|
Tiêu đề: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: kien098 trong 11 Tháng Tám, 2007, 03:48:15 pm Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc[/size=4]
Vương Trọng Mười bát nhang cắm thế đủ rồi Còn hương nữa hãy dành cho người khác Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp Như nắng trong thung như cỏ trên đồi! Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa! Ơi các em cổ quàng khăn đỏ Bên bia mộ, xếp hàng nghiêm trang thế Thương các chị lắm phải không? Thì hãy quay về Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất khác Các chị còn khao khát bóng cây che! - Hai tám năm trôi qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc Thương nhớ chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc Về bón chăm cho lúa được mùa hơn Bữa ăn cuối cùng mười chị em không có gạo Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường! - Cần gì ư? lời ai hỏi trong chiều Chúng tôi chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu Ngày bom vùi tóc tai bết đất Nằm trong mộ rồi mái đầu chưa gội được Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang Cho mọc lên vài cây bồ kết Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Galaxy trong 11 Tháng Tám, 2007, 11:35:34 pm Ngày 20/04/1882, thực dân Pháp đã tấn công thành Hà Nội lần thứ 2. Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Ninh Bình) là Hoàng Diệu đã chỉ huy quân sĩ chống trả quyết liệt. Giao chiến đến trưa thì bất ngờ kho thuốc súng trong thành nổ tung (nghi là do bị mấy thằng việt gian đốt). Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu đã viết di biểu gửi vua Tự Đức rồi sau đó đến Võ miếu tuẫn tiết theo thành
Đương thời, phó bảng Nguyễn Trọng Tịnh đã làm bài thơ điếu cụ Hoàng Diệu như sau; "Đã tay cầm bút lại cầm binh Muôn dặm giang sơn nặng một mình Thờ chúa, chúa lo, lo với chúa Giữ thành, thành mất, mất theo thành Suối vàng ắt hẳn mài gươm bạc Lòng đỏ đành đem gửi sử xanh Di biểu nay còn sôi chính khí Khiến người thêm trọng bút khoa danh" Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 24 Tháng Mười, 2007, 05:00:50 pm Tây tiến
Quang Dũng Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Tây tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Bài thơ này QD sáng tác năm 1948 khi ông đang ở Phù Lưu Chanh nhớ về kỉ niệm với đoàn quân Tây Tiến, ban đầu ông định đặt tên bài thơ là :" Nhớ Tây Tiến " nhưng sau đổi thành " Tây Tiến ". Bài thơ là khúc tráng ca về người lính thật tuyệt vời.Em rất thích bài thơ này, ngày thi hết học kỳ 2 lớp 12 em đã đạt 8,5 điểm khi phân tích bài thơ hi hi Tiêu đề: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: CSHS trong 17 Tháng Tám, 2008, 01:55:27 pm Các bác ai có những bức tranh nghệ thuật về người lính QĐNDVN không ạ ? Nhà cháu thích lắm mà tìm mãi không thấy :D. Ai có có thể đưa lên cho mọi người chứ ạ ?
Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: dongadoan trong 17 Tháng Tám, 2008, 02:12:54 pm Như thế này ý à? ;D
(http://i71.photobucket.com/albums/i152/bodoi_bucket/tranh.jpg) Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: CSHS trong 22 Tháng Tám, 2008, 07:55:46 pm Đại loại như thế ;D nhưng ảnh đó nhà cháu có rồi. ;D Có ảnh nào nữa ko ạ ? ;D
Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: tuaans trong 24 Tháng Tám, 2008, 04:41:13 pm Hoa chiến công - Họa sĩ Cổ Long Châu
(http://i187.photobucket.com/albums/x51/tuaans/images86314_HoaChienCong_CoTanLongC.jpg) Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: CSHS trong 02 Tháng Chín, 2008, 12:20:08 pm Cám ơn bác tuaans nhiều. ĐÚng thứ đang tìm ợ. :D
Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: tuaans trong 30 Tháng Chín, 2008, 03:03:13 pm Kỷ Niện Trường Sơn.
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: mig21-58 trong 14 Tháng Mười, 2008, 04:29:57 pm đ/c thoang có thể phân tích lại bài thơ này cho anh em coi lại được không ?cho thiên hạ biết thoáng văn nhiều hay ít ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 14 Tháng Mười, 2008, 04:46:08 pm đ/c thoang có thể phân tích lại bài thơ này cho anh em coi lại được không ?cho thiên hạ biết thoáng văn nhiều hay ít ;D Thú thật là bây giờ nếu có phân tích nó cũng không được " lai láng " như 5 năm về trước chú ạ ! Giờ trong đầu cháu chỉ có Polime mệnh giá cao thôi ;D. Nhưng cháu hứa 1 ngày gần nhất, tâm trạng thật thoải mái cháu sẽ " thoả chí tang bồng " với đoàn quân " Tây Tiến " năm xưa ! :D Tiêu đề: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: Hoaban trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:31:00 am THÁNG BA MÙA HOA BƯỞI
(Nghiêm Thị Thuý Hằng) Chả phải vô tình mà em nhớ tháng ba Nhớ về Anh nhớ mùa hoa bưởi Cánh hoa rơi lòng Em bổi hổi Chút hương thầm làng bãi lan xa Chả phải vô tình mà Em nhớ tháng ba Ngõ nhà Anh đầy hoa soan tím Nhớ bến sông thuyền ai ghé bến Hương bưởi quê mình líu khách qua sông Nhớ tuổi thơ Em nhặt bông bưởi trắng Tháng ba về Mẹ giã bánh trôi Anh cầm súng lên đường đi đánh giặc Chúng mình mỗi đứa một nơi Em về làng giữa mùa hoa bưởi Hương hoa thơm ướp nước gội đầu Mẹ bảo Anh giờ này nơi biên giới Hai đưa mà có nhận thư nhau Chả thể nào giấu Mẹ được lâu Chúng mình yêu nhau từ mùa hoa bưởi Em đi học xa quê lên Hà Nội Anh về phép thăm nhà chiều đó tiễn Em Chúng mình đi dọc lối ngõ quen Vườn tím hoa soan trắng ngần hoa bưởi Chiều chia tay có gì mà bối rối Trăng mọc bao giờ hai đứa cũng không hay Một mùa hoa chúng mình lại chia tay Một mùa hoa mong ngày gặp lại Ôi mùa hoa lòng Em mong đợi Mùa hoa làng mình hoa bưởi tháng ba./. Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: TQNam trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:52:33 am Hương thầm
Cửa sổ hai nhà cuối phố Không hiểu vì sao không khép bao giờ Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay Cô bé ngập ngừng sang nhà hàng xóm Bên ấy có người ngày mai ra trận Họ ngồi im không biết nói năng chi Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi Nào ai đã một lần dám nói? Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối Anh không dám xin cô gái chẳng dám trao Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao Không giấu được cứ bay dịu nhẹ Cô gái như chùm hoa lặng lẽ Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu (Anh vô tình mà chẳng biết điều Tôi đã đến với anh rồi đấy...) Rồi theo từng hơi thở của anh Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực Anh lên đường hương sẽ theo đi khắp Họ chia tay vẫn chẳng nói điều gì Mà hương thầm thơm mãi bước người đi Phan Thị Thanh Nhàn *** Đây là một bài thơ rất hay, được sáng tác từ thời KCCM. Cảm xúc đến với tác giả là từ câu chuyện có thật của em trai mình trước lúc đi B và người em đó đã không trở về nữa. Có lẽ không mấy người lính không biết bài nầy và họ đã mang nó theo như một hành trang, chì tiếc khi được phổ nhạc thì ...! Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 22 Tháng Mười, 2008, 10:15:32 am Điều ít biết về 'Màu tím hoa sim' của Hữu Loan Nguồn : http://www.vnexpress.net/GL/Van-hoa/2004/12/3B9D9953/ Đến nay, "Màu tím hoa sim" được xem là một trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỷ 20 và là bài thơ đầu tiên được mua bản quyền bởi một doanh nghiệp với giá 100 triệu đồng. Nhưng quanh sự kiện này, cũng không ít độc giả còn thắc mắc về bản cũ và bản mới chỉnh sửa sau này của bài thơ. Tại Sài Gòn, trước năm 1975, giới văn nghệ sĩ cũng như đông đảo bạn đọc yêu thích thơ nhạc đều rất quen thuộc với bài Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan. Tuy bấy giờ tác giả đang sống ngoài Bắc, nhưng tác phẩm ấy đã chiếm một chỗ đứng trong lòng người yêu thơ miền Nam. Bài thơ được giới thiệu không những qua sách báo, mà còn được phổ nhạc, hát rộng rãi trên đài phát thanh, các buổi trình diễn văn nghệ trên sân khấu đương thời, nhất là vào những năm thập niên 60 của thế kỷ 20. Bản Màu tím hoa sim thời ấy ngắn hơn bản tác giả công bố sau này. Nghĩa là dừng lại, chấm hết ở mấy câu: "Tôi hát trong màu hoa. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu" chứ không có thêm “Tôi ví vọng về đâu. Tôi với vọng về đâu. Áo anh nát chỉ dù lâu...” ở cuối bài như sau này. So với bản Màu tím hoa sim "nay" thì bản "xưa" tuy ngắn hơn nhưng ý thơ đi rất trọn nghĩa, trọn tình, không trúc trắc, không khiến người đọc phải dừng lại suy nghĩ. Nhà thơ có quyền sửa thơ của mình, hoặc thêm vào những đoạn mới. Song về phía những độc giả đã cảm nhận, yêu thích, hoặc có những kỷ niệm gắn bó với Màu tím hoa sim theo bản cũ thì khó "làm quen" với những đoạn mới, chữ mới, với hơi thơ có vẻ xa lạ với bài thơ từng biết. Do vậy, một số độc giả đã tỏ ra tâm đắc với bài Màu tím hoa sim trước kia. Nhưng dù Màu tím hoa sim bản "xưa" hay "nay" vẫn chỉ để viết về một người, một mối tình. Đó là người vợ trẻ Đỗ Thị Lệ Ninh đã mất sau ngày cưới không lâu vì chết đuối. Các anh của “nàng”, theo tài liệu của Hàn Anh Trúc là 3 người có thực ở chiến trường Đông Bắc. Đó là Đỗ Lê Khôi - tiểu đoàn trưởng hy sinh trên đồi Him Lam, Đỗ Lê Nguyên nay là Trung tướng Phạm Hồng Cư và Đỗ Lê Khang - nguyên Thường vụ Trung ương Đoàn. Hữu Loan kể và Hàn Anh Trúc ghi lại trong một cuốn biên khảo văn học rằng, bố vợ ông trước kia làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên “vợ mình sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má”, bài thơ mới có câu “má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối”. Hàn Anh Trúc viết là Hữu Loan sáng tác bài thơ ngay tại mộ người vợ trẻ, rồi: "ghi vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hóa. Bạn anh đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh". Điều đó đã được chính nhà thơ Hữu Loan xác nhận. (Theo Thanh Niên) Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: trachvandung trong 22 Tháng Mười, 2008, 11:30:45 am Màu tím hoa sim : http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1944.0
Hương thầm : http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1944.20 Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: TQNam trong 22 Tháng Mười, 2008, 11:33:36 am Ban đầu không định nói, nhưng rồi... nói thêm cho vui nhà vui cửa.
Bài thơ nầy được PD phổ nhạc đến 2 lần. Lần đầu, ôi sao mà ... T một chữ Tệ! Thầy Hoàng Như Mai nhận xét rất chí lý rằng PD đã phá hỏng bài thơ vì nó xa lạ với bài thơ cả về ý, tứ, giai điệu lẫn tiết tấu (má nó nhìn không ra - hahaha). Bài đầu tiên có nhiều ca sĩ hát, người nào hát dở ẹt. Nhưng đến lần phổ thứ hai thì tuyệt luân và nhạc sĩ cũng mạnh dạn giữ nguyên câu "Nàng có ba người anh đi bội" thay vì đi quân đội trong lần trước. Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: Hoaban trong 23 Tháng Mười, 2008, 04:40:56 pm Cảm ơn Bác TQNam đã thêm vào một bài thơ hay, có thể nói là nổi tiếng mà trong ba lô của chú Lính nào chắc cúng có. Tuy nhiên hiểu biết về sự tích và hành trình chuyển từ thơ sang nhạc thế nào ít người hiểu được. cầu mong ........nghe đựợc bài hát này.
Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: TQNam trong 23 Tháng Mười, 2008, 08:46:36 pm Tôi biết một ít gốc tích là tình cờ đọc báo, trong bài nữ thi sỹ kể vậy. Còn nhạc sỹ Vũ Hoàng phổ nhạc ra sao thì không biết, nhưng theo tôi có lẽ đây là bài nhạc dỡ nhất của ông, cũng là bài phổ nhạc dỡ hàng đầu của nhạc Việt.
Đây, xin mời bạn: http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=5qd4lZ50eJ. Nhưng thầnh thật khuyên đừng nghe để tránh thất vọng "tràn trề". Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: TQNam trong 23 Tháng Mười, 2008, 09:08:43 pm Жди меня
СИМОНОВ, КОНСТАНТИН МИХАЙЛОВИЧ Жди меня, и я вернусь. Только очень жди, Жди, когда наводят грусть Желтые дожди, Жди, когда снега метут, Жди, когда жара, Жди, когда других не ждут, Позабыв вчера. Жди, когда из дальних мест Писем не придет, Жди, когда уж надоест Всем, кто вместе ждет. Жди меня, и я вернусь, Не желай добра Всем, кто знает наизусть, Что забыть пора. Пусть поверят сын и мать В то, что нет меня, Пусть друзья устанут ждать, Сядут у огня, Выпьют горькое вино На помин души... Жди. И с ними заодно Выпить не спеши. Жди меня, и я вернусь, Всем смертям назло. Кто не ждал меня, тот пусть Скажет: - Повезло. Не понять, не ждавшим им, Как среди огня Ожиданием своим Ты спасла меня. Как я выжил, будем знать Только мы с тобой,- Просто ты умела ждать, Как никто другой. 1941 Русские поэты. Антология в четырех томах. Москва: Детская литература, 1968. -------------- Đợi anh về Em ơi đợi anh về Đợi anh hoài em nhé Mưa có rơi dầm dề Ngày có buồn lê thê Em ơi em cứ đợi. Dù tuyết rơi gió thổi Dù nắng cháy em ơi Bạn cũ có quên rồi Đợi anh về em nhé! Tin anh dù vắng vẻ Lòng ai dù tái tê Chẳng mong chi ngày về Thì em ơi cứ đợi! Em ơi em cứ đợi Dù ai thương nhớ ai Chẳng mong có ngày mai Dù mẹ già con dại Hết mong anh trở lại Dù bạn viếng hồn anh Yên nghỉ nấm mồ xanh Nâng chén tình dốc cạn Thì em ơi mặc bạn Đợi anh hoài em nghe Tin rằng anh sắp về! Đợi anh anh lại về. Trông chết cười ngạo nghễ. Ai ngày xưa rơi lệ Hẳn cho sự tình cờ Nào có biết bao giờ Bởi vì em ước vọng Bời vì em trông ngóng Tan giặc bước đường quê Anh của em lại về. Vì sao anh chẳng chết? Nào bao giờ ai biết Có gì đâu em ơi Chỉ vì không ai người. Biết như em chờ đợi. (Bản dịch của Tố Hữu) Có lời bàn rằng bản dịch tiếng Việt của Tố Hữu không đạt. Tố Hữu không biết tiếng Nga (ít ra khi đó), ông dịch từ bản dịch tiếng Pháp. Nhơn gian nói rằng tam sao thất bổn, giới dịch thuật bảo rằng dịch là giết, nhất là dịch thơ. Tôi không bao giờ có thể biết ông đã đọc bản tiếng Pháp nào nên thấy thật khó nói. Vào Google chì tìm ra bản dưới đây. So ra thì bản tiếng Việt của Tố Hữu "thơ" hơn bản tiếng Pháp nhiều. Attends-moi Attends-moi et je reviendrai mais attends-moi de toutes tes forces. Attends quand les pluies jaunes apportent la tristesse, attends quand les neiges tournoient, attends sous la canicule, attends quand les autres n'attendent plus, oubliant le passé. Attends, quand des endroits lointains les lettres n'arrivent plus. Attends quand se découragent ceux qui avec toi attendent. Attends-moi et je reviendrai. N'écoute pas tous ceux qui savent par coeur qu'il est temps d'oublier. Même si ma mère et mon fils se persuadent que je ne suis plus, même si les amis cessent d'attendre et, assis autour du feu, boivent le vin amer à ma mémoire, attends, et avec eux ne t'empresse pas de boire. Attends-moi et je reviendrai en dépit de toutes les morts. Celui qui ne m'a pas attendu pourra toujours dire que j'ai eu de la chance. Ils ne pourront comprendre, ceux qui n'ont pas attendu, comment, au milieu du feu, par ton attente, tu m'as sauvé. Comment j'ai survécu, nous ne le saurons que toi et moi : simplement tu auras su attendre comme personne d'autre. Và thật may mắn trang web nầy có cả liên kết nghe nhạc: Version sovietique : http://download.sovmusic.ru/m/zhdi.mp3 (4043 Kb) (extrait du site http://www.sovmusic.ru) Version moderne : http://mp3.music.lib.ru/mp3/s//solnechnoe_zat/solnechnoe_zat-zhdi_menja_i_ja_wernusx-2.mp3 (3585 Kb) (Владимир Писцов /Солнечное Затмение) Xin bổ sung thêm, đây cũng là bài thơ có trong ba lô lính từ thòi đánh Pháp, trải qua đánh Mỹ, vào tận khi đánh Pốt. Xứng danh bài thơ lính. Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: haanh trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 11:23:55 pm ôi chu choa ! tranh của ai mà đẹp thế !
Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: TQNam trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 07:20:18 am Hoa chiến công - Họa sĩ Cổ Long Châu tuaans cho biết bức tranh nầy họa sỹ vẽ năm nào mà bút pháp và phong cách hiện đại quá, trong khác với những búc mà tôi biết.Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:05:00 pm Hoa chiến công - Họa sĩ Cổ Long Châu tuaans cho biết bức tranh nầy họa sỹ vẽ năm nào mà bút pháp và phong cách hiện đại quá, trong khác với những búc mà tôi biết.Theo chữ kí của họa sĩ dưới bức tranh là 2003 ;) quãng đâu đầu thế kỉ XXI gì đó ;D ;D ;D Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:27:38 pm (http://i255.photobucket.com/albums/hh125/chuongxedap/Qsu/ChienTranhVN/noibuon.jpg) Nỗi buồn. Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: anhkhoi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 04:45:23 pm Hoa chiến công - Họa sĩ Cổ Long Châu tuaans cho biết bức tranh nầy họa sỹ vẽ năm nào mà bút pháp và phong cách hiện đại quá, trong khác với những búc mà tôi biết.Em có biết một họa sĩ thời chống Mỹ có tên là Cổ Tấn Long Châu, không biết có liên quan gì đến bác CLC này không ;D Trong những bức tranh về thời chiến, em thích nhất bức Hào của Dương Bích Liên (http://i134.photobucket.com/albums/q97/thundercar/Hao01.jpg) Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: TQNam trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 04:58:37 pm Theo chữ kí của họa sĩ dưới bức tranh là 2003 ;) quãng đâu đầu thế kỉ XXI gì đó ;D ;D ;D Ái chà, phải đi thay kính rồi. :'(Tiêu đề: Re: Tình yêu chiến sĩ Gửi bởi: Hoaban trong 10 Tháng Mười Một, 2008, 03:50:48 pm LÍNH MÀ EM
Em viết thư trách Anh sao chậm thế Em đợi hoài Em sẽ giận cho xem Thư Anh viết bao giờ Anh muốn thế Hành quân dài đấy chứ “Lính mà Em” Đường hành quân qua đồi sim tím Trăng trên đồi không đủ để viết thư Nên thư viết chữ rời nét rụng Hãy hiểu dùm Anh nhé “Lính mà Em” Hôm về phép Anh gặp Em cuối phố Tay chiến binh đan năm ngón tay mềm Em sót sa đời Anh nhiều gian khổ Anh khẽ cười và nói “Lính mà Em” Qua ngõ nhỏ Anh ghi dòng kỷ niệm Trời đổ mưa hai đứa đứng bên thềm Anh che Em khỏi ướt tà áo tím Anh quen rồi không lạnh “Lính mà Em” Ghét Anh ghê chỉ được tài biện bạch Làm người ta cành thêm nhớ thương nhiều Em xa lánh nhưnữg ngày vui trên phố Để nhớ người hay nói “Lính mà Em” Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Một, 2008, 04:14:58 pm Em chuyển chủ đề mới vào đây cho gọn box.
Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 10:25:02 am Anh Anh là nắng sưởi hồn em giá lạnh Là bình minh xua hiu quạnh đêm đông Là bập bùng đêm tối ảnh lửa hồng Là trời xanh cho mây hồng dạo bước Anh là trăng của một thời mộng ước Là ngày vui em mơ được bên nhau Là hạt mưa trôi hết những muộn sầu Là biển nhớ bạc đầu con sóng vỗ Anh là tường chắn che ngàn bão tố Là yêu thương mà em đã mong chờ Là gió mát xua tan những oi nồng Là điểm tựa em chờ trông năm tháng Anh là niềm vui giúp em quên buồn chán Là dấu yêu đang tỏ rạng hàng ngày Là khát vọng chung chia những đắng cay Là ước mơ tay trong tay mãi Anh giúp em đi tìm lại ngày vui Anh bên em chia bớt những ngậm ngùi Bao chua xót giúp chôn vùi lòng đất Anh tặng em ngàn lời thương chân thật Bao ấm nồng thắt chặt bên nhau Cùng em chung chia những muộn sầu Anh là bờ vai em gục đầu nức nở Anh là gì? Là chi anh hỡi? Sao cứ làm em mãi nhớ anh ơi Anh là gì để em mãi chơi vơi? Anh chính là nửa cuộc đời em đó. Diệu Linh Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: tuaans trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 10:41:07 am Gần đây, Phạm Minh Tâm, thương binh 2/4, người đã từng chiến đấu trong chiến hào Quảng Trị năm xưa, khi về thăm Quảng Trị đã viết bài thơ "Về giữa lòng mẹ". Xin được trích đôi dòng ở cuối bài thơ:
... Một nghĩa trang bạt ngàn trong đất Nấm mồ chung hương khói Cổ Thành Xin cây cỏ chớ vô tình tươi tốt Và sông kia đừng xiết xoáy đổi dòng Móng những công trình xin đừng vô cảm Lớp lớp địa tầng, đồng đội chúng tôi đông Và hoa nữa mỗi lần đua nở Ngát hương đò cũng từ đất mà thơm Bản nhạc du dương cung thanh đừng réo rắt Đêm ngoài kia giao hưởng những linh hồn Xin tất cả một lần thôi cũng đủ Được hồi sinh từ máu đổ xương tàn Hãy cúi xuống hôn vào lòng đất mẹ Nơi những linh hồn yên nghỉ gió mưa chan". (Nguyễn Huy Hiệu) Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: dongminhkh trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 10:59:28 am Gần đây, Phạm Minh Tâm, thương binh 2/4, người đã từng chiến đấu trong chiến hào Quảng Trị năm xưa, khi về thăm Quảng Trị đã viết bài thơ "Về giữa lòng mẹ". Xin được trích đôi dòng ở cuối bài thơ: ... Một nghĩa trang bạt ngàn trong đất Nấm mồ chung hương khói Cổ Thành Xin cây cỏ chớ vô tình tươi tốt Và sông kia đừng xiết xoáy đổi dòng Móng những công trình xin đừng vô cảm Lớp lớp địa tầng, đồng đội chúng tôi đông Và hoa nữa mỗi lần đua nở Ngát hương đò cũng từ đất mà thơm Bản nhạc du dương cung thanh đừng réo rắt Đêm ngoài kia giao hưởng những linh hồn Xin tất cả một lần thôi cũng đủ Được hồi sinh từ máu đổ xương tàn Hãy cúi xuống hôn vào lòng đất mẹ Nơi những linh hồn yên nghỉ gió mưa chan". (Nguyễn Huy Hiệu) Bài thơ đọc lên hay quá.... Đã từng đọc bài thơ của Lê Bá Dương cũng viết về Thành cổ QT Những bài thơ đi vào lòng người....! Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: TQNam trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 11:02:07 am Bài thơ đọc nổi gai ốc vầy mà sao lại chỉ có trích, hởi bạn ta?
Một hình tượng rất độc, rất mới, có tứ tuyệt luân lại đầy tính thời sự: ... Và sông kia đừng xiết xoáy đổi dòng Móng những công trình xin đừng vô cảm Lớp lớp địa tầng, đồng đội chúng tôi đông ... Câu thơ là thán cảm hay câu hỏi cho những ai đang tự hào "hát trên những tầng cao cao"? Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 11:13:57 am Đọc đoạn thơ này tự nhiên cháu lại nhớ đến đêm cầu truyền hình trực tiếp năm 2006 giữa 2 điểm cầu là HN (trường ĐHKHXH&NV của cháu ) với điểm kia là thành cổ Quảng Trị. Chương trình mang tên " Một thời hoa lửa ".
Khi ấy cháu ở đầu cầu Quảng Trị, khi mà câu hát "....... Cho tôi hôm nay trở về Thành Cổ, thắp một nén nhang viếng người nằm dưới mộ........." là cả đoàn người, mỗi người 1 câu nến & 1 nén hương (nhang) trên tay, đi 1 vòng quanh các mộ để thắp nhang.Có quá nhiều CCB xúc động khi nhớ về 1 thời với 81 ngày đêm chiến đấu oanh liệt để bảo vệ Thành Cổ QT bên dòng sông Thạch Hãn, còn thế hệ trẻ chỉ biết im lặng & trân trọng tất cả. Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 02:07:20 pm Móng những công trình xin đừng vô cảm
-------------------------------------- Câu thơ này có lẽ bắt nguồn từ một câu chuyện có thật. Năm 2005 em đi công tác có rẽ vào thắp hương ở Thành Cổ, bác giám đốc bảo tàng có kể cho nghe câu chuyện "đào móng bằng bay xây". Chuyện là khi thi công bảo tàng, công nhân xây dựng mới bổ mấy nhát cuốc đầu đã thấy lộ lên các di vật và đôi chỗ là cả hài cốt, ban chỉ huy công trình và chủ đầu tư vội cho dừng lại và sau khi khảo sát đã quyết định phải quy tập hết các hài cốt cũng như di vật mới được phép sử dụng cơ giới vào thi công. Thế nên mới có chuyện kể là bảo tàng Thành Cổ đào móng bằng bay xây. Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 07:31:05 pm Thơ
MÀU TÍM HOA SIM Hữu Loan ( khóc Lê Đỗ Thị Ninh ) Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình. Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh bên ông chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến chinh mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương ngưòi vợ chờ bé bỏng chiều quê Nhưng không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương! Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói Không được trông nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím Áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa! Một chiều rừng mưa ba người anh từ chiến trường Đông Bắc biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng trông ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí Chiều hành quân qua những đồi hoa sim những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa: “Áo anh sứt chỉ đưòng tà Vợ anh mất sớm. Mẹ già chưa khâu…” (Bài thơ này được chép chính xác từng chữ, từng câu trên tuần báo KIẾN THỨC NGÀY NAY ) Xin được gửi tặng các đồng chí, để biết thẹm về hoàn cảnh ra đời của bài thơ bất hủ này! Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 07:34:52 pm MÙA HẠ ĐÃ XA
1.Đứng giữa vùng nuối tiếc Nghe nặng nỗi sầu riêng Nhạc ve nghe bi thiết Buồn đổ xô trăm miền 2.Tôi làm người cúi mặt Nghe tuổi đời lãng quên Nhớ một thời áo trắng Vui bè bạn, sách đèn… 3.Áo trắng thời đã xa Đã thay bằng áo lính Cả một đời chinh chiến Vẫn nhớ sắc phượng hồng. 4.Lửa đạn vạch cầu vồng Bom lòe loang sắc đỏ Bổng nhớ mùa phượng nở Của một thời học sinh 5.Đi qua cuộc chiến tranh Lại nhớ về đồng đội! Dưới bom gầm đạn dội Lại nhớ thuở thanh bình! 6.Ngòi viết thuở học trò: -Thành mũi lê người lính! Máu loang ngoài mặt trận: -Bài học yêu quê hương! 7.Hát cho người ra đi Mãi không về quê cũ Màu phượng đỏ một thời Vẫn đỏ như màu máu 8.Tháng Năm – hoa phượng đỏ Mùa Hè lại đến rồi Nhạc sầu ve ngân mãi Thống thiết giữa lòng tôi! 9.Hết lửa đạn chiến trường Ta lại về quê mẹ Nhớ mãi màu áo lính Hát bài “ Cựu chiến binh” ĐINH PHẠM KIỀU (Hoàng Đức) Tặng các đồng đội một thời của tôi! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 07:37:05 pm Thơ
HỒI TƯỞNG Sau chuyến hành quân giữa nắng Xuân Tôi cùng đơn vị tạm dừng chân Xa xa, thấp thoáng..tà áo trắng Cảm hoài…lòng bổng thấy bâng khuâng. Nhớ lại ngày xưa…thuở học trò Lòng như trang vở mới, thơm tho Chưa biết sa trường cùng súng đạn Chưa biết yêu ai, chẳng hẹn hò… Những tưởng dòng đời trôi…cứ trôi Mai sau sẽ góp sức xây đời Làm thầy giáo trẻ, vui xây dựng Thế hệ mầm non để lại đời… Nhưng rồi bọn bá quyền Trung Quốc Xua quân xâm phạm cỏi sơn hà Đáp lời Tổ quốc thiêng liêng gọi… Tôi vội đầu quân…cứu nước nhà. Ôi! nhớ làm sao buổi tiễn đưa Người không nước mắt, trời không mưa Tháng Tư, nắng chiếu hồn trai Việt! Kẻ tiễn, người đi, kẻ…dặn dò. Lên đường chiến đấu diệt hung tàn Phải đánh dập đầu lũ sói lang Ra di khắc một lời tâm huyết: “ Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn! “ Nhớ mãi hôm nào nhận quân trang Tập đi…hai…một…dọc và ngang… Bốn bên là núi rừng biên giới Lính mới nên ai cũng…ngỡ ngàng…! Tôi nhìn lại tôi, nhìn xung quanh Chỉ thấy chập chùng màu áo xanh Màu lá cây rừng – màu áo trận Sao đẹp hơn muôn sắc thị thành. Gọi nhau: Đồng đội “ sao thân thiết Bữa cơm, hạt muối cũng nhường nhau Đêm ngủ, giật mình choàng tỉnh giấc Chăn kia ai đắp…tự lúc nào! Quay sang thằng bạn….nó nằm co Giữa làn gió núi lạnh co ro Thân không chăn đắp vì nhường bạn Nhận khó về mình chẳng đắn đo! Ôi! Yêu biết mấy đời bộ đội Xung phong chia lửa diệt quân thù, Bom rơi, pháo dội không chùn bước Vẫn cười, vẫn hát, vẫn làm thơ Thấm thoát thời gian trôi qua mau Tuổi quân vừa trọn… một mùa cau Hôm nay giữa chuyến hành quân ấy Chợt nhớ vu vơ…kỷ niệm đầu… HOÀNG ĐỨC (Đinh Phạm Kiều) (Thương tặng những đồng đội của tôi trong những ngày còn mặc áo lính…) Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: tuaans trong 14 Tháng Mười Một, 2008, 07:42:16 pm Em đã khóc nkhi đọc những câu thơ của Phạm Minh Tâm - cho dù trước đó chỉ 5 phút thì không khóc nổi (cái này có bác Đoành chứng kiến, he he)
Hồi ở Căm, 1 bữa bữa ngồi buồn trước thềm nhà nhìn mưa rơi rả rích ... chợt nhìn thấy dưới vũng nước có tờ giấy báo hiện lên bài thơ "Nhớ" của Hồ Dzếnh. Lẩm nhẩm đọc qua mà thuộc đến bây giờ! ;D Tờ giấy báo ấy là gói bao chè của bác sĩ quan nào đi phép Bắc mới vào. Ôi, chè hương chè "Bắc Cạn", 1 ấm có thằng rót hết ra chén cơm, tu 1 phát, dưới ánh mắt ngỡ ngàng của các bác lính cựu. ;D Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 15 Tháng Mười Một, 2008, 09:29:58 pm Tuỳ bút (nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11)
THẦY ƠI!! Cứ mỗi lần nhạc ve vang vang trên những cành phượng vỹ, màu hoa đỏ nhuộm hồng sân trường học cũ, với biết bao kỷ niệm của tuổi học trò một thời gắn bó với mái trường thân yêu. Là lòng tôi lại cồn cào nỗi nhớ thương thầy cô, bạn bè thời tiểu học. Nỗi nhớ nhung da diết ấy cứ dằn xé trong tim tôi, dường như đã trở thành một vết thương lòng không bao giờ chữa lành được! Còn nhớ, năm tôi học lớp Năm 5 của trường tiểu học cộng đồng Vòng Nhỏ (nay là trường Nguyễn Huệ), thầy dạy tôi năm đó rất hiền, thầy có vóc người tầm thước, nước da ngâm ngâm với nụ cười luôn thường trực trên môi. Dù có lúc thầy rất bực mình với đám học trò tiểu học “nhất quỷ, nhì ma…” Thầy có giọng giảng bài rất lôi cuốn, từ những lời giảng trang nghiêm mà tha thiết của thầy trong những giờ học môn Quốc sử, mà chúng tôi thấm dần tình yêu quê hương, đất nước. Thầy tôi hình như là một “công chức” (cách gọi các thầy, cô ngày xưa) của chế độ cũ, nhưng lại “nặng lòng với “phía bên kia” hơn! Trong các buổi chào cờ đầu tuần, thầy ít khi có mặt tại sân trường như các thầy, cô khác! Thầy ở trong lớp, mở sổ ghi bài, dò bài cho học sinh chứ không tham dự lễ chào cờ…Trong giờ học các môn “Công dân giáo dục”, “Quốc sử” thầy thường hay nhấn mạnh đến tình nhân loại, tình yêu thương đồng bào ruột thịt, chứ không dạy chúng tôi “yêu chế độ”! Còn nhớ, năm 1970, khi cơn bão tàn phá các tỉnh miền Trung, lệnh từ văn phòng Hiệu trưởng đưa xuống là tổ chức cho các học sinh đi lạc quyên, gom góp tiền tài, vật phẩm giúp đỡ miền Trung thân yêu, thầy tổ chức cho chúng tôi đi lạc quyên ngoài xã hội, đích thân thầy cắt, dán câu khẩu hiệu mà tôi còn nhớ đến bây giờ: “Tình Trường Sơn, nghĩa Cửu Long, Miền Trung bão lụt đau lòng miền Nam!” Và thầy làm một cái thùng lạc quyên, cho chúng tôi cầm biểu ngữ đi tuần hành trên các đường phố kêu gọi mọi người giúp đỡ đồng bào miền Trung đang bị tai ương, hồi đó đường phố trong thị xã Mỹ Tho nhỏ hẹp, dân cư cũng thưa thớt lắm, ấy vậy mà người dân Mỹ Tho đóng góp rất nhiều và rất nhiệt tình. Chúng tôi thu hoạch được rất nhiều với số tiền lên đến hơn một triệu đồng (quá lớn so với vật giá và mức sinh hoạt thời đó) cùng một số quần áo, mùng mền của bà con đóng góp. Đích thân thầy kiểm điểm tiền bạc, vật phẩm cứu trợ ghi rõ số tiền, số quần áo, mùng mền cùng với những bức thư của bọn học sinh chúng tôi viết để an ủi, động viên và chia sẻ với các bạn học sinh miền Trung ruột thịt. Tôi là lớp trưởng nên được thầy tin tưởng giao nhiệm vụ “ôm” thùng tiền, danh sách bà con đóng góp và các thứ khác lên văn phòng Hiệu trưởng. Lớp chúng tôi được khen và được biểu dương toàn ngành giáo dục lúc đó. Ngày tôi chuẩn bị thi vào lớp sáu, thầy kêu tôi và một số bạn bè đến nhà và bỏ ra hàng giờ ngồi kềm cặp cho chúng tôi, tôi vốn học giỏi nên được thầy giao thêm “chức trách” kèm các bạn yếu hơn. Năm đó, chúng tôi thi đậu nhiều, tôi đậu hạng cao, có học bổng nên thầy tặng cho tôi một cây viết máy hiệu “Pilot”, (rất tiếc tôi không giữ được lâu vì khi vào chiến khu, tôi đã làm rơi mất cây viết của thầy tặng trong lúc vượt qua sông Bảo Định). Năm học lớp bảy tại trường Nguyễn Đình Chiểu, chiến sự ác liệt, tôi lại bị đuổi học vì nghỉ học quá nhiều (thời gian nghỉ học là thời gian tôi làm nhiệm vụ tiếp tế cho các chú, bác ở quê tôi)! Má tôi sợ tôi bị bắt lính nên đưa tôi về quê ngoại và gửi gấm tôi cho ngoại, nhờ đưa tôi vào “căn cứ” với các cậu, nhưng tôi không chịu ngồi yên một chổ, nên lại “dọt” về Mỹ Tho, xin vào “học nhảy” lên lớp Chín tại một trường Trung học tư thục. Tại đây, tôi được giác ngộ lý tưởng cách mạng và tôi quyết tham gia. Trước khi ra đi không hẹn ngày trở lại - lúc đó chúng tôi thường nói vui “Vượt sông Bảo Định, tìm vào chiến khu với cách mạng cũng giống như tráng sĩ Kinh Kha sang sông Dịch, với câu thơ “Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn. Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn…” - tôi tìm đến thăm thầy lần cuối. Thầy lấy xe đạp, cọc cạch chở tôi đi uống sinh tố tuốt dưới đường Trưng Trắc, xong về nhà thầy ăn cơm, bữa cơm kỷ niệm với thầy tôi không bao giờ quên, có canh chua nấu bằng cá linh đầu mùa với bông so đũa, thầy không uống rượu nhưng bữa đó thầy cũng mua rượu về để uống với tôi, vợ của thầy thì tất bật chạy lên, chạy xuống khi dọn lên món này, khi đem xuống món kia để hâm cho nóng! Xế chiều, thầy lại lấy xe chở tôi đến trường Nguyễn Huệ - lúc này học sinh đã nghỉ hè, vắng ngắt - hai thầy trò vào sân trường, đi vòng vòng trong sân và dừng dưới gốc cây phượng vỹ già nua giữa sân trường, cây phượng này là giống “phượng son” hoa cứ đỏ rực như màu máu. Tóc thầy nhuốm bạc ánh lên trong ánh tà dương, những hoa phượng vỹ cuối mùa đỏ rực cứ rơi rơi, từng cánh hoa rơi xuống vai của hai thầy trò, rơi xuống sân trường và nằm im như tiếp tục chảy máu! Giọng trầm buồn, thầy nói tôi cứ đi theo lý tưởng của mình, thầy móc trong túi áo ra một tờ giấy bạc 500 đồng, có in hình Đức Trần Hưng Đạo (tờ giấy bạc có mệnh giá khá lớn so với vật giá lúc bấy giờ), thầy dúi vào tay tôi, tôi từ chối không nhận. Thầy nói tôi không nhận thì thầy sẽ giận, đây là tấm lòng của thầy vì thầy nghèo, nếu giàu hơn thì thầy sẽ cho tôi nhiều hơn để làm lộ phí lên đường. Tôi rưng rưng nước mắt, bỏ tờ giấy bạc thầy tặng vào túi áo bên trái, ngay chổ trái tim mà nghe tình thầy trò dâng lên ấm áp! Đêm đó, thầy lấy xe đạp, chở tôi đến bến đò “nhà thiếc”, cho tôi sang sông vào căn cứ, thầy nhìn tôi rất lâu rồi lặng lẽ quay đi sau khi dặn dò tôi: “Khi đất nước hoà bình, về nhớ ghé thăm thầy”. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, tôi cứ bị cuốn hút theo khí thế hừng hực của cách mạng trong những ngày đầu giải phóng, rồi sau đó tôi được bổ sung vào lực lượng “An ninh nhân dân vũ trang” tận Madagoui, tháng 12 năm 1975 có lệnh đổi tiền, bấy giờ tôi mới nhớ tới tờ giấy bạc năm trăm đồng thầy tặng (vẫn được tôi cất rất kỹ trong bóp) và nhớ cả lời hứa sẽ đến thăm thầy khi đất nước hoà bình. Thế mà, giờ đây tôi vẫn còn lêu têu trên miền núi rừng đầy sương giá này…Chuyến về phép đầu tiên trong cuộc đời quân ngũ – cũng một ngày tháng Năm - tôi đến thăm thầy ngay, nhưng căn nhà năm xưa giờ chỉ còn lại cái nền nhà nằm trơ vơ, tôi hỏi thăm lối xóm thì được biết, sau giải phóng ít lâu, thầy dở nhà về quê rồi! Quê hương thầy ở đâu tôi cũng không biết, những người hàng xóm cũng không biết! Tôi rảo một vòng qua trường cũ, cây phượng vỹ năm nào chứng kiến cuộc chia tay của thầy trò tôi vẫn còn đó, thân cây phượng sù sì, già nua bây giờ chi chít những cái tên, những dòng chữ của các em học sinh thế hệ sau chúng tôi, những hoa phượng vỹ của tháng Năm vẫn rơi rơi, màu hoa “phượng son” đỏ bầm như máu tim tôi ứ dâng, nghèn nghẹn. Thầy ơi! Em có lỗi với thầy! Bây giờ thầy ở đâu thầy ơi!? Thầy có biết em đang nhớ thầy lắm không? Em không gặp được thầy, để thầy vỗ vai khen thằng học trò ngày xưa đã lớn, đã thành một anh bộ đội cụ Hồ rắn rỏi, mạnh khoẻ chứ không phải cậu học trò yếu ớt, mảnh khảnh ngày nào! Tôi rưng rưng nước mắt và bật khóc, khách ngồi trong quán nước trước cửa trường xưa cứ ngạc nhiên nhìn tôi, không hiểu “chú bộ đội” này làm gì mà đến đây rồi khóc? Hoa phượng cứ rơi, tôi cứ khóc và lững thững đi, dáng hình ngôi trường xưa nhạt nhoà qua màn lệ, một bản nhạc cũ từ quán nước bên đường như xói thẳng vào tim tôi, lời hát mà ngày xưa thầy trò tôi đều yêu thích : “Phượng vẫn rơi xác phượng tả tơi! Nghe tiếng ve réo gọi hồn tôi…!” Bây giờ thầy đang ở đâu, thầy của con ơi! Mỹ Tho, những ngày cuối Hạ… Kính tặng thầy dạy lớp Năm “5”, niên học 1969 – 1970 của con! Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Trang nghệ thuật về người lính Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 15 Tháng Mười Một, 2008, 09:33:12 pm Tuỳ bút
TRƯỜNG CŨ - TÌNH XƯA (Tặng Thầy của con nhân ngày Nhà giáo Việt Nam) “Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ…” bổng dưng lời bài hát “Trường cũ – tình xưa” một thời được các bạn học sinh yêu thích lại tràn về, oà vỡ trong tôi đến nghẹn ngào, khi tôi về thăm trường cũ – trường tiểu học cộng đồng Vòng Nhỏ xưa – là trường Nguyễn Huệ ngày nay! Tôi tình cờ về thăm trường cũ thôi, nhân ngày đi thăm thằng bạn thân, sống gần trường Nguyễn Huệ, nó trách tôi sao lâu quá không thấy tôi và những thằng khác - cái đám học trò “nhất quỷ - nhì ma” một thuở của trường - về thăm lại trường xưa? Tôi chỉ cười cười và chân thành nhận lỗi với nó, với mái trường xưa, chứ nó đâu có biết cuộc đời lang bạt, trôi nổi của tôi trong suốt những tháng năm dài. Đến quê hương còn chưa về thăm được thì với trường xưa tôi chỉ còn biết hoài niệm mà thôi! Nó dẫn tôi đi vòng vòng trong sân trường, tôi lạ lẫm với những đổi thay quá nhiều của trường xưa, đâu rồi những lớp học mà tôi và nó, cùng những thằng bạn khác ( mà có đứa đã về cùng cát bụi lâu lắm rồi! ) đã từng theo học suốt quãng đời học sinh tiểu học? Trường tôi, ngày tôi còn đi học nho nhỏ, với ba dãy lớp học nằm quay vào nhau, cùng hướng mặt ra cột cờ, có một cái ao nước rất lớn mà có đứa đã suýt chầu “Hà Bá” vì không biết bơi mà dám lội xuống…bắt cá rô! Ngày đó, có những buổi nghỉ học, chúng tôi hay qua “tịnh xá Ngọc Tường” chơi với các nhà sư, nghe kể chuyện Phật, xin những chiếc lá “Bồ Đề” hình trái tim về làm lá “thuộc bài” tặng cho các bạn nữ sinh! Dãy lớp mà ngày xưa tôi theo học lớp Nhì, lớp Nhất bây giờ đã đập bỏ thay vào đó là một dãy nhà lầu “hoành tráng” rất to, đẹp! Chỉ còn dãy lớp phía Đông - Bắc là vẫn còn, nhưng nghe đâu cũng sắp đập để xây mới! Cũng đúng thôi, học sinh bây giờ đông, học cũng nhiều hơn chúng tôi ngày ấy. Thì trường lớp cũng phải to rộng để các em có chổ mà học hành chứ! Biết luật đời là phải vậy, phải thay đổi những cái cũ, lạc hậu, lỗi thời bằng những cái mới hơn đẹp hơn…nhưng sao tôi vẫn nghe một nỗi ngậm ngùi, một cái gì đó hình như là nuối tiếc cồn cào trong tâm khảm! Tôi đi vài vòng trong sân trường ngổn ngang vôi gạch, mà lòng khắc khoải, từng góc sân, từng miếng đất nơi đâu cũng ghi dấu những kỷ niệm của tuổi học trò thời áo trắng tinh khôi! Đây là chổ chúng tôi chơi bắn bi, đây là nơi chúng tôi chơi trò rượt bắt những lúc ra chơi, tôi nhớ những thằng bạn thân cùng học chung thời tiểu học, Xuân ơi! Nhóc ơi! Đâu rồi thằng Cang “vua trốn học” của lớp ba 7? Đâu rồi thằng Luật của lớp nhất 5? Tụi nó, có đứa đã dọn nhà về nơi nào thật xa, có đứa hy sinh trong chiến dịch mùa Xuân 1975, có đứa nằm lại trên chiến trường đất bạn hay nơi nào đó của dải đất hình chữ S trăm quý ngàn yêu này! “Bạn cũ xa rồi, có người về đất buông xuôi. Dăm ba đứa bạt phương trời…” lời hát xưa cứ cồn cào trong ký ức của tôi! Những giọt lệ của tôi, của thằng bạn tôi đã long lanh nơi khoé mắt! Mừng cho trường tôi đã mang diện mạo mới mà thương nhớ một thời học sinh tiểu học, với những thằng bạn như thằng Luật, mới học lớp Nhất mà cứ nơm nớp lo bị bắt “quân dịch” vì to xác do khai sụt tuổi! Tôi may mắn còn gặp được chú Tư “tuỳ phái” – người đánh trống trường và đưa sổ đầu bài cho các lớp - ngày tôi còn đi học. Chú Tư đã lớn tuổi nhưng còn minh mẫn lắm, chú nhận ra tôi ngay, vì tôi – xin lỗi – năm nào cũng lên bục nhận phần thưởng hạng Ưu, cao nhất của các cấp lớp bậc tiểu học! Chào tạm biệt chú Tư, chia tay thằng bạn học cũ, tôi từ từ đạp xe ra về, trong lòng cứ trào dâng những cảm xúc không lời. Vui, buồn lẫn lộn, hỡi những người bạn thân yêu của tôi thời tiểu học, bây giờ các bạn ở đâu? Ơi! Các thầy, các cô dạy chúng con xưa bây giờ các thầy, cô ở đâu? Các thầy, các cô, các bạn có biết cho trong lòng tôi giờ nầy là nỗi nhớ thương da diết kỷ niệm dưới mái trường xưa! Ai đi đâu, có khi nào quay về thăm lại trường xưa mà nghe tình cũ dậy lên, cồn cào trong ký ức hay không? Bốn mươi năm qua rồi, trường xưa ơi! Mỹ Tho, những ngày mưa… Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 19 Tháng Mười Một, 2008, 10:36:00 pm Tản mạn cuối tuần
ÁO BÀ BA - KỶ NIỆM NGÀY XƯA! Một buổi sáng, khi mà đài khí tượng thông báo cơn bão số 10 sắp đổ bộ vào miền Tây – Nam bộ, tôi tranh thủ chạy ra chợ mua vài thứ vật dụng, thực phẩm cần thiết để có thể “chống càn” nếu lỡ trời mưa lớn kéo dài. Tôi đạp xe thong thả - có gì mà phải khẩn trương kia chứ - đàng nào rồi cũng…bão mà! Bổng trước mặt tôi thấp thoáng một dáng nữ yêu kiều, cũng đang thong thả trên chiếc xe đạp. Sau một thoáng bồi hồi, tôi liền bám theo, không phải vì “háo sắc”, hay vì cô gái kia đẹp ( tôi có thấy được mặt cô ấy đâu ) mà vì chiếc áo bà ba mà cô ấy đang mặc! Thú thực, giữa lúc thiên hạ đổ xô theo nhịp sống ồn ào, xô bồ, xô bộn thì hình như chiếc áo bà ba của năm nào đã dần phai mờ theo năm tháng! Các cô gái trẻ bây giờ - trong đó có cả vợ và con gái tôi – hình như không ai còn mặc áo bà ba! Thậm chí bây giờ, về đến nông thôn tìm đỏ con mắt bên phải, xốn con mắt bên trái cũng không tìm ra một người còn mặc áo bà ba trừ những bà, những cô thuộc hàng U.80; U.90…! Vì vậy, chiếc áo bà ba xuất hiện trước mặt tôi trên đường là một hiện tượng lạ, như một dấu lặng trên khuôn nhạc! Như một bóng mát giữa buổi trưa hè… mà cái người mặc áo bà ba có dáng vẽ thật hợp với chiếc áo. Thon thả với mái tóc dài ẩn sau chiếc nón lá buông xỏa ôm lấy đôi bờ vai nhỏ, trông thật nên thơ, thật Việt Nam! Chiếc áo bà ba của phụ nữ Việt Nam từ lâu đã đi vào thi, ca, nhạc, họa.Và hình như cũng đi vào tâm hồn Việt qua dáng hình người con gái mặc áo bà ba… “Áo bà ba, súng quàng vai hôm sớm ra đi……” ca từ một sáng tác của Huỳnh Thơ chắc chưa mấy ai quên!Áo bà ba đã đi vào lịch sử đấu tranh của phụ nữ Nam bộ, những đội quân tóc dài, áo bà ba đã từng làm khiếp vía quân thù! Những o du kích thon thả trong bộ bà ba đen, đầu đội mũ tai bèo, cổ quấn khăn rằn, lưng đeo bao đạn, vai khoác súng trường là hình ảnh đẹp không thể mờ phai trong ký ức của người lính trong những lần hành quân về đồng bằng, phối hợp cùng du kích địa phương công đồn, diệt viện. Trong ánh chớp lửa đạn rạch sáng ngang trời, hình ảnh người nữ du kích áo bà ba ôm súng lao về phía trước đẹp vô cùng! Bây giờ các chị, các cô, các em gái hình như không còn ai mặc áo bà ba! Là cán bộ, công chức thì ngày hai buổi đến công sở bằng những bộ “com-plê”, quần Âu, áo kiểu, áo sơ mi…ở nhà thì đồ lửng, đồ bộ, có ai còn nhớ hình dáng áo bà ba trong ký ức người Việt Nam một thời không? Và cũng như vậy, các tiệm may đồ nữ bây giờ cũng khó mà tìm ra một tiệm còn may áo bà ba! Có chăng là những chiếc áo bà ba cách điệu, với rua, ren diêm dúa trông lòe loẹt, lai căng đến kệch cỡm thế nào ấy! Cuộc sống ngày càng nâng cao, nhu cầu về ăn, mặc ngày càng thay đổi, con người cứ chạy theo trào lưu thời trang hiện đại, theo “mốt” rồi “đề mốt”; chắc không còn ai giữ được hình ảnh chiếc áo bà ba duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam! Tại sao trong các cuộc thi Hoa Hậu, thi Người mẫu Việt Nam, chỉ thấy thi trang phục tự chọn áo dài, áo đầm rồi….áo tắm! không có phần trình diễn áo bà ba? Có lẽ, áo bà ba của năm nào đã không còn hiện hữu giữa nhân gian, giữa cuộc sống ồn ào, vội vả, và chua xót hơn nữa là giữa tâm hồn người Phụ nữ Việt Nam! Ôi! Áo bà ba kỷ niệm của lòng tôi, biết bao giờ mới được lên ngôi? Hoàng Đức(Đinh Phạm Kiều) Đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:32:54 am Thơ
VỀ TIỀN GIANG… “…Mời bạn về quê tôi: Mỹ Tho… Ngã ba rẽ trái – Một đường to Dừa đang độ ngọt, xoài đương trái Đất của những người yêu tự do…” Mời bạn về ngã ba Trung Lương Quả mận năm xưa ngọt lịm đường Bây giờ chỉ có trong… tiềm thức Gợi hồn lữ khách lúc ly hương! Vĩnh Tràng, mái ngói phủ rêu phong Đón khách về thăm, ấm cõi lòng Bảo tàng liệt hạng, còn di tích Mỹ Tho, mấy độ trải đông phong… Mời bạn về thăm miền Chợ Gạo Lúa xanh ba vụ mát cánh đồng Đường lên hạnh phúc chân trời rộng Vui cùng gió mát với trăng trong Thẳng hướng biển Đông bạn tới nhà Gò Công – đất biển đỏ phù sa Tân Điền, Vàm Láng, trời Gia Thuận Sáng gương Trương Định - bản hùng ca! Cù lao huyện mới dọc ven sông Ngọt sữa phù sa, mát gió đồng Trải bao năm tháng còn gian khó Đây là vùng đất Tân – Phú – Đông Hướng Tây mời bạn thăm Cai Lậy Chiến công Ấp Bắc, rạng oai hùm! Ba Rài – một trận còn vang tiếng Sống mãi muôn đời với núi sông! Cái Bè, đang ngọt mùa cây trái Bạn hãy cùng tôi sưởi ấm lòng Nước dừa mát giọng trưa nắng hạ Vẫn nhớ hoài cô gái má hồng. Rẽ sang hướng Bắc về Tân Phước Đất phèn, khóm vẫn vượt lên xanh Bông mướp khoe vàng trên đất mới Gọi người vào vụ hướng thâm canh Hướng Nam, mời bạn về một chuyến Thăm đất Long Hưng một sáng này Tiếng trống Nam kỳ còn đọng lại Gọi người vào trận mới hôm nay! Tiền Giang, thứ nhất là tình bạn… Đón người, như đón cả mùa Xuân! Người dân Nam bộ, luôn chân chất Tình cảm chan hòa, đầy nghĩa nhân Phương Nam tài tử hòa trong máu Tiền Giang, mấy độ vẫn trông hoài… Đón bạn về thăm, chơi một chuyến. Người về, lưu luyến…phút chia tay! Đinh Phạm Kiều Mời các bác về Tiền Giang một chuyến đi ạ! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:11:32 pm Tản mạn quanh bài thơ
“MÀU TÍM HOA SIM” “Màu tím hoa sim” là bài thơ nổi tiếng của Hữu Loan bởi trước hết bài thơ ra đời từ một chuyện có thật. Sau nữa, bài thơ rất xúc động và hấp dẫn lạ lùng, vì thế mà ngay từ lúc còn truyền miệng chứ chưa được in ra, bài thơ đã có sức lan toả rất rộng, khắp trong Nam ngoài bắc đều biết, đều ngâm, đều thuộc, dĩ nhiên là không tránh khỏi “tam sao thất bản”. Từ khi được phổ nhạc, bài thơ lại càng được phổ biến hơn nữa ( dù nhạc chưa xứng với thơ! ) Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nhà nghèo nhưng chăm học nên ông đỗ được bằng tú tài I, sau thi đỗ thư ký văn phòng toàn quyền nhưng vì ghét Pháp nên không nhận việc, chỉ đi dạy ở các trường tư thục để mưu sinh. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936 rồi tham gia phong trào Việt Minh, sau được điều lên làm Ủy viên văn hoá trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá. Từ những ngày đầu kháng chiến, ông phụ trách tờ báo Chiến sĩ của quân khu 4. Năm 1954 tiếp quản thủ đô ông được mời ra làm trong ban biên tập báo Văn nghệ. Bài thơ “Màu tím hoa sim” được Hữu Loan viết năm 1949. Bài thơ tuy chỉ kể chuyện riêng của mình mà hình ảnh mỹ cảm đã thoát ra khỏi “cái tôi” nhỏ hẹp để đến với nhiều người, tạo nên sự đồng cảm sâu xa, chan hoà trong thế giới tâm linh huyền diệu. Vào khoảng năm 1937 – 1938 cậu học trò Hữu Loan rời quê lên tỉnh, học tại trường trung học ở thị xã Thanh Hoá. Tại đây, Hữu Loan làm gia sư ở nhà ông Lê Đỗ Kỳ, Tổng thanh tra nông lâm Đông Dương, về sau là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt nam dân chủ cộng hoà. Vợ ông Kỳ, bà Đới Thị Ngọc Chất, rất thương yêu Hữu Loan nên nhận làm con nuôi. Còn cô học trò nhỏ Lê Đỗ Thị Ninh lúc đó mới 8 tuổi, kém thầy chừng 13, 14 tuổi, rất mến thầy và luôn quấn quýt bên thầy. Họ sông êm đềm như thế cho đến khi cô Ninh lớn lên và yêu thầy lúc nào không biết! Năm 1941, Hữu Loan lên Hà Nội thi đỗ bán phần tú tài rồi trở về Thanh Hoá dạy học và tham gia Việt Minh. Năm 1947, trong buổi mít-tinh khai mạc “Tuần lễ vàng”, Hữu Loan đọc một bài diễn văn hùng hồn kêu gọi lòng yêu nước và hy sinh của toàn dân, cô Ninh từ trong hàng ngũ bước ra, tháo bỏ vòng xuyến để quyên góp cho Chính Phủ. Sau đó, Hữu Loan nhập ngũ, phụ trách báo Chiến sĩ và vẫn được coi như con cái trong nhà ông Kỳ, bà Chất; thỉnh thoảng vẫn đi, về thăm cha mẹ nuôi và “em nuôi”. Thế rồi, tình yêu của Hữu Loan đến với cô Ninh lúc nào không hay, và cha mẹ cô Ninh cũng vun vén vào cho đôi trẻ. Ngày 6-2-1948 một đám cưới đơn giản giữa anh chàng Vệ quốc quân và cô “em nuôi” được tổ chức trong sự vui mừng và tình thân yêu của gia đình, bè bạn: “…Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới Tôi mặc đồ quân nhân…” Hữu Loan không chung sống với vợ mới được lâu bởi còn phải lo nhiệm vụ của người lính: “…Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi…” Bà Ngọc Chất - mẹ vợ của Hữu Loan – có biệt nhãn đối với ông. Theo Hữu Loan thì thoạt đầu bà muốn gả em gái mình cho Loan, nhưng cô này say đạo, chẳng nghĩ gì đến việc trần duyên nên xin vào tu viện và ở luôn tại đấy. Về sau, khi cô Lê Đỗ Thị Ninh lớn lên, bà nhất quyết gả cô Ninh cho Loan mặc dù cô này có nhiều người ngấp nghé. Bạn bè, chị em của bà thắc mắc sao bà quý “thằng Loan” thế? Bà đáp: “Tôi quý nó ở chổ nó có nhân cách”! Hữu Loan cũng quý trọng mẹ vợ, coi bà như mẹ đẻ của mình và đối với bà như đứa con trai hiếu thảo. Ngày 29-5-1948, khi đang là Trưởng ban tuyên huấn của sư đoàn 304 đóng ở Thọ Xuân, Thanh Hoá, Hữu Loan bổng nhận được tin sét đánh: cô Lê Đỗ Thị Ninh đã chết!! Nhà thơ Vũ Cao kể: “Tôi còn nhớ cái buổi ấy…ngồi trong một quán nhỏ ở Thanh Hoá, anh ( Hữu Loan ) báo cho tôi biết cái tin đột ngột: Ninh vừa mất! Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung toé xuống bàn, mặt anh tái xanh. Và mãi sau này ở Việt Bắc, tôi mới được nghe: “…Ba người anh Từ chiến trường Đông - Bắc Biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng…” Câu thơ thật như cuộc đời có thật. Không có gì chữ nghĩa mà xúc động biết bao”! Cái tin sét đánh ấy khiến Hữu Loan tan nát cõi lòng. Nỗi đau dồn nén ấy sang năm sau – 1949 – thì chín muồi để bật ra thành lời, thành một bài thơ bất tử! Bài thơ chỉ viết xong trong hai tiếng đồng hồ vào một buổi trưa vắng, không phải sửa chữa gì. Tuy nhiên, lúc bấy giờ chiến sự đang ác liệt, chuyện riêng tư đành xếp lại bên lòng. Bài thơ được Hữu Loan cất mãi trong túi áo, cho đến một hôm, Vũ Tiến Đức – biên tập cũ của Hữu Loan – tình cờ lấy được, đem đọc cho bè bạn, cho bà Ngọc Chất nghe, thế là bài thơ được phổ biến nhanh chóng. Về sau Nguyễn Bính đem bài thơ ấy đăng trên báo Trăm Hoa ở Hà Nội (1956) mà tác giả không hề hay biết! Bài thơ gây xúc động mạnh vì những lời tình tự của Hữu Loan, những lời tình tự chân thành, không làm dáng, không tô vẽ: “…Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến chinh mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê…” Nhưng người lính không chết mà chết cô gái nhỏ ở hậu phương, lúc Hữu Loan về thì chỉ còn ngôi mộ: “…Tôi về không gặp nàng Mẹ tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh…” Cái hình ảnh “chiếc bình hoa” biến thành “bình hương” mà “bình hương tàn lạnh vây quanh” tạo cho người đọc một cảm giác rờn rợn. Và một bóng người cô đơn vây bọc bởi bóng tối, một người đàn bà ngồi bên mộ con im lặng trong nỗi đau xé ruột, không còn nước mắt để khóc, không thốt nên lời. Rồi tác giả thở than: “…Em ơi! Giây phút cuối không được nghe nhau nói không được trông nhau một lần…” Cưới nhau mới ba tháng, sống với nhau có mấy ngày, thế mà đến lúc vĩnh biệt không được thấy mặt nhau lần cuối, hỏi còn có cái đau nào hơn? Rồi những mùa thu qua, những mùa thu qua với “gió sớm thu về rờn rợn nước sông” hay “gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí” tạo những hình ảnh thật buồn, cộng với nỗi cô đon của người nằm dưới mộ khiến ai đọc đến cũng phải xót xa! Ôm nỗi đau thầm lặng, tác giả cùng đồng đội hành quân qua những đồi sim trong buổi chiều hiu quạnh, những đồi sim bạt ngạt màu tím – cái màu mà thuở sinh tiền nàng yêu thích - những đồi sim chạy dài tưởng chừng như không bao giờ hết trong chiều hoang biền biệt, như nỗi thương nhớ khôn nguôi, như niềm đau bất tận. Bài thơ đứng được trong lòng người là nhờ tính chân thật của nó, và cũng nhờ lối diễn đạt tài hoa của tác giả. Có mấy ai yêu nhạc, yêu thơ bài màu tím hoa sim của Hữu Loan đã cảm nhận được hết cái đau khổ tột cùng của tác giả? Cũng như cái “thần” của một bài thơ bình dị, thân thiết mà cũng rất cao xa! Đinh Phạm Kiều (Tổng hợp từ tư liệu của Vũ Cao,Nguyễn Sĩ Đạt, Đào Bích Nguyên và Hữu Vi) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:43:55 pm TIẾNG CHIM TU HÚ “…Con chim tu hú Mày kêu, mày hú Làm tao nhớ nhà Nhớ mẹ cùng cha Nhớ chái hè với lại hàng ba Tiếng kêu ôi nghẹn ngào…!” (Dân ca Khơmer Nam bộ ) Tu hú (Eudynamic-scopolacea ) trong bộ Cuculiformes - là một giống chim có bộ lông màu xám tro, trên nền bụng màu trắng chạy những sọc nâu. Mỏ dài, đuôi xoè, hình dáng trông thanh lịch - mà theo người đời đánh giá là độc ác, vô tình và bất nghĩa với câu ca dao: “Gớm thay tu hú vô tình Đã ăn mất trứng, lại giành mất con..!” Cũng như xã hội loài ngưòi, thế giới loài chim có những bà từ mẫu hy sinh tất cả cho con, cũng có những chị đàn bà hư đốn như…tu hú và dòng họ lãnh đạm với con cái, để mặc cho các loài chim khác chăm sóc trứng và con mình! Theo căn cứ khoa học thì chim tu hú không biết làm tổ, tới mùa động dục anh chị cứ giao phối thoải mái, với “chế độ đa phu”, tới mùa sinh sản thì đẻ nhờ vào tổ của các loài chim khác như sáo sậu, ác là, giẻ cùi, quạ… ( bởi thế mới có thành ngữ “quạ nuôi con tu hú” ) sau khi đã “xơi” bớt số trứng trong tổ, nhất là tổ chim sâu! Muốn đẻ trứng, chị tu hú đợi cho chị mái chủ tổ bay đi kiếm ăn, mới lén đẻ trứng mình vào đó. Xong xuôi, chị bèn ngậm một trứng của khổ chủ mà bay đi để ăn ngon lành! Thành thử, có lúc người ta thấy tu hú ngậm trứng ở mỏ. Nhưng, trứng đó bao giờ cũng thuộc về loài chim khác. Chị tu hú vừa vô trách nhiệm, vừa gian hùng! Còn về chim sâu thì không phân biệt chim con, cứ thấy chim non nở trong tổ thì “chắc cú” là con của mình! Cứ tưởng tượng hình ảnh một con chim sâu mẹ lớn hơn ngón chân cái của ta chút xíu, mà phải kiếm mồi về nuôi đứa con nuôi to gấp mấy lần mẹ nuôi thì cũng nực cười! Trong thiên nhiên, tình mẫu tử của loài chim rất cao, chúng sẵn sàng nuôi cái gã báo cô đó mà không hề tiếc công sức, mà cái gã chim tu hú con này rất khoẻ, có bản năng “lưu manh” bộc lộ từ khi mới nở, khi chưa mọc đủ lông cánh, chưa mở mắt được, chỉ 12 giờ sau khi ra đời tu hú con đã có một sức mạnh đáng kể. Trong người y đã có sẵn dòng máu “bất lương”, nó lấn trứng và chim non cùng tổ rơi xuống đất để giành lấy sự chăm sóc của chim bố mẹ nên lớn rất nhanh. Một con chim tước mẹ, hay con chim sâu mẹ bắt buộc phải đút mồi một “chim con” tu hú rất bự. Cái họng cậu cứ há rộng, bên trong nóc màu cam chói rực và một cái đuôi thù lù một khúc. Quý tử hỗn hào, ngự trị một mình trên cái tổ gần như bị san bằng với sức nặng ngày càng gia tăng của nó. Nó cứ ngẩng đầu, há họng ra, miệng kêu inh ỏi không ngớt đòi ăn. Như thế không giống chim con của các chị tước, chị chim sâu, chị hoạ mi tý nào! Thế mà, các bà mẹ nuôi bị mê hoặc một cách kỳ lạ, không thể nào chối bỏ đứa con nuôi được… tu hú lại thuộc loại “hạm con”, vừa ăn nhiều lại vừa kềnh càng, không phải chỉ cha nuôi, mẹ nuôi là phải thay phiên nhau đút mồi cho gã “quý tử” này mà các loại chim lạ, khác loài đôi khi cũng như bị thôi miên bởi cái nóc họng màu cam đó mà phải mang đồ ăn đến, sốt sắng đút mồi cho đứa con của “thiên hạ”! Một điều đặc biệt là, nếu chim tu hú mẹ đẻ trứng “ký gửi” vào tổ các con chim khác như chèo bẻo và quạ, thì tu hú con lớn lên có cái biệt tài giả dạng giống y như các chú chim con khác cùng nằm chung trong tổ. Từ cách đòi ăn, tư thế nằm…cả đến màu lông thời kỳ này cũng thay đổi theo chim con cùng tổ. Trên đầu và lưng gã lông đều mọc đen tuyền như lông quạ, lông chèo bẻo, mẹ nuôi chỉ nhìn được phía trên đầu, trên lưng của bầy con nên ít khi khám phá được đứa con “lộn dòng” ẩn náu trong đám, thật tuyệt diệu! Đó cũng là một bí ẩn của thiên nhiên mà người ta không thể nào giải thích được.Nhưng cũng đừng vội kết tội tu hú, nó cũng là loại chim có ích cho nhà nông, tu hú ăn tất cả các loại sâu bọ, côn trùng hại lúa, hại trái cây (nhưng gã cũng là tên ăn trái cây non số một! ) Thôi thì, công tội của tu hú hãy đễ cho người đời phán xét…Riêng tôi, như lời bài dân ca Khơmer Nam bộ, tiếng chim tu hú là nỗi nhớ nhung, khắc khoải, nỗi lòng đau đáu nhớ quê hương, cũng như tiếng bìm bịp kêu nước lớn vậy! Nhất là khi được nghe những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “ Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần Vườn râm ran tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng, càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…” Vâng, tiếng chim tu hú kêu là báo hiệu đã vào mùa hè, trên đồng thì lúa chiêm chín vàng, trái cây trong vườn đã chín rộ…Những tiếng kêu khắc khoải:.. “tu hú…ù…ù…” thoát ra từ các lùm cây nghe sao mà buồn thê thiết! Và trong mỗi người chúng ta, hình ảnh quê hương một buổi chiều mùa gặt như vẫn còn vấn vương đâu đó trong tâm não: “Tu hú kêu giòn trên rặng vải Lúa chiêm chín trĩu gié no lành Mùi hương nhè nhẹ, êm êm toả Trên cánh đồng quê nhạt sắc xanh. Thợ gặt lô nhô khắp cánh đồng Những vành nón trắng úp lưng cong Ven bờ bầy trẻ ngây ngô hát Khi lũ bò đang uống nước sông Trên nẻo đường vòng tới xóm quê Nhà nông gánh lúa rủ nhau về Mặt bừng đỏ thắm, mồ hôi ướt Từng lớp dần xa khuất luỹ tre…” Tiếng chim tu hú và tiếng chim vịt kêu chiều, tiếng bìm bịp kêu nước lớn đã theo tôi suốt một thời tuổi trẻ lênh đênh phiêu bạt. Khi còn trong quân ngũ, mỗi lần đơn vị dừng quân ở một làng quê nào, mỗi lần nghe tiếng chim tu hú buồn khắc khoải, nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ cứ da diết trong lòng tôi và các đồng đội của tôi…theo từng lời bài thơ của nữ thi sĩ Anh Thơ: “Bỗng tiếng chim tu hú Đưa từ vườn vải ra Quả bắt đầu chín bự Ngọt như…nỗi nhớ nhà! Rồi tiếng chim tu hú Vang suốt những mùa hè Con đi dài thương nhớ Mười năm chửa về quê!” Quê tôi ở miền sông nước Tây Nam bộ nên không có những vườn vải chín ngọt lịm, cũng không có hoa gạo đỏ rực khi mùa hè đến…Chỉ có hoa phượng vỹ đỏ rực trên những tàn cây, nhưng tiếng chim tu hú thì ở nơi nào trên quê hương cũng được nghe và mỗi lần nghe là mỗi lần nỗi nhớ dâng đầy trong tâm khảm! Bây giờ, sống ở nội ô thành phố Mỹ Tho, ồn ào ngựa xe, với nhịp đời hối hả, không còn được nghe tiếng chim tu hú gợi nhớ quê hương khắc khoải trong những lùm cây! Nhưng trong lòng những đứa con xa quê chắc ai cũng như tôi, cũng cồn cào nỗi nhớ quê cho dù không còn nghe tiếng chim tu hú! Bởi, “quê hương mỗi người chỉ một” mà! Đinh Phạm Kiều Đoàn nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Một, 2008, 10:57:38 pm Tản mạn cuối tuần
CÂU CÁ LÓC Khi những cơn mưa mang nước từ trên trời đổ đầy các ao, đầm, mương, vũng. Và khi mà nước từ thượng nguồn đổ về làm đầy ắp các ao, con kênh, ngọn rạch là những người có máu mê câu cá lại nghe trong lòng nôn nao, rạo rực. Chuẩn bị đồ nghề để đi câu, mà khoái nhất là…câu cá lóc! Câu cá lóc cũng có nhiều cách: câu “cắm’, câu “nhắp”, câu “rê”, và câu “vịt”, nói tóm lại câu cách nào cũng có bí quyết riêng. Câu cắm thì tiện nhất; người đi câu sắm cho mình chừng vài chục cần câu cắm, có thể mua ở chợ ( nhưng không nhạy và chắc bằng cần câu mình tự làm ) Không thì bỏ công ra kiếm một đoạn tre, trúc thật cứng nhưng phải có độ dẻo, dai cần thiết xong rồi chuốt thành từng cây cần câu. Tuỳ theo độ sâu, bờ bụi nơi mình cắm câu mà làm cần câu cho phù hợp, có người làm cần câu dài khoảng 0,8 mét, có người làm đến 1 mét! Làm cần câu xong phải hơ lửa, bẻ, uốn tạo độ cong để cần câu “bật” tốt, cá không sẩy được. Khó nhất là “tóm” lưỡi câu, cái nầy đòi hỏi phải có tay nghề, vì nếu “tóm” lưỡi câu không khéo, sẽ chẳng có con cá nào ăn; mà nếu nó “vui lòng” ghé lại, ăn hết mồi rồi cũng “dọt”. Lưỡi câu mua ngoài chợ phải chọn loại lưỡi thép tốt, to một chút đem về còn phải uốn, lấy kềm “bẻ” cho lưỡi hơi nghiêng cá ăn mới dính mép được. Nhợ câu cũng phải lựa loại nhợ gân, hoặc nhợ “ny-lông”. Làm cần câu xong xuôi, muốn cắm câu thì phải có “mồi”, mà mồi câu cắm cá lóc nhạy nhất là những chú “dế nhũi”, cá lóc khoái nhất là dế nhũi, và hơn nữa dế nhũi sống rất dai, có khi cắm câu cả đêm không có con cá nào ăn, con dế nhũi làm mồi câu vẫn còn…sống nhăn, có thể dành làm mồi cho lần sau. Còn tìm không ra dế nhũi thì đào tìm một mớ “trùn” ( còn gọi là con “giun đất”) mà làm mồi câu cũng được, nếu câu bằng dế nhũi thì móc lưỡi câu vào lưng dế, cắm cần câu sao cho chú dế vừa chạm mặt nước, dế nhũi sẽ chạy vòng vòng trên mặt nước, đánh động những chú cá đói tìm tới, “cá lóc thích ăn mồi động, cá trê thích ăn mồi chết” người đi câu nào cũng biết bí quyết trên.Nếu không tìm được dế nhũi thì móc mồi trùn mà thả câu, cá đói thì gặp mồi nào cũng “xực” tuốt! Có người thả câu “ngầm”, tức là chỉ cần một khúc tre, trúc nhỏ, không cần dài lắm buộc nhợ câu vào một đầu, móc mồi rồi thả chìm xuống nước, đoạn còn lại cắm sâu dưới đất, cá ăn mồi, mắc câu rồi thì chạy vòng vòng dưới nước, hoặc lủi vào bụi, lùm nào đó rồi nằm im, chịu chết. Câu kiểu nầy có khi dính cá lóc, cá trê và cả lươn nữa! Nhưng câu cắm cực ở chổ người đi cắm câu phải thường xuyên theo dõi các cần câu của mình, nếu cá cắn câu mà không gỡ gặp cá lớn sẽ giật đứt dây câu, coi như mất toi cả lưỡi câu và cá! Hoặc cá ăn câu rồi chết, sẽ bị sình ươn hoặc cua, tép, cá khác tới rỉa hết thịt, sáng ra đi gỡ câu chỉ còn lại…cái đầu cá như chọc quê! Câu “rê” thì là cả một nghệ thuật, cần câu là nguyên cả một cây trúc hoặc tre dài có khi tới 6,7 mét! Dây câu cũng dài hơn thân cần câu, người câu rê chặt một cái nạng bằng cây ( giống như cái ná thun ) cắm ngược dưới thân cần câu làm chổ tỳ vào đùi để “rê” lưỡi câu, mồi câu rê thường là nhái, bù tọt hoặc đối đế lắm thì bắt “thằn lằn” làm mồi, chỉ cần thấy mồi nhảy nhảy, chấp chới, xao động trên mặt nước là cá lóc nhào tới “bập” liền! Lưỡi câu rê sau khi móc mồi xong, thường được người đi câu bẻ một cọng cỏ, gắn vào đầu nhọn của lưỡi, đoạn cỏ còn lại gắn vào cái “nòng” trên sợi nhợ, chủ yếu là để lưỡi câu nhọn không mắc kẹt vào lùm cây, bụi cỏ khi đang rê câu! Câu rê thường dính cá lớn, có khi dính cả ếch to! Cậu Út tôi câu rê không cần mồi, chỉ cần nhìn thấy con cá lóc nổi lên, lấy cần câu rê dần dần cho tới khi lưỡi câu nằm dưới bụng cá là giật, mười phát không sẩy một! Câu “nhắp” gần giống như câu rê, chỉ khác là cần câu không cần dài quá, khi câu thì “nhắp, nhắp” với khoảng cách đều, kích động mấy chú cá đói. Gần đây, ngưòi ta còn dùng vịt để câu, bắt một con vịt con cột một chùm lưỡi câu vào dưới hai chân của con vịt, tìm nơi nào có bầy “ròng ròng” mà thả vịt, cá lóc mẹ sợ bị ăn mất con nhào tới “đánh đuổi” kẻ quấy rối, táp một phát - cả một chùm lưỡi, hụt lưỡi nầy cũng “thiếm xực” lưỡi kia - thế là…dính câu! Có khi cá táp hụt lưỡi câu, táp luôn vào bụng vịt con, lòi cả ruột gan thấy phát khiếp! Câu cá bằng vịt dã man quá nên ít có người câu, còn khi chúng tôi đi câu gặp cá lóc mẹ dẫn bầy “ròng ròng” đi “dạo mát”, chúng tôi bỏ qua, không bao giờ câu, sợ cá con mất mẹ sẽ làm mồi cho cá khác! Mai mốt lấy cá đâu mà câu? ( Không như bây giờ, ngưòi ta dùng cả xung điện để bắt cá mẹ, cá còn “vị thành niên”, và cả cá con, thì nguồn tài nguyên thiên nhiên nầy không bị cạn kiệt mới là chuyện lạ! ) Trước kia, khi những ao nước dưới chân cầu Rạch Miễu, bên Thành phố Mỹ Tho chưa được thổi cát san lấp, có người xách cần câu máy tới câu, cũng được khá nhiều cá, còn khi đài phát thanh Tiền Giang còn ở chổ cũ, cứ con nước rong tháng Mười đổ vào những con mương, trảng cỏ bên đài là chúng tôi có dịp câu “ké” những con cá lóc to, còn gặp cá trê thì nhảy qua dùng “xà búp” mà đâm – có con hai, ba ký – đâm dội cả tay chứ chẳng chơi! Câu cá lóc nói dễ chứ thật ra không dễ, nó đòi hỏi người đi câu phải hội đủ các điều kiện: mắt tinh – tay dẻo – giỏi nhìn nguồn nước và địa thế ao đầm nơi mình sắp câu. Bây giờ, trong xu thế “đô thị hoá” những ao, hồ, mương, vũng trong nội ô lần lượt bị san lấp để lấy đất xây dựng, người “ghiền” câu cá phải ra ngoại ô, mà mương vũng ở ngoại ô bây giờ hình như cũng không còn cá lóc, chỉ có cá rô, cá sặc mà thôi! Mua một con cá to ngoài chợ không phải là không mua nỗi, nhưng thưởng thức các món chế biến từ con cá của mình câu được lúc nào cũng khoái hơn, đúng không? Và câu cá cũng là một thú tiêu khiển cho những ngày nghỉ cuối tuần đối với những người có máu mê “câu cá”. Phạm Kiều Đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Một, 2008, 10:59:45 pm Viết ngắn
CÂY DỪA NƯỚC… Đọc những trang của Đoàn Giỏi, của Sơn Nam viết về miền đất phương Nam, ta có thể nhận thấy một điều: - Cây dừa nước là hình ảnh gắn bó thân thiết nhất với người dân miệt sông nước miền Tây – Nam - Bộ, gần như song song với cây dừa mà chúng ta vẫn uống nước hàng ngày! Dừa nước, mọc ven sông, rạch bờ mương, chổ nào có nước là ta có thể trồng… dừa nước. Kể cả vùng đất phèn, đất lợ chỉ có một điều là nó không phát triển tốt, sum suê như trồng ven sông, rạch nước ngọt. Không rõ tự bao giờ, dân ta đã biết khai thác sản phẩm từ cây dừa nước? Lá dừa nước dùng để… lợp nhà, điều đó ai cũng biết. Nhưng lá lợp nhà cũng có nhiều loại, mỗi loại lại có một giá trị khác nhau về kinh tế, độ bền lá dừa nước để nguyên tàu, xé ra làm đôi theo chiều dọc gọi là “lá xé” lợp nhà thì tuyệt vời. Nếu lợp dầy, khít có thể cầm cự được với nắng mưa tới 9, 10 năm! Còn lợp thưa thì tệ lắm cũng phải 5,6 năm - với điều kiện là không có con chuột nào làm ổ trên nóc nhà, và không có những chú “rắn rồng” chuyên tìm bắt chuột - làm cho nóc nhà của ta bị tơi tả, rách nát và xuống cấp trầm trọng! Còn lại một kiểu lá nữa, gọi là lá “cần đốp” (?) hay lá “chằm cốp”(?) không biết tên gọi nào đúng, loại lá này người ta phải róc rời từng tàu lá dừa nước, phơi cho dôn dốt nắng, bẻ gập miếng lá theo quy cách 2/3 cặp vào “sống” lá mà chằm cho kết dính lại.“Sống” lá – cũng bằng thân cây dừa nước - dài ngắn tuỳ theo “lá hàng” hay “lá đặt”! Lá hàng thì người ta làm sơ sài, khoảng cách giữa hai miếng lá hơi thưa, nhưng cũng khá bền chiều dài tấm lá chỉ khoảng từ 0,8 đến 1 mét, dài lắm là 1,2 mét. Lá đặt thì khác, người ta chằm kỹ hơn, khoảng cách giữa hai miếng lá khít hơn, sống lá cũng dài hơn - chủ yếu là do người đặt muốn dài bao nhiêu? Có khi tấm lá chằm có chiều dài tới…hai mét! Còn thì 1,8 mét, 1,6 mét là thường gặp ở loại lá nầy. Lợp nhà phải có “lạt” buộc, “lạt” cũng làm từ phần dưới thân cây dừa nước mà dân gian quen gọi là “bập dừa”, lạt dừa được chẻ ra từ đây ( có nơi người ta lợp nhà bằng lạt tre ) nhưng thường thì muốn cho “đồng thanh, đồng thủ” người ta lợp nhà bằng lạt dừa, gọi là có tình, có nghĩa. Lạt dừa, trước khi xỏ, lợp phải được chuốt nhọn một đầu, đem thui trên lửa cho cứng, phần còn lại đem nhúng vào nước cho dai, không bị gãy khi cột. Lợp nhà bằng kiểu lá nào cũng phải dùng tới lạt dừa, nói như thế để cho ta thấy rằng cây dừa nước không bị chê một bộ phận nào! Còn cây dừa nước non, nhọn hoắc gọi là “cà bắp” cũng có công dụng lắm, ngày trước nghe nói khi khẩn hoang, lập ấp cá sấu vùng Bình Ninh, quê tôi ( chổ bến đò sông Cái ) nhiều vô số kể! Nhất là cá sấu hoa cà, người ta dùng “cà bắp” để đâm vào thân thể cá sấu thì cá sấu bị khống chế ngay! Càng vùng vẫy, “cà bắp” càng ăn sâu hơn! Có một bài thuốc Nam nói rằng “Ăn thịt con cá sấu, lấy cọng dừa nước xỉa răng phù mặt chết!” không biết có đúng không? Đã có ai đã thử chưa chứ tôi…chưa dám thử! Trái dừa nước cũng làm nên lắm chuyện, cơm dừa nước nấu chè, làm dừa đá ăn cũng ngon không kém gì vải thiều hay dừa nạo, dừa Xiêm đâu nhé! Còn bập dừa nước là phương tiện cho tuổi nhỏ tập bơi, tập lội, mỗi chiều khi bìm bịp kêu nước lớn đầy sông, mỗi đứa ôm một cái bập dừa vùng vẫy, quậy nước đùng đùng vui vô kể! Ngày xưa, mỗi khi đi đò về quê nhìn hai bên bờ sông là những rừng dừa nước, chen lẫn với những cây bần ổi sum suê, xanh mướt và khi nhìn thấy rặng dừa nước quen thuộc hiện ra trên bến sông là lòng tôi thấy bồi hồi, xao xuyến vì đã tới nhà rồi, đứng đón tôi trên bến sông là ngoại tôi với cây gậy trúc đỡ tấm thân gầy và mái tóc bạc phơ màu hoa bần trắng! Xã hội đã tiến triển mọi mặt về kinh tế, văn hoá đời sống người dân vùng sông nước miền Tây cũng được nâng cao, người dân đã lợp nhà bằng “Fibbro-ciment”, bằng “tole”, có người xây nhà đúc hai, ba tầng thậm chí xây nhà theo kiểu biệt thự hay cung đình với những kiến trúc vẽ từ bên…Tây! ( Kiểu nhà này mấy ông Tây khoái lắm đây, vì đi qua Việt Nam, nhìn thấy kiến trúc nhà ở của Việt Nam cũng giống như…bên nhà, ít ra cũng đỡ chạnh lòng nhớ mẫu quốc! ) Bây giờ, ít - hoặc không còn ai – lợp nhà bằng lá dừa nước nữa, những “hàng dừa nước lung linh ru mình trong nắng mới” ( lời bài ca cổ “Dòng sông quê em” ) cứ xác xơ theo từng đợt sóng vỗ bờ của các loại ghe, tàu. Và có nguy cơ bị “xoá sổ” trong danh mục các loài cây vì nạn khai thác cát bừa bãi, làm sạt lở bờ sông! Thi thoảng mới gặp những mái lá nhô lên từ những rặng cây mắm, cây bần của những người dân nghèo sống dọc ven sông. Và nếu ai có dịp về thăm vùng đất Mũi – Năm căn sẽ thấy chạnh lòng hơn với những mái nhà lá mục nát, xập xệ, càng nghe lòng quặn thắt hơn với câu thơ: “ Tuyết sương đất khách đã nhiều, Nhớ sao sợi khói lam chiều yêu thương!” Những sợi khói lam chiều không bao giờ vương vấn trên những căn nhà lợp “tole”, lợp “fibbro-ciment” hay nhà lầu đúc ba, bốn tầng đâu! Khói lam chiều chỉ vấn vương trên mái rạ, mái tranh, mái lá…nó chui ra từ những khe hở của những mái nhà đã quá xập xệ, len lỏi thoát ra và phiêu diêu, lãng đãng trên mái nhà! Những ai xa quê, có nhớ sợi khói lam chiều len qua mái lá thì hãy mau quay về mà ngắm nhìn đi!Cây dừa nước ngày càng mất đi vị thế của nó, và hàng dừa nước ven sông, nơi tuổi thơ hồn nhiên đi chặt từng quày dừa nước đem về cho mẹ nấu chè, ôm bập dừa nước vẫy vùng tập bơi, tập lội có lẽ mai sau chỉ còn trong…quá khứ! Thương lắm những cây dừa nước của vùng quê ven sông quê bạn, quê tôi và quê của tất cả mọi người. Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Một, 2008, 11:02:47 pm Bút ký SĂN "KÌNH NGƯ" TRÊN SÔNG TIỀN, SÔNG HẬU.
Cách đây không lâu, tôi tình cờ gặp một người bạn học chung thời tiểu học, nó có cái tên nghe rất ư là “trôi nổi” Giang Lục Bình! Nó cho tôi biết đang cùng gia đình vợ con sống “lang bạt kỳ hồ” trên chiếc thuyền câu lớn. Thuyền câu cá, lưới cá sông mà to như thuyền đánh lưới quàng, hôm tôi gặp nó là hôm nó đi tìm mua một mớ dây câu và tay lưới mới, chuẩn bị cho mùa đánh bắt cá sắp tới, đó là mùa nước lũ về trên sông Tiền và sông Hậu. Nó rủ tôi vào quán nhậu, tìm cái gì đó khề khà tâm sự, như cái thuở hai thằng còn sống trong quân ngũ, cách đây gần…ba mươi năm! Nó càng nhậu càng tỉnh, đúng “phong cách” của con nhà lính…Càng nhậu, nó càng có những câu chuyện hay về nghề câu của nó, gặp tri kỷ nó dốc hết tâm sự, nó kể cho tôi nghe những ngày lang thang, phiêu bạt tìm bắt cá hô và câu cá bụng (ba sa) để bán cho người ta gây giống…Sau đây, tôi xin kể chuyện “săn cá hô”: …Sông Tiền, sông Hậu như hai con rồng uốn khúc, quẩy mình vươn ra biển Đông. Theo “thống kê” sơ sơ của các nhà “ngư học” nghiệp dư, thì từng xuất hiện trên hai con sông này có tới hơn…200 loài tôm, cá có những loài “kình ngư” to như chiếc xuồng, nặng 3- 4 trăm ký! Chính vì thế, cư dân sống dọc hai bờ hai con sông này, từ xa xưa đã hình thành một nghề độc đáo: nghề săn bắt “kình ngư” (cá hô) và câu cá “bụng”. Đâu chỉ có cá hô, họ hàng “kình ngư” trên sông Tiền, sông Hậu có hàng chục loại, mỗi loại có tính cách rất đặc biệt đi vào huyền thoại. Có con được dân gian xem như “thần”, khi bắt được đem nhang, đèn lễ vật đến cúng vái, xin “ngài” tha tội vì đã lỡ đánh bắt nhằm “ngài” (!). Nhưng rồi sau đó, “ngài” dĩ nhiên cũng phải bị mổ bụng, phanh thây và đem ra chợ bán cho dân nhậu, những người chuyên tìm mua cá to về nhậu, với giá không rẻ một chút nào! “Xin lỗi mày! Không bán thì lấy cái gì mà nuôi vợ, nuôi con?” - với giọng xót xa, nó nói với tôi như thế! Cá hô tựa như cá mè nhưng con nhỏ nhất cũng cả chục ký lô! Chỉ riêng “đùm trứng” của cá mẹ đã khoảng…20 ký! Con lớn cân nặng có khi lên tới 3 – 4 trăm ký là chuyện nhỏ. Mùa nước đổ, cá hô xuôi dòng “Bắc tiến”, nhưng thật kỳ lạ, chỉ đến địa phận An Giang, Đồng Tháp thì quay lại. Thịt cá hô thơm, ngon, ngọt, nấu canh chua là “vô địch thiên hạ”, được tiêu thụ rất mạnh. Tại chợ, hôm nào có cá hô chỉ vài tiếng đồng hồ là hết sạch, dù giá không rẻ, tương đương – có khi mắc hơn - giá thịt heo! Một số người Hoa không dám ăn cá hô, nói rằng đó là “cá hoá long” (có lẽ thấy nó to quá!) Riêng dân nhậu thì thịt…“khủng long” cũng chơi luôn, chớ đừng nói cá mới “hoá long” chưa thành “rồng”! Bệnh gì mà cữ? Bình nói cho tôi biết, hồi trước cá nhiều, lại là cá to nên ngư dân thường dùng lưới “quàng” để bắt. Lưới quàng vốn lớn, cả chục lượng vàng một giàn lưới! Nay cá ít, ngư dân chỉ còn dùng lưới “câm” vốn nhỏ, mỗi tay chỉ dài trên, dưới 100 mét. Nghề này cũng hên xui nhằm mùa, có khi giăng cả tháng không được con nào. Nhưng có khi chỉ một tuần bắt được năm, sáu con, mỗi con trị giá cả “cây” vàng! Tôi hỏi nó, có bắt được con cá hô nào chưa? Nó cười khành khạch: bắt được tất cả 4 con! Con nặng nhất 300, con “mèn” nhất 100 ký! Mày coi phim “Ông cá hô” do Lê Vũ Cầu đóng chưa? – nó hỏi tôi - rồi, tôi đáp. Mày thấy con cá hô trong phim không? Cá “dỏm” đó! Cá “dỏm” mới quậy từa lưa như thế, chứ cá thật vào lưới rồi nằm im re hà! Tại sao tao nói cá “dỏm”? Tại vì…cá hô hiền khô, vào lưới rồi thì nằm im re, không hề giãy dụa, với lại đâu còn con cá hô nào cho mấy ổng bắt mà quay phim, người ta tàn sát hết rồi mày ơi! Trong đó có tao! Mười mấy năm về trước, nước lũ lớn nên cá hô về nhiều. Năm 1999, mày biết không, một đàn cá hô chừng 20 con bị mắc lưới dài từ Phú Tân xuống Mỹ Hoà Hưng (Long Xuyên), được ngư dân đem ra chợ “phanh thây” làm mồi “đặc sản” cho dân nhậu.Rồi cũng chừng ấy năm, không còn một con cá hô nào dính lưới cả! Có người tiếc tiền đã bỏ ra mua giàn lưới, nên cũng còn cố vớt vát, bủa lưới ngày này qua ngày nọ, mà có dính được con nào đâu? Dính một con tao chết liền! Các loại “kình ngư” coi như bế mạc cuộc đời trên sông Tiền, sông Hậu này hết rồi! Coi như chúng nó “tuyệt chủng”, “mất giống” hết trọi, hết trơn rồi…nói tới đây gương mặt của nó đăm chiêu, thấy mà tội nghiệp. Tôi rót cho nó một ly rượu thuốc ngâm…củ cải (mà dân nhậu “tôn xưng” quen gọi củ sâm), hỏi bây giờ mày làm gì sống? Nó bỗng trở nên linh hoạt hơn, cho tôi biết là nó đang chuyển nghề câu cá “bụng”, còn gọi là cá ba sa. Đắp đổi qua ngày và nuôi ba cái tàu há mồm, với một bà vợ sắp “bể bầu”, chứ không mong làm giàu như xưa. Dòng sông Mê-Kông là dòng sông mẹ, ban tặng nhiều sinh vật, sản vật cho đồng bằng Cửu Long. Mỗi năm một mùa lũ, cá từ Biển Hồ xuôi dòng về hạ lưu “du lịch” dài ngày. Đâu chỉ có “kình ngư” như cá hô, mà hàng trăm loài cá khác nữa như con cá “mồm” (chỉ lớn bằng đầu tăm), cá linh, cá bông lau…Đặc biệt là con cá ba-sa (mà tôi sẽ hầu chuyện cùng bạn đọc trong bài viết sau). Cá nhiều vậy đó, con người còn nhiều hơn! Họ sẵn sàng dùng mọi phương tiện đánh bắt, kể cả nổ mìn giết hại cá con, cá bột, cá…vị thành niên! Nếu con người không dừng tay huỷ hoại môi trường, nhất là môi trường sinh thái và môi trường thuỷ sản, thì e rằng chỉ vài năm nữa thôi, con cá…lòng tong cũng không còn để cho ta bắt.../. Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 26 Tháng Mười Một, 2008, 09:58:22 pm Tùy bút:
LỤC BÌNH ƠI! THƯƠNG NHỚ QUÁ… “…Đứng nhìn dòng sông chảy, Từng đám lục bình trôi Màu hoa tim tím dại Ví như cuộc đời tôi Lênh đênh không bờ bến. Trôi dạt bốn phương trời!...” Không biết tự bao giờ tôi yêu màu tím của hoa lục bình đến vậy! Trong cuộc đời lênh đênh, giang hồ phiêu bạt của mình. Mỗi lần dừng chân ở một bến nước sông quê nào, màu hoa lục bình tim tím luôn làm tôi chạnh lòng nhớ quê hương và nhớ những người bạn năm nào… Trong những năm 60 của thế kỷ XX, nhà ngoại tôi ở ngay bên bờ con sông cái. Trước nhà có một cái doi đất, mà hễ có “doi” thì phải có “vịnh” - mặc dù là cái vịnh trước nhà tôi chỉ là một khoảng đất bị nước xoáy mòn - trên bờ và cả dưới sông mọc nhiều những cây bần dĩa, cứ đêm tối là đom đóm ở đâu bay về đậu, chớp sáng cả một khoảng trời. Dưới sông, ngay trong cái vịnh nhỏ là những giề lục bình bị nước cuốn xoáy vào, nằm im ở đó chờ nước lớn, nước ròng lại cuốn theo triều nước mà ra đi. Dù vậy, cái vịnh đó vẫn là nơi bọn trẻ chúng tôi ra đó mỗi chiều, để tắm sông, hái bần và hái những bông lục bình tim tím chơi trò bán hàng, chơi đám cưới Hồi đó, tôi về ở với ông, bà ngoại khi mà chiến sự ác liệt đang nổ ra trên quê hương Bình Ninh của tôi. Không về cũng không được, vì má tôi bận công tác không rảnh để chăm sóc chúng tôi, thế là “gà con xa mẹ, lạc bầy kêu chíu chít” cũng may nhờ ông bà ngoại thương, nên chị em chúng tôi còn có nơi núm níu trên mảnh đất quê nghèo sáng bom, chiều đạn này. Ngày đó, tôi có một cô bạn nhỏ tên Chanh (nghe cái tên không thôi đã chảy nước miếng vì …chua). Chanh rất hiền và nhút nhát,có một người cha là nông dân, chết vì pháo bầy của Mỹ, và một bà mẹ lam làm, giỏi chịu đựng. Cùng với hai người bạn lớn hơn tôi đến năm, sáu tuổi nhưng khoái “mày, tao” với tôi hơn là thằng Me và thằng Út Đẹp…Lúc đó, chúng tôi thường hay bày trò đánh trận giả mà không đứa nào chịu làm…lính ngụy hết! Vì làm lính ngụy dễ bị “giải phóng” bắn chết, nên tụi nó chỉ khoái làm “quân giải phóng”, rồi đẻo súng bằng bập dừa, lấy lọ nồi bôi cho đen cũng khá giống súng thật. Lá ngụy trang kết bằng những dây bìm bìm hoa tím, dây bòng bong với những chùm trái tròn tròn. Rồi chia phe ra, bắn nhau bằng miệng “cành cành, chíu chíu” ỏm tỏi. Cũng “rung rinh lá ngụy trang lưng đèo gió lộng”(lời bài hát “Ta ra trận hôm nay” của Văn An) tan trận đánh, mỗi đứa dù là “phe địch” hay “phe ta” đều được ăn dừa nước, mật ong mệt xỉu, những thứ này luôn có sẵn trong những bụi dừa nước và trong các rừng cây mọc dại quanh bờ sông. Vui nhất vẫn là trò chơi bán hàng, mà người mua trả tiền bằng lá cây, người bán thì bán những ổ bánh mỳ bằng cọng lục bình mập mạp, xẻ ra nhét bông lục bình vào đó làm chả lụa, “giăm-bông”, rồi chơi cất nhà chòi bằng những thân cây dừa nước mọc quanh bờ vịnh, chơi trò đám cưới chú rể, cô dâu trên đầu giắt đầy những bông hoa dại mọc nhiều vô thiên lủng quanh vườn. Pháo cưới được làm bằng bông bụp đỏ chói, cổng hoa trang trí bằng dây bìm bìm, dây tơ hồng - không trồng cũng mọc - “cô dâu” còn được giắt đầy trên tóc những bông hoa “dành dành” trắng, thơm phức. . Những cái đám cưới của bọn con nít, mà sau đám cưới cô dâu, chú rể không có ai phải tất bật lo chuyện cơm, áo, gạo, tiền…Chỉ có cười giỡn, cãi nhau chí chóe vì giành nhau một cái bánh bò, hay vài cái bánh men. Ngày đó, tôi có thói quen lội xuống sông ngay con vịnh trước nhà, hái những bông lục bình tim tím về ăn với mắm đồng kho, cá kho hoặc chỉ ăn với…nước mắm kho quẹt mà nghe ngon lạ, ngon lùng. Còn nhớ, một buổi chiều cuối mùa Hè, tôi giả từ ngoại tôi để đi cho kịp chuyến đò về Mỹ Tho vào sáng hôm sau để nhập học cho kịp. Bà cháu tôi lưu luyến chia tay, ngoại tôi khóc nhiều lắm, bà rất thương tôi nay phải gạt nước mắt tiển tôi đi vì sự học hành của tôi. Con nhỏ Chanh từ đâu chạy lại, giúi vào tay tôi một cái giỏ bàng trong chứa đầy những ổi, những bần, những trái ô môi đen trủi. Nó nói trong hàng nước mắt: “Mầy về Mỹ (Mỹ Tho, chứ không phải Hoa Kỳ) đi học cho giỏi, lâu lâu về chơi với tụi tao…Tụi tao lúc nào cũng nhớ mầy hết á!” Rồi nó vụt chạy đi, cái dáng gầy guộc, bé nhỏ khuất dần sau rặng bần trổ đầy bông trắng, màu hoa bần trắng rưng rưng như màu tóc của ngoại tôi! Bông lục bình chiều nay hình như theo nước cuốn về cái vịnh tuổi thơ của tôi nhiều hơn, và cũng nở nhiều hơn những cánh hoa màu tim tím. Tôi nhìn lại lần cuối cùng hình ảnh bến nước quê nhà, cái vịnh nhỏ, những bông lục bình tím, những rặng bần dĩa có màu hoa trắng, rưng rưng như hai hàng nước mắt của tôi, của ngoại rồi bước lên đò. Từ đó về sau, chiến sự ngày một ác liệt tôi ít có dịp về quê, mãi đến ngày hòa bình 30/4/1975 tôi về thăm ngoại mới biết tin con Chanh, thằng Me, thằng Út Đẹp đều theo quân giải phóng và hy sinh hết rồi! Thằng Đẹp hy sinh trận Mậu Thân, thằng Me hy sinh trên chiến trường Đông Nam bộ, con Chanh ngã xuống ngay mảnh đất quê hương này! Hiện mộ của tụi nó nằm ở nghĩa trang liệt sĩ của xã…tôi lội xuống cái vịnh tuổi thơ của chúng tôi, hái một mớ bông lục bình tim tím, rồi thả bộ ra nghĩa trang. Mộ của các bạn tôi đây rồi, tôi đặt bó hoa lục bình trước nấm mộ của từng người, lột cái mũ tai bèo xuống đứng im mặc niệm những người bạn mà nghe lòng tê tái buồn. Thôi, tao không kịp mua nhang, tụi bây hãy nhận của tao một nén hương lòng nhé Đẹp, nhé Me, nhé Chanh! Bông lục bình lên khỏi nước bắt đầu héo rũ màu tím nhạt phớt ánh vàng tâm chuyển thành màu tím bầm, như trái tim của tôi đang tím bầm nỗi nhớ! Chiều nghĩa trang buồn thê thiết, gió lạnh từng cơn…Tôi cúi đầu đếm bước../. Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 26 Tháng Mười Một, 2008, 10:02:15 pm Tuỳ bút VỀ VỚI QUÊ HƯƠNG!
Cuộc sống bận rộn, với bao nhiêu là công việc có tên và không tên đã làm cho tôi không còn thời gian trở về sống lại những chuỗi ngày ấu thơ nơi quê ngoại. Nên mỗi lần về quê đối với tôi là một niềm hân hoan, một nỗi sung sướng không thể nói hết bằng lời, rũ bỏ hết mọi công việc, mọi phiền toái, mọi khó khăn trong cuộc sống đời thường, tôi lại là một cậu bé con cởi trần ( có khi còn…cỡi trâu ) dang nắng đi bắt ốc, mò tôm cùng các em, các cháu (mà có đứa đã lên chức “ông” từ lâu lắm!) Thú nhất vẫn là đi câu cá rô, cá lóc, tát mương, hoặc ra sông lặn mò bắt tôm càng…Mà mỗi lần về quê là mỗi lần có cái thú vui riêng! Nếu đi câu cá rô thì khi bắt được cá rồi, đem về làm món ăn cũng đâm ra rắc rối tợn! Bởi đám em, cháu không có đứa nào “khẩu vị” giống đứa nào, nên hể bàn tới cách làm món là cãi nhau ỏm tỏi! Rốt cuộc, tôi vẫn là người quyết định, dù sao mình cũng là bậc “ông, anh, chú” mà! Cá rô tôi đem ra vườn, chặt một bẹ dừa róc hết lá, chẻ làm thành những cái “gắp” rồi kẹp cá rô vào đó, đốt lửa vỏ dừa đã phơi khô lên, chờ tới lúc có than đỏ rực mới đặt những “gắp” cá rô lên mà nướng, sai một đứa đi đào mấy củ gừng, một đứa đi hái ớt, đứa hái chanh…có các thứ tôi xắn tay làm món nước mắm gừng (cá rô nướng chín vàng, thơm phức mà không có nước mắm gừng ăn thì uổng phí công lao đi câu, đi tát mương quá!) Tôi đâm gừng với ớt thật nhuyễn, thêm một tý nước sôi, một chút đường khuấy đều lên cho đường tan ra, rót một miếng nước mắm ngon, nêm, vắt chanh vào, lại nêm sao cho nước mắm gừng có vị cay của ớt, mùi thơm của gừng, vị chua chua của chanh, ngọt ngọt của đường và mằn mặn của nước mắm là đạt yêu cầu. Nếu cầu kỳ một chút, có thể cắt chanh ra từng múi, rồi lấy dao tách cho từng tép chanh nhỏ rời ra, bỏ vào tô nước mắm nhìn trông ngon mắt hơn! Cá rô nướng trên than gáo dừa chín vàng, toả mùi thơm điếc mũi, có thể nói: “Cách ba xã cũng ngửi được mùi thơm”! Mỡ cá chảy xuống than hồng xèo xèo, thơm lừng, bỏ cá vào dĩa lớn, chế nước mắm vừa ngập, rau ăn kèm thì vô số, có sẵn chung quanh vườn nhà, nào là đọt ráng, đọt nhãn lồng, lá cách, bông ô-rô, cải trời, ngắt một mớ lá ớt hiểm, một mớ lá chanh non là đã có đủ đồ “tẩn liệm” cho một bữa tiệc cá rô đồng nướng. Còn nếu không muốn nướng thì ăn cá rô “chiên xù”, cá để nguyên con chao nước muối cho sạch nhớt, bắc chảo mỡ lên bỏ cá vào, đến khi cá “xù” vảy lên là gắp ra, cũng ngon không kém! Chút nữa thì quên, sai đứa nhỏ nào đó chạy ù ra tiệm mua về một lít rượu đế nếp, trong veo nhìn vào thấy tăm còn sủi! Rồi thì xúm lại, anh em, chú cháu cùng nhau khề khà, hỏi chuyện mùa màng, chuyện trồng cây trái, chuyện lan man đứa nào có vợ, có chồng, đứa nào còn treo giá…Hứng chí thì xách cây đàn cũ sì, sứt sẹo ra lên dây, làm sáu câu “Tình anh bán chiếu” cũng đủ ngất ngây trời mây, vui sảng khoái, rũ bỏ hết mọi vướng bận cơm áo gạo tiền theo từng ly rượu trong vắt, từng miếng cá rô nướng béo ngậy chấm với nước mắm gừng. Chẳng mấy chốc mà hết veo cả mâm mồi màng, rượu đế…ngà ngà say, mắc võng giữa hai cây cau mà ngủ, vui cảnh “quạt gió, đèn trăng”. Bữa khác, mò được mấy con tôm càng to “biết nói” – tôm càng này không ai nuôi, chúng từ sông vào ở trong mấy cái mương vườn, muốn bắt chúng chỉ cần chặt vài khúc chuối cây rồi hai thằng hai đầu mương, hè nhau đẩy cho tới lúc dậy bùn non, rồi để đó lên bờ ngồi hút thuốc, chờ tới khi tôm chịu không nỗi bùn non, trồi lên quơ quơ cặp càng với đôi mắt đỏ màu ngọc và mấy sợi râu là nhảy xuống bắt, vậy thôi - cũng nhường cho “thợ nấu” từ thành thị về… Dễ thôi mà, nướng tôm lên bằng than gáo dừa, hái một trái bưởi chua chua, tách từng tép bưởi ra, xé tôm trộn vào bưởi, nhớ chừa gạch tôm để lên mặt, thắng một chén nước mắm đường hơi sền sệt đổ tất vào dĩa gỏi, trộn đều lên…hái, xắt nhuyễn một mớ lá chanh, hoặc rau răm, ngò gai gì cũng được. Chủ yếu là lấy mùi thơm mà, trộn tất cả vào với nhau rồi xúm lại, nhậu, ca vọng cổ, kể chuyện đời xưa, đời nay…! Nếu mấy đứa em, cháu muốn “tận tình địa chủ”(xin lỗi, địa chủ đây là ám chỉ chủ vườn, chủ nhà chứ không phải địa chủ thu tô, phát canh tá điền ngày xưa đâu nhé! Đừng hiểu lầm mà tội cho người viết) mà trong nhà không có cái gì để đãi người xa trở về, cứ leo hái vài trái xoài, trái ổi cũng có cái đưa cay rồi! Hạnh phúc quá! Thoải mái quá mà sao giữa chốn bon chen của thị thành ta không thể nào có được – dù là một phút – vui chơi sảng khoái như ở quê hương! Có thể vì người dân quê chân chất, mộc mạc, hiền lành như hạt lúa, củ khoai? Ăn nói không bẻm mép, không biết văn hoa, cứ “phang ngang, bửa củi”, chửi thề vài tiếng vậy mà thích, mà yêu! Hay vì quê hương ta mọi sản vật đều có sẵn dưới mương, dưới ruộng, trên vườn ta cứ mạnh tay, thoải mái mà bắt, mà hái không có bỏ tiền ra mua, không “thâm lạm” vào “ngân quỹ” gia đình, không bị vợ cằn nhằn nên “nhậu” cũng thoải mái hơn chăng? Cũng có thể đúng mà cũng có thể sai, thôi thì cũng nên thể tất, chủ yếu là được sống dù chỉ một ngày nơi quê hương, được vui với anh em, dòng tộc, họ hàng cũng vui vẻ, cũng thoải mái hơn những giờ phút căng thẳng, mệt nhoài với bao thứ “hằm bà lằng” không tên, không tuổi nơi phố thị ồn ã, chật chội, bon chen. Tâm hồn người nhà quê rộng mở, khí hậu nhà quê mát mẽ, không gian nơi quê hương ta là bầu không khí ta thở, ta sống những ngày ấu thơ, hạt lúa củ khoai góp phần nuôi ta khôn lớn, nên vai, nên vóc với đời. Quê hương không bỏ người, thì người đừng chối bỏ quê hương! Dù quê hương ta còn nghèo nhưng đã dưỡng nuôi ta, dù người dân quê ta còn lam lũ, nhưng đã che chở, đùm bọc ta! Hãy về với quê hương đi, hỡi những đứa con còn phiêu bạt trăm miền! Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 26 Tháng Mười Một, 2008, 10:06:50 pm Tuỳ bút
HOÀI NIỆM MỘT MIỀN QUÊ! Cho đến bây giờ, dù đã đi vào lứa tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh” nhưng sao lòng tôi vẫn bồi hồi khi nghe ai đó nhắc đến hai tiếng “Quê hương”! Vâng, ai sinh ra trên đời lại không có quê hương để thương, để nhớ? Bình Ninh quê tôi là xã anh hùng! Tôi rất tự hào về điều đó! Hơn nữa quê hương là nơi tôi “chôn nhau - cắt rún”, là nơi nuôi tôi lớn lên, là nơi đã cho tôi tất cả tuổi thơ vừa ngọt ngào, vừa dữ dội và cũng lắm mộng mơ! Tôi còn nhớ mãi mùi thơm trên tóc của các dì, các mợ tôi. Hồi đó, ở quê các bà, các dì hay thắng dầu dừa để…chải tóc cho mượt! Còn tôi thì chỉ thích ngoại tôi thắng dầu dừa để tôi “hưởng xái” cái cơm dừa vón cục trong chảo ( còn gọi một cách dân dã là …“cứt dừa”), ăn vào vừa béo, vừa bùi, vừa thơm! Nhưng mà, ăn nhiều quá dễ bị “tháo dạ” lắm đấy! Ngày xưa, trong thập niên 50 - 60 của thế kỷ XX, các cô, các chị gái trong làng đâu có biết dầu gội là cái gì! Đến cục xà bông “Cô-Ba” cũng thuộc vào hàng “quý hiếm”, ấy vậy mà tóc của các dì tôi vẫn dài, vẫn mượt, vẫn thướt tha tung bay trong gió như thường! Mỹ phẩm nuôi dưỡng tóc của các dì đâu có xa lạ với dân quê! Nó vẫn được trồng làm hàng rào cho mỗi nhà đó thôi, đó là lá “dâm bụt” ( có chỗ gọi là “bông bụp” ) với bông hoa xoè to, đỏ thắm hoặc lốm đốm trắng. Chỉ cần hái lá “dâm bụt”, vò nát hoà với nước là các dì, các cô có ngay một loại dầu gội thượng hảo hạng, hoặc hái trái “bồ kết” nướng lên cho cháy rồi hoà với nước mà gội; gội đầu bằng lá “dâm bụt” hay “bồ kết” tóc mượt mà, đen nhánh, không thua gì dầu gội “Sun-shilk” bây giờ đâu! Thỉnh thoảng, các dì tôi lại nấu nước lá sả để gội đầu, cũng thơm đáo để. Lúc đó, cục xà bông “dầu” đen thui trong nhà cũng thuộc hàng “xa xí phẩm”dùng để tắm, rửa chén…đâu có được xài bậy bạ! Nên chúng tôi lấy lá bông bụp vò nát, pha với nước bỏ vào cái gáo dừa, cắm cái ống trúc rỗng vô đưa lên và…thổi, bong bóng bay ra cũng đẹp vô cùng, nó lại hiền dù có bị văng vào mắt cũng không sao. Hồi nhỏ, tôi cũng kén ăn ghê lắm, cơm thì phải nấu bằng gạo “lúa Tiêu”, thức ăn quanh năm tôi chỉ khoái có cá lóc kho tiêu và tép rang, mà phải là tép bạc đất mới được! Lớn lên, lên tỉnh học bà ngoại tôi thỉnh thoảng cũng gửi lên cho tôi chục lít gạo lúa Tiêu, hạt tròn, trắng, ăn dẻo, thơm và tép bạc đất rang với nước dừa…Mà tôi biết, để có gạo Tiêu gửi lên cho tôi, ngoại tôi đã phải dành riêng một khoảnh ruộng, cấy lúa tiêu cho tôi, còn lại bà cấy “Sóc Nâu”, “Gié Vàng” hay “Nàng Chá” tuỳ mùa để ăn…đủ biết bà cưng tôi cỡ nào! Tép bạc đất ngoại muốn gửi lên cho tôi, mấy cậu, mấy dì phải bỏ công ra sông cất vó – cái vó lớn che rợp một khoảng sông - mất mấy ngày, rộng trong khạp để khi nhiều nhiều một chút mới gửi lên, con nào cũng to, bà ngoại tôi rang tép với muối hột và nước dừa xiêm, chứ đâu có bột ngọt hay đường cát mà rang! Vậy mà con tép cứ đỏ au, béo ngậy, trong từng hạt gạo “lúa Tiêu”, trong từng con tép bạc đất tôi ăn nghe như có mùi phù sa nồng nàn của con sông quê hương, có vị mặn mồ hôi của các dì, các cậu đánh đu trên cái vó lớn, xúc từng gàu tép bạc, và ngọt ngào, ấm áp như tình thương của ngoại dành cho tôi! Hồi xưa không có bao ny lông hay bao xốp như bây giờ, mỗi lần gửi tép lên cho tôi ngoại tôi lấy bẹ chuối ốp lại, và cột bằng dây chuối.Hoặc bà lấy lá môn, lá bạc hà ( thứ dùng để nấu canh chua ) bỏ tép vào, gói lại cột dây chuối, dây lát là xong! vật đựng nầy bỏ ngoài bãi rác vài ngày là phân huỷ ngay, chứ đâu có “tồn tại” lì lợm cả mấy chục năm như bao xốp, bao ny-lông! Bây giờ, hình như những con tôm lóng, tôm càng và tép bạc đất không còn về trú ngụ trong dòng nước sông hiền hoà ngày xưa nữa! Dòng sông chở nặng phù sa ngày ấy bây giờ dường như bị thu hẹp lại, đầy những lục bình và mùi thuốc trừ sâu từ trên ruộng chảy xuống! Không còn cái vó lớn nào trên sông để mà người dân vó cá, vó tép…Điện khí hoá nông thôn, quê tôi cũng không ngoại lệ, bây giờ nhà nào cũng có “ăng-ten” máy thu hình chĩa thẳng lên bầu trời, phá tan cái mảng màu xanh của tre, của dừa, dây điện dọc ngang, chằng chịt thay cho những dây “bìm bìm” hoa tím, dây “cứt quạ” hoa trắng, dây “nhản lồng” với những trái ăn ngòn ngọt, chua chua! Những trụ “ăng-ten” điện thoại di động cũng thi nhau mọc lên, quê tôi đã thay da, đổi thịt, đã đi lên từng ngày theo xu thế tiến bộ, giàu mạnh hơn… Nhà nào cũng có “Ti-vi” để xem, xem riết phát chán đâu còn ngong ngóng chờ mong đoàn “Văn công Giải phóng” của những ngày xưa, và đoàn Nghệ thuật tổng hợp của hôm nay về biểu diễn! Nhưng sao trong lòng tôi vẫn cảm thấy có một cái gì đó, như là nuối tiếc, như là hoài niệm một hình bóng quê hương của những ngày xưa! Những ngày theo các cậu ra đồng lùa trâu, theo các dì đi “bắt hôi” cá trong những cái ao vừa tát, theo ngoại ra đồng đốt rơm, rạ lấy tro bón ruộng, gánh từng gánh phân trâu đem về chà mặt sân nhà để làm sân phơi lúa. Bây giờ đã có phân hoá học, phân hữu cơ bón ruộng đâu còn cần những mớ tro, sân phơi giờ tráng “xi-măng” đâu còn cần tới những thúng phân trâu để chà lên mặt sân chống nứt?! Buồn vậy thôi, chứ tôi cũng phải vui lên vì sự thay đổi đi lên của quê hương, nỗi nhớ quê hương chỉ còn trong kỷ niệm! Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 26 Tháng Mười Một, 2008, 10:09:56 pm Bạn đọc viết
THÓI QUEN UỐNG TRÀ Mới đầu, tôi dự định để cái tựa bài là “Thú uống trà”, nhưng lại sợ có ai đó “dịch nghĩa” chữ “Thú” (thói quen) uống trà, thành ra “Thú” (động vật) uống trà! Mà nói tới từ “trà đạo” thì có vẽ “đao to, búa lớn” quá, nên tôi chỉ dám đề cập tới “thói quen uống trà” thôi. Chứ nâng “trà” lên thành một cái “đạo” thì còn lâu mới dám. Không biết tôi nghiện trà từ lúc nào? Có lẽ tôi nghiện từ ông ngoại tôi trong những ngày ấu thơ về sống nới quê ngoại. Ông ngoại tôi ghiền trà, mà phải là trà Tàu pha thật đậm, với thuốc rê “ông Tề” chính hiệu. Trà mà ông ngoại tôi pha, người không quen uống trà, chỉ cần hớp một hớp là…quên ngủ ngay tắp lự! Một cái bình nhỏ xíu, chừng năm, sáu ly nước là đầy mà ông bỏ vào đó tới hai, ba gói trà “bánh ú” Hiệp Phát hiệu “con dơi”! Nhìn vào bình chỉ thấy toàn trà là trà, trà chế ra ly đậm đặc tưởng tượng có thể cắm đứng cây tăm vào đó được! Còn thuốc rê của ông thì ai không quen hút, chỉ cần hít một hơi là “ngậm nghe” luôn, bởi vì nó nặng quá, khói thuốc cứ ở lỳ trong cuống phổi! Cứ sáng sớm là ông trở dậy, lục đục đi nhóm bếp, súc bình, rửa ly chuẩn bị pha trà, ông uống trà với đồ “cầm tay” là vài cục đường tán. Thi thoảng có vài miếng kẹo đậu phộng mẹ tôi gửi về, hoặc dăm ba miếng mứt dừa mà mỗi lần bẻ dừa rám xuống là bà ngoại tôi “chế biến” chút mứt, dành cho ông. Tôi thì khoái ăn đường tán nên mỗi sáng ông pha trà là tôi cũng tốc mùng dậy theo, ra ngồi hưởng xái mấy cục đường, lâu lâu cũng “chơi” một hớp, thét rồi đâm ghiền trà lúc nào không hay. Có lần, vì tài lanh tôi giúp ông súc bình trà bằng…xà bông! Bị ông “tế” cho một trận nhớ đời. Trà mua về, ông ngoại tôi cũng phải gia công, chế biến lại cho thơm hơn chứ không phải để nguyên xi vậy mà uống. Bà ngoại tôi thường ra vườn nhặt mấy cái hoa bưởi rụng về cho ông tôi ướp trà, mặc dù nhà ngoại cũng có một hàng hoa lài, hoa ngâu. Tôi thắc mắc thì bà cốc đầu tôi, âu yếm bảo: “Hoa Lài, hoa Lý, Hoa Ngâu… Không bằng hoa bưởi thơm lâu, dịu dàng” Từ đó, tôi mới biết thêm cách ướp hoa bưởi vào trà mộc để tạo hương vị riêng cho trà, hoa lài, hoa ngâu cũng thơm nhưng mau phai hương, chỉ có hoa bưởi là “thơm lâu dịu dàng” như lời ngoại tôi nói. Mà nói tới trà chắc phải nói…cả ngày vì cái phong phú, đa dạng của trà; nào là trà ướp lài, trà ướp sen, trà ướp sói, trà mộc (nguyên vị, không ướp gì cả) rồi còn trà nguyên, trà nát…Chợ Mỹ Tho xưa “nhãn” trà đảm bảo thương hiệu gồm: trà Hiệp Thành Lợi, trà Vạn Đại hiệu con cua xanh, trà Ích Nguyên hiệu cái kéo, trà Hiệp Phát hiệu con dơi…là ngon nhất, đều do người Hoa tẩm ướp, chế biến. Còn một loại trà nữa, mà người ta gọi là trà tươi (hay chè tươi) uống cũng rất đậm đà hương vị, hãy đọc bài thơ sau thì biết, cái thú uống trà tươi của người lao động: “…Đồng trưa, nắng chói đỉnh đầu, Thợ cày nghỉ mát thả trâu bên đồi… Khoan thai thưởng chén trà tươi Trà xông hương đậm, nước ngời ngời xanh Uống xong mấy chén ngon lành Thảnh thơi, chợt nhớ chút tình…vợ con! Vợ lo pha nước vừa ngon, Con lo xách nước lon ton ra đồng…” Mấy năm đầu giải phóng, trà ngon không có mà uống, ông ngoại tôi phải thay trà bằng lá xoài khô, tôi đi công tác lâu lâu về thăm nhà đều không quên mang về biếu ông tôi vài trăm gram (lạng) trà ngon, nhưng trà bắc ông tôi lại không khoái, nên tôi phải đi lùng tìm cho bằng được trà Hiệp Phát chính hiệu con dơi cho ông. Về quê mà đem bánh trái về ông, bà ngoại tôi đều không thích, chỉ cần mua cho ông vài lạng trà Tàu với vài tán đường, mua cho bà tôi vài xếp trầu tươi, dăm quả cau là quá quý! Phải công nhận một điều, uống trà làm cho con ngưòi sảng khoái, tỉnh táo trà lại không độc hại bằng cà phê và uống rượu (dù có tài liệu cho rằng cà phê không có hại, chỉ có lợi), uống trà những lúc bế tắc trong suy nghĩ có thể làm loé lên vài ý tứ nào đó cho ta, phiên trực đêm mà có một bình trà nóng là cứ tỉnh như sáo! Mỗi sáng uống vài ly trà đậm và nóng, chất “ta nin” trong trà giúp cho ta tỉnh táo hơn trong xử lý công việc, trà kích thích tiêu hoá làm cho ta mau đói hơn, nhất là loại trà mộc (trà bắc) không ướp hương vị. Thi sĩ Tản Đà từng có bài thơ: Một trà, một rượu, một…đàn bà! Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta Chừa được thứ nào, hay thứ ấy Có chăng chừa rượu vói chừa trà! Vậy thì nguy to rồi, kính thưa vong hồn ông thi sĩ của sông Đà, núi Tản, kẻ hậu sinh nầy không dám nghe theo lời ông vì trót đã nghiện trà mà chưa dám nghiện hai thứ kia! Ông chừa rượu, chừa trà mà không…chừa đàn bà hèn chi ông “trực vãng Tây phương” sớm quá! Bây giờ, nếu không đi công tác thì cứ tối tối là tôi là vài ông bạn trong xóm lại bày ra một cái bàn trà, rồi vừa uống trà vừa nói chuyện bao đồng, trên trời dưới đất thật rôm rả và thật vui. Cứ lâu lâu không có dịp ngồi với nhau để uống trà là lòng nghe nhơ nhớ. Uống trà đã thành thói quen thì dù trà đậm đến cỡ nào cũng không có chuyện mất ngủ, sáng dậy làm một bình trà cảm thấy cuộc đời phơi phới, tâm hồn rộng mở và đầu óc sảng khoái hơn. Tôi và vài ông bạn vốn là cựu chiến binh, bàn bạc với nhau rằng mai kia, mốt nọ nếu có về nghỉ hưu thì hùn vốn lại mở một quán trà, chỉ bán trà và bánh ngọt chứ không bán thứ gì khác. Đặt cho một cái tên là quán trà “đồng đội một thời” nghe cũng rôm rả quá phải không? Thêm vào một vài bàn cờ tướng để các cụ vừa uống trà vừa đánh cờ thì nhất trần đời rồi! Bốc đồng thì bàn chơi vậy thôi, chứ bán theo kiểu mấy ông không khéo có ngày sập tiệm vì lỗ vốn! Vì sao ư? Đơn giản là vì cha nào cũng nghiện trà, uống trà theo kiểu “UTQ” (uống trà quạu), lại sẵn cái tính hào sảng của “con nhà lính, tính nhà quan” thì chẳng mấy chốc mà không còn đồng vốn. Còn cái quán trà “Đồng đội một thời” của cánh “Xê xê bê” (cựu chiến binh) chúng tôi chỉ là…nói cho vui trong lúc “trà dư, tửu hậu” thế thôi! Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 27 Tháng Mười Một, 2008, 10:34:30 am Tản mạn cuối tuần
YÊU VỢ HAY SỢ VỢ? Tôi có một thằng bạn, khi nó giả từ cuộc sống “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân”, tức là cưới vợ. Tụi tôi đi mừng đám cưới và cũng mừng cho nó, vì thời gian còn “mặn nồng hương lửa” vợ chồng nó rất hạnh phúc. Nhưng, tới khi có một đứa con thì vợ nó lại quay ngược 180 độ, không còn hiền hòa, dịu dàng như trước kia. Mà dữ như…bà chằn! Nó yêu vợ, yêu con nên vợ nó cứ dựa vào đứa con “bảo bối” mà ăn hiếp nó quá thể, nó ngoài những lúc đi làm ở cơ quan về nhà là lu bu đi chợ, nấu nướng. Thét rồi nó nấu ăn không thua gì Yankencook! Một bữa nọ, chúng tôi – đám bạn bè cùng học chung trường hồi ở truồng tắm mưa – tới thăm nó, rủ nó đi nhậu. Nhưng con vợ nó thì không cho đi, mà bắt nó phải ở nhà, nấu cơm (!) Thế là chúng tôi đành phải đi nhậu mà không có nó, tức là thiếu vắng những mẩu chuyện tiếu lâm cười ra nước mắt của nó, cũng buồn. Trong bữa nhậu, chúng tôi bốn thằng, mỗi thằng làm hai câu thơ để tặng cho nó và cho bà vợ “sư tử Hà Đông” của nó, bài thơ như sau: “Lửa bếp hồng lên tợ má em Mồ hôi nhỏ giọt, ướt tèm lem. Cơm sôi, hở nắp trào sùng sục Than nổ trong lò lách tách lên Hĩnh mũi, đâu đây mùi khét nghẹt! Lắng nghe tiếng chửi khuất sau rèm Giật mình mới biết…lời bà xả! Lại vợ, xin tha đừng “uýnh” em!...” Và chúng tôi viết ra giấy cẩn thận, gửi tới cho nó. Sau đó, nó gặp chúng tôi và tâm sự: Không phải nó “sợ vợ” mà là vì quá “yêu vợ”. Hỏng lẽ thằng đàn ông thân trai bảy thước mà đi “ăn thua” với phụ nữ? Thôi, hồi mới cưới về lỡ…sợ rồi! Bây giờ tiếp tục sợ cũng đâu có chết thằng Tây nào? Bó tay! Mãi về sau, khi tôi cưới vợ tôi mới biết thương nthằng bạn của tôi! Nó coi vậy mà còn diễm phúc hơn tôi, bởi vì vợ của nó mà gặp vợ của tôi là phải kêu bằng “sư phò” ngay tắp lự! Nói vậy các bạn cũng hiểu là sao rồi! Và tới phiên nó, nó và đám bạn bè quỷ sứ làm cho tặng tôi một bài thơ, nhại theo bài thơ “Hai sắc hoa Ti-gôn” của TTKH, bài thơ bây giờ tôi vẫn còn nhớ, xin viết ra đây cho các bạn đọc chơi: “…Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn Tới tháng lãnh lương mới hết hồn! Bạn rủ đi chơi, nào có dám Tôi chờ người tới để…giao lương. Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng Xấp tiền lương mỏng, hỏi lung tung Rằng lương sao có nhiêu đây thế? Chắc là “diếm” bớt, phải hay không? Người ấy thường hay móc bóp tôi Khảo tiền mỗi lúc bóp tôi vơi! Bảo rằng tôi móc còn hơn để… “Ghệ” móc tiền ông, mới khổ đời. Thuở ấy nào tôi đã biết gì Trẻ người, non dạ quá ngu si Bao nhiê tiền bạc, tôi “dâng” hết… Chẳng giữ cho mình được…tý ty! Đâu biết tiền đưa bả tháng này Là tiền dành dụm bấy lâu nay Bao nhiêu tiền mặt, “người” chơi hết Lấy gì vui với bạn bè đây? Từ đấy thu, rồi thu, lại thu Lòng tôi còn giá đến bao giờ “Người kia” đã biết tôi sạch túi! “Người ấy” cho nên vẫn hững hờ! Tôi vẫn đi…bên cạnh một người… Dữ như sư tử của lòng tôi! Và từng thu chết, từng thu chết Vẫn sợ “vợ” hơn cả…sợ trời! Buồn quá, hôm nay xem lại túi Không còn một cắc để…ăn xôi! Bao nhiêu tiền lẻ, người gom hết Chỉ thí cho tôi…một nụ cười! Tôi nhớ lời người chửi xéo tôi Một chiều ngồi dựa cửa ăn xôi Đến nay, tôi hiểu thì tôi đã… Làm lỡ đời trai, muộn mất rồi! Tôi sợ chiều thu, bóp hết tiền Hêt tiền, túi xẹp, dạ gần điên Gió về lạnh lẻo chân mây vắng Người ấy ra sân đứng…ngóng tiền! Nếu biết rằng tôi…lấy vợ rồi Cuộc đời trai trẻ, thế là thôi… Có ai nghĩ tới mà thương xót Sợ vợ làm chi, để chúng cười! Thế đấy, bạn bè mà chơi nhau “cạn tàu, ráo máng” như thế! Nói vậy chứ tôi vẫn giữ bài thơ, buồn buồn lấy ra ngâm nga chơi cho bà xả của tôi nghe xem bả có…động lòng trắc ẩn chút nào không? Nhưng sau khi nghe xong bài thơ bả cười hè…hè…(rất ứa gan) và phán một câu: “Ai làm thơ hay quá vậy?” Bó tay chấm com! Nhân ngày Phụ Nữ Việt Nam, tôi xin mạn phép viết bài này gửi cho các đấng trượng phu trên toàn cõi Việt Nam, ai thấy tôi tội nghiệp thì làm ơn gửi thư về Hoisovo@yahoo.com an ủi tôi nhé! Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:13:48 am Nhịp sống đồng bằng
NGHỀ ĐẶT VÀ DỠ CHÀ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG. Nếu ai có dịp xuôi dòng Cửu Long bằng đò dọc hay những chiếc ghe tam bản chạy dọc theo sông, sẽ thấy thấp thoáng trên các bãi sông, đây đó nổi lên những đống “chà” đồ sộ có, nho nhỏ cũng có…Đó chính là những ụ chà của người dân sống dọc theo hai bờ sông, đặt để dẫn dụ tôm, cá vào để bắt. Hàng năm, khi con nước “quay”, vào khoảng mùng 5 tháng 5 âm lịch, cá tôm từ thượng nguồn xuôi theo dòng nước về rất đa dạng và phong phú. Chúng tràn về, lần theo kinh, rạch để vào đồng ruộng nhằm sinh sôi, nảy nở, duy trì nòi giống. Dựa vào quy luật này, người dân sống ở ĐBSCL, kẻ câu, người lưới, đặt lờ, lợp để đánh bắt. Nhưng nổi bật và bắt được nhiều chủng loại cá tôm là nghề “đặt và dỡ chà”! ( Hiện nay, trong đánh bắt thuỷ sản ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có nghề “đặt, dỡ chà” là một cách bắt được khá nhiều chủng loại cá, tôm mà ít hao công sức nhất…) Người dân nông thôn ĐBSCL có 2 dạng đặt chà: Đặt chà để kinh doanh ( chuyên nghiệp ) và đặt chà “tài tử”! Muốn có được một đống chà kinh doanh, cần phải có sự đầu tư vốn tương đối. Vào khoảng tháng 8 – 9 âm lịch, các “ngư phủ chà” ra quân. Đầu tiên, họ chọn các bãi lý tưởng để thuê, công việc tiếp theo là mua các loại cây cứng, lớn để cắm cọc chung quanh lô chà theo hình chữ nhật bề ngang từ 14 x 19 mét, hoặc từ 15, 16 x 20 mét ( tuỳ theo người đặt ). Khi đã hình thành cái sườn, người đặt mua nhánh me nước, dài độ 6 – 7 mét, phải còn nguyên nhánh, lá chất vào trong ruột, đồng thời thả lục bình và cỏ thêm vào đó. Việc kế tiếp không kém quan trọng là dùng mồi để…dụ ( nhử ) cá vào chà, thường các mồi dụ như cám, bắp xay, lúa ủ, hột gòn…có nơi người ta dùng cả xương trâu, bò. Mỗi ngày phải hai buổi rải thức ăn vào chà và phải thường xuyên theo dõi, trông nom để không bị “Lý Thông” câu trộm, làm cá nhát bỏ chà. Người đặt chà thường dỡ chà 3 lần theo 3 con nước, nhưng nay thì không cần vậy, lúc cho ăn thấy cá nhiều là dỡ thôi. Mùa dỡ chà trúng nhất là khoảng tháng 10 âm lịch, vì lúc này toàn bộ đội quân cá, tôm bấy lâu nay “dạo chơi” trên đồng, lần lượt “rút quân” ra sông, nhường lại đồng ruộng cho người sản xuất. Khi ra đến sông, chúng sẽ chui vào chà ẩn trốn và kiếm ăn vì đây là nơi dễ sống, vừa có mồi, vừa êm. Người đặt chà thấy cá ăn mồi đông đủ, cá đen lên dội nhiều thì bắt đầu bao lưới, dỡ chà. Trước khi dỡ, chủ chà phải mướn một giàn lưới cùng với 10 đến 15 công nhân và thợ lặn. Tổng số tiền mướn các thứ không dưới…bạc triệu! Dùng lưới có viền lòi tói bên dưới để bao xung quanh chà, rồi dỡ từng nhánh me nước lên, nhổ cây xung quanh. Các tay thợ lặn, lặn xuống giậm lưới, lần vô tới khi gạn ( đè mí ) xong chặc chịa đâu đó là bắt cá. Mỗi lô chà nếu trúng có khi lên tới cả tấn cá, tôm chứ không ít! Mèn lắm cũng kiếm được vài trăm ký! Mỗi lô chà dỡ phải mất 7 – 8 tiếng đồng hồ mới coi như xong xả. Cứ xoay vòng, có cá thì dỡ đến khi hết vụ, chủ chà lấy các nhánh cây cắm chà đem…cưa củi bán cũng đủ tiền mua cây lúc ban đầu rồi! Nhà ngoại tôi ở ven sông nhỏ, đâu có tiền mà mua cây cắm chà nên đặt chà theo lối “tài tử miệt vườn” cho chắc ăn! Tận dụng cây nhà, lá vườn nên từ khâu bãi đến bắt cá khỏi tốn tiền thuê mướn, cứ ra ngoài bãi sông thuộc “lãnh thổ” của mình mà đặt chà. Đốn tre hay trâm bầu cắm bốn cây cọc với diện tích nhỏ, lấy lá tre, lá trâm bầu hay bình linh mà thảy xuống, vớt lục bình ( lúc nào cũng có sẵn trên sông ) đắp lên là xong. Thường chà “tài tử” thì làm theo cỡ “mi ni” chừng 4 x 5 mét, rất gọn, coi vậy chứ mỗi khi dỡ chà cá tôm cũng nhiều lắm chứ đâu có ít! Bắt được cá lớn, nếu không bán, không ăn ngoại tôi đem thả vào ao nuôi chung với cá tra, gần Tết thì lưới bắt lên làm món ăn cho ba ngày Xuân cũng dư dật chán! Tiền bán cá cũng kha khá, đủ để các dì tôi đi chợ mua đồ về ăn một cái Tết xôm tụ ra trò. Nghề đặt và dỡ chà ở ĐBSCL là nghề mang đậm tính dân tộc, dân gian rất được ưa chuộng. Nghề này tuy không làm giàu, nhưng cũng đem lại cuộc sống khá sung túc cho từng gia đình ở dọc ven sông. Hơn nữa, nghề đặt và dỡ chà này cũng kéo theo một số người có công ăn việc làm lúc nông nhàn, cũng là “nhất cử, tam tứ tiện” phải không? Đó là lúc trước, chứ hiện nay, trên các đồng ruộng nông dân xài phân bón hoá học, sử dụng thuốc trừ sâu thì vô tội vạ, ngay đến con cua với “áo giáp sắt” mà còn “ngỏm củ từ”, thì các loại cá chắc cũng không hy vọng gì còn sống để ra sông sau khi “rong chơi cuối trời quên lãng” trên các cánh đồng để sinh con, đẻ cái! Nghề đặt và dỡ chà chắc cũng dần dần mai một trong tương lai gần thôi! Thật tiếc, ước gì người nông dân thực hiện tốt “3 giảm – 3 tăng” trong đó giảm tối đa đi đến triệt tiêu lượng thuốc trừ sâu trên đồng ruộng thì các loài cá mới có cơ may sống sót, và người làm nghề đặt, dỡ chà mới còn chổ để “hành” cái “nghề” mang đậm tính dân gian này! Bằng không, chắc thế hệ con cháu chúng ta chỉ còn được nghe kể lại: “Ngày xửa, ngày xưa chổ bãi sông đó, có một…đống chà…”! Nghĩ mà buồn! Phạm Kiều – đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:20:32 am Bút ký NGHỀ CÂU CÁ BỤNG (CÁ BA-SA)
Đồng bằng sông Cửu Long, khi con nước sông đã chuyển sang màu đỏ đặc phù sa, là lúc bắt đầu mùa đánh bắt nhiều loại thuỷ sản. Cá tôm từ thượng nguồn, nhất là từ biển Hồ Campuchia theo dòng nước về hạ lưu sông Tiền- sông Hậu, tràn lên đồng chọn nơi trú ngụ, sinh sôi nẩy nở, nhằm duy trì…nòi giống! Một trong những loại cá di trú ấy, người dân khẩn trương đánh bắt phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày đó là cá bụng, còn gọi là cá basa. Cá basa cùng họ với cá tra, cá hú, nhưng mỗi loại có những điểm khác nhau về hình dáng. Cá bụng thân tròn “cụt đòn”, thịt trắng “bụng phệ” nhiều mỡ, không như cá tra thân dài, thịt vàng khi nấu chín có mùi hơi khẳn, cá bụng là mặt hàng “xuất khẩu” sang nhiều nước Âu, Á. Khi đánh bắt, người ta dùng câu neo, bắt sống bán cho các chủ nuôi bè. Chủ bè thả nuôi và “nhân giống”, tạo ra con cá bụng để phục vụ cho xuất khẩu. Chứ như bây giờ, cá thiên nhiên làm sao đủ cho nhu cầu xuất khẩu ngày một tăng? Tháng 6 – 7 âm lịch, dân săn cá bụng ra tay đánh bắt quyết liệt, vì lúc này cá đã về đông đủ. Những người chuyên nghiệp câu cá bụng ở đầu nguồn chuẩn bị đồ nghề từ những tháng trước, chớm vào vụ là có mặt tại ngư trường. Người không chuyên câu tài tử “giải sầu” cũng “xông pha vào trận”. Thường nghề nào cũng vậy, kiếm sống được là cả xóm cùng “hưởng ứng” với câu nói quen thuộc muôn đời “chim trời, cá nước ai bắt được nấy ăn”, nơi nào câu cá bụng là kéo nguyên khu vực rất đông vui. Đầu tiên, họ mua sắt bằng ngón tay út (cỡ “phi” 8 - 10) dài 2 mét, về bẻ thành hình vòng cung, mỗi vòng cung có từ 10 đến 11 lưỡi câu. Dây câu làm bằng “ni-lon” rất chắc. Ở hai đầu của vòng cung người ta cột một sợi dây gân băng ngang. Dọc theo cọng dây gân là lưỡi câu, cách nhau 2 tấc một lưỡi. Từ mũi xuồng một sợi dây dài nối vào giữa các cánh cung để kéo lên, thả xuống. Mồi câu cá bụng là trùn huyết, nhạy nhất là trứng kiến. Muốn lấy được trứng kiến phải dùng sào, làm bằng tre hoặc trúc dài khoảng 5 mét, trên đầu làm cái gàu (giống như gàu múc nước) bằng lưới ny-lông. Tìm đến những nơi có tổ kiến dùng gàu chụp nguyên tổ lấy trứng. Canh con nước vừa “chớm lớn”, người săn cá bụng ra sông thả câu. Cá bụng chỉ có ở thượng nguồn hai con sông Tiền – sông Hậu. Từ tờ mờ sáng, nếu bạn đi đường thuỷ sẽ thấy xuồng, ghe câu cá bụng đậu chật nhiều khúc sông. Những người không có xuồng thì dùng đủ phương tiện như “tắc ráng”, ghe chở lúa, “trẹt” v..v… ra giữa dòng sông quăng neo, đậu lại câu. Mỗi xuồng thường có ba giàn câu. Cá bụng không có nhiều để mà cân ký lô, người chuyên nghiệp câu một ngày cũng chỉ được 15 – 20 con, còn “không chuyên” cũng được 5 – 10 con. Tuy nhiên, giá cá bụng lúc đó rất cao, một con bằng ngón tay, bán cho “lái” sẽ được 5 – 6 ngàn đồng. Nếu làm siêng, bơi lại bè bán cho chủ nuôi bè sẽ được từ 8 đến 10 ngàn đồng một con. (đây là giá của thời buổi năm 96, chứ bây giờ còn…rẻ hơn cho!) Tới 25 tháng 9 âm lịch mùa câu cá bụng chấm dứt, các tay câu cá chuyên nghiệp chuyển sang săn lùng các loại cá khác. Nghề câu cá bụng nuôi sống biết bao nhiêu người, và “làm giàu” cho các ông, bà chủ bè “giả dạng thường dân” đi mua cá bụng về…ăn! Mà thực ra là mua đem về… nuôi, con cá bụng khi vào bè rồi mới có một cái “lý lịch” mới: tên là cá Basa! Chỉ sau 6 tháng nuôi trong bè, con cá basa tăng trọng lượng gần 2 ký, trở thành món hàng xuất khẩu. Ở đồng bằng sông Cửu Long, nghề câu cá bụng là một trong những nghề đặc trưng đánh bắt vào mùa nước nổi, tuy không làm giàu được, nhưng cũng đủ ăn hoặc “dư chút đỉnh”, sống tạm qua cơn thắt ngặt, chờ mùa nước rút lại sẽ đi tìm việc khác mưu sinh. Như đã hứa, hôm nay tôi xin kể lại chuyện câu cá bụng ở sông Tiền, sông Hậu mùa nước nổi do thằng bạn thân của tôi kể lại cho tôi nghe, sau khi con cá hô không còn tồn tại nữa. Nhớ lại ngày trước, tôi cũng thường theo các chú câu cá tài tử trong xóm, xuống “cầu tàu” (khu điều hành du lịch sông Tiền, cạnh nhà hàng Chương Dương bây giờ) để xem các chú câu cá, thỉnh thoảng chạy đi mua cho mấy chú vài điếu thuốc Ru-By, khi về có khi còn được các chú tặng cho một con cá cũng kha khá. Ngày đó, cá basa, cá hú, cá bông lau, cá “vồ cờ”, cá tra bần… nhiều lắm các chú câu khoảng vài tiếng đồng hồ cũng kiếm được 5 – 6 con cá hú hoặc cá bông lau, mà con nào cũng to! Mồi câu của các chú thường là gián đất, hoặc một miếng bông gòn thấm nước “a-ngùy”, câu rất nhạy và cũng đỡ tốn công đi “thọt” kiến vàng hay đào trùn. Cá hú, cá bông lau thích ăn mồi gián, cá tra bần, tra nghệ, vồ cờ thích mùi “A-ngùy”. Nếu tôi nhớ không lầm, thì khoảng thập niên 60 của thế kỷ trước, đi xuồng xuôi xuống miệt Lý Hoàng - Cả Thu hoặc nơi giáp nước giữa biển và sông còn câu được cả cá hô! Có người câu cá hô, đem về thả nuôi trong ao, trong đìa, ruộng…nhưng thường cá hô thả nuôi không lớn như cá trong tự nhiên. Bây giờ, con cá bụng không còn lội thảnh thơi trên các dòng sông mùa lũ về, con cá hú, cá bông lau cũng không còn trên dòng sông Tiền cho bà con câu nữa, cá basa, cá tra thì đã được nhân giống bằng cách thụ tinh nhân tạo, nuôi bằng bè mỗi lần mấy chục ngàn con. Môi trường sinh thái bị hủy hoại nên con cá cũng bỏ người mà đi, những người như thằng bạn tôi lại phải rày đây, mai đó gạo chợ, nước sông để tìm cách mưu sinh. Tội nghiệp, cuộc đời của nó cũng trôi nổi như cái tên của nó: “Giang Lục Bình”, thế nên nó phải mang cuộc đời và tâm sự của loài thực vật thuỷ sinh hoa tím đó, mà lang thang cuối đất, cùng trời./. Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:23:09 am MÙA CÁ LINH…
“Tháng Mười, mùa nước nổi Bàn thờ lạnh khói nhang! Cha ơi! Xin thấu hiểu Con…quá đỗi cơ hàn!” Mỗi lần nhìn con nước son cuồn cuộn từ thượng nguồn đổ về, dâng đầy trên các con kinh, ngọn rạch là lòng tôi lại bồi hồi nhớ lại mùa cá linh năm ấy… Mùa cá linh thường bắt đầu từ tháng 5 âm lịch theo con nước lũ từ thượng nguồn, nhưng có lẽ chỉ rộ lên nhiều nhất là vào khoảng trung tuần tháng 8 âm lịch. Lúc này những con cá linh đã to cỡ ngón tay cái, và nhỏ nhất cũng lớn hơn đầu đũa ăn cơm. Còn nhớ, năm 1992 khi gia đình tôi lâm vào cảnh thắt ngặt do nợ nần vì vỡ hụi và buôn bán ế ẩm, tôi đành “muối mặt” đùm túm vợ con về “ăn chực” tại nhà của ba, má tôi. Một là chúng tôi gửi con cho ông, bà chăm sóc giúp, hai là chúng tôi có thời gian để vừa chạy nợ, vừa buôn bán kiếm miếng ăn đắp đổi qua ngày. Ba má tôi nghèo, làm nghề bán vé số dạo, được cái ba má tôi rất thương con tôi, vì nó là đứa cháu nội đầu tiên trong cuộc đời làm “ông, bà”. Còn nhớ, ngày hôm đó, má tôi đi chợ mua về một mớ cá linh, bà đem nấu canh chua với bông so đũa một mớ, mớ còn lại bà dùng để chiên giòn, giầm nước mắm gừng cho ba tôi ăn, vì ông rất thích món cá linh chiên! Tội nghiệp cho ba, má tôi cảnh nghèo đeo đẳng không chịu buông nên món ăn mà thiên hạ cho là tầm thường nhất, đối với ba, má tôi lại là những thứ “cao lương, mỹ vị”. Hôm đó, tôi và vợ tôi đi bán về đến nhà ba má tôi, mặt mày buồn so vì bán ế lại phải è cổ ra đóng tiền góp bạc 12! Tôi buồn vì cảnh nghèo của hai gia đình đến nỗi không muốn ăn cơm, xuống bếp thấy ba tôi đang chiên cá, ông bảo tôi rửa mặt rồi đi ăn cơm, tôi nhìn thấy ba tôi bóc một con cá vừa chiên xong, bỏ vào miệng nhai ngon lành mà muốn sa nước mắt. Cả cuộc đời làm con, tôi chưa bao giờ lo cho ba, má tôi được đầy đủ, cả quãng đời thanh niên trai trẻ, tôi cứ như một con ngựa bất kham suốt ngày lao vào công tác, ba má tôi chỉ thấy mặt tôi mỗi khi tôi…vào bệnh viện vì kiệt sức hay vì bệnh gì đó! Má tôi còn mắng yêu tôi “chỉ khi nào mầy bệnh mới thấy cái mặt mày thôi!” Không tròn chữ hiếu nay lại về báo cô! Trong bữa ăn, tôi thoái thác do mệt nên không muốn ăn cơm, ba tôi lại ngỡ tôi giận thằng em út nên không ăn, ông để dành cho tôi một dĩa cá linh chiên đầy nhóc trong tủ đồ ăn, dặn má tôi nếu ngày mai tôi có về nhà thì lấy ra cho tôi ăn. Sáng sớm hôm sau, tôi bàng hoàng khi nghe tin ba tôi bị xe đụng! Cũng đồng thời là xe đạp mà do người kia đi mua cá linh về bán, (cũng lại là cá linh!) sợ cá ươn nên chạy hết tốc lực, đụng vào ba tôi đang chạy sát lề đường. Tôi chạy ào vô bệnh viện thì ba tôi đã hôn mê sâu, tay chân bắt đầu co giật và khi được chuyển lên Chợ Rẫy thì ba tôi trút hơi thở cuối cùng khi xe mới vừa tới địa giới tỉnh Long An! Đám tang của ba tôi cũng khá đầy đủ, có cả nhạc lễ vì lối xóm thương ba má tôi nên kẻ ít, người nhiều xúm nhau lo cho tang lễ của ba tôi. Treo trên đầu quan tài là tấm Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, mà ba tôi vừa nhận được trước đó gần một tháng! Cả cuộc đời ba tôi chỉ có tấm huy chương nầy là thứ quý giá nhất trên đời, nay ba mất đi, má tôi đem tấm huy chương treo trên đầu áo quan, âu cũng là phần an ủi vong linh của ba tôi, mong ông ngậm cười nơi chín suối! Trong đám tang, má tôi bưng ra một dĩa cá linh chiên đã nguội ngắt và nói với tôi trong nước mắt: “Dĩa cá này là ba con để dành lại, dù thèm nhưng ông cũng không dám ăn mà chừa lại cho con”. Tôi bưng dĩa cá linh mà nước mắt chảy tràn. Ba ơi! cuộc đời ba tôi có ngày nào gọi là sung sướng đâu? Cha, mẹ không có, anh chị em cũng không, chỉ sống và vui với vợ, con trong quãng đời nghèo cực. Chính ba tôi đã dạy cho tôi từng đường quyền, ngọn cước đầu đời, tập cho tôi cái nghị lực chịu đựng mọi thứ nghịch cảnh trong cuộc sống bằng chữ “Nhẫn” của cái “Tâm” và bằng chính cái sức chịu đựng của mình! Từ đó, hàng năm đến ngày giỗ ba tôi, cũng vào tháng Mười âm lịch, khi phù sa nồng nàn chảy trên những dòng sông quê hương, mang theo những con cá linh béo ngậy. Tôi đều dâng cúng một tô canh chua cá linh nấu với bông so đũa, một dĩa cá linh chiên giòn, vậy thôi! Và cứ mỗi mùa cá linh là mỗi lần lòng tôi đau đáu nhớ về ba tôi. Một người cha suốt đời chịu đựng mọi khổ cực, chỉ để cho các con mình sung sướng, nên người. Tôi mong, ở cõi vĩnh hằng nào đó, ba tôi sẽ vui với cuộc sống không lo toan, tính toán. Và cứ đến ngày giỗ, lại về mà hưởng món cá linh béo ngậy của con nước tháng Mười đỏ quạch phù sa. PHẠM KIỀU Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:26:07 am SỨC SỐNG MÙA NƯỚC NỔI
. Ngoài những đặc sản trái cây nhiệt đới miệt vườn, thiên nhiên còn ban tặng cho đồng bằng sông Cửu Long một món quà vô giá – đó là mùa nước lũ hàng năm - cứ đến mùng 5 tháng 5 âm lịch, con lũ từ thượng nguồn đổ về mang lượng phù sa vô tận bồi đắp cho những cánh đồng lúa bát ngát và những vườn cây trái sum xuê. Cùng với lượng phù sa là nguồn lợi thuỷ sản phong phú chủng loại cá, tôm. Không chỉ cung cấp cho bữa cơm hàng ngày của những người dân miền Tây sông nước, mà còn toả đi cung ứng trăm nơi cho các thành phố công nghiệp và phục vụ cho xuất khẩu. Khi nước sông “quay” là báo hiệu mùa thu hoạch cá, tôm đã đến. Lũ cá sinh sản từ Biển Hồ theo dòng nước, theo sông Tiền, sông Hậu “rẽ” vào các dòng kinh, rạch toả khắp ruộng đồng là cá linh, cá cơm, cá ba-sa. Cá linh là loại cá sinh sản nhiều và mau lớn, là nguồn thực phẩm phong phú cung cấp cho bữa ăn hàng ngày của người dân miền Tây suốt năm. Lúc đầu cá còn nhỏ, cỡ đầu đũa đến bằng ngón út, người dân gọi là “cá linh non” Đánh bắt được, đem “mần” cho sạch, thả vào nhúng giấm ăn với rau đồng như bông súng, điên điển, rau mác, rau dền…Nếu ăn cơm thì đem kho lạt hay kho sả, cùng với nồi cơm gạo mới nóng hổi bảo đảm ta sẽ ăn tới “vét nồi, vét ơ” mới chịu thôi! Khoảng rằm tháng bảy âm lịch, con nước “xô” lên đồng là lúc cá đã lớn, việc đánh bắt rất khó vì chúng không tập trung nên số lượng không nhiều, chỉ dùng lưới để giăng, chủ yếu để ăn hoặc bán lẻ. Đến khoảng tháng mười âm lịch – mà cao điểm nhất là các con nước kém (từ mùng 10 đến 25 trong tháng) – cá bắt đầu đổ xô ra ồ ạt, dày đặc cả kinh rạch chuẩn bị cho chuyến “hồi hương”. Dân nghèo ở vùng nông thôn lúc này cũng bắt đầu xôn xao việc bắt cá, nhà không có tiền mua dụng cụ thì dùng thùng thậm chí dùng tay không để bắt, vậy mà cũng nhiều vô số đến bán chứ ăn không hết! Lúc này, không sống nghề “hạ bạc” nhưng thấy thiên hạ bắt cá nhiều quá tôi cũng đâm ham, về lấy cái mùng rũ hai ba thằng xuống kéo hoảng 2 – 3 tiếng đồng hồ kiếm được cả giạ chứ không giỡn! Những người có đủ dụng cụ xuồng, chài, lưới thì thả sức “tung hoành” trên sông nước như “thần cước trên sông Chu”. Tung một chài xuống kéo lên phải hì hục vì cá mắc trắng cả chài! Lượng cá nhiều đến nỗi phải dùng lu, hũ, khạp chứa để làm mắm hay ủ nước mắm hoặc phơi khô để dự trữ phòng những tháng ngày thắt ngặt lấy ra dùng. Đâu chỉ nuôi sống dân nghèo vùng lũ, mùa lũ đầy những cá, tôm còn góp phần làm giàu cho những người mối lái hoặc chuyên mua bán thủy sản. Mỗi mùa nước lũ là thương lái các nơi lại đổ xô kéo đến “triển khai” các hoạt động thu mua tôm, cá chuyển lên thành phố Hồ Chí Minh, hoặc bán lại cho các đơn vị xuất khẩu. Người ta đấu thầu nguyên lô, dùng đăng lưới, nhất là đáy lúc nào cũng to mồm, mỗi miệng đáy rộng khoảng 5 – 6 mét bề ngang và túm lại ở phần đuôi như cái phễu, cuối phễu là túi chứa cá. Đánh bắt kiểu này số lượng rất lớn, đem bán cho những bạn hàng hay chủ vựa hoặc các hãng để chế biến nước mắm. Bắt đầu từ tháng 10 con nước rút, cá từ đồng cũng bắt đầu lần lượt rút ra kinh, rạch, loại cá linh ra trước, sau đó đến lượt cá “đen” như cá rô, cá trê, cá lóc và tôm. Loại này đi theo chiến thuật “đặc công bò sát mặt đất” rất khó bắt! Dùng chài hoặc mò tay, thọc hang bắt thì cũng chỉ kiếm ăn đủ cho gia đình chứ không dư để đem bán. Mùa nước nổi mời bạn đến Tiền Giang quê tôi, làm một cuộc dạo chơi về đồng bằng miền Tây như những khách giang hồ lãng tử. Rồi bạn cùng với những người nông dân chịu thương chịu khó của quê tôi xuống xuồng, xuôi dòng đánh bắt cá - một thú vui mà không phải ở đâu cũng có được - Nhờ mùa nước lũ mà dân nghèo miền sông nước sống ung dung qua những tháng ngày thắt ngặt. Qui luật bất thành văn của thiên nhiên mà! Đã sinh ra con người, đã đem lũ về làm mất mùa nông nghiệp, hoa màu, cây lúa nổi lều bều thì thiên nhiên cũng hào phóng bù đắp cho người dân nghèo một mùa lũ với biết bao là cá, tôm nuôi sống những đứa con do mình sinh ra, đúng không? Thời gian gần đây, người ta xây dựng nhiều đê bao ngăn lũ nên số lượng cá không nhiều như xưa, bởi chúng đã bị các bờ bao, bờ đê ngăn lũ ngăn luôn chúng lại! Lợi bất cập hại…Nhưng dù sao cũng mời bạn về một chuyến, ăn cá linh non mùa lũ kho lạt cuốn bánh tráng, rau sống hoặc cá linh lăn bột “năng” khô, chiên giòn, cá linh nấu canh chua với bông điên điển ở vùng lũ và nấu với bông so đũa ở vùng kẻ chợ. Ngon hơn chút nữa là lẩu mắm cá linh, ăn kèm với bông súng, ngó sen, rau dừa, rau mác, rau ngổ, bông lục bình, lá cách, đọt xoài… toàn là các loại rau có sẵn trong vườn nhà. Với tấm lòng mến khách của người dân Tiền Giang, bảo đảm bạn sẽ lưu luyến ngay miền quê nghèo vùng sông nước Nam bộ này! Đinh Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:29:21 am Tản văn
HOA CÚC “…Mùa Thu ra biển cả Theo dòng nước mênh mông Mùa Thu vào hoa Cúc Chỉ còn anh và em…” (Xuân Quỳnh) Nếu ai đã từng ngắm những bông hoa cúc vào một buổi sáng đầu Thu, sẽ thấy trong lòng dậy lên một cảm xúc nao nao khó tả, nhất là khi lại được nghe bài hát “Thư tình cuối mùa Thu” (nhạc Phan Huỳnh Điểu, phổ thơ của cố thi sĩ Xuân Quỳnh). Hoa cúc có nhiều loại, cúc vàng, cúc trắng, cúc tím, cúc vạn thọ (còn gọi là cúc lỗ tai chuột), cúc Nhật, cúc đại đoá…nhưng, hình như các hoạ sĩ, nhà thơ, nhà văn chỉ cảm khái khi ngắm nhìn hoa cúc vàng rộ nở. Thôi Hiệu, một thi sĩ Trung Hoa đời Đường đã làm bài thơ tứ tuyệt tả hoa cúc như sau: “Bách hoa phát, hề ngã nhất phát Ngã nhất phát thường giai trác lạc Yếu dữ Tây phong nhất chiến trường Mãn thân phi tụ hoàng kim giáp…” Tạm dịch: “Trăm hoa đua nở, cúc chưa về Giờ cúc nở rồi hoa lại đi Đối mặt gió Tây, bày một trận Toàn thân vàng rực ánh xiêm y…” Nhà thơ tả hoa cúc như một viên tướng xuất trận, đối mặt với gió Tây mà phô trương cái đẹp của mình. Và hoa cúc là một loài hoa độc lập, mùa Xuân trăm hoa đua nở chỉ thiếu mỗi hoa cúc, nhưng khi cúc khoe sắc vàng rực rỡ thì không còn có loài hoa nào chịu ở lại để mà ngắm nhìn toàn thân một màu vàng rực trước “Tây phong” của hoa cúc! Âu cũng là…thiếu sót của các loài hoa. Nhưng biết làm sao bây giờ nhỉ? Vì khi tạo hoá tạo ra các loài hoa thì đã ban cho chúng một sắc đẹp riêng, một cõi trời riêng và một mùa riêng để “phô phang” vẻ đẹp trước muôn loài. Hoa cúc thường chỉ nở vào mùa Thu, bởi thế mới có câu: “…Đua chen Thu cúc, Xuân đào. Lựu phun lửa Hạ, mai chào gió Đông…” (Bích Câu kỳ ngộ!) Hay trong bài hát “Thương quá Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, có câu “…hoa cúc vàng trên sân anh, xinh như áo mới em ngày nào…” Trong ca dao xưa cũng có nhắc đến hoa cúc như một mở đầu cho một lời thăm hỏi của người con xa xứ: “Cúc mọc bờ ao kêu rằng cúc thuỷ Sài Gòn xa, chợ Mỹ không xa Viết thư thăm hết nội nhà Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em!” Lời ca dao mộc mạc, chân tình của một chàng trai xa quê nào đó, mượn hoa cúc để “nhập đề” lá thư gửi về thăm “phụ mẫu” nhưng sau đó là “thăm em” một cách hết sức tế nhị và…dễ thương. Đã có những bức họa về “hoa cúc” nổi tiếng của các họa sĩ Trung Hoa, đủ thấy người ta yêu hoa cúc nhường nào! Nói chung, hoa cúc luôn là đề tài cho các tao nhân, mặc khách khi thưởng hoa dưới nguyệt, khi ngắm hoa nở trước gió Thu về…Ở các vùng, miền có khí hậu ôn hoà một chút hoa cúc có thể nở quanh năm, như Đà Lạt chẳng hạn! Còn ở miền Tây Nam bộ hoa cúc thường chỉ được trồng và bán vào mùa Xuân để mọi người có thể mua về ngắm hoa, thưởng Tết, nhưng có một loại cúc gọi là cúc vạn niên hay cúc dây, mỗi khi ra hoa thường kết thành từng chùm rất lâu tàn. Một chậu cúc trồng lâu có thể cho ra hoa đều đặn “bốn mùa, tám tiết” chứ không bị giới hạn bởi mùa Thu, đem trồng trên lầu hay trên sân thượng cúc dây có thể ra hoa và rủ dài từ trên xuống, nhìn rất đẹp! Mỗi mùa hoa cúc nở là những cô, cậu học trò lại thấy trong lòng nao nao với bao cảm giác, bao xúc động, vì hoa cúc nở báo hiệu mùa thi và mùa tựu trường sẽ đến theo từng cơn gió mát đầu Thu…Và khi mà câu thơ: “Áo em vàng, anh về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường…” vẫn còn trong hành trang tuổi học trò, thì hình ảnh hoa cúc sẽ mãi mãi là bất tử! Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 02:28:52 pm VÒNG TAY CHỜ ĐỢI
Lá bay, rơi rụng bên thềm Lòng em nhớ đến anh miền xa xôi Em chừ như bóng mây trôi Mắt xanh đã trắng, bờ môi đã vàng Vòng tay chờ đợi khô khan Anh ơi! Em đã thành Hòn Vọng Phu... Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 10:00:01 pm Buồn vui đời lính
NHIỆM VỤ BẤT KHẢ THI Mùa khô, năm 1974… Tôi và thằng Dũng “đầu bò”, nổi tiếng là gan dạ và giỏi võ Thái Cực Đạo cũng cỡ…tôi! (tức là ai đánh thì chạy đó mà). Hai đứa nhận nhiệm vụ “thanh toán” đám NDTV của P…X vì tụi nầy hay lùng sục, khám xét, bắt bớ và bắn bậy…làm anh em cơ sở thiệt hại nhiều. Nói đâu xa, mới cách đó một tuần, ba anh em đột ấp về bị tui nó bắn hú họa…vậy mà lạc đạn chết một người! Tôi và thằng Dũng lên phương án, kế hoạch cụ thể xem sẽ làm gì và thoát bằng đường nào? Sau cùng, hai thằng nhất trí: thằng Dũng sẽ dùng HonDa 67 xoáy nòng, chở tôi ngồi sau chạy ngang trụ sở, ném lựu đạn vào đó, rồi thoát theo dòng người đi lễ Giáng Sinh trên đường. Nhưng cái quan trọng là làm sao tránh thương vong cho đồng bào đi lễ. Coi vậy mà khó trần ai chứ không phải dễ…Chỉ sợ tụi nó không gom lại mà tản ra thì khó làm ăn lắm! Nhưng chúng tôi hạ quyết tâm bằng mọi giá phải bắt chúng nó đền tội! Tôi 24/12…đồng bào giáo dân đi lễ nhiều. Không khí Noel cũng vui vẻ, tất bật…khí trời lành lạnh mà mồ hôi của tôi tuôn ướt đầm cả áo…Thằng Dũng lấy xe chở tôi lạng qua, lạng lại vài lần để xác định mục tiêu, tọa độ…rồi hai thằng vô quán nước gần đó, ngồi chờ thời cơ. Thời cơ đến khi số lượng giáo dân đi lễ đã vãn hết, mọi người đều vào nhà thờ cả rồi! Đúng lúc rồi đây, bọn chúng kéo kẻm gai che chắn trụ sở lại rồi hai ba thằng lấy nồi, củi…chắc dùng để …nấu cháo khuya đây! Được rồi, ông sẽ cho chúng mày ăn…lựu đạn thế thịt heo nhé! Tôi nhủ thầm, ra hiệu cho Dũng nó lấy xe chở tôi lượn qua chốt gác một lần nửa…nhìn vào thấy tụi nó đang xúm xít quanh…nồi cháo. Đứa thì thổi lửa phù phù, đứa thì xăng xái xắt thịt heo…nhìn rõ từng đứa luôn! Tôi chạnh nghĩ tới cái cảnh anh em tôi cũng tổ chức nấu cháo khuya như thế nầy sau mỗi trận chống càn và đi diệt ác…lòng không nỡ…nhưng lại nghĩ tới cảnh anh em mình bị tụi nó bắn bậy mà chết, máu tôi sôi lên và không còn suy nghĩ cái kiểu “tiểu tư sản” nữa! Vòng lượn thứ hai của thằng Dũng sát vào hàng rào trụ sở, tôi rút chốt trái da láng M.67 và thẳng tay liệng vào giữa đám áo đen xúm xít…Rồi hai thằng chạy hết ga, suýt chút nữa là tông vào đầu xe tải đang chạy ngược chiều, pha đèn sáng quắc thoát ra vùng ngoại ô, chạy thẳng về hướng LA, bỏ xe ở đó, bắt xe đò trở về ngay trong đêm xem tình hình…12 giờ khuya, tôi thấy tụi nó vẫn bình thường, ăn nhậu, đàn ca…Ủa sao kỳ vậy? Thằng Dũng nói hay là mầy không rút chốt? Ông nội ơi! Tao liệng lựu đạn nhiều hơn mầy ăn cơm nữa đó! Cái chốt tao còn giữ đây nè, thấy hôn? Lân la làm quen và hỏi thăm chị bán cháo vịt gần cổng trụ sở, thì chị cho biết: - Khi nãy, thấy mấy “ông vệ” (nhân dân tự vệ) múc cái gì đen đen trong nồi cháo khuya ra, rồi vừa la vừa bò càng, bò niễng…Mấy ổng nói là có ai đo chơi ác bỏ nguyên trái …“mảng cầu” vô nồi cháo của mấy ổng! Mang cái ấm ức vì quả da láng “thúi” đó chúng tôi về “cứ” vừa bước vào thì gặp anh Thắng, vừa lục tìm cái gì đó, vừa cằn nhằn…tôi bước đến hỏi, thì anh cho biết: Trái lựu đạn – đã lấy hết kíp nổ và thuốc - dùng để tập cho anh em ném, không biết thằng quỷ nào lấy tập rồi bỏ đi đâu không biết, kiếm hoài không ra! Tôi ngớ người, hỏi có phải trái có sơn màu xanh trên thân không? Ừ, đúng là nó…Chết cha, tụi em lấy…liệng vô đám NDTV phường X rồi! Lựu đạn tập, tháo hết kíp và thuốc hèn chi nó không nổ!? Còn trái của tụi bây đâu? – anh Thắng hỏi – tụi em đâu có thấy trái nào? – tôi đáp - Chỉ thấy có trái sơn màu xanh đó, khi nhận nhiệm vụ thì lấy đi luôn, ai mà biết…! Tao giao cho thằng Kha, bảo đưa cho tụi bây mà! Thằng Kha đâu?? Đi tìm một hồi thì thấy thằng Kha tủm tỉm cười, xúng xính trong bộ quân phục ni lông dầu xanh lá cây mới cáu…má nó mới gửi vô, còn trái M.67 dùng cho công việc, thằng Kha lấy treo tòng teng trên “xăng-tuya” của nó để đi…lấy le với các em ở xóm! Nóng sôi máu Anh Đài chưa? Vậy là đám NDTV thoát chết, còn tụi tui chạy bắn khói! May mà anh Thắng không lấy quả lựu đạn còn “nguyên xi” kia cho anh em tập, nếu không chắc có …khiêng quá! Một kỷ niệm nhớ đời trong những ngày tập tễnh làm…cách mạng của tôi! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 10:01:55 pm MỘT KỶ NIỆM KHÓ QUÊN
Năm 1973, tôi còn là một cậu học sinh trung học, mới tìm hiểu cách mạng miền Nam qua những câu chuyện của anh Rí - một người bạn lớn hơn tôi tới 2 tuổi - nhưng học chung lớp. Tôi cũng hiểu tội ác của kẻ thù xâm lược Mỹ và tay sai, nhưng tôi cũng chưa hiểu rõ lắm về cách mạng, cho đến một hôm… Chiều hôm đó, sau khi đi học về, ăn cơm xong tôi thả bộ tà tà vào xóm “hãng xáng” chơi với mấy thằng bạn. Chả là tụi tôi chiểu, tối nào cũng tụ tập với nhau, đàn ca, xướng hát. Có lúc cao hứng còn mua rượu về nhậu (mặc dù lúc đó mới có 16 – 17 tuổi nhưng tôi nhậu cứng khừ luôn!). Mới nhậu xong một chai nửa lít thì hết rượu, thằng Hai “cà lắc” xung phong đi mua. Tôi ôm cây “ghi- ta” cũ sì lên, hát nghêu ngao bài “Tình như mây khói” – một ca khúc thời thượng lúc đó – Đang thả hồn theo tiếng nhạc thì một viên cảnh sát, mặc bộ đồ trắng, áo bỏ lè phè ngoài quần dắt xe đạp đi vào xóm. Tôi lấy làm lạ vì y lạ mặt, chưa gặp bao giờ…Hay là vô xóm kiếm “em”? Cái xóm nhỏ xíu nầy có bao nhiêu là động “Bàng Tơ”, đầy những cô nàng “yêu nhền nhện” mắt xanh, mỏ đỏ! Y đi ngang chỗ tôi, hơi rượu nực nồng. Tôi ngừng tay đàn, ngó y cảnh giác mặc dù tôi không có gì phải sợ y cả. Tôi là học sinh mà, lại là con của lính Hải quân tôi xem y chả ra cái mùi gì cả! Chợt, tên cảnh sát dừng lại, nhìn vào đám bạn của tôi và hỏi bằng cái giọng lè nhè: “Làm gì đứng đây đông vậy? Giải tán đi!” Cái giọng ra lệnh nghe thấy ghét, tôi đâu có tè đám cảnh sát nầy, bọn nó sợ hải quân Chương Dương như sợ cọp (mà đám lính Hải quân nầy tôi quen nhiều lắm, đa số là bạn của ba tôi). Tôi ậm ờ: “Thì trời nóng, ra đây đứng cho mát! Thắc mắc gì hôn?” Tên cảnh sát dựng xe đạp lên, hỏi tôi: “Đứng hứng mát hay chờ…giựt đồ? Tao nghe nói xóm nầy toàn là đào ngũ và trộm cướp, giựt dọc…” Tôi sôi máu, độp liền: “Chú là nhân viên công lực, ăn nói với dân phải lựa lời chớ! Tôi là học sinh chứ không phải lưu manh, mà chú nói với tôi bằng cái giọng lưu manh đó?!”. Tên cảnh sát thộp cổ tôi, tay kia lần vào thắt lưng, rút ra khẩu “Ru –lô” nòng dài, còn nằm nguyên trong bao: “Đ..mẹ, mầy chịu nổi mấy viên, mậy?” Tôi liếc nhìn tướng tá của y, không đủ cho tôi phủi tay, liếc nhìn khẩu súng với cái vòng cò còn nằm trong bao, nhìn nắm tay của y nắm áo tôi…Tôi nghĩ thầm “Tới số rồi con ạ! Mầy quên câu ngạn ngữ Nhật Bản là : “Đừng bao giờ nắm cổ áo một môn sinh Nhu Đạo hay sao?” Tôi liếc sang thằng tư Hoai ra hiệu, nhanh như cắt, tôi dùng tay phải chộp lấy tay của y đang nắm cổ áo tôi, vặn nhẹ một cái y lập tức kêu oái oái, tôi chộp lấy cánh tay của y và dùng một đòn vai của Nhu Đạo – y như lúc học trong trường – quăng hắn qua đầu và rơi xuống nền xi măng lạnh cứng nghe một cái “phịch”. Hắn đưa khẩu súng lên, tôi tước ngay lập tức, rút khẩu súng ra khỏi bao, lẩy chốt cho ổ đạn lòi ra và dốc ngược khẩu súng, sáu viên đạn rơi ra ngoài. Tôi quăng khẩu súng qua hàng rào của hãng xáng và co chân tống cho y một cước (Không Thủ Đạo gọi là MAE GARI KEKOMI) vào mạng sườn, rồi tôi xách cây đàn…vọt! Tụi bạn tôi cũng mạnh thằng nào, thằng ấy chạy. Tưởng gì, chứ cái xóm tôi tới chơi toàn dân Thủy quân lục chiến, Biệt động quân đào ngũ, tới Quân Cảnh họ còn dám “chơi” thì sá gì đám cảnh sát áo trắng nhãi nhép nầy!? (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: DepTraiDeu trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 02:54:27 pm Trời, em thiệt phục bác Kiều, cảnh sát có súng mà bác cũng dám lượm luôn! Cao thủ võ lâm có khác, ngòai Nhu đạo, Thái cực đạo ra bác còn luyện thêm món gì nữa hông mà gan quá vậy?
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 07:46:54 am Tại nó sỉn rồi, với lại cây súng ru-lô mà bỏ trong bao, vòng cò nằm trong bao thì cúng cơm rồi! Tớ học đủ các môn, nhưng luyện giỏi nhất là môn...chạy!! Cặp giò phải dẻo, phải lẹ...Không lẹ nó bắn cho bỏ mẹ chứ giỡn chơi à! ;D. Nói vậy chớ, tớ học nhiều môn lắm nào là Nhu Đạo, Thái Cực Đạo, Không Thủ Đạo (Karaté) Thiếu Lâm, Võ Đang, Bát quái quyền...nhưng, như người ta nói Nhất nghệ tinh - nhất thân vinh. Tớ học nhiều thứ quá nên bây giờ cóc có nhớ thứ nào cho ra ngô, ra khoai cả! Mới vừa rồi, anh em bên thể dục, thể thao kêu tớ chuyển công tác từ văn công qua phụ trách bộ môn Nhu Đạo của Sở. Nhưng tớ hốt quá, nên xin thôi. Bây giờ già rồi, gân cốt đâu có còn như xưa, không khéo gặp mấy em nó muốn thử thầy, nó quần cho một chập là tè cả ra quần chứ giỡn chơi sao?! ;D.Tớ chỉ xin được làm cố vấn thôi, lâu lâu truyền dạy kỹ thuật cơ bản cho anh em môn sinh là tốt rồi! Hôm nào rảnh tớ kể cho các bác nghe chuyện tớ "uýnh" võ đài nhé! He...he... ;D ;D ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 09:42:49 am Đồ cũ
(http://farm4.static.flickr.com/3286/2835028500_a1fd2c6ddc_o.jpg) Những Thứ này.... Giờ làm rơi.... không ai nhặt Với Tôi Một quãng đời.... link: http://my.opera.com/ky%20su%20xay%20dung/blog/do-cu Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: trachvandung trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 11:34:00 am Anh Kiều ơi ! Anh kể tiếp đi bọn em sùng Biệt động các anh lắm! Cảm ơn anh nhiều
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 10 Tháng Mười Hai, 2008, 05:02:02 pm (tiếp theo)…
Tôi và lũ bạn, mạnh đứa nào đứa ấy phóng chạy thục mạng. Tôi về nhà, cất cây đàn tắm rửa sơ sơ, thay bộ đồ khác, quần xanh, áo trắng có phù hiệu trường Trung học NĐC…đàng hoàng. Tôi vòng trở lại chỗ tôi vừa “nện” tên cảnh sát. Thì không thấy ai ở đó, tôi vòng ra xóm, đã hơn 17 giờ chiều, không gian những ngày giáp Tết Ất Mẹo thật mau tối, mới đó mà muốn lọ mặt người rồi! Tôi sà vào bàn nhậu của các anh – vốn toàn là dân đào ngũ, đủ các sắc lính chủ lực của Ngụy quân – tôi vừa xề xuống chiếu, bưng ly rượu của một anh đưa cho chưa kịp uống thì anh Một vốn là thợ hớt tóc bị bắt quân dịch, đưa ra Quảng Trị, đụng một trận cả tiểu đoàn không còn tên nào, nên bán xới “đào ngũ” ngay tắp lự, về sống lây lất bằng nghề hớt tóc dạo (chứ ngồi một chỗ lại bị bắt đi lính nữa, chuyến này là…mất ngáp ) anh cầm cây đàn ghi ta phím lõm (gọi là lục huyền cầm) bảo tôi hát một bài. Tôi vừa cất giọng “ Trời ơi! bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiển. Nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn…Bạch…Thu…” chưa kịp xuống chữ “Hà” thì ngoài đầu hẻm rộn lên tiếng chó sủa nhặng xị. Một tốp cảnh sát sắc phục và nhân dân tự vệ ( còn gọi là Phòng vệ dân sự ) phường đi vào, dẫn đầu là tên…cảnh sát bị tôi “nện” vừa rồi! Đúng là “oan gia ngõ hẹp”…cả bàn nhậu tháo chạy tán loạn vì sợ bị bắt lính lại, chỉ còn mỗi mình tôi, chạy không kịp. Tuy hơi hoảng nhưng tôi vẫn cố giữ bình tỉnh, ngồi uống rượu…một mình. Tốp cảnh sát đi qua không thèm ngó tới tôi, tôi thở phảo nhẹ nhỏm. Chợt bọn chúng quay lại, tên cảnh sát lúc nảy nhìn chăm chăm vào mặt tôi, rồi rít lên: “Đây nè! Thằng nầy nè mấy ông!” “Ông làm gì chỉ vô mặt tui?” Tôi làm tỉnh hỏi. “Mầy đánh tao hồi nảy!” “Trời ơi! Ông có lộn ai không vậy? Tui đi học mới về ghé đây nhậu, chưa uống ly nào là ông vô tới, chỉ mặt nói lung tung…” “Mấy anh bắt nó về đi, bảo đảm đúng là thằng này. Nếu không đúng tôi là con chó…” Mấy tên NDTV xúm lại, thúc mũi súng vào lưng tôi: “Đứng dậy mầy! Về trụ sở!” “Tôi tội gì mà mấy ông bắt?” Tôi cố làm tỉnh hỏi lại, trong khi mắt cứ đảo lia tìm đường dọt. “Có tội hay không về trụ sở rồi biết! Đ, mẹ không có đánh cho có, có đánh cho chừa! Dẫn đi!” Một tốp NDTV ba tên và hai cảnh sát áp lại lôi tôi đi, bà con hàng xóm đi theo, nhao nhao phản đối: “Nó là học sinh, làm gì mà bắt nó” Bà hai xe ba gác cự nự. “Bà nói một hồi tui bắt luôn bà!” “Bắt, bắt cái “l…” tao nè! Tao tội gì mà bắt? Bà Hai vốn có con đi lính chết trận, được Sài Gòn cấp cho cái bằng “Tổ quốc ghi ơn” treo trong nhà, bà cóc sợ ai, bà có thể chủi từ Tỉnh trưởng đến…dân vệ! Ai nói bà khùng, bà chịu vì có khùng chửi mới sướng miệng và không bị bắt! Bà Hai chửi nghe rất hay, rất đã nhưng vì tục quá, tôi không tiện đưa lên đây…Mấy tên cảnh sát đành lắc đầu trước bà già gân, vả lại chung quanh có mấy chú, mấy bác mắt đỏ vằn tia máu vì rượu, sẵn sàng chơi tới bến nếu tụi nó đụng vô dân xóm nầy. Bon chúng bỏ đi, không quên…dẫn độ tôi theo, tôi trùng trình , tên cảnh sát bị đánh hét lên: “Đ, mẹ tính chạy hả? Tụi bây trói nó lại coi…” “Dạ, không có dây, anh năm!” một tên NDTV trả lời. “Thì lột dây súng ra, trói nó lại…” Cơ hội ngàn năm có một khi bọn chúng dẫn tôi đi ngang lối rẽ vào khu nhà sàn của dân tạm cư toàn là thương phế binh ngụy “cắm dùi giành đất”, từ đây ra bờ sông chừng 20 mét, có thể chạy thoát nếu bọn chúng…không bắn! Một tên NDTV chắc vào để trốn lính hay sao ấy, mà mặt mày non choẹt, cầm cây súng muốn...dài hơn nó. Hắn thúc tôi đi nhanh, miệng lầm bầm: "Nè, có tiền đưa cho tao vài chục ngàn, tao thả cho đi...". Nhìn thấy đã cách khá xa đám cảnh sát, nhanh như cắt, tôi quay người lại, nắm lấy mũi súng Carbine của tên NDTV áp giải - khi hắn đang hý hoáy tháo sợi dây súng - giật mạnh tới trước, tước luôn khẩu súng khi hắn còn quá kinh hoàng trước hành động của tôi. Tôi day báng súng, đánh vào cằm hắn một cú nghe cái "rắc" , bồi thêm một cú đá trực diện "Diấp -che ghi" vào bụng dưới, hắn bật ngữa chắc bể xương hàm rồi! Đám cảnh sát và NDTV lùi lại, lên đạn rốp rốp thì tôi đã phóng chạy về bờ sông. Chỗ nầy nước sâu, chảy xiết, bảo đảm không có thằng nào dám nhảy xuống, trừ tôi là thằng đang đào tẩu. Tôi lên đạn khẩu Carbine và chỉa vào bọn chúng, nâng mũi súng lên trời nổ mấy phát thị uy, rồi tháo băng đạn, vứt súng bên bờ sông (mang theo tụi nó đuổi chạy không kịp vì sợ mất súng, ở tù)…Bọn chúng cũng không dám bắn vì chung quanh có nhà, mà toàn nhà nhà của đám thương phế binh! A lê hấp! Tôi phóng mình cái ào xuống dòng nước chảy xiết, đang mang theo những đám lục bình hoa tím. Tôi lặn thật sâu, chắc bọn chúng có bắn theo vì tôi nghe tiếng đạn chui xuống nước ục ục…Tôi trở mình, lặn vào căn nhà sàn gần nhất, vì đã hết hơi rồi. Đội một đám lục bình, tôi nhẹ trồi đầu quan sát. Thật may mắn, lục bình nhiều quá chúng không thấy tôi, và trời cũng đã nhập nhoạng tối. Bọn chúng bất ngờ lại không có đèn “pin” để rọi. Tôi thở lấy hơi một lúc, nhìn quanh và thật may mắn, dưới căn nhà sàn tôi nấp có một bụi sậy mọc sát bờ sông, một mớ nhánh lòa xòa xuống nước. Tôi bẻ một ống sậy làm dụng cụ để…thở, rồi gom đám lục bình trôi gần nhất. Tôi chui nhẹ xuống dưới đám lục bình, ngậm ống sậy vào miệng, chừa một tý ló lên lấy không khí, tôi ẩn dưới đám lục bình…nhè nhẹ thả trôi ra sông, ngay dưới mũi bọn chúng. Khi trồi đầu lên thở lần thứ nhì, tôi thấy không gian một màu tím sẫm, sắp tối rồi. Tôi nhìn quanh, không có ai, thời đó nhà của ven sông còn rất thưa thớt, khung cảnh trống trơn dễ quan sát... ước chừng đã trôi xa bọn chúng, tôi rời đám lục bình cứu mạng và bơi vào bờ. sau nầy tôi mới biết. chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi trốn chạy đó, tôi đã ngậm ống sậy, lặn tới 2 cây số! Bởi vậy, khi tôi bơi được vào bờ nhìn chung quanh thì…lạ hoắc! Không biết là chỗ nào, tôi đành nằm im chờ đợi…Bấy giờ tôi mới phát hiện ra, chỗ tôi đang ẩn nấp là…một khu nghĩa trang! Có mấy ngôi mộ mới đắp cờ vàng ba sọc đỏ!( Cờ của chế độ Sài Gòn, đắp lên mả cho đám lính chết trận) Chung quanh không có ai, chẳng có ai đi vào khu đất đầy mồ mả này trong ban đêm cả, âu đó cũng là cái may và cũng là cái rủi của tôi. Vì không có ai làm sao tôi biết đường đi, nước bước? Không khéo “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa…” (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: DepTraiDeu trong 10 Tháng Mười Hai, 2008, 06:34:04 pm Bác Kiều ơi, bác liều thiệt đó, lỡ lúc đó mà thằng nào nó bóp cò cái h này anh em hổng có cơ hội nghe chuyện của bác nữa rồi! :(
Em mà như bác em bắt 1 thằng làm con tin. :D Bác cho em hỏi chút xíu, em coi phim cũng thấy cảnh lội sông đội lục bình, nhưng mà em làm thử thì đầu lòi lên 1 cục, lộ lắm, vậy lúc đó bác bơi kiểu gì để nó khỏi ngóc đầu lên dzị? Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 10 Tháng Mười Hai, 2008, 09:57:11 pm Bộ ngu sao mà bắt một thằng làm con tin? ;D Tụi nó đâu có như trong phim mà lo cho sự an nguy của bạn bè, đồng đội! Bác không nhớ trận đánh ở cổ thành Quảng Trị, trong thế trận da beo ( ta và địch xen nhau, lớp ta, lớp địch) nó cho pháo dập xuống giết luôn cả lính của nó đó sao?
Còn việc đội lục bình phải tập chứ! Tớ tốn không biết bao nhiêu thời gian, chịu đĩa chun vô lỗ tai để tập đó mà. Lúc đó là tập để...trốn bị bắt lính, chứ tớ chưa có tham gia CM đâu. Sau này nhờ vậy mà thoát chết. Đội lục bình phải bơi ngữa, cả thân hình chìm dưới nước, chỉ ló có cái ống thở lên thôi, mà không được ló cao quá, kẻ địch sẽ phát hiện ra ngay!(cái nầy phải "thị phạm" chứ nói không rõ hết đâu) tay chân cũng không được quạt nước mạnh quá, vì sẽ làm nổi sóng, cái món này các bác đặc công thủy là số một! Bọn tớ chỉ chuyên "trị" trên cạn thôi, xuống nước bơi không giỏi cũng chít he...he... ;D Cũng may, lúc đó tụi nó lo tìm cây súng mà tớ vất bậy đâu đó hay sao ấy, mà không thấy thằng nào lội theo cả. nếu có thằng lội theo, chắc phải có trận thủy chiến mà phần thắng nghiêng về số đông he...he.. ;D, Mí lỵ, bắt theo một thằng làm sao thoát được, nó chả nổ súng "thí chốt" luôn thằng "con tin" đó à?!Hơn nữa, nó cũng chưa biết tớ là ai, thì tội gì "hy sanh" cho uổng, để sống còn đi nhảy đầm nữa chứ! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 10 Tháng Mười Hai, 2008, 10:01:22 pm Khuya rồi về ngủ bác Kiều ơi! ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 10 Tháng Mười Hai, 2008, 11:04:47 pm (tiếp theo)
Gió chướng thổi ào ào, lạnh buốt hai hàm răng của tôi “đánh bò cạp” nghe lóc cóc, bụng đói..trong người chẳng còn tý hơi sức nào vì vừa vượt một quãng đường sông gần 2 cây số! Tôi chui vào một bụi cây um tùm cạnh bờ sông, cắn răng chịu lạnh, cởi áo quần vắt cho thật khô rồi treo trên đầu ngọn cây phơi cho mau khô. Trời tối sẫm, không trung nhấp nháy muôn vì sao sáng như những con mắt nhìn tôi, cười cợt cho cái cô đơn vắng lạnh và kèm theo một chút sợ hãi của tôi…Đói quá, tôi mặc độc cái “si-líp”, mon men đi theo các nấm mộ mới chôn, thường thì mộ mới người ta hay cúng bánh, trái kiếm bậy món gì độ đỡ rồi chờ gần sáng hãy ra đi. Tôi vốn sợ…ma nhưng trong hoàn cảnh này thà sống chung với lũ ma quỷ ở nghĩa trang này còn hơn bị bắt! Tụi nó mà bắt được tôi lại chẳng đánh cho mềm như trái chuối rục mới là chuyện lạ…Tôi lần mò theo hướng các ngôi mộ, có ánh sao trên trời rọi xuống mờ mờ, đây rồi quả là may, một ngôi mộ đất mới chôn còn đầy chân nhang, trên đắp một lá cờ vàng ba sọc đỏ còn mới tinh. Trước đầu mộ còn bày nguyên một dỉa “tam sên” gồm ba quả trứng luộc, ba con tôm càng và ba miếng thịt ba rọi (còn gọi là thịt ba chỉ đó), vài chân nhang vẫn còn bốc khói. Tôi tháo lá cờ xuống, quấn quanh người cho ấm. Thây kệ tổ quốc của nó, cờ của nó mà sưởi ấm mình càng tốt chớ sao! Tôi thầm khấn vái người dưới mộ chết rồi là hết, anh có lý tưởng của anh, tôi có lý tưởng của tôi. Mong anh thông cảm cho tôi “hưởng xái” mấy món đồ cúng này, để vậy anh cũng ăn đâu có được, đúng không? Thôi thì cho tôi ăn, lấy sức về với cách mạng. Bao giờ đánh đuổi hết kẻ thù xâm lược, tôi sẽ trở về đây cúng tạ lại cho anh gấp nhiều lần…Tôi ăn ba quả trứng, ba con tôm chỉ chừa lại ba miếng thịt, vì lúc này nó đóng mỡ khiếp quá, ăn sao vô?! Lại thêm một nải chuối xiêm chín nằm cạnh bên mà lúc nảy tôi không để ý. Chơi luôn nửa nải chuối trong bụng tạm yên, qua cơn đói lòng…bây giờ khát nước quá, biết tìm đâu ra nước uống đây? Xuống sông uống nước ư? Tôi không ngại nước dơ, nhưng tới bờ sông thì xa quá…Chợt có ánh đèn pin lóe lên, tôi quấn lá cờ vào người thật sát, co người lại nằm khoanh như con tôm sau nấm mộ đắp cao lùm lùm tránh ánh đèn quét qua. Không gian, thời gian như lắng đọng lại khi ánh đèn pin cứ từ từ đi tới chỗ tôi nằm! Chết rồi, chắc tụi lính dân vệ mò vô đây để tìm tôi. Nhưng, ngẫm nghĩ lại thì không có lý, từ chỗ tôi đào tẩu cho tới chổ này xa hàng cây số, vả lại bọn chúng chắc gì đã báo cáo lên trên, tôi biết tỏng tụi này mà, khi để vuột mất con mồi là từ quan tới lính im re hết, không dám báo cáo sợ bị kỷ luật, nhẹ thì nhốt “cô nét”, quét chợ, “thọc huyết heo”( thọc ống cống). Nặng thì bị đưa ra mặt trận bổ sung cho hàng ngũ binh sĩ QLVNCH ngày càng hao vì giao tranh với quân giải phóng! Vậy thì ai? Hay là bọn đào mả trộm, tôi nghe kể lại có một bọn người luyện phép “thiên linh cái “ gì đó, hay đào trộm mả của các cô gái còn trinh, mới chết ba ngày, chặt lấy thủ cấp đem về ếm bùa luyện phép…Nếu quả đúng là bọn nó thì tôi nhất quyết không tha, liều mạng với tụi bây luôn để trừ hại cho đời. Dù sao “trừ gian - diệt ác” vẫn là tôn chỉ của chúng tôi mà! Tôi nằm dán sát xuống mặt đất, phủ lá cờ trên lưng giống như một “nấm mồ” con con mới chôn. Tay chân chùng giãn chờ đợi…ánh đèn từ từ tiến tới, lộ rõ dần một người đàn ông, dáng thấp bé, gầy gò mặc chiếc áo vá chằng, vá đụp một tay cầm đèn pin, tay kia cầm một cây chĩa bảy mũi (dân gian gọi là xà búp), ông tiến tới chỗ tôi nằm, thò tay lấy lá cờ tôi đang phủ trên lưng. Tưởng bị phát hiện và bị bắt, tôi lăn một vòng, búng người ngồi dậy nhanh như chớp tấn công người lạ mặt bằng một đòn thôi sơn trực diện ngay vào giữa mặt, gọi là chiếm thế thượng phong…Ông ta quăng cây chĩa, bỏ cây đèn pin xuống, gạt cú đấm của tôi và trả đòn bằng một cú đá hiểm hóc vào giữa hạ bộ. Tôi lạng người tránh ra ngoài vòng đấu, bay người vào đối thủ với cú đá song phi sở trường mà thầy bảy biệt danh Triệu Tử Long – một ông thầy võ bậc nhất – đã truyền dạy cho tôi. Ông ta cúi thấp người xuống, tránh cú song phi và chờ tôi hạ xuống đất, ông tiến tới đấm nhứ một đòn vào mặt tôi, tôi vừa đỡ được thì ông lẹ làng chuyển mình, dùng thế “rờ ve” tạt ngang một đòn bằng cả cánh tay, tôi trúng đòn vào ngực, đau thấu mây xanh vội nhảy khỏi vòng đấu, xuống tấn thủ thế…Ông ta cười hề hề: “Còn đòn nào nữa không, tung ra hết đi! Mẹ, tối nay gặp đối thủ…dưới tay! Đánh không khoái” Tôi tự ái, định nhào vô tung đòn tiếp nhưng chợt nghĩ lại can cớ gì phải đánh nhau với người ta, khi chưa biết người ta là ai? Thì người đó cười hềnh hệch, cái cười không có chút nào ác ý cả. Tôi lắp bắp xin lỗi ông, ông ta cười và nói: “Hết sợ chưa?” (Mắc gì phải sợ nhỉ?”) Tui thấy chú em từ dưới sông lên bờ hồi trời còn mờ mờ, tưởng chú em một chút nữa tìm đường ra lộ, đợi hoài sao không thấy, tui phải trở vô kiếm. Sợ chú em bị…rắn cắn! Tôi sợ líu lưỡi “Bộ…bộ ở đây r..r..ắ…n…nhiều lắm hả?” Ông ta cười “không, chỉ có một con thôi, tôi đi tìm bắt hoài mà chưa được” “Có một con mà sao ông lại nói là…” Ông nói “Có một con nhưng là rắn dữ, nó có mồng trên đầu, tối nào cũng gáy nghe te te…Nó chuyên môn chui xuống huyệt mộ ăn…óc người chết!” Không biết thật hay giả qua lời nói của ông, nhưng thấy ông cầm cây chĩa bảy mũi tôi tạm tin là sự thật. Chợt nhớ ra mình đang trần xì trước mặt người lạ, tôi hấp tấp quay trở lại bụi cây, lấy quần áo mặc vào dù còn ướt nhẹp. Cái lạnh từ đâu ập tới làm tôi rùng mình mấy lượt, hình như muốn sốt rồi thì phải! Ông già hỏi: “Chú em ở đâu mà dưới sông bò lên vậy?” Tôi tìm câu trả lời: “Dà…cháu bị…chìm đò! Hồi tối cháu chèo đò qua sông, bị tàu tuần chạy sóng mạnh quá nên chìm, trôi dạt vào đây đang chờ khô quần áo mới kiếm đường đi…” Ông già mời tôi về nhà, ông vốn là “quản trang” coi sóc chỗ này, hàng ngày chăm sóc mấy ngôi mộ do người thân của kẻ vắn số gửi gấm. Hàng tháng người ta cho ông vài chục, sống qua ngày, ông làm thêm nghề bắt rắn để bỏ mối cho mấy quán nhậu, hồi tối nhập nhoạng thấy tôi từ dưới sông bò lên nên ra xem thử…Ngôi nhà của ông chỉ là một túp lều nhỏ xíu, nằm khuất trong góc nghĩa trang, che chắn tạm bằng mấy miếng tôn cũ nát và mấy miếng “cạt-tông” lấy từ thùng hàng Quân tiếp vụ của lính. Nhà chỉ có một tấn ván dùng làm chỗ ngủ, ăn cơm…Ông lão đốt một ngọn đèn dầu nhỏ, rồi lui cui nhóm lửa và bảo tôi lấy tạm bộ đồ của ông mặc, cởi bộ đồ ướt phơi gần đống lửa cho mau khô, kẻo bị cảm lạnh thì khổ! Tôi nghe lời, thay bộ đồ ướt và lại ngồi gần bếp lửa, bớt lạnh rồi bếp lửa và cái ấm áp của tình người từ ông già quản trang làm cho tôi ấm áp hơn…(còn tiếp) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 09:44:37 am (tiếp theo)
Ông già hỏi tôi đã ăn gì chưa? Tôi ngập ngừng thú thật là vì đói quá, tôi đã ăn mấy quả trứng và mấy con tôm ngoài mả, ông cười khà khà nói ăn không sao đâu, nhưng coi chừng đồ để lâu nhiễm độc ăn vào dễ ngộ độc lắm đó! Ông nướng một con khô cá sặc, lấy một chai rượu đế trong veo cỡ một lít còn nút bằng lá chuối khô. Ông mời tôi ngồi, rồi vừa rót rượu, vừa nói: “Uống với tui một hai ly cho ấm bụng, đây là đồ mà hồi chiều nầy, tui phụ chôn thằng lính chết trận xong người ta cho. Tội nghiệp, thằng lính đó… Nó còn trẻ , chưa tới tuổi đăng lính, nhưng vì buồn đời lại thất tình nên đăng vào biệt động quân, mới đụng có trận đầu đã chết, má của nó khóc quá trời, quá đất…!” ( ông lão ám chỉ chỉ tên lính chết trận mà tôi vừa hưởng xái của hắn hết ba quả trứng và ba con tôm). Tôi cười cười không nói, đón lấy ly rượu của ông đưa, uống vào tới đâu, ấm tới đó. Sức nóng của thứ đế nếp chính hiệu làm cả người tôi nóng phừng phừng, mạch máu đập mạnh trở lại, cả người ấm áp, dễ chịu biết bao. Ông lão cũng uống một ly rồi nheo nheo mắt nhìn tôi: “Tui biết cậu không phải là người ở đây, lại không có chìm đò gì ráo (bỏ mẹ chưa, ông ta biết tường tận như thế cơ à?) hồi chiều nầy, tui đi săn con rắn đó nhìn ra ngoài sông rộng mênh mông, chỉ thấy tàu tuần của tụi lính Hải quân chạy chứ có thấy chiếc ghe,chiếc đò nào chìm ở đâu! Sao nói dóc với tui vậy?” Tôi lúng túng, phân trần với ông vì tôi chưa biết ông là ai, nên không dám nói thật. Tôi cũng chưa dám nhận mình là người của đội Biệt động…thì ông nói tiếp: “Hồi nảy, lúc giao thủ với chú, tôi thấy chú đánh đấm cũng khá. Nhưng những đòn đó chỉ để “hù” người ta thôi hà! Gặp dân cao tay hơn là chú chết ngắc rồi… Học võ cũng tốt, nhưng học võ là để giúp đời, trừ gian diệt bạo. Chứ học võ mà đánh đấm lung tung, bất phân thị phi thì…thà không học!”. Tôi ngượng chín người vì hành động lỗ mảng của mình khi nảy, ấp úng xin lỗi ông. Ông bẻ cho tôi một miếng khô sặc, thơm phức rót cho tôi một ly rượu nữa, rồi ôn tồn: “Tui thấy căn cơ võ học của chú cũng khá, nếu chú không ngại thì ở đây với tôi vài hôm. Tôi sẽ truyền cho chú những đòn sát thủ, vì chú nhỏ con, gặp đối thủ lớn con hơn là cầm chắc phần thua nếu đấu kiểu phí sức huê dạng như vậy…” Tôi im lặng lắng tai nghe từng lời của ông lão dị kỳ nầy, ông nói tiếp: “Chắc chú không biết, tui. Tui cũng không biết chú! Nhưng tui thấy chú, tui mến…Cách đây mười mấy năm, nếu chú tới xóm cây da sà ở Saì Gòn, hỏi tên “Bảy tay sắt” thì ai cũng biết. Là tui đó, nhưng tui từ giả nghiệp giang hồ chém giết rồi. Trôi nổi về đây làm quản trang, kiếm miếng ăn sống qua ngày, chờ tin thằng con trai nó đi theo “mấy ổng” (ám chỉ cách mạng) lâu rồi mà biệt vô âm tín…” Hai ông cháu làm hết lít rượu đế với dĩa mồi thì sao Bắc Đẩu đã trở cái đuôi lên trời. Khuya lắm rồi đây, dù mệt nhưng tôi vẫn không buồn ngủ…(còn tiếp phần sau: Học võ với ông già quản trang và bắt con rắn có mồng) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 09:58:30 am Đồ cũ Bác nói sao ấy? Chứ bây giờ khối người đi tìm mua các loại huân, huy chương về lộng trong khuôn kiếng treo lên đó nhá! Hôm rồi, bọn trộm vô nhà tớ, đồ giá trị quá trời nó không lấy, chỉ lấy mỗi...túi huân chương! ;D He ...he...đùa với bác tý thôi, chứ huân, huy chương bây giờ chỉ là kỷ niệm một thời của đời lính, sau nầy cho con cháu nó "nghía" thôi, chứ không có giá trị kinh tế! Có nhiều huân chương mà không có tiền, người ta cũng không trọng nể mình đâu, bác ạ! Như tớ đây này, huy chương đầy ngực mà trong túi không có một xu...cạo gió he...he... ;D ;D ;D(http://farm4.static.flickr.com/3286/2835028500_a1fd2c6ddc_o.jpg) Những Thứ này.... Giờ làm rơi.... không ai nhặt Với Tôi Một quãng đời.... link: http://my.opera.com/ky%20su%20xay%20dung/blog/do-cu Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 06:13:07 pm (tiếp theo)
Ông già quản trang giăng thêm một cái võng, ngoài cái võng dù ông đang nằm. Ông giục tôi đi ngủ vì đã khuya lắm rồi, có gì mai hẵng tính tiếp. Tôi leo lên võng, ông già thêm vào bếp lửa một khúc cây gì đó mà khói mù mịt, ông nói: “Cho khỏi muỗi! Ở đây muỗi dữ lắm chú à…” Sáng sớm hôm sau, tôi giật mình thức giấc thì ông già quản trang đã đi đâu mất. Thôi, cứ tạm gọi là ông Bảy đi, vì cứ gọi “ông già quản trang” hoài nghe nó kỳ kỳ sao ấy! Tôi súc miệng, rửa mặt thấy trên bộ ván có một dĩa cơm rang trông ngon lành, chắc là ông Bảy để dành cho tôi, tôi bưng dĩa cơm ăn ngon lành, ăn xong rót ly nước trà đặc sánh của ông bảy pha sẵn trong một cái bình tích sứt vòi của ông. Tôi nghe có tiếng khóc ngoài khu nghĩa trang, tôi quên cả mình đang bị truy nã, mon men ra xem thì thấy ông bảy đang cầm vá xúc đất phủ lên huyệt mộ của ai đó, lại có thêm một lá cờ vàng ba sọc đỏ để kế bên, chờ phủ lên nấm mộ mới! Trong ngày hôm đó, có khoảng hơn chục đám ma như thế, chắc tình hình này lính chết trận nhiều lắm đây. Còn anh em mình thì sao? Tôi nghe nỗi nhớ đơn vị cứ cồn cào, dậy lên trong lòng…Buổi chiều hôm đó, sau khi cơm nước xong ông Bảy dẫn tôi ra khu đất trống kế bên, ông đã đào sẵn một cái hố, sâu khoảng nửa mét, dài bốn mét và rộng khoảng hai mét…bên dưới ông cắm toàn là tre vát nhọn và rắc nhiều miễng chai! Ông bắt đầu dạy cho tôi cách bay vượt chướng ngại vật dài 4 mét bằng cái hố như thế! Tôi phải té theo kiểu vượt chướng ngại vật như tôi đã từng học mấy năm trời ở môn JUDO nghĩa là té thế Zémpo – Ukémi (té lăn phía trước) nhưng ở đây không té bằng chướng ngại vật là con người như các võ sinh nằm “sắp lớp” bảy tám người để tôi vượt qua, không có “ta-pis” êm ái mà té trên đất cứng, bên dưới đầy tre nhọn và mảnh chai bén ngót! Rồi ông dạy tôi cách nhảy lên khỏi cái hố đào sâu khoảng nửa mét nâng dần lên một mét, với hai ông chân bó chì nặng nề…gọi là phi thân. Ông nói, cái nghề của cháu là phải chạy cho nhanh, bay cho cao để vượt thoát những cuộc truy đuổi!? (sao ông biết tôi làm “nghề” gì mà nói thế nhỉ. Lỡ tôi là “đạo tặc” chuyên trỗ nóc nhà của người ta thì sao?). Rồi phi thân qua cái hố dài bốn mét đó chỉ với ba bước nhảy! Mấy lần tôi suýt rơi xuống hố, nhưng nhờ vào sức trẻ và nghị lực tôi cũng vượt qua…Vài hôm sau, ông bắt đầu chỉ cho tôi cách đứng tấn và các thế đấm, móc, chẻ, chặt, chém cơ bản mà ông đã học cả đời từ một ông thầy người Tàu! Ông chê bộ tấn của tôi hạ bàn không vững, phàm là người học võ nếu hạ bàn không vững thì không tung ra cú đá có uy lực được! Ông quần tôi “lên bờ, xuống ruộng” chỉ với những cú đá trực diện, đá chẻ và đá tống lui…Cuối cùng, ông chỉ cho tôi những ngón sát thủ, đánh vào tử huyệt của đối phương, ông nói tôi nhỏ con, sức yếu nếu quần thảo tay đôi nhiều giờ với đối thủ thì không trụ thắng được, phải có đòn hiểm ra tay là đối phương bỏ mạng hoặc bất động tại chỗ trong vòng 60 giây thì mới mong chiến thắng! Tôi học không sót một miếng, một thế nào vì cái niềm đam mê võ học đã bừng dậy trong thằng tôi! Thấm thoát mà tôi đã ở cùng ông Bảy mất…một tuần! Tôi bồn chồn, lo lắng không biết đơn vị phát hiện ra tôi mất tích mấy ngày nay chưa? Rồi có cử người đi tìm không? Không khéo người lạ, không thuộc lối ngõ, ngóc ngách gặp tụi cớm thì toi…Tôi xin ra đi, ông Bảy giữ tôi ở lại, chờ tối nay trăng lên ông sẽ dạy tôi ngón đòn hiểm cuối cùng mà ông đã từ lâu không sử dụng tới! Tối đó, trăng rằm lên thật sáng, chúng tôi chuẩn bị tập ngón võ cuối cùng thì bỗng dưng ông Bảy kéo tôi lại gần, nói nhỏ vào tai tôi: “nó tới rồi!”, hoảng kinh hồn vía vì tưởng bọn địch đã mò tới chỗ nầy, tôi dợm chạy thì ông giữ tôi lại bằng những ngón tay cứng như thép, ông thì thào: “Chú em có gan không?” Chưa hiểu ông muốn hỏi “gan” ở đây là thế nào, tôi cũng gật đầu bừa. “Vậy thì, chuẩn bị tinh thần đi bắt “nó” với tui!” Tôi gật đầu mà không biết “nó” là đứa nào? Nhân dạng ra sao?! Ông nói nhỏ “Con rắn hổ có cái mồng đó!” Tôi nghe lạnh cả xương sống, cả người cứng đơ như có một luồng điện chạy dọc theo lưng. Ối trời ơi! Tôi vốn rất kỵ rắn, vì lúc nhỏ tôi đã thấy nhiều người bị rắn cắn chầu ông bà, ông vải rồi! Nhưng có ông Bảy ở đây, mình làm ra vẻ sợ hãi e ông cười cho dân “biệt động” mà nhát gan! Ông Bảy hấp tấp quay vào nhà chuẩn bị, ông mang theo một cái bao tải bằng gai rất chắc, một cây chĩa mà tôi đã thấy lúc mới từ dưới sông “đổ bộ” lên bờ. Một cây đuốc bằng dầu chai, một cây đèn pin…Ông dắt tôi ra phía chòm mả gần mé sông, ở đó cây cỏ cao lút đầu người vừa đi, ông vừa lắng tai nghe động tĩnh..Chợt ông dừng lại, thì thầm vào tai tôi: “Chú cầm cái đèn pin này, đi vòng vô mé bên phải, nhớ chú ý đừng có đụng, đạp vào cây cối chung quanh. Tôi sẽ đốt đuốc dầu chai nhử nó ra, con nầy khoái “theo đóm ăn tàn” lắm!” Tôi cầm cây đèn pin mà trong bụng đánh lô tô, trời gần Tết gió lạnh thổi ào ào, thế mà mồ hôi tôi tuôn ra ướt cả áo! Tôi gật đầu trong bóng tối! Ông Bảy để tôi đứng đó, đi vòng ra phía sau một ngôi mộ cổ có lẽ của một vị “chức sắc” nào của triều đình Nguyễn tộc, xây toàn bằng đá ong lổ chổ…Một lúc sau tôi nghe có mùi dầu chai, rồi ánh sáng leo lét từ cây đuốc dầu chai bùng lên, ông Bảy cắm cây đuốc xuống cạnh ngôi mộ, lùi ra xa tay lăm lăm cây chĩa bảy mũi, mà lúc này tôi mới để ý cán nó làm bằng tre đực, lên nước bóng lưỡng. Có tiếng sột soạt nặng nề của một giống vật gì đó chắc dài lắm (tôi đoán vậy) rồi một tiếng rít “khè…khè…” như tiếng rít thuốc lào, ông bảy nhào tới đâm mạnh, miệng hô tôi rọi đèn pin vào chỗ ông vừa đâm. Cha mẹ ơi! Một cụ rắn dài chừng ba mét, da mốc thếch, loang lổ bị ông Bảy đâm trúng vào cổ, dưới cái đầu to đang há rộng chơm chởm những răng với nanh chừng hai tấc, nó quật đuôi ầm ầm, vặn vẹo thân mình, ông Bảy thét tôi chụp lấy cái đuôi nó kéo dài ra, đừng cho nó quấn vào bất cứ cây cối gì xung quanh. Tôi cầm lấy mẩu đuôi to bằng cái cán dao, ôm riết vào mình và kéo mạnh, ông bảy nhào tới lừa thế bóp chặt cổ con rắn. Quả xứng danh Ông Bảy thiết thủ (tay sắt) con rắn dãy dụa mấy cái rồi nằm im! Ông bảy lấy một sợi kẽm mà ông thủ sẵn, may miệng hắn lại, và ông lừa thế, bảo tôi banh cái miệng bao tải ra, ông đút đầu con rắn vào đó vuốt từ từ cho đến khi cả thân hình dài ba mét của nó nằm hẳn trong cái bao…Hú hồn, con rắn nầy chắc có cháu nội, cháu ngoại rồi cũng nên! Ông cháu tôi ra về, ông Bảy treo cái bao lên giữa xà nhà, con rắn cựa quậy đùng đùng trong cái bao, tôi thoáng lo nó sẽ sút ra. Nhưng ông bảy trấn an “Hà hà, tui đã đâm trúng chỗ nghiệt rồi, không chết nhưng cũng không dãy dụa gì được đâu, chú đừng lo! Con nầy, ngày mai tôi đem bán cho quán rắn dưới Mỹ Tho, chắc cũng kiếm được chừng vài trăm ngàn!” (đơn vị tiền tệ của chế độ Sài Gòn, vài trăm ngàn ngày đó bằng vài triệu bây giờ!). Rồi ông lại kéo tôi ra sân, bảo tôi nhúng tay vào một cái nồi bằng đất, trong có thứ nước đen sì, đặc sánh…và hôi không chịu được. “Chú nhúng tay vào đó rồi đấm vào cái bao nầy, làm chừng một chục lần như vậy, cứ thế…” Tôi nhúng tay vào, lập tức cả đôi tay dường như bị đông cứng lại, tê rần tôi quay sang đấm liên tục vào cái bao nặng trịch ông Bảy treo trên một nhánh cây me tây to tướng. Tôi không có cảm giác đau hay gì cả, cứ thế tôi nhúng, đấm…liên tục…Tay tôi cứng như vừa được phủ một lớp keo, ông Bảy bảo tôi ngưng lại và cho tôi biết thứ nước trong nồi là Thiết sa, ông mua của tiệm thuốc Bắc, còn cái bao tôi đấm toàn là mạt sắt và mùn cưa trộn với muối hột! Ông nói, tay chú giờ cứng lắm rồi, có thể một đòn xỉa vào yết hầu là lấy mạng đối thủ ngay. Nhưng chỉ được một tháng thôi, phải ngâm tiếp nếu không nó sẽ mất tác dụng, tay của chú sẽ trở lại bình thường. Thôi để tôi viết cho chú cái “toa” nếu có thời gian, xuống tiệm thuốc Bắc mua về ngâm để sẵn mà dùng, kẻo uổng lắm! Công sức tôi sưu tầm và tập luyện bấy lâu, mới có danh hiệu “Bảy tay sắt” đó chứ…Toa thuốc ông ghi cho tôi, tôi đã làm rơi mất không biết ở đâu! Chỉ nhớ mang máng, gồm có các vị: Sanh mã tiền, sanh nam tinh, sanh bán hạ, minh thiết phấn, hương long não…(cân lượng tôi không còn nhớ) đem về ngâm với một lít rượu trắng, ngâm chung với sắt sét, thoa đều vào hai tay trước khi tập đấm…Xin lỗi ông bảy, cháu đã không giữ được toa thuốc quý giá của ông để truyền lại cho đời… Sáng hôm sau, ông bảy đem theo con rắn, dắt tôi theo và gửi cho một người bạn làm nghề chạy xe lam, chở tôi về cứ “….”. Khi chia tay, ông nói nhỏ vào tay tôi: “Tui biết chú là dân… cách mạng, thằng con của tui cũng đi theo cách mạng, nên tui giúp chú. Còn việc tui truyền cho chú mấy đòn, cũng như danh tánh của tui chú đừng tiết lộ. Tôi e kẻ thù lại mò tới, khuấy rối cuộc sống yên lành của tui! Tui rửa tay, gác kiếm lâu rồi, không muốn dính dáng tới chuyện thị phi nữa..” Và thật bất ngờ, ông trao cái bao rắn - mà ông định bán cả mấy trăm ngàn - cho tôi, dặn “đem về bồi dưỡng cho anh em mình “trong đó”, bổ lắm đấy! Nhớ đừng có quên tui nhen!” Tôi ngần ngại, thì ông đã cười khà khà rồi lẫn vào dòng người đi mua sắm cuối năm, mất dạng. Tôi nhớ người quen về cứ báo lại là tôi vẫn bình an, sẽ về trong nay, mai, gửi luôn cái bao rắn vào cho anh em. Thế rồi, khi về nhà tôi mới biết tin, má tôi đã bị mời về cảnh sát cuộc để điều tra về tung tích của tôi. Dĩ nhiên là má tôi không khái báo gì, nên chúng nhốt luôn bà! Vừa lúc đó, anh Rí cho người đến móc tôi vào căn cứ mới, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Ất Mão 1975….Đại thắng mùa Xuân, tôi bị công việc cuốn hút nên không có thời gian trở về thăm ông Bảy, cũng như nhiều người ơn khác của tôi. Và tôi cũng chưa trả lễ cho mấy cái trứng vịt luộc và mấy con tôm của anh lính cộng hòa đã giúp tôi đỡ dạ trong lúc bôn đào. Chừng gần Tết, tôi thu xếp được mua cho ông bảy một bộ quần áo bằng lụa Lèo, dăm gói thuốc, một chai rượu Vốt-Ka chính hiệu của Liên Xô, vài gram bánh ngon. Tôi háo hức trở về nghĩa trang, thì căn chòi của ông không còn ở đó, mà thay vào đó là…một nấm một mới đắp, còn chân nhang…tôi lân la hỏi thăm thì được biết ông Bảy đã chết vì bệnh già cách nay mấy tháng, do không có con cháu nên chính quyền ở đây cấp cho ông cổ áo quan rẻ tiền, và chôn ông ngay nền nhà mà ông từng ở - là nấm đất mà tôi đang đứng – không một tấm bia mộ, không có cả cây thang chuối, cây mía lau mở cửa mả! Tôi đứng cúi đầu trước mộ ông, người thầy, người ông đã chăm sóc và lo lắng cho tôi trong thời gian tôi bôn tẩu. Đã dạy cho tôi những ngón đòn sát thủ mà tôi vẫn ghi nhớ trong lòng. Tôi để bộ đồ và các thứ mua cho ông trên mộ, mở nắp chai Vốt-Ka rưới lên đó, châm lửa đốt…Khói bay vào mắt tôi cay xè, nước mắt tôi ràn rụa, tôi khóc vì khói nhang bay vào mắt hay vì nhớ ông? Có lẽ cả hai… Vĩnh biệt thầy , thầy của con… Tôi cúi đầu lững thững quay gót rời nghĩa trang… Từng cơn gió từ sông thổi lên, lạnh buốt… Thời gian đã sắp bước vào năm mới Bính Thìn…! Phạm Kiều Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Cao Sơn trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 08:58:44 pm Bác Kiều viết truyện thú vị lắm. Viết tiếp đi bác.
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: nguyen dinh thang trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 09:30:43 pm Bác Kiều viết rất hay và bọn em đọc thấy thú vị lắm. Có điều em ở ngoài bắc và là lớp hậu sinh nên không biết các bác ở trong đó dưới thời ngụy cũng khổ quá mới có mười mấy tuổi mà bác đã phải lo học lặn dưới lục bình để trốn lính, thời đó nó bắt đi lính sớm thế hả bác?
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: DepTraiDeu trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 09:37:48 pm Bác Kiều viết rất hay và bọn em đọc thấy thú vị lắm. Có điều em ở ngoài bắc và là lớp hậu sinh nên không biết các bác ở trong đó dưới thời ngụy cũng khổ quá mới có mười mấy tuổi mà bác đã phải lo học lặn dưới lục bình để trốn lính, thời đó nó bắt đi lính sớm thế hả bác? 16 là bắt rồi đúng hông bác Kiều? em thấy ông chú em kể trốn lính phải chui xuống giếng lặn dưới đó! Em nghi ổng xạo, tại lặn vậy nó ngó xuống 1 hồi là thấy liền, giếng đâu có lục bình với lại sậy để thở?! Hay tại bà nội em ở trên chung tiền cho tụi nó nên mới thoát! Nghĩ mà thấy hồi đó cực mà khổ ghê luôn hén bác Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 03:10:06 am Trong những năm chiến tranh, khi mà quân đội Sài Gòn chết trận quá nhiều vì giao tranh với quân giải phóng. Quân số hao hụt, thế nên chính quyền lúc đó ra sức đôn quân (16 - 17 tuổi đôn lên, bắt lính) ra chiến trường làm bia đỡ đạn cho chúng! Nhiều bạn trai còn trẻ, vì ham tiền đầu quân (lúc đó cũng nhiều) nên đăng lính, chứ họ nào có lý tưởng gì đâu! 16 -17 tuổi mà thấy lớn xác, to con một chút cũng bị bắt đi lính...Trai tráng lúc đó chỉ có hai con đường phải lựa chọn: một là đi lính rồi bỏ mạng sa trường, cha mẹ vợ con lãnh tiền tử! Hai là trốn lính nếu không muốn đi...Còn một con đường thứ ba là trốn nhà theo quân giải phóng! Nói chung, họ đều sợ chết cả nên trừ khi bị bắt, thanh niên thành phố ít có ai dám theo giải phóng, cho nên chỉ còn cách...trốn lính mà thôi. Vậy đó...
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 08:35:14 am Bác Kiều nhớ cái này không?
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 01:42:42 pm Bác Kiều nhớ cái này không? Nhớ chứ sao không! Hàng triệu thanh niên miền Nam lúc đó đã bị đẩy ra trận, chết thay cho lũ quan thầy. Họ bị bắt lính lúc còn rất trẻ, không có chuyện tình nguyện vào quân đội như cánh các cậu đâu! Nghĩ cũng tội nghiệp, chiến tranh mà...súng đạn vô tình... :'( :'( :'( Nhưng mà nè, hình nầy lấy ở đâu vậy? Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 12 Tháng Mười Hai, 2008, 01:50:55 pm Ở cái chỗ ... đó đó! :D
Chậc, hàng độc quyền của bạn Lông Xồm, bác ạ! Em chỉ dám post hình nhỏ nhỏ thôi. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 09:00:37 am Ở cái chỗ ... đó đó! :D Cái nầy là chết lâu lắm rồi đây, nên cờ mới mục rã như thế! nếu mới chết cờ còn mới tinh hà, nhiều người đi "lượm" về, bán lại cho các cửa hàng...may cờ ngụy đấy. Hồi đó, chúng nó bắt buộc nhà nào cũng phải treo cờ và khẩu hiệu bốn không... :'( :'( :'(. Nếu muốn biết bốn không là gì thì xin phép bác daibang con, ủa lộn daibangden đi, rồi tớ kể cho mà nghe...Chậc, hàng độc quyền của bạn Lông Xồm, bác ạ! Em chỉ dám post hình nhỏ nhỏ thôi. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 09:11:34 am Bác muốn kể thì kể, chớ phải xin phép ai! ;D
Miễn là sự thực lúc đó nó như thế. Coi như là tư liệu mà. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 04:35:31 pm Ừ, vậy thì tớ ghi ra cho các bác ở miền Bắc tham khảo nhé! Hồi đó, chính quyền Sài Gòn bắt buộc mỗi nhà trong vùng "quốc gia" tức là nơi có chính quyền Sài Gòn đóng, phải treo hình của tổng thống Thiệu (1970 -1975) và trước cửa mỗi căn hộ, phải treo khẩu hiệu bốn không như sau:
"...Gia đình tôi cương quyết: -Không chứa chấp cộng sản -Không liên hiệp với cộng sản -Không trung lập theo như cộng sản muốn -Không chấp nhận chính phủ ba thành phần..."Treo thì cứ treo, nhưng trong lòng nhân dân miền Nam Việt Nam lúc đó là chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam! TRong từng căn nhà vẫn có cán bộ cộng sản hoạt động, ngay như nhà tớ cũng có một cái hầm nhỏ, chứa đầy súng ngắn, đạn dược, những lá cờ mặt trận dân tộc giải phóng (nửa xanh, nửa đỏ có ngôi sao vàng ở giữa) Chính quyền ngụy Sài Gòn trong những năm 74 - 75 đã rệu rã lắm rồi, tổng thống Thiệu từ chức, giao quyền "lãnh đạo đất nước để...chống cộng..." cho một ông già là Tổng thống "xe đòn đám ma" Trần Văn Hương, Hương "truyền ngôi báu" lại cho Dương Văn Minh (tức Minh lớn - chủ tịch hội đồng tướng lĩnh ngày lật đổ Ngô triều - làm tổng thống) Rồi đến đại thắng mùa Xuân, điều nầy các bác chắc ai cũng rõ rồi hén, khỏi kể ra, tốn trang của diễn đàn lắm! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 04:52:23 pm Em thì thấy treo cờ, vẽ cờ lên mái tole, lên cột đầu ngõ thì có, dzụ treo khẩu hiệu thì không! ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: DepTraiDeu trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 04:59:45 pm Em thì thấy treo cờ, vẽ cờ lên mái tole, lên cột đầu ngõ thì có, dzụ treo khẩu hiệu thì không! ;D Em nhớ ở SG, vẽ cờ lên cột cổng nhà, tới 20 năm sau vẫn không phai hết được. Công nhận hồi đó sơn tốt thiệt!Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 05:56:37 pm Em thì thấy treo cờ, vẽ cờ lên mái tole, lên cột đầu ngõ thì có, dzụ treo khẩu hiệu thì không! ;D Em nhớ ở SG, vẽ cờ lên cột cổng nhà, tới 20 năm sau vẫn không phai hết được. Công nhận hồi đó sơn tốt thiệt!Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 17 Tháng Mười Hai, 2008, 09:26:39 pm Mỗi khi nói đến “biệt động” ai cũng nghĩ đó là những siêu nhân, xuất quỷ nhập thần…Nhưng thực ra, biệt động cũng chẳng có gì là ghê gớm lắm đâu. Họ là những người bình thường, có trái tim và nhiệt huyết với sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc. Biệt động ngày xưa có thể là một ông chủ kinh doanh, một trí thức trẻ, một ông giáo già, một bà bán xôi, bắp, một cậu học sinh trung học hay một sinh viên trắng trẻo…Họ hoạt động đơn tuyến, chỉ chịu sự lãnh đạo trực tiếp của một chỉ huy. Vì hoạt động đơn tuyến nên khi bị bắt, ít khi bị lộ bí mật tổ chức.
Lính biệt động có thể giỏi võ, nhưng không bằng đặc công đâu! Có khả năng lái xe máy giỏi, (lúc ấythơờng sử dụng Honda 67 xoáy nòng) biết cách sử dụng tất cả các loại súng và khí tài quân sự của địch để dùng khi cần thiết…. Ngày đó, chúng tôi tham gia vào đội biệt động khi mỗi người trong mình đã có sẵn những tố chất của một người chiến sĩ biệt động, có người làm giấy giả - nhất là giấy căn cước (giống như CMND bây giờ) – một cách tài tình, đến nỗi cảnh sát ngụy ngày xưa có khi còn không phân biệt được đâu là giấy căn cước giả. Có người có tài mở khóa, mở két sắt tài tình. Có người giỏi hóa trang thành nhân vật nầy, nhân vật khác rất giống…Các bạn xem phim Biệt động Sài Gòn chắc cũng thấy được tài năng và sự ứng biến linh hoạt mỗi khi gặp nguy hiểm của lính biệt động. Biệt động không học những bài học về lội nước, lặn sâu hay trèo tường vượt rào như đặc công, nhưng không phải vì thế mà họ không giỏi các môn nầy. Nhớ ngày nhận nhiệm vụ đi rải truyền đơn chống đôn quân, bắt lính mùa khô năm 1974, chúng tôi có đứa vào vai bán cà rem (kem) có đứa bán bánh mì, có người chạy xích lô…nhưng trong người của họ thủ sẵn hàng xấp truyền đơn chờ cơ hội là tung ra, bay trắng đường trắng phố. Nhớ lúc đó, tôi đóng vai một người bán bánh mì lạt, chạy trên chiếc xe đạp cà tàng đèo sau “booc-ba-ga” là một cái cần xé nhỏ, trong đó dĩ nhiên chỉ có toàn là…bánh mì chứ không có thứ gì khác. Đến địa điểm X đường Y sẽ có người trao truyền đơn cho mình, còn rải cách nào cho đạt hiệu quả cao nhất là ở người thực hiện. Lúc nhận truyền đơn xong, tôi để dưới bàn chân mình, trên bàn đạp của xe một xấp mỏng, khi chạy tới những nơi vắng người, cứ thế nhấc chân lên nhè nhẹ cho truyền đơn bay ra, theo cơn gió thổi bay trắng cả đường phố. Còn một cách nữa, đối tượng là học sinh thì tìm cách vào các lớp học trong giờ nghỉ, để truyền đơn lên các cánh quạt máy (lớp nào cũng có) để khi mở quạt thì truyền đơn bay ra…Lúc đó, có tên Tư X…là trưởng ấp hay dẫn NDTV đi lùng sục, bắt bớ người nào mà hắn nghi là códính dáng đến cách mạng. Bản chất anh ta không xấu, nhưng do muốn tâng công để giữ cái ghế trưởng ấp để còn lo cho đám con, cháu trốn lính nữa chứ! Ban chỉhuy biệt động quyết định..cảnh cáo hắn bằng thư đánh bằng máy chữ từ trong chiến khu gởi ra.( chứ nếu đánh bằng máy ở nội ô thì bộ phận kỹ thuật của chúng sẽ tìm ra cái máy ngay, căn cứ vào nét ăn đậm nhạt, cái lỗi nhỏ của máy đánh chữ như trục, con chữ, độ ăn mòn…) Tôi được phân công bỏ lá thư trong nhà của anh ta, khó khăn lắm vì nhà của anh ta là căn hộ ba tầng, có nuôi hai con chó Béc-giê dữ như hai co cọp con! Gửi thư qua bưu điện thì dễ nhưng anh ta sẽ không ngán, thế là tôi và hai ba người bạn nữa tổ chức…ăn nhậu rồi ấu đả ngay trước sân nhà của hắn. Nghe ồn ào, hắn xách cây súng “carbine” M2 ra can thiệp, hắn hùng hỗ, chửi bới lung tung…Trong lúc đó, tôi tranh thủ đi vòng ngã sau nhà hắn, dùng công phu “Bích hổ du tường” ,hai chân đạp vào hai vách tường hai bên, cứ thế leo lên tới lầu 3 nơi phòng ngủ của hắn, mở của sổ nhắm hướng ngay cáigối của hắn phóng lá thư vào và tuột xuống…dọt mất! (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: OldBuff trong 17 Tháng Mười Hai, 2008, 09:29:56 pm Em thấy biệt động thành như anh Sáu Tâm hiền khô hà bác Kiều. Hồi bác hoạt động có biết anh Sáu này ở đội nào không ah?
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 17 Tháng Mười Hai, 2008, 09:49:26 pm Em thấy biệt động thành như anh Sáu Tâm hiền khô hà bác Kiều. Hồi bác hoạt động có biết anh Sáu này ở đội nào không ah? Làm sao mà biết được? Nguyên tắc hoạt động là....không ai được biết ai cả! Đến nổi vào cứ họp mà còn đeo khăn che bít chịt cái bản mặt thì làm sao mà biết! Sau giải phóng rồi cũng có họp mặt anh em một lần, nhưng toàn đội của tôi đã đi xa hêt rồi, có người về với đất mẹ, có người chuyển công tác khác không về được. Thế đấy! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 17 Tháng Mười Hai, 2008, 09:52:47 pm Hồi bác làm biệt động có học leo nhà lầu không bác? ;D
Thấy mấy chú đặc công trinh sát bây giờ toàn lấy cây tre chống đảy nhau lên tuốt luốt 2, 3 tầng nhà cao. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 17 Tháng Mười Hai, 2008, 09:58:38 pm Hồi bác làm biệt động có học leo nhà lầu không bác? ;D Cần thiết cho công tác mới leo, còn không thì leo làm chi?! Cái nầy các bác đặc công bộ giỏi hơn! Như tớ đã viết trong bài đấy. Tớ leo tường số một đó nhé! He...he... ;D ;D ;D ::)Thấy mấy chú đặc công trinh sát bây giờ toàn lấy cây tre chống đảy nhau lên tuốt luốt 2, 3 tầng nhà cao. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 23 Tháng Mười Hai, 2008, 10:10:43 pm Tùy bút
MỘT CHUYẾN VỀ… Nếu các bạn Đoàn viên đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, tháp tùng cùng đoàn cựu chiến binh của Sở Văn hóa - Du Lịch – Thể thao – về thăm vùng đất thép Củ Chi và căn cứ Trung ương Cục miền Nam xem là một chuyến đi. Thì những cựu binh như chúng tôi lại xem là một chuyến về, vì trong những người tham gia chuyến dã ngoại “Về nguồn” ngày 19 – 20/12/2008, thì cũng có vài người đã đến đây vài lần trong đời. VỀ VÙNG ĐẤT THÉP… Riêng tôi, về thăm Củ Chi lần này là lần thứ hai trong cuộc đời, khung cảnh hoàn toàn lạ lẫm với tôi. Mới mười ba năm trở lại mà Củ Chi đã thay đổi quá nhiều. Nhớ năm 1995, tôi đi cùng “phái đoàn” Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Tiền Giang về thăm vùng đất anh hùng, khi ấy chưa có đền Bến Dược, với quy mô xây dựng hoành tráng mà cũng rất Việt Nam. Làm xúc động lòng người với ba bức vách tường cao vòi vọi ghi dày đặc những tên của các anh hùng liệt sĩ! Cũng chưa có những phương tiện giao thông, giúp khách tham quan dễ dàng đi vào khu căn cứ bằng những chuyến xe điện. Ngày ấy, chúng tôi chỉ lội bộ để thăm các di tích lịch sử, như địa đạo với tổng chiều dài lên tới… 250 km – được tổ chức “Ghi-Nét” Việt Nam công nhận là địa đạo dài nhất Việt Nam - Chúng tôi – thuở ấy cũng còn khá trẻ - chui xuống gần hết các đường hầm trong địa đạo, háo hức tham quan các nơi với một niềm ham muốn hiểu biết về vùng đất thánh “Củ Chi đất thép – thành đồng”. Thì trong chuyến dã ngoại hôm nay, chúng tôi chỉ dám đi vòng vèo với con đường hầm ngắn nhất trong số các đường hầm, với chiều dài hơn…60 mét! Các bạn đoàn viên TNCS.HCM còn trẻ mà cũng chỉ chui được vài ba trăm mét là đã “xì khói ra lỗ tai”, hơi thở gấp rút vì…ngộp, thế mới thấy cái sức dẻo dai, kiên cường bám trụ của các cán bộ, chiến sỹ từng sống, chiến đấu với mưa bom, bão đạn của kẻ thù hung hãn trong lòng địa đạo. Đế quốc Mỹ đã đổ xuống Củ Chi không biết bao nhiêu là bom đạn, cũng không hủy diệt nổi cái ý chí bất khuất, kiên cường của cách mạng. Để rồi từ Củ Chi, các lực lượng vũ trang cách mạng lại liên tục tấn công vào Sài Gòn bằng những đòn đánh bất ngờ, gay cho địch nhiều tổn thất. Cái tinh thần của vùng đất thép bất khuất ấy đã cùng toàn dân, toàn quân làm một cuộc tổng tiến công long trời, lở đất trong đại thắng mùa Xuân 1975! Chúng tôi đi thăm khu tái hiện vùng giải phóng Củ Chi, với biết bao là hiện vật gợi lên một thời kháng chiến anh hùng của “miền Đông gian lao mà anh dũng”. Càng nhớ thương bài vọng cổ “Bài ca địa đạo” một thời nổi tiếng với giọng ca của Nghệ sĩ ưu tú Thanh Hùng. THĂM CĂN CỨ TRUNG ƯƠNG CỤC… Giã từ vùng đất thép Củ Chi, chúng tôi lên xe về thăm căn cứ Trung Ương Cục miền Nam. Con đường dẫn vào khu căn cứ còn rất xấu, xe cứ nảy lên khi cán phải những ổ gà, ổ voi…Chỉ khi gần đến căn cứ Trung Ương Cục, mới có một đoạn đường khoảng 8 cây số là khá êm. Gần tới khu căn cứ, chúng tôi bất ngờ với một bầy…con cháu của Tôn Ngộ Không bình thản “khọt khẹt” bò lom khom giữa lộ, không khí thật thoáng mát vì hai bên là rừng. Chỉ khi xe đến gần chúng mới rủ nhau nhảy hết lên cây. Đến khu căn cứ Trung Ương Cục miền Nam, sau khi làm thủ tục “nhập cảnh” tham quan, chúng tôi được hướng dẫn viên đưa vào hội trường, trước một sa bàn cực kỳ hiện đại, mỗi lời thuyết minh, mỗi hình ảnh tái hiện lại hoạt động của chiến khu đều được “số hóa”. Rồi chúng tôi cũng được đưa đi thăm nơi ở và làm việc của các đồng chí lãnh đạo Trung Ương Cục miền Nam như: Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Võ Chí Công…được xem những hình ảnh của các chú Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát trong những ngày lãnh đạo căn cứ Trung Ương Cục trong lòng chúng tôi dậy lên những cảm xúc khó tả, nó là sự kính phục, lòng tôn trọng, sự cảm mến các chú, các anh lãnh đạo một thời nếm mật, nằm gai để lãnh đạo cách mạng miền Nam. Càng kính phục hơn khi biết được các anh, các chú đã trải qua những trận bom dội, pháo bầy của B-52 mà chứng tích còn sờ sờ là những hố bom to đùng còn hiện hữu sát nơi ở của mỗi người! Chống chọi với trận càn “Giôn-Xơn xy-ty” va những trận càn khác của đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn…mà tên gọi còn ghi trong lịch sử cách mạng của vùng căn cứ. Xúc động với cây vú sữa của Bác Hồ từ miền Bắc gửi tặng Trung Ương Cục miền Nam, được đồng chí Phạm Hùng trồng gần nhà trong khu căn cứ, mỗi mùa vẫn cho trái ngọt thơm như lòng Bác Hồ với nhân dân, chiến sỹ miền Nam! Trong rừng, có những chú ve được gọi là “ve chuông”, hình dáng màu trắng xám, có sợi râu ở trên đầu, với tiếng kêu như tiếng…còi hơi của ấm nấu nước! Mọi người nói vui “tìm bắt cho được một con, về thấy “ghét” ai, đem bỏ vô nhà bảo đảm khỏi ngủ…” Tối đến, chúng tôi giao lưu văn nghệ với các anh lãnh đạo và các hướng dẫn viên khu tiếp khách của căn cứ Trung Ương Cục miền Nam. Được mắc võng ngủ trong một mái vòm hình lục lăng, mắc được 6 cái võng. Nhưng đêm đến, các chú đoàn viên vì chịu lạnh không nổi nên đã bỏ võng, giăng mùng chui vào nằm sắp lớp với nhau cho ấm và đỡ…sợ tiếng rừng đêm! Riêng tôi, mắc võng ngủ trong cái không khí lành lạnh của rừng đêm, tai nghe tiếng rừng sao mà gợi nhớ da diết một thời quân ngũ. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi giã từ căn cứ Trung Ương Cục miền Nam, lên xe “trực chỉ” Mộc Bài cho anh em tham quan và mua sắm ở Siêu thị miễn thuế, nhìn sang bên kia là đất Miên với những mái chùa cong đặc trưng, những người một thời chiến đấu trên đất bạn cảm thấy bùi ngùi. Giã từ Tây Ninh với một chiếc lá “trung quân” làm kỷ niệm trong ba lô, giã từ ngọn núi Bà Đen sừng sững – không biết “bà” còn trụ lại được bao lâu? Bởi vì nạn khai thác đá bừa bãi đã làm chân của “bà” lam nham như “cóc gặm” - để trở lại Mỹ Tho, lòng chúng tôi dậy lên một niềm xúc động. Ước gì cứ mỗi năm lại có một lần về thăm một khu căn cứ cách mạng trên toàn quốc, để hiểu rõ hơn về sự hy sinh, mất mát cho tổ quốc hôm nay trường tồn của các thế hệ cha, ông cho người người yên vui, nhà nhà no ấm, cho các thế hệ cháu con được sống trong độc lập, tự do. Và “về nguồn” cũng là một phương thức, công cụ trực quan sinh động nhất để giáo dục lòng yêu nước của các thế hệ cháu con đời sau. Kỷ niệm một ngày về thăm Củ Chi và Căn cứ Trung ương Cục miền Nam Phạm Kiều (Cựu chiến binh sở VH-TT-DL. TG) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 12:24:30 am Bác Kiều kể chuyện hay quá, các cháu vỗ tay đê! ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 02:59:30 pm Bác Kiều kể chuyện hay quá, các cháu vỗ tay đê! ;D Chọc quê tớ đấy hả, bác tuaans? TRong số các cháu đó, có con của bác không dzậy?hà...hà.. ;D ;D ;DTiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 03:11:30 pm He he, hình nhà trẻ tụi em thời cuối 6x đấy ạ!
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: dongminhkh trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 03:13:54 pm Em thì thấy treo cờ, vẽ cờ lên mái tole, lên cột đầu ngõ thì có, dzụ treo khẩu hiệu thì không! ;D Khẩu hiệu thì kẻ chữ đàng hoàng, to đùng, trên tường nhà...Hồi năm 1977, em mới vào, nhìn đọc mấy câu phát hoảng! ;DTiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 03:17:42 pm Hế, hế, bác í kể làm em tưởng treo băng - rôn! Chứ kẻ khẩu hiệu kiểu như "Toàn dân kiên quyết chống cộng" thì nhà bà nội em cũng có! Khuyến mãi trong nhà đầy hình vẽ bậy bạ của các chú Trâu Điên nữa! ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: OldBuff trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 03:37:16 pm Khà khà! Nhà bác tuaans này làm nghề ảnh hay sao ấy nhể ;D Cái câu khẩu hiệu ấy là "Hết lòng phục vụ các cháu để bố mẹ các cháu yên tâm công tác". Hồi xưa ở tuổi này ối cháu đã lập fanclub rồi ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 03:53:57 pm Nhà trẻ của VPPHH đấy bác ạ! ;D Trong hình chỉ có vài cháu thôi, còn là các cô cả.
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: lethaitho trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 04:06:11 pm Năm 1995 đã có siêu thị miễn thuế Mộc Bài rồi hả bác Kiều? Ở đấy thành lập sớm nhỉ?
À, bác Kiều đang nói đến thời điểm 2008. Mình bé cái nhầm! Sorry nhé Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: baoleo trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 04:14:09 pm Tớ leo tường số một đó nhé! He...he... ;D ;D ;D ::) Thật sự kính phục võ nghệ cao cường của bác Kiều. Em đã tức khí thành thơ, xin tặng bác 2 câu về thân thế sự nghiệp của bác, như thế này ạh. Mỹ Tho có bác Phạm Đình, Kiều ta, phi ngựa (ở đây phải hiểu là leo cọc tre lên tường >:(), giật mình- giặc tan. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 04:23:53 pm THĂM CĂN CỨ TRUNG ƯƠNG CỤC…
Giã từ vùng đất thép Củ Chi, chúng tôi lên xe về thăm căn cứ Trung Ương Cục miền Nam. Con đường dẫn vào khu căn cứ còn rất xấu, xe cứ nảy lên khi cán phải những ổ gà, ổ voi…Chỉ khi gần đến căn cứ Trung Ương Cục, mới có một đoạn đường khoảng 8 cây số là khá êm. ... -------------------------------------------------------- Em hỏi thật bác Kiều là bác đi có đúng chỗ không ạ? he he. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 10:45:27 pm THĂM CĂN CỨ TRUNG ƯƠNG CỤC… Dĩ nhiên là đúng chứ! Mới đầu do tài xế không biết dường đi nên cứ lâu lâu phải dừng lại hỏi thăm người đi đường. Vào gần tới TW cục, đường xóc dữ lắm. Mình ngồi ở băng trước, cách bác tài có hai dãy ghế mà còn dằn xốc ghê thế, tội cho mấy cháu đoàn viên phía sau, ói ra mật vàng luôn hà...hà... ;D ;D ;D Tối đó, nhậu với mấy anh ban quản lý di tích một trận nhớ đời, ca hát nghêu ngao...tối leo lên võng tính ngủ, thì thằng Tùng vốn là HLV Pencak-Silakk chưa đã ngứa! Thế là tớ ngồi dậy, lấy gói mì đem theo bẻ ra bỏ vào cái hộp nhựa, chế nước sôi (xin của nhà khách), thành tô mì nhậu cũng ngon ra phết! Rượu thì bao la, tụi tớ đem theo những 30 lít cơ mà! Hai thằng tiếp tục cưa thêm một lít nữa thì sỉn! Mấy bác ở ban tiếp đón khách cứ là xanh mặt khi uống rượu với dân miền Tây. Tôi khó ngủ, một là xa nhà, hay là tiếng rừng đêm nó làm sao ấy, cứ trằn trọc suốt...Bốn giờ sáng dậy tập thể dục, uống cà phê sáng rồi ra Mộc Bài...Giã từ vùng đất thép Củ Chi, chúng tôi lên xe về thăm căn cứ Trung Ương Cục miền Nam. Con đường dẫn vào khu căn cứ còn rất xấu, xe cứ nảy lên khi cán phải những ổ gà, ổ voi…Chỉ khi gần đến căn cứ Trung Ương Cục, mới có một đoạn đường khoảng 8 cây số là khá êm. ... -------------------------------------------------------- Em hỏi thật bác Kiều là bác đi có đúng chỗ không ạ? he he. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 10:55:52 pm Nói thêm với bác tuaans thế này: Nếu không đi đúng chỗ thì làm sao tớ biết cái sa bàn địa hình chiến đấu của căn cứ TW Cục nó hiện đại thế?! Người dẫn tụi mình đi vào rừng là cháu Cao Hoài Phong, cao to đẹp trai hết ý nhưng mà nhậu hơi bị dở! Phong cho tụi mình biết về cái chết của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từng chi tiết...Cảm động lắm! Mình còn hái một lá trung quân về làm kỷ niệm đây mà! Cậu làm như tớ chuyên ...nói dóc vậy! ??? ??? ??? Giận đó nghe! hà...hà..
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: DepTraiDeu trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 11:04:23 pm Nói thêm với bác tuaans thế này: Nếu không đi đúng chỗ thì làm sao tớ biết cái sa bàn địa hình chiến đấu của căn cứ TW Cục nó hiện đại thế?! Người dẫn tụi mình đi vào rừng là cháu Cao Hoài Phong, cao to đẹp trai hết ý nhưng mà nhậu hơi bị dở! Phong cho tụi mình biết về cái chết của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từng chi tiết...Cảm động lắm! Mình còn hái một lá trung quân về làm kỷ niệm đây mà! Cậu làm như tớ chuyên ...nói dóc vậy! ??? ??? ??? Giận đó nghe! hà...hà.. Ông Nguyễn Chí Thanh chết sao vậy bác? Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 11:07:39 pm He he, tại bác nói đường ổ voi ổ gà, nó dần xuong bác Kiều già nên em thương. Mà tiên sư mấy thằng làm đường láo toét, mới có 3, 4 tháng trước em đi lên chỗ đó còn là đường nhựa, xe phóng cả 80 KM/h, nay sao hư hết rồi à!? ;D
Mà bác đi qua đó có thấy bãi để xe tăng cũ không vậy? Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: OldBuff trong 24 Tháng Mười Hai, 2008, 11:26:56 pm Tả cảnh tả đường về chiến khu nó phải dữ dội vậy mới phê phải ko bác Kiều. Nói như bác tuaans đường êm gió mát có khi ngủ quên tới tuốt chỗ soát vé thì còn gì là lãng mạn. Ấy là em bênh bác Kiều một bàn đấy nha(http://www10.ttvnol.com/forum/tinhocvn/images/emotion/beerchug.gif)
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 11:42:55 am Nói thêm với bác tuaans thế này: Nếu không đi đúng chỗ thì làm sao tớ biết cái sa bàn địa hình chiến đấu của căn cứ TW Cục nó hiện đại thế?! Người dẫn tụi mình đi vào rừng là cháu Cao Hoài Phong, cao to đẹp trai hết ý nhưng mà nhậu hơi bị dở! Phong cho tụi mình biết về cái chết của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từng chi tiết...Cảm động lắm! Mình còn hái một lá trung quân về làm kỷ niệm đây mà! Cậu làm như tớ chuyên ...nói dóc vậy! ??? ??? ??? Giận đó nghe! hà...hà.. Ông Nguyễn Chí Thanh chết sao vậy bác? Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 11:48:06 am He he, tại bác nói đường ổ voi ổ gà, nó dần xuong bác Kiều già nên em thương. Mà tiên sư mấy thằng làm đường láo toét, mới có 3, 4 tháng trước em đi lên chỗ đó còn là đường nhựa, xe phóng cả 80 KM/h, nay sao hư hết rồi à!? ;D Xe chạy, lo ngắm cảnh vật nên không để ý tới bãi xe tăng, nhưng hình như có mấy chiếc đấy, mà không biết là tăng của ai? Đường sá thì hơi lam nham, xe giằn xốc kinh lắm,xe bác nhỏ có thể chạy nhanh vì tránh được ổ...trâu, còn xe tớ to đùng làm sao mà tránh? Với lại tài xế mới cáu cạnh, không biết đường đi nữa cơ mà! Chỉ có khoảng 8 - 9 km gần tới khu căn cứ đường êm, mà ở đời có cái gì là vĩnh cửu đâu nhỉ? Mới hôm qua nó thế, hôm nay nó lại khác thì sao? Như ở SG đó, ngủ đêm sáng dậy thấy trước nhà là mấy cái..."lô-cốt" to đùng, bó tay chưa?Mà bác đi qua đó có thấy bãi để xe tăng cũ không vậy? Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 12:07:01 pm Xe chạy, lo ngắm cảnh vật nên không để ý tới bãi xe tăng, nhưng hình như có mấy chiếc đấy, mà không biết là tăng của ai? Đường sá thì hơi lam nham, xe giằn xốc kinh lắm,xe bác nhỏ có thể chạy nhanh vì tránh được ổ...trâu, còn xe tớ to đùng làm sao mà tránh? Với lại tài xế mới cáu cạnh, không biết đường đi nữa cơ mà! Chỉ có khoảng 8 - 9 km gần tới khu căn cứ đường êm ... He he, vậy là hai anh em mình thăm 2 cái Trung Ương Cục khác nhau rồi! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 12:12:56 pm Em không biết bác đi thăm cái nào? Chứ còn em đi thăm cái này ạ! Nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, sơ đồ, bãi xe tăng đây! ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: OldBuff trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 12:51:40 pm Có thể bác Kiều đi xem nhầm Trung Ương Vụ ;D Chiếc M41A3 trên hình bác tuaans trông còn như mới
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 01:23:47 pm Trong hình có 1 Mod đương chức và 1 cựu Mod! :P
Bác buff: Mấy chục năm rồi mà lấy tay quay nòng súng là cả tháp pháo quay theo, nhẹ nhàng, êm ru. Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: lethaitho trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 01:30:16 pm Bác Kiều thăm TW hòn, còn bác Tuaans thăm TW cục hoặc ngược lại! ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 08:23:05 pm Em không biết bác đi thăm cái nào? Chứ còn em đi thăm cái này ạ! Nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, sơ đồ, bãi xe tăng đây! ;D Hình như cái nhà này là nơi bố trí sa bàn và các cụm căn cứ của BLĐ TW Cục mừ! Xe tăng và Commandocar tớ có thấy, nhưng chỉ thấy một chiếc Commandocar bốn bánh xẹp lép, hai cửa mở toang hoác, tháp pháo thì chẳng còn cái gì. Chiếc xe tăng thì hình như là M.41 thì phải? Bọn tớ đi như "cưỡi ngựa xem hoa" ý mà! Các bác lãnh đạo trong nhóm cứ hối như giặc, vì từ Củ Chi về Tây Ninh,lạc đường hết một chập, tới nơi thì gần 16 giờ rồi! Chỉ kịp coi cái sa bàn điện tử, đi vào rừng thăm các nhà làm việc của các đồng chí lãnh đạo TW Cục, nghe kể chuyện về đại tướng Nguyễn Chí Thanh là muốn sụp tối rồi. Cậu HDV hẹn ngày mai đi tiếp, rồi tụi tớ ra nơi tiếp đón, tắm rửa, cơm nước, mắc võng chuẩn bị chổ ngủ và...nhậu hà...hà...dân Tây Ninh mà nhậu với dân miền Tây chỉ có nước bỏ của chạy lấy người thôi!Tớ có chụp hình cả đống đay này, nhưng mà đều là nhờ thiên hạ chụp giùm thôi! Về nó rửa cho mấy tấm, không có lưu vào dĩa, mà nếu có lưu tờ cũng không có cách nào gửi cho các bác, bởi vì tớ...cóc biết gửi..hà...hàTiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 08:45:33 pm Hôm qua nhà em có osin đi lễ nhà thờ, đang lúc đá banh Việt - Thái. Về nghe osin kể là đang hành lễ thứ mấy gì đó của đêm giáng sinh, bỗng cha đạo ngưng lại và thông tin cho giáo dân là Việt Nam thắng Thái Lan 2-1. Cả giáo đường ồ lên và ... vỗ tay quá chời lun! ;D
He he, vui quá, các bác thông cảm nha, em không ngừng được cười nên phọt đại ra đây! ;D ;D Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 10:10:19 am Bác Kiều có biết cái nhà này không? ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: TQNam trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 10:13:51 am Xào, hỏi thế cũng hỏi. Quê tôi thiếu gì.
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 10:23:42 am Bác Kiều có biết cái nhà này không? ;D Hình nhìn không rõ, nhưng mình thấy nó giống cái nơi mà ban hướng dẫn du lịch căn cứ TW Cục tiếp tụi mình. Bây giờ trước sân ở hai bên góc có xây hai cái nhà bằng gỗ, lợp ngói có 6 cột to, đen bóng. Giăng võng lên cứ...tuột xuống hoài hà! Nếu đúng là nó thì bây giờ khác dữ lắm "gồi". Bên trong có căn-tin bán cà phê, có nhà ăn cho khách, còn tụi mình thì kê bàn nhậu ngay trước cửa căn-tin đó đó...Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 10:31:06 am Em không biết bác đi thăm cái nào? Chứ còn em đi thăm cái này ạ! Nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, sơ đồ, bãi xe tăng đây! ;D Nếu vậy thì đi về bên trái tấm ảnh, (từ màn hình nhìn vô) nhìn sang bên kia đường là chỗ nghỉ của bọn tôi, còn phía sau nhà trưng bày bảo tàng hiện vật này có một con đường dẫn vào rừng, đúng không? Trước chỗ nhà khách có hai cái "dịch đình" làm bằng gỗ, lợp ngói có sau cây cột tròn đen thui cho mỗi căn! Võng giăng lên cứ tà tà tuột xuống vì...trơn! Mấy chiếc xe này đậu đối diện bên kia đường của nhà bảo tàng và bố trí sa bàn, phải không?Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: dksaigon trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 11:21:16 am hà , cả hai bác tuaans , kiều đều đến đúng là căn cứ TW cục ( hòn ) cả ! ;D tui đi cũng lâu rồi nhưng vẫn nhận ra qua hình với lời của bác kiều , có điều mấy hôm trước tui cũng thắc mắc chuyện đường xá , tự hỏi không lẽ bây giờ nó tệ vậy sao ? nhưng ngẫm lại thấy bác kiều nói là đi Củ chi trước rồi qua TW cục , vậy có lẽ bác kiều đi ngõ kà tum chăng ?
he he ! bác kiều nói dân Tây ninh đụng dân miền tây ... bỏ của chạy lấy người ... là dân nào bỏ chạy vậy ?! ;) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: haanh trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 02:56:35 pm hehe , nói cái vụ giăng võng tuột mới nhớ hồi sang K giăng võng ờ cột nhà sàn ngủ bị tuột hoài vì cột toàn là gổ xịn đen bóng . Hồi ở quân trường lại không dạy cái vụ giăng võng , các anh lính cũ phải chỉ lại cách giăng võng không bao giờ tuột và khi cần chỉ giựt nhẹ là rớt ngay . Hehe giờ chỉ cần nhìn ai đó giăng võng thì biết ngay người đó đã từng là lính hay không ;D
Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: tuaans trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 05:10:19 pm Bác haanh tính thử trieutulong_275 này sao? Chấp nhá! ;D
Cá 100 usd của Vịt kìu ăn tết đê! Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 26 Tháng Mười Hai, 2008, 10:52:49 pm hà , cả hai bác tuaans , kiều đều đến đúng là căn cứ TW cục ( hòn ) cả ! ;D tui đi cũng lâu rồi nhưng vẫn nhận ra qua hình với lời của bác kiều , có điều mấy hôm trước tui cũng thắc mắc chuyện đường xá , tự hỏi không lẽ bây giờ nó tệ vậy sao ? nhưng ngẫm lại thấy bác kiều nói là đi Củ chi trước rồi qua TW cục , vậy có lẽ bác kiều đi ngõ kà tum chăng ? Dĩ nhiên là không phải dân miền Tây rồi, bởi tụi tớ còn ngồi nhậu đến gần sáng nhìn qua nhìn lại không còn ai, chỉ còn có hai thằng khách, còn chủ đâu mất mới leo lên võng mừ! tất cả là ...hai tăng! Đúng là mình đi từ Củ Chi về Tây Ninh, taì xế không biết đường, chạy vòng vòng gặp ai thì hỏi, đường đi có chỗ toàn là đường đất chưa tráng nhựa, bụi bốc mịt mù...he he ! bác kiều nói dân Tây ninh đụng dân miền tây ... bỏ của chạy lấy người ... là dân nào bỏ chạy vậy ?! ;) Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Đinh Phạm Kiều trong 28 Tháng Mười Hai, 2008, 02:16:47 pm hehe , nói cái vụ giăng võng tuột mới nhớ hồi sang K giăng võng ờ cột nhà sàn ngủ bị tuột hoài vì cột toàn là gổ xịn đen bóng . Hồi ở quân trường lại không dạy cái vụ giăng võng , các anh lính cũ phải chỉ lại cách giăng võng không bao giờ tuột và khi cần chỉ giựt nhẹ là rớt ngay . Hehe giờ chỉ cần nhìn ai đó giăng võng thì biết ngay người đó đã từng là lính hay không ;D Giăng võng cũng có nhiều cách giăng lắm, phải thao tác mới biết chứ nói không được, tớ giăng cả hai cách nên cuối cùng không bị tuột, nhưng có ngủ được đâu, nhậu xong leo lên võng thì...sáng bà nó rồi. Thế là dậy tập thể dục 24 động tác, chạy cho ấm rồi cuốn đồ đi uống cà phê...Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: binchip33 trong 20 Tháng Hai, 2009, 10:22:20 am CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ ( Nguyễn Mỹ)
Ðó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ Tươi như cánh nhạn lai sắc hồng Trưa một ngày sắp ngả sang đông Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ: Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa Chồng của cô sắp sửa đi xa Cùng đi với nhiều đồng chí nữa Chiếc áo đỏ rực như than lửa Cháy không nguôi trước cảnh chia li Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia Không giấu nỗi tình yêu cô rực cháy. Không che được nước mắt cô đã chảy Những giọt lonh lanh nóng bỏng sáng ngời Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi Và rạng đông đang bừng trên nét mặt - Một rạng đông với màu hồng ngọc Cây si xanh gọi họ đến ngồi Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai Ngày mai sẽ là ngày sum họp Ðã toả sáng những tâm hồn cao đẹp! Nắng vẫn còn ngời trên những lá cây si Và người chồng ấy đã ra đi... Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào "Khi tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau..." Tôi biết cái màu đỏ ấy Cái màu đỏ như máu đỏ ấy Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp Một làng xa giữa đêm gió rét... Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi Như không hề có cuộc chia ly... Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: SukhoiSu-47Berkut trong 31 Tháng Ba, 2009, 12:05:53 pm Chào cả nhà,
Thơ về lính thì nhiều và hay. Nhưng tôi thì rất thích bài thơ này, mỗi lần đọc mà sao thấy lòng mình như nghẹn lại..cái gì đó thật khó tả. Dù chưa qua một ngày là lính thật sự. Hôm chia tay lớp học, gồm cả già sắp về hưu đến đám trẻ như tôi...trong đó có nhiều bác đầu đã bạc, cũng từng qua trận mạc...tôi đọc tặng các anh như lời tri ân đối với các bậc tiền bối. MỘT VỊ TƯỚNG VỀ HƯU Thôi, đã dứt đường binh nghiệp Tuổi hưu rồi, bác ở quê Chạnh nhớ bạn bè thuở trước Cùng đi có đứa không về Người vợ tuổi già như bác Miếng trầu nhai dập chiều mưa Hồi còn trẻ xa nhau mãi Giờ thương biết mấy cho vừa Huân chương xếp vào góc tủ Nay hàm tướng tá mà chi Tuổi già công danh xem nhẹ Cuộc đời như nước trôi đi Thuở trước bạn cùng súng đạn Nay khuây hàng xóm bạn già Bao dốc, bao rừng đã vượt Lối mòn quanh quẩn vào ra Ngày đi khuất bóng mẹ cha Ngày về sửa sang mộ cũ Âm thầm một tấc đất sâu Hương khói tờ mờ màu cỏ Ngôi nhà nắng mưa vẫn đó Đàn con mỗi đứa một nơi Nếu không có trẻ hàng xóm Tuổi già hẳn nhiều đơn côi Những đêm gió thổi buốt trời Vết thương cũ còn đau nhức Ôi sư đoàn xưa giờ đâu Người cũ, ai còn, ai mất? Về hưu giờ thôi quyền chức Ai người nhớ bác, lại chơi Ai kẻ xa lòng, tránh mặt Niềm riêng một mảnh trăng trời. Nguyễn Đức Mậu Tiêu đề: Re: Những bài hát của thời kỳ chiến tranh biên giới Gửi bởi: hoaphuongdo trong 01 Tháng Tư, 2009, 07:56:52 am Mình còn nhớ,ngày xưa học cấp 2,sưu tầm thơ nhiều lắm,mỗi khi gặp đề văn bình thơ hoặc học về văn chứng minh là phải đi vào thư viện mượn sách để đọc,chả có lướt net truy cập được như bây giờ nên bắt buộc phải nhớ thì mới bình giảng được,Mời cả nhà tham gia nhé.
Điểm tựa Hàn thử biểu chỉ độ không Hôm nay trời rét lắm Cái rét biên thuỳ lạnh buốt thịt da Cả núi rừng chìm đắm dưới sương khuya Gió vi vút qua khe cửa nhỏ Trằn trọc mãi thâu đêm không ngủ Thương anh nhiều,anh chiến sĩ của tôi ơi. Điểm tựa trên cao anh đứng giữa đỉnh đồi Một mảnh áo bông thay nhau khi đổi gác. Súng lạnh buốt tay,mắt hướng về phía trước Tai lắng nghe từng tiếng động trong đêm. Tôi nhớ buổi chiều anh cõng tôi lên Thương tôi yếu không thể nào leo hết dốc. Mỗi bước anh đi tôi đếm từng nhịp thở Hai trái tim như thầm thì to nhỏ KHÂU CHỈA đây rồi!anh nở nụ cười tươi. Ngồi sát bên anh đôi lời tâm sự: -theo tiếng gọi thiêng liêng của TỔ QUỐC Xa quê hương đã trọn mấy xuân rồi. Cuộc sống chiến trường năm tháng thêm vui Nhưng chưa thật ưu tiên phía trước Đời chiến sĩ còn nhiều khổ cực Quần áo mỏng manh cơm có bữa chưa no Đường núi gập ghềnh lắm suối nhiều khe Đôi lúc hỏng xe hàng không tới được. Gạo sấy ,khoai mì,bát canh toàn quốc Và nước chấm đại dương đỡ lúc đói lòng. Cũng có khi thịt ấm chân răng Nhưng có bữa cơm toàn muối trắng. Cuộc sống chiến trường còn bao thiếu thốn Cả tháng trời mới có một lần phim Báo Đảng,báo Đoàn ít có để xem Đại đội một tờ mấy khi đã tới. Điệu múa lời ca còn xa vời vợi Ngày lại ngày nghe chim hót đầu non. ca3 đơn vị anh không một cây đần Mấy tháng một lần thư nhà mới đến... Mẹ lại giục về vì mấy sào ruộng khoán Thiếu bàn tay tần tảo chăm nom. Thư gửi người yêu ,mỏi mắt đợi chờ Mực đã cạn,lại thiếu tờ giấy viết Mối tình thắm cũng có lúc nghi ngờ phai nhạt, Nhưng thời gian qua,tất cả cũng trôi qua. Mắt đăm chiêu anh nhìn khoảng trời xa Đất nước khó khăn quân thù còn đó. Mồ liệt sỹ năm nào vẫn còn xanh ngọn cỏ Phải giữ mảnh đất này cho hôm nay và cho cả mai sau... ÔI TÂM HỒN ANH NÂNG CAO TẦM THỜI ĐẠI GIAN KHỔ MẤY CŨNG KHÔNG HỀ E NGẠI CÓ CHỊU ĐỰNG NÀO HƠN THẾ NỮA KHÔNG ANH? CHIM ĐẠI BÀNG TUNG CÁNH GIỮA TRỜI XANH Tạm biệt anh trong vòng tay siết chặt Anh hôn tôi một cái hôn tha thiết Mắt long lanh như thầm gửi điều gì Hôm nay tôi trở lại thủ đo yêu quý Hạt mưa rơi trên đầu cây ngọn cỏ Vườn nhà ai đào chớm nở những nụ hoa Đi giữa lòng người mà sao lòng cứ băn khoăn day dứt Làm sao để anh được ấm thêm đôi chút? Bát cơm đầy thêm thịt ,cá,rau tươi. Cứ mỗi đợt giá mùa đông bắc thổi về xuôi Chắc điểm tựa lại rét nhiều anh nhỉ? Gió ơi gió nhắn đôi lời thủ thỉ Gửi tới anh bao nỗi nhớ tình thương. LÊ ĐỨC THỌ Tiêu đề: Re: Những bài thơ hoài niệm Gửi bởi: Phụ bếp trong 25 Tháng Tư, 2009, 09:41:02 pm Các bác cho em hỏi về bài thơ "Trường ca Côn Đảo" tác giả Trần Kế Tường.
Trong bài thơ có một số câu như sau: “Em tìm về với đảo Biển rưng rưng ướt đầm vai áo Cầu tàu cao, con nước đang ròng Thương anh em say tận cửa sông Anh xuống tàu đón đỡ, Con gái đồng bằng chưa quen đi bể Thương chồng yếu gầy không nỡ vịn vai, … Em ơi nhà ta đây Nhà ở đảo tường dày mái thấp Cái tổ ấm cứ làm em thảng thốt…” Và hai câu cuối “Như mạch nước chảy ngầm trong cát Tự lắng lọc mình lặng lẽ để thành trong” -------------- Bác nào có đầy đủ toàn bài thì cho em xin với, em gửi tặng bố vợ em. Sắp tới ngày 30/4 rồi còn gì. Cảm ơn các bác nhiều. |