959. Ngoài các tội trạng, họ còn bị kết án chống lại sự kiểm soát chính trị trong quân đội.
 Tháng 9 năm 1959, Lâm Bưu lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay Bành Đức Hoài. Ông ta đưa ra một loạt cải cách để củng cố quyền kiểm soát chính trị và ý thức hệ trong quân đội, các chi bộ đảng cấp đại đội được tái tổ chức và khoảng 2000 đảng viên bị khai trừ hồi năm 1961.
 Dưới quyền lãnh đạo của Lâm Bưu, công tác củng cố vai trò chính trị và quyền lãnh đạo tối cao của Đảng lên đến tuyệt đỉnh. Mục đích của ông ta là cách mạng hóa Hồng quân một lần nữa và dùng nó để ủng hộ Mao chống các địch thủ chính trị. Khi cuộc Cách Mạng Văn Hóa bắt đầu hồi năm 1966, Lâm đã có thể nhân danh Mao dùng Hồng quân để tiến hành các mục tiêu quyền lực chính trị. Quân đội được lệnh rời căn cứ chiếm đóng các công xưởng, cơ quan hành chánh, các trường đại học tuyên truyền cho tư tưởng Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Mác -Lê nin. Theo các học giả Tây phương thì ít nhất trong thời kỳ này Hồng quân cũng được coi như một đội binh chính trị vì họ không còn khả năng đảm trách các công tác chiến đấu nữa. 
Nhận định này không phải vô căn cứ. Trong thời kỳ đụng độ tại biên giới Trung Hoa -Liên Xô năm 1969, nhu cầu quân sự khiến Hồng quân phải giảm thiểu các hoạt động chính trị. Sự biến Lâm Bưu năm 1971 đã khiến Hồng quân phải quay trở về nhiệm vụ quân sự truyền thống. Tuy nhiên, thay đổi đáng kể nhất là từ sau cuộc chiến Việt -Hoa năm 1979. Chính quyền Trung Hoa một lần nữa gia tăng tốc độ huấn luyện quân sự. Mặc dầu sự quan trọng của công tác chính trị và giáo dục ý thức vẫn còn được các nhà lãnh đạo dề cập, nhưng huấn luyện quân sự nay là ưu tiên cho đến khi thành phần cứng rắn thay thế thành phần cải cách nắm quyền trong đảng, dùng quân đội đàn áp các vận động dân chủ tại Bắc Kinh ngày mồng 4 tháng 6 năm 1989. Thay đổi mãnh liệt trong khung cảnh chính trị và sự sụp đổ đột ngột của các quốc gia Đông Âu, nhất là Roumania, khiến các nhà lãnh đạo hốt hoảng xiết chặt quyền kiểm soát quân đội. Từ đó tới nay, việc nhồi sọ lý thuyết và công tác chính trị trong quân đội lại một lần nữa, có thể chỉ tạm thời, nâng lên hàng ưu tiên một.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:09:35 am
6.   KẾT LUẬN 
Khi bàn về tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông, phân tích này chủ yếu nhấn mạnh vào ba điểm: các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng họ Mao, tiến trình phát triển của chiến tranh nhân dân, nội dung chính yếu của tư tưởng ông ta bao gồm quan điểm chiến tranh nhân dân, nhận thức luận về chiến tranh và sự phát triển trong chiến lược, chiến thuật. 
Trong khi phân tích, một số điểm đã khiến chúng tôi chú ý và dùng làm lời kết cho chương này.
A.   Tương quan giữa Lý Thuyết và Thực Tế
 Nói chung, cũng như nhiều lý thuyết vể khoa học xã hội khác, lý thuyết quân sự không phải lúc nào cũng có thể thử nghiệm trước khi đụng độ với địch trên chiến trường. Các chiến lược gia không rút ra các nhận thức từ các tưởng tượng hoang đường mà do quan sát kỹ lưỡng, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm cá nhân để giảm thiểu thất bại trong chiến đấu. 
Trong lý thuyết quân sự của Mao Trạch Đông, ông không lẫn lộn giữa mộng tưởng và thực tế. Trái lại, lý thuyết căn bản của ông về chiến tranh nhân dân hoàn toàn dựa trên các chứng liệu rút ra từ kinh nghiệm. ”Phân tích về Giai cấp tại Trung Hoa” hay ”Báo Cáo về Nghiên Cứu cuộc Nông Dân khởi nghĩa tại Hồ Nam” là một phần căn bản lý thuyết cho đường lối chiến tranh nhân dân của ông.
Nếu ai tìm hiểu các tác phẩm quân sự chính yếu của Mao sẽ đều nhận thấy hầu hết dựa trên kinh nghiệm cá nhân của ông, ngoại trừ một phần nhận thức luận về chiến tranh, là thừa kế lý thuyết chính trị Mác xít. 
B.   Hậu quả của Quan Niệm Phát Triển của Lý Thuyết Mao Trạch Đông
 Dù bắt nguồn từ thuyết Mâu Thuẫn hay từ nguyên lý Âm Dương của Trung Hoa, Mao cũng áp dụng trọn vẹn được lý thuyết phát triển của ông trên mặt quân sự. 
Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với nhận thức về chiến tranh của ông vì ông theo quan điểm của Marx về quan hệ tư hữu, đấu tranh giai cấp, nhà nước và chiến tranh, nhưng khi nói đến cách ông dùng lực trong chiến đấu và phương thức áp dụng lý thuyết mâu thuẫn để thay đổi cán cân lực lượng trong các chiến dịch và trận đánh, người ta phải tin rằng ông thuần thục trong cách áp dụng duy vật biện chứng vào quân sự. Chiến lược ”lấy một chống mười chống trăm trong chiến lược nhưng lấy mười chống một trong chiến thuật” giúp ông thành công trong việc chuyển đổi cái hạ phong trong chiến lược thành thế thượng phong trong chiến thuật. 
Hơn nữa, khi áp dụng quan niệm liên tục di động, liên tục phát triển, ông có thể mở ra một con đường mới cho các lực lượng du kích bằng cách cải tiến tổ chức, trang bị và chiến lược chiến thuật một cách vững chắc phù hợp với sự phát triển của tình hình qua nhiều giai đoạn khác nhau. Việc đó khiến cho chiến tranh nhân dân trở nên mạnh mẽ hơn định nghĩa ban đầu rất nhiều.
C.   Hậu quả của việc Chính Trị nắm quyền chỉ huy 
Mặc dầu các lực lượng võ trang của Quốc Dân Đảng cũng có một hệ thống chính ủy, nhưng không bao giờ đạt được mục tiêu chính trị nắm quyền chỉ huy và Đảng có quyền tối thượng đối với quân đội như trường hợp Hồng quân. Tuy nhiên, vấn đề độc đáo của hệ thống chính trị của Cộng Sản là hệ thống này không chỉ giới hạn vào việc kiểm soát chính trị và quyền lực tuyệt đối của đảng mà nên nhìn vào vai trò chính trị do Hồng quân đảm trách trong xã hội Trung Hoa thời chiến. Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, tổ chức quần chúng thành công rực rỡ chưa từng có trong lịch sử võ trang chính trị và quân sự thế giới. Dù sao, cũng những vai trò đó Hồng quân thực hiện trong vận động xã hội -chính trị nhất là vào thời đấu tranh nội bộ trong đảng sau năm 1949 đem đến những yếu tố tiêu cực, không những gia tăng nguy cơ quân sự can thiệp vào chính trị mà còn phát triển tình trạng tham ô trong những năm về sau. Cuộc đảo chánh bất thành của Thống Chế Lâm Bưu chống Mao năm 1971 có thể coi như tiêu biểu cho vấn đề thứ nhất, các báo cáo về tranh chấp giữa các đơn vị Hồng quân và dân chúng địa phương ngày càng nhiều là những thí dụ của vấn đề thứ hai. 
Từ khi bọn Tứ Nhân Bang bị hạ bệ năm 1976, các nhà lãnh đạo Trung Hoa bắt đầu giảm bớt vai trò chính trị của quân đội, giữ cho họ bận rộn với việc huấn luyện và nhất là sau cuộc chiến Việt Hoa năm 1979 trong dó Trung Hoa phải trả một giá cao mà thắng bại cũng chỉ lửng lơ nhưng lại lộ rõ cái yếu kém về quân sự. Tuy nhiên, sau biến cố Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989, trong đó Hồng quân được lệnh nổ súng vào các sinh viên tranh đấu đòi dân chủ, ngọn gió thay đổi lại thổi trên mọi khung cảnh chính trị. Từ đó, đảng Cộng Sản không những tăng cường kiểm soát chính trị với quân đội mà còn đòi quân đội phải hoàn toàn đi theo lộ tuyến của đảng trong việc đấu tranh chống lại bất cứ đối lập chính trị nào dù trong hay ngoài đảng. Xu hướng đó có lẽ sẽ còn tiếp tục trong một thời gian cho đến khi phong vị chính trị lại thay đổi thêm một lần nữa. 
D.   Quần chúng võ trang -Dân Quân
 Hệ thống dân quân của Trung Hoa có một lịch sử lâu như chính nước Tàu vậy. Tuy nhiên, chưa có một chính quyền nào lại tổ chức được một hệ thống dân quân to lớn như chính quyền Trung hoa hiện nay. Từ Hồng Vệ Binh, đơn vị tự phòng, và dần dần đến vận động Mỗi Người Dân Là Một Người Lính trong thập niên 1950 liên hệ đến việc công xã hóa nông thôn, hệ thống dân quân chuyển cả một nước -làng xóm, thôn ấp cũng như thành thị -biến thành một đồn lũy quân sự và vô số doanh trại.
 Hệ thống dân quân tuy nay còn đấy nhưng không còn hoạt động như hồi thập niên 1960, ngoại trừ một vài khu vực nhạy cảm như cùng biên giới Việt Hoa nơi dân quân được điều động giữ an ninh trật tự và đề phòng đặc công phá hoại. Nói chung, khi quốc gia trong thời bình và đã hướng về phát triển kinh tế, hệ thống dân quân xuống cấp và ngay cả bỏ quên. Tuy nhiên, khi quốc gia trong thời chiến hay trong tình trạng vận động xã hội, hệ thống dân quân mới hoạt động. Đa số dân chúng Trung Hoa vẫn còn sống tại nông thôn nhưng không đủ cảnh sát giữ an ninh trật tự. Vì thế, dân quân thường đóng vai tuần cảnh trong làng xã, thôn xóm ngay cả trong thời bình.
 Các tác phẩm quân sự chính yếu của Mao chỉ bao gồm độ hơn chục bài. Hầu hết các bài đó chú trọng vào việc giải quyết các vấn đề chiến lược chứ không đề cập tới mọi vấn đề quân sự. Tuy nhiên, chỉ trong một số ít đó, vẫn thấy rõ ràng là Mao dã phân tích một cách có hệ thống nhiều đề mục quan trọng thể hiện một hệ thống chu đáo các tư tưởng quân sự mà người ta vẫn thường gọi là chiến tranh nhân dân. Mao đã dùng các tư tưởng đó để chỉ đạo Trung Hoa trong thời nội chiến và chiếm được quyền hành chính trị. Điều dó khiến cho những kẻ ngoại thù phải dè dặt khi định đánh với Trung Hoa trong một cuộc chiến qui ước ngay trên lục địa.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:10:13 am
Chương 7: Những đường hướng của tư tưởng quân sự Trung Hoa hiện nay 
1.   TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH QUÂN SỰ CỦA ĐẶNG TIỂU BÌNH
 Đặng Tiểu Bình là một trong những cán bộ cách mạng của thế hệ thứ nhất hiện còn tại thế. Ông đã từng làm Tổng Bí Thư Quân Ủy Trung Ương của đảng cộng sản Trung hoa một thời gian lâu trước thời Cách Mạng Văn Hóa bắt đầu vào năm 1966. Ông bị thất sủng và đưa về nông thôn tỉnh Giang Tây miền trung nước Tàu để cải tạo bằng công việc cơ xưởng khi cơn rối loạn lên đến cực điểm. 
Sau khi Lâm Bưu đảo chính hụt năm 1971, tình hình trở nên hết sức tồi tệ về chính trị xã hội cũng như kinh tế. Nhờ Chu Ân Lai, khi đó đang ốm nặng sắp lìa trần ủng hộ nên ông lại có cơ hội trở lại nắm quyền hồi 1975. Mặc dầu Đặng lại bị Mao và bọn Tứ Nhân Bang qui kết và cách chức một thời gian ngắn, ông được trở lại năm 1977 sau khi Mao chết và bọn bốn người bị Thống Chế Diệp Kiếm Anh cùng một số tướng lãnh lão thành lật đổ năm 1976. 
Là người đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu Hồng quân kiêm Phó Tổng Lý Quốc Vụ Viện (tức Phó Thủ Tướng), Đặng không gặp chống đối nào mãnh liệt trong việc kiểm soát các lực lượng võ trang và bộ máy chính trị của Trung Hoa sau khi ông trở lại nắm quyền. Ông từ từ hạ bệ Hoa Quốc Phong (Hua Kuofeng), người chính tay Mao chọn kế vị trong Đảng và chính quyền và những kẻ vươn lên trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa. Mặc dầu ông không đích danh làm lãnh tụ tối cao của đảng và quốc gia, trên thực tế ông đã là người chí tôn của Trung Hoa. Lúc đó, ông mới bắt đầu kế hoạch cải cách chính trị và quân sự kéo dài hàng chục năm cho nước Tàu. Ông thay đổi bộ mặt của Trung Hoa và trước hết là lực lượng võ trang. 
A.   Sự suy nhược của Hồng quân sau thời Cách Mạng Văn Hóa
 Như đã đề cập trong chương 6, Hồng quân dưới quyền lãnh đạo của Lâm Bưu trong thời Cách Mạng Văn hóa đã nhấn mạnh một cách triệt để công tác chính trị và ý thức, tham gia sâu rộng vào các đấu tranh quyền lực trong đảng. Sự tham gia quá độ của Hồng quân vào các hoạt động chính trị không những gia tăng nguy cơ can thiệp của quân đội vào chính trị mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc huấn luyện quân đội và do đó tác động đến việc chuẩn bị chiến đấu của Hồng quân.
 Sau khi ông lên mắm quyền vào năm 1975, Đặng liên tục nêu lên những vấn đề nghiêm trọng bên trong Hồng quân và thúc đẩy cải tổ. Theo quan điểm cá nhân của Đặng, các nhược điểm chính yếu bên trong các lực lượng quân sự có thể tóm gọn trong 5 chữ: Thũng (bành trướng quá đáng), Tán (thiếu kỷ luật, thiếu tổ chức), Kiêu (kiêu ngạo), Xỉ (xa xỉ), Nọa (lười biếng). 
Về phần bành trướng quá mức, theo Đặng không chỉ giới hạn vào vấn đề quân đội gia tăng quá mức mà còn ở các cơ quan dư thừa nhân sự và lãnh đạo. Thiếu kỷ luật và thiếu tổ chức một phần ở việc quá lún sâu vào đấu tranh chính trị trong thời Cách Mạng Văn Hóa, một phần do quá dư thừa sĩ quan và nhất là các sĩ quan cao cấp.
Về kiêu căng, mặc dầu Đặng nói là một căn bệnh lâu năm của Hồng quân nhưng ông cũng đặc biệt nhấn mạnh vào tình trạng mới đây phát triển trong thời Cách Mạng Văn Hóa, khi đó Hồng quân nắm giữ quyền lực chính trị thay thế các viên chức lãnh đạo đảng dân sự khi Mao kêu gọi họ ủng hộ cánh tả của đảng đấu tranh chống lại giới lãnh đạo đảng và chính quyền. Sự gia tăng quyền lực chính trị đưa đến kết quả là mất đi truyền thống lộ tuyến quần chúng. Họ bị cô lập khỏi quần chúng và căng thẳng tăng lên giữa Hồng quân với nhân dân, giữa quân sự và chính quyền và ngay cả giữa các đơn vị Hồng quân với nhau. 
Mọi quyền lực đều đẫn tới tham ô và khi Hồng quân nắm quyền chính trị, nó cũng không thể không vấy bùn. Hai vấn đề sau cùng, xa xỉ và lười biếng, theo lời Đặng, chính là đặc thái hiển hiện của quân đội. Trong khi xa xỉ chủ yếu nói về việc đi theo hưởng thụ vật chất, lười biếng nói về sự thiếu chăm lo công việc và nhiệm vụ. Đó là hai hình thức có liên hệ chặt chẽ với nhau. 
Khi tất cả các vấn đề này hiện hữu trong một quân đội, thì khả năng chiến đấu tất nhiên phải suy giảm.
 Mặc dầu Đặng đưa ra những vấn đề này từ năm 1975 nhưng không được Mao quan tâm để tới 1978 khi ông lên nắm quyền mới tiến hành cải cách.
B.   Quan điểm cải tổ quân sự của Đặng Tiểu Bình
 Cải cách quân sự của Đặng Tiểu Bình bao gồm nhiều công việc liên hệ mật thiết với các vấn đề của Hồng quân đã đề cập tới ở trên. Tuy nhiên, theo chính lời Đặng, mục tiêu của các chương trình cải cách có thể tóm tắt vào hai từ ngữ: canh tân hóa (modernization) và qui tắc hóa (regularization)1. Để đạt các mục tiêu này, ông phác họa một chương trình nhiều giai đoạn, nhiều phương pháp.
1dịch theo từ Hán Việt người Trung Hoa dùng thì là hiện đại hóa và tổ chức hóa.
 a/ Các mục tiêu của cải cách
 Nói chung, quan điểm về cải tổ quân sự của Đặng Tiểu Bình chú trọng nhiều về canh tân vũ khí và qui tắc hóa tổ chức của Hồng quân mà không để mất truyền thống chính trị là một lực lượng võ trang của đảng. Ông vẫn nhấn mạnh về sự cần thiết phải dùng quân đội để củng cố chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân, có nghĩa là quyền hành chính trị của đảng Cộng Sản. Ngoài những việc khác, ông cũng nhấn mạnh các quan điểm sau đây là cốt lõi của công cuộc canh tân hóa và qui tắc hóa quân đội.
 Thứ nhất, Hồng quân phải triệt để đi theo 4 nguyên tắc của đảng, tăng cường ý thức chính trị và tự tạo thành một khuôn mẫu đi theo đường lối, nguyên tắc và chính sách của đảng. Có như thế, họ mới bảo đảm được rằng họ là một lực lượng võ trang đáng tin cậy của đảng. Thứ hai, Hồng quân phải cải tiến vũ khí và trang bị để gia tốc hiện đại hóa quốc phòng cho phù hợp với việc phát triển liên tục của kinh tế quốc gia. 
Thứ ba, Hồng quân phải cải tiến liên hệ với chính quyền và quần chúng, gia tăng đoàn kết nội bộ, củng cố lực lượng dân quân, kế thừa và phát triển truyền thống vinh quang của một quân đội nhân dân.
Sau cùng, Hồng quân phải củng cố huấn luyện quân sự và chính trị để tăng tiến phẩm chất trên cả hai mặt, nỗ lực hơn để gia tăng khả năng phối hợp chiến đấu với các binh chủng khác trong quân đội.
 Khi bàn đến tỉ lệ huấn luyện chính trị và quân sự, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh về huấn luyện quân sự. Ông đòi hỏi các trường võ bị sắp xếp sao cho chương trình học theo tỉ lệ ba bảy nghĩa là các đề tài quân sự chiếm 70% toàn thời gian, 30% còn lại cho chính trị. Mặt khác, khi bàn đến chương trình tại các trường chính trị của Hồng quân, ông yêu cầu giành 60% đạy các đề tài chính trị, để 40% đạy các đề mục quân sự. Mặc dầu Đặng không còn theo đường lối cực đoan của Lâm Bưu, chỉ nhấn mạnh vào công tác chính trị và giáo dục ý thức hệ, ông vẫn tiếp tục dựa vào sự hỗ trợ của quân đội trong các vấn đề chính trị quốc nội và vì thế chú trọng vào giáo dục chính trị để củng cố việc kiểm soát các lực lượng võ trang. Khuynh hướng đó có thể nhận thấy sau biến cố Thiên An Môn 1989. 
b/ Các Giai đoạn của Cải Cách 
Khi bàn về công tác cải cách quân sự, Đặng thường gọi là ”tái tổ chức các lực lượng võ trang”. Để đạt mục tiêu này, hướng đi của ông bao gồm nhiều bước dựa trên ưu tiên ông đặt ra. Theo dự kiến của Đặng, việc tái tổ chức các cơ chế quân đội là ưu tiên một, cải thiện vũ khí trang bị là việc tiếp theo. Sau khi các vấn đề này được giải quyết, vấn đề chiến lược mới đặt ra. 
Tái tổ chức các Cơ Chế Quân sự: Khi nhận định về cơ chế Hồng quân, Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh vào việc điều chỉnh và tái phân bố hệ thống chỉ huy để giảm thiểu việc quá dư thừa cấp lãnh đạo. Để giải quyết vấn đề quá đông nhân sự, ông không những cho giải ngũ số sĩ quan thặng dư và loại trừ dư đảng của Tứ Nhân Bang mà còn đi xa hơn, qui tắc hóa việc phục vụ của cả sĩ quan lẫn nhân viên dân sự trong quân đội, hệ thống hưu trí và hệ thống cấp bậc. Làm như thế ông nâng quân đội Trung Hoa lên một mức độ định chế cao hơn, mà trước đây tuy có dự trù nhưng chưa thực hiện được khi họ tiến hành công cuộc canh tân quân đội hồi thập niên 1950 sau kỳ chiến tranh Triều Tiên. Các qui tắc đó được lần lượt được ban hành trong giữa thập niên 1980. 
Cải thiện vũ khí và trang bị: Như đã đề cập trong chương 3 của cuốn sách này, ưu tiên số một của canh tân hóa quân đội là cải thiện vũ khí và trang bị, kế tiếp là cải thiện các hệ thống quân sự, sau cùng mới đến chiến lược, chiến thuật.
 Mặc dầu ưu tiên của Đặng về tái phối trí Hồng quân bắt đầu bằng việc tái tổ chức các cơ chế quân đội nhưng ông không bỏ qua sự quan trọng của trang bị và vũ khí dối với năng lực chiến đấu của một lực lượng võ trang. Ông hiểu rõ ràng rằng chiến đấu trong một cuộc chiến hiện đại, quân đội không thể chỉ dựa vào ”cơm hẩm và khẩu súng”, người lính cũng chẳng phải chỉ biết bóp cò, dùng lưỡi lê, ném lựu đạn là đủ. Trong thời đại mới, quân đội không những cần đến vũ khí mới, trang bị mới mà còn phải hiểu biết về khoa học và kỹ thuật.
 Người Trung Hoa bắt đầu sử dụng vũ khí Tây phương từ sau cuộc chiến tranh Nha Phiến, khoảng thập niên 1860. Dưới chế độ Cộng Sản, người Trung Hoa còn đi xa hơn nữa. Quan điểm của họ Đặng về cải thiện vũ khí và trang bị không chỉ giới hạn trong việc cải tiến kỹ thuật chế tạo vũ khí. Ông còn tìm hiển các yếu tố thiết yếu ảnh hưởng đến công cuộc canh tân quốc phòng và dĩ nhiên quyết định thắng bại. Theo Đặng Tiểu Bình, canh tân quân đội muốn thành công phải tùy thuộc vào sự thành công của canh tân kinh tế nói chung và phát triển khoa học kỹ thuật cao nói riêng.
 Chìa khóa để hoàn thành Tứ Hiện Đại Hóa là hiện đại hóa khoa học kỹ thuật. Không thể nào xây dựng được canh nông tiên tiến, kỹ nghệ tiên tiến, quốc phòng tiên tiến nếu không hiện đại hóa khoa học kỹ thuật. Không thể nào đẩy mạnh phát triển kinh tế quốc gia một cách nhanh chóng trừ khi khoa học kỹ thuật phát triển kịp với nhu cầu. 
Thay vì coi canh tân quốc phòng là ưu tiên một, ông đặc biệt chú ý đến sự phát triển kinh tế quốc gia và nghiên cứu khoa học. 
Muốn phát triển khoa học kỹ thuật nhanh chóng đòi hỏi một số lượng chuyên gia đáng kể dồn hết sức vào việc nghiên cứu. Dưới chế độ Cộng Sản, các nhà lãnh đạo đầu tư một số lớn tài nguyên vào công tác này và nóng lòng mong sớm có kết quả ngay nhưng lại không cho giới trí thức được tự do xã hội và chính trị ngõ hầu có thể đóng góp toàn bộ công sức và tài năng của mình. Trái lại, giới trí thức lại bị đối xử như giới cùng đinh và thường bị làm vật hi sinh trong những vận động chính trị. 
Sau khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền năm 1975 và 1978, ông và một số người trong ban tham mưu biết rõ tầm vóc và vai trò quan trọng của giới trí thức đối với sự thành công của Tứ Hiện Đại Hóa. Vì thế giới lãnh đạo đã cải thiện vật chất cũng như cơ sở nghiên cứu để khuyến khích họ tập trung vào công tác đóng góp vào phát triển. Tuy nhiên ông cũng không hoàn toàn rời xa lý thuyết cải tạo trí thức để khắc phục những khuyết điểm mà Mao Trạch Đông đã đưa ra.
 Dười chính sách cởi mở của Đặng trong thập niên 1980, tình trạng của giới trí thức được cải thiện cả về chính trị lẫn vật chất. Tuy nhiên tình trạng kinh tế bết bát, giới chức hành chánh tham ô và đòi hỏi dân chủ tự do trong giới trí thức ngày càng gia tăng đã góp phần vào sự bùng nổ mà cao điểm là ngày mồng 4 tháng 6 năm 1989. Việc giới lãnh đạo từ chối đối thoại với sinh viên, trí thức để đáp ứng các đòi hỏi của họ được tự do hơn, dân chủ hơn là yếu tố chính gây ra các biến cố đẫm máu đó. 
Biến cố đó có thể làm chậm lại chiều hướng của Tứ Hiện Đại Hóa và do đó cả vấn đề canh tân quân sự. Tuy nhiên, ảnh hưởng quan trọng nhất có lẽ là việc thay đổi trong chiến lược của Trung Hoa ở thập niên 1990.
  Cải Tiến Huấn Luyện Quân Sự: Trong thời kỳ chiến tranh Quốc -Cộng, các cấp chỉ huy trong Hồng quân và binh sĩ hầu hết được huấn luyện tại chiến trường. Tuy nhiên trong thời bình quân đội được đào tạo hoặc tại các quân trường hoặc trong các đơn vị chiến đấu. Trong thời Cách Mạng Văn Hóa quốc gia rơi vào tình trạng đấu tranh của các thế lực chính trị. Nhiều học hiệu, cả dân sự lẫn quân sự, bị đóng cửa và ít ai chú ý tới dạy dỗ hay học tập ngay cả những trường còn hoạt động.
 Sau khi nắm quyền, Đặng cho rằng giải pháp cho các vấn đề giáo dục chủ yếu là một vấn đề chiến lược, nghĩa là ưu tiên và lượng giá theo nhu cầu phát triển của quốc gia.
 Về vấn đề huấn luyện quân sự, Đặng đẩy mạnh cả huấn luyện trong quân trường và trong quân ngũ. Không hoàn toàn loại trừ các hoạt động phi quân sự và không quên nhu cầu huấn luyện chính trị, ông đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc nâng cao phẩm chất các sĩ quan Hồng quân.
 Đối với việc huấn luyện trong quân ngũ, Đặng nhấn mạnh vào việc học hỏi chiến tranh hiện đại và hợp tác hành quân bao gồm nhiều loại lực lượng trong nghiên cứu vũng như huấn luyện thao tác.
Hồng quân trước đây thường dùng các binh sĩ tại ngũ để huấn luyện tân binh. Chương trình huấn luyện hỗn hợp này khiến cho các lực lượng chiến đấu phải lập đi lập lại các căn bản mà không nâng cao chất lượng huấn luyện. Tuy nhiên từ năm 1978, họ bắt đầu du nhập một số biện pháp để phân biệt quân tại ngũ và tân binh. Tân binh được huấn luyện một chương trình cao hơn trong các đơn vị chiến đấu sau khi thông qua các chương trình căn bản. Không quân và hải quân cũng áp dụng tương tự như thế. 
So với các đơn vị chiến đấu, các quân sự học hiệu của Trung Hoa sắp xếp các chương trình huấn luyện qui củ hơn. Có hơn 100 quân trường từ Đại Học Quốc Phòng xuống tới các trung tâm huấn luyện căn bản. Họ còn có cả chương trình Cao Học (master) và Tiến Sĩ (doctoral programs) để huấn luyện sinh viên đã tốt nghiệp trong khoa học quân sự. Có vào khoảng trên 100,000 tân khóa sinh ghi danh tại các quân sự học hiệu năm 1987. Các chương trình chính tại các trường võ bị này tập trung vào việc làm sao cho sinh viên thấm nhuần kiến thức về chiến tranh hiện đại và khả năng chỉ huy. Cũng như các đơn vị chiến đấu, trường quân sự luôn luôn chú ý đến hợp tác hành quân bao gồm nhiều binh chủng.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:11:21 am
C.   Chiến Lược của Đặng Tiển Bình trong thập niên 1970
 Từ đầu thập niên 1960 tới giữa thập niên 1970, tranh chấp giữa Trung Hoa và Liên Xô ngày càng căng thẳng tiến từ bất đồng ý thức hệ sang đụng độ quân sự dọc theo biên giới. Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, Liên Xô lập tức kéo Việt Nam về phía mình và mở một mặt trận mạn biên giới phía Nam Trung Hoa. Việc đó khiến Trung Hoa bị đe dọa tinh thần nghiêm trọng.
 Việc tái lập quan hệ Hoa -Mỹ do Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai chủ xướng đầu thập niên 1970 kế đến là tranh chấp Liên Xô -Trung Hoa gia tăng sau khi người Mỹ rút khỏi Việt Nam. Điều đó khiến Đặng Tiểu Bình phát triển một mặt trận liên minh với Mỹ để chống lại chiến lược của Liên Xô dọc theo biên giới.
 a/ Tranh thủ thì giờ để Hiện Đại Hóa quốc gia bằng cách Diên Trì Chiến Tranh toàn cầu
 Suốt thập niên 1960 và đến tân giữa thập niên 1970, dưới quyền lãnh đạo của Mao Trạch Đông, Trung Hoa luôn luôn khẳng định rằng một cuộc thế chiến không sao tránh khỏi và vì thế họ muốn chiến tranh thế giới xảy ra càng sớm càng tốt. vì thế chiến lược họ sửa soạn trong giai đoạn này là một cuộc chiến hạch tâm qui mô. Vào cuối thập niên 1970, khi Đặng nắm quyền, tình trạng kinh tế xã hội, chính trị đang trên bờ vực thẳm, Hồng quân không có khả năng chiến đấu trong một cuộc chiến toàn diện. Trong tình hình đó, Đặng và chính quyền Trung Hoa hết sức cần một thời gian yên ổn để dồn nỗ lực vào các cải cách nội bộ.
 Năn 1977, Đặng nhận định tình hình thế giới là Liên Xô chưa hoàn thành việc tổ chức chiến lược toàn cầu và do đó không sẵn sàng để gây chiến. Hoa Kỳ đang đi vào chiến lược phòng ngự quốc tế, mới rút khỏi Việt Nam nên không dại gì dính vào một cuộc tranh chấp thế giới mới. Dựa trên nhận định đó, Đặng Tiểu Bình cho rằng Trung Hoa phải khai thác cơ hội này để kéo dài thời kỳ trước khi một cuộc chiến tranh có thể xảy ra.
 Để tranh thủ thời gian hiện đại hóa quốc gia, chiến lược toàn cầu của Trung Hoa vẫn còn dựa trên nhận định của Mao Trạch Đông là phải kết hợp các nước trong thế giới thứ ba chống lại kẻ bá quyền -kẻ đó từ thập niên 1970 là Liên Xô chứ không còn là Mỹ. Khi Liên Xô tăng cường chiến lược của họ chống Trung Hoa năm 1979, tiếp theo là cuộc chiến Việt Hoa, đặng thấy rõ là việc Mao đề xướng tái lập quan hệ với Mỹ và Nhật là một tài sản vô giá cho Trung Hoa trong việc chống lại chủ nghĩa bá quyền.
 b/ Chiến Tranh Nhân Dân theo Đặng Tiểu Bình 
Mặc dù Đặng Tiểu Bình tin rằng một cuộc thế chiến có thể hoãn lại nhưng ông cũng không để Trung Hoa không chuẩn bị cho một cuộc tranh chấp không dự liệu và nhất là các chiến tranh khu vực. Nhận định về tình hình đó, Đặng cho rằng ”khi nào chúng ta còn dựa vào chiến tranh nhân dân chiến đấu với những gì chúng ta đang có, thì chúng ta vẫn có thể thắng dù xảy ra ở thời điểm nào chăng nữa”. Thế nhưng quan điểm về chiến tranh nhân dân của Đặng Tiểu Bình không hoàn toàn giống như của Mao. Đặng nhấn mạnh vào việc huấn luyện phối hợp chiến đấu giữa nhiều binh chủng và nói rõ là trong tương lai không còn có thể chiến đấu chỉ với ”cơm hẩm và súng”. Cuộc chiến sắp tới là cuộc chiến với thiết giáp, phi cơ và chiến hạm, chiến đấu trên cạn, dưới nước, trên không, ngầm dưới đất bằng hoạt động phối hợp của nhiều hình thức trang bị. 
Dựa trên nhận định đó, không những Đặng đẩy mạnh việc hiện đại hóa vũ khí và trang bị của Hồng quân để đạt được nhu cầu cho một cuộc chiến tân tiến mà còn đặc biệt chú ý tới việc xây dựng một hệ thống hậu cần hiện đại để bảo đảm tiếp liệu hữu hiệu cho quân đội khi có chiến tranh. Ông nói rõ là Hồng quân không chỉ dựa vào việc cướp khí giới, lương thực của địch tại trận tiền để trang bị cho mình. Đây là một quan niệm hoàn toàn khác với bản chất cuộc chiến Quốc -Cộng khi lý thuyết chiến tranh nhân dân của Mao được hình thành. Tuy nhiên, Đặng vẫn nói là dù có cải tiến về vũ khí và trang bị nhưng trong vòng 10 đến 20 năm nữa, Hồng quân vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém so với các siêu cường. Thế nhưng dù có kém về vũ khí ông vẫn có thể đánh bại một kẻ thù mạnh hơn. Niềm tin đó theo Đặng dựa vào tin tưởng là họ theo đuổi một ”cuộc chiến công chính và của nhân dân”. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:12:29 am
2.   CHUẨN BỊ CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG HOA TRONG THẬP NIÊN 1980
A.   Việc bao vây của Liên Xô và phản ứng của Trung Hoa
 Vào cuối thập niên 1970, ba vấn đề phát khởi bao quanh biên giới Trung Hoa đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc sắp xếp chiến lược toàn cầu của họ trong thập niên sau đó. Đó là việc Cộng Sản Việt Nam xâm lăng Kampuchea ngày 25 tháng 12 năm 1978, lật đổ chính quyền Pol Pot do Trung Hoa đỡ đầu, cuộc chiến biên giới Việt Hoa và việc Liên Xô xâm lăng Afghanistan vào ngày Giáng Sinh năm 1979. 
a/ Việt Nam xâm lăng Kampuchea và cuộc chiến Việt -Hoa
 Khi việc cộng tác chiến lược giữa Liên Xô và Việt Nam đã trở thành một thực thể rõ rệt vào giữa thập niên 1970, Trung Hoa cố tránh xa và không trực tiếp xung đột với các đồng minh cũ. Tuy nhiên, khi Việt Nam bắt đầu xâm lăng Kampuchea, Trung Hoa không còn có thể ngồi yên và Đặng Tiểu Bình đưa ra quyết định táo bạo là tiến hành cái mà ông ta gọi là chiến dịch trừng phạt và tự vệ chống Việt Nam vào giữa tháng 2 năm 1979 sau khi du hành Mỹ và Nhật trở về. Cuộc chiến Việt Hoa làm gia tăng sự bức thiết để hình thành Thỏa Ước Hữu Nghị Việt -Xô, Trung Hoa cũng đồng thời tăng cường hợp tác chiến lược với Mỹ và khối quốc gia Âu Tây.
b/ Liên Xô xâm lăng Afghanistan
 Mười tháng sau khi cuộc chiến Việt Hoa bắt đầu, Liên Xô lại thắt chặt vòng vây Trung Hoa bằng cách xâm lăng Afghanistan. Liên Xô thay thế chính quyền Mác xít cũ bằng một chính quyền mới và 100,000 quân trú phòng. Mặc dầu một số nhà lãnh đạo chính trị Âu Châu cho rằng cuộc xâm lăng đó chủ yếu là một hành động tự vệ, Trung Hoa lại nhìn bằng một nhãn quan khác hẳn. Họ cho đó là một phần của đại chiến lược mà Moscow nhắm vào để chiếm vùng ”bụng dưới” của Á Châu, một khu vực nhiều dầu hỏa có giá trị một lộ tuyến chiến lược. Khi Afghanistan và Việt Nam trong vòng kiểm soát, Liên Xô nếu tiến xa hơn về phương Nam đến tận Ấn Độ Dương và các mỏ dầu Trung Đông, sẽ dễ dàng khống chế Tây phương và nối liền các điểm áp lực trong Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Việc đó sẽ đặt eo biển Malacca trong vùng ảnh hưởng của Liên Xô. Nếu các biến động diễn tiến theo chiều hướng ấy, một sự đảo lộn cán cân quân sự thế giới là điều không sao tránh được.
 Mặc dù Trung Cộng không tuyên bố thẳng là việc phát triển này sẽ đe dọa nghiêm trọng đến an ninh của Trung Hoa tại vùng biên giới phía Nam, bờ biển Đông Nam khiến vòng vây của Liên xô thêm chặt chẽ nhưng thực tế họ rất khó chịu và quan ngại. vì thế các nhà lãnh đạo Trung Hoa phải tìm cách cộng tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Tây phương để ngăn ngừa Liên Xô khỏi bành trướng xuống phương Nam và khả dĩ bao vây lãnh thổ họ. 
B.   Sự Hình Thành Quan Hệ Tam Phương Hoa -Mỹ -Nga 
a/ Hợp Tác Chiến Lược Hoa -Mỹ
 Việc Liên Xô xâm lăng Afghanistan và Việt Nam bành trướng ảnh hưởng trên bán đảo Đông Dương đã đe dọa nặng nề tới an ninh quốc gia của Trung Hoa khiến họ phải khai triển một chiến lược quốc tế ngõ hầu ngăn chặn Liên Xô. Chiến lược đó chủ yếu gồm các yếu tố sau đây:
•   Trước hết, Trung Hoa và các cường quốc Tây Phương phải hỗ trợ nhân dân Afghanistan và Kampuchea chống kẻ xâm lược. Đồng thời, họ phải cung cấp phương tiện và ủng hộ tinh thần cho Pakistan, Thái Lan là những quốc gia bị đe dọa trực tiếp của Liên Xô và Việt Nam.
•   Thứ hai, họ phải tăng cường đoàn kết và cộng tác để cùng nhau ngăn chặn Liên xô bành trướng.
 •   Thứ ba, tất cả các quốc gia này phải hỗ trợ khối Á Rập và quốc gia Á châu (bao gồm Malaysia, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Phi luật tân) tăng cường khả năng quốc phòng.
•   Sau cùng, Trung Hoa cũng như các nước Tây Phương phải củng cố khả năng quân sự ngõ hầu giữ được thế quân bằng quyền lực với Liên Xô.  Với các quan điểm chiến lược đó, Trung Hoa coi ưu tiên hành đầu là việc làm sao có thể hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ và các nước Tây phương. 
Tám năm sau chuyến viếng thăn của tổng thống Nixon năm 1972, Hoa Kỳ và Trung hoa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày mồng 1 tháng 1 năm 1979. Cùng tháng đó, Đặng Tiểu Bình thăm nước Mỹ để gia tăng hợp tác chiến lược giữa hai bên. Cũng có lẽ chính trong chuyến đi này, Đặng tiểu Bình cho phép người Mỹ thiết lập một đài điện tử thu thập tin tức tình báo tại Tân Cương trong khu tự trị Uigur để thăm dò các thử nghiệm hỏa tiển của Liên Xô và đổi lại ông được sự im lặng tán đồng của Hoa Kỳ để Trung Hoa tiến hành chiến tranh trừng phạt Việt Nam. 
b/ Sự phát triển tương quan tam phương Trung Hoa, Hoa Kỳ và Liên Xô
  Dường như năm 1979 là thời kỳ trăng mật của tương quan Mỹ Hoa. Các nhà lãnh đạo Trung Hoa trên thực tế đã phát triển được quan hệ hợp tác hữu nghị (nếu chưa phải là đồng minh) với Hoa Kỳ. Để việc ngăn ngừa Liên Xô bành trướng được hiệu quả, Mỹ phải hỗ trợ Trung Hoa trong tứ hiện đại hóa và nhất là canh tân quân đội bằng cách nhượng lại một số vũ khí và kỹ thuật cao. Tuy nhiên, hi vọng đó nhạt dần sau chuyến viếng thăm của Đặng chẳng bao lâu. 
Tháng 5 năm 1980, tại Cleveland, Tổng Thống Reagan đã trả lời một câu hỏi về vấn đề Đài Loan là ”trong cương vị một Tổng Thống, ông sẵn sàng tái lập quan hệ chính thức với hòn đảo”. Ông còn đi xa hơn điều chỉnh chính sách ”Hai Trung Hoa” cho rằng cũng giống như chính sách với hai nước Đức. Lời tuyên bố đó gây công phẫn cho giới lãnh đạo Trung Cộng và vì thế họ phản đối mãnh liệt. 
Mặc dầu Reagan đã cử người cùng liên danh của ông là George Bush tới Bắc Kinh giải thích tư thế của ông và bảo đảm với giới chức Trung Hoa nhưng chính sách thân Đài Loan không thay đổi và vì thế cộng tác chiến lược vừa hình thành bị bỏ dở. Sau khi lên nắm quyền, Reagan cử hai Bộ Trưởng Ngoại Giao là Alexander Haig và George Schultz sang Trung Hoa vào năm 1981 và 1983 để gia tăng hợp tác song phương nhưng vì Hoa Kỳ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan chỉ càng khiến cho Trung Cộng nghi ngại không tin vào người Mỹ. Hậu quả là tranh luận và phản đối vẫn tiếp tục trong nhiều năm. Hoa Kỳ cố xoa dịu Trung Hoa bằng cách cho phép xuất cảng vũ khí và kỹ thuật cao sang lục địa và đồng thời hứa sẽ giảm dần mức vũ khí bán cho Đài Loan. Để chứng tỏ là chính phủ Mỹ coi vấn đề một cách nghiêm chỉnh, Tổng Thống Reagan đích thân thăm Trung Hoa năm 1985 để củng cố liên hệ giữa hai nước.
 Đến tháng 3 năm 1982, Trung Cộng bắt đầu cải thiện tương quan với Liên Xô khi Chủ tịch Brezhnev chứng tỏ thiện chí trong thỏa hiệp ở Tashkent. Thế nhưng giao thiệp Trung-Xô chỉ thực sự cải thiện khi Liên Xô, tới một mức độ nào đó, bằng lòng thỏa mãn 3 điều kiện tiên quyết Trung Hoa đưa ra. Đó là giảm thiểu binh bị dọc theo biên giới Trung-Xô và Trung Hoa-Mông Cổ, rút quân khỏi Afghanistan và yêu cầu Việt Nam rút khỏi Kampuchia. Kể từ giữa thập niên 1980, tương quan đại tam giác Trung Hoa-Mỹ-Liên Xô dần dần hình thành và chiến lược toàn cầu của Trung Hoa cũng tiến từ ngả về phía Hoa Kỳ hồi đầu thập niên sang một tư thế độc lập giữa hai siêu cường và tạo nên một thời kỳ mới theo chính sách mở cửa với mọi quốc gia.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:13:46 am
C.   Chính Sách Mở Cửa và Hiện Đại Hóa Quốc Phòng trong thập niên 1980
 Khi Liên Xô và Việt Nam bị sa lầy trong chiến tranh du kích tại Afghanistan và Kampuchea, chiến lược tấn công của Liên Xô tại Nam và Đông Nam Á châu bị tạm thời chặn đứng hồi đầu thập niên 1980. Trong hoàn cảnh đó, cùng với sự giải trừ căng thẳng giữa Trung Hoa, Hoa Kỳ và Liên Xô, các nhà lãnh đạo Trung Cộng có thể tái lượng giá tình hình thế giới và phác họa những chiến lược quốc gia mới. Từ nay họ có thể dồn ưu tiên một cho phát triển kinh tế dưới một chính sách mở cửa để củng cố quốc phòng.
 a/ Tăng cường Quốc Phòng bằng cách Phát Triển Kinh Tế
 Các nhà lãnh đạo Trung Hoa nhận ra là một quốc phòng tân tiến phải dựa trên một hệ thống kinh tế quốc gia tân tiến yểm trợ bằng kỹ thuật cao. vì thế họ chọn một chính sách hai mặt để gia tăng phát triển kinh tế. Một bên là bành trướng thương vụ quốc tế của Trung Hoa, thiết lập những doanh nghiệp hỗn hợp với nước ngoài và vay các trái khoản quốc tế để giải quyết vấn đề thiếu hụt tư bản và kỹ thuật mới. Phương thức thứ hai là giảm thiểu các chi phí quân sự, cắt 1/4 quân số và chuyển một số kỹ nghệ quân sự sang sản xuất hàng dân dụng để giải quyết khó khăn tài chánh. 
Về phương thức thứ nhất, Trung Hoa đã gia tăng thương vụ quốc tế mỗi năm từ vài trăm triệu lên hơn 100 tỉ trong thập niên qua. Qua các chương trình hỗn hợp với công ty nước ngoài, họ đã thu hút được vài tỉ tiền mặt và trang bị kỹ nghệ tối tân đầu tư khiến không những kinh tế phát triển nói chung mà một số kỹ thuật cao cũng theo đó chuyển vào Hoa Lục. 
Hầu hết các học giả Tây Phương nghiên cứu về Trung Hoa đều biết rằng mặc dù Hồng quân hết sức cần thiết các vũ khí tối tân và trang bị để tăng cường khả năng chiến đấu nhưng họ không có tiền mà họ cũng không muốn mua từ nước ngoài. Trái lại họ muốn du nhập kỹ thuật mới và nhất là các loại kỹ thuật tân tiến nhất. Các nhà lãnh đạo Trung Hoa từng công khai tuyên bố rằng họ hi vọng mở rộng mậu dịch quốc tế sẽ giúp hiện đại hóa quốc phòng và sẵn lòng hợp tác với ngoại quốc để phát triển và sản xuất vũ khí mới ngay trên lãnh thổ Trung Hoa. Dẫu rằng các nước Tây Phương tiếp tục hạn chế xuất cảng kỹ thuật cao sang các quốc gia Cộng Sản nhưng họ cũng đã giải tỏa một phần cấm đoán cho Trung Hoa trong vài năm gần đây. Hoa Kỳ đã đồng ý giúp Trung Cộng cải thiện hệ thống radar trong chiến đấu cơ F-8 và bán cho họ nhiều máy điện toán tối tân. Tuy nhiên, sau biến cố Thiên An Môn ngày mồng 4 tháng 6 năm 1989, một số nước trong đó có cả Hoa Kỳ và Nhật Bản lại tăng cường việc kiểm soát chuyển giao kỹ thuật. Theo các báo cáo, trong thập niên 1980, Trung Hoa đã nhập cảng 27 tỉ đô la kỹ thuật và trang bị, chiếm 60% gia tăng trong tổng sản lượng quốc gia. 
b/ Hiện đại hóa quốc phòng và cắt giảm chi phí quân sự 
Như đã đề cập trước đây, các nhà lãnh đạo Trung Hoa hết sức cần một giai đoạn hòa hoãn để tiến hành công cuộc canh tân. Chiến tranh, dù chỉ trong phạm vi khu vực cũng thu hút tài nguyên vào quân sự và sẽ làm đảo lộn thứ tự ưu tiên của công cuộc hiện đại hóa. Vì thế, khi việc liên hệ giữa Trung Hoa và các siêu cường trở nên bớt căng thẳng và tình hình tại biên giới tương đối ổn cố, các nhà lãnh đạo không ngần ngại tiếp tục việc tái tổ chức để giảm trừ các phần bộ thừa thãi của Hồng quân ngõ hầu tạo tình trạng thuận lợi hơn cho việc hiện đại hóa. 
Kể từ 1985, Trung Cộng đã giảm quân số từ 4.2 triệu xuống còn 3 triệu người. Theo đó các kinh phí quốc phòng cũng giảm theo. Thành phần giải ngũ gồm các đơn vị không chiến đấu và nhân viên không cần thiết nên không nhưng không làm yếu đi mà thực tế hiện nay Hồng quân còn mạnh hơn trước. 
Trước khi cắt giản quân số, lực lượng Trung Hoa nhiều hơn Liên Xô độ 10% và gấn 2.5 lần Hoa Kỳ. Tuy thế, ngân sách quân sự của họ chưa đầy 1/3 ngân sách Mỹ và chỉ bằng 1/4 ngân sách Liên Xô. Dù vậy, chính quyền vẫn tiếp tục cắt giảm mỗi năm. Từ 1971 đến 1985, ngân sách quốc phòng từ 17.4% rút xuống chỉ còn 7.5% ngân sách quốc gia. 
Để giải quyết vấn nạn tài chánh, Hồng quân được phép thực hiến các kinh doanh để có thêm lợi tức. Trong số các kinh doanh có cả việc dùng kỹ nghệ quốc phòng để sản xuất các mặt hàng tiêu thụ bán trong nội địa cũng như trên thị trường thế giới. Theo các báo cáo, có đến 1/3 các kỹ nghệ quân sự đã chuyển ngành và 3/5 tổng số sản phẩm nhắm vào thị trường dân sự, tổng cộng hơn 700 mặt hàng. Trong số đó, riêng năm 1989, trên 100 món bán ra thế giới đem về khoảng 300 triệu đô la. Ngoài ra, họ còn bắt đầu bán vũ khí cho các quốc gia trong thế giới thứ ba. Năm 1988, Trung Hoa đứng vào một trong 5 nước cung cấp vũ khí nhiều nhất thế giới trên thị trường quốc tế. Nếu cải tiến được lề lối quản trị, họ có thể đem về trên 10 tỉ Nguyên (Yuan) (khoảng 2.5 tỉ đô la) mỗi năm. Một báo cáo còn tiên đoán là trong vòng 20 năm số lợi tức do vũ khí và hàng thương mại đem lại có thể đủ cung ứng chi phí quốc phòng mà không cần chính quyền phải hỗ trợ tài chánh, nếu đà phát triển này cứ tiếp tục. 
Nhờ tiếp tục tái tổ chức các cơ chế quân đội và quản trị, mặc dù ngân sách quốc phòng vẫn bị cắt giảm, nên công cuộc hiện đại hóa quân sự của Trung Hoa không bị chậm lại lại, nhất là việc canh tân các vũ khí chiến lược.
 c/ Tổ chức các lực lượng xung kích và vai trò chiến lược
 Trong khi Trung Hoa cắt giảm ngân sách quốc phòng, chuyển một số kỹ nghệ quân sự sang sản xuất hàng tiêu thụ nhưng họ không giảm các ngân khoản nghiên cứu. Không những thế, họ còn tập trung ngân sách quốc phòng vào việc phát triển các vũ khí hạch tâm và các chương trình không gian. Từ năm 1978 tới nay, ngân khoản giành cho nghiên cứ gia tăng đáng kể. Sau khi thành công trong thử nghiệm hỏa tiễn liên lục địa bắn từ mặt đất và từ dưới biển do tàu ngầm nguyên tử phóng ra hồi đầu thập niên 1980, họ đã có được một số lượng vũ khí hạch tâm hữu hiệu chống lại những cuộc tấn công bằng nguyên tử có thể xảy ra. 
Nhờ những thành tựu đó cũng như việc các siêu cường tiếp tục cắt giảm vũ khí hạt nhân, Trung Hoa biết rằng đã đến lúc họ phải thay đổi chiến lược toàn cầu. Trong một phiên họp khoáng đại của Ủy Ban Quân Sự năm 1985, các nhà lãnh đạo Trung Hoa đưa ra nhận định là từ nay tới cuối thế kỷ 20 và ngay cả đầu thế kỷ sắp tới sẽ không có thế chiến hay chiến tranh hạch tâm vì tình trạng quân bình về vũ khí giữa các đại cường khiến ai cũng hiểu là dùng nguyên tử là tiêu diệt cả hai bên và sẽ không ai muốn phiêu lưu như thế. 
Trong khi chiến tranh hạch tâm qui mô không xảy ra nhưng chiến tranh giới hạn hay đụng độ ở một mực độ thấp hơn vẫn có thể có bất cứ lúc nào và trở thành vấn đề chính yếu chi phối quan hệ khu vực trong một tương lai gần. Theo các nhà lãnh đạo Trung Cộng, nguyên nhân chủ yếu gây ra các cuộc chiến tranh giới hạn trong tương lai là tình trạng bá quyền khu vực hay chủ nghĩa bành trướng. Bá quyền khu vực ám chỉ Việt Nam còn chủ nghĩa bành trướng ám chỉ Liên Xô. ”Họ đang chiếm giữ đất đai và biển cả của ta. Trong khi xung đột biên giới vẫn tiếp tục, những đe đọa ngầm xem ra nguy hiểm hơn các diễn biến hiện tại”.
 Dựa vào nhận định đó, các nhà lãnh đạo Trung Hoa đã đề chiến lược quân sự cho thập niên 1980 và cả đầu thập niên 1990. Triệu Tử Dương, nguyên Tổng Bí Thư Ủy Ban Trung Ương Đảng kiên Phó Chủ Tịch Quân Ủy, đã đề ra trong phiên họp cấp cao vào tháng 5 năm 1988 ở Bắc Kinh là chiến lược của Trung Hoa chủ yếu nhằm vào chiến tranh giới hạn và các xung đột quân sự địa phương. Để đạt mục tiêu đó, Hồng quân sẽ xây dựng một lực lượng xung kích chớp nhoáng, trong khi vẫn tiến hành việc lượng giá nguy cơ chiến tranh trong tương lai, chiến lược quốc phòng trường kỳ và xu thế phát triển quân sự. 
Việc thành lập lực lượng xung kích đã trở thành một quyết định chiến lược quan trọng từ năm 188 tới nay. Kế hoạch này không phải chỉ thực hiện trong lục quân mà cả không quân và hải quân. Trong quân đội, các tiểu đoàn đặc biệt hay tiểu đoàn xung kích chớp nhoáng, trang bị vũ khí tối tân đã được thành lập. Một lữ đoàn thủy quân lục chiến tương tự như tiểu đoàn xung kích cũng đã hình thành trong Hạm đội Nam Hải (South China Sea Fleet). Quân nhảy dù Trung Cộng dưới quyền điều động của không quân cũng tiến hành thành lập các đơn vị xung kích. Họ được giao nhiệm vụ tấn công kẻ thù trên bất cứ địa điểm nào trong toàn lãnh thổ trong vòng một ngày. 
Việc nhấn mạnh vào thành lập các lực lượng xung kích cho ta thấy Trung Cộng đã từ bỏ chiến lược thoái lui phòng ngự trước đây. Họ đang tiến sang chiến lược vị trí để đối phó với các xung đột biên giới và chiến tranh khu vực. Các lực lượng xung kích sẵn sàng vượt biên giới để chiến đấu trên lãnh thổ, không phận, hay hải phận của địch nến cần. 
Tổ chức các lực lượng xung kích còn được dùng làm khuôn mẫu cho việc canh tân Hồng quân. Nếu quân đội Trung Cộng tái tổ chức theo hướng các lực lượng xung kích thì hỏa lực của họ sẽ mạnh hơn nhiều và như thế không thể không ảnh hưởng đến chiến lược, chiến thuật của họ. 
Ngoài ra, nếu chúng ta giả định rằng một cuộc chiến tranh khu vực xảy ra và địch quân tràn vào chiếm một phần đất của Trung Hoa, người Tàu sẽ phải dùng lại chiến tranh du kích nhưng sẽ hoàn toàn khác với chiến tranh du kích trước đây. 
d/ Việc phát triển Hải quân và chiến lược trên biển 
Mặc đầu Trung Hoa tương đối vẫn có một số lượng chiếm hạm to lớn từ thập niên 1950 tới nay nhưng họ không dùng để bảo vệ duyên hải. Chiến lược của hải quân Trung Hoa vẫn chủ yếu theo lý thuyết chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông. Theo chiến lược của Mao, nếu có chiến tranh, họ sẽ tiêu diệt quân xâm lược trên đất liền. Lý thuyết đó tương tự như quan điểm của Ngụy Nguyên và nhiều người khác hồi giữa thế kỷ 19 khi Trung Hoa đánh nhau với hải quân Anh (xem chương 3). Với chiến lược thoái lui phòng ngự, các nhà lãnh đạo Trung Hoa chống lại chủ trương chiến đấu trên mặt biển. Hải quân có nhiệm vụ bảo vệ duyên hải và các ngư thuyền. Kể từ đầu thập niên 1970, khi Trung Hoa gia nhập Liên hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế khác, ảnh hưởng bởi quyền lãnh hải và hải vực kinh tế 200 dặm kể từ bờ biển như các nước trong thế giới thứ ba thường minh định, họ mới quan tâm đến những vấn đề này và bắt đầu xây dựng lực lượng hải quân nhất là từ khi họ thăm dò dầu khí trên biển cả. 
Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, hải quân Liên Xô tiếp thu hải cảng Cam Ranh do người Mỹ bỏ lại. Cuộc tranh quyền bá chủ khu vực biển Đông và Thái Bình Dương khiến Trung Hoa e ngại những đe dọa quân sự từ phía biển và do đó càng nỗ lực tăng cường hải lực để bảo vệ các quyền lợi và chống xâm lăng từ đại dương tiến vào.
Vì quan điểm chiến lược cũng như sự yếu kém về trang bị, lực lượng hải quân Trung Hoa trước năm 1976 ít khi ra khỏi khu vực các quần đảo nằm dọc theo lục địa. Từ đó tới nay, vì hải quân đã được tăng cường các chiến hạm tối tân, các chiến thuyền mới đóng, tàu ngầm nguyên tử và hỏa tiễn, họ đã gia tăng các công tác huấn luyện phối hợp nhiều binh chủng, nhiều hạm đội trên biển cả. 
Theo các báo cáo mới đây, lực lượng hải quân Trung Hoa đã được xếp hàng thứ ba trên thế giới với 20 khu trục hạm, 40 khu trục hạm hộ tống, 120 tiềm thủy đĩnh trong đó có 5 tàu ngầm nguyên tử và hơn 100 tuần dương hạm và các loại tàu chiến khác. Tổng cộng họ có khoảng từ 1700 đến 1900 chiến hạm đủ loại. Một số hiện nay được trang bị các hệ thống điện tử có chở theo trực thăng và hỏa tiễn. Từ năm 1983 tới nay, Trung Cộng cũng cho hay họ định kiến tạo 5 hàng không mẫu hạm, mỗi mẫu hạm có sức chở 25 phi cơ. Họ cũng định hạ thủy 12 tàu ngầm nguyên tử có mang đầu đạn nguyên tử bắn vòng cầu trong 10 năm sắp tới.
 Rõ ràng là giới lãnh đạo Trung Hoa ngày nay không còn bằng lòng với chiến lược phòng ngự duyên hải và đang hình thành một kế hoạch để đưa ra một chiến lược nhiều tham vọng hơn trong những năm sắp tới.
 Việc gia tăng công tác thao dợt trên biển cả nói lên mục tiêu chiến lược của các nhà lãnh đạo trong việc xây dựng hải quân. Họ muốn xây dựng một lực lượng hải quân để ”có thể kiểm soát hải phận nối liền các biển cả thuộc quyền Trung Hoa trong đó chúng ta có thể bảo vệ hữu hiệu các eo biển quan trọng và hoạt động trong vùng này”.
 Tuy Trung Hoa đã sẵn sàng từ bỏ chiến lược thoái lui phòng ngự nhưng không có nghĩa là họ đã đi đến quyết định chinh phục biển khơi. Khi nói về chiến lược hải quân, họ chia các hoạt động trên biển ra làm 3 cấp độ. Cấp độ thứ nhất là Cận Ngạn Tác Chiến (Jinan Zouzhan) là hành quân ngoài bờ biển, trên nghĩa rộng tương tự như phòng vệ duyên hải. Cấp độ cao nhất là Viễn Hải Tác Chiến (Yuanhai Zuozhan) có nghĩa là hành quân ngoài khơi đại đương. Mức độ thứ hai là Cận Hải Tác Chiến (Jinhai Zuozhan) có nghĩa là hành quân trong giữa hai mức độ cận ngạn và viễn hải. Khi các nhà lãnh đạo Trung Hoa dự tính thay đổi chiến lược trên biển, bước đầu tiên là chuyển từ chiến lược duyên hải sang chiến lược cận hải, bao gồm mạn bắc từ Hải Sâm Uy (Fuladiwositouke) đến miền nam tới eo biển Malacca, kéo dài tới các hòn đảo ngoài khơi mặt đông. Khu vực đó vượt xa lãnh hải kinh tế 200 dặm. 
Theo định nghĩa này người ta thấy rằng chiến lược mặt biển hiện nay của Trung Hoa chủ yếu nhắm vào cấp độ thứ hai. Tham vọng của họ là kiểm soát khu cực cận hải và các eo biển quan trọng nối liền hải phận. 
Khi bàn về chiến lược toàn cầu, một hệ thống hỏa tiển địa không liên lục địa và các loại hỏa tiễn tầm trung khác, kèm theo tàu ngầm nguyên tử có khả năng phóng các đầu đạn hạch tâm từ dưới nước, các oanh tạc cơ tầm xa mang theo bom nguyên tử được xem như ba mặt của chiến tranh hạt nhân. Nếu đánh giá bằng các yếu tố đó, vũ khí chiến lược của trung Hoa chưa hoàn tất. họ chưa có những oanh tạc cơ tầm xa đủ sức tới Moscow hay lọt qua được hàng rào phòng không của Liên Xô ở vùng viễn đông. Mặc dù các hỏa tiễn địa không và tàu ngầm nguyên tử mang hỏa tiễn có thể chống đỡ các siêu cường tấn công bằng vũ khí hạch tâm nhưng còn xa Trung Hoa mới có thể đủ sức giao tranh trong một cuộc chiến nguyên tử mà không bị tổn thất. Cho nên, trên quan điểm chiến lược toàn cầu, Trung Hoa chỉ mới có những ảnh hưởng hạn chế. Thế nhưng trong một cuộc chiến khu vực với các quốc gia Á châu khác, chắc chắn Trung Hoa có một vị thế quan trọng. Họ đủ mạnh để tiến hành chiến lược tấn công trong các tranh chấp quân sự và chiến tranh giới hạn dọc theo biên giới. Nhìn vào bối cảnh đó, các nhà lãnh đạo Trung Hoa đã chuyển từ thoái lui và phòng ngự bờ biển sang một chiến lược tích cực và tấn công. Đó là chủ điểm của chiến lược quân sự Trung Hoa cho đến khi nào có những điều kiện mới nảy sinh.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:14:21 am
 3. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG HOA TRONG TƯƠNG LAI GẦN 
A.   Ảnh hưởng của các cuộc cách mạng trong thế giới Cộng Sản đối với chiến lược toàn cầu của Trung Hoa.
 Hai năm 1989 và 1990 là những năm đáng ghi nhớ vì những biến chuyển mãnh liệt trong các quốc gia Cộng Sản. Có thể nói rằng biến cố Thiên An Môn ngày mồng 4 tháng 6 năm 1989 mở đầu cho các thay đổi. Kế đó là việc lật đổ các chế độ Cộng Sản ở Âu Châu và rối loạn trong các quốc gia vùng biển Baltic thuộc Liên Xô, phủ nhận sự độc quyền chính trị trong 70 năm qua. Trong khi nhà cầm quyền Bắc Kinh đàn áp các cuộc vận động đòi dân củ của thanh niên bằng bạo lực để tạm thời củng cố quyền kiểm soát Trung Hoa thì các chế tài kinh tế của các quốc gia Tây Phương, kèm theo chính sách cởi mở của Liên Xô đã làm gia tăng sự bối rối và tâm lý bị cô lập trong giới lãnh đạo Trung Hoa. Quyết định xiết chặt quyền lực chuyên chính của giới già nua không thể không ảnh hưởng đến chiến lược phát triển kinh tế và quốc phòng.
 a/ Sự trì trệ kinh tế và ảnh hưởng đến quốc phòng  Dưới chính sách cởi mở trong thập niên qua, sự phát triển kinh tế đã tăng cường đáng kể cho sức mạnh quốc phòng. Nhiều chuyên gia về Trung Hoa đã tiên đoán là đến năm 2000, Trung Hoa sẽ là một trong 5 siêu cường nếu đà tiến bộ như hiện nay cứ tiếp tục. Tuy nhiên, từ sau biến cố Thiên An Môn, kinh tế Trung Hoa đã suy thoái trầm trọng vì hậu quả của trừng phạt từ phía Tây Phương phong tỏa các trái khoản, bãi bỏ việc xuất cảng kỹ thuật cao sang Trung Hoa. Mặc dầu cả Mỹ lẫn Nhật đều cố gắng để khỏi đẩy nước Tàu trở lại thời kỳ cô lập trước đây nhưng suy thoái kinh tế không thể nào tránh khỏi. Nếu các biện pháp chế tài đó kéo dài một thời gian dài và nếu chính quyền Trung Hoa không hành sử một cách hữu hiệu, việc hiện đại hóa quốc phòng sẽ bị tổn thương nặng nề vì kinh tế đi xuống.
 b/ Gia tăng công tác chính trị và ảnh hưởng trên việc định lệ hóa Hồng quân  Ngoài ảnh hưởng kinh tế và giới hạn kỹ thuật trên công cuộc canh tân quân sự, chương trình định lệ hóa ít nhiều cũng bị ngắt quãng vì việc gia tăng công tác chính trị giống như thời Cách Mạng Văn Hóa.
 Sau ngày mồng 4 tháng 6, nhất là khi cuộc nổi dậy của quân đội Roumania lật đổ chính quyền Ceausescu, các giới chức lãnh dạo Trung Hoa khẳng định nhiều lần là họ chú trọng vào việc học tập chính trị để Hồng Quân tuyệt đối tuân theo sự lãnh đạo của đảng.
 Như đã đề cập nơi phần đầu, để có thể hiện đại hóa và tổ chức hóa, Hồng quân đã tập trung vào việc giáo dục quân sự và giới hạn không để cho quân đội hoạt động chính trị nhiều như thập niên trước. Nếu muốn có một quân lực tân tiến thì điều trước tiên phải làm là định chế hóa để trở thành một quân đội nhà nghề. Vì những lý do chính trị, các nhà lãnh đạo Đảng phủ nhận các ý kiến của quần chúng kêu gọi tách Hồng quân ra khỏi đảng, quốc gia hóa quân đội và giữ cho quân đội trung lập không liên quan đến các hoạt động chính trị. Trong nhất thời, giới lãnh đạo chấp nhận đi chậm lại hoặc ngay cả hi sinh công cuộc định lệ hóa và canh tân hóa ngõ hầu nâng cao tính cách mạng của quân đội. 
c/ Sự thay đổi trong liên hệ tam phương Mỹ-Hoa-Nga 
Từ năm 1989, các cải cách chính trị và kinh tế của Gorbachev bắt đầu gặp khó khăn nghiêm trọng. Ông quyết định không dùng các lực lượng võ trang để trấn áp nổi dậy trong chính nước Nga cũng như tại các quốc gia trong khối Warsaw nên chỉ trong vài tháng các chế độ Cộng Sản ở Đông Âu hết nước này tới nước kia liên tiếp sụp đổ. Trái lại, ông theo đuổi một chính sách thương lượng để đối phó với các tiểu bang muốn li khai tại quốc nội và tỏ vẻ tán đồng các vận động dân chủ tại Đông Âu. Tháng 2 năm 1990, tiếp theo việc Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản bãi bỏ quyền chính trị độc tôn hiến định, mở đường cho một hệ thống đa thành phần, Liên Xô tiến thêm một bước đạt thỏa hiệp tài giảm quân số tại Âu Châu trong một hội nghị các ngoại trưởng của khối NATO và WARSAW tại Ottawa, Canada. Trong hội nghị này, cả hai bên đều đồng ý sẽ thảo luận thêm về không phận và hải phận để điều hành lực lượng và vũ khí trong một tương lai gần. Một thỏa ước trên nguyên tắc về việc thống nhất nước Đức cũng được ký kết. 
Mặc dù chính sách hòa hoãn của Liên Xô chủ yếu là vì các vấn đề quốc nội và nhu cầu mua thời gian tiến hành cải cách, hướng đi đó đã thay đổi triệt để cuộc chiến tranh lạnh kéo dài 40 năm qua giữa hai siêu cường và hai khối Đông Tây. 
Trong khi Hoa Kỳ và thế giới Tây Phương tán dương Liên Xô về các cải cách dân chủ của họ thì việc Trung Cộng đem quân đội đàn áp các sinh viên và thái dộ cứng đầu của họ đưa tới thái độ chống đối và các chế tài kinh tế. Nếu Trung Hoa cương quyết chống lại cải cách, họ sẽ bị Hoa Kỳ kết án và sẽ làm hỏng hợp tác chiến lược mà hai bên đã thực hiện trong thập niên qua. Tuy nhiên, mặc dù Hoa Kỳ tiếp tục áp lực Trung Hoa phải tiến hành cải tổ, nhưng các nhà lãnh đạo Mỹ không để cho tương quan trở lại suy đồi như hồi thập niên 1950 hay 1960. Họ muốn tiếp tục liên hệ với Trung Hoa trên cả kinh tế lẫn chính trị. Tuy lúc đó tình hình Mỹ-Hoa có thể ngưng lại nhưng cả hai không bên nào muốn sự thế nghiêm trọng hơn. 
Vì những khó khăn trong nước, Liên Xô cố gắng hế sức để có tương giao hòa hoãn, nếu không nói là thân thiện, với Trung Hoa. Nhiều báo cáo cho hay giới lãnh đạo già của Trung Cộng đã chỉ trích các chính sách của Gorbachev và kết án ông ta là kẻ xét lại. Nhiều người còn đề nghị đưa ra vấn đề ý thức hệ để chống ông ta, kẻ khác còn đòi chuẩn bị các cuộc giao tranh quân sự tại biên giới giống như hồi 1968. Nếu các báo cáo đó có thật, quả thực các nhà lãnh đạo Trung Hoa đã sai lầm lớn vì tình trạng hiện tại của Trung Hoa cũng như thế giới đã khác hẳn hồi thập niên 1960. Nhưng hầu như không mấy ai trong cũng như ngoài nước quan tâm đến. Thay vì tranh cãi ý thức hệ, họ phải tập trung vào việc cải cách chính trị và kinh tế. Cho rằng nếu quả các nhà lãnh đạo Trung Hoa có nêu lên nhưng không hành động thì Gorbachev cũng chẳng cần để ý đến vì Trung Hoa càng chỉ trích thì ông càng tiến gần Hoa Kỳ hơn.
 Dựa trên phân tích này, liên hệ Trung Hoa -Liên Xô trong những năm tới đây có lẽ chỉ nhạt nhẽo nhưng chắc không có những tranh chấp nghiêm trọng về vấn đề biên giới hay chiến lược toàn cầu. 
d/ Phản ứng của Trung Hoa đối với các chế tài từ bên ngoài
 Sau 10 năm mở cửa với bên ngoài, gia tăng mậu địch quốc tế và hợp tác kinh tế với ngoại quốc đã biến Trung Hoa thành một phần tử hoạt động trong cộng đồng thế giới. Trung Hoa cần yểm trợ tài chánh và kỹ thuật để duy trì công cuộc canh tân kinh tế và quốc phòng trên một qui mô lớn. Rất có thể các nhà lãnh đạo già nua sẵn sàng hi sinh sự phát triển kinh tế vì những lý do chính trị như Mao Trạch Đông đã làm trong thập niên 1960. Tuy nhiên, tình trạng hiện tại của Trung Hoa khác xa với thời đó. Trước hết, hầu hết người Trung Hoa không còn tin vào Đảng và vì thế sẽ không thể nào được họ ủng hộ để vượt qua những thử thách mà Đảng phải đối phó. Thứ hai, liên hệ tài chánh của Trung Hoa với bên ngoài trong thập niên qua đã quá sâu đậm nên nếu thình lình cắt đứt thì không những Trung Hoa bị suy thoái kinh tế nghiêm trọng hay sụp đổ mà còn gây ra nhiều tranh chấp quốc tế khác. 
Vì những lý do đó, Trung Hoa không thể quay về chính sách đóng cửa. Không những thế, họ sẽ có thể nới lỏng một chút trên mặt chính trị để thu hút đầu tư và kỹ thuật ngõ hầu đẩy mạnh công cuộc tứ hiện đại hóa. Dưới danh nghĩa không can thiệp vào nội bộ nước ngoài, các nhà lãnh đạo Trung Hoa muốn tách rời chính trị và ngoại thương khỏi các vấn đề chính trị. 
Gần đây, họ đã chứng tỏ thái độ tích cực hơn bằng cách bãi bỏ thiết quân luật tại Bắc Kinh và Lhasa, thả vài trăm sinh viên và trí thức. Đặng Tiểu Bình cũng đổi thái độ với vụ Thiên An Môn, nói là không thể trách các sinh viên về việc biến động năm trước. Mặc dù các chính sách này không đem lại gì tốt cho nền dân chủ hay ảnh hưởng gì đến việc cai trị chuyên chính của đảng Cộng Sản, nhưng cũng khiến cho cộng đồng thế giới bớt nghiệt ngã hơn. Nếu dúng như thế, Trung Hoa sẽ theo đuổi chính sách mở cửa với mọi quốc gia dù có khác biệt về ý thức hệ. Họ tiếp tục quan hệ với các siêu cường bằng con mắt thận trọng e ngại họ ảnh hưởng đến phát triển chính trị tại Trung Hoa. Sau những thay đổi ngoạn mục tại Âu Châu, cả Hoa Kỳ lẫn Liên Xô đều muốn có một giai đoạn ổn định tại Á châu để có thì giờ cho việc phát triển Âu Châu. Nếu thế, Trung Hoa có thể thưởng thức một giai đoạn ổn cố trước khi có những thay đổi đáng kể xảy ra. Họ sẽ tiếp tục chính sách độc lập theo định nghĩa chính trị thế giới. 


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:14:57 am
B.   Các nguy cơ xung đột khu vực và chiến lược của Trung Hoa 
Khi đề cập đến nhận định về các vấn đề khu vực trong phần trước, chúng ta đã thấy giới lãnh đạo Trung Hoa tỏ ý quan tâm đến các tranh chấp biên giới với Liên Xô và Ấn Độ, tranh chấp Hoa -Việt về các quần đảo ở biển đông là những vấn đề chiến lược chính yếu mà họ phải dối phó trong thập niên 1980 và 1990. Mặc dầu các vấn đề này trên nhiều mức độ khác nhau vẫn chỉ đạo chiến lược của Trung Hoa, một số yếu tố mới được thêm vào trong hoạch định chiến lược như sự trỗi dậy của lực lượng quân sự của Nhật Bản, Đài Loan và Đại Hàn. 
a/ Tranh Chấp các quần đảo ở biển Đông
 Vì tình hình biến đổi mãnh liệt tại Đông Âu và Liên Xô, trong thập niên tới dây các nhà lãnh đạo Xô viết chủ yếu quan tâm đến các vấn đề nội bộ. Cho nên, họ sẽ theo đuổi một chiến lược phòng ngự trên trường chính trị quốc tế. Họ rút quân ra khỏi Afghanistan, giảm bớt lực lượng dọc theo biên giới Nga -Hoa và áp lực Việt Nam rút khỏi Kampuchea. Thành thử chẳng những Liên Xô mà cả những đồng minh của họ tại Á Châu dọc theo biên giới Trung Hoa cũng cố gìm lại những xung đột không cần thiết. Mặc dù vấn đề Kampuchea chưa giải quyết xong, các siêu cường đã giảm bớt việc can thiệp và tiếp vận vũ khí, các phe lâm chiến xuống một mức có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, việc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Hoa về quần đảo Tây Sa (Paracel), giữa Trung Hoa và Philippines, Việt Nam, Malaysia về quần đảo Nam Sa (Spratly) vẫn còn là những vấn đề nóng bỏng trong thời gian sắp tới. Trung Hoa cũng tăng cường phô trương sức mạnh trong khu vực này, các áp lực khu vực vì thế sẽ không tránh khỏi ngoại trừ việc tiến đến một giải pháp có thể làm thỏa mãn mọi quốc gia liên hệ. 
b/ Tranh chấp biên giới Trung Hoa -Ấn Độ 
Tranh chấp biên giới giữa Trung Hoa và Ấn Độ là một vấn đề lịch sử xảy ra từ 1914 khi nước Ấn còn là thuộc địa của Anh. Vì quyền lợi riêng của họ, người Anh đã tự ý vẽ đường Mc Mahon giữa Ấn và Tây Tạng, sáp nhập một vùng rộng lớn của Tây Tạng. Chính quyền Trung Hoa từ chối không chịu ký vào thỏa ước đó. Năm 1962, hai nước đụng độ ở biên giới về vụ tranh chấp này nhưng không giải quyết được vấn đề. Mặc dầu hai nước sau hiệp ước đình chiến năm 1962 cố không để đụng độ quân sự nhưng không có dấu hiệu gì là bên nào sẽ từ bỏ sự công nhận chủ quyền. Cũng giai đoạn đó, Ấn Độ liên minh với Liên Xô và Việt Nam trong nhiều thập niên để chống lại Trung Hoa, khi đó liên minh với Pakistan và sau này là Hoa Kỳ để đối phó. Phần nào vì lý do này, Ấn Độ đã có lần cố gắng xây dựng quân đội. Người ta nói là từ đầu thập niên 1980 tới nay, Ấn Độ đã tăng ngân sách quốc phòng lên gấp đôi. Năm 1986, Ấn Độ là quốc gia nhập cảng vũ khí nhiều nhất thế giới. Năm 1987 họ tiêu 5.2 tỉ đô la vào việc mua khí giới trên thị trường thế giới, hơn tổng số của cả Iran và Iraq cộng lại dù khi đó họ đang đánh nhau tại vùng Vịnh và nhiều gấp 12 lần Pakistan tiêu trong cùng năm đó. Quân lực 1.36 triệu người của Ấn Độ đứng hàng thứ tư trên thế giới. Theo con số thống kê, Ấn Độ có hai hàng không mẫu hạn, 18 tàu ngầm và 24 hộ tống hạm, mạnh hơn hải quân Trung Hoa. 
Nhiều nhà lãnh đạo chính trị tại khu vực, trong đó có Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore, Bộ Trưởng Quốc Phòng Malaysia và Australia, đã tỏ ý quan ngại về việc bành trướng quân sự của Ấn Độ có thể đưa đến bất ổn và xung đột trong vùng. Họ cho rằng trong thập niên tới đây, Trung Hoa, Ấn Độ và Nhật Bản sẽ cạnh tranh để tạo ảnh hưởng và không tránh khỏi tranh chấp hay có thể đi đến chiến tranh. Nếu như thế, vấn đề tranh chấp biên giới Ấn -Hoa sẽ trở thành một điểm nóng. Năm 1962, Trung Hoa dùng lực lượng và tiến hành một chiến lược tấn công tự vệ. Nếu chiến tranh tái diễn họ sẽ không theo đuổi thoái lui phòng ngự như xưa. Một cuộc tranh chấp không những lan rộng thành chiến tranh mà còn có thể có một quốc gia thứ ba tham dự như Pakistan chẳng hạn vốn dĩ trong lịch sử tranh giành khu vực Kashmir. 
c/ Sự trỗi dậy của Nhật Bản và khuynh hướng liên kết tại Đông Á
 Sự suy thoái trong tương quan Mỹ-Nhật: Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai chấm dứt năm 1945, Nhật Bản là một quốc gia bại trận bị quân đội Đồng Minh chiếm đóng, đứng đầu là Đại Tướng Mac Arthur, Tổng Tư Lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Á Châu. 
Vì tình trạng chiến tranh lạnh và các chiến tranh khu vực dọc theo vành đai Thái Bình Dương như cuộc chiến Quốc-Cộng Trung Hoa, chiến tranh Triều Tiên, sự căng thẳng nơi eo biển Đài Loan giữa Trung Cộng và Đài Loan, chiến tranh Việt Nam nên Hoa Kỳ dùng Nhật làm hậu trạm yểm trợ các hoạt động quân sự của họ tại Á châu. Theo hiệp ước An Ninh Mỹ-Nhật và chiếu hiến pháp, Nhật Bản được bảo vệ chu đáo mà không phải tốn tiền chi phí quân sự ngoại trừ việc duy trì một lực lượng tự vệ nhỏ. Vì thế, họ có thể phát triển kinh tế mau lẹ bằng cách gia tăng xuất cảng, kể cả trang bị quốc phòng cho quân Mỹ. Thành ra Nhật trở thành cường quốc kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất thế giới từ thập niên 1970 tới nay trong khi Hoa Kỳ bị chìm đắm trong chi phí quốc phòng khổng lồ nên phải yêu cầu Nhật gia tăng ngân sách quân sự để giảm bớt một số trách nhiệm cho họ. Tuy nhiên, khi Nhật gia tăng kinh phí lại gây nghi ngại và chống đối bởi các nước láng giềng vốn dĩ còn hằn các kỷ niệm chua chát của thời quân phiệt Nhật trong thế chiến thứ hai. 
Nhật Bản chưa trở thành cường quốc quân sự. Theo những báo cáo gần đây, quân lực Nhật đang gia tăng nhanh chóng và được trang bị bằng những vũ khí tối tân. Với sức mạnh kinh tế hùng hậu và kỹ thuật cao, nếu muốn trở thành cường quốc quân sự, họ chỉ cần khoảng hai chục năm. Chính vì thế mà các nhà lãnh đạo Á Châu quan tâm về chiều hướng có thể xung đột giữa Trung Hoa, Nhật Bản và Ấn Độ trong tương lai. 
Nguy cơ đó không phải chỉ cho người Á Châu mà trong vai trò một lực lượng của vùng vành đai Thái Bình Dương, Hoa Kỳ cũng chia xẻ quan tâm đó. Trong khi người ta nghĩ rằng có thể sắp có ”Thế Kỷ của vùng Thái Bình Dương” thì cũng quan tâm đặc biệt là quan điểm ”Mối nguy cơ Nhật Bản”, đòi hỏi người Mỹ phải phác họa một chiến lược ngăn ngừa thích đáng. Với chính sách hiện nay của Mỹ, một Trung Hoa mạnh để kiềm chế Nhật ở Á Châu không phải là một ý kiến dở. Giải thích về chính sách đối với Trung Hoa trong cuộc họp báo ngày 24 tháng giêng năm 1990, Tổng Thống Bush đã phát biểu là một trong những lý do ông giữ liên hệ chặt chẽ với Trung Hoa là để giải quyết các vấn đề của Á Châu mà ông chỉ rõ là Kampuchea và Nhật Bản. Ông đã rõ ràng nhìn Trung Hoa là chìa khóa để duy trì quân bằng quyền lực ở Á Châu. 
Người Nhật trái lại rất công phẫn về chính sách của Mỹ. Trong khi Hoa Kỳ ép Nhật giảm thiểu thặng dư thương mại đồng thời giới hạn việc chuyển giao kỹ thuật quân sự cao sang đây khiến Nhật khơi lại lòng thù hận người Mỹ như hồi đệ nhị thế chiến. Thành ra nếu Nhật có muốn thoát ra khỏi sự khống chế của Mỹ để theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập hơn thì cũng là chuyện bình thường. Vì thế rất có thể Nhật sẽ chuyển sang giao thiệp với các quốc gia khác tại Á Châu để quân bằng với ảnh hưởng của Mỹ. Nếu thực như thế, tương quan Hoa-Nhật xích lại gần hơn sẽ xảy ra trong một tương lai không xa. 
Tranh chấp lãnh thổ Nhật-Nga: Việc Nhật và Nga thân thiện hơn cũng có thể là một biến số ảnh hưởng đến tương quan Hoa-Nhật. Từ thập niên 1980 tới nay, các nhà lãnh đạo Liên Xô đã hơn một lần mời Nhật đầu tư vào khu vực Tây Bá Lợi Á. Tuy nhiên, người Nhật muốn Nga phải giải quyết tranh chấp lãnh thổ trước khi bàn đến hợp tác kinh tế. Nếu Nga bằng lòng trả lại cho Nhật 4 hòn đảo tuy nhỏ nhưng có tính chất chiến lược mà họ đã chiếm sua thế chiến thứ 2 thì con đường xích lại giữa hai bên mới được khai thông. Nếu như thế, Trung Hoa sẽ cảm thấy khó chịu vì trên bình diện quyền lợi quốc gia, họ không muốn Liên Xô thành công trong việc phát triển kinh tế mạn đông Tây Bá Lợi Á, sớm muộn gì cũng đe đọa đến an ninh ở mạn bắc nước Tàu, ngoại trừ tương quan hai nước được cải thiện triệt để. Tuy nhiên việc liên doanh Nga-Nhật khai thác Tây Bá Lợi Á cũng không dễ dàng gì vì Liên Xô chưa muốn trả lại cho Nhật những hòn đảo vốn dĩ là tiền đồn của các căn cứ quân sự dọc theo bờ biển Okhotsk. Những hòn đảo đó không những làm cho vùng biển Okhotsk trở thành một biển riêng của Liên Xô mà còn là một đầu cầu và vị trí tiền phương trong trường hợp có chiến tranh với Nhật Bản. Nếu kiểm soát được các hòn đảo đó, Liên xô có một lợi điểm chiến lược đáng kể có thể đe đọa đến an ninh quốc phòng của Nhật trong mọi thời điểm. Chính vì thế, nếu tranh chấp lãnh thổ chưa giải quyết, quan hệ Nga-Nhật sẽ chưa thể nào tiến triển khả quan được. 
Vai trò của Nam Hàn trong các xung đột khu vực: Tại vùng đông bắc Á Châu, Triều Tiên từ lâu vẫn là một điểm nóng trong các xung đột giữa Trung Hoa và Nhật Bản. Nhật Bản sáp nhập Triều Tiên vào lãnh thổ của họ sau cuộc chiến tranh Trung-Nhật năm 1894. Kể từ sau cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950 tới nay, bán đảo này trở thành một trọng điểm trong tương tranh quốc tế trong suốt 4 thập niên liền. Việc các nước Cộng Sản rối loạn đã giảm bớt nguy cơ quân sự từ phía Bắc Hàn. Tuy nhiên, sự tranh giành ảnh hưởng giữa Trung Hoa và Nhật tại vùng Đông Á có thể một lần nữa biến Nam Hàn thành một tâm điểm tranh chấp trong vùng nhất là khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi đây. Dầu sao chăng nữa, chính quyền Nam Hàn trong vài năm qua cũng đã tiến đến gần để tái lập quan hệ kinh tế và chính trị với Trung Hoa. Nếu liên hệ chính thức hay bán chính thức được thành lập, nguy cơ quân sự từ phía Bắc Hàn có thể giảm thiểu và còn có thể đưa tới thống nhất quốc gia. Người Đại Hàn cảm thấy an toàn hơn nếu các siêu cường chung quanh cạnh tranh với nhau và cũng có thể dùng để quân bằng quyền lực giữa Trung Hoa và Nhật Bản nếu trong tương lai Trung Hoa và Nhật Bản lại nảy sinh những mâu thuẫn.
Vấn đề Đài Loan: Nhật Bản có lẽ muốn Đài Loan trở lại dưới quyền kiểm soát của họ hay giữ độc lập hơn là sáp nhập trở lại Trung Hoa. Tuy nhiên Nhật không có quyền gì để bảo Đài Loan là đất của mình. Vấn đề đó đã được giải quyết từ lâu khi Nhật ký hiệp ước hòa bình Trung-Nhật với chính quyền Quốc Dân Đảng tại Đài Loan công nhận hòn đảo là một phần của Trung Hoa. Năm 1972, khi Nhật thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Lục, họ cũng công nhận như thế. Do đó không có vấn đề tranh chấp giữa Trung Hoa và Nhật Bản về chủ quyền Đài Loan. Nếu sau này Nhật Bản vì một lý do gì không công nhận Trung Hoa làm chủ hòn đảo sẽ đưa tới tranh chấp giữa Trung Hoa và Nhật Bản. Do đó có chuyện gì cũng do thái độ của người Nhật. 
Mặc dù cả Hoa Kỳ và Nhật Bản ở nhiều mức độ khác nhau ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề Đài Loan nhưng các chính sách của chính quyền Quốc Dân Đảng tại Đài Loan mới là yếu tố quyết định tối hậu ảnh hưởng đến chính sách của Trung Hoa tại vùng này. Chính quyền Dân Quốc đã theo đuổi một chính sách mềm dẻo và hòa giải với Hoa Lục trong vài năm gần đây. Du lịch, mậu dịch và các liên hệ bán chính thức giữa hai chế độ đã phát triển nhanh chóng. Tân Tổng Thống của Đài Loan, Tiến Sĩ Lý Đăng Huy gần đây đã khởi xướng đưa đề nghị đàm phán chính thức giữa hai chính quyền. Tuy nhiên, việc ngày càng gia tăng đòi hỏi của các thế lực chính trị trong và ngoài hòn đảo để được độc lập và sự gia tăng bất ổn chính trị đã khiến chính quyền Trung Cộng phải lưu tâm. Nếu tình hình tiếp tục đi theo một khuynh hướng náo loạn thì việc can thiệp bằng quân sự từ phía Trung Cộng cũng không phải là điều không thể xảy ra. Nếu có động binh, tình hình giữa Trung Hoa và Mỹ, và cả giữa Trung Hoa và Nhật sẽ trở nên căng thẳng và sẽ ảnh hưởng đến chiến lược toàn cầu và khu vực của nước Tàu. 
Viễn tượng hợp tác Hoa Nhật: Trong khi giao thiệp Mỹ-Nhật và Nga-Nhật có thể không thay đổi nhiều, tương quan Hoa-Nhật có thể chặt chẽ hơn trong những thập niên sắp tới. Người Tàu cũng như các dân tộc khác ở Á Châu không thể quên được việc Nhật Bản xâm lăng trong thời đệ nhị thế chiến. Tuy nhiên, Trung Hoa gần đây đã khác thời thập niên 1930 và đủ mạnh để tự đứng vững trên hai chân của mình. Vì thế mặc dù khó chịu về việc Nhật tái võ trang nhưng không còn e ngại như trước. Cho đến khi nào Nhật Bản chưa có ý định quay trở lại chính sách quân phiệt và bành trướng ở Á Châu và sẵn lòng hợp tác kinh tế với Trung Hoa mà không can thiệp vào các vấn đề chính trị nội bộ thì Trung Hoa vẫn sẵn sàng giao hảo một cách hữu nghị với họ. Trong khi đó, Trung Hoa cũng yêu cầu Nhật Bản hợp tác bằng cách mở rộng thị trường cho sản phẩm của Tàu tràn vào và cung cấp thêm nhiều vật liệu kỹ nghệ. Sự kiện Nhật Bản ngần ngại không chịu đi theo đường lối trừng phạt kinh tế do Mỹ và các quốc gia Tây Phương đưa ra sau biến cố Thiên An Môn và có ý định giải tỏa các trái khoản cho Trung Hoa sớm hơn các nước khác có thể coi là một dấu hiệu của chính sách thân Trung Hoa. Trung Hoa sẽ không bỏ lỡ cơ hội kéo Nhật Bản lại gần hơn và bằng cách khéo léo vận dụng tình thế, họ có thể làm quân bằng được quyền lực giữa Mỹ và Nhật, nhất là nếu tương quan giữa hai quốc gia này tiếp tục đi xuống. Một sự kiện như thế khả dĩ có thể xảy ra như cựu Tổng Thống Nixon đã đề cập đến trong một cuộc phỏng vấn của báo Time hồi tháng 4 năm 1990.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:15:36 am
C.   Chiến Lược của Trung Hoa trong tình hình mới
 Sau khi sự đối đầu giữa các siêu cường và đồng minh của họ tại Âu Châu giảm thiểu một cách triệt để, tiếp theo là sự thay đổi mãnh liệt trong khối Cộng Sản, vấn đề từ lâu vẫn rêu rao là ”Thế Kỷ của vùng Thái Bình Dương” sẽ trở thành một thực tế nếu các tranh chấp quốc tế di chuyển sang vùng vành đai Thái Bình Dương.
Từ một nhãn quan toàn cầu, mặc dù sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Hoa đã cải tiến một cách đáng kể trong thập niên qua nhưng họ vẫn chưa đủ sức để làm thay đổi cán cân quyền lực thế giới. Tuy nhiên, nếu các vấn đề tranh chấp quốc tế chuyển sang vùng Thái Bình Dương, vai trò và chiến lược của Trung Hoa trong các xung đột khu vực sẽ được thế giới chú ý và như thế có thể làm cho tầm vóc chính trị quốc tế của họ gia tăng.
 Nếu khuynh hướng chính trị thế giới tiếp tục theo chiều hướng đó, hợp tác chiến lược giữa Trung Hoa và Mỹ sẽ dần dần biến mất nhưng trong thời gian Liên Xô từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản thì quan hệ Trung Hoa-Liên Xô cũng chư thể cải thiện. Một hình thức liên kết mới giữa các quốc gia Á Châu và vùng Thái Bình Dương sẽ thay thế ít nhất cũng một phần sự khống chế của các siêu cường. Dựa trên các chính sách hiện nay của đại cường trong vùng Đông Á, sự quân bằng quyền lực có thể duy trì giữa Trung Hoa, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên Xô nếu các phản ứng hỗ tương trong vòng kiểm soát được. Không thể có những liên minh mới tại khu vực này trong tương lai gần. Vì những vấn đề chính trị và kinh tế trong nước, chính quyền Trung Hoa sẽ hoan hỉ nếu thấy khu vực ổn định và hòa hoãn trong thập niên sắp tới để cho họ đủ thì giờ củng cố quyền kiểm soát và thúc đẩy tứ hiện đại hóa.
 Khi bàn về chiến lược khu vực, nhất là Nam và Đông Nam Á Châu, Trung Hoa rõ ràng đóng một vai trò chiến lược phòng ngự tích cực hơn khi phải đối phó với các khủng hoảng địa phương. Các khủng hoảng tiềm ẩn như đã đề cập trước đây vốn dĩ có liên quan đến những tranh chấp lịch sử về lãnh thổ giữa những cường lực trong vùng. Các vấn đề đó đã khiến Trung Hoa phải quan tâm trong nhiều thập niên qua. Một lực lượng hải quân Trung Cộng được tăng cường rất có thể sẽ dùng khu vực biển đông làm hải phận thử nghiệm sức mạnh trước khi ra xa ngoài khơi để hành động hung hãn hơn. Việc gia tăng sự hiện diện của hải quân Trung cộng tại vùng quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức là Hoàng Sa và Trường Sa theo tên của Việt Nam) sẽ không thể nào không tạo nên những cảnh giác và có thể đưa đến đụng độ quân sự với Philippines, Malaysia và nhất là Việt Nam. Nếu các tranh chấp biên giới Ấn-Hoa lại xảy ra, hoạt động quân sự của hai bên có thể sẽ không còn giới hạn trong vùng Hi Mã Lạp Sơn như hồi năm 1962 nữa. Người Pakistan sẽ lợi dụng cơ hội đặt vấn đề lãnh thổ với Ấn và đưa tầm vóc địa phương lên hàng chiến tranh khu vực. Cũng có thể tranh chấp quân sự trong biển Ấn Độ giữa Pakistan và Ấn sẽ bành trướng và có thể lan cả tới Trung Hoa. Nếu như thế vấn đề sẽ dần dần trở thành quốc tế có ảnh hưởng đến toàn cầu.
 Khủng hoảng chính trị năm 1989 và các hậu quả của nó sẽ không thể tránh được những ảnh hưởng trên vấn đề quốc phòng của Trung Hoa. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn những ảnh hưởng này không rõ rệt nhưng sẽ tác hại đến kinh tế Trung Hoa trong trường kỳ. Việc các ngân hàng thế giới từ chối không cho vay và việc đầu tư ngoại quốc ngừng lại đã gây nên những suy thoái nghiêm trọng cho kinh tế. Trong khi đó, mặc dù các nước Tây phương theo đuổi những hoạt động hợp tác để giới hạn việc xuất cảng vũ khí và kỹ thuật sang Trung Hoa nhưng lại không có ảnh hưởng trên vấn đề quốc phòng. Trái lại, khả năng tác chiến của quân đội Trung Hoa gần đây đã đạt tới một cao điểm nhờ vào việc thành tựu kinh tế của công cuộc cải cách và chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình. Các trừng phạt kinh tế từ các nước Tây Phương chỉ có hậu quả sâu rộng nếu kéo dài và hoàn toàn bãi bỏ xuất cảng kỹ thuật cao sang Trung Hoa. Theo những báo cáo gần đây, tiếp theo việc thành lập các đơn vị xung kích, Hồng quân đã tăng cường khả năng chuyên môn bằng cách tổ chức nhiều đơn vị đặc biệt khác nhau như các chiến đoàn pháo binh, thiết giáp, công binh, phòng không, các đơn vị thượng du ... Ngoài ra, họ còn chứng tỏ sự thành tựu trong việc nâng cấp hải quân, không quân bằng cách kiến tạo thêm nhiều tuần dương hạm, ngư lôi và hệ thống radar có tốc độ và độ chuẩn xác cao. Các chuyên gia quốc phòng ở Đài Loan đã nhận thức được tầm ảnh hưởng của các trang bị mới mày trong tương lai nếu chiến tranh giữa Hoa lục và Đài Loan lại xảy ra.
 Cho nên, trên ý nghĩa chiến lược phòng thủ khu vực, không có chứng cớ nào nói là Trung Hoa sẽ quay trở lại con đường phòng ngự và thụ động như xưa dựa trên các nguyên tắc của chiến tranh nhân dân. Trái lại, việc liên tục cải tiến trang bị, qui tắc, tổ chức và phối hợp hành quân giữa nhiều lực lượng sẽ đưa Hồng quân Trung Hoa ra khỏi các nguyên tắc cũ ngoại trừ việc họ sẽ thay đổi theo tình thế mới, cái mà họ gọi là chiến tranh nhân dân trong điều kiện thời đại mới.


Tiêu đề: Re: Lý thuyết quân sự Trung Hoa
Gửi bởi: dungrommel trong 31 Tháng Mười, 2009, 01:16:26 am
Chương 8 Kết luận
 Để phân tích về tư tưởng quân sự Trung Hoa thời đại mới, chúng tôi đã đề cập đến cả các lý thuyết quân sự thời cổ lẫn các khuynh hướng hiện đại trong công cuộc phát triển chiến lược quốc phòng. Các tư tưởng cũ nhằm giữ cho giòng lịch sử liên tục của tư tưởng quân sự Trung Hoa trong khi khuynh hướng mới nhằm đưa ra một hướng đi, dẫu không đi vào chi tiết, về sự phát triển chính sách quốc phòng cận đại thời hậu Mao Trạch Đông. Thành thử, cuốn sách bao gồm 3 đề mục chính: tư tưởng quân sự Trung Hoa thời cổ, tư tưởng quân sự Trung Hoa hiện đại và chiến lược quốc phòng trong thời gian gần đây. Những khảo sát đó chủ yếu tập trung vào việc phát triển tư tưởng quân sự tân thời. Sau khi đọc cuốn sách này, độc giả sẽ tự hỏi liệu các lý thuyết quân sự cổ điển và tư tưởng mới như lý thuyết chiến tranh nhân dân của Mao chẳng hạn có còn hữu dụng trong chiến tranh thời đại hôm nay nữa không? Thực khó cho tác giả khi trả lời câu hỏi này chỉ bằng ”có” hoặc ”không”, vì còn tùy thuộc vào mục tiêu của chiến tranh, vũ khí nào đang dùng và bản thể của các lý thuyết đó. 
Mặc dầu nhiệm vụ của quân đội nhiều vô kể nhưng quan trọng nhất là bảo vệ an ninh quốc gia bằng phương tiện chiến tranh cho phù hợp với mục tiêu quốc gia. Từ kinh nghiệm lịch sử, quân đội của một quốc gia thường được dùng làm phương tiện đàn áp các dấy loạn trong nước để giữ gìn trật tự hay dùng trong chiến tranh với các quốc gia khác để mưu cầu những mục tiêu hay quyền ích của đất nước. Theo chủ nghĩa Mác xít-Lê nin nít, các quốc gia Cộng Sản hằng lập đi lập lại là họ sẽ dùng quân đội để ủng hộ cái gọi là các lực lượng cách mạng vô sản chống lại giai cấp thống trị trong các cuộc nội chiến tại những quốc gia khác. 
Theo danh từ chiến tranh, có chiến tranh tổng quát và chiến tranh giới hạn. Khi nói tới chiến tranh giữa nhiều quốc gia thì có chiến tranh toàn cầu và chiến tranh khu vực. Khi đề cập đến kẻ địch, mục tiêu quốc gia và tầm vóc chiến tranh, các phương tiện và phương pháp dùng để đối phó với một cuộc tranh chấp có thể không giống nhau. Có loại dùng trong chiến tranh tổng quát hay chiến tranh toàn cầu thì thích hợp nhưng lại không hữu hiệu khi dùng trong nội chiến, chiến tranh giới hạn hay chiến tranh khu vực. Nếu nghĩ về chiến tranh tổng quát trong tương lai và tưởng tượng đến một loại chiến tranh hành tinh (star war) như trong phim ảnh mô tả thì người ta sẽ đi đến kết luận là một số vũ khí chiến lược như hỏa tiễn liên lục địa, phóng pháo cơ tầm xa hay phi thuyền trang bị bom nguyên tử và hỏa tiển sẽ có thể dùng để tiêu diệt đối phương. Nếu quả thực đó là hình thức chiến tranh trong tương lai, các vũ khí chiến tranh qui ước và quân đội nếu không dùng các loại trang bị mới này sẽ trở nên vô dụng và phải phá hủy. Thế nhưng đó chưa chắc đã là một giả định thực tế. Mặc dầu các vũ khí chiến lược vừa nói tới chắc chắn sẽ được các siêu cường dùng tới trong một cuộc chiến tổng quát của thời đại mới, nhưng cũng không đúng nếu nói rằng các lực lượng chính qui không còn cần thiết để thanh toán nốt các ổ kháng cự sau khi đã dùng vũ khí hạch tâm. 
Thật ra, không phải là chiến tranh tổng quát mà chiến tranh khu vực hay chiến tranh giới hạn mới thực sự chi phối chính trị toàn cầu từ thế chiến thứ hai tới nay, và vẫn tiếp tục là một áp lực chính trị trong những năm sắp đến. Kinh nghiệm lịch sử cho hay hầu hết các cuộc nội chiến và cả chiến tranh khu vực trong vài thập niên qua chủ yếu tại các quốc gia đang mở mang, chưa có vũ khí nguyên tử. Ngay cả một số hiện nay có vũ khí hạch tâm, họ cũng ngại ngùng không muốn dùng ngay trên đất mình hay để tấn công các quốc gia láng giềng. Cho nên, khó có thể, nếu không nói là không thể có, một quốc gia sử dụng vũ khí nguyên tử trong chiến tranh khu vực hay nội chiến. 
Ngoài ra, từ khi làm sóng dân chủ bất ngờ quét qua Đông Âu năm 1989, Liên Xô đã mất nhiều tin tưởng và nhiệt tình trong công tác ủng hộ các lực lượng cách mạng như trước đây họ đã làm. Thay đổi thái độ đó đã giảm thiểu mạnh mẽ sự đe dọa về xung đột quân sự giữa các siêu cường và nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Không mấy ai trong chúng ta tin rằng chiến tranh tổng quát hay hạch tâm không thể tránh được. Trái lại, càng ngày càng nhiều người có khuynh hướng nghĩ là vũ khí nguyên tử, vì kết quả là tự diệt, nên càng kém hữu dụng và không thể dùng được trong chiến tranh tương lai. Lý thuyết đó không được mọi người đồng ý nhưng ít nhất cũng cho thấy chiến tranh tổng quát hay chiến tranh khu vực dùng vũ khí qui ước sẽ vẫn còn đóng một vai trò quan trọng trong tương lai. Nếu quả thật như thế, các lý thuyết quân sự cổ điển của Trung Hoa và các quốc gia khác vẫn không phải hoàn toàn không thích hợp trong chiến tranh thời đại mới.
 Ngoài ra, vũ khí và kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến sự phát triển chiến lược, chiến thuật như đã đề cập trong phần giới thiệu quyển sách này, nhưng ảnh hưởng của nó trên chiến thuật còn to lớn hơn so với chiến lược. Khi súng ống thay thế giáo mác, cung tên là vũ khí chính trong chiến tranh, đội hình và bố trí lực lượng thay đổi mãnh liệt nhưng nguyên tắc chung về chiến lược hay căn bản quân sự không đổi mấy. Chẳng hạn như một số binh thư cũ của trung Hoa bàn về chi tiết trận đồ như đã đề cập trong chương hai nhưng không chiến lược gia tân thời nào còn mất thì giờ bàn đến nữa, cũng chẳng cấp chỉ huy nào dùng trong chiến đấu. Dù sao, một số nhiều nếu không nói là toàn bộ các nguyên tắc quân sự căn bản do các binh gia thời xưa soạn ra vẫn được coi là nguyên tắc tổng quát về điều binh. Kỳ, Chính, Hư, Thực. Kế hoạch chuẩn bị chiến tranh, thu thập tin tức, chiến tranh tâm lý, chính trị, các nguyên tắc điều binh và giữ tinh thần trên chiến địa là những vấn đề thuộc loại này. Các nhà lãnh đạo quân sự tân thời vẫn coi đó là những điểm then chốt để thắng trận. Những điều đó chưa bao giờ bị đặt câu hỏi là có hữu dụng hay không dù vũ khí thay đổi. Việc phát triển kỹ thuật mới đã tăng cường để thêm hữu hiệu chứ không phải làm các nguyên tắc kém đi. 
Lý luận tương tự cũng có thể áp dụng vào nhiều lý thuyết quân sự mới. Chẳng hạn như nguyên tắc của chiến tranh nhân dân đòi hỏi quân đội phải vận động, tổ chức và tùy thuộc vào sự hỗ trợ và cộng tác của nhân dân trong khi chiến đấu. Những nguyên tắc đó cũng tương tự như lý thuyết của Tôn Tử và Ngô Tử về việc ”vận động để sao cho quần chúng hoàn toàn hòa hợp với đấng quân vương, để cho họ theo không nề sống chết, không nề nguy hiểm” trong khi chiến đấu và ”khi trong nước bất hòa thì đừng động binh”. Dù chiến tranh tân thời có ở dưới dạng nào chăng nữa, dù vũ khí mới có mạnh mẽ sao chăng nữa, các lý thuyết căn bản vẫn hữu ích và do đó vẫn còn được coi trọng. Tuy nhiên, nhiều nguyên tắc được hình thành cho một tình trạng đặc biệt dùng trong cuộc nội chiến hay chiến tranh Trung-Nhật vào thập niên 1930 và 1940 có thể không còn áp dụng một cách không suy xét được nữa. Chẳng hạn như Mao đòi Hồng quân tự kiếm vũ khí bằng cách đi cướp của quân thù nơi trận tiền. Ngày nay vũ khí và trang bị đã tiêu chuẩn hóa, làm như thế là không thực tế. Chính thế mà Đặng Tiểu Bình coi là không áp dụng được hay không thể làm được như đã đề cập tới trong chương cuối. Ngoài ra, Mao cũng ra lệnh cho quân sĩ chiếm nông thôn dùng làm căn cứ bao vây thành thị. Khi đem áp dụng vào một đội quân cách mạng yếu kém chống lại kẻ thù được trang bị đầy đủ thì khôn ngoan nhưng dùng cho quân chính qui được trang bị vũ khí tối tân thì không áp dụng được. Như đã đề cập trong chương 6, chính bản thân Mao Trạch Đông cũng tin rằng mỗi loại chiến tranh có những nguyên tắc riêng của nó. Người ta phải tìm kiếm các nguyên tắc này và dùng sao cho thích đáng. Nếu chỉ sao chép các nguyên tắc của chiến tranh đã qua một cách máy móc, chắc chắn sẽ bị đánh bại. Cho nên, mặc dầu các lý thuyết căn bản của chiến tranh nhân dân vẫn còn có thể dùng sao cho thích đáng với tình trạng đặc biệt của tương lai. Một số nguyên tắc của Mao phải thay đổi. Thật ra, các nhà lãnh đạo quân sự của Trung Hoa đã bàn đến những thay đổi này một vài lần như trong phần mở đầu của cuốn sách. ”Chiến tranh nhân dân dưới điều kiện hiện đại” là kết luận mà họ chấp nhận. Như thế cho họ có chỗ để du nhập các điều kiện mới họ gặp phải trong tương lai. 
Dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình, việc canh tân quốc phòng của Trung Hoa đã đạt được những thành quả đáng kể và đưa chiến lược phòng ngự của Trung Hoa lên một tầm mức thực tế hơn trước đây. Tuy nhiên ảnh hưởng của biến cố năm 1989 đã làm thay đổi các chương trình phát triển kinh tế và chính trị một cách nghiêm trọng. Các nhà lãnh đạo hiện nay đang xiết chặt sự kiểm soát quân đội và hướng phát triển kinh tế-chính trị và cố lái xã hội Trung Hoa trở lại con đường chính thống của chủ nghĩa Mác xít. Dù chưa biết họ sẽ đi tới đâu, và theo hướng đó được bao lâu một điều chắc chắn là sự bất ổn chính trị không tránh khỏi có ảnh hưởng lớn lao đối với kinh tế nói chung và canh tân quốc phòng nói riêng nhất là trong những năm sắp tới. Nếu kinh tế Trung Hoa đi xuống thì quốc phòng sẽ yếu đi ảnh hưởng đến tình trạng quân bình quyền lực chính trị khu vực tại Á Châu.
 Đã từ lâu người ta có huyền thoại là thế kỷ 19 là thế kỷ của người Anh, thế kỷ 20 là thế kỷ của người Mỹ còn thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của người Tàu. Sự khả dĩ có một thế kỷ của vành đai Thái bình Dương, lại có những cải cách của Trung Hoa trong thập niên qua và sự phát triển của các quốc gia trong vùng Đông Á khiến chuyện này xem ra có thể trở thành sự thực. Tuy nhiên từ sau biến cố Thiên An Môn 1989 và cuộc cách mạng dân chủ của các quốc gia Đông Âu thì tình hình trở nên khác đi. Khi các đối đầu quân sự chấm dứt, khối NATO và khối WARSAW ngồi lại với nhau để cộng tác trên cả kinh tế lẫn chính trị. Nếu việc đó thành công (và xem ra có vẻ như thế) thì những nhóm siêu tài chánh thế giới sẽ đầu tư vào Âu Châu mà bỏ rơi các quốc gia Á Châu, nhất là Trung Hoa hiện đang cần nhiều tư bản nước ngoài.
Nếu các chế tài kinh tế và cấm vận kỹ thuật của các nước Tây Phương hiện nay kéo dài, chính quyền Trung Hoa lại không thoát khỏi bế tắc kinh tế và chính trị do chính họ gây ra thì khó mà có thể tin rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của họ. Với đà gia tăng dân số mãnh liệt, tình trạng môi sinh ngày cành suy thoái, tài nguyên giới hạn, không nói là thế kỷ của Trung Hoa có đến không mà ngay cả giữ cho được mức phát triển như hiện nay cũng không phải dễ. 
Nếu người Trung Hoa muốn đóng một vai trò tích cực hơn trên chính đàn thế giới và khu vực trong thế kỷ tới đây, và đủ sức nuôi 1.2 tỉ người họ phải xây dựng một căn bản quốc gia vững chãi dựa trên hệ thống kinh tế và kỹ thuật tân tiến. Tuy nhiên, cứ theo kinh nghiệm lịch sử, mục tiêu đó chỉ có thể đạt được bằng phương tiện cải cách hòa bình trong một xã hội ổn định và hòa hài chứ không thể dùng bạo lực cách mạng. Một quốc gia ổn định và hòa hài có thể đạt được bằng nhiều cách nhưng không thể nào bằng đấu tranh giai cấp liên tục vì như thế chẳng đi đến kiến tạo và tiến bộ mà chỉ đem lại tàn hại và bi thương.