|
Tiêu đề: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: chiangshan trong 24 Tháng Hai, 2008, 12:43:13 pm http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Th%E1%BA%AFng
Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, Cao Thắng chiêu mộ lực lượng cùng em ruột là Cao Đạt đem 60 người đến hợp tác với Phan Đình Phùng đánh Pháp và được phong chức Quản cơ. Năm 1887 khi Phan Đình Phùng ra Bắc liên lạc với các lực lượng kháng Pháp, Cao Thắng được giao quyền chỉ huy nghĩa quân. Trong một trận đánh thắng đội quân của ông đã thu được 17 khẩu súng và 60 viên đạn. Ông cùng với Lê Phần, Lê Quyên tháo súng ra nghiên cứu để chế tạo súng cho nghĩa quân. Ông tổ chức mở xưởng đúc vũ khí theo kiểu châu Âu ở chiến khu Vũ Quang và sản xuất được 500 khẩu súng theo mẫu 1874 của Pháp. Ngoài chế tạo vũ khí, ông còn xây dựng được một đội quân có tính chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm. Tháng 9 năm 1889, Phan Đình Phùng trở về căn cứ, cử Cao Thắng làm tổng chỉ huy nghĩa quân và thu được nhiều thắng lợi trong những năm 1890 - 1891. Năm 1893, trong trận đánh Đồn Nu (Thanh Xuân - Thanh Chương - Nghệ An), ông bị trúng đạn và hy sinh lúc mới 29 tuổi. Cái chết của Cao Thắng là tổn thất lớn cho quân khởi nghĩa Phan Đình Phùng. Sau khi ông mất, quân Phan Đình Phùng chỉ thắng thêm được 1 trận Vụ Quang năm 1894 và không lâu sau khi Phan Đình Phùng mất (1895), cuộc khởi nghĩa bị trấn áp hẳn. ----------------------- Súng trường kiểu 1874 của Pháp ở đây hẳn là khẩu Gras Mle 1874 (http://militaryrifles.com/France/Gras.htm) (http://i33.photobucket.com/albums/d85/chiangshan/RI9239LGras.jpg) Câu hỏi ở đây là về đạn. Em vẫn còn nhớ là trong Nam thời KCCP, đạn súng trường chủ yếu chỉ có từ 2 nguồn, hoặc thu của địch, hoặc nhặt vỏ đạn cũ để nhồi lại (rờ sạc). Việc sản xuất đạn mới rất khó khăn và không đảm bảo được chất lượng. Không hiểu lúc đó Cao Thắng có tự chế hay nhồi lại đạn được không, nếu chỉ dựa vào đạn chiến lợi phẩm để duy trì cho hàng trăm khẩu súng như vậy thì rất khó tin. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: dongadoan trong 24 Tháng Hai, 2008, 12:47:18 pm Chắc cụ cũng nhồi lại đạn thôi, nếu nhớ không nhầm thì trong KCCP có quy định thu vỏ đạn đổi đạn mới, cụ Cao Thắng chắc là cha đẻ của cái quy định rất VN này! ;D
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: caytrevietnam trong 24 Tháng Hai, 2008, 05:37:08 pm Khẩu súng do cụ Cao Thắng theo mẫu của súng Pháp mà chế ra, vậy ko rõ ngoài các vấn đề khác thì hình dáng của nó có giống như trong bức hình kia ko nhỉ?
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: tuaans trong 25 Tháng Hai, 2008, 12:45:10 pm Vấn đề rãnh xoắn thì sao nhỉ? Hồi nhỏ tớ có đọc qua, bây giờ quên sạch!
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: anhlinhcuHo trong 25 Tháng Hai, 2008, 01:30:22 pm Theo sách nói thì súng của Cao Thắng làm giống hệt súng của Pháp, chỉ có điều nòng súng không có rãnh xoắn và lò xo kim hỏa hơi yếu nên đạn không đi xa. Mà có bác nào biết khẩu này bắn đạn cỡ nào không ?
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: chiangshan trong 25 Tháng Hai, 2008, 10:48:55 pm Mà có bác nào biết khẩu này bắn đạn cỡ nào không ? Mấy khẩu đời 1874-1886 của Pháp đều dùng đạn 11x59mm. Ở đây (http://www.vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&t=315) có post ảnh súng Cao Thắng : (http://i160.photobucket.com/albums/t165/leekimbh/Sung/sungCT4.jpg) Tuy nhiên cái mà em quan tâm là đạn chứ không phải súng ;D Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: anhlinhcuHo trong 26 Tháng Hai, 2008, 06:21:11 pm từ khẩu Gras 1874 đến Lebel 1883 thì Pháp dùng đạn thuốc đen, vỏ đồng, do vậy chắc là các cụ nhà ta phải nhặt vỏ về nhồi lại rồi (Thời đó lầm sao dập được vỏ đạn với chế được thủy ngân fuminat làm hạt nổ). Chiến thuật chủ yếu của nghĩa quân Hương Khê là đánh du kích nên chắc tiêu thụ đạn cũng không nhiều, bắn xong nhặt vỏ về nhồi lại cũng đủ dùng
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: chiangshan trong 26 Tháng Hai, 2008, 06:54:45 pm Nhồi lắp đạn có phức tạp không nhỉ, em vẫn hơi nghi ngờ trình độ thời ấy (mong cụ thứ tội cho con ;D)
Lại thêm cái này nữa :-\ http://www.vusta.vn/news_detail.asp?id=15843 Cao Thắng và việc chế tạo súng trường Cao Thắng (1864-1893) người thôn Yên Đức, xã Tuần Lễ (nay là xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông xuất thân trong một gia đình nghèo, từ nhỏ ông đã là người ham học, học giỏi cả văn và võ. Cao Thắng đã cùng em là Cao Nữu gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng từ cuối năm 1885 ở Hương Khê, Hà Tĩnh. Năm 1886, Phan Đình Phùng ra Bắc để liên lạc với lực lượng chống thực dân Pháp. Cao Thắng cùng với các nghĩa quân thực hiện chủ trương đúc rèn vũ khí diệt giặc. Ông tuyển hàng trăm thợ rèn, sau hơn một tháng đã làm được 200 khẩu súng kíp. Cao Thắng ước ao có được một khẩu súng của Pháp để học kiểu mà làm. Một hôm, Cao Thắng nhận được mật tin có hai lính Pháp cùng 15 lính nguỵ áp tải hàng lên đầu phố (Hương Sơn). Ngay tức khắc, ông tổ chức 20 nghĩa quân mai phục diệt địch. Trận đánh thắng lợi. Ta thu 17 khẩu súng. Có súng giặc, Cao Thắng đã tập trung những thợ rèn giỏi nghiên cứu và rèn đúc theo mẫu. Công việc chế tạo súng rất phức tạp. Cao Thắng đã tính toán kỹ đến kích thước, hình dáng các chi tiết súng. Sắt làm súng là các loại sắt thu gom trong nhân dân. Vỏ đạn là đồng được chế tác từ mâm đồng, nồi đồng. Thuốc súng thì dùng từ diêm tiêu đào tìm trong hang núi. Riêng nòng súng thì phải làm từ gọng ô. Sau hai tháng, qua rất nhiều lần thử nghiệm, với nghị lực cao, trí thông minh và lòng quả cảm, Cao Thắng cùng với những người thợ đã chế tạo được 350 súng trường. Tính năng, tác dụng của súng chỉ kém súng trường của Pháp kiểu 1784 là do nòng súng không có rãnh xoắn nên đường đạn không căng và điểm rơi của đạn không được xa. Có súng, ý chí của các nghĩa quân như bừng lên. Lúc này cụ Phan Đình Phùng cũng từ ngoài Bắc trở vào. Ngay sau đó, nghĩa quân Phan Đình Phùng có tổng binh Cao Thắng làm trụ cột đã bước vào thời kỳ chiến đấu oanh liệt. Ngày 21-11-1893, trong trận đánh đồn Nu thuộc huyện Thanh Chương (Nghệ An), Cao Thắng bị trúng đạn và hy sinh anh dũng. Cao Thắng và các nghĩa quân Phan Đình Phùng đã góp phần tô thắm thêm trang sử anh hùng trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, trong đó có việc chế tạo thành công súng trường. Nguồn: T/c Văn hoá Quân sự, số 2, 10/2005, tr 32 Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: minh_mai trong 24 Tháng Năm, 2008, 08:45:42 am Cao Sơn à, đây là vẫn đề rất hóc mà mình cũng như Sơn, suy nghĩ từ lâu. Đáng buồn là phòng viên chiến trường nhà ta vẫn quen thói hủ nho, tuyền ôm vợ con ở nhà sáng tác tụng ca. Ngay cả từ thời đó, sớm hơn những nhà nghề bộc phét thời đánh pháo mỹ, muộn hơn thời rạch gầm xoài mút, những câu chuyện về nghĩa quân cũng rất thiếu và hầu như chỉ được chép lại bằng giấy tây bút sắt sau này qua lời kể. Cái kiểu tụng ca như thế chie trẻ em đọc là sướng thôi, còn anh em mình vừa tức, vừa nhức đầu.
Súng kíp là một đặc sản của phương đông, về điểm hoả, nó hơn hẳn các loại mồi thừng và mồi đá lửa của phương tây, đảm bảo chiến đấu mọi thời tiết và cơ cấu điểm hoả nhẹ nhàng, không rung. Súng kíp người Mèo còn truyền đến thời mình lên núi chơi có kíp là ống lông vũ nhồi hốn hợp thuốc nổ đen và bột một loại đá. Người Mèo biết là súng từ trận chiến thê thảm của họ chống lại Trương Phụ, nhưng không biết họ làm súng kíp từ bao giờ. Một trong những nguyên liệu để làm súng trường là thép mềm và thép đàn hồi, tạo các chi tiết mảnh và dài, dai cứng và đàn hồi, khác hẳn súng lớn chỉ cần đúc gang hay đồng. Cần hiểu rõ hơn là thép hồi đó rất hiếm. Đặc biệt, súng kíp người Mèo là nòng khoan, hết sức tiên tiến thời cổ. Chắc bạn Sơn đã nghe truyền thuyết về súng Mèo, khoan nhiều tháng trời hết cả bộ da một con trâu được cắt nhỏ làm dây kéo khoan. Théo được làm bằng phương pháo nung gang rồi đập đo đập lại mất rất nhiều công, nung, đập mỏng, gập lại, rồi lại cứ thế lặp lại cho đến khi lượng carbon giảm. Thứ thép này rất tồi, để nó tốt, lại phải nung nóng rồi đập nhưng không dát mỏng rất nhiều công nữa mới thành cục. Kỹ thuật luyện thép này ngày nay nhiều thợ Mèo vẫn dùng, nhưng chỉ để làm những đồ truyền thống. Hồi mình lên núi chơi, nòng súng kíp khoan bằng loại xà beng tầu, thứ thép carbon cao, nhiều măng gan, khá tốt. Nhưng đó chỉ là những khẩu súng cũ, còn thợ săn Mèo lúc đó đã phổ biến CKC và K44 (Mosin 1891/1944), súng kíp vẫn dùng để bắn đạn ria vì súng bắn đạn ria Mỹ còn hiếm không như bi giờ. Mình nghĩ là vùng cao Nghệ-Tĩnh có nhiều người Mèo và kỹ thuật này Cao Thắng có được. Tuy nhiên, bài báo trên chỉ là một bản tụng ca cũng ngu si như những bản tụng ca khác thôi, viết theo một cái khung chung với những bịa đặt của người viết thiếu hiểu biết. Thép gọng ô cũng là một loại có từ lâu đời. Theo mình hiểu, đây là thứ thép luyện kỹ (bằng phương pháp trên), đàn hồi. Theo một số thông tin ít ỏi mình có, loại thép đắt đỏ này lúc đó được dùng làm những bộ phận đàn hồi của súng. Kẻ viết tụng ca ngu ngốc cho là nòng. Cái hóc nhất đúng như Sơn nghĩ đấy, nó là hạt nổ. Minh cũng như Sơn, đến giờ không biết làm bằng gì. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 26 Tháng Năm, 2008, 12:43:31 am Minh Sử có câu: "Thành Tổ bình giao chỉ, lấy được Thần cơ thương pháo pháp, đặt thần cơ doanh luyện tập".
Cuốn 92, chuyên về việc quân (binh chí thứ), lặp lại: "Thành Tổ bình giao chỉ, lấy được Thần cơ thương pháo pháp, đặt thần cơ doanh luyện tập. Súng có nhiều cỡ to nhỏ không bằng nhau, cái trên xe, cái có giá, cọc và người nâng. Dùng tốt nhất cho phòng ngự và tốt khi viễn chinh. Chế tạo dùng thục đồng đỏ, nhu thiết và Tây thiết. Đoạn nữa có câu "(thần cơ doanh) ban đầu dùng Hỏa Thương, sau dùng Hỏa Thằng Thương". Ở đây, vẫn có hiện tượng hủ nho phổ biến trong lịch sử văn tầu, mặc dù thời Hồ Nguyên Trừng sang Tầu là thời mạt nhất của hủ nho, hủ nho và các thế lực âm độc tuyệt diệt cùng vớicác cung điện Nam Kinh khi Chu Nguyên Chương chết, con là Minh Thành Tổ đánh bại cháu trưởng, rồi sau thiên đô về Bắc Kinh. Người viết thiên về ca tụng công đức, mà thể hiện sự ngu si về kiến thức, truyền lại đời sau. Ví dụ, "thục xích đồng", là một thứ nguyên liệu quý, dùng để làm súng pháo. Nhưng không phải nòng súng đúc từ nó, "thục xích đồng" nghĩa là đồng nguyên chất (xích đồng) có độ tinh khiết cao (thục), rất mềm yếu, cái quý của nó là dễ pha với các chất khác thành hợp kim có chất lượng cao, cái hợp kim này mới dùng đúc súng. Hợp kim hay dùng ở phương tây có tên "đồng súng", "đồng pháo" chứa 88% đồng và 12%thiếc (ta gọi "đồng điếu", hay dùng đúc cối giã trầu). Loại đồng phổ biến trong dân gian là "đồng thau" không đúc được súng, phải luyện rất khó thành "thục xích đồng", rồi hợp kim với thiếc mà thành "đồng điếu". Nguồn "thục xích đồng" chủ yếu không phải từ đồng thau, mà từ một số mỏ khoáng. Đồng điếu cũng có từ một loại quặng mà không cần qua khâu "thục xích đồng". Đồng thau quý ở chỗ dẻo và có nhiệt độ nóng chảy thấp, dễ đúc, dễ gò, dễ hàn thành những chi tiết phức tạo, dai khó vỡ khi va đập... nhưng nhược điểm là dễ bị mài mòn và chịu áp lực thấp, gọi là đồng thau vì hay làm thau và mâm. Kim Dung cũng thừa kế lại "thục đồng côn" từ loại hủ này. Thục đồng côn mà có thật thì gõ nhẹ cái là cong, ;D ;D ;D ;D vác lại nặng è cổ ;D ;D. "Nhu thiết", "Tây thiết"... Hợp kim sắt lúc đó chủ yếu là gang đúc xấu. Cùng là sắt, nhưng lúc đó gang thì rẻ mà thép thì rất đắt. Nhu thiết, thép mềm dễ làm được những chi tiết phức tạp qua rèn (thế mạnh của đồng thau). Tây thiết, là thép "Tây Vực". "Tây Vực" những vùng phía tây dãy núi Côn Luân, kéo dài từ Thanh Hải bi h cho đến tận Ba Tư. Thực chất, đây chính là thép Damacus được buôn từ Trung Đông đến "Hành lang Hà tây", qua "Tây Vực" mà đến Tầu. Loại thép này cứng, đàn hồi, đặc biệt rất dai bền ("dai" là từ chuyên môn bi h nói về độ chịu đựng biến đổi hình dạng, va đập lâu mà không yếu đi, chịu một thời gian mà yếu đi gọi là "mỏi", cũng từ bi h). "Thép Đa Mát", "Tây Thiết" không phải là một loại thép, mà rất nhiều loại thép đã được nấu, đặc điểm chung là có thành phần chính chính là thứ thép buôn kia. Ngày nay, được biết đây là loại thép giầu măng gan, được luyện từ công nghệ bí truyền và điều kiện thuận lợi ở Syria. Nhu thiết và tây thiết là nguyên liệu quý để làm các súng phức tạp, như súng trường. Pháo tuy hoành tráng, nhưng cấu tạo đơn giản và chỉ cần gang đúc đồng đúc. Súng trường "hỏa thằng thương" thì không thể đúc cò, kim hỏa (gọi là "câu"), khóa an toàn, lẫy lò xo... bằng gang hay đồng được. Cao Thắng thì không có điều kiện mua nhu thiết tây thiết rồi, càng khoai hơn. Làm súng kíp "theo công nghệ cổ truyền" ngày nay dễ dàng hơn nhiều. Ví như nòng thì lấy xà beng. Các cơ cấu cò, lò xo, mỏ mổ kíp... lấy các thép đầy ra ở hàng sắt vụn. Nhưng ở thời đại gang đúc đồng đúc thì đặc biệt khó. Súng của vương tôn thì dễ dàng dùng hợp kim bạc rất tốt, nhưng dùng súng đó mà trang bị cho "thần cơ doanh" thì mất nước trước khi đánh trận. Không kể các chi tiết súng, mà các chi tiết của "máy công cụ" cũng rất cần, ví như khoan. Trong điều kiện cổ thì làm súng trường thật khó khăn, đấy mới là cái anh kiệt của các cụ, mà đến h tài năng như tớ đây ;D còn chưa mò mẫn ra làm sao mà các cụ làm được. Nhưng những thằng hủ nho chuyên viết tụng ca và bịa ra kiến thức, văn nhìn nhẵn mượt nhưng thối hoắc này, dễ dàng trút nước thối vào tài năng lớn lao của các cụ như thế. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: phuong nam trong 26 Tháng Năm, 2008, 11:13:59 am Bác rất có kiến thức về súng đạn, cho em hỏi thăm súng tốt là một chuyện, nhưng người bắn vẫn quan trọng hơn hết, có kỹ thuật nào rút ngắn thời gian huấn luyện để cho ra đời nhưng xạ thủ bách phát bách trúng không?
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: mig21-58 trong 21 Tháng Bảy, 2008, 09:22:00 pm tôi đẵ đọc một tài liệu lâu rồi,về cơ bản như bài báo viết,chị có chi tiết này là khác ;quy lát thì lấy thép từ gong ô ./.
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: hitman trong 22 Tháng Bảy, 2008, 08:41:25 am Cho em hỏi tại sao đạn lại theo rãnh xoắn mà ngoan ngoãn bay thẳng ra ngoài chứ ko hùng hục xuyên qua , phá tan rãnh xoắn .
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: thoky trong 08 Tháng Tám, 2008, 03:02:23 pm Đây là khẩu trong Bảo tàng Cách mạng. Về hình dáng có vẻ giống khẩu 1874 loại ngắn (dành cho lính pháo binh). Tuy nhiên cơ cấu kim hoả rất kỳ cục (hình như không đủ), nhưng rõ ràng đây là "khai hậu". Bác nào có ảnh khác, mà cũng của Cao Thắng cho xem chi tiết được không ? (http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-01.jpg) (http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-03.jpg) (http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-02.jpg) Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: HuuTrang trong 08 Tháng Tám, 2008, 10:24:06 pm Em nhớ là có lần một anh kia đi thăm bảo tàng nói với em là súng do Cao Thắng chế tạo có rãnh xoắn mà, chỉ mỗi tội cái rãnh đó không sâu nên đạn không đi xa được
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: ChienV trong 10 Tháng Tám, 2008, 08:38:23 am Cho em hỏi tại sao đạn lại theo rãnh xoắn mà ngoan ngoãn bay thẳng ra ngoài chứ ko hùng hục xuyên qua , phá tan rãnh xoắn . Vì rãnh cứng hơn đạn chứ sao. Bắn đạn cứng như DU hay W thì đạn phải có vỏ mềm để miết vào rãnh! Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: chiangshan trong 10 Tháng Tám, 2008, 11:20:02 am http://www.quansuvn.net/index.php?topic=2673.10 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=2673.10)
NGÔ VĂN HOÀ1 XƯỞNG VŨ KHÍ CỦA NGHĨA QUÂN HƯƠNG KHÊ2 Đến giữa thế kỷ XIX, một tai họa đè lên vận mạng của dân tộc ta, đó là họa xâm lăng của đế quốc Pháp. Khác với những thế lực xâm lăng trước trong lịch sử các tập đoàn phong kiến Trung Quốc mà trình độ khoa học kỹ thuật cũng tương đương như dân tộc ta, lần này tư bản thực dân Pháp có một nền khoa học kỹ thuật hiện đại cao hơn hẳn nền khoa học kỹ thuật cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Để bước đầu giải quyết mối mâu thuẫn trên đây, Phan Đình Phùng và các tướng lĩnh nhận thấy rằng muốn đương đầu và chiến thắng quân thù không những cần lòng hy sinh dũng cảm giết giặc mà còn phải có những lực lượng vật chất khả quan, có lương thực và nhất là vũ khí. Trong việc trang bị kỹ thuật cho nghĩa quân của các phong trào kháng Pháp hồi cuối thế kỷ XIX thì cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã có những đóng góp lớn lao. Đó là việc chế tạo được súng trường kiểu 1874 của Pháp. Để tiếp cận vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu nguồn tài liệu ở trong nước và sau đó là nguồn tài liệu do thực dân Pháp viết để các bạn có điều kiện so sánh đối chiếu hòng dựng lại sự thực lịch sử này. I. GIỚI THIỆU NGUỒN TÀI LIỆU LỊCH SỬ TRONG NƯỚC Đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa được đặt ở Vụ Quang và bao gồm nhiều khu căn cứ. Khu căn cứ Vụ Quang - Ngàn Trươi gồm nhiều đồn luỹ, trong đó có căn cứ đóng quân Làng trong cách thành 5km về phía Đông Bắc với bãi tập, xưởng rèn, kho lương. Khu đồn Cồn Bội cách thành 18km về phía Đông Bắc với các lò rèn vũ khí, hầm chứa vũ khí, lương thực. Khu căn cứ Thượng Bồng, Hạ Bồng gồm một hệ thống đồn luỹ, trong đó có rú Cồi (Khôi Sơn), rú Cọng (Điếm Sơn). Tại đây có một số lò rèn vũ khí do ông Phó Bích làm hiệp quản chỉ huy. Các lò rèn đều bố trí gần các khe suối để bảo đảm bí mật, như ở các khe Nhà Trận, rú Sui, rú Công, rú Cồi v.v... quân số làm việc rèn này lên đến hàng trăm người. Lò rèn Xá Lễ là một khu lò rèn lớn cung cấp vũ khí cho nghĩa quân. Theo các cụ phụ lão địa phương cho biết thì hồi nghĩa quân dựng lò rèn tại đây, khu vực này còn rất rậm rạp, tại chỗ có lúc tập trung từ 200 đến 300 thợ, có đến 30 gian lán trại dựng dọc theo các khe suối quanh vùng và các hiệp thợ thay phiên nhau làm việc từ tờ mờ sáng cho đến tối. Khu căn cứ Trùng Khê - Trí Khê cũng có cả một hệ thống đồn trại, bãi tập, xưởng vũ khí. Đồng thời với việc xây dựng và phát triển các khu căn cứ, nghĩa quân thấy trước hết là phải làm thế nào có súng mẫu để theo đó chế súng mới, mua thì không đời nào Pháp bán cho nên phải tổ chức cướp súng. Được tin có một toán lính đi từ Nghệ An lên đồn Phố Châu gồm hai sĩ quan Pháp và 15 lính tập mang theo tiền lương và có súng, con đường này lại xuyên qua nhiều khu rừng rậm rất thuận tiện cho việc phục kích. Cao Thắng đã trực tiếp chỉ huy một toán nghĩa quân phục kích cướp được 17 khẩu súng, hai hòm đạn và tiền bạc. Đây là loại súng mới với cỡ nòng 11mm, bắn bằng thuốc đạn không khói. Cao Thắng lên vùng Thượng Bồng, mời Lê Phác tức Kiểm Phất, người xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ) và Lê Quyên (tức Đội Quyên, người làng Yên Hồ, huyện Đức Thọ) và một số thợ rèn giỏi của vùng Nghệ Tĩnh cùng nghiên cứu khẩu súng của giặc để chế tạo. Những người thợ thủ công đã phát huy hết trí sáng tạo của mình lấy phương tiện thô sơ để làm ra vũ khí hiện đại. Để chế tạo bộ máy cò phức tạp đòi hỏi kỹ thuật cao, người ta tháo một khẩu súng Pháp ra từng bộ phận và rèn theo mẫu đó, xong lắp vào súng bắn thử, nếu được thì cứ theo mẫu mà làm, chưa được thì phải nghiên cứu sửa chữa lại bằng được mới thôi. Nòng súng là một bộ phận yêu cầu hợp kim cao, người ta có sáng kiến là uốn bằng sắt và củng cố thêm bằng nhiều vòng sắt ở bầu nòng cho chắc thêm và để khi bắn khỏi bị vỡ. Lò xo kim hoả cần thép cứng và dẻo đã được nghĩa quân thay bằng loại gọng ô. Mọi bộ phận nghiên cứu xong, Cao Thắng đưa lên vùng Lệ Động hơn 300 thợ rèn của hai làng Trung Lương và Vân Chàng, 30 thợ gỗ và mộc ở làng Xa Lang để làm báng súng và một số thợ bạc để làm vỏ đạn, một số thợ đúc đồng để đúc đạn. Cao Thắng tổ chức sản xuất theo lối dây chuyền và chuyên môn hoá. Về nguyên liệu, ông cho người đi khắp các làng quê, mua hoặc quyên tất cả những thứ như nồi đồng, mâm đồng, sắt cũ, sắt vụn, cầy cuốc hư hỏng của nhân dân đem về căn cứ đúc súng. Đồng bào lương và giáo đã nhiệt liệt hưởng ứng, có người bớt cả đồ đồng đang dùng. Có bài viết cho biết Cao Thắng đã mời Cổ Khai, cha xứ ở Thọ Ninh, Thọ Tường (Đức Thọ) vào Cồn Chùa để thương lượng việc này3. Dân làng Thượng Bồng đốt than lim là một loại than có nhiệt độ cao để cho lò rèn rèn súng. Ngoài việc sản xuất súng, ông còn nghĩ cách chế thuốc súng theo kiểu thủ công, gồm than xoan tán nhỏ và diêm tiêu để nhồi vào đạn hoặc vượt rừng núi qua đường Lào sang tận Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) mua thuốc súng. Sau nhiều tháng trời lao động quên mình vì nghĩa lớn, Cao Thắng và những người thợ rèn ở vùng Nghệ Tĩnh đã tự chế được gần 350 khẩu súng kiểu 1874, kỹ thuật không khác gì nhiều so với của địch. Thành công này đã làm cho nghĩa quân phấn khởi và tin tưởng ở thắng lợi của mình: Súng ta, chế được vừa xong Đem ra mà bắn nức lòng lắm thay Bắn cho tiệt giống quân Tây Cậy nhiều súng ống phen này hết khoe4. Khi Cao Thắng mất, ông mới 29 tuổi. Trong bài văn tế chữ nôm do Phan Đình Phùng đọc trong ngày chung thất, Cụ cũng đã nhắc đến tài năng sáng tạo của con người anh hùng trẻ tuổi đối với nghĩa quân: “Thiên tài toán học chước Võ Hầu, chế súng đạn biết bao chừng cơ trí”. _______________________________________ 1. Ngô Văn Hòa: Phó Giáo sư Viện Sử học. 2. Tham luận Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày mất Phan Đình Phùng, ngày 28-12-1995. 3. Đinh Xuân Lâm và Phan Trọng Báu. Cao Thắng với Phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX. Nghiên cứu lịch sử số 9, 10-1975, tr.53. 4. Vè yêu nước chống đế quốc Pháp xâm lược. Nxb Văn học, Hà Nội, 1970. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: chiangshan trong 10 Tháng Tám, 2008, 11:20:30 am II. GIỚI THIỆU NGUỒN TÀI LIỆU CỦA THỰC DÂN PHÁP
Thực dân Pháp cũng rất quan tâm chú ý đến trang thiết bị quân sự của nghĩa quân Hương Khê, nên ngay từ đầu thế kỷ XX, đại uý Ch. Gosselin trong quyển sánh L’Empire d’Annam (Đế quốc An Nam) đã viết về thành tựu này như sau: “Ông (tức Phan Đình Phùng. N.V.H chú thích) đã biết đào tạo các chiến binh của mình theo cung cách kỷ luật và hành binh theo kiểu châu Âu, đó là điều mà chúng ta chưa bao giờ nhận thấy từ trước cho đến lúc đó, trang phục cho quân lính bằng những bộ quần áo tương tự như những binh lính người bản xứ và cuối cùng là trang bị cho các chiến binh bằng các khẩu súng kiểu 1874, những khẩu súng này được sản xuất bí mật tại những địa điểm mà chúng ta không phát hiện ra được và với một khối lượng rất nhiều. Tôi đã mang về Pháp vài khẩu súng này, những khẩu súng này giống về tất cả mọi phương diện với những khẩu súng do các công binh xưởng của chúng ta sản xuất và đã làm cho các sĩ quan pháo binh mà tôi đưa cho họ xem phải hết sức ngạc nhiên, những khẩu súng này chỉ khác với những khẩu súng của chúng ta về hai điểm mà thôi: lò xo xoáy ốc tôi chưa đủ và lòng súng không có xẻ rãnh; hậu quả của điều này là đạn đi không xa; tuy nhiên những khẩu súng này đã bắn chết rất nhiều binh lính và sĩ quan người Âu và binh lính người bản xứ” (Nxb Perrin et Cie, Paris, 1904, tr.313). Gần đây trong luận án Tiến sĩ quốc gia nhan đề “Les contacts Franco Vietnamiens en Annam et au Tonkin de 1885 à 1896” (Những sự tiếp xúc Pháp Việt ở Trung và Bắc Kỳ từ 1885 tới 1896); Ch. Fourniau đã cho công bố nhiều bản báo cáo đương thời của bọn thực dân Pháp đã tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Thực dân Pháp có mô tả một số doanh trại của nghĩa quân mà chúng chiếm được: “doanh trại của Phan Đình Phùng bao gồm nhiều dãy nhà bằng gỗ được xây dựng rất tốt (những chỗ ở cho các tướng lãnh và trại lính chứa đến 300 người) và một xưởng vũ khí khá rộng có thể chứa đến 30 công nhân”. Cũng toán lính này phát hiện ở một chỗ không xa một doanh trại khác, gồm 12 căn nhà, chứa được từ 150 đến 200 người. Người ta tìm thấy nhiều lò rèn và những dụng cụ để làm vỏ đạn và 4.000 khẩu phần gạo mà nghĩa quân bỏ lại khi rút lui. Báo cáo của Le Normand ngày 11-5-18951 cho biết lúc ban đầu, cuộc khởi nghĩa Hương Khê cũng giống như các cuộc khởi nghĩa khác trong nước về mặt trang bị kỹ thuật, vũ khí của nghĩa quân là bạch khí, nghĩa là chỉ gồm gươm giáo mác, mã tấu v.v... chưa có vũ khí hiện đại. Từ 1890, nghĩa quân đã tổ chức được một cuộc phục kích thành công, thu được một tá súng trường. Phấn khởi trước thành tích, sau đó nghĩa quân đã liên tiếp tổ chức nhiều cuộc phục kích nữa để cướp súng, những trận sau đó Đề Mậu và Đề Niên chỉ huy. Theo báo cáo của Công sứ Nghệ Tĩnh Duvillier, ngày 17-12-18952, những người thợ làm những công đoạn khó khăn trong việc chế tạo súng đã được nghĩa quân trả công cao hơn rất nhiều so với mức bình thường ở ngoài xã hội. Về những người thợ thủ công này, báo cáo của Le Normand viết tiếp: “Phan Đình Phùng đã sử dụng những người quê ở La Sơn đã từng là người làm vũ khí ở trên các pháo hạm hoặc trong các xưởng của hải quân, hoặc là thợ máy tại các hãng Daniel Chatmont... Những người này lại tuyển mộ ở Hà Nội những người làm vũ khí khác người bản xứ. Sau đó Phan Đình Phùng mới trưng dụng những người thợ rèn, thợ bạc, thợ mộc và thợ gỗ để làm ra súng. Việc sản xuất này được thúc đẩy nhanh chóng và chẳng bao lâu các toán quân đều được trang bị những vũ khí lợi hại. Những xưởng sản xuất được thiết lập trong những kho tại dãy núi Ngàn Trươi và Ngàn Phố, những người làm vũ khí và thợ bạc đã chế ra những quy lát từ chất thép được nấu theo phương pháp Catalane (một phương pháp nấu thép từ quặng sắt mà không phải trải qua giai đoạn gang. N.V.H chú thích). Họ cũng sản xuất các bộ phận bằng đồng, và những vỏ đạn bằng đồng do họ trưng dụng được từ các mâm và nồi đồng ở các làng quê. Nòng súng được đúc trong núi, hoặc tại các làng thợ rèn, chẳng hạn như ở Vân Chàng. Báng súng được chuẩn bị ở mỗi nơi một ít và ở khắp mọi nơi”. Hơn thế nữa người ta còn ra chợ Vinh để mua sắt, thép, chì, công việc này do em gái Phan Đình Phùng mà tài liệu của Pháp viết là Bà Thị Giang đảm nhiệm (Báo cáo của Brière ngày 14-2-1896. Phụ lục số 3. Biên bản hỏi cung Lê Vang ngày 1-10-1894). Một phần nhỏ lò xo xoắn ốc là do từ nguồn Hà Nội mang vào. (Tôi không biết do ai gửi vào Tôi cũng không rõ những nguồn cung cấp khác về lò xo xoắn ốc. Lê Vang khai như vậy). Ngoài việc chế tạo súng trường tại chỗ, cụ Phan còn tìm cách mua được một ít vũ khí đạn dược ở Xiêm. Từ 1891, Cao Đạt đã nhiều lần sang Xiêm để làm công việc này. Luce cho biết kết quả cụ thể đạt được như sau: 94 Li-vơ-rơ (500 gr) Xan pết (Kali nitrat, N.V.H chú thích), 53 túi hạt nổ to, 100 túi hạt nổ nhỏ, 110 túi thuốc súng, và một lần khác mua được 21.000 hạt nổ nhỏ, 30 túi hạt nổ to, 1 khẩu Lefaucheux và 66 viên đạn, 1 súng lục và 100 viên đạn, hai súng ngắn và 72 viên đạn3. Báo cáo của Le Normand đưa ra những con số khác, một lần 15 súng lục và một lần khác 50 súng lục. Thực dân Pháp thừa nhận đại bộ phận vũ khí là do nghĩa quân sản xuất ở trong nước. Le Normand ước lượng là tổng số vũ khí do nghĩa quân sản xuất và sử dụng cho đến 1895 là từ 1200 đến 1300 khẩu. Nếu tính cả số thiệt hại và phá huỷ do quân Pháp gây ra nhiều lần khi tấn công vào các căn cứ địa của nghĩa quân, thì tổng số vũ khí do nghĩa quân chế tạo được lên đến hàng ngàn khẩu. Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa, tháng 1-1897 thực dân Pháp đã mang ra bán làm sắt vụn những vũ khí của nghĩa quân mà chúng thu được, trọng lượng của đống hàng này lên đến hơn hai tấn rưỡi sắt, bao gồm: 403 khẩu súng, 328 nòng súng, 103 súng có pít tông (fusil à piston), 436 dao (biên bản việc bán ngày 26-11-1897 và báo cáo của tổng sứ 10-10-18964. *** Qua những nguồn tài liệu vừa trình bày bên trên, chúng ta thấy nổi bật thành tựu mà nghĩa quân Hương Khê đã đạt được là chế tạo thành công được súng trường kiểu 1874, về mặt chất lượng gần đạt tiêu chuẩn quốc tế và về mặt số lượng lên đến hàng ngàn khẩu, một số lượng lớn lao mà không một cuộc khởi nghĩa nào khác hồi thế kỷ XIX cũng như sau này đạt được. Điều này cho phép nghĩa quân Hương Khê không ngừng lớn mạnh và đủ sức đánh giặc lâu dài. Người ta cũng thấy mặc dù chưa có chính quyền trong tay, phương tiện vật chất thiếu thốn nghèo nàn hầu như không có gì, trình độ hiểu biết về khoa học kỹ thuật hiện đại lại thấp nhưng với tinh thần yêu nước nồng nàn xả thân vì nghĩa lớn, nghĩa quân Hương Khê đã dám lao vào tấn công một trận tuyến mới, đó là lãnh vực khoa học kỹ thuật tiên tiến và đã thu được một số thành tựu rất đáng tự hào và khâm phục. Tất nhiên lúc đó chưa thể có được những thành tựu ngang với kẻ địch về mặt này vì bối cảnh lịch sử chưa cho phép. Nhưng dù sao điều này cũng đã nói lên tài trí thông minh sáng tạo, vượt khó khăn của nghĩa quân Hương Khê cũng như của dân tộc Việt Nam chúng ta, đặt cơ sở cho những bước phát triển ngày càng cao hơn của các thế hệ sau trong việc nối bước truyền thống của các bậc tiền bối, vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại. Trong thời kỳ cận hiện đại của lịch sử Việt Nam, Cao Thắng đã nêu một tấm gương về tinh thần sáng tạo kỹ thuật, biết dùng và đối xử đúng đắn với thợ giỏi, khắc phục khó khăn, tổ chức dây chuyền sản xuất theo kiểu hiện đại, thật xứng đáng là người có công đầu trong việc sản xuất vũ khí hiện đại cũng như vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới. _____________________________________________ 1. A.O.M 22318. 2. A.O.M 22312 3, 4. A.O.M 22314. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: thoky trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:18:52 pm "Súng có piston" đây :
(http://www.culture.gouv.fr/Wave/image/joconde/0348/m074503_0033836_p.jpg) Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: hoangtrankim trong 23 Tháng Chín, 2008, 02:22:19 am Tôi là người thuộc huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh khi nghe các bạn nhắc tới Cao Thắng một danh tướng của Phan Đình Phùng tôi thấy có một số ý kiến hơi không chính xác ( những giả thiết xa thực tế )
1- Vùng Hà Tĩnh mới phát hiện dân tộc thiểu số thuộc huyện Hương Khê ( bản Rào Tre ) dân tộc Chứt giáp ranh Quảng Bình không có người H' Mông ( tức Mèo ) nên không có chuyện cụ Cao Thắng lấy mẫu súng kíp của người Mèo . 2- Tôi đã lên chiến khu của Cụ PĐP rất nhiều lần nó nằm sâu trong rừng quốc gia Vũ Quang ( một số người gọi là Vụ Quang ) nó nằm sâu trong vườn quốc gia Vũ Quang - thuộc xã Kim Quang - huyện Vũ Quang, nơi đây còn một số vùng còn in đậm dấu tích của nghĩa quân . Đặc biệt có một ngọn thác rất đẹp mà nhân dân quen gọi là thác Phan Đình Phùng và những bãi đá mài vũ khí . Thiên nhiên ở đây còn phần nào giữ được nét nguyên sơ dưới tác động cưa, rìu lâm tặc . Nếu bạn nào có điều kiện ghé thăm thì thật không uổng phí đã bỏ công thăm một nơi ghi dấu oai hùng của lịch sử chống Pháp . 3- Nghề rèn ở Hà Tĩnh phát triển mạnh đặc biệt là vùng ven sông La, từ khi nghĩa quân bị tan rã thì nghề này được chuyển về làng Đức Hồng - giáp ranh thị xã Hồng Lĩnh, nghe các cụ trong làng rèn kể lại thì cha ông họ đã từng tham gia đúc súng nghĩa quân . Qua những thử nghiệm của Cao Thắng súng dần được hoàn thiện hơn nhưng chỉ tiếc là với công nghệ đúc thủ công thì không thể so sánh với một nước có công nghiệp phát triển như Pháp, tuy nhiên về cơ bản về vật lí thì Cao Thắng đã chế tạo ra một khẩu súng hoàn hảo nhất dưới bàn tay thủ công của thợ rèn Việt Nam, qua nghiên cứu thì Cao Thắng phải nói là nắm rõ được nguyên lí về cấu tạo súng hiện đại . 4- Xin tiết lộ với các bạn : hiện nay ở làng rèn Đức Hồng đạn được nhồi lại với một kĩ thuật rất cao, điển hình là Shotgun, CKC, R15, M16, AK, qua các thợ săn Vũ Quang tôi cũng được biết các loại kim hỏa mà súng họ sử dụng như To8 của Nga, Bruno Tiệp Khắc, CKC,M16, AK ... đều được sản xuất tại đây và có độ bền cao, đặc biệt loại đạn nhồi lại đầu bắn rất tốt ( tôi là một người bắn khá và quen sử dụng các loại này ) . Tôi nghĩ với một trình độ như vậy được truyền lại từ thời Cao Thắng thì không thể phủ nhận được trình độ khoa học quân sự Việt Nam . Mong rằng trong thời gian sắp tới viện KHQS Việt Nam sẽ có những sáng tạo xuất sắc góp phần tăng cường sức mạnh quân sự và giảm thiểu nhập vũ khí . Dĩ nhiên chúng ta không có một tiềm lực quân sự mạnh như nước Nga nhưng chúng ta tin vào sự sáng tạo, tư duy của trí tuệ Việt . 1972 và Điện Biên Phủ trên không với tên lửa Sam lạc hậu chúng ta đã chiến thắng . Hãy Tin và vững tin ! Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: thoky trong 25 Tháng Chín, 2008, 08:24:56 am Vậy a bác. Em có 1 khẩu săn được bà con Tuyên Quang sản xuất, lắp vừa khít đạn K44. Vậy phải về Đức Thọ phải không bác ? Quê vợ em ở đó mà chưa về lần nào. Nếu bác có mối quen nào ở đó giới thiệu cho em với nhé.
Tiêu đề: Súng Gras Mle (1874) và Chassepot (1866) có rãnh xoắn ? Gửi bởi: lehangiang trong 19 Tháng Mười Hai, 2008, 06:56:29 pm Xin cho tôi hỏi vài điều về súng Chassepot (1866) lúc ấy còn vỏ đạn giấy, và các công đoạn rèn mài thủ công bằng tay thì đã có rãnh xoắn chưa ?
Tiện thể cho hỏi thêm là súng Gras Mle (1874) của Pháp đánh VN có rãnh xoắn không ? Cảm ơn các bạn ! Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: thoky trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 08:13:59 am Gras 1874
(http://jp.sedent.free.fr/FUSIL%20D'INFANTERIE%20GRAS%20Mle%201874_fichiers/image006.jpg) Tiêu đề: Re: Súng Gras Mle (1874) và Chassepot (1866) có rãnh xoắn ? Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Mười Hai, 2008, 02:34:48 pm Xin cho tôi hỏi vài điều về súng Chassepot (1866) lúc ấy còn vỏ đạn giấy, và các công đoạn rèn mài thủ công bằng tay thì đã có rãnh xoắn chưa ? Tiện thể cho hỏi thêm là súng Gras Mle (1874) của Pháp đánh VN có rãnh xoắn không ? Cảm ơn các bạn ! Chassepot và Gras , kể cả "Mút" đều có nhiều loại, ở đâu đó mình đã post sơ sw lịch sử của chúng. Chassepot (1866) và Gras Mle (1874) chỉ là những loại khởi điểm xác nhận chúng là súng truwngf phục vụ (service rifle, súng trường chính của quân đội), và đều được thay đổi nhanh chóng đến mức khác hẳn nguyên lý, không sử dụng được đạn cũ nữa. Cái giữ lại lâu bền có lẽ chỉ là hình dáng của chúng. Nguyên nhân thì rõ ràng, đây là thời kỳ cách mạng về đạn, chuyển từ chì sang lõi thép vỏ đồng mềm, từ cầu sang dài (ball, ballistic vẫn là đạn cho đến nay), từ thuốc nổ đen sang thuốc nổ không khói, thuốc nổ mạnh, thuốc nổ viên và thuốc nổ viên có tốc độ cháy được khống chế. Từ thuốc đạn rời sang vỏ giấy, vỏ đồng và vỏ thép bọc đồng. Từ hạt nổ sườn sang hạt nỏ tâm đầu đạn rồi hạt nổ tâm vỏ đạn. Cả Chassepot và Gras , kể cả "Mút" đều dùng các đời đạn : chì cầu, bi cầu thép, đạn đồng hình trụ. Sau đó có các sùng dùng đạn nhọn, đạn nhọn tâm khí động trước. "Mat" là loại súng trường iêu chuẩn sau này, dùng đầu đạn tâm khí động trước và thuốc ổ đen điều khiển tốc độ cháy. Còn "mút" có đủ từ loại đạn cổ đến loại đạn đó. Pháp dùng thuốc nổ không khói dạng tấm giấy gấp từ 188x, sau đó được thay bằng loại hỗn hợp thuốc nổ không khói (tơri nitro xeluloz) và thuốc nổ Nobel (tơri nitro tôluen), ban đầu cũng tấm gấp rồi chuyển sang dạng viên nhưng chưa có phương trình cháy chính xác 189x. Đầu đạn 188x van đầu là đạn bi đồng cầu rồi chuyển sang trụ đồng, trụ thép bọc đồng 189x. Loại đạn bi không có rãnh xoắn. MLE 1874 có rãnh xoắn, nhưng sau đó, có nhiều phien bản vẫn sử dụng nòng trơn do dạng rãnh xoắn khe rộng không thích hợp với súng trường (được dùng cho pháo thời này, đạn đúc sẵn gờ lắp vào khe của nòng trước khi bắn). Chỉ đến cuối 188x, kiểu rãnh xoắn gờ hẹp rạch vào vỏ đạn mềm ra đời thì súng Pháp mới bỏ nòng trơn. Như vậy, việc Cao Thắng làm nòng trơn không hẳn là lạc hậu, nòng xoắn lúc đó còn ph... ph... hơn nòng trơn. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: tuaans trong 28 Tháng Mười Hai, 2008, 02:37:14 pm Ôi, mong mãi mới thấy bác vào lại!
Kỳ này lại tiếp tục xem bác bình luận vũ khí rồi. Bác cứ phang thẳng cánh vào. Em là khoái bác với lão bò già nhất đấy. Mặc dù 2 bác hoàn toàn khác nhau, hehe. ;D Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Giêng, 2009, 03:11:06 pm Để hiểu được thêm vê súng trường Cao Thắng, cân biết một chút về lịch sử của súng trường.
Súng trường, với định nghĩa cổ điển đây đủ là loại súng dùng cho bộ binh, với các thành phân cơ bản là cò, báng, nòng dài. Nhờ cò, súng được điểm hỏa chính xác để chiến đấu chứ không bắn diện tích như pháo khi sát thương. Báng tì vai và nòng dài để phân biệt với các súng cầm tay khác. Súng trường la một phát minh tập thể diễn ra trong gần suốt thế kỷ 15 của Hỏa Khí Doanh, do cha con Hồ Nguyên Trừng của chúng ta thay nhau nắm quyền. Việc sử dụng súng trường lân đầu tiên là các trận chiến với quân Mông Cổ vào thập niên 140x, 141x. Tuy nhiên, lúc đó súng chưa có cò, nên sức mạnh vẫn là dàn hàng ngang bắn diện tích. Loại súng có cò đâu tiên là loại dung cò mồi thừng "hỏa thằng câu thương", xuất hiện cuối 14xx, được chấu Âu biết đến năm 1520. Đây là loại súng trường đầu tiên của Thế Giới. Súng trường có buồng đốt lật lên được để nạp đạn sử dụng lần đâu tiên vào chiến tranh lập quốc Mỹ, tuy nhiên, nó nhanh chóng rơi vào quên lãng. Sau này, Mỹ sản xuất trang bị lại năm 1811 và 182x. Nhiều nước như Na Uy lấy kiểu đó làm súng chính. Vẫn là thuốc nổ đen bột, đạn chì bi. NHững kiểu sau này 181x, 182x đã dùng hạt nổ thay cho đá lửa. Vỏ giấy được dùng từ nửa đâu Thế Kỷ 19 với kiểu "súng mỳ". Nhưng ứng dụng rộng chỉ thể hiện hở súng ngắn Colt với kiểu ổ xoay nhiều buồng đốt nạp sẵn. Dung cho súng trường buồng đốt lớn vẫn hạn chế. Ban đầu có nhiều kiểu vỏ giấy. Súng Mỳ đức sau khi cải tiến dung hạt đổ đặt ở cuối đâu đạn, kim hỏa to dài xuyên qua vỏ giấy. Johann Nikolaus von Dreyse là người đã phát triển súng mỳ Nadelgewehr (Needle Rifle), mẫu hoàn chỉnh có từ năm 1836. Đến trước thời Cao Thắng, kiểu vỏ đồng với hạt nổ ở tâm vỏ đạn mới xuất hiện, được dùng nhiều trong các mẫu súng 187x trở đi ở các nước tiên tiến nhất như Đức, Pháp. Mãi đến 188x mới phổ biến ở các nước dân da trắng khác. Đạn vỏ đồng có phần đuôi vỏ đạn là vách chịu lực dầy như là một phần của buồng đốt. Việc hoan thiện vỏ đạn la cuộc cách mạng lớn tiếp theo sau phát minh ra bản thân khẩu súng trường, diễn ra suốt Thế Kỷ 19, đây cũng là một phát minh tập thể, thật ra, hồi đó thợ thuyền còn thấp cổ bé họng quá trước các vị sỹ quan và quít sờ toọc, nên người ta không thèm ghi lại một vinh quang lớn của loài người, la ai đã chế ra dạng vỏ đạn mới đó. Nó mở ra hàng loạt sức mạnh mới, như bắn chính xác do liều chính xác, liều kín bền, lắp nhiều đạn và dẫn tới bắn tự động tốc độ cao. Buồng đạn nhiều viên cũng chỉ đến 189x mới phổ biến với các đại diện lừng danh Mause, Mosin, đã là thời đại của súng trường hiện đại rồi. Đến thời chúng ta đánh tây 9 năm, súng "khai hậu", tức khẩu chỉ lắp được 1 viên đạn vẫn còn phổ biến. Nòng xoắn có từ thời kỳ đầu tiên súng sang châu Âu, 195x. Tuy nhiên, với các súng nạp đạn trước, nong xoắn bất tiện nên không dùng. Khi có các súng nạp đạn sau, thì nòng xoắn mới mọc mũi sủi tăm lên được. Kiẻu nòng xoắn của Grass http://jp.sedent.free.fr/FUSIL%20D%27INFANTERIE%20GRAS%20Mle%201874_fichiers/image006.jpg trên kia được gọi là khe rộng, đạn đúc gờ rộng và phải lắp đúng vào khe nòng. Do đó tốc độ lắp đạn chậm và chỉ thông dụng ở pháo. Rãnh nong được mài từ máy gia công riêng có đồ gá lớn mà Cao Thăng va cả Trân Đại Nghĩa sau nay đều không thể có được trong rừng. Tuy nhiên, rãnh nay cũng không đem lại súc mạnh gì cho súng Tây cả, trừ vao cái danh hão ma những kẻ dốt nát tự hào la đã có rãnh xoắn từ năm ấy năm nọ. Bắn rất chậm va hay tắc. Ở Grass, người Pháp dùng gờ trên đầu đạn để cái rãnh chữ nhập rộng kia cào vào như pháo ngày nay. Dĩ nhiên, điều này làm súng hay tắc kinh khủng, hoặc năng lực đầu đạn yếu đổi lại. Và cũng vì thế mà tuổi thọ của nó ngắn ngủn khi Lebel ra đời. Mà hồi đó đang cách mạng đạn nên tuổi thọ súng nào cũng ngủn cả. Lebel đáng ra được thay thế bởi Mas đầu 190x, nhưng Pháp quá tồi về khoa học súng đạn nên chỉ đến 193x Mas mới nhiều. Phiên bản Mas dùng ở ta có máy súng sao chép CKC (SKS). Tuy nhiên, lúc đó CKC đã sử dụng đạn thế hệ mới cùng với AK rồi. Súng Pháp còn dùng đạn bi thép dai dai sau này. Cho đến khi loại đạn đồng đỏ đúc dài xuất hiện, gọi là đạn hinh trụ. Người ta dung rãnh xoắn tam giác cho súng trường và chữ nhật hẹp cho đại bác để rạch vao đầu đạn, làm đâu đạn xoáy, chứ không phải lắp khớp vào gờ nữa. Kiểu rạch vỏ mềm này con dùng đến ngày nay. Loại đạn dung cho nòng xoắn đó chỉ xuất hiện nhiều cuối 188x và chỉ được dùng rộng rãi 189x, là những kiểu đầu của Mauser, Mosin. Hai khẩu lừng danh này còn qua một lần cải tiến đạn nữa 1898. Trước 1898, người ta đúc đạn hình trụ với mũi tù, thuốc nhồi vô tư, tốc độ xoáy càng cao càng tốt miễn là không vỡ nòng. Đạn xoáy mạnh cố định trục đầu đạn. Đến 1898, Mau và Mốt sử dụng thuạt phóng ngoài chính xác, với tốc độc xoáy, tốc độ dài, kích tước đầu đạn tương ứng tương đối với nhau. Đầu đạn có mũi dài đẩy tâm khí động lên trước, trục đạn ngoáy đảo rồi tự động ăn khớp với hướng bay. Điều này làm giảm tản mát và tăng tầm. Đến 1902, 1906, phương Tây mới theo Nga Đức. Pháp hơi chậm. Đến 193x, các bài toán tính đầu đạn đã phổ biến, người ta tính được thuật phóng chính xác hơn. Mosin cũng chính xác hóa lại đầu đạn nhưng về cơ bản việc này đã thực hiện từ 1898. CÒn Pháp lạc hậu hơn, đến thời điểm này cách mạng luôn với Mas. Nói thêm là M16 lừng danh trên quảng cáo, cả M16 A0 A1 A2 đều dùng thuật phóng ngoài tăng vận tốc xoáy hết cỡ của thời kỳ trước 1898. Thuật phóng lạc hậu như vậy không bỏ được bởi nhiều lý do, lý do lớn nhất là sự dốt nát lạc hậu của những người nắm đặc quyền chính trị kinh tế Mỹ. Thay đổi lớn về thốc nổ là chuyển sang dùng thuốc súng không khói, mạnh. Kiểu tấm giấy gấp, "giấy nổ", là nitrocellulose được keo hóa thành dạng có tên collodion bằng cồn và ê-te ether, được Paul Vieille, Pháp cho ra năm 1886 với tên thuốc nổ trắng Poudre B. Tuy nhiên, chất nổ chính là nitrocellulose yếu. Một ưu thế của loại thuốc nổ keo hóa viên lớn là cháy chậm đều, giảm áp suất tối đa, tăng chiều dài nòng và giảm trọng lượng nòng. Sau này, nó được sử dụng để thực hiện thuật phóng trong điều khiển tốc độ cháy bằng hình dáng viên thuốc. Vào năm 1898, Nga và Đức tuy chưa tính được kết quả chính xác nhưng có phương pháp thử nghiệm quy mô lớn hồi đó để đưa ra loại đạn rất mạnh. Tuy nhiên, phần còn lại của thế giới vẫn lạc hậu cho đến 1906, Pháp lạc hậu hơn cả dân da trắng, phải đến 193x, khi các bài toán lý thuyết đã hoàn thiện. Paul Vieille do đó không tận dụng được thế mạnh của thuốc nổ kích thước viên lớn và thuốc nổ tấm giấy gấp vẫn được dùng như là thuốc nổ chính của Pháp. Cuộn giấy nổ được nhét vào trong vỏ đạn, đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của Lebel (phiên bản cạc bin của nó là "mút"), đạn bi thép cầu vẫn được dùng phổ biến ở cả Lebel và Grass vài năm nữa. Ballistite là sản phẩm của Nobel đối địch Poudre B năm 1887. Có 10% keo long não, 45% 45% nitroglycerine và 45% collodion (nitrocellulose keo hóa). Việc dùng thuốc nổ này ngày nay bị phản đối do tốc độ cháy quá nhanh, nhưng ngày đó có quan điểm là thuốc nổ mạnh là tốt (mạnh yếu khác nhanh chậm nhé). Thời điểm này, trừ Nga và Đức đang thai nghén các bài toán điều khiển tốc độ cháy cho chậm, thì quan điểm sai đó trội ở phương Tây. Ballistite được dùng cho cả súng trường Ý và một số của Pháp. Anh cải tiến không nhiều nguyên lý Ballistite đưa ra cordite: 58% nitroglycerine, 37% nitrocellulose, 5% vaseline năm 1889. Đây là Ballistite dẻo hóa ép thành dây cuộn như cái thừng. Việc sử dụng chất hóa dẻo trong thuốc súng là một bước đi sai lầm. Tuy nhiên, khi bài toán chưa hoàn thiện thì người ta không biết đó là sai lầm. Thuốc có độ bền hóa học cao theo thời gian. Thật ra, thuốc súng đóng góp khối lượng nhỏ trong tổng khối lượng đạn nên quan điểm dùng thuốc nổ mạnh làm thuốc súng ngày nay là buồn cười, càng buồn cười hơn khi hóa dẻo nó để cháy nhanh hơn. Nhưng trước 193x ở phương Tây nó như vậy. Cái quan trọng chúng ta cần biết là, các thuốc súng đó, trừ Poudre B, cháy nhanh tức thì chả kém gì thuốc nổ đen cổ điển cả. Chúng chỉ có 2 ưu thế là không khói và năng lượng / khối lượng thuốc cao hơn. Nhưng vì khối lượng thuốc chỉ đóng góp phần nhỏ trong khối lượng đạn, và cũng do không điều khiển được tốc độ cháy, nên để nòng nhẹ, người ta vẫn làm vỏ đạn lớn và chỉ nhồi phần nhỏ thể tích thuốc nổ, nên dùng thuốc nổ mới không gọn hơn thuốc nổ phân dơi. Và như vậy, vào thời điểm Cao Thăng 188x, thì thuốc nổ đen vẫn là đương thời. Vào năm 1902, Đức thể hiện sức mạnh của thuốc nhồi đầu đạn và phóng đạn viên cứng gốc TNT và nitrocellulose , thì phương Tây mới có cải tiến thuốc súng trường và đầu đạn mũi dài đến 1906. NHưng về cơ bản họ không nắm được bài toán thuật phóng ngoài, chỉ sao chép không hoàn thiện. Cho đến sau Thế chiến II, Mỹ vẫn dùng phổ biến cordite. Chỉ trong CHiến Tranh Việt Nam, quá yếu trước AK, quá bị chỉ trích bởi Đức (lúc này giỏi nhưng mâm dưới), Mỹ mới chấp nhận đạn NATO 51x7,62. Thuốc của đạn này sau được dùng cho AR-15 và trở thành M16A1 năm 1967. Còn trước đó vẫn là các phiên bản cordite cố cải tiến vô vọng. Và vì vậy, trừ việc tỏa khói ầm ỹ, thì thuốc súng Cao Thắng không kém mấy. Mà với súng trường bắn một phút một phát thì khói cũng chả thành vấn đề. Với kỹ thuật hồi đó, đạn bi cầu bằng đồng hay chì, vỏ đạn đồng, nòng trơn là thiết kế tuy đã chớm bắt đầu lạc hậu nhưng vẫn đương thời ở châu Âu. Mình không rõ lắm, nhưng nếu dùng đạn trụ dài trong súng đó thì tản mát lớn. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của Cao Thắng là ông không có máy khoan nòng nên chắc nòng kém chính xác. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Giêng, 2009, 03:21:44 pm (http://jp.sedent.free.fr/BALLE%20PLOMB%2011MM%20GRAS%20MLE%202005_fichiers/image001.jpg)
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Giêng, 2009, 03:23:06 pm (http://jp.sedent.free.fr/UNE%20CARTOUCHE%20MODERNE%20POUR%20LE%20FUSIL%20GRAS_fichiers/image007.jpg)
Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 06 Tháng Giêng, 2009, 09:13:20 am Vào năm 1874, khi Gras được chấp nhận là súng trường phục vụ MLE 1874, thì loại thuốc nổ chủ lực của súng trường Pháp vẫn là thuốc nổ đen, Poudre N, Poudre Noire. Cho đến năm 1886, khi nhà hóa học Pháp Paul Vieille chế ra thuốc nổ trắng thì nó mới dần dần thay thế thuốc nổ đen, (Poudre Blanche). Đây là thời điểm mà nước Pháp trở mình thoát khỏi đêm dài thống trị của thuốc nổ đen. Lúc đó, cuộc đại cách mạng này diễn ra rất nhanh chóng, nhưng là nhanh chóng với tốc độ lúc đó, cho đến tận đầu thế kỷ 20 thì súng dùng loại thuốc này vẫn chưa hoàn toàn thay thế súng cũ.
Khẩu Lebel 1886 là khẩu súng đầu tiên dùng đạn tiêu chuẩn 8mm, thuốc nổ Poudre Blanche. Tuy nhiên, như mình dã pót, loại đạn 8mm này còn cải tiến rất nhiều lần cả súng lẫn đạn, loại đạn ban đầu 1886 không có gì hay ho hơn các đạn cũ cả ngoại trừ việc bắn không có khói, điều đó lại chả quan trọng cho lắm. Như vậy, khẩu MLE 1874 vẫn là thời kỳ thuốc nổ đen, mặc dù các phiên bản cải tiến sau này dùng thuốc nổ khác nhưng nguyên bản nó là khẩu súng dùn thuốc nổ đen. Về Poudre Blanche, Poudre B. Nó là loại Nitrocellulose, (nitrô xenluloz, đọc là Ni tơ rô, chứ không phải Ni trô như mấy mẹ tiếng Anh ngọng ngắn lưỡi), đã được keo hóa. Bông thuốc súng, được tạo thành từ phản ứng Nitrat (ni tơ rát) hóa xenluloz trong môi trường axit-sunfuaric đậm đặc ( dư olêum). Chất này đã được tìm ra từ lâu, nhưng người ta đã cố nhiều công sức mà không làm giảm sự nguy hiểm của nó để có thể dùng nhồi đạn. Nguyên nhân ngày nay được giải thích là sự bay hơi của gốc nitrat. Lúc đó, olêum còn dư lại trong thuốc, sau này hút hơi nước ẩm trở thành axit, gây nên bay hơi nitrat. Một nhà khoa học Anh đã sử dụng quy trình giặt sấy kỳ công mấy chục lần để làm thuốc nhồi đạn, nhưng vẫn rất tồi. Paul Vieille đã chế ra cách keo hóa, hòa tan bông thuốc súng trong môi trường ê-te (ether, CH3-CH2-O-CH2-CH3, C4H10O) và cồn C2H6O. Chất dẻo được ép cán mỏng và sấy khô thành tấm như giấy. Giấy này được gấp cuộn nhồi vào trong vỏ đạn. Sau này người ta ải tiến phương pháp này bằng cách nhồi bông thuốc súng trong môi trường kiềm, đúc ép thành viên cường độ cao. Tuy nhiên, lúc đó, phương pháp thô sơ của Paul Vieille đã cho ra một loại thuốc súng tốt bậc nhất lúc đó. Cũng lại tuy nhiên, so với Đức và Nga, trình độ chế súng, cả lý thuyết và thực hành, của Anh Pháp Ý quá tồi, Mỹ thì còn lạc hậu, nên phương Tây đã không nhìn thấy một vẫn đề quan trọng hơn, tạo thành bước tiếp theo của cách mạng đạn. Đó là thuốc súng cháy chậm có độ bền cơ học cao và điều khiển tốc độ cháy qua hình dáng. Sau này, thế giới sẽ dùng các thuốc cháy chậm như TNT và Nitrocellulose để làn thuốc súng, nhưng lúc đó, người ta chê Nitrocellulose là yếu và chuyển sang các thuốc nổ dạng dẻo như ballistite hoặc cordite. Đây là hai xu hướng ngược nhau trong thập niên 1890 và kéo dài cho đến CHiên Tranh Việt Nam. Sau này, việc dùng thuốc nổ dẻo để phóng đạn được coi là hài hước ngu si. Nhưng sự hài hước đó tồn tại khá lâu bất chấp nhiều sự kiện động trời. Ví dụ, Thiết giáo hạm Risơlie (Richelieu) bay mất nongd trong trận chiến đầu tiên. Ở M16, cordite chỉ được thay thế bằng thuốc của đạn NATO 51 x 7,62 vào thời Chiến Tranh Việt Nam, 1965-1967, du nhập kỹ thuật súng đạn Đức thông qua các công ty Bỉ. Năm 1902, Đức hoàn thiện đại bác nòng dài bắn đạn xuyên cơ lớn cho Thiế Giáp Hạm, có thời gia cháy của viên thuốc lâu. Lúc này, bài toán hình dáng viên thuốc chưa được tính kỹ nhưng thử nghiệm bù lại một phần. Đáp lại: người Pháp bỏ Poudre B thay bằng ballistite. Một nước thì chuyển từ thuốc ổ mạnh sang yếu là TNT, một nước thì chuyển từ yếu sang mạnh là thuốc nổ dẻo, hài hước như vậy. Lúc đó, thiếu cơ sở lý thuyết, người ta cứ nghĩ thuốc mìn tốt là nhồi đạn cũng tốt. Mặt khác, MLE 1874 đã mang dáng dấp của súng hiện đại. Nó đã có vỏ đạn đồng dùng gờ móc, có móc và gờ gạt. Súng cũng được gia công bằng kỹ thuật khoan và tiện. Nhưng đa phần các động tác gia công vẫn là rèn và mài. Trên tất cả các thông tin trên, chúng ta thấy rằng. Việc cao thắng chế được súng trường lúc đó ngang việc chúng ta tự đóng hoàn toàn SU-27 hay là MiG-25 hiện nay. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Chín, 2010, 06:39:40 pm Đây là khẩu trong Bảo tàng Cách mạng. Về hình dáng có vẻ giống khẩu 1874 loại ngắn (dành cho lính pháo binh). Tuy nhiên cơ cấu kim hoả rất kỳ cục (hình như không đủ), nhưng rõ ràng đây là "khai hậu". Bác nào có ảnh khác, mà cũng của Cao Thắng cho xem chi tiết được không ? (http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-01.jpg) (http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-03.jpg) (http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-02.jpg) Đây là súng kíp, không phải súng khai hậu. Súng khai hậu là kiểu súng chưa có receiver (hộp khóa nòng). Thực chất, các súng khai hậu đầu tiên là súng hoán cải , tức cải tiến súng nạp đạn miệng nòng thành súng nạp đạn sau, bắn vỏ đồng, phát triển mạnh trong thập niên 186x, sau đó được thay bởi súng có khóa nòng. Sau đó, có một số súng khai hậu được chế tạo mới. Ở Pháp, Phổ, Áo Hung, Nga, Anh thì súng khai hậu chỉ xuất hiện một thời gian ngắn với số lượng sản xuất vài vạn khẩu đến 20 vạn khẩu, Áo Hung làm nhiều nhưng chủ yếu là bán cho các nước nghèo như Anbani , Nam Tư, hay quân không chính quy Nga (phiên bản Krnka). Mỹ không có quân đội chính thức cho đến WW1 và suốt thời gian trước Krag M1890 toàn khai hậu. Khai hậu tức là mở đuôi, công đoạn hoán cải súng nạp miệng nòng làm nạp sau, thật ra có nhiều công đoạn nhưng điều đó trông rõ. Mình cũng đang rắc rối to với kiểu trung bầy dốt nát trong các bảo tàng, nên tám chút.. Các súng khai hậu có nhiều dạng, đều bắn đạn vỏ đông không vỏ vai, phần lớn không có quy lát, trừ súng của Bravia (Tây Đức) dùng đồ Phổ (Đông Đức), riêng loại này nhiều người không gọi là khai hậu theo nguyên tắc có khóa nòng kiểu kéo tay thì không khai hậu. Ban đầu, các súng hoán cải thật sự thường dùng nòng cũ, 18mm bắn đạn 16,5mm Pháp, 14mm Áo Hung và 15mm Phổ. Tiếp theo, các súng hoán cải lần 2 hoặc chế tạo mới dùng nòng 11mm Ví dụ hoán cải lần đầu là Krrnk Nga (http://www.militaryrifles.com/Russia/KrinkaDG08.jpg) Wanzl , Hoán cải từ M1854 thành M1854/67 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Wanzl_54_62_67/WanzAct.jpg) Sau đấy, thường dùng đạn 11mm để tận dụng ưu thế của nạp đạn sau, làm được xoắn, bắn được đạn dài chính xác hơn đạn ngắn. Ví như Wern Áo Hung 1867 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Werndl_1867/Wern67breech.jpg) Werder M1869 Baravia dùng quy lát của M1841 Phổ hoán cải http://oldmilitaryrifles.eu/germany/germany.htm Nước Pháp không trang bị chính thức súng hoán cải Khai Hậu trong quân chính quy bao giờ, nhưng các quân linh tính vẫn có các đời Tabatière Mle 1867 Fusil (conversion) , Tabatière Mle 1867 Carabine (conversion). http://www.blogg.org/blog-17737-date-2010-05-07-billet-fusil_mle_1867_a_tabatiere-1194476.html http://www.militaryrifles.com/France/Carabine.htm http://www.militaryrifles.com/France/Tabatier.htm Phiên bản khai hậu chế tạo mới của Pháp vượt quá xa thời đại và không đi vào thực tế, đó là mút cơ tông MLE 1854, dùng đạn hạt nổ sườn. http://armesfrancaises.free.fr/Mousq%20Treuille%20de%20Beaulieu%20mle%201854%201er%20type.html Phần lớn các súng khai hậu có mặt ở Vịt đều có kiểu trượt đứng như mút 1854, đây là các phiên bản không chính thức, được bán về Vịt bằng nhiều nguồn. Súng khai hậu bắn chạm vì chưa có quy lát, động tác móc vỏ đạn khó khăn, động tác lên cò rời nên bắn chậm. Các súng như Tabatière Mle 1867 Fusil (conversion) , Tabatière Mle 1867 Carabine (conversion) vẫn dùng kiểu búa có từ 166x, có tên flint lock, chỉ thay bằng hạt nổ, kim hỏa. Hầu hết các súng hoán cải đều thực hiện từ phiên bản vẫn dùng cái búa ấy nhưng dùng hạt nổ, nạp miệng nòng, thay cốc mồi của đá lửa bằng ống dẫn lửa của hạt . Súng khai hậu bắn rất giật, được buôn bán trên thị trường cùng với các súng đời cũ hơn , chủ yếu để đi săn, dùng vỏ đạn tái sử dụng (xạ thủ tự đúc đầu, làm hạt và nhồi). ===== Quay trở lại cái hình trên, nó là súng kíp (nạp đạn miệng nòng dùng hạt nổ), chưa mở đuôi (khai hậu). Theo lịch sử, súng trường cao thắng có khóa nòng quy lát, kiểu vỏ đồng MLE 1874 Grass, là đời sau của các súng khai hậu. Cái cần trên là cái búa, nó sẽ đập vào một cái đe ở sườn không nhìn thấy, trên đe có hạt nổ và có ống dẫn lửa vào trong. Kiểu đe búa mang về Vịt dùng kiểu hạt nổ lông ngỗng của người Mèo, lỗ rất nhỏ, tốt hơn kiểu tây. Do điều kiện mưa ảm, nên xứ Vịt từ lau đã có kiểu hạt nổ kiêm ống dẫn lửa này, nó rất nhậy, không cần búa to như Tây, trong bảo tang hôm qua mình thấy rất nhiều súng kíp dạng đó. Bạn phận biệt với súng khai hậu ở chỗ nó kín đuôi và phân biệt với búa kíp tây vì búa Vịt rất nhỏ, bắn không rung (nhưng súng nòng trơn thì cũng chả bắn xa được). Trong số các súng hoán cải, có những loại có người cãi là không khai hậu, như loại trap door, được dùng ở Áo Hung đến 195x và ANh Quốc sản xuất đến 1906, hiệu Martini-Henry . Thêm nữa là loại của Bravia, hoán cải bằng khóa nòng Phổ. http://www.hungariae.com/Lorenz.htm Các súng này đã tiệng ren nòng làm receiver, thêm lý do nữa, bảo người ANh dùng khai hậu đến 1890 thì hóa ra bằng... Mỹ à. Các súng Grass, IG71, Berdan là cùng một thế hệ, lai giữa vỏ đồng của súng khai hậu với khóa nòng của M1841. Nhưng vỏ đạn của thế hệ 3 súng này khác, chúng đã có vai và côn, dùng cỡ đạn nhỏ. Cảt 3 súng đều dùng kiểu búa mà sau này Mosin sẽ dùng, rất dễ chế tạo, khí không yêu cầu hợp kim quá tốt như bộ kim hỏa Mauser. Grass và cả lebel sau này đều có thể bắn đạn bi nòng trơn hay đạn dài, có đai, nòng xoắn. Grass đều bắn đạn chì, sau này mới có hoán chuyển bắn đạn đồng ( làm lại thước ngắm), còn Lebel mới sinh bắn đồng dài, nhưng có nhiều cải tiến bắn chì cầu. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Chín, 2010, 07:11:02 pm Đây là đạn của khai hậu. Đạn của Grass đã là cỡ đạn nhỏ. Anh Pháp đi chậm nhất về súng ông trong châu Âu, chậm hơn Đông Âu nhiều, vì vậy, đến thời hoán cải khai hậu, thì có cái khó với đạn tiêu chuẩn Pháp 18mm. Trong súng nạp đạn miệng nòng, Người Pháp thường dùng cỡ nòng 17-18mm bắn đạn cầu 16,5mm . (đúng cỡ đạn trọng bát tiền diên tự của Thiên Tự Hồ Nguyên Trừng). Khi hoán cải, có xoắn, sử đạn lõm đuôi tự nở điền kín nòng (tên Mỹ là Miniê, theo một sỹ quan Pháp đem kỹ thuật này sang Mỹ), thì cần đạn dài ra chút so với hình cầu và như thế đạn quá nặng. Trong khi đó, Đông ÂU đã dùng 14-15mm từ lâu. Cũng có lẽ mà quân Pháp không hoán cải nhiều đời khai hậu, mà chế luôn súng có quy lát nhái theo M1841 Phổ (MLE 1866), và sau đó là MLE 1874 đồng.
http://tir-collection.forumactif.net/les-armes-a-poudre-noire-reglementaires-a-chargement-par-la-culasse-f15/petite-monographie-du-snider-t1422.htm Cartouche du fusil modèle 1867 dit « à tabatière » (http://i85.servimg.com/u/f85/11/25/39/20/cartou15.jpg) Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2010, 12:18:56 pm Đây là khẩu trong Bảo tàng Cách mạng. Về hình dáng có vẻ giống khẩu 1874 loại ngắn (dành cho lính pháo binh). Tuy nhiên cơ cấu kim hoả rất kỳ cục (hình như không đủ), nhưng rõ ràng đây là "khai hậu". Bác nào có ảnh khác, mà cũng của Cao Thắng cho xem chi tiết được không ? http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-01.jpg http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-03.jpg http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-02.jpg Các bạn thông cảm. Quan điểm của mình rõ ràng, bạn bị mất tiền mua cơm, bạn đói, bạn nhảy tưng tưng lên, ai cũng thế thôi. Nhưng nếu bạn nhảy tưng trong trường hợp ấy, mà khi bạn mất đồ thờ, bạn không nhảy lên tương xứng, thì, đó là đẳng cấp hèn. Thế các bảo tàng có là bàn thờ chung, đền miếu chung của xã hội ko ? Chúng ta biết, ở châu Âu, súng rất được tôn trọng, vì súng là ngòi nổ của cách mạng công nghiệp, sức mạnh của các đế quốc, tự hào của các dân tộc, linh hồn của các quân đội. Châu ÂU bá chủ thế giới một thời từ súng, bởi súng, và châu Âu cũng làm bá chủ thế giới để phục vụ súng. CHính nhờ các cuộc chiến tranh này mà súng phát triển, và các cuộc chiến tranh khắc sâu vào lịch sử dân tộc cùng não bộ mỗi người Âu này, được tiến triển cùng với súng. Do đó, người Âu tuy có thể đánh giá lệch lạc về súng, nhưng đại bộ phận rất thông thạo súng cổ, đặc biệt là những khẩu súng đã phục vụ họ trong thời họ tiến lên thành đế quốc, như dòng Grass MLE 1874. Không chỉ các súng ở thời kỳ đặc biệt này, mà tỷ lệ quá bán nam thanh niên người Âu có thể đọc vanh vách chiều dài nòng, đường kính nòng đạn, kiểu máy, các biến thể .... súng tk19 của nước họ và rất nhiều thanh niên thuộc lòng các súng Âu Mỹ. Rất nhiều khách du lịch Mỹ Pháp Tầu đến bảo tàng quân sự. Chắc các bạn quá hiểu, họ đến để tìm hiểu xem tại sao quân đội của họ bại trận. Chúng tya đã biết, những người tìm hiểu đối phương như thế đều mang sẵn hai luồng thông tin và thái độ, sự kính trọng và khinh miệt, sự hiểu biết, khâm phục và coi thường giống mọi rợ mị dân. Cái gì sẽ đến ?? Trời đất ? tk21 rồi mà bọn An Nam Mít còn mị dân mức này, hóa ra cái dân nó có trình độ thế thôi, nếu dân nó không ng...i như thế, thì làm sao ở bảo tang quốc gia có chiện này ?. Cái súng kíp chưa hề mở đáy nòng mà nó dám bảo là kiểu Gras MLE 1874, một kiểu súng tiên tiến có quy lát (culasse), bắn đạn vỏ đồng có vỏ vai, một trong ba súng tiên tiến nhất thế giới vào thời điểm đó, là Berdan, I.G.71 Mauser và chính Gras. Sự thật, theo mình biết, chính xác là Cao Thắng đã chế tạo rất nhiều súng. Súng mỳ, tức lò xo xoắn, tức có khóa nòng, tức Gras, Cao Thắng đã làm, có thể loại này đã sử dụng loại lò xo xoắn như mô tả, và chính đây mới là súng trường Cao Thắng. Hơn thế nữa người ta còn ra chợ Vinh để mua sắt, thép, chì, công việc này do em gái Phan Đình Phùng mà tài liệu của Pháp viết là Bà Thị Giang đảm nhiệm (Báo cáo của Brière ngày 14-2-1896. Phụ lục số 3. Biên bản hỏi cung Lê Vang ngày 1-10-1894). Một phần nhỏ lò xo xoắn ốc là do từ nguồn Hà Nội mang vào. (Tôi không biết do ai gửi vào Tôi cũng không rõ những nguồn cung cấp khác về lò xo xoắn ốc. Lê Vang khai như vậy). Cao Thắng đã nhập về nhiều đời súng tây, ví dụ, 1 khẩu Lefaucheux và 66 viên đạn. Lefaucheux có một bản thiết kế súng trường, chưa phải là súng có quy lát như gras. Đây là bước tiến tạm thời ở Âu Mỹ mà điển hình là Na Uy 1842. Bên Pháp có Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831 có thể lấy làm ví dụ mô tả kiểu này. Súng dùng đạn vỏ giấy, buồng đốt lật lên. http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20de%20rempart%20mle%201831.html Tuy vậy, đây chỉ là bản thiết kế của Lefaucheux , còn phiên bản bán của ông là các súng ngắn revolver http://en.wikipedia.org/wiki/Casimir_Lefaucheux , và dùng lò xo lá, do đó, 1 khẩu Lefaucheux và 66 viên đạn là súng ngắn dùng cho sỹ quan, nạp nhiều đạn, kiểu revolver, đạn vỏ giấy (hoặc có thể không vỏ dùng hạt nổ), lò xo lá. Và do đó, đây không phải là nguyên mẫu cho súng trường cao thắng. Lò xo lá có thể được cuốn xoắn nhiều vòng, nhưng không gọi là lò xo xoắn. mà vẫn là lò xo lá, riêng Lefaucheux dùng lò xo lá dạng thẳng như flint lock. http://www.littlegun.be/arme%20belge/restauration/a%20restauration%203%20lefaucheux%20gb.htm http://www.littlegun.be/arme%20belge/artisans%20non%20identifies/a%20artisans%20inconnus%20revolver%20broche%20lefaucheux%20fermee%20gb.htm Dưới đây, cái lò xo lá là đường vẽ chấm chấm http://www.littlegun.be/arme%20americaine/revolver%20confedere/a%20revolver%20confedere%20lefaucheux%201854%20gb.htm Và lò xo xoắn (mỳ), được dùng cho quy lát (culasse), tức búa bắn nhanh mà các M1841 Dreyse Phổ dùng .Dreyse Zündnadelgewehr = Vũ khí bộ binh chính (gewehr) có lò xo xoắn (Zündnadel =mỳ sợi) của Johann Nikolaus von Dreyse thiết kế 1836, được quân Phổ chấp nhận sử dụng làm súng trường tiêu chuẩn 1841. Kiểu búa quy lát này được dùng ở Mausr I.G.71, Berdan Nga, và Mosin thừa kế cho đến ngày nay. Riêng Mauser từ G88 (bản G88 Mauser không tham gia hội đồng nhưng có nhiều đặc điểm Mauser) và các súng Áo Hung (Anh Mỹ sao lại) có búa na ná nguyên tắc đó nhưng thêm cái kim hỏa có khóa an toàn rất tinh vi. Từ lò xo lá của hỏa thằng câu thương match lock- Flint lock đến lò xo xoắn mỳ là một tiến bộ vượt bậc về cơ khí, cho phép tốc độ bắn cao và súng không rung ngang. Với các biên bản về lò xo xoắn, điều chắc chắn là Cao Thắng đã làm súng có quy lát kéo, tiến bộ hơn đời khai hậu, tức tự động lên cò khi tháo vỏ-nạp đạn làm tốc độ bắn cao, tức các đời MLE 1866 vỏ giấy và MLE 1874 vỏ đồng. Và chúng ta hoàn toàn tin tưởng là ông dùng vỏ đồng, vì thời đó, vỏ đồng dùng nhiều lần, không gây khó khăn cho hậu cần, không có lý gì để quay lại MLE 1866. Đây là MLE 1866 giả cổ http://jp.sedent.free.fr/UNE%20CARTOUCHE%20IGNIFUGEE%20POUR%20LE%20FUSIL%20CHASSEPOT.htm Fusil à piston. Có hai cách hiểu. Cách thông thường, là theo http://www.mediadico.com/dictionnaire/definition/piston/1 Ở đây , con chó là cái búa kiểu flint lock. Do mẫu Anh Pháp làm theo flint lock Thụy Điển, nên cái lên búa có hình đầu chõ và được gọi là con chó, mặc dầu sau đó bên Pháp không dùng hình đầu chó. Fusil à piston là thứ Phú Lãng Sa gọi kiểu Flint Lock nhưng dùng hạt nổ, từ đây, lại có hình giống đầu chó. Ngoài ra, nghĩa quân còn có nhiều súng khác, dĩ nhiên là như vậy, cuốc thuổng gậy gộc mã tấu còn dùng nữa là súng, cho dù là súng tồi. Các loại khai hậu không dùng lò xo gọng ô, mà dùng lò xo lá, có thể chế tạo dễ dàng bằng gang tồi. Súng kíp bắn hạt nổ cải tiến dùng máy kiểu người Mèo (như hình ảnh trên, chính xác đây là súng kíp có kiểu búa hiện đại hơn tây của người Mèo, nhưng nòng có thể do rất nhiều loại nòng người Mèo tận dụng súng cũ) > và dĩ nhiên, những súng đó không phải súng trường Cao Thắng. Chúng là súng kíp, súng khai hậu, súng hỏa mai, hỏa thằng câu thương.... Kiểu búa súng cổ thì từ thời hỏa mai cổ đến nay, từ cuối tk16 ở Âu, cho đến Mèo, cho đến các khai hậu, đều có nguyên tắc giống nhau. Tuy vậy, riêng phiên bản cuối flint lock chỉ xuất hiện vào 166x ở thành Paris, có thể du nhập từ vùng nào đó ở Đông Âu trong các cuộc chiến tranh linh tinh của Phổ và Ottoman. Kiểu này có múa to, lò xo dầy, mặc dù vẫn nguyên tắc cấu tạo cũ. Có như vậy do đá lửa silic (cuội trong) rất tồi, mà các bạn biết, súng không nổ rất dễ mất mạng trong thời đại tầm súng rất gần. Đầu tk19, như MLE 1822T , thì cốc mồi đựng thuốc được thay bằng hạt nổ, bỏ đá lửa. Đồng thời, việc máy cò tiêu chuẩn được làm riêng (thường là Tuyn làm cò, bán cho Xanh ê chiên=MAS lắp). Chính vì thế, các súng hạt nổ châu Âu thừa kế cái búa to dầy quá cỡ không cần thiết, kể cả nhồi miệng nòng hoặc khai hậu. Đến khi lắp máy người Mèo, thì máy gọn gàng nhẹ nhàng hơn nhiều (như trong hình). Vả lại, hạt nổ ống lông vũ của người Mèo tốt hơn nhiều trong điều kiện ẩm ướt. "Súng có piston" đây : (http://www.culture.gouv.fr/Wave/image/joconde/0348/m074503_0033836_p.jpg) Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa, tháng 1-1897 thực dân Pháp đã mang ra bán làm sắt vụn những vũ khí của nghĩa quân mà chúng thu được, trọng lượng của đống hàng này lên đến hơn hai tấn rưỡi sắt, bao gồm: 403 khẩu súng, 328 nòng súng, 103 súng có pít tông (fusil à piston), 436 dao (biên bản việc bán ngày 26-11-1897 và báo cáo của tổng sứ 10-10-18964. những người làm vũ khí và thợ bạc đã chế ra những quy lát từ chất thép được nấu theo phương pháp Catalane (một phương pháp nấu thép từ quặng sắt mà không phải trải qua giai đoạn gang. N.V.H chú thích). Lại tầm bậy rồi. Phương pháp làm ra sắt có trước phương pháp luyện gang, thời cổ, để làm thép, người ta đốt gang nóng chảy (nhiệt độ thấp hơn), rồi hòa sắt vào. Sắt xốp là phương pháp cổ nhất để làm sắt ít carbon, loại quặng chất lượng cao được khử oxi trong môi trường CO (carbon môno oxid), ở nhiệt độ 600-1200 độ C, phổ biến ở 800 độ, nhiệt độ lửa vàng, rất tầm thường của lò than. Sắt xốp được nung đỏ ở nhiệt độ vừa phải (cao là hỏng), có hàm lượng carbon rất thấp, rất yếu mềm và dẻo chứ không đàn hồi. Trong khi đó, gang quá cứng giòn. Sắt xốp và gang được làm thành thép rèn theo hai phương pháp ngược nhau. Gang được cuộn, đập dẹt, lại cuốn, lại đập dẹt, lớp carbon mở vỏ gặp không khí bị cháy đi, gang ít carbon và thành thép, gọi là thép rèn = Wrought iron () . Các nhà văn liếm kỹ thuật này học wiki, trong đó chúng không biết thủy tổ cái tên thép rèn này, tưởng thép làm từ rèn là thép dùng để rèn, trong nhiều ngôn ngữ châu Âu, gia công áp lực như dập, cán, đồng âm với rèn, thép dập cán là loại thép ít carbone như sắt xốp, mềm, dễ cán kéo, forge steel = thép gia công áp lực, trong tiếng Việt là "sắt mềm" (ít carbone quá như sắt xốp cua các cụ nên các cụ cho chúng ta kế thừa tiếng "sắt"), "thép xây dựng" (do thép xây dựng đều cán kéo).... Lấy thép xây dựng làm lò xo là nhất đấy. http://en.wikipedia.org/wiki/Wrought_iron Còn sắt xốp được đập thành thanh, ủ thấm carbon, tăng thành phần carbon và cũng thành thép rèn, loại lò này được mang đến châu Âu khoảng tk15-16 , có thể từ Ấn Độ qua các loại quân Mông Cổ, được xây dựng ở Anh khởi đầu cho cách mạng không nghiệp Anh tk17. Người Mèo làm ra thứ sắt làm lò xo máy súng cũng bằng sắt xốp hay gang, xốp lấy trong các bết lò không to hơn bết gia đình là mấy. Sắt xốp được rèn kỹ, rồi được ủ non trong mỡ nóng chảy, để làm lò xo lá. Không riêng người Mèo mà tất cả các thợ rèn cổ đều biết 2 hướng làm thép rèn này, tuy rằng, nó khó thực hiện vì rất mất công. Còn loại thép chất lượng đã khá để làm lò xo xoắn, trên đời lò xo lá, thì ít người có thể thực hiện được, nhưng không phải là không có. Còn thưa, các máy móc thủy tổ của những máy bay tên lửa ngày nay, được châu ÂU làm toàn bằng rèn mài. Cả MLE 1966, MLE 1874 thì trừ khoan nòng, khoan lỗ là cắt gọt, còn đâu toàn rèn và mài hết. Thợ bạc ?? xin lỗi các nhà văn làm kỹ thuật, thợ bạc chuyên chế tác các kim loại mềm, mà, có thể hợp lý với sắt xốp Catalane có độ mềm dẻo cao, chắc Cao Thắng làm dây chuyển mạ vàng bạc bằng sát Catalane , bán cho Tây, lừa chúng cho chúng chết tức. Catalane cũng là phương pháp làm sắt xốp ít carbone qua lò CO như trên, còn lâu mới đến thép lò xo, có lẽ, nếu như Cao Thắng là một học sỹ người Âu, ông sẽ có khối tôn mềm lợp nhà. Từ sắt xốp đến loại thép đàn hồi làm lò xo là cả một kỹ thuật dài. Catalane không phải là loại lò duy nhất và chỉ là loại lò không lấy gì làm vinh quang, quy mô nhỏ, năng suất thấp, lấy được thứ nguyên liệu xấu gỉ rất mạnh. Phương pháp cổ truyền Ấn Độ cho ra loại thép không gỉ rất đặc sắc. Catalane tuy quy mô nhỏ với Triều Đình, nhưng với Cao Thắng, thì .... hay ông định làm xe tăng ??? 4- Xin tiết lộ với các bạn : hiện nay ở làng rèn Đức Hồng đạn được nhồi lại với một kĩ thuật rất cao, điển hình là Shotgun, CKC, R15, M16, AK, qua các thợ săn Vũ Quang tôi cũng được biết các loại kim hỏa mà súng họ sử dụng như To8 của Nga, Bruno Tiệp Khắc, CKC,M16, AK ... đều được sản xuất tại đây và có độ bền cao, đặc biệt loại đạn nhồi lại đầu bắn rất tốt ( tôi là một người bắn khá và quen sử dụng các loại này ) . Tôi nghĩ với một trình độ như vậy được truyền lại từ thời Cao Thắng thì không thể phủ nhận được trình độ khoa học quân sự Việt Nam . Mong rằng trong thời gian sắp tới viện KHQS Việt Nam sẽ có những sáng tạo xuất sắc góp phần tăng cường sức mạnh quân sự và giảm thiểu nhập vũ khí . Dĩ nhiên chúng ta không có một tiềm lực quân sự mạnh như nước Nga nhưng chúng ta tin vào sự sáng tạo, tư duy của trí tuệ Việt . 1972 và Điện Biên Phủ trên không với tên lửa Sam lạc hậu chúng ta đã chiến thắng . Hãy Tin và vững tin ! Không nói chơi về khoa học. Việc nạp lại đạn và làm kim hỏa thì dễ dàng, không phải dân làng nhà bạn, mà nhiều dân tộc ở Vịt, nhiều thế hệ đã làm, đang và vẫn sẽ làm, bộ đội chính quy cũng làm hồi đầu Kháng Pháp, ngày trước 1945, có hẳn một thị trường vũ khí ở Hàng Bông và gần đây các thợ săn vẫn tự nạp lại đạn. Việc nạp lại đạn, xin thưa với bạn, không phải thợ rèn làm, mà thợ săn và chiến binh làm. Trước khi có các đạn chống trên mũi nhọn như Mauser G88, Mosin model 1906... thì binh lính vẫn tự đúc lấy đầu đạn, mua hạt nổ và thuốc, rồi tự nhồi bằng vỏ đạn tái sử sụng. Còn kim hỏa. Kim hỏa súng liên thanh mới khó làm vì số lượng phát bắn rất cao. Kim hỏa súng phát một, xin lỗi, nó bằng gang cầu, lấy thanh ray tầu hỏa mà mài ra. AK và AR-15 bắn phát một khi đi săn hơi khó hơn vì kim hỏa nhỏ, nhưng các súng săn thì kim hỏa to tướng, cả hai đều có nhiều người làm. --- Không bôi đỏ bài viết! Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2010, 01:35:45 pm Khẩu súng chưa hề nạp đạn sau. Cáu búa là đặc trưng của người Mèo nước Đại Cồ Vịt, cái búa này đi trước người Âu xa , nhưng không phải là súng bắn đạn có vỏ. Rất có thể đây là cái nòng tận dụng từ súng công nghiệp cũ.
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-02.jpg) Ở đây, chúng ta cần phân biệt một chút về ngôn từ. Súng Âu flint lock http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201777%20an%20IX.html Đặc trưng là súng mồi đá lửa, có 3 kiểu cò mồi đá lửa, một kiểu bánh xe, một kiểu dùng luôn máy của hỏa thằng câu thương, tức lò xo dài. Hỏa thằng câu thương là súng mồi bằng thừng. Súng mồi đá lửa thường gọi là điểu đầu thương. Hỏa mai thì có thể mồi đá lửa hay thừng. Flint Lock về sau được hoán cải như MLE 1922 T BIS Phú Lãng Sa, chỉ cải tiến chút để dùng hạt nổ-kim hỏa (pin fire). Súng châu Âu cổ có mấy loại máy cò chính, serpentine lock. Có cò không lò xo, cò là cò của nỏ hình chữ S, tk13-14. matchlock. tk14, súng hỏa mai mồi thừng, hỏa thằng câu thương, đã có lò xo, nhưng móc câu và lò xo to tướng, thường đặt ngoài WHEEL LOCK, bánh xe đánh lửa bằng đá lửa, khoảng đầu tk16 Snaphaunce , dùng kiểu máy matchlock nhưng thay bằng đá lửa Flintlock , đá lửa búa ngắn và to. Đặc trưng là bộ máy cò được làm riêng ở các xưởng chuyên biệt. Xuất hiện lần đầu ở Paris 166x, nhưng chỉ được dùng nhiều sau 1700. Ví dụ model Le fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777 modifié an IX http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201777%20an%20IX.html Sau đó, loại flint lock đầu tk19 được cải tiến thành súng dùng hạt nổ-kim hỏa, pin fire, như model 1822T bis Le fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1822T bis http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201822T%20bis.html Tất cả các súng trên đều được gọi là musket. Musket là con muỗi phiên âm từ tiếng Ottoman cổ. Cái câu là vòi muỗi. Snaphaunce và Flintlock được gọi là điểu đầu súng, điểu đầu thương, do cái mỏ đá lửa giống đầu chim. Hỏa mai có một số người gọi Snaphaunce và Flintlock, matchlock, serpentine lock. Nhưng có người bảo chỉ matchlock, serpentine lock là đúng. Còn pin fire chắc chắn không phải là hỏa mai, nhưng MLE 1822 T BIS là musket. Như vậy, musket có phải hỏa mai không ? nhức đầu, không bàn. Rất nhiều sách vở có độ l... cao dịch lung tung, không hơi đâu cãi vã với chúng. Ở đây, chúng ta chú ý đến một vài loại súng, đặc biệt là từ "khai hậu thương" 开后枪 khai hậu súng 开后铳, ngày nay được dùng trong sách vở vũ khí bên tầu chỉ dúng nạp đạn sau nói chung. Nhưng hồi đó, là dùng chỉ loại súng hoán cải từ súng nạp đạn miệng nòng và sunbgs chế tạo mới theo kiểu đó, như Tây Phú lãng Sa có Tabatière Mle 1867 Fusil (hoán cải súng cũ từ MLE 1822) , Tabatière Mle 1867 Carabine (hoán cải súng cũ), và Beaulieu modèle 1854 (làm mới) http://armesfrancaises.free.fr/Mousq%20Treuille%20de%20Beaulieu%20mle%201854%201er%20type.html http://www.militaryrifles.com/France/Tabatier.htm http://www.militaryrifles.com/France/Tabatiere1822Tbis.htm Các súng này có thể bắn đạn thuốc rời, vỏ giấy, vỏ đồng. Có một số súng cải mấy lần, từ nạp miệng nòng đá lửa, sang hạt nổ, sang thuốc rời nạp sau, sang vỏ giấy, sang vỏ đồng. Một số súng thì chế tạo mới xen vào các công đoạn trên. Đặc điểm chung sau khi đã hoán cải là bắn đạn vỏ đồng không vai, có gờ móc, đường kính đạn lớn như nạp miệng (Pháp 18, Phổ 15, Nga 15, Áo-Hung 14...) . Chũng có xoắn tam giác, đạn ngắn, nhưng đã tăng tầm bắn chính xác lên quá con số dưới 50 mét của súng đạn cầu nòng trơn, nên đã có thước ngắm đơn giản. Tabatière Mle 1867 Fusil (http://www.militaryrifles.com/France/Tabat05.jpg) (http://www.militaryrifles.com/France/Tabat05a.jpg) (http://www.militaryrifles.com/France/Tabat07.jpg) (http://www.militaryrifles.com/France/Tabat09.jpg) Gras xoắn chữ nhật, nhưng chưa hợp lý, gờ quá rộng. CHúng ta biết gờ mòn theo cả chiều sâu và chiều xoắn, nên chiều cao và độ rộng của gờ phải hợp lý. Tuy vậy, gờ chữ nhật đã là một tiến bộ vượt bậc và yêu cầu gia công cao hơn. Còn thời trước là xoắn tam giác kiểu này. Xoắn tam giác dễ thực hiện hơn bằng dao hoa khế đóng dọc nòng bằng que thông nòng, dao bán sẵn, được sản xuất ở "hãng" danh tiếng, hai tếch, còn việc đóng rãnh các lò rèn nhỏ tự làm. Rãnh tam giác không chịu được lâu việc mòn theo chiều xoắn. http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20de%20rempart%20mle%201831.html Tabatière Mle 1867 Fusil và các khai hậu khác hầu như không được dùng trong quân Pháp, mặc dù có được sản xuất chút, vì nhiều nguyên nhân, chủ yếu là cỡ nòng trước khi hoán cải của Pháp quá lớn (18mm), đạn quá nặng 27-36 gram, nên khi hoán cải, đạn dài nặng hơn đạn cầu, làm súng giật rất mạnh và tầm không cải thiện được nhiều. Tuy vậy, ngoài quân chính quy thì súng hoán cải Pháp rất nhiều, bán dân sự cũng nhiều, bãn lê dương cũng nhiều. Các khẩu có mặt ở Việt Nam có cả dùng máy trượt đứng như Beaulieu modèle 1854 , nhưng hạt nổ tâm, và cả máy lật ngang (như Tabatière Mle 1867 Fusil ) hay lật dọc (như M1854/67 & M1862/67 Austrian Wanzl), hay lật khúc sau lên như Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831. Ngoài chuyện giật rất mạnh mà các chuyện kể có nhiều, khai hậu hoán cải bắn chậm, do các động tác lên cò và tháo lắp đạn rời nhau. Các khaihaauj cũng có lò xo xoắn, nhưng chỉ dùng trong các mục đích yếu, ví dụ cái của lật, còn lò xo kim hỏa thì vẫn là lò xo lá, thực chất vẫn là máy flint lock. Quy lát culasse nghĩa nghuyên thủy chỉ là bịt đáy nòng breech, nhưng thường được dùng là khóa nòng kéo tay bolt, khi bắn , lúc tháp lắp đạn, thì búa tự lên, đồng thời tháo lắp thuận tiện, tốc độ bắn cao hơn. Cái lò xo quan trọng mà tây đặc biệt chú ý ở Cao Thắng là dùng cho kim hỏa, lò xo xoắn. Về cấu tạo, súng có quy lát có cách mạng trong cấu tạo chịu lực, tức có vỏ hộp khoa nòng receiver được vặn vào nòng, còn khai hậu rèn liền. Như vậy, không hiểu chiangshan lấy ảnh ở đâu, nhưng nếu là thật, thì ảnh này hợp lý hơn. Có điều nó hợp lý quá, quá giống súng tây chính hiệu. (http://i160.photobucket.com/albums/t165/leekimbh/Sung/sungCT4.jpg) Thép gọng ô ?? Cái này lại dở .... Théo gọng ô làm lò xo lá chưa nổi, mà lò xo lá thì thợ thuyền nhà ta chế hàng núi. Như các thông tin mà chiangshan bới ra, thì lò xo xoắn được thợ học theo cách làm của tây, hoặc mua lậu, hoặc đặt làm ở Tầu khựa, Hải Phòng, Hà Nội và chuyển về từ Hà Nội. Vỏ đạn là đồng được chế tác từ mâm đồng, nồi đồng. Thuốc súng thì dùng từ diêm tiêu đào tìm trong hang núi. Riêng nòng súng thì phải làm từ gọng ô. Sau hai tháng, qua rất nhiều lần thử nghiệm, với nghị lực cao, trí thông minh và lòng quả cảm, Cao Thắng cùng với những người thợ đã chế tạo được 350 súng trường. Tính năng, tác dụng của súng chỉ kém súng trường của Pháp kiểu 1784 là do nòng súng không có rãnh xoắn nên đường đạn không căng và điểm rơi của đạn không được xa Lại tầm bậy Không có xoắn thì đạn tản mát, đường đạn căng hơn và bay xa hơn do đạn cầu bi nhẹ hơn. Còn từ thời cổ, nhà ta vẫn có KNO3 nội làm từ phân dơi, nhưng bao giờ cũng không thiếu hàng nhập khẩu, mỗi viên đạn chỉ cần vài gram thuốc, MLE 1866 xài đầu đạ 25 gram nhồi 5,5 gram thuốc, ngang MLE 1874. Thuốc chưa 3/4 KNO3, như vậy, mua 4 kg KNO3 thì có 1 ngàn viên, con số rất lớn hồi đó. Vỏ đạn là đồng được chế tác từ mâm đồng Cái này thì hợp lý, chiangshan à. Cho đến các model G88 Mauser, M1906 Mosin thì mới phổ biến đạn công nghiệp toàn bộ, trước đó một thời gian ngắn thì có vỏ đạn công nghiệp, còn xạ thủ vẫn tự đúc đầu và nhồi. Thời Gras, thì vỏ đạn vẫn được các thợ tiểu thủ công gò từ đồng thau, dùng nhiều lần. Tóm lại, tớ cam đoan là tớ chưa từng được nhìn thấy 1 khẩu súng trường cao thắng nào cả. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2010, 03:30:35 pm http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Th%E1%BA%AFng Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, Cao Thắng chiêu mộ lực lượng cùng em ruột là Cao Đạt đem 60 người đến hợp tác với Phan Đình Phùng đánh Pháp và được phong chức Quản cơ. Năm 1887 khi Phan Đình Phùng ra Bắc liên lạc với các lực lượng kháng Pháp, Cao Thắng được giao quyền chỉ huy nghĩa quân. Trong một trận đánh thắng đội quân của ông đã thu được 17 khẩu súng và 60 viên đạn. Ông cùng với Lê Phần, Lê Quyên tháo súng ra nghiên cứu để chế tạo súng cho nghĩa quân. Ông tổ chức mở xưởng đúc vũ khí theo kiểu châu Âu ở chiến khu Vũ Quang và sản xuất được 500 khẩu súng theo mẫu 1874 của Pháp. Ngoài chế tạo vũ khí, ông còn xây dựng được một đội quân có tính chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm. Tháng 9 năm 1889, Phan Đình Phùng trở về căn cứ, cử Cao Thắng làm tổng chỉ huy nghĩa quân và thu được nhiều thắng lợi trong những năm 1890 - 1891. Năm 1893, trong trận đánh Đồn Nu (Thanh Xuân - Thanh Chương - Nghệ An), ông bị trúng đạn và hy sinh lúc mới 29 tuổi. Cái chết của Cao Thắng là tổn thất lớn cho quân khởi nghĩa Phan Đình Phùng. Sau khi ông mất, quân Phan Đình Phùng chỉ thắng thêm được 1 trận Vụ Quang năm 1894 và không lâu sau khi Phan Đình Phùng mất (1895), cuộc khởi nghĩa bị trấn áp hẳn. ----------------------- Súng trường kiểu 1874 của Pháp ở đây hẳn là khẩu Gras Mle 1874 (http://militaryrifles.com/France/Gras.htm) (http://i33.photobucket.com/albums/d85/chiangshan/RI9239LGras.jpg) Câu hỏi ở đây là về đạn. Em vẫn còn nhớ là trong Nam thời KCCP, đạn súng trường chủ yếu chỉ có từ 2 nguồn, hoặc thu của địch, hoặc nhặt vỏ đạn cũ để nhồi lại (rờ sạc). Việc sản xuất đạn mới rất khó khăn và không đảm bảo được chất lượng. Không hiểu lúc đó Cao Thắng có tự chế hay nhồi lại đạn được không, nếu chỉ dựa vào đạn chiến lợi phẩm để duy trì cho hàng trăm khẩu súng như vậy thì rất khó tin. Mình hiểu, và mình sẽ chưng minh cho bạn bằng một MLE 1874 Gras do Cao Phúc làm. Thật ra, đạn Gras MLE 1874 và đạn Chassepot MLE 1866 có liều và đầu giống nhau. Bắn vỏ giấy được thì ngại gì vỏ đồng, mặc dầu vỏ đồng dùng nhiều lần méo mó. Súng nhồi 5,5 gram thuốc bắn đạn 25 gram. Về sau, KCCP khó nhồi vì lúc đó súng đã có độ chính xác cao, áp lực cao, yêu cầu đạn sản xuất công nghiệp đồng nhất, dùng vỏ "tái chế" dễ kẹt, nứt. Nhưng cho đến nay, đạn súng săn vẫn do các xạ thủ thự nhồi lấy bằng vỏ đạn dùng nhiều lần. Thêm nữa , chiến thuật hồi đó chưa có súng tự động, nên cũng tiết kiệm đạn chán ra. Đến sau này mà mút mới "ráp ba", "ráp năm" thì thỏa. Cho đến các phiên bản Mauser G88, Mosin M1906 thì mới có đạn công nghiệp, còn trước đó, dù có dùng vỏ công nghiệp dập máy, thì xạ thủ vẫn tự đúc đầu, tự nhồi. GRAS dùng đạn vỏ đồng từ các model 1893, những đó là model đạn, không chê đạn cũ. Lúc đó, Tây Phú còn tôn trọng kỹ thuật Đông Âu, chưa cải tiến cải lùi và theo Anh Mỹ, nên cấu tạo hợp lý. Đạn có đai và lõm đuôi, tự nở rất mạnh bởi áp lực và quán tính, tự điền đầy nòng, kể cả khi nòng mòn hàng ly, cong queo, thì chỉnh thước ngắm đầu ruồi là súng vẫn chính xác. Thuốc của MLE 1874 nguyên thủy vẫn là thuốc nổ đen poudre noire . Đến các cải tiến tiếp theo (1883) mới dùng thuốc nổ không khói Poudre B có gốc Nitrocellulose. Trong số 3 khẩu súng cùng thời, Berdan, IG71 và Gras, thì vỏ đạn Gras dễ làm nhất. Đạn Berdan có dạng côn, cần những bí truyền khi gò thủ công, nhưng thực tế là chỉ giảm năng suất làm đạn, còn các bí truyền ấy tự các thợ dò ra. Vai của Gras không rõ ràng như IG71, dễ làm hơn, và thực chất, cả 3 loại vỏ đạn này đều dễ làm. Chúng đều được thiết kế để làm thủ công http://www.armeetpassion.com/11%20gras.html Đạn Gras và cả lebel sau này đều có nhiều loại bi cầu để bắn trên nòng trơn, có lẽ, nghĩa quân nên dùng loại đầu này. Đạn bi cầu cơ sơ tốc cao hơn, đường đạn căng, nhưng nòng trơn làm tản mát đạn. Vỏ đạn của Gras giống đúc IG. Vỏ đạn này dễ làm hơn berdan. Vỏ Berdan vừa côn, lại vừa dùng trạm truyền nổ (ống lửa), mà phương tây gọi là Berdan type, nhưng thực chất, cũng như các giải pháp khác, cái ống lửa này đõ có từ lâu ở Đông Âu, như Krnka, ngày nay AK vẫn dùng ống lửa này. Ống lửa cũng làm như súng kíp, khoan mũi nhỏ. Hạt nổ thì bạn biết là nghĩa quân mua, nó bán kèm các "cửa hàng" bán KNO3. Hạt nổ được dán lên bằng keo, keo thì sơn ta cánh kiến đầy toét, sau này Tây các kiểu cũng dùng loại keo thiên nhiên đó. Vỏ đạn được gò từ phôi đúc, hay phôi cắt ra từ tấm đồng thau lớn, đồng thau đúc gò thì thợ nhà ta có nhiều. Đầu đạn được lắp vào vỏ bằng.... giấy lót, sau này mới bỏ giấy đi. Giấy lót có thể dán keo cho chống ẩm, nhưng hơi phiền khi chữa đạn xịt. Vỏ đạn có hình dáng bên trong hình trụ. Từ tấm đế, gò ra hình trụ này bằng khuôn, rồi mới gò tóp vai, rồi mới gò gờ móc, lỗ tra hạt nổ, rồi khoan lỗ dẫn lửa. Thật ra, độ chính xác của Gras vẫn thấp, tầm bắn hiệu quả 100 mét, vậy nên Cao Thắng có kém chính xác chút cũng chả sao. Berdan côn mạnh, khá khó gò, nhưng đạn chuyển động trơn tru hơn. http://jp.sedent.free.fr/UNE%20CARTOUCHE%20MODERNE%20POUR%20LE%20FUSIL%20GRAS.htm http://www.armeetpassion.com/11%20gras.html http://armesfrancaises.free.fr/mousq%20Mle%201874.html (http://jp.sedent.free.fr/UNE%20CARTOUCHE%20MODERNE%20POUR%20LE%20FUSIL%20GRAS_fichiers/image004.jpg) (http://jp.sedent.free.fr/UNE%20CARTOUCHE%20MODERNE%20POUR%20LE%20FUSIL%20GRAS_fichiers/image010.jpg) ================== Trong Gras, phần khóa nòng có một số chi tiết yêu cầu gia công phức tạp. Chính vì thế, cấu trức receiver rời rất có lợi như máy cò rời của Flint Lock, tức là , có thể chế tạo từ các xưởng có mức độ "hai tếch" khác nhau và làm những chuyên môn khác nhau về kim loại. Cái mình không hiểu, là khóa nòng cần một số động tác khoan đường kính lớn, như bản thân cái vỏ hộp khóa nòng. Về nòng, thì theo chiangshan , nghĩa quân không khoan mà cuốn. Nhưng rõ ràng, với kỹ thuật truyền thống, việc khoan nòng là thực hiện được, đừng nói là khoan hộp khóa nòng. Hộp khóa nòng là một cái ống khoan, một đầu tiện ren để vặn nòng vào. Có lẽ, Cao Thắng chọn thép cuốn để làm hộp khóa nòng và nòng liền khối, do không tiện được ren. Sau khi khoan lỗ giữa hộp khóa nòng (cho khóa nòng chạy dọc tiến lùi), thì hộp khóa nòng được xẻ ra bằng các công đoạn rèn, mài, không yêu cầu máy móc gì lớn. Riêng lỗ ren bắn ốc hãm (cho khóa nòng khỏi tuột, tháo ra khi tháo súng), thì chắc gì nghĩa quân làm được ?? hay cũng có ren bằng dụng cụ nhập khẩu ?? hay dùng biện pháp khác, dẫu sao, lỗ này nhỏ, dễ thay đổi thiết kế cho hợp kỹ thuật. Riêng khóa nòng cần có những mũi khoan mồi rất sâu, từ đó đục rộng ra thành các chi tiết sâu, rất mau là cả ba khúc của khóa nòng đều không yêu cầu thép quá cứng, phần lớn các chi tiết bên ngoài được mài giũa, còn các lỗ khác được gia công bằng mũi khoan tròn. Lỗ lắp móc vỏ đạn được đục rộng ra thành hình chữ nhật. Móc vỏ đạn làm từ loại thép làm lò xo lá, Gras có cái móc vỏ đạ không phức tạp gì. Toàn bộ khúc giữa khóa nòng (tay kéo), chỉ cần gia công các mặt phức tạp bên ngoài, trừ cái rãnh cho ốc hãm chạy, thì toàn bộ rèn, mài, giũa.... được. Cái rãnh ấy thì năng suất gia công giảm đi chút do đục. Cái búa thì đơn giản, hoàn toàn mài giũa rèn, cò cũng vậy. Riêng kim hỏa, may quá, cái chi tiết tinh vi nhất khẩu súng này tây Phú cũng chả tự hào về trình độ gia công khi thiết kế, rèn mài được hết, trừ cái lò xo trứ danh mua lậu Hà Nội trên. Chúng ta quan sát lại toàn bộ cấu trúc của Gras và các bạn giúp mình, các bạn thử bình luận xem, lựa chọn kỹ thuật như thế nào là phù hợp. Chúng ta sẽ giả sử, là chúng ta có các công cụ: giàn khoan nòng súng kíp, có thể khoan các lỗ khoan dài hàng mét đường kính 10-20mm. Khoan tay mũi nhỏ dùng trong việc khoan lỗ kíp súng kíp, khoan được lỗ 2mm sâu vài cm, nhưng kém chính xác rèn mài nhưng chưa có đá quay đục chạm giũa bằng các loại giũa mà ngày xưa lò rèn tự đánh lại Thợ bạc dùng gò đồng khuôn kẹp đúc chì (khuôn 2 nửa). Đồng tán mỏng làm hạt nổ. Những công cụ đề nghị thêm: Dao đóng xoắn tam giác mà các "hãng mẹ" sản xuất để các lò rèn nhỏ tự hoán cải súng trơn thành xoắn. Dao có cái cán hình trụ, kéo sau cái cán bằng đường kính nòng cũ là lưỡi dao tam giác hình khế có nhiều bậc, các bậc rộng ra dần. Dùng que sắt nhỏ hơn đường kính nòng cũ cõ 1mm đóng dọc nòng. Lưỡi cắt gọt đá quý để gia công tinh vi, lưỡi được mài bằng thợ ngọc và tán vào cán thép rèn, chủ yếu là đục chạm, gọt, bào. Đá mài quay, thợ phụ quay đá bằng thứ như ma ni ven, không cần vòng bi nhá. Yêu cầu. Chúng ta biết, súng trường tiêu chuẩn châu AU cho đến tk20 có nòng báng rất dài, nhưng đó là phục vụ với tư cách làm cán lê, phần có tác dụng nòng của fusil chỉ 500mm. Chúng ta bắt đầu từ công đoạn chế nguyên liệu, là loại thép rèn có độ dai cao, ít nứt bở, chịu mòn. Nguồn đầu tiên là mua Nguồn thứ hai là tự chế sắt xốp. Sắt xốp được chế trong các lò nhỏ có đầy ở điều kiện thủ công, từ quặng, ờ, quặng ở đâu ra. Thêm nữa, lại cần than đá, nếu không sắt sẽ tồi tệ vì than củi có nhiều phốt pho, lưu huỳnh Nguồn thứ ba là tự chế gang xám. Có vẻ, vì gang xám có thể sản xuất ở những lò rất nhỏ dùng bễ đẩy thủ công, nhưng lại phải từ quặng Vậy, cái nguồn khả thi nhất là mua thép. Thép nhân gian là thép làm dao búa, rất tiện và đúng để làm súng, nhân gian cũng chế từ các chác trên, nhưng từ những noi có quặng có than buôn đến. Lò xo lá, đã có hai nguồn. Một là tù binh khai mua Hà Nội, dĩ nhiên không phải gọng ô như lợn kêu chó sủa. Một là cách người Mèo, gang làm ra thép rèn rồi ủ non rất cẩn thận công phu. Lò xo xoắn của kim hỏa ? cố lên, mua lậu hay may ra có thể làm được từ việc cải tiến kỹ thuật cũ. Thật ra, khối lượng thép làm lò xo kim hỏa không nhiều, nên có mua lậu cũng không khó. Ngoài ra, súng còn có một số lò xo xoắn và lá khác, nhưng không yêu cầu cao. Kim Hỏa. Hùi Xời, đừng tưởng to, nhỏ hơn con thỏ. Thật ra, với súng liên thanh hiện đại thì khác, kim hỏa ngày đó khá đơn giản về vật liệu. Ban đầu là nòng và vỏ hộp khóa nòng=-receiver Nòng và receiver của GRAS MLE 1874 tiến bộ so với các súng khai hậu, chúng đã được làm rời và vặn ren vào nhau, sau khi vặn, nòng đút vào trong. Trên nòng có các bộ phận buồng đốt, nòng có rãnh xoắn, đầu ruồi vè đế lắp thước ngắm. Sau khi rèn phôi có gắn sẵn phôi đế thước ngắm và đầu ruồi, thì bắt đầu gia công cắt gọt. Vì đế thước và đầu ruồi đơn giản nên coi như xong. Theo sử Tây, nghĩa quân dùng nòng thép cuốn, có vè vô lý, theo mình, có thể, không gia công được ren nên nghĩa quân cuốn receiver từ tấm thép rèn dẹt để gắn vào nòng. CÒn kỹ thuật khoan nòng thì ở khu vực Đông Nam Á phổ biến từ lâu, không chính xác và có ren như tây, nhưng chẳng việc gì phải dùng nòng bằng thép cuốn. 4 thợ cả phụ có thể khoan một nòng súng kíp trong vài ngày. Đạn 1879 lót giấy, cách lót này đẹp đẽ hơn nhiều đạn nguyên thủy 1874 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/ctg2011mm20Gras.jpg) 1874/93, đạn công nghiệp, lõi thép vỏ đồng (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/ctg201120mm20GRAS-WEB.jpg) Đây là cái nòng, có ren và buồng đạn (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201866-74-retubage20bis-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201866-74-retubage-WEB.jpg) Và lắp vào rêceiver (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-BDCCN-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/car20de20cav20GRAS20Mle201874M80-dE9tente20dE9montE9e-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-dE9montage4-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-dE9pose20culasse-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20ouverte-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse2-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20dE9montE9e-WEB.jpg) Ốc hãm phải, muốn tháo khóa nòng ra khỏi receiver để lau chùi, phải tháo ốc này (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-chien20E020larmE9-WEB.jpg) Cò chỉ thế này thôi (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/car20de20cav20GRAS20Mle201874M80-dE9tente20dE9montE9e-WEB.jpg) Các hóc dộ khác nhau của receiver (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle20187420M80-GP20entrE9e20de20chambre-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-E9jecteur-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20fermE9e-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-GP20chambre-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20fermE9e-WEB.jpg) Và các góc độ khác nhau của hệ thống khóa nòng (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20dE9montE9e-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse2-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-nB020chien-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-nB020culasse-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-nB020tEAte20de20culasse-WEB.jpg) Lặt vặt, vòng bảo vệ cò (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-dE9montage2-WEB.jpg) Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2010, 05:29:31 pm Khẩu Suomi Phần Lan trở thành khẩu súng ngắn liên thanh tốt nhất vWW2 vì khi thiết kế, các nhà kỹ thuật đã chọn các chi tiết chủ yếu gia công bằng rèn, mài, cưa.... và do đó, Phần Lan siêu lạc hậu có thể gia công từ kim loại tốt nhất. Nhưng các súng Tây Âu thường lạm dụng một số khâu kỹ tuật khó để tạo độc quyền cho một số hãng độc quyền.
Như vậy, các bạn đã thấy khó khăn lớn đầu tiên của nghĩa quân, đó là điểm kết nối giữa nòng và receiver. Nghĩa quân không có điều kiện để gia công chính xác cái ren chịu lực, ren này chịu lực rất mạnh, khi gia công kém chính xác, nó sẽ rụng ra. Có các cách nèo xử lý vụ này hả các nhà kỹ thuật ? Rất may mắn, là ông Tây khi thiết kế cũng không tự hào về kỹ thuật thành Paris lắm, bên trong receive chỉ là một lỗ trụ tròn để khóa nòng chạy dọc, có vài lỗ khoan nhỏ. Trong hình dưới là cái lỗ khoan dùng để bắt cái mấu hất vỏ đạn đã gẫy, phiên bản M1880 có thêm các mặt gia công, thêm phần tiện bào công nghiệp trong cái trụ tròn, nhưng Cao Phúc thấy tính năng chiến thuật không cải thiện được nhiều, không duyệt. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-GP20chambre-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-E9jecteur-WEB.jpg) Phiên bản mút cơ tông và fusil 1880 có thêm một số máng. Cậu đây không có máy tiện, xin hoãn tiến bộ này. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Mousq20dart20GRAS20Mle201874-culasse20ouverte-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle20187420M80-GP20entrE9e20de20chambre-WEB.jpg) Đại thể vẫn vậy (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Mousq20dart20GRAS20Mle201874-culasse20fermE9e-WEB.jpg) Như vậy, vè cơ bản, cần gia công hai lỗ dài, có đáy sau nòng phẳng lừ, còn đâu chỉ là rèn và mài. Một lỗ là ống trong hộp khóa nòng, tức cái ống để khóa nòng chạy, một cái là cái lòng của nòng. Một, lý tưởng nhất, là có thép phôi tốt và lưỡi dao tốt, các thợ thủ công sẽ đục và giũa ra ren với độ chính xác cỡ 0,5mm, đủ để chịu. Nhưng vấn đề thép phôi hơi khó Hai. Một cách là làm liền nòng và receiver, sau đó, thực hiện hai lỗ khoan . Bên trong receiver, thằng Tây đã ngại làm, phần lớn cấu tạo là một cái lỗ tròn, khoan. Nòng cũng khoan., nhưng rất khó gia công mặt phẳng lừ ở đằng sau nòng Cách thứ 3 là theo mình đoán. Nghĩa quân cuốn receiver vào nòng đặc hay độn chốt gang thép bằng rèn, chứ không phải nòng cuốn. Llamf cái nòng rồi, chèn bên trong chốt độn bằng gang tháp. Sau khi cuộn receiver vào và có thể gia cố bằng tán, thì gia công hai lỗ bằng khoan, hoặc đã khoan nòng rồi chỉ gia công lại receiver cho chính xác. Các lỗ ren thì thôi, có thể chơi bằng đinh tán, then.... Các bạn cho ý kiến về 3 cách trên. Nhìn bên ngoài, khóa nòng có 3 phần, bịt đáy nòng-tay kéo quay-búa (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20dE9montE9e-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse2-WEB.jpg) Bịt đáy nòng 1874 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-nB020tEAte20de20culasse-WEB.jpg) Bịt đáy nòng 1880 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Mousq20dart20GRAS20Mle201874-nB020tEAte20de20culasse-WEB.jpg) 1880 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Mousq20dart20GRAS20Mle201874-culasse20dE9montE9e-WEB.jpg) 1880, móc vỏ đạn và khe cho mấu hất vỏ đạn chạy (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse-GP-WEB.jpg) 1874 đơn giản và cái ốc hãm (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-dE9pose20culasse-WEB.jpg) 1880 có thêm máng, không chơi với phay tiện. Những dẫn lên đây để trình bầy là không phải nghĩa về cò, trừ ốc ren thì toàn rèn, mài, giũa. Ốc ren ta thay bằng đinh tán đi, hay có thể nhập khẩu lưỡi ta rô (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/car20de20cav20GRAS20Mle201874M80-dE9tente20dE9montE9e-WEB.jpg) Móc vỏ đạn được gia công bằng thép dạng lò xo lá không yêu cầu cao, toàn rèn, mài, giá, và cuối cùng là tán đinh, hết. Cái này thì khỏi nghĩ (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20dE9montE9e-WEB.jpg) Để gia công lỗ lắp cái móc vỏ đạn, cần rèn mồi sau đó gia công chính xác bằng đục chạm (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse-GP-WEB.jpg) Phía sau bịt đáy nòng là nơi gia công khó nhất của hệ thống khóa nòng, đục chạm các lỗ sâu và chính xác. Có thể làm tăng năng suất bằng rèn thô trước không nhỉ ? Ví dụ, cái khe giữa hình trụ bên dưỡi và hộp chữ nhật bên trên được thợ rèn chặt một phát vào phôi nóng, làm mồi cho giũa. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Mousq20dart20GRAS20Mle201874-nB020tEAte20de20culasse-WEB.jpg) Á hà, thằng Tây cũng thấy nó siêu ng.... Model mút cơ tông Lebel M93, không còn khó khăn nữa, tại sao ta không làm thế này ? Bằng việc cải tiến này, thằng Tây Phú Lãng Sa đã đưa các mặt gia công từ trong ra ngoài. Với ta, tức tớ, Cao Phúc, thì bi hư hầu như chỉ còn mài giũa mặt ngoài, tất nhiên vẫn chưa nói đến các lỗ khoan. Dĩ nhiên, ở đâu cũng không học M93 cái khóa nòng và băng nhiều viên, bác Lebel ng...i này có cái ưu việt kết hợp của khóa nòng hai tai gia công tốn kém và khóa nòng đế tay cầm nặng nề, nhưng riêng cái mối nối tay kéo-bịt đáy là được. Khi nèo chiếm được Vinh, có nhiều vàng mua máy móc, chưa muộn. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/Mut93/Mousq20Mle20188620M9320R35-culasse20dE9montE9e-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/Mut93/FR20LEBEL20Mle20188620M93-culasse-FD.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/Mut93/FR20LEBEL20Mle20188620de20prE9-sE9rie-culasse-WEB.jpg) Rieng Lebel M92 có băng ngang hay hơn M93, nhưng do không hoàn thiện được băng (kẹp đạn), nên cải lùi, tuy vậy, chúng ta quan tâm đến bịt đáy nòng, nối bịt đáy và tay kéo, móc vỏ đạn của M92 rất dễ gia công. Tuy vậy, việc làm cái ren ốc quá khó, ta có thể chnj các phương án làm kiểu cũ, hay tán đinh (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/Lebel8mm92/Mousq20dart20Mle201892-culasse-GP-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/Lebel8mm92/Mousq20dart20Mle201892-culasse-VD-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/Lebel8mm92/Mousq20dart20Mle201892-GP20dE9montE9-WEB.jpg) Nào, do điều kiện gia công thủ công, Cao Phúc cần hiểu nghuyên lý chuyển động để hiệu chỉnh. Liên kết giữa bịt đáy nòng và tay kéo quay (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse2-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-nB020tEAte20de20culasse-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-nB020culasse-WEB.jpg) M1874 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-nB020tEAte20de20culasse-WEB.jpg) Khóa nòng thế này, M1874. Gập tay kéo khóa nòng xuống bên phải, khóa nòng thực hiện bằng việc đến tay kéo khóa nòng vướng vào gờ receiver (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20fermE9e-WEB.jpg) Đây là tư thế đã quay tay kéo lên, mở khóa nòng, trên đường kéo về sau tháo vỏ đạn (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse-WEB.jpg) Cái chuyển động ấy ( đã quay tay kéo lên, mở khóa nòng, trên đường kéo về sau tháo vỏ đạn) trông thế này (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse20ouverte-WEB.jpg) Cái tay kéo khóa nòng hơi khoai, ta tìm cách làm cái búa đã Ôi trời, đây là cái dễ nhất của hệ thống khóa nòng, toàn rèn, mài, giũa các mặt phẳng bên ngoài không cần chính xác cao (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/mut1874/Mousq20dart20GRAS20Mle201874-nB020chien-WEB.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/fusil1874/Fusil20GRAS20Mle201874-culasse-WEB.jpg) Như vậy, phần khóa nòng chỉ còn mỗi cái tay kéo, tất nhiên chưa nói các bộ phận bên trong lỗ kim hỏa Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2010, 05:52:02 pm Như vậy, phần khóa nòng chỉ còn mỗi cái tay kéo, tất nhiên chưa nói các bộ phận bên trong lỗ kim hỏa Đây là toàn cảnh cái tay khéo (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th_7.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=7.jpg)(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th_6.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=6.jpg)(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th_5.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=5.jpg)(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th_4.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=4.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th_3.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=3.jpg)(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th_2.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=2.jpg)(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th_1.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=1.jpg)(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/th___5_CULASSE-POUR-FUSIL-GRAS-MOD-1874-80.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/?action=view¤t=__5_CULASSE-POUR-FUSIL-GRAS-MOD-1874-80.jpg) Trừ cái lỗ bên trong, thì tay này có hai khe, một khe chữ V để cái mấu nhọn của búa chạy vào, đảm bảo búa chỉ đập được khi nòng đã khóa, tức cái tay kéo đã quay đủ góc cho cái khe chữ V ấy đến. Bên ngoài cái có mộ cái khe để ốc hãm bên phải hộp khóa nòng chạy (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/1.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/5.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/4.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/bolt/__5_CULASSE-POUR-FUSIL-GRAS-MOD-1874-80.jpg) Để gia công bọn này ? cần một cái bào , ngày xưa có rất nhiều bào kim loại, nhưng nay không có. Cái bào để gia công khe phải, sửa lại bằng đục chạm. CÒn cái giũa cho ta cái khe chữ V. A kha. bi h là những bộ phận bên trong. Một cái lỗ thống suốt qua búa, tay kéo và bịt đáy, cần đến vài mũi khoan khác nhau, các lỗ khoan này gia công chính xác được bằng cách khoan thô bởi mũi đểu, sau đó tinh chinh, vừa tinh chỉnh bằng mũi khoan tốt, vừa sửa lại mũi khoan. Bây giờ, chỉ còn cái khóa bim hỏa sau búa, lò xo kim hỏa, kim hỏa, trừ cái lò xo khó kiếm đều rèn giũa được. Thép làm kim hỏa không khác gì thép làm kim khâu, vì kim hỏa to tướng vững chãi, chứ không mòng mảnh như bây giờ, tất cả chúng đều rèn mài và giũa được. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/GrasFusil1866/Mousq20dart20GRAS20Mle201874-culasse20dE9montE9e-WEB.jpg) Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2010, 07:43:55 pm Cho em hỏi tại sao đạn lại theo rãnh xoắn mà ngoan ngoãn bay thẳng ra ngoài chứ ko hùng hục xuyên qua , phá tan rãnh xoắn . À, đạn có vỏ mềm và có cơ chế để tự nở ra trong nòng. Trước GRAS MLE 1874, thì các khai hậu như Cartouche du fusil modèle 1867 dit « à tabatière » dùng vỏ mềm là đai, đến 1900 thì lõi thép vỏ đồng, nay là lõi thép, đệm chì và vỏ đồng. Chơ chế nở của khai hậu là lỗ hình trụ ở giữa đạn, sau thành lõm tam giác và Berdan chuyển hành lõm tam giác nông dùng cho đến nay. Đầu đạn GRAS nối tiếp Berdan Nga 1870, Phổ IG71. Bạn đọc trong "lịch sử súng trường" của Fedorov. Đạn khai hậu ban đầu. Khi cỡ nòng lớn 14-18mm của súng hoán cải từ nạp miệng, thì cái lỗ này cho đạn chì nở rất khỏe, vì nó truyền áp lực khí thuốc (http://www.militaryrifles.com/Russia/krnkaS02.jpg) Khi dùng cỡ nòng bé, đạn dài ra, thì cái lõm biến thành tam giác. Đạn này có tên đạn Miniê, cách người Mỹ gọi theo tên một sỹ quan Pháp năm 1959, nhưng thật ra, loại đạn như thế này có mặt từ lâu ở Đông Âu, trong khi sử dụng các súng nạp đạn sau như M1841 Phổ (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/kammerlader/Minie_ball_design_harpers_ferry_burton.jpg) Tây Phú không biết dùng lõm đuôi (http://armesfrancaises.free.fr/ctg%209x41-treuille%20de%20beaulieu%202eme%20type-coupe%20radio-WEB.jpg) Kiểu lõm đuôi nông, Bravia, súng hoán cải nhưng bắn nhanh bằng kiểu khóa nòng Phổ của M1841 (http://oldmilitaryrifles.eu/germany/bayern-m1867.JPG) Gờ xoắn tam giác, dễ gia công nhưng nhanh mòn. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/LeFusil1831/Fusil20de20rempart20mle201831-GP20bouche-WEB.jpg) GRAS, chữ nhật nhưng chưa đúng (http://jp.sedent.free.fr/FUSIL%20D'INFANTERIE%20GRAS%20Mle%201874_fichiers/image006.jpg) Ngày nay (http://www.jensen-rifle.dk/files/images/img-barrel-001.jpg) ============== http://www.quansuvn.net/index.php/topic,2673.msg35836.html#msg35836 Cao Thắng tổ chức quân xưởng chế súng đạn theo kiểu Tây Phương. Ban đầu ông đúc được 200 khẩu súng kíp thường gọi là súng hoả mai. Binh sĩ có thêm 400 người. Vì là loại súng nạp hậu, bắn chậm, Cao Thắng phân chia từng thê đội: Khi thê đội này bắn thì thê đội kia nạp đạn và cứ thay nhau theo thao tác đó Súng kíp là súng hỏa mai, lại nạp hậu. Xin đủ cái thời đại lợn liếm bàn thờ các anh hùng ăn trộm lễ. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg36444.html#msg36444 chúng ta thấy nổi bật thành tựu mà nghĩa quân Hương Khê đã đạt được là chế tạo thành công được súng trường kiểu 1874, về mặt chất lượng gần đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ông này thì không đến nối là lợn nhảy lên bàn thờ anh hùng ăn cắp lễ. Nhưng ông này phét hơi quá. Cái tiêu chuẩn, cái lợi ích lớn nhất là rãnh xoắn, có đâu. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg36444.html#msg36444 “Ông (tức Phan Đình Phùng. N.V.H chú thích) đã biết đào tạo các chiến binh của mình theo cung cách kỷ luật và hành binh theo kiểu châu Âu, đó là điều mà chúng ta chưa bao giờ nhận thấy từ trước cho đến lúc đó, trang phục cho quân lính bằng những bộ quần áo tương tự như những binh lính người bản xứ và cuối cùng là trang bị cho các chiến binh bằng các khẩu súng kiểu 1874, những khẩu súng này được sản xuất bí mật tại những địa điểm mà chúng ta không phát hiện ra được và với một khối lượng rất nhiều. Tôi đã mang về Pháp vài khẩu súng này, những khẩu súng này giống về tất cả mọi phương diện với những khẩu súng do các công binh xưởng của chúng ta sản xuất và đã làm cho các sĩ quan pháo binh mà tôi đưa cho họ xem phải hết sức ngạc nhiên, những khẩu súng này chỉ khác với những khẩu súng của chúng ta về hai điểm mà thôi: lò xo xoáy ốc tôi chưa đủ và lòng súng không có xẻ rãnh; hậu quả của điều này là đạn đi không xa; tuy nhiên những khẩu súng này đã bắn chết rất nhiều binh lính và sĩ quan người Âu và binh lính người bản xứ” (Nxb Perrin et Cie, Paris, 1904, tr.313). Vì cái điều này mà nhiều lợn nói súng nòng trơn bắn đạn rơi gần miệng nòng. Lòng nòng không có rănhx xoắn thì súng kém chính xác, tức tầm bắn hiệu quả gần do tầm bắn chính xác gần, chứ không phải tầm bắn xa. Khi nòng trơn, phải dùng đạn cầu, đạn cầu của 11mm GRAS rất nhẹ và đạn di xa hơn. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,2673.msg37568.html#msg37568 HỒ HỮU PHƯỚC Nhà nghiên cứu Lịch sử - Văn hóa tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi được cô Tám (con ông Hoàng Phúc) mật báo có một toán lính tập đi từ Vinh về Phố Châu, Cao Thắng đã bố trí quân mai phục tại dốc Tứ Mỹ (nay thuộc xã Sơn Châu) chém giết 15 tên lính tập, cướp được 15 khẩu súng Tây. Cao Thắng cho trưng tập thợ rèn Trung Lương và Vân Chàng về căn cứ Tràng Sim, tháo ra một khẩu rồi cứ theo đó mà đúc các bộ phận. Súng đúc xong bắn rất hiệu nghiệm, chỉ có nhược điểm là lò xo và rãnh chưa thật đúng kích cỡ. Con ngợm này, lò xo không đúng kích cỡ thì nhét vào lỗ thế lào, rãnh xoắn không đúng kích cỡ được Cao Thắng làm bằng máy gì thế ? Câu trả lời, cũng bọn lợn ăn cắp lễ trên bàn thờ. Cái thăng này không ăn cắp mà lừa đảo, xã hội đầy bọn lừa đảo này. Chúng đem son phấn giả tô tượng phật trên đình chùa. Thái Kim Đỉnh: Nhà nghiên cứu Lịch sử - Văn hóa, tỉnh Hà Tĩnh. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,2673.msg36493.html#msg36493 (sau cách mạng, nhà cố Trương còn giữ được một khẩu súng nạp tiền thời ấy) Lúc này (1889), dưới quyền chỉ huy của Cao Thắng, đã có tới 1.000 người, trang bị khá đầy đủ bằng gươm giáo, súng nạp tiền và súng kiểu Tây 1874 Như vậy, trước bản nhái mle 1874 gras, không lợn như Vì là loại súng nạp hậu, nghĩa quân dùng súng kíp, súng nạp đạn miệng nòng, dùng hạt nổ. Loại súng này có nhiều trong nhân gian lúc đó, qua đường buôn bán hay tự chế. ================ Cái ảnh ở post này không phải gras, cũng chả phải khai hậu, nó là súng kíp có kiểu máy cò-búa của người Việt, nhưng nòng tây, rất có thể là những súng săn vớ vẩn có đầu trong dân sau này http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg36211.html#msg36211 Tóm lại. Một là cần nhiều tìm hiểu để hiểu súng cao thắng thế nào hai là, Cao Thắng đã tổ chức làm nhiều loại súng Tây, nhưng số lượng lớn nhất, chính tên súng trường cao thắng, là theo mẫu gras mle 1974, có khóa nòng quay, đạn vỏ đồng, chưa có rãnh xoắn. Lò xo xoắn (lò xo mỳ), lúc 1874 vẫn là đỉnh cao kỹ thuật Âu, thì trong súng cao thắng yếu, điều này dẫ đến khả năng đạn không nổ cao. Về đạn, có thể súng vẫn dùng đạn cầu hoặc đạn dài để tăng sức.phá ở tầm gần, đường đạn của nòng trơn chưa sai nhiều Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: OldBuff trong 03 Tháng Chín, 2010, 10:52:56 am Chú Phúc quay về làm tiếp vụ Súng trường Cao Thắng là rất đáng hoan nghênh! Tuy nhiên, Diễn đàn có Nội quy và được lập ra để phục vụ nhiều đối tượng bạn đọc nên đề nghị chú tiết chế câu chữ khi gửi bài.
Buff tôi đã cắt một số từ chưa phù hợp trong các bài trên. Thân! Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Chín, 2010, 01:41:10 pm Cuộc chiến Ba Đình là cuộc khởi nghĩa, cách mạng, nổi loạn.... theo đúng nghĩa đen của chúng nó. Một cuộc chiến tranh khác với một cuộc nổi loạn, một cuộc kháng chiến=một loại chiến tranh, khác thế nào với một cuộc khởi nghĩa=một loại nổi loạn ? Một cuộc chiến tranh được tổ chức bởi một chính quyền chính thống, không ai cấm một cuộc chiến tranh trong quá trình phát triển sẽ biến thái thành một cuộc nổi loạn, hay một cuộc nổi loạn biến ngược lại thành một cuộc chiến tranh, nhưng chúng khác nhau. Khi chiến tranh có chính quyền chính thống, nó sẽ tập hợp được những sức mạnh lớn nhất của nhà nước, nếu đầy đủ, nó sẽ tổng động viên được thanh niên ra trận làm lính chính quy, tập trung được công nghiệp làm súng, nông nghiệp chế lương. Chí ít, một cuộc chiến tranh tuy chưa chiếm được các xưởng máy, các cánh đồng, cũng phải có các tinh hoa trí thức, tướng lĩnh, chiến binh, nếu không, nó sẽ vượt ranh giới và là nổi loạn. Ở trong chí ít đó, khãng chiến phải có chiến lược đúng đắn và đánh giá vũ khí đúng đắn, nếu không, nó sẽ là khởi nghĩa.
Khởi nghĩa Ba Đình đã xây dựng chiến lược sai, cũng như nhiều cuộc khởi nghĩa lúc đó, là cái giẫy chết vô vọng của những mảnh còn lại của nhà nước Đại Vịt đã suy đồi và bị đánh phá tan tành. Nhìn rộng, phong trào Cần Vương không nhìn thấy cái suy đồi đó, không ai trong Cần Vương biết Thiên Tự đã khởi đầu cho cách mạng súng ống của toàn thế giới, và không ai dứt áo ra đi về trời Tây, tìm lại sức mạnh xưa và mới. Nhìn hẹp hơn, Ba Đình tham lam đánh chính quy khi quá yếu, tham miền đông dân đồng bằng nhanh chết, bỏ miền núi hiểm trở = chiến khu bền vững. Cái hẹp này Ba Đình và nhiều của khởi nghĩa của các quan lại cũ thật ra sống dựa vào danh vọng quá nhiều, không im ỉm nhưng hiệu quả như Yên Thế, ếch chết tại miệng, càng kêu to càng nhanh chết. Về vũ khí, Ba Đình đã đánh giá sai khi sao lại mle 1874. Họ, cũng như nhiều nước phương Tây khác, đã đánh giá sức mạnh của Gras là bắn nhanh, mà bỏ đi sức mạnh chính của nó là nòng xoắn, chỉ sao lại bề ngoài, có tiếng, mà không hiệu quả. Mình vẫn cho rằng, lúc đó, chính trị + văn hóa ta đã quá suy đồi, không có ai tổ chức được làm súng bằng trình Cao Thắng. Nhưng góc nhìn của Cao Thắng quá gần đáy giếng, mặc dầu, đã cao hơn đáy giếng rất nhiều, nhưng vẫn quá xa miệng giếng. Thật ra, kiểu súng cá nhân chủ lực bắn nhanh, tốc độ nhả đạn cao, là súng thời Vauban hất về trước, tức kết thúc ở Pháp 1714 và ở Anh Quốc 1736, khi họ trang bị súng trường cá nhân nhỏ, bắn chậm hơn, nhưng nhẹ (3-5 kg), và dài ( 2 mét cả lê), để chiến đấu cá nhân, dùng được như giáo, và giáo gươm vĩnh viễn về hưu, đây là thời điểm muộn hơn Đông Âu kể cả Ottoman rất nhiều. Súng trường bắn nhanh ngày nay vẫn còn, đó là trung liên, như RPD, RPK, DP.... Thế kỷ 19 Tây Phú mẹ ghẻ ta có Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831 http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20de%20rempart%20mle%201831.html Nó giống hệt như các khẩu musket cá nhân châu Âu trước đây về mục đích sử dụng. Tức là, như trung liên ngày nay. Súng nặng cỡ 9-10 kg, có giá, có thể nạp nhiều đạn hay một đạn (tầm xa), tuy chuẩn bị bắn lâu hơn một chút do súng nặng, nhưng bắn được nhiều đạn một lúc và tốc độ bắn rất cao, Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831 có thể bắn mỗi phát 10 viên đạn. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/LeFusil1831/Fusil20de20rempart20mle201831-VD-WEB.jpg) Musket thời cổ từ Vauban hất về trước, thật ra, vai trò ngang trung liên ngày nay, là súng cá nhân, nhưng là súng trợ chiến, không chiến đấu độc lập được vì phải bảo vệ bằng giáo gươm. (http://history.wisc.edu/sommerville/351/351images/matchlock.gif) Các súng nạp đạn có vỏ, nạp đạn sau, có tốc độ bắn cao hơn một chút so với súng nạp miệng nòng. Nhưng sức mạnh của chúng lại ở chỗ khác, đó là bắn chính xác. Tầm bắn hiệu quả của súng trường nòng trơn cá nhân (hạng 3-5kg, như MLE 1822T BIS ), chỉ dưới 50 mét. Tầm bắn sát thương của các súng này khá cao, có thể đạt 200-300 mét, nhưng độ chính xác rất kém, ngay cả thử nghiệm với thuốc tốt đạn tốt ngày nay, khả năng bắn trúng bia hình người đứng ở 50 mét thấp không đáng kể. Các súng Pháp như MLE 1822T BIS thường có đường kính 17-18 mm, nhưng bắn đạn cầu đường kính thấp hơn 1 mm, 16-16,5mm, vì súng cũ đạn đúc không đều, rất hay gặp các tình huống đạn chặt quá khó nhồi, độ dơ này trong nòng trơn làm súng rất kém chính xác. Khi có xoắn, như Gras, tàm bắn hiệu quả của Gras đạt khoảng từ 100-150 mét, tức khả năng bắn trung bia hình người đứng ở 100 mét là gần 100% (thử nghiệm với thuốc và đạn, nòng mới, các Gras, M1841 Phổ... đạt hiệu quả đó với bia số 4). Ở châu Âu, chiến thuật biển người, kiểu luân hàng dàn hàng ngang đều bước, còn đỡ cho súng tản mát. Còn kiểu chiến tranh như Ba ĐÌnh thì rõ ràng tản mát là tai vạ. Nhiều thứ tây như Lefaucheux mà Ba Đình có quan hệ, cũng thường mắc đại dịch háo danh hão và bản chất là không hiểu về súng ống, đậm chất Tây Âu+Mỹ. Ông Lefaucheux và rất nhiều ông Pháp Anh Mỹ thường tự xưng là đã đi tiên phong về nạp đạn sau và đạn có vỏ, các liệt não ngày nay vẫn tung hô trên nét http://en.wikipedia.org/wiki/Casimir_Lefaucheux Tiếng Thụy Điển là Vögler , Tiếng Bồ Đào Nhà là Ninigret , tiếng Đức là Vogler ..... Xin thưa, chả phải vỏ giấy lẩm cẩm, mà vỏ đồng, nạp đạn sau, khóa nòng then, có từ tk15, kiểu khóa nòng này vẫn dùng đến ngày nay như cái MLE 1935. Người Pháp cũng có kiểu này và hay được gọi theo tên quân xưởng chế chúng là Coulevrine. Bản thân khẩu "Đại Pháo Thổ Nhĩ Kỳ Vĩ Đại", Great Turkit Bombar, cũng là nạp đạn sau bằng một khúc nòng rời. Các kiểu lật khúc nòng rời lên như Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831, cũng như khai hậu hoán cải.... đều chỉ là những nhái lại thời cổ. http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/800px-EarlyCoulevrines.jpg http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Early_breech_loaders.jpg Đuổi theo cái danh hão, những ông như Lefaucheux đã không đánh giá đúng, và rồi rõ ràng, thực tế là sau đó Anh Pháp Mỹ ném hết các phát minh phát mẹo của họ đi, toàn bộ nhái súng trường các loại Đông Âu. Từ Chassepot MLE 1866, MLE 1874 Gras, Lebel 1886 (Früwirth M1872 ), Cải tiến Lebel thành M1892 = nguyên thủy của Anh Đô Si Noa nhà ta, là Lebel quá chuối kiểu 1866 mà dùng đồ Mosin, Krag M1891 ( Krag có nhiều điểm giống các Mauser mà hãng bãn ở châu Âu), ".30-03", ".30-06" (cả hai đều Mauser G98), Martini-Enfield (Mannlicher ). Cái trào lưu súng bắn nhanh còn nhiều ờ thời hiện đại, làm các súng cải tiến rồi lại cải lùi nhiều, điển hình là M16. Nói vòng vo về Tây Âu cái. Sau Đại Chiến Bắc Âu 1700-1720, Nga đánh Thụy Điển và Ottoman, nước Nga thành lập nên khối Đông Âu mà về sau sẽ thành 3 Đế Quốc: Nga, Phổ và Áo-Hung. Nhiều phần trong đó là các mảnh tan vỡ của Đế Quốc Ba Lan-Lethuania, tan vỡ vì dám phản bội Nga theo Thụy Điển. Phần lớn Áo Hung là các phần của Ottoman, mà nước Áo thống nhất đôi khi không phải bằng chiến lý, mà bằng sinh lý vô địch của phụ nữ họ Hasburg. Từ đó, suốt 200 năm, các nước Áo và Phổ lớn mạnh trong sự nghiệp đẩy lùi Ottoman. Tây Âu gồm Anh Pháp đẻ ra cái kỹ nghệ bán súng lởm , cho các khách hàng lớn như Ottoman. Điều này cũng chỉ nhai lại cái kỹ nghệ đâm thuê chém mướn của triều đình August Ba Lan trước 1720. Thế nhưng, sau khi kỹ nghệ đầu độc bằng quảng cáo đểu phát triển ở tây Âu, thì họ đầu độc chính quân sự của họ, từ việc điên rồ trực tiếp tham chiến, cho đến nhồi cho ngân sách của chính họ súng lởm. Đâu phải Tây Âu thiếu tiền, thiếu khoa học, mà họ bị đầu độc. Rồi, tk20, người Mèo lại thừa kế việc bán súng này. Người tây Âu thường chỉ học theo Đông Âu những bề ngoài và lai căng thành các quái vật. Rồi, các chính quyền mới lên, thỏa mãn tham nhũng, tăng giá súng bằng tiếp tục các cải tiến quái thai, làm hỏng mẫu copy Đông Âu ban đầu. Sự thống nhất súng trường của Đông Âu bên Tây Âu trở thành những mồi béo nhất để tham nhũng ngân sách, khi chỉ một nhóm nhỏ các hãng được thầu cung cấp súng tiêu chuẩn thống nhất. Mỗi khi copy một bản Đông Âu, thì ban đầu, ở tây Âu, chúng được bán giá cao vì có thêm một vài chi tiết rất "ưu việt", mà súng mẫu Đông Âu rẻ tiền "không thể sánh được". Mỗi lần chính quyền mới lên, thì các chi tiết "ưu việt" đó lại được bổ sung, dần dần, súng thành một đống hổ lốn các rác rưởi, trong khi chính cái mẫu đó bên Đông Âu lại phát triển đúng đắn. Ví dụ, không ai ngày nay dùng hạt nổ sườn và vỏ đạn có tai xách, cái khóa nòng then trượt và tai xách ?? ồ, đó là Vögler của 194x. Nó tệ hơn Vögler vì súng rung mạnh khi búa đập ngang, mà búa rất nặng vì là bịt đáy nòng chịu áp lực. Nó có vỏ đồng nhá, đạn dài đường kính nhỏ nhá, nạp đạn sau nhá, bắn nha nhá, nhưng có ai ngày nay dám dùng các giải pháp này. Ngay cả các súng khai hậu có mặt ở ta (do dân sự hoặc bán quân sự Pháp chế mới hoặc hoán cải từ nạp miệng), cũng đã biết bỏ búa ngang đi, mà dùng búa quay dọc đặt chính giữa sau nòng, nên không rung ngang ( như Lorenz Infanterie Gewehr M.1954 http://www.hungariae.com/Lorenz.htm . máy trap door ) http://armesfrancaises.free.fr/Mousq%20Treuille%20de%20Beaulieu%20mle%201854%201er%20type.html Như vậy, MLE 1854 Pháp đã bỏ đi tính chính xác, mục tiêu chính của cải cách, mà ôm đồm đủ các giải pháp !!! Nhái giải pháp và bỏ mục tiêu, kiểu son phấn đó đậm chất Tây Âu. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Chín, 2010, 01:42:04 pm Nhiều bạn thắc mắc, M1841 Phổ vẫn dùng đầu đạn bi cầu ? Vậy là nó đâu có thừa kế các ưu thế của nòng xoắn, bắn chính xác, mà mục tiêu của cải cách là bắn nhanh ?
Đúng thế, một mục tiêu của cải cách nạp sau, đạn có vỏ là bắn nhanh, nhưng không phải là nhanh với trơn, mà là nhanh phục vụ xoắn. Số là, kiểu đạn có lỗ trụ dọc đầu đạn, có vài đai, như Krnka Nga trên, ban đầu được dùng cho nòng xoắn nhưng nạp miệng nòng. (http://www.militaryrifles.com/Russia/krnkaS02.jpg) Đạn không bé hơn cỡ nòng như MLE 1822 T BIS Pháp trên, mà to chút so với cỡ nòng, cụ thể là to hơn đường kính giữa các gờ và bé hơn đường kính giữa các rãnh, súng nap đạn miệng nòng có gờ tam giác cũng như trên. Nhờ cái lỗ và đai, khi nạp, đạn hơi tóp lại vì khoảng trống trong cái lỗ hình trụ giữa tâm đạn (xem hình Krnka), và đai chì dễ được gờ tam giác thép cắt, nhờ thế, lực nhồi nhẹ và nhồi nhanh. Khi bắn, áp lực khí thuốc truyền qua cái lỗ tâm tiền thân của lõm đuôi đó, làm đạn nở ra, điền kín nòng mòn, ăn chặt vào rãnh, nên dù súng đạn có không chính xác thì bắn vẫn chính xác. Nhưng rõ ràng, lực cắt đai vẫn rất nặng so với đạn bi cầu nhỏ hơn cỡ nòng của MLE 1822 T BIS , súng xoắn nạp miệng bắn rất chậm so với trơn, và dó đó, không được chấp nhận chính thức. Mặc dầu, trên thị trường các "hãng mẹ" vẫn bán nhiều dao để xạ thủ tự đóng rãnh, hoặc thuê các lò rẻn nhỏ làm, coi như không chính thức chấp nhận. Việc này dĩ nhiên đắc dụng trong nhiều trường hợp, ví dụ, với anh lính đảo ngũ hoán cải súng chiến thành súng săn. Việc súng có rãnh bắn chậm đã được chính Victor Hugo mô tả trong Những người khốn khổ, chương Ma-ri-uyt, lời nói của các sinh viên=những người thông thạo khoa học, trước khi chiến lũy thất thủ. Vậy, M1841 "súng mỳ" Phổ đã có sức mạnh vượt trội về tốc độ bắn, nhưng so với xắn nhồi miệng nòng không thể chấp nhận được, chứ không phải tốc độ bắn là mục tiêu hoán cải thành nạp sau có vỏ. Rõ hơn, M1841 làm nạp đạn sau để có thể sử dụng xoắn mà tốc độ không quá chậm như nhồi miệng. Mục tiêu hoán cải vẫn là xoắn, khi xoắn không nạp sau thì xoắn rất chậm, và nạp sau là cải tiến tốc độ so với xoắn nạp miệng. Tại sao M1841 Phổ lại bi cầu. À, do nó đặt hạt nổ ở tâm đáy đầu đạn, chính giữa cái lỗ của Krnka, nên không điểm hỏa được, nên mới bi cầu. Nó đặt hạt nổ ở đó vì nó ra sớm, vẫn dùng tiêu chuẩn đường kính nòng của nhồi miệng trơn, bên Phổ là 15mm. Do đó, vỏ đạn giấy yếu, không đủ vững để hạt nổ đủ áp lực kích nổ một cách tin cậy, mà nhiều trường hợp hạt nổ tụt vào thuốc nếu đặt ở tâm đáy vỏ. Nếu dùng đầu đạn có lỗ tâm như Krnka, thì hạt nổ thụt vào trong đầu đạn. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/83/Needle_gun_cartridge.jpg) Các súng nạp sau cùng thời như Kammerlader-1842 của Na Uy vẫn dùng loại đạn mà người Mỹ gọi là đạn Minie. Thật ra, loại đạn này có tên như thế bên Mỹ năm 1859 vì lần đầu tiên ông sỹ quan Pháp này mang đến đó, còn đạn đã xuất hiện từ lâu ở Đông Âu, ví dụ không xa, chính là Kammerlader. Các phiên bản ban đầu của súng này dùng thuốc rời, hạt nổ rời như hình dưới=ở dưới buồng đốt lật, nên không sợ hạt nổ thụt vào cái lỗ của Krnka. (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/kammerlader/kammerlader_01.jpg) Sau này, Kammerlader dùng chung giải pháp với các phiên bản đạn M1841 khoảng 1848-1849. Thật ra, lúc đó, đạn do các xưởng nhỏ, cửa hàng nhỏ, hay xạ thủ tự chế, và các phát minh dân gian này xuất hiện trong suốt quá trình sử dụng M1841 súng mỳ. Các Kammerlader có thể cải tiến chút theo 2 hướng, hạt nổ sườn hay tâm (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/kammerlader/kammerpatrkule_01.jpg) Bản chất của đạn dùng cho M1841 là cái đệm gỗ che cái lỗ của Krnka, hạt nổ đặt trên đó, đây là hình vẽ thời hiện đại, thật ra, cải tiến này sùng đạn nhọn rồi. (http://www.fototime.com/476695B355CB82A/standard.jpg) Cái anh chàng Minie không phải không biết Kammerlader, nhưng "đường xa vận khẩn", xa cách cả đại dương đi tầu buồm, vận cấp trong nội chiến súng đạn bán bộn, Minie vẫn đóng mark của chàng lên văn hóa Mèo, không hề chê uy tín kinh doanh. Loại đạn này là đạn nhọn ngắn cho súng nạp sau, thường dùng cho các súng hoán cải có đường kính vẫn to như nạp miệng, nhưng lại nạp sau, có nhiều đai như đạn nạp miệng cũ, có khác là lỗ tâm hình tam giác, vì không cần tóp lại khi nạp miệng nòng nữa . Còn nó khác đạn dài như Berdan, Gras sau này là lỗ tâm lõm đuôi vẫn còn sâu, chứ không nông choèn. (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/kammerlader/Minie_ball_design_harpers_ferry_burton.jpg) Chassepot Mle.1866 đã chuyển đường kính xuống khỏi cỡ súng hoán cải và súng nạp miệng, chỉ còn 11mm. Vậy nên nó có vỏ giấy mà vẫn hạt nổ tâm đáy vỏ đạn, chứ không cần tâm đáy đầu đạn. Loại hạt nổ (kíp) này có kích thước lớn, chiếm gần hết chiều ngang tâm đáy vỏ. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg36444.html#msg36444 Luce cho biết kết quả cụ thể đạt được như sau: 94 Li-vơ-rơ (500 gr) Xan pết (Kali nitrat, N.V.H chú thích), 53 túi hạt nổ to, 100 túi hạt nổ nhỏ, 110 túi thuốc súng, và một lần khác mua được 21.000 hạt nổ nhỏ, 30 túi hạt nổ to, 1 khẩu Lefaucheux và 66 viên đạn, 1 súng lục và 100 viên đạn, hai súng ngắn và 72 viên đạn Hạt nổ to chính là dạng trên, dùng cho súng kíp kiểu Tây (nhồi miệng, nạp tiền ), dùng búa to của flint lock, và cũng dùng cho vỏ giấy. Còn hạt nổ nhỏ dùng cho vỏ đạn đồng. =========== Như vậy. Bản chất việc Cao Thắng được giao trọng trách chế súng (và chiến thuật, chiến lược), đã thể hiện sự suy đồi của nước Đại Vịt, suy đồi từ đầu não, suy đồi giai đoạn cuối. Ông đã làm sai cả yếu quyết, yếu lĩnh, định dạng, format súng chủ lực. Ông cũng lập chiến thuật và chiến lược sai. Chiến thuật chính quy làm chủ lực là sai. Chiến lượng dựa vào vùng đông dân cư mà không hề chú trọng xây dựng chiến khu trong rừng sâu là sai. Nhưng ông lại là người thành công nhất trong nhiệm vụ này thời đó ? vậy, điều đó chứng minh rằng, sự suy đồi này đã ở giai đoạn cuối. Tức là, ở một xã hội còn lành mạnh, còn chưa cần một cuộc thay đổi lớn, thì những người như ông phải ở vị trí của Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng..., chứ không phải là một anh nông dân sáng dạ, học một biết hai, nhưng quá thiếu điều kiện để đủ biết mười. Đáng tiếc, chũng ta có bao nhiêu học sỹ, bao nhiêu viện hàn lâm, bao nhiều nhà giầu lắm tiền, bao nhiêu quan to đông quân ?? ai cũng yêu nước, nhiều trong đó đã tòng vong cùng nước Đại Vịt xuống cửu tuyền ? thế mà không có ai biết đến hai như Cao Thắng. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Chín, 2010, 01:42:49 pm Cậu lại làm tớ phát chán rồi
Chú Phúc quay về làm tiếp vụ Súng trường Cao Thắng là rất đáng hoan nghênh! Tuy nhiên, Diễn đàn có Nội quy và được lập ra để phục vụ nhiều đối tượng bạn đọc nên đề nghị chú tiết chế câu chữ khi gửi bài. Buff tôi đã cắt một số từ chưa phù hợp trong các bài trên. Thân! Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Chín, 2010, 09:33:10 pm Chúng ta thấy rằng, việc làm mle 1874 Gras không khó. Bản thân cái thời thiết kế ra súng, thì máy cơ khí còn hiếm, đắt và tồi, nên nó cũng không yêu cầu nhiều mắy gia công cắt gọt tinh vi, nhưng tất nhiên, nó cũng cần một số máy chuyên dụng, những những máy chuyên dụng đó không khó kiếm. Ví dụ, cho đến cuối tk19, châu ÂU vẫn chưa khoan nòng tự động như AK bi h AK nay chỉ cần một máy, làm roạch một phát xong luôn các động tác khoan, chuốt rãnh, tạo hình buồng đạn, tống mũi gia công vào từ cả hai đầu phôi ... Mà lúc đó, châu Âu vẫn khoan các nòng súng bằng các máy khoan ổn định lực kéo đầu mũi khoan, bằng vật nặng treo. Cái ông Berdan sau khi được làm ma nơ canh cho liệt não quý tộc Nga, đã đem về Mỹ một cái máy như thế, và dĩ nhiên được gọi là phương pháp Berdan, chứ không phải là một ông thợ vô danh tiểu tốt ở Tula. Thế chúng ta có máy khoan nòng ổn định lực éo đầu mũi bằng vật nặng không ? các máy khoan đó không làm biến dạng cán dao, và do đó khoan được nòng chính xác và dài, với cán dao bằng vật liệu yếu nhưng rất ít biến dạng là gang . Chính xác bao nhiêu là đủ, mình đã nói, đạn nó tự nở ra và tóp vào trong nòng, hàng ly là được. Còn máy ? ồ, cái giàn khoan nòng người Mèo vẫn khoan các nòng súng 17mm dài 1,4 mét có trong Bảo tàng dân tộc ở Nghĩa Đô ấy.
Cái khó mà mình nói, là cái khe trượt của ốc hãm bên phải receiver, được làm từ một cái đá quay, và chau chuốt bằng đục, nạo, chạm, giũa. Các mặt gia công trong lỗ sâu cũng được giũa và đục từ các lỗ khoan hay rèn mồi. Riêng cái búa chỉ cần đúng có rèn, mài, cưa và đương nhiên là khoan 2 lỗ, ren thì thay bằng tán nếu không có. Cái tay quay trừ lỗ khoan tâm thì hoàn toàn được rèn gần giống, rồi mài chính xác. Mở rộng ra, nếu giảm yêu cầu độ bền , dùng rãnh tam giác, thì các lò rèn nhỏ cũng đóng rãnh được. Dao lại được các xưởng nhà nước làm. Chuyên gia ? đầy thợ tây lang thang ở Đông Nam Á. Đấy là chưa nói, chưa có các cải tiến dễ chế tạo hơn, không tốn các mặt gia công phẳng ở sâu, như mle n1892, mle 1893. Và cũng chưa nói, trình người Pháp thiết kế không thể như Berdan, hoàn toàn không cần các máy phay đứng hồi đó, vì các mặt trong sâu rất ít phẳng, và nếu có đều dễ gia công mà không cần máy phay, cái máy to duy nhất mà Berdan cần là khoan, cho nòng và lỗ ray ở tâm receiver Như vậy, nếu như Phan Đình Phùng ở vị trí Tôn Thất Thuyết, thì ông đã có những mỏ than, mỏ quặng sắt tốt, các quân xưởng nhà nước, và nhanh chóng có mỗi năm hàng vạn súng trường mle 1874. Nhưng chúng ta đang ở thời kỳ suy đồi, thời kỳ suy đồi nhất, thời kỳ hủ nho 2 ngàn năm thịnh trị nhất. Thời Trần, có những ông đại tướng đi bán than Quảng Ninh qua Lục Đầu Giang, mới để lại Thiên Tự làm cách mạng thế giới. Nhưng đến lúc đó, triều đình cúng bái quát tháo khi phát hiện ra những tảng đá ma cháy được xuất hiện. Chúng ta biết, hủ nho mị dân bằng ngu tối đặc biệt căm thù công nghiệp, vì công nghiệp cần khoa học, khoa học tới chiếu ánh sáng làm tan bóng tối của hủ nho thối rữa, vậy nên, hủ nho mới dèm pha nhà vua anh minh nhất của dân Vịt là Lê Thánh Tông, vì ông guy động công nghiệp làm quốc gia hùng cường, có nhiều súng, đánh bại CHiêm Thành, báo thù mấy lần Hồ Quý Ly vất vả. Gia đình Hồ Quý Ly sang Tầu được trọng dụng, nhưng triều nguyễn làm việc đê hèn nhất là đi xin sử thanh viết sử nhà, dèm pha bịa đặt, trong Khâm Giám, mà đến nay chúng ta mới vạch rõ được. Hủ nho căm thù công nghiệp thật sự, nhưng lại đồng minh với cường hào ác bá để hít mút kiệt quệ những nguồn lực hạ đẳng. Chúng quy động quy mô lớn những thứ công nghiệp như dựng điện, đúc tượng, lát sân, hay tìm kiếm hoa hiếm đá lạ, hay đơn giản hơn là lên hội rước cũng tơi bời với hàng vạn đinh phu khiêng một cái kiệu. Thậm chí, hàng vạn thiếu nữ trang điểm xinh đẹp thay trâu bò kéo thuyền cho Tùy Dạng Đế, thiếu nữ xinh kéo yếu bằng 1/100 con ngưa, không sao, thay 100 con ngựa bằng 1 vạn thiếu nữ.... Ví dụ, Từ Hy rút tiền mua tầu chiến của Hải Quân để làm vườn Viêm Minh. Cứ những triệu chứng như thế xuất hiện, là sự suy đồi đã thịnh, và sao sắp đổi dời. Cường hào ác bá huy động những thứ "công nghiệp" liếm mút đến kiệt quệ đó, còn hủy nho thì mị dân rằng, đấy mới là công nghiệp, mới là việc của nhà nước. Chúng mới lừa đảo tráo đổi vị trí của hai thứ công nghiệp, để dèm pha Lê Thánh Tông, Hồ Nguyên Trừng, để mua vườn Viên Minh. Bản chất của hủ nho là lừa đảo đạo lý, ngụy tạo ngôn từ mà. Chúng ta có thể so sánh một điểm giữa cổ truyền tầu và Ấn Độ qua điểm này. Chúng ta may mắn còn giữ nhiều văn minh gốc Ấn, mới gần đây vẫn để tóc dài, mặc áo dài, đeo khăn xếp, chứ chưa mặc áo ngắn đội mũ như Tầu Khựa. Người Ấn và chúng ta biết chơi ngọc, chúng ta đã từng có những viên ngọc quý, như chúa Trịnh ghi lại. Còn người tầu không hề biết chơi ngọc. Cái gọi là ngọc của họ to bằng vốc tay thì còn gì là kim cương, hồng ngọc. Cái gọi là ngọc của họ đâu phải là thứ cứng nhất của thiên nhiên, mà là thứ đá không cứng lắm đủ để gia công bằng các dao kim loại. Chúng lên giá khi có màu sắc vân hoa lạ=biểu hiện của tạp chất, không trong vắt. Chúng tiếp tục lên giá khi được chế tác thành hình lạ, và càng lên giá khi ông thợ làm điều đó có giá. Chúng lại tiếp tục lên giá khi chủ nhân của nó sờ mó lâu ngày, để lại lớp ghét không thể cọ rửa, và cũng càng lên giá khi ghét đó là sản phẩm của một cơ thể danh giá. Xin lỗi đi, những mỏ xapia, không tốt lắm, hiếm hoi bên tầu được tìm thấy bởi các nông dân mách cho Tây, khi đó, nông dân Tầu dùng thứ này để làm dao đánh... đá lửa. Còn ngọc, kim cương, xaphia, ruby , đó là đặc sản của văn hóa Ấn Độ. Đặc sản về tài chính, vì kể cả loạn lạc, thì những điền sản khổng lồ vẫn thu bé lại được bằng đầu ngón tay chạy trốn. Và dĩ nhiên, đó là những thứ đẹp nhất, trong nhất của thiên nhiên. Chúng cũng là những thứ cứng nhất mà con người có được và chế tác được thành những hình thù tinh xảo nhất, chế được chúng thì không lo gì chế được súng. Đúng vậy, những súng đầu tiên có dạng cắm gậy và súng trường đầu tiên=súng cá nhân như ngày nay, đều là phát minh của Ấn ĐỘ truyền đi, bất chấp anh tầu hủ thối ngày đêm la hét là của anh. Tại sao mình lại nói ngọc ở đây ? à, cái đá mài quay là của thợ ngọc. Ngày nay, dù có nhiều máy móc tiên tiến, những thợ chế tác kim cương Ấn Độ vẫn vậy, một tay anh cầm phôi, một tay kéo cái cần kéo đá quay liên tục, mắt không nhìn phôi mà nhìn....ống kính thời sự, nhưng vẫn mài. Như thế, điều kiện để chế tạo hoàn chỉnh Gras đã không thiếu thứ gì. Đúng thế, đá mài quay và giũa, giũa làm bằng lò rèn, là thủy tổ đã đẻ ra các ô tô, tầy vũ trụ ngày nay. Từ những cái đó, người ta không chỉ làm súng, mà còn làm những máy công cụ đầu tiên, rồi máy này đẻ ra máy khác. Rõ ràng, Cao Thắng đã làm được nhiều việc hơn Triều Đình hủ thối, chìm ngập hủ nho 2 ngàn năm. Đáng ra, đâu phải một ông nông dân sáng dạ, với dăm ông thợ lảng, với cái lò rèn liềm búa ?? Mà đáng ra, phải là quân xưởng nhà nước, có mỏ sắt than, có chuyên gia Tây. Nếu hơn nữa, thì cũng đâu phải Gras, mà là thứ gì đó như Berdan, và Mosin, được thiết kế chau chuốt đến mức làm được quy mô lớn trong điều kiện rất ít máy công cụ chính xác, và sở hữu đường đạn tốt nhất thế giới cho đến nay. Nhưng, những thứ đó không thể có ở một triều đình, dù là của Tôn Thất Thuyết, lại căm thù bánh mỳ công nghiệp. Tôn Thất Thuyết yêu nước và đã bỏ sản nghiệp tòng vong theo vua, theo nước. Thế nhưng ông có đủ thiết tháo làm nhà nho, nhưng có đủ cam đảm để đào bánh mỳ công nghiệp, đốt nó lên, lấy anh sáng than đá quét sạch hủ nho 2 ngàn năm không ? Hay ông tiết tháo, cũng chỉ là luẩn quẩn trong cái đạo đã hủ ấy. Chúng ta đã biết, kỹ thuật làm Gras chưa mang nhiều tính công nghiệp. Một số khâu của Gras có thể năng suất cao hơn khi dùng máy, nhưng không cần nhiều máy, không cần máy quý hiếm và khi không có máy vẫn làm được. Gras cũng không phải là súng ưu việt của 187x, lúc đó, Grenadier 1871 của Áo-Hung đã có băng 8 viên. Gras cũng không phải là thiết kế đỉnh, nó dở hơi là phải cấm quay cái bịt đáy nòng, nên phức tạp, nặng nề. Thiết kế cấm quay bịt đáy nòng này thuận tiện cho băng ngang (khi quay bịt đáy nòng, cái móc đạn trong băng, khe của mấu hất vỏ đạn, chuyển động của cái móc đạn từ nòng... sẽ chuyển động phức tạp), thế nhưng, Lebel lại băng dọc, vì học Đông Âu một cách ngu si sau những bại trận nhục nhã. Và hoàn toàn, lúc đó, Cao Thắng đã cho thấy, cái cần làm không phải là chế Gras trong rừng Hương Khê, mà là tìm thuốc tẩy hủ thối đã cực điểm. Ông cho thấy một cái lớn hơn nhiều cái khẩu Gras. Vào thập niên 189x, thì Gras đã lạc hậu ở Âu, nhưng với lính lê dương Viễn Đông thì có lẽ, nó vẫn còn hiện đại hơn AK 7,62mm. Gras vẫn còn có những cải tiến tiêu chuẩn nhà nước mle 1893 (chủ yếu là đạn công nghiệp, lõi thép vỏ đồng), và vẫn là súng tiêu chuẩn trước khi Lebel 1886 được chấp nhận. Như vậy, đến Ba Đình, thì Gras mới thoái vị vài năm , chứ không phải từ năm 1974 đến nay như AK 7,62mm. Rõ ràng, Gras ở Ba Đình trẻ đẹp hơn AK 7,62 ngày nay. Chúng ta có thể coi súng vỏ giấy hay hoán cải khai hậu tương đương các súng ngắn liên thanh WW2, còn Gras như AK 7,62 đi, còn Lebel có băng như là AK 5,45 đi. Đến Lebel, người Pháp dùng thuốc nổ không khói, không như Gras nguyên thủy dùng thuốc nổ đen. Nhưng dân wiki nói thuốc nổ không khối mạnh hơn thuốc nổ đen là tầm bậy, nó chỉ hơn tính không khói. MLE 1893 dùng thuốc nổ không khói không mạnh hơn gì nhiều. Cái wiki là máy ăn cắp não, thuốc nổ chỉ chiếm một khối lượng nhỏ, khi dùng thuốc nổ có năng lượng / khối lượng mạn yếu chút thì thêm bớt liều chút, từ 5,5 gram đổi thành 3,3. http://en.wikipedia.org/wiki/Cordite http://en.wikipedia.org/wiki/Poudre_B http://www.armeetpassion.com/11%20gras.html http://armesfrancaises.free.fr/mousq%20Mle%201874.html Thật ra, cái wiki là cái máy chế tạo liệt não để la liếm cho việc Anh Mỹ dùng thuốc nổ dẻo Cordite đến sau WW2. Thuốc súng mạnh đâu có phải là thuốc có năng lượng / khối lượng to. Mà là thuốc viên điều khiển tốc độ cháy để nòng nhẹ, bền, lâu nóng. Các đạn về sau có đường đạn tốt hơn chỉ bởi vì chúng giảm đường kính. Giảm đường kính nên tăng được sơ tốc do đầu đạn nhẹ hơn, cho đường đạn tốt hơn. Cái này thì còn lâu sau Ba Đình ở châu Âu mới hoàn thiện. Thế một phiên bản nào đó của Gras có làm được đường kính nhỏ hơn, như 8mm không ? để bắn đầu đạn 13 gram ? Chứ cần sơ tốc khủng như thuốc viên Mosin M1906, mà chỉ cần 5-6 tram m/s như Lebel ? Hoàn toàn được. Cùng một đẳng kỹ thuật khoan, mòng càng dài thì đường kính nhỏ nhất khoan được cảng phải to. Ấy nhưng, súng trường châu ÂU cần cái nòng dài để làm cán lê, các phiên bản Mause và Mosin 193x, khi lê đã xuống giá một mức, chỉ dùng nòng 500mm, vì đoạn sau đóng góp cho sơ tốc thì ít, mà công dụng cán lê thì nhiều. Mà lê trong rừng không cần lắm, vậy, Gras dùng đường đạn Lebel M1886 không khó, không cần tăng đằng cấp kỹ thuật. Gras có 1 viên ? Anh Đô Si Noa 1916 cũng 3 viên thôi, không danh giá gì hơn nhiều. Đạn có sơ tốc cao hơn thì chì có chịu được không, hay bắt buộc đạn thép lõi đồng ? Ìu, G88 đầu chì, Mosin M1991 đầu chì, và Lebel ban đầu cũng dùng nhiều đầu chì bên cạnh đầu thép bọc đồng. Sau này, đạn théo vỏ đồng thuận lợi cho ổn định hình dáng đầu đạn cho đường đạn chống trên mũi nhọn, G88, Mosin M1906.... Bản chất súng trường tiêu chuẩn nó như vậy, nó không phải là đỉnh cao kỹ thuật gia công, mà yêu cầu thiết kế cdao. Thiết kế chau chuốt để tránh những biện pháp gia công khó, để quốc gia có nhiều súng trường, vũ khí quan trọng nhất, trong tình trạng co cẳng chạy chiến tranh. Như vậy, một ai đó làm Gras không phải là sự mà các nhà thiết kế không lường, mà ý họ khi thiết kế đã là như vậy. Vậy, Gras không lạc hậu lắm, nó như AK 7,62 ngày nay và hoàn toàn có thể có đường đạn tốt như đẳng Lebel M1886 ở Hương Khê, có sơ tốc 600-700 m/s. Và cái anh Phú Lãng Sa ngỡ ngẩn khi không cải được Gras, Gras có bịt đáy nòng không quay, vô cùng thuận tiện cho băng đạn ngang, chứ không băng dọc như Lebel nhái Áo Hung mà khi nhái quên không dùng não. Băng Lebel là một tai vạ, ban đầu nó chỉ khó lắp, nhưng khi có đạn nhọn, đạn chọc nhau gây nổ trong băng, làm đạn Lebel cắt đầu, cắt đuôi thảm hại, với một ty tỷ loại đạn và loại súng. Tất nhiên, khi Tôn Thất Thuyết biết cơ khí để làm Gras, ông sẽ nhanh chóng nhận ra điều này, và repeater (súng có băng) kiểu Gras hay "Tự Đức x niên" sẽ sớm cười vào mũi Lebel. Như vậy, kháng chiến của Tôn Thất Thuyết thất bại đâu phải do không biết làm súng nên không có súng ? Và nỗ lực của Cao Thắng là vô vọng mặc dù làm được súng. Súng không khó làm, mà cái cản trở làm súng không phải kỹ thuật, mà là hủ thối. Cái làm chết nước Đại Vịt đâu phải Tây Phú Lãng Sa, mà là sự suy đồi của 2 ngàn năm hủ nho. Dĩ nhiên, sự thối nát ấy là của đại Vịt chứ không phải của Tây Phú. Nhìn xa hơn và rộng hơn, sự thối nát ấy được nhập khẩu đều đặn từ đồng minh ngàn năm là Trung Hoa Vĩ Đại. Tiêu đề: Súng trường Cao Thắng / Triều Đình Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Chín, 2010, 07:47:06 pm Chúng ta đã thấy, phần lớn những cái gì chúng ta được đọc ngày nay là của hủ nho ghê tởm. Nhà Nguyễn là thời đại suy đồi mạt hạng bậc nhất của Đại Cồ Vịt, và đương nhiên, hủ nho nhà nguyễn thịnh nhất. Đến cái ông tình tang là Nguyễn Du, khi làm "gái đĩ chính chuyện", cũng viết "lễ nghi bày trước, bác đồng đặt sau", làm các ông đồ nghệ khi kiếm cơm lưu truyền từ đó cho đến nay, kể cả lưu lạc bên sa mạc. "Bác" (bỏ) là chữ pháo viết nhầm, đại pháo thành đại bác. Một trong những ông đồ ấy là Phan Bội Châu, có công bê chữ bác ấy vào Nôm "lại ngư lôi đại bác ai tề" = "lại nói, ngư lôi và đại bác có ai bằng (nhật)".
Đến lúc gần mất nước, nhà Nguyễn mới có nỗ lực đầu tiên làm được điểu đầu, tức bộ máy cò flint lock, kiểu máy cò mang tính tiêu chuẩn dùng đá lửa. Dĩ nhiên, chiện tởm lợn ấy được hủ nhơ ghi lại bằng văn nạm vàng, rằng là nhà ta đã tự trồng được thứ đó-rất cao quý, không lo việc Tây không bán, Tây không bán vì Tây đã không làm nữa và hết kho rùi. Tên đủ là "thạch cơ điểu thương", súng đá lửa có cái búa như đầu chim (điểu đầu), có các tên "điểu đầu thương", "điểu thương", "điểu đầu súng", "điểu súng", và tên đầy đủ như vậy. Từ đầu tk 19, người ta đã dùng phổ biến hạt nổ. Sau chiến tranh Napoleon, thì MLE 1822 (có lẽ là đầu tiên của chính quyền mới bên Tây Phú Lãng Sa), đã là hạt nổ. Có thể tranh luận khi chế ra một thứ tên như "điểu đầu hạch" ;D. Nhưng may quá, hủ nho ngu si khi liếm bóng sự si ngu đã ghi rõ là "thạch cơ". Thật nhục nhã với Thần Cơ và cũng quá hiểu tại sao nhà nguyễn hèn dạ ngu tối đến mức cử đoàn đại biểu chính thức xin sử Thanh về bôi xóa dèm hoàn toàn bịa đặt về Hồ Nguyên Trừng (bịa nguyên ra một đoạn Minh giết vua Hồ Quý Ly và dĩ nhiên không đả động gì đến việc hai cha con đứng đầu ngành chế súng cũng như các đồ dùng trong cung điện, từ 1407 đến 1470). Tuy nhiên, điểu đầu chỉ có rất ít trong các quân kinh thành, như bộ tư lệnh Lăng hay binh chủng đặc công. CÒn quân đội chính quy vẫn là "bao tấu bầu ngòi", như Cụ Đồ Chiểu tả quân triều đình, tức là hỏa thằng câu thương, hỏa mai mồi thừng, match lock. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,656.msg141938.html#msg141938 Ngang lưng thì thắt đai vàng Đầu đội nón dấu vai mang súng dài Một tay thì cắp hỏa mai Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa. Cũng dĩ nhiên, chỉ rất ít súng được khoan, chủ yếu vẫn là nòng đúc, và nòng khoan cũng lại chủ yếu là nhập ngoại. Chúng ta biết, các mạng súng trường khởi đầu từ Hồ Nguyên Trừng và kết thúc ở nửa đầu tk18 ở Anh, Pháp. Năm 1714 và 1736, Pháp và Anh mới trang bị súng trường kiểu mới, tức giảm cỡ nòng từ 20-50 mm xuống còn 14-18 mm, giảm khối lượng từ 10kg xuống còn 3-5 kg. Súng nhẹ và dài 2 mét cả lê, nhờ đó, khi cắm lê có tác dụng như giáo, không cần giáo mác cận vệ, và đuổi giáo về hưu hoàn toàn. Nòng dài và nhẹ có chìa khóa là kỹ thuật khoan thay cho đúc, thép thay cho gang đồng. Về mặt khoan, triều đình không cần phải nhục nhã với ai xa, mà với người Mèo ta đó. Phần lớn các súng loại dài mà người Mèo tự khoan đều có nòng dài 1-1,4 mét, đường kính 15-18mm. Về hạt nổ, triều đình cũng lại quá nhục với kíp lông vũ người Mèo. Chính các khẩu súng Tây, sau khi sang Vịt, đã bỏ kiểu máy flint lock quá lớn thừa kế từ hồi đã lửa, mà dùng búa cò mảnh dẻ nhẹ nhàng, bắn không rung súng, vì kíp lông vũ đặc sắc, cả nòng và kíp đều chống ẩm hoàn toàn, không nhồi được nhưng giữ được và bắn được trong mưa. Nhục hơn nữa, hạt nổ mua được ở thị trường tự do Đông Nam Á, nghĩa quân cũng mua được. ?? Vậy lý giải thế nào về việc đến khi mất nước, nhà nguyễn vẫn dùng "thạch cơ", chưa dùng "hạch cơ" (tên này do ông Cao Phúc đặt). Ở xứ mưa nhiều, yêu cầu chiến đấu mọi thời tiết cao hơn nhiều ở châu Âu, nên người Mèo mới dùng ống lông vũ làm hạt nổ, Hồ Nguyên Trừng mới lèn gỗ tránh nước ở cả nòng và cốc mồi. Trong điều kiện ở rừng, Cao Thắng thiếu nguồn sắt thép, thiếu đội ngũ nhân công lớn và các điều kiện khác để xây dựng các "máy công cụ". Lúc thiết kế MLE 1784 Gras, châu Âu máy công cụ còn tồi, ít, và đắt. Nhưng cũng có một số khâu buộc phải dùng, như ren nối receiver và nòng. Chính vì thế, mình mới có một giải nghĩa khác về viếc các ông Tây nói đến cuốn. Dĩ nhiên, các ông lính Tây, mà lại là lính viễn chinh, thì dù là ông Tây, ngày đó rất kém kiến thức khoa học. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg36443.html#msg36443 Theo mình hiểu thế này, do không làm được ren, nên nghĩa quân đã dùng rèn cuốn receiver vào nòng. Hoặc một cách khác, nòng liền receiver và ban đầu có dạng như cái phôi dao chuôi thép ngày trước. Các bạn đã biết dao chuôi thép, hay ra chợ mà xem, chuôi và lưỡi đều chung một phôi, chuôi thì cuốn lại. Cả hai cách đều giải thích đúng đắn cho cuốn. Thật ra, không có ai dùng nòng cuốn thay cho khoan, khoan không được thì thà đúc cho xong. Và kỹ thuật khoan hồi đó đã phổ biến trong nhân gian Vịt. Cuốn đây là cuốn receiver, hay cuốn receiver vào nòng. Còn các thứ còn lại, các bạn dã thấy, đều gia công được bằng mài, giũa, đặc biệt thuận lợi khi có mài đá quay của thợ ngọc. Và chỉ một chút ít là cưa, khoan, còn đục chạm chỉ là phụ, có thì nhanh đẹp, không có chẳng sao. Tất nhiên, Cao Thắng chỉ có trong tay những điều kiện vật chất rất tệ và một vài ông thợ làng. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg253263.html#msg253263 Dễ hiểu, trong một trừng những thứ trong này, thì đa phần là bọn liếm bàn thờ để ăn cắp lễ, ngu si và đê tiện. Xã hội còn nhiều, 2 ngàn năm hủ nho cơ mà, người ta đã quen nghe và nói như thế, cả thằng nghe và thắng nói, đều nghe và nói chỉ để ăn cắp lễ trên bàn thờ. Trong số tràng giang đại hải về súng cao thắng, gần tất cả , từ triều đình đến phủ huyện, đều như vậy. Họ không những không cung cấp thêm bất cứ tư liệu gì về khẩu súng Cao Thắng, mà còn nhồi sọ nhiều thế hệ bằng đống giòi bọ mà họ chế ra. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg253129.html#msg253129 Kết quả của những tởm lợm đó mình đã nói ở đây. Mai đây, Vịt cũng giỏi như Tây, thì khi đến xem Bảo Tàng, họ nói gì ? trời , cái bọn nhồi sọ cha ông chúng ta ? và .... thật may mắn là bọn ấy đã xyz. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,2673.msg36493.html#msg36493 Trong tất cả các đám ấy, chỉ còn ông Thái Kim Đỉnh thu thập được trong nhân gian một số thông tin có giá trị. Triều Đình nguyễn không làm được súng kíp, còn Cao Thắng làm được súng vỏ đồng . Vậy, Triều Đình có sử quan liếm bàn thờ ăn cắp oản, nhồi sọ Vịt Chúng, còn nhân gian có sử đúng, chiện đó là hợp lý. Theo ông, chúng ta đã biết. Nghĩa quân dùng nhiều loại súng, nhưng chủ lực có hai loại. Một loại là "nạp tiền", một loại là bản nhái Gras MLE 1874. Nạp tiền là súng kíp theo ngôn ngữ tiếng Vịt hiện đại, nạp đạn miệng nòng (nạp tiền), nhưng dùng hạt nổ (kíp), và hạt nổ được mua nhưng phần nhiều khả năng là tự chế được, loại súng này không nhiều. Nghĩa quân có thể dùng nòng khoan, nhưng cũng có thể dùng nòng đúc, vì súng nạp tiền được chế tạo trong thời điểm Cao Thắng mới cầm quân, toàn nghĩa quân có vài trăm người, khó mà tập hợp các điều kiện sản xuất. Bao liều + hạt nổ ? súng kíp chăng. Súng kíp có các bao đong thành từng liều, khi chiến đấu không phải đong, cho nhanh, mà triều đình gọi là "bao tấu". “... Nghe ở bên đồn Lục - Lò của bác Năm Đen - Cử chộ (thấy) đập phèng phèng - Đã đúc xong chưa hả? - …Thôi ra đe, ra búa - Chú em mô đi làm hạt nổ - Sắp sẵn cái bao liều - Chú nữa mau tay mau - Gọt lanh cái bẹng (báng) súng - Mai mốt tha hồ chất đống - Súng của ông Cao Thắng chế ra - Súng bắn gần bắn xa - Cùng có công ta - Ngày đêm rèn đập...”. Loại súng chủ yếu sau này là bản nhái Gras, nhưng không có xoắn. Đương nhiên là khoan, vì kỹ thuật khoan nòng lúc đó không thiếu, còn cuốn thì mình chưa thấy ai dám bắn súng nòng cuốn, nhất là thép hồi đó, nghe lạ tai quá, cũng lại tác phẩm của hủ nho nào đó đoán mò ý mấy ông Tây. Súng này được nghĩa quân gọi bẳng các tên "súng cao thắng" "kiểu tây" "bắn nhanh" "nạp hậu". Theo mình, chiện nhân gian này còn một mẫu súng Cao Thắng là rất khó. Và vì những tởm lợm của bọ hủ nho tân thời, bọn la liếm bàn thờ ăn cắp lễ, mà hình ảnh khẩu súng thiên tài này ngày càng méo mó mờ nhạt. Đến bao giờ thì Vịt Chúng sẽ cười vào mũi khi nghe ai nói về súng Cao Thắng ? Hôm nay đã khối rồi, cũng như hôm nay đa phần chữ nghĩa vẫn là sản phẩm hủ nho nhả ra. Gần 550 năm sau Thiên Tự, khẩu súng khởi đầu cách mạng vũ khí cuả Thế Giới, súng trường lên ngôi vũ khí chủ lực, người Vịt Chúng mới nghe và được mô tả về nó, trong một yêu cầu đặc biệt với đồng minh lớn lúc đó. Và 600 năm sau Thiên Tự, mới có gần như, chứ chưa chưa hoàn toàn đầy đủ về cấu tạo và các sử dụng của Thiên Tự, chỉ biết rằng, nó có cỡ nòng ngang với MLE 1714. Và sau này, bao nhiêu năm nữa, lại mới có người chứng minh súng Cao Thắng là có thật, sau một triều nguyễn nữa ? Và, trong tình huống nào thì báo chí triều nguyễn mới, tân nguyễn triều, sẽ ca tụng Vịt Chúng đã có thợ làm được "tân thạch cơ điểu đầu", vì không mua được của Tây, vì Tây đã thôi làm từ lâu (50-70 năm), và đã bán hết tồn kho rồi ? Hủ nho cũ và mới cùng chung mục đích, đúng chưa nèo ? Đều là la liếm "điểu đầu thạch cơ " mà thôi. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 06 Tháng Chín, 2010, 07:46:41 pm http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg36444.html#msg36444
Báo cáo của Le Normand ngày 11-5-18951 cho biết lúc ban đầu, cuộc khởi nghĩa Hương Khê cũng giống như các cuộc khởi nghĩa khác trong nước về mặt trang bị kỹ thuật, vũ khí của nghĩa quân là bạch khí, nghĩa là chỉ gồm gươm giáo mác, mã tấu v.v... chưa có vũ khí hiện đại. Từ 1890, nghĩa quân đã tổ chức được một cuộc phục kích thành công, thu được một tá súng trường]. Phấn khởi trước thành tích, sau đó nghĩa quân đã liên tiếp tổ chức nhiều cuộc phục kích nữa để cướp súng, những trận sau đó Đề Mậu và Đề Niên chỉ huy. Theo báo cáo của Công sứ Nghệ Tĩnh Duvillier, ngày 17-12-18952, những người thợ làm những công đoạn khó khăn trong việc chế tạo súng đã được nghĩa quân trả công cao hơn rất nhiều so với mức bình thường ở ngoài xã hội. .......... Ngoài việc chế tạo súng trường tại chỗ, cụ Phan còn tìm cách mua được một ít vũ khí đạn dược ở Xiêm. Từ 1891, Cao Đạt đã nhiều lần sang Xiêm để làm công việc này. Luce cho biết kết quả cụ thể đạt được như sau: 94 Li-vơ-rơ (500 gr) Xan pết (Kali nitrat, N.V.H chú thích), 53 túi hạt nổ to, 100 túi hạt nổ nhỏ, 110 túi thuốc súng, và một lần khác mua được 21.000 hạt nổ nhỏ, 30 túi hạt nổ to, 1 khẩu Lefaucheux và 66 viên đạn, 1 súng lục[/color] và 100 viên đạn, hai súng ngắn và 72 viên đạn3. Báo cáo của Le Normand đưa ra những con số khác, một lần 15 súng lục và một lần khác 50 súng lục. ..... Le Normand ước lượng là tổng số vũ khí do nghĩa quân sản xuất và sử dụng cho đến 1895 là từ 1200 đến 1300 khẩu. Nếu tính cả số thiệt hại và phá huỷ do quân Pháp gây ra nhiều lần khi tấn công vào các căn cứ địa của nghĩa quân, thì tổng số vũ khí do nghĩa quân chế tạo được lên đến hàng ngàn khẩu. Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa, tháng 1-1897 thực dân Pháp đã mang ra bán làm sắt vụn những vũ khí của nghĩa quân mà chúng thu được, trọng lượng của đống hàng này lên đến hơn hai tấn rưỡi sắt, bao gồm: 403 khẩu súng, 328 nòng súng, 103 súng có pít tông (fusil à piston), 436 dao (biên bản việc bán ngày 26-11-1897 và báo cáo của tổng sứ 10-10-18964 Quên, cái này định post trước nhưng lại quên. Vấn đề nhấn mạnh thứ nhất, là chỉ sau 1890 nghĩa quân mới có Gras nhái, còn trước đó là không. Hoàn toàn không như hàng đống luyên thuyên nhảm nhí ở đây http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg253263.html#msg253263 Ví dụ, http://www.quansuvn.net/index.php/topic,2673.msg36493.html#msg36493 Ông Thái Kim Đỉnh đã bỏ công thu thập nhiều thông tin có ít nhiều giá trị trong "dân sử", tốt nhất trong các đống này, nhưng cũng nhầm ở điểm này. Lúc này (1889), dưới quyền chỉ huy của Cao Thắng, đã có tới 1.000 người, trang bị khá đầy đủ bằng gươm giáo, súng nạp tiền và súng kiểu Tây 1874, Báo cáo về ngày tháng các trận đahs và vũ khí bị mất thường là theo quân lệnh, trong thời kỳ mới mất 1 vài khẩu đến 1 tá khẩu, thì người ta cũng chưa dám vi phạm quân lệnh đến mức viết láo báo cáo về vũ khí bị mất. Như vậy, cái này tin các ông Tây hơn. Vả lại, ông Thái Kim Đỉnh thu thập tin tức về vũ khí nghiã quân trong dân sau 1 tk, thì cái đáng tin cậy là cái khác chứ không phải thời điểm nghĩa quân có Gras nhái. Lefaucheux Như đã nói qua. Casimir Lefaucheux (26 January 1802-9 August 1852) là một nhà chế súng người Pháp. Ông đã có từ 182x kiểu súng gập nòng vó vỏ giấy, nhưng chỉ dừng lại mức bản vẽ. Năm 1836, Lefaucheux cho ra bản vẽ súng ngắn sử dụng loại vỏ đồng có kim hỏa (vỏ chứa thuốc, đầu, hạt, kim, mỗi vỏ 1 kim). Sau đó, ông vẽ kiểu súng ngắn Lefaucheux, được sản xuất 184x và được trang bị chính thức trong quân một số nước 185x. Mình đưa một vài hình vẽ để mô tả. Vỏ đạn có kim hỏa sẵn (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/vodan_khoanong/Lefaucheux/standard.jpg) Khẩu Lefaucheux. Súng có máy cỏ kiểu Flint Lock thu bé chúng ta đã biết, lò xo lá cổ điển như đã được dùng từ 166x ở Paris. Mỗi phát bắn lên cò một lầ, lên bằng kéo trực tiếp búa (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/vodan_khoanong/Lefaucheux/revolver20confedere20lefaucheux201854-03.jpg) Model 1858 được Bỉ dùng trong quân chính quy (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d3/Lefaucheux_revolver_IMG_3255.JPG/800px-Lefaucheux_revolver_IMG_3255.JPG) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ac/Revolver_Lefaucheux_IMG_3111.jpg/800px-Revolver_Lefaucheux_IMG_3111.jpg) http://www.youtube.com/watch?v=mWObW7EcJeE Súng rất hở, yếu, đặc tính chung của các revolver. Đồng thời, kiểu đạn lõm đuôi nở rất mạnh, luôn kín khít nòng xoắn. http://www.youtube.com/watch?v=GNgQJGkEWAU&feature=related Khẩu này có 20 đạn và đường kính 7mm (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/vodan_khoanong/Lefaucheux/7mm-Pinfire-Lefaucheux-Revolver.jpg) Như vậy, Lefaucheux là một loại súng ngắn . Viết "Lefaucheux và 1 súng lục" thì tức là tác giả đã coi trọng Lefaucheux hoặc coi thường Lefaucheux, vì Lefaucheux là Pháp hoặc vì Lefaucheux đã cổ, hoặc ngôn ngữ sú quan Pháp ở đây lúc đấy gọi tắt như thế để phân biệt hai loại súng ngắn. , 1 khẩu Lefaucheux và 66 viên đạn ?? Lefaucheux là súng mà xạ thủ tự nhồi đạn , đây có thể là đạn đã nhồi mua lần đầu đi kèm đầu đạn và hạt (hạt nổ nhỏ). súng lục ? Như vậy, súng lục trên này có thể là các revolver khác, ví dụ Colt 1860 Army Mỹ, vẫn kiểu khai hậu (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/colr_all/Colt1860Army/colt20186020army204420perc20modif203220long20cart20par20leo-02.jpg) tiến bộ hơn là Colt 1861 Navy Mỹ (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/colr_all/Colt1861Navy/colt20186120navy203620par20leo-05.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/colr_all/Colt1861Navy/colt20186120navy203620par20leo-04.jpg) Có lẽ kiểu cuối của Revolver là dạng dạng như Nagant Nga M1895 (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/8d/Nagant-holstered.jpg) Xấu xí hơn chút là Modèle 1892 revolver Tây Phú (MAS Mle 1892) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f8/MAS_Mle_1892_1685.jpg) Trước đó có các model 1873, 1874 http://armesfrancaises.free.fr/revolver%20Mle%201874.html http://armesfrancaises.free.fr/revolver%20Mle%201892.html Như vậy, rất có thể "súng lục" ở đây là những khẩu có dạng như Colt Navy M1861, Colt army 1860, MLE 1873, 1874 và cũng có thể là 1892. Cũng có thể là súng của nước nào đó khác ?? Ở đây, chỉ làm rõ được Lefaucheux , và cũng không biết cụ thể đó là đời nào, 1849, 1854 hay 1858, chỉ đưa ảnh 1858 vì nó được sử dụng và lưu lạc giang hồ nhiều nhắt. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 10 Tháng Chín, 2010, 12:12:26 pm (http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/Caothang-02.jpg)
Vừa vào đó nhìn lại rồi, đây là kiểu súng kíp giống loại "súng kíp Hồ CHí Minh dùng" gần đấy, cái cần trên báng là thước ngắm. Đây là loại súng kíp không chính quy có rất nhiều ở Đông Nam Á thời đó, được các quân lê dướng nửa cướp biển như quân Pháp mua và dùng nhiều, thậm chí là nhiều hơn súng tiêu chuẩn như Gras,có kiểu máy cò gần giống Nhật, đôi khi nhặt nhạnh các chi tiết công nghiệp thật, hay nhái chúng. Súng này có thể mồi đá lửa hay hoả thằng, lạc hậu. Các "đồ súng Cao Thắng" bên dưới có đạn chì dài của Gras, có thể có một cái móc vỏ đạn= tất nhiên của Gras. Hai viên "diêm tiêu Cao Thắng" là Diễm Tiêu (diêm tiêu là NaHCO3, Diễm Tiêu mới là KNO3, diêm sinh-hán hoặc diêm sành-nôm là lưu huỳnh do lợn đọc sai-khi lợn nho không đọc được chữ giành riêng và khoe chữ làm từ điển Pháp Nôm Hán Việt ), có nguồn gốc khoáng, chắc được mua, thường buôn từ Trung Á sang, phải tinh chế lại mới có thuốc súng tốt. Kỹ thuật tinh chế là kỹ thuật rây trong phễu kết tinh. Tiêu đề: Re: Súng trường Cao Thắng Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 23 Tháng Mười Một, 2012, 04:56:07 pm ko biết có phải khẩu này ko?
http://www.nguoiduatin.vn/phat-hien-hien-vat-cua-nghia-quan-phan-dinh-phung-a51059.html |