|
Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 07:45:06 am Tên sách: Anh Ngạn (Kí sự về khu Tả Ngạn sông Hồng những năm 1951-1954)
Tác giả: Bút Ngữ Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Năm xuất bản: 2000 Số hóa: macbupda BÚT NGỮ Quê: Thái Bình Hội viên Hội nhà văn Việt Nam Hội viên Hội nhà báo Việt Nam TÁC PHẨM CHÍNH Đêm về sáng, truyện kí lịch sử, 1973. Pháo đài đồng bằng, tiểu thuyết, 1979. Chuyện xóm chài, tập truyện, 1983. Cao nguyên mưa nắng, tiểu thuyết, 1983. Những ngày nước cường, tập truyện, 1985. Vị sứ thần trẻ, tập truyện lịch sử, 1988. Người đi đày trên đại dương, tiểu thuyết lịch sử, 1991. Người thời loạn, tiểu thuyết lịch sử, 1996. Vua Ba Vành, truyện lịch sử, 1997. Bà Chúa Ngừ, truyện lịch sử, 1999. LỜI NHÀ XUẤT BẢN Cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kết thúc thắng lợi vẻ vang. Những kí ức về chiến tranh, về một thời oanh liệt đang lùi xa đối với mỗi con người, mỗi thế hệ, mỗi vùng quê cách mạng… Việt Nam. Vậy mà những gì ta hiểu biết về cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại ấy qua sử sách ghi lại quả thực còn rất ít ỏi. Cho dù đã có một số lượng không nhỏ những cuốn sách tổng kết lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, lịch sử Đảng bộ địa phương, những tác phẩm văn học nghệ thuật viết về cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta ở góc độ này hay góc độ khác, nhưng vẫn còn là quá nhỏ bé so với những gì mà Đảng ta, dân tộc ta đã trải qua. Cuốn sách mà bạn đọc đang có trong tay của nhà văn Bút Ngữ đã phác họa một phần sự thật sinh động về cuộc sống kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta sẽ là một sự bổ sung mang ý nghĩa thiết thực. Với ngót 90 mẩu chuyện kí về người thật việc thật, là người trong cuộc, nhà văn Bút Ngữ đã ghi nhớ lại những gì mắt thấy tai nghe về những năm tháng hoạt động của Anh Ngạn (tức đồng chí Đỗ Mười - Bí thư Khu ủy Tả Ngạn sông Hồng, chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính khu và chính ủy Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn sông Hồng), cùng cộng sự lúc bấy giờ, về cuộc kháng chiến gian lao và anh dũng, bất khuất và kiên cường của quân và dân khu Tả Ngạn sông Hồng thời kì 1951-1955, không chỉ có đánh Pháp, diệt ác, phá tề, trừ gian mà còn phải luồn càn, nhịn đói, khát, nằm hầm, tăng gia sản xuất cải thiện đời sống. Không chỉ là tiền tuyến mà còn là hậu phương, vừa tiêu hao sinh lực địch vừa tích cực chi viện sức người, sức của, phối hợp chặt chẽ với chiến trường Tây Bắc… Tất cả những công việc bộn bề cụ thể đó được thể hiện ra một cách sinh động qua từng trang sách, cho phép ta cảm nhận rõ hơn sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện tiến công kẻ thù ở một vùng địch hậu thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Sức mạnh đã góp phần làm cho kẻ địch nhanh chóng bị thất bại hoàn toàn. Sức mạnh ấy là công lao phấn đấu, hi sinh vô bờ bến của đồng bào, chiến sĩ cả nước nói chung, của quân và dân khu Tả Ngạn sông Hồng nói riêng, là kết quả vận dụng sáng tạo đường lối kháng chiến, kiến quốc đúng đắn của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, Nhà xuất bản và tác giả xin chân thành cảm ơn đồng chí Vũ Trọng Nam, đồng chí Trần Hoàn và nhiều đồng chí khác đã đọc, cho những ý kiến quý báu và góp phần thúc đẩy việc xuất bản cuốn sách này. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách Anh Ngạn (Kí sự về khu Tả Ngạn sông Hồng những năm 1951-1954) và mong nhận được nhận xét góp ý của bạn đọc. Tháng 9 năm 2000 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 07:47:31 am LỜI TÁC GIẢ Trong 70 năm đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta, có tới 45 năm phải chiến đấu chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ xâm lược. Bao nhiêu người con ưu tú đã ngã xuống hoặc mất đi một phần cơ thể và tâm lực, để có 25 năm gần đây hòa bình, xây dựng. Dẫu đã có không ít tác phẩm văn học nghệ thuật nói về sự nghiệp cao cả đó, ta vẫn chưa thấy chưa tương xứng. Tậy kí sự này xin góp phần nhỏ bé bù đắp cho sự thiếu hụt đó. Anh Vũ Trọng Nam, người cùng quê với tôi, huyện Vũ Thư (Thái Bình). Vào những năm 1951-1955, anh là thư kí của đồng chí Đỗ Mười, bí thư Ban Cán sự Tả Ngạn, bí thư Khu ủy Tả Ngạn… Anh Nam ghi nhớ được nhiều con người và sự kiện tiêu biểu của những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ. Trong những người đáng nhớ ấy có đồng chí Đỗ Mười (anh Ngạn) cùng một số đồng chí cộng sự. Những năm tháng kể trên, tôi là chiến sĩ bảo vệ cơ quan huyện Vũ Tiên, rồi làm cán bộ Ty Tuyên truyền Văn nghệ Thái Bình, viết tin bài cổ vũ kháng chiến. Khi đó, cơ quan Khu Tả Ngạn đóng ở vùng căn cứ Tiên - Duyên - Hưng, tôi có điều kiện qua lại vùng ấy, nên có nhiều cảm xúc và ghi nhớ. Bây giờ, tôi được anh Vũ Trọng Nam kể cho những chuyện sinh động, để viết tập kí sự với những người thật, việc thật này. Tôi cũng được một số đồng chí hoạt động cùng thời với đồng chí Đỗ Mười cung cấp nhiều tư liệu, qua lời kể hoặc trang viết phong phú. Đồng thời, tôi còn được nghiên cứu nhiều “tư liệu lưu trữ về khu Tả Ngạn”, được đọc các tập “Lịch sử Đảng bộ” hoặc “Lịch sử kháng chiến chống Pháp” của các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, của thị xã Hải Dương, Kiến An và các tập sử Đại đội 320, Trung đoàn 42 cùng một số sách khác có nội dung tương tự. Tư liệu lưu trữ và các tập sách ấy đã giúp tôi tham khảo, đối chiếu, trích thuật với tinh thần kế thừa và phát huy. Tôi chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ cơ quan lưu trữ, và các đồng chí biên soạn, biên tập các tập sách kể trên. Tôi chân thành cảm ơn anh Vũ Trọng Nam và các đồng chí lão thành đã cho tôi tư liệu và cỗ vũ tôi viết. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 07:49:27 am SAU HAI TRÂN CÀN ÁC LIỆT Cuối năm 1951 đầu năm 1952, ở một xóm trại, giáp giới hai huyện Duyên Hà, Quỳnh Côi (Thái Bình), có nhóm người đến trọ. Người nào cũng áo vải quần nâu, có dáng như dân công đắp ụ trên đê sông Luộc hoặc phá đường 39. Ông trưởng xóm bảo: “Đấy là tổ cán bộ hộ đê”. Dân xóm thì thào bàn tán: “”Xóm mình hẻo lánh, chả cán bộ nào đến trọ. Chỉ có dân công hay… bộ đội huyện”. Một anh thương binh về làng tỏ ra thông thạo: “Tôi đã để ý, cái ông cao to, tóc dày húi gọn, lông mày nét mác ấy, thoạt tưởng là dân công, nhưng nhìn kĩ thấy có tướng quân sự, xoàng nhất cũng cấp tiểu đoàn!”. Ông trưởng xóm gạt ngay: “Cậu ở bộ đội về, thấy ai cũng nghĩ là bộ đội! Thế cái anh nhỏ nhắn, trẻ măng, da trắng như trứng gà bóc ấy, cấp gì?”. Anh thương binh giải thích ngay: “Anh ta có thể là quan văn. Đơn vị tôi có ông chính trị viên là dân thành phố, da trắng môi hồng, đóng kịch giả nữ rất kháu. Kháu đến nỗi nhìn lên sân khấu, lính cũng phải mê. Gái trong xóm nhiều cô nhìn trộm. Cô ả con nhà giàu, mỗi ngày một lần kiếm cớ đến nhà ông ấy trọ, đứng ngoài sân nhưng đưa con mắt vào nhà. Ông ta sợ cô ả “phải lòng”, cho đơn vị chuyển vội sang làng khác”. Ông trưởng xóm không tranh cãi nữa, chỉ lừ mắt bảo: “Thôi, biết vậy!”. Sau đó ông kể lại cho tôi (Vũ Trọng Nam) hay, lại còn nhìn trộm tôi, cười tủm tỉm. Gió bấc ào ào. Bờ tre xào xạc giũ lá vàng xuống những mái nhà rạ thấp bé, lụp xụp. Cái xóm trại heo hắt bên sông này xa đường xã, đường huyện, nên nhà cửa còn sót sau trận càn “Trái Quít” (Măngđarin) tháng 10 vừa qua. Trận càn nổ ra tại khu căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng này nhằm vây gọn và “cất vó”, tóm hết cơ quan chỉ huy Mặt trận 5, bộ phận quan trọng của các ban lãnh đạo bốn tỉnh Tả Ngạn sông Hồng, cùng Trung đoàn 42, hai đại đội của liên tỉnh Hải - Kiến, ba đại đội của Hưng Yên và một số đại đội bộ đội ba huyện sở tại. Sau nười ngày lùng sục, bốn GM (binh đoàn cơ động) có máy bay đại bác phối chiến, không “cất vó” được cơ quan, đơn vị kể trên. Nhưng chúng đã bắt gần 10.000 người, có 16 tỉnh ủy và huyện ủy viên; một chủ nhiệm chính trị Mặt trận 5. Hơn 70 bộ đội địa phương hi sinh, 2.000 dân bị thương hoặc bị sát hại. Trâu, bò trong vùng mất hai phần ba. Giặc lập thêm ở đây 10 đồn bốt mới, xây lô cốt boongke và hầm giao thông liên hoàn. Lập lại 251 ban tề gần khắp ba huyện. Giặc đã biến khu căn cứ mạnh của ta thành vùng chiếm đóng của chúng. Đây là trận càn lớn nhất, khốc hại nhất trên cả chiến trường Đông Dương năm 1951. Tôi dự thảo xong bản chỉ thị về giải quyết hậu quả và ổn định tình hình sau trận càn “Trái Quít” kể trên (và trận càn “Trái Chanh” (Xitơrông) trước đó một tuần, ở địa bàn bên cạnh là Hưng Yên, Hải Dương). Bản dự thảo này là kết quả thâm nhập thực tế của anh em chúng tôi xuống mấy xã vừa nhanh chóng phá tề sau trận càn và căn cứ vào báo cáo của các tỉnh. Bản chỉ thị nhận định tình hình và nhắc lại những nhiệm vụ cần kíp trước mắt như đã đề ra trong “Kế hoạch hoạt động quân sự sau hai trận càn lớn”, rồi nhấn mạnh: “Bằng mọi cách hướng dẫn nhân dân phục hồi sản xuất và bảo đảm đời sống”. Việc thứ hai này tôi viết khá kĩ, vì thấy vụ mùa vừa gặt bị hại nhiều. Trong khi giặc càn, có nhiều ruộng chúng rải hàng ngang lội xuống tìm người để bắt, dẫm nát lúa khi đang có đòng. Bom và đại bác phá lúa không ít. Thóc vụ trước cất giấu ở trong nhà cũng bị giặc đốt. Sau gặt màu, dân phải còng lưng cuốc đất phơi ải, thay cho số lớn trâu, bò bị giặc giết. Thời tiết hanh khô, có triệu chứng hạn nặng đối với vụ chiêm. Cống Đào Thành, nguồn nước quan trọng lấy từ sông Luộc cho cả vùng này, bị giặc đóng cửa và xây đồn bên cạnh kiềm giữ. Mất vụ chiêm, dân vùng này sẽ đói to… Tôi đưa bản dự thảo sang nhà bên cạnh, cách một mảnh vườn. Anh Ngạn ngồi ổ rơm trải dưới nền nhà. Chiếc chõng tre xinh xắn do người chủ nhà khéo tay làm ra để đặt mâm cơm khi ăn, chúng tôi mượn để anh làm bàn viết. Trời mùa đông âm u, anh phải ngồi sát cửa lấy ánh sáng làm việc. Thấy tôi sang, anh chìa tay đón bản dự thảo, ra ý đang mong rồi bảo tôi: - Chú Nam nhắc cậu nào đem ngay cái này sang văn phòng đánh máy, gửi gấp nhá! Tôi tưởng dự thảo đã kĩ, anh chỉ đọc qua là được. Không ngờ anh cầm bút sửa và viêt thêm. Anh thường không bằng lòng ngay với các dự thảo đưa duyệt, mà góp ý cho tôi sửa. Khi cần, anh tự sửa vào bản dự thảo. Tôi ra sân ngắm mảnh vườn vừa được ông chủ cuốc lên và kéo luống, đặt dây khoai lang. Ông nói: “Anh Ngạn giục làm gấp, để ra giêng, khoai có lá, hái làm rau. Tháng ba, khoai có củ khi lúa chiêm chưa trỗ, ăn đỡ đói”. Tôi ngó chiếc đồng hồ “Nicờle vừa nghe vừa lắc” ở cổ tay rồi vội đến chỗ anh Lê, đội trưởng bảo vệ kiêm liên lạc, bảo anh cử một người sang văn phòng ngay. Có người nhưng anh Ngạn vẫn còn sửa bản thảo. Tôi đi đi lại lại trước sân và anh ho khan để anh biết là chúng tôi đã sẵn sàng. Anh vẫn mải miết đưa ngòi bút trên trang giấy. Một lúc sau anh ngước nhìn tôi: - Mình sửa rõ ràng đây, không phải chép lại, đưa đánh máy ngay! Tôi đọc lướt những chỗ anh sửa. Có đoạn: cán bộ, đảng viên phải đến tận những nhà có thân nhân là liệt sĩ, thương binh, có người bị giết, bị thương, bị địch bắt, tìm hiểu khó khăn cụ thể, rồi ra sức vận động nhân dân giúp đỡ nhau. Bát gạo, củ khoai đỡ đói. Bó rơm trải ổ đỡ rét. Ngày công cuốc ruộng để đất khỏi khô. Luống rau, luống khoai trồng gấp để giêng hai có thứ ăn ngay. Ráo riết vận động các nhà giàu hoãn tô, hoãn nợ vụ mùa 1951 và cho nông dân vay thêm, nông hội đứng ra bảo đảm. Cán bộ Dân Chính Đảng các cấp mỗi tháng nhịn ăn một bữa để giúp dân. Quyết không để người nào đói lả. Các đoạn khác cũng cụ thể, chi tiết như thế. Nhiều đoạn rất tỉ mỉ, không phải trích rút từ sách vỡ, mà từ đời sống thực tế, từ trải nghiệm bản thân. Văn phòng Mặt trận 5 gọn nhẹ, kín đáo đặt ở xóm bên, cách cánh đồng không rộng. Ở đâycó hai người. Trưởng văn phòng quán xuyến nhiều việc và chú đánh máy kiêm giao thông liên lạc. Có một máy chữ cũ kĩ, không dấu, rơi mất chữ K phải dùng chữ R để thay. Kính gửi thành Rính gửi; khó khăn thành Rhó khăn… Ban Cán sự Tả Ngạn có công văn thường nhờ bên đó đánh máy. Người ít của kém, nhưng tinh thần cao, anh em làm việc tố. Sán hôm sau bản đánh máy đã được đưa sang để xin chữ kí. Anh Ngạn vừa kí vừa bỏ tôi: - Ra chỉ thị là một việc. Viếc tiếp theo là kiểm tra, đôn đốc thực hiên. Không thì mọi điều suy tính có thể chỉ nằm trên giấy, hoặc chỉ vào cuộc sống được phần nào. Nhìn theo người liên lạc mải miết đi tắt qua cánh đồng khô khốc, anh Ngạn thấy cả những người cuốc đất, phần nhiều luống tuổi và đàn bà. Thanh niên một phần bị giặc bắt, phần khác tòng quân hoặc vào du kích, đang canh gác hoặc sẵn sàng chiến đấu ở nơi giáp làng tề, gần đồn giặc. Anh cúi đầu đi đi lại lại trong sân. Tôi hiểu anh đang lo về cánh đồng khô hạn rộng mênh mông kia. Người nông dân lo cháy ruột trong phạm vi phần ruộng của mình, anh phải lo cả cánh đồng. Không chỉ cánh đồng của xã này mà còn của cả tỉnh, cả vùng Tả Ngạn sông Hồng… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 07:51:31 am LÀM VIỆC VỚI CHỈ HUY TRƯỞNG MẶT TRẬN 5 Đúng giờ hẹn, anh Ngạn ra cửa đón một người hơi thấp và đậm, quần áo nâu bạc màu, khăn mặt cũ vắt vai, tắt cánh đồng vội vã bước. Đó là anh Dương Hữu Miên, chỉ huy trưởng Mặt trận 5, sang báo cáo tình hình quân sự. Hai anh ngồi trên ổ rơm. Tôi ngồi một góc sát cửa để ghi chép. Anh Miên đã mấy lần làm việc với bí thư Ban Cán sự, hiểu rằng không được nói chung chung, nói dài. Nói gọn nhưng phải đủ ý, có minh chứng rõ ràng. Anh báo cáo hoạt động của ta trong mấy tuần qua: - Trong khi địch càn “Trái Quít”, Tiểu đoàn 38 (Thái Bình) đã thọc sâu vào vùng địch chiếm, tề ác, vệ sĩ hung hăng, nhiều nguy hiểm, diệt và bức rút 15 đồn, mở khu du kích hiếm hoi ở bắc huyện Tiền Hải, nối liền với khu du kích bắc huyện Kiến Xương và nam huyện Thái Ninh. - Ngay trong trận “Trái Quít”, các Đại đội 20, 22, 27 (Hưng Yên) vừa luồn càn từ Tiên - Duyên - Hưng về, đã cùng bộ đội và du kích hai huyện Khoái Châu, Kim Động diệt bảy đồn địch, mở khu du kích ở tây huyện Kim Động và nam huyện Khoái Châu. Trung đoàn 42 vừa luồn sang Hưng Yên cũng đã đánh địch ở Đoàn Đào, nhưng có kẻ hoang mang ra hàng, khiến địch kịp tránh, rồi gọi máy bay, đại bác đánh tiêu hao quân ta. Chỉ bốn ngày sau trận “Trái Quít”, Trung đoàn đã cho Tiểu đoàn 648 trở lại Duyên Hà, cùng các phân đội của tiểu đoàn 698 ém tại chỗ, đánh một số trận. Riêng trận Cầu Nại, ta đánh tan một tiểu đoàn địch, bắt nhiều tù binh, có một quan hai… Ta hi sinh một tiểu đoàn phó… Anh Ngạn lắng nghe rồi nêu câu hỏi: - Trận này ta có ưu, khuyết điểm gì? - Thưa anh, có thể nói đây là hai trận càn lớn kể từ cuối năm 1949 đến nay(1), địch càn liên tiếp trong vòng nửa tháng, với mục đích tìm diệt cơ quan đầu não và bộ đội chủ lực ta. Nhìn lại trận “Trái Chanh” (trước “Trái Quít” một tuần), địch dùng ba GM, gần 10.000 quân, do tướng Đờ Bécsu chỉ huy, càn quét khu du kích nam Hưng Yên. Chúng muốn “cất vó” toàn bộ lực lượng ta ở nơi đó. Nhắm lúc quân ta tập trung học tập, rút kinh nghiệm chiến đấu, địch bí mật hành quân tới, diễn thế bao vây. Tại ba địa điểm gần nhau thuộc bắc huyện Phù Cừ, ta có ba đại đội bộ đội tỉnh và một đại đội huyện. Trước tình huống bất lợi, quân ta do tỉnh đội trưởng Võ An Đông chỉ đạo tại chỗ, hình thành ba trận địa, cùng du kích xã và nhân dân kiên quyết chống địch. Địch chia ba mũi. Mũi thứ nhất vừa đến đầu làng Ngũ Lão đã bị Đại đội 27 (Hưng Yên) phục kích ráo riết. Địch bị bại, vội lùi xa và mất tác dụng. Mũi thứ hai được đại bác ở đồn La Tiên bắn dọn đường, địch tiến vào các làng Long Cầu, Phú Mãn, Đại đội 22 (Hưng Yên) cùng bộ đội huyện Phú Cừ và du kích xã đánh chặn quyết liệt, đẩy lùi tám đợt “xung phong” của địch. Địch gọi tám máy bay cùng đại bác bắn phá dữ dội. Quân ta bám chặt công sự, được nhân dân tiếp tế cơm nước, đánh đến chiều và đêm tối. Anh em giải quyết hậu quả rồi luồn ra ngoài. Tại các làng Phan Xá, Tống Xá, mũi thứ ba của địch tiến vào. Đại đội 20 (Hưng Yên) cùng du kích chờ địch tiến gần chục mét rồi nổ súng. Địch tán loạn, một số bị chết và bị bắt. Ta đẩy lùi bảy đợt “xung phong” của địch. Chúng gọi máy bay, đại bác bắn phá. Đồng bào tiếp tế cơm nước cho bộ đội, góp phần bắt giữ tù binh, thu chiến lợi phẩm. Đêm xuống, quân ta luồn càn theo kế hoạch. Dân đưa thuyền đò ra, chặt cây chuối làm phao bơi cho bội đội vượt sông Luộc sang bắc Thái Bình. Kết quả một ngày và nửa đêm chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến gần 1.010 tên địch, bắt sống 25 tên Âu - Phi, lần đầu tiên ở đồng bằng Bắc Bộ, địch chết và bị bắt nhiều Âu - Phi ngay trong một trận. Ta hi sinh 19 đồng chí, có một trung đội trưởng; một số đồng bào ta thương vong, cháy nhà, mất của… Thế rồi ba ngày sau (1-10-1951) địch mở càn “Trái Quít”. Trước đó nữa tháng, Bộ tư lệnh Liên khu III đã có điện cho Trung đoàn 42: “Đè phòng địch càn quét Tiên - Duyên - Hưng”. Ban chỉ huy Mặt trận Thái Bình (gồm đại điện tỉnh đội Thái Bình và Trung đoàn 42) liền chỉ thị cho các huyện đội trong khu căn cứ: “Khẩn trương phân tán bộ đội huyện về nắm dân quân du kích, phối hợp với Trung đoàn 42 và bộ đội Hưng Yên, Hải - Kiến chuẩn bị chống càn”. Địch có bốn GM, dưới quyền chỉ huy của tướng Đờ Linarét. Máy bay trinh sát, chỉ điẻm. Khoảng 30 khẩu pháo, có cả loại 105 li, nã dồn dập vào những nơi nghi có quân ta, vào những làng chiến đấu như Nguyên Xá, Phong Châu, Phú Châu. Đạn phá dưới đất hoặc nổ trên không, sát thương lớn. Máy bay ném bom dồn đuổi quân ta vào nơi chúng định “cất vó”. Quân bộ kéo vào làng, đào hầm, phá hào. Chúng kéo thành hàng ngang đi trên cánh đồng lúa tốt, nhằm càn bắt người của ta… Trận càn ngày càng ác liệt. Địch có ý vây gọn và “cất mẻ vó lớn”. Nắm được tình hình, Bộ tổng tư lệnh chỉ thị cho Ban chỉ huy Trung đoàn 42; “Rút ra ngoài vòng vây, đánh vào vị trí pháo và những chỗ sơ hở của địch!”. Song lúc này địch đã vây chặt. Bộ đội ta vừa đánh vừa tìm lối vượt sông Luộc sang Hưng Yên. Địch không “cất vó được các cơ quan lãnh đạo và bộ đội chủ lực, bộ đội tỉnh… Ta đánh trong vòng càn hơn 40 trận, loại 1.800 tên địch. Đó là ưu điểm. Còn khuyết điểm, tuy chưa tổng kết nhưng sơ bộ có thể thấy: “Một là, do phán đoán sai nên đã dùng hai tiểu đoàn chặn đánh một mũi tiểu đoàn của địch ở sông Trà Lý, là mũi không tiếp chiến mà chỉ dồn người của ta và khu bị càn sang Thư Trì. Trong khi đó, địch tập trung lực lượng lớn đánh mạnh từ phía bến Hiệp xuống, từ Đông Các và thị xã Thái Bình lên, khóa chặt đường từ khu bị càn sang huyện Quỳnh Côi và qua sông Luộc. Vì thế khi ta định luồn qua hai đường này đã bị chặn đứng suốt hai ngày đêm, rồi mới tìm được lối rút, may mà trót lọt. Hai là, trong khi địch có số quân đông hơn, có phi pháo hiệp đồng, với sức mạnh áp đảo, mà ta đánh trong vòng càn tới ngót môt tuần là điều bất lợi. Ba là, chỉ đạo các vùng khác đánh địch chia lửa với vùng bị càn không kịp thời, nên tác dụng trực tiếp đỡ đòn còn ít. (1)Là thời gian xảy ra sự kiện do tác giả kể lại, không phải la thời gian cuốn sách này được xuất bản - BT. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 07:55:23 am Anh Ngạn chăm chú nghe nhằm rút kinh nghiệm cho những trận sau, “Trái Quýt” nổ ra khi anh chưa vào đây. Mặt trận 5 khi ấy, anh Miên, chỉ huy trưởng, anh Khai, chính ủy, cùng anh Đặng Tính, bí thư Đảng ủy Mặt trận. Bây giờ người chịu trách nhiệm ở đây là anh. Anh nói:
- Từ giữa năm 1949 đến nay là hai năm rưỡi, địch chuyển hướng chiến lược. Bỏ kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh”, tướng Rơve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp tìm cách quay về phòng ngự đi đối với tiến công ra vùng tự do của ta. Điểm cơ bản của kế hoạch mới này là ra sức giữ vững Bắc Bộ, với các biện pháp: tăng quân cho vùng này (anh mở bản đồ ra, vừa nói vừa chỉ), mở rộng đánh chiếm trung du và đồng bằng, trong đó chúng nhằm vào Tả Ngạn sông Hồng, vùng đông người, nhiều gạo, muối. Tôi còn nhớ khi mở cuộc càn “Cái Thùng” (Tonnô) đánh chiếm Thái Bình, tướng Cacpăngchiê, tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đong Dương, tuyên bố: “Trận đánh này là trận gạo, trận muối”. Y nói chưa đủ, gạo, muối và lính ngụy nữa mới đúng theo âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Sau đó, viên tướng này làm ăn không được, phải về vườn. Cuối 1950, Đờ Lát san thay, cũng khẳng định: “Bắc Bộ là chiến trường chính, đồng bằng sông Hồng là cái “cốt lõi” của toàn cuộc chiến trường Đông Dương”. Viên tướng già đời, thạo nghề này được coi là tướng tài của nước Pháp, đã dành cho đồng bằng sông Hồng phần lớn vốn liếng mà y có trong tay: 54% tổng số lính bộ và lính dù, 50% pháo binh, 42% xe cơ giới, thiết giáp, 71% công binh, 40% lực lượng vận tải trên toàn Đông Dương. Y đã cử hai viên tướng, mở hai trận càn lớn “Trái Chanh”, “Trái Quýt” và sáu trận càn khác ở vùng Tả Ngạn này, đủ thấy y rất cay cú với chúng ta… Anh Ngạn nhìn thẳng vào đồng chí chỉ huy Mặt trận 5, rồi tiếp với ý nhấn mạnh: - Mở “Trái Chanh”, “Trái Quýt” là địch tung ra ngón đòn mới, món võ cao siêu hơn. Song chúng không đạt ý muốn. Ta bảo vệ được lực lượng và biết thêm cách đánh của địch, giảm nỗi lo về quân GM và phi pháo, tin thêm ở sức mình, sẵn sàng chống càn với mức độ ác liệt hơn… Từ thời điểm diễn ra hai trận càn này mà nhìn lại chặng đường kháng chiến vừa qua, ta thấy có những bước tiến đáng kể. năm ngoái (năm 1950), địch chỉ cần dựa vào các đồn tỉnh, đồn huyện, đồn tổng, đồn làng, thậm chí đồn xóm (ở Hưng Yên có làng ba đồn); chúng chỉ dụng bọn lính liên hiệp, lính hương, tổng dũng, lính vệ sĩ vào việc đi càn. Bọn đó túm năm túm ba, kéo nhau đi càn từ một, hai làng đến một vài xã. Càn liên miên hết ngà này sang ngày khác. Có xã đi càn 40 trận một tháng như Thanh Long (Yên Mỹ), Trường Chinh (Phù Cừ)…, có huyện bị càn liền từ một đến hai tháng như Khoái Châu, Mỹ Hào… Bọn đó giết người không ghê tay một đợt tàn sát 3.000 dân ở Đa Lộc, Cựu Thụy; một trận càn bắn 200 người ở Văn Nhuệ (Ân Thi). Viên thầy tu ở làng Thi (Ân Thi) có vệ sĩ đi càn các làng bên, vơ vét cả chổi cùn rế rách, gây hằn thù lương giáo. Bốt Đớm cỏ tên chỉ huy Pháp giết người, mổ bụng, moi gan, khiến dân phải kêu than: “Ngày ngày ra đứng bờ đê. Trong sang bốt Đởm mà ghê cả người”… Nhưng cái thế mạnh tạm thời đó, những trò hung hãn đó bị quân dân ta đẩy lùi dần. Giặc ở các đồn bốt to, nhỏ đó không dám rủ nhau đi càn nữa. Nhiều đồn làng, đồn tổng, đồn vệ sĩ bị nhổ hoặc co lại. Những đồn liên hiệp “đàn anh đàn chị” có quan Pháp chỉ huy, phải xây boongke, hầm ngầm, thủ thân vi đại. Hơn nửa năm nay (năm 1951) địch phải dùng quân GM “chủ lực, cơ động”, mở những trận càn có đặt tên hẳn hoi: “Sứa Biển”, “Thằn Lằn”, “Mũi Lao” hoặc Miraben, Vitáp… số quân từ một đến hai GM. Đến trận “Trái Chanh” chúng dùng ba GM, “Trái Quýt” dùng tới bốn GM. Tính chất ác liệt hơn, quy mô lớn hơn. Có máy bay, đại bác phối hợp, hòng lấy lại thế mạnh đã mất… Về phái ta, điều tất nhiên là phải chống càn với quyết tâm cao, với ý chí mới. Lúc đầu anh em có sợ quân GM, sợ phi pháo, nhưng thực tế lâm trận cho thấy: đánh được và còn đánh thắng, bước đầu rút ra những kinh nghiệm thiết thực, dũng cảm đánh trong vòng càn; mưu trí luồn ra ngoài vòng càn; tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu hoặc sơ hở; vùng không bị càn kịp thời đánh mạnh, chia lửa với vùng bị càn, mở vùng du kích mới; nhân dân tiêp tế cơm nước, giúp đỡ thuyền đò, cho bộ đội cơ động đánh hoặc tránh địch… Chiến tranh du kích, kháng chiến toàn dân toàn diện là thế… Sắp tới ta phải sẵn sàng chống những trận càn như “Trái Quýt” hoặc lớn hơn. Củng cố, bổ sung ba thứ quân nhằm tăng cả số lượng và chất lượng; mà tốt các việc nhằm ổn định tình hình hơn hai trận càn, tìm cách chống hạn cấy bằng được vụ chiêm, quân cũng như dân, có ăn no mới đánh được giặc. Bộ chỉ huy các anh cần lập kế hoạch hoạt động Đông - Xuân 1951-1952 trên cơ sở địch tình, ta tình trong vùng, và phối hợp với chiến trường chính toàn quốc chắc chắn sẽ mở. Thấy anh Ngạn hạ giọng nói nhỏ, tôi hiểu là đã xong phần việc của mình. Tôi rời góc ổ ấm, ra sân. Ngay sau đó, anh Miên cũng ra, anh úp cái nón cũ lên đầu, quay lại cười nhìn tôi, rồi vào làng trong. Anh Ngạn bảo tôi: - Ông Miên xuýt bị “cất vó” trong trận giặc vây đêm, quét sớm ở Cổ Tiết đấy,. Anh em bảo ông ấy “gan lì cóc tía”! Sau đó không lâu tôi biết thêm: anh Miên quê ở Hưng Yên. Trước Cách mạng Tháng Tám, anh là phó quản lính khố xanh, loại lính không được nhà cầm quyền Pháp thừa nhận như lính khố đỏ, phân biệt đối xử. Do đó khi được Mặt trận Việt Minh tuyên truyền cách mạng, lính khố xanh nhanh chóng giác ngộ. sau cuộc đảo chính Nhật hất cẳng Pháp, anh Miên chỉ huy đội bảo an binh ở tỉnh lị Thái Bình. Được cán bộ ta vận động, anh chuyển ra hơn 50 khẩu súng trường rồi theo cách mạng. Vóc người to khỏe nhưng tính tình hiền hâu. Về đội ngũ ta, anh trở thành cán bộ năng động, góp phần tích cực vào việc huấn luyện chiến sĩ, đào tạo cán bộ. tháng11-1946, anh là trung đoàn phó một đơn vị, sau này là Trung đoàn 42. Khi ấy, trong một trận đánh đáng ghi nhớ, anh trực tiếp chỉ huy một tiểu đoàn tại trại Sao Vàng (Hải Phòng), đánh lui quân Pháp mặc dù thế chúng khá mạnh. Năm 1947, anh là trung đoàn trưởng, chỉ huy một bộ phận của đơn vị mình, phối hợp với các đơn vị bạn, đánh vào một số vị trí ở nội thành Hải Phòng, khiến giặc đang càn ở Đông Triều, Chí Linh, phải rút bảy tiểu đoàn về đối phó. Sau trận đó, Hải Phòng cùng Trung đoàn 42 được Chủ tịch Hồ Chí Minh thưởng cờ Trung Dũng. Rồi anh được điều lên làm chỉ huy trưởng Mặt trận 5 cho đến lúc này… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 07:56:48 am VÌ SAO LẬP BAN CÁN SỰ TẢ NGẠN? Nhân lúc anh Ngạn đọc tài liệu, tôi thư thả sang nhà bên trò chuyện với anh Trịnh Quang Thứ. Tôi hỏi: - Ông ở làng Thanh Xá, Hưng Yên, làm thế nào lại trở thành người bảo vệ anh Ngạn? Thứ thủ thỉ đáp: - Là vì mấy lần anh Ngạn đến Hưng Yên, đội bảo vệ cơ quan tỉnh đều cử tôi đi theo. Chả biết thế nào, một hôm anh bảo tôi: - Cậu đi với mình nhá! Tôi vốn có tính thích đi xa, ưa việc lạ, được cấp trên tín nhiệm là tôi đi. Vẫn giọng đều đều, Thứ kể tiếp: “Tôi nghe loáng thoáng, biết là anh Ngạn từ căn cứ Liên khu III sang đây làm việc với các anh ở tỉnh ủy Hưng Yên đã mấy lần rồi. Nghe nói anh đến cả Thái Bình làm việc với cơ quan Mặt trận 5. Cậu bảo vệ anh từ khu III sang nửa kín nửa hở nói: lần này anh sẽ sang công tác bên Tả Ngạn. Cậu ta có vợ mới đẻ, phải ở gần nhà giúp đỡ nên không muốn đi xa. Có lẽ vì thế mà anh Ngạn chọn tôi. Hôm ấy tôi cùng anh từ Hưng Yên sang căn cứ liên khu, chờ anh thu xếp công việc để trở lại Tả Ngạn nhận nhiệm vụ mới. Khi anh làm việc với lãnh đạo khu, tôi ra ngoài quan sát tình hình vừa ngắm cảnh núi non, hang động. Ở đây ó cái hang Na, to và sâu, có thể chửa cả một cuộc họp, một lớp học, và gì gì nữa sâu mãi phía trong. Có ông nào đó dùng chổi đót chấm vôi viết lên mé cửa hang hai chữ “Đại thọ”. Nghĩa là ở hang này thì sống trăm tuổi, chả sợ bom đạn bắn phá. Tôi nghĩ bụng: Thế mà anh Ngạn rời đây sang Tả Ngạn, nơi giặc càn quét liên miên, máu chảy xương tan bất cứ lúc nào. Thu xếp công việc xong, anh Ngạn bảo tôi lên đường. Cùng đi có anh Dũng cận thị, chúng tôi gọi là Dũng (kính), nhà báo Hồng Hà. Chia tay người bảo vệ cũ, anh Ngạn dặn dò: - Cậu bận vợ yếu, con thơ, ở lại và làm công tác vừa giúp đỡ gia đình cho tốt nhá! Cậu bảo vệ nhìn anh, vẻ nhớ nhung, tần ngần… Cơ quan Giao thông liên lạc tỉnh Hà Nam nhận nhiệm vụ đưa anh Ngạn và chúng tôi qua cả một vùng địch hậu đen tối, qua các con đường liên huyện bị địch chiếm; qua những vùng tề, có cả tề ác, rồi vượt quốc lộ 1 đầy hiểm nguy, đồn bốt, tháp canh rải dày. Lại phải qua ba con sông sâu và rộng, trong đó có sông Hồng… Tới huyện Thanh Liêm, gần đường 1, tôi đề nghị trưởng trạm giao liên xin một trung đội bộ đội huyện, bảo vệ khi đoàn chúng tôi vượt đường. Anh em nhận nhiệm vụ, tuy có mấy chú tân binh sợ sệt. các đồng chí giao liên bám đường dày kinh nghiệm, nắm được các quy luật tuần tra, phục kích của địch, đưa chúng tôi qua đường trót lọt. Đêm sau, trên đường ra bờ sông Hồng, bỗng bị giao liên bảo ngừng chân. Có giặc ở đồn gần đó bất thình lình ra phục kích. Bọn này táo tợn bám gần bến đò. Ta kịp phát hiện chúng, báo những người qua sông ngừng lại. Trời tối mịt, đứng gần không thấy rõ mặt nhau. Ta không xa địch bao nhiêu, không may có ai ho một tiếng là lộ. Tôi hỏi chị giao liên: “Lui lại được không?”. Chị thì thầm: “Bên kia có mật hiệu sang được. Không nên lui”. Tôi nói: “Không lui hẳn, nhưng phải xa địch một quãng nữa”. Chị bảo: “Thế thì tạm lánh vào một cái xóm nhỏ kia”. Tôi không yên tâm: “Có cơ sở tốt không?” - “Có! Cả hầm bí mật nữa, nhưng chỉ đủ cho hai người”. Tôi nghĩ chỉ cần giấu được anh Ngạn và anh Hồng Hà. Còn tôi và Dũng (kính) chạy dài. Chị giao liên quen thung thổ, gan dạ và nhanh nhẹn, đưa chúng tôi theo một rãnh tiêu nước và xóm nhỏ. Phía ngoài, gần chỗ phục kích, có các anh bộ đội bảo vệ đường dây… Một lúc thật lâu, nhận được mật hiệu, chị giao liên nhanh chóng đưa chúng tôi ra bến. Một chiếc thuyền nhỏ, vừa kịp từ bên kia sông sang đón. Bước xuống thuyền vẫn còn phấp phỏng. Tôi ra lòng thuyền, lấy ống phao luồng, đưa cho anh Ngạn và anh Hồng Hà. Sẵn sàng nhảy nhẹ xuống sông khi có sự cố”. Nghe đồng chí Thứ nói, tôi nghĩ về anh Ngạn. Thế là anh san nhận nhiệm vụ bí thư Ban Cán sự Tả Ngạn đúng vào thời điểm rất gay cấn. Hai trận càn “Trái Chanh”, “Trái Quýt” đã gây bao nhiêu đảo lộn ở nơi anh đến nhận trọng trách. Nạn đói do địch phá và do hạn hán cũng đặt trước anh một việc khá nặng nề. Đây là những vấn đề sinh tử cần được nắm bắt nhanh, để có chủ trương đối phó kịp thời, chắc trúng. Không thể chờ sự chỉ đạo của liên khu qua sông sâu, đường hiểm mà phải có bộ máy tại chỗ. Tôi chợt nhớ đã được đọc một bản nghị quyết ghi tháng 8-1950 của Liên khu ủy III, về việc thành lập phân Liên khu ủy Tả Ngạn. Lí do: “- Từ khi địch chiếm Tả Ngạn, Liên khu ủy không theo dõi, nghiên cứu kĩ được tình hình từng tỉnh, để chỉ đạo và phổ biến kinh nghiệm được kịp thời; - Vì giao thông liên lạc khó khăn, sự chỉ đạo của liên khu bị chậm, không phối hợp được mọi hoạt động giữa các tỉnh; - Cần có một cơ quan thay mặt Liên khu ủy trực tiếp liên lạc với Trung ương để nhận chỉ thị và tổ chức thực hiện”. Tôi cũng hiểu anh Ngạn sang đây là để thực hiện nghị quyết trên. Anh từ căn cứ liên khu qua lại Tả Ngạn nhiều lần chẳng mấy ai biết. Chỉ nghe truyền khẩu từ Liên khu III và Việt Bắc rằng mỗi chuyến anh từ Tả Ngạn ra vùng tự do đem theo nhiều tình hình ta và địch, cụ thể, sâu sắc, cùng những biện pháp đối phó, giải quyết sát thực, đúng đắn. Có thể do cuối năm 1949 đầu năm 1950, địch mở hai trận càn lớn: trận “Con Quay” (Điabơlô) chiếm gần hết hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, đóng 515 đồn bốt, tháp canh; và trận “Cái Thùng (Tonnô) chiếm 85% đất tỉnh Thái Bình, đóng hơn 100 đồn bốt, mà nghị quyết kể trên chưa có điều kiện thực hiện. Và do đó, Bộ chỉ huy Mặt trận 5 với sự đi sát lãnh đạo của anh Ngạn vẫn phải lo đối phó tình hình trước mắt. Khi ấy vùng này đen tối tới mức địch nắm thế chủ động cả ngày đêm. Chúng rêu rao: “Phen này ông đánh chữ O. Việt Minh du kích mày bò đi đâu?”. Chúng tuyên bố: “Bắt sống Trung đoàn 64 đưa về Hà Nội”, “Bắt sống Trung đoàn 42 đưa về Hải Phòng”. Ta lúng túng trong thế bị động. Trung đoàn 42 giải tán trường quân chính; công binh xưởng chôn giấu dụng cụ và súng nặng. Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Thái Bình và chính ủy Trung đoàn 42 lên Việt Bắc xin tăng viện rồi khó trở lại. Tiểu đoàn 124 (thuộc 42) bị giặc vây ở Cổ Tiết (Quỳnh Côi) phải chôn giấu vũ khí nặng, rồi tìm lối thoát khỏi vòng vây. Mất hết địa bàn, không thể tập trung. Tiểu đoàn này cũng như các tiểu đoàn khác phải phân tán thành từng tổ, từng tiểu đội vào sống trong dân. Ban ngày trà trộn với dân làm ruộng ngoài đồng, tránh địch bắt bớ, hoặc nằm hầm bí mật dưới gò đống, bam đêm vào làng công tác. Ăn đói, ở hầm, dầm chân dưới nước, da lở ngữa, sức khỏe giảm sút, ốm đau nhiều. Chỉ mới qua một tháng, Đại đội 50 đã hi sinh và bị bắt gần 50 người. Cả Tiểu đoàn mất 100 đồng chí. Các đơn vị khác của Trung đoàn 42, 64 cũng đều phải phân tán, sống trong lòng dân như thế. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 07:59:31 am Tỉnh Hưng Yên có 360 làng, địch chiếm đóng gần hết. Cơ quan tỉnh, huyện mất cả đất đứng. Bốt Đởm, đồn La Tiến giết hàng trăm, hàng nghìn nhân dân và du kích. Chúng xâu hàng loạt bàn tay vào dây thép, rồi xả liên thanh vào người, chết từng đống. Treo đá vào cổ đẩy xuống sông Luộc. Xẻo thịt, cắt đầu, chôn sống, treo cổ lên cành cây. Đốt rơm rạ tống vào hầm bí mật cho chết ngạt… Nông dân đi cày phải treo cờ trắng vào sừng trâu để khỏi bị giặc bắn. Có người không dám chứa cán bộ, bộ đội trong nhà. Đảng viên bị tàn sát, có chi bộ chỉ còn ba, bốn đồng chí, có tổ Đảng bị tiêu diệt gần hết. Du kích chôn giấu mìn, lựu đạn, có người lẩn vào vùng tề. Một số cán bộ, đảng viên chạy dài hoặc đầu hàng địch… bọn phản động được đà lấn tới. Vệ sĩ nhà thờ Cao Xá thường xuyên kéo ra đốt phá năm xã chung quanh, không sót một túp lều, một cái bát ăn cơm. Nhiều nơi chỉ một tiểu đội chúng cũng vây đêm, quét sớm, thấy người là bắn chết, không phân biệt trẻ già. Chúng mở “Chiến dịch tầm thanh, trừ cán, diệt cộng” (tìm thanh niên, từ cán bộ, diệt cộng sản) gây không khí ngột ngạt, khó thở…
Ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Kiến An, thành phố Hải Phòng cũng đen tối gần như vậy. Trước tình hình cùng cực kể trên, Liên khu ủy III đã ra nghị quyết, chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo phải nhằm vào Tả Ngạn… Giữ được Tả Ngạn là giữ được kho nhân lực, vật lực, là tổng động viên được nhân dân, phá được âm mưu bắt ngụy binh và âm mưu chia rẽ lương giáo của địch…”. Cán bộ, bộ đội chủ lực không nề gian khổ, hiểm nguy, len lỏi về làng bám đất bám dân, phục hồi từng cơ sở, dìu dắt, củng cố lại từng nhóm du kích, từng tổ bộ đội huyện, tỉnh. Tạo thời cơ tiến lên phá tề, trừ gian, chống giặc, giữ làng. Mở được các khu du kích nhỏ, dăm ba xã hoặc một phần huyện ở Hải Dương, Hưng Yên và Mặt trận 5… Song, cuối năm 1951 địch lại càn “Trái Chanh”, Trái Quýt”, anh Ngạn chính thức sang đây với nhiệm vụ nặng nề hơn. Khu Tả Ngạn bằng một nửa đồng bằng Bắc Bộ. Nó gần như một hình tam giác cân đáy giáp biển, đỉnh giáp thủ đô Hà Nội. Một cạnh được kép lại bằng dòng sông Hồng. Cạnh kia gần như được khép lại bởi đường 5, đường sắt. Đáy có cảng Hải Phòng và sân bay Cát Bi, tầm cỡ nhất nhì Đông Dương. Đỉnh có sân bay Gia Lâm, tầm cỡ quốc gia. Khu này đông người lắm của vào hạng A, B trong nước, là nguồn lực to lớn, cực kì quan trọng cho kháng chiến, nuôi cả địa phương và góp phần nuôi một số nơi khác. Nằm trong các khung tam giác đó là các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, và thành phố Hải Phòng. Giặc Pháp dùng lực lượng khá lớn chiếm đóng khu này, để khai thác kho người kho của ở đây đánh lên trung du, Việt Bắc. Có lúc chúng đã chiếm gần 90% đất đai của khu, đẩy cơ quan tỉnh Hưng Yên sang vùng núi Hà Nam, đẩy cơ quan tỉnh Hải Dương ra nơi giáp giới Quảng Yên. Các cơ quan và bộ đội tỉnh Hải - Kiến, Thái Bình chạy vòng quanh trong vùng đất bằng, chằng chịt sông ngòi, ló ra khỏi lũi tre xanh là bị lộ. Tàu chiến, ca nô diễu quanh bờ biển, dọc sông Hồng, vào khắp các sông Luộc, sông Trà Lý… nội địa. Máy bay các loại ở hai sân bay trong khu sẵn sàng cất cánh đến ném bom bất cứ nơi nào… Anh Ngạn về đây cùng hơn ba triệu quân dân đánh giặc trừ gian, chống càn to nhỏ, nhằm giành giật vùng đất chiến lược này với địch. Sóng to, bão lớn hết đợt này đến đợt khác, tôi không hiểu anh sẽ chèo lái con thuyền vượt biển rộng, khơi xa như thế nào??? Khi ấy, tôi ít tuổi nhất trong bộ phận. Người chỉ khoảng 37, 38 cân, nhưng có sức bật của tuổi trẻ cộng với ý chí chiến đấu của người đảng viên, nên bất chấp khó khăn thiếu thốn. Tôi đang là chánh văn phòng tỉnh ủy Thái Bình thì được điều lên đây. Tôi lo việc mới không đơn giản. Làm thư kí, ý của lãnh đạo mà viết ra giấy là việc của mình. Lời không đạt ý là mình không tròn trách nhiệm. Đoán được tâm trạng của tôi, anh dành một lúc lâu hỏi han về gia đình và quá trình công tác của tôi. Rồi anh bảo: - Làm thư kí tưởng dễ mà khó. Nó không có vai trò lãnh đạo nhưng lại quan trọng, bởi phải thể hiện được ý của lãnh đạo trên văn bản. Vì vậy nghe và ghi phải tinh tường, viết ra văn bản phải chính xác. Đừng lẫn ý kiến của lãnh đạo với ý nghĩ của thư kí. Đứng nghe loáng thoáng, ghi sót, viết không hết ý, hoặc chữ nhiều ý ít, lai rai dài dòng… Nam đã từng làm văn phòng của tỉnh, có sức học khá lại có mong muốn làm nhiệm vụ. Vừa làm vừa học sẽ tiến dần dần. Biết lo là tốt. Một người hay lo bằng một kho người hay làm. Hay làm mà chẳng hay lo. Làm khốn làm khổ làm cho nhọc mình. Đúng không? Tôi hỏi anh: - Làm thư kí có được phát biểu ý kiến trong cuộc hợp lãnh đạo không? Anh bảo: - Sao lại không, nhưng thấy thật sự giúp ích cho cuộc họp, mà mọi người chưa nghĩ tới, chưa nói ra. Anh nhấn mạnh: - Là thư kí thì điều gì cũng được biết, kể cả điều bí mật. Vì vậy phải khiêm tốn, trung thực, bảo đảm nguyên tắc. Có những điều ghi mà không nói, lại có những điều chỉ nhớ mà không ghi, hoặc chi ghi bằng kí hiệu của riêng mình. Thực tế cho thấy tôi làm được, nhưng vất vả gấp mấy lần so với làm việc ở tỉnh, chứ không chỉ gấp hai. Anh Ngạn không nhữmg làm việc với Bộ chỉ huy Mặt trận 5 mà còn làm việc trực tiếp với từng ban chuyên môn như chính trị, tham mưu, quân báo, tác chiến…, làm việc với tỉnh ủy, ủy ban bốn tỉnh… Có khi anh đến với họ ở làng này, làng kia, qua những cánh đồng rộng. Có khi họ đến nơi anh làm việc. Tôi liên hệ với họ, hẹn giờ luân phiên làm việc, được anh đồng ý, rồi tôi nhớ ngày giờ, nhắc trước với anh. Nhắc là theo nhiệm vụ, chứ việc đã được anh ghi sổ tay thì anh không quên. Trong khi làm việc có vấn đề gì phải tranh luận, anh muốn làm rõ và tăng sức thuyết phục, anh nói kĩ, chẳng xem đồng hồ nên làm quá giờ. Tất nhiên tôi phải tìm cách nhắc anh. Có khi anh nghe tôi và “giảm cường độ”, có khi anh thấy cần phải nói hết ý, đạt ý anh cứ nói. Anh muốn cho thắc mắc này, vướng víu kia được giải tỏa, tháo gỡ, rõ ràng, thoái mái. Vì thế anh em say sưa nghe, khiến anh càng như được kích thích. Chúng tôi bảo nhau: nếu thấy gần hết giờ thì đừng nêu những vấn đề phải tranh luận, dành lúc khác, kẻo anh giải thích cho đến lúc nguội cả cơm canh. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 08:00:40 am BÍ THƯ BAN CÁN SỰ XUỐNG Xà HỌP Một số xã quanh đây lẻ tẻ, êm gọn phá tề. Có một loại tề khi giặc càn ác liệt rồi ép lập ra, phần nhiều là những người được ta chỉ đạo hoặc khống chế, giặc rút thì mặc nhiên, không hoạt động. Các đội bảo an giả hiệu trở lại thành dân quân chính thống. Kế hoạch giải quyết hậu quả và ổn định tình hình sau trận càn được thực hiện từ dễ tới khó, từ nơi còn tới nơi vỡ cơ sở… Khu du kích từng bước, từng bước được phục hồi. Chúng tôi được anh Ngạn giao nhiệm vụ liên hệ với cơ quan lãnh đạo tỉnh, huyện, cũng ở quanh đây, tổ chức để anh xuống họp với một chi bộ. Lúc này chi bộ lãnh đạo một xã. Từ nhà ra đi, anh Ngạn quảy một túm rọ đánh cá trê, mùi bùn đất thoang thoảng. Áo vải, quần nâu vê gọn lưng ống chân. Chiếc khăn vuông đen buộc túm ở cổ cho đỡ gió. Mái tóc vuốt gọn bằng mười ngón tay, rồi chụp lên một cái nó lá cũ kĩ. Tôi đi sau mấy bước, trông anh hệt như nông dân. Đi trước chúng tôi dăm bước là đồng chí Thứ, vai bên phải đeo cái bị rách xễ ngang sườn, trong đó có khẩu tiểu liên tuyn. Khi cần, Thứ thò tay vạo bị là đạn tới đích. Đi đầu dẫn đường là đồng chí Lê. Qua một cánh đồng rộng thì trời tối. Mưa lâm thâm, gió rét. Anh Ngạn lúc này 34 tuổi, người cao, sức khỏe, xem ra anh chưa phải bận tâm về giá rét. Đồng chí Thứ cũng vậy, với tuổi 25, Thứ chưa biết rét. Tôi 22 tuổi, vóc người nhỏ nhắn, có vài cái áo tôi mặc hết, vẫn thấy như gió bấc thấm vào da thịt. Qua vài cánh đồng nữa, anh Lê đưa chúng tôi vòa một xóm trại lưa thưa dăm bảy nóc nhà. Cái nhà ở ngay rìa trại, thấp nhỏ được chọn làm nơi họp. Trừ một gian buòng, còn hai gian ngoài trải rạ để anh em ngồi. Bí thư chi bộ đưa anh Ngạn và chúng tôi vào một góc ổ. Đây là cuộc họp thường kì. Riêng bí thư chi bộ biết có cán bộ cấp trên về dự, không rõ tỉnh hay huyện, cũng không giới thiệu là ai. Cuộc họp chỉ có một ngọn đèn nhỏ, vừa đủ để bí thư đọc tài liệu và thư kí cuộc họp ghi chép. Chả mấy người biết có cán bộ trên về dự. Trước lúc vào họp, các đảng viên có chuyện gì đều đem đến đây nói. Một giọng không vui, không buồn: - Con nghé nhà bà Khiển bị đạn chữa mãi không khỏi, cho “lên đĩa” rồi! Một giọng lo lắng: - Hoài nhỉ! Chết hết trâu nghé thì người phải kéo cày ngửa ngực, trật vai. Một giọng hể hả: - A, nghe nói mấy anh tề bên Me, Nại đem sổ sách lên trả đồn, viện cớ “Việt Minh bắt nghỉ, tề thật lòng với đồn nhưng không được!”. Xếp đồn tưởng bở, an ủi tề: - Tạm chịu vậy. Quân Giem về lại lập tề! Tề ra ngõ bảo nhau: - Có lập cái con khẹc! Một giọng khinh bỉ: - Bọn xếp đồn chỉ hí hửng khi quân Giem về. Sau đấy lại sợ như chó cụp đuôi, nằm ru rú trong đồn! Một đảng viên luống tuổi lắng nghe rồi nói sang chuyện khác: - Chiêm này hanh khô, được ải, nhưng đồn Đào Thành không cho mở cống, không có nước cấy lúa. Mất màu đói to! Tôi thấy anh Ngạn lắng nghe tất cả và ngẫm nghĩ. Cuộc họp phổ biến việc tiếp tục giải quyết hậu quả trận càn. Bản chỉ thị mà tôi dự thảo và anh Ngạn bổ sung, tới cuộc họp này chỉ còn giữ được những ý chính, qua ghi chép ở sổ tay bí thư chi bộ. Các đảng viên dựa vào những ý đó, bàn bạc tiến hành công việc cụ thể cần làm. Bỏ qua ý nghĩa, tầm quan trọng, họ nhớ những việc cần làm, tỉ mỉ, thiết thực mà anh Ngạn bổ sung trong chỉ thị hôm qua. Họp xong, mọi người ra về, anh Ngạn ở lại hội ý với bí thư chi bộ: “Tờ Thông tin của tỉnh có về đến đây không?” - “Dạ… thỉnh thoảng mới có ạ!” - “Tin viết những gì? Đồng chí có đọc không?” - “Có tin chống càn, tin chiến thắng, nhưng chậm, chúng tôi đã biết rồi!” - “Có tin về sản xuất, giảm tô không?” - “Có, nhưng ít ạ!”. Anh Ngạn đặt bàn tay rộng vào vai bí thư chi bộ: - Các đồng chí họp bàn những việc thiết thực như vậy là tốt. Đảng viên nhận ra việc cần làm và hướng dẫn nhân dân cùng làm. Nhiệm vụ quan trọng bây giờ là đánh giặc, chống càn, bảo vệ nhân dân… Trong việc bảo vệ dân thì bậc nhất là bảo vệ con người, đúng rồi, nhưng bảo vệ sản xuất, làm ra và giữ lấy thóc gạo, ngô khoai… cũng quan trọng không kém. Đúng không đồng chí? Ở đây có ruộng đất vắng chủ tạm chia cho dân nghèo không? Địa chủ có giảm tô theo quy định không?... Phải vận dụng chỉ thị, nghị quyết của trên, biến những điều ghi trên giấy, bàn trong cuộc hop thành việc làm. Chi bộ phải lãnh đạo du kích luyện tập quân sự, khi giặc đến thì phối hợp với bộ đội hoặc tự lực chiến đấu; đảng viên phải anh dũng đi đầu. Đúng không? Ra về, trờ tối mịt, không ánh sao. Tôi quảy túm rọ để anh Ngạn đi cho thoải mái. Anh Ngạn hỏi tôi: - Qua cuộc họp, Nam thấy gì? - Thấy chị thị từ trên xuống xã lâu quá, lại bị rơi rụng nhiều. Anh bảo: - Còn phải viết thành bài, gọn, rõ, đưa vào tờ Thông tin của tỉnh, huyện, in đá, in bột gửi về các xóm kịp thời. Ai biết chữ thì đọc mà làm. Cán bộ văn hóa kém, ghi chép không đủ thì dựa vào bản tin mà truyền đạt tới dân. Ngừng một lát, anh tiếp: “Còn vấn đề cực kì quan trọng là nước tưới vụ chiêm… Cái cống Đào Thành…”. Anh nói rồi lầm lũi bước thấp bước cao trên cánh đồng khô khốc. Tôi biết khi anh không nói là anh nghĩ. Cái đầu của anh chỉ nghỉ khi anh ngủ. Mà có đêm anh chỉ ngủ ba, bốn giờ. Đêm về khuya lất phất mưa, trời càng tối. Tôi chẳng còn nghĩ gì ngoài việc đi khéo cho khỏi ngã. Bất chợt tôi nghe anh nói: - Từ nay Nam thu xếp công việc, mỗi tháng ta xuống họp với chi bộ xã một lần nhá. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 08:01:51 am PHÁC TẢ CHÂN DUNG BÍ THƯ Vài tháng đầu, anh Ngạn chỉ có một bộ phận nhỏ giúp việc: anh Dũng (kính), anh Lê, anh Thứ và tôi. Nhà báo Hồng Hà ở lại một thời gian rồi về liên khu. Anh viết bài “Sông Hồng đỏ máu” tố cáo tội ác giặc và biểu dương tinh thần chiến đấu của quân dân Tả Ngạn. Bài đăng báo Nhân dân và đọc trên Đài tiếng nói Việt Nam. Anh Ngạn có cái khăn vải đen, khi thì quấn cổ đi đêm cho khỏi ho, khi thì bọc mấy mấy tập sách: “Trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh. Tiểu thuyết “Tỉnh ủy bí mật” dịch của Liên Xô. Nhà xuất bản Văn nghệ in ở Việt Bắc, trên giấy bản. Sách “Chiến thuật du kích” dịch của Trung Quốc… Anh được trang bị một khẩu súng lục Bơrôninh, thỉnh thoảng vẫn tập ngắm, nhưng không bắn đạn, e lộ bí mật. Còn cái đồng hồ tàng tàng anh bỏ túi nhưng chẳng mấy khi xem giờ. Tư trang có hai bộ quần áo nâu nửa mạc, bộ mặc, bộ để thay. Chiếc màn “dã ngoại” nhuộm màu rêu, túm nóc treo lên xà nhà như dây vó lộ ngược, treo và tháo đều nhanh. Chiếc chăn vải thô nhộm nâu; anh cao người, to vóc nên đắp kín cổ thì hở chân. Không nhớ ai đã giúp cạp thêm bằng vải đen cho dài rộng hơn. Khi rét anh không nằm màn, lồng vào chăn đắp cho ấm. Tiết đại hàn, nằm một mình rét khó ngủ, anh san ổ nằm chung, tuy biết chúng tôi hay giãy đạp và ngáy to. Anh bảo mình nằm với các cậu cho dễ ngủ. Bốn người chúng tôi nằm hai bên, anh nằm giữa. Anh quay ngang cái chăn để chúng tôi có chút phần. Nhưng chỉ được hai người, tôi và Dũng (kính). Lê và Thứ nằm ngoài cùng, hết phần. Các cậu cố dúi bàn chân vào chân cho đỡ buốt. Sau đó, cấp dưỡng Nghị đến, nằm chưa ngủ được, ông giở trò đố vui. Những câu đó xoay quanh nghề nghiệp của ông: Một đàn cò trắng phau phau Ăn no tắm mát, rủ nhau đi nằm Đố là gì? Thứ nói ngay: - Là những chiếc bát, dễ thế mà cũng đố. Anh Ngạn bảo: - Những đấy là bát sứ nhà giàu mới trắng phau phau, chứ nhà nghèo chỉ có bát sành đen nhiẻm. Chúng tôi khúc khích cười. Nghị lại đó: Còn duyên ong bướm đi về Hết duyên dùi đục treo kề một bên. Chúng tôi bí không giải được. Nghị tỏ ra thích thú: - Là cây mướp. Quả mướp già có giống cái dùi đục không? Cả ổ cùng cưới. Thế là ngủ tít lúc nào. Mặc kệ bên ngoài gió bấc mưa dầm rả rích. Anh Dũng (kính) làm việc với anh Ngạn khá lâu và nhiều hiểu biết. Anh kể cho tôi nghe đôi nét về bí thư Ban Cán sự. Rằng ngày 2-2-1917, có một người con trai sinh ra ở làng Đông Phù, huyện Thanh Trì (Hà Đông) Bố mẹ nghèo, làm ruộng kiếm ăn là chính. Rồi mẹ chết sớm, bốn anh chị em sống với người mẹ kế. Người con lớn (nay là anh Ngạn) phụ việc với gia đình. Khi ấy ông Phạm Gia, người cùng làng, hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt đưa ra Côn Đảo. Năm 1936, có tiếng nói của phong trào Bình Dân Pháp, chúng phải tha tù chính trị. Nhờ vậy, ông Gia về làng mở xưởng sơn mài, anh Ngạn vào học nghề rồi được ông Gia giác ngộ cách mạng. Vừa làm thợ sơn vừa hoạt động cách mạng, gan dạ, hăng hái. Nhà anh là nơi nhiều cán bộ bí mật qua lại. Người em trái bị mật thám bắt, không đủ chứng cứ buộc tội, chúng phải tha. Vợ anh cũng giác ngộ cách mạng, nuôi giấu cán bộ của xứ và tỉnh. Hôm anh bị bắt, chị trốn được. Mặc dù anh bị giam cầm, cán bộ vẫn bí mật qua lại nhà anh, vấn được chị nuôi giấu cẩn thận. Ở quê anh có tổ chức Đảng Cộng sản khá sớm, ông chú và bà cô anh đều hoạt động cách mạng. Anh tham gia cách mạng từ khi 19 tuỏi (năm 1936), vào Đảng khi 22 tuổi (năm 1939). Anh len lỏi vào các làng xóm, vận động quần chúng, tổ chức lực lượng cách mạng, tứ huyện Thanh Trì sang Thường Tín… Khi thực dân Pháp khủng bố ác liệt, anh bị bắt vào tù 10 năm. Đến khi Nhật hất cẳng Pháp (tháng 3-1945) anh vượt ngục Hỏa Lò ra tiếp tục hoạt động, rồi tham gia tổ chức lãnh đạo khung ở tỉnh nhà. Cách mạng tháng Tám thành công, anh được cử làm bí thư tỉnh ủy Hà Đông, rồi bí thư tỉnh ủy Hà Nam. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, anh làm bí thư tỉnh ủy kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định. Năm 33 tuổi anh là phó bí thư Liên khu ủy, phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính kiêm chính ủy và tư lệnh trưởng Liên khu III cho đến lúc này anh sang Tả Ngạn. Anh Dũng (kính) làm việc một thời gian ngắn tại vùng Tả Ngạn nhiều biến động này. Thấy Dũng mắt cận thị đi lại đêm hôm khó khăn, anh Ngạn bảo Dũng về làm việc bên Liên khu III. Hôm chia tay với Dũng có mấy điểm đáng nhớ. Anh Triệu đánh rọ được mấy con cá trê, đem về nấu dưa chua. Bấy giờ có khẩu hiệu “uống rượu là uống máu đồng bào” nghe nặng nề, nhưng giúp những người nấu rượu lậu bỏ nghề, nhiều người nghiện chừa được. Vì thế chúng tôi chỉ có nồi cơm vượt tiểu chuẩn so với ngày thường và nồi canh cá. Anh em ăn ngon lành, trò chuyện rôm rả. Chẳng ai có vật gì làm kỉ niệm. Anh Ngạn tự tay gấp chiếc chăn nâu cạp đen đặt vào bị cói tặng Dũng. Anh bảo ở căn cứ bên ấy gần núi, rét hơn bên này. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 08:02:39 am VƯỢT SÔNG SÂU, ĐƯỜNG HIỂM Anh Thứ theo anh Ngạn sang họp Liên khu ủy. Trên đường về nghe đồng chí Nguyễn Phú Hộ, phụ trách giao thông liên lạc huyện Thanh Liêm kể: “Chúng tôi được tỉnh giao nhiệm vụ đưa “khách” vượt đường 21 sang trạm giao liên Bình Lục. Đồng chí Hải, bí thư Thanh Liêm đưa “khách” tới trạm, yêu cầu tổ chức chuyến vượt này. Đồng chí nói: - Đã giao cho huyện đội ém quân ở hai đầu, nhằm ngăn địch ở hai đồn gần đó, tạo một đoạn đường có thể vượt qua ở thôn Bằng Khê. Đồng chí Hộ trực tiếp đưa “khách” qua đường! Nghe xong, tôi liền trình bày: - Suốt tuần qua, địch rải quân phục kích ban đêm ở đoạn đường mà ta dự định vượt. Nếu theo phương án của bí thư huyện thì chỉ có thể xảy ra đụng độ giữa quân ta với địch, vỡ kế hoạch vượt đường. “Khách”- anh Ngạn nhìn tôi như động viên: - Thế thì tìm cách khác! Tôi vốn có một phương án dự phòng, thấy nay là lúc cần thực hiện. Tôi báo cáo: - Đường 21, đoạn cách đồn Cầu Ghéo 200 mét không có đường nhánh tỏa hai bên, là đoạn độc đạo. Dân không qua lại vì ngại gần đồn. Lúc này nước hai bên cánh đồng lên to, không thuyền đò nào tới đoạn đó. Ngày và đêm, một bọn địch thường ở đồn Cầu Ghéo kéo ra phục kích từ thôn Hoàng Xá đến thôn Yên Việt. Trước thực địa như trên, địch có phần chủ quan, sơ hở. Ta có thể bất ngờ vượt đường ở đoạn này! Đồng chí cán bộ huyện đội có mặt ở đây, tỏ ra nhất trí với tôi: nếu đụng độ giữa quân ta và địch thì không thể vượt đường, mà có thể thương vong… Bí thư huyện dè dặt, vì thấy dự định của tôi táo bạo, và vì gần đồn địch quá. Có người đế vào: - Hai đầu đường có giặc, hai bên đồng nước sâu, hết lối tiến thoái! Anh Ngạn lắng nghe anh em bàn bạc. Tôi tưởng anh ngả về hai ý kiến trên. Nhưng không, anh quả quyết: “Chọn phương án của trưởng trạm, nó táo bạo nhưng có yếu tố bất ngờ. Chỉ cần tổ chức thực hiện bí mật, chu đáo!”. Thế là tôi cùng đồng chí Phiệt trạm C phối hợp thực hiện. Kế hoạch chi tiết vạch ra: - Phiệt chịu trách nhiệm đưa anh Ngạn và đồng chí bảo vệ tới gốc đa chùa Mai Lĩnh vào lúc nhá nhem tối, chờ đó. Tôi cử một nhóm nữ chèo thuyền, giả làm dân đi sản xuất, lên thôn Yên Việt nằm tình hình địch. Đến giờ hẹn, nếu an toàn thì phát tín hiệu. Một nhóm nam mượn ba chiếc thuyền câu tốt, mỗi thuyền đủ chở hai người, rồi chờ sự điều khiển của tôi. Tôi nhờ bà cụ Tắc (cơ sở của trạm) lên Hoàng Xá, báo đồng chí Thọ và tổ giao liên ở đó mượn một chiếc thuyền cỡ vừa và tốt, khoảng bảy giờ tối chờ sẵn ở dưới cây đa “ông Đán” và theo dõi hoạt động địch ở khu vực đó. Gần tối, tôi ngồi khuất dưới bụi tre đầu làng Mai Lĩnh quan sát, thấy một bọn địch, như mọi khi, từ đồn Cầu Ghéo lên thôn Yên Việt, không tên nào ở lại đoạn đường gần đồn. Tôi liền cử hai đồng chí nam đưa một thuyền câu lên gần đường 21, giấu thuyền vào bụi niễng rậm rạp, rồi lên bám đường. Mỗi người bám một điểm ở hai đầu đoạn đường mà ta sẽ vượt, nếu an toàn thì phát tín hiệu. Tôi và đồng chí Tạo, mỗi người đưa một thuyền câu tới gốc đa chùa Mai Lĩnh. Anh Ngạn và đồng chí bảo vệ đã chờ tại đó. Thuyện của Tạo chở đồng chí bảo vệ đi trước một đoạn. Thuyền tôi chở anh Ngạn đi sau. Thấy hai đồng chí bám đường 21 phát tín hiệu an toàn, thuyền Tạo nhanh chóng bơi áp sát vệ đường. Tạo và đồng chí bảo vệ khiêng thuyền qua đường thả xuống đồng nước bên kia. Vừa lúc ấy, thuyền tôi chở anh Ngạn áp vệ đường. Tôi vội vã khom lưng cõng thuyền. Anh Ngạn bảo: “khiêng cho nhẹ”. Rồi anh cùng tôi khiêng thuyền qua đường, thả xuống đồng nước bên kia… Hai con thuyền ra sức bơi nhằm hướng thôn Hoàng Xá. Tới cây đa “ông Đán” thì nhóm đồng chí Thọ đã sẵn sàng chờ. Tôi mời anh Ngạn lên chiếc thuyền cỡ vừa cho nhóm giao liên chở đi. Tôi và Thọ bơi thuyền câu bảo vê. Sau vài giờ thuyền đi trong đêm mờ, trên cánh đồng chiêm trũng, tới trạm Đôn Thu (Bình Lục) là chín giờ tối. Anh em đón “khách” vào trạm. Anh Ngạn hài lòng về chuyến vượt đường mạo hiểm nhưng thành công, anh bảo đồng chí bảo vệ chi tiền cho nhóm chúng tôi mua một con vịt nấu cháo bồi dưỡng. Anh thân mật chuyện trò với chúng tôi, động viên làm tốt “nhiệm vụ bảo vệ đường dây là bảo vệ mạch máu của kháng chiến”. Anh ghi vào sổ tay của tôi dòng kỉ niệm: “Một trạm trưởng mưu trí, táo bạo và dũng cảm!”. Anh em đường dây chúng tôi đón đưa không ít đồng chí lãnh đạo khu, tỉnh qua lại. Trong số đó, anh Ngạn qua lại nhiều hơn. Dẫu anh cải trang mỗi lúc một khác, chúng tôi vẫn nhớ từng cử chỉ, giọng nói, quyết tâm cao của anh: tích cực tìm lối để qua, bao vây giặc để vượt sông, thông bến”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2009, 08:03:23 am CHUẢN BỊ ĐÓN ĐẠI DOÀN 320 Cuối năm 1951, sau các trận càn “Trái Quít”, “Trái Chanh”, Bộ tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương tuyên bố: “Quân Pháp đã nắm ưu thế về quân sự ở đồng bằng Bắc Bộ…”. Từ nhận định đó, chúng mở cuộc càn “Cây Sen” (Lôtuýt) đánh lên thị xã Hòa Bình. Tường Đờ Lát đờ Tátxinhi dúng sáu GM bộ binh, cùng một số tiểu đoàn công binh, cơ giới với nhiều đại bác, máy bay phối chiến. Y mong nhử quân chủ lực ta từ các căn cứ ra đó để diệt. Chiếm được Hòa Bình, Pháp sẽ nối lại được hành làng Đông - Tây, chia cắt vùng tự do Việt Bắc với các Liên khu III, IV, nắm quyền chủ động ở chiến trường Bắc Bộ. Để chống lại âm mưu đó, Bộ tổng tư lệnh ra quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, đánh dịch khi chúng tự dẫn thân đến. Đồng thòi mở đợt hoạt động mạnh ở đồng bằng để phối hợp với chiến trường chính. Bộ chỉ huy Mặt trận Đồng Bằng thành lập, gồm các ủy viên thường vụ Liên khu ủy III và tư lệnh kiêm chính ủy Đại đoàn 320. Các lực lượng thuộc Mặt trận gồm Đại đoàn 320, Trung đoàn 42, Trung đoàn 46 và bộ đội các tỉnh thuộc liên khu. Các lực lượng ở Hữu Ngạn sông Hồng có nhiệm vụ đánh mạnh tại chỗ. Đại đoàn 320 vượt sông Hồng sang Thái Bình, cùng các lực lượng vũ trang trong vùng hoạt động mạnh ở Tả Ngạn. Bộ chỉ huy Mặt trận 5 họp với sự chỉ đạo của đồng chí bí thư Ban Cán sự Tả Ngạn. Đồng chí vừa dự hội nghị Liên khu ủy III về truyền đạt nghị quyết. Đồng chí nói: - Bộ tổng tư lệnh quyết định đánh giam chân địch ở Hòa Bình, tạo điều kiện cho vùng khác hoạt động mạnh. Cho Đại đoàn 320 vào Tả - Hữu Ngạn sông Hồng. Vùng này địch đang sơ hở và yếu, do phải dồn quân cơ động lên Hòa Bình. Đại đội vào sẽ là quả đấm thép đánh địch những đòn nặng. Anh em sẽ cùng các lực lượng xoay chuyển tình thế có lợi cho ta. Đại đội 320 là lực lượng tinh nhuệ, được huấn luyện và trang bị tốt, nhiều thử thách, nhưng vào vùng địch hậu nó có khó khăn: lạ đất, lạ người, lạ mọi thứ; chưa quen chiến đấu ở một chiến trường mà địch và ta ở cài răng lược; ta không thể có hậu phương rõ rệt. Địch sẽ tập trung lực lượng mạnh để chống đối quyết liệt với đội quân đã từng luồn sâu vào sau ưng địch, đánh thắng ở Phát Diệm, Kim Sơn, thắng cả quân sự và chính trị nơi có nhiều đồng bào Thiên chúa giáo. Gần đây, phối hợp với chiến dịch Hòa Bình, anh em diệt bốn tiểu đoàn, hai phần ba là quân Âu - Phi, thu vũ khí trang bị cho bảy tiểu đoàn địa phương. Liên khu ta chung niềm tự hào, vì đã góp Trung đoàn 64 làm nòng cốt xây dựng Đại đoàn cách đây chưa đầy một năm. Đội quân mới gần một tuổi đã tham gia ba chiến dịch, trưởng thành nhanh chóng như vậy, vào Tả Ngạn sẽ gây hiểm họa cho địch. Nhiệm vụ chúng ta là bằng mọi cách, tạo điều kiện để anh em khắc phục nhược đểm khi vào khu ta. Phải coi anh em là vốn quý của kháng chiến, phải bảo vệ Đại đoàn 320; phải giữ bí mật, phòng gián, phòng gian, phòng càn, phòng phi pháo… Việc đầu tiên phải làm ngay là chuẩn bị thuyền đò, bến bãi đón anh em qua sông Hồng! Ngừng một lát, ngắm những vẻ mặt đầy phấn chấn của anh em dự họp, anh nói tiếp những điều như đã thuộc lòng: - Hồi đầu kháng chiến, nhiều thuyền to đã chở đá đánh đắm để cản lòng sông, ngăn tàu địch. Nay chỉ còn thuyền vừa và nhỏ, vận động chủ thuyền cho mượn, có biên nhận để họ yên tâm. Lâu nay thuyền đó ít được dùng, phần nhiều cũ rão, rò rỉ, phải gấp rút tìm thợ hàn và sơn sảm lại. Không còn thì giờ để đóng thuyền mới; muốn đóng cũng không có gỗ. Vận động một số người lái và chân sào có kinh nghiệm nhận nhiệm vụ thủy thủ. Kiện toàn giao thông liên lạc, dẫn bộ đội qua sông và vào các cơ sở trú quân. Rà soát lại các đường dây, bến đò, chọn những nơi tối nhất để anh em sang. Phải phân bến chính, bến phụ, bến dự phòng; tắc bến này sang bến kia. Cố gắng chọn mấy chiếc thuyền tốt để chở pháo, nếu đắm thì mất cả chì lẫn chài. Lập đội dân công hảo tuyến, giúp bộ đội chuyển tải súng đạn, đào hầm hố. Chính quyền, mặt trận, Thanh Nông Công Phụ phải lập kế hoạch phục vụ. Lập Ban Chuẩn bị chiến trường chuyên trách việc lớn này; làm khẩn trương, bí mật, đạt hiệu quả cao. Các đồng chí trong Bộ chỉ huy hối hả ghi nhanh, ghi tắt. Đồng chí bí thư nói tiếp: - Thời gian qua Đại đoàn hoạt động ở Ninh Bình, có căn cứ địa là vùng tự do Thanh Hóa. Đánh địch xong rồi ra đó nghỉ ngơi an toàn. Nay vào vùng địch hậu, ở xen kẽ với đồn địch, làng tề, sẽ rất nhiều khó khăn. Đồng bằng nhiều sông ngòi, qua lại đò thuyền cách trở. Phải giúp đỡ anh em cả về tinh thần tư tưởng và điều kiện vật chất, để họ quen dần với chiến trường mới… Ta có Trung đoàn 42, nay thêm mấy trung đoàn nữa, phải lo cho anh em gấp bốn, năm lần! Anh giơ ngón tay gõ nhịp vào không khí và nói như đếm từng việc: - Lương thực. Thuốc men, thương binh, tử sĩ. Dân công phục vụ. liên lạc dẫn đường. Tân binh bổ sung. Đạn dược, cuốc xẻng. Giáo dục tinh thần đoàn kết giữa đồng bào và bộ đội, vân vân và vân vân… Chúng ta phải đi sâu, nghĩ rộng, nhìn tận mắt, bắt tận tay, giải đáp mọi yêu cầu mới nảy sinh. Đúng không các đồng chí? Rồi đồng chí nói nhỏ: - Hướng của anh em là từ Nam Định, Hà Nam sang Thái Bình. Cần trực tiếp truyền đạt nhiệm vụ cho tỉnh ủy, tỉnh đội Thái Bình. Chúng ta vừa chỉ đạo các đơn vị, địa phương vùng bắc sông Luộc đánh địch, vừa chỉ đạo cho vùng nam sông Luộc làm thật tốt nhiệm vụ đón quân về! Những ngày này, quân dân Tả Ngạn vừa đánh địch tại chỗ vừa mong ngóng tin tức chiến trường Hòa Bình, rất ít người biết có việc đón bộ đội qua sông Hồng. Cán bộ cơ quan Mặt trận 5 và tỉnh ủy, tỉnh đội Thái Bình được giao nhiệm vụ bí mật. Ai biết việc nấy, vội vã, lặng lẽ và phấn khởi, làm ngay làm đêm, bất chấp mưa dầm, gió bấc… Thế rồi đêm 17 rạng ngày 18-1-1952, một bộ phận của Đại đoàn gồm cả cơ quan chỉ huy, vượt sông Hồng sang Thái Bình. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:28:39 pm GM 4 CHẶN ĐƯỜNG, NGĂN BẾN Cơ quan đại đoàn ở làng Kiến Xá (huyện Thư Trì). Anh Ngạn gặp anh Dũng, tay bắt mặt mừng. Điều đầu tiên anh Dũng tỏ ra băn khoăn lo lắng là còn cánh quân thứ hai, gồm cả pháo binh, chưa sang sông được. Bởi cuối tháng 12-1951 vừa qua, địch dò biết có một bộ phận của Đại đoàn 320 từ Ninh Bình vượt sông Đáy sang hai huyện Nghĩa Hưng, Nam Trực (Nam Định). Anh em đánh tiêu hao nặng hai đồn Phù Sa, Hải Lạng, khiến quân đồn Liễu Đề gần đó bỏ vũ khí rút chạy. Tiếp đó ta đánh các đồn Nam Trực, Ngọc Tỉnh. Bộ đội chủ lực vào gây thanh thế, các lực lượng vũ trang huyện, xã cùng nhân dân nổi lên, nhất loạt phá tề ở vùng trung huyện Nghĩa Hưng. Hình thành khu du kích liên hoàn ba huyện Nam Trực - Trực Ninh - Nghĩa Hưng. Các huyện Hải Hậu, Giao Thủy cũng phá hàng loạt tề dõng, thu vũ khí, mở khu du kích nhỏ. Thế là địch vội vã rút GM 4 từ chiến trường Hòa Bình về ngăn chặn quân ta. Ta kịp thời phân tán từng tiểu đoàn, hoạt động từng khu vực, chống càn, phá ngăn chặn, tiếp tục mở đường tiến sâu vào phia sông Hồng. Ngày 4-1-1952, Tiểu đoàn 884 (thuộc Trung đoàn 48) và một bộ phận của tiểu đoàn pháo binh 834, trú quân ở làng Tiên Yên (Ninh Bình) trong khoảng giữa ba đồn địch. GM 4 cùng quân ứng chiến địa phương, gồm tám tiểu đoàn có phi pháo, tàu chiến phối hợp, vây đánh làng Tiên Yên. Quân ta có trung đội bộ đội tỉnh và du kích xã phối chiến. Gần một ngày, ta đẩy lùi gần chục đợt xung phong của địch có xe bọc sắt yểm hộ. Gần 200 tên địch bị diệt và bắt sống, có cả quan hai, quan ba Pháp; hai xe bọc sắt và hai tiểu đoàn 37 li bị phá. Ta thu hơn trăm khẩu trung, đại liên, súng trường. Tiểu đoàn 884 được tặng danh hiệu “Tiên Yên”. Từ ngày 5 đến 8-1, Trung đoàn 52 vượt sông Đáy đánh địch hai trận ở Liễu Đề, Tam Hòa. Và trận Đỗ Xá, ta bắt 39 hạ sĩ quan Pháp. Ngày 14-1, Tiểu đoàn 337 (thuộc Trung đoàn 48) vây địch ở Đông Biên (Hải Hậu). GM 4 cho một đại đội Âu - Phi tới cứu. Quân ta ém ở làng Kiên Trung, diệt gọn địch, phá năm xe tải, thu 62 đại, trung, tiểu liên, súng trường. tiểu đoàn này được tặng danh hiệu “Kiên Trung”. Nửa tháng, vừa chống GM 4 vừa đánh đồn địch, phá 80 ban tề, mở đường đến bờ sông Hồng, mới có một cánh quân sang Tả Ngạn. còn một cánh nữa bị chặn lại. Anh Ngạn chung niềm tự hào về chiến công mở đường vào vùng địch hậu của Đại đoàn 320, vừa chung nỗi lo với các đồng chí chỉ huy Đại đoàn. Anh nghĩ cách đón cánh quân đang ở bên kia. Đúng lúc đó có tin: trinh sát viên từ bên kia sông sang! Anh Văn Tiến Dũng cho vào ngay. Nguyễn Văn Hán, người trinh sát dũng cảm, áo vải quần cộc, luồn lách giữa khoảng cách hai ca nô địch, bơi sông rồi chạy chân tới đây, báo cáo: - Địch tuần tra ráo riết và bám sát bến sông, bộ đội chưa sang được. Anh Ngạn cũng nghe, ngẫm nghĩ một lúc ròi nói: - Thằng địch vốn có cái tính con lừa, ưa nặng không ưa nhẹ. Phải quất một đòn đau để nó bước. Tức là phải đánh để lấy đường đi! Anh Dũng nghĩ nhiều về câu nói đó. Qua hội ý nhanh, các đồng chí tư lệnh nhất trí ra mệnh lệnh: “Địch đã phát giác được ta, địch hãm không cho ta sang được là địch thắng. Phải tích cực mở đường mà sang. Nếu cần, đánh một vài trận phục kích làm lạc hướng, để địch tưởng ta hoạt động cả bên Nam Định, rồi lợi dụng sơ hở của địch mà vượt sông”. Quyết định còn giao cho trung đoàn trưởng Bùi Sinh làm chỉ huy trưởng lực lượng còn ở Nam Định, cùng Ban chỉ huy thi hành mệnh lệnh này. Anh Ngạn cũng viết một lá thư ngắn thăm anh em bên đó và nói kinh nghiệm hoạt động ở vùng địch hậu là chỉ có đánh nó thật manh thì mới đi được! Người trinh sát cấp tốc mang lệnh và thư vượt sông Hồng. Hôm ấy, anh Dũng và anh Ngạn sơ bộ đề ra mấy việc cần làm ngay trong khi còn chờ thành lập Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn. Mấy việc đó là: - Cho bộ phận sang trước chiến đấu ở Thái Bình, tranh thủ thời cơ đánh ào ạt từ đầu; hỗ trợ các lực lượng vũ trang địa phương bao vây, bức rút hoặc đánh các đồn nhỏ. Một số tiểu đoàn có khả năng công đồn lớn, sẵn sàng chuẩn bị đánh khi có pháo binh sang phối hợp… Các lực lượng Tả Ngạn đẩy mạnh hoạt động tại chỗ, với sự sắp xếp lực lượng theo tình hình mới; Trung đoàn 42 phối hợp với Trung đoàn 174 (thuộc Đại đoàn 316) đánh địch ở Hưng Yên, Hải Dương. Các lực lượng vũ trang Thái Bình phối hợp chiến đấu với bộ đội 320. Hưởng ứng chủ trương của Liên khu Ủy III: phát động toàn liên khu phối hợp với chiến trường chính, thi đua tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố cơ sở kháng chiến, tranh thủ nhân dân, phá ngụy quân, ngụy quyền… Bộ chỉ huy Mặt trận 5 cụ thể hóa: phá âm mưu bình định của địch ở các vùng bị chiếm sau trận càn “Trái Chanh”, “Trái Quýt”; khắc phục các khu du kích và căn cứ du kích ở Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, nhất là căn cứ Tiên - Duyên - Hưng… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:29:30 pm TẢ NGẠN, HỮU NGẠN HỢP ĐỒNG CHIẾN ĐẤU Lúc này, vui mừng trước thắng lợi của cánh quân thứ hai vượt sông sang Thái Bình, các đồng chí trong Đảng ủy Đại đoàn 320 cùng các đồng chí trong Ban Cán sự Tả Ngạn và Bộ chỉ huy Mặt trận 5, gấp rút tới làng Kình Nhuế (bắc huyện Kiến Xương). Nơi đây trong tầm pháo địch, nằm giữa hai hệ thống đồn bốt ven sông Trà Lý và đường 39. Địch có thể bất thần bắn pháo hoặc càn quet. Các anh họp nghe truyền đạt nghị quyết của Liên khu ủy III về việc thành lập Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn, gồm các đồng chí Đỗ Mười, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Khai, Dương Hữu Miên. Đảng ủy có nhiệm vụ chỉ đạo bộ đội chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu trên địa bàn Tả Ngạn, đồng thời phối chiến với quân dân Hữu Ngạn sông Hồng. Sau khi nhận định tình hình, Đảng ủy quyết định chọn hướng hoạt động qua ba bước. Bước một, mở rộng căn cứ khu nam sông Trà Lý. Bước hai, phát triển lên các huyện Tiên - Duyên - Hưng - Quỳnh (Thái Bình). Bước ba, có thể chuyển sang Phù Cừ, Tiên Lữ (Hưng Yên) và nam Thanh Miện, bắc Ninh Giang (Hải Dương). Đảng ủy chủ trương dùng toàn bộ lực lượng nhằm chỗ yếu của địch, đánh thật mạnh, đánh liên thục theo nhiệm vụ do Liên khu ủy đề ra. Đảng ủy còn chỉ rõ phương châm tác chiến cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Sau hội nghị trên, Đảng ủy Mặt trận chủ trương chỉ đạo trận công kiên đầu tiên, đảm bảo chắc thắng đổi với đồn tiểu khu quân sự La Cao. Anh Ngạn hiểu đồn La Cao là nơi chỉ huy 19 đồn phụ cận khu vực đường 39. Đồn này do một đại đội quân Liên hiệp Pháp đóng giữ, làm một “điểm cứng”, khó đánh. Anh về gặp đơn vị bao vây đồn để kiểm tra thực tế. Đồng chí chỉ huy đơn vị báo cáo: - Đồn trưởng La Cao là quan hai Vôrét “mặt ngựa” rất gian ác. Đeo súng ngắn ra đường, y bắn thử vào bất cứ ai mà y gặp đầu tiên. Không gặp ai trên đường thì hắn bắn người nhổ mạ, cấy lúa dưới ruộng. Bắc chết một người, y hất hảm thản nhiên hỏi lính: Xem quan bắn giỏi không? Đồn này có lô cốt boongke để ẩn nấp khi chiến đấu; có hầm ngầm kiên cố để liên lạc giữa các lô cốt hoặc rút theo cửa bí mật sang đồn khác. La Cao bị diệt thì rung chuyển các đồn xung quanh. Bộ đội huyện và du kích xã vây đồn đã gần một tháng, địch phải cho máy bay tiếp tế. Trưởng đồn Vôrét ngoan cố, giữ đồn, chờ quân thị xã về giải vây. Chờ không thấy, nó bảo: - Quân GM sẽ về! Anh Ngạn thấy tên trưởng đồn này nham hiểm, nhưng quân ta chưa nắm đầy đủ địch tình. Anh hỏi: - Từ hôm quân ta đánh mạnh vào Tiền Hải, Kiến Xương, bọn lính ở đồn này có phản ứng ra sao? Từ khi ta vây đồn, tư tưởng chúng có biểu hiện gì? Nắm tình hình địch không thể chỉ nhìn qua tên chỉ huy gian ác. Nó bưng bít tin tức bên ngoài, khiến lính lờ mờ. Nó làm cho lính mù quáng, chờ quân Giem cứu viện… Các đồng chí cần đưa truyền đơn vào để bọn lính hiểu chiến thắng ccủa ta ở Hòa Bình, và ở ngay vùng này, từ đó mà nhụt chí, giảm ngoan cố, bớt chống đối, đồng thời cô lập trưởng đồn với lính. Trước đây, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đánh giặc cả bằng “tâm công”; nay ta đánh địch cả bằng địch vận, ngụy vận. Công sự của đồn này kiên cố, là đồn đầu tiên bị đánh bằng xung lực, cần có sự tăng cường của bộ đội, đảm bảo chắc thắng! Đúng không? Ban chỉ huy bao vây La Cao đề xuất việc làm bổ sung, được anh Ngạn nhất trí. Vào 29 tết Nhâm Thìn, bộ đội nới vây, cho ban tề làng Trình Phố cùng đội bảo an gánh gạo, khiêng lợn “để quan hai mừng xuân”. Cánh tề và bảo an này “xanh vỏ đỏ lòng” trà trộn với lính ngụy, nắm thêm tình hình, và bí mật đưa truyền đơn vào… Phương án đánh đồn được bổ sung hoành chỉnh hơn. Kết quả trinh sát điều tra đồn này được chuyển giao cho Tiểu đoàn Đống Đa (thuộc 320), đơn vị chủ công đồn này. Có sự phối hợp của một bộ phận của Tiểu đoàn pháo binh 834, Trung đoàn trưởng Lê Quân cùng các cán bộ tiểu đoàn đưa từng cán bộ trung đội đến nhận từng vị trí. Anh em bò sát và hàng rào, đo cự li cho súng cối… Tất cả đều khẩn trương và cẩn trọng, đảm bảo đánh thắng. Mồng hai tết, ta lại bao vây đồn. Máy bay địch ném bom phá vây. Anh Ngạn muốn cùng anh Dũng vào gần đồn địch quá sát trận đánh. Anh Dũng nói: - Anh chưa nên vào! Anh Ngạn phải nghe theo. Một giờ sáng ngày 31-1, quân ta khai hỏa. Sau nửa giờ, phá tung bốn hàng rào thép gai, đánh sập bốn lô cốt, chiếm hết dãy nhà hộp quanh đồn. Ta diệt hai trung đội và bắt một số. Bọn còn sót rút xuống hầm ngầm cố thủ. Hôm sau, bốn máy bay phóng pháo đến bắn phá, yểm hộ cho bọn này chạy sang đồn Trà Lý gần đó. Tám tên không dám chạy, mang súng ra hàng, có trưởng đồn Vôrét. Ngay sau đấy, thêm bố đồn phụ cận ra hàng hoặc rút chạy. Chiến thắng La Cao, nhân dân vui mừng hể hả, đòi giết tên Vôrét “mặt ngựa”. Bộ chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn khen ngợi các lực lượng chủ lực và địa phương tham gia trận đánh, lại còn khao thưởng. Trưởng ban Cung cấp Nguyễn Xuân Hàm và các đồng chí Kiến Xương đề nghị cho mổ bò. Anh Ngạn phẩy tay, dứt khoát: Để bò cày ruộng. Tây giết nhiều rồi, ta phải bảo vệ trâu, bò! Ta giết lợn. Được không? Anh em cười ồ và nhất trí. Tiếp đó, Bộ chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn quyết định đưa đại bộ phận quân chủ lực qua bắc sông Trà Lý đánh địch. Đảm bảo đánh thắng đồn tiểu khu Chợ Cổng ở Thái Ninh, và đồn tiểu khu Diêm Điền ở Thụy Anh… Anh Ngạn đề nghị sớm cho đánh đồn Đào Thành (Hưng Nhân), mở cống lấy nước để cấy hơn ba vạn mẫu lúa chiêm của ba huyện vùng đó. Anh nói: - Địch âm mưu làm mất trắng vụ lúa nhân khi đại hạn, khiến dân vùng này bị đói, ảnh hưởng xấu đến nguồn lương thực của cẩ tỉnh, cả khu. Phá được đồn Đào Thành sẽ đáp ứng lòng mong mỏi của đồng bào và phá âm ưu hiểm độc của địch, có ý nghĩa lớn cả về quân sự, chính trị và kinh tế… Bộ chỉ huy nhất trí: phải sớm đánh địch, mở cống Đào Thành. Đại đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 706 (thuộc Trung đoàn 64) vượt sông Hồng, từ Hà Nam sang, bí mật bất ngờ đánh đồn Đào Thành. Đây là nhưng chiến sĩ đã từng phân tán nhỏ, sống với đồng bào vùng này trong thời đen tối năm 1950, được bà con đùm bọc thương yêu. Nay anh em về đánh đồn, lấy nước tưới lúa cho đồng bào là nhiệm vụ và cũng là tình nghĩa. Tiểu đoàn Tiên Yên (thuộc Trung đoàn 48) phối hợp đánh quân cứu viện Đào Thành. Kết quả trinh sát điều tra của bộ đội, du kích địa phương được chuyển giao ngay cho bộ đội chủ lực. Tiểu đoàn 706 sang sông đêm trước, đêm sau đánh ngay. Đồn địch bị diệt. Tiểu đoàn Tiên Yên cũng thắng trong trận đánh quân cứu viện Đào Thành. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:30:13 pm TRƯỚC SÂN NHÀ, TRÒ CHUYỆN VỚI DÂN Chiến thắng Đào Thành làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ ta. Anh Ngạn phấn khởi bảo tôi; - Tối nay chú Nam mời bà con trong xóm đến đây trò chuyện! Từ khi vê vùng này, anh Ngạn thường có những tối gặp gỡ bà con cơ sở. Lúc đầu, anh chỉ ra hè nhà ngồi với ông chủ gia đình, tay cầm quạt mo phẩy muỗi, miệng hỏi chuyện làm ăn, cày cấy. Rồi ông chủ hỏi anh chuyện đánh giặc, phá tề… Anh thân mật giải đáp, dễ hiểu và vui. Chủ nhà rủ ba ông hàng xóm sang cùng nghe. Dần dần các ông, rồi các bà trong xuóm cùng đến nghe. Trại nhỏ dăm bảy nhà, xóm đông ba bốn chục hộ. Đó là những trại, những xóm thuộc các làng Dô, Dật, Hòa, Hú; Do, Bương, Tề, Gạo, tên gọi nôm na; những tên chữ: Đôn Nông, Trình Nguyên, Phương Quả… Những xã tên mới: Bắc Sơn, Dân chủ, Đông Đô… ở những nơi kín đáo đông dân hoặc ven đồng, ven sông thưa thoáng, thuộc bốn huyện Tiên - Duyên - Hưng - Quỳnh. Anh Ngạn thường trú ngụ trại này ba bốn ngày lại chuyển sang xóm khác, không nơi nào ở đến một tuần. Đi suốt lượt lại vòng trở về chỗ cũ là đã qua mấy tháng. Dân làng không biết anh làm việc gì, ở cấp nào, chỉ biết tên anh là Ngạn. Mới gặp anh, người ta có phần e dè, rằng đây là một ông to, có người bảo vệ, và vì vóc dáng người anh khác thường, da sạm nắng gió, vầng trán với những nếp nhăn suy tư. Thế nhưng chỉ một vài ngày sau khi anh đến, chủ nhà đã thấy trong cái vẻ nghiêm nghị cẩn trọng ấy là anh cán bộ đôn hậu, nhiều cảm thông với dân. Trò chuyện với từng người, anh hỏi những điều thiết thực: - Mùa này thu được mấy thùng thóc? - Cấy tô thì nhà giàu có giảm tô không? - Bà mẹ ốm có tiền mua thuốc không? Đã chữa thế nào? Chúng tôi mua chè tươi, nấu một nồi to, vị đậm. Tối nay không trăng. Treo chiếc đèn chai lên cọc đậu. Cạnh đó, nồi nước và dăm chiếc bát sành. Bà con rắc rơm xuống sân, ngồi xếp bằng, xụp xoạp húp nước nóng, chờ nghe nói chuyện. Anh Ngạn cĩng ngồi trên nắm rơm, nhìn thẳng vào bà con, giọng thân mật nói gọn và rõ. Rằng sau cái trận “Trái Quýt” năm ngoái, ba huyện Tiên - Duyên - Hưng đang là căn cứ du kích tụt xuống là vùng địch tạm chiếm. Không chịu bó tay, đồng bào ba huyện bí mật củng cố lại du kích; ra sức cấy lùa, trồng khoai để nuôi mình và đóng thuế nông nghiệp nuôi bộ đội. Nhờ vậy, bộ đội được ăn no chuẩn bị đánh giặc. Gần đây Trung ương cho mở chiến dịch Hòa Bình, kéo giặc đến gần vùng tự do mà đánh, tạo điều kiện cho ta nổi lên chống giặc ở đây và ở khắp tỉnh Thái Bình. Ba huyện ta trở lại là căn cứ du kích. Ở phía nam đường 10, có thêm hai huyện Thái Ninh, Tiền Hải, cùng phần lớn các huyện Thụy Anh, Kiến Xương, Vũ Tiên vốn bị địch chiếm trở thành căn cứ du kích… Hôm nay, bà con ta uống nước chè, mừng chiến thắng Hòa Bình, mừng chiến thắng của tỉnh ta… Anh càng nói càng sôi nổi, đầy phấn hứng. Anh vừa dứt lời, bà con vỗ tay ào ào. Anh nói tiếp cái chuyện bà con thấy trước mắt và vui mừng tột độ. Không tiện đứng khi bà con ngồi, anh vươn người về phía trước, hỏi: - Mấy hôm nay, cống Đào Thành mở, bà con ta đã tát nước vào ruộng, ải chưa? Nhiều tiếng trả lời: - Rồi ạ! - Có đủ mạ cấy không? - Đủ ạ! - Tạm xếp việc nhà, tất cả ra đồng, cấy kịp thời vụ, giành vụ chiêm thắng lợi, được không? - Được ạ! Anh vỗ tay, hoan nghênh, bà con vỗ theo. Có những tiếng cười vui, chan hòa… Anh vươn hơn nữa về phía trước, hỏi tiếp: - Bà con có biết, bộ đội, du kích đánh đồn Đào Thành thế nào không?… Tôi nói bà con nghe. Bộ đội và du kích địa phương ta từ lâu đã muốn đánh đồn nhưng chưa đủ sức. Cái đồn này to và vững lắm. Anh em vẫn lần mò vào sát đồn, điều tra đo đạc từng đường đi lối lại, ụ súng, hầm ngầm, để bây giờ đưa bộ đội chủ lực vào đánh đồn. Khi đánh thì ta dùng hai đơn vị. Một đã đứng chân ở đây, một phải vượt sông Hồng từ Hà Nam sang. Tàu chiến, ca nô giặc chạy dọc sông ngăn chặn, qua hai đêm anh em không sang được. Đêm thứ ba, khôn khéo tìm được cách vượt sông. Đêm thứ tư, nổ súng diệt đồn thắng lợi. Thật là dũng cảm tuyện vòi! Mọi người lại vỗ tay ào. - Còn dân vùng này góp phần đánh Đào Thành như thế nào? - Anh hỏi rồi giải đáp ngay: - Du kích góp phần như đã nói rồi nhá! Còn cán bộ xã, xóm, Quân Dân Chính Đảng, Thanh Nông Công Phụ, tỏa ra vận động nhân dân. Làm cáng tải thương; hạ cây gạo, xẻ làm quan tài, đánh giặc thì phải có thương vong. Các cụ già cùng phụ nữ chuẩn bị nước chè, nải chuối, quả cam, giúp thương binh, bộ đội. Nhiều nhà tự nguyện hiến cả bụi tre, làm thang cho bộ đội vượt rào thép gai; góp dây đay buộc gói bộc phá. Mấy anh nhà giàu vốn keo kiệt, trốn thuế, tránh giảm tô, cũng sai đầy tớ, con ở đem gà, gạo đến ủng hộ bộ đội… Như vậy là gì? Là toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Đúng không bà con? Mọi người đồng thanh: - Đúng ạ! Đến lúc này anh nhổm hắn lên nói cho ứng với tầm vóc của câu chuyện: - Đồn ĐàoThành có 200 tên giặc. Chúng dựa vào các lô cốt boongke xi măng cốt sắt, xả các cỡ đạn trên mặt đê, nơi bộ đội ta bò vào. Một số bị thương, anh em vẫn đem bộc phá xé hàng rào thép gai. Một mũi khác từ phía sau luồn vào chiếm lô cốt địch, cắm chốt giữa đồn, chia địch ra để đánh. Thấy không thể giữ được, giặc luồn hầm ngầm ra lô cốt, xây chìm ven sông Luộc. Chúng gọi đại bác dội trùm vào đồn để đánh quân ta. Ta hỏa tốc ra bao vây chúng ở nơi cố thủ ven sông. Mất Đào Thành là tan cả âm mưu làm ba vạn mẫu ruộng của ta mất mùa, dân ta đói khổ. Tiểu khu Tịnh Xuyên đưa một đại đội lính Âu - Phi đến cứu Đào Thành, đang đi thì bị ta phục đánh. Bảy xe tải và cả đại đội giặc ra ma. Ta đã kín nhiều cạnh nhưng vẫn còn hở phía sông, khiến địch cho tàu chiến ca nô áp mạn, để bọn lính cố thủ ở lô cốt ven sông rút chạy. Quân ta bấp chấp đại bác nổ quanh mình, đuổi đánh bọn chen nhau xuống tàu, diệt thêm 30 tên nữa. Như vậy là ta thắng giòn giã về quân sự. Còn thắng về kinh tế, bà con biết nào không?- Anh Ngạn tiếp: lớn lắm, lớn hơn cả đánh một đồn giặc. Do đó, bà con phải phát huy chiến thắng, ra sức cấy chiêm, trước mắt là giúp nhau chống đói tháng ba. Tiến tới gặt chiêm, làm mùa, phòng đói tháng tám. Bác Hồ dạy: Phải chống ba thứ giặc: giặc xâm lăng, giặc đói và giặc dốt, bà con nhớ không? Mọi người trả lời: “Nhớ ạ!” rồi hể hả vỗ tay. Anh Ngạn bưng bát nước nhưng chưa uống, hỏi bà con có ý kiến gì không? Mấy ông nông dân hỏi những điều thiết thực: - Người lầm lạc đi lính cho giặc, nay nghèo túng có được cấp ruộng không? - Ruộng xấu, khó làm, tốn công, có được giảm nhiều tô không? - Kháng chiến đã sang giai đoạn tổng phản công chưa?, v.v. Anh Ngạn lần lượt giải đáp gọn gàng dễ hiểu. Qua những buổi chuyện trò, nhân dân thêm mến anh và thêm thiện cảm với chúng tôi. Mọi người ra về. Trong đám đàn ông có giọng hát chèo khá bổng: Quân ta một trận tung hoành Đồn Tây gục xuống, cống Đào Thành mở ra. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:30:59 pm CÂU CHUYỆN CỦA HAI VỊ TƯỚNG An Văn Tiến Dũng mở tấm bản đồ tỉnh Thái Bình ra xem: 72 điểm đỏ do anh chấm vào để nhận rõ các đồn bốt địch vừa bị tiêu diệt và bức rút từ khi Đại đoàn 320 sang đây. Anh đã tin nhưng vẫn cảm thấy bất ngờ trước chiến công mới này. Hoạt động cách mạng từ năm 1936 tại quê nhà Hà Nam, anh bị địch bắt giam ở nhà tù Sơn La. Cách mạng thành công, anh công tác trong Thường vụ Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ, rồi làm tư lệnh kiêm chính ủy Đại đội 320. Từ ngày Đại đội ra đời đến nay, đây là đợt chiến đấu thắng lợi giòn giã nhất. Đến lúc này, anh Ngạn sang gặp anh Dũng. Anh vừa hoan nghênh vừa cảm ơn chiến công của Đại đoàn từ ngày sang Tả Ngạn, và cảm ơn chiến công xuất sắc ở Đào Thành. Anh Dũng cũng rất vui. Dưới ánh đèn dầu không đủ sáng, các anh kể lại cùng nhau những chuyện lớn lao. Nhận lệnh đưa phần lớn Đại đội vào Tả Ngạn, các đồng chí trong Đảng ủy phấn khởi trước nhiệm vụ quan trọng: biến hậu tuyến của địch thành tiền phương của ta, góp phần đưa cuộc kháng chiến lên những bước mới. Song các đồng chí cũng chung một nỗi lo: xa vùng căn cứ tự do hàng trăm cây số, đến một vùng đồng bằng không rừng che núi đỡ, đồng ruộng trống trơn, lắm sông nhiều lạch. Mấy nghìn người hành quân sao cho lọt giữa hàng ngàn đồn bốt và làng tề. Lấy thuyền đò đâu cho cả Đại đoàn vượt sông Đáy, sông Hồng vừa sâu vừa rộng. Tàng hình biến tướng thế nào để trú quân chỉ cách đồn địch vài ba cây số. Khi quân Giem càn, mình làm sao đủ hầm bí mật để ẩn nấp. Và máy bay, đại bác địch làm mưa làm bão trên đầu… Nỗi lo của Đảng ủy và cũng là nỗi lo của cán bộ, chiến sĩ. Phải giáo dục cho anh em thông suốt tầm quan trọng của nhiệm vụ mới và nhận rõ thời cơ tiêu diệt địch, nâng cao ý chí tiến công… Nêu gương Trung đoàn 64 đã từng lặn lộn ở địch hâu, nay là đơn vị sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó của Đại đoàn. Rút kinh nghiệm của Trung đoàn 42 liên tục bám sâu ở vùng Tà Ngạn, đã vượt mọi gian nguy và đánh giỏi. Đồng bào Tả Ngạn từng chịu đựng bao đau thương đang ngày đêm mong chờ bộ đội về đánh giặc trả thù. Dân là lực lượng hùng hậu vô cùng vô tận, sẽ giúp đỡ che chở bộ đội… Giữa lúc bề bộn lo lắng thì nhận được điện của anh Ngạn: “Ở Tả Ngạn, địch rỗng lắm, đề nghị Đại đoàn vào và cần vào ngay. Rất hoan nghênh, sẵn sàng đón”. Lời điện của anh em đang đứng vững và đánh mạnh ở Tả Ngạn như hàng triệu cánh tay vẫy gọi, đón chờ, đã thêm sức động viên tinh thần, nâng cao quyết tâm. Mặt khác, tin ta đánh mạnh, ghìm chân địch ở chiến trường Hòa Bình cũng tăng nguồn cổ vũ, anh em thêm quả cảm dùng lực dùng mưu, lừa địch từng miếng, đánh địch từng chặng để mở đường đi. Anh em Đại đoàn phần nhiều quê ở Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… ngày đi đêm nghỉ, qua hai tỉnh, năm huyện, vượt đường 21, đường 10. Qua sông Vạc, sông Đáy tới sông Hồng. Đặt chân lên bờ Tả Ngạn làm giảm hẳn nỗi lo và tăng thêm tin tưởng. Các đồng chí tỉnh ủy, tỉnh đội Thái Bình: Nguyện Hữu Nghị, Lý Anh Nghĩa, Bùi Bhọ Ty, Lê Vinh (Dụng), Nguyễn Xuân Hàm, cùng nhiều đồng chí khác, đã hơn chục ngày đêm ra tận bến đò, đón bộ đội qua sông, quên vất vả mệt nhọc. Các huyện Vũ Tiên, Kiến Xương chuyển thóc thế nông cho nhân dân xay giã, tự bảo quản gạo, chờ cấp cho bộ đội. Từng nhà, từng nhà cắt cỏ phơi khô làm chất đốt; dành những luống bắp cải, xu hào và trồng thêm rau muống. Hội mẹ chiến sĩ thăm hỏi, động viên bộ đội. Hội phụ nữ lập tổ “Hỏa thực” lo việc cơm nước. Thanh niên đi dân công vận tải súng đạn, đào hầm giúp bộ đội và sẵn sàng tòng quân. Bộ đội tỉnh, huyện, du kích, quân bóa, trinh sát nắm tình hình đồn bốt, lập hình yếu địa chí, tạo địa bàn hoạt động, cùng bộ đội chủ lực kịp thời đánh giặc. Những việc ấy tốn nhiều tâm lực và thời gian, bộ đội mới tới không thể tự làm ngay, nhưng tất cả đã được chuẩn bị vượt sức tưởng tượng. Kháng chiến toàn dân, toàn diện được thực hiện ở đây với trình độ cao. Bộ đội lập được công là nhờ được sự phối hợp có tính toàn dân, toàn diện ấy… Nhớ lại chỉ hơn hai tháng, anh em Đại đoàn sang Thái Bình liên tục lập công, cùng bộ đội và du kích địa phương, diệt, bức rút, bức hàng 72 đồn giặc. Trung đoàn 48 phối hợp với Tiểu đoàn bộ đội Thái Bình, hoạt động mạnh ở nam Trà Lý, giải phóng các huyện Kiến Xương, Tiền Hải và phía nam huyện Vũ Thư. Bọn địch ở thị xã Thái Bình lo sợ. Tỉnh trưởng ngụy chạy lên trú thân ở Hà Nội. Trung đoàn 52 cùng một bộ phận của Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn pháo binh vượt sông Trà Lý. Tại Thái Bình, anh em đánh tiểu khu Chợ Cống, công sự kiên cố, diệt đồn, bắt một đại đội địch, thu pháo 105 li. Đồng bào phấn khởi sửa đường, cho trâu kéo pháo. Huyện Thái Ninh có hơn hai chục đồn, lúc này chỉ còn sót hai. .. Ở Thụy Anh, bộ đội cùng anh em địa phương bao vây hàng loạt đồn, kể cả đồn Diêm Điền, sở chỉ huy toàn huyện. Các đồn không liên lạc được với nhau, đứt đường tiếp tế, phải xin máy bay thả dù. Tiểu đoàn Tiên Yên (thuộc Trung đoàn 48) thọc lên Tiên Hưng, cùng du kích bức rút đồn Tạ Xá do một đại đội chiếm giữ, rồi tiến lên Hưng Nhân, cùng bộ đội du kích địa phương diệt, bức rút 10 đồn. Tiểu đoàn 706 (thuộc Trung đoàn 64) diệt đồn Đào Thành, mở cống lấy nước cấy hơn ba vạn mẫu lúa. Đồng bào Tiền Hải mít tinh ở đình Đông Hướng, cạnh đồn La Cao gian ác, mời đại diện Đại đoàn 320, Tiểu đoàn 38 bộ đội Thái Bình, đại đội huyện Tiền Hải cùng đại diện dân quân du kích các xã về dự, hoan nghênh chiến công các lực lượng vũ trang và mừng quê hương giải phóng. Văn công Đại đoàn giúp vui. Anh em hát đồng ca: Về đồng bằng khuất núi rừng xa Ta đã về đồng lúa vàng, lúa vàng giỡn sóng… Quân ta đã về! Quân ta đã về Diệt lũ Pháp, diệt quân ngụy, tề… Hai anh trò chuyện trong niềm hân hoan, phấn chấn. Với giọng sôi nổi, hào hứng, anh Ngạn nói: - Thế là các đồng chí từ xa đến và anh em tại đây đã gặp nhau trên một điểm: đề cao tinh thần trách nhiệm và quyết tâm chiến đấu. Tôi phấn khởi vì chúng ta đã thực hiện được kế hoạch đề ra: - Bước mốt, mở khu du kích nam Trà Lý, bước hai, phát triển lên bắc Trà Lý; còn bước ba nữa, chuyển sang Hưng Yên, Hải Dương… Việc không suôn sẻ. Thằng địch rất cay cú trước việc Đại đoàn 320 và Trung đoàn 174 và Tả Ngạn, làm cho thế trận ở đây bất lợi cho chúng. sớm muộn cúng cũng sẽ kéo quân về càn quét. Ta cần sẵn sàng đối phó. Anh Dũng nắm chặt tay anh Ngạn, biểu thị sự nhất trí hoàn toàn. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:31:50 pm ĐÁNH ĐỊCH ĐỒNG THỜI BẢO VỆ LỰC LƯỢNG TA Trong khi Đại đoàn 320 đánh địch ở thái Bình, Trung đoàn 174 (thuộc Đại đoàn 316) được lệnh từ phái bắc vượt đường 5 sang tăng cường phối chiến với các lực lượng vũ trang ở Hưng Yên, Hải Dương. Đơn vị này do trung đoàn trưởng Nguyễn Việt chỉ huy. Anh Việt quê ở Huế, là sinh viên gia nhập bộ đội, trưởng thành qua chiến đấu ở chiến trường Việt Bắc. Phần lớn chiến sĩ trung đoàn là người dân tộc thiểu số. Anh em chiến đấu trên địa bàn rừng núi khá giỏi, từng đánh trận đèo Bông Lau nổi tiếng trên đường số 4, diệt ngót trăm xe địch. Lúc này Trung đoàn đủ quân, đủ vũ khí, hơn nữa, mỗi chiến sĩ mang theo hai, ba cơ số đạn. Có hai khẩu đội sơn pháo 75 li đi theo. Thực hiện “đánh để đi”, trên đường hành tiến, anh em dùng pháo cối bắn phá ba đồn địch. Một tiểu đoàn vào huyện Khoái Châu (Hưng Yên), phối hợp với tiểu đoàn 664 (thuộc 42) và bộ đội huyện, du kích xã đánh địch, mở rộng khu du kích. Cùng lúc, Tiểu đoàn Lai Châu vào huyện Bình Giang (Hải Dương) đánh đich ở Cổ Bi, diệt 200 tên địch, phá một xe tăng, thu nhiều vũ khí; cùng bộ đội Hải Dương và huyện Bình Giang nhổ 18 đồn, bắt 300 tên địch, mở khu du kích năm xã. Một bộ phận qua sống Thái Bình vào Nam Sách diệt hai đồn. Cuối tháng 2-1952, một bộ phận của Trung đoàn diệt “điểm cứng” Vân Độ (Hải Dương) và đồn Nhật Lệ (Hưng Yên). Vân Độ có boongke, hầm ngầm, do một đại đội Liên hiệp Pháp đóng giữ. Ngày 10-3-1952, hai khẩu pháo 75 của Trung đoàn 174 phối hợp với Tiểu đoàn 648 (thuộc Trung đoàn 42), tiếp cận 50 mét, bắn thẳng vào đồn Hoành Bồ (Thanh Miện). Đồn này có hầm ngầm xi măng cốt sắt, nối liền giữa các ụ chiến đấu, do một đại đội Liên hiệp Pháp đóng giữ, được coi là khó đánh. Trận này, địch bị diệt một số, 72 tên chạy thoát. Trung đoàn 174 bố trí quân ở vùng Tam Thiên Mẫu (thuộc Phú Cứ, Ân Thi). Trước đó anh Miên đưa anh Việt đến gặp chính ủy khu Tả Ngạn, báo cáo và nhận nhiệm vụ. Chính ủy nắm chặt tay Việt và nói: Trung đoàn đồng chí được lệnh vào đây tăng cường lực lượng chiến đấu là rất hay. Thằng địch sẽ bị động khi có hai đơn vị chủ lực của Bộ tổng tiến vào Tả Ngạn từ hai phía nam và bắc. chúng ta có điều kiện đánh địch mạnh hơn. Nhưng cần thấy 174 vào đồng bằng địch hậu là chiến trường không quen, thung thổ lạ lẫm. Số đống chiến sĩ không thạo tiếng Kinh, khó trò chuyện với đồng bào địa phương, lại không quen làm công tác dân vận. Anh em cũng không quen chống càn, luồn càn trong tương quan địch mạnh hơn ta… Bộ tư lệnh khu phải thấy rõ nhược điểm của anh em, cử cán bộ tới bám Trung đoàn, phối hợp, tương trợ, hướng dẫn những điều cần biết khi ở địch hâu. Anh Nguyễn Sáng, tham mưu phó quân khu, được Bộ tư lệnh chỉ định đến chỉ huy sở Trung đoàn 174, họp ngay với cán bộ chủ chốt từ tiểu đoàn trở lên, phổ biến một số kinh nghiệm hoạt động ở địch hậu: - Đánh địch rồi rút vào trú quân ở các làng “liên hoàn chiến”; khi bị vây thì luồn ra ngoài vòng vây rồi tập kích vào sau lưng, cạnh sườn địch, v.v. An Sáng vốn thân quen với anh Việt từ trước, nay lại được giao làm nhiệm vụ bên nhau nên khá tâm đắc. Trong khi đó, ta nhận được tin của cơ sở ở Hải Dương kếu ra: địch biết Trung đoàn 174 đã vào Tả Ngạn. Chúng còn biết những điểm mạnh, điểm yếu của Trung đoàn. Cay cú trước một số hoạt động đầu tiên của 174, chúng cấp tốc huy động một GM từ đường 5 đánh tạt vào, cùng tám xe tăng và xe lội nước. Tám giờ sáng, chúng kéo vào vùng Tam Thiên Mẫu tìm Trung đoàn 174. Có lẽ chúng dè dặt trước một đơn vị mạnh, hoặc chúng chưa nắm được cách bố trí quân của ta rộng hẹp ra sao, nên không bao vây, “cất vó”. Có vẻ nặng về khoa trương thanh thế, khua động xau đuổi, thăm dò… Ttrung đoàn ta đặt chân trong một vùng tương đối rộng tạo thế chân kiềng, có thể liên hoàn hỗ trợ nhau khi lâm chiến. Lúc này địch tới. Đơn vị nào ở vào tình trạng tao ngộ thì đánh, còn thì bám các làng chiến đấu để phòng ngự hoặc đánh cầm cự. Có điều hay không hiểu vì sao, cả ngày hôm ấy địch không dùng máy bay, đại bác, có thể e quân chúng và quân ta cài răng lược. Anh Sáng cùng đi với Ban chỉ huy Trung đoàn, kịp thời nắm tình hình, cử liên lạc hảo tốc về Bộ tư lệnh khu báo cáo. Anh Miên lền sang gặp chính ủy. Cuộc hội ý khẩn cấp được mở ra. Anh Miên nói: - 320 và 174 vào Tả Ngạn góp sức tạo thế tiến công mạnh mẽ cho các lực lượng vũ trang khu ta. Tạo thế trận hiệp đồng nhiều lực lượng, trong ngoài cùng đánh, khiến địch phải bị động đối phó. Nay Trung đoàn 174 ở vào tinh trạng không thuận lợi, nhưng rút ngay e có ảnh hưởng đến tình thế chung đang phát triển tốt cho khu ta. Chính ủy nói: - Vậy nên thế nào? Anh Miên chưa kịp tìm ra phương kế để giải quyết tình huống này, chưa trả lời được. Thực tâm anh không muốn đưa quân vừa đến tăng cường hữu hiệu bỗng phải đi ngay. Chính ủy ngẫm nghĩ rồi nói: - Nếu là đơn vị không quá lạ về chiến trường, thung thổ, không khó khăn về ngôn ngữ bất đồng, dễ hòa cùng với dân, có thể chỉ đạo cho anh em luồn tránh và cơ động đánh địch. Song đây là một đơn vị có những nhược điểm như thế. Thư Bác Hồ gửi chiến sĩ, đồng bào vùng ta có câu: “Giỏi đánh địch đồng thời phải khéo tránh địch”. Đúng như thế, khéo tránh để rồi đánh giỏi hơn. Tình thế cụ thể ở đây, lúc này bất lợi nhiều cho 174. Cần điện gấp lên Bộ tổng tư lệnh xin cho 174 rút khỏi Tả Ngạn. Anh Miên ngẫm nghĩ thêm rồi nhất trí với ý kiến chính ủy. Sau khi được Bộ tổng tư lệnh đồng ý, chiều hôm ấy, Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn khẩn cấp ra chỉ thị cho Trung đoàn 174. Anh Việt từ ngạc nhiên đến băn khoăn, nói với anh Sáng: - Trung đoàn tôi vào Tả Ngạn chưa đánh chác được mấy, chiến công chưa đáng kể, rút ngay e cán bộ, chiến sĩ mất phấn khởi. Anh Sáng cũng thấy đột ngột, thấy tiếc một lực lượng có thể góp phần làm chuyển biến hơn tình hình bắc sông Luộc. Song anh vẫn nghiêm túc thuyết giải: - Giác độ của anh em là thế và có phần đúng. Nhưng nhãn quang của Bộ tư lệnh khu rộng hơn, nhận định về sức ta và sức địch, trong một chiến trường cụ thể, thấy rõ lợi hại, với độ tin cậy cao hơn, ta cần chấp hành chỉ thị này. Rồi ngay đêm ấy, anh Sáng gấp rút cho nhóm giao thông liên lạc dẫn đường, đưa Trung đoàn vuột đồng 5 lên phía bắc. Cuộc rút kha kịp thời, nhanh gọn. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:32:31 pm NGƯỜI BẢO VỆ KỂ CHUYỆN Tôi sang nơi anh Thứ sửa cửa hầm bí mật. Tôi bưng cái khung hình chữ nhật chụp thử vào đầu, kéo xuống hai vai lọt thỏm. Lúc này đang mùa mưa phùn gió bắc, hầm bí mật nơi cao, nơi trũng đều còn tốt, nhưng Thứ bảo” “Vẫn phải chuẩn bị cửa hầm dự phòng lưu động. Đang mùa chiến dịch, anh Ngạn khi thì ở bắc, khi thì ở nam. Có thể anh sang bên kia sông Luộc, tới đâu đều phải có hầm”. Tôi hiểu công việc của các đồng chí bảo vệ. Họ có biên chế một tiểu đội, do đồng chí Nguyễn Văn Lê, người ở Trực Nội (Đông Quan) phụ trách. Để tiết kiệm nhân lực, và do số anh em đang có là 12 người đủ đảm nhiệm công việc (bảo vệ, đào hầm hố, canh các, liên lạc, cấp dưỡng…) anh Ngạn khuyên cứ thế mà làm, để anh em khác đi chiến đấu. Anh Thứ vừa làm vừa ề à kể chuyện. Chuyện của anh nhằm làm vui người nghe. Nói chuyện thực nhưng có thêm chút râu ria, kiểu hề chèo, khiến người nghe thích thú mà không chê trách. Thứ kể: “Ở căn cứ Liên khu III người ta ít khi nhắc đến chuyện hầm bí mật. Căn cứ của mình bên này không có hầm là ăn không ngon, ngủ không yên… Ông Ngạn là ngừoi gan dạ, gan quá thành đại chủ quan, đại bác nổ quanh nhà, ông còn mở bàn đồ ra xem nó bắn từ đồn bốt nào. Cứ thế thì có ngày nó xài của ông một miếng mông hoặc cái cẳng… Chủ quan thế nhưng ông vẫn khách quan trong mọi việc khác, chung cũng như riêng. Chỉ kể cái chuyện ông tìm đố tượng lập lại gia đình. 34, 35 tuổi rồi chứ ít ỏi gì, lại vào cái cảnh “Đi bước nữa”, ông vẫn thận trọng khách quan, lắng nghe xem anh em cơ quan có ý kiến gì. Rồi ông tìm được đối tượng. Đó là chị Thanh, cán bộ văn phòng Liên khu ủy III, tính nết nhuần nhị, it nói, ít cười, thực lòng thương ông, được anh em ủng hộ, vun vào”. Thấy vui, tôi xen vào chuyện: - Rồi một chuyến sau đó, anh Ngạn đi họp liên khu, có tôi và đồng chí Triệu cùng đi. Anh quyết định khi về sẽ đón chị Thanh. Chúng tôi vào trại ông Lý Bá Sơ. Ông Sơ cho giết một con dê choai làm bữa liên hoa. Khi về Tả ngạn, anh Ngạn chính thức báo cáo với Ban Cán sự về việc hôn nhân của mình. Các đồng chí trong Ban hoan nghênh. Rồi tôi giúp anh làm giấy báo hỉ với bạn hữu. Anh xem giấy rồi nói: - Đây là tờ giá thú của chúng mình. Anh Thứ kể tiếp: “Rồi bà sang đây làm việc ở bộ phận Dân y. Ông bận rộng hàng núi công việc, chẳng bao giờ đến chỗ bà. Mấy tay văn nghệ dò dỏm được liền làm thơ: “Ông quân sự bà dân y. Mỗi người một chốn mấy khi chuyện trò”. Tôi cũng nghĩ vậy nhưng không biết làm thơ, nên chỉ biết trong bụng. Rồi anh Lê bàn với tôi: “Tìm một nhà nào không có tư tưởng phong kiến, không kiêng kị, để ông bà gặp nhau vài hôm, kẻo chay tịnh mãi’. Tôi nghĩ cũng phải. Đi tìm liền mấy nhà, toàn cán bộ, đảng viên cả. Hỏi chồng thì được, nhưng vợ không cho, sợ xúi quảy, không ăn nên, làm ra được. Sau tôi đến làng Bương, cậu chủ nhà thuyết phuc được vợ, cho trọ nhờ. Ở đấy được hai hôm ông phải đi họp Bộ tư lệnh, bà lủi thủi đi bộ về cơ sở Dân y, xa hơn chục cây số…”. Đồng chí Thứ chưa hết chuyện, anh Ngạn ở nhà bên đã gọi tôi. Tổi bảo Thứ: “Ông thật lắm chuyện, Để dành khi khác!”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:33:12 pm RÚT KHỎI HÒA BÌNH, GIẶC TRỞ LẠI ĐỒNG BẰNG Anh Ngạn sang làng bên cạnh. Tôi và anh Lê đi theo. Bộ chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn vừa chuyển sang cơ sở mới. Anh Miên thường trực. Anh báo cáo tổng quát tình hình chiến sự thời gian qua. Trong đợt hoạt động mạnh phối hợp với chiến dịch Hòa Bình, các lực lượng vũ trang ở Tả Ngạn đánh trên 500 trận lớn nhỏ, mở vùng căn cứ du kích liên tỉnh rộng lớn ở hai bên sông Luộc, khoảng 1.500 kilômét vuông và gần một triệu dân. Vào thời gian đó, quân Pháp ở Hòa Bình bị ta đánh quyết liệt. Tường Đờ Lát bỏ dở cuộc chiến về Pháp rồi ốm chết. Tướng Xalăng lên thay, phải cho quân rút khỏi Hòa Bình, tuy trước đó đã nói cứng “Quân Pháp không thể bỏ Hòa Bình!”. Rút khỏi Hòa Bình, địch sẻ trở lại đồng bằng, nhất la Tả Ngạn. Ban Bí thư Trung ương Dảng có ngay chỉ thị cho các địa phương: “Sẵn sàng chống mọi cuộc càn quét lớn,nhỏ mà bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra”. Bộ chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn đã kịp thời vạch kế hoạch đối phó với địch. Thời gian qua, GM 4 hì hục ở phía nam Nam Định, không chặn nổi hai chuyến vượt sông của Đại đoàn 320. Lúc này chúng bị tống sang Thái Bình. Nơi đầu tiên GM 4 đến là khu căn cứ du kích nam Trà Lý, mở cuộc càn “Mua Phùn” (Cờrasanh). Quan năm Tômagiô chỉ huy GM 4 ốm đau, nằm bệnh viện chưa khỏi đã phải ra lẽo đẽo theo quân. Chúng chia làm ba mũi đánh các làng Thượng Tầm, Thái Hòa, Tầm Phương (Đông Quan). Đại bác đặt trên đường 10 bắn dồn dập mở lối tiến quân. Tiểu đoàn Yên Ninh (thuộc 320) và du kích xã Thượng Phương đánh địch quyết liệt từ trưa đến chiều, diệt và bắt 144 tên lính Âu - Phi. Bọn còn lại phải rút vội về thị xã Thái Bình. Đồn Lương Đống gần đó hoang mang ra hàng. Để biện hộ cho trận thua to, Tômagiô bắt hội tề làng Tầm Phương chứng thực là quân của y đã đánh bật 4.000 Việt Minh. Tiếp đó, địch lại bổ sung một bộ phận của GM 7 cùng GM 4 càn các huện Thái Ninh, Thụy Anh. Hai tiểu đoàn Kiên Trung, Thanh Lũnng (thuộc 320) cùng bộ đội, du kích địa phương đánh địch quyết liệt ở các làng Ô Trình, Quảng Nạp, Hoành Sơn, Hạ Đồng (Thụy Anh) và Vị Dương, Vị Thủy (Thái Ninh). Chúng bị nhiều thiệt hại, mặc dù đã bắn hàng trăm phát đại bác mở đường. Qua năm ngày càn “Mưa Phùn”, không đạt mục đích, chúng phải rút. Thừa thắng, quân ta diệt đồn Trà Linh (Thụy Anh). Cùng lúc, ở Phụ Dực ta diệt ba đồn, hở huyện Duyện Hà hai đồn. Vào dịp này, Xalăng có kế hoạch “Tiêu diệt hoặc đẩy Sư đoàn 320 ra khỏi đồng bằng”. Y cho ba GM 1, 4, 7 có pháo binh cơ giới, máy bay phối chiến, do tướng Bécsu chỉ huy, mở trận càn “Lội Nước” (Amphibi) và khu căn cứ du kích Lý Nhân, Bình Lục (Hà Nam). Nhận chỉ thị của Bộ tổng tham mưu, trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền chỉ huy Trung đoàn 64, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương chống địch. Sau 10 ngày đầu tháng 3-1952, cuộc càn kết thúc, 500 tên địch chết và bị thương. Chúng phải rút hai đồn. Ta mở thêm được khu du kích Nhân Bình… Đến lúc này - anh Miên nhấn mạnh - địch có thể nhằm sang Thái Bình! Nghe xong, anh Ngạn triệu tập họp Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn. Đảng ủy xem xét tình hình, phán đoán âm mưu địch và nhận định: “… Địch sẽ tập trung lực lượng lớn để càn quét, nhưng dù cố gắng mấy cũng là hành động của kẻ đang gặp khó khăn, bị động… ta chống càn sẽ nhiều khó khăn nhưng trong thế đang lên, sau những chiến thắng liên tiếp, có những thuận lợi mới”. Đảng ủy đề ra ba nhiệm vụ khẩn cấp: - Củng cố các khu căn cứ du kích. - Khuếch trương chiến thắng và truyền đạt tình hình nhiệm vụ mới. - Tranh thủ thời gian củng cố bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, sẵn sàng chống càn quét lớn. Ngay sau đó, Đảng ủy cho số đông cán bộ về các tỉnh, huyện đôn đốc chuẩn bị chống càn. Tu sửa làng chiến đấu cho phù hợp với thực tế hiện nay; bỏ lũy cao, hào sâu, tránh đánh cố thủ đến cùng. Chuyển sang đánh liên hoàn, nhà nối nhà, xóm nói xóm, làng nối làng bằng hầm hào; tiến có thể đánh địch, thoái có thể bảo toàn lực lượng. Làm thật nhiều chông, mìn, đạp lôi, cạm bẫy, nhằm đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc. Trang bị thêm súng đạn cho du kích, đẩy kháng chiến toàn dân lên một bước. Liền đó, anh Văn Tiến Dũng và anh Ngạn sang Kiến Xương họp bộ chỉ huy Mặt trận Đồng Bằng. Cũng lúc này, địch mở trận càn lớn vào nam Thái Bình, mang tên “Thủy Ngân”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:33:47 pm CHỐNG TRẬN CÀN “THỦY NGÂN” Tướng Xalăng, tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, cùng tướng Đờ Linarét, chỉ huy quân đội Bắc Việt, điều khiển trận càn “Thủy Ngân” Mécquya). Vùng càn là các huyện Thái Bình, Kiến Xương, Tiền Hải và một phần huyện Thụy Anh, tức nửa tỉnh Thái Bình về phía biển, lấy đường 10 làm giới hạn vùng càn. Mục đích cuộc càn là diệt hoặc đẩy hai trung đoàn (thuộc 320) ra khỏi vùng này, “cất vó” cơ quan chỉ huy Đại đoàn. Đóng lại một số đồn bốt, củng cố lại vùng chiếm đóng vừa bị phá ruỗng; đánh phá vùng nam đường 10 để bảo vệ thị xã; bắt thanh niên đi lính, cướp phá kinh tế, diệt cơ sở kháng chiến… Lực lượng gồm 5 GM 1, 2, 3, 4, 7, bốn tiểu đoàn công binh và lính dù, 64 khẩu pháo, 500 xe cơ giới, 5 tàu chiến, 34 ca nô và hàng chục máy bay các loại… Mấy viên tướng Pháp tỏ ra tin lực lượng hùng mạnh của mình, hơn hẳn so với 20 cuộc càn từ trước đến nay ở đồng bằng Bắc Bộ, “Sẽ xóa sổ một sư đoàn Việt Minh”. Phái ta, Bộ tổng tư lệnh điện cho Đại đoàn 320 biết quy mô cuộc càn, vùng càn, hướng tiến của địch, để kịp thời đối phó. Tổng quân ủy cũng điện cho anh Ngạn và anh Dũng: tìm cách đưa 320 ra ngoài vòng càn, tiến lên phía bắc Thái Bình và sang Hưng Yên. Lúc này, Bộ chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn phần lớn ở trong vùng địch sắp càn. Các anh họp bàn cấp tốc, quyết định cho Tiểu đoàn Kiên Trung (thuộc Trung đoàn 48) cùng bộ đội địa phương và du kích chiến đấu, làm chậm bước tiến của địch từ Cầu Nghìn và sông Hóa tràn qua Thụy Anh vào Thái Ninh. Phần còn lại của Trung đoàn 48 ở Kiến Xương và Tiền Hải cùng cơ quan chỉ huy Đại đoàn. Trung đoàn 52 rời Thái Ninh, men theo bãi biển vòng lên bắc Thái Bình. Anh Dũng đặt sở chỉ huy ở Tiền Hải, theo dõi chỉ đạo hai trung đoàn kể trên. Anh Ngạn ở Thái Ninh, cùng cơ quan tỉnh ủy, tỉnh đội chỉ đạo bộ đội địa phương và du kích phối hợp với bộ đội chủ lực chống càn. Cử các tỉnh ủy viên xuống huyện chỉ đạo vào liên hệ mật thiết với sở chỉ huy Đại đoàn. Đội giao thông liên lạc rải khắp, nhằm nắm tình hình. Sáng 27-3-1952, địch dồn dập cho tàu chiến, ca nô rải dọc sông Hồng, sông Hóa và ven biển Thụy Anh, Tiền Hải, khuýp kín ba mặt của vùng càn. Tiếp đó là năm cánh quân từ các ngả: thị xã Thái Bình, đường 10, đường 39, đê sông Hồng, và từ đê sông Hóa - cửa biển Diêm Điền, tràn phần lớn qua huyện Thụy Anh, quây gọn ba huyện Thái Ninh, Kiến Xương, Thiền Hải. Từng đoàn máy bay nhào tới ném bom; các cum đại bác ở đất liền và trên tàu chiến ngoài biển bắn cấp tập vào những nơi nghi có quân ta. Bộ đội địa phương và du kích các xã có địch đi qua đã sẵn sàng chống càn và linh hoạt luồn càn. Các tiểu đoàn chủ lực (thuộc 320) ra sức thực hiện kế hoạch đã định. Tiểu đoàn Yên Ninh vượt lên phía bắc tỉnh, đánh sập hai nhịp cầu Nguyễn, khiến địch khó khăn trong hành quân. Một bộ phận của Tiểu đoàn Kiên Trung chặn đánh một đơn vị thuộc GM 3 ở làng Quang Lang (Thụy Anh), diệt gần hai trung đội, buộc chúng phải tạm khựng lại ở Diêm Điền. Khó khăn của bộ đội chủ lực là súng ống cồng kềnh, quân đông, đất lạ, mỗi tiểu đoàn có hàng nghìn đồng bào đi theo, nên luồn càn chậm. Vì thế anh em phải cùng du kích cất giấu sơn pháo rồi trực diện đánh những trận quyết liệt trong vòng càn với quân địch đông và mạnh hơn. Tiểu đoàn Tiên Yên nhân lệnh đánh địch trong vòng vây Kiến Xương, đã cho Đại đội 737 bám làng Dưỡng Thông cùng du kích chiến đấu. Sáng ngày 28-3, bốn máy bay hencát ném bom mở đường cho một tiểu đoàn Âu - Phi vây làng Dưỡng Thông. Địch mở ba đợt xung phong, đều bị ta chặn lại ven làng. Chúng xiết chặt vòng vây. Ta chờ trời tối vượt vây xuống phía nam đường 39. Trận này địch thương vong một đại đội. Ta 10 đồng chí hi sinh, tám bị thương. Chùng ngày 29-3, Tiểu đoàn Đống Đa (Trung đoàn 52) cùng bộ đội địa phương và du kích đánh địch tại các làng Thần Đầu, Thần Huống (Thái Ninh). Tiểu đoàn Thanh Lũng (Trung đoàn 52) đánh địch ở Tiền Hải, bảo vệ sở chỉ huy Đại đoàn tại làng Lưu Phương. Một bộ phận chủ lực ta từ Thái Ninh vòng ra sát mép biển, nhằm vượt sông Diêm luồn sang Thụy Anh, rồi tìm cách đánh vào sau lưng địch. GM 3 vừa từ Thụy Anh tràn sang hôm trước, đang chiếm giữ quốc lộ 39, nhằm ngăn đường tiến lui của quân ta. Nửa đêm, khi thủy triều rút, quân ta được du kích dẫn đường, luồn ngay bên cạnh nơi đóng quân của GM 3, vòng ra bãi biển tiến theo hướng sông Diêm. Một đoàn dân công khiêng thương binh đi theo, đói mệt, tiến chậm. gần sáng hôm sau, bộ đội mới tới địa phận các làng Bích Du, Vọng Hải. Thấy ta sa vào tình trạng bất lợi, trung đoàn trưởng Lê Quân cho bộ đội ngừng tiến, bám vào làng, chuẩn bị chiến đấu. Phía trước ta là đường 39, địch dễ dàng cơ động vây đánh. Phía sau ta là biển, tàu chiến địch có thể nã đại bác, và ca nô địch có thể đổ bộ vây ép từ phía sông Diêm. Thế rồi quân ta giữ bí mật được hơn nửa ngày. Chiều ngày 29-3, GM 3 mới biết Việt Minh giấu quân ngay cạnh nơi chúng đóng. Chúng liền tiến đánh các làng Bích Du, Vọng Hải. Ở Bích Du, ta có hai đại đội (thuộc Tiểu đoàn Kiên Trung) va một trung đội (thuộc Tiểu đoàn Đống Đa), cùng cơ quan chỉ huy Trung đoàn 48. Từng tốp máy bay thay nhau tới bắn phá, ném bom napan. Đại bác địch dồn dập bắn, xe có sùng sục mở đường cho quân bộ tiến vào làng. Địch bị quân ta ráo riết chặn lại. Qua bốn đợt tiến công, địch chiếm được tuyến phòng ngự ngoại vi. Quân ta quyết tâm chặn địch, không cho vào sâu hơn, khiến nhiều tên thương vong. Gần tối, địch dàn quân vây ba mặt làng; phía sau không dàn được, vì nước thủy triền lên ngập bãi, sát lũi tre làng. Với địa thế như vậy, chúng hi vọng sáng mai sẽ “cất vó” quân ta. Nhưng đêm xuống, thủy triều rút, bãi biển phía xa lộ ra một giải cát trắng dài, cách làng mấy trăm mét. Trong tiếng sóng vỗ ì ầm, bộ đội và dân công khiêng thương binh, êm gọn rút khỏi làng, theo giải cát tiến lên phía bắc, vượt sông Diêm sang Thụy Anh. Hôm sau, địch kéo vào làng, chỉ thấy vườn không nhà trống. Cùng ngày, Tiểu đoàn 391 (Trung đoàn 52) chống địch ở làng Vọng Hải. Ta và địch giặng co gần như ở Bích Du. Đêm xuống, lừa lúc địch mệt mỏi ngủ quân, anh em luồn ra sườn GM 7 sang huyện Đông Quân, ngoài vùng địch càn. Cùng thời điểm trên, các GM 1, 2, 4 tỏ ra có kinh nghiệm vây càn, đoán chừng quân ta ở đâu, chúng nhanh chóng quây gọn từng vùng nhỏ để “cất vó”. Chúng đặ nhiều tham vọng ở hai “rốn vó” La Cao, Trình Phố. Nhưng hình thành vòng vây xong, chỉ qua một đêm, chúng “cất vó” lên đều nhẹ xụp. Quân ta được du kích dẫn đường, linh hoạt êm nhẹ luồn tới điểm khác, không xa… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:40:35 pm NHIỆM VỤ TÔI Ở TẢ NGẠN, TÔI ĐỨNG CHÂN Ở TẢ NGẠN! Đêm 28-3, một bộ phận quân ta từ Tiền Hải luồn sang Thái Ninh để rồi vòng lên phía bắc tỉnh. Anh Ngạn và chúng tôi cùng đi với bộ phận này. Đêm, thủy triều xuống, du kích dẫn đường vòng ra xa bãi biển, tìm được giải cát nâu để đi. Nước ngập thắt lưng. Bộ đội 320 nhiều người lần đầu tiên lội biển, tỏ ra thích thú khi nước biển tóe lân tinh sáng như đom đóm. Anh em vừa lội vừa té nước vào lưng nhau. Vượt qua Trà Lý, bộ đội tiếp tục tiến lên phía cửa sông Diêm. Anh Ngạn và chúng tôi rẽ vào làng Chỉ Thiện, cơ quan tỉnh ủy Thái Bình đóng ở đây. Anh em cán bộ cơ quan và các huyện chỉ đạo chống càn. Đồng chí Lý Anh Nghĩa, thường trực tỉnh ủy, báo cáo tóm gọn tình hình địch. Một bộ phận thuộc GM 4 càn từ phía thị xã Thái Bình xuống đây. Có thể chúng sẽ đánh vào khu này, gồm cả làng Chỉ Thiện. Tỉnh đội Thái Bình đã điều động Đại đội Lê Lợi, bộ đội tỉnh, được mệnh danh là Đại đội Đỏ, do Nguyễn Văn Chức chỉ huy sang dây. Đại đội này vừa trải qua mấy trận chiến đấu ở Kiến Xương, quân số thương vong chưa kịp bổ sung nhưng đầy quyết tâm bảo vệ cơ quan lãnh đạo tỉnh. Tôi gặp anh Chức và bảo: - Do lực lượng địch đông gấp bội, nếu chúng không biết ta ở đây thì ta không thể nổ súng trước, mặc cho chúng qua ngoài làng. Nếu địch biết thì gắng sức đánh, chờ trời tối, đưa cơ quan tỉnh và số đông thanh niên ở đây luồn càn! Anh Ngạn không muốn bộ đội lên phía bắc, do ở bên kia sông Trà Lý, chỉ cách đây hơn chục cây số, là nơi đặt sở chỉ huy của Đại đoàn 320. Anh Ngạn cần liên hệ với anh Dũng các các liên lạc chạy chân. Anh Thứ liên hệ với một đảng viên trong làng, mượn được hầm bí mật cho anh Ngạn. Lại mượn được cả cho anh Hà, ủy viên Liên khu ủy III, bí thư thành ủy Hải Phòng sang đây công tác. Thứ đưa các anh xuống hầm, hóa trang cẩn thận. Ngồi hầm một lát, anh Ngạn chợt nhớ túi tài liệu nhờ ông Nghĩa cầm và hỏi: - Túi của mình đâu? Ông Nghĩa vội đội cửa hầm lên tìm, mải mốt bỏ quên cạnh đó. Tìm được lại xuống hầm. Đúng lúc này đại bác nổ chát chúa phía trước làng, rồi nổ dần vào xóm. Địch không bỏ qua làng Chỉ Thiện, mà đánh ráo riết. Đại đội anh Chức dũng cảm chặn địch. Khẩu đội đại liên xả đạn, chặn đứng một mũi, quật ngã nhiều tên. Trung, tiểu liên của bộ đội, súng trường của du kích, đồng loạt nhằm mấy hướng tiến của địch. Bị diệt hàng loạt, địch vội gọi máy bay đến ném bom napan. Lửa cháy bùng bùng, khói bốc khét lẹt. Trong thế một chọi sáu, anh em vẫn gan góc dựa vào công sự, không cho giặc vào sâu trong làng. Hệ thống chông, mìn góp phần làm địch chùn bước. Song chúng vẫn tìm thấy hầm anh Hà; chúng gọi hàng, không ai trả lời. Chúng ném lựu đạn vào hầm, sát hại anh. Ở một hầm khác, ông Nghĩa nghe rõ tiếng giày đinh dẫm lịch ịch trên nóc hầm. Có tiếng ai đó bị bắt và tra khảo, nói với giặc: - Tôi là dân thường… Tôi không phải… Một lúc sau thấy yên ắng, đoán là giặc đã đi qua. Người du kích cùng ngồi hầm với anh Ngạn và ông Nghĩa muốn bỏ hầm, trổ lên chạy. Ông Nghĩa cố khuyên cậu ta ở lại, không được. May là lúc ấy giặc không còn ở gần. Nghe tiếng súng, biết địch đã sang xã bên. Trời tối dần ông Nghĩa đưa anh Ngạn ra khỏi hầm. Tìm được một du kích khác. Đồng chí này liền đưa anh Nghĩa và anh Ngạn xuống một cái hầm khác, phòng địch trở lại. Đồng chí dặn: - Các anh cứ ngồi đấy! tôi đi nghe ngóng… Chừo lâu, Nghĩa sốt ruột. Người du kích trở lại, cho biết địch đóng quân cách đây một cánh đồng rộng. Nghĩa hỏi: Sao đi lâu thế? Du kích đáp: - Tôi thổi cơm. Các anh ăn khỏi đói! Ăn cơm, nghỉ ngơi vài giờ, người du kích đưa đường cho hai anh luồn càn. Sáng hôm ấy, khi các anh xuống hầm thì tôi và Lê chạy bên trên. Tôi nấp ở một cái rãnh trong vườn, lấy là tre phủ lên mình. Mấy thằng giặc tót qua rãnh, mải đuổi mấy người khác, bỏ sót tôi. Rồi tôi và Lê chạy ra bờ sông Trầ Lý. Bị giặc bắn vào chân, anh Lê nằm vật xuống. Tôi chạy vào xóm gần đấy. Khi giặc rút, anh Lê thập thễnh chống gậy bước về, lại gặp tôi. Tôi ngạc nhiên hỏi: - Nó bắn chết ông rồi cơ mà! Lê lắc đầu: - Mình giả vờ chết đấy! Tôi tìm cơ sở gửi Lê ở lại chữa vết thương. Khoảng một, hai giơ sáng hôm sau, tôi ra ngõ, thấy con đường nhỏ ven cánh đồng, người đi hàng dài. Tôi tưởng giặc lại kéo đến, toan lùi. Nhưng nhìn kĩ thấy toàn bà con luồn càn, hối hả theo mấy anh du kích dẫn đường. Một dáng người cao trội lên trong số đó khiến tôi nghĩ là anh Ngạn. Tôi vội vã bước lại. Anh cũng nhận ra cái vóc người nhỏ nhắn của tôi, bước nhanh tới vỗ bộp vào vai tôi và nói: - Tưởng nó bắt Nam rồi! Anh em đâu? Tôi báo cáo: - Lê bị thương ở chân, đã gửi lại đây để chữa. Còn Thứ, nghe nói bị giặc bắt! Anh Ngạn lặng lẽ một lúc rồi bảo: - Nếu chỉ bị bắt thì Thứ sẽ tìm cách trốn về. Ngay sau đó, tới địa điểm mới. Đồng chí Lý Anh Nghĩa báo cáo anh Ngạn: - Đã liên lạc với cơ quan tỉnh đội. Trinh sát cho hay địch đánh ác liệt vào sở chỉ huy Đại đoàn 320 ở làng Lưu Phương (Tiền Hải). Ngày 28-3, máy bay địch ném bom, đại bác nã dữ dội vào làng. Tiểu đoàn Thanh Lũng dũng cảm chặn nhiều đợt tiến công của địch, bảo vệ bằng được sở chỉ huy. Quanh hầm chỉ huy có hơn ba chục hố bom, đất lấp gần kín cửa hầm. Sau đó, bộ đội làm nghi binh, kéo sự chú ý của máy bay sang hướng khác, đưa anh Dũng ra khỏi làng. Sở chỉ huy chuyển tới một gò đất ngoài đồng. Anh em cắt cây chuổi làm màng, đưa anh Dũng qua sông Đa Cốc, ra Trại Chè, Dương Liễu, Kiến Xương. Tôi nhớ lại ở hầm chỉ huy đại đoàn. Địch đánh mạnh quanh đấy. Quân ta dũng cảm chặn đánh khiến chúng tiến chậm. Qua mấy phút trao đổi tình hình, anh Dũng đưa tờ điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp cho anh Ngạn xem. Điện ghi: “Anh Hùng (bí danh của anh Dũng) vượt vây sang Nam Định, bàn với Thanh Giang (bí danh Đại đoàn 304) đánh phối hợp ngoại tuyến”. Anh Ngạn cũng được biết: Thường vụ Đảng ủy Đại đoàn đã đặt ra và xem xét ba dự án: 1) đưa cơ quan chỉ huy Đại đoàn lên huện Thư Trì; 2) Ở lại nắm Tiểu đoàn Thanh Lũng đánh trong vòng vây; 3) Vượt sông Hồng, lên vùng đối ngạn ở Tiên - Duyên - Hưng, chỉ đạo đánh ngoại tuyến. Anh Ngạn hỏi: - Các anh chọn dự án nào? Và không đợi trả lời, anh nói ngay: Đề nghị chọn dự án ba. Sang Hữu Ngạn sẽ thực hiện đánh phối hợp trong và ngoài vòng vây. Vượt vây, tạo thế chủ động đánh địch lầ cần thiết. Tôi nhất trí với dự án đó, đề nghị Đại đoàn cho thực hiện. Nói tới đây, anh quay lại bảo đồng chí Bùi Thọ Tỵ: - Anh ra Trại Chè bàn với các đồng chí Kiến Xương lấy hai chiếc thuyền dự phòng và huy động thủy thủ làm nhiệm vụ đột xuất. Ngay bây giờ! Anh Dũng nói với anh Ngạn: “Nhân có thuyền và bên kia có cơ sở tốt, tôi đề nghị anh sang bên đó tạm ít ngày!”. Anh Ngạn nắm chặt tay anh Dũng nói: “Nhiệm vụ anh ở cả Tả Hữu Ngạn, anh cần đứng chân ở cả hai nơi. Nhiệm vụ của tôi ở Tả Ngạn, tôi đứng chân ở Tả Ngạn!”. Rồi tôi và anh Ngạn sang Chí Thiện. Sự chuẩn bị cho sở chỉ huy Đại đoàn sang Hữu Ngạn thế là đúng. Đêm ấy, tổ Đảng và dân quân Trại Chè, Dương Liễu đưa cơ quan Đại đoàn qua sông nhanh chóng, tới cơ sở an toàn. Mấy hôm sau, anh Dũng lại từ Hữu Ngan sang Tả Ngạn sông Hồng, tới phía bắc Thái Bình, đặt sở chỉ huy ở Tiên - Duyên - Hưng. Cùng lúc này, máy bay địch thả truyền đơn xuống Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, huênh hoang: “Sư đoàn 320 không còn nữa… Đã diệt được tướng Dũng!”. Đờ Linarét tuyên bố trước một số kí giả báo chí: “Sư đoàn 320 bị đánh tan tác ở Thái Bình. Hiện chỉ còn những toán nhỏ cố tìm nhau tụ tập lại!”. Trong khi đó, tại cơ quan Mặt trận Tả Ngạn, liên lạc đưa tin về: - Ngày 1-3-1952, Tiểu đoàn Tiên Yên vừa luồn khỏi vùng càn lên bắc Kiến Xương đã diệt một đại đội Commăngđô do quan Hai Pháp chỉ huy trên đê sông Trà Lý. Ngày 2-3, Tiên Yên lại phục kích tám xe chở một đại đội công binh và dụng cụ, vật liệu chữa đường. - Tiểu đoàn Thành Lũng đánh địch ở La Cao và Trình Phố, nơi chúng vừa “cất vó” mấy hôm trước, diệt hai đại đội Âu - Phi. - Tiểu đoàn Yên Ninh diệt hai đồn và 100 tên địch ở Duyên Hà. - Một bộ phận pháo binh (thuộc 320) đánh đắm ba ca nô, diệt một số địch trên sông Trà Lý và sông Luộc. - Phối hợp với Thái Bình chống càn, Trung đoàn 57 (Hữu Ngạn sông Hồng) đánh lui địch hai trận ở Ngọc Liễu, Ngọc Giá (Nam Đinh); Trung đoàn 98 diệt hai đồn Lạc Thổ, Làng Hồ (Bắc Ninh), buộc địch phải rút một GM từ Thái Bình tới đó đối phó. Tình hình trên khiến địch phải thú nhận: - Có một trung đoàn của Sư đoàn 320 lại trở về phía đông tỉnh Thái Bình, diệt đồn La Cao (lần hai) và uy hiếp quân Liên hiệp Pháp trong vùng. Anh Ngạn bảo chúng tôi: - Thằng địch nói “Sư đoàn 320 không còn” nhưng 320 vẫn cứ ở Thái Bình, đánh địch ngay nơi chúng vừa càn lớn. Hẳn là chúng tức lắm, như Chu Du tức Khổng Minh muốn hộc máu! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:44:52 pm SAU TRẬN NÀY, GIẶC CÀN NƠI NÀO? Anh Miên sang báo cáo với anh Ngạn về kết quả chống càn “Thủy Ngân”. Sau 10 ngày chiến đấu, bộ đội địa phương và bộ đội 320 chỉ bằng 1/5 quân số địch ,đã cùng dân quân du kích đánh 200 trận, với nhiều cách đánh diệt từ một, hai tên, đến một, hai đại đội, làm cho chúng thương vong, tan rã 1.750 tên. Ta bảo toàn được các cơ quan lãnh đạo và bộ đội chủ lực. Sau càn, cư sở ta phục hồi nhanh, bọn phản động không lợi dụng “đục nước béo cò” nổi lên như năm trước. Lòng tin của nhân dân, kể cả ở vùng Thiên chúa giáo, được củng cố. Vùng căn cứ du kích được giữ vững và mở rộng thêm ở ngay nơi bị càn. Trong hiệp đồng chống càn, các lực lượng vũ trang Thái Bình đã tạo cho bộ đội chủ lực niềm tin ở chiến trường lạ lẫm, và khiến địch kiêng dè. Riêng quân dân huyện Kiến Xương đã cùng bộ đội chủ lực hoặc tự đánh 74 trận, diệt nhiều địch và phục vụ bộ đội trong chiến đấu. Du kích các xã An Ninh, Quốc Tuấn, Bình Nguyên, Thượng Hiền phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực đánh những trận có hiệu quả. Đồng chí Thuyết, du kích xã Lê Lợi dùng mìn diệt và làm bị thương 30 tên giặc khi chúng cụm lại ở sân đình làng. Các thôn An Thái, Dưỡng Thông dùng chông, mìn, lựu đạn, súng trường diệt và làm bị thương 80 tên giặc. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện dũng cảm đánh địch trong vòng càn, hỗ trợ cho bộ đội chủ lực luồn càn, tiểu biểu là Đại đội Lê Lợi… Anh Ngạn chăm chú nghe, đôi lúc ngó và bản đồ ghi những dấu chỉ đỏ ở những đia điểm chiến đấu dũng cảm, rồi nói: - Thằng địch cũng kiếm chác được một số cái mà nó mong đợi chứ? Anh Miên báo cáo: - Có ạ! Chúng giải vây hoặc đóng lại được một số đồn: La Cao, Trà Lý, Thanh Nê, Cao Mại…, vũ trang lại cho vệ sĩ các nhà thờ Cổ Việt, Tân Bình…, củng cố đường 223, nhằm ngăn cách khu căn cứ du kích nam huyện Vũ Tiên- Thư Trì với nam huyện Kiến Xương, củng cố đồn dọc đường 10, đoạn cầu Nghìn - Tân Đệ, lập vành đai an toàn cho thị xã Thái Bình. Anh Ngạn hỏi: - Chúng còn gây hại nhiều? Anh Miên tiếp: - Trong 10 ngày càn, địch làm hơn 800 người chết và bị thương; hơn 5.000 người bị bắt, phần nhiều là thanh niên (trong đó có 1000 anh em du kích). Anh Ngạn buông bút, lặng lẽ trước những tổn thất, anh nói như để riêng mình nghe: - Thằng địch muốn gây tổn hại lớn khiến chúng ta nản lòng, chùn bước! Rồi anh gấp đôi tấm bản đò, nhìn vào phía bắc sông Luộc. Anh Miên hiểu ý, báo cáo: - Phối hợp chống càn “Thủy Ngân”, Trung đoàn 42 cùng bộ đội, du kích Hưng Yên, Hải Dương ra sức hoạt động. Chỉ sau hai ngày giặc càn ở Thái Bình, một đơn vị của Trung đoàn đã dánh đắm một ca nô địch trên sông Luộc, rồi đột nhập vào thị xã Hưng Yên, diệt ty công an ngụy. Tiếp đó đánh sập cầu Lực Điền, uy hiếp đường 5; diệt và bức hàng 5 đồn, bắt gần hai đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí, mở rộng thêm khu du kích nam Tiên Lữ - Phù Cừ, thông với khu căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng. Anh Ngạn gật đầu trước những hoạt động phối hợp chống càn. Rồi anh hỏi: - Chúng ta phán đoán xem sắp tới địch sẽ làm gì ở Tả Ngạn? Anh Miên hiểu đồng chí bí thư Ban Cán sự sẽ hỏi điều đó nên đã có dự kiến. Anh nói: - Địch sẽ lại mở những trận càn nhỏ như “Mưa Phùn” và càn lớn như “Thủy Ngân”. Có thể chúng càn vào Hưng Yên, Hải Dương để đối phó với tình hình hai nơi đó được phục hồi sau trận “Trái Chanh”. Cũng có thể chúng càn bắc Thái Bình, nhất là Tiên - Duyên - Hưng, vì sau trận “Trái Quýt”, ta phục hồi từng phần nhỏ, và gần đây bộ đội 320 lên mở lại vùng căn cứ. Trong hai hướng trên, hướng nào là chính? - Anh Ngạn hỏi. Anh Miên chưa kịp trả lời, anh đã tự giải đáp: - Mở càn ở đâu, địch phải căn cứ vào thực lực của chúng là chính, nhưng rất coi trọng cân nhắc lực lượng của ta. Chúng vừa mới đối đầu, không phải tất cả mà là một bộ phận của Đại đoàn 320, nhưng đã bươu đầu sứt trá. Ở bắc sông Luộc, chúng biết có Trung đoàn 42, còn Trung đoàn 174 (thuộc Đại đoàn 316) thì vượt đường 5 sang Hải Dương, Hưng Yên là để phối chiến. Địch đủ khôn ngoan để tránh hướng nào khó hơn. Đó là một lẽ. Lẽ nữa, chúng biết nếu các vùng căn cứ du kích của ta được củng cố lâu sẽ mở rộng thêm, vững chắc hơn, và là một sự bất lợi cho chúng. Do vậy, chúng phải càn những nơi đó trước. Thực ra, nếu có đủ lực lượng, chúng muốn càn cùng một lúc tất cả vùng Tả Ngạn này. Nhưng sức chúng có hạn, mà sức ta chống lại là vô hạn. Do vậy chúng phải tính chuyện “cháo nóng húp vòng quanh”. Cháo nóng mà húp cả bát hoặc miếng to thì bỏng môi, trút lưỡi. Đúng không?... Ở địch hậu, ngày càng rõ cái quy luật: ta và địch cùng giành gật từng làng xóm, từng con người, từng con trâu, thúng thóc… Bên nào giành được dân, giữ được đất và giữ của giỏi, cuối cùng bên ấy thắng. Cho nên chúng còn càn, càn nhỏ, càn to, phá vùng du kích, thậm chí nhất thời biến căn cứ của ta ta thành vùng chiếm đóng của chúng. Chúng càn, ta chống, ta phá càn và lại mở căn cứ du kích. Chúng bóp bẹp, ta vo tròn. Cứ thế diễn biến quanh co, luẩn quẩn. Bên nào bền gan, dai sức, bên ấy toàn thắng. Đúng không anh? Trên cơ sở chỉ thị của Bộ tổng tư lệnh, đầu năm 1952 về phá âm mưu của địch ở vùng địch hậu, và căn cứ vào nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn, anh Ngạn có ý kiến bổ sung kế hoạch hoạt động Xuân - Hè 1952 do Bộ tư lệnh Mặt trận dự thảo. Về hướng địch sẽ càn, nhiều hơn là hướng bắc sông Luộc. Những biện pháp chống càn sẽ được truyền đạt tới các tỉnh, các trung đoàn, nhưng tăng cường cao độ với Hưng Yên, Hải Dương. Anh Miên ra về, anh Ngạn mới kịp nhìn bát nước chè xanh rót từ đầu cuộc họp, anh mải nói quên uống, giọng đã khan khan. Bưng bát nước, anh vẫn chưa uống ngay, hỏi tôi: - Chiều nay là việc thi đua, đã mời anh Khai rồi chứ? Tôi vừa thu xếp sách bút vừa nói: - Vâng, mởi cả anh Tư Quang đấy ạ! Anh tỏ ra yên tâm, uống cạn bát nước chè, rồi thở phào. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:52:30 pm NGƯỜI NGƯỜI THI ĐUA, NGÀNH NGÀNH THI ĐUA Tôi ăn cơm trưa, đi ra đi vào một lúc thì anh Nguyễn Khai và anh Tư Quang đến. Anh Tư Quang ở “Bình Trị Thiên khói lửa” được Trung ương điều ra tăng cường cho Thái Bình, làm phó bí thư tỉnh ủy. Lúc này Tư Quang quyền bí thư, thay anh Lê Tự đi chữa bệnh. Hôm nay, anh Ngạn tổng soát việc chuẩn bị cho đoàn cán bộ chiến sĩ Tả Ngạn đi dự Đại hội thi đua Công Nông Binh toàn quốc sẽ họp vào tháng 5-1952. Anh Ngạn nghe anh Tư Quang báo cáo: Hội nghị thi đua toàn quân tháng tư vừa qua đã bình xét và đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ “Quân dân một lòng tiêu diệt quân địch” cho tỉnh Thái Bình, về thành tích kháng chiến toàn dân, toàn diện phát triển rộng. Đưa một tỉnh từ chỗ bị địch càn lớn, chiếm 85% đất đai, tiến lên mở được những vùng du kích và căn cứ du kích rộng , có thời gian là chỗ đứng của cơ quan lãnh đạo một số tỉnh trong vùng Tả Ngạn. Đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế nhiều kết quả khá, ra sức góp người góp của cho công cuộc kháng chiến và bảo đảm đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thưởng cờ “Nguyên Xá, làng kiểu mẫu” cho xã Nguyên Xá (Tiên Hưng) có phong trào nhân dân chiến tranh xuất sắc, kiên quyết thực hiện “ba không” (không lập tề, không làm tay sai cho giặc, không đi lính ngụy) và “ba được” (đánh được giặc, giữ được làng, sản xuất được mùa). Toàn tỉnh bầu được 13 chiến sĩ thi đua xuất sắc nhất đi dự Đại hội toàn quóc. Anh Nguyễn Khai báo cáo thành tích của Hưng Yên, được Chủ tịch Hồ Chí Minh thưởng cờ “Đoàn kết nhân dân đánh thắng giặc Pháp”. Cùng với toàn quốc, Hưng Yên kháng chiến ngay từ tháng 120-1946. Bị địch càn lớn rồi chiếm đóng gần hết tỉnh vào năm 19550, cắm 360 đồn, lập 360 ban tề, tình hình cực kì đen tối. 2.734 cán bộ, đảng viên bị giết, bị tù, có xã hết đảng viên. Cơ quan lãnh đạo tỉnh mất đất, sang tạm trú ở tỉnh bạn. Sau đó tiến lên từng bước, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, ba thứ quân thi đua đánh địch, mở nhiều vùng du kích và có căn cứ du kích rộng, thông sang hai tỉnh lân cận, đuộc Bộ tổng tư lệnh goi là một trong những điển hình chiến tranh du kích phát triển cao. Anh Ngạn lại nghe anh Tư Quang báo cáo về xã Nguyên Xá. Năm 1950, nơi đây bị 14 đồn giặc hình thành hai gọng kìm kẹp lại. Đồn gần nhất ở ngay đầu và cuối xã. Toàn xã có 17 trung đội dân quân và du kích, trong đó có một trung đội trực chiến với 12 khẩu súng trường. Súng do nhân dân bỏ hủ tục cỗ bàn và quyên gop để mua của lính địch. Các trung đội khác trang bị mã tấu, lựu đạn và mìn. Trần đầu, giặc vây nhưng không vào được làng vì lũy cao, hào sâu. Hai tháng sau, hai binh đoàn Commuyan và Bôphơrê tới càn, nhằm bình định cả vùng, trong đó có Nguyên Xá. Chúng kéo theo quân cả 14 đồn phu cận, phá lũy đất, rào tre, lấp hầm hố, đốt nhà cửa, nhằm bắt dân làng khuất phục. Dân phải tản cư ra các xóm trại lẻ. Khi bọn giặc cơ động rút đi, dân về dựng lại làng kháng chiến. Không bình định được làng Nguyễn hồi sức, đắp lũy, sửa hào. Khi 14 đồn vây đánh lần thứ tư, cùng lúc với đánh làng Khuốc kề bên, du kích làng Nguyễn đã cho một tiểu đội luồn ven bờ mương sang trợ chiến. Tiếng kèn đồng của trung đội trưởng Nguyễn Huy Trù giục giã và tiếng súng bất chợt nổi lên phía sau địch. Tưởng bộ đội đánh tập hậu, địch vội bỏ vây làng Khuốc rồi rút lui. Du kích làng Khuốc đang từ chỗ bị vây, chuyển sang xung phong đuổi giặc, thu một trung liên, ba súng trường… Mười ngày sau, quân 14 đồn có một tiểu đoàn cơ động từ thị xã Thái Bình về phối hợp, đánh cả hai làng Khuốc, Nguyễn. Ở làng Nguyễn chúng đánh từ ba phía, vây cả ngày, mở ba đợt xung phong, vẫn không vào được làng. Ở làng Khuốc, giặc tập trung đông hơn. Một đơn vị nhỏ bộ đội huyện và du kích đánh trả suốt buổi sáng, rồi cho người sang yêu cầu làng Nguyễn phối chiến. Tuy phải cầm cự với giặc, làng Nguyễn vẫn cho hai tiểu đội du kích chia hai mũi luồn sau làng, sang đánh tạt vào sườn địch. Không may, khẩu trung liên mới chiếm được của giặc bị tắc. tiếng kèn đồng của Nguyễn Huy Trù lần nữa vang lên, nhưng anh trúng đạn hi sinh. Lập lại cách đánh cũ, du kích làng Nguyễn tổn thất, nhưng cả hai làng đều khiến giặc phải chùn lại ngoài hàng rào dày sít, rồi rút quân. Sau đó, cấp trên nhận định: hai làng đã liên hào chiến đấu, hỗ trợ nhau, phòng ngự trong làng kết hợp xuất kích đánh địch; dùng mưu trí đánh lùi địch có kết quả. Anh Tư Quang nói đến đây toàn ngưng, sợ dài. Anh Ngạn đang muốn hiểu sâu về một làng kháng chiến giỏi, yêu cầu nói tiếp. Anh Tư Quang lại hào hứng kể: - Nguyễn, Khuốc và thêm làng Ngói thành thế chân kiềng, đứng vững trong vùng mà địch nói là bình định hoàn toàn”. Tháng 10-1951, giặc càn “Trái Quýt”, chúng dùng hẳn một tiểu đoàn đánh làng Nguyễn. Đại bác bắn ào ạt mở đường cho bộ binh xông vào. Vấp mìn, chông, bị thương và chết, giặc co lại hoặc tiến dè dặt. Qua một ngày, chỉ chiếm được nửa làng. Du kích ngày xuống hầm bí mật, đêm lên thăm dò địch. Đồng chí Quyễn Qui đội cửa hầm lên, trúng nơi giặc canh gác. Chúng bắt và đánh, đồi chỉ hầm. Qui không chỉ. Lừa lúc thằng gác sơ ý, Qui đạp nó ngã thùm xuống ao, rồi chạy thoát. Sau trận càn, quân cơ động rút, các cụ, các bà làng Nguyễn liền kéo lên đồn đòi thả những người bị bắt, đồi bồi thường người chết, nhà cháy. Không muốn một cái làng ngang ngạnh ở trước mắt, địch cho xe tăng, xe ủi đến nghiền nát cây cối ở hai xóm trại ven đường 39, đưa quân đến đóng thêm đồn ở phố Tăng, sát cạnh làng Nguyễn. Chúng tiếp tục đốt phá dòng dã hai tháng, làng Nguyễn trơ trụi. Dân ra các gò đống ngoài đồng, dựng lều lán ở. Ban ngày, làng vắng bóng người, nhưng ngoài đồng vẫn cấy lúa, trồng cau. Đêm đêm du kích gỡ mìn quanh đồn Nguyễn, chờ giặc vào làng thì đánh kết hợp với chông. Cho đến lúc này, cờ Bác về, làng Nguyễn càng vui mừng, thêm quyết tâm đánh giặc. Nghe xong, anh Ngạn vỗ tay đánh bộp và khen: - Tuyệt vời! Đúng là toàn dân kháng chiến! Tôi ghi mải miết, hào hứng, nhưng đã thấy mỏi. Tôi gợi ý: - Anh nghỉ một chút kẻo mệt! Anh lại bảo: - Nam có mệt thì nghỉ. Rồi anh nhìn Tư Quang: - Kể nốt chuyện du kích Nguyễn Thị Chiên! Nhấp hớp nước, anh Tư Quang tiếp: Chị Chiên 22 tuổi quê xã Tân Thuật (Kiến Xương). Địch đóng đồn ở làng Chiên và hơn chục đồn khác dọc đường 39 gần đó. Chiên cùng du kích giật mình khi địch vào xóm, xuýt bị giặc bắn trúng. Dân tản cư hết, chỉ còn ông bố đồng chí xã đội ở nhà cùng cót thóc nuôi quân. Có nguy cơ giặc đốt nhà, cháy thóc. Chiên cùng du kích phân tán hết cót thóc trong đêm tối. Khi đồng chí bí thư xã có công tác qua đường, Chiên dẫn lối. Giặc phục kích, Chiên nói to: “Đừng bắn, tôi đi chợ!”. Nghe vậy, đồng chí bí thư lui lại, thoát nguy. Chiên bị bắt, giặc tra khảo rất dã man; treo lên xà nhà, dùng kìm rứt thịt. Chiên không khai báo. Chúng nhét đá dăm vào miệng Chiên. Giam cầm, tra tấn năm ngày liền, giặc đem Chiên ra bờ sống bắn. Chiên bảo chúng: “Bắn tôi thì để xác lên bờ, để mọi người uống nước sạch”. Giặc bắn sượt ngang tai, đòi chỉ hầm bí mật. Chiên khăng khăng: “Không biết”. Giặc tạm cho về, ba ngày trình diện một lần. Khỏi đau, Chiên lại bí mật hoạt động trong đội nữ du kích, là trung đội trưởng. Khi Tiểu đoàn Đống Đa (thuộc 320) đánh một đại đội địch do quan hai Mơduya chỉ huy trên đường 39, có trung đội du kích của Chiên phối chiến, xông lên cùng bộ đội bắt giặc. Quan hai Mơduya giơ tay hàng. Anh Ngạn đứng hẳn dậy, biểu thị phấn khởi: - Đúng là con cháu bà Trưng, bà Triệu. giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Còn chị Bùi Thị Cúc ở Hưng Yên nữa? Anh Khai nói: là đảng viên ngoài 20 tuổi, làm công an ở xã Quang Trung, huyện Ân Thi. Trong những ngày đen tối, cán bộ, đảng viên bị giặc bắt nhiều, Cúc vẫn kiên trì bám đất, bám dân, bảo vệ cơ sở kháng chiến. Bị giặc bắt, tra tấn dã man, bằng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ mua chuộc, đến tra tấn cực hình, Cúc không khai những điều có hại cho kháng chiến. Cuối cùng chúng hèn hạ đưa chị ra giữa chờ dùng nhục hình với chị như cắt vú, chặt tay, rạch nát thân thể chị… hòng uy hiếp tinh thần của bà con và chiến sĩ ta. Nghe báo cáo về hành động dũng cảm và tinh thần kiên trung của Cúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thưởng cho Cúc sáu chữ vàng “Sống anh dũng, chết vẻ vang”. Anh Ngạn vịn vai anh Khai và Tư Quang, giọng càng sôi nổi: - Phát huy kết quả của Đại đội thi đau toàn quốc, Tả Ngạn phải đưa phong trào thi đua giết giặc và sản xuất lên cao hơn nữa. Thi đua xuất phát từ lòng yêu nước, chí căm thù giặc, và cũng xuất phát từ điều chính đáng là mỗi con người đều muốn tự biểu hiện tài đức của mình. Trong đời sống tự nhiên, con chim muốn hót, con gà muốn gáy thật hay và chúng phải luyện tập. Con người là sinh vật cao cấp muốn mình trở thành hiền nhân quân tử, dám chịu đựng gian khổ, vượt mọi hiểm nguy để đánh giặc giỏi, sản xuất tốt, qua đó được quần chúng công nhận. Lãnh đạo thi đua phải biết kết hợp chặt chẽ cả hai yêu cầu chung và riêng đó. Phải cổ vũ, biểu dương thích đáng những liệt sĩ, anh hùng xuất hiện trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện này. Đó là những hình mẫu gần gũi, là những tấm gương soi sáng, lôi cuốn nhiều người khác noi theo. Bác Hồ ca ngợi bà Trưng, bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… là nhằm cho con cháu ngày nay học tập, nối dõi. Các vị ấy sinh hoạt ra ở một nước chiến đấu giỏi, có ông Phù Đổng năm bảy nong cơm ba nong cà, nhổ cả khóm tre đánh giặc; ở một nước giỏi cấy lúa, lấy gạo làm bánh chưng, bánh giầy, dâng cúng cha mẹ, tổ tiên. Các triều đại hưng thịnh đều có việc thi. Thi văn lấy quan giỏi. Thi võ lấy tướng tài. Vì vậy phụ nữ ngày xưa “Mùa hè cho chí mùa đông, mùa nào áo nấy cho chồng đi thi”. Ngày nay Bác Hồ kế thừa truyền thống cha ông, kêu gọi: “Người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua” là vì thế! Đúng không các anh? Tôi ghi nhanh những đièu anh nói. Đồng hồ của tôi chỉ năm giờ chiều. Xem ra ý kiến của anh còn khá dồi dào, hứng khởi. Lừa lúc anh chuyển đoạn, tôi nói xen: - Đề nghị anh cho bàn thêm! Anh nhìn tôi: - Thi đua mà còn phải bàn à? Nam đói rồi phải không? Đói thì đi ăn! Chúng tôi đều cười vui và nghỉ. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:53:28 pm VÌ SAO MÌN, LỰU ĐẠN CHỈ NỔ 50%? Anh Bùi Thọ Tư, chính trị viên phó tỉnh đội Thái Bình lên báo cáo tình hình quân sự. Nghe xong, anh Ngạn hỏi sâu về một vấn đề: - Vì sao mìn, lựu đạn do công binh xưởng làm ra chỉ nổ 50% Anh dẫn chứng: du kích Nguyên Xá giật mìn, lôi cả nụ xòe “mắt ngỗng” ra mà vẫn xịt? Lựu đạn ném giặc, giặc nhặt ném trả, mà vẫn trơ như củ xu hào? Vũ khí như thế thì giặc chết hay mình chết? Anh Thọ Tư khó trả lời, một lúc sau mới nói: - Cố phần do kĩ thuật của công nhân ta yếu; vật liệu, chất nổ kém. Phần khác có thể do bàn tay kẻ xấu nhúng vào… Anh Ngạn không bác bỏ mấy nguyên nhân đó. Anh nói đủ nghe: - Đánh giặc thì vũ khí là thứ quan trọng không thể thiếu. Con người là nhân tố quyết định thắng bại trong chiến đấu, nhưng người ta dũng cảm đến đâu cũng cần có vũ khí, chứ không thể đánh giặc bằng hai bàn tay không. Du kích phải có giáo mác, chông bẫy tự tạo, nhưng chưa đủ. Cần có lựu đạn, mìn muỗi, sát thương nhiều hơn, uy hiếp giặc nhiều hơn. Nếu có thêm súng trường, ống phóng lựu đạn thì càng tốt… Với bộ đội, cần được trang bị khá hơn nữa: pháo cối, đại, trung, tiểu liên… Nhưng lúc này anh em cũng thiếu. Tiểu đoàn 124 (thuộc Trung đoàn 42) cũng gặp khó khăn. Vũ khí chôn giấu sau những tháng anh em phân tán, chất lượng giảm sút. Đạn cối ẩm bẩn không chính xác. Đạn súng trường, tiểu liên, mỗi khẩu chỉ còn năm, mười viên… Đầu năm ngoái (năm 1951) Trung đoàn 42 phải cử các Tiểu đoàn 648, 922 lên Việt Bắc lĩnh vũ khí. Hành quân hàng tháng trời, trên đường về bị dịch phát hiện, truy đuổi. Anh em vai vác nặng, chân đi bộ, luồn rừng vượt suối, len lỏi giữa những đồn bốt, làng tề, nhưng chỉ có Tiểu đoàn 648 qua được sông Hồng. còn Tiểu đoàn 922 bị địch bám sát, đuỏi riết, vây chặt cả hai bờ sông, sục tìm trên bộ, khua khoáng dưới nước. Địch đông gấp mấy lần đánh liền ba trận, quân mình tiêu hao, vũ khí mất mát. Liên khu thấy địch cố ý tìm diệt anh em, liền quyết định cho anh em ở hẳn bên Hữu Ngạn, làm nòng cốt xây dựng một trung đoàn mới… Chuyện cho thấy việc đi lĩnh vũ khí vô cùng gian khổ, tốn xương máu. Do đó, phải đánh địch, lấy vũ khí địch trang bị tại chỗ cho mình. Nhưng cái vốn vũ khí ban đầu để làm ra lãi phải do mình tự tạo, tự kiếm. Đúng không?… Lúc này đội ngũ du kích của ta ất đông, chiến thuật du kích đang cần phát triển mạnh hơn, nhưng mỗi xã mới có hơn chục khẩu súng trường, có xã ít hơn, nên phải dùng giáo mác, mã tấu. Mìn, lựu đạn thì phải xin tỉnh. Vậy công binh xưởng của tỉnh hiện nay như thế nào? Cần những gì để làm tốt nhiệm vụ? Tỉnh phải xem xét kĩ, đề xuất biện pháp. Khu chỉ đạo thực hiện. Tuyệt đối không được xem nhẹ vấn đề quan trọng này. Anh Thọ Tư ghi nhanh những điểm mà bí thư Ban Cán sự hỏi. Anh toan trả lời, nhưng bí thư lại hỏi tiếp:: - Mình nghe trẻ nhỏ ở đây hát: “Gái Đông Tiêm cầm liềm đánh bốt - Trai Quan Đình vác cuốc đuổi Tây!”. Thợ Tư thấy câu hát này hay ở chỗ nào?... Nó hay ở chỗ cổ vũ tự tạo vũ khí đánh giặc. Liềm và cuốc là vũ khí tự tạo, đúng không? Thọ Tư đấp: - Đúng ạ! Rồi anh kể: - Hai làng Đông Tiêm, Quan Đình cùng mấy làng nữa hợp thành xã Đồng Tiến (thuộc huyện Phụ Dực). Từ tháng 3-1950 đến tháng 3-1951, xã này bị địch càn 11 trận, chia đều mỗi tháng một trận. Có một trận chống ba đại đội địch. Du kích xã chỉ có một trung đội và sáu súng trường, còn lại làm mìn, lựu đạn và chông. Thấy những trận trước, địch càn xong thường rút qua một lối tắt về đồn cho nhanh, anh em liền gài mìn, đặt nhiều chông ở chỗ đó. Khi giặc vào làng, du kích xuống hầm bí mật. Không gặp du kích, giặc theo lối tắt về đồn. Bỗng vấp phải mìn, sa hố chông, giặc chạy cuống cuồng. Du kích từ hầm lên, ném lựu đạn, bắn đuổi, địch chết và bị thương 30 tên… Thế rồi sau đó có bài ca, hai câu trên là mở đầu. Đồng chí bí thư tỏ ý vui, rồi nghe Thọ Tư đề nghị: - Anh cho ba ngày nữa tôi đến với anh em công binh xưởng, rồi báo cáo sau! Thái Bình sớm có cơ sở sửa chữa vũ khí. Năm 1946, Chiến khu Ba tăng cường cho 80 cán bộ, công nhân, chuyển thành xưởng vũ khí. Song công cụ thiếu thốn. Hai máy tiện, một máy khoan, điều khiển bằng sức người. Một số kìm, búa, giũa, cưa; mười chiếc cờ lê, mỏ lết, dăm bảy chiếc thuyền tán, chảo gang, cối đá, hũ sành. Thốc nổ, kíp ngòi do khu cấp hoặc lén lút mua từ vùng địch… Nhưng rồi phải trả xưởng cho Chiến khu Ba. Thái Bình phải tự lập bốn phân xưởng nhỏ để thay thế. Thiếu công nhân kĩ thuật, phải vừa học vừa làm nên tay nghề non. Đường lên khu khó khăn, không chở được thuốc nổ, chỉ xin hóa chất để tự chế, độ nhạy có phần kém. Anh em còn tháo gỡ bom mìn không nổ của địch, lấy thuốc để sản xuất. Mỗi năm đã làm được hơn vạn quả lựu đạn và mìn muỗi, mìn chai. Nhưng thỉnh thoảng lại xảy tai nạn, tổn thất tính mạng, cháy nhà… Anh Ngạn nghe mà lo âu, bứt rứt. Những non kém, bất cập của Thái Bình cũng là của các tỉnh trong khu. Anh chủ trương chọn những cán bộ ít nhiều biết nghề và có tinh thần trách nhiệm cao, phụ trách các công binh xưởng. Cố gắng tăng kinh phí, cải thiên công cụ. Công binh xưởng của Trung đoàn 42 phải giúp các tỉnh để bồi dưỡng kĩ thuật, nâng cao chất lương sản phẩm. Thái Bình phải cung cấp một phần nình, lựu đạn cho Kiến An, Hải Phòng. Phải có cách bảo vệ xưởng khi địch càn quét, hạn chế tai nạn rủi ro cho công nhân… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:54:17 pm TỐT LẮM! MÌNH TIN LÀ THỨ VỀ! Thứ bị giặc bắt ở Chỉ Thiện (Thái Ninh). Vài hôm sau Thứ đã về cơ sở. Anh Ngạn ngạc nhiên, vồ lấy hai vai Thứ và lắc: - Trốn được à? Tốt lắm! Minh tin là Thứ về! Chúng tôi đang mỗi người một việc vội xúm lại mừng Thứ. Thứ cười khì khì kề chuyện: “Hôm ấy nó bắt giong đi. Vừa đi mình vừa ngoái lại nhìn cái xóm có hầm anh Ngạn và anh Hà. Rất may là bom chỉ nổ ở gần đó thôi. Cứ nghỉ quẩn: Nếu napan trùm lên nóc hầm thì thật khó thoát. Nó đưa tôi sang giam ở “căng” Máy Chai (Nam Định). Tôi gặp ông Hưởng, phó chủ tịch Thái Bình, liền rủ ông trốn. Ông không đi với tôi, e không biết lối trốn, bị bắt lần nữa sẽ nguy hiểm hơn. Tôi may mắn nhặt được chiếc kìm, ai đánh rơi hay là muốn cứu giúp, quẳng cho. Đêm xuống, tôi cắt mấy hàng dây thép gai, trốn một mình. Thế mà được!”. Anh Ngạn cười: - Trốn tù cũng phải có gan. Không thì cứ ngồi tù. Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại khổ lắm. Đúng không Thứ? Đang nghe chuyện Thứ thì các anh Bộ tư lệnh đến, anh Ngạn liền vào nhà làm việc. Chúng tôi nghe tiếp chuyện, anh Thứ kể khá chi tiết: “Trước khi tôi bị bắt, mấy anh em cùng lánh sra phía Trại Chè, Dương Liễu. Lộ qua con sông gì đó, bãi phù sa rộng và dẻo quánh, dính bắp chân, bắp đùi. Không bến rửa, tôi gạt vợi bùn sa, xâu tạm quần đùi rồi đi. Anh Ngạn không mang quần đùi. Anh tháo cái quần nâu khoác quanh cổ rồi lội sông. Bùn sa dính bếp vào cặp chân dài, ngại sợ lấm quần, cứ thế hành quân, có anh Nam biết đấy, khì… khì… Nghĩ lại cứ buồn cười. Khi ấy đã tám chín giờ sáng. Tôi đi sau thấy vậy, nhắc anh: “Anh mặc quần vào”. Anh chậc lưỡi: “Để rửa cái chân đàng hoàng”. Tôi nhìn cái áo bông nâu của anh nửa mặc nửa đắp thay chăn, vạt trước vạt sau đều lưng lửng, có thể che được phần nào. Vả lại mấy người dân cùng đi là đàn ông, chẳng ai để ý. Đi mãi đến chố có bến sông rửa chân, anh mới trang phục chỉnh tề”. Thứ kể tiếp: “Xế chiều, có một cậu bộ đội Hải - Kiến lạc ngũ, vai đeo súng trường hết đạn, vào chỗ tôi kêu đói. Tôi nhắc cài quần dài khoác cổ xuống, soát lại còn mấy quả trứng, cấp dưỡng Nghị giao cho bảo quản. Chạy suốt đêm mà trứng không vỡ. Tôi xuống biếp luộc vội, đem lên, hai thằng cùng ăn. Một lúc sau đó, có một cậu ở 320 lạc đường, mình rần quần cộc vào chỗ tôi kêu: “Em mất cả quần áo”. Trời còn lạnh, ông chủ nhà nhìn anh bộ đội nói trọ trẹ tiếng khu Bốn, bống thương tình, lấy một bộ quần áo nâu lành lặn. Anh ta ngần ngại. Ông chủ nhà bảo: “Chú mặc cho ấm. Chú như con tôi!”. Đêm ấy, anh Ngạn và chúng tôi sang Thái Ninh, vào làng Chỉ Thiện. Mới sáng sớm đã nhận tin địch vào đầu làng rồi. Liền đưa anh Ngạn và anh Hà xuống hầm bí mật. Đậy nắp, ngụy trang cẩn thận, rồi toàn lui về phía sau. Bỗng cửa hầm bị đẩy lên, ông Nghĩa thò đầu ra. Thấy tôi, ông chỉ cái túi vại ở cạnh bụi rậm. Tôi vội nhặt cho ông, rồi ngụy trang hầm. Chắc là mải xuống hầm, bỏ quên. Ngay lúc đó hàng loạt đạn đại bác nổ như sấm rền cả phía trước, phía sau. Quân tỉnh Thái Bình - đại đội anh Chức chiến đấu quyết liệt. Một khẩu đại liên của ta nhả đạn giòn giã, chặn đứng một mũi, giặc chết như ngả rạ. Các mũi khác cũng nổ súng quyết liệt, trung, tiểu liên của bộ đội, súng trường của du kích chờ địch đến gần, nổ như ngô rang. Địch nằm rạp ngoài lũy rtre làng, không dám ngóc đầu. Máy bay bà già nghiêng ngó chỉ điểm. Một thằng phóng pháo liệng vòng rồi thả napan trùm lên khẩu đại liên của ta. Khổng còn tiếng nổ đanh giòn, mình tức đến nghẹn cổ. Anh em rút vào tuyến hai đánh cố thủ. Mình mải nhìn mấy thằng Tây thụt hố chông, kêu như bò rống ở phía ven làng. Bỗng mấy thằng ngụy xốc đến, chộp nghiến lấy hai tay, mình dằng không ra. Trên đường bị chúng ấp giải đi, mình thấy mấy cậu du kích hi sinh, tay vẫn cầm mã tấu. Sau này càng nghĩ càng thêm phục anh em bộ đội địa phương, dân quân du kích, không ngại hi sinh, đánh kìm chân địch để chủ lực luồn càn, đỡ tổn thất…”. Hôm ấy anh em chúng tôi đổ rọ được nhiều cá trê, nấu ăn mừng Thứ trở về. Cấp dưỡng Nghị quê ở xã Hồng Xuân (Thư Trì) làm món ăn giỏi. Tiền ít, Nghị vẫn kiếm xương sông, lá lốt nấu được món ăn khác thường. Vừa rót tương ra bát, cậu ta vừa ngâm sa mạc: Giữa đường đứt gánh… tương chua Anh thương nàng quá, anh mua… cả nàng Anh Ngạn mỉm cười và bảo tôi: - Đứt gánh tương tư mà nó xuyên tạc là tương chua. Cái thằng lém! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:54:55 pm BÀN CÁCH CHỐNG CÀN “LẠC ĐÀ” Anh Ngạn cùng các đồng chí tham mưu họp khẩn cấp. Anh Miên mở bản đồ ra trình bày: - Điện của Bộ tổng tư lệnh cho hay kẻ địch sẽ càn trận mới mang tên “Lạc Đà” (Đơrômađe). Thời gian có thể là trung hoặc hạ tuần tháng 4-1952. Địa điểm là Hưng Yên và tây Hải Dương. Trọng điểm là khu căn cứ du kích Tiên Lữ, Phù Cừ, Thanh Miện, sẽ có những “mẻ vó” được cất, nhằm loại trừ quân chủ lực ta. Quân địch có năm GM cơ động, một GM dự bị, một số đại đội biệt kích Commăngđô. Khá nhiều xe cơ giới, máy bay, đại bác, tàu chiến, ca nô phụ tợ. Đại tá Ginlơ chỉ huy cuộc càn. Anh Miện báo cáo tiếp: - Lực lượng ta có Trung đoàn 52 (thuộc 320) và Trung đoàn 42 (chủ lực Tả Ngạn) đang ở trên đất Hưng Yên và Hải Dương, cùng bộ đội, du kích địa phương được củng cố qua nửa năm sau trận càn “Trái Chanh”. Trên cơ sở dự đoán hướng càn mới của địch, ta cử phần lớn cán bộ sang bắc sông Luộc hướng dẫn, đôn đốc chuẩn bị chống càn. Ban lãnh đạo của hai tỉnh cùng chỉ huy Trung đoàn 42 đã họp, thống nhất chủ trương chống càn, với bốn điểm chính: - Bộ đội các huyện cùng du kích các xã đánh trong vòng càn tiêu hao địch, ngăn từng bước tiến của chúng, bảo vệ nhân dân. Bộ đội tỉnh luồn sâu vào vùng tạm chiếm, lên sát đường 5 hoạt động mạnh, nhằm phân tán mục tiêu của địch, khiến chúng bị động đối phó. - Trung đoàn 42, nhằm khi địch hình thành vòng vây rộng quanh vùng càn, cho một tiểu đoàn đánh một đồn lớn nhất sát cạnh vòng càn. Tiếp theo là cùng bộ đội huyện Gia Lộc và dân quân du kích hành quân nghi bình thu hút địch về hướng đó, rồi chuyển sang Thái Bình. Hai tiểu đoàn khác luồn ra ngoài vòng càn. Trước khi địch tới hợp điểm, rồi đánh vào sau lưng chúng tại địa bàn Hưng Yên, Hải Dương. Tránh dồn quân vào một hướng, tránh đánh cố thủ; nếu bị vây phải giữ vững trận địa, đợi trời tối thoát ra ngoài hoặc đánh phá vây. - Trung đoàn 52 hoạt động độc lập theo sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn, đánh một số trận rồi chuyển quân sang Thái Bình. Anh Sáng, tham mưu phó bổ sung: - Trong trận “Trái Quýt”, qua năm ngày vật lộn với địch, Trung đoàn 42 nhận được chỉ thị của Bộ tổng tư lệnh: “Rút ra ngoài vòng vây, đánh các vị trí pháo và những chỗ sơ hở của địch”, thì Ban chỉ huy chống càn nổ ra tranh luận: - Nếu rút ngay bộ đội chủ lực ra ngoài vòng vây, cán bộ, nhân dân không kịp luồn rránh, sẽ bị địch “cất vó” nhiều. Ý kiến thứ hai cho rằng bộ đội chủ lực phải luồn càn để tránh thiệt hại, chỉ để một bộ phận cùng bộ đội địa phương và du kích ở lại kìm chân địch và hướng dẫn nhân dân luồn tránh. Cuối cùng quyết định theo ý kiến thư hai. Vì thế lần này trung đoàn và các tỉnh thống nhất chủ trương như anh Miên báo cáo, để khi vào trận khỏi phải tranh luận. Nghe tham mưu phó báo cáo bổ sung, anh Ngạn ngẫm nghĩ và nhận ra đấy là một vấn đề quan trọng, cần phải được chỉ đạo rõ ràng. Anh nói: - Đấy không đơn thuần là sự phân công giữa trung đoàn chủ lực và các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện. Nó còn là vấn đề chiến thuật, quy định trách nhiệm: lực lượng nào tránh; lực lượng nào đánh, đánh thế nào, đánh ở đâu, trong tình huống nào… nhằm có lợi cho cuộc chiến đấu chung. Chỉ thảo thuận giữa Ban chỉ huy chủ lực và lãnh đạo các tỉnh là chưa đủ. Cần phải có quy định từ khu xuống. Cụ thể là: - Bộ đội huyện và du kích xã đánh kiềm chế, tiêu hao địch trong vòng càn. - Bộ đội tỉnh vừa đánh vừa luồn càn, đánh chủ động tiêu diệt địch. Nơi nào không có bộ đội tỉnh, mà du kích yếu, có thể tách một vài đơn vị chủ lực ra làm nhiệm vụ thay thế cho bộ đội tỉnh. - Bộ đội chủ lực phải luồn càn, đánh địch ngoài vòng càn. Cần soạn ngay những điều này thành quy định, truyền đạt tới các lực lượng của Trung ương và khu, và tới các lực lượng bộ đội, du kích địa phương, chiểu quy định thi hành. Không để tái diễn cảnh tranh luận trong ban chỉ đạo chống càn như hồi “Trái Quýt”. Đúng không? Ngừng mấy giây, anh chuyển luôn sang việc khác: - Trận “Thủy Ngân” ta có nhược điểm rất quan trọng là khi vào trận, cần tránh chỗ địch mạnh và đánh chỗ địch có sơ hở như thế nào, ta chưa dự tính được, nên có phần bị động trước hỏa lực khá mạnh của địch. Trận này Bộ tổng tư lệnh đã chỉ ra hướng tiến chủ yếu của địch và quy mô càn quét, song ta phâỉ rút kinh nghiệm các trận càn trước để đối phó với địch khi vào trận. Tất nhiên, mỗi trận có diễn biến khác, phải tùy cơ ứng phó. Song điều cơ bản cần thấy rõ là ba thứ quân và nhân dân ta liên tiếp trải qua vài chục trận càn, có những trận lớn như “Trái Chanh”, “Trái Quýt”, “Thủy Ngân”… anh em được thử thách, rèn luyện, hiểu mình, hiểu địch hơn. Tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế, nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình hơn, để tự thân, tự lực đánh giặc, hặc hợp đồng cùng nhau tác chiến. Sự trưởng thành tự nhiên và tất yếu đó có tính quy luật, nó trở thành niềm tin, thành sức mạnh để vào trận mới! Anh nói rộng hơn: - Khi chúng ta chống càn “Thủy Ngân” thì Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ ba. Hội nghị phê phán tư tưởng nôn nóng, ỷ lại, và khẳng định một lần nữa quan điểm trường kì kháng chiến, tự lực cánh sinh. Trung ương đề ra ba nhiệm vụ lớn: - Tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích; - Phá chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch; - Bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, của kháng chiến. Thi hành Nghị quyết Trung ương, chúng ta phải chống phá quyết liệt các cuộc càn lớn nhỏ của địch. Địch có thể gây cho ta những khó khăn, tổn thất, nhưng chúng không thể đảo ngược tình thế đang bất lợi cho chúng. Sau khi rút khỏi Hòa bình, Xalăng thay Đờ Lát liên tiếp mở hàng chục cuộc càn vào các căn cứ du kích của ta ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Có bốn trận càn lớn thì hai vào Tả Ngạn, “Thủy Ngân” và sắp tới là “Lạc Đà”. Y muốn đè bẹp, nghiến nát chúng ta. Phải dốc mọi tâm lực, chống phá càng dũng cảm và mưu trí, tiêu diệt một bộ phận đáng kể sinh lực của địch, bảo vệ lực lượng ta và nhanh chóng khôi phục vùng bị càn. Anh Ngạn giục các đồng chí tham mưu về ngay sở chỉ huy. Anh cũng giục tôi và đồng chí Thứ ăn cơm rồi sang bên ấy. Trận càn “Lạc Đà” sẽ xảy ra nay mai. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:55:33 pm LẠI NHỮNG NGÀY ĐÊM CĂNG THẲNG Sở chỉ huy đặt ở ngôi từ đường nhỏ, một cửa chính, hai cửa phụ và cửa nách, tiện rút ra ngoài khi mát may, đại bác bắn phá. Hào giao thông đào mấy ngã ngoài vườn, chặn đầu vào từ đường. Nhà riêng của ông thủ từ ba gian tường đất, mái rạ cách đó có một góc sân, trải chiếu xuống nền cho một số cán bộ, chiến sĩ ngồi làm việc. Ở từ đường, chiếu cũng trải xuống nền gạch. Anh Ngạn cùng các đồng chí trong Bộ chỉ huy Mặt trận, ngồi xếp bằng ở bốn góc chiếu, đăm chiêu, theo dõi cuộc càn của địch và cuộc chiến đấu của ta. Các đội quân báo của Trung đoàn 42 và Hưng Yên, Hải Dương bám sát hoạt động của địch, đưa tin về sở chỉ huy Mặt trận. Các nguồn tin theo máy thu phát vô tuyến và liên lạc chạy chân đưa về đều đặn, chính xác, giúp Bộ chỉ huy kịp thời chỉ đạo Trung đoàn và hai tỉnh chống càn: “Đánh địch cả trong và ngoài vùng càn; kiên quyết đánh nhưng không cố thủ, không để bị vây đồn “đáy vó”, cơ động đánh sau lưng và cạnh sường địch…:. Nhờ vậy các đơn vị bình tĩnh chủ động chống càn theo kế hoạch đã định. Ở ngôi nhà gạch cách đó không xa, đặt một máy phát điện quay tay và một điện đài, công cụ liên lạc duy nhất với Bộ tổng tư lệnh. Hằng ngày, ba giờ một lần, theo quy định, nổ máy nhận chỉ thị và tin tức từ Trung ương, hoặc đưa tin, đưa báo cáo từ đây lên Trung ương, qua những cánh tay quay lực lưỡng đổ mồ hôi của anh chiến sĩ; những tín hiện “tạch tạch tè tè” của cô điện báo, nhanh chóng, bí mật và chính xác. Anh Nguyễn Nghiệp nguyên là thư kí của anh Đặng Tính, chuyển sang làm trưởng an Thông tin liên lạc thuộc cơ quan Tham mưu khu Tả Ngạn. Anh phụ trách bộ phận thu phát vô tuyến điện và đội ngũ liên lạc chạy chân. Sở chỉ huy của khu ở đâu, bộ phận vô tuyến điện phải bám sát tại đó, đảm bảo liên lạc đều đặn với Trung ương. Anh em liên lạc chạy chân cũng từ khắp nơi trong khu quy tụ về đây, đưa báo cáo lên và đưa lệnh xuống các trung đoàn, tỉnh đội. Anh Lê Nghĩa quê ở Hà Nội, vốn là một cơ yếu viên nhiều kinh nghiệm của Liên khu bộ Liên khu III, trải mấy công tác rồi sang làm trưởng ban Tác chiến khu Tả Ngạn, nghe, ghi khá nhanh, nắm bắt vấn đề nhạy bén, có đề xuất sát hợp, được cấp trên tín nhiệm. Anh Hoàng Thế quê ở Hà Nội, tòng quân sau Cách mạng Tháng Tám, hoạt động tại chiến trường Hữu Ngạn sông Hồng. Năm 1947, sang Tả Ngạn làm huyện đội trưởng Duyên Hà, rồi công tác ở cơ quan Mặt trận 5. Lúc này là Phó ban Tác chiến, theo dõi sát sao từng cuộc càn của địch, từng trận đánh của ta, ghi chép gọn rõ, kèm những nhận xét xác đáng. Sổ tác chiến ghi diễn biến cảu cuộc chống càn “Lạc Đà”: - Trung đoàn 52 (thuộc 320) diệt hai đại đội địch ở Thọ Lào và Quán Đỏ (Phù Cừ); phục kích đường 39 (Kim Động) diệt hai xe chở lính, rồi rút sang Thái Bình. - Đại đội tỉnh Hưng Yên và các đại đội huyện Khoái Châu, Ân Thi, Yên Mỹ, Văn Lâm cùng du kích nhiều xã chống địch, làm chậm bước tiến của chúng, tiêu hao hàng trăm tên. - Tiểu đoàn 664 (Trung đoàn 42) đánh ở đường 39, diệt bốn xe và hai trung đội địch. Tập kích ở Cổ Lễ, bắt và diệt 56 tên Âu - Phi. - Tiểu đoàn 698 (Trung đoàn 42) đánh ven vòng càn, diệt đồn Đoàn Bái (Gia Lộc), thực hiện nghi binh. - Ở Ninh Giang, bộ đội huyện và du kích đánh địch ở làng Chiền, diệt hơn 100 tên, phá một pháo 37 li, một xe cóc. - Ở Bình Giang, một bộ phận của tiểu đoàn 648 (thuộc 42) đánh đich ở Phú Đa, giệt gần trăm tên. - Ở Hòa Loan, Mỹ Trạch, pháo binh Trung đoàn 32 tập kích cụm đóng quân của GM 4, gây hại cho đơn vị pháo cơ động địch; giải vây cho 7.000 thanh niên và cán bộ. - Ở nam Hưng Yên, địch dồn ta sang và đẩy vào “đáy vó” tại 2, 3 nơi thuộc nam Hải Dương. Bộ đội tỉnh Hưng Yên cùng bộ đội và du kích các huhện Kim Động, Phù Cừ, Ân Thi… liên tục chống càn. - Trinh sát Trung đoàn 42 nắm chắc tình hình địch, giúp cho lãnh đạo phán đoán: ngày 11 hoặc 12- 5, địch sẽ “cất vó”, quyết định cho hai Tiểu đoàn 664 và 648 luồn càn, sang Kim Động, Khoái Châu, và Tứ Kỳ, Thanh Hà. - Ở Hải Dương, địch bị bộ đội tỉnh đánh ở Hữu Chung, Đông La, diệt 187 tên. Ta bị thuông vong một số, do phải đánh cố thủ. - Tiểu đoàn 648 (Trung đoàn 42) ở bắc Thanh Miện bị hai GM vây, có pháo binh và xe tăng yểm hộ. Quân ta ở trong hợp điểm, bố trí chờ đánh, nhưng địch không phát hiện đươc. Đêm xuống ta luồn ra ngoài, đánh tạt sườn địch ở Lôi Khê (Bình Giang) diệt hơn 100 tên. - Địch phát hiện quân ta luồn lên bắc (Hưng Yên), quay lại càn đuổi. Đại đội 22 Hưng Yên phối hợp với Tiểu đoàn 664 (Trung đoàn 42) đánh địch ở Ngọc Nha, Kim Quan (Khoái Châu). Ta bị động đối đấu với GM 5 và tiểu đoàn 5 chiến xa địch, có GM 3 hỗ trợ vòng ngoài. Địch dùng 30 đại bác vào một phi đoàn không quân bán cấp tập, ném bom napan. Chúng mở nhiều đợt xung phong trong một ngày liền, đều bị ta đánh bật. Nhiều lúc ta đánh giáp lá cà với địch. Cuối cùng, ta diệt và làm bị thương 300 tên địch, bắn hỏng một xe tăng. Ta thương vòng gần hai trung đội. Đêm ấy, đại đội trưởng Lê Duy Mật chỉ huy 50 chiến sĩ dũng cảm phá vây, đem theo được thương binh, liệt sĩ. Đây là trận đánh giỏi. Hôm sau, Tiểu đoàn 664 lại chống địch truy kích suốt ngày ở Bình Hồ, Lưu Xá (Ân Thi). Địch chết và bị thương hơn 100 tên. Trận này ta thiệt hại hai trung đội vì lực lượng địch áp đảo, phi pháo dữ đội; ta giảm sức chiến đấu do liên tục chống càn. Tiểu đoàn phó Nguyễn Khắc Trản hi sinh. Cuộc càn “Lạc Đà” đến ngày thứ 35. Anh Ngạn và các đồng chí trong Bộ chỉ huy thay nhau có mặt tại sở chỉ huy. Đêm nào anh cũng thức thới ba giờ hoặc hơn, nghe tổng hợp tình hình trong ngày, phân tích và dự đoán, báo cáo kịp thời lên Bộ tổng tư lệnh, đồng thời có ý kiến chỉ đạo đối với hai tỉnh và Trung đoàn 42. Ở địch hậu, dẫu tại căn cứ vẫn chẳng mấy yên tâm. Khi có cuộc càn thì nơi bị càn rất gian nan nguy hiểm, nơi không bị càn cũng phấp phỏng, lo ấu. Đó là tâm trạng của những người bình thường. Đối với người lãnh đạo dự lo nghĩ còn nhiều gấp bội. Anh Ngạn về đây chưa được nửa năm đã giải quyết hậu quả của các trận càn “Trái Chanh”, “Trái Quýt”. Rồi trực tiếp chỉ đạo chống hai trận “Thủy Ngân”, “Lạc Đà”, tính đến lúc này là hai trận ác liệt nhất, dai dẳng nhất. Cặp mắt thức đêm nhiều của anh đã sâu thêm, đôi gò má nhô cao, da sạm nắng gió. Tôi chớm nghỉ đến sự ốm đau do anh làm việc quá sức. Lúc này tìm Tiểu đoàn 664 chiến đấu hai ngày liền, thương vong quá một phần ba, khiến anh và các đồng chí trong Bộ chỉ huy bồn chồn, lo nghĩ… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:56:20 pm ĐÒI ĐỊCH CHỮA CỐNG TRÀ LINH Chỉ đạo chống càn “Lạc Đà” ở bên kia sông Luộc, anh Ngạn còn chỉ đạo cuộc bảo vệ sản xuất ở bên này sông. Đồng chí Tư Quang, phó bí thư tỉnh ủy Thái Bình đến báo cáo về cống Trà Linh bị địch hủy hoại. Đây là chiếc cống lớn nhất của tám huyện phía bắc tỉnh, giữ nước ngọt va ngăn nước mặn cho hơn chục vạn mẫu ruộng. Tháng 4-1950, Pháp đóng đồn sát bên cống. Khi mưa úng, chúng không cho mở cống tiêu. Khi hạn hán, chúng mở cống để nước mặn từ biển ùa vào hoặc để chảy mất nước ngọt. Chúng dỡ đá kè hai mang cố để xây đồn; ném lựu đạn và mìn xuống cửa cống để bắt cá, khiến cánh cống hư hại. Cống hỏng hóc gây khó khăn nặng nề cho nông dân, mùa màng thất thoát. Đầu năm 1952, bộ đội ta diệt đồn Trà Linh, chính quyền tỉnh, huyện huy động nhân dân chữa cống. Giữa lúc sắp thi công, địch càn “Thủy Ngân”, đóng lại đồn Trà Linh, ta phải đình hoãn. Có nguy cơ vụ chiêm 1952 phải bỏ hoang năm vạn mẫu Bắc Bộ. Tỉnh uỷ Thái Bình chủ trương mở cuộc đấu tranh trong nhân dân vùng tạm bị chếm quanh đó. Đòi địch đóng, mở cống đúng lúc, trước mắt là giữ nước làm chiêm. Anh Ngạn nghe báo cáo rồi nói: - Hưng Yên, Hải Dương đang chống càn, Thái Bình đấu tranh chính trị, kinh tế là phối hợp đúng lúc, tranh thủ kịp thời. Bọn quân đồn trú chỉ tác oai tác quái khi bọn cơ động càn quét. Khi bọn cơ động đi nơi khác, bọn đồn trú lại phải mềm mỏng với dân. Cống Đào Thành mở bằng võ lực lấy nước cấy chiêm tốt lắm. Cần lấy thắng lợi của Đào Thành mà cổ vũ quần chúng đấu tranh. Không đấu tranh thì địch bỏ mặc. Cống Trà Linh là nguồn sống của nhân dân, của bộ đội, cán bộ ta. Phải làm cho quần chúng kết hợp đòi chữa cống với đòi không nộp thuế, không nôp thóc, vì không cấy được lúa, lấy gì mà nộp. Đòi không bắt lính, bắt phu, vì đói ăn không đi được. Kết hợp đấu tranh hợp pháp với bất hợp pháp; lực lượng nông dân là chính, đồng thời tổ chức nhiều lực lượng khác hỗ trợ. Vừa cảnh cáo vừa thuyết phục trưởng đồn Trà Linh để nó cho mở, đóng cống theo ý ta. Làm đơn đòi ngụy quyền, từ tỉnh trưởng Thái Bình đến thủ hiến Bắc Việt, chữa cống. Địa chủ, phú nông nhiều ruộng, cần kéo họ vào cuộc đấu tranh; họ không thể làm ngơ để rồi “tọa hưởng kì thành”… Với mọi mưu trí, nhièu lực lượng, đòi chữa bằng được cái cống có tầm quan trọng sinh tử ấy. Muốn thu được thuế nông nghiệp nuôi quân, nuôi cán ở Tả Ngạn và gửi ra Việt Bắc, phải làm cho dân cấy được lúa, phải có nước tưới ruộng cho dân. Đúng không? Ban Thường vụ tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh này. Các đoàn thể Thanh Công Nông Phụ phải tỏa ra vận động quần chúng của mình. Đảng Chính Quân Dân, Tuyên Văn Giáo Huấn phải tập trung chỉ đạo, tuyên truyền, thúc đyả đấu tranh, như mở chiến dịch. Đúng không anh? Cuộc đấu tranh được nhân dân hưởng ứng manh mẽ. Những nơi tạm bị chiếm thuộc Thụy Anh, Thái Ninh, Đông Quan làm đơn cùng các ban tề đi thỉnh cùa. Đi từng nhóm, từng tổ, đi liên tiếp, dần dần đi đông thành cuộc biểu tình, đòi chữa cống, kết hợp chống nộp thếu, nộp thóc, nộp tre, bắt phu, bắt lính… Nông dân các xã Hồng Châu (thụy Anh), Vị Dương (Thái Ninh) kéo thẳng đến đồn Trà Linh đấu tranh trực diện. Tỉnh đội Thái Bình viết thư cảnh cáo trưởng đồn Trà Linh, yêu cầu cho mở, đóng cống đúng lúc, kịp thời, theo yêu cầu của nông dân. Cùng lúc ấy, huyện Thư Trí có cuộc đấu tranh phối hợp với Trà Linh, đòi xếp kè Hương Điền. Đoạn kè bảo vệ đê sông Hồng này bị sạt lở có nguy cơ vỡ. Nông dân làm đơn cùng ban tề lên huyện, tỉnh đồi chữa kè trước múa lũ. Tỉnh trưởng Hà Bỉnh Quân ra ý giữ “Thể diện quốc gia”, hứa sẽ sửa chữa. Bọn y phải bỏ ra 250.000 đồng Đông Dương chữa cống Trà Linh; và hứa giao cho trưởng đồn Trà Linh mở, đóng cống đúng lúc. Đồng thời sẽ chữa kè Hương Điền, nhưng viện cớ chiến tranh khó đi mua đá. Huyện Thụy Anh, nơi có cống thấy địch nhượng bộ, không muốn đấu tranh thêm, sợ già néo đứt dây. Ban Thường vụ tỉnh ủy Thái Bình họp nhận định: “Cuộc đấu tranh có lợi ích thiết thân được nông dân quanh vùng hưởng ứng và bước đầu có kết quả. Song khoản tiền địch cấp chỉ đủ sửa một cánh cống, kết quả nửa vời, tác dụng vẫn hạn chế. Nay đã đến lúc gặt chiêm, những nơi lúa không chết thì dân mải vào việc thu hái. Nếu đấu tranh tiếp ngay lúc này e không huy động lực lượng được đông đảo. Cũng đề phòng sự già néo đứt dây. Cần xin sự chỉ đạo của khu ủy”. Đồng chí Tư Quang mang nỗi băn khoăn lên báo cáo với anh Ngạn. Anh hỏi: - Vụ chiêm này ở vùng chịu ảnh hưởng của cống Trà Linh như thế nào? Tư Quang buồn bã đáp: - Vụ này vẫn chưa giữ được nước tưới lúa, cánh đồng nứt nẻ, lúa chết vì khô và bốc mặn. Thụy Anh, Thái Ninh, Đông Quan… mất tới gần mười vạn tấn thóc. Anh Ngạn nói: - Phải lấy việc mất mùa để gây căm thù, tiếp tục mở rộng cuộc đấu tranh đòi chữa cống. Đợt vừa qua đấu tranh phần nào có kết quả. Sức mạnh và lẽ phải của nông dân đã khiến ngụy quyền lùi. Ngụy quyền là bọn tay sai của địch nhưng lại muốn tỏ ra có “Quyền lực quốc gia”. Chúng sợ dân coi là bù nhìn, Pháp bảo sao nghe vậy, nên xử sự ngả theo yêu cùa của dân. Đợt tiếp phải vận động lực lượng đông đảo hơn. Xuất phát từ thực tế: mọi ngời già trẻ, giàu nghèo đều phải ăn, phải “Dĩ thực vi thiên”, “Mất mùa thầy chùa cũng chết”, để lôi cuốn nhiều tầng lớp nhân dân tham gia. Dân vùng thạm chiếm đã đấu tranh, phải lôi cuốn cả ngụy quân, ngụy quyền, tề, dõng tham gia. Dân ở thành phố, thị xã sẽ cũng chịu đói kém khi mất mùa, cần vận động họ đấu tranh. Ông sư, bà vãi vận động phật tử; linh mục, thầy tu vận động giáo dân, càng đông người kẻ địch càng phải nhượng bộ. Đừng sợ căng thẳng, càng không sợ chúng tự ái. Chỉ có những kẻ ăn cám mới dám chống lại cuộc đấu tranh vì hạt gạo, miếng cơm này. Đúng không? Nếu sắp gặt chiêm thì tạm ngừng vài tháng, để nông dân những nơi có lúa gặt về nhà. Rồi lại tiếp tục đấu tranh vào tháng sáu, tháng bảy nhân màu nước lũ, thêm sức thúc đẩy… Anh Ngạn bắt tay đồng chí Tư Quang dặn thêm: - Phải tiếp tục vận động thật sâu sắc, rộng khắp, đánh một đòn quyết thắng! Tiêu đề: Re: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:13:25 pm SAO GỌI ANH LÀ MƯỜI? Ở địch hậu lúc nào cũng phải tranh thủ. Tranh thủ khi giặc càn xong rút đi nơi khác, mà hàn gắn mọi thứ chúng phá phách. Tranh thủ khi chúng bận mải ở chiến trường chính, mà đánh chúng ở đây. Tranh thủ khi chúng càn ở tỉnh kia, mà đấu tranh chính trị, kinh tế ở tỉnh này. Anh em chúng tôi tranh thủ lúc anh Ngạn nghiên cứu chỉ thị hoặc sửa duyệt văn bản, mà trò chuyện với nhau. Tôi ngắm anh Thứ, khuôn mặt xương xương kiên nghị, đôi mắt tinh nhanh, đôi tay khỏe khoắn và khéo léo. Tôi nghĩ tới chuyện Thứ bắn súng mỗi phát một chim cu gáy, liền gỏi: - Tại sao ông bắn giỏi thế? Thứ trả lời: “Tôi tập bắn từ khi đi với tướng Nguyễn Bình. Trước đó nhà nghèo, tôi thường sang Đông Triều gặt thuê. Khi ấy ông Nguyễn Bình đã theo cách mạng, ở Chiến khu Đệ Tứ. Tôi thấy ông dũng mãnh, bắn giỏi thì mến phục, muốn đi theo làm lính. Ông nhận ngay và dạy bắn súng. Khi ông vào Nam đánh Pháp, tôi đau bụng không theo được. Trở về, tôi theo ông Nguyễn Lương Bằng ít lâu, rồi vào cảnh vệ tỉnh Hưng Yên. Mấy lần anh Ngạn từ Liên khu III sang, tôi được tỉnh cử đi bảo vệ. Anh ưng ý và bảo tôi đi với anh”. Kể về mình rồi Thứ kể về anh Ngạn: “Hôm ấy, anh với tôi qua cánh đồng rộng, chân mỏi nhừ. Tới một chỗ có con mương, nước chảy róc rách, anh bảo nghỉ chân. Anh hỏi về bố mẹ tôi. Vui chuyện, tôi tò mò hỏi lại: “Sao bên khu III, người ta gọi anh là Mười?”. Anh vừa phe phảy cái non cho mát, vừa thủ thỉ: - Mình tên là Cống, em mình là Xế. Còn cái tên Mười là từ sau đêm mình trốn khỏi nhà giam Hỏa Lò. Dạo ấy Nhật đảo chính Pháp, anh em tù lợi dụng thời cơ chuẩn bị vượt ngục. Toán ra trước lọt nhưng làm lộ. Toán ra sau không lọt. Mình trốn vào chỗ nhốt tù đi “căng” - đi đày. Ở đó, mình tìm thấy nắp cống, rủ các anh Hòa, Xuân, Bật cùng trốn. Hòa nhỏ người chui xuống trước thăm dò một lúc rồi lên ngay, kêu: “Tối lắm”. Hòa kiếm đoạn dây dài buộc vào cổ tay để nếu cần thì giật, báo hiệu cho anh em ở trên. Lần thứ hai, Hòa chui một đoạn dài hơn, rồi trở lại, nói: “Chui được nhưng mãi không thấy lối ra”. Anh em động viên Hòa chui lần thứ ba. Hòa chui xa nữa, thấy le lói ánh sáng, đội nắp cống nhìn ra, thấy phía trước có chân người đi lại. Hòa mừng lắm, lần theo dây quay lại, gọi anh em cùng trốn. Mình cùng anh em chui xuống cống, lom khom bò, tối cũng không chùn, quên cả hôi hám. Một lúc lâu ra tới cửa cống ngoài xa. Thế là thoát. Hôm ấy là ngày 30. Nhân ra tù phải đổi tên, mình toán lấy “Ba Mươi” làm tên để nhớ ngày thoát ngục. Nhưng e dài, rút lại là Mười. Anh em cứ thế gọi thành quen. Rồi mình lấy thêm họ Đỗ, chứ mình chính là họ Nguyễn. Nhà mình xưa cũng nghèo như nhà Thứ. bố mẹ mình làm ruộng và chạy chợ kiếm ăn từng bữa. Vợ mình là bà đỡ thôn quê, đỡ được nhiều trẻ mẹ tròn con vuông, nhưng con mình lại bị sảy, rồi bà ấy qua đời luôn. Tôi lại hỏi: - Sao anh em còn gọi anh là “chị Mười”? Anh mỉnh cười kể: - Dạo ấy mình được Trung ương điều vào công tác miền Nam, đường chưa thông, chưa đi được. Cùng lúc có việc sáp nhập Hội Phụ nữ cứu quốc vào Liên hiệp phụ nữ, nhằm đoàn kết đông đảo chị em tham gia kháng chiến. Chị Hoàng Ngân được Trung ương giao chỉ đạo việc hợp nhất đó, nhưng chị ốm rồi mất. Anh Hoàng Quốc Việt cử mình sang giúp các chị làm việc đó thay chị Hoàng Ngân. Làm xong, mình trở lại Liên khu III rồi vào Tả Ngạn. vì thế, anh em gọi mình là “chị Mười”. Nói đến đây, hai anh em lại lên đường. Tôi nghĩ bụng: - Cảnh anh thế là khổ, chín tuổi mồ côi mẹ, 12 tuổi đi làm thuê. Ở tù mười năm, vợ con chết sớm… Lặng lẽ hồi lâu, bỗng thấy ba đứa trẻ cưỡi ba con trâu từ bãi sôgn lên. Một thắng hò, hai thằng đế, giọng cao và trong trẻo, dễ nghe: Đồn nào dày bằng ven sông Đáy Giặc nào hung bằng mé sông Hồng Đêm đêm vượt bãi băng đồng Thuế nông ta gánh ra vùng tự do… Anh Ngạn chăm chú nghe rồi bảo tôi: - Đây là bài hò của bố mẹ chúng. Thiếu bài hát thì chúng hò. Chúng khổ vì càn quét, bom đạn, khổ vì không được học hành, lại còn đi ở thuê, chăn trâu cắt cỏ…”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:15:38 pm NGÀY THỨ 36 CỦA TRẬN “LẠC ĐÀ” Trò chuyện với anh em, tôi vẫn đế ý xem anh Ngạn có gọi? Thấy anh từ trong nhà ra, đi đi lại lại ở hiên, tôi lền bước tới. Anh bảo: “Sang bên từ đường”. Rồi vội vàng gọi Lê cùng sang sở chỉ huy. Sau khi ở lại Thái Ninh chữa chân, anh Lê đã về với chúng tôi. Trận “Lạc Đà” sang ngày thứ 36. Chiều nay phiên trực của anh Khai và anh Hoàng Thế. Anh Ngạn vẫn ngồi xếp bằng ở góc chiếu và hỏi ngay: “Có gì đáng chú ý?”. Anh Khai báo cáo: “Ngày 28-5, ở đông Phù Cừ, Đại đội 50 (thuộc Tiểu đoàn 648, Trung đoàn 42) có tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh và một bộ phận đoàn bộ cùng đi, trú quân ở Thọ Lão. Đại đội phải đánh cố thủ với bọn địch đông hơn rất nhiều, có xe, đại bác, máy bay phối chiến. Quân ta do Nguyễn Mạnh trực tiếp chỉ huy, đánh bật sáu đợt xung phong của địch, diệt 220 tên, bất chấp hàng trăm quả đại bác, bom nổ, bom napan dội xuống trận địa. Ta anh dũng chiến đấu, quân số chỉ còn một phần ba. Có chiến sĩ bắn trung liên một mình chặn hàng trăm tên địch ào ạt tràn tới. Một tổ xung kích giành giật một ngôi miếu với cả trung đội địch… Song đơn vị vẫn bị vây hãm. Để cứu đơn vị trên, tiểu đoàn phó 648 được giao chỉ huy một đại đội cùng một trung đội trợ chiến, lợi dụng đêm tối đánh từ ngoài vào, mở đường cho đơn vị trên từ trong đánh ra. Nhưng người tiểu đoàn phó đó không cho quân tiếp cận đánh mạnh, chỉ ở xa bắn vài loạt đại liên, súng cối rồi rút. Khiến đơn vị bị vây phải cố thủ đến tôi hôm sau, đánh một trận giáp chiến, phá vây, vượt đồng nước ra ngoài, nhưng tiểu đoàn trưởng hi sinh. Anh Ngạn lặng người đi một lúc rồi nói: - Đây là lỗi của cán bộ cấp trên, không nhận rõ tính chất quan trọng của trận đánh để chọn người chỉ huy trực tiếp đi ứng cứu. Người chỉ huy trực tiếp thiếu tinh thần trách nhiệm và thiếu ý chí tiến công địch, chưa muốn nói là sợ nguy hiểm, làm việc chiếu lệ. Sẽ phải giúp cho anh em kiểm điểm nhận ra sai lầm, để sau đó làm nhiệm vụ cho tốt. Đúng lúc khẩn trương chỉ đạo chống càn, vệ binh vào báo: “Có một chị bồng con đến hỏi anh Thế”. Anh thế lúng túng trước việc vợ con đến thăm không đúng lúc, không biết nói năng ra sao trước cấp chỉ huy. Anh Ngạn bảo: Đưa mẹ con cô ấy về đây nghỉ chân. Đường xa, đi bộ mệt mỏi! Đồng chí vệ binh đưa mẹ con chị Thế vòa nhà ông thủ từ ngồi đợi. Lúc này anh Ngạn thấy Hoàng Thế không đeo đồng hồ. Anh hỏi: - Cán bộ theo dõi tác chiến mà đồng hồ để đâu? Thế nói thật là con ốm phải bán đồng hò mua thuốc. Anh Ngạn nhắc anh Khai: - Anh bảo bộ phận cung cấp có thể mua cho đồng chí Thế một cái đồng hồ? Đấy là công cụ mà người tham mưu không thể thiếu như người chiến sĩ không thể thiếu súng! Hôm sau, Thế nhận một chiếc đồng hồ. Thế xúc động kể lại với anh em: Lần trước khi Thế bị thương đi mổ về, chưa thật lành, anh Ngạn xem rồi bảo Thế: - Nói với đồng chí Chật cung cấp cho xuất thêm năm lộ pênixilin, Thế tiêm thật lành vết thương, đừng để tái phát! Thế tỏ ý ngnầ ngại, vì thuốc lúc này rất hiếm, phải mua từng lọ từ vùng địch ra. Anh Ngạn gắt: - Tiết kiệm là phải nhưng tùy từng lúc. Lúc này cần khỏi đau để còn chiến đấu. Đúng không? Xế chiều có thêm tình hình do liên lạc ở vùng càn ra. Bộ phận vô tuyến với máy phát điện quay tay cũng đưa sang sở chỉ huy một bức điện của Tư: “Địch có triệu chứng kết thúc trận càn. Tiếp tục đề phòng chúng càn lại, đồng thời theo dõi sát và phán đoán hướng càn khác”. Anh Ngạn bắt tay anh Khai, mắt sáng lên: - Sắp hết một keo! Trung đoàn 42 cho đến lúc này là được bảo toàn về cơ bản rồi. Rất tiếc cái trận Thọ Lão, anh em không đều tay, tổn thất… Ta lại chỉ đạo cho Hưng Yên, Hải Dương giải quyết hậu quả ổn định tình hình sau càn; rút kinh nghiệm kip thời chuẩn bị chống càn trận tới! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:16:21 pm THÀNH LẬP KHU TẢ NGẠN SÔNG HỒNG Ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ra nghị quyết về việc thành lập khu Tả Ngạn sông Hồng. Nội dung: “Xét sự phát triển mới của tình hình địch hậu Tả Ngạn; để tăng cường lãnh đạo đấu tranh ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ: 1) Tách Tả Ngạn khỏi Liên khu III thành lập một khu mới là khu Tả Ngạn sông Hồng. 2) Khu Tả Ngạn đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tư, Chính phủ và Bộ tổng tư lệnh. 3) Liên khu III và Liên khu Việt Bắc có nhiệm vụ hết sức giúp đỡ khu Tả Ngạn về giao thông liên lạc, vận chuyển tiếp tế, huấn luyện cán bộ và các việc khác trong điều kiện có thể của minh. 4) Chỉ định đồng chí Đỗ Mười làm bí thư Khu ủy kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu và chính ủy Bộ tư lệnh. 5) Việc tổ chức Khu ủy, Ủy ban Kháng chiến hành chính khu, Bộ tư lệnh khu và các cơ quan chuyên môn, đồng chí Mười thảo luận với Liên khu ủy III rồi đưa lên Trung ương duyệt. Tổ chức nhẹ nhàng, được việc, thích hợp với hoàn cảnh địch hậu. 6) Tổng quân ủy, Liên khu ủy Việt Bắc, Liên khu ủy III và đồng chí Đỗ Mười chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này”. Thi hành Nghị quyết trên, ngày 27-5-1952, đồng chí Võ Nguyên Giáp có mật điện gửi anh Mười (đồng điện các anh Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Đặng Tính) về nhiệm vụ Bộ tư lệnh Tả Ngạn:- Chỉ đạo và chỉ huy xây dựng tác chiến các lực lượng vũ trang địa phương Tả Ngạn (kể cả Trung đoàn 42). Bộ tư lệnh Liên khu III và Liên khu Việt Bắc có nhiệm vụ giúp đỡ Tả Ngạn theo Nghị quyết của Trung ương. - Bộ tư lệnh Tả Ngạn chỉ huy các trung đoàn chủ lực hoạt động độc lập ở Tả Ngạn trong trường hợp không có cán bộ đại đoàn trực tiếp phụ trách. Các đơn vị chủ lực sẽ được trực tiếp chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực mình hoạt động. việc bổ sung và cung cấp cho các đơn vị chủ lực do Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn phụ trách. - Tổ chức cơ quan tư lệnh khu lấy cơ quan Mặt trận 5 làm cơ sở, gồm tham mưu, chính trị, cung cấp, một đại đội trực thuộc… Bức điện còn chỉ rõ: bộ máy đơn giản nhẹ nhàng, ít người, việc nào kiêm nhiệm được thì bớt người… Bắt đầu từ ngày 1-6-1952, Bộ tổng tư lệnh sẽ ra chri thị trực tiếp cho Bộ tư lệnh Tả Ngạn. Ngày 4-6, Ban Trung ương khu ủy Tả Ngạn họp có ba đồng chí: Đỗ Mười, Đạng Tính, Nguyễn Năng Hách. Đầu tiên là bản vấn đề tổ chức. Trên cơ sở số người hiện có, đồng chí Đỗ Mười giữ các chức vụ cho Trung ương chỉ định, kiêm trưởng ban Tuyên Văn Giáo Huấn. Đồng chí Hoàng Bá Sơn, sắp sang, phó bí thư thường trực phụ trách Dân vận, Kiểm tra. Đồng chí Đặng Tính, tư lệnh trưởng. Đồng chí Dương Hữu Miên, phó tư lệnh khu kiêm tham mưu trưởng. Đồng chí Nguyễn Khai, khu ủy viên, phó chính ủy quân khu, phụ trách địch vận kiêm trưởng phòng Chính trị. Đồng chí Nguyễn Năng Hách, phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu, v.v. Cuộc họp cũng đề cập bộ máy lãnh đạo Đảng và chính quyền các tỉnh trong khu. Về cơ bản dựa vào và phát triển bộ máy sẵn có, nên hoạt động thuận lợi. Trung ương nhất trrí với sự phân công như trên. Ít ngày sau do yêu cầu công tác, Bộ tổng tư lệnh điều động đồng chí Đặng Tính lên Trung ương. Anh Nguyễn Khai làm tư lệnh trưởng thay anh Tính. Anh Tính quê ở Hải Dương, tuổi ngoài ba mươi, năng động, giạu nghị lực. Trước Cách mạng Tháng Tám, anh hoạt động ở Chiến khu Đệ Tứ. Sau Cách mạng Tháng Tám, anh làm bí thư tỉnh ủy Hải Dương. Khi địch chiếm vùng đường 5, anh được Liên khu ủy III phân công làm bí thư Đảng ủy Mặt trận 5, cùng làm việc với các đồng chí trong Bộ chỉ huy là Nguyễn Khai, Dương Hữu Miên… chỉ đạo chiến đấu cho sát với tình hình địch hậu. Địch đánh chiếm Thái Bình, anh được Liên khu ủy cử về đấy làm bí thư tỉnh ủy. Anh là người có công lớn góp phần đưa phong trào Thái Bình nhanh chóng vượt qua thời kì đen tối đầu năm 1950. Khi phong trào Thái Bình đã hồi phục, cấp trên rút anh sang Bộ tư lệnh Liên khu III. Lập khu Tả Ngạn, anh lại trở về làm tư lệnh trưởng. Anh đi khỏi Tả Ngạn nhưng anh em luôn nhớ anh, người lãnh đạo, người chỉ huy mẫu mực và một “cây văn nghệ” có duyên. Theo sự phân công kể trên, các đồng chí ở khu Tả Ngạn nhận nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao, khắc phục khó khăn việc nhiều người ít. Một chương trình công tác sơ bộ đạt ra để thực hiện ngay. Chiến đấu thì theo kế hoạch hè - thu 1952 đã vạch. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:17:06 pm XEM XÉT TRẬN TRƯỚC, CHUẨN BỊ TRẬN SAU Trận càn “Lạc Đà” 36 ngày, dài nhất từ trước cho đến lúc này, ác liệt cùng vào hạng nhất. Báo cáo từ Hưng Yên về: địch dùng xe cóc quần nát hàng nghìn mẫu lúa chiêm sắp chín. Đốt cháy hoặc đổ xuống ao hàng trăm tấn thóc. Cướp giết hàng vạn trâu, bò, lợn, gà,… Nhiều làng xóm cháy trụi hoặc bom đạn cày xới. Gần 2.000 người chết, bị thương, bị bắt. Xã Phú Cường (Kim Động) chết 78 người, bị thương 23, bị bắt 305 người. Sau đó vài tuần, địch càn lại khu tây Kim Đồng, bắn phá cả nhà thờ Sài Quất, làm chết và bị thương 150 người; hãm hiếp con chiên, đánh đâp linh mục. Chúng đóng lại tám đồn ở bắc Khoái Châu… Song quân dân Hưng Yên đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.416 tên địch, góp phần đánh bại âm mưu tìm diệt bộ đội chủ lực ta. Báo cáo từ Hải Dương về: ba thứ quân chống càn khá đều ở sáu huyện phía tây, loại khỏi vòng chiến 783 tên địch. Bộ tư lệnh Tả Ngạn tổng hợp tình hình: quân dân ở vùng bị càn đã đánh chết và làm bị thương hơn 2.000 tên địch, khiến các mục tiêu cuộc càn của chúng không đạt: không chiếm đợc căn cứ hoặc khu du kích nào; Trung đoàn 42 cơ bản bảo toàn được lực lượng và có những trận đánh nhiều hiệu quả. Bộ đội các huyện cùng du kích đánh hàng trăm trận lớn ngoài vòng càn có kết quả, rút được kinh nghiệm thiết thực… Song ta cũng có những thiếu sót: tiểu đoàn 698 hoạt động ở ngoài vòng càn (đông Hải Dương) chưa dủ khiến địch phải bị động đối phó, nên chúng vẫn càn theo dự định. Đại đội 58 cứu viện ở Thọ Lão không kết quả do cán bộ chỉ huy thiếu tinh thần trách nhiệm. vì địch vây ép và vì ta chưa chú ý chuyển quân vào những trận địa chống càn đã chuẩn bị, nên có đơn vị bất lợi trong đánh địch, tổn thất đáng tiếc… Anh Ngạn nghe anh Miên báo cáo rồi nói: - Bộ tư lệnh đưa ra những nhận định sơ bộ nhưng đã phần nào phản ánh được tình trạng về phía ta và phía địch. Rồi dây phải tổng hợp tình hình mọi mặt, thảo luận kĩ lưỡng, so sánh với các trận càn trước đây để rút ra ưu khuyết điểm. Quá trình tổng kết kinh nghiệm trận này cùng là quá trình chuẩn bị chống càn trận sau! Tiếp đó, anh hỏi: - Rút “Lạc Đà”, địch sẽ càn ở đâu? Anh Miên trả lời: - Địch vừa càn một trận lớn và dài ngày. Tổn thất không ít, chúng phải có một thời gian củng cố, bổ sung lực lượng. Do đó, trước mắt có thể chúng mở những trận càn vừa hoặc nhỏ, nhằm khoét sâu thêm những thiệt hại của ta. Hướng càn có thể là đông và bắc Hải Dương, nơi mà cuộc càn “Lạc Đà” bỏ ngỏ, lực lượng ta ở đó đã được củng cố có thể lấn ra. Anh Ngạn ngẫm nghĩ và nhất trí với phán đoán đo. Anh nói: - Càn quét rồi chiếm đóng đã trở thành một hình thức tác chiến chủ yếu của địch ở Tả Ngạn. Kể từ trận càn “Con Quay” (năm 1949) ở Hưng Yên, Hải Dương và trận “Cái Thùng” (năm 1950) ở Thái Bình đến nay, địch đã cần nhiều trận ở Tả Ngạn. Cho nên sắp tới và tiếp theo nữa, địch còn càn quét. Bộ tư lệnh ta phải kịp thời rút kinh nghiệm, tốt cũng như xấu, của những trận chống càn trước, nhất là hai trận “Thủy Ngân”, “Lạc Đà” để sắp tới vận dụng vào công tác chỉ đạo, đạt hiệu quả cao và đỡ tổn thất. Ba thứ quân cũng cần rút kinh nghiệm về chiến đấu qua những trận đánh hay và dở. Từng tiểu đoàn, đại đội, từng uyện, xã rút kinh nghiệm qua thực tế mà bồi dưỡng, nâng cao năng lực chiến đấu. Cần đặt ra những câu hỏi sát thực: - Vì sao ta phá vây ở Kim Quan đạt yêu cầu mà phá vây ở Thọ Lão thất bại?, v.v. Cần chân thành, thẳng thắng, tự phê bình và phê bình để thấy sự thật và tiến lên… Ngừng một lát, anh tiếp: Rồi lại phải tìm hiểu để thấy sắp tới, với sự tăng cường can thiệp của Mỹ, với sự tích cực sử dụng con bài Bảo Đại - “Cuốc ra cuốc vào”, thì các trận càn sắp tới của địch sẽ kèm theo những mưu mánh, ngón nghề gì, ngoài việc bắt, giết người, cướp phá của, lấn chiếm đất, đóng thêm đồn bốt… Lúc này có một chuyển biến rất quan trọng mà ta rút ra là: - Trận “Trái Quýt” địch biến cả vùng căn cứ du kích ba huyện thành vùng tạm chiếm chỉ sau hơn một tuần. Trận “Thủy Ngân” địch chỉ đóng lại được sáu đồn, không chiếm được vùng du kích nào. Trận “Lạc Đà” lớn hơn hai trận trước mà chỉ đóng thêm được tám đồn. Như thế là chất lượng các cuộc càn của địch không tương ứng với số lượng ngày càng tăng. Còn ta, càng chống càn càng có hiệu quả, nhất là về mặt giữ đất. Trong chiến tranh, bên nào giữ được đất là bên ấy có lợi thế hơn. Anh thấy đúng không? Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:24:18 pm ĐỪNG “LÍ LUẬN SUÔNG” VÀ “GIẢNG CHAY” Anh Ngạn sang văn phòng Khu ủy, hội ý về công tác chỉnh huấn với anh Hoàng Bá Sơn, phó bí thư Khu ủy phụ trách công tác Đảng. Anh Sơn quê ở Nam Định, hoạt động cách mạng từ năm 1936, bị Pháp cầm tù năm năm rưỡi. Vượt ngục, anh nhận các nhiệm vụ: bí thư tỉnh ủy Sơn Tây, khu ủy viên Liên khu X kiêm bí thư tỉnh ủy Hà Giang. Cuối năm 1949, anh là ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III rồi sang Tả Ngạn… Hai anh nhất trí theo Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ ba, coi chỉnh huấn là cuộc vận động xây dựng Đảng lớn nhất từ trước đến lúc này. Khu ủy cần đặt kế hoạch thực hiện cho đúng với tầm quan trọng của cuộc chỉnh huấn. Nhằm làm cho các đảng bộ và từng đảng viên tiến lên một bước rõ rệt, vững về tổ chức, mạnh về tư tưởng, để làm tốt nhiệm vụ tiền phong gương mẫu, đáp ứng yêu cầu của kháng chiến ngày càng cao, trong tình thế ngày càng gay go, ác liệt. Hai anh soát lai tình hình xây dựng Đảng ở Tả Ngạn, thấy thời kì 1948-12949, ta phát triển Đảng ồ ạt, đưa cả những người không đủ tiêu chuẩn vào đảng. Những năm 1950-1951, địch khủng bố ác liệt, nhiều chi bộ đảng tan vỡ, nhiều đảng viên bị bắt hoặc cầu an, bỏ nhiệm vụ, có một số đầu hàng địch, phản bội Đảng. Lây tỉnh Hưng Yên chứng minh cho tình hình đó: năm 1945 có 35 đảng viên, cuối năm 1949 lên 15.027 đảng viên. Rồi qua hai năm chiến tranh chỉ còn 4.579 đảng viên, tức gần 1/4 còn hoạt động. Một sự sàng lọc khắc nghiệt. Phần lớn số đảng viên còn lại đang ra sức làm nhiệm vụ, cùng nhân dân đấu tranh chống địch, đẩy mạnh chiến đấu, sản xuất, bảo đảm đời sống, đưa cuộc kháng chiến tiến lên. Song trước yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, đảng viên cần được bồi dưỡng về tư tưởng, tác phong, nâng cao vai trò đầu tàu gương mẫu, không sợ nguy nan, nhận bất cứ việc gì Đảng giao, dù phải hi sinh cũng cố gắng làm tròn. Anh Ngạn nói: - Tôi đã đọc kế hoạch chỉnh huấn do các đồng chí huấn học dự thảo. tôi nhất trí với toàn bộ dự thảo đó, về cách đặt vấn đề, tài liệu nghiên cứu, phương pháp giảng giải, học tập, v.v. Tôi muốn nhấn mạnh một điểm quan trọng trong phương pháp là nêu những điển hình dũng cảm, để đảng viên học tập noi theo. Từ ngày Tả Ngạn bị địch chiếm đóng đến khi ta vùng lên chóng lại, đã xuất hiện hàng trăm, hàng nghìn gương anh dũng, trong số trên dưới vạn rưỡi đảng viên đã được sàng lọc qua sự khủng bố ác liệt của giặc, qua thử thách tôi luyện của kháng chiến gian nguy. Được giáo dục bằng lí luận sách vở lại được mắt thấy tai nghe những điển hình sống động, đảng viên sẽ dễ hiểu biết và chuyển biến tích cực hơn. Cần nêu gương tốt của những đảng viên gần gũi, ở tỉnh nào, huyện nào cũng có. Hưng Yên có Bùi Thị Cúc, Thái Bình có Nguyễn Thị Chiên danh vang toàn quốc, Hải Dương có Mạc Thị Bưởi nổi tiếng khu ta. Tôi nghe Hội Phụ nữ báo cáo, Bưởi quê huyện Nam Sách. Giặc đóng đồn hai đầu xã, vệ sĩ cắm bốt giữa xã. Trong xã có một kẻ phản động gian ác, đi đâu cũng có bốn tên dõng kèm bảo vệ. Xóm làng đen tối, Bưởi vẫn bám đất, bám dân, làm giao thông liên lạc và xã đội phó, trong khi bí thư chi bộ cùng hàng chục cán bộ, đảng viên của xã bị giặc tàn sát. Rồi tên phản động nhận súng giặc, rào làng lập tề võ trang, lùng sục bắt bớ, khiến cán bộ, đảng viên còn lại phải ra cánh đồng đào hầm bí mật để hoạt động. Buổi là người duy nhất giữ vững sự liên lạc của chi ủy. Hoạt động công khai, nắm địch tình, ta tình, rồi nhận chủ trương của chi ủy truyền cho đảng viên, quần chúng. Bưởi còn giữ mối liên hệ giữa chi bộ xã mình với hai chi bộ xã bên và huyện ủy. Đường lên huyện phải qua sông Kinh Thầy, Bưởi mang công văn bơi sông, ra giữa dòng thì hai ca nô địch nối tiếp nhau đến. Bưởi giấu mặt vào mảng bèo, dìm mình xuống sông, tránh được ánh đèn dõi tìm của chúng. Bưởi lập được tổ phụ nữ trung kiên, viễn tiêu làm ám hiệu cho đảng viên ẩn tránh khi giặc trong làng đi tuần và giặc ngoài làng biệt kích. Rồi vận động nhân dân chống làm thẻ tề, dây dưa nộp thuế, chống đi phu. Cuối cùng có kẻ chỉ điểm. Hai cán bộ bị giặc đào hầm, phải dùng lựu đạn tự sát. Bưởi bị bắt, tra khảo cực kì đau đớn, qua sáu ngày liền. Trưởng đồn Pháp và hai tên Việt gian cắt tiết Bưởi rồi lăn xuống ao. Nhân dân ai cũng thương xót. Tấm gương của Bưởi soi sáng cả một vùng. Ngay ở xã Bưởi, một trung đội nữ du kích mang tên “Mạc Thị Bưởi” tiếp tục chiến đấu thay Bưởi… Ngừng một lúc, anh Ngạn bình luận: - Rõ ràng Mạc Thị Bưởi là một đảng viên điển hình về tinh thần trách nhiệm cao, việc gì được giao cũng đảm nhận và vượt gian nguy để thực hiện. Khi bị địch bắt thì chịu đựng tra tấn, kiên quyết không khai báo. Chỉnh huán nhằm làm cho đảng viên ta “Sống anh dũng” như chị Cúc, chị Bưởi, và khi cần thì hi sinh oanh liệt… Các tỉnh ủy, trung đoàn ủy phải chỉ đạo cho đúng với tầm quan trọng của chỉnh huấn, chỉnh Đảng, chỉnh quân. Đánh giặc, ta xin vũ khí từ Trung ương, cướp vũ khí từ tay giặc và chiến đấu có hiệu quả. Xây dựng tư tưởng đúng, phê phán tư tưởng, hành động sai, ta có tài liệu lí luận từ trên về, và có những gương sáng ngay tại địa phương, để chứng minh cho thêm sinh động và dễ thấm nhuần. Đừng “lí luận suông” và “giảng chay”. Tôi ghi nhanh ý kiến của anh Ngạn. Sau đó tôi thấy Hải Dương phát động phong trào học tập gương sáng Mạc Thị Bưởi. Các tỉnh đều chọn nhữmg điển hình sống động báo cáo tại các lớp chỉnh huấn. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:25:18 pm GẶP CHỦ TỊCH HUYỆN Anh Ngạn bảo tôi tìm đồng chí Lưu Đình Điến, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện Quỳnh Côi đến hỏi tình hình. Huyện là một trong những căn cứ của khu. Điến vội vàng đến nơi anh Ngạn ở. Hai người ngồi chung chiếc giường tre. Anh Ngạn hỏi: - Vụ chiêm vừa gặt có tốt hơn vụ trước? Điến trả lời: - Nghe bà con nói thì… có tốt hơn trước ạ! - Cụ thể là thế nào? - Ư.. ư… vụ trước bình quân tám thùng một sào. Vụ này lên chín, mươi thùng ạ! - Có tăng diện tích không? - Dạ… Các xã chưa có báo cáo ạ! - Các xã chưa báo cáo thì huyện phải hỏi chứ! Để biết ruộng đất có cấy trồng hết hay không. Năng suất tăng mà diện tích hụt cũng bằng không. Điến nhận ra là mình không nắm chắc tình hình, nhận sẽ làm lại. Anh Ngạn tiếp: - Xem ngay để chỉ đạo làm vụ múa này cho hết diện tích. Huyện đã chia hết ruộng vắng chủ cho nhân dân nghèo và gia đình liệt sĩ, thương binh chưa? - Đã chia ạ! Nhưng còn một số chủ ruộng do sợ giặc chứ không phải là việt gian, phản động. - Gặp họ, nói rõ là không được để ruộng hoang. Nếu không cấy thì cho xã mượn tạm giao cho dân nghèo cày cấy. “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang. Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”, dân ta vẫn nói vậy. Mượn có giấy tờ dấu ấn để họ yên tâm là không phải tịch thu. Ở đây đã chuyển thóc thuế nông nghiệp sang Hữu Ngạn chưa? - Đã tập trung đủ số cần giao, nhưng khó là bao bì đựng thóc. Mua một số bao gai, nhưng phần nhiều nửa mạc, lại khuân chuyển qua đò, đi đêm vật vã, e thủng vỡ. Anh Ngạn nhìn thẳng vào đôi mắt lo âu của Điến. Anh đứng dậy vỗ hai tay và vai Điến vào bảo: - Hưng Nhân đã chuyển được thóc sang bên kia sông, rất gọn. Họ không cần bao gai, vì không tốt như anh nói. Họ gói bằng rơm và lá chuối, chằng quanh bằng lạt tre, dây đay, thành những gói thóc tròn như quả bí ngô. Người gánh hai gói, đi đêm, lột bãi, xuống thuyền gọn nhẹ, không sợ rách thủng… Cho người sang đấy mà học chách làm. Đó là cách gói thóc, ngâm mộng mạ của nông dân. Dân làm ra thóc, nộp thuế, rồi gói ghém, gánh đi tiếp tế bộ đội. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Gặp những khó khăn, quần chúng ra tay là làm được, đúng không, chủ tịch ơi? Anh Ngạn hỏi sang việc hộ đê, phòng lụt: - Đê ở đây có những đoàn nào xung yếu nhất? - Dạ… có các đoạn kè bến Hiệp, Yên Lộng, Đại Nẫm… - Gần đây huyện đã đi kiểm soát chưa? Mùa lũ sắp đến rồi! - Dạ… đã… đã phân công đồng chí ủy viên phụ trách hộ đê đi soát ạ! - Có phát hiện gì không? - Tôi chưa hỏi lại đồng chí ấy. - Đê huyện vỡ, ai chịu trách nhiệm chính? - Chủ tịch ạ! - Thế mà anh chưa hỏi xem kết quả kiểm soát thế nào. Liệu ông ủy viên ấy đã đi soát chưa? Cũng chưa hỏi lại chứ gì. Ngay ngày mai phải có cách hợp pháp hóa việc kiểm tra đê kè. Nếu nắm được tề thì giao cho họ đứng ra kiểm soát, người của ta xen vào làm nòng cốt. Không nắm được thì tổ chức cho một số cụ già thúc giục tề kiểm soát, các cụ cùng đi để nắm, rồi có biện pháp sát thực sửa chữa. Mấy năm nay cho chiến sự, không chở được đá núi về, kè Hương Điền, kè Mễ Sơn ở Thư Trì bị sạt, dân đang đấu tranh đòi địch sửa chữa. Hàng trăm người gánh đá cầu ao, cối đá thủng, đá kê chân cột nhà cháy, đem đến xếp kè… Công tác ở một huyện, địa bàn hẹp, dân không đông, chủ tịch huyện phải sát cơ sở, trong từng thời gian phải nhắm chắc những vấn đè chủ yếu, để có biện pháp thực hiện sát đúng. Chắc anh lại cho tôi hỏi đột ngột, không kịp chuẩn bị để đối đáp chứ gì. Thấy Điến thực lòng lo lắng, anh Ngạn nắm chặt bàn tay Điến, nhắc nhở thêm với giọng thân tình: - Nhiệm vụ chính lúc này là: “Giặc đến thì đánh, giặc đi thì cày”. Cày hết diện tích, cấy lúa tốt, đảm bảo sức dân và sức kháng chiến. Muốn vậy phải giữ đê, phòng lụt. “Lụt thì lút cả làng. Muốn cho khỏi lụt, thiếp chàng cùng lo” đúng không? Câu dặn dò về cuối khiến Điến tươi tỉnh lai. Một tuần sau, Điến lên chỗ anh Ngạn, báo cáo đã kiếm soát xong đê. Đoạn xung yếu hơn cả là đê Đồng Trực. Khu và tỉnh đều cử cán bộ về giúp huyện chỉ đạo đấu tranh. Dùng các cụ già đốc thúc mấy ban tề, làm đơn lên tỉnh trưởng đòi chữa đê, sửa kè. Cùng lúc đó có các cuộc đấu tranh đòi chưa đê, kè, cống ở Thư Trì, Thái Ninh, Thụy Anh… Trần Đình Trọng mới về nhận việc thay tỉnh trưởng ngụy cũ, muốn giữ “Thể diện tân quan”, tìm cách làm theo đòi hỏi của dân. Anh Ngạn cười vui: - Cần làm tốt hơn nữa. Đảm bảo từ nay đến hết rằm tháng bảy âm lịch, giữ được đê, cấy xong vụ mùa, được không? Điến mạnh bạo hẳn lên: - Được ạ! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:50:56 pm GIÚP DÂN CHỮA BỆNH, ĐÓNG CỐI Lại có buổi nghe anh Thứ kể chuyện: “Ở một trại lẻ thuộc làng Dô (Tiên Hưng) anh em mình trọ nhà ông già nghèo, không sắm nổi cái cối xay, phải giã thóc bằng cối đá chày tay, rồi sảy trấu lấy gạo, vừa lâu vừa mệt sức. Có lần thằng cháu ông giã thóc phồng rộp da tay, đau chảy nước mắt. Nghe nói trong nhóm chúng tôi có cậu biết đóng cối xay, anh Ngạn bảo nên giúp cho ông già. Chúng tôi nghe theo. Vườn ông già có cây nhãn chết, cậu phó cối ngả xuống, mượn cưa, cưa cây thành những khoanh nhỏ, chẻ là nêm cối. Rồi bảo tôi chặt tre chẻ nan cho cậu ta đan lồng cối. Lại dạy tôi luyện đất dẻo, nặn cốt cối, để cậu chêm vào… Mỗi người góp một tay, kể cả anh Ngạn, ngày chủ nhật làm xong cái cối… Hôm sau, cối xay mẻ thóc đầu tiên, ông chủ nhà vốc một nắm, thổi trấu phù phù, rồi gieo những hạt gạo từ bàn tay này sang bàn tay kia, lẩm bẩm khen: “Cối chín lắm. Gạo rất dộng”. Gạo xay rồi vẫn phải giã. Chủ nhật sau nữa, anh Ngạn bảo chúng tôi và ông gì hạ nốt cây bưởi cỗi, vạc đẽo làm cần cối, mỏ cối. Rồi hạ các cối giã thay thành cối đạp chân. Bố con ông già rất mừng. Mấy nhà trong trại đem gạo sang giã nhờ, thì thầm khien: “Thầy trò ông cán sự thật khéo tay, hay làm”. Nghỉ một lúc, Thứ kể sang chuyện khác: “Hôm ấy một anh chủ nhà trẻ, cũng ở Tiên Hưng, làm chõ xôi cúng gia tiên, rồi bưng xuống biếu anh Ngạn và anh em mình. Tôi biết nguyên do cách đây mấy tháng, thằng con anh chủ nhà bị kiết lị. Không tiền mua thuốc, anh kiếm lá má, cỏ cước, rau sam cho con ăn, uống, bệnh không khỏi mà nặng thêm. Thằng bé gày quắt, mắt trũng, má hõm, ai cũng nghĩ nó khó sống. Anh Ngnạ hỏi bệnh rồi lục hộp thuốc phòng thân cho cháu mấy ống êmitin. Thứ thuốc đặc hiệu, tiêm vào, bệnh khỏi dần, rồi khỏi hẳnn. Thằng bé thoát chết. Anh chủ nhà mừng lắm. Để tỏ lòng biết ơn, anh bàn với vợ làm chõ xôi như thế”. “Lúc ấy - Thứ kể tiếp:,anh em chả mấy bữa no đủ, được ăn xôi thì hay. Nhưng anh Ngạn nhỏ nhẹ nói: - Nhà này nuôi con ốm, lâu nay túng thiếu. Có được chõ xôi là phải vay mượn. Chúng mình nhận tấm lòng, còn xôi thì để vợ chồng, con cái anh ấy ăn! Nghe vậy, anh em nhất trí. Người chủ nhà rưng rưng nước mắt, tần ngần bưng xôi về”. Cùng sống bên nhau, cùng ăn một bếp, anh em coi nhau như con một nhà. Cấp dưỡng Nghị khéo nấu nước, còn khéo tay làm đàn bùa. Một ống luồng, một vỏ hộp sữa, một cái dây đàn xin bên chỗ anh Trần Hoàn, nhạc sĩ. Thế là Nghị có một nhạc cụ. Anh ta hứng lên hát rồi gảy đàn đệm: "Quay quay cho cách xa quay. Cho tơ em tuốt, em may áo chàng. Mai ngày chiến thắng reo vang. Thỏa lòng em đợi mong chàng, cái anh chàng ơi!”. Tiếng đàn tiếng hát của Nghị khiến anh em bốc lên đồng ca, nhỏ thôi: “Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi. Nào có mong chi đâu ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi. Thù bao năm xưa có bao giờ nguôi…”. Anh em vui khiến anh Ngạn vui lây. Tôi lảng qua chỗ anh ở, xem anh có ý kiến gì về việc chúng tôi ca hát không. Nhưng từ ngoài cửa, tôi đã nghe anh ngâm mấy câu Chinh phụ, giọng hơn khan nhưng nghe cũng êm: “Nước thanh bình ba trăm năm cũ. Áo nhung trao quan vũ từ đây. Sứ trời sớm giục đường mây. Phép công là trọng, niềm tây sá nào…”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:51:37 pm GẶP BÍ THƯ “CHI BỘ THÉP” Anh Ngạn đến cơ quan huyện ủy Hưng Nhân gặp đồng chí Từ Quang Kỳ. Kỳ là bí thư chi bộ xã Tân Thịnh, nơi có bến đò Nhật Tảo, một trong những cửa ngõ chủ yếu của Tả Ngạn sang Liên khu III, vào Liên khu IV, lên Việt Bắc. Anh Ngạn nghe Kỳ báo cáo về hoạt động của bến đò quan trọng này. Đây là vùng ngã ba sông Hồng, sông Luộc, làm nơi “một con gà gáy, ba tỉnh (Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam) cùng nghe”. Bến không đóng đinh một chỗ mà di đồng trong một đoạn sông, dài năm, sáu kilônét, từ Nhật Tảo đến Thanh Nga, gồm những bến chính và bến phụ. Khi chuyển từ Hà Nam sang, thấy bến nào có tín hiệu thì ghé vào bến ấy. Quá đoạn này lên đoạn trên thì qua bến Yên Lệnh… Nơi hai con sông lớn gặp nhau này tạo thành một vùng đầm bãi rộng thênh, trống ắng. Mùa đông, gió bấc thổi hun hút, buốt da thịt. Mùa hè, nước lũ cuồn cuộn, một con thuyền loại vừa cũng phải lắp ba, bốn tay chèo mới đi nhanh và đỡ bị trôi. Kẻ địch biết đây là cửa ngõ ra vào có tính sinh tử của ta. Chúng đóng hai đồn Đê Đìa và Dốc Văn, kẹp bến Nhật Tảo vào giữa. Rồi rải đều phía dưới, phía trên và phía trong tám, chín đồn nữa, nhằm chặn thuyền đó và đánh ta từ nội địa ra hoặc từ bến vào. Khi phát hiện người hoặc thuyền đến bến, lính ở hai đồn gần nhất kéo ra bao vây, súc bắt. Đồn Vũ Điện (Hà Nam) có riêng hai ca nô chuyên tuần tiễu, ngăn chặn đoạn sông và bến này. Khi cần, địch cho thêm tàu chiến, ca nô lượn qua lượn lại, bắn bừa bãi lên bờ. Ban ngày máy bay trinh sát, ban đêm pháo sáng soi bói, thấy nghi ngờ là gọi đại bác từ đồn Cầu Không (Hà Nam) và từ Tiên Hưng bắn chụp. Chi bộ xã Tân Thịnh được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông qua bến Nhật Tảo. Đặt bến chính, bến phụ ngụy trang không để lộ. Mau thuyền to nhỏ, tổ chức đội ngũ thủy thủ. Đào hầm hố bảo vệ cán bộ, thương binh khi tam trú. Lập một trung đội bảo vệ bến, cùng bộ đội và du kích bám đồn địch, chống đột kích, phục kích. Viễn tiêu làm mật hiệu báo động báo yên. Anh em trong đội dũng cảm, mưu trí. Đội viên Đỗ Văn Thọ bị thương nặng vẫn bám vị trí, làm mật hiệu đến khi kiệt sức. Đỗ Văn Tiến gan dạ làm nghi binh, đánh lạc hướng địch, cho dân công cáng thương binh tới nơi an toàn. Trần Thế Trúc trèo lên cây cao viễn tiêu, bị trúng đạn vẫn dùng mật ngữ báo cho đồng đội hiểu tình hình địch; nói nhỏ không rõ thì nói to, mặc cho địch bắn, cốt ta không hỏng việc. Không ít anh em bị địch phục kích, bắt và tra khảo, chết đi sống lại vẫn không khai điều bí mật. Dân công và thủy thủ bến Nhật Tảo cũng kiên cường. Hễ trời tối là mò thuyền từ ao, sông nội địa lên. 20 người khiêng một thuyền, từ nơi cất giấu ra bến; mỗi đêm hai lần lên, xuống các dốc Đường Thầu hoặc Phù Vật, bất chấp mưa dầm, đường lầy, chèo lái thuyền qua sông làm nhiệm vụ rồi trở về, xen giữa những chuyến tàu chiến, ca nô địch tuần tiễu. Gần sáng lại vội vã khiêng thuyền vào giấu ở nội địa. Người này bị thương, bị chết, người khác thay ngay. Nhân dân trong xã đào hầm cất giấu người và tài sản nhà nước, qua đây bị lỡ đò, nằm lại. Cán bộ thương binh, vũ khí có khi tồn đọng năm, sáu ngáy, được bà con bảo vệ. Có đợt dân công chuyển hơn 300 gánh thóc sang sông an toàn. Ba đại đội lên Việt Bắc nhận súng đạn qua đây trót lọt, nhưng giao thông viên Nguyễn Văn Nghinh hi sinh cạnh bến đò. Bà Hiệu, bà Khiêm cho mượn nhà, nấu giúp cơm nước, ngụy trang hầm bí mật cho bộ đội, thương binh khi giặc lùng sục… Anh Ngạn chăm chú nghe bí thư Kỳ báo cáo. Nghe ít cảm thông nhiều, vì đã bao lần anh qua sông, qua đò, lần theo đường dây. Anh ngồi sát bên người cán bộ xã, hỏi những điều thiết thực: - Bến này như thế là lộ rồi, địch biết rồi! Sao các đồng chí vẫn hoạt động được? Bí thư Kỳ đáp: - Vâng, lộ rồi! Nhưng vẫn có những cái còn giữ được bí mật. Chúng biết ta đi đêm, nhưng vào giờ nào, ở bến chính hay phụ thì chúng không biết. Ta lại biết nhiều về chúng. Khi chúng hoạt động, ta tránh. Khi chúng nghỉ ngơi, ta tranh thủ làm. Quân chúng ngại khó, sợ nguy hiểm; phục kích, tuần tra chiếu lệ, không phải lúc nào cũng hăng hái, quyết tâm như anh em ta… Anh Ngạn vỗ vai bí thư Kỳ, khen: - Đúng, đúng như thế. Các đồng chí đã tìm ra nhược điểm chủ yếu của địch, để có cách hoạt động của mình. Chúng là kẻ cướp nước, bán nước, không thể có tinh thần vì nước, vì dân như ta. Chúng từ xa đến không thể hiểu luồng lạch, bến bãi như ta. Ta hơn hẳn địch về lòng dũng cảm và mưu trí. Ta phải bảo đảm hoạt động của đoạn sông, bến đò này, giữ cho mạch máu kháng chiến lưu thông. Đứt thì nối ngay. Không đi được bến chính thì đi bến phụ. Thiên biến vạn hóa. Lâu nay các đồng chí đã làm tốt nhiệm vụ, Đảng và nhân dân sẽ ghi công. Tôi đến gặp đồng chí là để nói lên sự tin cậy của Đảng đối với chi bộ và lòng biết ơn đối với đồng bào xã này. Sau đó không lâu, Khu ủy Tả Ngạn tặng chi bộ xã Tân Thịnh danh hiệu “Chi bộ Thép”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:52:19 pm CHỐNG BÌNH ĐỊNH KIỂU MỚI Dự đoán của Bộ tư lệnh Tả Ngạn về hướng hoạt động của địch sau trận càn “Lạc Đà” là đúng, nhưng không dự đoán được âm mưu “Bình định kiểu mới” của chúng. Báo cáo của tỉnh đội Hải Dương gửi lên: “Cuối tháng 6-1952, địch đưa 2.000 lính bộ và một tiểu đoàn lính dù, với 35 xe cóc, 3 ca nô, 8 máy bay, do quan năm Bơlăngke chỉ huy, đánh huyện Kinh Môn, mở đầu cho trận càn “Bôlêrô I”. Tiếp đó, chúng đánh rộng ra các huyện Chí Linh, Nam Sách, phía bắc tỉnh”. Ít lâu sau, địch mở tiếp trận càn “Rắn Độc” (Vipêrin) rồi mở càn “Bôlêrô II” vào các huyện Thanh Hà, khu căn cứ của cơ quan tỉnh Hải Dương và Trung đoàn 42. Cuộc càn này thực hiện kế hoạch tấn công toàn diện: quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lí… Đầu tiên, chúng càn đi, quét lại từng xã, nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và đánh bật cán bộ địa phương, xóa bỏ cơ sở kháng chiến của ta, nhưng không đốt nhà, cướp bóc, hãm hiếp. Tiếp đó, các đội biệt kích và đội “gamô” (quân thư hành chính lưu động, do thủ hiến bù nhìn Bắc Việt cùng tướng Đờ Linarét nặn ra, nhằm thực hiện “Bình định kiểu mới”) cùng bạn phản động tại chỗ dụ dỗ, lừa phỉnh dân, mở chợ búa, trường học, trạm phát thuốc bệnh, đưa hàng viện trợ Mỹ về bán giá rẻ, mau hàng của dân trả giá cao… Bọn “gamô” đến từng nhà dân, nhận cha mẹ nuôi, lấy chồng, lấy vợ người địa phương. Chúng làm cho dân tưởng là có bàn tay của “quốc gia” thì quân Pháp sé không tác hại như các cuộc càn trước, mà còn có phần dễ sống. Tiếp nữa, chúng dùng bọn phản động lập tề, dõng, ép dân chụp ảnh, làm thẻ; bắt thanh niên ngủ tập trung ở nơi có trò cờ bạc, trai gái, chơi bời. Cuối cùng là xây đồn bốt, kiềm chế nhân dân, thu các thứ thuế, vơ vét thóc gạo, dụ dỗ thanh niên đi lính… Ta chưa từng đương đầu với âm mưu mới của địch nên gặp nhiều khó khăn; cơ sở đảo lộn ghê gớm, cán bộ bật đất, nhân dân có bộ phận nghiêng ngả… Cuộc họp Bộ tư lệnh khu có anh em tham mưu, tác chiến và tỉnh đội trưởng Hải Dương tham dự, nghe báo cáo về hoạt động địch, dự đoán mọi diễn biến, dự kiến những biện pháp đối phó. Người dự họp thấy tình hình rối như tơ vò, như sa vào trận bát quái. Chính ủy vẫn điềm tĩnh lắng nghe. Tổng hợp mọi ý kiến, rút ra từ những điều trái ngược nhau, chính ủy nêu lên kết luận của mình: - Chúng ta đã bàn kĩ với tinh thần trách nhiệm cao, nhằm chống âm mưu mới của giặc. Việc mới bao giờ cũng khó, điều quan trọng là phải dựa vào trí tuệ tập thể, tìm ra cách làm. Có đồng chí báo: “Cần thỉnh thị Trung ương”. Điều đó đúng, nhưng công việc xảy ra ở đây, trước hết những người ở đây phải tìm hiểu âm mưu của địch, tìm ra cách đối phó sát hợp. Không thể nhất nhất chờ đợi, ỷ lại Trung ương. Đúng không?... Tôi sơ bộ nêu ra một số điểm như sau: - Lúc này Khu ủy và Bộ tư lệnh cần tăng cường chỉ đạo đối với Hải Dương. Trước hết là, đưa ba đại đội của tỉnh vào hai khu nam và bắc Thanh Hà, ra sức củng cố lại khu du kích Trường Thành, làm chỗ đứng đánh địch; diệt địch ở những chỗ chúng sơ hở. Thực tế cho thấy thằng địch đang hung hăng nhưng bị đánh một trận đau thì co lại. Hai là, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền vào nơi địch chiếm, vạch âm mưu địch và tranh thủ lòng dân. Ba là, tạo điều kiện đưa cán bộ về bám đất, nắm lại dân. Bốn là, bắt một số tề để giáo dục, hạn chế hoạt động của chúng, làm rời rã chân tay địch. Tóm lại là phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Bộ tư lệnh khu cho thêm lực lượng của Trung đoàn 42 vào Thanh Hà, làm nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh, đẩy lùi địch từng bước… Các đồng chí xem xét, góp ý thêm, rồi chúng ta bắt tay thực hiện. Quá trình lầm thấy có gì chưa sát đúng, sẽ uốn nắn kịp thời. Âm mưu nới của địch rất xảo quyệt, nhưng chúng ta sẽ có cao kiến, cao thủ, không chịu bó tay. Đúng không các đồng chí? Thực hiện ý kiến của chính ủy không dễ dàng. Song như cỗ máy bị trục trặc được tu bổ kịp thời và khởi động nhịp nhàng, Hải Dương, Thanh Hà và Trung đoàn 42 tăng cường hiệp đồng, đẩy mạnh hoạt động. Cán bộ, bộ đội quyết tâm cao hơn, lặn lội vào nơi đầy rẫy khó khăn, làm nhiệm vụ. Sau đó, địch có phần dè dặt hơn, nhưng ở Thanh Hà, chúng vẫn ngoan cố tập trung mọi cố gắng để thực hiện âm mưu đã đặt ra. Cuộc đấu tranh giành đất, giành dân giữa ta và địch vẫn rất gay go, phức tạp. Các thủ đoạn nham hiểm của địch đã khiến một bộ phận nhân dân ta phân tâm, ngại đấu tranh, sợ địch khủng bố. Và chính điều đó khiến ta rất khó khăn trong việc phá âm mưu địch. Rồi một tình huống gay gắt xảy ra. Lúc này gặp mùa nước lũ và mùa mưa rào; mực nước chung ở đây dâng cao. Địa thế thấp, hầm bí mật bị nước đe dọa. Khi thủy triều lên, nước ngập tới ngực người, ở hầm rất khó thở. Nước rút vẫn ngập nửa ống chân, nhớp nhúa, ghẻ ngứa. Bộ đội, du kích ta không thể sống kéo dài trong tình trạng đó, xin tỉnh cho rút ra ngoài. Anh Chất, tỉnh đội trưởng Hải Dương lo lắng, không biết giải quyết thế nào cho đúng. Không cho anh em rút thì họ không thể chịu đựng nổi, sức khỏe giảm sút dẫn tới tinh thần bạc nhược. Cho anh em rút thì không thực hiện được chủ trương bám đất, giành dân. Anh vội lên khu báo cáo tình huống nan giải đó. Anh Sáng cùng anh Chất gặp chính ủy. Nghe phản ánh thực trạng đó, chính ủy nói: - Thủy triều dâng mỗi ngày một lần, sớm hoặc chiều không thay đổi. Nhưng nước lũ và mưa rào thì diễn ra có mùa nhất định. Cả ba cái đó dồn vào một lúc gây khó khăn lớn cho ta. Khi hai trong số đó qua mùa, thì mức nước sẽ trở lại bình thường. Đúng không? Sùng và Chất đồng thanh: - Đúng! Chính ủy hỏi: - Vậy nên xử lí thế nào? Chưa ai trả lời. Chính ủy hỏi anh Sáng: - Tham mưu thuộc lịch sử, có nhớ khi quân Nguyên vào nước ta thì vua tôi nhà Trần đối phó thế nào không? Sáng đáp: - Trước thế giặc khá mạnh, vua Trần tạm rời kinh thành Thăng Long, lui vào Thanh Hóa. Giặc vào thành, bị dân binh Thăng Long quấy rối và đánh nhỏ, sinh ra mệt mỏi, thiếu lương cho người, thiếu cỏ cho ngựa, phải rút vè nước. Quân Trần truy kích, thắng lợi! - Tức là trong một tình hình cụ thể, xét thấy thực sự bất lợi cho ta, thì ta tạm rút để giữ lực lượng, rồi trở lại đánh địch khi có điều kiện, phải khong? - Phải ạ! - Trong tình huống cụ thể của ta lúc này - Chính ủy nhấn mạnh: - Tạm thời cho số anh em ở đông Thanh Hà rút sang bên kia sông, ém kín chờ thời cơ. Nhưng cần để lại một số đồng chí già yếu, sống hợp pháp trong dân, nắm tình hình địch báo cáo ra ngoài. Được không? Thấy hai đồng chí ra ý tán đồng, chính ủy nhấn mạnh: - Đừng quên mặt khác của vấn đề là phải liên tục tìm cách chống địch, ddánh địch ở những nơi có điều kiện. Khi vua Trần tạm rời Thăng Long, dân binh vẫn bám địch quấy rối, đánh nhỏ, khiến chúng ăn không ngon, ngủ không yên. Dân quanh vùng không bán gạo, bán cỏ cho giặc nên chúng cạn lượng thảo, phải bỏ Thăng Long. Nay ta không thể để cho giặc yên ổn thực hiện âm mưu của chúng. Ngay ở Thanh Hà, nơi nào không quá khó khăn như phía đông huyện, anh em vẫn cần bám dân, bám đất, tạo điều kiện, đón thời cơ, thậm chí tạo thời cơ đánh địch. Nhất là ở Kinh Môn, đất cao ráo, hầm hào vững chắc, bộ đội, du kích phải quyết bám đất, bám dân chống địch. Khu sẽ yêu cầu sự phối hợp của tỉnh Quảng Yên với Hải Dương. Hai tỉnh láng giềng cần dựa vào nhau chống ấm mưu quỷ kế của địch. Đánh địch thật mạnh ở Kinh Môn sẽ khiến chúng nhụt chí, co vòi ở Thanh Hà, vì cả hai nơi ấy chúng đều thực hiện một âm mưu. Đồng thời, khu cũng chỉ đạo cho các tỉnh trong khu đẩy mạnh hoạt động trong mùa mưa 1952 này, để phối hợp, chia lửa với Thanh Hà. Đúng không? Anh Chất và anh Sáng tiếp nhận ý kiến của chính ủy. Ra về, Sáng nói với Chất; - Chính ủy quyết định thật là phù hợp với thiên thời, địa thế và nhân tâm! Sau đó, chính ủy nói thêm với anh em văn phòng chúng tôi: - Thằng địch lâu nay dùng tàn sát, khủng bố, hòng khiến dân sợ, dễ khuất phục. Nhưng làm trò ấy không có hiệu quả, lại khiến dân căm thù, quyết tâm chiến đấu cao hơn. Nay chúng làm kiểu này là nhằm mua chuộc, lấy lòng dân. Dân đang gian khổ thấy chúng vuốt ve mơn trớn thì dễ chịu, dễ ngả lòng. Ở địch hậu, không nỗi lo nào bằng lo mất dân. Mất đất mà còn dân thì còn có ngày giành lại đát. Mất dân thì mất tất cả! Đúng không? Không lâu sau đó, báo cáo của Hải Dương gửi lên: - Có sự phối hợp chiến đấu của hai đại đội tỉnh Quảng Yên, quân dân huyện Kinh Môn và các huyện bắc Hải Dương, chống càn “Bôlêrô I” diệt 750 tên địch, có quan năm Bơlăngke. Địch vẫn chiếm khu Nhị Chiểu gồm 5 xã, thực hành âm mưu “Bình định kiểu mới” như ở Thanh Hà… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:53:14 pm CHỈNH HUẤN XONG PHẢI DŨNG CẢM HƠN Anh Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng kiêm chính ủy Trung đoàn 42 đến báo cáo với anh Ngạn về công tác chỉnh huấn trong đơn vị: - Cán bộ giảng dạy cho chiến sĩ về các tài liệu “Cách mạng Việt Nam”, “Kháng chiến trường kì gian khổ nhất định thắng lợi”, “Quân đội nhân dân Việt Nam”… giúp anh em thấy được sự phát triển của cuộc kháng chiến trong những năm qua và nhiệm vụ của quân đội trong thời gian tới. Đã nêu bật những gương chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đồng thời kiểm điểm về tư tưởng cầu an, dao động, thiếu tinh thần tích cực tiến công địch; một số đảng viên chưa thực sự làm đầu tàu trong chiến đấu... Những cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có thành tích tốt, chiến công cao, được nêu gương điển hình, báo cáo trước cuộc chỉnh huấn để anh em học tập noi theo. Anh Thiết trao cho anh Ngạn tờ “Trung Dũng” do Trung đoàn ấn hành, giấy học sinh, in trên đá, có bài nói về những gương dũng cảm trong trận Hoàng Xá (Hải Dương). Phối hợp với ban chỉ huy huyện đội Kim Thành, tiểu đoàn trưởng Mạc Đình Vịnh đã tổ chức trận địa, hiệp đồng tác chiến. Đêm tối, bộ đội vào mấy làng tề, được dân che giấu. Không biết quân ta ở trong làng, bọn lính đồn Đồng Xá đến bắt phu, thu tre. Quân ta êm gọn bắt tám tên, giải thích chính sách khoan hồng rồi tha về đồn. Đồn trưởng Đồng Xá xin vội một đại đội Âu - Phi ở đồn gần đó tới càn quét. Bọn Âu - Phi kéo tới, bị quân ta vây chặt. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Căng dẫn đầu một đơn vị đánh địch. Căng bị thương những vẫn cùng các đơn vị bạn đánh mạnh, khiến địch co cụm lại ở Hoàng Xá. Bốn máy bay địch ném bom; hai đồn gần đó bắn đại bác chi viện, nhưng địch vẫn bị ta bám sát, đánh gần. Một đơn vị địch từ đồn lân cận đến cứu, bị bộ đội Kim Thành và du kích xã diệt một trung đội, phải tháo chạy Ở Hoàng Xá, quân ta đánh giáp lá cà với địch. Đồng chí Nguyễn Văn Vấn dùng gậy tre đánh địch, cướp được đại liên. Nguyễn Văn Căng bị thương vẫn chỉ huy chiến đấu, buộc một tên quan ba đùa hàng. Tên này liền bị tên quan một da đen bắn chết. Căng diệt tên da đen và tiếp tục gọi hàng. Tên quan hai Lađơi cho lính hạ súng. Máy bay trinh sát tới chỉ điểm cho máy bay chiến đấu bắn phá. Căng buộc Lađơi dùng khăn trắng đánh tín hiệu giải tỏa, máy bay rút, quân ta an toàn. Trên đường về, Căng thấy hai lính da đen lẩn trốn, gọi chúng không hàng, còn bắn lại. Căng nổ súng diệt, rồi Căng ngất vì kiệt sức. Nghe tiếng súng, anh em trở lại cứu Căng. Trận đó diệt gọn một đại đội Âu - Phi (có 60 tên bị bắt) cùng một trung đội ngụy. Tiểu đoàn 664 được biểu dương công trạng. Tiểu đoàn cổ vũ tập thể cán bộ, chiến sĩ và nêu gương dũng cảm của Nguyễn Văn Căng, Nguyễn Văn Vấn… trong cuộc chỉnh huấn. Đọc xong bản tin, anh Ngạn nhận xét: - Trung đoàn chỉnh huấn như thế là đúng phương pháp. Cần nhớ lí luận là ánh sáng soi rọi để thấy hướng đi và đích tới. Còn đi như thế nào để tới đích cụ thể là do ta tự tìm. Có nhiều người đi, nhiều cách đi để tới cùng một cái địch. Cần tìm ra trong số những người dũng cảm và cách đi vững chắc của họ để học tập, làm theo. Chỉnh huấn để đạt yêu cầu như thế. Trung đoàn 42 qua chiến đấu xuất hiện nhiều gương dũng cảm. Nhớ lại năm 1950, Trung đoàn phải phân tán từng nhóm, từng tổ, tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở Hưng Yên, nằm hầm bí mật, bám đất, giành dân, gây cơ sở, gian nan, nguy hiểm vô cùng. Chỉ một tháng, một đại đội của các đồng chí hi sinh và bị bắt gần một nửa. Từ khó khăn cực độ như thế, các đồng chí chiến đấu và trưởng thành như lúc này là do có quyết tâm vượt khó khăn, tích cực tiến công địch. Nay chỉnh huấn nhân quyết tâm đó lên, noi theo những gương dũng cảm đã có và tạo nên những gương mới, nhằm làm tốt nhiệm vụ mới. Tất nhiên, chỉnh huấn cũng liên hệ tìm ra những yếu kém trong tư tưởng và hành động của mình, để phê phán và sửa chữa. Yêu cầu đặt ra là chỉnh huấn xong, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải sáng tỏ thêm về lí luận, dũng cảm hơn trong chiến đấu, góp phần đưa kháng chiến tới những thắng lợi mới hơn, lớn hơn! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:54:05 pm NHỮNG BỮA CUA, ỐC VÀ THỊT CHUỘT ĐỒNG Vụ chiêm 1952, vùng Tiên - Duyên - Hưng khá hơn vài vụ trước nhờ có nước cống Đào Thành. Song vùng Thái Ninh, Thụy Anh thu hoạch kém vì cống Trà Linh hư hỏng, đóng mở không đúng lúc. Bình quân sản lượng lúa cả tỉnh Thái Bình vẫn sút, giá gạo vẫn đắt, đời sống nhân dân khó khăn. Anh em trong bộ phận chúng tôi số đông tuổi tre, ăn nhiều, khẩu phần lương thực có hạn, bửa nào cũng lép dạ. Anh Ngạn được hưởng tiêu chuẩn tiểu táo nhưng thường ăn như anh em. Mâm cơm đạm bạc, rau lang chấm mắm cáy hoặc rau muống chấm tương. Anh bảo chúng tôi: - Các cậu ra đồng bắt thêm cua, ốc được không? Ăn chỉ có gạo thì không no mà thiếu chất. Mỗi cậu bắt ba con cua góp lại là được một bữa, kho hoặc nấu canh. Mình khi 14, 15 tuổi đã bắt của cho cả nhà mấy người ăn. Anh Lê bàn với anh Thứ, phân công anh em kiêm nhiệm, bảo đảm việc chính hằng ngày, còn một nhóm thay nhau ra đồng kiếm thêm thực ăn. Anh em đan những cái rổ to, ra bờ ngồi xúc cua rốc, ốc biêu về nấu với củ chối, hoa chuối, ăn ngon và chắc dạ. Cấp dưỡng Nghị luôn luôn biểu dương anh em về thành tích bắt nhiều cua, ốc. Được ăn lại được khen, anh em trổ tài. Tân, Khâm, Triều, Mập, Bẹ, Triệu, Sử… những tay trai khỏe khoắn, giỏi việc ruộng đồng, thạo bắt cá tôm. Họ đan rọ đánh cá rô, cá trê. Khi anh Ngạn đi đâu thì quảy theo để hóa trang. Tối tối anh em đem đi đánh cá, có lần hí hửng bưng về mấy chục con. Anh Ngạn ngạc nhiên hỏi: - Các cậu đổ trộm của dân à? Anh em chối, anh không tin, đi theo xem thế nào. Đêm trăng, anh ra tận bờ ngòi thấy mặt nước gợn sóng lăn tăn, báo hiệu cá đến tìm mồi và chui rọ. Đổ cá ra rỗ giãy đành đạch, anh mới yên tâm. Có lần anh Thứ khiến cả nhà ngạc nhiên: tay vo bắt được con cá vược to khi lội qua sông Đô Mom. Anh Triều giỏi bắt lươn bằng ống nứa, mồi giun. Con lươn vào tay người khác thì luồn qua, nhưng bị kẹp vào hai ngón tay anh, không thể luồn được. Lươn ngon và bổ được đánh giá cao hơn cua, ốc. Mùa kho, anh em đào chột đồng ở các gò đống. Lúc này chuột ăn nhiều thóc mùa, béo múp đầu, bắt về, vặt lông, thui vàng, làm thịt nấu giả cầy. Anh em “múa đúa” thoải mái. Anh Ngạn và tôi sợ món giả cầy, chỉ ăn muối vừng, rau muống. Ăn xong, anh em chúng tôi xúm quanh ấm nước chè tươi, vừa uống vừa chuyện trò rôm rả. Anh Ngạn khen cái giống chè Cổ Tiết hương thơm vị đậm; mới uống thấy chát ở lưỡi, uống xong ngọt mãi vào họng. Rồi anh kể chuyện bà tướng Bát Nàn cầm quân đánh giặc Hán, nay còn đền thờ ở làng Tiên La (Hưng Nhân). Bà chúa Ngừ quê ở vùng nay, lo nơi ăn chống ở cho thân quyến nhà vua và tướng lĩnh, để các vị ra tiền phương yên tâm đánh giặc, được vua Trần phong là Linh Từ quốc mẫu. Anh còn kể: cách đây vài trăm năm ông Nguyễn Du đến vùng này trú thân và lấy vợ. Người ta bảo ông viết truyện Kiều ở đây, không biết có phải? Nhưng truyện Kiều thì các cụ vùng này nhiều người thuộc. Cụ chủ nhà mình rụng gần hết răng mà còn ngâm. Kiều, nghe phập phà phập phùng nhưng vẫn lí thú… Cạn ấm nước, anh em tản về từng nhà. Cấp dưỡng Nghị vừa thu dọn ấm chén, vừa nổi hứng ngâm Kiều: Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau Rồi anh ta nhại Kiều: Trăm năm trong cõi người tàu Chị nghèo đi đất, em giàu đi hia Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:00 pm ĐỢT 2 ĐÒI CHỮA CỐNG TRÀ LINH Tôi theo anh Ngạn đến nơi tỉnh ủy Thái Bình làm việc. Anh bảo: - Xem cuộc đấu tranh đòi chữa cống Trà Linh tớ đâu rồi? Anh Tư Quang, quyền bí thư báo cáo: - Do việc sửa chữa cống khá tốn tiền nên tỉnh trưởng Hà Bỉnh Quân, tiếp theo là Trần Đình Trọng đều bế tắc. Tuy lúc này Pháp cố ý đề cao vai trò “quốc gia” của bọn ngụy quyền Bảo Đại - Nguyễn Văn Tâm, nhưng chúng không dễ bỏ tiền ra sửa chữa một lạt đê, kè, cống, vì chiến tranh tàn phá hoặc lâu ngày hủy diệt. Thực hiện chủ trương của khu và tỉnh, rút kinh nghiệm đấu tranh hợp pháp đòi chữa đê Đồng Trực (Quỳnh Côi), đợt này những xã vùng tạm bị chiếm huy động đông đảo nhân dân hơn trước, kéo lên đồn nộp đơn yêu cầu chữa cống. Lấy thiệt hại vụ chiêm mất ngót mười vạn tấn thóc, khiến dân thiếu đói, để mọi người xót xa mà ra sức đấu tranh. Gia đình các ban tề, lính ngụy, các địa chủ, phú nông đều chịu chung thiệt hại, đã có mặt trong các cuộc đấu tranh đông người. Chị ruột và em gái thủ hiến Phạm Văn Bính, họ hàng nhà tỉnh trưởng Trần Đình Trọng, cũng được ta vận động đem đơn lên Hà Nội xin chữa cống. Ta còn nhờ nhân mới viết bài đưa lên đăng báo Tia sáng, yêu cầu dư luận toàn Bắc Việt chú ý và thúc đẩy việc bảo vệ đê, kè, cống. Cao hơn là lôi cuốn được hàng nghìn ngụy binh, đồn trưởng quê ở Thái Bình viết thư thỉnh cầu hoặc đơn kiện. Giói giáo sĩ viết thư cho Tòa Khâm mạng ở Hà Nội, yêu cầu can thiệp với nhà cầm quyền để bảo vệ đời sống giáo dân. Sở công chính ngụy quyền được vận động đứng ra nhận thầu chữa cống… Anh Ngạn nghe rồi nhận xét: - Cuộc đấu tranh này xuất phát từ nồi cơm, đấu gạo, từ vấn đề sinh tử của mọi người, mọi nhà, nên lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhập cuộc. Lại bám trúng vào tử huyệt của ngụy quyền, tự xưng là “quốc gia, quốc trưởng” thì phải tìm cách đòi Pháp đáp ứng quyền lợi của dân. Bọn Pháp thẳng tay tàn phá khi càn quét nhưng không thể im lặng trước yêu cầu chính đáng của dân ở nơi công sở. Rồi đây đấu tranh chính trị hợp pháp ở vùng tạm chiếm hay công khai ở vùng căn cứ du kích, điều có thể áp dung linh hoạt kinh nghiệm của vụ Trà Linh này. Cuộc đấu tranh dai dẳng gần một năm. Tin cuối cùng cho hay: tỉnh trưởng Trần Đình Trọng đã phải chi một triệu đồng Đông Dương để chữa cống Trà Linh, gấp sáu lần số tiền chúng dự chi ban đầu. Tiếp đó, cống được đóng, mở theo yêu cầu của sản xuất. Nông dân trong vùng rất phấn khởi. Anh Ngạn đánh giá: “Cuộc đấu tranh kinh tế ở Trà Linh có giá trị như chiến thắng cấp chiến dịch”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:47 pm HỘI NGHỊ CHUYÊN ĐỀ VÙNG ĐỊCH TẠM CHIẾM Tin từ vùng địch tam chiếm đưa ra khiến anh Ngạn suy nghĩ nung nấu. Anh đi đi lại lại trong nhà, vẻ bứt rứt, băn khoăn. Chúng tôi hiểu mỗi khi anh ngồi không yên như thế là có việc, hoặc là địch sắp càn hoặc ta sắp đánh một đồn lớn. Bỗng anh đứng lại bảo tôi: - Chú Nam tập hợp cho mình tình hình gần đây ở vùng địch tạm chiếm nhé! Tôi mở tập báo cáo của liên tỉnh Hải - Kiến, tập hợp tình hình từ giữa năm 1951 lại đây. Địch tăng cường hệ thống phòng thủ Hải Phòng, nhằm biến vùng cảng biển này thành nơi đóng quân an toàn, nơi tiếp nhận viện binh từ Pháp và vũ khí viện trợ Mỹ. Chúng xây hàng loạt lô cốt boongke, mở rộng sân bay Cát Bi, đuổi dân lấy đất mở sân bay mới ở Kiến An, Đồ Sơn, làm đường xe lửa đén sân bay Kiến An, khoét núi Qui Tức xây dựng nhiều kho tàng quân sự. Sân bay Cát Bi đã có hàng chục máy bay ném bom do Mỹ viện trợ. Nội thành có hàng nghìn quân cơ động. Mạng lưới cảnh sát, mật vụ, chỉ điểm giăng tới từng ngõ hẻm. Các cơ sở bí mật của ta gặp nhiều khó khăn. Một số nơi tổn thất nặng nề. Một người thợ bị nghi ngờ, chúng bắt cả kíp. Nhà có người theo kháng chiến, hoặc chứa cán bộ, chúng bắt cả gia đình tra khảo, bỏ tù. Nhiều đảng viên ta nằm im, không hoạt động, một số đầu hàng địch… Vùng tạm chiếm ở nông thôn quanh Hải Phòng và thị xã Kiến An bị địch càn quét liên tục, bắt bớ, tra khảo những người đáng ngờ. Dùng kẻ phản bội chỉ hầm, chỉ cán bộ. Bưng bít tin chiến thắng của ta. Tuyên truyền rùm beng ngụy quyền Bảo Đại, thực hiện âm mưu bắt thanh niên vào “Quân đội quốc gia”. Tung hàng viện trợ Mỹ ra bán với giá hời, phát chẩn gạo cho người nghèo, phát thuốc, sữa cho người hồi cư, nhằm dụ dỗ, lừa mị dân ta. Nghe tình hình trên, anh Ngạn bảo tôi: - Cần phải làm rõ hơn nữa nhiệm vụ vùng địch tạm chiếm là tranh thủ nhân dân, củng cố và phát triển cơ sở bí mật, đẩy mạnh đấu tranh kinh tế, chính trị, phá âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Muốn tranh thủ được dân phải vạch trần tội ác địch, những tội xảy ra tại địa phương hoặc vùng lân cận, mắt thấy tai nghe. Nhân dân sẽ căm thù địch và bồi đắp tinh thần yêu nước, quyết tâm kháng chiến. Phải tuyên truyền chiến thắng của ta ở các mặt trận để nhân dân tin tưởng. Vạch âm mưu địch vừa khủng bố vừa lừa bịp. Truyền đơn viết ngắn gọn rõ ràng tung vào. Tuyên truyền miệng là chính, một điều rỉ tai bằng hai điều diễn thuyết. Tổ chức những cuộc vũ trang tuyên truyền, Dùng những lính ngụy được ta khoan hồng về kể chiến thắng của ta và kể tội ác địch. Lợi dụng nơi đông người, lớp đại chúng học vụ, trường trung - tiểu học, trại tập trung, đám giỗ, đám cưới, v.v. để tuyên truyền. Dân không thể chỉ nghe địch mà cần được nghe ta. Đây là một cách nắm dân, giành dân. Tuyên truyền giỏi thì tranh thủ được dân. Có dân thì sẽ củng cố, phát triển được cơ sở bí mật. Có cơ sở thì sẽ có đất, có dân mà bám và sẽ đẩy mạnh được đấu tranh phá âm mưu địch. Có cơ sở thì mới có đấu tranh chính trị, kinh tế và có cả đấu tranh vũ trang. Không có nhân dân, không có cơ sở, thì sẽ không có việc gì làm được ở vùng địch tạm chiếm, hơn nữa, ta sẽ thua địch ở đó! Anh Ngạn để ra ba công tác cụ thể: dân vận, ngụy vận và tổ chức Đảng. Các biện pháp thực hiện được rút ra từ thực tiễn đấu tranh, đã qua thử nghiệm, và có hiệu quả… Chúng tôi viết đề án hội nghị về vùng địch tạm chiếm 26 trang. Hội nghị sẽ còn nghe những báo cáo điển hình đấu tranh ở vùng địch tạm chiếm Kiến An. Huyện Tiên Lãng đưa dân lên đồn Đông Xuyên đòi chồng con, địch phải thả 200 người. Huyện Đồ Sơn vận động hơn nghìn dân chống hàng trăm lính về vây bắt thanh niên đưa lên xe. Thị xã Thái Bình đấu tranh hợp pháp chống trò “Bầu cử Hội đồng” hàng tỉnh, hàng xã và “Đại hội liên hoan thanh niên học sinh”. Huyện Thụy Anh vận động nhân dân 12 làng ven đường 39 và đường 218 đấu tranh chống cắt lúa, dỡ nhà bên đường. Dân lương, dân giáo, nhà giàu, nhà nghèo, muốn bảo vệ nhà cửa, lúa má của mình đều ra sức đấu tranh. Nhiều người viết thư khiếu chống, các cụ già đem đơn lên quận trưởng ngụy quyền và đồn trưởng Diêm Trình viết: “Trận càn “Sứa Biển” quân đội quốc gia đốt phá cả làng tôi, chỉ còn một ngôi chùa và sáu cái miếu. Nay dân chúng tôi muốn dựng lại cái đình một gian hai chái, quận lại bắt dỡ nhà, bạt tường dậu, chặt cây cối thì dân tình ai oán lắm!”. Quan đồn Kha Lý bốn lần đốc thúc dân dỡ nhà không được. Địch bắn đại bác, chết và bị thương một số người. Chi ủy lại lãnh đạo dân đấu tranh chống bắn pháo, đòi bồi thường thiệt hại về người và của. Chúng phải thôi bắn nhà. Từ chỗ địch muốn phát quang mỗi bên đường 300 mét rút xuống 100 mét dân chỉ mất một ít nhà. Hội nghị chuyên đề về vùng địch tạm chiếm do anh Ngạn trực tiếp chỉ đạo, anh Hoàng Mậu, bí thư Thành ủy Hải Phòng điều khiển. Sau khi nghe báo cáo tình hình, nhiệm vụ và kinh nghiệm đấu tranh ở vùng địch chiếm, hội nghị chăm chú theo dõi chuyện nhân dân thị xã Thái Bình đấu tranh giải thoát gần một vạn người bị giam ở “căng” chợ Bo. Đồng chí Lý Anh Nghĩa, một trong năm tỉnh ủy viên Thái Bình bị giam ở đó đã tham gia lãnh đạo đấu tranh kể lại: “Chợ Bo ở phía bắc thị xã Thái Bình, một mặt gần sông Trà Lý, một mặt gần cánh đồng Bồ Xuyên. Chợ to nhất vùng nhưng đã bị đốt phá hết quán xá, chỉ còn là cái bãi trống thênh, bẩn thỉu. Địch chăng dây thép gai vây quanh biến thành trại nhốt người sau mỗi trận càn. Tháng 10-1951, chúng bắt gần một vạn người trong trận càn “Trái Quýt” nhốt vào đây. Những người tù không nón lá, áo tơi, đầu trần chịu nắng gắt, mưa rào. Đứng lâu mỏi chân phải ngồi xuống đất. Không hố tiêu, hố giải, người tù phóng uế bừa bãi, giòi bọ nảy sinh. Sau mỗi trận mưa, bùn nước dềnh lên, ngập mu bàn chân, gây lở loét. Giòi bọ theo nước tràn lên, leo cả lên chân, người, ngứa ngáy, khổ cực. Tù đông, địch tiếp tế không xuể, khiến nhiều anh em đói khát, nói không ra tiếng hoặc ốm nặng. Mấy ngày sau đã có người chết. Có ngày quá nắng, chết ba chục người. Nhận chủ trương của tỉnh, thị ủy do đồng chí Phạm Gia Tuân làm bí thư, liền chỉ đạo chi bộ nhà tù Thái Bình, cử các đồng chí Bích, Huấn, Tiên đến trại giam chợ Bo với vai trò hợp pháp là “cai tù”, liên hệ với các đồng chí ta. Tôi và anh Tuấn Giao, bí thư tỉnh đoàn thanh niên, nhận kế hoạch đấu tranh, phổ biến cho các đồng chí khác và vận động anh em tù hưởng ứng. Anh em tù nhanh chóng rỉ tai nhau. Ngay hôm ấy, hàng trăm người đứng gọn vào một nơi, hướng ra cửa trại có những tên lính gác, cầm súng lăm lăm. Anh em đồng thanh hô: “Cơm! Cơm! Nước! Nước!”… Tiếng hô lôi cuốn hàng nghìn, rồi gần như tất cả trài hô theo, trừ những người ốm yếu. Cùng lúc đó, các cơ sở của ta ở thị xã vận động đồng bào phố xá, góp cơm nắm, gạo rang, nước chai, nước lọ, đem đến chung quanh trại, trao qua rào thép gai cho tù nhân. Có người hảo tâm mua cả rổ bánh đúc, cả vác mía ủng hộ. Lần đầu, việc tiếp tế còn lẻ tẻ, thị ủy tập trung tất cả cán bộ đảng viên nội thị và ba xã ngoại thị vào việc vận động quần chúng cứu tế. Lôi cuốn cả phật tử, giáo dân, người nhà ngụy quân, ngụy quyền tham gia, liên tục, nhiều ngày. Suốt sáng đến chiều, hàng trăm người lần lượt thay nhau đến cứu giúp tù nhân. Rồi ta chủ trương trốn chạy. Tối xuống, anh em tù tràn ra gần trước trại, hò hét, đòi: “Thả ngay những dân thường! Thả ngay những người già yếu!”. Bọn lính ngụy lặng lẽ làm ngơ. Khi phía trước ồn ào thì phía sau êm ắng, anh em tù lần lượt trốn ra cánh đồng Bồ Xuyên, ra bờ sông Trà Lý, có những người hướng dẫn tới nơi tạm trú. Một anh bộ đội bơi sông Trà Lý sang làng Sa Cát, được bà Hệ, giáo dân, giấu vào chỗ hậu sự của mình; tối hôm sau, bà chỉ đường cho anh ra căn cứ. Cô Hợi bán kẹo, bà Cử dân phố, tham gia đấu tranh liên tục nhiều ngày, vận động nhiều người tham gia. Suốt gần một tháng, cuộc đấu tranh tiếp diễn. Ta còn cử người viết bài tố cáo địch ngược đãi tù nhân, đăng báo Hà Nội. Buộc địch phải thả phần lớn đồng bào ta. Phần còn lại, chúng nghi là cán bộ, bộ đội, đưa vào nhà tù hoặc đưa sang Nam Định. Cuộc đấu tranh còn bồi dưỡng được khí thế cho đồng bào vùng tạm chiếm. Viên quan tư chỉ huy séctơ thị xã Thái Bình nói với đồng bọn: “Dân chúng ở đây đều là Việt Minh…”. Các đồng chí dự họp tiếp nhận nhiệm vụ, biện pháp và cả kinh nghiệm thực thế, phong phú, đa dạng. Song nhiều người vẫn còn băn khoăn chung quanh vấn đề đối phó với hội tề. Ý kiến khác nhau, có lúc phải tranh luận. Một số cho là cần “diệt tề”. Một số khác cho là “cứ lập tề rồi nắm tề để đối phó với địch”. Anh em đưa người thực, việc thực ở địa phương mình ra, chứng minh cho lập luận của mình là đúng. Anh Ngạn để nọi người nói hết ý kiến, rồi thuyết giải: - Các đồng chí đều có thực tế về vấn đề này, cần xem xét cho đúng và có cách giải quyết phù hợp, không thể làm bằng, nhất loạt như nhau. Đây không phải là vấn đề chỉ tùy thuộc ý muốn của ta, mà còn phần nào chịu sự chi phối của địch, mở những nơi chúng mạnh. Ngươc lại, ở nơi ta có điều kiện, dẫu chưa mạnh vẫn có thể tự ta quyết định số phận của tề. Kinh nghiệm mấy năm qua cho thấy ta không thể diệt hết tề ở những nơi địch mạnh. Bởi tề do địch dựng lên, rất cần cho chúng, mất tề này chúng lập tề khác. Vì thế, ta chỉ diệt từng điểm, còn thì phải tìm cách khác. Vì thế, ta chỉ diệt ở từng điểm, còn thì phải tìm cách “nắm tề”, với mức độ khác nhau, chặt hoặc lỏng, tùy nơi tù lúc, miễn là có lợi ít nhiều cho ta và không đẩy tề đi hẳn với địch. Trước cách mạng, ta còn tìm cách “nắm” bọn kì lí để bí mật hoạt động, thì sao bây giờ không “nắm tề” để đối phó với địch. Chỉ diệt những tên nào thật phản động, gian ác, diệt đi đôi với tuyên truyền giải thích, khiến những tên khác phải tự xét mình, để tìm cách xử sự cho vừa phải hoặc ngả theo ý ta. Nếu diệt hàng loạt, diệt lan tràn, chúng thấy không còn lối thoát sẽ trở thành “chó cùng dứt dậu”. Nói chung ta không cho lập tề. Những nơi buộc phải cho thì cố tìm cách “nắm”. Đưa những người có thể “nắm” được ra làm tề. Nếu có thể thì đưa người cảu ta ra làm, để dễ điều khiển. Cho lập tề nhưng phải dựa vào dân để “nắm” và điều khiển tề; nếu tề nắm dân là ta mất dân. Tề nhận việc của đich nhưng chịu sự hạn chế của ta; nhận rồi không tích cực làm, dây dưa bắt lính, bắt phu; lừng chừng nộp thuế, làm thẻ ảnh… Khôn khéo làm những việc ta cần và địch cũng không thể bỏ qua: sửa kè, cống, bảo vệ đê, chống lut… Như thế là những nơi ta không thể lập chính quyền thì ra sức “nắm” ngụy quyền để làm lợi hoặc đỡ hại cho ta. Đó là thứ “tề hai mang”, “tề ấm ớ” đang hình thành trong thực tế. Quá trình “nắm” chúng, nếu có hiện tượng xấu thì uốn nắn, kê kích. Khi không cần nữa thì phá hẳn… Các đồng chí phải xem xét cụ thể địa phương mình, để lập tề, “nắm” tề và phá tề thật linh hoạt, tránh tả, hữu khuynh. Khi cần diệt tên nào phải được tỉnh xét đồng ý, tránh diệt ẩu, gây hại. Đồng ý không, các đồng chí? Nghỉ họp, ăn cơm. Vừa ăn vừa kể chuyện. Anh Lê, bảo vệ, nói: - Hôm ấy, tôi đưa anh Ngạn, anh Nam và Thứ vượt đường 10, ở giữa đồn La Uyên và Thẫm. Tôi cho là mính nắm được cơ sở nên mạo hiểm vượt đường không cần giao liên. Cơ sở này là một anh “tề hai mang” của làng La Uyên, tên là Kều (anh ta cao nên bà con gọi là Cao Kều). Ban ngày Kều vênh vang qua lại cửa đồn tỏ ra mình có chức vụ. tối xuống, nhà Kều có Việt Minh ra vào. Trước khi vượt đường, chúng tôi lén trong bóng tối vào nhà Kều tạm nghỉ. Kều theo dõi từ chiều, không thấy địch từ đồn ra phục kích. Nhưng lúc này anh vẫn ra soát lần nữa cho chắc chắn, rồi nhanh nhẹn đưa chúng tôi đi. Kều đưa anh em qua đường 10 rồi lột sông Bari sang cánh đồng thuộc xã Hòa Bình. Tôi nằm bên cảnh giới cho các anh đi lọt rồi vượt sau. Bất nờ súng nổi từ đồn La Uyên. Đạn bay veo véo, một viên trúng chân, tôi bị thương. Tôi nép mình xuống vệ đường, sẵn sàng đối phó nếu địch kéo đến. Nhưng không, chúng ngồi trong đồn bắn vu vơ để dọa nạt. Rồi tôi được Kều băng vết thương, đưa ra ngoài. Nghe xong, anh em nhận xét: - Ông Lê đã báo cáo một điển hình sinh động. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:56:32 pm NGUỒN NUÔI DƯỠNG KHÁNG CHIẾN Xế chiều hôm ấy, anh Ngạn quảy túm rọ cá trên sang làng Bương (Quỳnh Côi). Thứ và tôi đi theo. Qua làng Khả Lang thấy một cụ già quần áo rách, vai khoác thừng kéo bừa. Tháng bé khoảng 13, 14 tuổi cần bừa cố dấn xuống đất cho ông kéo. Tay nó yếu, bừa không bập xuống đật, trượt đi, khiến ông ngã chúi phía trước, bùn nước tóe lên mặt. Ông đưa cánh tay gạt nước, quay lại quát cháu: “Đè nặng bừa xuống!”. Nó kêu: “Cháu đau tay” và khóc hu hu. Anh Ngạn dừng chân nhìn, mắt nhòa đi một hàng nước. Rồi anh bảo Thứ: - Cậu thấy đấy, ông thay trâu, cháu cầm bừa không nổi! Thứ nhìn mảnh ruộng ven ngòi mới vỡ hoang, đất hòn, đất cục lổn nhổ. Anh Ngạn bảo thêm: - Chú Tuân hay chú Nam viết chuyện này có báo Tả Ngạn, cho Đài phát thanh Trung ương. Tối hôm ấy, anh Ngạn họp với chi bộ xã Toàn Thắng. Các đảng viên nêu tình trạng xã mình còn ruộng hoang mà nông dân nghèo không đất cày. Có anh bộ đội nhà túng quẫn, vợ đẻ, phải bỏ ngũ, về mò cua bắt ốc nuôi cả nhà, muốn cấy lúa không có ruộng. Có anh du kích sao nhãng nhiệm vụ, chạy đầu chợ nọ cuối chợ kia, kiếm lãi nuôi vợ yếu, con thơ… May là có chủ trương của khu và tỉnh về việc đẩy mạnh tịch thu ruộng đất của việt gian, phản động, quản lí ruộng vắng chủ (chạy vào thành phố) đem tạm cấp, tạm giao cho dân nghèo. Cấp công điền công thổ cho nam nữ từ 16 tuổi trên lên, ưu tiên cho tá điền bần cố. Thương binh, gia đình liệt sĩ, quân nhân, du kích được chia ruộng tốt, gần nhà. Giảm tô, giảm tức theo đúng sắc lệnh, làm giấy giao kèo đảm bảo quyền cấy ruộng nộp tô của tá điền… Những việc trên lâu nay đã được đề cập nhiều lần trên văn bản, nhưng sự thực hành khi được khi không, nơi làm nơi bỏ. Đại bộ phận nông dân, những người lăn lưng vào cày cấy, nộp thuế cho nhà nước, xông ra mặt trận đánh giặc, thì vẫn đói cơm rách áo. Ở xã này, huyện này, nơi khu và tỉnh đặt căn cứ, cũng tới nay mới làm đến nơi đến chốn. Anh Ngạn bảo tôi: - Xuống xã họp một tối hơn một buổi nghe chủ tịch huyện báo cáo. Hôm sau, anh Ngạn sang nơi làm việc của anh Nguyễn Năng Hách. Anh Hách quê ở Hải Dương, sớm hoạt động yêu nước trong Quốc dân đảng thời Nguyễn Thái Học, bị đế quốc bắt. Trong tù, anh được đồng chí Lê Thanh Nghị, anh ruột mình, giáo dục và vận động vào Đảng Cộng sản. Ra rù, anh làm các công tác Đảng giao. Năm 1948, anh tham gia Liên khu ủy II, rồi làm ủy viên Thường vụ khu ủy Tả Ngạn. Lúc này là phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu. Anh Ngạn đề xuất việc rút kinh nghiệm của Thái Bình, chỉ đạo các vùng du kích và căn cứ du kích toàn khu thực hiện: Xem xét tỉnh Hưng Yên thấy có những nét giống Thái Bình: số ruộng tạm giao cho nông dân sau cách mạng là ngót hai vạn mẫu, đến khi địch chiếm (năm 1950) điều chủ đã lấy lại hết. Tô tức cũng không giảm. Ruộng đất bỏ hoang vài vạn mẫu, đến lúc này mới vỡ được gần một vạn. Ở Hải Dương, chỉ riêng huyện Bình Giang bỏ hoang hơn 3.000 mẫu… Anh Ngạn nói: - Cần phải giao, cấp lại số ruộng vắng chủ và ruộng hoang để dân cày bừa. Hướng dẫn bà con vào nhóm đổi công giúp nhau cày bừa, đào mương dẫn nước tưới lúa. Dân Tả Ngạn “dĩ nông vi bản”, chính quyền ta phải dành tâm lực thích đáng để chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Thóc gạo không chỉ để nuôi quân dân trong khu, mà còn chuyển lên Việt Bắc. Nguồn nuôi dưỡng sức dân và sức kháng chiến lấy nông nghiệp là chính. Không thể để nông dân tự lo tự làm. Bác Hồ dạy thi đua chiến đấu, thi đua tăng gia sản xuất làm bởi thế! Ngay sau đó, Ủy ban Kháng chiến hành chính khu triệu tập đại biểu chính quyền, nông hội khu cùng các tỉnh họp bàn chủ trương: “Kiên quyết thực hành chính sách ruộng đất và giảm tô, giảm tức, đảm bảo đời sống nhân dân và nguồn nuôi súc kháng chiến”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:57:11 pm TẢ NGẠN VỪA LÀ TIỀN TUYẾN VỪA LÀ HẬU PHƯƠNG Cô con gái chủ nhà cơ sở đi chợ về nói toang toác với mẹ: - Úi giời, hôm nay du kích đón đường giáp ranh, khám xét, bắt nhiều hàng địch lắm! Cô ta nói to và thích thú như kể tin chiến thắng. Anh Ngạn và tôi ngồi viết trên nhà phải ngừng bút để nghe. Rằng có mấy bà ở chợ tề ra mang theo hàng địch. Có bà quấn vải phin vào đùi, mỗi đùi hai mét, đủ may một cái áo “xu mi”. Có bà cho mấy chục viên đá lửa vào “chỗ kín” rồi đóng khố bịt lại, khì khì… Mấy du kích nam biết nhưng chỉ đứng nhìn. Du kích nữ được tức tốc điều ra, đưa các bà vào nhà, khám lôi ra hết, tịch thu… Thế nhưng họ chả chừa đâu. Mai kia họ đi lối khác, canh gác sao xuể. Buôn bán với vùng tề nhiều lãi, bị mất vài chuyến nhưng lọt một chuyến thì vẫn gỡ vốn và có lãi. Bà mẹ tỏ ra không thích thú chuyện đó, hỏi con: - Vậy mày có bán được chuốii không? Cô gái đáp, giọng buồn thiu: - Không. Các ông ấy bảo bán vào vùng tề là tiếp tế không công cho địch. Bà mẹ càng buồn, lẩm bẩm: - Tiền kiếm không ra được một đồng; chuối thì để chín rũa. Đem ngay cho các em nó ăn kẻo phí! Anh Ngạn buông hẳn bút, ngẫm nghĩ về câu chuyện giữa cô gái và bà mẹ. Bỗng anh hỏi tôi: - Chú Nam có nhờ cái chuyện bộ đội huyện Vũ Tiên bắn súng thị uy rồi vẫy một chiếc thuyền buôn trên sông Hồng vào bờ khám xét không? Tôi nghe anh em kể: hôm ấy bộ đội tịch thu hàng đưa từ thành phố Nam Định ra, hàng chục súc vải, thuốc tây, dầu hỏa, giấy bút… Không đợi tôi trả lời, anh bảo: - Nhiều huyện, xã chưa rõ về đấu tranh kinh tế giữa ta và địch. Hội nghị Trung ương tháng 3-1951 đã chỉ ra: “… Không phải ta đặt một hàng rào ngăn hẳn giữa ta và địch, mà vẫn phải mở mang buôn bán giữa hai vùng. Nhưng chỉ cho vào vùng địch những thứ hàng không hại cho ta, và đưa về những thứ hàng cần cho kháng chiến và đời sống nhân dân”. Chưa hiểu rõ nên anh em cấm đoán, bắt bớ như thế! Ngay sau đó, tôi thấy anh sang gặp anh Nguyễn Năng Hách, hội ý khá kĩ. Rồi một dự thảo kế hoạch của Ủy ban khu đề ra về công tác chống địch phá hoại và bao vây kinh tế ta, trong đó chỉ rõ: Địch cấm đưa những thứ hàng từ vùng chúng kiểm soát ra vùng ta, như thuốc men, bông vải, xăng dầu, văn phòng phẩm… Ta khuyến khích đưa những thứ địch cấm ấy ra vùng ta. Những thứ địch cho đưa ra như thuốc lá, thuốc phiện, rượu chè… thì ta cấm. Ta đưa rau quả, cá, trứng, rổ rá, nồi niêu, mắm muối… những thứ nhân dân cần bán vào vùng địch để khỏi thừa ế. Anh Ngạn đọc kĩ dự thảo rồi bảo: Được! Anh nói them: - Có thể cho dân ở vùng ta và địch tranh chấp, bán cả thóc gạo, lợn gà, vì ở đấy có thể địch cướp phá mà ta khó bảo vệ. Nhưng bán mà không lấy tiền Bảo Đại; hoặc lấy thì mua ngay hàng hóa đem về. Chúng ta phải khôn khéo buôn bán giữa hai vùng, không chỉ đáp ứng đời sống, mà còn cho kháng chiến và sản xuất. Chất nổ làm lựu đạn, thuốc hiếm cho thương binh và những thứ cần khác. Dùng ở trung khu ta và dành phần đáng kể lên Việt Bắc, không chỉ thóc gạo mà còn cả những thứ cần mua từ vùng địch. Phải nhớ: Tả Ngạn vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương của chính mình, đồng thời là hậu phương, hậu cần của Trung ương. Cuối năm ấy, anh Nguyễn Năng Hách sang văn phòng Khu ủy, cùng anh Ngạn hội ý. Anh Hách nói khá kĩ kết quả thực hiện kế hoạch của Ủy ban khu về chống địch bao vây kinh tế. Anh kể: ở Hải Phòng, bộ phận nội thành đang cài một mạng lưới tiểu thương, có cả vài ba nhà tư sản yêu nước, làm việc tiêu thụ hàng từ vùng ta đưa vào, kể cả chổi rơm, rổ tre, nồi đất… tránh thừa ế, giảm khó khăn của thợ thủ công và nông dân ta. Đáng kể là chị em đưa ra những thứ hàng ta cần như thuốc kháng sinh quý hiếm, hàng thiết yếu cho đời sống nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, thủ công nghiệp, thuốc nổ cho công binh xưởng, và có cả súng đạn. Bọn lính đánh thuê cần tiền thì đem súng đạn thành hàng lậu buôn bán… Chị em tiểu thương thiên biến vạn hóa, che mắt mật vụ, cảnh sát địch, chuyển hàng cấm ra ngoài. Khi bị lộ, chị em “dúi tay, đấm mõm” cho chúng, để hàng không bị mật và ra tới cơ sở. Chị em còn “mua” cả tiền Đông Dương để ta dùng vào những việc cần thiết… Một phần đáng kể hàng chiến lược từ vùng địch ra, được lên Việt Bắc cung cấp cho Trung ương. Anh em hậu cần trên ấy rất hoan nghênh. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:57:55 pm KHU ỦY VÀ BỘ ĐỘI ĐỀU BIẾT ƠN NHÂN DÂN Đồng chí Lê Quân, trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 (thuộc 320) đến báo cáo với bí thư Khu ỷ Tả Ngạn về hoạt động của Trung đoàn dưới sự chỉ đạo của khu. Anh Quân kể lại những sự việc từ sau chống càn “Thủy Ngân”. Bác Hồ gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn đã cùng bộ đội và du kích Tả Ngạn chống càn. Bộ tổng tư lệnh thưởng Huân chương Quân công hạng nhì cho Đại đoàn. Bác Hồ gửi hai tấm thiếp, tặng Trung đoàn 48 bốn chữ “Giúp dân đánh giặc”, và tặng Trung đoàn 64 bốn chữ “Dũng cảm đánh hăng”. Bác còn hứa thưởng cờ cho hai trung đoàn đó. Cán bộ, chiến sĩ vui sướng chuyền tay nhau xem tấm thiếp, nghe nói tự tay Bác đánh máy. Cuối tháng 4-1952, Đảng ủy Đại đoàn họp mở rộng nghiên cứu chỉ thị của Tổng quân ủy về “Hoạt động mùa hè và kiên trì để bộ đội chủ lực trong vùng địch”. Các Trung đoàn 48, 52 đều để bộ phận lớn ở lại Tả Ngạn, với nhiệm vụ: - Tiếp tục diệt sinh lực địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ mùa màng, củng cố vùng mới giải phóng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ thế uy hiếp mạnh sau lưng địch… Đại đoàn rút ra căn cứ ba tiểu đoàn để học tập, rồi trở về Tả, Hữu Ngạn, thay cho các tiểu đoàn khác lần lượt ra. Trung đoàn 52 hoạt động ở Hưng Yên, Trung đoàn 48 hoạt động ở Thái Bình. Tiểu đoàn Tiên Yên phối hợp với bộ đội, du kích địa phương chống càn “Mưa Phùn”, rồi củng cố hầm hố, phá hoại cầu đường, bảo vệ khu căn cứ. Lúa chiêm chín, anh em bảo vệ dân gặt hái. Đại đội 749 (Tiểu đoàn Tiên Yên) cùng du kích vây đồn Cao Mại, không cho chúng ra phá phách, rồi phục kích ở cầu Bắc Trạch diệt một trung đội địch đến giải vây Cao Mại. Cũng đại đội trên hành quân nhanh từ Tiền Hải lên huyện Thư Trì, đánh địch ở cầu Thẫm, diệt một trung đội địch, khiến cả hệ thống ven đường 10 co lại, để dân ra gặt lúa. Tiểu đoàn Tiên Yên còn bao vây đồn Ngái, kết hợp đánh viện, bắt một trung đội ngụy. Ở Thụy Anh, một bộ phận của Tiểu đoàn Kiên Trung phối hợp với bộ đội huyện diệt hai trung đội ngụy trên đường 39 quãng đồn Kha Lý. Ba ngày sau, anh em lại diệt hai trung đội ngụy và một trung đội Âu - Phi trên đoạn đường đó. Địch cay cú cho môt đại đội Commăngđô về đóng giữ. Tiểu đoàn Kiên Trung bí mật lội qua đồng nước vào làng An Bài, nơi địch đóng. Trinh sát viên Nguyễn Bẩm luồn vào bụi dứa, bám sát tên lính gác. Thấy lá sột soạt, tên gác thọc mũi lê vào bùi, trúng đùi Bẩm. Bẩm nghiến răng chịu đau, rồi đưa bộ đội vào, diệt cả đại đội địch. Địch đưa thêm về Thụy Anh một đại đội hỗn hợp ngụy, Âu - Phi. Tiểu đoàn Kiên Trung phục kích diệt gọn, tạo điều kiện cho nhân dân đấu tranh chính trị, chống địch phá nhà, nhổ lúa, phát quan 300 mét trên đường 39. Bí thư Khu ủy khen: - Trung đoàn 48 để lại hai tiểu đoàn đều có công đánh địch, giúp dân, thế là tốt. Đồng chí cho hay: - Khu còn được báo cáo của Trung đoàn 52 từ Hưng Yên về. Cùng một lúc, Tiểu đoàn Yên Ninh phối hợp với du kích đánh độn thổ và kì tập ba nơi: Phượng Tường, Cầu Ngàng, Đề Cần, bắt một đại đội công binh và một trung đội lính gác đường. Bí thư rót nước cho Lê Quân vì thấy anh báo cáo đã khan giọng. Người trung đoàn trưởng này để lại ấn tượng đẹp trong bí thư, từ khi anh chỉ đạo đơn vị đánh địch ở làng Bích Du, chuyển quân, chuyển thương binh và hướng dẫn hàng mấy nghìn dân luồn vây, vượt bãi biển. Lê Quân xúc động kể lại những điều không thể quên về sự giúp đỡ của đồng bào địa phương cho bộ đội chủ lực trong trận càn “Thủy Ngân”. Lần đầu tiên vào Thái Bình mới được vài tháng, số đông anh em quê ở khu Bốn không quen đường đi lối lại, bỗng bị càn lớn nên lúng túng. Ở huyện Thái Ninh, bộ đội bị càn, trong vòng vây to rồi rút lại trong vòng vây nhỏ, được du kích và bộ đội địa phương hướng dẫn đánh địch, phá vây, luồn càn. Dữ đội nhất là tại các làng Thần Huống, Bích Du, Vọng Hải… Bộ đội chủ lực được bảo toàn về cơ bản. Do đó, vừa thoát vây đã xốc ngay lại đội ngũ đánh tạt sườn hoặc sau lưng địch, diệt hàng đại đội Âu - Phi. Thương binh được bảo vệ và chuyển tải qua mé biển và vượt sông Trà Lý. Dân công đói khát vẫn đặt cáng trên vai, không để thương binh bị ướt. Đồng bào xã Đình Phùng (Kiến Xương) cõng 38 thương binh luồn khỏi vòng vây an toàn, trong đêm mưa rét, đường trơn, không để hương binh ngã và đau thêm. Chị Vũ Thị Rụt, du kích, lần lượt cõng bốn thương binh qua ba, bốn cây số và vượt sông Trà Lý. 30 thương binh nặng được các cụ, các mẹ đưa xuống hầm bí mật và chăm sóc chu đáo, bát cháo, ngụm nước. Những nơi hết hầm phải để anh em ở trên, thì nhờ các sư, các trùm họ đạo nhận là phật tử, giáo sĩ ốm đau… Ở vùng Trại Chè, Dương Liễu, du kích và nhân dân cho mượn thuyền, chở cơ quan đại đoàn qua sông Hồng an toàn, bí mật… Anh Lê Quân tỏ lòng biết hơn Khu ỷ đã giáo dục nhân dân tình thương bộ đội, thương binh. Đồng chí bí thư Khu ủy nói: - Bộ đội do dân mà ra, chiến đấu vì dân nên dân thương mến giúp đỡ. Bác Hồ dạy chúng ta: “Ở đồng bằng các cô, các chú không có rừng cây nhưng có “rừng người”. Đúng thế, dân là nơi tin cậy, là chỗ dựa vững chắc cho chúng ta. Ta ở trong túp nhà giặc đốt ba bốn lần, dân phải ba bốn lần dựng lại. Ta ăn bát cơm do dân hai sương một nắng làm ra. Dân chỉ đường cho ta vượt sông sâu, bãi rộng đi đánh giặc. Dân đào hầm bí mật bảo vệ ta khi bị thương, v.v. Tất cả những điều mà dân cho chúng ta không thể kể xiết. Do đó, bộ đội cùng khu ủy đều biết ơn nhân dân! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:58:42 pm PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG TÂY BẮC Tháng 9-1952, Trung ương Đảng chủ trương tác chiến: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh”, và quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Nhận chủ trương, Khu ủy Tả Ngạn họp và ra nghị quyết: “Đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng khu du kích và căn cứ du kích để phối hợp với chiến trường chính”. Anh Ngạn nhấn mạnh những công tác cụ thể: tiếp tục sẵn sàng chống càn; lợi dụng khi địch phải đối phó ở Tây Bắc, ra sức phá âm mưu “Bình định kiểu mới” của chúng ở Nhị Chiểu và đông Thanh Hà. Đồng thời làm tốt việc gặt vụ mùa, hoàn thành thuế nông nghiệp, chuẩn bị làm vụ chiêm 1953… Cuối đợt hoạt động Thu - Đông 1952, anh Ngạn sang nơi làm việc của Bộ tư lệnh khu, xem xét hoạt động quân sự phối hợp với chiến trường Tây Bắc. Anh Miên báo cáo: - Ở Hưng Yên, Trung đoàn 42 liên tục phục kích các đường giao thông, hạ ba đồn lớn, nối liền khu đông Ân Thi với nam Bình Giang, bắc Thanh Miện, hình thành vùng căn cứ du kích liên tỉnh Hưng Yên - Hải Dương. Anh Miên lược thuật trận đánh Đoàn Đào. Hai du kích Nguyễn Thị Bích, Nguyễn Thị Lĩnh giúp trinh sát Trung đoàn vào quanh đồn, sờ từng hàng rào, đo từng hào nước, khóa từng chốt mìn… Rồi trung đoàn phó cùng các tiểu đội trưởng đều vào trinh sát, nắm thực địa. Cán bộ đơn vị “đầu tầu” tự tay sờ vào lô cốt. Sâu sát trong điều tra, dũng cảm trong chiến đấu, Đại đội 200 bắn súng cối trúng địch. Chiến sĩ thi đua Đàm Minh Điện chỉ huy đơn vị làm tốt nhiệm vụ ở cửa vào đồn địch. Sau 10 phút, ta điệt và bắt 85 tên địch, thu 79 súng. Ta hai chiến sĩ hi sinh, sáu bị thương. Du kích địa phương phối hợp có hiệu quả, được Trung đoàn thưởng súng trường và nhiều lựu đạn. Hai nữ du kích trinh sát được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Đây là trận đánh hay, ít tổn thất, tạo kinh nghiệm tốt trong chỉ huy, trinh sát và chiến đấu. Cũng dịp này, Trung đoàn 42 còn diệt hai đại đội biệt kích ở La Tiến và Tranh Xuyên. Chưa kể những trận đánh phối hợp với quân dân Hưng Yên. Ở Thái Bình, sự phối chiến với Tây Bắc cũng mạnh. Bộ tư lệnh khu điều thêm Trung đoàn 48 vào cùng Trung đoàn 52 (thuộc 320), hiệp đồng với các lực lượng vũ trang của tỉnh đánh địch. Mở đầu là bao vây đồng loạt 25 đồn. Trung đoàn 48 đánh phục kích bốn trận thắng lợi. Riêng trận ngã ba Dọ, đánh một tiểu đoàn địch cùng 23 xe tăng, xe bọc thép, diệt và làm bị thương 100 tên, phá 19 xe. Sau đó, bức hàng đồn Phương Xá, bắt Mai Đức Tín, phản động đội lột thầy tu. Du kích cũng tự lực vây đồn, bắn tỉa khi địch lấp ló trong đồn; đặt chông, mìn sát cổng đồn, vào hàng rào gỡ mìn. Du kích Bùi Thị Phí có đêm gỡ hơn chục quả mìnở đồn Gọ. Đợt này, ba thứ quân ở Thái Bình diệt và bức rút chín đồn địch. Ở Hải Dương, ba thứ quân phá “Bình định kiểu mới” của địch ở đông Thanh Hà và khu Nhị Chiểu (Kinh Môn), khiến chúng bớt phá phách. Ở Kiến An, bộ đội tỉnh, huyện và du kích có bước chuyển rõ rệt trong đợt này: đánh 61 trận lớn nhỏ, diệt 300 tên địch, bắt 17 tên, diệt năm đồn, lật đổ sáu đầu tàu và 58 toa. Căn cứ du kích hai huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo mở rộng ra 35 xã. Cơ sở kháng chiến phát triển mạnh trong vùng địch tam chiếm. Những nơi trước đây cơ sở yếu hoặc chưa có như vùng ven thị xã, sân bay, nay ta có thể vào ém quân để hoạt động quân sự… Nghe xong, anh Ngạn nhận xét: - Thu - Đông này, quân dân Tả Ngạn lập công lớn, phối hợp có hiệu quả với chiến trường Tây Bắc, góp phần phá cuộc hành quân “Loren” của địch với ba GM lên Phú Thọ. Bộ đội chủ lực qua chỉnh huấn chính trị, rèn luyện chiến thuật, kĩ thuật, đã thắng từ nhỏ đến lớn, từ phục kích đến công kiên, kết hợp mưu trí với dũng lực, làm nòng cốt cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phá tan âm mưu “Bình định kiểu mới” của địch, mở thêm vùng du kích, bảo vệ và mở rộng các căn cứ du kích. Như vậy là khu ta đã góp phần thực hiên ba nhiệm vụ: tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta và phá kế hoạch bình định của giặc, tạo ra thế mới, lực mới, để tiến lên giành thắng lợi mới lớn hơn. Tiếp đó, anh nêu câu hỏi: - Nhiệm vụ Xuân - Hè 1953 tới của ta là gì? Rồi tự giải đáp ngay: - Theo quy luật, khi chiến trường chính của ta kết thúc đợt hoạt động, địch sẽ trở lại càn quét đồng bằng. Trận địa chính của chúng là ở đây. Ta phải gấp rút chuẩn bị đối phó. Có thuận lợi à các lực lượng vũ trang ta được tăng cường và nhiều thử thách, giàu kinh nghiệm chiến đấu. Song có khó khăn là vụ mùa này sút kém vì sâu bệnh phá hoại, tháng ba tới sẽ thiếu đói, ta phải ra sức bảo vệ số lương thực còn lại và giúp dân làm tốt vụ chiêm 1953. Địch sẽ còn cướp người, cướp của, ta phải chống càn mạnh mẽ để phá âm mưu mới của chúng. Chờ anh Miên ghi xong, anh Ngạn lại hỏi: - Khu ta có nên xây dựng thêm một trung đoàn chủ lực nữa không? Lại một câu hỏi đột ngột, anh Miên nhìn bí thư Khu ủy như để hỏi lại cho rõ hơn. Riêng anh chưa hề nghĩ tới. Bí thư vẫn chăm chú nhìn thẳng vào mắt anh, chờ trả lời. Suy ngẫm một lcú, anh Miên báo cáo: -Mấy năm trước, khi Trung đoàn 64 chưa đi làm nòng cốt cho Đại đoàn 420 thì Liên khu III có ba trung đoàn (42, 64, 46). Vài năm gần đây ở Tả Ngạn và Hữu Ngạn mỗi nơi một trung đoàn. Có thêm các trung đoàn của 320 khi qua khi lại. Lúc không có địch càn và lúc phối hợp với chiến trường chính, thì quân chủ lực ở Tả Ngạn đủ sức làm nhiệm vụ. Song khi phải chống càn lớn, các trung đoàn của 320 di chuyển sang Hữu Ngạn rồi phối hợp chống càn từ bên ấy, thì bên đây chỉ có Trung đoàn 42. So với lực lượng địch tập trung cao, càn quét lớn thì lực lượng ta mỏng, yếu. Nếu có thêm một trung đoàn nữa chắc chắn là tốt, nhưng phải lo điều kiện vật chất, vũ khí, quân trang, quân dụng… Bí thư gật đầu: - Đúng, phải lo thêm điều kiện vật chất. Quân và lương, không lo thiếu. Tôi sẽ đưa vấn đề này ra bàn với Khu ủy, chắc chắn được nhất trí cao. Tiết kiệm bộ máy dân sự thì có thể được, chứ không thể tiết kiệm lực lượng chiến đấu, khi địch ngày càng coi Tả ngạn là chiến trường chính. Lại phải trù tính khi Trung ương điều một bộ phận hoặc cả Đại đoàn 320 đi mở chiến dịch nơi khác. Tôi sơ bộ trao đổi ý kiến với các anh trong Bộ tư lệnh: Trung đoàn 42 sẽ phải cử một tiểu đoàn chủ công sang làm nòng cốt cho trung đoàn mới, cả người và vũ khí trang bị. Rồi anh em vừa đánh vừa lấy vũ khí địch trang bị cho mình. Anh thấy được không? Nhận ý kiến của bí thư Khu ủy, anh Miên bàn bạc với tham mưu phó Nguyễn Sáng, dự thảo kế hoạch Xuân - Hè 1953 dựa vào Nghị quyết Bộ Chính trị và chủ trương tác chiến, trong đó giao cho Liên khu III và khu Tả Ngạn đánh mạnh, tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh phá giao thông thủy, bộ và sân bay. Anh Ngạn nhất trí với kế hoạch trên và nêu ý tưởng: - Tả Ngạn có sân bay Cát Bi. Cần xúc tiến xây dựng cơ sở, tạo bàn đạp, tạo điều kiện để đánh khi đủ điều kiện. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:59:36 pm VẠCH MẶT BỌN BÙ NHÌN Anh Phạm Gia Tuân tổng hợp tình hình hoạt động của bọn bù nhìn Bảo Đại trên địa bàn Tả Ngạn. Thực hiện chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt”, từ giữa năm 1948, Pháp đã cho Bôlae (Cao ủy Đông Dương) kí với Bảo Đại một văn bản về việc Pháp “công nhận nền độc lập của Việt Nam”. Ở Tả Ngạn, hệ thống ngụy quyền bù nhìn dần dần được sắp xếp, Vũ Trọng Kỳ làm tỉnh trưởng Hưng Yên, Hà Bỉnh Quân làm tỉnh trưởng Thái Bình… Cuố năm 1949, quân Pháp càn tới đâu, hội tề làng xã mọc lên tới đó. Bọn chúng chuyên lo bắt phu, thu thế, bắt lính, làm thẻ ảnh… theo lệnh của Pháp. Mặt khác, chúng lừa phỉnh nhân dân, trương chiêu bài “Quốc gia độc lập”, đề cao “quốc trưởng Bảo Đại”, phân phát hàng “viện trợ Mỹ”. Mở cuộc kinh lí của Nguyễn Văn Tâm (đại diện Bảo Đại) về Duyên Hà ve vãn sau trận càn “Trái Quít”. Trước một đám người già rầu rĩ, trẻ con nhem nhốc, y ba hoa: “Quân đội Liên hiệp Pháp cùng quân đội quốc gia về giúp dân chống Việt Minh thắng lợi”. Một ông già đứng gần y, hỏi: - Các quan chỉ chống Việt Minh thôi ạ? Y đáp: - Đúng! Ông già lại hỏi: - Con bò nhà tôi không phải Việt Minh sao các quan cũng bắt! Mọi người cười ồ. Chúng còn đưa Nguyễn Hữu Trí (thủ hiến Bắc Việt) về thị xã Thái Bình “khuyến dụ đồng bào”. Máy bay Pháp rải truyền đơn có hình Bảo Đại và “lời kêu gọi” của y. Rải tờ rơi có hình trung tướng Nguyễn Văn Hinh, bù nhìn chỉ huy quân đội quốc gia: “Ai giữ giấy này thì Tây không bắt…”. Để tỏ ra tin cậy ngụy quân, Pháp giao cho viên quan năm ngụy Dương Quí Phan, đứng đầu séctơ Hưng Yên, thay cho một viên quan Pháp. Nguyễn Hữu Trí ra công văn thi hành lệnh tổng động viên của Bảo Đại, bắt thanh niên đi lính cho Pháp. Tên này cón tới Kẻ Sặt (Hải Dương), Thân thượng (Thái Bình) đôn đốc lập “đại xã” (khu tập trung dân). Gần đây, Pháp còn giao cho Trí cùng tướng Đờ Linarét lập đội “Quân thứ hành chính lưu động” (gọi tắt là “gamô”) theo quân GM sau mỗi trận càn, giở trò lừa phỉnh nhân dân, như tiến hành ở đông Thanh Hà và khu Nhị Chiểu (Kinh Môn)… Anh Tuân còn đưa ra mấy tờ báo phát hành ở Hà Nội, Hải Phòng, in ảnh mấy tên “gamô” chơi bóng chuyền cùng trẻ con, với lời ghi “Quân dân đoàn kết”, ảnh vài tên “gamô” nữ nhi nhảnh nâng cánh tay bà già, với lời ghi “Giúp đỡ đồng bào”, và ảnh chúng nhỏ thuốc vào mắt mấy bàn nông dân bị bệnh lông quặm… Anh Ngạn xem rồi đập đập bàn tay vào tờ báo, nói với anh Tuân: - Bọn bù nhìn từ trên xuống dưới này đươc Pháp sử dụng khá tích cực đấy. Hàng vạn lính ngụy, hàng mấy trăm ban tề, nhiều lúc làm việc rất đắc lực cho Pháp. Hồi đen tối 1950, chỉ cần mỗi làng vài tên tề ác, mươi lăm tên hương dõng năng nổ, là chúng nắm được quyền cai trị dân, phá cơ sở kháng chiến, giết cán bộ đảng viên… Song do chúng ác nên nhân dân căm ghét, nổi lên phá tề, đánh dõng, đánh ngụy… Nay chúng dùng bọn “gà mờ” đi ve vãn, dùng viện trợ của Mỹ để mua chuộc; dùng báo chí hình ảnh để lừa bịp nhân dân, nhằm thực hiện “Bình định kiểu mới”, như ở Thanh Hà, Kinh Môn, ta không thể coi thường… Để chống lại chúng, cần tích cực thực hiện những việc đã đề ra, đồng thời ngành Tuyên truyền báo chí phải tăng cường hoạt động. Báo Cứu quốc Tả Ngạn, các tờ tin của tỉnh, của trung đoàn cần thường xuyên vạch trần chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt”, vạch mặt những kẻ làm tay sai cho Pháp, chỉ rõ những trò ve vãn, mua chuộc, lừa phỉnh của chúng. Đừng để nhân dân ta mư hồ, ngộ nhận bọn chúng. Thực hiện ý kiến của bí thư Khu ủy, ngành Tuyên truyền báo chí khu và tỉnh Hải Dương tăng cường hoạt động, góp phần chống “Bình định kiểu mới”. Số anh em tạm rời đông Thanh Hà rút sang bên kia sông Ruột Lợn, nay qua mùa mưa rào nước lũ đã trở về bám đất,bám dân, hoạt động trong lòng địch. Một bộ phận của Trung đoàn 42 cùng các đại đội của tỉnh, huyện và du kích đẩy mạnh chiến đấu. Ngày 25-10-1952, Đại đội 77 (Hải Dương) diệt và bắt sống một đại đội “gamô”, thu súng đạn, đàn sáo, thanh la, chũm chọe… Nhằm phối hợp với chiến dịch Tây Bắc. Bộ tư lệnh Tả Ngạn chỉ đạo toàn khu đánh mạnh. Bộ đội tỉnh Hải Dương cùng bộ đội huyện Chí Linh diệt 160 tên địch khi chúng đi càn nhỏ. Các huyện khác cũng đẩy mạnh hoạt động, tiếp cận thị xã Hải Dương và séctơ Kẻ Sặt. Khôi phục các khu du kích đông bắc Bình Giang, tây bắc Ninh Giang, diệt “điểm rắn” Bến Trại. Căn cứ du kích Hải Dương mở rộng, nối liền với bắc Thái Bình, đông nam Hưng Yên thành một vùng rộng. Thế là cuối tháng 11-1952, địch phải bỏ cuộc “Bình định kiểu mới”, rút hết quân khỏi Thanh Hà cũng như Nhị Chiểu (Kinh Môn). Cuộc càn “Rắn Độc” định kéo dài 18 tháng nhưng mới được năm tháng đã chấm dứt. Sau đó, Khu ủy Tả Ngạn nhận xét: “Hải Dương đã chỉ đạo các huyện Thanh Hà, Kinh Môn căn bản phá tan kế hoạch bình định của giặc. Thắng lợi này có ý nghĩa chiến lược”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:04:41 am ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO, CHỐNG KẺ PHẢN ĐỘNG Tháng trước, anh Lê Tự, bí thư tỉnh ủy Thái Bình, báo cáo với Bí thư Khu ủy về tình hình địch lợi dụng đạo Thiên chúa chống ta. Năm 1950, chúng biến 77 nhà thờ trong tỉnh thành đồn bốt, bắt hàng nghìn giáo dân làm vệ sĩ, ngụy binh. Đến giữa năm 1952, ta giải phóng được 41 nhà thờ với sáu vạn giáo dân. Trước thất bại đó, địch tìm cách đối phó. Chúng lôi kéo giáo dân làm chỗ dựa cho chúng. Đôlây định lập một tổ chức gọi là đảng “Xã hội công giáo” để tập hợp bọn phản động chống kháng chiến; lập một mạng lưới do thám; tuyển một số lớn ngụy quân, dùng giáo lí và văn hóa mê hoặc giáo dân. Thực hiện âm mưu trên, nhóm linh mục do Trần Chấn Chỉnh (xứ Cổ Việt), Lê Quang Oánh (xứ Thân Thượng) cầm đầu trong vùng địch chiếm, lung lạc giáo dân. Để có một chức dânh dễ nghe, Chỉnh xưng là “Trưởng ban cứu tế nạn nhân chiến tranh”, thực tế y cầm đầu hệ thống mật vụ. giám mục Uybécna Ninh (giáo phận Thái Bình) viết thư luân lưu cấm giáo dân tham gia kháng chiến. Vượt khôn khổ tôn giáo, họ xin Pháp cấp nhiều súng đạn cho vệ sĩ, cho nhiều dây thép, xi măng, rào giữ nhà thờ. Cấp lương cho vệ sĩ 500 đồng Đông Dương một tháng. Gia đình ngụy binh và vệ sĩ tử vong được nhận hàng viện trợ Mỹ; cho vệ sĩ được truy lĩnh lương từ khi ta bắt đến khi tha… Để gây thanh thế cho bọn tay chân, Đôlây sẽ về kinh lí giáo phận Thái Bình. Nghe báo cáo xong, anh Ngạn hỏi: - Âm mưu của chúng nham hiểm, Thái Bình đối phó thế nào? Anh Lê Tự trình bày: - Chúng tôi sẽ đẩy mạnh tuyên truyền giải thích, để giáo dân và tu sĩ thấy âm mưu địch một cách có hệ thống, tránh lầm lạc. Chú trọng lớp giáo dân nghèo, cải thiện phần nào đời sống cho họ, bằng tạm cấp, tạm giao ruộng đất, giảm tô tức, để họ thấy thực sự không phân biệt đối xử. Mặt khác kiên quyết trừng trị bọn phản động ngoan cố, nhiều tội ác; trung lập hóa bọn lừng chừng, lôi kéo những người có xu hướng độc lập dân tộc. Trước mắt, phá cuộc kinh lí của Đôlây, ngăn chặn việc loan truyền thông điệp của y. Anh Ngạn ngẫm nghĩ rồi nói: - Các đồng chí đã có một kế hoạch tương đối sát hợp, qua thực hiện sẽ bổ sung thêm. Điều cần quan tâm là phải chỉ đạo sát để các huyện, xã làm đúng. Muốn vậy phải có thực tâm cảm hóa giáo dân, nhất là những người nghèo khổ. Họ chiếm đại đa số, nếu hiểu ta, thì họ sẽ làm giảm tác hại của âm mưu địch. Phải làm cho giáo dân hiểu: địch mốn cướp nước ta bằng việc bắt con em họ cầm súng chống lại kháng chiến, giết hại đồng bào. Ta thực tâm đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo, thực tâm mở đường cho những ai lầm lạc trở về làm ăn lương thiện, yêu nước kính chúa. Cần giáo dục cho cán bộ và dân lương tránh kì thị những người lầm lạc trở về. Phải coi giáo dân như mọi người dân khác. Ta có chính nghĩa nhất định sẽ thanh thủ được giáo dân. Nói bám dân, giữ dân là phải nói cả dân lương, dân giáo… Lĩnh hội ý kiến của bí thư Khu ủy, anh Tự về tỉnh tổ chức thực hiện với nhiều việc cụ thể. Được biết bọn Trần Chấn Chỉnh có một chương trình nghênh tiếp Đôlây, với dự tính 60.000 đồng Đông Dương. Giám mục Uybécma Ninh thông đạt cho 48 giáo xứ và trường tiểu chủng viện Cát Đàm, đưa bốn vạn con chiên lên thị xã đón khâm mạng… Ban Chỉ đạo chống địch lợi dụng tôn giáo của tỉnh liền hướng dẫn tẩy chay cuộc kinh lí của Đôlây. Trong thị xã Thái Bình nổi lên sự bàn tán: “Đức khâm mạng làm việc chúa mà ngồi máy bay của Pháp thì nói năng, làm ăn thế nào?”. Có người bạo miệng hơn: “Khâm miệng về răn bảo con chiên đi lính chống Việt Minh đấy! Đánh thuê cho Pháp bị bắt hàng lũ như ở Phương Xá còn chưa đủ sao?”. Lại có sự tai nghe mắt thấy là tối tối Việt Minh hành quân khiêng súng rầm rập quanh vùng ven thị, và tin Việt Minh phục kích đường 10, đường 218, khiến quân Pháp cũng lo, đề phòng bộ đội chủ lực đánh vào thị xã… Hôm đón khâm mạng, ban lễ tân của giáo hội sốt ruột khi thấy giờ chót chỉ có gần 1.000 người, chứ không phải bốn vạn như dự định. Các chức sắc tôn giáo, đại diện ngụy quyền tỉnh có mặt nhưng kém vui. Giáo dân mải ngắm máy bay hơn là ngắm đấng bề trên. Sau mấy phút chào hỏi ở sân bay, Đôlây lên xe vào nhà thờ thị xã. Không trải chiếu hao đi bộ, vì hai bên đường không đủ giáo dân làm hàng rào người hộ vệ. Khi Đôlây ở đây, dân thị xã vẫn rì rầm bàn tán: “Ngài là nhân viên mật vụ của Mỹ, sang đây để giúp Pháp ve vãn con chiên chống kháng chiến…”. Nhiều cửa hiệu đóng cửa, rục rịch dồn bao gói đi tản cư. Chợ búa, bến thuyền thưa thớt. Những bà mẹ, người vợ lính ngụy tử vong đội khăn tang đến khóc lóc, xin đức khâm mạng trợ cấp… Thực trạng đó khiến Đôlây phải kết thúc cuộc kinh lí, sau khi gặp gỡ bọn Ninh, Chỉnh bàn những việc làm ngoài giáo lí. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:05:49 am KHÔNG CHE SAI, GIẤU DỐT Khu ủy Tả Ngạn họp kiểm điểm sự lãnh đạo của khu trong năm 1952. Sau khi xem xét, đánh giá tình hình chung, cuộc họp nghe đồng chí bí thư đọc bản tự phê bình của Khu ủy. Đồng chí mở đầu: - Phê bình, tự phê bình là động lực phát triển của mỗi tổ chức, mỗi con người. Phê bình cần khách quan, đối với người khác cũng như với mình. Phải chỉ ra được ưu điểm để phát huy và khuyết điểm để tránh. Không che sai, giấu dốt. Nói thật không sợ mất lòng. Chỉ có những ai sợ sự thật mới không dám phê bình và tự phê bình. Sợ phê bình như người có bệnh không dám kể ra, để bệnh ngày càng thêm nặng, cơ thể suy sụp, khó cứu chữa. Phê bình thành thực để hiểu nhau, tin nhau, giúp nhau, đoàn kết tiến lên. Mỗi người tến, cả tập thể tiến thì phong trào chung sẽ tiến, đưa kháng chiến tiến lên nhiều thắng lợi mới. Sau khi kiểm điểm cụ thể về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế của khu, đồng chí bí thư rút ra những ưu điểm chính về sự lãnh đạo: - Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh được đấu tranh; - Coi trọng sản xuất nông nghiệp, đảm bảo đời sống nhân dân và nguồn lực kháng chiến; - Đối phó kịp thời với những âm mưu mới của địch; - Sát dưới, nắm được tình hình mọi mặt… Và những khuyết điểm chính: - Nhẹ về chỉ đạo xây dựng Đảng; - Nặng tác chiến, nhẹ xây dựng lực lượng; Công tác lãnh đạo tư tưởng yếu; - Nhẹ về chỉ đạo vùng địch tạm chiếm… Sau khi chỉ rõ những ưu điểm của các tỉnh, đồng chí bí thư phê bình: + Kiến An: - Phá các trại tập trung thanh niên bằng quân sự đơn thuần, nhẹ tuyên truyền vận động nên thất bại, sau đó lại không tiếp tục phá; - Huy động nhân lực đào sông, xây cống không trả thù lao nên ảnh hưởng tới đời sống dân; - Bao vây kinh tế máy móc, cắt đứt sự lưu thông thương mại giữa vùng địch và ta, thiệt cho nông dân về bán nông sản… + Hải Dương: - Phán đoán chủ quan, cho các trận càn “Cá Măng”, “Rắng Độc” ngắn ngày nên thiếu chuẩn bị tư tưởng cho nhân dân đối phó; - Nhẹ chỉ đạo sản xuất nông nghiệp; - Chỉ đạo chống đói tháng 8- 1952 chậm chạp. + Hưng Yên: - Nội bộ lủng củng giữa cấp ủy với các ngành; - Chưa chú trọng công tác thị xã; - Coi nhẹ vận động giáo dân; không nắm vững trọng tâm khi thi hành nghị quyết. + Thái Bình: - Bị phú nông, địa chủ lừa trong thuế nông nghiệp, chỉ đóng phần nào đã tưởng họ chấp hành; - Thiếu quan tâm đời sống quần chúng trong việc đào sông, đắp đê; - Chưa nghiêm chỉnh chấp hành chính sách tài chính, lạm dụng, vượt chi… + Hải Phòng: - Thiếu cảnh giác, phòng gian bảo mật kém, vỡ nhiều cơ sở quan trọng; - Sơ hở trong việc nắm ngụy quyền, để địch thấy bàn tay điều khiển của ta… Bản báo cáo cũng phê bình Trung đoàn ủy 42 và các ngành, đoàn thể cấp khu. Đồng chí bí thư Khu ủy yêu cầu các tỉnh lãnh đạo phê bình nghiêm túc trong tỉnh ủy và các huyện, thị ủy…, chống phê bình xuê xoa “dĩ hòa vi quí”, tránh băm bổ “đao to búa lớn”, làm giảm ý nghĩa và tác dụng của phê bình. Lần đầu tiên các bí thư tỉnh ủy, trung đoàn ủy, các trưởng ngành, trường đoàn thể nghe phê bình công khai, trung thực, vô tư, thấy có làm theo và có ích. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:07:32 am XEM VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG Một đơn vị bộ đội huyên liên hoan văn nghệ, họ ở cách cơ sở chúng tôi không xa. Cấp dưỡng Nghị có máu văn nghệ tới thăm dò, biết tối nào diễn còn góp tiết mục. Ông ta sang Văn nghệ tỉnh xin được bài độc tấu “Táo Quân về bếp”, vừa thổi cơm vừa nhẩm học. Lúc này vùng căn cứ được củng cố, thóc mùa đã phơi săn đổ bồ. Tết đến càng khiến người ta náo nức. Bộ đội liên hoan để giữ quân ở đơn vị, kẻo họ lẻn về nhà. Chúng tôi theo anh Ngạn họp ở làng bên, trở về gặo lúc đang diễn văn nghệ. Anh Ngạn bảo: - Rẽ vào xem anh em hát múa thế nào? Tới nơi, không thấy sân khấu. Người xem quây quanh chiếc sân gạch rộng nhà ông chánh Củng, nhìn chăm chăm vào giữa sân là nơi biểu diễn. Anh bộ đội giới thiệu chương trình với giọng nói có duyên, vừa trịnh trọng vừa dí dỏm: - Xin giới thiệu tiết mục “Gà trống, gà mái chửi… Tây”, do A3 biểu diễn! Gà trống khoác áo tơi lá cọ, đầu đội mũ giấy, mào đỏ chót, mỏ vàng khè, chan đi dép lốp, vừa lom khom bước vừa kêu “Túc… túc…” gọi gà mái. Gà mái chậm chạp khoác áo tơi ra. Gà trống mổ mổ xuống đất ra vẻ tìm được mồi, gọi gà mái tới. Gà mái vội vã chạy lại, không thấy mồi mà lại bị anh bạn gạ gẫm. chị ta vội tránh ra một bên. Anh ta không đạt ý muốn, liền ngỏng cổ, vỗ cánh áo tơi phạch phạch, cất giọng gáy: - Cu cù cù cú cu… cu… - Cha thằng Đờ Tátxinhi… i… i… Chị mái nghe giọng gáy có vẻ bực tức, cũng nghển cái đầu có mào và mỏ vùng nghệ, kêu - cục ta, cục tác! Xa lăng, sa lăc… Thế là người xem vỗ tay ào ào. Tôi thấy anh Ngạn cũng cười. Người giới thiệu hồ hởi bước ra, giọng tự tin hơn: - Tiết mục “Táo quân về bếp”, độc đáo do thanh niên địa phương trình diễn! Cấp dưỡng Nghị mượn được cái mũ sắt chiến lợi phẩm, cắt giấy dính làm hai ta mũ, đội xùm xụp trên đầu; cái thân gày xúng xúng trong tấm áo the cũ mượn của ông chủ. Mặc quần đùi, chân đi ủng cao su, theo hình mẫu Táo Quân truyền thuyết “Đội mũ, đi hia chẳng mặc quần”. Anh ta ra giữa sân vể oai nghiêm, cất giọng tấu như rót từng tiếng vào tai mọi người: Hai mươi ba tết lên trời. Ba mươi về bếp Ta là Táo Quân, vua của từng nhà Được Ngọc Hoàng khen: dũng cảm xông pha Vượt máy bay Tây, bay lên thượng giới! Tiếng đế: Thế rồi sao? Táo: Rồi nghe ta tâu cáo việc trần gian Năm Nhâm Thìn khá hơn năm Tân Mão Trung đoàn 64 qua bến đò Nhật Tảo Phá đồn Tây, mở cống Đào Thành Đế: Phá đồn Tây, mở cống Đào Thành, rồi sao nữa? Táo: Đại đoàn 320 vào đất Thái Bình Phá đồn La Cao, bắt Tây “mặt ngựa” Khu căn cứ thênh thang rộng mở Tướng Xàlăng như bị búa phang đầu Đế: Tướng Xàlăng như bị búa phang đầu, thế còn tướng khác? Táo: Đờ Linarét rụng tóc phò râu “Thủy Ngân” đổ, “Lạc Đà”gãy cẳng Quân chết, tướng thua, mấy phen quáng quàng Ngọc Hoàng vỗ đùi, chê bọn Pháp là ngu! Cả sân lại rộn tiếng cười và vỗ tay: Người giới thiệu càng tươi tỉnh hơn: - Hát xẩm “Chồng em” do B2 biểu diễn. Một anh chiến sĩ không còn trẻ, đóng giả nữ, khăn vuông đen, váy nái, tay kéo nhị, chân gõ phách, gân cổ nổ lên, giọng thuốc lào khè khè: Cái thằng chồng em nó chẳng ra gì Nhà cao cửa rộng nó thì vào ra Mặc ai tiền tuyến xông pha tháng ngày Lấy phải chồng hèn, em không cắn ớt mà cay! Chúng tôi xem hết chương trình biểu diễn văn nghệ mới ra và. Anh Ngạn vừa đi vừa bảo tôi: - Văn nghệ quần chúng, cây nhà lá vườn, có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ. Anh em vừa đánh giặc vừa ca hát, được thế là khá. Chưa hay nhưng vui! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:08:09 am ĐỊCH LẠI CÀN “CON SÂU”, “CON CÓC” Năm 1952 vừa được tính sổ thì việc năm 1953 đã đến. Anh Miên báo cáo bí thư Khu ủy: - Địch cho các GM 3, 4, 5 và bốn tiểu đoàn pháo binh mở cuộc càn “Con Sâu” (Actoa). Bắt đầu từ 16-1-1953 đánh các huyện Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Cách đánh của địch thay đổi: không bao vây rộng, chỉ tiến dọc các quốc lộ, tỉnh lộ, đánh phá các làng ven đường, nhằm xua giãn các lực lượng ta, giải vây, tiếp tế cho các đồn bốt. Nếu gặp hoặc thấy dấu hiệu bộ đội chủ lực ta ở gần đó thì nhanh chóng bao vây và dùng máy bay, đại bác bắn phá mạnh. Quân của chúng đóng ở nơi tiện cơ động, thường nghi binh làm lạc hướng theo dõi của ta. Ba thứ quân của ta chưa biết cách đánh của chúng thay đổi, nên thận trọng áp dụng cách chống càn sẵn có. Sự dè dặt dò xét của ta dẫn tới thiếu tích cực tiến công hoặc luồn càn, nên địch đã khép kín vòng vây ở một số xã thuộc Phụ Dực, bắt hai nghìn thanh niên. Sau bốn ngày ở vùng trên, địch lại mở trận càn “Con Cóc” (Cơrapô) vào hai huyện Kiến Xương, Vũ Tiên. Chúng tiến theo các đường 10 và 39, cách đánh cũng như trận “Con Sâu”. Khi ta phát hiện được điểm yếu của địch: không có hỏa lực mạnh yểm hộ thì không dám tiến quân; không rải mỏng lực lượng… ta đã luồn tránh chỗ địch mạnh, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của chúng để bảo toàn lực lượng minh. Địch càn ở phía nam tỉnh thì ở phía bắc Tiểu đoàn Đống Đa (thuộc 320) đánh chi khu quân sự Quỳnh Côi, một đại đội địch ra hàng. Vài ngày sau, Tiểu đoàn 705 bộ đội tỉnh đánh quận lị Quỳnh Côi và đồn Bạch Linh, chúng phải rút chạy. Bộ đội huyện và du kích đánh nhỏ ở những nơi chúng càn. Ba ngày sau trận “Con Cóc”, địch phải rút số đông đi nơi khác, rồi nửa tháng sau, rút hết quân cơ động. Anh Ngạn hỏi: - Sự phối hợp của các tỉnh chống hai cuộc càn trên thê nào? Anh Miên báo cáo: - Ở Hưng Yên, Trung đoàn 42 diệt đồn Cầu Tràng, một điểm khó đánh; mở rộng và nối liền căn cứ du kích của hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, thành vùng căn cứ bắc sông Luộc. Căn cứ này lại nối vùng nam sông Luộc thành một địa bàn rộng lớn, liên hoàn. - Ở Hải Dương, Trung đoàn 42 cùng lực lượng vũ trang địa phương diệt và bức rút bảy đồn địch vào thời gian này. Có trận đánh hay là tổ bộc phá do Trịnh Công Khương chỉ huy và trinh sát Phạm Văn Vách dẫn đường, đánh vào bến tàu địch ở Lộng Khê (Ninh Giang). Trung đoàn phó trực tiếp chỉ đạo trận này, từ các khâu trinh sát thực địa, chọn cán bộ chỉ huy, chọn chiến sĩ, đến khâu tập đánh bộc phá dưới nước, bơi không tiếng động, không nổi sóng, dụ một tạ thuốc nổ không để ướt. Uống nước mắm để chống rét khi bơi lâu dưới nước. Khi tổ bộc phá bơi từ xa vào bến, lại nhận thấy tàu và ca nô đậu quay mũi ra sông. Đánh vào mũi tàu để kịp rút nhanh thì hiệu quả thấp. Trung độ trưởng Khương liền ém bộc phá vào giữa khoang lái tàu, chờ đồng đội ra tới chỗ an toàn, anh mới điểm hỏa và bơi ra sau. Kết quả: chìm một tàu chiến và bốn ca nô, làm sập cả hai công sự phòng vệ trên bến, diệt 30 lính, phá bảy khẩu pháo 75, 40 và 20 li. Trận này khiến địch sợ hãi, vì một căn cứ được phòng thủ nghiêm ngặt mà vẫn bị đánh. Ta thắng lợi lớn mà không thương vong. Anh Ngạn khen “giỏi”, rồi nhận xét: Đấy là thêm một tiền đề cho cách đánh phá hoại lớn mà ta rất cần trong thời gian tới. Đồng chí Trịnh Công Khương là một gương sáng, tích cực tiến công địch, dũng cảm, linh hoạt xử lí trước tình huống nguy hiểm, nhận việc khó để bảo vệ đồng đội. Cần đề nghị Trung ương khen thưởng kịp thời và nêu gương để bộ đội noi theo. Nhắc lại hai trận càn “Con Sâu” và Con Cóc”, anh Ngạn nói: - Hai trận càn này có hai nét khác nhau. Trận trước, ta chưa thấy nhược điểm của chúng, nên đã thiệt hại trong vòng vây nhỏ Phụ Dực. Trận sau, ta kịp thời đánh ngay ở nơi chúng vừa càn, và biết luòn tránh ở nơi đang càn, nên giảm thiểu tổn thất. Sự linh hoạt của ta khi xem xét về địch và chuyển hướng cách đánh là đáng ghi nhận. Sự phối hợp nhanh và có hiệu quả của Trung đoàn 42, của Hưng Yên, Hải Dương là đáng biểu dương. Mặt khác, ta thấy hai trận càn này của địch là hành động vội vã, chắp vá. Nhưng nhìn chung, địch vẫn còn tiềm lực không nhỏ. Chúng còn có thể càn to, vây rộng. Ta phải chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đối phó, tuyệt đối không được chủ quan! Tiếp đó, anh Ngạn thông báo: - Khu ủy đã ra nghị quyết về thành lập trung đoàn mới của khu, phiên hiệu là 50. Chỉ định các đồng chí Nguyễn Tiệp làm trung đoàn trưởng, Hùng Lân, chính ủy. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:08:47 am TẬP KÍCH THỊ Xà KIÉN AN Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn nghe đồng chí Đặng Kinh, tỉnh đội trưởng Kiến An, báo cáo kế hoạch tập kích thị xã Kiến An, vùng địch chiếm. Nơi đây cách thành phố Hải Phòng tám kilômét. Có cơ quan đầu não ngụy quyền tỉnh, có 17 đồn, trại. Ở trại Pháo thủ có 28 bồn xăng dầu, kho đạn. Ở kho Quy Tức có 60 gian khoét sâu vào sườn ní, chứa bom và đạn đại bác. Ở đền Sùng có một đại đội biệt kích commăngđô. Ngày ngày, cảnh binh kiểm soát người ra vảo thị xã. Mật vụ len lỏi trong các đường phố và làng xóm ven thị, nghe ngóng hoạt động của ta. Đêm đêm, xe tăng, xe cơ giới tuần tra. Đèn pha trên các điểm cao sáng quắc. Địch luôn luôn càn quét các làng ngoại thị, phá cơ sở của ta. Theo chỉ đạo của Khu ủy và Bộ tư lệnh khu đẩy mạnh hoạt động ở vùng địch chiếm, tỉnh ủy Kiến An và huyện ủy An Lão coi trọng việc xây dựng cơ sở vùng ven thị, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chính trị, quân sự. Tỉnh đội coi thị xã là mục tiêu tập kích. Mấy tháng nay, anh em trinh sát lấy các cơ sở năm xã ven thị làm chỗ đứng, ra vào thị xã điều tra tình hình. Ban ngày cải trang đi quan sát sự bố phòng của địch. Ban đêm bò vào từng cứ điểm rà xét, đo đạc. Lại dựa vào quần chúng để nắm tình hình, dò địa thế… Đồng thời chuẩn bị cơ sở giấu quân cho một tiểu đoàn, và chuẩn bị phương tiện phục vụ chiến đấu… Tỉnh ủy Kiến An nhận định: Lâu nay thị xã này được địch phòng thủ nghiêm ngặt, ta không dễ vào gần, ít hoạt động vũ trang nên chúng có phần chủ quan. Ta có thể lợi dụng sơ hở đó, tạo yếu tố bí mật, bất ngờ tập kích. Tỉnh đội sắp xếp lực lượng, gồm ba đại đội tỉnh, một đại đội huyện Tiên Lãng, một bộ phận bộ đội, du kích các huyện Kiến Thụy, An Lão. Cho tập kĩ thuật bộc phá đánh kho, hành quân nhanh, bơi sông rộng. Kín đáo chuẩn bị chiến trường, thuyền đò, bến bãi. Huyện An Lão và một số xã tổ chức các đội dẫn đường, cứu thương, tải thương, phục vụ chiến đấu. Trù liệu cho bộ đội từ căn cứ Tiên Lãng, vượt hai sông Văn Úc, Đa Độ, qua nhiều cánh đồng để tránh đồn địch, kịp vào chiến đấu rồi rút nhanh về căn cứ trước khi trời sáng. Sau những câu hỏi và giải đáp nhằm bổ sung cho hoàn chỉnh hơn, Bộ tư lệnh khu thông qua bản kế hoạch tập kích thị xã Kiến An. Anh Kinh trở về cùng cán bộ, chiến sĩ triển khai kế hoạch. Anh quê ở Kiến An, hoạt động trước Tổng khởi nghĩa, học trường Quân chính kháng Nhật, về mở lớp huấn luyện cán bộ quân sự địa phương. Anh tham gia giành chính quyền ở khu Kim Sơn (Kiến Thụy). Năm 1946, anh chỉ huy Mặt trận Cầu Rào - Đồ Sơn… Lần này anh trực tiếp chỉ huy trận đánh thị xã Kiến An. Hai tuần sau dó, Bộ tư lệnh khu nghe báo cáo kết quả trận đánh: Đêm 20-4-1953, gió lạnh, mưa phùn, đường lầy, các đơn vị khẩn trương tiến vào vùng địch, chiếm lĩnh mục tiêu. Tỉnh đội trưởng ra lệnh phát hỏa bằng một tiếng nổ bộc phá. Đại đội huyện Tiên Lãng cùng một trung đội bộ đội tỉnh diệt bọn chỉ huy và làm chủ trại Pháo Thủ. Đại đội 29 của tỉnh đánh bộc phá vào kho Quy Tức, bom đạn nổ dữ dội. Đại đội 195 của tỉnh diệt đại đội biệt kích ở đền Sùng. Một bộ phận của 195 đánh dinh tỉnh trưởng, diệt toàn bộ quân bảo chính, cả ban chỉ huy tiểu đoàn và tên tỉnh trưởng, thu nhiều tài liệu quan trọng và nhiều tiền Đông Dương. Tổ quân báo tỉnh diệt địch ở ngã năm thị xã và phá trạm biến thế điện. Đại đội 53 của tỉnh mới lập, đánh ty công an ngụy, đã tới mục tiêu, nhưng sau nửa giờ chờ lệnh phát hỏa, anh em cho là quá lâu, tự ý rút. Môt bộ phận của đại đội này được giao kiềm chế đồn Cầu Nguyệt, khi được lệnh diệt đồn thì anh em cũng rút. Trận đánh gần một giờ. Các mũi chính thắng lợi, diệt gần 300 tên địch, bắt sống 120 tên, thu 190 súng. Thiêu hủy 30 vạn lít xăng, 26 gian chứa bom đạn, vũ khí các loại… Ta ba đồng chí hi sinh, bảy bị thương. Khi rút, ta phải giải hơn trăm tù binh, mang vác nhiều vũ khí thu được; đường xa, trơn lầy, đi chậm. Tới bờ sông Văn Úc thì trời sáng. Ca nô địch lao tới xả đạn. Quân ta bị động. Một số phần tán vào các thôn xóm. Số đông vào làng Đại Điền chuẩn bị cùng du kích chống địch. Gần trưa, tàu chiến, ca nô địch vây dọc sông, máy bay ném bom, đại bác bắn phá hàng giờ liền. Nhà cháy ngùn ngụt. Hai tiểu đoàn địch bao vây làng Đài Điền. Quân ta được du kích và dân làng giúp sức, đánh lùi ba đợt xung phong của địch. Đến tối, địch vẫn không vào được làng. Hơn 200 tên chết (có một quan tư, một quan ba). Ta 34 chiến sĩ và 13 đồng bào hi sinh, 80 người bị thương. Đêm ấy ta băng bó thương bỉnh, gửi lại cơ sở và mai táng những đồng chí hi sinh. Sáng hôm sau, ta chia tổ vượt sông về căn cứ. Tàu chiến, ca nô địch phục đánh. ta bị bắt thêm 37 đồng chí, mất 231 súng các loại. Anh Ngạn nghĩ nhiều về trận đánh này. Anh nói vơi anh Khai: - Đây là trận đánh một căn cứ lớn, nhiều mục tiêu, địch phòng thủ nghiêm mật, trong vùng tam chiếm sâu. Ta sử dụng trên một tiểu đoàn, diễn ra nhanh gọn, phối hợp nhịp nhàng, đạt hiệu quả cao. Lực lượng đánh là bộ đội tỉnh, huyện, có một phần là tân binh, lại vừa trải qua ba tháng hoạt động mùa xuân mệt mỏi, nhưng được chuẩn bị kĩ về tư tưởng, rèn luyện tốt về kĩ thuật, tổ chức chỉ huy sâu sát cẩn trọng, từ khâu xây dựng cơ sở, trinh sát thực địa, đến khâu hành quân vượt sông, chiếm lĩnh mục tiêu và tác chiến..., đó là những kinh nghiệm tốt. Song có khuyết điẻm lớn: không dự tính đầy đủ những khó khăn khi rút quân, phải vượt hai con sông, đường lầy, đem tối, lại áp giải tù binh, nên chậm chạp. Không dự liệu được sự đối phó của địch rất nhanh chóng và ác liệt. Một bộ phận nhỏ chưa được giáo dục kĩ về kỉ luật chiến trường, tự ý rút khỏi vị trí chiến đấu. Và cũng phải xem xét kĩ về sử dụng lực lượng, có thể ít hơn và tinh nhuệ hơn không? Lấy ít đánh nhiều là cách đánh từ xưa của tổ tiên ta. Cần phải nghĩ nhiều, rút ra những ưu điểm và khuyết điểm của trận đánh này. Anh Khai nhất trí với những nhận xét đó và trình bày dự kiến nhằm phát huy chiến thắng quân sự, hướng dẫn nhân dân trong vùng tạm bị chiếm, từng đoàn, từng nhóm đến thị xã Kiến An và những đồn giặc quanh đó, đòi thi hai và đòi tiền tử tuất những lính ngụy chết trận; đòi chồng con về để khỏi chết uổng. Một số nguy binh bị bắt, ta giải thích chính sách và khoan hồng cho về, để họ kể lại chiến thắng của ta hoặc bỏ ngũ về gia đình… Anh Ngạn nhất trí và nói thêm: Dẫu còn những điều bất cập, nhưng ở vùng địch chiếm, ta có cuộc đấu tranh chính trị như nhân dân thị xã Thái Bình đòi thả tù ở chợ Bo, và đấu tranh vũ trang như trận tập kích thị xã Kiến An, là đáng ghi nhận và cần phát huy mạnh mẽ. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:14:53 am NHÀ NGHÈO CHO CHẤT ĐỐT, NHÀ GIÀU LẤY TIỀN CƠM Mấy tháng xuân mưa dầm dai dẳng, chúng tôi ở một trại thuộc làng Tè (Tiên Hưng). Vụ mùa qua, lúa bị bệnh và sâu, rơm rạ ít, chất đốt khan hiếm. Bếp của chúng tôi hơn chục người ăn, tốn cái đun nấu. Hôm ấy bến lạnh, tôi bảo anh Thứ đi mua củi ở xóm trong. Mưa vẫn dầm dề, ra khỏi nhà là ướt át. Cụ chủ nhà bảo Thứ: “Chú dỡ cái chái nhà xuống, lấy rạ làm bữa cho khỏi muộn”. Anh Ngạn thấy thế bảo: “Không được. Nhịn một bữa không sao”. Cụ chủ nhà thành thật nói: “Nhà thời chiến, nay còn, mai giặc đốt. Mình cần thì dỡ tạm cái chái. Đến mùa, có rạ thì lọp lại. Cả tre nứa, cứ dỡ, rồi sau kiếm cái khác thay”. Anh Ngạn vẫn băn khoăn: “Nhà mất chái thì mưa hắt làm mòn tường vách”. Cụ chủ nhà bảo: “Tường mòn thì đắp lại. Các chú đừng vì giữ cái chái nhà mà đói ăn”. Có chất đốt, nồi cơm nóng hổi. anh Ngạn bưng bát cơm tỏa khói, nói nhỏ với anh em: - Cái nhà nhày nhỏ hẹp nhưng lòng cụ chủ nhà không hẹp. Các cụ có thấy cơm này ngon hơn mọi bữa không? Nhân chuyện trên, anh Thứ kể cho nghe chuyện khác: “Một hôm, anh Ngạn và tôi từ căn cứ Thanh Miện về Quỳnh Côi. Qua sông Luộc thì trời tối sập. Đồng chí dẫn đường đưa vào trọ một nhà gần bến Hiệp, nhờ họ nấu giúp gữa cơm. Nhà này giàu, nấn ná một lúc rồi mới cho người ở nấu cơm giúp chúng tôi. Sáng sau tôi quen như mọi lần, đưa tiền trả bữa cơm và cảm ơn. Nhà chủ không chần chừ, cầm tiền ngay. Ra đường, anh Ngạn bảo: - Cậu trả tiền à? Họ có lấy không? Tôi cười: - Họ lấy ngay, không ngần ngại! Anh Ngạn cũng cười. Rồi anh chặc lưỡi: “Nhà giàu thì thế, còn ông già nghèo ở làng Tè thì…””. Ở cái nhà nhỏ làng Tè ấy, anh Phạm Gia Tuân nhờ bộ đội lắp ghép cho một máy thu thanh để nghe mấy đài phương Tây. Những tài liệu sách báo tiếng Pháp từ nội thị gửi ra, anh đọc rồi rút lấy những điều cần thiết, báo cáo để anh Ngạn tham khảo tình hình địch. Anh Tuân nguyên là thông phán tòa sứ Thái Bình, tham gia Việt Minh trước Tổng khởi nghĩa, vượt gian khổ hoạt động ở vùng địch hậu, làm bí thư thị ủy thị xã Thái Bình, rồi lên đây. Việc làm của Tuân giúp anh Ngạn khá nhiều. Sau mỗi cuộc càn, Tuân tập hợp được số thiệt hại do địch thú nhận, để đối chiếu với số liệu mà ta có. Hoặc trước một cuộc càn, chúng để lộ hướng tiến, sau cuộc càn, chúng rút quân đi đâu… Lần này, đài phương Tây đưa tin: Tướng Xalăng sau một năm thay thế Đờ Lát mở liên tiếp hai mươi trận càn to nhỏ, không xoay chuyển được tình thế. Cuối cùng bị Việt Minh và Cộng sản Lào đánh cho chạy dài, mất tỉnh Sầm Nưa và một phần các tỉnh Xiêng Khoảng, Phông Xa Lỳ, để cho vùng Thượng Lào nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam. Thế là kế hoạch Đờ Lát phá sản hoàn toàn. Tướng Hăngri Nava, tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương, được Chính phủ Pháp cử làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương thay Xalăng. Anh Ngạn đưa tay lên xoa râu và cười: Thế là trong hai năm rưỡi, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1953, chúng nó phải thay ba viên tổng chỉ huy. Nếu tính từ đầu kháng chiến thì chúng phải thay sáu viên, phá sản bốn kế hoạch. Ta nhìn chúng để hiểu phần nào về ta, và thêm tự tin, tụ cường, sẵn sàng đối phó với Nava. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:15:30 am LÚC NÀY TÌNH THẾ TA HƠN HẲN TRƯỚC Cũng lúc này anh Ngạn nhận được tin của Trung ương: Địch thay đổi tổng chỉ huy. Viên tướng Nava có kế hoạch mới, được Mỹ ủng hộ với mức độ cao nhất, nhằm xoay chuyển tình thế. Anh Ngạn họp Bộ tư lệnh, quyết định đẩy mạnh hơn nữa hoạt động Xuân - Hè 1953, tạo thế chủ động đối phó với những thủ đoạn mới của Nava. Anh Miên báo cáo tình hình chiến đấu mấy tháng gây đây: - Trung đoàn 50 mới lập được hai tháng đã khai chiến thắng lợi, diệt hai đồn Quỳnh Lạng, Bến Hiệp. - Trung đoàn 42 đánh 10 trận, diệt ba đồn, có đồn chỉ cách thị xã Hải Dương một kilômét, loại 534 tên địch, bắt 271 tên, thu vũ khí đủ trang bị cho một tiểu đoàn. - Bộ đội Hải Dương diệt hai đồn và một xe tăng… Anh Ngạn nhận xét: - Cùng với trận đánh thị xã Kiến An, Xuân - Hè này ta có điểm mới là hoạt động mạnh và sâu trong vùng địch chiếm, uy hiếp đô thị - trung tâm hành chính, quân sự của địch. Xây dựng ngay trong lòng địch những cơ sở giấu quân, làm chỗ đứng để tiến lên đánh địch. Cần rút ra những kinh nghiệm thiết thực trong đợt này; chuẩn bị công phu hơn để sắp tới có những hoạt động mạnh hơn ở những nơi mà địch tưởng là bất khả xâm phạm. Đã tới lúc chúng ta không chỉ thụ động chống càn, phá càn ở vùng căn cứ của ta, mà chủ động vào đánh địch ở căn cứ của chúng. Thực tế cho thấy ngày càng rõ: mỗi lần địch thua là một lần chúng thay tướng chỉ huy, đến Nava là lần thứ bảy. Và mỗi khi chúng thay là có một kế hoạch mới hoặc kế hoạch bổ sung: tăng quân, tăng vũ khí, tạo thế lực mới để đánh ta. Lần này Nava được Mỹ thỏa thuận với Pháp chọn ra, chúng sẽ hà hơi tiếp sức để Nava diễu võ dương oai. Ta đã đẩy lùi sáu viên tổng chỉ huy của chúng, trong tình thế ta chưa mạnh lắm. Lúc này tình thế ta hơn hẳn trước. Ta sẵn sàng đấu lực, đấu trí, tin chắc ta sẽ đương đầu mạnh mẽ với viên tướng được cả Mỹ và Pháp ủng hộ này. Ngừng một lát, uống bát nước chè, anh Miên báo cáo tiếp về tình hình du kích. Lâu nay bộ đội chủ lực và tỉnh, huyện được tăng cường đáng kể, nên ít nhiều xuất hiện tư tưởng coi nhẹ dân quân du kích. Cần phải giải quyết tư tưởng này trong các cấp lãnh đạo tỉnh, huyện, xã, và trong các đơn vị bộ đội. Ở khu ta, sau khi địch chiếm sâu, những trận đánh mở đầu là của dân quân du kích, chứ chưa phải bộ đội. Anh Ngạn nói ngay: - Đúng! Đúng! Anh đề xuất đúng! Vì thế, giữa năm 1952, Trung ương mở Hội nghị chủ trương du kích Bắc Bộ, đã nhận xét Hưng Yên là một trong những điển hình chiến tranh du kích phát triển cao. Tất nhiên, chiến tranh du kích không chỉ có dân quân du kích đánh. Bộ đội cũng thực hành chiến tranh du kích, nhưng lực lượng du kích đóng vai trò quan trọng. Anh Miên tiếp: - Ở Hưng Yên, nam nữ du kích làng Từ Hồ dùng đòn gánh đánh chết một tên Pháp ở giữa chợ, gây thành phong trào dùng vũ khí thô sơ đánh địch. Trong lão du kích có phong trào thi đua “Vua địa lôi Sáu Đậu”. Phong trào nữ du kích Hưng Yên khá rộng. Chị Trương thị Tám cùng chị em giả đi buôn chuối, dùng đòn gánh và liềm đánh chết một giặc và bị thương hai đứa, thu một điện đài ở đồn Phương Trù. Chị Dân ở xã Cộng Hòa ra đường 39 bắn chết lái xe, dùng lựu đạn phá đầu xe. Tổ chị Nghét ở xã Hiệp Cường (Kim Động) rủ lính ngụy vào xóm chơi, bắt sống hai tên, thu hai súng. Tổ chị Nhẫn ở xã Nghĩa Dân (Kim Động) vòa chợ Tương Xá, diệt một địch, thu súng… Du kích thiếu niên có em Nguyễn Văn Tự ở làng Tiên Cầu, trèo lên cây đa cao ven đường 39, thả lựu đạn xuống xe chở lính địch chạy qua, làm chết và bị thương nhiều đứa. Ở Hải Dương, có trung đội du kích huyện Kim Thành đánh giỏi, năm 1948 đã được thư khen của Bác Hồ có những câu: “Du kích như cá, nhân dân nưh nước” và “Giết nhiều giặc, cướp nhiều súng để giật giải thưởng trong cuộc luyện quân lập công”. Tỉnh đã mở Hội nghị Bô lão thi đua đánh giặc, nêu gương “Ông già Thìn” nổi tiếng. Một đội nữ du kích huyện Thanh Miện vào chợ Thọ Chương diệt năm tên địch, làm bị thương hai, bắt sống một, nổi tiếng mưu trí dũng cảm. Nữ du kích xã Đồng Thanh dùng mìn phá ba khẩu pháo địch. Nữ du kích xã Thủ Sĩ diệt xe địch trên đê sông Luộc… Ở Kiến An, một trung đội du kích thôn Thái Lai tự lực đánh địch, khi xuống hầm khi lên hào, dùng chôn mìn, lựu đạn diệt hơn trăm tên địch, trong một cuộc càn dai dẳng hơn 20 ngày. Cụ Khuông, du kích xã Vinh Quang (Tiên Lãng) dùng mã tấu chém chết chỉ huy giặc khi cúng càn vào làng. Ở Thái Bình, trong trận chống càn ở thôn An Định (Thụy Anh) du kích cùng trung đội bộ đội huyện dũng cảm đánh địch. Cụ Nguyễn Kiên, trung đội trưởng Bạch đầu quân xông pha cùng đội viên chiến đấu tới lúc hi sinh tại trận. Cụ Nguyễn Văn Giang cùng con rể chiến đấu trong một đoạn hào. Con rể bị thương, cụ băng bó, cõng về phía sau cho y tá săn sóc, rồi trở lại đánh địch. 15 nữ du kích An Định dùng mìn, lựu đạn, liềm, dao chiến đấu tới lúc hi sinh gần hết. Chị em cô May, cô Mắn, khi giặc xông tới bắt sống, hai cô đã nổ quả lựu đạn cuối cùng, hi sinh anh dũng và khiến ba tên địch chết. Tại thôn Sơn Đồng (Quỳnh Côi) du kích chống càn. Dân quân gõ trống mõ, hò hét đuổi giặc. Cụ Nhiêu Bào dùng đòn gánh đuổi giăc, giật được một khẩu súng. Nữ du kích làng Cát Hộ (Đông Quan) ra đường 10 dụ một tên giặc vào xóm, chụp rổ lên đầu, trói tay đưa về khai thác tin tức. Anh Ngạn chờ tôi ghi chép xong rồi nói với anh Miên: - Gương chiến đấu của dân quân du kích, nam cũng như nữ, già cũng như trẻ, ở các làng xã không ít. Tiêu biểu là các ông Già Thìn, Sáu Đậu, là các chị Bưởi, chị Cúc, chị Chiên… cần nêu trên báo chí, báo cáo ở các hội nghị thi đua, ở các cuộc họp rút kinh nghiệm chiến tranh du kích. Qau đó mà phổ biến rộng, nhiều người làm quen. Chiến tranh du kích đánh Pháp tưởng như là châu chấu đã voi, nhưng chấu đã nhiều, đá mái, voi cũng phải lòi ruột. Đúng không anh? Anh nói rất vui, khiến chúng tôi cùng cười. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:16:10 am TỘI ÁC GIẶC Ở QUỲNH LANG, PHƯƠNG XÁ Anh Ngạn nghe ông Ngô Duy Đông, phụ trách Mặt trận Liên Việt khu Tả Ngạn, báo cáo về việc tỉnh Thái Bình khai quật hài cốt những người bị bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo ở đồn Quỳnh Lang (Quỳnh Côi) sát hại. Đầu năm 1950, giặc Pháp chiếm nhà thờ Quỳnh Lang đóng quân. Thầy tu Anvare Cao, người nước ngoài, cho bọn tay sai là tên Hưng - trưởng đồn, tên Ân - cai tù, gây nhiều tội ác với nhân dân quanh vùng. Chúng giết hàng chục người chôn trên bãi hoặc đẩy xuống sông Luộc. Ngày 7-10-1950, bọn vệ sĩ Quỳnh Lang càn hai xã Toàn Thắng, Khắc Vinh, bắt hơn 200 người nhốt vào tầng hầm lô cốt, mỗi chiều bốn mét. Nhiều lớp người chồng chất, đè nén lên nhau, nực hơi, ngạt thở. Qua một ngày đêm, chỉ còn 14 người sống sót. Tội ác bị nhân dân phản đối quyết liệt ngay từ lúc đầu. Họ đội khăn tang đi trắng đường, kéo vào đồn đòi thi hài đi mai táng. Bọn gian ác không cho lấy, đem chôn xuống ba hố to. Qua 49 ngày, theo gia lễ, dân lại kéo lên đồn đòi rước vong linh nạn nhân về nhà. Mặt trận Liên Việt phát động “Tuần lễ căm thù vụ tàn sát Quỳnh Lang”. Toàn tỉnh hưởng ứng, vang dội sang các tỉnh lân cận. Bác chí ở Hà Nội đăng bài về vụ trên và phát thanh rộng. Anvarê Cao bị các gia đình nạn nhân kiện lên thủ hiến Bắc Việt. Người ta phải chuyển Cao đi nơi khác cho khuất mặt, rồi mở phiên tòa xử y cho qua chuyện. Tháng 4-1953, đồn Quỳnh Lang bị vây, 120 tên vệ sĩ ra hàng. Ngay sau đó, ta tổ chức khai quật các hố chôn người. Hàng nghìn dân chứng kiến và đưa gần 200 bộ hài cốt vào nghĩa trang. Ảnh chụp và bài viết về cuộc khai quật được công bố rộng rãi trong tỉnh và một số nơi ngoài tỉnh. Cũng dịp này, nhân dân khai quật hài cốt 60 người bị tên Mai Đức Tín, trưởng đồn Phương Xá (Đông Quan), đội lốt thầy tu, cho đồn bọn giết hại, chôn ở đồng làng. Lúc này đào lên là những bộ sọ bị đóng đinh thuyền từ đỉnh xuống, đóng cọc tre xuyên từ tai nọ sang tai kia; những xương cổ còn dây thép, dây chão thắt vòng quanh… Những hiện vật kinh khủng ấy được nhiêu người chứng kiến và chụp ảnh tại chỗ. Ủy ban liên lạc Công giáo Kháng chiến tỉnh Thái Bình đã họp xem xét kĩ hiện trường và những bức ảnh cùng giấy tờ, bút tích, dấu ấn của Tín; nghe anh Tân, anh Trình, nhân chứng sống sót kể lại tội ác của Tín và đồng bọn. Qua một ngày làm việc nghiêm cẩn, hội nghị Ủy ban đã luận tội Tín, nhất trí đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh mở phiên tòa xét xử công khai, kết án tử hình y. Tiếp đó, Ủy ban nhận được hàng nghìn lá đơn với hàng vạn chữ kí của đồng bào Thiên chúa giáo khắp nơi đề nghị xử tử Tín. Phiên toàn xử Tín có 238 đại biểu Hội nghị những người Công giáo Kháng chiến cùng hàng nghìn nhân dân lương giáo trong tỉnh tham dự. Mọi người xem những hình ảnh tội ác của bọn Tín, nghe những bà mẹ chỉ vào mặt Tín và hỏi: “Con tao có tội gì mà máy giết hại nó?”. Trước những bằng chứng rõ ràng, Tín đã cúi đầu nhận án tử hình. Anh Ngạn lặng người hồi lâu trước nỗi bất hạnh của các nạn nhân Quỳnh Lang, Phương Xá. Anh nói với vị phụ trách Mặt trận Liên Việt: - Qua nhưng tội ác rành rành, mắt thấy tai nghe, giáo dân Thái Bình càng ghê tởm bọn sát nhân đội lốt tôn giáo. Qua bao nhiêu đau khổ của người đã khuất và thân nhân họ còn sống, nhân dân Thái Bình, giáo cũng như lương, căm thù giặc Pháp đã biến nhà thờ thành đồn bốt, biến thanh niên công giáo thành những tên lính hung tợn sát nhân. Nhiệm vụ của Mặt trận Liên Việt, của tất cả chúng ta, là phải làm cho toàn quân, toàn dân thấy những sự thật kể trên để khắc sâu căm thù và nâng cao quyết tâm đánh giặc, bảo vệ dân. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:16:47 am GIỜ GIẢI LAO, GÓP CHUYỆN VUI Kháng chiến gian khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả sinh hoạt văn hóa. Ở chỗ chúng tôi có cái máy thu thanh nhỏ, thường nghe Đài tiếng nói Việt Nam. Giữ bí mật, anh em nghe kín đáo vào đêm tối, giữa trưa vắng, kẻo lũ trẻ nhỏ trong xóm biết. Anh Tuân có cái máy thu thanh tự tạo cũng phải “nghe trộm”. Tôi tranh thủ lúc không làm việc với anh Ngạn, đọc báo ta, báo địch, vừa nắm tình hình, vừa giải trí. Đôi lúc, tôi cùng anh em kể chuyện về bố mẹ, vợ con hoặc người yêu, đủ đề tài. Có một đề tài anh em thích là chuyện vui về các đồng chí trong Bộ tư lệnh. Anh Thứ kể về những đêm trực ban ở Bộ Tư lệnh. Khi giặc càn nơi nào đó trong khu vực xa, xen vào lúc chờ tin tức, các anh Ngạn, Khai, Miên bày tú lơ khơ ra đánh cho khỏi buồn ngủ, để các anh Lễ Nghĩa, Hoàng Thế thường trực. Các anh không nói to, nhưng khi hứng lên cũng vật bài đen đét, chả kém anh em lính. Đang vui chuyện thì ông Nguyễn Sáng đến. Ông quê ở thị xã Thái Bình. Cách mạng thành công, ông tòng quân. Một năm sau được điều ra Hải Phòng, nơi sắp có chiến sự, ở một đơn vị mà sau này là Trung đoàn 42. Ông đánh Tây ở nội thành, làm chỉ huy trưởng Mặt trận An Dương- Hải Phòng, gan dạ, mưu trí, được cấp trên khen. Rồi làm trưởng phòng tác chiến Liên khu III. Năm 1949 làm tham mưu trưởng Mặt trận 5, nay là tham mưu phó khu Tả Ngạn. Ông thường cùng anh Miên sang làm việc chỗ anh Ngạn. Ông Sáng cũng hay nghe chuyện. Sau khi báo cáo hoặc thỉnh thị chính ủy, nếu việc không cấp bách phải về, ông thường xuống chỗ anh em chúng tôi uống nước chè xanh, nghe chuyện vui. Nghe rồi ông cũng góp cho “có đi, có lại”. Ông kể: “Hồi mới lập Bộ chỉ huy Mặt trận 5, ông Miên phân công tôi tổ chức đường dây giao thông, đón anh Khai qua sông Hồng về làm chính ủy. Anh em ở nhà dân, mùa gặt thường kéo đá, trục lúa giúp chủ nhà. Tôi trẻ, khỏe hơn khoác dây kéo đá, anh Khai cầm gậy đẩy đá. Mới vào sân cả hai đều hăng hái, bước đều như tập đội ngũ “Mốt… hây.. Mốt… hây…”. Sau ông Khai mệt dần, bước ngắn, bước dài chuệch choạc. Lúc đầu thật sự ông cầm gậy đẩy đá, sau tôi cảm thấy như ông chỉ giữ cho gậy khỏi rơi. Thế là mình phải cố và cũng mệt nhoài, đánh ra khẩu lệnh dứt khoát: “Nghỉ!”. Ông chính ủy không phân biệt “lệnh trên, lệnh dưới”, chấp hành ngay. Ngày ăn cơm chưa no, tối kéo đá hồi lâu, ông Khai kêu đói. Tôi về xin cụ chủ nhà củ khoai luộc cho ông. Khoai còn nóng hổi, ông “giải quyết ngay”. Khoai bở, bọng khô, ông cắn miếng to nhai trếu tráo, bị nghẹn. Ông nấc liền máy cái. Tôi hơi hoảng, hỏi: “Sao đấy anh?”. Ông chỉ gật gật đầu, miệng lúng túng. Tôi tưởng ông ngộ gió. Ông đập nhẹ vào vai tôi, ra ý không sao. Một lúc lâu mới xuôi, ông nói khẽ: “Nghẹn tưởng chết! Công nhận củ khoai rất bở”. Tôi hiểu ra, vừa buồn cười vừa thương ông chính ủy”. Thấy chúng tôi hưởng ứng, ông Sáng liền tiếp: “Cũng hồi ấy, ông Đặng Tính được liên khu cử sang làm Bí thư Đảng ủy. Ông này vui tính, thuộc nhiều bài hát, đọc cho anh em chép rồi khe khẽ dạy hát, lại biết thổi kèn ácmônica. Khi trò chuyện ông đối đáp linh hoạt, thông minh. Anh em gọi là “ông văn hóa”. Có ngời bảo ông là dân tiểu tư sản đặc sệt, ông cười khờ khờ. Khi mưa rỗi, ông chấp vần làm thơ hoặc ghi chép. Ông có mấy tập sổ nhỏ bằng ba đầu ngón tay, khá dày, ghi chữ nhỏ tí như con kiến, hoặc viết tắt, người khác khó mà đọc. Ông ghi được ba tập, gửi tôi giữ giúp, để sau này viết chuyện kháng chiến. Hôm ấy giặc càn, tôi gói cùng sổ sách của tôi vào chiếc chăn chui đầu, thường gọi là “chăn tabo”, chiến lợi phẩm thu của địch, đưa xuống hầm bí mật ở Bổng Thôn (Tiên Hưng) bị mối xông hết. Ông cũng như tôi, tiếc ngẩn tò te, nhưng ông không trách tôi. Còn tôi thì căm tức đàn mối đến tận… xương tủy!”. Anh em lại cười. Ông Sáng nói luôn: “Hồi còn Mặt trận 5, tình hình trong khu u ám; tin tức từ Việt Bắc đưa vào không kịp thời. Ông Tính trực tiếp chỉ đạo bộ phận thông tin liên lạc. Với Trung ương thì dùng vô tuyến điện; với các tỉnh và Trung đoàn 42 thì dùng liên lạc “chạy chân”. Có trận giặc càn, anh em không kịp vác máy phát điện chạy, phải quẳng xuống ao, may còn máy dự phòng nhưng thỉnh thoảng lại trục trăc, anh em phải chữa cật lực, quay đến toạc da tay, sầy da chân vẫn cứ trơ như cục đá. Ông Tính và nhất là tôi sốt ruột sốt gan như ngồi trên lửa. Bô chỉ huy hỏi tôi: - Có tin gì mới không? Tôi cứ ngẩn người, không trả lời được, hoặc có trả lời thì tin đã cũ rích. ÔngTính mải việc nhưng chốc chốc lại xem chữa máy đến đâu rồi. Cảm thông với anh em, ông làm thơ động viên: “Lính ta chân chạy, tay quay/ Cái đầu lo nhiệm vụ, cái dạ dày thiếu chất tươi/ Cái miệng muốn mếu vẫn cười/ tin lên, tin xuống, vẫn khơi được nguồn”. Thấy anh em thích thú, ông Sáng kể thêm về anh Miên: “Ông tướng này gan lì cóc tía, bị giặc 14 đồn đến vây, ông ở trong làng Khuốc vẫn bình tĩnh chỉ đạo cho quân báo sang làng Nguyễn truyền lệnh đánh nghi binh phối hợp, khiến giặc phải rút chạy. Có lần quân Giem vây ở Cổ Tiết, một số người luống cuống, ông vẫn chỉ đạo luồn vây, và luồn được. Cũng như anh em, ngày vài bữa có sao ông ăn vậy, xuề xòa dễ tính nhưng hút thuốc thì bậc nhất. Có những khi hết thuốc bao, ông xé lề công văn để quấn thuốc. Được thứ pơluya trắng mua từ vùng tề còn đỡ, không thì giấy thô, cứng quèo. Quấn rồi thấm nước bọt mấy lần mới dính thành điếu thuốc. Bật lửa châm thì nước bọt khô, giấy cứng bật ra, thuốc rơi xuống áo, lại nhặt nhạnh vun vén, quấn lại. Khói đen sạm, mùi giấy khét át mùi thuốc, ông vẫn hút say sưa, không hề bực tức. Hút hết điếu này quấn ngay điếu khác. Nghiện lắm. Thế mà khi Khu đoàn phát động thanh niên không hút thuốc, tránh tốn tiền, ho hen, ông bỏ ngay lập tức, vì ông không bỏ thì lính nó cứ lấy nê, cứ hút. Tưởng ông bỏ để nêu gương một thời gian rồi lại hút, nhưng không, ông bỏ đứt. Cũng có thể gọi là tài!”. Anh em nghe xong cười khà. Rồi ai nấy trở lại với công việc. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:17:18 am CÓ MIỆNG THÌ GẮP, CÓ NẮP THÌ ĐẬY Do lộ cơ sở, máy bay địch ném bom thôn Duyên Trang (Hưng Nhân), trúng nơi trú quân của một đơn vị thuộc Đại đoàn 320, một số cán bộ, chiến sĩ thương vong, hai cán bộ trung đoàn Lê Quân, Lê Điện hi sinh. Trước đó máy bay địch ném bom thôn Phương La, hơn trăm người chết và bị thương. Xưởng công binh và trạm quân y đóng ở đây tổn thất. Trận máy bay địch bắn phá làng Lưu Phương, nơi Đại đoàn 320 đóng cũng có phần do chỉ điểm. Lại có tin bắt được Trần Sánh Tiệp, gián điệp cài vào hàng ngũ ta. Và tin bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo chăng mạng lưới mật vụ rộng tới các vùng do ta kiểm soát. Bọn này phối hợp với hệ thống gián điệp do “phòng nhì” nắm… Khu ủy chủ trương đảy mạnh hơn nữa cuộc vận động phòng gian, bảo mật trong toàn quân, toàn dân. Anh Ngạn rất quan tâm đến cuộc vận động này. Trong các cuộc họp Quân Dân Chính Đảng, Thanh Công Nông Phụ, Tuyên Văn Giáo Huấn, anh đều kêu gọi mọi người đề cao cảnh giác: - Do thám, gián điệp là tai mắt của địch. Muốn đánh ta ở đâu địch phải hiểu lực lượng và sự bố phòng của ta. Chúng dùng máy bay trinh sát chưa đủ, phỉ dùng do thám, gián điệp, chỉ điểm. Để chống bọn này, ta phải theo dõi phát hiện và trừng trị. Làm rõ những vụ đau thương do bọn chúng gây ra để nhân dân căm thù. Mặt khác, ta phải giữ bí mật triệt để, khiến chúng có tai như điếc, có mắt như mù. Thực hiện: việc ai người nấy làm, không tò mò, dò dỏm công việc người khác. Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy, đả phá bệnh ba hoa. Đảm bảo đi không ai biết, về không ai hay. Ra đường hóa trang như nhân dân. Không có điều kiện hóa trang thì đêm tối hãy ra khỏi nhà. Phải bảo quản tài liệu chu đáo, đừng để công văn túi áo, thông báo túi quần. Ít dùng giấy tờ, cấp trên xuống truyền đạt cho cấp dưới, cấp dưới lên báo cáo với cấp trên… Anh đề ra rồi tự mình chấp hành. Mỗi cơ sở chỉ ở ba, bốn ngày. Chuyển chỗ ở nhất thiết phải vào buổi tối. Đúng giờ “xuất quân” là anh bước ra ngõ, đi nhanh. Đuổi theo ngay là tôi, Lê, Thứ. Ông Lê tập tễnh bước vì hai chân đều đã bị thương. Chân trái bị quân ở bốt La Uyên (Thư Trì) phục kích bắn trúng. Chân phải trúng đạn địch khi luồn càn Mecquya. Anh em khác lỉnh kỉnh súng ống, cuộc xẻng, nồi niêu xoong chảo đi sau rốt, nhưng phải liệu mà bám sát, không biết đêm nay ông Lê dẫn đến ở làng nào. Chủ trương phòng gian bảo mật được thực hiện rộng khắp. Công an và các lực lượng vũ trang bắt hàng trăm tên, làm rạn vỡ hệ thống gián điệp nằm lì, chui sâu của chúng, hạn chế thiệt hại của ta. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:18:25 am “DIỆT SINH LỰC ĐỊCH, PHÁ TAN NGỤY QUÂN" Thủ hiến Bắc Việt vừa ra bản lập “địa phương quân” ở các vùng tạm chiếm. Anh Ngạn sang làm việc với anh Khai. Được biết chúng đang chuyển số lính ở các đồn hương dũng, tổng dũng, quận dũng và vệ sĩ Thiên chúa giáo thành địa phương quân. Đây là cách đôn quân hỗn tạp lên chính quy và tăng gánh nặng cho bọn này; kiểm soát chặt chẽ hơn các làng tề; phá mạnh hơn phong trào du kích chiến tranh tại chỗ, tạo nguồn bổ sung cho quân cơ động… Biện pháp của chúng vẫn là càn bắt thanh niên, lừa phỉnh, lôi kéo giáo dân vào lính. Địa phương quân hơn bọn dũng và vệ sĩ là được hưởng 500 đồng Đông Dương một tháng, vẫn được đóng quân gần nhà, nhưng phải luyện tập theo bài bản “quân đội quốc gia”, và nuôi đầu óc sẵn sàng đi cơ động, bay nhảy bốn phương. Anh Ngạn nói: - Nava vạch kế hoạch nhằm chuyển bại thành thắng trong 18 tháng. Trong kế hoạch có điểm chính là tăng quân cơ động gấp ba lần số hiện có. Muốn thế, chúng phải đưa quân từ Pháp sang nhưng có hạn; cần ráo riết bắt thanh niên ta vòa lính ngụy. Âm mưu lập địa phương quân là nhằm phục vụ cho “Kế hoạch Nava”. Chúng rất cần người để lấp vào lỗ hổng thiếu quân do bọn tướng tiền nhiệm gây ra. Chỉ trong một tháng đánh Hòa Bình, Đờ Lát nướng 45 đại đội, vừa Âu - Phi vừa ngụy. Chiến lược “Dùng người Việt đánh người Việt” của chúng là cực kì tham độc. Chúng ve vãn, mua chuộc người của ta đánh ta, nhằm đạt mục đích cuối cùng là cướp nước ta. Ta phải đánh địch bằng mọi cách, trong đó có cách phá âm mưu dùng người ta đánh ta. Chẳng cần biết anh Khai có định nói gì không, anh tiếp: - Ở khu ta, nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh chuẩn bị chống càn, có thể chúng càn rất lớn; tăng cường mọi hoạt động chiến tranh du kích; nâng thêm trình độ chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương; nhằm nơi sở hở, chỗ yếu, kể cả vùng địch chiếm, để đánh những đòn tiêu diệt hoặc phá hoại nặng. Đồng thời phải bằng mọi cách đẩy mạnh ngụy vận, chống giặc bắt lính. Phải ra sức thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, gói trong bốn câu dễ nhớ: “Diệt sinh lực địch. Phá tan ngụy quân. Đẩy mạnh du kích. Tranh thủ nhân dân”. Anh Khai liền báo cáo với chính ủy một kết quả về ngụy vận. Ở xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, đồng chí Lê Thị Thu, 20 tuổi, được giao công tác ngụy vận. Trưởng ban địch vận huyện gặp Thu hướng dẫn phương pháp vận động lính ngụy về với kháng chiến. Thu nhờ mẹ vay cho 200 đồng Đông Dương, sắm quang thúng bán hàng xén ở chợ Đổi. Thu làm quen với bọn lính ở đồn quận lý, trò chuyện lân la, rồi bắt mối với Ngận, một người bị ép đi ngụy. Sau đó, bọn chỉ huy đồn sinh nghi, bắt Thu tra hỏi. Qua một tuần dụ dỗ rồi dọa dẫm, Thu không khai báo. Chúng không có chứng cứ phải tha. Sau đó hai tháng, địch lại bắt Thu, quay điện, đổ nước điều trộn ớt vào miệng, bắt Thu khai báo. Thu cắn răng chịu đựng, không lộ điều gì. Đánh chán rồi chúng giam giữ trong đồn, bắt quét rác, nhổ cỏ. Lợi dụng khi đi làm, Thu giữ mối với Ngận và trò chuyện với bọn lính. Tiếp đó, Thu gặp Doãn, một lính mới chuyển về đây. Doãn là bạn chăn trâu hồi nhỏ của Thu. Lựa tìm cách gần Doãn, Thu hỏi: “Sao lâu lắm anh không về thăm gia đình, thày bu nhớ lắm đấy”. Doãn buồn bã: “Tổi phải đi vây càn liên miên, về sao được. Vắng mắt là sĩ quan Pháp nó phạt nặng”. Thu tiếp tục gặp gỡ, biết Doãn làm cai trong một đơn vị do quan hai tên là Nhàn chỉ huy, dưới sự kiểm soát của sĩ quan Pháp. Đơn vị này đóng ở đồn An Khê gần cầu Rào. Một hôm Doãn bảo Thu: “Cô đưa tôi trốn ra vùng tự do được không?”. Thu bảo Doãn: - Được, nhưng hãy từ từ. Trước mắt làm giấy bảo lãnh với quận trưởng Kiến Thụy, rằng Thu là em gái con ông chú của Doãn, xin được tha. Quận tha Thu những vẫn giao cho tề giám sát tại làng. Thu bắt liên lạc với trưởng ban địch vận huyện, báo cáo việc bắt mối gây nhân trong đơn vị Hai Nhàn. Rồi Thu nhận kế hoạch tiếp tục. Bất ngờ lúc này đơn vị Hai Nhàn chuyển vào Hải Phòng. Thu lại làm co hàng xén, rồi vào thành phố Hải Phòng, về chợ Đổi. Tại Hải Phòng, Thu gặp Doãn với vai trò là em gái Doãn. Bạn bè Doãn xúm lại ngắm cô em xinh xắn. Khi chỉ còn hai nguời, Doãn lại nhắc việc đưa Doãn ra. Thu bảo Doãn rủ thêm người ra. Rồi tuần một lần, Thu đến thăm Doãn cho quà, hỏi tình hình, giao việc. Doãn nói đã rủ được bốn người cùng xã. Thu tiến thêm một nước: - Anh rủ thêm nữa, càng nhiều càng tốt, kể cả Hai Nhàn. Nhàn bị sĩ quan Pháp quát nạt mấy lần, tức lắm đấy! Doãn nhận lời, làm theo kế hoạch của Thu, vận động được cả hai Nhàn theo kháng chiến. Đầu năm 1950, đơn vị Nhàn nhận lệnh đi càn ở Tiên Lãng. Thấy đây là dịp cho những người muốn trốn hành động, Thu bảo với Doãn; - Chọn những người tích cực nhất giết sĩ quan Pháp; phân công người bí mật tháo hết đạn trong súng của những tên ngoan cố… Doãn được Thu giao chỉ huy hành động. Đến ngày đi càn, Hai Nhàn cho lính hành quân ra đê Văn Úc. Tối xuống, dựng lều bạt đóng quân. Trong đơn vị có chín nhân mối của ta. Khi cả đơn vị ăn no nằm ngủ, Doãn chỉ huy anh em nổ súng diệt sĩ quan Pháp và những tên ngụy ngoan cố, kêu gọi những người khác mang theo súng đạn ra với kháng chiến. Cùng lúc, theo sắp xếp của Thu, sáu chiếc thuyền từ Tiên Lãng sang đón. Gần hết đơn vị đó đi theo ta. Ta cho lập thành một trung đội, sáp nhập với bộ đội tỉnh Hải Kiến, trừ Hai Nhàn và vài người khác theo nguyện vọng của họ. Nghe xong, Chính ủy bình luận: - Một cô hàng xén 20 tuổi, dùng mưu ngụy vận phá tan một đơn vị ngụy, biến thành một đơn vị ta. Chiến thuật ngụy vận có tác dụng khôn lường! Anh Khai trình bày một đề án tổng hợp về tuyên truyền, vận động quần chúng, nhằm đối phói với kế hoạch bắt lính của địch. Về ngụy vận, anh đề nghị kết hợp giữa đánh và kéo, như Thái Bình đánh trận Kênh Kem, bắt sống Trịnh Quang Thanh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn vệ sĩ đội tên “Trần Hưng Đạo”. Ta thuyết phục Thanh để y viết thư cho tiểu đoàn phó Vũ Thanh Mai, nói rõ chính sách khoan hồng, đối xử tử tế của ta. Mai ngả theo Thanh, lừng chừng trong việc thi hành lệnh đi càn quét, khiến bọn Pháp ngờ vực. Chúng cho một đơn vị Âu - Phi do quan năm Pháp chỉ huy, về đồn Đông Hướng, sở chỉ huy của Mai, lấy quân trong tiểu đoàn của Mai đi đánh nơi khác. Mai không cho quân đi. Quan năm Pháp sai lính Âu - Phi khóa tay Mai và phơi dưới nắng, không cho ăn luống. Lính của Mai căm phẫn, nhất tề trả lại súng, về quê. Ta truyền nhanh tin đó, khiến tiểu đoàn của Mai đóng quân rải rác trong vùng Kiến Xương, Vũ Tiên tan rã hai phần ba, số dao động. Kết cục, địch phải giải tán cả tiểu đoàn đó. Thái Bình đã khuếch trương rộng rãi thắng lợi, nhằm làm cho việc bắt người vào ngụy quân gặp khó khăn. Có bài ca về trận Kênh Kem: Súng trường, mã tấu xông pha Trận tiền bắt được quan ba tiểu đoàn Những tên lính ngụy quáng quàng Bảo nhau xách súng ra hàng quân ta. Anh Ngạn tỏ ý thích thú những câu ca đó. Anh góp ý chi tiết cho bản đề án của anh Khai, rồi dẽ dọt nhắc lại Nghị quyết của Hội nghị Cán bộ Trung ương lần hai: “Tác chiến quan trọng thế nào thì địch vận cũng gần như thế. Công tác địch vận không phải riêng của bộ đội, mà cả đoàn thể cũng phải làm. Phải dùng mọi hình thức, nắm lấy mọi cơ hội mà tuyên truyền làm tan rã tinh thần địch làm cho binh lính địch nhận rõ ta với họ có chung một kẻ thù là thực dân Pháp, khiến họ thỏa hiệp với ta, vác súng chạy sang với ta…”. Anh còn tiếp: - Làm ngụy vận phải kết hợp cả dũng lẫn mưu. Thái Bình đã làm được điều đó có hiệu quả cao. Thái Bình là đất căn cứ khu, các cơ quan khu cần hỗ trợ nó, nhằm tạo được những điển hỉnh tốt, kinh nghiệm hay, phổ biến rông. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:19:12 am ĐÒN ĐẦU TIÊN CẢNH CÁO TƯỚNG PHÁP Những ngày hè năm 1953, Bộ tư lệnh tả Ngạn thường xuyên hội ý, theo dõi sát những hoạt động của Nava đối với đồng bằng Bắc Bộ. Y đã nói rõ: “Bắc Bộ là khu tác chiến chủ yếu”, “Đồng bằng sông Hồng là chiến trường chính”, mất nơi này là dẫn đến sự sụp đổ của toàn Đông Dương”. Qua đó, anh Ngạn nhận định: - Nava sẽ vẫn dùng ngón đòn sở trường của các viên tướng chỉ huy trước y là càn quét. Xalăng đã đẩy mức độ một số trận càn lên cao và ác liệt nhất so với trước đây. Nava sẽ đẩy lên cao hơn, giống như con bạc càng thua càng dốc túi ra đánh to hơn hòng gỡ nhanh. Tập trung quân đông, tăng cường phi pháo, nhằm nơi và lúc ta sơ hở là chúng đánh. Ta phải đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị phá càn, bằng những kinh nghiệm xương máu đã được rút ra. Khi chúng chưa càn ta phải chủ động đẩy mạnh hoạt động du kích, tạo những thuận lợi để phá càn; chống khuynh hướng nghỉ ngơi khi địch chưa đánh tới; phải xây dựng, huấn luyện, chuẩn bị mọi mặt để vào trận mới; bộ đội chủ lực tránh đánh phân tán một chiều hoặc chỉ đánh tiêu hao mà bỏ lỡ cơ hội có thể tập trung tiêu diệt từng bộ phận địch; tích cực đánh giao thông, nhằm bọn khinh quân và địa phương quân mà tiêu diệt; tập kích những nơi trú quân, trại huấn luyện; ở vùng địch chiếm thì nhằm phá kho tàng, sân bay, đường sắt; đồng thời đẩy mạnh ngụy vận… Anh Miên báo cáo: - Lúc này tỉnh ủy Kiến An chỉ đạo cho tỉnh đội tiếp tục đánh vào hậu cứ địch. Rút kinh nghiệm trận tập kích thị xã Kiến An để đánh Sở Dầu Thượng Lý (Hải Phòng), nơi tập trung nhiều bồn xăng và kho chứa đan dược, với sự bảo vệ của lính Âu - Phi. Theo tin đầu tiên, huyện An Dương đã sớm cho cán bộ vào xây dựng cơ sở gần Sở Dầu, đào hầm bí mật đủ cho 40 người làm chỗ đứng khi vào đánh, và làm nơi ẩn tránh khi chưa kịp rút ra xa. Quân báo còn điều tra thực địa, đo chiều cao chiều rộng và độ dày của bồn xăng để tính lượng bộc phá cần đánh. Dân quân du kích giả làm người buôn đưa thốc nổ từ ngoài vào… Tỉnh đội tuyển lựa năm tiểu đội tinh nhuệ, thuộc bộ đội tỉnh và đội vũ trang tuyên truyền An Dương, chia thành hai đơn vị đánh kho dầu và kho đạn. Sự chuẩn bị đã xong, chỉ còn chờ vào trận. Anh Ngạn nhận xét: - Trận này có mấy điểm đã được tính toán kĩ hơn trận tập kích thị xã; - Dùng lực lượng nhỏ tinh nhuệ; - Có nơi ẩn tránh khi chưa kịp rút ra xa… Song phải cố gắng giữ bí mật; động viên anh em dũng cảm, mưu trí, đánh thắng… Phải khiến cho Nava thấy đây là một trong những đòn cảnh cáo đầu tiên của Tả Ngạn đối với hắn. Anh Miên báo cáo thêm: - Tỉnh đội Kiến An cũng chuẩn bị tập kích sân bay Đồ Sơn. Sau đó không lâu, anh Đặng Kinh từ Kiến An lên báo tin chiến thắng: Ngày 17-6-1953, quân ta bí mật vào tập kết tại các cơ sở. Đêm 18-6, đơn vị đánh vào kho dầu do đồng chí Quách Phú trực tiếp chỉ huy, tiếp cận mục tiêu. Bị địch phát hiện khi chưa tới giờ phát hỏa, Quách Phú kịp thời ra lệnh đánh. Khu kho dầu bốc cháy. Một tiểu đoàn Âu - Phi bó tay đứng nhìn 47 triệt lít xăng dầu thành khỏi lửa. Địch vội vàng chặn các ngả đường, tàu chiến, ca nô giăng dọc sông Văn Úc. Nhưng quân ta không rút ngay mà nằm lại các cơ sở, đêm sau mới lẹ làng về căn cứ Tiên Lãng. Rất tiếc là đơn vị đánh kho đạn chưa kịp tới mục tiêu thì bên kho dầu đã phát hóa, đánh rút chạy, êm gọn. Anh Ngạn khen trận đánh hay, kết quả lớn mà bảo toàn được lực lượng. Bộ đội dũng cảm chiến đấu, cơ sở bảo mật tốt… Đó là những tiền đề chuẩn bị đánh các trận sau. Điều cần chú ý: những hoạt động táo bạo của quân ta sẽ khiến địch tăng cường đói phó. Chúng đã càn quét nhỏ nhưng dai dẳng ác liệt như sau trận ta đánh thị xã Kiến An. Chúng có thể càn ác liệt hơn sau trận Sở Dầu. Kiến An phải sẵn sàng chống trả. Anh Đặng Kinh hứa với Khu ủy và Bộ tư lệnh: - Có ngay kế hoạch đối phó với địch, đồng thời chuẩn bị đánh sân bay Cát Bi. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:19:59 am NAVA CHĨA MŨI NHỌN VÀO TẢ NGẠN “Kế hoạch Nava” được Chính phủ và Hội đồng quân sự Pháp thông qua; Mỹ ủng hộ bằng tăng cường viện trợ quân sự, năm 1953 tăng gấp ba lần so với năm 1952, chiếm gần nửa tổng ngân sách chiến tranh ở Đông Dương. Chính phủ Mỹ cử một phái đoàn do tướng Ô Đanien cầm đầu sang Đông Dương đốc thúc và quan sát việc dùng tiền viện trợ. Nava dự định tác chiến qua hai bước: 1) Thu - Đông 1953 và Xuân 1954 giữ thế phòng ngự từ vĩ tuyến 18 trở ra; bình định miền Nam, miền Trung Đông Dương, xóa bỏ vùng tự do Liên khu V; 2) Nếu đạt được bước một sẽ chuyển sang tiến công miền Bắc, giành thắng lợi quân sự to lớn buộc đối phương phải đàm phán theo điều kiện có lợi cho Pháp. Nava chọn tướng Gămbiê làm tham mưu trưởng, tướng Cônhi làm tư lệnh chiến trường Bắc Việt. Viện binh từ Pháp sang và sắp xếp lực lượng tại chỗ, có tới 106 tiểu đoàn. Tiếp đó lại rút bảy tiểu đoàn bộ binh và pháo binh từ Nà Sản về tăng cường cho đồng bằng Bắc Bộ. Đúng ngón đòn quen thuộc của địch vẫn là càn quét. Theo tin tổng hợp của báo Cứu quốc Tả Ngạn: từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10-1953, địch mở cuộc càn “Thánh tử vì đạo” ở các huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định). Tướng Ginlơ chỉ huy bị thương nặng, quân càn bị đòn đau, phải rút. Cuộc càn “Cờlốt” ở huyện Tiên Lãng (Kiến An) với hai GM 3, 5 và năm tiểu đoàn, có năm đại đội Commăngđô và “Gamô” đi theo để “Bình định kiểu mới”, một thủy đội và một bộ phận không quân hỗ trợ. Qua 21 ngày, bị bộ đội tỉnh, huyện và dân quan du kích đánh liên tục. Đại đội 235 của tỉnh luồn tránh và đánh địch rất linh hoạt, nhiều kết quả. Một tiểu đội du kích Thái Lai, không sợ xe cóc, bám địch diệt hàng chục tên. Du kích thôn Cổ Thụy dùng súng trường bắn bị thương máy bay trinh sát… Được Thái Bình hỗ trợ 1.000 bàn chông sắt, du kích các xã đặt khắp đường ngang, lối tắt, khiến một giặc dẫm chông, hai thằng phải khiêng, những thằng khác chùn chân sục sạo. Kết thúc càn, địch chỉ đóng thêm được một đồn, nhưng bị chết, bị thương hơn 800 tên. Đồng thời, tướng Cônhi sắp xếp lại một phần binh lực ở vùng bắc sông Luộc. dóng thêm hai đồn phòng thủ thị xã Hải Dương, bốn đồn phòng thủ thị xã Hưng Yên. Xây thêm công sự xi măng cốt sắt, đặt thêm nhiều bãi mìn để phòng vệ đường 5, đường sắt. Đặt căn cứ của sư đoàn 2 cơ động ở thị xã Hải Dương. Đặt căn cứ một số GM trên trục đường 5, nhằm hỗ trợ kịp thời cho các đồn bốt chung quanh. Bắc sông Luộc vẫn là vùng hoạt động của Trung đoàn 42. Lúc này, anh em vừa củng cố lực lượng, vừa phối hợp với bộ đôi, du kích địa phương, đánh 10 trận phục kích và tập kích, diệt và bức rút sáu đồn địch, phá hủy hai xe tăng và bốn pháo 105 li, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng chống càn… Đêm ấy, Bộ tư lệnh Tả Ngạn làm việc tới hai giờ sáng xem xét tình hình trên. Anh Ngạn phân tích: - Nava dương đông kích tây và rõ ràng đã chĩa mũi nhọn vào Tả Ngạn sông Hồng. bộ tổng tư lệnh vừa điên cho chúng ta: “Chuẩn bị chống càn quét ở địch hậu”. Tại khu ta, sắp tới địch có thể: 1) Càn trung bình một vài Giem phối hợp với khinh quân và bọn “gamô” thực hiện “Bình định kiểu mới” từng khu nhỏ. Chúng đã nhằm Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, có thể sẽ nhằm nam và bắc thanh Hà. 2) Có thể chúng càn kiểu đó ở các huyện ven đường 5 và các huyện Tiền Hải, Kiến Xương. 3) Có thể chúng càn lớn ở căn cứ du kích ta. Khả năng này có nhiều, triệu chứng này đã lộ phần nào qua sự bài binh bố trận của chúng ở Hưng Yên, Hỉa Dương. Cần nhận ra điểm mạnh của địch: - Tập trung quân vào một khu nhỏ, tiếp cận nơi chúng mạnh và cơ sở ta yếu, càn lâu quét kĩ, đánh bằng vũ lực đồng thời ve vãn, lừa mị bằng chính trị, kinh tế. Và điểm yếu của địch: - Lực lượng chính để càn quét, bình định là khinh quân. Bọn này là tổ chức mới, kĩ thuật non, ta có nhiều điều kiện để phá. – Địch vẫn phải phân tán đối phó với ta ở nhiều nơi. Khu ta mở đợt hoạt động mạnh thứ hai của kế hoạch từ nay đến hết tháng 10-1953, phá các cuộc càn to, nhỏ, chủ yếu là phá “Bình định kiểu mới”, diệt nhiều sinh lực địch; bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân, giữ vững cơ sở… Đây là cuộc đấu tranh, toàn dân toàn diện của ta; không hoàn toàn mới, mà là tiếp tục phát triển trên cơ sở những thắng lợi và kinh nghiệm chống càn thời Đờ Lát và Xalăng. Tất nhiên, ta không chủ quan khinh địch về mặt chiến thuật, song về chiến lược, ta đang ở thế tiến công, thế quyết chiến quyết thắng. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:33:31 am PHÁ CÀN “CÁ MĂNG” Các nguồn tin qua điện từ trên xuống, qua trinh sát, tình báo đưa về, cho hay một cuộc càn lớn mang tên “Cá Măng” (Bơrôtsê) đang hình thành. Nava coi đây là “một trong mấy cuộc hành quân đại quy mô vào căn cứ của đối phương”, nhằm “Tiêu diệt toàn bộ các căn cứ địch ở những vùng kế cận nhất, tạo điều kiện bảo vệ trục giao thông Hà Nội - Hải Phòng”. Vùng càn là toàn bộ căn cứ du kích nam và bắc sông Luộc. Lực lượng càn khá lớn: 5 GM cơ động, một GM dù, hai tiểu đoàn xe cơ giới, hai thủy đội và nhiều máy bay, tám tiểu đoàn pháo… Địch nhanh chóng hình thành thế bao vây vùng càn, nhằm tiêu diệt các lực lượng vũ trang ta, chủ yếu là hai trung đoàn chủ lực của khu. Báo chí, đài phát thanh của địch làm rùm beng về cuộc càn “đại quy mô” này, nhằm khiến ta chỉ mới nghe phóng thanh đã khiếp vía kinh hồn. Bộ tư lệnh Tả Ngạn đều đặn có người thường trực tại sở chỉ huy, nhận tin từ vùng bị càn: - Mở đầu từ hạ tuần tháng 9-1953, địch tiến vào khu nam Hưng Yên và huyện Thanh Miện (Hải Dương). Các lực lượng vũ trang ta đã chủ động chiến đấu đều khắp. Tại nam Hưng Yên, có 130 làng cài chông mìn. Địch sa vào 185 hố chông, dẫm nổ 124 ổ mìn và đạp lôi. Ba thứ vũ khí thô sơ tự tạo của dân quân du kích, đánh địch ở khắp làng, góc ngõ, xó vườn, khiến chúng tới đâu cũng bị thương vong, chùn chân lùng sục. Tại Thanh Miện, nhiều làng đánh càn, diệt 80 tên. - Giữa cuộc càn, địch từ Hưng Yên sang Hải Dương, tăng thêm một GM, đánh khu nam Gia Lộc, bắc Thanh Miện và bắc Ninh Giang. Du kích xã Đức Xương cùng một trung đội bộ đội huyện Gia Lộc chống càn ban ngày. Đêm lại từ hầm bí mật lên, diệt và làm bị thương hơn 100 tên địch. Tiếp đó, địch thấy chủ lực ta luồn sang bắc Thái Bình, liền kéo sang càn Hưng Nhân, bắc Duyên Hà, tây Quỳnh Côi. Song phần lớn chủ lực ta lại luồn về bắc sông Luộc. Nhiều nơi ở ngoài vòng càn, các lực lượng vũ trang địa phương đánh tương đối đối, tiêu hao địch và phá hủy xe pháo. - Cuối cuộc càn, địch vẫn ở nam Thanh Miện, tây Ninh Giang, rồi trở lại càn quét Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ lần nữa. Sau đó, đich buộc phải rút sang Nam Định, đối phó với hoạt động mạnh của quân dân bên ấy. Kết thúc 21 ngày càn “Cá Măng”, các lực lượng vũ trang Tả Ngạn loại khỏi vòng chiến đấu 2.700 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh. Chính ủy nói với các đồng chí trong Bộ tư lệnh Tả Ngạn: - “Cá Măng” là trận càn lớn mà Nava đặt nhiều hi vọng. Nhưng chúng thu được kết quả kém xa so với trận “Lạc Đà”. Hai trung đoàn chủ lực của ta được bảo toàn khá hơn, cùng bộ đội địa phương và du kích ba tỉnh đánh địch, chống càn. Có một số trận đánh tích cực và hiệu quả. Du kích chiến tranh phát triển với nhiều cách đánh; nhiều vũ khí thô sơ tự tạo đánh địch có kết quả không nhỏ. Những tên địch phải cưa chân để lại vì không tháo khỏi bàn chông, đã gây tâm lí sợ hãi cho đồng bọn. Những hoạt động phối hợp mạnh của ba thứ quân bên Nam Định đã khiến địch phải rút sang đối phó một cách bị động. Rõ ràng ta đã phá được càn “Cá Măng”. Niền tin của quân dân ta được nâng lên hơn trước. Với những kinh nghiệm thiết thực về chống phá càn lần này, ta lại chuẩn bị sang trận mới. Vật liên tục, qua keo này sang keo khác, đô nào dai sức, nhiều mẹo sẽ thắng! Đúng không? Chính ủy nghiêm cẩn nói tiếp: - Song chúng ta phải thẳng thắn kiểm điểm, rút ra những ưu điểm và khuyết điểm, trong sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh cũng như sự chấp hành của các trung đoàn, tiểu đoàn và các tỉnh đội. Riêng vấn đề tập trung, phân tán và di chuyển ta có những đièu cần bản kĩ. - Địch dùng lực lượng lớn để vây càn nhằm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng ta. Ta chủ trương phan tán, hoặc vừa đánh vừa luồn để chống càn. Phương châm xây dựng của ta là: - Bộ đội chủ lực lấy đơn vị tác chiến là tiểu đoàn; các tiểu đoàn bố trí trên một vùng rộng, không dồn vào một chỗ; khi cần có thể tập trung hai tiểu đoàn hoặc phân tán từng đại đội, để tránh hoặc luồn càn. - Bộ đội tỉnh đánh là chính. Khi di chuyển thì tùy theo địa bàn, phân tán nắm du kích nếu du kích yếu, hoặc chia từng trung đội, hoặc hoạt động từng khu vực. Trong cuộc càn “Cờlốt”, Đại đội 235 của Kiến An vận dụng phương châm trên khá linh hoạt, đánh địch khu trên rồi luồn xuống khu dưới. Địch xuống khu dưới, anh em lại luồn lên khu trên, tìm ra sơ hở của địch và đánh tiếp, nên đã cùng du kích phá được càn. Trong cuộc càn “Cá Măng”, thấy địch tập trung lực lượng lớn, Bộ tư lệnh vận dụng phương châm trên, điều Tiểu đoàn Thắng Tân (tức 652 của Trung đoàn 42) từ Hưng Yên sang Hải Dương, nhằm phân tán rộng lực lượng ta, làm loãng mục tiêu công kích của địch. Nhưng Thắng Tân chủ quân, không chuyển, khi địch bao vây thì luồn rất khó khăn. Khi địch càn bắc sông Luộc, khu tập trung tiểu đoàn Thắng Mỹ (tức 664 thuộc 42) và Tiểu đoàn Giang Tây (thuộc Trung đoàn 50) cho tập kích vào mũi kiềm chế của GM 2 ở Quỳnh Côi. Nhưng không thực hiện được mấy, vì lệnh tới chạm và địch di chuyển. Thật tiếc, mũi kiềm chế của địch thường đóng quân cô độc, dễ bị tiêu diệt. Tiểu đoàn Thắng Tân và Tiểu đoàn Thắng lợi (Tức 698 thuộc 42), chiến đấu bị động và bị tiêu hao ở Hưng Yên, rồi tự ý luồn về bắc Thái Bình, giữa lúc địch có hiện tượng càn sang nơi này. Thấy bốn tiểu đoàn dồn vào một nơi, khu cho Thắng Mỹ và Thắng Tân luồn ngay lại Hưng Yên, Hải Dương, kịp thời phối chiến với bắc Thái Bình. Mặt khác, cho Thắng Lợi luồn sang Thư Trì rồi vòng xuống Thái Ninh, cho Giang Tây phân tán từng đại đội vừa đánh vùa luồn, thay thế bộ đội tỉnh vì không có mặt ở bắc Thái Bình. Các đơn vị trên đã luồn khỏi vòng vây địch. Khi địch rút khỏi băc Thái Bình sang đối phó với hoạt động của ta ở Nam Định, rồi chuẩn bị quét lại bắc sông Luộc, khu cho Giang Tây tập trung để hoạt động. Cho Giang Đông sang phối hợp đánh địch ở Nam Định, nhằm chia lửa với bắc sông Luộc. Mặt khác, cho các đơn vị ở bắc sông Luộc tập trung lực lượng đánh địch, nhưng rất tiếc anh em không làm được nhiệm vụ. Với bộ đội tỉnh Thái Bình, khi địch sắp càn phía bắc tỉnh, khu điều hai đại đội lên đố phó, nhưng không lên được vì địch ngăn đường. Thực tế trên cho thấy sự chỉ đạo của khu về việc tập trung, phân tán và di chuyển nói chung là linh hoạt: lực lượng tuy phân tán rộng nhưng khi cần tập trung vẫn mau lẹ. Với những đơn vị tập trung khi cần thì phân tán từng nơi để đánh địch. Cho các đơn vị luồn từ nơi này sang nơi kia khi địch sắp càn lớn là đúng và kịp thời, tránh được tổn thất mà lại diệt được một phần sinh lực địch. Nhưng khuyết điểm không ít. Có những đơn vị không thực hiện đúng sự chỉ đạo của khu (thắng Tân không chuyển sang Hải Dương, Thắng Mỹ và Giang Tây bỏ lỡ việc đánh mũi kiềm chế của GM 2). Về phần khu, khi Thắng Mỹ về bắc sông Luộc, khu không nắm đwọc đơn vị nào nữa để làm tiểu đoàn cơ động, thế là phạm khuyết điểm “phân tán bình quân”. Nếu Thắng Tân chuyển sang Hải Dương thì không đến nỗi phải đánh cố thủ ở Hoàng Cúc, Hoàng Xá, mình và địch đều bị tiêu hao. Khi Thắng lợi qua Thư Trì xuốn Thái Ninh, nếu cán bộ gan dạ, di chuyển có tổ chức thì không đến nỗi để thất lạc cả một đại đội; khi tới địa điểm không phải qua sáu, bảy ngày mới liên lạc được với cấp trên. Khi địch càn bắc Thái Bình, Thắng Tân và Thắng Mỹ ở Hưng Yên, Hải Dương không tập trung lực lượng diệt một bộ phận quân cơ động của địch, không đánh tập kích, loay hoay bố trí đánh đồn, bỏ lỡ thời cơ. Tiểu đoàn 38 bộ đội Thái Bình chuyển quân chậm chạp, lại không bố trí cẩn thẩn, bị địch phục kích tiêu hao, không làm được nhiệm vụ. Lúc GM 2 đến kiềm chế ở Quỳnh Côi, bộ đôi huyện Tiên Hưng đã phân tán từng tiểu đoàn. Ngược lại, khi địch đưa ba GM tới càn thì bộ đôi huyện Duyên Hà lại tập trung đại đội. Các đơn vị mắc khuyết diểm trên cần kiểm điểm, sửa chữa. Vấn đề tập trung, phân tán, di chuyển trong chống càn là rất quan trọng. Khi vận dụng phải linh hoạt, phải tùy tình huống khách quan, không được theo ý muốn chủ quan; thực hiện phải khẩn trương mau lẹ; di chuyển có tổ chức, thì sẽ bảo toàn được mình, tạo thời cơ diệt địch. Ngược lại, sẽ không tránh khỏi thất bại. Đúng không các đồng chí? Rồi đây chúng ta sẽ tổng kết về hai trận “Cờlốt”, “Cá Măng”, rút kinh nghiệm về các mặt khác nữa, để tiến lên chống phá những cuộc càn khác. Trước mắt phải làm kế hoạch Đông - Xuân 1953-1954, trên cơ sở những thắng lợi, những ưu điểm, khuyết điểm của Hè - Thu vừa qua. Bộ tư lệnh Tả Ngạn đang làm kế hoạch Đông - Xuân 1953-1954, thì nhận được nhiệm vụ của Bộ tổng tư lệnh giao: “Đánh địch mạnh mẽ, tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh phá các đường giao thông thủy bộ và sân bay, giam chân quân chủ lực”. Kế hoạch của khu bổ sung cụ thể, giao cho các trung đoàn và các tỉnh triển khai. Khu ủy động viên các ngành giới vận động quần chúng ra sức thực hiện nhiệm vụ Đông - Xuân, quyết tâm đánh bại “Kế hoạch Nava”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:34:09 am MỘT THÁNG RƯỠI PHÁ HAI TRẬN CÀN Khu mở cuộc họp cán bộ quân sự và các ngành liên quan rút kinh nghiệm vè hai cuộc phá càn “Cờlốt”, “Cá Măng”, Bộ tư lệnh báo cáo tổng quát về thi phá càn. Đại biểu huyện Tiên Lãng và các tỉnh bị càn báo cáo bổ sung. Chính ủy khu Tả Ngạn phát biểu tổng kết. Đồng chí nói: - Trong một tháng rưỡi, ta liên tiếp phá hai cuộc càn lớn, dai dẳng, ác liệt. Mặc dù ta mắc nhiều khuyết điểm, nhưng nói chung ta thắng lợi lớn; - Địch không diệt được lực lượng vũ trang ta, nhất là quân chủ lực. Ngược lại, bị ta loại khỏi vòng chiến 3.500 tên, có nhiều tên Âu - Phi; - Địch không bình định được Tiên Lãng, cả kiểu mới lẫn kiểu cũ; - Khu du kích và cnă cứ ta ở nam bắc sông Luộc vẫn còn nguyên như trước khi càn; tất nhiên là có bị tàn phá. Do thành tích trên, quân dân Tiên Lãng được thư khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Hai đơn vị chống càn “Cá Măng” được đề nghị thương Huân chương Quân công. Thắng lợi trên khiến chúng ta tin tưởng vào khả năng phá càn to và dài ngày, xóa bỏ phần lớn tư tưởng bi quan trước “Kế hoạch Nava”. Đạt thắng lợi là do: - Kết quả của chỉnh huấn, chỉnh quân, bồi dưỡng tinh thần tiến công địch; nhờ kĩ thuật chiến đấu của bộ đội được nâng lên; - Kết quả thực hiện chính sách ruông đất, giải quyết nạn đói… khiến nhân dân thêm tin tưởng, hăng hái giúp bộ đội, du kích chống càn; - Các chiến trường, nhất là Hữu Ngạn, phối hợp có hiệu quả, khiến địch phải phân tá đối phó; - Bộ tư lệnh chỉ đạo chặt chẽ. Các cấp ủy Đảng trong và ngoài quân đội chỉ đạo chống càn có tiến bộ; - Địch có nhiều nhược điểm cũng là điều kiện để chúng ta phá càn thắng lợi. Song điều cần thấy là ta chưa thể phá được hoàn toàn cuộc càn; ta còn thiệt hại nhiều: nhân dân bị bắt, bị chết và bị thương 6.000 người. Đảng viên bị bắt và hi sinh 250 người (có 58 cán bộ tỉnh, huyện, xã, 10 đồng chí là tỉnh ủy, huyện ủy viên). Bộ đội chủ lực và địa phương hi sinh và bị bắt gần hai đại đội. Du kích bị bắt hơn 200 người. Có 20 làng bị san phẳng, 2.000 mẫu lúa màu bị phá nát. Mất 340 tấn thóc, 883 trâu, bò, hơn 50 triệu đồng Ngân hàng (vừa bị địch lấy vừa bị nhân viên ta tham ô. Ở Hải Dương có nhân viên lấy cắp 12 triệu). Nhà cửa đồ đạc bị cháy, bị mất rất nhiều. Thiệt hại nặng nề do địch tàn ác. Phần khác do ta thiếu ý thức bảo vệ người và của, chưa tích cực vận động nhân dân làm hầm hố bảo vệ. Cần nghiêm túc rút kinh nghiệm để phòng tránh về sau. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:34:42 am ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU CỦA ĐICH VÀ CỦA TA Khi nắm tay vung lên, khi xòe bàn tay chém xuống, chính ủy càng nói càng say sửa, càng lí giải mạch lạc. Có người đề nghị: nói chậm để ghi. Đồng chí hạ giọng nói chậm lại, nhưng chỉ được một lúc, rồi lại nói nhanh, nói mạnh: - Qua hai cuộc càn trên, thấy địch và ta có những điểm mạnh, điểm yếu, cần chỉ ra để có cách nghĩ, cách đánh cho đúng và hiệu quả cao. Cụ thể là: - Lực lượng địch tập trung nhiều hơn ta gấp bội, nó đã uy hiếp tinh thần quân dân ta. Nếu ta tập trung lực lượng đánh chính diện, có thể khó tránh khỏi bị tiêu hao hoặc tiêu diệt. Song không phải lực lượng chúng tập trung suốt từ đầu đến cuối cuộc càn; không phải nơi nào trong vùng càn chúng cũng tập trung. Càn “Cá Măng” chúng dùng sáu GM nhưng không đưa cả vào một khu vực. Khi ở Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ, chúng dùng bốn GM. Khi ở Ninh Giang, Gia Lộc, Thanh Miện, bốn GM. Ở Hưng Nhân, Duyên Hà, Quỳnh Côi, ba GM. Có lúc chúng dùng cả một GM để nghi binh kiềm chế… Do đó, ta không nên bị ám ảnh nhiều với lực lượng địch quá đông. Cần thấy những mặt hạn chế cố hữu của địch. Chúng đông nhưng không phải tất cả đều là tinh binh thiện chiến. Nhìn chung, tinh thần lính địch là yếu kém và tổ chức phức tạp… Nếu bộ đội huyện và du kích đánh mạnh, đánh đều, địch sẽ bị tiêu hao nhiều. Nếu bộ đội khu, tỉnh nêu cao tinh thần tiến công, giành chủ động, nhằm chỗ sơ hở mà đánh, thì có thể tiêu diệt từng bộ phận địch. Mặt khác, địch tập trung đông ắt di chuyển chậm, tiếp tế trở ngại. Ta cần đẩy mạnh đánh mìn, địa lôi, ngay cả khi địch càn, sẽ hạn chế chúng di chuyển, về ta có thêm thời gian chuẩn bị đánh địch. - Trận “Cá Măng” dài trên 20 ngày, nhưng địa bàn ta rộng, chúng không thể càn cùng một lúc, phải chia khu vực để càn. Mỗi khu vực chỉ càn được một thời gian ngắn: năm ngày ở ba huyện nam Hưng Yên, ba ngày ở ba huyện nam Hải Dương, ba ngày ở hai huyện bắc Thái Bình, mười ngày quét lại ba huyện nam Hưng Yên. Trận “Cờlốt” cũng trên 20 ngày, chúng dùng hai GM bộ binh, nhưng không đồng loạt rải ra khắp huyện Tiên Lãng (nhỏ, hẹp, bốn bề là sông sâu). Chúng đánh đầu huyện thì hở cuối huyện, và ngược lại. Các lực lượng vũ trang địa phương do Đại đội 235 Kiến An làm nòng cốt, luồn tránh chỗ địch tập trung, đánh chỗ địch sơ hở, dẻo dai, linh hoạt đánh địch trong vòng vây của chúng. Tiêu hao lực lượng của địch, bảo toàn được đại bộ phận lực lượng mình. Thế là giỏi! Về cơ bản, lính địch không muốn càn dài ngày, vì quá mệt mỏi, căng thẳng. Nếu bộ đội huyện và du kích gan dạ, đánh đều khắp, sẽ khiến chúng càng mệt mỏi, căng thẳng, giảm sút tinh thần, có thể tiêu hao chúng nhiều hơn. Tất nhiên, chống càn dài ngày ta cũng mệt mỏi, căng thẳng, vũ khí lương thực thiếu. Nhưng địa bàn ta rộng địch đến nơi này, nơi này đánh, mai địch đến nơi kia, nơi kia đánh. Địch bị đánh liên tục, ta chỉ đánh luân phiên. Do đó, địch mệt mỏi hơn, nhất là về cuối tận càn. Ta cần chuẩn bị tư tưởng chống càn dài ngày, vũ khí, lương thực phải có dữ trữ. Càng về cuối ta càng đánh mạnh để diệt nhiều địch, và có thể khiến chúng rút ngắn trận càn. - Địch bố trí mũi kiềm chế, khiến ta khó di chuyển, ảnh hưởng đến việc sử dụng lực lượng, nhưng mũi kiềm chế thường ở vào thế cô độc, ta có thể đánh tiêu diệt toàn bộ hoặc bộ phận. - Nếu địch tập trung lực lượng càn dài ngày trong một địa bàn nhỏ (như đông Thanh Hà, Tiên Lãng…), làm cho cơ sở và lực lượng ta gặp nhiều khó khăn, thì ta càng cần kiên trì bám đất giành dân tại chỗ, lại có thể hoạt động phối hợp từ chung quanh, gần hoặc xa, ta có thể hạn chế tổn thất và cuối cùng đẩy lùi địch. - Địch dùng đơn vị chiến đấu chính là GM, ta khó đánh, nhưng khi tiến quân, GM phải đi ba, bốn mũi, ta nhằm mũi yếu nhất mà đánh. Muốn vậy phải dũng cảm bám địch, nắm địch tình, tìm chỗ chúng yếu mà đánh. - Địch thường đánh ban ngày, đôi khi bao vây sớm; đêm chúng lợi dụng trăng sáng hoặc thả đèn dù, khiến ta di chuyển và tác chiến có trở ngại. Nhưng đánh đêm vẫn là nhược điểm của địch. ta càn đánh đêm nhiều hơn. Ban ngày ta ra sức đánh tiêu hao, kiềm chế. tranh thủ phục kích tiêu diệt một bộ phận địch; đáh gần, đánh nhanh rồi phân tán nhiều hướng, di chuyển mau lẹ, đỡ tổn thất vì phi pháo. Ban đêm ta nhằm nơi trú quân của địch mà tập kích, biệt kích.. - Trong khi chống càn, các đơn vị, địa phương đã chú ý về các mặt tư tưởng, chính trị, kinh tế, xã hội, nên ít nhiều có tiến bộ, nhất là ở Tiên Lãng. Nhưng các nơi khác làm kém và nhiều khuyết điểm, do các ngành kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức từ khu trở xuống chưa hiểu rõ sự cần thiết phải chống càn trên mọi lĩnh vực, chưa thực tế tham gia. Các đơn vị bộ đội chỉ lo hoạt động quân sự, ít chú trọng các mặt khác. Những khuyết điểm trên phải kịp thời bổ khuyết. Càn nhớ rằng địch tập trung toàn lực tấn công ta về mọi mặt, nếu ta không huy động toàn lực các ngành, các đoàn thể với sự chỉ đạo thống nhất của Đảng, đánh địch về toàn diện thì sẽ hạn chế thắng lợi. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:35:16 am NHÂN DÂN CHỐNG CÀN THẾ NÀO? Chính ủy nêu câu hỏi trên rồi nói: - Có đồng chí hỏi tôi nhẹ thế với hàm ý coi thường hoặc không thấy vai trò nhân dân trong chống phá càn. Tôi thấy cũng như những làn trước, trong hai cuộc chống càn vừa qua, nhân dân góp phần rất quan trọng. Không thể đòi hỏi tất cả mọi người dân đều nhất loạt phải làm việc gì đó để chống càn. Có những người chỉ địu con, đeo bao gạo đi tản cư. Có những người, dù chỉ làm được một việc vừa sức, hợp khả năng, nhưng không có họ thì bộ đội, du kích sẽ gặp khó khăn. Thực tế cho thấy nhờ có nhân dân tiếp tế lương thực (bán chịu hoặc cho tạm vay) mà trong cuộc càn, bộ đội không bữa nào nhịn đói. Địch tra tấn tàn ác, nhưng chỉ rất ít người cung khai, chỉ hầm, nhận diện, còn nói chung đều kiên quyết chiu đựng. Ở xóm Ló, xã Cấp Tiến (Tiên Lãng) có cụ già ngụy trang bốn hầm, chứa 20 người; giặc đánh chết, cụ không chỉ hầm. Ở Tiên Lãng có mấy thiếu niên đậy nắp hầm cho cán bộ. Khi địch cuốc hàm, em Phạm Văn Đa rút chốt lựu đạn ném địch. Địch bắt tra tấn dã man, em không khai nửa lời. Nhờ nhân dân giúp đỡ mà bảo vệ được hàng nghìn thương binh và nhiều cán bộ. Dân bảo vệ cơ sở, giữ bí mật cho bộ đội đánh giặc. Nhiều thanh niên, thiếu niên cùng chiến đấu với du kích, có cả thiếu niên công giáo như ở Cử Đông (Hải Dương), Phương Bồ, Vệ An, Tần Nhẫn (Hưng Yên)… Đồng bào công giáo ít tập trung vào nhà xứ, vì thấy giặc đánh cả linh mục. Nhiều làng xã tương trợ nhau khi chạy càn, thiếu ăn. Dân còn tự động đấu tranh chống giặc cướp bóc, hãm hiếp. Ở Tiên Lãng, địch bắt 600 người đưa xuống tàu, hàng nghìn nhân dân xã Minh Đức và mẫy xã lân cận giằng co giữ lại được một số. Xóm Đông xã Cấp Tiến và một thôn ở xa Đoàn Lập (Tiên Lãng) đấu tranh chống hãm hiếp, giặc phải lùi. Ở Lê Xá, du kích gặp thế bí, bỏ súng xuống ao, khi giặc rút, giáo dân mò lên nộp cho thôn đội… Các lực lượng vũ trang nói chung có ý thức bảo vệ nhân dân. Không ít lần bộ đội mở đường luồn vây, giải toát hàng nghìn đồng bào. Du kích Nguyên Hòa (Hưng Yên) vừa đánh địch vừa cất giấu 50 trâu, bò của dân. Chủ tịch xã Toàn Thắng (Quỳnh Côi) trong lúc giặc càn đã cứu một số nhà dân khỏi bị cháy… Nhưng đối với dân, ta còn nhiều khuyết điểm: - Không nhận rõ vai trò của dân, với mức độ khác nhau trong chống càn. Chưa làm cho nhân dân xóa bỏ thành kiến lương giáo. Thanh niên giáo xin mẫu hầm để làm, thanh niên lương không cho, sợ lộ bí mật. Có nơi thanh niên giáo chạy đến thôn lương thì bị coi là địa phương quân, không giúp, khiến họ hết đường phải chạy vào nhà thờ tập trung rồi bị giặc bắt. Đối với mấy tên thầy tu phản động thì nhu nhược hữu khuynh. Những sai lầm ấy khiến khối đoàn kết nhân dân lỏng lẻo, có hại cho kháng chiến. Năng lực của nhân dân là vô tận. Nhưng sự động viên, tổ chức cho nhân dân tham gia chống càn còn nhiều thiếu sót, chưa khai thác được nguồn lực to lớn đó để đánh địch, và khiến một số việc nhân dân có thể làm mà chưa làm được, như địch vận, tuyên truyền, chống do thám, bảo vệ phụ nữ… Việc tổ chức cho dân tránh càn không chu đáo. Nhiều thanh niên bị bắt vì không hầm bí mật. Nhân dân thương vong nhiều vì hầm hố tránh phi pháo không đủ. Có nơi dân chết đuối vì không được hướng dẫn chuẩn bị cầu đò qua sông lánh nạn… Do thiếu hướng dẫn, có nơi để một số dân chạy vào vùng tam chiếm, bị địch bắt con em và cướp tiền của dân. Dân tập trung vào chỗ trú quân của bộ đội hoặc vào cơ quan, làm lộ bí mật. Chuẩn bị lương thực không đủ nên thiếu ăn khi tản cư dài ngày. Đồ đạc mang vác cồng kệnh; có tệ mua rẻ, bắt chẹt người tản cư. Việc tuyên truyền vạch âm mưu địch, thông báo tin chiến thắng trong dân tản cư không được chú ý, khiến nhiều người bị địch xuyên tạc, gây hoang mang. Một số người ba hoa, thổi phồng hoạt động của địch, không kịp thời ngăn cản. Chưa có cách ngăn ngừa bọn do thám trà trộn với dân tản cư ra vào căn cứ du kích. Có nơi dân quân khám xét quá đáng, gây khó khăn cho người tản cư… Tóm lại, trong chống càn, nơi nào biết tổ chức cho dân tùy sức tham gia; hướng dẫn dân tự làm các việc để bỏa vệ mình, thì sẽ thấy lực lượng dân là hùng hậu, trong việc này việc kia, kẻ nhiều người ít, góp phần chống địch. Song chúng ta chưa làm được bao nhiêu; dân chưa phát huy được năng lực là do ta tổ chức, động viên kém. Cần bổ khuyết để lần sau tránh lặp lại. Đúng không các đồng chí? Tới đây, cho tôi sơ bộ kết luận về những điều chúng ta đã bàn: Chiến tranh du kích ở Tả Ngạn từ chiến dịch Hòa Bình đến nay mỗi ngày một phát triển. Sự trưởng thành nhanh chóng của nó đã đẩy địch vào thế bị uy hiếp mạnh ở Hưng Yên, Hải Dương. Để đối phó với tình trạng ấy, thủ đoạn chính của địch vẫn là càn quét. Mấy năm nay khu ta thường chịu đựng những cuộc càn lớn và tàn khốc. Hai cuộc càn vừa qua iếp tục tính chất đó. Nhờ đường lối đúng và sự chỉ đạo sát sao của Đảng, quân dân Tả Ngnạ từ chỗ ngại đánh càn hoặc bị động đối phó, đã tích cực chủ động và dũng cảm tiến công địch về mọi mặt. Do đó, ta đã thắng lợi trong hai cuôc chống càn vừa qua. Thắng lợi hơn cả vẫn là về mặt quân sự. Các mặt khác tuy còn yếu nhưng đã bắt đầu có tính chất đấu tranh toàn diện. Cuộc đọ sức giữa ta và địch còn gay go quyết liệt. Địch có thể gây cho ta nhiều khó khăn, phức tạp hơn. Địch sẽ còn hoạt động với lực lượng mạnh hơn, nhưng vẫn nằm trong thế chung là bị động phòng ngự. Ta chiến đấu không có hậu phương, lực lượng khu ta còn yếu hơn địch, nhiều lúc nhiều nơi nằm trong thế bị động, nhưng phong trào du kích chiến tranh của ta đang phát triển mạnh và nằm trong thế chung là chủ động tiến công địch ở chiến trường Bắc Bộ. Vấn đề cốt yếu là chúng ta phải luôn luôn nâng cao dũng khí và quyết tâm, mài giũa tinh thần chịu đựng gian khổ, đoàn kết nhân dân, đoàn kết nội bộ, chủ động đấu tranh trên mọi địa hạt, nhất định chúng ta sẽ vượt mọi khó khăn, giành thắng lợi mới to lớn hơn. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:35:59 am CHIẾN THUẬT PHÁ CÀN CỦA TA Trong cuộc họp tổng kết hai cuộc chống càn “Cờlốt”, “Cá Măng”, có hai loại ý kiến trái ngược nhau về chiến thuật chống càn của ta. Một số cho rằng ta đã “trưởng thành vượt bậc”. Anh em vừa nói vừa nhìn chăm chăm vào chính ủy, muốn đồng chí nghe cho kĩ, hiểu cho thấu rồi nhất trí với họ. Rằng: - Trận này không có quân của 320, họ sang đánh địch bên Nam Định. Bên đây chỉ có quân Tả Ngạn, tự lực tự cường chiến đấu. Nếu chiến thuật non yếu thì sao có thể thắng lớn như thế, nhất là ở Tiên Lãng, chỉ có bộ đội tỉnh, huyện và du kích xã! Người khác nói tiếp: - Tôi thấy chỉ mỗi một việc lập thêm Trung đoàn 50 cũng đủ chứng minh là một tiến bộ vượt bậc trong công tác chỉ đạo chiến thuật. Có tăng cường lực lượng mới có điều kiện để vận dụng chiến thuật chứ. Không lập Trung đoàn 50 thì làm gì có Tiểu đoàn Giang Đông để sang Nam Định đánh địch, hút vợi lực lượng địch sang bên ấy, đỡ đòn cho ta bên này. Chiến thuật là ở đấy chứ ở đâu? Chỉ cho một con tốt sang sông như thế đủ coi là chiến thuật cao cường! Số anh em không tán thành nhận địch có vẻ “bốc” của những người vừa nói, thì cho là: vận dụng chiến thuật chống càn của ta còn nhiều “lúng túng, non kém”. Họ nêu dẫn chứng: - Có đơn vị luồn chỗ địch mạnh đánh chỗ địch sơ hở, tức là vận dụng một chiến thuật, nhưng vận dụng không đúng, để lạc quân tới một đại đội, vậy mà coi là “trưởng thành vượt bậc” được ư? Người thứ hai tiếp luôn, nói dai và không kém hùng hồn: - Tôi cho là lúng túng và … cực kì non kém. Ông ta chĩa ngón tay trỏ chọc thẳng vào khoảng không để nhấn mạnh chữ “cực kì” rồi dẫn chứng: - Có tiểu đoàn kéo quân như đèn cù từ bắc sông Luộc sang nam sông Luộc, đúng chỗ địch sắp càn, lại phải vội vã kéo quân trở lại chỗ cũ. Có đơn vị đáng lẽ tìm cách đánh địch khi chúng càn thì lại loay hoay tìm cách đánh đồn. Bộ đội của cả một tỉnh mà dồn hết vào nửa tỉnh; khi nửa kia địch càn thì không có quân để chống. Khi GM 2 đơn độc làm nhiệm vụ kiềm chế ở Quỳnh Côi, sao không đơn vị nào của ta đánh đấm cho ra trò, vân vân và vân vân… Như thế sao có thể gọi là trưởng thành vượt bậc? Nhận định trái ngược nhau như trên dễ khiến mọi người “chẳng biết đâu mà lần?”. Chính ủy chăn chú nghe cả hai loại ý kiến của họ. Xem ra họ đều phản ánh những sự việc có thực, lập luận đanh thép, nói không nể ai. Song học chưa có cách nhìn toàn diện, tổng thể, nên phiến diện, một chiều. Người nhấn mạnh về mặt này, kẻ nhấn về mặt kia. Cần giúp anh em thoát khỏi tình trạng “thầy bói xem voi”. Chính ủy để anh em tự do tư tưởng, nghĩ sao nói vậy, nói kĩ nói hết, rồi mới đưa ra ý kiến của mình. Nhà họp thấp nhỏ vài gian, chiếu mượn của dân, cái lành cái rách trải xuống nền, anh em ngồi kín. Chính ủy ngồi xếp bằng ở một góc, hướng lại phía anh em. Gò bó chật chội, nhưng chính ủy vẫn nói sôi nổi, rành mạch. Đồng chí dướn người cao hơn cho tương ứng với những điều cần nói. Dướn mãi mỏi người, đồng chí quỳ hẳn xuống chiếu, thay đổi tư thế, đỡ mỏi mà lại tập trung được sự chú ý của anh em. Một vài ông hay nói chuyện riêng được lôi cuốn hẳng vào lí giải sâu sắc hùng hồn của chính ủy: - Tôi nói với các đồng chí tám điểm, chung quanh chiến thuật phá càn của ta. Tôi muốn làm sáng rõ hơn sự nhận xét khái quát có phần trái ngược nhau của một số đồng chí. Một là, ta có tích cực tiến công, giành chủ động trong chiến đấu không? Chúng ta thấy: trong hai cuộc chống càn và qua, anh em có những trận phối chiến từ ngoài vòng càn, diệt sáu bảy đồn (Chùa Bản, Dị Sử, Cao Xá, v.v.). Và ta đã chủ động đánh trong vòng càn: Tiểu đoàn Giang Tây tập kích diệt bốn trung đội trên đường 39 Duyên hà; Đại đội 77 (Hải Dương) taki, diệt một trung đội địch; bộ đội Hải Dương đánh đoàn xe địch đi Ninh Giang; Đại đội 235 (Kiến An) tập kích tại An Tử diệt 70 tên Âu - Phi; trận tập kích diệt bọn khinh quân ở sân chùa Bần (Hưng Yên), và những trận biệt kích nhỏ của du kích vào nơi trú quân của giặc… Trước đây, trong chống càn, ta chưa chủ động đánh địch được nhiều trận như thế. Diệt được địch, thu vũ khí, ta ít tiêu hao. Nhờ những trận tập kích, biệt kích như thế mà có lúc, có nơi biến bị động của ta thành bị động của địch; biến chủ động của địch thành của ta. Song ta vẫn còn những đơn vị chưa đánh địch (như Đại đội 5 Hưng Yên, Tiểu đoàn 38 Thái Bình và bộ đội các huyện Hưng Nhân, Tiên Hưng…) hoặc đánh được một vài trận lại rơi vào tình trạng bị động cố thủ (như Tiểu đoàn Thắng Lợi ở Thọ Cầu, Khên Than, Tiểu đoàn Thắng Tân ở Hoàng Các, Hoàng Xá, Đại đội 27 Hưng Yên…). Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chính là do tinh thần công kích địch còn kém, còn đề cao địch, chỉ nhìn thấy chỗ mạnh mà không thấy chỗ yếu của chúng. Mặt khác, các lực lượng huyện, xã đánh tiêu hao, kiềm chế địch còn yếu, không tạo được thế cho các lực lượng tỉnh, khu đánh tiêu diệt địch. Một vài đơn vị tỉnh, khu cho rằng tránh địch là để bảo toàn lực lượng ta, nên có những lúc có thời cơ chủ động đánh địch mà không tích cực đánh (như Tiểu đoàn Thắng Mỹ, Đại đội 27 hưng Yên). Thế là sai! Cần thấy; địch đem quân đến đánh ta, ta muốn bảo toàn lực lượng, muốn phá được càn, thì phải chủ động tiến công địch. Nếu chỉ chờ địch đánh chống đỡ hoặc tiêu cực chạy dài, trái với nguyên tắc của chiến thuật chiến tranh du kích, thì sẽ không làm được nhiệm vụ. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:36:51 am Hai là, ta đánh tiêu diệt và têu hao địch như thế nào? Du kích chiến tranh phải vừa đánh tiêu diệt vừa đánh tiêu hao. Để thực hiện hai nhiệm vụ ấy, ta đã quy định:
Bộ đội chủ lực phải đánh tiêu diệt, không đánh tiêu hao. Bộ đội tỉnh đánh tiêu diệt là chính nhưng khi cần có thể đánh tiêu hao, kiềm chế. Bộ đội huyện và dân quân du kích có nhiệm vụ chính là đánh kiềm chế, tiêu hao, nhưng phải tranh thủ đánh tiêu diệt bộ phận nhỏ. Quy định trên không chỉ vận dụng trong khi tiến công địch, mà ngay cả trong khi chống càn. Nhìn lại hai cuộc chống càn vừa qua ta thấy: Các đơn vị chủ lực: không kể các trận đánh đồn, mới có vài đơn vị đánh tiêu diệt (trận tập kích của Giang Tây; trận phục kích của Thắng Mỹ trên đường 39), còn phần nhiều là đánh tiêu hao. Những trận cố thủ bị động đánh tiêu hao, hoặc ngay cả khi chủ động đánh địch cũng nặng về tiêu hao (như trận tập kích đoàn xe Ninh Giang, đáng lẽ tiêu diệt nhưng chỉ tiêu hao một bộ phận. Trận tập kích của Tiểu đoàn Thắng Tân ở Vũ Thôn cũng nặng rút nhanh, nên chỉ tiêu hao địch, không thu vũ khí). Đánh tiêu diệt địch trong phá càn như thế là kém… Cần nhắc lại yêu cầu đối với các lực lượng khu, tỉnh là phải nêu cao tinh thần tiêu diệt địch, không tiêu diệt bộ phận to thì tiêu diệt bộ phận nhỏ! Không diệt toàn bộ thì tiêu diệt bộ phận. Vì chỉ có đánh tiêu diệt mới bảo toàn được lực lượng ta, mới lấy được vũ khí địch trang bị cho ta. Để thực hiện yêu cầu trên, vấn đề mấu chốt là các cán bộ phải biết lợi dụng triệt để nhược điểm của địch, nhất là về tinh thần; phải tin ở lực lượng mình để có quyết tâm tiêu diệt địch và phải có kế hoạch tác chiến đảm bảo chắc thắng… Về đánh phân tán, tiêu hao, vừa qua nhiều đơn vị đánh có hiệu quả, nhất là ở Tiên Lãng. Địch đến đâu cũng vấp sức kháng chiến. Anh em bám đất chiến đấu từ đầu đến cuối cuộc càn, với nhiều cách đánh phong phú, liên hoàn tác chiến đêu khắp (như du kích các xã Khởi Nghĩa, Đoàn Lập, Bạch Đằng, Vinh Quang, Hùng Thắng, Quyết Tiến…), có thôn chống càn hai ngày (như Tiên Lãng, Xuân Lai). Du kích nhiều nơi biệt kích vào chỗ giặc trú quân; nổi nhất là xã Thủ Sĩ (Hưng Yên) đánh bọn giặc đi đường, diệt 28 tên, bắt năm tên, thu 10 súng có cả trung, tiểu liên. Trong hai cuộc càn, địch bị bộ đội huyện và du kích tiêu hao tới 1.000 tên. Khiến địch mệt mỏi, hoang mang, tiến chậm, hạn chế sức chiến đấu; tạo điều kiện cho bộ đội khu, tỉnh có điều kiện luồn càn và đánh địch ở nơi chúng sơ hở. Được như thế là do về mặt chỉ đạo, các cấp đã chú ý chăm sóc tới việc xây dựng đội ngũ về tư tưởng, tổ chức, trang bị, huấn luyện. Ngược lại, những nơi không chú ý thì đôi ngũ đó hoạt động kém; có khi bỏ chiến đấu, chạy dài. Phải sửa chữa khuyết điểm ấy. Cần nhận rằng: hai lực lượng đánh tập trung tiêu diệt và đánh phân tán tiêu hao có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau chiến đấu. Nếu chỉ chú ý dồn sức xây dựng lực lượng này mà không chú ý xây dựng lực lượng kia, thì không thể giành thắng lợi trong phá càn. Ba là, đánh phối hợp trong và ngoài vòng vây, giữa địa bàn này với địa bàn khác như thế nào? Trước đây khu đã quy định rõ ràng: - Bộ đội huyện và du kích xã đánh kiềm chế, tiêu hao trong vòng vây; - Bộ đội tỉnh vừa đánh vừa luồn vây, đánh chủ động, tiêu diệt đich. Nơi nào không có bộ đội tỉnh, mà du kích yếu, có thể tách một vài đơn vị chủ lực ra làm nhiệm vụ thay thế cho bội đội tỉnh; - Bộ đội chủ lực phải luồn càn, đánh địch ngoài vòng vây. Qua hai cuộc chống càn trên, ta thấy: Ở Tiên Lãng, đại đội tỉnh và dân quân du kích đánh địch trong vòng vây, tiêu hao 800 tên địch, bảo toàn được đại bộ phận lực lượng mình. Ở bắc sông Luộc, bộ đội huyên và dân quân du kích Hải Dương, Hưng Yên đánh địch cũng khá dần. Ở bắc Thái Bình, Tiểu đoàn Giang Tây vừa luồn vừa đánh, tiêu diệt bốn trung đội địch ngay trên địa bàn địch càn. Phối hợp với anh em đánh địch trong vòng vây, một số đơn vị ngoài vòng vây cũng tích cực chiến đấu. Khi địch càn Tiên Lãng, Tiểu đoàn Giang Đông (thuộc Trung đoàn 50) được điều đến đánh sau lưng địch, diệt đồn Hội An (Vĩnh Bảo), bắn đắm một ca nô, một xuồng đổ bộ trên sông Thái Bình. Khi địch càn nam Hưng Yên, Hải Dương, các tiểu đoàn Thắng Mỹ, Thắng Tân và Đại đội 200 pháo binh (thuộc trung đoàn 42), phối hợp đánh đắm 4 ca nô trên sông Luộc. Tiểu đoàn Giang Tây tập kích một bộ phận của GM 3 ở Quỳnh Côi, diệt một số tên. Khi địch càn bắc Thái Bình, bộ đội Hải Dương tập kích đoàn xe địch ở Ninh Giang… Những hoạt động phối hợp như trên khiến địch bối rối, làm cho quân dân ta chiến đấu trong vòng càn phấn khởi tin tưởng, quyết tâm chiến đấu cao hơn. Lần này còn có sự phối hợp giữa địa bàn này với địa bàn khác cách nhau hơi xa nhưng khá nhịp nhàng, chặt chẽ. Khi địch càn Tiên Lãng và các huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định), thì Trung đoàn 42, Tiểu đoàn Giang Đông và Hải Dương tiêu diệt sáu đồn, buộc địch phải rút quân về càn bắc sông Luộc. Khi địch càn bắc sông Luộc, thì Kiến An phục kích diệt hai trung đội địch trên đường 25; Đại đội 50 đánh đắm một tàu chiến chở một đại đội địch trên sông Hồng. Do quân dân tỉnh Nam Định diệt nhiều khinh quân ngụy, đã buộc GM 2, 1, 7 chuyển sang Hữu Ngạn đối phó… Từ trước đến nay chưa lần nào sự phối hợp chống càn giữa trong và ngoài vòng càn, giữa các địa bàn có liên quan khá như lần này. Nó cho ta thấy chỉ có đánh mạnh và đánh vào nơi quan trọng của địch, mới chi phối được lực lượng địch. Muốn vậy các đơn vị phải thường xuyên chuẩn bị mục tiêu công kích địch để góp phần chống càn. Song các hoạt động trên chưa đều, vì một số đơn vị ở trong vòng càn còn nặng tư tưởng luồn ra ngài, chưa thực hành vừa đánh vừa luồn, chủ động đánh địch; vì một số đơn vị ở ngoài vòng càn chưa đề cao tinh thần tích cực đánh phối hợp, do sợ địch và nặng về bảo vệ mình. Bốn là, có chú ý đánh khi địch mới đến và khi địch rút không? Trong hai cuộc chống càn vừa qua, mọt vài đơn vị đã đánh khi chúng bắt đầu càn và khi chúng rút. Sáng 1-10, địch quét lại huyện Tiên Lữ, bộ phận vừa mới kéo đến đã bị Tiểu đoàn Thắng Mỹ tiêu diệt một đại đội. Trong trận càn Tiên Lãng, địch vừa đưa quân lên bờ, Đại đội 235 Kiến An phục kích diệt 30 tên. Bộ đội huyện và du kích nhiều nơi đánh mìn, địa lôi trên đường, tiêu hao địch khi chúng vừa hành quân đến. Những hoạt động ấy có tác dụng đánh phủ đầu, ảnh hưởng xấu đến tâm lí địch. Song những đòn như thế chưa nhiều. Đó là do ta nắm địch tình chưa vững, chưa chủ động; do một số cán bộ ta thiếu tinh thần tích cực tiến công, chưa chuẩn bị sẵn sàng để đánh địch; chưa phán đoán được đường địch tiến và địch rút, những chõ địch tập trung quân và pháo, kể cả những tình huống địch tiếng bằng nhiều đường từ ngoài vào… Cần rút kinh nghiệm để đánh khi địch mới đến, chân ướt chân ráo bỡ ngỡ, và dánh địch sắp rút, mệt mỏi, vội vàng. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:38:28 am Năm là, ta đã đánh tập kích, một cách đánh nhiều hiệu quả trong chống càn chưa? - Đánh tập kích (bao gồm cả phục kích) là hình thức tác chiến biểu hiện tư tưởng đánh chủ động; là cách đánh chủ yếu của chiến tranh du kích, trong khi tiến công địch cũng như khi chống càn. Vừa qua một vài đơn vị đã dùng cách đánh này có hiệu quả. Những trận tập kích đường 39 (Duyên Hà), Đoàn Xá (Ninh Giang), Vũ Thôn (Thanh Miện), v.v. đều diệt nhiều địch, làm chúng hoang mang. Ta bị tiêu hao rất ít. Tuy nhiên, tư tưởng ngại tập kích trong khi địch càn vẫn còn ở nhiều cán bộ. Thí dụ: tối 9-10, một tiểu đoàn địch đóng ở một làng; bộ đội tỉnh Hưng Yên được lệnh tập kích nhưng không thực hiện, mặc dù có điều kiện. Một số anh em viện cớ “tại địch di chuyển luôn, không nắm được địch tình”.
Có một số đơn vị không dám tập kích vòa quan đi càn, cho là chúng đông và tinh nhuệ, mà chỉ muốn tập kích đồn dịch. Nên hiểu tập kích đồn, nêu thắng lợi cũng có ít nhiều tác dụng trong việc chống càn, nhưng đồn bốt trước sau vẫn còn có, còn quân đi càn, nếu không đánh ngay thì mất thời cơ. Đánh quân đi càn có tác dụng phá càn nhiều hơn là đánh vào đồn bốt. Tập kích đồn bốt không phải không khó khăn, bởi công sự kiên cố, lính địch chưa mệt mỏi,… Tập kích vào quân đi càn cũng không dễ, nhưng có những thuận lợi: lính địch mệt mỏi, di chuyển ngoài công sự, ít hiểu địa hình tiến lui, bị đánh bất ngờ… Lại có đơn vị thích tập kích khi địch trú quân, không muốn tập kích khi di chuyển, với lí do: không có địa bàn, không có chỗ giấu quân, khong nắm được địch tình, sợ phi pháo… Điều đó có thể có, nhưng không phải là không khắc phục được. Chỉ cần có tinh thần tích cực công kích địch hay không? Trận phục kích của Giang Tây ở đườn 39 Duyên Hà là kết quả của tinh thần vượt khó nguy của cán bộ, chiến sĩ. Thông thường, khi chuẩn bị chống càn, chúng ta chỉ chuẩn bị trận địa đánh cố thủ; chưa chuẩn bị trận địa phục kích, tập kích. Ta không phản đối việc chuẩn bị đánh cố thủ. Nhưng nó chỉ được sử dụng trong khi ta không có điều kiện rút ngay, bị bao vây và bắt ta phải đánh. Song ta cần chuẩn bị cả trận địa tập kích, phục kích khi địch trú quân hoặc di chuyển. coi đây là việc cần làm của các đơn vị tập trung. Tiếp theo, chính ủy nói khá chi tiết về vấn đề tập trung, phân tán và di chuyển bộ đội, rồi nói kĩ về việc nắm địch tình và giữ bí mật: - Vấn đề nắm địch tình so với trước đã kịp thời, chính xác hơn, giúp rất nhiều cho việc phán đoán về địch và định chủ trương đối phó. Song phần lớn là do Bộ tổng tư lệnh cung cấp; còn chúng ta làm chưa tốt lắm. Có đơn vị 5, 6 ngày không bóa cáo tình hình giữa khi có cuộc càn. Có nơi nhận được địch tình không báo cáo lên trên (Hưng Nhân). Có đơn vị không kiểm tra chính xác, có nhiều báo cáo ít, ít báo cáo nhiều. Có bản báo cáo chỉ phát hiện lực lượng địch mà không có nhận xét phán đoán. Nhiều đơn vị không chú ý khai thác tin ở tù, hàng binh. có đơn vị khi nhận được tin địch do khu cung cấp không nghiên cứu cẩn thận để có thể vận dụng vào hoạt động của mình… Những thiếu sót trên ảnh hưởng nhiều đến sự chỉ đạo, khiến một vài trường hợp phán đoán sai về âm mưu địch. Đó là do khi địch càn, nắm tình hình khó hơn khi bình thường, và còn do tổ chức quân báo của ta chưa thật mạnh, chưa chọn được nhiều người gan dạ, tích cực… Công tác giao thông liên lạc trong hai cuộc càn này chưa chặt chẽ giữa trên và dưới, trừ việc đảm bảo liên lạc đều đặn với Trung ương. Về bao vây tin tức địch có khá hơn trước, do các cơ quan, đơn vị thuần khiết hơn. Các đơn vị bộ đôi đã di chuyển luôn và giữ được bí mật về hành quân, trú quân. Việc bao vây do thám của nhân dân và công an đã tăng cường một bước, giữ được bí mật của ta và bao vây tin tức địch. Nếu chúng ta tổ chức nghi binh; áp dụng lệnh giới nghiêm khi cần thiết, nhằm làm tê liệt hoạt động do thám địch; kết hợp đối phó với do thám lưu động trà trộn trong dân tản cư; cán bộ, bộ đội, công nhân viên đề cao tinh thần cảnh giác hơn nứa, thì kết quả còn nhiều hơn. Thời gian qua có những lần địch phát hiện đúng lực lượng ta, là khuyết điểm mà ta cần tránh để tái diễn. Tới đây, chính ủy chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm của công tác chỉ đạo và chỉ huy, từ Bộ tư lệnh tới các trung đoàn, tỉnh đội rồi nhấn mạnh: - Chúng ta đã có quy định là tiểu đoàn bộ đội chủ lực hoạt động ở khu vực nào, có nhiệm vụ và quyền hạn chỉ huy toàn bộ lực lượng vũ trang ở khu vực đó để chống càn. Nhưng tiểu đoàn chủ lực cho rằng mình chỉ phối hợp mà không có quyền chỉ huy, do đó không làm đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình với bộ đội và du kích địa phương. Về phía địa phương cũng hiểu sai như vậy. Từ nay cần chấm dứt tình trạng đó. Các đơn vị chủ lực phải coi việc chỉ huy lực lượng vũ trang địa phương là một nhiệm vụ chính của mình, lúc thường cũng như chống càn; phải thường xuyên chăm sóc nó. Ngược lại, anh em địa phương phải có ý thức chấp hành lệnh của đơn vị chủ lực như lệnh của cấp trên mình. Tóm lại, việc vận dụng chiến thuật du kích trong hai cuộc phá càn vừa qua so với trước có tiến bộ nhiều, nhưng vẫn còn lúng túng, còn nhiều thiếu sót, phải bổ khuyết. Tôi tóm lược mấy điểm cần chú ý: 1. Bất kì trong trường hợp nào, bộ đội ta cũng phải phát huy tinh thần công kích địch mạnh mẽ và giành chủ động trong chiến đấu. 2. Việc tập trung, phân tán, di chuyển cần phải dựa theo tình huống khách quan, mục đích là bảo vệ được mình, tiêu diệt được địch. Tuyệt đối không được dựa theo ý muốn chủ quan của mình mà quyết định. 3. Phải triệt để thực hiện phương châm: bộ đôi chủ lực, bộ đội tỉnh đánh tiêu diệt; bộ đội huyện và du kích đánh kiềm chế tiêu hao, đồng thời tranh thủ tiêu diệt từng bộ phận nhỏ. 4. Phải coi tập kích, phục kích là hình thức tác chiến chủ yếu để phá càn. Phải làm mọi việc từ nhận thức đúng đến chuẩn bị điều kiện để thực hiện. 5. Cần đánh phối hợp mạnh mẽ hơn nữa. Phối hợp giữa trong và ngoài vùng càn, giữa địa bàn này với địa bàn khác, giữa quân sự và kinh tế, chính trị. 6. Phải chú ý nắm dịch tình, bao vây tin tức địch và giữ bí mật của ta. 7. Cái tiến công tác chỉ đạo, chỉ huy để thống nhất lực lượng, thống nhất hành động, nhằm phá càn thắng lợi. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:46:28 am “CON TRÂU” VỠ ĐẦU, “DIỀU HÂU” GÃY CÁNH Nava tỏ ra tả xung hữu đột, nam chinh bắc chiến. Cậy có nhiều quàn và phương tiện chiến tranh, y mở hàng chục trần càn lớn nhỏ ở Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Bộ, rồi bất ngờ cho quân nhảy dù tập kích Lạng Sơn. Song y vẫn cho “Đồng bằng Bắc Bộ là hướng tiến quân chủ yếu của đối phương”. Y cho mở cuộc càn “Hải Âu” với đội hình sư đoàn, đánh ra tây nam Ninh Bình, nhằm chống Đại đoàn 320. Lại một cuộc hành binh được rêu rao “đại quy mô” sẽ “đập tan sư đoàn của đối phương ở đồng bằng”. Rầm rộ, khua chuông, gõ mõ, nhưng sau 20 ngày, cuộc càn mang cái tên mĩ miều này phải kết thúc với hơn 4.000 quân bị loại khỏi vòng chiến. Phối hợp phá càn “Hải Âu”, các lực lượng vũ trang Tả Ngạn đánh tiêu diệt hoặc tập kích 10 đồn địch, bắn đắm ca nô, tạo thế uy hiếp sân bay Gia Lâm và khu đông nam Hà Nội, khiến địch phải lắc đầu. Gần hai tháng sau trận “Cá Măng”, có tin địch lại càn. Chúng sẽ đưa ba GM cơ động, một tiểu đoàn cơ giới có xe tăng, xe cóc, 40 khẩu pháo và hai tàu chiến, mở cuộc càn “Con Trâu” (Buypphơlơ) nhằm các huyện Kiến Xương, Tiền Hải. Đến lúc này, các cuộc càn “Cờlốt”, “Cá Măng” vẫn để lại trong chính ủy khu Tả Ngạn những bứt rứt, băn khoăn. Quân dân ta đã khiến địch thất bại về những mưu toan ác hiểm, song ta cũng còn những sai lầm, khuyết điểm và tổn thất lớn. Nay có tin địch lại càn, đồng chí sang cơ quan Bộ tư lệnh, gặp anh Khai, anh Miên. Cuộc họp khẩn cấp được mở. Chính ủy nói: - Lại sắp diễn ra keo vật mởi. Ta có thêm kinh nghiệm chống phá càn thì địch cũng có thêm kinh nghiệm cnà. Ta không thể chủ quan lơi lỏng. Cần rà soát lại những việc chuẩn bị của ta, sẵn sàng vào trận! Anh Khai báo cáo: - Sau khi khu ủy tổng kết hai cuộc chống càn “Cờlốt”, “Cá Măng”, các trung đoàn và các tỉnh đều tổng kết trong phạm vi nội bộ, liên hệ thực tế gần gũi của mình, để các tiểu đoàn, đại đội, các huyện, xã thấy được ưu, khuyết điểm, rút ra những kinh nghiệm, thiết thân, nhằm đương đầu với những cuộc càn mới… Các đơn vị chủ lực cũng như bộ đội địa phương, dân quân du kích đều được bổ sung, kiện toàn; vũ khí, lương thực chuẩn bị khá hơn; nói chung đều ở tư thế sẵn sàng chống càn. Chính ủy hoan nghênh các việc làm đó và nhấn mạnh: - Chống càn “Cá Măng”, Thái Bình có khuyết điểm. Trong lúc địch càn tỉnh bên, Thái Bình vẫn hướng vào những việc thường xuyên như học tập chính sách ruông đất, thuế má… Có thể anh em cho là địch càn chủ yếu ở phía bắc sông Luộc, cho nên không tập trung chống càn. Do đó khi địch càn bắc Thái Bình, bộ đội tỉnh, huyện cũng như du kích xã có những chuệch choạc, tinh thần chiến đấu kém. Nay phá đoán hướng địch sẽ vào nam Thái Bình, khu phải tăng cường chỉ đạo để tránh khuyết điểm, đảm bảo phá được càn. Bộ tư lệnh, các ban tham mưu, tác chiến, chính trị… cần phân công đi sát và chỉ đạo kịp thời cho Trung đoàn 50 và tỉnh đội Thái Bình, vận dụng những kinh nghiệm tốt, chủ động tránh những sai lầm, quyết tâm phá càn… Anh Miên lắng nghe rồi nói: - Tôi xin trình bày một dự đoán: từ sau cuộc càn “Con Cóc” tới nay, địch chưa càn to ở nam Thái Bình. Khi càn “Cá Măng” chúng chỉ cho ba GM đến bắc Thái Bình. Trong khi đó, Tiểu đoàn Giang Đông của ta lại từ nam Thái Bình vượt sông Hồng sang đánh phối hợp với Nam Định. Địch đã để ý, nay có thể chúng càn lớn ở đây. chúng vừa đánh tây nam Ninh Bình với cỡ sư đoàn, bị tiêu diệt một phần nhưng chúng sẽ bổ sung rồi tăng cường cho bọn đang càn ở Thái Bình. Chính ủy ngẫm nghĩ rồi nhìn anh Miên: - Có thể như thế! Và có thể chúng sẽ càn ở bắc Thái Bình. Nava là viên tướng thích càn lớn, nói to. Chỉ trong vòng vài tháng, y mở càn “Thánh tử vì đạo” ở Nam Định, nhằm Trung đoàn 46; càn “Hải Âu” ở Ninh Bình nhằm Đại đoàn 320; càn “Cá Măng” nhằm các Trung đoàn 42, 50. Tất nhiên nó còn nhằm bắt người, cướp của, phá cơ sở ta… Lần này càn nam Thái Bình, rõ ràng là địch càn lần lượt cho khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ta chưa rõ 320 sẽ cho trung đoàn nào luồn sang đây với ta. Nhưng ta có hai trung đoàn, ta phải chỉ đạo chiến đấu thật tốt. Trung đoàn 42 bám sát Hưng Yên, Hải Dương để đánh chia lửa với Thái Bình và sẵn sàng chống càn tại chỗ. Trung đoàn 50 cùng bộ đội, du kích Thái Bình chống càn, trước hết là ở phía nam tỉnh. Về công tác tư tưởng, chính ủy nhìn anh Khai: - Cần làm cho cán bộ và nhân dân chuẩn bị chống càn lớn và dài ngày. Đề phòng tư tưởng chủ quan cho là địch không càn đến nơi mình hoặc chỉ càn nhỏ, dẫn tới chuẩn bị sơ sài, khi địch đánh mạnh thì lúng túng. Cũng phải chống tình trạng thổi phồng, đề cao địch khiến quần chúng hoang mang. Sau cuộc càn phải vạch tội ác địch; đè cao gương tự động đấu tranh bảo vệ ngời và của của nhân dân. Các đồng chí tư lệnh và anh em trong cơ quan chia nhau tới gặp các ban chỉ huy Trung đoàn 50 và tỉnh đội Thái Bình… Kế hoạch chống càn được ra soát kĩ bổ sung cẩn thận và sẵn sàng thực hiên. Chủ động phá càn, các lực lượng vũ trang Thái Bình phục đánh ở ngã ba Đo, phá 20 xe cơ giới, loại từ một đại đội địch. Ở các nơi địch càn, quân dân ta đánh nhỏ, đánh đều. Chông, mìn, đạp lôi được sử dụng rộng khắp. Riêng huyện Tiền Hải loại khỏi vòng chiến 225 tên, phá hủy hai xe tăng. Trung đoàn 50 cùng bộ đội tỉnh, huyện và du kích chống càn “Con Trâu”. Trung đoàn trưởng Nguyễn Tiệp, quê ở Hà Nội, làm cán bộ quân chủ lực ở Hữu Ngạn, rồi làm trung đoàn phó một đơn vị. Năm 1948 sang công tác cơ quan Mặt trận 5, làm trung đoàn phó Trung đoàn 42. Khi lập Trung đoàn 50, anh làm trung đoàn trưởng. Lúc này, nhận được tin quân báo từ thị xã Thái Bình đưa ra: ở sân vận động có địch với nhiều lều bạt, nhiều xe jeep. Trung đoàn phán đoám đó là sở chỉ huy trận càn “Con Trâu”. Nguyễn Tiệp liền cùng cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn Giang Đông, chọn một đại đội gồm những chiến sĩ dũng cảm, trang bị tiểu liên, thủ pháo và bốn trung liên, gấp rút bôn tập qua ba mươi kilômét, với sự dẫn đầu của quân báo địa phương, bất ngờ tập kích nơi địch đóng. Ba giờ sáng ngày 4-12-1953, ta nổ súng. 10 phút chiến đấu, diệt và làm bị thương gần một trăm tên, phần nhiều là sĩ quan. Pirốt, đại tá tư lệnh cuộc càn, bị thương phải giả chết để thoát thân. 25 sĩ quan Pháp bị bắt. 28 xe cơ giới bị phá. Bên ta không thương vong. Thế là địch phải kết thúc cuộc càn. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:46:59 am Sau đó hơn một tuần, địch lại đưa sáu GM cơ động, ba tiểu đoàn khỉnh quân, một tiểu đoàn cơ giới, sáu tiểu đoàn pháo, hai thủy đội, hai phi đoàn không quân, mở cuộc càn “Diều Hâu” (Giécphô) do tướng Ginlơ chỉ huy. Trận càn lại được rêu rao là “đại kích cỡ”. Vòng càn là tỉnh Thái Bình, nơi có Trung đoàn 50 vừa làm một vụ động trời là đập tan sở chỉ huy trận càn “Con Trâu” ngay trong thị xã.
Mở đầu, chúng càn phía nam tỉnh, gồm Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải, nhằm “ăn gỏi” Trung đoàn 50. Tiếp đó càn Duyên Hà, Tiên Hưng, Quỳnh Côi, “căn cứ cứng” của Việt Minh đã qua hai năm nay quân Pháp chưa đụng tới. Cuối cùng, càn Đông Quan, Thái Ninh, Thư Trì và đặc biệt càn lại ba huyện vừa càn đợt đầu. Các lực lượng vũ trang Thái Bình đánh địch đều khắp. Riêng đợt đầu loại khỏi vòng chiến 1.377 tên (có hơn 500 tên dẫm phải chông, mìn, đạp lôi), phá 29 xe (có tăng và cóc). Xã Vân Trường (Kiến Xương) năm ngày đánh hơn chục trận. Các làng Tiểu Hoàng, Thư Điền, An Khang (Tiền Hải) đánh 37 lần, diệt và làm bị thương 124 tên địch. Riêng huyện Kiến Xương khiến địch thụt 526 hố chông. Ngày 20-1-1954, địch kết thúc càn “Diều Hâu”, rút quân đi đối phó với nơi khác. Chúng để lại GM 8 làm chỗ dựa cho các đồn bốt ở Thái Bình. Phá hai trận càn “Con Trâu”, “Diều Hâu”, các lực lượng vũ trang Thái Bình loại ra khỏi vòng chiến 5.000 tên đich, phá 11 tăng, hai cóc, 101 xe tải, bốn pháo 105 và 57 li, thu nhiều vũ khí. Địch chỉ làm được việc khai thông một số đoạn đường 10, 39, giải vây một số đồn, ép một số dân vào khu tập trung Thân Thượng… Khi quân cơ động rút, ta lại diễn thế bao vây, buộc địch rút thêm chín đồn. Bộ tư lệnh Tả Ngạn họp nhận xét tổng quan về hai trận càn rtrên: Đồng chí chính ủy khu biểu dương Thái Bình chuẩn bị tốt, phá càn có hiệu quả cao, với hai điểm nổi bật: 1) Trước trận càn đã phát động phong trào thi đua làm nhiều bàn chông đánh giặc. Trong một tháng, nhân dân góp hơn 10.000 bàn chông, một phần trong số đó đã giúp Tiên Lãng chống càn “Cờlốt”; 2) gần 40 ngày chống càn, dân quân du kích nhiều xã dũng cảm tự lực hoặc phối hợp với bộ đội đánh địch, đưa chiến thuật du kích tiến lên những bước mới. Đồng chí biểu dương Trung đoàn 50 có bốn trận đánh tiêu diệt dịch có hiệu quả cao và bảo toàn được lực lượng. Biểu dương Trung đoàn 42 có những trận đánh phối hợp khi Thái Bình chống càn… Đồng chí yêu cầu Bộ tư lệnh kịp thời khen ngợi lực lượng vũ trang các huyện Kiến Xương, Quỳnh Côi, Thái Ninh, Duyên Hà. Đề nghị Chính phủ và Bộ tổng tư lệnh thương ba huân chương Chiến công hạng nhất cho các lực lượng vũ trang Thái Bình, cho Tiểu đoàn 53 bộ đội tỉnh, và huyện đội Duyên Hà. Thưởng Huân chương Quân công hạng ba cho Trung đoàn 50. Đồng chí chính ủy nhắc nhở: - GM 8 vẫn còn trên địa bàn Thái Bình. Đề phòng chúng mở những trận càn nhỏ, đồng thời đề phòng chúng tăng thêm quân, bất chợt càn vừa và to. Tại cuộc họp này, anh Miên báo cáo về mấy trận đánh có hiệu quả cao: - Ở Kiến An, ngày 14-1-1954, bộ đội tỉnh, huyện tập kích đồn Đông Xuyên Ngoại (Vĩnh Bảo) và chặn đánh quân viện, làm đắm một tàu chiến và một ca nô; 300 tên địch chết cùng nhiều vũ khí chìm đáy sông. Địch phải cho máy bay ném xuống hàng tấn bom để phá tàu. Dân địa phương có câu” “Ai ơi qua bến đò Cầu. Dừng chân đứng lại xem tàu chổng mông”. Đêm 31-1-1954, bộ đội địa phương huyện tập kích sân bay Đồ Sơn, sau những ngày tháng chuẩn bị rất công phu. Vận dụng kinh nghiệm đánh Sở Dầu, anh em đột nhập sâu, nhanh chóng diệt sở chỉ huy địch, phá hủy năm máy bay, đốt gần triệu lít xăng. Dc chính ủy nhận xét: - Kiến An đánh hai trận này đều hay. Thêm một lần nữa thực hành cách luồn sâu, đánh hiểm vào những mục tiêu địch bảo vệ nghiêm ngặt. Nhất là đã thực tập cách đánh phá máy bay, việc khó ta chưa từng làm. Nó sẽ hun đúc thêm quyết tâm đánh phá Cát Bi, sân bay lớn nhất Đông Dương của địch. Ta phải làm cho vùng địch chiếm không còn nơi bất khả xâm phạm. Phải biến vùng đó thành nơi để chúng ta tiến công địch, bằng những chiến thuật đầy sáng tạo và nhiều hiệu quả. Khu ủy và Bộ tư lệnh cần cổ vũ Kiến An tiếp tục lập công! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:50:42 am “MẬT TẬP - MẬT CÔNG” Cô giao liên đưa đến cái phong bì nhỏ chừng nửa bàn tay, làm bằng giấy đã viết một mặt, đóng dấu “hỏa tốc” mũi tên đỏ. Tôi vội bóc phong bì. Nhìn qua mấy dòn đầu, tôi thấy cần đưa ngay tới chính ủy, tuy lúc này hãy còn sớm. Chính ủy đang rửa mặt, thấy tôi sang vừa vắt khăn tay vừa nói: - Có gì khẩn cấp đấy? Tôi trả lời: - Tin chiến thắng ạ! Diệt cụm vị trí Dị Sử, Hưng Yên! Chính ủy mở to mắt hỏi lại: - Diệt cả cụm?... Đọc ngay, nghe chung! Ngồi trên cái chõng tre, tôi đọc bản báo cáo ngắn gọn: - Ở Hưng Yên, đêm 15-12-1953, Tiểu đoàn 58 và Đại đội 38 bộ đội tỉnh cùng bộ đội huyện Mỹ Hào, với sự chỉ huy trực tiếp của tỉnh đội trưởng Võ An Đông, dùng chiến thuật “mật tập” tiêu diệt cụm vị trí Dị Sử. Cụm này gồm một đồn Liên hiệp Pháp, một đồn Hương Dũng, một đồn quận dũng và cơ quan hành chính quận Mỹ Hào. Chung quanh cụm có năm hàng rào thép gai và đặt nhiều mìn; 14 lô cốt và ụ súng xi măng cốt sắt, là khu phòng thủ kiên cố của địch. “Đội tiền phong” của tỉnh đội bí mật thâm nhập điều tra, thấy địch có những nơi, những giờ sơ hở. Anh em chuẩn bị công phu, lập kế hoạch đánh từ trong ra, từ ngoài vào. Kế hoạch được duyệt, sau hơn một giờ chiến đấu, ta diệt 90 tên địch (có 35 lính Âu - Phi), bắt 168 tên (có 12 lính Âu - Phi và một quận trưởng ngụy). Thu gần 500 súng, có cả badôca, cối và đại, trung, tiểu liên, 20 máy vô tuyến điện, phá hủy 20 xe và một kho đạn. Ta hi sinh 10 người (có một đại đội phó) và bị thương 80 người. Nghe xong, chính ủy nhận xét: - Hưng Yên lại cho địch ăn “mật công”. Dân ta thường nới, “đắng như mật công”. Ta có tổn thất nhưng diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí. Dị Sử là một trong điểm của địch, ở sát đường 5. Một tiểu đoàn mạnh thuộc GM 3 đóng giữ, là tiền đồn bảo vệ sân bay Gia Lâm và thành phố Hà Nội. Ý nghĩa của trận thắng này không nhỏ. Tôi bỗng nhớ lại hồi giữa năm qua, cũng sau một trận thắng của Hưng Yên, anh Khai đến báo cáo với chính ủy: - Sau thất bại ở Tây Bắc, địch thận trọng hơn. Các đồn Liên hiệp Pháp ở Tả Ngạn ra sức củng cố hoặc xây dựng thêm boongke, hầm ngầm. Bộ đội tỉnh chưa có vũ khí mạnh để công kiên, phải tìm cách đánh phù hợp. Ba chỉ huy tỉnh đội Hưng Yên cùng cán bộ các đại đội tỉnh, huyện bàn mưu hiến kế. Qua thực tế thấy bộ đội tỉnh mình gan góc, bí mật luồn sâu vào một số đồn lớn, trinh sát kĩ, nắm chắc mọi ngõ ngách, mà địch không biết. Anh em đề xuất cách đánh sâu, đánh hiểm, từ trung tâm ra; đánh trúng những điểm quan trọng khiến địch tê liệt ngay từ phút đầu; nơi sĩ quan chỉ huy ngủ, sở chỉ huy, điện đài, ụ súng chủ yếu…, đồng thời đánh từ ngoài vào, bằng vũ khí hiện có. Anh em gọi là “mật tập”. Tỉnh đội Hưng Yên cho lập “Đội tiền phong” gồm những cán bộ, chiến sĩ trinh sát dũng cảm, mưu trí, cho thâm nhập căn cứ hậu cần của GM 3 ở Bần Yên Phú. Nắm khá tỉ mỉ nơi địch đóng quân và kho vũ khí, anh em đề xuất kế hoạch đánh chắc thắng. Qua thảo luận kĩ lưỡng, tỉnh đôi quyết định dùng hai đại đội (25, 27) của tỉnh và đại đội huyện Yên Mỹ. Huy động 500 dân công hỏa tuyến hai xã Cấp Tiến, Tân Dân (Khoái Châu). Với quyết tâm cao, anh em đột nhập từ trung tâm đánh ra, khoét sâu vào các tử huyệt của địch. Chỉ nửa giờ chiến đấu, diệt và bắt sống hơn trăm tên địch, rồi cùng dân công chuyển 2.000 khẩu súng các loại. Trận đánh đạt hiệu quả cao, thu nhiều súng nhất trên chiến trường Tả Ngạn. Chiến thuật “mật tập” do anh em sáng tạo và thực hiên bắt đầu mang lại chiến công xuất sắc. Chính ủy mở to cặp mắt như không chớp, lắn nghe báo cáo chiến công của bộ đội tỉnh, huyện. Đồng chí nói: - Đó là biểu hiện tích cực của tinh thần tiến công đich. Thiếu vũ khí mạnh thì tìm cách đánh phù hợp, sáng tạo, và thắng giòn giã. Đây là trận đánh hay, gọi là “mật tập” hay “mật công” đều đúng. Nó xảy ra từ thực tiễn chiến đấu, từ tinh thần trách nhiệm cao, điều tra chính xác, chiến đấu dũng cảm… Cần rút kinh nghiệm để áp dụng tốt hơn nữa. Tiếp đó, anh Khai nói về tỉnh đội trưởng Võ An Đông. Quê ở Hưng Yên, qua công tác ở cơ sở và trong lực lượng vũ trang, tháng 3-1951, anh Đông tham gia tỉnh ủy, làm chính trị viên tỉnh đội. Đúng vào lúc giặc chiếm hết tỉnh, lập 365 đồn bốt, anh được giao quyền tỉnh đội trưởng, trực tiếp chỉ huy Đại đội 22 của tỉnh, đánh thắng đồn Thọ Lão. Tháng 1-1952, anh cùng chính trị viên tỉnh đội Nguyễn Ngọc Vũ trực tiếp chỉ huy bộ đội tỉnh, diệt đồn Trương Xá rồi diệt luôn quân tiếp viện từ chợ Đìa tới… Từ khi Hưng yên lập cơ quan tỉnh đội có bảy người trưởng, anh Đông là người thứ tám giữ nhiệm vụ này lâu hơn cả, cho đến lúc này. Chính ủy nghe xong, gật đầu, tỏ ý hài lòng. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:54:11 am KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ MỘT AI CHẾT ĐÓI Nông dân Tả Ngạn trải qua nhiều trận càn quét ác liệt, bị địch tàn phá nặng nề, cướp và hủy hoại nhiều trâu, bò, lợn, gà. Nhiều nhà bị đốt, phải làm lại, rồi lại bị đốt bốn năm lần, phải ở lều, ở túp ngoài đồng. Ruộng gần đồn bốt, gần đường giao thông, gần sông biển bị địch bắn phá, dân không cày cấy được, phải bỏ hoang. Đời sống ngày càng thêm nghèo khổ. Tháng 3-1953, số người bị đói tăng nhanh. Khu ủy họp bàn và chỉ đạo các tỉnh chống đói bằng nhiều biện pháp thông thường. Anh Ngạn lo lắng trước dời sống nhân dân, những người đã sống sót sau trận đói năm 1945, lại gặp chiến tranh, thêm mấy lần đói khổ. Anh nói: - Biện pháp chủ yếu lúc này là phát động nông dân các vùng đã giải phóng đấu tranh đòi triệt để giảm tô, cả hai vụ chiêm, mùa năm nay. Tô giảm 30% là quá ít. Nhiều địa chủ, phú nông chưa giảm. Chính quyền ta phải căn cứ vào chính sách giảm tô, giảm tức của Chính phủ, buộc bọn họ phải thi hành, nhằm hỗ trợ cho tá điền và nông dân nghèo đấu tranh, lấy thóc gạo chống đói. Chúng ta không được phép để nông dân quá đói, càng không được phép để một ai chết đói. Nạn đói năm 1945 đã giết hại hai triệu dân đồng bằng sông Hồng, nay kiên quyết không để tái diễn thảm cảnh đó, dù chỉ một phần, bởi chính quyền đã ở trong tay nhân dân. Bác Hồ đã về vùng này ngay sau Cách mạng thành công. Người nói: “Để dân dói là Chính phủ có lỗi!”. Nông hội khu và các tỉnh lên vùng tự do Việt Bắc tham quan đấu tranh giảm tô, trở về rút kinh nghiệm làm theo. Cuộc họp nông dân từng làng được tổ chức, triệu tập các nhà giàu đến, nghe tá điền yêu cầu có lí có tình. Tại Thái Bình, chỉ tính vụ chiêm 1953, tá điền đã đòi 820 địa chủ và 1.842 phú nông giảm 160 nghìn tấn thóc. Xóa nhiều món nợ vô lí, lãi mẹ đẻ lãi con, chủ nơ đã thu nhiều lần. Xóa bỏ khoản tô công sưu cho nhà chung Thiên chúa giáo, giành lại hàng nghìn tấn thóc. Nông hội một số xã thuộc Tiền Hải buộc bảy địa chủ ngoan cố phải giảm tô tức. Ở Tiên Hưng, địa chủ Liêm có 80 mẫu ruộng cho cấy tô, mới giảm có 23%, sau khi nông hội xã gọi lên đòi giảm đúng, Liêm phải trả lại tá điền hàng trăm tấn thóc. Cũng dịp đó, ở Hưng Yên, nông dân được chia 1.600 tấn thóc. Ỏ Hải Dương, xóa và hoãn nợ được 698 tấn thóc, 69.387 đồng Đông Dương. Nhận xét về việc trên, anh Ngạn chỉ rõ: - Kết quả như thế chưa đạt yêu cầu chung, song đã góp phần giảm nạn đói trước mắt và tạo phần nào điều kiện cho nông dân, tá điền làm ăn bảo đảm đời sống. Anh nhắc nhở: - Đừng quên là cánh địa chủ nghị Hoành, nghị Sánh ở Duyên Hà chiếm giữ nghìn mẫu ruông; địa chủ Mai Tầm Xuân ở Ân Thi chiếm 800 mẫu. Nhiều địa chủ khác chiếm bách mẫu tư điền, hà lạm chông điền công thổ… Sự chênh lệch quá đáng về ruộng đất giữa địa chủ và nông dân là căn nguyên sâu xa của nạn đói, sẽ được giải quyết khi thi hành chính sách cải cách ruộng đất. cũng cần chỉ ra: ở Hưng Yên, sự đấu tranh lúc này đã phạm sai lầm về sách lược, đánh cả vào phú nông, trung nông. Với địa chủ không chỉ cho họ thấy được con đường cải tạo, không phân biệt lớn nhỏ, nặng về nhục hình, truy bức, khiến một số địa chủ ủng hộ kháng chiến hoang mang lo sợ… Cần tránh sai phạm khi chúng ta còn tiếp tục làm việc này. Giành thắng lợi nhưng phải đúng chính sách. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:48:15 am NAVA DỒN QUÂN ĐÔNG NHẤT Ở ĐỒNG BẰNG Những ngày mùa xuân năm 1954, đài phát thanh phương Tây đưa tin: - Tháng 11, quân chủ lực Việt Minh lên Tây Bắc, rồi cho một bộ phận sang phối chiến với quân Cộng sản Lào tại Trung Lào… Tướng Nava kịp thời cho hai GM nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và hai GM khác xuống Trung Lào, nhằm bảo vệ hai nơi đó. Vẫn chưa yền tâm, ông còn tăng quân cho Điện Biên Phủ thành ba GM. - Tháng 12, Việt Minh đánh chiếm Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ. Tướng Nava liền tăng quân ở đây lên năm GM, củng cố thành ba cứ điểm vững chắc. - Đầu năm 1954, quân Pháp mở chiến dịch Átlăng, nhằm chiếm vùng căn cứ rộng lớn của Việt Minh ở Liên khu V. Để đối phó, Việt Minh đánh chiếm tỉnh Kon Tum và vùng bắc Tây Nguyên. Dịp này, Việt Minh cũng hoạt động mạnh ở cực nam Trung Phần, ở Bình Trị Thiên và ở chiến trường Nam Phần. - Với nhiều chuyển động trên toàn chiến trường Việt Nam như trên, tướng Nava vẫn dành cho đồng bằng Bắc Phần số quân dông nhất, hơn cả Điện Biên Phủ… Anh Tuân tổng hợp tình hình trên, báo cáo với anh Ngạn. Anh nghe rồi đi đi lại lại, suy nghĩ hồi lâu… Anh nói vói chúng tôi: Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ. Đã chỉ thị cho các vùng tự do Việt Bắc, Tây Bắc, Liên khu III, IV làm đường, sửa cầu, chuẩn bị phương tiện giao thông vận tải phục vụ chiến dịch. Sẽ huy động cao động nhân tài, vật lực cung cấp theo yêu cầu đánh lớn, đánh dài ngày, với tinh thần “Tất cỏa cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”… Khu ta phải ra sức thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình để phối hợp đắc lực với chiến trường chính… Tôi vừa đưa đánh máy xong bản nghị quyết cuộc họp Khu ỷ mở rộng, anh Ngạn đón lấy xem. Cuộc họp này đề ra bảy nhiệm vụ cho quân dân toàn khu trước tình hình mới, trong đó có ba nhiệm vụ cần làm ngay: 1. Tích cực đánh địch, phá càn và xây dựng lực lượng. 2. Tích cực chống giặc bắt lính và mở rộng ngụy vận, vận động thanh niên chống giặc bắt lính bằng con đường vào du kích để chiến đấu. 3. Tranh thủ nhân dân, củng cố khối đoàn kết, phá âm mưu chia rẽ của địch… Anh Ngạn xem kĩ rồi kí. Cuộc họp Khu ủy lần này còn có văn bản phê bình, tự phê bình năm 1953 của Khu ủy, Bộ tư lệnh, các cơ quan, đoàn thể khu và các tỉnh, các trung đoàn… Tôi đưa bản chỉ thị của Bộ tư lệnh Tả Ngạn để anh biết chủ trương của Khu ủy đã được cụ thể hóa và truyền đạt nhanh xuống các tỉnh, huyện đội và các trung đoàn: “Khẩn trương củng cố lực lượng, chuẩn bị chiến trường, đánh địch khi có sư đoàn tập trung đánh lớn; mạnh dạn đánh sâu vào hậu cứ địch ,diệt cơ quan đầu não, phá kho tàng, sân bay, uy hiếp đường 5, đường sắt…”, và hướng dẫn các biện pháp thực hiện. Trung đoàn 42 vừa được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng lần thứ hai lá cờ bốn chữ “Luôn luôn Trung Dũng” và thư của Người khen ngợi các Trung đoàn 42, 50 cùng các lực lượng vũ trang khu Tả Ngạn: “Các chú, các cô đã chiến đấu anh dũng chống càn thắng lợi, tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân. Bác gửi lời khen các chú, các cô, nhắc tuyệt đối không được chủ quan khinh địch và phải ra sức giúp dân. Bác chúc các chú, các cô tiêu diệt được nhiều địch hơn nữa”. Cũng vào cuối năm 1953, Trung đoàn 42 được Đảng, Chính phủ thưởng Huân chương Quân công hạng hai, và đồng chí tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tặng sáu chữ “Dũng cảm, cơ động, linh hoạt”. Lúc này, Trung đoàn có nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng vũ trang bắc sông Luộc mở đợt hoạt động mạnh, từng bước uy hiếp và tiến tới phá vỡ phòng tuyếnđường 5, đường sắt, phối hợp với chiến trường chính, nhằm “căng địch ra, kéo lực lượng cơ động của địch về, giam chân chúng lại mà đánh, cắt đứt “cổ họng” địch”. Thắng lợi to lớn của năm qua, nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của năm tới giục giã trung đoàn cùng các lực lượng vũ trang trong khu vững vàng tiến bước. Anh Ngạn trao bản chỉ thị của Bộ tư lệnh khu cho tôi và tỏ ý hài lòng. Anh nhắc tôi tìm đồng chí Lê Thanh Bình, bí thư khu đoàn thanh niên sang báo cáo về việc vận động thanh niên chống địch bắt lính. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:50:42 am TẬP HỢP, ĐỘNG VIÊN TUỔI TRẺ Anh Lê Thanh Bình vừa tổ chức xong một cuộc họp với thanh niên tại một làng ven biển Tiền Hải. Đây là những nam nữ thanh niên từ các vùng đô thị tạm chiếm và vùng có đồng bào Thiên chúa giáo đến dự. Số người không đông nhưng ai nấy đều nao nức phấn khởi, nhanh chóng làm quen với nhau. Đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn từ Việt Bắc về, các đồng chí thường vụ Khu đoàn, các bí thư tỉnh đoàn và một số huyện, thị đoàn cũng dự. Ai rất hân hoan được gặp hai đồng chí cán bộ nữ, một hoạt động ở vùng địch tạm chiếm, một là nữ du kích tỉnh Kiến An, vừa đi dự Đại hội Thanh niên và Sinh viên thế giới từ Đông Âu về, kể chuyện các bạn trẻ Liên Xô, Trung Quốc và thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân và thanh niên Việt Nam. Đồng chí bí thư Khu đoàn đọc báo cáo về công tác vận động thanh niên, tăng quân, vào du kích chiến đấu và chống địch bắt lính, chống âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch; biểu dương thanh niên đã cùng gia đình đấu tranh kiên quyết chống âm mưu lập địa phương quân. Nêu tội ác giặc: giữa năm 1953, dội bom xuống nhà thờ Vân và nhà thờ Dốc Lã (Hưng Yên) chết hơn 400 giáo dân. Bọn phản đông lợi dụng Thiên chúa giáo giết hại hơn 200 người ở hầm Quỳnh Lang (Thái Bình). Trong cuộc càn Tiên Lãng, giặc đánh phá nhà thờ Duyên Lão, cả cha xứ lẫn con chiên đều bị giặc đánh đập dã man. Hiểu rõ âm mưu và tội ác giặc, nhiều thanh niên trong tiểu đoàn ngụy của Trịnh Quang Thanh và Vũ Thanh Mai đã bỏ hàng ngũ trở về. Không ít ngời tòng quân, vào du kích để đánh giặc để khỏi bị chúng bắt làm ngụy binh, vệ sĩ… Trong không khí cởi mở, một số thanh niên lương, giáo tích cực chống giặc bắt lính hoặc từ bỏ hàng ngũ giặc trở về tham gia kháng chiến kể chuyện bản thân. Mắt thấy tai nghe, những người dự hội nghị nghiệt liệt hoan nghênh bạn và ngẫm nghĩ về mình. Nhóm văn nghệ bộ đội đến giúp vui. Câu hò “Tình bằng ai ơi!”; khúc hát tâm tình gửi người lính ngụy “Anh ơi quay súng về đây! Máu người dân Việt.”; bài ca buồn thảm “Ai đem giặc đến nhà thờ? Ai đem danh chúa mà lừa giáo dân?”; hoạt cảnh “Công Nông Binh kháng chiến”; đồng ca “Địa lôi Phú Thái, Kim Thành. Giặc chết đường số 5…”; tam ca “Hôm nay phá bốt Đào Thành Những người dân lành mừng vui mở cống..”… lại còn tiết mục kể chuyện “Gọi chồng bằng bố”. Người kể mặt non chẹt nhưng vẻ râu ria. Mọi người phì cười, anh ta cứ tỉnh khô, nói rành rọt như rót vào tai mọi người: - Có vợ chồng một anh cầu an. Vợ chạy vào thị xã buôn bán. Chồng chui hầm bí mật trong nhà lại không cạo râu, để giặc tưởng già khỏi bắt”. “Lâu lâu vợ nhớ chồng về thăm. Anh ta mở mành ló đầu ra đón. Chị vợ thoáng trông ngỡ là ông bố chồng (vốn cũng để râu), bèn cúi đầu lễ phép: - Con chào bố ạ!”. Mọi người vỗ tay cười rộ, khen “hay”. Sâu lắng, sôi nổi, rộn ràng, khiến những người trẻ tuổi trong vùng bị địch tạm chiếm, lương cũng như giáo, bừng tỉnh về một chuyện cực kì hệ trọng trong đời mình. Nghe đồng chí bí thư Khu đoàn báo cáo, anh Ngạn cười vui: - Cần tiếp tục mở các hội nghị như thế ở các tỉnh, để các huyện rút kinh nghiệm làm theo. Xã có điều kiện cũng nên làm. Ngoài cách họp hành nửa chính trị nửa văn nghệ như thế, còn có cách nào nữa có sức tập hợp và động viên tuổi trẻ đều cần tận dung. Anh em bị lừa phỉnh nhiều rồi, cần thân ái giúp họ hiểu ra. Bí thư Khu đoàn ghi nhận ý kiến anh Ngạn. Một số cán bộ hỏi: - Ngụy binh chiến đấu kém, không ít kẻ làm nội ứng cho ta diệt đồn, rồi bỏ ngủ, đào ngũ, sao Pháp vẫn cố bám lấy bọn đó? Anh Ngạn gti: - Là vì chúng thiếu quân, không thể lấy nhiều từ nước Pháp hoặc từ thuộc địa ở châu Phi, vì dân các nơi ấy phản đối. Âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt”, Pháp thực hiện ngay từ khi đánh nước ta cách đây gần trăm năm. Hoàng Cao Khải ở Bắc Kỳ, Nguyễn Thân ở Nam Kỳ, là những kẻ cầm đầu ngụy quân giúp Pháp cướp trọn nước ta.Nay âm mưu ấy càng được đẩy mạnh. Riêng năm 1953, chúng lập thêm 54 tiểu đoàn ngụy. Bảo Đại cùng bọn ngụy quyền ra sức lừa bịp, kêu gào thanh niên vào lính ngụy “Bảo vệ quốc gia”. Thanh niên vùng Thiên chúa giáo bị những tên phản động đội lốt thầy tu mê hoặc: “Đi lính bảo vệ thánh đường”. Mặt khác, chi tiêu cho lính ngụy đỡ tốn nhiều so với lính Âu - Phi. Lính ngụy không thuộc địa hình, đi càn có phần xông xáo hơn, dễ sai khiến hơn. Một cái đồn Liên hiệp Pháp ở La Cao điều khiển 19 đồn khác với 19 trung đội ngụy, chỉ cần một quan hai Pháp đứng đầu, mà có thời gian chiếm giữ cả huyện Tiền Hải. Qua thực tế đó, ta thấy lính ngụy rất cần đối với Pháp. Lính ngụy nhiều nhược điểm, Pháp vẫn phải bám là vì thế. Ngụy quân là còn dao hai lưỡi. Một lưỡi Pháp dùng để chém người ta, một lưỡi sẽ khiến Pháp đứt tay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Địch dùng nhiều ngụy quân như nguiwfì khát nước mà uống thuốc độc”. Song Pháp vẫn cứ phải bám ngụy. Đo đó, ta cần ra sức chống âm mưu của Pháp. tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên thấy âm mưu địch, để họ tránh bị giặc bắt làm ngụy. Những người đang là ngụy thì tìm mọi cách để quay về với kháng chiến, với cha mẹ, vợ con. Phải nghiêm chỉnh thực hiện chính sách đối với ngụy binh, như chính sách khoan hồng, chính sách ruộng đất, cho giữ nguyên cấp bậc cũ nếu muốn nhập bộ đội ta. Nếu chiến đấu giỏi thì được khen thưởng; nếu đủ điều kiện có thể trở thành anh hùng, chiến sĩ thi đua… Thấy anh em muốn hỏi thêm, anh Ngạn nói luôn: - Là vì phần lớn ngụy binh vốn là quần chúng cơ bản của ta, họ ít nhiều đều bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Nay họ là nạn nhân của địch. Ta vận động họ về với ta, họ phải được cứu giúp để được sống bình thường, hơn nữa còn được lập công, tiến bộ. Cha ông ta vẫn nói: “Giận kẻ bỏ đi, không giận kẻ tìm về”. Chúng ta phải kiên quyết trừng trị kẻ ngoan cố bán nước; cứu vớt kẻ lầm lạc, và động viên người tỉnh ngộ góp phần chống địch. Đúng không các đồng chí? Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:51:17 am ĐI XE ĐẠP LÊN VIỆT BẮC Anh Thứ chuyển gác cho đồng chí khác, rồi vào nhà uống nước. Mưa phùn gió bấc, mấy anh em ngồi ấm chân trong những mớ rơm, hai tay hơ hơ trên đống trấu khói tỏa lơ thơ dễ chịu. Tôi và anh Thứ ngồi nhớ lại chuyện đi Việt Bắc, chuyến cuối năm 1953. Thứ thủ thỉ: “Đường từ đây đi Xích Thổ căn cứ của Liên khu III thì chả phải kể nữa. Vượt sông Hồng, đồn giặc dày sít; lội đồng chiêm trrũng Hà Nam mỏi cẳng, mòn da, ta biết rồi. Từ Xích Thổ lên Việt Bắc không phải qua những cảnh ấy, nhưng chẳng kém phần gian nan nguy hiểm. Khu ta đặt một tổ công tác ở Xích Thổ làm việc hậu cần. Tổ có một số xe đạp để anh em qua đấy đi họp Việt Bắc thì mượn. Chuyến ấy, ông Nam đi đường bị sốt. Tôi múc chậu nước để ông nhúng đầu cho mát. Sau mới biết làm thế nguy hiểm. Ông Nam phải nằm lại ở Chi Nê, rồi đi sau. Đồng chí liên lạc đưa cậu Triệu và tôi đi với anh Ngạn. Đạp xe từ Xích Thổ sang Hòa Bình, rồi lên Phú Thọ, Tuyên Quang. Không lo giặc phục kích nhưng lo máy bay ném bom. Mấy anh em đạp xe rạc cẳng. Anh Ngạn đạp khỏe, có lúc vượt xe chúng tôi. Tối ấy ngủ ở chợ Mãn Đức. Sáng sau tới dốc Cun, gặp mấy quả bom chưa nổ, nằm chềnh ềnh như lợn ngủ giữa đường. Đường bị bom phá nhiều lần, đắp vá nham nhở, xe đạp khó lách qua. Ba bốn anh em phải vác xe chạy bộ gần chỗ bom nằm, không biết nó nổ lúc nào. Nhọc thở hơi tai. Phải kiếm cành cây rậm lá buộc vào sau xe làm phanh phụ rồi tuột xuống dốc, bùi tung mù mịt. Má phanh chính bị bóp liên tục, xát vành xe khét lẹt, xe vẫn tuột nhanh. Nhiều lúc phải đạp dép vào lốp cho xe chậm bớt. Đường dốc cũng sợ như bom chưa nổ. Lên Phú Thọ, gặp xe Môlôtôva, vẫy đi nhờ, được ngay cả người lẫn xe đạp. Nghĩ bụng: vùng tự do sướng thật. Anh Ngạn nói vui: - Cái mùi xăng của xe ta không khét như xe tăng của Pháp, các cậu thấy không? Rồi anh cùng chúng tôi cười khà. Xe chạy vừa phải, tôi ngắm núi ngắm đồi, nước suối trong, hoa chuối đỏ, sướng mắt. Một lúc lâu, quay lại nhìn nhau thấy bụi đường bám trắng tóc, trắng áo, vẫn cứ thích thú, người nhẹ lâng lâng. Tới cơ quan Trung ương, anh Ngạn vào chào Bác Hồ. Tôi cùng đồng chí bảo vệ đứng gần nhìn lại, thấy Bác bước sóng đôi bên anh, thân ái, bình dị, vừa đi vừa hỏi chuyện. Mấy ngày sau, ông Nam lên, khỏi sốt, mừng lắm. Trong lúc anh Ngạn vào họp, ông Nam đến chỗ anh Tố Hữu xin máy chiếu phim…”. Nói tới đây anh Thứ ngừng lời, nhìn tôi, ý bảo kể tiếp. Tôi liền vào chuyện: - Xin máy chiếu phim không dễ, vì máy quá ít, Liên Xô, Trung Quốc gúip một số máy, ưu tiên phục vụ bộ đội. Anh Tố Hữu bảo: - Khu Tả Ngạn xa xôi, chiến đấu gian khổ sẽ được ưu tiên môt máy! Máy phải có xe chở về, chứ khiêng vác sao nổi. Tôi nghĩ đến chuyện xin xe. Anh em văn phòng Trung ương gọi ý đến xin anh Đinh Đức Thiện, Tổng cục Hậu cần. Máy về Xích Thổ, rồi từ đó sẽ tìm cách chuyển về Tà Ngạn. Tôi đến chỗ anh Thiện, trình bày lí do xin xe. Anh vừa nghe vừa chăm chắm nhìn tôi, như để thấy từng nét gian khổ trên gương mặt con người vừa mới từ vùng địch hậu ra. Với giọng chân mộc nhưng thân ái, anh nói: - Mày về bảo thằng Mười nộp vượt mức thuế nông nghiệp, bộ đội ăn no, tao cho mượn xe jeep! Tôi cười tỏ ý tiếp nhận lời anh. Bỗng nhớ tới một nét gian nan thiếu thốn của vùng Tả Ngạn, anh Thiện nói: - Cái máy chữ của khu mày mất chữ K phải thay bằng chữ Rđúng không? “Kênh Kem” mà đánh thành “Rênh Rem”, “khó khăn” thì đánh thành “Rhó Rhăn”, đọc tức cả mắt. Máy với móc, như Rái Ron Róc Rhô! Ông nói vậy mà mặt cứ tỉnh như không. Mình cố nhịn vẫn phải phì cười. Ông lại bảo: - Tao có máy chữ còn mới, lấy không? Tôi đáp: - Dưới ấy đã có máy mới, chiến lợi phẩm thu ơ đồn giặc! Ông cười: - Vậy à! Rồi khen: Tốt! Sau mỗi buổi họp, anh Ngạn đưa tài liệu cho tôi bảo: - Cậu ghi tóm tắt, ghi mật ngữ, lấy những điểm chính. Họp xong phải trả tài liệu cho bảo mật đấy! Có một buổi anh Ngạn bảo Thứ và tôi sang chỗ anh Võ Nguyên Giáp. Đường từ bản này sang bản ấy quanh co, lên dốc, xuống dốc gập ghềnh. Người liên lạc đưa qua một con suối cạn, leo một sườn đồi đến chỗ anh Giáp. Đã hẹn trước, anh Giáp ra cửa đón. Anh ngạn giơ tay chào. Anh Giáp chào lại, bắt tay, cười: - Ông tướng du kích ơi, ông chào không đúng kiểu! Rồi hai anh cùng cười. Anh Ngạn họp xong, lên xe jeep về trước cùng anh Triệu và cái máy chiếu phim, vài hộp phim và cuốn họa báo. Tôi và anh Thứ đi xe đạp sau. Trên đường về tình cờ lại gặp ông chú tôi, nhà ở gần thị xã Tuyên Quang. Ngày tết, đồng bào dân tộc máy áo dài, váy rộng, đeo vòng bạc, xòe ô xanh đỏ. Ngươi Kinh cũng như người Thái, người Tày, ríu rít mừng tuổi, chúc nhau. Tiếng cười vui của bà con ngày tết khiến mình nhớ nhà, nhớ quê. Chúng tôi hỏi nhau: “Bao giờ dân Tả Ngạn mình được đón tết, mừng xuân như ở đây?”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:51:54 am LỰC LƯỢNG ÍT NHƯNG HIÊU QUẢ LỚN Hôm ấy trời rét, anh Đặng Kinh cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh đến đúng giờ. Anh Ngạn đang viết liền ngừng bút, đứng dậy bước mấy bước ra cửa, hai bàn tay to rộng vỗ bộp vào đôi vai cũng to rộng của đồng chí tỉnh đội trưởng miền biển. Anh Kinh từ Kiến An vượt qua mấy con sông sang đây, trực tiếp nghe chỉ thị của bí thư Khu ủy. Song anh Ngan không nói ngay mà hỏi: - Kiến An sẽ làm gì để thực hện nghị quyết của Khu ủy về đánh sâu vào vùng địch? Các đồng chí tập kích thị xã, tập kích Sở Dầu có kết quả, bây giờ làm gì? Anh Kinh báo cáo: - Trận đánh sân bay Đồ Sơn đạt yêu cầu khiến chúng tôi củng cố thêm ý định đánh sân bay Cát Bi! Anh Ngạn hỏi: - Các đồng chí đã chuẩn bị những gì cho trận đánh mới? Anh Kinh đáp: - Từ tháng 7-1953, tỉnh đội cho tổ trinh sát và điều tra tình hình sân bay. Anh em vợt khó khăn, từ Đồ Sơn vòng đường biển vào Đình Vũ, rồi lội tám kilômét bãi lầy và sông ngòi, thâm nhập sân bay, song chưa xây dựng được cơ sở nhân dân nên không chỗ đứng. Sau đó chuyển sang xã Hòa Nghĩa gây cơ sở, tạo được bàn đạp. Nhiều đêm vượt sông Lạch Tray vào sây bay điều tra, gần sáng rút về hầm bí mật. Anh em vẽ sơ đồ sây bay và nắm được sự bố phòng của địch. Lại liên lạc với một nhân viên làm việc ở sân bay, lấy được bản đồ chính thức. Các nguồn tin điều tra cho hay: sân bay lúc này có 277 chiếc máy bay, 700 phi công, thợ máy… và 44 cố vấn Mỹ. Lực lượng bảo vệ gồm bốn tiểu đoàn Âu - Phi, hai tiểu đoàn ngụy, một đại đội do thám, do một thiếu tướng Pháp chỉ huy. Địch phòng thủ khá dày: 22 vị trí ngoài hàng rào quanh sân bay, 38 vị trí trong hàng rào, 13 vị trí trọng liên phòng không. Lính Âu - Phi canh gác sát nơi máy bay đậu. Sáu hàng rào thép gai dày sít, treo ống bơ và cài mìn, 2.000 đèn điện và 22 đèn pha chiếu sáng suốt đêm. Từng trung đội Âu - Phi luân phiên tuần tiễu quanh sân bay với xe cơ giới và chó săn. Biển, sông bao bọc ba mặt sân bay, người thường không thể tới gần… Coi trọng xây dựng cơ sở ven sân bay, tỉnh giao cho huyện ủy Kiến thụy phụ trách. Hai huyện ủy viên bám xã cùng số anh em võ trang tuyên truyền được lựa chọn làm việc này. Nhân dân sợ giặc khủng bố, anh em thuyết phục để bà con giúp đỡ, đào hầm bí mật, đủ cho 130 chiến sĩ ẩn nấp trước và sau trận đánh. Tỉnh đội trưởng trực tiếp chỉ huy, sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh, bảo đảm đánh thắng. Nghe xong, anh Ngạn đặt ra những câu hỏi từ tổng quát đến chi tiết nhằm giúp cho kế hoạch hoàn thiện hơn. Sau khi các đồng chí trong Bộ tư lệnh góp ý, anh Ngạn nhận xét: - Sự chuẩn bị về mọi mặt như thế là công phu. Từ xây dựng cơ sở đến điều tra thực địa, từ hình thành ý định đến tổ chức lực lượng chiến đấu, luyện sức khỏe và tập huấn kĩ thuật cho bộ đội, v.v. các đồng chí đã rút kinh nghiệm từ mấy trận đánh trước để vận dụng vào trận này. Tôi đồng ý với nhiệm vụ và mục tiêu để ra, nhưng phải cân nhắc thật kĩ hai điểm: 1) Tìm cách dùng lực lượng ít nhưng hiệu quả chiến đấu lớn; 2) Đánh nhanh rồi rút nhanh, bảo toàn lực lượng. Trận này thắng sẽ góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ quân sự Đông - Xuân 1953-1954, phối hợp đắc lực với chiến trường chính và góp phần đánh bại kế hoạch Nava. Tiếp nhận ý kiến bí thư Khu ủy, anh Kinh trở về cùng các đồng chí hữu quan tìm cách bổ sung kế hoạch đánh địch. Tỉnh ủy Kiến An nhấn mạnh vào những người ch trận đánh là “phải tuyệt đối giữ bí mật, lọt vào tay địch cũng không để lộ”. Thế nhưng khi chuẩn bị đã đạt yêu cần thì địch càn quét, bắt hai huyện ủy viên tại cơ sở. Một đồng chí tự sát. Một đồng chí bị tra tấn đến chết không khai. Tiếp đó, địch bắt hai đồng chí nữa ở hầm bí mật. Các hầm khác bị phá gần hết. Một số đảng viên, nhân dân bị sát hại. Sau đó, tỉnh, huyện phải cử thêm cán bộ xuống xã vận động nhân dân và đảng viên làm lại nhiều việc cho cuộc tiến công. Rất may là ý đồng đánh sân bay vẫn còn được giữ kín. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:52:57 am GẶP TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG 42 Anh Phạm Gia Tuân tổng hợp dư luận qua đài báo phương Tây và báo cáo với bí thư Khu ủy: - Mỹ có ý muốn thay thế Pháp đóng vai trò chính ở Đông Dương. Do đó, Mỹ không muốn để mất Đông Dương bằng cách tăng viện trợ quân sự cho Pháp. Tàu Mỹ liên tiếp chở máy bay, vũ khí, thuốc men vào cảng Hải Phòng, nên đường 5 và đường sắt Hải Phòng - Hà Nội nhộn nhịp tàu xe hơn bất cứ thời gian nào trước đây. Khu ủy và Bộ tư lệnh Tả Ngạn chủ trương “cắt đứt cổ họng của địch, bằng cách đánh mạnh các đường giao thông thủy, bộ và hạn chế tối đa vận chuyển đường không. Bí thư sang Hưng Yên gặp anh Nguyễn Như Thiết, trực tiếp nghe tình hình chiến đấu của Trung đoàn 42. Anh Thiết được bí thư biết từ hồi còn Chiến khu III (năm 1946). Thiết đã từng tham gia Việt Minh khu Bãi Sậy (Hưng Yên), đóng tỉa lính bảo an của Nhật, tiến vào sân đồn Bần. Anh em cơ sở ta trong đồn phối hợp uy hiếp lính Pháp, khi chúng hoang mang vì Nhật đảo chính ở Hà Nội. Tên quản Pháp và trung đội lính đồn bỏ chạy hoặc hàng. Ta an toàn, thu 26 súng. Tới những năm gần đây anh giữ trọng trách trung đoàn trưởng kiêm chính ủy, được cấp trên và cán bộ, chiến sĩ tin cậy. Gần đây nhất Trung đoàn của anh nhận chỉ thị: đánh phá mạnh tuyến đường 5, đường sắt, làm cho địch khó thực hiện được viẹc tiếp tế từ quân cảng Hải Phòng vào Hà Nội để tiếp viện cho Điện Biên Phủ và Thượng Lào. Anh Thiết báo cáo: từ ngay 1 đến 12-1-1954, tướng Cônhi dùng hai GM 3 và 8 cùng ba tiểu đoàn khác mở trận càn “Angiêri”, ở phần lớn các huyện Tiên Lữ, Phù Cừ, nam Thanh Miện, tây Ninh Giang, nhằm xua giản lực lượng vũ trang ta, nhất là trung đoàn 42, giải tỏa các đồn bốt đang bị ta uy hiếp và tăng cường phòng ngự đường 5, đường sắt. Trung đoàn và bộ đội tỉnh, huyện vẫn nhằm hướng đường 5, tiếp tục chuẩn bị hoạt động mạnh. Chỉ để một bộ phận bộ đội huyện và du kích chống càn. Anh em đánh chông, mìn, đạp lôi có hiệu quả. Địch dùng máy bay bắn phá nhiều nơi. Sau đó, Tiểu đoàn 664 và Đại đội 200 trợ chiến được đưa vào vòng càn đánh địch. Có một tiểu đoàn địch đóng quân ở làng Hải Yến (Tiên Lữ). Chúng luôn thay đổi và giữ bí mật những chỗ đóng quân trong xóm ngõ quanh co. Ta có tổ du kích do một thôn đội trưởng từ hầm lên dẫn đường, nhưng không đủ đáp ứn nhiều mũi của quân ta. Mặc đêm tối, mưa rét, đường trơn, đơn vị do đại đội trưởng Nguyễn Văn Lợi chỉ huy mở nhiều mũi vào làng, chưa tìm thấy nơi địch đóng. Đại đội trưởng Lê Huy Vinh chỉ huy một tiểu đội dũng cảm tiến vào tìm địch, bị địch nổ súng liên thanh. Vinh trúng thương nhưng nhận ra vị trí địch và tiến đanh. Ở đâu đó địch còn im lặng cũng buộc phải nổ súng. Các mũi của ta liên tiếp chiến đấu. Địch bị chết và chạy trốn một bộ phận, số còn lại dựa vào nhà gạch, tường xây, chống trả ta. Ta đánh giáp lá cà bằng lựu đạn, lưởi lê, rồi dùng bộc phá đánh đổ căn nhà đạt sở chỉ huy của dịch. Kết quả địch chết và bị thương 250 tên, bị bắt 60 tên, số ít trốn chạy. Chúng phải kết thúc trận càn “Angiêri”. Bí thư hào hứng nghe tường thuật trận dánh mạnh bạo, đúng với tinh thần “Tìm địch mà đánh”. Nguyễn Như Thiết báo cáo tiếp: kế đó, Tiểu đoàn 664 cùng đại đội 61 (Thuộc tiểu đoàn 652) đánh đồn La Tiến. Đồn này khét tiếng tàn ác, dùng dây thép xâu bàn tay hàng chục, hàng trăm người đẩy xuống sông Luộc cho chết chìm. Hơn 1.000 cán bộ, đồng bào ta lần lượt bị hại ở đây. Nó là một “điểm cứng”, có nhiều ụ súng nửa ngầm nửa nổi, nhiều hàng rào thép gai chằng chịt và bãi mìn dày đặc, với một đo được tăng cường hỏa khí. Quân ta do trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy, Đảng ủy Trung đoàn đã mời đại biểu nhân dân đến đơn vị tố cáo tội ác giặc, nhằm nung nấu chí căm thù trong cán bộ, chiến sĩ trước giờ vào trận. Rạng sáng 31-1-1954, ta nô súng. Địch chống trả dữ dội ở khu cố thủ. Đồng chí Lê Văn Nổ, chiến sĩ thi đua, cùng tiểu đội dùng tới quả bộc phá cuối cùng, dập tắt sự ngoan cố của chúng. Đồn La Tiến cùng 150 tên địch bị tiêu diệt. Cùng thời gian, lực lượng vũ trang Hưng Yên, Hải Dương đánh liên tục vào đường 5, đường sắt, lật đổ 14 đoàn tàu, 12 xe cơ giới. Đạt hiệu quả cao nhất là trận đánh do đồng chí Nguyễn Văn Thỏa chỉ huy gần ga Phạm Xá, khiến cả một đơn vị vừa từ Pháp sang gồm 1.017 tên bị chết và thương. Bí thư Khu ủy khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 42 và các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương. Đồng chí cho hay Bộ Chính trị có chỉ thị: “Cần mở đợt hoạt động ở Tả Ngạn trong một thời gian dài với quy mô nhỏ, liên tiếp hoạt động, đnáh nhỏ ăn chắc, chủ yếu là đánh du kích, khong nên ham đánh công kiên, đánh vận động. Phải lợi dụng mọi cơ hội, phá hoại giao thông, kho tàng, đánh địa lôi, phá cầu đường, làm cản trở vận chuyển của địch. Việt Bắc và Tả Ngạn phối hợp chặt chẽ để mở rộng hoạt động trên đường 5 trong một thời gian dài… đề phòng tư tưởng chuẩn bị đánh to vài trận rồi bộ đội đi nơi khác nghỉ ngơi”. Thi hành chỉ thị trên, Khu ủy và Bộ tư lệnh Tả Ngạn giao cho Trung đoàn 42 và Hưng Yên, Hải Dương những nhiệm vụ mới, trong đó có đợt tổng công kich đường sắt, đường 5 vào đêm 13-1-1954, lập công giòn giã, thiết thực phối hợp với chiến trường chính. Bí thư nắm chặt tay Nguyễn Như Thiết, dặn dò thêm: - Cố gắng thật cao, đánh địch nhiều hiệu quả nhưng ta ít tổn thất. Kịp thời rút ra nhưng cách đánh hay để phát huy, chỉ ra những khuyết, nhược điểm để tránh. Những gương chiến đấu dũng cảm, mưu trí cần được biểu dương kịp thời trên bản tin của Trung đoàn và báo Cứu quốc Tả Ngạn. Lập công xuất sắc để góp phần đập tan “Kế hoạch Nava”. Ngay sau khi rời sở chỉ huy Trung đoàn 42, bí thư đến nơi là việc của tỉnh ủy Hưng Yên, trực tiếp nghe báo cáo và truyền đạt chỉ thị. Theo chủ trương công tác đã định, đồng chí còn đến gặp lãnh đạo tỉnh Hải Dương ở một nơi thuộc huyện Thanh Miện. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:53:35 am THÁI BÌNH LÀ CON SƯ TỬ NGỦ Tháng 2-1954, sau trận càn “Diều Hâu” vài tuần, các lực lượng vũ trang Thái Bình lại lần lượt tiến lên vây ép các đồn địch. Số đồn đó co lại bám các trục quốc lộ. Du kích các xã gần đồn vây ép địch với mức độ cao và nhiều cách. Họ thay phiên nhau vừa sản xuất vừa bao vây địch. Đến gần các đồn gọi loa, hát những bài ai oán, làm mềm lòng bọn lính ngụy xa nhà, xa vợ. Đào hào giao thông vào sát hàng rào, gỡ mìn, gỡ dây thép gai, bắn lính gác. Chặn đường tiếp tế, bắn máy bay thả dù. Lính địch không ra ngoài được, râu tóc rậm rịt, tinh thần hoang mang. Lính đồn Cầu Vật (Quỳnh Côi) đang chào cờ, du kích bắn chết tên đồn trưởng. Đồn Cầu Sắt (Thái Ninh) có dòng sông nhỏ chảy bên, du kích đắp đập chặn hai đầu, đổ mọi thứ xuống làm bẩn nguồn nước, khiến địch không có nước ăn uống, tắm giặt, phải tiếp tế bằng máy bay. Đồn Nê (Kiến Xương) là sở chỉ huy tiểu đoàn quân Liên hiệp Pháp cũng bị du kích xã và bộ đội huyện vây nhiều ngày liền. GM 8 được ém lại Thái Bình sau trận càn “Diều Hâu” nhằm bảo vệ thị xã và đường 10, đường 39. Chúng mở càn nhỏ ba ngày vào năm xã bắc Thư Trì, phá đập chùa Đức Hiệp và nhà thờ họ giáo Tân Mỹ. Dân quân du kích đánh địch chết và bị thương 257 tên. Riêng chông, mìn, đã loai khỏi vòng chiến 110 tên. Tiểu đội du kích thiếu niên xã Hiệp Hòa đánh hai quả mìn, sáu bàn chông, loại 10 tên địch. Đêm chúng đóng tại làng xóm liền bị tập kích. bộ đội tỉnh, huyện kịp thời chuyển ra đánh địch sát thị xã và đường 10, khiến chúng phải bỏ càn, rút đi đối phó. GM 8 không quên càn làng Nguyễn năm ngày, bắt đầu từ 20-12-1954. Chúng quyết tâm phán tan làng, đuổi hết dân, để hiểm họa xảy từ đây. Làng Nguyễn còn 80 du kích với 12 súng trường và nhiều chông, mìn, lựu đạn. Trước đây hai tháng, vào cuối năm 1953, làng Nguyễn đã đương đầu với GM 5, lúc này chống chọi 1.700 lính GM 8. Du kích gỡ mìn ở quanh đồn Nguyễn, đem về kết hợp với chông sát, đặt ở ven Cầu Mới và miếu Bảo Mẫu Đại Vương, nơi địch thường tụ tập trước khi vào làng. Chông, mìn còn đặt ở các lối đường thôn. Địch tràn tới, mìn nổ, chạy quánh quàng, thụt hố chông, chết và bị thương gần 60 tên, có quan ba Pháp. Để trả thù, địch đốt cả những lều lán đã chuyển ra ở ven đồng làng, dội xăng thiêu nốt ngôi đình Thượng bảy gian, to nhất vùng và đình Đoài năm gian. Chúng dùng mìn phá bia Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương, lật cả văn chỉ thờ Khỏng Tử, chùa chiền thờ Phật. Đây là lần thứ năm giặc đốt sạch, phá sạch làng Nguyễn. Trong trận càn này, dân làng Nguyễn tản cư sang các xã bên. Có một du kích hi sinh, hai bị thương. Bất chấp GM 8 còn có mặt, Thái Bình mở đợt hoạt động mạnh suốt tháng 2-1954. Khi quân GM mở hai trận càn kể trên, thì các lực lượng vũ trang Thái Bình đã đánh 141 trận càn lớn nhỏ ở nhiều nơi khác, loại khỏi vòng chiến 759 tên, phá 11 xe (có hai xe tăng), bốn khẩu pháo (có hai khẩu 105 li). Những kết quả trên được đưa vào báo cáo “Tháng hoạt động mạnh” gửi lên Trung ương và Khu ủy Tả Ngạn. Sau chuyến sang bắc sông Luộc trở về, anh Ngạn dọc một mạch hết bản báo cáo rồi hỉ hả bảo tôi: “Cái tỉnh Thái Bình này như con sư tử ngủ, nó thức dậy là rung chuyển một vùng. Hồi trước cách mạng, mình đã nghe các đồng chí lãnh đạo khen ngợi cuộc biểu tình của nông dân Tiền Hải, khen Thái Bình là tỉnh có phong trào đấu tranh mạnh nhất Bắc Kỳ”. Ngừng một lát, anh nói về đồng chí Lê Tự: “Ông này quê ở Hưng Yên, là học sinh trường Bưởi. Nhà khá giả những sớm thành cơ sở cách mạng. Khi Nhật hàng đồng minh, ông ấy đưa quần chúng vào giành chính quyền huyện Yên Mỹ, rồi được cửa làm chủ tịch huyện. Là một trí thức, qua những công tác khác nhau rồi làm trưởng phòng địch vận Liên khu III. Năm 1951 về Thái Bình làm bí thư tỉnh ủy thay anh Đặng Tính. Làm việc sâu sát cơ sở, có sáng kiến, biết kịp thời tổng kết để chuyển biến và phát triển phong trào”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:54:10 am “ĐOÀN DŨNG SĨ CÁT BI” Những người đã hi sinh cho việc chuẩn bị đánh sân bay Cát Bi không bị phụ công. Họ đã được những người còn sống kế tục xứng đáng. Sau một thời gian thận trọng và khẩn trương bổ sung kế hoạch tiến công, theo tinh thần chỉ thị của bí thư Khu ủy: dùng một lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, bí mật, bất ngờ, đánh mạnh, phá hoại lớn, bảo toàn lực lượng, rút về căn cứ trước khi trời sáng. Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh trực tiếp chỉ huy những việc quyết tâm. Chọn 32 cán bộ, chiến sĩ có quyết tâm cao, nhiều thử thách để trực tiếp đánh vào sân bay. Huấn luyện thành thục về hành quân chạy gấp, tập bơi mang vũ theo vũ khí, bộc phá khong để ướt, tập cắt rào, gỡ mìn khi đèn địch chiếu sáng, tập cách đánh máy bay bằng bộc phá. Mỗi người được phát phao bơi, vải nhựa để vượt hai sông rộng, không thể dùng thuyền. Riêng sông Văn Úc có thuyền, phải đảm bảo đón anh em đi về, mặc trời sáng. Bố trí một số đơn vị kiềm chế địch ở những đồn lân cận để quân ta tiến và rút. Sẵn sàng đánh ca nô, tàu chiến địch trên sông… Để rút kinh nghiệm thực tế, trước đó Kiến An đã đánh sân bay Đồ Sơn. Một số anh em sẽ đánh Cát Bi vào “thực tập” ở Đồ Sơn: phá máy bay, diệt sở chỉ huy địch. Thực tế đã giải đáp những câu hỏi về cách đánh, củng cố niềm tin có thể đánh chắc thắng. Trước định dùng năm kilôgam thuốc nổ phá một máy bay, sau thấy chỉ cần hai kilôgam. Một người có thể mang số thuốc nổ phá ba máy bay, đáp ứng yêu cầu: người ít, phá hoại nhiều. Cuối tháng 2-1954, anh Kinh lên báo cáo với Bộ tư lệnh khu, xác định số quân đánh là 32 cán bộ, chiến sĩ. Các đồng chí trong bộ tư lệnh nhất trí với sự chuẩn bị của Kiến An. Chính ủy giao chỉ tiêu: - Phá hủy từ 50 máy bay địch trở lên. Mỗi máy bay bị phá hủy coi như diệt một trung đội địch. 50 máy bay bằng 50 trung đội, tức hai trung đoàn địch. Đánh giỏi, phải bảo toàn lực lượng, rút nhanh và thật xa, không để địch gây tổn thất! Anh Kinh đề nghị cùng vào đánh với anh em. Chính ủy bảo: - Nhiệm vụ của đồng chí là chỉ đạo trận đánh từ đầu đến cuối, đảm bảo chắc thắng. 32 cán bộ, chiến sĩ được tuyển lựa trực tiếp đánh là đủ! 6 giờ tối 5-3, đơn vị đánh Cát Bi do các đồng chí Lê Thừa Giao, Đỗ Tất Yến nhận lệnh xuất quân. Anh Dương Hữu Miên, phó tư lệnh khu, các đồng chí thường vụ tỉnh ủy Kiến An và đồng chí Đặng Kinh trực tiếp động viên, giao nhiệm vụ cho anh em. Đêm ấy, các cơ sở ở xã Hoàn Nghĩa, đón bộ đội vào các hầm bí mật. Đồng bào tiếp tế cơm nước, anh em nghỉ ngơi một ngày, chờ trời tối đi chiến đấu. Đêm sau, anh em rời hầm luồn lách qua nhiều bốt gác, tháp canh, vượt bãi lầy và ngòi lạch, tiến vào sân bay sáng quắc và đầy nguy hiểm. Mũi thứ nhất vượt qua mọi khó khăn, đột nhập sân bay. Mũi thứ hai mở liên tiếp được năm hàng rào thì gặp hồ sâu, bèo kín đặc, không thể vượt qua, phải lộn lại theo đường của mũi thứ nhất, một trục trặc không ngờ. Một giờ sáng ngày 7-3, tiếng bộc phá nổ dữ dội, máy bay địch bốc cháy, lan nhanh từ cái nọ sang cái kia. Bọn linh Âu - Phi tuần đêm và bọn gác nơi máy bay đậu nhanh chóng bị diệt. Xe bọc thép lượn quanh, bọn lính bảo vệ vòng ngoài đổ ra bao vây thì đã muộn. Quân ta rút nhanh ra ngoài, qua sông Văn Úc an toàn. Một số thương binh được bà con cơ sở giữ lại và che chở chu đáo. Anh Kinh lên khu lược thuật trận đánh Cát Bi với Bộ tư lệnh và báo cáo tin vui: - Bác Hồ có điên kịp thời khen quân dân Kiến An, tặng đơn vị đánh sân bay danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Chính phủ thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đoàn dũng sĩ Cát Bi; Huân chương Quân công hạng hai cho người chỉ đạo chuẩn bị trận đánh; Huân chương Quân công hạng ba cho hai chiến sĩ quân báo, và tặng tất cả các chiến sĩ trong Đoàn dũng sĩ Huân chương Chiến công hạng nhất… Chính ủy phấn khởi nói: - Các đồng chí có công trong trận Cát Bi rất xứng đáng được Bá Hồ và Chính phủ khen thưởng. Đồng bào cơ sở trong vùng địch tạm chiếm giúp đỡ bộ đội; các cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích phối hợp ở ngoại tuyến; các đồng chí huyện ủy viên và cán bộ thâm nhập vùng địch chiếm xây dựng cơ sở bí mật để bộ đội có chỗ đứng đánh giặc; các đồng chí, đồng bào bị địch tra tấn dẫu phải hi sinh cũng quyết giữ bí mật cho trận đánh; cả những người chở thuyền cho bộ đội vượt sông, đều xứng đáng ghi công. Đó là biểu hiện rất cao, rất sáng của kháng chiến toàn dân, toàn diện. Hiện nay, các chiến trường chính đang và sẽ mở. Một trong những con đường tiếp tế quân lính và vũ khí của địch ra chiến trường để đối phó với ta là đường không. Ta đánh Cát Bi là đánh vào đôi cánh của địch. Bến cảng Hải Phòng là nơi nhận quân, nhận súng của Pháp, nhận viện trợ quân sự của Mỹ, sẽ không ít khó khăn khi chuyển ra chiến trường cho địch. Giá trị của trận Cát Bi là rất lớn, ta chưa lường hết. Chúng ta sẽ phải đánh tiếp những trận phá hoại đích đáng như thế cả ở trên bộ, trên sông, đường 5, đường sắt… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:55:14 am BÁT CANH RAU CẦN Hôm nay chủ nhật, không hẹn ai đến làm việc, anh Ngạn đọc báo, nghe đài. Chúng tôi xúm vào nhặt rau cần giúp cấp dưỡng Nghị. Nhìn rau cần lại nhớ cái dạo anh Ngạn ốm. Anh khỏe như thế mà cũng bị một trận ốm khá nặng. Hậu quả của sự làm việc quên giờ giấc, không xem đồng hồ. Có lần anh truyền đạt nghị quyết Khu ủy với các ngành, các tỉnh, nói một mạch từ ba giờ đến quá năm giờ chiều. tôi giơ cổ tay lên xem đồng hồ, cố ý để anh thấy. Nhưng anh quá tập trung vào nói, chẳng để ý tới chung quanh. Anh Thái (Tiệm), bí thư Hưng Yên, vốn tính ngang tàng, “lắm ý kiến”, nhưng khi nghe truyền đạt nghị quyết cũng chăm chú và ghi mải miết như mọi người, do đó không ai nhắc nhở anh Ngạn… thấy anh vẫn nói thao thao bất tận, tôi sợ cả anh lẫn mọi người đều mệt, liền chìa tay ra phía trước tháo đồng hồ, lên dây cót xẹt xẹt. Khi ấy anh mới hỏi: - Mệt à? Thì giải lao một lúc! Tôi vội nói: - Anh cho nghỉ ăn cơm luôn là vừa. Anh bảo: - Đã ăn cơm cơ à? Sớm Thế? Anh Thái (Tiệm) giơ hẳn đồng hồ lên huơ đi huơ lại: - 5 giờ 25. Nghỉ thôi! Mọi người cười xòa. Anh Ngạn lo và làm. Lo đánh giặc, lo sản xuất, chống đói. Lo chống lụt giữ đê, lo trẻ con dịch đậu mùa. Lo cho các cụ già có con là liệt sĩ, thương binh. Lo nông dân chưa có ruộng cấy, trâu cày. Lo giặc phá lúa, đốt thóc, dồn làng, đuổi dân. Lo cơm ăn, áo mặc và súng đạn cho bộ đội. Có lúc lo mìn, lựu đạn cho du kích. Có cả nỗi lo cho người vợ nhỏ nhắn của mình cũng như bao người phu nữ khác, mỗi khi giặc càn. Bác Hồ và Đảng lo cho toàn dân, toàn quân, toàn quốc. Anh lo trong nỗi lo to lớn, rộng khắp của Bác và Đảng, trong một vùng địch hậu đầy gian nan nguy hiểm. Vì thế anh ốm, đêm không ngủ, trong đầu như có cả một đàn ve kêu, mắt trũng sâu, gò má nhô cao, ăn không thấy ngon, tuy cấp dưỡng Nghị cố làm cơm nóng canh ngọt. Anh bảo chúng tôi đừng nói với Trung ương là anh ốm nặng. Anh nhờ đồng chí Thứ sang Trác Bút (Hà Nam) tới cơ sở cũ của anh mua thuốc viên về uống. Ông bác sĩ Mạo, người Hếu, công tác ở bộ phận dân y, được tìm sang chữa cho anh. Ông có bộ đồ nghe tim, phổi, là y cụ tối tân lúc này. Ông nghe ngực rồi nghe lưng, rồi dùng tay sờ nắn bụng trên, bụng dưới, chẳng tìm ra và chẳng dám kết luấn anh mắc bệnh gì. Ông chỉ tiêm trợ lực và cho mấy viên B1. Bệnh không giảm, ông đem mấy viên thuốc mau bên Hà Nam ra xem bằng mắt thường, rồi lẩm bẩm: “Có lẽ ốm vì cái thuốc vớ vẩn này!”. Anh ốm nhưng có những việc quan trọng, các cơ quan khu vẫn đến xin ý kiến anh. Anh vẫn phải lo và làm việc, tuy ít. Trung ương được tin anh ốm, cử bác sĩ Khuê theo đường dây vượt sông Hồng vào điều trị. Bác Hồ và anh Phạm Văn Đồng chỉ thị cho Khu ủy và bí thư chi bộ văn phòng, rằng không để anh làm việc khi ốm. Được các bác sĩ Khuê và Mạo hợp lực chữa bệnh, anh Ngạn dần dần thuyên giảm. Bệnh của anh là do làm việc quá sức chịu đựng của cơ thể. Anh cần được điều trị đúng phương pháp, nghỉ ngơi một thời gian để phục hồi sức khỏe. Giữa lúc ấy có tin giặc càn Quỳnh Côi, nơi anh Ngạn đang ở. Anh Thứ cùng tổ bảo vệ chuyển anh xuống Cổ Lũng (Thái Ninh). Đi đường thấy những ao rau cần xanh mượt, bỗng anh thèm rau. Tới cơ sở, anh bảo Thứ mua rau đem về nhặt rễ, tuốt lá già. Tôi nghe nói: rau cần chỉ nhiều nước, lắm xơ, không chất bổ, lại mọc ở ao bùn, người ốm ăn có thể ốm thêm. Tôi không cho cấp dưỡng nấu rau. Đến bữa ăn, anh hỏi: - Rau cần đâu? Thứ nói: - Anh Nam bảo không nên ăn rau cần. Anh Ngạn phát bực hỏi tôi: - Sao cậu không cho mình ăn rau? Tôi trình bày lí do. Anh không nói gì, quay đi. Mấy hôm sau đỡ mệt, anh ôn tồn bảo tôi: Ca do có câu: Con gái mà gả chồng gần. Dẫu bát canh cần nó cũng đem cho. Có nghĩa canh cần là thứ xoàng xĩnh. Nhưng cậu chưa biết kinh nghiệm dân gian: thèm thứ gì được ăn thứ ấy cũng giúp cho khỏi ốm. Đúng không? Anh nói rồi mỉm cười. Nơi đây khá xa vùng địch chiếm, anh Thứ có thể bắn chim cu gáy để anh em thêm chất tươi. Anh Ngạn bảo: “Phải tiết kiệm đạn!”. Vì thế lâu lâu, Thứ mới xách súng ra bờ tre ven sông Trà Lý bắn một vài con, đem về, cấp dưỡng Nghị mừng lắm, kịp thời vặt lông. Anh Ngạn thấy thế bảo: - Bớt ra một con tặng anh Bính. Anh ấy ốm o, gày còm lắm! Anh Bính, tỉnh ủy viên Thái Bình, được chúng tôi tặng con chim hầm với đậu xanh. Anh không ăn được nhưng cảm on cảm huệ mãi. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:58:05 am THÁNG HỮU NGHỊ VIỆT - TRUNG - XÔ Tháng Mười hằng năm có hai ngày kỉ niệm: Cách mạng Tháng Mười thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Thi hành chỉ thị của Trung ương về “Tháng hữu nghị Việt – Trung - Xô”, Khu ủy Tả Ngạn hướng dẫn các tỉnh, các trung đoàn tổ chức thực hiện, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hiểu về Liên Xô, Trung Quốc, tăng cường đoàn kết với hai nước bạn, đưa cuộc kháng chiến của ta lên những bước mới. Cơ quan tuyên truyền Văn nghệ các cấp phục vụ cho tháng hữu nghị bằng báo chí, tài liệu, truyền đơn, khẩu hiệu, dạy những bài hát có nội dung phù hợp, triển lãm sách báo, tranh ảnh của Liên Xô, Trung Quốc. Cả khu có một máy chiếu phim, mỗi tỉnh có một đèn chiếu ảnh, tặng phẩm của hai nước bạn gửi vào dịp này, được sử dụng hết công suất. Tôi được anh Ngạn bảo: - Chú Nam đi xem nhân dân ta hưởng ứng tháng hữu nghị thế nào? Huyện Hưng Nhân mở triển lãm Việt - Trung - Xô đoàn hết đấy. Nghe nói người ở Tiên Hưng, Duyên Hà, Quỳnh Côi lần lượt đến xem! Tôi cùng mấy đồng chí bảo vệ đi xem triển lãm ở một ngôi đình làng. Tranh Mác, Ăngghen, Lênin, Stalin, đặt chính diện trên cao. Bộ tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Malencốp, Mao Trạch Đông do các họa sĩ Huỳnh Văn Thuận và Quang Phòng ve và khắc gỗ tại Tả Ngạn treo kế cận. Một số hình ảnh về chiến đấu, sản xuất và xây dựng của ba nước treo chung quanh. Họa báo Liên Xô, Trung Quốc được trưng bày… Tôi thấy người xem, nhất là thanh niên, thiếu niên, biểu lộ cảm tình trước những hình ảnh gửi từ xa về và lần đầu tiên được thấy. Người phụ trách triển lãm cho biết ở Tiền Hải có một phòng tương tự để bà con ở vùng nam Trà Lý xem. Ty Tuyên truyền văn nghệ Thái Bình mở cuộc thi thơ nhằm chủ đề đoàn kết Việt - Trung - Xô, được hưởng ứng trong toàn tỉnh. Có cụ già làm thơ luật Đường với những câu mộc mạc nhưng chân thành: “Nay mừng hữu nghị Việt - Trung - Xô. Kính chúc Ma, Mao, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chí cả, tài cao, đoàn kết mạnh. Cho ba đất nước vững muôn thu”. Những bài thơ tốt được in đá thành tập mỏng, phát hành về xã… Tôi trở về báo cáo với anh Ngạn. Anh hỏi: - Hình thức còn nghèo, nhưng nội dung chân thực! Tối hôm ấy, vùng này có biểu diễn văn nghệ. Từ mấy tối trước đã nghe thanh niên, thiếu nhi ca vang xóm ngõ: “Đây Liên Xô vui hát trên đồng hoa. Đây Trung Hoa tiếng hát vui chan hòa…”. Anh Ngạn lại bảo chúng tôi ăn cơm sớm để tối đi xem biểu diễn văn nghệ. Anh nhắc tiểu đội bảo vệ: chia làm hai nhóm, vừa đảm bảo nhiệm vụ thường xuyên, vừa đi xem. Anh vui hẳn lên và nhắc nhở: có chèo “Cô gái Phong Châu” đấy. Xem cho tử tế, đừng lợi dụng chỗ đông người mà vờ vịt, vớ vẩn, nữ du kích nó bẻ gãy tay! Thấy mọi người tỏ ra thích thú, anh mỉm cười, quay vào nhà ngâm mấy câu Kiều: “Ba quân chỉ ngọn cờ đào. Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Truy”. Tiếng đồng ca ở trong làng vang vọng, khiến anh lại ra đầu nhà, vịn tay vào cây xoan, chăm chú nghe: “Ta á a dân cày, dân cày, ngày ngày cuốc đất trồng khoai, đêm đêm đi đánh giặc Tây, đánh giặc Tây…” nhạc của Trần Hoàn, lời của Giang Đức Tuệ. Anh hỏi chúng tôi: - Các cậu nghe con cháu hát không? Chúng tôi nao nức đi xem. Trên sân khấu kê cánh cửa đình làng, dưới ánh đèn “ba dây”, diễn hoạt cảnh “Việt - Trrung - Xô đoàn kết” của đội văn nghệ tỉnh Thái Bình. Đồng cà “Đảng lao động Việt Nam Đảng của chúng ta, vì cơm áo tự do…” nhạc của Lê Nhữ Tiệp. Đọc thơ “Thần Đầu, Thần Huống. Mấy lần Tây đến, mấy lần Tây đi. Tây đi du kích cười khì…” của Nắng Hồng. Đèn chiếu chiếu bộ ảnh liên hoàn “Khu gang thép Thạch Cảnh Sơn” của Trung Quốc; bộ ảnh “Nữ liệt sĩ Bùi Thị Cúc” của Văn nghệ khu. Thanh niên, thiếu nhi nam nữ, mặc váy áo may bằng vải dù của giặc, vừa nhảy chân sáo vừa ca: “Thắm thiết tình Việt – Trung - Xô. Đế quốc còn nhiều nỗi lo”. Nghệ sĩ Ngọc Reo độc tấu “Phá càn Con Trâu”, có câu “Nava mở trận Con Trâu. Con Trâu vỡ sọ; đau đầu Nava”… Người xem vỗ tay hào hứng, phần do nghệ sĩ tấu hay, phần do từ năm 1950 đếnn ay mới lại được xem văn nghệ sân đình. Chúng tôi về để nhóm thứ hai đi xem. Anh Ngạn đang đọc tiểu thuyết “Tỉnh ủy bí mật” dưới ánh đèn dầu, thấy chúng tôi về, anh hỏi: - Vui không? Tôi đáp: - Vui lắm ạ! Anh bảo: - Các cậu về coi nhà, tớ với anh em khác đi xem. Mấy ngày sau có báo cáo lên khu. Cuộc mít tinh mừng hữu nghị Việt - Trung - Xô dự kiến vai trăm người, nhưng đồng bào tới dự hàng nghìn. Tổ chức tại một làng thuộc nam huyện Thái Ninh. Trên lễ đài dựng bằng tre luồn có các đồng chí Lê Tự, bí thư tỉnh ủy kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh; Lý Anh Nghĩa, phó bí thư tỉnh ủy. Không có micơrô, đồng chí Ngô Nguyên Lăng, phó trưởng Ty Thông tin văn nghệ khỏe sức, nói to, cầm loa tuyên bố ý nghĩa cuộc mít tinh. Đồng bào vỗ tay vang dậy. Anh Ngạn rất vui khi đọc bản báo cáo. Anh bảo tôi: - Nhớ lại hai năm trước, khi mình sang Tả Ngạn, sau trận càn “Trái Quýt”, thấy hôm nay làng xóm vui hơn nhiều, ứng với thế kháng chiến ngày càng lên, thế địch ngày càng xuống, đúng không? Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:59:46 am GIÀNH DÂN, GIẬT ĐẤT Nằm trong âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, có trò lập trrại tập trung. Bọn ngụy quyền được Pháp giao làm việc này, huyênh hoang gọi là lập “đại xã”. Trò này nhằm biến dân thành lá chắn bảo vệ các trung tâm hành chính, quân sự, kinh tế của địch. Mặt khác để chúng dễ quản lí dân, dễ bắt lính, bắt phu, thu các thứ thuế và làm chiến tranh tâm lí… Nếu ta có bảo bối bám đất, bám dân, làm cơ sở tiến công địch toàn diện, thì chúng cũng nắm dân, giữ đất để chống ta. Ở những nơi đó thường xuyên có đội “gamô” đeo súng nhưng đánh bằng miệng lưỡi, tuyên truyền rầm rĩ cho trò bịp “Người Pháp trả độc lập cho người Nam”, “Nước Việt Nam có quốc trưởng Bảo Đại, có quân đội quốc gia”… Bọn ngụy nhận hàng viện trợ Mỹ phân phát cho một số người dân, coi như là đặc ân, đặc lợi do chúng mang lại. chung quanh “đại xã chúng rào dây thép gai, dựng đồ bốt, tháp canh để kiềm chế dân, nhưng lại nói là bảo vệ dân. Việc lập “đại xã” đặt ra đã lâu nhưng khó thực hiện, vì dân hiểu âm mưu đich, không muốn quê hương mình trở thành những tụ điểm chống lại kháng chiến. Đến lúc này địch làm mạnh hơn, nhằm dùng dân ngăn ngừa bộ đội tập kích thị xã. Cuối tháng 3-1954, tại Hưng Yên, chúng dồn dân lập trại ở gần đồn Dị Sử, dồn 200 nhà ở rải rác quanh thị xã vào trại tập trung phố Nam Hòa. cho xe ủi sáu làng gần Bần Yên Nhân để dồb dân vào một trại. Chúng cố dồn 3.000 dân vào trại tập trung: Bần, Nghi Xuyên, Ngọc Đồng và thị xã Hưng Yên. Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn vừa lo chỉ đạo đr quân sự, vừa lo chỉ đạo phá âm mưu dồn dân vào trại tập trung. Khu ủy đã có chỉ thị cho các tỉnh về việc này. Tại Hải Dương, hàng trăm gia đình ở Bung Đại (Gia Lộc) đấu tranh chống dồn làng. Ở Đồng Viễn (Bình Giang), Đồng Bưởng (Cẩm Giàng) cũng ra sức chống. Ở Kẻ Sặt, viên thủ hiến Bắc Việt đã trực tiếp khuyến cáo dân vào nơi tập trung, gọi là “Trại thí nghiệm điển hình Tả Ngạn”. Hàng vạn giáo dân nơi này đấu tranh trong sáu tháng liền chống dồn làng. Những làng xóm bị san ủi đòi bồi thường. Thủ hiến phải xuất 54.000 đồng Đông Dương, đền cho 250 gia đình. Ở Hưung Yên, các nơi như Giai Phạm (Yên Mĩ), Nghi Xuân (Khoái Châu) cũng chống tập trung dân. Ở Thái Bình, địch dự định lập quanh thị xã bốn trại tập trung. Phía nam là Lạc Đạo, phía đông là Thân Thượng, phía tây là Nghĩa Chính, phía bắc là Mỹ Đức, dựa vào bốn nhà thờ, nhà trường, có linh mục, tu sĩ trông coi. Thủ hiến Bắc Việt đã về đôn đốc ở Lạc Đạo, nhưng không làm nổi. Dân lấy dần vật liệu nên không xây dựng được gì. Nghĩa Chính cũng không nên việc. Song ở Thân Thượng, do địch ngấm ngầm tiến hành nên đã thành khu tập trung, rộng hơn ba kilômét vuông, bao quanh nhà xứ lớn, do các linh mục Nguyễn Quang Ân, Lê Quanh Oánh cầm đâu. Ở đây có 157 tên vệ sĩ và một số tên phản động quanh vùng đến tụ tập. Đồn Thân Thượng được địch cho nhiều súng đạn phòng thủ nghiêm ngặt. Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí năng nổ ra tay chỉ dẫn lập “đại xã kiểu mẫu”. Y muốn làm nổi đình đám để quan thầy Pháp tin cẩn. Trận càn “Diều Hâu” địch chủ mưu dồn một số dân vùng giáo lân cận vào đây. Mặ khác, nơi này có chợ và bến đò, buôn bán thuận tiện, dân lương cũng đến làm ăn. Một số vùng gần đó bị máy bay, đại bác bắn phá mạnh, dân lo sợ bở nhà vào đây cư trú. Đến đầu năm 1954, chúng đã dồn được 40.000 người. Thi hành chủ trương của khu về giải tán khu tập trung, Thái Bình dùng vu lực kết hợp tuyên truyền vận động, làm cho dân hiêu rõ âm mưu địch để rời bỏ trại. Giao cho Tiểu đoàn 53 tỉnh và ba đại đội huyện (Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải), có sự phối hợp của dân quân du kích các xã quanh trại, đánh bọn vệ sĩ, đồng thời bảo vệ dân. Tiểu đoàn 53 cử đồng chí Đẩu, cán bộ đại đội, bí mật vào Thân Thượng trinh sát. Ban chỉ huy quyết định: lợi dụng phiên chợ Bật đông người, bộ đội hóa trang làm dân đi chợ đến nơi tập kết gần đồn địch. Bỗng địch phát hiện một chiến sĩ giả làm phụ nữ, chúng liền tóm bắt. Quân ta linh hoát phát hỏa trước giờ dự kiến, đánh thẳng vào đồn. Tổ bộc phá đánh sập lô cốt. Linh mục Nguyễn Quang Ân cầm đầu bọn vệ sĩ bị bắt. Tiểu đoàn 53 chiếm đồn. Các đại đội huyện bố trí quanh trại đón bắt bọn trốn chạy. Chúng bị bắt 58 tên, số còn lại bị loại khỏi vòng chiến. Ta thu 116 súng các loại Đồng bào được giải thoát nhanh chóng về quê cũ. Lúc này GM 8 vẫn đóng ở thị xã, nhưng không ứng cứu, cũng không lập lại đồn Thân Thượng. Được báo cáo về trận đánh mưu trí, dũng cảm, hiệu quả cao, đồng chí bí thư Khu ủy yêu cầu Bộ tư lệnh Tả Ngạn ra thông báo chi tiế cho các tỉnh, các trung đoàn nghiên cứu rút kinh nghiệm. Đồng chí nhận xét: - Phá trại tập trung có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự, chính trị và kinh tế. Phá ngay từ đầu thì hay nhất, vì dân không muốn bỏ nhà cửa, xóm ngõ của mìh để vào một nơi lạ lẫm, chật chội và bị câu thúc ngặt nghèo. Phá khi trại đã hình thành khó hơn. Nhưng Thái Bình đã phá trại diệt địch, bảo vệ được dân, không đụng chạm đến giáo đường, khiến giáo dân tin nể, là kết quả tốt. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 09:02:58 am TỔNG CÔNG KÍCH ĐƯỜNG 5, ĐƯỜNG SẮT Tin nhanh đưa về: “Ngày 13-3-1954, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công đồi Him Lam ở Điện Biên Phủ”. Chiến trường chính đã khai hỏa. Chính ủy bảo chúng tôi: - Thế là Tả Ngạn đã phối hợp trước được mấy ngày! Chúng tôi biết đợt tổng công kích đường sắt, đường 5 bắt đầu từ đêm 11-3 vừa qua, là nhiệm vụ được Khu ủy và Bộ tư lệnh khu chỉ đạo chặt chẽ, chủ động. Nó không những là đòn phối hợp với Điện Biên Phủ mà còn là đòn đánh mạnh nhằm phân tán phần nào sự chú ý của tướng tá Pháp trước khi ta đánh Him Lam… Chính ủy sang ngay cơ quan Bộ tư lệnh gặp anh Nguyễn Khai. Lúc này anh Miên lên Việt Bắc, họp ở cơ quan Bộ tổng tư lệnh. Anh Khai quê ở Hưng Yên, được cán bộ binh vận của cách mạng giúp đỡ hoạt động từ thời bí mật. Bị Pháp bắt ngồi tù, anh vẫn không rời hoạt động cách mạng. Gia đình anh ở Yên Mỹ là cơ sở của cán bộ. Ra tù, anh tiếp tục hoạt động qua nhiều công tác. Năm 1949, anh là bí thư tỉnh ủy Hưng Yên, rồi lên công tác ở Liên khu III. Cuối năm đó, anh làm chính ủy Mặt trận 5. Năm 1952, anh là khu ủy viên, phó chính ủy Bộ tư lệnh Tả Ngạn rồi làm tư lệnh trưởng Tả Ngạn. Anh Khai tập hợp tình hình báo cáo: - Tuy đến đêm 11-3, khu ta mới chính thức vào đợt tổng công kích, nhưng trước đó, đêm 3-3, 16 cán bộ, chiến sĩ Hà Nội đã xuất phát từ Tả Ngạn vào sân bay Gia Lâm, phá hủy 18 máy bay và một kho xăng. - Đêm 7-3, 32 cán bộ, chiến sĩ Kiến An đánh sân bay Cát Bi, phá hủy 57 máy bay (đã có báo cáo chi tiết). - Đêm 11-3, chính thức tổng công kích chặng đường từ Văn Lâm, Mỹ Hào suốt tới Kim Thành, An Dương… Ở bắc Hưng Yên, ta đánh hai đồn, diệt hai đại đội địch, bức rút năm tháp canh và ba đồn khác, đánh sập hai cầu, phá nhiều đoạn đường 5. - Đêm 12-3, Trung đoàn 42 nhân lênh của Bộ tổng tư lệnh: “Phải đánh đồn Nghĩa Lộ để giam chân một trung đoàn pháo tại đó, không cho kéo lên Điện Biên Phủ”. Tiểu đoàn 664 chiến đấu kiên cường, cơ bản diệt được đòn này, loại khỏi vòng chién gần một tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí. Trong trận Nghĩa Lộ nổi lên gương dũng cảm của tổ bộc phá Lê Văn Nổ. Mở được cửa đột phá thì anh em hi sinh phần lớn. Nổ cùng số còn lại phá các lô cốt, ụ súng, tạo điều kiện cho đội xung kích diệt địch, bắt tù binh… Đồng chí Nổ còn ôm bộc phá đánh hầm ngầm, nhưng hầm kiên cố, không diệt được. Địch ẩn dưới hầm và gọi đại bác bắn vào nơi quân ta chiến đấu. Sáng hôm sau, xe tăng và bộ binh địch từ Bần lên phản kích. Lê Văn Nổ chỉ huy một tổ đánh kiềm chế địch để đơn vị rút. Khi người chiến sĩ cuối cùng của tổ hi sinh, Nổ mới rời trận địa. Anh len lỏi trong vùng tề, qua lại chặng đường gần 40 kilômét, đem thi hài đồng đội về hậu cứ mai táng. Lê Văn Nổ quê ở Thanh Miện (Hải Dương). Anh đã cùng tổ bộc phá vượt mọi hiểm nguy đánh các “điểm cứng” Đa Lộc, La Tiến, Triệu Nội… Qua trận Nghĩa Lộ, anh càng nổi rõ là gương sáng chiến đấu kiên cường, yêu thương đồng đội, xung phong nhận nhiệm vụ khó trong tình huống hiểm nghèo. - Ở Hải Dương, một bộ phận của Trung đoàn 50 cùng một đại đội tỉnh và bốn đại đội huyện diệt 72 đồn trong đêm 11-3. Mở vùng giải phóng từ đường 5 tới đường sắt thuộc huyện Cẩm Giàng, nối thông từ bắc sông Luộc đến nam sông Đuống, mở đường lên trung du Việt Bắc. - Ở bắc Hưng Yên, trong đợt này, bộ đội, du kích phá 42 xe địch, phá hàng nghìn mét đường 5. Bộ đội huyện Văn Lâm đánh đổ một đầu tàu, phá nhiều toa tại ga Nghĩa Lộ. Cùng du kích bắc Hưng Yên mở thêm 73 làng. - Ở Thái Bình, GM 8 càn vào một số xã thuộc Kiến Xương, Vũ Tiên, Thư Trì. Du kích đánh chông mìn bị thương gần trăm tên, khiến chúng phải bỏ dở trận càn. Giữa tháng 3-1954, Trung đoàn 64 (thuộc 320) vào phối hợp với bộ đội tỉnh bức rút và diệt tám đồn, phục kích hai trận diệt gần 200 tên đich, phá bảy xe cơ giới. Trong đợt này thêm 3.000 thanh niên Thái Bình tòng quân. Ngày nào cũng có hàng nghìn dân công gánh gạo vượt sông Hồng phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. - Riêng Trung đoàn 42, mũi nhọn của đợt tổng công kích, đánh năm trận, diệt ba tiểu đoàn địch, phá 40 xe (có một tăng), thu vũ khí đủ trang bị cho một trung đoàn mới, góp phần làm gián đoạn sự vận chuyển của địch trong một tuần. Nghe xong, anh Ngạn bình luận: - Điện Biên Phủ tiến công đợt Một, trong năm ngày đánh hai trận lớn có tính then chốt là Him Lang và Độc Lập. Phá vỡ hệ thống phòng ngự phía bắc tập đoàn cứ điểm, mở đường cho chiến dịch phát triển. Ở khu ta, các lực lượng vũ trang chủ động phối hợp, đánh sớm và tương đối đều khắp, hiệu quả cao. Bộ tư lệnh khu cần kịp thời biểu dương thành tích các trung đoàn 42, 50, 64 và các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình đã tổng công kích mạnh mẽ. Chỉ thị các địa phương, đơn vị đó tiếp tục tiến công, dũng cảm mưu trí ngay từ bây giờ. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 09:07:24 am KẾ HOẠCH NAVA THẤT BẠI Ngót nửa tháng sau tiến công đợt Một, ngày 30-3-1954, quân ta tiến công đợt Hai vào phía đông tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hai cứ điểm quan trọng là A1 và C1, sau mấy ngày đêm chiến đấu gay go, quyết liệt, ở cả hai đồi ta đều mới chiếm được một nửa, song vẫn là thắng lợi quan trọng. Bộ chỉ huy ta cho củng cố và xây dựng trận địa, xiết chặt vòng vây, đánh lấn, bắn tỉa, khiến phạm vi phòng ngự của địch thu hẹp, tiếp tế khó khăn. Địch giữ được một nửa song đã ở vào thế phải cố thủ. Ngày 1-5, ta tiến công đợt Ba, tiếp tục chiếm hoàn toàn hai cứ điểm A1 và C1, rồi chuyển sang tổng công kích, diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm, bắt bộ chỉ huy quân sự của tướng Đờ Cát. Trước đó chúng định tháo chạy sang Thượng Lào, nhưng sợ không thoát, đành chịu ra hàng ngày 7-5. Chiến thắng Điện Biên Phủ khiến Kế hoạch Nava, kế hoạch “Cứu nước Pháp” bị vỡ. Nava không giữ được như dự định là 18 tháng, mà mới được một năm đã phải “về vườn”. Chính phủ Pháp cử tướng Êly sang thay Nava. Anh Ngạn vui mừng trước chiến thắng lớn, đứng ngồi không yên. Đúng lúc này, anh Khai sang làm việc. Anh Ngạn vồ lấy hai vai người đồng chí, hồ hởi nói: “Nava thất bại rồi! Chúng ta lại chuẩn bị đối phó với viên tướng khác!”. Anh Khai báo cáo ngắn gọn về chiến công Tả Ngạn phối hợp với đợt Hai, đợt Ba tiến công Điện Biên Phủ: - Đánh đổ bốn đoàn tàu, 56 toa, phá nhiều xe (có một xe tăng), diệt 12 tiểu đoàn, phá nhiều đoạn đường 5, đường sắt, gây đình trệ vận tải nhiều lần, có lần ba ngày liền. Vào thời gian này, địch còn cho GM 5 từ Hữu Ngạn sang Thái Bình, cùng GM 8 càn ở Duyên Hà, rồi lần lượt sang Tiên Hưng, Đông Quan, Vũ Tiên, bị các lực lượng vũ trang ta đánh 19 trận, trong đó có trận phục kích do Tiểu đoàn Đồng Mít (Trung đoàn 64) cùng du kích địa phương đánh ở Thượng Ngạn, loại khỏi vòng chiến gần 30 tên địch. Hai GM trên vẫn còn ở Tả Ngạn, có khả năng chúng càn tiếp sang Hưng Yên. Anh Ngạn nhận xét: - Hai đợt này Tả Ngạn lập công không giòn giã bằng đợt Một. Rồi anh truyền đạt nhiệm vụ Hè 1954 do Bộ tổng tư lệnh giao cho quân dân Tả, Hữu Ngạn sông Hồng: “Phải giữ vững và tăng cường hoạt động ở đồng bằng. Dùng một bộ phận bộ đội chủ lực luân lưu phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch; chống càn quét, chống bắt lính; nắm vững tình hình để khi có cơ hội thì khuếch trương thắng lợi kịp thời, đồng thời tranh thủ chấn chỉnh và tăng cường lực lượng; củng cố và tập trung lực lượng ở đồng bằng”. Anh Khai báo cáo về bố trí lực lượng chủ lực trong tình hình mới: Trung đoàn 42 và một bộ phận của Trung đoàn 50, cùng bộ đội Hưng Yên và một đại đội của Thái Bình bám đường 5, đường sắt. Trung đoàn 64 cùng bộ đội tỉnh, huyện bám địa bàn Thái Bình. Một bộ phận của Trung đoàn 50 cùng bộ đội địa phương bám địa bàn Kiến An và đường 10. Hiện nay địch vẫn cố giữ các đồn đóng theo các trục đường giao thông kể trên để ứng cứu nhau cho tiện, và giữ liên lạc giữa các thị xã với Hải Phòng, Hà Nội. Ta đang ra sức bao vây những đồn còn lại trong khu du kích, bức chúng phải rút dần. Ở Hưng Yên, đồn Cống Tráng phải xin du kích cho phép ra lấy nước ăn uống. Đồn Phố Giác gọi hai máy bay phóng pháo yểm hộ cho trực thăng xuống lấy xác lính chết. Các đồn Cầu Tràng, Đào Viên, lính phải bò ra sân kéo cờ, sợ bị bắn tỉa. Ở Kiến An có phong trào thi đua “nhốt địch trong đồn”, du kích đào hào, đem chông mìn vào đặt sát cổng đồn, bắn tỉa khi địch ló ra. Địch phải dùng ba tiểu đoàn địa phương quân dến giải vây cho lính đồn Tây Am rút về Đông Tạ. Sau đó lại phải dùng một lực lượng khác đến giải vây để Đông Tạ rút, bị loại khỏi vòng chiến gần 200 tên… Anh Ngạn yêu cầu tiếp tục phát triển mạnh những hoạt động như vậy. Rồi anh nói: - Hoạt động Đông - Xuân 1953-1954 mở rộng trên nhiều mặt trận ở toàn Đông Dương, thời gian dài, phối hợp nhịp nhàng, kết quả rất to lớn, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, phá tan “Kế hoạch Nava”, phá nỗ lực chiến tranh của cả Pháp và Mỹ. Chiến thắng Đông - Xuân này còn mở đương cho chúng ta đấu tranh ngoại giao. Ngày 7-5, ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ. Ngày 8-5, hội nghị Giơnevơ sau những ngày địch dùng dằng, nấn ná, đá phải họp phiên toàn thể lần thứ nhất; phai đoàn Chính phủ ta vào hội nghị với tư thế người chiến thắng. Song việc bàn bạc trong hội nghị này chưa phải đã xuôi chảy nhanh chóng. Ta còn phải chiến đấu ở chiến trường để làm áp lực cho hội nghị đó diễn biến theo hướng có lọi cho ta. Chiến trường chính bây giờ là ở đồng bằng, nơi có Hà Nội, Hải Phòng. Mấy lần vào đánh Bắc Kỳ, giặc Pháp đều phải qua đây, một cái đầu cầu quan trọng của chúng. Cách đây gần trăm năm, vài trăm tên lính Pháp trên mấy chiếc tàu buồm vào Hải Phòng, mở đầu cuộc xâm lược miền Bắc nước ta. Tám năm trước đay, 15.000 quân Pháp cũng dùng Hải Phòng làm đầu cầu, làm đất đứng, mở rộng cuộc xâm lược Bắc Bộ. Và sắp tới, chúng sẽ qua Hải Phòng để rút khỏi miền Bắc. Do đó, những vùng phụ cận Hải Phòng, Hà Nội và các đường giao thông, là nơi chúng sẽ co cụm lại, và ta còn phải chiến đấu. Ta cần tiêu hao, tiêu diệt địch, chống càn quét; đặc biệt là chống bắt lính và làm tan rã ngụy quân, làm cho quân số của địch giảm nhanh. Âm mưu của Pháp “Giữ gìn quân đội là chủ yếu”, để rồi giữ từ vĩ tuyến 18 trở vào Nam Bộ. Với ý đồ ấy, chúng sẽ rút khỏi đồng bằng Bắc Bộ, trước tiên là rút gọn vào Hải Phòng, Hà Nội. Sau đó, nếu bị ép mạnh, chúng sẽ bỏ Hải Phòng. Chúng sẽ rút theo cả người và của của ta. Ta có nhiệm vụ phải giữ những thứ đó. Đồng thời phải đề phòng chúng kéo dài chiến tranh theo âm mưu của Mỹ. Có thể chúng vẫn ngoan cố giữ vùng đồng bằng này, và ta vẫn phải đánh chúng ở đây. Phải đánh để hỗ trợ cho đấu tranh ngoại giao ở Giơnevơ, để chúng có lui vào vĩ tuyến 18 hay 17 thì cũng đã yếu thêm phần nữa… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Mười Hai, 2009, 09:09:45 am ANH MIÊN HI SINH Anh Khai đến rất sớm, gặp anh Ngạn, báo cáo một tin đau thương: “Đêm 1-5-1954, anh Miên họp ở Việt Bắc trở về, vượt đường 5, quãng đồn Cầu Ghẽ (Hải Dương) bị địch phục kích, đã hi sinh cùng hai đồng chí bảo vệ”. Anh Ngạn nhìn chăm chăm vào gương mặt buồn rầu của anh Khai như muốn hỏi: - Sao lại có thể như thế được? Anh Khai cúi đầu giấu giọt nước mắt. Anh Ngạn vẫn không nói nên lời, cứ nhì trân trân vào một điểm trong khoảng không, nhớ người đồng chí bao năm đồng cam cộng hổ. Tôi lặng lẽ cúi đầu. Trong chiến đấu, tin vui nhiều, tin buồn cũng không ít. Lúc này, tin chiến thắng rất lớn, và không ngờ tin buồn cũng rất xót xa. Tôi nhớ anh Miên, một người yêu nước, trung thành với Đảng với dân. Một người sống chân thực, khiêm nhường, chan hòa với đồng đội, nói ít làm nhiều, được anh em yêu mến, cấp trên tin cậy. Thế mà đang lúc chiến trường nhiều chiến thắng thì anh hi sinh. Rồi anh Ngạn hỏi cặn kẽ về tình huống bị địch phục kích. Anh Khai tường thuật theo lời đồng chí Cung, một người bảo vệ anh Miên. Khi qua đường 5, Cung đi trước trinh sát. Bốn về vắng lặng, Cung làm ám hiệu cho anh miên cùng hai bảo vệ vượt đường. Lúc này địch mới nổ súng, ba đồng chí ngã ngay. Cung rút nhanh vào cơ sở không xa nơi đó. Hôm sau, cơ sở ta theo dõi không thấy thi hài ba đồng chí bị hại. Có thể địch đem mai táng đâu đó, liền bí mật tổ chức tìm kiếm. Cơ sở vin đường phối hợp với trinh sát tìm chưa ra. Chỉ biết là bọn ở đồn Cầu Ghẽ phục kích, không rõ chúng mai táng ở đâu. Anh Ngạn cùng chúng tôi phán đoán: - Có thể địch mai táng thi hài đâu đó, không để lộ dấu tích.. - Cũng có thể cả ba người còn sống, chúng đưa đi xa đẻ rồi khai thác tài liệu… Anh Ngạn bứt rứt lo âu về chuyện này. Anh lặng lẽ đi đi lại lại trong vài gian nhà hẹp và vắng lặng. Một lúc lâu, anh nói với anh Khai: - chúng ta cần qua tâm đầu đủ đến việc tìm tung tích anh Miên, càng sớm càng hay. Đồng thời lựa cách báo tin buồn cho chị Miên và gia đình… Ngừng một lúc, nén xúc động, anh nói như cho mình nghe: - Anh Miên chỉ hơn mình vài tuổi; con gái anh con quá nhỏ… Rồi anh lại nhìn thẳng vào anh Khai: - Cần có kế hoạch đánh mạnh để phát huy chiến thắng Điện Biên và trả thù cho các đồng chí mình. Địch thua trên ấy thì chúng sẽ xuống càn quét dưới này, ta phải quyết đánh! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:50:28 am CHÚNG NÓ, CHÓ ĐEN GIỮ MỰC Báo Cứu quốc Tả Ngạn liên tiếp đăng tin trang nhất: - Hưng yên phát động chiến dịch “ngụy vận”. Huy động hầu hết gia đình ngụy binh, lần lượt lên các đồn bốt thăm hỏi và vận động chồng con về, làm đơn xin giải ngũ. Có vụ 209 gia đình ngụy binh cùng 3000 dân vào quận lị Văn Giang đòi chồng con, yêu cầu thương lượng hòa bình, quận trưởng phải lánh mặt, cử người ra nhận đơn. 205 gia đình ngụy binh ở Mỹ Hào kéo vào quận đòi chồng con, quận trưởng phải nhận sẽ giải quyết. 368 gia đình ngụy binh cùng hàng nghìn dân ở bốn huyện nam Hưng Yên kéo vào thị xã đấu tranh. Địch cho lính ra ngăn chặn, bắt nhiều người. Bà con kiên trì đấu tranh từ sáng đến chiều, buộc chúng phải tha những người bị bắt. - “Hưng Yên đánh mạnh ở đường 5, đường sắt’. Ba ngày cuối tháng 5-1954, bộ dội huyện Văn Lâm đánh đổ ba đoàn tàu địch, diệt một đại đội địch tại Hành Lạc. Thêm bốn đoàn tàu nữa bị đại đội Vũ Hổ lật đổ ở Khuyến Thiện, Đại Từ, Đông Mai, Lạc Đạo, cháy 270.00 lít xăng. Bộ đội bốn huyện phía nam tỉnh bức rút ba đồn, loai khỏi vòng chiến năm đại đội, bắn đắm sáu ca nô. - “Hải Dương, cuối tháng 5-1954, đội S.20 và du kích Kim Thành, Cẩm Giàng lật sáu đầu tàu và 32 toa xe, phá 33 xe quân sự (có 5 xe tăng)”. Hàng vạn lượt người phá đường 5, đướng sắt. Ở Cầm Giàng, Bình Giang có 18 cuộc nhân dân đấu tranh, lôi cuốn 1.168 ngụy binh tham gia, tỏ ý không đi làm bia đỡ đạn. Tại dinh tỉnh trưởng, hàng nghìn phụ nữ nội thị va bốn huyện phụ cận kéo đến đấu tranh liền hai ngày, đòi chồng con về với gia đình. - “Thái Bình, hơn 2.000 người đấu tranh tại dinh tỉnh trưởng”. Đoàn biểu tình đòi chồng con, đòi tiền tử tuất, đòi thả 97 thanh niên bị bắt ở An Tập. Mặt khác, nhân dân trao truyền đơn binh vận tới 90% lính ngụy và 80% số gia đình, thân nhân họ. Phong trào bõ ngũ ngày càng thêm mạnh. Một đại đội ngụy ở Tân Đệ tan rã. Ở Thư Trì có xã một ngày đón 70 hàng binh. Thị xã Thái Bình cũng nổi lên dư luận đòi thương lượng hòa bình. Cũng dịp này, các lực lượng vũ trang ở Thái Bình diệt và bức rút 13 đồn, ra sức bao vây các đồn còn lại. Thế nhưng thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí vẫn về thúc giục tỉnh trưởng Thái Bình bắt lính, đưa thanh niên có học vấn vào trường sĩ quan. Anh Ngạn đọc mấy tờ báo rồi hỏi tôi: - Đến lúc này mà chúng nó còn ngoan cố, thúc giục bắt lính, đưa người đi học trường sĩ quan. Đúng là chó đen giữ mực. Mọi điều cảnh giác của chúng ta là không thừa. Báo chí, truyền đơn của chúng ta lúc này càng phải được tăng cường để vạch trần mọi mưu mánh của địch. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:51:04 am QUẲNG “DÉP” QUA SÔNG HỒNG Tình hình biến chuyển rất nhanh. Hạ tuần tháng 6-1954, anh Ngạn nhận được điện triệu tập lên họp Trung ương. Tôi và đồng chí Thứ chuẩn bị đi với an. Ngay sau đó có điện của Bộ tổng tư lệnh: Địch sẽ rút khỏi Thái Bình và cả nam đồng bằng Bắc Bộ”. 19 giờ ngày 29-6, có tin chính thức: “Địch rút khỏi Thái Bình”. Hai tiểu đoàn Đồng Mít, Mao Chử thuộc Trung đoàn 64 cùng bộ đội huyện Tiên Hưng, Đông Quan và du kích các xã đánh địch rút trên đường 10. 11 giờ 30 phút cùng ngày, ta đánh ở ngã tư Gia Lễ, diệt và làm tan rã một tiểu đoàn địch. Máy bay, đại bác của địch dồn dập bắn phá, mở đường cho bọn còn lại chạy vào thị xã lúc 17 giờ. Sợ ta đuổi, chúng vội phá sập cầu Bo. 22 giò rưỡi, toàn bộ quân Pháp bất ngờ rời thị xã, rút theo ba hướng: đường 223, đường 10 và đường sông Trà Lý. Tiểu đoàn Mao Chử vượt sông Trà Lỹ, cùng bộ đội tỉnh, huyện chặn đánh ở đường 223, làm tan rã một tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, xe cộ. Hai hướng kia địch chạy thoát. Sáng hôm sau, 1-7, cờ đỏ sao vàng bay trên nóc dinh tỉnh trưởng ngụy quyền và khu nhà viện trợ Mỹ… Được tin trên, anh Ngạn bảo tôi và Thứ đi xe đạp cùng anh tới thăm thị xã Thái Bình giải phóng.. Chúng tôi đi trên đường 10, nhìn những dấu vết của trận đánh cuối cùng: hơn chục xe tải lăn nghiêng, đổ ngược ở vệ ruộng, đại bác 105 chúc nòng xuống bùn hoặc hếch mũi ngửi nắng, bom khoét những hố loang lổ, tre pheo nhà cửa tan nát… Cầu Bo rơi một nhịp xuống giữa sông, nước lũ đầu mùa cuồn cuộn trườn qua. Sang sông bằng đò ngang, chúng tôi theo anh Ngạn tới tòa tỉnh trưởng cũ. Anh Nguyễn Ngọc Trìu, đại diện tỉnh ủy Thái Bình, anh Nguyễn Sùng Lãm, trung đoàn trưởng trung đoàn 64, anh Đào Công Thoan, bí thư thị ủy ra đón bí thư Khu ủy, tay bắt mặt mừng. Mọi thứ đều thiếu thốn.Anh Ngạn uống nước chè tươi, hồ hởi hỏi han nhiều điều. Anh không quên tỏ ý tiếc quân ta không kịp đánh địch ở hai hướng rút kia. Anh Trịu quê ở Tiền Hải, hoạt động cách mạng thời tièn khởi nghĩa, 21 tuổi làm bí thư huyện đoàn thanh niên; 25 tuổi làm bí thư huyện ủy Tiền Hải, chỉ đạo bộ đội vào khu Đông Thành võ trang tuyên truyền. Lúc này được tỉnh đặc phái cùng ban chỉ huy Trung đoàn 64, chỉ đọ đánh địch giải phóng rồi tiếp quản thị xã. Anh Trìu báo cáo tóm tắt mấy nét cơ bản: - Tổ chức giải thích tám chính sách đối với vùng giải phóng: quản lí các công sở, thu dụng công nhân viên chức; tiếp nhận lính ngụy ra tình diện; kiểm kê tài sản các cơ quan, đơn vị… Nhân dân phấn khởi mừng thị xã giải phóng và chào đón bộ đội, cán bộ. Công chính, bưu điện, nhà thương… nhanh chóng trở lại hoạt động, giữ được trị an, đời sống nhân dân đỡ bị đảo lộn. Anh Ngạn tỏ ra hài lòng trước những việc ban đầu làm được. Anh nói: - Đây là nơi bị địch chiếm sau rốt so với các thị xã ở Tả Ngạn, nhưng lại là nơi được giải phóng trước tiên. Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, đi trước một bước là điều vinh dự. Song ta không chủ quan, còn Thụy Anh, Phụ Dực, hai huyện của Thái Bình bị địch ghép vào tỉnh Vĩnh Ninh, làm phòng tuyến bảo vệ Hải Phòng, chưa được giải phóng hoàn toàn. Thái Bình đã cử một số tiểu đoàn, đại đội tỉnh, huyện cùng các tỉnh bạn tiếp tục đánh địch ở phía đường 5… Ở đây, bộ đội 64 cùng bộ đội địa phương, du kích và dân quân tự vệ, cần làm tốt nhiệm vụ tiếp quản thị xã, giữ vững trị an, từng bước phục hồi và ổn định đời sống nhân dân… Khi giải lao, đừng trên tầng hai nhà tỉnh trưởng cũ, nhìn quanh thị xã, anh Ngạn hỏi tôi: - Đâu là chỗ Trung đoàn 50 đập tan bộ chỉ huy trận càn “Con Trâu”? Nơi tướng quân Trần Lãm và ông Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa đóng quân ở đâu? Và nơi vua Ba Vành đánh phủ Bo chỗ nào?.. Rồi anh nói: - Đất nước mình, nơi nào cũng in đậm dấu tích chiến công. Sau đó, tôi nói với anh Trìu: - Bí thư sắp lên Tuyên Quang họp Trung ương, anh xem có xe chờ đi được không? Anh Trìu sốt sắng: Vừa thu được một xe “dép” của tỉnh trưởng ngụy, nhưng anh em ta không ai biết lái. Mấy hôm nay tạm dùng người lái cũ. Để chúng tôi liệu… Rồi anh cho gọi người lái. Anh ta còn trẻ, hơi rỗ, miệng lóe răng vàng, mặc áo ngụy “đỉa vai”. Anh ta tỏ ra cảm phục. Anh Trìu hỏi: - Chúng tôi muốn đi một chuyến công tác xa. Anh đi lái được chứ? Anh lái xe không đắn đo nhiều, có thể anh ta muốn đi với cán bộ một chuyến xa xem sao, cũng có thể anh ta muốn giữ thiện cảm với chính quyền mới, nên nhận lời. Anh ta nói ngay vào việc: - Xăng dầu ra phố mua được, nhưng đi xa, cần mang theo một cái lốp mới dự phòng. Anh Trìu chợt nhớ trong số đồ quân dụng do địch để lại có lốp xe “dép”, anh vừa kí văn bản giao những thứ đó cho kho chiến lợi phẩm quân đội. Anh bảo tôi: Xin chính ủy cho giấy đến kho lấy lốp! Ngay sau đó, anh Thứ mang thư của chính ủy sang gặp đồng chí đại úy phụ trách kho. Đồng chí đó xem thư rồi nói: - Tôi nhận lệnh nhập kho của anh Trìu kí. Nay cần lấy ra, cần có giấy của anh Trìu. Nghe chuyện, anh Ngạn bảo anh Trìu: - Anh em kho giữ nguyên tắc thế là đúng! Anh Trìu viết lệnh. Chúng tôi được cấp một cái lốp, nhưng vẫn băn khoăn về người lái xe. Ta không ai biết lái. Anh lái lưu dụng là người thế nào. Chẳng còn thì giờ để tìm hiểu lai lịch; không rõ anh ta tốt hay xấu, song chỉ xét trên một điểm: anh ta không theo địch mà ở lại với ta là được! Lần này quân Pháp chưa rút khỏi Thụy Anh, Phụ Dực, còn phải đề phòng máy bay. Tôi sắp xếp để anh Ngạn ngồi ghế trước, cạnh người lái xe. Ghế sau, anh Trìu ngồi giữa, nhìn qua cửa kính hậu, quan sát phía sau. Tôi và anh Thứ ngồi hai bên quan sát tả hữu. Thấy máy bay thì báo dừng xe, nhảy xuống bệ ruộng. Biết anh Triu cùng đi, anh Ngạn bảo: - Thế là phải, ít nhất là qua bến phà Tân Đệ. Đất nào có thổ công ấy! Đường 10 gồ ghề, ổ gà, ổ trâu, anh lái xe cố ý né tránh cho xe đỡ xóc. Xe tới bến Tân Đệ thì sự không ngờ xảy ra. Phà cọc một chỗ, không có sào, chèo. Xe qua phà thường là của Tây, ngụy, nay chúng chạy hết, công nhân phà bỏ việc, đi đâu đó. Làm thế nào để qua sông? Nỗi lo ập đến, nhất là với anh Trìu người đại diện của địa phương. Vốn có tác phong gần dân, anh Trìu liền bước lại chỗ những người ngồi chơi ở bến. Nghe anh nói, họ hiểu ngay điều trắc trở. Họ liền góp mỗi người một ý. Rằng chỉ cần mượn hai chiếc thuyền loại vừa, dùng chão chằng lại với nhau thành con “phà ghép”. Vào nhà dân mượn cánh cửa gỗ đặt ngang làm “sạp phà”… Anh Ngạn và chúng tôi nghe thấy được. Anh Trìu liền “dân vận” những người ở bến giúp đỡ. Ngay sau đó các đồng chí cán bộ xã Bách Thuận đến phụ trợ. Một lúc sau mượn thuyền, ghép “phà” xong, chúng tôi cùng dân cho xe “xuống phà” sang sông. Thứ và anh lái sang cùng với xe. Anh Ngạn, anh Trìu và tôi sang bằng thuyền khác. Tới bến bên kia, anh Trìu tót lên, nhanh nhẹn vận động những người ở bến xúm lại khiêng xe “dép” đổ bộ. Bà con vui vẻ giúp ngay. Anh lái nổ máy giòn giã. Chúng tôi cảm ơn những người dân và chào anh Trìu trở lại. Ngồi trên xe, anh Ngạn bảo chúng tôi: - Đồng bào Tân Đệ đã cùng ông Trìu quẳng “dép” qua sông Hồng. Xe chạy sang thành phố Nam Định mới giải phóng. Anh Trần Danh Tuyên, bí thư tỉnh ủy ra chào đón. Anh Tuyên nói: - Cầu đường 1 bị địch phá hết khi chúng rút, ôtô chạy sao được! Trước tình huống đầy trắc trở, anh Ngạn bình thản bảo chúng tôi: - Thôi, ta lại đi xe đạp. Tôi bảo người lái cho xe trở lại Thái Bình, rồi mượn xe đạp cơ quan anh Tuyên, tiếp tục đi Tuyên Quang. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:51:45 am NHỮNG CHUYẾN ĐI VỀ CỦA ANH NGẠN Anh Thứ kể: - Đường dây từ căn cứ Liên khu III sang Tả Ngạn và ngược lại, vắt ngang cả một vùng địch hậu Hà Nam xa rộng và lởm chởm những đồn bốt. Địch biết đây là đường đi lối về của ta nên tìm mọi cách ngăn chặn. Cái “dây” này vắt qua hai con đường liên huyện 21, 60 và quốc lộ 1. Cả ba đường này bị địch kiểm soát ngặt nghèo, đồn bốt rải dọc. “Dây” còn vắt qua mấy con sông loại trung là sông Châu, sông Đào, và con sông Hồng to rộng. Có chuyến anh Ngạn sang căn cứ Liên khu III làm việc, theo lối Khoái Châu sang Nha Xá, qua sông Hồng rồi lội cánh đồng trũng Hà Nam. Cô giao liên thấp nhỏ nhưng nhanh nhẹn đi trước dẫn đường. Trời tối, anh Ngạn dõi bóng cô mà bước; tôi đi hậu vệ. Bỗng trời nổi cơn lốc, mây den kéo đến, tối sẫm. Cô giao liên thấp nhỏ chìm lẫn vào khoảng tối. Anh Ngạn và tôi không thấy bóng cô, vẫn phỏng chừng cố bước nên lệch hướng. Qua một quãng, anh bị thụt lầy, rút được chân này, thụt chân kia sâu hơn. Tôi bước gần lại, doãi chân chèo, dốc sức kéo anh lên, nước ướt tới bụng. Cô giao liên không thấy chúng tôi đi theo, vội trở lại tìm. Thấy bị thụt lầy, cô bảo: “Cá anh đi chệch, lộ phải hố bom đấy. Nông dân đã lấp nhưng đất còn lún thụt”. Thoát vũng lầy, chúng tôi theo cô giao liên đi tới nửa đêm,vào nghỉ tại một cơ sở ở thôn Đô Lương. Hôm sau, năm giờ chiều, chị em bám đường làm tín hiệu “vượt”, chúng tôi kẻ trước người sau, lặng lẽ ra phía đường 1. Haỉ bên đường bị giặc đốt phá trống hoang trống huếch. Hai cái đồn lù lù ở hai đầu đoạn đường mà chúng tôi sẽ vượt, có vẻ như giặc dõi nhìn ra đây. Những người dân quen sống giữa những đồn bốt, thản nhiên qua lại, khiến chúng tôi tự tin hơn. Đúng lúc chúng tôi sang bên kia đường thì xe tăng địch vừa tới. Có lẽ việc của chúng không phải cản đường, nên sầm sập chạy thẳng. Bụi xộc mù mịt, anh em hít phải, có người hắt hơi. Tới chỗ an toàn, anh Ngạn nhìn lại đoạn đường vừa qua rồi lầm bầm: “Hừ, mùi xăng khét lẹt!”. Tới căn cứ, anh Ngạn vào họp Khu ủy - anh Thứ kể tiếp: - Tôi thấy văn phòng có cái máy thu thanh nhỏ, thích lắm. Tôi xin anh Lê Thanh Nghị cho đem về Tả Ngạn. Anh Nghị bảo: - Ở đây cũng chỉ có một máy, nhưng bên ấy xa Trung ương, cần hơn! Tôi mừng rỡ, gói ngay cái máy vào tay nải, đeo khư khư bên vai, “vật bất li thân” mà. Họp xong, anh Ngạn hất hám, nhìn tôi: “Về!”. Anh khá bình thản, thư thái, sau mấy buổi làm việc khẩn trương, mưu lược, không nhàn nhã. Anh sắp trở lại cuộc hành trình gian nan chẳng kém gì ra trận. Đối với anh thì những việc đó đã thành quen, quá quen, chả phải bận tâm lo nghĩ nhiều. Còn chuyện đi lại trong khu Tả Ngạn thì nhiều. Anh Thứ kể tiếp: - Một hôm anh Ngạn hẹn một đồng chí lãnh đạo tỉnh Hưng Yên tại đền làng Thọ Nham (Khoái Châu). Có quy định không thành văn bản nhưng được cả khu và tỉnh tuân thủ nghiêm cẩn: Hẹn ai người ấy đến, không cử người đi theo. Hẹn thì đến đúng ngày, không để ai bị lỡ. Vì thế anh Ngạn bảo tôi cùng qua sông Luộc, rồi đi bộ 30 kilômét. Tới trạm liên lạc, tôi hỏi trạm trưởng mới hay: có triệu chứng sáng mai địch ở mấy đồn quanh Thọ Nham mở trận càn vào khu đó. Tôi đề nghị anh Ngạn: “Giặc càn xong hãy tới Thọ Nham”. Có léc lúc này anh ít nghĩ đến chuyện giặc càn; nghĩ nhiều đến việc đã hẹn thì phải đến. Anh không muốn mình sai quy ước, hỏi tôi: “Cậu cứ đưa mình đến đấy, giặc càn đã có hầm”. Tôi không thể mạo hiểm, đưa nghị quyết chi bộ ra chắn đỡ: “Chi bộ họp, anh đã nhất trí: khi ba người cùng đi thì theo đa số hai người. Khi di hai người thì cả hai nhất trí mới được đi”. Anh thấy tôi nói đúng, nhưng vẫn tỏ ra băn khoăn. Tôi hiểu ý, nói thêm: “Ai chả có khi lỡ hẹn, tại giặc chứ tại mình đâu”. Rồi tôi nghĩ đến chuyện giặc treo giải 10.000 Đông Dương để lấy đầu anh. Tôi nói vẻ kiên quyết: “Không đi khi giặc sắp càn!”. Có lẽ chưa bao giờ thấy tôi cứng cỏi như vậy, nên anh phát cáu… Tôi nín nhịn lui ra. Nhưng sau đó nguôi dần bực tức, anh nhất trí với tôi là ở lại Kim Đông một ngày, chờ giặc càn xong thì sang Khoái Châu. Tối hôm sau, anh làm việc tại hậu cung đền Thọ Nham. Nếu anh đến sớm thì cũng không gặp đồng chí Hưng Yên. Họp xong, được việc, anh hài lòng bảo tôi: - Nhà cậu cách đây không xa, tranh thủ về thăm. Hai ngày có mặt! Tôi hả hê, đôi chân đánh nước mã hồi, không một giây chậm chạp. Anh còn kịp đưa khẩu súng lục cho tôi thay tiểu liên Tuyn kém phần kín đáo. Anh ở lại, ra thăm xóm bãi Phù Sa, Đại Tập. Đúng hai ngày sau, tôi trở lại điểm hẹn. Anh Ngạn vỗ vai tôi bảo: - Lần trước cậu sai hẹn, chậm một ngày, tớ cho qua. Lần này sai thì… thiến làm quan hoạn! Tôi bật cười, anh cũng mủm mỉm. Trên đường trở lại cơ quan, anh kể cho tôi nghe về chuyến thăm cơ sở quân y ở xã Đại Tập, huyện Khoái Châu. Huyện này thời nhà Nguyễn thường bị vỡ đê, dân đói, nhiều người bỏ nhà đi ăn xin, do đó có câu “Oai oái như dân phú Khoái xin ăn”. Năm 1950, giặc Pháp đánh chiếm, cả huyện này có 84 làng thì giặc đóng 86 đồn. Tỉnh Hưng Yên có ba đồn nổi tiếng giết người dã man, thì huyện này có một đồn Thiết Trụ. Xã Đại Tập vốn là bãi nổi sông Hồng, ngoại đê. Khi giặc chiếm, chúng đóng hai đồn. Giữa năm 1950, bộ đội Khoái Châu đánh một trận tại xã này. Giặc mạnh dồn quân ta vào chùa Phù Sa. Hết đạn, quân ta dùng cả cây đèn, ống bương, đồ thờ ném giặc. Thế mà sau đó bộ đội và du kích nhổ cả hai đồn. Đại Tập cùng hai xã ngoại đê trở thành vùng du kích. Giặc chỉ đi trên đê cao nhòm xuống; tàu chiến, ca nô lượn phía sông nhòm lên. Rồi nơ này thành cơ sở cứu chữa, nuôi dưỡng thương binh liên tục mấy năm nay. Anh em được khiêng cáng về đây, dân cho nhà ở nhờ. Dân đào hầm bí mật ở vườn, ở cả gầm bàn thờ Phật, bảo vệ thương binh nặng. Hằng năm anh em lần lượt điều trị ở đây, nhiều người trở lại chiến trường. Có dạo thuốc men khan hiếm, anh em phải ăn khế chua để đỡ đau khi mổ xẻ; dùng cưa hỗ để cắt chân tay gãy. Thiếu bông băng, phải vặt rễ bèo bồng hấp sôi, phơi khô, băng bó vết thương, dùng cây nhọ nồi cầm máu, cây ngổ trâu nấu nước sát trùng… Gần đây, khó khăn, thiếu thốn đã giảm, nhưng thương binh, bệnh binh vẫn còn khổ lắm! Kể đến đây, anh Ngạn nghẹn lời. Tôi nghĩ anh sẽ lại đến chỗ Ủy ban khu, bàn với anh Hách, kiếm tiền, kiếm thuốc cho thương binh. Anh tới đâu là nhìn ra điều đáng lo và việc cần làm… Vẫn lời anh Thứ: “Mấy năm trong vùng địch hậu, anh Ngạn ở căn cứ Tiên - Duyên - Hưng, nhưng đặt chân đến cả chín huyện khác của tỉnh Thái Bình. Anh đến cả Thái Ninh, Thụy Anh vùng ven biển. Qua sông Luộc, tàu chiến ca nô rất cỏ thế bất chợt xộc đến, anh vẫn sang Thanh Miện, Bình Giang (Hải Dương), đến Phù Cừ, Tiên Lữ, Khoái Châu, Kim Động (Hưng Yên). Anh đến đâu thì đồng chí Lê hoặc tôi cũng tới. Qua các con đường 10, 39, đồn giặc cắm dày, qua các bến Nhật Tảo, Yên Lệnh vượt sông Hồng, là những nơi địch lăm lăm xả các cỡ đạn vào thuyền đò ta. Anh Lê bị thương hai lần ở đường 10 và ven sông Trà Lý”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:52:21 am KHU ỦY HỌP Ở ĐÌNH LÀNG Cuộc đấu tranh ở Hội nghị Giơnevơ kéo qua hai tháng 12 ngày kể từ lúc đoàn đại biểu ta chính thức vào dự phiên họp toàn thể lần thứ nhất. Phải qua tám phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp, ngày 20-7-1954 mới kí kết được Hiệp định về đình chỉ chiến sự. Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn liền triệu tập Khu ủy họp mở rộng, bàn nhiệm vụ trước mắt. Lần đầu tiên từ khi Pháp xâm chiếm vùng này, cuộc họp Khu ủy được mở tại ngôi đình làng Do (Quỳnh Côi), trong không khí hòa bình và thắng lợi. Đồng chí bí thư đọc báo cáo tình hình nhiệm vụ mới. Hòa bình lập lại nhưng tình hình miền Bắc vẫn rất phức tạp, kẻ địch thất bại nhưng vẫn còn âm mưu và hành động chống phá ta. Đảng và Chính phủ phải lo nhiều công tác mới, sông mấy việc nổi lên là tập trung chỉ đạo đấu tranh buộc Pháp rút quân đúng thời hạn; chống địch dụ dỗ, cưỡng ép nhân dân, nhất là đồng bào Thiên chúa giáo di cư vào Nam… Ở Tả Ngạn, công việc nặng nề hơn, vì có đường sắt, đường 5, cảng Hải Phòng, là nơi địch rút qua. Nhưng chúng chưa rút ngay, mà còn tạm trú, ít nhất là tỉnh Hưng Yên 80 ngày, nhiều nhất là thành phố Hải Phòng 300 ngày. Trong khi tạm tú, địch sẽ gây cho ta nhiều khó khăn, thiệt hại, nhưng ta phải tuân thủ hiệp định, không được đánh chúng mà chỉ đấu tranh ngăn chặn. Chúng sẽ giở trò chiến tranh tâm lí, tuyên truyền xuyên tạc, làm giảm giá trị thắng lợi của ta. Tiếp tục kìm giữ và bắt thêm ngụy binh theo chúng. Cài mạng lưới gián điệp của Pháp và của Mỹ, nhằm chống phá miền Bắc lâu dài và thi thố âm mưu mới từ vĩ tuyến 17 trở vào, v.v. Thế là đấu tranh từ thời chiến chuyển sang thời bình, từ dạng thức này chuyển sang dạng thức khác, không kém phức tạp, gay go… Đồng chí bí thư tỉnh ủy Thái Bình phát biểu, nhất trí với ý kiến của bí thư Khu ủy, và báo cáo về việc địch rút chạy khỏi Thái Bình trước khi kí Hiệp định Giơnevơ 20 ngày. Quân địch ở 22 đồn bốt, séctơ thị xã chạy tán loạn theo ba hướng thủy, bộ ra phía sông Hồng, bị đánh đuổi ráo riết. Thế là hơn bốn năm, quân Pháp mở 6.349 trận và càn lớn nhỏ, bình quân mỗi ngày bốn trận, có 18 trận càn lớn từ 5.000 đến 20.000 quân. Để rồi lúc này chúng phải rút chạy trong vòng ba ngày, khi Hội nghị Giơnevơ đang còn tranh cãi. Đồng chí bí thư tỉnh ủy Hưng Yên báo cáo: ở thị xã, ngụy quân hoang mang, ban chỉ huy ngán ngẩm, địch phải đưa sĩ quan Pháp về chỉ huy, không cho lính tiếp xúc với nhân dân. Đưa một tên phản động đội lốt Thiên chúa giáo về làm tỉnh trưởng, nhằm thực hiện âm mưu dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư. Hầu hết đồn bốt vi phạm hiện định, bắn đại bác vào ấp Dâu, bắn súng cối vào cánh đồng Đặng Cầu và Phố Hiến, cài 94 quả mìn ở Nhà Thành, Trại Mới, đốt 130 nóc nhà ở Cao Xá, Ngọc Đồng… Ta đẩy mạnh hoạt động ở thị xã, tuyên truyền ý nghĩa thắng lợi Hội nghị Giơnevơ, địch phải rút khỏi miền Bắc. Giải thích chính sách đối với hàng binh, tiếp nhận vũ khí, cấp giấy tờ cho họ về gia đình. Đang có nhiều ngụy quân bỏ ngũ. Đồng chí bí thư tỉnh ủy Hải Dương báo cáo: địch dồn tụ về thị xã rất đông. Ngụy quyền các loại hàng nghìn tên từ các tỉnh khác kéo tới. Ngụy quân gồm lính của Bảo Đại, lính của Toà Giám mục Phát Diệm, lính “gamô” của tổng cướp giật của dân, bắt cóc người, tống tiền và đánh lẫn nhau tranh gái, tranh ăn… Ta vận động nhân dân chống lại những hành động vi phạm hiệp định của chúng. Không giấu vẻ bực tức, anh Ngạn đứng lên, miệng nói, tay chém chém vào không khí: Phải kiện chúng tới Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến. Yêu cầu Ủy ban đó gặp bọn cầm đầu ở thị xã, cả Pháp lẫn ngụy, đòi chúng phải ngừng ngay những hành động vi phạm hiệp định. Bên cạnh việc hướng dẫn cho dân đấu tranh hợp pháp, trực diện, cần tổ chức viết bài đăng báo ở Hà Nội, tố cáo tội ác của chúng. Dùng người thân của ngụy quân, ngụy quyền vận động chồng con, anh em họ tham gia chống vi phạm hiệp định. Chúng ta có cơ sở pháp lí quốc tế, cần dựa vào đó để đấu tranh với chung. Bản chất đế quốc của chúng ở hoàn cảnh nào cũng thế, trước đây, hôm nay và sắp tới không có gì thay đổi, mà còn tệ hại thêm. Vi phạm hiệp định, tiếp tục gây tội ác, chúng sẽ càng bị nhân dân ta căm ghét, phản đối. Kinh nghiệm vận động quần chúng đấu tranh chính trị cần được vận dụng mạnh mẽ vào thời điểm này! Anh Nguyễn Khai, thay mặt Bộ tư lệnh khu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 42 chuẩn bị tiếp quản Hải Dương; Trung đoàn 50 chuẩn bị tiếp quản Hưng Yên. Một kế hoạch chi tiết về công tác tiếp quản được đề ra để từng bước thực hiện. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:53:01 am CUỘC ĐẤU TRANH TIẾP DIỄN Địch liên tiếp vi phạm hiệp định ở bắc Hưng Yên, nơi chúng chỉ được tập kết 80 ngày. Chúng bắn bị thương 17 người, bắt 66 người. Chúng móc nối với bọn thầy tu phản động, đẩy mạnh việc dọa dẫm giáo dân: “Ở lại miền bắc sẽ bị Việt Minh trả thù”; “Mỹ sẽ ném bom nguyên tử”; “Hiệp định Giơnevơ không được Mỹ và Bảo Đại kí thì sẽ không được thi hành; “Đình chiến bảy tám tháng rồi lại có đánh nhau”… Chúng còn rải truyền đơn ở Yên Mỹ, dụ giáo dân ra Hải Phòng đón tàu vào Nam, rằng vào Nam sẽ được nước Mỹ giàu có giúp đỡ… Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn nghe ông Ngô Duy Đông, phụ trách Mặt trận Liên Việt khu, báo cáo tình hình trên. Trước đó, đồng chí cũng nhận được tin: Mỹ phái Hồng y giáo chủ Spenman - tổng tuyên úy trong quân đội Mỹ - sang Việt Nam tổ chức cuộc di cư cho giáo dân. Cùng lúc, Pháp cũng giở trò bịp, hải quân cho những chiếc tàu “ma quỷ” chập chờn ven biển khiến giáo dân lo sợ, tung hàng loạt những chiếc kính có khúc xạ lồng tranh Đức Mẹ, khiến người ta thấy Mẹ liếc mắt, nhếch miệng, rồi ngoa truyền là Mẹ hiện hình kêu gọi vào Nam. Ông Đông báo cáo tiếp: - Tỉnh trưởng ngụy quyền Nguyễn Văn Phùng ở Hưng Yên câu kết với linh mục Đức (Xứ Bầu) linh mục Thập (xứ Cao Xá) cho rao giảng: “Chúa đã vào Nam, ai không theo chúa thì mất phần hồn, sẽ bị “rút phép thông công””. Linh mục Minh (xứ Lực điền) lập danh sách phát tiền cho người di cư… Do sợ hãi, một số giáo dân ở Bến Tàu, Cao Đường (thị xã Hưng Yên) phải bán nhà cửa rồi đi Hải Phòng. Giáo dân ở Ngọc Đồng phải dỡ nhà, phá đồ đạc trước khi đi. Bọn phản động ở Cao Xá chôn mìn trên đường làng, để giáo dân ra đi không dám trở về… Hưng Yên là nơi địch sẽ rút sớm nên bọn phản động vội vã cưỡng ép giáo dân di cư. Đây là nơi địch cần làm mạnh để cho các nơi khác trong khu làm theo. Cuối tháng 7-1954, gần 5.000 giáo dân ở Ngọc Đồng, Hạnh Lâm, Ngô Xá (Kim Động) cùng linh mục Hiến ra đi. Xá Cao Xá có 93% giáo dân đi. Ngay sau đó, đồng chí bí thư Khu ủy họp ban Thường vụ xem xét công tác chống dụ dỗ, cưỡng ép di cư, một việc đã được đề ra ngay sau khi có hiệp định đình chiến. Khu ủy đã có chỉ thị cho các tỉnh, các trung đoàn, vừa làm nhiệm vụ trước mắt vừa chống âm mưu di cư. Phải đẩy mạnh vận động, tranh thủ giáo dân, làm cho bà con thấy tội ác địch, phá hoại đời sống yên lành. Kêu gọi mọi người bám đồng ruộng quê hương, an tâm giữ đạo. Lập ban vận động tới tận các làng xã, gặp gỡ giáo dân hoặc đón trên các ngả đường bà con sẽ đi để khuyên bảo ở lại. Những ngời ở lại hoặc đi rồi trở lại, phải được giúp đỡ thiết thực để bà con yên tâm làm ăn… Song các hoạt động đó không phải ở đâu cũng có hiệu quả. Nay cần rút kinh nghiệm để làm cho tốt hơn. Cần lập thêm các tổ chống cương ép di cư, gồm các cán bộ Thanh Công Nông Phụ, và một số anh em bộ đội đã từng có kinh nghiệm bám đất bám dân thời địch tam chiếm, tỏa về các làng có đạo Thiên chúa, vận động nhân dân, ngăn chặn sự cưỡng ép trắng trợn của bọn phản động… Dẫu vậy, tin cuối cùng đưa về: tỉnh Hưng Yên có 32.900 giáo dân thì bị cưỡng ép đi hơn hai phần ba. Ở tỉnh Thái Bình, Pháp cho tàu “há mồm” vào áp sát Cồn Đen đưa giáo dân ra biển. Gặp khi gió to biển động, đồng bào bị sóng cuốn chết nhiều. Bọn phản động nhân lúc Ủy ban Quốc tế về xem xét thi hành hiệp định ở thị xã Thái Bình, tập trung đến từ nửa đêm ở cửa Ủy ban tỉnh, để sáng mai gặp Ủy ban Quốc tế đòi di cư, vu cáo chính quyền “vi phạm điều khoản tự do đi lại”. Được đồng bào thị xã đi sát giải thích rõ ràng phải trái, những người tụ tập giải tán dần, ngay trong đêm ấy trở lại quê nhà. Đồng chí bí thư Khu ủy nói với ông Ngô Duy Đông: - Không ngờ chiến tranh đã chấm dứt mà đồng bào vẫn đau khổ, chết chóc. Ta phải hết lòng hết sức cữu gỡ cho đồng bào. Còn nước còntát. Tin cho biết số đồng bào ra Hải Phòng, còn phải chờ tàu chở vào Nam. Ta tiếp tục vận động để những người đang ăn chực nằm chờ ở Hải Phòng trở về quê nhà, để tránh gặp tai họa khi xuống tàu vượt biển. Dân lương dân giáo đều là đồng bào ruột thịt của ta. Phải thương dân, bám dân để thuyết phục vận động đến cùng. Vạn bất đắc dĩ họ buộc phải ra đi, thì khi vào Nam họ sẽ dần dần hiểu ra ta có thiện ý, để trong cuộc đấu tranh mới, bà con nghiêng về phía ta, sẽ hiểu âm mưu địch và chống địch. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:53:38 am KHU 300 NGÀY ĐẦY PHỨC TẠP Hải Phòng là nơi bọn Pháp tạm trú 300 ngày. Trước khi bỏ vùng đất cực kì quan trọng này, địch âm mưu làm mọi việc tệ hại cho ta, nhằm có lợi cho chúng. Ở đây có sự phối hợp ăn ý giữa Mỹ và Pháp, nhằm vơ vét người và của, chia chác với nhau khi rút vào trong vĩ tuyến 17. Pháp đưa viên tướng Vulác tới thay viên đại tá Nêmô chỉ huy vùng này. Việc chúng cần làm là nhằm âm mưu sau này đánh trở lại miền Bắc. Trước mắt là khiến ta gặp nhiều khó khăn: - Gây sự thiếu niềm tin trong dân ta về việc thi hành hiệp định; nếu được thì kéo dài thời gian ở lại Hải Phòng. - Củng cố mạng lưới gián điệp, tay sai phản động để bí mật chống ta. - Giữ vững và bắt thêm lính bổ sung vào số quân còn lại để đưa vòa Nam. - Dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cư. - Phá hoại hoặc cướp tài sản, máy móc, tài liệu của thành phố, để khi ta vào tiếp quản thì mọi nhà máy, công sở, bệnh viện… không hoạt động; sản xuất và đời sống tê liệt. Với âm mưu hất cẳng Pháp để nhảy vào Việt Nam và Đông Dương, Mỹ không coi nhẹ những việc cần làm ở khu 300 ngày. Chúng phái tướng Côlin đến Hải Phòng cùng 200 chuyên viên, cố vấn Mỹ, tiến hành những hoạt động phá hoại hiệp định đình chiến, và lâu dìa là phá hoại miền Bắc nước ta. Bọn này xúi bẩy quân Pháp làm những việc có hại cho ta. Chúng bày đặt cho tên Lê Quang Luật, đại diện Ngô Đình Diệm ở Hải Phòng, thực hiện mưu kế phá hoại. Trước mắt là dụ dỗ, cưỡng ép thật nhiều ngụy binh, tay sai phản động và giáo dân vào Nam. Vì thế, chỉ trong bốn tháng sau khi kí hiệp định, địch đã vi phạm: 123 cuộc vây bắt, hơn 200 lần nổ súng vào khu dân cư, bắt 852 thanh niên Thiên chúa giáo vào lính, giam 517 người dân, bắn chín người, đánh bị thương 167 người… Trước âm mưu nham hiểm và hành động tàn tệ của địch, Trung ương quyết định lập Ban Chỉ đạo khu vực tập kết 300 ngày, chỉ định đồng chí Đỗ Mười làm trưởng ban, cùng các đồng chí Hoàng Hữu Nhân, Hoàng Mậu, Nguyễn Tài, Nguyễn Đàm, Bùi Công Trừng, Lý Ban, Nguyễn Công Thành, Nguyễn Văn Ngọc, và một số đồng chí đại diện Bộ Quốc phòng. Anh Ngạn không đột ngột khi nhận nhiệm vụ, vì công tác chuẩn bị tiếp thu vùng giải phóng và quản lí các thành thị là việc Khu ủy Tả Ngạn đang làm. Nhưng nghĩ sâu sắc, cụ thể vào nhiệm vụ vùng 300 ngày mới thấy đầy phức tạp, khó khăn. Đây không còn là việc dùng vũ lực mà phải mưu trí đấu tranh chính trị, kinh tế. Thượng sách vẫn là dựa vào sức mạnh nhân dân để làm mọi việc cần làm và đấu tranh với địch. Ban Chỉ đạo họp, đề ra những công tác cấp bách làm ngay. Rút kinh nghiệm của Hà Nội, nơi đấu tranh thi hành hiệp định và tiếp quản thành phố đầu tiên, thường xuyên nhận sự chỉ đạo của Trung ương, tập trung lực lượng cán bộ cần thiết vào công tác này. Làm cho các cấp từ tỉnh, thành xuống cơ sở, nhận rõ ý nghĩa mà Bộ Chính trị đã chỉ ra: “Việc tiếp quản được các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng khiến chúng ta không những có nông thôn mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp… Đó là biến đổi to lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết quy mô một quốc gia”. Anh Ngạn trực tiếp giảng giải cho đội ngũ cán bộ về nhiệm vụ mới và cách thực hiện, về phương pháp đấu tranh chống địch… Đội ngũ này gồm một số đồng chí tỉnh ủy, thành ủy và nhiều cán bộ cốt cán, hợp pháp tỏa về nội thành, nội thị, xây dựng cơ sở nhân dân ở các thành phố, nhà máy, xí nghiệp, trở thành lực lượng “tác chiến” tại chỗ. Những nơi cần thiết phải sớm lập đội tự vệ bí mật để bảo vệ tải sản, máy móc, chống địch phá hoại trước khi rút, như nhà máy xi măng, nhà máy đèn, sở hỏa xa, bến cảng, v.v. Ở vùng nông thôn chưa giải phóng, ta tăng cường cán bộ và đội tuyên truyền, xây dựng thêm cơ sở nhân dân, củng cố các đoàn thể chính trị, dân quân du kích để họ làm nòng cốt đấu tranh… Đội ngũ cán bộ khu 300 ngày phải làm nhiều việc cùng một lúc. Bộ phận binh vận phát huy kinh nghiệm dày dạn dựa vào dân đấu tranh đòi chồng con, anh em ở lại với gia đình. Họ đến các nơi đóng quân của địch hỏi tin tức về chồng con, đòi gặp người thân thích, khóc lóc kêu than, sợ phải chia lìa. Họ đem cơm nắm đến ăn chờ quanh trại lính, ngày này qua ngày khác để đón người nhà. Có những cuộc tụ tập hàng trăm, hàng nghìn ông bà già đòi con cháu, hàng trăm phụ nữ bồng con đi đòi chồng. Nhiều truyền đơn được trao tận tay những người lính sắp bị kéo đi xa. Khiến họ thương cha mẹ già, vợ trẻ, con thơ. Họ lo cho bản thân không có gì bảo đảm trong lúc đã hòa bình. Ở Kiến An, chỉ sau một tháng đã có trên 3.500 lính rời đội ngũ. Ở thành phố Hải Phòng và huyện Thủy Nguyên có 5.030 lính (cả một tiểu đoàn pháo binh, cả một đại đội địa phương quân) đào ngũ. Cán bộ và nhân dân khu 300 ngày bền bỉ vận động, làm tan rã phần lớn số ngụy binh từ các tỉnh đến tập kết nơi đây. Địch muốn bảo toàn số lính để đem vào Nam nhưng không được nhiều. Những người lính Âu - Phi trải qua chiến tranh ác liệt, được sống tới thời hòa bình, lại được cán bộ nhân dân ta tuyên truyền giải thích càng thêm tỉnh ngộ. Truyền đơn tiếng Pháp chữ to “Hòa bình và hồi hương sớm” đặt ngay nơi ăn, nơi nghỉ của họ. Học đọc rồi trao tay nhau, bất chấp sự ngăn cấm của bọn sĩ quan. Họ tận mắt thấy 92 hàng binh và cả một số tù bình được chính quyền tỉnh Kiến An trả tự do… Họ hiểu rằng hòa bình đã trở lại miền Bắc Việt Nam, nhưng miền Nam thì chưa, vì người Pháp và người Mỹ đang bắt tay nhau làm những chuyện gì đó từ vĩ tuyến 17 trở vào. Họ bảo nhau đòi về quê trước thời hạn. Họ tỏ rõ ý chí xa rời đội quân đã gần chục năm giết người, cướp nước. 13 cuộc đấu tranh của họ vào thời gian này có kết quả. Một tiểu đoàn lính Phi, 120 lính Marốc ở đồn Khinh giao, 435 lính Âu ở đồn Rế, 120 lính Thái ở đồn Quang Cư… buộc bọn chỉ huy cho về nước sớm… Trưởng ban chỉ đạo khu 300 ngày theo dõi đều đặn cuộc đấu tranh đấu mưu của đông đảo quần chúng chống ham muốn của Chính phủ Pháp: “Lấy việc giữ gìn quân đội viễn chinh làm mục tiêu chủ yếu cần ưu tiên”. Đồng chí nói với anh em: - Vấn đề càng được địch ưu tiên ta càn tìm cách phá mạnh. Chúng ta phải làm xộc xệch, rời rã một đội quân rồi đây sẽ thực hành cái việc “Tiễu trừ hết mọi Việt Minh ở vùng Trung và Nam Đông Dương” (ghi trong chỉ thị của Chính phủ Pháp cho tổng chỉ huy quân Pháp), và bọn đó sẽ gây tội ác mới với đồng bào ta từ vĩ tuyến 17 trở vào. Đấy cũng là làm một tiệc đầy tính nhân đạo, mở đường cho những người lính ngụy, những người lính Âu - Phi sớm trở về đoàn tụ với gia đình. Chúng ta phải ra sức làm tốt việc này cũng như việc chống dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư, nằm trong kế hoạch hậu chiến lâu dài và thâm hiểm của đế quốc Mỹ… Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:54:17 am NGƯỜI GIỮ CHỨC TRÁCH TO KHÔNG CẨN THẬN SẼ MẮC LỖI LỚN Việc tiếp quản thị xã Hưng Yên diễn ra nhanh chóng, chỉ sau mười ngày ngừng bắn có hiệu lực. Phía Pháp cử người ra gặp Ban Tiếp quản của ta, hẹn đến 14 giờ ngày 6-8-1954, họ sẽ bàn giao thị xã. Nhưng mới 12 giờ 45, họ đã rút và chẳng bàn giao. Bộ đội ta vào xếp hàng hai bên đường, cầm cờ đỏ sao vàng vẫy chào bộ đội, mừng thị xã hoàn toàn giải phóng. Ngay sau đó, tỉnh ủy Hưng Yên họp hội nghị liên tịch Quân Dân Chính Đảng, Thanh Công Nông Phụ, bàn kế hoạch tiếp quản phía bắc tỉnh, đường 5, đường sắt, thuộc khu tập kết 80 ngày. Ngày 8-8-1954, ta tiếp quản thị xã Ninh Giang. Nơi đây phía Pháp rút sớm nhiều ngày so với quy định. Họ cũng chẳng bàn giao các vị trí, công sở, tài liệu… Rút kinh nghiệm ở thị xã Hưng Yên, ta chuẩn bị kĩ về mọi việc, nên khi họ rút, ta kịp thời vào quản lí ngay. Nhân dân hoan hỉ đón chào và nhiệt liệt ủng hộ. Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn tới Ninh Giang. Một số đơn vị thuộc Trung đoàn 42 đóng quân ở đây, chuẩn bị vào tiếp quản thị xã Hải Dương. Họp với ban Thường vụ tỉnh ủy Hải Dương, đồng chí bí thư Khu ủy nhận định: - Thị xã Hải Dương thuộc khu tập kết 100 ngày của Pháp. Thời gian tập kết lâu gấp 10 lần so với thị xã Hưng Yên, nên kinh nghiệm chống phá của chúng cũng sẽ nhiều hơn. Nơi đây đã được Pháp coi là sở chỉ huy lớn, điều khiển chiến tranh đối với cả một vùng rộng. Lúc này nó là một trong mấy cái “rốn vó” chứa đựng mọi thứ lính tráng, mọi loại phản động, mọi thứ đầu trâu mặt ngựa… Ở đây chúng còn cả hai sở chỉ huy cấp liên khu, cấp sư đoàn, còn 72 nơi đóng quân lớn nhỏ. Thị xã này đã và đang là tiền đồn quan trọng của Hải Phòng, của khu tập kết 300 ngày. Kẻ địch rất cảnh giác bảovệ tiền đồn của chúng. Ta cũng không quên là ở Hội nghị Giơnevơ, Pháp cứ nằng nặc đòi đóng quân ở Hải Phòng, như cấy một cái nhọt bọc rất to và cơ thể miền Bắc. Điều đó đã bị ta gạt bỏ. Nhưng ta vẫn phải cảnh giác, gởi âm mưu của Pháp cũng làm âm mưu của Mỹ. Một phái đoàn chuyên gia Mỹ do một viên tướng Mỹ cầm đầu đã đến Hải Phòng… cho nên việc tiếp quản thị xã Hải Dương và sau đó là thành phố Hải Phòng, sẽ không đơn giản như Hưng Yên, Ninh Giang. Việc này cũng phải dựa vào nhân dân, dựa vào giai cấp công nhân để làm, với sức mạnh toàn dân, toàn diện, với mưu cao, trí rộng. Đây không chỉ là một cuộc vui chiến thắng, mà còn là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn phức tạp. Đồng chí bí thư truyền đạt nghị quyết của Ban Thường vụ Khu ủy về việc lập Đảng ủy Quân Chính Hải Dương, do đồng chí Lê Đức Thịnh làm bí thư, cùng tỉnh ủy và hai trung đoàn ủy lãnh đạo toàn bộ việc chuẩn bị tiếp quản. Bộ tư lệnh giao cho Trung đoàn 50 cùng bộ đội huyện tiếp quản hai thị trấn Kẻ Sặt và Cẩm Giàng. Trung đoàn 42 cùng tiểu đoàn bộ đội tỉnh tiếp quản thị xã Hải Dương. Lập Ủy ban Quân Chính do đồng chí Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 làm chủ tịch, điều hành việc tiếp quản thị xã Hải Dương… Đồng chí bí thư Khu ủy đặt ra những câu hỏi, nêu những gợi ý để cán bộ bàn bạc, giải đáp, bổ sung. Những kinh nghiệm dựa vào dân, dựa vào trí tuệ tập thể có từ trong chiến đấu nay được vận dụng vào nhiệm vụ mới. Họp với cán bộ các tỉnh và các trung đoàn xong, đồng chí bí thư Khu ỷ nói chuyện với bộ đội. Bao nhiêu năm tháng mải tập luyện kĩ thuật chiến đấu, lúc này anh em mới có thì giờ để học tập về điều lệnh nội vụ, luyện tập đội ngũ, tập đứng tập đi… Anh em rất vui mừng được đóng đồng chí bí thư Khu ủy kiêm chính ủy khu. Tại một khu sân rộng, bộ đội nghiêm trang trong đội ngũ. Đồng chí chính ủy lần đâu tiên mặc quân phục đứng trước hàng quân. Qua mấy giây im lặng quan sát đội ngũ, chính ủy cất tiếng: “Các đồng chí thân mến”. Bộ đội liền đứng nghiêm. Chính ủy xúc động quên cả việc cho anh em nghỉ. Đồng chí vào chuyện ngay, giọng thân mật và sôi nổi: - Tôi thay mặt Khu ủy và Bộ tư lệnh khu mong các cán bộ, chiến sĩ toàn trung đoàn vui vẻ, luyện tập dẻo dai, khỏe về thể lực, giỏi về chiến thuật kĩ thuật, đoàn kết đội ngũ, đoàn kết quân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trước hết là tiếp quản khu vực 100 ngày, rồi tiếp quản khu vực 300 ngày. Đề cao cảnh giác, sẵn sàng chống mọi âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Muốn vậy, các đồng chí phải vừa học tập chính trị vừa huấn luyện quân sự. Phải hiểu rõ chính sách và kỉ luật trong vùng mới giải phóng. Các đồng chí đã học những điều căn dặn của Bác Hồ rồi phải không? Tôi nhắc lại: “Khi nào tiếp quản phải hết ức đề phòng những âm mưu mà kẻ thù của hòa bình sẽ dùng để phá hoại hàng ngũ ta. Phải luôn luôn giữ gìn phẩm chất cách mạng, cán bộ phải sống gương mẫu và giản dị, bộ đội phải giữ kỉ luật nghiêm chỉnh… Quân đội ta không được vì hòa bình mà lơi lỏng tay súng. Còn đế quốc ở miền Nam, thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ…”. Tôi mong các đồng chí ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ để thực hành nghiêm chỉnh, khi đi làm nhiệm vụ tập thể cũng như khi đi một mình… Chính ủy cao hơn những người bình thường, nay đứng trên bục, giọng nói hào sảng, đôi tay minh họa cho lời nói, thành tiêu điểm cuốn hút mạnh mẽ các chiến sĩ. Chẳng có máy tăng âm và loa phóng thanh, mọi người vẫn tận thu thiếng nói to, khỏe, dễ nghe, dễ hiểu, sinh động, xuất phát từ thực tế phong phú. Bộ đội chăm chú nghe; chưa được lệnh nghỉ nên cứ đứng nghiêm. Anh Thiết bảo tôi; “Đề nghị chính ủy cho anh em nghỉ”. Tôi lựa lúc chính ủy nhẹ giọng để nhắc; “Anh cho các chiến sĩ nghỉ”. Nhưng anh lại chuyển giọng sôi nổi hơn, không nghe thấy tôi nói. Tôi e mình nhắc sẽ mất trật tự, liền viết vào tờ giấy khổ “đúp” chữ to, nét đậm: “Anh cho các chiến sĩ nghỉ!”. Rồi giơ lên cho anh thấy. Song anh vẫn chẳng để ý, vì quá tập trung vào những điều mình nói. Tôi hiểu các chiến sĩ đã quá mỏi chân, cố nói to: “Anh cho anh em nghỉ!”. Anh vẫn không nghe thấy. Tôi đành bảo anh Thiết: “Ông cứ lệnh cho các chiến sĩ nghỉ!”. Anh Thiết bước gần hàng quân ra lệnh “Nghỉ”. Có lẽ lúc này chính ủy mói hiểu ra là mình quên. Đồng chí mỉm cười rồi tiếp tục nói với các chiến sĩ, cuồn cuộn, trôi chảy và hấp dẫn. Sau tôi nhác lại chuyện ấy, anh Ngạn cười: - Mình quen nói chuyện với cánh dân sự, không nhó là nói với cánh quân sự phải theo điều lệnh nội vụ. Sơ suất làm phiền một người đã không nên, làm phiền hàng trăm người càng phải tránh! Tôi hiểu tính anh: chưa biết thì hỏi đến cùng, có lỗi sẵn sàng nhận lội. Có lần ảnh bảo tôi: “Người giữ chức trách to không cẩn thận thì sẽ mắc lỗi lớn”. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 07:57:23 am ÔNG CHỈ HUY “NGŨ TỈNH ĐƯỜNG 5” Lễ truy điệu anh Dương Đức Miên tổ chức tại thị xã Ninh Giang. Trời xụt xùi lúc tạnh lúc mưa, khiến lòng người thêm rầu rĩ. Cỗ quan tài tượng trưng phủ quốc kì, đặt kề ban thờ khói hương nghi ngút. Dự lễ có các đồng chí đại diện Quân Dân Chính Đảng, Thanh Nông Công Phụ, các đồng chí trong Bộ tư lệnh khu cùng các ban, phòng trực thuộc, và nhiều anh em đồng chí. Túc trực hai bên quan tài là các đồng chí Nguyễn Khai, Nguyễn Chất (tỉnh đội Hải Dương). Đang giờ hành lễ thì anh Nguyễn Sáng tới. Tin anh Miên hi sinh đến với anh Sáng hơi chậm, vì anh đang công tác ở Việt Bắc. Anh mượn được chiếc xe đạp cũ kĩ của bộ phận hậu cần, xin phép cơ quan về Hưng Yên (quê anh Miên) rồi về Hải Dương. Biết lễ truy điều tổ chức tại đây, anh tức tốc qua mấy chục cây số, đạp xe trên đường gồ ghề, lầy lội sau trận bão, để kịp tới dự. Anh đứng bên quan tài, nước mắt giàn giụa. Nhiều người tưởng anh là thân nhân ruột thịt của người quá cố. Cuộc lễ trang nghiêm, trọng thể, kết thúc trong nỗi nhớ tiếc của mọi người đối với anh Miên. Bước khỏi lễ đường, tôi còn thấy anh Ngạn đưa khăn lên thấm nước mặt. Anh lại nhắc anh Khai: cần xúc tiến việc tìm thi hài… Cuộc hành trình của anh Sáng gây ấn tượng sâu sắc trong anh em chúng tôi. Tôi nhớ có lần anh Sáng kể về mối quan hệ mật thiết giữa anh với anh Miên: “Chúng tôi gắn bó với nhau trong một đơn vị. Anh là trung đoàn phó, tôi là quản trị trưởng (tức tham mưu trưởng)”. “… Khi ấy thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị gây sự trong nội thành Hải Phòng”. “Ngày 18-11-1946, anh Thịnh, anh Miên đi họp ở trụ sở Ủy ban Kháng chiến hành chính thành phố về nói: “Pháp gửi tối hậu thư cho ta, đòi phải nộp vũ khí và để chúng quản lí thành phố, tức là buộc ta đầu hàng””. “Anh em trung đoàn bộ chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Gói ghém, niêm phng tài liệu chuyển sang Kiến An, gửi cơ quan Chiến khu bộ. Súng nổ lác đác ở khu cảng, sáu kho, bến Bính…”. “Rồi cả thành phố, nhất là ở phía sáu kho, khu cảng, nhà ga, bưu điện, bến Bính… súng nổ như đốt pháo. Tiếng xe gần rú trên một số đường phố”. “Cả ngày 21 và 22, máy bay “bà già’ vè vè bay lượng, ngó nghiên, từ 7 giờ sáng tới 16 giờ chiều, chỉ huy bắn pháo vào thành phố. Một trong những mục tiêu chủ yếu mà chũng nã pháo là trung đoàn bộ chúng tôi”. “Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra như vậy cho đến 26-11, tức sáu ngày. Sau đó, có lệnh của chiến khu trưởng Hoàng Minh Thảo, cho rút hết các đồng chí qua Cầu Niệm sang Kiến An, rồi đóng lại ở huyện Vĩnh Bảo. Khi ấy có tiểu đoàn trưởng Long Vân, qua một ngày chiến đấu đã tự động bỏ đơn vị rút về phía sau. Đồng chí đó bị thi hành kỉ luật nặng, cho ra khỏi quân đội”. “Ngày 28-11, tức ngày thứ tám trụ lại ở cơ quan trung đoàn bộ, nhận được thư anh Đinh Thịnh, tôi và anh Miên rút ra chùa Dư Hàng. Chúng tôi họp bàn khe tác chiến theo lệnh của Chiến khu 3”. “Sống với anh gần trọn cuộc kháng chiến chín năm, tôi và anh có biết bao kỉ niệm buồn vui. Vì thế, tôi không cầm được nước mắt trước hương hồn anh…”. Tôi chăm chú nghe anh Sáng nói, giọng xúc động chân thành. Tôi nắm chặt bàn tay anh. Sau đó không lâu, anh Khai sang báo cáo với anh Ngạn một tin cần thiết, lĩnh ở đồn Cầu Ghẽ tan rã, về nhà kể chuyện: chúng được lệnh của chỉ huy, phục đánh bọn lái buôn lắm tiền sẽ qua đường 5. Nhưng chúng đã bắn phải một ông to “Chỉ huy ngũ tỉnh đường 5” (trong cái xà cột đeo vai anh Miên, có tờ giấy giới thiệu anh là chỉ huy trưởng Mặt trận 5, nên chúng hiểu như thế). Chúng đâm lo sợ: nếu các ông Việt Minh biết chúng sát hại người chỉ huy, thì sẽ đem bộc phá đến đánh sập đồn Cầu Ghẽ. Chúng phải đưa thi hài ba người về ngầm mai táng trong khu vực đồn, để giấu tung tích. Và chúng đã giấu được đến lúc này. Anh Ngạn cũng như mọi người chúng tôi, trải qua cả một thời gian băn khoăn, bứt rứt, nay mới được giải tỏa. Anh nói với anh Khai: - Bộ tư lệnh cần cử cán bộ đến thẩ trả cẩn thận, và bảo vệ phần mộ chu đáo, rồi trù liệu việc đưa hài cốt anh Miên và hai đồng chí bảo vệ về quê hương cho trang trọng. Cần đặt vấn đề với tỉnh, huyện, giao cho chi bộ Đảng và Hội phụ nữ xã, thường xuyên săn sóc thăm hỏi chị Miên, và giúp đỡ hai cháu học hành đến nơi đến chốn. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 08:00:17 am VÀO THỊ XÃ HẢI DƯƠNG Đảng ủy Quân Chính Hải Dương xếp tạm một nơi làm việc cho anh Ngạn ở làng Chắm, không xa thị xã. Anh vừa làm công việc của toàn khu, vừa chỉ đạo Hải Dương chuẩn bị tiếp quản. Hằng ngày anh có giờ làm việc cụ thể với anh Lê Đức Thịnh. Về việc thi hành hiệp định, anh Thịnh báo cáo: - Các cơ quan Quan Dân Chính Đảng, Thanh Công Nông Phụ đã hướng dẫn đồng bào vận động binh lính dịch: rải truyền đơn, viết thư, gặp gỡ trò chuyện, kêu gọi về với gia đình. Các bà, các chị đã đến tận đồn bốt đòi chồng con. Nhiều cuộc đấu tranh ở các thị trấn liên tiếp diễn ra. Ở thị xã Hải Dương 2.000 đồng bào đấu tranh, lôi cuốn cả ngụy quân tham gia. Dọc hai bên đường 5, từ Hải Dương đến Hưng Yên, có 18 cuộc đấu tranh đòi giải ngũ của 2.000 lính. Nhiều xã ven đường 5 mở các trạm công khai đón tiếp lính ngụy về quê hương. Đến tháng 9-1954, Hải Dương đã đón 20.000 lính. Một tiểu đoàn ngụy ở Bắc Giang đến đây tạm trú, chỉ sau một tuần đã trốn gần hết. Công nhân và nhân dân thị xã tích cực đấu tranh, bảo vệ công sở, máy móc, tài liệu, chặn bàn tay phá hoại của địch. Tổ chức công đoàn trong Ty Công chính hướng dẫn công nhân đấu tranh giữ xe máy, dụng cụ, kéo dài liền bốn tháng. Anh em tháo máy gửi các nhà dân, chuyển ba ôtô ra vùng giải phóng. Khi đối phương chuyển xe lu và một số công cụ đắt tiền đi, công nhân và nông dân kéo ra giữ lại. Nhân viên y tế và bệnh viện giữ được nhiều y cụ, thuốc men, chuyển dược máy chiếu X quang ra vùng giải phóng. Công nhân các nhà máy điện, nước, nhà ga, bưu điện đấu tranh bảo đảm hoạt động bình thường… Sắp đến khi tiếp quản, việc nhiều cả trong dự định và đột xuất. Anh Thịnh tập hợp tình hình diễn biến từng ngày, đến 12 giờ đêm báo cáo với anh Ngạn và xin ý kiến chỉ đạo. Anh Ngạn suy nghĩ, giải đáp mọi thắc mắc to nhỏ, rồi mới đi nghỉ; chuẩn bị cho ngày mai với vô số công việc… Anh phê bình Hải Dương chưa coi trọng công tác chống cưỡng ép di cư, yêu cầu phải dành một bộ phận cán bộ chuyên làm việc này. Thấy đồng chí Đào Đức Chính, phó chủ tịch Ủy ban tỉnh biết tiếng Pháp mà chưa vào làm việc trong nội thị, anh bảo: - Đưa ngay đồng chí ấy vào để biết họ nói gì, và nói họ những điều cần nói. Sáng 30-10, Trung đoàn 42 cùng bộ đội tỉnh vào tiếp quản các vi trí quân sự, công sở và bệnh viện… theo lênh đã định. Với sự chủ động, ta bám sát việc, nắm chắc tình hình, nên nhanh gọn và trật tự. Đối phương toan gây khó khăn trong giờ phút chót cũng không được. Họ lên xe rút dần ra đường 5, đến Hải Phòng. Một giờ chiều hôm ấy, chủ tịch Ủy an Quân Chính Nguyễn Như Thiết trên xe mui trần, dẫn đầu đoàn bộ đội cùng các cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể vào nội thị. Đồng bào đứng hai bên đường phố vẫy cờ đón chào, tặng hoa bộ đội. Đoàn xe và người diễu qua đường phố chính rồi tập trung ở vườn hoa Độc lập dự mít tinh. Hai vạn bộ đội, đồng bào vỗ tay hân hoan khi nghe đồng chí chủ tịch Ủy ban Quân Chính đọc diễn văn mừng thắng lợi. Cũng hôm ấy, anh Ngạn vào thị xã. Các đồng chí Hải Dương đón anh ở dinh tổng đốc cũ. Anh vui vẻ nói; - Từ xa nhìn lại thấy đèn điện sáng trưng dài hơn cây số, đến nơi thì thấy đường phố ngắn ngủn, nhà cửa lụp xụp. Càng hiểu người Pháp chỉ thạo phô trương bề ngoài, còn bên trong thì chẳng ra làm sao. Bây giơ thị xã nghèo nàn đặt vào tay ta, ta phải lo xây dựng nó khác trước, cho xứng với công lao chiến sĩ đồng bào ta kháng chiến gần chục năm qua. Đây là nói gần. Còn nói xa thì từ 80 năm trước, các cụ ta đã liên tục đấu tranh chống thực dân Pháp xâm chiếm tỉnh này, cụ Tán Thuật, cụ Đốc Tít, v.v. Mấy thế hệ chống Pháp xâm lăng mới có hôm nay chiến thắng. Các đồng chí thấy đúng không? Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 08:04:13 am VÀO TRẬN CUỐI Gần một năm quân Pháp tập kết ở Hải Phòng là chuỗi ngày dài dằng dặc đầy khó khăn. Đồng chí trưởng ban chỉ đạo khu vực 300 ngày luôn nhận được báo cáo về những vụ địch chống phá ta, và phải suy nghĩ tìm cách đối phó. Có những tối, đồng chí cùng các anh Hoàng Mậu, bí thư thành ủy Hải Phòng, Lê Chương, bí thư tỉnh ủy Kiến An, làm việc đến khuya, cùng một số cán bộ chủ chốt bàn cách phá âm mưu địch. Anh Mậu báo cáo: - Thực tế ở Hưng Yên, Ninh Giang, địch không bàn giao mọi thứ cho ta, tự tiện rút trước giờ quy định. Ở Hải Dương, ta chủ động đấu tranh, chúng bàn giao khá hơn. Nên hải Phòng cũng phải ráo riết đấu tranh với địch, và tự ta phải bám việc, nắm chắc tình hình, để sự giao nhận không bị trục trắc lôi thôi vào những giờ cuối. Ở đây, các địa điểm cần giao nhận nhiều hơn hẳn và quan trọng gấp bội so với Hải Dương. Nếu không có những biện pháp thích hợp, thì địch chỉ giao cho ta một thành phố đã bị vơ vét, cướp bóc xơ xác. Anh Ngạn suy nghĩ hồi lâu và nói: - Bọn địch muốn giữ cái đầu cầu từ biển vào Hà Nội và Bắc Bộ, ngay cả khi nó đã phải nhận cuốn cờ vào trong vĩ tuyến 17. Không đạt được tham vọng thì chúng phá, không được ăn thì chúng đạp đổ, cả Pháp và Mỹ đều thế. Để đối phó, một mặt ta dựa vao pháp lí quốc tế, đấu tranh buộc chúng phải thi hành hiệp định. Mặt khác, ta phải tự lực tìm mọi cách để bảo vệ thành phố, bảo vệ tài sản của ta. Vừa dựa vào sức mạnh toàn dân, vừa sử dụng một đội ngũ cán bộ vững vàng. Khu ủy đã chỉ thị các tỉnh và các trung đoàn góp cán bộ cho Hải Phòng, Kiến An, ít nhất là 300 người, nhiều hơn càng tốt, như phục vụ một chiến dịch lớn. Mở lớp tập huấn cho anh em làm nhiệm vụ các đội hành chính và trật tự, vào nội thành, cùng với hơn trăm cán bộ thâm nhập từ đợt trước, chuẩn bị nhận bàn giao. Đồng thời phải dùng các cơ sở, nhân mối tại chỗ của ta, làm việc kiểm kê các loại tài sản, tài liệu, để ta đối chiếu khi giao, nhận, nếu thiếu thì đòi chúng phải giao đủ. Lại tập huấn cho hơn trăm cán bộ quản lí công sở, nhà máy, mau chóng điều hành hoạt động, sản xuất, phục vụ đời sống. Công an cảnh sát có bộ phận bí mật vào sớm, tạo cơ sở cho bộ phận công khai kịp thời giữ vững trật tự an ninh. Quân đội sẵn sàng chiến đấu nếu địch tráo trở; chuẩn bị chu đáo để góp phần tiếp quản thành phố, trấn áp bọn phá hoại. Lực lượng Tuyên Văn Giáo Huấn dùng mọi hình thức hoạt động góp phần ổn định tư tưởng nhân dân, kịp thời chống chiến tranh tâm lí… Chúng ta phải toàn lực, ra sức đấu tranh, chống phá mọi âm mưu địch, tiếp quản thành phố an toàn và không gián đoạn, thiết lập vững chắc trật tự cách mạng, tọa điều kiện hàn gắn vết thương chiến tranh ở thành phố cảng này. Cả một khối công việc to lớn, nặng nề và phức tạp, phải làm cùng một lúc, việc nọ xen gối việc kia. Chúng ta phải đề cao trách nhiệm, vừa làm vừa bàn, bổ sung bổ khuyết kịp thời, thấy sai uốn nắn ngay, rồi làm tiếp cho tốt, làm có sáng tạo những việc mà ta chưa từng làm bao giờ. Mấy giờ liền, anh Ngạn làm việc với Hải Phòng, Kiến An, vừa xong thì anh Nguyễn Khai đưa đồng chí trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 đến báo cáo sự chuẩn bị tham gia tiếp quản của đơn vị mình. Vừa áp sát khu vực 300 ngày phối hợp với các đơn vị bạn, sẵn sàng chống sự tráo trở của địch, vừa cử những cán bộ, chiến sĩ được rèn luyện thử thách, có kinh nghiệm qua tiếp quản thị xã Hải Dương, vào các đội hành chính, nhận bào giao của đối phương. Anh Ngạn hỏi kĩ về những việc Trung đoàn đang làm và sẽ làm trong ngày tiếp quản. Anh nhắc lại với ý biểu dương quân dân vùng bắc sông Luộc, trong đó có các trung đoàn 42, 50, đã vận động được 30.250 lính địch đào ngũ. Anh cũng nhắc lại ưu điểm của trung đoàn 42 trong cuộc tiếp quản thị xã Hải Dương: - Thực hành đúng tầm chính sách và 10 điều kỉ luật trong vùng mới giải phóng, tuân thủ nghiêm chỉnh những điều căn dặn của Bác Hồ đối với cán bộ, bộ đội vào thành phố tiếp quản. Tư thế nghiêm trang, đội ngũ chỉnh tề, gương mặt tươi vui, được đồng bào thương mến. Anh căn dặn: - Tất cả những ưu điểm đã có trong khi tiếp quán Hải Dương, cần được phát huy cao độ trong khi tiếp quản Hải Phòng. Bộ đội đoàn kết nội bộ, bộ đội đoàn kết với công an, đoàn kết với tự vệ và nhân dân. Mỗi người đều thấy công lao của mọi người, không được chủ quan, công thần, tự mãn, tự kiêu. Cán bộ các loại vào tiếp quản có thể xen lẫn với nhân dân. Bộ đội mang trang phục riêng, không xen lẫn với ai được, mỗi sai sót nhỏ đều bày ra trước mắt mọi người. Trung đoàn cần cho từng đơn vị tự kiểm điểm, mỗi cán bộ, chiến sĩ tự phê bình, tìm ra ưu điểm để phát huy, khuyết điểm thì khắc phục, để khi vào thành phố càng nhiều ưu điểm càng hay. Đồng bào sẽ qua bộ đội mà nhìn nhận, đánh giá cả đội ngũ kháng chiến nhiều năm xa thành phố nay trở về. Người ta sẽ xem cá đồng chí như xem văn công trên sân khấu. Đúng không? Anh nói tiếp với anh Khai: - Đề nghị Bộ tư lệnh gặp ban chỉ huy các trung đoàn khác thuộc 320 và 350, truyền đạt những điểm ta bàn bổ sung hôm nay, để các đồng chí ấy động viện, giáo dục bộ đội, góp phần cố gắng cao nhất cho việc tiếp quản thắng lợi. Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 08:13:19 am SÓNG ĐẤU TRANH LỚP SAU KỀ LỚP TRƯỚC Trong những ngày tập kết ở Hải Phòng, quân Pháp vốn không thiếu trò xảo quyệt, lại được chuyên gia, cố vẫn Mỹ xúi giục, ra sức phá hoại, cướp bóc tài sản, máy móc của ta. Ban Chỉ đạo khu vực 300 ngày thường xuyên nghe phản ánh tình hình để kịp thời đối phó. Nhiều cán bộ các ngành, các đoàn thể được bí mật đưa vào nội thành, nội thị từ đầu, đã phục hồi và xây dựng được nhiều cở sở chính trị. Song cuộc đấu tranh kinh tế, giành giữ tài sản của ta ngày càng trở nên phức tạp, gay go. Tin tức hàng ngày đưa về văn phòng đồng chí trưởng ban Chỉ đạo. Cuối tháng 11-1954, đồng chí nghe báo cáo của Ban Cán sự nội thành: - Viên phó giám đốc Y tế Bắc Việt cho người đến nhà thương Vườn Hoa tháo dỡ công cụ chữa răng, bàn giải phẫu và lấy nhiều y cụ chuyển đi. Đồng chí trưởng ban hỏi anh Phan Hiền, thành ủy viên Hải Phòng, trực tiếp phụ trách Ban Cán sự: - Các đồng chí định đối phó thế nào? Anh Phan Hiền báo cáo: - Chúng tôi sẽ tổ chức cuộc đấu tranh mở đầu, giữ bằng được số dụng cụ y tế có quan hệ đến đời sống nhân dân ấy. Mở đầu có kết quả sẽ khiến địch phải chùn tay, đồng thời tạo khí thế đấu tranh cho nhân dân toàn thành phố. Anh Phan Hiền quê ở Hải Phòng, tham gia Việt Minh trước tổng khởi nghĩa. Anh và một đồng chí nữa chỉ huy 30 chiến sĩ tự vệ, cùng quần chúng vũ trang vào chiếm huyện lị An Lão, tuyên bố thành lập Ủy ban nhân dân lâm thời. Tiếp đó, anh hoạt động trên địa bàn Hải Phòng cho đến lúc này. Đồng chí trưởng ban đồng ý với anh Hiền và nhấn mạnh: - Điều có tính quyết định cho đấu tranh thành công là phải huy động đông đảo nhân dân tham gia. Nhà ai cũng sẽ có người ốm đau, phải giữ lấy nhà thương và đồ dùng chữa bệnh để bảo vệ mình, người nhà mình, đồng bào minh. Cán bộ phải đi sát vận động nhân dân, để bà con thấy quyền lợi thiết thân mà hăng hái đấu tranh. Đồng chí trưởng ban nói thêm với anh em văn phòng chúng tôi: - Đánh một cái đồn lớn nhiều khi do ta chủ động, từ điều tra địch tình đến khi nổ quả bộc phá đầu tiên… Đấu tranh chính trị, kinh tế, ta phải căn cứ vào hành động địch như thế nào để có cách đối phó tương ứng. Đồng chí có ý lo chưa kịp tổ chức lực lượng đấu tranh, kẻ địch đã cướp được tài sản mang đi, lại lo địch dùng vũ lực trấn áp nhân dân. Đồng chí đi đi lại lại trong nhà, mắt ngóng ra ngoài chờ mấy người giao thông hỏa tốc chạy chân, đồng thời nghe chuông điện thoại. Kinh nghiệm vận động tổ chức đấu tranh chính trị vốn có lâu nay được vận dụng vào lần này. Các đồng chí nột thành Hải Phòng tỏa ra rất nhanh, trước hết vận động công nhân, nhân viên làm việc tại nhà thương và những người đến chữa bệnh. Các nhóm khác vận động chị em buôn bán ở chợ Vườn Hoa, bà con đi chợ, nhân dân lao động ở các khu phố gần nhà thương. Sẵn lòng căm thù địch, lại muốn giữ nhà thương để chữa chạy cho nình khi ốm đau, bà con hưởng ứng nhanh chóng. Công nhân không tháo dỡ máy, viện cớ lo dân trách phạt. Người bệnh nói với bọn thừa hành do giám đốc y tế phái tới: “Các ông cũng có lúc phải chữa bệnh. Tháo hết máy móc, lấy hết đồ dùng thì chữa bằng gì!”. Thế là sự dè dặt, lừng chừng diễn ra trong những người thừa hành. Phía cổng nhà thương, người đến mỗi lúc càng đông, ba bốn trăm, rồi lên tới nghìn rưỡi, hai nghìn. Địch vội cho lính tráng, cảnh sát đội mũ sắt, súng cắm lưỡi lê, ập đến xua đuổi nhân dân, chộp bắt những người hăng hái nhất. Ta sẵn phương án đối phó với tình huống trên, đưa thêm lực lượng nhân dân ở các khu lân cận tới hợp lực, giằng giữ những người bị chúng chộp bắt, thuyết phục binh lính để họ chùn tay bắt bớ hoặc dửng dưng ngoài cuộc. Cùng lúc, ta huy động hơn trăm người đến trụ sở Ủy ban Quốc tế giám sát thi hành hiệp định, tới tấp đưa những bản kiến nghị nhiều chữ kí. Cử người vào gặp Ủy ban tố giác phía Pháp vi phạm hiệp định; yêu cầu Ủy ban cử đại diện đến nhà thương can thiệp. Cuộc đấu tranh nhiều người, nhiều ngả, diễn ra từ trưa đến gần tối. Mọi người reo mừng khi tổ công tác của Ủy ban Liên hiệp đình chiến, trong đó có đại biểu của ta, mũ sao, quân phục chỉnh tề, cùng với một tổ của Ủy ban Quốc tế đến xem xét hiện trường, lập biên bản quyết định phía Pháp phải để máy móc dụng cụ lại và thả 18 người bị bắt. Tin thắng lợi về, anh Ngạn bảo chúng tôi: - Ý nghĩa to lớn của cuộc đấu tranh này không chỉ là giữ được một số máy móc tài sản, mà ở chỗ nó mở đầu cho những cuộc đấu tranh còn tiếp diễn; ở chỗ làm cho mọi người tin vào sức mạnh đông đảo của mình, tin rằng đấu tranh hợp lí thuận tình thì nhất định thắng. Kẻ địch cũng phải thấy nó phi nghĩa phi lí thì nhất định thua. Đúng là cuộc đấu tranh còn tiếp diễn. Ba tuần sau đó, phía Pháp lại cho hai trung đội lính Âu - Phi và hai đại đội ngụy kéo đến nhà thương chính của thành phố. Chúng biết dân sẽ kéo đến đấu tranh nên chặn các ngả đường tới đó và nổ súng uy hiếp. Một bọn vào nhà thương khiêng các máy chiếu điện, nắn chân, máy hấp bông băng, dụng cụ giải phẫu và hàng chục hòm thuốc men… xếp lên hai xe chữ thập đỏ. Có kinh nghiệm cuộc đấu tranh trước, nhân viên nhà thương sợ mất dụng cụ làm việc, người bệnh sợ không còn thứ để chữa, tỏ thái độ phản đối đầu tiên. Rồi nhân dân quanh đó ồ ạt kéo vào… bọn chúng cố ý bắn bảy người bị thương, bắt sáu người. Nhân dân căm tức ùa vào đông hơn, vây quanh hai chiếc xe. Bọn cướp ngày đành phải rút. Anh Phan Hiền hằng ngày, thậm chí hằng giờ, báo cáo tình hình đấu tranh: - Qua hai lần thất bại, chúng vẫn không mở mắt. Nửa tháng sau, chúng lại đưa khá đông lính Pháp và ngụy xông vào bệnh viện, cướp tài sản. Cuộc tấn công đông người và bất ngờ chỉ lấy dược một số tủ lạnh và máy giặt. Trước đó, nhân viên bệnh viện đã bí mật cất giấu, phân tán được nhiều thứ quý hiếm. Thực tế cho hay: chủ động bí mật cất giữ hơn là trực diện giành giật với chúng. Tự vệ và công đoàn nhà máy xi măng vận động công nhân đánh tráo của xấu lấy của tốt đem cất giấu; làm hỏng hoặc giảm năng suất một số bộ phận khác. Hơn 2.000 công nhân tham gia cất giấu, giữ gìn máy móc và chống giãn thợ. Lính địch đàn áp, công nhân vừa đấu tranh vừa thuyết phục chúng phải làm ngơ. Địch còn vơ vét máy móc, tài sản ở cảng Hải Phòng, xí nghiệp hỏa xa, các nhà máy điện, nước, sở Kiều lộ… Công nhân, viên chức và đồng bào phối hợp đấu tranh, giành giữ, cất giấu có kết quả. Đồng chí trưởng ban Chỉ đạo vùng 300 ngày đặc biệt quan tâm theo dõi cuộc đấu tranh chống âm mưu địch đưa 300 anh chị tù chính trị ở “căng” Máy Chai ra biển thủ tiêu. Đồng chí chỉ thhị cho Ban Cán sự nội thành: - Phải huy động lực lượng đông đảo hơn nữa, phát huy cao độ uy lực quần chúng, nhiều tấng lớp, buộc địch phải chùn tay! Thế là ba vạn nhân dân nội thành, ngoại thành được tập hợp. Bà con cắm trại, dựng lều, bám sát quanh nhà giam, đưa thuyền đò ra giãn kín mặt sông Cửa Cấm, ngăn không cho địch làm hại đồng bào mình. Liên tục ba ngày đêm, bà con vừa kiên trì biểu thị sức mạnh của số đông, vừa đấu lí đấu thuyết, khiến địch phải nhận thả tù trong “căng”. Ta không tin chúng thả hết, đồi phải để đoàn đại biểu nhân dân vào kiểm tra “căng”. Chúng phải chấp nhận. Kinh nghiệm trên được áp dụng cho cuộc đấu tranh bảo vệ 26 chiến sĩ hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn (có luật sư Nguyễn Hữu Thọ và giáo sự Phạm Huy Thông) bị địch đưa từ miền Nam ra quản chế ở Hải Phòng. Nay lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng, chúng có thể âm mưu hãm hại. Anh Phan Hiền đến báo cáo với đồng chí trưởng ban chỉ đạo: - Thành ủy Hải Phòng đã mật báo với các chiến sĩ hòa bình về chủ trương kiên quyết bảo vệ, rồi tổ chức số đông nhân dân ngày đêm bám sát quanh ngôi nhà giam giữ, đòi phía Pháp phải bảo vệ an toàn và đưa anh em về Sài Gòn. Đồng thời bí mật đưa giáo sư Phạm Huy Thông, người mà địch biết là đảng viên cộng sản, cùng vợ ông ra vùng tự do. Biết sẽ thất bại như vụ “căng” Máy Chai, địch phải đưa số anh em còn lại về Sài Gòn. Anh Phan Hiền còn báo cáo: - Dịp này các cơ sở ta thu được 300 bản đồ các nhà máy, công sở, dinh thự; nhiều hồ sơ, tài liệu quân sự, kinh tế, các tổ chức gián điệp Pháp, Mỹ, Anh, đặc vụ Tưởng… Đồng chí trưởng ban tỏ ý hài lòng, nhận xét: - Thế là Hải Phòng chiến đấu và chiến thắng đến trận cuối cùng. Bên cạnh những cuộc đấu tranh người đông sức mạnh, còn có những cuộc đấu tranh thầm lặng nhưng không kém phần quan trọng. Sóng đấu tranh lướp khi nổi, khi ngầm, lớp sau kề lớp trước. Truyền thống “Trung dũng” của thành phố Hải Phòng ngày càng phát huy cao! Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 08:14:15 am HẢI PHÒNG GIẢI PHÓNG, BÁC HỒ VỀ THĂM Đầu tháng 4-1955, anh Ngạn nhận nhiệm vụ bí thư thành ủy Hải Phòng theo quyết định của Trung ương Đảng. Ban Thành ủy họp nhận định về những việc đã làm trong thời gian qua. Chỉ còn hơn một tháng nữa là chính thức tiếp quản thành phố. Thành ủy cho mở một đợt tổng soát những công việc phải làm, nhằm phát hiện thiếu sót, bổ khuyết kịp thời. Theo thời giờ đã định, các đội hành chính và trật tự của ta nhanh chóng vòa làm nhiệm vụ. Được sự chuẩn bị và giúp đỡ của công nhân, viên chức và nhân dân, các cán bộ ta tin tưởng và nghiêm cẩn làm việc, khiến phía địch phải có thái độ tương ứng, lần lượt bàn giao các vị trí, công sở cho ta. Thấy thiếu thứ này, thứ khác, ta yêu cầu họ bàn giao đầy đủ. Họ ngạc nhiên trước sự nắm chắc tình hình của cán bộ ta. Ngày 28-4, Trung đoàn 42 tiếp quản các huyện Kim Thành, Kinh Môn và một phần huyện An Dương. Ngày 10-5, Trung đoàn 52 (thuộc 320) cùng Tiểu đoàn 204 bộ đội địa phương tiếp quản thị xã Kiến An. Ngày 12-5, Trung đoàn 42 tiếp quản toàn huyện An Dương. Việc tiếp quản ngoại vi thành phố như thế là hoàn thành tốt. Cán bộ, chiến sĩ ta đã nghiêm chỉnh chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ đối với vùng giải phóng, nhận được thiện cảm của đồng bào. Ngày 13-5, các đơn vị bộ đội ta gọn gàng trong những bộ quân phục màu xanh, mũ sáng sao vàng, từ các ngả tiến vào thành phố. Trung đoàn 42, con đẻ của thành phố, khi rời nơi “chôn rau cắt rốn” ra đi kháng chiến, nhiều chiến sĩ chân đất, đầu trần, áo vải, quần nâu, mũ ca lô, mũ cát, bao đạn, thắt lưng tự tạo da lợn, da trâu, súng Nhật, súng Tây, súng Tàu nhiều loại, không ít mã tấu cán tre, dao găm vỏ gỗ… Hôm nay chiến thắng về thành phố, thê đội Một chỉnh tề trên mười xe ôtô. Đầu xe phấp phới quân kì, sáng trưng quân hiệu, theo đường 5 tiến vào Hải Phòng. Đến Cầu Quay, phía Pháp cử một đoàn năm xe bọc thép gắn trọng liên ra đón. Viên sĩ quan Pháp có hai lính hộ vệ, mời đoàn ta vào tiếp quản vị trí đầu tiên của khu nội thành. Nửa tiểu đội của ta trang nghiêm bước tới thay gác cho lính Pháp rút. Hai bên đường Bônnan (nay là Nguyễn Đức Cảnh), đồng bào vai sát bên vai, những gương mặt tươi màu phượng nở, mắt sáng nắng ban mai, vẫy cờ, vẫy hoa chào mừng các chiến sĩ quang vinh trở về. Các hướng vào nội thành Hải Phòng và thị xã Kiến An, các đơn vị anh em thuộc các đại đoàn 320, 350 cũng hùng dũng hành quân, trước sự hân hoan chào đón của đồng bào, mỗi lúc thêm đông, mỗi lúc thêm phấn chấn. Không kìm được xúc động, các chị em, các cháu nhỏ tràn xuống đường, tặng hoa các anh bộ đội. Đội hình các chiến sĩ thu hẹp chiều ngang, kéo dài chiều dọc, có lúc dân lẫn vào quân. Nụ cười nở bên giòng nước mắt tươi vui. Tiếng vỗ tay nổi lên hết nhịp này qua nhịp khác. Đúng như đồng chí bí thư khu ủy, chính ủy khu Tả Ngạn tưởng tượng các chiến sĩ ta, trong giờ phút ca khúc khải hoàn, đi giữa lòng thành phố, như các cô văn công xinh đẹp trên sân khấu hội xuân. Chiều 13-5, một cảnh huống trái ngược diễn ra với đám quân xâm lược. Chiếc tàu Đrin Boocđô chở một tiểu đội Âu - Phi cuối cùng rời bến cảng Hải Phòng. Không còn vẻ hùng hổ của 80 năm trước, tên Giăng Đuypuy cùng 200 lính đến Hải Phòng, bắn vài loạt súng thị uy, đốt 38 thuyền của ta, rồi chạy tuột lên Hà Nội, buộc quan kinh lược nước Nam “cho mượn sông Hồng” chở hàng sang Trung Quốc bán rồi khi trở ra lại đòi “chiếm hẳn sông Hồng”, lên phố xá Hà Nội đóng quân. Cũng không còn thói càn dỡ hung hăng của 15.000 quân Pháp trong vòng chín ngày kéo vào Hải Phòng, rồi từ đây đánh tràn ra khắp miền Bắc nước ta. Gieo gió phải gặt bão, sau chín năm xâm lược, chúng bị ta đánh giạt ra Hải Phòng, rồi lầm lũi rút đi từ đây. Hải Phòng hai lần đau thương suốt 80 năm, nay mới có ngày đại thắng. Ngay chiều hôm ấy, từ Ga Hải Phòng, các đồng chí công nhân gắn ảnh Bác Hồ, treo cờ hoa lên đầu tàu hỏa, chở Đoàn đại diện anh chị em công nhân và các cở sở kháng chiến quanh khu ga, ra chào mừng Cảng Hải Phòng. Tiếng còi tàu nổi lên vang vọng cùng lúc với tiếng còi các nhà máy chào mừng ngày thành phố, nhà ga, bến cảng vĩnh viễn thuộc về ta. Ngày 14-5, thành phố tổ chức lễ chào mừng thắng lợi. Đại diện các cơ quan Khu Tả Ngạn, thành phố Hải Phòng, tỉnh Kiến An, đại diện các đơn vị bộ đội tiếp quản thành phố tới dự. Các đại đoàn, trung đoàn đều cử một đại đội dự lễ duyệt binh. Các chiến sĩ đi thành đội ngũ, tay cầm súng, chân bước đều theo nhịp kèn hùng tráng, trước sự cổ vũ nồng nhiệt của đồng bào. Mười chín ngày sau đó, tại nhà hát lớn của thành phố, đại biểu nhân dân và chiến sĩ Hải Phòng họp mặt đón mừng Bác Hồ về thăm. Trong khung cảnh đầm ấm, mọi người vui sướng hướng về Bác Hồ. Có những đại biểu đã được đón Bác sau chuyến Người thăm nước Pháp trở về, tới Hải Phòng ngày 20-11-1946. Khi ấy, Người nói chuyện với đồng bào, chiến sĩ tại vườn hoa Sông Lấp. Qua chín năm kháng chiến gian nan, nay Bác lại về thăm Hải Phòng. Bác già thêm nhưng vui hơn rất nhiều so với lần trước. Lần ấy Bác về khi thành phố đang hối hả chuẩn bị kháng chiến. Lần này Bác về thành phố đã chiến thắng vẻ vang. Các đồng chí lãnh đạo khu Tả Ngạn, Hải Phòng, Kiến An cùng đồng chí Đỗ Mười - anh Ngạn, và các đại biểu lắng nghe giọng nói ấm áp thân thương của Bác. Người khen: “Vừa rồi công việc tiếp quản tốt là do bộ đội, cán bộ làm đúng chính sách, giữ vững kỉ luật, do nhân dân ta, đặc biệt là công nhân hăng hái đấu tranh”. Bác căn dặn; “Nhiệm vụ tất cả mọi người chúng ta hiện nay là đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó là cuộc đấu tranh phức tạp, gian khổ và lâu dài, bời vì đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng đang âm mưu phá hoại hòa bình, phá hoại thống nhất”. Đồng chí bí thư Khu ủy, chính ủy khu Tả Ngạn, bí thư thành ủy thành phố Hải Phòng, người chiến sĩ vùng địch hậu, thay mặt toàn thể đồng bào và các lực lượng vũ trang vùng Tả Ngạn sông Hồng, hứa hẹn đoàn kết, phấn đấu thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ kính mến. Đồng chí nêu lên những việc cấp bách phải làm ngay, khiến cho thành phố sớm hàn gắn được vết thương trầm trọng do chiến tranh để lại và do cướp phá của địch trước khi phải rời mảnh đất này. Đồng chí nêu bật những thắng lợi mới, khi một nửa nước được sống trong hòa bình, sẽ làm được nhiều việc lớn để cải thiện đời sống nhân dân miền Bắc, tạo nền tảng vửng chắc cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, thống nhất và dân chủ trong cả nước. Những tiếng vỗ tay nhiệt liệt nổi lên, biểu thị sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu! Mùa thu 1999 B.N Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Giêng, 2010, 11:03:10 am (http://img407.imageshack.us/img407/628/22220764.jpg)
(http://img651.imageshack.us/img651/8562/12469573.jpg) (http://img85.imageshack.us/img85/327/62277860.jpg) (http://img685.imageshack.us/img685/7397/89982878.jpg) Tiêu đề: Anh Ngạn Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Giêng, 2010, 11:04:15 am (http://img716.imageshack.us/img716/2079/81712431.jpg)
(http://img52.imageshack.us/img52/7398/95576232.jpg) (http://img43.imageshack.us/img43/167/83511150.jpg) (http://img519.imageshack.us/img519/309/15043459.jpg) |