Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:46:01 pm



Tiêu đề: Cách mạng Văn hoá liệt truyện - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:46:01 pm
Tên sách: Cách mạng Văn hoá liệt truyện
Tác giả: Thiên Đảo Hồ
Người dịch: Nguyễn Duy Chiếm
Nhà xuất bản: Cà Mau
Năm xuất bản: 2003
Số hoá: ptlinh, chuongxedap




Chương I
TAI HỌA TỪ LƯ SƠN


1
Vì chuyện “chửi mẹ” nhau hai anh hùng trở mặt
Cảm chuyện xưa Mao khóc vì không con nối dõi tông đường


1. Kha Khánh Thi lặng lẽ cầm đi bản ghi lời phát biểu của Bành Đức Hoài

Vào năm thứ hai của cuộc chống phái hữu, mảnh đất Thần Châu bao la bước vào thời kỳ thần thoại. Chỉ trong mấy tháng, nông thôn cả nước đã công xã hóa, gang thép trong một năm tăng lên gấp đôi, lương thực tăng lên gấp bội, sản lượng lúa nước 10 tấn trên một mẫu, sản lượng khoai lang 60 tấn trên một mẫu, gia đình đã bị tiêu diệt, một người trong một đêm viết được 60 kịch bản, nới rộng thắt lưng để mà ăn, ăn cơm không mất tiền... chiến đấu gian khổ ba tháng, chạy bộ lên chủ nghĩa cộng sản, con người đã từ vương quốc tất yếu bước vào vương quốc tự do, con người đã trở thành vạn năng, có thể đi mây về gió, bay lên trời chui xuống đất, hô gió gọi mưa, đào non lấp biển, gieo đậu thành lính, cái gì cũng dễ như trở bàn tay. Muốn cái gì có cái nấy. Khẩu hiệu “đuổi kịp Anh, vượt qua Mỹ, thi đua với Liên Xô” về sản xuất gang thép vang trời dậy đất, trong chớp mắt, những lời nói hào hùng, những vệ tinh giá đã đầy ắp trên báo chí và đài phát thanh. Đầu óc mọi người đã nóng rực. Trước đây cho rằng chủ nghĩa cộng sản tươi đẹp nhưng xa vời, hình như chỉ trong một đêm đã từ trên trời rơi xuống.

Đại nhảy vọt mới triển khai được hơn một năm, đến năm 1959, mà kỳ tích không hề được thực hiện, thực tế xuất hiện lại là: đói khát, phù thũng, giày vò đến chết, đâu đâu cũng vậy, một tai họa do con người gây nên đang đổ lên đầu muôn triệu gia đình.

Nhưng đầu óc của những người quyết định chính sách cao nhất không hề nguội lạnh.

“Đây là bệnh cuồng nhiệt của giai cấp tiểu tư sản”. Nguyên soái Bành Đức Hoài, ủy viên Bộ chính trị, đã từng vì cách mạng lập bao chiến công hiển hách, đang giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng lúc ấy đã đứng ra nói như vậy.

Lịch sử cũng thường phức tạp như thế đấy, câu nói chân thành lanh lảnh của Bành Đức Hoài đã đẩy mình vào cửa nhà tù thì đồng thời cũng làm cho một con người khác có được cơ hội mà ông ta khao khát đã lâu.

Thực ra vào khoảng thu đông năm 1958, Mao Trạch Đông đã phát hiện được những lộn xộn trong phong trào “đại nhảy vọt” và công xã nhân dân hóa. Rất nhiều người vội vội vàng vàng xông lên phía trước “muốn chạy bộ lên chủ nghĩa cộng sản”, rất nhiều công xã vội vã chuẩn bị tuyên bố sở hữu toàn dân, rất nhiều địa phương đã chuẩn bị xóa bỏ thương nghiệp và sản xuất hàng hóa. Để làm cho mọi người bình tĩnh lại, giải quyết sự lộn xộn về tư tưởng, theo đề nghị của Mao Trạch Đông, vào tháng 11 năm 1958 Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị Trịnh Châu, sửa chữa sai lầm “tả” khuynh, tiếp theo đó lại tiến hành Hội nghị Bộ chính trị mở rộng ở Vũ Xương. Trên cơ sở hai hội nghị này, Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa 8 và thông qua “Nghị quyết về một số vấn đề công xã nhân dân”. “Nghị quyết” đã đánh giá cao sự xuất hiện của công xã nhân dân; chỉ rõ trước mắt công xã nhân dân trên cơ bản vẫn là tổ chức kinh tế của chế độ sở hữu tập thể; trao đổi hàng hóa không những không thể xóa bỏ, mà còn phải phát triển lớn hơn, quy định tư liệu sinh hoạt (bao gồm nhà ở) của cá nhân xã viên vĩnh viễn thuộc sở hữu cá nhân xã viên.

Vào khoảng tháng 2-3 năm 1959, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tại Trịnh Châu (tức Hội nghị Trịnh Châu lần thứ hai). Trong Hội nghị này, Mao Trạch Đông đã nêu ra phương châm 14 câu để chỉnh đốn và xây dựng công xã nhân dân: “Thống nhất lãnh đạo, đội là cơ sở; phân cấp quản lý, giao quyền cho cấp dưới; hạch toán theo ba cấp, tự tính toán lỗ lãi, có kế hoạch phân phối, do công xã quyết định; tích lũy thỏa đáng, điều tiết hợp lý, lao động và vật tư, trao đổi ngang giá; phân phối theo lao động, thừa nhận sự chênh lệch”. Ý cơ bản mà Mao Trạch Đông nói ở đây là, trong hạch toán ba cấp: công xã, đại đội sản xuất và tiểu đội sản xuất trong công xã nhân dân, phải lấy đại đội sản xuất (vốn là hợp tác xã cao cấp) làm cơ sở, chống chủ nghĩa bình quân và việc điều động nhân lực, tiền vốn, tư liệu sản xuất của các đội sản xuất mà không hoàn lại.

Dựa vào ý kiến và phương châm của Mao Trạch Đông, Hội nghị Trịnh Châu lần thứ 2 đã định ra “Dự thảo: Một số quy định về thể chế quản lý công xã nhân dân”. Tiếp đó cũng vào khoảng tháng 3-4 năm 1959, Hội nghị Bộ Chính trị cũng định ra “Mười tám vấn đề của công xã nhân dân”. Hai văn kiện này đều quy định đội sản xuất (tức là Đại đội sản xuất) là đơn vị hạch toán cơ bản của công xã nhân dân, giải quyết trả lại tài sản xã viên đã điều động bình quân.

Đầu tháng 4 năm 1959, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa 8, Hội nghị đã thông qua kế hoạch năm 1959, ngoài việc điều chỉnh đầu tư xây dựng, đã từng được công bố, kế hoạch vẫn duy trì chỉ tiêu cao như đã công bố, chỉ tiêu sản xuất thép định là 18 triệu tấn.

Lúc này, những hậu quả tai hại mất cân đối nghiêm trọng do đại nhảy vọt, xây dựng công xã nhân dân và cả nước luyện gang thép gây nên trong nền kinh tế quốc dân đã bộc lộ ra, lương thực giảm mạnh, thực phẩm phụ càng thiếu thốn, sản xuất gang thép không lên được, sản xuất gấp cũng chẳng thấm vào đâu, quý 1 chỉ sản xuất được 3,36 triệu tấn thép. Hàng tiêu dùng thiếu, cung ứng căng thẳng, rất nhiều địa phương xuất hiện tình hình cực kỳ nghiêm trọng, đã xuất hiện mất mùa đói kém.

Trong bước hiểm nghèo, qua điều tra, Trần Vân đã kiến nghị với Bộ Chính trị là nên giảm sản lượng thép năm 1959 xuống còn 13 triệu tấn, giảm bớt số nhân khẩu phi nông nghiệp, phát triển sản xuất lương thực, tổ chức sản xuất hàng tiêu dùng. Trung ương và Mao Trạch Đông rất coi trọng ý kiến của Trần Vân, lập tức sắp xếp lại.

Mặc dù đã có một số cố gắng như vậy, nhưng do Mao Trạch Đông vẫn hoàn toàn khẳng định đối với đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân, nên sai lầm “tả” khuynh không được sửa chữa triệt để, tình hình trên căn bản vẫn không sáng sủa.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:46:37 pm

Đúng lúc này, Cam Túc và nhiều nơi khác liên tục điện lên Trung ương báo cáo tình hình thiếu lương thực. Mao Trạch Đông chỉ định Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành điều động lực lượng vận tải của quân đội giúp vận chuyển lương thực đến Cam Túc. Hoàng Khắc Thành nhẩm tính những xe điều động được đều đã điều động cả, bây giờ biết điều xe từ đâu? Đang lúc bối rối thì Bành Đức Hoài kết thúc chuyến thăm Liên Xô và các nước Đông Âu về nước. Hoàng Khắc Thành thở phào, nắm chặt tay Bành Đức Hoài nói: “Ôi, đồng chí đã về, vậy là tôi yên lòng lắm rồi!” Bành Đức Hoài chột dạ hỏi: “Xảy ra chuyện gì vậy?” Hoàng Khắc Thành đáp: “Đồng chí không biết sao, gần đây mấy tỉnh Sơn Đông, An Huy, Cam Túc, Hà Nam đều khẩn cấp xin lương thực, Trung ương ra lệnh cho bộ đội phải điều lực lượng vận tải để vận chuyển lương thực khẩn cấp. Bộ đội đã điều rất nhiều xe thuyền thậm chí cả máy bay. Hiện nay tình hình thiếu lương thực ở Cam Túc rất nghiêm trọng, Trung ương lại ra lệnh cho bộ đội tiếp tục điều xe chi viện, nhưng tôi biết điều xe từ đâu?” Bành Đức Hoài giậm chân thở dài: “Tôi đã bảo từ lâu rồi mà, phải lường trước sự thổi phồng về sản lượng lương thực, nhưng mọi người không nghe, bây giờ thì vấn đề đã xảy ra. Giờ chỉ còn cách rút bớt một số xe đi Tây Tạng”. Hoàng Khắc Thành lo lắng: “Nếu vậy sẽ ảnh hưởng đến việc trấn áp bọn gây rối”. Bành Đức Hoài thở dài: “Cứu đói như cứu hỏa chậm sẽ gây chết người, đồng chí cứ thống nhất phân phối đi”. Hoàng Khắc Thành đồng ý.

Sau khi xong việc, Bành Đức Hoài định gọi điện cho Mao Trạch Đông báo cáo ý kiến của mình về tình hình nông thôn, nhưng ngẫm nghĩ một lúc lại đặt máy xuống. Đúng lúc này, Văn phòng Trung ương thông báo Trung ương quyết định triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ở Lư Sơn tỉnh Giang Tây từ ngày 2 đến ngày 15 tháng 7, mời Bành Đức Hoài đến họp đúng giờ. Vì bận viết báo cáo tổng kết đợt đi thăm Liên Xô và bận chỉ huy chiến đấu dẹp bọn phiến loạn ở Tây Tạng nên Bành Đức Hoài đã gọi điện cho Văn phòng Trung ương xin nghỉ không tham gia Hội nghị.

Không lâu sau đó, có điện thoại của Phong Trạch Viên, Bành Đức Hoài cầm máy thấy trong máy có tiếng: “A lô, đồng chí Bộ trưởng Bành Đức Hoài phải không ạ? Chủ tịch muốn nói chuyện với đồng chí”. Bành Đức Hoài nghe thấy vậy bèn đứng nghiêm báo cáo: “A lô, Chủ tịch đấy ạ? Tôi là Bành Đức Hoài”. Trong máy nghe vang lên tiếng nói thân thiết của Mao Trạch Đông: “Đồng chí Bành Đức Hoài, nghe nói đồng chí xin nghỉ không đến Lư Sơn phải không? Không được, không được, nhất định đồng chí phải đến”. Bành Đức Hoài bối rối: “Thưa Chủ tịch, tôi vừa đi thăm Liên Xô về, tình hình không nắm được nhiều, hơn nữa việc trấn áp bọn phiến loạn vẫn chưa xong”. Mao Trạch Đông nói: “Những việc ấy có thể tạm xếp lại, bọn phỉ ở vùng Sơn Nam đã bị tiêu diệt, chỉ còn lại một số nhóm, sẽ giải quyết dần, đồng chí nhất định phải đến Lư Sơn đấy!”

Thấy Mao Trạch Đông khăng khăng yêu cầu mình đến Lư Sơn, Bành Đức Hoài đành phải bàn giao công việc cho Hoàng Khắc Thành rồi đến Lư Sơn.

Vũ Hán tháng 7 nóng như một cái lò lửa còn Lư Sơn tháng 7 mát mẻ như mùa thu. Ở đây đã được giới nghiêm từ lâu, các uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư thứ nhất các tỉnh thành phố, Bộ trưởng các bộ trong Chính phủ, lần lượt đến Lư Sơn, phút chốc Lư Sơn trở nên náo nhiệt. Ngày 2 tháng 7 Hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khai mạc, Mao Thạch Đông phát biểu đầu tiên: Hội nghị lần này của chúng ta, chủ yếu thảo luận tổng kết công tác Đại nhảy vọt. Trước khi đến Lư Sơn, tôi đã đến thăm Hồ Nam, công việc ở Hồ Nam làm khá tốt. Tôi rất tán thành ba câu nói của Chu Tiểu Châu Bí thư Tỉnh ủy Hồ Nam, đồng chí ấy nói là thành tích của đại nhảy vọt to lớn, tuy vấn đề không ít nhưng tiền đồ sáng sủa. Thành tích to lớn thì không phải nói nữa, vấn đề không ít thì cần phải bàn đến nơi đến chốn, tiền đồ sáng sủa thì phải nhận thức cho rõ. Ban Thường vụ chúng tôi đã xem xét lại tình hình trong nước, sắp xếp lại các vấn đề và sẽ truyền đạt đến các đồng chí 19 vấn đề, đọc sách là một, tình hình là hai còn nhiệm vụ, thể chế, nhà ăn, tổng hợp cân đối v.v… Năm ngoái đã làm một việc ngốc nghếch, chỉ tiêu của mấy năm lại muốn đạt được trong một năm, nhưng khuyết điểm thì chỉ đếm trên vài ba đầu ngón tay, rất nhiều vấn đề phải chờ một thời gian dài nữa mới có thể nhìn thấy được Con đường nhảy vọt đã đắp được nhiều mà chưa bị sụt”.

Mao Trạch Đông uống một hớp nước, rồi tiếp tục nói, mọi chuyện vui vẻ, lấy cổ bàn kim, nói rất hấp dẫn hào hứng, hội trường thỉnh thoảng lại rộn lên tiếng cười vui vẻ.

Sau khi Mao Trạch Đông nói xong, đến lượt Lưu Thiếu Kỳ: “Nói thực ra cuộc sống năm ngoái quả là khó khăn, thường bị cắm cờ trắng. Năm ngoái thành tích rất lớn, thành tích phải kể cho đủ, nếu không kể thành tích thì sẽ không có lòng tin. Bài học cũng rất sâu sắc, phải tổng kết một cách nghiêm túc. Cuộc họp ở Lư Sơn hôm nay của chúng ta coi là Hội nghị thần tiên, mọi người có thể trình bày ý kiến của mình một cách thoải mái”.

Sau khi các vị lãnh đạo Trung ương phát biểu, bắt đầu chia tổ thảo luận. Do thời gian công tác ở Tây Bắc tương đối dài nên Bành Đức Hoài được chia về tổ Tây Bắc. Vì là Hội nghị thần tiên nên mọi người phát biểu tương đối thoải mái. Trước đấy, Bành Đức Hoài đã từng khảo sát ở Tây Bắc, nửa năm trước lại đến khảo sát tình hình ở Hồ Nam và còn đến quê Mao Trạch Đông ở Thiều Sơn, đã hiểu được một số tình hình thực tế. Sau khi thảo luận tổ, ông định tìm Mao Trạch Đông để trao đổi, nhưng chương trình làm việc của Hội nghị sắp xếp rất căng thẳng. Lúc Bành Đức Hoài rỗi rãi thì Mao Trạch Đông lại đang nghỉ ngơi, mấy lần đến đều bị cảnh vệ ngăn lại. Bành Đức Hoài không tìm được dịp nào để nói chuyện với Mao Trạch Đông nên đành phải phát biểu trong thảo luận tổ, mong Mao Trạch Đông thông qua biên bản thảo luận tổ có thể thấy được những ý kiến của mình:

- Cuối năm ngoái tôi đã đi khảo sát tình hình mười tỉnh, cũng đã tới công xã Thiều Sơn. Vấn đề báo khống sản lượng rất nghiêm trọng, việc luyện gang thép khắp nơi đã hút hết sức lao động ở nông thôn, thu hoạch mùa màng toàn là trẻ em và phụ nữ. Công xã Thiều Sơn được nhà nước cấp ngân sách và giúp đỡ cũng chỉ tăng được 13%, không nhiều như đã báo cáo, không biết Chủ tịch có biết tình hình này hay không.

- Năm 1957, cuộc chống phái hữu đã giành được thắng lợi to lớn, đầu óc nóng lên niềm say sưa mãn nguyện, cả nước làm gang thép, muốn phút chốc trở thành người béo. Công xã nhân dân cũng không thí điểm đã cho mở rộng dấy lên cơn gió cộng sản.

- Phải tìm được những bài học kinh nghiệm, không nên truy cứu trách nhiệm, vì nếu truy cứu trách nhiệm thì mọi người chúng ta đều có trách nhiệm, Mao Trạch Đông cũng có một phần.

- Ý kiến quần chúng lớn nhất là đặc thù hóa, chủ nghĩa quan liêu. Tôi đến khảo sát phát hiện ở một số nơi danh lam thắng cảnh không cho nhân dân đến thăm, trong đó xây những lầu nhỏ nói là để thủ trưởng ở. Tôi thấy một số người đã trở thành những lão gia quý tộc, trở thành vua quan khanh tướng, cẩn thận kẻo dân chúng chửi mẹ cho.

- Rất nhiều tỉnh đã xây biệt thự cho Mao Chủ tịch, định giở cái trò gì? Đây rõ ràng không phải Mao Chủ tịch bảo họ làm, những người này muốn làm gì vậy?

Tuy là Hội nghị thần tiên, nhưng mọi người vẫn rất thận trọng, mọi người chỉ bàn chuyện được mất thành bại của đại nhảy vọt, thảo luận trước mắt nên làm gì, chưa có ai dám chỉ mặt vạch tên Mao Trạch Đông như thế. Bây giờ thấy Bành Đức Hoài lớn tiếng phê phán, ai cũng im như thóc, trố mắt nhìn Bành Đức Hoài, không ai nói một lời tán thành hay phản đối.

Tổ trưởng tổ Hoa Đông, Bí thư thứ nhất thành phố Thượng Hải Kha Khánh Thi từ khi đến Lư Sơn lúc nào cũng tươi cười, luôn nhìn mọi người xem có ai nói gì không. Bành Đức Hoài, Trương Văn Thiên, Chu Tiểu Châu, Trương Trọng Lương, Dương Thượng Khuê, Chu Huệ, Lý Nhuệ, Điền Gia Anh, Ngô Lãnh Tây trong hội nghị đều liên tiếp phê phán “tả” khuynh làm cho Kha Khánh Thi vừa tức vừa mừng. Nhưng ông ta mưu sâu kế hiểm, vui giận không để lộ ra ngoài. Sau khi tan họp, ông ta lặng lẽ cầm bản ghi lời phát biểu của Bành Đức Hoài đến biệt thự Lư Sơn gặp Mao Trạch Đông.

Hôm nay Mao Trạch Đông rỗi rãi, một mình ngồi trên chiếc ghế mây ở ban công trầm ngâm hút thuốc. Ông cầm bản ghi lời phát biểu của Bành Đức Hoài liếc mắt đọc, nói với Kha Thánh Thi một cách không vui: “Từ Hội nghị Trịnh Châu năm ngoái đến nay các cuộc họp lớn họp nhỏ có tới sáu bảy lần, lần nào tôi cũng tự kiểm điểm. Tôi đã bắn ba viên đạn pháo, có sai, nhưng Bành Đức Hoài cũng không nên được thể mà không bỏ qua chứ”. Kha Khánh Thi nói: “Gia Anh không hiểu sao cũng theo họ, tôi không tiện nói, Chủ tịch nên khuyên ông ta”. Mao Trạch Đông uể oải nói: “Thôi, ăn cơm đánh rắm, trong bụng có khí, khí ra khỏi bụng sẽ dễ chịu, ai bảo ngay từ đầu tôi đã làm cái hình nộm? Ngay từ đầu là cái hình nộm thì sẽ tuyệt tự. Một đứa con trai... thì chết, một đứa con trai thì điên, tôi không có người nối dõi!”. Nói rồi, bờ mi Mao Trạch Đông bừng đỏ, Kha Khánh Thi thấy không ổn, vội đi ra ngoài.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:47:28 pm

2. Dùng dằng không dứt, giờ dữ khó tránh

Lúc này Hội nghị sắp kết thúc, Ban thư ký Hội nghị đã bắt đầu sắp xếp xe cộ để các đại biểu trở về. Bành Đức Hoài cảm thấy Hội nghị Lư Sơn lần này chưa giải quyết vấn đề trên căn bản, nên bồn chồn không yên, đi đi lại lại, chợt nảy ra một sáng kiến: sao lại không viết cho Chủ tịch một bức thư nhỉ? Đúng lúc này, Chu Tiểu Châu đến, Bành Đức Hoài liền nói những ý kiến của mình với ông ta, Chu Tiểu Châu rất tán thành. Bành Đức Hoài quay về phòng, bắt đầu suy nghĩ, cuối cùng chuẩn bị viết về ba vấn đề:

a. Thành tích đại nhảy vọt năm 1958 là cần khẳng định không có gì phải nghi ngờ. Trong đó nên có một số khẳng định về sự tăng trưởng giá trị sản lượng trong sản xuất công nông nghiệp năm 1958, mặc dù có sự phóng đại các con số trên báo chí, nhưng xét cho cùng thì cũng có những con số thực trong đó. Ngoài ra, còn phải đồng thời chỉ rõ phong trào công xã nhân dân hóa quá nhanh quá gấp, lãng phí tài nguyên v.v...

b. Tổng kết những kinh nghiệm và bài học như thế nào? Phải chú ý chỉ rõ cái thói khoe khoang đang dấy lên một cách khá phổ biến. Thói khoe khoang lan tràn khắp các ngành các địa phương, một số kỳ tích không đáng tin cậy đã xuất hiện trên các mặt báo. Qua các tài liệu báo cáo về các mặt lúc bấy giờ thấy cái thế của chủ nghĩa cộng sản đang đến rất nhanh, làm cho uy tín của Đảng hạ thấp.

c. Tính cuồng nhiệt của giai cấp tiểu tư sản một số khuynh hướng “tả” đã khá phát triển, luôn muốn một bước lên chủ nghĩa cộng sản, về phương pháp tư tưởng thường lẫn lộn các quan hệ giữa bố cục mang tính chiến lược với những biện pháp cụ thể, giữa phương châm mang tính lâu dài với những bước đi trước mắt, giữa toàn thể và cục bộ, giữa tập thể lớn và tập thể nhỏ v.v.. Như việc Chủ tịch đề ra lời kêu gọi “trồng ít, sản lượng cao, thu hoạch nhiều”, “mười lăm năm đuổi kịp nước Anh” v.v… đều thuộc những phương châm chiến lược lâu dài, nhưng chúng ta lại thiếu nghiên cứu. Một số chỉ tiêu cứ tăng dần thco từng cấp, mỗi cấp thêm một ít, làm cho những yêu cầu vốn phải mấy năm hoặc mấy chục năm mới có thể đạt được trở thành chỉ tiêu một năm hoặc vài tháng phải hoàn thành…

Bành Đức Hoài xem lại đề cương cảm thấy đã hòm hòm, liền viết thư theo đề cương:

Mao Chủ tịch:

Hội nghị Lư Sơn lần này rất quan trọng, trong tổ Tây Bắc, tôi đã phát biểu mấy lần, nhưng thấy vẫn chưa nói hết ý kiến của mình nên viết riêng thư này để Chủ tịch tham khảo. Nhưng tôi là một con người giản đơn giống như Trương Phi, thực sự cái thô thiển thì có nhưng cái tỉ mỉ thì không. Vì vậy nó có giá trị tham khảo hay không xin Chủ tịch cân nhắc. Có chỗ nào không thỏa đáng xin Chủ tịch chỉ bảo...

Thư viết xong, Bành Đức Hoài gọi thư ký đến, nhờ anh ta chép lại, thư ký đem thư về chép lại, do thời gian gấp, nhiệm vụ khẩn trương, nên anh ta đã chép rất nhanh.

… Trong việc toàn dân luyện gang thép, phần lớn dựng một số lò địa phương nhỏ, đã lãng phí một số tài nguyên (vật lực, tài lực) và nhân lực, tất nhiên là một tổn thất khá lớn. Nhưng cái được là đã bước đầu điều tra một cách rộng rãi với quy mô to lớn về địa chất trong cả nước, đã bồi dưỡng được không ít nhân viên kỹ thuật, đông đảo cán bộ đã được rèn luyện và nâng cao trong phong trào này. Tuy nhiên phải trả một khoản học phí (phải bù vào 2 tỷ), tức là, về mặt này cũng có mất có được...

Thực ra trong nguyên văn của Bành Đức Hoài viết là “có được có mất”, bây giờ sao lại thành “có mất có được”, cái phần trách cứ có vẻ nặng thêm, đáng tiếc là khi đọc duyệt lại lần cuối cùng bức thư dài này, Bành Đức Hoài đã không nhìn ra.

Sau khi thư viết xong, Bành Đức Hoài không muốn gửi đi ngay, ông muốn nói chuyện trực tiếp với Mao Trạch Đông để bày tỏ ý kiến của mình. Từ chỗ ở của ông là Hổ Hống Lĩnh đến Mỹ Lư nơi ở của Mao Trạch Đông chỉ có mấy trăm bước, nhưng Bành Đức Hoài đã phải đi rất lâu, đi vài bước lại quay trở lại. Ông sợ trình bày ý kiến trực diện nếu vỡ lở thì khó mà thu vén, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì nói trực diện hay hơn là viết thư, nếu nói được thì không phải đưa bức thư này nữa. Nghĩ đến đây, Bành Đức Hoài rảo bước đến biệt thự Mỹ Lư.

Vì tối hôm trước Mao Trạch Đông đã trò chuyện với Hạ Tử Trân, sắp xếp để Hạ Tử Trân về trước, cả đêm không ngủ, trời sắp sáng mới chợp mắt. Bành Đức Hoài đi đến cổng biệt thự Mỹ Lư, cảnh vệ lập tức chạy đến báo cáo: “Thưa đồng chí, Chủ tịch vừa chợp mắt, xin đồng chí không nên làm phiền!”. Bành Đức Hoài sốt ruột: “Tôi có việc muốn nói với Chủ tịch!” Cảnh vệ nói: “Chủ tịch ngủ được không phải là dễ, đợi Chủ tịch tỉnh dậy đồng chí hãy nói, chỉ vài tiếng nữa thôi mà”. Bành Đức Hoài thở dài, đành quay trở về.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:48:10 pm

3. Đây là bức chiến thư của anh đối với tôi

Mao Trạch Đông vừa rửa mặt xong, thư ký đến báo cáo: “Buổi sáng, Bành Đức Hoài cử người đến đưa cho Chủ tịch một bức thư”. Mao Trạch Đông ngây người, đưa thư? Mọi người đều cùng ở với nhau, có chuyện gì thì đến nói chuyện đưa thư làm gì? Ông lập tức nhận ra rằng bức thư này có thể có nguyên do gì đây, ông bóc ngay thư ra, xem một cách chăm chú, đôi mày ông chợt chau lại, lồng ngực phập phồng liên hồi, cuối cùng ông đặt bức thư xuống bàn, châm một điếu thuốc, trầm ngâm suy nghĩ.

Làm thế nào đây? Ông có thể có hai cách lựa chọn. Một là phớt lờ không đếm xỉa đến bức thư này, thậm chí gửi trả lại Bành Đức hoài. Hai là đưa bức thư này cho các ủy viên Bộ Chính trị khác xem. Nếu chọn cách thứ nhất, thì khẳng định là Bành Đức Hoài không chịu, sẽ dẫn đến sự bất mãn của các ủy viên Bộ Chính trị khác. Nếu chọn cách thứ hai, thì trên bức thư này sẽ có những lời bình luận của các ủy viên Bộ Chính trị, do đó sẽ tạo nên một dư luận trong bầu không khí hiện nay có thể khẳng định là dư luận này sẽ không có lợi đối với ông. Nghĩa là bức thư này của Bành Đức Hoài sẽ là ngòi nổ, chưa biết chừng sẽ gây hiệu ứng bùng nổ dây chuyền.

Mao Trạch Đông đã cân nhắc đầy đủ tình hình này, cảm thấy bức thư của Bành Đức Hoài là một sự thách thức đối với địa vị lãnh đạo của ông trong toàn Đảng, ông quyết tâm đón nhận sự thách thức này, liền thông báo cho các tổ kéo dài thời gian họp, yêu cầu Văn phòng Trung ương thông báo cho Lâm Bưu, Trần Nghị, Hoàng Khắc Thành, An Tử Văn v.v… đến Lư Sơn tham gia Hội nghị... lại mời ba người là Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức trong Thường vụ Trung ương đang ở Lư Sơn đến bàn. Mao Trạch Đông nói với mọi người về bức thư của Bành Đức Hoài, cười thanh thản: “Đồng chí Bành Đức Hoài đã cẩn thận viết thư gửi đến, không để mọi người bàn bạc sẽ không hay, theo tôi cứ in ra phát cho mọi người để mọi người cùng bàn”. Ba vị ủy viên Thường vụ cảm thấy ý của Mao Trạch Đông có lý, cứ để mọi người bàn bạc, nói hết ý của mình nên đã đồng ý in và phân phát.

Sau khi Văn phòng Trung ương nhận được chỉ thị đã in ngay bức thư với tốc độ nhanh nhất, ngay hôm sau đã phát cho mọi người dự Hội nghị. Ngày thứ hai sau khi gửi cho cho Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài nhận được bức thứ được in ấn do Văn phòng Trung ương gửi đến, trên có tiêu đề lớn: “Ý kiến của đồng chí Bành Đức Hoài”. Bành Đức Hoài vừa trông thấy, trong lòng chợt lắng xuống, một điềm báo trước chẳng lành thoáng qua trong óc ông. “Hỏng rồi, gặp họa lớn rồi!” Bành Đức Hoài vốn đặt mình nằm là ngáy khò khò nhưng đêm ấy đã mất ngủ, trằn trọc suy nghĩ tìm đối sách. Trong cuộc họp nhóm nhỏ vào ngày hôm sau, Bành Đức Hoài thật thà như đếm đã dùng biện pháp bổ cứu. “Tôi chính thức trình bày rõ”, ông xúc.động nói: “Bức thư này tôi viết vội vã, chưa hoàn toàn nói hết ý, tôi yêu cầu thu lại bức thư này!”. Nhưng Mao Trạch Đông mỉm cười lắc đầu.

Sau khi thư của Bành Đức Hoài được in và phát cho mọi người tham gia Hội nghị, các tổ thảo luận rất sôi nổi, ngay tức khắc trở thành đầu đề trọng tâm của Hội nghị. Có hai loại ý kiến đối với vấn đề này. Phần lớn cho rằng thư của Bành Đức Hoài viết hay, nêu được thực chất của vấn đề, một số người cảm thấy nội dung thư quá khắt khe. Trương Văn Thiên (Lạc Phủ) tán thành ý kiến của Bành Đức Hoài. Trong lời phát biểu ở nhóm Hoa Đông, Trương Văn Thiên một lần nữa đã nói một cách hệ thống ý kiến của mình về đại nhảy vọt, bày tỏ thái độ ủng hộ thư của Bành Đức Hoài một cách rõ ràng. Chu Tiểu Châu ở tổ Trung Nam cũng tỏ thái độ hoàn toàn ủng họ ý kiến của Bành Đức Hoài. Hoàng Khắc Thành vừa đến Lư Sơn vốn không quen với những sự thổi phồng trong đại nhảy vọt cũng tỏ thái độ ủng hộ thư của Bành Đức Hoài.

Kha Khánh Thi, Khang Sinh, Trần Bá Đạt v.v... đều là những người bày mưu tính kế cho đại nhảy vọt, thấy lửa cháy lại đổ thêm dầu. Hội nghị Lư Sơn vừa bắt đầu, họ đều có phần căng thẳng, sợ sẽ bị phê phán. Ngày 17 tháng 7, Mao Trạch Đông đội ngột in phát thư của Bành Đức Hoài, họ lập tức ý thức được rằng Mao Trạch Đông đã bắt đầu phản kích, phút chốc sôi nôi hẳn lên, dẫn đầu phát biểu ý kiến phê phán Bành Đức Hoài trong cuộc họp tổ. Để bày tỏ quyết tâm kiên quyết ủng hộ Mao Trạch Đông của mình, Khang Sinh đã viết riêng cho Mao Trạch Đông một bức thư ngắn, mắng Bành Đức Hoài là từ lâu đã có lòng dạ khác, chống lại Mao Trạch Đông, việc Bành Đức Hoài viết bức thư này ở Lư Sơn quyết không phải là ngẫu nhiên, mũi nhọn của bức thư là trực tiếp chĩa vào Mao Trạch Đông, đề nghị Mao Trạch Đông không thể dung túng cho hành vi chống Đảng, chống Chủ tịch, chống chủ nghĩa xã hội này, phải kiên quyết triển khai cuộc đấu tranh với ông ta v.v…

Trong biệt thự Mỹ Lư, Mao Trạch Đông đọc các biên bản ghi chép của Hội nghị. Tình hình này xuất hiện trong Hội nghị không ngoài dự kiến của ông, nhưng ông tin là mình có thể xoay chuyển được chiều hướng của Hội nghị. Nhớ lại chuyện trước khi đến Lư Sơn, ông đã kiên quyết yêu cầu Bành Đức Hoài đến dự quả thật là rất đúng, nếu không chưa biết là tình hình sẽ còn xảy ra rối loạn lớn đến mức nào.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:53:00 pm

4. Mao Trạch Đông đã khóc: “Tôi không có con trai nối dõi! Tôi không có con trai nối dõi! Không con không cháu...”

Ngày 23 tháng 7, là một ngày nhất định phải được chép vào lịch sử. Đêm hôm ấy, Mao Trạch Đông trằn trọc suy nghĩ về cuộc họp ngày hôm sau, ông đã quyết định phải phát biểu trong Hội nghị toàn thể, đây lại là một lần liều mình quyết định số phận trong cuộc đời chính trị của ông. Sự suy đi tính lại trước khi lâm trận đã làm ông không ngủ được, uống thuốc ngủ do bác sĩ ba lần đưa đến, nhưng vẫn không tài nào chợp mắt được. Trời sắp sáng rõ, ông uống mấy viên thuốc, rửa mặt chải đầu rồi đến hội trường. Trong hội trường im phăng phắc, mọi người dự họp đều lặng lẽ chờ đợi. Mao Trạch Đông thong thả bước lên bàn Chủ tịch uống mấy hớp nước chè, châm một điếu thuốc nhãn hiệu Gấu Mèo, bắt đầu nói chuyện: “Các đồng chí đã phát biểu nhiều rồi, cho phép tôi được phát biểu khoảng một tiếng, có được không? Uống ba lần thuốc ngủ vẫn không ngủ được. Tôi đã xem biên bản, những lời phát biểu, các văn kiện của các đồng chí, đã trao đổi với một số đồng chí, mỗi người có một cái mồm, một là để ăn cơm hai là có nghĩa vụ nói chuyện. Đồng chí ấy muốn nói, ông có biện pháp gì? Hiện nay trong và ngoài Đảng đang tấn công chúng ta từ hai mặt, trong hội nghị ngoài hội nghị cùng kết hợp, có bọn phái hữu ở ngoài Đảng, cũng có những người ấy ở trong Đảng. Tôi khuyên những đồng chí này ở trong Đảng phải chú ý đến vấn đề phương hướng phát biểu, trong lúc khẩn cấp không nên dao động...”

Nói đến đây, Mao Trạch Đông liếc nhìn Bành Đức Hoài. Có rất nhiều người như nhận được hiệu lệnh đều quay đầu nhìn Bành Đức Hoài. Mao Trạch Đông nói với giọng nặng nề xúc động “Tính cuồng nhiệt của giai cấp tiểu tư sản là gì? Bí thư Đảng ủy Công xã Tra Nha Sơn nói với tôi, ba tháng 7, 8, 9 mỗi ngày có ba ngàn người đến tham quan, ba tháng ba mươi vạn người. Nhiệt tình ấy nên đánh giá thế nào? Có phải là tính cuồng nhiệt của giai cấp tiểu tư sản hay không? Theo tôi không thể nói như vậy. Đối với phong trào quần chúng không thể dội nước lạnh, chỉ có thể khuyên bảo... cái không khí cộng sản là không đúng, không thể nói cái của anh là của tôi, rồi lấy đi. Từ xưa đến nay không có cái lệ này, sau một vạn năm nữa cũng không thể lấy như thế, lấy của bọn địa chủ cường hào thì được, vì đó là của bất nghĩa, lấy đi cũng chẳng sao cả. Nhưng cái không khí ấy đã được uốn nắn. Vì sao trong một tháng có thể dẹp được cái không khí ấy? Nó chứng minh Đảng của chúng ta vĩ đại, vẻ vang và đúng đắn”.

“Tất nhiên chỉ có thể ăn từng miếng, thịt cũng chỉ có thể ăn từng miếng, muốn ăn một miếng để béo ngay thì không được. Lâm Bưu một ngày ăn một cân thịt (0,5 kg), cũng vẫn không béo, 10 năm cũng không thể béo ra được. Cái béo của Tổng Tư lệnh (Chu Đức - N.D) và tôi không phải là do bồi dưỡng trong một sớm một chiều. Toàn Đảng đều phải học tập, học một chút về chính trị kinh tế học. Thời Nam Bắc Triều có một vị tướng quân họ Tào, sau khi đánh trận làm một bài thơ. “Lúc xuất quân con cái buồn thương, khi trở về kèn trống vang dậy, hỏi người qua đường, vì sao lại nhanh chóng qua đi nỗi bất bình ấy”. Hộc Luật Quang người thời Bắc Triều không biết một chữ nào mà vẫn hát “Bài ca Sắc Lặc”. “Cái khe Sắc Lặc, dưới núi âm u, trời như vòm cong, trùm lên bốn mặt. Trời xanh biêng biếc, cánh đồng mênh mông, gió thổi cỏ rạp, thấy ngay bò cừu”. Cán bộ công xã không biết chữ thì có thể nói cho họ biết. Trong cuộc họp tổ, Chu Đức đã từng phát biểu rằng nhà ăn có đóng cửa hết cũng chẳng sao, khi nói đến nhà ăn, Mao Trạch Đông nói kháy một câu “Nhà ăn là một điều tốt, không thể coi thường”. Tổng tư lệnh, tôi tán thành ý kiến của đồng chí, nhưng lại có điểm khác với đồng chí. Không phải là không giải tán, nhưng không thể giải tán nhiều, tôi thuộc phái trung gian. Có người phê phán nhà ăn ở một điểm, mà không nói đến những điểm khác. Tống Ngọc nước Sở thời Xuân Thu làm bài “Phú Đăng Đồ Tử hiếu”. Trước mặt Sở Vương, Đăng Đồ Tử công kích Tống Ngọc hiếu sắc thích đẹp. Sau khi Tống Ngọc biết, đã làm một bài phú dâng Sở Vương, nói là hàng xóm ở phía đông có một người đẹp tuyệt thế đã nhìn trộm mình liền trong ba năm, nhưng ông ta không một chút động lòng, còn Đăng Đồ có người vợ gù xấu xí mà đã có với bà ta năm mặt con, rốt cuộc thì ai hiếu sắc? Những người chê bai nhà ăn chính là đã dùng cách của bài “Phú Đăng Đồ Tử hiếu sắc”... Bành Đức Hoài có một bức thư nói là việc luyện gang thép rộng rãi có cái mất có cái được, đồng chí ấy đã đặt chữ “được” ở cuối cùng và vội vã chống lại nhân lúc Đảng ta khó khăn bị trong và ngoài nước công kích, đã tiến công vào Đảng, mưu đồ cướp đoạt Đảng, thành lập Đảng cơ hội của đồng chí ấy!”

Mọi người nghe đến đây, ai cũng sợ run. Chu Đức cười gượng. Bây giờ mọi người mới hiểu... hóa ra một cơn bão táp đang ập đến Lư Sơn. Bành Đức Hoài không ngờ được rằng bức thư của mình viết cho Mao Trạch Đông lại trở thành tiến công vào Đảng, phút chốc máu trong người bốc lên cả đầu. Chưa đợi ông nổi cơn giận, Mao Trạch Đông khoát tay ra hiệu, nói một cách tình cảm: “Các đồng chí, năm 1958, 1959, trách nhiệm chủ yếu là ở tôi, các đồng chí nên trách mắng tôi. Quyền phát minh luyện gang thép rộng rãi là Kha Khánh Thi hay là tôi? Tôi xin nói rằng trách nhiệm đầu tiên là tôi. Đồng chí Kha Khánh Thi, quyền phát minh của đồng chí ấy, đồng chí có trách nhiệm hay không?” Kha Khánh Thi lớn tiếng đáp: “Có!” Mao Thạch Đông gật gật đầu: “Đó là hình thái ý thức của đồng chí. Tôi là người tạo nên 10 triệu 70 vạn tấn thép với mấy chục triệu người ra quân, được chẳng bõ mất, gây nên sự rối loạn lớn, tự mình phải chịu trách nhiệm. Ngay từ đầu là hình nộm thì phải tuyệt tự ư? Tôi đã tuyệt tự! Một đứa con trai đã chết, một đứa con trai thì điên. Tôi đã tuyệt tự! Tôi đã tuyệt tự! Không con không cháu...”

Mao Trạch Đông nói đến đây, giọng nghẹn ngào, bờ mi ngấn lệ tay run run. Cả hội thương im phắc, có người không cầm lòng được, thở dài, rất nhiều người bắt đầu oán trách Bành Đức Hoài vì ông mà Chủ tịch phải tức giận như vậy.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:53:51 pm

5. Lâm Bưu đột ngột đứng dậy

“Bành Đức Hoài, ông luôn luôn không trung thành với Mao Chủ tịch, không thực tâm!” Lâm Bưu đột ngột đứng dậy dùng ngón tay chỉ vào mặt Bành Đức Hoài, lớn tiếng quát mắng: “Trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông đã làm trái chỉ thị của Mao Chủ tịch, độc đoán chuyên quyền tự mình chủ trương làm một cuộc đại chiến! Trong mắt ông có còn địa vị của Mao Chủ tịch nữa không?” Ông ta tự hỏi và tự trả lời? “Không! Ông hoàn toàn coi thường Mao Chủ tịch. Ông tự cho rằng bản thân ông đã trải qua nhiều thử thách, đã giành lại giang sơn, lập được công lớn, ta đây là người đứng đầu trong thiên hạ. Chẳng nghe lời ai, ông không thành tâm làm cách mạng mà đến để “góp cổ phần”, trong đầu ông đều là tư tưởng quân phiệt cũ. Tư tưởng tự coi mình là anh cả của ông không chỉ biểu hiện ở trong nước, để ông đem quân ra nước ngoài chiến đấu, ông lại biểu hiện tư tưởng nước lớn, không tôn trọng các đồng chí Triều Tiên. Ông là nhân vật kiểu Ngụy Diên trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, sau gáy ông mọc cái xương ngược, bình thường ông làm ra vẻ chính nhân quân tử đạo mạo trang nghiêm, gian khổ giản dị, không làm ra vẻ ta đây, bình dị dễ gần, tất cả những cái đó đều là giả, đến giờ phút then chốt, cái xương mọc ngược của ông đã lộ ra. Đường lối chung, đại nhảy vọt, công xã nhân dân do Mao Chủ tịch đích thân đề ra, đó là sáng kiến vĩ đại chưa từng có từ khi có loài người đến nay. Công xã nhân dân là chiếc cầu bằng vàng để bước vào chủ nghĩa cộng sản rất tài tình. Ông hãy mở to mắt mà nhìn, trên thế giới có nước nào sản lượng gang thép trong một năm tăng lên gấp đôi, sản lượng lương thực trong một năm cũng tăng gấp bội?”

Lâm Bưu nhìn quanh hội trường rồi nói tiếp: “Không, đây là kỳ tích mà cổ kim trong ngoài chưa từng có, chỉ có dưới sự lãnh đạo của Mao Chủ tịch mới thực hiện được! Nhưng đối với những kỳ tích cổ vũ lòng người như thế ông trợn trừng trợn trạo tìm đủ mọi cách làm khó dễ, xoi mói công kích một lỗi nhỏ, phớt lờ những chỗ tốt, công kích đại nhảy vọt, công xã nhân dân và đường lối chung chẳng có chỗ nào đúng, chỉ là một mớ hỗn độn, lẽ nào Mao Chủ tịch và Trung ương Đảng lại sai, chỉ có một mình Bành Đức Hoài là đúng, ông đã quá thiếu cái thông minh tự biết mình đấy!” Ông ta càng nói càng xúc động, “Bành Đức Hoài, ông thì biết cái cóc khô gì, ông hiểu chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông là gì không?” Ông ta dùng ánh mắt sắc như dao hậm hực nhìn Bành Đức Hoài nói mỉa, “Ông là kẻ ngào bột nhóm bếp cũng chẳng biết, ông giống như Thân Công Báo trong “Phong thần diễn nghĩa”, mắt mọc ở sau gáy, người ta coi là việc tốt, thì ông lại coi là việc xấu, người ta coi là việc xấu thì ông lại coi là việc tốt. Trong mắt ông, mọi thứ đều lộn ngược. Nhân dân Trung Quốc, không nhân dân toàn thế giới đều coi Mao Chủ tịch là nhà mác-xít vĩ đại nhất hiện nay. Người đã lãnh đạo chúng ta giành lại giang sơn, giành được thắng lợi của cuộc cách mạng. Sau khi dựng nước, cũng chính là do Mao Chủ tịch đích thân lãnh đạo mà đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong lĩnh vực chính trị, lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực tư tưởng. Đó là điều ai cũng biết. Nhưng ông đã nhảy lên chống lại Mao Chủ tịch, chống lại ba phương châm: đại nhảy vọt, công xã nhân dân và đường lối chung do Mao Chủ tịch đề ra, rốt cuộc thì ông muốn làm gì?” Lâm Bưu cao giọng: “Có phải là ông muốn đuổi Mao Chủ tịch đi để ông lên cầm quyền không, ông quá không biết điều. Để một kẻ trong đầu đầy tư tưởng cũ rích như ông lên cầm quyền thì Trung Quốc chỉ có thể lùi vào xã hội cũ, nhân dân Trung Quốc còn phải chịu bao nhiêu kiếp nạn...

Trong toàn bộ quá trình phê phán Bành Đức Hoài, Lâm Bưu có giọng điệu cao nhất. Lúc ấy có không ít người giữ thái độ do dự chờ xem, hoặc tư tưởng không thông, hoặc không bày tỏ thái độ. Riêng Lâm Bưu đã thay đổi quan hệ với Bành Đức Hoài trước đây, ra sức quy tội cho Bành Đức Hoài.

Từ hôm ấy, chiều gió trong Hội nghị Lư Sơn bỗng nhiên thay đổi, từ chống “tả” chuyển hoàn toàn sang chống hữu. Tối hôm ấy, một số cán bộ quân đội lần lượt đến thăm Bành Đức Hoài, có người lặng lẽ bắt tay ông, có người khuyên ông nên nhìn thoáng một chút. Sau khi những người này đi thì Trương Văn Thiên lại đến, hai người như có rất nhiều điều muốn nói, nhưng bây giờ không nói ra được. Ngồi một lúc, Trương Văn Thiên thở dài rồi đứng dậy ra về. Bành Đức Hoài buồn bã ngồi trong phòng hồi lâu, quả thực không hiểu được vì sao Mao Trạch Đông lại nổi nóng ghê gớm như thế đối với bức thư của mình. Thư viết cho Mao Trạch Đông vào ngày 14 tháng 7, thì đến ngày 16 tháng 7 Văn phòng Trung ương đã in phát cho mọi người dự Hội nghị. Đến ngày 22 tháng 7, các tổ tiến hành thảo luận bức thư trong 6 ngày, ngoài một đồng chí trên cơ bản không đồng ý ra, những đồng chí còn lại đều phát biểu đồng ý với bức thư đó.

Bành Đức Hoài lại nghĩ, mình viết bức thư này vì cảm thấy có một số điều không tiện nói ra trong cuộc họp tổ, muốn gặp Chủ tịch để trao đổi. Nhưng lần nào đến, Chủ tịch cũng đều ngủ, nên mới nghĩ đến việc viết thư cho Chủ tịch, để ông tham khảo, sao Chủ tịch lại nêu vấn đề nghiêm trọng như vậy, hơn nữa lại còn nhắc lại những chuyện cũ trước đây. Bành Đức Hoài lo lắng, như vậy vấn đề không những không được giải quyết, hơn nữa do chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh nên vấn đề nóng vội làm bừa “tả” khuynh vốn có sẽ còn phát triển, sẽ dẫn đến tỷ lệ không cân đối càng thêm nghiêm trọng, thậm chí sẽ dẫn đến tình trạng trong và ngoài nước hỗn loạn làm cho mức sống của nhân dân hạ thấp.

Đêm hôm ấy, Bành Đức Hoài không sao chợp mắt được. Hôm sau, ông dùng nước lạnh vã vào mặt, rồi đi ra khỏi phòng, đúng lúc mấy vị tướng lĩnh cũ... cũng đi về phía ông. Mấy người đứng ngoài cửa bàn chuyện hội nghị. Bành Đức Hoài ấm ức nói: “Không ngờ Chủ tịch lại giở những chuyện cũ ra, chụp mọi thứ mũ nào là Hội nghị Hội Lý, cuộc đại chiến Bách Đoàn, là kẻ có dã tâm, kẻ phản đảng. Còn nói nếu giải phóng quân các anh đi theo Bành Đức Hoài thì tôi sẽ lên Tỉnh Cương Sơn đánh du kích. Có nghiêm trọng như thế không? Đấy là gán ép cho người ta. Các vị tướng lĩnh cũ gật đầu đồng tình, nhắc nhở Bành Đức Hoài: “Chủ tịch nói những điều ấy không phải là tùy tiện đâu, đồng chí phải tỏ thái độ mới đúng!” Bành Đức Hoài tỏ ra không chịu khuất phục: “Tôi chẳng có gì phải nghĩ cả. Tôi không có âm mưu, đồng chí bảo tôi nói gì?” Một vị nguyên soái nói: “Đồng chí chú ý đến toàn cục, nhẫn chịu một chút, viết một bài phát biểu đi”. Bành Đức Hoài lắc đầu, trả lời chắc nịch: “Không viết, không viết”. Mọi người buồn bã giải tán.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:54:31 pm

6. Đồng chí chửi tôi 40 ngày, còn tôi chửi đồng chí 20 ngày không được ư?

Sau khi Bành Đức Hoài về phòng, ngẫm nghĩ, dù sao Chủ tịch cũng đã nói rồi, mắng cũng đã mắng rồi và cơn giận cũng đã nguôi rồi, có thể hội nghị sắp kết thúc, liền bảo nhân viên đi theo thu dọn đồ đạc, chuẩn bị về. Không ngờ Văn phòng Trung ương gọi điện đến thông báo là Hội nghị sẽ kéo dài. Bây giờ Bành Đức Hoài mới vỡ lẽ, chuyện không đơn giản như thế, xem ra lần này mình không qua nổi rồi. Ông ngồi phịch xuống mép giường, lo trước nghĩ sau, nhưng vẫn không rõ. Đó chẳng phải là bức thư gửi riêng cho nhau ư? Vì sao Mao Trạch Đông lại có thể tức giận đến như thế, nói ra những lời nào là “đấu tranh đường lối”, nào là “giải phóng quân không đi theo tôi thì tôi sẽ lên núi đánh du kích”. Mình và Mao Trạch Đông đã kết bạn chiến đấu từ thời kỳ Tỉnh Cương Sơn, lẽ nào ông ấy lại quên câu thơ: “Kẻ nào dám vung gươm thúc ngựa; Ta đây đã có đại tướng Bành” rồi hay sao? Ông muốn tìm người để tâm sự, nhưng biết tìm ai bây giờ.

Đang ngâm nghĩ thì Mao Trạch Đông cho người đến đón Bành Đức Hoài tới biệt thự Mỹ Lư để nói chuyện. Bành Đức Hoài mừng thầm cuối cùng đã có dịp nói chuyện trực tiếp với Mao Trạch Đông, có thể có dịp giải thích trực tiếp với Chủ tịch. Chỉ còn giải thích rõ chuyện này với Chủ tịch thì sự việc sẽ chẳng dễ dàng hay sao? Bành Đức Hoài lập tức đứng dậy đi theo thư ký một cách vui vẻ đến biệt thự Mỹ Lư.

Bước vào phòng khách, Bành Đức Hoài chợt thấy lòng trĩu nặng, khi thấy cả Ban Thường vụ đều có mặt: Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức còn có Lâm Bưu vừa mới tới Lư Sơn. Chiếc xa-lông đối diện với Mao Trạch Đông để trống, xem ra ghế ấy là dành cho mình. Hóa ra không phải là Chủ tịch tìm mình để nói chuyện, mà là Ban Thường vụ triệu tập hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị vì mình. Ông bỗng hiểu ra, đây là do Chủ tịch thấy mình không chịu kiểm thảo nên họp Thường vụ để phê phán. Việc đã đến thế này, Bành Đức Hoài đành ngồi xuống, nghe mọi người phê bình mình. Ông lấy bao thuốc Trung Hoa, rút một điếu châm lửa, lập tức bị ho sặc sụa.

Mao Trạch Đông biết Bành Đức Hoài chưa bao giờ hút thuốc, thấy vậy rất ngạc nhiên, vội đưa thuốc Gấu Mèo của mình cho Bành Đức Hoài, nói với vẻ quan tâm: “Anh hút thuốc lúc nào vậy? Hút thuốc của tôi đây này, loại thuốc này không bị sặc”. Tiếp đó Mao Trạch Đông nói nửa như trách móc nửa như quan tâm: “Anh Bành ạ, có điều gì đừng nên để bụng, như thế sẽ không tốt cho sức khỏe. Anh xem anh là một người theo chủ nghĩa không hút thuốc vậy mà bây giờ lại hút thuốc rồi sao. Cái ý kiến “có mất có được”, được không bõ mất của anh sao không nêu ra trong hội nghị? Cũng có thể gặp tôi trao đổi. Sao không nói một lời nào lại tấn công bất ngờ, gửi cho tôi bức chiến thư?”

Mao Trạch Đông cười nhạt, rít một hơi thuốc. Lâm Bưu tiếp lời tấn công ngay Bành Đức Hoài: “Đồng chí Bành Đức Hoài, cách đây không lâu đồng chí đi thăm Liên Xô trở về. Ở Liên Xô đồng chí rất thân thiết với Khơ-rút-sốp có phải là đã đáp ứng điều kiện gì đó của ông ta rồi phải không? Lần này nổi lên ở Lư Sơn có phải là sự phối hợp mật thiết với Khơ-rút-sốp không?

Bành Đức Hoài nghe Lâm Bưu gán tội cho mình, tức giận phất tay bác lại: “Nói bậy, đó là đồng chí vu cáo. Tôi không biết một tiếng nước ngoài nào tôi nói gì đều phải qua phiên dịch, các đồng chí có thể gặp phiên dịch để điều tra”. Lâm Bưu cười nham hiểm lạnh lùng: “Cao Cương cũng không nói được một tiếng nước ngoài nào, vẫn có thể thông đồng với nước ngoài, đưa tin tình báo cho Liên Xô. Đồng chí và Cao Cương thân thiết như vậy, lẽ nào đồng chí lại không làm được việc ấy? Đồng chí cho quân đội Trung Quốc đội mũ ca lô của quân đội Liên Xô, đồng chí muốn giao quân đội cho Khơ-rút-sốp!” Bành Đức Hoài tức giận, đứng bật dậy, chỉ vào mặt Lâm Bưu mắng: “Đồ đê tiện!”

Mao Trạch Đông lập tức phẩy tay, ra lệnh cho Bành Đức Hoài ngồi xuống, phê phán một cách gay gắt: “Anh Bành, tôi biết trong lòng anh đang bốc lửa. Từ Tỉnh Cương Sơn đến nay, đối với tôi anh chỉ hợp tác với tôi ba phần còn bảy phần không hợp tác. Anh luôn không phục Hội nghị Diên An Hoa Bắc, lần này ở Lư Sơn lại nổi giận. Giỏi thật, dễ muốn làm nổ tung Lư Sơn chắc!” Bành Đức Hoài không phục, biện bạch: “Sao tôi lại muốn làm nổ tung Lư Sơn? Lần này đến họp ở Lư Sơn, tôi vẫn nghĩ đến việc dẹp bọn phiến loạn ở Tây Tạng, không muốn đến, do Chủ tịch ra lệnh cho tôi phải đến. Tôi viết thư cũng chỉ là để Chủ tịch tham khảo, không có một chút ác ý gì cả!” Mao Trạch Đông vung tay: “Hiểu rồi, hiểu rồi, anh thì xưa nay vẫn thế. Anh chửi từ Hội nghị Trịnh Châu đến Hội nghị Bắc Kinh, ở Lư Sơn anh lại chửi 20 ngày, anh còn muốn gì?” Bành Đức Hoài thấy Mao Trạch Đông hoàn toàn không nghe lời giải thích của mình, lại nhắc đến chuyện ở Hội nghị Diên An Hoa Bắc, không nhịn được tức giận đứng bật dậy quát lên: “Ở Diên An ông chửi tôi 40 ngày vậy tôi chửi ông 20 ngày không được ư?” Các vị ủy viên thường vụ người nào cũng sửng sốt sợ hãi. Lưu Thiếu Kỳ tức giận nói: “Không còn thể thống gì nữa”. Chu Ân Lai nghiêm khắc ra lệnh cho Bành Đức Hoài ngồi xuống. Mao Trạch Đông lặng lẽ nhìn Bành Đức Hoài bằng đôi mắt nửa ngủ nửa thức, giận dữ dụi tắt điếu thuốc lá mới hút một nửa vào chiếc gạt tàn.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:09:08 pm

7. “Ai tin được những người như chúng ta đã mấy chục năm ăn chung một nồi”

Sau khi hội nghị kết thúc, Bành Đức Hoài uể oải đi về phòng của mình. Mấy vị tướng cũ vội đến thăm ông. Một vị nói: “Anh Bành, sao anh lại có thể mắng Chủ tịch? Trời ạ anh quá hung dữ. Chủ tịch còn khoẻ mạnh anh đã như vậy. Đến khi Chủ tịch qua đời thì còn ai quản lý được anh. Anh phải kiểm thảo cho tốt, nhận rõ sai lầm!” Bành Đức Hoài hiểu ra, mình không kiểm thảo thì Hội nghị Lư Sơn sẽ không thể kết thúc, mọi người sẽ cùng ở lại Lư Sơn, chuyện lớn của đất nước sẽ ra sao? Vì đại cục, ông đành nuốt nước mắt viết bản kiểm thảo.

Mao Trạch Đông biết Bành Đức Hoài không phục, để đập tan tinh thần chống đối của ông, ngày 1 tháng 8, Mao Trạch Đông lại triệu tập họp Thường vụ Bộ Chính trị để phê phán Bành Đức Hoài, một số ủy viên Bộ Chính trị cũng được lệnh tham gia hội nghị. Hoàng Khắc Thành, Chu Tiểu Châu, Chu Huệ, Lý Nhuệ v.v… những người có liên quan tới Bành Đức Hoài cũng được thông báo đến dự thính. Hội nghị lần này không nhẹ nhàng như lần trước. Mao Trạch Đông vừa tuyên bố khai mạc, Lâm Bưu đã tranh phát biểu, chỉ vào mặt Bành Đức Hoài mắng: “Lần này Bành Đức Hoài chống đối ở Lư Sơn, hoàn toàn là có tổ chức, có cương lĩnh, có dự mưu để tiến công vào Đảng, Bành Đức Hoài ông là một kẻ có dã tâm, kẻ có âm mưu, một tên ngụy quân tử, là nhân vật kiểu Phùng Ngọc Tường. Sau gáy của Ngụy Diên đại tướng của nước Thục thời Tam Quốc có cái xương mọc ngược luôn muốn làm phản, Gia Cát Lượng biết hắn sau này tất sẽ làm phản nên đã dùng mưu kế giết hắn. Bành Đức Hoài cũng có cái xương mọc ngược ở sau gáy. May có Chủ tịch sáng suốt, kịp thời nhìn rõ quỷ kế của ông... Ở Trung Quốc chỉ có Mao Chủ tịch là anh hùng, đừng có ai hòng làm anh hùng”.

Thấy mọi người nói đã khá nhiều Mao Trạch Đông lại nói, ông kể những chuyện Quân đoàn 3 đánh Trường Sa từ mấy chục năm trước đến sự kiện Cao Cương, Nhiêu Thấu Thạch, từ những lộn xộn trên thế giới đến Hội nghị Lư Sơn, Mao Trạch Đông khéo léo gắn cuộc đấu tranh đường lối trong lịch sử nội bộ Đảng với Bành Đức Hoài. Những sự việc này, các ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị đều đã từng trải qua, nhưng khi Mao Trạch Đông kể lại thì hình như Bành Đức Hoài chỗ nào cũng sai.

Lúc này, Trung ương quyết định triệu tập Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa 8, một số ủy viên Trung ương không có mặt ở Lư Sơn được triệu tập khẩn cấp đến Lư Sơn. Ngày 2 tháng 8, Hội nghị toàn thể khai mạc, Mao Trạch Đông phát biểu trước tiên: “Khi mới lên Lư Sơn, tôi chuẩn bị để chịu sự mắng mỏ. Chửi từ Hội nghị Trịnh Châu cho đến Hội nghị Lư Sơn, tôi đã nghe đến mức tai có tổ kén rồi. Tôi đã kiểm thảo từ Hội nghị Trịnh Châu cho đến Lư Sơn, không biết đã kiểm thảo bao nhiêu lần. Ai ngờ có người còn thấy chưa đã, muốn làm nổ tan Lư Sơn, phủ định toàn diện đường lối chung, phủ định chế độ xã hội chủ nghĩa, muốn chia rẽ Đảng ta. Chúng tôi vừa kiểm tra, té ra những người này đã kết bè với nhau đã thành lập một câu lạc bộ quân sự, đứng đầu chính là Bành Đức Hoài, còn có Trương Văn Thiên, Chu Tiểu Châu, Hoàng Khắc Thành. Bành Đức Hoài xưa nay không hợp tác với tôi, các lần sai lầm về đường lối trước đây đồng chí ấy đều có phần trách nhiệm. Bây giờ đồng chí ấy công nhiên chống lại, tiến công vào Đảng, vấn đề này bây giờ phải được giải quyết. Bây giờ không phải là vấn đề chống tả, mà là phải chống hữu”.

“Sai lầm của Bành Đức Hoài lâu nay tôi đã nhận ra. Để giáo dục đồng chí ấy chúng ta đã cố gắng hết mức. Để đồng chí ấy có thể yên tâm công tác trong lãnh đạo Quân ủy, tôi cấp lương chuyển ngành cho Lâm Bưu và các vị nguyên soái khác. Nếu giải phóng quân không đi cùng tôi, đi với Bành Đức Hoài thì tôi sẽ lên rừng đánh du kích. Tôi nghĩ là giải phóng quân sẽ đi theo tôi”.

Phát biểu của Mao Trạch Đông đã định hướng cho hội nghị. Sau khi Bành Đức Hoài kiểm thảo, Hội nghị lập tức chia tổ thảo luận, Kha Khánh Thi, Trần Bá Đạt, Khang Sinh đều được phân về tổ của Bành Đức Hoài. Bành Đức Hoài, Chu Tiểu Châu, Hoàng Khắc Thành, Trương Văn Thiên đều bị các tổ lần lượt gọi đến để trả lời các vấn đề, yêu cầu họ phải trả lời về những hoạt động và mục đích vào trước và sau Hội nghị Lư Sơn. Các chuyện cũ đều được giở ra, có người thậm chí còn gợi lại cái chết của Mao Ngạn Anh, bảo rằng đó là một âm mưu của Bành Đức Hoài chống lại sự lãnh đạo của Đảng.

Đương nhiên, sự phê phán gay gắt nhất vẫn là ở tổ Bành Đức Hoài. Tổ trưởng tổ này là Chu Đức. Sau khi Hội nghị bắt đầu, Kha Khánh Thi tranh “nổ súng trước”: “Bành Đức Hoài nói “tính cuồng nhiệt của giai cấp tiểu tư sản”, là ngấm ngầm công kích Mao Chủ tịch, muốn thay đổi sự lãnh đạo của Đảng, muốn hạ bệ Mao Chủ tịch và Lưu Chủ tịch để ông ta lên nắm quyền”.

Khang Sinh tiếp lời: “Bành Đức Hoài, chân tướng của ông là nhân vật kiểu Ngụy Diên, sau gáy ông mọc một cái xương ngược, ông là một kẻ có dã tâm trăm phần trăm”.

Rồi đến lượt Trần Bá Đạt lẩm bẩm một hồi mọi người không hiểu rõ lắm về những câu phương ngôn Phúc Kiến của ông ta, nhưng đại ý thì đã rõ ràng, chính là mắng Bành Đức Hoài chống Mao Chủ tịch, chống lại việc hô “Mao Chủ tịch muôn năm”, chống lại việc hát bài “Đông phương hồng”.

Có lúc Bành Đức Hoài muốn biện giải cho mình, nhưng cứ mỗi lần ông định nói thì Lâm Bưu, Khang Sinh, Kha Khánh Thi, Trần Bá Đạt cùng ào lên quát tháo mắng ông là “không thành thật, có xương mọc ngược (có tư tưởng chống đối) là Phùng Ngọc Tường”. Chu Đức thấy họ thô bạo không phân rõ phải trái đúng sai, bất giác nổi nóng, đập bàn quát: “Không được phép như thế! Tác phong gì vậy! Về kiểm thảo của đồng chí Bành Đức Hoài tôi cho là đúng trọng tâm. Có điều, anh Bành ạ, anh có viết thư thì cũng nên bàn với chúng tôi một chút, vì sao không nói một lời nào, chỉ đơn thương độc mã mà làm”.

Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ lặng lẽ đến phòng họp, đúng lúc nghe thấy lời phát biểu của Chu Đức, Mao Trạch Đông liền châm biếm: “Tôi thấy có một số đồng chí đã già rồi, đầu óc đã mơ hồ, nói năng không đâu vào đâu, lộn xộn, gãi ngứa ngoài giày”. Chu Đức cười gượng, chợt nhớ đến những năm tháng chiến tranh. Thời kỳ ở Tỉnh Cương Sơn, thời kỳ chống Nhật, sao Mao Trạch Đông có thể không chút nể nang châm biếm mình trước mặt mọi người như vậy? Thay đổi rồi, quan hệ chiến hữu trước đây bây giờ đã thành quan hệ quân thần.

Không đợi Bành Đức Hoài trình bày, Mao Trạch Đông lại kể lể những vấn đề lịch sử của Bành Đức Hoài, Bành Đức Hoài không chịu, lớn tiếng biện bạch, Lâm Bưu và một số người lại cãi nhau với Bành Đức Hoài. Hội trường trở thành một nồi cháo. Chu Đức đau khổ vung hai tay: “Ai tin được những người chúng ta ở đây đã từng mấy chục năm ăn chung một nồi cơm?”

Ngày 16 tháng 8 năm 1959, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa 8 họp phiên cuối cùng đã thông qua nghị quyết của Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa 8 về sai lầm của tập đoàn chống Đảng do đồng chí Bành Đức Hoài cầm đầu và một số văn kiện khác, bãi bỏ chức Phó Thủ tướng chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Bành Đức Hoài, bãi bỏ chức Bí thư Trung ương Đảng và Tổng Tham mưu trưởng của Hoàng Khắc Thành, chức Thứ trưởng Ngoại giao của Trương Văn Thiên, chức Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hồ Nam của Chu Tiểu Châu, bảo lưu các chức vụ Ủy viên Trung ương, Ủy viên Dự khuyết Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị của họ, đợi xem kết quả sau này.

Đại cục đã định, mọi người nhộn nhịp thu xếp hành lý chuẩn bị ra về. Các vệ sĩ của Mao Trạch Đông cũng bắt đầu thu dọn đồ đạc. Đúng lúc này Bành Đức Hoài đến tìm Mao Trạch Đông, ông muốn nói chuyện với Mao Trạch Đông. Các vệ sĩ đã nghe được chuyện xảy ra ở Lư Sơn, nên ngăn Bành Đức Hoài ở bên ngoài, rồi vào thỉnh thị Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông nghe nói Bành Đức Hoài đến gặp, trầm ngâm một lúc rồi nói: “Được, để ông ta vào!”.

Bành Đức Hoài được vệ sĩ đưa vào. Mao Trạch Đông ngồi trên xa-lông, chỉ lạnh lùng nói một tiếng: “Ngồi xuống!” Bành Đức Hoài thấy trên xa-lông để đầy đồ đạc, đành phải ngồi trên một chiếc ghế tựa. Mao Trạch Đông châm một điếu thuốc Gấu Mèo, hút một hơi, sau đó hỏi: “Có điều gì muốn nói ư? Vậy thì nói nhanh lên!”. Bành Đức Hoài nghiêm sắc mặt nói: “Tôi muốn nêu một yêu cầu, bây giờ tôi không thể làm việc cho Đảng nữa, cũng không nên ăn không. Tôi xin Trung ương phê chuẩn cho tôi đến Diên An hoặc Hồ Nam làm một nông dân làm ruộng cấy trồng cũng còn có thể làm thêm cho đất nước một ít lương thực!”. Mao Trạch Đông phẩy tay: “Thôi đi, xem ra anh vẫn chưa phục. Nếu anh cho là đúng thì không nên kiểm thảo, kiểm thảo cái gì nhỉ?” Bành Đức Hoài không có lời nào đáp lại, đành buồn rầu cáo từ. Mao Trạch Đông cũng không đứng dậy tiễn.

Bành Đức Hoài đi rồi, các vệ sĩ vào phòng thu dọn ấm chén. Mao Trạch Đông hỏi vệ sĩ: “Đồng chí có biết Bành Đức Hoài vốn có tên gọi là gì không?”. Vệ sĩ lắc đầu. Mao Trạch Đông nói với anh ta: “Gọi là Bành Đắc Hoa, muốn được Trung Hoa!”. Vệ sĩ giật nảy người, thầm nghĩ Bành Đức Hoài quả là người có dã tâm nên ngay đến cái tên cũng dã tâm.

Một lúc sau, Điền Gia Anh đến chỗ Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông nói một cách độ lượng: “Được rồi, hãy rút ra bài học. Sau này đừng nên hễ đầu óc nóng lên là chạy theo người ta. Sau này anh vẫn là thư ký của tôi, hãy cố gắng làm việc”. Từ đó Điền Gia Anh không được trọng dụng nữa.

Mấy ngày vất vả, Mao Trạch Đông có phần mệt mỏi, nhìn vệ sĩ thu dọn hành lý, chợt nghĩ đến việc cần làm. Ông cầm điện thoại thông báo cho Văn phòng Trung ương, ra lệnh trong điện thoại: “Thông báo cho văn phòng Quân ủy, ngày kia sẽ họp Hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng. Phải, Bành Đức Hoài xuống máy bay, sẽ đưa ngay ông ta đến dự họp tiếp tục nghe phê phán!”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:10:35 pm

8. Sau Khơ-rút-sốp là Bành Đức Hoài

Sau khi Hội nghị Lư Sơn kết thúc, Bành Đức Hoài bị  bãi quan. Mao Trạch Đông đích thân đề nghị bổ nhiệm Lâm Bưu làm Bộ trưởng Quốc phòng.

Lâm Bưu vốn là một Tư lệnh quân khu nhảy một bước lên làm thống soái ba quân lục, hải, không quân của cả nước, len được vào hàng ngũ yếu nhân của Đảng và Nhà nước.

Thực ra đối với chuyện Bành Đức Hoài, việc xử lý như vậy của Mao Trạch Đông còn có những nguyên nhân đằng sau phức tạp hơn nhiều.

Tháng 7 năm 1959, Mao Trạch Đông uống một hớp chè Long Tỉnh, ánh mắt lướt qua đống tài liệu gồm báo cáo sơ lược tổng hợp tư liệu các tập “Động thái”, “Tình hình”, chậm rãi đến trước cửa sổ. Dưới núi nóng bức đột ngột, còn trên núi là một thế giới mát mẻ. Gió nhẹ thổi vào cửa sổ làm người ta thấy thoải mái dễ chịu, còn đem đến hương vị cỏ cây ngào ngạt. Lồng ngực Mao Trạch Đông phập phồng, bỗng ông bật ra một câu: “Sau Khơ-rút-sốp là Bành Đức Hoài...”.

Đây là lần đầu tiên, Mao Trạch Đông nói ra câu ấy, sau đó trong hội nghị hoặc ngoài hội nghị lại nhắc lại mấy lần, lời thì ngắn ngủi nhưng bao hàm nhiều ý, phản ánh toàn bộ sự suy nghĩ và ý kiến của ông.

Nguyên nhân mở đầu của suy nghĩ là bức “Vạn ngôn thư” của Bành Đức Hoài, nhưng chỗ đứng của sự suy nghĩ lại hoàn toàn không phải là bức “Vạn ngôn thư” ấy.

Vị trí mà Mao Trạch Đông đứng, sự suy nghĩ quyết không thể giản đơn như Bành Đức Hoài; trách nhiệm mà ông gánh vác cũng không cho phép ông giản đơn như Bành Đức Hoài. Ở Lư Sơn, Bành Đức Hoài là anh hùng. Mao Trạch Đông cũng là anh hùng. Ý kiến đó không hề tự mâu thuẫn mà nó nói lên tính phức tạp của sự vật, đã không thể giản đơn lấy thắng bại để luận anh hùng thì làm sao lại có thể lấy đúng sai luận thị phi một cách giản đơn được.

Mao Trạch Đông xem qua bức “Vạn ngôn thư” của Bành Đức Hoài, đã dụi tắt điếu thuốc trong cái gạt tàn, cười gượng: “Tất cả những cái mà Bành Đức Hoài đưa cho mình xem đều là tài liệu tiêu cực, đưa tất cả tài liệu tiêu cực cho mình”. Ông dừng lại thận trọng lấy một điếu thuốc lá đưa lên miệng nói tiếp: “Tài liệu mà Bành Chân, Vương Nhiệm Trọng, Đào Chú, Kha Khánh Thi đưa là tài liệu tích cực”. Sau khi hút cháy điếu thuốc, ông còn nói thêm hai câu: “Người này dám nói thật”. “Dễ đắc tội với người khác”.

Nếu không phải là một con mọt sách thì ai cũng có thể hiểu được một đạo lý cơ bản như thế này: Lời nói thật chưa chắc đã là lời nói đúng. Tiêu chuẩn của sự đúng sai không chỉ giản đơn là lời nói thật hay lời nói giả, mà còn có liên quan đến thời cơ và tình thế, càng có liên quan đến lợi ích căn bản của đất nước và dân tộc. Cùng một lời nói thật, nói sau 10 năm có thể là đúng, nói trước 10 năm có thể là “sai”, sai là ở chỗ không có lợi cho đại cục.

Mao Trạch Đông thừa nhận Bành Đức Hoài nói thật, đồng thời cũng nhạy cảm nhận ra hai vấn đề khác. Một là vào năm 1958, tại Bắc Kinh Khơ-rút-sốp đã trực diện châm biếm “đại nhảy vọt” của Trung Quốc là “tính cuồng nhiệt của giai cấp tiểu tư sản”, trong bức “vạn ngôn thư”, Bành Đức Hoài cũng dùng quan điểm này. Hai là “phái xúc tiến” đã nhắc nhở Mao Trạch Đông chú ý đến tâm trạng “oán trách” trong thư sẽ lan rộng ra, sẽ làm “rối loạn tư tưởng”, “nhụt chí khí”, sáu trăm triệu người mà nhụt chí khí thì quả là ghê gớm.

Tất nhiên Mao Trạch Đông hiểu được cái đạo lý trong thời kỳ bất thường (hoặc gọi là thời kỳ khó khăn) chỉ có thể cổ vũ khí thế chứ không thể làm nhụt đi. Ông bình tĩnh, cần nhìn thấy “một khuynh hướng khác” rốt cuộc nó nghiêm trọng đến mức nào?

Sáng ngày 17 tháng 7, mọi người tham dự Hội nghị Lư Sơn đều đã cầm trong tay văn kiện được đặt tên là “ý kiến của đồng chí Bành Đức Hoài”. Ngày hôm sau, Chu Tiểu Châu phát biểu ý kiến ủng hộ Bành Đức Hoài. Đồng thời Khơ-rút-sốp cũng phát biểu phê phán và chống “công xã nhân dân”, “đại nhảy vọi”' của Trung Quốc ở Ba Lan.

Ngày 20 tháng 7, Trương Văn Thiên phát biểu ủng hộ Bành Đức Hoài. Ngày hôm sau, Liên Xô và Ba Lan thông qua môi giới thông tấn công khai phê phán và chống “công xã nhân dân”, “đại nhảy vọt”, bắt đầu cuộc tranh luận về hình thái ý thức giữa Trung Quốc và Liên Xô. Thông tấn xã Trung ương Đài Loan và báo chí Mỹ nhanh chóng đưa tin và đăng các bài bình luận của Liên Xô. Lúc này, một số cán bộ đảng viên ở trong nước cũng nhao nhao đưa đến Hội nghị những ý kiến phê bình.

Thế là, từ Đu-lớt-xơ (John Fostes Dulles) đến Tưởng Giới Thạch, từ Khơ-rút-sốp đến những người “bất đồng chính kiến” trong Đảng ở Trung Quốc, sự công kích ác ý và sự phê bình thiện ý lẫn lộn, trong đầu Mao Trạch Đông đã hình thành nên một “dàn hợp xướng”, hình thành nên “một bầu không khí”.

Thế là, nội dung của bản thân “Vạn ngôn thư” không phải là điểm tập trung của vấn đề nữa, đối với toàn cục và sự nghiệp mà nói, uy tín của Mao Trạch Đông, tính hợp pháp của Đảng Cộng sản đối với quyền lãnh đạo trong kết cấu Nhà nước cũng như sức gắn bó của Đảng đã trở thành điểm tập trung của vấn đề, là việc lớn quan trọng hơn nhiều số phận của Bành Đức Hoài. Người sau bình luận về người trước không thể tách rời điều kiện lịch sử và tình hình đất nước đặc biệt lúc ấy. Trên thực tế, chính Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai là những nhân vật lãnh tụ tài trí hơn người, không ai không có quan điểm chung là: Vấn đề Bành Đức Hoài không được giải quyết, toàn đảng không thể đoàn kết một lòng, để cùng vượt qua khó khăn.

Khi sự việc phát triển đến mức ảnh hưởng tới uy tín của Mao Trạch Đông, ảnh hưởng tới tính hợp pháp của Đảng Cộng sản đối với quyền lãnh đạo trong kết cấu Nhà nước cũng như sức gắn bó của Đảng thì tất nhiên Mao Trạch Đông không thể cho qua. Đúng như Giang Thanh đã nói, trên những vấn đề nguyên tắc, Mao Trạch Đông chưa bao giờ nhượng bộ.

Khi Mao Trạch Đông đứng bên cửa sổ, hít thở không khí mát lành trong đêm ở Lư Sơn, điều mà ông suy nghĩ đã không phải là có đập lại Bành Đức Hoài hay không mà là đập lại đến mức nào!?

Nếu như nói ảnh hưởng về những yêu cầu báo cáo của “phái xúc tiến” và không khí chung đã đưa Mao Trạch Đông đến chỗ trách mắng Bành Đức Hoài là “sự dao động của giai cấp tư sản”, thì việc “trở gió chống lại” xảy ra đêm nay đã bị bọn tú tài kiểm tra phát giác thì không thể không đưa đến sự nâng lên thành định tính. Có bàn tán sau lưng, có “gặp gỡ” sau cuộc họp, tự nhiên sẽ biến thành “câu lạc bộ” và nâng lên thành: “Tập đoàn chống Đảng do Bành Đức Hoài cầm đầu”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:12:08 pm

2
Bịa ra câu lạc bộ quân sự bí mật
người ở hậu trường kinh sợ khi Bành Đức Hoài đập bàn


1. Lâm Bưu chơi bài

Khi Hội nghị Lư Sơn gần tới hồi cuối, Mao Trạch Đông đã quyết định họp Hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng ở Bắc Kinh. Nhằm truy đánh Bành Đức Hoài và một số người đến cùng, nên ông đã cố ý quyết định thời gian họp Hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng vào ngày thứ 3 sau khi kết thúc Hội nghị Lư Sơn, tức ngày 18 tháng 8, như vậy sẽ làm cho Bành Đức Hoài vừa xuống máy bay đã phải đến ngay Hội trường nghe phê phán, làm kiểm điểm, không để Bành Đức Hoài có một chút thời gian nghỉ ngơi hồi lại sức. Cho nên khi Hội nghị Lư Sơn còn đang tiến hành, Lâm Bưu nhận chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng đã bắt đầu sắp xếp, Đại tướng La Thụy Khanh nhậm chức Tổng Tham mưu trưởng, nhận lệnh tổ chức cụ thể Hội nghị Quân ủy mở rộng ở Bắc Kinh. 104 người tham gia Hội nghị đều là những nhân vật lớn trong giới quân sự, Trưởng ban Thư ký Hội nghị do La Thụy Khanh đảm nhiệm, dưới có các nhóm thư ký, phục vụ Hội nghị và cảnh vệ v.v.. Ngày 17 tháng 8, khi Bành Đức Hoài đáp máy bay về tới Bắc Kinh, Hội nghị Quân ủy mở rộng đã có mặt đầy đủ, chỉ thiếu Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài. Máy bay của Bành Đức Hoài hạ cánh xuống sân bay Nam Uyển, một đội xe hơi cảnh giới nghiêm ngặt, lập tức đưa ông về Hoài Nhân Đường trong Trung Nam Hải để kiểm thảo, nghe phê phán.

Ai ngờ sự việc xảy ra lại trái với mong muốn, các vị tướng soái nửa đời trên yên ngựa đã rèn đúc được tác phong coi trọng thực tế một cách nghiêm khắc. Phải, trên chiến trường nếu không coi trọng thực tế một cách nghiêm khắc, kế hoạch tác chiến hơi có chút thoát ly thực tế thì ngay lập tức bài học sẽ là một đám thi thể. Hơn nữa, các vị tướng soái này trước khi tham gia quân đội, rất nhiều người xuất thân từ nông dân, họ còn không biết là một mẫu đất có thể thu được bao nhiêu cân lương thực hay sao? Năm 1958, họ cũng đã từng tham quan một số ruộng cao sản, họ đã nhận ra ngay đó là giả. Có cơ sở nhận thức này, sau khi được đọc bức thư của Bành Đức Hoài, không những họ không cho là sai, trái lại còn thầm khen hay. Cho nên sau khi Hội nghị chia tổ thảo luận, rất nhiều người không phát biểu. Quả thực là bức bách, mọi người đều nhất loạt biểu thị ủng hộ quyết định của Trung ương.

Kha Khánh Thi, Trần Bá Đạt, Khang Sinh thấy các vị tướng soái không hứng thú với việc phê phán Bành Đức Hoài cho lắm, chỉ ầm ừ ứng phó, liền đến tố cáo với Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Nghe nói Hội nghị Quân ủy mở rộng trở thành Hội nghị để Bành Đức Hoài kích động quân đội tiến công vào Đảng, Mao Trạch Đông vô cùng tức giận, xem ra tự mình không ra tay không xong. Mao Trạch Đông lập tức triệu tập Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị, yêu cầu mở rộng quy mô hội nghị tổ chức họp lại, Lâm Bưu tán thành ngay, những người khác không phản đối, thế là Mao Trạch Đông ra lệnh cho Lâm Bưu lập tức họp lại các tổ.

Lâm Bưu nhận lệnh, đắc ý vô cùng. Từ cuộc chiến tranh kháng Mỹ viện Triều đến nay ông ta thấy Bành Đức Hoài đem quân đến Triều Tiên, lập được nhiêu chiến công, tiếng tăm lừng lẫy, rất đố kỵ ghen ghét, nhưng không biết làm thế nào. Bất chợt nhớ đến cái chết của Mao Ngạn Anh ở Triều Tiên, Bành Đức Hoài lại xông vào mấy lần làm Mao Trạch Đông rất không vui, Lâm Bưu lại thường xuyên gièm pha trước mặt Mao Trạch Đông, lâu ngày quả nhiên có hiệu quả, trong Đại hội 8 ông ta được thăng chức làm Phó Chủ tịch Đảng, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bành Đức Hoài tuy vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị, nhưng địa vị đã giảm sút rõ rệt. Gặp cơn sóng gió ở Hội nghị Lư Sơn lần này, trong giờ phút then chốt, Lâm Bưu đã giúp Mao Trạch Đông một cách đắc lực, kết quả là đã đạt được nguyện vọng ấp ủ từ lâu, nắm được quyền lực quân sự, ông ta quyết tâm lập công lớn một lần nữa trong Hội nghị Quân ủy mở rộng để củng cố vững chắc địa vị của mình.

Ông ta đắc ý khi chơi con bài chính trị, tuy có một chút mạo hiểm, nhưng hiệu quả của nó còn đến nhanh hơn vũ đài quân sự, thấy ngay hiệu quả trong chốc lát.

Trong một trận chửi bới, Lâm Bưu đã kiếm được chức Bộ trưởng Quốc phòng, sau khi đã kiếm được món hời trong canh bạc chính trị, nhưng chưa biết đủ để dừng bước, mà được một muốn mười. Ông ta vẫn muốn tiếp tục cưỡi gió vượt sóng để tiến thêm bước nữa. Ông ta hạ lệnh cho La Thụy Khanh và Phó Tư lệnh Không quân Ngô Pháp Hiến, đem 18 máy bay đến các nơi trong cả nước đón các tướng lĩnh tham gia Hội nghị gồm tất cả những người lãnh đạo các tổng cục của Quân ủy, các quân binh chủng, các đại quân khu, cán bộ lãnh đạo cấp quân đoàn của các dã chiến quân, các cán bộ lãnh đạo cấp quân đoàn của quân khu thuộc các tỉnh, các cán bộ tư tưởng, chính ủy của bộ đội dã chiến, các cán bộ cấp cục trở lên của quân ủy, lại thêm các cơ cấu phục vụ Hội nghị tổng cộng đến 2000 người. 18 chiếc máy bay cất cánh hạ cánh, khách sạn Tiền Môn người vào người ra nhộn nhịp, trong một ngày tất cả đã tề tựu đông đủ rồi tiến hành chia tổ.

Ngày 22 tháng 8, Hội nghị họp lại. Hoài Nhân Đường, Tử Quang Các, người vào ra đông nghịt. Lâm Bưu đích thân chủ tịch Hội nghị, trước tiên ông ta truyền đạt tinh thần của Hội nghị Lư Sơn, tiếp đó Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành, Trương Văn Thiên, Chu Tiểu Châu kiểm điểm, sau đó lại chia tổ thảo luận. Bộ Tổng Tham mưu và Văn phòng Quân ủy được biên chế thành một tổ. Tổ này là tổ trọng điểm phê phán Bành Đức Hoài và Hoàng Khắc Thành, tổ trưởng là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Cục trưởng Cục Kế hoạch trang bị Bộ tham mưu Vạn Nghị. Đồng chí này quê ở Huyện Kim thuộc vùng Đông Bắc, từ sớm đã tốt nghiệp ở Giảng Võ Đường Đông Bắc, về sau nhậm chức ở đạo quân Đông Bắc vào đầu thời kỳ kháng chiến chống Nhật, đã dẫn quân đội tham gia Bát lộ quân, thời kỳ chiến tranh giải phóng giữ chức Quân đoàn trưởng Quân đoàn 40 thuộc Dã chiến quân thứ 4.

Sau khi các tổ bắt đầu thảo luận, trong tổ này mấy ngày không có ai phát biểu. Lâm Bưu nói chuyện với Vạn Nghị một bộ hạ cũ của ông ta, đưa ra kế sách, lại liên tiếp cử người đến phòng họp của tổ này nghe thảo luận nhưng vẫn không ai phát biểu. Vạn Nghị thấy vậy bèn đề nghị: “Mọi người đã không phát biểu, ở trên lại yêu cầu phải phê phán mạnh mẽ vạch rõ vấn đề của Bành Đức Hoài. Theo tôi chi bằng ta hãy đưa ý kiến của Bành Đức Hoài ra đọc, xem đồng chí ấy nói như thế nào, có vấn đề hữu khuynh chống Đảng không. Có thì phê không có thì không phê, các đồng chí thấy làm như vậy có được không?” Mọi người nhất trí cho là phải, ào ào lấy bản góp ý kiến ra đọc rồi nói cảm nhận của mình. Có người kể chuyện cười khi đi tham quan ruộng Vệ Tinh: “Lần ấy cơ quan Quân ủy chúng tôi đi tham quan ruộng Vệ Tinh ở thành phố Thiên Tân, thấy lúa mọc dày đặc chi chít, trên treo rất nhiều bóng đèn lớn, bốn bên có mấy chiếc quạt gió đang quay tít, trên ngọn bông lúa còn có một đứa trẻ đang ngồi, tình hình mùa màng quả là đáng mừng. Theo người phụ trách địa phương giới thiệu thì một mẫu ruộng (1) này ít nhất cũng có thể thu được 5 tấn, ngay tại đấy chúng tôi hỏi anh ta hạch toán giá thành như thế nào, trong nháy mắt người phụ trách há hốc mồm. Đang lúc nhộn nhịp, đứa trẻ đòi về nhà. Chúng tôi vào đám ruộng đón đứa trẻ mới phát hiện ra rằng đứa trẻ này ngồi trên những chiếc đèn cực tím, nhìn kỹ thấy những khóm lúa được chuyển từ nơi khác tới trồng xen sát vào nhau. Ở quê tôi cũng trồng lúa, sao có thể lừa được tôi. Chúng tôi liền truy hỏi, người phụ trách địa phương đã nói thật, té ra những khóm lúa này được chuyển từ 18 mẫu ruộng khác tới trồng”. Mọi người nghe xong cười ồ. Một người khác tiếp lời: “Một lần tôi đi tham quan huấn luyện biên chế quân sự hóa của một công xã nhân dân ở huyện An Quốc tỉnh Hà Bắc. Nam dân quân đều đi luyện gang thép cả, “Đội Hoàng Trung” và “Đội Mộc Quế Anh” tham gia duyệt đội ngũ. Vẫn chưa bắt đầu duyệt đội ngũ mấy người già trong “Đội Hoàng Trung” ngã lăn ra đất, mấy cô “Đội Mộc Quế Anh” tè cả ra quần. Chúng tôi vội quay người đi để “Mộc Quế Anh” thay quần, chúng tôi không thể đứng đó nhìn. Khi tắm tránh phụ nữ là điều không thể quên trong “Ba kỷ luật, tám chú ý” mà! Sau đó, chúng tôi đi thăm nhà ăn công cộng của họ mới biết nguyên nhân tè ra quần của Mộc Quế Anh, té ra trong nhà ăn chỉ có một chiếc chảo cháo ngô loãng toè loãng toẹt, xem kỹ thì vẫn là nấu cháo để cho đoàn tham quan xem. Không có gì để ăn, đành phải uống nước lã thì làm sao Mộc Quế Anh không tè ra quần?”. Người ấy chưa dứt lời thì người khác tiếp ngay: “Chuyện vui còn ở hồi sau: chúng tôi tham quan xong, quay về xe chuẩn bị ăn cơm thì thấy lương khô đem đến đã bị người ta lấy trộm sạch từ bao giờ rồi. Chẳng còn cách nào, chúng tôi đành phải đến nhà ăn, mỗi người húp một báo cháo ngô loãng, tất nhiên là phải trả tiền, và phiếu lương thực, sau đó chúng tôi đi về. Bây giờ mới vui, các anh đoán xem là chuyện gì?” Mọi người trợn mắt nghe anh ta nói: “Trên đường về người nào cũng đi tiểu, xe lúc chạy lúc dừng, khó khăn lắm mới về đến Bắc Kinh. Có một nữ trung úy trẻ, vì không tìm được chỗ thuận tiện, đành phải cố nhịn, nhưng không ngờ bị ho, không nhịn được nữa thế là ướt quần”. Trong Hội trường bỗng rộ lên một trận cười.

Tiếp đó, cả hội trường anh một lời tôi một câu bàn luận sôi nổi, bàn mãi mà không sao tìm thấy một chỗ không đúng nào trong thư góp ý kiến. Vạn Nghị thấy mọi người đã phát biểu, liền đề nghị: “Tôi thấy những ý kiến trong thư góp ý của Bành Đức Hoài đều phù hợp với thực tế, không có chỗ nào chống Đảng cả. Hiện nay có người chỉ nhìn lên trời, hoàn toàn không chú ý gì đến nỗi khổ của dân, ai tán thành thư góp ý của Bành Đức Hoài xin giơ tay!”

Vạn Nghị vừa dứt lời, mọi người nhất loạt giơ tay, Vạn Nghị nói: “Được, mọi người đều tán thành, tôi quyết định giải tán tổ, mọi người ra về chia ra học tập”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:14:56 pm

2. Ngô Pháp Hiến gào to: “Tôi phải bắt Bành Đức Hoài trả nợ máu”

Lâm Bưu nhận được báo cáo nói là tổ Quân ủy và Tổng tham mưu không những không phê phán Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành mà lại nhất trí tán thành thư góp ý của Bành Đức Hoài, Vạn Nghị còn giải tán tổ học tập, điều này không thể xem thường, ông ta liền gọi La Thụy Khanh đến bàn bạc một hồi. Ngay tối hôm ấy Vạn Nghị bị tổ cảnh vệ bắt giữ, Lâm Bưu cử tổ trưởng mới, triệu tập lại cuộc họp toàn tổ.

Cùng lúc này Thượng tướng Đặng Hoa và Thượng tướng Hồng Học Trí cũng có chuyện. Hai vị này vốn là cán bộ của Dã chiến quân thứ 4, thời kỳ kháng Mỹ viện Triều đã cùng Bành Đức Hoài sang Triều Tiên, vẫn đảm nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh quân chí nguyện. Do công việc quân đội bận rộn, khi hai người về Bắc Kinh chưa kịp chủ động đến thăm Lâm Bưu, nên Lâm Bưu vẫn có ý giận, muốn tìm cơ hội trừng trị họ. Vậy mà trong Hội nghị Quân ủy mở rộng lần này, Đặng Hoa và Hồng Học Trí lại nói một số điều tỏ ra công tâm đối với Bành Đức Hoài, lập tức Lâm Bưu cho người theo dõi, cuối cùng ép họ ra khỏi quân đội để thỏa nỗi tức giận xưa kia.

Người sau là ai đây?

Lâm Bưu thấy các tổ thảo luận không sôi nổi cho lắm, liền chuyển thành hội nghị phê phán tập thể chỉ định một số người phát biểu. Những người này đã nói đen thành trắng, phê phán vô trách nhiệm. Những chuyện nhỏ trong cuộc sống, những chuyện trong bố trí chiến đấu trở thành những tội trạng chống Đảng của Bành Đức Hoài. Bành Đức Hoài không một chút nhượng bộ, ông kể về cuộc đấu tranh ở Tỉnh Cương Sơn, bốn lần vượt qua sông Xích Thủy, về việc yểm hộ cho Mao Trạch Đông và những người lãnh đạo trong Quân ủy vượt qua họng súng của Trương Quốc Đào di chuyển an toàn trên đồng cỏ. Lâm Bưu thấy nếu tiếp tục kể như thế này thì Bành Đức Hoài không những không bị thối mà trái lại càng thơm hơn, thế là ông ta sai bọn tâm phúc của mình quát tháo kêu gào ầm ĩ, không để cho Bành Đức Hoài có cơ hội trình bày. Chỉ cần Bành Đức Hoài mở miệng nói là những người này liền hò hét: “Phải thành thật ngay thẳng, chống cự sẽ bị nghiêm trị”.

“Không được chạy tội!” Một tay hung hăng chạy ngay đến trước mặt Bành Đức Hoài, gầm gào kích động: “Ông ta không thú thật có được không?”

“Không được!” - Mọi người đáp lại ầm vang cả hội trường.

Bành Đức Hoài không nhịn được nữa, mặt ông đỏ bừng tức giận, vỗ vào ngực, lớn tiếng nói những lời đanh thép: “Các anh hãy khai trừ đảng tịch của tôi, đưa tôi ra xử bắn đi!” Ông trừng đôi mắt sắc lạnh căm giận nhìn Lâm Bưu ngồi trên bàn chủ tịch, nói một cách oai phong lẫm liệt: “Các đồng chí ngồi đây, rốt cuộc vị nào đã tham gia vào câu lạc bộ quân sự của tôi, ai là thành viên trong câu lạc bộ của tôi, các đồng chí hãy tự mình đứng ra xưng tên! Tôi xin nhận...”

Phút chốc, hội trường náo động!

“Thái độ của ông ngoan cố không hối cải như vậy phải xuy xét hậu quả!” Lâm Bưu cảm thấy hội nghị không có cách gì kết thúc, liền gào lên.

“Hậu quả chẳng phải là cái chết ư?” Bành Đức Hoài không lùi một tấc, chọi lại ngay; “Đến cái chết còn không sợ thì sợ cái hậu quả gì?”

Lâm Bưu nghe thấy lời của Bành Đức Hoài sắc mặt tái xanh, môi bầm tím, người run lên. Mọi sức lực ông ta đều cố đem ra hết. Nhưng đối với người đàn ông cương trực như Bành Đức Hoài, ông ta không biết làm thế nào? Đứng trước con người gang thép không kể sống chết, uy phong của Lâm Bưu sụp đổ và đành chịu bó tay.

Bỗng nhiên có một viên tướng chạy đến trước mi-crô trong hội trường gào lên: “Tôi phải bắt Bành Đức Hoài trả nợ máu?” Mọi người ngạc nhiên nhìn kỹ lại, té ra đó là Phó Chính ủy Không quân Ngô Pháp Hiến. Ông này từ rất sớm đã là cán bộ của Quân đoàn 1, thời kỳ chiến tranh giải phóng, Lâm Bưu cất nhắc lên làm Quân đoàn trưởng Quân đoàn 39, rồi Phó Tư lệnh Binh đoàn. Ông ta vô cùng biết ơn Lâm Bưu, bây giờ Lâm Bưu lại làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông ta cho rằng cơ hội thăng quan phát tài đã đến, nên đã ra sức chửi bới Bành Đức Hoài một cách khác thường.

Ngô Pháp Hiến thấy mọi người muốn nghe ông ta nói, bèn cố ra vẻ phẫn nộ gào lên: “Các đồng chí biết không? Trong khi đi trường chinh, ông ta đã đích thân hạ lệnh bắn một cán bộ của Quân đoàn 1, đã nợ món nợ máu đối với Quân đoàn 1”. Lâm Bưu thừa cơ kích động: “Trong trường chinh, Bành Đức Hoài luôn luôn đối đầu với Quân đoàn 1, muốn làm tan Quân đoàn 1 vì Quân đoàn 1 là đội quân do Mao Chủ tịch đích thân xây dựng và bồi dưỡng từ cuộc khởi nghĩa Thu Thu”. (Cuộc khởi nghĩa vào mùa thu hoạch vụ thu. N.D.).

Lâm Bưu vừa nói đến đây, bỗng trong hội trường có một tiếng quát: “Nói láo!” Như một tiếng bom nổ vang trong hội trường. Mặt Lâm Bưu trắng bệch, mồ hôi vã ra khắp người. Mọi người đều hướng về phía có tiếng nói, hóa ra là Thiếu tướng Chung Vĩ, Tham mưu trưởng Quân khu Bắc Kinh. Mọi người nghĩ bụng phải chăng Chung Vĩ đã ăn gan hổ, nếu không làm sao lại dám quát mắng Nguyên soái Lâm Bưu. Chung Vĩ chỉ vào Ngô Pháp Hiến và Lâm Bưu, nói một cách hiên ngang lẫm liệt: “Các người hoàn toàn nói láo, tung tin đồn nhảm. Sự việc này tôi là người biết rõ nhất lúc ấy, tôi có mặt ở đó tôi có quyền phát biểu. Đó là lúc đánh Lâu Sơn Quan, Quân đoàn 1 và Quân đoàn 3 hiệp đồng tác chiến trận đánh rất vất vả khó khăn. Trong chiến đấu ác liệt một Đại đội trưởng của Quân đoàn 1, khi lâm trận đã bỏ chạy, kéo theo mấy chiến sĩ đi hàng địch, bị bộ đội đi sau bắt được, lúc đang thẩm vấn thì các chiến sĩ truy đuổi của Quân đoàn 1 cũng vừa tới. Sau khi thẩm vấn: đại đội trưởng này bị xử bắn ngay tại chỗ. Một phần tử lúc lâm trận bỏ chạy quay súng đầu hàng địch như vậy thì ai cũng có quyền chấp hành kỷ luật chiến trường. Dùng sự việc này để gán tội cho người khác gây xích mích trong quan hệ quân đội chẳng phải là quá bỉ ổi hay sao? Tôi biết, tôi nói những lời chân thực sẽ đem lại cái họa chết người, nhưng đến một lời nói thật cũng không dám mở miệng thì có còn là đảng viên cộng sản nữa không?”

Rất nhiều người thầm khâm phục sự gan dạ và sáng suốt của Chung Vĩ, nhưng cũng lo lắng đến sự an toàn của ông. Quả nhiên, Chung Vĩ vừa ngồi xuống thì mấy binh sĩ có vũ trang do mấy viên sĩ quan cầm đầu xông vào hội trường. Mọi người vẫn chưa hiểu đầu đuôi ra sao, thì Chung Vĩ đã bị xích tay dẫn ra khỏi hội trường. Chung Vĩ vừa gắng gượng vừa nói lớn: “Các đồng chí đừng mắc lừa bọn họ, họ mới là bọn có âm mưu quỷ kế, che khuất lịch sử, gây chia rẽ trong quân đội!”

Chung Vĩ đã bị dẫn đi, các vị tướng lĩnh với vẻ mặt u ám ngồi lặng thinh. Lâm Bưu cảm thấy cần phải tỏ thái độ với sự kiện Chung Vĩ, nếu không cuộc họp sau sẽ không thực hiện được. Chủ ý đã định, liền thét lên ầm ĩ: “Chung Vĩ đã nhảy ra là rất hay, quả bom hẹn giờ giấu trong đội ngũ chúng ta sớm muộn cũng sẽ bùng nổ, nổ sớm tốt hơn là nổ muộn!”. Nói xong mồ hôi trên trán vã ra, tự thấy sức khoẻ không trụ được bèn tuyên bố giải tán. Mao Trạch Đông nghe được báo cáo của Lâm Bưu, nói rằng Vạn Nghị, Đặng Hoa, Hồng Học Trí, Chung Vĩ v.v… không những không tố giác không phê phán Bành Đức Hoài, trái lại còn nói tốt cho Bành Đức Hoài, bất giác nổi nóng bảo Lâm Bưu phải tiếp tục kiểm tra các phần tử Bành Đức Hoài trong quân đội, kết quả là đã kiểm tra ra Tư lệnh Pháo binh Ngô Tín Tuyền, người cũng từng nói những lời đồng tình với Bành Đức Hoài. Ngô Tín Tuyền vốn là Quân đoàn trưởng Quân đoàn 39 thuộc Dã chiến quân thứ 4, trong thời kỳ kháng Mỹ viện Triều, đã tham gia chiến đấu cùng Bành Đức Hoài và lập được nhiều chiến công. Lâm Bưu luôn luôn thù hận ông, bây giờ đúng là lúc để trả đũa. Thời gian này còn kiểm tra ra một số phần tử Bành Đức Hoài nữa, những người này đều bị canh giữ, sau đó ai chuyển ngành thì chuyển, ai bị điều xuống cơ sở thì xuống cơ sở.

Tiếp đó, Lâm Bưu uy hiếp những người tham gia hội nghị, để tăng cường thanh thế cho hội nghị, Mao Trạch Đông đích thân đến nói chuyện. Lưu Thiếu Kỳ cũng nghiêm khắc phê phán Bành Đức Hoài trước hội nghị. Chu Ân Lai thì nhấn mạnh đến việc kiểm thảo sai lầm của mình: “Công tác không làm tốt, nên đã làm cho đồng chí Bành Đức Hoài phải can dự vào việc này, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hôm nay”. Lâm Bưu vội vàng báo cáo với Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông liền nói kháy Chu Ân Lai: “Anh ta xưa nay là như thế luôn biết khuấy đục bùn nhão”.

Trong Thường vụ chỉ có Trần Vân vẫn không tỏ thái độ. Lâm Bưu nói với Mao Trạch Đông: “Trần Vân rõ ràng là giống một ôn thần không nói một lời nào, sắc thái đáng sợ!”. Mao Trạch Đông không cho là như vậy: “Chẳng cần để ý đến ông ta, ông ta luôn cho là mình tài giỏi thông minh, nhưng trên thực tế thì luôn luôn hữu khuynh”. Lâm Bưu gật đầu lia lịa: “Chủ tịch nói rất phải, thực sự là như thế. Bây giờ hội nghị đã kết thúc về cơ bản, đang bố trí công tác để các đơn vị kiểm tra các phần tử hữu khuynh, còn Bành Đức Hoài thì làm thế nào? Vẫn để cho ông ta ở Trung Nam Hải hay sao?” Mao Trạch Đông đáp: “Trung Nam Hải thì không thể ở được rồi, tìm một nơi ở Bắc Kinh để ông ta ở, công tác cảnh vệ phải làm cho tốt, không thể để xảy ra vấn đề đấy”. Lâm Bưu nói thêm: “Chủ tịch yên tâm, những việc ấy tôi nhất định sẽ làm tốt”.

Ngày 13 tháng 9, Hội nghị Quân ủy mở rộng kết thúc. Ngày 17 tháng 9, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công bố lệnh chính thức: bổ nhiệm Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Lâm Bưu kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, bãi miễn chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng mà Bành Đức Hoài kiêm nhiệm. Toàn quốc toàn dân nhanh chóng khơi dậy phong trào kiểm tra các phần tử hữu khuynh, trên báo chí đầy rẫy các xã luận và tin tức về việc tiếp tục nhảy vọt.

Cùng lúc này Văn phòng Trung ương cho ô tô và nhân viên đến chuyển nhà cho Bành Đức Hoài. Thực ra chẳng có gì mà dọn, mọi thứ đều là của công, quân phục, phù hiệu, quân hàm đều đã giao nộp, những thứ còn lại chẳng qua chỉ là mấy bộ quần áo cũ. Trước khi chuyển nhà, Bành Đức Hoài gọi tất cả thư ký đến nói: “Tôi bây giờ đã từ trên núi cao ngã xuống cái thùng phân, tiếng xấu đồn khắp nơi. Các đồng chí đi với tôi sẽ chẳng có tiền đồ gì. Tuy trên danh nghĩa tôi vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, nhưng e rằng chẳng còn làm được gì nữa. Tôi muốn cỡi giáp về cày ruộng, vậy các đồng chí còn đi theo tôi làm gì, giải tán thôi. Một anh nông dân còn cần gì đến xe hơi, lái xe, bác sĩ, y tá, các đồng chí đều đi cả đi. Đến Quải Giáp Đồn, cuộc sống của tôi tất nhiên sẽ có tiểu đội cảnh vệ chăm nom, các đồng chí hãy đi đi. Tôi sẽ gọi điện cho Dương Thượng Côn, đồng chí ấy sẽ sắp xếp công việc cho các đồng chí”. Thời kỳ là Hồng quân, Dương Thượng Côn là Chính ủy Quân đoàn 3, quan hệ giữa Bành Đức Hoài và ông rất tốt. Không có một thư ký nào muốn đi, cố sống cố chết đòi ở lại với Bành Đức Hoài, chẳng có gì khác, chính là đã vì dân mà ông nói những lời chân thực ở Lư Sơn. Bành Đức Hoài động viên hồi lâu, thấy mọi người kiên quyết không đi, đành thở dài, đưa gia đình đến nơi ở mới. Ông không hề cho bất cứ ai biết tin ông chuyển nhà, cũng chẳng có ai đưa tiễn, lặng lẽ rời khỏi Trung Nam Hải.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:18:14 pm

3
Để mượn thang Lâm Bưu giở ra mẹo vặt
Dằn lòng ép dạ “lão hồ đồ” bị chơi khăm


Hôm ấy, khi màn đêm sắp buông xuống, Lâm Bưu đi xe về đến công quán trong ngõ Nam Thảo Bình ở Tây Trực Môn.

Nhìn bề ngoài, công quán này chỉ là một khu có tường xây màu xám không có gì nổi trội, nhưng đi vào trong thì lại giống một tên nhà giàu quê kệch tiền vạn giắt đầy thắt lưng nhưng bên ngoài lại khoác chiếc áo bông rách. Bố cục kiến trúc của nó rất khác thường, môi trường thanh nhã êm ả, sự hào hoa xa xỉ của nó khiến người ta phải kinh ngạc, công quán có hai khu, khu trước là tứ hợp viện kiến trúc kiểu cung điện xà kèo chạm khắc vẽ hoa, hương sắc cổ xưa, trong sân trồng các loại cây tản tùng, mã vĩ tùng, vân tùng và các loại hoa. Phía sau tứ hợp viện kiểu Trung Quốc là một nhà lầu hai tầng kiểu phương Tây. Một gian phòng lớn ở phía tây tầng dưới rộng khoảng 20 mét vuông, là phòng khiêu vũ cũng là phòng chiếu phim, các phòng còn lại khoảng hai ba mươi phòng để vợ chồng Lâm Bưu, con cái và người phục vụ sử dụng, gian phía trước là nơi ở của thư ký, lái xe, cánh vệ v.v...

Lúc này Lâm Bưu đang đi đi lại lại trong phòng khiêu vũ kiêm chiếu phim.

Bành Đức Hoài đã đổ hoàn toàn, ông ta không những bị khai trừ quân tịch, mà còn bị cách hết chức vụ về chính trị. Nhưng hiện nay vẫn còn chướng ngại vật, người này đức cao vọng trọng, địa vị chính trị cao hơn hẳn ông ta, đó chính là Phó Chủ tịch Đảng Chu Đức. Nếu không nhân cơ hội này mà giải quyết cho xong, đánh đổ luôn cả Chu Đức thì đợi đến khi nào nữa!

Việc phê phán Bành Đức Hoài lần này, tư tưởng của Chu Đức không thông, tuy trên thực tế là phê phán Bành Đức Hoài, nhưng trong lòng Chu Đức lại thấy thương xót.

Trong tình hình này cần phải đâm ngọn thương hồi mã vào Chu Đức, Lâm Bưu ngẫm nghĩ một cách ám muội. Nhưng làm như thế liệu có dẫn đến hậu quả bất lợi hay không? Ông ta ngẫm nghĩ, có lẽ có người chửi ta là kẻ lừa thầy diệt tổ tông, không trọng bậc tiền bối. Thây kệ cho họ chửi, làm chính trị thì không thể nói đến nghĩa khí, nhân tình.

Ngày thứ hai tiếp tục họp phê phán Bành Đức Hoài. Chu Đức và Lâm Bưu ngồi trên ghế chủ tịch.

“Thưa các đồng chí!” Lâm Bưu kéo dài giọng liếc nhìn Chu Đức đang ngồi với vẻ mặt không biểu cảm, “Hôm nay tôi còn muốn góp ý kiến với một lão đồng chí hiện đang có mặt trong cuộc họp này. Đồng chí ấy là ai? Về người này, người bình thường sẽ không nhận ra, ấn tượng mà đồng chí ấy đem lại cho người ta là trung hậu thực thà, bình dị dễ gần, hơn nữa còn đức cao vọng trọng”. Ông ta dừng lại một chút, “nhưng đó là giả, từ thâm tâm đồng chí ấy đã chống lại Đảng chống lại Mao Chủ tịch cùng một giuộc với Bành Đức Hoài, về đồng chí này tôi không nói các đồng chí cũng rõ”.

Hội trường náo động.

Trong lòng mọi người không hẹn mà cùng thì thào: Chu Đức có phong cách người anh, khoan dung độ lượng, lòng dạ trong sáng, là người có công đầu trong việc giành lại giang sơn, coi thường sự sống chết của bản thân, đổ máu chiến đấu mấy chục năm, sao Lâm Bưu lại có thể đối xử với ông như thế?

Mọi người im lặng.

Im lặng chính là sự phản kháng không thành tiếng, rõ ràng Lâm Bưu đã cảm nhận được cái không khí đặc biệt này. Sự đối đầu không thành tiếng này kéo dài một lúc, Lâm Bưu lại bắt đầu tấn công.

“Mọi người gọi đồng chí ấy là Tổng Tư lệnh, đồng chí ấy vẫn yên lòng chấp nhận như vậy!” Giọng của Lâm Bưu lộ rõ vẻ đay nghiến mỉa mai chế giễu, “đồng chí ấy có tư cách làm Tư lệnh không?” Lâm Bưu đưa mắt nhìn hội trường, tiếp tục nói: “Đồng chí ấy hoàn toàn không xứng đáng! Tổng Tư lệnh của chúng ta là Mao Chủ tịch! Không có công mà lại được hưởng lộc, lẽ nào đồng chí ấy không thấy thẹn trong lòng hay sao?”

Sau nhiều năm, khi hồi tưởng lại cảnh này bất cứ ai có chút lý tính cũng đều cảm thấy đây cũng là một phần của bi kịch trong thế kỷ hoang đường.

Lâm Bưu nói dứt lời, Chu Đức tự nhiên trở thành nhân vật chính bị bao vây công kích. Tất nhiên những người tham gia cuộc vây đánh này, có kẻ muốn bày tỏ công lao với Lâm Bưu, có kẻ thuần túy là sự trả thù cá nhân, cũng có người muốn vạch ranh giới giữa mình với Chu Đức và Bành Đức Hoài, họ hợp thành một làn hoả lực tấn công mạnh mẽ vào Chu Đức và Bành Đức Hoài. Bất kể động cơ của họ lúc đó như thế nào, tuy khác đường nhưng cùng tới một đích, đều đã diễn một vai không thật vẻ vang trong thời khắc lịch sử hoang đường ấy.

Sự tập kích bất ngờ của Lâm Bưu đối với Chu Đức hoàn toàn ngoài dự đoán của Chu Đức, nhưng hình như ông lại cảm thấy đây là chuyện sớm muộn gì cũng xảy ra. Vì đại cục của cách mạng, ông dằn lòng ép dạ, cam chịu, ông nghĩ người đã quá cái tuổi cổ lai hy, chưa biết chừng tư tưởng mình không còn theo kịp sự phát triển của tình hình cũng nên! Tổng Tư lệnh Chu Đức là một người rất nghiêm khắc với mình, đối với người khác lại không đòi hỏi khắt khe. Điều mà ông thường nghĩ là mình còn có điều gì chưa đủ. Mặc dù như thế, ông vẫn không thể tránh được sự công kích.

Bản kiểm điểm do Chu Đức viết vừa công bố, giống như một trận động đất 8 độ rich-te vậy, mọi người không ai không kinh ngạc trợn mắt há mồm.

Trong Hội nghị Lư Sơn, thừa lúc nguy cấp của Bành Đức Hoài, Lâm Bưu đã giở ra một mẹo nhỏ nhưng đã nắm được quyền quân sự trong cả nước, nguyện vọng như mơ của ông ta được thực hiện dễ dàng như trở bàn tay.

Lâm Bưu coi như đã có được quyền thế lẫy lừng, nhưng so với kế hoạch lý tưởng mà ông ta đã đặt ra thì còn cách khá xa, làm thế nào để có thể tìm được một con đường đi ngắn nhất, hay nhất?

Đó là ra sức tâng bốc Mao Trạch Đông.

Khi có chủ đích, Lâm Bưu lập tức bắt đầu thả sức hành động. Sau khi chủ trì công tác Quân ủy Trung ương, Lâm Bưu bắt đầu dùng những ngôn từ đặc biệt, những phương thức đặc biệt tạo nên sự sùng bái cá nhân đối với Mao Trạch Đông một cách có mục đích, kiếm chác vốn liếng cho mình, mưu đồ bước lên cao hơn nữa.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:18:41 pm

Một lần, trong Hội nghị Quân ủy mở rộng do Lâm Bưu chủ trì, ông ta giả trang giống như một tín đồ ngoan đạo đối với “kinh thánh” xúc động nói: “Chúng ta học chủ nghĩa Mác, thì phải học như thế nào? Tôi xin đề nghị với các đồng chí, phải học trước tác của đồng chí Mao Trạch Đông là chủ yếu. Đó là con đường hay nhất để học chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay là tư tưởng Mao Trạch Đông, trên thế giới ngày nay nó đứng ở đỉnh cao nhất của thế giới, đứng ở đỉnh cao nhất của thời đại, tư tưởng Mao Trạch Đông là chủ nghĩa Mác - Lê-nin cao nhất, sống nhất hiện nay”.

Trong một Hội nghị khác, Lâm Bưu lại lớn tiếng kêu gọi: “Nhất định phải lấy sách của Mao Chủ tịch làm chỉ thị cao nhất trong mọi mặt công tác của toàn quân ta”. Lâm Bưu là một người chịu khó động não suy nghĩ về các vấn đề, dù là vấn đề gì, qua sự suy nghĩ chu đáo của ông ta đều có thể nghĩ ra những ngôn từ không nói thì thôi hễ nói là làm người ta phải kinh sợ. Ông ta là người sáng tạo ngôn ngữ “sinh động”, “gọn và rõ”. Ở một người bình thường, một lần cũng chỉ có thể nêu ra một cái “nhất” nhưng ở một người luôn vắt óc suy nghĩ như Lâm Bưu, chỉ một lần đã có thể nêu ra “bốn cái nhất: Nhân tố con người thứ nhất, công tác chính trị thứ nhất, công tác tư tưởng thứ nhất, tư tưởng sống thứ nhất”.

Từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 9 năm 1960, Lâm Bưu đích thân chủ trì Hội nghị Quân ủy mở rộng, thông qua một Nghị quyết, trong đó viết: “Đồng chí Mao Trạch Đông là người mác xít - lêninnít vĩ đại nhất hiện nay, tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam của công cuộc cách mạng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Trung Quốc, là vũ khí tư tưởng mạnh mẽ chống chủ nghĩa đế quốc, là vũ khí tư tưởng mạnh mẽ chống chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều... phải giương thật cao ngọn cờ hồng của tư tưởng Mao Trạch Đông, phải tiến thêm nữa trong việc dùng tư tưởng Mao Trạch Đông vũ trang cho đầu óc của toàn thể cán bộ và chiến sĩ, trong mọi công tác phải lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm thống soái”. Kêu gọi “cán bộ chiến sĩ toàn quân, giương cao cờ hồng tư tưởng Mao Trạch Đông, học cho được tư tưởng Mao Trạch Đông! Đọc sách của Mao Chủ tịch, nghe lời Mao Chủ tịch, làm việc theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, làm chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch!”

Mao Trạch Đông, cố nhiên là nhân vật vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc, nhưng người đầu tiên đưa ông lên làm một vị thần có lẽ chính là Lâm Bưu.

Từ ngày 11 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1962, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị công tác mở rộng còn gọi là “Đại hội bảy ngàn người”. Hội nghị kiểm tra xem xét lại những sai lầm “tả” cuộc “đại nhảy vọt” từ năm 1958 đến nay, tiến thêm một bước điều chỉnh lại vấn đề kinh tế.

Cuộc “đại nhảy vọt” được bốc lên tận trời đã đem tai họa đến cho mọi người, tiếng kêu ai oán khắp mọi nơi đã làm cho sự phát triển kinh tế đi vào ngõ cụt và đứng trước nguy cơ bị sụp đổ toàn diện.

Người báo cáo chủ yếu là Lưu Thiếu Kỳ với tâm trạng nặng nề đã nói: “Nguyên nhân gây nên ba năm khó khăn tất nhiên không phải chỉ có một, nhưng nhân họa chiếm bảy phần, thiên tai chiếm ba phần, công xã đã làm quá sớm quá gấp, trong chúng ta tồn tại một tâm trạng nóng vội. Những sai lầm trong công tác của chúng ta là nguyên nhân chủ yếu gây nên ba năm khó khăn...”

Cách mấy hôm sau, Trần Vân nói về tình hình kinh tế. Ông chỉ rõ: “Có một loạt xí nghiệp không xuống ngựa không được, cái cần lùi phải lùi cho đủ, phải dùng những biện pháp kiên quyết, quyết đoán. Lương thực mà nông dân cung cấp cho thành phố đã không đủ nuôi những công nhân hiện có ở thành phố, phải chặt đứt 20 triệu công nhân ở thành phố, giảm bớt gánh nặng cho nông dân, nếu không thành thị sẽ không có cách nào duy trì được”.

Hết báo cáo này đến báo cáo khác, đều không phải là tin vui, báo cáo sau nói nghiêm trọng hơn báo cáo trước. Phải chăng những người này cố ý nói thất thiệt để người nghe hoảng sợ? Không, họ chỉ nói những điều có thực, ngay đến Chu Ân Lai một người luôn thận trọng cũng vạch ra một cách sắc bén những sai sót trong công tác.

Lâm Bưu với vẻ mặt không có biểu cảm ngồi nghe phát biểu của Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Trần Vân v.v… Ông ta lại nhìn Mao Trạch Đông, thấy Mao Trạch Đông vẫn trấn tĩnh như thường, mặt vẫn mỉm cười.

Lâm Bưu nghĩ thầm trong bụng, trong những thành viên lãnh đạo cao cấp của Đảng, sự bất đồng đã bộc lộ, chưa biết chừng sẽ còn một cuộc vật lộn sống chết rùng rợn khủng khiếp nữa...

Hôm nay Lâm Bưu phát biểu. Ông ta kéo dài giọng, nhìn Mao Trạch Đông nói lấy lòng: “Những sai lầm từ đại nhảy vọt đến nay là do nguyên nhân gì gây nên? Khó khăn hiện nay, hoàn toàn là do có rất nhiều sự việc chúng ta không theo chỉ thị của Mao Chủ tịch để làm mà gây nên. Nếu tuân theo chỉ thị của Mao Chủ tịch để làm và đều nghe lời Mao Chủ tịch thì khó khăn sẽ nhỏ đi nhiều, đường cong sẽ ít phải đi hơn. Cái đúng đắn là chủ nghĩa duy vật, là tư tưởng Mao Trạch Đông, ưu điểm của Mao Chủ tịch có nhiều mặt. Lĩnh hội của tôi qua mấy chục năm nay, ưu  điểm nổi bật nhất của Chủ tịch là thực tế, hầu như gắn với thực tế, luôn ở chung quanh thực tế, xoay quanh thực tế, không tách rời thực tế... Công tác trước đây khi làm được tốt chính là lúc tư tưởng Mao Trạch Đông không bị cản trở. Phàm khi tư tưởng của Mao Chủ tịch không được tôn trọng, bị cản trở thì công tác của chúng ta sẽ có khuyết điểm. Lịch sử mấy chục năm chính là lịch sử này”.

Ngày 16 tháng 11 năm 1963, trong một bức thư gửi cho Lâm Bưu. Mao Trạch Đông đã khẳng định đầy đủ công việc của Lâm Bưu. Khi nói đến “bốn nhất” do Lâm Bưu nêu ra, một lần nữa Mao Trạch Đông lại nói: “Bốn nhất” rất hay, đó là sáng tạo. Công tác chính trị tư tưởng và công tác quân sự của giải phóng quân, sau khi được đồng chí Lâm Bưu nêu ra “bốn nhất” và “ba tác phong lớn”, cụ thể hóa hơn mà lại lý luận hóa hơn.

Đầu năm 1964, “Trích lời Mao Chủ tịch” (Mao Chủ tịch ngữ lục) do Lâm Bưu chỉ thị biên soạn được đăng trên “Giải phóng quân báo”.

Lâm Bưu một mặt mở hết công suất, tăng tốc độ thần thoại hóa Mao Trạch Đông; mặt khác, ông ta lại tìm kiếm thời cơ tìm đường đi lên. Về sau Lâm Bưu dựa vào phương sách lén lút ở Lư Sơn để hạ độc thủ và thủ đoạn bợ đỡ nịnh nọt lợi dụng mọi cơ hội để ngồi lên chiếc ghế thứ hai của nước Cộng hòa.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:23:09 pm

Chương II
VIỆC “XUỐNG NÚI” VÀ NỔI DẬY CỦA LÂM BƯU



1
Âm khí nặng nề mười năm
chẳng phải ngẫu nhiên im tiếng
Cùng tranh quyền thỏ chết
cáo thương nỗi sợ còn đây


1. Cuộc thăm viếng của nhân vật thần bí

Sau khi thành lập nước, Lâm Bưu vẫn cáo bệnh nghỉ ngơi. Nhưng đây không phải là điều Lâm Bưu muốn. Ông ta luôn luôn chờ thời cơ ra khỏi động.

Thực ra, chính trong thời gian Lâm Bưu an dưỡng, đã từng có một việc gần như có thể làm cho ông ta sụp đổ hoàn toàn.

Vào một buổi chiều năm 1953, một nhân vật lớn thần bí đến thăm Lâm Bưu. Lâm Bưu rất ít có sự vui mừng như thế. Mặt ông ta hớn hở, bắt tay rất nhiệt tình vị khách này, rồi mời vào phòng khách được bố trí lộng lẫy nguy nga. Công vụ rót nước chè Long Tỉnh mời khách rồi rón rén đi ra ngoài.

Nhân vật lớn này là Bí thư Cục Đông Bắc, sau khi Lâm Bưu vào Hoa Bắc, lúc ấy là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cao Cương.

Chỉ một lúc sau, Diệp Quần, người rất giỏi xã giao như một cơn gió chạy ào vào, mặt cười rạng rỡ nắm chặt tay Cao Cương đon đả: “Được Phó Chủ tịch Cao đến chơi, tôi vui lắm. Lâu lắm không được gặp, thật khó có dịp gặp mặt. Lát nữa mời ở lại xơi cơm, cơm gia đình thôi, rồi cùng hàn huyên chuyện cũ”.

Cao Cương và Lâm Bưu ngồi trên chiếc ghế xa-lông dài chuyện trò, từ những chuyện cũ đến quan hệ nhân sự tế nhị trong lãnh đạo thượng tầng, hai người trò chuyện rất hợp nhau.

“Mời xơi cơm đã”, không biết từ lúc nào, Diệp Quần đã nhẹ nhàng đi vào. Lâm Bưu và Cao Cương kề vai nhau bước vào phòng ăn.

Phòng ăn rộng 20 mét vuông, trong bày đồ gia dụng làm bằng gỗ tốt, trên có chạm trổ các loại hoa văn. Mấy chiếc ghế gỗ chạm trổ tinh xảo, đặt quanh chiếc bàn trải khăn trắng.

Cao Cương biết Lâm Bưu ít ăn các đồ ăn thịt cá, nhưng hôm nay trên bàn bày đầy các món sơn hào hải vị. Lâm Bưu vốn thích ở nơi kín đáo vắng vẻ, ít giao thiệp với người khác, cũng rất ít mời khách ở lại nhà ăn cơm, hôm nay đã phá lệ chiêu đãi khách.

“Cao Chủ tịch”, Diệp Quần tươi cười. “Tôi bảo nhà bếp làm mấy món ăn theo khẩu vị của thủ trưởng không biết kỹ thuật nấu nướng ra sao?” Nói xong bà ta mở chai rượu Mao Đài rót đầy cốc của Cao Cương rồi lấy rượu nho rót vào cốc của Lâm Bưu: “Anh Lâm nhà tôi không uống được rượu trắng”.

“Xin cạn chén vì cuộc gặp lại của những người bạn tốt chúng ta!” Lâm Bưu chạm cốc với Cao Cương, sau đó uống cạn. Trong bụng Cao Cương hiểu rất rõ: Lâm Bưu có thể uống cạn chén rượu này, không phải là tầm thường, đó là quên mình theo quân tử. Cao Cương có tửu lượng rất khá, uống sạch cốc rượu Mao Đài.

“Thưa Cao Chủ tịch, gần đây Trung ương có tin tức gì không ạ?” Diệp Quần quan tâm nhất đến động thái của các nhân vật thuộc tầng lớp trên ở Trung ương. Bà ta thấy Cao Cương không nói gì, rất không bằng lòng, không đừng được liền trút hết ra, “Thưa Cao Chủ tịch, anh và anh Lâm đã từng công tác với nhau từ khi còn ở Đông Bắc, các anh có thể coi là những người bạn chiến đấu cũ, trước vị chân nhân tôi không nói sai: “Giải phóng Đông Bắc, giải phóng Bình Tân (Bắc Kinh và Thiên Tân - N.D.) cho đến giải phóng Đảo Hải Nam, anh Lâm không có công lao gì nên luôn thấy khổ tâm! Do đó sức khỏe của anh Lâm xấu đi, bây giờ ngày nào cũng phải uống thuốc. Khi Mao Chủ tịch chấm tên để anh Lâm đi chiến trường Triều Tiên không phải là anh Lâm không đi mà quả thực là anh ấy lực bất tòng tâm!” Bà ta thở hổn hển bực tức nói: “Nhưng Trung ương có người nói anh Lâm thế này thế nọ, rêu rao rằng anh Lâm mắc bệnh chính trị, anh Lâm nhà tôi đã mấy mươi năm chinh chiến, thân đã trải trăm trận, có trận chiến đấu ác liệt nào không đánh, có lúc nào sợ đi đánh trận...” mồm Diệp Quần như họng súng liên thanh và như đê bị vỡ, bắt đầu rồi thì không sao dừng được.

“Nói những chuyện ấy làm gì!” Lâm Bưu khoát tay, ngăn câu chuyện của Diệp Quần lại. “Có ai trước mọi người mà không nói người khác, có ai sau lưng không bị người nói. Người ta có cái mồm, một là để ăn, hai là để gây chuyện thị phi, gây chia rẽ, có cách nào khác được, nếu không gây chuyện thị phi thì rỗi rãi chẳng có việc gì để làm, sẽ nhàn hạ đến mức không chịu nổi”. “Chuyện này tôi đã nghe từ lâu rồi”, Cao Cương tỏ ra đồng tình, nói lấy lòng: “Nói về chiến công, trong cán bộ quân sự của Đảng ta chẳng có người nào có thể so được với anh Lâm. Một phần ba thiên hạ của Trung Quốc là do anh Lâm cầm quân giành được. Ba chiến dịch lớn Liêu Thẩm, Hoài Hải, Bình Tân trong chiến tranh giải phóng, anh Lâm đã chiếm hai, nói anh Lâm là nhà quân sự kiệt xuất của Đảng ta quả thực là không sai, nhưng có người lương tâm mê muội cố ý không thừa nhận, còn đỏ mắt đố kỵ ghen ghét vậy mà đến bây giờ anh chưa vào Bộ Chính trị, nhưng có người không có công lại được hưởng lộc”.

“Có người qua cầu rút ván!”. Diệp Quần xen vào, “bọn họ không những nói xấu anh Lâm sau lưng, còn báo cáo này nọ trước mặt Mao Chủ tịch, đâm dao sau lưng, thật đểu cáng!”

“Điều này tôi biết!” ba chén rượu vào bụng, tâm trạng Cao Cương cũng đã phấn chấn, sau những chén rượu là những lời nói thật: “Theo tôi biết những người phá anh Lâm thực sự ở Trung ương có mấy người!” Lâm Bưu và Diệp Quần chăm chú nghe từng chi tiết, những tin tức do nhân vật lớn không những thạo tin tức mà còn có những mánh khoé tầy trời đưa đến.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:23:44 pm

Cao Cương chau mày, trầm ngâm một hồi mới nói: “Một người là nhân vật thứ hai trong Đảng, một người là nhân vật thứ ba, số người không nhiều, nhưng sức nặng thì lại không thể đánh giá thấp, họ không chỉ bao vây Chủ tịch, hơn nữa còn có thể điều khiển Chủ tịch”. Ông ta nhìn chung quanh với vẻ thần bí, thấy trong phòng ăn chỉ có ba người, mới yên tâm tiết lộ “thiên cơ” với vợ chồng Lâm Bưu.

“Sự việc nghiêm trọng đến thế cơ ư?” Lâm Bưu bán tín bán nghi hỏi. Lâm Bưu nghỉ an dưỡng lâu ngày nên rất ít tham gia hoạt động chính trị trong Đảng.

“Đúng trăm phần trăm!” Cao Cương nói như đinh đóng cột, “Đây là chuyện tôi đích thân tai nghe mắt thấy, hơn nữa có người còn ngầm lộ ra cho tôi biết”. Ông ta nói nửa chừng rồi ngừng lại. “Hả!?” Lâm Bưu khôn ngoan đã hiểu ra, hoài nghi và do dự phút chốc biến mất, ông ta hiểu ý gật đầu, như bừng tỉnh: “Hóa ra là như thế!” Nhưng ông ta vẫn không nói gì thêm. Bài tủ của đối phương, ông ta vẫn chưa nắm được, vẫn chưa chịu tham gia một cách dễ dàng. Ông ta nghiêm khắc tuân theo lời răn: “Chỉ nói đôi lời khi gặp bạn, chớ nên bày tỏ cả ruột gan, vẻ mặt vui tươi đều là bạn, hiểu lòng thực sự có mấy ai!” Đối với vấn đề chính trị trọng đại, giờ phút quyết định chưa đến thì không thể liều lĩnh xông lên.

Cao Cương đã đi guốc vào bụng vợ chồng Lâm Bưu, ông ta bắt đầu khôn khéo dẫn dắt và khống chế, hướng theo đà phát triển không còn úp úp mở mở, bây giờ thời điểm quyết định đã đến, ông ta không giấu đầu hở đuôi nữa, mà nói vào thẳng sự việc: “Cứ như chiến công của anh, tài hoa của anh”, Cao Cương lúc này mặt đã đỏ, nhìn vợ chồng Lâm Bưu, nói lấy lòng: “Anh đã phải được vào Bộ Chính trị từ lâu rồi, bây giờ sử dụng anh như vậy là quá bất công”. Cao Cương lắc đầu: “Hai cái chướng ngại ấy không hất đi thì anh rất khó có ngày cất đầu lên được, chỉ có thể có tiếng mà không có miếng”.

Cao Cương nhìn Lâm Bưu và Diệp Quần đang chăm chú theo dõi, biết là những lời nói của mình đã làm cho họ xúc động. Thế là, ông ta lại tiến thêm bước nữa, xúi giục: “Theo tôi chúng ta cũng không nên ngồi chờ chết, dùng thuật ngữ quân sự là phải chủ động xuất kích”. Ông ta nhìn Diệp Quần, kích động; “Chị hiểu chưa?” Ông ta vừa hỏi vừa đáp: “Địa vị thường thường là phải tranh giành mới có. Người có công trong việc dựng nước như anh Lâm nhưng lại an phận thủ thường, không tranh, không cướp, không đoạt, cái lợi chỉ có thể bị người khác chiếm hết”.

Diệp Quần đứng dậy, lại rót cho Cao Cương một cốc rượu đầy, cảm động nói: “Anh Lâm nhà tôi quá thực thà, chỉ biết ra sức làm lụng vất vả, danh dự, địa vị, quyền thế cũng chẳng bao giờ nghĩ đến, chẳng giống như người ta, công lao chẳng to lớn gì, nhưng trong chốn quan trường lại có những thủ đoạn xảo quyệt, chẳng tốn bao nhiêu sức lực nhưng lại thăng chức rất nhanh. Thực ra thủ đoạn xảo quyệt của họ chẳng qua cũng không ngoài bốn chữ: nhìn chiều gió, bợ đỡ, thổi phồng, đâm bị thóc chọc bị gạo!” Bà ta thở dài, nói với một ý sâu xa: “Bất kể lúc nào cũng là người tinh ranh thì được lợi, còn người thực thà thì bị thiệt”.

“Có người nhờ kéo bè kết cánh mà dựng nghiệp”. Lâm Bưu vẫn ngồi nín lặng hồi lâu giờ mới xen vào với giọng tức tối: “Khi giành thiên hạ, họ giết được mấy tên giặc, giải phóng được mấy mảnh đất? Không có, nhưng khi có thiên hạ, chia lại quyền lực thì mắt họ mở rõ thật to, tay thò ra rõ thật dài, sắp xếp người của mình vào những ngành quan trọng, những ngành quan trọng đều là người của họ, rõ ràng là đã thành thiên hạ của họ. Nghĩ đến đây, tôi tức không sao chịu được, nhưng tôi ở ngoài không nắm quyền, lại không đủ sức làm!” Lâm Bưu lắc đầu thở dài: “Chúng ta không thắng nổi họ đâu, đành phải chịu lép vế thôi”. Vợ xướng chồng hoạ, công kích người khác, tự đề cao mình, thật là đẹp đôi.

“Anh chịu lép vế à?” Có lẽ vì uống rượu nhiều, hoặc mượn cớ để phát huy hơn, Cao Cương cao giọng nói một cách xúc động: “Chẳng có chuyện dễ dàng như thế, họ đã lừa dối quá đáng, chúng ta phải hành động thôi”. Ông ta say ngật ngưỡng vỗ vào vai Lâm Bưu nói một cách thân mật: “Chú em, nói thực lòng với chú, mấy cái đại quân khu tôi đã thông lưng rồi, tuyệt đại đa số đều ủng hộ tôi, bây giờ xem chú em thế nào thôi, nếu chú đóng ý, tôi không thể phong thưởng quan tước, nhưng luận công ban thưởng thì chú cũng phải được nắm quyền lực lớn trong Trung ương”. Ông ta vỗ vào ngực, huênh hoang cam đoan: “Không may có chuyện gì xảy ra thì Cao Cương tôi sẽ chịu trách nhiệm, một người làm một người chịu, không liên luỵ đến bất cứ ai, chú ngồi chơi hưởng lộc, được chứ?” Cao Cương giống như một con buôn đầu cơ gian giảo xảo quyệt bàn chuyện mua bán, uốn ba tấc lưỡi nói năng ngọt xớt có lý có tình, ông ta thấy Lâm Bưu lặng yên không nói, liền nói tiếp: “Không cần chú xuất đầu lộ diện chiến đấu xông pha, chú cứ án binh bất động, ngồi trên núi xem hổ đánh nhau, đợi đến giờ phút then chối, chú đứng lên bày tỏ thái độ là được rồi!”

“Ở trên thế nào...”, Lâm Bưu vẫn nghi ngờ không yên tâm hỏi. Ông ta không thấy thỏ thì không thể thả chim ưng. Cao Cương không trả lời thẳng vấn đề mà Lâm Bưu nêu ra, mà vòng vo một hồi, rồi cho Lâm Bưu uống một viên an thần: “Lần này trên dưới kết hợp, không phải là khoác lác mười phần chắc chín, trong cuộc tranh giành quyền lực này, chúng ta nắm chắc phần thắng, chú hoàn toàn có thể yên tâm!”

Cao Cương thao thao bất tuyệt: “Chú hãy chờ tin vui! Phải nói rằng, lần này là lần thứ hai tái phân phối quyền lực sau khi giành được thiên hạ, chú hoàn toàn có thể yên tâm, thiên thời địa lợi nhân hòa tất cả đều thuộc về phía chúng ta”.

“Tôi nghe anh, chúng ta nói một là một nói hai là hai nhé”. Hai người tỏ ra ăn ý với nhau, giao thiệp thành công trong nháy mắt. Lâm Bưu xúc động nắm chặt tay Cao Cương: “Anh đi trước một bước, tôi tiếp ứng, giờ phút quan trọng tôi sẽ giúp anh một tay”.

Cao Cương đứng dậy chạm cốc với Lâm Bưu và Diệp Quần thề: “Chúng ta sẽ sóng gió cùng thuyền, cùng chung hoạn nạn, có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu, chúng ta cùng cộng sự”. Ông ta ngửa cổ uống cạn chén rượu Mao Đài, có lẽ vì uống quá vội nên bị sặc, ho liền mấy tiếng nước mắt nước mũi chảy ra.

Đúng là rượu gặp tri âm ngàn chén ít, lời không hợp ý nửa câu nhiều. Ba người đều hởi lòng hởi dạ, ngay đến Lâm Bưu vốn rất ít nói cũng hào hứng trò chuyện, nói đông nói tây chốc đã canh hai, Diệp Quần lo cho sức khoẻ của Lâm Bưu, bèn nói với Cao Cương là để hôm khác sẽ nói tiếp. Cao Cương ý tứ đứng dậy cáo từ.

Lâm Bưu và Diệp Quần đưa Cao Cương ra tận xe. Lâm Bưu lại nắm chặt tay Cao Cương: “Đối với tôi, anh hoàn toàn có thể yên tâm, vì bạn bè phải ra tay hỗ trợ. Bất kỳ lúc nào tôi cũng không bao giờ bán bạn cầu vinh, huống hồ, đây lại là việc chung của chúng ta, cần tôi làm việc gì chỉ cần nói một tiếng, tôi sẽ dốc sức làm, cũng để cho bọn họ thấy chúng ta không phải là những kẻ dễ bắt nạt. Tôi sẽ làm đội quân hậu bị, quân dự bị cho anh, sẵn sàng theo sự điều động của anh”.

Cao Cương nắm mạnh tay Lâm Bưu, vừa lên xe vừa dặn: “Đừng nói chuyện với ai, chú biết tôi biết là được rồi. Đối thủ mà chúng ta phải đọ sức không phải là bọn yếu bóng vía đâu, cơ quan xúc giác của họ vươn tới các ngành, nhất cử nhất động của chúng ta chưa biết chừng đều có người của họ giám sát đấy”.

Cao Cương ngồi vào xe, vụt như chớp điện mất hút trong màn đêm dày đặc.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:25:45 pm

2. Thỏ chết, cáo thương Lâm Bưu rơi nước mắt

Lâm Bưu và Diệp Quần nằm trên giường, họ cân nhắc lợi hại được mất, đây tuy là một nước cờ hiểm nhưng nước hiểm này đáng giá: “Nếu không ra tay thì thiên hạ sẽ là của người ta!” Diệp Quần tỏ ra hăng hái, bà ta tức giận nói: “Em biết, bọn này không ra cái gì! Những lợi ích vốn thuộc về chúng ta, bọn họ khôn khéo giành mất, ngồi mát ăn bát vàng, bây giờ chúng ta phải giành lại”.

Đêm đã khuya. 

Sông Ngân sáng mờ trên nền trời đêm, có mấy ngôi sao nhỏ không chịu lặng yên nhìn xuống cái ngôi công quán này, vành trăng lưỡi liềm chiếu vào cửa phía tây, ánh trăng trong, lạnh, tĩnh mịch, treo lơ lửng trên vòm trời thăm thẳm tối, như đang lặng lẽ nhìn hai nhân vật đang bày muu tính kế tiến hành canh bạc chính trị này.

“Anh thấy con người Cao Cương có đáng tin không?” Diệp Quần lo lắng hỏi.

“Sự hợp tác về chính trị, không có đồng minh thần thánh nào tuyệt đối bền vững mãi mãi”, Lâm Bưu đáp: “Đó là một cuộc mua bán, không phải là hữu nghị, mà là sự kết hợp về lợi ích của hai bên, đối với hai bên có lợi thì sẽ liên hợp hành động, khi bất lợi thì sẽ rút lui ngay lập tức, mỗi người đi một ngả, chỉ cần chúng ta có lợi thì dù hắn là tên lưu manh vô lại, du côn cũng có thể lợi dụng hợp tác”.

“Theo em, Cao Cương muốn làm nhân vật thứ hai của Đảng”, Diệp Quần thì thầm: “Đó là chuyện rõ ràng, nếu không có lợi cho ông ta, thì sao ông ta lại có thể như là ăn phải thuốc kích thích, hăng hái đến thế, nhảy lên nhảy xuống, chạy đông chạy tây, xông vào nơi vô cùng nguy hiểm. Ông ta cũng giỏi nghĩ, đã nghĩ ra một hệ thống lý luận về “Quân đội và Đảng”, mình cũng có chút mơ hồ”.

“Sự việc thành công thì dễ giải quyết, bước sau sẽ là vấn đề tái phân phối quyền lực, ngộ nhỡ...” Diệp Quần lại nói tiếp.

“Anh đã nghĩ đến điều này rồi”, Lâm Bưu đã dự tính sẵn kế trong đầu: “Trước tiên là để Cao Cương xông lên đã ngộ nhỡ bất lợi, sự việc không thành thì để một mình Cao Cương chịu tội, trước mắt chúng ta cứ ngồi trên núi xem hổ đánh nhau, án binh bất động, không xuất đầu lộ diện, đợi thắng bại thật rõ ràng, đợi đến giờ phút then chốt chúng ta sẽ đứng ra tỏ thái độ”. Lâm Bưu trầm ngâm một lúc lại nói tiếp: “Tất nhiên bất cứ việc gì, đều phải chuẩn bị cả hai tay, một tay tranh thủ thắng lợi, một tay đề phòng thất bại. Tính đến cái điều xấu nhất, tương lai khi Cao Cương cắn ta, ta sẽ khăng khăng không nhận, họ sẽ không nắm được gáy chúng ta, khẩu thiệt vô bằng, ai làm gì nổi chúng ta”.

Tháng 2 năm 1954, trong những cán bộ cao cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xảy ra một việc lớn. Liên minh chống Đảng Cao Cương, Nhiêu Thấu Thạch bị vạch mặt. Tin này như sét đánh giữa trời quang làm mọi người kinh động.

Lâm Bưu càng hoang mang sợ hãi không yên. Ông ta vốn cho rằng liên kết bàn bạc với Cao Cương chắc chắn là chuyện không sơ hở chút nào, vậy mà chỉ trong nháy mắt đã xảy ra kết cục như thế này. Nhỡ ra Cao Cương tố cáo những hoạt động của mình với ông ta, như vậy chẳng phải là vồ trộm gà không được lại vớ phải bãi phân hay sao?

Ông ta thở dài lẩm bẩm một mình: “Chẳng trách có người nói, chính trị cũng là một trò đánh bạc, thắng thì nhất bản vạn lợi, lên tận mây xanh, thua thì rơi xuống vực, thanh danh nhơ nhuốc. Nguy hiểm quá”.

Lúc này Diệp Quần đi đến, cầm tay kéo Lâm Bưu ngồi xuống, an ủi: “Chẳng nên căng thẳng như vậy, xe đến trước núi sẽ có đường, thuyền đến trước cầu tự đi thẳng. Cũng chưa chắc là Cao Cương để lộ anh, ông ta móc nối càng nhiều người thì vấn đề của ông ta chẳng phải càng nghiêm trọng hay sao? Cho dù ông ta có đưa ra tất cả những hoạt động của chúng ta ở đây, thì cũng chẳng có ai ở bên cạnh, chúng ta hoàn toàn có thể nuốt lời, dù sao cũng chẳng có ai làm chứng, thứ hai cũng chẳng có vật gì làm bằng chứng, chỉ bằng vào hai cái mồm thì người không phạm đến ta, ta sẽ không phạm đến người. Nếu ông ta vu vạ cho chúng ta, thì anh sẽ nói là ông ta ngậm máu phun người...”.

“Cũng chỉ có thể như thế!” Lâm Bưu tiếp lời: “Đến hội trường xem tình hình rồi sẽ tính sau! Điều làm anh khó hiểu là vì sao Cao Cương lại rơi vào kết cục này?”

Chẳng bao lâu sau, cuộc họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa 7 được triệu tập, nội dung chủ yếu là xử lý vấn đề của Cao Cương và Nhiêu Thấu Thạch.

Ngày 6 tháng 5 năm 1954, gió bấc tràn về Bắc Kinh, trời đất âm u. Sáng hôm ấy, Lưu Thiếu Kỳ tuyên bố: “Bây giờ khai mạc hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa 7, Mao Chủ tịch bị mệt giao cho tôi chủ trì hội nghị này”.

Hội nghị đi sâu thảo luận và phòng tuyến cuối cùng Cao Cương bị phá vỡ. Ông ta đã móc nối với những người nào, những người ấy đã nói với ông ta những gì ông ta đều kể như đổ hạt đậu từ trong ống ra, không còn dính một hạt nào.

Lâm Bưu từ cha sinh mẹ đẻ đến nay chưa bao giờ thấy một thế trận như vậy. Người bị xét xử, mặt trắng bệch, mồ hôi vã ra khắp người. Cuộc phê phán như những lưỡi dao sắc khía vào thần kinh, đổ dồn từ bốn phương tám hướng tới.

Khi Cao Cương thú thật về những chi tiết trong cuộc móc nối với vợ chồng Lâm Bưu, Lâm Bưu đã dùng chiêu “lấy tiến công để phòng thủ”, nhưng chiếu này rõ ràng là bất lực, trái lại việc tố cáo đối với Cao Cương có tác dụng đổ thêm dầu vào lửa. Cao Cương đã quyết đánh canh bạc cuối cùng, đâm lao thì phải theo lao, bản thân Cao Cương đã đứng trước tai họa hủy diệt, đâu còn nghĩ tới người khác. Ông ta đã nói ra tất cả đầu đuôi ngọn ngành sự việc có thời gian có địa điểm có tình tiết rất cụ thể.

Phòng tuyến của Lâm Bưu cũng đã tan vỡ. Tim của ông ta như bị đẩy lên chẹn lấy cổ họng, tựa như bản thân ông ta cũng đang ngồi ở ghế bị cáo, phút chốc như có hàng ngàn mũi kim đâm vào mặt, hàng vạn mũi tên cắm vào tim, cảm giác đau khổ, tủi hổ kéo đến trùm kín trời đất.

Lúc này Lâm Bưu lại nhớ đến lời nhắn của Mao Trạch Đông nhờ Trần Vân nói với Lâm Bưu: “Anh nhắn lại với Lâm Bưu, yêu cầu anh ta vạch rõ ranh giới với Cao Cương, đừng có bao che cho Cao Cương nữa, nếu không chúng ta sẽ cắt đứt với anh ta!”

Lâm Bưu sợ run, mồ hôi vã ra.

Sáng sớm ngày 2 tháng 7 năm 1954, có tin về cái chết của Cao Cương. Lâm Bưu ngẩn người. Ngày hôm ấy, sắc mặt ông ta u ám, chẳng nói chẳng rằng, đi đi lại lại trong phòng. Có lẽ là thỏ chết cáo thương, con vật đau lòng vì đồng loại bị nạn, Lâm Bưu lặng lẽ rơi nước mắt. Ông ta nghĩ đến con đường quan trường từ nay về sau, tính xem làm thế nào để có thể sắm một vai kẻ mạnh, kẻ chiến thắng trên vũ đài chính trị phức tạp, biến hóa đa đoan.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:28:31 pm

2
La Trưởng Tử “ngu trung” gặp phải họa lớn
Móc ruột moi gan bóng Mao không thể nào tan


1. Mao Trạch Đông có hai điều do dự đối với Lâm Bưu

Trong mười nguyên soái của nước Trung Hoa, Lâm Bưu có sự từng trải ít nhất, nhưng lại xếp thứ ba, tất nhiên là dựa vào chiến công Chu Đức “người cha của Hồng quân” là Tổng Tư lệnh; Bành Đức Hoài là Phó Tổng Tư lệnh, đã từng là Quyền Tổng Tư lệnh, nguyên nhân lịch sử này, Lâm Bưu không thể vượt qua. Chức nguyên soái của ông ta đã vượt qua tất cả những người đã từng là thầy dạy ông ta khi ở Trường Quân sự Hoàng Phố, hay Tổng chỉ huy của ông ta trong khởi nghĩa Nam Xương, hay Quân đoàn trưởng, đại biểu Đảng của ông ta khi ở Tỉnh Cương Sơn. Ông ta đã trở thành vị nguyên soái thứ ba.

Trong đấu tranh ở Tỉnh Cương Sơn, bạn bảo ông ta là kẻ đầu cơ cũng được, là kẻ dao động cũng được, là kẻ hoài nghi “cờ đỏ sẽ giương cao đến bao giờ” cũng được, ông ta đã trải qua nhiều thử thách, hơn thế đã vượt trội hơn hàng loạt những người chỉ huy ưu tú. Chiến tranh là sự lựa chọn vô tư và nghiêm khắc nhất đối với một quân nhân không thể có một chút giả dối và may mắn nào. Chỉ có thể may mắn được một lần, không thể may quá mười lăm lần. Trong ba năm Lâm Bưu được thăng chức từ đại đội trưởng lên tiểu đoàn trưởng, đi lên cùng với từng trận đánh. Rất nhiều chuyên gia nghiên cứu lịch sử quân sự cũng không thể không thừa nhận ông ta là người “đánh trận rất giỏi”.

Năm 24 tuổi, ông ta được giữ chức Quân đoàn trưởng Quân đoàn 4 Hồng quân, không phải là dựa vào ai đó đánh giá cao để đề bạt mà là dựa vào chiến công “trong 50 ngày tiêu diệt hơn 1 vạn quân địch” và tài năng chỉ huy quân sự.

Năm 25 tuổi, ông ta giữ chức Tổng chỉ huy Quân đoàn 1 Hồng quân, cùng với Bành Đức Hoài Tổng chỉ huy Quân đoàn 3 Hồng quân trở thành hai cánh quân chủ yếu của Mao Trạch Đông trong cuộc chống vây quét. Trong cuộc vây quét lần thứ 4, Lâm Bưu chỉ huy Quân đoàn 1 Hồng quân tiêu diệt gọn ghẽ sư đoàn 22 “Thường thắng quân” mà Trần Thành đã dựa vào đó để lập nghiệp, thuộc đội quân trực hệ của Tưởng Giới Thạch, giành được thắng lợi quyết định trong việc đánh tan cuộc “vây quét” lần thứ 4 của quân Quốc dân Đảng.

Mao Trạch Đông dùng Lâm Bưu thay Bành Đức Hoài làm Bộ trưởng Quốc phòng.

Lâm Bưu giỏi dùng thủ đoạn. Khi Bành Đức Hoài kiên trì ý kiến riêng thường làm cho Mao Trạch Đông tức giận, còn khi Lâm Bưu kiên trì ý kiến riêng lại thường làm cho Mao trạch Đông cảm động. Bành Đức Hoài dám nói, Lâm Bưu cũng không phải là người có ý kiến mà không dám nói. Sự khác biệt giữa họ là: khi Bành Đức Hoài thấy ý kiến của mình đúng thì phê bình những sai lầm của Mao Trạch Đông trước mặt mọi người một cách thẳng thừng, hơn nữa thường để lộ ra những tình cảm tuỳ tiện. Còn Lâm Bưu, khi sự thực chứng minh mình đúng thì không nói như thế.

Trận Đông Bắc, cuối cùng đã đánh thắng, Lâm Bưu đã phát biểu trong Hội nghị Cục Đông Bắc mở rộng rằng, “Đây là kết quả của toàn Đảng bộ Cục Đông Bắc quán triệt chỉ thị tháng 12 năm 1945 của Mao Chủ tịch”. Ông ta đã quy công lao cho Mao Trạch Đông. Bản thân không tự cho mình là có công, càng không bao giờ thấy mình có lý mà không nhường người khác, quay đầu lại không nhất thiết cứ phải bàn rõ ai đúng ai sai.

Bảo rằng Lâm Bưu “trước mặt thì hô muôn năm còn sau lưng thì hạ độc thủ” là không toàn diện, đó là trong thời gian và sự kiện đặc biệt. Nếu ông ta trước sau đều như thế, thì không thể làm nổi “người nối nghiệp”. Phần nhiều, “trước mặt ông ta kiên trì ý kiến của mình, cãi lại Mao Trạch Đông nhưng sau lưng lại hô muôn năm và trong trường hợp công khai thì bảo vệ Mao Trạch Đông”. Trong lòng Mao Trạch Đông, rõ ràng ông ta là “trung thần” hơn Bành Đức Hoài.

Mao Trạch Đông có hai điều do dự đối với Lâm Bưu. Không phải là do dự sự trung thành về chính trị của ông ta, sự tài giỏi về quân sự, hoặc như trong một số thư từ hoài nghi Lâm Bưu là loại hung hãn có dã tâm.

Do dự thứ nhất của Mao Trạch Đông đối với Lâm Bưu là tình trạng sức khoẻ.

Do dự thứ hai của Mao Trạch Đông đối với Lâm Bưu khi nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng là vì trong đầu ông ta còn có Nhạc Phi Nhạc Bằng Cử...

Các tướng soái nổi tiếng của Trung Quốc đều có “biệt hiệu” rất sinh động, ví dụ như Chu Đức được tôn xưng là “người cha của Hồng quân”, Bành Đức Hoài được gọi là “Trương Phi Trương Dực Đức”, Lưu Bá Thừa là “Chiến thần”, Lâm Bưu là “Hàn Tín”, La Vinh Hoàn là “Nguyên soái chính trị” v.v... Trong đó không ít tên do Mao Trạch Đông gọi. Ví dụ dùng “Gia Cát, Lữ Đoan” để ví với Diệp Kiếm Anh, dùng “Chu Bột” để với Hứa Thế Hữu, dùng “Lý Quỳ” để ví với Lý Đạt, dùng “Từ Đạt” để ví với Hứa Quang Đạt... Nhạc Bằng Cử mà Mao Trạch Đông nói là chỉ lá cờ của Phương diện quân thứ 2, Hạ Long “vị nguyên soái binh mã” nổi tiếng thiên hạ vì yêu lính, yêu ngựa.

Mao Trạch Đông không uống thuốc ngủ lần thứ hai mà lại châm thêm một điếu thuốc lá.

Ông trầm ngâm nhìn hai cái tên trên tờ giấy trắng, trong đầu lần lượt hiện ra hai khuôn mặt: Một là Lâm Bưu gầy gò ăn nửa cân thịt mà không béo ra được; một là Hạ Long có khuôn mặt vuông vức, có bộ râu và đôi lông mày đen không tức giận mà vẫn uy nghiêm. Mao Trạch Đông đã gặp Hạ Long ở Diên An, nhưng khi ở Tỉnh Cương Sơn thì đã biết rõ Hạ Long. Khi ông khích lệ binh sĩ của mình thì người được nhắc đến nhiều nhất là Hạ Long: “Các đồng chí, Hạ Long cầm hai con dao phay đi làm cách mạng bây giờ lãnh đạo một quân đoàn. Chúng ta có một tiểu đoàn vì sao không thể gây dựng nên một đội ngũ lớn?...”

Trầm ngâm một lát, lại có một khuôn mặt thứ ba lóe lên trong đầu: “Trán và hai thái dương cao rộng, đôi môi và hàm dầy dặn, đeo đôi kính cận nhiều đi-ốp, ánh mắt  hiền hoà, sâu sắc, có tầm nhìn sáng suốt, đôn hậu. Ông ta được tôn vinh là vị thánh trong Đảng Cộng sản, đó là vị “nguyên soái chính trị” La Vinh Hoàn, người được Mao Trạch Đông vô cùng tín nhiệm.

Chẳng trách Mao Trạch Đông trầm ngâm. Mặc dù Lâm Bưu là vị tướng yêu của ông, rất được ông coi trọng và tin cậy, mặc dù ông đã bỏ cho Lâm Bưu một phiếu ở Đại hội 8, mặc dù năm ngoái ông đã nêu tên chọn Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch Trung ương Đảng để chuẩn bị trọng dụng, mặc dù ngày 23 tháng 7, khi triệu tập Lâm Bưu đến Lư Sơn đã nghĩ đến việc để Lâm Bưu thay Bành Đức Hoài, nhưng khi trưng cầu ý kiến thì Bành Chân lại chuyển đến một kiến nghị khác của La Vinh Hoàn. La Vinh Hoàn không đồng ý Lâm Bưu làm Bộ trưởng Quốc phòng mà giới thiệu Hạ Long làm Bộ trưởng.

Hạ Long xứng đáng với chức Bộ trưởng Quốc phòng, điểm này Mao Trạch Đông không có bất đồng với La Vinh Hoàn. Dùng một câu mà Mao Trạch Đông thường nói là: “Chết một anh đồ tể giết lợn, cũng sẽ không phải ăn lẫn lông lợn”. Tức là không có Lâm Bưu, Hạ Long thì cũng vẫn có thể tìm được một Bộ trưởng Quốc phòng xứng đáng. Vấn đề là ở chỗ Lâm Bưu và Hạ Long ai là người làm Bộ trưởng Quốc phòng tốt hơn?

Trọng điểm mà Mao Trạch Đông suy nghĩ là hai câu của La Vinh Hoàn:

“Sức khoẻ Lâm Bưu không tốt”. Đây là lời nói thật, nhưng trước khi hạ quyết tâm, Mao Trạch Đông đã suy nghĩ đến vấn đề này, nó không còn là lý do để làm cho sự quyết tâm bị lung lay nữa.

“Bộ trưởng Quốc phòng không nên chỉ là người của Phương diện quân thứ 1”. Ý kiến này rất có sức nặng. Cách mạng Trung Quốc là nông thôn bao vây thành thị, là ngọn lửa nhỏ có thể đốt cháy cánh đồng. Mỗi một “đốm lửa nhỏ” đều đã từng độc lập chiến đấu phân tán đơn độc, hình thành nên rất nhiều “phái” đó là sự thực khách quan, thậm chí trong những hầm phòng không ở Diên An có lúc cũng cảm nhận được sự tồn tại của những “phái” này. Với tư cách là người quyết định chính sách cao nhất, Mao Trạch Đông không thể không suy nghĩ đến vấn đề “cân bằng” ấy.

Bành Đức Hoài và Lâm Bưu đều ở Phương diện quân thứ 1, vấn đề này không thể không xem xét. Nhưng nó có đủ để thay đổi quyết tâm sau khi đã được suy nghĩ hay không?

Hồi lâu sau, Mao Trạch Đông vẽ một vòng tròn trên giấy...

Ngày 17 tháng 8 năm 1959, Trung ương bổ nhiệm Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch thứ nhất Quân ủy kiêm Bộ trưởng Quốc phòng.

Đây là cái tên được khuyên tròn sau khi được cân nhắc suy nghĩ nhiều lần.

Đồng thời, Trung ương bổ nhiệm Hạ Long làm Phó Chủ tịch Quân ủy thứ hai.

Mao Trạch Đông nói: “Công tác của Quân ủy Lâm Bưu ở nhà thì Lâm Bưu chủ trì, Lâm Bưu đi vắng thì Hạ Long chủ trì”.

Vị Phó Chủ tịch thứ hai trước đây chưa lập. Khi Bành Đức Hoài giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, để làm cho Bành Đức Hoài rộng chân rộng tay, Mao Trạch Đông đã cấp lương chuyển ngành cho Lâm Bưu. Lần này Lâm Bưu giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, Mao Trạch Đông không nghĩ tới việc “nới rộng chân tay” cho ông ta, nên đã cử thêm một Phó Chủ tịch, hơn nữa còn nói: “Lâm Bưu ở nhà thì Lâm Bưu chủ trì, Lâm Bưu đi vắng thì Hạ Long chủ trì”. Điều đó không còn nghi ngờ gì nữa chính là một kết quả đối với sự tiến cử của La Vinh Hoàn, đồng thời cũng là để chiếu cố sức khoẻ không tốt của Lâm Bưu, thường phải đóng cửa để dưỡng bệnh.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:39:35 pm

2. La Thụy Khanh, mi đã tầm gửi lấn cành?

Sau khi Lâm Bưu nhậm chức Bộ trưởng Quốc phòng, vẫn để tâm muốn lấy lòng Mao Trạch Đông để tiếp tục bò lên nữa. Sau khi ông ta đã lật được Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành, Đặng Hoa, Hồng Học Trí v.v... đã đưa một số tướng lĩnh vốn thuộc Dã chiến quân thứ 4 của mình như Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Hoàng Vĩnh Thắng v.v.. vào một số cương vị quan trọng. Trước đó không lâu, ông ta nêu ra nguyên tắc công tác chính trị “bốn nhất” trong quân đội, bị Đại tướng Đàm Chính Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phản đối, Lâm Bưu liền triển khai cuộc đấu tranh chống Đàm Chính và đã hạ bệ Đàm Chính. Quyền chỉ huy toàn quân đã rơi vào tay Lâm Bưu, nhưng Tổng Tham mưu trưởng La Thụy Khanh thì không nghe lời cho lắm, Lâm Bưu tính là đến lúc nào đó sẽ báo cho ông ta biết trước.

Mặc dù quyền nắm quân đội đã ở trong tay, nhưng ông ta muốn biến quân đội thành quân của nhà họ Lâm, tuy vậy bước đi rõ ràng là khó khăn. Tâm tư của Lâm Bưu người qua đường cũng biết. Các vị nguyên soái chính trực khí tiết, các vị tướng lĩnh sẽ không thể nhắm mắt làm ngơ, càng không thể chạy theo đuôi ông ta.

Đại tướng La Thụy Khanh đã công nhiên thách thức với ông ta. Một buổi chiều, Lâm Bưu lững thững dạo trong sân công quán Mao Gia Loan. Trong sân lặng ngắt, ngoài thư ký và cảnh vệ vào ra, hầu như không thấy bóng một ai khác.

Một cơn tức giận bốc lên đầu Lâm Bưu. Phải giết gà dọa khỉ, nếu không cho ông ta một cú thì địa vị của Lâm Bưu ta trong quân đội sẽ nguy hiểm rất nhiều dự tính đẹp đẽ cũng sẽ trở thành giấc mộng Nam Kha. Lâm Bưu thấy trong lòng sáng tỏ, La Thụy Khanh là một tay cứng đầu, rắn mềm đều không xong, nếu chỉ dựa vào một mình ta đơn thương độc mã, không dựa vào Mao Trạch Đông thì thắng bại khó lường. Vậy phải thuyết phục Mao Trạch Đông như thế nào đây? Lâm Bưu rầu rầu suy ngẫm, nhưng vẫn không nghĩ ra kế gì.

La Thụy Khanh là người Nam Sung tỉnh Tứ Xuyên, tham gia phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo từ sớm. Ông đã cùng Mao Trạch Đông tiến hành cuộc trường chinh hai vạn năm ngàn dặm, đã giữ chức trưởng phòng Giáo vụ rồi Phó Hiệu trưởng trường Đại học Quân chính kháng Nhật ở vùng Biên khu Thiểm Cam Ninh. Sau giải phóng, đã đảm nhiệm chức Bộ trưởng Công an, Ủy viên Bộ Chính trị, nay đang giữ chức Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Thủ tướng chính phủ, Tổng Tham mưu trưởng quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Thân thể La Thụy Khanh cao lớn khôi ngô, khuôn mặt đầy đặn, trung hậu hiền hòa, cương trực thẳng thắn, khi ở Diên An, thầy trò Trường Đại học Quân chính kháng Nhật đã đặt cho ông biệt danh rất thân mật: “La Trưởng Tử”.

Mao Trạch Đông vẫn luôn rất coi trọng La Thụy Khanh, còn La Thụy Khanh đối với Mao Trạch Đông cũng rất trung thành.

Trên đường trường chinh dài hai vạn năm ngàn dặm, La Thụy Khanh giữ chức Cục trưởng Bảo vệ của Quân đoàn 1 Hồng quân. Mao Trạch Đông thường xuyên hoạt động cùng Quân đoàn 1, bất kể là trong hành quân hay đích thân ra tiền tuyến chỉ huy chiến đấu. La Thụy Khanh đều theo sát bên cạnh bảo vệ Mao Trạch Đông, toàn tâm toàn ý bảo vệ sự an toàn của Mao Trạch Đông.

Sau khi dựng nước 1949. Mao Trạch Đông vốn muốn động viên La Vinh Hoàn đảm nhận Bộ trưởng Công an, nhưng La Vinh Hoàn lại giới thiệu La Thụy Khanh: “Đồng chí ấy không chỉ trung thành đáng tin hơn nữa làm công tác bảo vệ trong một thời gian dài, đồng chí ấy nhất định có thể đảm nhận được. Mao Trạch Đông chấp nhận ý kiến của La Vinh Hoàn, bổ nhiệm La Thụy Khanh làm Bộ trưởng Công an. Lúc ấy, La Thụy Khanh tận tâm tận lực phụ trách sự an toàn của Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo cao cấp khác của Trung ương, không một chút sơ xảy, mỗi công việc đều xếp đặt tỉ mỉ chu đáo đều tự mình bố trí kiểm tra, luôn lo lắng cán bộ cấp dưới lơ là sơ suất để xảy ra chuyện sai sót. Mao Trạch Đông đi thăm các nơi ông cùng đi, dù là một chi tiết về công tác bảo vệ an toàn, ông cũng đích thân xem xét hỏi han.

Một lần, Mao Trạch Đông thị sát Tam Hiệp ở Trường Giang, dự định xuống sông bơi. Việc đó đã làm cho La Thụy Khanh hốt hoảng. Không muốn để Mao Trạch Đông bơi, nhưng lại không ngăn được, nếu cho phép Mao Trạch Đông xuống bơi ở chỗ sâu đến mấy chục mét, nước xiết sóng to, ngộ nhỡ có sơ xảy gì thì trách nhiệm to lớn này ai có thể gánh vác được. Ông lo ngại nên đã đích thân đến Tam Hiệp quan sát tình hình sông nước chỉ thấy nước sông xoáy cuộn chảy mạnh, sóng vỗ ầm ầm vào bờ, bọt sóng tung lên như hàng ngàn đống tuyết làm cho người ta phải run sợ. Ông đã tìm mọi cách ngăn được Mao Trạch Đông xuống tắm, ông thở phào nhẹ nhõm...

Năm 1959, La Thụy Khanh đi công tác đến Trường Sa. Hôm ấy, ông đột nhiên nghe thấy nói là Mao Trạch Đông đã đến bờ sông Tương Giang, muốn xuống sông bơi. Ngay tức khắc, ông đến bờ sông, kiểm tra tỉ mỉ chu đáo các biện pháp an toàn, rồi xuống sông cùng bơi với Mao Trạch Đông. Sau đó không lâu, Mao Trạch Đông về quê ở Thiều Sơn, La Thụy Khanh lại phải bận bịu, đích thân bảo vệ Mao Trạch Đông đi Thiều Sơn, cho đến khi đưa được Mao Trạch Đông đến nơi an toàn trong lòng mới nhẹ như vứt được hòn đá.

Mỗi lần đến ngày lễ, La Thụy Khanh càng bận rộn hơn, rất nhiều nhà lãnh đạo đem vợ chồng con cái đến lễ đài Thiên An Môn xem pháo hoa, nhưng ông lại không được hưởng cái vui sum họp gia đình vợ chồng con cái ấy. Để đảm bảo sự an toàn cho Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Trung ương, ông đã đặt cuộc sống gia đình ra phía sau. “Lúc nào anh cũng bận bù đầu”, Hách Trị Bình vợ ông hờn giận trách móc: “Đến gia đình cũng quên. Người ta vào những ngày lễ ngày tết đều đoàn tụ vui vẻ cả nhà, anh thì ngược lại, đến cái bóng cũng chẳng thấy đâu”. La Thụy Khanh cười cho qua chuyện. Vì sự an toàn của Mao Trạch Đông, quả thực La Thụy Khanh đã quên mình. Ông vốn không biết bơi, nhưng để bảo vệ Mao Trạch Đông, ngoài năm mươi tuổi La Thụy Khanh vẫn chịu khó tập bơi. Năm 1964, La Thụy Khanh tổ chức phong trào luyện tập quân sự có tính chất quần chúng trong toàn quân để nâng cao tố chất quân sự cho bộ đội. Ông đích thân tổ chức diễn tập quân sự cho bộ đội ở Bắc Kinh, Tế Nam v.v… và mời Mao Trạch Đông đến xem. Bộ đội Tế Nam diễn tập rất tốt. Mao Trạch Đông ngồi trên lễ đài xem biểu diễn, với nét mặt tươi cười nói với La Thụy Khanh “Công tác này đồng chí làm rất tốt, nên phổ cập rộng trong toàn quân”.

Tin Mao Trạch Đông công khai khen La Thụy Khanh truyền đến tai Lâm Bưu, ông ta liền nổi giận đùng đùng, ông ta bắt chéo hai tay đi đi lại lại rất nhanh trong phòng, La Thụy Khanh mi đã tầm gửi lấn cành, mi đã không còn thấy ta là người lãnh đạo trực tiếp của mi nữa, mi đã vượt trước ta, trổ tài trước mặt Mao Trạch Đông. Nhưng tạm thời ông ta chưa nắm được điều gì về La Thụy Khanh, chỉ có thể âm thầm nén chịu cơn tức để tính kế lâu dài. La Thụy Khanh trong lòng không một chút mưu toan, đối với trò sùng bái cá nhân của Lâm Bưu trong quân đội từ lâu đã thấy không ổn. Thực ra La Thụy Khanh cũng không muốn làm cho quan hệ với Lâm Bưu quá găng, nhưng tính cách cương trực không a dua đã làm ông không giữ được. Quan hệ giữa ông và Lâm Bưu xấu đi, bắt đầu từ năm thứ hai khi Lâm Bưu trở thành nhân vật có bàn tay sắt trong giới quân sự.

Năm 1960, Lâm Bưu nêu: “Tư tưởng Mao Trạch Đông chiếm vị trí cao nhất trên thế giới, là đỉnh cao của thời đại, là chủ nghĩa Mác - Lênin sống động nhất hiện nay”. La Thụy Khanh nghe thấy vậy trong lòng chợt thấy khó chịu, đây chẳng phải là sự nịnh bợ đến tởm lợm hay sao? Những lời nói ấy hoàn toàn trái với điều hiểu biết thông thường. La Thụy Khanh lòng dạ ngay thẳng... mau mồm mau miệng không suy nghĩ nhiều đã phát biểu trực diện trong một cuộc hội nghị: “Lẽ nào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông không phát triển nữa? Nói lý luận của những người thầy cách mạng là “đỉnh cao nhất”, bản thân nó đã đi ngược lại tư tưởng Mao Trạch Đông... Cao nhất sống động nhất, lẽ nào còn có cái cao thứ hai sống động thứ hai? Mao Chủ tịch biết cũng sẽ không đồng ý.”.

Năm 1961, Lâm Bưu lại nêu ra những khẩu hiệu học thuộc lời dạy để có kết quả ngay v.v...

“Học thuộc một cách máy móc, tìm những đáp án có sẵn trong sách vở”, hôm ấy trong một cuộc họp nhỏ, La Thụy Khanh đã ngang nhiên giương cờ chống lại Lâm Bưu: “Làm cái chuyện “có kết quả ngay” mà không học tập một cách nghiêm chỉnh thực chất tinh thần trong trước tác Mao Chủ tịch, là cách làm trái với tác phong cách mạng lý luận liên hệ với thực tế...”



Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:55:12 pm

3. Diệp Quần, Giang Thanh liên kết trừng phạt La Thụy Khanh

La Thụy Khanh kiên trì nguyên tắc, chống lại Lâm Bưu, hoàn toàn không hợp với Lâm Bưu.

Một chuyện ngoài ý muốn truyền đến tai Lâm Bưu. Trong một trường hợp công khai, Lưu Thiếu Kỳ nói: “Người kế tục chức Bộ trưởng Quốc phòng của chúng ta là La Thụy Khanh”. Một kẻ muốn tâng công để được sủng ái lập tức báo tin này với Lâm Bưu. Phút chốc Lâm Bưu thất sắc kinh sợ: đây chẳng phải là muốn cướp quyền chỉ huy quân sự của ta hay sao? Hừ! Ông ta như con kiến bò trên miệng chảo nóng, nằm ngồi không yên, sau cơn sợ hãi ông ta chợt hiểu ra: Chẳng trách chỗ nào La Thụy Khanh cũng đối đầu với ta, dám trắng trợn giương cờ chống lại ta, té ra là có Lưu Thiếu Kỳ ở trong Đảng đứng sau ủng hộ. Được! Mi đã dám khiêu khích ta thì ta sẽ ứng chiến, xem cuối cùng ai chết trong tay ai.

Lâm Bưu tính trước nghĩ sau, cảm thấy nếu chỉ dựa vào sức của mình thì còn lâu mới lật được La Thụy Khanh.

Một việc xảy ra ngoài ý muốn làm cho Lâm Bưu có được cơ hội tốt mà ông ta đã nằm mơ để cầu có được.

Tháng 11 năm 1965, trải qua thời gian 8 tháng, Giang Thanh đã bắn một trái pháo hạng nặng. “Bình vở kịch lịch sử mới: “Hải Thụy bãi quan”.

Lâm Bưu nhanh trí nghĩ nếu có thể kéo được vị đệ nhất phu nhân về phía mình thì việc đối phó với La Thụy Khanh sẽ dễ như trở bàn tay. Nhưng rốt cuộc dùng cách gì để lôi kéo bà ta đây? Ông ta và Diệp Quần vẫn muốn tìm ra đáp án này.

Một buổi tối, Diệp Quần hớn hở bảo Lâm Bưu: “Em cho anh biết một tin vui! Giang Thanh gọi điện cho La Thụy Khanh, bà ta sẽ triệu tập một cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ trong bộ đội, mời La Thụy Khanh tham gia, anh đoán xem La Thụy Khanh trả lời thế nào!” Bà ta nhìn Lâm Bưu không nói không rằng, nên vội vã nói: “La Thụy Khanh hoàn toàn không ưa khuôn mặt này, không nhận lời với Giang Thanh. Giang thanh có thể không tức giận được chăng? Cái đó chưa là gì, Giang Thanh yêu cầu La Thụy Khanh phát cho bà ta một bộ quân phục, La Thụy Khanh lại cho bà ta một cú, nói là phát một bộ quân phục thì được, nhưng không thể phát phù hiệu quân hiệu, không thể có quân tịch...”.

“Hay, hay lắm!” Nỗi mừng của Lâm Bưu lộ rõ trong lời nói, “chuyến này La Thụy Khanh khó mà tránh khỏi tội vạ” Lâm Bưu lúc đi lúc đứng, nhìn Diệp Quần: “Em tìm cách liên hệ với Giang Thanh, La Thụy Khanh từ chối bà ta, chúng ta lại chủ động đến gặp, nhờ bà ta triệu tập cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ trong bộ đội. Giang Thanh vừa thích hư vinh vừa thích xuất đầu lộ diện, thỏa mãn yêu cầu của bà ta, hiệu quả nhất định sẽ cao”. Ông ta nhìn Diệp Quần, nói một cách qủa quyết: “Đêm dài nhiều mộng, việc binh quý ở thần tốc, em phải liên hệ ngay với Giang Thanh! Hừ, La Thụy Khanh coi thường Giang Thanh, ít ra cũng phải nể mặt Mao Chủ tịch chứ! Hắn đắc tội với chúng ta, chúng ta không biết làm thế nào nhưng hắn lại đắc tội với Giang Thanh thì đây chẳng phải là thiêu thân lao vào lửa tự chuốc lấy cái chết hay sao?” “Em sẽ nhanh chóng gặp Giang Thanh”

“Em nhất định phải khéo léo”. Lâm Bưu dặn.

“Em chẳng phải là đứa trẻ ba tuổi đâu”. Diệp Quần cười đáp. Diệp Quần gọi điện cho Giang Thanh. Tối hôm sau, bà ta đi xe đến nơi ở của Giang Thanh. Giang Thanh nhiệt tình kéo tay Diệp Quần, hàn huyên tâm sự một hồi như chị em, hỏi: “Anh Lâm hồi này thế nào?”

“Ôi!”, Diệp Quần thở dài: “Anh ấy buồn rầu mất ngủ, gầy đi nhiều!”

“Vì sao?” - Giang thanh ngạc nhiên hỏi. “Có vấn đề gì lớn khiến anh ấy buồn như vậy?”

“Chẳng phải là chuyện La Thụy Khanh sao! Anh Lâm tuyên truyền việc học tốt tư tưởng Mao Trạch Đông trong quân đội bị ông ta phản đối còn bức anh Lâm từ chức, để ông ta thay thế!” Diệp Quần nhìn Giang Thanh, thấy Giang Thanh nghe rất chăm chú, trong bụng mừng thầm. Thế là từ kể chuyện bà ta chuyển thành tố cáo: “Đây là một nhân vật nguy hiểm, ông ta không chỉ chống anh Lâm mà còn chống chị và Mao Chủ tịch”.

Thực ra chẳng cần Diệp Quần phải châm ngòi, từ lâu Giang Thanh đã rất căm La Thụy Khanh, vừa nghe thấy những lời ly gián kích động, bà ta liền nổi giận: “Chị nói với anh Lâm để anh ấy yên tâm, đợi khi rỗi tôi sẽ nói chuyện với Chủ tịch”.

Khi Giang Thanh tiễn Diệp Quần ra cửa, lại dặn: “Chị vẫn phải chuẩn bị một ít tài liệu ngộ nhỡ khi Chủ tịch gọi tôi báo cáo tình hình thì có sẵn rồi”.

Diệp Quần ngồi vào xe, vui như mở cờ trong bụng, đã đến lúc trừng trị La Thụy Khanh để trả thù. Diệp Quần căm thù La Thụy Khanh đã từ lâu. La Thụy Khanh luôn thấy chướng tai gai mắt đối với những hành vi của Diệp Quần, bà ta luôn dựa vào Lâm Bưu để làm mưa làm gió. Đầu năm 1960, khi quân đội bình xét cấp bậc phong quân hàm, vì trong công tác Diệp Quần thường dễ làm khó bỏ, lúc thì ghét quân đội quản lý qúa chặt, nên đã từ bộ đội xin chuyển đến địa phương; lúc thì chán địa phương đãi ngộ quá thấp lại từ địa phương xin chuyển về quân đội. Vì những lý do trên La Thụy Khanh chỉ bình bà ta ở cấp quân hàm thượng tá. Hồi ấy Diệp Quần tức tím mặt.

Một buổi sáng cuối tháng 11 năm 1965, là một ngày lạnh nhất từ khi vào đông, trời âm u, gió lạnh buốt thấu xương gào rít trên bầu trời bình nguyên Hoa Đông. Ngô Pháp Hiến đang ngồi xem văn kiện trong phòng làm việc ấm như mùa xuân. Bỗng điện thoại bảo mật reo. Ông ta vội động đậy cái thân hình đã béo phì của mình, cấm ống nghe hỏi: “Ai đấy ạ?”

“Anh vẫn không nghe ra ai à?” Trong ống nghe vang lên tiếng lanh lảnh. Tức khắc, Ngô Pháp Hiến vội cười nói rối rít: “A! Hóa ra đồng chí Diệp Quần!”

“Tư lệnh Ngô”, Diệp Quần nói với giọng ra lệnh: “Anh lập tức phái đến cho tôi một chiếc máy bay”. Bà ta nói thêm một cách thần bí: “Chiều nay, tôi phải đến Hàng Châu, để báo cáo với Mao Chủ tịch. Tôi thay mặt cho anh Lâm, không được thông báo cho bất cứ ai, chỉ có anh biết, phải tuyệt đối giữ bí mật”.

Ngô Pháp Hiến được yêu chiều mà giật mình, việc lớn cơ mật như vậy mà bà ấy lại báo trước cho mình biết, lập tức đáp: “Không quân ở Thượng Hải có một máy bay, để bảo mật, có thể không thông qua Bắc Kinh mà trực tiếp điều động, sẽ phái máy bay này từ Tô Châu bay tới Hàng Châu có được không?”

“Được!” Diệp Quần vội vã đáp, “anh lập tức điều đến Tô Châu cho tôi, càng nhanh càng tốt!”.

“Rõ, tôi sẽ làm ngay!”

Vẫn chưa tới buổi trưa, máy bay của Thượng Hải đã hạ cánh xuống sân bay Tô Châu.

Lâm Bưu và Diệp Quần đang ở trong một tòa biệt thự cao cấp ở Tô Châu. Họ vừa bàn xong việc có liên quan đến báo cáo.

Lúc này, có hai chiếc xe con sang trọng buông kín rèm lao vun vút như tên hướng về sân bay. Chẳng mấy chốc, chiếc xe con dừng lại bên chiếc xe chuyên dụng. Diệp Quần xuống xe trước, sau đó Lâm Bưu cũng xuống xe. Những người phụ trách sân bay kính cẩn lễ phép đứng chờ. Diệp Quần cùng một số nhân viên tuỳ tùng bước lên chuyên cơ vẫy tay chào từ biệt Lâm Bưu.

Chiều hôm ấy, Mao Trạch Đông và Diệp Quần hàn huyên mấy câu rồi đi vào vấn đề chính. “Đồng chí kể chi tiết vấn đề của La Thụy Khanh đi”. Mao Trạch Đông nói.

Diệp Quần lấy từ trong túi ra một tập tài liệu, báo cáo rành mạch có ngọn có ngành.

Mao Trạch Đông liên tục hút thuốc, bất chợt lại nêu ra vài câu hỏi, báo cáo kéo dài gần hai tiếng đồng hồ, Mao Trạch Đông không hề tỏ rõ là phải đánh đổ La Thụy Khanh.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:56:34 pm

4. Chuyên gia tố giác Ngô Pháp Hiến cam kết. Đặng Tiểu Bình nói kháy Ngô Pháp Hiến: người chết không làm chứng được 

Diệp Quần về đến Tô Châu, lại cầm máy điện thoại bảo mật: “Tư lệnh Ngô đấy phải không?” Ngô Pháp Hiến mặt mày hớn hở cười đáp. “Tôi đi Hàng Châu”. Diệp Quần tiếp ngay: “Tôi đến báo cáo với Mao Chủ tịch vấn đề của La Trưởng Tử”. Ngô Pháp Hiến nghe thấy thế vội lắp bắp nói xen vào: “Thế thì hay quá!”. Có thể vì Diệp Quần không bằng lòng... với việc Ngô Pháp Hiến vô lễ ngắt lời bà ta, nên đã nói một cách không bình tĩnh: “Anh nghe rõ rồi chứ! Vậy chuẩn bị tài liệu để ra quân đi!”.

Chiều ngày 3 tháng 12 năm 1965, Ngô Pháp Hiến theo lệnh của Diệp Quần đáp chuyên cơ đi Thượng Hải.

Ngô Pháp Hiến đi vào phòng của Diệp Quần, đúng lúc Diệp Quần ở nhà.

“Bây giờ tôi nói cho anh biết một số tài liệu để anh phát biểu trong hội nghị”. Diệp Quần trực tiếp trao quyền tùy cơ hành động cho Ngô Pháp Hiến.

“La Thụy Khanh phản đối anh Lâm nêu bật vấn đề chính trị, ông ta thường nói phải đề cao chính trị thì cũng... phải đề cao quân sự. Chính trị quân sự đều quan trọng, đó là chủ nghĩa chiết trung”.

“Còn nữa, khi Lưu Á Lâu bị ốm nặng, đã tố giác với tôi một chuyện lớn của La Thụy Khanh! Ông ta bảo Lưu Á Lâu chuyển tới tôi 4 ý kiến: 1) Một con người sớm muộn gì cũng sẽ phải rút khỏi vũ đài chính trị, anh Lâm cũng sẽ phải rút khỏi vũ đài chính trị; 2) Muốn tôi chăm sóc tốt sức khoẻ của anh Lâm, khuyên anh Lâm nên quan tâm nhiều đến công việc của Trung ương; 3) Công tác của quân đội để anh ta phụ trách; 4) Việc này làm tốt thì La Thụy Khanh sẽ không đối xử tồi với Diệp Quần tôi”.

Một lần, La Thụy Khanh đến chỗ anh Lâm báo cáo công tác, sức khỏe anh Lâm không tốt, chưa nghe hết đã bảo ông ta về. Trong hành lang ông ta nói oang oang: “ãm rồi, còn quản chuyện gì nữa! Bệnh nhân thì nên nhường cho người ta, không nên cản đường!” Như vậy là ông ta bức anh Lâm phải giao quyền nhường chỗ. Ông ta tìm mọi cách giày vò anh Lâm cố ý chọc tức anh ấy”.

Ngô Pháp Hiến vừa nghe vừa gật đầu. Cuối cùng ông ta cảm kích nói: “Tôi cảm ơn thủ trưởng Lâm và đồng chí Diệp Quần đã tín nhiệm tôi, coi trọng tôi, đã nói cho tôi biết nhiều tài liệu quý như thế. Trong hội nghị nhất định tôi sẽ phát biểu thật tốt, tố giác La Thụy Khanh! Tôi quyết không phụ kỳ vọng của đồng chí và Thủ trưởng Lâm. Mong đồng chí hãy nói lại với thủ trưởng Lâm, lúc nào tôi cũng đứng sát bên cạnh thủ trưởng Lâm”.

Trong khi Lâm Bưu đang ngày đêm không ngừng bố trí lực lượng, chuẩn bị dùng chiến thuật tia chớp bất ngờ xông vào La Thụy Khanh thì La Thụy Khanh lại không hề có một chút phòng bị nào. Một kẻ mạnh trong sự nghiệp thường thường khi chống đỡ với sự vu cáo lại trở thành kẻ yếu. Lúc này với chức trách là Tổng Tham mưu trưởng đang thực hiện việc bố trí quân sự của Quân ủy Trung ương ở Vân Nam.

Vào một buổi chiều, La Thụy Khanh đột nhiên nhận được thông báo: Đến Thượng Hải họp ngay.

La Thụy Khanh vội sắp xếp công việc đáp máy bay đến sân bay Thượng Hải đúng giờ, đến đón ông là một cán bộ phụ trách của Thành ủy Thượng Hải và Ngô Pháp Hiến.

Trước đây, hễ thấy La Thụy Khanh là Ngô Pháp Hiến luôn tươi cười, với cái dáng vẻ khúm núm. Nhưng lúc này, trên mặt ông ta như có một lớp sương che phủ mà vẫn lộ ra vẻ tức giận. La Thụy Khanh sững người, đã xảy ra chuyện gì! Trên mặt tay Ngô béo này sao lại có vẻ như vậy! Phải chăng đã xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn rồi? Sau khi vào thành phố, La Thụy Khanh không được sắp xếp ở khách  sạn Cẩm Giang nơi mà trước đây khi đến Thượng Hải ông đều ở đó, mà ở một nơi lạ ông chưa từng đến đó bao giờ.

Phút chốc, La Thụy Khanh có một dự cảm chẳng lành. Theo thói quen trước đây, mỗi lần La Thụy Khanh đến một nơi nào đó, thư ký sẽ lắp mấy điện thoại trước. Nhưng lần này thư ký vừa định đặt điện thoại thì bị ngăn lại. Khi ông đang không rõ đầu đuôi lại có một người lạ thông báo cho ông biết lãnh đạo đang đợi nói chuyện với ông. Rốt cuộc trong cái quả bầu đang bán thuốc gì, lãnh đạo nào, vì sao lại bí hiểm như vậy? Đi vào nhà nhìn bên trái bên phải, canh gác rất nghiêm ngặt, ông đi thẳng đến phòng đã được chỉ định. Vừa vào cửa đã nhìn thay mấy vị lãnh đạo đang đợi ông, họ đều là những bạn chiến đấu cũ mà ông quen biết và rất kính trọng. Nhưng khi nói chuyện thì đều ấp a ấp úng, có lúc ngơ ngác nhìn nhau, hình như có điều gì khó nói. Một lúc lâu sau, bài tẩy mới được lật ra, cuộc họp về việc xử lý La Thụy Khanh, nhưng La Thụy Khanh đã phạm những sai lầm gì? Trong phút chốc họ đều kín như bưng.

Hội nghị chính thức bắt đầu họp từ ngày 8 tháng 12 năm 1965, đến ngày 15 mới kết thúc. Hội nghị do Lâm Bưu chủ trì. Đến người không phải là ủy viên Trung ương như Diệp Quần cũng có mặt, hơn nữa còn đóng vai chính.

Ngô Pháp Hiến và Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình được bố trí vào một tổ. Hội nghị bắt đầu nhưng chẳng có ai phát biểu.

Nghe nói Ngô Pháp Hiến có biết một số tình hình. Đặng Tiểu Bình nhìn Ngô Pháp Hiến nói kháy: “Anh phát biểu trước!”.

“Tôi xin phát biểu trước một số ý kiến”. Đối với trường hợp này Ngô Pháp Hiến vẫn chưa quen, lại thêm con người ông ta hèn hạ, miệng lẩm bẩm một hồi mà chẳng ai hiểu được một câu nào.

“Nói nhỏ quá, nghe không rõ”. Đặng Tiểu Bình chỉ vào chiếc xa-lông bên cạnh ông, “đến chỗ này mà nói”.

Ngô Pháp Hiến ngồi dịch đến và đem cái vũ khí bí mật mà Diệp Quần đã mớm cho kể ra cho bằng hết. Bốn ý kiến do Lưu Á Lâu tố giác La Thụy Khanh ông ta kể có ngọn có ngành cứ như là ông ta có mặt trong cuộc nói chuyện ấy.

“Người chết không làm chứng được”. Đặng Tiểu Bình nói xen một câu.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:58:39 pm

5. Chuyển tất cả đồ dùng gia đình đi, Lâm Bưu mắc chứng sợ hãi

“Chỉ là lời nói của một phía, khó mà tin được”, có người nói xen vào.

Tháng 12, trời Thượng Hải vừa âm u vừa lạnh, gió tây bắc lạnh buốt, mưa phùn bay lất phất. Sáng ngày 17, trong một tòa biệt thự sang trọng bốn bề vọng gác dày đặc, canh gác nghiêm ngặt. Lâm Bưu và Diệp Quần đang ở đó.

“Bây giờ anh thấy thế nào?” Diệp Quần lo lắng hỏi Lâm Bưu.

Im lặng.

“Anh đã tỉnh ra một chút chưa?”

Vẫn im lặng.

Diệp Quần chỉ vào chiếc gậy gỗ dài khoảng một mét nhẵn bóng: “Tay anh được quấn vào chiếc gậy ấy mà còn thấy ác mộng hay sao?” Lâm Bưu mệt mỏi mở mắt, nhìn Diệp Quần đang cúi sát bên mình, thều thào: “Luôn luôn thấy ác mộng, buồn ngủ đến khó chịu, muốn ngủ lại không dám ngủ”.

Lâm Bưu nửa nằm nửa ngồi trên một chiếc xa-lông dài. Mấy hôm trước, khi ông ta chủ trì Hội nghị phê phán La Thụy Khanh, sức khỏe rất tốt. Cũng không hiểu vì sao, hội nghị vừa giải tán; người bị phê phán là La Thụy Khanh thì không sụp đổ mà người phê phán là Lâm Bưu thì lại ngã quỵ. Sự huyền bí trong đó, làm người ta không tài nào đoán được, lúc này, mặt ông ta mệt mỏi, trắng bệch như một người thoi thóp. Bên cạnh ông ta đặt một chiếc gậy to bằng cánh tay. Trong gian phòng rộng rãi, chỉ còn lại một chiếc xa-lông dài và mấy chiếc ghế, các đồ dùng gia đình khác ông ta đã bắt dọn đi cả. Ông ta ngờ rằng phía sau của mỗi dụng cụ ấy, đều ẩn náu một thích khách trùm kín mặt, lòng nghi ngờ của ông ta càng ngày càng nặng như thể mỗi cái cây ngọn cỏ đều là lính, gió thổi hạc kêu.

“Đó là tiếng gì?” Ông ta đột ngột sợ hãi kêu lên một tiếng, hốt hoảng ngẩng đầu, nhìn bốn chung quanh, “có phải là tiếng nước chảy không, nước ở đậu đến vậỵ? ờm ĩ đến khó chịu”

Diệp Quần nín lặng nghe một lúc. Hình như gió thổi làm đất cát đập vào cửa kính. Phút chốc các nhân viên công tác nhốn nháo, mọi người bận đến mồ hôi nhễ nhại. Nguyên nhân rất nhanh chóng được tìm ra, đó là tiếng phát ra do gió thổi vào cửa thông gió trên mái nhà của phòng bên cạnh, âm điệu thay đổi to nhỏ theo sức gió mạnh hay yếu.

Té ra là một sự sợ hãi hão.

“Một lẻ một” (là số hiệu của Lâm Bưu), Lập Quả gửi thiếp chúc tết chúc mừng thắng lợi của bố mẹ đây này”. Diệp Quần cười hì hì: “Thằng bé này càng ngày càng hiểu biết”.

Lâm Bưu nhìn về phía tay của Diệp Quần, đó là một tờ giấy dày gấp đôi, một bên dán một đôi uyên ương đang rỡn nước, một bên viết mấy chữ. “Chúc mừng thắng lợi của bố mẹ”.

Lâm Bưu nhìn thấy cảnh nước đáng ghét liền nhắm mắt lại, bảo Diệp Quần cất thiếp chúc tết đi.

“Anh lạ thật”, Diệp Quần thở dài, “chúng ta đã thắng lợi rồi, nhưng tinh thần của anh lại suy sụp, chảy nước mắt rồi cứ thế ngất lịm đi...”

“Cô biết cái đếch gì!” Lâm Bưu bực bội quát lên.

“Phải, tôi không biết!” Diệp Quần ấm ức cãi lại, “Lẽ nào La Thụy Khanh đã thắng lợi? Bây giờ chúng ta ở trong biệt thự này, còn ông ta thì đã bị giam lỏng, đến một chút tự do cũng không có”. “Nhà ở, xe hơi, hưởng thụ”. Lâm Bưu tức giận bật ra một câu: “mắt cô chỉ nhìn thấy những cái ấy, thật là thiển cận”.

“Anh, anh, anh sợ rồi à?” Diệp Quần cũng lên giọng tỏ ra muốn tranh luận cao thấp, “đã sợ có một ngày sẽ gặp báo ứng thì đừng làm nữa, đã làm thì không thể sợ!”

“Cút, cô cút đi!” Lâm Bưu ngóc đầu dậy nhìn Diệp Quần giống như một con gà sống đang thích chọi, quát lên một cách thô bạo.

Diệp Quần lặng im không chút nhúc nhích, chuyện như thế này như cơm bữa, nó hoàn toàn không đi vào lòng bà ta.

Người phê phán người khác, mặt đỏ gay đến tím ngắt, đúng lúc bốc lên tận mây xanh thì tinh thần lại suy sụp. Ông ta không hề mê tín, cũng không tin nhân quả báo ứng, nhưng rút cuộc vì sao tinh thần của ông ta lại sa sút như vậy? Diệp Quần trong phút chốc không sao lý giải nổi.

Trong hội nghị, sự hăng hái của ông ta rất ghê, nhưng vừa về đến nhà sự sợ hãi, lo lắng và căng thẳng vô hình bao trùm lấy ông ta; đồng thời còn có sự thù hận, thù hận thường cùng đi với lo lắng. Khủng hoảng không phải là lúc nảy sinh và xử lý khủng hoảng, mà là sau lúc khủng hoảng. Khi ông ta tính toán và suy nghĩ, thiết kế ra các bẫy, sử dụng các thủ đoạn, khi ông ta nhìn thấy những mưu kế, thủ đoạn, cạm bẫy đã đẩy La Thụy Khanh xuống vực sâu, ông ta cảm thấy mình đã thắng lợi và thỏa mãn về tinh thần. Mấy hôm trước, khi thắng lợi đã trở thành hiện thực, các cơ thịt trên mặt ông ta cuối cùng đã giãn ra, nhưng tinh thần lại suy sụp.

Lâm Bưu uốn cong lưng, ngây người trong tư thế nửa nằm nửa ngồi trên xa-lông, mỗi khi gió thổi ào ào vào cửa kính, đều gây nên sự buồn phiền và lo sợ căng thẳng mơ hồ không rõ ra sao ở trong lòng.

“Những tình hình ấy trong hội nghị, em đã xác minh lại chưa?” Ông ta hơi có chút phấp phỏng

“Xác minh?” Diệp Quần còn chưa hết tức, liền bật ra, “chẳng cần phải xác minh!”

Lâm Bưu không nói không rằng, nhắm mắt lại, lắng nghe bà ta tiếp tục lảm nhảm.

“Hôm ấy là ngày 9, ngày 10 tháng 12 phải không? Tôi thay mặt ông tố giác vấn đề La Thụy Khanh, đã nói liền trong 11 tiếng đồng hồ. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Đặng Tiểu Bình đều không tỏ thái độ. Sau cuộc họp họ lại gặp những người khác để tìm hiểu tình hình có người còn nói ngay tại hội trường là: “Tin kỳ lạ! Tin kỳ lạ!” Lúc ấy còn có Ngô béo (Ngô Pháp Hiến - N.D.) ở đó”.

“La Thụy Khanh có thừa nhận không?”

“Ông ta có thể thừa nhận được sao. Ông ta chỉ thừa nhận ông ta có khuyết điểm sai lầm, những cái khác đều không thừa nhận, đặc biệt là việc em tố giác ông ta nhờ Lưu Á Lâu nói lại với em, “bốn điều” bức anh phải từ chức ông ta hoàn toàn không nhận”.

“Bây giờ chúng ta chỉ có một con đường đi tới cùng thôi!” Lâm Bưu lo lắng nói, “Đó là quyết không để La Thụy Khanh lật lại bản án”

“Việc này em biết, em đã bảo Ngô Pháp Hiến gặp X X X, bảo anh ta chứng minh là đã nghe thấy bốn điều ấy”, bảo Ngô Pháp Hiến chứng minh thêm những khía cạnh khác, để La Thụy Khanh không biện bác được, có nhảy xuống Hoàng Hà cũng không thể nói rõ”.

“Em đi làm đi! Dù sao thì cũng đã cưỡi hổ rồi”. Lâm Bưu cảm thấy tiếng nước chảy lại vang lên. “Anh phải ngủ một lúc”. Lâm Bưu vừa nhắm mắt, từng cảnh từng cảnh cọ sát với La Thụy Khanh lại hiện ra trước mắt...

Đúng, năm 1959, Lâm Bưu đã kiến nghị đưa La Thụy Khanh trở lại quân đội. Ông ta vô cùng khâm phục tinh thần, sự cương quyết dứt khoát và tài hoa hơn người của La Thụy Khanh. Có một trợ thủ tốt, ông ta sẽ có thể thoải mái lo liệu việc lớn. Để khống chế và lợi dụng La Thụy Khanh ông ta đã từng phải động não rất nhiều nhưng chỉ hơn một năm sau đã phải tuyệt vọng và hối hận.

Mới đầu, điều làm ông ta ngờ vực và khó hiểu là La Thụy Khanh đã vượt mặt ông ta trực tiếp thỉnh thị, báo cáo công tác với Mao Trạch Đông, nhưng ông ta lại chỉ có thể ngậm bồ hòn không thể nói ra, vì ai cũng biết, sức khoẻ Lâm Bưu không tốt, dưỡng bệnh lâu ngày ở nơi khác, sự việc cần kíp, thời gian gấp, thỉnh thị ông ta thì không kịp.

Điều càng làm cho ông ta không thể khoan dung được là quan hệ của La Thụy Khanh và Hạ Long ngày càng mật thiết. “Mao Chủ tịch thấy sức khoẻ đồng chí không tốt”, La Thụy Khanh biết Lâm Bưu đa nghi, nhiều lần giải thích với ông ta, “muốn để đồng chí Hạ Long quản lý thêm một số công tác quân đội”. Không nói thì lại hay hơn, nói như vậy càng làm cho Lâm Bưu thêm nghi kỵ. 

Hôm ấy, ông ta cho gọi La Thụy Khanh đến, chẳng suy nghĩ gì, đột ngột hỏi: “Chắc uy tín của tôi không đủ hử? Vì tôi không phải là người lãnh đạo khởi nghĩa Nam Xương?” La Thụy Khanh cảm thấy ông sư già này nói lấp lửng, thật khó trả lời nên ông không đáp. La Thụy Khanh không ngờ được rằng, điều này càng làm cho Lâm Bưu thêm hoài nghi.

Sự việc phát triển ngoài ý muốn. Một hôm Lâm Bưu ở nơi khác về Bắc Kinh chưa ngồi xuống ghế đã ra lệnh cho thư ký: “Cậu gọi điện thoại bảo La Thụy Khanh lập tức đến đây”.

Đúng lúc ấy, La Thụy Khanh đang nói chuyện trong một cuộc hội nghị quan trọng.

“Cậu nói với anh Lâm” La Thụy Khanh nói với bí thư ngồi bên cạnh: “Tan hội nghị tôi sẽ đến”.

Lâm Bưu nghe nói La Thụy Khanh tan họp mới đến, bỗng như bị bò cạp cắn, nhảy dựng lên, đập bàn đánh rầm, máy điện thoại cũng rơi cả xuống đất. Ông ta đi lại rất nhanh trong phòng. Đây là sự khiêu khích đối với quyền uy của ông ta! Ông ta không thể dung thứ kẻ bề tôi bất trung bất kính này, không thể dung thứ sự kiêu căng vô lễ chống lại cấp trên của La Thụy Khanh. Trước mắt ông ta hiện lên vẻ mặt tươi cười nịnh nọt của Ngô Pháp Hiến.

Ông ta bỗng đến trước bàn, lấy một tờ giấy ghi vội những chữ như sau:

“Ra sức phụng mệnh người khác, ra sức đi theo người khác, sau khi về Bắc Kinh hoàn toàn không đến gặp mặt... để cho hắn tự diệt... lại làm một Bành, Hoàng... (Bành, Hoàng: Bành Đức Hoài, Hoàng Vĩnh Thắng).


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 05:59:54 pm

6. Từ bông ép ra dầu

Lâm Bưu nửa ngủ nửa thức, chỉ thấy đầu mê mẩn thiêm thiếp. Mặt trời đã gần lặn, hắt lên những bóng cây mờ mờ bên cửa sổ. Trong phòng không bật đèn, tất cả như bị một tấm vải đen trùm kín làm cho phòng khách lớn trống không trở nên u ám.

Lúc này, thư ký rón rén đi tới bên ghế xa-lông.

“Chủ nhiệm Diệp (Diệp Quần) đã gọi điện thoại cho Tư lệnh Ngô rồi ạ”. Người thư ký nói nhỏ.

“Được cậu đi đi”. Ông ta cầm hộp diêm để trên bàn, đánh một que, lại thổi tắt, ngồi nhích về phía trước dùng mũi ngửi làn khói trắng, tiếp đó lại đánh một que khác... Trước đây ông ta đã từng hít moóc-phin, tư thế cũng như vậy.

Ngày nào Diệp Quần cũng gọi điện thoại cho Ngô Pháp Hiến. Ngô Pháp Hiến là cán bộ tốt lý tưởng nhất mà Lâm Bưu, Diệp Quần lựa chọn được, bảo sao nghe vậy.

Lúc này, Diệp Quần đang giao sứ mệnh cho Ngô Pháp Hiến. La Thụy Khanh bị dẫn về Bắc Kinh, còn phải tiếp tục xét xử.

“Bài phát biểu đã chuẩn bị xong chưa?” Diệp Quần kéo dài giọng hỏi.

“Tôi đang viết ạ”. Ngô Pháp Hiến vâng vâng dạ dạ, “tài liệu đồng chí đưa cho tôi...”

“Ngoài những tài liệu ấy ra”. Diệp Quần ngắt lời Ngô Pháp Hiến, “Anh vẫn phải tố giác triệt để La Thụy Khanh!” Bà ta dùng ngay kiểu ra oai phủ đầu: “Anh Lâm đã bảo rồi, quan hệ giữa anh và La Thụy Khanh cũng rất gắn bó đấy!”

Câu nói như núi Thái Sơn đè lên đầu, như một luồng điện cực mạnh, làm cho Ngô Pháp Hiến một kẻ hèn nhát run như cầy sấy. “Anh viết thành ngữ lục lời phát biểu của La Thụy Khanh với Không quân: “Làm việc phải chăm chỉ nghiêm chỉnh, công việc phải sát thực tế, phải đứng vững trước sự kiểm tra, không được tự cao tự đại” rồi đem dán kháp nơi, tâng bốc hắn lên thật cao, vì sao vậy?”

Diệp Quần mới gõ vào đầu như vậy, Ngô Pháp Hiến nhát như thỏ phút chốc đã xây xẩm mặt mày, hốt hoảng lo sợ.

Diệp Quần biết, Ngô Pháp Hiến cũng là hạt bông thôi, không ép thì không ra dầu, bà ta càng tăng áp lực, nói một cách gay gắt: “Anh Lâm bảo tôi nói với anh, La Thụy Khanh giơ tay ra với đảng là muốn cướp quyền lãnh đạo quân đội, Mao Chủ tịch đã đích thân chủ trì hội nghị này để giải quyết vấn đề La Thụy Khanh. Anh theo La Thụy Khanh hay theo anh Lâm, đó là việc lớn có liên quan đến sinh mạng, anh phải suy nghĩ cho kỹ!”.

“Đương nhiên là tôi theo thủ trưởng Lâm!”

Giọng Ngô Pháp Hiến khản đặc, dù không có ai ở đó, nhưng nước mắt ông ta cũng trào ra, “Đương nhiên là tôi theo thủ trưởng Lâm, tình thế hiện nay lẽ nào tôi lại không biết? Nếu tôi theo La Thụy Khanh đó không chỉ là con đường bất chính, mà còn là con đường chết. Xin chị hãy nói lại với thủ trưởng Lâm, tôi nhất định sẽ theo Thủ trưởng. Tôi kiên quyết vạch rõ ranh giới với La Thụy Khanh, chị có thể xem hành động của tôi từ nay về sau!”.

Diệp Quần là một người đàn bà khó sai khiến. Về chính trị bà ta có dã tâm của mình, không hề thỏa mãn với sự vinh hiển của một “phu nhân”, bà ta không cam làm kẻ phụ thuộc của Lâm Bưu, mơ tưởng độc lập bước lên vũ đài chính trị, tỏ rõ bản thân mình. Mới đầu, Lâm Bưu muốn hoạt động của bà ta chỉ hạn chế trong phạm vi của một phu nhân, vì chuyện này, bà ta đã từng mấy lần đấu khẩu với Lâm Bưu. Về sau Lâm Bưu đã phát hiện và lợi dụng dã tâm của bà ta, để bà ta thay mặt mình biểu diễn trên vũ đài chính trị. Càng có lợi hơn so với việc tự mình xuất đầu lộ diện. Quả nhiên có rất nhiều vấn đề gay cấn nhưng khi bà ta ra sân khấu thì mọi chuyện được giải quyết một cách êm thấm dễ dàng. Thực sự bà ta không phải là một người bình thường. Lâm Bưu ngầm khâm phục tài hoa của Diệp Quần, dần dần không thể rời xa bà ta được, Diệp Quần giương chiêu bài của Lâm Bưu, cáo mượn oai hổ, kiếm vốn liếng chính trị. Lâm Bưu lợi dụng “phu nhân ngoại giao” của Diệp Quần, hoàn thành một cách vừa lòng hết “nhiệm vụ chính trị” này đến “nhiệm vụ chính trị” khác.

Đôi vợ chồng này đã dùng ân uy, cứng mềm đối với La Thụy Khanh nhưng không hiệu nghiệm.

Thế là họ lại diễn màn “hát hai bè” mấy lần, thỉnh thoảng lại thay đổi bộ mặt. Có lúc Lâm Bưu diễn vai mặt đỏ, còn Diệp Quần diễn vai mặt trắng; vừa kéo vừa đánh. Hai người có sự phân công, tố cáo âm mưu, nghe ngóng thám thính, làm liên lạc viên gì đó, nếu Lâm Bưu tự mình xung trận không tương xứng với địa vị của mình thì Diệp Quần sẽ ra tay. Khi Diệp Quần thực hiện đúng như ý muốn thì Lâm Bưu thuận nước giong thuyền, khuấy động lên. Diệp Quần làm hỏng, gây rắc rối thì Lâm Bưu lại thay đổi bộ mặt mắng nhiếc Diệp Quần, tựa như tất cả là do Diệp Quần đã làm trái ý của ông ta. Kịch giả diễn thật, kịch thật diễn giả, thật thật giả giả, giả làm thật, rồi thật là giả. La Thụy Khanh một người luôn đem tất cả sức lực tập trung vào công việc, làm gì có sức để đề phòng những việc đó, vì thế số phận thua trận đã chắc rồi.

Diệp Quần gọi điện thoại cho Ngô Pháp Hiến xong lại đến phòng của Lâm Bưu.

“Biểu hiện của Ngô Pháp Hiến thế nào?” Lâm Bưu quay đầu lại hỏi.

“Đồ vô dụng!” Diệp Quần nói một cách khinh bỉ, “vừa mới dọa một cái, hắn đã hoàn toàn đi vào khuôn phép rồi!”

Bà ta dùng khăn tay lau mép, xóa đi nụ cười khinh bỉ: “Em chỉ nói vài lời đã trấn áp được hắn tay, rồi lại an ủi hắn ta mấy câu: anh là bộ hạ của anh Lâm, anh Lâm luôn trọng dụng anh, nuôi lính ngàn ngày dùng binh một chốc, đã đến lúc anh phải dùng hành động thực tế rồi. Anh hãy đi ngay đến chỗ X X X làm công tác tư tưởng, để cho anh ta chứng minh “bốn điều” em tố cáo trong hội nghị, anh cũng có thể viết một bản bằng chứng phụ, ký tên vào, nhanh chóng cho người đem đến đây”. Bà ta đắc ý cười tủm: “Tay Ngô béo liền mồm vâng dạ, một hòn đá coi như đã hất được xuống đất rồi, công lớn đã thành!”

Lâm Bưu thản nhiên như không, trầm ngâm một lúc nói: “Em bảo X X X viết bản chứng minh, người khác sẽ hỏi: “Trung ương họp ở Thương Hải là tuyệt mật, X X X làm sao có thể biết được? Đó chẳng phái là lạy ông tôi ở bụi này hay sao? Em phải bàn với họ nghiên cứu làm cho nó thống nhất ăn khớp với nhau”. Lâm Bưu kẻ lắm mưu nhiều kế vừa nghe chuyện đã thấy ngay chỗ sơ hở.

Diệp Quần sững người vội nói: “Đấy là một vấn đề, em sẽ đến gặp họ ngay đế bàn”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:01:17 pm

7. Trước dùng lễ sau mới dùng binh La Thụy Khanh trúng kế

Ít lâu sau hội nghị ma-ra-tông phê phán La Thụy Khanh bắt đầu. Sáng hôm ấy, La Thụy Khanh đến họp. Đối mặt với con người khổng lồ mãi mãi hơn ông ta một cái đầu này, Ngô Pháp Hiến đã tuyên đọc bài phê phán tố giác dài hơn 1 vạn chữ: “Trong bụng La Thụy Khanh có dã tâm chống lại Phó Chủ tịch Lâm và Đảng, âm mưu cướp quyền lãnh đạo quân đội, ông ta đi khắp đất nước quan sát địa hình, vì sao? Chính là vì để chuẩn bị cho việc chỉ huy quân đội của mình sau này!...”

Ngô Pháp Hiến dùng ngón tay trỏ của ông ta xỉa vào mặt La Thụy Khanh, khẩu khí và tư thế ấy thật giống như một tên lưu manh chính trị điển hình.

Đối với một kẻ mạnh, nếu đối mặt với một đối thủ tương xứng, thua cũng đáng, dù có chết thì trong lòng cũng không hổ thẹn, không ân hận. Nhưng một danh tướng một đời rong ruổi chiến trường hô mây gọi gió lại bị một nhân vật nhãi nhép làm nhục, xỉa vào ông không phải là kiếm, không phải là lửa, không phải là máu, mà lại là những giọt nước bọt hôi thối bắn ra từ trong miệng một tên giá áo túi cơm.

Ai có thể chịu được.

Sự việc vẫn phải kể từ quá khứ...

Ngày 7 tháng 5 năm 1965, người giữ chức Tư lệnh Không quân đầu tiên là Lưu Á Lâu, vì bị ung thư gan đã mất ở Thượng Hải. Lúc ấy, không nói là trong phạm vi toàn quân, mà ngay trong Không quân, chọn một người kế nhiệm tương xứng với Lưu Á Lâu không phải là khó. Nhưng chiều ngày 9 tháng 5, Lâm Bưu đã triệu kiến Ngô Pháp Hiến đến Thượng Hải. Ông ta nói với vị Chính ủy Không quân lúc ấy (sau lưng, mọi người gọi Ngô Pháp Hiến là “Vô chính ủy” rằng: “Đồng chí Lưu Á Lâu đã qua đời, là một tổn thất không thể bù đắp nổi đối với Không quân, đối với cách mạng, chức vụ Tư lệnh Không quân rất quan trọng, rất nhiều người hâm mộ chức này. Cũng có người muốn nắm Không quân. Tôi suy nghĩ thấy phải rất nhanh chóng giải quyết vấn đề lựa chọn người làm Tư lệnh Không quân. Tôi đề nghị đồng chí chuyển sang giữ chức Tư lệnh Không quân, đồng chí có thể chọn một người làm chính ủy có thể hợp tác với đồng chí!”

Ngô Pháp Hiến được sủng ái mà lo, ông ta vừa vui mừng vừa lo sợ. Lâm Bưu nói tiếp: “Tôi đã nói với đồng chí Dương Thành Vũ rồi, mấy hôm nữa đồng chí ấy sẽ về Bắc Kinh, trước tiên là trưng cầu mấy Phó Chủ tịch Quân ủy khác về ý kiến của tôi, sau đó bàn với Phó Chủ tịch Hạ Long. Tôi sẽ rất nhanh chóng đích thân báo cáo với Mao Chủ tịch”.

Ngô Pháp Hiến hơi có phần lo sợ: “Không quân phức tạp như thế, tôi sợ làm không nổi, liệu có thể…”

“Tôi đã hạ quyết tâm rồi!” Lâm Bưu nói: “Tự anh chọn một chính ủy đi!”

Ngô Pháp Hiến nhanh trí đáp: “So sánh một số người thì Dư Lập Kim là thích hợp, anh ta lại là cán bộ của Phương diện quân thứ 2”.

“Vậy để Dư Lập Kim làm Chính ủy”. Lâm Bưu quyết định ngay tại chỗ, dặn đi dặn lại Ngô Pháp Hiến: “Không được nói với ai, vẫn chưa được Mao Chủ tịch phê chuẩn, nếu Hạ Long biết, ông ta sẽ đề cử người khác đảm nhiệm chức Tư lệnh Không quân đấy. Tôi sẽ tranh thủ nhanh chóng báo cáo với Mao Chủ tịch”.

Ngô Pháp Hiến cảm động, rưng rưng nước mắt: “Tôi nhất định sẽ không phụ sự mong đợi của Phó Chủ tịch đối với tôi”.

Ngày 25 tháng 5 năm 1965, khi màn đêm vừa buông xuống. Ngoại ô Bắc Kinh. Trên con đường gập ghềnh lồi lõm đã được cố ý lựa chọn. Lâm Bưu ngồi trên chiếc xe gíp màu đen, lắc lư sang phải sang trái cùng với chiếc xe.

Đây là một sự vận động đặc biệt mà Lâm Bưu thường dùng.

Lâm Bưu lim dim đôi mắt, ngồi trên ghế sau, thư ký ngồi ghế trước thỉnh thoảng lại quay đầu lại, báo cáo với ông ta một số việc. Lâm Bưu thỉnh thoảng lại dùng ngón tay vẽ một hình tròn lên không trung, biểu thị sự đồng ý. Bỗng ông ta nghe thấy thư ký nói:

“Hội nghị tác chiến do Bộ Tổng tham mưu triệu tập ngày 27 do La Thụy Khanh tổng kết, sự kiện này được đăng trên tờ Thông báo số 63 của Hội nghị”.

“Ai”, ông ta hơi sững người hỏi lại. Vốn dĩ, việc La Thụy Khanh tổng kết trong Hội nghị Tác chiến của Bộ Tổng tham mưu mấy hôm trước, ông ta đã nghe Diệp Quần nói, nhưng ông ta không tỏ thái độ gì. Tổng Tham mưu trưởng có trách nhiệm và quyền hạn đó, đối với việc phát biểu tổng kết Hội nghị Tác chiến, ông ta rất có thể nêu ra điều gì trái ngược. Nhưng lúc này, khi nghe lại cái tên La Thụy Khanh, ông ta nhanh trí đã nghĩ ra mưu kế, sao lại không lợi dụng cơ hội này cho hắn ta biết tay, cho La Thụy Khanh thưởng thức sự lợi hại của Lâm Bưu ta!

Ông ta lập tức đọc một “chỉ thị” cho Hội nghị Tác chiến. “Trong hội nghị không thể reo rắc những kết luận của một cá nhân, nếu đã làm thế thì phải thu lại, nếu reo rắc ở phạm vi nào thì thu lại trong phạm vi ấy. Cách nêu trong phát biểu tổng kết của Tổng Tham mưu trưởng La Thụy Khanh trên Thông báo số 63 là không đúng, ngày mai đọc trước các tổ”.

Chỉ thị này ám chỉ: 1) La Thụy Khanh có dã tâm, muốn tìm cơ hội để gây uy tín cá nhân; 2) Bất ngờ cho La Thụy Khanh một đòn, làm đầu óc ông ta choáng váng, để ông ta bẽ mặt.

Lâm Bưu tự mình rất say sưa với “kiệt tác” này, ông ta bảo lái xe quay xe về ngay.

Lâm Bưu vừa vào đến phòng làm việc, lập tức gọi điện thoại, đích thân nghe thư ký truyền đạt từng câu từng chữ của chỉ thị này cho Hội nghị Tác chiến.

Vừa đặt ống nghe xuống, ông ta lại nghĩ khác, chỉ dựa vào chuyện nhỏ như cái móng tay thì hoàn toàn không thể đánh đổ được La Thụy Khanh. Ông ta đảo mắt, lại nghĩ ra một kế: Trước dùng lễ sau mới dùng binh!

Trong cách mạng văn hóa, vị danh tướng một thời La Thụy Khanh đã bị vợ chồng Lâm Bưu bức hại đến tàn phế. Trong việc đánh đổ La Thụy Khanh, Mao Trạch Đông đã thỏa mãn Lâm Bưu, nhưng Mao Trạch Đông lại có dụng tâm khác. Mao Trạch Đông biết La Thụy Khanh trung thành nhưng vì muốn nhờ vả Lâm Bưu đối phó với Lưu, Đặng (Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình - N.D.) nên ông đã không tiếc cắt bỏ đi một phần máu thịt của mình, đây là lần đầu tiên Mao Trạch Đông đã đi ngược lại nguyện vọng của mình trong một sự việc quan trọng.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:10:55 pm

3
Học trước tác Mao Trạch Đông,
Lâm Bưu nghiến răng ken két
Trước ba quân mất mặt,
La Vinh Hoàn tức run cả đôi tay


1. La, Lâm “chia tài sản”.

Tháng 7 năm 1959, trong Hội nghị Lư Sơn, Bành Đức Hoài nói những lời thẳng thắn đã mắc tội, bị coi là phần tử cơ hội hữu khuynh và bị phê phán, chức Bộ trưởng Quốc phòng của ông bị phế bỏ một cách sai lầm.

Tháng 9, Quân ủy mới hình thành, Lâm Bưu đảm nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng đồng thời chủ trì công tác hàng ngày của Quân ủy. Sau khi nhậm chức Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu đã liên tục xuất kích, tấn công bên trái bên phải.

Mâu thuẫn giữa Lâm Bưu và La Vinh Hoàn ngày càng gay gắt bắt đầu từ thời gian này.

Mới đầu, trong thời gian hội nghị, La Vinh Hoàn vắng mặt vì bị ốm. Bành Chân đã gọi điện cho La Vinh Hoàn thông báo tình hình hội nghị và việc Mao Trạch Đông chuẩn bị để Lâm Bưu thay Bành Đức Hoài làm Bộ trưởng Quốc phòng và trưng cầu ý kiến của các đồng chí tham gia hội nghị. La Vinh Hoàn nói: “Nhiệm vụ đối ngoại của Bộ trưởng Quốc phòng khá nặng, sức khỏe Lâm Bưu không tốt, hình như không thích hợp với chức vụ này, đề nghị để Hạ Long giữ chức Bộ trưởng quốc phòng”. Trước đó, Lâm Bưu lấy lý do ốm đau, giấu tiếng chờ thời... Vì thế, sau khi Lâm Bưu biết được ý kiến của La Vinh Hoàn, bắt đầu căm ghét người đồng sự cũ này của mình. Tháng 12 năm 1959, Quân ủy Trung ương thành lập Tổ Công tác Dân quân, La Vinh Hoàn làm tổ trưởng, Trương Ái Bình, Cam Tứ Kỳ làm tổ phó.

Năm 1960, trong Hội nghị Thượng Hải do Trung ương Đảng triệu tập, Lâm Bưu đọc báo cáo về vấn đề quốc phòng, nêu ra nhiệm vụ của 600 sư đoàn dân quân nòng cốt, ăn khớp với những khẩu hiệu “ra sức lập các sư đoàn dân quân”, “cả nước là lính” do Mao Trạch Đông nêu ra ở Hội nghị Lư Sơn.

Việc tổ chức dân binh nòng cốt La Vinh Hoàn đồng ý, tháng 2 năm 1960, cuộc tọa đàm về dân quân của Hội nghị Quân ủy mở rộng được triệu tập ở Quảng Châu. La Vinh Hoàn đề xuất lấy chế độ binh dịch làm chế độ dân quân nòng cốt để nâng cấp huấn luyện.

Nhưng, La Vinh Hoàn không tán thành việc lập tức tổ chức 600 sư đoàn dân quân nòng cốt. Trong cuộc tọa đàm tháng 2 năm 1960, ông đã thẳng thắn nói: “Hiện nay tổ chức 600 sư đoàn, năm nay muốn biên chế thì tất nhiên có thể biên chế được, nhưng cũng có thể như đồng chí Đặng Khắc Minh (lúc đó là tư lệnh Quân khu tỉnh Giang Tây) nói là sa vào hình thức. Rốt cuộc phải làm theo cách nào, phân bố ra sao, đều phải nghiên cứu cho thật tốt. Trước hết phải phục tùng sản xuất, làm không tốt thì sẽ như Bành Đức Hoài đã nói, sẽ tăng thêm “5 nhiều” cho nông thôn, cho nên phải suy nghĩ chu đáo càng kỹ càng tốt”.

Cuối cùng La Vinh Hoàn đề xuất: hiện nay dân quân đã được đưa lên vị trí chiến lược. Đồng chí Lâm Bưu đã phát biểu ba bốn tiếng đồng hồ trong Hội nghị Thượng Hải, các đồng chí về truyền đạt lại với Tỉnh ủy như vậy sẽ càng căng thẳng hơn, vì thế mọi người phải chú ý phương pháp công tác”.

Lúc ấy, những ảnh hưởng xấu như thói khoe khoang v. v… vẫn còn, những di hại chưa xóa hết, thêm vào đó, Lâm Bưu người chủ trì công tác hằng ngày của Quân ủy lại khuấy động làm cho rắc rối thêm, tình hình đó cũng đã đem lại cho công tác dân quân những ảnh hưởng không thể xem thường. Trong thời gian La Vinh Hoàn làm Tổ trưởng Tổ công tác Dân quân, đã phải mất rất nhiều sức lực để loại bỏ ảnh hưởng “tả” khuynh. Cố gắng giảm bớt tác dụng phá hoại của nó đối với công tác dân quân. Nhưng thái độ làm việc thực sự cầu thị ấy của La Vinh Hoàn đã làm cho Lâm Bưu rất không vừa lòng.

Mùa xuân năm 1960, cũng tức là sau một năm Lâm Bưu chủ trì công tác hằng ngày của Quân ủy, Lâm Bưu đã phát động cuộc đấu tranh phê phán Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Đàm Chính.

Nguyên nhân Lâm Bưu phê phán Đàm Chính là ông ta cảm thấy nội dung và phương pháp công tác của Tổng cục Chính trị do Đàm Chính chủ trì khác hoàn toàn với ông ta.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:11:41 pm

Từ tháng 9 năm 1959, trong Hội nghị Quân ủy mở rộng, Lâm Bưu đã nêu: “Học tập trước tác của Mao Trạch Đông là con đường tắt. Đây không phải là tâng bốc, không phải là khoe khoang Mao Chủ tịch. Đây là nói với các đồng chí bí quyết đơn giản nhất trong học tập”.

Khoảng tháng 9 tháng 10 năm 1960, Lâm Bưu lại đề xuất tư tưởng Mao Trạch Đông “đứng ở đỉnh cao của tư tưởng thời đại”, phải “đem theo vấn đề” để học tập nhằm “đạt hiệu quả nhanh chóng”, đã làm cho sự sùng bái cá nhân tăng cao hơn.

Nhưng Đàm Chính lại không tán thành những việc làm đó của Lâm Bưu, ông chủ trương học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông một cách có hệ thống.

Lâm Bưu liền chỉ trích chủ trương của Đàm Chính là “quan điểm mơ hồ” và “giáo điều”.

Đàm Chính rất coi trọng việc giáo dục văn hóa khoa học cho bộ đội. Tháng 1 năm 1959, ông chủ trì định ra “Chỉ thị trong cán bộ phải phổ cập trình độ giáo dục trung học và giáo dục cao đẳng”, quy định trong 10 năm, làm cho đại đa số cán bộ trong toàn quân trên cơ sở trình độ hiện có, theo yêu cầu nghiệp vụ của từng người, về mặt tri thức chuyên ngành phải đạt trình độ giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Thế là kế tiếp sau cuộc đại tiến quân trong văn hóa vào đầu những năm 50, lại nổi lên phong trào rầm rộ đại tiến quân vào văn hóa khoa học.

Để thi hành chính sách ngu binh nhằm tạo nên sự sùng bái cá nhân, Lâm Bưu cho rằng văn hóa của cán bộ bộ đội chỉ viết được thư, làm được bốn phép tính là được. Vì thế, Lâm Bưu lại chụp cho Đàm Chính cái mũ “làm cho công tác chính trị nảy sinh những lệch lạc nghiêm trọng”.

Tiếp đó giọng điệu phê phán quy chụp thành vấn đề chính trị đối với Đàm Chính của Lâm Bưu càng ngày càng cao, phạm vi được đề cập đến cũng càng ngày càng rộng. Theo giọng điệu của Lâm Bưu thì Đàm Chính được coi là “Chủ nhiệm Cục chính trị” trong “Câu lạc bộ quân sự” của Bành Đức Hoài, Đàm Chính và Cục trưởng Tổ chức Tổng cục Chính trị Lưu Kỳ Nhân, Cục trưởng Tuyên truyền Khương Tư Nghị, Tổng biên tập “Giải phóng quân báo” Âu Dương Văn và Trưởng ban Thư ký Bạch Văn Hóa bị vu cáo là đã tổ chức thành “tập đoàn bè phái chống Đảng”.

Cuối năm 1960, theo ý kiến của Lâm Bưu, Đàm Chính bị giáng cấp xuống là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Mao Trạch Đông cùng Tổng Tham mưu trưởng La Thụy Khanh và Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Tiêu Hoa đã bàn bạc xem ai là người thay chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, La Thụy Khanh và Tiêu Hoa đều kiến nghị để La Vinh Hoàn trở lại. Mao Trạch Đông đồng ý ngay. Thế là Trung ương quyết định La Vinh Hoàn trở lại làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Việc bổ nhiệm La Vinh Hoàn làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị không phù hợp với ý của Lâm Bưu. Vì thế ông ta đã không cho công bố trên báo chí!

Hội nghị Quân ủy mở rộng vào tháng 10 năm 1960, La Vinh Hoàn bị ốm không tham gia được. Việc phê phán Đàm Chính, Lâm Bưu cũng không báo cho La Vinh Hoàn biết trước.

Đối với vấn đề của Đàm Chính, La Vinh Hoàn và Lâm Bưu có bất đồng rất lớn! La Vinh Hoàn cho rằng, mặc dù trong công tác Đàm Chính có mắc khuyết điểm này khuyết điểm nọ, song không hề chống Đảng chống Mao Chủ tịch. Trong một hội nghị của Học viện Chính trị, La Vinh Hoàn đã tỏ ra khó hiểu nói: “Đồng chí ấy (chỉ Đàm Chính) đã cùng làm việc với Mao Chủ tịch nhiều năm như thế, làm sao lại có thể nảy sinh vấn đề chống Mao Chủ tịch?”

Năm 1960, khi La Vinh Hoàn trở lại nhậm chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Trung Quốc đang ở trong tình trạng khó khăn kinh tế nghiêm trọng.

Ngày 3 tháng 11 năm ấy, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã công bố “Bản Chỉ thị khẩn cấp về vấn đề chính sách trước mắt đối với công xã nhân dân ở nông thôn” do Chu Ân Lai khởi thảo (gọi tắt là “Hai mươi điều”) quyết định triển khai phong trào chỉnh đốn tác phong, chỉnh đốn công xã lấy việc quán triệt Bản Chỉ thị này làm nội dung chính trong cả nước, kiên quyết chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Triệt để uốn nắn “làn gió cộng sản”, “khoe khoang” và “mệnh lệnh”, chống sự đặc thù hóa cán bộ. Chống tác phong Quốc dân Đảng, bổ nhiệm cán bộ là người thân làm việc theo cảm tình cá nhân làm rối kỷ cương, đánh mắng quần chúng.

Sau khi nhận được thư này, La Vinh Hoàn gọi điện thoại bảo Tiêu Hoa đến nghiên cứu quán triệt trong quân đội và quyết định đưa ra một chỉ thị về việc làm tốt công tác chính trị tư tưởng của bộ đội ở vùng thiên tai và nhân viên có gia đình ở vùng thiên tai. Đồng thời yêu cầu Tiêu Hoa lấy danh nghĩa Tổng cục Chính trị viết bản kiến nghị gửi Trung ương: “Quân đội đóng quân ở các địa phương ngoài việc tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng ủy ở các địa phương, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy địa phương trực tiếp tham gia một số công tác địa phương, khiêm tốn học tập kinh nghiệm công tác của địa phương ra, còn phải thường xuyên quan tâm công tác địa phương, kịp thời phản ánh với Đảng ủy địa phương về động thái chính trị tư tưởng của quần chúng nhân dân ở gần nơi đóng quân, tình hình chấp hành chỉ thị của Trung ương và những vấn đề phải giải quyết gấp trong công tác địa phương. Cơ quan chính trị các cấp trong quân đội phải coi công tác này là một nội dung quan trọng trong việc chấp hành nhiệm vụ của Đội công tác của mình”.

Sau khi bản kiến nghị này được báo cáo lên trên, ngày 7 tháng 11 năm 1960, nhanh chóng được Ban Bí thư Trung ương đồng ý. Tổng cục Chính trị lập tức truyền đạt xuống các đơn vị trong toàn quân.

Nhưng sự việc này đã làm cho Lâm Bưu không vui.

Lâm Bưu đã từng quy định: vì ông ta bị ốm, không thường xuyên ở Bắc Kinh nên Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị có thể không qua ông ta mà trực tiếp thỉnh thị Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch. Nhưng nếu ai thực sự làm như vậy, hoặc bị Lâm Bưu nghi là làm như vậy thì người ấy sẽ gặp xui xẻo. Sau này Hạ Long, La Thụy Khanh bị phê phán không ai không có liên quan đến điều này.

Lâm Bưu cho rằng La Vinh Hoàn vượt mặt ông ta tự tiện thỉnh thị Trung ương là sự bất kính đối với ông ta. Thế là ngày 10 tháng 11, Lâm Bưu viết cho Mao Trạch Đông một báo cáo. Báo cáo trước hết khẳng định một câu mang tính trừu tượng: “… thông báo này sau khi phát xuống thì quan hệ giữa quân đội đóng quân ở các địa phương và Đảng ủy địa phương dễ dàng bị phá vỡ, bất lợi đối với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, tạo nên tình trạng quân đội ở ngoài Đảng can dự vào công tác của Đảng”. “Cán bộ quân đội rất dễ chịu ảnh hưởng của gia đình và trung nông giàu có, đối với công tác địa phương sẽ bàn bạc xằng bậy còn hình thành nên kiểu nói bừa bãi chủ quan. Quân đội có rất nhiều cán bộ có tư cách lâu năm hơn cán bộ phụ trách ở địa phương, kết quả là sẽ hình thành nên người có tư cách can thiệp vào công tác địa phương, sẽ làm cho cán bộ Đảng chịu áp lực rất lớn, khiến có thể nảy sinh sự đối lập giữa quân đội và địa phương mang tính chất cả nước, tạo nên trào lưu quân đội làm bừa bãi đối với địa phương, đưa đến sự bất lợi đối với công tác”.

Tuy ý kiến của La Vinh Hoàn đúng đắn, nhưng do tình hình sinh hoạt dân chủ trong Đảng vào năm 1960 không bình thường, nên ý kiến của Lâm Bưu một thời được coi trọng. Ngày 15 tháng 11, Mao Trạch Đông đã chỉ thị cho Tiêu Hoa: “Làm thích ý kiến của đồng chí Lâm Bưu”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:13:11 pm

2. Căm tức nghiến răng nghiến lợi

Lâm Bưu chĩa mũi dùi công kích sang La Vinh Hoàn, trong “sự kiện phê phán Đàm Chính” trước đây đã lộ ra đầu mối. Do hạn chế của điều kiện lịch sử, lúc đó La Vinh Hoàn vẫn chưa thể nhận rõ ý đồ của Lâm Bưu, nhưng không phải là không có chút cảm giác gì. Sau khi phê phán Đàm Chính, một bài viết của Phó Chung được phát biểu vào năm 1952 bị lục tìm trở lại để đem ra phê phán. Đứng trước sự việc này, ngày 28 tháng 10 năm 1960, khi nói chuyện tại Học viện Chính trị, La Vinh Hoàn đã nói với một ý nghĩa sâu xa: “Bài viết của đồng chí Phó Chung được phát biểu vào năm 1952, nói là trong việc học tập lý luận phải học trước liên hệ sau, không thể đạt kết quả ngay lập tức, được in trên “Bát Nhất tạp chí”. Nói như vậy là vào lúc tôi đang làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị”. Còn về học lý luận xét cho cùng có thể “đạt được kết quả ngay hay không”, trong lần nói chuyện này La Vinh Hoàn chưa tỏ thái độ. Nhưng trước việc Lâm Bưu công kích học tập “có hệ thống” là giáo điều thì ông đã nói:

“Hệ thống là gì. Xuất phát từ thực tế để nghiên cứu lý luận, mà không phải xuất phát từ chủ nghĩa kinh nghiệm. Dùng thái độ của chủ nghĩa kinh nghiệm để học lý luận là không được. Xem xét vấn đề không nên phiến diện, cho nên rất nhiều vấn đề đều phải được giải thích thật rõ”.

Ở đây, La Vinh hoàn đã bày tỏ một cách khá uyển chuyển ý kiến khác của mình đối với những quan niệm hồ đồ của Lâm Bưu khi công kích việc học tập một cách có hệ thống.

Nhưng trên con đường sai lầm, Lâm Bưu càng đi càng xa. Tháng 1 năm 1961, Lâm Bưu chắp vá thành cái gọi là phương pháp học tập về sau thổi phồng thành “phương châm ba mươi chữ”, nội dung 30 chữ ấy là: “Đem theo vấn đề để học, học một cách sống động, dùng một cách sống động, kết hợp học và dùng cái gì cần dùng gấp thì học trước, đạt ngay kết quả, tập trung nhiều công sức vào chữ “dùng””.

Lần này, La Vinh Hoàn không uyển chuyển như trước nữa. Khi nói chuyện với Lương Tất Nghiệp, La Vinh Hoàn đã chỉ rõ: “Đem theo vấn đề để học, tức là đi tìm câu trả lời trong Mao tuyển, nêu như vậy là không xác đáng”.

Ngày 27 tháng 1 năm 1961, trong cuộc tọa đàm về công tác thanh niên do Tổng cục Chính trị triệu tập La Vinh Hoàn đã nhiều lần nói trong cuộc tọa đàm, đặc biệt có một câu làm Lâm Bưu phải căm tức nghiến răng nghiến lợi là: “Phải ngăn chặn việc lợi dụng tuyên truyền Mao Chủ tịch để làm nổi bật mình”. Vì đây chính là một câu nói trúng dụng tâm của Lâm Bưu.

Ngày 2 tháng 2 năm 1961, khi La Vinh Hoàn cùng Tiêu Hoa, Lưu Chí Kiên, Từ Lập Thanh, Lương Tất Nghiệp tiếp kiến các cán bộ từ Phó Tổng biên tập trở lên của “Giải phóng quân báo” đã nói: “Đem một số lời nói tùy tiện của Bộ trưởng Lâm Bưu, không phân biệt rõ từng trường hợp để đăng lên báo là không hay. Hôm nay nói như thế, ngày mai có thể không nói như thế nữa, nhận thức khách quan là lặp đi lặp lại. Chuẩn xác như vậy ư? Thế thì gay rồi”.

Từ những điều ấy có thể thấy sự bất đồng giữa Lâm Bưu và La Vinh Hoàn trong vấn đề học tập trước tác của Mao Trạch Đông đã ngày càng rõ rệt.

Hạ tuần tháng 4 năm 1961, khi Lâm Bưu đi thị sát bộ đội đã chỉ thị: “Giải phóng quân báo” phải thường xuyên trích đăng những lời của Mao Chủ tịch”. Cùng lúc La Vinh Hoàn nhận được thông báo Quân ủy sẽ triệu tập một cuộc hội nghị thường vụ vào ngày 30, trong đó sẽ thảo luận “Quy tắc điều lệ chiến đấu của quân đội hợp thành” (dự thảo) trong nghị trình. Trước cuộc họp, La Vinh Hoàn đã đọc duyệt dự thảo này, thấy trong văn kiện quân sự này cũng bệ nguyên xi mấy câu “đem theo vấn đề để học” của Lâm Bưu. Ông dùng bút chì gạch một gạch đậm dưới mấy câu này và quyết định gượng dậy đi dự hội nghị.

Sáng 30 tháng 4, Hội nghị Thường vụ Quân ủy họp tại phòng hội nghị số 7 tầng 2 Câu lạc bộ Tam Tọa Môn. Ủy viên thường vụ có mặt trong cuộc họp này gồm Lâm Bưu, Hạ Long, La Vinh Hoàn, Diệp Kiếm Anh, La Thụy Khanh. Những người dự thính có: Lưu Á Lâu, Trương Ái Bình, Bành Thiệu Huy, Lương Tất Nghiệp, Chu Hy Hán, Phong Vĩnh Thuận v.v...

Hội nghị do Lâm Bưu chủ trì, mấy nghị trình ở phần trên được thông qua rất thuận lợi, tiếp đó khi thảo luận đến dự thảo: “Quy tắc điều lệ chiến đấu của quân đội hợp thành”, Lâm Bưu hỏi mọi người còn có ý kiến gì. Ngừng một lát, La Vinh Hoàn phát biểu ý kiến:

“Đem theo vấn đề để học” Tuyển tập Mao Trạch Đông, câu này cần phải cân nhắc vì nó có sai sót.

Lâm Bưu làm ra vẻ không biết cái câu mà quyền phát minh thuộc về ông ta hỏi:

“Câu này ở đâu nhỉ?”

La Vinh Hoàn ra hiệu cho Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lương Tất Nghiệp ngồi chếch đối diện với ông đọc một số đoạn có liên quan.

Lâm Bưu cảm thấy rất bối rối, nhưng lại không tiện bộc lộ ra, liền hỏi:

“Vậy đồng chí thấy nên học như thế nào?”

La Vinh Hoàn nói thẳng:

“'Nên học thực chất tinh thần của trước tác Mao Chủ tịch, câu: “Đem theo vấn đề để học” nên bỏ đi.

Sau khi La Vinh Hoàn nói xong Lâm Bưu im như thóc! Mấy phút trôi qua, không có ai phát biểu. Lâm Bưu đành nói: “Không hay thì bỏ đi thôi!”

La Vinh Hoàn nói tiếp:

“Cứ bỏ đi là hay, học tập trước tác của Mao Chủ tịch phải học từ căn bản, phải thấu suốt, phải học tập lập trường, quan điểm, phương pháp liên hệ chặt chẽ với thực tế...”

“Được giải tán!” Lâm Bưu không đợi La Vinh Hoàn nói hết đã ngắt lời, tuyên bố tan họp rồi đứng lên phẩy tay áo đi ra. Trước sự tức giận đột ngột của Lâm Bưu, những người tham gia hội nghị đều lo sợ. La Vinh Hoàn vô cùng tức giận trước sự thô bạo vô lễ như vậy của Lâm Bưu. Ông cố kìm sự tức giận của mình, tay hơi run run cầm tài liệu cho vào trong cặp, rồi nặng nhọc ra khỏi phòng họp...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:13:46 pm

Ngày 1 tháng 5 theo chỉ thị của Lâm Bưu: “Giải phóng quân báo” bắt đầu đăng những đoạn trích dẫn lời của Mao Trạch Đông ở đầu tờ báo, yêu cầu nội dung phải phù hợp với các trang báo ngày hôm đó, để mọi người “học và dùng một cách sống động”. Để hoàn thành nhiệm vụ này. Tòa báo phải cử một người chuyên tra tìm trong sách Mao tuyển để trích ra. Nhưng có lúc giở Mao tuyển từ đầu đến cuối mà chẳng có câu nào thích hợp. Sau khi lời trích được đăng liền mấy ngày thì thấy khó có thể tiếp tục. Tổng biên tập Lý Dật Dân cảm thấy đây là nhiệm vụ do Lâm Bưu dặn bảo, không chọn không được, mà chọn thì không ra, vô cùng khó xử, liền đến thỉnh thị La Vinh Hoàn. La Vinh Hoàn lập tức trả lời rõ ràng: “Làm báo chí chủ yếu là quán triệt tinh thần. “Bài nói chuyện với các cán bộ biên tập tờ “Tấn Tuy nhật báo” của Mao Chủ tịch, quán triệt đường lối quần chúng giữ vững chân lý, phải có phong cách chiến đấu sinh động, rõ ràng, sắc bén không một chút ấp úng. Còn về việc trích lời Mao Chủ tịch, tìm mấy điều cũng được, không tìm được cũng không sao. Trước tác của Mao Chủ tịch không thể đề cập đến mọi chuyện hiện nay. Phải học tập thực chất tinh thần, không thể như hòa thượng niệm kinh, gõ mõ, mà vẫn không biết Phật tổ Tây Thiên ở nơi nào!”.

Sau khi tức giận ra khỏi Hội trường từ ngày 30 tháng 4 năm 1961, Lâm Bưu vẫn rất hậm hực, ông ta đang tính kế để trả thù La Vinh Hoàn.

Một hôm, một cán bộ hải quân đến chỗ ở của Lâm Bưu để báo cáo công tác. Lúc này, khu nhà Lâm Bưu ở Mao Gia Loan đang sửa chữa, cả nhà Lâm Bưu ở Tân Lục Sở thuộc ngoại ô phía tây. Lâm Bưu tiếp cán bộ này ở ngay phòng ngủ. Gian phòng này rất to, nhưng chỉ bày có mấy chiếc xa-lông và một bàn viết. Cửa sổ treo rèm cửa rất dày. Trong phòng vừa trống trải, lại vừa âm u.

Lâm Bưu ngồi thụt trong xa-lông, lim dim mắt nghe báo cáo. Giữa chừng La Thụy khanh đến, Lâm Bưu ra hiệu bảo La Thụy Khanh ngồi xuống chiếc xa-lông ở bên cạnh ông ta. Trong báo cáo, cán bộ hải quân có nói đến việc La Vinh Hoàn đã từng chỉ thị cho bộ đội ở mặt trận tiền phương Phúc Kiến. Trọng tâm của công tác năm 1961 là “4 nắm chắc 1 kiểm tra”, Lâm Bưu cắt ngang lời anh ta, nói lớn: “4 nắm chắc 1 kiểm tra cái gì! Nói thế mà năm nào cũng phạm sai lầm. Nhưng, cũng chẳng thể giải quyết được vấn đề gì”.

Lâm Bưu nghiến răng nói tiếp:

“Tư tưởng của La Vinh Hoàn thật là sai lầm! Ông ta né tránh tôi, chủ trương để quân đội “bắn pháo” vào địa phương còn không phải là chống Đảng hay sao?”

Nghe thấy Lâm Bưu chụp mũ chống Đảng cho La Vinh Hoàn, La Thụy Khanh lặng im tỏ ý không đồng ý.

Lâm Bưu thấy hai người đều không tỏ thái độ, đột ngột quay người lại nói với La Thụy Khanh ngồi bên cạnh:

“Nghe nói anh cũng chủ trương như vậy, tôi phản đối các anh!” Mưa gió đột ngột đổ xuống, La Thụy Khanh không hề có một chút chuẩn bị tư tưởng nào. Nhưng ông đã xem qua báo cáo của Tổng cục Chính trị gửi Trung ương hoàn toàn không liên quan gì đến việc “bắn pháo” bèn trả lời thẳng thừng: “Tôi không có quan điểm này”.

Lâm Bưu hùng hùng hổ hổ hỏi vặn: “Không có? Sao không có? Có văn bản làm chứng chứ”.

Người cán bộ hải quân thấy tình cảnh như vậy, cũng vì không hiểu tình hình và cũng không tiện nói, nên đã đứng dậy cáo từ. Lâm Bưu vừa bắt tay anh ta vừa nói: “Cứ theo những điều tôi vừa nói mà làm, đừng nghe người khác, một sự vật mới ra đời, luôn có người chống lại”.

Sau này, trong cách mạng văn hóa, La Thụy Khanh bị Lâm Bưu hãm hại bị tù đày. Trong tài liệu tố cáo Lâm Bưu viết vào năm 1972 có nói:

“Lúc ấy, tôi cảm thấy ý kiến của ông ta đối với La Vinh Hoàn và tôi trầm trọng quá, hôm nay một gậy đánh cả hai, chẳng qua chỉ là cách mượn chuyện, nhưng rốt cuộc vì sao, thì không sao lần ra đầu mối được”.

Sớm tinh mơ hôm sau, Lâm Bưu lại gọi điện thoại cho La Thụy Khanh: “Để bảo vệ sức khỏe cho La Vinh Hoàn không nên công khai việc tôi phê bình La Vinh Hoàn ngày hôm qua”. Thực ra, cái mà Lâm Bưu gọi là “sức khỏe của La Vinh Hoàn” chỉ là một chiêu bài. Trong Đảng, La Vinh Hoàn có uy tín rất cao, trên thực tế là Lâm Bưu sợ phê phán La Vinh Hoàn không những sẽ không được Mao Trạch Đông phê chuẩn, làm dở còn có thể là đem đá ghè vào chân mình. Lâm Bưu một mặt dặn La Thụy Khanh không nên “công khai” việc ông ta “phê bình” La Vinh Hoàn, mặt khác vẫn tiếp tục công kích La Vinh Hoàn. Khi ông ta nói chuyện với một số cán bộ khác, ngoài việc chụp mũ “chống Đảng” cho La Vinh Hoàn ra, còn nói La Vinh Hoàn chống “đem theo vấn đề để học” chính là chống Mao Chủ tịch”. Lúc ấy bệnh của La Vinh Hoàn đã rất nặng. Những cán bộ nghe thấy Lâm Bưu công kích La Vinh Hoàn tất nhiên không muốn và cũng không nhẫn tâm nói với La Vinh Hoàn. Vì thế, cho đến năm 1963, La Vinh Hoàn qua đời, ông cũng không ngờ được rằng Lâm Bưu đã bắn lén mũi tên độc ác vào sau lưng mình.

La Vinh Hoàn và Lâm Bưu ngoài việc bất đồng về nguyên tắc trên vấn đề có tính căn bản trong học tập trước tác của Mao Trạch Đông ra, trong nghiệp vụ chính trị, trong quan hệ giữa hồng và chuyên quan điểm cũng không nhất trí.

Do bất đồng ngày càng nới rộng, Lâm Bưu ngày càng bất mãn với La Vinh Hoàn, cuối cùng ông ta đã nói một cách dữ tợn: “Lâm Bưu, La Vinh Hoàn là cái gì, Lâm La phải tách riêng, từ xưa đến giờ Lâm La không phải là một”.

Đến năm 1963, Tân Hoa xã muốn công bố danh sách những người lãnh đạo Quân Giải phóng, La Thụy Khanh và Tiêu Hoa đều chủ trương công bố việc bổ nhiệm của La Vinh Hoàn, nhưng Lâm Bưu vẫn không đồng ý. Sau khi La Vinh Hoàn biết, đã nói một cách cảm khái: “Xem ra cái chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị này của tôi vẫn không hợp pháp”.

Năm 1963, La Vinh Hoàn bị bệnh qua đời, nhưng việc đả kích trả thù của Lâm Bưu đối với ông vẫn không chấm dứt. Sau khi cách mạng văn hóa bùng nổ Lâm Bưu thậm chí còn thò bàn tay độc ác vào gia đình La Vinh Hoàn.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:16:03 pm

4
“Con rồng sống” thi gan “sờ mông hổ”
“Con hổ ốm” vùng dậy bắn một mũi tên


1. Giờ phút nghiêm trọng, hoa lửa đất đèn của Lâm Bưu tắt lụi.

Giữa mùa hè năm 1960, Trung ương đến một nơi khác để làm việc, những con người kỳ tài xuất chúng tập hợp đông đủ ở Bắc Đới Hà. “Rồng” (Long) đã tới, “Hổ con” (Bưu) cũng đã tới.

Hạ Long là “trung tâm” hấp dẫn mọi người theo lời của Nguyên soái chính trị La Vinh Hoàn, Hạ “Ông anh cả đầu rồng”. Các vị tướng soái đều thích gần gũi ông, mặc quần áo theo kiểu của ông, vì ông đã từng là thợ may; đi dạo chơi cũng thích kề vai bên ông, vì ông hiểu xã hội nhất, chuyện thì kể cả ngày không hết; nếu ra biển tắm thì xen lẫn với tiếng nói không thể thiếu tiếng ngợi ca con “rồng sống”.

Lâm Bưu thì lìa đàn ở lẻ chăng bao giờ tham gia cùng với bạn bè tướng soái. Ông ta không đến chơi nhà ai và cũng không tiếp khách, những người đến nhà thăm hỏi phần lớn đều bị Diệp Quần ngăn cản. Ông ta chẳng nói chuyện với người xung quanh, cũng không biết đánh bài, đánh cờ, xem kịch, khiêu vũ, những người phục vụ được tạm thời cử đến, ông ta càng không để ý. Tuy ở bờ biển, nhưng ông ta rất ít khi xuống nước, chỉ đứng trên ban công nhìn ra biển xa xa.

Trong nhà, ông ta hoặc đứng hoặc ngồi vẫn không bao giờ ngừng ngẫm nghĩ, không bao giờ ngừng lẩm bẩm, có một nhân viên cấp dưới cũ có thể coi là “trực hệ”, ông ta gặp thì gặp nhưng chẳng nói năng gì. Nghe nhân viên cũ nói Hạ Long giống như con “rồng sống”, với vẻ mặt không chút biểu cảm, ông ta đáp một tiếng: “Ông ta có Nam Xương khởi nghĩa “Bát Nhất”, những người này vẫn xài được”. Chỉ một câu thế thôi.

Những ngày trời đẹp, phong quang, Lâm Bưu luôn sợ ánh sáng, sợ nước rất ít khi đi chơi, ít khi ra bờ biển, chỉ đặt một chiếc ghế mây, lặng lẽ ngồi.

Ông ta ngồi ngây ra rất lâu ngắm nhìn biển cả. Mặt biển mờ khói, sóng lớn nhấp nhô;

Ven bờ không làng xóm
Xa tít bóng thuyền câu.
Sóng cuộn từ ngàn thuở,
Người câu có thấy đâu.
Gió thổi mùa tháng sáu,
Chỉ nghe tiếng hải âu...


Đột nhiên, hai mắt ông ta sáng lên, toé ra những chấm sáng lửa hàn, mồm lẩm bẩm, hai tay đã rút ra khỏi túi áo ngực một tờ giấy trắng được cắt vuông vắn, viết vào đó mấy chữ, ngắm nghía một lúc, sửa lại mấy nét, rồi lại lẩm bẩm, lại sửa một nét...

Hoa lửa đã tắt, tờ giấy đã viết chữ được cất cẩn thận vào túi áo. Ông ta lại ngắm biển, lại ngơ ngẩn, ông ta vẫn vất vả suy nghĩ, chờ đợi sự lóe lên những đốm sáng của lửa hàn...

Cứ như thế một mùa hạ đã trôi qua, cái “đốm sáng lửa hàn” mà ông ta vớ được chính là đã lóe sáng ở Hội nghị Quân ủy mở rộng: “Chủ nghĩa Mác - Lênin ngày nay chính là tư tưởng Mao Chủ tịch của chúng ta. Nó đứng ở đỉnh cao nhất trong thế giới ngày nay, ở đỉnh cao tư tưởng của thời đại...”.

“Lý thuyết đỉnh cao” đã ra đời như thế. Ông ta còn nói một loạt những “ngôn từ Lâm Bưu” vang dội trong cả nước: “Đọc sách Mao Chủ tịch, nghe lời Mao Chủ tịch, làm việc theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, làm chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch”. “Nhất định phải thực sự học đến nơi đến chốn tư tưởng Mao Trạch Đông” v. v... và v. v...

Thuở ấy giành lại giang sơn, khí thế sục sôi cũng chỉ là “bưu” (con hổ con - N.D.) mà nay, “giành bốn phương” ông ta đã trở thành “con hổ lớn ốm o” chân không ra khỏi cửa. Ngày lại qua ngày, tháng lại qua tháng, năm lại qua năm, ông ta không ngừng ngẫm nghĩ không ngừng lẩm bẩm, không ngừng viết lách, viết ra những “đốm lửa hàn” mà một dạo đã chiếu sáng toàn Trung Quốc.

Chính trong năm ấy, “bốn nhất”, “tác phong ba tám”, “chính trị hàng đầu” đã ra đời từ trong đầu ông ta. “Đại đội bốn tốt”, “chiến sĩ năm tốt” không lâu sau cũng được đề xuất trong Hội nghị Quân ủy mở rộng do ông ta chủ trì, hơn nữa còn nhanh chóng tỏa sáng trong toàn quân...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:16:26 pm

Hồi ấy, có một người là con của một cán bộ cao cấp hiếu sự, đã viết một bài vè mà người viết truyện này còn nhớ hai câu: Bộ trưởng Quốc phòng không ra khỏi cửa; trị quốc an bang giữ cả bốn phương.

Nhưng cũng có kẻ ca ngợi công đức của ông ta, rằng: “Lâm Bưu quyết định mọi sách lược tác chiến ở hậu phương”.
Hạ Long trong một thời gian dài dẫn quân đánh trận, đã rèn được tác phong chấp hành mệnh lệnh nghiêm chỉnh nhanh chóng, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm. La Vinh Hoàn trong một thời gian dài làm chính ủy, gặp khó khăn thì bình tĩnh suy nghĩ thấu đáo, bền bỉ cặn kẽ chu đáo, hai người bổ sung cho nhau, bây giờ cùng phối hợp công tác trong Quân ủy, trong mọi việc lớn thường không hẹn mà nên rất ăn ý.

Vậy mà La Vinh Hoàn đã nhiệt tình giới thiệu Hạ Long làm Bộ trưởng Quốc phòng với Mao Trạch Đông không phải chỉ ở tình nghĩa sâu xa, phối hợp ăn ý, mà ở sự ngưỡng mộ phẩm chất và phong cách của Hạ Long, tán đồng những suy nghĩ và cách làm đối với việc xây dựng quân đội...

Hạ Long không nói những câu “chính trị hàng đầu” như Lâm Bưu đã từng nói, ông nói những điều cụ thể thật lòng: “Quân đội là cái gốc của nhà nước chúng ta... Trước đây chúng ta dựa vào quân đội để giành lại giang sơn, từ nay về sau vẫn phải dựa vào nó để bảo vệ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Cán bộ là tài sản quý báu của chúng ta nhưng không thể làm cho sức khỏe của họ bị suy sụp”.

Ông đề xuất rất nhiều kiến nghị và chỉ thị: bộ đội phải tự lực cánh sinh, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.

La Vinh Hoàn cũng không nói “chính trị” suông, mà nói thực tế: “Các cấp đảng ủy phải coi sản xuất và đời sống của bộ đội là một việc lớn để nắm cho chắc...”.

Hạ Long cũng nói tới tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông, nhưng khác với cách nói của Lâm Bưu: “Phải tăng cường phòng thủ bờ biển, trước hết chân của những người lãnh đạo quân khu phải đứng vững trên phương diện vũ trang nhân dân, không nên chỉ nắm mấy vạn khẩu súng của bộ đội, mà phải dùng sáu mươi phần trăm lực lượng để nắm mấy chục vạn khẩu súng của dân quân... không hiểu điều này, cũng có nghĩa là không thực sự hiểu tư tưởng Mao Trạch Đông”.

Một câu nói của La Vinh Hoàn cũng đã nêu rất rõ ràng: “Hiện nay phòng thủ bờ biển chủ yếu là dựa vào sự phòng thủ của dân quân, đó là vấn đề chiến lược, không phải là vấn đề chiến thuật”.

Lúc ấy hải quân của Trung Quốc chỉ to không bằng ngón tay cái, nên phòng thủ bờ biển chủ yếu dựa vào dân quân, đúng như hai vị nguyên soái đã nói.

Năm 1962, Trung Quốc không bình yên trải qua ba năm khó khăn nghiêm trọng, nguyên khí trong cả nước bị tổn thương lớn, tất cả mọi kẻ thù đều nhìn rõ điểm ấy, muốn nắm cơ hội để hành động. Tin khẩn cấp ở Đông Nam: Quốc dân Đảng ở Đài Loan hò hét: “Thời cơ tốt ngàn năm có một để phản công đại lục”, bắt đầu vũ trang lén lút xâm phạm, hơn nữa còn được Hạm đội 7 của Mỹ hậu thuẫn. Tin khẩn cấp ở Tây Nam: Ấn Độ điều binh khiển tướng, xâm nhập vào nội địa Trung Quốc, trên núi Hy-ma-lay-a bắt đầu đổ máu. Tin khẩn cấp ở Đông Bắc: Liên Xô cũng không để lỡ thời cơ, mấy chục vạn quân áp sát biên giới, không ngừng gây nên những cuộc xung đột biên giới. Tin khẩn cấp ở Tây Bắc: Với sự kích động xúi giục của Liên Xô, các cuộc bạo động đang ngấm ngầm hình thành và sắp bùng nổ... Đúng giờ phút nghiêm trọng ấy thì Lâm Bưu lại bị ốm. Mấy năm sau này ông ta không còn tham dự một hội nghị nào của Thường vụ Quân ủy Trung ương nữa.

Phòng làm việc của Hạ Long bốn bức tường treo kín những tấm bản đồ quân sự, trên bàn trên ghế, có lúc thậm chí trên nền nhà cũng trải đầy bản đồ. Ở đây khói thuốc lá mù mịt, thuốc xì gà hơi này tiếp hơi khác phả ra, như để nhắc nhở rằng bốn phương đang bốc khói báo động, nước Cộng hòa đang đứng trước một cuộc thử thách nghiêm trọng.

Họp Thường vụ Quân ủy, họp tổ chiến lược, họp triển khai quân sự, họp sản xuất trong quân đội, họp báo cáo tình hình quân sự... Hết hội nghị này đến hội nghị khác, mệnh lệnh cũng hết cái này đến cái khác truyền đi bốn phương đến Quân khu Phúc Châu, Quân khu Tây Tạng, Quân khu Tân Cương, Quân khu Thẩm Dương...

Hạ Long đi khắp nơi, hình thế núi sông và mỗi đơn vị bộ đội ông đều nắm chắc đó là cơ sở để bày mưu tính kế. Ông báo cáo với Trung ương, Trung ương ra “chỉ thị về việc chuẩn bị đập tan quân Quốc dân Đảng xâm phạm vùng vcn biển Đông Nam”, điều quân đến các vị trí đã dự định: phát động hàng triệu dân quân dàn trận chờ sẵn, từ đó đã làm cho mâu thuẫn giữa Mỹ và Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan và nội bộ Quốc dân Đảng càng mở rộng trong vấn đề đem quân tấn công, kẻ địch cãi nhau không ngớt, Mỹ không đồng ý quân đội Quốc dân Đảng đơn độc tiến công với quy mô lớn thì không thể; quy mô vừa cũng khó khăn, đã buộc Tưởng Giới Thạch từ bỏ kế hoạch phiêu lưu quân sự “phản công đại lục”.

Hạ Long lại đem hết tinh lực chuyển từ Đông sang Tây, chỉ đạo Quân khu Tân Cương dẹp yên bạo loạn ở Bắc Y Ninh và khu Tháp Thành. Tiếp đó thông qua Bộ Tổng Tham mưu chỉ huy bộ đội tác chiến bắt đầu trận phản kích tự vệ ở biên giới Trung Ấn: ở đoạn phía Đông tiêu diệt cả một lữ đoàn, ở đoạn phía Tây đã quét sạch 86 cứ điểm quân sự do quân đội Ấn Độ xây dựng nên. Ấn Độ động viên cả nước tiến hành chiến tranh, nhưng một lần nữa lại bị bộ đội biên phòng của chúng ta đánh cho tơi tả.

Lúc ấy thường nói: đánh để có uy thế quốc gia uy thế quân đội...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:18:12 pm

2. Cuộc đọ sức ngấm ngầm giữa “Rồng” và “Hổ”

Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng đã kết thúc. Mao Trạch Đông liếc nhìn Hạ Long, trong ánh mắt tràn đầy sự tán thưởng.

Đó là ngày 27 tháng 9 năm 1963.

“Anh Hạ, tóc mai đã bạc trắng rồi”. Mao Trạch Đông lại bật ra niềm cảm xúc sống chết có nhau. Về vấn đề Tân Cương ông đã nói hết, hội nghị cũng sắp kết thúc. Sao ông lại nghĩ đến tuổi tác không tha cho con người? Giọng của ông có chúi xót xa: “Anh La (La Vinh Hoàn) không đến được, đầu năm nay đã vào nằm viện rồi...” Mao Trạch Đông nhìn Hạ Long nghĩ đến La Vinh Hoàn, nguyên nhân là Hạ Long “giữ bốn phương”, phía Đông thì chống Kim Môn Mã Tổ ở eo biển Đài Loan, phía Bắc chống cự với Liên Xô, phía Tây dẹp loạn, phía Nam đánh đuổi Ấn Độ... Đồng chí La Vinh Hoàn quả là người biết người, có công giới thiệu Hạ Long.

Hơn hai tháng sau, La Vinh Hoàn qua đời. Mao Trạch Đông thương xót vô cùng, hai ngày ba đêm không sao chợp mắt được, đã viết nên bài thơ thất ngôn “Viếng đồng chí La Vinh Hoàn”.

“Nhớ ngày còn ở thảo nguyên.
Trường chinh chiến trận gian nan nhọc nhằn.

…
…
Nay anh từ biệt thế gian
Việc quân việc nước hỏi han ai người?”


Nếu như La Vinh Hoàn còn sống, số phận của Hạ Long trong đại cách mạng văn hóa nổ ra sau đó hai năm sẽ khá hơn chăng?

Nhưng, trong hội nghị Bộ Chính trị mở rộng lần này, Mao Trạch Đông lại không ngờ tới một quyết định của ông đã tăng thêm sự ganh ghét và bất mãn giữa “Long” và “Bưu” của ông. “Tôi xin kiến nghị với Bộ Chính trị”, Mao Trạch Đông hít một hơi thuốc lá, chậm rãi nói: “Sức khỏe Lâm Bưu không tốt, không thể chủ trì công việc hằng ngày của Quân ủy, trong thời gian Lâm Bưu nghỉ dưỡng bệnh thì Hạ Long chủ trì công việc hằng ngày của Quân ủy”.

Kiến nghị của Mao Trạch Đông được Bộ Chính trị nhất trí đồng ý.

Mao Gia Loan thần bí, mấy khu nhà vắng lặng; bức tường gạch xám cao cao, những ngôi nhà kiểu mới đã được sửa sang tu chỉnh và còn có những hành lang khép kín thông từ nhà này đến nhà khác... Sau khi ăn cơm một tiếng đồng hồ, Lâm Bưu bắt đầu nghe “đọc văn kiện”. Thư ký đọc thư do Hạ Long viết báo cáo về tình hình toàn quân phổ biến phương pháp dạy học của Quách Hưng Phúc, báo cáo về “Hội thao lớn”, về tình hình biểu diễn của phân đội “mũi nhọn” thuộc Quân khu Bắc Kinh.

Sau khi Lâm Bưu giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, để thực hiện việc “sùng bái cá nhân”, ông ta không ngừng suy nghĩ, trong đầu bắn ra rất nhiều “hoa lửa hàn” trong đó có “đi đường tắt”, “học thuộc lời dặn”. Ông ta không thiếu “tính sáng tạo” đã chỉ thị cho “Giải phóng quân báo” bắt đầu từ tháng 5 năm 1961, trên đầu báo phải đăng trích lời Mao Chủ tịch. Ba năm nhanh chóng trôi qua, Tổng cục Chính trị Quân giải phóng, đã đem tất cả những lời trích được đăng trên “Giải phóng quân báo” in thành một tập “Trích lời Mao Chủ tịch” (Mao Chủ tịch ngữ lục). Cuốn “sách đỏ quý báu” này về sau đã hình thành nên bầu không khí vang dội trong cả nước, ảnh hưởng đến toàn cầu.

“Họ bảo viết cái gì?” Lâm Bưu hỏi:

“Đó là lời thủ trưởng đã nói: Đọc sách của Mao Chủ tịch, nghe lời Mao Chủ tịch, làm theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, làm chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch”.

Lâm Bưu cầm bút đưa về phía nghiên mực, miệng lẩm bẩm: “Có người không tin là phải chính trị hàng đầu... kiểu như Bành Đức Hoài”.

Lâm Bưu lại nói: “Hạ Long thực hiện việc luyện tập, hội thao, La Thụy Khanh tích cực nhất. Cả nước có mười cuộc hội thao lớn thì Hạ Long tham gia tám lần, La Thụy Khanh giận không một lần nào được giúp đỡ. Chính là họ không tin vào việc coi chính trị là hàng đầu, muốn làm cách khác”.

Ngày 15, 16 tháng 6 năm 1964, các phân đội mũi nhọn và dân quân của Quân khu Bắc Kinh và Quân khu Tế Nam, lần lượt biểu diễn báo cáo với các vị lãnh đạo trung ương và lãnh đạo các tỉnh thành trong cả nước ở Tây Sơn, Dương Phường và Thập Tam Lăng thuộc Bắc Kinh. Tất cả các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước có mặt ở Bắc Kinh như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình đều đến xem biểu diễn, đều khen ngợi và đánh giá rất cao...

Lâm Bưu không tỏ vẻ gì, ánh mắt thờ ơ chăm chú nhìn vào một điểm nào đó ở trước mặt, đó là sự biểu cảm riêng khi ông ta tập trung suy nghĩ.

Lần biểu diễn này, Hạ Long đã báo cáo với ông ta nhưng ông ta chẳng thèm để ý, cũng chẳng tham gia. Điều lúc đầu ông ta không ngờ tới là họ đã làm nổi đình đám như thế! Khi Hạ Long tổ chức phổ cập kinh nghiệm “mũi nhọn” trong toàn quân thì Diệp Quần và một cán bộ lãnh đạo của Tổng cục Chính trị đã dẫn một tổ công tác đến đoàn 379 thuộc Quân khu Quảng Châu, bắt đầu “điều tra nghiên cứu”. Sau một tháng, bốn bản báo cáo điều tra được đặt trên bàn của Lâm Bưu.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2009, 11:18:36 pm

Báo cáo “Điều tra tình hình ba tiểu đội “mũi nhọn” của Đại đội 1, Đoàn 379, đã tìm ra 10 tội: Chắp vá các mũi nhọn, trọng kỹ thuật quân sự, nhẹ chính trị tư tưởng, chạy theo giải thưởng, không khí không lành mạnh, dung tục hạ lưu, quản lý giản đơn thô bạo, ảnh hưởng đoàn kết trong ngoài...

Báo cáo “Về vấn đề huấn luyện quân sự” đã kể ra 12 tội: Quân sự lấn át tất cả, choán mất giáo dục chính trị, luyện để xem, bốn nhất bị tấn công, làm suy sụp tác phong bộ đội, lính gỗ, quan gỗ cả ngày chỉ bận bịu với nheo mắt, ném cho xa, đếm một hai ba, một đường thẳng.

Nheo mắt là chỉ tập xạ kích, ném cho xa là chỉ ném lựu đạn, đếm một hai ba là chỉ co tay trên xà đơn, một đường thẳng là chỉ tập xếp hàng. Tư duy của Diệp Quần giống Lâm Bưu, ngôn ngữ cũng giống. Phong cách ngôn ngữ này đã từng một dạo ảnh hưởng tới cả nước, ngay cả những tác phẩm văn nghệ của quân đội lúc ấy cũng đều có phong cách này, đã trở thành một hiện tượng văn hóa lịch sử đặc thù.

Lâm Bưu đã có điều tra nghiên cứu thì sẽ có kết luận.

Ông ta nói với Diệp Quần: “Xem ra, tay La Thụy Khanh này không tốt. Tổng Tham mưu giao cho ông ta làm, ông ta đã chuyển sang cho Hạ Long làm”.

Ông ta nói với một cán bộ lãnh đạo của Tổng cục Chính trị: “Năm ngoái huấn luyện quân sự quá nhiều, trong huấn luyện đã xuất hiện một cách làm không thỏa đáng gây ảnh hưởng đến bốn nhất, anh chuyển lời tôi tới Trương Tông Tôn, bảo anh ta làm bản tự phê bình”.

Thượng tướng Trương Tông Tôn là Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện quân sự, gõ vào ông này sẽ chạm đến La Thụy Khanh, chạm đến La Thụy Khanh sẽ động đến Hạ Long. Chơi trò “chiến thuật” thì Lâm Bưu là chuyên gia, nếu không thì sao có thể được gọi là “Hàn Tín”.

Ông ta bảo Văn phòng của ông ta gọi điện cho Bộ Tổng Tham mưu: “Bảo với họ một câu: Hội thao đã tấn công chính trị, phương hướng đã chệch”.

Có câu này “Giải phóng quân báo” số ra ngày 1 tháng 1 năm 1965 đã thay đổi giọng điệu, không hề nói một chữ tới cách dạy học của Quách Hưng Phúc và kinh nghiệm phổ cập “mũi nhọn”.

Lâm Bưu chống lại, toàn quân chấn động. Vừa qua tết Dương lịch, La Thụy Khanh chủ trì triệu tập cuộc họp Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu tổng kết công tác năm 1964, thảo luận đề cương công tác năm 1965.

Hội nghị chuẩn bị họp một ngày, trước khi họp, báo cáo điều tra do Diệp Quần viết được coi là văn kiện của hội nghị, phát cho những người dự họp.

8 giờ rưỡi sáng, La Thụy Khanh tuyên bố hội nghị bắt đầu. Những người lãnh đạo các cục, các đại quân khu và các quân binh chủng đều xịu mặt. Họ xem bốn bản báo cáo điều tra mà trong lòng thấy khó chịu, nhưng hiểu đây là sự phản ánh quan điểm của Lâm Bưu, không tiện nói gì cả, trừ phi hai người là bạn tri kỷ lại có tình cảm với nhau mới rỉ tai nói đôi câu.

Xét cho cùng thì Lâm Bưu là Phó Chủ tịch Đảng, Phó Chủ tịch thứ nhất Quân ủy, Bộ trưởng Quốc phòng. Cái trò “chính trị hàng đầu” mà ông ta làm không những được Mao Trạch Đông coi là đúng và cũng được nhiều người cho là đúng, nên đã được tín nhiệm và ủng hộ. Đối với bốn bản báo cáo cho dù có những ý kiến khác nhau, nhưng cũng sợ “ném chuột vỡ bình” khó có thể công khai nói điều gì.

Hội nghị họp buồn tẻ, không giống như trước đây tranh nhau phát biểu trong không khí sôi nổi.

La Thụy khanh nổi tiếng về sự trung thành để bảo vệ uy tín của Phó Chủ tịch Lâm Bưu, khi tổng kết đã nói: “Đối với chỉ thị của Thủ trưởng Lâm phải lý giải toàn diện, chứ không thể lý giải phiến diện. Đối với việc huấn luyện quân sự năm ngoái, không phải Thủ trưởng Lâm dội nước lạnh, mà là có dự kiến và đã rung hồi chuông cảnh báo. Nếu không sửa chữa những khuyết điểm trong huấn luyện thì có thể nảy sinh chệch hướng”.

Hội nghị vừa kết thúc, La Thụy Khanh liền đến báo cáo với Lâm Bưu. Trong vấn đề xây dựng quân đội, ông tán thành cách nghĩ và cách làm của Hạ Long, nhưng cũng hiểu rõ, cần phải xử lý tốt mối quan hệ với Lâm Bưu, nếu không sẽ không thể làm tốt công tác được.

La Thụy Khanh báo cáo: Lãnh đạo các đại quân khu, các quân binh chủng hầu như đều ủng hộ cách làm của Hạ Long, không đồng tình với ý kiến cho “Hội thao tấn công chính trị”, buộc Lâm Bưu không thể không nói ngược với lòng mình: “Ghi chép trong điện thoại truyền đạt cho các anh không chính xác, bài thảo luận của xã luận “Giải phóng quân báo” vào tết Dương lịch cũng có thể sửa chữa...”

Trong cuộc đấu này, ông ta không thể không lùi một bước, thế lực của Hạ Long đông, ông ta tất phải dẹp sự phẫn nộ của mọi người.

“La Thụy Khanh và Hạ Long cùng một cánh!” Đây là lời ông ta nói với Diệp Quần và một người thư ký...

Mao Trạch Đông đã biểu dương việc luyện tập quân đội, hội thao lớn, điều này không thể nói rõ được vấn đề vì Mao Trạch Đông cũng đã từng biểu dương Cao Cương và đã từng nói Bành đại tướng quân vung gươm trên lưng ngựa. Tình hình ở eo biển Đài Loan miền Đông Nam đã lắng dịu, quân xâm nhập của Ấn Độ bị đánh bại, bạo loạn ở Tây Bắc đã dẹp yên...

Chính trị hàng đầu, về mặt ủng hộ quyền uy cao nhất của Mao Trạch Đông, Hạ Long hoàn toàn không thể bằng Lâm Bưu. Nhưng rồng hổ quần nhau, có con chết cũng có con bị thương, không thể tùy tiện hành động...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:14:46 pm

3. Cuối cùng rồng đã bị hổ trói chặt?

Đại khái có thể là vì sự từng trải anh hùng kiểu truyền kỳ của ông chăng? Không ít người tưởng Hạ Long là một vị tướng dũng mãnh gầm thét vang trời, còn hơn cả Lý Quỳ “giơ đầu chịu chém”, cũng vẫn không thoát khỏi cái bóng của loại nhân vật Hạng Vũ nâng vạc, Hứa Chử múa kiếm.

Đây quả thực là một sự hiểu lầm. Giống như hiểu lầm Bao Chửng bạch diện thư sinh thành Bao Công mặt đen, hiểu lầm Gia Cát Lượng trẻ trung đầy triển vọng thành một ông lão râu dài đầy mưu kế. Ông là “Nhạc Phi” mà không phải là “Trương Phi”, rất có phong thái của một tướng nho. Trong các nguyên soái, ông là một người biết ăn nhất, biết chơi nhất, lúc nào cũng tươi cười, tràn đầy sự thanh cao lịch sự. Đọc sách, bơi lội, đánh bóng, chơi cờ, xem kịch, thưởng thức phim ảnh, ông đều là người thành thạo. Đặc biệt là câu cá, ông có thể ngồi lặng im lâu nhất và ông cũng thể hiện rõ tài năng hơn người. Những người già đã lưu truyền một câu: “Hạ Long đánh trận, đánh mười trận tháng chín, Hạ Long câu cá, mười trận thắng cả mười”.

Tuy Hạ Long chủ trì công tác quân ủy, nhưng Lâm Bưu là Phó Chủ tịch Đảng, là Phó Chủ tịch thứ nhất quân ủy, là Bộ trưởng Quốc phòng. Bất kể về tính tổ chức hay tính kỷ luật mà nói, mỗi khi có hoạt động lớn, Hạ Long đều phải báo cáo với Lâm Bưu đang dưỡng bệnh. Ví dụ việc chọn người làm Tư lệnh Không quân vẫn phải có ý kiến của Lâm Bưu mới xong. Trong Đại hội bảy nghìn người, Mao Trạch Đông đã từng nói đến một sự thực khách quan trong nền chính trị của Trung Quốc: Ngoài đảng không có đảng là tư tưởng đế vương; Trong Đảng không có bè phái là vô cùng kỳ lạ. Nếu nói đến bè phái trong Đảng thì không thể không liên hệ đến “ba lực lượng chủ yếu” trong thời kỳ chiến tranh cách mạng ruộng đất. Tuy Mao Trạch Đông có chú ý đến sự cân bằng, nhưng Phương diện quân thứ 1 là Hồng quân Trung ương, nói một cách tương đối thì có thể tiến cử nhiều cán bộ hơn một chút. Chống “bè phái” bởi vì có “bè phái”, chuyện bè phái không thể nói công khai nhưng khi vào việc cụ thể thì không thể không cân nhắc, điều đó đã làm tăng thêm khó khăn cho Hạ Long trong công tác. Ví dụ Ngô Pháp Hiến, Hạ Long rất biết quan hệ đặc biệt của ông ta với Lâm Bưu. Năm 1964, tiến hành “tứ thanh” (trong sạch về chính trị, trong sạch về kinh tế, trong sạch về tổ chức, trong sạch về tư tưởng - N.D), Diệp quần nói: “Vương Quang Mỹ (vợ Lưu Thiếu Kỳ – N.D.) tiến hành ở một điểm thì tôi cũng tiến hành ở một điểm”. Người mà bà ta nghĩ đến đầu tiên là Chính ủy Không quân Ngô Pháp Hiến, cùng Ngô Pháp Hiến đến Thái Dương ở tỉnh Giang Tô đi sâu vào cơ sở để tiến hành “tứ thanh”.

Không quân có rất nhiều vấn đề, sản xuất máy bay cũng hỏng, việc sản xuất máy bay loài “tiêm kích 6” “tiêm kích 7” phỏng theo Mic 19 và Mic 21 cũng trì trệ không vượt qua ngưỡng. Sản xuất được máy bay trực thăng Chu Ân Lai rất vui, liền biếu cho Hồ Chí Minh 1 chiếc, tất nhiên là phải chọn lựa kỹ càng. Nhưng khi trực thăng vừa bay đến Côn Minh thì bị vỡ tan chỉ còn động cơ không bị hỏng, thân máy bay bị vỡ tan đều là linh kiện sản xuất trong nước, động cơ không hỏng là của Liên Xô.

Quá mất mặt, quá bực bội.

Hạ Long đi kiểm tra nhà máy chế tạo máy bay, phát hiện hợp kim mà Nhà nước phải mua rất đắt không được dùng làm máy bay, mà đều biến thành những hộp đựng cơm kim loại cao cấp của cán bộ công nhân. Quá thật là giận đến phát cơn lôi đình. Ông bảo Tôn Chí Viễn biết báo cáo tình hình gửi lên Quân ủy.

Thư ký Quân ủy La Thụy Khanh tuy là người được Lâm Bưu chấm tên đặt vào Quân ủy và đặt vào vị trí Tổng Tham mưu trưởng, ông tôn trọng Lâm Bưu, nhưng rất có tính Đảng. Trong thực tiễn công tác đối với chủ chương “chính trị hàng đầu” mà Lâm Bưu thực hiện thì càng ngày càng có cách nhìn riêng, càng ngày càng thống nhất với Hạ Long.

La Thụy Khanh báo cáo công tác với Lâm Bưu là làm theo nguyên tắc, chỉ thị của Lâm Bưu đưa ra là: tùy theo người mà vạch ranh giới, gây bè phái, xem thân sơ. Tuy đối với cách làm của Lâm Bưu, La Thụy Khanh có ý kiến, nhưng lại không muốn quan hệ với Lâm Bưu găng quá. Đối với Lâm Bưu trước sau ông vẫn giữ thái độ tôn trọng và bảo vệ.

Diệp Quần biết tin La Thụy Khanh đến Tô Châu để báo cáo công tác với Lâm Bưu, bà ta lập tức rời Thái Thương đến Tô Châu trước để có thể giống như “người làm chứng” đặt điều vu cáo rằng: “Trước khi đi, La Thụy Khanh đã nói với Lâm Bưu: “Sức khỏe anh không tốt, nên nhường lại vị trí lãnh đạo cho người có sực khỏe tốt và có năng lực làm việc. Anh vẫn có thể giúp đỡ công việc, ra chỉ thị”. La Thụy Khanh ra đến hành lang còn ngoái lại nói: “Bệnh nhân, không thể làm cản trở, hãy nhường chỗ đi, hãy nhường chỗ đi!”. Khi ông ta ra đến cửa lại quát lên một câu: “Chó khôn không cản đường!”. Những lời nói ấy do người nhà tôi nghe được báo cáo lại. Đồng chí Lâm Bưu tức quá nên đã ngất đi...”.

Tất nhiên, mãi đến cuối năm Hạ Long mới biết được tình hình ấy. Khi ngồi dưới ngọn đèn bàn đọc văn kiện, trầm tư suy nghĩ ông không hề hay biết, ông chỉ biết Ngô Pháp Hiến và Lâm Bưu có quan hệ mật thiết, là do Lâm Bưu giới thiệu ông ta làm Tư lệnh Không quân thay Lưu Á Lâu vừa mới qua đời. Không có ý kiến của Lâm Bưu thì không ai có thể làm lung lay cái chức vụ tư lệnh của Ngô Pháp Hiến.

Nhưng Không quân lại xảy ra sự kiện máy bay đảo ngũ bay sang phía Quốc dân Đảng ở Đài Loan.

Không quân còn liên tục để xảy ra sự cố chính trị, thậm chí xảy ra sự kiện xấu mâu thuẫn gay gắt đến mức bắn bị thương đồng đội. Không quản không được mà quản nhiều thì Lâm Bưu không cho, quản sâu thì Lâm Bưu không đồng ý... Hạ Long quả là khó xử.

Thư ký rón rén vào, báo cáo nhỏ nhẹ: “Ngô Pháp Hiến đã đến”. “Ừ” Hạ Long gỡ chiếc kính lão xuống, châm điếu thuốc xì gà, “gọi ông ta vào”.

“Ông ta... không dám vào ạ”.

“Sao thế?” Hạ Long nhíu lông mày.

“Ông ta đi vào hành lang thì khóc, chẳng ai khuyên được”.

Hôm ấy Ngô Pháp Hiến dẫn theo Thành Quân và Dư Lập Kim cùng đi, vừa vào cửa đã khóc, khi dừng lại ở hành lang lại ôm mặt khóc. Ngô Pháp Hiến tuy đằng sau có Lâm Bưu, nhưng ông ta vẫn sợ Hạ Long. Con người Hạ Long có cái “khí chất của con rồng” không nổi nóng nhưng luôn uy nghiêm, khi tức giận thì quỷ thần cũng phải hồn lạc phách xiêu. Trước đó không lâu, Hạ Long đến kiểm tra cơ quan Không quân, Ngô Pháp Hiến tuy đã hết sức cẩn thận, cung cung kính kính nhưng vẫn bị Hạ Long phê bình nghiêm khắc: “Các anh thấy tôi đến thăm, quét tước thu dọn vệ sinh cũng được. Nhưng vì sao còn đặt vọng gác dưới gốc cây để nhặt lá, nhà vệ sinh cũng canh giữ không cho người vào? Người ta luyện quân thì “làm ra vẻ” còn các anh không luyện quân mà gác gốc cây, gác nhà vệ sinh, làm cái trò gì vậy? Làm như các anh sớm muộn cũng sẽ mắc sai lầm?”.

Quả nhiên đã xẩy ra sai lầm, máy bay bỏ chạy.

Hạ Long nghe báo cáo về quá trình máy bay bỏ chạy, đã chỉ vào mặt Ngô Pháp Hiến nói: “Quả thực tôi muốn đánh vào đít anh!”. Mông Ngô Pháp Hiến rần rật như bị đánh thật.

Một tuần sau, Ngô Pháp Hiến theo Hạ Long đến gặp Lâm Bưu, đã có sẵn kế hoạch trong bụng, rất tự tin.

Ở Thái Thương, Diệp Quần bảo: “Anh phải đứng vững, chống đỡ cho chắc, đừng có sợ, trên thực tế là Hạ Long đến tấn công thủ trưởng đó. Không phải ông ta đánh đít anh đâu mà là ông ta đánh đít Lâm Bưu đấy!...”

Năm 1966, cuối cùng Lâm Bưu đã thỏa mãn nguyện vọng, trả được cái nhục bị đánh đít. Đã tạo ra cái gọi là “cuộc binh biến tháng Hai” làm cho con “rồng sống” biến thành con “rồng bị trói” và đến năm 1969 đã bức hại Hạ Long đến chết một cách tàn khốc.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:18:18 pm

5
“Chứng minh “ Diệp Quần trinh tiết,
 Nghiêm Úy Băng đâm đầu vào tường tự vẫn ở Bộ Chính trị
 Lục Định Nhất “chảy máu đầu” vì bẻ lại Lâm Bưu


1. Lâm Bưu đã viết bản chứng minh sự “trinh tiết” xưa nay chưa từng có

Diệp Quần cuộn tròn trên chiếc xa lông, thân thể co rúm, khóc rưng rức nước mắt đầm đìa. Nước mắt làm mọi thứ thuốc hóa trang, mùi thơm, vị chua, vị đắng trên đôi má hòa trộn làm một chảy vào đôi môi mỏng dính, càng làm cho vị phu nhân của Nguyên soái Lâm Bưu đã tức lại càng tức hơn...

Lâm Bưu nhận được “Báo cáo tình hình quân sự” khẩn cấp do người cần vụ trong phòng ngủ (đây là những nam nữ thanh niên mà Lâm Bưu cho phép được tiếp cận với Lâm Bưu và Diệp Quần ở trong phòng để phục vụ cuộc sống hằng ngày của hai người) đưa, chẳng kể đến việc kiêng không được đi nhanh tạo nên luồng gió đã lao về phía có tiếng khóc.

“Có chuyện gì đau lòng vậy?” Lâm Bưu ôm lấy vai Diệp Quần, khe khẽ hỏi.

“Đây là chuyện làm xấu mặt em, làm xấu cả mặt anh. Họ muốn bôi nhọ chúng ta ở Bắc Kinh”. Diệp Quần ngồi thẳng dậy, chỉ vào mấy tờ giấy viết thư và hai chiếc phong bì đã xé một góc vứt tung tóc trên nền nhà.

Lâm Bưu nhặt bức thư không lời không tiếng lên. Vừa xem được một nửa thì tay ông ta bỗng cứng đờ, mặt đờ đẫn mồ hôi vã ra trên cái đầu hói.

Đây không khác gì trái bom nguyên tử cỡ nhỏ, nổ tung trong khu nhà riêng của Lâm Bưu.

Sóng xung kích của nó đã xô đổ Diệp Quần trên chiếc xa-lông, không động đậy được, đau khổ giày vò.

Lại một đợt sóng xung kích hất Lâm Bưu, người đã từng trải qua trăm trận, ngồi ẹp trên ghế câm lặng như ve sầu mùa đông.

Khuôn mặt vốn trắng bệch của Lâm Bưu nay thành trắng xanh, trong xanh lại có màu tím. Biểu cảm của Lâm Bưu vốn đã đờ đẫn, lúc này như kẻ ngây dại bị cởi quần áo trước đám đông mà không biết mở miệng nói gì.

“Đồ khốn nạn! Thằng khốn nạn nào, dám đến khiêu khích trên đầu ta. Báo cáo ngay cho Cục Cảnh vệ Trung ương, phải điều tra, không điều tra ra rõ ràng không được”. Lâm Bưu giơ tay phải cầm bức thư, rất giống tư thế giơ cao cuốn “Trích lời Mao Chủ tịch” trong thời kỳ cách mạng văn hóa gầm lên.

Diệp Quần dùng tay cào cào mái tóc đen rối bù, rồi cầm chiếc khăn tay lau hai má và đôi mắt đang rưng rưng lệ, bà ta đã tỉnh lại và cũng bình tĩnh trở lại.

“Dục Dung (tên húy của Lâm Bưu - N.D.)” Diệp Quần dịch đến sát cạnh Lâm Bưu, “việc này không phải là việc nhỏ, nó liên quan đến danh dự của em và liên quan đến thanh danh của anh, cũng liên quan đến bước tiến của Đậu Đậu và Lão Hổ. Vinh nhục của cả nhà ta, tất cả đều ở đây, phải tìm cho ra, phải đối phó như thế nào đây?”

“Bảo em khi lấy anh đã không còn là gái trinh, đây rõ ràng là khó biện bạch! Dục Dung, điều... điều này, anh phải có dự kiến trước chứ!”.

Lâm Bưu lặng thinh.

“Trong thư có nói ở Diên An em là tình nhân của Vương Thực Vị, Đậu Đậu là con gái riêng của em và Vương Thực Vị. Đồ ngậm máu phun người! Dục Dung, sự việc này chỉ có anh đứng ra làm chứng!”. Lâm Bưu ngồi ngây trên ghế.

“Còn nói em có tư tình với người nào đó, càng là sự vu cáo hãm hại, nhìn mặt hắn ta càng thêm bực mình”.

Lâm Bưu vẫn lặng thinh.

“Bảo em là quý phu nhân chỉ dựa vào đặc quyền để sống, cái đó chẳng sao cả. Bảo em sinh một hai đứa con lai tạp chúng là chửi vào mặt anh, coi như nói anh bị cắm sừng, đó là sự công kích cá nhân ác độc đối với anh”.

Lâm Bưu ậm ừ.

“Chửi anh chỉ giỏi nịnh nọt, đấy là nói bóng nói gió. Từ năm 1959, Bành Đức Hoài sụp đổ, anh chủ trì công việc hằng ngày của Quân ủy Trung ương đến nay, đã nhấn mạnh việc học một cách sống động và dùng một cách sống động, có hiệu quả ngay, chính trị hàng đầu, chính trị luyện quân, bốn cái nhất được Trung ương coi trọng và đề xướng, tất nhiên có người đố kỵ ghen ghét. Anh vẫn thường bảo “nhìn cái nhỏ mà biết cái lớn”, đừng coi thường cái điềm đã lộ ra ở bức thư này, Dục Dung”.

Lúc này Lâm Bưu mới cân nhắc sự nặng nhẹ của bức thư: “Báo cáo với Trung ương thế nào đây?”

Lâm Bưu giằng lấy bức thư, chỉ vào họ tên và địa chỉ người gửi, chỉ thấy trên phong bì đề tên “Vương Quang”, địa chỉ là ngõ Án Viện Bắc Kinh, một thư khác không có địa chỉ, đề tên “Trương Thiếu Hoa”.

“Phải phân tích từ vấn đề chính trị, mới làm Trung ương coi trọng. Theo em đây rõ ràng là muốn gây chia rẽ quan hệ giữa anh với Lưu Thiếu Kỳ cũng như anh với Chủ tịch”. Diệp Quần nhìn Lâm Bưu chăm chú theo dõi phản ứng.

Lâm Bưu lim dim cặp mắt, xem ra ông ta đã nghe lọt tai.

“Ngõ Án Viện là nơi mẹ Vương Quang Mỹ lập vườn trẻ, ký tên lại dùng Vương Quang, là muốn chúng ta nghĩ đến Vương Quang Mỹ, điều đó chẳng phải là gây chia rẽ quan hệ giữa chúng ta và đồng chí Lưu Thiếu Kỳ ư?”.

“Em nói tiếp đi”. Lâm Bưu mở to đôi mắt.

“Con dâu của Chủ tịch là Thiệu Hoa, dùng Trương Thiếu Hoa là gọi chệch tên để dẫn chúng ta đến việc dò đoán. Đây đương nhiên là gây chia rẽ giữa anh và Chủ tịch”.

Lâm Bưu gật đầu, dùng khăn thấm thấm những giọt mồ hôi trộm trên đầu.

“Dục Dung, nó nói lúc em và anh kết hôn, em không phải là gái trinh, về sau lại lăng nhăng với người khác, thủ đoạn này là để em không còn mặt mũi nào nhìn thấy mọi người, cũng như chửi em là gái điếm, chửi anh là bị cắm sừng. Việc này, người khác không thể nào làm chứng, anh là người làm chứng thứ nhất vì anh nắm được tình hình này. Anh không đứng ra nói thì chẳng phải là đã ngầm thừa nhận hay sao?” Diệp Quần lay vai Lâm Bưu và lại khóc.

Qua mấy ngày không yên, một hôm, Lâm Bưu và Diệp Quần lại thầm thì chuyện riêng. Lúc này, thư ký gõ cửa vào báo cáo: Văn phòng gọi điện đến nói là nhận được rất nhiều thư nặc danh tố cáo Lâm Phó chủ tịch và đồng chí Diệp Quần, đã sơ bộ kiểm tra ra bút tích của Nghiêm Úy Băng, hỏi là có phải Thủ trưởng cũng đã nhận được những bức thư nặc danh như thế hay không?”

Thư ký vừa lui ra, Diệp Quần gào lên như điên: “Cả cái thành này sắp đầy mưa gió đến nơi. Nhất định anh phải tuyên bố một cách có trách nhiệm với Trung ương. Nếu không, chúng ta chỉ có thể chia tay thôi”.

Lâm Bưu biết là mình không thể xa Diệp Quần, vội nói: “Anh có thể chứng minh, có thể chứng minh”.

Diệp Quần chăm chú nhìn Lâm Bưu cầm bút chì viết bản làm chứng sự “trinh tiết” từ xưa đến nay chưa từng có.

Để làm tham khảo cho hậu thế, đối chiếu so sánh, xin chép lại nguyên văn như sau:

Tôi chứng minh:

1) Khi tôi kết hôn, Diệp Quần là cô gái trinh thuần khiết, sau khi kết hôn luôn luôn đứng đắn.

2) Diệp Quần và Vương Thực Vị cùng những người khác chưa từng có quan hệ yêu đương.

3) Lão Hổ, Đậu Đậu là con cái do tôi và Diệp Quần sinh ra.

4) Tất cả mọi điều trong bức thư phản cách mạng của Nghiêm Úy Băng hoàn toàn là vu cáo

Lâm Bưu


Ngày 14 tháng 5 năm 1966


Diệp Quần gấp giấy làm chứng cẩn thận, bảo thư ký lấy danh nghĩa của Lâm Bưu gửi Trung ương, yêu cầu làm văn kiện để truyền đọc và thảo loạn trong Bộ Chính trị. Thủ đoạn này là để rửa sạch vết nhơ, làm cho Diệp Quần trở thành nữ thánh trinh tiết trắng trong không một vết nhơ.

Thủ đoạn này cũng là để trả thù, đè bẹp Nghiêm Úy Băng và Lục Định Nhất, người chồng không hiểu đầu của tai nheo ra sao của Nghiêm Úy Băng.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:19:43 pm

2. Nguồn gốc những bức thư nặc danh

Nghiêm Úy Băng là con gái Nghiêm Bộc. Vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, học Khoa Văn ở Trường Đại học Trung ương. Lúc ấy Nghiêm Bộc đã ở Diên An, Nghiêm Úy Băng cảm nhận sâu sắc với cuộc kháng chiến đổ máu ở tiền tuyến, còn ở hậu phương thì vẫn chìm đắm trong phồn hoa xa xỉ, thế là cô viết thư cho Tần Bang Hiến (tức Bác Cổ) và nhờ ông ta chuyển cho Nghiêm Bộc cha cô một bức thư. Cuối thư cô viết thêm một câu rất ai oán: “Cha chỉ sinh được một mình con, mà không dạy con”. Nghiêm Bộc đọc xong, cảm khái muôn phần, nước mắt rưng rưng đem thư đưa cho Trần Vân đọc. Sau khi Trần Vân đọc xong bảo: “Nghiêm Úy Băng muốn được ở cạnh cha để cha dạy bảo, rất hay. Bảo với nó là rất hoan nghênh nó đến Diên An học tập”. Thế là Nghiêm Úy Băng tới Diên An.

Đúng lúc ấy, Nghiêm Úy Băng nghe được một số chuyện về Lâm Bưu và Diệp Quần ở Diên An. Qua người cha, bà được biết, luận văn nổi tiếng “Đốm lửa nhỏ có thể thiêu cháy cánh đồng” trong “Mao Trạch Đông tuyển tập” chính là một bức thông điệp Mao Trạch Đông phê bình tư tưởng bi quan của Lâm Bưu. Bà còn được mắt thấy tai nghe một số chuyện xấu xa của Lâm Bưu và Diệp Quần.

Năm 1959, sau Hội nghị Lư Sơn, Lâm Bưu được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng, chủ trì công việc hằng ngày của Quân ủy Trung ương. Lâm Bưu làm ra vẻ luôn luôn đúng đắn, rất cách mạng, ra sức kiếm chác cái vốn chính trị, dã tâm muốn leo lên đỉnh cao quyền lực ngày càng lộ rõ. Nghiêm Úy Băng luôn mang trong lòng tinh thần trọng chính nghĩa đã không nén nổi, nhưng không tiện phản ánh lên Trung ương, thế là bà dùng “phương pháp” mà sau này bà tự cảm thấy không thể coi đó là hay, bắt đầu từ năm 1960 đến tháng 2 năm 1966, bà đã viết 23 bức thư nặc danh gửi đi khắp nơi, tố cáo Lâm Bưu và Diệp Quần.

Không phải là không có báo thù, bởi chưa tới lúc. Lâm Bưu bấy giờ đang đưa ra quyển sách đỏ “Trích lời Mao Chủ tịch” được mọi người giơ cao tán dương không ngớt. Vì thế, việc Nghiêm Úy Băng gửi thư nặc danh tuy là một quả bom nguyên tử cỡ nhỏ nổ trong tư dinh của Lâm Bưu, nhưng sau khi Lâm Bưu và Diệp Quần với quỷ kế đa đoan, bụng dạ nham hiểm, thủ đoạn ác độc, cùng bày mưu tính kế khôn khéo ứng phó đã thoát nạn, còn Nghiêm Úy Băng thì tự chuốc lấy tai họa, hơn nữa còn liên lụy đến Lục Định Nhất.

Cuối năm 1965, một người phụ trách Trung ương đã triệu kiến Lục Định Nhất đưa ra bức thư tố giác Lâm Bưu và Diệp Quần do Nghiêm Úy Băng viết và nói: “Trung ương tin là đồng chí không làm chuyện này”.

Tất nhiên Lâm Bưu sẽ không chịu lép một bề, Diệp Quần cùng bọn thủ hạ của bà ta, vắt óc viết một tài liệu, có đầu đề là: “Tám chứng cứ lớn về việc Lục Định Nhất là kẻ chủ mưu đằng sau bức thư phản cách mạng của Nghiêm Úy Băng”. Nói đúng rằng thư nặc danh là do Lục Định Nhất điều khiển, mở “Quán vợ chồng” mục đích là để bức hại Lâm Bưu và cả gia đình, muốn chia rẽ quan hệ giữa Lâm Bưu và các nhà lãnh đạo trung ương v.v...

Một trong những tội chứng hoang đường nực cười là đã tìm ra một bức thư của Lục Định Nhất viết cho Nghiêm Úy Băng vào năm 1965.

Trong bức thư gửi từ Thượng Hải này, Lục Định Nhất bảo với vợ con là ông mua cho bà một chiếc đồng hồ đeo tay bán cương và cho bản thân ông một chiếc đồng hồ đeo tay (chống nước, chống sồc và chống từ). Đây vốn là một chuyện gia đình rất bình thường, nhưng lại bị coi là tội, điều này được Diệp Quần nói là Lục Định Nhất sử dụng tiếng lóng, ý nghĩa thực sự là “bán cương” (khẩu âm ở Vô Tích tỉnh Giang Tô, “cương” là từ đồng âm với “nói”, Lục Định Nhất là người Vô Tích) là bảo vợ chỉ nói một nửa của mình, còn dấu một nửa mà Lục Định Nhất sai khiến. Ba chống (nước, sốc, từ) là biểu thị bản thân mình không nói gì cả, kín miệng như bưng, giống như chống nước, chống sốc, chống từ không để lọt gió vào.

Một tội khác hoang đường hơn là con trai Lục Định Nhất có tên tục là Đức Đức. Diệp Quần nảy ra ý nghĩ kỳ lạ: Sở dĩ đặt tên như vậy là để tưởng nhớ đến Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài trước đây đã bị cách chức, vì thế cũng oán hận Lâm Bưu đã thay Bành Đức Hoài làm Bộ trưởng Quốc phòng.

Mặc dù khiên cưỡng gán ghép quá đáng, nhưng lại có thể thấy rõ Diệp Quần tính toán thật công phu.

Mặc dù bắt bóng nắm gió đến kinh người, nhưng lại có thể cảm thấy Diệp Quần quỷ kế đa đoan.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:22:07 pm

3. Điềm chẳng lành ứng nghiệm

Khi Lâm Bưu và Diệp Quần đang bí mật hãm hại Nghiêm Úy Băng, Bắc Kinh tháng 4 đúng vào tiết xuân rạng rỡ, Trung Nam Hải vốn là nội uyển của Hoàng gia, cả một khu đào hồng liễu biếc, khắp nơi chim hót véo von hoa thơm ngào ngạt.

Vườn Tăng Phúc Đường là nơi ở của Lục Định Nhất, ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng kiêm Bộ trưởng Bộ Văn hóa, cũng đua sắc khoe hương, tưng bừng ngào ngạt. Những bông hoa liễu tới tấp bay bám vào người thổi không hết rũ không sạch đã gợi lên thi hứng của nữ chủ nhân “Tăng Phúc Đường” Nghiêm Úy Băng, nó rất giống những bông tuyết bay mù mịt trong không gian... Bấy giờ là tháng 3 nhuận Âm lịch, thật đúng là tuyết trắng bay giữa ngày xuân tươi đẹp, không hiểu vì sao, từ tuyết tháng ba Nghiêm Úy Băng lại liên tưởng đến “tuyết tháng sáu” cũng chính là bi kịch “Nỗi oan của nàng Đậu Nga” nổi tiếng ở nước ta thời cổ. Bi kịch này lấy tuyết rơi tháng sáu trái với quy luật tự nhiên làm tượng trưng, sự tố cáo nỗi oán hờn của một người phụ nữ đức hạnh ngang nhiên bị vu cáo hãm hại phải chịu nỗi oan khuất... Nghiêm Úy Băng hất đầu như muốn rũ bỏ sự liên tưởng không vui không ăn nhập với những cảnh sắc trước mắt. Ai dè liên tưởng ấy không biến mất mà lại làm bà nhớ đến câu chuyện của cô em gái thứ hai Nghiêm Chiêu xảy ra tối qua.

Cô em gái thứ hai Nghiêm Chiêu góa chồng ở tuổi trung niên, vì làm việc ở Trung Nam Hải, lại không có nơi ở, nên chị cả Nghiêm Úy Băng đón Nghiêm Chiêu đến cùng ở trong Tăng Phúc Đường, một là đi làm gần hơn, hai là chị em gần gũi chăm sóc lẫn nhau, bao năm nay sống yên ổn bình lặng. Ai ngờ đêm qua (đêm khuya ngày 27 tháng 4 năm 1966), Nghiêm Chiêu đã đi ngủ, bỗng trở dậy ra khỏi phòng, bật tất cả các đèn trong sân, tìm khắp nơi một cái gì đó. Sau khi tìm không thấy gì, bà ngồi lại một mình ở bên ngoài, cất giọng hát một bài hát buồn não nuột, Nghiêm Úy Băng vẫn chưa ngủ, vội trở dậy kéo Nghiêm Chiêu, dùng tên gọi mà lúc nhỏ bà đặt cho em: “Nhị Mộc Đầu em, làm cái trò ngốc nghếch gì vậy, giữa đêm khuya khoắt chạy ra ngoài hát bài buồn thương ấy làm gì?”.

Nghiêm Chiêu thấy chị, liền bật khóc tức tưởi. Nghiêm Úy Băng sốt ruột, liên tục truy hỏi em đã xảy ra chuyện gì. Nghiêm Chiêu ngẩn ngẩn ngơ ngơ nói: “Buổi tối sau khi đi nằm em như nằm mơ mà lại không phải mơ nghe tiếng ai đó khóc ở trong sân, tiếng khóc rất rõ và rất thương tâm, em ỷ thế mình là gan góc, lại muốn biết rốt cuộc là ai khóc, nên một mình trở dậy xem xét. Nhưng đi khắp trong vườn cũng chẳng thấy cái gì, trong lòng thấy buồn buồn, không buồn ngủ nữa, nên em ngồi ở ngoài một mình cho yên ổn một lúc, đồng thời cũng để nghe xem tiếng khóc có còn xuất hiện nữa hay không, ngồi mãi ngồi mãi chỉ thấy trăng lạnh sao mờ, mây bay như mộng, bất giác nghĩ đến nỗi cô quạnh và bất hạnh của mình, liền thuận miệng cất tiếng hát một bài hát buồn, để gửi gắm và trút đi nỗi buồn đau của mình, rốt cuộc lại làm rầy chị”. Nghiêm Chiêu lại nói, gần đây khi vào đến Tăng Phúc Đường, bà luôn cảm thấy tâm thần bất định, trong sân có một cây lê thường ngày bà vẫn nhổ cỏ vun đất tưới tắm cho nó, mấy ngày nay nó nở hoa trắng đầy cành. Gió nhẹ thổi qua, những cánh hoa trắng rơi lả tả, cả sân ngạt ngào mùi hương, ngan ngát. Nhưng hôm nay bà đi làm về, nhìn thấy cây lê ấy, bà chợt nảy ra một cảm giác là có thể bà sẽ không bao giờ được nhìn thấy nó nữa. Nghiêm Úy Băng bảo: “Em cứ nói thần thần thánh thánh linh tinh gì vậy, bản thân mình kỳ quặc lại còn đi đọa người khác, thôi vào nhà đi ngủ đi cho nó yên!”.

Nghiêm Chiêu vẫn khăng khăng nói: “Chưa biết chừng có giác quan thứ 6 thật đấy chị ạ. Em luôn cảm thấy có một chuyện gì đó, hình như sắp xảy ra chuyện gì đó!”

Bà chị bảo: “Có thể có chuyện gì? Có chuyện cũng không ảnh hưởng gì đến em, chỉ cần có chị thì chẳng thể có chuyện gì xảy ra đối với em, chuyện gì cũng chẳng có!”.

Nghiêm Úy Băng nói vậy là để an ủi Nghiêm Chiêu cũng là để an ủi mình, vì trong lòng bà cũng cảm thấy đã có “chuyện gì đó!”. Từ khi bước vào mùa đông năm 1965, bà luôn luôn không sao thoát nổi tâm trạng buồn bực khó chịu chỉ muốn gào to hoặc chửi mắng ai đó để trút bớt đi, bà từng ngầm tìm nguyên nhân, đã phát hiện thấy tâm trạng khác thường này là do tình thế chính trị trong nước dẫn đến.

Bản thân bà làm việc tại Ban Tuyên truyền Trung ương, Lục Định Nhất chồng bà lại là người phụ trách khối tuyên truyền văn hóa của nước ta, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã biết được không ít tình hình. Từ khi “Văn Hối báo” Thượng Hải đột ngột công bố bài viết của Diêu Văn Nguyên phê bình “Hải thụy bãi quan” đến nay, giới văn hóa tư tưởng trong cả nước đều hoang mang lo sợ. Đến tháng 4 năm 1966, độ nóng của bầu không khí chính trị tăng vọt, “Giải phóng quân báo” vốn chỉ phát hành trong nội bộ quân đội, nay đột nhiên lấy lông gà làm thẻ lệnh, hoa chân múa tay hùng hùng hổ hổ thậm chí chỉ tay ra lệnh đối với cái gọi là vấn đề đại cách mạng trong cả nước, tuyên truyền những tin giật gân rằng Đảng và Nhà nước đã bị “sợi chỉ đen”, “bè lũ phản động” tiếm quyền. Giang Thanh “ngôi sao màn bạc” hạng ba ở Thượng Hải thuở xưa đang cùng với Lâm Bưu, Diệp Quần kẻ đã từng cười mũi bà ta đang lam rùm beng. Bọn họ kẻ xướng người họa theo, ra sức tâng bốc thổi phồng làm người ta phải buồn nôn. Còn Chủ tịch Mao Trạch Đông thì lại công khai gật đầu để cho họ chung sức làm cái “Kỷ yếu tọa đàm” gì đó. Cái gọi là “kỷ yếu” này tuy lấy danh nghĩa là “công tác văn nghệ bộ đội” nhưng lại không dính dáng gì đến bộ đội, nói toàn những điều có liên quan đến đại sự của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là những chuyện lớn trên mặt trận văn hóa, hơn nữa lại là những việc do Lục Định Nhất quản lý. Những bài viết và xã luận v.v... sặc mùi thuốc súng mà “Giải phóng quân báo” đăng, phần lớn đều có liên quan đến “kỷ yếu” này. Điều đó không thể không làm cho mọi người chú ý: Báo Quân đội và người đứng sau nó rốt cuộc muốn làm gì? Đó là một trong những vấn đề mà Nghiêm Úy Băng lo lắng.

Vấn đề thứ hai làm bà lo lắng là chuyện gia đình, Lục Định Nhất chồng bà vào giữa tháng 2, đi công tác mà chẳng nhắn lại một lời, hơn nữa còn bặt vô âm tín. Không những không viết một bức thư nào, đến điện thoại cũng không thấy gọi về, cho đến chuyện bây giờ ông ở đâu. Đang làm gì? Là một người vợ như Nghiêm Úy Băng mà cũng không hề hay biết. Đây quả là quá khác thường, quá kỳ quặc! Tuy bà vô tình bước chân vào chuyện chính trị, nhưng lại cảm thấy “cái chân” chính trị đang “bước” vào nhà bà. Cũng trong tháng ấy, Bành Chân người mà Lục Định Nhất và bà luôn luôn tôn trọng và tương đối gần gũi, đột ngột bị Mao Trạch Đông phê bình gay gắt, tổ năm người đại cách mạng văn hóa trong đó có Lục Định Nhất do ông chủ trì bị tuyên bố giải tán vào đầu tháng 2, họ cùng thảo luận “Đề cương báo cáo” lên Mao Trạch Đông, lúc ấy đã là văn kiện của Trung ương và được phát xuống các cấp, cũng bị huy bỏ và thu hồi. Lại thêm “Giải phóng quân báo” cùng với những lời nói và việc làm của Lâm Bưu, Giang Thanh và những người đứng phía sau, không có điều gì không làm bà cảm thấy đang có một bóng đen thậm chí là bóng ma đang ngày càng gần càng nặng nề ập xuống đầu bà cũng như cả gia đình bà!

Nghiêm Úy Băng nghĩ bụng, những ảo giác tựa như bóng ma của cô em gái Nghiêm Chiêu phải chăng cũng từ đó mà sinh ra? Bà nghĩ không ra, càng không có cách gì nói ra được. Bà đành vừa dỗ dành vừa khuyên bảo, kéo Nghiêm Chiêu vào phòng đi ngủ.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:22:28 pm

Khi họ tỉnh dậy đã là ngày 28 tháng 4, chính ngày hôm ấy một sự việc còn đáng sợ hơn cả ảo giác và giấc mơ ma quỷ quả nhiên đã xảy ra!

Từ sáng sớm Nghiêm Chiêu đã đi làm. Ban Tuyên truyền Trung ương nơi Nghiêm Úy Băng làm việc, vì tình hình chính trị ngày càng nghiêm trọng khuấy động làm cho mọi người chẳng ai yên tâm làm việc, không đi làm thì lại khỏi phải thấy những điều chướng mắt, nên Nghiêm Úy Băng không đi. Qua hai ngày nữa là đến ngày Quốc tế lao động 1 tháng 5, Nghiêm Úy Băng muốn tranh thủ thời gian thu dọn nhà cửa một chút, chuẩn bị cả nhà về nghỉ lễ. Các con cũng sẽ về, Lục Định Nhất xa nhà đã hơn hai tháng, nếu về nhà nghỉ lễ 1-5, hai ngày này phải về tới nhà rồi, bà muốn sắp xếp lại để cả nhà cùng hưởng niềm vui sum họp, để vơi bớt nỗi buồn trong lòng. Ai biết điều này lại trở thành niềm mơ ước khó thành hiện thực. Niềm vui sum họp mà bà khát khao không bao giờ xuất hiện nữa!

Gần đến 11 giờ trưa, Nghiêm Úy Băng đang bận bịu dọn dẹp thì chuông điện thoại phòng khách reo vang, bà dừng tay cầm lấy ống nghe hỏi: “A lô, ở đâu đấy ạ?”

“Tôi là X X X”, Đối phương đáp.

“À, Phó ban X đấy ạ, tôi là Úy Băng đây”. X X X là Phó ban phụ trách tổ chức của Ban X X, Nghiêm Úy Băng khá quen thuộc và tôn trọng ông ta. Ông ta biết Lục Định Nhất không có nhà, rõ ràng cú điện thoại này là gọi cho mình, nên lại hỏi: “Có việc gì không ạ?”

“Là thế này, Nghiêm Úy Băng, đồng...” không hiểu vì sao, Phó ban X thuận miệng gọi đối phương, nhưng lại nuốt ngay từ cuối cùng, “đồng chí” mà lại không “chí” nữa. Có điều Nghiêm Úy Băng không hề để ý, chỉ thấy đối phương nói tiếp: “Như thế này, tôi sẽ đến gặp chị, chị đừng đi đâu”.

Nghiêm Úy Băng vội nói: “Nếu có việc gì, hay là tôi sẽ đến, anh đừng đích thân đến, tôi không dám”.

“Không, không, chị đừng động đậy, để tôi đến!”

Phó ban X lúc bình thường nói năng rất thận trọng, hình như hôm nay rất hấp tấp, vừa mới bật nói ra câu: “Đừng động đậy!” hình như câu tiếp sau sẽ là “giơ tay lên!”. Nghiêm Úy Băng cũng chẳng nghĩ kỹ, nghe thấy đối phương trong điện thoại hình như cố nói với giọng bình tĩnh: “Chị đừng đi đâu, đừng đến đây, cứ ở nhà đợi, tôi sẽ đến ngay”.

Không đợi Nghiêm Úy Băng đáp lại, đầu dây kia đã gác máy. Bà ngạc nhiên ngắm nhìn chiếc ống nghe đang cầm trên tay. Ông Phó ban X này, hôm nay làm sao vậy, trước đây cũng không có tiếp xúc cá nhân gì, sao bỗng nhiên hôm nay lại muốn đến “thăm” mình? Nếu có việc gì có thể bảo mình đến, nhưng ông ta lại đích thân ra tay, tiếng nói trong điện thoại lại có vẻ hấp tấp, vì sao thế nhỉ? Bà vốn muốn đi, nhưng đối phương lại gác máy, đành phải theo lệnh ở nhà đợi. Bà không còn cách nào hơn, nhếch miệng cười nhạt, gác máy. Chẳng còn lòng dạ nào để làm việc gì nữa. Thuận tay bà kéo tấm vải trải phẳng trên xa-lông và trên bàn, rồi bưng đến bộ ấm trà đất nung màu nâu đỏ để chuẩn bị mời khách, lặng lẽ đợi ông Phó ban X đến.

Mới hơn mười phút trôi qua, phía ngoài sân Tăng Phúc Đường đã vang lên tiếng ô tô, Nghiêm Úy Băng nghe ra không phải là một chiếc. Một lát sau đã thấy Phó ban X xuất hiện ở cổng, lại thấy ông ta quay đầu gọi một người nào đó, rồi một mình ông ta đi vào. Nghiêm Úy Băng tất tả chạy ra đón: “Chào thủ trưởng X, hoan nghênh anh đến chơi, để anh phải đến nhà, thật không phải”. Vừa nói vừa chìa tay về phía khách.

Ai ngờ, Phó ban X lại như không nhìn thấy bàn tay của bà chìa ra. Đến câu chào hỏi hàn huyên thông thường cũng không, càng không nhận lời mời nhiệt tình của bà vào ngồi uống nước. Lạnh lùng nói ngay: “Ban Tổ chức Trung ương tìm chị đến nói chuyện”. “Gặp tôi?” Nghiêm Úy Băng nghi ngờ hỏi, lại thầm nghĩ chỉ có một tý việc như vậy, có thể nói trong điện thoại, Phó ban X hà tất phải đích thân đến, có điều đã đến đây thì phải tiếp đãi tử tế liền gật đầu đồng ý: “Vâng!” Lại nói tiếp: “Tôi sẽ đạp xe đến ngay...”

Phó ban X nói: “Không, chị đi ngay bây giờ! Ngoài kia có xe đón chị đi”.

“Sao?” Nghiêm Úy Băng thấy lạ. Ban Tổ chức Trung ương ở gần như vậy, sao lại phải dùng xe hơi để đón? Sững người một lúc rồi lại hỏi: “Nói chuyện gì, anh có biết không?”

“Không rõ, ừ không rõ lắm”.

“Sao lại gấp như vậy, lại đi ngay bây giờ?”

“Điều đó, cũng không rõ”.

“Rút cuộc thì có chuyện gì vậy?”.

Phó ban X quay đầu lại nhìn xung quanh không có ai liền nói nửa câu: “Hình như là, chị và Diệp Quần…”

“Với Diệp Quần cái gì?”

“Các chị - chuyện bất hòa - đấy!”

Chuyện Nghiêm Úy Băng và Diệp Quần “cãi nhau” ở cửa hàng cung cấp đặc biệt, từ lâu đã đồn ầm khắp Trung Nam Hải và các cơ quan Trung ương như Ban Tuyên truyền Trung ương. Tổ chức muốn chính thức tìm hiểu sự việc này. Có thể và cũng là tất yếu, nhưng Phó ban X vốn có thể khẳng định ở nửa câu sau và thêm một chữ “đấy”, vô tình làm cho vấn đề có vẻ huyền bí. Nghiêm Úy Băng vẫn không nghĩ kỹ thêm nữa, vì vị Phó ban đã nhắc đến Diệp Quần lại đưa đến sự tức giận của bà, cũng phải nói với Ban Tổ chức Trung ương, họ cũng phải quản chuyện này. Liền nói với Phó ban X: “Được thôi, tôi sẽ đi”. Bà vốn dĩ muốn vào nhà khoác thêm chiếc áo ngoài, thấy Phó ban X vẫn đứng đợi, nên chỉ vuốt lại mái tóc, kéo hai vạt áo cho thẳng, đi đôi giày vải thường đi ở nhà, rồi đến bên cửa nhường bước, chìa tay tỏ ý mời khách ra trước. Ai ngờ người khách lại lùi lại đi sau. Nghiêm Úy Băng lấy làm lạ liếc nhìn ông ta, nghĩ bụng đi thì đi, dù sao thì việc chung làm chung, bất tất phải quá khách sáo, bà rảo bước đi ra khỏi phòng khách.

Nghiêm Úy Băng vừa ra khỏi cổng Tăng Phúc Đường thì thấy hai người vạm vỡ đi thẳng đến trước mặt, mỗi người đi sát một bên một cách rất không lễ phép, hơn nữa còn nắm chặt hai vai bà, bà đang muốn hỏi phó ban X có chuyện gì vậy thì lại thấy ông ta cúi đầu vội vã chuồn đi chỗ khác, bản thân bà cũng không kịp nghĩ gì cả, đã bị hai người vừa túm chặt vừa đẩy lên chiếc xe con màu đen đang đỗ ở dưới chân tường, bà đưa mắt nhìn số xe thì phát hiện đó là xe của Bộ Công an, đang muốn hỏi gì đó thì đã bị ấn vào trong xe, hai người bắt bà một người bên trái một người bên phải ép chặt, bà chợt như rơi vào trong cơn ác mộng, rất muốn giãy thoát và tỉnh táo lại một chút, nhưng lại nghe thấy tiếng hai người khẽ dằn giọng:

“Không được nói, không được động đậy!”

Cuối cùng bà hiểu được rằng, mình đã bị “dụ bắt” hoặc “bắt cóc”. Tuy bà ở trong vòng thành đỏ Trung Nam Hải có hệ an toàn nhất trong cả nước.

Nhưng lúc ấy bà không ngờ được rằng ông Phó ban X đã vâng lệnh dụ bắt bà ấy cũng như bà không ngờ tới là sau khi đã chăm chỉ với công việc, tận tâm tận lực hoàn thành xong nhiệm vụ thì cách vài ba tháng sau bản thân ông ta cũng bị tóm.

Khi Nghiêm Úy Băng ra khỏi Tăng Phúc Đường không để ý ngoài sân còn có một chiếc xe khác đỗ ở đó, đợi khi bà được “mời” đi, mấy người ở trong xe lập tức nhảy xuống, xông vào Tăng Phúc Đường tiến hành lục soát triệt để cả nhà Lục, Nghiêm. Do họ là người của Bộ Công an, so với việc khám xét nhà cửa mà về sau được gọi là phá phách và cướp bóc vẫn còn rất chính sách. Nhưng, mặc dù trình độ chuyên môn khám xét rất cao, vẫn không khám thấy bất cứ “tài liệu tang vật” hoặc “công cụ gây án” để tiến hành “hoạt động phản cách mạng” mà họ tưởng tượng ra, càng không có loại “điện đài bí mật” gì đó. Chỉ phát hiện được nhiều thứ nhất trong gia đình này là tư liệu sách tạp chí văn học, lịch sử, kinh tế, triết học cổ kim đông tây các loại chất đầy trong tất cả các tủ, ngoài ra còn có thơ từ Mao Trạch Đông mà Lục Định Nhất chép lại để tự thưởng thức trong đó có một bức thư pháp chép bài “Tiết Viên Xuân Tuyết” được bồi dán treo giữa nhà, không những thể hiện sự yêu thích tài hoa của người viết, mà còn thể hiện sự kính yêu sâu sắc của ông đối với lãnh tụ. Đây là “lễ rửa tội” đầu tiên đối với gia đình họ Lục, kế tiếp những lần sau không còn là “lễ rửa tội” nữa, mà hoàn toàn là một sự cướp sạch. Có điều, tất cả những việc ấy Nghiêm Úy Băng đều không biết, vị nữ chủ nhân của Tăng Phúc Đường không còn quản nổi cái nhà ấy nữa, ngay sự sống chết an nguy của chính mình bà cũng không quản nổi!


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:23:26 pm

4. Lao đầu vào bức tường xi măng

Chiếc xe hơi bắt cóc Nghiêm Úy Băng, đàng hoàng chạy ra khỏi cửa tây có treo quốc huy trang nghiêm của Trung Nam Hải, chỉ ngoặt có một lần đã tiến vào một cái sân bên ngoài không có gì nổi trội.

Nghiêm Úy Băng bị giải xuống xe, định thần lại bà đã nhận ra đây là số nhà X, ngõ hơi chếch đối diện với cửa tây của Trung Nam Hải, cách bức tường cao màu đỏ uy nghi chỉ hơn 100 mét. Tăng Phúc Đường nơi gia đình họ Lục ở cũng chỉ “xa bằng tầm một mũi tên bắn” như vẫn thường nói. Nghiêm Úy Băng lúc bình thường vẫn thường xuyên đi qua bên ngoài sân này, nhưng chưa từng vào đó, mà cũng chẳng bao giờ muốn vào. Vì bà biết đó không phải là “chỗ tốt” mà là nhà tù bí mật xây dưới chân tường Trung Nam Hải, hoặc gọi là trại tạm giam. Nghiêm Úy Băng không sao hiểu nổi rằng mình sẽ trở thành “người khách” của nơi này.

Như mơ mà không phải mơ, Nghiêm Úy Băng nửa rõ ràng nửa mơ hồ, chưa kịp tỏ sự kinh ngạc và bật ra tiếng kêu thì ánh mắt bị hút vào mấy cây trúc đào đang nở rộ hoa. Bà là một nữ thi sĩ yêu tha thiết cuộc sống và tất cả những cái đẹp, là một nữ chủ nhân đầy nhiệt tình, thùy mị, nết na, hiền dịu, trước những bông hoa trúc đào đỏ tươi rực rỡ sáng rực và cánh lá dài xanh mướt phút chốc bà như đã quên hết tình cảnh và chỗ đứng của mình...

“Phần tử phản cách mạng Nghiêm Úy Băng, mi đã bị bắt”. Một giọng nói mang đậm khẩu âm Hà Bắc, phát ra từ miệng một người đàn ông có vẻ là cán bộ chừng trên dưới 50 tuổi.

“Trò cười!” Nghiêm Úy Băng vừa ngẩng đầu đã bị ấn xuống, tức giận nói. “Ai là phản cách mạng, dựa vào cái gì mà bắt tôi? Tôi phạm pháp cái gì?”

“Mi phạm tội ác tầy trời không dung thứ được”. Người đàn ông có giọng Hà Bắc lại nói: “Mi tự biết”.

“Tôi biết cái gì?” Nghiêm Úy Băng quả thật cảm thấy rất buồn cười, nhưng đây lại không phải là nói đùa, liền nửa như biện bạch nửa như tự nói với mình. “Tôi chẳng biết cái gì!”.

“Cái gì mi cũng biết! Làm sao mi lại có thể không biết?” Lại một giọng xin xít của một người đàn bà bật ra. “Mi điên cuồng bức hại, âm mưu sát hại Phó Chủ tịch Lâm Bưu và cả nhà ông, mi có biết tội không?”

“Tôi không biết”, không đợi Nghiêm Úy Băng nói hết câu, người đàn ông nói giọng Hà Bắc ra lệnh: “Khám người”.

Gần như cùng lúc bốn người đàn bà vạm vỡ như đàn ông xông ra, cả bốn người xô đến, tay năm tay mười lột hết quần áo chỉ để lại quần áo lót. Bốn người đàn bà chỉ còn thiếu phanh ngực mổ bụng Nghiêm Úy Băng nữa mà thôi, làm bà bị sỉ nhục đến mức muốn gào, muốn khóc, muốn chửi bới! Một luồng lạnh buốt tim chảy từ trong ra ngoài, làm bà nhanh chóng bình tĩnh trở lại, nghiến chặt hàm răng không có bất cứ một phản ứng gì, tựa hồ như đã tê dại, để mặc cho mấy người hình như là đàn bà lục soát khắp người: từng phân từng tấc của mỗi chiếc áo chiếc quần, đến đôi giày vải cũng bị xé rách để tìm kiếm. Nghiêm Úy Băng lặng lẽ nhìn họ, bản thân bà cũng hy vọng họ thật sự có thể lục ra được một chút gì đó để khỏi phụ sự “lao động cần cù” của họ. Đáng tiếc, họ không tìm thấy gì.

Bây giờ cũng chỉ mới tháng 4, không ít người vẫn mặc áo len. Nghiêm Úy Băng trên mình không quân áo vẫn đứng trơ, bà cảm thấy khí lạnh thấm vào người, bất giác run lên cầm cập, bà nhìn thấy trên chiếc giường bên cạnh có một chiếc chăn len cũ, liền với tay cầm lấy muốn quấn vào người cho đỡ rét, ai ngờ chưa đợi bà quấn vào người, đã nghe tiếng quát của người đàn ông nói giọng Hà Bắc: “Bỏ xuống!”

Tấm chăn bị giằng vứt xuống đất, Nghiêm Úy Băng bị kéo xiêu nghiêng, hai tay chới với mấy lần mới giữ được thăng bằng không bị ngã.

Người đàn ông quát: “Mi còn muốn lên mặt à? Bây giờ phải đập cho mất cái kiểu lên mặt của mi!”

Nghiêm Úy Băng ngước nhìn người đàn ông với vẻ đầy khinh bỉ, bây giờ ở đây rõ ràng bà đang trên người không còn quần áo chẳng có một chút thể diện nào lại bị coi là “lên mặt”.

Bắt đầu từ hôm ấy, Nghiêm Úy Băng bị thẩm vấn bức cung hết ngày đến đêm không ngừng không nghỉ. Nhân viên thẩm vấn và bọn canh gác mỗi ngày chia làm bốn ca, luân phiên liên tục tác chiến. Nhân viên thẩm vấn mỗi lần thay phiên chỉ ngừng năm sáu phút, Nghiêm Úy Băng không kịp cả việc đi vệ sinh, chỉ có thể tranh thủ thời gian gặm mấy miếng bánh đúc ngô mà họ quẳng cho, không đợi nuốt hết, vòng thẩm vấn sau đã bắt đầu. Mới đầu bà còn nghe câu hỏi của người thẩm vấn, về sau dần dần nghe gì biết vậy, cho đến khi hoàn toàn không nghe và cũng kệ thây. Một là vì bản thân bà vừa mệt, vừa buồn ngủ, vừa đói vừa khát, từ không còn sức để phản ứng phát triển đến hoàn toàn mờ ảo vì choáng; hai là phát hiện họ hỏi đi hỏi lại hầu như không có nội dung gì mới, chỉ trở đi trở lại hỏi bà một việc là đã “điên cuồng bức hại” và “âm mưu sát hại” Phó Chủ tịch Lâm Bưu và đồng chí Diệp Quần phu nhân kính yêu của họ như thế nào. Lặp đi lặp lại cùng một nghĩa, quanh đi quẩn lại, người này thì bắt bà thú thật, kẻ kia lại truy bức bà nhận tội, thẩm vấn tới mức sau này đến ban ngày ban đêm, trời trên đất dưới, đông trái tây phải bà đều không nhận ra nữa.

Cuối cùng bà thực sự không chịu nổi đã lao đầu vào bức tường xi măng... 


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:25:52 pm

5. Một văn kiện có một không hai triệu hồi Lục Định Nhất

Tháng 4 năm 1966, Nghiêm Úy Băng bị tạm giữ để thẩm tra, để tránh sự hiềm ghét, Lục Định Nhất đã rời Bắc Kinh đi thị sát ở nơi khác. Tháng 5 năm ấy, Lục Định Nhất đang ở Hợp Phì, một chiếc chuyên cơ hỏa tốc đón ông về Bắc Kinh tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng.

Trong cuộc họp, bức thư nặc danh của Nghiêm Úy Băng, được làm viên đạn chủ yếu để tấn công Lục Định Nhất. Lâm Bưu đích thân xung trận, càng cố sức gắn bức thư với chính biến.

Lục Định Nhất là ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, khi đang ở Hợp Phì “điều tra nghiên cứu” đột ngột nhận được điện thoại của Uông Đông Hưng người phụ trách Văn phòng Trung ương gọi, thông báo cho ông lập tức về ngay Bắc Kinh, tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng.

Khi chiếc máy bay đặc biệt đón Lục Định Nhất về Bắc Kinh bay lên bầu trời, tinh thần ông chợt cũng bay lên không trung. Nhưng, ông không ngờ được rằng cuộc đời chính trị của mình, cũng từ đó đi đến đầu cuối. Bắc Kinh đang chờ ông không phải hoa tươi tháng 5 và tiếng cười ngày hội, mà là “án tử hình về chính trị” điều mà ông chẳng hề nghĩ tới, cái gia đình êm ấm của ông đang ở Trung Nam Hải xinh đẹp, đối với ông nó giống như một bài thơ Đường đã miêu tả:

Phiên âm:

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong


Dịch nghĩa:

Ngày này năm ngoái đứng trong cửa này,
Mặt người và hoa đào chiếu vào nhau rạng lên ánh hồng
Bây giờ không biết người ấy đã đi đâu
Chỉ còn hoa đào vẫn đang cười với gió đông xưa.


Dịch thơ:

Ngày này năm ngoái đứng trông,
Hoa đào vẻ mặt ánh hồng rạng tươi.
Mà nay người đã đi rồi
Còn hoa đào vẫn đang cười gió đông.*


Tuy có sức tưởng tượng phong phú, nhưng Lục Định Nhất cũng không thể nào tưởng tượng nổi, chính trong hơn hai tháng ông xa Bắc Kinh, ở Trung Nam Hải và Tăng Phúc Đường với “Hoa đào vẻ mặt ánh hồng rạng tươi” mà ông thân quen, đã nảy sinh biết bao nhiêu chuyện khó có thể tưởng tượng được. Nghiêm Úy Băng vợ ông đã bị bắt cóc đi từ cái nhà khách của Tăng Phúc Đường trong Trung Nam Hải giữa thanh thiên bạch nhật; đến cô em vợ Nghiêm Chiêu cũng đội ngột mất tích, đang bị “cách ly” ở một “nơi xa mờ mịt nào không biết”. Ông càng không thể nghĩ đến ngôi nhà ở Tăng Phúc Đường của mình đã bị phá tan hết, hoàn toàn sụp đổ và ông không thể về đó được nữa.

Lục Định Nhất đáp máy bay về đến Bắc Kinh. Vừa xuống máy bay thì được thông báo: “Mao Chủ tịch muốn đồng chí về tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng”. Lúc ấy Bộ Chính trị đã họp một loạt cuộc họp, trong đó có một cuộc họp, Lâm Bưu đã đột ngột công bố một điều ít người biết đến, ông ta đã sáng tạo ra một “văn kiện” đặc biệt. Chứng minh Diệp Quần là gái trinh.

Đây là một “văn kiện lịch sử” từ xưa đến nay chưa từng có, các ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã truyền đọc một cách trịnh trọng và tiến hành thảo luận một cách thận trọng nghiêm túc. Sự việc kỳ lạ này chắc là mấy ngàn năm ở Trung Quốc và mấy trăm năm trên thế giới chưa chắc đã gặp được một lần, rất có thể là sự việc có một không hai xưa nay chưa từng có.

Vì sao Lâm Bưu phải làm sự việc xấu xa đó? Chính sau khi chị em Nghiêm Úy Băng đã bị “bắt giữ”, mấy lần Diệp Quần đã ngang ngược xảo trá bắt Lâm Bưu phải trịnh trọng tuyên bố cải chính tin đồn nhảm để xóa bỏ ảnh hưởng. Thế là Lâm Bưu đã viết cho Bộ Chính trị bản “Tuyên bố trang nghiêm” ấy.

Lục Định Nhất vội vội vàng vàng về đến Bắc Kinh, theo thời gian và địa điểm đã định đến phòng họp của Bộ Chính trị, khi đến nơi, hội nghị đã bắt đầu. Mắt ông vốn không được tốt nên khi vào hội trường đã không nhận ra có điều gì khác thường. Ví dụ trước khi ông đi điều tra nghiên cứu, người thay mặt Trung ương bàn bạc với ông là Bành Chân hôm nay không có mặt: những người đáng ra không nên có mặt ở đây là Trương Xuân Kiều nguyên là Trưởng ban Tuyên truyền của Thành ủy Thượng Hải vốn là cấp dưới của ông và một số người khác lại có mặt. Ông càng không chú ý đến những người trước đây khi họp thường vì bị ốm hoặc đang bận việc ở địa phương xin nghỉ không đến như Lâm Bưu và Khang Sinh thì nay lại nghiễm nhiên ngồi ở vị trí trung tâm của hội trường, hơn nữa còn từ trên cao nhìn chằm chằm vào ông, còn ông thì lại ngồi ở vị trí đối diện với họ. Tất cả những điều ấy ông không để ý, chỉ khi chào các đồng chí đến trước mới cảm thấy phản ứng của họ không nhiệt tình cho lắm, thiếu mất cái bắt tay thăm hỏi, hàn huyên thân thiết thông thường vẫn có, càng thiếu mất không khí vui vẻ náo nhiệt cần thiết. Ông phớt lờ như không thấy gì, không nghĩ gì và càng không nghĩ đến những điều xấu, bình tĩnh ngồi vào vị trí, muốn yên lặng nghe nội dung hội nghị hôm nay.

Hội nghị trong bầu không khí quá ư nặng nề, đã im lặng hồi lâu, Lâm Bưu ngồi đối diện với Lục Định Nhất, đột ngột hùng hổ tức giận, quát gọi thẳng tên ông: “Lục Định Nhất! Anh...”

“Tôi, tôi đã làm sao!?” Lục Định Nhất ngạc nhiên ngẩng đầu không hay biết gì cả, Lâm Bưu đang trừng mất nhìn chằm chằm vào ông, do tức quá mà nghiến chặt răng, nên đã nín bặt ở nửa câu sau. Một lúc lâu sau, mới tiếp tục nói:

“Ngày nào anh cũng muốn đổi đời, ngày nào cũng muốn đổi đời?” Lục Định Nhất không hiểu ra sao, đắn đo do dự nói: “Đổi đời, đổi cái đời gì?”

Lâm Bưu với một giọng gay gắt: “Anh hãy nói, anh cùng vợ anh là Nghiêm Úy Băng câu kết với nhau, trong thời gian dài dùng cách viết thư nặc danh v.v... công kích và vu cáo một cách ác độc đồng chí Diệp Quần và tôi, còn cả nhà tôi nữa! Anh hãy nói, mục đích của các người là gì? Vì sao thực hiện âm mưu này? Anh phải lập tức nói rõ với Đảng!”.

Không khí trong cả hội trường, phút chốc như đông đặc lại. Lâm Bưu do nói năng quá xúc động và dùng sức, nên phải vội vã thở gấp. Lục Định Nhất hình như vẫn chưa định thần lại, kinh ngạc nhìn người chống lại mình, lại nhìn những người ngồi dự họp chung quanh, chỉ thấy có người vội quay đầu nhìn đi chỗ khác, có người cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ, cũng có người ngẩng đầu nhìn ông, chỉ qua những ánh mắt có thể nhận thấy có mấy loại: Một loại là kinh ngạc và bất an, một loại quan tâm và đồng tình, còn một loại tỏ ra phẫn nộ theo như kiểu Lâm Bưu. Có điều tất cả mọi người đều im lặng không nói một lời nào.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:26:19 pm

Lục Định Nhất tuy là một thư sinh, nhưng lại là một chiến binh kỳ cựu trong trường chinh, gió mưa thậm chí cả bão tố trong mấy chục năm cách mạng đã trải qua không ít, ông đã rất nhanh chóng trấn tĩnh lại từ sự tập kích bất ngờ của Lâm Bưu. Ông đã phát hiện thấy “điểm bắn” của “hỏa lực tập kích của đối phương” chỉ ở “đột phá khẩu” là Nghiêm Úy Băng viết thư nặc danh, liền cố hết sức bình tĩnh dùng những lời lẽ ôn hòa để giải thích.

“Vấn đề này, tôi có thể trình bày. Vì tình hình ban đầu của sự việc, không phải là” - Ông ngẩng đầu nhìn Lâm Bưu nói tiếp: “Không phải như anh vừa mới nói. Nghiêm Úy Băng viết thư nặc danh gì đó, tôi hoàn toàn không biết, cô ấy đã không bàn gì với tôi thì không thể nói là câu kết gì đó! Bản thân tôi chưa bao giờ phát hiện cô ấy viết thư gì, về chuyện này tổ chức có thể điều tra, hoàn toàn có thể điều tra rõ ràng”.

Ông vốn còn muốn nói thêm một điều gì đó, thì lại nghe thấy tiếng quát gay gắt của Lâm Bưu:

“Anh, anh ngụy biện! Chuyện của vợ anh, làm sao anh lại không biết?”

“Cái đó chưa chắc!” Lục Định Nhất có thể nói năng nhưng lại không giỏi biện luận, thuận miệng nói ra một câu. Đứng trước vị Phó Chủ tịch Trung ương không giữ thể diện hà hiếp người khác quá đáng, ông đã thủng thẳng thêm một câu không mặn không nhạt: “Chuyện chồng không biết vợ làm, chẳng phải đầy ra đấy ư?”. Nói xong còn bướng bỉnh nhìn thẳng vào Lâm Bưu.

Lục Định Nhất một người thường khá nghiêm túc không cười nói tuỳ tiện đã bất ngờ bật ra một câu có vẻ như bình thường nhưng lại có tính chất đối đầu, hơn nữa lại rất hóm hỉnh, làm tất cả mọi người dự họp ngẩn ra. Chuyện mà trong thư nặc danh của Nghiêm Úy Băng nói không ngớt được lan truyền, lại thêm “bản làm chứng là trinh tiết” do đích thân Lâm Bưu viết được truyền đọc, nên đã trở thành đầu đề các câu chuyện cười, xì xào bàn tán từ trên xuống dưới, câu nói rất hóm hỉnh của Lục Định Nhất, đã đâm bị thương vị Phó Chủ tịch này.

Quả nhiên nhìn mặt Lâm Bưu, mới đầu ông ta tức đến bạc mặt, tiếp đó là sự phẫn nộ cực độ rồi đỏ bừng như bị ai đó tát thẳng vào mặt, mồm há ra mấp máy nhưng không nói được một tiếng nào, cứng đờ ra mất mấy phút, sau đó ông ta đột ngột giậm hai chân, giơ tay phải lên, chỉ thẳng vào Lục Định Nhất nói:

“Ta, ta, rất mong có một khẩu súng... sẽ bắn chết mi!”.

Ngón trỏ tay phải của ông ta cùng với tiếng chửi, co gập lại như kéo cò súng. Bắn tất cả những viên đạn tràn đầy căm hận trong ý niệm của ông ta vào đầu đối phương.

Mọi người không thể không vui mừng vì may mà Trung ương đã sớm có quy định, tất cả mọi người vào Trung Nam Hải tham gia hội nghị cao cấp của Đảng đều không được phép mang theo vũ khí. Nếu không hôm nay nhất định có thể sẽ được xem màn kịch khủng khiếp “máu phun ở Bộ Chính trị”.

May mà lúc ấy, trong tay Lâm Bưu không những không có súng thật, hơn nữa có súng thì hình như cũng chỉ có một viên đạn. Sau khi ông ta vừa mới bắn đi “phát đạn” ấy thì nó lại bị xịt không nổ, tuy đôi mắt tức giận nhìn đến mức vã mồ hôi, cánh tay vốn giơ lên “ngắm đúng” vào đầu Lục Định Nhất lại run lẩy bẩy buông thõng xuống như bị liệt. Còn Lục Định Nhất kẻ thù của ông ta thì lại ngồi yên không nhúc nhích một chút nào như không có chuyện gì xảy ra, tựa hồ như đang ngẫm nghĩ và thưởng thức câu trả lời hóm hỉnh của mình vừa nãy. Khi hai bên đang căng thẳng đối chọi trong cuộc “chiến tranh lạnh” giữa chừng lại xuất hiện một “Trình Giảo Kim” đến cứu giá. Một giọng nam trung nói ngọng tiếng Sơn Đông gào lên:

“Lục Định Nhất, mi là một tên đặc vụ!”

Lục Định Nhất người bị coi là đặc vụ không ngẩng đầu, chỉ dựa vào tiếng nói đã nghe ra câu này bật ra từ miệng người nào. Ông lạnh lùng nói:

“Đồng chí Khang Sinh”

“Ai là đồng chí của mi?” Cái giọng ngọng nghịu Sơn Đông gào lên. Lục Định Nhất lại lạnh nhạt nói: “Được thôi, thì coi là không phải, có điều tồi muốn nhắc nhở anh một chút, bây giờ không phải là cái thời kỳ chỉnh phong, năm 1942, anh còn muốn làm cái trò “cứu phong trào” ở Diện An nữa sao?”

Chỉnh phong ở Diên An vốn là phong trào giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin phổ cập mà nội dung là “chống chủ nghĩa chủ quan để chỉnh đốn phong cách học tập, chống chủ nghĩa bè phái để chỉnh đốn tác phong của đảng viên, chống đảng Bát Cổ để chỉnh đốn văn phong” do Mao Trạch Đông khởi xướng, Khang Sinh gây thêm rắc rối, mượn cớ thẩm tra cán bộ, lợi dụng phong trào chỉnh phong, vu cáo hàng loạt cán bộ, đặc biệt là những thanh niên trí thức từ khu trắng đến là “đặc vụ Quốc dân Đảng”, “đặc vụ Uông Tinh Vệ” và “đặc vụ Nhật Bản” v.v... làm cho rất nhiều đồng chí bị tổn thương, oan uổng. Về sau việc này được Trung ương chấn chỉnh sửa chữa, nhưng mọi hình vi của Khang Sinh lúc ấy đã để lại những ấn tượng xấu xa vô cùng sâu sắc trong lòng những người đã đích thân trải qua.

Trong cách mạng văn hóa, Khang Sinh lại diễn lại trò này, luôn luôn vô cớ tùy tiện bảo người khác là “đặc vụ”, “phản bội” v.v... để áp chế và đánh đổ người phản đối. Lúc này thấy Lâm Bưu không địch lại được Lục Định Nhất nên vội vàng dâng “pháp bảo” truyền thống của ông ta, nào ngờ Lục Định Nhất cũng là người sành sỏi, chẳng thèm để ý đến trò ấy của ông ta, ông ta bèn dâng một “pháp bảo” khác ghê gớm hơn, lại nói tiếp:

“Giỏi! Mi dám chống lại cuộc chỉnh phong ở Diên An hử, chỉnh phong là do Mao Chủ tịch đích thân lãnh đạo, chống chỉnh phong là chống lãnh tụ vĩ đại, thống soái vĩ đại, người thầy...”. Ông ta còn muốn nói tiếp từ vĩ đại nữa, nhưng cả hội trường đã ầm ầm, hội nghị không có cách gì tiếp tục họp nữa. Khang Sinh thấy “pháp bảo” của mình không trị nổi đối phương, không ép được người khác, vội vàng cao giọng, vung thanh “thượng phương bảo kiếm” đặt người ta vào chỗ chết.

“Lục Định Nhất, bây giờ ta thay mặt trung ương tuyên bố: Từ hôm nay trở đi, sẽ thực hiện việc cách ly để thẩm tra đối với anh, hãy thành khẩn mà thú nhận tội lỗi của mình đi!”.

Hội nghị cũng vội vã kết thúc, chấm hết trò khôi hài “nghiêm túc”.

Lâm Bưu một con người “đánh được thì đánh, đánh thua thì đi”, dưới sự yểm hộ của các quân sư như Khang Sinh v.v... thu binh hồi triều. Lục Định Nhất vốn là thư sinh, tuy chỉ nói chậm rãi nhỏ nhẹ mà đã thắng được “kẻ địch mạnh” ngay từ trận đầu, nhưng cuối cùng cánh tay không kéo được đùi, ông bị đẩy ra khỏi hội trường mà không được biện bạch.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2010, 03:27:43 pm

6. Cát thây chính trị, “phơi” giữa chợ để dọa mọi người

Lục Định Nhất là chồng của Nghiêm Úy Băng, đương nhiên là kẻ đứng sau đen tối phản cách mạng, ông là Trưởng ban Tuyên truyền của Trung ương Đảng mà Ban Tuyên truyền Trung ương trước đấy đã được xác định tính chất là “điện Diêm Vương”, đương nhiên ông là “Diêm Vương sống” không lật đổ không được. Nhưng dù thế nào ông cũng không ngờ được rằng mình lại bị coi là nhân vật thứ ba của “Tập đoàn có âm mưu chống Đảng” mới, nhân vật số một là Bành Chân một người trung thành vô hạn với Đảng, tận tuỵ với công việc, nhân vật số hai là Tổng Tham mưu trưởng quân đội La Thụy Khanh, người rất ít qua lại với ông, nhân vật số bốn là nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Dương Thượng Côn, chỉ tiếp xúc khi có công việc. Lục Định nhất không biết là mình đã được xếp vào cái gọi là “Tập đoàn có âm mưu chống Đảng” đã “chống Đảng” như thế nào, đã có những âm mưu gì, đã “tụ tập” thành một “đoàn” lúc nào, sao mình lại được coi là nhân vật số ba nhỉ, tất cả ông đều không biết một tí gì.

Ngày 23 tháng 5, Trung ương lúc ấy thông qua quyết định lập án thẩm tra, “tập đoàn có âm mưu chống Đảng Bành, La, Lục, Dương” và bãi bỏ chức vụ của Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất và Dương Thượng Côn v. v… Trong quyết định về Lục Định Nhất khẳng định: “Lục Định Nhất có liên quan mật thiết với vụ án phản cách mạng của Nghiêm Úy Băng”.

Ngày 30 tháng 9, lại chính thức công bố quyết định thực hiện “cách ly để xét lại mình” đối với Lục Định Nhất, đồng thời thành lập tổ chuyên án về vụ án phản cách mạng Nghiêm Úy Băng với mật số là “502” chính thức bắt đầu tiến hành “liên hệ theo chiều ngang”. Đến đây Lục Định Nhất hoàn toàn bị đuổi ra khỏi vũ đài chính trị Trung Quốc. Đồng thời với việc Bành Chân, Lục Định Nhất v.v... bị quét vào “sọt rác lịch sử”, Trung ương đã quyết định thành lập “Tổ cách mạng văn hóa Trung ương” do Trần Bá Đạt làm tổ trưởng, Khang Sinh làm cố vấn, Giang Thanh v.v... làm tổ phó, một loạt tên trong “bọn thủ lĩnh chuyên quyền địa phương”, “bọn bồi bút” và “bọn đầu cơ” chưa từng làm ăn lương thiện thậm chí không có lý lịch trong sạch chen vào vũ đài chính trị cao nhất ở nước ta, trở thành những kẻ phất lên về chính trị một thời thậm chí là chúa tể tất cả.

Chính “ngày hả hê” của Lâm Bưu, Diệp Quần và Trần Bá Đạt v.v... cũng là “ngày gặp tai hoạ” của cả nhà Lục Định Nhất và Nghiêm Úy Băng, từ Vô Tích tỉnh Giang Tô quê hương của Lục Định Nhất và Nghiêm Úy Băng xa xôi, một thủ trưởng của Phòng Chính trị thuộc đơn vị đóng quân tại nơi này, với “khướu giác chính trị” nhạy bén cao độ của mình, mang trong lòng sự trung thành vô hạn đối với “Bộ Tư lệnh của giai cấp vô sản” đặc biệt là “Phó Thống soái” đột nhiên gửi thư lên Diệp Quần phu nhân của soái phủ, nói là đã tìm được một loạt những tài liệu về tội ác của Lục Định Nhất và Nghiêm Úy Băng ở Vô Tích, trong thư còn gửi kèm bản chú thích của những bức ảnh, bản sao về những “tội chứng” này, người viết thư nói, nếu cần, anh ta có thể đích thân đem những tang vật “tội chứng” này đến Bắc Kinh ngay lập tức để “Phó Thống soái” và phu nhân của anh ta xem. Diệp Quần xem thư vui mừng lộ ra mặt, ngay lập tức giáng chỉ bảo anh ta dâng ngay “vật báu” vào kinh.

Rốt cuộc thì vị “thủ trưởng” này hiến “bảo vật gì vậy?” Té ra ở một đơn vị giải phóng quân nơi mà người này công tác, tức là Vô Tích, trước đây cũng vì có vị thủ trưởng Trung ương Lục Định Nhất nên đã vô cùng vui sướng, về sau phong vân đột biến Lục Định Nhất có vấn đề, vợ ông Nghiêm Úy Băng cùng quê Vô Tích còn là tên “phản cách mạng hiện hành” “âm mưu ám hại Phó Thống soái Lâm”, hai người Lục, Nghiêm đã trở thành kẻ thù không đội trời chung của cả nhà Phó Thống soái. Liền nhanh trí lợi dụng Hồng vệ binh đang đi khắp nơi khám xét nhà cửa phá “bốn cái cũ”, bèn tổ chức cho người xông vào ngôi nhà cũ của tổ tiên hai họ Lục và họ Nghiêm cùng bảy gia đình thân thích của họ, tiến hành lục soát toàn diện và triệt để. Họ làm to chuyện, tra xét làm đất ngả trời nghiêng, chỉ tìm được một số quần áo rách từ xưa và mấy thứ hình như có một chút giá trị, một là mấy bức tranh cuộn mà cha Lục Định Nhất treo lúc còn sống, trong đó có một bức vẽ một viên quan thời Thanh, trên đầu đội một bình hoa, thân mặc triều phục tay áo hình móng ngựa; còn một cuốn “Gia phả họ Lục” đã bị rách nát, ít nhiều cũng có thể coi là “di vật phản động”, thu hoạch to lớn nhất là chiếc kiệu nhỏ lợp bằng vải xanh, không biết đã được dùng vào thời đại nào trong đống đồ rách rưới của nhà họ Lục, điều này chứng tỏ họ Lục thực sự đã từng là một hộ “quan liêu phản động kiêm địa chú ác bá”. Nhưng nếu chỉ có thế thì vẫn không đủ sức nặng, từ kho lưu trữ của chính quyền huyện lại tìm thấy mấy bản khế ước đất đai, đây mới được coi là “bằng chứng thép về sự bóc lột xương máu của nhân dân lao động”.

“Số tài liệu về tội chứng” này sau khi được tập trung lại, thêm vào một số “vàng bạc đồ tế nhuyễn” cho đến nồi, chậu, bát, gáo tất cả đều được chụp ảnh, kê biên thành danh sách, để anh ta viết thư báo cáo lên phủ soái, quả nhiên mũi tên bắn đi đã trúng đích, được phủ soái khen ngợi. Vị thủ trưởng này đã đem “ngựa hay dao sắc”, vừa đi tàu bay vừa đi tàu hỏa chuyển những “chiến quả lẫy lừng” phụng chỉ đến Bắc Kinh nương nhờ Lâm Bưu. Diệp Quần đón tiếp rất nhiệt tình, đích thân đón tiếp với nghi thức cao, mời vị thủ trưởng này nghỉ trọ tẩy trần tại chiêu đãi sở hạng nhất ở Bắc Kinh.

Quê của Lục Định Nhất và Nghiêm Úy Băng bị lục soát, nhà ở Trung Nam Hải Bắc Kinh của họ cũng không thoát khỏi cái kiếp nạn ấy, từ ngày 28 tháng 4, khi Nghiêm Úy Băng bị bắt đi, liên tục năm lần bị lục soát triệt để, đào nền nhà sâu đến hàng mét. Cũng phải nói rằng lục soát lần thứ nhất do Bộ Công an chấp hành là lần “lễ độ văn minh” nhất, về sau càng ngày càng không “từ tốn cung kính” nữa. Các tiểu tướng cách mạng đáng yêu hết bọn này đến bọn khác, hết lần này đến lần khác xông vào Tăng Phúc Đường, thấy sách vở là xé, nghe nói đây đều là những cỏ độc lớn của phong kiến, tư bản xét lại, tuy trong đó vừa có sách của những “thằng phản động” Lý Bạch, Đỗ Phủ, Pút-skin, Tôn-xtôi v.v... viết, vừa có những sách của các nhà văn cách mạng như Lỗ Tấn, Goóc-ki viết nhưng cũng đều bị liệt vào loại cỏ độc và cũng được hưởng sự đãi ngộ như thế.

Lục Định Nhất là một văn nhân, nên cũng thu thập được mấy đồ gốm sứ mỹ thuật công nghệ và mấy chiếc nghiên mực cổ tuy không quý hiếm nhưng cũng có giá trị đáng giữ gìn, “giai cấp vô sản” sao lại có thể làm những chuyện như thế này, thế là choang choang toàn bộ bị đập nát vụn! Điều đau lòng nhất đối với gia đình họ Lục là mấy trăm chiếc đĩa hát của các diễn viên Kinh kịch nổi tiếng mà nhiều năm nay họ mua sắm và thu thập, cũng đều trở thành “cỏ độc” thành “bốn cái cũ” và bị hủy hoại trong chốc lát.

Các tiểu tướng này có kẻ không biết thật, có kẻ giả vờ không biết, thực ra Khang Sinh và Giang Thanh những kẻ “vô sản hóa” nhất trong lòng họ đã dùng thủ đoạn cướp đoạt và lừa dối, đánh cắp v.v... chiếm được hàng loạt văn vật, đồ cổ và quốc bảo cũng thuộc “phong kiến, tư bản, xét lại” và nhiều đĩa hát Kinh kịch cũ v.v... làm của riêng để thưởng thức. Nhưng hắn là hắn, anh là anh, họ thì thế nào cũng được, còn Lục Định Nhất thì không được, không lật nhào triệt để không đập tan không được.

Diệp Quần, Trần Bá Đạt v.v... nhận được báo cáo trong nhà của Lục Định Nhất tại Bắc Kinh cũng đã lục soát được không ít thứ, điều này đã làm họ xúc động, có thể đem số đồ vật này tập trung lại, để nhiều người xem, để họ có thể nhận được sự “giáo dục giai cấp” một cách hiện thực và sinh động. Qua nhiều lần bàn bạc thành công, họ quyết định đem những tài liệu “chứng cứ tội lỗi” đưa từ Vô Tích về thêm vào đó là những đồ vật “phong kiến tư bản xét lại” tìm được ở Tăng Phúc Đường, tổ chức thành “cuộc triển lãm tội ác phản cách mạng của Lục Định Nhất và Nghiêm Úy Băng”. Thế là lại “một sáng kiến vĩ đại” chưa từng có trong lịch sử được mở màn tại nơi vốn là sân sau của Hồng Lầu Đại học Bắc Kinh nay là trụ sở của Ban Tuyên truyền Trung ương Đáng Cộng sản Trung Quốc có tên là “Kiệt Dân Đường” do học giả, nhà giáo dục nổi tiếng Thái Nguyên Bồi đặt tên.

Trong quá trình chuẩn bị triển lãm, sau khi các nhân viên hữu quan đem các tài liệu “tội chứng” bày ra, đã phát hiện ra rằng ngoài chiếc kiệu lợp vải xanh đã gia công sửa chữa làm mới và mấy tờ khế ước ruộng đất ra, có rất nhiều hiện vật chẳng nói lên được vấn đề gì, không những không thể phơi trần sự “phản động tột đỉnh” của Lục, Nghiêm ra sao mà ngược lại, lại để lộ cuộc sống của họ khá là giản dị, không để mất gia phong tốt đẹp của một cán bộ cách mạng, việc triển lãm như vậy chẳng phải là phản tuyên truyền hay sao.

Sau khi báo cáo lên phủ soái và thỉnh thị lên Tổ cách mạng văn hóa Trung ương họ đã có được biện pháp giải quyết hoàn toàn ngoài ý muốn, cấp trên đã phê chuẩn cho họ mượn mấy chục bó tiền Nhân dân tệ trong kho bạc Nhà nước, lại thêm mười mấy thỏi vàng ròng, lại cũng không biết đã kiếm từ đâu ra một số loại lụa là gấm vóc da lông đưa vào triển lãm. Quả nhiên cái chiêu cao siêu này đã đạt được hiệu quả mạnh mẽ. Sau khi triển lãm khai mạc, rất nhiều khán giả nhìn thấy số tiền khổng lồ được bày trong tủ, đặc biệt là rất nhiều bảo vật ánh vàng sáng lóa mà chỉ hoàng gia mới có, còn có những súc lụa là gấm vóc nghe nói độ dài của nó có thể trải dài từ Trung Nam Hải đến Di Hòa Viên (khoảng 30 km - N.D.). Mọi người xem xong không ai là không sục sôi bày tỏ sự phẫn nộ mãnh liệt và mối hận thù sâu sắc đối với hai vợ chồng “phản cách mạng”' và “gia đình phản động” Lục Định Nhất và Nghiêm Úy Băng “xa xỉ dâm dật” và “vô cùng hung ác” đến như thế.

Nhìn thấy phòng triển lãm ở trung khu của Ban Tuyên truyền Trung ương hằng ngày nườm nượp người do các cơ quan, trường học, bộ đội, xí nghiệp, đơn vị sự nghiệp các phái tạo phản chen lấn đến xem, những nơi xa, các “phái cách mạng” cũng cử đại biểu đến tham quan học tập, Diệp Quần, Trần Bá Đạt, Khang Sinh mừng như mở cờ trong bụng, vỗ tay khoái trá nói, biện pháp này coi như tuyên án “tử hình về chính trị” đối với Lục Định Nhất và Nghiêm Úy Băng, từ đó họ là hai cái “xác chính trị”, triển lãm chính là đưa cái “xác” của họ ra bêu giữa chợ cho mọi người xem.

Có một điều Diệp Quần không chú ý đến là lần triển lãm này ngoài ý nghĩa chính trị ra, đối với rất nhiều “phái cách mạng” mà nói, còn rất thực dụng và được lợi về kinh tế. Vốn dĩ sau khi triển lãm kết thúc ngoài những cuộn tiền và các đồ quý bằng vàng phải trả lại cho kho bạc, những súc lụa là gấm vóc và da lông thú cùng những vật lớn phải “xử lý thống nhất” ra, toàn bộ số hiện vật còn lại còn có giá trị thực dụng đều dùng biện pháp xử lý nội bộ để bán hạ giá, một chiếc áo da dài chỉ “bán” có 10 đồng, một chiếc bình hoa sứ thời Thanh chỉ bán có 5 hào (năm 1966 giá trao đổi ngoại tệ của Ngân hàng Việt Nam và Trung Quốc là 1 đồng nhân dân tệ đổi được 1 đồng 5 hào tiền Việt Nam - N.D). Việc này đã làm cho các chiến hữu của “phái cách mạng” vớ được món bở, phát tài trên cái “quốc nạn” “hàng thật giá không thật”, hành động cách mạng được mùa cả về chính trị lẫn kinh tế, rất nhanh chóng được mở rộng ra khắp nơi trong cả nước, chỗ nào cũng bắt chước làm “triển lãm tội ác” với quy mô lớn nhỏ khác nhau.

Những việc tiếp sau đó càng làm cho người ta trông thấy mà rùng mình. Lục Định Nhất, Nghiêm Úy Băng và cả gia đình cùng những người họ hàng lần lượt bị giam vào ngục tối, bị đày đọa giày vò nhiều năm thậm chí mười mấy năm, bà mẹ đẻ của Nghiêm Úy Băng người đảng viên Cộng sản lão thành, đồng chí Quá Anh cũng phải chết thảm thương trong tù...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:13:35 pm

Chương III
GIANG THANH “XÉ RÀO” NỔI DẬY


1
Hai mươi năm sau Giang Thanh “xé rào” nổi dậy
Miệng rộng mở to phà hơi tanh tưởi ghê người


1. Giang Thanh là tên do Mao Trạch Đông đặt cho Lam Bình ở Diên An. Cái tên này từ ý nghĩa đến phát âm đều rất thích hợp với người đàn bà có dã tâm, có sức quyến rũ, mê hoặc và sâu xa không lường được

Năm 1915, sinh ở Gia Thành tỉnh Sơn Đông, được đặt tên là Thục Mông. Vì lúc nhỏ có bó chân, cho nên còn để lại dấu vết xấu xí, làm cho bà ta từ đó có bước đi vòng kiềng suốt đời. Khi học trường huyện, vì thường hay đánh nhau với các bạn nên bị nhà trường đuổi học. Về sau khi nói đến quá trình này bà ta bảo: “Lúc ấy tôi đã thề quyết không để một người nào bắt nạt mình”. Điều đó chứng tỏ, bà ta đã biến tình cảnh xã hội khó xử của mình thành ý thức bất bình cá nhân, trên thực tế đã tạo nên tính cách “tướng cướp” sau này của bà ta.

Vào giữa những năm 20, Giang Thanh được tiếp tục học ở trường tiểu học số 2 thuộc Học viện Sư phạm số 1 Tế Nam, đổi tên là Lý Vân Hạc. Năm 1929, bà ta vào trường Chuyên khoa Nghệ thuật tỉnh Sơn Đông do Triệu Thái Mâu và Vương Nhuận Sinh v.v... thành lập, bắt đầu học Kinh kịch và kịch nói v. v... Để sinh sống, bà ta kết hôn với một thanh niên họ Phí, cuộc hôn nhân này chỉ kéo dài được mấy tháng. Năm 16 tuổi, Lý Vân Hạc một mình đến Thanh Đảo, đã quen biết với Du Khải Uy sau đổi tên là Hoàng Kính, sau khi nước Trung Hoa mới thành lập, ông ta đã từng giữ chức thị trưởng kiêm Bí thư Thành ủy Thiên Tân, hai người yêu nhau và nhanh chóng sống chung. Du Khải Uy là Trưởng ban Tuyên truyền của tổ Đảng thuộc Đại học Thanh Đảo, qua sự giới thiệu của ông ta, Lý Vân Hạc đã tham gia hoạt động trong “Mặt trận văn hóa cộng sản chủ nghĩa”. Tháng 2 năm 1933, được Du Khải Uy giới thiệu đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 7 cùng năm Du Khải Uy bị bắt, công việc yểm trợ mà Lý Vân Hạc đảm nhiệm cũng kết thúc từ đó.

Bà ta rời bỏ tổ chức Đảng ở Thanh Đảo, một mình đến Thượng Hải đổi tên thành Lam Bình. Tháng 10 cùng năm, bà ta bị bắt, hai tháng sau được bảo lãnh ra tù. Tháng 4 năm 1935 vào công ty phim Điện Thông. Tham gia diễn vở “Thần Tự do” và “Phong cảnh đô thị”. Năm 1936, chuyển sang công ty phim Liên Hoa, đảm nhiệm vai chính trong vở kịch nói “Na-ra”. Na-ra, người đàn bà phản nghịch này có tính cách rất giống bà ta và bà ta trở thành “diễn viên có bản sắc” Na-ra. Năm 1936, Lam Bình có tình yêu sét đánh với Đường Nạp, biên tập tạp chí và đạo diễn kiêm nhiệm của công ty phim Điện Thông và đã kết hôn với nhau. Sau khi cưới, Lam Bình đã mấy lần gây nên sóng gió biển tình làm cho Đường Nạp sống đi chết lại, mấy lần tự sát, cuối cùng chia tay mỗi người một ngả.

Hạ tuần tháng 8 năm 1937, Lam Bình đến Diên An. Vừa thấy Mao Trạch Đông bà ta đã dán mắt nhìn, đồng thời tìm tất cả mọi dịp có thể gần gụi Mao Trạch Đông, bà ta cũng làm cho Mao Trạch Đông phải chú ý. Hai người gặp nhau mấy lần trong hầm của Mao Trạch Đông, cùng bàn công việc, hí kịch, học tập, sự tiếp xúc ngày càng nhiều, làm cho Mao Trạch Đông đem lòng yêu mến Lam Bình, một cô gái trẻ trung, thông minh, nhiệt tình, mạnh dạn, hơn nữa lại xinh đẹp. Lúc ấy Lam Bình 24 tuổi, Mao Trạch Đông đã 46 tuổi. Tháng 8 năm 1938. Lam Bình nhận được lệnh điều động, từ Đoàn Nghệ thuật Lỗ Tấn đến gần Văn phòng của Mao Trạch Đông, nhận công việc rất hay là thư ký Phòng lưu trữ của Quân ủy. Bà ta toại nguyện vì đã tìm được chỗ dựa vững chắc. Khi Mao Trạch Đông và Giang Thanh lấy nhau, Ban Bí thư Trung ương đã đưa ra bản quy ước bồm ba chương. Trong đó có một điều là: Đồng chí Giang Thanh chỉ quản công việc riêng và sự vụ của đồng chí Mao Trạch Đông, trong vòng 20 năm cấm không được đảm nhiệm bất kỳ chức vụ gì trong Đảng. Đồng thời không được can dự vào nhân sự trong Đảng và tham gia hoạt động chính trị. Giang Thanh thực sự bắt đầu đảm nhiệm vai chính của bà chủ gia đình theo yêu cầu của bản quy ước ba chương, lo liệu sức khỏe của Mao Trạch Đông và cuộc sống hằng ngày. Tháng 8 năm 1940, Giang Thanh sinh được một người con gái, Mao Trạch Đông rất vui, việc sinh con đã làm cho Giang Thanh củng cố được vị trí của mình bên cạnh Mao Trạch Đông.

Cuộc sống hôn nhân lãng mạn của Mao Trạch Đông và Giang Thanh đến sau năm 1942 thì bắt đầu có thay đổi. Giang Thanh khát khao độc lập và có dã tâm không cam tâm làm người nội trợ. Giành được quyền lực là mục đích của bà ta. Sau năm 1942, Giang Thanh bắt đầu từ cuộc sống bà chủ gia đình cẩn thận, chăm chỉ bước ra. Sau năm 1947, cùng với các trận thắng liên tiếp trong chiến tranh giải phóng, Giang Thanh bắt đầu tham gia một cách vừa phải vào cuộc chiến tranh và chính trị. Mao Trạch Đông vẫn nghiêm khắc tuân thủ quyết định của Trung ương, không để Giang Thanh tham chính, tham gia lãnh đạo hội nghị. Về chuyện này Giang Thanh tức lắm nhưng cũng chỉ có thể để trong lòng.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:15:13 pm

2. Trước khi nhúng vào chính trị, thời gian sống đẹp nhất của Giang Thanh là cuộc sống của một minh tinh ở Thượng Hải vào những năm 30. Bà ta đã diễn “Na-ra” của Henrik Johan Ibsen

Lúc ấý Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải là một nhóm người làm văn hóa cánh tả được thành lập dưới sự lãnh đạo của nhóm bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những năm tháng ấy, không có tiền thì không làm được gì, họ mời Trương Thiện Côn đầu tư, bấy giờ mới lo liệu được. Về Trương Thiện Côn, mới đầu ông này dựa vào việc giúp cho Hoàng Sở Cửu, một nhà đâu cơ ở Thượng Hải quảng cáo thuốc lá mà giàu lên, về sau tôn Hoàng Kim Vinh tên đầu sỏ lưu manh ở Thượng Hải làm thầy, gia nhập “Thanh bang” ông ta trở thành người kinh doanh Đại Thế giới và Hồng Vũ Đài ở Thượng Hải, tình hình kinh tế mở rộng. Thế là ông ta lại trở thành “Ông chủ” sau lưng của Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải.

Trong Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải, có hai người quen cũ của Giang Thanh. Một người là Nguỵ Hạc Linh là bạn cùng học ở Viện Kịch thực nghiệm Sơn Đông, một người khác là Vạn Lại Thiên, ông là giáo viên tổ kịch nói của Viện Kịch thực nghiệm Sơn Đông là bạn học của Vương Bạc Sinh thời gian ở lớp chuyên nghệ thuật Quốc lập. Ngụy Hạc Linh đóng vai bác sĩ Nan-cơ trong “Na-ra” còn Vạn Lại Thiên là một trong ba đạo diễn của “Na-ra”, có sự giới thiệu mạnh mẽ của Vạn Lại Thiên và Ngụy Hạc Linh, nên Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải liền gửi thư mời Giang Thanh.

Về sau trong bài viết “Từ “Na-ra” đến “Đại lôi vũ”” của mình, Giang Thanh nói về tâm trạng khi còn là lính mới tò te:

“Mùa xuân năm 1935”.

“Tôi mãi mãi không quên! Đó là cái ngày u ám như tâm trạng của tôi. Tôi đã rời cố đô vô cùng hiền dịu đối với tôi, đã vứt bỏ những cái quý báu nhất trong lịch sử cuộc đời, mà sẽ chẳng bao giờ có lại được nữa, đến Thượng Hải diễn “Na-ra”.

“Diễn “Na-ra” là một sự bắt đầu của tôi chính thức bước vào ngưỡng cửa hí kịch...”

“Na-ra” là tác phẩm tiêu biểu của Henrik Johan Ibsen, nhà viết kịch nổi tiếng của Na Uy, còn có tên là “Gia đình chơi tượng”, “Gia đình bù nhìn”. Đây là vở kịch lấy việc giải phóng phụ nữ làm chủ đề.

Giang Thanh mới đến chân ướt chân ráo, còn dàn kịch của tổ kịch “Na-ra” thì rất mạnh, làm cho bà ta không thể không cảm thấy căng thẳng: diễn vai chồng của An-na là Triệu Đan, đóng vai Cơ-lác là Kim Sơn, Nguỵ Hạc Linh đóng vai Nan-cơ, Ngô My đóng vai vợ của Lin-đơn...

Về chính trị không được như ý, Giang Thanh trông mong vào sự vượt trội hơn người khác trên vũ đài, mà “Na-ra” là trận đầu tiên của bà ta, là hành động có quan hệ đến sự thành bại.

Lúc bấy giờ, bà ta đã từng nói:

“Khi tập “Na-ra” tôi đã từng thấp tha thấp thỏm, cố sức tập… Còn nhớ, lúc ấy tôi đã từng mất ngủ khi đọc kịch bản, mỗi khi về đêm tiếng ngáy của người thợ may La Tống Cơ cách tường bên cạnh thay thế tiếng máy may xạch xạch, là tôi lại lấy tập kịch bản để ở dưới gối ra đọc, dùng giọng đọc nhỏ nhẹ bền bỉ đọc từng câu đối thoại...

Bà ta cũng đọc rất kỹ “sáu bài giảng về kỹ thuật diễn xuất” của Li-sê Bô-ri-sláp-sky do Trịnh Quân Lý dịch, lặng lẽ mò mẫm.

Lúc này, bà ta lấy nghệ danh là Lam Bình. Nghe nói: vì thông thường bà ta thích mặc áo màu xanh lam, mà bà ta lại từ Bắc Bình (Bắc Kinh - N.D.) đến nên lấy tên là “Lam Bình”. Nhưng khi ký hợp đồng với Hiệp hội điện ảnh nghiệp dư Thượng Hải, có người kiến nghị với bà ta đổi thành “Lam Bình” (chữ Bình trong chữ Bắc Bình có thêm bộ thảo đầu - N.D) nghĩa là quả táo màu lam thật khác người! Bà ta cũng cảm thấy “Lam Bình” rất tân kỳ nên cũng từ đó lấy hai chữ “Lam Bình” này, thế là, mọi người đều gọi là “Lam tiểu thư”. Người quen thì gọi là “A Lam” hoặc “A Bình”.

Lam Bình bắt đầu nổi trội trong kịch nói.

Ngày 27 tháng 6 năm 1935, trước Nhà hát lớn Kim Thành, Thượng Hải treo một áp phích quảng cáo lớn. Vở kịch nói “Na-ra” trên đề “Triệu Đan, Lam Bình sắm vai chính”. Lúc ấy Triệu Đan đã là diễn viên có tiếng ở Thượng Hải, cái tên “Lam Bình” mới mẻ lần đầu tiên sáng lên, vì sánh ngang với Triệu Đan, nên đã thu hút được sự chú ý của mọi người.

Đêm ấy khi màn đêm trùm xuống Thượng Hải, Nhà hát lớn Kim Thành trở nên nhộn nhịp khác thường. Vở kịch nói “Na-ra” lần đầu được diễn ở đây.

“Diễn viên sáng chói! Kỹ thuật diễn quyết liệt! Diễn xuất với quy mô lớn!” Thượng Hải trong những năm ấy, kịch nói đã bị chìm nghỉm khá lâu.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:15:52 pm

Việc công diễn “Na-ra” trở thành điểm nóng của thông tấn. Nhà hát lớn Kim Thành không còn trống một chỗ nào. Công diễn kéo dài một tuần, chỗ ngồi vẫn kín. Lỗ Tấn cũng đến xem “Na-ra”.

Các báo ở Thượng Hải tới tấp đăng tin công diễn “Na-ra”. Các đại danh “Lam Bình” được in trên rất nhiều báo chí, bay đến hàng ngàn hàng vạn gia đình.

Tờ “Thời sự Tân báo” rất có ảnh hưởng đã đăng số đặc biệt “Na-ra của Thượng Hải mới” trên trang đầu là bức chân dung khổ lớn của Lam Bình.

“Thần báo” (Báo buổi sớm) Thượng Hải, số ra ngày 2 tháng 7 năm 1935, đăng bài viết “Xem diễn vở Na-ra” của Tô Linh, đã bình luận kỹ thuật diễn xuất của Triệu Đan và Lam Bình như sau:

Triệu Đan là một nghệ nhân thanh niên, ưu điểm của anh không phải là trời phú, anh không có cái thể hình đẹp tiêu chuẩn, hơn nữa anh cũng không hề có cái giọng hay, nhưng anh đã cố gắng thành khẩn đối với nhân cách của nhân vật trong kịch, chịu bỏ công sức thể nghiệm về mặt tư tưởng, tình cảm. Còn về mặt nghệ thuật anh chịu khó khắc khổ rèn luyện. Trong “Na-ra” anh đóng vai He-mơ chồng của Na-ra. Anh có thể khắc họa một nhân vật như He-mơ, một người chủ gia đình, một thân sĩ vụ lợi có địa vị tương đối. Châu Âu trong thời đại của Ibsen cho đến Trung Quốc hiện đại, không biết có bao nhiêu He-mơ. Trong vở kịch “Na-ra”, He-mơ có thể coi là một vai khó diễn, nhưng Triệu Đan đã hoàn thành một cách rất nhẹ nhàng.

Thứ đến, tôi phải nói đến phát hiện mới của tôi. Lam Bình đóng vai Na-ra, tôi rất đỗi ngạc nhiên về thiên tài biểu diễn và nói lối! Nói lối của cô tôi chưa phát hiện được người thứ hai có thể nói được lưu loát (lưu loát chưa hẳn đã là nói nhanh) như cô. Từ đầu đến cuối thật là tuyệt vời! Chỉ có một chút nhỏ khuyết điểm, tức là bước đi có lúc nhảy chân sáo quá nhiều, có lúc nói lối quá nhanh vì thế thiếu tình cảm.


Ngày hôm thứ hai sau buổi diễn đầu tiên, “Dân báo” đăng bài viết “Sau khi xem “Na-ra”” của Hải Sĩ, cũng nói về Lam Bình.

“Nhân vật phối họp thỏa đáng còn kỹ thuật diễn xuất cũng rất ăn khớp, phải kể năm diễn viên Lam Bình, Kim Sơn, Ngụy Hạc Linh, Ngô My, Triệt Đan, tính cách của mỗi nhân vật, đã được họ sáng tạo, đối thoại thì rất hoàn mỹ. Nhất là màn thứ 2, vì sự cố gắng của Lam Bình, những động tác và biểu cảm giống như một giai diệu âm nhạc, rất xúc động lòng người, đến rơi nước mắt, khi nhảy điệu Tây Ban Nha, thì giai điệu ấy đạt tới đỉnh điểm, cảm thấy được sự ích kỷ và vô tri của toàn nhân loại, đều đè nặng lên người cô ta, đáng thương vô cùng”.

Tiếng pháo đầu tiên đã nổ, bà ta đã thành công lúc 21 tuổi.

Bà ta có thể diễn tốt vai Na-ra, ngoài kỹ thuật diễn của mình ra, còn một điểm quan trọng, bởi vì bà ta có tâm trạng như Na-ra! Bà ta đọc kịch bản hết lần này đến lần khác. Bà ta phát hiện người đàn bà phản nghịch Na-ra giống tính cách của mình! Bà ta cho rằng Na-ra là bà ta, bà ta là Na-ra. Bà ta trở thành “diễn viên nguyên mẫu” của Na-ra!

Thế là bà ta bắt đầu bước vào công ty điện ảnh.

Lam Bình, trời sinh ra đã là một người không an phận, tranh diễn vai chính trong “Tái Kim Hoa” với Vương Doanh, làm cho danh tiếng của bà ta một dạo xấu xa tồi tệ.

Lam Bình vốn không cam chịu lặng lẽ còn bận bịu hơn so với Đường Nạp. Chân bà ta đứng trên hai chiếc thuyền điện ảnh và kịch, một lòng một dạ tiến lên “minh tinh lớn” mặc dù phải trải qua hai hài kịch “Cuộc hôn lễ ở Tháp Lục Hòa” và “Đường Nạp tự sát ở Tế Nam”, “tiếng tăm” của bà ta càng lớn, nhưng trong giới điện ảnh, xét cho cùng thì bà ta cũng chỉ là diễn viên hạng ba hạng bốn. Vị trí minh tinh không phải là tranh giành đánh ghen ầm ĩ để xác lập mà lại ở thành tích thực sự trong diễn xuất.

Nói thực ra, trong kịch nói, bà ta chỉ nhảy được xa ở vở “Na-ra”. Ngoài ra còn đóng đạt vai vợ anh thợ mộc trong vở “Khâm sai đại thần” mà thôi.

Trong điện ảnh, phim “Thần tự do” và “Phong cảnh đô thị” vai diễn không nổi trội lắm và chưa bao giờ sắm vai chính.

Mặc dù trong con mắt bà ta chẳng có ai cả, đến “nữ hoàng điện ảnh” Hồ Điệp cũng không có trong con mắt bà ta, nhưng từ năm 1926, Hồ Điệp đã đóng vai chính và đã tham gia đóng mấy chục bộ phim. Còn bà ta thì sao? Bà ta dựa vào vai diễn thứ yếu trong hai phim “Thần tự do” và “Phong cảnh đô thị” để so với Hồ Điệp thì liệu có địch nổi không?

Cuối cùng bà ta chen chân vào tổ làm phim “Lang Sơn đẫm máu”. Bộ phim này do Thẩm Phù, Phí Mục biên kịch, Phí Mục đạo diễn, vai chính là Lưu Tam do Lưu Quỳnh đóng còn Lam Bình đóng vai vợ Lưu Tam.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:17:12 pm

Khó khăn lắm Lam Bình mới giành được “vai chính thứ 2”. Có điều, sau khi phim bắt đầu quay, Lam Bình mới biết vai diễn này chỉ là chút hư danh. Đến đạo diễn Phí Mục trong một bài viết có tựa đề “Lam Bình trong “Lang Sơn đẫm máu”” cũng không thể không nói rằng:

“Ở đây tôi chỉ giới thiệu nữ sĩ Lam Bệnh” lý do của ông là vai mà nữ sĩ Lam Bình diễn là một vai khán giả dễ dàng không đáng để ý nhất...

“Trong “Lang Sơn đẫm máu” hầu như cứ vài trăm thước phim mới đưa bà ta vào một pha, nhưng pha này phần lớn là một cảnh, rất ít khi có ba cảnh liền”.

Tuy nhiên bài viết của đạo diễn vốn muốn khen kỹ thuật diễn xuất của Lam Bình nhưng nói đi nói lại, lại thành ra bảo khán giả không nên coi nhẹ nữ diễn viên “cứ cách mấy trăm thước phim” mới xuất hiện một pha.

Thực ra, mỗi ánh mắt của đạo diễn đều sắc sảo. Những người đạo diễn đều hiểu sâu sắc sự thành bại của diễn viên sẽ ảnh hưởng đến sự thành bại của bộ phim. Đạo diễn luôn lựa chọn diễn viên ưu tú nhất đảm nhiệm vai chính. Đối với việc lựa chọn nữ diễn viên chính, càng được các đạo diễn cân nhắc kỹ lưỡng nhiều lần. Lam Bình có thể lôi kéo người ta viết bình luận phim, để ba hoa tâng bốc bà ta, nhưng khó có thể chinh phục được đạo diễn vì điều đầu tiên mà người đạo diễn tính đến là sự thành bại của bộ phim.

Xem ra, tuy Lam Bình đã bước vào điện ảnh, nhưng chỉ dựa vào kỹ thuật biểu diễn của bà ta thì còn xa mới ngồi được vào ngôi “minh tinh lớn”.

Bà ta lại muốn mở ra một con đường trên vũ đài kịch nói - xét cho cùng thì bà ta vốn là diễn viên kịch nói, huống hồ bà ta đã được đóng vai chính trong vở kịch “Na-ra”.

Đúng lúc này, kịch bản vở kịch nói “Tái Kim Hoa” được công bố, Lam Bình làm ầm ĩ đòi được sắm vai chính, lại gây sóng gió trong giới kịch bản phim. Bà ta là một người đàn bà không bao giờ an phận!

Cơn sóng gió này bắt đầu từ số 4 quyển 6 tạp chí “Văn học” tháng 4 năm 1936 đã đăng một kịch bản “Kịch quốc phòng” (Tái Kim Hoa) mới được sáng tác.

Tên của tác giả là Hạ Diễn, một cái tên lạ lẫm trong giới kịch bản phim Thượng Hải!

Tuy nói Trung Quốc ngày nay không biết tên tuổi Hạ Diễn e rằng chẳng có mấy người, nhưng trong khi kịch bản “Tái Kim Hoa” được công bố, mọi người thực sự không biết Hạ Diễn là ai!

Trên số 1 “Văn học giới” xuất bản vào tháng 6 năm 1936 đã đăng về “Cuộc tọa đàm “Tái Kim Hoa”” ngay đến người giữ vị trí chủ chốt trong giới kịch bản phim như Hồng Thâm, Vu Linh, Lăng Hạc cũng không biết “Hạ Diễn” là ai!

Chỉ nghe nói, Hạ Diễn là “nhà văn mới ở miền Bắc”!

Thực ra, “Hạ Diễn” - Thẩm Đoan Tiên, từ năm 1932 đã bước vào giới điện ảnh Thượng Hải. Nhưng do quan hệ công tác bí mật, nên ông đã không ngừng đổi tên. Lần đầu tiên ông tham gia cuộc hội nghị biên kịch của công ty phim Minh Tinh, có tên là “Hoàng Tử Bố”. “Chảy xiết” kịch bản phim đầu tiên ông viết ký tên “Đinh Nhất Chi”. Ông cải biên tiểu thuyết “Tầm xuân” của Mao Thuẫn thành kịch bản phim cùng tên, ký tên là “Thái Thúc Khanh”... Ông cho in kịch bản “Tái Kim Hoa” lần đầu tiên dùng bút danh Hạ Diễn, chẳng trách độc giả không ai biết về ông.

Trong “Ghi chép lười biếng tìm lại giấc mơ xưa” xuất bản năm 1985, Hạ Diễn đã nhớ lại quá trình viết “Tái Kim Hoa”.

“Thực ra tôi viết kịch bản này hoàn toàn là một sự xúc động ngẫu nhiên. Lúc ấy tôi sống độc thân trong một nhà trọ nhỏ của một người Bạch Nga, ngoài đọc báo ra chẳng có việc gì làm. Trên tờ “Đại Công báo” xuất bản ở Thiên Tân tôi đã đọc được một số cảnh ngộ bất hạnh vào những năm cuối đời của Tái Kim Hoa, đặc biệt là một đoạn phát biểu với nhà chí sĩ cách mạng Thẩm Tận khi cô vào trại giam, thực sự đã làm tôi nảy ra một cảm tưởng trong tâm linh về một nhân vật lớn trong miếu đường lúc ấy cũng còn thua xa một người kỹ nữ. Đây cũng chính là sự đồng tình của tôi đối với cô mà tôi không kìm nén được ở màn cuối cùng. Đây có thể coi là vở kịch nhiều màn đầu tiên của tôi...”

Sau khi kịch bản “Tái Kìm Hoa” được công bố, mặc dù tác giả kịch bản thuộc “loại không tên tuổi” nhưng có thể thấy được công sức của tác giả. Những sắc thái ly kỳ, những tình tiết biến hóa nhiều vẻ, ngay lập tức được giới kịch và điện ảnh chú ý.

Lam Bình vừa thấy đã tranh đóng vai Tái Kim Hoa. Tuy chưa biết đầu của tai nheo ra sao, lúc ấy đạo diễn vẫn chưa xác định việc chọn người, bà ta liền mời một tên “ma cô” tranh đưa tin trên tờ “Thời sự tân báo” để được coi là “có hiểu biết và tiếp thụ trước”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:18:23 pm

“Có rất nhiều đoàn muốn diễn vở này (chỉ “Tái Kim Hoa” - Người chú), điều đó đương nhiên là hiện tượng tốt. Nhưng lại sợ vì quy mô to lớn, nhân vật lại nhiều nên có nhiều đoàn vì kinh tế và nhân tài không đủ, mà thành ra lực bất tòng tâm. Trong rất nhiều đoàn trong lòng thì rất muốn mà sức không đủ này, chỉ có đoàn Mã Nghị (con kiến - N.D.) là có hy vọng thực hiện một cách tương đối cụ thể.

“Đoàn kịch Mã Nghị trước đây đã từng diễn một số vở, thành tích tuy không thể coi là thật tốt, nhưng thái độ nghiêm chỉnh không sơ suất, cẩu thả đủ để cho chúng ta tin phục, cái thiếu ở đây là thiếu một đạo diễn thiên tài có thể chỉ huy những người yêu thích kịch này.

“Bây giờ họ đã quyết tâm diễn “Tái Kim Hoa” tiền chi phí cho việc tập dượt chuẩn bị khoảng hai ngàn đồng, để chi phí cho việc dàn dựng đạo cụ không đến nỗi thiếu thốn, vì thế đã mất đi tính hiện thực. Còn như nhân vật Tái Kim Hoa thì định mời Lam Bình đóng. Trong các vở “Na-ra”, “Khâm sai đại thần”, “Đứa trẻ bị giết hại”, Lam Bình đều đạt được thành tựu nổi trội, nay diễn vai Tái Kim Hoa xem ra thành tích hẳn cũng không đến nỗi tồi”. “Còn về đạo diễn và các nhân tài thì cũng muốn mời các đoàn khác”. Có điều chỉ tranh đưa tin trước, muốn “chiếm núi để xưng vương” đâu có dễ như thế.

Dần dần, tình hình đã rõ ràng: Những người trong Hội kịch nghiệp dư Thượng Hải, sau khi bàn bạc đã chuẩn bị dựng vở “Tái Kim Hoa”.

Về dàn diễn viên thì Hiệp hội kịch nghiệp dư đủ mạnh gồm Vương Doanh, Kim Sơn, Trịnh Quân Lý, Triệu Đan, Thi Siêu, Hồ Bình v.v.. Lam Bình cũng là một người trong số đó.

Điều làm cho người ta khó hiểu là, Hiệp hội kịch nghiệp dư vẫn đăng quảng cáo trên báo “Mời người đóng vai Tái Kim Hoa!”.

Nữ diễn viên của Hiệp hội kịch nghiệp dư không phải là ít, vì sao vẫn muốn mời nữ diễn viên đóng vai chính chứ? Chẳng phải là từ lâu Lam Bình đã tuyên bố là muốn đóng vai chính hay sao?

Cái dở lại là ở chỗ dàn diễn viên quá mạnh: Lam Bình muốn đóng Tái Kim Hoa, mà Vương Doanh cũng muốn đóng Tái Kim Hoa!

Vương Doanh và Lam Bình đã từng cùng đóng phim “Thần tự do” bây giờ vì để tranh đóng vai chính trong “Tái Kim Hoa” nên đã trở mặt! Hiệp hội kịch nghiệp dư không biết làm thế nào, đành phải mời diễn viên chính ngoài xã hội - vậy là mâu thuẫn giữa Vương Doanh và Lam Bình cũng đã được giải quyết.

Nhưng Vương Doanh và Lam Bình đã rút kiếm giương cung, ai sẽ nhận lời... làm nữ diễn viên chính người ấy sẽ phải chịu sự giáp công từ hai phía, chẳng ai chịu nổi!

Đúng lúc đang tranh nhau bất phân thắng bại, thì đạo diễn Chương Dẫn, Vu Linh được tin tác giả của “Tái Kim Hoa” Hạ Diễn vốn là Thẩm Đoan Tiên, thế là họ bèn “chuyển ngay” mâu thuẫn cho tác giả.

Trong “Ghi chép lười biếng tìm lại giấc mơ xưa” của Hạ Diễn có một đoạn hồi ức rất hay:
“Trong lúc không biết làm thế nào, tôi đã nảy ra một chủ ý trộn vữa, cho rằng có thể chia thành hai nhóm A và B. Triệu Đan và Lam Bình, Kim Sơn và Vương Doanh, để họ thể hiện tài năng của mình trên sân khấu. Nào ngờ kế ấy được Chương Dẫn đồng ý, còn Vu Linh thì tỏ vẻ miễn cưỡng. Vì ông biết dù là diễn kịch hay làm người, Lam Bình đều có cái “tính cách” không chịu kém ai một chút nào nếu bảo bà ta đảm nhận vai B thì chắc chắn bà ta sẽ làm ầm ĩ. Về sau sự thể phát triển đúng như dự đoán của Vu Linh...”

Đúng thế, Lam Bình không chịu nhận vai B! Bà ta vẫn như cũ đòi đóng vai Tái Kim Hoa.

Khi Vương Doanh và Lam Bình còn đang tranh giành nhau thì đột nhiên xảy ra “chính biến”: Kim Sơn và Vương doanh kéo một số người tách khỏi Hiệp hội kịch nghiệp dư tuyến bố “độc lập” thành lập Đoàn kịch Thập kỷ 40 (Tứ thập niên đại kịch xã). Đoàn kịch mới này đã ngầm ký kết hợp đồng với Nhà hát lớn Kim Thành và đến ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại Nhà hát lớn Kim Thành đã công diễn buổi đầu tiên vở “Tái Kim Hoa”.

Mặc dù ngày 15 tháng 11, Lam Bình, Triệu Đan, Trịnh Quân Lý, Đường Nạp v.v... thành viên trong Hiệp hội kịch nghiệp dư đã tiến hành họp báo tại Phòng trà Đại Đông giải thích rõ với báo giới về quá trình tranh chấp vai chính trong vở “Tái Kim hoa”... Nhưng 4 ngày sau, “Đoàn kịch thập kỷ 40” vẫn công diễn “Tái Kim Hoa” như thường. Nhân vật nữ chính do Vương Doanh đóng, nhân vật nam chính là Lý Hồng Chương do Kim Sơn đóng.

Sau khi công diễn “Tái Kim Hoa”, hai mươi buổi diễn liên tục buổi nào cũng chật ních, khán giả đạt tới ba vạn lượt người, làm chấn động Thượng Hải.

Lam Bình đã thất bại trong cuộc tranh chấp đóng nữ nhân vật chính trong “Tái Kim Hoa”. Có điều, khi các báo đăng tin về vụ tranh chấp “Tái Kim Hoa” thì Lam Bình lại trở thành vai chính trong vụ lộn xộn này...

Từ đó Lam Bình căm hận Vương Doanh. Về sau, khi bà ta trở thành “người cầm cờ” trong cách mạng văn hóa, bà ta đã đưa Vương Doanh vào chỗ chết. Đó là chuyện sau.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:19:09 pm

3. Bây giờ với tư cách là phu nhân của Mao Trạch Đông, Giang Thanh lại chính thức trở lại. Có điều lần này bà ta không phải là một diễn viên mà là người lãnh đạo diễn viên. Bà ta nhậm chức ủy viên “Ban chỉ đạo điện ảnh”

Phu nhân Mao Trạch Đông xét cho cùng cũng chỉ là một loại thân phận, không phải là một loại chức vụ. Sống an nhàn trong thư phòng Cúc Hương, cuối cùng thấy không ổn. Giang Thanh đòi công tác. Tổ chức bàn đi tính lại cuối cùng đã xếp cho Giang Thanh một chức vụ không lớn không bé lại thích hợp với hứng thú của bà ta, đó là Phó Vụ trưởng Vụ Văn nghệ trong Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây là một chức phó có tính co giãn, bà ta không cần phải đi làm thường xuyên, thậm chí có thể không quản việc gì cả, đeo một cái hàm không có thực, nhưng cuối cùng thì bà ta đã có một chức vụ chính thức trong Đảng. Theo cấp bậc của bà ta thì không thể có xe ô tô riêng. Nhưng dựa vào thân phận phu nhân Mao Trạch Đông nên bà ta có xe con, ra vào thuận tiện.

Bà ta là một người đàn bà không an phận, thấy Mao Trạch Đông trở thành Chủ tịch Đảng và Nhà nước, nên bà ta cũng háo hức muốn làm thử, muốn chấm mút vào chính trị. Thử nghiệm đầu tiên của bà ta là phê phán phim “Thanh cung bí sử” (Lịch sử bí mật trong cung nhà Thanh).

“Thanh cung bí sử” là phim của Công ty phim Vĩnh Hoa, Hương Cảng hoàn thành vào tháng 12 năm 1948, biên kịch Diệu Khắc; đạo diễn Chu Thạch Lân, do Thư Thích đóng vai Hoàng đế Quang Tự, Chu Triền đóng vai Trân Phi, Đường Nhược Thanh đóng vai Tây Thái hậu, Hồng Ba đóng vai Lý Liên Anh. Sau khi phim hoàn thành được công chiếu ở Hương Cảng. Ngày 3 tháng 5 năm 1950, “Thanh cung bí sử” được chiếu ở các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải v.v... Giang Thanh tuy đã bỏ nghề điện ảnh nhiều năm, nhưng vẫn chú ý đến xu hướng của giới điện ảnh, đã từng xem rất nhiều phim trong đó có phim “Thanh cung bí sử”.

Xem xong “Thanh Cung bí sử”, Giang thanh cho rằng, phim này có “nội dung phản động” là một bộ phim “theo chủ nghĩa bán nước”. Giang Thanh kể lại cảm tưởng của mình sau khi xem phim và đã được Mao Trạch Đông ủng hộ.

Thế là, trong một cuộc hội nghị của Ban Tuyên truyền Trung ương, bà Vụ phó Vụ văn nghệ này đã phát biểu ý kiến: “Thanh cung bí sử” là một bộ phim rất xấu, chúng ta phải tiến hành phê phán bộ phim này.

Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương Lục Định Nhất, Phó Trưởng ban Chu Dương, không đồng ý với lời phát biểu của vị Vụ phó Vụ Văn nghệ này. Một vị Phó Trưởng ban khác là Hồ Kiều Mộc còn phát biểu trái ngược với Giang Thanh.

Về Hồ Kiều Mộc, từ năm 1949, đã đảm nhiệm chức thư ký của Mao Trạch Đông và thư ký của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, tiếp xúc nhiều với Mao Trạch Đông. Giang Thanh có thể dùng thân phận phu nhân Mao Thạch Đông để dọa dẫm những người ở bên ngoài tường đỏ (bên trong tường đỏ là Trung Nam Hải nơi ở của các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc - N.D.) nhưng không thể nào áp chế được những nhân vật có tư cách như Lục Định Nhất, Chu Dương, Hồ Kiều Mộc: Trước đây khi chuyển quân lên Thiểm Bắc, Lục Định Nhất là “Trịnh vị” (Chính ủy), cùng làm việc sớm tối với Mao Trạch Đông, còn Chu Dương thì từ những năm 30 đã là người lãnh đạo của Đảng trong giới Văn hóa Thượng Hải.

Lúc này Giang Thanh có một cảm xúc sâu xa về điều “người bé thì tiếng nhẹ”.

Có điều, bà ta vẫn quan tâm đến điện ảnh. Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Bộ Văn hóa ban bố 4 biện pháp tạm thời “Giấy chứng nhận được chiếu phim mới”, “Xuất phim ra nước ngoài”, “Nhập phim của nước ngoài”, và “Thanh lý các phim cũ”, tăng cường quản lý ngành điện ảnh, đồng thời lại thành lập “ủy ban chỉ đạo ngành điện ảnh” để tăng cường lãnh đạo ngành điện ảnh. Ủy viên ủy ban chỉ đạo ngành điện ảnh có Lục Định Nhất, Chu Dương, Hồ Kiều Mộc, Điền Hán, Tưởng Nam Tường, Đinh Linh, Đặng Thác, Dương Hàn Sênh v.v... Giang Thanh cũng được cử làm ủy viên. Ngoài ra hôm ấy còn thành lập ủy ban cải tiến hí khúc thuộc Bộ Văn hóa.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:31:28 pm

4. Việc phê phán “Thanh cung bí sử” không được như ý muốn. Giang Thanh không cam chịu, chưa bao giờ bà ta chịu thua ai. Bà ta nhằm vào “Vũ Huấn truyện” cuối cùng đã lộ ra một “phong cảnh vô hạn” cho bà ta.

Vũ Huấn, nguyên có tên là Vũ Thất, là người Đường Ấp (nay là Liêu Thành Tây), tỉnh Sơn Đông vào cuối thời Thanh, nổi tiếng vì “đi xin ăn để học thành tài”, được triều đình nhà Thanh khen thưởng, phong làm “nghĩa học chính”. Đào Hành Tri rất tán thưởng tinh thần của Vũ Huấn. Mùa hè năm 1944, Đào Hành Tri đã gặp nhà biên kịch kiêm đạo diễn Tôn Du ở Trùng Khánh đã tặng cho Tôn Du một cuốn “Truyện tranh Vũ Huấn” và đề nghị ông dựng phim “Truyện Vũ Huấn”.

Cách mấy năm, vào năm 1947, khi Tôn Du từ Mỹ về nước đúng lúc xưởng phim Trung Quốc ở Nam Kinh bắt tay chuẩn bị dựng phim chống cộng “Dẹp loạn”. Dương Hàn Sênh người lãnh đạo giới văn nghệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang hoạt động bí mật biết Tôn Du có hứng thú với Vũ Huấn, nên đã đề nghị với ông viết thành kịch bản “Truyện Vũ Huấn” để xưởng phim Trung Quốc dựng phim, nhằm chống lại bộ phim “Dẹp loạn”. Vậy là Tôn Du đã viết ra “Truyện Vũ Huấn”, đến năm 1948, xưởng phim Trung Quốc khởi quay. Triệu Đan đóng vai Vũ Huấn.

Tháng 11 năm 1948, chiến dịch Hoài Hải đang nổ ra dữ dội, Nam Kinh đang ở trong tình trạng nguy cấp. Kinh phí của xưởng phim Trung Quốc có khó khăn nên phải ngừng quay “Truyện Vũ Huấn”. Tháng 2 năm 1949, Công ty điện ảnh Côn Luân Thượng Hải, đã mua lại quyền quay phim “Truyện Vũ Huấn”. Trải qua một thời gian trắc trở, đến tháng 12 năm 1950 mới hoàn thành và được công chiếu vào đầu năm 1951.

Một bộ phim phải trải qua ba năm, bắt đầu quay từ thời Quốc dân Đảng đến thời Đảng Cộng sản mới hoàn thành. Để làm cho bộ phim sát hợp với tình hình mới, ở đầu và cuối phim đã thêm vào lời bạch của một nữ giáo sư:

“Ngày nay, chúng ta đã giải phóng, chính phủ của chúng ta đã tạo cơ hội cho người nghèo được hưởng đầy đủ sự giáo dục những người đã vươn mình, không thể làm người mù sáng mắt nữa. Hôm nay chúng ta kỷ niệm Vũ Huấn, chúng ta phải tổ chức các trường mùa đông ở nông thôn của chúng ta, xóa nạn mù chữ, nâng cao văn hóa”.

“Đông đảo quần chúng lao khổ Trung quốc, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ đẫm máu mấy ngàn năm mới được sự tổ chức của Đảng Cộng sản, nhân dân dưới sự lãnh đạo đúng đắn của chính đảng vô sản, mới đánh đổ được chính quyền của đế quốc và Quốc dân Đảng, giành giải phóng! Chúng ta kỷ niệm Vũ Huấn phải ra sức học tập văn hóa để đón cao trào xây dựng văn hóa!”

Biên đạo đã cố hết sức đem một tác phẩm được sáng tác trong thời đại cũ có cấu tứ như vậy để thích ứng với đòi hỏi của thời đại mới, dụng ý quả là tốt đẹp.

Sau khi phim được công chiếu, ba tháng đầu, “Truyện Vũ Huấn” được khen ngợi, các báo tới tấp đăng bài đánh giá bộ phim rất tốt. Tạp chí “Điện ảnh đại chúng” đã xếp “Truyện Vũ Huấn” là một trong mười phim trong nước hay nhất của năm 1950.

Với tư cách là ủy viên Ban chỉ đạo điện ảnh, Giang Thanh đã xem “Truyện Vũ Huấn”. Hình như nhiều người đang say còn bà ta thì tỉnh, bà ta đã nhìn ra trong “Truyện Vũ Huấn” đang tồn tại “vấn đề nghiêm trọng”.

Bà ta lại một lần nữa tiết lộ cho Mao Trạch Đông biết.

Mao Trạch Đông đã xem “Truyện Vũ Huấn” và cho rằng đây là một bộ phim tuyên truyền cho chủ nghĩa cải lương tư sản, phải tiến hành phê phán!

Giống hệt như lần trước, Giang Thanh chỉ nói lại ý kiến của Mao Trạch Đông nhưng chẳng hề nói đấy là ý kiến của ai.

Chu Dương vẫn không đồng ý, cho rằng một lần nữa Giang Thanh lại kiếm chuyện vạch lá tìm sâu, chọi lại một câu: “Có chút cải lương thì có gì ghê gớm đâu cơ chứ!”

Tình thế năm 1951 đã khác năm 1950, năm 1951 giới văn nghệ đã bước ra từ sự lộn xộn của năm đầu dựng nước, bắt đầu công tác phê phán:

Ngày 10 tháng 1 năm 1951, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài phê phán ba tác phẩm: “Tên lửa căm phẫn”, “Đại phu lừa”, “Kẻ địch không cầm súng”.

Ngày 10 tháng 2, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài viết của Trần Xí Hà, phê phán cuốn truyện dài “Sức mạnh của chúng ta là vô địch” của Bích Dã.

Tháng 4, các báo triển khai phê bình phim “Vinh dự thuộc về ai”. Thế là việc phê phán phim “Truyện Vũ Huấn” cũng được đặt lên bàn.

Ngày 25 tháng 4, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài phê bình phim “Truyện Vũ Huấn” của Giả Tế có tựa đề “Vũ Huấn không thể làm chuẩn mực được” nổ phát súng đầu tiên trong việc phê phán “Truyện Vũ Huấn”.

Ngày 16 tháng 5, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài “Thử bàn về việc Đào Hành Tri biểu dương “tinh thần Vũ Huấn” có hay không có tác dụng tích cực” của Dương Nhĩ, dí ngọn lửa phê phán lên đầu Đào Hành Tri. Bài viết trên tờ “Văn nghệ báo” cùng ngày đã có thêm lời tòa soạn, kêu gọi mọi người đi sâu thảo luận bộ phim này. Điều đó có nghĩa là báo của cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã để ý đến phim “Truyện Vũ Huấn”.

Sau bốn ngày, tức ngày 20 tháng 5, tình hình khác thường đã xảy ra, “Nhân dân nhật báo” đã đăng trên trang nhất bài xã luận có tựa đề nổi bật: “Cần coi trọng cuộc thảo luận phim “Truyện Vũ Huấn””. “Nhân dân nhật báo” phải công bố bài xã luận để phê phán một bộ phim là lần đầu tiên.

Ngôn từ của xã luận gay gắt, hành văn như nước trút từ trên cao xuống, có thể nhận ra đây không phải là ngòi bút tầm thường. Cách 26 năm sau, khi “Mao Trạch Đông tuyển tập” Tập 5 được xuất bản năm 1975 mọi người thấy bài xã luận này được in trong đó, mới biết bài này ra đời từ Thư phòng Cúc Hương.

Xã luận chỉ rõ, phim “Truyện Vũ Huấn” tuyên truyền một cách cuồng nhiệt văn hóa phong kiến, nói xấu cuộc đấu tranh cách mạng của nông dân, nói xấu lịch sử Trung Quốc. Sau khi phê phán “Truyện Vũ Huấn” ngòi bút chuyển hướng, nói một hồi về tính toàn cục, phê phán gay gắt những người lãnh đạo trong giới văn nghệ:

Sự xuất hiện của phim “Truyện Vũ Huấn” đặc biệt là sự ca tụng Vũ Huấn và phim “Truyện Vũ Huấn” nhiều đến như vậy nói lên sự hỗn loạn tư tưởng của giới văn hóa nước ta đã đến mức như thế nào!

Theo rất nhiều tác giả thì sự phát triển của lịch sử không phải là lấy sự vật mới thay thế sự vật cũ, mà là dùng mọi cố gắng để bảo vệ sự vật cũ, làm cho nó khỏi chết, không phải là dùng đấu tranh giai cấp để lật đổ bọn thống trị phong kiến phản động cần phải lật đổ mà là phủ đingj đấu tranh giai cấp của nhân dân bị áp bức như Vũ Huấn, đầu hàng bọn thống trị phong kiến phản động…

Điều đáng đặc biệt chú ý là một số đảng viên cộng sản được coi là đã học được chủ nghĩa Mác. Họ học được lịch sử phát triển xã hội – thuyết duy vật lịch sử, nhưng vừa gặp phải những sự kiện lịch sử cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể (như Vũ Huấn), tư tưởng phản lịch sử cụ thể (như phim “Truyện Vũ Huấn”, và những trước tác về Vũ Huấn) thì lại mất năng lực phê phán, có một số người đã đầu hàng tư tưởng phản động này. Tư tưởng phản động tư sản đã xâm nhập vào Đảng Cộng sản chiến đấu lẽ nào đó không phải là sự thực? Chủ nghĩa mà một số đảng viên cộng sản tự cho là mình đã học được đã chạy đi đâu mất cả rồi?


Bài xã luận đã xoay chuyển trời đất, trở thành phong trào phê phán có quy mô lớn đầu tiên trong giới văn học sau giải phóng trên toàn quốc. Ban biên tập “Điện ảnh đại chúng” vốn đã khen “Truyện Vũ Huấn” như Đới Bạch Thao, Mai Đóa v.v... tới tấp đăng báo kiểm thảo công khai.

Ngay cả Quách Mạt Nhược cũng dính vào, vì ông đã từng đề chữ và viết lời tựa cho “Truyện tranh Vũ Huấn”, trên tờ “Nhân dân nhật báo” ông đã công bố bài viết có tựa đề “Tự kiểm tra mình khi liên hệ đến việc phê phán Vũ Huấn”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:32:43 pm

Biên đạo Tôn Du, diễn viên chính Triệu Đan trong phim “Truyện Vũ Huấn”, đương nhiên trở thành “nhân vật trọng điểm” liên tục phải kiểm thảo. Công ty phim Côn Luân gọi điện đi các nơi, ngừng chiếu phim “Truyện Vũ Huấn”. Bộ Văn hóa, Bộ Giáo dục, Thành ủy Thượng Hải, tới tấp ra thông tri kêu gọi phê phán “Truyện Vũ Huấn”.

Ngày 26 tháng 8, trên tờ “Nhân dân nhật báo”, Hạ Diễn cũng đăng bản kiểm điểm tựa đề: “Từ việc phê phán “Truyện Vũ Huấn”, kiểm tra lại công tác của tôi trong giới văn học nghệ thuật Thượng Hải”.

Trong cao trào phê phán, Giang Thanh đã làm một việc rất đắc ý. Đó là vào tháng 6 năm 1951, Tòa soạn “Nhân dân nhật báo” và Bộ Văn hóa tổ chức một “đoàn điều tra lịch sử Vũ Huấn” đến quê hương của Vũ Huấn ở Sơn Đông tiến hành điều tra thực địa. Đoàn điều tra gồm 13 người, Giang Thanh tham gia đoàn với cái tên “Lý Tiến”.

13 người này là: Viên Thủy Bách (Nhân dân nhật báo), Chung Điếm Bùi, Lý Tiến (Bộ Văn hóa), Phùng Nghị Chi (Ban Tuyên truyền phân cục Sơn Đông thuộc Trung ương Đảng), Vũ Quang, Dương Cận Nhân (Ban Tuyên truyền tỉnh ủy Bình Nguyên Đảng Cộng sản.), Tư Lạc Lộ (Phòng Tuyên truyền khu ủy Liễu Thành), Đoàn Tuấn Khanh, Triệu An Bang (Huyện ủy Đường Ấp), Triệu Quốc Bích (Phòng Tuyên truyền Đảng ủy thị trấn Lâm Thanh), Hàn Ba (Phòng Tuyên truyền Huyện ủy Lâm Thanh).

Đoàn điều tra đã tiến hành điều tra ở các huyện Đường Ấp, Lâm Thanh, Quản Đào v. v... thuộc tỉnh Sơn Đông trong 20 ngày... Địa phương biết ý đồ của Đoàn điều tra và cũng nghe nói thân phận đặc biệt của Lý Tiến và theo yêu cầu của những người điều tra cung cấp các loại tài liệu.

Sau khi đoàn điều tra trở về Bắc Kinh, ba người gồm Viên Thủy Bách, Chung Điếm Bùi và Lý Tiến đã chấp bút viết bài: “Ghi chép điều tra lịch sử Vũ Huấn” cuối cùng đã được Mao Trạch Đông đọc duyệt sửa chữa, tờ “Nhân dân nhật báo” đăng liền từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 7 năm 1951 sau đó được in thành sách.

“Ghi chép điều tra” đã viết: “Vũ Huấn là một kẻ xuất thân lưu manh rồi làm nên, tuân theo ý chí của bọn thống trị phong kiến phản động, lấy việc “học hành” để làm bậc thang tiến thân, phản bội lại chính giai cấp của ông ta, leo lên địa vị giai cấp thống trị trở thành kẻ bóc lột phong kiến.

“Ghi chép điều tra” hoàn toàn phủ nhận con người Vũ Huấn, và cũng trên căn bản phủ định phim “Truyện Vũ Huấn”.

Công bằng mà nói, phim “Truyện Vũ Huấn” đã dựng và quay một cách gian nan vất vả trong những năm tháng có những biến động lớn, ngay bản thân bộ phim cũng có sự sơ sài qua loa cũng tồn tại rất nhiều thiếu sót rõ ràng. Nhưng Tôn Du, Triệu Đan đều là những người làm công tác điện ảnh cánh tả có dụng ý tốt. Nếu suy xét tới nguyên nhân lịch sử của phim thì không nên ra roi một cách thô bạo đối với bộ phim như thế. Sự phê phán này trên thực tế là sự xuất đầu lộ diện đầu tiên của trào lưu tư tưởng “tả”, sau này ngày càng phát triển cho đến cách mạng văn hóa thì bành trướng thành ác tính.

Năm 1985, khi cuộc “Tọa đàm nghiên cứu Đào Hành Tri” và “Quỹ Đào Hành Tri” được thành lập, Hồ Kiều Mộc đã phát biểu ý kiến trong bài nói: từ Đào Hành Tri đã đề cập tới việc phê phán “Truyện Vũ Huấn”, những ý kiến này của Hồ Kiều Mộc đã phản ánh thái độ phủ định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ sau Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11, đối với việc phê phán “Truyện Vũ Huấn” trước đây:

Năm 1951, đã từng xảy ra một cuộc phê phán mà khi bắt đầu không liên quan nhưng sau lại liên quan đến ông Đào, về phim “Truyện Vũ Huấn”. Phạm vi mà cuộc phê phán này đề cập đến khá rộng. Ở đây hôm nay, chúng ta không thảo luận về sự đánh giá toàn diện đối với bản thân Vũ Huấn cũng như phim “Truyện Vũ Huấn” việc này cần được các nhà sử học, các nhà giáo dục học và các nhà nghệ thuật điện ảnh thảo luận tự do và không có bất cứ thành kiến nào mới giải quyết được. Nhưng tôi có thể nói một cách có trách nhiệm rằng, cuộc phê phán lúc bấy giờ là vô cùng phiến diện, vô cùng cực đoan cũng có thể nói là vô cùng thô bạo. Vì thế, mặc dù cuộc phê phán này có nguyên nhân lịch sử đặc biệt, nhưng do phương pháp mà cuộc phê phán này sử dụng, chúng ta không những không thể nói là nó hoàn toàn chính xác, thậm chí cũng không thể nói là cơ bản chính xác. Mới đầu cuộc phê phán này đề cập đến biên đạo và diễn viên của bộ phim này như đồng chí Tôn Du, đồng chí Triệu Đan v.v…; họ đều là những nhà nghệ thuật tiến bộ công tác lâu dài dưới ảnh hưởng của Đảng, việc phê phán đối với họ phải nói là hoàn toàn sai lầm. Họ quyết định và tiến hành quay bộ phim này là do sự ủng hộ của Đảng và giới văn hóa tiến bộ. Nếu quyết định này không thỏa đáng thì trách nhiệm cũng không thuộc hai vị này cũng như những người tham gia khác. Nội dung bộ phim này không thể nói là không có sai lầm và khuyết điểm, nhưng những tội danh gán cho bộ phim này về sau lại thổi phồng quá đáng tới mức làm cho người ta không sao tin nổi. Bắt đầu từ việc phê phán bộ phim này, về sau phát triển tới phê phán tất cả những người đã bày tỏ sự khẳng định ở những mức độ khác nhau đối với nhân vật Vũ Huấn, cũng bao gồm các tác phẩm tranh liên hoàn, điều đó đã làm cho những sai lầm vốn có mở rộng ra rất nhiều. Phương pháp phê phán sai lầm này, sau này vẫn tiếp tục trong thời gian rất dài, cho mãi đến Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11 mới được sửa chữa.

Giang Thanh rất đắc ý, với việc phê phán phim “Truyện Vũ Huấn”, “đỉnh núi kỳ lạ” khuất kín trong mây mù, cuối cùng đã tình cờ lộ ra. Bà ta mượn quyền uy của Mao Trạch Đông phút chốc làm cho Chu Dương, Hạ Diễn là cấp trên của bà ta trước kia phải nhốn nháo kiểm thảo, làm cho Đào Hành Tri đã tìm viết thơ cho Đường Nạp đang ngủ dài dưới đất cũng không được yên và Triệu Đan cũng phải nếm cái mùi lợi hại của bà ta. Bà ta tham gia Đoàn điều tra lịch sử Vũ Huấn và trên thực tế trở thành người lãnh đạo của Đoàn điều tra này. Bà ta bắt đầu thập thò vượt qua những điều cấm của “Quy chế ba chương”, thử can dự vào chính trị.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:33:59 pm

5. Trong thời kỳ mà Giang Thanh xuất đầu lộ diện hết lần này đến lần khác thì từ tháng 2 năm 1952, cái “đỉnh núi kỳ lạ” trên sông (Giang - N.D.) bỗng nhiên lại chìm trong đám mây mù!

Sau khi phê phán “Truyện Vũ Huấn” và sau hơn hai năm nghỉ dưỡng cái bệnh cỏn con, Giang Thanh lại một lần nữa xuất hiện...

Bà ta bắt đầu tiến quân vào việc nghiên cứu “Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá.

Du Bình Bá là một nhân sĩ có thẩm quyền nghiên cứu “Hồng Lâu mộng” của Trung Quốc, Giáo sư trường Đại học Bắc Kinh.

Hai “nhân vật nhỏ” đã đọc bài “Lược bàn về Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá đã không đồng ý với ý kiến của Du Bình Bá! Họ đã viết bài phê bình.

Hai “nhân vật nhỏ” ấy là Lý Hy Phàm và Lam Linh.

Tiểu thuyết mà Giang Thanh đã đọc không nhiều nhưng “Hồng Lâu mộng” thì lại đọc mấy lần.

Giang Thanh rất hứng thú khi đọc bài viết của Lý Hy Phàm và Lam Linh, rất tán thưởng bài viết này. Bà ta đem bài viết giới thiệu với Mao Trạch Đông. Sau khi đọc xong, Mao Trạch Đông cũng cho rằng bài viết hay, ông đề nghị “Nhân dân nhật báo” đăng lại. Có điều, Mao Trạch Đông cho rằng mình trực tiếp ra chỉ thị cho “Nhân dân nhật báo”, yêu cầu họ đăng lại thì có vẻ trịnh trọng quá, nên ông đã giao cho Giang Thanh, chuyển lời ông đến “Nhân dân nhật báo”.

Chu Dương cho rằng “Nhân dân nhật báo” đăng lại bài này là không thích hợp nên đã đề nghị tờ “Văn nghệ nhật báo” đăng lại. Ngày 16 tháng 10, một bức thư của Mao Trạch Đông đã làm chấn động giới trí thức Trung Quốc. Hôm ấy, Mao Trạch Đông đã viết cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng và các nhân sĩ có liên quan khác. Bức thư này về sau được in trong “Mao Trạch Đông tuyển tập”, tập 5.

Phụ vào hai bài văn phản bác Du Bình Bá, (Người dẫn chú) trừ tạp chí “Văn, Sử, Triết” số tháng 9 đăng bài “về bài viết (Lược bàn về Hồng Lâu mộng) và các bài khác” ra, “Quang minh nhật báo”số ra ngày 10 tháng 10 lại đăng bài “Bình sách “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng”“ của họ, xin mời đọc. Đây là cuộc nổ súng thật sự đầu tiên vào cái gọi là những quan điểm sai lầm của nhà văn quyền uy nghiên cứu Hồng Lâu mộng từ hơn ba mươi năm qua đến nay. Tác giả là hai đoàn viên thanh niên. Mới đầu họ viết thư cho “Văn nghệ báo”, xin hỏi là có thể phê bình Du Bình Bá hay không, nhưng họ phớt lờ. Bất đắc dĩ họ đã phải viết thư về trường cũ của họ - các thầy giáo ở trường Đại học Sơn Đông và họ đã nhận được sự ủng hộ, trên tạp chí “Văn, Sử, Triết” của Trường đã đăng bài viết của họ: “Bác (Lược bàn về Hồng Lâu mộng)”. Vấn đề lại quay về Bắc Kinh, có người yêu cầu đăng lại bài này trên “Nhân dân nhật báo” để mong đưa tới một cuộc tranh luận, triển khai phê bình, lại bị một số người lấy nhiều lí do (chủ yếu là “bài viết của nhân vật bé”, “báo Đảng không phải là nơi tranh luận tự do”) để phản đối nên không thể thực hiện; Kết quả là đã đi tới một sự thỏa hiệp, bài viết này được đăng lại trên “Văn nghệ báo”. Tiếp sau đó trên chuyên mục “Di sản văn học” của “Quang minh nhật báo” đăng lại bài viết của hai thanh niên này: “Bác “Lược bàn về Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá”. Xem ra cuộc đấu tranh chống luận điểm duy tâm tư sản của phái Hồ Thích đã đầu độc thanh niên hơn 30 năm qua trong lĩnh vực văn học cổ điển, có lẽ có thể triển khai được rồi. Sự việc là do hai “nhân vật bé” làm ra, còn “nhân vật lớn” thì thường không chú ý, đồng thời thường ngăn cản, họ cùng các nhà văn tư sản luôn nói tới một mặt trận thống nhất, trên phương diện thuyết duy tâm, cam tâm làm tù binh cho giai cấp tư sản. Đây gần giống như tình hình lúc chiếu phim “Thanh cung bí sử” và “Truyện Vũ Huấn”. “Thanh cung bí sử” được người ta gọi là bộ phim yêu nước nhưng thực tế lại là bộ phim bán nước. Sau khi chiếu trong cả nước đến nay vẫn chưa bị phê phán. “Truyện Vũ Huấn” tuy đã bị phê phán, nhưng đến nay vẫn chưa rút ra bài học lại xuất hiện chuyện kì lạ khoan dung thuyết duy tâm của Du Bá Bình và ngăn cản bài phê bình rất có sinh khí của “nhân vật bé”, đó là điều đáng để chúng ta chú ý.

Những phần tử trí thức tư sản như Du Bá Bình, tất nhiên nên dùng thái độ đoàn kết, nhưng phải phê phán tư tưởng sai lầm đầu độc thanh niên của họ, không nên đầu hàng họ.


Thư của Mao Trạch Đông, với thế sấm vang chớp giật, giáng một cú đấm vào Chu Dương và một số người.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:34:23 pm

Cách một ngày sau, ngày 18 tháng 10, Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng và Đảng đoàn Hiệp hội Nhà văn Trung quốc đã họp Hội nghị quán triệt chỉ thị của Mao Trạch Đông.

Ngày 28 tháng 10, “Nhân đân nhật báo” đăng bài “Chất vấn tòa soạn “Văn nghệ báo” nghiêm khắc phê bình “Văn nghệ báo”.

Tiếp đó Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc và Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp nhà văn Trung Quốc triệu tập Hội nghị liên tịch mở rộng lên thứ 8 để quán triệt chỉ thị của Mao Trạch Đông.

Thế là, trong phạm vi cả nước, đã dấy lên phong trào phê phán cuốn sách “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá.

Từ Du Bình Bá lại dính líu tới Hồ Thích, cả nước lại triển khai phê phán tư tưởng Hồ Thích.

Bức thư của Mao Trạch Đông, bày tỏ sự ủng hộ đối với tình thần khiêu chiến của “nhân vật bé”, bày tỏ sự đồng tình với việc có thể triển khai thảo luận với những kiến giải quyền uy trong học thuật, điều này có ý nghĩa tích cực nhưng đối với ý kiến học thuật của “nhân vật lớn” và “nhân vật bé” ông lại ra quyết định thì rõ ràng là không thỏa đáng. Đặc biệt lúc này đã hình thành việc ngả về một phía, phủ định hoàn toàn đối với Du Bình Bá và chụp lên cái mũ lớn mang tính chất chính trị, trên thực tế là một khuynh hướng “tả”.

Sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11, vào tháng 1 năm 1986, nhân kỷ niệm 65 nãm mừng Du Bình Bá tham gia hoạt động học thuật với sự có mạt của Hồ Thằng Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc, ông đã phát biểu ý kiến, đánh giá lại cuộc phê phán năm 1954.

Hồ Thằng nêu rõ:

“Từ đầu những năm 20, ông Du Bình Bá đã bắt đầu nghiên cứu “Hồng Lâu mộng”. Nghiên cứu của ông trong lĩnh vực này có ý nghĩa mở đường. Về phương pháp và quan điểm nghiên cứu của ông, các nhà nghiên cứu đã nêu ra những ý kiến hoặc phê bình khác nhau vốn là chuyện bình thường. Nhưng nửa cuối năm 1954, vì việc nghiên cứu “Hồng Lâu mộng” mà bao vây công kích mang tính chất chính trị đối với ông là không đúng đắn. Cách làm này không phù hợp với phương châm song bách (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng – ND) của Đảng đối với học thuật và nghệ thuật. “Hồng Lâu mộng” có bao nhiêu phần mang tính truyện ký, đánh giá ra sao bốn mươi hồi cuối do Cao Ngạc viết tiếp, đánh giá như thế nào về nghệ thuật của “Hồng Lâu mộng”, những cái đó đều là vấn đề thuộc lĩnh vực học thuật. Những vấn đề này chỉ có thể do giới học thuật tự do thảo luận. Hiến pháp nước ta bảo vệ rất nghiêm quyền tự do này. Đảng ta kiên trì 4 nguyên tắc. Dựa vào nguyên tắc chuyên chính dân chủ nhân dân trong bố nguyên tắc, đối với vấn đề học thuật thuộc phạm vi dân chủ nhân dân, Đảng không cần và cũng không nên đưa ra bất cứ một sự “quyết đinh”nào. Cách làm của năm 1954 vừa làm tổn thương đến ông Du Bình Bá về mặt tinh thần, vừa không có lợi cho sự phát triển của học thuật và nghệ thuật”.

Việc phê phán sách “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá vào năm 1954, người khơi mào trước nhất chính là Giang Thanh. Việc phê phán đối với phim “Thanh cung bí sử” và “Truyện Vũ Huấn” người khơi mào trước nhất cũng chính là Giang Thanh. Ba lần đọ sức giữa Giang Thanh với Chu Dương và những người khác “con át chủ bài” mà bà ta dùng để đánh thắng kẻ thù chính là mượn uy quyền của Mao Trạch Đông.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:40:31 pm

6. Ba lần đọ sức là sự thử nghiệm việc bà ta tham gia chính trị ở Trung Quốc. Bà ta đều đắc thắng hồi triều! Trong thư của Mao Trạch Đông, quay trở lại phê phán phim “Thanh cung bí sử” và “Truyện Vũ Huấn”, điều này đã làm cho Chu Dương hiểu ra rằng không thể coi thường Giang Thanh!

Ngày 9 tháng 9 năm 1961, Mao Trạch Đông đề thơ lên bức ảnh Động Tiên Nhân do Giang Thanh chụp ở Lư Sơn:

Bảng lảng chiều hôm ngắm bóng tùng,
Mây trôi cuồn cuộn vẫn ung dung,
Trời sinh có một Tiên Nhân động,
Núi cao phong cảnh rộng vô cùng.


(Mộ sắc thương mang khán kình tùng, Loạn vân phi độ nhưng thung dung, Thiên sinh nhất cá Tiên Nhân động, vô hạn phong quang tại hiểm phong)

Bài thơ này được công bố công khai vào năm 1963. Giang 'Thanh đã lấy nó làm vốn chính trị, để tô son trát phấn ra sân khấu.

Ngày 29 tháng 9 năm 1962, bức ảnh cỡ lớn của Mao Trạch Đông, Giang Thanh và Xu-nô phu nhân được in trên đầu trang nhất tờ “Nhân dân nhật báo”. Bức ảnh này đã làm người Trung Quốc sửng sốt, vì từ khi thành lập nước đến nay ảnh chụp chung của Mao Trạch Đông và Giang Thanh chưa bao giờ được công bố chính thức. Giang Thanh bắt tay vào cuộc cải cách hí kịch từ năm 1962. Bà ta cho rằng cần phải cải tạo nghệ thuật biểu diễn, làm cho nó thích ứng với yêu cầu của hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa. Từ trong lòng, Giang Thanh thích khẩu hiệu “hoặc làm cho nó đổi đời, hoặc cấm chỉ nó”. Bà ta cho rằng, nội dung kịch truyền thống Trung Quốc nên trở thành quá khứ, từ những năm 20 đến nay, hí khúc truyền thống đã từng trải qua một thời kỳ phát triển rực rỡ, nhưng những lúc khác thì đều do “đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân” thống trị; đối với nhân dân Trung Quốc chẳng có ích lợi gì, chí ít cũng chẳng có giá trị chính trị gì đáng nói đối với chính quyền hiện thời.

Tháng 9 năm 1962, Giang Thanh hẹn gặp bốn vị Phó ban và Thứ trưởng của Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng và Bộ Văn hóa, “chỉ ra vấn đề nghiêm trọng trên sân khấu và trên màn ảnh bọn đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân và đầu trâu mặt ngựa đã xuất hiện tràn lan thành tai hoạ”. Các vị này đã không hề để ý đến sự “cảnh cáo” của bà ta. Lúc này, bà ta nghe được khẩu hiệu mới “viết hoa 13 năm” do Kha Khánh Thi ở Thượng Hải đưa ra, với bà ta đã không hẹn mà nên. Thế là bà ta xuống phía Nam, gặp gỡ Kha Khánh Thi và Trương Xuân Kiều. Thượng Hải có Bí thư Thành ủy kiêm Thị trưởng như Kha Khánh Thi, có mưu sĩ như Trương Xuân Kiều, có cái gậy như Diêu Văn Nguyên, bà ta đã có được sự ủng hộ. Nên, bài phê phán đầu tiên mà bà ta tổ chức đã được đăng một cách thành công ở Thượng Hải. Bà ta cảm thấy, Thượng Hải có thể trở thành “căn cứ” của bà ta.

Tháng 2 năm 1963, bà ta chỉ thị cho viện Kinh kịch Trung Quốc cải biên “Chiếc đèn đỏ”. Mùa thu năm ấy, Giang Thanh lại đem món hàng Thượng Hải – “Hộ(*) kịch” - “Ngòi lửa trên bãi lau”, giới thiệu với Đoàn 1 Viện Kinh kịch Bắc Kinh để cải biên thành Kinh kịch “Sa Gia Bang”. Tháng 1 năm 1964, Giang Thanh đã chỉ đạo Viện Kinh kịch Thượng Hải dựng vở “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn”. Mùa đông năm 1964, cải biên vở Kinh kịch “Buổi sớm trên hải cảng”.

Giang Thanh đã vô tình coi hí kịch là hình thức giải trí, bà ta biết cái bà ta đang tiến hành là hoạt động chính trị mà không phải là hoạt động nghệ thuật. Giang Thanh cho mỗi một diễn viên tham gia dàn dựng một tập “Mao Trạch Đông tuyển tập” do tác giả tự tay ký tên, phát sách cho mọi người như tên trùm băng đảng phát súng cho bọn thủ hạ, gào lên bằng cái giọng the thé: “Các đồng chí chớ cho rằng tôi chỉ là người chào hàng cho môn kịch mới, tôi đến để chiến đấu với chủ nghĩa phong kiến, với chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xét lại!”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2010, 07:40:53 pm

Mùa hè năm 1964, Hội diễn Kinh kịch hiện đại đã mở màn trong bầu không khí chính trị ngột ngạt. Giang Thanh đã phát biểu trong Hội diễn, đây là lần nói chuyện quan trọng đầu tiên trong đời bà ta trước công chúng.

Lưu Thiếu Kỳ khi nói về những vở kịch mới của Giang Thanh đã nói bà ta là: “Quả dưa chưa chín đã hái”. Bành Chân phê bình những vở kịch này là: “Mặc quần hở đũng lên sân khấu”.

Từ kinh kịch, Giang Thanh lại chuyển sang vũ kịch, cải biên “Hồng sắc nương tử quân” và “Bạch mao nữ” thành vũ kịch, Giang Thanh đã thêm vào chủ đề của “Hồng sắc nương tử quân” một đoạn kết gần như là một sự sùng bái ca ngợi Mao Trạch Đông. Còn “Bạch mao nữ” sau khi Giang Thanh rút bớt những chi tiết biểu lộ tình yêu và thêm vào đó là sự hận thù giai cấp, cũng đã trở thành vở kịch mẫu.

Mùa đông năm 1965, một hôm Giang Thanh đột ngột đến thăm Đoàn Nhạc giao hưởng, đồng thời tuyên bố: “Nhạc giao hưởng của chủ nghĩa tư bản không có sức sống! Cần phải gạt bỏ những khuôn mẫu cũ”. Giang Thanh ra sức biện bạch và hai bản mẫu âm nhạc “Hoàng Hà hiệp tấu khúc” và “Giao hưởng âm nhạc Sa Gia Bang” của bà ta ra đời. Âm nhạc sẽ phục vụ cách mạng”, phục vụ đời sống chính trị của Giang Thanh.

Giang Thanh với sự cải cách Kinh kịch, múa ba-lê và nhạc giao hưởng đã được bọn bồi bút trong giới báo chí bình luận: “Những cải cách ấy là do tự tay đồng chí Giang Thanh vun đắp nên, là một chuỗi hạt trân châu lóng lánh trong nền văn học nghệ thuật của giai cấp vô sản, tỏa ánh sáng rực rỡ của tư tưởng Mao Trạch Đông”.

Giữa những năm 60, Giang Thanh rất gặp may, bà ta đã trở thành đại biểu Quốc hội Trung Quốc. Bà ta bắt đầu tham gia các hội nghị quan trọng, thậm chí có thể tham gia Hội nghị Trung ương Đảng.

Năm 1966 là một năm đắc ý nhất trên đường đời của Giang Thanh. Năm ấy bà ta có chức vị trong quân đội, càng làm cho bà ta có lý do tự quảng cáo mình là chiến sĩ. Bà ta sắp trở thành “người cầm cờ” của đại quân trên mặt trận văn nghệ. Những sự việc đó đã làm cho Giang Thanh bước vào con đường đi tới quyền lực chính trị. Giang Thanh mưu tính có địa vị lãnh đạo trong quân đội, người đáng để bà ta “cảm ơn” là Lâm Bưu. Giang Thanh người đã cãi nhau khắp thiên hạ nhưng chưa bao giờ giở mặt với Lâm Bưu, cho đến trước khi con người này chết vì rơi máy bay ở nước khác. Nguyên nhân là “Phó Chủ tịch Lâm ủng hộ tôi”.

Lâm Bưu nhờ bà ta triệu tập cuộc hội thảo văn nghệ của bộ đội. Trong cuộc hội thảo này Lâm Bưu “ca ngợi” Giang Thanh: “Về phương diện văn học nghệ thuật cảm quan chính trị của đồng chí ấy rất mạnh”, “Từ nay về sau các văn kiện về mặt văn nghệ của bộ đội đều phải đưa để đồng chí ấy xem”. Sau đó, Lâm Bưu chính thức tâng bốc Giang Thanh: là đại biểu kiệt xuất ít có trong các nữ đồng chí trong Đảng ta, đồng chí ấy có nhiều cống hiến quan trọng; nhưng chưa được mọi người biết đến, trong cuộc đại cách mạng văn hóa này tài hoa của đồng chí ấy đã lộ rõ. Lâm Bưu đã nâng cấp bậc hành chính của Giang Thanh từ bậc 9 lên bậc 5. Trong một cuộc Hội nghị Quân ủy mở rộng, Lâm Bưu mời Giang Thanh lên bục, đặt toàn bộ tướng soái uy danh hiển hách dưới con mắt của bà ta, nghe bà ta dạy bảo. Giang Thanh bước lên vũ đài chính trị bằng cái thang do Lâm Bưu dựng, “công lao” của ông ta quả là lớn!

Giang Thanh đích thân xây dựng ba kênh liên hệ chính trị quan trọng: Thứ nhất là quan hệ với Lâm Bưu; Thứ hai là quan hệ “với các trí thức cầm quyền”, “cánh tả” ở Thượng Hải; Thứ ba là quan hệ với Khang Sinh là đồng hương và là người quen cũ của bà ta. Đã có ba kênh này, Giang Thanh còn có thanh “Thượng phương bảo kiếm” Mao Trạch Đông, khiến cho bà ta có thể gọi gió làm mưa, rnuốn gì được nấy trong cách mạng văn hóa.

Giang Thanh tiến vào giới văn nghệ, thổi lên làn gió phê phán, cải cách cách mạng đối với Kinh kịch, không có việc nào không mang đậm dã tâm chính trị. Có điều là thời gian này so với tài nghệ nổi trội trong Đại cách mạng văn hóa mà nói thì chẳng qua chỉ là một cuộc thi nhỏ về tài năng mà thôi.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Hai, 2010, 09:56:23 pm

2
“Hải Thụy bãi quan” đất bằng nổi cơn sóng dữ
Yêu ma quỷ quái từ Thượng Hải xổng chuồng


1. Kha Khánh Thi giới thiệu với Giang Thanh một “chuyên gia phê phán”

Tháng 6 năm 1965, ở khách sạn Cẩm Giang, Thượng Hải, Giang Thanh bí mật trù tính viết phần thứ hai bài phê bình có trọng lượng.

Giang Thanh đã từng mưu tính tìm hai “nhân vật bé” đã từng khiêu chiến với Du Bình Bá hồi xưa ở Bắc Kinh, vì hồi ấy bà ta đã từng ủng hộ họ. Nhưng, họ đã không nhận làm.

Giang Thanh lại một lần nữa cầu cứu Kha Khánh Thi. Kha Khánh Thi nhận lời ngay và giao nhiệm vụ cho Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều đã thành “thư ký Kinh kịch”, để dựng lên những vở kịch “mẫu” nên đã có quan hệ mật thiết với Giang Thanh, huống hồ ông ta là Trưởng ban Tuyên truyền Thành ủy Thượng Hải, “Đại phê phán” chính là thuộc phạm trù công việc của ông ta.

Giang Thanh coi như đã tìm đúng người. Đối với Kinh kịch, Trương Xuân Kiều là ngoại đạo, nhưng đối với cuộc “Đại phê phán” thì lại là người trong nghề.

Trương Xuân Kiều, sinh năm 1917 ở Cự Dã, tỉnh Sơn Đông, cha ông ta là một trưởng phòng làm công tác y tế của Quốc dân Đảng, gia đình có tiền của, có xe hơi, có kẻ hầu người hạ. Trương Xuân Kiều là một nhân vật giao thiệp rộng rãi, hoạt động khắp nơi. Năm 1932, vào học trường Trung học Chính Nghị, thành phố Tế Nam. Năm 1933, đã bước lên vũ đài chính trị, trở thành người khởi xướng và phần tử trung kiên của “Hoa Đế xã” một tổ chức phản động, đồng thời trong tờ “Hoa Đế” số ra đầu tiên đã đăng tiểu thuyết “Ngân Linh”, số 2 đăng tiểu thuyết “Thu”. Đủ thấy, từ rất sớm Trương Xuân Kiều đã lộ rõ đặc điểm của mình: vận hành trên hai quỹ đạo chính trị và văn học. Mùa hè năm 1934, sau khi Trương Xuân Kiều tốt nghiệp trường Trung học Chính Nghị, với cây bút cùn lang bạt trên văn đàn Tế Nam, tự mệnh danh là “Nhà văn Tiền tiến”, trong con mắt của ông ta không có ai hết, tiến công Thi Điếm Tồn. Lão Xá và Tàng Khắc Gia, ông ta cũng chẳng coi Quách Mạt Nhược, Lỗ Tấn v.v... ra gì, Trương Xuân Kiều bé nhỏ, thật như một con nhím con, một “đứa trẻ hư” trên văn đàn!

Tháng 5 năm 1935, trên con đường Tứ Mã Thượng Hải đã xuất hiện bóng dáng gầy gò Trương Xuân Kiều. Ông ta là nhân viên sửa bản in thử của công ty tạp chí Thượng Hải, những lúc không sửa bản in thử ông ta gửi bài đến các báo và tạp chí lần lượt trên tờ “Đại Vãn báo” và “Ngọn đuốc”, phụ san của “Đại Vãn báo” đăng bài của ông ta: “Đầu cuối của cuộc đi”, “Xạ thủ súng kíp”, “Tôi tố cáo” v.v... Sau đó, ông ta trở thành bên ngoài là Phó Tổng biên tập tờ “Ngọn đuốc” bên trong là tay chân của Thôi Vạn Thu đặc vụ của quân đội Quốc dân Đảng và đổi tên là “Địch Khắc” để bắn lén Lỗ Tấn, trên “Văn đàn hàng tuần” của phụ san “Ngọn đuốc” đã đăng bài lóe lên những tia sáng lạnh “chúng ta phải chấp hành phê bình”, sau đó lại viết thư cho Lỗ Tấn. công kích và mạt sát Lỗ Tấn. Lỗ Tấn vô cùng phẫn nộ và khinh bỉ, ông đã viết hai bài “Tô giới tháng 3” và “Quan” cửa xuất quan” (Chữ “cửa” trong ra cửa - N.D. ) để phản kích lại. Ấy thế mà, sau khi Lỗ Tấn qua đời, Trương Xuân Kiều vẫn vắt ra nước mắt, vội vã hóa trang mình thành “học trò” của Lỗ Tấn. Tên vô lại trên văn đàn này lại còn viết bài bày tỏ lòng thương nhớ. Từ đó có thể thấy cái tên “Địch Khắc” bé nhỏ, đã có thủ đoạn hai mặt từ lâu rồi. Chẳng trách, sau này trên vũ đài chính trị lúc sáng thì ông ta là người, lúc tối thì ông ta là ma, đối với cái nghề hóa thân, cái mẹo giở mặt này, từ lâu ông ta đã tinh thông rồi.

Ngày 13 tháng 8 năm 1937, tiếng súng bom rung chuyển thành Thượng Hải, Trương Xuân Kiều rời Thượng Hải đi Tế Nam, ở nhà Triệu Quân Bật, Cục trưởng Cục cảnh sát thành phố Tế Nam. Ngày 13 tháng 12 cùng năm, Nam Kinh bị chiếm đóng, Tế Nam cũng nguy cấp trong ngày một ngày hai, Triệu Quân Bật chuẩn bị chạy trốn. Lúc này Trương Xuân Kiều mới hé răng nói mấy câu: “Cục trưởng Triệu, tôi phải đi Diên An”.

Vừa đến Diên An mảnh đất nóng bỏng được mấy ngày, trước ngực Trương Xuân Kiều đã đeo một ngôi sao đỏ “Kỷ niệm 10 năm sáng lập Hồng quân Trung Quốc”, cuối cùng ông ta đã trà trộn được vào dòng thác màu đỏ. Hai tháng sau khi đến Diên An đã viết “Phóng sự Diên An” dựa vào những ngón nghề hóa thân, đã gia nhập Đảng Cộng sản ở Diên An, được bổ nhiệm làm Phó Tổng biên tập tờ “Tấn Sát Ký nhật báo” thỉnh thoảng lại va chạm với Giám đốc kiêm Tổng biên tập Đặng Thác, ông ta tìm thủ đoạn hại Đặng Thác, viết thư kể tội Đặng Thác gửi cho Đảng ủy vùng Biên khu Tấn Sát Ký. May được Bành Chân Bí thư Phân cục miền Bắc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hiểu rõ Đặng Thác nên viiệc vu cáo của “Địch Khắc” đã thất bại. Hiện tượng lịch sử, thường hay lặp lại. Khi bắt đầu cách mạng văn hóa, “Địch Khắc” lại cùng với Diêu Văn Nguyên chỉnh Đặng Thác, Bành Chân lại một lần nữa ra mặt bảo vệ Đặng Thác, nhưng hiềm một nỗi, lúc này “Địch Khắc” đã được thế, nên đã hạ được Đặng Thác cùng Bành Chân...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Hai, 2010, 09:58:12 pm

Năm 1947, tờ “Thạch Môn nhật báo” xuất bản ở Thạch Gia Trang, Trương Xuân Kiều được điều về làm Giám đốc “Thạch Môn nhật báo”, ông ta rất đắc ý, cấp trên trực tiếp của ông ta là Kha Khánh Thi rất tâm đầu ý hợp. Không lâu sau, Kha Khánh Thi được bổ nhiệm làm thị trưởng thành phố Thạch Gia Trang, Trương Xuân Kiều được ông ta yêu vì, nên đã bổ nhiệm ông ta làm thư ký Ủy ban Nhân dân Thạch Gia Trang kiêm Giám đốc tòa báo “Thạch Gia Trang nhật báo”, Kha Khánh Thi và nhiều nhà lãnh đạo cấp Trung ương của Đảng có mối quan hệ rất sâu xa, theo Trương Xuân Kiều thì Kha Khánh Thi là một chiếc thang, cho nên đã gửi niềm hy vọng nhảy vọt về chính trị vào ông ta, trong thời kỳ cùng làm việc ở Thạch Gia Trang về sau đã trở thành thời cơ để Trương Xuân Kiều nhảy vào “long môn”.

Năm 1949, cuối cùng Trương Xuân Kiều đã trở về Thượng Hải sau 12 năm ly biệt và trở thành Phó Cục trưởng Cục Báo chí xuất bản Hoa Đông! Sau khi nhậm chức ông ta ý thức được chữ “phó”, nó quá vướng chân vướng tay. Cục trưởng Uẩn Dật Quần, kiêm Giám đốc, Tổng biên tập tờ “Giải phóng nhật báo” lại kiêm Hiệu trưởng trường Chuyên nghiệp Báo chí Hoa Đông. Uẩn Dật Quần giống như Đặng Thác luôn ghét điều ác như kẻ thù, không nể nang, điều đó đã làm cho Trương Xuân Kiều hậm hực không vui, Uẩn Dật Quần trở thành “hòn đá” đè lên đầu ông ta. Trương Xuân Kiều thèm nhỏ dãi cái ghế vàng Giám đốc kiêm Tổng biên tập “Giải phóng nhật báo” ông ta muốn hất hòn đá lớn Uẩn Dật Quần để ngồi lên cái ghế vàng có thể điều khiển dư luận ở Thượng Hải.

Trương Xuân Kiều bắt đầu gặp may. “Giải phóng nhật báo” đã đăng sót tin điện “Sáu năm ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật. Nguyên soái Sta-lin gửi điện mừng Mao Chủ tịch” một số người thừa cơ ra sức công kích Uẩn Dật Quần, một “phần tử tích cực” trong đó chính là Trương Xuân Kiều. Tình hình sự việc ngày càng mở rộng, dẫn đến việc Uẩn Dật Quần bị mất chức. Trương Xuân Kiều thừa dịp xông vào thay thế ngồi lên chiếc ghế vàng mà ông ta đã mơ ước từ lâu. Đây là một chức vị có quyền lực vô thường, ông ta có thể lợi dụng báo chí, tâng bốc một số người, công kích một số người. Đặc biệt là chuyên mục: “Tình hình nội bộ” của tòa soạn đều được đưa thẳng đến những nhân vật lãnh đạo ở Trung ương và Thượng Hải, “Tình hình nội bộ” của ông ta ngày nào cũng phải đưa cho cán bộ lãnh đạo của một hai Cục hoặc Bộ đọc duyệt. Ông ta không ngừng mở rộng thế lực của mình. Đây là nơi rất thạo tin, nhất cử nhất động của các giới ở Thượng Hải, ông ta đều biết ngay. Ông ta hiểu nhịp đập của Thượng Hải, hiểu các giới, các hạng người ở Thượng Hải, đặt cơ sở cho việc ông ta trở thành kẻ thống trị Thượng Hải sau này là Giám đốc kiêm Tổng biên tập “Giải phóng nhật báo”, Trương Xuân Kiều hằng ngày có thể gặp gỡ với các nhân vật đứng đầu Đảng, chính quyền, quân đội ở Thượng Hải, cho đến việc xây dựng mối liên hệ thường xuyên với những người lãnh đạo Trung ương. Trương Xuân Kiều đã ngồi vào chiếc ghế vàng, từ đó ông ta từng bước leo đến tận mây xanh.

Tháng 9 năm 1954, Trần Nghị được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Trọng tâm công tác của Trần Nghị chuyển lên Bắc Kinh, cần phải chọn người khác đến Thượng Hải chủ trì các mặt công tác, Kha Khánh Thi có quyết định nội bộ làm Bí thư Cục Thượng Hải Trung ương Đảng, đã đến Thượng Hải trước để tìm hiểu tình hình, nên đã giữ lại Trương Xuân Kiều đang chuẩn bị lên Bắc kinh nhận chức Phó Tổng biên tập “Nhân dân nhật báo”. Kha Khánh Thi nhậm chức, Trương Xuân Kiều bám theo sau, với thân phận là thư ký chính trị của Kha Khánh Thi. Kha Khánh Thi vốn lưu ý đặc biệt đến những lời lẽ của Mao Trạch Đông, ông ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều coi những chiều hướng của Mao Trạch Đông mà ông ta biết được qua Kha Khánh Thi là kim chỉ nam cho hành động của mình. Tháng 9 năm 1956, trong Đại hội đại biểu toàn quốc khóa 8 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Kha Khánh Thi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Những bước tiến sau này của Trương Xuân Kiều thực sự là đã nhờ vào cái thang Kha Khánh Thi.

Kha Khánh Thi trở thành một trong 97 ủy viên Trung ương Đảng, bất cứ lúc nào cũng được biết chiều hướng đến từ Trung ương, nên về tin tức Trương Xuân Kiều càng thông thạo. Chính vì có tin tức chính trị thông thạo đến từ nơi Kha Khánh Thi, nên ngày 8 tháng 6 năm 1957, khi bài xã luận “Đó là vì cái gì” làm chấn động cả nước đăng trên “Nhân dân nhật báo” vừa công bố, thì liên tiếp trên “Giải phóng nhật báo” đăng những bài phản kích “phái hữu”. Trương Xuân Kiều có một lời răn: “Phàm sự việc phải có ba phần tả”. Hôm nay ông ta phê phán người này, ngày mai ông ta phê phán người kia, trở thành “người anh hùng chống hữu” thứ nhất thứ nhì trên bãi Thượng Hải.

Sau khi Kha Khánh Thi trở thành Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 8 thì cơ hội tiếp cận Mao Trạch Đông càng nhiều. Mỗi lần từ chỗ Mao Trạch Đông về, Kha Khánh Thi luôn đem về những “chỉ thị mới nhất”. Trương Xuân Kiều vừa nghe, vừa ghi vào sổ tay. Ông ta cân nhắc xem xét kỹ càng, sờ trúng mạch đập tư tưởng của Mao Trạch Đông, viết ra một bài ngoài dự đoán của mọi người: “Xóa bỏ tư tưởng pháp quyền của giai cấp tư sản”. Bài này được đăng trong tạp chí “Giải phóng” số tháng 6 năm 1958 không lâu sau được đưa đến tay Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông thấy hứng thú với bài viết này, liền ra lệnh cho “Nhân dân nhật báo” đăng lại toàn văn, đồng thời tự mình viết “Lời tòa soạn”.

“Lời tòa soạn” của Mao Trạch Đông cùng bài viết của Trương Xuân Kiều được “Nhân dân nhật báo” ngày 13 tháng 10 năm 1958 đăng trên vị trí nổi bật. Tên của Trương Xuân Kiều lần đầu tiên được cả nước chú ý. Ngày hôm ấy, đối với Trương Xuân Kiều mà nói là cực kỳ quan trọng, là tuột ngày có ý nghĩa lịch sử.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Hai, 2010, 09:59:16 pm

Năm 1955, sau khi triển khai phong trào “Chống Hồ Phong”, Diêu Văn Nguyên do viết cuốn sách “Bàn về tư tưởng của Hồ Phong” nên đã bị liên lụy rơi vào tình cảnh khó khăn. Trương Xuân Kiều đã giúp Diêu Văn Nguyên, lấy “Giải phóng nhật báo” để đỡ cho Diêu Văn Nguyên, trong 10 ngày ngắn ngủi đã đăng liền 4 bài phê phán Hồ Phong của Diêu Văn Nguyên thế là Diêu Văn Nguyên đã “quay giáo đánh lại” trở thành “anh hùng chống Hồ Phong”. Đây có thể coi là lần hợp tác đầu tiên của Trương, Diêu.

Hợp tác lần thứ hai của Trương, Diêu là vào mùa hè năm 1957, từ chỗ Kha Khánh Thi, Trương Xuân Kiều được biết tin là phải “phản kích phái hữu” lập tức nói lại cho Diêu Văn Nguyên biết. Diêu Văn Nguyên vội vội vàng vàng viết bài: “Ghi lại để tham khảo – cảm nhận tình cờ khi đọc báo” và được đăng trên “Văn hối báo”. Bài viết này trở thành “tác phẩm thành danh” của Diêu Văn Nguyên, vì ông ta được Mao Trạch Đông tán thưởng, đồng thời ra lệnh cho “Nhân dân nhật báo” đăng lại toàn văn trên trang đầu, còn có bài xã luận phối hợp “Phương hướng tư sản của “Văn hối báo” trong một thời gian”. Bài viết này đã làm cho Diêu Văn Nguyên được Mao Trạch Đông chú ý, theo ông ta thì phải cảm ơn Trương Xuân Kiều. Từ đó Diêu Văn Nguyên đối với Trương Xuân Kiều chỉ bảo sao nghe vậy, trở thành tay sai đắc lực của Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều đã giúp đỡ cho “cái gậy” này, Trương Xuân Kiều muốn viết bài phê phán gì, chỉ cần mở miệng là Diêu Văn Nguyên viết ngay.

Ngày 1 tháng 7 năm 1958, “Giải phóng” ra hai tuần một số, được xuất bản ở Thượng Hải nhờ Trương Xuân Kiều dẫn dắt. Diêu Văn Nguyên được điều về Tạp chí lý luận của Thành ủy Thượng Hải này và được đảm nhiệm chức tổ trưởng tổ Văn giáo của Ban biên tập, Diêu Văn Nguyên càng điên cuồng múa may cây gậy, công kích một loạt nhà văn nổi tiếng. Trong một thời gian, uy danh của ông ta chấn động cả văn đàn Trung Quốc. Trương Xuân Kiều đảm nhận làm đạo diễn sau sân khấu, bày mưu đặt kế, để Diêu Văn Nguyên chiến đấu xông pha, xuất đầu lộ diện. Nói theo lời của Trương Xuân Kiều là: “Trên báo chí Diêu Văn Nguyên ra mặt thì tiện hơn chúng ta”. Sau khi “Giải phóng” đình bản, Trương Xuân Kiều xếp Diêu Văn Nguyên làm Biên ủy kiêm Trưởng ban Văn nghệ của tờ “Giải phóng nhật báo”. Vậy là Diêu Văn Nguyên không ngừng làm theo ý chỉ của Trương Xuân Kiều, đăng bài trên “Giải phóng nhật báo” và “Văn hối báo”. Ở trên Trương Xuân Kiều có chỗ dựa là Kha Thánh Thi, dưới có Diêu Văn Nguyên làm đồ đệ, ông ta vênh vang ra vẻ ta đây, hầu như đã xưng bá trong giới văn nghệ Thượng Hải.

Khi Trương Xuân Kiều đang đắc ý thì lại gặp ngay một địch thủ, Phó ban thường trực Ban Tuyên truyền thành ủy Thượng Hải, Trần Kỳ Ngũ. Trần Kỳ Ngũ là một người có uy tín rất cao trong giới tuyên truyền, giáo dục, chính quyền và các giới văn nghệ. Kiến giải chính trị của ông hoàn toàn khác với Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều đã coi ông là một kẻ kình địch của mình. Trương Xuân Kiều đã nghiến răng nghiến lợi tức giận nói rằng: “Chỉnh người phải có dịp, Trần Kỳ Ngũ, mi hãy đợi đấy, không cho mi biết tay không được!”.

Trong Hội nghị Trung ương 10 khóa 8, Mao Trạch Đông đã nêu ra lời kêu gọi nổi tiếng “Nhất thiết không được quên đấu tranh giai cấp”. Trương Xuân Kiều cho rằng cơ hội nhổ cái đinh trong mắt, cái gai trong thịt cuối cùng đã đến. Ông ta tập kích bất ngờ Trần Kỳ Ngũ, Trần Kỳ Ngũ trở thành tấm bia “đấu tranh giai cấp” của Thượng Hải, ông bị trúng tên ngã ngựa, bị tước bỏ chức vụ và khai trừ khỏi Đảng, bị trục xuất ra khỏi Thượng Hải đến Dương Châu tỉnh Giang Tô. Trương Xuân Kiều giành thắng lợi và thay thế, trở thành Trưởng ban Tuyên truyền Thành ủy Thượng Hải, độc chiếm quyền lãnh đạo về tư tưởng và văn hóa ở Thương Hải, ít lâu sau Trương Xuân Kiều được thăng chức lên làm Bí thư Dự khuyết Thành ủy Thượng Hải.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Hai, 2010, 09:59:36 pm

Đến năm 1965, Trương Xuân Kiều được đề bạt làm Bí thư Ban bí thư Thành ủy Thượng Hải, trở thành nhân vật tai to mặt lớn, có ảnh hưởng quan trọng ở Thượng Hải.

Trương Xuân Kiều đã bắt tay với Giang Thanh, kết bạn và bắt đầu “hợp tác”. Ông ta ngồi một bên chăm chú lắng nghe Kha Khánh Thi và Giang Thanh nói chuyện, qua quan sát tỉ mỉ, ông ta đã quy những kiến giải của Giang Thanh thành ba điểm:

Thứ nhất, bà ta muốn “phá” cũng có nghĩa là phê phán. Bà ta muốn phê “Hải Thụy bãi quan” muốn phê “Lý Tuệ Nương”, muốn phê “Đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân, đầu lâu mặt ngựa”. Thứ hai, bà ta muốn “xây” cũng có nghĩa là đề xướng kịch hiện đại. Lần này bà ta xem vở Hộ kịch “Chiếc đèn đỏ” cảm thấy rất hay. Chỉ có điều là tính địa phương của Hộ kịch quá mạnh, lượng khán giả hạn hẹp, bà ta muốn sửa thành Kinh kịch, mở rộng diện ra cả nước. Thứ ba, Thượng Hải hay hơn Bắc Kinh rất nhiều. Thượng Hải có Kha Thánh Thi làm thống soái, nên có thể trở thành “căn cứ” của bà ta. Từ nay về sau, bà ta sẽ thường xuyên đến Thượng Hải, không phải đến để khám bệnh mà là đến để xây dựng “căn cứ”.

Gặp mặt Giang Thanh lần này, đối với Trương Xuân Kiều mà nói là cực kỳ quan trọng, có tính lịch sử. Ông ta đã để lại cho Giang Thanh ấn tượng sâu sắc. Trương Xuân Kiều đã gặp vận may lớn. Ông ta phát hiện, hễ được Giang Thanh coi trọng, thì việc lên chức sẽ rất nhanh chóng. Bà ta là chiếc thang tốt hơn Kha Khánh Thi. Ông ta biết Giang Thanh muốn làm “cách mạng Kinh kịch” muốn nắm được “Kinh kịch hiện đại”, theo bà ta chắc là hay, ở Thượng Hải nắm chắc “Kinh kịch hiện đại” thì rõ ràng sẽ là con đường hay nhất để tiếp cận bà ta.

Trương Xuân Kiều nóng lòng muốn ra sức phục vụ Giang Thanh. Ông ta nói với Giang Thanh: “Thượng Hải không chỉ có “phá”- cũng có thể “xây” được! Thưa đồng chí Giang Thanh, hãy giao nhiệm vụ cho Thượng Hải đi, tôi nhất định sẽ tổ chức tốt giới Kinh kịch Thượng Hải”.

Cuối cùng Trương Xuân Kiều đã nhận được nhiệm vụ do Giang Thanh giao. Giang Thanh lại “long trọng thăm Thượng Hải”, từ ngày 25 tháng 12 năm 1963 đến ngày 22 tháng 1 năm 1964. Thượng Hải tổ chức Hội diễn kịch nói Khu vực Hoa Đông. Hội diễn lần này nếu nói theo ngôn từ tuyên truyền lúc bấy giờ là được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Kha Khánh Thi và sự quan tâm của đồng chí Giang Thanh. Trong Hội diễn lần này, Trương Xuân Kiều đã nắm chắc cơ hội, theo sát Giang Thanh, ông ta mời Giang Thanh đến Viện Kinh kịch “chỉ đạo dựng” vở “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn”. Thế là “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn” trở thành vở kịch mẫu cách mạng đầu tiên do “đồng chí Giang Thanh đích thân bồi dưỡng”. Thượng Hải cuối cùng đã có kịch mẫu, mục đích tạm thời của Trương Xuân Kiều đã đạt được, ông ta rất vui. Tiếp liền sau đó là nhiệm vụ thứ hai được giao, mùa đông năm 1964, Giang Thanh xem vở Hoài kịch “Buổi sớm trên hải cảng” ở Thượng Hải, bà ta rất hứng thú nói với Trương Xuân Kiều: ““Buổi sớm trên hải cảng” cũng có thể biến thành Kinh kịch đấy!”.

Trương Xuân Kiều tuân theo “chỉ thị” của Giang thanh, cố công dồn sức nắm cho được “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn” nắm “Hải cảng” dựng lên hai vở kịch mẫu “Giang ký” ở Thượng Hải. Từ đó Trương Xuân Kiều được “tặng” một cái tên kỳ lạ: “Bí thư hai vở kịch”! Trương Xuân Kiều dựa vào con đường “nắm Kinh kịch hiện đại” nhanh chóng dựa được vào “đệ nhất phu nhân” từ đó mà lên nhanh như diều.

Ngày 9 tháng 4 năm 1965, Kha Khánh Thi ốm chết. Đối với Trương Xuân Kiều mà nói buồn vui lẫn lộn. Buồn vì cái chết của Kha Khánh Thi đã làm Trương Xuân Kiều mất đi một cái cột trụ phía sau, vui vì chính là do mất Kha Khánh Thi, việc “xây dựng căn cứ” của Giang Thanh ở Thượng Hải sẽ phải dựa vào Trương Xuân Kiều. Thế là Trương Xuân Kiều thay thế Kha Khánh Thi, cho tới sau này nhờ vào “cuộc cách mạng tháng Giêng” mà trở thành “một kẻ cầm đầu” ở Thượng Hải.

Từ sau khi Kha Khánh Thi chết, Giang Thanh đến Thượng Hải liên tục. Mỗi lần xe lửa còn chưa tới ga Thương Hải, Trương Xuân Kiều đã đứng nghiêm chỉnh chờ đợi ở sân ga từ lâu, cung kính đón chờ Giang Thanh đến thăm. Trương Xuân Kiều bây giờ đã thành “Bí thư bốn vở kịch”. Giang Thanh lại giao nhiệm vụ làm hai vở vũ ba-lê “Bạch Mao nữ” và vở Kinh kịch “Kỳ tập Bạch Hổ đoàn”. Trương Xuân Kiều cảm thấy gánh nặng trên vai đè nặng. Ông ta muốn tìm kiếm một người trong nghề “trung thực” để gánh đỡ ông ta. Ông ta đã tìm được Vu Hội Vinh, con người Vu Hội Vinh “trung thực với Giang Thanh, tinh thông “việc nịnh bợ” đối với loài kịch mẫu cũng là người trong nghề. Trương, Giang rất mến mộ anh ta”.

Vu Hội Vinh được Trương, Giang nâng đỡ, đã trở thành “kẻ mới phát trong chính trị”. Trương Xuân Kiều đã có kẻ thân cận đắc lực: Thông qua Vu Hội Vinh nắm “kịch mẫu cách mạng”, thông qua Diêu Văn Nguyên nắm một nhiệm vụ tuyệt mật khác - Giang Thanh giao cho việc phê phán “Hải Thụy bãi quan”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:21:52 pm

2. “Kế chàng trai trẻ” múa “gậy vàng” gánh trọng trách.

Lý ra, ông Trưởng ban Tuyên truyền này, hoàn toàn có thể một mình đảm đương nhiệm vụ nặng nề do Giang Thanh giao phó. Có điều, tâm địa Trương Xuân Kiều có nhiều, không như Du Minh Hoàng đến đấy đi đấy. Trương Xuân Kiều biết lần giao nhiệm vụ này có lý do không nhỏ, liên quan rất rộng rất sâu, thà ông ta lui về sau để chỉ huy còn hơn, nên ông ta đã giới thiệu với Giang Thanh một nhà “bình luận văn nghệ trẻ” ở Thượng Hải.

Người này là Diêu Văn Nguyên. Theo hồi ức của Nhậm Bách Tôn, Giám đốc khách sạn Cẩm Giang, Thượng Hảì, Giang Thanh đã triệu kiến Diêu Văn Nguyên lần đầu tiên ở câu lạc bộ Cẩm Giang. Nhậm Bách Tôn nhìn thấy Diêu Văn Nguyên đi một chiếc xe đạp cũ đến dự. Diêu Văn Nguyên mới 34 tuổi, mặc một bộ quần áo màu xanh lam kiểu Trung Sơn, một đôi giày ba-ta màu cỏ úa, với một đôi mắt cá vàng. Cha của anh ta là Diêu Liên Tử, cũng có thể coi là một “danh nhân”. Trong cuốn “Từ điển Danh từ mới” do Hồ Tế Đào chủ biên và do Xuân Minh Thư điếm Thượng Hải xuất bản vào tháng 9 năm 1949. Trong “phần nhân vật” có mục từ “Diêu Liên Tử”, toàn văn như sau:

[Diêu Liên Tử] Người Gia Ký tỉnh Chiết Giang, là xuất bản gia, là một trong những thành viên của Liên minh các nhà văn cánh tả. Từng chủ biên “Đời sống văn nghệ” đã cùng Chu Khởi Ứng (người dẫn chú: tức Chu Dương) sáng lập tờ “Văn nghệ nguyệt báo”. Thời kỳ kháng chiến đã lập Thư phòng Nhà văn ở Trùng Khánh là một trong những ủy viên Hội Liên hiệp Văn học toàn qốc, cùng Lão Xá biên soạn chung “Văn nghệ kháng chiến”. Hiện nay thư phòng Nhà văn đã dời về Thượng Hải. Đã viết các tác phẩm”Tập cắt ảnh” và “Tranh phù thế”.

Trong mục từ này có viết là: Diêu Liên Tử gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào cuối năm 1927. Tháng 12 năm 1933 bị bắt, ít lâu sau thì phản bội, ngày 14 tháng 5 năm 1934 đã công bản tuyên ngôn từ bỏ Đảng Cộng sản của Diêu Liên Tử” in trong “Trung ương nhật báo”.

Diêu Văn Nguyên ra đi từ một gia đình văn hóa, từ thời Phổ thông trung học, vẫn luôn mơ tưởng làm một nhà văn, anh ta ngưỡng mộ Hồ Phong vì thế anh ta được người cha chỉ bảo để viết “Bàn về tư tưởng văn nghệ Hồ Phong”.

Khi bài này viết xong, đúng vào năm 1954 có phong trào “Phê phán Hồ Phong”. Diêu Văn Nguyên lúc này đã kế thừa bản lĩnh di truyền của người cha là Diêu Liên Tử - một thương nhân đầu cơ văn hóa lập tức chuyển hướng “quay giáo đánh lại”, lần đầu tiên để lộ bộ mặt “phái tả” đích thực trên văn đàn Thượng Hải.

Cũng chính trong phong trào này, Trương Xuân Kiều với tư cách là Giám đốc kiêm Tổng biên tập tờ “Giải phóng nhật báo” đã tìm ra Diêu Văn Nguyên. Được Trương Xuân Kiều ủng hộ Diêu Văn Nguyên lần lượt cho đăng 13 bài phê phán Hồ Phong, “cái gậy” của anh ta lần đầu tiên đã tạo nên uy lực.

Ngày 10 tháng 6 năm 1957 là bước ngoặt trong cuộc đời của Diêu Văn Nguyên.

Hôm ấy, Mao Trạch Đông mở tờ “Văn hối báo” phát hiện một bài ngắn “Ghi lại để tham khảo – Cảm nhận tình cờ khi đọc báo”. Tên tác giả là Diêu Văn Nguyên.

Bài “Cảm nhận tình cờ” là bản tin điện của Tân Hoa xã dẫn vào ngày 25 tháng 5, bản tin này đã đưa tin về bài nói chuyện của Mao Trạch Đông khi tiếp kiến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 Đoàn thanh niên Dân chủ mới Trung quốc tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 5.

Từ việc sắp xếp đưa tin này của các báo, Diêu Văn Nguyên đã thấy “cửa”. Vô cùng xúc động đã viết “Ghi lại để tham khảo”. Mao Trạch Đong xem xong rất khen ngợi, ông lập tức thông báo cho “Nhân dân nhật báo” phải đăng lại. Mao Trạch Đông còn ra lệnh phải lấy danh nghĩa của Ban biên tập viết bài “Phương hướng tư sản trong một thời kỳ của “Văn hối báo” đăng cùng với bài của Diêu Văn Nguyên trên trang nhất “Nhân dân nhật báo” ngày 14 tháng 6 năm 1957. Báo chí các nơi trong cả nước đã đăng lại hai bài này. Đài phát thanh Nhân dân Trung ương đã trích đọc trong bản tin thời sự.

Bài của Ban biên tập “Nhân dân nhật báo” lần đầu tiên công khai nêu tên “Văn hối báo” và “Quang Minh nhật báo” khen ngợi bài của Diêu Văn Nguyên, cả nước đều chú ý.

Thế là, Diêu Văn Nguyên với tư cách là một “ngôi sao” mới trên văn đàn vang bóng một thời trên cả nước, anh ta một bước trở thành thành viên của tổ chức Đảng của Hỏi liên hiệp nhà văn Thượng Hải, thành viên của nhóm lãnh đạo chống phái hữu.

Về sau, Diêu Văn Nguyên theo Trương Xuân Kiều nã pháo vào “Văn hối báo”, “Tân quan sát”, “đánh” Vương Nhược Vọng, Thi Trập Tôn, Lưu Sa Hà, Lò Mãng, Từ Trung Ngọc, Từ Mậu Dung, Phùng Tuyết Phong, Ngải Thanh, Ba Kim, Đinh Linh...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:23:29 pm

Năm 26 tuổi Diêu Văn Nguyên đã trở thành tên ác ôn chính cống trên văn đàn.

Nếu nói, khi chống Hồ Phong, Diêu Văn Nguyên chẳng qua chỉ là một chiếc gậy nhỏ và lúc chống phái hữu đã là chiếc gậy đồng, còn trong phê “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm thì anh ta đã là chiếc gậy vàng trong tay của Giang Thanh.

Có sự ủng hộ của Trương Xuân Kiều, Giang Thanh coi Thượng Hải là “căn cứ”. Để đạt được mục đích đen tối của mình, bà ta thường xuyên đi đi lại lại giữa Thượng Hải và Bắc Kinh.

Năm 1963, Giang Thanh nhờ Kha Khánh Thi giúp đỡ, đã bác lại “thuyết có ma vô hại” của Liêu Mạt Sa, nổ phát súng đầu tiên mở màn cuộc “đại phê phán”.

Phát súng thứ hai nhằm vào Ngô Hàm. Nhưng ở Bắc Kinh, Giang Thanh không được ủng hộ. Thế là đến năm 1965, Giang Thanh lại xuống phía Nam một lần nữa, bà ta muốn tìm kiếm “một cây bút” để phê phán “Hải Thuỷ bãi quan” của Ngô Hàm. Diêu Văn Nguyên lại được lựa chọn để làm “cây bút” này.

Việc sáng tác của Diêu Văn Nguyên ở trong trạng thái tuyệt mật. Vì anh ta chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học, không hiểu biết gì về lịch sử nhà Minh, anh ta bèn cho người đi tìm tư liệu về nhà nhờ bố. Ông ta mạo hiểm phê “Hải Thụy bãi quan”.

Vậy là với Giang Thanh làm chủ soái, Trương Xuân Kiều làm quân sư, Diêu Văn Nguyên làm “cây bút” thực hiện “ba kết hợp” bí mật viết bài bình về “Hải Thụy bãi quan”. Trên thì giấu Ban Tuyên truyền Trung ương, Bộ Chính trị, dưới thì giấu Thành uỷ Thượng Hải, Cục Hoa Đông. Đến ngày 10 tháng 12 năm 1965, bài viết dài: “Bình vở kịch lịch sử mới “Hải Thụy bãi quan”” ký tên “Diêu Văn Nguyên” đăng trên tờ “Văn hối báo” Thượng Hải. Phê phán “Hải Thụy bãi quan” là việc lớn trong cả đời của Trương Xuân Kiều, cũng là thời cơ để Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên kết bè kéo cánh.

Ngày 28 tháng 3 năm 1966, Khang Sinh ngầm tố cáo Bành Chân với Mao Trạch Đông (tức là tổ 5 người đã khởi thảo “Đề cương tháng Hai” ra sao). Mao Trạch Đông đem tình hình mà Khang Sinh nói, kể lại cho Giang Thanh biết. Giang Thanh lập tức gọi điện cho Trương Xuân Kiều đến nhà. Khi Trương Xuân Kiều nắm bàn tay to và rắn chắc của Mao Trạch Đông, ông ta “cảm thấy như có một luồng hơi ấm áp hạnh phúc chảy khắp cơ thể”.

Trương Xuân Kiều quả là đã tăng tiến nhanh chóng. “Địch Khắc” tên ác ôn nhãi ranh trên bãi Thượng Hải thuở xưa, nay nghiễm nhiên có thể ngồi trên xa-lông bên cạnh lãnh tụ vĩ đại. Ông ta nhờ việc làm “kịch mẫu cách mạng” mà tiếp cận được “đệ nhất phu nhân”, lại nhờ việc phê phán “Hải Thụy bãi quan” mà tiếp cận được vĩ nhân. Trước mặt Mao Trạch Đông, Trương Xuân Kiều không nhiều lời, chỉ chăm chú ghi chép với dáng vẻ của một tín đồ ngoan đạo. Ông ta dự cảm tới việc sẽ bước lên tầng cao nhất trong chính giới Trung Quốc.

Trên con đường làm quan, Trương Xuân Kiều đã nhảy một bước có tính chất then chốt, nhận chức tổ phó Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, đây trở thành bước nhảy từ Thượng Hải lên Trung ương của ông ta, trở thành bàn đạp để ông ta bước vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ông ta trở thành một trong hai ông thiện và ông ác ở cửa chùa của Giang Thanh.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:24:32 pm

3. Đối với “Hải Thụy bãi quan” phải nhằm vào hướng nào để nổ súng?

Bài thứ hai “Phê bình có phân lượng” của Giang Thanh nhằm bắn vào hướng nào?

Mục tiêu ấy, bà ta đã xác định từ ngày 6 tháng 7 năm 1963. Hôm ấy bà ta xem vở Kinh kịch lịch sử mới “Hải Thụy bãi quan” do Ngô Hàm viết, đã nói “vở kịch này tồn tại sai lầm nghiêm trọng về chính trị, phải kiên quyết cấm diễn vở này”.

Hình như Giang Thanh có con mắt và cái mũi khác với mọi người, đã nhìn ra và ngửi thấy cái “cỏ độc” của “Hải Thụy bãi quan”. Có điều là, chỉ mình Giang Thanh kêu ầm là “cỏ độc” thì không ăn thua. Nhà sử học Lê Chú đã từng có một lời bình đối với Giang Thanh như sau:

“Địa vị của Giang Thanh những năm ấy, thực ra là cái máy thăm dò. “Thanh cung bí sử”, “Truyện Vũ Huấn”, “Nghiên cứu về Hồng Lâu mộng”, “Hải Thụy bãi quan” đều do bà ta ra mặt, bà ta cho là phải phê phán, nhưng mọi người từ xưa đến nay đều không cho bà ta là giỏi giang, nên nghe xong cũng chỉ để đấy. Sau đó bà ta về báo cáo: “Họ không nghe lời của Chủ tịch!”.

“Cái máy thăm dò” Giang Thanh, thực sự cần “quay về báo cáo”. Giang Thanh nắm được “Thượng phương bảo kiếm” thì Giang Thanh không còn là Giang Thanh giản đơn nữa.

Mới đầu, Mao Trạch Đông không để ý đến những báo cáo của “cái máy thăm dò”. Vì học tập “tinh thần Hải Thụy” là do chính Mao Trạch Đông nêu ra.

Đó là vào tháng 4 năm 1959, trong cuộc họp Toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa 8, tổ chức ở khách sạn Cẩm Giang, Thượng Hải. Trong thời gian họp đã tổ chức khiêu vũ. Mao Trạch Đông đã nhảy với một nữ giáo sư đại học, vừa nhảy vừa trò chuyện. Lời đáp của nữ giáo sư làm cho Mao Trạch Đông phải suy nghĩ rất kỹ. Mao Trạch Đông đã kể lại như thế này:

“Tôi cùng nhảy với một đồng chí nữ, hỏi cô ấy công tác ở Thượng Hải thế nào. Cô ta đáp, tôi là giáo sư đại học nên không thể nói. Tôi nói, cô không để ý tới chính trị à? Cô ấy đáp: “Không phải là không để ý, mà là không dám để ý”. Tôi hỏi Kha Khánh Thi ra sao? Cô ấy nói: Càng không dám kể. Tôi lại hỏi: Tôi thế nào? Cô ấy nói: Chủ tịch sáng suốt vĩ đại. Xem ra sự tín nhiệm của vị giáo sư này đối với chúng ta là rất có hạn”.

Lời của vị giáo sư này làm cho Mao Trạch Đông nghĩ tới: “Thiếu Kỳ v.v... là bạn chiến đấu bao nhiêu năm bên cạnh mình, trước mặt mình cũng không dám nói!”

Cũng đúng lúc hội nghị, biết Mao Trạch Đông thích xem Tương kịch, nên đã bố trí để Mao Trạch Đông đi xem Tương kịch “Sinh tử bài”, hình tượng cương trực không a tòng theo đuôi của Hải Thụy trong “Sinh tử bài” đã làm cho Mao Trạch Đông rất cảm động.

Thế là sau đó, Mao Trạch Đông đã mượn cuốn “Minh sử” xem “Truyện Hải Thụy” và rất cảm khái.

Vậy là vào sáng ngày 4 tháng 4, Mao Trạch Đông đã nói đến Hải Thụy trong hội nghị, mong mọi người giống như Hải Thuỵ, đã phê bình gay gắt Hoàng đế Gia Tĩnh.

Thư ký của Mao Trạch Đông là Hồ Kiều Mộc, đã để lộ nội dung bài nói chuyện của Mao Trạch Đông với Ngô Hàm, khuyến khích ông viết nhiều bài tuyên truyền “tinh thần Hải Thụy”.

Sự khuyến khích như vậy đã làm cho Ngô Hàm thấy cần tích cực hưởng ứng. Trước tiên là trên “Nhân dân nhật báo” đăng bài: “Hải Thụy mắng Hoàng đế”, “Bàn về Hải Thụy”. Tiếp đó theo lời hẹn với Mã Liên Nương diễn viên Kinh kịch nổi tiếng, viết kịch bản Kinh kịch “Hải Thụy bãi quan”.

Cái “máy thăm dò” Giang Thanh xem Kinh kịch “Hải T'hụy bãi quan” lại khăng khăng nói bừa rằng hoàng đế trong kịch là ám chỉ Mao Trạch Đông, Hải Thụy là Bành Đức Hoài. Và cứ thế bà ta “tìm chuyện bí mật” nói đóng sống rằng “Hải Thụy bãi quan” có “sai lầm chính trị nghiêm trọng”, là “cây cỏ độc lớn”.

Có điều là, vào tháng 7 năm 1962, lá bài “tìm chuyện bí mật” mà Giang Thanh làm vẫn chưa được sự ủng hộ của Mao Trạch Đông.

Thời gian trôi qua, sợi dây “đấu tranh giai cấp” càng bện càng săn, càng ngày càng có lợi cho Giang Thanh.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:24:58 pm

Ba tháng sau, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8, Khang Sinh lại dùng cách “tìm chuyện bí mật” nói tiểu thuyết “Lưu Chí Đan” là tiểu thuyết chống Đảng. Mao Trạch Đông thì nói “lợi dụng tiểu thuyết để tiến hành hoạt động chống Đảng là một phát minh lớn”, điều này chắc chắn đã làm cho Giang Thanh tin tưởng bội phần về việc phê phán “Hải Thụy bãi quan”.

Trước tiên Giang Thanh chọn “Lý Tuệ Nương” của Mạnh Siêu và “Thuyết có ma vô hại” của Liêu Mạt Sa làm tấm bia cho cuộc “đại phê phán”.

Tháng 6 năm 1964, trong cuộc nói chuyện về việc “Nhân dân nhật báo” đã ủng hộ việc phê phán “Thuyết có ma vô hại”. Mao Trạch Đông nói:

“Năm 1961, “Nhân dân nhật báo” đã tuyên truyền “Thuyết có ma vô hại”, sau đó vẫn không thấy thú nhận về việc này. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8 năm 1962, toàn Đảng đều nắm đấu tranh giai cấp, nhưng “Nhân dân nhật báo” vẫn chưa phê phán “Thuyết có ma vô hại”. Về phương diện văn học nghệ thuật, công tác của “Nhân dân nhật báo” làm không tốt. “Nhân dân nhật báo” trong một thời gian dài đã không nắm công tác lý luận. Từ khi “Nhân dân nhật báo” ra đời đến nay, tôi đã phê bình khuyết điểm này, nhưng vẫn không cải tiến, cho đến gần đây mới bắt đầu coi trọng công tác này.

Biết được bối cảnh bài viết của “Lương Bích Huy” (bút danh của tác giả bài “Thuyết có ma vô hại” tức Trưởng ban Tuyên truyền cục Hoa Đông thuộc Trung ương Đảng là Du Minh Hoàng biết được sự phê bình của Mao Trạch Đông, “Phồn Tinh (tức Liêu Mạt Sa) không thể không viết bài “Thuyết có ma vô hại” của tôi là sai lầm đăng trên “Bắc Kinh nhật báo” ngày 18 tháng 2 năm 1965.

Ngày 12 tháng 12 năm 1963, Mao Trạch Đông phê vào báo cáo của Kha Khánh Thi, phê bình giới văn nghệ: “Rất nhiều ngành đến nay vẫn là “người chết” thống trị”, cải tạo xã hội chủ nghĩa “đến nay hiệu quả thu được rất ít ỏi”. Ngày 27 tháng 6 năm 1964, lại phê vào “Báo cáo về tình hình chỉnh phong của Hội liên hiệp Văn học và các hiệp hội trực thuộc trong toàn quốc”, phê bình những hiệp hội này “mấy năm gần đây đã ngã xuống bên bờ của chủ nghĩa xét lại”. Đây chính là hai “lời phê” nổi tiếng của Mao Trạch Đông đối với giới văn nghệ.

Tháng 8 năm 1964, Mao Trạch Đông phê vào “Báo cáo thỉnh thị của Ban Tuyên truyền Trung ương về việc công khai chiếu và phê phán hai bộ phim “Bắc quốc Giang Nam” và “Tháng Hai xuân sớm”… Phải đưa những tài liệu xét lại này ra trước công chúng. Có thể không phải chỉ có hai bộ phim này, mà còn một số nữa cần phải phê phán”.

Vậy là cả nước đã xuất hiện cao trào phê phán.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:29:33 pm

4. Giang Thanh cầm “Thượng phương bảo kiếm” thì không phải là Giang Thanh đơn giản nữa...

Khang Sinh ủng hộ Giang Thanh, thế là, Mao Trạch Đông cũng đồng ý phê phán vở kịch lịch sử mới viết “Hải Thụy bãi quan”. Giang Thanh cầm “Thượng phương bảo kiếm”, đến Thượng Hải bí mật tổ chức viết bài.

Ngày 12 tháng 4 năm 1967, khi Giang Thanh nói chuyện tại Hội nghị Quân ủy mở rộng với tựa đề là “Vì nhân dân lập công mới”, đã phun ra điều thầm kín về việc bà ta đi Thượng Hải để tổ chức phê phán “Hải Thụy bãi quan”:

Phê phán “Hải Thụy bãi quan” cũng là do đồng chí Kha Khánh Thi ủng hộ. Đồng chí Trương Xuân Kiều, đồng chí Diêu Văn Nguyên phải chịu nguy hiểm lớn, vẫn phải giữ bí mật. Trước Hội diễn Kinh kịch hiện đại cách mạng, tôi đã điều tra nghiên cứu, còn tham gia vào thực tiễn nghệ thuật, cảm thấy phê bình văn nghệ cũng có vấn đề. Tôi có một số tài liệu, vì sợ Chủ tịch quá mệt, nên không đưa cho Chủ tịch xem. Có một hôm, một đồng chí đã đưa “Truyện Chu Nguyên Chương” (người lập ra triều đại nhà Minh - N.D) do Ngô Hàm viết cho Chủ tịch xem, tôi bảo: Đừng, Chủ tịch rất mệt, chẳng qua ông ta muốn có tiền nhuận bút, muốn có danh, cứ để cho ông ta xuất bản, sau khi xuất bản sẽ phê bình. Tôi còn phải phê bình “Hải Thụy bãi quan” của ông ta đã! Lúc ấy Bành Chân ra sức bảo vệ Ngô Hàm, trong lòng Chủ tịch rất rõ, nhưng không nói ra. Vì Chủ tịch cho phép tôi mới dám đi tổ chức bản thảo này, giữ bí mật đối với bên ngoài, đến bảy tám tháng, sửa không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần đồng chí Xuân Kiều đến Bắc Kinh là có người dò la, có một tên phản cách mạng phán đoán rằng, nhất định có liên quan đến việc phê phán Ngô Hàm. Đấy là có chút quan hệ, nhưng cũng là làm kịch, nghe băng ghi âm, sửa chữa âm nhạc. Nhưng lại ngầm giấu bài bình “Hải Thụy bãi quan” này. Vì hễ để bọn biết thì họ sẽ bóp chết ngay.

Trong lúc Giang Thanh cùng Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên mmật mưu ở “căn cứ Thượng Hải” thì từ Thành Đô truyền đến một tin làm họ đau lòng. Ngày 9 tháng 4 năm 1965, Kha Khánh Thi đã bị chết tại đây!

Từ đó, Giang Thanh đã mất đi một người ủng hộ mạnh mẽ ở Thượng Hải. May thay nhờ có Kha Khánh Thi giới thiệu, bà ta đã xây dựng được mối liên hệ mật thiết với Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên, lúc ấy vẫn chỉ là biên ủy kiêm Trưởng ban biên tập Văn nghệ tờ “Giải phóng nhật báo” quyền lực trong tay có hạn. Trương Xuân Kiều thay Kha Khánh Thi trở thành người ủng hộ tin cậy của Giang Thanh ở Thượng Hải.

Ngày 10 tháng 12 năm 1965, Trương Xuân Kiều tổ chức cuộc toạ đàm về “Hải Thụy bãi quan” ở Thượng Hải, cũng đã từng để lộ một số điều bí mật trong nội bộ. Có điều là lúc ấy vẫn chưa thực đưa ra con “chủ bài” Giang Thanh, Trương Xuân Kiều cố uốn bút nói rằng tự đọc “Tập Hải Thụy” mà cảm thấy có vấn đề nghiêm trọng”:

Cuộc luận chiến bắt đầu từ kịch (chú: kịch chỉ Kinh kịch “Hải Thụy bãi quan”). Vở kịch này, tôi chưa xem. Nghe được bàn luận đã là năm 1964. Có người nói là cỏ độc, có người bảo là không thể đề cao như thế. Tháng 2 năm nay, đồng chí Diêu Văn Nguyên bắt đầu nghiên cứu vấn đề này. Đồng chí ấy đã bàn với tôi, làm cách nào? Đồng chí ấy không phải là nhà sử học, tôi cũng chưa đọc lịch sử nhà Minh, còn đối thủ lại là chuyên gia, là quyền uy, trận này không dễ đánh. Chúng tôi xác định: không đánh trận khi không có chuẩn bị, không đánh trận khi không nắm chắc, nghiêm chỉnh học tập, miệt mài đọc sách, nắm lấy tài liệu, quyết không làm rùm beng, để tránh bài chưa viết ra, tin đồn đã ầm ỹ. Cứ như vậy đã viết đến lần thứ sáu, đã mời bốn năm đồng chí tham gia thảo luận, đã sửa đi sửa lại đến cuối tháng 8 mới có được bản thảo đầu tiên, gửi đến mười mấy đồng chí để trưng cầu ý kiến. Lúc đưa đăng đã hơn tám tháng, là bản viết lại lần thứ 10. Quá trình như vậy, cũng là quá trình nhận thức đối với vở kịch này, một quá trình học tập, bắt đầu là xem kịch bản, các bài bình luận và giới thiệu, đọc “Tập Hải Thụy” (người dẫn chú: do Ngô Hàm viết) cảm thấy vấn đề nghiêm trọng, không phê bình không được. Nhưng, luận điểm của chúng tôi có đứng vững không, phân tích có đầy đủ không, liều lượng có thích đáng không v.v… là điều rất đau đầu rất khó khăn. Ví dụ có liên hệ tới tình hình năm 1951-1956 không? Có liên hệ đến chuyện “làm ăn riêng lẻ”, “xử lại án cũ” không? Chúng tôi đã suy nghĩ nhiều.

Tuy nói úp úp mở mở, nhưng xét cho cùng thì Trương Xuân Kiều vẫn nói ra một số chuyện bên trong.

Thứ nhất, ông ta và Diêu Văn Nguyên đầu chưa xem qua Kinh kịch “Hải Thụy bãi quan”. Mà chỉ là nghe “có người nói là cỏ độc”, mới bắt tay vào phê phán. Cái “có người này” đương nhiên là chỉ Giang Thanh.

Thứ hai, thừa nhận ông ta và Diêu Văn Nguyên chưa đọc lịch sử nhà Minh, vì để phê “Hải Thụy bãi quan” nên không thể không bắt tay “miệt mài đọc sách”.

Thứ ba, công tác chuẩn bị viết bài, bắt đầu vào tháng 2 năm 1965, trong 8 tháng, sửa 10 lần.

Thứ tư, đến bản thân tác giả cũng cảm thấy rất khó khăn, khi liên hệ “Hải Thụy bãi quan” với việc “làm ăn riêng lẻ” và “xử lại án cũ”.

Thứ năm, sự bí mật mà Giang Thanh nói, thực ra quá nửa là do lần phê phán này chỉ là một sự vu cáo chính trị cả vú lấp miệng em, cho nên không dám làm rùm beng.

Dưới cái màu đen dày đặc bao phủ, Giang, Trương, Diêu đã thảo luận hết lần này đến lần khác, sửa đi sửa lại, cuối cùng đã nặn ra được “bài văn lớn” này.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:31:10 pm

Báo chí Trung Quốc năm 1965 nồng nặc mùi thuốc súng.

Tháng giêng, “Dương Thành vãn báo” (Báo Dương Thành buổi chiều - N.D.) “Nam Phương nhật báo” bắt đầu phê phán tiểu thuyết lịch sử “Liễu Tông Nguyên bị cách chức” - Liễu Tông Nguyên bị cách chức được người “tìm chuyện bí ẩn” coi là Bành Đức Hoài bị “cách chức”. “Văn nghệ báo” bắt đầu phê phán Khang Trạc.

Tháng 2, “Điện ảnh văn học” phê bình kịch bản điện ảnh “Người thân” là tán phát những độc tố tư tưởng hòa bình tư sản. “Văn nghệ báo” thì phê bình tiểu thuyết lịch sử “Đào Uyên Minh viết “Bài ca đưa đám”” của Trần Tường Hạc, tựa đề bài viết là câu chất vấn với giọng điệu gay gắt: “Viết bài ca đưa đám ai?” Tháng 3, “Nhân dân nhật báo” đăng bài “Lại bàn về “Lý Tuệ Nương”” do Mạnh Siêu mới viết. Lời tòa soạn không một chút mập mờ nói “Lý Tuệ Nương” là một cây cỏ độc chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội.

Tháng 5, “Quang Minh nhật báo” đăng bài “Phim “Cửa hàng họ Lâm” do đồng chí Hạ Diễn cải biên cần phải phê phán”.

Tháng 6, “Công nhân nhật báo” đăng bài ““Thành phố không có đêm” cần phê phán triệt để”.

…

Chính trong làn sóng âm thanh “cần phải phê phán”, “phê phán triệt để” ấy, ngày 7 tháng 4, Trung ương Đảng “Trả lời về vấn đề điều chỉnh lãnh đạo của Bộ Văn hóa, miễn chức vụ lãnh đạo Bộ Văn hóa của Tề Yến Minh và Hạ Diễn. Giới điện ảnh bắt đầu phê phán cái gọi là “Đường lối Hạ, Trần” cũng tức là đường lối Hạ Diễn và Trần Hoang Môi.

Chính trong làn sóng âm thanh “cần phải phê phán” “phê phán triệt để” ấy, ngày 10 tháng 11, trên “Văn hối báo” của Thượng Hải đã xuất hiện bài phê phán dài với tựa đề “Bình vở kịch mới biên soạn “Hải Thụy bãi quan”” tác giả là Diêu Văn Nguyên.

“Bài văn lớn” này chính là do Giang Thanh qua lại Bắc Kinh - Thượng Hải “giữ bí mật bảy tám tháng trời, phải sửa không biết bao nhiêu lần” cuối cùng đã lộ diện.

Tuy ký tên “Diêu Văn Nguyên nhưng trên thực tế tác giả phải là “Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên”.

Giang Thanh là “tác giả thứ nhất” của bài viết này, là lẽ tất nhiên. Người nhìn thấy trước nhất “Hải Thụy bãi quan” có “sai lầm chính trị nghiêm trọng” chính là bà ta.

Miệng Trương Xuân Kiều vốn rất kín. Có điều là như hồi ức của Lý Hiểu Minh biên kịch vở “Hải cảng” thì Trương Xuân Kiều có một hồi rất đắc ý đã từng nói với ông rằng: “Bình vở kịch lịch sử mới viết “Hải Thụy bãi quan” lấy danh nghĩa Kiều Văn Nguyên để công bố nhưng có khá nhiều nội dung do tôi viết.

Vậy là một quả “đạn pháo hạng nặng” đã bắn trúng vào “Văn hối báo” của Thượng Hải, vì lần trước “Thuyết có ma vô hại” cũng được công bố trên báo này. Hai tờ báo lớn của Thượng Hải là “Giải phóng nhật báo” và “Văn hối báo”, “Giải phóng nhật báo” lúc ấy là báo của cơ quan Thành ủy Thượng Hải, thuộc “báo Đảng”, nếu đăng trên “Giải phóng nhật báo” thì dễ bị coi là đại biểu cho Thành ủy Thượng Hải, còn “Văn hối báo” từ xưa đến nay có “thân phận” là “báo chí dân gian” tiện cho việc “triển khai thảo luận” - “câu cá” mà.

Còn việc ký tên Diêu Văn Nguyên là vì Diêu Văn Nguyên còn chưa nổi danh, bất quá chỉ là “Nhà bình luận văn nghệ trẻ tuổi”, tiện cho những người có ý kiến khác nhau “thảo luận” với anh ta. Lúc ấy Trương Xuân Kiều đã trở thành Bí thư Ban bí thư Thành ủy Thượng Hải, ký tên ông ta: thì màu “văn chương quan phương” sẽ quá đậm.

Trước ngày bài viết của Diêu Văn Nguyên được công bố, ngày 2 tháng 11, Giang Thanh xuất hiện tại Nhà hát Thủ Đô ở Bắc Kinh, thẩm tra vở “Đá đỏ” của Đoàn Kinh kịch Bắc Kinh. Sự công khai lộ mặt của bà ta, người không hiểu nội tình sẽ cho rằng, bài viết của Diêu Văn Nguyên đăng ở Thượng Hải hơn một tuần sau đó, không liên quan gì đến bà ta. (Ít ngày trước đó, ngày 13 tháng 10, bà ta đã phát biểu ý kiến về phân cảnh kịch bản với nhóm làm phim “Trường thành Nam Hải tại Trung Nam Hải”).

Bài viết của Diêu Văn Nguyên được đăng ở Thượng Hải, nhưng mũi dùi công kích lại chỉ về Bắc Kinh, chỉ vào Thành ủy Bắc Kinh. Giang Thanh biết trước khi bài viết của Diêu Văn Nguyên được công bố, trong Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị có những người phụ trách các khu lớn tham gia, Mao Trạch Đông đã hỏi Bí thư thứ nhất kiêm Thị trưởng Bắc Kinh Bành Chân (từ năm 1949, Bành Chân vẫn giữ chức vụ này): “Có thể phê phán Ngô Hàm không?” Ngô Hàm là Phó Thị trưởng Bắc Kinh. Hiển nhiên là Bành Chân phải bảo vệ Ngô Hàm, nên đã nói mập mờ: “Ngô Hàm có một số vấn đề có thể phê phán”.

Ngay hôm bài của Diêu Văn Nguyên được đăng báo, Bành Chân được biết chiều hướng khác thường đã xảy ra ở Thượng Hải, lập tức ra lệnh cho thư ký nghĩ cách để có được tờ “Văn hối báo” ra ngày 10 tháng 11 với tốc độ nhanh nhất. Lúc ấy tờ “Văn hối báo” của Thượng Hải vẫn chưa phát hành bản hàng không ở Bắc Kinh.

Giang Thanh theo dõi chặt chẽ phản ứng của Thành ủy Bắc Kinh. Trụ sở phóng viên “Văn hối báo” thường trú tại Bắc Kinh ở vào giờ phút bận rộn nhất, phóng viên hoạt động ở khắp Bắc Kinh, thu thập tin tức “phản hồi” đối với bài viết của Diêu Văn Nguyên. Những tin này được đăng trong tập san nội bộ “Tình hình Văn hối”. Chu Ân Lai đã phát hiện “tình hình” không bình thường trong “Tình hình Văn hối”. Trương Xuân Kiều vội vã đổi thành “Ký giả giản báo” (tin vắn phóng viên) không ghi số, mỗi kỳ chỉ in 12 bản, né tránh được Chu Ân Lai. Giang Thanh đã nắm được chiều hướng các nơi qua “Ký giả giản báo”.

Từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 11, các báo “Giải phóng nhật báo” của Thượng Hải, “Chiết Giang nhật báo” của tỉnh Chiết Giang, “Đại chúng nhật báo” của tỉnh Sơn Đông, “Tân Hoa nhật báo” của tỉnh Giang Tô, “Phúc Kiến nhật báo” của tỉnh Phúc Kiến, “An Huy nhật báo” của tỉnh An Huy, “Giang Tây nhật báo” của tỉnh Giang Tây, lần lượt đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên, điều đó chứng tỏ 6 tỉnh và 1 thành phố thuộc Hoa Đông có cùng bước đi, ủng hộ bài viết của Diêu Văn Nguyên.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:34:22 pm

5. Đạn đại bác của Thượng Hải nổ ở Bắc Kinh

Bắc Kinh chịu một áp lực lớn.

Giám đốc “Bắc Kinh nhật báo”, chính là Phạm Cẩn, nguyên trước đây là vợ của Hoàng Kính. Từ tháng 8 năm 1952, Hoàng Kính giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ giới Công nghiệp I, tháng 9 năm 1956, được bầu làm ủy viên Trung ương Đảng. Tháng 4 năm 1957, lại kiêm nhiệm Chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước. Ở đại học ông chỉ học một năm toán học, một năm vật lý học, để có thể đảm nhiệm công tác lãnh đạo về phương diện kỹ thuật, đêm nào ông cũng tự học và ông đã làm toàn bộ các đề toán tập trong bốn cuốn “Vật lý học phổ thông”! Từ ngày 11 đến ngày 22 tháng 1 năm 1958, Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp có một bộ phận cán bộ lãnh đạo trung ương và một bộ phận cán bộ lãnh đạo địa phương tham gia, đó là “Hội nghị Nam Ninh” nổi tiếng. Hội nghị do Mao Trạch Đông chủ trì. Hoàng Kính cũng tham gia hội nghị. Trong hội nghị Mao Trạch Đông đã phê bình gay gắt việc chống làm bừa vào năm 1956, ông nói rằng chống làm bừa đã làm cho 600 triệu nhân dân mất tinh thần, không khí Hội nghị căng thẳng gay gắt. Sau khi tham gia hội nghị này, Hoàng Kính đáp máy bay đi từ Nam Ninh đến Quảng Châu. Trên máy bay, Hoàng Kính đột nhiên tái phát bệnh cũ. Mùa đông năm 1944, vì bị bệnh tâm thần nên ông đã phải nghỉ dưỡng bệnh, lúc này bệnh lại tái phát, trên máy bay, ông rời khỏi ghế ngồi nói lung tung một cách xúc động. Khi máy bay đến Quảng Châu, Đào Chú nghe tin, đã cho người đến đón Hoàng Kính đi khám bệnh. Ngày 10 tháng 2 năm 1958, cách tết âm lịch có 8 ngày, Hoàng Kính đột ngột qua đời ở Quảng Châu, lúc 46 tuổi! Bạc Nhất Ba chủ trì lễ truy điệu Hoàng Kính và đọc điếu văn ca ngợi Hoàng Kính là “đảng viên ưu tú của Đảng ta”, trong việc “Hưởng ứng lời kêu gọi vừa hồng vừa chuyên của Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch, trong các ủy viên Trung ương chúng ta, đồng chí là một người đi sâu nghiên cứu khá tốt”.

Sau khi Hoàng Kính mất, Phạm Cẩn tái hôn, bà đảm nhiệm Phó ban Tuyên truyền Thành ủy Bắc Kinh kiêm Giám đốc “Bắc Kinh nhật báo”. Đương nhiên là bà quan tâm đến “Tác phẩm lớn” của Diêu Văn Nguyên, đã hai lần gọi điện cho người quen ở “Văn hối báo” thăm dò bối cảnh của bài viết này. Bà cũng hai lần gọi điện cho Bành Chân, thỉnh thị có nên đăng bài này trên “Bắc Kinh nhật báo” hay không. Bành Chân nói: “Bắc Kinh nhật báo” không cần phải đăng lại ngoài việc đăng lại những bài xã luận quan trọng của “Nhân dân nhật báo” ra thì những bài khác trên “Văn hối báo” không cần phải đăng lại.

Áp lực ngày càng tăng. Như Giang Thanh sau này nói: “Sau khi bài viết do chúng tôi tổ chức đăng ở Thượng Hải, mà Bắc Kinh qua 19 ngày không đăng. Về sau Chủ tịch đã nổi nóng, bảo là in bài viết thành sách. Sau khi sách ra, Bắc Kinh cũng không cho phát hành. Lúc ấy tôi cảm thấy mới lạ lùng làm sao, chỉ có một Ngô Hàm thì hoàn toàn có thể đưa ra phê phán chứ sao, có quan hệ gì đâu! Sau này mới biết, sau khi bới ra được một Ngô Hàm thì là cả đống! Đủ thấy sự khó khăn của nó!”

Biết Mao Trạch Đông đã nổi nóng và biết “Giải phóng quân báo” chuẩn bị đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên, Bành Chân không thể không gọi điện cho Phạm Cẩn, chỉ thị đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên. Vậy là ngày 29 tháng 11, khi “Giải phóng quân báo” đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên, thì “Bắc Kinh nhật báo” cũng đăng lại. Ngày hôm sau “Nhân dân nhật báo” đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên. Qua một ngày sau “Quang Minh nhật báo” cũng đăng lại. Như vậy “trái đạn pháo hạng nặng” mà Giang Thanh bắn trên “Văn hối báo” ở Thượng Hải đã nở hoa toàn diện tại Bắc Kinh.

Giang Thanh không ngừng thông qua Trương Xuân Kiều, ra chỉ thị cho “Văn hối báo” ở Thượng Hải để mở rộng chiến quả:

“Sau khi bài của Diêu Văn Nguyên công bố, ý kiến rất nhiều, nhưng đều ngấm ngầm, phải đưa nó lên mặt”

“Phải dùng biện pháp “dụ kẻ địch vào sâu”, phải làm cho kẻ địch cảm thấy anh “không chịu nổi một đòn” như vậy hắn sẽ “đánh trả” và ra sân. Làm đi làm lại thì họ không lên ngựa không được”.

“Thời kỳ trước “Hải Thụy bãi quan” hơi quá một chút, nên kẻ địch không ra mặt”.

“Tóm lại phải điều động binh lực của địch”

“Dùng chiến thuật “bao vây mà không tiêu diệt, vây chung quanh để mở rộng chiến trường”.

Theo nguyên Tổng biên tập Trần Ngu Tôn và Chủ nhiệm văn phòng Tổng biên tập Toàn Nhất Mao của “Văn hối báo” Thượng Hải nói với người viết sách này rằng, lúc ấy Trương Xuân Kiều rõ ràng đã trở thành “Thái thượng hoàng” của “Văn hối báo”. Trương Xuân Kiều năm lần bảy lượt triệu kiến Trần Ngu Tôn, đưa cho ông ta nhiều “chỉ thị” trong đó có không ít là của Giang Thanh, nhưng lại không cho ghi chép. Trần Ngu Tôn đành phải dùng trí nhớ, rời khỏi chỗ Trương Xuân Kiều là về ngay tòa soạn, kể lại cho Toàn Nhất Mao, để Toàn Nhất Mao ghi lại thành văn bản để quán triệt chấp hành...

“Giương chiêu bài “trăm nhà đua tiếng” “Văn hối báo” đăng các bài chống lại bài viết của Diêu Văn Nguyên, để “dụ rắn ra khỏi hang”, “dụ địch vào sâu”.

Thế là “Hướng Dương Sinh” ra tay. Hướng Dương Sinh cũng tức là Bí thư Văn hóa Giáo dục của Thành ủy Bắc Kinh.

Thế là “Phương Cầu” ra tay. Phương Cầu, trong tổ biên soạn do Phó ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Chu Dương chủ trì.

Một hòn đá làm nổi lên hàng trăm ngàn lớp sóng; bài viết của Diêu Văn Nguyên đã dẫn đến cuộc đại luận chiến với quy mô chưa từng có. Cuộc luận chiến này trở thành màn giáo đầu của Đại Cách mạng văn hóa.

Trong màn chướng khí mây đen mù mịt ấy, lũ ôn thần quỷ sứ đều vội vã nhảy ra khỏi lồng.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Hai, 2010, 04:36:17 pm

3
Nam có hai tướng Thiện, Ác, Bắc có Quan, Lâm, Vương, Thích,
Giang Thanh được cưng chiều, “nghìn thu công nghiệp” chép vào “sử xanh”


Nam Bắc đối đầu, Mao Trạch Đông rời Bắc Kinh xuống phía Nam. Ngày thứ 4 sau khi công bố bài của Diêu Văn Nguyên tức ngày 13 tháng 10, chuyến tàu chuyên dụng đưa Mao Trạch Đông xuống phía Nam. Ông đến Sơn Đông trước, rồi đi An Huy, Giang Tô, đến ngày 19 tháng 11 tới Thượng Hải. Suốt dọc đường Mao Trạch Đông quan sát, suốt dọc đường ông nhắc nhở mọi người cảnh giác với chủ nghĩa xét lại.

Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 12, Mao Trạch Đông chủ trì hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng. Trong Hội nghị, Lâm Bưu vu cáo hãm hại Tổng Tham mưu trưởng Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc La Thụy Khanh là “tiếm quyền quân đội chống Đảng”. Thế là vị đại tướng có thân thể cao to thường được gọi là “La Trưởng tử” bị bãi quan, Dương Thành Vũ đảm nhiệm chức Quyền Tổng Tham mưu trưởng.

Sau đó, Mao Trạch Đông lại xuống Hàng Châu.

Sáng ngày 21 tháng 12 Mao Trạch Đông triệu kiến Trần Bá Đạt, Ngải Tư Kỳ, Hồ Thằng, Quan Phong, Điền Gia Anh bàn chuyện rất lâu tại Hàng Châu.

Trong cuộc nói chuyện đã đề cập tới bài của Thích Bản Vũ phê phán Tiễn Bá Tán và Ngô Hàm trên Tạp chí “Hồng kỳ” có tựa đề “Nghiên cứu lịch sử vì cách mạng” (có điều là trong bài viết không chỉ tên Tiễn Bá Tán và Ngô Hàm), nhưng cũng đã nói tới bài viết của Diêu Văn Nguyên.

Mao Trạch Đông nói nguyên văn như sau: “Bài viết của Thích Bản Vũ rất hay, tôi đã đọc ba lần, khuyết điểm là không chỉ đích danh. Bài của Diêu Văn Nguyên cũng rất hay, đã chỉ đích danh, đã gây chấn động rất lớn đối với giới kịch, giới sử học và giới triết học, nhưng vẫn chưa đánh trúng chỗ hiểm. Chỗ hiểm là “bãi quan”. Hoàng đế Gia Tĩnh đã khóc quan Hải Thụy, năm 1959, tôi đã bãi quan Bành Đức Hoài. Bành Đức Hoài cũng là “Hải Thụy”. Họp Hội nghị Lư Sơn là để thảo luận công tác, vốn dĩ định họp nửa tháng, nhưng khi Hội nghị sắp kết thúc thì Bành Đức Hoài nhảy ra. Ông ta nói: “Ở Diên An các người đã chửi mẹ tôi 40 mươi ngày, tôi chửi mẹ các người 20 ngày lại không được ư? Người ta thích chửi mẹ nhau”

Giang Thanh biết được những lời khẳng định về bài viết của Diêu Văn Nguyên rất vui mừng, phấn khởi, ra lệnh chỉnh lý bản ghi những lời nói của Mao Trạch Đông.

Nghe nói Mao Trạch Đông bảo bài viết của Diêu Văn Nguyên “chưa đánh trúng chỗ hiểm”. Vương Nhược Thủy vội vàng viết bài: “Tiếp nhận sự khiêu chiến của đồng chí Ngô Hàm”, ký bút danh là “Tư Đồng” đăng trên “Nhân dân nhật báo” số ra ngày 13 tháng 1 năm 1966. Trong bài viết này lần đầu tiên công khai đề cập đến chỗ hiểm của “Hải Thụy bãi quan” là “bãi quan”, đề cập đến Hội nghị Lư Sơn.

Thích Bản Vũ nghe được lời khen của Mao Trạch Đông không kìm nổi sự phấn chấn nên đã gia nhập hàng ngũ những người phê phán “Hải Thụy bãi quan”. Ngày 15 tháng 1 năm 1966, vội vàng viết bài “Thực chất phản động của “Hải Thụy chửi Hoàng đế” và “Hải Thụy bãi quan”” cùng với Diêu Văn Nguyên hình thành nên thế Nam hô Bắc ứng. Thế là ở Bắc Kinh, Giang Thanh cũng đã có “người cầm bút”.

Gần như đồng thời với Thích Bản Vũ, Quan Phong cũng viết bài “Hải Thụy chửi Hoàng đế” và “Hải Thụy bãi quan” là cây có độc lớn chống Đảng và chống chủ nghĩa xã hội.

Cái mà Thích Bản Vũ gọi là “đánh vào chỗ hiểm” chính là gắn “Hải Thụy bãi quan” với Bành Đức Hoài, chứng minh “Hải Thụy chính là Bành Đức Hoài”.

Bài viết của Thích Bản Vũ có lô-gích rất kỳ diệu: ông ta dẫn lời của Lê-nin, “đặc điểm của người trí thức là mẫn cảm”, từ đó chứng minh: “thời gian biểu” của Ngô Hàm rất khớp với sự “mẫn cảm” của ông ta. Thích Bản Vũ cho rằng, chính là dựa vào “tính mẫn cảm giai cấp đặc biệt của mình” mà “biết trước” có Hội nghị Lư Sơn, nên đã viết “trước” “Hải Thụy chửi hoàng đế”. Cũng chính vì biết trước “xu hướng làm ăn riêng lẻ” và “xu hướng xử lại án” nên đã viết trước “Hải Thụy bãi quan” để xử... lại án” cho Bành Đức Hoài.

Thích Bản Vũ viết:

“Trong việc miêu tả chiến tranh thời cổ có một câu: “Dưới núi có ba hồi trống để trợ giúp cho anh”. Điều muốn nói là trước khi tướng đánh nhau, để nâng cao ý chí chiến đấu của võ tướng của mình thì cần phải đánh trống trợ uy. “Hải Thụy chửi Hoàng đế” mà Ngô Hàm công bố trước khi có hội nghị Trung ương Đảng ở Lư Sơn, thực chất là có tác dụng đánh trống trợ uy cho những phần tử cơ hội hữu khuynh tiến công Đảng. Sở dĩ “thời gian biểu” của Ngô Hàm sắp xếp khớp như thế chính là vì “thời gian biểu” này đã nói rõ “Hải Thụy chửi Hoàng đế” của Ngô Hàm dù không phải là cao trào của một màn kịch, nhưng lại là tiếng trống chiêng không thể thiếu được trong cao trào của vở kịch lúc mở màn”.

Cả vú lấp miệng em, gán ghép khiên cưỡng đến mức độ này là nét đặc sắc của bút pháp phái “tả” hồi ấy.

Phương ngôn có câu: “Tú tài gặp lính, có lý mà không nói rõ được”. Thực ra gặp những tú tài phái “tả” như Diêu Văn Nguyên, Thích Bản Vũ, mới là “có lý mà không nói rõ được”!

Mấy ngày sau khi Thích Bản Vũ đăng bài viết, ngày 5 tháng 4. Tạp chí “Hồng kỳ” đăng bài “Đánh vào chỗ hiểm” của Quan Phong và Lâm Kiệt, có tựa đề “Hải Thụy chửi Hoàng đế” và “Hải Thụy bãi quan”' là hai cây cỏ độc lớn chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội”. Việc phát biểu bài viết “đánh vào chỗ hiểm” của Thích Bản Vũ và Quan Phong lại chính là “dưới núi đánh ba hồi trống trợ uy” cho Giang Thanh, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên!


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:33:59 pm

4
Giang Thanh bước sang tuổi già với những lời đường mật
Mao Trạch Đông xế bóng sống lại với lòng yêu thương


1. Cuộc tọa đàm kỳ lạ

Tháng 2 năm 1966, trong một hội trường nhỏ của khách sạn Cẩm Giang, Giang Thanh triệu tập một cuộc tọa đàm đặc biệt, những người tham dự gồm cả bà ta cũng không quá 5 người.  Tuy có tên là “Cuộc tọa đàm”, nhưng lải nhải không ngớt cũng chỉ có một mình bà ta. So với việc bà ta nắm “kịch mẫu” và tổ chức viết hai bài phê bình có trọng lượng, thì trọng lượng của cuộc tọa đàm nho nhỏ này hình như nặng hơn nhiều. Hơn hai tháng sau, ngày 10 tháng 4 năm 1966, khi cái “kỷ yếu” của cuộc tọa đàm này trở thành văn kiện của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc in phát cho toàn Đảng thì nó đã gây nên sự chấn động dữ dội tại Trung Quốc. Cuộc tọa đàm nho nhỏ ấy, chính là “cuộc tọa đàm mà đồng chí Lâm Bưu nhờ đồng chí Giang Thanh triệu tập để thảo luận về công tác văn nghệ trong bộ đội”.

Mùa xuân năm 1966, một mùa xuân đặc biệt, tháng 2, Mao Trạch Đông ở Vũ Xương. Sau đó ngồi trấn ở Hàng Châu. Lâm Bưu thì ở Tô Châu, còn Giang Thanh thì trú ngụ ở “căn cứ Thượng Hải”.

Ngày 21 tháng 1, là ngày mồng 1 tháng Giêng năm Bính Ngọ, chiếc xe con của Giang Thanh xuất hiện ở Tô Châu. Bà ta từ Thượng Hải đến đây, cất công đến nhà Lâm Bưu chúc tết.

Lâm Bưu nhân vật đang thăng tiến theo đường thẳng: Trong Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa 8 họp ngày 25 tháng 5 năm 1958, Lâm Bưu được bầu làm Phó Chủ tịch Đảng, Thường vụ Bộ Chính trị, bước vào vị trí lãnh đạo chủ chốt. Tiếp theo đó cùng với việc Bành Đức Hoài bị phê phán ở Hội nghị Lư Sơn, Lâm Bưu đã thay thế ông, giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Ít lâu sau, lại được cử làm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, chủ trì công tác Thường vụ Quân ủy. Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 12 năm 1965, sau Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng phê phán La Thụy Khanh, trong quân đội, Lâm Bưu nói sao là vậy.

Sự thăng tiến theo đường thẳng của Lâm Bưu, là do ông ta luôn tán tụng Mao Trạch Đông. Ông ta đề xuất “Tư tưởng Mao Trạch Đông là đỉnh cao của chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay”, “Học tập trước tác của Mao Chủ tịch là con đường tắt để học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin”. Đề xuất “Học linh hoạt dùng linh hoạt, học dùng kết hợp, dùng gấp thì học trước, thấy ngay kết quả”...

Giang Thanh đang muốn làm một “ngôi sao mới” mọc 1ên trên vũ đài chính trị Trung Quốc. Bà ta muốn mượn lực đỡ của Lâm Bưu. Tất nhiên, Lâm Bưu cũng hiểu rõ cái “phân lượng” của “Đệ nhất phu nhân”, việc mượn sức của bà ta để thăng tiến thêm nữa cũng rất quan trọng. Và thế là, xuất phát từ đòi hỏi chính trị của đôi bên, thông qua lần chúc tết này, Giang Thanh và Lâm Bưu bắt tay nhau.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:35:08 pm

2. “Ngôi sao mới” xuống phía nam mời “Tôn thần”

Nói theo lời của Giang Thanh, cuộc đi đến Tô Châu của bà ta là để đi tới việc mời “Tôn thần”. Câu này có lai lịch của nó: “Tạp chí “Nghệ thuật điện ảnh” số 3 năm 1962 đăng bài của Cù Bạch Âm có tựa đề “Độc thoại về vấn đề sáng tạo cái mới trong điện ảnh”. Cù Bạch Âm hô hào xóa bỏ những quy định cũ, phá bỏ “Ông thần về chủ đề”, “Ông thần về kết cấu”, “Ông thần về xung đột”. Ông nói “các vị thần này đã tỏ thần uy vãi tung khắp trời đất các thứ bùa chú: nên như thế nào, không nên như thế nào. Với sự hợp lực tấn công của các thần, các nhà nghệ thuật đành phải trói chân trói tay, ôm đầu mò mẫm”. Giang Thanh đã đưa bài viết của vị Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh Thượng Hải này vào kế hoạch của cuộc “Đại phê phán”. Có điều là, từ đó bà ta lại thấy hứng thú với “vị thần”, bà ta nói là phải nhờ cậy vào “vị thần” Giải phóng quân.

Giang Thanh rời khỏi Tô Châu không lâu, thì tại một cái ngõ có cái tên quái đản người đi lại rất thưa thớt ở phía đông thành Bắc Kinh, ngõ Quái Bổng có một tứ hợp viện vang lên tiếng chuông điện thoại, đó là nơi ở của Trung tướng Lưu Chí Kiên, Phó Chủ nhiệm thứ nhất Tổng cục Chính trị Quân giải phóng, điện thoại từ “Văn phòng Lâm Bưu” ở Tô Châu gọi đến giọng nữ quen thuộc vừa nghe đã nhận ra, đó là Diệp Quần vợ Lâm Bưu...

Lưu Chí Kiên là người Bình Giang, tỉnh Hồ Nam, năm 1928 tham gia khởi nghĩa Bình Giang, năm 1931 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, ít lâu sau giữ chức Chủ nhiệm cục Chính trị quân đoàn Hồng quân thứ 4. Ông đã tham gia trường chinh. Sau giải phóng ông giữ chức Cục trưởng Cục Tình báo Quân ủy Trung ương, Cục trưởng Cục Tuyên truyền Tổng cục Chính trị. Khi ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thì chủ nhiệm là Thượng tướng Tiêu Hoa. Tiêu Hoa, 12 tuổi vào Đoàn, 14 tuổi vào Đảng, 18 tuổi làm “Chính ủy Sư đoàn Quốc tế Cộng sản thiếu niên”. Có điều là sức khỏe ông yếu, nên công việc hằng ngày của Tổng cục Chính trị đều do Lưu Chí Kiên phụ trách. Chính vì thế, điện thoại của Diệp Quần đã gọi đến chỗ Lưu Chí Kiên.

Diệp Quần chuyển lời của Lâm Bưu: “Đồng chí Giang Thanh muốn tìm mấy đồng chí làm công tác văn nghệ quản lý công tác văn nghệ để bàn về vấn đề công tác văn nghệ trong bộ đội. Người tham gia không nên nhiều quá. Chỉ cần bốn năm người, những người như thế nào thì đồng chí bàn với Tiêu Hoa, báo tên chỗ “Văn phòng Lâm Bưu”, tốt nhất là Tiêu Hoa đến. Có thể sẽ nghiên cứu sáng tác về ba chiến dịch lớn, chuẩn bị đi”

Từ trước đến nay Giang Thanh và quân đội chẳng có quan hệ gì, sao bây giờ lại bỗng nhiên muốn bàn vấn đề công tác văn nghệ của bộ đội nhỉ?

Từ khi còn ở Diện An, Lưu Chí Kiên đã quen Giang Thanh. Chỉ không quen nhìn bà ta đi “chân đào tường” (chân vòng kiềng - N. D.). Ấn tượng về bà ta không hay nên không giao thiệp nhiều.

Trước đó không lâu ngày 26 tháng 12 năm 1965, Chu Ân Lai và La Thụy Khanh tiếp kiến những người có công trong cuộc chiến đấu trên biển Sùng Vũ ở Thượng Hải. Cuộc hải chiến Sùng Vũ xảy ra vào buổi sáng ngày 14 tháng này, bộ đội hạm tàu của Hạm đội Đông Hải đã bắn chìm pháo hạm “Vĩnh Xương” bắn bị thương tàu săn tàu ngầm “Vĩnh Thái” trên địa phận Đông Hải, thuộc Sùng Vũ tỉnh Phúc Kiến. Giang Thanh đang ở Thượng Hải tìm La Thụy Khanh hỏi: “Bài phê phán “Hải Thụy bãi quan” ở Bắc Kinh không đăng, vì sao “Giải phóng quân báo” cũng không đăng?” Thế là La Thụy Khanh gọi điện cho Lưu Chí Kiên nói lại ý kiến của Giang Thanh. Lưu Chí Kiên tuân lệnh chỉ thị cho “Giải phóng quân báo” đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên vào ngày 29 tháng 11. Đây có thể coi là lần đầu tiên có sự liên hệ công tác gián tiếp giữa Lưu Chí Kiên và Giang Thanh từ nhiều năm nay. “Giải phóng quân báo” đăng bài của Diêu Văn Nguyên được hơn một tuần thì La Thụy Khanh bị phê phán tại Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng và bị cách chức Tổng Tham mưu trưởng...

Lưu Chí Kiên nhận được điện thoại từ “Văn phòng Lâm Bưu”, báo cáo ngay với Tiêu Hoa. Tiêu Hoa nói: “Tôi nhiều việc, sức khỏe lại không tốt, tình hình về mặt văn nghệ lại hiểu biết không nhiều, anh chủ quản tuyên truyền văn hóa, hiểu tình hình, anh nên đi thì hơn!” Tuy bảo “Văn phòng Lâm Bưu” chỉ đích danh Tích Hoa đi dự, nhưng Tiêu Hoa vẫn kiên quyết không đi. Vậy là, Lưu Chí Kiên đành phải đi.

Tiêu Hoa và Lưu Chí Kiên bước đầu bàn bạc danh sách người dự: Đã là việc về văn hóa thì tất nhiên phải cử Cục trưởng cục Văn hóa Tổng cục Chính trị Tạ Đường Trung, Phó Cục trưởng Trần Á Đinh tham gia. Ngoài ra Cục trưởng Cục tuyên truyền Lý Mạn Thôn cũng nên đi.

Danh sách này được Đảng ủy Tổng cục Chính trị thảo luận đồng ý và chốt lại. Ngoài bốn đại biểu chính thức ra, còn cử hai nhân viên công tác, tức Thư ký Lưu Cảnh Đào cùng biên tập Lê Minh trong Ban Biên tập “Đốm lửa thiêu cháy cánh đồng” thông thạo ba chiến dịch lớn.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:35:40 pm

Trước khi đi, Tiêu Hoa hiểu rất sâu con người Giang Thanh, đã nói với 6 nhân viên đi Thượng Hải về “ba điều quy ước”:

Thứ nhất, Phương hướng của công tác văn nghệ bộ đội là đúng đắn.

Thứ hai, chỉ lắng tai ngược ít phát biểu ý kiến.

Thứ ba, nên tôn trọng Giang Thanh, không tranh luận với bà ta, có ý kiến gì thì đem về báo cáo thảo luận.

Thế là, sáng ngày 1 tháng 2, một đoàn 6 người đi đến sân bay quân sự Tây Giao Bắc Kinh, đáp máy bay “IL - 14” bay thẳng đến Thượng Hải, ở khách sạn Diên An, đó là khách sạn của bộ đội, nằm trên đường Diên An Trung Lộ, Thượng Hải, nơi đón tiếp nhân viên trong toàn quân qua lại. Mặc dù hầu hết những người ra vào nơi đây đều mặc quân phục, nhưng đoàn 6 người của Lưu Chí Kiên đều mặc thường phục, vì “cuộc tọa đàm” lại tiến hành ở khách sạn Cẩm Giang, mặc quân phục mà ra vào ở đó thì lộ liễu quá.

Sau khi đoàn của Lưu Chí Kiên đến khách sạn Diên An ở Thượng Hải, ngay chiều hôm đó, Giang Thanh cho người đưa đến “vũ khí tư tưởng” đó là văn kiện phải đọc trong cuộc tọa đàm “bức thư của Mao Trạch Đông gửi cho Viện Bình kịch sau khi xem xong “Bức lên Lương Sơn” ở Diên An năm 1944”, “Bài nói chuyện của Mao Trạch Đông với những người làm âm nhạc” và “Hai phần phê duyệt quan trọng của Mao Trạch Đông đối với giới văn nghệ”.

Văn kiện đưa đến không lâu thì “đặc sứ” của Giang Thanh đến khách sạn Diên An. Người này không phải là cán bộ bộ đội, hình như không có liên quan gì đến cuộc tọa đàm văn nghệ bộ đội, nhưng lại can thiệp vào cuộc tọa đàm này, chứng tỏ lúc này ông ta đã trở thành người bạn thân thiết của Giang Thanh.

Ông ta là Trương Xuân Kiều, Lưu Chí Kiên và Trương Xuân Kiều đã có một thời gian ngắn ngủi cùng làm việc, đó là vào năm 1963, Hội hữu nghị Trung Xô cử một đoàn đại biểu tham gia ngày kỷ niệm cách mạng Tháng Mười. Trưởng đoàn là Lưu Chí Kiên, Phó trưởng đoàn là Trương Xuân Kiều. Có điều lần ấy đi Liên Xô, chỉ là quan hệ công tác bình thường mà thôi.

Lần này, Trương Xuân Kiều được “đệ nhất phu nhân” coi trọng cử đến đón Lưu Chí Kiên, cùng đến công viên Đinh Hương vắng vẻ yên tĩnh nằm trên đường Hoa Sơn. Công viên Đinh Hương ở Thượng Hải một nơi tấc đất thước vàng, khó có được một bãi cỏ xanh và rất nhiều cây cối. Một chiêu đãi sở cao cấp của Cục Hoa Đông Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được đặt tại đây. Tổ sáng tác của Thành ủy Thượng Hải với bút danh là “Đinh Học Lôi” ở tại một ngôi lầu nhỏ ở xế bên Công viên Đinh Hương, chữ “Đinh” là lấy nghĩa từ Công viên Đinh Hương, còn “Học Lôi” là ý học tập Lôi Phong.

Lưu Chí Kiên cắp cặp, được Trương Xuân Kiều đi cùng, vào nơi ở của Giang Thanh.

“Ồ, cuối cùng đã mời được vị “Tôn thần” Giải phóng quân đến rồi!” Giang Thanh cười nói, “Tình cảnh của tôi rất khó khăn, cho nên tôi phải đến Tô Châu nhờ anh Lâm giúp. Bây giờ, anh Lâm đã giúp tôi!”.

Lưu Chí Kiên đã quen với “việc chung thì làm chung”. Ông mở cặp, chuyển bản ghi chép điện thoại truyền đạt từng câu từng chữ cho Giang Thanh nghe.

Đó là điện thoại của Diệp Quần gọi yêu cầu ông phải ghi chép ti mỉ, đó là một đoạn lời của Lâm Bưu:

“Đồng chí Giang Thanh vừa đến Tô Châu hôm qua đã nói chuyện với tôi. Về công tác văn nghệ đồng chí ấy rất mạnh về chính trị, về nghệ thuật cũng thành thạo, đồng chí ấy có rất nhiều ý kiến quý báu, các đồng chí phải nhanh chóng coi trọng đồng thời phải thực hiện nghiêm chỉnh những ý kiến của đồng chí Giang Thanh về mặt tư tưởng và về mặt tổ chức. Từ nay về sau các văn kiện về mặt văn nghệ đều phải đưa cho đồng chí ấy xem, có tin tức gì có thể liên hệ với đồng chí ấy bất cứ lúc nào, làm cho đồng chí ấy có thể hiểu được tình hình công tác văn nghệ của bộ đội, trưng cầu ý kiến của đồng chí ấy, làm cho công tác văn nghệ của bộ đội có thể cải tiến được. Công tác văn nghệ của bộ đội, dù là tính tư tưởng hay tính nghệ thuật cũng đều không thể thỏa mãn với hiện trạng, đều phải nâng cao hơn”.

Những lời này của Lâm Bưu, hiển nhiên là đã làm cho Giang Thanh vô cùng phấn khởi, Lâm Bưu không những đánh giá rất cao Giang Thanh mà còn muốn bà ta “chỉ đạo” công tác văn nghệ của bộ đội, điều này đã làm cho việc bà ta triệu tập cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội thành “danh chính ngôn thuận”. Về sau cuộc tọa đàm này còn được gắn thêm: “Đồng chí Lâm Bưu nhờ đồng chí Giang Thanh triệu tập” cái “nhờ” có nguồn gốc từ đấy. Còn Giang Thanh thì ngoài việc đề nghị Lưu Chí Kiên chuyển lời cảm ơn đến “anh Lâm” ra, bà ta còn tâng bốc Lưu Chí Kiên: “Đồng chí Chí Kiên, tôi nghe Chủ tịch nói, đồng chí đã đi ra từ cảnh khổ đau, tôi phải học tập các đồng chí cũ đã vào sinh ra tử. Nghe nói đồng chí trước đây có làm thơ, viết khá nhiều tác phẩm, về mặt văn nghệ cũng rất thông thạo”.

Sau khi hai bên chào hỏi trò chuyện khách sáo, Giang Thanh đi ngay vào việc “cuộc tọa đàm” họp như thế nào: “Mời các đồng chí đến không phải là để họp hành gì đâu, chủ yếu là để xem phim, trong khi xem phim thì nói một chút ý kiến”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:36:54 pm

3. Cuộc tọa đàm chủ yếu là xem phim

5 giờ chiều tại một phòng họp nhỏ ở khách sạn Cẩm Giang, Giang Thanh gặp mặt đoàn 6 người từ Bắc Kinh đến. Trương Xuân Kiều vẫn đi cùng.

Giang Thanh đã tuyên bố “kỷ luật” của Hội nghị. “Không được ghi chép, không được đưa tin ra ngoài”, đặc biệt là “Không được để cho Bắc Kinh biết”, thậm chí Giang Thanh còn xét hỏi mọi người có ai mang máy nghe trộm không. Xem ra cuộc hội thảo này rất bí hiểm.

Giang Thanh nói vì sao lại in và phát bức thư Mao Trạch Đông viết ngày 9 tháng 1 năm 1944 về vở Bình kịch “Bức lên Lương Sơn” vì trong thư có một đoạn:

“Lịch sử là do nhân dân sáng tạo ra, nhưng trên sân khấu kịch cũ (trong tất cả nền văn học cũ, nền nghệ thuật cũ xa rời nhân dân) nhân dân lại trở thành cặn bã, các quan lớn, mệnh phụ, cậu ấm, tiểu thư thì thống trị vũ đài, sự đảo ngược lịch sử này, ngày nay phải được chúng ta đảo ngược lại, khôi phục lại diện mạo lịch sử, từ đây kịch cũ được tạo ra gương mặt mới” cho nên đáng được chúc mừng”.

Giang Thanh dựa vào đó nói thêm, mặc dù từ năm 1944, Chủ tịch đã chỉ rõ, nhưng sau giải phóng, giới văn nghệ chúng ta chưa ra sao, vẫn do đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân, người nước ngoài, người chết thống trị. Bây giờ là lúc chúng ta xoay chuyển triệt để sự “đảo ngược lịch sử” này!

Những lời nói ấy của Giang Thanh làm cho những quân nhân đến từ Bắc Kinh hiểu rõ “cuộc tọa đàm” muốn nói cái gì - hoàn toàn không phải là “nghiên cứu sáng tác về ba chiến dịch lớn”.

Tối hôm ấy, Trần Phi Hiển, Bí thư Thành ủy Thượng Hải đã dốc hết thịnh tình của người chủ địa phương, thết tiệc chiêu đãi Giang Thanh và Lưu Chí Kiên cùng những người khác, Trương Xuân Kiều vẫn đi cùng.

Sau đó Giang Thanh mời Lưu Chí Kiên và mọi người đến hội trường nhỏ ở khách sạn Cẩm Giang, xem phim “Nghìn dặm ngược gió”. Đây là bộ phim truyện sản xuất năm 1962 của xưởng phim Chu Giang do Chu Vạn Thành và Phương Hoàng biên kịch và do Phương Hoàng đạo diễn. Bộ phim miêu tả sư đoàn “Thiên Lý Câu” của Quốc dân Đảng bị tiêu diệt. Tống Chí Cương chính trị viên quân giải phóng và một phân đội nhỏ nhận nhiệm vụ áp giải các sĩ quan cấp tá của Quốc dân Đảng đã bị bắt đến khu vực Quân khu Liêu Đông. Trên đường đi, luôn luôn bị địch vây chặn, cả phân đội phải đi “ngược gió hàng nghìn dặm”, cuối cùng đã hoàn thành nhiệm vụ, bộ phim này do xưởng phim địa phương (đây là cách gọi theo thói quen đối với các xưởng phim không thuộc hệ thống quân đội) sản xuất nhưng lại thể hiện về bộ đội. Giang Thanh vừa xem phim vừa nói về bộ phim này là đã “tô đẹp cho kẻ địch, coi kẻ địch là nhân vật chính để miêu tả, để kẻ địch chiếm lĩnh màn ảnh của chúng ta”... Lưu Chí Kiên và mọi người đành “rửa tai để nghe”, lại không được ghi chép, không nhớ được ý kiến của bà ta thì làm sao có thể về báo cáo được...

“Cuộc tọa đàm” đã được mở màn ở Thượng Hải như vậy.

Đây là một “cuộc tọa đàm” hiếm có trên đời, trong cuộc tọa đàm chỉ có một mình Giang Thanh nói, những người còn lại chỉ dùng tai để nghe mà thôi!

“Cuộc tọa đàm” quả đúng như Giang Thanh nói, chủ yếu là xem phim, trong khi xem phim nói một vài ý kiến”. Theo Lưu Chí Kiên nhớ lại, tổng cộng đã xem hơn 30 bộ phim và 3 vở kịch. Xem phim gì đều do Giang Thanh chỉ định. Giang Thanh đến xem cùng 13 lần. Có lúc Trương Xuân Kiều cũng đến xem. “Đại tú tài” Trần Bá Đạt đến Thượng Hải cũng đã cùng xem mấy bộ phim. Giang Thanh khi xem thì nghĩ ra cái gì nói cái nấy.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:37:54 pm

4. “Tôn thần” làm máy ghi âm cho Giang Thanh

Điều làm cho Lưu Chí Kiên khó xử nhất là sau khi Giang Thanh ngủ trưa dậy, bảo thư ký gọi điện thoại muốn Lưu Chí Kiên đến nói chuyện. Lúc này, Giang Thanh nói Lưu Chí Kiên nghe, vừa không được ghi chép, lại vừa sợ bỏ sót “ý kiến quan trọng” của bà ta. Nên mỗi lần nói xong, Lưu Chí Kiên trở về vội vàng bảo Lý Mạn Thôn, Tạ Đường Trung, Trần Á Đinh nói lại, để cho Trần Á Đinh ghi chép, tránh bị quên sau này. Vậy là Lưu Chí Kiên như một chiếc “máy ghi âm”! Lưu Chí Kiên nhớ lại, những lần trao đổi cá biệt như thế giữa ông và Giang Thanh có cả thảy 8 lần. mỗi lần ngắn thì nửa tiếng, dài thì hai tiếng.

Bốn lần “tập thể tọa đàm” đúng bài ban Lưu Chí Kiên cùng 6 người đều tham gia, trong đó có một lần là buổi gặp mặt đầu tiên, lần khác là ngày 9 tháng 2 và lần nói chuyện với đoàn kịch “Trường thành Nam Hải”, vì vậy trên thực tế chỉ có hai lần.

Giữa hội nghị, ngày 9 tháng 2, Giang Thanh bảo là bận việc, “cuộc tọa đàm” tạm ngừng vài ngày. Thế là ngày 10 tháng 2, Lưu Chí Kiên và Lý Mạn Thôn bay về Bắc Kinh để báo cáo với Tiêu Hoa, ngày 16 lại đi Thượng Hải. Cái mà Giang Thanh bảo là “bận việc” là từ Thượng Hải đi Hàng Châu, đến chỗ Mao Trạch Đông. Ngày 8 tháng 2, Mao Trạch Đông nói chuyện với Bành Chân, Lục Định Nhất, Hứa Lập Quần ở Vũ Xương thì ngày hôm sau đi Hàng Châu. Giang Thanh nghe tin, nên đã từ Thượng Hải đi Hàng Châu để thăm dò chiều hướng của Bành Chân qua Mao Trạch Đông. Lúc ấy Tổ cách mạng văn hóa Trung ương gồm 5 người: Bành Chân là tổ trưởng, Lục Định Nhất là tổ phó, các tổ viên là Khang Sinh, Chu Dương và Ngô Lãnh Tây vừa viết xong “Đề cương tháng Hai”, đem đến báo cáo với Mao Trạch Đông. Giang Thanh muốn “cuộc tọa đàm” của bà ta ở Thượng Hải chọi lại “Đề cương tháng Hai” của Bành Chân.

Sau khi trải qua những ngày nghỉ giữa chừng, “cuộc tọa đàm” lại tiếp tục tiến hành vào ngày 18. Đến ngày 19, Giang Thanh nói: “Chẳng còn gì để nói nữa, tôi bận việc, tạm kết thúc một giai đoạn, các đồng chí có thể về”. Vậy là, cuối cùng đã kết thúc “cuộc tọa đàm” “một người nói” kỳ lạ này.

Lưu Chí Kiên như vừa trút được gánh nặng, thở phào, nhưng lại gặp chuyện gay go. Trong “cuộc tọa đàm” chỉ có “một người nói” không liên tục, rời rạc, chuyện đông chuyện tây, ngược ngược xuôi xuôi này làm thế nào để có thể báo cáo với Tổng cục Chính trị'? Làm thế nào để báo cáo với Lâm Bưu.

May mà sau mỗi lần “một người nói” còn có bản ghi chép do Trần Á Đinh ghi theo hồi ức của Lưu Chí Kiên. Thế là Lưu Chí Kiên cùng Lý Mạn Thôn, Tạ Đường Trung cùng bàn bạc, tham khảo ghi chép của Trần Á Đinh, do Lê Minh chép lại, Trần Á Đinh sửa chữa chỉnh lý thành một “Đề cương báo cáo”, khoảng hơn ba ngàn chữ, dùng để báo cáo lên trên.

Tối ngày 20, “Đề cương báo cáo” này được Khu Cảnh bị Thượng Hải đánh máy thành 30 bản.

Lúc này Lưu Chí Kiên lại thấy lưỡng lự: có nên đưa “Đề cương báo cáo” cho Giang Thanh xem không?

Lưu Chí Kiên đã từng kể về tâm lý mâu thuẫn của mình lúc ấy: “Không đưa cho bà ta xem, sau này bà ta biết thì chắc chắn sẽ bực tức sẽ trách cứ là vì sao lại làm giấu bà ta. Không nói với bà ta ư? Nếu đưa cho bà ta một bản mà lại không nói trước với bà ta, hơn nữa bản ghi chép này chỉ dùng để báo cáo thì chưa chắc bà ta đã vừa lòng”.

Bốn người thảo luận đi thảo luận lại, cho rằng cứ gửi một bản “Đề cương báo cáo” cho Giang thanh là phải. Vì sớm muộn thì Giang Thanh cũng biết việc này. Thế là, ngày 21, Lưu Chí Kiên đưa một bản “Đề cương báo cáo” cho Giang Thanh.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:39:05 pm

Ngày 22, Lưu Chí Kiên cùng đoàn rời Thượng Hải bay đến Tế Nam, để báo cáo với Lâm Bưu hiện đang ở đây, đồng thời đưa một bản “Đề cương báo cáo”. Lâm Bưu đã nghe báo cáo tỏ ra hài lòng: “Tài liệt này làm rất tốt, là một thành quả quan trọng, cuộc tọa đàm này do đồng chí Giang Trang chủ trì có phương hướng đúng, đường lối chính xác, sau khi về phải nhanh chóng truyền đạt, học cho tốt và quán triệt nghiêm chỉnh”.

Lâm Bưu nói như vậy, Lưu Chí Kiên cho là lần này có thể “báo cáo kết quả nhiệm vụ” được rồi.

Thế là, sáng ngày 23, Lưu Chí Kiên với tâm trạng thanh thản, cùng 5 người đáp máy bay từ Tế Nam về Bắc Kinh, “dẹp đường về phủ”.

Máy bay dừng trên sân băng, Lưu Chí Kiên vừa xuống máy bay, nhân viên sân bay đã thông báo cho ông có điện thoại đường dài từ Thượng Hải gọi tới, chờ đồng chí đến nhận!”

Trong chiến tranh, Lưu Chí Kiên đã từng bị thương chân đi không được nhanh nhẹn, lúc này vẫn phải đi nhanh đến chỗ điện thoại. Đó là thư ký của Giang Thanh gọi từ Thượng Hải đến, đã dội một gáo nước lạnh vào Lưu Chí Kiên: “Đồng chí Giang Thanh đã xem tài liệu mà các đồng chí chỉnh lý, cho rằng căn bản không được, đã xuyên tạc chủ ý và không có khả năng phản ánh ý kiến của đồng chí ấy, đã gây tai họa lớn cho đồng chí ấy! Trước mắt không được truyền đạt, không được triển khai!”.

Thư ký của Giang Thanh còn nói, Giang Thanh đã báo cáo việc này với Chủ tịch, Chủ tịch muốn Trần Bá Đạt, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên tham gia sửa chữa. Ngoài ra, đề nghị đồng chí Lưu Chí Kiên lập tức cử người đến Thượng Hải cùng tham gia sửa chữa. Sự thay đổi đột ngột này, làm cho Lưu Chí Kiên và mọi người cảm thấy bất ngờ. Ông lập tức gọi điện cho Tiêu Hoa. Chiều hôm ấy, Lưu Chí Kiên cùng đoàn báo cáo với Tiêu Hoa. Tiêu Hoa quyết định cử Trần Á Đinh đi Thượng Hải, vì những ghi chép qua hồi ức của từng lần nói chuyện đều do anh ta chỉnh lý, để anh ta đi là hợp lý.

Tiêu Hoa nhắc: “Giang Thanh muốn sửa thế nào, thì đồng chí sửa như thế. Có vấn đề gì thì lúc về hãy hay”.

Vậy là Trần Á Đinh chỉ ở lại Bắc Kinh có một đêm, ngày hôm sau đã vội vội vàng vàng bay đi Thượng Hải, trong một tháng 3 lần bay đi Thượng Hải.

Trần Á Đinh đến Thượng Hải, gặp Giang Thanh, mới rõ đầu đuôi trong đó: Bản “Đề cương báo cáo” quá giản đơn, quá sơ sài, phải chỉnh lý lại, phải viết thành một bản “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Giang Thanh triệu tập”.

Hai vị “đại tú tài” Trần Bá Đạt và Trương Xuân Kiều, tham gia công tác sửa chữa Trần Bá Đạt cũng chỉ là “diễn viên phụ động”, cùng xem mấy bộ phim. Trương Xuân Kiều tham gia tương đối nhiều, nhưng cũng không tham gia cả quá trình. Nói toạc ra, việc hai vị “đại tú tài” này tham gia sửa chữa cũng chính là nâng cao những lời nói vụn vặt của Giang Thanh lên thành “lý luận”.

Trần Bá Đạt xứng đáng là “nhà lý luận” đã nói hai ý kiến rất có “trình độ”:

Thứ nhất: “Vấn đề 17 năm sợi chỉ đen văn nghệ chuyên chính (chú: 17 năm là chỉ năm 1949 đến năm 1966 bấy giờ), điều này rất quan trọng, nhưng chỉ nêu như vậy là không đầu không đuôi. Phải nói cho rõ, nguồn gốc của sợi chỉ đen văn nghệ này. Nó là sự tiếp tục chấp hành đường lối cơ hội hữu khuynh khi Đảng còn hoạt động bí mật ở Thượng Hải vào những năm 30 (chú: Vào những năm 30, Vương Minh đã thực hiện ở Thượng Hải đường lối cơ hội “tả” khuynh, đến thời kỳ kháng Nhật thì chuyển sang đường lối cơ hội hữu khuynh ở đây không biết vì sao, “nhà lý luận” lại nói Vương Minh là cơ hội hữu khuynh). Nói rõ vấn đề này mới có thể nhận thức rõ hơn sợi chỉ đen trong văn nghệ từ 17 năm sau giải phóng đến nay, sợi chỉ đến này là bắt đầu từ thời kỳ ấy”.

Thứ hai, phải kể đến thành tích về mặt văn nghệ trong giai đoạn trước. Đồng chí Giang Thanh đã đích thân lãnh đạo cuộc cách mạng về kịch, đã có những tác phẩm như “Sa Gia Bang”, “Đèn đỏ”, “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn”, vở ba-lê “Hồng sắc nương tử quân”, nhạc giao hưởng “Sa Gia Bang” v.v… Đây thực sự là tài sản của giai cấp vô sản chúng ta. Tất cả những cái đó đều phải ghi lại. Như vậy, phá cái gì, xây cái gì sẽ rõ ràng”.

Giang Thanh rất vui mừng về những ý kiến của Trần Bá Đạt: “Ý của Bá Đạt rất hay, đã giúp chúng ta nâng cao hơn đánh trúng chỗ hiểm, rất lợi hại!”

Hai vị “đại tú tài” đã cầm dao giúp Giang Thanh, trước sau sửa chữa 8 lần, nội dung từ 3 nghìn chữ lúc đầu tăng lên 1 vạn chữ.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:41:11 pm

5. Mao Trạch Đông sửa “Kỷ yếu” cho Giang Thanh

Giang Thanh đưa “Kỷ yếu” cho Mạo Trạch Đông đọc duyệt. Mao Trạch Đông rất coi trọng đích thân sửa đổi 11 chỗ. Sửa đổi quan trọng nhất là sau câu nguyên văn: “Chúng ta nhất định phải căn cứ vào chỉ thị của Trung ương Đảng, kiên quyết tiến hành cuộc đại cách mạng xã hội chủ nghĩa trên chiến tuyến văn hóa, triệt để phá bỏ sợi chỉ đen này”, Mao Trạch Đông đã thêm một câu:

“Sau khi xóa bỏ sợi chỉ đen này, sẽ còn có sợi chỉ đen trong tương lai, còn phải đấu tranh nữa”.

Ngày 10 tháng 3, theo thông báo của Giang Thanh, Lưu Chí Kiên lại cùng Trần Á Đinh một lần nữa đến Thượng Hải. Giang Thanh lại đưa cho Lưu Chí Kiên xem bản “Kỷ yếu” đã được Mao Trạch Đông sửa chữa. Thế là Giang Thanh, Trần Bá Đạt, Trương Xuân Kiều, Lưu Chí Kiên, Trần Á Đinh lại cùng nhau tiến hành sửa chữa “Kỷ yếu”. Ngày 14, ngày 17 tháng 3, Mao Trạch Đông lại sửa chữa bản “Kỷ yếu” hai lần nữa. Mao Trạch Đông đã phê duyệt: “Kỷ yếu này đã xem hai lần, cảm thấy... được rồi” vào ngày 17.

Mao Trạch Đông đã “cảm thấy được rồi”, thì “Kỷ yếu” cũng có thể coi là xong. Lúc này, trên tiêu đề đã ghi thêm mấy chữ: “Đồng chí Lâm Bưu ủy thác” đã biến thành “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”. Việc viết thêm 6 chữ vô cùng quan trọng, làm cho Giang Thanh trở thành “có cớ xuất quân” và “danh chính ngôn thuận”, đó là do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác” mà “triệu tập cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội”, đồng thời cũng nâng cao giá trị của Giang Thanh, nâng cao địa vị của “cuộc toạ đàm” “một người nói”.

Đã do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác” thì “Kỷ yếu” cần phải được đồng chí Lâm Bưu đồng ý. Thế là Giang Thanh yêu cầu Trần Á Đinh khởi thảo bức thư gửi cho Lâm Bưu, toàn văn như sau:

Đồng chí Lâm Bưu:

Dựa vào sự ủy thác của đồng chí, từ ngày 2 đến ngày 20 tháng 2, tôi đã mời đồng chí Lưu Chí Kiên cùng bốn đồng chí tiến hành tọa đàm về vấn đề công tác văn nghệ của bộ đội. Sau khi tọa đàm, họ đã chỉnh lý kỷ yếu tọa đàm gửi đến đồng chí và các đồng chí lãnh đạo khác trong Quân ủy, và cũng gửi cho tôi một bản. Tôi đã xem, cảm thấy việc chỉnh lý kỷ yếu tọa đàm chưa hoàn chỉnh và chính xác lắm. Vì vậy, tôi đã mời hai đồng chí Xuân Kiều và Á Đinh sửa chữa lại kỷ yếu, sau đó đã đưa Chủ tịch đọc duyệt. Chủ tịch rất coi trọng, đã đích thân sửa chữa kỷ yếu, đồng thời chỉ thị mời đồng chí Bá Đạt tham gia, lại bổ sung và sửa chữa. Từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 3, sau khi mời bốn đồng chí Bá Đạt, Chí Kiên, Xuân Kiều, Á Đinh cùng thảo luận và sửa chữa lại đưa Chủ tịch đọc duyệt, Chủu tịch lại sửa chữa lần nữa và ngày 17 đã phê duyệt: “Kỷ yếu này đã xem hai lần, cảm thấy được rồi”. Tôi lại sửa một chút, đề nghị các đồng chí suy nghĩ. Kỷ yếu này kiến nghị dùng danh nghĩa của Quân ủy, gửi đến một số đồng chí phụ trách của trung ương trưng cầu ý kiến, đề nghị họ chỉ ra sai lầm, để tiện sửa chữa. Tất nhiên trước tiên là phải trưng cầu ý kiến các đồng chí trong Quân ủy... Ngày 19, tôi lại mời các đồng chí Chí Kiên, Xuân Kiều, Đường Chung, Mạn Thôn, Á Đinh cùng tọa đàm, mọi người đều nhân trí đồng ý kỷ yếu này. Nay gửi kỷ yếu tọa đàm này lên để đồng chí đọc duyệt.

Xin gửi lời chào trân trọng


Giang Thanh
Ngày 19 tháng 3 năm 1966.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:41:52 pm
 
Lâm Bưu lúc ấy đang ở Thượng Hải. Ông ta nhận được thư và bản “Kỷ yếu” in cỡ chữ lớn do Giang Thanh cho người đưa đến, biết Mao Trạch Đông đích thân đọc duyệt, tất nhiên là ông ta giơ cả hai tay tán thành. Ông ta không sửa một chữ nào, phê chuyển cho các Thường vụ Quân ủy. Lâm Bưu cho mời Lưu Chí Kiên và Trần Á Đinh đến để khởi thảo một bức thư cho các ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương là Hạ Long và một số người khác.

Lúc ấy, Chủ tịch quân ủy Trung ương là Mao Trạch Đông, Phó Chủ tịch chủ trì công tác hằng ngày của Quân ủy là Lâm Bưu, ngoài ra còn có Phó Chủ tịch Hạ Long, Nhiếp Vinh Trăn, Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh. Thường vụ ngoài chủ tịch, các phó chủ tịch có Chu Đức, Đặng Tiểu Bình, Đàm Chính, La Thụy Khanh. Thư của Lâm Bưu, toàn văn như sau:

Các đồng chí Thường vụ:

Gửi bản kỷ yếu của cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Giang Thanh triệu tập, đề nghị đọc. Kỷ yếu này, đã được các đồng chí tham gia tọa đàm nghiên cứu nhiều lần, lại được Chủ tịch ba lần đích thân đọc duyệt và sửa chữa, là một văn kiện rất hay, đã dùng tư tưởng Mao Trạch Đông trả lời rất nhiều vấn đề trọng đại của cuộc cách mạng văn hóa trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, không những có ý nghĩa thực hiện cực kỳ to lớn mà còn có ý nghĩa lịch sử sâu xa.

16 năm qua, trên trận tuyến văn nghệ tồn tại cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt, vấn đề ai thắng ai vẫn chưa được giải quyết. Trận địa văn nghệ, giai cấp vô sản không chiếm lĩnh thì giai cấp tư sản tất nhiên sẽ chiếm lĩnh, việc đấu tranh là không thể tránh khỏi. Đây là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa cực kỳ rộng lớn và sâu sắc trong lĩnh vực hình thái ý thức, làm không tốt sẽ xuất hiện chủ nghĩa xét lại. Chúng ta cần phải giương cao ngọn cờ vĩ đại của tư tưởng Mao Trạch Đông, kiên định không thay đổi tiến hành đến cùng cuộc cách mạng này.

Những vấn đề và ý kiến nêu ra trong  kỷ yếu, hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế của công tác văn nghệ của bộ đội, cần phải kiên quyết quán triệt chấp hành làm cho công tác văn nghệ của bộ đội có tác dụng quan trọng theo phương hướng cách mạng hóa làm nổi bật chính trị, thúc đẩy con người.

Có ý kiến gì đối với kỷ yếu mong cho biết để tiện báo cáo với Trung ương phê duyệt.

Xin gửi lời chào


Lâm Bưu
Ngày 22 tháng 3 năm 1966.

Bức thư này của Lâm Bưu, đã đánh giá cao bản “Kỷ yếu”. Trong thư ngầm thừa nhận “đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”. Cuối thư nói “để tiện báo cáo với Trung ương phê duyệt”, có nghĩa là “Kỷ yếu” sẽ là văn kiện của Trung ương Đảng để in và phân phát...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:42:42 pm

6. Tổ 5 người lạnh tanh

Tháng 2 năm 1966, đêm trước của trận bão táp đột biến. Khi Giang Thanh và 5 người gồm cả Lưu Chí Kiên, “tọa đàm” ở Khách sạn Cẩm Giang Thượng Hải thì ở Điếu Ngư Đài Bắc Kinh cũng có 5 người họp.

Hội nghị 5 người ở Thượng Hải họp vào ngày 2 tháng 2 còn Hội nghị 5 người ở Bắc Kinh họp vào ngày 3 tháng 2.

“Cuộc tọa đàm” ở Thượng Hải đã viết ra “Kỷ yếu” còn Hội nghị của nhóm ở Bắc Kinh đã viết ra “Đề cương”.

“Đề cương” và “Kỷ yếu” đối chọi với nhau.

5 người ở Bắc Kinh, chính là Tổ cách mạng văn hóa 5 người. Tổ này được thành lập theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, phụ trách chỉ đạo việc phê phán học thuật đang triển khai lúc đó. Phần trước đã nói đến, 5 người này là Bành Chân, Lục Định Nhất, Khang Sinh, Chu Dương, Ngô Lãnh Tây.

Tổ 5 người đã viết. “Đề cương báo cáo của tổ 5 người” (Cũng tức là “Đề cương tháng Hai”) có điều, sau này Khang Sinh đã “tuyên bố” là ông ta phản đối “Đề cương tháng Hai” - mặc dù đã tham gia Hội nghị, nghe nói là trong Hội nghị ông ta đã “im lặng”.

Ngày 5 tháng.2, Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị tại Bắc Kinh do Lưu Thiếu Kỳ chủ trì đã thảo luận và thông qua “Đề cương tháng Hai”.

Ngày 8 tháng 2, Bành Chân, Lục Định Nhất, Hứa Lập Quần đặc biệt đến Vũ Xương để báo cáo với Mao Trạch Đông về “Đề cương tháng Hai”, Mao Trạch Đông đã hỏi một số vấn đề, nhưng không nói là không đồng ý công bố.

Thế là ngày 12 tháng 2, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc in và phát bản “Đề cương tháng Hai” cho toàn Đảng.

“Đề cương tháng Hai” rõ ràng là gồm một loạt ý kiến có tính chính sách nhằm vào sự hỗn loạn trong tư tưởng do bài bình “Hải Thụy bãi quan” của Diêu Văn Nguyên dẫn đến. Phải kiên trì thực sự cầu thị và nguyên tắc trước chân lý mọi người đều bình đẳng, phải dùng lý lẽ để thuyết phục người khác, không nên vũ đoán lấy thế để áp chế người khác như học phiệt, cần đề xướng kiên trì chân lý, sửa chữa sai lầm bất kỳ lúc nào; nên dùng thái độ nghiêm túc và thân thiện với người khác, cần phải thận trọng trong việc công khai chỉ tên phê phán trọng điểm trên báo chí...

Phương hướng của “Tổ 5 người” đã làm cho Giang Thanh chú ý, chẳng trách bà ta lấy lý do “bận việc” làm gián đoạn cuộc “toạ đàm”, vội vã đến Hàng Châu nghe ngóng tin tức từ Mao Trạch Đông. Thượng tuần tháng 3, đang lúc Giang Thanh bận việc sửa chữa “Kỷ yếu” thì ở Bắc Kinh bùng nổ “Sự kiện điện thoại”.

Đó là chuyện Trương Xuân Kiều muốn làm rõ chiều hướng của Bắc Kinh, đã cử Dương Vĩnh Trực Trưởng ban Tuyên truyền Thành ủy Thượng Hải đến Bắc Kinh. Theo sự sắp xếp của Trương Xuân Kiều, Dương Vĩnh Trực sẽ nói chuyện với Hứa Lập Quần và Hồ Thằng, nêu ra một số vấn đề, đặc biệt là yêu cầu giải đáp: “học phiệt” mà “Đề cương tháng Hai” nói là chỉ ai.

Ngày 11 tháng 2 khi Dương Vĩnh Trực chuẩn bị về Thượng Hải thì Hứa Lập Quần chuyển lời đáp của Bành Chân. Đó là những vấn đề được Dương Vĩnh Trực đề xuất mà Hứa Lập Quần đã ghi lại và báo cáo với Bành Chân, ghi chép cuộc đối thoại như sau, rất tế nhị:

Hứa (Lập Quần): Dương Vĩnh Trực hỏi, học phiệt có đối thượng cụ thể hay không, chỉ ai vậy?

Bành (Chân): Học phiệt không chỉ cụ thể là ai, là A Q, ai trên đầu có sẹo là người ấy.

Hứa: Dương Vĩnh Trực hỏi, Thượng Hải muốn phê phán một loạt phim xấu, bao gồm “Nữ vận động viên nhảy cầu” được không?... vì có cặp đùi to.

Bành: Anh đi hỏi Trương Xuân Kiều, Dương Vĩnh Trực là họ đã đi bơi bao giờ chưa?

Hứa: Dương Vĩnh Trực hỏi, bài phê phán học thuật quan trọng có cần đưa cho Ban Tuyên truyền Trung ương thẩm tra không?

Bành: Trước đây Thượng Hải công bố bài của Diêu Văn Nguyên, đến một tiếng cũng không nói, tính Đảng của Thành ủy Thượng Hải để đi đâu rồi?


Hứa Lập Quần đã chuyển những câu trả lời của Bành Chân cho Dương Vĩnh Trực qua điện thoại. Sau khi Dương Vĩnh Trực về đến Thượng Hải đã lập tức báo cáo nguyên xi với Trương Xuân Kiều. Nghe xong, Trương Xuân Kiều nói: “Bây giờ thì ăn chắc rồi, cú điện thoại này chứng tỏ Ban Tuyên truyền Trung ương và Thành ủy Bắc Kinh phản đối bài viết của Diêu Văn Nguyên, mũi nhọn của “Đề cương tháng Hai” chĩa vào Diêu Văn Nguyên cũng là chĩa vào Mao Chủ tịch...”


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:43:32 pm

7. Số phận bi thảm của “Đề cương tháng Hai”

Giang Thanh đã đẩy nhanh tiến độ hoàn thành “Kỷ yếu”, bà ta muốn “Kỷ yếu” đối chọi với “Đề cương tháng Hai”.

Trương Xuân Kiều thông qua Giang Thanh nhanh chóng mật báo với Mao Trạch Đông về “sự kiện điện thoại”.

Khang Sinh vốn là một thành viên của tổ 5 người giỏi quyền thuật, lựa gió chèo thuyền, lúc này trở giáo, tiến công Bành Chân, phê “Đề cương tháng Hai”.

Ngày 28, 29 tháng 3, Mao Trạch Đông nói chuyện với Khang Sinh hai lần ở Hàng Châu.

Ngày 30 tháng 3, Mao Trạch Đông nói chuyện với Khang Sinh, Triệu Nghị Mẫn, Ngụy Văn Bá, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều ở Hàng Châu.

Ba lần nói chuyện, Mao Trạch Đông đều phê bình gay gắt Thành ủy Bắc Kinh và Ban Tuyên truyền Trung ương (Tổ trưởng và tổ phó là Bành Chân và Lục Định Nhất là Bí thư thứ nhất Thành ủy Bắc Kinh và Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương) bảo họ bao che cho kẻ xấu không ủng hộ phái tả, rằng “đề cương báo cáo của tổ 5 người là xáo trộn giới hạn giai cấp, không phân phải trái, là sai lầm; Ban tuyên truyền Trung ương là “Điện Diêm vương”, phải đánh đổ Diêm vương giải phóng bọn tiểu yêu... Rằng Ngô Hàm và Tiễn Bá Tán là học phiệt, bên trên còn đại đảng phiệt (chỉ Bành Chân) bao che cho chúng, đồng thời chỉ đích danh phải phê phán “Bút ký Thôn ba nhà” do ba người là Đặng Thác, Ngô Hàm, Liêu Mạt Sa viết và “Truyện đêm ở Yến Sơn” do Đặng Thác viết là “chống Đảng và chống chủ nghĩa xã hội”.

Những lời nói ấy của Mao Trạch Đông, đã phê phán “Đề cương tháng Hai”, làm cho sự sụp đổ của Bành Chân và Lục Định Nhất là không thể tránh khỏi.

Ngày Mao Trạch Đông nói chuyện với Khang Sinh, Triệu Nghị Mẫn, Ngụy Văn Bá, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều ở Hàng Châu, ngày 30 tháng 3, thì Lưu Chí Kiên và Trần Á Đinh thực hiện những thủ tục cuối cùng để thông qua “Kỷ yếu” ở Bắc Kinh. Vì “Kỷ yếu” đã được Thường vụ Quân ủy Trung ương quay vòng đọc duyệt và thông qua, Lưu Chí Kiên và Trần Á Đinh khởi tháo báo cáo thỉnh thị của Quân ủy gửi Trung ương và Mao Trạch Đông.

Trung ương, Chủ tịch:

Các đồng chí trong Thường vụ Quân ủy nhất trí đồng ý với “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”, cho rằng đây là một văn kiện rất hệ thống, rất hoàn thiện để giương cao ngọn cờ vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông về công tác văn nghệ, bộ đội cần phải kiên quyết quán triệt chấp hành. Nay gửi kèm theo bản kỷ yếu này và hai bức thư của đồng chí Lâm Bưu và Giang Thanh (Người dẫn chú: chỉ bức thư Giang Thanh gửi Lâm Bưu ngày 19 tháng 3 và bức thư của Lâm Bưu gửi Hạ Long và những người trong Thường vụ Quân ủy), đề nghị đọc duyệt.


   
Quân ủy
   Ngày 20 tháng 3 năm 1966

 Mao Trạch Đông không ở Bắc Kinh, bản báo cáo này đáng lý ra phải đưa cho Đặng Tiểu Bình Tổng bí thư Trung ương Đảng. Nhưng Đặng Tiểu Bình cũng không ở Bắc Kinh. Thế là lại được đưa tới tay Bành Chân - lúc ấy Bành Chân là Bí thư thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Bành Chân đọc xong “Kỷ yếu” vô cùng kinh ngạc. Nhưng biết bản “Kỷ yếu” này đã được Mao Trạch Đông ba lần đích thân sửa chữa, lại do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác”, chuyện không nhỏ, nên đành phải làm công việc chung. Ngày hôm sau 31 tháng 3, Văn phòng của Bành Chân thông báo cho Lưu Chí Kiên khởi thảo phê duyệt của Trung ương Đảng, để lấy danh nghĩa Trung ương Đảng phê chuyển “Kỷ yếu”. Bành Chân nói một vài ý đại khái cho lời phê duyệt, chỉ là mấy lời làm việc công theo lệ thường. Lưu Chí Kiên cấp tốc gọi Lý Mạn Thôn, Tạ Đường Trung, Trần Á Đinh khởi thảo lời phê duyệt. Và cũng chính ngày hôm ấy, Khang Sinh đã truyền đạt nội dung cuộc nói chuyện của Mao Trạch Đông ở Hàng Châu đến Chu Ân Lai và Bành Chân.

Ngày 1 tháng 4, Bành Chân chuyển các bản “Kỷ yếu” và lời phê duyệt của Trung ương dưới dạng thông báo đến tháng Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Chu Đức, Đặng Tiểu Bình v.v... cùng các đồng chí phụ trách trong Trung ương Đảng. Không gửi đến Lưu Thiếu Kỳ, vì từ ngày 26 tháng 3 đến ngày 19 tháng 4, Lưu Thiếu Kỳ cùng phu nhân Vương Quang Mỹ đi thăm Pa-kít-xtan, Áp-ga-ni-stan và ngay ngày hôm ấy, 1 tháng 4 ở Hàng Châu, Mao Trạch Đông phê vào “Kỷ yếu”: Đã duyệt.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:44:44 pm

Ngày 10 tháng 4, “Kỷ yếu” được coi là văn kiện “có đầu đề đỏ” của Trung ương Đảng được in và phát cho toàn Đảng. Lúc này, lời phê duyệt của Trung ương Đảng đã được đổi thành lời phê duyệt khác do Lưu Chí Kiên khởi thảo vào ngày 3 tháng 4, lời phê duyệt mới đã đánh giá cao “Kỷ yếu”. Thế là, “Kỷ yếu” nhanh chóng được đưa xuống các Trung ương cục, các tỉnh thành, Đảng ủy Khu tự trị, Đảng ủy các ban ngành Trung ương, các Đảng ủy, tổ chức Đảng các cơ quan nhà nước và đoàn thể nhân dân. “Trong quân đội phát đến Đảng ủy Trung đoàn, địa phương phát đến các huyện ủy, Đảng ủy các cơ quan văn hóa”.

Đối với Giang Thanh mà nói, ngày 10 tháng 4 năm 1966 là ngày “lịch sử” với tiêu đề “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội đo đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”, được in nổi bật trên văn kiện Trung ương Đảng. Đây là sự biểu thị rõ ràng về sự nổi dậy của Giang Thanh. Văn kiện này đã nêu rõ quan điểm văn nghệ của Giang Thanh, đồng thời yêu cầu các nơi quán triệt chấp hành ý kiến của Giang Thanh về công tác văn nghệ, vì đây là văn kiện của Trung ương Đảng, mà không phải là một bài viết trên báo.

Điều quan trọng nhất lại ở chỗ văn kiện đã nói rõ là “Kỷ yếu” đã được Mao Trạch Đông “đích thân sửa chữa ba lần” là do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác” chứng tỏ một cách đầy đủ “hậu đài” của Giang Thanh cứng biết chừng nào.

Việc tổ chức công bố bài của Diêu Văn Nguyên ở Thượng Hải, rốt cuộc thì Giang Thanh cũng chỉ là người thao túng ở đằng sau. Thúc đẩy “cuộc cách mạng Kinh kịch”, nắm vở kịch mẫu, bài “Bàn về cách mạng Kinh kịch” của Giang Thanh cũng mãi đến ngày 20 tháng 5 năm 1967 mới được phát biểu công khai. Lần này thì, Giang Thanh với dáng vẻ của “ngôi sao mới về chính trị” đã toả sáng trong toàn Đảng.

Lời phê duyệt của Trung ương Đảng đã đánh giá cao “Kỷ yếu”: “Cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ bộ đội do đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập lần này là một cuộc tọa đàm giương cao ngọn cờ vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông. Bản Kỷ yếu tọa đàm đã được Mao Chủ tịch ba lần đích thân sửa chữa, đã phân tích một cách đúng đắn rất nhiều vấn đề cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận văn nghệ hiện nay, đã nêu ra những phương châm chính sách đúng đắn, là một văn kiện rấl tốt rất quan trọng. Trung ương hoàn toàn đồng ý với văn kiện này. Nó không chỉ thích hợp với quân đội, cũng thích hợp với các nơi, thích hợp với toàn bộ trận tuyến văn nghệ. Các cấp Đảng ủy nên liên hệ với tình hình thực tế của khu vực mình và công tác văn nghệ của ngành mình, thảo luận nghiêm túc, nghiên cứu nghiêm túc, quán triệt chấp hành”.

“Kỷ yếu” đã chuẩn bị dư luận cho việc phát động cuộc đại cách mạng văn hóa, đã nói rõ mặt “văn hóa không thể không có cuộc cách mạng lớn”. Cốt lõi của “Kỷ yếu” là đoạn như sau:

Từ khi dựng nước đến nay, giới văn nghệ đã bị một sợi chỉ đem chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội đối lập với tư tưởng Mao Trạch Đông chuyên chính. Sợi chỉ đen này chính là sự kết hợp giữa tư tưởng văn nghệ tư sản, tư tưởng văn nghệ của chủ nghĩa xét lại hiện đại và cái gọi là văn nghệ những năm 30. Lý thuyết “viết chân thực”, lý thuyết “con đường rộng rãi của chủ nghĩa hiện thực”, lý thuyết “đi sâu vào chủ nghĩa hiện thực”, lý thuyết “đề tài quyết định”, lý thuyết “nhân vật trung gian”, lý thuyết chống “mùi thuốc đạn”, lý thuyết “hội tụ tinh thần thời đại” v.v… là những luận điểm tiêu biểu của họ, mà những luận điểm này đại để đều đã bị Mao Chủ tịch phê phán từ lâu trong “Bài nói chuyện trong cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An”. Giới điện ảnh còn có người nêu ra cái gọi là lý thuyết “ly kinh phản đạo” chính là rời bỏ kinh sách chủ nghĩa Mác – Lê-nin tư tưởng Mao Trạch Đông, phản lại con đường chiến tranh cách mạng nhân dân. Do sự ảnh hưởng hoặc khống chế của dòng ngược của tư tưởng văn nghệ tư sản và chủ nghĩa xét lại hiện đại, mười mấy năm nay những tác phẩm tốt hoặc cơ bản tốt thật sự ca ngợi những nhân vật anh hùng công nhân, nông dân, phục vụ công nông binh cũng có nhưng không nhiều; không ít là tác phẩm ở trạng thái trung gian; còn có một loạt những cỏ độc chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội. Chúng ta nhất định phải dựa vào chỉ thị của Trung ương Đảng kiên quyết tiến hành cuộc đại cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận văn hóa, xóa bỏ triệt để sợi chỉ đen này…

Căn cứ vào sự đánh giá “tả” của “Kỷ yếu” đối với giới văn nghệ cả nước thì một cuộc “đại cách mạng văn hóa xã hội chủ nghĩa” xuất hiện là điều không thể tránh khỏi. Cuộc “đại cách mạng văn hóa xã hội chủ nghĩa này, sau này được đổi gọi là đại cách mạng văn hóa vô sản”. Tuy nói sau này là “đại cách mạng văn hóa vô sản”, nhưng lại vượt xa phạm trù “văn hóa” nhưng mới đầu chính là từ “Kỷ yếu”. Cái gọi là “cách mạng văn hóa” tức là bắt đầu từ “kiên quyết tiến hành cuộc đại cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận văn hóa mà “kỷ yếu” đã nêu ra.

Giang Thanh cho rằng, trước đây việc phê phán phim “Truyện Vũ Huấn” và “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng” cho đến việc phê phán “Hải Thụy bãi quan” chỉ là nắm “một số vấn đề cá biệt”. Lần này phải “nắm một cách hệ thống và toàn diện!”

“Kỷ yếu” trở thành tuyên ngôn lên nắm quyền của Giang Thanh. Tuy nói trong “Kỷ yếu” Giang Thanh vẫn chưa có bất cứ một hàm phẩm gì, chỉ là “đồng chí Giang Thanh” thôi, chỉ với tư cách là một “đảng viên cộng sản, vì sự nghiệp của Đảng”, cùng các đồng chí bộ đội “tiến hành trao đổi một cách bình đẳng” nhưng việc truyền đạt bản “Kỷ yếu” xuống dưới... chứng tỏ Giang Thanh muốn “xuống núi”, sắp đảm nhiệm chức vụ quan trọng!


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:47:04 pm

5
“Thông báo “16 tháng 5”” trời quang sét nổ
Sử vô tiền lệ động trời phách lạc hồn xiêu

Từ ngày lễ dựng nước 1 tháng 10 năm 1949 đến nay. Vào các ngày lễ “1 tháng 5”, “1 tháng 10” có tổ chức mít tinh tại Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh thì chủ trì buổi lễ trên lễ đài Thiên An Môn, đều là Thị trưởng thành phố Bắc Kinh Bành Chân.

Nhưng ngày 1 tháng 5 năm 1966, cái “lệ thường” ấy đã bị xóa bỏ, trên lễ đài Thiên An Môn chẳng thấy bóng dáng Bành Chân ở đâu! Điều đó có nghĩa là Bành Chân đã gặp “rắc rối”.

Quả thực, Bành Chân đã gặp “rắc rối”. Từ cuối tháng 3, sau khi Mao Trạch Đông liên tục ba lần phê bình Bành Chân, phê bình “Đề cương tháng Hai” tại Hàng Châu, ngày 1 tháng 4, Trương Xuân Kiều đã nhanh chóng viết “Mấy ý kiến đối với (Đề cương báo cáo về cuộc thảo luận học tập hiện nay của Tổ cách mạng văn hóa 5 người)” đã liệt kê ra ba tội trạng của “Đề cương” và nã pháo vào Bành Chân.

Ngày 2 và 5 tháng 4, hai bài viết phê phán “chỗ hiểm” của “Hải Thụy bãi quan” và “bị Bành Chân chèn ép hai tháng rưỡi” của Thích Bản Vũ cùng Quan Phong và Làm Kiệt, công khai lên mặt báo làm cho áp lực đối với Thành ủy Bắc Kinh đột ngột tăng lên.

Khang Sinh từ Bắc Kinh gọi điện thoại đường dài cho Đặng Tiểu Bình đang ở Thiểm Tây: “Chủ tịch yêu cầu đồng chí về ngay Bắc Kinh, chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị truyền đạt thông tư hủy bỏ “Đề cương tháng Hai”.

Đặng Tiểu Bình đáp máy bay về Bắc Kinh, triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị. Trong cuộc họp, Khang Sinh truyền đạt nội dung ba lần nói chuyện của Mao Trạch Đông với ông ta ở Hàng Châu vào cuối tháng 3. Đã là ý kiến của Mao Trạch Đông thì Đặng Tiểu Bình phải làm theo, bảo Vương Lực cùng tham dự Hội nghị khởi thảo một bản thông báo.

Ở Trung Quốc có hai Vương Lực cùng họ cùng tên. Trong đó có một Vương Lực là Giáo sư Đại học Bắc Kinh, nhà Ngôn ngữ nổi tiếng. Còn Vương Lực này lại khác, Vương lực này vốn có tên là Vương Quang Tân, vào Đảng năm 1939. Khi hoạt động bí mật, đổi tên là “Vương Lê”. Năm 1943, khi in tiểu thuyết “Trời hửng” thì ký tên là “Vương Lực” từ đồng âm với “Vương Lê”.

Vì nét bút của chữ “Lực” đơn giản nên từ đó ông lấy tên là “Vương Lực”. Ngày 1 tháng 6 năm 1958, khi Tạp chí “Hồng kỳ” ra số đầu tiên, Vương Lực giữ chức biên ủy, từ đó bước vào “nhóm tú tài” của Trung ương Đảng. Bắt đầu từ năm 1960, Vương Lực được tham gia Hội nghị của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1963, giữ chức Phó Ban liên lạc đối ngoại Trung ương.

Theo Vương Lực nhớ lại, “Thông báo” do ông khởi thảo, mới đầu chỉ có một câu: “Đề cương báo cáo về cuộc thảo luận học tập hiện nay của “Tổ cách mạng văn hóa 5 người” mà ngày 12 tháng 2 Trung ương đã truyền đạt nay hủy bỏ”.

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua “Thông báo” này, rồi đưa cho Mao Trạch Đông phê duyệt. Mao Trạch Đông xem, không vui, nói: “Đây không hề nói rõ bất cứ điều gì, không nói vì sao huy bỏ. Phải khởi thảo lại”.

Mao Trạch Đông chỉ định Trần Bá Đạt phụ trách khởi thảo. Trần Bá Đạt muốn cùng Vương Lực viết. Vậy là hai người Trần Bá Đạt và Vương Lực đã viết bản “Thông báo” thứ hai. Bộ Chính trị lại họp để thảo luận, Bành Chân cũng có mặt. Khang Sinh đề xuất: “Phải thêm một câu: “Đề cương tháng Hai” là một văn kiện xét lại trăm phần trăm!” Bành Chân nghe thấy vậy cười nhạt: “Được thôi, hãy nói cho nó đã đi!”

“Thông báo” sau khi sửa chữa, lại gửi đi Hàng Châu. Mao Trạch Đông xem vẫn thấy không vừa ý, cho rằng quá giản đơn. Mao Trạch Đông đề nghị, tổ chức tổ khởi thảo văn kiện, lại khởi thảo lần nữa ở Thượng Hải. Mao Trạch Đông nêu đích danh Trần Bá Đạt làm tổ trưởng, tổ gồm 10 thành viên: Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ, Ngô Lãnh Tây, Doãn Đạt, Mục Hân, Trần Á Đinh.

Ngày 16 tháng 4. Mao Trạch Đông triệu tập Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng ở Hàng Châu thảo luận vấn đề của Bành Chân, quyết định giải tán “Tổ Cách mạng văn hóa 5 người”. Thành lập lại tổ cách mạng văn hóa.

Cũng đúng hôm đó, tại Thượng Hải, thành viên tổ khởi thảo tề tựu ở khách sạn Cẩm Giang. Tổ trưởng Trần Bá Đạt và tổ viên Khang Sinh đi họp ở Hàng Châu, tổ do Giang Thanh chủ trì.

Văn kiện do tổ này khỏi thảo cũng chính là “Thông báo”, đây không phải là “Thông báo” nói chung, mà là văn kiện quan trọng của Trung ương Đảng - “Thông báo 16 tháng 5”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:47:44 pm

Giang Thanh vừa hoàn thành xong “Kỷ yếu”, lúc này ở vào địa vị nổi bật khác thường.

Mỗi khi tổ hoàn thành một bản, thì Trương Xuân Kiều lập tức cho người đem đến Hàng Châu đưa thẳng cho Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông đích thân sửa chữa. Sửa xong cho người đưa thẳng cho Trương Xuân Kiều. Lúc này, Trương Xuân Kiều đã trở thành nhân vật có quyền thế, mọi người cười gọi ông ta là “Tổng thư ký”.

Khi tổ soạn thảo họp hội nghị lần cuối cùng, Trần Bá Đạt và Khang Sinh từ Hàng Châu trở về. Theo Vương Lực nhớ lại, hai vị “đại tú tài” này đã không hay biết những chỗ mà “Chủ tịch đã sửa”! Ngày 24 tháng 4, Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng đã cơ bản thông qua dự thảo “Thông báo” quyết định giao cho Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng thảo luận.

Ngày 4 tháng 5, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng được triệu tập ở Bắc Kinh. Tham gia Hội nghị có các thành viên Bộ Chính trị cùng những người phụ trách hữu quan gồm 76 người, Giang Thanh đã xuất hiện tại Hội nghị cao cấp chủ chốt của Đảng Cộng sản Trung Quốc mặc dù đến chức ủy viên Trung ương bà ta cũng không phải! Ngoài Giang Thanh ra, Trương Xuân Kiều, Quan Phong, Thích Bản Vũ cũng không phải là ủy viên Trung ương. Những người thuộc phái đại “tả” khuynh này, với tư cách là thành viên của nhóm khởi thảo văn kiện tham gia hội nghị. Giang Thanh bước vào Hội trường với vẻ vênh vang tự đắc vì 28 năm trước đã có “quy ước ba chương” vậy mà giờ đây, bà ta đã có thể tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng, không thể không nói đó là thắng lợi vô cùng to lớn của bà ta. Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lại không có mặt trong hội trường. Ông vẫn ở Hàng Châu. Ông đã sửa đi sửa lại “Thông báo”, giao cho Hội nghị thông qua là được chẳng cần phải tham gia Hội nghị, chủ trì Hội nghị là Lưu Thiếu Kỳ, ông mới đi thăm nước ngoài về được nửa tháng, hơi có chút ngỡ ngàng đối với sự thay đổi gấp gáp trong cục diện chính trị ở Trung Quốc.

Trong Hội nghị có hai vai hát chính: một là Khang Sinh, truyền đạt nội dung ba lần nói chuyện của Mao Trạch Đông với ông ta ở Hàng Châu, phê phán Bành Chân, Lục Định Nhất, người thứ hai là ngôi sao mới Trương Xuân Kiều, ngày 6 tháng 5, đã phát biểu một bài dài, giới thiệu một cách hệ thống tình hình Bành Chân, Lục Định Nhất và những người khác sau Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8 đã “chống lại đường lối cách mạng văn hóa”.

Bành Chân, Lục Định Nhất trở thành mục tiêu chủ yếu để hội nghị công kích. Thêm vào đó là La Thụy Khanh đã bị phê phán, còn có Dương Thượng Côn người bị hàm oan trong cái gọi là “sự kiện máy nghe trộm” biến thành “Tập đoàn phán đảng Bành, La, Lục, Dương” bị đánh tới tấp.

Trong hội nghị, hỏa lực đan chéo.

Ngày 9 tháng 5, “Giải phóng quân báo” đăng bài viết của Giang Thanh ký tên là “Cao Cự” với tiêu đề: “Nổ súng vào sợi chỉ đen chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội” đồng thời “Quang Minh nhật báo” đăng bài của Quan Phong, ký tên là “Hà Minh” với tiêu đề “Lau mắt cho sáng, nhận rõ thật giả”.

Ngày 10 tháng 5, “Giải phóng quân báo” và “Văn hối báo” ở Thượng Hải, đồng thời đăng bài viết dài của Diêu Văn Nguyên có tựa đề “Bình “Thôn ba nhà””. Điều khác lớn nhất so với bài viết bình “Hải Thụy bãi quan” nửa năm trước là ngày hôm sau các báo chí trong cả nước (bao gồm báo các tỉnh) đều đăng lại bài “Bình “Thôn ba nhà””.

Ngày 11 tháng 5, Tạp chí “Hồng kỳ” đăng bài “bình lập trường tư sản của báo “Tiền tuyến” và “Bắc Kinh nhật báo”” của Thích Bản Vũ.

Ngày 14 tháng 5, “Nhân dân nhật báo” đăng bài “Vạch trần bộ mặt chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội của Đặng Thác”.

Bánh xe lịch sử, cuối cùng đã cuốn vào ngày hôm ấy, 16 tháng 5, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua “Thông báo”. Vì được thông qua vào ngày 16 tháng 5, nên mọi người gọi là “Thông báo 16 tháng 5”.

“Thông báo 16 tháng 5” là tuyên ngôn của “cách mạng văn hóa”, là cương lĩnh để tiến hành “cách mạng văn hóa”. Các nhà sử học đã coi ngày thông qua thông báo ngày 16 tháng 5 năm 1966, là ngày bắt đầu “cách mạng văn hóa”.

Lưu Thiếu Kỳ người chủ trì Hội nghị, đã không hề biết rằng “những nhân vật Khơ-rút-sốp đang ngủ bên cạnh chúng ta” mà trong “Thông báo” nói tới ấy, chính là chỉ ông!

Một đoạn trong “Thông báo” đã khái quát mục tiêu tiến hành “cách mạng văn hóa”.

“Giương cao ngọn cờ vĩ đại của cách mạng văn hóa vô sản, vạch trần triệt để lập trường phản động tư sản của cái gọi là “quyền uy học thuật” chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội, phê phán triệt để tư tưởng phản động tư sản của giới học thuật, giới giáo dục, giới báo chí, giới văn nghệ, giới xuất bản, giành lại quyền lãnh đạo trong các lĩnh vực văn hóa này. Nhưng muốn làm được điều này thì phải đồng thời phê phán những nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản đã trà trộn trong Đảng, trong chính quyền, trong quân đội và trong các giới thuộc lĩnh vực văn hóa, gạt sạch những người này và cần phải thay đổi chức vụ của một số người.

“Những nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản trà trộn trong Đảng, trong chính quyền, trong quân đội và trong các giới văn hóa, là bọn xét lại phản cách mạng, hễ thời cơ chín muồi, là chúng sẽ cướp chính quyền, từ chuyên chính vô sản biến thành chuyên chính tư sản. Những nhân vật này, có một số đã bị chúng ta nhận ra, có một số vẫn chưa nhận ra, có một số đang được chúng ta tin dùng, được bồi dưỡng làm người kế tục của chũng ta, chính là những nhân vật Khơ-rút-sốp đang ngủ bên cạnh chúng ta, Đảng ủy các cấp cần phải chủ ý đầy đủ điều này”.



Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:48:19 pm

Do “Thông báo 16 tháng 5” gọi là “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” nên từ đó cụm từ “Đại Cách mạng văn hóa xã hội chủ nghĩa” cũng biến mất trên tất cả các báo chí.

“Cách mạng văn hóa” đã tạo cơ hội tốt nhất cho sự trỗi dậy của Giang Thanh trong chính trị. Một lần nữa bà ta trở thành diễn viên hoạt động mạnh mẽ, chỉ có điều là bây giờ bà ta hoạt động mạnh trên vũ đài chính trị của Trung Quốc...

Trong “Thông báo 16 tháng 5” có một đoạn như thế này: “Bãi bỏ “Tổ cách mạng văn hóa 5 người” và các cơ quan làm việc của nó, thiết lập lại tổ cách mạng văn hóa, chịu sự quản lý của Thường vụ Bộ Chính trị”.

“Tổ cách mạng văn hóa” mới này, Mao Trạch Đông chỉ định Trần Bá Đạt làm tổ trưởng và yêu cầu Trần Bá Đạt tổ chức lấy người vào nhóm này.

Trần Bá Đạt biết vai trò quan trọng của “đệ nhất phu nhân” liền bàn với Giang Thanh về danh sách của tổ, quyết định lấy nguyên tổ khởi thảo “Thông báo 16 tháng 5” làm cơ sở, sau đó thêm bớt. Tổ khởi thảo, ngoài Trần Bá Đạt là tổ trưởng ra, tổ viên gồm 10 người: Khang Sinh, GiangThanh, Trương Xuân Kiều, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ, Ngô Lãnh Tây, Doãn Đạt, Mục Hân, Trần Á Đinh.

Trong đó Trần Á Đinh được thay bằng Tạ Hoàng Trung, vì Trần Á Đinh là Phó Cục trưởng Cục Văn hóa Tổng cục Chính trị còn Tạ Hoàng Trung là Cục trưởng, đưa Trần Á Đinh vào mà không đưa Tạ Hoàng Trung sẽ không thích hợp. Nếu để hai người thì Tổng cục Chính trị nhiều quá. Vì vậy đã thay Trần Á Đinh bằng Tạ Hoàng Trung.

Trong số tổ viên cử Khang Sinh làm cố vấn, Giang Thanh và Trương Xuân Kiều làm tổ phó. Ngô Lãnh Tây bị xóa tên.

Ngoài ra, tăng thêm Vương Nhậm Trọng và Lưu Chí Kiên làm tổ phó. Tăng thêm Lưu Chí Kiên vì ông đã tham gia việc khởi thảo “Kỷ yếu”. Tăng thêm Vương Nhậm Trọng là Bí thư Tỉnh ủy Hồ Bắc, ngoài nguyên nhân Vương Nhậm Trọng là “tú tài” trong số các Bí thư tỉnh ủy, đã viết khá nhiều tạp văn (thường được công bố dưới cái tên “Cung Đồng Văn”), hơn nữa do bài phát biểu của ông ta trong Thường vụ Tỉnh ủy Hồ Bắc ngày 24 tháng 1 năm 1966 về chính trị đi đầu, nên rất được Mao Trạch Đông coi trọng và đến ngày 10 tháng 4 năm 1966 đã được Trung ương Đảng phê duyệt và công bố trong toàn Đảng.

Ánh mắt của Giang Thanh, thận trọng lướt nhìn bản danh sách, phát hiện thiếu một tướng “tả” quan trọng Diêu Văn Nguyên.

Tuy Trần Bá Đạt không coi Diêu Văn Nguyên ra gì, nói bố của ông ta Diêu Liên Tử là kẻ phản bội, có điều phải nể mặt Giang Thanh, nên vẫn phải đưa Diêu Văn Nguyên vào danh sách ở ghế cuối cùng. Theo cấp bậc và quá trình công tác thì Diêu Văn Nguyên là người thấp nhất, mỏng nhất.

Danh sách này đã được Thường vụ Bộ Chính trị thảo luận và đồng ý đưa trình Mao Trạch Đông phê chuẩn.

Ngày 28 tháng 5 năm 1966, Trung ương Đảng đã gửi “Thông báo danh sách tổ Cách mạng văn hóa Trung ương”, toàn văn như sau:

Trung ương quyết định thành lập Tổ cách mạng văn hóa Trung ương dưới sự lãnh đạo của Thường vụ Bộ Chính trị. Nay thông báo danh sách Tổ cách mạng văn hóa Trung ương để các đồng chí biết:

Tổ trưởng: Trần Bá Đạt

Cố vấn: Khang Sinh.

Tổ phó: Giang Thanh, Vương Nhậm Trọng, Lưu Chí Kiên, Trương Xuân Kiều.

Tổ viên: Tạ Hoàng Trung, Doãn Đạt, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ, Mộc Hân, Diêu Văn Nguyên.

Các thành viên (4 người) của 4 khu lớn Hoa Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, sau khi xác định sẽ thông báo sau.


Từ đó, Giang Thanh đã có chức vụ thực sự: Tổ phó Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Tổ này, thường được mọi người gọi là “Trung ương văn cách” (Cách mạng văn hóa Trung ương).

Trong 4 tổ phó thì Giang Thanh đứng thứ nhất. Cuối cùng Giang Thanh đã thỏa mãn nguyện vọng coi như đã đứng vào tuyến đầu của chính đàn.

Năm 1966 là năm đắc ý nhất của Giang Thanh trên đường đời. Trong năm này bà ta đã có chức vị trong quân đội, càng làm cho bà ta có lý do để tự quảng cáo mình là chiến sĩ. Bà ta sắp trở thành vị thống soái của đại quân trên mặt trận văn nghệ. Vậy là phút chốc bà ta đã bước vào con đường đi tới quyền lực chính trị.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:16:52 pm

Chương IV
BA NƯỚC CỜ TRONG CÁCH MẠNG VĂN HÓA
CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG


1
Một bức tranh thần bí khiến Mao Trạch Đông hoảng hốt không yên


1. Những nhận định sai lầm của Mao Trạch Đông

Cách mạng văn hóa xảy ra trước hết bắt đầu từ những nhận định sai lầm của Mao Trạch Đông đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước. Vì vào năm 1956, trước khi hoàn thành cơ bản ba cuộc cải tạo lớn về chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, Trung Quốc là một xã hội có giai cấp. Lúc ấy trong Đảng nảy sinh sai lầm “tả” khuynh, chủ yếu là đã coi bạn là thù, mở rộng diện đả kích, thu nhỏ quân đồng minh; trong đấu tranh đã dùng những sách lược và thủ đoạn không thỏa đáng v.v... Nhưng sau khi ba cuộc cải tạo lớn đã cơ bản hoàn thành thì tình hình khách quan và mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Trung Quốc đã có những thay đổi có tính chất căn bản. Vì vậy nhiệm vụ của Đảng cũng nảy sinh những thay đổi có tính chất căn bản mà chủ yếu là “phá bỏ thế giới cũ chuyển sang xây dựng thế giới mới”. Cho nên “tả” sau năm 1957, chủ yếu biểu hiện ở các vấn đề đấu tranh giai cấp xã hội xã hội chủ nghĩa v.v.. Lý luận và thực tiễn của “tả” khuynh lúc này vừa có mối liên hệ về các mặt nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc lịch sử v.v... với “tả” trước đây, lại vừa có sự khác biệt lớn về điều kiện xã hội khách quan và nội dung thực tế lý luận. Làm rõ sự khác biệt này, có một ý nghĩa quan trọng đối với việc làm rõ sự phát triển ác tính về lý luận và thực tiễn “tả” khuynh nào để cuối cùng dẫn tới cuộc đại cách mạng văn hóa. Đó là điều đầu tiên cần phải nói rõ.

Từ tiến trình lịch sử khách quan mà xét, sau năm 1957, sự phát triển của trào lưu “tả” khuynh trong Đảng Cộng sản Trung Quốc đã được xác định là bắt đầu từ đánh giá không thỏa đáng đối với tình hình giai cấp trong nước và nhận định sai lầm về mâu thuẫn chủ yếu trong nước.

Đáng lẽ, sau khi hoàn thành cơ bản cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với chế độ tư liệu sản xuất ở đại lục Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc phải đưa ra những quyết nghị đúng đắn đúng lúc để nêu ra những quyết sách trọng đại về sự chuyển hóa mâu thuẫn chủ yếu và sự thay đổi trọng tâm công tác. Đại hội 8 Đảng Cộng sản Trung Quốc họp năm 1956, trong Nghị quyết về báo cáo chính trị đã chỉ rõ: “Mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta, đã là mâu thuẫn giữa yêu cầu của nhân dân đối với việc xây dựng một nước công nghiệp tiên tiến với hiện thực là một nước nông nghiệp lạc hậu, đã là mâu thuẫn giữa nhu cầu của nhân dân đối với sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế văn hóa với tình trạng nền kinh tế văn hóa trước mắt không thể thỏa mãn như cầu của nhân dân. Thực chất của mâu thuẫn này trong tình hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được xây dựng cũng chính là mâu thuẫn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa tiên tiến với lực lượng sản xuất lạc hậu”. Việc trình bày này đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước về chữ nghĩa có chỗ chưa đủ chính xác.

Nghị quyết về báo cáo chính trị của Đại hội 8 có giống sự tuyên truyền trong thời kỳ đại cách mạng văn hóa hay không, rằng “do Lưu Thiếu Kỳ lén lút làm sau lưng Mao Chủ tịch”, “là món hàng xét lại tuyên truyền cho lý thuyết đấu tranh giai cấp đã chấm dứt”? Không phải! Sự thực là Lưu Thiếu Kỳ trong quá trình khởi thảo Báo cáo chính trị Đại hội 8, đã cùng Mao Trạch Đông bàn đi tính lại nhiều lần, đồng thời dựa vào ý kiến của Mao Trạch Đông đã sửa chữa một cách nghiêm túc. Mao Trạch Đông cho rằng Lưu Thiếu Kỳ sửa chữa rất tốt, đồng thời trên trang bìa giả của bản thảo đã đích thân viết đề mục: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Đại hội đại biểu toàn quốc dân thứ 8”, dưới lại đề ba chữ “Lưu Thiếu Kỳ”. Trong Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 1 khóa 8, Mao Trạch Đông còn ca ngợi: “Là một đề cương rất tốt”. Đủ thấy đối với Báo cáo chính trị, Mao Trạch Đông đa đích thân sửa chữa và tán thành.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:17:59 pm

2. Sự kiện Hung-ga-ri đã làm nhận định sai lầm sâu sắc thêm

Sau Đại hồi 8, đã nổ ra sự kiện Hung-ga-ri làm chấn động toàn thế giới.

Ngày 23 tháng 10 năm 1956, lại thủ đô Pu-đa-pét của Hung-ga-ri đã nổ ra cuộc biểu tình lớn của hai mười vạn người, đòi xóa bỏ hậu quả do sai lầm của người lãnh đạo trước đó là Ra-cô-xi, đồng thời yêu cầu khôi phục lại chức vụ cho Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nát-giơ. Khi biểu tình... xảy ra sự kiện đổ máu tấn công Đài phát thanh, Cục bưu điện và kho vũ khí, tình hình lại có những sự phát triển nghiêm trọng mới. Một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước do Ia-nốt Ca-đa đứng đầu đã lập ra chính phủ cách mạng công nông, mời Liên Xô đưa quân vào trấn áp, ngày 4 tháng 11, quân đội Liên Xô vào Bu-đa-pét dập tắt cuộc phiến loạn.

Các nước Phương Tây thừa cơ dấy lên cao trào chống cộng sản sau báo cáo bí mật của Khơ-rút-sốp. Trước trận cuồng phong to lớn ấy, Đảng Cộng sản Trung Quốc bình tĩnh, lặng lẽ. Xét trên tổng thể, trong một thời gian, Mao Trạch Đông không hề thay đổi những nhận định cơ bản của Đại hội 8 với mâu thuẫn chủ yếu trong nước và tình hình đấu tranh giai cấp. Nhưng do Mao Trạch Đông đã tổng kết ra một bài học cơ bản nhất từ sự kiện Hung-ga-ri là: “Vấn đề cơ bản của một số nước Đông Âu chính là chưa làm tốt đấu tranh giai cấp”. Điều đó đã không thể tránh khỏi ánh hưởng đến sự phân tích và nhận định của ông đối với những mâu thuẫn và những sự kiện xẩy ra trong nước sau này.

Sự kiện Hung-ga-ri xảy ra đã thúc đẩy Mao Trạch Đông tập trung tất cả tinh lực cho việc tìm hiểu vấn đề giải quyết đúng đắn mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.

Cho đến đầu năm 1957, ý kiến của Mao Trạch Đông đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước là nhất trí với Nghị quyết của Đại hội 8.


3. Cuộc đấu tranh chống phái hữu làm mâu thuẫn trầm trọng thêm

Chỉ vài ba tháng sau, cuộc đấu tranh chống phái hữu đã bùng nổ. Cuộc đấu tranh này được coi là “một cuộc đấu tranh giai cấp có quy mô lớn và có tính quần chúng”. Trên thực tế, cuộc đấu tranh giai cấp này chủ yếu là do con người gây nên. Cuộc đấu tranh chống phái hữu không những đã quy kết sai hàng loạt trí thức, nhân sĩ dân chủ yêu nước và cán bộ trong Đảng là “phần tử phái hữu” làm cho họ và gia đình họ gặp phải những nỗi bất hạnh rất lớn, mà còn làm cho sự phát triển văn hóa khoa học của Trung Quốc bị trì trệ, khuyến khích sự bành trướng của trào lưu tư tưởng “tả” khuynh, đều có ảnh hưởng nặng nề đến tiến trình lịch sử xã hội Trung Quốc và cả đến sự bùng nổ của “đại cách mạng văn hóa”. Ngày 2 tháng 5, “Nhân dân nhật báo” đăng bài xã luận “Vì sao phải chỉnh phong” kêu gọi động viên đông đảo quần chúng giúp Đảng Cộng sản chỉnh phong. Lúc ấy, toàn quốc đã xuất hiện phong trào rầm rộ của đông đảo quần chúng tích cực phê hình và kiến nghị với Đảng. Tuyệt đại đa số là có thiện ý. Nhưng cũng không thể phủ nhận ở một số địa phương và đơn vị nào đó thực sự có rất ít phần tử thù địch với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng được sự cổ vũ của cao trào chống cộng quốc tế sau sự kiện Hung-ga-ri, nhân cơ hội Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉnh phong, làm mưa làm gió, mưu đồ lật đổ địa vị lãnh đạo của Đảng. Một bộ phận quần chúng trong việc giúp đỡ Đảng chỉnh phong hoặc do thiếu kinh nghiệm xã hội hoặc do tư tưởng quá khích, đã phát biểu những lời lẽ gay gắt, không hoàn toàn phù hợp với thực tế, đã tiến hành những hoạt động đưa yêu sách, biểu tình v.v... đã gây ra hỗn loạn trong một thời gian. Đối với tình hình lúc đó, mới đầu Mao Trạch Đông đánh giá là “gió mới nổi, làm gợn lên những lớp sóng lăn tăn trong hồ nước xuân”, coi là không nghiêm trọng lắm, thậm chí còn thông qua các con đường và tuyên truyền trong dư luận, khuyến khích mọi người mạnh dạn nói rõ. Về sau, ông thay đổi cách nhìn đối với tình hình, cho rằng đã thành “mây đen phủ kín thành làm thành sắp đổ” rồi, nếu không phản kích thì một số tỏ chức Đảng sẽ sụp đổ. Thế là lại động viên toàn đảng phản kích, triển khai cuộc đấu tranh mang tính chất quần chúng với quy mô lớn, từ đó tạo nên cục diện cuộc đấu tranh chống phái hữu mở rộng một cách nghiêm trọng.

Cuộc đấu tranh chống phái hữu mở rộng một cách nghiêm trọng đã đưa lại cho Đảng và Nhà nước rất nhiều hậu quả bất hạnh, trong đó vấn đề trực tiếp nhất có tính chất toàn cục, là sự đánh giá tình hình chính trị trong nước không đúng và sự thay đổi đột ngột nhận định mâu thuẫn chủ yếu trong nước. Trong thời kỳ đấu tranh chống phái hữu, Mao Trạch Đông đã liên tiếp viết rất nhiều chỉ thị, bài văn và xã luận có những nhận định quá nghiêm trọng đối với vấn đề đấu tranh giai cấp.

Sự thay đổi nhận định đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước, trong hội nghị tổ trưởng của Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa 8, Mao Trạch Đông đã từng giải thích “trong văn kiện Đại hội 8 nói là cuộc đấu tranh giai cấp trên quy mô lớn cơ bản đã kết thúc, vì lúc đó giai cấp tư sản khua chiếng dóng trống, phục tùng nghe theo, vấn đề chưa bộc lộ đầy đủ. Vấn đề trí thức tư sản, vấn đề tư tưởng của tầng lớp trung nông giàu có, vấn đề thế lực chính trị và hình thái ý thức của giai cấp tư sản cũng như vấn đề trong kiến trúc thượng tầng, lúc đó nhìn rất không rõ ràng. Qua tự do lên tiếng, tự do phát biểu lần này, giai cấp tư sản muốn làm phản, vấn đề mới được nhìn rõ. Vì thế phải nói rằng, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là mâu thuẫn chủ yếu”. Từ lời giải thích này có thể thấy rõ, sai lầm cửa Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa 8 đối với việc nhận định về mâu thuẫn chủ yếu, là sự phản ánh về lý luận trong việc mở rộng nghiêm trọng cuộc đấu tranh chống phái hữu. Do có những phán đoán sai lầm đối với mâu thuẫn chủ yếu, nên trong quan điểm lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp trong xã hội xã hội chủ nghĩa tất nhiên sẽ phát sinh ra một loạt phán đoán sai lầm.

Trước tiên, phải xác định mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thì cần phải khẳng định trong điều kiện xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại một giai cấp tư sản với ý nghĩa hoàn chỉnh.

Nhận định là đại lục Trung Quốc đã bước vào xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại giai cấp bóc lột, về lý luận tất nhiên sẽ gặp những khó khăn không dễ khắc phục.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:26:38 pm

4. Hậu quả xấu do sự biến ở Lư Sơn

Khi Hội nghị Lư Sơn họp, hậu quả xấu do “đại nhảy vọt” tạo nên đã bộc lộ rõ ràng. Hội nghị họp là để sửa chữa sai lầm “tả” trong công tác thực tế. Nội dung bức thư mà ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài gửi cho Mao Trạch Đông trong thời gian đang họp quy kết lại chẳng qua cũng chỉ là Bành Đức Hoài cho rằng ngoài việc sửa chữa một số sai lầm “tả” trong công tác thực tế ra, còn phải giải quyết những vấn đề “tả” về mặt chỉ đạo tư tưởng. Bức thư này dù là về nội dung hay về phương thức biểu đạt, lịch sử đã có kết luận là đều đúng đắn. Nhưng, bức thư này đã bị coi là “Cương lĩnh cơ hội hữu khuynh”, trở thành cái cớ để áp chế đả kích những người có hoài nghi đối với “ba ngọn cờ hồng” ở trong và ngoài Đảng và phát động phong trào có tính chất toàn quốc “đánh lui cuộc tiến công điên cuồng của chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh”.

Thực tiễn sai lầm trong việc phê phán Bành Đức Hoài, lại thúc đẩy Mao Trạch Đông có những khái quát mới trong lý luận. Trong một chỉ thị ông viết: “Cuộc đấu tranh xuất hiện ở Lư Sơn là một cuộc đấu tranh giai cấp, là sự tiếp tục cuộc đấu tranh sinh tử giữa hai giai cấp đối kháng: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mười năm qua”. Điều này đã đưa đến nhận định sai lầm coi cuộc tranh luận những ý kiến khác nhau trong Đảng là đấu tranh giai cấp, từ đó trực tiếp đưa cuộc đấu tranh giai cấp vào trong Đảng Cộng sản.

Trải qua ba năm khó khăn kinh tế nghiêm trọng, đầu óc mọi người mới dần dần bình tĩnh lại, suy nghĩ tương đối nghiêm chỉnh về “ba ngọn cờ hồng”. Đầu năm 1962, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị công tác mở rộng ở Bắc Kinh (còn gọi là Đại hội bảy ngàn người). Khi thảo luận về những bài học kinh nghiệm trong công tác từ năm 1958 đến nay, cán bộ phụ trách các địa phương: các cấp trong phát biểu của mình đều đề cập đến một số vấn đề do “ba ngọn cờ hồng” gây nên và đều tỏ thái độ bất mãn. Tuy Mao Trạch Đông với thái độ khoan dung đã đề nghị để mọi người “ngày thì nghỉ ngơi, tối thì xem kịch”, đồng thời trong phát biểu ý kiến, trên nguyên tắc đã bày tỏ phải gánh vác trách nhiệm đối với một số sai lầm nào đó. Nhưng theo Giang Thanh đã để lộ qua bài nói chuyện trong đại cách mạng văn hóa, thì đối với đại hội ấy “trong bụng Mao Trạch Đông đầy căng nỗi bực tức” và chỉ có lời phát biểu của Lâm Bưu (Phó Chủ tịch Đảng, sau Hội nghị Lư Sơn năm 1959, thay Bành Đức Hoài làm Bộ trưởng Quốc phòng) là làm ông cảm kích”.

Trong phát biểu tại “Đại hội bảy ngàn người”, Lâm Bưu đã nói, nảy sinh những khó khăn này “chính là do không làm theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, lời cảnh báo của Mao Chủ tịch và tư tưởng của Mao Chủ tịch”. “Khi công tác của chúng ta làm tốt là lúc tư tưởng của Mao Chủ tịch được quán triệt thuận lợi, là lúc tư tưởng của Mao Chủ tịch không bị cản trở. Khi ý kiến của Mao Chủ tịch không được tôn trọng hoặc khi bị cản trở lớn thì sự việc sẽ mắc lỗi lầm”. Những lời có ý a dua nịnh hót đi ngược lại thực tế khách quan một cách nghiêm trọng như thế lại được Mao Trạch Đông yêu thích.


5. Bó đuốc trong lĩnh vực hình thái ý thức

Sai lầm trong mở rộng và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp sẽ không thể tránh khỏi việc mở rộng đến lĩnh vực hình thái ý thức. Tháng 5 năm 1963, “Văn hối báo” Thượng Hải đã đăng bài do Bí thư Thứ nhất Thành ủy Thượng Hải lúc đó là Kha Khánh Thi và phu nhân của Mao Trạch Đông tổ chức người viết để phê phán chính trị đối với vở Côn kịch “Lý Tuệ Nương” của Mạnh Siêu mới viết và “Thuyết có ma vô hại” của (Trưởng ban Mặt trận của Thành ủy Bắc Kinh lúc đó là Liêu Mạt Sa) với bút danh là Phồn Tinh, nói bừa rằng những bài viết và tác phẩm này đều là biểu hiện nghiêm trọng của cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực hình thái ý thức.

Cuối năm 1963 và giữa năm 1964, Mao Trạch Đông lần lượt viết hai chỉ thị về công tác văn học nghệ thuật đã phê bình gay gắt: Bộ Văn hóa là “Bộ đế vương khanh tướng”, “Bộ tài tử giai nhân”, “Bộ người chết ở nước ngoài”. Ông cho rằng: “Các hình thức nghệ thuật - hí kịch, khúc nghệ, âm nhạc, mỹ thuật, múa, điện ảnh, thơ và văn học v.v... vấn đề không ít, số người rất nhiều, cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong rất nhiều ngành đến nay hiệu quả thu được rất ít. Nếu không cải tạo nghiêm chỉnh, thể tất sẽ có một ngày nào đó trong tương lai sẽ biến thành đoàn thể kiểu câu lạc bộ Pê-tô-phi ở Hung-ga-ri”. Mao Trạch Đông phê bình gay gắt như thế đối với công tác văn học nghệ thuật rõ ràng là không công bằng, nói quá sự thực.

Bắt đầu từ mùa hè năm 1964, việc phê bình này mở rộng tới các lĩnh vực học thuật như triết học, kinh tế học, sử học, giáo dục học v.v... giới triết học đã phê phán lý thuyết “gộp hai làm một” của Dương Hiến Trân, Hiệu phó Trường Đảng Trung ương; giới kinh tế học phê phán tư tưởng kinh tế của Tôn Dã Phương, Viện trưởng Viện Kinh tế Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc; giới Sử học phê phán cái gọi là “quan điểm phi giai cấp” và lý thuyết “chính sách nhượng bộ” của Tiễn Bá Tán, nhà sử học nổi tiếng và Ngô Hàm v.v...


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:27:38 pm

6. Một bức tranh đáng sợ trong mắt của Mao Trạch Đông

Dưới tác dụng qua lại giữa lý luận và thực tiễn của việc mở rộng và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, đến năm 1965, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông đã có những đánh giá trái với thực tế đối với tình hình trong nước, mô tả thành một tình cảnh đáng sợ.

Chính quyền ở nông thôn có đến một phần ba không ở trong tay chúng ta, đại đa số nhà máy xí nghiệp, quyền lãnh đạo không ở trong tay nhưng người mác-xít và quần chúng công nhân;

Trường học là nhất thống thiên hạ do các trí thức tư sản độc chiếm;

Đại đa số giới văn học nghệ thuật đã ở bên bờ xét lại.

Trung Quốc tồn tại một “giai cấp quan liêu” “hút máu công nhân”, trong Đảng tồn tại “giới cầm quyền đi con đường tư bản chủ nghĩa”;

Trong Đảng, trong chính quyền, trong quân đội đã trà trộn một loạt nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản và những phần tử xét lại phản cách mạng.

Do sự đánh giá tình hình nghiêm trọng như vậy, nên trong mắt Mao Trạch Đông việc “Đảng biến thành xét lại, đất nước đổi màu” đã trở thành mối nguy hiểm thực tế. Vì thế trong các trường hợp khác nhau, nhiều lần ông đã nêu ra vấn đề “Trung ương có chủ nghĩa xét lại thì làm thế nào?”. Ngày 10 tháng 10 năm 1965, khi nói chuyện với Bí thư thứ nhất các đại khu và tư lệnh các đại quân khu, Mao Trạch Đông đã nói: Trung ương có chủ nghĩa xét lại, các đồng chí sẽ làm thế nào? Nếu trung ương có chủ nghĩa xét lại các đồng chí sẽ làm phản. Còn bản thân Mao Trạch Đông sẽ suy nghĩ như thế nào để xoay chuyển cục thế này? Ông cho rằng, trước đây tổ chức đấu tranh ở nhà máy, tổ chức đấu tranh ở nông thôn, tổ chức đấu tranh trong giới văn hóa, tổ chức phong trào giáo dục xã hội chủ nghĩa, đều không giải quyết vấn đề, vì đó chỉ là sự chắp vá mà không coi là toàn bộ cuộc đấu tranh giai cấp. Vì thế ông cho rằng phải thông qua một hình thức phát động hàng trăm triệu quần chúng vạch trần từ trên xuống dưới cái mặt u tối của chúng ta. Các phong trào quần chúng có thể giải quyết triệt để mọi vấn đề ở trong đầu óc ông sau này được gọi là “đại cách mạng văn hóa”.

Tác dụng qua lại giữa lý luận “tả” khuynh và thực tiễn “tả” khuynh là nguyên nhân căn bản gây nên đại cách mạng văn hóa. Nguyên nhân căn bản không phải là nguyên nhân duy nhất. Không có sự thâm nhập lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau của các nguyên nhân khác thì chưa chắc đã xẩy ra cuộc đại cách mạng văn hóa.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:28:22 pm

7. Tự coi mình là trung tâm của Mao Trạch Đông

Tác dụng qua lại của sự lộng quyền độc đoán và sự sùng bái cá nhân, đã ấp ủ thành tấn bi kịch lịch sử đại cách mạng văn hóa. Quyền lực tập trung quá đáng vào một cá nhân, Đảng đã mất đi năng lực ràng buộc lãnh tụ của mình, sự thiếu sót về phương diện chế độ tổ chức này là một nguyên nhân quan trọng khác làm nổ ra cuộc đại cách mạng văn hóa. Vì nếu chỉ là sự sai sót về lý luận và sự nhận định sai lầm đối với tình thế, dựa vào việc phát huy trí tuệ tập thể, tập trung dân chủ thì không phải là không thể sửa chữa được. Sai lầm trong lý luận chính trị, lại thêm sự thiếu sót của chế độ tổ chức sẽ làm cho sai lầm của lãnh tụ rất khó có thể bị ràng buộc và sửa chữa.

Vấn đề nảy ra ở đâu? Đặng Tiểu Bình đã từng trả lời như sau: “Chúng ta nói, chế độ là nhân tố quyết định, chế độ lúc ấy là như thế. Lúc ấy mọi người đều đem mọi công lao gán cho một người. Có một số vấn đề quả thật chúng ta cũng chưa từng phản đối, vì thế cũng phải gánh một phần trách nhiệm. Tất nhiên trong điều kiện ấy, tình hình thực tế là khó phản đối”. Cái “chế độ lúc ấy” nói ở đâu rõ ràng là chỉ quyền lực tập trung quá mức và sùng bái cá nhân, mà không phải là chỉ chế độ tổ chức đúng đắn của Đảng. Vậy thì sự tập trung cao độ quyền lực và sự sùng bái cá nhân cuồng nhiệt này đã hình thành như thế nào, đã có tác dụng gì đối với việc phát động cuộc đại cách mạng văn hóa? Cần phải tiến hành một số khảo sát lịch sử.

Mọi người đều biết, nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc là chế độ tập trung dân chủ.

Đảng Cộng sản Trung Quốc do ở trong hoàn cảnh đặc biệt đấu tranh vũ trang, muốn thích ứng với đòi hỏi của cuộc chiến tranh cách mạng tàn khốc cần phải tập trung thống nhất cao độ. Đến thời kỳ chiến tranh chống Nhật, Đảng Cộng sản Trung Quốc thấy rằng, cuộc đấu tranh với địch gay gắt, căn cứ địa phân tán, tố chất của cán bộ không đồng đều, đã tồn tại một số hiện tượng phối hợp không nhịp nhàng, nên vào tháng 9 năm 1942 đã thông qua “Quyết định về việc thống nhất lãnh đạo của Đảng ở các căn cứ địa chống Nhật và điều chỉnh quan hệ giữa các tổ chức”, chính thức xác định nguyên tắc lãnh đạo nhất nguyên hóa của Đảng. Quyết định này chỉ rõ: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản và là hình thức cao nhất của tổ chức giai cấp vô sản, nó phải lãnh đạo tất cả các tổ chức khác, như quân đội, chính quyền và đoàn thể dân chúng. Sự thống nhất và nhất nguyên hóa trong lãnh đạo căn cứ địa, cần biểu hiện ở mỗi căn cứ địa có một ủy ban của Đảng thống nhất lãnh đạo tất cả”. Những quy định này trên nguyên tắc là đúng đắn, đối với hoàn cảnh chiến tranh, phải phối hợp nhịp nhàng, trong quan hệ giữa Đảng, chính quyền, quân đội và các tổ chức dân chúng, tập trung lực lượng, thống nhất chỉ huy, đã có tác dụng quan trọng trong việc bảo đảm sự thắng lợi của chiến tranh cách mạng. Nhưng, trong quá trình thực hiện, sự lãnh đạo nhất nguyên hóa của Đảng thường thường biến thành việc Đảng quyết định tất cả cho đến Đảng quản lý tất cả ở những mức độ khác nhau. Tuy Trung ương Đảng nhiều lần nhấn mạnh rõ ràng rằng sự lãnh đạo của Đảng là sự lãnh đạo về tư tưởng và về chính trị và thực hiện qua tác dụng gương mẫu của đảng viên, nhưng trong những năm chiến tranh đã không và cũng không thể chế định ra các điều lệ rõ ràng, làm cho các mặt công tác đâu vào đấy.

Sau khi cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa hoàn thành cơ bản, Trung ương Đảng bắt đầu chú ý đến thể chế quyền lực tập trung quá mức, không thích hợp trong hoàn cảnh xây dựng hòa bình, cần phải có sự phân quyền một cách tương đối và thích đáng. Mao Trạch Đông đã nêu: “Nên trên tiền đề củng cố sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương mở rộng một chút quyền lực của địa phương, cho địa phương được độc lập nhiều hơn, để địa phương làm nhiều việc hơn”. Các quyết sách quan trọng được Đại hội 8 thông qua vừa mới bắt đầu quán triệt thì bị phong trào chống phái hữu làm ngắt quãng. Theo đà phát triển của tư tưởng “tả” khuynh lấy mở rộng và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp làm đặc trưng, tình trạng quyền lực tập trung quá mức không những không dịu đi, trái lại từng bước từng bước mạnh lên. Trong quá trình này, trong “đại nhảy vọt” năm 1958, Mao Trạch Đông đã từng nêu ra rằng Bí thư Thứ nhất Đảng ủy phải là “Mác cộng với Tần Thủy Hoàng”. Cách đặt vấn đề không thỏa đáng này đã khái quát rõ ràng hơn, khẳng định hơn nguyên tắc lãnh đạo nhất nguyên hóa của Đảng thành “Đảng lãnh đạo tất cả”, hơn nữa trong. việc thực hiện đã biến thành Đảng quyết định tất cả, Đảng quản lý tất cả.

Lấy bề ngoài tập thể lãnh đạo để che giấu thực chất cá nhân độc đoán.

Đối với tình hình công tác lãnh đạo của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình đã đánh giá một cách thực sự cầu thị rằng: “Nói tóm lại, trước năm 1957, sự lãnh đạo của đồng chí Mao Trạch Đông là đúng đắn, từ sau cuộc đấu tranh chống phái hữu năm 1957 thì sai lầm càng ngày càng nhiều”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:31:23 pm

8. Quyền lực tập trung đã tạo nên tấn thảm kịch lịch sử

Quyền lực tập trung quá mức, lại thêm sùng bái cá nhân, điều này đã hình thành sự tác dụng qua lại: Quyền lực tập trung quá mức khuyến khích sùng bái cá nhân, sùng bái cá nhân tăng cường cho độc đoán cá nhân, cuối cùng dần dần tạo nên bi kịch lịch sử. Trong sự tác dụng qua lại này, sùng bái cá nhân là chất kích thích, từ khảo sát lịch sử có thể thấy rõ điều này.

Dưới tác dụng qua lại của độc đoán cá nhân và sùng bái cá nhân, quần chúng đảng viên cho đến tổ chức Đảng đã mất đi tác dụng giám sát đôn đốc và chế ước đối với lãnh tụ; nguyên tắc lãnh đạo tập thể và chế độ tập trung dân chủ chỉ là hữu danh vô thực, cá nhân hoàn toàn vượt lên trên tập thể và tổ chức.

Trong Hội nghị Lư Sơn năm 1959, sau khi Mao Trạch Đông quyết định phê phán Bành Đức Hoài, trong một cuộc phê phán ở phạm vi hẹp Chu Đức, Phó Chủ tịch Đảng đã phê bình Bành Đức Hoài là tính tình thô bạo, khăng khăng cho mình là đúng. Mao Trạch Đông cho rằng đó là “Gãi ngứa ngoài giày”, cắt ngang lời phát biểu của Chu Đức. Trong “chống phái hữu” sau Hội nghị Lư Sơn, Chu Đức lại bị phê phán một cách vô cớ. Điều đó nói lên rằng giữa các ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị đã không còn là quan hệ bình đẳng nữa. Tháng 12 năm 1964, trong Hội nghị công tác toàn quốc do Bộ Chính trị triệu tập, Mao Trạch Đông đã phê bình, Ban Bí thư Trung ương Đảng do Đặng Tiểu Bình chủ trì và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước do Lý Phú Xuân chủ trì là “hai vương quốc độc lập”. Cá nhân chỉ trích một cách vô căn cứ đối với một cơ cấu lãnh đạo quan trọng của Trung ương, cũng đã phản ánh sự không bình thường trong quan hệ lãnh đạo. Khi thảo luận “Hai mươi ba điều” đối với vấn đề tính chất của phong trào cũng như “phái theo con đường tư bản chủ nghĩa” v.v.. Ý kiến của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ có sự bất đồng trong Hội nghị đã hình thành nên ai nói ý của người ấy. Thảo luận vấn đề có ý kiến khác nhau, điều đó vốn là hiện tượng bình thường, nhưng lại bị coi là đại bất kính đối với Mao Trạch Đông; vì việc này, Lưu Thiếu Kỳ phải thân chinh đến xin lỗi Mao Trạch Đông. Tình trạng giống như trên đã nêu chứng tỏ các nhà lãnh đạo Trung ương có những ý kiến khác nhau trên một số vấn đề trọng đại. Nhưng sự bất đồng này chưa bao giờ công khai, hơn nữa còn được bảo vệ bởi đó là cơ mật tối cao. Về phương diện này đã nói lên rằng, những người lãnh đạo Trung ương đều lấy sự đoàn kết của Đảng làm trọng, lấy lợi ích của Đảng và Nhà nước làm trọng, đó là truyền thống tốt đẹp của Đảng Cộng sản Trung Quốc và cũng là nguồn gốc sức mạnh của Đảng. Mặt khác, những người lãnh đạo khác ép dạ cầu toàn thuận theo cách làm của Mao Trạch Đông cũng gây nên một số tác dụng tiêu cực nào đó, đã làm tổn hại đến sinh hoạt dân chủ và sự lãnh đạo tập thể của Trung ương Đảng, đã khuyến khích tính độc đoán cá nhân của Mao Trạch Đông.


9. Sự lúng túng của tập thể bù nhìn

Khi Mao Trạch Đông kiên trì một chủ trương thì thường không nghe thấy những tiếng nói khác, mọi người chỉ có thể cố gắng “để lĩnh hội tinh thần”, “tích cực quán triệt”. “Điều lý giải được thì phải chấp hành, điều không lý giải được cũng phải chấp hành” như Lâm Bưu đã tuyên truyền vốn là lý thuyết dốt nát phủ định độc lập suy nghĩ, đề xướng việc phục tùng mù quáng, nhưng lại có thể được khá nhiều người tán thành hoặc coi là nguyên tắc hành động, cũng là do hoàn cảnh khách quan này. Đối với hiện tượng này không thể giản đơn oán trách những người lãnh đạo Trung ương khác là “ngu trung”, “không có dũng khí” chỉ mong “giữ được cái mũ ô sa” v.v... Những người lãnh đạo Trung ương trước đại cách mạng văn hóa ngoài một số rất ít kẻ có dã tâm như Lâm Bưu, Khang Sinh, Trần Bá Đạt v.v... ra đều chủ yếu xuất phát từ việc bảo vệ sự đoàn kết của Đảng và uy tín của Mao Trạch Đông. Hơn nữa trong tình trạng cá nhân độc đoán, thái độ đối với lãnh tụ như thế nào, thường được coi là kỷ luật cao nhất. Nếu ai kiên trì phản đối một chủ trương nào đó mà Mao Trạch Đông đã hạ quyết tâm, không những Mao Trạch Đông không dung thứ, mà còn không được sự lý giải và ủng hộ của tập thể lãnh đạo.

Chỉ qua mấy sự kiện khi phát động đại cách mạng văn hóa sẽ có thể thấy rất rõ hiện tượng này.

Sự phê phán đối với kịch bản “Hải Thụy bãi quan” là sự “mở màn” của cuộc đại cách mạng văn hóa. Đây là một việc lớn phải phát động toàn Đảng toàn quốc tiến hành cái gọi là đại phê phán, hơn nữa mũi dùi mà các bài viết công kích là trực tiếp chĩa vào Thành ủy Bắc Kinh, đằng sau còn liên quan đến nhiều người lãnh đạo ở Trung ương khác. Vì thế, những bài viết này tuyệt không phải chỉ là một bài phê phán thông thường, mà là việc lớn có ý nghĩa chính trị quan trọng. Nhưng từ khi bài viết được khởi thảo đến khi công bố, lại được giữ bí mật với Trung ương Đảng lâu đến 8 tháng, các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư đều không hay biết, người phụ trách Ban Tuyên truyền Trung ương cũng không biết, đều là do cá nhân Mao Trạch Đông quyết định. Đây là một ví dụ về cá nhân độc đoán quyết định việc lớn có tính toàn cục.  Tháng 12 năm 1965, việc phê phán đối với Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc La Thụy Khanh là do Mao Trạch Đông nhẹ dạ tin theo lời vu cáo hãm hại của Lâm Bưu, tạm thời quyết định triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ở Thượng Hải để tiến hành. Lúc ấy, Phó Chủ tịch Đảng Lưu Thiếu Kỳ đang chủ trì công tác hàng ngày của Trung ương Đảng tại Bắc Kinh, nhận được thông báo họp nhưng lại không biết nội dung cuộc họp ra sao, nên đã đi hỏi Nguyên soái Hạ Long, ủy viên Bộ Chính trị chủ trì công việc hàng ngày của Quân ủy. Hạ Long đáp: “Lạ thật, anh không biết, thì làm sao tôi có thể biết được”. Các đồng chí dự hội nghị trước đó cũng không rõ đầu đuôi chỉ có thể đứng trước sự đã rồi. Đây là một ví dụ sau cá nhân độc đoán thì đem gán cho tập thể.

Năm 1966 “Đề cương báo cáo về cuộc thảo luận học thuật trước mắt của Tổ cách mạng văn hóa 5 người” (tức “Đề cương tháng Hai”) do Bành Chân chủ trì lập ra và đã được Thường vụ Trung ương tại Bắc Kinh thảo luận đồng ý, đồng thời sau khi thân chinh đến nơi nghỉ của Mao để báo cáo với Mao Trạch Đông (lúc ấy Mao không hề tỏ ra phản đối) và được coi là văn kiện Trung ương để thông báo xuống các cấp. Không lâu sau, cá nhân Mao Trạch Đông quyết định hủy bỏ và phê phán “Đề cương tháng Hai”. Đó là ví dụ về cá nhân phủ định quyết định của tập thể. Tháng 5 năm 1966, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng, là cái mốc đánh dấu cuộc đại cách mạng văn hóa chính thức được phát động. Nói dung của hội nghị này như phê phán Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn, đồng thời gọi là “tập đoàn phản Đảng”, thông qua “Thông báo 16 tháng 5” v.v... đều là do Mao Trạch Đông chủ trì quyết định trước khi họp. Nhưng khi chính thức họp, Mao Trạch Đông lại ở nơi khác không về Bắc Kinh. Hội nghị do Lưu Thiếu Kỳ chủ trì. Đây là một ví dụ về thông qua tập thể trên hình thức để quán triệt quyết định cá nhân.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:33:56 pm

2
Khơ-rút-sốp nằm bên đàn tế làm sao trừ bỏ,
Mao Trạch Đông tốn sức đắn đo


1. Bóng đen trong lòng Mao Trạch Đông

Quốc tế chống xét lại, làm cho Mao Trạch Đông lo lắng thêm và sự nghi ngờ cũng tăng lên.

Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa thứ nhất trên thế giới, là “người anh cả” hùng cường nhất trong phe xã hội chủ nghĩa lúc đó, có uy tín rất lớn trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhân dân các dân tộc Trung Quốc sau khi cách mạng thắng lợi. Lúc ấy, “Ngày nay của Liên Xô là ngày mai của chúng ta” trở thành khẩu hiệu tuyên truyền ai ai cũng biết, thực sự cũng là niềm mong mỏi và lý tưởng của rất nhiều người. Nhưng năm 1953, sau khi Sta-lin tạ thế, tình hình dần dần thay đổi. Còn quan hệ Trung Xô có sự thay đổi lớn có tính chất bước ngoặt, bắt đầu từ tháng 2 năm 1956 khi Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20 họp.

Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô Khơ-rút-sốp đọc báo cáo bí mật trong Đại hội công kích thậm tệ và phủ nhận hoàn toàn lãnh tụ của Đảng Sta-lin, đồng thời cũng từ đó dẫn đến một cuộc bão táp lớn về chính trị gây tổn thất to lớn cho phong trào cộng sản quốc tế là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Mao Trạch Đông cảnh giác và thay đổi phương hướng nhận thức theo “tả”, đồng thời đề xuất một cách rõ ràng khẩu hiệu chống chủ nghĩa xét lại.

Đặc biệt là sau khi xảy ra sự kiện Ba Lan ngày 6 tháng 10 năm 1956 và sự kiện Hung-ga-ri vào hạ tuần tháng 10 đến tháng 11 cùng năm, thì cách nhìn của Mao Trạch Đông đối với Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô đã có những thay đổi rõ rệt, điểm mốc là trong bài phát biểu “Về vấn đề giải quyết đúng đắn mâu thuẫn trong nội bộ nhăn dân” tháng 2 năm 1957, đã đề xuất vấn đề chống chủ nghĩa xét lại một cách rõ ràng.

Có điều lúc ấy nêu ra “chống xét lại” chỉ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trên mặt trận tư tưởng khác rất xa với thời kỳ đại cách mạng văn hóa coi “chống xét lại và phòng xét lại” là nhiệm vụ hàng đầu bao trùm tất cả trên mặt trận tư tưửng và mật trận chính trị. Giữa khoảng thời gian đó đã trải qua quá trình phát triển quanh co với sự thay đổi tình hình khách quan và nhận thức chủ quan theo chiều hướng “tả” ngày càng sâu sắc hơn.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:34:41 pm

2. Bị đả kích hết lần này đến lần khác trong chuyến đi Liên Xô

Mùa đông năm 1957, Mao Trạch Đông đích thân dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc đi Mạc Tư Khoa, tham gia lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, đồng thời dự Hội nghị Đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa trong việc điều hòa quan hệ hai đ~lng Trung - Xô đã có sự tiến triển tích cực. Trong Tuyên ngôn của Hội nghị đã tiếp thu rất nhiều ý kiến của Đoàn đại biểu Đảng Trung Quốc, đồng thời cũng có chung nhận thức đối với một số quy luật chủ yếu chung mà các nước cần phải tuân theo khi đi vào con đường xã hội chủ nghĩa. Trong Hội nghị này, Khơ-rút-sốp đề xuất, sau 15 năm về mặt sản lượng sản phẩm công nông nghiệp quan trọng nhất của Liên Xô sẽ đuổi kịp và vượt Mỹ, Mao Thạch Đông thì đề xuất trong cùng thời gian này, về mặt sản lượng gang thép và các sản phẩm công nghiệp quan trọng khác, Trung Quốc sẽ đuổi kịp và vượt nước Anh. Điều này đã trở thành thời cơ để phát động “đại nhảy vọt” năm 1958. Thành quả tích cực của Hội nghị này đã làm cho Mao Trạch Đông được cổ vũ sâu sắc, khiến ông đã tuyên bố, trong so sánh lực lượng chính trị trên thế giới, gió đông đã thổi bạt gió tây, tức “chủ nghĩa xã hội đang phát triển lên còn chủ nghĩa đế quốc thì đang suy thoái”.

Nhưng, cùng với sự chăm biếm mỉa mai của Khơ-rút-sốp đối với “đại nhảy vọt” và phong trào công xã nhân dân năm 1958 của Trung Quốc, chỉ trích việc pháo kích Kim Môn và nêu ra yêu cầu vô lý thành lập hạm đội liên hợp Trung - Xô, thiết lập đài sóng dài do Liên Xô quản lý ở Trung Quốc nhằm khống chế hải quân Trung Quốc, đã bị Mao Trạch Đông cự tuyệt gay gắt v.v... nên quan hệ giữa hai đảng Trung - Xô lại xấu đi nhanh chóng. Đặc biệt là trước và sau Hội nghị Lư Sơn năm 1959, Mao Trạch Đông cho rằng: “Thời gian gần đây chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh tấn công điên cuồng, nói là sự nghiệp của nhân dân chỗ này không tốt, chỗ kia không tốt. Bọn chống Trung Quốc chống cộng trên toàn thế giới cùng với những phần tử tư sản, tiểu tư sản trước đây trà trộn vào nội bộ giai cấp vô sản, vào nội bộ Đảng ta nội công ngoại kích cùng tấn công điên cuồng”. Trong đó bao gồm rất nhiều nhóm chống đối và nhóm hoài nghi trong các đồng chí Liên Xô. Vì thế, ông đề xuất: “Ba điều một là trăm hoa đua nở, một là công xã nhân dân, một là đại nhảy vọt, đều bị bọn Khơ-rút-sốp phản đối, hoặc hoài nghi... Ba điều này phải chiến đấu với toàn thế giới, bao gồm cả việc đại phê phán phái chống đối và phái hoài nghi trong Đảng”. Mao Trạch Đông còn chỉ thị cho Ngô Lãnh Tây, Trần Bá Đạt, Hồ Kiều Mộc v.v… viết một cuốn sách về công xã nhân dân, đồng thời tuyên bố: “Tôi đang chuẩn bị viết một lời tựa dài 1 vạn chữ bác bỏ mạnh mẽ phái chống đối trên toàn thế giới”. Cuốn sách này tuy về sau không hoàn thành được, cũng không được thấy lời tựa dài của Mao Trạch Đông, nhưng sự căm ghét đối với “bọn Khơ-rút-sốp” thì đã ngập tràn trong lời nói và thái độ. Lúc này Mao Trạch Đông đã coi chủ nghĩa xét lại cùng chủ nghĩa đế quốc phản động, chủ nghĩa dân tộc “là kẻ thù, là bọn dối trá, là hàng đen”. Nhưng cho mãi đến cuối năm 1959, khi triệu tập Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Bành Chân, Lâm Bưu, Trần Nghị, Khang Sinh, Vương Gia Tường, Hạ Long, Đàm Chính, Trần Bá Đạt v.v... đến Hàng Châu thảo luận tình hình quốc tế và vấn đề đối sách, còn yêu cầu mọi người nghiên cứu: “Chủ nghĩa xét lại có phải đã thành hệ thống hay không, có phải cứ kiên quyết làm tiếp như thế hay không?” Ông vẫn cho rằng: “Lợi ích căn bản của Trung Quốc và Liên Xô quyết định hai nước lớn luôn phải đoàn kết. Một số cái không đoàn kết nào đó, chỉ là hiện tượng tạm thời, vẫn là quan hệ mười đầu ngón tay có ngón dài ngón ngắn”. “Bọn Khơ-rút-sốp rất ấu trĩ. Chúng không hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, dễ bị chủ nghĩa đế quốc lừa gạt”. Vẫn hy vọng “bọn Khơ-rút-sốp” cải tà quy chính mà không đi đến tan vỡ.

Nhưng sự phát triển của tình hình khách quan không thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người. Khơ-rút-sốp không thể khoan nhượng mọi việc làm của Đảng Cộng sản Trung Quốc, rắp tâm công kích Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 6 năm 1960, trong Hội nghị đại biểu Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân được tiến hành tại Bu-ca-rét thủ đô Ru-ma-ni đã trở thành bước ngoặt trong quan hệ giữa hai đảng. Trước Hội nghị, Đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô do Khơ-rút-sốp dẫn đầu đã đột ngột gửi cho đoàn đại biểu các nước “Thư thông báo của Đảng Cộng sản Liên Xô gửi Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 21 tháng 6. Trong Hội nghị, Khơ-rút-sốp lại cầm đầu bao vây công kích Đảng Cộng sản Trung Quốc vu cáo Đảng Cộng sản Trung Quốc là “kẻ điên”, “muốn phát động chiến tranh”, sự tự vệ và kháng nghị đối với việc Ấn Độ xâm chiếm lãnh thổ nước ta là “chủ nghĩa dân tộc thuần túy”, thái độ đối xử với Đảng Cộng sản Liên Xô là “phương thức Tơ-rốt-sky” v.v... và v.v...

Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc do Bành Chân làm trưởng đoàn tuân theo nguyên tắc kiên trì do Trung ương Đảng đã định. Kiên trì phương châm đoàn kết, dựa vào lý lẽ để đấu tranh một cách nghiêm túc, đồng thời tán phát tuyên bố bằng văn bản trong hội nghị chỉ trích cách làm xấu tập kích bất ngờ trong hội nghị lần này của Khơ-rút-sốp; mặt khác, để chiếu cố đến tình hình chung, vẫn ký vào bản Thông cáo chung của hội nghị. Những người lãnh đạo Liên Xô thấy không thể áp chế được Đảng Cộng sản Trung Quốc trong hội nghị liền gây sức ép sau hội nghị, mở rộng sự bất đồng về tư tưởng giữa hai đảng Trung Quốc và Liên Xô thành quan hệ giữa hai Nhà nước.

Ngày 16 tháng 7 năm 1960, chính phủ Liên Xô đột ngột gửi công hàm cho chính phủ Trung Quốc đơn phương quyết định triệu hồi toàn bộ chuyên gia Liên Xô đang làm tại Trung Quốc về nước. Từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 1 tháng 9, đã rút về 1390 chuyên gia ở Trung Quốc, chấm dứt cử hơn 900 chuyên gia mới. Đồng thời, xé bỏ 343 bản hợp đồng chuyên gia và bản bổ sung hợp đồng, xóa bỏ 257 hạng mục hợp tác khoa học kỹ thuật.

Tháng 11 năm 1960, Lưu Thiếu Kỳ dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc đến Mạc Tư Khoa, tham gia Kỷ niệm 43 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, đồng thời tham gia Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân. Đảng Cộng sản Liên Xô lại giở ngón cũ như ở Hội nghị Bu-ca-rét, bất chấp hiệp nghị đã nhiều lần trao đổi bàn bạc trong Ủy ban khởi thảo 26 nước, trước ngày hội nghị đã tán phát một bức thư dài đến 6 vạn chữ công kích thô bạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đến đoàn đại biểu các nước, hội nghị lại tổ chức bao vây công kích Đảng Cộng sản Trung Quốc; đã làm cho hội nghị gần đi đến chỗ tan vỡ. Do đại đa số các đảng anh em đòi hỏi phải đoàn kết, phản đối chia rẽ, đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc đứng đầu là Lưu Thiếu Kỳ đã có những nỗ lực tích cực. Hai đảng Trung Quốc và Liên Xô mỗi bên đều có một số nhượng bộ, cuối cùng hội nghị vẫn thông qua và công bố “Tuyên bố chung của Hội nghị đại biểu Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân các nước trên thế giới”. Nhưng quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước Trung Quốc và Liên Xô lại không thể cứu vãn mà tiếp tục xấu đi.

Tháng 10 năm 1961, Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 22, Đảng Cộng sản Trung Quốc cử Đoàn đại biểu do Chu Ân Lai dẫn đầu đến tham dự. Nhưng khi Khơ-rút-sốp công kích công khai Sta-lin trong hội nghị, Chu Ân Lai đã rời khỏi hội trường trước để bày tỏ sự phản đối, đồng thời đến mộ Sta-lin đặt ở bên tường Hồng trường đặt vòng hoa. Sau này trong sự kiện biên giới Trung - Ấn xảy ra, Liên Xô công khai ra tuyên bố chỉ trích Trung Quốc, trong cuộc khủng hoảng tên lửa đạn đạo ở Cuba, Khơ-rút-sốp đã thỏa hiệp nhượng bộ với Mỹ. Những sự kiện đó đã làm sâu sắc thêm nhận thức của Mao Trạch Đông và Trung ương Đảng Trung Quốc đối với tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa xét lại. Việc công khai cắt đứt đối với chủ nghĩa xét lại Khơ-rút-sốp đã là điều không thể tránh khỏi.

Chính những ảnh hưởng của hoàn cảnh quốc tế như vậy và cuộc chống “chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh” năm 1959 ở trong nước đã làm cho nhận thức của Mao Trạch Đông đối với chủ nghĩa xét lại Liên Xô không ngừng tăng lên.

Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8, Mao Trạch Đông đã quy chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh ở trong nước và chủ nghĩa xét lại ở nước ngoài vào thành một loại. Ông nói: “Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh Trung Quốc, xem ra đổi cái tên mà hay, gọi là chủ nghĩa xét lại Trung Quốc”.

Đối với tình trạng này, các học giả nước ngoài cũng nhận thấy rất rõ, một giáo sư người Mỹ đã viết như sau: “Trước đó Mao vẫn cho rằng Khơ-rút-sốp chỉ là một đồng chí phạm sai lầm, lãng tử có thể quay đầu. Từ đó về sau, Khơ-rút-sốp đã là một tên phản bội hết phương cứu chữa”.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:35:56 pm

3. Liên Xô khích Mao Trạch Đông đi tới cực đoan

Năm 1964, Khơ-rút-sốp sụp đổ, về khách quan đã tạo nên một khả năng chuyển biến trong việc cải thiện quan hệ giữa hai đảng Trung Quốc và Liên Xô. Trung ương Đảng Trung Quốc rất coi trọng điều này. Vì thế, lợi dụng dịp kỷ niệm 47 năm Cách mạng Tháng Mười trong tình hình không phải là ngày kỷ niệm chẵn 5 năm hay 10 năm, nhưng đã cử một đoàn đại biểu Đảng và chính phủ của Trung Quốc tầm cỡ rất cao do Chu Ân Lai dẫn đầu đi Mạc T'ư Khoa. Nhưng hội đàm chính thức giữa hai Đảng Trung-Xô còn chưa bất đầu thì đã bị một hành động xằng bậy nghiêm trọng của một viên tướng cao cấp của quân đội Liên Xô phá hoại. Trong buổi chiêu đãi do chính phủ Liên Xô tổ chức vào tối ngày 7 tháng 11, khi Hạ Long đang nói chuyện với Nguyên soái Liên Xô Giu-kốp và một số người khác, thì Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô Ma-li-nôp-xki đã nói với Hạ Long rằng: “Bây giờ chúng tôi đã lật đổ Khơ-rút-sốp rồi, các anh cũng nên theo gương của chúng tôi lật đổ Mao Thạch Đông đi. Như vậy chúng ta sẽ có thể hòa hảo”. Hạ Long đã đập lại ngay tại chỗ sự kích động ác ý của đối phương, đồng thời lập tức báo cáo với Chu Ân Lai, Chu Ân Lai đã chất vấn ngay các nhà lãnh đạo Liên Xô như Brê-giơ-nhép v.v... Để che giấu Brê-giơ-nhép đã nói là Ma-li-nốp-sky lỡ lời sau khi uống rượu. Chu Ân Lai lập tức chỉ rõ, đây không phải là “lỡ lời sau khi uống rượu” mà là “lời nói thật sau khi uống rượu”. Khi hai đoàn đại biểu hội đàm được tiến hành sau đó, Chu Ân Lai lại nêu ra lời kháng nghị nghiêm trọng với phía Liên Xô, Brê-giơ-nhép không thể không xin lỗi. Từ việc này liên hệ tới những tình hình khác, khiến cho Trung ương Đảng rút ra kết luận là Brê-giơ-nhép đã “thực hiện chủ nghĩa Khơ-rút-sốp không có Khơ-rút-sốp”. Sau đó, quan hệ Trung - Xô không những không hòa hoãn, trái lại ngày càng căng thẳng, Liên Xô tăng quân số ở biên giới Xô - Trung lên tới một triệu người, đồng thời đưa quân vào nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ, hình thành thế đại quân áp sát biên giới đối với Trung Quốc.

Liên Xô quen với việc tìm nội ứng ở trong các nước và trong Đảng khác, đồng thời gây ảnh hưởng và gây sức ép, tiến hành lật đổ từ bên trong, để thay đổi người lãnh đạo không theo gậy chỉ huy của họ, điều này đã không còn là bí mật nữa. Mao Trạch Đông với tư cách là nhà chính trị và nhà quân sự, tất nhiên là phải hiểu sâu sắc cái đạo lý: lô cốt phá dễ nhất là từ bên trong. Ông không thể không ra sức đề phòng. Từ đó, ánh mắt của ông, tập trung ngày càng nhiều vào việc soi xét vấn đề “Khơ-rút-sốp ngủ bên mình”, điều này không có gì là khó hiểu. Điều không may là trong vấn đề chính trị trọng đại ảnh hưởng đến vạn mệnh của Đảng và Nhà nước này, Mao Trạch Đông đã không giữ vững quan điểm lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà đã đi tới mặt trái của nó.

Tháng 5 năm 1963, Mao Trạch Đông đã phê duyệt bảy tài liệu của cán bộ tỉnh Chiết Giang tham gia lao động. Ông cho rằng cán bộ tham gia lao động là một biện pháp hay để “đề phòng xét lại”, hơn nữa đã cảnh cáo toàn Đảng, nếu buông lỏng đấu tranh giai cấp thì chẳng cần rất nhiều thời gian, “ít thì vài năm mươi năm, nhiều thì vài chục năm, sẽ xuất hiện việc bọn phản động ngóc đầu dậy mang tính chất toàn quốc là điều không thể tránh khỏi, đảng Mác - Lê-nin nhất định sẽ biến thành đảng xét lại, biến thành đảng phát xít, cả Trung Quốc sẽ đổi màu”. Trong Hội nghị Hàng Châu triệu tập lúc ấy, Mao Trạch Đông nhấn mạnh, chúng ta tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, ở thành thị tiến hành “ngũ phản” (năm chống), ở nông thôn tiến hành “tứ thanh” (bốn rõ ràng) chính là đào rễ của chủ nghĩa xét lại.

Khi Mao Trạch Đông có những đánh giá không hoàn toàn phù hợp với thực tế đối với tình hình chính trị đối với Đảng và Nhà nước cũng như quan hệ giai cấp của xã hội, chưa có sự lý giải chính xác về chủ nghĩa xét lại là gì, hơn nữa đã dùng những phương pháp sai lầm, tất yếu sẽ hình thành nên sự xa rời nghiêm trọng với những nguyện ước ban đầu và kết quả về sau. Đó chính là nguyên nhân của tấn bi kịch của Mao Trạch Đông.

Chính do sự đánh giá quá mức nghiêm trọng tình hình chính trị trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và trong nước, nên Mao Trạch Đông đã dần dần chuyển trọng điểm chú ý của mình từ đề phòng xét lại sang chống xét lại, còn trọng điểm chống xét lại lại từ hạ tầng chuyển lên thượng tầng, cho đến những người lãnh đạo chủ yếu hàng đầu trong Trung ương Đảng.

Ngày 5 tháng 12 năm 1964, trong báo cáo điểm để rút kinh nghiệm của Tạ Phú Trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công an lúc ấy có tựa đề m”Mm mống của phương pháp quản lý kinh doanh tư bản chủ nghĩa ở Xưởng luyện thép Thẩm Dương”; Mao Trạch Đông đã phê duyệt: “Trong ngành công nghiệp của chúng ta, về mặt quản lý kinh doanh rốt cuộc là có bao nhiêu đã tư bán hóa, một phần ba, một phần hai hay còn nhiều hơn phải thanh tra cải tạo từng cái một mới biết được”. Trong lời phê duyệt còn nói “căn nguyên chủ yếu” của việc quản lý kinh doanh tư bản chủ nghĩa này là từ trên xuống. Ở đây đã đặt ra vấn đề “thanh tra cải tạo” xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc.

Mùa thu năm 1965, Mao Trạch Đông đã nêu rõ ràng vấn đề nếu Trung Quốc có xét lại thì làm thế nào. Trong Hội nghị công tác Trung ương triệu tập từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1965, Mao Trạch Đông đã hỏi: “Nếu Trung ương có xét lại, các đồng chí sẽ làm thế nào?” Hơn nữa còn cho rằng: “Rất có thể có, đó là điều nguy hiểm nhất”. Ngày 10 tháng 10, trong cuộc nói chuyện với Bí thư thứ nhất các đại khu, Mao Trạch Đông lại nói: Trung ương có xét lại, các đồng chí làm thế nào? Nếu Trung ương có chủ nghĩa xét lại thì các đồng chí sẽ làm phản, các tỉnh có ba tuyến nhỏ thì có thể làm phản. Điều đó thể hiện một cách rõ ràng, Mao Trạch Đông đã coi việc Đảng biến thành xét lại, đất nước đổi màu là mối nguy hiểm hiện thực cấp bách, hơn nữa đã chuyển trọng điểm “đề phòng xét lại” ở trong nước sang “chống xét lại” và đặt nó vào vị trí hàng đầu trong sắp đặt công tác của mình.

Phàm những cái kẻ địch phản đối thì chúng ta phải ủng hộ; Phàm những cái kẻ địch ủng hộ thì chúng ta phải phản đối. Câu này của Mao Trạch Đông bị tuyệt đối hóa, trở thành một định thức tư duy chiếm địa vị thống trị. Bất kỳ ai hơi có biểu thị quan điểm bất đồng dù là những ý kiến rất hợp lý cũng bị coi là trái với giáo lý chính thống, bị kỳ thị, phê phán và đả kích, thậm chí bị chụp cho cái mũ xét lại và bị hành hạ tàn khốc.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2010, 10:43:25 pm

3
Chính biến phản cách mạng một chiều một sớm
Nhanh chân đi trước khắc tinh giáng trần


1. Cuộc cách mạng văn hóa mà Mao Trạch Đông tưởng tượng

Lý luận “tả” khuynh và thực tiễn “tả” khuynh, sùng bái cá nhân và độc đoán cá nhân, quốc tế chống xét lại và trong nước chống xét lại. Tác dụng qua lại của ba cặp đó đã kết hợp chặt chẽ với nhau trong đời sống hiện thực Trung Quốc vào những năm 50 và 60, là điều kiện của nhau và thúc đẩy lẫn nhau, hình thành nên một trào lưu to lớn khó có thể kháng cự. Mao Trạch Đông vừa là người thúc đẩy vừa là người chỉ đạo của trào lưu này, đồng thời suy nghĩ và hành động của con người ông lại chịu sự thôi thúc của trào lưu này, mà không ngừng đi tới cực độ của “tả”.

Nhận định sai lầm nghiêm trọng của Mao Trạch Đông đối với tình hình chính trị Trung Quốc thậm chí đã khiến ông lo lắng sẽ xảy ra “chính biến phản cách mạng” tại thủ đô Bắc Kinh, hơn nữa vì việc này mà triển khai việc phòng bị trước trên thực tế. Trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng vào tháng 5 năm 1965, Lâm Bưu đã để lộ tin của người trong cuộc. Lâm Bưu nói: “Mấy tháng gần đây Mao Chủ tịch chú ý đặc biệt đến việc phòng ngừa chính biến phản cách mạng, đã dùng rất nhiều biện pháp. Sau khi vấn đề La Thụy Khanh xảy ra, đã nói đến vấn đề này. Sau khi vấn đề Bành Chân xẩy ra, Mao Chủ tịch lại gặp mọi người nói vấn đề này. Điều binh khiển tướng phòng ngừa chính biến phản cách mạng, phòng ngừa chúng chiếm những vị trí quan trọng của chúng ta, điện đài, đài phát thanh. Hệ thống quân đội và công an đều đã bố trí. Mấy tháng nay Mao Chủ tịch đã làm bài văn này”. Bài nói của Lâm Bưu, sau này được Mao Trạch Đông phê duyệt làm văn kiện của Trung ương Đảng in và phân phát. Mao Trạch Đông không hề cắt bỏ đoạn văn này, chứng tỏ là đã ngầm thừa nhận những điều Lâm Bưu nói.

Lâm Bưu là kẻ giỏi nhất trong việc phỏng đoán tâm trạng của Mao Trạch Đông, trong hội nghị này đã lớn tiếng hò hét: “Mao Chủ tịch sống đến ngày chín mươi tuổi, hơn một trăm tuổi, đều là lãnh tụ tối cao của chúng ta, lời của Người đều là nguyên tắc hành động của chúng ta. Kẻ nào chống lại Người, toàn Đảng sẽ cùng tiêu diệt kẻ đó, cả nước sẽ cùng tiêu diệt kẻ đó, phía sau Người nếu có kẻ nào làm báo cáo bí mật như Khơ-rút-sốp nhất định là kẻ có dã tâm, nhất định là tên đại khốn nạn, toàn Đảng sẽ cùng tiêu diệt kẻ đó, cả nước sẽ cùng tiêu diệt kẻ đó”. Những lời nói ấy đã lọt tận đáy lòng Mao Trạch Đông. Chỉ ba tháng sau Lâm Bưu đã được Mao Trạch Đông chỉ định làm người nối nghiệp, bài phát biểu này có thể là một nấc thang quan trọng mà ông ta đã dựng lên cho mình. Mao Trạch Đông là một nhà cách mạng suốt đời phấn đấu để thực hiện lý tưởng cách mạng với tính cách quật cường không bao giờ khuất phục. Chỉ cần ông xác định sự việc đó là đúng thì dù có nhiều người phản đối hơn thế nữa, ông cũng sẽ kiên trì đến cùng.

Trong suốt cuộc đời, rất ít việc ông chịu thua. Đây cũng là tinh thần “phản trào lưu” mà ông đề xướng. Tâm trạng này đã được ông biểu lộ rất rõ trong bức thư gửi Giang Thanh ngày 8 tháng 7 năm 1966. Ông nói: “Cả thế giới có hơn một trăm Đảng, đại đa số Đảng không tin chủ nghĩa Mác - Lê, Mác, Lê-nin cũng bị người ta đập vỡ tan tành rồi, huống hồ chúng ta?” Trong thư Mao Trạch Đông còn nói, những phần tử chống Đảng ở Trung Quốc “họ muốn đánh đổ toàn bộ Đảng ta và bản thân ta”.

Nhìn tình hình nghiêm trọng đến như vậy, hoàn toàn xuất phát từ sự đoán định chủ quan. Dựa trên sự phán đoán này, ông cảm thấy phải đứng ra kiên trì nguyên tắc “phản trào lưu”, từ trong những làn sóng điên cuồng của chủ nghĩa xét lại, cứu vãn chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cứu vãn sự nghiệp cách mạng của Trung Quốc và thế giới. Vì việc đó, dù bản thân ông có bị đánh “tan nát”, cũng không tiếc. Đứng trước tình hình thế lực “xét lại” Trung Quốc đã rễ sâu gốc vững cành lá xúm xuê như ông đánh giá, Mao Trạch Đông cho rằng chỉ có phát động quần chúng, dựa vào sức mạnh của quần chúng mới có khả năng thắng lợi. Vì vậy, ông hạ quyết tâm, phát động hàng trăm triệu quần chúng, triển khai cuộc đấu tranh giai cấp toàn diện trong cả nước, tạo nên thế thiên hạ đại loạn, để mong quét sạch triệt để tất cả bọn đầu trâu mặt ngựa, để cuối cùng đạt được thiên hạ đại trị. Đây cũng là cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản mà Mao Trạch Đông chủ quan tưởng tượng ra.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2010, 10:44:19 pm

2. Định đoạt cuối cùng về người nối nghiệp

Do nghi ngờ “Khơ-rút-sốp” ở bên mình. Mao Trạch Đông suy nghĩ lại vấn đề người nối nghiệp.

Vấn đề người nối nghiệp, nội dung bao gồm hai phương diện: một là phiếm chỉ tức là thế hệ trẻ kế tục thế hệ cách mạng già, hai là chỉ riêng, tức là nối nghiệp bản thân Mao Trạch Đông, lãnh tụ của Đảng. Đối với tình hình giáo dục lúc ấy, Mao Trạch Đông rất không bằng lòng. Khi tiếp kiến khách nước ngoài vào tháng 8 năm 1965, ông đã nói: trước đây chúng tôi không có giáo sư đại học, giáo viên trung học, giáo viên tiểu học của mình, chúng tôi thu nhận tất cả những người mà Quốc dân Đảng để lại, từng bước cải tạo, có một bộ phận đã cải tạo tốt, một bộ phận khác vẫn làm theo kiểu cũ của họ. Sau đó, trong một cuộc hội nghị ông lại nói, hiện nay đại bộ phận các trường đại học, trung học, tiểu học đều bị những phần tử trí thức xuất thân từ giai cấp tư sản, tiểu tư sản, giai chấp địa chủ phú nông lũng đoạn. Ông cho rằng trường học là thiên hạ do các phần tử trí thức tư sản độc chiếm. Đối với tình hình giáo dục của nước ta sau 17 năm dựng nước mà đánh giá như thế, rõ ràng là không phù hợp với thực tế. Xuất phát từ thái độ không tín nhiệm trí thức, ông đề xuất cần những người kiên định ít tuổi, học vấn ít, lập trường vững, có kinh nghiệm chính trị để nối nghiệp.

Mao Trạch Đông chú ý đến một số bài diễn thuyết và bài viết của Đu-lơ-xơ từng là Quốc vụ khanh của nước Mỹ, chủ trương Mỹ và các nước đồng minh phương Tây thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa. Mao Trạch Đông nói, các nhà tiên đoán của bọn đế quốc căn cứ vào sự thay đổi xảy ra ở Liên Xô, đặt hy vọng “diễn biến hòa bình” vào thế hệ thứ ba hoặc thứ tư của Trung Quốc. Chúng ta nhất định phải làm cho những lời tiên đoán ấy của bọn đế quốc phải phá sản triệt để. Trong thời gian này ông đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo dục thanh niên, vấn đề người nối nghiệp sự nghiệp cách mạng.

Tháng 6 năm 1964, ông đưa ra 5 điều kiện của người nối nghiệp. Ông muốn làm cho toàn Đảng, đặc biệt là thế hệ trẻ được rèn luyện trong cuộc đấu tranh giai cấp chống kẻ thù ngóc đầu dậy. Vì việc này ông đã không quản mạo hiểm tạo nên “thiên hạ đại loạn”, đích thân phát động và lãnh đạo trận bão táp lớn đấu tranh giai cấp để thế hệ thanh niên xông pha mưa gió từng trải cuộc đời.

Nhưng lúc ấy, theo Mao Trạch Đông, vấn đề cấp bách hơn là vấn đề người nối nghiệp Mao Trạch Đông lãnh tụ của Đảng. Ông muốn tự mình bắt tay chọn lại cho mình một người nối nghiệp vừa ý đáng tin cậy. Mao Trạch Đông cho rằng Liên Xô có Khơ-rút-sốp là do Sta-lin không chọn được người nối nghiệp mình là một nguyên nhân quan trọng. Mao Trạch Đông rất quan tâm chú ý đến việc lựa chọn và bồi dưỡng người nối nghiệp mình. Sau năm 1962, ông càng ngày càng cảm thấy rằng Lưu Thiếu Kỳ không phải là người được lựa chọn đáng tin cậy, cần phải suy nghĩ lại.

Tháng 6 năm 1966, trong một cuộc nói chuyện với khách nước ngoài ông nói: chúng tôi đều đã là những người ngoài bảy mươi cả rồi, thế nào cũng có ngày sẽ được Mác mời đi thôi. Người nối nghiệp rốt cuộc sẽ là ai, là Bec-xtanh, Kau-xky hay Khơ-rút-sốp, không thể biết được. Phải chuẩn bị, còn kịp. Điều này nói lên rằng, sự suy nghĩ về việc người kế nghiệp là rất cấp bách, thực sự là một trong những nguyên nhân khiến Mao Trạch Đông hạ quyết tâm phát động cuộc đại cách mạng văn hóa.

Một điều khác ảnh hưởng đến phân tích và phán đoán tình hình của Mao Trạch Đông là quan điểm phiến diện về mối quan hệ giữa “phá” và “xây”. Mao Trạch Đông phát động cuộc đại cách mạng văn hóa bao hàm hai ý đồ “phá” và “xây”. Nhưng trong tư tưởng triết học của ông về quan hệ giữa “phá” và “xây” là “không phá thì không thể xây được”, “chữ phá ở phía trước, lập cũng ở trong đó”, “thiên hạ đại loạn” sẽ đạt đến “thiên hạ đại trị” v.v... phải luôn đặt chữ “phá” lên đầu.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2010, 10:44:50 pm

3. Về mục tiêu xã hội của cách mạng văn hóa, bản thân Mao Trạch Đông cũng không biết

Vậy thì, xã hội lý tưởng mà Mao Trạch Đông theo đuổi là xã hội gì? Bán thân ông chưa bao giờ nói một cách rõ ràng cả.

Mục tiêu xã hội mà Mao Trạch Đông phát động cuộc đại cách mạng văn hóa để đạt được là gì? Cũng có nghĩa là bản sơ đồ về “thiên hạ đại trị” mà ông theo đuổi là gì? Hai văn kiện có tính cương lĩnh của đại cách mạng văn hóa cũng không hề đề cập đến. “Thông báo 16 tháng 5” chỉ nói phái “cướp” cái gì, “phê phán” cái gì, “thanh trừng” cái gì, những điều nói ở đây hoàn toàn là “phá” còn phải xây dựng cái gì, thì không hề nói. “16 điều” thì lại nêu ra việc xây “bốn cái mới” (tư tưởng mới, văn hóa mới, phong tục mới, tập quán mới), nhưng nội dung cụ thể của “bốn cái mới” ấy là gì thì chẳng ai nói rõ cả, chỉ là một mớ khẩu hiệu trừu tượng. Cho nên nói một cách nghiêm khắc đại cách mạng văn hóa không có cương lĩnh hoàn chỉnh. Vì một cương lĩnh cách mạng luôn phải quy định mục tiêu xã hội có tính xây dựng mà nó theo đuổi. Đến mục tiêu cũng lơ mơ không rõ ràng thì ít nhất cũng không thể coi là cương lĩnh hoàn chỉnh. Mục tiêu xã hội mà Mao Trạch Đông theo đuổi khi phát động cuộc đại cách mạng văn hóa chỉ có thể tìm ở những tư liệu khác.

Khi đại cách mạng văn hóa vừa mới bắt đầu, ngày 7 tháng 5 năm 1966, Mao Trạch Đông viết cho Lâm Bưu một bức thư, sau này được gọi là “Chỉ thị 5 tháng 7”. Trong thư này, Mao Trạch Đông đã phác họa nên hình dáng của một xã hội lý tưởng mà ông hằng mong muốn. Tức là công nhân, nông dân, học sinh, quân đội, thương nghiệp các ngành phục vụ, nhân viên công tác trong cơ quan Đảng và chính quyền đều có một nghề chính và học thêm những cái khác. Học văn, học công, học nông, học quân nhưng đều phải tham gia phê phán giai cấp tư sản, biến cả nước thành một trường đại học lớn.

Mao Trạch Đông trước sau chưa hoàn thành được thiết kế tổng thể của lâu đài xã hội chủ nghĩa mà ông muốn xây dựng. Ông không để lại bản vẽ hoàn chỉnh. Chúng ta chỉ có thể từ một số bài nói chuyện, bài viết của ông lúc ấy nhìn ra bóng dáng không rõ ràng về cái xã hội lý tưởng mà ông mong muốn.

Trong cái xã hội ấy, phân phối phải là bình quân trên đại thể, thực hiện chế độ cung cấp là một hình thức tương đối tốt, từng bước thực hiện ăn cơm không trả tiền, mặc quần áo cũng không trả tiền. Có một điều thú vị là, theo Lý Ngân Kiều vệ sĩ trưởng của Mao Trạch Đông nhớ lại: “Mao Trạch Đông rất ghét tiền. Mao Trạch Đông đã từng bắt tay Tưởng Giới Thạch nhưng chưa bao giờ Mao Trạch Đông sờ đến tiền. Mao Trạch Đông ở Diên An không sờ đến tiền, khi chuyển đến đánh Thiểm Bắc cũng không sờ đến tiền, sau khi vào thành phố càng không sờ đến tiền”. Mao Trạch Đông nói: “ả, ấy à, quả thật là thứ rất đáng ghét, nhưng tôi chẳng thể có cách nào không cầm nó!”.

Khi nói đến cuộc sống ở căn cứ địa cách mạng những năm chiến tranh, luôn tràn đầy những hoài niệm đẹp đẽ. Ông ca ngợi chế độ cung cấp, ghét chế độ tiền lương. Ông nói: “Sau giải phóng, hết thảy đều thực hiện chế độ tiền lương, đã bình xét bậc thì vấn đề sẽ nảy sinh nhiều, có một số người tranh cãi nhau vì nâng bậc, phải làm rất nhiều công tác thuyết phục”. Ông vặn hỏi: “Chẳng lẽ hai vạn năm ngàn dặm trường chinh, cải cách ruộng đất, chiến tranh giải phóng đều dựa vào phát tiền lương mới có được hay sao?”.

Một số nhận định của Mao Trạch Đông nảy sinh trong khi tìm tòi con đường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, do thất bại của “đại nhảy vọt” nên chưa thể tiếp tục phát triển, đồng thời hình thành hệ thống. Nhưng ông vẫn chưa từ bỏ những suy nghĩ ấy. Ông cho rằng từng bước thực hiện những suy nghĩ ấy chính là cách mạng không ngừng. Những người không tán thành quan điểm của ông, theo ông, đều là muốn đi con đường tư bản chủ nghĩa, muốn xét lại. Trước khi qua đời không lâu, Mao Trạch Đông còn phẫn nộ nói rằng: “Một số đồng chí, chủ yếu là các đồng chí cũ, tư tưởng vẫn dừng lại ở giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản, đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa không hiểu rõ, có mâu thuẫn, thậm chí phản đối”. Ông cho rằng: “Vì sao như vậy? Vì làm quan to rồi, phải bảo vệ lợi ích của các vị quan to. Họ có nhà đẹp, có xe hơi, lương cao, có người phục vụ, còn ghê gớm hơn cả chủ tư bản”. Từ đó, ông đã đưa ra những nhận định sai lầm khác thường: giai cấp tư sản đang ở trong Đảng Cộng sản. Có thể thấy, đánh đổ phái cầm quyền đi con đường tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ những trở ngại để thực hiện chủ nghĩa xã hội trong sạch nhất, hoàn mỹ nhất ở Trung Quốc, là một ý niệm chủ quan mạnh mẽ thúc đẩy Mao Trạch Đông phát động cuộc đại cách mạng văn hóa.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2010, 10:45:26 pm

4. “Đại cách mạng văn hóa” không chỉ là vì cướp quyền, mà là vì “hoàn toàn vô địch”

Đây chính là ý kiến nói Đại cách mạng văn hóa là cuộc đấu tranh quyền lực ở tầng lớp lãnh đạo cao nhất trong Đảng Cộng sản Trung Quốc mà trong và ngoài nước đều có người tuyên truyền, rằng đây là “tổng bùng nổ của cuộc đấu tranh quyền lực” trong Đảng Cộng sản, cũng có người nói Mao Trạch Đông phát động cuộc đại cách mạng văn hóa chính là để đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ v.v…và v.v... Đây là một sự hiểu lầm do thiếu hiểu biết sâu sắc đối với tình hình chính trị Trung Quốc. Không thể phủ nhận rằng, cuộc đại cách mạng văn hóa vừa bắt đầu đã chỉ rõ phải cướp quyền, toàn bộ quá trình của cuộc đại cách mạng văn hóa cũng quán xuyến vấn đề cướp quyền, hơn nữa, những kẻ có dã tâm như Lâm Bưu, Giang Thanh cũng thực sự muốn thừa cơ cướp quyền. Nhưng, đối với Mao Trạch Đông mà nói, nếu mục đích mà ông muốn đạt được chỉ là gạt bỏ một số đồng chí nào đó trong lãnh đạo Trung ương, thì dựa vào địa vị và quyền uy trong Đảng của ông lúc ấy, chẳng cần đến việc phải làm to chuyện, phải phát động cuộc đại cách mạng văn hóa. Bành Chân, Lục Định Nhất, La Thụy Khanh, Dương Thượng Côn, những Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, Bí thư Dự khuyết... chẳng phải là chỉ cần vài cuộc họp nhỏ cũng đã có thể “gạt bỏ” được hay sao? Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Đảng Lưu Thiếu Kỳ, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Đặng Tiểu Bình, chẳng phải là chỉ dùng chiếc bút máy viết 203 chữ lên một trang báo cũ (tức “Nã pháo vào Bộ tư lệnh” - Một bài báo chữ to của tôi) đã gạt bỏ được hay sao? Hơn nữa, sau khi Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình bị gạt bỏ, đại cách mạng văn hóa vẫn tiến hành 10 năm, điều này phải giải thích như thế nào? Đối với Mao Trạch Đông người có quyền uy vô thượng lúc ấy mà nói, muốn thay đổi vài người lãnh đạo Trung ương, luôn có thể tìm ra lý do và theo thủ tục “pháp định” để thực hiện mà không nhất thiết phải phát động cuộc đại cách mạng văn hóa. Rõ ràng, Mao Trạch Đông phát động cuộc đại cách mạng văn hóa là muốn phá bỏ đường lối chính trị xét lại, đường lối tổ chức xét lại đang mù mịt trên đất nước Trung Hoa bao la mà ông đã nhìn thấy bằng con mắt “tả” và kỳ vọng sẽ “quét sạch bọn sâu mọt hại người, để hoàn toàn vô địch”. Cho nên ông chủ trương cuộc đấu tranh có tính chất quần chúng như đại cách mạng văn hóa, “phải tiến hành nhiều lần”, “qua bảy tám năm sẽ làm lại một lần”.

Huống hồ sau khi dựng nước, uy tín của Mao Trạch Đông trong toàn Đảng, toàn quân, trong nhân dân cả nước như mặt trời giữa không trung, lại thêm việc sùng bái cá nhân ngày càng thịnh hành, không có một người nào có đầu óc bình thường lại dám nằm mơ “thay thế người ấy”. Nguyên tắc tổ chức theo chế độ tập trung dân chủ và trình tự nảy sinh người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng không thể làm cho một người nào đó có thể đi ngược lại ý kiến chung của mọi người, cướp lấy địa vị lãnh tụ của Mao Trạch Đông. Sau khi dựng nước cũng đã xẩy ra sự kiện Cao Cương, Nhiêu Thấu Thạch mưu đồ cướp quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước, kết quả chẳng phải là đã bị “gạt bỏ” khi còn đang đi “du thuyết” đó sao? Hơn nữa họ cũng quyết không dám công khai bàn mưu cướp địa vị lãnh tụ của Mao Trạch Đông.

Có người lấy lời của Mao Trạch Đông khi nói chuyện với Sơ-nâu trong cuộc hội kiến năm 1970: “Quyền của Đảng lúc ấy, quyền của công tác tuyên truyền, quyền của Đảng ở các tỉnh, quyền của các địa phương, ví dụ quyền của thành ủy Bắc Kinh, tôi cũng không quản được”, để chứng minh “quyền lớn” của Mao Trạch Đông đã “rơi vào tay người khác”, ông phát động đại cách mạng văn hóa, chính là giành lại quyền đã mất. Đối với những lời nói ấy của Mao Trạch Đông quả thực là có chỗ để bàn cãi, vì lời nói là rõ ràng. Nhưng đó là nói với phóng viên nước ngoài, là để giải thích vì sao phải sùng bái cá nhân, vì sao phải đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ. Hai vấn đề này hình như rất khó có sự giải thích khác. Nhưng chỉ cần xem xét kỹ một chút về giai đoạn lịch sử trước đại cách mạng văn hóa sẽ dễ dàng lý giải chân tướng sự thật không phải như thế. Vẫn có thể hỏi lại một câu rằng: nếu như quyền hành lớn của Mao Trạch Đông rơi vào tay người khác thật thì ông có thể ra sức biện bạch để phát động cuộc đại cách mạng văn hóa không? Nói rằng, đại cách mạng văn hóa là sản phẩm của đấu tranh quyền lực, cũng là công cụ của đấu tranh quyền lực gì đó thì chẳng qua chỉ là nắm một số hiện tượng bên ngoài nào đó, mà dùng quy luật thông thường của cuộc đấu tranh của chính đảng tư sản để giải thích mà thôi.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2010, 10:46:11 pm

5. Một ngòi lửa hiếm thấy trên lịch sử ở trong và ngoài nước

Đại cách mạng văn hóa là một hiện tượng lịch sử phức tạp, đối với nguyên nhân phát sinh của nó cần phải khảo sát và nghiên cứu sâu hơn, tỉ mỉ hơn trên nhiều mặt. Ở đây chỉ khảo sát khái quát từ sự phát triển lịch sử 10 năm trước khi nổ ra đại cách mạng văn hóa.

Sự kết hợp của ba tác dụng qua lại chuyển động, sự nguy hiểm tăng lên, cuối cùng đã đẩy đại lục Thần Châu vào vực thẳm loạn lạc lớn toàn diện, đây là một đầu mối do các nhà sử học ngày nay gỡ ra từ quá trình lịch sử phức tạp rối rắm. Nhưng trong một thời gian khá dài, đối với tuyệt đại đa số những người đã từng trải qua cuộc đại cách mạng văn hóa mà nói, đều cảm thấy trận bão táp chính trị này ập đến rất đột ngột. Một mặt lấy đấu tranh giai cấp làm rường cột, để tạo ra ngọn lửa đấu tranh giai cấp đã cháy càng ngày càng to; mặt khác, tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ quần chúng lại hồn nhiên không biết vận đen khủng khiếp đang sắp giáng xuống đầu.

Còn cơn cuồng phong chính trị đem đến tai họa lớn cho nhân dân các dân tộc trong cả nước và cũng làm chấn động toàn thế giới ấy lại do một ngòi lửa là một bài viết của một nhân vật không phải là lớn phê bình một vở kịch đăng trên một tờ báo địa phương, đây quả thực là một hiện tượng đặc biệt, vô cùng kỳ dị rất hiếm thấy trên lịch sử trong và ngoài nước. Bài văn này chính là “Bình vở kịch lịch sử mới “Hải Thụy bãi quan”” được đăng trên “Văn hối báo” ngày 10 tháng 11 năm 1965, tác giả ký tên là Diêu Văn Nguyên.

Sau khi bài viết ngang ngược vô lý, chỉ tên phê phán, cắt xén câu chữ, tùy tiện quy chụp, được in đã dẫn đến sự trao đổi bàn bạc phỏng đoán trong dư luận. Giới lý luận học thuật đều bất mãn, rất nhiều người gửi thư đến tòa báo bày tỏ sự không đồng tình với bài viết của Diêu Văn Nguyên. Lúc ấy không có ai yêu cầu báo chí cả nước đăng lại. Trừ Giang Thanh và vài người khác ra, cũng không ai biết bài viết đã được Mao Trạch Đông đọc duyệt đồng thời phê chuẩn cho in. Vì bài viết của Diêu Văn Nguyên ngang ngược vô lý, hơn nữa còn công khai phê phản đích danh các học giả nổi tiếng những cán bộ cao cấp, cho nên ngoài báo chí ở các tỉnh và thành phố thuộc khu Hoa Đông nhanh chóng đăng lại ra, trong hơn 10 ngày báo chí ở Bắc Kinh và các tỉnh thành phố khác đều không đăng lại. Ban Bí thư Trung ương Đảng với thái độ thận trọng, sau khi hiểu đại thể bối cảnh của bài văn được công bố, 18 ngày sau các báo ở Bắc Kinh mới lần lượt đăng lại bài viết này. Điều đó đã làm cho Mao Trạch Đông đang ở Thượng Hải lúc ấy bất bình, từ đó ông càng xác định Thành ủy Bắc Kinh là “vương quốc độc lập” với cái gọi là “kim đâm không thủng, nước dội không thấm”.

Dưới ảnh hưởng tư tưởng đó mà Mao Trạch Đông nói: “Trung ương có xét lại thì làm thế nào”, sự mơ hồ sai lầm về mở rộng đấu tranh giai cấp đã thâm nhập sâu hơn vào nội bộ Trung ương Đảng, liên tiếp xảy ra những sự kiện chấn động toàn Đảng.

Ngày 10 tháng 11 năm 1965, tức là cùng ngày với bài viết “Hải Thụy bãi quan” của Diêu Văn Nguyên được công bố. Bí thư dự khuyết Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chánh văn phòng Trung ương Dương Thượng Côn bị bãi miễn chức vụ ở Trung ương. Trên danh nghĩa là được điều đến làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông nhưng thực tế là bị thẩm tra. Tội danh của ông là “giấu Trung ương tự đặt máy nghe trộm”, “tự tiện đem khối lượng lớn văn kiện cơ mật và tài liệu lưu trữ cho người khác sao chép” v.v... Những tội danh này đều do Khang Sinh, Giang Thanh v.v... vu cáo hãm hại, là một án oan. Sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa 11, đã phúc tra án oan của Văn phòng Trung ương và Dương Thượng Côn, Văn phòng Trung ương Đảng đã viết báo cáo phúc tra, được Ban Bí thư phê chuẩn sửa lại án sai một cách triệt để.

Báo cáo phúc tra nêu rõ: Trong công tác ghi âm ở phòng cơ yếu thuộc Văn phòng Trung ương, đồng chí Dương Thượng Côn chưa bao giờ có mưu toan hoạt động gì. Cái gọi là sai lầm có liên quan đến đồng chí Dương Thượng Côn ở vấn đề này mà trước đây đã công bố trong và ngoài Đảng là không tồn tại. Cái gọi là vấn đề sao chép tài liệu lưu trữ là do nhu cầu viết lịch sử Đảng, lịch sử quân đội và lịch sử chiến tranh, là sự sử dụng bình thường đối với các tài liệu lưu trữ. Trước đó đều phải trải qua thủ tục thẩm tra và phê chuẩn nghiêm ngặt, đồng thời không tồn tại vấn đề “tiết lộ bí mật”. Hoàn toàn là tội danh áp đặt.

Lâm Bưu vốn giỏi nghe ngóng chiều hướng, lập tức lợi dụng cơ hội này để hành động. Ngày 30 tháng 10 năm 1965, Lâm Bưu gửi cho Mao Trạch Đông một bức thư viết tay, đồng thời cho Diệp Quần đem mấy tài liệu vu cáo hãm hại. Tổng thư ký Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng Trung Quốc, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện La Thụy Khanh do vợ chồng Lâm Bưu sai khiến người khác viết đến Hàng Châu gặp Mao Trạch Đông vu cáo La Thụy Khanh là phản đối việc “đề cao chính trị”, muốn cướp quyền quân đội. Sự vu cáo nay đã khiến Mao Trạch Đông tin, đồng thời còn ủng hộ và phê chuẩn. Ngày 2 tháng 12 Mao Trạch Đông phê duyệt: “Những người không tin vào việc đề cao chính trị, đối với việc đề cao chính trị trước mặt phục tùng, sau lưng chống lại, còn bản thân mình thì gieo rắc khắp nơi chủ nghĩa chiết trung (tức chủ nghĩa cơ hội) thì mọi người cần phải cảnh giác”.

Chỉ thị này đã khẳng định rõ ràng cái trò “đề cao chính trị” của Lâm Bưu, còn cho ông ta vũ khí để đánh người. Nếu ai phản đối việc “đề cao chính trị” của Lâm Bưu, người ấy là “chiết trung chủ nghĩa”, mà “chủ nghĩa chiết trung” chính là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại. La Thụy Khanh đã bị chụp cái mũ chính trị như vậy. Tuy lúc ấy, có đồng chí lãnh đạo Trung ương không đồng ý với kiểu tập kích bất ngờ phê phán vô lý ấy nhưng cũng phải bó tay.


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2010, 10:46:58 pm

6. Sự kiện La Thụy Khanh chỉ là một tín hiệu đáng sợ

Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 12, Mao Trạch Đông chủ trì Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng họp tại Thượng Hải, tiến hành cái gọi là tố giác lưng dựa lưng đối với La Thụy Khanh. Trong Hội nghị đã in và phân phát thư của Lâm Bưu gửi Mao Trạch Đông và những tài liệu vu cáo hãm hại. Ngày 10 tháng 12, dùng chuyên cơ đón La Thụy Khanh lúc ấy đang thị sát bộ đội ở Côn Minh về Thượng Hải, đồng thời lập tức cách ly thẩm tra, tước đoạt quyền lợi chính đáng được bào chữa cho mình của ông. Tháng 4 năm 1966, Trung ương Đảng phê chuẩn kết luận thẩm tra đối với La Thụy Khanh.

Trong kết luận có một đoạn văn rất sinh động, rất có thể giúp mọi người hiểu được trong sự bao trùm của sùng bái cá nhân, đã đảo lộn phải trái hãm hại buộc tội người khác như thế nào. Điều đầu tiên kết luận liệt kê những “sai lầm chủ yếu” của La Thụy Khanh: “Đồng chí La Thụy Khanh hết sức thù địch với tư tưởng Mao Trạch Đông”. Đồng chí Lâm Bưu đề xuất “phải coi sách của Chủ tịch là chỉ thị tối cao trong các công tác của toàn quân chúng ta”, đồng chí La Thụy Khanh lại nói bừa rằng: Điều này “không phù hợp với thể chế của Nhà nước chúng ta”. Đồng chí Lâm Bưu đề xuất “Tư tưởng Mao Trạch Đông là chủ nghĩa Mác - Lê-nin cao nhất sống động nhất hiện nay”, đồng chí La Thụy Khanh lại nói bừa rằng “không thể nói như vậy, nếu cao nhất chẳng lẽ còn có cái cao thứ hai hay sao? Sống động nhất, chẳng lẽ còn có cái sống động thứ hai hay sao?” “Cao nhất, sống động nhất khó lý giải, người nước ngoài cũng khó dịch!” Đồng chí Lâm Bưu chỉ rõ: “Tư tưởng Mao Trạch Đông là đỉnh cao nhất của chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay”. Đồng chí La Thụy Khanh lại nói bừa rằng: “Câu này cũng không nên nói như thế, ảnh hưởng không tốt đối với người nước ngoài”. Đồng chí La Thụy Khanh còn không cho phép nói sự hình thành tư tưởng Mao Trạch Đông bao gồm có nhân tố “thiên tài cá nhân”, nói rằng: “Bây giờ không có ai dám dùng thiên tài cá nhân nữa!”. Đồng chí lâm Bưu đề xuất, “đọc sách của Mao Chủ tịch, nghe lời Mao Chủ tịch, làm theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, làm chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch”. Đồng chí La Thụy Khanh lại phản đối việc tuyên truyền và giới thiệu bốn câu này ra nước ngoài. Đồng chí Lâm Bưu chỉ thị “Giải phóng quân báo” phải thường xuyên đăng trích lời Mao Chủ tịch, đồng chí La Thụy Khanh lại ghét làm nhiều.

Đoạn này bây giờ xem ra là sự so sánh ngôn luận không rõ ràng, nhưng lúc ấy lại trở thành căn cứ đề định tội La Thụy Khanh. Đây quả thực là bi kịch thời đại. Một nhà cách mạng lão thành có chiến công lớn, sự nghiệp hiển hách, người phụ trách quan trọng của Đảng, chính quyền, quân đội, đã bị quật đổ xuống đất như thế đó. Sự phê phán và xử lý đối với sai lầm của La Thụy Khanh đã làm tăng thêm không khí căng thẳng của cuộc đấu tranh trong Đảng.

Tiếp đó người bị phê phán là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất kiêm Thị trưởng Bắc Kinh Bành Chân. Bành Chân do tình hình không biết bài viết phê phán “Hải Thụy bãi quan” của Diêu Văn nguyên là do Mao Trạch Đông ủng hộ nên đã từng tẩy chay trong một thời gian và đã dẫn tới sự phẫn nộ của Mao Trạch Đông. Khi phê phán La Thụy Khanh, Bành Chân lại nói mấy câu đúng mực, nên bị coi là “bao che”, “bảo vệ”. Cuối tháng 3 năm 1963, khi Mao Trạch Đông nói chuyện với Giang Thanh, Khang Sinh và Trương Xuân Kiều v.v... ở Thượng Hải, Khang kinh đã gièm pha với Mao Trạch Đông rằng Bành Chân vặn vẹo hỏi công bố bài của Diêu Văn Nguyên vì sao không cho biết đây là “chính Chủ tịch”. Mao Trạch Đông lập tức chỉ trích: Vì sao Ngô Hàm viết rất nhiều bài văn phản động như thế Ban Tuyên truyền Trung ương lại không muốn cho biết, còn công bố bài của Diêu Văn Nguyên thì lại khăng khăng đòi phải cho Ban Tuyên truyền Trung ương biết? Hơn nữa còn nói, “Đề cương tháng Hai” đã lẫn lộn ranh giới giai cấp, không phân phải trái, là sai lầm. Ban Tuyền truyền Trung ương là điện Diêm vương, phải đánh đổ Diêm vương, giải phóng tiểu yêu! Ban Tuyên truyền Trung ương và Thành ủy Bắc Kinh bao che người xấu, áp chế phái tả, không cho cách mạng. Nếu còn bao che người xấu nữa, thì Ban Tuyên truyền Trung ương phải giải tán. Mao Trạch Đông nói: Xưa nay tôi chủ trương, phàm cơ quan Trung ương làm việc xấu, tôi sẽ kêu gọi địa phương làm phản, sẽ tấn công Trung ương. Ông đề xuất phải ủng hộ phái tả, xây dựng đội ngũ, tiến hành đại cách mạng văn hóa.

Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn bốn người vốn có tình hình và vấn đề khác nhau, bị phê phán không giống nhau, nhưng sau này lại bị gộp lại với nhau, quy là “tập đoàn phản Đảng”. Những đồng chí cũ giữ các trọng trách ở Trung ương Đảng, giữ các nhiệm vụ rất quan trọng về công việc của Đảng, của quân đội, tuyên truyền, cơ yếu, công việc ở thủ đô v.v... có uy tín rất lớn đều được toàn Đảng tín nhiệm, vậy mà đột nhiên biến thành những “phần tử xét lại”, “tập đoàn chống đảng”, bị tố giác và phê phán trong Đảng. Điều đó không thể không dẫn đến sự chấn động và sửng sốt trong toàn Đảng, sinh hoạt trong Đảng đã vô cùng căng thẳng, lại tăng thêm nhân tố căng thẳng mới, hơn nữa lại đổ thêm dầu vào ngọn lửa phê phán đã được đốt cháy..


Tiêu đề: Re: Cách mạng Văn hoá liệt truyện-Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2010, 10:48:08 pm

7. “Đại cách mạng văn hóa” ra sân khấu là một bộ mặt xấu xa.

Trong thời gian này cái đà “đại phê phán cách mạng” ngày càng mạnh. Việc phê phán đối với Ngô Hàm liên luỵ đến Đặng Thác, Bí thư Thành ủy Bắc Kinh, người đã cùng Ngô Hàm viết bài trong chuyên mục “Thôn ba nhà” và Trưởng ban Mặt trận của Thành ủy Bắc Kinh Liêu Mạt Sa. Tiếp đó lại liên luỵ đến tạp chí “Tiền tuyến” và “Bắc Kinh nhật báo” của Thành ủy Bắc Kinh đã đăng “Bút ký Thôn ba nhà”. Ngày 8 tháng 5, “Giải phóng quân báo” đã đăng bài viết ký tên là Cao Cự trong nhóm viết của Giang Thanh có tựa đề “Nổ súng vào sợi chỉ đen chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội” ở vị trí nổi bật. Cùng ngày “Quang Minh nhật báo” đăng bài của thành viên Quan Phong trong tổ khởi thảo văn kiện đại cách mạng văn hóa ký tên là Hà Minh, có tựa đề “Lau sáng mắt để phân biệt thật giả”. Bài văn này với khí thế sôi sục chất vấn tạp chí “Tiền tuyến” và “Bắc Kinh nhật báo”: “Rốt cuộc, các người là trận địa của giai cấp vô sản hay là trận địa của giai cấp tư sản? Các người là công cụ chuyên chính của giai cấp vô sản hay là công cụ tuyên truyền khôi phục chủ nghĩa tư bản? Rốt cuộc các người sẽ đi đến đâu?” Hai bài viết này chỉ thẳng vào Thành ủy Bắc Kinh sát khí đằng đằng, thức giả đều biết “cái ngọn nguồn của nó rất lớn”, bão táp đang còn ở phía sau.

Chỉ cách hai ngày sau, “Văn hối báo”, “Giải phóng quân báo” đồng thời tung ra bài viết dài “Bình “Thôn ba nhà”” của Diêu Văn Nguyên, tuyên bố: “Tiền tuyến”, “Bắc Kinh nhật báo” và “Bắc Kinh vãn báo” (báo Bắc Kinh buổi chiều) “đã điên cuồng chấp hành một đường lối cơ hội hữu khuynh tức là đường lối xét lại chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội, gánh trách nhiệm người phát ngôn của giai cấp phản động và các phần tử cơ hội hữu khuynh tiến công Đảng”, phải đào tận gốc “Thôn ba nhà”, quét sạch những nọc độc của “Thôn ba nhà”.

Tất cả những sự việc đó hiển nhiên là hành động có tổ chức, có kế hoạch của Giang Thanh, Trương Xuân Kiều v.v… Lâm Bưu trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đảng 9 nói: “Mao Chủ tịch lại phát động cuộc phê phán những cây cỏ độc lớn như “Hải Thụy bãi quan” v.v... hướng của mũi nhọn là chỉ thẳng vào sào huyệt của tập đoàn xét lại “vương quốc độc lập” kim đâm không thủng, nước dội không thấm, tức là Thành ủy Bắc Kinh do Lưu Thiếu Kỳ khống chế!”. Nhận định này tuy sai lầm, nhưng từ đó cũng phản ánh khá chân thực về một số ý đồ chủ quan nào đó của người phát động cuộc phê phán “Hải Thụy bãi quan” về tình hình phát triển lịch sử trong giai đoạn này.

Lấy việc phán đối “Hải Thụy bãi quan” làm đột phá khẩu, nhanh chóng phát triển phê phán đối với “Đề cương tháng Hai”, Thành ủy Bắc Kinh và Ban Tuyên truyền Trung ương động chạm tới rất nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, mũi nhọn đấu tranh càng ngày càng chĩa vào nội bộ Trung ương Đảng, sai lầm “tả” khuynh phát triển đến mức vô cùng nghiêm trọng như đạn đã lên nòng.

Sau khi Hội nghị nghe giới thiệu tình hình tố giác và phê phán Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn trong nửa năm qua, đã triển khai phê phán đối với bốn đồng chí này. Cuộc phê phán này trên thực tế chẳng qua chỉ là đem việc phê phán một cách sai lầm đối với họ trước hội nghị đưa vào Hội nghị Trung ương có phạm vi lớn hơn, đồng thời cao giọng thêu diệt tội lỗi, quy chụp bừa bãi mà thôi. La Thụy Khanh và Dương Thượng Côn bị tước quyền tham gia hội nghị. Bành Chân và Lục Định Nhất tuy có mặt tại hội nghị nhưng chỉ có thể tham gia một bộ phận nghị trình, cũng không có quyền bào chữa, hoàn toàn rơi vào địa vị bị phê phán thẩm tra.

Phát biểu trong đại hội, Lâm Bưu đã liên kết bốn người lại một cách vô căn cứ, nêu ra cái gọi là tập đoàn âm mưu chống Đảng của Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn, vu cáo họ muốn làm chính biến phản cách mạng. Hội nghị đã quyết định đình chỉ chức vụ Bí thư Trung ương Đảng của Bành Chân, Lục Định Nhất, La Thụy Khanh, đình chỉ chức vụ Bí thư Dự khuyết Ban Bí thư của Dương Thượng Côn, sau đó đệ trình Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương truy nhận và quyết định. Chức vụ Bí thư thứ nhất Thành ủy và Thị trưởng Bắc Kinh của Bành Chân và chức vụ Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương của Lục Định Nhất bị bãi bỏ. Việc phê phán một cách sai lầm và xử lý tổ chức mà Hội nghị đã tiến hành đối với một số người lãnh đạo Trung ương đang giữ những trách nhiệm nặng nề, đồng thời quyết định lập chuyên án điều tra, hình như đã chứng minh được rằng quả đúng là Trung ương đã “có xét lại”, từ đó đã làm cho toàn Đảng nảy sinh hiểu lầm nghiêm trọng về mối nguy hiểm kẻ địch đang ngóc đầu dậy là rất bức bách.

Sự đánh giá sai lầm của “Thông báo 16 tháng 5” đối với tình hình chính trị trong nước và trong Đảng, nêu ra đối tượng đấu tranh một cách sai lầm, việc chế định một loạt phương châm chính sách “tả” và tuyên truyền rộng rãi những quan điểm sai lầm “tả” khuynh, không thể không nảy sinh những ảnh hưởng xấu nghiêm trọng đối với sự phát triển phong trào những ngày sau đó.

Trong Hội nghị lần này người báo cáo chính là Lâm Bưu người được xếp cuối cùng trong năm vị phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (5 Phó Chủ tịch được xếp theo thứ tự Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân, Lâm Bưu - N.D.). Ngày 18 tháng 5, ông ta đã phát biểu một bài dài trong hội nghị. Bài nói này khác với mọi người, trước tiên ông ta niệm “chính biến kinh”. Khoác lác về những cuộc chính biến cổ kim đông tây, bịa ra chuyện trong nội bộ Trung ương Đảng có người muốn làm chính biến và lật đổ. Ông ta nói cứ như thật rằng: “Có thể xảy ra chính biến phản cách mạng, muốn giết người, muốn cướp chính quyền, muốn cho giai cấp tư sản ngóc đầu dậy, muốn cho chủ nghĩa xã hội bị xóa bỏ”. “Mấy tháng gần đây, Mao Chủ tịch đặc biệt chú ý phòng ngừa chính biến phản cách mạng đã sử dụng rất nhiều biện pháp. Nguy hiểm là ở thượng tầng”. Ông ta nói: “Các đồng chí đã trải qua việc chống La Thụy Khanh, chống Bành Chân, chống Lục Định Nhất và vợ ông ta, chống Dương Thượng Côn nên đã có thể ngửi thấy một chút mùi ấy, mùi thuốc súng. Nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản, đã trà trộn vào trong Đảng ta, trà trộn vào cơ quan lãnh đạo của Đảng, trở thành phái cầm quyền nắm bộ máy nhà nước, nắm chính quyền, nắm quân quyền, nắm bộ tư lệnh trên mặt trận tư tưởng, chúng liên hợp lại để lật đổ, làm rối loạn”, “phối hợp văn võ, nắm dư luận, lại nắm súng đạn, chúng sẽ có thể làm chính biến phản cách mạng”. Ông ta gào thét kích động: “Có một lũ khốn nạn, chúng muốn mạo hiểm, chúng đang đợi thời cơ để hành động. Chúng muốn giết chúng ta, chúng ta phải trấn áp chúng!”. Những lời nói kích động giật gân này của Lâm Bưu, tạo nên không khí ai cũng cảm thấy vô cùng nguy cấp vô cùng đáng sợ trong nội bộ Trung ương.

Trong bài nói của mình, Lâm Bưu còn ra sức tán tụng sùng bái cá nhân, ca ngợi thiên tài cá nhân của Mao Trạch Đông: “Thiên tài của thế kỷ 19 là Mác, Ăng-ghen, thiên tài của thế kỷ 20 là Lê-nin và đồng chí Mao Trạch Đông”. “Mao Chủ tịch đã kế thừa, bảo vệ và phát triển một cách thiên tài, sáng tạo và toàn diện chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đã đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin lên một giai đoạn mới”. “Có một số người không thừa nhận thiên tài, đó không phải là người mác-xít”. Ông ta tuyên bố: “Lời của Mao Chủ tịch câu nào cũng là chân lý, một câu vượt quá một vạn câu của chúng ta”. “Lời của Người là nguyên tắc để chúng ta hành động. Kẻ nào phản đối Người, toàn Đảng sẽ cùng tiêu diệt kẻ ấy, cả nước sẽ cùng đánh dẹp kẻ ấy”. Những lời của Lâm Btnl đã phá hoại một cách thô bạo nguyên tắc tổ chức của Đảng, tâng bốc tán tụng, sùng bái cá nhân đến đỉnh cao nhất, có ảnh hưởng rất xấu đến hội nghị. Có một điều mang ý nghĩa châm biếm là, về sau âm mưu làm chính biến chống đối cho đến việc âm mưu giết hại Mao Trạch Đông lại chính là bọn Lâm Bưu.

Nhưng từ đó về sau nước cờ của Mao Trạch Đông đối với cách mạng văn hóa đi như thế này: Để đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, Mao Trạch Đông đã dùng Lâm Bưu, nhưng thế lực của Lâm Bưu lại tăng lên như quả cầu tuyết càng lăn càng lớn, Mao Trạch Đông không yên tâm là Giang Thanh và Khang Sinh v.v... có thể chống chọi với Lâm Bưu, bởi xét cho cùng thì họ cũng chỉ là bọn văn nhân, không có ảnh hưởng trong quân đội, ông cần có thế lực thứ ba, mà bản thân ông và “tam lão tứ soái” chính là thuộc thế lực thứ ba này, ông đang tìm sự sinh tồn và phát triển trong mâu thuẫn.


Hết tập 1!