Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: ptlinh trong 14 Tháng Ba, 2008, 10:15:34 pm



Tiêu đề: Biên giới Tây Nam
Gửi bởi: ptlinh trong 14 Tháng Ba, 2008, 10:15:34 pm

(https://www.ybook.vn/uploads/books/full-img-3528-1372304598.jpg)

Nhà xuất bản: Trẻ
Năm xuất bản: 2004
Số hoá: ptlinh


LỜI GIỚI THIỆU

Biên giới Tây Nam là cụm từ khá quen thuọc đói với mỗi người Việt Nam chúng ta vào một thời chưa xa lắm, khoảng trên dưới 20 năm trước đây. Biên giới Tây Nam không chỉ là một vùng đất, một vùng trời, một vùng biển mà nó còn là nơi mà ở đó mỗi ngọn núi, dòng sông, cánh rừng, mảnh ruộng đều trở nên thân thuộc với mỗi người chúng ta. Bởi ở đó có một cuộc chiến tranh mới đã nổ ra sau khi đất nước trải qua ba mươi năm chiến tranh vừa giành lại được hoà bình mới hơn hai năm.


Mười hai năm chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (tháng 9.1977-tháng 9.1989) dường như không để lại gì nhiều trong nền văn họ chúng ta. Hàng trăm truyện ngắn, mấy trăm bài thơ được công bố trên báo chí cả nước trong thời gian ấy dường như chưa tạo được một nét gì mới lạ trong đời sống văn học nước nhà. Sự xuất hiện của một số cây bút mới lớn lên từ gian khó chiến trường trên khắp các mặt trận thuộc địa bàn ba Quân khu 5, 7 và 9, có nơi cũng gây được một chút tò mò, thích thú nơi những người yêu văn học. Rồi sự “đổ bộ” của các cây bút, là nhà văn trong và ngoài quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ lên các chiến trường biên giới Tây Nam trước và sau sự kiện ngày 7-1-1979 (ngày Phnôm Pênh được giải phóng) đã ít nhiều tạo ra được những cảm thông nơi người hậu phương.


Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã là dĩ vãng nhưng là một dĩ vãng không yên lặng, một dĩ vãng sống động bởi hình ảnh người lính bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế đã dần dần trở thành nhân vật văn học. Nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ với sự cộng tác của hai nhà văn Văn Lê (TP.Hồ Chí Minh) và Sương Nguyệt Minh (Hà Nội) giới thiệu đến bạn đọc rộng rãi trên cả nước hai tập Truyện ngắn Biên giới Tây Nam gồm 32 truyện ngắn của những nhà văn trong và ngoài quân đội viếtv ề anh bộ đội cụ Hồ ở các mặt trận biên giới Tây Nam.


Do chưa có điều kiện liên hệ trực tiếp để xin phép sử dụng với các nhà văn có truyện được in trong tập sách này, Nhà xuất bản Trẻ rất mong nhận được sự chấp thuận của các tác giả. Chúng tôi hy vọng rằng những gì được đề cập trong Truyện ngắn Biên giới Tây Nam đã phần nào thể hiện được tấm lòng của Nhà xuất bản Trẻ đối với các thế hệ bộ đội cụ Hồ nhân dịp Quân đội nhân dân Việt Nam tròn 60 tuổi.


16 truyện ngắn được giới thiệu trong mỗi tập sách này là khúc ca bi tráng về người lính của một thời-thời chiến tranh chưa xa.


NHÀ XUẤT BẢN TRẺ


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 14 Tháng Ba, 2008, 10:19:49 pm
Anh ấy không đơn độc

Văn Lê

Vất vả lắm tổ trinh sát của Hoán mới chui ra khỏi rừng cây ô rô đầy gai sắc. Hoán cho đơn vị dừng lại thay quần áo. Họ chuẩn bị luồn sâu vào hậu phương địch. Khi làm nhiệm vụ họ được phép dùng trang phục của địch.


Trời sáng hẳn. Trước mặt Hoán là một trảng cỏ đầy sương ẩm ướt. Không thể cắt rừng khi sương còn đẫm và trời sáng rõ ràng. Hoán bàn với Lợi, nghĩ lại xem động tĩnh ra sao, rồi sẽ chờ đến tối đi tiếp. Lợi đồng ý. Cả hai cùng chui vào trong bụi cây cỏ hôi bịt mùng nằm nghỉ. Tuy rất mệt, Hoán vẫn không sao chợp mắt được. Trong khi Lợi gối đầu lên bao xe đạn ngủ ngon lành… Gần về trưa, Hoán mơ hồ như có tiếng người chặt cây vọng lại. Hoán nhỏm dậy, dỏng tai nghe. Đúng là tiếng người chặt cây. Nhưng không phải là tiếng chặt của nhiều người mà chỉ có một người. Hoán đánh thức Lợi. Cả hai người cùng chui ra khỏi bụi cây và ngồi xuống bên một gốc xăng lẻ lớn. Tiếng chặt cây mỗi lúc một gần. Họ đã nghe được cả tiếng cây đổ và cả tiếng người huýt sáo sẽ sàng. Tự nhiên Hoán nảy ra ý định bắt tù binh. Anh nói nhỏ với Lợi ý định ấy. Lợi gật đầu một cách lưỡng lự.

-Câu cho rằng mạo hiểm phải không? Bất giác Hoán hỏi.

Lợi khẽ mỉm cười:

-Đúng như vậy… Nhưng không sau đâu… Tôi đã nghĩ rồi.

Hoán nắm chặt tay và trình bày kế hoạch của mình. Lợi gật đầu. Xong, cả hai cùng lặng lẽ cắt về phía có tiếng chặt cây. Hoán đang đi, bỗng anh ngồi thụp xuống, bình thản lấy trong thắt lưng ra một cuộn dây mìn ngồi gỡ. Lợi ngạc nhiên trước hành động ấy, anh vội đến bên Hoán. Vừa ngồi xuống, Lợi đã nghe Hoán nói nhỏ:

-Pol Pot đấy. Bình tĩnh. Nó đã phát hiện ra mình.

Từ xa, một tên địch đanh cầm dao từ từ tiến lại. Hoán và Lợi vẫn cúi đầu thản nhiên ngồi gỡ dây mìn với vẻ say sưa.

Sau những phút rụt rè, tên địch mạnh dạn bước tới gần hai người. Nó nhoẻn miệng cười. Hoán cũng cười thân mật rồi anh lại cúi xuống tiếp tục công việc. Tên địch bước đến phía sau họ đứng xem.

-Bị rối à? Tên địch hỏi.

Hoán khẽ xoay người gật đầu. Bằng một cú đánh bất ngờ, anh quật tên địch ngã ngửa. Nhanh như chớp, Lợi chồm lên bịt miệng tên địch lại.

-Ta đi thôi!-Hoán nói trong hơi thở gấp.

Tên địch vẫn chưa hết bất ngờ. Cách đây chừng nửa phút đồng hồ hắn vẫn nghĩ rằng những người bắt hắn là đồng đội. Đưa tên địch đi thật xa, đến một quả đồi um cỏ, Hoán cho dừng lại và bắt đầu hỏi cung.

-Mày nghĩ gì về chúng tao?-Hoán hỏi.

Tên địch ngồi im một lát, môi khẽ động đậy:

-Các ông là trinh sát Việt Nam.

-Đúng, chúng tao là trinh sát Việt Nam. Bởi vậy chúng tao muốn biết tất cả những gì mày biết. Mày phải khai rõ, khai thật và khai hết những điều chúng tao hỏi. Lấy danh dự là người lính, tao sẽ bảo vệ tính mạng cho mày. Mày hiểu không?

-Dạ. Tên địch run run trả lời.

-Trước hết, mày cho biết họ tên.

-Thưa. Khăn Đuôn Chia.

-Đơn vị?

-Tiểu đoàn bảo vệ quân khu Tây Bắc.

-Cấp bậc?

-Trung đội trưởng.

-Đơn vị có bao nhiêu người? Trang bị?

-Dạ, một trăm hai mươi người. Chia làm ba đại đội. Trang bị mỗi tiểu đội có bốn B.40, còn lại là AK có lắp thêm phụ tùng để bắn AT.

-Đơn vị đứng chân?

-Dạ, cách chỗ các ông bắt tôi hơn một kilômét về phía tây.

-Rồi! Bây giờ mày sẽ vẽ sơ đồ chúng tao xem.

Tên địch tỏ ra là người hiểu biết khá rõ về quân sự. Hắn nắm được tất cả địa hình, thế bố trí lực lượng, bãi mìn, tổng đài, phòng giao ban và cơ quan chỉ huy. Vừa vẽ, tên địch vừa giảng giải những chỗ cần thiết để minh họa thêm những điều Hoán thấy nghi ngờ. Lợi ngồi nghe một cách chăm chú. Chỗ nào Hoán chưa khai thác sâu, anh hỏi lại để nắm rõ.


Sau khi biết được tất cả những điều cần thiết. Hoán thấy cần phải kiểm tra lại lời khai của tên địch một lần nữa bằng cách bắt nó dẫn đường. Để trấn tĩnh tên địch, Hoán nhắc lại điều anh đã hứa là sẽ đảm bảo tính mạng cho nó. Tên địch nhận lời. Đêm hôm ấy, Hoán và Lợi đã đến được tất cả các mục tiêu cần thiết cho nhiệm vụ.


Gần về sáng, công việc đã hoàn tất. Cả căn cứ đầu não của quân khu Tây Bắc địch đã nằm gọn trên tấm bản đồ tác nghiệp trong óc Hoán. Giữ đúng lời hứa, anh quyết định thả tên địch.

-Như vậy là mày đã khai đúng sự thật. Hoán nói-Bây giờ chúng tao trả tự do cho mày. Đi đâu tuỳ mày định liệu.

Nghe nói, Khăn Đuôn Chia bàng hoàng cả người. Gương mặt hắn luôn tái mét vì lo sợ bỗng đỏ lên vì xúc động. Mồ hôi hắn vã ra. Hắn sụt sùi:

-Các ông bảo tôi bây giờ đi đâu được? Về đơn vị ư? Ngừng một lát để suy nghĩ, Khăn Đuôn Chia kết thúc-Không. Tôi không thể trở về sống với Pol Pot. Chúng nó sẽ giết tôi… Chúng nó sẽ giết vì sự vắng mặt một ngày trời của tôi… Còn trở về quê hương? Tên địch lắc đầu-Quê hương… Tôi không còn ai thân thuộc. Chúng nó đã giết hết những người thân trong gia đình tôi… Bây giờ tôi sẽ đi đâu? Tôi sẽ sống ở đâu cho hết phần đời còn lại?… Khăn Đuôn Chia nấc lên.

Sự đau xót thành thật của tên địch đã làm cho Hoán xúc động. Sẽ phải hành động như thế nào đây để có thể cứu được con người này?

-Nếu các ông đã không giết tôi-Tên địch nói-thì các ông hãy cứu lấy tôi… Hãy cho tôi đi theo, được không? Tên địch nài nỉ.

Tình thế đã đưa Hoán vào con đường khó xử. Cho tên tù bình đại đội theo thì tự mình gây thêm khó khăn, còn bỏ hắn lại thì không đành lòng. Nếu đã không giết hắn thì phải cứu lấy cuộc đời của hắn. Nếu không, anh sẽ bỏ rơi một con người…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 14 Tháng Ba, 2008, 10:20:42 pm
Hoán đưa mắt nhìn Lợi. Lợi cũng nhìn Hoán phân vân. Dường như Lợi cũng đang trông chờ ở sự quyết định của Hoán.

-Cậu thế thế nào, Lợi? Để hắn đi theo có khó khăn gì không?

-Tất nhiên là có khó khăn cho chúng ta. Nhưng về lâu về dài có thể hắn sẽ giúp chúng ta được nhiều việc.

Ngẫm nghĩ một lần nữa. Hoán quay sang nói với Khăn Đuôn Chia:

-Chúng tao đồng ý để mày đi theo. Như thế được chưa?

Tên địch mỉm cười, nước mắt lã chã:

-Xum dâng cun chia à tế pạ rờ Mal (Xin muôn ngàn lần biết ơn các ông).


Suốt đêm ấy, họ bươn rừng theo hướng sao trời mà đi. Hoán chỉ cho dừng lại nghỉ một lát để ăn một chút lương khô còn lại rồi tiếp tục đi tiếp. Gần về sáng, họ đã tới được thượng nguồn con suối Chlông Đan gần bình độ 170. Khu vực này, Hoán đã qua lại nhiều lần. Mùa khô năm ngoái, anh đã cho bộ đội ngủ đêm tại đó. Đêm ấy, Hoán đến vào lúc mười một giờ. Sáng ra thức dậy, anh hết sức ngỡ ngàng vì đang ở một rừng ban đỏ. Hoán sung sướng ngây ngất ngắm nhìn cánh rừng suốt hàng tiếng đồng hồ. Trở lại đây lần này, kỷ niệm say mê, rạo rực bỗng sống lại trong lòng anh.


Một tiếng động nhỏ ở phía trước làm Hoán dừng lại. Vừa kịp nép mình vào một gốc cây gần nhất thì anh đã nghe thấy tiếng quát gọn lỏn:

-Đứng lại.

-Địch. Hoán vừa kịp thốt lên theo phản xạ thì từng luồng đạn địch đã bay tới tấp quanh anh. Hoán xiết cò. Lợi cũng kịp thời chi viện cho anh. Bọn địch rất đông, thấy có hai khẩu súng nổ, chúng vừa rúc còi, vừa hét ầm ĩ bằng tiếng Việt.

Biết khó có thể cầm cự được với địch. Hoán vừa bắn, vừa ra ám hiệu cho Lợi rút đi. Hiểu ý, Lợi đưa Khăn Đuôn Chia bươn nhanh về hướng nam, nơi vòng vây địch còn sơ hở. Chờ cho Lợi và Khăn Đuôn Chia đi xa. Hoán bắt đầu rút. Nhưng không kịp nữa rồi, cả tiểu đoàn địch đã bọc kín lấy anh. Hoán ra sức vùng vẫy. Một mình một súng, lúc ẩn lúc hiện, Hoán kiên quyết không cho quân địch bám sát mình. Nhưng rồi vòng vây chúng vẫn cứ co dần lại.

-Đừng chạy nữa! Tiếng bọn địch vẫn la ó om xòm xung quanh anh.

Hoán lẩn vào bên một gò mối chờ địch. Những tên địch dàn hàng ngang đã cách anh chừng khoảng ba chục mét. Hoán đợi cho chúng vào sâu thêm chút nữa, Hoán đứng thẳng dậy, xiết cò. Anh chỉ kịp nhận thấy ba tên địch trúng đạn ngã nhào, còn những tên khác nằm thụp xuống. Trong lúc chúng đang tìm chỗ ẩn nấp thì Hoán vọt chạy. Anh đạp qua chỗ ba tên địch vừa trúng đạn rồi biến đi thật nhanh.


Bọn địch bắn như tưới đạn về phía Hoán, Hoán vừa bắn vừa chạy. Một quả B.40, hai quả, rồi ba, bốn quả nổ tứ tung phía trước, phía sau anh. Hoán cứ chạy. Bọn địch lại phong toả cao điểm. Vòng vây quân địch khép lại dần. Hoán chỉ còn lại băng đạn cuối cùng. Đến lúc này, anh biết mình khó thoát. Nhưng Hoán vẫn ra sức xé vòng vây địch. Cỏ mọc đến tận thắt lưng đã cản bước Hoán. Giữa cuộc sống và cái chết đã thôi thúc anh, gìn giữ cho anh được tỉnh táo và tăng sức cho anh chạy. Lên tới cao điểm, Hoán bị trúng đạn. Anh lảo đảo ngã xuống bên một hòn đá. Bọn địch chạy đổ xô về phía anh. Hoán mím môi, dùng chân còn lại đạp thật mạnh vào hòn đá. Hòn đá lăn xuống chân đồi. Theo vết đá lăn, bọn địch đổ xô xuống. Hoán đã đánh lừa được địch. Anh lấy hết sức đứng dạy chạy ngược về phía sau. Bị đánh lừa, bọn địch vừa tức, vừa bắn, vừa chạy lên đồi. Hoán chạy xuống. Bất ngờ, anh vấp ngã. Cả người anh đổ nhào rồi cứ thế lăn đi. Hoán không biết mình đã lăn như thế bao lâu, đến lúc tỉnh dậy, anh lại thất bọn địch hét từ trên đỉnh đồi. Không còn súng, Hoán chỉ còn lại một quả lựu đạn duy nhất trong thắt lưng. Hoán rút chốt lựu đạn cầm trong tay tiếp tục chạy xuống dốc. Vòng vây bọn địch lại toả ra. Hoán không hiểu tại sao chúng lại chừa cho anh một con đường để chạy. Đến chiều, chúng đã dồn anh về một góc rừng. Bọn địch không còn hăm hở nữa. Chúng đi lững thững và bắn lẻ tẻ về phía Hoán. Chạy được một đoạn, Hoán đụng nhiều tấm biển mang ký hiệu nguy hiểm, anh mới hiểu bọn địch đã cố ý lừa anh vào bãi mìn. Hoán chần chừ trong giây lát… Vì lòng khao khát sống, anh quyết định bươn qua. Chạy được một đoạn, anh vẫn chưa thấy quả mìn nào nổ. Hoán ngoái lại, đằng sau anh, bọn địch vẫn tiếp tục bám theo. Cầm quả lựu đạn trong tay, Hoán nghĩ mình không nên chạy nữa. Anh linh cảm có nhiều quả mìn ở phía trước đanh chờ anh. Lại phải đánh lừa địch. Hoán nghĩ… Anh thận trọng bò vào một bên gốc cây cụt và thảy nhẹ quả lựu đạn. Một tiếng nổ trùm lên, kéo theo một tiếng nổ rùng rợn nữa. Đất đá bay tung toé, rơi lụp bụp vào người Hoán. Hai đụn khói đen trùm lên những cây lè tè, xơ xác. Bọn địch chỉ chờ có tiếng nổ ấy. Đến lúc này, chúng đứng lại, nhìn về phía anh, nói với nhau điều gì đó rồi quay về. Hoán cứ nằm bên gốc cây như thế suốt hai tiếng đồng hồ. Hoán không hề nghĩ tới vết thương ở chân mình đang rỉ máu. Trong thâm tâm anh lúc này chỉ còn một ước muốn duy nhất là mong sao Lợi đưa được tên tù binh an toàn trở về đơn vị… Anh đặt niềm tin rất nhiều ở Lợi. Được nghỉ ngơi sau một thời gian dài chạy giặc. Hoán thấy người đỡ mệt. Đến lúc này, anh mới nhẹ nhàng bò đi. Anh thận trọng dùng hai tay để dò mìn. Đúng như đã dự kiến, rất nhiều mìn nằm trên con đường anh đi. Hoán gỡ liền một hơi năm quả, thấy chân tay mình run lên. Anh nằm nghỉ trấn tĩnh lại. Xong, lại tiếp tục gỡ. Anh đã gỡ được hơn hai chục quả.


Hoán bắt đầu thấy đói, thấy khát. Cái đói và cái khát giằng co trong ý nghĩ của anh. Ở giữa rừng một mình, trong tay không có một tấc sắt, lại bị thương. Hoán không có cách nào tìm ra thức ăn được. Trời về tối. Rừng âm u tiếng muỗi. Mệt, Hoán không thể tiếp tục đi nữa. Anh buộc phải nằm lại ở đây. Hoán bẻ lá cây làm chỗ nằm. Quên cả muỗi đốt, Hoán ngủ thiếp đi.


Hoán thức dậy trong khi trời đang chuyển gió. Rừng cây vật vã, ngả nghiêng. Những cành khô bị gió bẻ rơi lụp bụp xuống mặt rừng. Sấm nổ ầm ầm trong không gian… Gió vẫn rít và những hạt nữa đã bắt đầu rơi xuống. Rừng trắng xoá mưa bay. Hoán ngồi co ro. Mưa đã thấm ướt hết bộ quần áo rách trên người anh và chảy thành dòng xuống bụng. Hoán hét run lên. Hàm răng đập vào nhau lập cập. Hoán cứ ngồi chịu trận trong cơn mưa rừng tầm tã như thế.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 14 Tháng Ba, 2008, 10:22:13 pm
Gần sáng, trời tạnh mưa. Chim rừng líu lo hót. Hoán vịn đầu gối đứng dậy nhưng không nổi. Anh vịn vào một thân cây nhỏ đứng lên. Hoán chóng mặt. Anh lảo đảo chực ngã. Hoán nhắm mắt lại để trấn tĩnh. Chờ cho cơn chóng mặt qua đi, anh bắt đầu khởi hành. Đi được một đoạn, Hoán phải bẻ cây để chống. Cứ thế, anh túc tắc bước. Nghĩ tới đơn vị, anh thấy mình khỏe hẳn lên, những bước chân trở nên vững chắc lạ kỳ. Hoán đã vượt qua cánh rừng đại ngàn. Anh bắt đầu tiến vào khu rừng lau trùng điệp. Trời nổi gió. Lau cọ vào nhau xào xạc. Hoán phải bỏ lại cây gậy chống ở dọc đường. Anh vịn vào từng cây lau, dóng hướng để bước. Những cây lau già, lá sắc như dao cứa vào da thịt anh. Hoán không nghĩ gì tới chuyện ấy nữa. Toàn tâm trí anh chỉ tập trung vào việc làm thế nào để có thể cắt về đến căn cứ mà không bị chết ở dọc đường.

Trời chiều, gió nổi càng lớn. Cả rừng lau rung lên, vặn mình, vật vã như những cồn sóng trắng. Hoán có cảm giác đang bơi giữa biển đúng hơn là đang bươn trong rừng.


Vừa nhô ra khỏi đường mòn, bất ngờ Hoán đứng sững lại. Trước mặt anh chừng hai mét, một toán địch đang ngồi quây tròn ăn mía, súng để bên cạnh. Những tên địch nhìn thấy anh trong xoe mắt giật mình hoảng hốt. Nhanh như cắt, Hoán phóng tới chộp khẩu súng của một tên địch gần nhất và nhả đạn. Rõ ràng sự việc diễn ra quá bất ngờ để các tên địch có thể có được những phản ứng tự vệ cần thiết. Chúng chỉ còn biết ngồi kéo lê đít trên nền đất. Tới khi kịp hoàn hồn thì những tên còn sống sót mới quờ lấy súng và chạy. Chúng không bắn trả lại anh một phát nào. Hoán bước lại, anh dùng chân lật xác những tên địch bị giết. Đến lúc này Hoán mới thấy bàng hoàng. Sự việc diễn ra và kết thúc không đầy một phút đồng hồ. Anh không thể giải thích được vì sao phản xạ của mình lúc đó lại mau lẹ đến thế. Những anh hiểu rằng trong những tích tắc có tính quyết định ấy nah là người nhanh hơn và anh đã chiến thắng.


Hoán thu được năm khẩu súng và tám chiếc bồng của địch. Anh soát xét mấy cái bồng của chúng thì thấy có ba phong lương khô cùng vài nải chuối xanh. Đói. Hắn bẻ thanh lương khô bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến. Anh ăn ngon lành như một đứa trẻ. Hoán không còn nghĩ gì đến sự nguy hiểm khi quân địch có thể quay trở lại. Vừa ăn, Hoán vừa dùng lê đâm thủng bằng hết những chiếc nồi nhôm đen nhẻm, méo mó.

-Duôl, cứu tôi với!

Hoán giật mình, quờ vội khẩu súng, dáo dác nhìn quanh, phát hiện tiếng người.

-Duôl, cứu tôi với!

Lần này thì Hoán đã thấy rồi. Cách anh chừng ba chục mét, một cô gái bị trói cả chân tay đang quằn quại bên một gò mối. Hoán xách súng bước tới. Thấy anh, cô gái ngửng mặt lên cầu khẩn:

-Cứu tôi với! Duôl…

Cô gái chừng hơn hai mươi tuôi, có vóc người khỏe mạnh, da đen. Cô bận xăng đen và chiếc áo màu lá mạ viền đăng ten trắng. Trán cô có một vết bầm to, má bên trái bị một vết sước sâu, máu chảy đã khô đen.
Qua lời lẽ của cô gái, Hoán hiểu rằng cô chưa hề gặp bộ đội ta bao giờ, bởi lẽ cô đã dùng từ “Duôl” mà bọn Pol Pot vẫn gọi để miệt thị Việt Nam.


Hoán quỳ xuống. Đôi bàn tay cô gái đã tím lạnh. Để mở trói cho cô, Hoán phải dùng tới cả răng. Khi mối dây cuối cùng đã được cắn đứt, cô gái rùng mình. Máu dồn xuống đôi bàn tay cô đỏ ửng. Cô nắm lấy tay Hoán nhưng đôi bàn tay cô cứ rời ra. Hoán mở tiếp dây trói chân cho cô gái và vực cô đứng dậy. Vừa đứng lên, cô gái đã ngã dúi xuống. Hoán vội đỡ cô và đặt cô nằm xuống. Nhưng cô gái cố gượng dậy. Cô tựa lưng vào vai anh. Ngồi như thế được một lúc, cô gái quay lại nhìn anh khẽ nói:

-Duôl, cho tôi ăn bánh đi! Tôi đói.

Hoán trao miếng lương khô ăn dở cho cô. Cô gái rụt rè đưa lên miệng cắn một miếng nhỏ và nhai thật lâu, tựa hồ như cô không muốn nuốt vội đi miếng ăn quý giá đó.

-Tôi bị chúng bỏ đói đã ba ngày nay rồi Duôl ạ. Tôi bị chúng bắt được trên đường đi thăm gia đình. Cô gái nói rồi quay sang hỏi Hoán-Duôl bị thương à?

Hoán gật đầu. Có tiếng động, Hoán ngoái lại. Tên địch bị anh bắn chưa chết đang bò đi. Hoán mở khoá an toàn, đứng lên chĩa súng vào tên địch. Tên địch không bò nữa. Nó ngồi nhổm dậy, nhìn anh. Đôi mắt nó bỗng nhiên trào nước. Mắt Hoán căng ra. Đầu anh nóng bừng.

-Duôl ơi! Nó khóc kìa. Cô gái nói-Nó có vợ con rồi đấy… Tội nghiệp nó…

Hoán vẫn đứng im như tượng. Khẩu súng trong tay anh từ từ hạ xuống. Cô gái nhìn Hoán. Sự cảm phục dạt dào trong đáy mắt của cô. Cô gái nắm chặt tay Hoán.

-Duôl tốt lắm.

Hoán không nói. Anh ôm năm khẩu súng thu được của địch đến chỗ cô gái. Anh chọn một khẩu đưa cho cô:

-Cô biết bắn không?

Cô gái lắc đầu:

-Tôi sợ. Trông thấy súng, tôi sợ.

Hoán mỉm cười thông cảm. Anh nhìn xuống đất, nói nhỏ:

-Bây giờ tôi phải đi… Tôi phải đi, cô gái ạ.

-Duôl đi à? Cho tôi đi theo với… cho tôi đi được không?

Không cần nhìn cô gái nhưng Hoán biết là cô đang nhìn anh cầu khẩn.

-Tôi đi khó cho Duôl à? Cô gái lại hỏi.

-Không khó… Nhưng thôi được… Đi đi-Nói rồi. Hoán trao khẩu súng cho cô gái-Cô cầm giúp tôi.

Cô gái đỡ lấy khẩu súng. Hoán dạy cô cách khoác, còn mình thì mang theo bốn khẩu.

-Duôl mang nhiều thế? Bị thương, mang nặng, không đi được xa đâu.

Nói xong, cô gái giành lấy khẩu súng từ tay Hoán. Buộc lòng anh phải trao lại cho cô.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 14 Tháng Ba, 2008, 10:25:24 pm
Khó khăn lắm họ mới cắt được tới suối Ođa. Chính tại con suối này, mới cách đây hai đêm. Hoán và đồng đội đã vượt qua. Trời mới mưa hồi đêm, nước đỏ ngầu, chảy rất mạnh. Hoán đi dọc suối một đoạn khá xa mới tìm được một bến để vượt. Mang nhiều súng nặng, Hoán quyết định ném bớt xuống suối, còn giữa lại mỗi người một khẩu. Nhìn những khẩu súng sủi tăm dưới lòng suối, cô gái tiếc rẻ:

-Sao lại vất đi? Tôi mang được mà.

-Cô không sợ súng nữa à? Hoán hỏi lại.

Cô gái mỉm cười e thẹn. Hoán lội xuống dòng nước. Anh cố gắng hết sức để bơi sang bên kia nhưng không sao vượt qua dòng nước đang chảy xiết được. Biết Hoán vướng khẩu súng, cô gái nói:

-Để súng lên dây, Duôl.

Hoán ngoảnh lại. Thì ra cô gái đã cởi xâng làm phao từ lúc nào. Cô đã đặt khẩu súng của mình lên đấy. Hoán nghe theo cô gái. Cả hai người dùng hết sức lực vùng vẫy, mãi tới sẩm tối họ mới vượt được sang bờ bên kia. Bước lên bờ. Hoán thấy người rét run lên. Cả cô gái cũng thế. Môi cô tím bầm. Cô co ro tìm chỗ khuất để vắt quần áo… Trời tối sầm, không thể đi tiếp được nữa, Hoán quyết định nghỉ lại, sáng mai đi tiếp. Cô gái vui vẻ đi bẻ lá rừng về làm chỗ ngủ. Hoán nằm nghỉ cho tới lúc cô gái ôm về một đống lá lớn, rải ra làm thành một một chiếc ổ chung cho cả hai người. Hoán ngồi lên nệm lá, còn cô gái thì ngồi đối diện với anh. Cô gái vuốt tóc rồi kéo xâng phủ kín gót chân đầy đặn. Hoán tháo băng ở chân ra. Cô gái giúp anh làm việc ấy. Sau khi vắt khô tấm băng, cô gái thận trọng băng lại.

-Duôl đã có vợ chưa? Bất ngờ cô gái hỏi.

-Có rồi… Hoán trả lời. Anh chợp hạ thấp giọng-Em đừng gọi tôi là Duôl nữa nhé. Tôi là Hoán. Nguyễn Hoán. Việt Nam.

Cô gái nhắc lại tên anh. Nhưng cô không thể nào nói chuẩn được.

-Anh Hoán, có mấy con rồi?

-Chúng tôi đã có một cháu. Thế còn em? Hoán hỏi.

-Tôi tên là Malini. Tôi ở phum Bàvel. Tôi chưa có chồng đâu anh Hoán à…

-Rồi tới đây em sẽ có, Malini ạ. Nhất định em sẽ có.

Thắt mối băng cuối cùng, cô gái khẽ lắc đầu:

-Không, Malini không lấy chồng đâu… Những người tốt, Pol Pot giết hết cả rồi.

-Chúng không thể giết hết người tốt được. Rồi đây em sẽ tìm được người vừa ý, em sẽ hạnh phúc. Em cứ tin lời tôi đi.

Malini khẽ thở dài. Trong đêm tối dày đặc, Hoán thấy cô đưa tay chùi nước mắt. Sự xúc động của Malini lây cả sang Hoán. Anh biết rằng Malini đã từng trải qua nhiều đau khổ như dân tộc của cô. Sự đau khổ ấy sẽ luôn bị khơi dậy mỗi khi có người chạm đến. Hoán đặt tay lên vai cô gái, an ủi:

-Đừng buồn Malini ạ. Nhất định rồi em sẽ có hạnh phúc.

Malini ngồi im một hồi lâu ròi quay sang hỏi Hoán:

-Có không, Việt Nam?

-Có. Nhất định có.

Đêm ấy có lẽ do xúc động nên Malini đã không ngủ được. Còn Hoán, anh thấy mình ớn lạnh nhưng vẫn cố gắng để chợp mắt. Những lần tỉnh giấc, anh đều thấy Malini trở mình thở dài, tay cầm cành lá xua muỗi cho anh.


Gần về sáng, Hoán bỗng thấy người nóng ran lên. Vết thương ở chân như lớn dần, căng ra, nhức nhối. Hoán lên cơn sốt. Rồi anh thiếp đi mê man.

Giữa trạng thái ấy Hoán cảm giác có người ghì chặt tay mình. Anh vùng thật mạnh. Một lúc lâu lắm Hoán mới mở được mắt, Malini đang lay anh, giọng cô lạc đi:

-Hoán, Pol Pot đến đấy.

Hoán ngồi bật dậy, anh quờ ngay lấy súng, hỏi:

-Nó đâu?

-Chúng đang ở bờ sông… Em định xuống tắm thì nghe tiếng chúng nói với nhau.

-Em có nhìn thấy chúng không?

-Em không nhìn thấy nhưng em tin chắc chúng là Pol Pot. Hoán xách súng nhẹ nhàng lách ra bờ sông. Malini cũng xách súng chạy theo anh. Cả hai người cùng ém mình vào một gốc cây to chờ đợi.

Từ phía bờ sông bên kia, tiếng bọn địch vang lên:

-Có đúng chúng đi hướng này không?

-Tôi tin chắc chúng đi hướng này. Tên Duôl bị thương vào chân. Tôi giả vờ chết nên nó không nhìn thấy. Nó lấy hết lương khô ăn rồi bắt con Malini đi. Trời tối, tôi nghĩ chúng chưa đi xa đâu…

-Đây rồi, đúng là chúng đi qua chỗ này, có dấu chân chúng đây này, đúng không. Một tên địch reo lên.

-Đuổi… Đuổi theo ngay. Có thể chúng đang ngủ cách đây không xa.

Hoán muốn nổ súng vào trong bụi cây có tiếng nói của tên địch kia quá chừng. Đã mấy lần ngón tay anh đụng đậy định lẩy cò nhưng sau cùng anh lại tự chế ngự được. Anh không muốn bắn kẻ thù khi chưa nhìn rõ mặt. Anh tự dặn mình phải nhẫn nại chờ chúng. Anh muốn sao cho khi chết, kẻ thù phải mang theo cả sự khiếp đảm, kinh hoàng. Hoán thấy mình tự tin và thư thái vô cùng. Anh cũng không hề thấy hối hận về việc đã không giết tên lính Pol Pot bị thương kia. Anh sẽ chờ…


Và bây giờ thì bọn địch đã nhô cả thân hình ra khỏi vòm lá. Chúng ùa xuống dòng nước chảy xiết. Thì ra chúng có ba tên, trừ một tên bị thương nằm lại. Hoán không bắn, mặc dù anh và địch cách nhau chừng bốn mươi mét. Anh phải chờ chúng tới gần bờ bên này mới nổ súng. Số phận chúng sẽ được quyết định khi chúng chạm đến bờ của sự bình yên. Cả ba tên địch đã đến quá gần giữa dòng, Hoán nén lòng chờ đợi. Bọn địch đã bơi vào sâu được một chút nữa, rồi chút nữa. Bất ngờ Hoán đứng vụt dậy, anh lao người ra chỗ trống, chĩa thẳng súng vào bọn địch.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 14 Tháng Ba, 2008, 10:26:21 pm
Hoán chưa bắn, hai tên địch vì quá sợ hãi đã buông súng chìm nghỉm. Tên thứ ba cố sức vẫy vùng. Đến lúc đó Hoán mới nhả đạn. Một dòng máu phun lên trên mặt nước, rồi hai dòng máu. Súng nổ, Malini không sợ. Cô cũng bắn. Cô không biết mình bắn có trúng không, song cô cứ bắn. Cô bắn để cho tiếng súng của Hoán không đơn độc.

-Nó kìa! Malini trỏ theo tên địch đang bị nước cuốn trôi, cách họ một đoạn dài. Hoán nhìn theo một hồi lâu, cho tới lúc tên địch chìm hẳn. Sau đó anh bước đi những bước nặng nề, đau nhói. Malini bước theo anh. Có nhìn anh ái ngại:

-Anh đau lắm à?

Hoán gật đầu:

-Vết thương hành hạ tôi, Malini ạ. Tôi sốt rồi. Người tôi yếu lắm.

Malini đặt bàn tay lên trán Hoán. Hơi nóng từ làn da ập vào tay làm cô méo xệch đi. Malini nhìn anh lo âu. Bỗng nhiên đôi lông mày của cô chau lại. Malini nói nhỏ:

-Chờ em nhé! Nói xong, Malini chạy đi. Một lát sau, cô trở về với một nắm lá rừng. Malini bỏ lá vào miệng nhai rồi cởi băng ở chân Hoán ra. Cô lấy lá đã nhai rịt vào vết thương ấy. Cô băng lại rồi dìu anh đi.


Hoán vẫn lên cơn sốt. Cái sốt đã làm anh vô cùng mệt mỏi và khó chịu. Mỗi bước anh đi, trời đất như quay cuồng. Anh bước đi thật khó nhọc, nặng nề, nhưng đầy tự tin. Mỗi bước anh đi lúc này có một ý nghĩa rất lớn. Nó sẽ rút ngắn lại khoảng cách mà sự nguy hiểm có thể gây tác  hại cho anh:

-Ta nghỉ một lát, Malini. Nó rồi, Hoán tìm chỗ ngồi xuống, Malini ngồi sát bên cạnh anh. Cỗ đỡ cho anh nằm vác gác chân cho anh gối đầu. Sự săn sóc tận tình của Malini làm anh cảm động:

-Cảm ơn em, Malini ạ. Anh cảm ơn em rất nhiều. Sau này, trở về được đơn vị, anh sẽ đi tìm em. Anh sẽ đưa em về thăm đơn vị anh. Em đi nhé!

-Dạ. Malini sung sướng nhận lời.

Không. Chính cô phải cảm ơn anh mới đúng, Malini nghĩ. Nếu không có anh thì không biết cuộc đời anh sẽ bi đát như thế nào.

-Hoán mệt lắm phải không? Malini hỏi.

Hoán khẽ gật đầu. Đôi mắt của anh lúc này không còn mở to, linh lợi và dữ dội như lúc gặp giặc nữa. Đôi mắt ấy bây giờ chỉ le lói với một chút sáng sáng như sắp lụi tàn.

-Bây giờ anh không được đi nữa. Em sẽ cõng anh. Em cõng anh, Hoán ạ. Malini nói.

-Cảm ơn em. Anh vẫn còn đi được.

Nói rồi Hoán đứng dậy bước đi. Vết thương ở chân anh đau thốn lên tới tận đỉnh đầu. Hoán cắn chặt môi ghim nỗi đau lại. Hoán đi được một đoạn xa, anh thấy người dễ chịu đôi chút. Sự dễ chịu ấy chỉ được một lát. Bỗng nhiên trời đất lại quay cuồng đảo lộn trong mắt anh. Hoán từ từ khuỵ xuống. Anh cố gượng dậy toan bước đi nhưng lại ngã. Lần này anh hoàn toàn bất tỉnh. Malini xốc anh lên vai, cõng anh đi. Đối với cô thì đây là lần đầu tiên cõng một người khác phái. Sự việc ấy sẽ làm cho người con gái chưa chồng thẹn thùng biết bao. Nhưng sự thẹn thùng có hề gì cho dù có nhiều người biết đến. Cõng Hoán lúc này, cô cảm thấy hãnh diện, tự hào vô cùng. Nếu gặp ai có hỏi, cô sẽ nói rằng cô đang cõng một người chiến sĩ, người đó đã cứu cô ra khỏi cái chết… Vừa đi, Malini vừa nghĩ mê mải. Cô không còn cảm thấy sức nặng đè trên lững mình nữa. Ngược lại, cô thấy rằng anh đang làm cho cô mạnh lên, khỏe lên gấp bội. Gần về trưa, Hoán tỉnh lại. Anh đã nói chuyện được với Malini mặc dù còn rất mệt. Thấy anh hồi sức được phần nào, Malini rất vui. Cô kể chuyện cho anh nghe… Cô kể rằng gia đình cô đã bị Pol Pot giết hết không còn ai cả… Cô là người duy nhất sống sót trong số mười bốn người của gia đình. Cô kể cho anh nghe về phong tục tập quán ở quê cô và vê những điều mà cô ưa thích.


Con đường ngắn dần đi sau những câu chuyện như vậy. Malini đã đưa Hoán vượt qua nhiều cánh rừng ngút ngàn, qua những trảng cỏ mùa mưa thơm hoa lầy lội, qua hàng hcục con suối cạn xăm xấp nước, qua những vạt rừng lúp xúp chằng chịt dây leo và đến trưa, hai người đã tới một đám ruộng bỏ hoang. Lúc này, Hoán thấy Malini cũng không còn đủ sức để cõng anh đi tiếp được nữa. Hơn một giờ sau này, cô bước đi có vẻ chuệnh choạng và mồ hôi của cô đã thấm uớt sũng ngực anh. Tới cái chòi coi rẫy đổ nát, Hoán bảo Malini để anh xuống. Nằm trên chiếc sàn tre ọp ẹp, xanh rêu, Hoán nhìn lên mái nhà lỗ chỗ hiện lên những mảng trời xanh rung rinh.

-Malini, Hoán nắm lấy tay cô, anh nói-Hãy để lại cho anh khẩu súng rồi em đi đi… Em biết biết bắn rồi đấy. Hãy đi về hướng tây nam, em sẽ gặp đường lớn. Nếu gặp bộ đội Việt Nam hay Campuchia thì hãy nói với họ… Bây giờ em đi đi. Em đi một mình nhanh hơn.

Malini nghe lời anh nói nhưng cô không muốn hiểu bởi vì cố không muốn xa anh. Cô không muốn bỏ anh lại một mình trong ngôi nhà dọt nát giữa rừng. Cô không đành lònh bỏ anh lại mà đi khi không có ai chăm sóc. Hoán phải nói lại một lần nữa ý định của mình. Lần này, Malini bật khóc.

-Em không thể bỏ anh ở lại một mình được đâu. Em không bỏ đâu.

-Không phải bỏ mà là vì anh… Cõng anh, em sẽ không đi được nhanh. Em đi một mình lẹ hơn. Em có hiểu không, Malini?

Sau một hồi suy nghĩ, Malini đồng ý. Cô sẽ phải làm một điều mà lòng cô không muốn. Malini xốc lại xâng, khoác khẩu súng lên vai, rồi đứng nhìn anh một lúc thật lâu. Hoán nằm đấy, bình thường như mọi người. Gương mặt anh nhợt nhạt trông như hòn than đã bắt đầu tắt lửa. Anh nằm đấy với khuôn mặt dịu dàng thân yêu biết bao. Malini muốn ôm lấy gương mặt ấy quá chừng nhưng cô ngại, Trái tim cô trở nên nghẹn ngào. Lòng cô đau thắt lại. Malini nắm chăt lấy bàn tay anh không muốn rời ra nữa.

-Đi đi, Malini. Đừng chần chừ. Hoán giục.

Malini sực tỉnh như vừa qua cơn mê ngủ. Cô quay người bước đi thật nhanh. Cô đi như chạy. Cô không biết được mình đi hay chạy nữa.


Bạt-đầm-boong, tháng 12-1981
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1-1982


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Ba, 2008, 07:24:35 am
Ánh lửa

Trần Đình Thế


Đã bước sang ngày thứ ba-kể từ khi bị bắt và bị giam vào trại: E Pi vẫn ngồi lặng ở cái góc trong cùng của căn nhà (Nói là trại giam nhưng thực ra nó chỉ là một cái khung nhà cũ kĩ, được lợp tạm bằng những tàu lá chuối khô che nắng. Bên phải là con suối cạn, hai bên suối cây cối um tùm. Bên trái, xa xa thấp thoáng một vài vạt trảng, long lổ những thửa ruộng bỏ hoang, một cáu phum nắng trơ bên cạnh đường, vắng lặng). E Pi dựa lưng vào cột nhà, lơ đãng nhìn lên những tàu lá chuối khô. Xung quanh E Pi rộ lên tiếng nói của mấy cô gái: họ đang giục nhau kiếm củi, nấu cơm. Họ là ai, E Pi biết rõ: Một số thuộc lực lượng thanh niên, một số là dân thiường-sau ngày thất thủ Phnôm Pênh bọn tàn quân đã lùa họ vào trong núi.

-Ông ở đơn vị nào?-Người tù binh già ngồi bên cạnh hỏi.

-Đoàn 203!-E Pi mệt mỏi trả lời. Mắt không nhìn người hỏi.

-Ông đã khai báo gì chưa?

-Rồi!

-Khai sao?

-Khai hết!

-Ông không sợ bị đập một xỏ cuốc vào gáy ư?

-Sợ!-Tiếng E Pi dằn trong cổ họng. Đôi mắt lờ đờ của hắn bỗng vằn lên những tia mắt đỏ nọc. Cái gân xanh trên thái dương dật dật. Hắn quay sang. Người tù binh già biết mình lỡ lời vội rít mạnh một hơi thuốc rê, rồi cúi xuống.

-Sợ-Tiếng E Pi một lần nữa lại vọt ra qua kẽ rằng sin sít-“Bọn chúng mày chỉ là một lũ đốn mạt. Mày mà ở đơn vị ông thì ông đã cho mày một xỏ cuốc từ lâu rồi!”. E Pi vừa nghĩ, vừa buông người trên lớp cỏ khô… Cuộc gặp gỡ giữa E Pi và anh cán bộ địch vận ba hôm trước đây hiện lên:

-Anh tên gì?-Người cán bộ gỏi.

-E Pi!-E Pi trả lời, cái miệng nhằng ra hai bên gò má hóp tọp. Đôi mắt nhỏ, dài, nheo nheo đầy vẻ thách thức.

-Anh ở đơn vị nào?

-Đoàn 203!

-Anh làm gì ở đó?

-Đại đội trưởng!

-Từ bao giờ?

-Đầu năm bảy chín!

-Trước đó anh làm gì?

-Trại trưởng trại tù!

-Ở đâu?

-Công Pông Chơ Năng.

-Anh đã tham gia hành quyết bao nhiêu tù nhân?

-Ba trăm bốn mươi bảy người!-E Pi nói rành rọt từng con số.

-Họ có những tội gì?

E Pi nhếch mép, họ có tội gì ư? “Đ… Mẹ cái bọn man rợ” E Pi định chửi tục, nhưng đã kịp kìm lại được.

-Nhiều lắm… Lười biếng, ăn cắp gạo của công xã, lăng mạ chế độ…

-Ở tù cũng phải lao động?

-Không lai động thì có mà ăn…-E Pi định chửi tục nhưng cũng đã lại kìm được.

Như đoán được tâm địa thằng tù binh, anh cán bộ cười: Nụ cười vừa như giễu cợt, lại vừa như khinh bỉ. E Pi giận tím mặt, hắn bíu hai tay vào thành bàn. Máu đao phủ bốc lên trong đầu y. Quên mình là một thằng tù binh, E Pi rít lên:

-Đối với chúng nó thì tốt hơn hết là cho mỗi đứa một xỏ cuốc càng sớm, càng đỡ tốn gạo!

-Anh thích giết người lắm, phải không E Pi?

-Lúc đầu cũng sợ!-giọng E Pi bỗng nhỏ xuống, mặt nhợt nhạt. Hắn đã thay đổi chiến thuật-Nhưng làm nhiều, thành quen! Dừng lại vài giây, hắn nói tiếp.

-Vả lại, tôi có ăn mật người.

-Sao?-Một nét ngạc nhiên vương trên mặt anh cán bộ. Anh vội trấn tĩnh lại. E Pi nhận ra điều đó. Hắn cúi xuống. “Thế đấy, đừng tưởng tao phải sợ. Tao không sợ đâu! Sa vào tay bọn mày là chết, tao biết, trước sau gi thì rồi cũng chết. Bởi vậy, tao phải chuẩn bị một cái chết cho thật oai… Cái thằng xâm lược giả nhân, giả nghĩa kia! Mày mà rơi vào tay tao thì: không phải hỏi han gì hết, tao sẽ đập vỡ sọ mày ngay”. Mắt E Pi trừng trừng nhìn anh cán bộ, rồi quét sang cô phiên dịch… A, còn mày nữa! Cái con đĩ mất máu kia. Mày không biết nhục nhã ư? Chúng máy… Tao phải cho chúng mày biết: khi cần, tao sẽ ăn gan, uống mật chúng mày mà không hề ghê sợ.


Anh cán bộ nhìn thẳng vào mắt E Pi. Đôi mắt hắn đỏ ngầu như miếng tiết. Anh vẫ nhìn nó, im lặng. Sự thản nhiên bên ngoài khác hẳn với những gì đang diễn ra trong đầu anh… Cái sẹo chạy dài, từ thái dương xuống đuôi mắt trái. Anh cán bộ vẫn nhìn thẳng vào đấy.


Thằng tù binh không hiểu anh cán bộ đang nghĩ gì? Nhưng ánh mắt, vẫn cái ánh mắt giễu cợt, khinh bỉ… Trời ơi! Muốn điên lên mất. Máu trong tim E Pi như đang sôi lên. Phải bình tĩnh, có bình tĩnh mới sáng suốt được… Phải rồi: Ta sẽ kể cho nó nghe là cái đầu này sẽ có những viên đạn xuyên qua. Tốt, như vậy còn tốt hơn nhiều khi phải nghe, phải nói và nhất là cứ phải nhìn thấy cái ánh mắt chết tiệt kia của nó.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Ba, 2008, 07:25:42 am
… Một hôm: Mấy thằng “Chệt” đến thăm trại tù. Trong một bữa tiệc, vừa nâng cốc rượu đỏ sẫm lên ngang mặt, mấy thằng “Cố vấn” vừa cười, vừa nói với E Pi:

-Chúc mừng đồng chí trại trưởng!

-Chức mừng!

-Chức mừng!

Một thằng ghé sát vào tai E Pi:

-Công việc của các anh nên ăn mật người! Ha! Ha! Có như vậy, các anh mới có đủ sức hoàn tất sứ mệnh “vĩ đại”. Ha ha!

“Mật người” E Pi rùng mình nhưng hắn chợt nghĩ: Các ngài cố vấn nói không sai đâu, thử xem!

Hôm sau, E Pi cho bắt hai đứa con gái Hoa kiều đến nhà. Hắn trói chặt một người vào cột nhà, một người nằm tênh hênh trên chiếc giường sắt. Hai người con gái tưởng rằng: Họ sắp bị thằng trại trưởng làm nhục. Nhưng không! Tấm thân nõn nà và bộ ngực căng tròn của cô gái không mảy may làm xao động tâm hồn E Pi. E Pi mở tủ, lấy ra một chai rượu. Hắn ngửa cổ tu một hơi rồi quẳng cái chai vào xó nhà. Đôi mắt hắn nhìn chòng chọc vào cái bụng dưới người con gái không quần áo đang nâng lên, hạ xuống dồn dập. E Pi với con dao trên nóc tủ xăm xăm đi tới. Hắn ngồi xuống thành giường, lòng hắn phút se lại trước cái miệng rất xinh và ánh mắt van lơn của người con gái. Nhưng nó chỉ thoáng qua. Men rượu đang bốc lên trong đầu. Hắn cúi xuống, đặt mũi con dao mỏng như lá lúa, sáng loáng lên bụng người con gái. Hắn thoáng thấy đôi mắt cô gái trợn ngược lên.

-Xoạch!-E Pi miết mạnh mũi dao xuống. Người con gái thét lên một tiếng rồi quặn quại. Máu tươi phụt ra. E Pi tìm bới một hồi trong đống gan ruột, lôi ra một cái mật. Hắn ngửa cổ. Cái mật trôi xuống còn mắc trong cổ họng. Đoạn hắn lăn ra giường. Đầu gối lên bụng người con gái, lim dim. Trước khi thiếp đi, hắn còn kịp nhận thấy: đứa con gái bị trói ở cột nhà: Đầu rũ xuống như một cái xác.

Xế chiều, khi tỉnh rượu, E Pi lại uống và hạ nốt cô gái đã trói ở cột…

Vừa kể, E Pi vừa theo dõi những diễn biến trên gương mặt người cán bộ. Khuôn mặt anh lúc căng ra, lúc co lại. Đôi môi anh mấp máy, run rẩy… Biết mà: E Pi mừng thầm. Hắn chợt dừng khi thấy khuôn mặt anh cán bộ đanh lại. Hai hàm răng anh nghiến chặt vào nhau. Anh đứng bật dậy, cùng tiếng quát:

-Thôi im đi, đồ súc vật!

“Thế chứ!” E Pi đắc thắng. Còn bây giờ thì tao đã sẵn sàng, sẵn sàng chết, thằng “Duôn” ạ. Tốt hơn hết là mày hãy cầm lấy khẩu súng trong tay con phiên dịch kia, nâng lên, chĩa thẳng vào cái đầu thằng E Pi nàu, rồi… Kìa, làm đi, làm đi cái thắng “mắc dịch” kia . E Pi vênh cái mặt dài ngoẵng lên.


Một phút, rồi hai phút trôi đi. Im lặng. Khác với hắn tưởng và chờ đợi: Chẳng có khẩu súng nào chĩa vào hắn, cũng chẳng có tiếng nổ nào phát ra. E Pi nghe rõ nhịp thở của hắn, cũng chẳng có tiếng nổ nào phát ra. E Pi nghe rõ nhịp thở của người hỏi cung. Toàn thân anh cán bộ nhũn ra, từ từ rơi bịch xuống ghế. Im lặng. Anh cán bộ gục đầu xuống bàn. “Thế này là thế nào?” E Pi tự hỏi và hắn chưa kịp trả lời, anh cán bộ đã ngẩng lên:

-Đưa nó vào trại, chú ý canh gác!

Trước khi bước đi, E Pi còn nghe trộm một câu nói yếu ớt:

-Chúng nó đã biến thằng E Pi thành con thú mất rồi!

-Dậy, ăn cơm đi!-Người tù binh già vừa nói, vừa đưa tay kéo E Pi. E Pi choàng dậy hấp tấp đi lại phía bếp-E Pi vẫn không hiểu vì sao hắn không bị trói. E Pi dừng lại trước hai dãy bàn dài, trên đã đặt sẵn những chậu cơm đầy ắp. Thức ăn chỉ có cá khô nướng. E Pi theo mọi người ngồi vào bàn… Khác với ba, bốn hôm trước đây: mọi người vừa ăn vừa nói chuyện. Trên khuôn mặt khô héo của họ, xuất hiện những nụ cười. Cách đây mấy hôm, khi bộ đội cách mạng đánh vào trong núi, trông họ không còn ra người nữa. Người nào cũng gầy đét, bẩn thỉu. Nhiều người không lê nổi đôi chân sưng phù. Những em nhỏ vồ lấy những con nhái, ăn ngon lành. Cả đoàn người bị bọn tàn quân bỏ lại cứ tập tễnh, lang thang trong rừng. Số phận của họ sẽ ra sao? Nếu không gặp bộ đội cách mạng… Từ hôm về đây: được ăn uống, tắm giẹt, họ đã lại sức, khuôn mặt mỗi người dần dần tươi tỉnh. Đến ngày thứ ba, họ đề nghị với trại cho họ được tự nấu cơm. Công việc làm cho họ vui. Họ tíu tít xung quanh bếp lửa: người chẻ củi, người vo gạo, bắc nồi. Không khí của trại cứ ấm dần lên.


Không tham gia vào công việc của mọi người, suốt ngày E Pi ngồi bẹp ở góc nhà. Không ngủ được! E Pi để mắt vào tất cả những diễn biến hàng ngày trong trại. Xung quanh trại, không có hàng rào, cũng không có vật gì che chắn, chỉ vẻn vẹn có một tiểu đội bộ đội cách mạng canh giữ. “Trốn!”. Phải rồi, có như vậy mà không nghĩ ra, E Pi vỗ mạnh bàn tay vào đầu. Ý nghĩ bỏ trốn như một dòng điện chạy khắp người E Pi. Toàn thân E Pi run lên. Đôi mắt nhìn đau đáu về phía bờ suối.

-Ông đau sao?-Thấy E Pi ngồi yên, người tù binh già hỏi. “Quái lạ, cái lão già, hình như lão ta đoán biết được những ý nghĩ đang diễn ra trong đầu mình”.

-Không!-E Pi ngập ngừng rồi vốc một nắm cớm, đưa lên miệng.

Cơm nước xong, những người tù rủ nhau ra suối tắm. Anh bộ đội cách mạng dẫn một tốp dân binh đi hái rau về cải thiện. E Pi trở lại góc nhà, hắn quay sang xin người tù binh già một điếu thuốc rê. Hắn vấn thuốc, châm lửa, rít một hơi thật sâu. Đôi mắt hắn lờ đờ nhìn theo làn khói thuốc trắng mỏng. Đột nhiên, hắn xoay người lại, nhìn xoáy vào mắt người tù binh già. Hắn túm lấy tay người tù binh già nói nhỏ, nhừn rít lên:

-Bỏ trốn!

Đôi mắt ướt nhèm của người tù binh già căng ra.

-Ông điên rồi sao? Ông còn hy vọng gì cái đám lính chết tiệt trong núi ấy!-Giọng người tù binh già bỗng dịu lại-Tôi tính kĩ rồi: Đằng nào cũng chết, chết ở đây tốt hơn.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Ba, 2008, 07:26:30 am
E Pi bã người, nỗi thất vọng tràn ngập trong lòng. Hắn bỗng nhớ lại những ngày qua… Cả đại đội hắn chỉ còn lai sáu thằng. Suốt một tuần không có một hột cơm vào bụng: xoài xanh, củ chuối rừng, rau dại vớ được cái gì ăn cái ấy! Đi đến đâu, chúng cũng đụng tiếng súng truy quét của lực lượng cách mạng. Vừa đói, vừa mệt, sáng thứ sáu, cả bọn tìm thấy một hốc sắn bên bờ suối. Như con thú vớ được mồi chúng xúm lại đào bới, rồi tranh nhau. Tiện tay, thằng đại đội trưởng rút súng bắn chết hai thằng. Vừa lúc đó, có tiếng súng nổ gần. E Pi dẫn ba thằng còn lại đạp lên xác đồng bọn, chạy.


Đến ngày thứ tám thì đôi chân E Pi không thể lê khỏi mặt đất được nữa. Hắn ngồi bệt xuống một gốc cây. Người hắn bủn rủn. Hắn sờ tay vào mạng sườn, những chiếc xương như trồi ra khỏi làn da, lung lay. Đầu óc hắn quay cuồng, ran ran tiếng súng. Đôi mắt hắn mờ dần, thỉnh thoảng lại tung ra những đốm lửa. Xung quanh im lặng. Hắn chợt nhận ra mấy thằng lính của hắn... Chết rồi, hắn phều phào, rồi chẳng còn biết gì mình nghĩ gì nữa.


E Pi tỉnh dậy trong một chiếc lều bạt giữa rừng. Hắn biết mình bị bắt khi thấy xung quanh thấp thoáng những người của phía bên kia. Một chiến sĩ còn rất trẻ bưng đến cho hắn một ca nước. “Không! Tao sẽ chết khát. Như vậy tốt hơn là được sống để phải chấp nhận sự nhục hình của chúng mày. Tao không uống”. Ca nước vẫn trên tay anh chiến sĩ. E Pi đã nhìn thấy màu nước đỏ hồng, sóng sánh. Cơn khát bóp nghẹt lấy cổ họng hắn. Hắn run run đỡ ca nước, uống cạn một hơi. Ca nước đường làm cho hắn tỉnh lại. Sau đó, hắn được ăn cơm và đi tắm. Ấy là cái ngày trước khi hắn được đưa về đây.


E Pi rùng mình. Bỗng hắn thấy lạnh ở sống lưng. Cái lạnh lan ra khắp người. Ôi, sao thế này, rét! Toàn thân run lên, hắn cắn chặt hàm rằn vào môi. Vô hiệu! Hắn xoay nghiêng người, hai chân co lên như con tôm nướng, mặt tái mét… Thế rồi đầu hắn tê đi, hai tay hắn cào cấu, chân đạp lung tung, miệng tuôn ra hàng tràng những tiếng lảm nhảm, ú ớ: “Bắn… chạy… mau…!”.

Chập choạng tối, hắn tỉnh-Toàn thân đau ê ẩm.

Hắn cảm tưởng như có ai cầm cái sống dao mà dần một lượt khắp người. Cáng tay, sao nặng thế này? Hắn cố sức mà không nâng nổi cái cánh tay lên. Đau quá! Lại còn cái gì đây? Hắn vừa mở mắt, vừa kéo tấm chăn xuống. Dưới ánh sáng của chiếc đèn pin, E Pi nhận ra anh cán bộ hỏi cung đang ngồi bên cạnh. Người hắn bỗng nóng ran.

-Đã đỡ nóng chưa E Pi?

E Pi ngước mắt lên. Hắn mấp máy đôi môi khô rát định nói, lại thôi, anh cán bộ bảo đồng chí y tá mang ca sữa lại. Anh đưa ca sữa về phía E Pi, giọng dịu dàng:

-Uống đi, ở rừng lâu ngày nên sốt rét đấy!

Giọng anh cán bộ nhẹ nhàng như người mẹ chăm chiều đứa con trai cưng khi nó bị ốm. E Pi chợt nhớ tới một người đàn bà: Mẹ! Ngày còn nhỏ, mẹ cũng chăm, chiều E Pi lắm. Có hôm, mải đá bóng giữa trưa nắng. E Pi bị cảm, mẹ đã ngồi suốt đêm bên giường E Pi… Không! Hắn không thể giống mẹ được… Anh cán bộ vẫn dịu dàng nhìn E Pi. Cái bụng E Pi đang nghĩ khác mà bàn tay hắn đã chìa ra đỡ ca sữa.

Đồng chí y tá tiêm thuốc, cho E Pi ăn cháo, rồi đắp chăn cho E Pi. Đêm áy, hắn ngủ ngon lành.

Mặt trời lên. Những tia nắng vàng rực thi nhau chạy dài trên các vạt rừng. Chúng dừng lại đùa giỡn trên những chiếc lá “khọc” to như bàn tay,màu xanh nhạt. Đàn chim liếu tiếu tranh nhau hót. Những con chim chào mào sà xuống cây duối. Chúng mổ những quả duối vàng mọng vừa ăn, vừa tranh nhau chi chới… Một ngày mới, E Pi thấy lòng trống trải. Hắn lim dim mắt nhìn vào cây duối. Đàn chim chào mào ăn no, đã kéo nhau bay đi. Trên cái cành cây khô, hai con chim chính uỷ đang gù gù cái mỏ vào nhau. E Pi thoáng buồn… Vậy là đã ba mươi tuổi đầu. Nhưng chưa lúc nào E Pi có những suy nghĩ nghiêm chỉnh về một người vợ. Chiến tranh: E Pi tự dằn lòng lại để tất cả tâm lực vào cái “trách nhiệm tối cao”. Vả lại, ở chỗ nào chả có con gái. Ngày trên chiến hào cũng không bao giờ thiếu thốn. Vậy, còn cần gì, còn muốn gì? Tất cả chí có đánh nhau, bất cần sống, chết.


Anh cán bộ lại đến. Anh mang cho E Pi một hộp sữa. Anh khuyên E Pi đừng nằm nhiều, ráng ăn và đi lại cho khỏe. E Pi im lặng.

Trại tổ chức học tập chính trị. Gần trăm người vừa tù binh, vừa dân binh, im lặng, họ đổ dồn tất cả ánh mắt vào cái bàn con kê ở góc nhà. Anh cán bộ nói chuyện: Anh nói về cương lĩnh 8 điểm và 11 điểm chính sách của Mặt trận cứu nước Campuchia. Anh nói về tôi ác diệt chủng của bọn Pol Pot-Ieng Sary, về cuộc cách mạng của nhân dân Campuchia và về một chế độ mới đã được thiết lập. Giọng anh nhẹ nhàng, khúc chiết. Càng nói, càng ấm áp, ôn tồn. Mọi người im lặng. Họ nghe rồi sửng sốt: Một chế độ mới ư?… Sáu tháng qua, họ bị lùa vào trong núi: Vẫn Ăng ka, vẫn bọn lính và những ngày lao động khổ sai. Chết đói, chết bệnh, chết… Kìa, anh cán bộ đang nói gì? Ở Phnôm Pênh, nhân dân đã trở về thành phố. Ở một số nơi đã có chợ để mua bán. Trời ơi, lặng im nghe anh nói: Nhân dân đang trở về quê cũ để bắt đầu một cuộc đời mới. Người ta đốt lửa múa lâm thôn thâu đêm, mừng cho đôi vợ chồng trẻ, mừng cho mình thoát khỏi hoạ diệt chủng, mừng cho mùa xuân hồi sinh của dân tộc này. Những người ngồi nghe, khuôn mặt mỗi lúc một rạng rỡ. Họ chưa hiểu, nhưng tin, niềm tin vừa được nhen lên sau hơn ba năm tắt lịm… Ngay buổi đầu tiên, khi chiếc xe dừng lại ở cái bãi ngoài kia, người ta đã nghĩ là chết và họ chờ đợi cái giây phút tất cả mọi người bị đổ xuống một cái hố chôn tập thể. Nhưng chẳng bao lâu, cái ý nghĩ ấy đã tan đi… Cho đến bây giờ, và có lẽ không bao giờ họ có thể quên cái buổi ấy và hình ảnh những người bộ đội cách mạng…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Ba, 2008, 07:27:26 am
Xế chiều, thêm một chiếc xe chở tù binh và dân binh về trại. Các chiến sĩ ra tận đường cái giúp họ xuống xe. Người chạy đi, người chạy lại: Khi thì bế một em nhỏ xuống, khi thì đỡ cụ già đi. Các đồng chí anh nuôi vội xuống bếp lo cơm cháo cho những người mới đến. Hai anh bộ đội cách mạng khiêng từ trên xe xuống một người phụ nữ. Họ đặt chị nằm xuống lớp lá chuối khô giữa nhà. Người phụ nữ gần như bất động. Khuôn mặt chi xanh mét như tàu lá, miệng méo xệch, chiếc áo đen rộng thùng thình phủ lên tấm thân gầy đét. Chân chị sưng đẫn, tím ngắt: Ở chỗ bụng chân, ruồi nhặng bu quanh một đám lở loét to bằng nắm tay. Thỉnh thoảng chị thở hắt ra một hơi, nhưng chị lại vội nghiến chặt hai hàm răng vào nhau. Hai bàn tay chị cào cấu khắp người. Bỗng chị túm được một vạt áo kéo ngược lên.

-Trời ơi, chị đang có thai!-Anh cán bộ gọi đồng chí y tá lại.

Chị phụ nữ: Đôi mắt nhắm nghiền, toàn thân thỉnh thoảng lại giật lên. Những người đứng xung quanh lắc đầu.

Đồng chí y tá vội nói với anh cán bộ:

-Chị ấy sắp sinh, nhưng gần như kiệt sức rồi. bây giờ đưa về bệnh xá sư đoàn thì không kịp, anh ạ. Theo tôi, ta cứ để lại đây. Trước hết tập trung hồi sức cho chị.

-Và bằng mọi cách, cho cháu bé ra đời!

Anh cán bộ nói xong, mọi người lao vào công việc. Người phụ nữ được đặt trên chiếc bàn kê nghiêng ở giữa nhà. Đồng chí y tá mắc dây truyền dịch, mấy người khác rửa vết sâu ở chân rồi băng lại cho chị. Người nào cũng lo lắng, mong sao mẹ trong, con vuông… Công việc quá sức đối với đồng chí y tá, anh luôn luôn ở bên cạnh chị. Anh rất mừng khi thấy áp huyết của chịi đang tăng lên.

-Một đêm trôi qua. Đến gần sáng thì người ta nghe thấy tiếng khóc của đứa trẻ. Ai nấy thở phào như vừa trút được một gánh nặng. Một điều thật may mắn là: Mặc dù phải mang thai trong những ngày tháng cơ cực, nhưng với sức lực vốn sẵn có của một cô gái quanh năm phát rừng trồng rẫy, đứa con của chị vẫn ra đời. Trời vừa sáng thì mọi việc cũng hoàn tất. Suốt đêm E Pi không ngủ, hắn phải vật lộn với biết bao nhiêu những ý nghĩ dằng xé. Khi người ta tiêm mũi đầu tiên cho người phụ nữ, E Pi lơ đễnh nghĩ: Chắc chúng nó chích thuốc để giết người ta thôi, chứ cứu chữa gì? Đến mình đây cũng thếm trước sau rồi cũng ăn một xỏ cuốc… Mà mặc chúng nó E Pi quay mặt vào tường. Khi người phụ nữ được đưa lên bàn, hai chiếc đèn bão cùng một lúc thắp sáng, E Pi quay lại, và suốt từ đó đến sáng, đôi mắt E Pi không bỏ qua một động tác nào của mấy người bộ đội. Chúng nó đang cấp cứu, ôi sao lại thế được? Hay là, chúng nó đang làm một thí nghiệm gì trên thận thể người phụ nữ này! Trời!… Nếu vậy thì… bình tĩnh đã, chờ xem. E Pi tự nhủ. Nhưng nếu quả thật như vậy… E Pi thấy người nóng ran lên, mắt hắn như dán chặt vào bàn tay người y tá… Đến lúc đứa trẻ oa oa khóc, E Pi không còn tin vào mắt mình nữa, mắt hắn mờ dần đi, rồi khép lại.


Tiếng khóc của đứa trẻ bỗng đập vào nơi sâu kín nhất trong lòng E Pi. E Pi thở dài nghĩ tới những người congái đã đi qua tay hắn. Biết đâu, hắn chả lại có những đứa con và mẹ chúng cũng phải chịu đựng những cơn đau khủng khiếp như người phụ nữa kia, tự nhiên, hắn thấy người nhão ra chân tay bủn rủn, rồi rét… Hắn lại lên cơn sốt rét.


Bữa cơm trưa được dọn ra. Anh cán bộ ngồi vào bàn với E Pi. Anh không ăn mà nói chuyện với mọi người. Nửa bữa, E Pi đứng dậy. Anh cán bộ kéo E Pi ngồi xuống.

-Ráng ăn chút nữa E Pi. Không ăn nhiều là lại sốt đấy!

E Pi mỉm cười từ chối. Anh cán bộ không chịu, anh ép E Pi ăn. E Pi đành ngồi xuống, gượng ăn thêm. Người tù binh ngồi đối diện với anh cán bộ, ngẩng lên nhìn anh rồi ngập ngừng nói:

-Ông lớn… Mấy ông không phải gác cho mệt, tụi tôi không trốn đâu.

Anh cán bộ cười:

-Trốn hay ở là tuỳ mọi người. Có điều là: cứ lang thang mãi trong rừng, rồi cũng đói chết mất thôi. Đất nước đã được giải phóng, tôi khuyên mọi người nên trở về quê cũ mà làm ăn.

Nghe anh cán bộ nói, E Pi giật mình khi nhớ tới cái ý định bỏ trốn cách đây mấy hôm. Anh cán bộ đứng dậy, đi lại phía người phụ nữ mới sinh. Chị vẫn đang được truyền dịch, người đã tinh tỉnh. Đứa con của chị tạm thời phải ăn sữa bò, đồng chí ý đang ôm nó.


Sau mười ngày học tập, ngày ra trại đã đến. Buổi chiều, đơn vị bộ đội phát cho mỗi người một bao gạo, một gói muối. Trẻ em được phát thêm đường, sữa và vải. Số ít tù binh được đưa về trại cải huấn phía sau để học tập thêm. Ngày mai, tất cả lên đường.

Anh cán bộ đến gần E Pi. Anh vỗ cai E Pi nói:

-Mai E Pi về phía sau học tập thêm, nhưng nếu E Pi cần thì tôi để E Pi về nhà.

E Pi xúc động nhìn anh cán bộ…

Những ngày qua, E Pi đã hiểu anh. Biết anh là Luyện, lòng hắn thắt lại vừa sửng sốt, vừa đau đớn…

E Pi mồ côi cha, mẹ từ sớm. Cha E Pi đạp xích lô ở thủ đô Phnôm Pênh. Cuối năm bảy mốt, ông bị thằng quan hai Lon Nol bắn chết trong một đêm lúc hắn say rượu. Mẹ E Pi mắc bệnh suyễn, bà mất từ năm E Pi lên sáu tuổi. E Pi phải đi ở cho một công chức… Cực quá năm bảy hai E Pi trốn khỏi Phnôm Pênh lên Công Pông Chàm rồi đi tu. Một hôm, có một đơn vị du kích “Miên đỏ” đến đóng trong phum. Họ mắc võng nghỉ trong vườn cây của chùa. Họ vào thăm chùa và trong câu chuyện của họ. E Pi biết họ là lực lượng cách mạng. Họ tổ chức đánh Lon Nol, đánh Mỹ.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Ba, 2008, 07:28:14 am
Ba hôm sau, họ lên đường. Phum E Pi ở, có hai mươi thanh niên tình nguyện đi theo họ. Không hiểu sau, E Pi đã cởi áo cà sa, bỏ chùa, đi theo đơn vị du kích. Họ hành quân rõng rã bốn ngày đường. Trưa ngày thứ năm thì đến vị trí tập kết. Đó là một cánh rừng già có son cuối lớn. E Pi được bổ sung về một đơn vị ĐKZ: đơn vị E Pi có sáu mươi người, hai phần ba là người Campuchia. Một phần ba là người Việt Nam, cán bộ có bốn người thì hai người Campuchia và hai người Việt Nam.


Tại đây, E Pi được học chính trị và tập bắn pháo. Lần đầu tiên E Pi trông thấy một khẩu súng to, quả đạn bằng cái ống đựng nước Thốt nốt. E Pi sướng lắm, anh hăm hở học tập. Chính trị viên Luyện mỗi lần xuống thăm khẩu đội đều kiểm tra E Pi. Anh khen E Pi sáng dạ. Anh động viện E Pi gắng học tập để trở thành pháo thủ giỏi. E Pi cười. Đôi mắt trẻ trung ánh lên một niềm vui sung sướng.


Chẳng bao lâu, e trở thành một khẩu đội trưởng. Tháng chín năm 1973, đơn vị E Pi nhận lệnh tập kích vào sân bay Xiêm Riệp. Giữa bốn bề lửa cháy, đạn nổ, được lệnh rút, cả đại đội nhanh chóng vượt hàng rào, băng ra ngoài. Ra đến cửa mở, E Pi bị một mảnh pháo văng vào thái dương ngất đi. Chính trị viên Luyện đã cõng E Pi chạy bộ bảy kilômét về hậu cứ…


Cuối năm bảy tư, các chiến sĩ Việt Nam chia tay các bạn chiến đấu Campuchia trở về giải phóng Tổ quốc. Các đơn vị Miên đỏ cũng được tổ chức lại rồi tiến về giải phóng thủ đô… Tháng tư năm bảy lăm… những ngày sau đó… E Pi không còn nhớ nữa.

-Anh Luyện!-E Pi nhìn anh cán bộ bằng cặp mắt van lơn-Anh cứ để em về trại học tập. Em hứa sẽ học tập tốt! E Pi nói rồi cúi xuống, những ngón tay vẽ vẽ cái vạt áo còn dính mấy giọt máu khô.


Theo đề nghị của mọi người: Cái sân ở đầu trại được dọn dẹp sạch sẽ. Người ta khuân về những khúc củi khô cứng, chất thành đống giữa sân. Mọi người tất bật chuẩn bị cho đêm liên hoan ra trại. Quên cả bữa cơm chiều, mà cũng chẳng ai thấy đói nữa, có một cái gì cứ rộn lên, rạo rực trong lòng họ… Đêm nay, họ lại được múa lâm thôn. Ba năm rồi, khéo không quên… nghĩ vậy, mấy cô gái kéo nhau ra sân nhà tập thử. Thỉnh thoảng họ lại cười rộ lên.


Khi ngọn lửa hắt ánh sáng lên cành cây, mọi người kéo nhau lại: họ sắp thành vòng trong xung quanh đống lửa. Không có trống. Họ mượn cái thùng gánh nước của nhà bếp ra gõ. Bốn cô gái bước ra. Họ múa. Chưa được một vòng mà hàng đã rối loạn. Cô gái đi đầu buông tay xuống nói:

-Vỗ trống sai rồi!

-Ai biết vỗ?

-Múa bằng hát dễ hơn!

-Ai biết hát?

Mọi người im lặng nhìn nhau. Bỗng từ phía sau, một chị phụ nữ bước ra. Chị hát, tiếng chị khàn khàn không cất lên được. Chị dừng lại, lấy giọng, hát tiếp. Tiếng hát của chị trong dần, vang lên. Những người đứng trong hàng đã bắt đầu nhấp nhỏm. Người ta bước ra sân. Càng lúc, càng đông. Họ múa. Đêm sâu dần. Tiếng hát mỗi lúc một vang xa. Gương mặt mỗi người mỗi lúc một rạng rỡ.


Họ dừng lại khi những tia nắng đầu tiên của ông mặt trời hoà vào đống lửa. Hai chiếc xe của bộ đội đã nổ máy ngoài đường cái chờ họ. Mọi người quay vào, chuẩn bị hành lý lên đường. Người nào cũng lóng ngóng. Cho đến khi vắt bao gạo lên vai, người ta như chợt nhớ ra điều gì, họ dừng lại, nhìn vào cái nhà lợp lá chuối, cái bếp, hai dãy bàn ăn, những người bộ đội cách mạng… Một góc rừng hoang sơ, vắng vẻ, bỗng trở nên thân thương ấm cúng như gia đình của họ. Có người cúi xuống, vội kéo vạt áo lên chùi mắt.


Nấn ná mãi, nhưng rồi cái giây phút ấy cũng đến-Giây phút chia tay. Chị phụ nữ có mang và cháu bé được ưu tiên ngồi trong ca bin. Xe nổ máy. Người ta không nói được, đành phải giơ bàn tay lên. Họ cười, nụ cười nở ra, có vị mặn của giọt nước mắt vừa lăn xuống.

-Gắng học tập cho tốt nhé. Mình sẽ về thăm E Pi luôn đấy! Anh cán bộ nói và thoáng thấy giọt nước lăn ra ở đầu con mắt E Pi.


Uran-1980-2000


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Tư, 2008, 09:28:33 am
Bà mẹ U Đôn

Lê Quốc Phong
Tặng Đức và đồng đội


Lần nào cũng vậy, hễ cứ thấy Đức đến là bà mẹ Campuchia ấy cứ nhìn anh chằm chằm rồi nói:

-Thằng Pia-rết với mày giống nhau như hai giọt nước, nhìn mày mẹ nhớ nó quá.

Những lúc đó Đức không dám nhìn thẳng vào mắt mẹ. Anh sợ mẹ xúc động không cầm được nước mắt. Mà để mẹ khóc lên thì phiền muộn quá, cháu Chia-tai, con trai Pia-rết sẽ ôm chầm lấy mẹ lalên có trời mà dỗ được. Đức cố lãng đi, nhác lại cái câu an ủi chung chung thường ngày vẫn nói:

-Đừng buồn mẹ ạ! Rồi anh ấy sẽ trở về thôi!

-Về! Liệu có còn mà về không con?

Mẹ thất vọng thở dài, đưa mắt nhìn xa xăm. Trời chiều, nắng vàng như mật, những chú chim sâu tránh nắng đuổi nhau ríu rít dưới tán cây cuối vườn. Bàn tay mẹ vẫn vuốt đều trên mái tóc quăn của Chia-tai.

-Ra ngoài kia chơi con, để bà nói chuyện.

Chia-tai cúi dạ rồi chập chững bước đi, mẹ quở tay lên bàn thờ lấy lá trầu đựng trong chiếc đĩa sứ, đưa con dao sắc như lá mía bổi đôi miếng cau, bỏ vào miệng vừa nhai vừa nói:

-Con à! Thằng Pia-rết hắn hiền khô vậy đó. Thế mà hắn cũng bị bắt đi làm lính cho Pol Pot… từ ngày giải phóng đến nay, đêm nào mẹ cũng không ngủ được, cứ nhắm mắt một lúc là thấy thằng Pia-rết hiện ra đứng trừng trừng nhìn mẹ ngoài cửa sổ. Mẹ chạy đến thì không thấy hắn đâu nữa…


Mấy giọt nước mắt của mẹ trào ra. Mẹ vội vàng đưa mối khắn cà-ma quệt nhanh một cái. Thế mà Chia-tai vẫn nhìn thấy được, nó bỏ lăn mấy cục đất nặn hình con bò, con trâu đồ chơi nằm ngổn ngang trên cát, chạy đến ôm chầm lấy mẹ.

-Bà! Bà… Chia-tai vừa lay vừa gọi-Bà khóc à?

-Đâu! Bà có khóc đâu. Cháu ra chơi đi.

-Hư! Hư… Chia-tai ngúng ngoắng đầu nũng nịu-Bà đừng khóc nữa nghe.

Và bất chợt nhớ ra điều gì. Chia-tai mở căng đôi mắt nhìn cây Chăm phương án nở hoa đỏ rực.

-Bà ơi! Sao chưa thấy ba về?

Mẹ chưa kịp trả lời thì Chia-tai đã bước đến nằm gọn trong lòng Đức.

-Pu con-tóp à! Sắp đến tết Chô-chơ-nam thơ-mây chưa?

-Mười ngày nữa cháu à.

-Tết vui nhiều pu con-tóp há. Bà bảo tết ba Chia-tai về. Ba về cho Chia-tai quần áo đẹp nè. Kẹo nè. Dẫn Chia-tai đi chơi nè. Đi lên phố chụp ảnh đẹp nữa…

Chia-tai vẫn liến thoắng nói về ngày vui của em bằng tất cả sự ngây thơi trong sáng và hồn nhiên của cái tuổi được nuông chiều. Em đâu biết rằng mỗi lời nói của em vô tình làm cho lòng người lớn buốt đau. Mẹ cúi xuống vờ nhặt một hòn đất để giấu đi sự xúc động. Còn Đức, khuôn mặt anh trở nên ưu tư và có cái gì đó day dứt trong lòng. Anh cắn chặt vành môi, cúi xuống đặt lên trán Chia-tai một cái hôn, rồi cụng đầu nó day qua, day lại.


Mẹ chỉ có mỗi mình Pia-rết là con trai độc nhất. Năm bảy lăm Pol Pot-Ieng Sary lên nắm quyền. Ăng-ca đến nhà gọi chồng mẹ đi học, vì trước kia ông là du kích mật, nuôi giấu cán bộ trong nhà để đánh Lon Nol. Mẹ tưởng chồng đi một hai tháng sẽ về. Thời gian cứ dài mãi ra, mà chồng mẹ vẫn không tin tức. Phum mẹ có lệnh phân tán mỗi người một nơi, ở tập trung theo tổ sản xuất. Mẹ và Thơ-mây vợ Pia-rết gặp may là được ở cùng một đội. Còn Pia-rết thì ở đội khác cách mẹ bốn vườn thốt nốt, mắt nhìn có thể thấy, thế nhưng gia đình mẹ thỉnh thoảng mới được gặp nhau.


Vào đầu năm bảy sáu người ta mang đến cho mẹ một cái tin: chồng bà bị giết ở rừng O-ran cùng ba trăm người khác. Mẹ đã nhiều lần tận mắt chứng kiến cảnh bọn lính Ăng-ca giết người bằng búa, bằng dao chỉ vì người ta kêu đói kêu khổ, đến xin thuốc khi ốm đau, hoặc một câu chuyện vô tình nào đó phảng phất đôi nỗi buồn phiền… Nhưng mẹ chưa bao giờ nghĩ rằng chồng mẹ bị giết. Suốt cuộc đời ông lam lũ, hết trèo thốt nốt thuê, cuốc mướn, lại ở đợ cho bọn nhà giàu trong sóc. Kiếm được đôi đồng “riêng” lại để dành nuôi cán bộ trong mấy năm “cách mạng” gặp khó khăn.


Cái tin đau đớn đó đến với mẹ đột ngột quá. Mẹ chỉ biết kêu lên được một tiếng rồi gục đầu xuống chiếc áo cũ của chồng, trong đó có vương lại hơi ấm mồ hôi. Mẹ thiếp dần trong tiếng nấc. Bên ngoài, ánh chiều hấp hối vàng nhạt, bầu trời trở nên u ám lạ thường và âm vang tiếng khóc loãng vào không gian… Chỉ có nước mắt là chưa dễ khô. Nước mắt trào ra còn đọng lại trên khóe mắt. Lồng ngực già cỗi của mẹ chưa vơi những cơn buốt tê đau đớn. Thì chính hắn, chính tên Ăng-ca trước kia nằm hầm trong nhà mẹ, chính cái thằng mẹ đã bớt đi những miếng ăn nuôi nấng nó, bớt đi những giấc ngủ tuổi già canh cho nó được trọn đêm, nó đang đứng dang chân trước mặt mẹ. Ngày đó nó có vẻ hiền lành chứ không như bây giờ. Té ra thời gian trên đất này đã cho con người nếm những câu trả lời thật cay nghiệt… Có phải hắn đó không? Hắn đến đây làm gì? Để nói với mẹ những lời an ủi? Không! Mẹ không cần những lời nói ngọt ngào đặc sánh như mật, mà khi uống vào có vị đắng cay. Hãy xéo đi! Tao không cần gì hết. Mẹ định hét tướng lên, chồm lại vả vào cái mặt vô ân, vô nghĩa của hắn. Nhưng mẹ kịp kìm lại, đưa mắt nhìn hắn, hắn vẫn đứng trân trân trước mặt mẹ, chiếc gậy ba toong nhiẹp lên, nhịp xuống.

-Khóc hả! Im đi! Khóc là có tội với đảng, có tội với lãnh tụ Pol Pot. Chồng bà chống Ăng-ca. Đáng lẽ cả gia đình bà cũng bị trừng trị, nhưng tôi nghĩ hồi trước bà có nuôi tôi, tôi tha cho bà… nhưng muốn vậy thì ngay bây giờ, thằng Pia-rết phải ra tập trung ở trụ sở để ngày mai nhận súng.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Tư, 2008, 09:29:31 am
Thế là dù muốn hay không Pia-rết cũng không thể không bận bộ quân sự lính Pol Pot màu đen. Chúng bắt Pia-rết đi. Mẹ chạy theo khóc lóc van xin. Chúng hét: cút về không lại cho ăn đất bây giờ. Thằng lính áo đen bằng con mẹ, phang mẹ một gậy, vai mẹ sà xuống. Mẹ ngất đi. Trong mơ màng mẹ thấy trước mắt mọi cái quay vù vù. Thốt nốt xanh tươi bật gốc, những khuôn mặt quen biết từng hàng, từng hàng, trên con đường đất mịt mùi bụi lũ lượt kéo đi. Họ đi bằng hai tay… Chồng mẹ đứng đó, nhìn mẹ cười, khóc. Họ đinh chạy đến với mẹ nhưng đôi chân như bị chôn chặt trong đất… và máu… ôi máu nhiều quá! Máu nhòe hết mọi khuôn mặt, nhoà hết mọi màu xanh, máu như một cơn mưa đột ngột từ trong những cụm mây đen đặc rơi xuống, máu từ dưới đất phụt lên. Nào biển, nào sông, tất cả đổ máu cuồn cuộn chảy… Từng đoàn người bi trói tay, trói chân đứng chật ních trước sân chùa. Những tiếng khóc, tiếng théi nổi lên. Bọn lính cột mọi người thành một hang dài, lột hết quần áo, rồi đứng cười hô hố, chỉ trỏ, khoái trá. Chúng lấy từng hòn đá cuội to thi nhau nhằm đầu ngực, bụng những người bị trói mà ném tới tấp. Tên ăng-ca nhìn đau đáu cô con gái co thân hình thon thả, trần truồng đứng trước mặt. Hắn cười hanh hách. Hắn thét:

-Bắn!

Thế là tiếng reo ầm ầm thoát ra từ cửa miệng của bọn lính loắt choắt. Súng nổ đồng loạt, những cái đầu gục xuống rống như bò. Máu trào ra từng tia nhỏ nhỏ li ti bắn lên cao tưởng như thấy mặt trời, mặt trời cũng đỏ màu máu, máu như một thứ ánh sáng lân tinh kỳ quặc soi chập chờn những khuôn mặt dã thú của bọn lính đang reo hò nhảy nhót và soi cả những khuôn mặt đau đớn của những người đang trút giây thở cuối cùng…

-Trời ơi!

Mẹ bật kêu thành tiếng rồi vùng dậy ngơ ngác nhìn quanh, hớt hải chạy khắp công xã, vừa chạy vừa la, chửi bới khóc than. Kêu chán mẹ lại cười, quần áo rách tả tơi, đầu tóc rối bù xù tấm thân rũ rượi. Chạy mệt, mẹ dừng lại bên những cây thốt nốt cụt ngón ôm ghì lấy nó, vuốt ve nó, nói với nó những lời âu yếm như nói với chính đứa con mình. Dân phum ra đưa mẹ về. Mẹ cào cấu, chửi bới họ…


Mấy hôm sau sức khỏe của mẹ dần dần hồi phục. Ăng-ca vẫn không để cho mẹ yên. Chúng bắt gia đình mẹ rời sâu trong rừng. Ở đó một thời gian, Thơ-mâ sinh được đứa con trai. THằng Chia-tia kháu khỉnh, đó là niềm vui duy nhất làm dịu một phần nỗi đau triền miên trong lòng mẹ. Mẹ cứ tưởng tượng rằng sẽ được sống mãi với niềm vui ít ỏi mong manh còn lại đó. Nhưng, hạnh húc đến muộn mằn và bao giờ cũng dễ bay đi, cả đời mẹ trải qua vẫn thế. Còn khổ đau thì lởn vởn vây quanh lấy mẹ, chập chờn nhập cuộc và bao giờ hắn ta cũng thắng. Thơ-mây, con dâu mẹ bống chốc bị bọn lính Pol Pot kéo đến bắt đi. Đi về đâu? Sống hay chết. Mẹ làm sao biết được.


Rừng núi vẫn im lặng, thản nhiên trước nỗi đau xé ruột của mẹ. Mẹ định chạy lên nhà tên ăng-ca túm lấy cổ nó cào cấu cho hả giận. Nhưng nghĩ lại cũng chẳng ích gì. Nó có súng. Nó có quyền. Nó cho mẹ ăn thì mẹ được ăn. Nó bắt mẹ chết thì mẹ phải chết. Nó đuổi mẹ thì mẹ phải xéo đu. Dù nơi ấy là rừng, là núi, hay hang cùng. Mẹ lặng yên xua tan ý nghĩ rồ dại bất chợt đó và ngày ngày lại thui thủi bên đứa cháu nội. Đi đâu mẹ cũng bế nó đi, không bao giờ lơi nó ra dù trong phúc chốc. Bọn ăng-ca như lũ quạ đen đang rình rập đâu đó chờ giật cướp những niềm vui nhỏ nhoi của mẹ.


Cuộc sống ấy của mẹ kéo dài mãi đến đầu năm bảy chín. Bỗng một tốp người có súng xộc vào rừng nơi mẹ ở. Họ nói gì vậy? Con-top Việt Nam đánh Pol Pot, cứu nhân dân Campuchia… Họ chắp tay chào mẹ “Xóc-xơ-bai”, nói đi nói lại câu đó… Thế rồi mẹ được đưa về phum cũ. Nhà bị bọn Pol Pot đập phá tan hoang, một chiéc bát ăn cơm cũng không còn nguyên.Bộ đội Việt Nam dựng lại cho mẹ một căn nhà tre và thỉnh thoảng Đức đến thăm me, anh gánh nước, xới rau, cho mẹ thuốc sốt, hoặc làm một việc gì đó mẹ cần. Cứ mỗi lần nhìn thấy Đức là mẹ lại nhắc đến Pia-rết:

-Con ạ! Hắn cũng như con vậy đó, mái tóc quăn, thân hình to cao, chẳng khác chi người cầm tạ, dang đi thoăn thoắt như con cả Biển Hồ…

Còn Chia-tai thì nằm gọn trong lòng anh.

-Sao chưa thấy ba cháu về Pu-con-tóp?

Lần chia tay cuối cùng với mẹ, mẹ vẫn chỉ nói với Đức một câu:

-Con à! Hắn cũng như con vậy đó. Thương mẹ thì nhớ tìm về giúp mẹ, con à…

Mùa khô.

Trung đoàn của Đức nhận lệnh cùng các đơn vị quân đội cách mạng Campuchia truy quét ở núi O-ran. Trên suốt dọc đường hành quân Đức bắt mười mấy tù binh, có tên ngay từ đầu gặp bộ đội đã bỏ súng đầu hàng, có tên tình nguyện dẫn ta đến cứ điểm của bọn chúng. Nhưng cũng có tên ngoan cố bắn đến viên đạn cuối cùng. Hình như lúc nào Đức cũng nhớ đến lời mẹ dặn và cố đảo mắt tìm xem trong đám đông kia, có người nào giống với Pia-rết không? Không thấy. Anh chợt nghĩ: Sau mấy năm cầm súng cho Pol Pot, liệu Pia-rết còn giữ được những gì đẹp đẽ trong tâm hồn mà người mẹ đau đớn kia đã bồi đắp cho Pia-rết không? Hình ảnh chúng giết cha, đánh đập mẹ còn đọng lại trong trí nhó Pia-rết hay đã bị giũa mòn rồi? Khi đám lính áo đen cầm trong tay con dao, cái búa nện vào đầu những người dân mà Pia-rết cũng thừa biết họ không có tội, hoặc khi chúng cầm đứa trẻ con trong tay, mặc cho nó khóc, nó giãy giụa cứ thế mà quẳng xuống lòng giếng, những lúc ấy liệu lòng Pia-rết có quặn đau, có rơm rớm máu không?  Đức thấy có cái gì đó cộm trong lòng. Anh cảm thấy nỗi hy vọng kia mong manh quá đỗi. Có lúc Đức lại nghĩ: giả sử Pia-rết trở thành một tên đao phủ khét tiếng. Vậy trong tâm hồn hắn liệu có thể còn sót lại chút ít lương tri bất chợt thức tỉnh làm cho hắn bỗng nhớ đến cha, đến mẹ, đến vợ, đến con. Biết đâu trong trận đánh sắp tới, trong đoạn đường mà Đức sắp đi qua, ở các lùm cây vi-lơ lúp xúp, Pia-rết ẩn núp chĩa súng vào người Đức. Hoặc là trong một trận đánh gặp gỡ, giữa rừng buộc lòng một viên đạn từ nòng súng tấn công của Đức lao vào ngực Pia-rết, hắn ngã xuống sau đó Đức mới nhận ra những nét hao hao trên gương mặt hắn. Nghĩ đến đây lòng Đức bỗng quặn đau. Giữa bao nhiêu người lính áo đen mà Pol Pot xua bắt, tha hoá lừa phỉnh, đẩy đến hố vực tội ác liệu có thể tìm nhận và gọi về Pia-rết được không?


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Tư, 2008, 09:31:13 am
Thời gian cứ mải miết trôi. Ở gần các rừng dày, cây xốc-lơ mấy dạo nở hoa. Biết bao người đã theo tiếng gọi của lương tâm và đất nước Campuchia thân yêu trở về, nhưng trong những khuôn mặt Đức gặp, anh không tìm thấy Pia-rết. Anh vẫn cùng đồng đội hành quân. Biên giới Thái càng xích gần trước mặt, hạnh phúc của nhân dân lại lớn thêm mãi ra phía sau lưng. Mỗi lần nhớ tới lời bà mẹ lòng anh bỗng cồn cào…


Ngôi nhà thấp lè tè mới dựng của mẹ bên cạnh những ngôi nhà sàn to có đầu rắn Na-ga. Chiếc phản kê tạm mấy tấm ván chát xám loang lổ mà mẹ thường ngồi kể chuyện. Mấy cây thốt nốt xoè lá ở trước sân. Tất cả hiện rõ trước mắt anh cùng với lời mong của mẹ.


Hơn một năm Đức trải qua bao nhiêu gian khổ. Những ngày khát chát mùa khô, không có nước tắm. Những cuộc truy kích mệt lả, cơm không đưa được vào miệng. Những cơn sốt rét rừng… hình như chính lời mong ấy tựa một cái mốc cắm vội ở đâu xa lắc, đang gọi Đức, thúc giục Đức vượt qua những gian lao, những khó khổ mà người lính ở sát biên giới Thái này đang chịu đựng.


Cuối mùa khô, địch hoạt động tăng dần. Đơn vị đóng gần sát biên giới. Lại một trận đánh nữa, trận đánh bọn Pol Pot từ đất Thái vượt biên giới luồn vào. Đức lại nghĩ đến mẹ. Lẽ nào Pia-rết lại bị bọn chúng dẫn qua đất Thái nhơ nhuốc, xấu xa và bây giờ Pia-rết đang bị bọn chúng xua trở về quấy rối.


Trận đánh bọn luồn rừng sắp kết thúc. Những tên tàn binh bị bắt đi ngang qua trước mặt Đức, kéo thành một hàng dài lếch thếch đen xỉn từ quần áo đến mặt mũi, cắm đầu lặng lẽ lê từng bước chân. Đức nhìn chằm chằm vào đoàn tù, đến người cuối cùng anh vẫn không nhận ra ai có dáng như mẹ kể… Hay Pia-rết đang ở điểm Pốc-cơ? Có thể lắm.


Đó là một căn cứ phía trước của bọn Pol Pot. Đơn vị Đức được lệnh đánh chiếm cứ điểm ấy. Từ nửa đêm, đơn vị anh đã chiến đấu suốt mười giờ ròng. Ban đầu địch chống cự quyết liệt, nhưng cuối cùng không chịu nổi sự tấn công ồ ạt của cánh quân binh đoàn bạn phối hợp nên tháo chạy tán loạn, đứa chết, đứa bị thương, đứa bị bắt làm lầm lì bước đi. Đội quân y băng bó cho những tên còn sống. Chỉ còn lại một cái hầm được xây dựng kiên cố, chốc chốc đạn xối ra từng loạt, mặc cho các đồng chí trong đội địch vận bắc loa khàn tiếng kêu gọi. Đại đội trưởng bò đến công sự Đức. Anh nói:

-Cậu phải chỉ huy trung đội đánh xốc lên mà hốt gọn.

Trước mặt Đức biên giới mờ đi trong khói. Mới gần mười giờ mà nắng đã gay gắt. Cũng là ngọn gió lùa từ dưới xuôi lên mà buổi sáng thì rười rượi mát lành, còn bây giờ thì khô chát, bụi khói cuộn bốc.

-Trung đội 9 xung phong!

Sau mệnh lệnh ấy các chiến sĩ lao lên. Từ trong công sự cố thủ địch vẫn bắn đại liên ra từng điểm xạ dài. Trung đội Đức mới vượt được ba mươi mét thì chững lại vì địa hình quá trống. Khẩu đại liên địch vẫn ăng ẳng sủa, đạn găm phầm phập vào thân cây tung đất.

Đức hét to, giọng anh lẫn trong tiếng súng:

-Trinh!-Diệt hoả điểm.

Trinh không trả lời chỉ gật đầu nhè nhẹ rồi cứ thoăn thoắt bò lên sau thân cây bị pháo phạt gãy. Trinh giương súng lấy đường ngắm chưa kịp bóp cò thì Đức gọi giật trở lại:

-Đừng bắn trúng. Bắn cảnh cáo.

Trinh quay người mở to mắt nhìn Đức ngạc nhiên. Môi anh mấp máy như muốn nói điều gì đó nhưng chợt nhận ra đây là trận địa. Trinh lặng lẽ quay nhanh về phía trước. Anh bóp cò. Quả B.40 nổ sát nách công sự địch. Chúng hoảng hốt nhào lên chạy dạt về đoạn hào phía sau. Đức bỗng khựng lại khi nhìn thấy thằng địch có mái tóc quăn, thân hình to cao như hộ pháp đang chạy sau cùng kia… chính nó sao? Chính nó. Nó là con trai của bà mẹ U-đôn rồi. Đức hạ lệnh:

-Khép chặt vòng vây bắt sống.

Anh khum hai bàn tay làm loa dõng dạc gọi từng tiếng:

-Hãy ra hàng đi. Mặt trận và Việt Nam không giết.

Bọn địch vẫn xô nhau chạy dạt về phía sau, vừa chạy vừa quay súng bắn lại. Đức cắn chặt vành môi nén cơn giận. Giết chúng không khó, chỉ cần một trái B.40 nữa là tan xác hết. Nhưng cái khó là gọi chúng ra hàng, bắt sống chúng, cứu được chúng, và đối với anh, anh còn có lời mong của một người mẹ mà anh chưa đáp lại. Đức tiếp tục cho đại liên bắn kiềm chế,

-Ra hàng đi. Mặt trận và Việt Nam không giết.

Chưa dứt câu đạn đã vèo vèo cắm phập trước mặt. Một chùm cúc dại xác xơ. Một tiếng nổ đến long óc của quả M.79 cách đây gần đó. Đức thấy mu bàn tay mình buốt đau, máu trào ra thấm đỏ mặt đất. Đức chưa hết bàng hoàng thì một tiếng nổ nữa tiếp theo. Anh cúi người xuống vừa tránh mảnh vừa nhìn vết thương. Đức không ngờ anh bị thương vào những phút này, những phút mà trận đánh có thể không cần đổ một giọt máu mà anh đang đỏ. Bọn giặc kia anh muốn cứu nó thì chính nó lại bắn anh. Nỗi bực dọc nén lại giờ đây bật lên làm cổ Đức tức nghẹn. Anh muốn hét to hạ lệnh cho đồng đội xông lên tiêu diệt ngay chúng. Nhưng chợt nghĩ đến một lời giục gọi nào đó, anh lại thôi. Cuộc chiến đấu mà đồng đội Đức và các bạn Campuchia đổ máu đã mang lại xiết bao hạnh phúc vì đất nước này, phải, nhưng vượt lên những điều ấy, còn có một cái gì đó lớn lao hơn nữa, lâu dài hơn nữa, nhân loại hơn nữa…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Tư, 2008, 09:32:42 am
-Anh Đức bị thương!

Một cậu chiến sĩ trẻ ở tiểu đội ba thét:

-Quý cho tiêu đi rồi! Chính sách gì, lắm chuyện.

-Không được, Đức thét!-B.40 bắn cảnh cáo hai quả! Đại liên bắn chặn. Đề nghị tiểu đoàn cho cối dập chặn đường rút ở mé rừng phải. Tiểu đội hai vòng bên trái đánh từ phía sau lên.

Quả thế. Khi súng nổ từ phía sau lưng, bọn địch nhốn nháo, chúng hò hét nhau quay nòng đại liên bắn trả. Nhưng chỉ được một lúc rồi yếu dần. Trung đội Đức ào ạt xông lên:

-Đầu hàng đi! Không giết đâu!

Một thằng, hai thằng, bốn thằng… vẫn chưa thấy tên lính ấy đâu. Đức hồi hộp chờ đợi. Năm thằng, sáu thằng… dưới công sự im phăng phắc. Tại sao vậy? Thằng tóc quăn mà Đức nhìn thất chết rồi sao? Không, Đức không tin như vậy. Anh đưa mắt hỏi tên tù binh sau cùng.

-Còn ai không?

-Dạ, thưa… hết rồi. Hắn lẩy bẩy trả lời ngập ngừng.

Đức bước đến chĩa súng xuống miệng hầm kéo một loạt, phía dưới có tiếng động:

-Lên đi, Mặt trận và Việt Nam không giết đâu.

Đức gọi rồi cắp súng lùi lại một bước. Tên địch lom khom chui lên. Chính hắn rồi, mái tóc quăn bồng bềnh, thân hình cao vạm vỡ. Hắn cầm lấy cái gì trong tay vậy? À, một quả lựu đạn. Đức vừa quay súng thì bên trái, Trinh từ xa co người với một động tác võ, anh lao đến đánh rớt quả lựu đạn trong tay tên lính và rất nhanh nhẹn chụp ném ra xa. Tên lính hoảng hốt lùi người bỏ chạy.

-Đứng lại!

Nó vẫn chạy. Đức giương súng bắn găm. Tên địch loạng choạng chúi xuống, viên đạn cắm vào chân. Bây giờ Đức mới trông rõ khuôn mặt hắn, cái cằm của hắn bạnh ra, hai con mắt trắng lộ dã lộ những tia máu đỏ, đôi môi khô đét lấm lem bụi đất, Đức cúi người, lấy chiếc bình tông còn lại những giọt nước cuối cùng đổ lên môi hắn. Hắn mấp máy một cách thèm thuồng, thoáng nở nụ cười khó hiểu rồi trừng trừng nhìn Đức.

-Sao không giết ta đi?

-Giết mày làm gì. Mặt trận và Việt Nam không giết người đầu hàng.

-Hừ! Không giết. Hắn nói lại một cách lạnh lùng-Ăng-ca không bao giờ nói sai.

Đức ngỡ ngàng trước câu nói của tên giặc. Cho đến bây giờ mà hắn còn nghĩ như vậy ư? Thật không gì khủng khiếp bằng khi tâm hồn con người bi nhuốm đen.

Anh nhìn nó. Nó vẫn lạnh lùng. Anh hỏi:

-Tên là gì?

-Pia-rết.

Ôi! Thằng Pia-rết của người mẹ đau đớn kia là tên này ư? Anh đã tìm ra được nó. Anh đã đáp lời mong của bà mẹ ấy. Ôi, thế nhưng liệu người mẹ mòn mỏi chờ đợi có chịu được nỗi đau tươi rói mới rọi này không, khi biết đứa con của mẹ, trong những năm cầm súng cho Pol Pot đã trở thành một tên tử thù của nhân dân.

-Tên gì? Pia-rết à? Đức hỏi lại.

-Đúng! Pia-rết.

-Quê đâu?

-Công Pông Xpư.

-Sóc nào?

-U-đôn.

Thôi đúng nó rồi! Chính nó.

-Cha mẹ bây giờ ở đâu? Có biết không?

-Cha không biết ở đâu. Mẹ chết từ hồi chưa biết nói.

Đức trố mắt nhìn hắn.

-Mẹ chết từ lúc chưa biết nói?

-Phải.

-Thật không?

-Thật. Không ai nói dối làm gì cái ấy.

À thế thì không phải… Ôi, trong đội lính áo đen man rợ bị bọn Pol Pot lừa phỉnh và xua bắt đi giết người có biết bao cái tên Pia-rết. Đức thở phào đứng dậy, anh bàn giao số tù binh bắt được cho đơn vị bạn rồi lên đường. Biên giới ngơi tiếng súng, trả lại cho rừng cái yên tĩnh vốn có. Hoa cúc dại trên đồng cỏ vàng rực dưới nắng đã sang trưa. Phía trước đoàn quân là con đường ngoằn ngoèo dẫn lên đỉnh núi mút tầm mắt, thoang thoảng hươu cau từ thung lũng Pu-xin đưa tới ngạt ngào.

Một tháng sau Đức ra viện. Trước khi trở lại đơn vị Đức xin phép đồng chí viện trưởng tạt qua trại tù hy vọng biết đâu có thể tìm được tin gì về Pia-rết.

Những ngôi nhà lợp lá thốt nốt của trại tù binh nằm dài theo con đường đất. Những bụi hoa Pơ-lin trước sân nở đỏ rực. Từng tốp, từng tốp người từ ngồi túm tụm trên các chiếc ghế được ghép tạm bằng thân gỗ rừng, rì rầm về một chuyện vui nào đó và thỉnh thoảng họ lại cười rộ lên.

Đức bước qua chỗ họ, anh đến thẳng văn phòng nhờ người quản lý xem hộ danh sách. Sau khi cắm cúi dò từng tên trong tập hồ sơ dày, anh ta ngẩng đầu lên nhìn Đức trả lời:

-Chỉ có tên Pia-rết mấy anh đã bắt mấy hôm đó thôi…

Qua đi phút hồi hộp, Đức thấy lòng mình nặng nề và trống trải. Pia-rết còn không? Còn, không biết sao Đức tin như vậy. Một con người hiền lành và khổ đau như người mẹ. U-đôn kia đã bú mớm, hát ru cho con mình khôn lớn, ôi! Trong một giọt máu mà mẹ đã dưỡng sinh khó lòng một lúc mất đi những gì quí giá mà mẹ vun trồng từ tấm bé.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Tư, 2008, 09:33:44 am
Đức chào người quản lý rồi lững thững dạo trong sân. Bỗng anh gặp một thằng bé thân hình loắt choắt, có lẽ mới mười ba, mười bốn tuổi là cùng. Đức bước lại gần nó, ô, nó cũng là một tên lính áo đen Pol Pot hay sao?

-Vào trại lâu chưa? Đức hỏi.

Hình như không nghe tiếng Đức, nó vẫn nín thở lò dò bước, đưa hai ngón tay như hai gọng kìm, tiến đến con chuồn chuồn rồi bất thần kẹp lại. Con chuồn chuồn chỉ đập cánh rèn rẹt rồi nằm im. Ánh mắt thằng bé lộ rõ vẻ sung sướng. Bây giờ nó mới ngẩng đầu lên nhìn Đức:

-Chào On. Đức chào và hỏi: Vào lâu chưa?

-À, mới thôi. Nó trả lời.

-Tên là gì vậy?

-Campuchia thôi.

Đức nhìn nó ngạc nhiên. Anh hỏ lại:

-Tên cơ mà?

-Ờ, tên đó, Campuchia thôi.

-Bố mẹ ở đâu?

-À, để nhớ đã… Nó nhíu mày đứng nghĩ ngợi-á, nhớ rồi. Bố là lãnh tụ Pol Pot vĩ đại, mẹ là đất nước Campuchia anh hùng.

Nó trả lời một thôi như đã học thuộc lòng.

Bây giờ Đức chợt hiểu. Té ra chúng nó đầu độc sự cuồng si bắt đầu như thế này đấy. Anh lại hỏi:

-Giết được nhiều người chưa?

-Ít ít thôi, hai người. Vừa trả lời nó vừa đưa mắt nhìn đi đâu xa lắm.

Ngày Pia-rết bị bọn Pol Pot bắt đi chắc lớn hơn tên lính loắt choắt này.

Đức lùi ra một bước, tần ngầm nhìn nó. Bỗng dưng Đức thấy nó dừng mắt lại nhìn đoàn người ở chợ về. Các chị, các em cười vui ríu rít. Đi sau cùng là mấy bà mẹ đội rợ đựng đầy bánh Kờ-lam trên đầu, đôi tay đánh đằng xa bước nhanh trên con đường cái có hai hàng thốt nốt toả bóng râm. Một bà mẹ ngoảnh mặt vào trại, không biết bà trông thấy thằng bé hay thấy tốp người ngồi ở phía góc sân, bà dừng lại.


Thằng bé đứng yên lặng, hai tay buông thõng nhìn ra chằm chằm. Trong đôi mắt thằng bé đang dấy lên một điều gì đó khác lạ. Một lúc sau Đức hỏi:

-Mẹ on đó à?

Nó không trả lời, hai vành môi cắn chặt lại với nhau, rồi tự nhiên nó oà khóc, nước mắt nó giàn giụa, tuôn xuống hai gò má, đọng lại trong hố mắt sâu. Bây giờ thì trên nét mặt nó toát lên một cái gì khác hẳn với lúc ban đầu Đức gặp. Hình như người mẹ ngoài đường kia là ngọn gió lành thổi bay lớp tro đen mà Pol Pot đã phủ lên đầu óc bé thơ của hắn. Và trong tiếng khóc ấy có một cái gì thơ dại tựa như tiếng khóc của đứa trẻ chưa biết lật đang còn nằm ngửa trong nôi…


Phải rồi, nó cũng có cha, có mẹ, cũng có một vành nôi, cũng được nghe tiếng ru ầu ơi dưới bóng rợp vườn thốt nốt, cũng có một nóc nhà đầu rắn na-ga sàn lát gỗ dầu, đêm đêm nó vẫn lăn người trên đó, nó cũng đổ mồ hôi trên đồng ruộng và cũng có những cái tết Chô-chơ-ma-thơ-mây, cũng cùng cha mẹ với bạn bè tuổi thơi luyện đôi cổ tay uốn người trong điệu Xúc-tép. Và nó cũng có một quả tim ở đó chảy những giọt máu màu hồng như bao nhiêu con người khác.


Đức chợt hiểu: bằng những cuộc tấn công ào ạt và chớp nhoáng, đồng đội Đức và các chiến sĩ Campuchia đã đổ máu đem lại cho Đông Bắc này những đêm rôm-vông, những mái nhà buổi chiều quyện khói bếp, đám cưới hội hề cho các lứa đôi, những mái trường mới cho trẻ con ê a học, một mùa gặt bội thu và trả lại cả những ngôi chùa với màu áo cà sa vàng tươi cho các vị sư sãi.


Nhưng niềm vui ấy chưa trọn vẹn, như ở U-đôn bây giờ xa Đức hàng trăm cây số, có một người mẹ vẫn chỡ, vẫn đợi, vẫn mỏi mong một điều gì bình thường mà dữ dội. Anh nhận cảm công việc hôm nay, ngày mai, ngày kia là làm sao gạt đi lớp tro dày đang phủ lên làm tắt cục than vẫn cháy trong những con người nạn nhân bất hạnh như thằng bé mười ba tuổi kia vẫn cầm trong tay con chuồn chuồn chết cứng, trả lại cho nó tình thương và những suy nghĩ của con người.


Công việc ấy dẫu còn là công việc đổ máu, và xiết bao gian lao, nhưng nếu từ nan nó, thì chính ở trong Đức niềm vui lẫn nghĩa cả tình yêu cũng không thể nào trọn vẹn.

Không chắc là Pia-rết vẫn còn. Đức tin như vậy, mơ hồ, xa xăm, nhưng anh vẫn tin, dù không thể cắt nghĩa rạch ròi ra được. Anh sẽ tìm Pia-rết, ở trận địa này, hay ở mỏm núi đá chênh vênh chắn ngang biên giới, hay ở nơi bãi lầy cuối rừng cả ngày lẫn đêm muỗi vây lấy da thịt Đức, hay ở nơi nào đó nữa, khổ sở, hy sinh, thâm lặng còn dày hơn cả đây.

Anh sẽ tìm, anh sẽ trả lời và chính anh sẽ dẫn Pia-rết ngày xưa về cho mẹ.

Thằng bé đã thôi khóc, nó trở lại cái trò chơi bắt chuồn chuồn. Vẫn nín thở đưa hai ngón tay như hai gọng kìm, vẫn tiến đến đuôi con chuồn chuồn và bất thần kẹp mạnh, con chuồn chuồn đập cánh rèn rẹt nằm im trong tay nó. Thằng bé lại cười…

Đức ra cổng trở về. Gió chiều phả vào làn da anh mát rượi, hương lúa từ cánh đồng Xi-sốp-ni-ta được mùa, dịu dàng quyện lấy anh làm anh nhớ U-đôn da diết.


Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 5-1981


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:45:34 am
Bài thơ của anh

Chu Lai


Đứng giữa những dải lụa màu xanh gió đánh dập dờn, cô gái bắt đầu cất tiếng hát. Hàng ngàn con mắt đổ dồn lên sân khấu dìu dịu ánh đèn. Riêng Chu Thom lại lơ đãng nhìn về phía cô gái như nhnf về một điểm vô định ở khoảng không trên cao. Anh vừa xong một ca mổ dẳng dai và không thành công. Nếu không có sự bắt ép vừa rắn đanh vừa mềm mỏng của bà y sĩ thì anh đã bỏ ra phố tợp một ly cà phê đặc chát rồi có thể lang thang trên đó chẵn đêm và sáng mai khăn gói xuôi về huyện cho sớm. Thương binh là một sĩ quan mà anh có quen biết. Những người lính trên điểm chốt biên giới đã tìm thấy anh nằm sấp mặt trong lòng một con suối khô, trên mình hầu như không còn quần áo. Người ta điện cho anh và anh lên đây. Vết thương anh đội trưởng không nặng lắm, song gần cả tuần quẩn quanh lê lết trong rừng, bắp chân anh bị nhiễm trùng cấp tính… Lạy trời, nếu anh ấy tìm về được sớm chừng một ngày, không! Chỉ cần nữa ngày thôi… Chu Thom thấy tai mình kêu bùng bùng. Tiếng đàn tiếng hát trên kia chỉ gợi cho anh cái âm thanh nhức nhối của dao kéo khua nhau trong phòng mổ. Có phải đó là tiếng hát mà bà y sĩ đã lấy làm cái cớ thuyết phục anh rằng nếu chịu khó ra bãi với mọi người đêm nay, anh sẽ được nghe một giọng hát thật tuyệt, nhất định đầu óc sẽ nhẹ nhõm đi? Ờ… Hình như cũng có vẻ hay thật đó vì mấy người ngồi cạnh anh cứ ngây phỗng ra. Nhưng lúc này… Anh chỉ thấy thương bạn bào ruột bào gan! Có con đom đóm từ đâu bay tới lập loè, chạm chùm sáng đen, nó tự lặn đi rồi lại nhấp nháy tinh nghịch ở ngoài vòm đen mêng mông như một ngôi sao thật xa.

Giọng cô gái vẫn trải ra thoai thoải. Ẩn náu trong trăm ngàn tiếng nhạc, giọng hát ấy êm đềm như một dòng xanh chảy giữa Biển Hồ gợn sóng.

… Mùa hè năm 80

Biên giới Campuchia còn giặc

Chúng tôi còn đi

Vẫn hành quân trong nhòe nhoẹt sương khuya

Vẫn hành quân trong hoàng hôn túa máu…”

“Mùa hè năm 80!” Chu Thom chợt thấy ngực mình nhột nhạt. “Mùa hè năm 80” câu hát của ai? Anh chuyển mắt xuống và đứng lại săm soi trên khuôn mặt người con gái hát. Khuôn mặt vừa lạ vừa quen… Cái mũi xinh xinh, hơi hếch, con mắt có cái đuôi dài vừa táo bạo vừa rụt rè, cái miệng nữa: môi trên cứ cong lên hờn trách… Chả lẽ lại là…

… Mùa khô năm 80

Đường hành quân bất chợt gặp một làn hương mảnh

Chưa ai biết đó là hương Rùm Đuôn

Cái hương vị không dễ để gọi tên

Mà chúng tôi chỉ nhận biết bằng cảm giác…

Tới đây thì bác sĩ Chu Thom không còn nghe được gì nữa. Những làn sóng âm thanh đang lan toả không ngừng bủa vây chẳng chịt lấy đầu óc anh…

Năm ngoái. Những ngày mưa đầu tiên.


Vào lúc nửa đêm, Chu Thom bị tiếng gõ cửa dựng dậy. Bà y sĩ trực ban ùa vào, cái áo Bơ-lu-dơ chưa kịp cài hết khuy:

-Thưa bác sĩ! Tạm xá Tà Sơn báo lên có người trở dạ đẻ. Nghe đâu là vợ của ông xã đội trưởng.

-Thế thì sao?-Anh chau mày-Đêm nào chả có hàng chục người đẻ.

-Dạ! Chị ấy đẻ ngược.

-Hả?-Anh miết mạnh bàn tay vào trán như xua đi sự mệt nhọc-Lại đẻ ngược! Thôi được, bác sửa soạn giúp tôi túi đồ mổ.

-Bác sĩ đi bằng gì ạ.

-Tất nhiên không thể bằng ô tô. Còn cái xe đạp nào ở nhà không bác?

-Dạ còn. Nhưng… bác sĩ đi không nổi đâu. Phải đạp trên hai chục cây số hầu như toàn đường rừng ngoằn ngoèo…

-Tôi biết.

-Và… Gần đây đoạn đường này không được an toàn. Cách đây ba ngày chúng nó đã mò ra bắn cháy một chiếc xe của tiểu đoàn địa phương, lại còn bọn trốn tù, bọn vượt biên…

-Tôi biết-Nét mặt anh hơi sa sầm xuống-Tôi biết, biết hết.

-Tôi e rằng…

-Nếu vậy thì bác gọi tôi dậy làm gì?

-Nếu bác sĩ cho phép tôi xin đi theo… Nguy hiểm lắm!

-Chính thế tôi mới cần đi một mình.

-Nhưng… Chí ít cũng cần có một người phụ mổ. Có ca đẻ ngược nào mà không cần phải mổ đâu ạ!

-Cám ơn bác. Nếu ráng sức, tôi có thể tự làm một mình được.

Đã biết tính anh, bà y sĩ khẽ thở dài rồi lặng lẽ dắt giúp anh chiếc xe phượng hoàng đen cũ kỹ ra cổng.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:46:36 am
Dõi theo cái dáng gầy gầy của anh mất hút ở đầu phố dốc, bà chép miệng. Con người như thế mà cuộc đời chẳng ra sao! Thời Pol Pot thì bị tù đầy hành hạ thừa sống thiếu chết. Được cứu thoát ra khỏi nhà tù, vết cứa bằng sống lá thốt nốt trên cổ chưa thật lành đã lặn lội tình nguyện lên đây. Cả cái bệnh viện huyện miền núi này chỉ có mình anh là bác sĩ, bác sĩ đa khoa. Việc nhiều người ít, có thấy anh được nghỉ ngơi thoải mái một ngày nào đâu. Tuần trước, bọn tàn quân dám liều mạng mò tới bên kia sông pháo kích vào huyện đội. Thế là những người bị nạn được ùn ùn khiêng tới. Khiêng cả những tên phá hoại máu me đầy người bị đồng bọn bỏ lại bên bờ sông nữa. Đang như thế thì mấy ngày vừa rồi lại có tin cô vợ chưa cưới của anh biết mất khỏi Xiêm Riệp. Nghe đâu cô ta đã bỏ đi theo một ai đó tìm đường sang đất Thái. Chưa thấy mặt nhưng bà nghe người ta bảo cô ấy đẹp lắm và có giọng hát rất hay nữa. Khổ! Mấy hôm nay mặt mũi anh trông bơ phờ hẳn ra. Ngoài giờ làm việc, anh hay tìm vào chỗ tĩnh ngồi một mình. Nhân viên ít người biết đến tâm sự của anh, họ chỉ tỏ thái độ dè dặt và kính trọng những giây phút nghỉ ngơi hiếm hoi của đồng chí bác sĩ bệnh viện trưởng. Vậy mà vừa rồi… Bà tự trách mình vô ý nói cái chuyện vượt biên, chuyện trốn tù ra với anh. Người thâm trầm càng hay dễ chạnh lòng. Bà biết, mọi điều uẩn khúc anh chỉ có thể trò chuyện với người bạn Việt Nam rất thân thiết tên là Hoà. Mỗi lần thấy Hoà gọn gàng trong bộ quân phục màu xanh rêu đi công tác ghé qua là con mắt trũng sâu của anh lại ánh lên sự ấm áp. Thế nào hôm ấy hai người cũng thức gần trắng đêm chuyện trò rồi hứng lên đọc cả văn thở, thậm chí hát hỏng cho nhau nghe nữa. Anh Hoà thích làm thơ, còn anh ấy thì lại ưa âm nhạc. Họ lúc thì nói tiếng Việt, khi lại nói tiếng Khơ-me cứ đan chéo rồi nhằng vào nhau nghe cũng vui lây. Vậy mà non một tháng nay bà không thấy anh bạn người Việt ấy tới chơi. Bà mong lắm. Mong cho anh. Có lần anh vui vẻ nói với bà: chính bộ phận của Hoà đã cứu anh và hơn một trăm nạn nhân khác thoát khỏi lưỡi cuốc của bọn Pol Pot khi chúng kinh hoàng rút chạy. Qua Chu Thom bà biết Hoà trước kia là sinh viên Văn khoa Sài Gòn. Và vì những bài thơ phản chiến gì đó, anh đã từng vào tù ra tội. Rồi khi đất nước anh im hẳn tiếng súng, là lớp người đầu tiên xung phong vào bộ đội… Cùng cảnh ngộ, thảo nào gặp nhau một cái là họ thân nhau ngay.


Tuổi già một khi đã thức dễ đâu ngủ lại được. Người y sỹ chắc sẽ còn đứng mãi như thế nếu không có chuông điện thoại đang réo lên trong phòng trực ban. Trong đêm thanh vắng, cánh cổng sắt nặng nề đóng lại phát ra những tiếng rin rít.


Đã lâu lắm Chu Thom chưa có dịp được một mình dong duổi đường xa trong trời đêm thế này. Bầu trời không có một ánh sao nhưng gió lại rất nhiều. May sao gió thổi xuôi theo đường, đến đoạn thả dốc, hai bánh xe như bay là là mặt đất. Hàng ngày đã đi lại nhiều trên đoạn đường này nên anh cứ để mặc cho xe bon theo đà gió. Gió ép cứng vào ngực, gió lùa rờn rợn vào từng chân tóc, gió thổi vi vút qua tai và bánh xe lăn ràn rạt trên đất pha cát. Thỉnh thoảng anh mới trẹo bánh chúi xuống một cái rồi lại chồm lên xe phóng ào ào. Có đoạn đường bằng, anh ghìm xe xe hơi chậm lại, ngây ngất hít một hơi cho căng lồng ngực cái mùi của mạ mới cấy. Lạy trời! Liệu nưm nay có còn đói nữa không?


Sự phấn khích do công việc khẩn cấp tạo nên một phần, phần khác sao anh say mê cái cảm giác được tiếp xúc toàn thân, được tan ra trong thiên thiên đến thế! Nguy hiểm ư? Có thể có đấy, nhưng thế thì đã sao! Một thách thức táo bạo vừa cụ thể vừa vô cớ nung cháy sự suy nghĩ của anh. Ngày trước, cái thời còn là sinh viên y khoa học ở Sài Gòn, anh vốn thích những cuộc đi chơi xa mạo hiểm bằng xe đua thế này. Càng tiến sâu vào đêm anh càng cảm thấy mình nhẽ bỗng đi. Mọi cái lởn bởn về Mươn Thèn, về tình đời, về trăm ngàn nỗi bất hạnh tủi cực cứ được gió trời xua cho tan dần. Và ngay cả đến cái chết rất có thể làm náu mình ở phía trước, ở hai bên đường cũng có chẳng hề làm cho anh phải bận tâm. Đáng ra anh đã chả bao lần nếm trải cái chết rồi là gì. Anh chỉ nghĩ tới người mẹ đang quằn quại trên giường đẻ và ẩn bên trong là cái tâm trạng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tới ngẩn ngơ, tới mụ mị cả lòng. Lát nữa đây, khi đứa bé đã tách ra khỏi thân thể mẹ nó như một chủ thể độc lập, sau cái phát đầu tiên vào đít, nó mở mắt, sau cái phát thứ hai, nó cất tiếng khóc chào đời, thế là cái kỳ quan vĩ đại nhất của loài người đã hoàn thành. Chỉ mới nghĩ thế anh đã thấy lòng dạ nôn nao rồi.


Đêm mùa mưa nơi đây thường có nhiều đom đóm bay. Nhiều đến nỗi dễ lầm tưởng mùa khô đang quay lại với vòm trời không còn sũng nước và lốm đốm những vì sao. Có con bám theo xe một đoạn rồi đuối sức rơi lại đằng sau. “Em giống con đom đóm làm sao! Cứ lúc tắt lúc sáng để anh phải dò dẫm suốt đời. Nhưng anh lại thích em cứ làm đom đóm…” Có phải một lần nào đó tôi đã nói với em câu đó không? Mồ hôi đã rịn ra hai bên thái dương, Chu Thom guồng mạnh chân…


Anh cho xe đi chậm lại. Đã đến đèo Me rồi kia à! Nhanh thật. Bây giờ là ba giờ, chỉ một tiếng nữa là đến nơi. Anh đã thấy thấm mệt. Trời mỗi lúc một tối xầm xì. Con đường nhỏ vẫn luồn trong cây rừng hun hút. Trước mắt bịt bùng không còn phân rõ mọi vật nữa. Thỉnh thoảng xe lại nảy bật lên, càng lái đánh cả vào sườn.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:47:22 am
Chợt một luồng gió phả vào gáy anh sắc lạnh. Chu Thom thoắt rùng mình: chả lẽ lại dông ư? Lạy Phật… Một tia chớp ngang câu khấn của anh. Chết rồi! Nó mà mưa xuống bây giờ thì bánh xe chỉ còn cách vùi trong cát ướt, đi thế nào được. Anh nhổm hẳn người lên dồn toàn sức xuống đôi chân. Rẹt! Một cành cây búng vào má anh thốn tới óc. Không sao! Anh càng ghì cứng lấy tay lái. Một tia chớp nữa phóng thẳng vào mắt anh loá sáng. Và nó cũng làm sáng xanh lên cái trảng trống ở trước mắt. Đó là trảng Kà Keo. Anh biết rõ ở góc bên trái trảng, sát con suối có nhiều cây rùm-đuôn, là cái hốc đá đập khá rộng và kín đáo. Ngày trước bọn Pol Pot hay mang người ra đập đầu rồi vứt xác luôn tại đấy. Ánh chớp cũng giúp anh nhận biết một đoạn đường khá dài, có thể bươn nhanh đi được. Nhưng chậm mất rồi: nhè vào tấm lưng Chu Thom vừa nhổng lên lấy đà, những giọt nước rất to cũng tức thì đập xuống. Đập xối xả như đã được chuẩn bị kỹ càng từ lâu. Bánh xe lạn qua lạng lại mấy cái rồi nghẹn lại. Anh đành xuống dắt bộ. Dắt cũng không được nữa, đất đá cứ nhằm vào vỏ chắp bùn mà nhồi mà nhét. Không cần suy nghĩ, anh đặt khung xe lên vai vác luôn. Cái xe nặng gấp hai lúc thườngs. Giẫm nhịp nhẹp trong đất nhão, bàn chân anh bỗng nặng như chì. Kiểu này chắc không ổn rồi! Tới sáng bảnh cũng chưa chắc đã tới nơi. Lạy phật! Sao người ta cứ thích đẻ ngược trong những đêm mưa gió thế này! Và gió thì lại chuyển hướng thổi nữa chứ. Anh có cảm giác mình đang giậm chân tại chỗ một cách hài hước và lố bịch. Nhưng cũng thật kỳ lạ! Cùng với sự oán trách vô cớ, cái ý tưởng được một mình vật lộn với đất trời đang nổi giận lại trỗi dậy trong anh. Những năm sống chui rúc trong trại tập trung nhìn mưa rơi qua vòng rào gai anh thèm cồn cào một phút được ra tắm mình, ra vùng vẫy. Vậy mà bây giờ. Nào! Cứ mưa to nữa đi! Cứ trút nước xuống cho tràn trề vào mặt vài miệng cái sinh vật bé nhỏ vô cùng so với mi này đi! Ơi thiên nhiên! Hãy cứ việc gầm gào. Ta có run rẩy đâu. Ta đang là người tự do nhất trên đời này. Ta đang độc quyền khoảng không gian cuồng loạn của người đây. Và thích thú nhưu cái thủa còn trai trẻ, cái thủa mà đất nước này chưa hề biết thế nào là bom đạn là chết chóc, anh ngửa cổ liếm một dòng nước mưa có hương vị thơm ngai ngái đang dàn xuống miệng rồi chạy băng băng. Chiếc xe trên vai anh thốt nhiên nhẹ đi tựa một cái khung bằng giấy.


Bỗng nhiên Chu Thom dừng phắt lại. Qua ánh chớp, hình như anh thoáng thấy có những bóng đen di động trên trảng? Không phải! Những lùm cây biến ảo dưới ánh sáng đó thôi. Một tia chớp nữa giật thấp hơn: những vệt đên cóm róm đó đã nhích lên được một đoạn về phía hốc đá. Bóng người rồi! Tim anh đập loạn xạ. Vốn đã nằm chung cùng xác người cụt đầu, mất ruổ cả một đêm với cái cổ bị cứa nát, anh không tin có loài quỷ sứ hiện hình, nhưng giữa con đường rừng hoang vắng này, cái đám hình nhân ngọ nguậy kia làm cho anh nổi gai người. Câu nói của bà y sĩ chợt loé lên trong đầu anh. Anh lại thoắt rùng mình. Không! Chắc mình bị lạnh thôi. Nhưng… Bọn phiến loạn đó chăng? Như người đột nhiên bị phá đi giấc mơ tuyệt đẹp, anh chau mày dằn mạnh cái xe xuống đất. Anh thấy bỏng rát nơi cổ, tưởng như nếu sờ tay lên sẽ thấy máu thịt bầy nhầy. Vết ngạnh lá thốt nốt cứa năm xưa lúc này nạo mạnh trong ngực anh. Bọn phiến loạn! Đám tàn quân! Bọn trốn tù! Quân ăn thịt người! Những bàn tay Pol Pot, những cái đầu Ăng-ca… Như có nội lực của sự uất nghẹn xô đẩy, anh đặt chiếc xe sâu vào lề đường. Nhưng khi cầm đến cái túi đồ mổ, anh thoáng ngần ngừ… Người mẹ có đôi mắt bạc đi vì thất vọng, vì đau đớn đang đau đáu nhìn ra cửa chờ anh… Một người mẹ khác còn trẻ lắm, bụng bị phanh ra như con gà mới mổ và đứa bé bò lê la trên gan ruột mẹ nó… Cái hình ảnh mờ chồng đó xốc anh đứng hẳn dậy. Anh không muốn cái đứa bé anh sắp cho ra đời sớm mai phải kinh hoàng khóc thét trên thi thể mẹ nó. Chờ cho một ánh chớp nữa loé lên, Chu Thom thận trọng bám theo những hình người in mỏng trên nền sáng.


Chu Thom tiến về phía hốc đá không cần gượng nhẹ bước chân. Thậm chí đạp phải cành khô gẫy gục, anh cũng phớt lờ không cần dừng lại nghe ngóng. Sấm chớp ầm ào thế này có vừa chạy vừa gọi chúng nó cũng chẳng nghe thấy nữa là… Chỉ khi nào có ánh sáng rực lên anh mới vội vàng hụp xuống. Bất giác anh thấy vui vui. Mới ngày này nào trên đoạn đường này, anh bị đuổi chạy khốn khổ khốn nạn, bây giờ anh lại thành người đi đuổi. Thật may! Mới có một chút suy nghĩ vẩn vơ mà tí tẹo nữa anh đâm sầm vào lưng đám người đang thầm lặng nối nhau đi hàng dọc nếu ngay lúc đó không có tia sáng của thần linh chém xuống. Lạy Phật…


Anh đã nghe tiếng chúng nó thở hào hển. Anh cũng thở. Đến lúc này anh mới thấy ớn lạnh sống lưng. Rút cục mình trần thân trụi không có một tấc sắt trong tay. Anh tiếc không đem theo một con dao mổ. Biết đâu đấy… Tuy vậy anh vẫn đặt chân êm ái như đi trong phòng phẫu thuật.


Tới trước hốc đá, cái đám đen chụm lại nghe ngóng một chút rồi thành thạo như những tên ăn trộm đêm, từng người một chui tọt vào cái miêng đá đen ngòm. Như có sức hút thần bí, Chu Thom cũng nép người chui tụt vào theo.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:48:15 am
Cái tối trong hốc đá đặc sệt, trát quánh vào mắt. Mặc kệ cho ngoài kua gió mưa lồng lộn, trong này vẫn yên tĩnh như một thế giới riêng, thế giới của người mù. Yên tĩnh tới ù tịt cả tai. Chu Thom ngồi thu mình giữa hai lưỡi đá chìa ra bất ngờ mà anh đã quen thuộc… Một lát có tiếng nói nhỏ cất lêng, rồi tiếng bẻ cành khô, tiếng hộp gì bật nắp reng reng… Anh lách người lết ra khỏi lưỡi đá một chút… Bỗng anh bưng vội lấy mắt và thụt nhanh người lại: góc hang, một ngọn lửa bất ngờ bùng lên hồng rực. Nó cùng với những bóng đen in vào vách đá méo mó, rung rinh gơi lên cái bí hiểm của một cõi thánh thần hay một chốn địa ngục. Khi Chu Thom định thần lại thì tốp người đã hiện ra rõ ràng trước mắt anh. Anh đếm được tất cả là năm người. Họ đều ăn vận như những người dân đi làm ăn bình thường. Kẻ quấn xà-rông, kẻ bận quần… Toàn những màu vải gắn với đất đai lam lũ. Khuôn mặt người nào cũng ra chiều mệt mỏi và chai lì. Anh chú ý tới một người có vuông ngực trần vạm vỡ nhưng nét mặt thì tiều tuỵ ngồi hơi lui ra sau mọi người một chút, đang tỉ mẩn lau khẩu súng ngắn nhỏ xíu bằng chiếc khăn tay trắng bong. Người này trạc gần bốn mươi tuổi, cặp mắt nhìn vừa lạnh lẽo vừa u uẩn sau đôi kính trắng. Những người khác đang hối hả hong quần áo, thỉnh thoảng lại nhìn lên anh ta với vẻ rụt rè. Anh ta khẽ hất cằm. Một người tóc tai dính bết lấy trán vội vàng xách AK đứng dậy móc tấm dù ở thắt lưng ra che kín cửa hốc, và đứng gác luôn. Thế là anh bác sĩ lọt thỏm vào giữa. Anh phân vân: Có đúng Nó không hay là một tổ dân quân đi tuần đêm gặp trời mưa tới trú chân?

Chợt người đeo kính lên tiếng hỏi bằng cái giọng cố tỏ ra dịu dàng:

-Em có lạnh lắm không?… Ngồi gần vào lửa cho ấm.

Không nghe tiếng trả lời, Chu Thom tò mò đưa mắt về phía người được hỏi. Người này từ đầu vẫn ngồi nhỏ nhoi trong tấm áo vải dày quá khổ, chắc là của người đeo kính vừa khoác cho, lúc này mới từ từ ngẩng đầu lên để lộ khuôn mặt xanh xao và con mắt mở to run rẩy. Chu Thom tái mặt đi! Một chút nữa thì anh buột miệng kêu lên. Trời! Mươn Then! … Sao em lại ở đây? Không! … Sao tôi lại phải gặp Mươn Then ở đây? Anh ghì chặt răng vào vách đá.


Cô gái uể oải đón từ tay gã đeo kính điếu thuốc ố nhoè nước mưa. Mới hút được nửa hơi cô đã quẳng vào lửa và con mắt nhìn theo đó đăm đăm.

Chu Thom chợt hiểu tất cả…

Nghe tin Mươn Then bỏ ra đi, anh chỉ đau buồn nhưng không lấy gì làm lạ. Hàng ngày thiên hạ cũng có người bỏ đi đấy thôi. Nhưng sao cô không nói với anh một câu? Anh đối xử với cô thế nào mà cô nỡ nhẫn tâm như thế? Cái hồi anh bị nhốt vào trại tập trung của bọn Pol Pot, không biết sống chết ra sao, Mươn Then đã chờ anh như cô đã chờ suốt những ngày anh theo học trường y khoa ở Sài Gòn. Những tháng năm cả đất nước Campuchia chìm ngập trong âm thanh ghê rợn của bao chuyến xe đêm mang xác người đi đổ sông đổ khe, với giọng hát trời cho và với tài khoé léo của người mẹ chiến có sạp vải to nhất chợ Phnôm Pênh, cô đã được sống khá yên ổn trong đoàn hát thuộc dinh bí thư thành uỷ Phnôm Pênh thay vì phải giờ đầu cho lưỡi cuốc của bọn quỷ mặc đồ đen bổ xuống.


Khi Chu Thom may mắn sống sót trở về, cô đã khăn gói đi tìm được anh và hôn mãi vào vết thẹo mới lên da non còn phập phồng trên cổ anh. Những cái hôn đầm đìa nước mắt. Lúc ấy Chu Thom tự cho mình là người hạnh phúc nhất trên thế gian này. Anh được sống, được tự do, được yêu hơn ngàn lần trước. Niềm vui kéo anh trở lại tuổi sinh viên. Anh lại chong đèn làm thơ tặng cô mỗi tuần đều đặn, lại viết những bản nhạc tình theo thể “A-pê” dân gian mà cô ưa thích. Nhưng công việc bộn bề của một dân tộc còn chưa hoàn hồn sau cơn huỷ diệt đã lại khắc khoải trong cái đói triền miên, cái nhức nhối trước những con mắt dòm ngó vằn lên sự thèm khát và đểu cáng của các loại kẻ thù, không cho phép anh được chong đèn đắm đuối nỗi riêng tư. Một mảnh đất xa xôi cần có thầy thuốc. Anh xin đi luôn. Vắng anh, Mươn Then thỉnh thoảng theo mẹ ra chợ ngắm nghía các màu vải cho đỡ buồn. Lâu dần thành quen, ngày nào người ta cũng thất cô có mặt ở chợ. Cái đói một bên và cái giầu có phù du từ đất Thái tràn về cũng chế ngự một bên. Cô gái chạnh lòng… Cô ít dần những lần lên thăm anh. Còn anh? Anh bận quá! Một buổi nọ, người ta lại thấy cô xuất hiện ở phố nối dẫn xuống bệnh viện với nét mặt không vui. Nửa tiếng sau cô đi ra với vẻ thất thần, tới đầu phố cô bước nhanh như người bỏ chạy và từ đó không ai thấy cô trở lại nữa…


Cô gái vẫn không rời mắt khỏi đống lửa đang lụi tàn. Cái nhìn của cô như đang trôi lênh đênh đi đâu? Ngọn lửa đã làm cho khuôn mặt cô dần dần hồng hào lên. Cô mỉm cười và khẽ ngả đầu lên bờ vai tròn trịa của gã đeo kính.

-Em lo quá, Pôn Xin! Sao anh nói chỉ cần ra khỏi thành phố là có trực thăng tới đón?

Tiếng nói phát ra bất ngờ ấy khiến Chu Thom choáng váng. Gã đàn ông khẽ vỗ vào bàn tay nhỏ nhắn của cô, nói giọng mơn man:

-Em ngủ một chút đi! Tỉnh dậy là mọi việc sẽ tốt đẹp như lời thỉnh cầu chân thành nhất ngay thôi. Lúc nào anh cũng ở bên Mươn Then, sẽ là thần hộ mệnh cho Mươn Then.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:49:42 am
Cô gái nghe lời từ từ nhắm mắt lại. Chu Thom bỗng thấy ruột gan mình quặn lên. Trời Phật! Có phải nó đấy không, cái thằng sĩ quan tình báo nhân dân đã trải qua đủ các loại trường lớp ở Ha-oai, ở Sài Gòn và cả ở các nơi mà bỗng dưng hắn biến mất ba tháng, đến khi trở về, trong các câu chuyện thỉnh thoảng hắn lại đá vào vài câu ngạn ngữ Tàu? Cái thằng mà chuyên đứng đầu các trò chơi độc ác, các đám đánh lộn với tụi học sinh nhà nghèo cái hồi nó học trên anh và Mươn Then hai lớp ở trường trung học Tung-sleng? Cái thằng mà có một lần anh đã nghe Mươn Then vừa cười vừa kể lại rằng suốt những ngày tháng căng thẳng đợi chờ anh, nó đã không ngớt theo đuổi chinh phục cô? Có phải chính nó đấy không? Nếu đúng thì tại sao bây giờ em lại ngả đầu dựa vào nó thế kia? Hả Mươn Then?… Chao! Những buổi chiều ngồi với nhau bên biển hồ Tông Lê Sáp, em cũng néo dựa vào tôi thế này mà khe khẽ hát khúc “A-pê” ngợi ca cuộc đời sóng gió như truyền thuyết của những người dân chài. Tôi lai gọi em là con đom đóm hay đổi mày để cho phải dò dẫm cả đời… Chao ôi! Thì ra sự vắng mặt của em bấy lâu nay được giải thích như thế này đây. Bỏ tất cả chạy theo một thằng sĩ quan tàn quân, một thằng tội phạm chiến tranh, một tên ác ôn chuyên ký những chỉ thị giết người… Chua chát chưa! Những ngón tay của Chu Thom bấu chặt bào nhau nhớp nháp mồ hôi. Lạy trời phật! (Anh trở nên có thói quen hay buột miệng khấn trời phật kể từ khi cái đầu anh một chút nữa thì rời khỏi mình). Giá mà mình có một cấyúng? Cái thẹo nơi cổ giật giật khiến anh sa sầm mặt mày.

Cô gái lại mở mắt ra, nhích người ngồi thẳng dậy:

-Anh bảo liệu có thoát không? Ôi! Sao mà đi đâu cũng toàn đụng họ! Em không muốn ngồi tù đâu.

-Thôi đi Mươn Then! Em đừng gở mồm. Em tính muốn ngồi tù thực sao mà cứ một giọng trêu trời ấy nói mãi thế?

Cô gái cong đôi môi lên tỏ vẻ bướng bỉnh:

-Em không muốn trêu trời trêu đất gì cả nhưng… Nhưng biết đâu họ đã chẳng vòng trong vòng ngoài đông nghịt ở ngoài trảng rồi?

Có vẻ run sự thực sự trước chính câu nói của mình. Cô gái càng co rúc người lại. Gã đeo kính đột nhiên gằn giọng:

-Thôi chứ! Ngồi lì cả đây mãi sao? Các anh chịu khó tản bớt ra ngoài mà lo cánh gác đi.

Hắn quay lại định nói với cô gái một câu gắt gỏng gì đó nữa nhưng thấy cô đã im lặng nhắm mắt, bèn buông xuôi:

-Ngủ đi! Cố ngủ đi! Chúc em mơ được những giấc mơ vàng bạc ở bên kia biên giới. Tạnh mưa là chúng mình sẽ đi ngay khỏi cái nơi đã gây cho em nhiều suy nghĩ sợ hãi này.

Bác sĩ Chu Thom bỗng sực tỉnh. Tạnh mưa là đi ngay khỏi nơi này à? Không! Lạy Phật! Không dễ dàng đến nỗi ấy đâu Pôn Xin ạ! Các người đã cứa vào cổ ta một lần nhưng chưa đứt, nay định sang bên kia rủ thêm bè thêm cánh trở về cứa cổ ta một lần nữa cho đứt hẳn ư? Không… Anh nhổ mấy vụn đá trong miệng ra.

Với tất cả sự thận trọng và khéo léo vốn có của một bác sĩ phẫu thuật, lợi dụng khoản khắc lộn xộn của bọn người lạ mặt tản ra tìm địa thế ẩn nấp, Chu Thom dính sát người vào vách đá lẻn ra ngoài…

Tới bìa rừng, anh chỉ kịp vơ quàng lấy túi đồ mổ rồi co chân chạy luôn. Phải tới kịp Tà Sơn trước khi trời tạnh… Quân ăn thịt trẻ con ấy không thể thoát vô lý như vậy được. Phải tới Tà Sơn trước khi trời sáng… Người sản phụ đang quằn quại trên giường… Cả hai sự khẩn cấp dồn vào anh một lúc. Anh quăng mạnh đôi dép nhựa vào rừng. Nhưng… Anh thoáng ngần ngừ. Còn cách nào khác được nữa, gấp lắm rồi! Thôi thì Mươn Then coi như đã chết rồi! Chết thật sự trong anh rồi! Ôi! Giá mà hồi nãy anh được nói với cô một câu, được ra hiệu cho cô một chút thôi…


Chạy được mấy bước, một cãi rễ cây bò nổi lên trên mặt đường quật sấp ngực anh xuống đất, túi đồ mổ văng vào bụi… Kiểu này không kịp rồi! Đột nhiên anh chạy lộn trở lại. Đâu đây có lối tắt gần được nửa đường, chỉ cần gắng sức lội qua được cái bưng vừa rộng vừa sâu. Con đường tắt này anh nhớ rõ lắm. Lần ấy chính anh đã bị chúng rượt đuổi khi anh quyết định chạy trốn. Anh chạy trốn chỉ với lý do anh là bác sĩ! Tới giữa bưng, một con chó to tướng ngoạm vào được vai anh… Cả đến con chó của chúng cũng không ưa loại người có chữ trong đầu.


Tới chân dốc, anh dừng lại đắn đo một chút rồi ngoặt người sang trái rừng. Rừng đêm vội vàng nuốt chửng lấy con người nhỏ bé. Mưa vẫn ào ào đổ xuống để phô phang cái sức mạnh hoang dã ngàn đời của mình.
Trong nhà xã đội trưởng Tà Sơn, mặc dù Hoà đã cố ghìm nhưng tiếng cái tiếng nói thanh khàn khàn như tiếng gái giả trai của anh vẫn cứ rung lên.

-Khổ lắm Săm Đi ạ! Tôi đã nói chỉ có mấy thằng ác ôn vượt trại cùng dăm ba khẩu súng quèn, để một mình tôi đi với anh em là được rồi, anh cứ ở nhà, chị ấy đang… Đang-Thỉnh thoảng vấp phải một chữ khó, anh thường dừng lại lục lọi trí nhớ rất vất vả-Đang… Hả? Đang trở dạ đẻ.

Săm Đi vò đầu bắt tai khiến cho những ngọn tóc xoăn của anh ngóc cả dậy như những con rắn đen. Săm Đi nhìn cặp môi xám ngoét của Hoà ái ngại:

-Biết thế, nhưng… Thôi được! Tôi ở nhà một lần vậy. Mà không! Không đâu-Anh nhăn nhó như chính mình đang đau đẻ-Các anh đến hiệp đồng công tác, thằng xã đội tôi sao có thể ở nhà vì một mụ vợ sắp đẻ được. Mà anh… Anh lại vừa dứt con sốt rét! Tôi đi thôi.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:50:49 am
Hoà gật gù cái đầu húi cua nhòn nhọn như đầu con rắn hổ mang sấn tới trước mặt Săm Đi.

Nhưng mà này! Anh có biết thế nào là đẻ ngược không hả? Cái ngữ đàn ông ào ào như anh làm sao mà biết được. Đẻ ngược là đẻ… đẻ không xuôi, là… Là mọi thứ cứ ngược lung tùn cả lên hiểu không? Trường hợp này rất có thể… Mà thôi! Mải tranh cãi y học ở đây, chúng nó lại thót qua biên giới bây giờ. Quân lính của anh vẫn rải đều trên đường đấy chứ? Cái thằng sĩ quan tình báo này ma mãnh lắm chứ không vừa đâu.

-Đồng chí Hoà!… Tôi… Tôi…

-Ơ hay cái anh này! Vào với chịi ấy đi! Chỉ một lát nữa là bác sĩ tới thôi. Không hiểu giông bão thế này…
Săm Đi há miệng đinh nói thì bằng cả hai tay, Hoà ấn mạnh vào vai bạn cho ngồi hẳn xuống ghế.

Vừa lúc đó Chu Thom ập vào, toàn thân lạnh băng như một cây nước đá. Anh gần như ngã dúi vào hai cánh tay dài nghêu của anh đội trưởng công tác.

-Biết ngày mà-Hoà ghì chặt lấy người bạn bác sĩ, nói cứ xoe xoé-Tôi đoán nhất định là anh. Và đã là Chu Thom thì bao giờ cũng biết lộ mặt đúng lúc khi người ta cần. Hoan hô! Giông bão thất bại rồi! Thôi tôi phải đi đây. Anh Chu Thom ở lại, chúc cho mẹ tròn con vuông nhé!

Chu Thom xua xua tay yếu ớt, tiếng nói anh phát ra thều thào:

-Đừng đi… Chúng nó năm thằng… Thằng đeo kính là… Tất cả ở hốc đá trảng Kà Keo… Nhanh lên!… Trờì tạnh là không còn ai đâu. Trời còn mưa không?-Anh hỏi ngẩn ngơ rồi chắp hai tay lên ngực-Tin tôi đi… Tôi đã cùng ngồi sưởi lửa với chúng nó… Hoà nhảy phắt người lên:

-Tất cả ở hốc đá Kà Keo? Có đúng thế không? Hoàn toàn chính xác chứ? Thế thì chết mẹ bọn dã thú rồi Săm Đi ơi! Đừng đòi bỏ vở ở nhà đẻ một mình nữa nhé! Cám ơn Chu Thom, xong việc hãy chờ tôi cùng về đấy.-Cặp mắt một mí của Hoà loé lên vẻ ranh mãnh-Lâu lắm không gặp nhau. Tôi có bài thơ đang ngoáy dở, mê li ra phết. Mùa hè năm 80-Rừng khô như tờ bánh tráng. Sáng về tôi đọc cho mà nghe. Tạm biệt.

-Anh Hoà! Trong đám ấy có…-Không nói hết câu, Chu Thom mím chặt môi ngồi xuống.

Nhìn theo cái bóng của Hoà chìm nghỉm trong đêm tối ướt át, xã đội trưởng Săm Đi ngồi không yên. Ngó trước ngó sau một chút, anh cũng xách súng chạy ra theo. Ra tới cửa anh lại chạy vội vào chụp tau Chu Thom nói hối hả:

-Bác sĩ… Bác sĩ giúp tôi! Mọi sự trông nhờ cả ở cái bụng của bác sĩ. Vợ tôi nó mong con mười năm rồi… Nó đâu còn trẻ nữa… Nếu nó hỏi, bac sĩ cứ bảo tôi đang đun nước nóng ở sau nhà. Tôi muốn cho nso yên cái bụng mà đẻ. Cám ơn… Cám ơn…

Anh nhìn nhanh vào cửa buồng vợ một cái rồi chạy ào đi.

Còn một mình, Chu Thom khép kín cửa lại rồi xách túi thuốc tới cửa phòng người đẻ. Chân tay anh rã rời, mắt nhìn mọi vật cứ dính nhằng vào nhau. Màng da ở cái thẹo trên cổ anh vẫn cứ phập phồng. Phập phồng như sắp sửa rách bung ra. Đỡ tô chè thốt nốt của người mẹ anh xã đội trưởng bưng từ bếp lên, mấy ngón tay anh cứu quăn quí lại cầm không vững nữa. Thoáng thấy con mắy già nua của người mẹ đang ngước lên anh lo lắng, Chu Thom cố gượng một nụ cười làm méo xệch khuôn mặt nhợt nhạt. Anh nói bà mẹ đun giùm một siêu nước nóng…


Khi những người lính trở về cũng là lúc cánh cửa sử phòng đẻ được mở ra. Nắng sớm rọi vào khuôn mặt người mẹ đang nhắm mắt thiêm thiếp những tia sáng tinh khiết. Trên tay bà nó, đưa bé có cái mũi xinh xinh đáng ngủ êm đềm.


Săm Đi đứng sững ở cửa phòng với bàn tay quấn băng xanh. Trên gò má nhem nhuốc bùn đất của anh, người ta thấy có một giọt nước mắt to tướng lăn ra. Con mắt anh nhoà đi nhưng cái miệng anhlại cười. Cười mếu máo.


Nhà ngoài, đội trưởng Hoà sau khi ngửa cổ tu sạch một gáo nước mưa, anh đang xoa xoa tay vào ngực với vẻ cực kỳ khoan khoái. Anh đội trưởng tính tình vô tư không để ý thấy anh bạn thầy thuốc đã tựa lưng đứng bên cửa tự lúc nào và đang mở to đôi mắt vừa thẫn thờ vừa dò hỏi nhìn mình. Anh quẳng vù đôi giầy vải há mõm dính bết đất vào cái vũng nước đầu hè rồi mấy cái răng vổ nơi cửa miệng anh bắt đầu chìa ra nom thật nhộn.

-Muộn tí xíu nữa thì hỏng ăn Chu Thom ạ! Bọn mình chưa đến nưoi, trời đã tạnh mất rồi.

Chu Thom im lặng, anh nhướng mắt lên. “Cái lúc ấy tôi biết. Khi đó tôi bắt đầu ấn vết dao đầu tiên. Thấy mưa thôi gõ trên mái tôn, tay tôi sượng lại tưởng rằng không tài nào mổ được nữa”.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:52:00 am
-Khi chúng tôi xộc vào, hộc đá vắng tanh-Hoà nói sôi nổi-Đống củi chúng nó sưởi chì còn là một vũng nước lềnh bềnh tro than. Du học ở Tàu về có khác, thâm nho đến tận nước cờ cùng. Nhưng thằng Tàu lại không dạy nó cách thức ngoại lệ khi xoá dấu trên cát ướt nên anh em mình cứ việc rà đèn pin sát đất mà bám theo. Tang tảng sáng, khi con chim kà keo đầu tiên bắt đầu cất tiếng hót… Bậy! Mình lại tả cảnh văn thở nữa rồi!-Hoà bật cười ngượng nghịu-Tảng sáng người đi đầu thấy chúng dúm vào nhau ở bìa rừng như gà mắc mưa. Trước mạt chúng là trảng trống. Bên kia trảng là đất Thái. Thật giống cái tình cảnh đi săn vịt giời, chỉ động khẽ một cái là mẹ con nó vù mất! Đúng lúc đó, trời đất! Săm Đi hàng ngày trông hiền khô mà lúc ấy coi đầu óc sáng láng dữ, ông đòi dẫn một tổ vòng phải, luồn sát đất sang đón lõng ở bìa trảng bên kia. Hoan hô!… Thế là bên này mình cứ ung dung từng sải một sáp tới… Khi tới sát lưng, nghe chúng nói chuyện lào phào, mình rủa thầm: đồ ngu! Mang nhau đến được đây rồi mà lại còn chuyện với trò. Cứ chạy tuốt luôn có phải chúng tao đành chịu không. Chúng nó vẫn nói. Mà ủa! Sao lại có cả tiếng con gái nữa Chu Thom? Mình nghe rõ rành rành tiếng cô ta nói: “Anh không được nói năng với tôi như thế. Cho đến bây gìơ anh vẫn chưa là gì với tôi hết. Tôi chán cuộc sống nhạt nhẽo đói nghèo ở đây thì tôi đi, tự ý đi chứ không phải tôi đi theo anh…” Đại khái là như thế. Nói năng nghe cũng được đấy chứ. Thây hay hay, mình bò xích lại chút nữa. Một giọng đàn ông cất lên rất khẽ nhưng nghe tinh như thấy có kim khí va chau ở bên trong. Đó! Lại văn chương này nọ nữa rồi. Y nói: “Đàn bà trở mặt!… Tôi không cần biết vì sao cô đi và đi theo kiểu gì, nhưng ở đây, nhất là lúc này, xin cô nghe tôi một chút, nếu không thì phiền lắm! Tóm lại là cô phải tiếp tục đi”. Rồi mình lại nghe hắn năn nỉ: “Nào, đứng dậy đi em. Sang đến bên kia em có bướng bỉnh đến đâu anh cũng xin chiều…”. Và cái khi cái cò gì nữa nghe mệt lắm. Hà! Té ra chúng còn cụm lại vì ba cái vụ mèo chuột này đây. Chắc một cô tiểu thư nhẹ dạ nào đó định đi tìm thiên đường nhưng đến điểm chót cuối cùng lại ngập ngừng. Kỳ cục thật! Cô ta còn khóc thút thít nữa chứ.

Chu Thom nhắm nghiền mắt lại như bị chói nắng.

Hoà sửng sốt:

-Chết! Anh đuối lắm phải không? Đường đất giông bão lại mổ suốt đêm như thế mà tôi cứ thia lia mãi… Thôi, anh đi nằm nghỉ một chút đi!

Chu Thom mở bừng mắt ra, cái nhìn như thầm nói: “Không! Anh kể tiếp đi!… Cứ kể tiếp đi! Tôi đang nghe đây. Cô ấy… Khóc phải không? Tảng sáng… Để tôi nhớ xem nào? Có lẽ lúc ấy thằng bé đã lọt ra khỏi lòng mẹ nó. Nó khóc. Khóc mới khiếp chứ!”.


-Thôi được rồi-Hoà quăng nốt cái mũ dúm đó xuống đất-Trong khi chờ Săm Đi ra, mà ông này mới ghê chứ, công việc vừa xong là chạy như ma đuổi thẳng một mạch về nhà, tôi kể nối cho anh nghe. Đáng lẽ mọi việc xảy ra sẽ rất êm thấm nếu anh chàng nằm sau tôi kềm được tiếng nhểu mũi của mình. Lính tráng bây giờ thế đấy: mới gội mưa có một đêm mà đã… đã… cái gì? Tiếng Campuchia gọi là gì? À, cảm cúm om sòm. Thế là chúng bắn. Bắn như kẻ bị nấc cụt. Vừa bắn vừa lùi ra trảng. Để bắt sống, anh em mình chỉ nố súng vào sương. Lại nữa!… Cái tật! Nôm na là anh em mình toán ghếChu Thom nòng bắn chỉ thiên. Trong khói mù mờ, tôi thoáng thấy cô gái bưng chặt lấy hai tay chạy xà quầy xà quầy. Thằng đàn ông đeo kính, đúng là có đeo kính anh ạ!-Vì có lúc kính tuột xuống, nó lại quáng quàng nhặt lấy đeo lên mắt-Vội xông tới bế xốc lấy cô ta định vác chạy, nhưng cô ấy cứ nhoài xuống đất, miệng thì kêy thét lên đòi chết ngay tại đây cho đỡ khổ. Vừa khi đó cánh tập hậu của Săm Đi bất thần đánh tới. Bọn này có một nhúm nhưng chống trả mới ghê chứ: Kêu thế nào cũng nhất định không hàng. Bỗng thằng đeo kính khẽ giật người lên rồi nhủn lưng xuống ôm chặt lấy bắp đùi. Viên đạn này là của Săm Đi. Đó là ông ấy còn đang rối trí vì chuyện vợ con chứ nếu không thì thằng đeo kính có khi chỉ bị bứt đi một cái tai. Trong giây phút hoảng loạn, nó chĩa luôn súng về phía cô gái đang co rút người lại như lên cơn động kinh. Thú thực Chu Thom ạ! Tôi chưa bao giờ nghe thấy một giọng nói vừa cay đời vừa bi thảm đến thế: “Tôi không muốn giết em nhưng tôi muốn cắn chết cái giọng hát của em. Nó đã làm tôi khốn khổ khốn nạn!… Thà tôi phải chết trăm lần còn hơn sống mà nhìn em hát cho thằng bác sĩ và đồng bọn của nó nghe… Đừng oán tôi…” Chát! Chát! Cùng với phát súng của nó, tôi cũng lẫy cò. Nó bị thêm một viên đạn vào tay, vùng chạy được một đoạn thì người khuỵu xuống. Nhưng cô gái cũng reo lên một tiếng đau đớn, máu ở cánh tay rỏ cả xuống tấm xà rông màu vàng. Và lạ chưa! Đến lúc ấy tôi vẫn nghe tiếng thằng đàn ông đeo kính gằn lên: “Con quỷ Thét-sô-la (Loài thuỷ quái dưới nước hay quyến rũ tàu bè qua lại) kia! Tao nguyền rủa mày. Nếu tao không quay lại chợ tìm mày thì…”.


Mình tháo vội cuộn băng nhảy tới chỗ cô gái. Nhưng nhìn quanh quất thấy không có một vật gì gọi là cưng cứng một tí để buộc ga-rô cả. Trường hợp đạn vào động mạnh tay như thế dứt khoải phải ga-rô mới cầm được máu phải không bác sĩ? (Chu Thom nhúc nhắc cái đầu có mớ tóc lượn sóng rất đẹp không ra gật, không ra lắc. Nếu lúc khác thì anh bạn người Việt của anh đã lại nói:”Sao mắt ông toàn thấy sương khói thế cả thế này?” rồi). Như tôi đã nói, xugn quanh toàn là cỏ le non búng cả, thử ngắt một ngọn mập nhất, chưa kịp băng nó đã nát nhoét ra tay. Chạy vào bìa rừng kiếm cây thì xa, đạn lại bắn rát. Tôi quờ tay lên túi tìm cây viết Bic. Không thấym chạy nhảy rơi đâu rồi? … Nhưng tôi lại đụng phải một vật gì cồm cộm?  Chàt! Tuyệt quá!-Nói đùa, cái thói rởm sinh thơ phú của tôi cũng có lúc được việc ra trò-tôi rút tờ giấy gai có chép bài thơ mới sáng tác ra gấp thật nhỏ như đám con nít thường gẫp giấy làm đạn bắn dàn thun rồi đặt nhẹ cái Mùa hè năm 80 đó lên vết thương cô gái và quấn chặt lại. Cô ta cũng có kêu rên chút đỉnh theo kiểu con nhà giàu được cưng chiều, thậm chí còn đẩy tôi ra nữa mới sốt ruột chứ. Nhưng rồi cuối cùng cô nàng cũng ngoan ngoãn ngồi yên, lại còn táy máy đưa tay sờ vào cái bài thơi đang gác lên vết thương, có vẻ lạ lùng lắm.


Khi tôi ngẩng lên thì cả tốp tàn quân đã bị trói gọn như đống bao bì rách ở dưới đất. Thằng đeo kính lúc này không còn kính cứ gục mãi đầu xuống làm như cả trận mưa đêm qua chỉ trút vào có một mình nó… Thế là đi tong mất phần nửa bài thơi có câu mở đầu nghĩ tới sưn óc mới ra: Rừng khô như tiếng mõ trâu-ấy bậy! Đêm khô như tiếng mõ trâu-Rừng khô như tờ bánh tráng-Mùa hè năm 80… Thôi! Tôi vào với thằng nhỏ một chút đây. Cái tật! Không sửa được, vợ thì chưa có nhưng mình cũng có kha khá bạn gái, cô nào cũng kêu: “Nói chung anh cũng… Được đấy nhưng phải cái… Cái… Tiếng của ông gọi là gì nhỉ? Đúng rồi! Phải cái huyên thuyên quá! Cứ gọi là ế vợ cả đời”. Chà! Săm Đi mừng phải biết nhé! Coi chừng ông ấy sướng quá lại la hú chạy cùng rừng bây giờ. À, mà khỉ quá! Mình chưa biết cô ấy tên là gì, ở đâu nữa mới chết chứ.


Chu Thom mấp máy môi định nói một cái gì đó song anh chỉ lặng lẽ đến bên Hoà nắm lấy cánh tay bạn xiết chặt. Hoà nhoẻn cười hồn nhiên, anh nghĩ rằng người bạn ít nói đang thắm thiết biểu lộ sự khen ngợi trước năng khiếu y tế đặc biệt của mình. Năng khiếu quá đi chứ, băng ga-rô bằng thơ thì lịch sử chiến trận của loài người đã dễ có mấy ai. Anh bật cười khà khà rồi đi vào.


Chu Thom từ từ đi ra cửa. Nắng chiếu qua những tán lá sô-đo non tơ phả vào cặp mắt trũng sâu của anh một màu xanh dịu. Sau đêm giông bão, bầu trời bao giờ cũng có cái vẻ yên ả kỳ lạ thế này. Anh cứ đứng thế ngửa mặt nhìn lên như người tắm nắng.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Tư, 2008, 06:53:02 am
Và giờ đây, sau nửa năm, Mươn Then đang ở trước mặt anh dưới ánh đèn rực rỡ trong đêm hội được mùa của bàn con toàn xã. Một Mươn Then mà anh quen từng hơi tóc, từng độ ấm ngọt đôi môi, từng cái chau mày nũng nịu và quen đến cả những sợi tóc tơ màu hung hung sau gáy… Trên sân khấu nom cô hơi gầy và già đi. Nhưng như thế lại càng đẹp, đẹp đến xa lạ, đẹp đến huyền ảo xa xôi của những giấc mơ đang bồng bềnh trong anh.


Hình như ban đầu người ta có giới thiệu đây là buổi biểu diễn của đội văn nghệ thuộc trại phụ hồi nhân phẩm nào đó, và tới giữa chừng cái lo trên cành cao lại đọc lên một cá tên Mọ Len hay Crươm Đen gì nữa mà vì nhức đầu quá anh không ngó màng tới. Nửa năm… Gần hai trăm ngày qua anh đã có đôi bận đi tìm cô nhưng người ta không thể chỉ đích xác cho anh biết bây giờ cô đang ở đâu. Thế rồi công việc lại cuốn anh đi. Lạy phật! Có dân tộc nào bị hành hạ đến nỗi nghề thầy thuốc bỗng trở thành thần thánh như dân tộc này không!


Sau một tràng vỗ tay dai dẳng, không từ chối được, cô gái phải trở ra sân khấu hát lại lần thú hai. Ngay từ đầu giọng hát của cô đã buông ra đằm thắm như một lời tâm tình. Con mắt có cái đuôi dài tưởng chừng dõi nhìn vào trong chính tâm hồn cô, dẫn dắt người nghe tới những khung cảnh mới lạ, những điều thầm kín mà chỉ một mình cô biết, mình cô giữ gìn…

Mùa hè năm 80

Đêm khô như tiếng mõ trâu

Rừng khô như tờ bánh tráng

Trời không một tia gió thoảng

Đau đáu nhìn vào lòng thung

Bắt gặp tiếng dao đêm

Của bầy chim mời nhau tỏng đá…

Dàn nhạc khuất bóng ở đâu, lúc hoà vào nghe có tiếng gió tiếng chim, lúc tách ra nghe gầm gào thắng trận, lúc lại thoải xuống để lấy đà cuộn sóng cuộn bão, động rừng biển nâng bổng tiếng hát của cô lên cao… Cao mãi. Nhưng Chu Thom thấy lòng mình chùng xuống, mềm ra… Bài thơ của anh ấy! Anh run người lên trong một cảm xúc ùa tới choáng ngợp…

Đêm, cái nóng làm mềm mặt đá

Con mắt mưng lên đỏ máu nhìn trời

Bỗng hiện về một dòng sông xa xôi

Hiện về một lu nước hoa cau rơi lấm chấm…

Hát tới đây giọng cô lắng đi… Nhỏ dần… Rồi dừng hẳn lại. Khẽ khàng chắp hai tay lên ngực, cô nhìn về một điểm thẳm xa của trời đêm mà có lẽ lúc ấy gió vẫn mài miệt đưa tới cái vị thơm nồng của cánh đồng sau vụ gặt, cô nói như thì thầm với chính mình.:

-“Thưa bà con, thưa các anh các chị!… Bài thơi mà tôi đang hát là của một người lính… Người ấy đã cứu tôi. Nhờ người ấy một phần mà đêm nay tôi được hát trước bà con, trước các bạn, trước các em… Người lính đó tôi không biết tên, không nhớ mặt, hiện nay ở đâu. Tôi hát bài này trước hết xin tặng người chiến sĩ ấy, sau nữa hát tặng bà con…”.

Một sự im lặng bao trùm lên tất cả mọi người. Tiếng hát cô gái lại trải ra. Cô hát mà vẫn như đang nói tiếp những tâm sự của mình.

… Mùa hè năm 80

Vẫn nằm ngoài ký ức

Chúng tôi nằm mê mùa mưa

Thấy sấm nổ ran trong từng thớ thịt

Ngày phục giặc nằm im trên đất

Gió thổi lá bay như những tờ lịch rơi

Phủ vàng áo lính…

Những làn sóng âm thanh và những làn sóng lụa toả lan xung quanh cô gái, tưởng như cô đang đứng trước mặt biển cuộn sóng. Một lượng sóng lớn nhất đã trào vào lòng Chu Thom. Anh ngồi đó, không nghe thấy tiếng hát trên kia, chỉ nghe âm điệu bài thơi ngân vang trong đầu mình.

Con đom đóm kia có vẻ đã mệt mỏi, đang quay trở về, nó lại vụt sáng vụt tắt khi bay qua luồng sáng đèn. Khi cô gái hát tới đoạn cuối:

… Mùa năm 80

Rồi sẽ qua mau

Mùa hè năm 80

Sẽ không quên vội

Mùa hè năm 80

Cho đồng đôi thêm thương đồng đội

Và cho tôi hiểu thêm rõ về tôi.

Thì nó chấp chới bay xuống khoảng không lộng gió trên đầu mọi người và không thấy nó bay trở lại nữa. Cô gái dứt tiếng hát nhưng ánh mắt vẫn bay tới xa xăm như cố đẩy đưa tiếng hát của mình tới những điểm chốt heo hút mịt mùng mà cô gái nghĩ chắc sẽ có anh.

Như mơ ngủ, Chu Thom đứng dậy định len mọi người đi lên nhưng bàn tay dịu dàng của bà y sĩ đã kéo anh ngồi trở lại. Nhìn vào mắt bà, anh thấy rơm rớm nước…

Đã lấu lắm rồi bác sĩ Chu Thom mới lại thấy ngực mình ngột ngạt. Anh thẫn thờ đưa tay nới khuy áo… Không! Mươn Then ơi! Bài thơi ấy chưa hết đâu. Phần còn lại, đêm qua người ta đã tìm thấy trong túi áo khô máu của anh… Anh ấy không còn dịp nghe em hát lên bài thơ của mình nữa!… Lạc trong rừng lâu quá, vết thương của anh bị nhiễm trùng cấp tính… Nhưng bạn bè của anh ấy sẽ nghe em hát và sẽ hiểu em. Và cả anh nữa… Mươn Then!


Tháng 6 năm 1981


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:03:50 pm
Biển Hồ yên tĩnh

Mai Ngữ

Chúng tôi rời thị xã Xiêm Riệp vào một buổi chiều sau hai ngày đi thăm cảnh Angkor hùng vĩ. Gần như chúng tôi lần theo dấu chân của những khách du lịChu Thom khi xưa, cũng từ nơi cố đô của Suryavacman đi ra Biển Hồ, cũng từ một công trình vĩ đại của con người đi ra nơi sáng tạo tuyệt vời của thiên nhiên. Nhưng chúng tôi không phải là khách du lịch, chúng tôi là một đoàn công tác. Trên dọc lộ trình, hình tượng ám ảnh chúng tôi không chỉ là cảnh trí huy hoàng của những ngọn tháp đá trong khu đền cổ Angkor với những khuôn mặt trầm tư, và thần bí của tượng thần Bay-on bốn mặt xoay ra bốn hướng, với những hình người, hình những chiến sĩ anh dũng của Jayavacman VII hay những nàng vũ nữ Ap-sa-ra xinh đẹp chạm nổi trên vách đá dọc theo những hàng lang đang thử thách cùng với thời gian. Chen vào đó và cũng choán lên trong ký ức của chúng tôi còn là những đống xương người, sọ người trắng xoá trên bãi xác mà bọn Pol Pot đã đập chết gần vạn con người nagy trên đường từ Angkor trở về Xiêm Riệp. Ở Campuchia có biết bao nhiêu bãi xác như thế này? Trong khoảng tối bao la của hoàng hôn, những đống xương người trắng lên một cách khủng khiếp khiến đầu ocs chúng tôi buốt nhói, bàng hoàng…


Trời Xiêm Riệp chói chang trước mùa mưa, nắng hun chát mặt người. Đồng chí nhà văn già đi cùng với tôi chốc chốc lại thở phì phò nhữ bễ thổi, lắc lắc mái tóc rất dầy và đã bạc quá nửa pha lẫn bụi đất bốc lên từ mặt đường. Tôi thoáng ngửi thấy cả mùi khét vì nắng cháy từ chân tóc anh phải ra. Ngồi bên trái tôi, Lê Văn, trợ lý tuyên truyền và là nhà thơ của Mặt trận thì lim dim mắt như sắp ngủ. Cả người anh đều ngọn, mũi ngọn, cằm nhọn và những đầu xương ở tay, ở chân đều nhọn. Ngồi trên cái bậc cao của thành xe, thân hình xương xẩu và cao vồng của anh phải cúi gập xuống để tránh những cú xóc nẩy người. Chiếc xe díp lắc lư như gã say rượu, nhảy chồm chồm trên con đường đất từ sau mỏm núi K’rom rẽ vào Biển Hồ. Đây vốn không có đường, mùa mưa tới nước sẽ ngập băng và có độ sâu đến hai chục mét. Con đường do những đoàn xe hơi, xe bò, xe ngựa chuyển cá từ Biển Hồ về Xiêm Riệp tự tạo ra trong mùa khô này, sẻ ngang một bãi dài dọc mọc tràn ngập những bụi s’nghe, loại cỏ dại cao và mập hơn giống lúa nếp ở Việt Nam, chen lẫn những cây rên lùm xanh thẫm.


Ngồi ghế trước, cạnh người lái xe, Lê Đình Dũng-tiểu đoàn phó tiểu đoàn tiểu đoàn trinh sát của mặt trận, hai bàn tay ghì chặt lấy thành ghế cho khoi bị lắc. Chiều ấy, Dũng không mang quân phục, anh vận chiếc áo sơ mi kẻ sọc đỏ, chiếc quần ốc-pho màu tím than và đội chiếc mũ vải rộng vành của những người chăn bò Mỹ. Đi theo anh có Thư, chiến sĩ trinh sát trẻ-Thư mới mười tám tuổi, hai má tròn căng và hồng lên vì nắng, ngang lưng quấn đầy đạn M.79, người hơi ngả về phía sau để tránh đôi vai rất rộng của đồng chí chỉ huy, tay phải giữ khẩu M.79. Trên cuộc hành trình này của chúng tôi, hai anh lính trinh sát của mặt trận luôn luôn theo sát làm nhiệm vụ hướng dẫn bởi vì họ gần như là “thổ công” ở vùng này…


Không biết có phải ngẫu nhiên mà trong chuyến đi này quy tụ nhưng con người khá đặc biệt. Trưa hôm trước, trong khi ngồi đợi tiểu đoàn phó Lê Đình Dũng sửa soạn hành trang, chính trị viên tiểu đoàn trinh sát là Ba Chúc vừa cười vừa kể lại một mẩu nhỏ trong chuyến về phép năm ngoái của anh. Chuyến ấy, vừa về tới nhà, anh đã phải đưa cả vợ lẫn cô con dâu trưởng (con trai anh cũng đi bộ đội đóng ở biên giới phía Bắc) lên nhà hộ sinh huyện. Cả hai mẹ con đều chuyển dạ cùng ngày và đứa cháu đích tôn của Chúc đã biết giữ lên mà chịu ra đời chậm hơn chú ruột nó năm tiếng đồng hồ. Cùng một ngày Ba Chúc vừa là một người bố vừa là một ông nội đón con trai (đã phải đứa út chưa?) và cháu gái về nhà. Đồng chí chính trị viên của tiểu đoàn trinh sát cười rất vang, rất sảng khoái, hai tay sang rộng ôm lấy đôi vai lực lưỡng  của Lê Đình Dũng vừa từ trong buồng bước ra. Dũng hơi đỏ mặt, bao giờ anh cũng đỏ mặt khi nghe kể về chuyện vợ con. Ạnh mới hăm tám tuổi, Chưa vợ và cũng khá điển trai, khuôn mặt vuông vức đầy vẻ cương nghị nhưng đôi mắt lại rất lành khi nào cũng mở to đen láy, đôi môi mỏng với hàm răng trắng muốt đều tăm tắp. Dũng giống như một con người mẫu cho những nhà nặn tượng và cũng là một chàng trai lý tưởng cho những cô gái ưa kén chọn. Mùa khô năm ngoái khi còn là đại đội trưởng đại đội Ba, anh đã dân quân vượt gần ba chục cây số nước giữa Biển Hồ, truy quét bọn tàn quân Pol Pot ở phía bắc tỉnh Pua Sát, giải thoát cho hơn vạn dân và ngay đêm đó đã đưa hàng vạn con người vừa đi xuồng (cướp được của địch) vừa lội ào ào băng qua Biển Hồ, trở về lập những phum mới ngay tại vùng Xiêm Riệp này. Mới chỉ nghe qua mà tim tôi đã rung lên, chộn rộn trong đầu cái cảnh hàng vạn, hàng vạn dân Campuchia được những chàng lính trinh sát Việt Nam cứu thoát khỏi những nhát cuốc của lính Khơ-me đỏ, lũ lượt bám theo bộ đội ta trong cái đêm mờ mọt trăng lu của bầu trời sắp rạng. Chính cái cảnh tượng hùng vĩ ấy đã khiến chúng tôi quyết định phải đến với Biển Hồ, không phải đề thăm nơi thắng cảnh như những du khách khi xưa mà để tìm hiểu một chiến công của bộ đội trong thời gian qua. Và Lê Vân, anh nhà thơ của Mặt trận và là người bạn quen biết của tiểu đoàn trinh sát đã đưa chúng tôi tới đây. Rồi cũng chính anh đã đề nghị Lê Đình Dũng, người chỉ huy trực tiếp trận đánh phía bắc Pua Sát giáp Biển Hồ năm ngoái, cùng đi với chúng tôi ra vùng sóng nước mênh mang đó…

Tôi nhớ khi Ba Chúc kể xong, kể một cách vắn tắt trận đánh đó, Dũng chỉ cười mủm mỉm, hai mắt long lanh trong suốt nhìn khắp lượt chúng tôi, chẳng nói thêm câu gì hết…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:05 pm
Người lái chiếc xe díp trống hốc chở chúng tôi có cái tên rất lạ: Thầm-Lại Như Thầm. Đó cũng là một chàng lính trẻ mà tâm hồn rất nghệ sĩ, sẵn sàng nhập cuộc với anh em-như cánh lính trinh sát thường nói. Chẳng thế mà khi chúng tôi ngồi đợi thuyền trong căn nhà gỗ của Uỷ ban phum Kơ-nia Chơ-năng nằm sát mép nước, Thầm lẳng lặng quay xe hộc tốc trở về đơn vị vận tải của anh chỉ cốt kiếm được cân đường thốt nốt, cân đậu xanh và dăm bao thuốc lá Sa-mít dành cho tối này vì anh biết chúng tôi phải làm việc khuya giữa vùng nước mênh mang của Biển Hồ… Đồng chí nhà văn già rất cảm động và anh nói Thầm là kẻ “chịu chơi”. Bao giờ anh cũng dùng cái từ đó khi tâm hồn bị xúc động. Rồi anh lúc lắc đầu, mái tóc dầy và bạc bị gió thổi lật làm tung ra những hạt bụi cát li ti. Trong chuyến đi này, người bạn già của tôi luôn bị xúc động vì những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những con người cũng rất bất ngờ. Những lúc ấy, anh cố nén tình cảm của mình bằng nhưng chuỗi cười thật vang, thật khỏe-giọng cười ít khi có được khi anh còn ở ngoài Hà Nội. Tôi nhớ trước ngày lên đường, anh chìa cho tôi xem giấy công lệnh và nói:

-Các ông ấy (ý nói mấy anh phụ trách cơ quan) đã định không cho tôi đi, bảo tôi có tuổi, sợ sang bên đó sống với bộ đội sinh hoạt kham khổ, khó mà chịu đựng được-Anh cười rất hóm-Không đúng! Sức tôi, tôi biết, tôi càng đi càng khỏe ra, thật đấy.

Tôi hiểu anh bạn già của tôi lâu này có nhiều tâm sự ngổn ngang.

Cách đây hơn một năm đứa con trai của anh lên đường nhập ngũ. Điều này cũng chẳng có gì bất ngờ. Lúc này không thiếu những học sinh từ biệt nhà trường tình nguyện gia nhập quân đội. Đứa con trai của anh trước kia vẫn ở với mẹ nó. Vợ chồng anh sống xa nhau khi nó mới bảy tuổi, tuy không chính thức ly hôn nhưng họ ít khi gặp nhau. Vợ anh còn rất trẻ, chị thua anh mười hai tuổi nhưng tính nết thì già dặn và rất căn cơ. Còn anh thì buông tuồng, nhớ đấy và quên ngay đấy và nhất là anh không có nhiều sách được in như các bạn đồng nghiệp khác. Người vợ sau khi eo sèo anh chuyện này chuyện nọ cuối cùng đều đay nghiến chồng về cái nhược điểm đó. Thật tội, trong khi cả hai người lúc ở cơ quan thường nói chuyện với bè bạn về công tác, về tình hình chính trị quốc tế, tóm lại là những vấn đề cao quý của cuộc sống; nhưng khi vế đến nhà, sau bữa cơm tối chỉ có hai người với nhau thì câu chuyện lại chỉ xoay quanh những điều vặt vãnh nhất. Rồi khi chị vợ bắt đầu ca cẩm thì anh chỉ ngồi im thin thít để cho chị phải nổi đoá lên. Mà lý lẽ gì đi nữa thì rốt cuộc anh chồng vẫn cứ phải thua vợ, thua những sự thật đơn giản nhất của vợ. Sự xung khắc đã dẫn đến chỗ họ phải sống xa nhau. Để tỏ ra mình là người cao thượng, người vợ kiên quyết giữ đứa con duy nhất, nuôi nó mà không cần đến sự trợ cấp của chồng. Đứa con sống với mẹ cho đến năm nó học cấp ba phổ thông, đột nhiên nó trở về với bố. Nó nói: “con rất yêu mẹ nhưng bây giờ con không thể sống thiếu bố được”. Suốt ba năm, nó tỏ ra một đứa trẻ ngoan ngoãn, không đua đòi bè bạn và bao giờ cũng nói năng lịch sự, có lễ độ. Anh rất lấy làm mừng vì dù sao anh cũng rất yêu thương con, và hơn nữa nếu chẳng may nó bị hư hỏng thì mẹ nó sẽ trút lên đầu anh mọi trách nhiệm làm như vì anh mà nó xảy ra nông nỗi ấy. Thời kỳ đầu chú bé rất ham đọc sách, những cuốn sách của bạn bè tặng anh được nó là người đầu tiên đọc nghiến ngấu. Về sau cái thú vui đọc sách của nó giảm dần đến nỗi chính anh cũng nhận thấy. Trong câu chuyện của hai bố con, anh cảm thấy sự suy nghĩ của con mỗi ngày một xa lạ đối với anh. Câu chuyện không còn đậm đà như xưa và anh biết rằng từ nay nó đã tách khỏi mọi suy nghĩ thường ngày hoặc tách khỏi sự giáo huấn của anh. Anh không biết nên mừng hay nên lo.


Mùa hạ năm 1978, cậu học sinh vừa tốt nghiệp lớp 10 đã xin bố cho đi bộ đội. Đó là một buổi tối mất điện, căn phòng nhập nhoè ánh sáng của ngọn đèn dầu hoả-có lẽ người con trai chọn tối đó để che giấu sắc mặt dễ xúc động của mình. Đứa con nói nó không muốn học tiếp lên đại học vì sức học của nó không được giỏi giang cho lắm. Với sức học ấy, nếu muốn học lên được thì bố sẽ phải làm những công việc mà bố không thể làm được: dò hỏi, chạy vạy, cầu cạnh, thậm chí có khi phải có những động tác không đẹp đẽ chút nào… Trời, như vậy thì tội nghiệp cho bố quá; mà nếu như bố làm được những chuyện ấy có thể bố chẳng phải sống cô độc như thế này…

Nó nói tiếp:

-Ở trường các thầy các cô dạy con rằng: “Đi học, đi làm việc hay đi chiến đấu cũng đều là để phục vụ Tổ quốc”. Con tự nguyện chọn con đường ngắn nhất, thanh thản nhất để phục vụ Tổ quốc và con cũng chẳng phải nhờ cậy ai hết, cũng không ai có thể nghi ngờ động cơ của con: con xin đi chiến đấu. Tổ quốc bao giờ cũng cần đến những người lính. Thế hệ trước con như bố, như các chú đã chiến đấu trên ba mươi năm, bây giờ đến lượt chúng con. Chúng ta còn phải tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta muốn sống một cuộc đời tốt đẹp nhưng kẻ thù cứ muốn dìm chúng ta trong vũng bùn đen. Chúng nó đang dập dờn ngoài biên giới và một ngày nào đó, nếu chúng ta sơ hở, chúng nó sẽ đánh ta…


Thế rồi đứa con lên đường. Cuối năm ấy, nó được về phép tranh thủ và báo tin nó đã được bổ sung vào mặt trận phía Tây Nam. Lúc đó, cuộc chiến tranh biên giới do bọn Pol Pot gây ra ngày càng lan rộng. Lòng người cha thấp thỏm từng ngày từng tháng cho đến khi toàn nước Campuchia được giải phóng khỏi nạn diệt chủng. Bức thư gần đây nhất của nó viết cho bố vào tháng tư năm ngoái. Anh còn nhớ một đoạn trong thư: “… ở đây (tức ở Campuchia) mỗi người dân mà con được gặp đều có cuộc đời thật bi thảm tưởng như mọi nỗi bi thảm trên trái đất này đều dồn cho họ. Nếu con là một nhà văn, con chỉ viết về cuộc đời của bất kỳ một con người nà đó con có thể có một cuốn tiểu thuyết về số phận con người sâu sắc hơn bất kỳ cuốn nào trên thế giới. Hồi ở nhà, con đã được đọc cuốn “Số phận một con người” của Sô-lô-khốp. Lúc đó con rùng mình sợ hãi và thương cảm cho số phận người lính Liên Xô bị bọn Đức hành hạ trong trại tù bình. Bây giờ so với số phận của những người Campuchia còn sống sót thì số phận anh lính Nga kia hãy còn may mắn hơn nhiều bố ạ. Ở đây điều chua xót nhất là dân tộc này lại bị bọn bành trướng dùng chính ngay bàn tay đồng chủng đồng bào của họ huỷ diệt… Con đã phải tự tay đào lên những bãi chôn hàng vạn nguời bị bọn Pol Pot giết chết để các chú quay phim, chụp ảnh làm việc tố cáo tội ác của chúng. Con cũng đã được dự những cuộc hỏi cung những tên phạm  nhân ác ôn tay sai của Pol Pot. Có tên tự thú nhận nó đã đập chết hàng trăm người, nó khai với giọng điệu rất hồn nhiên y như nó vừa làm một công việc bình thường nào đó chứ không phải là chuyện giết người, gương mặt đờ đẫn như một con vật. Làm sao có thể hy vọng cải tạo những con vật ấy trở thành nguời được hả bố?…

… Con mong rằng nhân dân Campuchia mãi mãi không quên nhưng tội ác này, mãi mãi ghi nhớ số phận bi thảm của họ trong bốn năm qua. Con nói như thế bởi vì con nghĩ người ta rất dễ dàng quên ngay cái quá khứ khủng khiếp ấy. Có thể là cuộc sống mới đến với họ quá nhanh, họ chưa kịp đón nhận nó cũng như bốn năm trước họ đã bị bọn Pol Pot phản bội và đầy đọa mau lẹ tới mức họ khộng kịp phản ứng ra sao nữa. Trên đất nước này, người ta rất dễ thích nhảy múa, chỉ cần nổi nhạc lên là tất cả mọi người có thể múa nhảy thâu đêm suốt sáng…”


Sau lá thư ấy, anh không nhận được thêm tin tức gì của con trai nữa, chỉ biết rằng đơn vị của nó vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu phức tạp và gian khổ trên mảnh đất mà họ vừa giải phóng. Mảnh đất ấy giờ đây kêu gọi anh, thôi thúc anh đến với nó. Anh muốn hiểu ngọn nguồn của những phẩm chất cao quý và mọi hy sinh chịu đựng của các chiến sĩ Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế đang chiến đấu vì tự do nhân phẩm của dân tộc cùng sống chung trên bán đảo Đông Dương này, trong những người lính ấy có đứa con trai bé bỏng của anh. Điều gì đã làm cho nó suy nghĩ và viết ra được những dòng chữ đã khiến anh phải bồi hồi xúc động, nỗi xúc động lâu lắm rồi chính bản thân anh cũng tưởng như không bao giờ có được, tưởng như tâm hồn anh đã bị chai sạm, lì lợm đi rồi. Không hẳn chỉ có chiến tranh, sự tiếp giáp giữa chúng ta và kẻ thù, giữa cái sống và cái chết, đã dạy cho con anh những suy tư ấy. Ắt còn phải có cái gì nữa? Số phận bi thảm của những người dân Campuchia? Tội ác ghê rợn của cái bọn lâu nay vẫn tự xưng là “cộng sản” trước kia ngự trị trong lâu đài Chăm-ca-mon ngày ngày uống rượu Mao đài, ngậm sâm Cao Ly và tụng thánh kinh bìa đỏ?… Tốt hơn hết là chính anh phải dấn thân vào nơi đó lấy bản thân mình làm cuộc thực nghiệm-dù cho sức khỏe và tuổi tác đã ngăn cản anh. “Không, anh nói, tôi không đi bằng hai chân, tôi sẽ đi bằng nhịp đập của trái tim tôi, trái tim tôi tuy già nua nhưng nó còn đập mạnh…”. Với niềm hy vọng mong manh là gặp được đứa con trai ở một nơi gọi là tiền tuyến, anh hăm hở hơn tất cả những người đi cùng trong chuyến ấy…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:17 pm
Tiểu đoàn phó Lê Đình Dũng dùng cây sào dài đẩy con thuyền gỗ nhỏ giống như loại thuyền thoi chở chúng tôi ra xa mép nước. Thông thạo như một dân chài thực thụ, anh lách rất khéo léo con thuyền ra khỏi hàng chục con thuyền khác đang bâu kín chiếc xe vận tải chở cá của huyện. Bốn vành bánh xe ngập một nửa dưới nước. Lúc mới thoạt nhìn, suýt nữa tôi kêu lên vì tôi cứ nghĩ đến biển là nghĩ đến nước mặn. Nước Biển Hồ đục lờ, vốc lên tay nhìn rõ những hạt phù sa đỏ hồng vằn lên hệt như nước sông Hồng ngoài Hà Nội. Về mùa khô, nước hồ cạn chỉ ngập quá đầu gối cho nên người ta có thể xắn quần lội khắp mấy chục cây số biển, nhưng Dũng ngăn không cho chúng tôi lội. Anh bảo dưới nước toàn là đầu cá, xương xá vất từ trên nhà sàn xuống sau khi làm cá, mổ cá và phơi cá; có thể bị đâm vào gan bàn chân và người không quen có thể bị nhiễm trùng. Tuy nhiên dưới đáy nước vẫn có những lạch ngầm và sâu, đó là đường đi lối lại của những chiếc xuồng gắn máy và tàu nhỏ. Con đường bị chìm trong lòng nước nhưng con người đã thuộc nó như thuộc bàn tay mình, chẳng bao giờ lạc lối hay mắc cạn…


Lúc chiều, từ trên xe díp nhảy xuống, nhìn bao quát khắp bờ Biển Hồ, tôi hơi thất vọng. Tôi vẫn còn ấn tượng của những chuyến đi biển trước kia, tới bờ bao giờ cũng bị đập mắt vào cảnh trí bao la của trời nước, của những con sóng ào ào dội vào, của màu nước trong xanh, của hàng cột buồm lô nhô và khứu giác nồng lên mùi tanh của cá, mùi mặn của muối, của cả gió nữa. Ở đây, biển bị ngăn cách bởi những căn nhà sàn nằm chênh vênh trên mặt nước chắn hết tầm nhìn. Những căn nhà mỏng manh dựng lên bằng những cây cột chỉ nhỉnh hơn cổ tay-loại cây rên càng ngâm nước càng chắc, sàn nhà bằng gỗ và mái lợp lá thốt nốt vàng khượm. Những căn nhà này vào mùa nước to, chúng sẽ được di chuyển đi nơi khác hoặc tự nổi lên nếu có những bè bương nằm phía dưới. Căn nhà gỗ của Uỷ ban phum cũng chất đầy những cây bương to gộc dưới gậm sàn. Thêm một dãy nhà lá mọc dài theo bờ đất, đó là chợ, là nơi mua bán, đổi chác. Hàng hoá gồm những nhu yếu phẩm: vải, quần áo may sẵn, những chiếc sà rông (váy) của phụ nữ đủ màu, những món tạp phẩm sặc sỡ bằng nhựa, bằng ni lông được gửi từ Việt Nam qua và do những tay buôn đem từ biên giới Thái Lan về. Lại có rất nhiều dưa hấu, những trái to bằng chiếc mũ cối bộ đội vỏ xanh cẩm thạch mỡ màng ngon lành trông đã phát thèm. Trẻ con cởi trần, đen trũi, nô đùa trên cát và dưới nắng. Người lớn mặc quần din Thái Lan, mũ rộng vành đi lại thậm thịch, chuyển cá khô lên xe. Đồng chí chủ tịch uỷban huyện, cưỡi xe hon-đa kèm theo một đồng chí bảovệ đeo khẩu AK phóng ào tới xem xét việc chuyển cá. Đồng chí vừa ở công trường đào kênh về, con kênh nối liền Biển Hồ tới chân núi K’rom để mùa nước tới tàu lớn có thẻ vào sâu được trong đất liền…


Gió từ biển xa thổi về, gió mang theo vị tanh của cá khô và vị nồng nồng của bùn mục. Khi chúng tôi vượt ra khỏi những căn nhà sàn nằm sát bờ, trời còn sáng, tầm mắt đột nhiên được mở rộng mới thấy Biển Hồ thật sự bát ngát mênh mông. Sau nhà là biển và lại tiếp nối những căn nhà khác nằm rải rác ở phía xa, những chiếc xuồng máy vè vè chạy xuôi ngược, có chiếc chở đầy dưa hấu hoặc hàng hoá, đó là những quầy bán hàng lưu động trên mặt nước. Dũng đẩy thuyền áp vào một căn nhà sàn cá khô phơi đầy trêm mái lá, những con cá to bổ đôi như hai chiếc quạt nan dính lưng nhau trắng lốp. Dũng bảo đây là trạm nghỉ chân và anh mời khách lên nhà uống nước trong khi chờ xuồng máy tới chả ra khơi xa, nơi chúng tôi định tới làm việc trong đêm nay. Con thuyền từ từ húc đầu vào chiếc cầu gỗ, trên đầu cầu đã có một bà mẹ đứng đón. Bà mẹ chưa già lắm, mặc sà rông hoa đỏ, tóc cắt ngắn kiểu Trung Quốc mà hồi xưa Pol Pot đã bắt tất cả phụ nữ Campuchia phải cắt như vậy. Chúng tôi lần lượt bước lên cầu, lần lượt chắp hai tay chào mẹ: “Săm bai”. Bà mẹ ngả đầu hơi cười, cũng chắp hai bàn tay ngang cằm chào lại. Chúng tôi bước vào nhà, căn nhà nhỏ gọn gàng và sạch sẽ. Chiếc máy khâu kễ trong góc nhà, nơi ngủ được ngăn bằng vải hoa. Nới tiếp khách phía ngoài, trên sàn nhà trải chiếu đan bằng cật lá thốt nốt trắng như ngà. Đồng chí nhà văn già bỏ balô, ngoài người ngồi xuống ghé mắt nhìn ra biển trải mênh mông khẽ kêu:


-Trời, ngồi đây ngắm biển thì đã quá!

-Chưa ăn nhằm chi bác ạ. Lát nữa ra ngoài kia bác còn thấy thú vị hơn nhiều…

Dũng mỉm cười tiếp lời như vậy rồi anh quay giới thiệu chúng tôi với chủ nhân. Anh nói tiếng Khơ-me chưa được thạo, đôi chỗ phải nhờ Lê Vân dịch hộ những từ chuyên môn như: nhà văn, nhà thơi, nhiệm vụ quốc tế, v.v… Lúc đó tôi mới thấy được khả năng và trí thông minh của Lê Vân. Nghe nói anh còn có thể dịch cả thơ Việt Nam sang tiếng Khơ-me và đọc cho bà con địa phương thưởng thức, tôi tin anh làm được như vậy…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:29 pm
Bà mẹ Campuchia ngồi thu hai đầu gối tươi cười chắp hai bàn tay ra ý chào mừng các khách quý. Ngồi bên bà là cô gái chừng hai mươi tuổi mặc quần đen bằng vải thu, áo sơ-mi hoa cắt rất khoé. Mái tóc dài xoã xuống sau gáy càng làm tôn thêm nước da vốn đã trắng trẻo của cô, nước da làm chúng tôi ngạc nhiên, bởi những cô gái vùng này thường ngăm ngăm đen. Nước da trắng và vóc dáng mảnh mai của cô làm người ta liên tưởng đến một bông nhài. Còn đôi mắt đen và sâu thẳm không hiểu sao cứ đăm đắm nhìn về phía tiểu đoàn phó Lê Đình Dũng, tưởng như anh cán bộ trinh sát Việt Nam này đang toả ra sức hút kỳ diệu nào đó. Đôi mắt như biết nói, biết cười bộc lộ niềm vui ngời ngợi không cần giấu giếm khiến Dũng cũng không dám nhìn lại. Anh xoay mặt hẳn về chúng tôi và nói với giọng không được lưu loát cho lắm:

-Đây là bà mẹ và gia đình mà bọn chúng tôi đưa từ Pua Sát trở về… Ông bố đã bị bọn Pol Pot giết hại, mẹ còn chín người con. Cô Săm Ri đây là con lớn… Săm Ri thì bác với các anh biết cả rồi. Tôi đã nói rồi mà…

Nhà văn già làu bàu:

-Ông nói với bọn mình hồi nào? Hôm nay bọn tôi mới tới đây lần đầu.

Dũng cười ngượng nghịu, mặt đỏ lên và chống chế:

-Tôi cứ ngỡ tôi nói rồi chứ nhỉ… Nếu không thì Lê Vân cũng nói…

-Chưa đâu-Vân lắc đầu-Anh Dũng chưa nói, tôi biết. Mà tôi cũng không nói. Để anh tự nói thì tốt hơn, nhất là khi có cả Săm Ri ngồi đây.

Tuy không hiểu khách nói điều gì nhưng cô gái cũng cười và cúi mặt. Lúc đó Dũng mới dám nhìn cô gái nói:

-Thế này nhé, hồi tháng Tư năm ngoái, đại đội tôi đánh sang bên kia Biển Hồ, truy quét bọn tàn quân Pol Pot ở bắc Pua Sát như anh Ba Chúc đã kể với các anh và bác. Bọn tôi đánh vào mấy phum: phum A, phum Sô và những phum gì gì nữa, tôi quên tên rồi… Bọn nó bị diệt một số, bị bắt một số, những tên còn lại, chạy toán loạn vào rừng. Tôi mới gom dân lại rồi đưa về bên này. Trời thì tối, tôi vào một căn nhà thấy lố nhố toàn đàn bà và trẻ em, người nào cũng đen thui, quần áo đen, mặt mũi da dẻ cũng đen. Chỉ có một cô gái là trắng trẻo. Tôi gọi cô ta ra và hỏi “có phải là vợ lính Pol Pot không?”. Tức thì cô ta oà lên khóc, vừa khóc vừa la: “Không, tôi không phải vợ Pol Pot… Oan tôi quá, bộ đội Việt Nam ơi, cứu tôi với. Tôi không phải là vợ Pol Pot”. Tôi đâm ra lúng túng khi cô ta cứ níu chặt lấy mình, tôi mới bảo: “Cô muốn về Xiêm Riệp thì theo bộ đội”. Thế là cô ta cùng tất cả mọi người chạy ùa theo anh em trinh sát ra bờ Biển Hồ. Đêm đó khoảng chín ngàn người đã lội biển theo chúng tôi. Mãi khi truy quét hết bọn Pol Pot, chúng tôi lại trở về đây cùng với đội công tác của bạn giúp đỡ nhân dân thành lập phum, tổ chức lại đời sống, dựng nhà dựng cửa, xây dựng chính quyền và các đoàn thể… thì tình cờ tôi gặp lại Xiêm Riệp, cô gái mà tôi bảo là vợ Pol Pot ấy…

Xiêm Riệp chăm chú lắng nghe giọng nói của Dũng tưởng như cô đã hiểu hết những lời anh. Đột nhiên cô bật lên câu gì đó bằng tiếng Khơ-me. Cả Dũng và Lê Vân đều cười, rồi Dũng giảng cho chúng tôi:

-Cô ấy lại vừa trách tôi đã gán cho cô ấy là vợ Pol Pot… Hôm tôi gặp lại Săm Ri là hôm đội công tác của bạn về tập họp chị em để tổ chức hội phụ nữ phum. Tôi đang ngồi hút thuốc lúc giờ nghỉ thì một cô gái đi đến trước và nói: “Tại sao đêm hôm đó anh lại gọi em là vợ Pol Pot? Làm sao em có thể làm vợ nó được? Nó đã đập chết bố em, đầy đọa cả gia đình em. Em thù nó, anh biết không?”. Tôi nghe cô ta nói thật ngạc nhiên hơn vì… vì, nói thật Săm Ri hôm ấy đẹp quá, đẹp lạ lùng, đẹp hơn tất cả những cô gái mà tôi từng gặp. Tôi lúng túng mãi sau mới nói: “Tại đêm đó tôi thấy cô mặc áo trắng, người cũng trắng trong khi các chị em khác đều đen thui nên tôi mới nghĩ sai như vậy. Bây giờ tôi xin lỗi cô nhé. Tên cô là gì? Gia đình cô ở đâu?”. Tôi quay ra thăm hỏi cô và thái độ Săm Ri cũng dịu hẳn đi, cô nói cho tôi biết tình hình gia đình, về mẹ, về các em cô. Rồi ngày chiều hôm ấy, Săm Ri dẫn tôi về nhà. Qua tiếp xúc tôi biết đây là một gia đình tốt, có khổ, có thù sâu với bọn Pol Pot. Dần dà gia đình Săm Ri trở thành cơ sở của đơn vị trinh sát… Đó, chuyện chỉ có như vậy…


Dũng không nói gì thêm nhưng tôi cảm thấy như câu chuyện không hẳn chỉ có vậy. Đồng chí nhà văn chớp chớp mắt liên hồi khi nghe Dũng kể và anh gầm ghè muốn nói câu gì đó nhưng lại thôi. Tôi nhìn cô gái Campuchia và cố tìm ra câu nói vui vẻ:

-Này, Săm Ri lớn hung rồi, bao giờ thì Săm Ri lấy chồng?

Săm Ri nghe dịch lại lời tôi, lập tức cô liếc mắt về phía Dũng rồi trả lời. Lê Vân cười và dịch lại:

-Săm Ri bào anh cứ hỏi anh Dũng ấy!

Câu trả lời mới dễ thương, mới ý nhị làm sao! Mặt Dũng đỏ ửng đến tận vành tai trong khi cả chúng tôi và bà mẹ đều cười…


Gió thổi từ biển xa loạt soạt ngoài cửa sổ đã được chống lên bằng thanh gỗ nhỏ. Nhà văn già rút cuốn sổ tay ra ghi vội mấy dòng chữ, tiếng mở giấy cũng loạt soạt trong tiếng gió. Không gian im ả thật dễ chịu rồi vang lên đâu đó tiếng động cơ máy nổ đều đều. Một chiếc xuồng máy từ từ ghé vào dưới gầm sàn. Tôi nhìn qua cửa sổ, thấy anh lính trinh sát Thư trẻ măng ngồi trên mui xuồng, khẩu M.79 chống trong tay. Trong nhà, Dũng vội vàng đứng lên…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:43 pm
Được ra giữa Biển Hồ, giữa cái mênh mang trời nước ngồi quây quần trên sạp gỗ của con thuyền lớn bên cái nhà nổi mà chủ thuyền là bác Hai-thợ máy, dưới ánh sáng xanh nhạt của ống đèn nê-ông được thắp sáng do cái máy phát điện nhỏ cũng của bác Hai, mới cảm thấy hết được hạnh phúc được sống trong tình thương đằm thắm của nhân dân nước bạn. Khi chúng tôi cùng với tiểu đoàn phó trinh sát Lê Đình Dũng làm việc xong với tất cả những cơ sở mà anh triệu tập đến theo yêu cầu của chúng tôi, đêm đã khuya, trừ một số phải trở về công tác, còn tất cả đều ngồi lại. Buổi ấy, trăng mọc muộn, đêm tối mịt mùng. Đàn thiêu thân to như loài bướm trắng ở rừng chấp chới lao vào ánh đèn rồi rơi lả tả trên mặt nước. Cá tụ tập hai bên mạn thuyền đớp mồi lũm bũm, nhưng chú cá nhỉnh hơn trái chuối, trắng lấp lánh như bạc nhảy tung lên khỏi mặt nước. Một chiếc thuyền nhỏ lướt tới, người đàn bà ngồi trên mũi, xoè chiếc s’thoong, loại lưới giống như chiếc quạt giấy khổng lồ, vớt cá, mỗi mẻ được hàng cân. Chú bé ngồi sau thuyền nghển đầu nhìn chúng tôi, toét miệng cười.


Đêm Biển Hồ mới yên tĩnh làm sao. Tiếng đàn ca có lẽ từ một chiếc đài thu thanh bán dẫn nào đó vẳng tới. Thời gian như ngưng đọng lại, chẳng rõ hôm nay ngày mấy, thứ mấy và lúc này mấy giờ rồi? Bọn khách phương xa có tôi, đồng chí nhà văn già và Lê Vân. Chủ nhà là bác Hai-thợ máy, bác chỉ ngồi nhấp nhổm một lát rồi lại luồn ra phía nhà bè. Gia đình bác, gồm cả vợ và ba đứa con cũng được đơn vị trinh sát của Dũng cứu khỏi những nhát cuốc độc ác của Pol Pot trong đợt truy quét hồi tháng Tư năm ngoái ở vùng nam Biển Hồ, bắc Pua Sát. Có thể nói chỉ chậm giây lát, vợ bác vốn là người Việt Nam và cả bác nữa, một người dính líu đến Việt Nam đã bị lính Khơ-me đỏ chôn sống. Đến bây giờ bác vẫn không hiểu sao bọn Pol Pot lại thâm thù người Việt và những người Campuchia có cảm tình với Việt Nam đến như vậy? Suốt bốn năm qua, vợ bác cố giấu tung tích, không dám hé môi nói một từ Việt mới trốn thoát, mặc dù lúc nào chúng nõ cũng nghi ngờ, cũng rình mò, theo dõi. Còn bác, bác dại dột khai thật là thợ máy nổ, những tưởng mình là công nhân ắt sẽ được cảm tình với những kẻ xưng là cộng sản. Nào ngờ chúng nó lại thâm thù bác, thâm thù cả giai cấp công nhân? Nó đày ải bác và đối xử với bác như một kẻ nô lệ-còn quá hơn nữa, như một con vật. Đến bây giờ chính bác cũng như nhiều người trí thức Campuchia mà tôi được tiếp chuyện vẫn không giải thích nổi tại sao thằng Pol Pot lại thâm thù những người nắm được khoa học kỹ thuật đến như vậy? Nó chỉ nhằm vào lớp người đó mà thủ tiêu trước hết. “Thật là một tên điên khùng!”. Những nhà tri thức Campuchia nhún vai kết luận. Còn bác Hai-thợ máy thì bảo nó là một thằng phản động nhất thế giới. Một tên phản phúc nhất thế giới. Nó đã phản bội những người anh em Việt Nam, nó đã phản bội anh em đồng chí của nó, nó đã phản bội cả dân tộc nó, họ hàng cha mẹ nó…


Cùng ngồi lại với chúng tôi đêm ấy ngoài mấy đồng chí bộ đội Việt Nam như Dũng, Thư, anh lái xe Lại Như Thầm và Hóa, đội trưởng đội đánh cá của Bộ tham mưu Mặt trận, còn có ba người chủ thật sự của Biển Hồ, ba cô gái. Săm Ri mà chúng ta đã biết vẫn mặc bộ đồ Việt mà cô ưa thích, chiếc quần bằng vải thun đen nhánh, áo sơ-mi hoa trắng, người mảnh mai và trắng trẻo càng về đêm càng giống một bông hoa nhài. Bên cô, Su Ri La hội trưởng hội phụ nữ phum Kơ Nia Chơ Năng này. Cô ngồi hơi nghiêng người, một tay chống trên sạp thuyền và bao giờ mặt cũng hơi cúi, đôi mắt thỉnh thoảng lai ngước lên nhìn người đang nói rồi lại cúi xuống cười. Su Ri La đã ngoài ba mươi, vận sà rông màu xanh lam, áo sơ mi bồng vai và tóc búi sau gáy. Cô cũng đẹp, sắc đẹp đến độ chín như trăng mười sáu. Chúng tôi ngậm ngùi khi được biết chồng và ba đứa con của cô đều bị Pol Pot giết hết. Hiện nay cô sống một mình với người em gái vừa đánh cá vừa làm nghề may. Ngồi trước mọi người, Su Ri La tỏ ra biết nói chuyện, lối nói riêng của phụ nữ. Nghĩa là cô khôngnói nhiều, khôngnói hết câu; nụ cười, khóe mắt và cả dáng ngồi thay cho tất cả và chúng có sức hấp dẫn thiệt kỳ lạ khiến cho buổi nói chuyện tuy không rôm rả nhưng cứ lắng đọng lại, lắng sâu, rất sâu trong lòng người.
Còn Su Va Chăn, cô thứ ba ngồi phía phải Săm Ri, vóc người nhỏ lại mặc chiếc áo hoa xanh biếc. Thoạt đầu tôi cứ ngỡ cô còn ít tuổi, khoảng mười sáu, mười bảy gì đó, sau mới biết cô đã có chồng con và tất cả đều bị đập chết dưới thời Pol Pot. Trên đất nước đau thương này, đàn bà goá quá nhiều, mười người mà tôi gặp thì đến chín người có chồng bị giết hại đến nỗi mỗi khi nói chuyện với họ, tôi không dám nhắc đến chuyện chồng con. Và ở đây, người ta đã có câu ca: “Mêmai kò sarây” nghĩa là “đàn bà goá cũng là đàn bà” cũng như “cơm nguội cũng là cơm”.


Su Va Chăn không phải người vùng này nhưng cô rất thuộc Biển Hồ. Đã bao lần, chính cô dẫn đường cho đơn vị trinh sát của Dũng đi truy quét địch. Cô sống với bà dì ở sát chợ Xiêm Riệp và chiều nay nghe tin Dũng đưa chúng tôi ra đây, cô liền đi theo. Gần như cô là “người nhà” của tiểu đoàn trinh sát mặt trận Xiêm Riệp này. Cô gái ngồi im lặng, không tham gia vào câu chuyện. Dáng ngồi và gương mặt trầm mặc của cô gợi lên vẻ chịu đựng và nhẫn nại làm đau lòng mọi người. Ôi người con gái Campuchia đáng thương và đáng mến, mãi mãi chẳng có ai có thể quên em! Tôi nhớ lúc gần sáng, khi Dũng kể lại những chuyện tổn thất trong chiến đấu làm mọi người phải rưng rưng nước mắt thì chính cô Su Va Chăn cùng với Săm Ri là người khóc nhiều nhất mặc dù với tiếng Việt các cô chỉ hiểu lõm bõm nhưng các cô nhìn mặt người kể mà đoán biết tất cả. Mọi sự cách biệt của ngôn ngữ đã tan biến đi khi tất cả chúng ta đều hết sức thông cảm với nhau, cùng chung một kẻ thù như nhau…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:58 pm
Mười giờ đêm, một chiếc thuyền nhỏ của đơn vị đánh cá đến đón Hoá, đội trưởng của họ. Đơn vị của Hóa đang làm nhiệm vụ cung cấp một phần lương thực thực phẩm cho bộ đội toàn tuyến. Họ đánh cá, phơi cá rồi gửi đi các sư đoàn, trung đoàn, lên các chốt tiền tiêu. Mặc dù anh em đã rất cố gắng, mấy tiểu đội mà chúng tôi đã đến thăm chốt trên sát biên giới cũng chỉ được mỗi bữa hai miếng cá khô nấu với nước lõng bõng trong cái soong nhôm quân dụng. Đường vận chuyển khó quá, nhất là về mùa mưa, phương tiện xe cộ lại thiến thốn. Các chiến sĩ cũng rất hiểu nỗi khó khăn đó; họ hiểu khi họ nắm chốt ở nơi đây thì Hoá và đồng đội của anh đang phơi mình giữa khoảng trời nước bao la này mà làm cá. Cuộc sống của họ chẳng có gì khác ngoài trời và nước, chung quanh là cá, những con cá tra, cá lóc, cá ướp muối, phơi khô gửi cho các chiến sĩ. Họ cố gắng tự túc phần nào để bớt gánh nặng cho hậu phương, cho Tổ quốc.


Đội trưởng Hoá ngồi nán thêm với chúng tôi ít phút rồi đứng lên cáo biệt. Anh phải đi gấp có công tác cần. Hoá kéo Thầm, cậu lái xe và Thư, chiến sĩ trinh sát thì thầm điều gì đó rồi anh nhảy xuống thuyền nhỏ đứng đợi. Thầm quay vào và còn cố hát cho xong bài hát lúc nãy vừa bị cắt ngang. Thầm hát bài hát của người lính lái xe Trường Sơn. Anh hát không hay nhưng có sức rung động và bài hát đã đưa chúng tôi về những năm chống Mỹ ác liệt, con đường chạy dọc thân hình Tổ quốc với những cua, những ngầm, và những cô gái mở đường, những đoàn quân ra trận…


Hát xong, Thầm ngửa cổ hút hết chén chè đường vẫn dành cho anh từ đầu rồi đứng lên theo anh đội trưởng đánh cá. Chiếc thuyền cởnì đám sáng chui tọt vào bóng đêm sâu thẳm. Và chỉ hưn nửa giờ sau nó quay trở lại Thầm và Thư lễ mễ bưng lên mỗi anh một soong quân dụng: một soong cháo cá và một soông đựng con lá lóc nướng khá to. Sau này tôi mới biết đó là quà tặng của đội đánh cá. Đơn vị của Hoá chốt cách đây non năm cây số đường nước. Buổi tối khi Hoá tới chỗ chúng tôi để làm việc thì ở nhà anh em đã chuẩn bị món quà thiết thực này cho khách. Hoà rất thèm được ngồi lâu với chúng tôi, được nghe chúng tôi nói chuyện về tình hình Tổ quốc và nhất là được nhờ chúng tôi chuyển những suy nghĩ chân thành của anh em về nước. Song tiếc rằng anh phải đi ngay sau khi làm việc, anh có điện khẩn của Bộ tham mưu phải đi làm công tác đặc biệt ngay trong đêm. Tôi nghiệm ra ở nơi xa Tổ quốc này, mỗi anh em đều có những tâm sự riêng muốn được giãi bày, được giải thích, được lắng nghe cho thật chính xác với một sự thông cảm rất bình đẳng và thoải mái…


Khoảng này vào quá nửa đêm. Mấy bao thuốc lá Sa-mít mà Thầm bỏ ra đã bị hút hết. Chai rượu thuốc Campuchia của bác Hai lấy trong rương ra khi có hai soong cá của Hoà gửi biếu cũng đã vơi quá nửa. Tất cả chúng tôi đều không biết uống rượu, nhất là thứ rượu mạnh này nên mới nhấm nháp tí chút mà ai cũng ngà ngà say. Chúng tôi nâng chén chúc mừng hai tổ quốc Việt Nam và Campuchia, chúc sức khỏe lẫn nhau. Có tiếng trẻ sơ sinh khóc oe oe từ căn nhà bè. Vợ bác Hai mới ở cữ hôm qua, một đứa con trai ra đời trên Biển Hồ, đứa con chung của hai dân tộc. Lại nâng chén chúc mừng hạnh phúc đang tái sinh của bác thợ máy nổ. Bác cười khà khà, nói tiếng Việt chưa sõi: “Sướng quá, sướng quá. Bốn năm Pol Pot đâu có được như thế này, đâu được ngồi với nhau vui vẻ như thế này. Nó chỉ có giết và giết thôi. Không có chú Dũng thì cả nhà tôi cũng chết hết cả rồi… Chú Dũng làm con rể Campuchia đi, chú lấy vợ Campuchia đi. Ai cũng bằng lòng hết, cả cái dân Biển Hồ này ai cũng thương chú mà, có phải không Săm Ri?… Tôi cũng lấy vợ Việt Nam mà, hà hà…”. Bác Hai ngả người ôm choàng lấy anh cán bộ trinh sát Việt Nam, cười nấc lên. Săm Ri xấu hổ chui vào lưng Su Ri La nhưng đôi mắt càng về đêm càng long lanh dán vào khuôn mặt của Dũng. Anh tiểu đoàn phó trinh sát ngồi lọt giữa đám người, anh chỉ mặc chiếc áo lót bằng sợi trắng ngắn tay, cả da mặt, cổ và hai cánh tay trần đỏ hồng lên vì ngấm rượu.


Dũng nghiêng người đỡ hai tay bác Hai thợ máy. Anh không cười, mặt lạnh đi, lừ đừ nhìn chai rượu màu nâu sẫm đặt trước mặt:

-Tôi cám ơn tấm lòng của bác Hai, lâu nay bác vẫn vun vén cho hạnh phúc của tôi với Săm Ri. Tôi cám ơn bác vô cùng… nhưng bác Hai ơi, sự đời bây giờ không đơn giản như hồi bác cưới bác gái mặc dù bác là người Khơ-me và bác gái là người Việt. Cuộc đời bây giờ phức tạp hơn trước nhiều… Kìa anh Lê Vân! Kìa bác, kìa anh! Sao không uống đi… Chúng ta đêm nay uống chén rượu của bác Hai và chúng ta sẽ nói với nhau những chuyện tâm sự thầm kín nhất…

Lê Vân nâng ly rượu, gắm nó bằng đôi mắt đỏ kè:

-Rượu đêm nay sẽ làm cho tâm hồn ta thêm trong sáng, đồng chí Dũng ạ. Tôi không biết uống rượu nhưng đêm nay tôi sẽ uống với đồng chí. Đồng chí là người lính trinh sát còn mình là lính cơ quan lại có máu làm thơ, nên chí chúng ta có thể hợp nhau và cùng uống với nhau…

-Tôi rất tán thành ý kiến của Lê Vân. Hãy làm cho tâm hồn chúng ta mãi mãi trong sáng. Chúng ta hãy cạn chén, cạn ly chúc hạnh phúc đang hồi sinh cho các bạn Campuchia ngồi đây. Chúc hạnh phúc của Su Ri La, của Săm Ri, của Su Va Chăn, của bác Hai… Ủa, bác chạy đâu rồi? Bác xuống với cậu con trai mới ra đời, hay lắm. Chúc hiện tại và tương lai của cháu bé, vị chủ tương lai của Biển Hồ…-Nhà văn già uống một hơi đến đáy ly và dốc ngược ly xuống để mọi người biết nó không còn mọt giọt-Nào, các bạn, tôi xin nói, tôi là một kẻ chịu chơi-Anh đã bắt đầu bốc lên, giọng nói vang nhưng hơi thở rung-Nào các bạn, từ nãy đến giờ tôi chưa uống, bây giờ bắt đầu uống và uống cho đến sáng. Nếu hết rượu mà rượu cũng sắp rồi, tôi sẵn sàng uống cạn nước Biển Hồ này. Xưa nay tôi chưa hề say nhưng đêm nay tôi sẽ say, nước Biển Hồ làm cho tôi say, say vì sung sướng được gặp gỡ các bạn, được ngắm không chán mắt mọi gương mặt của các bạn. Chao ôi, sao mà tôi yêu các bạn, sao mà tôi muốn khóc và nếu như tôi có khóc thì các bạn hãy mừng cho tôi. Vì ở tuổi già này còn được khóc vì tin yêu, vì xúc động khi không còn gì vui sướng hơn…


Đàn thiêu thân vẫn lao vào ánh đèn rồi rơi lả tả xuống sặp thuyền, Lê Vân khẽ khàng nhặt từng con búng ra ngoài nước. Tiếng cá đớp mồi nổi lên quanh chúng tôi mỗi lúc một nhiều, bây giờ chẳng cón chiếc thuyền nào đi quanh vớt cá nữa. Cá Biển Hồ nổi tiếng trên thế giới về mật độ cao nhất.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:05:13 pm
Dũng nghiên người lắng nghe. Có tiếng hát vọng cổ từ một nơi nào đó vẳng tới lúc to lúc nhỏ, rất mơ hồ. Chắc hẳn từ cái máy chạy băng cát-sét của đơn vị đánh cá, đêm yên tĩnh đến nỗi cách xa năm cây số còn nghe vẳng lại. Dũng với tay cầm chai rượu rót vào đầy ly của nhà văn và anh hỏi:

-Thưa bác, năm nay bác đã sáu mươi chưa?

-Mình sáu mươi hai.

-Thế thì bố con còn thua bác hai tuổi. Từ nay con sẽ kêu bác bằng bố nhá, bác bằng lòng chứ ạ. Bố hãy kêu thằng Dũng này là con đi bố. Con còn biết một điều: bố cũng có con trai đi bộ đội như con, đúng không bố?

-Đúng. Mình cũng có một thằng con đi bộ đội, hiện nay nó cũng ở Campuchia, Dũng ạ.

-Con biết mà,-Dũng kêu lên như trẻ thơ-chỉ có những người có quan hệ ruột thịt với anh em bộ đội chúng con mới có thể đến với chúng con một cách thân thiết như bố. Mà ngay đôi mắt bố khi nhìn chúng con thì con đoán được hết. Bố cứ yên tâm rồi chúng con sẽ tìm được em con cho bố, nếu chú ấy còn ở trên mảnh đất Campuchia này thì nhất định con sẽ tìm ra…

-Cám ơn Dũng… Cám ơn… tất cả…

Nhà văn lắp bắp bởi nỗi xúc động cứ dâng lên và anh nầng ly rượu lên môi. Dũng rót một ly khác, quay sang ba cô gái:

-Nào bây giờ, anh lại chúc Su Va Chăn, chúc Săm Ri, chúc chị Su Ri La. Ở đây tôi có bố, có hai anh, có chị có hai cô em gái. Hai em và chị hãy uống chung với tôi ly này…

Anh đưa ly rượu cho Su Ri La, cô gái cười lặng lẽ đỡ ly rượu và uống một chút rồi chuyển cho Săm Ri. Hai cô gái sai chỉ nhấp môi còn bao nhiêu Dũng uống cạn. Anh đặt chiếc ly không xuống sàn thuyền, cúi người nhìn ra mặt nước bao la như thói quen nghề nghiệp. Anh ngồi thẳng lên và nói chậm rãi:

-Tôi đã chiến đấu trên mảnh đất này từ năm bảy mốt, khi ấy đơn vị của ta đóng quanh tại vùng Angkor áp sát thị xã Xiêm Riệp, phía ngoài là mình, bên trong là bọn Lon Nol. Dằng dai như vậy suốt mấy năm trời, về sau mình bàn giao lại cho quân đội Pol Pot những tưởng nó là người cách mạng thật sự. Ai ngờ mình đã đổ bao nhiêu xương máu giúp nó đánh được Lon Nol thì nó quay sang phản bội mình… Ừ thì nó ăn phải bả của thằng Tàu nên nó phản mình thì cũng được đi, nhưng nó lại phản ngay cả dân tộc Campuchia nữa. Mình chịu nỗi đắng cay một phần nhưng nhân dân Campuchia còn phải gánh chịu gấp ngàn lần. Ba triệu người bịgiết, chua chát chưa? Để cho thằng Pol Pot phản phú, dân tộc này đã phải trả giá quá đắt. Tôi chiến đấu ở vùng này lâu, tôi rất hiểu bà con Campuchia, hiểu những niềm vui và cả những nỗi đau khổ của họ. Bây giờ thằng Pol Pot đã cao chạy xa bay tít tận bên kia biên giới Thái Lan và ở đó cũng mọc lên những thằng khác, lòng dạ chúng giống nhau nhưng miệng nói có điều khác nhau. Nó bảo Việt Nam rất tốt nhưng Việt Nam nghèo quá, nếu theo Xihanuc thì cả Mỹ, cả Tàu, cả Nhật và bao nhiêu nước nữa viện trợ thừa mứa cho, chỉ cần ngồi mà ăn hàng chục năm cũng không hết của. Nghe cái luận điệu của chúng nó mà lộn mửa. Nó coi nhân dân như con lợn, chỉ nằm đấy để người ta đổ cám cho mà ăn đến béo phị ra. Nhưng đợi đấy, lúc béo thì chúng nó giết thịt ngay… Bố ạ, các anh, chị và các em có nghe lúc nãy bác Hai đã vun đắp hạnh phúc cho tôi đấy chứ? Lòng bác rất tốt mà không phải bây giờ bác mới có ý ấy đâu, tôi biết. Tôi cũng biết Săm Ri thương tôi, rất thương tôi, thật lòng thương tôi. Săm Ri là cô gái tốt nhất trên đời này mà tôi biết. Còn tôi, tôi đâu có thể dửng dưng trước mối tình của em nhưng tôi là người lính, một chiến sĩ cách mạng đang đi làm nhiệm vụ quốc tế đặc biệt. Tôi hiểu rằng trên đời này không phải chỉ có tình yêu, còn có những mục tiêu lớn lao hơn, những hoài bãi cao cả hơn… Chúng ta sang đây vì hạnh phúc của nhân dân nước bạn, chúng ta phải biết hy sinh những cái thuộc về cá nhân mình để phục vụ cho những cái chung… Chúng ta đối với nhân dân Campuchia tận tình tận nghĩa đến như vậy mọi người đều biết rõ, mà thằng địch vẫn cứ xuyên tạc, nói xấu nhằm chia rẽ chúng ta với nhân dân Campuchia…

Nhà văn già kêu lên:

-Cậu lý lẽ quá Dũng ạ. Thằng địch nó cũng hiểu tất cả nhưng chúng vẫn cứ nói xấu ta, vì nó là thằng địch. Mình thì mình ủng hộ mối tình đẹp đẽ của Dũng…

Lê Đình Dũng mỉm cười chua chát:

-Bố là nhà văn có khác, bố chỉ sống bằng tình cảm nên bố không hiểu rằng trên đời này người ta không thể giải quyết công việc bằng tình cảm được…

-Mình biết chứ, nhưng mình vẫn ủng hộ Dũng, ủng hộ Săm Ri-Nhà văn khăng khăng giữ ý kiến của mình.

-Vậy thì con xin cám ơn bố, Săm Ri cũng cám ơn bố phải không em Săm Ri?

Cô gái Campuchia chỉ ngước nhìn anh cái nhìn thật đắm đuối làm xốn xang lòng người, đến nỗi Dũng không chịu nổi phải quay đi. Anh lắc đầu:

-Không, không thể được bố ơi! Con chỉ có thể coi Săm Ri như em gái con. Con đã nhiều lần khuyên Săm Ri lấy chồng đi, con cũng khuyên cả Su Va Chăn, cả chị Su Ri La hãy lấy chồng đi, hãy xây dựng lại hạnh phúc cho mình trong khi chúng con còn có mặt ở đây, chúng con được chứng kiến ngày vui của họ và mừng cho họ… Chao ơi, các anh, chị, các em ơi, tại sao người ta lại sinh ra biên giới nước này với nước kia? Để làm gì mới được chớ?… Nào mời bố, mời các bạn! Tôi uống ly thứ mấy rồi, tôi đã nói được những điều rất thật nhưng tôi vẫn tỉnh. Tôi biết ngồi trước tôi là các nhà văn, nhà thơ. Tôi rất yêu quý các nhà văn, nhà thơ. Tôi đã đọc nhiều tác phẩm của họ. Có nhiều cuốn sáchviết rất hay, rất xúc động, làm tôi rơi nước mắt nhưng nói thật cũng có cuốn viết tồi, đọc chỉ thấy bực mình vì sự bôi bác của họ… Tôi nói thật, bố đừng giận, bố nghe!

-Cậu là một độc giả đáng sợ!-Lê Vân nghiên đầu ngắm người chỉ huy trinh sát, đôi mắt anh đẫm nước.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:05:24 pm
Cả nhà văn nữa, anh lẳng lặng rút khăn tay lau mặt, nước mắt đầm đìa trên đôi gò má nhọn và gầy của anh…

-Bố và các anh chắc không biết, Lê Đình Dũng nói tiếp, đại đội Ba của tôi đã được đề nghị tuyên dương anh hùng. Nếu cấp trên chuẩn y thì đó là phần thưởng cao quý nhất của chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng đã giành được một phần thưởng cao quý nữa, đó là lòng tin yêu của nhân dân bạn. Hồi tôi dẫn đơn vị đi làm nhiệm vụ, tôi bị lạc hàng tuần lễ trong rừng không về được, nhân dân ở đây ngỡ tôi chết, nhà nào cũng bày bàn thờ, thắp nhang cúng tôi. Họ coi tôi như một người con trong gia đình mặc dù tôi chỉ là người lính Việt Nam. Chao ơi, kể sao hết tình nghĩa của bà con Biển Hồ đối với bộ đội chúng ta…

Nhà văn già nhét chiếc khăn tay vào túi áo, anh ngước lên nói bằng cái giọng nghèn nghẹn:

-Dũng hãy kể cho chúng tôi nghe chuyện Dũng bị lạc đi.

-Vâng, rồi con sẽ kể nhưng bố đừng có viết đấy. Chuyện chẳng có gì đáng viết cả…

Lúc đó, tôi nghe có tiếng máu chèo khua nước. Gần cạnh thuyền chúng tôi hai chiếc thuyền khác lặng lẽ lướt qua. Những người ngồi trên thuyền cũng im lìm bất động như những pho tượng. Dân chài Biển Hồ đã bắt đầu đi đánh cá, họ đi theo con lạch ngầm chạy qua đây…

-Vân tôi xin kể để bố và các bạn nghe-Dũng tợp một hơi cạn ly rượu vừa rót. Mỗi lần anh nâng ly là một lần Săm Ri khẽ kêu như muốn ngăn lại. Dũng lắc đầu, lấy mu bàn tay chùi miệng, nghiêng người đảo mắt theo dõi hai chiếc thuyền đang đi ngang qua, đôi mắt rất tỉnh táo và không vẩn chút hơi men. Anh ho khan một tiếng rồi nói-Vâng, tôi xin kể: Hôm ấy, Bộ tư lệnh Mặt trận lệnh cho đơn vị trinh sát chúng tôi đi điều tra một cụm quân địch mới xuất hiện ở vùng biên giới, có lẽ chúng từ Thái Lan “đánh” về. Đối với bọn trinh sát chúng tôi thì nhận được lệnh cấp trên chỉ có việc chấp hành, bất kỳ giá nào cũng phải chấp hành, và khi về đem theo một bản báo cáo đầy đủ và chính xác nhất. Hồi ấy trước mùa mưa, khắp vùng biên giới chẳng kiếm đâu ra giọt nước. Tôi nhớ hồi đầu năm trong khi truy quét địch, một cánh quân của ta đánh theo mũi vu hồi đã bị lạc vào một vùng hoàn toàn không có nước mà ngay chính dân địa phương cũng phải sợ, không ai dám bén bảng tới. Bộ đội phải nhịn khát suốt hai ngày liền, người cũng lả đi vì thiếu nước. Vậy mà lúc ấy chúng tôi phải xông thẳng vào chính nơi đó. Trong công tác chuẩn bị hành quân, thứ quan trọng nhất là mỗi người phải đeo ít nhất hai bi-đông đầy nước và chỉ được nhấm nháp khi đã rất khát không thể chịu nổi. Phân đội trinh sát đó do tôi chỉ huy, có mười bảy anh em, đến gần sát biên giới thì bị địch phục kích, bảy đồng chí bị cắt ngang đội hình rồi bị lạc phải quay trở về. Còn mười anh em khác trong đó có tôi phải đánh dập địch xuống, luồn rừng mà quay trở về, trên đường vừa đi vừa dò theo dấu vết địch. Chúng nó như loại thú rừng, thoắt hiện thoắt biến. Sáng hôm ấy chúng tôi chui vào ngủ trong một rừng cỏ tranh bạt ngàn. Khoảng trưa, địch xuất hiện, chúng nó đông quá ước chừng hai trăm tên và có lẽ đánh hơi thấy chúng tôi, chúng nó ỷ đông dàn hàng ngang càn đi quét lại trong đám cỏ tranh mênh mông ấy. Đến chiều chúng nó phát hiện được chúng tôi, chúng nó bắn quá lắm, AK, B.40, B.41 thi nhau nổ. Bọn này chắc vừa được Tàu trang bị cho nên chúng toàn đạn súng mới hết. Tôi lo quá, nghĩ phen này không khéo hy sinh lại không hoàn thành nhiệm vụ. Tôi biết thằng địch vốn đã hèn nhát, dù sao chúng chỉ là bọn tàn quân đã mang tâm lý thất bại từ đầu, vả lại chúng đang ở tình trạng sống lẻn lút, tôi hô anh em nhất loạt nổ súng xông lên. Quả nhiên bọn phỉ chạy toé ra, dạt cả xuống chân đồi. Anh em lại đánh theo lối cũ, vừa đánh vừa chạy lao vào rừng mất hút. Chỉ còn tôi lúng túng với cái điện đài hai oát và khẩu B.40 hết đạn của đồng chí vừa bị thương. Tôi thoáng nom thấy một thằng chĩa khẩu B.40 thẳng vào chỗ tôi, tôi chỉ kịp chạy lao lên ba mét rồi nằm chúi xuống. Quả đạn của nó nổ ngay sau lưng tôi, hơi nóng rát rạt khắp người. Thằng bắn B.40 lại xoay khẩu súng theo hướng mới, lần này nó định bắn chặn đầu. Tôi nhỏm dậy như sắp sửa chạy nhưng tôi lại nằm ẹp tại chỗ. Quả đạn lại nổ cách tôi không đầy ba mét, đám cỏ tranh cháy bùng lên, hơi nóng phả vào mặt tôi tưởng đến cháy sém cả đầu tóc. Tôi nhắm nghiền mắt, vuốt mặt biết mình chưa bị thương. Tôi vén cỏ tranh nhìn ra thấy tên địch đang đứng ngơ ngác, tôi nổ ngay cho nó một băng tiểu liên rồi chạy lao theo anh em, chỉ kịp thoáng thấy nó ngã sấp xuống đám cỏ. Tôi chạy được vào rừng thì không tìm thấy anh em đâu hết. Thế là tôi bị lạc đơn vị. Một thằng chỉ huy mà bị lạc bộ đội, thật mỉa mai! Tôi giúi chiếc điện đài đã hỏng và khẩu B.40 hết đạn vào bụi cây rồi lang thang đi khắp rừng tìm đồng đội. suốt đêm tôi không ngủ, cứ ngồi vểnh tai nghe ngóng, thấy hướng nào có tiếng động là mò tới hy vọng có thể gặp được anh em. Tôi không lo cho bản thân tôi, chỉ lo cho anh em, rồi lại lo không làm tròn nhiệm vụ, mặc dù khi quay về, tôi đã đặt cho anh em nhiều giả thiết, nhiều tính huống phức tạp khác nhau để từng người có thể tự động hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cấp trên giao phó. Nhưng dù sao tôi cũng là người chỉ huy, chỉ sợ anh em vì lo lắng cho tôi mà lúng túng làm lỡ kế hoạch chung… Tôi đi lang thang hết cánh rừng này qua cánh rừng khác cuối cùng vẫn không tìm ra được dấu vết đơn vị. Tôi đoán chắc là anh em đã yên chí tôi hy sinh vì mấy quả B.40 hoặc nếu bị thương thì cũng bị bắt sống, nên họ tìm đường trở về. Hoặc lúc này các cậu ấy đang chờ tôi ở địa điểm tập kết và đang nóng lòng nóng ruột vì tôi. Nghĩ vậy tôi quyết định tìm đường trở về. Thật không may cho tôi, tôi bị mất phương hướng, hoàn toàn bị mất phương hướng. Tôi bị lạc thật rồi. Làm một anh chỉ huy, lại chỉ huy trinh sát mà bị lạc thì thật xấu hổ. Tôi cứ nhằm hướng mặt trời mọc, nhằm hướng đông mà đi. Hai bi-đông nước đeo bên người đã cạn không còn một giọt. Chung quanh tôi toàn là những cánh rừng già cằn cỗi, không kiếm ra một lá rau rừng, một ngọn cỏ xanh, một đõn chuối rừng, chứ chưa nói đến một lạch nước, một con suối. Tôi đã chịu nhịn khát hai ngày và khi đó mới biết rằng trên đời này không có gì đáng sợ bằng khát nước, cơn khát như xé nát buồng phổi, hơi thở nóng như hơi lửa. Tôi đi chệnh choạng và cứ ngồi xuống là thiếp đi. Trong cơn mơ, tôi không thấy gì khác ngoài nước. Nước, nước chỉ mơ thấy nước. Nước rất trong ở các giếng khơi của làng tôi, những cô gái đi gánh nước, quần áo tóc tai mặt mũi họ cũng ướt sũng nước, còn tôi thì nhoài người, vục đầu trong nước… Nước, nước ở khắp các dòng sông mà tôi đã đi qua, trước mắt là con sông Cầu quê tôi nổi tiếng là thơ mộng vì những bài quanhọ mà đến đời tôi chẳng ai còn thuộc lấy nửa bài. Làng tôi ở sát ngay bến đò Như Nguyệt, bên kia là Yên Phong, bên nay là Hiệp Hoà. Buổi trưa nắng ong ong, chúng tôi đi cắt cỏ về qua sông bằng chiếc đò mà người chèo đò là một bà già. Chúng tôi xếp đầy những gánh cỏ lên thuyền, còn người thì bơi theo, vừa bơi vừa nô đùa ầm ĩ, khiến đàn cò trắng đang đậu trên vòm tren gần đó giật mình bay vọt lên… Biết bao dòng sông nữa lại hiện về trong giấc mơ điên loạn của tôi giữa cơn khát khủng khiếp này: sông Hồng, sông Chu, sông Mã, sông Hiền Lương, dòng sông mà đơn vị của chúng tôi đã vượt qua hồi tháng Giêng trong khi đại quân ta ào ào tiến đánh bọn Pol Pot cùng với những đơn vị bộ đội cách mạng Campuchia. Thật là quân đi như nước chảy. Dưới sông, tàu hải quân đổ lính lên bờ; trên bộ xe cơ giới, xe tăng chở ùn ùn quân kéo xuống… Chao ơi, dòng sông Mê Kông đây rồi; Chỉ còn không xa nữa chúng ta sẽ vào Phnôm Pênh, giải phóng cho nhân dân Campuchia thoát khỏi địa ngục của bọn Pol Pot. Đám lính áo đen chạy toé như kiến vỡ tổ, chúng nó vừa chạy vừa giết dân thường, xác phụ nữ, trẻ em nằm đầy đường, máu đen đặc và ruồi nhặng bu kín… Tôi mơ thấy tất cả, và lúc nào một dòng sông hiện ra là tôi mơ thấy tôi vục đầu xuống sông mà uống. Và tôi mơ trở lại Biển Hồ, tôi ngụp lặn trong làn nước đỏ hồng phù sa của biển, tất những làn nước ấy đều cuồn cuộn chảy ào ào vào miệng tôi, và chỉ loáng cái, nước Biển Hồ đã khô cạn, còn người tôi phút chốc cũng tan thành nước.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:05:36 pm
Sang ngày thứ ba thiếu nước, tôi lần đi vặt cỏ cho lên miệng nhai, một thứ nhựa chát và đắng đến khô cổ làm tôi phải nhổ vội ra. Tôi đã từng đọc sách thấy họ viết khi khát quá người ta phải đái ra mà uống. Tôi cũng đái vào lòng bàn tay và đưa lên miệng. Nhưng chưa kịp nuốt, tôi đã nôn thốc nôn tháo, nôn cả mật xanh mật vàng và cứ hễ ngửi hai bàn tay tôi lại muốn nôn. Thì ra trong sách, người ta đã nói sai, chẳng ai có thể uống được nước giải của mình, nhất là khi mình đã quá khát, người đã khô khốc đi thì nước giải chỉ còn là chút nước vàng khè, đỏ quạch như nước củ nâu lại sền sệt và khai nồng khai nặc… Tôi đi không biết đã bao ngày đêm, cứ hễ tỉnh giấc là đi. Tôi sợ sẽ bị chết khát ở dọc đường, không bò về tới đơn vị được. Một hôm tôi đang đi, bước thất thểu chỉ muốn đâm nhào đầu xuống, chợt tôi rụt vội bàn chân lên. Chỗ chân tôi vừa in xuống còn lom một vết ẩm. Tôi quỳ ngay xuống, dùng hai tay móc lên, hai bàn tay tôi ướt nhoèn dính đầy cát và đất. Tôi thu hết sức bới sâu xuống và cái hố nông choèn ấy lấp xấp nước. Tôi mừng quá, cởi phăng áo và dấn cả cái áo sơ-mi xuống tận đáy hố. Nước ngấm dần đến ướt hết áo. Tôi cầm áo lên, giơ cao và vắt, cổ ngửa miệng há thật rộng để đón lấy từng hạt nước lẫn đất cát rơi xuống. Tôi uống ừng ực, uống đến đâu tỉnh đến đó, uống đến căng bụng. Có lẽ đến hai phần ba là đất cát nên uống hết một áo nước, tôi nằm vật ra bụng như bị đá lèn bên trên, lật bền này, nó lắc bên này, lật bên kia, nó lắc bên kia. Óc a óc ách và lát sau quặn đau dữ dội. Tôi ôm bụng nằm không sao thở mạnh được, miệng cứ ngáp ngáp như con cá mắc cạn. Mãi một lúc sau cơn đau mới dịu đi, tôi không chết mà người tỉnh táo khỏe khoắn hẳn lên. Tôi lại quỳ xuống bới hố đất sâu thêm, dấn cái áo xuống vắt đầy hai bi đông nước. Bây giờ thì sống rồi; bây giờ có nước rồi tôi có thể đi đến cùng trời cuối đất để tìm về đơn vị…


Chiều hôm ấy, sang ngày thứ bảy bị lạc, tôi gặp được anh em ở giữa đường. Anh em ôm choàng lấy tôi, có cậu mau nước mắt đã khóc oà lên. Nom tôi dễ sợ quá. Người gầy rạc, tóc tai bờm xờm như người rừng. May mà gặp nhau lúc còn sớm, chứ đêm tối trông thấy tôi, anh em dễ lầm tôi với tàn quân Pol Pot mà cho luôn phát đạn. Đêm hôm đó tôi nằm lại ở đại đội. Các cậu ấy pha sữa cho uống, nấu cháo thịt gà cho ăn, rồi đun nước, cạo râu cắt tóc, tắm rửa cho tôi. Lai kể chuyện hôm ấy bị chúng nó bao vây, khi đánh dập chúng xuống và chạy lao đi, anh em yên trí tôi chạy sau. Ai ngờ khi chạy được một quãng xa, đứng lại mới biết thiếu tôi. Các cậu ấy quay lại lùng sục hết buổi vẫn không thấy đều cho là tôi vọt được về trước rồi. Anh em về tới nơi tập kết chờ tôi một ngày, hai ngày không thấy lại cho là tôi đã hy sinh. Các cậu ấy về đơn vị báo cáo đại đội, đại đội báo cáo lên tiểu đoàn rồi cho một tổ đi tìm xác tôi cũng chẳng thấy… Sáng hôm sau, tôi lên trên tiểu đoàn, tới nơi, anh Ba Chúc nhảy phóc ra ôm ghì lấy tôi. Anh ấy hôn tôi lên mặt lên mũi, miệng cười cười nói nói mà nước mắt cứ chảy ròng ròng: “Dũng ơi, chúng ta tưởng mày chết rồi. Khi nhận được báo cáo của đại đội, cả ban chỉ huy thằng nào cũng khóc vì thương mày. Chúng tao đã bàn nhau nhất định phải đi kiếm xác mày, bằng bất cứ giá nào cũng phải tìm ra. Tao còn sáu mét vải nhựa, tao sẽ lấy bọc xác mày đưa về chôn ở Xiêm Riệp để rồi nay mai đưa mày về nước… Mấy hôm này có ngày nào không có người ở Biển Hồ lên hỏi tin tức của mày, không hiểu bà con nghe ai nói mày hy sinh rồi, tao nói mày còn sống, nhất định chẳng ai chịu tin. Con Su Va Chăn nó bảo mấy hôm nay ở ngoài nhà nào cũng bầy bàn thờ thắp hương cúng mày. Săm Ri thì nằm nhà không đi đánh cá, chỉ khóc. Su Ri La cũng vậy, cả bác Hai nữa. Ai cũng khóc vì mày… Chính chúng tao đã hết hy vọng gặp lại mày, vậy mà mày lù lù dẫn xác về? Thằng quỷ, mày kể chuyện đi, tại sao lại còn sống mà lần về được hả? Kể đi!… Ô hay sao lại khóc? Thằng này lạ chưa kìa?…”. Tôi khóc vì tôi quá xúc động trước tấm lòng của đồng đội, của nhân dân đối với tôi. Nào tôi có làm được công chuyện gì lớn lao, tôi đã lập được chiến tích gì to tát để các anh, để nhân dân phải quá thương cảm vì tôi!… Tôi sang đây chiến đấu xa gia đình, xa quê hương làng xóm nhưng tôi được đùm bọc trong tình thương bao la của đồng đội và nhân dân nước bạn… Tôi khóc vì cảm động quá. Anh Ba Chúc ơi, các anh còn nghĩ đến việc đưa xác tôi về Xiêm Riệp để sau này đưa tôi về nước… Các anh lo toan cho tôi cả khi sống lẫn khi chết… Bác và các anh thử nghĩ coi có quân đội nào đi chiến đấu xa Tổ quốc mà lại được nhân dân nước bạn yêu thương và quý mến đặc biệt như vậy không?… Ngay bây giờ cả bác, cả các bạn đều khóc khi tôi nhắc lại chuyện xưa… Cám ơn, ngàn lần cám ơn những giọt nước mắt nghĩa tình của tất cả và chính nó làm cho tôi vui sướng nhưng tôi cũng rất hổ thẹn bởi vì tôi chưa xứng đáng với đồng đội của tôi… Tôi là một người chỉ huy kém cỏi, tôi chưa hơn được các chiến sĩ của tôi…


Lê Vân chồm lên, hai tay khua trong không khí, miệng nói mà đôi mắt ướt sũng làm cho khuôn mặt của anh thêm méo mó:

-Dũng, đừng có tự phủ nhận. Anh nên hiểu rằng chính những giọt nước mắt của anh em, của nhân dân và của cả bọn này nữa đã đánh giá phẩm chất của anh. Nếu như anh là thằng hèn nhát, là tên ích kỷ thì làm sao có được cảnh tượng hào hùng và xúc động như anh vừa kể. Đừng đánh giá mình quá thấp, đồng chí Dũng ạ!


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:05:46 pm
Dũng kêu lên, khuôn mặt đẹp đẽ của anh dúm lại vì nỗi đau đớn đang dầy vò trong lòng:

-Không, không, anh Lê Vân ơi! Tôi biết anh rất thương tôi, anh rất yêu mến đơn vị trinh sát của tôi và anh đã từng viết nhiều bài thơ xúc động về anh em trinh sát chúng tôi… nhưng dù sao tôi cũng không thể lừa dối anh. Tôi là một thằng chỉ huy mà tôi đã chịu bất lực trước yêu cầu chính đáng nhất của chiến sĩ của tôi. Như vậy tôi còn kiêu hãnh chút gì nữa… Tôi kể câu chuyện này để rồi tôi phải khóc, tôi phải khóc. Tôi khóc không phải vì tôi say, tôi khóc vì nỗi đắng cay trong sự bất lực hoàn toàn của tôi. Cuối năm ngoái, tôi dẫn một phân đội đi trinh sát. Gọi là phân đội nhưng chỉ có chín đồng chí cộng với tôi là mười. Khi xuất phát thì có một chiến sĩ cứ đến năn nỉ cho đi theo. Cậu ấy còn trẻ mới mười tám tuổi, người Hà Nội. Tôi chưa kịp hỏi chuyện gia đình vì cậu ấy mới bổ sung về. Mới đầ tôi không cho đi nhưng cậu ta năn nỉ quá, vin cớ mình là lính thông tin cũ biết sử dụng điện đài. Cuối cùng tôi đồng ý xếp cậu ra đi cuối đội hình phân đội. Chúng tôi hành quân hai ngày không xảy ra chuyện gì nhưng đế chiều thứ ba thì… lúc đó tôi còn nhớ rất rõ, tôi dẫn đầu đơn vị đi theo đội hình hàng dọc trên con đường mòn giữa rừng. Bỗng có tiếng mìn nổ phía sau. Tôi nghe mà giật thót người, chạy lao trở lại thì đã thấy cậu chiến sĩ điện đài của tôi nằm trong vũng máu. Trời ơi, sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy? Cả mười anh em đi không sao, cậu ấy đi cuối cùng lại bị vấp mìn? Nó bị giập nát cả chân trái, suốt từ đùi trở xuống máu chảy như xối. Tôi biết tình thế này không còn hy vọng gì nữa rồi. Tôi bế xốc cậu ấy lên vừa lay vừa gọi: “Tuấn ơi, tỉn lại đi em. Em có nhắn gì về gia đình không em. Em có người yêu chưa em? Em tỉnh lại đi. Em nhắn lại cho anh. Em nhắn bố, nhắn mẹ điều gì không em? Em nói đi, Tuấn ơi!”. Thằng bé tỉnh lại chỉ một mực lắc đầu, thềo thào: “Không, em không nhắn gì đâu, em còn trẻ quá, em mới hết tuổi mười tám. Em muốn sống…”. Trời ơi, trước sau cậu ấy chỉ yêu cầu tôi có một điều duy nhất là làm sao cứu sống được nó. Cậu ấy tin rằng tôi đủ khả năng làm công việc đó. Đã là người chỉ huy thì không thể bất lực trước yêu cầu chính đáng của chiến sĩ. Ôi, em Tuấn ơi, hôm ấy nếu như anh chết đi mà cứu được em thì anh sẵn sàng chết ngay để cho em được sống. Em còn trẻ quá! Tại sao anh lại đồng ý cho em đi theo để em phải hy sinh? Đó là lỗi của anh. Vậy mà khi em bị thương nặng, em chỉ yêu cầu anh cứu được em mà anh hoàn toàn bất lực! Anh không làm gì được hết… Anh cũng không kịp thăm hỏi gia đình em, bố mẹ em… Thế rồi Tuấn chết trên đôi tay tôi, anh Lê Vân ơi! Thằng bé mới đẹp làm sao, mặt nó đẹp, cả người đều đẹp… Vậy mà nó phải chết, chết rất bất ngờ ngay trên đôi tay đây này… Tôi là người chỉ huy giỏi sao được, tôi tháo vát và tài năng ư? Tổ quốc, nhân dân đã giao phó cho chúng tôi những thanh niên đẹp đẽ như thế mà tôi không có cách chi bảo vệ được cho họ, vậy thì tôi còn xứng đáng làm sao được đối với trách nhiệm của tôi… Bộ đội chúng ta hy sinh như thế đó! Anh có về nước thưa lại với đồng bào, chúng tôi, những người con Việt Nam đã sống và chiến đấu như thế đó... Tôi khóc đêm nay không phải vì tôi say đâu. Tôi khóc những chiến sĩ đã hy sinh vì danh dự của Tổ quốc, vì phẩm chất của con người… Tôi khóc… bác khóc, các anh, các chị, các em đều khóc.. Những giọt nước mắt rơi xuống Biển Hồ đêm nay không phải là những giọt nước mắt ươn hèn…


Lê Vân nhoài người về phía Lê Đình Dũng, gần như ôm lấy Dũng và anh nói với giọng thật tỉnh táo:

-Cám ơn đồng chí thân yêu của tôi, anh đã làm cho tôi chấm dứt được nỗi day dứt nó gậm nhấm tâm hồn tôi suốt bao tháng nay. Bao lâu nay tôi tự nguyện dấn thân với cuộc sống chiến sĩ, tôi tự nguyện hết lòng phục vụ anh em nhưng cho tới nay chính đồng chí, chính Dũng đã làm cho tôi thêm rất nhiều sức mạnh để tôi tiếp bước con đường đi của tôi. Chao tôi tôi tự hào về đồng đội của chúng ta. Tôi vô cùng cám ơn đồng chí, vô cùng cám ơn tất cả đồng đội thân yêu của tôi…


Hai người cứ ôm ghig lấy nhau… Họ hôn lên mặt nhau, lên đôi mắt còn đẫm nước của nhau… Tất cả nhìn họ, miệng ai nấy đều cười nhưng tất cả những đôi mắt đều rưng rưng…

Chỉ có nhà văn già ngồi bên tôi cứ gục xuống không nhúc nhích, tưởng như mái đầu anh quá nặng, anh không còn sức để cất lên được. Mãi mãi anh mới ngẩng nhìn mọi người. Suýt nữa tôi bật kêu, mặt anh già hẳn đi đến phát sợ, môi mím chặt và đôi mắt ráo hoảng. Anh nói rất từ tốn, giọng khàn khàn:

-Các bạn, đêm nay người đau khổ nhất là tôi và người vui sướng nhất cũng là tôi. Thôi hãy cho qua những nỗi đau, tôi muốn nói về niềm vui sướng. Tôi đã sống quá sáu mươi năm, tôi đã viết trên ba mươi năm. Và suốt từng ấy năm trời, tôi mong ước, tôi chờ đợi một con người đầy đủ nhất và hoàn thiện nhất đối với tôi, chỉ riêng với tôi thôi, cho mãi hôm nay tôi mới gặp được. Người đó là ai đây? Là đồng chí Dũng? Là Lê Vân? Là Thầm? Va Su Chăn, là Săm Ri hay Su Ri La? Và cả bác Hai chủ nhà ở đây? Phải mà cũng không phải là ai hết… Tôi sang đất nước Campuchia đau thương đang hồi sinh này, tôi đã chứng kiến những tội ác khủng khiếp nhất của bọn giết người, tôi đã được gặp những người Campuchia còn sống sót những trí thức ở Phnôm Pênh, những nhà sư, những cán bộ lãnh đạo cũn như bao nhiêu dân thường… Và điều quan trọng, tôi đã nói chuyện với anh em bộ đội ta từ các chốt biên giới đến những đơn vị làm công tác xây dựng lại cuộc sống bình thường. Tôi đã ở thủ đô Phnôm Pênh, ở U-đông, ở Công Pông Chơ Năng, ở Xiêm Riệp và cả ở Biển Hồ này, tôi đã tiếp xúc với các anh trên Bộ tư lệnh, được dự những cuộc nói chuyện với anh em chiến sĩ.


Tôi đã gặp các bạn, ở đâu tôi cũng gặp các bạn, mỗi người một mảnh cuộc đời, một mảnh sự sống, những điều bi thảm, những sự tích hào hùng, những vẻ lạc quan, v.v… Đó là niềm vui sướng vô cùng của tôi, niềm vui sướng cực kỳ của tôi… Nhưng các bạn ơi…-Anh quì hẳn lên, hai tay chắp trước ngực như kẻ nguyện cầu, mặt ngửa lên-Các bạn ơi, tôi đã tìm thấy được niềm vui sướng vô bờ nhưng đồng thời tôi lại thấm thía một nỗi khổ đau không thể nào tả xiết được. Đó là sự bất lực của tôi, một sự bất lực hoàn toàn bởi tài năng của tôi so với những người tôi đã gặp thì quá chênh lệch. Tôi biết tôi không thể nào viết được những trang sách thật đằm thắm tình người như những điều mà các bạn đã dành cho tôi… Tôi là kẻ đáng thương hay đáng trách?…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:06:00 pm
Bây giờ chính Dũng lại an ủi nhà văn, an ủi như dỗ dành:

-Bố ơi, bố đừng quá bi quan về tài năng của bố. Con biết là bố có một tấm lòng, mà đã có tấm lòng thì chắc chắn bố sẽ viết được. Con, thằng Dũng này tin là bố viết được mà…

-Cám ơn Dũng… cám ơn các bạn-Nhà văn khẽ thở dài…

Tôi không rõ mọi người giải tán vào lúc nào. Tôi chỉ nhớ loáng thoáng có lẽ khoảng gần sáng. Dũng vẫn rất tỉnh táo mặc dù anh uống mấy ly rượu, anh lấy thuyền đưa ba cô gái về tận nhà. Khi anh quay trở lại, chúng tôi đã nằm tất cả trên sạp thuyền nhưng vẫn chưa ai ngủ. Dư âm của câu chuyện làm chúng tôi thao thức, cứ nằm im lặng nghe những âm thanh huyền diệu của Biển Hồ về đêm. Mùi mắm tôm từ đâu theo gió thoảng tới, cái mùi mặn nồng và béo ngậy cứ lùa vào khứu giác. Tiếng mái chèo khua nước vẳng lên nhè nhẹ. Thuyền đánh cá ra đi mỗi lúc càng nhiều, những con thuyền lướt qua sát chân tôi… Và khi tôi ngóc đầu nhìn lên bỗng giật mình thấy mặt hồ vàng rực, màu vàng của sơn mài lênh láng trên mặt nước, ánh vàng lan cả vào nơi tôi đang nằm. Trăng đã lên, mặt trăng hạ tuần méo mó hiền hiện như treo lơ lửng trên sóng nước…


Lê Vân ngọ nguậy đầu rồi ngồi hẳn dậy. Anh nhẹ nhàng bò ra mạn thuyền, đốt thuốc và ngắm trăng. Cái đêm sâu thẳm không tài nào gọi được giấc ngủ tới. Tôi cũng muốn ra ngồi mạn thuyền với Lê Vân nhưng tôi kìm ngay được. Tôi không muốn làm khuấy động suy nghĩ của anh, có thể một bài thơ hoặc một bản trường ca đang hình thành từ đây… Tôi cứ nằm mà ôn lại tất cả mọi hình ảnh, mọi vẻ mặt, mọi câu chuyện xảy ra từ tối hôm trước. Tôi muốn ghi chúng thật kỹ lưỡng trong ký ức với hy vọng sẽ có thể kể lại cho bè bạn cùng nghe và cùng hưởng cái đêm kỳ diệu giữa Biển Hồ này. Nhưng làm sao có thể kể lại được?


Lê Đình Dũng bước lên thuyền, anh vấ phải một bóng người đang ngồi thu mình bên bánh lái. Anh hỏi:

-Bố chưa ngủ sao bố?

Nhà văn già vẫn im lặng. Dũng lại muốn an ủi người già:

-Câu chuyện của con đã làm bố mất ngủ? (nhà văn lắc đầu). Hay bố nhớ em con? Con hứa với bố, con sẽ tìm ra chú ấy cho bố.

-Dũng đừng tìm nữa-Nhà văn thì thào-Mình đã gặp rồi.

-Vậy sao bố? Bố gặp chú ấy ở đâu?

-Mình gặp nó trong câu chuyện của Dũng đấy!

-Trời ơi!-Dũng ngồi thụp xuống, ôm lấy vai ông già-Thật sao bố? Chú ấy đấy ư, bố! Trời ơi, sao lại có thể như vậy được?… Sao con lại vô tâm, vô ý đến thế?… Trời ơi, con thườn bố vô cung. Bố ơi, có đúng là em con đấy không?

-Khẽ chứ cho anh em ngủ-Nhà văn nắm lấy cánh tay của Dũng-Có thể là nó mà cũng có khi không phải. Thôi ta đi ngủ Dũng ạ. Ngày mai chúng ta còn ra xa nữa phải không? Ngày mai còn bao nhiêu việc cần làm. Đi ngủ thôi…

Anh tiểu đoàn phó trinh sát vẫn suýt xoa:

-Trời, con không ngờ. Con thương bố vô cùng… Tại sao lại thế nhỉ?…

Hai người dìu nhau vào chỗ nằm, họ im lặng hay cố giữ im lặng. Ánh vàng ngời ngợi của trăng đếm đã rút dần khỏi sạp thuyền. Bóng đêm sẫm lại nơi chúng tôi đang nằm. Ngoài kia trăng muộn mằm vẫn nhuộm vàng những căn nhà sàn đứng lẻ loi, lênh khênh và im lìm trên mặt nước…

Đêm yên tĩnh một cách kỳ lạ, ôi cái đêm Biển Hồ…


Tháng 5 năm 1980


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 22 Tháng Năm, 2008, 10:59:31 pm
Cái chết của Bun Thon

Lê Huy Khanh


Trận đánh đã kéo dài gần hai giờ. Bọn địch chống cự rất ngoan cố. Nhưng cuối cùng quân cách mạng đã lọt được vào cứ điểm của địch. Tù binh bắt được khá nhiều. On-kun cho trói từng tên một và dong ngay về phía sau. Anh tiếp tục dẫn đại đội thọc sâu vào khu trung tâm. On-kun và đồng đội chạy băng băng trên những đống gạch vữa nát khét lẹt. Không còn thấy bóng dáng một tên địch nào cả, On-kun hơi ngạc nhiên: nhưng anh vẫn cho đội hình vượt lên bao vây căn nhà của bọn chỉ huy nằm chính giữa hai cứ điểm. Căn nhà này có một bờ tường đất bao quanh cao đến ngang cửa sổ. Bỗng một loạt đạn đại liên xối xả quét một vệt dài, làm cho đội hình của đại đội On-kun phải chững lại. On-kun vội vã nép mình vào một mảng tường nham nhở và đưa mắt quan sát: các chiến sĩ của anh đã nằm cả xuống sau những vật che đỡ. Lại một loạt đạn đại liên nữa quét sạt trên đầu anh. Đạn găm xuống trước mặt anh chiu chíu, bụi mù. On-kun đã phát hiện được luồng đạn của địch bắn ra từ khe hở của một bức tường đổ nghiêng, một đầu còn ghếch lên một bức tường khác, trông van vát như mái nhà. Anh khoát tay ra hiệu cho đồng đội của mình tiếp cận địch. Anh cũng lợi dụng một mảng tường đổ trước mặt để tiếp tục trườn lên. Đạn địch vẫn găm từng loạt rất ngắn, chúng bắn khá chính xác. Có thể vì địch sắp hết đạn, nên chúng phải bắn dè sẻn. Nhưng nó cũng chứng tỏ rằng bọn này sẽ chống cự đến cùng, và đã có kinh nghiệm tác chiến. Vì bị che khuất không nhìn thấy tụi địch ở trong nhưng On-kun dự đoán; có còn nhiều lắm cũng chỉ vài ba tên. Anh cho bộ đội khép chặt thêm vòng vây và gọi địch ra hàng. On-kun bắn một loạt AK vào bê cạnh khung cửa sổ có chắn song sắt đã sụm xuống, cong queo. Súng địch im bặt một lát. Anh gọi vọng vào:

-Bọn quan thầy Trung Quốc đã cuốn gói. Pol Pot-Ieng Sary đã tháo chạy rồi. Hãy trở về với nhân dân!

Một loạt đại liên từ trong khe tường bắn vụt ra để trả lời anh. On-kun bình tĩnh và thầm nghĩ: bọn này định lợi dụng địa hình để cố thủ đây! Bộ đội vẫn tiếp tục áp sát mục tiêu. Địch bắn liên tiếp từng chập dữ dội hơn. On-kun hạ lệnh cho một chiến sĩ đang trườn bên cạnh anh ném hai trái lựu đạn vào chân tường, ngay dưới cái khuôn cửa sổ bẹp dúm để uy hiếp địch, tạo thời cơ cho từng mũi có thể phát triển thuận lợi. Súng địch bỗng im bặt. Chúng đã bị tiêu diệt, hay chúng giả vờ hết đạn để chờ cho ta đến thật gần rồi bất ngờ phản công? Dù sao chăng nữa, On-kun vẫn phải thận trọng cho bộ đội triệt để lợi dụng các mảng tường tiến lên. Vừa trườn đi, On-kun vừa kiên trì gọi:

-Ngoan cố là tự giết mình, ra hàng đi. Mặt trận và nhân dân sẽ cho về sống với gia đình!

Tiếng anh vừa dứt thì một loạt đạn đại liên lại nổ rền. Nhưng lần này đạn vãi bừa bãi và bay rất cao, chứng tỏ bọn chúng đã hoảng hốt. Điều kiện đã cho phép đại đội anh tiêu diệt cụm hoả lực cuối cùng này của địch một cách dễ dàng. Chỉ cần hai trái B.40 thì căn nhà xiêu vẹo đó sẽ bốc cháy và sụp đổ hoàn toàn. Bọn địch sẽ không còn đường nào chạy thoát nữa. Mặc dù cơn giận dữ đang sôi sục trong lòng, nhưng On-kun vẫn cố nén lại. Anh đưa tay lên làm loa định gọi tiếp thì có ba tên lính Khơ-me đỏ mặc quần áo đen xịt, đeo túi, xách AK, từ trong khe hở của bức tường đổ lao ra. Cả ba tên đều nhớn nhác và chạy thục mạng về phía căn nhà chỉ huy. Vì hết đạn chúng phải vứt bỏ cả súng đại liên. On-kun cùng đồng đội lao lên đuổi theo bọn chúng. Cả trận địa vang dậy tiếng hô:

-Đứng lại! Giơ tay lên!

Và từng loạt đạn AK nổ giòn bao lấy ba tên địch để uy hiếp chúng. Bỗng On-kun phải chững lại, nhanh chóng nép mình vào một mảng tường thấp lè tè, lở loét. Tên lính “K đỏ” có bộc tóc ngắn lợp cợp, thân hình cao lớn với cái lưng gù đã quay lại, giương súng lên bắn anh. Nó vừa giật lùi vừa bắn, mấy viên đạn quét sát đầu anh, gạch vừa rơi lốp bốp. On-kun đứng nghiêng người, quay đầu nhìn tên địch trừng trừng. Anh cũng giương súng lên định bắn một băng để bắt chúng dừng lại. Thốt nhiên mũi súng của anh chúi xuống và ngón tay anh không xiết vào vòng cò nữa. On-kun thét lên, giọng lạc hẳn đi:

-Bun-thon! Đứng lại, Bun-thon!

Tên lính cao lớn, lưng gù có cái tên là Bun-thon cũng chững lại ngẩng đầu lên. Hắn và On-kun nhìn nhau. Bun-thon đưa một bàn tay huơ huơ lên trời trông ngỡ ngàng và vụng về. Rồi đột nhiên hắn quỳ xuống bắn như điên dại vào mảng tường mà On-kun đang đứng nép mình ở đó để nhìn hắn. Sau đó hắn đứng dậy lảo đảo, loạng choạng chạy bổ về phía sau. On-kun thoáng có một cảm giác vừa tức giận vừa thương hại ba cái bóng đen đang cố tình chạy trốn trước mắt anh. Anh bật dậy, hô lớn:

-Xung phong! Đồng đội theo anh ào lên. Ba tên địch đã tụt vào một căn hầm cố thủ bằng bê-tông cốt sắt nửa chìm nửa nổi. Từ trong đó chúng lại bắn ra để cản đường tấn công của đại đội On-kun. Nhưng vòng vây đã khép chặt rồi. Từ chỗ On-kun nằm tới cửa hầm ba tên địch vừa chui vào chỉ cách nhau một khoảng rất gần, đến nỗi anh có thể nhẹ nhàng tung từng trái thủ pháo vào đó mà không sợ rơi chệch. Nhưng On-kun vẫn không muốn tiêu diệt chúng. Anh muốn cứu vớt chúng. Vả lại, theo dự đoán của anh đây là những tên chỉ huy, có thể sẽ có rất nhiều điều cần khai thác. Từ lúc gặp Bun-thon thì ý định ấy càng được củng cố trong đầu anh. On-kun nói to để nhắc nhở đồng đội của mình:

-Toàn đại đội bao vây chặt, gọi địch ra hàng, chú ý tránh đừng để thương vong vô ích.

Các chiến sĩ làm theo mệnh lệnh của anh. Mấy tổ xung kích vận động lên chiếm căn hầm và bắt tù binh nhưng đều bị chúng cản lại. On-kun ném một trái thủ pháo vào sát miệng hầm,làm cho súng địch câm bặt. Khói thủ pháo chưa tan hết On-kun đã gọi:

-Bỏ súng xuống ra hàng sẽ được đối xử tử tế… Bun-thon ơi, ra hàng đi! Người đang gọi mày là On-kun đây, mày có nhận ra không?


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 22 Tháng Năm, 2008, 11:00:21 pm
Bun-thon nhô đầu lên khỏi công sự. Một lần nữa hắn lại nhìn On-kun trừng trừng, đôi mắt hắn lấc láo và long lên dữ tợn, nét mặt hắn cau có, lộ vẻ tức tối, nghi ngờ và tuyệt vọng. On-kun đưa tay vẫy:

-Bun-thon! Ra đi, sẽ không ai giết mày đâu. Mày bị lừa dối đấy, mày có biết không? Mày còn tin tao không?…

Bun-thon cắn chặt vành môi một lúc, rồi miệng hắn mấp máy như muốn nói một điều gì đó. On-kun giục nó:

-Còn chần chừ gì nữa, ra hàng đi, vợ con mày đang đợi mày đấy!

Bun-thon nắm tay đấm lên trán, đấ lên ngực mấy cái nghe bồm bộp. Mặt hắn lắc qua lắc lại mấy lần. Hắn tụt xuống, giương khẩu AK lên nhả đạn điên dại hơn lần trước về phía On-kun. Một chiến sĩ nằm bên cạnh anh nói:

-Nó không chịu ra hàng đâu, cho tiêu diệt thôi, đại đội trưởng ơi!

-Ừ. Nhưng điều đó thì dễ quá rồi…

Câu nói của anh bị cắt ngang bởi tiếng thủ pháo nổ ầm phía trước mặt. Mảnh gang bay rào rào, khói xộc vào làm mắt anh cay sè, miệng và mũi anh đắng ghét. Người chiến sĩ bên cạnh anh lại hỏi:

-Tên địch ấy, đại đội trưởng biết tên nó à?

-Ừ. Nó ở cùng quê với tôi đấy.

-Tôi thử gọi nó một lần nữa xem thế nào, đại đội trưởng nhé!

On-kun xua tay ra hiệu cho người chiến sĩ để anh gọi. Anh lại đưa tay lên khum khum làm loa gọi vào. Giọng anh đã run lên vì tức giận:

-Lần cuối cùng Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước mở đường sống cho chúng mày… Có ra hàng không?

Từ trong công sự cố thủ đạn địch lại bắn toả ra bốn phía. Ba, bốn trái thủ pháo của địch nổ liên tiếp bao quanh On-kun. Người chiến sĩ vừa nói chuyện với anh bị một mảnh thủ pháo xé rách bàn tay phải. Cậu ta mím môi lại, không một lời rên rỉ. Y tá lao đến băng bó vết thương cho anh. On-kun thét lên:

-B.40 đâu, phá huỷ công sự!

Hai tiếng nổ liên tiếp dữ dội. Nóc căm hầm bê-tông bị hớt gọn. Khói bụi mù mịt. Từng mảng bê-tông bị hất lên, rơi xuống rào rào. On-kun hô vang:

-Xung… phong…!

Khói đạn chưa tan hết nhưng On-kun vẫn nhìn thấy ở trung hầm có sau bộ mặt đen đúa lì lợm và tuyệt vọng đến cực độ. Anh nghe rõ một giọng nói rít lên gầm gừ.

-Ngồi im, thằng nào chạy ra hàng tao bắn chết.

On-kun ra hiệu cho đồng đội né mình, đề phòng bọn địch ngoan cố nhảy xổ ra đánh giáp lá cà. Trong hầm vọng lên những tiếng rên ư ử và những tiếng thở hồng hộc nghe vừa rùng rợn vừa thảm thiết. Hai tên địch nhào ra. Một loạt AK trong hầm vội vã quét theo. Trong nháy mắt, On-kun ôm được một tên lăn đi mấy vòng. Còn tên kia gục xuống, nằm sóng soài, mình vắt trên cửa hầm, hắn kêu rống lên, máu ộc ra lênh láng. On-kun chưa kịp giao tên địch cho đồng đội trói thì trong căn hầm đã bật lên những tiếng rú kinh hoàng. Tiếp theo là tiếng thủ pháo nổ, tiếng nồ bị ghìm lại trong hầm, nghe âm âm nhức nhối. Sau đó là im lặng hoàn toàn. On-kun biết rõ việc gì đã xảy ra: chúng tự giết nhau. Anh kéo tên tù binh đứng dậy, phủi bụi đất bám đầy quần áo, xốc lại dây lưng và thở phào. Trận đánh thế là đã kết thúc. Đồng chí đại đội phó tập trung bộ đội di chuyển về vị trí tập kết. Còn On-kum chờ cho khói thủ pháo tan hết mới cùng hai chiến sĩ xuống hầm kiểm tra, thu vũ khí. Đây là một công sự cố thủ khá rộng, nền được tráng xi-măng. Sáu khẩu súng AK vứt bừa bãi, có khẩu bị mảnh thủ pháo găm vào báng thủ lỗ chỗ. Không còn một viên đan nào. Bốn tên địch nằm chết với bốn tư thế khác nhau. Tên nào cũng còng queo, co quắp, mặt sạm đen khói thủ pháo, tóc cháy lởm chởm. Những bộ quần áo đen xỉn, cóc cáy mồ hôi và đất, rách tơi tả. Bun-thon nằm ngửa, đầu hắn ghếch lên thành hầm, đôi lông mày cháy trụi, mắt trứng dã thao láo, miệng há hốc, hai hàm răng vàng khè. Những nét mặt hiền lành như hòn đất củ khoai của Bun-thon ngày xưa bây giờ đã biến đâu mất. Chỉ còn lại trước mắt On-kun một bộ mặt dữ tợn của loài dã thú. On-kun nhìn thẳng vào bộ mặt ghê tởm đó như để cố tìm lại một dấu vết nào đó của quá khứ còn chưa bị thời gian xoá đi. Một cảnh tượng hơi lạ đập vào mắt anh: bên xác những tên địch có mấy quyển sách bìa trắng nằm ngập trong máu nhầy nhụa. On-kun dùng đầu lưỡi lê trên súng AK lật lên một cuốn và anh đọc thấy dòng chữ Campuchia in màu đỏ: “Lược dịch tác phẩm bàn về mâu thuẫn của Mao chủ tịch-Tài liệu dành riêng cho cán bộ đảng viên”. On-kun như chợt nhận ra một điều gì đó rất cụ thể, anh nói nhỏ với chính mình:

-Chúng mày đã liều chết một cách nhục nhã và thảm khốc vì cái đạo ma quỷ này đây!

Rồi On-kun lại lật tiếp một trang nữa xem trong đó chúng đã nhồi nhét cho nhau những gì. Anh bắt gặp một cái ảnh chụp bốn thầy trò Pol Pot đi trên đường băng của sân bay Bắc Kinh. Trong đó Hoa Quốc Phong với bộ mặt rất to đang cười cợt, Đặng Tiểu Bình thấp lè tè, bộ mặt càu cạu, gườm gườm nhìn những đồ đệ của mình, còn Pol Pot và Ieng Sary thì đều giơ hai tay lên trời như những kẻ đầu hàng. Cả bốn khuôn mặt đều dính đây máu đã bắt đầu đen xỉn lại. Bên dưới tấm ảnh, On-kun lại đọc được những dòng chữ này: “Lời dạy của lãnh tụ Pol Pot: Chúng ta phải hăng hái và kiên quyết thực hành tư tưởng của Mao chủ tịch: Mâu thuẫn đối kháng luôn luôn tồn tại trong mọi sự vật. Nó tồn tại ngay trong bản thân chúng ta. Muốn tồn tại được thì phải tiêu diệt không thương tiếc kẻ đối kháng với mình…”. Đọc xong câu ấy, một nỗi bực bội dâng lên, làm cho On-kun uất nghẹn. Anh không thể giữ nổi bình tĩnh nữa. Giống như một hành động tự vệ, anh cắm phật lưỡi lê vào cuốn sách bết máu ấy. Các anh bước ra khỏi hầm. Một chiến sĩ đưa cho On-kun tập tài liệu, bản đồ quân sự, sổ sách thu được trong túi của mấy tên địch. Trong mớ giấy nhàu nát đó, On-kun lại bất ngờ thấy một bức thư đã cú, viết bằng bút chì trên giấy học trò. Những dòng chữ nghệch ngoạc, xiêu vẹo nhưng đã làm anh rùng mình. Đó là tấm bằng khen mà Bun-thon đã được cấp trên thưởng cho nó, về thành tích đã “thẳng tay trừng trị những phần tử đối kháng” từ hồi 1977.

On-kun bật lên một tiếng thở dài đau xót khi anh nhìn vào những tài liệu vừa thu được và nói với người chiến sĩ: “Những thứ này đã giết chết chúng nó!”.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Ba, 2009, 06:51:50 pm
Câu chuyện bên cây cầu Pia-rết

Ngô Quốc Dân


Bệnh viên Rùm-chiết phong quang sạch sẽ. Bóng hàng xoài trước sân râm mát. Người hộ lý khoác áo blu trắng bê khay thuốc, nhón gót qua lại các phòng. Vài người khách tới thăm bệnh nhân rụt rè bước qua chiếc cổng nhỏ quét vôi màu trắng…


Tại phòng số 6, ngồi bên chiếc giường cạnh mẹ, nhìn những giọt huyết thanh trong veo từ cái chai dốc ngược đều đều nhỏ xuống chiếc bầu kẹp ghim, nối với sợi dây dẫn không màu, trong, mảnh, Rết-xi luôn nghĩ tới phum làng. Giờ này bố đang làm gì? Trờì! Thằng ăng-ca khốn nạn nào mà độc địa thế? Năm bảy chín, chỉ vì một chút chần chừ, không chịu bám vào đoàn người bị xua chạy vào rừng, bố đã bị tên ác ôn bập hai nhát búa đứt lìa hết gân gót chân. Vốn người già  yếu lại tàn tật, ở nhà một mình bố sẽ xoay sở ra sao? Ai kiếm rau cho con lợn ăn? Ai cắt mướp ở mảnh ruộng gần sông đêm đi chợ bán? Củi nấu cơm ai bổ cho? Ăn hết lu gạo, bố sẽ bò đi vay đâu?… Càng nghĩ Rết-xi càng đau thắt gan ruột. Nước mắt cô ứa ra, nóng hổi trào xuống hai gò má. Ôi! ước gì Trời Phật cho mình đôi cánh để mình bay về nhà thăm bố được một lần… Giá như mình có thêm người anh, người chị, hoặc một đứa em… Vò võ một thân, cuộc đời lỡ dở… Tủi phận, Rết-xi gục mặt xuống đầu gối, nức nở.

-Rết-xi! Mẹ cháu tỉnh chưa?

Ông bác sĩ nhẹ buớc vào phòng lúc nào cô không biết. Rết-xi ngẩng đầu, mắt đỏ hoe, rớm ướt.

-Kìa! Làm sao cháu khóc?

Ánh mắt hiền từ của người bác sĩ nhìn cô ái ngại.

-Dạ! Không…-Rết-xi bối rối-Mẹ cháu đã tỉnh, mới đòi uống nước bác ạ.

-Tốt! Cháu cứ để yên cho mẹ cháu ngủ. Đừng sợ! Rồi mẹ cháu sẽ khỏi.

Người bác sĩ sờ tay xem mạch bà Chăn-rết, chỉnh lại chiếc ghim rồi lại lặng lẽ bước ra.

-Chị Rết-xi ơi! Có khách-Cô hộ lý trẻ mưng, khuôn mặt ngăm đen, đứng ngoài cửa, gật đầu gọi. Rết-xi hấp tấp sửa lại mái tóc, bước ra khỏi phòng.

-Ôi! Thím Căm-sô-phi! Chị Phiếp!

Rết-xi nhận ra hai người khách đang đứng chờ mình ngoài hàng lang là hai cán bộ phụ nữ xã. Mừng đến rơi nước mắt. Cô nhào ra nắm chặt tay hai người. Không để họ kịp nói, cô hỏi dồn dập:

-Bố cháu ra sao, hả thím?

-Ừ! Mẹ cháu đỡ chưa?

-Dạ, đỡ.

-Đã ăn được chút gì chưa?

Rết-xi kể vắn tắt tình hình bệnh tật của mẹ cho hai người rõ. Kể xong cô cầm tay thím Căm-sô-phi lắc mạnh:

-Nhưng mà ở nhà bố cháy ra sao?

Thím Căm-sô-phi nhả miếng bã trầu ra khỏi miệng:

-Bố cháy khỏe. Không phải lo gì cho bố cháu cả. Ở nhà đã có thím, có chị em, bà con trong phum. Bây giờ không phải như cái thời Pol Pot… Vả lại, nhà chá đã có người đến ở rồi… Chú Hoà, cán bộ chỉ huy bộ đội Việt Nam làm cầu Pia-rết ở đầu phum ta đã cử hẳn một người vào nhà chăm sóc bố cháu… Chú tên gì, Phiếp nhỉ? Chú hay đến chùa Takamau dạy các cháy bé hát ấy.

-Anh Nguyễn-Rết-xi, mắt long lanh, đỡ lời thím Căm-sô-phi.

-Ờ chú Nguyễn, chú Nguyễn! Bộ đội Việt Nam tốt quá! Chú Nguyễn tốt quá. Hồi đêm chúc ấy vác súng đi cùng các cháu khiêng mẹ cháu lên đây kịp ca mổ ruột thừa, sáng ra, thím đã thấy chú ấy đến nhà giúp bố cháu bổ củi, xách nước. Trưa đi làm về, chú ấy lại ra sông Klong Klung kiếm rau cho lợn. Khuya chú ấy giã gạo. Lại giặt cả quần áo cho bố cháu nữa. Hôm qua, thím sang nhà nói trưa nay thím và chị Phiếp lên thăm mẹ con cháu, chú ấy muốn đi lắm, nhưng cả đơn vị đang cố làm cho cầu xong sớm nên không ai đi đâu được.


Ba người cùng rón rén bước vào phòng. Bà Chăn-rết đang thiu thiu ngủ. Toàn thân bà phủ một chiếc chăn trắng mỏng, chỉ có

cánh tay đang truyền huyết thanh ngả ra ngoái. Thím Căm-sô-phi cầm cái làn nhựa từ tay chị Thiếp lấy ra một gói to, bọc giây xi-măng và một túi nhựa mỏng, bên trong có đến một chục quả xoài. Thím vừa khẽ đặt mấy thứ đó lên giường của Rết-xi, vừa thì thầm:

- Gói này của chú Nguyễn, còn xoài là của đơn vị làm cầu gửi lên biếu mẹ cháu. Các chú ấy gửi lời chúc mẹ cháu chóng khỏe để kịp về dự lễ mừng cầu làm xong đấy.

Rết-xi rót nước mời khách. Tiếng nước lóc bốc rơi xuống lòng chén làm bà Chăn-rết choàng tỉnh. Nỗi mừng của người lên thăm, nỗi nhớ của người xa phum thoắt bùng ra giữa bốn người thân thương nhau, ríu ran như chim rô-lôốc1 (Chim cu cườm) gặp bầy buổi sớm.

Thăm hỏi, dặn do bà Chăn-rêt một lúc, thím Căm-sô-phi và chị Phiếp đã quảy quả ra về - Cả phum Xa-tia đang khẩn trương chuẩn bị đất trồng khoai.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Ba, 2009, 06:53:29 pm
Trở lại cán phòng tĩnh mịch, Rết-xi ngồi yên lặng, nhìn hai gói quà. Cô mở túi xoài ra trước, xếp từng quả vàng hươm xuống ngăn dưới chiếc bàn sắt, sơn trắng kê sát đầu giường mẹ. Rồi đến gói bọc giấy xì măng - Của anh Nguyễn đây ư? - Cô bồi hồi mở ra: Một quyển sổ trắng tinh, trang đầu có đóng dấu son đỏ chót - Hai hộp sữa nước - Một hộp sữa bột - Một gói đường tinh - Hai cục xà bông - Chiếc khăn tay bọc chiếc lược, chiếc gương nhỏ - Ô trời! Anh Nguyễn còn biết gửi cho em cả những thứ này ư? - Rết-xi cầm lấy chiếc gương, đưa lên soi. Mắt cô long lanh khi nhận thấy khuôn mặt mình, mặc dù có chút thâm quầng nơi khóe mắt do mấy đêm liền mất ngủ, nhưng vẫn chưa mất đi vẻ mịn màng. Vòng lông mày nhỏ, mảnh. Đôi môi hơi mỏng, đỏ sậm. Cặp má hồng nâu, khỏe khoắn... Cô lùa chiếc lược lên mái tóc chải nhẹ. Mái tóc quăn quăn, hơi rối, xẹp dần. Chiếc lược gại lên vầng trán rám nắng cô những sợi mềm như tơ viền nơi chân tóc, gợi cho cô một cảm giác bâng khuâng êm ái...

- Giá như thằng Nguyễn cùng mấy đứa bộ đội Việt cũng đền thi vui quá! Bà Chăn-rết thốt nhiên lẩm bẩm.
Nguyễn ngồi xổm bên gốc dừa, bút chì giắt tai, hì hụi đục hàng lỗ trên một khúc gỗ tron. Sát cạnh anh, ông Chăn-rết ngồi xếp bằng, nhúc nhắc cưa những thanh gỗ nhỏ. Hai ông con đang chung tay đóng một chiếc chuồng gà. Chuyện giữa hai người nở giòn như pháo tết.

- Bố ạ - Nguyễn sôi nổi - Quê con, người ta không thả ga “tèm lem" như ở đây. Để gà ăn ngủ lung tung, rất mất vệ sinh, hơn nữa, gần rừng dễ bị ckh' ke cho-choóc1 (Chó sói) vồ mất. Chuồng gà phải đắp tương bằng đất, hoặc tốt hơn thi xây băng gạch, có cửa, có khóa nghiêm chỉnh. Bò lợn cũng có nhà riêng, xa nơi người ở, xa giêng. À, chúng con đã bàn nhau sẽ đào cho bố cãi giếng... Đi làm về cô ngay nước ăn, nước tắm, khỏi phải ra sông, như nhà bác Via-sơ-bâu, phum đội trưởng bên đây...

- Hai bố con nói gì tôi đấy?

Bác Via-sơ-bây đi rừng về, vai vác con dao cán dài qua ngõ, thây hai bố con nôi chuyện vui vẻ, ghé vào.

- Chào bác. Cháu đang tính chuyện đào giúp bố Chăn~rêt cái giếng như bên bác.

- Hai bố con anh làm gì đấy?

- Dạ thưa bác, hai bố con cháu đang làm cái chuồng gà ạ.

- À! Nhà cho gà à? Hay đấy. Cái này bà con trong phum lại phải học các anh bộ đội Việt Nam thôi.

Bác Via-sơ-bâu đặt con dao xuống đất, rụt ra bọc thuộc rê nâu đen như râu ngô già mời hai bố con cùng hút, khói tỏa mịt mù như hun muỗi. Ngồi gật gù ngăm nghía cái chuồng gà hồi lâu, bác cáo từ ra về.

- Thôi! Nghỉ đi con! Chiều bố làm - ông Chăn-rết giục Nguyễn.

- Vâng! Bố nghỉ tay, để mặc con. À, nấu cơm đi bố ạ. Trưa rồi. Nấu đủ mình bố ăn thôi. Đừng nấu nhiều như bữa qua kẻo tối bố lại phải ăn cơm nguội. Con ăn cơm ngoài đơn vị.

Ông Chăn-rết xếp gọn đồ đạc rồi mải miết lê lại cầu thang, bò lên sàn nhà. Nhìn dáng đi vất vả của ông, Nguyễn thở dài.

- Anh Nguyễn!

Có tiếng con gái gọi anh rất khẽ. Nguyễn dừng tay đục. Mất anh ngỡ ngàng.

- Rết-xi! - Nguyễn bối rối đứng dậy.

- Bố em đâu ?... A! Bố em kia rồi!

Rết-xi reo lên, lao vê phía cầu thang. Ông Chăn-rết rưng rưng nước mắt đón con từ phía cửa. Rễt-xi lập cập nắm lấy hai cánh tay bố. Cô có cảm tưởng như đã hàng năm xa bố, hôm nay mới được thấy lại Bố cô hình như béo ra, khỏe lên trong chiếc áo quân phục mới chấm vai của anh Nguyễn.


Hai bố con tíu tít trò chuyện. Muốn để hai bố con được tự nhiên, Nguyễn xách đôi thùng cạnh lu nước, đi sang giếng nhà bác phum đội trưởng...

Vài phút sau, xách được hai thùng nước trở về. Nguyễn thấy ông Chăn-rết dang ngồi trên đống gỗ cưa dở, miệng "túc... túc..." gọi gà. Ông chìa cho anh chiếc bật lửa:

- Con lên nhà nhóm lửa hộ bố, giúp Rết-xi nấu xơm. Bố bắt con gâ. Trưa nay, dứt khoát con phải ở đây ăn cơm với bố.

Nguyễn bước nhẹ lên cầu thang. Rết-xi bồi hồi tựa vào cây cột khuất sau cạnh cửa.

- Anh! - Rết-xi khẽ gọi, mặt hơi tai đi.

Nguyễn mỉm cười, hỏi nhỏ:

- Rết-xi, mẹ khỏe không?

- Mẹ khỏe! Sắp về rồi anh ạ! - Rết-xi đập ngập ngừng. Tiếng nói của cô còn nhỏ hơn tiếng thở. - Anh Nguyễn! Mấy ngày nay có người lên chơi, em cứ mong mà chẳng thấy anh đâu?!...

- Anh bận. Mẹ có trách anh không?

- Mẹ nhớ.

- Bọn anh sắp đi.

- Sao vội thế anh?

- Nghề của anh là làm cầu mà. Làm xong cầu quê Rết-xi, anh lại đi lam cầu ở những vùng quê khác... Có biết bao nhiêu chiếc cầu cân làm.

- Bao giờ cầu Pia-rết các anh làm xong?

- Còn dăm sáu ngày nữa thôi. Hồi nãy về, Rết-xi không nhìn thấy cầu chỉ còn một nhịp nữa hay sao?

- Em có.

- Anh mong mẹ thật khỏe, mau chóng cùng Rết-xi trở về. Anh muốn được nhìn thấy mẹ và Rết-xi đi trên cây cầu mới cùng bà con trong buổi lễ khánh thành đấy.

- Ngày đó vui nhiều lắm anh nhỉ?

- Chắc thế!
…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Ba, 2009, 06:55:12 pm
Sáng hôm sau , ăn với bố bữa cơm xong, Rết-xi xin phép lên bệnh viện sớm kẻo mẹ mong.

Rết xi bước thoăn thoắt trên con đường cát mịn. Cô nhớ lại giây phút ngắn ngủi giữa mình với Nguyễn lúc chia tay. Tâm hôn cô ngây ngất say sưa. Cô có cảm tưởng như anh không chỉ tiễn đưa cô một quãng đường ngắn mà luôn thủ thỉ bên cô trong suốt đoạn đường dãi. Một đàn chim nhỏ, lông vàng, sà xuống lùm cây thấp tè tranh nhau mồi, ríu rít. Tưng chòm thốt nốt vươn mình lắc lư những chùm ống bạc phếch, bên trong lòng ống chắc đã chứa đầy những dòng nước mật ngọt ngào.

Bệnh viện Rùm-chiết thấp thoáng từ một nơi xa tít...

Có tiếng xe máy mơ hồ vọng đến, rỗi mỗi lúc một rõ dần. Rết-xi quay lại nhìn. Từ phía sau, một chiếc mô tô màu đỏ đang rú ga, lao vun vút trên con đường vắng. Ngươi lái xe bận chiếc áo thun tím, rạp mình, mũ lưỡi trai ngóc lên, quẹo phải quẹo trái, lách chiếc xe ngoắt ngoéo tránh ổ gà. Rết-xi thận trọng nép vào lề đường.


Chiếc xe vọt qua chỗ cô, siết phanh nghe đến sởn tóc gáy. Một gã đàn ông ngả người vòng ngoắc chiếc mô tô lao thẳng vào Rết-xi. Đôi lốp đen còn mới sục xuống lợp đất bột. Khi gần chạm vào chân cô gái, chiếc xe giật lên một lần nữa vã sau tiếng “khực” nho nhỏ nó mới chịu dừng hẳn.

- Rết-xi!

Gã lạ mặt gọi tên cô.

Im lặng.

Rết-xi ngước nhìn người khách lạ: Một khuôn mặt nhỏ. Hàng ria lởm chởm xòe ra hai bên mép. Đôi gọng kính râm to, đen kịt, đè lên chiếc mũi ngăn. Cái trán hẹp và đông màu với dôi go má xanh xám, nhón nhọn.

- Chắc cô không nhận ra tôi?

Ngươi khách lạ nhếch cập môi dày, cười khẩy. Cái cười đượm vẻ mệt nhọc, chán chường pha chút khinh khi, miệt thị. Hắn từ từ lột mũ, gỡ cặp kính.
 
Rết-xi đứng như trời trồng. Miệng cô há ra, kinh ngạc. "Xòm Năm!" - Phải! Lúc này cô đã nhận ra kẻ đang đứng trước mặt mình là Xòm Năm - Chồng cũ của cô.

… Tháng mười hai năm bảy tám. Sau mười ngày bốc vác tưởng đến chết ngất trên đống hòm đạn, chỉ huy sư đoàn 303 gửi cho cô một mảnh giấy đỏ lòm có in lá cờ phù hiệu ba ngọn tháp: giây nghỉ phép tại đơn vị. Cô được chuyển từ Bù Su (đất Việt Narn) về nghỉ tại thị xã Svay-riêng.

Vào trình giấy ở nhã khách cùng với cô có một người đàn ông thấp bé, đen nhẻm và bẩn thỉu. Tên anh ta là Xòm Năm. Chỉ huy nhà khách xem giấy, ghi tên hai ngươi vào cuốn sổ bìa cũng đỏ, nói với hai người mấy câu dấm dẳn:

- Các đồng chí là những người con ưu tú trên mặt trận chống Việt Nam. Nhân kỳ nghỉ phép, đảng và chính phủ tạo hạnh phúc riêng cho các đồng chí. Kể tứ giờ phút này, hai đông chí là vợ chòng. Hai người được ở với nhau cùng phòng cho tới hết kỳ phép.

Ho lên một tiếng cục cằn, hắn buông bút, chui vào gian buồng, cắp một chiếc chiếu rách, đủng đỉnh đi ra, vẫy tay hai vợ chồng đi theo.

- Đến nhận chỗ nằm! - Hắn nói to, không thèm ngoảnh lại nhìn.

Một căn phòng thấp lè tè, mái rạ, tường rạ, cửa sổ, cửa lớn cũng bằng rạ... Kề bên phải là chuồng bò, bên trái là một biệt thụ lớn, hai tầng, mặt tường nào cũng ghi đầy những khẩu hiệu.

- Các đồng chí ở đây. Sáng nghỉ, chiếu có kẻng thì sang chuồng bò lấy phân đưa ra ruộng! - Đấy là lời cuối cũng của hắn đối với cuộc “lễ thành hôn" của "vợ chồng" Rết-xi.

Đàn bò gõ móng côm cộp xuống nền nhà lát gạch, kết thức cái ân huệ cuối cùng.

Rết-xi bàng hoang đứng chết lặng trong căn phòng ẩm mốc. “Chồng" cô - Xòm Năm - xăng xái đập chiếc chiếu rách lên tấm phản bụi mù...

Ba năm trôi qua... Người chồng và đám cưới, đối với Rết-xi vẫn còn là một mối hận... Năm bảy chín những tưởng thằng Xòm Năm đã chết theo với chế độ diệt chủng. Nào ngờ...

... Xòm Năm ngạo mạn ghếch đùi lên chiếc mô tô choáng lộn, móc điếu thuốc Sa-mit, bật lửa, nhìn khuôn mặt xanh tái của Rết-xi qua làn khói mỏng.


“Con bé thay đổi nhiều quá: da hồng, môi đỏ, ngực ngồn ngộn. Hắn nuốt nước bọt đánh "ực” một cái như cố nuốt đi niềm khoái cảm lần đầu - cái lần Rêt-xi nằm bưng mặt khóc nức nở, toàn thân cô cứng quèo, còn hắn thì tha hô chúi cái mõm ngắn và hôi xì suốt từ gót chân cho tới đầu người con gái. "Chà, nếu không có bọn Xóp-dok-car (thám báo) thì không tài nào nhận được ra nó" - Xòm Năm nghĩ thầm.

- Thế nào? Có nhớ ra tôi là ai không?

- Anh Xòm Năm, trước kia tôi với anh bị bọn Pôn Pốt gán ghép chuyện vợ chồng, nay cách mạng về, tôi với anh không còn gì cả. Tôi không phải là vợ anh. Anh gặp tôi làm gì? - Rết-xi nói như không kịp thở.

- Ô! - Miệng Xòm Năm đột nhiên há ra, mắt long lên, giống hệt như khi bị Rết-xi gạt phắt bàn tay run rẩy của hắn trong ngôi nhà rạ. Tuy nhiên, chỉ nửa giây sau, hắn đã lấy lại được trạng thái cũ, hắn cố nói với Rết-xi bằng giọng mềm mỏng:

- Tôi muốn gặp Rêt-xi có việc.

- Mẹ tôi đang ốm!

Xòm Năm tiếp luôn:

- Và đang nằm ở bệnh viện Rùm-chiết. Và tôi biết cô mới về nhà thăm bố.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Ba, 2009, 06:56:49 pm
Rết-xi chột dạ. “Hắn là người thế nào? Hắn muốn gì ở mình? - Giọng hắn lại đều đều.

- Cho nên tôi đem xe tới đón cô.

- Nào! Ngồi lên! Xòm Năm duỗi chân, ngoặt đầu xe.

- Không.

- Tại sao?

- Tôi không đi.

- Cô phải đi! - Xòm Năm quăng bàn chân qua yên, bật càng chống, dằn giọng - Tôi nói cho cô biết. Tôi - Hắn vỗ ngực - Tôi vẫn là một chiến sĩ trong quân đội Campuchia dân chủ. Cô là một hạng gái c’bot-chiết1 (Phản quốc) đã bán mình cho bọn Việt Nam. Tôi được cấp trên cử đi đón cô về rừng...

“Trời ơi!" Toàn thân Rết-xi bủn rủn. Cô cố giữ mình khỏi ngã khuỵu xuống, nhưng giọng nói đã không giấu nổi nỗi sợ.

- Ông... ông hiểu cho tôi. Bố mẹ tôi già... Để tôi ở nhà làm ruộng - Vừa nói Rết-xi tựa nhìn quanh tìm người.

- Cô đừng nói thế, cũng đừng nhìn đâu cả - Xòm Năm búng tàn thuốc - Cả hai điều cô không được gì hết. Nói với tôi, thì tôi không có quyền. Tìm người thì ở đây chẳng có ai mà hòng kêu cứu - Hắn hất cằm lên phía trước, rồi quay mặt lại, hất cằm về phía sau - người chữa xe chỗ cột cây số, người ngồi dưới gốc me đều là quân của tôi. Đừng dại dột - Và như sốt ruột, hắn cao giọng - Cô lên xe ngay đi. Nếu không, trước hết cô sẽ nằm vĩnh viễn ngay tại đây - Hắn kéo vạt áo, phơi ra khẩu súng ngắn gài chéo bụng - sau đó đến lượt mẹ cô, và cả bố cô nữa!


Rết-xi đứng lặng phắc như chôn chân xuống đất. "Nỏ xảo quyệt đến mức này ư? Bằng cách gì thoát được bây giờ? Chả lẽ...".

- Lên xe! Tôi không có nhiều thì giờ đâu - Hắn đặt tay vào nơi hắn gài khẩu súng.

Thoáng nghĩ ra cách đối phó tạm thời trong lúc nay, Rết-xi bước lại phía sau xe.

- Thế! Đưa làn đây tôi để đầu xe cho. Ngồi im! Cô hành động chống đối, không xong đâu! - Xòm Năm gằn giọng ra lệnh, bấm nút khởi động, rồ máy. Chiếc xe phóng vọt đi bỏ lại phía sau một luôn bụi xám.
được chùng bảy tám trăm mét, chiếc xe bỏ đường chính, rẽ vào một con đường phụ dài hun hút.


Thế là chỉ sau hai tiếng đồng hồ rời phum Xa-tia, Rết-xi đã bị giam tại một căn nhà gỗ thấp nằm trên bờ một cây đầm lớn đầy sen đang rộ mùa hoa, cách bệnh viện Rùm-chiết khoảng năm cây số đường chim bay. Xòm Năm tống cô vào một gian buồng thật thoáng đãng, có hai khuôn cửa sổ: một ở đầu nhà, một hướng ra đầm, khuôn nào cũng có hàng chấn song sặt, mỗi thanh to bằng ngón tay cái. Trong buồng có khá đủ tiện nghi: phích nước, ấm chén, bàn ghế (trên bàn bày sẵn mấy đĩa bánh, kẹo), chiếc giường một có gối, có mùng màn. Nơi vệ sinh là một ngăn kề bên.

- Cô nghỉ đi. Đừng tìm cách trốn, vô ích! - Xòm Năm nói vậy, vội vã bước ra, đóng cửa, bật khóa đánh tách.

Không chú ý gì tới xung quanh, Rết-xi đứng sững giữa buồng như pho tượng. Lời nói của Xòm Năm từ lúc hắn bỏ đường chỉnh, rẽ vào con đường phụ tới đây như xói vào tai cô. “Cô Rết-xi: Tôi biết mới một hai năm sống với bọn Việt Nam, lòng dạ cô đã thay đổi. Nhưng thôi, tôi gặp cô không phải vì chuyện ấy... Tôi về đây là vì sự sống còn của đất nước Campuchia, vì sự nghiệp kháng chiến cứu nước vĩ đại. Cô biết hiện giờ ở phum Xa-tia có cái gì đang xảy ra không? Cô! Cô có biết… Bọn Việt Nam và lũ dân đang làm cầu, chiếc cầu Pia-rết. Chiếc cầu chúng tôi đã một lần đưa người về phá, nhưng vì do một sơ suất nhỏ mà chưa thành công, chắc cô đã biết. Do đó cầu chúng vẫn làm và đang làm. Chúng sẽ làm được và sẽ khánh thành. Để cho chúng thấy mọi việc làm của chúng là điên rồ, là ảo tưởng, để lũ dân ngu ở phum Xa-tia mở mắt nhìn thấy sức mạnh của chúng tôi, mặt trận kháng chiến ra chỉ thị: dù phải hy sinh cũng phải phá bằng được chiếc cầu. Chúng tôi nhận nhiệm vụ đó về đây ủy nhiệm cho cô thi hành. Cô làm tốt, cô được miễn giảm mọi tội lỗi, sẽ được trên trọng thưởng. Cô không làm, hoặc cô làm hỏng việc, bản án về chiếc cầu sẽ dành cho chính cô, mẹ cô, rồi cả bố cô... Tôi se để cho cô có thời gian suy nghĩ chọn lựa...".


“Chúng định phá chiếc cầu Pia-rết. Chúng định dùng tay mình để phá chiếc câu Pia-rễt! Trời Phật ơi".
Trước mặt Rết-xi hiện ra con sông Klong Klung nước trong xanh lờ lững. Dòng nước chìm sâu dưới hai bờ vực. Một bên bờ là phum Xa-tia trù phú. Bên kia là bạt ngàn rừng núi. Ngươi dân Xa-tia từ bao đời chuyên sống bằng nghề ruộng rẫy. Đất bên bờ của phum Xa-tia không đủ nuôi người. Hàng ngày họ phải chèo thuyên sang bên kia sông kiếm sống. Bát cơm phải đổi mấy bát mồ hôi, nhiều khi, phum làng phải đổi bằng cả máu. Về mùa mưa nước từ rừng tràn về bất thần gây ra những con lũ lớn... nước lên cao hằng bảy, tám mét cuốn trôi biết bao mạng người...


Năm bảy chín, đất nước được giải phóng. Quân đội cách mạng của chủ tịch Hêng Xom-rin và bộ đội Việt Nam đã cứu thoát người dân phum Xa-tia khỏi bàn tay Pôn Pốt, cứu luôn họ ra khỏi cảnh đói nghèo. Ủy ban cách mạng phum đã quyết định mở đường, làm cầu, vượt sông sang khai phá rừng chuẩn bị cho kế hoạch làm ăn vững chắc và lâu dài...


Công việc làm cầu có nhiều khó khăn, nhưng lại được bộ đội công binh Việt Nam giúp sức... toàn dân trong phum nô nức tham gia. Con đường đã hoàn thành, chiếc cầu cũng chỉ mai mốt là xong. Niềm ước ao từ lâu của người dân Xa-tia, trong đó có cả gia đình cô sắp trở thành sự thật... Vậy mà...


“Cô nên biết rằng: Mặt trận kháng chiến không thiếu người. Nhưng vì tôi vẫn thương cô, tôi đã chọn và giao cho cô để cô có thời cơ chuộc lại tội lỗi. Không làm, thảm họa sẽ ập xuống gia đình cô tức khắc. Bốn năm sống dưới chế độ Campuchia dân chủ, chắc cô thừa hiểu những hình phạt xứng đáng dành cho kẻ phản bội...".


Rết-xi đưa cả hai bàn tay lên, ôm chặt lấy mặt, lảo đảo đi về góc buồng, năm vật xuống giường, quằn quại.

Một lúc lâu, vơi cơn khóc, Rết-xi nằm nghiêng lắng nghe như có tiếng ai đó nhẹ nhàng nói bên tai minh: "Sao Rết-xi định tìm cái chết để qua cảnh này ư? Nghĩ lại đi, nghĩ lại đi? Bao năm trời, Rết-xi gánh chịu những khó khăn tưởng như không vượt nổi. Vậy mà đành khoanh tay? Buổi sáng Rết-xi tự bảo mình buộc phải theo nó vào đây để tim cách đối phó sau. Nó đã tưởng Rết-xi sợ nó, phục tùng nó, nó nói rõ âm mưu bức Rết-xi phá cầu, thế là Rêt-xi đã thắng nó một lần rồi đấy. Tháng trước, nó cũng định phá cầu. Rết-xi là phum đội phó, đã cùng bộ đội truy bắt được những bốn tên, Rết-xi hẳn còn nhớ..."


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Ba, 2009, 06:58:58 pm
Quãng sáu giờ chiều.

Có tiếng lạch cạch vội vã ngoài ổ khóa. Rết-xi giật thót người nhìn ra - "Nó sẽ làm gì đâ? Được, mày cứ đụng vào tao? - Cô đưa tay vuốt mặt, lấy lại dáng điệu bình thản thì cánh cửa mở toang.

Xòm Năm bước nhanh vào. Cánh cửa lại vội vã khép chặt. Ổ khóa lại kêu đánh “tách".

Rết-xi như nín thở, mưu môi nhìn thân hình nhỏ thó của hắn.

- Sao để tối thế này? Chắc Rêt-xi không có chnơ-cus1 (Diêm). Xòm Năm đến đúng chỗ đặt cây đèn, bật lửa. Ánh sáng tỏa ra soi rõ tất cả.

Vẫn kiểu vội vã, Xòm Năm quăng đánh ”bẹt" chiếc mũ lưỡi trai lên bàn, kéo xệch ghế bảo Rết-xí ngồi. Hắn sang bên kia bàn, chân gạt ghế, ngồi đối diện với Rết-xi.

Rết-xi quay mặt nhìn ra phía cửa sổ.

Xòm Năm, tay đặt lên ghềnh ghế:

- Cô quay lại đây. Bánh kẹo sao còn nguyên thế này? - Hắn nhắc cái ấm lên, lại đặt xuống - Cả nước nữa? Nhưng hắn cũng không mời mọc gì thêm - Thôi, làm việc đã, chốc ăn uống cũng được - và hắn hất hàm hỏi luôn - Cô Rết-xi, cô nghĩ thế nào về những lời tôi nói hồi sáng?

Im lặng.

- Cô làm được chứ?

- Tôi chỉ muốn các ông tha cho bố mẹ tôi.

- Tức là cô sẽ làm!

- Tôi muốn từ nay về sau các ông đừng bao giờ bắt tôi và gia đình tôi dính líu vào việc của các ông làm...

- Được. Chúng tôi sẽ thực hiện như lời cô yêu cầu. Mặt trận cứu nước Campuchia dân chủ sẽ ghi nhớ công lao kháng chiến chống Việt Nam cho cô và gia đình. Trước hết cô phải ký vào lá đơn tình nguyện xin nhận và hoàn thanh nhiệm vụ.


Xòm Năm chia ra trước mặt Rết-xi tờ giấy ghi chữ chi chít và rút chiếc bút bi trên miệng túi áo đưa cho Rết-xi. Hắn nói tiếp:

- Bây giờ, tôi sẽ phổ biến cho cô kế hoạch phá cầu. Phá ngay đêm nay. (Rết-xi cố giấu vẻ kinh ngạc. “Thôi, trước sau nó cũng ép mình phá - Đi sớm càng biết sớm chúng tao mạnh hay chúng mày mạnh). Xòm Năm vẫn nói - Cầu Pia-rết bằng gỗ nhưng rất chắc. Có nhiều cách phá. Chúng ta chọn phá bằng mìn (Hắn chuyên giọng nói “chúng ta” một cách ngọt xớt) - Chủ nhật này chúng hoàn thành cầu. Đáng lẽ phá lúc nào cũng được, nhưng phá tan cầu trước ngày chúng nó làm lễ khánh thành mới đau. Lực lượng đi phá lần trước năm, hơi nhiều, lại chỉ có một người thuộc đường, hợp đồng khó, nên thất bại. Lần này hai thôi. Rết-xi, quá thông thạo địa hình, du kích hay bộ đội Việt Nam có canh gác, nhưng vì cô quen bọn chúng nên việc tiến vào, rút ra đối với cô không khó. Người nữa là tên đã đi lần trước. Chính hắn thuộc đường nên bị truy đuổi hắn mới an toàn trở về. Rết-xi áp mìn. Hắn yểm hộ. Lát nữa tôi chở cô về. Áp mìn xong cô lại đến chỗ chúng ta gặp nhau buổi sáng cây số 4 ấy, tôi đưa ngay cô về bệnh viện. Mãi đến lúc cô lên giường nằm kế bên m’đai1 (Mẹ) đó mìn mới nổ. Thần thánh, ma quỷ nào biết cô phá cầu? Thế có êm đẹp không cô? Còn cách sử dụng mìn, cô không cần biết. Việc của cô chỉ áp mìn thôi. Nào, tôi chỉ cho cô biết chỗ áp mìn...


Bài giảng của Xòm Năm có tờ vẽ lĩnh cầu Pia-rết khá rõ ràng.

Một giờ sau, có tiếng gõ cửa. Xòm Năm ra mở khóa, đón từ bên ngoài ai đó chuyển cho hắn ba đĩa vừa thức ăn vừa cơm.

Lần này hắn mời cẩn thận và đứng dậy đi ra khỏi cửa để một nình Rết-xi trong buồng.

Tới ngã ba đường rẽ vào phum, từ cửa rừng rậm, một bóng đen khoác khẩu AK từ từ bước ra. Xòm Năm xuống xe, móc trái mìn gói giấy xi măng để trong chiếc làn của Rết-xi gác ở đầu xe, trao cho cô. Hắn gằn nhỏ giọng, nói từng tiếng, vừa đủ nghe:

- Cô đi theo anh này. Cách cầu năm mươi mét, anh ta sẽ dừng lại bảo vệ cô. Cô đi một mình vào cầu gài mìn theo đúng vị trí tôi đã dặn. Nếu sai, mìn nổ chỗ khác, cầu không phá được, cô hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi sẽ chờ nơi đã hẹn, chở cô về bệnh viện với m'dai như tôi đã hứa.

Rết-xi đón lấy trái mìn trong tay tên giặc. Tuy đã có lường trước giây phút này, nhưng sống lưng cô vẫn đột ngột lạnh toát.

Đêm đặc quánh. Phum làng xa tít le lói ánh đèn. Căn lán của các anh bộ đội ở nơi xa xa cũng le lói ánh đèn... "Trời ơi! Cô, bác, anh chị em du kích trong phum có biết không? Các anh bộ đội có biết không.. Địch! Địch! Quân Pôn Pốt đang ôm mìn đi phá cầu Pia-rết, các anh ơi! Các anh tuần tra, canh gác ở đâu, ở đâu...".

Đêm vẫn đặc quánh. Phía xa tít vẫn le lói ánh đèn.

Nhưng nòng súng AK phía sau đã gí vào người Rết-xi:

- Vị trí tôi ở đây. Xác cô nằm trước mũi súng. Làm, đúng như lời lục thum1 (ông lớn) Xòm Năm. Lên đi. Chú ý thấy bộ đội, nằm xuống, nó đi khuất hãy lên? - Tên "yểm hộ" nói xong, hắn nép vào một lùm cây.

Rết-xi đi như bơi đến cây cầu. Cô dừng lại giây lát - "Quăng trái mìn xuống lòng sông? Không nên, làm thế không bắt được chúng nó" - Rết-xi muốn gọi thật to các anh bộ đội, du kích – “Nhưng các anh, các chị tối nay đứng chỗ nào, đi quãng nào? Cất tiếng gọi, thằng giặc nằm kia sẽ siết cò...".

Qủa mìn vẫn cắp bên sườn, Rết-xi chầm chậm bước.

Mới chưa đây ba phút, Rết-xi tưởng đã hàng giờ. Quả mìn như nở căng trên tay, sắp nổ đến nơi.

Nhưng điều gì Rết-xi đang nóng lòng chờ đợi thì nó đã đến: Từ phía đoạn đường gấp khúc, bỗng một, hai... rồi bốn bóng người xuất hiện - "Bộ đội? Các anh bộ đội, các anh du kích nữa - Bốn người chia làm hai nhóm đi lên đầu cầu. Tim Rết-xi thắt lại...

- Rết-xi! Nằm xuống? Đợi chúng đi qua đã! - Tên giặc Pôn Pốt đã lao đến nấp trong bụi cạch Rết-xi một quãng ngắn, quát khè. Rồi hắn lại lủi xuống, mở khóa nòng khẩu súng AK nghe “cạch” một tiếng ghê rợn.
Rết-xi làm theo hắn. “Ừ, tao nằm, tao đợi...". Mắt cô hoa lên khi thấy một nhóm đã đi tới giữa cầu. Toàn thân Rết-xi càng run lên. Quả mìn cứ như sắp tuột khỏi vòng tay cô.


Nhóm của Nguyễn vừa bước qua mố cuối cùng của cây cầu Pia-rết thì Rết-xi vẫn ép dán mình ở dệ đường, đột ngột thét lên:

- Mìn Giặc nõ đánh mìn, các anh ơi!

Tiếng thét của cô lạc đi như xé màn đêm.

"Pằng... Pằng... Pằng!" Một loạt đạn AK đồng thời rung lên phía sau Rết-xi. Bắp chân cô nhói buốt...

- Mìn! Giặc nó đánh mìn các anh ơi!

Tiếng thét của cô vẫn át cả những tiếng nổ tiếp theo.

Khẩu AK của tên giặc càng điên cuồng xả đạn. Những luồng lửa đỏ lừ nối nhau bay vun vút trên lưng Rết-xi.

Trong giây phút, Nguyễn hiểu tất cả. Anh cho ba người tổ chúc truy quét.

- Các anh ơi, mìn! Mìn!

- Mìn ở đâu? Ai đây - Nguyễn xộc tới phía có tiếng gọi.

- Em! Em đây...

- Ai?

…

- Ai? Rết-xi? Phải Rết-xi không?

- Anh Nguyễn! - Rết-xi từ dệ đường, buông quả mìn, bật dậy. Cô nắm chặt vạt áo Nguyễn. Tiếng cô nghẹn lại:

- Anh ơi! Mìn.

- Mìn ở đâu?

- Kia kìa!

- Sao lại như vậy được?

- Mìn chúng nó bắt em đi gài.

Rết-xi buông Nguyễn, chệnh choạng bước về chỗ quả mìn. “Hình như cô ấy bị thương?" Nguyễn quay lại định dìu cô. Nhưng Rết-xi gạt anh lại:

- Để em mang nó quẳng xuống sông! Còn thằng Xòm Năm ở cây số 4, em không nghĩ được cách đưa nó vào đây để các anh bắt, nó đi mô tô. Thấy mưu không thành có thể nó lên bệnh viện để giết mẹ em!


Đại đội trưởng Hòa và phum đội trưởng Via-sơ-bây đã lao đến. Nắm rõ tình hình, các anh nhanh chóng triển khai truy quét. Nguyễn dẫn đầu một tiểu đội phóng như bay lên phía trước.

Quả mìn - nỗi kinh hoàng của Rết-xi được các chiến sĩ công binh đại đội Chín làm mất tấc dụng, nằm chênh ềnh giữa mặt đường.

Phía xa nổi lên tiếng trống mõ. Phum Xa-tia đỏ rật ánh đuốc.

Rết-xi ứa nước mắt, ngồi xuống. Trên làn môi bấy lâu khô héo của cô, giờ phút này mới phảng phất một nụ cười.


Trại viết quân đoàn 4
Phnôm Pênh tháng 5 năm 1982


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Tư, 2009, 08:55:54 pm
Chăn Tha
Trần Thuỳ Mai


Tôi gặp Chăn Tha tất cả ba lần.

Lần thứ nhất, nàng đến giữa tro tàn của thị xã Xiêm Riệp.

Cả đống xương người đang được gom lại ngay cạnh đến Ăngko Vát. Trước đống xương trắng một thiếu nữ Campuchia đứng gục đầu, tóc bay lòa xòa trước gió.

Tôi đến gần, hỏi bằng tiếng Campuchia:

- Em cần gì?

- Em tìm cha em. Cô gửi trả lời, rồi ngước nhìn tôi: trên khuôn mặt vàng bủng là đôi mắt đen, to, não nề, sâu thẳm.

Cách mấy hôm sau, đại đội tôi khám phá ra một cái giếng, bên dưới có tám bao tải chứa xác người đã mục ruỗng.

Những xác người rữa nát đặt nằm trên đất, đen xỉn, quắt queo, khuôn mặt dúm dó thật kinh hoàng. Trong lúc chờ đem chôn, chúng tôi phải dùng báng sung đuổi lũ chó đang chực xông vào. Mùi tanh nồng nặc.

Giữa lúc ấy, tôi chợt cảm thấy có người nhìn từ sau lưng. Một mái tóc rũ rượl, một đôi mắt nhẫn nhục ảo não: Chăn Tha.

- Lục Thum cho em đến gần mấy cái xác.

Nửa giờ sau, em gái quay lại, vẻ tuyệt vọng. Nàng chắp tay lại trước mặt tôi như chào từ giã.
Tôi bùi ngùi đặt tay lên vai nàng:

- Chào nhé Chăn Tha. Chúc em gặp may hơn ở nơi khác.

Bất chợt, nàng quy xuống và đổ gục... Hốt hoảng, tôi đỡ nang lên và nhạn ra dưới đôi môi run rẩy là cái đói đang hoành hành dữ dội.

Tôi cữu tỉnh Chăn Tha bằng mấy bát nước cháo. Sau đó, nàng cùng ở với chúng tôi hơn nửa tháng trời. Vào đêm đại đội nhận lệnh hành quân bên Sóc-ni-kun, tôi chuẩn bị ba lô rồi sang từ biệt nàng.

Băng qua con đường nhỏ lẫn trong cỏ ranh giữa hai lán trại, tôi nghe tiếng người gọi. Chăn Tha đang ở bên bờ giếng. Trăng thượng tuần phủ lên cả người, cả cỏ cây, lóng lánh một màu ngân nhũ.

Nàng đang tắm, vai để trần, tấm xàrông đỏ quấn tư ngực xuống ướt đẫm. Lần đầu tiên tôi nhận ra Chăn Tha đẹp: những dường cong trên ngươi nàng mềm mại. Tôi bối rối dừng lại.

- Lục thum hãy lại đây. - Chăn Tha dịu dàng bảo tôi. - Từ trước đến nay, nàng vẫn gọi tôi là Lục Thum (Ông lớn) mặc dù tôi phản đối. Mắt Chăn Tha chìm trong một quầng đen huyền hoặc:

- Em sẽ không nhìn thấy Lục Thum nữa. Rối em cũng trở về phum thôi.

- Em trở về, rồi sống ra sao?

Lúc ấy Campuchia chưa ra khỏi cơn khủng hoảng sau chiến tranh.

- Chắc là khổ nhưng ở đó em còn thằng Xai Xà Rông em trai của em, nó chỉ còn em trên đời này thôi.

Tôi rất muốn nắm tay Chăn Tha để từ giã, nhưng vẫn bối rỗi đứng im. Tục lệ Campuchia, ai không được phép mà tự tiện nắm tay con gái sẽ có thể bị phạt vạ một bò. Nắm tay thiếu nữ và sờ đầu trẻ con, đó là hai điều tối kỵ mà người lính chúng tôi đều biết.


Chừng như hiểu ý, Chăn Tha bỗng nắm lấy tay tôi, ủ vào giữa đôi tay nàng. Thật bất ngờ, nàng bước đến sát bên tôi. Tôi hoa mắt: đôi gò vú tròn trĩnh của nàng nổi bật lên dưới tấm xàrông ướt đẫm. Thân hình nàng đầy đặn hiện ra dưới trăng, với mớ tóc ướt đang nhỏ nước ròng ròng xuống đôi vai. Nàng đăm đăm nhìn tôi vẻ mặt nghiêm trang và hoang dã. "Lục Thum đã cứu sống em, vậy mà em chưa có gì để đền ơn". Chăn Tha nói, giọng khàn, đục nhưng rất rành rọt… Với sự nhạy cảm của đàn bà, nàng đã hiểu được nỗi khao khát của người lính xa nhà.


Tôi ôm lấy thân thể mềm mại của nàng. Nàng ướt đẫm, gợi cảm và nóng ấm. Tôi là một người đàn ông, và tôi biết mình đang giữ trong tay một món quà tặng tuyệt vời. Những không hiểu sao, giữa lúc đó, nước mắt tôi cứ trào ra, không thể cầm được?

“Không, Chăn Tha". Tôi kéo lấy mí xà rông kéo lên che kín ngực nàng. Nàng giữ hai tay tôi lại, khẩn khoản:

- Lục Thum để cho em thành người vô ân, Lục Thum không tốt đâu.

Tôi lắc đầu:

- Thôi em về đi, ngủ ngon đi. Cầu em sông yên lành. Đừng gọi tôi là Lục Thum, tôi chỉ muốn là bạn của em thôi.

Chăn Tha lùi lại, nhìn sững tôi, rồi nàng chắp tay cúi chào tôi rất thấp.

Lúc ngẩng người lên, môi nàng thấp thoáng nụ cười kỳ lạ, một nụ cười ngậm ngùi pha lẫn xót xa.
Đó là một đêm rằm mùa thu. Về sau tôi cứ bị ám ảnh bởi nụ cười của nàng khi gặp tôi lần cuối, và chợt nhớ ra: đó chính là nụ cười bí ẩn trên tháp Bayon bốn mặt.

Sáu năm sau.

Campuchia hồi sinh, nhưng hồi sinh trong khói lửa.

Tôi nhận nhiệm vụ tiểu đoàn phó được một ngày thì đụng độ nổ ra ở vùng ven rừng Biển Hồ. Rừng Biển Hồ dày đặc, cây cối xen vào nhau kín mít, chỉ chừa lối đi khuất mờ trong cỏ... Nhưng lối đi thường cài mìn chi chít, để tránh mìn chung tôi phải phát rừng mà đi. Mưa dầm dề, có những lúc nhấc chân lên mới hay đế giày đã nằm lại dưới bùn lầy từ lúc nào không biết.


Chúng tôi nghỉ ngơi trong một phum đơn độc giữa hai quãng rừng. Đất còn ướt, vì thế tất cả đều ngủ trên võng. Thằng Hưng cần vụ và cậu trợ lý tác chiến tiểu đoàn nằm gần tôi. Vừa thiếp đi một tí, bỗng tôi mở mắt. Có tiếng động sột soạt trong lá cây. Tôi nhỏm dậy định xuống võng thì Hưng đã dậy trước tôi. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, Hưng nhào xuống, hai chân dập nát đầm đìa máu. Tôi quát to:

- Cẩn thận, địch cài mìn dưới dép!

Đằng xa trong lùm cây có chỗ lay động: có người đang luồn rừng trốn chạy. Cậu trợ lý tác chiến tiểu đoàn nghiến răng, nhắm bắn. Cái bóng đổ xuống, lặng im.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Tư, 2009, 08:57:15 pm
Xác kẻ chôn mìn được lôi vào. Một cái xác mảnh mai, da ngăm ngăm đã xám lại. Một thiếu niên Campuchia còn trẻ hơn cả thằng Hưng. Viên đạn xuyên từ bả vai trái trổ tới, máu chỉ rỉ ra vài giọt.

Lúc sắp lên đường, bỗng có tiếng huyên náo. Cái xấc lật sấp trong sân đã có người đến nhận. Tất cả chúng tôi ngạc nhiên quay lại nhìn mặt con người cả gan ấy.

Một cô gái đứng lãng lẽ rước cái xác bé nhỏ, tớc rũ rượi in lên cây rừng và bầu trời xám ngắt. Cô dường như không để ý gì đến đoàn người súng ống vây quanh, đôi mắt đăm đăm, não nề, sâu thẳm.

- Xai Xà Rông, em ơi!

Cô gái quỳ xuống. Tiếng kêu như dao đâm vào ruột. Tôi rùng mình nhận ra Chăn Tha.

Giữa phút ấy, cô gái nhìn lên, mắt như đóng đinh vào khuôn mặt tôi. Tôi ngạc nhiên thấy nàng không khóc. Về sau này, nàng bảo tôi:

- Người Campuchia không khóc người chết, để cho họ thảnh thơi đi lên cõi trời bất diệt. Chỉ đau khổ cho người sống phải chia ly...

Mùa khô năm ấy tôi được đi phép mấy ngày ngắn ngủn, rồi quay lại với chiến trường. Đất Campuchia thật kỳ lạ, mùa mưa nơi nào cũng lầy lội ướt sũng vậy mà sang mùa khô tất cả giếng đều cạn, đất khô cỏ héo, tất cả nước hình như bị hút xuống tận lòng quả đất. Đi hành quân, có lúc chúng tôi phải liếm những giọt sương trên lá cho đỡ khát. Nhưng, sương mùa khô thường rất mỏng...


Cảnh người chiến sĩ bị thương giữa rừng đã khốn đốn, bị thương vào mùa khô càng nguy kịch. Thường nạn nhân chết vì khát trước khi bị vết thương hành mà chết. Đấy chính là tình cảnh tôi sau một trận phục kích năm 1986: một mình lạc trong rừng, vai mang vết thương, đôi môi khô quánh. Tôi vừa đi vừa ngã sấp ngã ngửa, không thể định hướng được đường về. Lúc ấy hai chân và tất cả giác quan của tôi chỉ hoạt động theo bản năng sinh tồn thuần tuý, hướng về hai mục đích: tránh mìn và tìm nước.


Ngày thứ ba lạc rừng, mắt tôi bắt đầu mờ đi. Vậy mà sao trên trời sao mà sáng thế. Những ngôi sao nhấp nháy ấy báo hiệu trời sẽ còn nắng to nữa. Những ngày qua, tôi đã nhai lá cây, đã liếm những giọt sương mỏng trên lá. Tôi ngã quỵ, súng rơi khỏi tay.

Một bóng người hiện ra, mờ mịt nước mặt tôi. Một bóng người có đầu tóc rũ rượi đôi mắt não nề chập chờn trước mắt tôi. Chợt tôi tỉnh hẳn lại khi thầy con dao sáng rực trong tay người ấy. Đó là một cô gái: tôi nhận ra Chăn Tha vơi con dao rừng nhọn hoắt.

Bấy giờ tôi mới nhận ra mấy hôm nay, thỉnh thoảng bất chợt tôi cảm thây như cô người theo dõi. Vì phải vật lộn với cơn khát vầ nỗi đau nhức nên tôi đã tự trấn an rằng đó chỉ lâ ảo giác. Nhưng bây giờ thì thực rồi: Chăn Tha đã kiên nhẫn bám theo tôi như người thợ săn bám theo con hổ bị thương. Giờ phút này, nàng mới hiện ra để đòi lại máu của Xai Xà Rông, em nàng.


Cây súng đã rơi khá xa tay tôi. Bình thường tôi là tay thiện xạ, bắn hai phát đạn cùng xuyên qua một chiếc lá. Nhưng Chăn Tha quá gân, nếu đưa tay với lây súng có thể nàng sẽ chặt đứt tay tôi. Chỉ còn một cách nằm im đợi lưỡi dao chém xuống. Ánh dao vừa loáng lên, tôi lập tức lăn qua một bên ôm lẫy chân Chăn Tha giật mạnh. Cô gái mất đà ngã nhão. Cuộc vật lộn bắt đầu. Chăn Tha là con gái nhưng cô ta hoàn toàn mạnh khỏe. Còn tôi vừa bị thương lại vừa đói khát đến kiệt sức.


Cái chết chờn vờn ước mặt tôi, ẩn hiện trong đôi mắt Chăn Tha đang bừng cháy. "Chăn Tha, cô không nhớ cái đêm bên bờ giếng sao?" Bất chợt tôi phì phò hỏi nang qua hơi thở cạn kiệt.
Thật bất ngờ, Chăn Tha khựng lại. Những nếp hằn trên mặt giãn ra, vẻ mặt cô chợt dịu lại thoáng vẻ trẻ thơ. Cô thừ ra nhìn tôi "Không, em vẫn nhớ. Em còn mắc nợ ông". Bỗng nàng bụm một, òa khóc:

- Lục Thum ơi? Sao ông lại giết Xai Xà Rông?

- Xai Xà Rông muốn giết chúng tôi, Chăn Tha biết rõ như vậy mà.
 
Chăn Tha rấm rức khóc một lúc, rồi nàng nhận ra: tôi đã cầm lại được cây súng.

- Ông định bắn em? Vậy ông hãy bắn đi, em khổ lắm, vì ông vừa là người ân, vừa là kẻ thù của em. Nếu em chết rồi thì chẳng bao giờ phải khổ tâm nữa.

- Không, tôi không bắn. Tôi thương Chăn Tha, tôi không ghét Chăn Tha, không muốn giết Chăn Tha.

Tiếng tôi thều thào giữa đôi môi khô quánh. Bất chợt tôi thấy nước mắt nàng mằn mặn thấm vào giữa môi tôi. Tôi ngã vật xuống, lịm đi, không biết gì nữa.

Chẳng biết tôi đã ngất đi như thế bao lâu, cho đến khi có tiếng người gọi xa xa từ đâu đó vọng tới. Tôi mơ màng thấy mình bơi trong một ao nước trong xanh mát rượi, tiếng người gọi hình như đâu từ tít bên bờ vọng lại. Tôi mở mắt: Chăn Tha đang cúi xuống bên tôi, nàng đang nhỏ cho tôi từng giọt, từng giọt nước. Thấy tôi tỉnh lại nàng vui mừng rạng rỡ: "Ôi! Lục Thum! Lục Thum không chết".


Tôi liếm môi, cựa mình, thây thân thể như cây cỏ tươi lại sau cơn mưa. Ổ rơm dưới lưng tôi kêu xào xạc. Chăn Tha đã cõng tôi vế đây, trong túp lều chăn vịt bên bờ ao cạn. Nắng tư những lỗ thủng trên nóc chòi lốm đốm làm tôi hoa mắt. Chăn Tha bước ra ngồi rồi trở vào, tay bưng tô cháo nóng. Tôi nhìn theo thấy vóc người nàng uyển chuyển và mập mờ như từ một thế giới huyên ảo khác mà đến. Dựa đầu vào ngực nàng, tôi húp bát cháo nong, ngoan ngoãn như đứa trẻ ốm trong lòng mẹ.


Ngoài cửa chòi, những sợi khói xanh lam mỏng mảnh vươn cao rồi nhạt nhòa trên nền trời. Xa xa dưới kia là mảnh ao đã cạn, chỉ còn lại một vũng nước nhỏ, trên vũng nước sót lại một bông súng lạc loài đỏ thắm.


Bảy ngày đêm Chăn Tha nuôi tôi trong túp chòi lá ven ao. Không có ai ngoài hai chúng tôi và một con trăn nhỏ trong góc chòi, con trăn nàng nuôi để bắt chuột. Đêm đêm, nàng rúc vào nách tôi như con chó con đùa nghịch. Tấm thân nàng mềm, ấm, quấn lấy tôi ấp ủ. Tôi thì thầm trong, lúc ôm ghì lấy nàng:

- Em đúng là con gái của thần rắn Nagar, Chăn Tha ạ.

Nàng không đáp lời tôi. Ngoài xa kia, tiếng tắc kè kêu, đĩnh đạc to vang rồi im bặt. Đêm ở đây yên tĩnh quá, tôi nghe rõ tiếng nàng thở, tiếng sự sống rung động dưới làn da, và cả giây phút tim tôi vỡ òa trong lồng ngực.


Đến ngay thứ bảy, Chăn Tha nấu cơm nếp, vắt thành nắm to, đựng nước vào chiếc “bình tông” lớn. “Chăn Tha ơi, cùng về với anh". Tôi dỗ nàng. Nhưng nàng lắc đầu, đôi mắt não nề, sâu thẳm. Nàng nhìn tôi rồi từ từ nhìn lên vách. Ở đô có con dao rừng sáng loáng. Con dao của Xai Xà Rông. "Con dao nó thỉnh thoảng đòi máu của anh, em sợ lắm. Anh biết không, bảy ngày đêm rồi, hôm nào em cũng phải khấn với nó: để em đền ơn anh xong đã, rồi sẽ, “báo thù”. Tôi lạnh mình vì điều bộc lộ chất phác mà rợn người của Chăn Tha. Bất chợt nàng ôm ghì lấy tôi, đôi môi cuồng nhiệt của nàng lại sưởi ấm thân tôi. Trong lần mê đắm cuối cũng, chưa bao giờ tôi thấy Chăn Tha gần gũi mà lại xa cách như thế. ”Anh đi đi, đi thật nhanh, đừng bao giờ quay lại nữa”.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 26 Tháng Tư, 2009, 08:57:58 pm
Ngay hôm ấy, tôi lên đương tìm về đơn vị. Tôi biết, nếu còn ở lại có thể là tôi sẽ chết dưới tay nàng, hoặc cả hai đứa tôi sẽ chịu ơn nhau đến chẳng bao giờ trả nổi.

Hai năm sau, chiến trường phần nào lắng dịu. Tôi chuyển về đóng quân ở huyện Puốc. Đời lính những năm này đã bớt gian khổ. Chúng tôi ăn uống tương đối đầy đủ, quần áo chỉnh tề. Lĩnh ở đơn vị tôi đã có thời giơ tán gẫu với các cô thôn nữ, luôn miệng đùa: “Ôn xrơ lanh boóng tê? (Em có yêu anh không?).

Phần Chăn Tha nàng mãi mãi bặt tăm.

Một lần, tôi có việc ra chợ Xiêm Riệp cùng với cậu cần vụ. Tôi không vào chợ, chỉ ngồi trên xe commăngca mở đài ra nghe. Cậu cần vụ mua sắm xong, ra xe, tay xách một giỏ bông súng:
- Một cô gái Campuchia nhờ em cầm giỏ bông súng này ra cho anh. Cô ấy bảo gửi biếu Lục Thum vì biết Lục Thum thích ăn canh chua bông súng.

Tôi tái mặt, bảo cậu cần vụ quay lại tìm. Nhưng vô ích. Không cần phải nghe tả lại hình dáng, tôi biết ngay đấy là Chăn Tha.

Từ đô tôi luôn sống với cái cảm giác như đã từng thấy khi kiệt sức lê từng bước trong rừng già. Cái cảm giác ai đó theo dõi mình trong từng bước đi. Có một cái bóng đeo theo tôi. Tôi cố tìm, trong mỗi chặng đường đi qua, mỗi mái nhà tôi đến. Nhưng chỉ là một cái bóng, không ai nắm bắt được một cái bóng bao giờ.

Dần dần, tất cả ctĩng phôi pha. Tháng 9 năm 1989, quân đội Việt Nam hoàn toàn rút về nước. Trung đoàn tôi đi vào gần cuối đội hình hành quân.

Sáng xuất phát, tất cả ra đứng ven đương, chờ đoàn xe đi qua, đợi đến lượt mình.

Hàng trăm chiếc xe nối nhau, sẵn sàng cho chuyến đi dài: xuyên qua bảy tỉnh của Campuchia qua cửa khẩu Mộc Bài trở về quê mẹ. Hai bên đường, dân đứng sắp hàng san sát, vẫy tay chào. Trời nắng. Tôi ngồi một mình trên xe Jeep trông ra. Các đồng đội đang xuống xe ngồi bên vệ cỏ, uống nước dừa trong bóng mát.

Chợt có ai đó đến bên tôi. Cảm giác kỳ lạ vụt đến, cảm giác lúc tôi ở trong rừng Biển Hồ. Chăn Tha. Không ngờ, sau ba lần gặp gỡ định mệnh còn cho tôi gặp nàng thêm một lân nữa, vào giờ phút ngắn ngủi này. Nàng đứng đó, nhìn tôi, tay bế một đứa bé khoảng lên ba.

- Chăn Tha. Bao nhiêu năm nay em ở đâu? Tái sao giờ này Chăn Tha mới đến? Nàng đứng đó, nhìn tôi, mái tóc đen che khuất một phần trong chiếc khăn cro-ma băng lụa tơ ằm màu cánh sen. Mắt nàng vẫn to đen, sâu thẳm. Đưa bé áp đầu vào má nàng, tay mân mê bộ ngực tròn trặn sau làn áo mẹ. Mắt nó cũng đen như mắt nàng, nhưng da sáng, tóc mượt chứ không quăn. Trên khuôn mặt của đứa bé tôi nhận ra khuôn mặt của chính mình.

Tôi bế đứa nhỏ vào lòng tràn ngập yêu thương và oán trách. Tại sao con tôi ra đời không thấy mặt tôi! Chăn Tha nhìn vẻ mặt nghẹn ngào của tôi, môi nàng thoáng một nụ cười phảng phất buồn.

Mùa khô năm ấy, sau khi tôi về lại đơn vị, Chăn Tha cũng về lại phum va biết mình có thai. Quân Pôn Pốt ngầm trong dân ép Chăn Tha xuống đơn vị kiện cáo vâ gây rắc rối, nhưng nàng không chịu. Bụng mang dạ chửa, nàng một mình một thân trốn về thị xã. Trong cảnh túng cùng, nàng được một người đàn ông Campuchia lớn tuổi đùm bọc. Chăn Tha sinh con và nhận là vợ người đàn ông. Tục ở Campuchia, con gái thách cưới rất cao, những người nghèo thường rất khó lấy vợ, chỉ lấy được các bà góa hoặc gái lỡ làng, nghĩa là những người không có quyền thách cưới…
Tôi ôm ghì đứa con vào lòng. "Chăn Tha ơi, hãy về với anh!" Chăn Tha lắc đầu, mắt lấp lánh yêu thương. Trong bao nhiêu năm, sau ngày sinh con, Chăn Tha vẫn treo con dao rừng trên vách. Đến tháng chín nay nghe tin quân Việt Nam rút về, nàng ném con dao xuống con mương hoa súng, nói với mọi người:

- Xai Xà Rông đi đầu thai rồi! Nó không còn lẩn quất ở đây nữa đâu.

Thế rồi Chăn tha cùng với chồng bế con ngược lên huyện Puốc tìm tôi từ giã.

Kể đầu đuôi tới tôi xong, Chăn Tha vẫy chồng đến chào. Tôi thắt ruột thắt gan vì thấy chồng nàng quá già, râu tóc đã điểm bạc. Bên cạnh chồng, Chăn Tha đẹp đầy dặn như mặt trăng tròn sáng rỡ.

Tôi nhìn con tôi, cố ghi nhớ những đường nét trên khuôn mặt ngây thơ. “Tên con là gì. Chăn Tha?”

- Tên con là Xóc Xơ Bai, nghĩa là từ giã. Nào vẫy tay chào bố đi con? Chăn Tha nhìn tôi, đôi mắt nàng ánh lên vẻ dịu dàng man dại của một góc rừng mùa khô nărn xưa. Bất chợt nước mắt nàng trào ra trên má: ngươi con gái Campuchia không khóc trước cái chết nay đã khóc khi vô tình nhớ lại khoảnh khắc hạnh phúc ngấn ngủi của một đời người.

Chăn Tha ơi! Từ biệt Chăn Tha! Chăn Tha hận thu vả yêu thương nồng nàn và kiêu hãnh! Giữa hồi ức về những tháp đá Bayon bốn mặt, đâu mới thực là khuôn mặt của em.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Sáu, 2009, 07:11:21 am
CHUYỆN Ở PAI-LIN

Dạ Ngân


Chưa bao giờ tôi thích nhìn cô bạn mỏng manh của tôi, bằng buổi tối ấy. Cô nàng ngồi trên băng ghế, lọt thỏm giữa tôi và bác sĩ Quang, tiểu đoàn phó tiểu đoàn quân y của đoàn N. Bên kia bàn là Chánh, trưởng đoàn chúng tôi cúng với thiếu úy Chất, cán bộ tuyên huấn của đơn vị. Trên chiếc bàn dã chiến chôn chân giữa lán tranh, mặt bàn ghép bằng ván thùng đạn B.40, lùm lùm những chùm nhãn do một y tá trẻ vừa hái xuống trong ánh sáng đèn pin. Vài tháng trước, vùng này là vùng tranh chấp giữa chính quyền cách mạng Campuchia và bọn Pôn Pốt ở mật khu Tà Sanh gần đó. Bọn lính áo đen nay được thay bằng áo xanh Tô Châu Trung Quốc, đêm đêm mò ra vơ vét lúa gạo và tranh với dân bất kể thừ trái gì ăn được trong những mảnh vườn ngày xưa sầm uất giờ rậm rạp, hoang vu. Lúc chúng tôi đến thăm đoàn N. nhân dân đã lác đác trở về cùng lúc với mùa nhãn chỉn tơi. Tuy vậy chim chóc vẫn tha hồ phè phỡn trên vùng đất thiên nhiên biệt đãi cho những loại cây ăn trái cao cấp mà không cần nhiều công, nhiều nước như xoài, mãng cầu dai. Tháng tám, tháng của những cơn gió đêm bất thường lồng lộn mang vào nhà mùi trái chín ngoài vườn hoang. Có những giây lát gió ngừng, hương nhãn đột nhiên lắng lại, như có cô tiên vừa dừng bước trước cửa lán và để tràn vào cái hương thơm quyến rũ của nàng.


Cô bạn Sa của tôi sung sướng nhận từ tay bác sĩ Quang trái nhãn đã bóc nửa vỏ rưng rưng nước rồi xoay xoay nó giữa những ngôn tay lung tung. Đôi mắt sâu, hàng mi đẹp chớp chớp nhìn anh chàng bác sĩ có gương mặt hơi gân guốc và dừng lạl vào đôi tay rất nhỏ, rất mềm của anh. Quả anh có đôi tay như sinh ra là để cầm dao mổ. Trước khi đến bệnh xá, thiếu úy Chất đã cho tôi nghe mấy giai thoại chung quanh bàn tay của bác sĩ Quang. “Ra trận mã biết phía sau có bác sĩ Quang là yên tâm ngay”. Anh em chiến sĩ bảo vậy.


Trong khi Quang nói về bịnh sốt rét, về con muỗi ba vòi, về thời tiết trái tính trái nết của Pai lin, Sa vẫn không rời mắt khỏi Quang, khó mà biết cô nàng đang quan tâm cái gì hơn: ban tay của bác sĩ Quang hay những con muỗi truyền bệnh?


Tôi nhìn sâu vào đôi mắt long lanh của cô bạn trong khi nó nói năng ríu rít, cả hai dấu hiệu đều không bình thường. Thinh thoảng, cô nàng nhìn sang phía Chánh, cái nhìn so sánh, đầy ý nghĩa. Hình như Chánh xanh xao hơn, phần vì hai ngày đường vất vả vừa qua, phần vì cái nhìn ấy của Sa - Dù mới quen Chánh qua đoạn đường ba trăm cây số từ Phôm Pênh đến đay, nhưng từ lâu tôi đã biết anh. Tôi nhìn thấy anh ở nhưng cuộc hội nghị phụ nụ tỉnh mà tôi thường là đại biểu đại diện cho thị hội thị xã Cần Thơ. Tôi còn nhìn thây anh rõ hơn qua quan hệ giữa anh va Sa, đề tài mỗi khi chúng tôi gặp nhau trong những buổi tối.


Chánh là trưởng văn phòng của Tỉnh hội phụ nữ, chỗ Sa công tác. Anh sống chỉn chu, tận tụy với chức trách của mình. Mới mấy ngày đường vừa qua, tôi còn khám phá ra anh là người tận tụy trong tình yêu. Hôm ấy, để cho Sa đỡ xóc trên băng ghế chiếc GMC không mui, băng mọi cách, kể cả việc phải trả ơn cho những anh bộ đội đi cùng bằng nụ cười cố định, khi họ cố moi từ trong đống sách báo ra cái túi xách để Chánh lấy cái mền. Anh buộc Sa phải ngồi lên cãi mền ấy và Sa bé bỏng đã ngoan ngoãn nghe theo như đứa trẻ. Hầu như lần nào xe nghỉ, anh cũng lượn lờ quanh cô dù Sa của tôi đã bị vây giữa những anh bộ đội đồng hành. Lên xe, anh nhanh nhẹn trèo qua thành ghế, chiếm chỗ đâu băng, ý tứ chừa ra một chỗ hẹp cho Sa và khi cô ngồi ghé xuống, cánh tay bôi hồi của anh hết đặt lên thành ghế sau lưng Sa rỗi lại thu về, những ngón tay trắng trẻo lúa vào mái tóc thật mượt. Giờ đây, vẻ xanh xao làm cho anh thành bạch tạng giữa thiếu úy Chất xám xịt sốt rét và bác sĩ Quang phong trần. Anh đã bắt gặp những dấu hiệu không bình thường ở Sa nhưng anh vội dời mắt về chỗ cũ, như sợ những giây phút lơ đãng thì gương mặt nhỏ nhắn xinh xinh của cô bạn tôi sẽ thuộc về người khác! Mắt anh vừa mơn man âu yếm trên gương mặt Sa như vừa to ra khổ sở vì thấy phút chốc mình bị lu mờ, bị quên bỏ. Từng lúc, cái gờ không bình thường trên sóng mũi anh như nhô lên hơn, toàn bộ nét mặt thu lại trông có phần tồi tội. Nhưng khi mắt Sa lướt lên nó thì nó lập tức giãn ra, luống cuống như nó rứa phạng lỗi. Khi bác sĩ quang nói, Chánh vừa quan sát anh vừa coi chừng Sa, gương mặt thoắt thu lại trong vẻ ganh tị, thoắt giãn ra để được rạng rỡ, để được hài lòng. Trông anh vất vả như một diễn viên đóng một lúc hai vai kịch khó khăn.

Thêm một dấu hiệu không bình thường: Sa nhìn khiêu khích Quang, ánh mắt bạo dạn tinh nghịch, miệng chúm chím một câu nói hóm:

- Coi anh có phần đỏ đắn, bộ có thuốc riêng để chống sốt rét sao?

Quang bật cười rung cả vai, thích thú vì câu hỏi đùa có duyên và thẳng thắn của cô bạn tôi. Anh nói:

- Bởi vì tôi chưa vào Tà Sanh. Nhưng thứ sốt rét nầy, không chỉ chống lại nó bằng thuốc mà phải băng ý chí và công việc lao động đúng thời điểm trước khi cơn sốt quật anh xuống giường. Nói thì đơn giản nhưng giây phút trước khi làm cữ, mình bải hoải khó chịu lắm. Lúc đó, anh phải huy động toàn bộ ý chí mà vùng dậy, cầm lấy bất cứ cái gì, leng xẻng, dao búa làm cho anh toát mồ hôi để chiến thắng cơn bịnh. Thời gian thử thách đó giống khoảnh khắc người lính ngồi trong công sự, phía trước anh là địch đang giăng hàng ngang xáp vô, trong khi tai anh căng thẳng lùng bùng chờ một tiếng súng lịnh và tiếng thét xung phong của chỉ huy. Đó là giây phút lưỡng lự bản năng, là nên ngồi hèn nhát trong công sự hay là dũng cảm xông lên.


Trong khi bác sĩ Quang vui vẻ nói anh đã chiến thắng các cơn cữ như thế nào. tôi thích thú được nhìn cô bạn tôi dán ãnh mắt vào gương mặt gân guốc của anh, vừa thích vừa hồi hộp. Tôi hiệu được tâm trạng ấy của Sa và không khỏi lo âu. Trên đường dây, tình cảm phiêu lưu nầy, cô bạn tôi đang lò dò bước, liệu sẽ được gì hay chỉ đem về nỗi khổ như lần trước. Chuyện ấy đã xa, rất xa, nhưng mỗi khi nhớ lai, chính tôi cũng cảm thây bùi ngùi...


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Sáu, 2009, 07:13:10 am
Hôm ấy, chiều cuối năm. Sa đến mà không nói trước bằng điện thoại như mọi lẫn. Cô nàng mặc qua loa, cãi quần tây đen, cái áo sơ mi trắng của ngay thường. Giữa căn phòng có mai có cúc của tôi, cô ta bèo nhèo như tờ lịch cũ rơi rớt. Tưởng cô nàng đã về quê ăn tết với má nên sự xuất hiện bất ngờ nãy làm tôi sửng sốt. Sa đáp lại tiếng reo của tôi bằng nụ cười mệt mỏi. Nó nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế mây bên bàn tiếp khách hai tay lập nhập mãi hai vạt áo, cái cỏ rụt lại giữa đôi vai xương xương. Điệu bộ này là tôi sắp được nghe mọt chuyện long trọng đây. Ngay việc Sa đến với tôi trong chiêu ba mươi cũng đủ báo cho tôi mức độ đáng lo của sự cố rồi. Có những chuyện tâm tình, người ta không san sẻ cho má, cho chị em trong nhà được!

Tôi cũng ngồi xuống chiếc ghế mây đối diện im lặng chờ. Qua cử chỉ, chúng tôi đọc được ý nghĩa của nhau vô ý tư chờ đợi người kia tự nói ra điều muốn nói.

- Hôm kia, anh Trung, tới chỗ mình - Sa nói.

- Có chuyện gì rồi hả? - Tôi hỏi, và đẩy về phía Sa ly nước lọc. Giây lâu Sa mới trả lời:

- Ảnh nói qua tết sẽ đi phép về ngoài kia chuyển mẹ với thằng nhỏ vô.

- Thằng nhỏ nào? - Tôi kêu lên

Tiếng kêu của tôi như xé lòng cô bạn yếu đuối. Nó ngã ngất ra lưng ghế, cắn căn môi, mắt nhắm nghiền, một giọt nước lăn xuống thái dương. Tôi đứng dậy, đặt bàn tay bạn chiếc khăn rồi ngoảnh mặt đi, không dám nhìn đôi môi run run bị kềm chát dưới hàm răng. Phút chốc, tôi vã cả thế giới nãy như không còn tồn tại mà chắc trong đầu bạn tôi chi lơ lửng hai tiếng thằng nhỏ khó hiểu nào đó.


Họ quen nhau trong kháng chiên, lúc anh là lính pháo binh còn chị là giao liên nội thành. Thật ra, khi mới quen biết Trung, người cán bộ của quân đội, Sa đã yêu anh. Đó không phải là tình cảm lãng mạn mà là tình cảm của một cô nữ sinh trong vùng tạm chiếm lần đầu tiếp xúc với sách báo cách mạng đã gặp ngay con người lý tưởng của mình. Sa yêu Trung bằng tình yêu thiêng liêng như yêu lý tưởng. Khi được may mắn gặp Trung trong đơn vị của anh bên bờ sông Nước Đục, Trung đã tức khắc đi sâu vào trái tim cô bởi phong cách dung dị, tình cảm thâm trầm. Cô yêu đơn phương, mòn mỏi vì tình yêu ấy cho đến ngày hòa bình. Càng ngày Sa càng héo hon vì yêu mà không được tình yêu chăm bón.


Chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, khoảng cách hai người dài ra theo chiều lăn của xe pháo. Sa vẫn lặng lẽ nuôi hy vọng, vẫn âm thầm chờ, sự chờ đợi nhẫn nại hiếm có tuy đôi lúc cô ta chạy đến khóc rưng rức với tôi vì tủi thân và vô vọng.


Một hôm, họ tình cờ gặp nhau trong Đại hội anh hùng và chiến sĩ quyết thắng trong toan quân khu. Bây giờ, họ mới có địa chỉ của nhau, anh ở Tham mưu quân khu và chị ở Tỉnh hội phụ nữ. Bằng linh cảm con gái, Sa biết mình cũng được yêu. Nhưng thái độ lừng khừng của Trung trong những lần đến thăm dè xẻn làm Sa băn khoăn. Và, khi Trung đã không kềm chế tình cảm của mình nữa, thi cô lại lo toan chuyện khác, cái điêu bất cứ cô gái nào cũng chờ đợi với nỗi hồi hộp êm đềm. Nhưng Trung vẫn im lặng một cách có tính toán. Vì sao vậy?


Không chờ được nữa, một hôm, Sa kéo tôi cùng đi đến chỗ Trung. Cô cố mặc giản dị nhưng chiếc áo màu hoa cà bên trong cái áo khoác mỏng bằng nỉ sọc ca rô trông cô tươm tất một cách kín đáo. Đến gần cánh cổng sắt đồ sộ, Sa ra hiệu bảo tôi đạp dấn lên trước. Suốt đoạn đường từ cơ quan tôi đến khu tập thể quân khu, Sa chỉ ậm ờ theo câu chuyện của tôi, đầu óc nó lơ mơ và miệng lúc nào cũng sẵn sàng cười. Đấy là lân đầu tiên nó xông đến nhà người yêu nên đôi chân lập cập thế nào mà chiếc xe ngã ra đất. Cô ta trả công tôi đã đến đỡ chiếc xe lên bằng cái đấm yêu vào lưng.


Người lính gác cho biết Trung đã có bạn rước đi chơi. Chúng tôi hỏi nhà người đó và cũng quyết đi xem ông bạn Tư Mồ của Trung là người như thế nào. Đây là dịp tìm hiểu người minh yêu qua bạn bè của anh ấy.


Kiếm ngôi nhà của Tư Mồ không khó nhưng cái khó là lý do khiến chúng tôi xông tới chỗ đó và nếu gặp Trung, chúng tôi sẽ nói gì. Hai đứa lưỡng lự ngoài chiếc cổng rào xộc xệch bằng kẽm gai. Sa chỉ cho tôi thấy cái ót vạm vỡ của Trung trong khi anh đang múa may thoải mái giữa ba người đàn ông ngồi quây quần trên nền gạch bông, giữa có chén đĩa lổng chổng và một cái chai ba xị đùng đục nước. Sa nói khổ đau:

- Gần đây anh Trung hay uống rượu ghê? - Vầng trán cô ta cau lại nặng nề. Nó ngước nhìn tôi băn khoăn - Nè, sao cái tên Tư Mồ nghe chợ trời quá!

Thấy vẻ khổ sở của cô bạn, vì bị giằng xé giữa nỗi khao khát gặp mặt Trung và nỗi lo mình bị coi thường, vì hành động bồng bột hôm nay, tôi bạo dạn lên tiếng. Trung ngoái nhìn ra, mắt nheo nheo như bị chói đen. Hình như Trung đã nhận ra dáng Sa nên anh mau mắn đứng lên, vừa đi vừa xỏ tay vào chiếc áo trắng. Anh hỏi tôi một câu trớt quớt:

- Hồng không có đi công tác hả?

Tôi bụm miệng cười ngất. Mặt Sa đỏ nhừ. Trung cố kéo chúng tôi vô nhà bạn anh nhưng Sa lắc đầu, tôi thì cương quyết đề nghị anh phải bỏ bàn nhậu về ngay.

Trên đường trở lại chỗ Trung, tôi cố vù lên trước để cho cô bạn rụt rè của tôi tự nhiên hơn với Trung.

Về đến nhà, lát sau, tôi tìm cớ đứng lên để dành không gian cho hai người. Tôi đi bách bộ trong dãy sân hun hút có những cây xoài hình nấm im lìm. Tôi thấy thời gian trôi quá chậm, còn với Sa, chắc chắn nó cảm thấy những giây phút đang vùn vụt như tên.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Sáu, 2009, 07:15:00 am
Khi được Trung "mời" vào, tôi nhìn chăm chăm vào mặt Sa để đoán họ đã nói với nhau những gì. Nhưng tôi đã đọc được sự im lặng cố tình của Trung trên mặt bạn tôi. Trước mặt họ là một chồng sách văn học. Tôi cầm lên hai quyển:

- Trời, Gắng sống đến bình minh - Tôi nhìn hai người đầy ý nghĩa như buông một dấu chấm than - Lại còn Năm 93 nữa. Đợi sao thấu, anh Trung?

Trung cười gắng gượng như đang có cơn đau và Sa cũng cười, nụ cười đi cùng với khóe mắt rơm rớm.

Trên đoạn đường về vắng vẻ, chúng tôi im lặng đi bên nhau. Gần tới chỗ ở, Sa mới lên tiếng:

- Mình linh cảm, mối tình này sẽ không đi đến đâu!

Thái độ khó hiểu mà Trung đã hé ra một cách lờ mờ cho Sa làm hai đứa tôi thức trắng đêm ba mươi tết. Sau khi Sa về, tôi nằm phờ phạc trong phòng suốt buổi sáng mồng một và nghĩ ngợi lan man về mối tình của nó. Đúng lúc đó, Trung gõ cửa phòng tôi như tiếng sét báo hiệu trận mưa, tôi vừa mong đợi vừa lo lắng. Thế là tôi khỏi phải đi tìm anh để "hỏi cho ra lẽ" như tôi đã hứa với Sa.


Trung đến, cùng với mùi rượu đủ để cho người đối diện phải chun mũi. Tôi nghiêm khắc nhìn anh:

- Sao lúc này anh mê man quá vậy?

Không tỏ vẻ nao núng, Trung trầm ngâm nhìn ra bên ngoài cửa sổ.

- Tôi không ghiền đâu Hồng. Nhưng bạn bè nó lôi kéo quá. - Anh nói buồn bã, miệng cười mơ hồ. Tôi nghe thấy cái yếu ớt trong lý lẽ của anh. - Lạ cho tôi là lần nào uống xong, chân tôi cũng muốn đưa tôi đến với Sa...

- Để làm gì? - Tôi hỏi như toà hỏi.

- Tôi không biết để làm gì. Chỉ biết là tôi muốn nhìn thấy Sa...

- Con vợ anh? - Tôi tấn công bất ngờ, vừa hoang mang chờ câu trả lời có thể làm cho trời sập vừa hy vọng Trung sẽ ngơ ngác vì tiếng “vợ" ấy. Nhưng Trung vẫn ngồi trầm ngâm, hai vai trĩu xuống. Anh nói khó khăn:

- Thì cũng là vợ thật dấy. Nhưng tôi có sống với cô ta đâu!

Tôi rụng rơi, không còn đủ sức để hỏi thêm nữa. Tôi chỉ đủ sức chờ đợi Trung tự nói hệt ra. Tôi cưới cô ta trong lần đi phép đầu tiên sau thống nhất. Mẹ tôi muốn có người an ủi, thay thế tôi ở nhà. Mấy năm tôi ở Campuchia, cô ta mấy lần lăng nhăng, cả làng, cả xả biết.


Tôi chợt nghĩ đến thằng nhỏ và kịp nén câu hỏi có thể sẽ là sự gợi ý cho nỗi hoài nghi dày vô anh suốt đợi.

- Anh mấy cháu? - tôi hỏi.

- Một! Đứa con sau ngày cưới.

Tôi thở phào, cảm thấy nhẹ nhàng thay cho anh.

- Rồi anh tính sao?

Lúc này anh như không giấu nổi vẻ khổ sở đang hiện ra đầy đủ trên khuôn mặt khi phải nói ra với tôi cái quyết định chắc đã dày vò anh bao ngày. Cuối cùng anh đã nói:

- Con người, thường cò những lúc lý trí khôn lấn át được bản năng. Tôi hiểu vợ tôi... Thôi thì... cũng phải tha thứ.

- Còn Sa? - Tôi run lên.

- Chính vì vậy mà tôi đến gặp Hồng. Tôi nhờ Hồng nói với Sa hãy quên tôi đi và đừng lần lữa, vi tuổi tác con gái có thì…

Tôi muốn hỏi rằng sao anh không nói rõ, không dứt khoát từ đầu… nhưng tôi liền thấy không nỡ và, trong lòng chỉ còn cảm giác thương cho cả ba người. Sau đó, Trung còn nói nhiều, rất nhiều về Sa, về những phẩm chất của Sa, về tình cảm và kỷ niệm của hai người và lặp đi lặp lại lơi khuyên Sa hãy đi yêu nói khác. Tôi nghe miễn cưỡng. Tôi muốn đến ngay với cô bạn không may của mình.

Sợ phải nhìn thấy đôi mắt đau đớn của Sa, tôi phải nhờ máy điện thoại. Bên kia đầu dây vang lên giọng nói quả quyết:

- Hồng đó hả? Sa đây!

Đến lúc đó tôi mới hay mình chưa chuẩn bị một câu bắt đầu. Tôi nói ầm ừ:

- Anh Trung vừa... vừa tới chỗ mình.

Đã cảm nhận được cái kết thúc trong giọng nói của tôi nên tiếng Sa bỗng lạc đi:

- Cứ nói đi! Mình đủ can đảm nghe mà!

Chính sự cứng cỏi phi thường ấy làm cho tôi muốn nấc lên. Tôi kể qua qua cho Sa nghe nội dung cuộc gặp gỡ ban nãy. Lúc ấy tôi chỉ ao ước một chiếc máy điện thoại truyền hình để tôi được nhìnthấy cô bạn mảnh khảnh của tôi đang “vật lộn” với cái tay máy vừa mang đến cái tin đau lòng.

- Vậy càng hay! - Câu nói nhẹ tênh nhưng giọng Sa nức nở. Tôi van nài:

- Tôi nay mình tới nghen!

- Thôi! Mình muốn yên tĩnh vài hôm. Tôi nghe tiếng ống máy bên kia ngã ngất xuống.
Trong lúc Sa lao đao, Chánh xuất hiện, như chiếc chiếu manh giữa cơn buồn ngủ. Chánh đến với Sa từ từ, rỉ rả, không ào ạt, đúng như tính cách của anh. Vì vậy mà cô Sa mới bị mềm đi mặc dù Sa thường xuyên nói vơi tôi rằng nó không yên tâm về đối tượng mới này. Nhìn Sa, tôi biết Chánh không phải là thứ mà cái cây héo hon ấy cần. Nhưng Chánh có ưu thế về khoảng cách và lòng kiên trì đến kinh ngạc trong việc chinh phục Sa.


Hôm phái đoàn bốn mươi người của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh còn nằm ở Bộ chỉ huy tiền phương, lúc các đồng chí phụ trách bàn tính chia người sao cho các đơn vị xa xôi nhất cũng có đoàn đến thăm thì Chánh tỏ ra hết sức bồn chôn. "Nữ ít quá, phải chia đều ra". Đồng chí phó tư lệnh nói. Nhưng Chánh đã có lý khi khi anh bảo "Sa ốm yếu, hay bịnh, phải có người biết bịnh Sa đi cùng”. Xem ra đó là lý do chánh đáng đầy tình đồng chí nên đoàn đã phân công Chánh đi với Sa và kèm theo tôi, thành đội hình tam giác lý tưởng. Thế là, có một đoàn không có nữ, và đó là thiệt thòi đáng kể của một đơn vị nào đó.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Sáu, 2009, 07:16:22 am
Ngày đầu, chúng tôi dành cho bệnh xá. Lần lượt, đoàn đến từng lán thương bịnh binh. Chỗ nào hai phụ nữ cũng bị bao tròn như cái nhân bánh. Chỗ nào anh em cũng bày tỏ nguyện vọng giống nhau là có thể hết bịnh liền nếu được nghe các chị hát! Trời đất ơi! Chúng tôi mà hát hả? Chuyện đó tựa như bảo con vịt hãy hót lên. Nhưng ai nỡ từ chối lời đề nghị tha thiết thế kia trong khi những người đó phải nói bằng cái giọng thều thào và đang nằm bốc lửa trong cái mền mỏng tang. Những ánh mắt ngun ngún nhớ thương làm cho chúng tôi dạn dĩ lên. Tôi hát ước, Sa hát sau. Chỉ có tôi mới hiểu vì sao Sa yêu bài Hành khúc ngày và đêm đến thế. Cô hát chuẩn nhưng cái ngực ốm yếu không cho phép tiếng hát bay lên nên tiếng nó ri rỉ như tiếng dế. Thương bịnh binh nín thở thưởng thức và tôi cũng nín thở nghe vì lo sợ cho làn hơi mỏng manh của cô bạn. Nhưng Sa đã làm hài lòng người bịnh. Một bên thích thú được nghe giọng hát dù vụng về nhưng nó gần gũi, có thể nắm được bàn tay của người đó vì tấm lòng của họ. Một bên thì say sưa được cát tiếng lòng giữa những đồng đội của anh ấy. Chừng như đó không phải là tiếng hát mà là tiếng kể lể của trái tim về chuyện cũ.


Sau vài lần hát, chúng tôi gan lên, nói theo cách nói sân khấu là "dạn đèn”. Nên, khi bác sĩ Quang biếu Sa một trái nhãn đã bóc vỏ nữa, kèm theo lời đề nghị Sa hát một bài, chỉ một bài nữa thôi, thì Sa liên ngồi ngay ngắn lại, chuẩn bị cất tiếng.


Lần nãy, Sa hát công phu, da diết ít hơn mà bồi hồi, xao xuyến. Không, đã có một biến động mơ hồ nào đó trong cô bạn nhụt nhát của tôi.

Bên ngoài, bầu trời như có bàn tay thần diệu đỡ nó cao lên. Màu mực tàu đầu hôm đã ngả sang màu xám tro. Phía chân trời, chỉ một góc trời ấy, tiếng pháo đì đùng vọng về, tiếng pháo của bọn tàn quân Pôn Pôt trú trên đất Thái nã sang.


Chúng tôi phải trở về chỗ nghỉ của Ban tuyên huấn để ngày mai đi xuống đơn vị khác. Thấy Sa nấn ná để là người sau cùng bắt tay Quang, tôi kéo Chánh bước nhanh lên trước và kể cho anh nghe câu chuyện thú vị rằng có một bà má đi sang Campuchia thăm con đã dùng lá thư con làm hộ chiếu.


Dọc đường, chúng tôi gặp chiếc xe Hồng thập tự hối hả lao về phía bệnh xá. Sa đề nghị:

- Mình trở lại đó coi thương binh có nhiều không?

Tôi tán thành ngay, lập tức Chánh thành thiểu số.

Một chiến sĩ trẻ được đưa từ trên xe xuống chân phải bị băng chặt, chân trái lấm lem đất cát. Nghe tiếng miến ngoài của bác sĩ Quang:

- Tà Sanh ra hả? Sao không phẫu trong đó?

Một người nào đó trả lời:

- Mấy bác sĩ trong sốt liệt giường.

Người thương binh được đưa vào lán trực. Một y tá mở băng cho Quang khám. Anh nói khẽ vơi bác sĩ Tường:

- Có dấu hiệu hoại tử. Mổ giải thoát ga rô trong ngày. Ráng nuôi cái chân này.

Anh ra lịnh cho y tá chuẩn bị. Vừa lúc đó có thùng xe bò lộc cộc đi vào sân bệnh xá. Nhiều ánh đèn pin trong lán quét ra. Trên nệm rơm lót sàn xe, một ngươi đàn bà nằm lăn lộn. Không ai, trừ chúng tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên, bởi vì mọi cái đều có thể xảy ra trong khu vực chiến sự.

- Một ca đẻ - người y tá trẻ trở vào báo với Quang - bệnh viện Pai-lin đưa tới nhờ anh.
Một người đàn ông, khăn crơ-ma sọc trắng đỏ quấn cổ, quần áo đen mốc, bồng vợ trên tay, thở nặng nhọc bước vào. Vừa đặt lưng xuống giương, sản phụ liền nắm lấy thanh gỗ, như muốn vắt nó ra nước, lát lát lại gồng mình lên chịu đựng cơn đau. Bác sĩ Quang ghé xuống gương mặt đầm đìa mồ hôi của người đàn bà Campuchia, bàn tay anh nhẹ nhàng kéo gấu sà rông của chị xuống kín đùi. Anh mỉm cười thông cảm và ngươi đàn bà bất đông ngôn ngữ phút chốc hiểu ngôn ngữ không lời trên môi anh bộ đội Việt Nam và như được an ủi, chị cũng mỉm cười, nụ cười nhăn nhó đi cùng với tiếng rên.


Thấy người đàn bà đau trở dạ, người thương binh nằm ở giường bên cứ nhìn sang. Anh nói khó nhọc:

- Lo cho người đó đii Có cách nào giúp chị ấy sanh mau mau.

Đầu anh lính trẻ lả trên gối, mặt xanh rớt, ẩm ướt nhưng không còn giọt mồ hôi nào rịn ra được như cơ thể anh đã vét hết cả thứ nước đó để cầm cự với cơn đau. Hai y tá đưa sản phụ vào trong. Quang trở ra nói vơi Tường:

- Ngôi thai còn cao. Lát nữa không có dấu hiệu sanh thì phải mổ ngay.

Tường đo lại huyết áp của anh thương binh. Quang căng thẳng theo dõi mặt số tròn trên mặt chiếu, huyết áp đang tuột một cách đáng lo. Quang ra lịnh truyền dịch. Trong lúc chờ huyết áp lên, anh lui vào phòng phẫu và từ trong đó, tôi nghe bay ra mùi ê te, và tiếng kim loại rổn rảng.

Chúng tôi ngồi trong lán trực của bịnh xá không biết bao lâu. Còn ai nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi trong không khí ấy.

Nhìn ra ngoài trời, đã thấy màu sương đùng đục như khỏi trắng đặc. Người y tá trẻ, mặt mày chất phác, con trai xứ miền Tây của tôi ngồi cạnh anh thương binh, lo lắng nói với chúng tôi:

- Lát nữa, tới cữ của ông rồi!

- Ông nào? - Sa mau miệng.

- Bác sĩ Quang đó. Bộ thấy ổng dình dàng vậy mấy chị tưởng ổng thoát sao? Sốt rết là thuế rừng mà. - Người y tá cười hồn nhiên.

Tiếng oa oa từ trong phòng phẫu ùa ra. Cha đưa bé, nãy giờ 10 lắng nép bên vách, lao tới nhận con. Một sinh vật ngọ nguậy trong tấm vải quấn trắng tinh, trên tay bác si Tường. Qua vai anh, tôi nhìn thấy bác sĩ Quang. Tôi nhìn thấy đôi mắt bốc lửa của anh và nhũng giọt mồ hôi rịn ra trên trán, dưới vành mũ trắng. Anh không nhìn ai, chỉ nhìn người thương binh đang hướng ánh mắt tin cậy về phía anh. Một y tá trẻ khác nhìn anh chờ đợi rồi lấy gạc chấm mồ hôi cho anh. Tôi nhớ lời anh và biết, lúc này anh thèm cầm búa hơn là cầm dao mổ bởi vì cơn sốt sắp quật anh xuống giường. Nhưng anh đã ra lịnh chuyển thương binh vào và tấm lưng tháo vát của anh biến ngay sau tấm màn trắng tinh của phòng phẫu.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Sáu, 2009, 07:18:06 am
Sa đứng lên, kéo tôi đi vòng ra ngoài vách lán. Một hồi tôi mới biết nó tìm một kẽ hở để nhìn vào phòng mổ. Nghĩ tới phải thấy máu, tôi rùng mình, níu tay Sa đi. Không ngờ cô bạn rụt rè của tôi gan lên một cách đột ngột đã trì tôi đứng lại và còn tỏ ra giận rỗi. Chánh lần theo chúng tôi và đề nghị một cách khó chịu rằng phải trở về Ban tuyên huấn ngay và nhắc chúng tôi “tinh thần tổ chức kỷ luật".


Chúng tôi bước lặng lẽ trên sân cỏ đẫm sương. Buổi sáng, bầu trời Pai-lin nhẹ nhõm nhưng đối với người sốt rét, đó là giờ phút nặng nề nhức nhối họ phải trải qua.

Trên đường đến tiểu đoàn thông tin, chúng tôi gặp cái đầm mênh mông, cạn sợt như hố bom, có thể xắn quần lội qua được. Cả đoàn kể cả thiểu úy Chất, người dẫn đường tháo vát và biết chiếu anh em lội ào xuống, vốc nước rửa mặt. Ở vùng đất không kinh rạch, cái hồ có giá trị như một bóng râm trên sa mạc. Duy chỉ có Chánh, không vì thế mà hấp tấp. Anh cẩn thận xắn quần lên khỏi gối, từ từ bước xuống như đang dò mìn. Đứng ở một góc hồ, cách chỗ Chánh mươi thước, Sa nhìn ngược lên, nhưng không nhìn thẳng vào anh mà nhìn chếch... Đột nhiên, nó khều tôi:

- Nè, sao chân ông Chánh trắng toát vậy?

Nó cau mày, phân vân.

Cũng như khi đến tiểu đoàn quân y, ở đơn vị này, chúng tôi được đón tiếp hết mình. Chúng tôi đã làm những việc như đã làm ở bệnh xá, tức là đi xuống tới tiểu đội, nhìn vào nồi cơm, hộp thịt, gói ruốc của chiến sĩ. Chúng tôi hỏi và ghi chép cẩn thận những suy nghĩ, những kiến nghị của người lính đối với hậu phương. Chúng tôi cũng hát những bài hát anh em thích bằng cái giọng nghiệp dư non nớt của mình.


Tối đó, sau bữa cơm có thịt gà bắt trong chuồng do ban chỉ huy đãi, tôi và Sa kéo nhau ra gốc xoài nói với nhau mấy chuyện của đàn bà. Chánh cũng ra theo. Anh lót dép ngồi trước mặt hai đứa rồi bắt đầu huyên thuyên chuyện cơ quan anh, và, trong những câu chuyện đó, lần nào tôi cũng thấy hiện ra bóng dáng “mẫn cán" của anh.

- Đợt đi phong trào vừa rồi, một mình tôi tổ chức được mười lăm tập đoàn sản xuất trong nửa tháng.

- Anh cũng đi vận động hợp tác hóa nông nghiệp sao? - Tôi hỏi tò mò.

- Tỉnh ủy huy động cán bộ, cơ quan cử tôi. Đi công tác về, nghe tôi báo cáo, nhiều người chịu lăm...

Tôi thấy Sa lại cau mày.

- Anh có biết - tôi nói thân tình - sau khi anh rút thì mười lăm cái tập đoàn đó cũng xẹp luôn không? Tôi sợ anh phát động còn sống sít...

Chánh lại anh xao hơn vì Sa không góp chuyện mà còn phật ý ra mặt.

- Mai mình rời khỏi đây sớm phải không anh Chánh - Sa hỏi, cô từ tốn.

Chánh gật đầu. Sa tiếp:

- Tôi nghĩ (họ đã tôi với nhau rồi) mình không nên chùm nhum với nhau như vây. Phải tận dụng thời gian quý báu này để ở bên anh em bộ đội.

Chánh thở hắt ra, vội vàng đứng lên, vẻ phục tùng.

Tuần lễ công tác qua đi vùn vụt. Đã đến ngày về. Chúng tôi phải dồn đồ lại, dành một cái túi xách để đựng thư. Trên đường từ Ban tuyên huấn ra chỗ xe đậu, chiếc xe GMC dầu dãi hôm rước, chúng tôi ghé lại bệnh xá, đơn vị duy nhất nằm gần mặt đương. Bác sĩ Trường cho biết Quang đã đi vào Tà Sanh hôm qua, thay mấy bác sĩ đang sốt nặng trong đó. Tôi thấy Sa chòng chành vì cái tin ấy.

Tất cả thương bệnh binh còn đi được đều lần ra cửa lán vẫy chúng tôi. Khi họ gọi ầm lên: "Gửi lời chào Tổ quốc nhá!", tôi chợt giật mình. Câu chào ấy nhắc chúng tôi khoảng cách diệu vợi này là có thật, là chúng tôi đang mỗi khắc mỗi bước về phía hậu phương thanh bình, ấm cúng, đang từ biệt những chiến sĩ và đồng bào của chúng tôi, họ ở lại vùng rừng thiêng núi độc này để làm lá chắn cho hai dân tộc.


Xe đi qua một ngã ba. Đường vào Tà Sanh hun hút, mặt đường cuộn sống trâu, dấu vết của những bánh xe chiến trường. Cô bạn tôi nhìn ngoái lại phía sau, cái nhìn kín đáo chỉ có tôi mới nhận thấy và chắc con đường ấy đang xuyên qua tim nó với tất cả những đợt sóng không bình thương. Lần lượt, Sa không ngồi. Cái khoảng ghế hẹp Chánh ý tứ chừa cho nó bỗng dưng trống rỗng.


Ngay tối hôm đó, tại bộ chỉ huy tiền phương, chờ cho cả đoàn ổn định xong chỗ nghỉ, Sa ngồi vào bàn. Tôi đến bên, giả vờ nhắm mắt trước những trang giấy đặc kín chữ. Sa nói nghiêm trang:

- Mình viết cho ảnh đây!

Tôi hơi ngạc nhiên nhưng cũng không đến nỗi phải sững sỡ. Vì điều phải xảy ra, đang xảy ra. Thấy Sa vui vẻ, Chánh lại lượn quanh bàn, nhìn Sa dò xét. Sa đáp lại ánh mắt ẩy bằng vẻ mặt nghiêm nghị đến mức Chánh phải lảng ra xa.


Tôi chui vô mùng, miên man nghĩ ngợi. Thỉnh thoảng, nhìn ra, tôi thấy Sa vẫn tần ngần bên bàn. Tôi biết Sa đang lao đến hạnh phúc bằng sự bạo dạn lạ lùng. Viết xong, cô nàng mang cả xấp thư và quyển sổ tay vô mùng. Tôi hỏi:

- Mấy trang? Mùi dữ hôn?

Nó nhụi đâu vô ngực tôi. Hình như có những giọt nước âm ấm rơi xuống. Hãy khóc đi, mình biết bạn đang khóc vì hạnh phúc.

Rồi tôi nhận được thư Quang. Bức thư nhờ chuyển cho Sa. Sau cú điện thoại của tôi, Sa như mọc cánh, bay đến. Cầm cái bao thư sờn Sa lật qua lật lại bẵng bàn tay run run và ngắm nghía mãi hình anh bộ đội trong tem. Tôi trao cho cô nàng cây kéo:

- Thôi, khui đi, còn làm bộ.

Sa cười, giấu mặt sau phong thư. Chưa chi, đôi mắt đã rân rấn.

Tôi đi ra ngoài, hồi hộp với nỗi hôi hộp của bạn tôi. Tôi nhớ đến Trung và hiểu Sa như con chim bị cành cây cong, nó được yêu hay bị khước từ? Rất lâu tôi mới trở vào, hỏi:

- Sao?

Tôi lại kịp nhìn thấy ánh mắt tự tin của Sa hôm chúng tôi về nước. Nó đẩy lá thư cho tôi. Nhìn dòng chữ đầu và tờ lịch trên tường, tôi thốt lên:

- Trời, bốn tháng!

Ngày hạnh phúc hôm nay của Sa đã len lỏi qua sự khắc nhiệt đến ngợp thở của thời gian và chiên tranh. Nhưng tôi đã kịp đọc thấy những hàng chữ đẹp, việt ra bởi một bàn tay đẹp.

Lúc bắt tay em, anh cố xiết thật mạnh cho em đau và nhìn sâu vào mắt em để thăm dò. Đôi mắt ấy đã ánh lên sự cứng cỏi và nỗi dịu dàng chịu đựng. Anh bỗng hiểu ra mình đã gặp một tâm hồn mong đợi từ lâu...


Hà Nội tháng 10-1984


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 28 Tháng Sáu, 2009, 07:19:46 am
CHUYỆN LẠ TRONG NGÔI MỘ

BÙI THANH MINH



Một quả đạn ĐKZ chẻ toác cành cây săng lẻ trước mặt tôi, nửa thân cây cùng quầng lá quặn gãy, đổ vật nhào. Vầng sáng của ánh mặt trời xòa xuống mặt đát bị vụn nát. Liên tiếp hai quả đạn pháo 105 ly cày tung cái ụ mối phía sau, kéo theo một loạt cây xanh đổ xuống đất đá bắn tung rào rào. Đạn pháo, đạn K56, đạn 12,7 ly... thi nhau nổ đinh tai, nhức óc. Tôi và đại đội trưởng Bình vội nhét chiếc máy điện thoại vào hốc cây lớn chỉ huy bộ đội đột phá.


Sau hai ngày kịch chiến, thương vong của trung đoàn lên tới con số 50. Nay là ngày thứ ba, trung đoạn hạ quyết tâm bằng giá nào cũng phải chọc thủng tuyến phòng thủ của địch giải phóng nhân dân trong thị xã Kô Kông.


Trong làn đạn dày đặc, anh em khiêng về một thương binh. Đó là Xuân, một cán bộ trung đội dũng cảm, mới được thưởng huân chương chiến công trận trước. Xuân bị một viên đạn xuyên từ ức vào trong ngực, một viên khác phá bung đầu gối phải. Toàn thân Xuân tím ngắt, nhưng đôi mắt lại tỉnh. Xuân nói như trăng trối:

- Đệ ơi! Tao còn mấy tháng phụ cấp, mày thanh toán rồi gửi về cho má tao nhá.

Đệ cúi xuống sát mặt Xuân vừa rãnh làn đạn, vựa để nói rõ cho Xuân nghe:

- Ừ, mày yên tâm...

Một số chiến sĩ chạy đến vĩnh biệt Xuân, vì ai cũng hiểu rằng chỉ ít phút nữa là Xuân "đi". Cũng biết vậy Xuân nhìn tôi và Bình nói như sợ hết thời gian:

- Anh Minh, anh Bình phải không? Em còn nhìn rõ... thôi, em chào các anh. Các anh ở lại chiến đấu trả thù cho em nhé.

Lạ thay, Xuân nói không một lời vấp váp, không một tiếng hụt hơi. Mặc pháo gầm, đạn réo các chiến sĩ vẫn vây quanh Xuân như làm lễ truy điệu.

- Xuân chào tất cả anh em... Đệ ơi, mày về nói với má là tao đã hoàn thành nhiệm vụ - Xuân nói, rồi nhắm mắt, giọng tha thiết như niệm Phật:

- Má ơi! Con đã hoàn hành nhiệm vụ với Tổ quốc... Thân ơi! Em đi lấy chồng đi em nhá. Anh thương em lắm... Má ơi! Thân ơi!

Chúng tôi đều biết má chỉ có mình Xuân, cha anh là liệt sĩ, còn Thân là vợ chưa cưới của anh.

Kết thúc trận chiến, chung tôi chạy về trạm phẫu của trung đoàn xem sức khỏe của Xuân ra sao. Nếu có mệnh hệ gì cũng còn gặp nhau phút cuối.

Trạm phẫu là một căn lán dựng tạm trong rừng cao su xanh rợp, thi thoảng có tiếng nổ lốp bốp của trái cây cao su và tiếng cành cây khô rơi gãy. Chúng tôi ùa vào lán và mừng quá vì Xuân vẫn còn sống. Nhưng để cứu Xuân, bác sĩ quyết định phải phẫu thuật cắt bỏ chân phải của anh trước khi chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Ca phẫu thuật được tiến hành ngày. Ba mươi phút sau y tá mang ra khúc chân của Xuân vừa tháo khớp gối. Chao ơi! Một chiếc chân còn nguyên vẹn, ống chân thẳng, bắp thon dài, bàn chân nhỏ, gót đã chuyển thành màu tím nhợt.


Chúng tôi bảo nhau xin được mang cái chân của Xuân về đơn vị, chôn cất. Anh em gói “liệm" vào chiếc “quan tài" nhỏ bằng gỗ tốt rồi đưa lên đồi. Trên đỉnh đồi cao lộng gió có một ngôi mộ nhỏ có vòng hoa nhỏ, có hương thơm và được đánh dấu chu đáo.


Hai ngày sau, chúng tôi được tin Xuân hy sinh trên đường chuyển viện vì vết thương quá nặng. Nhưng xót hơn là tin xe chở thi hài về nước qua phà bị tụt xuống sông và xác Xuân bị nước cuốn mất.


Mười năm sau, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, theo thỏa thuận của Chính phủ hai nước, chúng tôi được trở về Tổ quốc. Tôi bàn với anh em là phải mang “thi hài" Xuân về trao cho người mẹ. Hôm ấy màu trời xanh như mùa thu ở Việt Nam, cuối chân trời có những vệt mây màu đỏ. Trên đỉnh đồi hoa lau trắng như bông, lắc lư vẫy gọi. Chúng tôi đứng xếp hàng ngang trước ngôi mộ nhỏ. Đệ thắp ba nén hương, rồi quỳ xuống cung kính khấn vái. Mọi nghi lễ xong xuôi, chúng tôi đào lên. Khi mở nắp ra, thật lạ: Chiếc chân sau 10 năm hầu như còn nguyên vẹn, năm chìm trong lớp nhũ màu hồng trông như máu, xung quanh miệng hòm trắng xóa những phấn bông. Tôi bàn với Bình và anh em để nguyên thế nắp lại, dùng vải bọc nhiêu lần, ngoài cùng gói bằng ni lông, cho vào ba lô rồi mang về thủ đô Phnôm Pênh cùng đứng trong hàng quân làm lễ từ biệt đất bạn.


Khi về đến thành phố quê hương mới hay tin Xuân hy sinh rồi mất xác là nhầm lẫn. Xuân vẫn sống không những thế mà còn từ thương binh hạng ba cậu ta chạy chọt lên hạng một. Vài năm gần đây Xuân đưa gia đình vào thành phố này để sinh sống và trở thành “ông chủ" rất “kính nể" nhờ làm dịch vụ “thương binh". Nghĩa là Xuân biết làm cho ai dù không thương tật sẽ có thẻ thương binh, hạng nào cũng được miễn là gia dinh họ có đủ tiền cho “dịch vụ".


Chúng tôi quyết định mang hòm "thi hài" đến gặp Xuân để cho một bài học, nhất định không để Xuân trượt dài như thế. Tòa nhà 3 tầng nằm chênh ềnh mặt phố Bùi Thị Xuân, chiếc cổng bằng sắt sơn xanh đóng im ỉm khóa bằng chiếc khóa to đùng màu vàng. Tôi thò tay bấm chuông, vài phút sau cổng mở. Một con bẹc giê màu hung to như con bê con đứng ở góc thềm nhảy dựng lên tru tréo, nhưng bị chiếc dây xích kéo giật lại. Một người thiếu phụ mặt buồn như là héo, lặng lẽ đưa chúng tôi vào phòng khách. Pha xong ấm trà, chị ta nói:

- Ông chủ đi công chuyện, lát nữa về. Các ông chờ chút.

Tôi định đặt chiếc mũ mềm xuống gộc chiếc bàn nhóc, nhưng vội rụt lại đành phải nắm chiếc mũ trong lòng bàn tay để trên đùi bởi dưới tấm kính dày làm mặt bàn chỗ tôi định để chiếc mũ, ông chủ đặt tờ đô la một trăm màu xanh, kế đó là hình một cô gái gần như khỏa thân một trăm phần trăm hớ hênh trơ trẽn.

Ngồi chờ, chúng tôi hỏi mới biệt người phụ nữ đang ngồi tiếp chúng tôi chính là Thân vợ Xuân. Từ ngày vao thành phô này, Xuân thành ông chủ, còn Thân thì vẫn không làm mẹ được nên bị “giáng xuống” làm người ở. Thay thế Xuân là người đàn bà khác. Bà má của Xuân cũng ở tại đây, hơn năm nay không biết má bị trúng bệnh gì mà suốt ngày không nói, không rằng. Chúng tôi tỏ ý muốn gặp má. Má từ dưới bếp bước lên, cũng lúc xe hơi chở ông chủ đỗ xịch ở cổng.


Xuân xuống xe bước vào, hai cánh tay mũm mìm, cà nhắc vì chiếc chân giả phải đỡ cả thân hình. Xuân xững lại vì vệt mắt của bà mẹ chém ngang. Thân đóng cổng rồi lặng lẽ đi vào trong nhà. Con bẹc giê vẫy chiếc đuôi đến gập thân mình mừng chủ. Xuân thập chễnh đến chỗ con chó, kẹp chiếc ca táp vào đùi móc ra lấy một chiếc kẹo sô-cô-la bóc nhét vào miệng con vật, rồi khom lưng vuốt ve thích thú nhìn nó tợp tợp nhai chiếc kẹo. Xong việc bước vào cửa, Xuân mới biệt nhà có khách. Phải mất khoang một phút thông hiểu ngạc nhiên hay không nhận ra chúng tôi mà Xuân đứng ngây, mãi đến khi Đệ đứng dậy nói như quát:

- Tao đây, thằng Đẽ băng vết thương cho mày đây! Tao mang hai tháng phụ cấp trung sĩ của mày về đây mà may cũng quên à?

Xuân như chọt tỉnh, rồi giơ hai cánh tay chẳng để làm gì, giọng rất ông chủ:

- Ô… ô… các chiến hữu.

Sau các thủ tục xã giao, chúng tôi không thể kìm lâu hơn nữa, lúc đầu tuyên bố mục đích chuyên viếng thăm, sau rồi nóng mặt cho một bài học. Xuân ngồi nghe, mặt đỏ nhừ rồi tái thâm như bị chọc tiết. Chúng tôi trao cái hòm "thi hài" cho Xuân. Anh ta đặt lên mặt bàn và bóc từng lợp vải. Khi mở nắp ra cũng lạ thay: Chiếc chân nguyên vẹn năm trong lợp nhũ hồng đã biến đâu mất. Trong hộp chỉ có một khúc xương cẳng chân đuồn đuỗn thâm thì nằm trơ khô khốc.


Xuân đứng ngây, mắt như sáng ra. Thân quay đi, hai bàn tay bưng lấy mặt. Bà má thì ôm cái hòm gỗ có khúc xương, bỗng thốt được thành lời:

- Ôi! Con tôi, con tôi đây rồi...

Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa giải thích được hiện tượng kỳ lạ của cái chân.


BTM


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 06:42:14 pm
CHUYẾN XE ĐÊM


MA VĂN KHÁNG

Chiếc xe lại hỏng.

Lần này là lần thứ mấy, kể từ lúc nó rời biên giới? Ngồi ở băng ghế sau, người phụ nữ phương Tây xinh xắn không nhớ, nhưng khó chịu và buồn lo lộ ra mặt. Bởi vì lúc này trời đã tối. Trời tối ở một vùng đất xa lạ, còn ngổn ngang, bữa bộn vết tích của chiến tranh. Đất hoang lạnh, loang lổ những vết cháy. Cây xém, ủ rũ cạnh những đống vỏ đạn pháo lớn và những vòng thép gai bò loằng ngoằng gớm guốc. Đường đã vắng từ lúc chập tối.

Giờ, thì chẳng còn sự sống trên mặt con đương gập ghềnh, lồi lõm hố đạn pháo. Không có xe đi ngược chiều và cùng chiều, kể cả những chiếc xe hai bò kéo, bánh xe to một cách cổ lỗ và như là vô lý của những người dân vừa ra khỏi cuộc chiến tranh đang tìm đường trở về quê cũ. Không còn tiếng nó lăn lọc cọc đều đều trong hành trình giống như trong một cuộc viễn du vô định.

Giờ, chiếc xe trở nên cô đơn.

Họ đã phải đổi xe ở biên giơi. Chiếc Mazda sang trọng được thay thế bằng chiếc com măng ca cũ kỹ minh đầy bụi, lam lũ, không có biển số. Trông nó đã nao cả lòng, nhất là khi nghe ngươi sĩ quan dặn người lái xe: "Chú ý: gặp ai, không được nói cho họ biết xe chở ai, đi đâu. Dọc đường, không cho bất cứ một ai đi nhờ xe".

Ngươi phụ nữ hiểu ngay từ lúc đó: tính mệnh của họ trên đất nước xa lạ này hoàn toàn phụ thuộc vào chiếc xe và anh lái xe, một chiến sĩ Việt Nam nhỏ nhắn hiền lành. Ôi chao! Chiếc xe thì quả là không tin cậy được. Giờ, nó lại chết giữa vùng đất mênh mang, nhìn đâu cũng chỉ thấy mờ mờ nhũng cây thốt nốt cao lớn, chơi vơi trên vòm trời, chẳng có gì chơi vơi, chống chếnh như loài cây ấy vào lúc này.

Thấy xe hỏng, người đàn ông phương Tây ngồi cùng người phụ nữ, từ nãy vẫn lim dim như hoài niệm cái gì đó, choàng tỉnh, đẩy cửa xe, chui ra. Đó là một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, bụng xệ. Cái bụng xệ không gây ấn tượng chậm chạp, nặng nề. Vì cái quần jean bó tôn người ông cao lên, rất hòa hợp với cái áo bu-dông bó gọn thân trên và cái vẻ háo hức trẻ trung trên khuôn mặt dãi dầu, từng trải. Ông là phóng viên của nhiều tơ báo lớn trên thế giới, quen với những khung cảnh chiến trường, nỗi hiểm nguy và những sự kiện mới mẻ, sôi động của hành tinh.

- Rô-đa, em cứ yên tâm.

Người đàn ông ghé mặt vào cửa xe, an ủi người phụ nữ. Cạnh ông, chị nhỏ bé, non nớt như một cô em út. Họ mới lấy nhau. Và người đàn ông đã thuyết phục được vợ mới cưới thuận theo ý muốn phản ánh cái máu mê nghề nghiệp của mình: hưởng tuần trăng mật trên con đường thiên lý của nghề nhà báo, ở một đây nước xa xôi, đầy bí hiểm: "Em có biết không? Bọn cai trị ở nước ấy bắt đàn ông đàn bà phải sống cách biệt trong các trại tập trung. Chúng chỉ định người đàn bà này lấy người đàn ông kia. Chúng cũng tổ chức cưới cho họ. Cưới hàng chục cặp ghép đôi như ghép gà, ghép lợn rồi ai lại về trại nấy. Không ai được phép có một cái gương. Soi mặt dưới bóng nước, bắt gặp chúng đập chết liền". Nghe người chồng nói vậy, người vợ rùng mình. Thật là kinh khủng và quái gở. Làm sao có thể tin được. Tính tò mò được khơi dậy. Chị bằng lòng. Và họ bay đến Việt Nam, rồi bây giờ quá cảnh qua đây, vùng đất nước vừa mới thoát khỏi cái tai ương khủng khiếp vô nhân đạo nhất kia, mới có ít ngày.

Được sự an ủi của chồng, người phụ nữ yên dạ. Chị gật đầu hơi nũng nịu. Và người đàn ông hôn vợ rồi đi lên phía đầu xe lúc này nắp ca bô đã mở, hất lên; ở đó lúi húi bóng người lái xe bé nhỏ.

- Xe làm sao thế, anh người Việt - Người đàn ông hỏi, giọng cô tỏ ra không sốt ruột.

- Thủng két nước, ông ạ. Người lái xe đáp khẽ, nhưng lại chợt giật mình chồm lên, gào vào trong xe lúc đó có ánh đèn vừa lóe dậy vàng đục: Tắt đèn! Tắt đèn đi, chị ơi!

Người đàn ông quay đầu lại. Ánh đèn trong xe vừa bật - chắc là người phụ nữ định tìm cái gì đó - đã tắt ngấm. Người phụ nữ kêu the thé, chừng như bực bội.

Ngươi đàn ông bước lại giữa xe, nhún vai. Trong xe, im thin thít. Cả hai đều tự hiểu một cách thật sâu xa rằng, ánh sáng lúc này là mục tiêu của bao điều hung hiểm. Tốt nhất là yên lặng trong đêm và chờ đợi. Nhưng mà chờ đợi bao lâu nữa. Thủng két nước giữa chốn này!

Người đàn ông đứng tựa lưng vào cửa xe như chở che cho vợ, nhìn anh lái lui húi ở đầu xe, chốc chốc lại thở dài vô vọng.

Nhưng bỗng, thình! Nắp ca bô xe dập xuống. Người đàn ông bước nhanh lên đầu xe. Người lái xe đang lau tay.
Lát sau, ông quay lại, mở cửa xe, gieo mình xuống cạnh vợ, thở phào sung sướng:

- Thủng kết nước! Nhưng, thật là kỳ diệu! Thật là kỳ diệu!

- Chữa được rồi, Bốp? - Người phụ nữ níu vai chồng, ríu rít: Chữa xong thật rồi à! May quá!

- Anh ta đã chữa. Bằng gì em có biết không? Ở Cu-ba, năm sáu mươi, anh cũng gặp một ca như vậy. Ở Ăng-gô-la vừa rồi chiếc xe chở anh cũng rơi vào cảnh tương tự, người lái xe bít lỗ thủng bằng xà phòng. Còn ở đây, bây giờ, anh lái người Việt này chít các lỗ thủng bằng cứt trâu! Thật là kỳ lạ!


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 06:42:58 pm
Thật là kỳ lạ! Lúc chiều tối, họ đã gặp những chiếc xe từ chiến trường về, đi ngược chiều tới họ. Nhiều chiếc không kính. Có chiếc dùng đèn pin thay đèn pha và cả hai vợ chồng đã cười như nắc nẻ khi thấy một chiếc xe trên nóc buồng lái đặt một phuy xăng, xăng theo vòi cao su rỏ thẳng xuống đầu máy, chắc là bơm xăng hỏng. Họ đã băn khoăn tự hỏi: những người chiến sĩ kia, vì lẽ gì mà vất vả thế? Họ đem thân họ đến đất này đâu có phải là để giải phóng cho đồng bào họ? Ai cũng biết người Việt đã trải qua hơn ba chục năm chiến tranh trên đất nước của mình rồi. Người phóng viên đã hỏi câu đó với một vị chỉ huy ở biên giới. Người chỉ huy nguyên là một thầy giáo dạy tiếng Pháp. Ông không trả lời thẳng vào câu phỏng vấn của nhà báo: “Theo chỗ tôi biết, trong ngôn ngữ tất cả các nước châu Âu, đều có chữ tình. Tình yêu, tình bạn, tình gia đình, tình thầy trò - ông nói điềm đạm. Nhưng trong tiếng Việt của chúng tôi, cạnh chữ tình còn có chữ nghĩa; nghĩa về phương diện nảo đó, là kết tinh của tình, nghĩa vợ chồng, nghĩa bè bạn, nghĩa xóm giềng lân bang...". Đó thật là một điều mới lạ nữa vơi người phóng viên.

Và bây giờ khi xe đã chữa xong, tiếp tục lăn bánh, người phóng viên lại có cảm giác ngỡ ngàng, mỗi bánh xe lăn là một bước đi vào những điều chưa biết, tư cảnh quan tới không khí, khoảng trời.


"Mùa khô kéo dài 6 tháng. Người đàn ông nhớ tới một trang sách trong cuốn sách khảo cứu về đất nước này mà ông đã được đọc rất kỹ trước khi qua đây. Bạn có thể nhìn thấy cây thốt nốt xa tít ở chân trời chỉ còn nhỏ bé, đơn côi như ngọn cỏ, đựng trơ vơ như chứng nhân từ tiền sử. Đất phù sa cổ khô, chờ mưa xuống sẽ xuê ra, tơi tả. Lúc ấy người Khơ-me sẽ sạ lúa, cứ mỗi mẫu là 60 cân hạt. Cây lúa cao lên, họ sẽ bừa áo đi. Cây yếu tự chết. Cây nào sống sót thì sống mạnh mẽ, mãnh liệt, y hệt con người ở xứ sở này. Đất nước sống bằng gạo và khô cá này ngờ đâu đã có lịch sử từ 2500 năm trước công nguyên, đã trải qua các vương quốc, vương triều...".


Bánh xe chạm đánh kịch vào gờ một chiếc cầu, cắt đứt dòng suy tưởng của người đàn ông. Cả hai vợ chồng cùng hơi bị xô về phía trước. Và họ cùng nhìn thấy lố nhố trong bóng đêm ba bốn cái mũ sắt cùng mấy ngọn súng tiểu liên. Người lái xe ngoảnh ra cửa, đưa tay lên chào những người gác cầu, nói cái gì đó và chiếc xe lại lăn đi ngay.

Sự gặp gỡ thỉnh thoảng một chiếc cầu và các trạm gác vừa làm cho hai vợ chồng người phóng viên yên lòng, lại vừa gây cho họ cảm giác phấp phỏng.

Xe cách cầu được một quãng, người lái xe trẻ tuổi, quay lại, vẻ như là bâng quơ:

- Không có bộ đội thì trong vòng một ngày, chiếc cầu sẽ bị bọn phỉ phá sập ngay.

Ngươi phụ nữ co người lại sau câu nói đó. Nhất là lúc này đêm bỗng nhiên trở nên nhờ nhờ sáng, người đàn ông háo hức vì nghề nghiệp, đã chuyển lên ngồi ở ghế trước và không khí trở nên hắt hiu khác thường. Đêm mờ cành hiện lên sự vắng vẻ, cái vắng vẻ chứa chấp những bất trắc khôn lường.

- Một đất nước huyền thoại và trữ tình. Rô-đa ạ.

Người chồng quay lại, đắm chìm trong suy tưởng, thoát khỏi cái hiện thực lạnh lẽo ngoài kia. Nhưng người vợ đã bíu lấy cổ chồng, giọng lạnh run:

- Bốp, lạy Chúa! Sao chúng ta không đợi sáng mai hãy đi.

- Ồ nghề nghiệp của anh. Rô-đa à, trong tĩnh lặng buổi đêm, ta nhìn được chiều sâu của các sự kiện.

- Lạy Chúa! Em vùa đọc xong “Chùm nho uất hận" của Sten-béc. Sao em có cảm giác chúng ta đang ngồi trong chiếc xe Hudson của gia đình Tôm đi về miền Ca-li-phoóc-nia xa xôi, vô định quá.

- Đừng nghĩ u ám thế. Rô-đa.

- Lạy Chúa, trong cuộc di cư tuyệt vọng ấy, thoạt đầu là ông nội Tôm chết, kế đó là bà nội Tôm...

Người đàn ông lắc đầu, im lặng. Cái rùng mình từ người phụ nữ lan sang ông, lướt qua ông để lại trong ông một cảm giác lửng lơ và khi thấy xe chạy gần một tiếng đồng hồ nữa mà không gặp lại một chiếc cầu nào thì ông thấy nỗi lo sợ của người vợ là hợp lý ông cũng thấy như mình đang chờ đón một cái gì đó như là sự may mắn, điều rủi ro, và các chức phận cảm giác của ông căng dần lên, khó chịu.


Thấm nhiễm khắp không gian là cơn tê giá của những hãi hùng tưởng tượng mà hết sức đáng sợ. Trời đất trống tuếch, nhưng bất cứ ở nơi nào đó cũng có thể nảy ra một cái gì đó rất bất ngờ, ở ngoài sự phỏng đoán của con người.


Sự tương phản tình cảm ở trong xe, đối cực với trạng thái tâm lý của người phụ nữ và phân não của người đàn ông, là anh lái xe. Anh còn rất trẻ trong bộ quần áo lính, những bộ quân áo lính không bao giờ mới, nhưng bao giờ cũng làm cho người mặc trẻ ra. Chỉ độ hăm mốt hăm hai, anh có một khuôn mặt không thật đặc sắc nhưng dễ mến, nhìn bán diện, cái trán hơi dô, gò mũi cao và cái cằm thon lẹm, nhỏ, hệt cằm con cái. Song đáng chú ý nhất là con mắt. Xe chạy không đèn. Nhưng mắt anh là ngọn đèn. Hình như nó phát ra hai luồng sáng. Và con người trẻ tuổi ấy lại diễn đạt sự bình tĩnh đến mức người đứng tuổi vốn có ưu thế ấy phải ghen tị. Sự bình tĩnh thuần thục và tự nhiên làm sao. Đó không phải là sự lên gân cố tinh, hay thái độ vô tư lự, không hiểu biết. Cũng chẳng phải là sự phớt lờ, khinh bạc. Sự bình tĩnh vì từng trải, vì làm chủ được sự vật, hòa hợp một cách thật nhuần nhuyễn với cái gì đó như là một bản lĩnh chiến sĩ, có thể hiện lên thành hình hài cho một kiệt tác điêu khắc.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 06:43:55 pm
Người phóng viên phương Tây cảm nhận điều đó không thật rõ ràng, nhưng ông muốn ghi lại hình ảnh này trong ký ức vâ ông đang tận từ ngữ, phong điệu để định hình sự diễn đạt. Nhưng, ông bị đột ngột.

- Ông nên ngồi ra ghế sau đi.

Người lái xe bỗng ngoảnh sang người phóng viên, nói khe khẽ, nét mặt không hề thay đổi, nhưng đó là một nét mặt khó miêu tả nhất vì đằng sau cái thần thái tự nhiên ấy là cái mênh mang sâu thẳm của tinh thần. Người phóng viên dò đoán, cố nắm bắt cái tinh thần ấy thì người lái xe đã thêm:

- Ngồi ở ghế trên này nguy hiểm đấy, ông ạ.

Lần này giọng nói của người lái xe có vẻ nghiêm trang. Lập tức, ngươi phóng viên cảm thấy bị xúc phạm.

- Tôi đã từng ở mặt trận Pa-lét-xtin. Tôi đã ở bãi biển Hi-rôn Cu ba khi bọn Mỹ bị đánh trả tơi bời. Tôi vừa ở Áp-ga-ni-xtăng về...

Người lái xe quay lại, hai con mắt thông minh chớp chớp. Anh hiểu ông nhà báo, nhưng hơi mỉm cười:
- Ở đây bọn tàn quân Pôn Pốt nó ranh ma lắm, ông ạ. Phát súng đầu tiên chúng dành cho người lái. Phát sau là một quả B.41. Tháng trước có một ông bị vạ lây với tôi vì thế, may chỉ bị thương. Vả lại đừng nên để bà ấy ngồi một mình.

Cơn tự ái của người phóng viên tan ngay sau câu nói ấy. Ông hiểu rồi: không phải là người lái xe coi thường ông. Nhân cách này cao cả và lạ lùng: anh ta chỉ muốn mình mình hứng chịu nỗi hiểm nguy.

Xe dừng lại một phút để người đàn ông chuyển về hàng ghế sau. Và khi xe tiếp tục chuyển bánh ông lại rơi vào một trạng thái tâm lý dở dang, lừng chừng rất quen thuộc. Y như cái cảnh tranh tối tranh sáng nhuốm một vẻ bâng khuâng ở ngoài xe: đồng hoang trải rộng chập chờn những đám sương trắng mỏng manh như khói ẩn giấu đâu đó nỗi kinh dị về những huyễn tượng yêu ma, quái đản.

Xe đã gặp lại một chiếc cầu. Trên dặm đường thăm thẳm, đó là nỗi an ủi duy nhất của nó. Lần này trời sáng hơn. Và vì người lái dừng xe xin thuốc lá người gác nên người phóng viên nhìn rõ gương mặt, những anh bộ đội Việt Nam: những người lính rất trẻ, tỉnh táo và mắt lấp lánh nhiệt tình khi nhận ra trong xe có hai người phương Tây, nhất là lại có một phụ nữ.

Nhưng, cuộc gặp gỡ như định kỳ ấy lại khiến người phụ nữ thấp thỏm. Về tâm linh, chị tinh tế hơn chồng. Sau phút yên lòng, chiếc xe đi vào nỗi bơ vơ, đơn chiếc. Ở mỗi đoạn đường, hai cây cầu là hai điểm nương tựa, an toàn, và chỉ có vậy thôi, còn khúc giữa dằng dặc là dặm đường đầy những bất hạnh khôn lường.

Người phụ nữ níu tay chồng, dồn dập hơi thở:

- Bốp! Thật là kinh khủng! Chỉ với cái không khí này em cũng đã hiểu bọn người xưa kia thống trị xứ sở này tàn ác như thé nào. Nhưng, sao ta lại dấn thân vào đất này! Thật là mạo hiểm! Mà em cũng chẳng hiểu: tại sao người Việt lại dính vào công việc ở đây. Họ rỗi việc quá hay sao, nên thấy đám cãi nhau liền xô lại can.
 
- Không phải! Bọn Pôn Pốt đánh họ đấy chứ! Người đàn ông cải chính.

Người phụ nữ vẫn lắc đầu:

- Em không thích, Bốp à. Chúng ta sống yên ổn, thái bình và buôn bán với ai thỏa thuận với ta. Sao họ không như ta?

Lần này người đàn ông không giải thích cho vợ nữa. Chị là một phụ nữ xinh đẹp, đảm, yếu ớt và ngây thơ. Vậy thôi. Nhưng người lái xe sau khi nghe người đàn ông dịch lại câu nói của người phụ nữ, gần như nhoai nửa người qua lưng ghế, anh chỉ lái có một tay.

- Chị chưa hiểu dân tộc tôi. - Anh nói - Chị tôi, năm trước xung phong đi xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên. Hăm hở lắm. Những vừa rồi tôi về phép thì gặp bà ấy bồng bế tất cả con cái về làng. Không phải bà ấy không chịu được khổ. Trên ấy sung túc là khác. Nhưng bà ấy về vì... nhớ quê. Cái làng quê Việt Nam giữ chặt chân người ta lắm. Người ta chẳng muốn rời khỏi làng nình, xã mình, huyện mình, tỉnh mình, chứ đừng nói đi tới nước khác. Người Tàu thì khác! Với ba củ lạc rang, họ đi khắp thế giới. Họ đến đất này, thoạt tiên xin ngủ nhờ đầu hè nhà người Khơ me. Ít lâu sau, họ mở sòng bạc, cửa hàng tạp hoá. Rồi họ lấy vợ người địa phương. Rồi bắt đầu mua đất. Người Campuchia đánh bạc hết tiền, cầm đất. Hết đất, thế là vợ chồng con cái lên xe cho bò kéo đi. Thực dân một cách êm thấm là cái cách của ngươi Tàu. Còn chúng tôi, tất nhiên không phải thế. Nhưng nói thế nào để chị hiểu nhỉ? Ờ, vấn đề chính trị, ờ, đúng là bọn Pôn Pốt đã gây sự với chúng tôi... nhưng không phải chỉ có thế...

Hình như lúng túng về cách diễn đạt, người lái xe trở lại tư thế bình thường, hai tay xoay nhè nhẹ vành tay lái:

- Ông bà trông kìa, có giống cánh đồng ma không? Người Khơ-me có câu thành ngữ rất hay: "người Tàu đuổi người Khơ-me, người Khơ-me đuổi ma". Đó, cầm đất cho người Tàu xong, người Khơ-me lại lặn lội đến các cánh đồng hoang, bắt đầu khai phá.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 06:45:00 pm
"Anh ta hiểu biết vấn đề một cánh sâu xa". Người phóng viên nghĩ. Nhưng, câu chuyện về tội ác của bọn người cai trị đất nước này lẽ ra có thể kể được rất nhiều nữa đã bị dừng lại. Dường như không muốn gây những ấn ương nặng nề cho người phụ nữ, cảnh ở ngoài xe đã đủ lắm rồi - anh lái xe, sau một vòng cua hẹp, giọng bỗng trở nên nhẹ tênh:

- Đến Campuchia, ông nên đưa bà ấy đi xem Ăng-co.

- Anh đã đi chưa? - Người phóng viên hỏi.

- Tôi đã đưa khách đến đó một vài lần. Chà! Thật là cả một kỳ quan. Mùa khô này, ông bà nếu xem ở phía đông nên xem từ quãng 8 giờ đến 10 giờ sáng. Lúc ấy mặt trời vàng như mật ong, tượng các vũ nữ rực rỡ, lộng lẫy nét hình, đẹp hơn tượng trong hoàng cung nhiều. Ừ, đẹp nhất là tượng phụ nữ. Mà phụ nữ Campuchia đẹp thật. Bà chị tôi 38 tuổi đã xồ xề. Phụ nữ dân tộc này 40 vẫn thon gọn, vóc dáng, đầy sức sống nữ tính - Anh lái xe hơi mỉm cưỡi: Ông bà nên đến Ăng-co. Đến đó, ông thử nghĩ, giả dụ ông có một người xóm giềng tài năng như thế...

Ngươi phụ nữ bị nỗi sợ hãi ám ảnh dày vò, không để ý tới ý tứ chứa đựng trong từng câu nói của anh lái xe, nghe chồng dịch lại chưa hết, đã lắc đầu quầy quậy:

- Không! Không! Tôi chẳng đi đâu cả! Lạy Chúa! Đến Phôm Pênh tôi mua vé máy bay về ngay nước tôi thôi. Bốp! Thôi đừng kể những chuyện khủng khiếp nữa.

Những câu nói gay gắt của người phụ nữ làm không khí trong xe trở nên nặng nề. Không ai nói nữa. Và lúc này, xe đang đi vào một vùng tối âm u. Bóng đen từ khu rừng cao su rậm tỏa ra, vệt đường trước kính xe chìm lẫn vào cõi mung lung.

Mắt căng rọi cái nhìn tập trung vệ phía trước, anh lái xe cho xe chạy chầm chậm như vừa chạy vừa dò đường. Người phụ nữ nép vào bên chồng, run rẩy. Chị lẩm nhẩm như đọc kinh: "Bốp! Chắc chắn là họ đã dò mìn cẩn thận rồi chứ". "Bốp, sao mãi không đến một chiếc cầu nào "Bốp, dừng lại ở trạm gác cầu sắp tới nhé. Em chịu không nổi nữa rồi!".

Và nỗi sợ hãi của chị đã tới cực điểm, đã thành sự thật. Chị bỗng ôm chặt chồng, rú lên một tiếng khiếp đảm và tắc nghẽn.

Đoành! Đoành! Đoành! Đạn vừa nổ ba tiếng phá vỡ bõng đêm. Đó là tiếng súng bắn chiếc xe của bọn tàn quân.

Người phóng viên chồm lên, thét một tiếng còn kinh hãi hơn tiếng rú của người phụ nữ, ông nhìn thấy người lái xe đập mặt xuồng vành tay lái:

- Trời!

Ông run hết cả người, cảm thấy mất hết tự chủ. Cảnh tượng trước mắt ông là sự thật mà như ác mộng. Tên phỉ thiện xạ nào đó bắn thật chính xác, ba viên đạn xuyên qua ngực người lái xe phá chếch ở phía lưng anh. Anh gục xuống lưng hơi cồm dập, ở đó mấu đà ứa ra đen thẫm. Vậy là hết rồi. Hết rồi. "Phát đạn đầu chúng dành cho ngươi lái xe. Phát thứ hai là một quả B.41“ Bọn tàn quân vẫn giữ cái lối xử sự như thời chúng còn thống trị đất này: chúng không ưa bắt tù binh, không sử dụng trại giam. Chúng giết người ngay tại chỗ, gọn ghẽ và chóng vánh.

Người đàn ông lảo đảo đứng dậy, mất hết tri giác. Nhưng ông bỗng nắm lấy lưng ghế trước. Sao lạ thế này? Trong cái phút hoàn toàn tuyệt vọng nãy, khi người vợ yêu quý đã chết ngất bên mình, kỳ lạ quá, ngươi đàn ông bỗng thấy trọng lượng thân thể mình sụt xuống, ông hẫng ngươi, chông chênh trong một cảm giác mờ mờ ảo ảo: ngoài cửa xe, cảnh bỗng chuyển dịch như các khuôn hình của một cuộn phim.

"Xe vẫn chạy". Người đàn ông bàng hoàng khi thấy phía sau xe vụt qua một luỗng hơi nóng ngột và một tiếng nổ lớn. Ông ngồi xuống, nghiến chặt răng.

Quả thật chiếc xe có khựng lại, nhưng chí một giây thôi. Và bọn tàn quân chưa kịp phóng quả đạn hủy diệt vào nó, nó đã tiếp tục lăn bánh. Chiếc xe không chết. Nó lao vùn tụt, tốc độ xem ra có phần còn nhanh hơn lúc nãy. Tựa như có một lực vô hình đẩy nó. Tựa như có một phép thần nào điều khiển nó. Tựa như vừa xuất hiện một bầu trời năng lượng mới chưa từng có. Bởi vì anh lái xe người Việt vẫn gục trên tay lái, máu càng lúc càng đẫm khoang lưng áo. Bởi vì anh lái như đang ở trong giây phút hấp hối: thỉnh thoảng anh lại nghển lên giống như là quằn quại, nhìn về phía trước, rồi lại dụi mặt xuống tay lái, đau đớn hực hực thở hắt ra.

Mươi phút sau, chiếc xe đỗ lại ở một cây cầu có những người linh gác. Anh lái xe đã bất tỉnh, nhưng chân vẫn còn đặt hờ trên chân ga, tay vẫn nắm chặt vành tay lái.

Câu chuyện về chiếc xe vượt qua cõi chết vô cùng khó hiểu đã trở thành một trong những chuyện kỳ lạ của chiến tranh. Tính toán chi li thì với ba viên đạn xuyên qua phổi, anh lái xe người Việt coi như đã gục ngay tại chỗ rồi. Cũng không phải là chiếc xe đã chạy theo quán tính. Đường rừng ở đây ngoằn ngoèo, không theo một sơ đồ cố định nào... Vả lại, tính ra, nó đã chạy được tới gân mười cây số để tới sự sống an toàn.

Câu chuyện gây xôn xao cho các bác sĩ và các phóng viên.

Hai vợ chồng ngươi phóng viên phương Tây đền bệnh viện. Anh lái xe người Việt chưa chết. Đến bên giường anh, người phụ nữ đặt bó hoa lên cái bàn nhỏ cạnh anh, nước mắt giàn giụa. Con người đàn ông, thói quen nghề nghiệp lại hòa vào xúc động của ông.

Ông nắm tay người lái xe trẻ tuổi, rưng rưng:

- Thật là kỳ diệu! Vì sao lại có thể như thế được, anh người Việt ơi?

Mặt nhợt vì mất máu, anh lái xe mấp máy đôi môi nhỏ:

- Lúc ấy tôi như chết rồi. Nhưng ông bà là người tôi có trách nhiệm phải đảm bảo an toàn, ông bà như mọi người, cần phải sống. Ông bà lại mới lấy nhau. Tôi như chết rồi. Nhưng chân ga chưa chết, mắt cũng như tay cố sông thêm, cố gắng để sống thêm...

Ngước lên nhìn người phụ nữ mi mắt đầy nước, anh lái nhoẻn cười nụ cười in dấu cơn đau, méo xệch:

- Ông bả nên đi thăm Ăng-co đi. Đó mới là sự kỳ diệu...

Anh nói thế đã là quá sức rồi. Người phóng viên vội ghi lại ngay những lời của anh. Vì đó có thể là nhận lời cuối cùng của một người đã tự biểu hiện một cách hết sức tự nhiên và khiêm tốn nhân cách dan tộc mình: một dân tộc vị tha, sống, chết vì ngươi khác; điều đó đã thành một đạo lý, một nguồn năng lượng vô tận của họ.


4-12-1980


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:49:48 pm
ĐIỂM TỰA


VŨ NGỌC KHÔI


Anh Phương thân yêu.

Khi viết cho anh lá thư nay tôi phải ghìm cơn đau quặn một. Một viên đạn đã nằm sâu trong mạng sườn của tôi. Tôi bị thương vào đợt tấn công thứ mười lăm của bọn phản động. Lúc này tiếng súng đang lùi dần vê phía bên kia biên giới. Những không vì thế mà chúng tôi rời bỏ điểm chốt trên đầm lầy. Năm mười hai ngày đêm chiến đấu, nó đã trở thành điểm tựa vững chãi trong lòng mỗi chúng tôi.

Chính vì điều này, hôm nay giữa hai trận đánh, tôi gắng viết cho anh.

Như anh biết đấy, sau khi cấp trên điều anh - một ngươi bạn chiến đấu ý hợp âm đầu của tôi - tới một chiến trường cần thiết khác, đơn vị được bổ sung thêm đồn trưởng Nghĩa. Đối với Nghĩa, tôi luôn luôn quý trọng và kính yêu như người anh. Nghĩa hơn tôi về tuổi đời và hiểu biết Anh chiến đấu rất dũng cảm và tận tụy với nhiệm vụ. Nhưng trong cuộc chiến đấu vừa qua, giữa tôi và Nghĩa có những nhận thức không giống nhau. Bởi vậy, chúng tôi vừa trải qua không chỉ là những trận chiến đấu quyết liệt để đánh thắng quân thù mà còn là một cuộc đấu tranh nội bộ để giành lấy sức mạnh chiến thắng ấy. Tôi thiết nghĩ, đó là điều bổ ích cần phải nói với anh.


Cách đây hai năm: bọn phản động bắt đầu đánh lén chúng ta. Hai năm trời, chúng vu khống, gây hằn thù và liên tục tấn công, nhưng chưa bao giờ chiến trường căng thẳng như bây giờ. Trước đợt chiến đấu này, bộ chỉ huy mặt trận tới thăm đơn vị và dân quân đồng chí chỉ huy mặt trận đã giao nhiệm vụ: bằng bất cứ giá nào, các đồng chí cũng phải giữ vững từng tấc đất của Tổ quốc, giữ yên lành sự sống của nhân dân..."


Như anh đã biết, trong địa ban này thì vùng đầm lầy là một trọng điểm. Đó là cửa ngõ để xuyên vào đường lộ. Phía trước đầm lầy là dòng sông biên cương. Phía sau là ngọn núi đá vôi độc nhất nổi lên ngăn cách với đồng bằng. Dãy núi chạy dài theo hình cánh ná án ngữ biên giới. Nếu chiếm được điểm cao nay, kẻ dịch sẽ khống chế toàn bộ tuyến đường vận chuyển phía sau và một hệ thống thị trấn làng mạc đông dân cùng cánh đồng lúa phì nhiêu đang mở rộng.


Với những ý nghĩ đó, vùng đầm lây trở thành quyết chiến điểm của phân đội chúng tôi. Lúc đầu, trạm kiểm soát biên phòng đóng ngay trên cửa lạch. Bọn Khơ-me đỏ đã nã súng vào đây nhiều lần. Về sau, chúng tôi rời trạm vào sâu trong rừng đước, và chuyển cát, chặt cây đóng cọc, tổ chức thành những công sự khá kiên cố. Với những công trình đó, chúng tôi sôi nổi chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Nghĩa năng nổ chèo thuyền và chạy hết điểm này đến điểm khác để đôn đốc anh em. Giữa lúc ấy, địa phương tăng cương thêm cho chúng tôi một trung đội dân quân. Trực tiếp chỉ huy đơn vị này là xả đội trưởng Ba Lực, một du kích dã từng chiến đấu dày dạn trong vùng đầm lầy. Người anh hơi thấp nhưng to chắc, luôn luôn tất bật với dáng điệu tươi cười, một vai đeo túi dết, một vai quàng khẩu AK báng gấp. Gặp nhau, anh bóp chặt tay tôi và cưỡi khà khà vang một khúc rừng:

- Đánh tới hả? Thui ruột cũng không lui, nghen.

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cười chảy nước mắt.

Trong buổi hội ngộ hôm đó, tôi còn gặp điều cảm động bất ngờ nữa. Anh còn nhớ Năm The chứ? Cô bé dịu hiền hễ ai nói đùa là má đỏ ửng lên, cứ bối rối cắn đuôi tóc ấy mà - Cái cô bé dũng cảm đã xung phong làm giao liên cho đồn biên phòng khi chúng ta mới đặt chân lên khảo sát cùng biên giới này ấy mà. Xin lỗi, tôi phải nói kỹ với anh điều này, bởi vì, giờ đây The đã trở thành người gắn bó với cuộc đời tôi. Chúng tôi chính thức yêu nhau đến nay vừa tròn ba tháng mươi hai ngày. Tôi viết thư về nhà. Má tôi lặn lội từ rừng U Minh lên đây để thăm chúng tôi. Đơn vị cùng hai gia đình đều hài lòng.

Hôm chia tay The để trở lại vùng đầm lầy, tôi nói:

- Bây giờ má già rồi, chỉ con em là lớn nhất. Hai anh đã hy sinh, chị Tư lấy chồng xa. Em phải gánh vác gia đình, chăm nom ba em nhỏ đỡ má. Nếu chiến sự bình thường, em hãy cùng du kích và dân làng bám đồng sản xuất. Nhưng nếu biến động lớn thì theo sự sẵp xếp của chính quyền, em hãy giúp má về nơi an toàn.
The im lặng cắn đuôi tóc, ngược cặp mắt đen tròn nhìn tôi như muốn khóc:

- Nhưng... em lo...

Tôi nắm chặt lấy bàn tay mềm mại của The:

- Đừng lo gì cho anh. Các anh sẽ đứng vững, nếu ở phía sau an toàn.

Từ đó tôi đinh ninh The sẽ làm theo lời mình. Nhưng không ngờ, đùng một cái, tôi gặp The ở đây. Vừa thấy tôi, The chạy xô tới, hai tay năm chặt lấy tay tôi reo lên vui sướng:

- Chui cha anh Hai! Em phải nài mãi chú Ba mới cho em vô miệt với anh đó.
Tôi giả bộ giận, nghiêm nét mặt:

- Nhưng cớ gì em không nghe lời anh dặn?

The ngớ người đứng im. Một giây sau như đã hiểu ra, cô phá lên cười ngặt ngoẽo.

- Trời, ngó bộ anh lo cho má hả. Má không nhờ tới em đâu. Chính má lại bắt em vô miệt cùng anh đánh quân cướp tràn sang đó. Má bảo: "Việc nhà việc xóm có bọn già chung tao lo. Tụi bay trẻ tuổi phải ra đàng trước. Ba quân cướp mà tràn qua thì đầu người còn mất chớ nói chi đến giữ nhà". Đó, anh coi, tinh thần của má cao thế đó.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:50:42 pm
Vậy đó anh Phương ạ, người trên cây cứ lo cho người dưới gốc, con người dưới gốc càng lo cho người trên cây. Nhưng suy cho cùng thì các má các chị lo cho mình đúng hơn. Vì phía ước không trụ được thì phía sau đúng vững làm sao? Nghe The và anh eln du kích kể lại, tôi càng vững tâm. Hậu phương được tổ chức chu đáo theo những phương án linh động. Bà con dân làng càng hạ quyết tâm sẽ bám trụ sản xuất, thu hoạch tốt vụ múa đang chín rộ và sẵn sàng làm nhiệm vụ tiếp tế tải thương...

Còn đối với chúng tôi là trách nhiệm của ngươi cầm súng trụ chốt nơi này. Hậu phương đã dựa vào chúng tôi và chúng tôi sẽ dựa vào hậu phương để chiến đấu. Đó là cái điểm tựa vững chãi cho cả tiền tuyến và hậu phương trong cuộc chiến đấu này.

Chúng tôi lặng lẽ chuẩn bị cho trận đánh đầu tiên. Vào lúc sẩm tối, trận địa phòng ngự được củng cố xong. Trẽn toàn tuyến đầm lầy, chúng tôi chia làm bốn cụm chốt giữ. Anh Ba Lực và tôi phụ trách hai cụm giữ rừng đước. Năm The và bốn du kích nữa được bổ sung vào mũi trên cửa lạch do đôn rường Nghĩa chỉ huy. Còn xã đội phó Tỉnh nắm chắc một mũi phục kích sườn trái núi đá vôi để yểm trợ các hướng và bất ngờ đánh vào sườn quân địch.

Thời gian chờ đợi thật nặng nề.

Toàn vùng đầm lầy im lặng. Chỉ có tiếng muỗi kêu ve ve khắp đó đây cùng tiếng giun dế cóc nhái ra rả trong lòng đất. Ờ vùng đẫm lầy, chúng tôi còn có thêm một kẻ thù nguy hiểm nữa, đó là muỗi. Thật vậy, muỗi ở đây to kỳ lạ. Đốt đau như kim châm. Iại còn một điều đáng ngại nữa, là phải lội nước ngâm bùn. Nước ở đây không ngọt cũng không mặn, nó lờ lợ, chua chua. Lòng đầm được tạo nên bởi phù sa và các loại cỏ rác, lá cây mục ngưng đọng hàng nghìn năm, nên đây đó thỉnh thoảng lại sủi bọt ủng ục, bốc hơi thum thủm. Có những chỗ rất nguy hiểm, bùn lầy dày đặc tưởng như không đáy. Nếu ai vô ý sa xuống đấy thì cư đứng im chờ ngươi kéo, chứ càng cựa quậy càng chìm nghỉm, không có chỗ nào bấu víu để rút nốt chân. Nhiều khi trời hanh khí độc bốc lên gặp ngọn lửa cháy ngùn ngụt. Ban đêm lân tinh bay xanh lè khắp mặt đầm. Rải rác mới tìm thấy một đám đất nổi, hay một mạch đá ngầm để đứng chan cho vững. Còn lại, bạt ngàn mênh mông khắp đồng lầy và rừng đước. Những cây đước bền bỉ thi gan cũng mưa gió đâm vút cành lá lên trời cao, tỏa rễ dị kỳ bò lan trên mặt nước cắm sâu xuống đầm lây. Những cây đước hùng vì này bám rễ vào nhau chằng chịt đã tạo thành những mảnh đất cho chúng tôi sống. Chúng tôi mắc võng từ nhánh này sang nhánh kia. Thổi cơm trên cành cây. Giải trí vui chơi trên rễ đước. Và cuối cùng, cũng dựa vào đước mà chúng tôi tổ chức trận địa phòng ngự. Những bao cát sọt đất, những cọc tre cọc gỗ, đá núi chuyển tư phía sau tới được chất cao như những bục hào nổi xen giữa ngang hàng đước ken vào nhau. Đứng trong trận địa này, tôi nghĩ thầm: Không một tên địch nào sán gần đước tới đây, những bục hào nổi này sẽ ngăn cản mọi đường đạn chúng bắn tới, và từ đây chúng tôi ung dung bắn tỉa từng tên một nếu chúng liều mạng lội tới hoặc bơi xuồng lại. Tôi nghĩi thể và rất yên tâm.


Nhưng anh Phương ạ, sự đời không đơn giản. Tờ mờ sáng hôm ấy chưng bắt đâu nổ súng. Phát đạn đầu tiên chúng bẳn vào cửa lạch. Tôi nhảy choàng xuống võng hét to:

- Chúng nó pháo kích. Tất cả vào công sự!

Mọi người nhanh chóng vào vị trí chiến đấu. Đúng lúc ấy, một quả pháo 130 ly giã đúng chỗ tôi nằm khi nãy. Bùn nước tung lên ào ào. Cây nghiêng ngả. Mãnh đạn vãi ra như mưa. Liền đó tôi không còn nhận ra gì nũa. Chúng pháo kích tơi tấp. Đạn nổ rung động. Lửa chớp nhay nháy. Chúng cấp tập dữ dội liền 30 phút.
Đạn ngớt, chúng tôi nhô đầu lên khỏi chiến hào. Quang cảnh xung quanh đã biến dạng. Cây cối ngả nghiêng, lá rụng bay như bươm bướm phủ lấp mặt đầm lầy. Có những vạt rừng bị thui đen, lửa vẫn bốc cháy phừng phừng. Có những cây đước đại thụ bị đạn bới tung, ngọn cắm xuống bùn, chùm rễ chổng ngược lên trời như những ngón tay kỳ dị giơ lên chới với. Cả một khu rừng rậm rạp kín đáo phút chốc bị tàn phá, để lộ ra những khoảng trời trống trải.


Tôi đưa mắt nhìn quanh trận địa. Anh em đã đứng vào chiến hào. Công sự đã bị bới lộn nhiều chỗ. Các chiến sĩ ai nấy khẩn trương sửa chữa lại trận địa. Tôi quàng súng lên vai, cúi người chạy dọc chiến hào đến từng ổ chiến đấu để kiểm tra quân số, thương vong. Nhưng rất may, phân đội tôi chưa ai bị hy sinh ngoài hai đồng chí bị thương nhẹ vì mảnh đạn. Tôi quay ra giúp Bình, Văn, hai xạ thủ đại liên đang hì hục kéo cỗ súng nặng nề è cổ lún dưới bùn lên đặt sau một góc đước già cỗi. Bình lấy khăn thông vội nòng súng và lau qua chỗ bùn đất bê bết. Văn mở hòm nạp đạn. Tôi ngắm lại vị trí đặt súng và cảm thấy hài lòng, từ đây khẩu đại liên này có thể khống chế được hướng chính yếu. Vừa lúc ấy tiếng nói của Tâm từ chòi trinh sát vọng lại:

- Báo cáo đội trưởng, bên kia biên giới bọn địch đã xuất hiện.

Tôi đưa ống nhòm lên. Quả nhiên, bên kia sông, từ sau những khóm lau hiện ra những bóng người lố nhố qua ánh lửa chợp nhờn. Những mũi thuyền đã lách khỏi cây bụi cây rậm. Phút chốc, trên mặt sông dày đặc nhũng con thuyền lao vun vút. Tôi đưa mắt nhìn về cửa lạch. Tất cả vẫn im lìm. Bọn địch đang lặng lẽ tiến qua lòng sông. Tôi thầm nghĩ: "Có lẽ Nghĩa đang cố chờ chúng vào sâu trong tâm súng".

Tôi quay lại quan sát trận địa của mình. Mọi người đã sẵn sàng, súng nâng ngang tầm mắt. Chuông điện thoại réo. Tôi lao vào hầm chỉ huy nghe máy. Bên kia đâu dây, tiếng Nghĩa vang lên:

- Hai Thành đấy à? Tìinh hình ra sao?

- Báo cáo anh, bình thường. Chỉ hai đông chí bị sượt da, đã băng bó. Công sự bị sạt nhiều đoạn nhưng đã củng cố và mọi người đang sẵn sàng chiến đấu.

- Tốt. Hãy cẩn thận. Chúng đang vượt sông. Tin trên cho biết, chúng bắt đầu tiến công toàn địa bàn của đồn ta phụ trách. Riêng vùng đầm lầy, địch dùng tới một rung đoàn có hoả pháo yểm trợ. Chúng ta sẽ phải chịu đựng nhiều khó khăn đấy, ráng sức nghe.

- Anh yên tâm.

- Chúng đã vượt qua đường biên giới rồi đó. Tạm biệt nhé. Chuẩn bị nổ súng thôi.

Nghĩa đặt máy. Chuông lại réo. Tôi nghe tiếp. Tiếng Ba Lục reo vui.

- Hai đó hả. Bay thấy chi chưa? Tụi Miên ăn cướp đã chui vô rọ đó. Dày đặc như lá tre. Cố ghìm hết tụi chó xuống lòng đầm nghe.

- Chú Ba yên tâm. Bọn tôi đang chờ chúng đây.

- Khá lắm. Đánh tới nghen. Hẹn với bay sau thắng lợi Ba Lực sẽ thưởng một bữa xị đế cùng cá bống cơm châm nước mắm Phú Quốc, nhậu chết thôi nghen!

Nói rồi Ba Lực cười khà khà thay lời chia tay.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:52:00 pm
Đó, chúng tôi bước vào trận đánh vô tư như vậy. Nhưng thực ra, trận chiến đấu đã trả bẵng một giá quyết liệt. Đợi những tên cướp vào sâu trong tầm súng. Khi những mũi thuyên đầu tiên vừa chạm bãi, chúng tôi nô sũng đồng loạt. Dưới làn mưa đạn xối xả, hàng chục tên địch gục xuống không kịp trở tay, hàng trăm tên khác bị hất lộn ngửa xuống sông. Những chiếc xuống không người bị bắn chim, bị lật nghiêng hoặc xoay tròn trên mặt nước.


Hàng ngũ địch trở nên rối loạn. Chúng kêu gọi và la hét dữ dội. Có tên bơi, có tên lặn ngụp, cũng có tên cố ngóc đầu dậy chĩa súng lên bắn lại điên cuồng. Nhiều tên cố sống cố chết bám một vạt đất nổi, níu quanh rễ đước lồng lộn đánh trả ta. Những tên này bắn mạnh, nhằm ghìm hỏa lực ta xuống để tạo cho những chiếc thuyền phía sau có thể vượt lên cập mạn vào vạt rừng trước mặt. Một thằng béo đen, có vẻ là chỉ huy, vừa bám được vào một bãi sú liền nhỏm dậy khoát tay, gào lên ra lệnh. Nhưng hắn chưa kịp đứng dậy đã bị Tâm ở vọng quan sát nổ giòn giã ba phát tiểu liên vào bụng. Hắn đứng khựng lại, khẩu AK rơi khỏi tay, đôi mắt trợn ngược, từ tư cắm lộn đầu xuống nước. Đồng bọn của hắn ở phía sau ào ạt xông lên. Chúng hét lên đầy kích động. Có tên nhảy chồm chồm, vừa bơi vừa chạy. Có tên vừa nấp vừa bắn trả bừa bãi. Tôi đến bên khẩu đại liên nói với Bình:

- Cứ bình tĩnh. Cậu ngắm thật kỹ lia cho lũ kia một vệt.

- Rõ. Anh cứ mặc em.

Bình gật đầu, rê mũi súng, nheo mắt. Văn nhanh nhẹn nâng băng đạn đỏ chói lên ngang nòng. Pằng, pằng, pằng! Đột nhiên, khẩu đại liên rung lên xôi xả. Bọn địch rụng xuống nháo nhác.

- Hay lắm. Bắn rất khá!

Tôi reo lên và nhổm dậy quan sát bọn địch đang tan tác. Bỗng một loạt liên thanh từ bên trái tạt qua mặt tôi, bắn xé vào trận địa ta. Tôi ngồi xụp xuống, quay sang nhìn. Một thằng cởi trần quanh người đeo đầy băng đạn, có mây tên khác bâu quanh hỗ trợ, đang cặp khẩu trung liên ngang nách, quỳ gối nghiến răng lia mạnh mũi súng. Cùng lúc ấy, không rõ từ đâu, một quả cối đã giáng trúng vào công sự, đất đá nổ tung. Khẩu đại liên bỗng câm lặng. Tôi nhìn lại, Bình đã bốc xuống, mũ rơi khỏi đầu, mặt áp nghiêng trên báng súng. Tôi khẽ kêu lên:

- Bình!

Thấy đại liên tắt, bọn địch reo lên xấn xổ xông tời. Bên kia, khẩu trung liên của chúng được thể càng ra sức áp đảo. Luồng đạn nóng rát bay ngang mặt hào. Tôi nghiến răng: "Nguy hiểm thật! Phải diệt ngay thằng trung liên này". Rồi rút quả lựu đạn tháo kíp, nắm chặt trong tay, tôi trườn người theo đường hào, áp sát lại phía chúng. Một thoáng sau tôi đã ở bên sườn bọn địch. Nhưng vẫn còn cách chúng một vũng lầy khá rộng. Cần phải sát lại gần hơn nữa cho chính xác. Tôi bò tiếp về phía sau. Ước chừng là đã vòng qua được vũng lầy, tôi nhỏm dậy. Vừa lúc, một tên địch nhìn thấy tôi liền nổ sung. Tôi bỗng thấy mát lạnh bên vai trai. Mặc. Tối nghiến răng quăng mạnh thủ pháo và thụp xuống. Trái đạn nổ chói óc. Tôi ngẩng lên vừa kịp nhận thấy ba tên địch ngã vật trong đám khói xanh mờ. May sao khi ấy khẩu đại liên của ta đã hoạt động trở lại. Tiếng nổ lại vang lên giòn giã. Tôi ngồi phệt xuống đất, giơ tay áp lên vai trái. Máu ướt đẫm cả rồi. Viên đạn đã sướt qua bả vai, nhưng rất may nó không trúng xương. Tuy nhiên, vết thương vẫn làm tôi đau đớn. Mắt hoa lên, tôi thò tay vào túi tìm cuộn băng. Bỗng từ đâu, y tá Thi nhào tới ôm chầm lây tôi:

- Anh bị rồi à. Chết thật, sao lại bỏ vị trí chỉ huy?

Vừa nói anh vừa nhanh nhẹn băng bó. Tôi ngả lưng ra thành hào mỉm cười. Nụ cười mệt mỏi và nhợt nhạt:
- Nguy hiểm quá. Thằng trung hliên áp sát lại khống chế trận địa. Không diệt được nó thì gay.

- Dù sao cũng phải nhớ vị trí của mình. Anh bỏ trận địa, có thể sẽ hở sườn.

Thi vẫn gay gắt phê bình tôi. Tuy là y tá, nhưng anh từng đã tham gia nhiều trận đánh, nên anh không chỉ lo việc cứu thương, mà luôn luôn có ý thức quán xuyến trận địa để góp ý cho đồng đội. Tôi vui vẻ:

- Đồng ý. Băng xong chưa?

Thi gật đầu. Tôi chống tay đứng dậy, xách súng khom người lao đi. Trở lại vị trí cũ, tôi giật mình nhận thấy sự nhận xét của Thi rất đúng. Lợi dụng lúc khẩu đại liên tắt, một chiếc xuồng lớn chở hàng chục tên giặc không rõ từ đâu đã lặng lẽ lướt tới bãi sậy sát phía sau trận địa. Tôi kêu lên:

- B.41 đâu?

- Có.

Trung sĩ Hải vội xách súng chạy lại.

- Phải diệt bọn kia ngay! - Tôi chỉ cho anh chiếc xuồng đang luôn tới Nó định quặp pha sau ta đó.
Hải không nói, quỳ xuống, áp ngực sát bao cát, nheo mật lại.

Ầm! Một tiếng nổ cùng một dải lửa xanh lê bắn phụt lại sau. Cả chiếc xuồng bỗng tan biến đâu mất trong cột nhóc dựng đứng lên cao. Khi cột nước ụp xuống, tôi chỉ còn thấy nước đổ rào rào, sủi bọt trắng xóa cùng những mảnh ván tan tác bập bềnh, lại một mối nguy nữa bị đánh tan.


Cùng lúc ấy, trên các mũi khác, bọn địch đều bị đánh tơi tả. Chúng cố sống cố chết xông tới nhưng không sao bám được chân lên bãi. Qua đây tôi càng hiểu rằng, việc đứng chân trên đầm lầy đã khó, song kẻ đến sau muốn chiếm lại đầm lầy còn gay go gấp bội. Chính vì điều này mà chúng tôi càng phải quyết tâm giữ vững điểm chốt, bởi vì ai làm chủ được mảnh đất này kẻ đó sẽ thắng.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:52:57 pm
Trận đánh mở đầu được kết thúc vào trưa hôm sau. Sau nhiều đợt tấn công bất lực, bọn cướp bỏ chạy tán loạn về bên kia biên giới. Những chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm chiếm. Chúng phải lui quân để tính toán lại và sẽ tổ chức những trận đánh tiếp theo.

Biết rõ điều ấy, chúng tôi củng cố lại công sự, nhanh chóng rút kinh nghiệm chuẩn bị cho trận đánh sau tốt hơn. Kiểm điểm lại chúng tôi cũng có những thiệt hại đáng kể: Nhiều công sự, hầm hào bị phả hủy, bảy anh em bị thương vong. Số anh em này phải lui lại chân núi đá vôi để đợi dịp lui về tuyến sau. Năm The được rút về bổ sung cho đội cấp cứu tải thương.

Trong cuộc họp của tổ Đảng và ban chỉ huy chốt, đã có những ý kiến nêu lên nhiều khó khăn nếu ta phải cầm cự ở đây lâu dài. Trước những ý kiến này, Nghĩa không phát biểu nhưng xem ra anh cũng có nhiều nỗi băn khoăn. Riêng Ba Lực vốn tính bộc trực, anh nói thẳng:

- Ở đâm lầy dĩ nhiên là khổ rồi. Cực mọi mặt, thiếu đủ đường. Nhưng việc ấy không bàn. Cái phải nói đến là ta có dám đứng chân ở đây không, hay là mới một trận đã thối chí?

Câu nói của Ba Lực vừa là câu hỏi, vừa là lời khẳng định khiến mọi người đều im lặng. Lát sau Nghĩa kết luận:
- Anh Ba nói đúng. Chúng ta đến đây để giữ chốt. Điều đó là nhiệm vụ. Chỉ có chuyện cần tính cho kỹ, làm sao đánh chốt mà bảo đảm ít thương vong. Tôi e sắp tới đây, bọn địch sẽ dùng hỏa pháo đập mạnh, phá hủy công sự phòng ngự làm ta mất điểm tựa...

Thì ra vậy. Lúc này tôi mới hiểu nỗi băn khoăn của Nghĩa là điểm tựa vào công sự. Kể ra anh lo lắng cũng có lý. Trong chiến đấu điểm tựa rất quan trọng. Nhưng nếu nói ở đẫm lầy chỉ có công sự mới là điểm tựa thì chưa đủ. Tôi chợt nghĩ đến cuộc chiến đấu bền bỉ của nghĩa quân bãi sậy do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo và những chiến sĩ du kích của cả hai thời kỳ đánh Pháp và đánh Mỹ trong đầm lầy... Với nhũng chiến sĩ ấy, tôi tin rằng, điểm tựa của chúng ta không chỉ là công sự, mà là một cái gì lớn lao hơn, vững chắc hơn...


Tôi nghĩ như vậy nhưng tôi không phát biểu, vì cuộc họp đã kết thúc Mọi người đều nhất trí trong trận đánh vừa rồi ta thắng lợi lơn. Anh em đang hăng hái và sẵn sàng đối phó những trận tiếp theo. Tuy nhiên, những ý kiến của Nghĩa vẫn để lại trong lòng tôi nhiều do dự. Và quả nhiên ba ngay sau đó, nó được chứng minh bằng thực tế.


Ba ngày sau, bọn địch tiếp tục tấn công. Chúng nổ súng vào lúc nửa đêm. Với ý đồ dùng hỏa pháo để phá tan tuyến phòng ngự của ta, chúng đã bắn pháo cấp tập liên tiếp sáu tiếng đồng hồ liền. Sáng hôm sau, toàn bộ trận địa của chúng tôi đã biến thành một bãi trắng. Xung quanh chỉ có trời và nước. Chỗ đất còn lại thì bùng nhùng, bùn không ra bùn, đất không phải đất. Bao nhiêu đường dây liên lạc đều bị cắt đứt không sao nối lại được. Anh em phải bám rễ đước, bám vào những thân cây còn lại để chiến đấu. Sự đi lại cực kỳ khó khăn. Thương binh phải cấp cứu tại chỗ.


Nhất là việc tiếp tế ăn uống ngày càng trở nên gay cấn. Hàng ngày, anh nuôi chỉ có thể phát cho mỗi người một nắm cơm và dúm muối trắng. Chúng tôi phải chia ra ăn cho tới sáng hôm sau. Nhưng rồi lương thực cũng cạn dần, mà lực lượng tiếp tế phía sau vẫn chưa lên được. Mạch nước ngọt trong núi cũng rất hiếm. Hứng suốt ngày đêm may ra được một thùng, vừa đủ nấu cơm và tiếp nước cho thương binh. Anh em đã bắt đầu phải dùng nước lợ trong đầm.


Với tất cả những khó khăn ấy, chúng tôi đã cầm cự quyết liệt với kẻ thù suốt bốn tuần. Trong gần một tháng trời ấy, chúng tôi đã đánh bật hàng chục đợt tấn công quy mô và chặn đứng nhiều mũi đánh lén của bọn lấn chiếm.


Nhưng dần dần chúng tôi đã bị kiệt sức. Hàng tháng trơi ngâm mình trong bùn nước, một số bị sốt rét, số còn lại phải liên tục quần nhau với giặc nên sức khỏe hao hụt, cơ thể mệt mỏi. Nhưng anh Phương ạ, điều nguy hiểm hơn là tư tưởng chiến đấu của một số anh em đã bắt đầu sa sút. Có những đồng chí đâm ra hoài nghi ta không đủ súc cắm giữ được vùng đầm lầy, có đông chí lo lắng cho là cứ đánh chác kiểu này, nếu không bị địch tiêu diệt thì cũng bị đói bị ốm mã chết. Thậm chí có người còn nảy sinh tư tưởng rút bỏ vùng đầm lầy, lùi lại sau để dựa vào hậu phương vững chắc hơn. Với những suy nghĩ ấy, lác đác đã có hiện tượng đào ngũ...


Tình hình ngay càng căng thẳng. Nhất là sau đợt bọn Miên dùng lối đánh du kích, chia thành các tốp lẻ, lợi dụng ban đêm bao vây chốt của ta trong suốt mấy ngày. Ở điểm chốt của Nghĩa bị thương thêm một số. Anh phải rời bỏ cửa lạch co cụm lại sát trận địa của phân đội tôi để chống giữ. Cũng may, giũa lúc đó, lực lượng du kích địa phương chi viện thêm cùng cánh quân của Hai Tĩnh từ núi đá vôi đánh vào sườn trái quân dịch, tiêu diệt nhiều tên, phá vỡ vòng vây của chúng. Nhân dịp đó, chúng tôi đánh thốc ra bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch, buộc chúng phải tháo chạy sang bên kia biên giới, để lại nhiều xác chết trên đầm lầy.


Sau trận đánh này, ban chỉ huy chốt quyết định triệu tập toàn thể đảng viên mở cuộc họp chi bộ ghép giữa lực lượng biên phòng và dân quân. Trước lúc họp tôi và Nghĩa đã gặp nhau, tranh luận gay gắt. Nghĩa đã có những biểu hiện dao động. Anh nói:

- Tôi thấy không thể cắm chốt kiểu này mãi được. Hệ thống công sự đã bị phá hủy hết. Không còn điểm tựa để chiến đâu. Vậy mà cứ ở lì tại đây, giơ lưng ra đỡ đạn... Hừ, da thịt đọ với sắt thép mãi sao được?
- Có nghĩa là ta không phòng ngự nổi sao? - Tôi hỏi.

- Không hẳn như vậy. Nhưng tôi cho rằng: cắm chốt trên vùng đầm lầy là không lợi và không thể giữ trận địa mãi được. Bọn Miên thì lúc tấn công qui mô, lúc đánh lẻ, lại có hỏa pháo yểm trợ như mưa. Còn ta thì cứ cắm chốt, mục tiêu lồ lộ, không di chuyển, không ngụy trang... Tôi không hiểu ta cố giữ cái cửa khẩu và trạm kiểm soát cũ để làm gì?

- Không phải là cửa khẩu - Tôi phản đối - Mà ta phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyên lãnh thổ. Bằng bất cứ giá nào, chủng ta cũng không cho phép bọn Miên xâm chiêm được một tấc đất của Tổ quốc. Nhưng tôi đồng ý với anh. Chúng ta không nên cắm chốt ở một chỗ, giơ lưng ra mà chịu báng.

- Tức là đồng chí cũng đồng ý rời bỏ vùng đầm lầy?

- Sao lại bỏ đầm lầy? Tôi chưa hiểu. Anh định rút lui ư?

- Không phải rút lui. Mà là lùi trận đìa lại phía sau.

- Cả vùng đầm lầy này rộng hai trăm hecta. Tức là ta sẽ bỏ lại cho địch một khoảnh đất bằng hai xã?

- Ta lùi về chân núi đá vôi để củng cô công sự. Đó la điểm cao lợi thế, để phòng ngự, dễ tấn công, lại có chỗ dựa vững chắc.

- Nhưng ta chịu mất đứt đi một vùng đất rộng hai trăm héc ta này sao?

- Dù sao ở đây cũng chỉ là đầm lầy. Dẫu chiếm được, bọn địch cũng khó bám vào đấy để sống. Ngay ta cũng vậy, xem ra anh em khó có thể chịu đựng hơn nữa, đã bom đạn chết chóc, lại đói khát... Vì vậy, tôi cho rằng ta về án ngữ ở chân núi đá vôi là hợp lý. Ở đấy có khó khăn gì ta còn liên lạc kịp thời với phía sau. Hậu phương sẽ tiếp tế lương thục, thực phẩm cũng như chuyển thương dễ dàng hơn. Còn ở đây, tôi cảm thấy chúng ta đơn độc quá.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:53:41 pm
Vậy đó! Tôi đã hiểu rõ mọi ý nghĩ của Nghĩa. Ke ra anh nói cũng có lý. Nếu trận địa phòng ngự dựa vào chân núi thì trước hết ta có công sự vững chắc tránh được phi pháo sát hại. Vả lại, việc tiếp tế tải thương nối liền với hậu cứ có nhiều thuận lợi: Song nghiêm khắc mà nói, đó là tư tưởng thoát lui. Hơn nữa, điểm tựa là gì? Theo tôi nghĩ, điểm tựa không đơn thuần là công sự như Nghĩa nói, mà trước hết phải là lòng tin vào sự tất thắng và tư tưởng tiến công. Điểm tựa ẩy phải được xây dựng vững chắc ngay trong lòng mỗi một người, từ đồng chí chỉ huy tới anh em chiến sĩ. Giữa lúc mọi người đang căng thẳng chờ đợi ở người chỉ huy một mệnh lệnh nào đó, bỗng nhiên có tiếng hô rút lui, thì không thể tồn tại một đội ngũ chiến đấu nghiêm chỉnh nữa, mà khác chi dòng nước đang dâng cao lại phá bỏ một đoạn đê hiểm yếu. Tại sao tự nhiên ta lại bỏ đi một vũng đất mà kẻ thù đã tốn bao xương máu cũng không đánh nổi được? Người giữ mảnh đất ấy đã khó bám, thì kẻ mong chiếm lấy nó càng gay go gấp bội. Giả thiết nếu ta bỏ nơi nãy cho địch thì sau này đồng đội của ta sẽ phải trả biết bao xương máu nữa mới chiếm lại được. Vả lại, không lẽ trong cuộc chiến đấu này mình cứ phải đi tìm một điểm tựa cụ thể? Sao không nghĩ rằng mỗi một chiến sĩ đang đựng ở vị trì chiến đấu này phải trở thành một điểm tựa vững chắc cho người khác, cho hậu phương. Tôi chợt nghĩ tới má Bảy, tơi người mẹ vợ tương lai của tôi và câu nói của bà: “Tụi bay trẻ tuổi phải ra đằng trước mà giữ. Ba quân cướp mà tràn qua thì đầu người con mất chứ nói chi giữ nhà". Đấy, bà con cô bác ở phía sau đều gửi gắm lòng tin như vậy cho chúng tôi đứng phía trước. Tôi biết lúc này ở quê hương, bà con đang lao vào một chiến dịch gặt lúa để đề phòng bọn địch tràn tới cướp bóc. Trận chiến đấu ấy cũng quyết liệt không kém gì chúng tôi ở đây. Song hai cuộc chiến đấu ấy đều phải tiến hành song song không thể bỏ một mặt trận nào được. Hơn nữa, sở dĩ chúng tôi phải độc lập tác chiến ở đây đã hơn một tháng, vì cấp trên đang tập trung lực lượng mở những hướng chủ yếu vào mặt trận chính, nhằm tiêu diệt lực lượng phản động và đánh tan ý chí xâm lược của chúng. Chính vì vậy, chúng tôi cũng còn là một điểm tựa của nhiều điểm tựa khác.

Nghĩ thể, tôi khẳng định với Nghĩa:

- Tôi cho rằng trước lúc tìm được mảnh đất để đứng chân, cần phải tìm được chỗ dựa vững chắc cho tinh thần người chiến sĩ đã.

Nghĩa nhìn tôi chòng chọc:

- Đồng chí định nói gì cứ toạc móng heo ra. Tôi không thích lối nói bóng bẩy ấy. Vậy theo đồng chí, ta cứ cắm chốt mãi chỗ này mới đúng hay sao?

- Không. Tôi đồng ý với anh một điểm, ta sẽ không cắm chốt cố định. Nhưng ta không được bỏ vùng đầm lầy lui về chân núi. Theo tôi, ta phải cơ động chiến đấu trong đầm lầy như những chiến sĩ du kích trước đây.
- Nghe nói thi hay đấy. Nhưng làm được điều ấy đâu có dễ.

- Tất nhiên lã khó. Nhưng tôi tin rằng anh em sẽ lãm được khi có quyết tâm. Hơn nữa, bên cạnh chúng ta còn có những chiến sĩ du kích dày dạn như Ba Lục, Hai Tĩnh và bà con phía sau...

Nghĩa đỏ mặt:

- Tôi cho đó là lý luận. Thực tế sẽ không giản đơn. Rồi anh vùng vằng - nhưng anh nên nhớ. Nếu ta cứ cắm chốt ở đây có thể đưa đến cái chết oan uổng cho nhiều sinh mạng. Vì vậy, trong cuộc họp tới đây anh cần có trách nhiệm trước từng lời nói của mình.

Đúng lắm. Cần phải có trách nhiệm. Nhưng trách nhiệm trước hết là cao nhất, theo tôi nghĩ: là sự mất còn của mảnh đất mà Tổ quốc đã giao cho chúng tôi giữ gìn. Tôi tin rằng mình nghĩ đúng. Đây là lần đầu tiên chúng tôi va chạm với nhau.

Sớm hôm sau Năm The đến băng lại vết thương cho tôi. Lựa lúc vắng vẻ, cô hỏi tôi với ý trách móc:
- Khi hồi em nghe nói anh và anh Nghĩa có va chạm vơi nhau?

- Đâu có - Tôi gượng cười - Anh chỉ trao đổi vi trách nhiệm.

- Nhưng em nghe hình như anh hơi máy móc.

Tôi kinh ngạc nhìn The. Cô tiếp:

- Anh Nghĩa thương chiến sĩ dữ á! Có lẽ vì thế mà ảnh muốn tránh cho anh em khỏi bị thiệt hại oan uổng chăng. Vả lại anh cũng cần phải có thực tế chút xíu: bao nhiêu thương binh nằm lại trong hang chưa có cách nào chuyển ra. Hơn nữa, lương thực đã cạn. Liệu anh em có thể sống trong đầm bao lâu nữa? Chẳng qua anh Nghĩa muốn gần hậu phương thôi.

Tôi lặng đi suy nghĩ. Tôi thương The. Tôi không biết giải thích thế nào cho The hiểu. Cuối cùng tôi phải nói:
- Vậy The không biết rằng anh là người tha thiết gắn bó tới hậu phương đến thế nào? Đó là cuộc sông của má, của các em, và tình yêu của chúng ta. Chẳng lẽ anh không biết rằng lùi lại phía sau là đỡ gian khổ và có thể sẽ tránh được những hy sinh cần thiết? Nhưng Năm nghĩ xem, đây là mảnh đất chúng ta đây từng đổ máu... Anh không muốn rời khỏi đây để chúng ta phải đổ máu nhiều hơn nữa mới giành nổi những gĩ chúng ta đang có trong tay...

The im lặng suy nghĩ. Lát sau cô thở dài:

- Dù sao lúc này cũng rất khó khăn. Anh em đã hết lương ăn mà thương binh thì ùn lại, chưa chuyển lại sau được. Điều cần thiết lâ phải phá vây để liên lạc được với hậu phương.

- Anh tin là mọi người sẽ bàn bạc để tìm ra lối thoát. Còn trước mắt, bằng mọi giá, chúng ta phải giữ vững vùng đầm lầy, đó chính là điều mà bà con cô bác đang trông chờ ở chúng ta. Còn nếu bỗng nhiên ta lùi lại, thì hậu phương sẽ mất lòng tin. Và anh cho rằng lúc đó, chúng ta sẽ không giữ nổi một cái gì nữa hết.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:54:31 pm
Trưa hôm ấy cuộc họp chi bộ được tiến hành. Mọi ý kiến đã được đem ra bàn bạc sôi nổi. Cuối cùng tập thể đã ủng hộ ý kiến của tôi. Nhưng đồng thời, mọi người cũng thấy được hết những khó khăn đang tồn tại mà Nghĩa đã vạch ra. Do đó, chi bộ đã quyết định và phân công cụ thể như sau: Nghĩa sẽ chỉ huy phá vây phía sau để chuyển thương binh ra ngoài và liên lạc với hậu phương. Bộ phận còn lại dưới sự chỉ huy của tôi và Ba Lực tiếp tục chốt và giữ vùng đầm lầy bằng chiến thuật vận động linh hoạt, không cắm chốt chết cứng ở một nơi như trước nữa.


Tinh thần nghị quyết lập tức được thi hành. Ngay đêm ấy, chúng tôi đã tập trung lực lượng đánh thốc vào đội hình của bọn Miên án ngữ trên con đường thông về phía sau. Bọn cướp ở đây rất đông. Nhưng vì bất ngờ bị chúng tôi tấn công từ hai sườn lại, chúng lúng túng phải theo cửa lạch rút ra ngoài sau năm giờ chống cự quyết liệt. Vậy là chúng tôi đã thực hiện được hai mục đích: đánh bật được bọn lấn chiếm ra khỏi phía sau và mở được con đường mới để đưa phân đội của Nghĩa áp tải số thương binh chuyển vê hậu tuyến.


Từ đó trở đi chúng tôi càng khó khăn hơn, bọn Miên lại xông lên chiếm lấy con đường, cố tình bao vây khép chặt vùng đầm lầy. Chúng tôi tiếp tục chiến đấu ròng rã hơn nửa tháng trời với bao khó khăn thiếu thốn. Nhưng bọn Miên không sao bám chân được trên vùng đầm lầy. Chúng dùng hỏa pháo nhưng vô hiệu, vì không xác định nổi nơi quân ta chốt giữ. Song nếu chúng bơi qua sông hoặc dùng thuyền đổ quân tới, là lại bị quân ta từ nhiều nơi xuất hiện đánh bật trở lại.


Cho đến trận cuối cùng chúng đã dùng toàn bộ lực lượng đánh sang quyết chiếm bằng được vùng đầm lầy. Nửa đêm hôm ấy, chúng pháo kích như mưa, đồng thời cho quân áp tải đổ bộ lên bờ. Chúng tôi kịp thời triển khai ra ven bãi để đón đánh. Cuộc chiến đấu kéo dài tới gần sáng, thậm chí nhiều mũi đã hết đạn phải xông đánh giáp là cà. Bọn giặc tràn sang ngày một đông, buộc chúng tôi phải co dần về giữa đầm. Chúng đã chiếm được vùng cửa lạch. Trong lúc vận động tác chiến, Ba Lực bị trúng mìn hy sinh. Còn tôi cũng bị viên đạn của một tên Miên lên lút phía sau bắn trúng bụng. Mắt tôi hoa lên, đất trời quay cuồng. Tôi chỉ kịp chống tay dưới lên, ôm chặt lấy thân cây được, đưa mắt nhìn quanh một lượt cánh đồng lầy quen thuộc trước khi ngã xuống...


Anh Phương ạ, tôi đã thiếp đi không biết bao lâu. Khi mở mặt ra, tôi ngạc nhiên thấy mình vẫn nằm giữa đầm lầy trong một cán lều quân y sạch sẽ. Năm The ngồi cạnh đang bón cho tôi từng thìa cháo. Tôi bàng hoàng tưởng mình mơ, chống tay ngồi dậy. Nhưng vết thương bị giật mạnh khiến tôi đau cuộn nơi bụng. Năm The giữ tôi lại:

- Nằm im, anh. Vết thương đang nặng, anh đừng cố.

Tôi nắm chặt tay The, run run hỏi:

- The, anh em đâu cả rồi?

The nhìn tôi trìu mến:

- Anh yên tâm, đầm lầy vẫn đứng vững.

Tôi sung sướng nhìn xung quanh, quên mất nỗi đau cùng sự mệt mỏi trong người. The mỉm cười nói cho tôi rõ:
- Giữa lúc trận địa của ta bị nguy khốn thì quân tiếp viện kịp đến đánh tan bọn lấn chiếm. Số còn lại đã kéo nhau tháo chạy sang bên kia biên giới.

- Còn bây giờ?

- Giờ đây ta đã có đủ lực lượng bổ sung và đang triển khai trên các chốt do anh Nghĩa chỉ huy.
- Sao, anh Nghĩa à?

- Dạ. Anh Nghĩa đã trở về đúng lúc.

Tôi nắm tay The, sung sướng. Cũng lúc ấy, Nghĩa từ ngoài bước vào...

Anh Phương thân yêu!

Đó là câu chuyện tôi muốn kể lại anh nghe.

Khi tôi viết thư này thì quân ta đã mở những đợt phản công chiến lược, quét sạch toàn bộ bọn xâm chiếm ra khỏi biên giới thân yêu của Tổ quốc. Riêng điểm chốt vùng đầm lầy, bè lũ phản động đã bị đuổi xa. Và chắc chắn không bao lâu nữa, nhân dân cách mạng chân chính Campuchia sẽ nổi dậy tiêu diệt bọn phản động đến tận hang ổ của chúng.

Giờ đây nhìn lại, nhiều chiến sĩ kiên cường của chúng ta như anh Ba Lực, đồng chí Hải, Bình, Thi và nhiều anh em đồng chi khác ngã xuống để vùng đầm lầy mãi mãi bất diệt. Giờ đây hàng trăm hàng ngàn chiến sĩ trẻ tuổi khác đã bỏ súng lên biên giới làm nhiệm vụ, ai cũng trải qua những thử thách quyết liệt nhưng rồi để trưởng thành. Bởi vì trong mỗi một con người ấy đều có một điểm tựa vững chắc. Đó là niềm tin vào sự nghiệp tất thắng của công cuộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Anh Phương thân yêu.

Tôi viết đến đây đã dài và câu chuyện tôi kể anh nghe cũng đã trọn vẹn. Song cuộc chiến đấu của chúng ta vẫn đang tiếp tục. Tôi hy vọng vết thương sẽ chóng lành để trở lại cũng đồng đội vững vàng đứng trong đội ngũ.
Còn giờ đây, tạm biệt anh. Năm The cùng anh em cáng thương đang đến kia rồi.

Chúc anh vui mạnh và chiến thắng!


Ngày 28 tháng 6 Biên giới Tây Nam


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:55:17 pm
ĐƯỜNG QUA PHUM THA KHÂY


KHUẤT QUANG THUỴ


Người dân vùng biên giơi này vẫn thướng nói “Đi đâu mà chẳng phải qua Kha Thây". Câu nói ấy nếu chỉ xét về góc độ vị trí địa lý thì chưa hẳn là đúng, mặc dù Tha Khây cũng là một phum có vị trí quan trọng trong vùng. Sở dĩ có câu nói ấy, có lẽ bởi xưa nay Tha Khây vẫn là phum của những lục thum (ông lớn). Muốn đi đâu, làm gì, người trong vùng đều phải qua đây xin phép các ông lớn và hỏi ý kiến sư thầy chùa Tha Khây. Thời nào Tha Khây cũng có ngươi làm quan to. Nhưng có lẽ bởi vậy mà mỗi cuộc đổi thay triều đại, Tha Khây cũng là nơi phải chịu nhiều đau thương nhất. Những kẻ tiếm quyền, sau khi loại trừ những ông lớn và gia đình họ, lập tức không quên quài tay dao tay búa sang hàng xóm, láng giềng của họ để thêm hả cơn giận và để trừ hậu họa. Láng giềng của kẻ thù của mình không thể coi thường được.


Thời Pôn Pốt, Tha Khây cũng có một vài lục thum cỡ tỉnh, cỡ huyện. Các ông lớn này bèn bàn nhau mở một con đường về Tha Khây và cẩn thận hơn, kéo thêm một đoạn gần hai chục cây nữa ra tận biên giới Thái Lan, để, nếu có chuyện gì thì... Mối lo xa của mấy ông này quả là không thưa. Người dân Tha Khây đã được chứng kiến cái cảnh bọn tàn quân Pôn Pốt đạp xéo lên nhau chạy trốn trên con đường này để chuồn sang Thái Lan sau này mồng bảy tháng một năm bảy mươi chín. Trước khi rút khỏi Tha Khây, bọn tàn quân Pôn Pốt vẫn còn kịp đốt sạch Tha Khây và cho nổ tung cái khu hậu cần lúc nào cũng ăm ắp súng đạn bên cạnh Tha Khây. Sau cuộc đào tẩu ấy ít ngày, những người dân Tha Khây còn sống sót ở các công xã lóp ngóp kéo nhau trở về. Dù sao cũng không thể bỏ Tha Khây được. Người ta bắt đâu dựng tạm những túp lều trên đống tro tàn. Một Tha Khây mới lại hình thành. Người dân Tha Khây gọi làng mới của mình là Tha Khây Thơ mây (Tha Khây mới) để phân biệt với Tha Khây cũ xanh tươi trù phú và cùng là để ghi nhớ một thời tao loạn nhố nhăng, nồi da xào thịt.
Gia đinh ông Niết chỉ có hai người trở về Tha Khây, đó là ông và Niết Xan, đứa con trai út mười sáu tuổi. Bà lão, hai đứa con gái và hai anh con trai đầu tiên cùng vợ con họ đều lần lượt gục ngã trên những ruộng nương, trại chăn nuôi, công trình thủy lợi của các công xã mà họ bị lùa tới. Ngoài những người đã chết và Niết Xan, ông Niết còn một đứa con trai nữa trên Niết Xan, tên là Niết Him, nó bị bắt vào lính Pôn Pốt, nhưng đã làm việc ngay trong cái kho súng đạn bên cạnh Tha Khây kia. Bạn bè của nó còn sống sót kể lại rằng, thằng Niết Him là một trong nhũng đứa được phân công đặt mìn phá kho và đã không chạy kịp khi cái khối bom đạn kia bùng nổ như một núi lửa vừa bục lên. Thôi... thế cũng còn là phúc đức. Dù sao thì nó cũng còn được chết trên mảnh đất quê hương của mình. Ông Niết tự an ủi mình như vậy mỗi khi nghĩ tới Niết Him.


Tha Khây Thơ mây chưa kịp hơi sinh thì một đêm, bọn tàn quân Pôn Pốt từ bên kia biên giới tràn sang. Chúng ập vào những túp lều mới dựng, giết gần hết số dân Tha Khây mới trở về. Trước khi rút đi, chúng đốt sạch những túp lều mới dựng rồi bỏ lại những tờ truyền đơn với những lời de dọa: “Hỡi dân Tha Khây! Có cái nồi nhỏ hãy nhớ cái nồi to (của công xã), mặc cái xà rông màu hãy nhớ cái xã rông đen. Coi chừng trăm ngươi chôn chung một hố! Muốn sống ăn cơm Phật uống nước Trời, hãy chạy qua biên giới".


Những ngươi còn sống sót nháo nhác vài ba ngày. Một số ngươi lén lút dắt díu nhau đi về phía biên giới. Số còn lại vẫn ở lại Tha Khây, trong đó có bố con ông già Niết. Một lần nữa, những người còn sóng sót quyết tâm xây dựng lại Tha Khây. Họ càng vững tâm hơn khi có một đại đội quân tình nguyện Việt Nam tơi đóng quân ngay trong phum và bắt đầu làm lại cầu, sửa lại con đường ra biên giơi để ngăn chặn bàn tay đẫm máu của bọn Pôn Pốt. Cùng với sự xuất hiện của bộ đội Việt Nam, chủ tịch Xa May tập họp dân làng lại và nói: "Đã đến lúc chúng ta phải cầm lấy vũ khí mà bảo vệ con cái ta, phum sóc ta chứ, cứ ngồi mà đợi bọn Pôn Pỗt nó sang để nó cầm búa nện vào đầu à?”. Một trung đội dân quân của Tha Khây đã ra đời. Niết Xan xin cha cho mình được vào du kích, ông già Niết ngẫm nghĩ một hồi rồi gật đầu: “Được thôi? Mình không bắn nó thi nó sẽ bắn mình. May hãy học bắn cái súng cho giỏi vào".

Có bộ đội, có du kích Tha Khây yên ổn được một thời gian. Những ngôi nhà mới lại dựng lên. Người ta bắt đầu trồng cây và nghĩ đến chuyện sống lâu dài ở Tha Khây Thơ mây.

Nhưng rồi con đường ra biên giới liên tiếp bị gài mìn, bị phục kích. Bộ đội Việt Nam buộc phải phân tán thành từng trung đội, tiểu đội đi chốt đường, đi lùng sục trong rừng để tiêu diệt bọn tàn quân Pôn Pốt vượt biên giới sang quấy phá. Xã đội trưởng Su Prên tập hợp du kích lại, rồi nói:

- Bộ đội Việt Nam đi chốt đường, đi chiến đấu, chúng ta cũng phải chia nhau đi với họ để vừa tham gia chiến đấu vừa học cách đánh giặc chứ!

Mới người đều giơ tay xung phong. Niết Xan cũng giơ cao cánh tay khỏe khoắn trẻ trung của mình. Xã đội trưởng Su Prên liền phân công Niết Xan vào tiểu đội của Nuôn Chiết ra chốt ở đầu cầu Tà Ngươn với bộ đội Việt Nam.

Con trai đi rồi, ông già Niết đánh chiếc xe bò của mình lên gặp xã đội trưởng Su Prên:

- Tao già rồi, không còn vào du kích để đi chốt đường được, nhưng tao có cái xe này. Hàng ngày tao sẽ chở nước đi các chốt dọc đường, chia cho bộ đội và du kích để chúng nó khỏi phải đi gùi xa hàng buổi đường. Mày coi có được không?

Xã đội trưởng Su Prên vỗ vai ông già, cười vang:

- Tốt quá! Tốt quá!... Người già bao giờ cũng khôn ngoan hơn người trẻ. Đang đau đầu vì cái chuyện nước nôi cho các chốt mà chưa nghĩ ra thí bố già đã nghĩ hộ rồi. Có bố già chở nước cho bộ đội cho du kích chốt đường thì bọn Pôn Pôt đừng hòng phá nổi con đường qua thum Tha Khây. Phải không bố già?


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:56:12 pm
Trung đội trưởng Thông trực tiếp nằm với tiểu đội chốt ở cầu Tà Ngươn, điếm chốt xa nhất của trung đội, cách Tha Khây hơn chục cây số. Đây cũng là một quãng đường thường xuyên bị bọn địch từ bên kia biên giới mò sang gài mìn hay phục kích xe của bộ đội ta chở hàng ra tiếp viện cho các chốt tiền tiêu ngoài đường biên, trong đó có cả những xe téc chở nước. Đã từng chiến đấu ở nhiều chiến trường nhưng chưa ở đâu "vấn đề nước” lại được đặt ra gay gắt không kém gì súng đạn và lương thực thực phẩm như ở chiến trường này. Mùa khô ở xứ này sao mà khắc nghiệt. Trên đầu trời lúc nào cũng xanh ngằn ngặt còn mặt đất thì bị nắng trời thiêu đốt suốt ngày nóng hừng hực như trong lò nướng bánh mì. Gió cũng nóng, nó không hầm hập quạt lửa vào mặt như gió lào nhưng dai dẳng day dứt suốt từ sáng sớm tới nửa đêm. Trung đội đã bị ghẻ suốt lượt vì đã hàng tháng trời không được tắm rửa. Đã vậy, hàng ngày họ phải phơi mặt ra mà hưng cái thứ bụi xám của con đường này. Người ngợm lúc nào cũng dấp dính như được phết hồ. Ngứa ngáy đến khốn khổ. Có lẽ vì thế mà suốt ngày anh nào anh nấy lúc nào cũng cau cau có có như bị táo bón, chỉ vào lúc vắng mặt trời là mọi người đều vui vẻ, mặt mày rạng rỡ. Họ kéo ra đứng trên cầu chờ chiếc xe chở nước của ông già Niết lọc cọc lăn tơi.


Khi chiếc xe bò của ông vừa dừng bánh bên kia cầu là tiêu đội trưởng Trực chạy ùa tới, hét váng lên:

- Nước tới! Nước muôn năm! Chào bố già. Chúng con mong bố còn hơn mong Phật bà Quan âm đi chợ về đấy!
Ông lão cười khơ khơ rối trình trọng thả mấy can nước xuống. Có nước, cả tiểu đội vui vẻ náo nhiệt hẳn lên. Mọi người quây quần trước cửa lán, mỗi người cầm trên tay một chiếc ca hoặc bát, hoặc những cái mũ sắt ngửa ra, háo hức gấp triệu lần những tay nghiện ngập đứng xếp hàng trước quầy bia ở Hà Nội. Ví von như thế có lẽ vẫn chưa hẳn đúng, vẫn ít nhiều xúc phạm tới sự thiêng liêng của nước lã ở chốn này. Vì ở Hà Nội, dù bia có khan hiếm đến mấy, nhưng hễ có tiền là vẫn có để mà say sưa. Nhà nước không có thì uống "bia chui". Nhưng ở đây, bố già mà không tới thì không thể "chui" ở đâu mà ra nước được. Đó là lời bình luận của Ca, một "công tử Hà Nội" chính cống vừa được bổ sung vào trung đội hơn một tháng nay (và cũng đã ghẻ một cách "toàn diện triệt để” như cánh cựu binh).


Sau khi nhận bàn giao xong, tiểu đội trưởng Trực bắt đầu chia nước. Tiêu chuẩn mỗi người được một ca đầy, sử dụng theo sở thích từ bây giờ đến trưa mai. Riêng những người vừa đi "bừa đường" về (cái chuyện bừa đường này sẽ kể sau thi được ưu tiên thêm một ca nữa để rửa mặt, khéo léo cơ chỉ ra thì còn có thể lau mình qua một lượt. Trung đội trưởng Thông cũng chỉ lĩnh một khẩu phần nước. Hôm đầu tiên ra đây, tiểu đội trưởng Trực cũng đã múc thêm cho anh lưng ca nữa để bày tỏ sự tôn trọng cấp trên, nhưng Thông vội gạt đi. Nhìn thấy cảnh ấy, Nuôn Chiết liền cười, hỏi: “Làm lục thum mà cũng chi hưởng một ca nước như mọi người thì làm lục thum làm cái quáy gì, anh Thông?”. Thông vội xua tay “Cậu lầm rồi, Nuôn Chiết, mình không phải là lục thum đâu. Mình chỉ là đồng chí chỉ huy trung đội thôi. Nuôn Chiết lắc đầu “Ở Campuchia chưa có cái lệ làm ông lớn mà lại hưởng thụ như tất cả những người binh thường”. Thông cười: “Vậy Trực hãy chia cho ông lớn của tiểu dội du kích Tha Khây thêm một ca nữa”. Nuôn Chiết giẫy nảy "Không! Nếu vậy thì... tôi đi du kích làm cách mạng làm cái quái gì!".

Chuyện ấy đã trở thành chuyện vui của tổ chốt hỗn hợp cầu Tà Ngươn, nhưng anh em bộ đội Việt Nam từ đó vẫn đùa thỉnh thoảng lại gọi Nuôn Chiết là "lục thum".

- Niết Xan! Ra lĩnh nước đi? “lục thum" đang gọi kìa.

Nghe “Ca Hà Nội" nhắc, Niết Xan lẳng lặng xách cái ống tre vẫn thường dùng đựng nước thốt nốt ra cửa lán. Hôm nào Niết Xan cũng nấn ná để ra lĩnh nước sau cùng. Chú ngại mời người nhìn thấy cảnh cha con chú gặp nhau. Cha chú lại hay hỏi lẩn thẩn hoặc níu chú lại và căn dặn đủ điều, làm như chú là trẻ nít không bằng. Vả lại, sống với anh em bộ đội Việt Nam xa gia đình chú cảm thây dường như mình có lỗi vì ngày nào cũng được gặp cha. Chú muốn đi xa, ra tận chốt biên giới để cha chú không còn ngày ngày tới mà hỏi han xét nét đủ điều nữa.

- Niết Xan! qua đây tao hỏi cái đã.

Ông già khoát tay nói như ra lệnh khiến Niết Xan không dám lừng khừng. Cậu vừa bước qua cầu vừa lủng bủng trong miệng ngày nào cũng hỏi với han... lắm chuyện!

- Mày đội cái mũ lệch thế kìa mà được à?

- Giờ nghỉ... tôi có quyền...

“Lý lẽ mới cả bố nó đấy. Cứng cổ gớm nhỉ?”. Ông Niết vừa thầm nghĩ vừa ngắm nhìn gương mặt cau có của con trai. Nó cũng dày dạn nhiều rồi đấy. Cái cây trong vườn và cái cây ngoái rừng có khác nhau thật.
 
- Cha nói cãi gì thi nói đi. Sắp có công tác gấp đấy.

- Tối rồi, còn công tác gì?

- Tối có công tác tôi chứ! Ăn cơm xong còn họp rồi đi tuần đường. Hôm nay chúng nó lại gài mìn nữa đấy. May mà bộ đội gỡ được hết. Ở nhà... có gì mới không cha?

- Mới thêm nhiều chứ. Nhà Su Khơi mới về. Cũng chỉ con hai mẹ con thôi. Con bé Khơi Ha-san nó hỏi thăm anh đấy (ông Niết bỗng đổi cách xưng hô).

- Nó còn con nít mà - Niệt Xan vội nói như muốn cho qua chuyện con bé Khơi Ha-san, nhưng thâm tâm là muốn được nghe thêm nữa.

- Anh tưởng nó còn con nít mãi sao? Khơi Ha-san nó sắp lên tận Phnôm Pênh học, rồi về làm cô giáo dạy chữ cho lũ con rút ở Tha Khây ta đấy.

- Ồ - Niết Xan thốt lên vì ngạc nhiên - Khơi Ha-san vắt mũi chưa sạch. Đòi dạy ai?

- Nó lớn lắm rồi. Múa romvông đẹp như bã Su Khơi ngày xưa ấy.

Vậy ra Khơi Ha-san đã về Tha Khây Thơ-mây, đã đi múa romvông với lũ con trai. Thế mà nói nhớ Niết Xan. Vui quá nhớ cái nỗi gì? Nhưng thôi, hãy dẹp cái đám con gái qua một bên. Mình còn bận lo nhiều công tác nữa mà.
- Cha nói với... với bà Su Khơi rằng con vẫn nhớ bà ấy. Cầu Trời Phật phù hộ cho bà ấy sống lâu.

- Thế con... Ha-san? Ông Niệt hỏi và khẽ nheo mắt, cười.

- Không có... con chẳng có gì để nói vơi con bé ấy. Nhưng cha có thể nói với cô ấy rằng... Niết Xan bận đánh giặc. Cô ấy cứ việc đi mà múa romvông với đám con trai.

Niết Xan nói vậy rồi vùng vằng trở về lán, làm như chính Ha-san đang đang ở bên kia cầu Tà Ngươn vậy. Tuy hơi bực một chút thật, nhưng có lẽ Niết Xan vui là chính. Bởi vậy vừa bước vào cửa lán Nuôn Chiết đã hỏi luôn:

- Có chuyện gì mà vui thế, Niết Xan?

- Ồ… vui vì Tha Khây đang có nhiều cái mới đấy, anh Nuôn Chiết ạ. Tha Khây sắp có trường học, sắp cô cô giáo dạy chữ cho lũ trẻ đẫy. Cô giáo mới trên tỉnh vê à?

- Không... cô giáo của Tha Khây chứ! Bộ đội Việt Nam đã làm cho trường học thì người Tha Khây phải đi học về mà làm cô giáo chứ.

- Ai thê?

- Bí mật!

- Ghê nhỉ? Hãy nhét cái bí mật của cậu vào bụng đi, kẻo không ăn được cơm với mắm bò hóc đâu. Ngày mai đến lượt cậu đi "bừa đường” với bộ đội rồi đấy!

- Thật chứ, anh Nuôn Chiết? Đúng rồi, phải cho tôi đi làm nhiệm vụ chứ. Tôi có mặc xà rông đâu mà chỉ ngồi nhà nấu cơm hoài?


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:58:35 pm
Họ gồm ba người, trung đội trưởng Thông, Ca Hà Nội và Niết Xan. Cả ba dàn hàng ngang, cùng gò lưng bước những bước nặng nề, chân ngập sâu dưới lớp bụi màu xám tro. Trên vai mỗi người đều ghi một sợi dây võng dài nối tới những bó gai to. Khi kéo đi, bó gai chà trên đường sục tung lớp bụi lên. Từ xa nhìn lại sẽ thấy một đám mây bụi vần lên, tựa hồ trên đuờng đang có cả một đoàn kỵ binh phi nước đại. Một công việc thật kỳ quặc, giống như một trò nghịch ngợm của trẻ con. Mỗi ngày hai lần. các tiểu đội chốt đường đều thay nhau làm cái việc kỳ quặc đó để kiểm tra xem địch có gài mìn dưới lợp bụi ngập tới lưng ống chân kia không. Sau đó họ mới báo cáo thông đường và cho phép các chuyến xe chở hàng ra các chốt tiền tiêu đi qua. Dạo này địch hay dùng các loại mìn vỏ nhựa do Trung Quốc sản xuất nên các loại máy dò mìn trở nên bất lực. Vì vậy mà cái phương thức thủ công nguy hiểm nay đã ra đời. Có thể chính những người đang gò lưng bước đi trên mặt đường ngập bụi kia sẽ đạp phải mìn. Nếu họ không đạp phải thì đến lượt những bụi gai kia sẽ khơi chúng lên, gây nổ. Khoảng cách từ bó gai đến những người kéo chúng đi chỉ là khoảng cách an toàn về mặt lý thuyết. Biết bao điều bất trắc có thể xảy ra?

Nhưng họ vẫn bước đi, quả quyết và kiên nhẫn.

Mặt trời vừa lên mà không gian đã hầm hập nóng. Trung đội trưởng Thông thở phì phò, mồ hôi tuôn ra đẫm áo. Mồ hôi chảy tới đâu bụi bám tới đõ, dính bết lại, nhão ra, nhớp nháp khắp cơ thể. Bên phải anh, Niết Xan vẫn lầm lì bước, không một lời phàn nàn. Ngược lại, Ca đi bên trái thì luôn miệng ho khậm khoặc, rồi rên rầm:
- Bụi ơi là bụi? Sống ở xứ này lấy ba cái mùa xoài rụng là ho lao mất.

- Vậy mà tớ đã sống qua bốn mùa xoài rụng rồi đấy!

- Thế thì Quốc hội cũng chả nên tiệc anh cái danh hiệu anh hùng làm gì. Cũng là đì bộ đội đánh giặc... tưởng thế quài nào chứ! Giặc giã chả thấy chỉ thấy bụi... Thà rằng bom đạn ầm ầm suốt ngày còn sướng hơn cứ ngày nay qua ngày khác đi cào đường mà hít bụi. Khoặc!... hừ... Đầy mồm bụi rồi! Nước thì không có mà rửa cái lỗ mũi nữa. Xứ sở quái quỷ thật! Lại còn cái thứ gì nhỉ... à, mắm bồ hóc! Giời Phật! Mới ngửi thấy là muốn ói rồi. Đến xuống lỗ tôi cũng không quên được hai thứ "đặc sản” của xứ này là bụi và mắm bồ hóc.

Trung đội trưởng Thông ngước nhìn Niết Xan. Khi tin chắc Niết Xan không đủ vốn tiếng Việt để nghe những lời ca cẩm của Ca Hà Nội, anh mới yên tâm. Bụi thì có thể chê được… chứ mắm bồ hóc mà chê thì người Campuchia tự ái ngay. Mà suy cho cùng, nó có kém gì mắm tôm ở bên ta kia chứ? Kể ra cũng thương Ca thật Tới bữa anh em thì ăn mắm bồ hóc, cậu ta cứ muối trắng đánh rền, "công tử Hà Nội" mà ăn uống kham khổ thế, lại hàng tháng không được tắm gội, kể cũng khó chịu thật.

- Tốt hơn hết là cậu hãy kể chuyện Hà Nội đi. Chuyện gì cũng được

- Dẹp!... tốt hơn hết là ngậm miệng lại kẻo bụi nó xộc vào tận lục phủ ngũ tạng - Nói vậy nhưng mồm mép Ca vẫn tía lia – mà sao anh có vẻ... say Hà Nội thế nhỉ? Có cô hãng bún ốc nào thèm mê anh kia chứ? Giả sử bây giờ vù một cái, có một cơn lốc cực mạnh cuốn cả anh và tôi lên trời, rồi ném xuống một đường phố Hà Nội thì... lập tức người ta sẽ đổ xô đến xem. Các ngã ba đường sẽ tắc nghẽn ngay. Người Hà Nội vốn hiếu kỳ mà! Người ta sẽ lập tức thông báo khắp các quàn chè chén ở Hà Nội rằng có hai thằng người vừa ở một hành tinh khác rơi xuống Hà Nội. Các nhà khoa học ở HÀà Nội sẽ ào đến cạo trắng chúng ta đi để tranh nhau lấy mỗi người một vốc bụi mang về những phòng thí nghiệm đầy chai lọ và mẩu thuốc lá cuốn của họ để nghiên cưu. Báo chí sẽ tranh nhau chụp ảnh, phỏng vấn viết bài bình luận. Và, ông cụ nhà tôi sẽ lập tức chạy bộ ra bưu điện, tranh nhau với lũ nhóc để xếp hang mua bẵng được một số báo. Rồi ông sẽ về phòng của mình, đóng cửa lại, pha một ấm trà và bắt đầu nhấm nháp các bài bình luận và xuýt xoa “chà... chà! Một sự kiện cực kỳ trọng đại". Nhưng đến khi nhìn sang bức ảnh chụp hai thằng người thì... ha ha! Ông già bật ngửa người ra, cái kính lão rơi tuột xuống nền nhà và...

Một loạt tiếng nổ dậy đất cắt ngang những lời thao thao bất tuyệt của Ca. Cả ba người cùng một lúc, theo phản xạ tự nhiên nằm vật xuống đường. Một lát sau, trung đội trưởng Thông lồm cồm bò dậy vừa rũ đầu, rũ tóc vừa hét lên:

- Không sao cả chứ?

Niết Xan cũng lập túc đứng dậy, mặt đầy đất, nhìn Thông cười ngây ngô. Ca vẫn còn nằm rốn thêm một lát có lẽ vì cẩn thận, rồi cái đầu bắt đầu ngúc ngoắc và sau đó là những tiếng rên rầm: “Đất vào đầy mồm lính rồi, trnng đội trưởng ơi!" Nhìn bộ dạng Của Ca, Thông và Niết Xan cùng phì cưỡi. Lúc này mà rơi xuống đường phố Hà Nội thì đúng là...

- Thôi dậy đi. Tan cha nó cả ba bó gai. Ta lại kiểm tra xem sao rồi đi chặt gai bó lại để tiếp tục công việc.

Họ ngược trở lại nơi mìn vừa nỏ. Thông nhận ra nhay thủ đoạn gài mìn của kẻ địch. Chúng gai mìn vỏ nhựa KP2 kèm với mìn vướng nổ, cũng may mà cả ba không ai vấp phải dây vướng nổ. Nếu không thì không thể đứng nhìn mặt nhau lấm bụi mà cười được nữa. Anh liền tranh thủ giảng giải điều ấy cho cậu lính mới của mình. Ca nghe một cách lơ đãng, rồi kết luận:

- Tóm lại... là nó nổ rất to. Lần đầu tiên tôi thấy mìn nổ gần thế đấy Được một quả này mà thả xuống Hồ Tây thì tha hồ mà ăn cá. Anh không biết chứ, hồi nhỏ tôi câu cá trộm ở Hồ Tây vào loại sừng!

Trong khi hai người còn loay hoay bên mấy hố mìn thì Niết Xan đã chạy tới một lùm tre gai ven đường, tay cầm một con dao phát rừng.

- Cẩn thận đấy, Niết Xan!

Nhưng chậm rồi. Một tiếng nổ lộng óc. Một vệt lửa nhoáng lên. Họ thoáng nhìn thấy trong lan khói bóng Niết Xan loạng choạng rồi ngã vật xuống.

- Nhanh lên! chuẩn bị vũ khí!

Thông hét lên rồi lao về phía bờ tre nơi Niết Xan vừa ngã xuống.

- Chú ý cảnh giới hai bên sườn!


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 07:59:26 pm
Anh ra lệnh cho Ca rồi thận trọng bước tới bên Niết Xan. Nhìn quanh bụi tre gai một lượt, anh chợt hiểu. Thằng địch đã nắm vững quy luật hoạt động của các anh và đã tính toán tất cả. Chúng gài mìn ngoài đường, nếu các anh không đạp phải thì khi kéo chà gai qua mìn sẽ nổ, những bó gai sẽ tung lên. Và sau đó, để tiếp tục công việc, các anh nhất định sẽ vào đây chặt thêm cành tre gai. Chúng đã tính toán rất kỹ. “Còn ta - Thông bỗng buông tiếng thở dài - ta đã không dự kiến phương án này. Niết Xan hy sinh là lỗi tại ta". Anh đau xót nhìn Niết Xan nằm tròng vũng máu và tự oán trách mình, một lát sau, anh lặng lẽ cúi xuống nâng Niết Xan lên vai. Những dòng máu đỏ tươi trên thân thể Niết Xan vẫn thánh thót nhỏ xuống thấm vào áo, vào cơ thể anh, rơi từng giọt, từng giọt xuống mặt đất khô cằn của quê hương.


Ca lặng lẽ bước theo sau trung đội trưởng và Niết Xan. Anh vẫn cặp súng ngang người, ở tư thế sẵn sàng nhả đạn, gương mặt anh thoắt trở nên trang nghiêm, sâu lắng hơn. Đây là lần đầu tiên Ca nhìn thấy một chiến sĩ đã nằm xuống như thế nào? Ôi! Sao mà bất ngờ. Dường như cái chết của những người chiến sĩ ở mặt trận bao giờ cũng bất ngờ. Ca chợt hiểu rằng trước cái chết, trước sự hy sinh, trước những dòng máu đang nhỏ thánh thót xuống đất đai kia, mọi sự gian nan, vất vả, thiếu thốn, mọi điều còn ngổn ngang bề bộn ở đời này đều trở nên nhỏ bé, tầm thường.


Ông già Niết vung roi giục bò rảo bước. Chỉ còn hơn một cây số nữa thôi là đến chốt đầu cầu mà sao ông bỗng sốt ruột lạ thường. Khác với mọi ngày, hôm nay ông quyết định đi chở nước vào buổi sáng chứ không đợi được đến chiều. Ông muốn nhanh chóng gặp Niết Xan. Có một việc hệ trọng... Dù sao cũng phải bàn bạc với nó. Nó đã lớn, đã vào du kích rồi chứ đâu còn trẻ nít? Ngoài nó ra, ông cũng chẳng biết bàn bạc với ai. Mà cái sự việc này... tự ông đã không thể quyết định nổi. Suốt đêm qua ông đã suy nghĩ mà cũng chẳng biết nên ra sao? Cuối cùng, ông quyết định phải bàn với Niết Xan. Nó là một đứa con ngoan, nó đã trưởng thành, nó có thể gánh đỡ ông một nửa cái gánh nặng này.


Vừa dong bò đi vừa chìm đắm trong suy nghĩ, chiếc xe của ông đã tới đâu cầu Tà Ngươn mà ông cũng không hay. Tới đúng chỗ mọi bữa, con bò dừng lại rống lên một tiếng. Ông già bỗng choàng tỉnh. Ông uể oải bước xuống nhìn sang bên kia cầu. Nhưng... lạ chưa kìa? Không thấy chúng nó ùa ra đón ông như mọi khi. Không nghe tiếng chúng cười đùa, hò hét. Cả khu vực đầu cầu lặng như tờ. Dường như cũng sốt ruột trước sự lặng lẽ khác thương ấy, con bò lại rống lên một tiếng nữa. Một người... rồi hai người nhô ra cửa nhìn về phía ông rồi lại vội vã thụt vào. “Sao thế? Ta mang nước ra cho chúng mày dùng chứ có mang quỷ sa tăng tơi đâu? Hay là... chúng nó biết tất cả rồi?”. Ông già bỗng chột dạ... Nhưng kia rồi, thằng Thông trung đội trưởng đã bước ra rồi đến Nuôn Chiết. A, toàn cấp chỉ huy cả. Họ định nói chuyện gì với ông đây? Hay vì cái chuyện ấy? Thôi được... cũng chẳng sao. Cuối cùng rồi chúng nó cũng sẽ biết cả. Nhưng... nếu như để ông bàn bạc với Niết Xan đã?..

Trung đội trưởng Thông đã tới trước mặt ông lão. Anh định nói nhưng miệng anh như cứng lại. Thấy vậy, Nuôn Chiết vội đỡ lời:

- Thưa bố già... chúng con mang đến cho bố chuyện buồn đau. Em Niết Xan... đã... hy sinh... vì... vì dân làng Tha Khây ta rồi...

- Hở - Đôi mắt ông lão như lồi hẳn ra, giọng ông lão lạc hẳn đi… - Ma... mày... nói... cái miệng mày có nhầm lẫn không đấy?

- Vâng... thưa bố... - Thông vội ngước lên, nhìn thẳng vào đôi mắt đã thất thần của ông già - Em Niết Xan bị... trúng mìn của bọn...

- A!... ấy... trúng mìn... Niết Xan con trai tao… A... mầy... mày đừng... đừng có mà... có phải mày... mày định đùa giỡn người già khốn khổ này không?

Hỏi vậy nhưng ông bỗng ôm mặt khóc nấc lên, khiến Thông và Nuôn Chiết chưa biết xử sự ra sao. Bỗng ông già nhảy vọt lên càng xe rồi rịt lên:

- Niết Xan!... Thôi rồi, chính nó giết... giết con tôi rồi... Pôn Pốt... Pôn Pốt... ông bỗng hét lên - ơi bộ đội, ơi du kích... Pôn Pốt ở ngay tại... tại...

Lưỡi ông líu lại, rồi ông ngã vật xuống ngất lịm đi.

Niết Xan được đưa lên chiếc xe bò kéo để trở về thum Tha Khây. Nuôn Chiết thay ông già điều khiển chiếc xe. Tâm và Ca hai chiến sĩ bộ đội tình nguyện Việt Nam và hai đội viên du kích, nai nịt gọn gàng súng tiểu liên quấn trước ngực đi kèm hai bên thành xe. Trên xe trung đội trưởng Thông và ông già Niết ngồi bên cạnh thi hài của Niết Xan. Ông già đã tỉnh lại, ngồi im lìm như đá nhìn cái dáng câm lặng đó của người cha, Thông biết không nên nói một câu gì nữa.


Chiếc xe chậm rãi lăn bánh trên con đường ngập bụi. Nuôn Chiết cố gắng điều khiển để con bò đi những bước đều đặn và cố tránh những ổ gà để xe khỏi xóc, làm kinh động giấc ngủ của Niết Xan. Anh không thể ngờ người chiến sĩ du kích đầu tiên của thum hy sinh lại là Niết Xan, chứ không phải ai khác. Biết ăn nói thế nào với Su Prên đây. Giá như người nằm kia chính là anh, là Thia Lơn hay Plêt Chan thì lại đi một nhẽ... Đằng này lại chính là Niết Xan, người trẻ nhất trung đội du kích! Bấy nay anh vẫn cố ý tránh lao những việc nguy hiểm cho Niết Xan. Tất cả anh em trong tổ đêu đã đi rà mìn với bộ đội Việt Nam. Riêng Niết Xan hôm nay mới đi lần đầu! Cái số phận của nó tệ hại quá. Nó còn trẻ, cuộc đời nó đang còn là buổi sáng chứ chưa đền buổi trưa... Dân làng sẽ nghĩ sao đây? Người Tha Khây đã quá quen với cái chết, nhưng chưa ai quen với sự hy sinh. Nhận một nhát búa vào đầu rồi ngã gục và tự nguyện chiến đâu hy sinh nơi mặt trận là hai việc khác nhau. Ở Tha Khây đã ai biết chuyện chẳng lành này mà chuẩn bị đón Niết Xan chưa nhỉ? Nghĩ tới đó, anh vội nhảy xuống, đi bên cạnh xe thế vào chỗ của Thia Lơn rồi ghé vào tai Thia Lơn, nói khẽ:

- Cậu hãy chạy về Tha Khây trước đi, chạy thật nhanh, báo cho xã đội, báo cho ủy ban, báo cho dân làng biết để họ chuẩn bị đón Niết Xan.

Thia Lơn khẽ gật đầu rồi chạy vụt đi. Bụi xám tung lên theo bước chạy của Thia Lơn, trông xa Thia Lơn giống như một quả đạn khói vạch đường, luồng khói xám ấy đang lao về phía phum Kha Thây, báo tin dữ.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Bảy, 2009, 08:00:22 pm
Khi chiếc xe chở Niết Xan về tới Tha Khây thì dân làng đã tụ tập đông nghịt trước trụ sở ủy ban. Chủ tịch Xa May và xã đội trưởng Su Prên dẫn một đoàn gồm cán bộ các ngành, các giới cùng với sư thầy chùa Tha Khây và các cụ già trong phum ra đón tận đâu đường. Khi chiếc xe tới, chủ tịch Xa May hét lên một câu gi đó. Tất cả lặng lẽ cúi đầu. Sư thầy lầm rầm đọc kinh, có tiếng ai đó bỗng khóc nấc lên rồi tiếng xã đội trưởng Su Prên quát khẽ:

- Im đi nào. Khơi Ha-san!

Tin dữ như có cánh truyền rất nhanh tơi tất cả các nóc nhà. Thum Tha Khây sôi sục cả lên. Mọi người đêu đổ ra đường. Cái chết chẳng có gì là mới. Nhưng đây là sự hy sinh. Chiếc xe bò lọc cọc lăn bánh trên con đường lầm bụi của phum Tha Khây, Tha Khây chưa kịp trồng lại những hàng dừa, hàng thốt nốt để che mát những con đường. Tha Khây mới chỉ kịp trồng những gì có thể nuôi sống người. Điều đó thì Niết Xan đã biết. Người Tha Khây cũng chưa ai có quần áo đẹp, kể cả Ha-san. Nhưng tất cả những ai con sống sót đến ngày hôm nay nhất định sẽ đến với anh, điều ấy Niệt Xan cũng biết rất rõ.

Mọi người xúm cả lại bên chiếc xe bò. Những tiếng sụt sịt. Những lời cầu kinh lầm rầm hòa theo giọng sư thầy. Những lời giảng giải của chủ tịch Xa May.

Các chiến sĩ du kích bắn một loạt tiểu liên lên trời.

Người ta bắt đầu đưa Niệt Xan vào trụ sở ủy ban.

Tất cả mọi người đều xúm quanh Niết Xan, không ai kịp chu ý tới ông già Niết đau khổ. Ông đã lần được qua đám đông rồi ông chạy như bay về ngôi nhà mình. Ông chỉ sợ có ai đó nhìn thấy. Ông vội lắm! Phải thật nhanh, thật nhanh lên mới kịp.

Đây rồi. Ngôi nhà của ông đây. Cái lu nước, hòn đá mà mỗi sáng Niết Xan vẫn thường ngồi, ánh cửa bằng liếp nứa sơ sài. Ông lao về phía đó, rút phắt con rựa cài trên bếp, đạp cửa lao vào nhà như một cơn lốc. Ông lao sâm vào một người. Ông khựng lại, hét lên:

- Niết Him! Mày có biệt chuyện gì xảy ra không?

- Con... nghe tiếng súng nổ. Có lẽ...

- Mày không phải là con tao! Mày là thằng Pôn Pốt! Mày đã giết em mày rồi!

- Không... Con không định giết nó!

- Mày giết nó rồi! Ông rít lên rồi vung dao phang tới. Sạt! Dường như ông đã chém trượt. Niết Him kêu ối một tiếng, loạng choạng ngơ ngác rồi hắn lao vụt ra ngoài. Ông vội lao ra theo vừa rượt vừa la lớn:

- Pôn Pốt! Bắt lấy nó... thằng giết người!...

Niết Him bị chém xả vai trái, máu chảy ướt đẫm áo, nhưng hắn vẫn cố chạy. Nghe tiếng ông la, hắn hốt hoảng sững lại. Rồi đột ngột, hắn rút phắt khẩu súng ngắn ở lưng quần ra:

- Dừng lại! Nêu ông còn kêu nữa, tôi bắn!

- A - ông già đứng sững, há hốc miệng nhìn thằng con trai đang chĩa súng vào mình - Mày giết em mày... mày... định giết cả cả bố mày nữa sao? Thằng phản phúc!

- Để cho tôi yên. Tôi sẽ đi ngay. Nếu ông bước tới một bước nữa. Tôi bắn!

- Tao không sợ chết! Để xem mày có dám bắn vào cha mày không?

Ông hét lên rồi lao tới. Niết Him lùi lại vài bước rồi quay đầu chạy. Ông giã rượt theo, rồi lại la lên:
- Bắt lấy nó! Pôn Pốt... bắt...

Niết Him bỗng đứng sững lại. Cười gằn. Khẩu súng trên tay nó khẽ giật lên, nhoáng lửa. Ông giã ôm lấy ngực, ngẩn ra trong giây lát rồi ngã vật xuống lề đường.

Ở trụ sở ủy ban, nghe tiếng súng nổ mọi người bỗng sôi sục cả lên:

- Pôn Pốt!

- Bắn chết hết chúng nó đi!

- Yên lặng xem nào?

Trung đội trưởng Thông vội đứng bật dậy, khoát tay ra lệnh cho Tâm và Ca.
- Theo tôi!

Hai chiến sĩ vội lao theo trung đội trưởng, họ chạy về phía vừa có tiếng súng.

- Hướng này! Thông dừng lại để quan sát rồi chỉ về hướng cuối khóm. Một bóng người vừa từ cuối xóm lao vụt ra, cố sức chạy về phía khu nhà đổ nát của khu kho hậu cần thời Pôn Pốt.

- Đứng lại! Hàng thì được sống!

Thông hô lớn bằng tiếng Khơ-me. Thằng địch vẫn chạy. Ca quyết định vọt lên trước trung đội trưởng. “Đoàng” “Đoàng”. Thằng địch bắn lại. Đạn bay vèo trên đầu Ca. Nhưng Ca vẫn lao tới không nổ súng. Tâm bám theo trung đội trưởng vòng về mé bên trái, định chặn đầu. Nhưng vừa tới khu nhà đổ, tên địch bỗng đứng sững lại quay nòng súng về phía Ca, lẩy thêm hai phát nữa rồi leo tót lên trên mảng tường còn sót. Hắn đứng chênh vênh trên mảng tường, cười điên dại. Tiếng hắn rít lên:

- Ê! Bọn Duôn... lại đây!

- Chú ý! Nó có lựu đạn...!

Thông vội hét lên. Ca lao tới chiếm lĩnh một gốc xoài bị đạn tiện cụt, chong sung về phía tên địch. Hắn vẫn ngồi chồm hỗm trên mảng tường, cười sằng sặc như điên. Ca điên tiết xổ một loạt tiểu liên về phía nó. Thằng địch lại cười sẵng sặc. Rồi, nó đột ngột đứng dậy hét lên một tiếng nghe rợn người... Tiếp đó lã một vệt lửa nhoáng lên kèm theo một tràng nổ long óc "Mẹ kiếp! Nó tự sát rồi!" Ca nghĩ vậy rồi xách súng lao lên. Từ phía bên kia Tâm và Thông cũng chạy tới. Trước mắt họ, thằng địch chỉ còn là một đống thịt bầy nhầy, nát bấy nằm vắt ngang đống gạch vụn.

Ông già Niệt không chết. Viên đạn bắn chính diện của đứa con phản phúc xuyên thấu ngực phải của ông. Người ta đã kịp thời cấp cứu rồi đưa ông tới bệnh viện của bộ đội tình nguyện Việt Nam. Sau hai tháng điều trị, vết thương của ông đã lành hẳn.

Ông trở lại Tha Khây vào đầu mùa mưa và sống âm thâm trong ngôi nhà của mình. Mùa mưa đã tới, người ta không cần ông chở nước tới các chốt cho bộ đội và du kích nữa. Nhưng rồi một hôm, ông đến nhà xã đội trưởng Su Prên đòi lại con bò và chiếc xe của anh. Sáng hôm sau, con bò lại đưa ông theo con đường cũ ra cầu Tà Ngươn. Sau mấy trận mưa đầu mùa con đường lầm bụi hôm nào nay giống như một dòng sông nhỏ, đặc sánh phù sa. Con bò bì bõm lội trong bùn, kiên nhẫn đưa ông đi, thỉnh thoảng nó lại rống lên một tiếng, biểu lộ nỗi kinh ngạc trước sự thay đổi quá nhanh của thiên nhiên của cảnh vật và cả những con người nữa.

Đến đầu cầu Tà Ngươn, nó dừng lại. Nó chưa quên chỗ phải dừng lại. Từ chiếc lán bên kia cầu, các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam và anh em du kích ùa ra đón ông. Ông tìm mãi trong số anh em bộ đội Việt Nam, nhưng không thấy một gương mặt quen thuộc nào.

- Trung đội anh Thông đã lên chốt tiền tiêu. Chúng con tới thay các anh ấy làm nhiệm vụ ở đây. Anh trung đội trưởng mới rất trẻ đã trả lời ông già như vậy. Đối với họ, ông không phải là người xa lạ. Họ đều biết ông, ông phải nói với họ một câu gì chứ. Trầm ngâm suy nghĩ một lát, ông mới nhẹ nhàng lên tiếng:

- Các em ạ... ta không phải là người bất hạnh nhất ở Tha Khây. Mọi cơn hoạn nạn của đất nước này đều đi qua Tha Khây ta cả. Nhưng các em thấy đấy. Tha Khây của ta vẫn còn, Tha Khây không chết được. Các em cứ ở đây. Mùa khô tới, già lại đánh xe chở nước từ Tha Khây lên cho các em.

Nói xong ông khẽ mỉm cười. Nhưng từ trong hai hốc mắt thâm quầng của ông bỗng ứa ra mấy giọt nước mắt. Những giọt nước mắt như những giọt sương chảy dài trên đôi gò má nhăn nheo của ông rồi rơi lặng lẽ xuống mặt đường ngáp bùn đất, đặc sánh như phù sa.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:28:14 pm
EM BÉ CÂM TRƯỚC ĐỀN ĂNG-KO


Lê Lựu

Em câm nhưng không điếc. Người phiên dịch của chúng tôi hỏi em như một thói quen khi mới gặp ngươi lạ. Tên gì? Em bé ngơ ngác nhìn người phiên dịch, cái nhìn như một câu hỏi vừa ấm ức vừa chua xót. Anh hỏi em? Làm sao em có thể nói với anh được.
Em bé nhìn rồi cúi xuống. Hai con mắt sáng, điểm sinh động nhất ở em, đã hơi khép lại. Bao trùm lên người em lúc này là lớp da màu gụ đã bị hoen ố và mối mọt bởi những vết bong rộp và những vết sẹo; nhát dao chém cô, ghẻ lở có, nhọt đã vỡ và nhọt đang lên có. Em sợ chúng tôi là người của Ăng-ka ư? Không. Những ông nhà báo nước ngoài đến chứng kiến toi ác của Pôn Pốt và hôm nay đi thăm Ăng-ko. Người phiên dịch giải thích như mỗi khi anh ta dẫn chúng tôi đến nói chuyện với bất cứ người nào. Em bé hơi mỉm cười nhưng vẫn ngơ ngác nhìn người phiên dịch, rồi nhìn khắp lượt chung tôi. Cái nhìn vẫn như một câu hỏi: Trong đám người này ai thiện, ai ác, ai có thể cho em một nắm cơm, ai thủ một chiếc búa sẵn sàng giơ lên đập vào đầu em?


Hàng ngàn em bé đi lang thang trên đường ngày mới giải phóng đều có cái nhìn những kẻ lạ mặt như thế. Cho đến hôm nay, em vẫn chưa hết ngờ vực ư?

Nhưng em chạy gần hai ki-lô-mét đến đây làm gì?

Lúc ngồi trên xe nhìn em cởi trần, cứ miết theo rìa đường mà chạy, ngỡ tưởng em bé chừng chín mười tuổi ấy đang đùa nghịch với các bạn, hoặc đi tìm kiếm ai, hoặc đuổi bắt một trò chơi. Chừng mười lăm phút sau khi đến đây: chúng tôi đang chờ đợi người giới thiệu đã thấy em thở và cười, nụ cười mừng chứng tỏ đã đuổi kịp xe. Có người trong chúng tôi còn ngỡ là đã gặp em ở thị xã Xiêm Riệp, trên đường đến chỗ chờ đợi.
Em đi đâu? Có muốn xem các nhà báo chụp hình không? Người phiên dịch hỏi. Em nhìn anh ta cười, nụ cưỡi ngượng ngập niềm vui. Đến lúc này chúng tôi mới phát hiện em không thể nói được. Em câm nhưng không điếc.


Đừng hỏi gì em. Tội nghiệp, dù dấu vết còn lại trên người em đã có bao nhiêu điều đáng hỏi. Chúng tôi lặng lẽ tản ra và bước lên đá, điểm bắt đâu của công trình vĩ đại từ mười thế kỷ trước.

Em bé luyến tiếc nhìn theo. Tôi quay lại giơ tay vẫy tạm biệt. Em đứng mỉm cười. Người hướng dẫn chúng tôi bắt đầu công việc.

“Ăng-ko, gốc tiếng Phạn là Na-ga-ra, nghĩa là kinh đô. Có lẽ tên này xuất hiện vào thời kỳ cực thịnh của đất nước Campuchia cổ đại. Đó là thời kỳ văn minh Ăng-ko. Các dòng vua Gia Ya Vác Man chọn vùng đất xinh đẹp và trù phú thuộc tỉnh Xiêm Giẹp này làm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của đất nước. Ăng-ko nổi tiếng là một kỳ quan của thế giới một quân thể dện đài đồ sộ và tuyệt mỹ, trong đó có hai khu đền lớn: Ăng-ko Thom nghĩa là kinh đô lớn, còn gọi là Đế Thiên. Ăng-ko Vát (kinh đô chùa) còn gọi là Đế Thích. Cả hai khu đền lớn này đều tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Campuchia từ mười thế kỷ trước đã sánh ngang tầm kiến trúc vĩ đại nhất của loài người…”.


Em đứng phía sau, ngả mặt lách cái nhìn giữa hai ký giả đang mải miết ghi. Trong lúc chúng tôi vội vã thu lại trong ống kinh, vội vã ghi lại những dòng chữ để chứng tỏ sự có mặt của mình và áp chặt sự tò mò, tính hiếu kỳ vào nền văn minh chót vót này thi em bé câm đứng ở bậc đá phía dườl trông như đứng dưới chân mọi người, trang nghiêm và sợ sệt. Có lẽ em sợ có ai sẽ tách rời em ra khỏi nơi này, không cho em được phép nghe và nhìn!


Cứ đứng lại đây em bé. Tôi nhìn như gọi em và né người để em có thể sờ tay theo những nét khắc vào đá. Nhưng cao quá, em cố rướn tay lên cũng chỉ chạm đến vạch giới hạn cuối cùng của bức tranh. Hãy đứng lùi xa một chút mới có thể nhìn được. Em bé nghe thấy lời khuyên trong im lặng của tôi? Em lùi ra xa đến cự ly vừa đủ, chỉ cần ngửa mặt cũng nhìn được bức tranh. Như thế có mờ quá không ôi, những ông nhà báo nước loài cao lớn, các ông hãy xê ra một chút để cho em bé câm mà rất tinh nhanh này có thể nhìn thấy các công trình kỳ diệu của đất nước mình.


Em bé vẫn đi theo chúng tôi, theo mọi người, đi hết bục tranh dài 250 mét khắc trên đá. Có hiểu hết không em? Tất cả mười một nghìn nhân vật khắc trên đó hầu hết là biểu hiện sự giành giật cuộc sống giữa con người và thú vật mà tiêu biểu cho loài thú hoang dã tàn bạo là cá sấu. Từ năm 860, khi lấy viên đá đầu tiên từ núi Kren-xa về để xây nên công trinh này, người ta sẵn có ấn tượng về cá sấu, kẻ thù không thể chung sống với con người. Cái ấn tượng ấy có từ bao giờ, nó sâu xa đến đâu mà dân tộc này sẵn sàng mổ hết trâu bò lấy da rải 10 ki-lô-mét để đưa những viên đá đẽo sẵn từ núi Kren-xa về đây khỏi bị xây xát! Sự căm giận ấy tràn ngập đến đâu, mạnh mẽ nhường nào mả dân tộc này sẵn sàng hy sinh hàng chục vạn người để xây dựng nên công trình hùng vĩ chứng tỏ súc mạnh của con người cao đến vô tận và khắc vào đá cho mãi mãi mai sau thấy rõ bộ mặt của kẻ thù: Những con cá sấu và những kẻ đã thành người vẫn mang lòng dạ man rợ loài thú. Những cái đó có từ bao giờ đến năm 860 cả dân tộc này làm nên sự kỳ diệu vô cùng đến thế. Để từ thời ấy đến bây giờ chúng tôi và em vẫn còn sờ thấy được, nhìn ngắm được. Tôi nhớ buồi chiều chúng tôi đi thăm hồ cá sấu ở thị xã Xiêm Riệp. Gần hai trăm con cá lớn, những con cá to hơn người chúng tôi, đang lặn dưới nước tránh nắng trông mập mờ như xoan ngâm chưa bóc vỏ trong ao của các tỉnh ở đồng bằng Việt Nam. Bên cạnh hồ nuôi cá sấu lớn là hồ nuôi hàng nghìn cá sấu nhỏ. Hai hàm răng xếp cởi trên môi, chân dài ngoằng, những con cá bằng bắp chân, bắp tay, cuốn lấy nhau thành từng đống trên bãi cát quanh hồ nước.

Nuôi bằng gì? - Tôi buột miệng hỏi.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:28:47 pm
Ngày xưa và bây giờ cho nó ăn cá đánh từ Biển Hồ – Người hướng dẫn trả lời - Còn suốt hơn ba năm thời Pôn Pốt, chúng cho ăn toàn thịt người. Cá lớn thì bảy ngày ăn một bữa, mỗi bữa hai con ăn một người. Một người chặt ra làm ba bốn, cứ chặt đủ tiêu chuẩn thì thôi. Còn cá sấu con, ba ngày ăn một bữa thức ăn là thịt người róc xương và băm nhỏ. Hiện những người róc xương và chặt người để nuôi cá sấu vẫn còn, các anh muốn hỏi, chúng tôi xin mời đến gặp.


Sẽ gặp những kẻ trực tiếp làm công việc man rợ ấy ư? Cái quan trọng là kẻ nào đã xui khiến họ. Một trong những kẻ giết người ấy đã ngồi trước mặt chúng tôi. Hắn nói răng Ăng-ka đã chỉ thị cho hắn giết bằng bất cứ thư gì, bằng bất cứ cách gì mà kẻ bị giết và mọi người không thể nào quên được thì cứ giết. Những kẻ gọi là Ăng-ka tan rã rồi. Nhưng những người có cha, mẹ, những người có vợ, có chân bị chặt làm ba khúc, bị róc thịt, đập xương thì vẫn còn đây, có thể nắm lấy những kẻ cầm dao, cầm búa chặt vào khúc xương của họ, làm chảy nhưng dòng máu của máu họ. Hãy xé rách từng chiếc xương của chúng ra. Hoãn toàn chính đáng. Nhưng không quan trọng, không cần thiết. Những người ruột thịt của những nạn nhân đứng quanh hồ nuôi cá sấu, chiều qua đều nói với chúng tôi điều đó. Nhưng nỗi đau vẫn còn, nỗi lo sợ vẫn còn. Họ đau nỗi đau của họ và nỗi lo của chúng tôi, những ký giả nằm ngoài đang chăm chú nghe họ kể, đang vội vã ghi chép, liệu có thúc giục được ai, kêu gọi được ai ở bất cứ nơi nào trên trái đất này phải nhanh chóng cảnh tỉnh, phải nhanh chóng hành động, đừng để những kẻ chặt người ra nhiều khúc, róc thịt người, băm vụn, xé đôi những đứa trẻ, rạch bụng những người mang thai để nuôi cá sấu? Đừng để có mặt ở bất cứ nơi nào. Đừng để nó thắng lợi ở một nơi này rồi lan tràn ra nơi khác như cuộc diệt chủng ở đây.


Từ khi đến Campuchia, sự ngơ ngác của tôi bắt gặp sự ngơ ngác chạy dọc, ngang khắp đất nước này. Tất cả mọi người tôi hỏi đều trả lời không hiểu, không thể hiểu tại sao lại có sự tàn sát dã man, đẫm máu, kinh khủng, ghê rợn như thế. Không hiểu. Không thể nào hiểu được có một nhà báo nước ngoài nói, dân tộc Campuchia trong ba năm qua là một cuộc tự sát. Có phải như thế không? Một dân tộc chỉ cần một nhịp trống, một tiếng đàn... Ở nơi nào đó nổi lên là tất cả già, trẻ, gái, trai rập chân theo nhịp, uốn người theo nhịp và nhảy múa, múa cả ngày, cả đêm, múa quên ăn, quên mọi nỗi ưu phiền. Một dân tộc ai cũng có thể mỉm cười cả hàng triệu người hành hương cũng sẵn sàng mỉm cười, cả những tượng đá Bay-on cũng quay mặt bốn phương cười với bàn dân thiên hạ, cười với trời đất. Một dân tộc từ khi mới hình thành còn cởi trần đóng khố đã biết cầm lấy cung nỏ, giáo mác giành giật cuộc sống từ nanh vuốt của cá sấu bỗng dưng lại băm vằm bà con mình, bạn bè mình để nuôi cá sấu, để làm nên những tội ác thời trung cổ? Vô cùng khó hiểu. Kẻ cầm dao chặt người làm ba đang ngồi trước mặt chúng tôi. Tên nó là Sóc Tê Rêl, 36 tuổi, có một vợ năm con, quê ở Thơ-mo Phốc, vùng địa đầu tỉnh Bạt-đom-boong. Hắn nói rằng hắn không thể hiểu, hắn cũng ngơ ngác không hiểu vi sao lại như thế. Kể cả vợ con hắn suốt ba năm không có tin tức mà hắn thì không được về phép, không hiểu tại sao? Chúng tôi tin lời hắn. Ở một đất nước không ai được phép viết thư, không có phương tiện và không được phép đi lại, trừ những kẻ đi giết người và những người đi chạy trốn. Hắn không hiểu gì xung quanh, ngoài công việc chặt người làm ba và không biết tin tức gì vợ con hắn là phải.


Kẻ làm ra sự tàn sát này là ai, từ đâu đến? Không sao hiểu được. Những kẻ cầm dao, cầm súng, cầm vồ, cầm búa chỉ nhìn lệnh của Ăng-ka trực tiếp của chúng, ngoài ra không thấy ai ra lệnh sai khiến. Ai là kẻ biến chúng thanh dã thú và huỷ hoại đất nước này/ Không hiểu Sóc Tê Rêl chỉ nhớ có một lần, một lần làm hắn sung sướng và ân hận nên không thể nào quên. Ngày 23, đúng là ngày 23, trùng với sinh nhật đưa con đầu lòng của hắn nên hắn nhớ kỹ. Ngày 23, tháng 2, năm 1978, đoàn cán bộ của "Người bạn lớn" đến thăm và nhận tám tạ cá sấu, "quà tặng" của "Đảng" và đồng bào Xiêm Riệp gửi biếu “người anh vĩ đại". Lúc ấy khoảng năm giờ chiều, Sóc Tê Rêl đang “làm việc", máu me bê bết ở chuôi dao và khắp hai bàn tay. Bảy ngươi trong đoàn thì có bốn người mang kính trắng. Họ đến chỗ Sóc xem hắn làm việc và nghe người đại diện Ăng-ka báo cáo "thành tích" của hắn. Nghe và xem xong một người còn trẻ nhưng được gọi là đoàn trưởng chìa bàn tay múp míp trắng ra bắt tay Sóc. Như một phản xạ tự nhiên, hắn vội rút hai bàn tay tanh hôi của hắn lại. Người trưởng đoàn "bạn” đã nhanh nhẹn nắm lấy bàn tay đầy máu của hắn: “Hảo hảo, hắn hảo!1 (Tốt, tốt, rất tốt) Yêu quý nhau lâu dài, tình nghĩa lâu dài là những lúc làm việc quên mình, như thế này ông trưởng đoàn “người bạn lớn" khen hắn. Nỗi cảm động, khép nép còn đang rạo rực chạy khắp người thì ông đã khéo léo rút khăn mùi soa trắng tinh chùi nhưng vết máu dính ở tay ông.


Các ngài "bạn lớn” thật tài tình. Các ngài chỉ dùng những mệnh lệnh truyền miệng ở Bắc Kinh và ở Phnôm Pênh, rất ít khi các ngài làm ra chỉ thị bằng văn bản. Và những gì có dấu vết của các ngài ở đây cũng được thu dọn, đốt, hủy và mang theo chuyến Bô-inh chạy trốn trước ngày 7 tháng giêng. Nhưng còn bàn tay cầm dao và nhây nhớp máu này rửa sạch làm sao, mang theo làm sao? Hãy băm vằm nó ra, xé nát nó ra. Điều đó chưa quan trọng. Cái quan trọng hơn, hiểm độc hơn là các bàn tay đã đặt vào đây, khích lệ nó, dính máu ở nó rồi sẽ đặt vào bàn tay nào nữa?


Ôi, những tâm hồn còn muốn sống và yêu thương, còn muốn đông vui và yên ấm, nếu còn bàng quan cái chết của dân tộc này, còn thấy yên tâm với sự "giúp đỡ chí tình của người bạn lớn", còn thấy xôn xao trước lời khen "Hảo, hảo, hấn hảo", của "Người bạn vĩ đại" thì hãy coi chừng bàn tay rất mềm mại kia sẽ đặt nhẹ nhàng và rất nhanh nhẹn nắm chặt lấy bàn tay các người.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:29:31 pm
Chúng tôi đến thăm trại trẻ mồ côi vào buổi sáng ngày chủ nhật. Trại có 117 em - mới thu nhặt được ngần ấy. Những em lớn nhất khoảng 15 tuổi, em bé nhất khoảng tám tuổi. Phải dùng chữ "khoảng" vì hầu hết không em nào biết chữ để nhớ ngày tháng năm sinh của ninh. Đó cũng là một trong nhiều điều không biết. Quê quán ở đâu? Không biết! Bố mẹ còn hay mất? Không biết! Bị lạc trong trường hợp nào? Không biết! Gia đình vì sao bị giết? Không biết! Chết ở đâu và bằng cách nào? Không biết! Trong bốn hàng dài suốt một màu đen phẳng lặng không biết gì. Duy có ba ern hơi động đậy, động đậy ngập ngừng. Cô giáo Bun Chăm Oát khuyến khích em nào biết gì cứ mạnh dạn nói.


Em thứ nhất đứng dậy. Chưa đứng thẳng hết người em đã quay mặt vào trong rồi lấy đầu khăn kẻ ca rô quàng ở cổ chấm nước mắt. Dường như biết mình là người lớn trong trại phải nén lại nhiều hơn em nói:

- Thưa, em biết, vì đêm nào người trong nhà em cũng không ngủ. Cứ nằm nghe xem bước chân của Ăng-ka đi về phía nào. Nếu ở phía nhà mình thì cứ việc sắp sẵn ra để chuyển chỗ ở mới. Đêm Ăng-ka vào nhà em, em ngủ quên, khi sáng ra...


Em òa khóc. Tiếng khóc lây rất nhanh, tất cả 117 em cùng òa khóc theo. Tiếng khóc sẵn sàng ấy từ bấy lâu nay, đến giờ vẫn phải cố nén, bỗng đống loạt vỡ ra; cả gian phòng trống rỗng không một chiếc ghế, tiếng khóc va vào các bức tường như vang to hơn. Cô giáo lo lắng nhìn chúng tôi bằng đôi mắt đỏ hoe. Đến khi tiếng khóc lặng lẽ lan đến chúng tôi thì tiếng khóc của căn phòng vợi đi. Đừng nên khía vào nỗi đau của các em! Tôi thầm nghĩ. Nhưng cô giáo bỗng nói, giọng cô tự nhiên rắn lại: “Các em hãy nói, nói thật nhiều để các ông nhà báo nước ngoài viết lên cho mọi người hiểu, ai đã giết bố mẹ các em, anh chị các em..."

Căn phòng lại phăng phắc im lặng. Các em đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn cô giáo. Cô giáo quay nhìn chúng tôi.

- Thưa các ông, phần các em chưa hiểu và cũng chưa biết gì về nỗi bơ vơ, phần đang bàng hoàng như người ốm dậy. Mong các ông hiểu cho.


Vâng, chúng tôi hiểu! Một đất nước vừa qua một trận dịch của một loại siêu vi trùng, dù hôm nay "tai qua, nạn khỏi" đã mấy ai tìm ra hết nguyên nhân.


Có ai sờ nhẹ lên lưng tôi. Tôi quay lại. À, vẫn là anh bạn nhỏ của tôi: Chú bé câm. Trong một ngày hôm nay ba lần chú xuất hiện, cả ba lần tôi đều ngạc nhiên. Sau lần đầu “đuổi kịp xe" rồi “cùng nhau” xem tranh, xem trọng tôi mải miết theo các bạn đồng nghiệp leo chót vót lên những vòm tháp và ngồi thở. Từ lúc ấy không thấy em đâu. Sự gặp gỡ và chia tay cũng đột ngột như nhau. Khi chúng tôi rời Ăng-ko Thom đã lại thấy chú tủm tìm cười dưới chân tượng Bay-on. Rồi lại “mất" nhau. Đến bây giờ, sau nửa ngày đã leo trèo, trong khi chờ một giờ để các bạn đồng nghiệp hỏi han thêm, ghi chép thêm, tôi kiếm một tảng đá phẳng ở khu rừng cách đấy chừng vài trăm mét, nghĩa là vẫn có thể nghe tiếng ô tô nổ máy để trở về, nhìn lại khuất nẻo một chút để ngồi vì tôi cũng cần sự vắng vẻ cho lắng lại cảm xúc của mình. Dường như để cảm ơn những lần tôi né người hoặc đẩy những đồng nghiệp lùi ra xa một chút nhường chỗ cho em, lúc này em đến bên tôi với cử chỉ thân thiết, sờ nắn lên người tôi, nắm lấy bàn tay, ngắm nhìn bộ quân phục, gật gù âu yêm. Tôi cũng cười và gật gù theo em. Bỗng dưng tôi cũng thành người câm. Hai chúng tôi chỉ dùng những cử chỉ làm dấu hiệu rồi hoặc cùng cười, hoặc cũng ngơ ngác không thể hiểu mỗi người nói cái gì, muốn chứng tỏ điều gì. Sau một hôi lâu làm việc gì đó mà tôi không hiểu nổi dù vẫn cười, vẫn chau mày gật đầu: chợt em túm bàn tay tôi kéo đi. Tìm kiếm cái gì đó! Không biết. Tôi cứ để nguyên những ngón tay mình trong bàn tay bé bỏng của em, để em lầm lũi kéo đi đến bên một gốc dừa, chỉ lên ngọn dừa, chỉ vào chùm dừa rồi phùng má làm những động tác khác. Tôi lẩm nhẩm bằng tiếng Việt tán thưởng cho em: Ừ cây dừa to quá, gần hai vòng tay mới kín gốc. Ừ xanh lắm; ừ quả, úi chào, quả to đặc biệt. Đúng, đúng, đúng rồi, họ hái dừa mang về ăn. Phải, phải, cái cùi này kho thịt nạc có thể phồng má trợn mắt mà nhai vẫn không thể nuốt kịp. Ừ đúng, đúng, họ lấy nước đó uống mát tuyệt vời. Đúng rồi, nước dừa hút từ gốc lên. Đúng đúng, trước tiên phải đào hố chôn cây dừa xuống. Ừ, ừ rồi tưới tắm, rồi xơi dừa cho tơi quanh gốc ừ, ừ... ừ...!


Sự phụ họa của tôi không thể thỏa mãn hay sao mà em cầm lấy bàn tay tôi vứt đi như thể vứt hẳn cái vật thừa thãi ngu ngốc này đi chỗ khác cho rảnh mắt. Nhưng rồi em lại cầm ngay lấy bàn tay ấy kéo tôi ngồi xuống. Em bới bới quanh gốc dừa bằng hai bàn tay không. Hai bàn tay không không bới nổi, em chạy đi kiếm cành cây về đào, bẩy. Lẽ tất nhiên là tôi không thể tham gia cái trò chơi muôn thuở của trẻ con, chúng nó có thể tìm thấy sự lý thú ở bất cứ một đô vật gì ta không để ý. Ở Việt Nam trong năm đánh Mỹ tôi đã gặp một gia đình hai vợ chồng phải đi làm ca và trực chiến, nhốt các con ở trong nhà, bên cạnh những chiếc hô cá nhân và hầm, là ba cậu con trai. Hàng tháng trời các em bị nhốt, dù bố mẹ đã mua rất nhiều đồ chơi nhưng không có thứ đồ chơi nào được nguyên vẹn lấy một ngày, hấp dẫn đến một ngày. Vẫn phải nhốt vì không biết máy bay sẽ đến ngày nào, bỏ bom lúc nào. Mỗi ngày bị tù túng, mỗi ngày ba đưa trẻ tìm ra trò chơi mới. Cuối cùng chúng thi nhau chặt cả khung xe đạp biến những tuýp thành các loại súng, còn lốp, săm cắt ra làm võng đeo và dây trói giặc Mỹ xâm lược.

Các em bé Campuchia, tôi không biết các em có thích những trò chơi gì? Thích khám phá những gì?

Tôi vẫn nhìn về khu tượng đền, vẫn lấp ló thấy dáng đứng của tượng đá Bay-on.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:30:16 pm
Nếu tất cả trẻ con trên trái đất này đều đằng đẵng kiếm sống từng ngày và chạy trốn cái chết từng giờ, rồi thế giới sẽ ra sao? Tất cả những người làm cha làm mẹ sẽ ra sao? Tôi cứ tự hỏi mình như thế, tự hỏi rằng vì sao một dân tộc đã có thể biến những tảng đá thành nụ cười, thành lời nói lại có thể hanh hạ những đứa trẻ đến nhường này.


Vì sao em lại câm mà không điếc? Trong ý nghĩ miên man của mình, tôi gọi đến em bé, thì ngay lúc ấy, em giật giật áo rồi túm lấy tay tôi bắt xòe ra đặt lên đấy một nắm tóc đã vò rối lại. Chuyện gì đã xảy ra? Em chỉ những sợi tóc ở tay tôi rồi chỉ về phía gốc dừa em đang bới dở. Những sợi tóc ngắn còn dính cả lớp da đầu đã khô kết lại. Không hiểu đấy là tóc của đàn bà hay đàn ông, dù sự cố gắng hết sức của em cũng chỉ làm tôi hiểu được là đã có một người bị chôn xuống đấy, khi chôn miệng người ấy vẫn còn kêu được.


Nhưng đấy là bố hay mẹ em, là chú bác hay anh, chị của em? Em bé dẫn tôi đi đến những gốc cây xoài, thốt nốt... Tất cả 25 gốc cây đều có người bị giết, bị chôn ở đấy. Sợ những động tác của em tôi chưa hiểu đúng hoặc tôi chưa tin điều em nói: "Ở gốc cây này họ đập đầu, ở gốc cây này họ chôn sống, ở đây họ cắt cổ... Gốc này, gốc này..." Em móc tay lên những mảnh sọ, những sợi tóc, những xương ống tay để những tỏ những lời em nói là đúng.


Làm ba lần như thế xong, em bị tôi ra hiệu vứt cành cây đi. Em bằng lòng làm theo. Tôi đã quen những ám hiệu có thể nhận ra mỗi gốc cây chúng đã giết người kiểu gì. Chả lẽ cả 25 gốc cây kia đều là người trong gia đình em? Ở một đại đội thuộc tiểu đoàn 8 ở tỉnh P. co 80 chiến sĩ thì 65 người có bố mẹ, anh em trong gia đĩnh bị giết. Gia đình bị giết nhiều người nhất là 27, ít là 3. Con số 25 em chỉ mà tôi đếm được ở đây chưa phải là nhiều nhưng nếu là cả gia đình em bị giết thì bằng cánh nào em sống được! Lúc ấy em ở đâu lại có thể nhìn thấy tất cả. Có phải em mới câm từ ngày ấy không? Ai có thể nói cho tôi nghe những điều em bé không thể nói được! Những người dân đứng quanh đây không ai biết và cũng không thể nói gì trước kẻ vừa câm vừa điếc như tôi. Còn những tượng đá Bay-on thì vẫn im lặng nhìn ra bốn phía mỉm cưỡi.


Hai ngày sau, nhân lúc các em ở trại mồ côi đến thăm nhà tù, thăm trại nuôi cá sấu và những hố chôn người, tôi mới nhận ra không phải như thể, không phải 25 người bị chôn dưới 25 gốc cây trước Ăng-ko Thom là người trong gia đình em bé câm. Cô giáo Bun Cham Oát đang dẫn em cùng các bạn cho tôi biết, khi đưa em nào trại, những người dân quanh Ăng-ko nói em không phải người tỉnh này. Em lang thang từ đâu đến và ở lại quanh quẩn vùng này khoảng bảy tám tháng trước khi giải phóng. Nhưng em ở đâu, bố mẹ em còn hay mất, em câm từ bao giờ thì không ai biết, không ai có thể biết được.


Ở bất cứ nơi nào đã giải phóng cũng có cách gọi giống nhau, con người đã trở lại ánh sáng và ánh sáng ở bất kỳ đâu cũng có đầy đủ sức mạnh của nó. Ví dụ như suốt mấy ngày qua không ai biết chút gì về em bé câm thì bỗng chốc rành rọt tất cả. Em đã được gặp cha em: Kẻ ngày ngày chặt người làm ba, Sóc Tê Rêl. Hắn lách vào đám trẻ đang xem những dụng cụ giết người ở trại giam, kêu khe khẽ: “Sóc, Sóc, cha đây, cha đây con!". Khi nhận ra hắn, em bé òa khóc, muốn kêu lên thật to, nhưng em cứ ú ớ không ra tiếng. “Cho xin phép gặp con tôi!". Hắn đề nghị. Người chiến sĩ bảo vệ bảo hắn đưa em bé ra nhà khách của trại giam. Trên đường đi hắn đứng lại lom khom ghè mồm gần vành tai em. Đứa bé đứng lại làm những ám hiệu, rồi giơ bàn tay xòe cả năm ngón. Hắn chộp lấy tay em, ngửa mặt giữa trời, kêu thét: “Chúng nó giết cả vợ con tôi rồi! Các ông bà ơi, bọn Ăng-ka giết cả vợ tôi, cả bốn đứa con tôi rồi, ối trời ơi... hơ... hơ..." Bàn tay hắn đậy vào cái mặt ngửa hẳn lên trời, lảo đảo rồi ngã vật xuống. Những chiến sĩ và cô gái xô đến đỡ hắn dậy, dìu vào nhà. Nằm trên giương, áp mặt xuống gối hắn khóc và thở hồng hộc. Em bé câm đập đầu và hai bàn tay vào lưng hắn, nước mắt chảy và mồ hôi em vã ra ướt đẫm khắp ngươi. Cô giáo Chăm Bun lấy khăn lau cho em xong, em lại đập mặt xuống lưng người cha, khóc. Em khóc như chưa bao giờ được khóc, chưa lần nào dám khóc kể từ khi mất mẹ, mất bốn người anh, chị và bằng cách nào em đã thoát chết lang bạt đến đây. Có ai biết trong nỗi đau vật vã của em mời chỉ là tiếng khóc tiếc thương người mẹ cùng các anh các chị hay đã có tiếng khóc căm giận tủi hờn về một kẻ làm cha. Đã biết gì chưa em bé? Hỡi Sóc Tê Rêl! Anh hãy nói cho con anh biết đi nói đi, để đứa trẻ khỏi phải khóc lăn nữa.

Tôi muốn kêu lên, nhưng Sóc Tê Rêl vẫn khóc và thở.

Hắn đang thương tiếc và hối hận ư? Mỗi ngày cầm dao lên hắn có ngờ rằng cũng có kẻ khác sẵn sàng cầm dao, cầm đồ cắt cổ và đập chết vợ hắn và những đứa trẻ con hắn không. Hãy lau nước mắt và ngồi dậy, Sóc Te Rêl! Đứa bé đang ngồi cạnh anh, bấy lâu nay anh đã quên nó, nhưng nước mắt của nó mới có thể rửa sạch tội ác cho anh. Hãy nhìn vào mắt nó, chỉ có mắt trẻ em mới là nơi bắt đầu một cuộc sống trong sạch.


Buổi chiều, trên đường về trại trẻ mô côi, Sóc vẫn đi bên tôi. Em không khóc nhưng khuôn mặt bầm lại, em dẫm từng bước chân như nén xuống mặt đất, lặng thinh. Tôi vẫn cầm lấy bàn tay bé bỏng của em và im lặng, trong im lặng nghiêm trang này em hẳn đang nghĩ về những buổi học chữ ngày mai cùng các bạn. Cùng các bạn lại học hát dù em không thể hát, học múa và vui chơi. Nhưng em cũng như hàng trăm bạn khác không phải chỉ biết có nụ cưỡi im lặng, chắc chắn em sẽ nhớ đến những gì đã xảy ra ngày hôm nay: Những tiếng khóc cho ngày hôm qua.


Dốc 70 Hoàng Hoa Thám
Tháng 3- 1979


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:31:53 pm
EM HƯƠNG


HỒ PHƯƠNG


Mùa mưa đã tới rồi. Từ bao giờ vậy? Cũng không nhớ rõ nữa, chỉ còn thấy thường thường về những buổi chiều, mưa nối tiếp nhau âm vang và ồn ào đổ xuống khắp núi đồi, đồng ruộng của đất nước Chùa Tháp này.


Thế là bọn tôi được tắm gội cái mưa Campuchia ít nhất đã được hai mùa - Bọn tôi với nhũng chú chuồn chuồn con dẻo dang và cần mẫn xiết bao đáng quý. Vâng, từ sau mùa xuân 1979 đất nước Campuchia được giải phóng, ở Tổ quốc ta có lẽ ít ai còn nghe nói tới những phi đội trực thăng vẫn còn tiếp tục được bay trên đất nước bạn để tham gia những chiến dịch cứu đói vô cùng rộng lờn, và góp phần vào những công việc tiếp tế, vận chuyển cho các tiền đồn xa xôi của bạn và cả của ta trên khắp các miền biên địa.


Như vậy đấy, bọn tôi đã qua ít nhất cũng đã hai mùa mưa trên xứ sở này, làm nghĩa vụ quốc tế, với không ít chuyện vui buồn và những kỷ niệm vô giá.

Và buổi chiều nay, sau sau chuyến vận chuyển liên tục căng thẳng lên phía bắc, tôi lại nhận được nhiệm vụ bay lên EH1, một tiền đồn khuất nẻo, xa mù trên những đỉnh núi trập trùng ở miền biên giới phía tây nam nước bạn. Trên đó có một thương binh đang cần được chuyển gấp về phía sau. Thêm nữa: Mưa đã kéo dài mấy hôm liền, tất cả những con đường lên núi đều bị suối lũ và thác cắt đứt hết. EH1 đang rất cần tiếp tế.


Nhiệm vụ quả là cần kíp, nhưng trời đang đầy mây. Những cơn mưa lớn đang đe dọa lại đồ xuống. Chuông, ngươi lái phụ của tôi lại bắt đầu lên cơn sốt. Mặt hắn đỏ rờ. Cầm lấy bàn tay thấy nóng như nung. Đã đến lúc cả những ngươi lái máy bay chúng tôi cũng đổ sốt rét trên đất nước này sao? Lái phụ còn có nghĩa là ngươi dẫn đường. Chưa một lần nào tôi bay thiếu lại phụ. Những tiền đồn đang kêu gọi. Tôi đã được bay lên cái chốt ấy vài lần. Đó là một đồn tiền tiêu xa xôi cách biệt nhất. Nó như mất hút trong mây mù, nơi tận cùng của xứ sở này. Trên đó có một đơn vị bộ binh ta. Họ đã chốt ở đấy từ mùa hè 1979. Cho tới nay vẫn chưa có ai lên thay họ. Từ 1979, chưa một chiến sĩ nào ở trên đó được đặt chân xuống đồng bằng, chưa nói gì được về thăm quê hương, Tổ quốc. Ở trên đó họ có đủ tất cả, đủ lực lượng, đủ sức mạnh, đủ trí tuệ. Nhưng trên đó họ cũng thiếu rất nhiêu: thiếu từ một giọng nói trẻ thơ, từ một nụ cười thiếu nữ, thiếu cả từng mẩu giấy nhỏ để gói thuốc lào...


EH1, chính trực thăng chúng tôi đã gọi nó bằng hai tiếng Em Hương yêu dấu, dịu dàng. Chúng tôi đã dành cho Em một tình cảm riêng biệt. Cũng bời vậy, hôm nay có nhiệm vụ, nhất định tôi sẽ phải bay lên với nó.


Cầm chiếc mũ bay, khoác tấm áo giáp đỡ đạn vào người, tôi an ủi Chuông vài lời rồi theo Tục, thợ máy trên không cùng bước nhanh ra bãi đậu trực thăng. Đây cũng là bãi hàng của căn cứ tiếp liệu “Tre xanh” thuộc một binh đoàn bộ binh của chúng ta đang làm nhiệm vụ trên cánh cung miền Tây của nước bạn.


Anh em bộ binh đã chờ sẵn chúng tôi bên những kiện hàng lớn, nhỏ. Có cả mấy đồng chí chỉ huy đơn vị. Thấy các anh cũng có mặt, tôi càng hiểu thêm: nhiệm vụ chiều nay quan trọng khá nhiều. Anh Sáu Chiến, con hùm xám miệt An Giang, Bảy Núi của chúng ta tiến lại, nắm lấy tay tôi:

- Núi đấy ư em? Gắng lên với tụi nó! Trời xấu quá. Nhưng cố gắng nghe em!

Rồi anh ân cần:

- Núi nè, lại sắp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám của Tổ quốc. Cũng cần phải gửi lên cho tụi nó một ít gì để xài. Bởi vậy, em bay lên bữa nay cũng là có ý nghĩa...

Tôi hiểu. Anh ôm hôn tôi lên trán, như cha hôn con giờ tiễn biệt. Tới lúc đó tôi mới để ý thấy có cả mấy anh, mấy chị người Campuchia cũng đang hăng hái cùng bộ đội Việt chuyển hàng lên máy bay. Trong số đó có một cô gái váy đen, áo đen, da thịt khá óng ả. Đặc biệt cô có một đôi mắt thật thông minh và duyên dăng. Một đôi mắt rất Campuchia. Anh Sáu vẫy cô lại:

- Đây là Chăn Đi, y tá của một đơn vị Campuchia đóng ở gần đây. Chăn Đi đến lĩnh thuộc về cho đơn vị. Chăn Đi cũng là một người sống sót. Bộ đội của chúng ta đã tìm thấy Chăn Đi năm 1979 trong một khu rừng ở vùng Lếch, bên một đống lửa cùng mấy con dao và một chiếc búa lớn. Lúc đó cô sắp bị bọn tàn binh Pôn Pốt giết ăn thịt, vì chúng quá đói...

Đôi mắt đẹp của Chăn Đi ngước nhìn chúng tôi với một nụ cười thoáng lướt.

Nhưng chúng tôi không còn nhiêu thì giờ để nói chuyện với cô nữa.

Chiếc trục thăng bắt đầu gầm lẽn. Toàn thân nõ rung rinh như một con chim đang sẵn sàng để cất cánh.

Tôi cho treo mấy bay trên độ cao hơn chục mét để kiểm tra lại máy móc, đồng hồ một lần cuối, đoạn bay đi.

Những vạt sương màu nâu sẫm, những khu doanh trại của căn cứ tiếp liệu xa dần. Núi rừng bắt đầu mở ra xanh rì, cuồn cuộn như biển sông ở dưới bụng máy bay.

Thiếu Chuông lái phụ, công việc của tôi quả là khá căng thẳng. Tôi không còn một giây phút rảnh tay và rảnh cả đầu óc nữa. Trước mặt tôi là cả một hệ thống đồng hồ, nút bấm... là cả con đường hành trình băng qua một vùng núi nổi tiếng hiểm trở của nước bạn, để tới với Em Hương. Trước khi tới đó, bọn tôi còn bắt buộc phải vượt qua một ngọn núi ác hiểm cao tới trên hai nhàn mét. Mùa mưa năm ngoái, đã chẳng ít người lái chúng tôi mếu giở, khóc giở vì ngọn núi này. Mây luôn luôn phủ kín lên ngọn. Xuyến lên, không vững tay lái, đâm vào vách núi như chơi. Lách trong các khe núi cũng chẳng dễ gì hơn. Thêm nữa theo kinh nghiệm và cả sách dạy, trực thăng không nén bay vào các khe núi vì dễ bị phục binh bắn hạ. Chính bọn Mỹ trước đây cũng rất ngại khi phải bay vào giữa hai triền núi hẹp.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:34:00 pm
Đã qua mười lăm phút. Chú chuồn con của chúng tôi đã hoàn toàn lọt vào giữa một thế giới ngợp xanh, mênh mông vô tận. Cũng đã tới lúc không còn liên lạc được với phía sau bằng điện đài được nữa. Chúng tôi phải hoàn toàn độc lập tác chiến. Túc, chàng thợ máy trên không mỗi lúc phải thêm chăm chú hơn để quan sát theo dõi hệ thống máy móc. Túc ít nói. Chúng tôi quen gọi đùa hắn là Cục sắt. Nhưng Cục sắt của chúng tôi lại là người rất giàu tình cảm, lần nào lên chốt Túc cũng cho anh em trên đó tất cả những gì mà hắn có, kể cả những bức thư của mẹ, và của cả người yêu hắn, chỉ trừ bộ đồ bay và những cuốn sổ công tác với bộ lắc lê, kìm búa...

- Mưa! - Cục sắt bỗng thốt lên.

Hắn nhìn khá tinh. Một cơn mưa rất lớn đang sầm sầm kéo tới. Một thoáng đã nghe choang choang những giọt mưa quất vào thành máy bay.

Rồi mưa ào ạt, trắng xóa, trùm kín tất cả đất trời. Mưa dữ đến mức dần dần không còn thấy trắng xóa nữa, mà như tối tăm mù mịt. Mưa đập vào thân máy bay cũng không còn là tiếng một nửa mà như cả trăm ngàn bó roi tàn bạo tơi tấp quất tới. Hoàn toàn không còn nhìn thấy gì nữa. Hoàn toàn không. Tất cả chỉ còn biết trông vào chiếc đồng hồ chân trời giả để khỏi mất cảm giác.


Mưa vẫn sôi réo. Chiếc trực thăng như run lên. Nó lảo đảo, không giữ được thăng bằng nữa. Nước như thác luôn muốn tống nó xuống, lôi tuột nó xuống các ngọn rừng, các lòng khe đang gầm thết, lồng lộn ở bên dưới. Chúng tôi có cảm giác đang ngồi trên một con thuyền đi trên biển bão.

- Túc! - Không còn nhìn được gì cả! - Tôi không kìm được mình nữa, phải thốt lên.
Cũng lại Cục sắt vẫn câm lặng, cặp mắt đỏ ngầu.

- Túc! Sắp tơi ngọn hai ngàn! - Một phút sau tôi lại cất tiếng.

Mưa vẫn tối tăm, man rợ.

Bấy giơ Cục sắt mới khó nhọc nói khẽ:

- Ông xem nếu tiếp tục đi được thì đi. Nếu hệ số an toàn quá thấp thì đành quay lại vậy!

Hệ số an toàn quả là quá thấp mất rồi. Chúng tôi chỉ còn một phút để chọn lựa một quyết định: tiếp tục bay hay quay lát. Quay lại lòng tự trọng sẽ bị tổn thương biết bao. Và người ta vẫn thường che giấu sĩ diện cá nhân mình dưới cái lòng tự trọng ấy. Quay lại. Ai sẽ chịu trách nhiệm về việc này? Tất nhiên là tôi, lái chính...

- Quay lại thôi - Tôi thoắt nói, gần như giật giọng đến nỗi chính tôi cũng phải ngạc nhiên trước nỗi giận dữ và cả niềm đau đớn ấy.

Từ lúc đó Cục sắt hoàn toàn câm lặng.

Một lát sau, qua màn mưa, đã thấy mờ mờ một dải đồng bằng lênh láng, buồn bã. Rồi đã nhìn thấy nhũng mái nhà lợp tôn với vách gỗ ghép của căn cứ tiếp liệu “Tre xanh". Đã thấp thoáng thấy cả những bóng người đội vải nhựa lướt thướt chạy ra. Có cả anh Sáu Chiến ở đấy không? Và Chăn Đi nữa...?

Chiếc trực thăng kêu lên rền rĩ như khóc và từ từ đáp xuống.

Cũng may, anh Sáu đã rời căn cứ này đi xuống một đơn vị cách đây vài chục dặm. Chỉ còn có Chăn Đi. Cô cũng đội vải nhựa, mau mắn chạy ra. Mưa lạnh vậy mà sao gương mặt cô lại hồng hào? Cô đến bên máy bay. Một bàn tay mềm mại đưa lên.

- Mưa ở nước em dữ quá hả? Em biết mà các anh sẽ phải quay lại thôi…

Đêm ấy, lần đầu tiên tôi đã không hoàn thành nhiệm vụ. Phải ngủ đỡ ở căn cứ tiếp liệu này.

Mưa vẫn rơi suốt đêm. Một ngọn lửa liu riu trên bếp như một niềm đau day dứt. Tôi ngồi âm thầm cời lửa, nghe mưa gõ triền miên trên các mái tôn, và ồn ào cãi lộn ngoài các khe rãnh quanh căn cứ.

Tất cả ý nghĩ của tôi, luôn luôn bay lên với Em Hương. Thương binh có sao không? Anh em bộ binh liệu còn vét thêm được hạt gạo nào để tiếp tục trông chờ những chú chuồn con bay tơi?... Bọn tôi đã góp phần làm được những gì cho họ? Bọn tôi sẽ còn phải làm những gì đây cho xứng đáng với họ? Có thể làm gì? Làm gì ngoài những lời cảm thông đã quá đủ. Cần phải hành động! Hãy hành động thực sự cho họ, vì họ, những con ngươi đang được vinh quang gánh vác những nhiệm vụ thực sự lớn lao, cao cả ấy.

Nửa đêm, một bóng đen mềm mại bỗng trườn vào trong căn nhà trống. Tôi ngẩng lên: Chăn Đi.

Ngọn lửa được thổi bừng lên cùng một nỗi ngạc nhiên ấm áp.

- Mây anh chưa ngủ sao?

- Không ngủ được, cô ạ!

- Mai các anh lại lên chốt chứ?

- Vâng, nhất đinh chúng tôi phải tiếp tế cho anh em chúng tôi ở trên ấy.

- Không, các anh tiếp tế cho chính đất nước Campuchia này đấy!

Tôi nhìn vào đôi mắt trong suốt, thông minh. Ai đã dạy cho cô biết nói như vậy? Hay điều ấy đã tự đáy long cô như một mầm xanh nhú lên từ một hạt trái cây đã được gieo trên mặt đất ngọt mềm? Tôi lay, đánh thức Cục sắt dậy. Cả ba chúng tôi cùng nhìn nhau qua ngọn lửa. Chúng tôi chưa biết nhiều tiếng Campuchia. Chăn Đi cũng mới học được một số câu tiếng Việt. Nhưng cả ba chúng tôi vẫn tiếp tục nói chuyện tới nhau trong một sự im lặng thật dịu dàng và tin cậy.

- Mấy anh ngủ đì! Mai Chăn Đi cũng đưa thuốc trở về tiếp tế cho đơn vị đấy!

Cuối cùng, hai đứa chúng tôi cũng ngoan ngoãn nghe lời cô, đặt mình xuống. Chúng tôi ngủ trong hơi ấm của ngọn lửa, trong đáy mắt của cô gái hồi sinh.

Sáng hôm sau, mưa tạnh, tuy trời còn đây mây.

Tôi và Cục sắt nhất quyết ra máy bay. Chăn Đi cùng đi theo ra bãi đáp. Giũa lúc đó một chiếc xe díp đầy bùn từ xa phóng về. Anh Sáu Chiến vừa nhảy từ trên xe xuống và nói luôn, gấp gáp:

- Mới có tin ngày hôm qua: thêm một số phỉ Pôn Pốt được tung từ Thái Lan về. Chúng đang ẩn náu ở dãy núi hai ngàn...

Chúng tôi hiểu: thế là trên đường bay của chúng tôi hôm nay có thể sẽ có những chuyện gì xảy tới!

- Cẩn thận nghe, mấy em! Có cần thêm vũ khí không?

- Dạ, đủ rồi, anh Sáu. Trời đã hơi quang. Bọn em đi đây!

- Vậy chúc các em bình an, thắng lợi!


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:35:15 pm
Trong phút chốc, chúng tôi đã như ngồi trên một lồng kính bay lên, ngoái nhìn lại những người ở dưới đang vẫy tay chào tiễn. Vẫn thấy Chăn Đi. Nhưng kìa, cô đã vội vã quay lại. Cô cũng bắt đầu lên đường...
Mây vẫn đầy trời. Đặc biệt, hôm nay lên trên cao mới chỉ năm trăm mét, gió đã rất mạnh. Càng bay vào gần, rồi vào sâu trong vùng núi, gió càng lớn. Gió lên như một thách thức mới. Nhưng gió lên cũng như để nói lên cả nỗi xao động, lẫn niềm hăm hở của lòng người.

- Gió lớn quá hả - Cục sắt rin rít trong kẽ răng. Mây bay vun vút.

Gió làm cho toàn thân chiếc trục thăng rung lên từng hồi dữ dội. Đã nhiều lúc chú chuồn con của chúng tôi bị nhồi lên, nhấn xuống, bị thổi dạt, liệng qua, liệng lại, như một chiếc lá bay trong cơn lốc.

Hai tay tôi dần dần mỏi nhừ và đau nhức. Đôi bàn chân đạp giữ trên hai bàn đạp cũng gần như tê cứng. Đầu óc tôi dầy tràn gió thổi.

- Núi, cẩn thận đấy nhé!

- Núi! Dãy hai ngàn kia rồi! Nhưng mây kín hết ngọn! Làm sao bây giờ cậu! Xuyên lên được không?

Hôm nay đến lượt tôi làm Cục sắt. Tôi không đáp nó. Vì không có đủ thì giờ, không đủ sức và cũng không đủ cả ý nghĩ để đáp nó nữa. Tất cả con người tôi đang bị căng xé. Chỉ một sơ xuất nhỏ chỉ một chút hoảng hốt, tôi hiểu: chiếc máy bay nhỏ bé của chúng tôi sẽ là một nắm sắt bẹp dúrn bị ném xuống vực.

Không thể xuyên mây đi. Tôi biết chắc như thế. Mây dày đặc, mênh mông, khủng khiếp. Tôi sẽ bay luồn lách trong các khe núi.

- Núi! Cậu bay luồn khe hả?

- Phải!

- Cẩn thận đấy - Hắn hét lên, chồm tới sau lưng tôi như ôm chặt.

Hai bàn tay tôi càng thêm đau nhức, đầu óc tôi càng ào ào gió thổi. Chiếc trực thăng của chúng tôi đã bắt đầu bay vào một khe núi lớn. Hai bên vách núi sừng sững như thành. Nhưng cũng không ngờ bay vào giữa hai vách núi, gió lồng canh dữ. Chiếc trực thăng, nhiều lục như bị đẩy lùi rồi bị hất ngược trở lại. Hai mắt tôi luôn tối sẫm.


Tôi nghiến chặt răng lại. Máu như đã bật ra khỏi các kẽ ngón tay. Chúng tôi đã vào cơn tử chiến. Nhưng, rồi cả tôi và cả Túc đều đã nhìn ra được cách đè gió, và lướt gió. Từ đó, chiếc trực thăng tinh khôn, dẻo dang và khỏe mạnh tuyệt vơi của chúng tôi cũng dần dần giữ được thế thăng bằng nhiều hơn, để tiếp tục luồn lách trong các khe núi, bay tới và bay lên cao mãi. Nó như một chú cá rô don mạnh bạo, hăm hở, rạch lên mãi trên một đồng nước ngược ngoằn nghèo đang mùa mưa lũ.

- Nó bắn đấy! - Đang giữa lúc đó, Cục sắt chợt la lên.

- Gì thế?

- Nó bắn đấy! Nghe choang một cái ở phía đuôi, cậu không thấy sao?

- Có lẽ! Nhưng mặc mẹ chúng nó!

Gió vẫn lộng lên. Hai vách núi xanh rì rừng nguyên thủy vẫn ép kín hai bên.

- Nó lại bắn đấy!

- Có thấy gì đâu?

- Tớ nom thấy một vệt đạn lửa! Mà kìa, có bóng mấy thằng đang chạy dưới lòng khe!

- Vậy tương cha cho chúng nó một quả cối, mau lên! Tôi thét vang.

Một quả cối ném xuống trong lúc đang bay, thật khó trúng quá. Nhưng dẫu sao cũng phải cho bọn phỉ này hiểu rằng chúng đã bị quật lại.


Chiếc trực thăng vẫn đè gió, lướt gió tiếp tục luồn lách trong các triền núi. Rồi lát sau, bỗng thấy ở phía trước sáng lên một mảng trời kẹp giữa hai ngọn nui lớn. Tôi thở trút:

Khe Bình Yên. Đó là cái tên mà bọn lái trực thăng chúng tôi đã đặt ra cho nó. Và đấy cũng là "Cổng trời" để vượt sang phía bên kia ngọn hai ngàn, đáp xuống EH1. Sắp tới Em Hương rồi! - Chúng tôi cùng mừng rỡ thốt lên.


Chiếc rực thăng nhẹ nhàng vượt qua khe Bình Yên. Đã nhìn thấy ở xa xa một chút biển, cùng một vệt đồng bằng mờ mờ với những dãy núi nhấp nhô bên đất Thái.


Thoắt cái EH1 hiện ra đột ngột trên một sườn nui cao ngất, hướng ra phía biển và đất Thái Những mái nhà li ti màu vàng nhạt chụm lại trên một mảng đất gần như hình bầu dục màu vàng xuộm. Thoáng nhìn tưởng một thum của người rẻo cao khuất trong mây mù. Những rồi đã nhai thấy rõ những đường chiến hào gân guốc, xa gần. Đã nhìn thấy cả những bóng người đang chạy đi chạy lại nhộn nhịp. Một bãi đáp đã được phát quang ở ngay bên khu nhà doanh trại.


Chiếc trực thăng reo vang, lặp một vòng lượn kiêu hãnh. Chúng tôi chuẩn bị để đáp xuống. Tôi đã biết bãi đáp này. Tuy Em Hương đã tích cực sửa sang, nhưng bãi vẫn tương đối dốc, rất khó hạ cánh. Cũng như mấy lần trước, tôi phải quyết định chọn phương pháp hạ cánh trên độ dốc, một phương pháp khá khó khăn đối với những tay lái dẫu sao cũng còn là mới như lũ chúng tôi.


Dưới bãi đáp, một chiếc dù trắng đã được trải rộng. Những người của Em Hương đã lố nhố đứng đợi. Họ đang giơ cao tay vẫy rẫy rối rít. Nhiều chiếc mũ được tung lên cuồng nhiệt.


Cố nén tất cả niềm xúc động, tôi tiếp tục tập trung tâm trí não tay lái, và bàn đạp. Tôi cho treo máy bay lại mấy giây để quan sát mặt đất một lần cuối rồi mới hạ cánh xuống, thật chậm chạp, thật thân trọng; đặt càng phía sườn dốc xuống trước. Cùng lúc đó, giảm độ sải và đặt cần lái ngang, cho đến khi cả trọng lượng máy bay đã nằm chắc trên mặt đất. Cuối cùng, đặt cần lái trở lại điểm trung hòa, tôi mới buông rời tay và ngả vật người ra thành ghế.

Cửa máy bay đã được Cục sắt mở toang.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:41:00 pm
Tất cả những người anh em ra đón cùng một loạt reo ầm, ùa tới. Không nhìn rõ ai với ai nữa. Chỉ còn thấy một loạt những gương mặt sáng ngời với những nụ cười rạng rỡ.
Rồi cả hai chúng tôi bị lôi tuột ra khỏi máy bay. Cả hai cùng được tung lên, rồi lại được tất cả những cánh tay thân yêu đỡ lấy. Cứ như thế nhiều lẫn với những tiếng hò reo vang dậy.

Và gân như tất cả cũng bật khóc.

- Này! Chúng nó bắn thủng toang một mảng đuôi của các cậu đây này!

Một anh nào đó bỗng réo lên. Nhưng tất cả đám đông vẫn vây tròn lấy chúng tôi và cùng xem xét lại đầu, ngực, mình, mẩy, chân, tay của cả hai đứa, coi thử có bị dính một viên đạn nào không.

Dần dần tôi mới có đủ bình tĩnh để nhận ra: đây là Bình Hà Nội, đây là Mùi B Hải Phòng, đây là Lữ Hà Sơn Bình, đây là Thể Vĩnh Phú và đây nữa; Lập Thái Bình đồng hương “đồng khói" của riêng tôi. Toàn là lính trẻ, sàn sàn trên dưới hai mươi.


Họ vẫn vây quanh chung tôi, tranh nhau hỏi hàng ngàn thứ chuyện "ở dưới đó" và ở quê nhà. So với lần trước lên đây, tôi thầm nhận thấy tất cả những gương mặt này đều đã thêm dầu dãi cũng như thêm gan góc, kể cả thêm tinh khôn. Nhưng cũng có cái gì đó thêm gian khổ... Những bộ quần áo đã thêm úa vàng. Những mái tóc thêm rậm rạp và những cặp mắt thêm hoang vu, xanh biếc.


Tôi ngắm nhìn họ. Tôi muốn nói với họ rất nhiều điều mà không sao nói hết nổi. Ôi những người chiến sĩ bộ binh chân đất cực kỳ gian nan và cũng hết sức anh hùng? Ai biết đủ tên các anh? Ai biết hết việc các anh đã làm cho Tổ quốc và cho nước bạn? Ai hiểu nổi mọi niềm tâm sự của các anh? Ai đã thấy hết mọi ước mơ cũng như những nhu cầu nhỏ bé, khiêm tốn, nhưng lại vô cùng cần thiết đối với cuộc sống và chiến đấu của các anh hôm nay?...


Những người lính của chúng ta như vậy đấy! Bao giờ cũng luôn luôn là những người giản dị, giản dị như đến mức tận cùng. Không bao giờ đòi hỏi. Mà cũng luôn tự nghĩ rằng mình không nên đòi hòi...


Tôi ngắm nhìn mãi, ngắm nhìn những bàn tay đã trở nên thô rắn đầy chai sẹo, ngắm nhìn những bàn chân nứt nẻ - Những đôi chân ấy đạp qua bao ngọn núi? Những bàn tay ấy đã góp lại tạo nên biệt bao sự nghiệp?

Thế rồi chúng tôi đã được đưa về khu doanh trại của tiền đòn.

Anh San, đơn vị trưởng đã ra đón chúng tôi tư xa. Cũng trạc hăm hai, hăm ba. Cũng đầu trần, cũng áo quần nhàu nát, vàng úa. Nếu không biết, dễ lẫn anh với tất cả đám đông chiến sĩ.

Trẻ, nhưng San rất chắc chẵn và trầm tĩnh. Anh cũng rất ít nói. Đã nói câu nào là nghĩ thật kỹ mới nói và nói một cách hoàn toàn thẳng thắn, thành thật. Ngang tuổi, mà bọn tôi trọng San như anh.

- Các ông vất vả quá! Thời tiết thế này! Lại còn cái bọn chỗ ấy nữa...

- Không! - Tôi vội kêu lên - Vất vả của tụi tôi chỉ là hạt bụi đối với các anh.

- Các ông đến, dẫu sao thế là vẫn rất kịp thời. Thương binh khá trầm trọng. Lương thực bọn này, nói thật, cũng đã phải dùng tơi số dự trữ tác chiến. Chà, cái mưa ác hại!

Anh đưa chúng tôi đi lướt qua khu doanh trại. Cũng như những con người, tất cả nhà cửa, đồ đạc, ở đây đều đã có cái gì thêm dầu dãi. Nhưng nhìn chung vẫn không có gì thay đổi nhiêu. Tôi chỉ để ý thấy cái cây đu đủ trước nhà ban chỉ huy đã biến mất. Lần trước lên, thấy chỉ có thân mà không có lá. Lạ quá, hỏi anh San giai thích: Thèm thuốc hút, không có, anh em đã vặt hết lá thân ra để đốt cho đỡ cơn nghiền.

- Nhưng còn lần này, anh?

- Hết lá, cạo đến thân, cạo mãi cũng hết nốt cả thân rồi!

Lại thêm một chuyện về cây đu đủ bốc khói này nữa sao, trong biết bao nhiêu câu chuyện đã xảy ra tưởng như huyền thoại trên cái tiền đồn cao ngất, xa mù này.
Không dừng lại nghỉ và ăn trưa, hai chúng tôi xin nhận thương binh để bay luôn.
Thương binh đã được đưa ra bãi đáp. Anh nằm gần như bất động trên một cáng vai, khuôn mặt vàng như sáp nến. Tất cả con người dường như chỉ còn có đôi mắt.


Đôi mắt hiền hậu và bĩnh tĩnh lạ lùng. Tôi có cảm giác như anh không biết đau đớn và buồn bã. Nếu có đau, có lẽ ấy chỉ lã nỗi đau ở đâu kia, ngoài thể xác, ngoài tâm hồn anh. Người chiến sĩ còn đang bận suy nghĩ về những chuyện gì rất khác.

Tôi nói với anh y tá đơn vị, để cho tôi được khiêng một đầu cáng đưa lên máy bay.

Bỗng nhiên, anh thương binh ngóc đầu dậy. Và lần đầu tiên tôi nghe anh nói:

- Khoan đã!

- Gì vậy anh!

- Đề nghị nâng đầu cáng lên, cho tôi nhìn lại chốt, nhìn lại anh em một lần nữa.

Tôi run rẩy làm đúng theo lời anh. Và tất cả những người ra tiễn cũng đứng im phắc trước mặt anh. Cảnh tuợng thật lạ lùng chưa từng thấy. Xin hay tin cho: Suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên khung cảnh này. Và tự nhiên tôi cũng ngẩng cao mặt, nhìn lại về phía cái chốt tiền tiêu, nhìn lại tất cả những ngước chiến sĩ dãi dầu, gan góc nọ. Vâng! Đúng là suốt đời tôi sẽ không sao quên...

Chiếc máy bay của chúng tôi bắt đầu cất cánh.

Nhìn xuống: những người chiến sĩ của tiền đồn vẫn còn nguyên ở đó, đang văy theo. Lòng mình, thú nhận, vụt se sắt lại. Tôi yếu đuối. Tôi tự biết sai lầm ấy của minh. Nhưng quả thật, nhìn lại họ, lòng tôi rung lên. Dẫu sao: chúng tôi cũng chỉ là những người chợt đến rồi chợt đi. Họ mới là những người còn ở lại đây lâu dài. Đối với họ, chúng tôi đúng chỉ lã nhưng hạt cát...


Gió lại lồng lên dọc theo các triền núi. Chiếc trực thăng lại như một chiếc lá bay.

- Các anh đưa tôi về đâu thế? - Anh thương binh bỗng hỏi khe khẽ

- Trước hết chúng tôi sẽ đưa anh về căn cư tiếp liệu “Tre xanh”. Rồi sau đó có thể về tuyến sau nữa, ví dụ Quân khu Bảy chẳng hạn. Anh cứ yên tâm.

- À, căn cứ “Tre xanh"! Này, vùng đó, mùa hè 1979 tiểu đoàn chúng tôi có tham gia đấy. Đã tìm được một có gái sắp bị chúng, nó ăn thịt...

- Ôi chăn Đi hả?

- Ghê rợn quá, các anh ạ! Tôi xin thề, không nói hơn không nói kém, chúng đã ăn thịt lẫn nhau...

- Chăn Đi! Anh còn nhớ Chăn Đi chứ!

- Không! Sau đó còn tìm được bao nhiêu người nữa, làm sao mà nhớ được. Riêng tiểu đoàn tôi đã tìm được ngót một trăm người như vậy...

- Chăn Đi? Cô gái ở vùng căn cứ “Tre xanh" mà anh vữa nói tên là Chăn Đi đấy, anh ạ!

- Không! Tôi không nhớ. Làm sao mà nhớ hết được anh?

Ôi Chăn Đi, thế còn cô, giả dụ lúc này gặp lại anh chiến sĩ này, liệu cô có thể nhớ ra được anh là một trong số những người lính Việt đã tìm được cô bên đống lửa với lưỡi rìu và mấy con dao nhọn? Chắc là cô nhớ!


Chiếc trực thăng tiếp tục lướt gió, đè gió. Ngoái nhìn lại lần nữa không còn thấy gì hết, ngoài những vách núi lì lợm, xanh rì, ngoài mây bay trắng. Dường như làm gì có cái chốt tiền tiêu ở nơi xa mù, trên cao tít ấy, làm gì có những, con người của chung ta đang tiếp tục bám trụ trên vách núi ấy để góp phần làm cho đất nước hồi sinh này vững bền mãi mãi.


Nhưng thật là có. Chúng tôi sẽ lại tiếp tục bay lên với họ. Bay lên với lương thực, vũ khí. Bay lên với tất cả sức mạnh và tấm lòng nồng cháy của hậu phương yêu dấu.

Tháng 7 năm 1981


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:43:41 pm
KHÔ CHĂNĐARA


ĐỐ VIẾT NGHIỆM

Hơn một tuần lặn lội để chuyển tiền tặng phẩm cứu trợ của độc giả tới đồng bào miên Trung đang gặp khó khăn, liên tiếp chịu hai cơn bão tàn phá, Sơn đã trở về cơ quan.
Sơn bả lả đẩy cửa bước vào phòng, dự tính kiếm gì ăn qua quít đánh một giấc cho lại sức chiều trở về nhà. Sơn đưa tay bật công tắc điện, căn phòng sáng bừng lên, sang trọng Sơn cúi xuống định cởi dây giày và nhận ra một phong thư ngay dưới chân. Sơn cầm lên giật mình vì tên người và nét chữ. “Trần Hoàng Bắc, thân gửi: Lê Minh Sơn". “Thằng Bắc” - Sơn thốt lên - "Bắc ở bên kia cầu, sát bờ sông Hồng, nhưng người ta đã báo tử. Hồi hộp, hoài nghi, Sơn khẽ khàng bóc bì thư rút ra một tờ giấy gấp đôi xòe to như một con bướm lớn. Thư viết: "Sơn, cậu còn nhớ tớ không? Bắc đâyl Bắc rái cá của trung đội đây. Biết cậu do một sự tình cờ hai hôm trước tớ có đọc trên tờ báo Thanh Niên cuối tuần bài: Quân tình nguyện Việt Nam mãi mãi là niềm tự hào của Tổ quốc. Bài viết rất tuyệt, đọc cảm động làm tớ ứa nước mắt. Sơn ạ cậu giỏi thật đấy. Không ngờ cái thằng mặt lù đù như rùa, đánh nhau lì như đất đá, lại trở thành nhà báo.


Tớ đến tìm cậu, mời về nhà chơi, nhưng chờ mãi không biết khi nào cậu về, đành viết thư lại nhờ bác bảo vệ chuyển giúp. Đến nhé, mười sáu giờ ngay mười tại nhà tớ”. Sơn liếc nhìn đồng hồ. “Ngày hôm nay” - Sơn lẩm bẩm rồi lấy chiếc Motorola di động ấn phím. Tiếng máy “tin tín" thanh mỏng, điệu đàng như một nốt si trong khúc nhạc tình vang lên. Một chiếc tắc xi tấp vào lề đường, người tài xế với tay mở cửa. Sơn bước vào. Xe lao đi, hai chục phút sau đã sang bên kia cầu.


Làng Ngạn phất lên độ mười năm lại đây. Đúng hơn từ ngày nhà nước có chủ trương đổi mới. Dân làng Ngạn đua nhau đi kiếm tiền vào Nam, ra Bắc, lên biên giới làm nghề cửu vạn. Nhờ vậy làng Ngạn giờ thay đồi nhiều lắm, xênh xang nửa quê nửa tỉnh. Chuyện Bắc đi chiến đấu ở chiến trường K mất tích, một bận gây xôn xao, ly kỳ như truyện trinh thám. Sau được kết luận đã hy sinh và báo tử, rồi tên Bắc đã khắc vào bia đá của làng. Đột nhiên, cách đây một năm, Bắc gửi thư về. Ông Bảo, bố Bắc mừng khôn xiết, nước mắt ròng ròng, cầm thư chạy khoe khắp làng: "Con tôi còn sống. Con tôi còn sống”. Chuyện cứ như thần thoại. Một sôố lão làng nói nhỏ với nhau. "Ông Bảo thương nhớ con quá, mà sinh ra lầm tưởng đó thôi". Nhưng rồi hôm nay Bắc đã trở về. Một anh Bắc bằng xương, bằng thịt. Chưa hết, anh còn mang về theo cả một tổ ấm gia đình gồm vợ và đứa con trai hơn mười tuổi. Tin Bắc trở về, ngay buổi sáng cả làng đều biết. Người làng Ngạn quý cái tình ai cũng tới thăm anh. Họ chúc mừng ông Bảo và vợ chồng Bắc. Lũ trẻ làng Ngạn đi tắm ngoài sông kháo nhau: “Chú Bắc lấy vợ ngoại, mặc váy, sắp tổ chức cưới lại rồi". Bắc tổ chức tiệc mặn. Anh mời anh em: bạn bè thân thích gọi là báo cáo chớ cưới xin gì đâu. Trước là để trình diện làng xóm, sau là để vợ con khỏi mủi lòng, lần đầu về thăm quê nội. Sơn tới đúng vào lúc chương trình chuyển sang phần văn nghệ. Một chành trai đang ngất ngưởng hát bài “Người lính tình nguyện Việt Nam”. “Ápsara... Ôi điệu múa: Ápsara ơi..." Đám thanh mền bật dậy, làm thành một vòng tròn đung đưa, nhún nhảy. Số khác ngồi ngoài vỗ tay theo nhịp. Sơn lặng lẽ bước vào sân, chính anh cũng đang bị bài hát cuốn hút, mê hoặc. Những ký ức một thời bất chợt trào dâng trong anh. “Ápsara... Ôi điệu múa... Ôi lời hát Ápsara ơi...".

- Sơn! - Bắc kêu lên rồi nhào tới, len qua các dãy bàn ôm chầm lấy anh lắc mạnh.

- Bắc! Bắc! Thế mà tớ cứ tưởng...

- Đã chết đúng không? Tớ sống lại đấy!

- Cậu có phép màu hả Bắc?

- Bình tĩnh, chưa phạt tội đến muộn. Nào, lại đây để tớ giới thiệu!

- Không cần đâu Bắc. Tớ không muốn vì tớ mà phải dừng cuộc vui.

- Pai Lây đấy. Nhưng cậu phải thức suốt đêm nay?

- OK!

Vợ Bắc đã nhận ra hai người. Bắc đưa tay vẫy vợ và con trai lại gần. Bắc chỉ vào Sơn.

- Đây là anh Sơn bạn anh. Còn đây là vợ và con trai mình.

Vợ Bắc chắp tay nhún người xá, môi nở một nụ cười hiền hậu. Sơn chắp tay đáp lại, anh quay sang Bắc:

- Cậu thật hạnh phúc.

- Tiếng vỗ tav rào rào, tiếng cụng ly chan chất, tiếng hát lại vút lên, giống như một dòng chảy không ngừng.

Hai người bước dọc triền sông, họ chọn một ụ đất vặt vài bông ngô già trải làm nệm ngồi, mặt hướng ra sông.

Một con thuyền gỗ gần đó đã cắm sào, trong bóng đêm trông nó lặng tênh, giống như một chiếc ngoặc đơn. Bắc nói chầm chậm:

- Nếu ngày ấy cậu cho rút sớm, đơn vị sẽ ít tổn thất hơn.

- Rút, rút thế đếch nào được. Cấp trên chưa lệnh; mặt khác, không ngờ địch lại tập trung lực lượng lớn đến thế.

Bắc im lặng, nghe được cả tiếng ộp oạp vỗ vào mạn thuyền. Bắc móc túi lấy bao ba số, gẩy nhẹ một điếu thuốc trồi ra, trông rất điệu nghệ.

- Hút?

- Bỏ lâu rồi.

Nói xong Sơn cúi xuống nhặt một xiên sỏi vung tav ném mạnh ra xa, viên sỏi mất hút, khoảnh khắc vọng tới một tiếng “bụp" nghe như cá đớp mồi.

- Giỏi, bên ấy rẻ tớ không nở bỏ, hơn nữa nghề câu cá lênh đênh sông nước, không đốt thuốc buồn bỏ mẹ.

Bắc bật lửa châm thuốc. Lửa tắt chỉ còn cái đầu thuốc lập lòe như con đom đóm bay ngang tầm mắt.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:44:52 pm
Bắc thở dài nhớ lại câu chuyện đã qua.

- Đúng, cậu nói phải? - Anh nói, sau này tớ mời biết được trận đó địch tập trung gần một tiểu đoàn, có pháo binh yểm trợ, mà bên ta chỉ có hai mươi tay súng. Trận đánh có cường độ cao và khốc liệt phải không? Loạt pháo đầu chúng dùng toàn đạn xuyên để phá công sự. Bọn chó quỷ thật, khói chưa tan đã bắn cấp tập loạt hai đến vài chục quả, toàn là đạn chạm nổ. Cậu nhớ chứ, mười hai đứa chết ngay. Thằng Hồng, thằng Quốc đứng cách tớ hơn chục thước bị một quả rớt trúng.

- Thuốc đâu? - Sơn hỏi. Bắc thờ ơ trao bao thuốc cho bạn, Sơn quẹt lửa, rít một hơi thật dài rồi ho khằn khặt.

- Ừ phải... kể tiếp đi.

- Hôm đó địch đoạn được lực lượng ta mỏng. Chúng chia làm ba mũi tiến lên vừa đi vừa bắn. Tớ thấy cậu gào trong tiếng khóc, nhìn cậu tớ thương và khâm phục. Tớ đã đọc nhiều tiểu thuyết chiến tranh. Tớ cũng xem nhiều phim nói về người lính. Nhưng mấy cha dạo diễn chỉ tài bốc phét?

- Nghệ thuật Bắc ạ.

- Tớ hiểu. Nghệ thuật không có nghĩa lã bất chấp sự thật. Bữa đó Chúng ào lên như một bầy thú dữ, miệng hô: “Duôn, Duôn". Hình như máu trong ngươi cậu sôi lên. Cậu bật khỏi công sự, hai hàm răng nghiến, khẩu trung liên trong tay cậu gầm lên, địch chết nhiều quá tớ không đếm được. Quái thật tớ lại thấy cậu khóc. Tớ lấy làm lạ rồi chợt hiểu ra, có phải tâm cậu day dứt...? Tớ thông cảm với cậu, không còn cách nào khác, khi người ta vào cuộc đối mặt nhau, với cái chết! Bên cánh trái, tớ và tiểu đội ba đánh tạt sườn, địch co cụm lại, chính lúc đó tớ nghe tiếng cậu: "Rút!”. Tớ nghĩ "Ổn rồi". Cuối cùng thì cậu đã có một quyết định đúng đắn.

- Anh em đi hết còn cậu sao cứ lì ra?

- Tớ không thể bỏ mặc cậu một mình.

- Tớ xin lỗi, hôm ấy đã xử sự như thể.

- Cậu đã túm vào cổ áo tớ vặn rất mạnh, mắt cậu trợn trừng rồi bảo “cút ngay”. Tớ lao váo rừng bám theo tốp trước, nhưng càng chạy, càng mất hút. Đêm đặc quánh, tớ có cảm giấc sờ nắm được cái màu xám xịt như sắt. Tớ cố chạy. Bốn bề không gian trống rỗng rồi kiệt sức ngã xoài trên mặt đất. Tớ nằm như vậy không biết bao lâu đến khi tỉnh dậy, chợt nhận ra một vùng sáng từ xa, phía vừa có tiếng con nai. Tớ đoán có thể một làng chài". Mừng quýnh tớ chạy líu díu cả chân, vấp lên, ngã xuống. Tớ chỉ mong được ngồi trên một con thuyền, và được “đánh chén" một bữa tiệc cá thỏa thích. Sự khát khao làm cho tớ mạnh lên, tớ chạy như một thằng khùng, cuối cùng tớ đã tơi được cái vùng sáng ấy. Nhưng kinh lắm cậu ạ. Cái làng chài trên sông chỉ là sự ảo ảnh. Đó là một vùng rừng chồng chất xương cốt người chết. Tớ không đủ can đảm tính được có bao nhiêu nhân mạng nằm trong cái chuông lõm ấy, xung quanh nhiều cây cổ thụ già. Những chiếc cành ngang phè, thõng xuống từng chùm rễ, lòng thòng giống các sợi dây treo cổ. Trời đất sáng một cách ma quái. Ánh sáng trông giống như lửa khi tới gần lại không phải. Thứ ánh sáng không tỏa nhiệt, nhấp nháy, xanh như mắt mèo. Bỗng một cơn gió thổi qua, tớ thấy hàng trăm cái đầu lâu cựa quậy từ trong những hố đất. Những bộ răng quạc ra trắng nhởn. Lúc này sự hoảng loạn ngự trị trên trí não tớ. Tớ chạy, đúng là "chạy như ma đuổi”. Tớ ngã dúi dụi, đập vào cây vào đất, miệng đầu tứa máu. Mặc, tớ cứ chạy, không hề có cảm giác đau đớn. Cho tới khi đầu tớ va vào vật gì đó rất mạnh. Tớ khựng lại, lảo đảo rồi đổ gục.


Những hạt nắng lăn qua khe cửa rơi vào mắt cay rát. Tớ choàng tỉnh dậy, thấy mình năm trong một cái lều cỏ, giữa cái vườn toàn cây xoài và cây vú sữa. Những quả xoài vừa chín tơi, căng mẩy như hai mu bàn tay úp. Mỗi quả treo lủng lẳng đầu một cái gọng dài, trông xa giống cái chuông đồng nhỏ. Cách lều hơn năm chục sải chân có một ngôi nhà sàn. Nhà làm bằng loại gỗ dầu, màu gỗ thẫm như màu sừng trâu. Tớ nhổm người định bước vào xem mình đang ở đâu. Nhưng vừa chống hai khuỷu tay người tớ giật bắn lên, như có ai vừa cầm cái kìm dứt từng miếng thịt ở ống đùi trái. Cái đau xối lên óc làm tớ vã mô hôi hột, cùng nước mắt. Tớ bị thương cậu ạ! Thật kỳ lạ, cho tới bây giờ tớ cũng không hiểu nổi, vì sao tớ lại chạy được một quãng đường dài, mà bình thướng đã là khó khăn lắm. “Ai đã đưa tớ vào đây và băng bó cẩn thận?". Tớ còn mung lung suy nghĩ. Bỗng có tiếng người đàn bà từ trong nhà vọng ra: “Ôi anh Son-thi-chiết, anh đã về”.

Một ngươi đàn ông gần bốn chục tuổi, nước da màu đất sét đi từ cổng vào, trên vai khoác một túi lưới cá. Người đàn ông tơi chân cầu thang, chợt sững ngươi lại. Cái túi cá rơi tuột xuống đất, vài con cá còn sống uốn mình quật trên đất nghe đành đạch. Mặt anh ta biến sắc, hai cánh mũi phập phông hít hít. "Máu đưa nào đây?” - Anh ta hỏi. Người đàn bà trong nhà chạy ra: cái váy bập bồng suýt làm chị ta ngã. "Bình tĩnh nào anh Chiết". Người đàn ông vẫn câm lặng hầm hầm vòng quanh cầu thang, anh ta cúi xuống nhặt vật gì đó giơ lên. “Cái mũ” của tớ cậu ạ. Khốn nạn, thì ra tối qua tớ đã đập đầu vào vật cứng, chính là cái cầu thang nhà gã Son-thi-Chiết, chiếc mũ rơi ra. Son-thi-Chiết rít qua kẽ răng, như con báo trúng mũi tên độc. “Duôn phải không?” Ngươi đàn bà đã xuống dưới sân van vỉ: "Anh Chiết đừng nói thế”. Gã chẳng thèm nghe, hắn nhảy lên cầu thang nhanh như con sóc. Tiếng đổ vỡ loảng xoảng trong nhà. Một lát hắn vọt trở ra, trên tay cầm một cây kăm bắt (con dao) dài, sáng lóe, mặt tím bầm rỗi băng ra cổng. “Không! Không!...". Tiếng người đàn bà thét lên:

- Sau đó thế nào? - Sơn hỏi.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:45:56 pm
- Hình như biết mình vô vọng chị ta bật trở lại, quay vào nhà lấy những thứ gì đó, bỏ đầy một túi xách, bung cửa sau chạy phăm phăm vê phía lều nơi tớ đang nằm. Tớ hoang mang thật sự Sơn ạ, chưa biết phải làm gì, nhưng làm được cái gì kia chứ, khi cái chân “khốn kiếp" và cái đầu toạc máu, vẫn nhức nhối từng cơn. Người đàn bà lao vào nói một lời ngắn gọn: “Đi!". Cái túi khoác chéo qua vai, chị cúi xuống xốc ngang nách tớ, lôi đi như một con mèo tha đứa con của nó. Tớ giãy giụa, cố thoát khỏi vòng tay chị, nhưng vòng tay càng thắt chặt. Chị câm lặng, nước mắt rơi lã chã, lết đi từng bước.

- Mẹ... Mẹ... - Tớ có cảm giác đó không phải bàn tay bình thường. Một bàn tay thiên thần thì đúng hơn. Bàn tay đặt rất nhẹ lên ngực tớ và lay nhè nhẹ.

- Kon tóp. Kon tóp tỉnh rồi - Tớ nghe vảng vất lời chị nói như reo bên tai. Tớ run rẩy trong mộng mị và cảm nhận được hơi thở chị nóng hổi phả lên ngực tớ.

Tiếng chị mềm mại:

- Kon tóp... - Tớ từ từ mở mắt, nhìn ngờ vực.

- Người... Ngươi...

- Cha (dạ), em đã đưa anh về đây. Đêm qua anh luôn mê sảng gọi mẹ.

- Tôi sao thế này? - Tớ hỏi.

- Kon tóp sẽ khỏi thôi.

- Tôi ở đâu?

- Kon tóp đang ở nhà một gia đình Khơ-me tốt.

- Không, cho tôi về đơn vị.

- Kon tóp bị thương chưa thể đi ngay được - Người đàn bà nói rồi đứng dậy đi vào nhà trong, một lát sau quay ra, tay bê một cái tô bằng sứ. Nét mặt chị rạng rỡ. Chị ngồi xuống bên tớ.

- Kon tóp ăn cháo nào.

Đói, tô cháo cá thơm lựng làm tớ ứa nước miếng. Tớ ngoan ngoãn để chị bón cho từng thìa. Tớ nghĩ tới mẹ cậu ạ. Khi còn nhỏ có lần tớ ốm, mẹ cũng ngồi cạnh tớ và bón cho ăn như thế này.

- Chút nữa nào Kon tóp.

- Cám ơn, cám ơn chị. - Tớ nói và ngắm nhìn khuôn mặt chị. Biết nói với cậu sao nhỉ. Ừ phải, nét mặt hao gây, hoàn mỹ như thần nữ Ápsara trên vách đền Ăngko Vat. Tớ không hiểu tại sao cái vóc dáng mảnh mai, yểu điệu của chị, lại có thể đưa tớ về đây được. “Còn tên chị là gì?" - Tớ hỏi: Người đàn bà đặt cái tô đã hết cháo xuống giường, khúc khích cười, nói:

- Em không nói đâu.

- Sao vậy?

- Ồ tên em xấu lắm.

- Đừng nói thế, nhất định tên em phải đẹp!

- Ai nói, kon tóp.

- Tôi đoán mà.

- Đừng cười nhé.

Tớ gật đầu chờ đợi.

- Khô Chănđara - Nói rồi chị ngoảnh mặt đi, đưa hai tay lên che mặt tủm tỉm cười.

- Ồ… Một cái tên tuyệt đẹp? Đara là một vì sao. Ngôi sao sáng trên bâu trời xanh.

- Kon tốp là nhà thông thái à?

- Không, một cụ già ở Stungtreng đã kể với tôi tên của các vì sao.

Chănđara sung sướng khi có người lại biết ý nghĩa của tên mình. Hôm ấy tớ cũng giới thiệu tên mình với Chănđara. “Tên tôi là Bắc, một vùng quê ở phía Bắc sông Hồng gần thủ đô Hà Nội. Một vùng đất có những làn điệu hát xoan, hát chèo và quan họ nổi tiếng ở Việt Nam, giống Tổ quốc Chănđara có vũ diệu Rpm vông quyến rũ."


Gần ba tháng Bắc ở nhà bác Khiêu Sà Lươn, một gia đình Khơ-me nghèo nhưng hào hiệp. Vườn bác Khiêu Sà Lươn rộng, nhiều cây vú sữa tỏa bóng mát như những cái ô lớn. Những ngày cuối cùng vết thương đã ổn định. Một buổi sáng Chănđara dẫn Bắc ra vườn tập đi. Cái buổi sáng thần tiên ấy vẫn còn in đậm trong trí nhớ của Bắc. "Bắc bỏ nạng ra, lại đây" - Chăndara nói và giơ hai tay vê phía Bắc. Bắc ngập ngừng nhìn Chăndara đứng cách anh chừng ba mét, lưng hơi cúi xuống. Cái cổ áo Chănđara hơi trễ để lồ lộ một khoảng ngực trần. “Trời đất" - Bắc suýt kêu lên như thế. Đầu óc Bắc mụ mị, u mê. "Bắc sao thế, bỏ nạng ra” - Chănđara nhắc. "Ờ... Bắc sợ lắm Chănđara ạ". “Can đảm lên, nhìn thẳng phía trước"...


Bắc thả nạng, hai tay chới với. Vẫn tiếng Chănđara: "Cố lên, cố lên, tốt rồi". Ngày tiếp theo Bắc hoàn toàn bỏ nạng, Bắc sung sướng nghĩ ngày trở về đơn vị, nhưng với Chănđara là giờ phút nặng nề. Hai ngày sau vào buổi sáng, một chiếc xe ngựa có mái che, đỗ xịch ngay trước nhà bác Khiêu Sà Lươn. Chăndara mắt rưng rưng lệ nói với Bắc đi thay đồ. Bắc mặc bộ bà ba, khoác một tấm kroma "đi đường cho tiện”. Thì ra Chănđara đã chuẩn bị cho chuyến đi của Bắc. Bộ đồ làm cho Bắc giống một chàng trai bản địa. Chỉ khác Bắc có nước da trắng. Bắc bịn rin nắm chặt tay bác Khiêu Sà Lươn. Chănđara giục:

- Lên xe đi, Bắc.

Bắc bối rồi.

- Em tiễn anh chứ.

- Nhất định rồi.

Bắc lên trước đưa tay kéo Chăndara. Người đánh xe căng cương, vút roi vào mông nhựa. Con vật nhún chân, lấy đà và lao vút đi.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 29 Tháng Tám, 2009, 05:47:09 pm
Người đánh xe tên là Non Chom-rơn độ gần ba lăm tuổi, bề ngoài anh có cái mã một tên cao bồi Mêhicô. Chănđara giới thiệu: “Trông dữ nhưng hiền khô”. Đúng hơn là con người có hiểu biết rộng. Bắc nhận xét Non Chom-rơn qua tro chuyện giũa Chănđara và anh ta. Với Bắc, Non Chom-rơn có cảm tình đặc biệt. Anh nói: “Nếu không có kon tóp Việt Nam thì đời tôi cũng tiêu rồi". Non Chom-rơn kể, cha anh là nhà nghiên cứu Phật học, mẹ anh là giao sư dạy môn sử ở Kra-chê, cả hai đều bị Pôn Pốt giết ở Bát-đom boong, ngày ấy anh còn là sinh viên. Non Chom-rơn chạy về phum Kro (phum nghèo) nhờ vậy mới thoát chết. Non Chom-rơn tâm sự: "Có lúc thấy chán sống, nhưng có người bảo tôi: Cuộc đời vẫn còn ở phía trước, đừng làm bậy. Thế là tôi thôi". Bắc còn biết: Sau hòa bình, Non Chom-rơn tìm về nơi quê nhà thấy một sợi dây chuyền vàng và hai ba cây vàng thỏi, anh đem bán, có tiền anh mua một chiếc xe ngựa. Từ ngày có xe anh phiêu du nhiều nơi... Anh hy vọng trong vũ trụ mênh mông nay, biết đâu anh gặp được linh hồn cha, mẹ anh. "Hà... hà, chị Chănđara ơi, chị đang nghĩ gì thế?. Chănđara giật mình, mỉm cười nhìn ngươi đánh xe. “Ê, hầy” - Non Chom-ron giục ngựa rồi quay đầu nói với Bắc: "Kon tóp à, người Khơ-me không quên quân tình nguyện Việt Nam đã giúp mình, đúng không chị Chănđara?". Chănđara gật gật cái đầu Non Chom-rơn cười rang rảng. Bất chợt anh cất cao giọng hát: “Ôn ch'mua pho la lò mo mo, lò o riêng lò o khơ nong. Chuốp múc khơ nia mờ đoong, boong choong sro lanh, ôn sơ rây. Sro lanh boong tâu , boong chia mê sơ rốc, phum thơ mây. Mê sơ rốc com bây, prô puôn cách ná. Ót cách tê ôn". (Em Pho-la đẹp người, đẹp nết, đẹp lưng. Gặp nhau có một lần, anh định yêu em à. Yêu anh đil Anh là quận trưởng. Quận trưởng có ba con, vợ dữ lắm! Không đâu em). Tiếng hát anh loang theo chiều gió. Trên cao một đàn chim sáo bay ngang, nghiêng đầu nhìn theo ngơ ngác.


- Đây là doanh trại của kon tóp - Người đánh xe nói rồi lỏng cương dừng ngựa. Một cái cổng làm bằng gỗ, mỗi bên có bốn cây, đường kính bằng ba vòng tay, cắm thẳng xuống đất, tạo nên một cái trụ vuông. Nối giữa hai trụ cũng có bốn cây như thế, nhìn xa, cái cổng giống một chữ U khổng lồ lộn ngược lạnh tanh, không một bóng người. Sau rào trong, vườn hoa trước cột cờ cỏ bắt đầu mọc lún phún. Vài ba chiếc giày thủng gót, bỏ lại tại một góc nhà. Bắc thẫn thờ một lúc, rồi nói với Chăndara: “Đi thôi”. Chăndara rầu rĩ bước theo sau. Tới cổng Non Chom-rơn bỏ xe thập thò lắp bắp hỏi: “Kon tóp?”. Bắc ngồi phệt xuống vệ đương mắt nhìn đâu xa lắc: “Không còn ai ở đây”. “Đến Na-ki-khsấp”. Non Chom-rơn đề xuất. Lại đi: mờ tối đến nơi. Vẫn vô vọng. Dấu vết ở doanh trại còn mới, rõ ràng đơn vị mới di chuyển không lâu! Nhưng họ đi đâu? Chỉ biết khi Chăndara hỏi một người dân gần đây. họ bảo: “Kon tóp nhiều lắm, đi rồi, về hướng nam".

- Tiếp đi - Sơn nhắc.

- Hôm sau tớ quyết định đi về thị xã Kra-chê. Tớ nghĩ Kra-chê là một thị xã, sát bờ sông Mê Kông. Ở đây nhất định tớ gặp được quân mình" hoặc có được tin tức chính xác. Đường về Kra-chê theo quốc lộ 13, rải nhựa nhưng lâu quá rồi lại chiến tranh liên miên, nhiều chỗ hư hỏng nặng, gặp ổ gà xe nảy tưng tưng, ngồi trên xe người chao đảo như lên đồng. Đã hơn một ngày rong ruổi, con ngựa đã thấm mệt, tiếng võ gõ trên mặt đường trở nên lạc điệu. Khổ thân con ngựa những lúc như thế lại phải chịu đòn. Quá trưa xe vào tới thị xã, tớ lao ngay đi tìm. Trời ơi, cậu không thể tưởng tượng được tớ hụt hẫng biết bao chừng nào, khi tớ vào thẳng cơ quan quân sự tỉnh đội hỏi thăm. Rồi được bạn thông bão: “Kon tóp Việt Nam đã về nước. Đơn vị cuối cùng rút khỏi Campuchia tại Phnôm Pênh cách đây cũng hai tuần, theo hiệp định giữa hai chính phủ". Nghe vậy Chănđara òa khóc.

- Sơn? - Bắc đột ngột hỏi.

- Gì thế. Thôi tiếp đi. Ruột gan mình đang lộn nhộn đây này.

- Tớ buồn đến phát khóc cậu ạ. Nhưng có Chăndara ở đấy tớ cố kìm. Đêm ấy ba người vào xin ngủ tạm trong một nhà chùa, nhưng nào ai ngủ được. Tớ và Chăndara ngồi đó, như hai cái bóng câm lặng. Non Chom-rơn nắm chặt vai tớ lắc mạnh: “Bắc đi Phnôm Pênh”. "Đúng, về Phnôm Pênh Bắc ạ". Tiếng Chăndara khấp khởi. Tớ đứng vụt dậy, chút nữa tớ gào lên vì sung sướng. "Phải, đến Phnôm Pênh, vào đại sứ quán Việt Nam, xin thủ tục về nước. Ngày mai, Chănđara, em không cần tiễn anh đâu, hãy trở về Arey khasat, Chănđara ạ. Anh cảm ơn em nhiều lắm". Chănđara đưa hai ngôn tay đặt lên miệng tớ: "Đừng nói thế Bắc".


Non Chom-rơn đã dậy, anh ta bước tới chỗ Chănđara và ngồi bên cạnh. Họ ngồi thế, im lặng hồi lâu, không gian nặng nề trôi. Chỉ có tiếng chân ngựa chồn chân bập bập vào đất là nghe rõ. Đột nhiên Non Chom-rơn hỏi Chănđara: "Thằng Chiết theo Pôn Pốt và đã chết trận, chị biết chưa?”. Ngươi đánh xe giận dữ: "Nó là đồ khốn!". Bất ngờ quá cậu ạ, gần như tớ lao tơi và kêu lên thảng thốt: "Chănđara. Chănđara đúng vậy không?”. Một cơn mưa ập tới đường đột. Tớ nhìn thấy từng hạt mưa rơi loáng nhoáng, qua anh đèn điện cao áp ngoài phố hắt vào. Tớ mường tượng trăm ngàn hạt mưa sa ấy, cồ cả nước mắt của Chănđara.


Thì ra cái hôm đó Son-thi-Chiết đùng đùng nổi giận vác kăm bắt đi khỏi nhà. Hắn căm thù Duôn, chính là tớ. Chăndara quyết định cứu tớ. Thế rồi mọi chuyện đã xảy ra. Tớ cũng không về Phnôm Pênh để xin về nước. Tớ nói vơi Chănđaara, giọng run rẩy, sợ Chănđara từ chối: “Chăndara, anh ở lại đây với em...". Một năm sau chúng mình đã có thằng Bắc Tít. Bây giờ đã mười năm, vợ chồng tớ mới về thăm quê nội...

- Anh Bắc ơi?

- Ai gọi? - Sơn hỏi.

- Chănđara.

- Chănđara ơi... ra đây, trăng đẹp lắm - Bắc ngoái đâu gọi vào.

- Cha (dạ) em ra ngay đây.

Chănđara khoác trên người một tấm khăn kroma, tay nhíu váy lăm xăm bước về phía Sơn và Bắc. Bắc đứng dậy nắm tay Chănđara chỉ dòng sông, nói:

- Đẹp không em?

- Đẹp, đẹp lắm, như Tôn-lê Mê Kông phải không Bắc?

- Ừ Mê Kông dài và rộng.

- Vâng, còn sông Hông nhiều phù sa.

- Người sông Hông thì sao Chăndara?

- Ừ… ừ… Em không nói đâu. Anh Sơn ơi, Bắc nói xấu Chănđara nhiều phải không?

- Không đâu Chănđara, em tuyệt lắm?

- Ối anh đừng nói vậy, xấu hổ lắm!

- Thật đấy! Em đã sinh ra Bắc lần thứ hai!

- Không. Chănđara chỉ giúp Bắc thôi. Bắc ở lại Campuchia em mừng, nhưng khi Bắc ngỏ lời lấy em thì em sợ.

- Sao vậy Chănđara? - Sơn hỏi. Em sợ sau này Bắc buồn. Bắc còn trẻ, ở Việt Nam, Bắc sẽ lấy được vợ đẹp Chănđara già rồi, hơn Bắc tới năm tuổi. Không xứng đâu.

- Ồ, Chănđara, Bắc không hề ân hận. Gia đình Bắc và cả anh rất tự hào về em?

- Chănđara không tin... không tin đâu.

Vừa nói Chănđara vữa vung tay dứ dứ. Bắc chạy ra xa ngoài vạt cỏ Chănđara đuổi theo. Bắc quay lại và vung tay múa hát.

"Krỏ: mun Arey khoát, miên s lịa k'bân, ót s lịa khao chơn thum, chă ríc so phiếp rùm tum, thô vơ ơi chất k' nhum, rum phớt, pếc cơ rây... Cà pứt kh nhum pụa mai, S'cơm teng riêng cai. Cùm oi chất ban chung kh'rúa, te cua á mị cha, ôn ch lơi chạ chờ rùm... chạ pữt, chạ boong chạ mứt, chạ miên cùm mứt, boong xen Sơ ne ha". (Cô gái thum Arey khsat, chỉ bận kờ bân, không mặc quần ống rộng. Đôi mắt của em, nhìn như hai mũi tên bắn thẳng vào tim tôi. Tôi ngỏ lời thương em, nhưng em bảo tôi già rồi. Tôi già thì già rồi, nhưng tôi già có ý tứ..." .


Trăng khuya như đậu xuống ngọn cây, ánh sáng mát lạnh. Sương rơi sót đẫm. Cỏ cựa mình kêu lách chách mơ hồ. Dưới kia, trên mặt sông, con thuyên đã nhổ neo đang từ từ tiến về phía cửa biển.


Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 3 - 1999


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:17:52 pm
Lứa đôi

Lê Thanh Huệ

Trước khi tôi về nhận công tác ở đây, cơ quan chỉ có Hà là nữ. Cô có vóc người mảnh dẻ, nước da trắng mịn, đôi mắt ươn ướt, mũi cao và thẳng. Mỗi khi Hà cười, hàm răng trắng đều đặn làm khuôn mặt sáng lên.

Tuy mới về cơ quan, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra ngay: cứ chiều đến là Hà thấp thỏm chờ anh nhân viên bưu điện mang thư báo đến cơ quan. Sau tiếng gọi “Hà có thư nghen”; cô làm bọ miễn cưỡng đứng dậy và cố làm sao cho bước chân của mình không nhanh quá, nhưng niềm vui lại cứ tràn ra trên khuôn mặt, trên khoé miệng và cả trong đôi mắt trong của cô nữa. Cầm chiếc phong bì nhỏ bé có nét chữ nghiêng nghiêng, đẹp một cách phóng khoáng, mắt cô ngấn lệ rưng rưng. Hà cẩn thận kẹp nó vào cuốn lịch sổ và cứ để nó đấy, lặng im tận hưởng sự hồi hộp, nỗi xao xuyến trào lên cho đến khi đêm buông hay lúc còn lại một mình, cô mới lấy chiếc kéo cắt chỉ bé nhỏ, xinh xinh, cẩn thận cắt một rìa phong bì sau khi đã ghi ngày nhận và bức thư số mấy của người yêu mình lên phía sau phong bì.


Những lá thư mang con tem quân đội có khi từ Bát-đom-boong, khi thì từ Pretvihia hay Xiêm Riệp (những địa danh nằm trên đất bạn) bay về với cô. Hà đã lên thành phố, đã ghé rất nhiều hiệu sách, lục tìm rất nhiều kiốt để tìm mua bằng được tấm bản đồ hành chánh Việt Nam-Lào-Campuchia đã cũ, trên đó ghi địa danh ba nước Đông Dương khá chi tiết. Những tên núi, tên sông xa lạ đó bỗng trở thành quen thuộc rất đỗi thân yêu khi Trọng đặt chân tới và có lúc Hà cứ nhầm tưởng như mình cũng đã từng sống ở đó, chiến đấu ở đó cùng anh. Quyển lịch của Hà chủ yếu dùng để ghi ngày tháng nhận thư Trọng, ngày Hà gửi thư cho anh. Cô ngồi nhẩm tính ngày thư đến tay anh rồi cộng thêm một khoảng thời gian nữa, Hà đánh dấu vào quyển lịch và coi đấy là ngày đón thư của Trọng gửi về. Đường hành quân dài theo năm tháng, có phải lúc nào thư cũng về đều đặn đúng hẹn đâu. Vào mùa mưa, đường thư tắc có lúc cả sáu tháng trời, đón một lúc gần chục lá thư. Vì vậy thường là quá ngày đón thư mà vẫn chưa có thư của Trọng. Hà lại bồn chồn đứng ngồi không yên. Hà nghi ngờ luôn cả sự cẩn tắc của anh nhân viên bưu điện. Chẳng có ai và chẳng có lời giải thích nào đủ để Hà yên tâm cả, trừ khi có cái phong bì bé nhỏ xinh xinh kia bay về với Hà.


Hà đang ôn thi vào đại học tại chức. Tôi giúp Hà giải các bài tập và hệ thống lại kiến thức. Mặc dù rất quí Hà, nhưng tôi vẫn phải nhận thấy: năng khiếu và sự thông minh tự nhiên của Hà không có gì đặc sắc, bù lại Hà rất chăm chỉ. Hình như ngoài việc ôn thi, công việc thường ngày của cơ quan và nỗi mong chờ những lá thư của người yêu ra, Hà không quan tâm đến những khó khăn trong cuộc sống. Hình như Hà cũng không có cả những dằn vặt, lo toán trong đời thường.


Tôi có người yêu ở gần. Anh là kỹ sư và học cùng lớp với tôi. Anh nhỏ tuổi hơn tôi nên sống buông thả. Tôi đến với anh bằng tình cảm của một người chị, người bạn rồi sau đó mới là người yêu. Tôi ít được quyền nhõng nhẽo mà phải lo toan, chăm sóc chu đáo, tận tuỵ người mà tôi yêu nên tôi vẫn tự cho mình là người vất vả nhất, bất hạnh nhất trong tình yêu. Nhưng hình như hạnh phúc lại là ở chỗ được hy sinh, được vì người yêu. Có lẽ vì vậy mà tôi chóng gần gũi và gần như đồng cảm với Hà hơn. Tôi rất ái ngại khi anh đến và tỏ ra âu yếm, tỏ vẻ quan tâm quá nhiều với tôi trước mặt Hà. Tôi rất thông cảm với Hà. Yêu một người lính là phải chấp nhận thiệt thòi. Ngày xưa số chị em có chồng và người yêu đi chiến đấu xa rất nhiều nên dẫu sao họ cũng không thấy đơn độc, lẻ loi, mà lại còn có phần tự hào vì có người thân của mình ra trận. Còn bây giờ người ta lo cho đời thường, người ta tính toán cho bản thân mình nhiều quá. Hình ảnh anh bộ đội trong cuộc sống hoà bình, yên ấm, ít được nhớ tới hơn. Những người như Hà phải sống trong chờ đợi và cả trong cái ồn ào say sưa của tuổi trẻ, của tình yêu đôi lứa, quanh mình, tránh sao được những phút xao lòng, buồn tủi. Đó là chưa kể nỗi lo con gái chỉ có một thời. Đợ chờ sẽ chóng mỏi mòn và tàn phai sắc hương để biết đâu rằng ngày về người mình yêu không còn chung thuỷ nữa.


Đã hai tháng nay tôi nhìn Hà bồn chồn mà thương, mà cảm thấy bất lực vì không dễ gì giúp Hà bớt đi lo lắng. Hình như linh tính báo cho Hà điều gì không ổn thì phải. Tình yêu đến là kỳ lạ. Hai người đã thương nhau hết lòng thì dù ở xa nhau đến mấy, người ta vẫn có thể cảm được những thay đổi của nhau, thậm chí cả những tai ương mà người mình yêu gặp phải. Và chính sự không rõ ràng đó, không chắc chắn đó làm cho Hà còn khổ tâm hơn. Tôi biết điều ấy nên đêm nay tôi bảo Hà nghỉ học bài. Dẫu sao cũng gần đến ngày Hà lên trường để tập trung ôn và thi rồi. Nghĩ vậy nên tôi kéo Hà ra sân. Ánh trăng như rửa tan đi những lo âu, day dứt, nét mệt mỏi, căng thẳng trên khuôn mặt Hà và làm nó trở nên hư ảo hơn. Gió thổi rất nhẹ mang cái lạnh mơn man da thịt.

-Hà quen anh Trọng trong trường hợp nào?-Tôi hỏi nhỏ.

-Ngày xưa em đâu có ngờ rằng mình lại là người yêu của lính. Chị có tin vào định mệnh không? Còn em, em cứ nghĩ rằng trong cuộc sống có những sự ngẫu nhiên giống như định mệnh vậy. Nó tình cờ đưa người ta đến gặp nhau để rồi sau đó gắn bó lại với nhau như một sự tất nhiên, như là sự sắp xếp trước của số mệnh con người vậy.

Giọng Hà đến đây tự nhiên sôi nổi hẳn lên:

-Hôm đó là một buổi chiều cuối năm nhợt nhạt. Mải suy nghĩ điều gì mà em không còn nhớ nữa, em đạp xe mải miết cho tới lúc lao xe vào bánh trước một chiếc xe đạp của ngườ khác từ trong hẻm đi ra. Em không thể quên được ánh mắt của người con trai đó khi anh dìu em đứng dậy. Đôi mắt đó vừa dịu đi phần bực bội trước vẻ lúng túng biết lỗi của em. Anh dựng xe của em dậy, loay hoay xem nó có bị méo mó hư hỏng gì không. Em nhìn vào kẽ tay bị rách của anh. Máu thấm ra đo đỏ dưới lớp da trắng xanh. Giọng anh nhẹ nhàng từ tốn: “Có bị làm sao không em? Đi sai đường rồi đó, lần sau nhớ cẩn thận nghen”. Rồi coi như chẳng có chuyện gì xảy ra, anh lặng lẽ xách chiếc xe đạp đã bị méo vành của mình rẽ vào lối nhỏ, mặc cho em đứng đó lúng túng ngượng ngùng. Suốt mất ngày tết em cứ bị chuyện ấy ám ảnh nên mất vui.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:20:28 pm
Hồi đó em còn đang học lớp 12. Mãi đến khi ba em về hưu và gia đình em chuyển về quê, em mới biết người đó là Trọng. Anh dạy học và cũng là xóm giềng với gia đình em. Em thi trượt đại  học và đang chờ xin việc ở cơ quan nào đó. Chính ở đây anh Trọng đưa em cùng các bạn thanh niên ở xã tham gia vào các hoạt động xã hội. Cùng tham gia lao động, văn nghệ, cùng đến thư viện đọc sách báo, và cùng sinh hoạt ở câu lạc bộ thanh niên xã do anh Trọng cùng với tập thể giáo viên tổ chức. Anh có nhiều tài lẻ: đàn hay, vẽ giỏi và kể chuyện rất có duyên. Không rõ từ lúc nào niềm kính phục, tin tưởng đã chuyển thành những rung động kỳ lạ khi em nghĩ đến anh ấy. Có cái gì đó không thực rõ ràng đã len vào tâm hồn em làm em vui, em buồn một cách bất thường. Nếu một ngày không được nhìn thấy bóng anh, em bồn chồn đứng ngồi không yên. Cứ ra vào vẩn vơ như người mất hồn vậy. Thế nhưng lúc được một mình với anh, em lại lo sợ. Một nỗi lo sợ mơ hồ, rất bản năng. Em hay hát những bài anh thích và trong ngôn từ của em thường có những câu chữ mà anh thường dùng. Bạn bề thường “cặp đôi” em với anh Trọng. Em ngượng, em tỏ vẻ khó chịu mà thâm tâm em lại rất thích. Nếu người ta quên “cặp đôi” cho em thì em sẽ tìm cách “cặp đôi” anh Trọng cho những ai mà em thấy không xứng với ảnh nhất, rồi thú vị xem ảnh đỏ mặt từ chối. Sổ tay em thôi ghi bài hát. Nó được dùng để ghi những câu triết lý vụn vặt về tình yêu, hạnh phúc, khổ đâu do em sưu tầm, do em nghĩ ra và do cả anh ấy vô tình triết lý. Em cứ sống mơ mơ, thực thực như vậy cho đến cái đêm hội diễn của huyện. Anh cởi dân đàn trên vai bước xuống sân khấu, người đầm đìa mồ hôi và tìm em. Ảnh khen em hát rất hay; “Do em rung động thật sự, cái đó còn hơn cả kỹ thuật Hà ạ”. Anh cầm tay em. Còn em, cứ như người đi trong mộng.


Hà ngừng lại. Tôi có cảm giác rằng mặt Hà đang đỏ bừng và ngượng ngùng khi nhớ lại hương vị cái hôn đầu tiên nhận được trong đời.

Trăng mười sáu đã lên được một con sào. Bầu trời có vài gợn mây đen đang bị gió đưa về phía mặt trăng.

-Rồi sau ảnh nhập ngũ phải không em?

-Không chị ạ-Như sực tỉnh. Hà nói tiếp:

-Từ đó cho đến ngày nhập nhũ là cả một câu chuyện dài. Chị ơi, em nhỡ có một nhà văn nào đó đã viết và rất chí lý “Tình yêu như một miền đất lạ, nhiều hoa hồng và cũng lắm chông gai:. Cả em và anh Trọng đều không hề biết những gì đang chờ đón bọn em.


Cho đến một hôm ba em nhắc em phải ở nhà. Ông có việc cần nói với em. Ba em là trung tá đã về hưu. Ba em đã từng vào sinh ra tử ở vùng đồng bằng sông Cửu Long từ cái ngày mới tổng khởi nghĩa cho đến lúc chiến tranh kết thúc. Với ba em: hạnh phúc nhất là những buổi tối cả nhà quây quần quanh bàn nghe ông kể chuyện đánh Pháp, đánh Mỹ, chuyện vui, chuyện buồn, cả chuyện đau lòng xót xa trong chiến tranh nữa. Nhưng lần này nhìn khuôn mặt nghiêm nghị của ba, em chột dạ. Ông bắt đầu hỏi han em về những buổi sinh hoạt, về quan hệ bạn bề và cuối cùng ổng đi vào vấn đề chính:

-Nghe bạn bè của con, nghe dư luận của chòm xóm và qua những thay đổi của con, ba mẹ rất buồn. Ở tuổi con, khi chưa có nghề nghiệp gì cụ thể mà dính tới chuyện yêu đường là sớm. Con thi rớt đại học đã lâu mà chẳng thấy con tính chuyện thi lại. Con muốn đi làm ở một cơ quan trong huyện ta có phải vì động cơ muốn gần thằng Trọng không? Bao nhiêu người tốt đẹp con không thương mà đi thương một con người như vậy. Ba rất tự hào về truyền thống của gia đình ta. Con tính bôi nhọ thanh danh của ba, của má và chính của con nữa hay sao? Ba không thể ngồi cùng bàn với ông Chín được, nói chi chuyện sui gia…


Thực ra em và anh Trọng chưa lường đến chuyện hai ông trung tá phục vụ hai chế độ, người về hưu, kẻ bại trận sẽ phải ngồi bàn chuyện tương lai cho những đứa con của mình. Em cũng quên chưa kể cho chị nghe về ông Chín: ba của anh Trọng và cả gia đình anh Trọng nữa. Ông là trung tá nguỵ. Ngày mới về, chính em cũng thấy ông Chín là người kỳ quặc. Ngày hai buổi ổng ngồi với chai rượu trên bộ giường gỗ đã lên nước bóng loáng, mọt đục thủng lỗ chỗ. Thỉnh thoảng ông mới ra khỏi nhà đi mua lít rượu. Đôi mắt ổng chẳng nhìn ai. Ổng không trả lời cả khi bà con chòm xóm chào hỏi ông: dù là cái gật đầu chiếu lệ. Lẽ trẻ con chạy theo nhìn ổng như người khùng, ổng cũng mặc. Người mới gặp ổng lần đầu ngỡ ổng bị câm và điếc. Chỉ đến ngày tết ổng mới nói chuyện với những ai đến nhà chúc tết vừa đúng một câu: “Bà con thông cảm cho tôi. Ngày thường gặp tôi xin đừng chào hỏi cho đỡ mất công. Giờ tôi đã là người thừa rồi. Với con cái tôi cũng chẳng có quyền hành, nói chi đến xã hội”. Ổng đã từng đi lính cho Nhật, cho Pháp, rồi đến Mỹ. Mấy người anh của Trọng. Người là sĩ quan không quân, người là lính dù thời nguỵ. Trọng là người duy nhất trong nhà không phải đi lính vì buổi ấy ảnh còn nhỏ tuổi. Sau ngày giải phóng, ông Chín đi học tập cải tạo và về sau cùng so với mấy người trong nhà. Công việc buôn bán khó khăn nên bà Chín phải đưa cả nhà về quê làm ăn sinh sống. Anh Trọng nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống mới bằng cả niềm tin và sức trẻ của mình. Anh học giỏi tự nhiên và mơ ước trở thành kỹ sư xây dựng.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:21:35 pm
Ông Chín từ trại cải tạo về. Đáng lẽ cuộc sống gia đình sẽ yên vui và đầm ấm hơn, ai ngờ lại ngược lại. Ông chẳng vui vẻ trước việc bà Chín và các con của ông vào tập đoàn sản xuất, đem hiến mảnh đất của ông nội bao nhiêu năm gây dựng vào đất chung của tập đoàn. Đã thế vợ con ông lại hay nói về chính sách, chế độ. Cứ như nhưng kẻ trêu ngươi, ông càng tỏ ra khó chịu bao nhiêu thì lũ trẻ càng say sưa với các hoạt động xã hội bấy nhiêu. Khi ông quyết định dọn nhà về thành phố tiếp tục sống bằng nghề buôn bán, cả nhà không nghe ông: điều mà từ trước đến nay chưa hề xảy ra. Ông bắt đầu thấy địa vị của mình trong gia đình đã bị mất. Ngày xưa mình ông lính dư sức nuôi cả nhà, nay vốn không quen cày cuốc, ông trở thành kẻ ngồi không ăn bám vợ con. Ngày xưa làm cấp trên của bao kẻ, ông không chịu được sự khác ý của cấp dưới thuộc quyền khi ông ra lệnh, nói chi tới vợ tới con. Vậy mà giờ đây đến vợ con ông cũng muốn leo lên hơn ông là đằng khác. Khi ông kiếm cớ cằn nhằn vì không thể la hét cho nguôi bực bội thì hình như vợ ông và các con ông lại nhìn ông với con mắt thương hại, coi những lời ông nói là triệu chứng của bệnh lẩm cẩm, khó tánh khi về già.


Anh Trọng thi rớt đại học, mặc dù anh học rất giỏi. Với ông Chín, đó là điều không thể xảy ra được nếu như người ta không cố ý đánh trượt con ông. Ông cay dắng nhận ra rằng: “Chẳng có chỗ đứng cho con ông ở xã hội này. Cần phải đưa nó vào con đường làm ăn buôn bán. Chế độ có thể đổi thay, nhưng tiền vàng thì ở thời nào cũng cần thiết cả”. Ông đã nói thẳng với cả nhà và chòm xóm như vậy. Ông không ngờ Trọng lại vui vẻ nhận giấy nhập học trường sư phạm của tỉnh. Những tiêu cực, những khó khăn trong cuộc sống bắt đầu sinh sôi như một nạn dịch làm ông Chín hể hả. Nhưng như có một ma lực nào đó, các con của ông, bà vợ của ông cứ bị cuốn vào cuộc sống mới, bất chấp những gian khổ ngày càng nhiều hơn. Từ đó ông lấy rượu làm vui, lấy im lặng làm sự thách thức với con cái, với gia đình và với cuộc sống. Sau một thời gian bàn tán xôn xao rồi xóm làng cũng coi là chuyện thường tình. Chỉ với gia đình thì sự im lặng đó là cả một gánh nặng bức bối. Nó trở thành bức tường cản trở mọi bạn bè khách khứa của anh Trọng và mọi tìh cảm tươi vui của gia đình. Chính vì vậy mà học xong, anh Trong không chịu ở lại trường để học tiếp hàm thục đại học. Anh xin về dạy học ở xã nhà để mong chóng được dạy các em và thay đổi lại không khí gia đình.

-Theo con nghĩ thì vấn đề quan trọng hơn là ở chỗ anh Trọng sống trong những dằn vặt ấy mà vẫn tốt. Trong sự đấu tranh giữa hai tư tưởng ấy mà vẫn trong sáng mới quý chớ. Sao ba lại không ưa những người như vậy…

Em chưa nói hết câu thì ba em đã đấm tay xuống bàn làm rung cả bộ ly. Xưa nay ba em chưa bao giờ tỏ ra bực bội trước mặt con cái đến mức như vậy. Ông gắng lấy lại bình tĩnh và nén cho giọng nói có vẻ ôn hoà, nhưng câu từ cứ thoát ra ngoài ý muốn:

-Con, cái! Cứ theo tụi nó đàn đúm là hỏng bét. Mất hết cả quan điểm giai cấp, mất hết cả giáo dục. Giờ thì nó phải tốt hơn cha mày chớ. Si mê rồi con ạ. Cứ đà này rồi nó rủ rê vượt biên con cũng đi. Đừng nhìn vào bề ngoài mà lầm tưởng, mà mất cảnh giác nghe con-Rồi ba em dằn từng tiếng: Cấm! Từ nay ba cấm con tiếp xúc với thằng đó. Nghe rõ chưa?! Mày phải biết bảo vệ thanh danh của mày, của cha mày, của cả nhà mày. Nghe rõ chưa?!


Sự việc đột ngột quá. Em chạy vội vào buồng nằm khóc tức tưởi. Ba ơi, sao ba cứ quan trọng hóa vấn đề lên đến mức như vậy. Ba là người chiến thắng mà sao ba không công nhận sự tiến bộ thật của con cái họ và để cho con cái họ chung sống, cùng xây đắp cuộc đời với mình. Xã hội ta còn có bao nhiêu người chưa tốt, chưa nhiệt tình với công việc, còn kém xa anh Trọng mặc dù họ mang danh này kia, họ có bao công trạng. Ngoài đời ba vẫn nói xá bỏ chuyện cũ và đánh giá con người qua hiệu quả công tác v.v… Vậy tại sao ba lại cấm. Tiến bộ là con đường chung cho tất cả mọi người chứ đâu phải là đặc quyền đặc lợi riêng mà chỉ có con em của những người có công với kháng chiến mới được quyền đi trên đó…


Bao câu hỏi, bao điều uất ức mà em không có quyền bày tỏ với ba em được nên em phải làm cuộc chiến tranh lạnh với gia đình. Em gắng tiết kiệm lời nhất. Chỉ “dạ” khi thấy thật cần thiết. Nhưng chị ơi, tuổi trẻ không thể làm thế được, em không thể im lặng được khi mà chính em lại cần có người chia sẻ nỗi đau của mình. Em tìm  đến má. Má em cũng như bao người mẹ khác: đều hiểu con mình bằng trái tim, suy xét mọi việc bằng chính tình cảm của mình. Mà biết em đúng và thâm tâm má cũng quý “thầy Trọng” nhưng má không đủ lý lẽ để thuyết phục ba. Cho nên sau vài lần góp ý không thành, lại bị những từ ngữ quan trọng hóa vấn đề của ba về thanh danh của gia đình, về sự hư hỏng sẽ đến với em, má đành đứng về phía ba và mong em tìm lấy một giải pháp hoà bình, giàu yêu thương nhất.


Cuộc sống trong gia đình nặng nề hẳn đi. Nó thường bị khuấy động lên sau bữa cơm chiều buồn tẻ. Ba vừa xỉa răng vừa nói với em:

-Bộ mày không vui được hay sao Hà? Vững lên con, đừng mềm yếu quá, sống phải có lập trường chớ. Ngày xưa bao người còn phải hy sinh hạnh phúc riêng tư vì cách mạng mà vẫn vui lòng tự nguyện đó con…

Thế là em bắt đầu đưa bà vào cuộc luận chiến. Em chứng minh và ba bác bỏ. Em dựa vào cái lý bác bỏ của cha để dồn ông tới chân tường. Bao giờ cũng thế, vào lúc căng thẳng nhất, thằng Đức em út của em cũng tiếp sức cho chị của nó. Nó khoe thầy Trọng của nó vẽ đẹp, đàn hay, mỗi giờ giảng bao giờ thầy cũng kể một câu chuyện lý thú có liên quan đến bài học. Được một thầy giáo dạy giỏi như thầy của nó làm chủ nhiệm là niềm tự hào. Thầy Trọng nó còn dám đấu tranh với tội ăn hối lộ của thầy hiệu trưởng kia mà v.v… và v.v…

-Sao lại ghét một thầy giáo tốt như vầy, mà chính ba bảo con phải nghe thời thầy chủ nhiệm? Sao ba lại cho con đi học với người ba không thích.

Đến lúc đó ba hoàn toàn đuối lý phải dùng quyền làm bố để buộc em và thằng út không được nói nữa. Thế là cả buổi tối mất vui và những chuyện không vui ấp đều núp bóng tình thương, tình mẫu tử mới lạ chứ.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:22:35 pm
Em muốn mặc kệ tất cả để được tự do quan hệ với anh Trọng, nhưng em lại sợ ba và thực lòng em cũng không muốn ba má em buồn phiền mãi. Giữa tình yêu và tình mẫu tử, em không biết dung hoà thế nào cho trọn cả đôi bên. Day dứt mãi rồi em quyết định chọn lối thoát trong sự dối trá. Bí mật quan hệ, trao đổi thư từ với anh Trọng và làm ra vẻ phục tùng cha mẹ. Em cũng không hiểu tại sao lúc đó mình không thấy xấu hổ mà còn cảm thấy thú vị nữa là đằng khác. Cứ y như truyện trinh thám vậy. Nhưng bằng cách nào đây? Cũng may em còn có đồng mình của mình. Chị cứ nghĩ mà xem. Người tốt nhất cũng có người ghét và kẻ tồi nhất cũng có người thương, huống chi em. Trong nhà còn lại thằng út. Với nó thầy Trọng là tài ba nhất trên đời. Vì vậy nó vui mừng bao nhiêu khi người ta bàn tán về tình yêu của chị gái nó với thầy Trọng thì nó ngạc nhiên và tức tối bấy nhiêu khi nghe ba má rì rầm bàn cách cản phá chị nó đến với thầy.

-Ba má là những người tốt phải không chị-Thấy em gật đầu nó hỏi tiếp: Thầy Trọng cũng tốt chớ-Không đợi em trả lời, nó hỏi luôn:-Tại sao những người tốt lại chẳng thích nhau?

Chẳng ai giải thích mà nó đồng tình và thoả mãn cả. Nó trở thành đứa bé láu lỉnh. Nó xa lánh và cảnh giác với ba má hơn. Trước mặt ba má nó tỏ vẻ ngây thơ khờ dại, nhưng khi còn có hai chị em với nhau, nó công khai ủng hộ em. Đức trở thành liên lạc viên, bảo vệ rất nhiệt thành cho em tránh khỏi sự kiểm soát của ba má.


Nhưng chẳng bền lâu. Không ai có thể qua mắt được những người sống chung một nhà. Ba em phát hiện được rằng con gái ông vẫn hay gặp Trọng. Ông nổi giận khi thấy mình bị lừa dối. Tiếng ông nghẹn lại: “Cả nhà này chỉ có giá trị như một vật thử thách cho tình yêu của chúng mày”. Và ông cũng chợt hiểu rằng sự nóng nảy thô bạo chỉ làm cho chúng em gắn bó với nhau thêm.

-Không thể đốt chát giai đoạn được. Sau khi bình tâm lại, ba em sôi nổi bàn bạc với má: Viên đạn bắn ra hoặc là giết chết con chim hoặc làm nó sợ hãi bay mất. Cần phải công phu, có điểm, có diện, tuần tự từng bước. Má nó lãnh phần đánh vào tình cảm, tôi dùng biện pháp cứng rắn. Đòn cuối cùng đánh vào danh dự bọn nó và nếu không thành (là tụi nó liều) thì tôi sẽ bố trí cho má nó cùng nó về bên ngoại để cách ly nó ra khỏi thằng Trọng.

Thế là cả nhà có ngay một kế hoạch hoàn hảo nhằm đối phó với em.

Hễ Trọng vừa nắm tay em đi dưới hàng dừa mọc ven kinh, hễ chúng em vừa tách ra khỏi đám đông là đã thấy má em xuất hiện “xin lỗi thầy Trọng” và gọi “Con Hà về nhà có công chuyện”. Em bị săn đuổi, bị dò theo từng bước chân. Chưa đủ, ba má còn vận động bạn bè em, bà con chòm xóm thân thiết nhất lời khuyên can em. Lúc đó má em ngồi khóc và kể lể công lao nuôi dạy em khi vắng ba, trong cảnh cơ cực và bị bọn tề nguỵ o ép. Em xót xa, em ngượng, em cảm thấy mình bị xúc phạm.


Bất ngờ hơn là hành động quyết liệt của ba em. Ông gặp luôn anh Trọng không phải với tư cách phụ huynh học sinh, mà với tư cách người cha có con gái bị “Anh mê hoặc”, yêu cầu anh hãy để cho “em nó được yên và để nó còn lo cho nghề nghiệp của nó”. Anh Trọng đành phải chấp nhận và thông báo cho ông hay là anh đã xin được việc phù hợp với em. Ba em gạt đi, vì rằng không ghể để người khác lo cho con mình “khi tôi đang sống”…


Chị ơi! Nếu giận ai đó, bực bội điều chi ta có thể nguyền rủa hoặc cấu xe cho nguôi đi cơn bực. Nếu ta bất lực thì ta còn trả thù bằng sự khinh bỉ và nỗi căm hờn chôn chặt trong tim. Đàng này giận cha mẹ chỉ biết nuốt giận, cắn răng chịu đựng một cách dai dẳng. Giận mà thương. Giận mà chỉ còn biết chết đi cho hả.


Chị ơi, đã có lúc nào chị phải sống trong tuyệt vọng chưa? Trong hoàn cảnh đó, đáng lẽ anh Trọng phải động viên em và tìm cách vượt qua thì anh lại khuyên em thôi đành phải dừng tình cảm lại. Tình cảm chứ có phải là cỗ xe đâu mà dừng nó lại được. Đầu óc con người chứ đâu phải là cái máy tính điện tử để khi cần thì đem xoá đi ổ nhớ cũ và thay vào đó chương trình khác. Làm sao anh có thể đền bù cho em sự day dứt, khổ nhục và tan nát đó. “Vì danh dự của anh bị xúc phạm quá nhiều, thanh danh người thầy bị tổn thương quá lớn, anh xin em thôi đành hy sinh tình cảm thiêng liêng, trong sáng của chúng mình”. Vậy đó chị ơi! Đàn ông vẫn chỉ là đàn ông. Họ sẵn sàng hy sinh hết vì danh dự, thậm chí để bảo vệ hư danh mà đâu cần biết đến sự đau khổ của người khác?


Nhưng em chẳng thể sống mãi trong trạng thái tuyệt vọng đó. Anh Trọng xung phong đi bộ đội và đã trúng tuyển, chỉ còn chờ có ngày lên đường. Anh muốn trốn tránh dư luận, trốn tránh tình yêu, trốn tránh gia đình của anh hay anh muốn sống trong môi trường nhiều thử thách nhất để chứng tỏ mình? Em không biết vì sao nữa, chỉ biết nghe tin anh đi bộ đội thật, ông Chín tự nhiên đổi tính đổi nết. Ngay giữa ban ngày, ông đã tát cho anh một cái nảy lửa. Rồi bất chấp xóm làng nhìn vào, ông chửi rủa cái tính “điên khùng” của anh. Ông không tin xã hội này có chỗ để Trọng tiến bộ, “Đó, ngay cả nhà ông Năm đó cũng đâu có muốn mày, đâu có chấp nhận mày chỉ vì cái lý lịch của mày thôi. Có nhục nhã cho tao, cho mày không Trọng?!”


Ba em chắc là hả hê lắm, vì theo ông, cuối cùng thì thực tế cũng đã “mở mắt” cho em. Ba em cho rằng, vậy là với cách phản ứng như vậy của ông Chín, anh Trọng sẽ không được nhập ngũ nữa. “Quân đội mình là quân đội cách mạng, nó phải được chọn lựa kỹ càng”. Ông nói với em như vậy. Cho nên ông vô cùng bất ngờ khi biết ngày Trọng lên đường nhập ngũ do thằng Đức thông báo. Ông “hừ” một tiếng mà không bình luận gì.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:24:24 pm
Buổi anh Trọng lên đường, em và thằng Đức cứ đi tiễn anh Trọng. Ra khỏi xóm, gặp bà Chín đang lỉnh kỉnh bao thứ. Bà kể lể: Sáng ra anh Trọng chỉ ăn qua loa rồi xáo đống đồ đạc mà bà Chín đã chuẩn bị sẵn cả đếm, chọn lấy mấy thứ cần thiết rồi đi. Ngang qua cửa, ảnh đã thấy ông Chín ngồi đó nhìn trân trân. Anh chào “thưa ba, con đi” nhưng ông chẳng nói năng gì cả. Bà Chín rơm rớm nước mắt: “Ông tệ quá, con cái ra đi mà cả một lời chào của nó ông cũng không ừ lại được”.


Thằng út nóng ruột nên bước lên trước. Chỉ còn lại em và bà Chín. Nơi nhận quân đã đông. Em cầm tay bà Chín tất tưởi len qua mọi người để tìm anh Trọng. Không hiểu sao lúc này em cảm thấy gắn bó với bà Chín. Bàn tay gầy gộc nhăn nheo của bà Chín cũng ấm như bàn tay má em vậy. Gặp anh Trọng đang bị các em học sinh và bạn bè vây quanh, bà Chín vừa khóc vừa nói:

-Con quên mấy thứ ở nhà. Má đem thêm cho ít bánh nữa để tới đơn vị có cái mời mấy ông chỉ huy và bạn bè mới. Đi đường đừng ăn bậy đau bụng nghen con. Cơm, bánh má để cho trỏng. Cả thuốc nữa. Hút ít thôi…


Anh Trọng xấu hổ thật sự. Đúng lúc đó có tiếng reo của thằng Đức: “Thầy Trọng ở đây ba nè!”. Ba em đến thật. Em và anh Trọng bối rối trước cú “kiểm tra đột xuất” này. Còn ba Chín thì cứ như gà mắc tóc vậy, không biết có nên chào, nên thanh minh giùm em điều chi hay thôi. Ba em đứng đó lặng lẽ không nói một lời. Hình như sự có mặt của bà Chín, của một người mẹ tiễn đưa con mình lên đường làm ông thấy khó xử. Rồi cũng đột ngột như lúc đến, ông bỏ đi.

-Như vậy là mọi cái đã được giải quyết xong!

Tôi thở phào. Nhưng Hà vẫn buồ tầu im lặng. Lúc này tôi mới nhận thấy mình đã quàng tay ôm lấy Hà từ lúc nào. Mây đen cũng đã dồn lại tự lúc nào không biết. Gió thổi mạnh hơn và lạnh hơn. Bầu trời tối lại. Xa xa lấp lánh hai ngôi sao rất sáng nằm ngay trong khoảng nhỏ quang mây. Vậy là gió sắp đuổi mây không cho nó che mất trăng hoặc mưa sẽ rơi xuống. Tôi và Hà cùng vào phòng. Ngồi xuống giường, Hà buồn rầu kể tiếp:

-Chưa phải vậy đâu chị. Ba em vẫn chữa có thay đổi nào cả. “Vấn đề vẫn là ông Chín”, ba nói thế. Nhưng cục diện đã thay đổi rồi, ba đành phải im lặng khi thấy em và thằng út hay qua lại nhà bà Chín thăm nom, giúp đỡ. Cũng có thể gia đình bộ đội neo người, chẳng nhẽ lại cấm, cũng có thể ba nhớ lại rằng ngày xưa má và ông bà ở nhà cũng được bà con chòm xóm đùm bọc. Chỉ có má là người hiểu em nhất. Má thông cảm với nỗi bồn chồn của em khi thiếu anh Trọng, thiếu tin tức về anh. Má cứ rơm rớm nhìn em. Hình như cả quãng đời đằng đẵng mong chờ tin ba của má ngày xưa đang tái hiện ở em một cách mãnh liệt hơn. Cũng bằng con tim của người mẹ mà má đã tác động vào ba. Ba nhìn em âu yếm hơn và tránh nhắc lại chuyện xưa.


Riêng ông Chín vẫn giữ thái độ im lặng cả khi anh cán bộ chính sách mang tấm bằng gia đình vẻ vang đến nhà. Chỉ những lúc có em và thằng út trong nhà, ông mới vui vẻ bắt chuyện với em. Rồi những ngày thương binh-liệt sĩ, ngày họp mặt các gia đình quân nhân, tuy để bà Chín đi nhưng em biết ông cũng đang bị khuấy động.


Cho đến ngày có anh bộ đội về thẩm tra lý lịch của anh Trọng để kết nạp anh vào Đảng thì em thấy vui thật sự. Em tung tăng đi mau các thứ anh Trọng cần, anh thích để gửi cho anh. Em ngồi bên cửa sổ thêu khăn. Vừa đưa đường kim em vừa hát nho nhỏ. Anh bộ đội, ghé nhà em để “xem mặt” và phần chính là thăm thủ trưởng cũ của mình. Ba và ảnh đã trò chuyện suốt cả chiều đó. Từ thăm hỏi tâm tình đến những vấn đề, những quan điểm v.v… Chẳng rõ anh có sứ mạng nào trong chuyện tình cảm của chúng em không, nhưng thấy anh cùng ba tranh luận sôi nổi lắm. Có lúc tiếng của ba rất to: “Vấn đề tôi đang vương vấn là ông Chín đó. Chẳng lẽ tôi mang danh một người trung tá cách mạng, nay lại ngồi cùng bàn, uống chung ly rượt với một trung tá nguỵ. Lại phải cười với nhau. Rồi cả đời gắn với nhau vì tụi nó? Được không?”. Tiếng anh bộ đội: “Nhưng làm sao thủ trưởng đưa ổng đi trên con đường của mình mới gọi là tích cực, mới gọi là tính ưu việt của chế độ ta chó. Ngày xưa ta cũng binh vận, cũng giáo dục mà…”.


Thư tiếp anh Trọng  báo tin đã được đứng trong đội ngũ của Đảng. Tuy không ồn ào nhưng cả nhà vui, niềm vui ai cũng cố giấu. Ba khen: “Thằng nhỏ coi vậy mà khá”. Thấy vậy em chớp thời cơ đọc cho ba nghe đoạn anh kể về những cuộc hành quân truy quét bọn tàn quân Pol Pot trong mùa khô. Những lần tiếp cận địch, khát nước đến quẫn trí. Biết rằng chờ thêm vài chục phút nữa cho đúng giờ hợp đồng tác chiến là lại thêm vài chiến sĩ hy sinh vì khát nước mà đồng đội, mà anh em phải nghiến răng chịu đựng… Ba em im lặng rân rấn nước mắt. Em biết quãng đời gian lao đầy dũng cảm và đầy tình đồng đội khi xưa lại tràn về trong ký ức ba.

Nhưng đến khi anh Trọng được phong thiếu uý quyền đại đội trưởng và ông Chín vui như mở cờ thì em mới thấy hết những gì mà ba lường trước.

Với ba thì việc ảnh được vào Đảng là quan trọng nhất, còn với ông Chín thì việc ảnh được “thăng cấp”, lên chức mới là quan trọng, mới đáng vui, còn chuyện vào Đảng chẳng đáng để ông chú ý. Hai ông già hãy còn khác nhau về chính kiến, về quan điểm như vậy làm sao ngồi lại “đàm phán” với nhau được, nói chi đến chuyện “đàm đạo”. Có điều may mắn là cả gia đình em cũng bị cuốn vào nhịp sống mong chờ của em rồi.


Chị ơi, đã lúc nào chị có người yêu là lính chưa? Ngày xưa em thơ ơ với thời cuộc lắm. Còn bây giờ, mọi tin tức, mọi điều liên quan đến bộ đội, em theo dõi kỹ lắm. Đến lời một bài ca về lính, đến một câu hát “Tiến bước dưới quân kỳ” thôi cũng làm em rạo rực như chính em là bộ đội vậy. Nghe nó, trái tim em nghẹn ngào. Nghe nó, nước mắt em ứa ra. Chị ơi, có phải phụ nữ chúng mình thường bắt đầu một sự nghiệp, hướng tới một lý tưởng từ tình yêu thương một con người cụ thể. Có phải vậy không hở chị?”.

-Chị không rõ nữa-Tôi trả lời Hà-nhưng phụ nữ chúng mình vốn nặng tình cảm hơn. Thế còn lá thư mới nhất của anh Trọng viết cho em từ ngày nào?

-Dạ ngày 18 tháng 4 chị ạ. Đến nay đã trọn 6 tháng bảy ngày rồi đó. Để em lấy thư ảnh cho chị coi nghen.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:26:23 pm
Hà đứng dậy mở valy lấy cái hộp bằng gỗ thông rất đẹp mở ra và trao cho tôi phong thư nhỏ đã thơm mùi nhựa thông. Tôi cẩn thận lôi tờ giấy học trò ra khỏi phong bì:

“Tà Bong Meng Chay ngày 18 tháng 4 năm…

Hà em!

“Anh đã nhận được thư em. Đồng đội anh đọc đi, đọc lại hoài mà cứ bật cười vì câu em viết. Anh ghi lại nguyên văn nhé. Không cần xem lại thư em đâu, chính anh cũng thuộc: “Một năm có 365 ngày, Mỗi ngày có 24 giờ, mỗi giờ có 60 phút và mỗi phút có 60 giây. Em xa anh đã ba năm 1 tháng hai ngày. Như vậy tính ra có đến hơn một trăm triệu giây xa và nhớ, mong và chờ. Còn anh, anh dành cho em được bao nhiêu phút, bao nhiêu giây trong hơn một trăm triệu giây đó!”. Mấy ảnh bảo em tính còn chưa chi li. Bởi một ngày sống trong đợi chờ dài bằng một… ngàn thu đó. Ở đây ngoài nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, các anh còn có thêm một nỗi nhớ Tổ quốc nữa. Em tính hộ xem và nhớ tính xem nên nhân với hệ số bao nhiêu. Nhiều câu em viết thành câu cửa miệng của bọn anh. “Tình bạn cũng cần có sự thuỷ chung, huống chi tình yêu”. Đồng đội của anh bỏ bớt vế sau để làm câu “răn đe” nhau đó. Mới hay bé Hà của anh giỏi lý sự lắm.

Em! Đơn vị anh mới được rút về thị xã này vừa để bảo vệ nhân dân, vừa giúp bạn xây dựng một nhà máy nước. Chưa quen địa hình nên đêm đầu tiên bảo vệ cho đồng bào Campuchia xem phim, bọn tàn quân Pol Pot đã lén đến tung lựu đạn vào giữa bà con đang xem phim. Cũng may nơi đấy có một chiến sĩ đơn vị anh đang làm nhiệm vụ. Thời khắc quý giá biết bao. Người chiến sĩ không có thời gian để định hướng nên nhặt nó ném về đâu mà chỉ kịp nằm đè lên nó.

Ai là kẻ thù của bọn Pol Pot? Người dân vô tội, mảnh đất giàu có hay bầu trời Campuchia? Tại sao phải lén lút và hèn nhát đến vậy?

Đưa thi thể của người liệt sĩ đó lên máy bay đem về nước, có cả đồng bào Campuchia nữa. Và hôm sau, có chục tên tàn quân ra hàng vì đã tận mắt chứng kiến hành động quên mình vì đồng bào Campuchia của người anh hùng đó…”.

Hà về trường để tập trung ôn thi. Cô nhờ tôi nhận thư giúp: “nếu có điều kiện, chị đưa lên cho em nghen”.

Và kỳ lạ thay, tôi cũng bị lây cái thấp thỏm chờ mong của Hà. Cho đến sáng nay, một anh bộ đội mặc quân phục mới còn nếp là, có nước da sạm đen và đôi mắt to đến tìm Hà. Bằng linh cảm tối biết đó là Trọng. Cả cơ quan tôi đón anh như một người thân vừa đi xa về. Là con trai nhưng đôi má anh hơi bầu bĩnh. Khi cái miệng tròn nhỏ nhỏ của anh nở nụ cười, lộ ra bộ răng khấp khểnh, ám khói thuốc lá. Trọng có nhiều nét hao hao giống Hà, cứ như hai anh em vậy.

-Ông cụ mời tôi đến chơi và trò chuyện suốt đêm chị ạ. Đấy là một con người sống rất thật, rất tốt và giàu nhiệt huyết.

Tôi chie vết sẹo dài trên cánh tay phải và hỏi tiếp:

-Anh Trọng bị thương hồi nào?

-Cách đây gần 6 tháng rồi.

“Lý do chậm thư đây”. Tôi thầm nghĩ và hỏi tiếp về trường hợp bị thương của anh. Trọng mỉm cười:

-Cũng như những anh em thương binh khác thôi, bị thương trong lúc làm nhiệm vụ.
Rồi Trọng lảng sang chuyện khác. Phải công nhận Trọng nói chuyện rất có duyên và luôn luôn nhìn thẳng vào mắt người trò chuyện với mình một cách tự nhiên. Ánh mắt đầy cảm thông và khích lệ, cứ y như thầy nhìn và nghe học trò của mình nói vậy. Trọng có một năng khiếu thật đặc biệt: luôn đưa người ta ra khỏi những lời khách sáo, xã giao một cách nhanh chóng, rồi giúp họ nói ra những suy nghĩ, những tâm tư của mình một cách thoải mái. Nghĩa là khi trò chuyện với Trọng, người ta cảm thấy có bầu không khí ấm cúng đáng tin cậy và tự nhiên họ muốn nói thật, nói một cách vui vẻ, thoải mái.

Chiều đó Trọng lên trường tìm Hà và để lại cho tôi những suy nghĩ vẩn vơ…

Xe vào bến, tôi và Hà xuống xe.

-Làng em ở kia kìa.

Tôi đưa mắt nhìn theo tay Hà chỉ: Giữa biển lúa vàng lăn tăn ngàn vạn con sóng đuổi nhau lấp lánh dưới nắng ban mai còn mang màu đục mờ của sương sớm, nổi lên những đảo dừa xanh ngắt thấp thoáng bao mai ngói đỏ tươi. Tiếng Hà thầm thì bên tôi:

-Em đã sống ở đó mấy năm trời mà mỗi lần đứng ở đây nhìn về xã nhà, em cứ ngỡ đàng sau đường viền xanh bằng cây trái đó là cả một thế giới thần tiên-Xách đồ đạc lên, Hà vừa đi vừa nói tiếp: Mùa xuân sắp đến rồi, chị nhỉ. Trời năm nay lạnh hơn mọi năm. Chỉ còn hai mươi lăm ngày nữa là tròn năm năm em gặp anh Trọng lần đầu tiên…

Tôi mỉm cười trêu Hà:

-Chắc em sống vì kỷ niệm đó cưng?

Xe lam đưa chúng tôi về đến ngõ ngôi nhà lợp bằng lá dừa và vách cũng bằng lá.

-Nhà em đó.

Tôi ngạc nhiên vì trí tưởng tượng của tôi bao ngày qua vẽ lên một ngôi nhà xây có nhiều phòng và nhiều cửa sổ hắt ánh nắng mặt trời đã được lọc qua tán lá xanh dày bao quanh nhà. Tôi tưởng sẽ thấy tại phòng khách một ông già quắc thước đang ngồi uống trà bên bộ sa lông màu mận chín cùng ai đó.


Nhà đang có khách. Tự nhiên Hà cầm tay tôi bóp mạnh rồi kéo tôi đi vòng cửa sau. Em chỉ cho tôi một ông già cao to, nước da xanh xạm, ốm yếu, khuôn mặt to đầy nếp nhăn và trông có vẻ quen. Hà thì thầm vừa đủ cho tôi nghe bằng giọng hồi hộp thật sự:

-Ông Chín đó. Còn kia là ba em.

Ba của Hà cũng cao lớn nhưng khuôn mặt toát ra vẻ từng trải, dãi dầu sương gió trông rất đĩnh đạc mà nhân từ buộc người ta có cảm giác kính trọng ngay từ lúc mới nhìn thấy. Tiếng ông Chín không được tự nhiên lắm. Hình như ông đang lấy hết nghị lực, để đẩy bật cái điều ông vẫn nấu nung lâu ngày trong lòng thành lời nói:

-Tôi biết… anh Năm và tôi cũng… khó thông cảm được với nhau-Rồi giọng ông mạnh lên, cứng cỏi: Chẳng ai thay đổi được ai theo ý của mình cả. Có điều như tôi nghĩ thì chắc anh cũng thương con thương cháu như tôi. Hai đứa nó lỡ thương nhau ngoài ý muốn của anh và của tôi. Mà rồi hai bả, hai gia đình cũng đã lỡ thương tụi nó. Thôi thì chuyện cũ cho qua đặng nhẹ lòng mà con lo, còn tính cho tụi nó. Phải không anh?
Im lặng. Qua cửa sổ tôi thấy khuôn mặt ông Năm có nét căng thẳng. Rõ ràng là ông cũn thấy khó nói. Phải rất lâu ông mới thở dài:

-Thôi đành vậy. Bây giờ không phải là mười năm về trước. Mà sau này đến lượt tụi nó cũng phải chịu cho con cháu làm khác ý tụi nó. Vậy thôi… đời mà…

Trong lúc nói chuyện, tôi nhận thấy ông Năm ba của Hà vẫn đứng chứ không chịu ngồi xuống chiếc ghế đặt bên cạnh ông Chín…

Tân An, những ngày cuối năm 1986


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:28:17 pm
Mùa khô này có một dòng suối trong

Nguyễn Chí Trung


Tình cờ tôi gặp chị Sáu. Chị nói:

-Anh mới ở bên chiến trường biên giới Thái về. Anh biết một cái gì đi.

Tôi đáp:

-Chỉ đôi bữa, tôi đã phải sang lại bên ấy chị ạ. Trận đánh ngày 25 tháng 3 năm nay diệt một sào huyệt của bọn Pol Pot, thì năm ngoái cũng vào mùa khô, ta tấn công sào huyệt này không thành.

Chị ngạc nhiên ư? Trong chiến đấu, thuận lợi và khó khăn đan vào nhau, có nhiều trận thành và cũng có trận không thành, đó là chuyện thường tình. Nhưng, ở trường hợp nào người lính cũng đòi hỏi mình phải thực. Sau khi thành và cả sau khi không thành người lính phải trả lời Tổ quốc vì sao? Cái vì sao ấy cho ta sự chiêm ngưỡng chói chang, cái vì sao ấy có lúc cho ta vị đắng cay ngấm tan vào cơ thể suốt đời. Cũng có cái vì sao làm ta bừng tỉnh, gieo mầm trong trí tuệ ta một chân lý giản dị mà lắm khi kẻ đứng ngoài cuộc chặc lưỡi cười cợt ngỡ rằng chẳng cần nhúng tay cũng có thể thừa sức nhận biết.

Vậy vì sao trận năm ngoái không thành?

Cái thành bao giờ cũng do một nguyên nhân tổng hợp. Cái không thành càng lại không bao giờ do một nguyên nhân đơn.

Câu chuyện mà tôi thuật cho chị dưới đây chỉ là một khía cạnh nhỏ. Ở khía cạnh nhỏ ấy, chị Sáu ạ, chị nói đúng: khát làm cho người lả đi. Còn đối với một đội quân, khát tựa như một chùm bom tấn ném trúng vào đội hình đang tập hợp làm đội hình tan vỡ. Năm ngoái, có chiến sĩ hy sinh trên mình mấy không tìm thấy một thương tích nhỏ nào.


Ở đơn vị thắng trận vừa rồi có một anh chiến sĩ tên là Thà. Thà quê ở một thành phố phía Nam. Thà kể:

Từ hồi học tiểu học chưa bao giờ Thà nghĩ rằng có thể xa thành phố một tuần. Thế mà bây giờ xa thành phố đã hơn hai năm. Xa lạ làm người ta bỡ ngỡ. Lúc đầu bỡ ngỡ đủ thứ. Sao mùa mưa có thể dài đến thế. Rừng lênh láng nước. Nhìn rừng cứ có cảm giác như hàng trăm thứ cây rừng kia vẫn mọc trên mặt nước như vầy từ lâu lắm. Mùa khô nghe ve kêu đến sợ, nó rền rĩ như một người điên đang khát. Những cánh rừng không dân im ắng gợi nhớ quay quắt. Nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ biển. Những ngọn sóng vỗ bờ ngã vào lòng cát, tan ra, chườm vào mặt cát rồi lùi lại. Thà có thể nhìn sóng suốt ngày. Sóng nhảy, sóng đùa, sóng trầm ngâm, sóng giỡn cợt với bờ, sóng trò chuyện, sóng nói một điều gì đó, âm vang dội đi dội về, có thể lắng nghe có thể tình tự, có thể vụt nhảy lên giang hai tay ôm lấy một tảng mây bồng bềnh và bay liệng.

-Có bãi biển nào mà sóng không vỗ bờ hả?

Một hôm đang lau súng Thà chợt hỏi.

Chính từ hôm ấy mà Thà thân với Thiệt-Các ông quân lực nào khéo ghép, trung đội 3 đã có thằng Thà lại thêm thằng Thiệt.

Thiệt quê ở Hà Nội, học hết lớp mười hai, cùng nhập ngũ một năm với Thà. Trán dô, mắt to, miệng lúc nào cũng liến thoắng, Thiệt nổi tiếng là chàng thích nói ngược.

-Trận tấn công năm ngoái, em đi đánh cùng với Thiệt. Vẫn lời Thà kể: Chúng em hành quân mấy ngày liên, đi về hướng rặng Đăng-rếch. Đăng-rếch, tiếng Campuchia có nghĩa là đòn gánh.

Ba ngày đầu, rừng che khuất không thấy đỉnh núi. Đến ngày cuối bắt đầu nhận ra nó, một vệt xanh mờ thấp nhổ ở phía xa. Vào gần hơn, thấy nó cao dần. Thực ra nó không cao đâu. Đó là một dãy núi dài, chạy từ Bát-đom-boong qua Xiêm Riệp-Ốt-đô-miên-chay rồi đến Prết-vi-hia, mút ở phía Bắc là Ba Biên, tức là ba biên giới. Ở Bát-đom-boong, độ cao rặng Đang-rếch quãng chừng ba trăm ngang Xiêm Riệp cao dần, cho đến Prết-vi-hia có bình độ năm sáu trăm thước.

Từ chân núi lài ra là là những cánh rừng thưa, bằng lăng, mã tiền, khộp và biết bao cây lạ mà em không biết tên mọc xen nhau trên triền dốc thoải.

-Các thủ trưởng biết cây mã tiền chưa? Lạ dễ sợ. Quả vàng như quả Campuchia, nhưng da không mướt như da Campuchia. Mùa khô, quả mã tiền chín ối, đi rừng quả mã tiền thằng Thiệt cứ mơ đến cam. Cuối mùa, quả chín rụng, rữa ra trong nắng trong sương. Dưới gốc, phơi trần trên mặt đất khô vô số là hạt mã tiền màu trắng mốc.

Leo theo triền dốc thoải ấy quãng một tiếng đồng hồ thì gặp rừng già với những tảng đá khổng lồ, nhìn xa như những mái nhà lớn. Dốc rất đứng. Các bạn trinh sát muốn vượt triền Đăng-rếch phải dùng dây quăng buộc vào các gốc cây lớn rồi đun nhau leo lên, có khi phải dùng thang làm sẵn. Thang hàng mấy chục bậc ấy, chứ không phải thang xoàng xoàng trèo dừa, trèo mít như ở thành phố đâu.


Những hòn đá lớn, phẳng lì, thằng Thiệt đặt chân lên đó như đặt chân lên một cái chảo rang. Hắn hếch mũi, nó uể oải:

-Hừ, đá phẳng quá, hèn nào nước chảy qua trôi tuột đi, không đọng lại được một vũng nhỏ.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:29:47 pm
Lúc ấy trận đánh cũng vừa bước vào giai đoạn quyết liệt nhất: Đột phá. Ôi, những ai đã từng là lính, đã đánh công sự vững chắc đều có thể hiểu cái nghĩa âm vang và căng thẳng cực kỳ của từ ấy. Quân địch ở phía trong, chung quanh là chiến hào, dọc chiến hào là ụ súng, những ụ súng ấy nối liền với nhau và ngoằn ngoèo nối liên với bên trong bằng những đường giao thông hào lộ. Rồi lại đến một chiến hào khác, khu trung tâm, có hầm thằng chỉ huy khá vững chắc, có nơi nó họp, có chỗ đặt đài vô tuyến, ụ súng cối 100 ly cải tiến đặt cách đó không xa. Bên ngoài chiến hào tiền duyền là bãi mìn dày đặc. Mìn chống tăng chôn lẻ hoặc ghép đôi vùi sâu trong đất, mìn đạp vỏ bọc bằng nhựa màu xanh nhạt. Chúng đốt một mảng rừng kè căn cứ để tiện quan sát và bắn. Cây nhỏ và cỏ cháy sạch chỉ còn những gốc cây lớn, lửa đốt xém quanh gốc và táp cháy khô những cành lá thấp. Chúng treo trên những thân cây những quả mìn định hướng, xen vào tổ kiến và ở các cháng ba để che mắt. Đám mìn treo ấy nhìn về phía ta, từng quả một, tựa những con mắt chột của lũ tử thần đang lén lút dò la.


Đột phá chính là công việc mở một con đường, một con đường an toàn cho người, cho súng, cho xe pháo băng qua bãi mìn ấy dưới tầm hoả lực của địch đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt quân địch ở chiến hào tiền duyên, đảm bảo cho lực lượng lớn tiến vào, đánh chiếm các ụ súng, hết ụ súng này đến ụ súng khác, hết khu vực này đến khu vực khác, cho đến sở chỉ huy, tung vào các hầm cố thủ đó một quả thủ pháo…


Pháo sẽ chi viện. Ban đầu là tiêu diệt các hoả điểm ở tiền duyên, sau đó diệt hoả điểm bên trong, đánh nát sở chỉ huy, buộc ban chỉ huy gục xuống rúc vào hầm không kịp toan tính.

Ấy thế mà trước cái giờ đầy ý nghĩa thắng bại ấy, chúng em lại hết nước.

Mấy ngày hành quân liền, có đêm đi năm sáu chục cây số đường rừng mới cắt, trời đốt ở trên, đất đốt ở dưới, hai vai chất nào là súng đạn, xẻng, lương khô, mùng, võn, dây trói tù binh, ve rừng treo mình ở các cành cây khô kêu nhức óc. Ít gì cũng phải uống hơn bốn lít nước chứ. Ngồi chơi công viên và đọc sách một ngày còn phải xài hai lít nữa là.

Thế mà chúng em mang chỉ ba lít.

Cái nguyên do mang ít nước như vậy cũng dễ hiểu thôi. Mấy ông đi chuẩn bị chiến trường cam đoan: gân căn cứ địch có một vũng nước. Trước khi chiếm lĩnh thì ra bổ sung nước. Bổ sung nước thật đầy đủ, bình tông nào cũng no kềnh, ta đột phá là vừa. Còn đến khi đánh thắng rồi thì lo gì nữa. Chố nào có địch là có nước, đạp được lên đầu thằng địch là có nước, vì nó cũng phải uống, phải ăn, phải tắm giặt, nghĩa là phải sống theo những nhu cầu của con người.


Nói cho đúng hơn, chúng em đã hết nước từ khuya. Thiệt rỉ vào tai em hồi nửa đêm: sắp đến vùng nước hứa hẹn rồi, kệ, khát quá, và Thiệt dốc ngược bình tông lên nốc cạn.

Khi cuộc đột phá bắt đầu, tiếng bộc phá nổ rùng đất thì đã nghe tiếng ông Bảy Hứ quát qua điện thoại:

-Nhanh lên! Nhanh lên!

Em và Thiệt nằm gióng theo đội hình chờ. Chờ đường mở và chờ mấy anh chàng trinh sát đi tìm hố nước quay về. Phía trước em mấy ông công binh đã sẵn sàng đi rà mìn, mấy ông quân y đã đầy đủ các thứ để xét nghiệm nước. Các trung đội đã tập trung bình tông và cắt người. Cánh thông tin được phút rảnh việc lại réo như réo đò:

-Cho thông tin gởi một can vàng bốn lít nhé… (Can vàng là loại can nhựa màu vàng đựng dầu ăn, hết dầu anh em lấy dùng đựng nước).

Thiệt dốc bình tông, nghểnh cổ để cho mấy giọt nước cuối cùng dính trong đáy chảy trên vành môi, liếc em nháy mắt:

-Ái chà, ngọt lịm như thốt nốt.

Gần công sự của em là một trận địa cối. Các bạn ấy cạch liên tằng. Tiếng nổ đầu nòng nóng cả tai. Có lẽ không phải là nắng mà chính là các tiếng nổ làm cho cổ em khô khốc.

Một lúc trinh sát quay về:

-Báo cáo thủ trưởng, tìm được vũng nước hôm nọ nhưng khô sạch.

-Hay là các cậu nhầm, hử? Tiểu đoàn trưởng hét.

Phải nói rằng ông ta hét. Bởi vì cái tin ấy cũng là một loạt tin sét đánh giống như cái tin các đại đội báo cáo lên ông ta: đại đội 1 hết nước, đại đội 2 hết nước, đại đội 3 hết nước, tiểu đoàn bộ hết nước, đại đội ĐK82 tăng cường hết nước…

-Dạ không nhầm đâu thủ trưởng ạ.

-Không nhầm sao không có nước hử?

Anh trinh sát đứng đờ mặt. Thằng Thiệt hích vào vai em, cười rúc rích: cứ làm như không nhầm là có nước ngay.

Một quả mìn định hướng treo lở lửng giấu cạnh một ụ mối nổ, ĐK của chúng ở phía trong lùm cây xanh sát núi bắn ra, tiếng nổ đanh, khói quả trước chưa kịp tan thì quả sau đã nổ tiếp. Điện thoại đứt rồi.

-Trên lệnh thế nào? Ông Bảy quát anh chàng hai oát. Anh chàng hai oát chưa kịp trả lời thì đã nghe ông Bảy giục trinh sát.

-Đi tìm lại, các cậu không tìm được vũng nước ấy thì… thì… Một quả ĐK nổ sát ngay ông. Thì… tiên sư thằng ĐK!

Thằng Thiệt lại rụt cổ, mở thật to đôi mắt, bịt miệng cười.

Còn em, em hồi hộp lắng nghe tất cả. Em không ngờ cuộc đột phá hôm ất vất vả quá vậy. Đêm có lẽ sắn đến, bởi thời gian tấn công đã khá dài. Mệt và đói. Lương khô gạo sấy có cả đây. Nhưng chẳng dám ăn. Ăn lương khô mà không có nước thì không sao ăn được, và ăn xong, không có nước, chỉ làm tội cho thần khát trừng phạt.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:31:20 pm
Thằng Thiệt, không biết mới nghĩ ra điều gì vui vui lai rụt cổ rúc rích một mình.

Em hỏi:

-Gì vậy bồ?

-Chị tớ học hết Tổng hợp Văn. Bố tớ giữ thư viện đến cụ là hai đời. Anh tớ đi công nhân, khoe đã đọc hết 200 quyển sách khoa học. Còn tớ, sách thần thoại tớ ngốn hết. Có đủ loại thần: Thần tình yêu, Thần sắc đẹp, Thần thời gian, Thần chết… thế mà tớ chưa nghe nói đến Thần khát cậu ạ… Chuyến này tớ ráng bắt ba thằng tù binh, được thưởng phép một tháng về Hà Nội, thế nào tớ cũng tìm thầy Khảo dạy Thần thoại Hy Lạp hỏi thầy xem có Thần Khát không?

Em nguýt nó nhưng rồi lại đấu dịu: “Mình tin rằng có”.

-Thế cơ sở đâu mà cậu tin như vậy?

-À… đời sống con người có bao nhiêu ước vọng và khổ đâu thì có bấy nhiêu vị thần.

-Thế thì cậu bảo Thần Khát người ta biểu tượng thế nào?

Em phì cười. Chiến tranh, cả trong những giờ căng thẳng như thế này vẫn có lúc rảnh rỗi.

-À… có thể Thần Khát là một ông già cao lớn, ngực nở, bụng thóp, xung quanh lưng quàng đầy những ống lồ ô đựng nước, cổ dài hơn thân hình, lưỡi thè ra như một mái hiên, tay cầm ngọn giáo hàng mấy trăm sải phóng lên mặt trời đỏ ối, khối lửa đỏ rực ấy bị đâm toạc, từ đó tuồi ra một dòng nước lớn, trong lênh láng.

-Không phải. Tớ cho rằng Thần Khát phải biểu tượng bằng một người mẹ, đôi mắt hiền và sâu, mũi cao, cằm bằng, môi mím lại, chan chứa suy tư. Đôi vú mẹ mênh mông và nhọn. Qua Tây Ninh cậu có chú ý núi Bà Đen không. Tớ ngang qua đó hai lần. Tớ cứ nghĩ rằng hòn núi mang tên một người mẹ đó tựa hệt như núm vú của trái đất. Bà mẹ ấy đi, tóc dài chấm gót, xoã theo những gợn gió mùa khô, hoa khộp rơi, bay xoay tròn theo gió rồi đậu trên tóc bà. Đất nứt nẻ và khô căn ở dưới chân. Cây rừng chết xơ xác. Hoa không nở. Không thấy màu xanh, chỉ có màu nâu chết, màu bạc xám, màu tím đen, màu đỏ bầm như máu khô sấy nắng. Từ đôi vù bà chảy mãi một dòng sữa ngọt. Dòng sữa ấy giỏ vào gốc cây, cây tươi lại, giỏ vào cành, lá non mọc, giỏ vào ngọn, những chiếc nụ nở thành hoa. Dòng sữa ấy giỏ lên đất, cỏ vụt lớn xanh rì. Giỏ vào lưng con ve, ve rừng đang kêu thảm thiết, ngỡ rằng tiếng rền rĩ triền miên ấy có thể làm chổ mát lạnh, ve thôi kêu và hoá thành một chim én. Dòng sữa ấy giỏ vào mặt trời, mặt trời bỗng hoá mặt trăng…

-Thế Thần Khát là một vị cứu tinh à? Cứ cho môi vị thần đều là một kẻ cứu tinh thế thì mình đoán Thần Khát chính là chị Sáu Hiền của mình, muối chanh giỏi hết xảy, trắng bóc, cứ hôm nào đi học về, khát nươc, chị thưởng một cốc có đá là mát lịm cả người…


Đêm đã xuống, nhanh thế. Trăng hiện qua một lớp sương mỏng, bạc và dịu. Tưởng ánh trăng và đêm có thể làm nguôi cơn khát, nhưng không. Cổ càng khô quánh. Thằng Thiệt hết muốn nói. Nó nằm ngửa thở phì phò.

ĐK địch vẫn bắn. Nó chọc vào mấy khẩu 82 đang tập trung khu hoả điểm dưới sườn.
Tiếng ông Bảy Hử:

-Tản ra, củng cố thêm công sự. Trụ lại, chờ đưa thêm hoả lực và bộc phá lên đánh tiếp.

Thằng Thiệt rút xẻng. Hắn xúc hai lát rồi bỏ xuống. Hừ, có còn là cánh tay nữa đâu. Mềm quá bã đậu! Nó nói một mình rồi quay sang em:

-Kệ, ta thử đi tìm nước đi. Mấy ông trinh sát gà mờ sợ ĐK không dâm mò vào đúng chỗ cũ, chứ cái quái gì lại không có nước.

Nó quay sang phải nói với An, tiểu đội trưởng:

-Tôi với thằng Thà đi tìm nước nhé. Bộc phá mà khuân lên đây cũng là khuya.

Em cũng khát như nó, e rằng, còn khát hơn cả nó. Nhưng em nhát. Em lắc đầu.

-Ông Bảy Hử-chúng tôi thường gọi tiểu đoàn trưởng chúng tôi như vậy, vì điều gì ông không đồng ý là ông hử, ông mà đã bực mình là ông hử luôn chục tiếng, anh lính nào cũng xanh mặt-ổng mà tóm được thì chết…

-Thế ở đây chịu khát à? Không chừng lại lập công đấy chứ. Tớ mà tìm được nước thì ông Bảy không hử lấy một hử, còn vồ tớ, xốc tớ lên, hôn đùn đụt, thưởng phép, gởi giấy về gia đình nữa.

Thiệt quay sang An:

-Hai đứa tôi đi nhé. Bình tông ông đâu, đưa thêm đây… này, đi…

Thế là chúng em lén đi.

Em và Thiệt đi sâu mãi về phía cụm rừng xanh, men theo một con suối.

Mùa khô nắng đã đun cạn hết nước suối. Hoạ hoằn giữa lòng suối còn sót lại một vũng nước. Một vũng nước đọng. Lá cây ven suối rơi xuống tụ dưới đáy suối mùa khô nát thối. Mùi nước hôi nồng nặc, rửa tay, sau một buổi vẫn còn ngửi thấy mùi thối. Nhưng những anh em trinh sát, những chiến sĩ đi phục, những người lính vận tải đường xa, và bây giờ là chúng em trong mùa khô khắc nghiệt vẫn hằng ước ao được may mắn bắt gặp và uống thứ nước đọng ấy.

Mỗi lần gặp nhau như vậy, người ta reo: nước: Người tháo bình tông, người chuẩn bị khăn mặt. Hằng mấy tiểu đội sẵn sàng cởi tuột áo quần lấy mũ cứng làm gàu ập đến chen nau múc giội tới tấp lên đầu lên cổ, vừa kỳ cọ vừa nhăn mũi: Thơm quá, thơm quá!

-Cứ được một vũng nước bằng bàn tay là đạt yêu cầu rồi! Thiệt vừa rạp người đi vừa nói.

Lâu lâu, sợ em nóng lòng rủ về, Thiệt lại khích lệ:

-Không chừng ở dưới này một tẹo có nước. Đây này… chỗ này mới cạn sạch cách đây đôi ngày, đất hình như còn ẩm.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:33:15 pm
Cứ thế, cái khát và một ao ước mơ hồ đẩy chúng em. Một con mễn chạy qua, một quả mìn nổ phía trước. Tiềng mìn đạp nổ cũng đanh như tiếng ĐK.

-ĐK hay mìn hở Thà? Thiệt hỏi.

-Có lẽ mìn. Em nói.

Em thấy rờn rợn. Dưới mặt đất kia, bây giờ đã trở nên mát dịu đang ẩn náu đâu đây những kẻ thù bí mật. Em nói nhỏ với Thiệt, tựa như sợ bọn thù bí mật kia có thể nghe:

-Thôi ta về, không kiếm được đâu. Gặp mìn nguy hiểm.

Thiệt gàn, đầy tự tin:

-Thằng địch gài mìn ở đây là bẫy chúng mình đi tìm nước đấy. Vậy thì chắc là có nước. Có mìn thì ta gỡ ta đi chớ, sợ gì!

Một con thú lại chạy hoảng qua. Một tiếng mìn nữa nổ. Em khẩn khoảng:

-Thôi, Thiệt à. Chụ khát còn hơn. Mà hình như đã khuya lắm.

Em nghĩ đến đơn vị. Em nghĩ đến trận đánh tiếp cả tiểu đoàn đang hì hục sửa soạn. Tiểu đội trưởng An chắc đang hớt hải chờ hai đứa. Không biết anh ta sẽ báo cáo thế nào với trung đội.

Em định bước một bước. Nhưng tự nghĩ: không chừng dọc lòng suối mình đi qua cũng có mìn, em bảo Thiệt:

-Mình mệt quá, dù có đi hay trở về, cũng ngồi xuống đây nghỉ đã.

Theo thói quen của người lính ở chiến trường khắc nghiệt này, em lấy tay dò mìn. Năm ngón tay với vào lòng suối. Lòng suối lạn cạn cuộn pha cát. Có lẽ những lớp cát bồi che giấu dưới bụng bó những quả mìn đạp. Em nghĩ vậy và ráng đào. Ôi, một quả mìn thật.

-Có mìn, Thiệt ơi.

-Thế ư?

-Ừ… Nó đáp gọn và cúi xuống rà.

Thiệt bỗng vớ được một quả mìn. Nó đưa quả mìn dứ dứ về phía em rồi ngồi bịch xuống.

Đêm qua lúc nào không biết. Tiếng súng thưa dần rồi im hẳn. Cả tiếng ĐK của địch trên sườn Đăng-rếch cũng vậy. Hay là họ đã rút?

Sau này trong bao nhiêu nguyên nhân vì sao ta cần ngừng tấn công, có một nguyên nhân em được biết: súng đang còn, đạn đang còn, và người cũng đang còn, nhưng không còn nước, cho nên chỉ còn những con người mệt lả, không lê vững đôi chân mỏi nhừ, và bởi thế cũng không đủ sức chạy lên chạy xuống đánh tiếp những quả bộc phá sào dài ngoằn và nặng trịch. Lui quân đi chưa toàn thắng là điều mà người ra trận không một ai muốn. Nhưng người chỉ huy của chúng em hôm ấy đã cho lui quân, và cho lui quân hôm ấy là đúng.


Thế là hai đứa em ở lại một mình dưới chân Đăng-rếch, giữa lòng suối mà Thiệt đặt hết ao ước với một bãi mìn dày lẩn khuất quanh quẩn vây lấy chân.

Chúng em lết từng bước vừa đi vừa rà mìn, vừa đi vừa nghe ngóng địch. Có tiếng súng con của chúng ở vị trí chỉ huy của ông Bảy Hử ngày hôm qua. Chúng em quay tìm đường khác. Ba ngày như thế. Khi không thể cất nổi chân, chúng em ngồi lại đầu óc trống không, ngực nóng như cả mặt trời lửa đặt vào đó, bụng thở thoi thóp, cổ đắng, cố ứa ra một tí nước bọt, nhưng làm gì có được của quý ấy.


Lúc đơn vị tìm thấy chúng em, tiểu đội trưởng An nói lại, thân thể chúng em mềm và nóng hâm hấp như hai trái chuối luộc. Hai ngày sau vẫn không nói ra tiếng. Lưỡi tụt đi đâu mất.

Tôi nói với chị Sáu:

-Chị ạ, trận đánh vào sào huyệt bọn Pol Pot vừa rồi tôi có được đến đơn vị Thà. Bảy Hử đã làm trung đoàn phó. Anh dẫn tôi đi chơi thăm anh em. Thà làm tiểu đội trưởng thay An đi học. Còn Thiệt, trung đội phó quyền trung đội trưởng, da ngăm hơn trước, anh đã tự nhận như thế, miệng liến thoắng, đôi mắt vẫn mở to như ngờ ngệch.

Bảy Hử chỉ tay về phía Thiệt:

-Bố mẹ đẻ anh ta cái miệng ra trước, nhưng lại không biết khóc. Bà đỡ bợp cho một cái, anh ta thét đủ bảy ngày bảy đêm, nên bây giờ cái miệng rộng đến mang tai.
Thiệt đang tập hợp trung đội để kiểm tra khối lượng mang vác từng chiến sĩ.

-Ông Yên… Súng 7 cân này, xẻng 1 cân rưỡi này, đạn 4 cân này, gạo sấy lương khô 3 cân này, sao lại đến 35 cân? À, tham ô nước.

Anh chiến sĩ này đã lấy các bao đựng đạn B40 cũ cho nước vào dán lại, bỏ và ruột nghé để mang thêm ngoài tiêu chuẩn 6 lít một người.

-Ông Văn… 36 cân. Quái nhỉ! Lại tham ô nước… Cái gì đây? Đào đâu ra mấy cái ống nhựa này? Phổ biến rồi mà không chịu quán triệt. Đoàn sẽ tổ chức hai trạm bơm. Sẽ bơm từ hậu cứ rồi tải theo đường quân sự làm gấp. 100 cây số có nghĩa lý gì, đưa nước đến vị trí tập kết 1. Ở đó hậu cần đã lót sẵn những túi ni lông lớn dùng làm bể tạm thời, nước sẽ chứa vào đấy. Vận tải và một phần ba quân số của tiểu đoàn, nghĩa là tất cả đại đội dự bị sẽ áp nước theo chúng. Ngoài mỗi người 6 lít tự mang, chúng ta có một triệu lít nữa. Thế mà không tin. “Thủ trưởng ơi-Thiệt quay lại nói với Bảy Hử, lễ xuất quân chiều nay đề nghị trên cho dàn toàn bộ đội hình vận tải nước với toàn bộ dụng cụ, khí tài, cái “Binh chủng đặc nhiệm của mùa khô” này quan trọng lắm”…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 05 Tháng Chín, 2009, 05:37:06 pm
Sau khi kiểm tra xong, có lệnh cho trung đội giải tán, tôi giữ Thiệt và Thà ở lại nói chuyện chơi. Tôi đùa:

-Nè, qua trận khát năm ngoái cuối cùng Thiệt nhận ra ông Thần Khát được biểu tượng thế nào?

Thà cướp lời:

-Nhất định phải là một ông thần tụt lưỡi, toàn thân mềm và nóng như chuối hấp.

Thiệt hứ một tiếng, mím đôi môi hóm:

-Chớ khiêu khích… Trải qua cái trận chết khát đó mà cũng nghĩ ra được lắm cái hay.

-Thế à, nói cho tôi nghe với nào.

-Qua trận khát ấy, em cứ nghĩ các nhà khoa học thật tài. Này nhé… Họ nói rằng giữa sự sống và cái chết có một trạng thái trung gian, nghĩa là có một quãng thời gian trong đó sự sống không còn nữa nhưng cái chết cũng chưa đến… Giỏi thật. Em cứ nghiên cứu mãi hôm đó không biết em đã ở trong trạng thái trung gian ấy chưa? Có thể rồi, vì em cảm thấy tim không đập nữa, ngực không thở nữa, chân tay không cựa quậy nữa. Nhưng cũng có thể là chưa. Vì em cứ còn đang mơ.

-Lại xạo rồi. Thà cười.

-Không, thật đấy.

Tôi hỏi:

-Thế lúc ấy mơ thấy gì nào?

-Mơ thấy lửa đang táp cháy cả người em bỗng vụt tắt. Quanh em nhân dân trong phum quây quần làm lễ chúc phước. Các cô gái té nước ướt đẫm mình mẩy. Em hét: coi chừng ướt liều phóng B40, coi chừng ướt gạo sấy, gạo sấy giao tôi mang mà nở phình ra thì cả đại đội tập trung lại ăn không hết đấy. Chẳng ai thèm để ý đến lời em. Họ vẫn té nước ào ào. Nước chảy mát rượi qua đầu, qua mắt, qua hai gò má, qua mũi, em hơi sặc một chút, rồi qua môi, qua ngực, qua bụng, chảy trên những bắp thịt cánh tay và đôi chân trần mệt mỏi. Em chẳng uống một giọt nào.


Lát sau, một bà mẹ Campuchia đến, bà mẹ cao lớn lạ thường. Trên vai bà một chiếc đòn gánh khổng lồ. Bà quẩy một đôi thúng lớn, to gấp mấy chục lần cái khoanh thuyền của quân khu ấy. Tay phải của bà đặt lên mấu đòn gánh, ở đấy em thấy hiện lên ngôi đền Prết-hi-via. Tay trái bà đong đưa, như mẹ em quẩy nước giếng ở nhà. Bà đi học theo triền Đăng-rếch. Qua mỗi đoạn bà lại nâng đôi thúng, trút nước xuống. Nước chảy trên những tảng đá mái nhà, mài nhẵn nó, xoáy vào đất, làm thành những con suối. Bà nói: Từ nay suối ơi, mày giữ nước trong lòng mày mãi chớ để nước cạn.
Em nghe bà nói, em mừng quá em reo: Mẹ ơi! Mẹ ơi! Con là coong-tóp (tiếng Campuchia nghĩa là bộ đội) Việt Nam sang đây đánh Pol Pot giúp dân, đi đánh trận hết nước, khát quá, mẹ cho con một hớp!


Bà mẹ Campuchia lấy tay hất tấm khăn Cà-ma trên đầu. Bà nói: Con! Thương con quá! Con chịu khổ, chịu cực, chịu khát… bà mẹ vục một ống nước nữa vào thúng đưa cho em. Em uống một hơi, ôi, nước thốt nốt, ngọt ơi là ngọt.

Em định gào: Mẹ ơi, cho con một ống nữa thì có tiếng đập vào người. Mở mắt ra, thấy ông An tiểu đội trưởng và anh em trung đội đi tìm.

Em nhắm nghiền mắt. Em gào, em lại mơ tiếp: Biển Hồ ơi! Biển Hồ hiện ra, dềnh dàng, lắc lư như một mảng trời màu cánh sen đưa võng trước mắt em. Em vội vàng nói: Biển Hồ ơi, người ta bảo ước gì Biển Hồ là đôi mắt em để anh bơi, còn tôi, tôi ước gì đôi mắt em là Biển Hồ để tôi uống…

Đám chiến sĩ vẫn còn vây quanh chúng tôi cười ầm ầm muốn tốc cả mái tranh.

Thế đấy, sáng hôm sau họ lên đường. Các tiểu đoàn lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia và các đơn vị quân tình nguyện sát bên nhau. Tổ quố, hai Đất nước và Đời mãi mãi ghi lại hình dáng người lính khi lên đường. Trên vai chất đủ thứ: súng đạn, áo quần, lương khô, gạo sấy, võng tăng, dây trói tù binh, xẻng và nước. Bên lưng một bình tông nước, trước ngực một bình tông nước và sau lưng một can nước nữa. Đầu hơi lao về trước, trán nhô tới, chân bước chậm và chắc. Tôi nghe rõ tiếng Thiệt đùa:

-Các cậu ơi, người ta nói mùa khô ở đất nước bạn chỉ có ba nơi có nước: Biển Hồ, cây thốt nốt và vú sữa người mẹ. Bỗng mùa khô năm nay có một dòng suối vĩ đại, dòng suối trong vắt ấy chảy trên vai người lính, ngược lên triền Đăng-rếch, nhận chìm tất cả bọn Pol Pot.

Thiệt lấy điệu đưa tay vừa vuốt ve chiếc bình tông 5 lít lủng lẳng trước ngực vừa nói: Tổ quốc ở bên cạnh thế này sao lại không chiến thắng.

Tôi nghe rõ tiếng cười khúc khích của Thà và từng chuỗi cười hồn nhiên, sảng khoái của lớp lớp lính trẻ.

Thắng trận xong, tôi gắng leo lên cho đến đỉnh núi. Đứng trên cao ấy nhìn về nam, lớp lớp cánh rừng dày và dợn xanh trông tựa biển. Nếu là biển, thì sông biển ở đây cũng không vỗ vào bờ. Dưới những cánh rừng biển bạt ngàn im lặng và xao động, một thế hệ chiến sĩ đang nở sinh. Những chiến công, những phẩm giá đang được sinh nở ở đây cùng với lúa gạo, tôm cá, dầu và điện, gỗ và than của mẹ cha, anh chị bên nước ngày ngày vắt mồ hôi và trí tuệ tạo ra khẳn định sự trường tồn của tình nghĩa hai đất nước ruột rà anh em.

Tôi nói với chị Sáu:

-Chị nói rất phải: Người lính bao giờ cũng muốn tâm sự với hậu phương dù đương lúc rối bận nhất.

Chị Sáu cười:

-Còn tôi, tôi nhớ câu nói đùa của Thiệt quá.

Tôi chia tay chị, thầm cảm ơn ngôn ngũ cha ông đã cho ta một từ sâu thẳm: NƯỚC!


26-4-1984


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:39:39 pm
Năm tháng qua đi


Nguyễn Thị Như Trang
(Kính tặng các đồng chí quân tình nguyện)

Các chiến sĩ d5 bộ binh gọi chị là “nhà văn trẻ”. Cái danh hiệu trịnh trọng đó làm Nguyên Bình hơi ngượng. Với một người, chị thường tự nhận là một người làm báo.
Họ đang ở nơi đóng quân dã ngoại của tiểu đoàn ở gần biên giới Campuchia, trong một vườn cây ăn trái khá rộng. Dưới những gốc xoài lâu năm, những cánh võng màu cỏ úa chăng mắc đây đó hệt những cánh bướm khổng lồ đang đậu im trên mặt đất thấp thoáng những vệt nắng vàng xộm. Trái cây đang mùa chín rộ. Mùi xoài thơm ngan ngát. Những con bọ rầy cứ nhảy tanh tách trên những cành lá mùa lục già. Và, một khoảng trời biên giới xanh ngắt in trong lòng chiếc mũ sắt còn chừng nửa bát nước trước cưa lán tiểu đoàn bộ… Cảnh vật yên tĩnh và vui mắt nữa nếu không có những khẩu súng cất cao nòng nghiêm khắc nhìn ra mé vườn, sẵn sàng nhả đạn bất cứ lúc nào.


Nguyên Bình đưa mắt nhin quanh, nghĩ: “Thế là mình đang ở chiến trường rồi. Hà Nội đã xa xôi đến thế! Giờ này anh Văn làm gì nhỉ? Đọc sách, viết, hay đang bận một cuộc họp? Còn ở đây, sau những khe đất trũng ngoài kia, có thể bọn tàn quân Pol Pot đang ẩn náu”.


Tiểu đoàn trưởng Thắng đang đi đến chỗ Nguyên Bình ngồi, chị vẫn không hay. Thắng dừng lại cách Nguyên Binh mấy bước. Dáng anh cao, gầy, da xạm nắng. Anh mỉm cười, giọng miền Nam rất ấm:

-Không nghỉ chút nào cho đỡ mệt, nhà văn?

Nguyên Bình ngước nhìn nụ cười vui vẻ của Thắng. Từ lúc đến đây, chị xao xuyến như vừa tìm ra được điều gì mới mẻ. Thắng nhận thấy trong đôi mắt to thông minh của Nguyên Bình phản chiếu màu xanh lá cây, long lanh.

Chị đáp giản dị:

-Tôi không ngủ được, còn anh?

-Chúng tôi quen rồi. Những người lính ở chiến trường không có giấc ngủ trưa. Chị đi đường xa thế, chắc vất vả? Chị sẽ ở mặt trận Tây Nam bao lâu?

-Ba tháng, anh ạ. Nhưng chúng tôi mới tới đây được một tuần. Có vất vả gì đâu, anh? Chúng tôi đi máy bay từ Hà Nội-chị cười khẽ. Chẳng bù ngày trước tôi đi Trường Sơn, cũng đeo nặng, đi bộ, lúc nào ngẩng mặt lên chỉ thấy cây lá bịt bùng vây quanh.
Thắng gật đầu:

-Tôi đã được đọc những truyện ngắn chị viết về thanh niên xung phong, bộ đội công binh và các chiến dịch lái xe. Bộ đội thích những truyện ngắn của chị.

Nguyên Bình thành thật:

-Tôi viết còn kém lắm.

Thắng mỉm cười:

-Những người lính chúng tôi không biết nói khéo đâu. Chị Nguyên Bình này, lát nữa chị nói chuyện với bộ đội nhé.

Bình chợt nghĩ: mình không quen nói chuyện trước đông người. Vả lại, mình có chuẩn bị gì đâu. Gay go đây-chị đỏ mặt-cá đồng chí đi cùng tôi sẽ làm việc đó. Còn tôi… anh thông cảm.

Tiểu đoàn trưởng cố nài:

-Hay là… chị hát một bài vậy? Chị không biết chứ, đơn vị ở xa, anh em chúng tôi chưa bao giờ được đón một đoàn văn nghệ như thế này đâu.

Trong lúc hai người trò chuyện, bộ đội từ các ngả đường mòn đang kéo đến vườn xoài. Họ đi trong một đội hình giàn thưa, im lặng, mũi súng nhấp nhô. Những hộp đạn và xẻng cuốc va vào nhau lách cách. Đó là những đại đội đóng ở gần tiểu đoàn bộ. Họ đến để nghe đoàn cán bộ văn nghệ từ thủ đô Hà Nội đến nói chuyện.


Mọi người ngồi ngay trên bãi cỏ, dưới những gốc xoài. Bộ đội để súng ngang đùi. Họ nói chuyện khe khẽ và những đôi mắt sáng lên náo nức khi nghe giới thiệu tên những người viết văn, làm thơ quen biết, bây giờ mới gặp mặt. Nguyên Bình cảm thấy nhiều ánh mắt tò mò nhìn mình, chị mỉm cười ngượng nghịu. Khi những người đi cùng đoàn với chị lên đọc những bài thơ họ vừa viết từ mặt trận, bỗng có tiếng súng vẳng lại nghe rất rõ. Các chiến sĩ ném về phía đó những cái nhìn bực dọc như thể bị quấy rầy không đúng lúc. Nhưng họ vẫn im lặng nghe, rồi vui vẻ, vỗ tay nồng nhiệt. Đến lượt Nguyên Bình, chị bối rối đưa mắt nhìn những khuôn mặt phần nhiều còn rất trẻ, nhưng xanh xao vì sốt rét.


Không khí buổi nói chuyện không giống chút nào như ở Hà Nội quen thuộc của Bình. Ở đó, những tà áo dài màu lộng lẫy trước ánh đèn chói loà, những diễn viên trau chuốt phấn son, một cử tọa chọn lọc lơ đễnh nghe và thản nhiên vỗ tay chỉ vì phép lịch sự. Cũng chẳng giống chút nào như ở toà soạn báo hàng ngày Bình đến làm việc, người ta thường nói những câu khó hiểu để tỏ sự uyên bác, nhưng thực ra, có khi chỉ là những lời nói được nhắc lại, vô thưởng vô phạt. Còn ở đây là những khẩu súng, những khuôn mặt võ vàng nhưng đầy nhiệt tình, linh hoạt là tiếng súng vẳng lại, và một đất nước Campuchia trong nạn diệt chủng với những tội ác khủng khiếp mà các chiến sĩ đang ngồi trước mặt chị đã cứu cả một dân tộc đau thương. Những có thể bất ngờ sẽ có một ai trong số người ngồi đây vắng mặt khi trận đánh sau cùng kết thúc-Nguyên Bình chợt nghĩ và xúc động:

-Thưa các đồng chí thân mến! Giọng chị run run trong sự im lặng bao quanh. Có thể nghe rõ tiếng rụng êm của một trái xoài chín rơi trên nệm cỏ-Ban nãy anh Thắng nói, tôi có thể ngâm thơ, hát, hay nói bất cứ chuyện gì với các anh. Tôi rất tiếc không thể làm vui lòng các bạn. Tôi không biết hát, cũng không biết ngâm thơ. Còn chuyện thì tôi nói rất vụng (có tiếng bộ đội cười, nói lao xao). Tôi là người làm báo và đôi khi, có viết văn. Đấy là một công việc chậm chạp và vô duyên. Tôi cảm thấy rất rõ điều này khi có dịp đi công tác cùng với các nhà thơ và nhạc sĩ. Thật thế, người ta có thể ngâm thơ hoặc hát, những chưa ai đọc truyện ngắn, bút ký, hay một vài chương tiểu thuyết trước đông người. Trừ ở nước ngoài, bên Anh, nghe nói nhà văn Dicken từng đọc những truyện ngắn rất tuyệt của mình, và được công chúng hoan nghênh nhiệt luệt. Vậy thì, tôi tự hỏi, tôi sẽ nói gì với các đồng chí, lúc này…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:41:37 pm
Nguyên Bình ngừng lời, mắt chớp nhanh:

-Có lẽ, tôi muốn nói với các đồng chí rằng, vì nghề nghiệp làm báo, tôi đã đi nhiều nơi, đến nhiều mặt trận, ở phía Bắc, trong rừng Trường Sơn, ở biên giới Việt Lào… Nhưng đây là lần đầu tiên tôi đến mặt trận Tây Nam. Ở đây tôi đã được thấy nhiều việc, nghe nhiều chuyện, tôi đã gặp gỡ nhiều người Campuchia từ bên kia biên giới trốn thoát cái chết sang đây với chúng ta. Câu đầu tiên họ đều nói với tôi rằng: “Bộ đội Việt Nam đã cứu sống họ”. Và tôi còn biết thêm rằng, những người đã cứu thoát một dân tộc khỏi nạn diệt chủng cũng chính là những người yêu thích văn nghệ nhất. Tôi đã nhìn thấy những cuốn sách được chuyền tay nhau dọc đường hành quân, bìa rách nát. Những câu thơ chép tay trong những cuốn sổ của thương binh… Sự cổ vũ ấy còn quý hơn mọi lời khen tặng đối với những người làm văn nghệ. Lần này đến đây, chúng tôi lại được các anh chăm sóc rất nhiều, chúng tôi được tạo điều kiện và phương tiện thuận lợi để làm việc, trong lúc chính các anh đang còn gánh chịu nhiều khó khăn. Sự hy sinh đó nằm ngay trong những nhu cầu sống hàng ngày, trong từng hớp nước uống không đã khát, trong từng ngọn rau xanh của mỗi bữa ăn thiếu hụt, trong tình cảm quê hương, và trong xương máu đồng đội các anh đã đổ xuống mảnh đất ta đang đứng…


Chị nhìn lướt những khuôn mặt đang chăm chú nghe chị nói, nghĩ nhanh: Sao anh không đi cùng em chuyến này, anh Văn? Đến đây, gặp những con người cao thượng này, ắt những vần thơ của anh khỏe khoắn hơn, và biết đâu, hai người sẽ xoá bớt khoảng cách…


Chị thoáng nghĩ đến hình ảnh Văn đang trầm ngâm đi trên hè phố Hà Nội với những câu thơ về tình yêu và nỗi đau khổ của anh. Chị bỗng thấy thương anh. Nhưng rồi hình ảnh Văn nhoà đi rất nhanh trong ánh mắt các chiến sĩ đang nhìn chị, bao dung và náo nức. Chị nói tiếp:

-Tất cả những điều đó đã để lại trong tôi một ấn tượng thật khó quên. Tôi cũng biết tôi làm việc còn nhiều kém cỏi. Nhưng, tôi sẽ viết về các anh. Vâng, tôi sẽ viết, với tất cả khả năng của mình…

Những tràng vô tay ào lên, sôi nổi. Nguyên Bình quay đi nén xúc động. Rồi quay lại, chị mỉm cười:

-Vâng, tôi xin hứa… Còn bây giờ, cho phép tôi thay mạt anh em trong đoàn, xin gửi đến các đồng chí, những bạn đọc thân mến của chúng tôi, lời chào thân thiết nhất.
Buổi nói chuyện kết thúc, Nguyên Bình quay trở về nơi mắc võng, vẫn chưa hết xúc động. Liên lạc viên tiểu đoàn, một chiến sĩ trẻ măng lễ mễ mang tới cho chị một thùng lương khô đựng đầy nước. Tâm-tên cậu liên lạc-vừa nghiêng thùng đổ nước vào chiếc mũ sắt, vừa bắt chuyện với chị nhà văn.

-Em lấy nước cho chị rửa mặt đây. Sao lúc nãy chị nói ít thế?

Nguyên Bình giữ lấy chiếc mũ sắt. Chị kêu lên:

-Nhiều quá! Đừng phí nước thế, Tâm? Chú vừa bảo gì nhỉ?

Có những tiếng chuông điện thoại reo vang trong nắng trưa. Rồi giọng miền Nam rất ấm của Thắng nghe rõ mồn một: “Sông Hàn phải không? Vâng, vâng… Đồng Nai đây!”. Tâm nghiêng đầu lắng nghe rồi trả lời Nguyên Bình rất hồn nhiên:

-Ở vườn xoài mà chị lo thiếu nước? Chúng em chỉ lo nhất mỗi lần thay chốt trong rừng Puleng thôi. Ở đó thì chẳng kiếm đâu ra nước. Chỉ sẵn cây vỏ quạch. Nhiều lúc bọn em phải chặt vỏ quạch nhai cho đỡ khát. Nhưng đến mùa mưa thì rất gay go. Nước sẽ ngập đến tận bờ công sự ấy. Cái xứ sở này thật lạ! Ấy thế mà thủ trưởng Thắng còn làm thơ về tổ chốt đấy. Chị có biết làm thơ không, chị Bình?

-Không. Sao?

-Chẳng sao cả. Nhưng anh em đều muốn nghe chị nói chuyện lâu lâu một tý. Chị có biết không? Tiểu đoàn chúng em có nhêìu nhà thơ lắm tài ra phết đấy.

Nguyên Bình cũng lấy cái vui của chú liên lạc:

-Thế mà chị không được biết tài thủ trưởng của chú đấy. Nào, bây giờ Tâm đọc thơ của anh Thắng cho chị nghe với.

Tâm bưng miệng cười:

-Ấy chết, “đem chuông đi đấm nước ngoài”. Ai lại thế… Nhưng.. đọc thì đọc, em chỉ dặn trước là cấm cười, cấm mách lại.

-Đồng ý.

Tâm lên giọng ngâm nga:

Chiếc balô bằng vải bạt thô
Tôi gói bọc rất nhiều kỷ niệm
Vai tôi mang cả vòm trời quê hương
Và tiếng cười em ngân vang trong đêm đầy sao…


Thế nào, nghe được không, chị?

-Tiếp tục.

Tâm cười giòn:

-Em quên mất rồi. Nhưng đại loại như thế. Toàn viết về lính tráng cả. Cây nhà lá vườn thôi, lủng củng một chút, nhưng chúng em đọc, khoái đáo để.

Nguyên Bình trầm ngâm:

-Anh Thắg quê ở đâu, Tâm nhỉ?

-Biên Hoà chị ạ.

-Thảo hèn.

-Chị bảo sao?

-Chẳng là chị chợt nghe mật danh điện thoại của đơn vị mang tên một con sông.
-Đồng Nai phải không? Thủ trưởng chúng em bảo để gọi thế cho đỡ nhớ quê hướng. Còn sông Hàn là điện thoại của bộ phận trinh sát. Họ đang ở trong rừng Puleng. Lúc anh Xuân đang đọc thơ, chị có nghe tiếng súng nổ không?

-Có. Nghe rất rõ.

-Cánh trinh sát đang bám địch đấy. Thủ tưởng chúng em cũng sắp tới đó bây giờ.

-Anh Thắng sẽ đi Puleng ư? Họ ở cách đây bao xa?

-Năm cây số. Thủ trưởng chúng em…


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:42:31 pm
Nguyên Bình nghĩ nhanh: cậu liên lạc này mê thủ trưởng của mình quá thể. Hay thật! Xem nào, từ đây xuống Puleng đi nhanh mất một tiếng. Vị chi năm giờ chiều đến nơi. Sẽ nghỉ lại đó một đêm. Sớm mai đi đoàn 7, kịp chán. Kể cũng hơi mạo hiểm, nhưng không sao. Mình sẽ được gặp anh em trinh sát ở chốt với những con suối cạn, những cây vỏ quạch và một cánh rừng biên giới. Đi thôi! Miễn là anh ấy không phản đối.


Thắng mang thêm khẩu tiểu liên. Anh khoác chéo khẩu súng trước ngực. Nguyên Bình mở to mắt nhìn anh: “Vai tôi mang cả vòm trời… Và tiếng cười em ngân vang trong đêm đầy sao…”. Còn bây giờ, vai anh ấy khoác súng và một bên là cái bình tông nước, chỉ có thế. Một vẻ đẹp giản dị và rất… lính. Nhưng những câu thơ của anh ấy đầy rung động và rất thực. Tất nhiên rất khác với thơ tình của Văn. Anh Văn vẫn mơ ước có một gian buồng ở Hà Nội. Nhỏ thôi. Nhưng là của riêng hai người.

-Anh sẽ ngồi ở đây. Còn bàn làm việc của em thì ưu tiên kê gần cửa sổ. Anh biết tính em khi viết thích có một không gian thoáng đãng. Đúng thế không nào? Nhưng trong lúc làm việc thì không được quấy rầy anh, nghe chưa?

Bình cười buồn:

-Nhưng em chưa biết mình sẽ viết gì nếu chúng ta cứ mãi quẩn quanh ở Hà Nội như bây giờ. Vả lại, căn buồng ấy ở đâu nhỉ?

Văn cáu kỉnh:

-Rồi sẽ có, miễn là em đồng ý. Anh sẽ quẳng cho hắn một ngàn đồng, cùng lắm là ngàn rưỡi hoa hồng. Anh sẽ bán đi cái xe đạp.


Nguyên Bình nhìn anh, thấy thương. Người ta cho Văn là người có tài và đứng đắn. Nhưng lâu nay anh ít đi xa Hà Nội. Anh đau khổ vì Nguyên Bình. Chị biết rõ thế nhưng vẫn cứ e ngại: Anh ấy chỉ nghĩ đến mình, hạnh phúc là thế ư? Khi còn trẻ, người ra quan niệm hạnh phúc như một cái gì sặc sỡ và khó nắm bắt, như một sắc cầu vồng, như mặt  biển với những cồn sóng chạy nghiêng và con tàu trắng lộng lẫy. Nhưng Nguyên Bình đa 27, chị muốn cùng anh chia đều nỗi vất vả của những chuyến đi, muốn cùng anh hoà cái riêng của mỗi người vào ngàn mảnh đời chung để tạo nên những trang viết. Đó cũng là niềm vui, là hạnh phúc. Vất vả đấy, nhưng có niềm say mê thực sự nào lại được vun đắp một cách dễ dàng? Chị cãi yếu ớt:

-Nhưng tháng tám em còn phải đi một đợt. Cơ quan đã phân công…

Văn đứng lên, nóng nảy quẳng điếu thuốc vừa châm vào góc nhà:

-Anh biết em là người có nghị lực. Điều đó quý thật, nhưng cũng cần phải thực tế nữa chứ, em? Ai cũng vậy thôi, cần phải có một gia đình, một tổ ấm. Riêng em sao cứ băn khoăn?

Đó là lần va chạm gần đây giữa hai người trước chuyến đi này. Sau đó, Bình nhận được một bức thư. Nhận ra nét chữ quen thuộc, chị xé phong bì. Một mảnh giấy nhỏ rơi xuống chân chị: “Anh là con đường, em là dòng sông. Em khó hiểu như một con nước chảy…” Bình cắn môi: Trời ơi, chẳng lẽ mình bí ẩn đến thế kia ư?

… Thắng nói:

-Chị nên nghỉ lại tiểu đoàn bộ. Đi, có thể nguy hiểm.

Nguyên Bình phật ý:

-Anh coi tôi như khách lạ.

-Tôi lo trách nhiệm bảo vệ…

-Tính mạng một người chỉ huy như anh đáng giá hơn tôi nhiều.

Thắng bật cười:

-Chị là một cô gái bướng bỉnh-anh nghĩ thêm-bướng bỉnh nhưng chân thành và dũng cảm. Nhưng anh không nói ra những ý nghĩ trên. Còn Nguyên Bình thì nghĩ khác: anh Văn bảo mình khó hiểu. Bây giờ lại còn thêm tính bướng bỉnh nữa kia đấy. Nhưng dù thế nào mình vẫn là mình.


Hai người theo con đường mòn ra khỏi vườn xoài. Ở những tràn ruộng thấp xung quanh, bộ đội đang cuốc đất tăng gia. Chiến trường gì mà kỳ lạ-Nguyên Bình nghĩ-Trong khu rừng kia, không xa, bọn địch đang lẩn trốn, những trận đánh chưa kết thúc. Còn ở đây, chỉ cách một cánh đồng, những luống rau đang được vun bón. Thế rồi người ta chuyển về những người bị thương những tử sĩ…


Nhìn thấy hai người đi ngang qua, các chiến sĩ ngừng quốc đất, nói bâng quơ những lời đùa bỡn: “on sa lanh boòng tê?” (nghĩa là: Yêu anh không em ơi). Một người khác đáp lời, giọng vút cao lên: “Sa lanh ná” (nghĩa là: Yêu lắm). Thắng quay lại giơ nắm tay dấm dứ về phía người vừa nói. Họ cười phá lên. Tiếng cười quấn quít trong khoảng không ngập nắng. Nguyên Bình luống cuống bỗng vấp chân, đau, nhưng chị cố kìm một tiếng rên, hỏi lảng sang chuyện khác:

-Anh học được nhiều tiếng Campuchia không? Dạy tôi vài tiếng thông thường nhé.

-Tiếng Khơ Me khó phát âm, chị ạ. Anh em chúng tôi cũng chịu khó tự học, nhưng mới hiểu được ít tiếng đơn âm.

-Ăn cơm là gì?

-Hốp bai.

-Uống nước?

-Hốp tức.

-Còn cảm ơn.

-Ốc cun.

Nguyên Bình lẩm bẩm:

-Ốc cun. Ốc cun là cảm ơn. Thế còn câu vừa rồi?

-Câu nào nhỉ?

-Đấy, mấy tiếng gì chiến sĩ của anh vừa nói đó.

Thắng lúng túng:

-À, anh em họ đùa, có gì đâu. Chị đừng để tâm.

-Kìa anh Thắng!


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:43:21 pm
Đồng chí tiểu đoàn trưởng đỏ bừng mặt như cậu học trò bị bắt quả tang đang viết thư tình. Kỳ quá! Có nên nói cho cô ta biết? Liệu cô ấy có phật ý không? Nhưng anh không biết nói dối. Anh trả lời nhanh như người mong thoát một gánh nặng:

-Chẳng là, đôi khi chúng tôi phải vào các phum làm công tác dân vận. Bọn họ ưa nói tếu một chút: “Yêu anh không, em ơi!”.

-Ồ. Nguyên Bình cười phá lên. Tiếng cười hôn nhiên của chị khiến Thắng cũng phải bật cười theo. Rồi chị chợt im bặt “On sa lanh boòng tê?” . Nhưng tình yêu đâu có đến dễ dàng thế! Bình và anh Văn biết nhau đã hơn ba năm, nhưng nhiều lúc chị vẫn tự hỏi: Mình thực sự yêu Văn không? Có không? Hay đấy chỉ là một tình thương? Là sự quý trọng? Nhiều lúc bận công việc, chị ngại những cuộc hẹn gặp. Nhưng sau đó chị lại vội đạp xe đến. Nhìn những sợi tóc sớm bạc, nhìn khuôn mặt đẹp một vẻ cao quý ấy. Bình bỗng thương anh đến nghẹn ngào: Em chỉ là một mảnh của cuộc đời anh, chứ không thể là tất cả như anh mong muốn. Chúng ta còn nhiều việc phải làm.

Để tránh những ý nghĩ không vui, Bình quay sang Thắng.

-Tôi biết anh Thắng có làm thơ đấy nhé.

Thắng bật cười. Một lần nữa anh lại đỏ mặt.

-Lại cậu Tâm mách chị hẳn thôi.

-Chú ấy rất mến anh. Mà làm thơ thì có gì cần giấu giếm?

Thắng nói nghiêm trang:

-Không, đấy là một công việc tốt đẹp, rất tốt đẹp là khác. Ngày còn đi học, tôi cũng có làm một vài bài thơ, về một cô bạn cùng học, về nhà trường. Được khe, đã lầm tưởng mình cũng có năng khiếu. Bây giờ, nghĩ lại thấy mình thật ngây thơ đã có những ước vọng ngông cuồng.

Thắng ngừng lời. Nguyên Bình nhìn sang anh. Đôi mắt Thắng long lanh cái nhìn trẻ trung và dào dạt tình cảm bên trong. Chị biết là anh đang nói những điều rất thật, nhưng anh không biết cách diễn đạt thế nào cho khỏi văn vẻ, nên cảm thấy ngượng ngùng.

Thắng nói tiếp:

-Chị không biết đâu. Trong cuộc đời người lính cũng đủ cả niềm vui, nỗi buồn. Chỉ có điều, tất cả những cái đó đều mãnh liệt hơn, sâu sắc hơn là cuộc sống bình thường. Tôi luôn luôn tự cảm thấy bất lực trước những cảm xúc chứa chất trong lòng. Nói thế không biết chị có hiểu rõ ý tôi?

Nguyên Bình trầm ngâm.

-Có lẽ tôi hiểu.

-Vả lại, từ ngày nhập ngũ, việc trước tiên đối với tôi là lo làm trong nhiệm vụ người lính. Trước mắt chúng tôi luôn luôn là cái sống, cái chết, là quân thù và những viên đạn bắn thẳng, vì thế, xin lỗi chị, tôi nghĩ rằng việc cầm khẩu súng nhằm cho trúng cái đích cần ngắm bắn còn bức thiết hơn việc lo diễn đạt cảm xúc, những ý nghĩ, và tìm tòi những vần điệu đang nằm đâu đó trong tiềm thức-anh nói chậm rãi-Tuy nhiên, trong cuộc đời người lính cũng có lắm điều đáng để chúng ta nhớ, suy nghĩ, và viết về nó. Đây là một công việc nghiêm chỉnh, nhiều khó khăn, rất khó khăn. Tôi biết thế. Nhưng đạt được mục đích ấy là một điều tuyệt diệu.

Rồi anh cười:

-Nhưng đấy là công việc của sau này, khi chiến tranh đã kết thúc.

-Xin anh cứ nói.

-Chắc chị còn nhớ, cách đây không lâu, bọn Pol Pot đã đưa những đơn vị lớn vượt biên giới, đánh giết rất dã man những làng xóm của ta. Tất nhiên chúng ta đã trả lời bọn giặc một cách đích đáng. Đồng thời, để cứu một dân tộc anh em, chúng ta đã tiến quân đến Phnôm Pênh. Nói vậy thì thật đơn giản, chúng ta đã tiến quân đến Phnôm Pênh. Và đúng thế, chị nhỉ, nhưng trong cuộc tiến quân cứu bạn thắng lợi ấy, chúng ta đã chịu những mất mát. Điều đó cũng là tất nhiên. Nói chuyện với nhau bằng súng đạn đâu có phải là một cuộc họp mặt vui vẻ. Riêng tôi, trong trận chiến đấu này, tôi suý mất một thằng bạn thân nhất.

Thắng ngừng lời như để cố nhớ lại những hình ảnh đã qua, một lát, anh nói tiếp:

-Bấy giờ, các đơn vị quân đôi ta đã ém sẵn bên này sông. Bên kia sông là sự phòng thủ ngoan cố của địch và con đường quốc lộ dẫn về thủ đô Campuchia. Đó là vùng đất lạ. Bởi vậy cần có đội trinh sát đi nắm chắc ý đồ và phòng thủ của chúng trước lúc quân ta vượt sôn. Sáu người được cử làm nhiệm vụ ấy, trong đó có tôi và thằng Hoà. Nó cùng đi bộ đội với tôi. Chúng tôi ở cách thị xã Biên Hoà một cây cầu bắc qua con sông Đồng Nai. Con sông khá rộng. Nhưng nó chẳng ăn nhằm gì với sức vóc trai trẻ của hai đứa. Có những buổi chiều đi học về, chúng tôi không muốn qua cầu, bèn rủ nhau bơi. Quần áo buộc túm vào tấm vải nhựa, thế là “hấp”, nhảy ngay xuống nước. Nửa tiếng sau leo lên bờ, núp vào bụi cỏ ke mặc lại quần áo. Vừa chui đầu vào tấm áo nịt thoảng mùi mồ hôi quen thuộc, đã thấy bụng réo sôi lên vì đói, thế là ba chân bốn cẳng chạy một mạch về nhà… Rồi những ngày nghỉ học, hai đứa bơi thuyền ra sông câu tôm. Ở quãng đó vào những buổi sáng và khi mặt trời sắp lặn là buông câu, tôm nhiều vô kể. Tôm câu lên, thả ngay trong lòng thuyền săm sắp nước. Những chú tôm cứ cuống quít búng càng tanh tách, nom thật sướng mắt. Khi đã được kha khá, chúng tôi tạm nghỉ đốt bếp than lên nướng tôm ăn ngay trên thuyền, ăn xong, tôi nằm trên sạp thuyền nhìn trời và sông nước hát nghêu ngao, hoặc hoa tay đọc to lên những câu thơ vừa chợt nghĩ ra. Còn thằng Hoà, bao giờ nó cũng chỉ im lặng mỉm cười nhìn tôi đang trong nỗi vui ngông cuồng của tuổi trẻ, dịu dàng như một cô cái đang yêu. Và chúng tôi yêu nhau thật sự. Một tình yêu chân thành nhưng vụng về của những đứa con trai mới lớn. Nhưng tính nết thì khác nhau quá đỗi. Tôi là đứa hay nói. Còn thằng Hoà thì dút dát. Vì dút dát nên nó khổ. Nó yêu đứa em gái tôi, nhưng cu cậu không dám nói. Yêu mà không dám nói. Cái thằng đến kỳ quặc! Nhưng chơi thân với nó, tôi biết, nó là thằng con trai chân thành và cao thượng.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:44:00 pm
Cũng vì hai đứa quen sông nước từ bé, nên chúng tôi được chọn vào phân đôi trinh sát. Lựa một đêm tối trời, chúng tôi tính vượt sông bằng những mảng bèo lục bình kết lại. Trong lúc đợt giờ xuất phát, chúng tôi ngồi gần nhau. Mỗi đứa trên người chỉ độc chiếc quần đùi, phần da thịt để hở đã được trát kín bằng nhựa cây trộn bùn. Chẳng biết bạn tôi nghĩ gì lúc ấy. Nó nằm ngửa trên cồn đất nhìn vòm trời loáng thoáng những ngôi sao thưa thớt, mỉm cười yên lặng. Một lát, thằng Hoà ngồi lên choàng tay ôm ngang lưng tôi: “Thắng à, mình vừa nghĩ đến Thuỷ. Không hiểu sao mình không quên được cô ấy”. Tôi mở trong mắt nhìn nó! Ô cái thằng! Thì ra nó vừa nghĩ đến đứa em gái bướng bỉnh của tôi trước lúc làm nhiệm vụ. Điềm gở chăng? Tôi thoáng nghĩ thế, thương bạn, lại bực mình về chuyện đứa em gái vô tình. Đẹp mà vô tình. Nó làm thẳng Hoà thật khổ. Tôi khẽ gắt với nó:

-Đáng lý mày phải gặp nói chuyện với nó từ lâu rồi. Ngại gì. Đã là thằng lính, sống chết còn chẳng sợ, sợ gì một đứa con gái.

Nó cười hiền lành:

-Mình có sợ đâu.

-Sao mày không nói?

-Lần này mình sẽ nói.

Chúng tôi lặng lẽ trườn xuống nước. Trên bè đặt súng, lựu đạn và thủ pháo. Cứ hai người một bè, chúng tôi dìu vũ khí vượt sông. Đã xa bờ một quãng. Bên kia sông bọn địch vẫn im lặng. Những đám mây tiếp tục đùn lên nhanh chóng. Những vì sao thưa thớt như có ngọn chổi thần quét sạch cả. Sắp mưa đến nơi! Chúng tôi độngviên nhau gắng vượt sang bờ trước lúc trời sắp mưa xuống. Chợt, những ánh chớp loè lên, nhìn rõ từng gợn sóng lăn tăn trên mặt sông mênh mông. Tôi lo thắt ruột. Trong chiến đấu thường có những yếu tố bất ngờ. Nhưng yếu tố bất ngờ này thì xui xẻo quá. Quả nhiên bọn địch đã nhìn thấy những mảng bèo trôi khả nghi trên mặt nước. Chúng bắt đầu xả trung liên vào đám lục bình. Tôi nhắc thằng Hoà: “Cẩn thận đấy nhé!”. Hai đứa cố bơi nhanh hơn. Đằng nào cũng đã lộ. Lên bờ mình dễ xử trí hơn. Sáu thằng lính từng trải với vũ khí tốt trong tay và bên kia sông, các cỡ súng quân ta sẵn sàng chi viện. Chúng tôi bất chấp bọn địch một khi đã đạp chân lên đất. Còn chường 1/3 khoảng cách… Bọn địch bờ bên kia càng bắn dữ. Đạn rơi lõm bõm xung quanh chúng tôi. Đang bơi, tôi thấy thằng Hoà chợt lặng đi một giây. Tôi vội hỏi. Tiếng trả lời của nó chìm đi trong những tiếng nổ. Lát sau thằng bạn tôi như bị sặc nước. Nó bơi yếu hẳn đi. “Mày sao thế?”. Không nghe tiếng trả lời. Hoảng quá, tôi lặn một hơi đến bên nó. Vừa ngoi đầu lên, tôi đã nhìn thấy một bên vai thằng Hoà trúng đạn. Vết thương khá lớn. Tôi vòng tay ôm ngang eo nó: “Có sao không, Hoà?”. Nó ngẩng đầu nhìn tôi, lắc đầu. Cái thằng gan góc thế! Tôi chỉ còn viết vừa dìu nó, vừa dìu vũ khí, cố bơi. Khoảng cách giữa chúng tôi và những mảng bè khác xa dần. Chúng nó vẫn bắn. Thằng bạn tôi đã đuối sức. Nó tựa hẳn vào tôi, mắt nhắm nghiền. Chúng tôi nhích lên chậm chạp. Bơi thêm một quãng ngắn nữa, rồi tôi cảm thấy bàn tay nó bấu trên vai tôi lỏng dần. Tôi vội quát: “Bám chặt lấy!”. Rồi lại dịu giọng: “Hoà ơi, sắp tới nơi rồi! Lên bờ tao băng cho”. Nó mở mắt nhìn tôi trong ánh chớp, nói lào phào: “Thắng ơi, cố đưa vũ khí vào bờ. Cho mình gửi lời thăm Thuỷ. Mình… mình sẽ chỉ làm vướng cậu”. Bàn tay nó bóp nhẹ trên vài tôi một lần nữa, rồi lặng lẽ buông ra. Một loạt đạn bắn rất căng. Những làn sóng chồm lên. Tôi quay lại, không thấy thằng Hoà nữa. Tôi cuống quít quờ tìm nó. Tôi bỏ bè mảng lặn xuống, bơi vòng ra xa. Rồi tôi réo gọi tên nó, bất chấp bọn địch có thể nghe thấy.


Kể đến đây. Thắng im bặt. Hai người rời vườn xoài đã khá xa. Họ sắp quan một con mương cạn. Bên kia bờ mương, những cây thốt nốt đen đủi đứng im dưới nắng chiều oi bức. Đến bên con mương, Thắng co chân nhảy gọn qua bờ bên kia, rồi từ đó, anh nghiêng người giơ tay cho Nguyên Bình:

-Chị đưa tay đây. Thế. Cứ mạnh dạn bước qua đi. Đừng ngại. Nào!

Nguyên Bình đặt gọn bàn tay bé nhỏ của mình trong lòng bàn tay cứng rắng của anh. Rồi lấy đà, chị nhảy theo anh. Nhưng bờ đất trơn làm Nguyên Bình lảo đảo. Thắng vội đưa tay kia nắm lấy vai chị. Hai người gần như giáp mặt. Họ nghe rõ cả hơi thở của nhau. Một giây trôi qua, rồi Nguyên Bình rút tay ra.

-Chị mệt chưa, ta nghỉ một lát nhé?

Hai người ngồi dưới bóng cây thốt nốt. Trước mặt họ, đồng ruộng Campuchia khô cằn, vắng vẻ. Bây giờ đang mùa nắng, hòn đất được nghỉ ngơi, đợi những cơnmữa nguồn tưới xuống, người ta sẽ gieo hạt, cấy lúa. Còn lúc này, nhìn xa hút chỉ rặt một loại cỏ đuôi trâu vàng cháy.


Ở một phum canh bờ mương, bên cạnh căn nhà sàn bó nhỏ, một người đàn bà quấn sà rông đen, ở trần, đang lúi húi cạnh chảo nước thốt nốt sôi sùng sục. Mùi đường thơm ngọt theo gió thoảng đến chỗ hai người.

Nguyên Bình nhìn xuống lòng mương nứt nẻ, hỏi khẽ:

-Ánh có tìm thấy bạn không?

-À, không. Mãi sau ngày Phnôm Pênh giải phóng, tôi mới biết tin nó được một gia đình dân chài Khơ me cứu thoát. Nhưng chính tôi trong chuyến đi ấy lại bị một phen suýt chết khát. Chị uống một chút nước nhé-Anh nói ân cần, rồi nhìn lên những thân cây cao vọi có những bậc thang đơn giản bằng những cành tre buộc áp vào thân cây, anh nói-Đất Campuchia có loài cây này rất quý. Mỗi cây thốt nốt một năm có thể cho người trồng nó gần một tạ đường mà không cần vun bón gì. Khi những quả già rụng xuống, cây con lại mọc lên. Khoảng mười năm sau cây non ra trái lần đầu, và tuổi thọ của nó kéo dài hàng trăm năm. Chị nếm thử nước thốt nốt đi. Cậu liên lạc chuẩn bị cho chị đó.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:44:35 pm
Nguyên Bình nhăn mặt uống một ngụm nước có mùi men rượu chua chua.

-Chị uống nữa đi.

-Cảm ơn anh.

Thắng cười:

-Người ta nói phụ nữ thường ưa ngọt. Đúng thế không chị? Lần sau chúng tôi sẽ mời chị uống nước thốt nốt vào buổi sáng. Khi chưa có nắng, nước thốt nốt ngọt như nước dừa. Còn tôi, tôi có thể uống một hơi hết cả bình tông nước này. Nhưng ở mặt trận Tây Nam, chúng tôi có thói quen phải tập nhịn khát. Chị sẽ trở lại với chúng tôi chứ?
Nguyên Bình ngước lên. Chị bắt gặp đôi mắt Thắng đang nhìn mình, cái nhìn đầm ấm và thông minh. Một con người rất tế nhị-chị nghĩ và trả lời anh dịu dàng:

-Tôi sẽ trở lại, nhất định thế. Nhưng anh phải kể chuyện lạc rừng bữa đó.

-Có gì đâu, chị. Vắn tắt là thế này: trong ba ngày ròng rã, tôi cứ một mình một khẩu súng với túi gạo rang và bình tông nước, đi xuôi theo dòng sông, vạch những bụi lau lách tìm xác thằng bạn. Không thấy. Tôi buồn vô hạn. Nhưng lương ăn đã cạn. Phải tìm về đơn vị thôi. Biết làm sao được! Tôi cứ nhằm hướng Phnôm Pênh cắt rừng mà đi. Ngỡ rằng thế nào cũng gặp anh em trên đường đuổi giặc. Nào ngờ càng đi càng thấy cây rừng bịt bùng. Hết rừng già lại đến những đồi tranh bạt ngàn. Tôi không sợ cô độc. Nỗi buồn về việc không tìm thấy bạn và kỷ niệm về những ngày hai đứa sống bên nhau còn chứa chất trong lòng tôi. Tôi cũng không sợ thú rừng, nhưng nỗi khủng khiếp nhất là tôi đã bị lạc vào một miền đất hoàn toàn không có nước. Ở những cánh rừng này, lũ ong không tìm được nhuỵ hoa. Chúng cũng khát khốn khổ, cứ bay lừ đù và tìm đậu vào môi và mắt người, ngỡ có thể tỉma chất nước ở đó. Tôi nhịn khát đã ba ngày. Cứ đi lang thang hết cánh rừng này đến cánh rừng khác, nhưng không tài nào tìm ra dấu vết đơn vị. Chỉ một lần tôi gặp một nhóm tàn quân địch. Chúng có năm thằng đang ngồi quanh một đống lửa cháy rừng rực. Bên trên ngọn lửa, một cái chảo lớn đang bốc khói. Nấp kín sau một gốc lim già, tôi nổ trọn một băng đạn. Ba thằng gục tại chỗ. Còn hai thằng lủi ngay vào rừng. Chẳng còn sức đuổi theo chúng nó, tôi đến bên đống lửa. Nồi cháo vẫn đang sôi. Tôi mừng quá. Tối sẽ có cháo húp, lại giết được mấy thằng giặc cũng bõ công lạc rừng. Nhưng khi nhìn vào nồi cháo tôi bỗng rợn tóc gáy. Thì ra bọn khốn khiếp đang ăn thịt trẻ em!

Thắng nhăn mạt ghê tởm:

-Thế rồi phần vì sức khỏe đã sút kém sau mấy ngày đói khát, phần vì quá xúc động, tôi gục xuống, ngất đi. Trong cơn mê tôi thấy mình gặp lại con sông Đồng Nai. Và tôi thèm khát uống cạn dòng sông với tất cả cá tôm và rong rêu. Lúc tỉnh lại, cảm giác khát càng tăng lên. Hơi thở nóng như người đang sốt. Không còn đủ sức bước đi, tôi cứ bò lết trên mặt đất. Ba ngày sau, hai đầu gối tôi đã sưng tấy lên, mười đầu ngón tay rớm máu. Đầu óc thì lúc tỉnh lúc mê, mỗi lần thiếp đi chỉ toàn mơ thấy nước… Không thấy tôi trở về, đơn vị cử người đi tìm. Anh em thấy tôi nằm ngất lịm bên cái khe cạn, trong miệng còn dính đầy bùn.


Nguyên Bình đưa mắt nhìn anh. Qua bóng tối của vành mũ trùm lên vầng trán rộng, đôi mắt Thắng nghiêm nghị. Tim Nguyên Bình chợt se lại khi nghĩ rằng chỉ ngày mai chị sẽ phải chia tay với anh, một người không quen biết nhưng gần gũi biết bao. Anh đã đưa cho chị một bàn tay vững vàng của người lính khi Nguyên Bình suýt ngã. Và anh đã tin cậy kể cho chị nghe những chuyện buồn vui với một niềm tin độ lượng và vô tư chỉ có ở những người cùng chia sẻ mọi nỗi gian truân trong khói lửa. Điều đó khiến Nguyên Bình cảm động. Bằng một giọng chân thành, chị nói:

-Ban nãy anh nói với tôi rằng, anh luôn bất lực trước những xúc cảm của mình, rằng trước hết, anh lo làm nhiệm vụ một người lính. Còn tôi, tôi cho rằng nếu anh se cầm bút thì thật đáng sợ. Không, xin anh đừng cười. Tất nhiên không phải bây giờ, mà khi cuộc chiến tranh qua đi, tôi tin rằng lúc ấy sẽ có một lực lượng mới rất đáng tin cậy sẽ xuất hiện trong văn học. Những người này còn ai khác nếu không phải là các anh, những người cầm súng có kiến thức, có hiểu biết và từng trải, đã lăn qua sự sống và cái chết, biết cách hiểu cặn kẽ về giá trị con người một cách xác đáng nhất. Còn tôi… tôi luôn luôn có mặc cảm là kẻ nghèo khó đi vay. Tôi đi vay cuộc sống trong những chuyến đi này.

Nguyên Bình bối rối mỉm cười:

-Ở Hà Nội, nếu muốn, tôi có thể sống thoải mái với căn buồng của riêng mình. Một chiếc bàn kê gần cửa sổ với ngọn điện ấm cúng toả sáng trên trang viết. Tôi đọc sách trong những thư viện tốt nhất. Tôi đi dạo chơi với bạn bè trên đường phố, khăn len quàng kín cổ những buổi tối mùa đông, hoặc đi xem những vở kịch mới công diễn. Rồi tôi lấy chồng, được chiều chuộng, và một cuộc sống tương đối dễ dàng phẳng lặng với cái gia đình nho nhỏ và những lo lắng vặt vãnh hàng ngày. Một cuộc sống bình thường, không thể chê trách điều gì được. Thế nhưng tôi vẫn luôn luôn tự hỏi: sống như thế tôi sẽ có ích gì cho cuộc đời này?


Nói đến đây, chị im bặt quay đi. Khi Nguyên Bình quay lại, Thắng chợt thấy đôi mắt chị đã hoe đỏ. Thắng nghĩ: một con người trong sáng và… dễ yêu. Cô ta không giống chút nào như những định kiến người ta thường nghĩ về những người làm văn nghệ, kênh kiệu và khó gần. Mà tại sao trong những lời lẽ chân thành của cô ấy có cái gì như xót xa, như đau khổ! Thế mà mình đã nghĩ, với những truyện ngắn được công nhận, với một tên tuổi đã bắt đầu quen biết, và một bản chất thông minh, cô ấy phải là người hạnh phúc. Cuộc đời thật không đơn giản chút nào.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:45:34 pm
Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng. Lát sau Thắng quay lại, và anh không thể rời mắt khỏi đôi bàn tay mảnh dẻ đã bắt đầu rám nắng của chị. Tự dưng anh muốn nắm lấy đôi bàn tay ấy, muốn nói với chị một lời thân thiết. Nhưng anh không dám. Bất chợt Thắng thấy mình ghen với những người đi cùng Nguyên Bình. Cảm giác này chưa hề gặp trong đời. Có lẽ lúc này, trước mắt chị, anh là một thanh niên đáng mến, và chị cũng có chút ít cảm tình với anh. Nhưng biết đâu, khi chị đã về với đám bạn bè giữa thủ đô tưng bừng ánh điện, lúc đó liệu chị có còn nhớ đến anh?
Thắng đứng lên, anh nói mà không nhìn Nguyên Bình:

-Ta đi nhỉ. Chị giữ lấy khẩu súng ngắn này của tôi và đừng bước khỏi lối mòn. Phải cẩn thận. Rừng Puleng ở trước mặt ta kia rồi!

Sau khi rời Puleng, Nguyên Bình cùng các bạn còn đi nhiều nơi khác ngoài mặt trận. Chị ghi chép nhiêu và viết những bút ký từ mặt trận gửi về toà soạn. Công việc, những cuộc gặp gỡ các tù binh, nói chuyện với các chiến sĩ quân tình nguyện và những ấn tuợng mới đã thu hút nhiều tâm trí Nguyên Bình.


Có một lần, từ một đơn vị ở gần nơi đóng quân của d5, Nguyên Bình gọi điện cho Thắng: “Alô, cho tôi xin nói chuyện với Đồng Nai”. Tiếng điện thoại quay rè rè ở đâu đó vẳng tới trong ống nghe khiến chị cảm thấy sao lâu quá, và Nguyên Bình hồi hộp chờ đợi, tim đập rộn lên. Liệu anh ấy có còn nhớ đến mình không chứ? Và mình sẽ nói gì bây giờ? Rõ thật vớ vẩn? Những ý nghĩa ấy khiến chị bối rối và toan bỏ ống nghe xuống. Đúng lúc ấy, chị bỗng nghe một giọng nói quen thuộc: “Thắng đây. À, Nguyên Bình đấy ư? Chào chị. Có khỏe không? Chúng tôi rất mong chị quay lại đấy”. Nguyên Bình đáp vội vã: “Vâng, vâng”. Rồi tiếng máy im bặt. Ở đâu đó người ta đã cắt dòng điện rồi. Chị ngồi im, vẫn như còn đang nghe thấy giọng nói ấm áp của Thắng. “Chúng tôi rất mong chị quay lại…”. Vậy là Thắng vẫn nhớ đến chị. Nghe giọng nói, có vẻ anh ấy rất vui. Nguyên Bình mỉm cười. Anh ấy có biết rằng chị cũng luôn nhớ đến anh? Tại sao chị không thể quên anh. Một người con trai mới quen biết?


Nguyên Bình trở lại d5 vào một buổi sáng đẹp trời. Đơn vị đã chuyển quân đến một địa điểm khác. Rời con đường quốc lộ, đi tắt qua một ruộng khoai, chị nhìn thấy những dãy lán nhỏ xung quanh ngôi chùa cổ hoang vắng. Bọn Pol Pot đã đập phá hết những tượng Phật ở đây rồi!

Một người lạ mặt bước ra đón Nguyên Bình tận cửa lán. Sau cái xiết tay chặt, anh tự giới thiệu:

-Tôi là Phương, tiểu đoàn phó… chị trở lại thật tốt quá. Mời chị vào nhà đã.

Nguyên Bình nhận thấy có điều gì là lạ trong giọng nói của đồng chí tiểu đoàn phó. Anh đối xử với chị vừa rất thân tình, lại như có vẻ trân trọng khác thường.

Một chiến sĩ trẻ bước vào cửa lán. Nhìn thấy Nguyên Bình, anh đứng sững tại chỗ. Chị quay lại, reo lên mừng rỡ:

-Chú Tấm!

Phương ý tứ đứng lên:

-Tâm tiếp khách giúp anh nhé. Còn gói chè trong túi balô-Rồi quay lại Nguyên Bình-Tôi có chút việc bận. Tôi sẽ quay lại ngay. Chị cứ tự nhiên.

Còn lại hai người. Nguyên Bình hỏi chú liên lạc;

-Anh Thắng đi công tác ư?

-Để em tìm gói chè, pha nước đã-Tâm vội vã đứng lên. Một linh cảm khiến Nguyên Bình e ngại, chị giữ lấy tay Tâm:

-Chị không khát nước đâu. Anh Thắng bao giờ về?

Giọng Tâm bỗng trở nên gắt góng:

-Anh ấy… không về nữa!

-Sao?-Nguyên Bình sửng sốt.

Tâm vẫn không quay lại. Cái gáy cao cúi thấp xuống, chú vặn vẹo bàn tay khiến các đầu khớp xương kêu lên răng rắc:

-Anh ấy hy sinh rồi!

Nguyên Bình lặng đi. Chị không sao thốt ra thêm được một lời nào. Chị bàng hoàng tựa lưng vào vách lán. Ánh mắt Nguyên Bình dừng lại trên khẩu súng ngắn treo nơi đầu võng chú liên lạc. Chị nhận ra ngay chính khẩu súng đã một lần Thắng cho chị mượn khi hai người cùng đi tới cánh rừng Puleng. Khẩu súng như nhắc chị chủ nhân nó đã vắng mặt. Có lẽ nào như vậy?

Lát sau, Nguyên Bình hỏi, tiếng chị khẽ như một hơi gió thoảng:

-Anh Thắng nằm ở đâu?

-Chúng em đã đưa anh ấy về gần đây, trên đồi Cháy.

-Chú có thể… đưa chị đi thăm anh ấy không?

-Vâng.

-Đi ngay bây giờ. Ngày mai chị phải về đoàn rồi.

-Chị đợi em một lát.

Khi Tâm quay về, chú thấy Nguyên Bình đã chải tóc gọn gàng và thay chiếc áo đi đường nhàu bụi. Với chiếc áo trắng đơn giản, trông chị xanh xao hơn ban nãy.

Hai người đi qua một phum thấp thoáng những mái nhà sàn mới dựng. Một hàng cây thốt nốt, rồi một tràn ruộng thấp có những luống cải đang ra hoa lấm tấm vàng.
Đã đến chân đồi Cháy.

-Chị có mệt ta nghỉ một chốc. Tâm nói.

Nguyên Bình lắc đầu không trả lời. Từ lúc nghe tin Thắng hy sinh, chị không còn ý thức được thời gian, cũng không chú ý tới xung quanh, cả tâm trạng mình ra sao chị cũng không tài nào phân tích nổi. Chỉ một ý nghĩ dai dẳng cứ bám riết lấy chị: Mình phải theo sát chú ấy, nếu không sẽ chẳng bao giờ mình đến nơi đâu.


Tâm đưa vào tận tay chị một ca đầy nước. Chiều lòng chú liên lạc, Nguyên Bình đưa ca nước lên môi. Nước có vị ngọt mát. Chị bỗng nhớ đến một câu nói: “Lần sau chúng tôi sẽ mời chị uống nước thốt nhốt vào buổi sáng”. Có lẽ chú Tâm đã làm theo ý Thắng dặn lại?-Chị đau lòng nghĩ.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 08 Tháng Chín, 2009, 06:46:19 pm
Hai người dừng lại bên nâm mộ trên đồi. Nguyên Bình nhận thấy xung quanh nấm đất hình như vừa được phát dọn sạch sẽ, và tren vồng đất dưới chân tấm bia gỗ có những chân hương còn mới. Chị cúi đầu thầm nức nở. Anh Thắng, tôi đã trở về đây sáng nay. Nhưng tôi không còn được gặp anh!

Chú liên lạc thì thầm bên tai chị:

-Sau ngày chị rời đơn vị không bao lâu, chúng em được lệnh đi cứu gần hai trăm dân bị bọn tàn quân địch dồn lên núi cao. Khốn khổ, những con người chẳng còn ra hồn người, chẳng khác nào một lũ ma đói. Đơn vị khắp chặt vòng vây, nổ súng. Bọn địch một số bị tiêu diệt, những đứa khác vứt súng, đầu hàng. Nhưng có một thằng khốn nạn trước lú trốn còn vứt bậy một trái lựu đạn vào giữa đám dân thường. Quả lựu đạn xì khói, sắp nổ. Anh Thắng vội lao tới lượm lấy, toan ném nó ra xa, nhưng không kịp nữa… Anh ấy bị thương nặng, chỉ tỉnh lại một lúc. Anh ấy dặn em trao cuốn sổ này cho chị.


Tâm mở cúc áo ngực lấy cuốn sổ nhỏ bìa bọc ni lông, đưa cho Nguyên Bình. Chị đỡ lấy vật kỷ niệm bằng những ngón tay run rẩy:

-Tâm ơi, ai đã thắp những nén hương này?

-Một bà giáo ở Phnôm Pênh chị ạ. Bà mẹ ấy là một trong số người được đơn vị cứu thoát. Tháng trước bà đến đây thăm anh Thắng. Bà ấy khóc ghê quá: “Chúng nó đã giết gần bốn triệu dân Campuchia mà không hề xót thương. Cớ sao một thanh niên trẻ đẹp như con lại chết vì những người không ai buồn đếm xỉa đến!”.

Chúng em phải an ủi bà mẹ! “Mẹ đừng nói thế kẻo anh ấy không vui. Mẹ hãy chăm sóc và dạy dỗ các em phải sống sao cho xứng đáng với người đã hy sinh…”.

Buổi tối Tâm đã sửa soạn cho chị một chỗ ngủ trên chiếc sạp nằm trong lán chỉ huy tiểu đoàn. Gian buồng nhỏ được ngăn riêng bằng những phên liếp sơ sài:

Lúc chiều, đồng chí tiểu đoàn phó nói với Nguyên Bình:

-Chúng tôi đã thu xếp, chị sẽ nghỉ lại ở nhà một chị trong phum, cũng gần đây. Ở đấy yên tĩnh.

Nguyên Bình lắc đầu:

-Anh cho tôi ngủ ở đây thôi. Tất nhiên, nếu tôi không làm phiền…

Phương nói:

-Đối với chúng tôi, bây giờ chị là người của đơn vị.

Rồi anh mang tới cho Nguyên Bình ca nước chè đậm rất nóng, một chiếc bát sắt, và một ngòn đèn bão. Sự chăm sóc chu đáo ấy khiến chị lại rưng rưng muốn khóc.

Nguyên Bình biết rằng cả đêm nay, chị sẽ không tài nào nhắm mắt được. Và chị không muốn làm phiền một gia đình xa lạ. Rất khuya, Nguyên Bình vẫn thức với cuốn sổ giờ này đã trở thành một di vật thiêng liêng đối với chị. Trong đó chị đọc thấy những bài thơ đang làm dở, những tiếng Campuchia có lẽ Thắng đang học, cả những trang ghi chép về công việc. Cuối cùng của cuốn sổ là một bức thư viết cho chính chị.

“Nguyên Bình!

Chỉ vài tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ cùng đơn vị đi làm nhiệm vụ. Em đừng nghĩ rằng tôi bi quan. Không. Tôi tin chắc mình sẽ trở về như những lần trước đây. Chính vì vậy tôi viết thư này cho em. Nhưng dâu sao trước lúc bước vào một trận chiến đấu mới, người lính thường hay để cho lòng mình lắng lại với những ý nghĩ chân thực nhất. Tôi nghĩ đến em lúc này và tôi không muốn dối lòng, tôi đã yêu em ngay từ khi mới gặp. Tại sao thế? Tôi không cắt nghĩa nổi điều này. Hãy tha thứ cho tôi nếu em thấy điều tôi vừa nói với em quá đường đột. Nhưng tôi đã suy nghĩ nhiều. sau đây, thế nào tôi cũng sẽ tìm gặp em, dù khó khăn đến mấy. Tôi đã cảm thấy nếu có em, tôi sẽ dễ dàng làm được những công việc khó khăn mà cả em và tôi đều ước muốn-Những việc tốt đẹp có ích cho cuộc đời lâu dài. Và tất nhiên, nếu bây giờ bẫn không có điều ràng buộc cuộc đời em, nếu em cũng yêu tôi và thấy cần có tôi, chúng ta sẽ đem lại hạnh húc cho nhau và cùng nhau làm việc. Cuộc sống sẽ có ý nghĩa biết bao!

Tôi sung sướng khi nghĩ đến điều đó, và tôi sẽ rất đau khổ nếu biết rằng em chỉ đi qua cuộc đời tôi rồi không  bao giờ trở lại! Em có biết rằng rôi mong cháy lòng phút gặp lại em, đồng thời tôi cũng rất lo sợ giờ phút ấy. Tất cả đều do em định đoạt. Đó là quyền của em. Dẫu sao tôi cũng đã nói với em những điều sâu kín nhất của một người lính trước phút ra trận. Nhưng tôi không cầu xin. Không bao giờ!

Không biết rồi đây cuộc đời sẽ ra sao, nhưng từ bây giờ tôi đã hình dung đến một ngày nào đó, tôi sẽ dẫn em về thăm con sông quen thuộc mà có lần tôi đã kể cho em nghe. Ở quê tôi cũng còn những vườn cây ăn trái bạt ngàn, vườn nọ ngăn với vườn kia chỉ bằng những con mương dần nước bao giờ cũng trôi bập bềnh những trái chín rụng. Em sẽ ngồi dưới những vòm cây trĩu quả nhìn ngắm chúng bằng ánh mắt trầm trò hay sẽ nói chuyện ríu ran? Những người thân của tôi thì vui vẻ lắng nghe em nói giọng Hà Nội nhẹ nhàng. Thằng Hoà thì chỉ mỉm cười, nhưng tôi biết trong lòng nó vui lắm đó. Còn tôi, tôi mang đến cho em một cành chôm chôm đầu mùa, và sẽ thầm hỏi em một câu bằng tiếng Khơ Me mà em đã biết: “On sa lanh boòng tê?” Nhưng em không trả lời, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt dịu dàng, đằm thắm. Rồi em ăn thử trái lạ và nhăn mặt lại xuýt xoa vì chua…”.


Bên ngoài căn lán nhỏ, những cơn gió sớm đã trở về trên cây si đại thụ trước mảnh sân chùa rộng thênh thang. Những phiến lá mềm và ẩm khẽ đu đưa. Một con chim đang ngủ trong mái hiên ngôi chùa cổ bỗng giật mình cất tiếng hót trong veo.

Đã gần sáng.

Nguyên Bình đặt quyển sổ xuống, mắt đẫm nước. Chị hiểu rằng, hạnh phúc chân chính đã không đến với chị nữa.

Chị lẩm bẩm, đưa tay lên che mắt:

-Em sẽ về thăm quê anh sau chuyến đi này như điều anh mong. Đối với mọi người anh vẫn đang sống, trong những người dân Campuchia anh đã cứu họ, trong lòng đồng đội và những người thân thiết. Và trong lòng em anh không chết. Không bao giừ em có thể quên anh!


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Tám, 2013, 09:39:52 pm
Nặng hơn ám ảnh
Vương Trọng

Con ở đây kìa mà, mẹ ơi! Mẹ không nhận ra con của mẹ hay sao? Con mới xa mẹ bốn năm, ừ thì hơn bốn năm mấy tháng nhưng mà sao mẹ không nhận ra con? Dù con đi xa thì xa thật, dù con không còn trở về đến nhà nhưng mẹ đã tìm đến đây mẹ phải xích sát lại với con của mẹ chứ? Mẹ ơi, mẹ giận con à? Còn có lỗi gì đâu hở mẹ? Sao mẹ lại bỏ con mẹ đi? Mẹ ơi… mẹ.

-Chị nhầm rồi chị ạ, sao chị lại khóc lóc và kể lể với tôi? Tôi không hề biết chị là ai. Tôi mới mười tám tuổi tròn, ngoài mẹ tôi ra tôi không có một người đàn bà nào thân thiết. Chị đi đi, đừng khóc nữa. Những giọt nước mắt kia phải được rơi đúng chỗ với những kỷ niệm chị nhắc tới. Với tôi những điều chị nói hoàn toàn xa lạ, không thể gọi là kỷ niệm được…

-Lung tung hết, hỗn độn hết, không còn tôn ti trật tự nào nữa. Tên tôi ghi trong khai sinh là do bố tôi đặt cho. Ông cụ là người thâm nho, khi đặt tên cho con thường cân nhắc kĩ lưỡng lắm nên tên con bao giờ cũng có nghĩa. Ai lại một thoáng có kể đổi tên tuổi quê hương dễ dàng như vậy. Phải trả lại tên cho tôi, trả ngay đi…


Chị Oanh tái mặt nghe lời chồng mê sảng. Người anh sốt hầm hập, lúc đắp cả hai chăn bông, lúc lại đạp tung ra. Từ sáng đến giờ chị ngồi bên giường với chồng, nhưng bây giờ nghe những lời anh nói bỗng chị thấy sợ. Sao mẹ đi chợ lâu về thế? Lúc ra đi mẹ có biết anh bị sốt rồi kia mà? Trời ơi chỉ mới hôm qua đây thôi, được ở nhà một mình với anh, sao mà hạnh phúc. Chị đã bao lần khen mẹ sao mà tâm lý thế. Nhưng hôm nay chị sợ trước những lời mê sảng chẳng có ý nghĩa gì. Anh ốm thì anh nằm, chị có thể phục vụ tất cả mọi điều nhưng chị xin anh đừng nói những điều như vậy làm chị sợ.

Cũng may lúc đó bà cụ đã về đến sân. Chị vội vàng đứng dậy:

-Mẹ ơi, mẹ vào đây với con. Không biết nhà con sốt nóng thế nào mà cứ nói lung tung làm con sợ lắm.
Bà cụ vôi vàng đặt cái mủng đầy ắp các loại thực phẩm xuống ghế, đến bên giường với con trai theo lời khẩn cầu của con dâu. Bà chà bàn tay mình vào áo cho thật khô rồi nhẹ nhàng đặt lên trán con. Ngay tức khắc mắt Hiếu-tên người con trai-mở ra nhìn ngơ ngác, xa lạc. Mắt có nhiều lòng trắng khác thường khiến bà hơi rợn. Chưa bao giờ con trai bà nhìn và như thế. Bà thấy yên tâm hơn khi đôi mắt ấy từ từ khép lại, nghĩ là con tiếp tục ngủ, nhưng từ mồm con lại cất lên giọng hoàn toàn khác hẳn:

-Bà là ai, sao bà lại đến đây với tôi? Bà tìm con trai bà à? Thế thì bà tìm đi, tìm xung quanh đây, tìm bên kia, tìm mọi nơi thế nào bà cũng gặp. Tôi đợ mẹ tôi thôi, tôi đâu có đợi bà? Con trai bà chắc chắc đang đợi bà đấy, nhưng không phải ở đây.

-Con nói gì vậy, Hiếu ơi? Mẹ vừa đi chợ mua bánh cuốn về cho con đây, thứ bánh cuốn hôm qua mẹ đã mua mà con khen bánh cuốn quê mình ngon nhất đó mà!

-Bà nhầm rồi, bà vào đây không được lâu đâu. Bà hãy đến với con bà, để tôi nằm yên, tôi đợi mẹ tôi!
Tay Hiếu quờ lên, hất bàn tay mẹ ra khỏi trán mình rồi trở mình quay mặt vào tường như không muốn đón nhận sự săn sóc của mẹ.

Oanh sợ hãi nhìn mẹ chồng:
-Có lẽ phải đi mời bác sĩ thôi mẹ ạ.

Bà cụ nói giọng lo lắng:
-Không biết tại sao nó lại nói lung tung như thế? Hồi chưa đi bộ đội có nhiều lần nó ốm, có lúc sốt cao hơn bốn mươi độ nhưng không hề mê sảng một lời. Con ở nhà, mẹ đi mời bác sĩ đến khám xem thuốc thang ra sao.

Oanh đứng dậy:
-Mẹ vừa mới đi chợ về, mẹ ngồi đây với anh Hiếu, để con đi mời bác sĩ cho. Từ đây sang xóm Hạ con đạp xe một chốc là đến thôi mà!

-Ừ thì con đi cũng được. Nếu đến nhà không gặp thì con lại ra bệnh viện.


Bác sĩ đến khi Hiếu đang mê sảng. Lần này không chỉ miệng nói, hai bàn tay anh đưa ra phía trước, lúc như cầu xin, lúc như xua đuổi. Bác sĩ ngồi xuống giường, Hiếu lại quay mặt vào tường, nằm im. Bác sĩ rút cái đo nhiệt độ trong túi đồ nghề ra và vẩy vẩy mấy cái.
-Anh cặp nhiệt độ xem sao!


Bác sĩ nhắc lại hai lần đề nghị đó nhưng Hiếu vẫn nằm im, ông đành tự tay mở cúc áo sơ mi quân phục của bệnh nhân rồi nhét cái đo nhiệt độ vào nách. Sau khi hút gần tàn điếu thuốc ông lấy cái đo nhiệt độ ra, nâng lên ngang tầm mắt xem xét:
-Gần bốn mươi độ. Mê sảng do sốt cao. Chỉ cần uống mấy viên hạ sốt là khỏi.


Nghe bác sĩ nói, bà cụ và Oanh thật mừng. Nhưng niềm mừng đó không được bao lâu: Ba ngày sau khi đã uống hết liều thuốc bac sĩ chỉ định mà theo ông là bệnh “tiệt nọc” thì Hiếu vẫn sốt từng cơn mê sảng liên hồi. Chỉ có điều lạ là đến bữa ăn anh thường tỉnh và ăn uống không đến nỗi nào, suốt bữa ăn không hề nói một lời, uống nước rồi lại nằm lăn xuống giường, kéo chăn đắp.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Tám, 2013, 09:41:36 pm
Bác sĩ còn ghé nhà mấy lần nữa thăm bệnh nhân và cho thuốc nhưng bệnh tình của Hiếu không có chiều thuyên giảm. Đến ngày thứ sáu kể từ khi Hiếu lâm bệnh, bác sĩ tỏ ra hoang mang nên khi Oanh đến mời, ông không còn sốt sắng nữa. Bà cụ quyết định mời thầy thuốc đông y. Thầy thuốc đông y là một ông già to cao, tóc bạc, da dẻ hồng hào, nói oang oang từ ngoài sân:

-Không quen với thổ ngơi, khí hậu quê hương hay sao mà mới về được mấy ngày là ốm với đau? Hay là biết vợ mình chiều mình, yêu mình rồi làm nũng.

Ông già ngồi xuống mé giường, dùng hai tay xoay người hiếu về phía mình, để một tay Hiếu lên đùi ông, bắt mạch. Lúc đó bà cụ đang đun nước ở dưới nhà, ông hỏi Oanh:

-Tính đến hôm nay, anh Hiếu về nhà được mấy hôm rồi?

-Dạ thưa ông, đúng mười hôm rồi đấy ạ!

-Anh bị bệnh hôm nay là ngày thứ mấy?

-Dạ, thứ sáu ạ!

-Thế là anh về được bốn hôm thì bệnh. Trong bốn hôm ấy có chuyện gì xảy ra với anh Hiếu, đối với gia đình cô nói hết cho tôi biết.

-Dạ…


Mặt Oanh đỏ lên, lúng túng. Anh mới về được bốn hôm thì có chuyện gì xảy ra được chứ? Chẳng lẽ lại kể với ông về tình cảm vợ chồng. Chăng ai hạnh phúc bằng cô đêm hôm đó. Sau năm năm chờ đợi, cô mới gặp lại anh ngay trên cái giường và chiếc gối đôi mà cô tự sắm lấy trong những ngày anh xa. Anh nhập ngũ để bổ sung cho chiến trường Tây Nam còn cô trong hai mươi tuổi, học sinh năm cuối cùng của trường trung cấp sư phạm. Anh nghỉ gần hết nửa phép rồi mới gặp cô, không biết duyên số thế nào, vừa gặp anh là cô bị hút như nam châm gặp sắt. Thế rồi đám cưới được tổ chức, khi phía sau của anh chỉ còn ba ngày phép và vì thế cô cũng chỉ xin phép nhà trưởng nghỉ học bốn ngày. Đêm tân hôn ngỡ ngàng, lo sợ lấn át hạnh phúc. Chưa quen hơi bén tiếng thì đã đến ngày đèo balô đưa anh ra bến xe để anh đi về nơi đối với cô hết sức mơ hồ trong bốn chữ “mặt trận Tây Nam”. Năm năm trời anh mới trở về. Anh không béo tốt nhưng rắn chắc và khỏe mạnh và điều đáng kể hơn đối với cô là anh được ra quân. Đêm nằm trong vòng tay rắn rỏi của anh, ngoài trời mưa ngâu tí tách, nghĩ chuyện từ nay không còn phải xa nhau, cô mới hiểu thế nào là hạnh phúc. Ba đêm liền anh và cô sống như thế. Ba đêm liền giữa hai người hầu như không có khoảng cách. Sau đêm đầu tiên, cô gỡ vòng tay anh ra để thức dậy nấu nướng, nhưng xuống bếp đã thấy lửa đỏ và mùi xôi mới thơm phức. Thấy cô bước vào, bà cụ bảo:

-Con trở về giường với chồng con đi. Chuyện cơm nước đã có mẹ, con đừng để chồng con phải nằm một mình, nó phải nằm một mình quá nhiều rồi.

Trăm lần cô muốn nói lời cảm ơn mẹ nhưng cô không quen nói lời như thế với người quá gần gũi, yêu thương mình trong suốt năm năm cô sống xa chồng. Cô chỉ biết đứng lặng nhìn mẹ, nhìn ngọn lửa rực rỡ, ấm áp nhảy múa rồi chạy ngược lên căn phòng phía trên, ngã mình vào vòng tay mở sẵn của anh. Hình như anh đang thức đợi cô trở lại, nên khi thân thể ấm áp của cô vừa ngả xuống cánh tay thì anh ôm ghì lấy, trao cô những cái hôn mãnh liệt.


Ba đêm đầu cô và anh đã sống với nhau như thế. Đến đêm thứ tư, anh đặt lưng nằm xuống là ngủ ngay. Mấy lần cô gợi chuyện không thấy anh trả lời rồi cô cũng nép vào anh mà ngủ. Hạnh phúc của niềm hoan lạc phải kể đến giấc ngủ tiếp theo, không biết có quyển sách nào có nói như vậy.


Khoảng nửa đêm, cô tỉnh dậy, thấy anh xoay lưng về phía mình, ngủ say. Cỗ bỗng thấy cô đơn, thiếu thốn. Niềm khao khát thức dậy trong người cô đòi hỏi được anh thoả mãn. Cô lay vai anh, anh vẫn nằm yên, cô định dùng sức mình để xoay người anh lại phía mình, bỗng anh gạt tay cô ra và nói bằng giọng hết sức xa lạ:

-Lộn xộn hết cả rồi, lung tung hết cả rồi. Tên tuổi quê quán, vợ con chẳng biết đâu mà lần…

-Anh Hiếu, anh nói gì vậy, em đây mà. Oanh đây, vợ của anh đây.

Cô áp má vào má anh bỗng thấy má anh nóng bỏng. Thì ra anh đang sốt.

Mọi chuyện chỉ có như thế, nhưng chả lẽ lại nói ra với thầy thuốc hay sao. Nhưng làm thinh lâu cũng không tiện, cuối cùng Oanh trả lời:

-Anh Hiếu mới về được mấy hôm đã có chuyện gì đâu mà đến nửa đêm thứ tư thì anh bắt đầu lên cơn sốt.

Thầy thuốc đặt tay Hiếu xuống chiếu, gật gật đầu:
-Mạch trầm… bệnh không chóng khỏi. Khi mê sảng anh Hiếu thường nói những chuyện gì?

Oanh trả lời:
-Anh ấy nói như giọng của ai ấy, cháu nghe sợ lắm. Chẳng có chuyện gì ra chuyện gì, toàn những từ “lung tung”, “lộn xộn” lúc như xua đuổi, lúc như mời mọc ai đó.

Thầy thuốc lại gật đầu. Ông đứng dậy đi tới cái bàn Oanh vẫn thường dùng để soạn giáo án và chấm bài. Ông kê đơn thuốc căn dặn người nhà thật tỉ mỉ.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Tám, 2013, 09:44:57 pm
Uống hết ba thang thuốc đông y, bệnh tình của Hiếu vẫn không có dấu hiệu gì của thuyên giảm. Vẫn sốt, vẫn mê sảng, duy có điều làm người nhà đỡ lo hơn anh vẫn ăn được. Buổi sáng hôm đó, Oanh định sang nhà thầy thuốc để mời ông tới bắt mạch, kê đơn mới cho chồng, thì nhà có khách. Đó là một thanh niên còn trẻ, mặc quân phục, đầu trần, môi thâm, mặt tái xám. Mặc dù khách chưa tự giới thiệu, nhưng nhìn nước da sốt rét của anh, Oanh vẫn đoán khách là bạn chiến trường Tây Nam của chồng mình. Người khách sững lại khi nghe tin Hiếu bị ốm và đòi vào tận giường thăm anh.

Hiếu vẫn nằm quay mặt vào phía trong, khách ngồi xuống sờ tay lên trán:
-Anh Hiếu ơ, Dũng đã sang thăm anh đây. Tưởng người ốm là em, chứ ai ngờ lại là anh. Mấy năm ở bên đó có ai thấy anh đau yếu là gì!

Hiếu xoay người lại, mắt mở trừng trừng nhìn Dũng rồi xoay mặt đi:
-Lẫn lộn, lung tung hết cả rồi. Làm sao, làm sao bây giờ. Tên tuổi, quê hương sai lung tung hết. Thôi bà con ơi, đã bảo bà đi đi, đi mà tìm con bà. Tại sao bà lại khóc với tôi, tại sao bà lại kể lể với tôi. Con bà đang muốn nghe lời bà, tôi muốn nghe lời mẹ tôi chứ! Và cô nữa, sao cô lại bảo cô là vợ tôi? Tôi mới mười chín tuổi làm gì đã có vợ. Cô đi đi, chồng cô nằm gần đây thôi.


Tay Hiếu dứt khoát đẩy tay Dũng ra khỏi vai mình, Dũng thất thần quay lại, chị Oanh nói:
-Mấy ngày nay khi mê sảng nhà tôi toàn nói những chuyện như thế. Toàn nói chuyện sai lầm, lẫn lộn tên tuổi quê hương… Có phải chú cùng ra quân một lần với anh Hiếu không?

-Đúng thế chị ạ. Hôm chia tay, em hẹn về nhà ít hôm rồi sang chơi với anh. Chị vẫn dạy ở trường thị trấn, phải không?

-Thế ra nhà tôi đã nói chuyện với chú.

-Anh Hiếu đã uống những thuốc gì hả chị?

-Mời chú uống nước. Tây y, đông y đều dùng cả nhưng sao bệnh không thấy giảm…

Bỗng Hiếu ú ớ làm hai người quay lại:
-Mưa! Mưa to quá ướt hết cả rồi. Mất tên mất tuổi rồi!


Lời nói đó của Hiếu hoàn toàn vô nghĩa đối với Oanh nhưng làm Dũng giật thót mình. Có thể thế nào lại như thế được? Đúng rồi, từ lúc đên đây nghe lời nào anh ta nói cũng liên quan đến chuyện đó. Dũng bần thần nhìn Oanh, mình có nên kể lại cho chị nghe hay không? Nhưng kể mà làm gì, chẳng có cách nào sửa chữa được sai lầm đó.

Rót thêm một chén nước nữa cho Dũng, Oanh nói:
-Chú làm ơn ngồi với anh Hiếu một lú, tôi sang hàng xóm tìm bà cụ, bà đang đi tìm lá thuốc Nam…

-Vâng, chị cứ đi đi, tôi trông cho. Hồi ở đơn vị tôi làm y tá đấy chị ạ.


Chị Oanh đi rồi, Dũng chầm chậm nhìn Hiếu như cố kiểm tra lại những điều mình phỏng đoán có đúng hay không. Hai người cùng huyện, ở hai xã kề nhau, cùng ra quân một ngày, chỉ khác nhau về cấp bậc, chức vụ: Hiếu thượng uý, cán bộ đại đội còn Dũng là trung sĩ, y tá tiểu đoàn. Hôm đó vì có quân hàm cao nhất trong đoàn nghỉ phép và ra quân nên Hiếu được cử làm đoàn trưởng trên đường về nước, khởi hành từ một địa điểm phía tây Bát Đom Boong. Trước khi lên đường, trung đoàn trưởng còn giao cho đoàn một nhiệm vụ khá nặng nề là đưa mười tử sĩ về nước, chôn cất tử tế vào nghĩa trang trước khi về quê hương. Khi Dũng cùng mấy bạn nữa mang balô ra xe thì thấy mười quan tài màu đỏ xếp sẵn trên thùng xe Din, mỗi hàng năm chiếc. Danh sách tử sĩ thì trung đoàn trưởng trực tiếp trao cho Hiếu. Xe chạy bụi bay mù mịt. Theo thời tiết thì đã qua mùa khô lâu rồi nhưng vùng đồi núi phía tây này vẫn chưa có hạt mưa nào. Không mưa chỉ khổ những người ở lại, đối với những người trên đường về nước này, dù có bụi một tí cũng chẳng sao, tốc độ của xe không hề giảm xuống. Chạy được hơn một ngày, đến đêm thứ hai thì trời đổ mưa, ngửa mặt hứng nước mưa vào miệng. Những cơn khát, nóng bức và bụi bậm mau chóng qua đi nhường cho rét mướt, vì quần áo ướt mèm và xe chạy nhanh, gió quận phần phật. Quá nửa đêm xe qua biên giới, mờ sáng xe dừng lại trước nghĩa trang thì cơn mưa tạnh. Thượng uý Hiếu từ trong cabin mở cửa chui ra đi về phía sau ra lệnh cho khênh quan tài xuống đất. Khi mười quan tài được xếp hàng trên cửa nghĩa trang, chính Dũng là người đầu tiên phát hiện ra rằng những dòng chữ viết bằng phấn ghi tên năm liệt sĩ ở năm quan tài xếp hàn trên mưa trôi đi không còn lại một dấu vết nào.

-Anh Hiếu ơi, làm thế nào, năm quan tài này không còn tên nữa? Hiếu đi lại tận nơi, cúi mặt nhìn lần lượt trên năm tấm ván thiên nhưng không còn nghe thấy gì khác ngoài màu đỏ nhợt nhạt. Anh biết nếu không rõ tên liệt sĩ, người trông coi nghĩa trang sẽ không cho mai táng, bởi thế cần phải xử lý điều không hay này thật nhanh, trước giờ nghĩa trang mở cửa. Anh mở túi ngực xem lại danh sách mười tử sĩ, mới biết năm liệt sĩ bị trôi mất tên ở phía sau danh sách. Anh hỏi Dũng:

-Có mẩu phấn trắng nào đó không?

-Không anh ạ. Từ khi sang Campuchia đến giờ em không hề trông thấy mẩu phấn nào.

-Thế thì chạy đại tìm một mẩu gạch non hoặc là mẩu than hay bất cứ cái gì có thể viết được.

Dũng tìm được một mẩu son đỏ, quay lại Hiếu bảo:

-Viết đi, tớ đọc cho. Viết từ quan tài này trở đi: Nguyễn Văn Hùng, Trần Hữu Hải, Lã Văn Thanh, Ngô Văn Nuôi, Bùi Chí.

-Mình ghi tuỳ tiện thế này sợ không đúng tên liệt sĩ thì sao anh?

Một đồng chí theo dõi Dũng viết thế hỏi. Hiếu nghiêm sắc mặt hỏi lại:

-Thì làm thế nào cho đúng được khi tên tuổi mưa đã trôi sạch trơn? Phải chờ quay trở lại Bát Đom Boong để truy lai tên chắc? Quan tài thì đóng chặt rồi mình không có quyền mở ra. Mà có mở ra thì bọn mình cũng chẳng nhận được ai là ai. Theo cậu thì nên làm thế nào?

Cậu lính trẻ lúng túng:
-Em thì cũng chẳng biết giải quyết bằng cách nào, nhưng cứ đề tên lung tung thế em thấy không ổn, nhất là sau này cha mẹ vợ liệt sĩ đến viếng thì nghĩ thật đau lòng…

Khi đó Dũng dừng viết ngửng lên hỏi:
-Hay là ta dừng lại ít ngày, đánh điện về đơn vị để trung đoàn cử quân y mang sổ sức khỏe của năm liệt sĩ về đây xác định lại…
-Thôi đừng hâm nữa ông ơi-Hiếu nói-Vả lại có lầm thì chẳng qua là lầm tên của liệt sĩ này sang liệt sĩ khác chứ có nhầm tên của Pol Pot mà phải phân vân. Viết đi, sắp đến giờ mở cửa rồi đấy!

Thế là mười liệt sĩ được chôn xuống, mười tấm bia được dựng lên. Đoàn quân ra quân, về phép theo nước mã hồi chia nhau về quê hương mình.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Tám, 2013, 09:45:59 pm
Vì người cùng huyện nên Dũng và Hiếu đi chung đường với nhau lâu nhất. Nhưng cũng từ đó Dũng trở nên ít nói và nhìn Hiếu bằng con mắt khác. Trước đây Dũng thường khoe với bạn về Hiếu, người đồng hương cùng xã-vì hai xã gần nhau nên Dũng rút lại khoảng cách như vậy-đẹp trai, học giỏi, là cán bộ đại đội có năng lực nhất của trung đoàn thì bây giờ anh thấy hối hận cho những lời biểu dương và niềm tự hào của mình. Bởi thế khi chia tay nhau, Hiếu dặn chỉ sau vài ngày thế nào Dũng cũng phải sang chơi, nhưng về nhà Dũng chần chừ mãi lúc đầu anh đã định không sang nhà Hiếu nữa, nhưng rồi anh quyết định phải sang để tranh luận với Hiếu về chuyện này, không ngờ Hiếu đang bị bệnh và mê sảng những điều chính Dũng vẫn day dứt từ hôm về đến nay.


Chị Oanh gọi mẹ chồng về nhà, hình như chị giới thiệu trước về Dũng nên khi vào thềm bà cụ đã gọi ngay:
-Cháu đến đúng lúc quá, có thuốc gì cháu mách bác với, chứ bác chẳng biết làm sao!

Bà cụ lại ngồi xuống giường cạnh Dũng sờ tay lên trán Hiếu.

Sốt không cao, nhưng mặt Hiếu trông dại hẳn đi. Vẻ rắn chắc từng trải hôm mang balô trở về nhà biến đi đâu hết. Sao hạnh phúc của bà ngắn ngủi đến thế? Sáu mươi tuổi đầu bà vẫn chưa có cháu bế bồng. Bà trông mong con trai trở về không kém gì con dâu mong chồng. Ba ngày đầu Hiếu vè trông bà như trẻ thêm mấy tuổi, miệng luôn bỏm bẻm nhai trầu và xởi lởi với mọi người. Không ngờ đứa con trai duy nhất của bà lại lâm bệnh, thứ bệnh lạ lùng làm các thầy thuốc phải lặng lẽ rút lui…

-Máu tôi chảy hết rồi thì tên tôi phải là máu trắng chứ. Màu đỏ không phải tên tôi! Lừa dối, lừa dối!
Câu nói cứ như hét lên bất ngờ của Hiếu cắt đứng dòng suỹ nghĩ của bà mẹ và làm Dũng giật mình. Bà mẹ quay lại nhìn Dũng:

-Con có hiểu gì về nó nói không? Nó toàn nói những câu như ma ám cả, nhà này không ai hiểu chút gì.
Dũng không biết trả lời ra sao thì tay bà lại sờ lên trán con, dỗ dành:

-Con trai của mẹ, con vừa nói gi nói lại cho mẹ nghe đi, cho cả chú Dũng bạn của con đến thăm con nghe nữa.

Hiếu mở mắt nhìn mẹ trừng trừng rồi hất tay mẹ ra khỏi trán mình, lùi sát vào tường:

-Đã bảo bà nhầm rồi, tôi không phải là con của bà, con trai bà nằm đằng kia… màu trắng… màu trắng… màu đỏ…

Những tiếng về cuối nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt hẳn.

Mấy năm làm quân y ở chiến trường ác liệt đó, Dũng đã chứng kiến nhiều cơn mê sảng của thương binh khi sốt cao: sốt do vì trùng sốt rét và do vết thương. Trong “cơn mê sảng” thương bình thường gọi tên những người thân trong nhà như cha, mẹ, vợ, con.

-Chú Dũng ơi, có lẽ ta nên đưa anh Hiếu đi bệnh viện thôi.

Oanh đề nghị, Dũng biết bệnh viẹn khi sốt cao mê sảng thì người ta dùng thuốc hạ sốt, nhưng anh Hiếu sốt không cao mà mê sảng thi không hiểu họ sẽ dùng thuốc gì. Tuy thế, anh vẫn tán thành:

-Đúng đấy chị ạ, ở nhà chị em mình chẳng biết đâu mà lần.

Làng Trung quê Hiếu là một làng nhỏ, cách xa đường ô tô chừng vài cây số. Bệnh nhân cấp cứu lên bệnh viện chỉ có một phương tiện duy nhất là dùng võng khênh đi. Khi nghe tin Hiếu sắp phải đưa đi bệnh viện, hai thanh niên trong xóm tự động tới khênh giúp, Dũng đi theo để “thay ca” còn chị Oanh mang theo đồ hậu cần. Khi thủ tục nhập viện xong xuôi, Hiếu đã nằm vào giường bệnh nhân thì Dũng xin phép trở về và hẹn ít ngày nữa sẽ sang thăm.


Dọc đường đi bộ về nhà, Dũng triền miên suy nghĩ. Trên đường đến nhà Hiếu, anh cũng đã suy nghĩ nhiều, nhưng điều suy nghĩ bây giờ theo chiều hướng khác hẳn. Chỉ một mình anh mới hiểu được ý nghĩa những điều Hiếu nói. Nhưng vì sao Hiếu lại nói ra điều ấy trong cơn mê sảng thì Dũng không thể cắt nghĩa được. Có phải do ma ám như lời bà cụ bảo? Ma đây là linh hồn những liệt sĩ đã bị tráo đổi tên tuổi? Anh không tin có thế giới bên kia và như thế thì vì cái gì mới được chứ, vì rõ ràng câu nói nào trong cơn mê sảng của hiếu cũng liên quan đến những liệt sĩ nhầm tên, nhầm tuổi. Đó phải chăng là nỗi ám ảnh vì việc làm vô trách nhiệm của mình? Đó là tiếng nói của lương tâm anh? Lương tâm là lòng tốt của con người, thế sao lúc mười chiếc quan tài sũng nước mưa xếp hàng ngoài nghĩa trang, lương tâm anh không đến với anh để ngăn chặn cái quyết định vô nhân đạo kì lạ của anh? Có phải chăng lương tâm của anh ta lúc đó bị nhận chìm phía sau lòng khao khát được trở về quê hương? Khi anh ta đã trở về giữa quê hương, sống trong tình thương của mẹ, trong vòng tay và lời nói ngọt ngào của người vợ trẻ bao năm trời xa cách, lòng khao khát hồi hương của anh được giải toả, lúc đó lương tâm trỗi lên cao hơn tất cả để phán xét những việc làm trong quá khứ của anh? Lúc đó những chiếc quan tài nhoè nhoẹt màu đỏ lại hiện lên trước mắt anh, nó ngăn chặn tầm nhìn của anh: không thể nhận ra mẹ, không nhận ra vợ và chỉ chập chờn những ám ảnh?


Dũng cảm thấy lòng nhẹ nhõm được đôi phần khi tìm ra cách lí giải đó, nhưng rồi anh bỗng giật mình: Nếu vậy thì bệnh tình của anh Hiếu đến bao giờ mới khỏi được? Chỉ khi nào tên tuổi của từng liệt sĩ trở về đúng với từng thi thể và anh Hiếu biết chắc chắn điều đó đã xảy ra thì lương tâm anh mới tha thứ cho anh? Việc đó bây giờ khó khăn gấp trăm lần so với lúc những chiếc quan tài xếp hàng ngoài cổng nghĩa trang. Tính đến hôm nay, các liệt sĩ ấy đã về với đất hơn một tháng trời rồi, không thể đào bới để xem xét. Nhưng thế không có nghĩa là cứ để yên cho tội lỗi trôi theo thời gian. Xét cho chùng mình cũng có lỗi trong chuyện này. Nếu như lúc đó mình không nóng lòng trở về quê hương, mình đấu tranh quyết liệt hơn với anh ta về quyết định lạ lùng đó thì xem anh ta có dám thực hiện không? Lương tâm của mình ở đâu sao không trỗi lên chỉ trách mình, thúc giục mình làm việc gì đó để sửa chữa cho mình sai lầm đã trải? Ồ, khi ta đã nghĩ được điều đó thì chính lương tâm ta đã thức tỉnh. Ta phải làm, nhất thiết phải làm, không chỉ để cứu anh Hiếu khỏi bệnh mà cũng để dứt ra ta ngoài những cơn ám ảnh.


Hiếu vào viện được mười ngày, bệnh tình không hề giảm bớt, mặc dù tiêm và uống nhiều thứ thuốc khác nhau. Có ý kiến đề nghị đưa bệnh nhân lên tuyến trên. Đúng hôm đó Dũng mang balô vào viện thăm anh và nói cho chị Oanh biết rằng anh sắp trở lại đơn vị ở Campuchia một thời gian.

-Nghe nói là chú đã ra quân rồi kia mà? Chị Oanh ngạc nhiên hỏi.

-Đúng thế chị ạ, nhưng khi về đây thấy còn thiếu một số giấy tờ cần thiết!-Dũng không nói thật ý định của mình.

-Vất vả cho chú quá-Chị Oanh ái ngại.

-Sai lầm nào mà chẳng phải trả giá hả chị. Mong chị khỏe chăm sóc anh Hiếu chóng khỏi bệnh.

Nói rồi Dũng mang balô ra đi. Khi Dũng nói những lời cuối cùng Hiếu nằm trên giường bệnh ngẩng đầu len nghe ngóng một cách bất thường và khi Dũng đi khuất thì ném đầu mạnh xuống gối, quay đầu vào vách lẩm bẩm:

-Hỗn độn hết, lung tung hết… màu trắng… màu đỏ… màu trắng… màu đỏ…

Câu chuyện này tôi nghe một đồng chí bộ đội cùng làng với Hiếu kể lại, chỉ đến đây  là hết nhưng hôm tình cờ ngồi trên tàu hoả với một thanh niên cùng quê với Dũng thì còn nghe thêm một đoạn cuối bảo rằng sau mấy tháng Dũng ở Campuchia trở về thì Hiếu đã ra viện, hoàn toàn khỏe mạnh rồi. Cái đáng chú ý nhất là Hiếu ra viện đúng ngày mà Dũng cùng đơn vị dùng phương pháp phóng xạ trực tiếp năm nấm mộ trên và xác định tên tuổi của từng liệt sĩ…


Không hiểu phần bổ sung của cậu thanh niên đó có chính xác không, dù sao khi nghe xong tôi vẫn thấy tâm hồn nhẹ nhàng, thoải mái như vừa được vứt bỏ đi một cái gì nặng hơn niềm ám ảnh.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Tám, 2013, 01:34:02 pm
Người chủ hoàng cung

Bùi Cát Vũ


Chầm-rên hoảng quá, nó co rúm trong bụi cây giữa công viên Chờ-rui-chăng-va, ngực nó đập thình thịch. Đàn bò chạy tán loạn về phía nhà ga. Mất bò thì chết với Ang-ca. Chuyện gì đã xảy ra? Bọn lính Pol Pot chạy đi đâu như đàn kiến nhọt vỡ tổ. Xe nhà binh chen chúc nhau trên đường nhựa, húc đổ cả cột điện trên vỉa hè. Bọn lính chạy bộ nháo nhác tràn quan công viên. Ở đầu ngã tư, một người mặc áo đen đứng trên xe Jeep chắn ngang đường. Hắn ta giơ cao súng lục, trợn mắt quát to:
-Ở lại chiến đấu! Đứa nào chạy tao bắn!

Nó bắn thật, bắn qua đầu các xe chạy sau. Từ phía dưới đường hỗn loạn, một loạt tiểu liên đáp lại, ném hắn xuống đất. Chiếc xe tải hất văng chiếc Jeep sang một bên, rồi các xe sau vùn vụt lao qua. Ghê quá! Mới la ó mà nhoáng cái chỉ còn một mớ bầy nhầy trên mặt đường nhựa. Thằng Chầm-rên vẫn băn khoăn về đàn bò. Nó muốn bỏ trốn luôn nhưng rồi cũng như bao lần đã có ý nghĩ đó mà nó không dám làm. Trốn đi đâu mới được chứ! Đâu cũng công xã, đâu cũng Ang-ca.

Phía trước nha ga cũng có lính chạy. Như vậy là chúng chạy hết về hướng U-đông.

-À! Chầm-rên biết rồi. Hèn gì suốt ngày hôm qua, cả đêm nữa xe chạy lên phía trước nườm nượp; xe nhà binh, xe du lịch, xe chở khách, có cả xe máy cầy kéo rơ-moóc nữa. Xe chở bọn cố vấn Trung Hoa bụng phệ chạy nhiều lắm. Mà tại sao nó chạy? Nó có sợ ai mà chạy: Chầm-rên không sao hiểu nổi, nhưng nó thấy khoai khoái trong bụng. Bọn lính chạy thì Ang-ca cũng chạy. Chắc là Ang-ca ở công xã chăn nuôi của nó cũng chạy rồi. Phải chi mình biết trước mình cài một cái một cái đinh dưới bánh xe hết chạy. Biết đâu, mình chẳng tẩm dầu vô nùi giẻ đốt cầu kho xăng thì tụi bụng phệ cũng hết chạy. Nghĩ vậy, Chầm-rên khoái quá.


Tiếng pháo, tiếng súng bỗng rộ lên lẫn trong tiếng xe tăng như mưa dông sấm sét làm rung chuyển thành phố. Ruột gan Chầm-rên dồn hết lên đầu; nhưng nó cũng kịp nhận ra cơn bão khủng khiếp đó chạy từ hướng cầu Mô-ni-vông đến.

Bọn lính áo đen như bị ma đuổi, vứt cả hon-da, xe đpạ, nhảy xuống sông Tông-lê-sáp lẫn chân cầu sập bơi qua cù lao.

Chầm-rên quay lại phía có tiếng kêu la của con gái. Nó thấy một đám lính nắm tóc, nắm tay lôi xềnh xệch ba chị mặc xà-rông màu. Các chị giãt giụa, la oai oái: “Buông tôi ra, tôi không đi đâu hết!”. Mấy thằng lính bỏ ba chị lại, chạy được một đỗi, chúng quay lại xả súng bắn. Một chị chết tại chỗ, một chị chạy vào ngõ hẻm, còn một chị ôm vai bị thương toá máu, lảo đảo.


Chầm-rên thấy đến lúc phải dời chỗ. Nó chạy băng ra sông, men theo bờ xuống phía nhà máy bơm nước. Có tiếng xe tăng chạy ngược chiều với nó, hướng chợ Mới. Nó lần xuống cảng, len qua dãy cần cẩu, chui vào đống thùng gỗ, định trốn ở đấy. Nhưng nó nghĩ. "Không thấy gì hết, dễ sợ lắm". Nó đi qua hết khu cảng rồi dừng lại một chỗ kín ngồi xem chơi. Nó vớ được một mặt ghế ni-lông, nó kê lên khúc gỗ, rồi lên ngồi dựa ngửa. Cái áo đen dài tới gối, dày cộm, mất hết khuy nút từ lâu phơi trần cái bụng xếp ve đen kính, trông dễ sợ, từ sáng đến giờ nó chưa có gì để bỏ vào đó cả. Mọi ngày thì giác nầy nó lùa bò về lãnh một bát cháo. Ngoài bữa ăn chính đó, nó còn độn thêm vào nào chuối xanh, bí đỏ, cà non nhặt được trong các vườn bỏ hoang. Bây giờ thì lòng nó thấy chộn rộn nên cũng không đói. Nhìn đôi chân khẳng khiu, đầu gối da chai đen chũi giống cẳng con nghé quá, bất giác nó ngúc ngắc hai bàn chân rồi mỉm cười.


Mặt trời đổ lửa, sấy cái đầu của nó khét lẹt. Nó nhìn bâng quơ theo bờ sông. Trên mặt nhựa đường chảy ra bóng ướt như nước đọng, nó thấy mấy vật gì lù lù chạy về hướng nó. Xe bọc thép. Thứ này nó thấy nhiều rồi nhưng sao mấy chiếc này chạy êm quá. Đúng rồi! Xe rú máy rồi dừng lại trước nhà trụ sở “đại hội dân tộc", ngôi nhà có những khung kính hình ba góc xung quanh mái. Trên nóc bằng có cột cờ trắng thường treo lửng lơ lá cờ "lưỡi cuốc”.


Chầm-rên rất thích thú với tên lá cờ "lưỡi cuốc" mà nó bí mật đặt ra và chỉ một mình nó biết. Chả là hôm tụi Ăng-ca ở công xã xử tử bác Sam-rếch về tội bác dám cãi lại với chúng nó. Thằng chủ tịch Sam-đa đập một cuốc vào sau ót bác, thế mà sau khi ngã xuống đất, bác còn lồm cồm bò dậy để nó đập một cuốc thứ hai, óc văng tứ tung. Nhìn cái cuốc nhuộm máu, Chầm-rên liên hệ tới lá cờ của Pôn Pốt, nó thấy cái hình vàng vàng ở giữa cũng giống như lưỡi cuốc.


Trong ánh nắng đổ hột. Chầm-rên thấy mấy người trèo lên nóc nhà, lôi lá cờ lưỡi cuốc xuống và kéo lá cơ đỏ tươi rất to, cờ lên đến đỉnh cột gặp gió: bay lượn tíu tít. Chầm-rên cố nhìn khuôn hình ở giữa lá cờ rồi nó xòe bàn tay đưa lên trước mặt suy nghĩ: giống bàn tay năm ngón, ngón giữa là ba mình, ngón bên phải là má mình, ngón bên trái là mình, mình cao bằng má rồi còn gì, con hai ngón bìa là em Chầm-mâu và em Sơ-ri".


Chầm-rên thấy mấy chú ra bờ sông nhìn lên, nhìn xuống. Nó muốn chạy lại gọi: "Chú bộ đội giải phóng ơi! Tụi Pôn Pốt nó chạy lên U-đông nhiều lắm", nhưng không dám. "Chú bộ đội giải phóng!". Nó gọi trong lòng như vậy, vì nước đây mấy năm, ba má nó đã dùng tên thân thương ấy để gọi những người bộ đội đi đánh Mỹ, đánh Lon Non.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Tám, 2013, 01:35:18 pm
Mấy chú vẫy vẫy cờ đỏ trên tay. Chầm-rên nhìn xa xa trên dòng sông Mê-kông chói chang ánh nắng, cò mấy chấm đen rẽ nuộc chạy lên. Ba chiếc, sáu chiếc, rồi chín chiếc tàu giống nhau. Nhanh quá trời, mới đó mà đã trông rõ lá cờ phơi phới trên lưng tàu như kỳ con cá lăng. Chầm-rên phải tìm một chỗ nấp vì súng bắt đầu nổ. Phải trấn tĩnh lắm nó mới phân biệt được súng từ các tàu cá lăng bắn sang phía bờ bên kia và súng bên kia sông bắn vãi xuống nước. Rồi pháo đâu từ trong thành phố câu sang, nổ bên kia bờ và trên đảo.


Bốn chiếc tàu đầu bằng cặp mũi cù lao, há mồm nhả ra cơ man nào là bộ đội. Các chú chạy băng băng trên đảo. Chầm-rên xem mê ly, cho đến khi một phát pháo từ bên kia sông bắn vu vơ làm cháy đống thúng gỗ gần đó, nó mới chạy qua đường, đánh vòng ra phía sau nhà bảo tàng, rỗi chui tọt vào trong bức tường đổ. Ở đấy có mấy dãy nhà lụp xụp giữa vườn chuối và cây trứng cá.


Chầm-rên không thèm để ý những đồ vật ngổn ngang lẫn trong gạch ngói, cỏ rác. Mấy năm nay nó buộc phải quen và đã quen, như một con gà con mồ côi, với một manh áo, một quần đùi, ngay ngày hai bát cháo. Nó vào một gian nhà còn tương đôi nguyên vẹn, bỗng nó giật lùi mấy bước vì thoáng thây từ dưới mớ nệm lúi xúi thò ra một bàn chân nhỏ xíu. Nó khuỳnh hai tay như một dũng sĩ, dõng dạc bước tới dỡ mớ bông đã mục thành bột, lôi ra một con búp-bê. Cô nàng nhắm nghiền mắt ngủ li bì, quần áo rách bươm cả, tội quá! Chầm-rên đỡ nhẹ đôi mi lên, cô nàng mở mắt đen. Nó đặt nằm xuống, cô nàng không thèm ngủ nữa. Chầm-rên tìm một chỗ kín trên đầu tủ áo, cất giấu búp bê cẩn thận, định bụng sẽ trở lại lấy về cho Sơ-ri lúc gặp lại em.


Chầm-rên ra vườn. Một quày chuối xanh mơn mởn nghiêng mình chào nó. Vừa lúc ấy, nghe đâu từ trên cao, tiếng con gái rõ dần, to dần: "nghe đây, nghe đây! Hỡi các binh sĩ; Chế độ Pôn Pôt-Iêng Xa-ri tàn ác đã bị lật đổ. Cách mạng đã làm chủ hoàn toàn thành phô Phnôm Pênh. Các bạn hãy ra hàng! Ai ngoan cố chống cự sẽ bị tiêu diệt. Nghe đây! Nghe đây!"...

Một phút đắn đo. Chầm-rên nghĩ: người ta gọi binh sĩ Pôn Pốt, mình đâu phải lính mà ra hàng. Nhưng ở đây gần đường, rủi người ta gặp thì sao. Lính Pôn Pốt cỡ tuổi mình cũng không ít".

Nó luồn qua vườn chuối, lại gặp một con đường nhựa. Nó lách mình qua tấm cửa sổ vào bên trong một dãy tường thành rất cao. Nguy mất! Trong này trống trải quá! Không kịp suy tính gì nữa, Chầm-rên đâm sầm vào một tòa lâu đài gần nhất, có nền đá cao gấp mấy lần bề cao của nó. Mặc cho mấy ông chằng mỏ chim có cánh đang ưỡn ngực đỡ mái lâu đài. Mặc cho hai con sư tử đầu to sụ đang ngồi chồm hỗm. Mặc cho hai con rắn hổ mang năm đầu lớn bằng cột nhà. Nó nhảy choai choai lên không biết bao nhiêu là bậc thềm đá đỏ, chạy quanh hành lang, đẩy một cánh cửa màu đỏ chui tọt vào lâu đài. Tối om om. Nó ngồi dựa tường, thở. Sờ soạng sàn gạch, nó đoán rằng lâu rồi không có người quét. Tay nó chạm phải cả một bãi phân dơi. Nó nhắm mắt giây lâu rồi mở ra. Nó đã trông thấy được cảnh vật. Trên vòm cao phát ngợp rất nhiều bức tranh màu sặc sỡ, rõ nhất là bức tranh một đàn voi xám, ngà dài thượt, mắt như voi sống, vòi mềm mại cong lên đằng trước. Trên mình voi một chàng dũng sĩ mặt xanh đứng giương cung, nửa người ẩn hiện trong mây. Dưới mặt đất có mấy người con gái mình trần ngồi xếp hai chân về một phía, chắp hai bàn tay trước ngực. Chầm-rên lần đi theo chiều dài lâu đài. Nó mân mê những chân đèn bằng gỗ quý bóng loãng giống như nhau, cứ ba con rắn vàng cong đuôi đỡ lấy một chao đèn pha-lê trắng đục, có hình như chiếc dù nhỏ. Không biết đi qua bao nhiêu gian bỏ trống, nó mới gặp hai chiếc ghế bành rất to vơi những hoa lá vàng nổi bật ra khỏi đai dựa, nệm ghế cũng bọc lụa vàng. Kế đến là một cái bộ đồ sộ bằng nhiều khối vuông chồng lên nhau. Mỗi khối vuông đều được chạm trổ tinh vi, tuyền màu vàng và son, lại thêm những hạt thủy tinh màu xanh biếc lấp lánh như những vì sao. Trên đỉnh chao, chễm chệ một chiếc ghế tựa mạ vàng, nệm bọc nhung đỏ. Hai bên bệ có hai hàng lọng hình giỏ cỏ rũ xuống những tua óng ánh chỉ vàng xung quanh chiếc cán thon nhỏ bằng bạc.


Phía sau là hai hàng ghế vàng rồi đến một cái bệ còn to hơn, lộng lẫy hơn ngoi bệ trước. Thân bệ là hình chín chiếc thuyền đầu rắn, đuôi rồng chồng lên nhau thành ba lớp. Ba thuyền trên cùng chở một ngôi tháp hình quả bầu mà đỉnh tháp có màn che rường phủ theo chiều cao của người đứng. Đến đây, Chầm-rên chợt hiểu ra: thôi rồi, mình lọt vào hoàng cung rồi! Đây là chỗ công chúa đứng còn bệ trước là chỗ vua ngồi. Hồi nhỏ ba mình đã chỉ cho mình nhiều lần trong một bức hình. Đúng rồi! Nhưng không sợ, không có ai ở đây đâu. Tụi Ăng-ca đã chẳng nói: "Vua Xi-ha-núc là đồ ăn bám, bị chính phủ Khơ-me dân chủ bỏ tù cải tạo lao động" rồi đó sao.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Tám, 2013, 01:36:29 pm
Nắm can đảm trong hai bàn tay, Chầm-rên rảo bước qua cửa ăn thông ra phòng phía sau. Quan sát qua loa, nô đoán đây là phòng giải lao của vua, vì dưới cây lộng hình nấm to tướng bằng tơ tằm có tua tụi xanh đó là chiếc đệm rất dày, tròn to như cái trống nhà trường.


Đẩy cánh cửa bên, Chầm-rên choá mắt bởi các đồ vật bày bừa bộn trên mặt bàn, nào là mũ miện của vua, mũ của hoàng tử, của công chúa, của nữ thần Áp-sa-ra, mặt nạ của dũng sĩ Prêân mặt xanh, của chàng tinh ba đầu, của đại bàng Krưda. Chầm-rên thích nhất là mấy cái mũ có đỉnh tháp nhọn hoắt, vàng rực.


Nó ướm thử một cái mũ tháp lên đâu. Đến trước tấm gương thật to trên khung vang, cậu ta uốn hai bàn tay và co một chân theo điệu vũ Lam-vông, tươi cười tự nhủ: "Mình có thua gì hoàng tử. Giá mà có nước, mình rửa qua bộ mặt một chút thì hách phải biết".


Trở ra, Chầm-rên lại xô một cánh cửa khác có chạm một cành tre vang, lá ngọc. Nó giật nẩy mình khi thấy một thằng nhỏ đầu trọc ốm teo, âo đen quá gối đang đẩy cửa. Nó đưa tay lên đe, thằng kia cũng giơ tay dọa lại. Thì ra là chính nó trong gương. Gian buông này bốn phía đều là gương nên trông tưởng như rộng bát ngát, giữa phòng là một cái giường kỳ lạ. Chầm-rên biết đó là giường vì trên có nệm gối dài, gối ngắn bọc gấm màu hoa cà đã sờn cũ. Thành giường chạm đến mặt sàn, bốn mặt đều chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng. Bên trên là một ngôi tháp. Toàn bộ cái giường trông giống như một ngôi chùa nho nhỏ mở hết cửa.


Bên ngoài trời tối rất nhanh. Súng vẫn nổ râm ran xa gần đâu đây. Cơn đói như có ai rót nước vào ruột, làm cho Chầm-rên buồn ngủ lạ, nó lên giường nằm nhún thử, nệm lún đến nửa người, sờ đâu cũng thấy mềm mại, mát rượi. Nhìn lên trần thấy những hình vũ nữ lờ mờ xa xôi huyền ảo, nó nhớ đến cha mẹ và em. Khi gặp lại nó kể chuyện này, chắc ba phục nó ghê lắm. Hồi trước mỗi lần kể chuyện huyền bí của hoàng cung xong ba nó thường chép miệng: "Đời mình biết chừng nào mới đặt chân đến hoàng cung được”. Ba má, em Chầm-mâu, em Sơ-ri sẽ vui mừng hết sức vì không ngờ nó còn sống mà lại được vào ngủ ở hoàng cung. Nước mắt nó chảy ướt gối khi nhớ lại hôm bị đuổi ra khỏi Phnôm Pênh. Nó ốm nặng không đi nổi, bọn lính Pôn Pốt dí súng lôi ba má đi, bỏ mặc nó ở lại. Ba chỉ nhìn, mắt đỏ hoe, con má thì lồng lộn nắm chặt tay nó gào khóc. Khi má bị lôi đi xa, nó còn giữ lại mãi tiếng má gọi thảm thiết “Chầm-rên con ơi".


Thằng Chầm-rên bồng bềnh trên chiếc thuyền rồng, rồi chìm dần, chim dần trong tiếng ru của má:

“Con ơi ngủ đi
Má hát con nghe
Đợi cơm chín con ăn
Đợi con lớn con đi học
Con học cho giỏi
Làm việc cho đời".

Trăng rắc vàng trên mái hoàng cung chập chùng, những ngọn tháp trằn trọc đứng sừng sững trong màn sương mỏng. Phật bốn mặt trên tháp chính nhìn trăng với nụ cười huyền bí muôn thuở. Các mái cong uốn lượn uyển chuyển như những cánh tay vũ nữ trong điệu múa nữ thần Áp-sa-ra vẫy các vì sao.

Tháng Ang-ca Yéak trán dô, má lồi, mỏ quắm, đưa bàn tay đây móng vuốt, chỉ vào mặt Chầm-rên gầm gừ:
- Thằng nhãi con! Đàn bò đâu rồi! Mất đàn bò mày phạm hai tội một là phá hoại sản xuất, hai là không có thịt có sữa cho cố vấn Trung Hoa ăn cho khỏe để giúp Campuchia dân chủ đánh Việt Nam, mày phải chết hai lần.


Chầm-rên sợ quá, định chạy, nhưng quay lại thì thấy phía sau có một con sư tử nhe răng, hai con rắn hổ nghển cổ phồng mang, ngồi trên mình rắn là một ông vua, tay cầm búa. Chân cẳng Chầm-rên bị tê dại.


Từ xa cô mấy chú bộ đội cầm cờ chạy lại, Chầm-rên cố gọi to nhưng cổ họng bị nghẹt kêu không thành tiếng. Nó vùng ngồi dậy trên giường kỳ lạ, mình ướt đẫm mô hôi, cổ khát như cháy.

Qua các khe cửa đã thấy ánh sáng nhờ nhờ, Chầm-rên vụt chạy ra ngoại. Nhìn qua đầu tường hình những cánh hoa sen nó thấy một công viên cây cỏ um tùm. Nó phóng qua sân cỏ rộng, trèo khung cửa sắt, vượt đường, lủi vào công viên rậm rạp những cây cảnh lâu ngày không được chăm sóc cắt tỉa. Nó ngồi lên một băng ghế đá, nhìn lại mặt trước cửa hoàng cung. Nó nhớ hồi nó ngồi trên vai ba để xem lễ thì chính cánh cổng sắt nó trèo qua vừa rồi là chỗ đàn voi kiệu công chúa và hoàng tử đi ra. Còn ngôi lâu đài không tường kia là nơi vua, hoàng hậu và các ông lớn ngôi để cho người ta dòm.


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Tám, 2013, 01:38:34 pm
Bỗng có tiếng chân sột soạt trên đá cuội. Một người đàn bà đi về phía nó. Bà ta trạc tuổi má nó, ăn mặc buồn cười, trên là cái áo thun màu xanh sọc đỏ dưới là cây sa-rông màu vàng còn đính hàng đăng ten trắng, bằng chứng của một tấm vải màn che cửa sổ. Bà ta xách một cây giỏ ni-lông đỏ. Làm như đã quen biết từ lâu bà ta hất cằm:

- Đêm qua mày ngủ ở đây à

Cũng không vừa, Chầm-rên hất đầu về phía hoàng cung giọng khinh khỉnh:
- Tôi ngủ trong kia kia? Bà hỏi làm gì?

Người đàn bà hơi kinh ngạc:
- Mày ngủ trong hoàng cung? Ra thế!

Chầm-rên hít mũi, khiêu khích:
- Bà là Ang-ca à?

- Tao cũng có thể nghĩ mày như vậy, vì thành phố này không có dân, tao biết...

- Tôi thì khác, tôi bệnh nặng bị bỏ lại, Ang-ca bắt tôi chăn bò cho công xã ở cây số 6, bà không tin thì lên đó mà xem.


Thấy thằng bé căm ghét bọn Ang-ca, nhưng rất đỗi ngây thơ, người đàn bà ân hận với thái độ vừa rồi, giọng ngọt ngào hơn:

- Cô tin cháu rồi. Cô cũng vậy cháu à, vợ chồng cô đang làm ruộng ở hợp tác xã Kan Tuốt thi Ang-ca bắt về nhà máy rượu Phnôm Pênh để làm la de, nước ngọt cho tụi cố vấn Trung Hoa uống, khỏi phải chở từ bên Tàu sang. Chồng cô trước làm ở xưởng đó mà. Sáng hôm qua, bọn Ang-ca bắt mọi người lên xe chở đi. Ra đến sân vận động đô thành thì xe đâm vào gốc cây, nhiều ngươi chết, cô cũng giả chết, chờ tụi Ang-ca chạy hết, rồi cô mới chạy trở vào thành phố. Loanh quanh tránh những chỗ đánh nhau mãi, rốt cuộc cô vào đến điện Chăm-ca-môn. Trời tối, không thấy người, cô vào ngủ trong đó luôn.


Chầm-rên nhìn người đàn ba một lượt, vẫn chưa hết khinh khỉnh:
- Cô ăn cắp những thứ ấy của người ta phải không?

Người đàn bã kiêu hãnh dằn từng tiếng:
- Không phải ăn cắp, mã lấy của cải của bọn Trung Hoa đã cho Pôn Pốt đó.

- Bà ngủ một mình?

- Một mình chứ mấy mình (bà ta bật cười).


Thằng bé láu lỉnh lắm cho người đàn bà thân mật hơn. Bà ta đặt cái giỏ lên băng, rồi ngồi bên cạnh đó. Còn Chầm-rên cũng thấy hình như bà này đứng về phe mình, nên cũng kéo vạt áo che cái bụng, đong đưa hai cẳng.

Người đàn bà ra vẻ vừa thạo đời vừa châm biếm:
- Đêm qua cháu ngủ trong buồng vua hay buồng hoàng hậu?

- Tôi không biết.

- Buồng hướng nam hay hướng bắc?


Thằng Chầm-rên không nói, nó quay đầu vào Hoàng cung, chỉ về phía bên trái.

- Như vậy là buồng hoàng hậu, còn buồng vua ở bên phải, hướng bắc.

- Sao cô rành thế?

- Trước đây cô là vũ nữ Hoàng gia.

Đến phiên Chầm-rên ngạc nhiên.

- Cô là vũ nữ Hoàng gia?

Nó nhìn người đàn bà dò xét. Tuy cô ta gầy gò, nhưng những nét trên mặt, trên người cô chỗ nào mà má khen em Sơ-ri đẹp, thì cô đều có như vậy. Còn chỗ nào chê Sơ-ri xấu thì cô khác. Như vậy là cô này đẹp, nó kết luận như thế và tin hơn. Nó không cau có nữa, nên bà ta cũng thấy nó xinh trai đáo để.


Chầm-rên mường tượng như đã thấy bức ảnh màu trên vách nhà ai đấy. Đầu cô đội mũ tháp vàng có cánh phượng che tai. Mình cô khoác chéo chiếc khăn dệt chỉ vàng. Đôi vai trần cô đeo vòng ngọc nạm kim cương ở cánh tay và cổ tay. Cô quấn xả rông gấm xanh, trê trễ sợi dây thắt lưng bằng vàng. Sợ cô không nói nữa, nó linh hoạt hẳn lên:

- Cô à. Hôm qua cháu thấy áo, mũ của các cô rồi, trong Hoàng cung ấy.

- Cháu có nhìn thấy nhà hát Hoàng cung không? Cái nhà ở góc thành phía nam, nhà có nhiều cột to sơn đỏ ấy. Cô đã diễn ở đó không biết bao nhiêu lần trong những ngay lễ và những buổi tiệc nhà vua tiếp khách nước ngoài.

Bỗng nhiên cô chau mày, giọng buồn buồn:
- Có tài, có sắc lúc đó cũng là tai họa đấy cháu ạ. Sămdéc K-Âu bà ta hơi rùng mình nhún vai, cười gằn - cô đến khổ với ông ấy...

Bà ta nín lặng nửa chừng. Tôi nghiệp cho thằng bé, nó hiểu đấy. Người đàn bà nhìn nó khẽ lắc đầu như muốn nói rằng: Cháu ơi, cháu còn bé bỏng, làm sao hiểu được, mà cũng không nên cho trẻ con biết làm gì. Dĩ vãng, một dĩ vãng mạ vãng đầy xót xa tủi nhục của một vũ nữ Hoàng gia. Năm lên bảy tuổi, Sô-pha-ni được tuyển vào học múa trong hoàng cung với một bà giáo sư giỏi nhất, vì em của má cô là vợ thứ mấy không biết nữa của Sămdéc K-Âu. Mười năm sau, cô trở thành ngôi sao chói lọi tài năng và nhan sắc trong đoàn vũ Hoàng gia. Trong những chuyến viếng du Sămđéc K-Âu thương đưa đoàn vũ của cô theo để giới thiệu nền nghệ thuật của dân tộc. Nhiều vị đệ nhất phu nhân các nước đã phải phát ghen lên vì cô. Điều đó càng làm cho Sămđéc K-Âu hãnh diện. Cô cùng tuổi với Bô-pha Đê-vi. Vì không phải là công chúa nên cô không được đề cao như vũ nữ Bô-pha Đê-vi. Sămđéc K-Âu là ông vua đóng phim, sáng tác âm nhạc và còn dạy cả múa nữa! Nếu như ông mở ca-si-nô để moi tiền trong máu mê cỡ bạc của dân, thầu nghệ thuật, nhất là vũ và xi-nê, thì ông tuyển được gái đẹp nhất trong nước. Gái nghệ thuật lại văn minh, biết làm duyên, biết trang điểm...


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Tám, 2013, 01:47:10 pm
Thấy thằng bé đăm chiêu, tội nghiệp, cô trở lại với nó:
- Cháu tên gì, năm nay bao nhiêu tuổi?

Chầm-rên lơ đãng trước câu hỏi của cô, vì nó đang đuổi bắt những ý nghĩ theo trí nhớ sáng dần lên trong đầu. Nó quả quyết là trước ngày Pôn Pốt lùa dân ra khỏi Phnôm Pênh có lần nó đã xem đoàn vũ của cô biểu diễn trong một bộ phim màu. Cô đóng vai nữ thần Áp-sa-ra. Các nàng tiên ra trước đã thu hút nó ngay vì những bộ y phục lộng lẫy, những chiếc mũ vàng một tháp rực rỡ với những động tác uyển chuyển theo điệu nhạc ngũ âm quen thuộc, êm đềm. Những khi nữ thần Áp-sa-ra xuất hiện thì lập tức làm lu mờ các vì sao. Áp-sa-ra đội mũ ba tháp, tươi như bông hồng, từng bước đi theo tiếng trống đĩnh đạc, uy nghi. Áp-sa-ra xoay chầm chậm trên một chân có đeo hai kiềng vàng, năm ngón chân trần cong dớt như mũi thuyền, cánh tay, bàn tay, ngón tay uốn cong theo những chiều ngược nhau, mềm mại dịu dàng một cách lạ thường. Đúng cô là Áp-sa-ra rồi. Đêm ấy về ba má cháu và mấy người khách còn thức đến khuya uống trà, nói chuyện về cô. Cháu nhớ có ai đó bảo là đầu cô, mắt cô, tay, chân, lưng, ngực cô đều biết nói. Cháu cứ thắc mắc hoài, không hiểu tại sao họ lại nói như vậy. Cháu biết tên cô rồi. Cô không giấu cháu được đâu. Chầm-rên cười một cách hóm hỉnh, như vừa phát hiện ra một điều bí mật.

- Thưa cô cháu mười ba tuổi ạ. Cháu tên là Chầm-rên - Nó đáp như một cái máy khi ngươi đàn bà lắc vai nó hỏi đến lần thư hai.

Người vũ nữ giương đôi hàng mi dài và cong nhìn thằng bé, nói qua hơi thở:
- Vậy là cháu lớn hơn con của cô hai tuổi, đứa con độc nhất của cô...

Sô-pha-ny lại đuổi theo những ý nghĩ lúc đậm, lục mờ... Lòng tự trọng không cho phép cô làm mãi kiếp con chim trong lồng để thỏa mãn tính ích kỷ, tham lam của một nhúm người đế vương chuyên sống trên đầu, trên lưng hàng triệu dân dốt nát, đói khổ đến cùng cực. Cô cũng không thể chịu nhục nhã về tâm hỗn và thể xác, nên cô đã rời bỏ vũ đoàn là nơi vô yêu thích nhất, nơi mà từ bé cô đã định gửi gắm cả cuộc đời. Cô kết hôn với người yêu, một sinh viên nghèo được đi học bằng tiền lương nghệ thuật của cô.

- Ba má cháu đâu rồi? - Giờ thi cô hỏi với giọng đầy tình cảm của một người mẹ.

- Ba má và em cháu lạc mất từ ngày bị đuổi ra khỏi Phnôm Pênh.

- Cháu à, chắc chết hết rồi... chồng cô, con cô đều chết hết.


Con cô - Bà ta ôm mặt khóc nức nở - nó đi chăn trâu, nó sợ mất trâu Ăng-ca đập chết nên nó lội sông theo trâu... chết đuối... Trước ngày nó chết, cô đi làm ngang qua, nó gọi mẹ! Rồi nó khóc...
Chầm-rên thấy thương xót và tội nghiệp cho cô nhưng nó không khóc, nó hỏi nho nhỏ:

- Thế tụi Pôn Pốt nó không giết cô à?

- Cô giấu kỹ lắm. Con coi nè, tay cô chai dày nổi cục hết, chân cô đây vết sẹo. Nghệ thuật sân khấu đã giúp cô đánh lừa được tụi ngu si ấy.


Mặt trời đã lên khỏi ngọn cây. Dòng sông Mê Kông như một bức tranh trên kính, nền màu da cam hừng hực sắc xuân sống động. Từ bờ sông xuất hiện hai anh bộ đội đi vào công viên. Họ ăn mặc rất giống nhau, quân phục màu mạ non còn nguyên nếp gấp rất vừa với khổ người, đầu đội kết Lê-nin cùng màu với quân phục. Chiếc băng đỏ trên cánh tay càng làm tăng thêm vẻ cương nghị tươi trẻ. Khẩu AK chéo ngang ngực vơi chiếc thắt lưng rất gọn gàng. Hai anh sông bước trên đôi giày vải màu xâm sậm. Tóc đen, mặt sáng, họ đẹp quá, làm cho Chầm-rên có cảm tình ngay, còn người đàn bà thì hơi lo, họ đến đứng trang nghiêm trước mặt hai người và tươi cười chắp tay chào. Một anh nói tiếng Khơ-me chậm rãi, câu nào tròn câu ấy như đọc sách.

- Chào bà, chào em. Có phải hai mẹ con không ạ?

Người đàn bà chặp hai bàn tay với những ngón dài và cong, do dự một lát rồi gật đâu:
- Dạ... dạ, phải ạ!

Chẫm-rên nhìn xuống đất, nó kéo vạt áo đậy bụng.
- Bà làm việc trong thành phố, chắc bà quen thuộc nhiều ở Phnôm Pênh này chứ?

Người đàn bà bối rối.
- Tôi là ngươi Phnôm Pênh này, nhưng Ăng-ka không cho đi đâu hết nên không biết gì cả.

Một anh bộ đội vội vàng quay trở ra phía bờ sông càng làm cho người đàn bà thêm sốt ruột. Anh còn làm chưa nói thạo tiếng Khơ-me, nhưng đã vui vẻ nói cả bằng đầu, bằng mắt, bằng tay.
- Thưa bà, chúng tôi muốn nhờ bà và em giúp chúng tôi hiểu rõ hơn thành phố Phnôm Pênh.

Người đàn bà trả lời chậm rãi từng tiếng vừa ra điệu bộ như cô giáo:
- Thưa ông, tôi làm ở nha máy nước ngọt còn em này thì chăn trâu ở công xã cây số 6. Nhà của tôi trước ử chợ cũ. Lâu lắm rồi tôi không được về qua đó. Chồng con tôi đều bị giết hết rỗi. Ba năm rồi tôi không được biết gì về thành phố này.

- Bà hãy gọi chúng tôi bằng anh bộ đội cho thân mật.

Anh bộ đội lúc nãy trở lại, có mang theo một chiếc túi vải bên hông. đến nơi anh mở nắp túi lấy ra bốn gói mì tôm đưa cho em bé.

- Em cầm lấy ăn đỡ, hình như em đang đói thì phải. Nếu bà và em cần gạo thì cứ đến chỗ bộ đội mà lấy, chỗ nào cũng được.

Chầm-rên đưa hai tay đỡ quà tặng, mặt nó tươi rói, nó muốn nói một câu gì, nhưng chưa biết phải nói gì, nó lẩm bẩm:
- Cám ơn!


Tiêu đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Tám, 2013, 01:49:27 pm
Anh bộ đội đeo túi nheo mắt tươi cười bảo Chầm-rên:
- Đêm qua em ngủ trong Hoàng cung phải không?

Nụ cười của Chầm-rên bỗng méo xệch, nó cụp mi mắt nhìn xuống đôi chân đầy cáu ghét. Anh bộ đội kia cũng nói với giọng hiền từ.

- Đêm qua chúng tôi thấy bà vào ngủ trong điện Chăm-ka-môn. Trải qua bao ngày thống khổ cực mưa nắng, có điều kiện cũng phải ăn ở êm ấm một chút chớ, em nhỉ!

Thằng Chầm-rên hết sợ, nó nghĩ rằng không có cái gì mà các chú không biết, nó đánh bạo nói:
- Hôm qua cháu thấy đội lính chạy lên U-đông nhiều lắm, cháu thấy mấy chú treo cờ trên nóc nhà nữa. Thấy mấy chú chạy tàu lên cù lao nữa cơ.

- Sao cháu không chạy đến với mấy chú?

- Cháu sợ... mấy chú nói cháu là lính của Pôn Pốt.

Hai anh bộ đội cười xòa, người đàn bà cũng cười theo. Một anh móc túi áo trên ngực lấy quyển sổ nhỏ bìa đỏ trao cho người đàn bà:

- Thưa bà, đây là quyển “Cương lĩnh Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước", bà hãy đọc và giải thích cho mọi người nghe. Hai mẹ con một quyển, hay là em bé cầm một quyên riêng?

Chầm-rên thấy cần phải nói thật, có việc gì mà các chú không biết.
- Chú bộ đội ơi! Không phải mẹ con đâu! Cháu có ba má, em Sơ-ri và em Chầm-mâu, đi lạc hết rồi. Còn đây là cô Sô-pha-ny, vũ nữ Hoàng gia đấy.

Hai anh bộ đội tươi vui nhìn người đàn bà, một anh giọng ôn tồn và lịch sự:
- Chúng tôi có nghe tiếng chị trên báo chí trước năm 1970. Hân hạnh hôm nay được gặp chị. Tốt lắm, chị sẽ trở về với nghệ thuật để giúp dân giúp nước. Đất nước mình rất cần khôi phục lại tất cả, khôi phục lại nền văn hoa cổ truyền lâu đời của dân tộc để phục vụ và phát triển đời sống tinh thần của nhân dân. Cỡ nghệ sĩ như chị có lẽ bọn Pôn Pôt giết hết rồi, không còn sót mấy người, đó là vốn rất quí.


Sô-pha-ni lấy làm lạ hết sức về quan niệm văn học nghệ thuật mà cô mới nghe lần đầu. Những điều ma cô dằn vặt trong bao nhiêu năm trời dưới chế độ cũ, bây giờ bỗng chốc như được mở tung ra, sáng sủa trong câu nôi giản dị chân tình của anh bộ đội. Tuy mới chỉ là một bóng dáng lờ mờ, nhưng cô đã thoáng thấy hướng đi và tầm vóc vĩ đại của nền nghệ thuật dân tộc nếu như được đi đúng hướng ấy.

Anh bộ đội hỏi lại:
- Thưa chị, lúc nãy chị nói anh nhà bị giết chết năm nào, ở đâu ạ?

- Chồng tôi bị Pôn Pốt giết hồi tháng mười năm ngoại ở nha máy rượu cây số ba, chỉ vì chung cho là có dòng máu Việt Nam.

Anh bộ đội nghiêm nét mặt, giọng nói đầy cương nghị:
- Chỉ chuyện ấy thôi cũng đủ thấy rằng máu của dân tộc Campuchia và Việt Nam đã đổ vì sự sống còn của hai dân tộc. Trước đây bọn đế quốc Mỹ, Pháp và gần đây bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri tay sai của bọn bành trướng Trung Hoa đều muốn chia rẽ hai dân tộc Việt Nam, Campuchia để dễ bề thống trị. Cho nên, hai dân tộc phải đoàn kết cùng nhau sát cánh để đánh bại mọi kẻ thủ. Kẻ nào muốn chia rẽ hai dân tộc ta là kẻ thù chung của chúng ta.


Chầm-rên nhìn hai chú bộ đội không chớp mắt. Nó nuốt từng lời, trong óc nó cũng lập lòe một tia lửa nhỏ. Chú bộ đội đeo túi vải nói với nó:
- Còn em, em tên gì? Rồi đây em sẽ được đi học, học thật giỏi nghe em, để làm việc cho dân cho nước. Nước mình cũng giàu lắm, dân mình siêng năng cần cù lắm. Cùng nhau đoàn kết xây dựng lại Tổ quốc, không bao lâu sẽ ấm no sung sướng.


Chầm-rên cảm thấy ấm áp trong lòng vì lời nói của chú bộ đội sao giống câu hát mẹ thường ru quá. Sô-pha-ny đứng dậy, trong tim cô như được tưới qua một dòng máu mới, như từ dưới lòng đất sâu thẳm có một sức mạnh lạ lùng nào đẩy cô lên, như từ bầu trời xanh vời vợi kia có một bàn tay kỳ diệu nào kéo cô dậy. Ngỡ ngàng và tha thiết quá, cô nhìn hai anh bộ đội với cặp mắt đằm thắm chan hòa nước mắt của một tâm hồn nữa được sống lại. Sô-pha-ni nói nghẹn ngào.
- Bây giờ chúng tôi đi về đâu và làm gì?

Thằng Chầm-rên cũng nói chen vào như reo lên:
- Chú bộ đội giải phóng ơi, cho cháu đi cùng. Cháu sợ lắm. Cháu không ở đây đâu. Cháu sẽ làm mọi việc các chú chỉ bảo mà.

- Cháu bé, cháu cứ ở đây, đã có các chú. Chính cháu là người chủ Hoàng cung. Cả chị Sô-pha-ni nữa, cả nhân dân Campuchia là người chủ Hoàng cung, người chủ của một đất nước đã trải qua một thảm họa tàn khốc, vừa mới hồi sinh, có nhiều việc phải làm lắm.

Cả bốn người cùng đi về phía nhà hát Hoàng gia.

Nắng sớm mai chạy lung linh trên những vòm cây xanh ngắt, trên những mái ngói đỏ tươi, trên dòng sông Mê Kông lộng gió. Một mùa xuân lại đền.


Phnôm Pênh
Xuân 1979


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 03:06:43 am
         
NGƯỜI ĐÁNH XI NHAN VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG

ĐINH NHƯ THIẾT         

        Kim...! Trước mũi máy bay của tôi là một cô gái con rất trẻ, trạc tuổi hăm hai hăm ba gì đó. Tôi hơi đột ngột bởi sự có mặt của Kim ở đây. Vậy là Kim đã từ giã bộ phận làm chuyên gia thuộc đội Quân y giúp bạn tại một đơn vị ở Tà Sanh để theo một đơn vị khác tới vùng núi O-ki-a này. Cách đây gần hai tháng, tôi có chở hàng đến Tà Sanh, Kim còn đứng ở ria bãi, làm hiệu, đánh xi nhan cho máy bay của tôi hạ cánh cơ mà?

        Hôm nay Kim không mặc bộ đồ quân phục màu xanh lá cây và tóc không bỏ xõa nữa. Kim vận một bộ đồ bạc màu đất, tóc buộc túm kiểu “búi tó", chân mang ủng gọn gàng tựa vận động viên bước vào rượt băng nghệ thuật.

        Gió thổi. Vòng gió hất ngược, cát bụi tung lên cao. Toàn bãi mù mịt như có thả đạn khói. Mọi vật quanh bãi ngả nghiêng, lay động. Cỏ cây muốn rời khỏi đất. Riêng Kim vẫn đứng vững tại một điểm, hai cánh tay vung mạnh, dứt khoát.

        Mọi chuyến bay khác, động tác xi nhan của Kim hết sức uyển chuyển, dịu dàng, hai bàn tay vẫy dẻo như cánh chim hải âu lượn trên sóng. Chuyến nay thì không. Có lúc Kim nghiêng hết người sang một bên để ngăn máy bay dừng lại. Rối có lục rướn ngực về phía trước, ngồi thụp xuống đất thét thật to vì máy bay leo lên đè Kim nằm lút dưới bụng, cánh quay chém sát sạt. Cứ như thế: hai cánh tay Kim hết kéo đi đẩy lại, sang phải sang trái, phải đến chục lần có dư mà chẳng tài nào tôi đặt được máy bay xuống bãi.

        Nếu là một đơn vị đã ở đây từ lâu chắc chắn tôi đã quay về từ chỗ điểm rẽ, cách đây đúng sáu phút bay thôi. Đằng này là đơn vị vừa tới, con đường vận chuyển bằng ô tô chưa đi nổi, phương tiện chính dựa vào đôi vai và máy bay. Có những thứ vai có thể cõng được nhưng có thứ, vai không tài nào làm được, bởi thế việc vận chuyển bằng máy bay là hết sức cấp bách. Chẳng hiểu trận chuyển thuốc DDT đến đó làm gì mà mây ông bạn hàng không Campuchia đến nài nỉ tôi đi bằng được. Tưởng cũng như các bãi đỗ khác, cùng lắm là khó hơn một tí, nên tôi đành nhận lời. Không ngờ cả bãi và đường xuống đều quá khó khăn, phức tạp. Kể từ lúc phải giảm độ cao, tốc độ rơi lớn, hai tay tôi nhức nhối lạo xạo như có vật gì xé rách màng nhĩ. Để nhìn thấy bãi, đầu tiên tôi phải vượt qua một dải núi, bụng máy bay đè chính giữa chỏm núi đá nhọn hoắt cao tới một ngàn hai trăm mét. Qua hết dãy núi, máy bay lọt theo một khung hmh chữ V, hai bên là vách đá cao ngất. Không còn đường xuống nào khác ngoài cái thung lũng hẹp như đường hầm ấy. Và chỉ cần lách nhẹ một cái là sang đất Thái. Vất vả lắm tôi mới điều khiển máy bay tiếp cận được bãi. Như tới bãi khác, đến rìa tôi điều khiển tốc độ về không. Ở bãi này tôi đã tính trước: đưa tốc độ bằng không cách đó khá xa nhưng máy bay vẫn bị gió thổi lao xồng xộc trượt cả ra ngoài bãi, chỉ một chút nữa là đâm vào rừng cây trước mặt.

        Dừng được máy bay tôi đã yên trí thở phào nhẹ nhõm. Tưởng sẽ đặt xuống dễ dàng nhưng ai ngờ lúc đó lại là khó nhất, còn vất vả hơn lúc vào hạ cánh rất nhiều. Bùng nhùng mãi tôi vẫn chưa tài nào đặt máy bay xuống bãi được. Độ cao mặt bãi quá cao so với mặt biển, mật độ không khí rất mỏng làm cho lực nâng nhỏ khiển máy bay như một quả bóng đầy hơi dìm xuống nước mà không tài nào giữ được.

        Đánh xi nhan để máy bay đậu yên trên bãi xong, chờ tôi cúp ga về ga răng ti (ga nhỏ) Kim chạy lại:

        - Hôm nay chở về bao nhiêu người được hả anh?

        - Chở với không cái gì! Bãi gì mà hẹp như cái chuồng cọp! Đất cát bụi mù lên. Lần sau không tưới nước, không mở rộng ra đừng có xin máy bay nữa nhé! Tôi kéo tấm cửa bên, thò hẳn cái đầu ra ngoài buồng lái, không nén được cáu gắt.

        Cũng tưởng như các chuyến bay trước: sau mỗi lần đánh xi nhan xong, Kim thường đón chúng tôi bằng nụ cười hết sức cởi mở, ý tứ. Nhưng lúc này vẻ mặt Kim lạnh tanh để đáp lại lời cáu gắt của tôi. Kim quay lưng lại, chẳng thèm nhìn vào cái buồng lái trong như pha lê mà mới hôm nào đây cô vẫn nhìn nó với một đôi mắt trìu mến.

        Chờ lâu quá, chằng thấy bóng một ai chạy ra bốc hàng, chỉ có Kim đứng ở phía dưới chân tôi. Tôi làm lành:

        - Thôi! Giận gì mà lâu thế? Cho người bốc hàng đi. Bãi và đường xuống nguy hiểm lắm hẹp thế này chỉ dám chở về mười bốn người thôi!


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 03:07:32 am

        Nghe tôi nói nhẹ nhàng, Kim trở lại hoạt bát như mọi ngày. Kim vẫy tay gọi mọi người đứng dưới bãi cùng lên máy bay để bốc hàng cho nhanh. Sự xốc vác của Kim khiến tôi thấy ân hận bởi sự bực tức vừa rồi. Kim đâu phải là người chuyên làm công tác đưa đón máy bay theo kiểu này. Kim là một bác sĩ sang giúp Bạn. Nhưng có lẽ vì quen biết qua các lần đưa đón thương bệnh binh, vả lại việc đánh xi nhan làm hiệu cho máy bay cất hạ cánh Kim đã làm nhiều lần nên người ta thường nhờ ra đón.

        Ngồi trên buồng lái, tôi không lúc nào rời mắt khỏi Kim. Có nhũng kiện hàng vuông bằng cái bàn, thể mà một mình Kim bê nhẹ nhõm, chạy vèo vèo quẩn nào trong gió. Đưa hãng xếp vào một chỗ xong Kim lại chạy ra rìa bãi đưa từng thương binh tới máy bay. Nhìn đôi bàn tay khỏe mạnh của Kim người ta dễ nhầm đoàn rằng Kim là người không biết làm việc nhẹ nhàng hay âu yếm bất cứ vật nào mềm mại. Nhưng không, đôi bàn tay kia tận mắt tôi đã được nhìn thấy cách đây không lâu lăm, gần hai tháng. Lúc ấy Kim đang đứng trên bàn mổ, bàn tay mới nhẹ nhàng khéo léo làm sao. Một tay cầm kéo, một tay cầm dao, nhìn Kim lách vào theo các đường gân thớ thịt ngọt như đưa dao dưới nước.

        Cõng hết số thương bệnh binh vào máy bay xong, Kim đứng ngay dưới chân tôi vẻ mặt nôn nóng.

        - Đi được chưa hả em? Tôi hỏi khẽ.

        ¬- Còn một ca "tử sĩ" nữa. Có gì anh tắt máy chờ cho một tí. Người ta đang sắp xếp công trình nghiên cứu, tài liệu của anh ấy đưa về luôn.

        - Ai thế? Tôi vội hỏi.

        - Bác sĩ Khả! Vừa mới chết tối hôm qua!

        Tôi choáng váng. Anh Khả đã cùng đội điều trị của Kim vào đây làm công tác nghiên cứu phòng dịch trong vùng núi O-ki-a này. Mới hôm nào xuống Tà Sanh, tôi còn được anh giới thiệu những công trình nghiên cứu về bệnh sốt rét, đồng thời phổ biến về sự phát triển của muỗi, thoi trung trong máu, và sự phát triển của nó trong tế bào gan theo cấp số nhân vô cùng lớn, rồi xâm nhập vào hồng cầu, phá hủy hồng cầu. Có những buổi, bác sĩ còn kéo quần lên đến đùi, ngồi hàng giờ đồng hồ để theo dõi xem có bao nhiêu con muỗi mang mầm bệnh sốt rét bám vào cơ thể.

        Trong căn phòng nhỏ hẹp dựng lên giữa cánh rùng già cỗi, tôi cảm phục tinh thần say mê của người thầy thuốc ngày đêm nghiên cứu về ký sinh trùng sốt rét để phục vụ cho quân đội và công hiến cho khoa học. Qua tâm sự tôi được biết: Chẳng còn bao lâu nữa, bệnh sốt rét ở vùng núi Tà Sanh sẽ bị đẩy lùi, con người không còn sợ hãi phải tới nơi đây. Vậy mà hôm nay bắc sĩ đã chết, tôi cảm thấy hẫng hụt trong người.

        Chẳng phải đắn đo gì nữa, tôi ra hiệu cho người cơ giới tắt máy chờ. Ngôi trong buồng lái, hình ảnh bác sĩ Khả, con người nhỏ nhắn nhưng sức lực phi thường cứ hiện ra trước mặt tôi với từng cử chỉ, chi tiết việc làm hết sức cụ thể.

        - Bác sĩ chết vì mìn hay bị phục? Tôi hỏi.

        - Không. Chết vì sốt rét ác tính. Ơ vùng núi O-ki-a này, muỗi an-nô-phen nhiều lắm, nhiều hơn ở Tà Sanh anh ạ.

        Chuyển thi hài của bác sĩ Khả lên máy bay xong, Kim lại chạy về phía trước mũi máy bay chuẩn bị làm hiệu cho tôi cất cánh. Kim đứng mở chân, hai tay đưa ngang thẳng căng giống hình vẽ người đứng tập thể dục buổi sáng. Nhìn tư thế của Kim tưởng rằng không một sức mạnh nào có thể lay chuyển. Nhưng thật vất vả cho Kim, đứng đến bốn chục phút mà may bay vẫn chưa nổ máy được. Người cơ giới đã ấn nút mở máy đến lần thứ hai mà động cơ vẫn không tài nào phát hành nổi. Tôi lo lắng trán vã đẫm mồ hôi. Chờ cho máy nguội tôi lại ra hiệu cho người cơ giới nổ máy tiếp. Lần nay vòng quay còn yếu hơn lần trước. cánh quay chỉ hơi nhúc nhích rồi dừng hẳn.

        - Ắc quy quá yếu hay sao? - Tôi hỏi.

        Đoán đúng căn bệnh, anh cơ giới nói liền:

        - Lọc gió tắc?

        - Lọc tắc! Tôi nhắc lại và thở dài, mệt mỏi. Người cơ giới nói có lý. Bãi bụi, khi xuống đất đá quẩn lên, binh độ của bãi lại cao nên dẫn tới tình trạng thiếu khí. Làm thế nào nổ máy được bây giờ, trong khi vít, kìm cờ lê chúng tôi đều không mang một thứ nào cả. Nếu có dụng cụ chỉ việc tháo ra, rửa sạch, không đầy một giơ đồng hồ sau là có thể nổ máy cất cánh được ngay. Buổi sáng nay khi ở nhà nhận lệnh: Chúng tôi chỉ bay đến đây không tắt máy, bốc hàng xuống đồng thời có thương binh thì chuyển về luôn thành ra không chuẩn bị một thứ dụng cụ đem theo nào hết. Bây giờ biết làm thế nào cho ổn? Tôi ngồi trong buồng lái, không muốn bước xuống đất. Càng nghĩ càng lo. Làm thế nào để bảo vệ an toàn máy bay trong đêm nay. Cả khu rừng này vẫn còn tàn quân Pôn Pốt ngày đêm lén lụt hoạt động. Có lúc chúng câu cả H-12 vào cạnh rìa bãi. Đánh hơi thấy món mồi ngon, chung sẽ không để yên đâu.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 03:08:10 am

        Chờ lâu quá không thấy máy bay phát động được, Kim chạy lại:

        - Làm sao lâu thế hả anh?

        - Còn sao nữa! Tại cái bãi của cô vừa bụi vừa bẩn làm tắc cả bộ phận lọc khí của tôi chứ còn sao!

        Mặc dầu tôi nói còn khó chịu hơn cả khi máy bay vừa hạ cánh nhưng lúc nay Kim không tỏ vẻ giận. Cô nhìn tôi, hỏi nhỏ:

        - Có cách nào sửa được không anh?

        - Có vít, kìm, cờ lê không? Tôi không đáp mà hỏi lại.

        Kim thở dài:

        - Ở đây chúng em vừa đến nên chẳng có thứ nào cả. Nếu cần để em ra Bờ-luc-xây mượn cho. Ở ngoài đấy có cả một đội xe của đơn vị bạn, nhiều lắm.

        Tôi ngồi suy tính: nếu cứ nằm ở đây, chờ điện về xin máy bay tới cấp cứu thì ít nhất cũng phải mất hai ngày. Vả lại có máy bay đến cấp cứu, bãi hẹp cũng không tài nào hạ cánh xuống được. Tất nhiên sẽ phải gọi nhau hẹn trao dụng cụ ở một bãi gần nào đó. Như vậy còn mệt và nguy hiểm hơn. Tốt nhất nhờ Kim đi mượn, đó là phương pháp nhanh nhất.

        - Nhưng từ đây tới Bờ-lúc-xây có xa không? Tôi băn khoăn hỏi.

        - Cũng chẳng xa mấy, vừa đi vừa về hết gần bẩy giờ đồng hồ. Nó nằm trên đường các anh bay qua. Em đi khoảng ba bốn giờ chiều gì đó sẽ quay về thôi!

        - Có phải mấy cái nhà nằm bên cạnh dòng suối không?

        - Đúng rồi...!

        - Vậy vừa đi vừa ngủ hay sao mà đến chiều mới về?

        - Anh thử tính xem, từ đây tới đó phải qua mười chín quả núi. Em đi như vậy là nhanh lắm đó.

        Tôi tròn mắt. Nếu đúng là sáu dãy nhà nằm lọt ở thung lũng bên một dòng suối, nơi làm mốc để máy bay rẽ vào đây thì máy bay bay hết có sáu phút, vậy mà theo Kim nói vừa đi vừa về hết gần bẩy giờ đồng hồ.

        Thấy tôi ngần ngại, Kim giục:

        - Anh mượn thứ gì nói để em đi cho. Em sẽ đi thật nhanh.

        Tôi nhìn Kim không khỏi xúc động:

        - Cô về chuẩn bị khẩn trương, rồi ra đây chờ tôi cùng đi!

        Lát sau, hai chúng tôi đã đi sâu vào trong một cánh rừng. Đoạn đầu Kim dẫn tôi đi theo một dòng suối. Càng đi, con suối càng bị che khuất, cây mọc chằng chịt bịt kín thành một cái hang, tối đen như mực. Nước suối từ các lòng núi chảy ra phả lên bốc mùi tanh lợm, phảng phất cả mùi ngái của rễ cây và đất. Ở đoạn suối này tôi bước hết sức rón rén, có lúc phải nằm bò xuống dùng cả hai bàn tay để vượt các tảng đá vì trơn. Còn Kim vẫn bước thoăn thoát nhảy qua hết tảng đá này sang tảng đá khác. Mặc dù trước lúc xuất phát Kim đã chuẩn bị cho tôi chiếc gậy bằng gỗ rất vừa tay cầm, một đầu vót nhọn nhưng nhiều lúc vẫn không đủ sức chống chọi với độ trơn của đá và nước. Qua hết đoạn suối tương đối bằng phẳng, chúng tôi leo vòng theo các sườn núi. Quả núi đầu tiên kề sát dòng suối Kim gọi là núi anh Khả. Toàn bộ quả núi dựng lên lừng lững như cây tháp nước đồ sộ, xung quanh cây mọc um tùm tươi tốt. Trên nhọn cây là những nhành hoa phong lan đuôi chồn dài chớm đất nở trắng cả phía bên đường tôi đang bước.

        - Sao lại có tên là núi anh Khả? Anh ấy đã tới đây à? Tôi hỏi

        Kim nhanh nhảu trả lời:

        - Vâng, sau mỗi lúc làm việc căng thẳng, anh Khả thường lần mò tới đây ngắm núi, ngắm hoa phong lan. Có bữa anh Khả mải mê đến tối mịt vẫn chưa về. Bọn em tưởng bị bắt cóc, nháo nhào đi tìm. Hễ ai ngắt hoa ở đây, dù một nhành, hay một cành thôi là anh Khả đều không vừa ý. Bởi thế bọn em đặt cho quả núi mang tên anh ấy.

        - Thế còn núi của em nằm ở đâu? Tôi hỏi đùa.

        - Núi của em nậm tận tít tịt trên cao. Nói chung anh phải chống gậy mệt nghỉ mới tới được nhé! - Kim cười.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 03:08:31 am

        Hai chúng tôi cặm cụi đi tiếp. Đường ở đây mới mở, có đoạn cây gai vẫn bịt sát mặt đường khiến cả hai phải vạch ra để bước. Đúng như Kim nói, hai đầu gối chân tôi muốn khuỵu xuống, chiếc gậy Kim đưa chống toét cả đầu nhọn. Càng đi tiếp độ dốc càng cao, có đoạn đầu bên này ném tới bên kia mà phải vòng quanh gần một giờ đồng hồ. Vượt được ba quả núi, ngực tôi như bị vỡ tung ra, tai mũi tranh nhau thở. Mặt đường không có nắng nhưng mồ hôi tôi vã đẫm ướt sũng chiếc áo đang mặc. Biết tôi bị mệt, vừa đi Kim vừa kể chuyện: chuyện về y học hiện đại, chuyện những người mở đường, có nhiều người đã hy sinh nằm xuống nơi đây, cô đôi lứa nên vợ nên chồng sinh con đẻ cái ngay trên đoạn đường và hiện nay họ về Bờ-lúc-xây sinh sống. Cứ như vậy, hai chúng tôi cùng nhau leo hết quả núi này sang quả núi khạc. Để đến được núi có tên “Kim" tôi đếm tất cả lớn nhỏ phải qua mười quả núi. Để rút ngắn cự ly, người ta mở một đường thẳng căng từ chân lên đỉnh. Dốc núi cao ngất dựng đứng như một bức tường. Giữa lúc tôi còn đứng dưới chân ngần ngừ nhìn lên: Kim đã nhanh nhẩu bước trước. Cứ lên mỗi bậc, Kim lại dừng chân kéo tôi bước lên theo. Lên được đến đỉnh núi, người tôi mệt nhoài thở không còn ra hơi, mặt mũi bơ phờ. Thấy tôi cạn sức, Kim có ý động viên: "Anh ngồi nghỉ một tí, yên trí sẽ khỏe ngay?" Tôi ngoan ngoãn chấp nhận đề nghị của Kim. Chỏm núi là một cái đỉnh bằng đá, nhọn hoắt, Kim bảo hàng tuần đi lấy gạo qua đây mọi người thường nghỉ lại lấy sức cho đỡ mệt rồi đi tiếp. Tôi nghĩ chắc chẵn họ sẽ khỏe, hứng thú vì chóp nui hùng vĩ, tròn vo, thoáng mát. Chỏm núi mọc hơi chếch vươn về hướng Đông như để chống chọi với bất kỹ luồng gió nào từ biển thổi tới. Cả hai chúng tôi ngồi nhìn về hương Bờ lúc-xây. Sáu dãy nhà hiện ngay dưới tầm mắt. Vậy mà tôi phải đi tiếp chín quả núi nữa mới tới.

        Tôi và Kim đến Bờ-lúc-xây vào lúc những người lính ở đây bắt đầu ăn bữa trưa. Hai chúng tôi quên hết mệt nhọc, tìm gặp ngay người phụ trách.

        Chẳng biết học tiếng Khơ-me từ khi nào mà Kim ngồi nói chuyện như gió. Qua trao đổi, tôi được Kim cho biết: mọi thứ dụng cụ đã chuyển ra tháo gỡ khí tài trên một chiếc xe tô tải bị địch phục, kích đây hơn ba chục kilômét. Người không chết nhưng xe bị đổ xuống thung lũng ven đường. Không còn cách nào khác, tôi và Kim phải đi ra đó để lấy những thứ cần thiết. Bữa cơm trưa vừa bắt đầu nên chúng tôi được mời ăn luôn cho đỡ đói. Để đi được nhanh, người phụ trách điều cho một chiếc xe Uoát khá mới. Lái xe là lính Campuchia. Anh to, khỏe, có nước da đen bóng. Do quen với mặt đường lồi lõm, anh chạy khá nhanh và chuẩn. Bánh xe thương xuyên đè kín vết xe cũ. Lúc đầu tôi không hiểu nổi vì sao anh phải gò tay lái cho rất vả nhưng sau mới hiểu rõ anh bám vậy để tránh mìn. Chẳng mấy chốc cả hai chúng tôi đã có mặt chỗ chiếc xe bị đổ. Giữa ban trưa, hàng chục người lính Campuchia vẫn không nghỉ. Anh em xoay trần tháo gỡ tùng cụm máy trên thùng xe. Thấy chúng tôi họ dừng lại ít phút rồi tiếp tục tháo gỡ, cố hoan thành trước lúc cơn mưa đang giăng kín trên đầu sắp sửa úp xuống. Qua dòng chữ của người phụ trách ở Bờ-lúc-xây, tôi được ưu tiên lấy mọi thứ dụng cụ cần thiết, kể cả những thứ đang làm. Tất cả đã tìm đầy đủ, tôi và Kim lên xe quay về luôn. Chiếc xe chạy hết nửa đoạn đường thì trời nổi gió. Những cơn lốc, gió cuốn, cuốn tung mọi thứ đưa lên trời, mặt đường mờ mịt trong đất bụi và lá rừng. Tiếp gió là mưa, mưa trút xuống rừng ào ào không ngớt. Mưa to đến mức người lái xe phải dừng lại đóng hết các tấm kính, dốc nước trên trần xe cho nhẹ nhưng nước vẫn rơi khắp thùng xe, ngấm cả vào quần áo. Tôi bắt đầu thấy lạnh.

        Chiếc xe vẫn đều đều lăn bánh. Nước ở mặt đường bị vòng bánh rẽ về hai phía vồng cao thành rãnh. Tôi đang để mắt sang phía bên rừng và núi bị chìm trong mưa trắng xóa, một cảm giác rợn rợn len đến. Bỗng chiếc xe ngoặt sang một phía rồi dừng lại. Cử chỉ của người lái xe khiến tôi hoảng sợ: hai bàn chân dậm chặt chân phanh, cần côn, ngực gục xuống vô lăng, toàn thân run lầy bẩy, mặt trắng nhợt nhạt.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 03:09:26 am

        Tôi hốt hoảng nhìn ngang. Nhưng Kim vẫn bình thản như không có chuyện xảy ra. Kim nói:

        - Đó là cơn sốt rét anh ạ! Gặp lạnh đột ngột khó có thể chống cự nổi. Buổi trưa thấy anh ấy ăn khỏe em đã cho anh ấy thuốc uống phòng mà vẫn không thể tránh khỏi.

        Kim mở nắp túi, lấy ra một gói trong đó có đủ các thứ thuốc:

        - Thuốc đây, anh nuốt đi đề phòng sốt rét?

        Tôi cầm hai viên thuốc cho vào miệng, nhai ngấu nghiến - không hiểu loại thuốc gì mà nuốt đến gần giờ đồng hồ sau miệng vẫn đắng ngắt. Tôi đang định đề xuất với Kim hai người thay nhau cõng người lái xe về Bơ-lúc-xây càng nhanh càng tốt.

        - Anh kéo anh ấy giúp em, cho nằm xuống ghế.

        Tôi ngơ ngác chẳng biết Kim chuyển anh lái xe xuống để làm gì thì Kim đã ngồi thụp vào ghế lái nổ máy rồ ga: - Trời! Tôi kêu thầm trong đầu. - Kim biết cả lái xe. Chiếc xe thoạt đầu giật giật vọt mạnh sau đó vòng vèo như rắn lượn. Nhưng chỉ một lục sau nó đã chạy trên đường thẳng và vòng cua chẳng kém gì những tay lái lão luyện. Tôi quên hết lo sợ, nhìn Kim vừa kính nể vừa thán phục:

        - Kim biết lái xe từ hồi nào?

        - Lâu lắm rồi anh ạ! Từ hồi em còn là sinh viên sang bên nay thực tập Nhân một chuyến áp giải thương binh từ chốt về bệnh viện, không may đến giữa đường xe bị bọn Pôn Pốt phục bắn. Người lái xe bị trúng đạn vào giữa bàn tay. Càng vượt nhanh đoạn đường càng tốt. Sau lúc băng bó xong, anh lái xe gọi em ngồi gần lại, bảo em cầm tay vào vô lăng cùng anh điều khiển. Lúc đầu vừa chạy, anh ấy vừa giảng giải nhưng sau giao cả tay lái cho em, thỉnh thoảng mới dùng tay còn lại để hỗ trợ. Cũng may đoạn đường rất rộng và vắng. Kết quả chúng em đã đưa cả xe và người về bệnh viện an toàn.

        Xe chạy gần hết nửa phần đường còn lại. Mưa vẫn chưa ngớt, mỗi lúc một to hơn. Đất đá trên các triền núi cao bắt đầu tách nhau ầm ầm lăn xuống phía chân núi. Bỗng một luồng gió rít rất mạnh. Tôi đảo mắt nhìn lên. Một tảng đá to bằng nửa chiếc xe Uoát đang bay là là trên sườn núi tiên thẳng vào chiếc xe của chúng tôi không một chút khoan nhượng. Tôi không còn kịp thét cho Kim rồ ga vượt lên tránh nữa mà chỉ kịp nhắm mắt lại để chấp nhận tai họa ụp đến. Rồi một lực chấn động thật mạnh vào xe, chiếc xe lăn tròn sang phải. Tôi ngất ngay sau lúc chiếc xe lăn hai, ba vòng gì đô. Chẳng hiểu bằng cách nào, khi tỉnh lại tôi thấy mình nằm bên dìa đường, quần áo ướt sũng cùng với người lái xe. Người tôi lúc đó không rét nhưng choáng váng. Tôi đưa mắt tìm xe và Kim lần theo vết xe lăn hằn xuống thung lũng. Chiếc xe được một cây dẻ rất to chặn lại nằm lơ lửng bên sườn núi, cánh cửa xe hất ngược lên trời. Tôi leo lên phía trên chiếc xe, kéo cánh cửa phía Kim ngồi. Trời! Kim vẫn nằm ngất trong ca bin. Tôi kéo Kim ra. Bên trái thái dương Kim máu vẫn còn chảy. Hơi thở của Kim vẫn còn, nhưng đã yếu lắm rỗi.

        Mưa vẫn dội xối xả. Tôi chỉ còn biết cời chiếc áo đang mặc che cho Kim. Nước mưa đã làm cho khuôn mặt Kim tái xanh vì mất máu. Khoảng một lúc sau Kim từ từ mở mắt, nhìn tôi vẻ ân hận hình như muốn nói là chưa làm tròn việc đưa tôi trở lại.

        Tôi nhìn Kim, nghẹn tắc, mãi sau mới nói được nên lời:

        - Đau nhiều không Kim...

        Kim thở dãi, giọng khó nhọc, lạc hẳn đi:

        - Anh quay lại O-ki-a đi. Nói với mọi người trong đó giúp em: Làm ngay công tác phát quang phun thuốc DDT diệt muỗi và bọ gậy. Thôi, anh để em lại đây về ngay đi mà sửa chữa cho kịp cất cánh trước lúc trời tối...

        Nói xong, hai mắt Kim từ từ khép kín. Tôi bật gào lên, lay gọi Kim tới hai ba lẫn. Nhưng kim vẫn không tỉnh lại. Tôi vội vàng bế Kim ngược lên phía con đường, mặc cho mưa bão trút ào ào. Tôi chạy vê Bờ-lúc-xây một mạch.

        Cho đến bây giờ, mỗi lần đến O-ki-a hay bất kỳ một nơi nào, hình ảnh Kim - chân mang ủng, áo bỏ vào quần ống, tay xắn cao, luôn hiện ra trước mặt như vẫy vẫy cánh tay gợi tôi đặt máy bay xuống bãi. Và hình ảnh con đường, nguy hiểm, gian khó cứ hiện trong ký ức tôi rõ mồn một. Nhưng đó chỉ là một đoạn đường mà người lính đường không, đường bộ chúng tôi vẫn đi và vẫn đến.

Viết tại O-ki-a chuyến bay đầu tiên.         
Tháng 3-1986                     


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 09:19:08 pm

NHỮNG NGƯỜI ĐI TRƯỚC CON ĐƯỜNG

ĐỖ VĂN NHÂM         

        Anh sải những bước dài trên đường lộ. Đây đó những cây cao su bị pháo Pôn Pốt bắn vỡ toác. Dòng nhựa trắng tinh khiết chày ròng ròng, lâu dần tím bầm như máu ứ. Các sĩ quan tham mưu từ trong hầm chỉ huy bước ra làm vài động tác khởi động. Họ chào Dân bằng những cái vẫy tay, những cái gật đầu đầy hàm ý.

        Đã nửa tháng nay tình hình mặt trận tạm lắng xuống. Sự yên lặng giả tạo và rình rập như trước một cơn bão. Khi tiếng súng trên tuyến điểm tựa tiếp xúc trực tiếp thưa dần đi thì mọi hoạt động chuẩn bị cho một cái gì đó ở phía sau tăng lên với nhịp điệu khác thường. Những chiếc xe tải cắn đuôi nhau lao trên đường 7. Ban đêm tiếng động cơ vọng về nặng nề, âm u.

        Còn sớm được mấy phút, Dân vào chỗ đồng chí công vụ tán chuyện. Cũng như mọi lần anh hỏi thăm tình hình sinh hoạt và sức khoẻ của đại tá.

        Bây giờ trong hầm còn lại sư đoàn trưởng. Ông chắp tay sau lưng đi đi lại lại xung quanh cái bàn lớn. Nhiệm vụ của sư đoàn trong chiến dịch sắp tới thật nặng nề. Đơn vị bạn sẽ tiến công trên hướng chính diện, còn sư đoàn của ông lại “lờ” đi tất cả những mục tiêu thứ yếu, đánh thốc vào sở chỉ huy quân khu 23 địch ở S. Đây là mũi thọc sâu chiến dịch, thực hiện đòn chia cắt chiến lược. Cuộc họp vừa rồi đã gỡ ra được mấy cái nút quan trọng. Dự kiến quyết tâm chiến đấu của ông làm nổ ra một cuộc tranh luận. Một số ít sĩ quan tỏ ra bật ngờ trước ý định táo bạo của sư đoàn trưởng. Không táo bạo sao được khi yêu cầu tốc độ tiến công phải là sáu chục ô bản đồ một ngày(1) (Loại bản đồ 1 ô ứng với một cây số thực địa như loại 1:50.000 hoặc 1:100.000). Một tốc độ tiến công có thế là kỷ lục trong cuộc chiến tranh này. Và, hiển nhiên cuộc tranh luận xoáy trọng tâm vào vấn đề bảo đảm cho tốc độ tiến công ấy. Đó là một-con-đường. Người ta đã đưa ra dự kiến để chọn lựa con đường tối ưu nhất: Bí mật, bất ngờ chọc nào yết hầu quân địch, muốn thế, nó phải khỏe nhất (tức là phải cõng được hàng trăm xe các loại: xe vận tải, xe kéo pháo, xe tăng, thiết giáp...). Một con đường như vậy với ý nghĩa nào đó sẽ là điểm then chốt nhất làm cơ sở thực hiện quyết tâm chiến đấu, vừa tự hoàn thiện vừa tự vươn lên cách đánh truyền thống.

        Cái dạ dày xấu tính làm ngắt dòng suy nghĩ của ông. Đại tá dừng lại trực ban tìm kiếm lọ thuốc muối, gương mặt cau lại một thoáng.

        Con đường, ở chừng mực nào đó nó còn cho phép ta với thời cơ thuận lợi sẽ phát huy được sức mạnh quân sự, phá vỡ thế trận, đập tan ý đồ xâm lược của địch, hỗ trợ cho bạn lật nhào chế độ diệt chủng ghê tởm này. Không ngờ một con đường quân sự thông thường, trong phạm vi chiến dịch lại có thể vượt ra ngoài khuôn khổ tự nó. Một điều nữa khiến ông rất vui là qua cuộc tranh luận, những gương mặt của thế hệ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đang ngày một trưởng thành.

        - Lực lượng dò gỡ mìn của anh làm ăn đến đâu rồi? Sư đoàn trưởng hỏi sau khi Dân đã ngồi xuống chiếc ghế đối diện.

        - Báo cáo, toàn bộ khu vực M đã giải quyết xong. Dân đang lục tục về. Một số công việc chúng tôi đã bàn giao, cả những biện pháp cho các tổ du kích đầu tiên của Bạn.

        - Được! Đại tá thường hà tiện lời khen nhất là với những sĩ quan trẻ. Mỗi một con ngươi, mỗi một dân tộc đều phải tự lựa chọn một con đường chọn lựa cách tự khẳng định trước những biến cố của lịch sử, không ai và cũng không thể làm thay. Với suy nghĩ ấy sư đoàn trưởng nói tiếp, nhỏ nhẹ:

        - Anh giúp họ hoạt động đi, những tổ du kích của bạn ấy mà. Đã đến lúc rồi đấy! Đại tá ngưng một lát rồi nói tiếp:

        - Bây giờ thế này nhé: Tôi cần-một-con-đường. Ông với tay cầm cây chì đỏ gạch một nét khoáng đạt và dứt khoát lên bản đồ - Sư đoàn trưởng bắt đầu giao nhiệm vụ giản dị và đột ngột, giọng đã cao hơn - Nó đấy! Năm chục ô cả thảy. Nhưng các anh chị cần xem cho tôi đến chỗ này - ông khuyên thật đậm vào chữ “Này”, - Xem nào... mười lăm ô, hả?

        Dân đứng dậy, “Con đường" hiện là một nét chì đỏ tươi hình cánh cung. Sư đoàn trưởng đưa tay vuốt mái tóc bạc. Khuôn mặt vuông vức, nâu xám, lấm tấm mồ hôi.

        - Còn lại đường đã có sẵn. Nhìn bản đồ, anh thấy đấy. Hiện nay địch vẫn dùng vận chuyển cho Đ.B - Đại tá lượn một nét chì mờ trên mặt-mi-ca.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 09:19:43 pm

        Dân chỉ "dạ" một tiếng nhỏ nhẹ. Anh đang dõi theo đường chỉ đỏ và những ký hiệu mau xanh “bâu" quanh nó như để lượng sức mình.

        - Báo cáo sư đoàn trưởng. Việc xoi đường, chúng tôi thực hiện được Nhưng... khi mở đường qua vùng này - Dân chỉ vào bản đồ - Địch phát hiện. Điều đó không tránh khỏi. Yếu tố bí mật bật ngờ sẽ không còn...

        - Đúng! Rất đúng! Nhưng anh yên tâm!...

        Sư đoàn trưởng đứng phắt dậy. Khuôn mặt bỗng sinh động hơn. Dân vụt nhớ lúc ông hạ lệnh tiến công điểm cao 456 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Ngày ấy đôi mắt ông trẻ hơn, óng ánh hơn nhưng nét nheo nheo cười tự tin kia bây giờ đằm sâu hơn và, nhất là đừng ai dại dột một lần lừa dối đôi mắt ấy. Ông nói, hai tay phác những cử chỉ linh hoạt.

        - Ta sẽ vòng lên theo hướng này, đập tan Đ.B. Phía nam, bạn sẽ tiến đánh Thum Sam, dãy điểm cao 105. Bị những cú choáng váng, bọn "cù" ngoài này sẽ cong đuôi chạy hết - Sư đoàn trưởng cười lớn. Đó là thời cơ cho anh “dũi". Được chưa? Sườn đông bắc "thằng 23" này đã hở. Vấn đề là ở chỗ đó. Và, cái lao thép của ta... Trong những con đường được chuẩn bị, tôi hy vọng nhiều hơn ở hướng các anh. Lần này đi, anh xem kỹ cho tôi cái cán lao ấy!

        Đại tá ngồi xuống, đẩy bao thuốc về phía Dân, mời. Ông châm lửa hút:

        - Muốn có được con đường làm ăn ra tấm ra miếng, ta đã phải “vòng véo" như vậy đấy!

        Đôi mắt đại tá dừng lại giây lâu trên vầng trán rộng và vết sẹo mờ bên má trái của Dân. Có lẽ "nó” thật. Ông nghĩ, vui vui. Và ông tin rằng con chim nhỏ nhà ông biết chọn cành. Chà. Cái bọn trẻ này làm sao ông hiểu nổi...

        Còn Dân, anh thấy khoái khoái vì đến bây giờ chuyện ấy của anh vẫn giữ được bí mật. Có những điều tốt đẹp mà ta không muốn nói ra một cách dễ dãi, mỗi người cứ phải tự hiểu lấy, tự khẳng định. Anh không muốn cầm "giấy giới thiệu" của Lan. Rồi ông sẽ tự nhận ra anh như một người lính thực thụ dưới quyền ông. Con đường đó, anh biết, tuỳ thuộc vào không phải ai khác mà chính là anh vậy...

        Dân là người "húc" nhiều nhất trong số cán bộ tiểu đoàn. Lính nói thế. Nghĩa là chỗ nào rắn đều thấy anh có mặt.

        Sở chỉ huy di chuyển, "dĩ nhiên” tiểu đoàn phó công binh phải "xách một “xê” đi mà húc, công việc hòm hòm lại khoác ba lô lên vai, phía trước "điểm danh" rồi.

        Cấp phó là chân ve ve chạy ngoài, chuẩn bị chiến trường lót ổ dọn đường... kể cũng phải. Và, Dân vui vẻ... húc. Trẻ mà!

        Suốt chiến dịch ròng rã sáu thánh trời, tiểu đoàn chỉ có hai “phó dê” nắm quân là Dân và Mạo. Tiểu đoàn trưởng Đô đã “kềnh" trước chiến dịch vì bộ xương hông. Bị thật sự. Dẫu chẳng xuôi chèo mát mái gì nhưng cả hai chiến dịch ấy, tiểu đoàn chẳng đến nỗi phải "khiêm tốn” lui xuống hàng ghế dưới ở hội nghị mừng công. Nhưng lính kháo nhau lại là chuyện khác. Hễ sư đoàn dừng lại củng cố là Đô ở viện dò về, kỳ không? Khỏi thật sự. Thế là sau khi chỉ huy "quân tướng nhà giời" làm hội trường, đào hầm hào, đắp sân khấu, ra đường đón khách, căng biểu ngữ... xong, Dân rút ra ngoài tán “tò le tum cốc” với lính, thật quấy. Hội nghị như thế, cấp trưởng vắng, phó mới thay. Ngồi trên hội trường nghe Đô “hát" cứ mát cả ruột. Tự hào mà.

        Một lần Đô gãi tai “Tới, ta có ba ngày chính trị. Ông Mạo đi vắng. Khỉ thế! Ông mần luôn, ông Dân nhé!" Giờ nghỉ cánh trinh sát tiểu đoàn kéo nhau ra tán chuyện. Cậu Hải bốc luôn:

        - Các cậu thấy thế nào? Ông ấy “húc" chính trị cũng "ác” đấy chứ? Chà, những lời có cánh... Vô lỗ tai thun thút.

        - Chậc! Cũng được! Phải cái hơi nhiều... chữ!

        Trong sự nhất trí của mọi người, tiểu đội trưởng Toàn kiêm biên tập viên báo tường tiểu đoàn, thong thả vuốt bộ ria mép tưởng tượng, buông một câu lạnh ngắt, nghe chừng có lý hơn.

        Rồi những việc khác, nhưng hễ động đến “viết lách, văn chương" tý chút là Đô chịu. Dĩ nhiên là khoan trách Đô và cũng đừng vội bảo là Dân thính ôm rơm nặng bụng, là đầu sai, là chân nọ tay kìa của tiểu đoàn trưởng. Xin trật tự lắng nghe lời tuyên bố từ chức của Đô trước khi anh đi viện (vì chứng thần kinh tọa và hàng tá bệnh tật đáng lo ngại khác).

        - Hết thời rồi!... Hết... rồi! Ông rõ chửa? Tôi... nghỉ! Xin giao tay hòm chìa khóa cho ông Dân. Chớ có làm khuynh gia bại sản, hả! “Dê” mình thời nào cũng xung kích cả đây - Rồi anh cười, nụ cười dài dài nhưng dè sẻn, nửa như tin tưởng, nửa như luyến tiếc một cái gì đó. Có lẽ lần này. Đô nói thật.

        Ngay tối ấy, dẫu là “mỗi người năm xu cay cả ngày ngất ngưởng” Dân cũng phải cụng một “bê - năm – hai!" hết mình với tiểu đoàn để rồi từ ngày mai lãnh cái ghế của Đô cùng Mạo phó chính trị, “húc" chiến dịch nay, có thể là cuối cùng lắm chứ?


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 09:20:19 pm

        Khuya. Sau khi họp xong và chấm dứt mục “Điểm tình hình thế giới - gia đình trong tuần" xung quanh bàn trà, Mạo mới công bố bản tin cuối cùng trong ngày: Dân có thư của Lan. Đi kiểm tra các vị trí canh gác, giải tán hội "vừa nghĩ vừa kể chuyện" ở chỗ Tường. Dân trở về “nhà" của mình, phấp phỏng mở lá thư soi đèn pin đọc.

        … “Anh biết không, cơn bão số tám vừa qua thật là tai hại. Lúa đang trổ đòng đều tăm tắp. Bỗng nhiên nước trắng đồng. Phòng học lớp Bảy A, lớp do em làm chủ nhiệm bị đổ sụp. Một số phòng khác tốc ngói. Bây giờ lại gió mùa đông bắc rồi, mẹ thường ít ngủ vì chứng viêm khớp. Mẹ bảo nếu tết này anh về..."

        Một loại pháo lớn nổ ùm ùm bên kia suối. Dân tắt đèn đứng dậy. Lại một loạt nữa rít ngàn ngạt qua đầu, ánh chớp lóe lên lỗi ngoài phum Chàm-rông.

        … “Em vẫn về bên kia sông ngày chủ nhật. Đẹp quá dòng sông quê ta; một bên đông đầy nắng gió. Phải chi em có được "chiếc nhẫn bằng thép”1 (Truyện ngắn cùng tên của Pautốpxki) và những điều ước giản dị của cô bé kia trong một câu chuyện nào đó. Đừng cười em trẻ con, nghe!".

        … ”Vùng biên giới ấy chắc là rộng lắm. Bố em đã vào trong đó. Nhưng làm sao anh có thể tìm...".

        Dân gập lá thư, cẩn thận bỏ vào túi ngực trái. Lan ơi, chẳng phải tìm bố đâu, em. Chiều nay anh đã nhận nhiệm vụ. Em sẽ có chiếc nhẫn lạ kỳ của Pautôpxki cùng những điều ước. Ngày mai anh sẽ lên đường. Một vùng rừng đầy chông mìn và họng súng rình rập. Đi bên anh có đồng đội, có con sóng vỗ mùa lụt quê mình, có em... Chẳng thể nào khác được đâu: Con đường sẽ như một lưỡi dao thọc vào yết hầu quân xâm lược, thế trận quân thù sẽ vỡ. Anh phải tìm bằng được nó, đó cũng là con đường anh trình diện bố ở cuối cuộc hành trình.

        Dân bật cười vì những ý nghĩ dông dài của mình. Có điều chi mà mái tăng nhấp nháy? Vài ba ngôi sao hiếm hoi lọt qua tầng lá dày. Và gió nữa! Gió đuổi nhau rào rào rắc dăm ba giọt sương bay phả vào cánh võng. Có đôi chim chót-bóp khắc khoải gọi nhau ngoài trảng lớn.

        Tổ trinh sát chạm con lộ đỏ từ Prâyveng chạy thẳng đi Sarakuc. Đánh hơi thấy dấu vết của những tổ trinh sát ta nên địch đã giăng đầy các tổ chốt. Trống chỗ nào, chúng gài mìn chỗ đó. Lũ lính áo đen chân không đều tỏ ra lỳ lợm ranh ma. Quân ta dính cũng nhiều. Bây giờ ngon hơn rồi, nhưng thỉnh thoảng vẫn “bùm"! Dân xăm ra đường lần nào cũng đụng địch. Đoạn đường tưởng như bị chặt ra từng khúc bởi những nhát dao lớn thâm xì, luôn co giãn ngọ nguậy. Cánh rừng già nuốt con đường hun hút. Nắng tỏa lấp lóa trên lá. Gió oi nồng. Dân ngồi, những nếp nhăn trên trán cau lại. Anh giơ tay xem đồng hỗ: mười lăm giờ. Còn hai tiếng nữa anh phải gặp tham mưu trưởng hiện đang chỉ huy cánh trinh sát "làm tổ" bên kia đường, để nắm tình hình địch và chỉ thị bổ sung. Một chú gõ kiến nào đó tin cậy và kiên tâm "cốc - cốc” nhịp đôi trên ngọn bằng lăng. Vài loạt súng con “chác – chác” thỉnh thoảng điểm mấy trái M.79 "cách – oành” phía sườn dốc. Ông nào lòi đuôi để chó đớp? Không phải! Tiếng súng thưa, vẻ thăm dò, ngờ vực. Từ vị trí bám đường, Toàn và Cường đã quay trở lại:

        - Báo cáo, chưa có triệu chứng gì chứng tỏ địch thu quân cả - Toàn nói.

        - Thằng này ấy à? Đợi nó đến... tết. Tôi đề nghị - Cường day qua Dân - ta chọn điểm giữa hai tổ chốt, ém thật sát, bất ngờ ào qua. Nhằng một cái, xong béng!

        Đôi mày trên trán Dân giãn ra, vết sẹo bên má giật nhẹ. Dân đã tính đến điều đó. Nhưng chỉ thế thôi ư? Có điều gì chưa thật ổn. Sang bên kia đá trái hoặc chạm vào “tổ kiến đen cực nhanh” nào đó thì sao? Táo bạo và thận trọng phải là một cặp bồ. Dẫu sao “đấu pháp” của Cường cũng làm chín thêm quyết định của Dân.

        - Bộ đồ đen ai giữ? Toàn hả. Chung ta sẽ vượt đường ngay bây giờ. Kế hoạch cụ thể như thế này...

        Chỉ có một bộ “diện" của trinh sát nên Toàn và Cưỡng mỗi người bận một thứ, khăn rằn quấn cổ, trông ngồ ngộ... Địch vẫn đi lại loang lổ mặt đường. Bắt đầu nghe tiếng chặt cây dè dặt ở đâu đó, cả tiếng cuốc nữa. Rõ rồi. Không thể chờ chúng mát tính đi được, lỡ hết. Dân ra lệnh.

        - Sang bên kia Toàn chú ý nhé! Nào, bắt đầu đi...


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 09:21:16 pm

        Hai người thong thả bước ra, nghiêng ngó, coi bộ ngông nghênh lắm. Rõ ràng địch đã nhìn thấy. Nhưng... cái bóng đen của Toàn đã khuất và Cường dềnh dàng ngồi xuống dệ cỏ... tụt quần ra. Bên này súng đã đơm về hai phía. Năm phút trôi qua. Phía tay phải tình hình vẫn yên ắng. Nhưng kìa... bên tay trái, ba thằng tách ra khỏi đội hình. Một thằng oắt con vận quần cộc, áo Tô Châu, khăn rằn trên đầu tùm hụp. Hai thằng sau mặt như được đẽo bằng lõi khoọc to lù. Cái mông Cường trắng quá!... Chúng nó đã ở trong tầm lựu đạn, Cường thong thả kéo quần lên. Không quay lại. Dân phẩy tay:

        - Vượt nhanh!

        Các chiến sĩ lần lượt bật ra, sau cùng là Dân. Tình huống loáng như tia chớp. Bọn địch chố lên kinh ngạc, chưa kịp phản ứng gì. Hai quả lựu đạn bay ra nổ chát chúa, dựng lên trước mặt chúng hai chướng ngại vật mù bụi và bỏng rát rát. Thằng nhóc, chính nó, biết điều gì xảy ra sau cái vung tay của Dân đã lăn một vòng thật xiếc rồi gằm một loạt A.K “chít, chít" tung đất sát gót Dân. Gớm thật! Vài phút sau, những thằng anh mới bắn vuốt đuôi mấy quả M.79. Đạn nổ rời rạc, chuếnh choáng trên lá. "Biên-tập viên" Toàn giơ quả mìn nhảy trên tay, vuốt bộ ria... nhẵn thín, nháy mắt mấy cái với Hải rồi cười toe toét.

        Có lẽ bận lật cánh, bây giờ chú gõ kiến mới băn khoăn xăm vào thân cây "cốc, cốc” rời rạc. Nhưng rõ ràng nhịp điệu đang dồn lên.

        Trung tá tham mưu trưởng sư đoàn đón Dân tại một vạt rừng khô xác vì lửa táp. Ai bảo đấy là "tổ chuồn chuồn" của cánh luồn sâu?

        - Đường cánh bắc đã gặp những khó khăn, quá xa, đã đành rồi, dốc và nhiều suối lớn. Thổ công! - trung tá chỉ vào người sĩ quan trinh sát nhỏ thó trạc tuổi Cường - có thể mách được nước gì cho công binh?

        Ngươi cán bộ trinh sắt toan rút tập bản đồ “trực ban” trong ngực áo ra, chợt nhớ trời đã tối, lại thôi. Anh nói như đếm ngón tay mình. Theo anh, Dân đã đi được một chặng đường quan trọng địa hình khá phức tạp. Đoạn còn lại rừng bằng phẳng nhiều trảng, rừng non và rừng khoọc, thưa. Dĩ nhiên những điều đó bản đồ đã "nói" cả, nhưng quan trọng là các anh đã đi mòn chân rồi. Sau này ngồi trên xe tăng đạp góc cho nó chà, là thành đường tuột luốt. Có điều phía trong mìn lu bù.

        - Anh đi thêm một đoạn nữa, tới trảng Ba Chân là "đẹp trai” lắm rồi. Xong về nghỉ cho... khỏe, thúc lính chuẩn bị - Anh ta kết thúc bản thông báo khá phấn khởi của mình.

        - Ngon cho tôi rồi đây! - Dân dừng lại bối rối một chút, rồi tiếp rành rọt nhưng nhỏ nhẹ như tâm sự - Nhưng còn câu hỏi về nghề nghiệp của tôi: đất, anh ạ. Độ bền của đất! Rừng bằng, trảng cỏ thấp càng phải chú ý. Anh nhớ trận Bàu Lùng chứ? Cho nên, Dân quay sang người trung tá nãy giờ ngồi chăm chú nghe - Đề nghị chúng tôi cứ đi cho chắc chắn. Hơn nữa, đoạn cuối cùng đáng ngờ vực lắm, nhất là con suối...

        - Được đấy! Trung tá gật đầu - Tớ ủng hộ, chú ý vấn đề thời gian. Đường cánh nam bọn mình sẽ nghiên cứu - Anh quay sang người sĩ quan trinh sát - Bây giơ các vị trao đổi với nhau về tình hình địch cụ thể đi.

        Người sĩ quan trinh sát cứ trách mình chưa tính hết nước nên không cài cằm người ở đây dẫn Dân. Mấy cậu thần rừng ấy đã quay về đón đoàn trinh sát chỉ huy cả. Anh chào Dân bằng một cái giật tay mạnh rồi biến vào bóng đêm. Anh phải dẫn đoàn tham mưu trưởng luồn theo hướng khác.

        Sau khi "ca nhạc theo yêu cầu" những bài muôn thuở của trinh sát: lương khô và nước suối, các anh tránh ra một đoạn không xa, nghỉ. Dân và Cường mắc võng kiểu chữ V. Cường đánh một giấc ngon lành. Anh là người theo cách nói của lính thì lưng còn cách võng gang tay đã nghe tiếng ngáy. Bây giờ thì anh ta đã dậy. Bên kia cánh võng còn rung nhè nhẹ. Dân thức. Cường với sang nắm tay bạn, thì thào:

        - Không ngủ, anh. Sao thế?

        - Ngủ đi, mình gác... Im lặng một chút - Có thấy gì không?

        - Đêm tối như bịt mắt - Cường đáp uể oải.

        Một cái búng nhẹ vào mũi Cường. Ôi dào! Thật lắm chuyện. Cường khịt khịt mũi rồi nhè nhẹ hít một hơi thật sâu, một hơi nữa. “Hương địa lan đấy!” Bây giờ thì thấy rồi. Một làn hương nào đó mỏng mảnh dịu êm đầm ấm dâng lên. Cảm giác chơ vơ giữa rừng đêm lúc mới tỉnh dậy bây giờ bay đâu biến. Chàng đại đội trưởng trẻ trai mỉm cười. Hương địa lan! Chịu. Làm sao anh biết được nếu không có Dân. Quỷ tha ma bắt cái tính hốc tuếch của anh đi! Chưa hẳn thế. Oan cho anh quá. Phải rồi, chỉ có con người trầm tĩnh sâu lắng... đang yêu, mới nhạy cảm thế. Cái rừng ròng xa xôi đáng ngờ vực này... kể cũng nên thơ thật!


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2017, 09:21:40 pm

        - Lại khép cửa từ bi rồi. Nhơ bà ấy chứ gì? Mô Phật. - Cường phóng ra một câu hỏi.

        - Ừ có thể thật - Bị bắt quả tang. Dân thở dài nhè nhẹ. Bà cụ mong tết này mình về... Lan mới viết... Khỉ thế! Dân thú nhận bằng giọng của người đang hạnh phúc.

        … Năm 1976, Dân nghỉ phép. Đánh đấm tút hút trong này mấy năm, lần đầu tiên làm nhiệm vụ này ai bình tĩnh được. Mười bảy ngày hành quân Dân mới về đến cái làng nhỏ ven sông Ninh Cơ quê anh. Đến đâu làng, nơi con sư tử đá chôn chân đứng gác tự bao giờ, anh chạy ào đi như một cơn lốc. Tới ngõ, hai tay hăm hở giang ra, miệng hét toáng lên: Mẹ! Mẹ sẽ từ trong bếp lập cập bước ra. Anh sẽ chạy tời ôm chầm lấy mẹ... Đấy, tình huống diễn ra đại loại sẽ là như vậy. Nhưng khi Dân hét toáng lên như trẻ nhỏ thì, trời phật ơi! Có ai biết thế nào không. Người chạy ra đón anh lại là... một cô gái lạ hoắc, lạ huơ. Nói cô ngọn đèn hai trăm hai mươi kia: Trẻ và đẹp nữa! Như đã gặp ở đâu đó rồi. Thế là Dân tịt, mặt chữ A, miệng chữ O. Còn cô gái lại mừng quýnh quáng gọi anh liu ríu, rồi dân làng ập đến và hàng tỷ câu phỏng vấn. Mẹ anh đi thăm người con gái lấy chồng bên Thái Bình. Tệ thật! Những bà chị... Làng xã thiếu gì cơ chứ! Cô gái như từ trong quả thị ấy là một cô giáo. Chững chạc thế, ngươi bên kia sông... Sau này mấy chàng linh trẻ cứ hỏi Dân sao “vào cầu” nhanh thế? Dân cười xanh mướt, những lúc ấy vết sẹo bên má mất tiêu, giọng nói thì nghiêm trang lắm: “Các cậu hỏi kinh nghiệm với bí quyết à? Chẳng có gì sất. Con đường thẳng nhất ngắn nhất từ trái tim đền trái tim chính là lòng trung thực".

        Chẳng biết câu chuyện “giai đoạn cửa mở” kia thực hư thế nào. Có điều này thì cối cũng không trật: Cô gái ấy đã viết thư cho Dân ngày càng "cấp tập" hơn. Duy sự kiện sau còn kín như bưng: bố Lan lại chính là... Đã già nửa năm nay từ ngày "cụ" về sư đoàn Dân nhận ra ngay, nhưng... Sáu bảy năm rồi, từ trận chiến đấu trên đồi 456, chao, đôi mắt! Những tia sáng óng ánh rung rinh như những đốm nắng, làm sao anh có thể quên?

        … Và , bây giờ đây làm sao lại có thể thức được? Khi bàn tay Cường đã đặt lên bàn tay anh, những bàn tay con trai quen cầm sung thô ráp, nắm chặt lấy nhau. Rừng đêm gần gũi, tin cậy quá! Và hương thơm của nó... cái loài hoa địa lan ấy từ một hốc đá nào đó cứ dâng lên dịu nhẹ, nồng nàn.

        Những người tìm đường chạm địch trong một cái phum khá rộng. Bọn chúng nấu ăn trong chùa. Tượng Phật đổ sụp nằm sấp dưới bệ thờ. Có thằng nằm chềnh ệch trên lưng Phật. Một thằng lùn, béo trắng ngồi riêng một chỗ. Nó im lặng hút thuốc, thứ thuốc Ara, khói thơm ngai ngái. Ngoài kia những cây thốt nốt im lặng khắc khổ đứng dưới nắng trưa. Vài cây khác cụt ngọn, còn chiếc thang tre dài khẳng khiu ôm níu lấy thân nó. Thằng béo vẫn nhìn như vô định về phía cây thốt nốt, nơi Dân và Toàn núp. Đột nhiên nó vứt thuốc, với khẩu C.K.C quỳ xuống bậu cửa... Cái chết sẽ từ đấy bật ra? Đầu ruồi rê ngược lên. Sống mũi Toàn nhồn nhột. Anh rút lựu đạn. Một bàn tay nhẹ ghìm lại, một ánh mắt xéo qua: “Đừng nóng!" Bàn tay và ánh mắt nói như vậy. Khẩu súng của thằng béo giật nhẹ! Thút! Có tiếng vỗ cánh hốt hoảng phía sau lưng. À, ra thế! Bọn địch ồ lên cười nói nhốn nháo. Một thằng lính tồi. Hú vía. Cường đề nghị:

        - Anh gật, tôi liệng cho nó vài trái, ngọt lịm! Còn thằng nào, ta nhào vô, thịt nốt!

        Dân lắc đầu:

        - Chưa phải lúc! Hơn nữa... đẹp quá!

        - Cái gì?

        - Ngôi chùa... tượng người đàn bà... kỳ thật!

        - Đúng! Rất đẹp! Ngôi chùa... người con gái... vũ điệu Ápsara - Toàn nhắc lại.

        Bây giờ Cường mời nhìn kỹ ngôi chùa, một quần thể kiến trúc hài hòa, lộng lẫy và độc đạo đã bị phá hủy khá nhiều. Những đường cong diệu huyền... Những đuôi rắn Naga cong vút... Những bức phù điêu liên hoàn chạm nổi trên tường diễn tả những địa tịch anh hùng, cảnh làm ăn sinh hoạt... Và, nhất là dáng bay lên tuyệt vời của người vũ nữ. Cường lầm bầm:

        - Phải! Rồi họ sẽ bay lên...

        Dân ra lệnh dừng lại giữa một cánh rừng khoọc. Những tia nắng cuối cũng đọng lại trên lá cây đang chuyển sang màu tím thâm. Con đường đá sỏi, sau khi vắt ngang qua suối bằng cây cầu gỗ lượn một cua rất thoáng rồi dòng theo hướng tây - nam chạy thẳng về S - Mục tiêu chiến dịch của sư đoàn. Có tiếng động cơ ù ì, to dần. Mấy phụt sau hai chiếc xe tải nhảy chôm chồm qua cầu rồi mất hút sau lùm cây rậm rạp. Chúng đã chở hàng cho Đ.B bây giờ quay về S. Dân trải rộng bản đồ dưới mắt nhìn. Anh bắt đầu tổng hợp các dữ kiện về địch, địa hình một con đường quân sự làm gấp rồi những nét khái quát nhất hiện dần lên. Những dự kiến bước đầu về sử dụng lực lượng cũng hình thành. Một loạt các-bin giật thon thót, loáng thoáng những bóng âm đen lùi lũi đi lại trên đường, nơi hai chiếc xe vừa khuất. Cụm địch, vượt quá tầm M.79 một chút. Một dấu hỏi bằng chì xanh được Dân ngoắc trào bản đồ chỗ cụm địch và con suối. Cường quay lại hỏi Dân về điểm đứng. Rõ ràng hai ngày qua các anh đi đều trung thành với đường chì đỏ của đại tá.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:23:40 am

        - Anh nói sao? Cường băn khoăn hỏi.

        - Này nhé, ta đã đi được vị chi mười lăm ô, hả. Đụng địch tất cả bảy lần. Đoạn đầu có phức tạp nhưng trong tầm tay của bộ binh ta. Còn lại bằng phẳng, rừng thưa suối cạn... Rất ngon. Đúng không?

        - Rõ rồi. Cường vui vẻ xác nhận.

        - Nhưng điểm cuối cùng của chuyên đi này lại là cái cầu và con suối kia. Đúng không? Vấn đề là ở chỗ đó. Độ... ba trăm mét nhỉ? Ba trăm mét cuối cùng!

        Dân nhấn mạnh mấy tiếng cuối - Một khoảng cách khá đấy chứ?

        - Ừ nhỉ? Ba trăm mét so với mười lăm ngàn mét. Thú vị đấy – Cường nói.

        Tuy đã tối nhưng Cường còn nhìn thấy cặp mày dính lại cả vầng trán với những nếp nhăn sớm sủa hằn xuống. Rõ ràng một ý nghĩ dứt khoát đã đọng lại dưới nếp nhăn ấy. Một loạt đề-pa pháo 130 ly dộng đùng đùng phía trước. Ánh lửa nháng lên đục thủng màn đêm vừa buông xuống những lỗ hổng lớn hình quạt.

        - Mẹ nó! Lại táng pháo về mình đấy - Cường làu bàu.

        - Ba cây?

        - Vâng! Không hơn đâu.

        Ba trăm mét so với mười lăm ngàn mét? Liệu các anh còn đủ “năng lượng" bắn phá cái vỏ bọc dường như mỏng mảnh ấy để xuyên tới sự thật cuối cùng là chiếc cầu không? Pôn Pôt kỳ này nặng túi rồi đó. Chứng cứ là trận địa pháo lại xục lên một loạt nữa. Rừng đêm lập tức nuốt đi cái âm thanh ấy. Còn rớt khúc đuôi bay sèo sèo trên đầu. Những tiếng nổ trầm đục phía sau cũng tắt. Im lặng lèn thêm vào bóng tối. Quân bộ phía trước im thít. Có thằng nào phục cầu không nhỉ? Chớ có nóng mũi, đợi chút. Bên cạnh Cường đã giở lương khô ra. Thăng cha đã nghe thấy Dân nghĩ gì rồi.

        - Đói thấy bà - Chén đã, anh! Liệu sau. Giá mà có... sải phở thì tuyệt…

        - Nửa sải thôi, bù vào cô "phở dịch viên” - Toàn cười.

        - Sướng, chiều tuốt. Thôi mày, búp đi!

        - Suýt! Có định giữ lấy miệng ăn phở không đấy. Vị nào còn nước nhỉ?

        Chả hiểu thế nào khi nhắc tới lương khô anh mới thấy khát. Phải rồi, mệt quá, khát quá. Anh ngửa cổ tợp tùng ngụm nhỏ. Nước làm mềm đi cái cổ họng "đời cũ" khô khốc của anh. Sau chuyến này anh sẽ đi là cho nó “đời mới" một tý. Dân lơ đãng nhai từng miếng lương khô nho nhỏ. Con suối nhiều tre gai như một hàng rào bùng nhùng nhiều tầng kia cuộn lên trong đầu anh. Dân chợt nhớ những ý nghĩ lộn xộn dông dài của mình đêm trước "Anh phải đi tới tận cùng con đường này, như ngươi ta quen sống hết mình với công việc”. Anh phải trả lời chính xác tỉ mỉ những câu hỏi vốn chẳng dễ dãi bao giờ của đại tá. Anh phải chính là cái thằng Dân. Khu vực trận địa pháo hắt lên những luồng sáng xoay tròn. Những chiếc xe chở đạn, chở hàng hay đổ quân đã quay đầu trở về S? Một kỷ niệm tứa máu bỗng được vệt sáng kia lùa về lô xô: Trận Đồn Tầm năm 1972. Tiểu đội anh đã ngã xuống ngoài hàng rào cuối cùng. Thằng Lộc nằm vắt mình trên ấy, thân thể nát nhừ vì đạn thẳng. Đêm ấy thằng “trực ban pháo sáng” chịu khó quá. Nhờ thứ ánh sáng chờn rợn ấy anh đã nhìn thấy: một hàng rào bùng nhùng với hai hãng kẽm gai quằn quại như bỏ quên dưới đất. Khi luồn vào trinh sát anh đã lờ đi? Trận đánh thắng lợi. Nhưng cái giá quá đắt đã phải trả. Không hiểu sao trận ấy anh không chết, một mảnh M.79 rạch vào má trái, một vệt dài "lãm kỷ niệm”.

        Miếng ngon thì chả biết, nhưng rõ là điều đau nhớ đời. Trước mặt anh bây giờ là ba trăm mét không có rào kẽm gai, không có đèn pha, chó bẹc giê... Chớ có coi thường. Mai phục và chăng mìn thì bọn này “thợ” rồi. Máu đã đổ xuống để hiểu một điều đơn giản thế. Phải vượt lên những gì ta chưa vượt được, vượt lên những gì ta đã vươn tới. Phải vượt lên chính bản thân mình quả là khó, quá khó.

        Khi có một vấn đề gì đó Dân thường xốc lên một cuộc tranh luận thật bốc hừng hừng như lò đốt. Khi đã châm lửa xong, anh thường lủi ra xa một tý, nghe, cần thiết thì phe phẩy quạt lò bẵng một câu nào đó hoặc "nắn" luồng lửa theo hướng chủ định. Có lẽ bây giờ cũng vậy, anh tợp một ngủm nước nữa rồi gọi các chiến sĩ lại (trừ người cảnh giới). Khi được hỏi họ có thái độ thế nào về đoạn đường cuối cùng, Cường vứt cọng cỏ đang ngậm trong miệng ra trả lời ngay:

        - Chúng ta gần tơi đích. Điều đó rõ rồi. Nhưng, Cường dừng lại khịt khịt mũi chứ không phải để thăm dò thái độ của Dân. Thằng cha vốn nói trước nghĩ sau này có thế bao giờ. Dân sốt ruột giục:

        - Tiếp tục đi.

        - Đội hình tiến công của ta sẽ tắc tỵ ở đây, nếu như cầu hỏng hoặc xe tăng nằm ăn vạ dưới suối. Lúc đó chỉ có nước phơi lưng chịu trận. Trong khi ấy tụi mình, những thằng lính công binh cũng chưa biết quái gì. Nhục! Ngay cả bây giờ...

        Chợt một tiếng nổ lớn phía nam trận địa pháo cắt đứt lời Cường, tiếp nó là hàng loạt súng con chóc - chác - tốc - tốc, bùm; sau cùng có lẽ lựu đạn, tiếng nổ tròn vo như một dấu chấm hết dòng âm thanh loạn xị đáng ghét kia. Mà hết thật. Tiếng nai tác hốt hoảng phía thung xa. Dân lo lắng nói:

        - Tướng nào tại chọc tổ kiến rồi. Mẹ nó! Ông nói tiếp đi.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:24:04 am

        Nhưng Cưỡng chưa kịp “tiếp tục” thì cụm địch phía trước, không phải, một “thằng” khác xế qua tay trái chừng nửa cây, đã lên tiếng hưởng ứng chậm chạp nhưng cuồng nhiệt. Bóng tối bị bắn vỡ ra bởi những quầng lửa đỏ rựng những nét gạch xóa thẳng căng. Thằng trước mặt vẫn im thít, dại gì chơi trò chó sủa bóng trăng. Nó là một con mực tinh khôn tìm nơi kín đáo năm im rè, phục. Đã hộc lên là chính xác, không thèm nhá cái gấu quần đâu nhé!

        - Anh để tôi với cánh trinh sát tới đó, rờ bằng được. Loáng cái, xong, hả Toàn? Như thể sợ bị “chen ngang" kiểu vừa rồi. Cường nói sồn sồn.

        Dân nắm lấy tay Cường bóp nhẹ, có những đồng đội như vậy đánh giặc thật đã. Bây giờ không phải lúc tửu hậu trà dư, kẻ tung người hứng nên Dân nói luôn ý định của mình:

        - Là người lính chúng ta sống nghĩ và làm gì cũng phải tận bờ sát gốc. Anh Cường nói đúng. Hai ngày qua chúng ta đi như thế ngon rồi đấy, nhưng nó chẳng là cái chất gì cả nếu như ta không đi nốt đoạn cuối cùng. Đối với chiến dịch sắp tới, tốc độ tiến công là quan trọng lắm. Ta đi đường này cũng chính vì lẽ đó. Ta đã nghe, nhìn, ngửi thấy địch rồi. Bây giờ phải xuống câu. Trây da tróc vẩy cũng nên. Leo cau, sắp đến buồng chả lẽ bỏ. Có điều đừng để ngã. Người đi: tôi, đồng chí Cường, hai trinh sát là đủ. Số khác ở đây "đệm”. Rồi cả chưa nào?

        Toàn rụt rè đề nghị:

        - Bọn em đi trước, gọn nhẹ, tiện hơn. Ngon, kiểm tra luôn.

        - Phải đấy. Tôi và hai trinh sát, xong rồi. Cường nói. 

        - Suỵt. Rồng rắn đưa đón mất thời gian vẽ. Nếu chỉ để biết mấy thứ đó, Toàn đi là đủ. Nhưng trách nhiệm của tôi lã phải tính toan xem ta có đủ sức làm cầu, ngầm, hay không và làm bằng cách gì. Kẻo lúc ấy xe tăng người ta thúc vào đít cho, ông Cường ạ. Tôi phải tính toán, điều chỉnh trong toàn tuyến, phải báo cáo chính xác kế hoạch với sư. Rành mạch, công bằng chưa? Các anh muốn "bảo vệ thủ trưởng” chứ gì. Nhưng, đứng trước mặt sư trưởng, tôi sẽ lấy gì để “bảo vệ mình” nếu không biết hết sự thật.

        Phải quá! Không ai nói gì nữa. Họ lục tục đứng dậy kẹp súng AK dò dẫm bước. Lá khoác phủ đầy dưới đất mỏng và dòn như tờ bánh đa nướng. Những cái bánh đa vỡ lạo sạo. Dân bứt lên đầu khi Toàn "nhấc" được hai trái mìn nhảy, một M.16 Mỹ một KP Tàu. Bước qua công sự chữ U thứ hai, Dân "túm" luôn một bầy lựu đạn. Thằng lỏi nào đã vít một cành le nhỏ ngáng ống chân... Dễ "bùm" đấy chứ? Bọn này đã chọn đất để gửi gã thần chết gác công sự cho chúng ban đêm. Nào! Họ tháo dép bước xuống đường, đá sỏi đâm vào chân đau rát. Phía bên kia suối, thỉnh thoảng một tia sáng vụng trộm hắt lên. Thằng gác hút thuốc. Tiếng suối chảy ngày càng gần lại. Dân và Cường bước xuống suối dốc đứng. Những gộp đá lởm chởm. Hai ngươi thận trọng lần tới từng chân cầu. Dù lỳ lợm và láu cá nhưng ở phía sau thiếu gì thằng không kìm được cơn nghiện. Những chấm lửa đầu thuốc chốc lại lòe lên tù mù. Tốt quá. Tụi mày cử đốt thoải mái đi cho. Càng dễ định hướng.

        Cây cầu gỗ không thể cõng nổi xe tải lớn, mặt cầu ọp ẹp, hèn chi hai chiếc xe ban chiều cư nhảy chôm chồm. Hai người quay trở lại. Nghe ngóng một lát, Dân nòi:

        - Phía này nước chảy hiền hơn. Có thể... trinh sát cắm ở đây nhé! Vòng lối này, ông Cường!

        Rồi anh xoay ngươi xăm xắn bước. Họ lách qua những bụi tre gai. Lại những cây bánh đa vỡ lạo xạo... Một luồng sáng quét dọc đường, đoạn bên kia suối. Những bụi tre gai chợt hiện lên rồi lại núp ngay vào đêm khi ánh đèn ba pin quét qua. Có những tiếng gắt ắc ắc - xạ. Địch đổi gác. Hai người vẫn lặng lẽ bước. Cường định vướt lên mấy lần nhưng không kịp. Lính công binh chui hàng rào Mỹ có chai bụng rồi mà! “Cách - cách - cách". Dân gọi Cường đấy. “Cách – Cách” tôi đây. Lại bụi tre gai nữa. Tiếng suối chảy ngòn ngọt như đã sờ thấy được. Một cây khoọc đổ chắn ngang con đường mòn. Anh chống tay nhảy đại qua. Lại một công sự nữa làm anh vấp loạng choạng. Lại bước... Đúng vào lúc Cường chạm vào bụi tre gai thì một ánh chợp bùng lên dưới chân Dân. Một tràng nổ. Mảnh hắt vào bụi tre rào rào. Cường lách qua bụi tre nhảy ào qua cây gỗ đổ. Dưới chân Dân cây cỏ bị phạt sạch. Đất bị chém tới xốp xộp. Nóng. Khét lẹt. Dân tựa vào thân cây ôm lấy gối lầm bầm “Cha nó... bị rồi... chưa tới được" Anh gượng đứng dậy. Không được. Lại ngã... Ai đốt lò trong ngực anh. Rần rật! Rần rật! Cường hấp tấp giở cuộn băng. Hai chiến sĩ lúp xúp chạy tới. Khẩu 12 ly 8 bên kia đường điểm từng nhịp, đạn cắm vào đất pục... pục. Đại liên rồ từng điểm xạ dài. Cối 60 ly gõ trống trên đường. "Cối thủ” là một thằng khá! Cường ôm lấy Dân nằm đè lên. Đất đá và mảnh đạn bay ràn rạt. Dân đẩy Cường ra. Nóng quá! Nặng quá!


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:24:38 am

        - Điên à?... Đến bằng được! Rồi!...

        Cường như chợt tỉnh.

        - Hải ở lại, chú ý phía cầu. Toàn đâu? Lên!

        Khẩu M.79 "cóc - cần” mấy trái nữa, đạn đuổi tầm nổ hú họa bên kia suối, rồi thôi. Vẫn không thấy A.K. Khẩu cối 80 ly địch tăng tầm, thúc thắc săn quả một trên gò.

        Hai người tránh con đường mòn. Đường mòn bao giờ cũng dễ đi hơn nhưng cũng dễ vấp... Lách qua mấy bụi tre gai nữa. Nhiều tre thế! Dưới chân, vệt đường dẫn xuống ngầm hiện ra mờ mờ. Suối. Nước lút tận đùi, chảy thật chậm, nao nao dưới chân. Khẩu cối 60 ly đã im thít. Cúi xuống uống một hơi dài, túm được khúc rễ cây Toàn vọt sang bờ bên. Lại vuốt bộ ria “rởm", cậu ta hất đầu, khinh bạc. Bên kia đường; lúc ấy những tiếng còi cắm cẳn, những tiếng gắt ấm, ắc đã chìm đi. Sức mấy dám ra! Một quả mìn nổ thiếu quái gì lý do.

        Dưới suối Cường hối hả lội ngang, lội dọc...

        Hải tỏ ra mừng rỡ khi thấy vết thương ở hai ống chân người tiểu đoàn trưởng ít chảy máu, lúc cậu ta băng lại. Xong Hải nhét thêm hai quả lựu đạn vào túi quần, quay ra dựa vào một gộp đá, chong súng về phía cậu.

        Dân tựa lưng vào cây gỗ. Cái lò lửa trong ngực bây giờ âm ỉ và bục xúc. Thỉnh thoảng những cục lửa lại trồi lên mằn mặn. Một vết thương lọt ngón tay ở mạng sườn chếch lên sâu hút - Dân biết. Đôi chân anh đã qua bao nhiêu cánh rừng, bao nhiêu bãi mìn và sau đó những con đường hiện lên... Bây giờ nó dừng lại nghỉ. Chao, những con đường thật ngắn, thật dữ dội trước những cửa mở Pleyme, Đức Cơ, Đồng Dù... Những cục lửa tắc ở họng, anh dướn cổ nuốt xuống, lại trồi lên... Suốt một thời trai trẻ đánh giặc là suốt thời kiên quyết, táo bạo và thận trọng. Lần này, khi nhảy qua cây gỗ.. Con đường mòn lạ "tự nhiên” xuất hiện dưới chân. Tiếng suối chảy sao tròn quá. Và, thế là... Không thể nào đi tiếp đoạn cuối cùng cực ngắn này để về gặp bố. Bố sẽ nhận ra con, phải không. Và sau khi nghe báo cáo một cách chăm chú, bố sẽ lại phê cho con một điểm: được! Sau đó, người hạ bút ký vào quyết tâm chiến đấu.

        Dân ngửa cổ nhìn lên. Bầu trời hiện ra loang lổ sau tầng lá xơ xác thẫm đen. Những chòm sao run rẩy. Những gương mặt thân yêu, những kỷ niệm lấp gấp xô về “khúc xạ” lên dòng Ngân; Mẹ, dòng sông đỏ, bến quê gió ngược, những cặp chân trần trẻ nhỏ ửng phù sa... Và, em... Một làn hương ở đâu đó dịu mát làm cổ họng Dân mềm đi. Chiếc nhẫn bằng thép ngồ ngộ... Con suối với những bụi tre gai thâm u chập chờn cuộn lên trước mặt, những người đồng đội... Mà sao ngầu đỏ? Anh không thể vượt qua... Ý thức rõ về sự bất lực làm ngực anh cuộn lên. Một thứ gang lỏng sóng sánh như thủy ngân ứ lên trong miệng.

        Có tiếng chân bước lạo sạo trên sỏi dá. Hai người lính quay trở lại. Một giọng ở đâu đó nhòe nhoẹt xa xôi chứ không phải từ cây khoọc đỏ.

        - Tới... được... khô...ông?

        Cường hấp tấp bước tới, khẩu M.79 đập vào cây đánh "kịch”. Lò lửa trong ngực. Dân dịu đi khi hai tiếng “tới rồi!” mát mẻ xoa vào. Dân ngồi gượng dậy, gỡ cặp bản đồ trên ngực trao cho Cường. Tiếng anh đứt đoạn ngàn ngạt như dòng điện tín bị nhiễu:

        - Báo cáo... sư... đường... tốt. Mình... khô... ông... thể... ê...

        Những tiếng ấy nhỏ vuốt lại, xoáy vào lòng đồng đội. Cường rùng mình, ôm chặt Dân lay gọi thảng thốt. Dân chợt oằn giật lên trong tay Cường, lả dân... Lò lửa xóc lên vít chặt cổ họng anh, búng ra hơi thở hắt. Cường đặt tay lên ngực Dân. Im lặng. Chỉ còn lá thư Dân viết cho người bạn gái (Anh viết rằng... “Chiều nay bố đã giao nhiệm vụ... mà anh chưa kịp gửi bây giờ cồn lên trong lòng bàn tay Cường. Người đại đội trưởng quăng túi bản đồ vào vai, vuốt mặt, bỗng thấy sương đọng thành giọt nóng hổi. Anh xốc người chỉ huy lên vai, tiếng đẫm sương:

        - Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ, bây giờ quay trở lại. Xin các đồng chí nhớ cho - Anh dừng lại như để nghỉ lấy sực, rồi nói tiếp rành rọt và trang nghiêm như anh chưa từng nói thế bao giờ.

        - Nơi đây đồng chí tiểu đoàn trưởng của chúng ta đã ngã xuống vì con đường dài cho mũi thọc sâu - Con đường dẫn tới chiến thắng sẽ đi qua.

        Những bước chân lặng lẽ. Phía đầu lô cao su kia, khẩu 12 ly 7 này đã xổ một loạt thật dài. Dưới đường số 7 những ánh chớp đỏ sọm chốc chốc lại bùng lên. Phía đông thị xã biên giới bình yên vẫn cháy lên quầng sáng bồn chồn thao thức. Gió rừng đêm khô lạnh quạt thông thốc trào ngực họ.

        Thỉnh thoảng đến chỗ ngoặt, những giọt máu lặng thầm nhỏ xuống. Con đường rừng hiện mờ lên trong đêm.

         (Trại viết Binh đoàn Tây Nguyên Hưởng ứng cuộc vận động sáng tác về đề tài lực lượng vũ trang do Tổng cục Chính trị phát động).


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:56:42 am
         
RANH GIỚI MỘT VÙNG

NGUYÊN BẢO         

        Suốt cả một tuần qua khu vực này vẫn yên tĩnh. Ấy vậy mà không hiểu sao đơn vị Nhàn vừa mới chân ướt chân ráo tới nơi, cối pháo địch đổ đạn tới liền. Nhàn cảm như lúc nào cũng có những quả đạn bay trước mặt hay đang tới phía mình, nó rít véo vèo trong không khí rồi nổ phá ra trong lòng đất, trên mặt đất. Những vòm khói đen xỉn ùn nhau mọc lên rồi lan ra quện với nhau thành một cái màng bọc khổng lô trùm lên tất cả. Bầu trời vừa được trút ánh sáng ban mai bỗng tím rịm. Nhàn chui người vào trong công sự. Quanh anh chỗ nào cũng khói cũng dạn, anh cảm thấy thế, mắt anh hoa lên rồi. Ngay lúc đó đại đội phó Tư chạy về chỗ Nhàn nói như quát:

        - Kìa, đào công sự đi chứ. Đào sâu xuống, nông choèn thế này chết cả lượt.

        Như một cái máy Nhàn cầm lấy xẻng đào, hất. Tay chân anh lóng ngóng. Những quả đạn cối, đạn M79 nổ sập soạng gần bờ hầm của anh, đổ đất lên đầu anh rào rạo - khói đặc cả lòng hầm, nồng nặc, cay xè. Những cành tre, bụi cỏ ngụy trang trên miệng hầm bị đạn pháo cuốn đi đâu mật. Hầm trơ ra một màu đất nâu. Xoạt... xoạt... Nhàn bậm môi đào xúc...

        - Báo cáo đại đội...

        Nhàn nhìn lên, Hoạt vừa ở đâu chạy tới, quần áo lấm bùn đất, mặt nhễu xuống những giọt mồ hôi màu tro. Giọng anh là lặp vì vừa nói vừa thở lấy được.

        - Chỗ... chỗ... trung... đội tôi, bộ... bộ binh... binh địch chỉ con cách bảy trăm mét.

        Mặt Tư thoáng ngạc nhiên rồi hơi tái đi nhưng giọng anh rành rẽ:

        - Chặn ngay nó lại, nhanh lên!

        - Rõ! - Hoạt khom người phóng đi.

        - Nhìn cái gì, đào đi chứ - Tư nói với Nhàn lúc đó đang dừng tay ngơ ngác.

        Một quả đạn pháo cày ngay trước mặt Tư, hất anh ngã vập xuống lòng, hầm đè lên người Nhàn. Môi Nhàn run rẩy nói không thành tiếng, Nhàn tưởng Tư bị thương, nhưng không. Một loáng Tư đã nhảy lên khỏi hầm chạy bổ nhào về phía trung đội hai. Rồi cũng một thoáng Tư chạy về. Sau Tư là Quyên chiến sĩ giữ B.40 của trung đội hai. Tư nói với Quyên:

        - Cậu ngồi đây, chú ý cả ba hướng, địch đã vào đến B3 rồi đấy. Đoạn Tư nhảy xuống hầm Nhàn.

        - Cậu lui ra xúc, để tớ đào cho - Tư giành lấy xẻng trên tay Nhàn.

        Rõ ràng Tư đào hầm có nhiều kinh nghiệm hơn. Anh nằm nghiêng, nằm sấp, có lúc nằm ngửa, lưỡi xẻng trong tay anh loang loáng. Đất nhả ra ùn ùn, Nhàn xúc không kịp. Chiếc hầm tròn chốc đã có một ngách hàm ếch chùi lọt một người.

        - Băng tôi với - Một chiến sĩ dáng nhanh nhảng thư sinh, da đen, trán dô mặt hau háu, trông già câng, tay ôm lấy vai vừa nói vừa lật đật chạy về hầm chỉ huy đại đội.

        - Gì mà ngậu lên thế? - Tư dừng tay quay ra hỏi.

        - Em bị thương, úi đau quá, băng em với!

        - Trung đội đâu cả mà không bảo họ băng?

        - Địch đánh vào...

        Đôi mắt Tư đang mở to bỗng chớp lia. Những lúc lo âu hay bối rối anh thường vẫn vậy. Anh nói với Nhàn và Quyên:

        - Nhàn băng cho cậu ta. Quyên chú ý địch! Nói rồi anh vọt lên miệng hầm lao đi, mất hút trong những bụi cây.

        Quyên rê đầu súng B.40 theo, sẵn sàng yểm trợ cho Tư.

        Nhàn ngồi băng cho chiến sĩ bị thương. Anh bị một viên đạn thẳng vào vai bên trái. Vết thương không lớn, máu ra không nhiêu vậy mà không hiểu sao anh ta đau đến vậy, mặt nhăn nhúm, không nén được tiếng rên. Cánh tay bị thương buông thõng như một vật vô tri. Đạn cối pháo của địch đã làm nát các bụi chuối bụi tre gai quanh khu vực Nhàn. Anh đã có thể nhìn thấy từng tốp lính Pôn Pốt lúi húi chạy từ bụi cây này qua bụi cây kia. Chúng hò hết thúc đẩy nhau xông lên. Tai Nhàn nghe ong đặc những uống nổ AK, lựu đạn. Giữa khoảng địch và Nhàn là xác Hoạt. Trên đường trở lại, Hoạt đã không kịp về đến trung đội của mình. Anh bắn được mấy loạt súng vào bọn địch rồi ngã xuống. Nhàn mấy lần định chạy tới đưa Hoạt về hầm nhưng không được. Đạn địch như giăng lưới trước mặt Nhàn. Nhàn kéo chiến sĩ bị thương xuống hầm. Quyên loay hoay lựa thể bắn B.40, kêu chật. Nhàn cầm AK leo lên, nhường hầm cho Quyên và chiến sĩ bị thương. Sống lưng như có những cục nước lạnh cóng đang nhỏ từng giọt. Anh cuống lên chạy lung tung quanh khu hầm. Một chân anh sụp xuống hố trũng. Người bị hẫng, anh ngã sấp xuống đó. Chẳng hiểu sao anh nằm luôn, im ro. Một chiến sĩ từ đâu chạy sầm sập tới. Chắc anh ta tưởng mình bị thương - Nhàn nghĩ. Nhưng anh ta không hề tỏ ra như thế, mặt hậm hực:

        - Có súng mà nằm dí ở đây, đưa xin trái lựu đạn!


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:57:57 am

        Không đợi Nhàn trả lời anh ta móc từ thắt lưng Nhàn hai trái luôn rồi chạy về phía có bọn địch, Nhàn bàng hoàng. Mãi một lúc mới hiểu ra. Chiến sĩ ấy cũng là một chiến sĩ mới ở trung đội ba. Thế mà sao đồng chí bị thương kia lại bảo họ chạy hết rồi nhỉ? Bây giờ bọn địch đã rất gần Nhàn. Nó chưa phát hiện được anh. Chỗ anh thấp có nhiều cây cỏ che khuất. Anh có cảm giác là ít phút nữa thôi, anh sẽ như người chiến sĩ bị thương kia, hoặc sẽ như Hoạt. Cái điều đó đối với anh trước lúc vào trận và mới ngay đây thôi, thật ghê gớm, nhưng bây giờ lại rất đỗi bình thường. Có thể là do những suy nghĩ thật cao vợi về non sông đất nước của những người anh hùng mà anh nghe kể hoặc đọc được trong những trang sách chăng? Hay là hình ảnh của Tư, của Hoạt, của chiến sĩ trung đội ba vừa nãy? Nhàn thoáng rùng mình khi anh hiểu sẽ chẳng còn chút hy vọng gì, nếu để thằng địch bước về phía anh vài bước nữa. Anh chỉ cần khẽ cựa mình lúc này đạn chúng sẽ xối vào anh tức thì...

        Nhàn đưa tay bẻ gập một vài cây cỏ cao trước mắt cho dễ quan sát. Tiếng bọn địch gần lắm rồi, hình như phía sau những cây thốt nốt kia thôi. Anh mở nắp lựu đạn, quả lựu đạn chót mà người chiến sĩ lúc nãy còn để lại cho anh. Nếu chúng ló ra anh sẽ thấy chúng nó trước. Cứ để cho chúng tới thật gần. Phút chốc Nhàn nghe tim mình đập dịu lại. Anh thấy thanh thản tự tin là khác. Dù sao anh cũng không hy sinh một cách vô ích chứ. Ở cái thế bất ngờ này ít ra anh cũng tung được một trái lựu đạn vào bọn địch. Anh sẽ vùng dậy xả tiếp mấy loạt súng vào những đứa khác. Có thể chúng bắn anh. Có sao đâu! Như Hoạt vậy thôi. Cũng có thể bị thương như chiến sĩ kia. Nhưng mà anh sẽ không như anh ta. Đau thì ráng chịu chứ ai lại mất khí thế vậy.

        Đang đuổi theo những ý nghĩ ấy, Nhàn bỗng nghe tiếng gọi giật giọng của đại đội phó Tư phía sau. Anh ngoái lại, Tư ra hiệu cho Nhàn chạy theo. Sau Tư là Quyên giữ B.40, sau nữa, đồng chí bị thương. Nhàn chồm dậy chạy theo. Họ chạy nhanh thế, đồng chí bị thương cũng vậy.

        Nhàn chạy muốn đứt hơi mà vẫn không bám được Tư. Cái phút bình tĩnh ở anh lại biến đâu hết. Địa hình ở đây anh không thuộc. Cỏ cây bờ bụi nhiều quá không nhìn được xa. Súng lúc nãy nổ loạn. Tiếng nổ như đẩy qua đẩy lại, giằng xé nhau cùng khắp. Nhàn không hiểu được đâu là ta, đâu là địch. Ta địch cùng sử dụng tiểu liên, trung liên, giống nhau. Anh cảm thấy như có một viên đạn nào đó sắp trúng anh. Anh càng ráng chạy tới. Con đường anh chạy là con đường còn ướt. Bùn đất té lên tận mắt tận đầu anh. Nhưng cũng may nhờ con đường ấy anh nhận ra dấu chân người đi trước. Những dấu chân ấy dẫn anh vào một cái làng. Thoạt đầu ngực anh muốn nghẹt thở. Ngay bìa làng lố nhố những dãy người, nòng súng chĩa cả về phía Nhàn. Anh ngồi thụt xuống, nhưng ngay sau đó anh nhận ra những bộ quần áo màu ghi. Anh thở phào đi tới. Đây là chỗ đứng quân của đại đội 5 hỏa lực cũng của tiểu đoàn Nhàn. Họ đang đào vét lại công sự. Mấy hòm đạn đại liên đã được mở nắp. Đạn đầy ắp xếp chồng lên nhau vàng chóe. Ở một hòm gần Nhàn nhất, không biết trúng đạn, đá thế nào, hòm gỗ trơ ra, đạn tung tóe xung quanh. Người nào cũng mồ hôi nhễ nhại. Một vài chiếc hầm bị đạn pháo lật tung. Ván gỗ lát hầm cháy nhem nhẻm. Thấy Nhàn, một anh lớn tuổi nhất trong đại đội ra chặn đường:

        - Đại đội 2 phải không, chủ công chuồn đấy phỏng? - Anh hất hàm hỏi Nhàn, giọng có chút giễu cợt.

        - Đại đội phó của tôi lệnh cho rút!

        - Đại đội phó của anh cũng không bằng chúng tôi. Ai đánh địch cho các anh rút?

        Nhàn đang ngơ ngác chưa biết nên thế nào thì một người khác dáng gầy và cao đi lại đặt tay lên vai anh nay:

        - Để cho cậu ấy đi?

        Anh này không nói gì nữa, lầm lũi đi lại khẩu đại liên đã nạp đạn của mình, đồng chí bộ đội dáng gày và cao mà Nhàn đoán là chính trị viên giục Nhàn:

        - Chạy đi, đấy đường đấy, đi thẳng.

        Nhàn không chạy nữa anh đi qua dãy người, rụt rè. Anh không dám ngược mặt lên nhìn họ. Suốt cả đoạn đường tiếp anh vẫn còn cứ giữ nguyên cảm giác ngỡ ngàng lúc ấy. Mãi đến khi trước mắt anh là ngã ba đường mòn anh mới nghĩ đến đại đội phó Tư. Anh cúi xuống xem dấu chân nhưng ở đây đường khô không để lại vết tích gì hết. Anh nhìn xung quanh, lác đác trong cái mênh mang của đồng nước đầy năn lác, vẫn là những bụi tre gai, những cây thốt nốt. Súng vẫn nổ rộ quanh quất đâu đây từng chặp. Đi đường nào? Anh đang băn khoăn thì nghe có tiếng người. Anh nhón gót lui vào góc một cây thốt nốt xem xét. Không thấy gì hết nhưng vẫn tiếng người xì xào. Một lúc sau anh mới biết tiếng người ấy là của hai đồng chí trinh sát đang đứng trên chạc của một cây bông tây rất cao, theo dõi địch. Một anh đang dùng ống nhòm quan sát. Thỉnh thoảng anh ta lại đếm: "Năm mười, sáu mươi, sáu lăm, sáu bảy...". Ý chừng đấy là con số những thằng địch mò qua biên giới, anh lượm được qua ông nhòm. Phía dưới anh ta một chút là một người trẻ hơn đang dùng bút ghi trên một cuốn sổ nhỏ. Nhàn đằng hắng. Khi hai anh này quay đầu nhìn xuống, anh hỏi:

        - Đồng chí ơi! Có thấy ba anh bộ đội vừa đi qua đây không?


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:58:21 am

        Như đoán được ý nghĩ của Nhàn, anh chiến sĩ đang cầm ống nhòm ở tay nói:

        - Đấy đường kia, đi di - Anh ta xoay người lại chỉ cho Nhàn nhưng cũng xoay trở lại hướng cũ rất nhanh. Nhàn không kịp nhận ra đường kia là đường nào. Nhàn định hỏi lại, đã thấy anh ta đưa ống nhòm vào mắt. Chắc là đường này thôi - Nhàn nghĩ ra chọn con đường mòn trước mặt. Đi được chừng bảy phút anh đành phải quay lại. Lối mòn này đến đây tắc nghẽn. Phía trước là một đầm lầy sâu hút. Bên kia không có đường.

        - Này đồng chí ơi! Chỉ lại đường cho tôi với.

        - Ơ hay cái anh này. Từ nãy đến giờ. Quê ở đâu đấy? Lính mới hả? Lần này là tiếng nói đầy ngạc nhiên của anh chiến sĩ cầm bút ghi chép. Anh ta mở căng mắt nhìn Nhàn. Tuổi anh ta cũng trạc tuổi Nhàn là cùng. Ấy vậy mà giọng nói, cặp mắt của anh ta nhìn Nhàn thế kia. Mãi sau này Nhàn vẫn không quên được cái nhìn, giọng nói của người trinh sát ấy. Sau khi chỉ cặn kẽ đường đi cho Nhàn, hai chiến sĩ trẻ trên cây thì thầm với nhau gì đó rồi cười khích khích. Nhàn lặng thinh cúi gầm mặt xuống đất, bước. Chân anh như vừa bị táp thêm chì. Anh không còn cảm giác bị bọn địch phía sau hay bên sườn nhằm bắn mình nữa, mặc dù nơi anh đang đi đạn thẳng ở khu chiến có thể bắn tới. Có một cái gì đó hơi nghén nghẹn nơi cổ Nhàn. Cùng lứa tuổi, cũng chiến sĩ như nhau sao hai người kia lại sung sướng là vậy. Nào có nhiều gì cho cam, họ cũng chỉ hai người thôi. Vậy mà tiếng súng và kể cả những tên lính Pôn Pốt họ đang quan sát không mảy may làm họ nao núng.

        Bọn địch chia làm nhiêu tốp nhỏ đánh úp phía sau khiến đại đội hai ngay từ đầu đã lâm vào thế bị động. Đại đội trưởng Ước bị thương, Chiến chính trị viên đại đội chạy hết trung đội này đền trung đội khác cùng anh em quyết giữ vị trí chiến đấu. Nhưng sau đó khoảng ba mươi phút anh nhận được lệnh tiểu đoàn đưa đại đội lui xuống khu làng phía sau.

        Khu làng này cách nơi địch vừa chiếm không đầy một cây số nhưng đối với người chiến sĩ vừa quần lộn giáp mặt với địch thì nơi đây cũng tựa như hậu phương rồi. Họ quây tròn với nhau từng tốp, anh ngồi, anh đứng, có anh nằm soài ra trên bờ cỏ. Anh nào cũng tranh nhau nói, tranh nhau kể về bọn địch, về các tình huống ở chỗ mình, về lệnh rút lui một cách đột ngột chứ không bọn địch còn tết mà lên nổi... Đồng chí giữ PR25 đang mở máy làm việc với tiểu đoàn mây lần thét toáng lên vì ồn quá không làm được việc, vì bàn tán như thế sẽ thu hết vào trong máy, thằng địch nghe được thì cối pháo kéo đến không kịp ngáp. Giữa lúc đó thì đại đội phó Tư hiện ra. Anh chuyển thương, băng bó thương binh, đi kiểm tra con số các trung đội, tính toán lại vũ khí trang bị. Anh là người duy nhất trong đại đội không mất một cái gì. Súng đạn, trang bị tư nhân của anh nguyên vẹn. Tay chân, mình mẩy không chỗ nào rách xước rớm máu. Và khi mọi người oải ra vì mệt, anh lao vào công việc làm hùng hục. Buổi chiều khi đại đội họp hội đồng quân nhân kiểm điểm rút kinh nghiệm, Tư nhận được lệnh tiểu đoàn cất nhắc anh lên giữ chức đại đội trưởng thay cho Ước. Trong cuộc họp anh là người nói nhiều nhất. Anh phân tích tình hình địch, tình hình ta rãnh rẽ. Anh kết luận:

        - Theo tôi, trận này cấp trên có chủ quan. Địa hình mới rợi. Bộ đội cũng mới rợi, thế mà dám ém sâu vào thằng địch thế nay. Có phải cứ kéo nhau ra gốc tre, bụi chuối là đánh nhau được đâu. Cũng đừng coi thường lính Pôn Pốt. Nó không kém thằng Mỹ thằng ngụy đâu nhé. Thì đó, muỗi là thế, nước là thế, vẫn cởi trần ngâm suốt đêm ngoài đồng phục mình. Thủ đoạn chiến thuật có kém gì mình đâu. Cũng từng toán nhỏ lẻ, cũng luồn sâu lót sát, cũng gan ra trò...

        Sau buổi họp Tư còn nằm gác chân lên ngươi Chiến, nói thêm:

        - Ông là chính trị viên, không biết ông có nghĩ tới điều này không? Tôi thấy chơi với thắng Pôn Pốt lần này khó hơn chơi với Mỹ ngụy đấy ông ạ. Không phải nó mạnh gì lắm đâu nhưng là vì mình chưa được chuẩn bị thật chu đáo, vả lại hoàn cảnh khách quan có tác động đến anh em chiến sĩ. Hồi đánh Mỹ nhé, cả nước tập trung đánh. Hậu phương cũng gian khổ, tiền tuyến cũng gian khổ. Bây giờ ông tính lui lại phía sau vài cây số thì không còn gì là chiên tranh nữa. Đường phố nườm nượp người, áo quần sang trọng, toàn nhũng thứ suốt đời lính không dám mơ tưởng. Những nhà hàng, những cửa tiệm ăn chật ních người, xài nhậu li bì. Tiền tuôn như nước. Mẹ kiếp, nó lấy đâu ra tiền nhiều thế. Chí nguy là ở chỗ đó. Một đằng như ta: ngủ ở hầm đất, ăn khổ, uống thiếu, bom đạn rình rập, một đằng ở nhà lầu, ngủ giường nệm, nhà có ti vi tủ lạnh gần cha mẹ vợ con. Buồn thì dắt díu nhau ra phố, dạo công viên, xem phim, xem kịch. Những cảnh trai gái ôm ấp nhau ở công viên, ở các đường phố; ông bảo không ảnh hưởng đến lính nhà ta sao được. Đất nước là đất nước chung của cả mọi người chứ đâu của riêng lính. Tôi nói thế ông thấy có đúng không nào?


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:58:54 am

        Trong lúc Tư đang say sưa nói thì Chiến lại đang thiu thiu ngủ. Anh có loáng thoáng nghe Tư nói tới những điều mà anh sẵn sàng dựng Tư dậy để tranh luận. Quả thật mỗi cuộc chiến tranh có những đặc điểm riêng của nó nhưng cứ theo cách lý luận của Tư thì chẳng những bây giờ mà cả những năm tháng trước, người chiến sĩ không cách nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Chiến nhớ lại ngay đi nhập ngũ. Trước đó anh là một cán bộ thủy lợi. Học qua đại học lại có thực tiễn của những năm ra nghề, trong cơ quan, anh là người có trình độ kỹ thuật cứng hơn cả. Anh được cấp trên tin, anh em mến. Anh có những ước mơ lớn trên những công trình thủy lợi của đất nước. Những cái đập khổng lồ chắn những dòng sông, nước chảy cuồn cuộn; những hồ chứa nước hàng trăm triệu khối, đủ tưới cho hàng triệu héc-ta đất khô khát; những nhà máy thủy điện đủ sức sáng trời đêm trên những đỉnh núi chót vót Trường Sơn. Anh cũng đã chuyển được vợ về công tác trong cơ quan mình. Vợ anh cũng làm công tác kỹ thuật thủy lợi. Vợ chồng gần gũi nhau, chẳng những giải quyết được tình cảm lại còn ổn định được đời sống, giúp đỡ nhau thực hiện mơ ước của mỗi người. Nhưng gần vợ chưa được một tháng anh lại xin đi nhập ngũ. Nghĩ lại trường hợp anh cũng thật kỳ.

        Hôm đó cơ quan cử anh dẫn một số đồng chí đi khám nghĩa vụ quân sự. Chẳng biết thế nào mà mười người khám thì đến bốn người bị loại vì thiếu sức khỏe. Đồng chí phụ trách chuyển quân trút ra thôi không biết bao lời than phiền. Rằng cơ quan anh chỉ đưa ngươi đi cho đủ số lượng. Rằng coi trọng việc khác coi nhẹ việc quân sự. Rằng cơ quan nào cũng như cơ quan nhà anh thì lấy ai đi đánh Mỹ... Chiến chỉ còn biết cúi đầu lắng nghe, mặt đỏ lựng xấu hổ. Anh có hay biết gì về chuyện này đâu. Giữa anh tuyển quân và đồng chí phụ trách cơ quan ai đúng ai sai anh chưa rõ, nhưng anh cảm như chính mình có lỗi và một cái gì đó rất thiêng liêng trong người anh bị xúc phạm. Anh nói với cán bộ tuyển quân:

        - Anh ghi tên tôi vào danh sách đi. Tôi sẽ thế cho ngươi khác. Tôi khám chắc được.

        Đồng chí phụ trách cơ quan hôm đó không bằng lòng vì sự tự động của anh. Ông suýt xoa liên hồi về nỗi cơ quan thiếu cán bộ có trình độ mà anh lại xin đi. Ông bảo rằng ông sẽ đưa đi khám tuyển mười người nữa để xin Chiến ở lại.

        Khổ nhất là vợ anh. Cô ấy giận hờn, khóc lóc, dằn vặt anh đủ điều. Nào là cơ quan có cử anh đi đâu. Nào là anh thích đi thì còn xin cho cô chuyển về đây làm gì. Nào là cô ấy sắp sinh đến nơi, gia đình thì xa, ai là người lo toan giúp đỡ cô ấy. Cô ấy bỏ ăn bỏ ngủ, mắt sưng húp lên vì khóc. Anh đi rồi vợ anh gặp không ít khó khăn. Điều khổ hơn cả đối vơi cô ấy là tình cảm xa chồng. Những năm tháng xa cô ấy anh thêm hiểu. Rắn rỏi như anh mà nhiều đêm còn ứa nước mắt nữa là. Nhưng cho đến bây giờ anh vẫn đinh ninh rằng quyết định của mình ngày ấy là đúng. Biết bao nhiêu cán bộ chiến sĩ ở đây còn khó khăn hơn anh. Ngay trong trung đoàn này có đồng chí đi bộ đội từ năm hai mươi tuổi đến nay đầu đã hai thứ tóc vẫn chưa được gần vợ gần con nữa là...

        Chiến định nói cho Tư nghe tâm sự ấy của mình. Nghĩ đi tính lại anh lại tạm im. Vấn đề là làm sao để thắng. Thắng được thì chẳng cần nói nhiều. Lẽ đời là thế. Vừa rồi chặn được thằng địch, đánh cho nó tơi ra anh nào chả hân hoan về mình, về đơn vị minh. Nhưng không thắng là sẽ sinh ra những chuyện thế đấy, đầy rẫy những nguyên nhân nọ kia. Mặt mày anh nào cũng ỉu như bánh tráng, gặp mưa.

        Những ngày đơn vị củng cố, học tập chuẩn bị cho nhiệm vụ tới, Chiến thấy Nhàn buồn rười rượi, mặc dù công việc của một liên lạc đại đội Nhàn làm không chê vào đâu được. Nhàn lầm lủi đăm chiêu, ít nói và có ý như không muốn gặp mọi người. Khi Chiến hỏi Tư, Tư nói thẳng tuột:

        - Kiểu ấy lại hốt đấy mà. Lính mới, bị địch lùa cho trận đầu. Liên lạc để phải tìm một tay thật ngon. Tôi biết, hồi ở nhà cũng vậy thôi, anh ta khật khờ lắm.

        Chiến bật cười. Mới cách đây một tháng chứ đau, khi chọn Nhàn làm liên lạc, cán bộ đại đội ai cũng ưng. Trông Nhàn hiền khô, trẻ măng, có đôi mắt màu nâu nhìn thẳng rất kiên quyết. Ấy vậy mà hôm nay Tư lại đã cho Nhân là thật khờ rồi. Thật ra nếu vì bị địch tập kích hôm ấy làm cho Nhàn có chút nản lòng thì ban chỉ huy đại đội phải chịu một phần trách nhiệm không nhỏ. Phần vì không đôn độc kiểm tra anh em từ đầu, phần vì không bố trí đội hình chốt theo đúng cung cách, tiếc rẻ mấy cái công sự cũ của đơn vị bạn, để chỗ hở cho địch đột vào. Đã vậy lại không động viên bộ đội kịp thời, họ buồn chán đâu phải lỗi ở họ.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:59:15 am

        - Tôi sợ chưa hẳn thế đâu anh Tư ạ. Anh là đồng hương anh tâm sự với Nhàn thử. Nhưng mà kheo khéo chút, tuổi trẻ cũng dễ tự ái lắm đấy.

        - Được rồi! Được rồi!

        Tư nhận lời và ngay buổi chiều hôm đó khi ăn cơm xong, anh rủ Nhàn ra chiếc cầu bắc qua con mương chạy phía trước căn nhà hầm của đại đội để nói chuyện.

        - Này, sao mấy hôm nay trông cậu khác thế, Nhàn?

        - Khác thế nào anh?

        - Tớ thấy cậu buồn thiu vậy!

        - Có gì mà vui đâu?

        - Ôi, cậu đúng là còn học trò lắm. Cậu buồn vì bị thằng địch lùa hôm ấy chứ gì. Thường, bình thường tuốt ráo. Là thằng lính phải "đời" hơn mới được. Mà đời thì không như ở những trang sách cậu đọc đâu, phức tạp lắm. Có gì mà cậu buồn nào. Rút thì rút cả đại đội chư riêng gì mình cậu. Cậu phải vui mới đúng. Hôm ấy không có tớ gọi làm sao cậu còn có được đến bây giờ nào.

        Ở đời cái chính là phải biết khôn khéo, giữ cái thân mình. Cậu còn dại lắm. Muốn tránh địch thì cũng phải chui vào hầm, ai lại phơi ra trên cỏ như cậu. Tớ mà chậm đến, nó không bắt sống hay găm đạn vào người cậu, tớ sẽ bằng con kiến. Sở dĩ tay Hoạt hy sinh bữa đó cũng là thế đấy. Địch đến thì lo đánh, không đánh được thì rút, về hầm đại đội báo cáo thì có "ngây" không chứ!

        - Em nghĩ, thà bị bắt hay hy sinh như Hoạt còn hơn... Nhàn cắt ngang lời Tư. Anh chỉ còn chực khóc lên. Đang rối tung về một thực tế phức tạp của trận đánh vừa qua, những lời lẽ của Tư càng làm cho anh nóng đầu không còn hiểu ra làm sao cả.

        - Ấy đấy, cậu lại định nói chuyện chính trị với tớ chứ gì. Khổ lắm, cậu nên nhớ tớ đã vào bộ đội trước cậu hai năm đấy nhé. Tớ nói chuyện với cậu ở đây là cái tình đồng hương, người nhà với nhau tớ nói thật. Còn nói chính trị thì cậu ơi - Tư vỗ vào vai Nhàn khoái trá - tớ có thiếu đâu. Tư hơi dịch chỗ ngồi xa Nhàn một chút. Anh nhìn Nhàn đăm đăm rồi lắc đầu như ái ngại, môi dưới trề ra.

        - Mơ mộng hão, mơ mộng hão. Phải tùy cơ ứng biến cậu ạ. Phải hiểu lúc nào là thơi cơ. Ai mà không muốn lập công, nhưng phải có thời cơ. Rút cũng phải có thời cơ đấy, không phải lúc nào muốn rút thì rút đâu, đơn vị cạo trọc gáy ấy chứ. Phải nói gì đâu xa. Hôm ấy mà cậu muốn lập công thì lập công cái nỗi gì. Thoắt cái là tớ biết ngay diễn biến trận đánh ra sao rồi. Không chóng thì chày cũng phải rút thôi. Ấy thế là tớ rút, súng đạn không mất, người không có lấy vết xước. Người ta mệt oải ra, tớ lao vào tớ làm. Ai chê tớ được nào. Đấy, thời cơ đấy cậu ạ. Tớ biết thế là khôn vặt, không anh hùng đâu. Nhưng con người có hai mắt cậu ạ. Có khi hơn nhau một tí ở chỗ ấy thôi. Cậu có nhớ bố con ông huyện ủy huyện mình không. Đấy, con học giỏi hẳn hoi, tốt nghiệp xong lớp 10 đi đại học nước ngoài là cái cầm chắc. Đùng cái ông gọi con về đi bộ đội. Ai cũng phải phục sát đất về tinh thần ông ấy chứ gì. Kỳ thực là ông ấy khôn, khôn nhất đời này! Thằng Hòa lần ấy không đi bộ đội thì lần sau cũng phải đi. Ai để cho nhà ông bốn đưa con đều đi đại học cả. Ông biết rằng đi đợt ấy ông vừa được tiếng, lại được miếng. Con ông chỉ quanh miền Bắc thôi, lại được đi học sĩ quan. Còn đợt sau toàn bộ đi vào Nam chiến đấu. Huyện ủy đấy cậu ạ. Tư cưới sằng sặc vì câu chuyện hết sức lý thú của mình. Nhưng Nhàn thì buồn, mặt khó đăm đăm.

        - Cậu buồn và không muốn thế chứ gì? - Giọng Tư vẫn sang sảng - Nhưng rồi sẽ đến lượt cậu và cậu sẽ thông cảm cho cái lẽ đời. Cũng như lần cậu phê tớ về bình công điểm hồi ở nhà ý mà. Tớ biết là cậu đúng. Nhưng làm đội trưởng mà cứ đằng rằng như cậu nói, không hơn xã viên một cái gì hết, thì ai nhận làm đội trưởng hả cậu. Tớ lo toan cho cả đội vất vả sớm tối, tớ cũng phải bấu xén chút đỉnh gì đó để bù vào cái khoản ấy chứ. Tớ không tham ô ăn cắp tiền nong gạo thóc của cả hợp tác. Làm như thế không chóng thì chày rồi ra tòa, ngồi tù. Tớ chỉ siêng nhặt chặt bị. Chỗ này tí, chỗ kia tí, tớ chẳng giàu có hơn ai những cũng không đến nỗi gì lắm. Vợ con tớ nó cũng bớt mè nheo đi. Tớ nghĩ chán ra đây cậu ạ.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:59:36 am

        Nhàn vẫn ngồi im nghe. Những lời của Tư gợi anh nhớ đến những ngày lao động ở làng quê anh.

        Nhà nghèo, học xong lớp mười, anh về tham gia sản xuất với địa phương. Anh chẳng mong gì hơn được mang sức lực và chút hiểu biết đã học được ở nhà trường về xây dựng quê hương mình. Anh ham học ham làm, ít có ngày vắng mặt ngoài đồng. Hồi đó Tư là đội trưởng đội sản xuất của anh, Tư phân công anh đi tát, đi bỗc búi, đi đắp bờ - công việc này tốn nhiều sức lực, lại không mấy công điểm nhưng anh không bao giờ kêu ca. Xong việc anh còn nán lại trên những thửa ruộng người lớn đang cày bừa nhìn nhớ các động tác của họ. Có ai đó dừng lại uống nước hút thuốc, hay giải quyết việc riêng, anh nhảy xuống ruộng làm thử. Mới chừng một tháng đường cày đường bừa của anh đã ra dáng vững vàng. Anh đề nghị đội trưởng cắt cử anh được làm công việc này. Khi đã hiểu biết công việc, anh ham công việc, có thế thôi. Nhưng Tư lại nhìn anh với cặp mắt xét nét, hậm hực. Tư nói:

        - Cày bừa cái gì, các cậu phá cày, phá bừa thì có. Ông đội chưa tin mình - Nhàn nghĩ vậy. Nhưng cũng có người nói với Nhàn: "Không phải thế đâu điểm cày bừa mà ít rồi cậu xem, ông đội chả phân công cậu ngày hai buổi ấy chứ. Ông ấy không phân công vì cày bừa lắm điểm lại không vất vả, cậu nghe chửa. Cậu mà cũng đi bừa thì lấy ai đi tát, đi đắp bờ, đi bốc búi". Có thật như vậy không? Nhàn chưa biết, nhưng mãi đến đầu vụ cấy thì quả nhiên không hôm nào Tư không phân công Nhàn đi bừa. Lúc nay việc đi cấy và công việc khác nhiều điểm hơn lại nhàn nhã nên ông đội trưởng "chiếu cố" cho những người trong gia đình ông trước tiên. Tuổi trẻ không ưa tính toán chi li về sự thiệt hơn ấy, Nhàn không thiết mấy điểm thêm cho mình. Có điều trong những buổi bình công chấm điểm anh thấy có những chỗ không hợp lý. Chẳng hạn trong một ngày người ta không tính Nhàn làm được anh nhiều việc hay ít việc, cứ người lớn 10 điểm thì anh 8 điểm, họ 12 điểm thì anh 10 điểm. Với lối tính điểm máy móc này làm sao phát huy được thành quả lao động. Nhàn góp ý với đội trưởng thì đội trưởng quắc mắt lên: "Cậu chỉ vớ vẩn, thế cậu với tớ ai khỏe ai hơn nào". Đúng là sức khỏe Nhàn so với Tư thì không bằng thật. Nhưng đi làm có phải người khỏe là làm nhiều, người yếu làm ít đâu. Khối người khỏe như vâm mà làm ăn có ra gì đâu. Nhàn nói những ý nghĩ ấy của mình ra trước đội và đề nghị áp dụng việc làm khoán theo định mức, để phát huy sức lao động của từng người. Ý kiến của Nhàn được xã viên trong đội đồng ý.

        Ngay hôm sau Nhản được phân công đi bừa khoán với đội trưởng Tư. Hai người bừa hai lượt trên diện tích năm sào đất. Theo bản thân, bừa hết lượt sẽ tính 20 điểm. Ngày hôm đó anh rất vui, bừa không biết mệt. Anh biết Tư chưa tin mình, cho anh là học trò tập sự, vậy thì hôm nay Tư sẽ phải thay đổi nếp nghĩ ấy. Không ngờ tối đó thư ký chỉ tính cho anh 8 điểm còn đội trưởng Tư 14 điểm. Chẳng phải đợi anh hỏi, Tư nói:

        - Dù khoán hay không khoán cậu cũng chỉ mức điểm ấy thôi. Cậu là lao động phụ, tớ là lao động chính.

        - Nhưng cơ mà lao động phụ đã ít hơn lao động chính hai điểm rồi. Lần này Nhàn quyết hỏi cho ra.

        - Cậu nghếch lắm, có thế mà hỏi đi hỏi lại mãi, hai điểm ấy là hai điểm về công sức lao động. Còn hai điểm kia là hai điểm về kỹ thuật. Cũng là một đường bừa đấy nhưng cậu bừa ba đường chỉ bằng người ta bừa một đường. Vậy phải trừ của cậu đập cho người ta chứ. Lẽ ra phải trừ nữa kia. Vậy là chiếu cố đấy.

        - Tôi thấy không đúng - Nhàn không còn giữ được bình tĩnh. Tôi nói đây không phải vì tôi thiệt mấy điểm đâu. Tôi không cần mấy điểm ấy. Không cần phải chiếu cố, nếu thấy tôi bừa chưa đúng kỹ thuật, đội cứ trừ nữa. Nhưng số điểm trừ này đề nghị để chung cho đội, cho hợp tác xã. Đi bừa thì mỗi người một đường, có ai hơn ai đường nào đâu. Hơn về sức khỏe thì đội tính hai điểm rồi. Còn kỹ thuật, sau này lúa không được tốt trên đường bừa của tôi thì cả đội chịu chứ có riêng ai chịu. Vậy sao lại trừ điểm của tôi đập riêng cho một cá nhân nào?

        Tư bấy giờ mặt đỏ như người say rượu, nói như quát:

        - Này, đừng mang cái lý luận nhãi nhép ấy ra mà bướng nhé. Mấy tuổi ranh đã đòi làm bố người ta. Quy định của đội thế đấy, có làm thì làm, không làm thì đi đâu cứ đi, đội đang thiếu người đi bộ đội kia kìa.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2017, 05:59:54 am

        "Đi bộ đội", sao ông ấy lại có vẻ dọa mình chuyện ấy nhỉ - Nhàn nghĩ và anh mong đi bộ đội thật. Dù làm bất cư việc gì trong bộ đội hẳn cũng sướng bằng vạn lần làm ăn tùy tiện cá nhân kiểu của Tư. Anh sẽ đi bộ đội, sẽ trưởng thành lên và sau này sẽ có dịp trở lại địa phương...

        Nhưng sự đời lại chẳng diễn ra như thế. Đến đợt nghĩa vụ quân sự xã chưa giải quyết cho Nhàn đi vì gia đình còn khó khăn các anh các chị đều đang ở bộ đội. Riêng đội trưởng Tư trúng ngay đợt ấy...

        Từ đó đến nay đã hai năm. Câu chuyện công điểm đáng buồn ấy Nhàn chưa quên và Tư cũng chưa quên. Nhưng Nhàn vẫn nghĩ chắc Tư đã thay đổi, đã ân hận vì sự nhỏ nhen của mình. Anh đinh ninh rằng cuộc đời bộ đội sẽ rèn giũa con người tốt lên. Nhưng, thật là kinh khủng. Tư hiện vẫn cho đó là một việc có lý. Nhàn thoáng nhỡ đến hôm bị địch tập kích. Lẽ nào đồng chí lớn tuổi ở đại đội hỏa lực ngãng không cho anh chạy, lẽ nào hai đồng chí trinh sát lại giễu cợt anh. Có gì đâu, anh là một thằng ngốc, anh đã bám theo Tư rút lui trước khi có lệnh chính thức. Anh muốn thốt lên một điều gì đó để tỏ sự bất bình của anh, nhưng rồi anh vẫn nén được. Anh nói với Tư, giọng run run:

        - Anh nói với em vậy để làm gì anh Tư?

        - Không, không - Tư xua tay. Tớ biết đấy không phải là cãi nhau đâu. Mỗi người có một suy nghĩ khác nhau, hành động khác nhau, không ai bó buộc ai. Tớ nói vậy vì cậu là người cùng làng cùng xóm tớ, người khác cho tớ uống rượu tớ cũng đếch thèm. Chả qua tớ thấy cậu buồn. Không nên. Buồn mà làm gì. Mất ăn mất ngủ sút cân sụt lạng mà ích gì đâu. Tớ muốn nói những chuyện cậu buồn là bình thường tuốt ráo. Đừng quan trọng hóa nó, cứ vui, cứ làm việc bình thường. Đấy, ý tớ là thế.

        - Thôi em hiểu rồi. Em về đây. - Nhàn đứng dậy vội vã rồi một mạch cúi đầu bước về phía nhà hầm đại đội. Anh đi mà như chạy.

        - Nhàn - Tư đứng dậy gọi, mặt ngơ ngác.

        Tin ở chốt tiền tiêu đại đội 3 bắt được tù binh lan nhanh từ tiểu đoàn đến trung đoàn. Giao ban trung đoàn sáng nay được dừng lại để bàn thêm về vấn đề sốt dẻo này. Ban chính trị đề nghị thưởng ngay một huân chương cho đồng chí nào trực tiếp bắt được tên tù binh. Đúng 9 giờ, liên lạc Nhàn dẫn một người lính Cam-pu-chia lên trung đoàn. Anh ta đi trước Nhàn, không bị trói. Người anh to cao vạm vỡ, da xạm đen, môi thâm, đầu cắt cua gọn ghẽ. Anh có đôi lông mày rậm, xếch và một cặp mắt mở to hơi lì. Cặp mắt mà mới nhìn bộ đội nhà ta đã xì xào với nhau: "Tướng này mà đánh nhau thì phải biết".

        Nhàn mới dẫn đến đầu ngõ trung đoàn bộ, phòng giao ban đã rộn hẳn lên. Mọi người vây quanh lấy Nhàn, giành nhau hỏi, chắc mẩm thế nào cũng được nghe một pha bắt tù bình tuyệt hay. Nhưng càng nghe mọi người càng chưng hưng. Té ra người lính này không phải là tù binh, cũng không phải là hàng binh...

        Anh ta tên là U Man. Anh đã chạy suốt ba ngày ba đêm liền, qua không biết bao nhiêu họng súng của bọn lính Pôn Pốt để về được chốt tiền tiêu của đại đội 3. Khi gặp bộ đội U Man vẫn chưa nói được lời nào. Anh như người đứt hơi, tay chân rời rã, bộ quần áo đen vải thô và một chiếc khăn rằn quấn nơi cổ anh rách tua từng mảng. Chiến lục trong ba-lô lấy bộ quân phục của mình đưa cho Nhàn va dặn Nhàn đưa U Man về giếng đại đội tắm giặt thay quần áo. Nhàn đưa U Man đi. Những chiến sĩ trên chốt đã nhao nhao lật ba-lô tìm đường sữa cho anh uống. Anh nuôi cũng đã kịp nổi lửa đãi anh một bữa cơm. U Man ăn nhiều và ngon lành. Có lẽ đã lâu lắm rồi anh chưa bao giờ được ăn nhiều và ngon đến như vậy. Khi ra giếng tắm anh đã khỏe và tỉnh táo. Anh bắt chuyện với Nhàn bằng đôi mắt luôn chao động cởi mở, bằng nụ cười và những cử chỉ của tay. Nhàn không hiểu hết được thứ ngôn ngữ mời này. Anh đoán rằng U Man rất sung sướng: U Man cảm ơn bộ đội Việt Nam. Nhàn cũng nói với U Man bằng đôi tay của mình. Anh dặn U Man múc nước tắm thoải mái, rồi lấy quần áo thay. Anh ngồi ở bếp nuôi quân đợi. Mắt nhìn dán vào đôi tay của Nhàn, U Man cười, đầu gật gật ra ý hiểu. Nhàn mỉm cười chào U Man rồi bước đi. Dù chưa nói với nhau được bằng một thứ tiếng nhưng Nhàn cảm thấy U Man có một cái gì đó thật gần gũi.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tư, 2017, 03:03:09 am

        Đang đi về phía bếp, Nhãn bỗng nghe U Man kêu lên một tiếng thảng thốt ở giếng. Nhãn giật mình quay lại. Mặt U Man tái đi, môi run lật bật. Chiếc gầu trên tay anh rơi tõm xuống giếng. Nhàn chạy tới bên U Man. U Man nói với Nhàn mấy câu bằng tiếng Campuchia. Từ khoẻ mắt to đen óng của U Man ứa ra những giọt nước rồi lăn dần trên hai gò má lốm đốm mụn cá của anh.

        - Sao thế anh U Man, việc gì thế?

        Nhàn cuống lên. Nhàn không hiệu gì được cả. Anh chạy lên hầm đại đội nói với Chiến. Chiến chạy về giếng với U Man, nhiều người khác chạy theo. U Man nhìn mọi người, miệng nói gì đó, càng nói nước mắt càng ứa ra...

        Ngay lúc đó chuông điện thoại réo gọi. Trung đoàn bộ yêu cầu đưa gấp "tên tù binh" vừa bắt được lên trung đoàn.

        Sau đây là tâm sự của U Man qua lời đồng chí cán bộ địch vận:

        U Man sinh ra trong mọt gia đình làm nông. Ngoài bố mẹ, anh chị, anh con có một người vợ và ba đứa con. Từ ngày đi lính đến giờ anh không hề được về thăm quê. Chế độ Pôn Pốt bãi bỏ việc thư tín nên anh không hay biết gĩ về số phận những người ruột thịt của mình. Nhìn chiếc giếng anh bỗng nhớ tới những chiếc rìu chiếc búa bổ vào đầu người, do chính những người lính như anh phải làm theo lệnh ang-ka. Chắc là anh chị, bố mẹ, vợ con anh cũng đã chết như vậy và xác bị đùn xuống những cái giếng như thế này. Ở thôn xóm, và các chùa chiền trên những miền đất anh đi qua đều có những cái giếng nhưng không phải để lấy nước mà để chứa xác ngươi. Bà già, trẻ con, thanh niên nam nữ có thể bị bọn Ang-ka giết bất cứ lúc nào. Họ hò hét vui chơi, chúng giết. Chúng giết có khi chỉ vì chúng nhìn gương mặt nào đó trong dân chúng không thiện cảm với chúng. Những xác người ngổn ngang trên mặt đất không ai chôn cất bốc mùi hôi và chúng nghĩ ra cách đủn xuống các giếng. Hôm đó đại đội U Man được điều đến làng Ra Chiết huyện Kôm-chan Mia tỉnh Prâyveng. Bọn Ang-ka nói rằng dân làng này không chịu làm theo lệnh của cấp trên nên phải giết kỳ hết. Mỗi người lính trong đại đội U Man buộc phải giết ít nhất một người. Cái giếng mà U Man phải dẫn một cháu bé ra giết theo lệnh đại đội trưởng, đã ăm ắp những xác người. Máu tràn ra miệng giếng ngập cả bàn chân U Man.

        - Sao lại giết nó, nó làm gì đã biết chống đối - U Man nhìn đứa bé gầy nhom run rẩy trong một miếng vải nhầu rách không che hết thân rồi hỏi tên chỉ huy.

        Thằng chỉ huy cười lên sặc sụa. Mắt nó lấc lên, tròng mắt như lồi ra trắng dã. Nhưng chiếc răng xám đen khói thuốc của nó muốn nhảy ra khỏi miệng.

        - Giết bố mẹ nó rồi, phải giết luôn nó, để sau nó thù.

        Tay cầm khẩu súng đã lên đạn, nòng súng đã ở cháp tai cháu bé nhưng những ngón tay của U Man như tê cứng hết. Máu trong người anh như chuyển thành băng đông cứng lại rồi. Lồng ngực anh nhói đau. Tim anh như có vô số những móng vuốt sắc nhọn quặp chặt. Anh biết nếu anh còn chần chừ, thăng đại đội trưởng sẽ bắn vào anh thay cho viên đạn anh bắn vào đứa bé. Người anh toát mồ hôi, anh cầm lấy vai đứa bé xoay mặt nó về phía mình. Anh muốn nhìn mặt nó một lần chót. Cháu bé không nói một lời, lặng lẽ nhìn U Man, môi hơi mím lại. Như bị luồng ánh sáng đột ngột rọi vào mặt, u Man vội nhắm mắt lại. Thoáng chốc anh nghĩ đến đứa con trai đầu lòng của anh. Con anh cũng xấp xỉ tuổi này thôi. Ai đã làm cha làm mẹ, ai đã mang cái bào thai chín tháng mười ngày, ai đã quằn quại đau đớn khi đưa trẻ ra đời, ai đã từng nuôi nó lớn khôn từng này. Một người đã làm cha như U Man làm sao có thể bắn cháu bé.

        "Không"! Anh nghiến răng vội vã nổ súng rồi đẩy đứa bé xuống đống xác người lênh lãng máu. Anh lãm việc đó rất nhanh và hấp tấp chạy về chỗ đám lính đang túm tụm trong làng. Thằng đại đội trưởng nhìn anh, mắt ánh lên những tia sáng giễu cợt. Hắn thư thái bước về phía giếng. Hắn cúi xuống miệng giếng túm lấy cổ cháu bé nhấc bổng lên. Cháu bé khóc ré, hai chân quẫy đạp trong không khí. Thằng đại đội trưởng cười gằn, mắt nó long sòng sọc. Nó dướn người nâng cháu bé lên cao hơn, chúc đầu cháu xuống dưới, quật mạnh xuống. Hắn dùng súng ngắn bắn hai phát vào cháu bé rồi chĩa nòng súng tìm U Man. U Man trút cả băng đạn về phía hắn, quẳng luôn súng và cứ hướng núi Bà Đen chạy miết. Anh không mấy hy vọng có thể sống.

        - Sao chúng lại điên khùng một cách kỳ cục thế nhỉ - Nhàn thốt lên khi câu chuyện chấm dứt.

        - Còn khối điều điên khùng nữa cậu ạ. Chính thế nên ta phải lên vùng biên giới này đây. Đồng chí chủ nhiệm chính trị trung đoàn vừa nói vừa đưa tay vỗ nhẹ lên vai Nhàn.

        - Thôi chào các thủ trưởng em về!

        Nhàn chào mọi người rồi đi như chạy về chốt tiền tiêu của đại đội. Trận tập kích bất ngờ của địch bữa nọ... Một anh Tư ở hậu phương và trong chiến đấu. Câu chuyện về ông huyện ủy... từng đọng lại trong Nhàn, một mối nghi vấn, một day dứt bỗng tan biến. Dù sao những lỗi lầm của họ còn có ranh giới của một con người. Còn những con người mà U Man kể không còn chút nào là con người nữa. "Chính vì thế mà ta phải lên vùng biên giới này đây". Câu nói của đồng chí chủ nhiệm cứ văng vẳng bên tai Nhàn.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tư, 2017, 03:04:00 am

        Đại đội 3 chia làm hai mũi - Mũi do Chiến chỉ huy luồn sâu vào sau lưng địch. Mũi do Tư chỉ huy chặn con đường địch rút chạy.

        Đêm, đội hình như đang luồn trong một cái ống khổng lồ, hun hút bịt bùng. Một anh nào đó đi trệch ra mép đường sụt chân xuống ruộng lõm bõm. Tiếng ếch nhái chao chát, tiếng quẫy của những con cá đớp mồi bóc bách trên mặt nước, nghe động im bặt.

        Nhàn ngồi xuống nín thở. Hình như đằng trước đằng sau anh cũng đang ngồi xuống nín thở. Nhàn nghe rột roạt phía bên trái. Anh mở to mắt nhìn cắm vào chỗ tiếng động. Hai ba cái bóng đen nhờ nhờ nhích dần về phía anh. Hình như chúng trong một ngôi nhà chui ra. Khẩu trung liên của Nhàn hướng về những cái bóng đen này. Không biết nó có nhìn thấy Nhàn không mà cứ lù lù lớn dần trước mặt anh. Nhàn muốn bóp cò quá. Anh tin rằng ít nhất mình anh cũng quật đổ vài ba tên đang ngơ ngác dòm ngó kia. Khi thằng địch trước mình, cạnh mình mà mình im ro, không nhúc nhích, đầu óc căng thẳng không thể chịu được. Nhàn chỉ sợ cậu Thanh ngồi phía sau "e hèm" một tiếng. Thanh có cái tật ấy, chốc chốc lại "e hèm". Trung đội không ai thích hành quân bí mật mà đi cạnh cậu ta. Thanh hứa trời hứa đất mãi, nhưng biết đâu được. Mấy lần Nhàn xin đánh Chiến đều "xuỵt" và lắc đầu.

        Ở Chiến, một trận đánh không phải là diệt mấy thằng địch ấy. Nỗi lo của anh là làm sao luồn đội hình một cách trót lọt tiêu diệt gọn cả đại đội của chúng. Nếu là đánh lấy lại đất thì đánh ban ngày, hỏa lực tập trung dập, bộ binh xung phong, thằng này không chịu thấu. Vậy mà từ hôm địch chiếm mất khu làng, mấy lần Chiến đề nghị cấp trên cho đơn vị anh xuất kích lấy lại mà có được chấp thuận đâu. Mãi tới nay, Chiến mới được cấp trên đồng ý với phương án này. Chiến mừng đến ứa nước mắt. Địch còn ở cái làng ấy, đơn vị anh còn mang cái vết nhơ trên mặt không rửa đi được. Nhưng càng mừng bao nhiêu, bây giờ anh càng lo bấy nhiêu, luôn sâu, lót sát, tập kích bất ngờ vào chỗ địch đóng không phải là điều mới mẻ gì, nhưng cũng không phải dễ. Bọn địch không ở tập trung mà xé lẻ mỗi chỗ năm bảy thằng, ở rải rác khắp nơi, không khéo chỗ cần đánh thì bỏ, chỗ đáng bỏ lại tập trung hết lực lượng... Ngay lúc đó một quả lựu đạn nổ gần chỗ đội hình Chiến.

        Tình huống này là không xong rồi đây. Chiến nghĩ và khẽ nói với Nhàn.

        - Một mình cậu có dám xông vào đánh tốp địch này không?

        - Được quá chứ thủ trưởng.

        - Diệt gọn và sau đó đuổi kịp đội hình.

        - Được! Nhàn quả quyết.

        - Thế thì cậu chuẩn bị đi, tớ và một người nữa sẽ cùng đánh với cậu.

        Những ánh lửa vụt lóe trong ngôi nhà, tiếng lựu đạn đanh xé nổ dồn. Ba bóng người tách khỏi đội hình lao vào nhà, chỗ bọn địch nằm rình phục. Những tràng AK bẳn găm, đạn cắm thành đường lửa vào bọn địch. Bọn địch trong nhà không kịp làm gì. Xác hai thằng gác vắt chéo nhau ở lối ra vào nhà. Từ làng bên cạnh đại liên, trung liên, M.79, cối 60 và cả 12 ly 8 của địch như giật nẩy lên, đổ đạn về phía ngôi nhà.

        - Đánh vào làng!

        Nhàn ngạc nhiên nghe tiếng hô của Chiến. Chiến vừa xông vào nhà với Nhàn đây thôi. Chiến vụt lao qua trước Nhàn, quét đạn góc này góc kia, vậy mà lại đã ở ngoài đường chỉ huy đại đội từ lúc nào. Trong nhà tiệt không còn một tiếng súng chống trả, Nhàn chạy ra. Trời nhập nhòa sáng. Anh rút băng đạn tròn nằm trong bao treo trước ngực định thay băng cũ, chợt thấy khó quá. Băng đạn cứ chực rơi xuống đất. Kẹp súng vào nách, anh đưa bàn tay trái rờ thử thấy ươn ướt dính dinh. Chìa cánh tay phải ra trước mặt, anh thấy đỏ thẫm máu tươi. Anh vuốt nhanh lớp máu đang chảy, đanh đọng ở tay rồi cố ấn băng đạn vào, chặt thế, băng đạn bật ra.

        - Sao thế, bị thương hả?

        Nhàn nhận ra Chiến đang quay lại đón Nhàn.

        - Không! Súng em... xem lại băng đạn.

        Nhàn định nói. Súng em bị tắc đạn, nhưng ghìm ngay lại được. Nói thế Chiến sẽ đổi súng cho Nhàn, hoặc kiểm tra hộ Nhàn. Chiến sẽ thấy vết thương trên tay Nhàn ngay. Nhàn lo Chiến bắt quay lại sau quá. Người ít mà bây giờ mới là trận đánh chính.

        Có một tốp địch còn cách xa Nhàn và Chiến đang vượt ra cánh đồng nước. Nhàn quăng ngay một trái lựu đạn bằng tay trái rồi bóp nốt số đạn còn lại trong băng cũ. Anh muốn cho Chiến biết rằng anh không việc gì cả. Anh đánh địch ngay được thôi. Anh biết đâu Chiến đang cau mặt lại giận dỗi.

        - Bình tĩnh thôi, gì mà rối lên thế. Để nó gần hãy bắn. Bắn như trâu ỉa té thế ăn nhằm gì? Bỗng Chiến sững người. Anh đã thấy máu loang trên bắp tay Nhàn. Chiến dìu Nhàn lại gốc một cây thốt nốt, băng cho Nhàn.

        Bộ đội vẫn ào ào lội qua đồng. Một mặt Chiến nhìn vào vết thương Nhàn, một mặt nhìn mọi người.

        - Thôi tớ băng sơ, cậu lui lại sau bảo y tá băng lại.

        Tiếng nổ của các loại súng mỗi lúc một xa Nhàn, dồn về phía lành. Nhàn hình dung ra rất rõ chiếc công sự của mình buổi sánh sớm hôm ấy ở khu đất đó: cái hỗ đất trùm kín cỏ anh đã nấp. Hoạt... đồng chí bị thương... con đường mòn anh chạy muốn đứt hơi. Bọn giặc... những bộ mặt đắc thắng đáng ghét.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tư, 2017, 03:04:24 am

        Bây giờ thì chúng đang chạy, đằng sau, đằng trước chúng bị bịt hết rồi. Chúng sẽ hiểu giá mỗi tấc đất mà chúng nuôi mộng bá chủ. Nhàn thoáng nhớ đến ngã ba cây bông tây - nơi có hai đồng chí trinh sát đứng hôm nọ, bãi đẫm lầy anh chạy đến... không biết mũi của Tư có đón những chỗ ấy hay không? Coi chừng chúng sẽ lủi theo các lối đó.

        Phải đến đó báo cho Tư biết rõ địa hình, không cho địch lọt một thằng nào. Nhàn kẹp súng vào nách trái chạy đi. Nhãn không chạy theo hướng của Chiến mà vòng phía sườn trái bọn dịch. Lối vòng này qua một trảng cỏ trống, không cây cối, không bờ bụi che chắn. Khi bàn phương án: mở một mũi ở đây ai cũng thấy lợi, nhưng đại đội đành bỏ vì rất mạo hiểm, còn bây giờ Nhàn thấy có thể đi được. Đi một mình bọn địch không chú ý. Chúng đang căng đầu đối phò với mũi của Chiến, sức mấy ngó đến chỗ này. Mà nếu lộ, chung tập trung vào Nhàn thì càng hay. Có hy sinh Nhàn cũng thu hút được lực lượng địch, tạo thế cho mũi của Chiến tiến công.

        Nhàn chạy khá trót lọt. Mãi tới gần bìa làng mới gặp một tốp địch bắn chặn. Anh nằm xuống bắn trả và chợt nhận ra băng đạn rỗng không. Anh lấy băng dự trữ thay. Làm sao để thay. Anh mới thử nhắc lên đã đau nhói như đụng phải lửa. Không thay được băng thì đừng hòng vượt qua địch, đừng hòng nằm đây được an toàn. Nhàn bỏ súng xuống đất dùng tay trái ấn băng đạn. Khẩu súng kéo trệt trên đất. Nhàn dùng chân phải giữ báng súng lại. Nòng súng chúc xuống, báng giãy nảy như đùa trẻ làm lẫy. Không chịu thua, Nhàn vẫn xoay sở, anh co người đưa chân phải lên quặp lấy nòng súng. Cả khẩu súng được tỳ chặt vào người Nhàn. Nhàn nghe đánh tạch một cái. Bàn tay trái của anh đã lắp gọn băng đạn. Người Nhàn toát mồ hôi nhưng nhẹ lâng lâng. Cùng lúc đó mũi của Chiến bám được bìa làng. Bọn địch nãy rất khôn, nó không chuồn theo cây bông tây như Nhàn đoán, nó lén nhau chui xuống đầm nước hẳn là trốn lại đó chờ ban đêm mới tẩu. Phải tới đó trước khi chúng đặt chân tới. Nhàn quyết định rất nhanh và chạy băng băng. Bờ đầm đây rồi. Cách anh chừng 200 mét một bụi tràm khẽ rung rinh. Không có gió, chỉ có thằng nào đang nấp. Nhàn quay súng rồi lẩy cò. Anh chỉ định bắn một viên nhưng tay trái bóp cò ngượng quá đạn ra một loạt. Bụi cây im thít. Đúng là "nó", Nhàn hô mấy tiếng Campuchia, những tiếng đầu tiên và duy nhất anh vừa học được trước khi ra trận. Không một tiếng người. Nhãn bắn nữa - lần này đạn chỉ ra vài viên, anh đã quen dẫn với những ngón tay bóp cò mới. Anh lại hô: "Lớt-đay-lơn". Từ trong bụi cây có tiếng ú ớ tựa như tiếng người mơ ngủ rồi một thằng địch chui ra. Hắn mặc chiếc áo mút xanh cộc tay, chiếc quần xà lỏn rách lên tận háng. Người hắn to như một thằng Mỹ, Nhàn đã có dịp thấy trên phim. Hắn cụp mặt xuống. Mặt hắn xanh như lá tràm môi run lẩy bẩy. Hắn khẽ đưa mắt nhìn Nhàn. Nhàn thầm nghĩ: thằng cha này chắc là chỉ huy rồi. Bọn lính có đứa nào mặc áo sang như thế này đâu. Một loại người mà U Man đã kể đây. Hừ! Phải đưa mày về tận nhà mới xong; Nhãn ra hiệu cho nó giơ tay lên. Có lẽ thấy Nhàn bị thương và bé hơn gấp bội nên nó muốn chống cự! Nó không giơ tay mà khuờ khoạng xung quanh như tìm vũ khí. Nhàn mím môi quắc mắt và bước thêm một bước, chĩa súng vào ngực hắn. "Ngoan cố hả" giọng anh đanh và giận dữ đến mức anh cũng không lường. Thằng giặc cụp mặt xuống và tay từ từ giơ lên. Nhàn vỗ vỗ tay vào báng súng mình. Thằng này hiểu chỉ tay lên bờ đầm. Nhàn ra hiệu cho nó lên chỉ súng, nó khập khiễng bước đi. Đùi phải nó bị trúng đạn, hẳn là vì loạt đạn còn lóng ngóng lúc đầu của Nhàn. Nhặt lấy khẩu AK còn mới láng nó giấu ở bờ đầm Nhàn dẫn nó về hướng của Tư. Anh muốn giao thằng tù binh này cho ai đó và đưa cả mũi của Tư ra đây lùng sục và chặn địch. Đoạn đường đi dài và khó. Thằng tù binh rên rẩm, cà liễng từng bước. Nhàn thì đang nôn nóng đi nhanh để còn quay lại. Anh tức đến phát khùng. Mỗi lần anh hích súng vào lưng nó, giục nó đi nhanh, nó lại nhăn mặt, chỉ tay vào vết thương đùi. Lúc đó Nhàn lại thấy tội nghiệp cho nó. Giá cõng được thì anh cũng đưa nó theo cho nhanh nhưng cái xác nó đến sáu, bảy chục ký chứ ít gì.

        - Tổ cha mày, độc ác cho lắm vào, ai xui mày làm những trò rồ dại này hử? Ngồi xuống tao băng cho.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tư, 2017, 03:04:53 am

        Nhàn nói với nó, nhưng nó không biết tiếng Việt. Anh phải giơ tay vít vai nó xuống nó mới biệt. Băng cho thằng tù binh lúc này cũng chẳng dễ dàng gì. Tay phải Nhàn không nhúc nhích được. Tay trái phải giữ súng. Còn nó thì vụng về lắm. Đưa cuộn băng nó luống cuống, đầu lắc lịa rồi gật lịa như cầu van. Nó vờ vịt hay nó đau quá thật. Không! Những thằng đã lo giấu súng để chạy thì chẳng làm gì anh nổi đâu. Nhàn quyết định giúp nó băng vết thương. Được băng bó cẩn thận, thằng này bớt la lối hơn. Nhưng rồi đang đi tự dưng nó trố mắt nhìn vào một bụi cây bên bờ đường và ngồi thụp xuống. Quanh bụi cây có những xác lính địch nằm co quắp, còn trong bụi có gì đang cựa quậy, chắc một thằng địch chưa chết hẳn quẫy đạp chứ gì đâu. Nghĩ vậy nhưng Nhàn vẫn đi phía sau những cây thốt nốt, đề phòng đạn thẳng nó bắn tới. Từ trong bụi cây vọt ra một tên lính địch. Hắn mặc một chiếc quần không ra dài ra ngắn, lụng thụng đến đầu gối. Hắn bắn Nhàn. Nhàn nằm xuống. Cây thốt nốt che hết người Nhàn. Thằng địch bắn xong thì cuống quá chạy xuống mé đầm. Súng của Nhàn hết đạn. Nhàn sử dụng khẩu AK của thằng tù binh vẫn khoác trên người, đuổi theo hắn. Thằng này nghe đạn nổ vội nằm xuống. Kiểu này bắt sống mày cũng không khó gì. Nhàn nghĩ. Nhưng anh đã cách khá xa tên tù binh cổ ào mút. Và mỗi lần muốn bắn anh phải nằm xuống đất nên mấy lần hô rồi mà thằng địch chỉ nhót chạy. Thằng địch đã lội đến giữa đầm. "Thôi thì cho mày nằm luôn ở đó". Nhàn nhắm vào cái lưng to bè của nó. Đạn nổ, thằng nay vặn người lại rỗi gục xuống giữa đầm lầy.

        Nhàn đã tới ngã ba cây bông tây. Vẫn là khu đất anh đã qua mà sao như đổi khác.

        Nhàn có cảm giác ở đây vừa có cái gì thật yên vắng vừa có cái gì xôn xao. Không biết Tư đâu rồi, bộ đội ở đâu cả. Nhàn thầm hỏi và ngước mắt nhìn ngọn cây bông tây. Những làn gió từ đâu xô về làm rung ào ào cành lá. Bỗng hình dung ra bóng dáng hai đồng chí trinh sát bữa nọ, một chút ân hận thoáng qua đầu Nhàn. Mặt anh đỏ lên. Giá không có tên tù binh, Nhàn sẽ leo lên cây như hai anh trinh sát ấy để theo dõi địch và tìm Tư. Tiếng súng ở phía đầm lầy vẫn dội lên gắt gỏng, nhưng đối với Nhàn rất đỗi bình thường. Anh đã trinh sát, đã tiêu diệt, đã bắt kẻ địch làm tù binh ở đó về đây, có gì lạ nữa đâu.

        Bỗng từ một dãy cây thốt nốt bao lấy một cái làng phía trước Nhàn, Tư chạy vọt ra, mặt hớn hở:

        - Nhàn hả, bị thương hả, thằng tù binh hả? Mũi đánh đằng đó ra sao rồi? Anh Chiến đâu, có lệnh gì không?

        Tư đưa một chuỗi câu hỏi làm Nhàn không kịp trả lời. Anh hỏi lại:

        - Mũi đằng này, anh em đâu, anh Tư?

        - À hả, đang phục quanh đây cả. Không thấy thằng địch chết mẹ nào chạy qua. Mũi đằng ấy chưa vào được làng phải không?

        - Sao lại chưa - Nhàn hơi cau mày lại - bộ đội chiếm được làng từ sáng, anh không nghe súng nổ đấy à. Mũi anh Chiến đang truy kích và lùng sục đấy.

        - Thật không - Người Tư chúi về phía Nhàn, cặp mắt hẹp mở ra đến hết cỡ khiến má và trán cộm lên những nếp da tròn lẳn.

        - Sao lại không thật, sao anh hay nghi kỵ vậy. Anh Chiến dặn mũi của anh phải vậy thật kỹ không để thằng địch lọt ra hướng này. Anh phục ở đây thì trật rồi. Địch rút và nấp ở đầm lầy kia kìa!

        - À à lẽ nào, lẽ nào, mình cứ tưởng, tớ đi nhé!

        Đã chúi người định đi, Tư còn quay lại nhìn Nhàn, nhưng cũng chẳng ra nhìn Nhàn, mà len lén ngó xuống y hệt người vừa làm một việc vụng trộm gì đó bị bắt quả tang. Môi Tư mấp máy, mắt nháy dồn. Anh chép miệng mấy cái liền mới nói được mấy tiếng lúng búng:

        - Tớ bị thương... cậu ạ...

        Tư đưa tay xắn ống quần, đùi phải anh quả có cuốn mấy tròng băng trắng rất cẩn thận. Rồi đột ngột Tư kéo quần xuống thật mạnh, xoay người chạy đi.

        - Khoan anh Tư ơi! Nhàn gọi, nhưng không kịp. Bóng Tư khuất dần giữa muôn vàn cây thốt nốt mọc rải ra đến tận bờ đầm. Nhàn nhìn Tư cho đến khi mất hút và thầm nghĩ: anh chàng hăng gớm, "thời cơ" của anh ta mà, để xem sau trận này anh ta có còn chống chèo cho khuyết điểm của mình không? Cũng thật lạ lùng, trước đây mỗi lần nghĩ về Tư, Nhàn buồn lắm, hoang mang nữa. Bây giờ thì anh chỉ thấy đáng thương cho đại đội trưởng của mình. Sau trận đánh này, nhất định Nhàn sẽ nói thật kỹ lưỡng với Tư, về những điều lâu nay Nhàn đã suy nghĩ về anh. Và Nhàn rất tin đại đội trưởng sẽ khác đi...

        Nhàn đã dẫn tên tù binh đi sâu vào rừng thốt nốt. Đến gần lối rẽ về chỗ đại đội đóng quân, thằng giặc bỗng đứng lại, mắt đau đáu nhìn cái bi-đông nước đeo ở thắt lưng Nhàn, miệng lắp bắp gì đó. Nhàn chợt nhớ mình cũng đang khát khô cổ. Nhưng rồi anh vẫn trút hết phần nước còn lại cho nó uống. "Thế đấy đồ khốn ạ - Nhàn thầm nghĩ nhưng không nói ra - Trước đây nghe kể về mày, chứng kiến tội ác và sự điên rồ của mày, tao những mong chộp được mày để xé xác mày ra. Nhưng bây giờ mày có cơ được làm người rồi đấy. Tao hiểu ra rồi, mày cũng chẳng khác một con chó bị chủ xua đi cắn càn".

N.B       


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tư, 2017, 03:38:23 am

NHỮNG TIA CHỚP PHÍA CHÂN TRỜI

NGUYỄN QUỐC TRUNG         

        Xa Mát cặp hai que sắt nung nóng vào chỏm tóc, uốn lần cuối cùng, rồi quay sang hỏi tôi:

        - Ông xem tóc mình quăn đúng mốt chưa?

        Mái tóc của Xa Mát đã uốn quăn tít làm cho gương mặt trái xoan của cậu ta như dài thêm lạ hẳn. Tôi gật gù:

        - Khen cho ông đến kiên trì, đẹp đấy.

        Xa Mát đặt đôi đũa sắt cạnh bễ thụt, khoái chí uốn tay múa một tràng theo điệu cai bách, ngân nga câu hát học được trọ trẹ:

        - Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay...

        Ánh mắt Xa Mát lấp lánh niềm vui rất bốc của một chàng trai mới lớn. Tóc của cậu ta thuộc loại tóc mỡ, sợi mềm dán xẹp xuống đầu. Tuần trước tôi và cậu ta đến phum Công-pông Cà-đây gom đao, liềm, cuốc về rèn giúp bà con. Thấy trong tờ họa báo nước ngoài dán ở trụ sở phum có một thanh niên châu Phi có khuôn mặt hao hao mình nhưng nhờ mãi tóc quăn tít nên trông có vẻ điển trai hơn. Xa Mát vò đầu nói:

        - Mình mà có mái tóc quăn chắc cô nàng Chan Thi sẽ mê tít.

        Tôi nói đùa:

        - Điều đó khó gì. Chừng nào ông sang thăm thành phố Hồ Chí Minh, tôi thân chinh đưa ông đến mỹ viện, cứ gọi là quăn như bện vào đầu.

        Xa Mát vẫn thật thà:

        - Mình muốn quăn bây giờ. Để nàng Chan Thi phải lác mắt cơ.

        Và hôm nọ có tốp bộ đội Việt Nam đi tải đạn ghé vào lò rèn hút thuốc. Tình cờ một cậu kể ngày còn đi học cấp hai cậu ta uốn tóc bằng hai que sắt nung nóng. Mắt Xa Mát sáng lên, cậu ta liền cắt thanh sạp giường sắt hai đoạn, mỗi đoạn chừng một gang tay, nhưng uốn không nổi vì sạp giường dẹp, không lăn tóc được. Thấy vậy Tư Phạm, trưởng tổ lò rèn chúng tôi, đã làm cho cậu ta hai chiếc đũa sắt. Suốt tuần nay, Xa Mát lúi húi bên bếp lò để uốn tóc, quên cả nghỉ trưa. Có đêm hắn ngồi làm đến mười một giờ và đã dẫn tới kết quả mái tóc cậu ta quăn đi như bây giờ.

        Xa Mát hỏi tôi:

        - Ông xem quần thẳng "li" chưa?

        Tôi hất hàm phía Phạm:

        - Ông bảo Tư Phạm chuẩn bị, ta đi.

        Tư Phạm đang ngồi chốt đinh vào chiếc guốc, Xa Mát gọi mấy lần mới nghe. Phạm ngẩng gương mặt chữ điền, vầng trán rộng lấm tấm mồ hôi, cười hàm răng trắng lấp lóa:

        - Đi chơi hả? Hai cậu đi đi, mình còn mắc bận chút xíu.

        Tôi gật:

        - Người đâu có người lúc nào cũng việc. Cả tuần rèn giũa chưa chán ư?

        Tư Phạm vẫn điềm tĩnh, nụ cười rất dễ thương:

        - Còn mấy đôi guốc các cô ấy nhơ mình sửa kịp tết Chô-chơ-nam Thơ-mây.

        - Xem ra ông cũng biết "ga lăng" nhỉ?

        - Các cậu ghé nhà chị chủ tịch phum nói chị cử ai hướng dẫn tụi mình đi lấy gỗ làm cán dao, cán cuốc nghe.

        Xa Mát và tôi thắng hai bộ quần áo diện nhất, được ủi bằng nước sôi đổ vào ấm nhôm, "li" thẳng đứng, khấp khởi bước ra khỏi nhà hướng về phía phum Công-pông Cà-đây.

        Những vạt nắng cuối cùng đã cuốn về cánh rừng thốt nốt, phía tây, dãy Kim Ri xanh lơ, đỉnh núi vương những làn mây trắng xốp nhẹ như bông. Dọc sườn núi là phum Côn-pông Cà-đây với những ngôi nhà sàn giống như chuồng bồ câu, dựa lưng vào vách đá thẳng đứng. Trên những mái ngói màu sáp ong tháp hình củ hành đã lan nhẹ làn khói tím sẫm. Buổi chiều thứ bảy yên tĩnh quá.

        Ngôi nhà có cái tháp cụt nhọn kia là nhà Chan Thi, thoáng thấy chúng tôi đã hồi hộp. Chân Xa Mát bước líu ríu dáng đi rất lạ. Không phải đến bây giờ cậu ta mới hồi hộp đâu. Suốt ngày thứ bảy này cậu ta làm việc gì cũng bồn chồn, vội vàng. Tay quai búa nhưng mắt liếc nhìn bóng nắng ngoài sân, mấy lần búa văng ra khỏi đe, Phạm không tránh nhanh thì bị tai nạn rồi. Tôi biết nàng Chan Thi đã hút hết tâm trí Xa Mát nhà tôi rồi. Hễ nhắc đến tên cô ấy là mắt Xa Mát lại sáng lên lạ thường.

        Chẳng riêng gì Xa Mát, chúng tôi đều ít nhiều yêu thầm nhớ trộm Chan Thi. Bộ đội đóng quanh vùng đã lấy tên cô gái đặt tên cho phum. Chẳng rõ cậu nào nghĩ ra cái trò ấy. Chỉ biết bây giờ thanh niên của phum thường hãnh diện giới thiệu: "Chúng tôi ở phum Chan Thi đây".

        Sắc đẹp của Chan Thi chinh phục được cả loài vật hung dữ. Ngày mới giải phóng phum này chỉ sót lại hai con trâu. Trước kia có đến hàng trăm con, nhưng bọn lính Pôn Pốt đã bắn giết thịt hết. Hai con trâu này rất to lớn và hung dữ như hổ rừng. Hễ thấy bóng người là chusng rượt bằng được. Ban ngày nó vào phum tìm muối húc đổ cả nhà sàn. Làm cách nào để bắt hai con trâu này thuần dưỡng mà cày bừa, nhân giống? Chả nhẽ cứ để cảnh nhân dân phum và bộ đội dàn hàng ngang cuốc ruộng. Du kích phum và một đại đội quân tình nguyện Việt Nam vác gậy tạo thành một vòng vây dồn chúng về cái chuồng đã làm sẵn. Nhưng hai con vật đã mở đường máu. Một nữ du kích bị xéo dập chân, một chiến sĩ bộ đội Việt Nam bị húc gãy hai xương sườn. Nhiều người đề nghị cho chúng lên đĩa thôi. Nhưng Chan Thi quả quyết giao chúng cho cô. Thực là kỳ diệu, vào một buổi sáng cô gái nắm hai nhúm muối đến thẳng hai con trâu đang giỡn nhau giữa bãi cỏ. Hai con trâu đứng cắm chân một chỗ hết nhìn cô gái lại ngó đôi bàn tay xinh đẹp đựng một ít muối. Thế rồi ngày hôm sau chúng ngoan ngoãn để cô dẫn về chuồng.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tư, 2017, 03:39:05 am

        May mắn hơn các đơn vị đứng chân ở dọc biên giới, tổ lò rèn chúng tôi hàng ngày được trông thấy cô gái hoa khôi của phum ấy. Chẳng là buổi sáng cô vẫn thường dắt hai con trâu giống của phum ra thả ở đám cỏ dưới kia và chiều tà lại ra đón chúng về. Qua chỗ lò rèn bọn tôi, cô thường ngoảnh mặt đi, đôi guộc gõ xuống mặt đường kiêu kỳ. Chúng tôi tự biết thân phận của mình, suốt ngày chìm trong bụi than, mặt mũi lem luốc, quần ao dày cứng như mo cau, lấy gì để cô ấy chú ý. Đối tượng lọt vào mắt xanh Chan Thi phải là những tay có Hon-đa bóng loáng, cổ tay đeo đồng hồ ba đinh trễ xuống, ngón tay đeo nhẫn vàng gắn hạt kim cương sáng xanh mà chiều thứ bảy nào cũng đến ngôi vặt vẻo giữa sàn nhà Chan Thi, phì phèo điếu thuốc đầu lọc, miệng oang oang tán tụng các món ăn đặc sản mà họ vừa thưởng thức trước khi đến đây. Nhưng thái độ kiêu kỳ của Chan Thi khiến chúng tôi cảm thấy tức anh ách, thậm chí ghét nữa. Nhưng thú thực mắt chúng tôi vẫn chưa bỏ lỡ cơ hội nào ngắm nhìn cãi dáng người thon thả, suối tóc óng mượt tràn xuống tấm lưng mềm mại, chiếc khăn "voan" mỏng choàng lên mái đầu rất gọn. Và tối thứ bảy nào, Xa Mát cùng tôi cũng xuyên đêm tự nguyện đến sinh hoạt ở cái câu lạc bộ không tên tại nhà Chan Thi đến chín giờ rưỡi mới dò dẫm về cái lò rèn dưới gốc cây đa ấy.

        Gặp hôm trời mưa hai thằng bước lảo đảo trên con đường mấp mô những tảng đá rêu trơn nhẫy. Có lần hai đứa bị nhào xuống ruộng tưởng vỡ đầu gối, dập thái dương, dép văng khỏi chân. Hai đứa xuýt xoa quờ tay mò dép. Một hồi mỏi cả lưng đành dìu nhau về. Đến nhà lại chỉ chỗ để Phạm cầm bật lửa đi tìm hộ. Còn hai đứa dội mấy gáo nước ào ào cho trôi bùn rồi chuồi người vào màn Phạm đã mắc sẵn, mắt líu lại, tưởng ngủ lịm ngay. Nhưng hình ảnh Chan Thi cứ chập chờn trước mắt, trống ngực đập dập dồn, lại thao thức, mong nhớ, nước mắt dấp dính bờ mi. Cho đến lúc thiếp đi lúc nào không hay. Sáng mở bừng mắt đầu óc lại nhẹ tênh, nhìn ánh nắng bình minh màu nõn chuối, người như muốn bay lên, lại muốn xách súng lên điểm tựa để được áp buồng ngực vào bờ công sự nóng bỏng thuốc đạn để thử thách, để rèn luyện và cống hiến cái sức trẻ tràn trề của mình cho đất Bạn.

        Chẳng riêng gì hai đứa chúng tôi, thanh niên phum và cả mấy anh cán bộ trẻ công tác ở cơ quan huyện Đăng Cao cùng khá nhiều chàng trai buôn bán ở chợ Bát-đom-boong cũng phóng xe tới. Ngôi nhà sàn ấy rậm rịch bước chân ồn ào tiếng cười nói. Dường như anh chàng nào đặt chân tới đây cũng nói cười rất to, thi nhau mang những chuyện hay nhất ra kể, chẳng có gì ngoài mục đích gây sự chú ý của cô chủ nhà xinh đẹp. Đập lại, Chan Thi cứ ngồi ở trong buồng, chốc chốc ra hiên nhà xem cái ang đựng nước nếu đã cạn thì xuống cái giếng ở sân múc mấy gàu đổ vào, đó là thứ giải khát duy nhất tiếp khách, rồi lại quay vào buồng. Nhưng mỗi khi có khách ra về cô vẫn biết ra tiễn. Cô lẳng lặng đưa khách ra tận cái dốc cuối ngõ và trước khi chia tay khách còn được tặng một nụ cười rất tươi, cùng lời mời:

        - Tối thứ bảy sau anh tới chơi nhé.

        Câu nói nghe như gửi gắm điều gì, khiến khách ngỡ như cô đã dành riêng tình yêu cho mình rồi. Riêng tôi và xa Mát thỉnh thoảng còn được thêm:

        - Nhà Chan Thi có cái dao (hay cuốc) cùn quá...

        Những lúc ấy lưỡi chúng tôi líu lại, hai đứa thi nhau trả lời:

        - Đâu... đâu... đưa đây nhanh lên, bọn anh rèn tốt lắm.

        Rất nhiều cô gái trong phum đã trách móc chúng tôi. Có lần cô Tha Na đem gỗ tới lò rèn nhờ Phạm đẽo guốc, đã phê bình tôi và Xa Mát.

        - Nhà em là hang hùm, hang rắn hay sao mà mỗi khi đi qua các anh không thèm vào. Bộ đội Việt Nam mà không công bằng gì cả.

        Tuần sau đó, khi qua ngõ nhà Tha Na, chúng tôi cũng tạt vào. Chao ôi, cô gái mừng quýnh. Rồi nào nước thốt nốt ngọt, nước thốt nốt chua, nào bánh ăng-co, bánh nếp, xôi đậu... tiếp đầy bàn. Nhưng chúng tôi vẫn nhấp nhổm như ngồi trên thanh sắt nung nóng. Miệng nhai bánh, nhưng tai vểnh lên cố nghe trong cai âm thanh ồn ào như chợ từ nhà Chan Thi vọng sang người ta nói gì. Mặt Xa Mát ngây thuỗn, Tha Na hỏi hai lần mới nghe và gượng gạo cưới xĩn lỗi.

        Tha Na vốn tinh ý, cô nén tiếng thở dài chua chát nói.

        - Em biết các anh vào chơi lấy lệ thôi, con ong đậu ở hoa cà, bụng vẫn dành để lấy nhụy hoa nhãn.

        Mặt chúng tôi lạnh toát, hai đưa vội chuồn ra khỏi nhà Tha Na. Ra khỏi ngõ Xa Mát nói:

        - Rất thương nhưng không yêu được. Phật ơi! Nếu như đó là Chan Thi nhỉ?

        Tôi cũng buông câu thành ngữ, ra vẻ mình hiểu rộng:

        - Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên.

        Ra tới đầu đoạn đường rải đá dẫn ngược lên phum Công-pông Cà-đây, Xa Mát nói:

        - Ông Tư Phạm nhà ta khó lòng chiếm được cảm tình con gái. Miệng lưỡi như bọn mình chưa ăn ai nữa là.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:21:54 am

        Tôi cười khẽ:

        - Thanh niên gì mà suốt ngày lúi húi bên lò rèn. À, rồi cũng có vợ, dĩ nhiên loại sắc nước hương trời phải dành cho cỡ bọn mình. Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo mà.

        Xa Mát tiếp:

        - Dịp nào cậu ta về hỏi vợ có lẽ ông nên giúp một tay. Dẫu sao...

        Xa Mát ngừng nói khi trông thấy từ trong phum hai người đi về phía chúng tôi. Dẫn đầu, một người đàn bà thấp béo xách bọc nặng trong khăn cram-ma, chúng tôi nhận ra đó là chị Khươn Don, chủ tịch phum. Đi sau là cô gái bận đồ tím, thoạt nhìn cũng biết đó là Chan Thi. Cô xách ống bương nặng, chắc là nước thốt nốt thôi. Chả lẽ đi thăm bộ đội trên điểm tựa? Từ đây đến đơn vị đầu tiên cũng phải hơn chục cây số. Cuốc bộ tầm này sao kịp. Phía này chỉ có tổ lò rèn bọn tôi. Chị chủ tịch vẫn thường đến bàn công việc, nhưng Chan Thi, hoa khôi của phum, đến chỗ lò rèn ấy ư? Họa có rồng đến nhà tôm, Xa Mát đứng sững hết nhìn hai người lại ngó tôi như không tin vào mắt mình.

        Chị chủ tịch quay lại nói gì với Chan Thi. Cô gái đáp câu gì, đầu hơi cúi xuống. Đến gần chúng tôi, chị chủ tịch tươi cười nói:

        - Các em đi chơi đâu đấy?

        Chan Thi im lặng, cúi đầu nhìn cái guốc di di dưới chân. Xa Mát ập úng:

        - Bọn em định xuống trụ sở phum xem múa.

        Chan Thi ngoảnh mặt giấu nụ cười tinh nghịch, chỉ một thoáng bất chợt tôi bắt gặp gương mặt cô gái hồng lên, đôi mắt chàm xanh sáng long lanh. Chị chủ tịch cười to:

        - Chị hỏi thế thôi, chứ cũng biết các em định tới nhà Chan Thi rồi. Nhưng hôm nay Chan Thi sẽ là khách của các em. Kìa sao hai cậu nhìn nhau thế? Nguyễn xách giùm Chan Thi ống nước thốt nốt chứ.

        Tôi đưa tay run run đỡ lấy ống bương, cố tránh chạm bàn tay mềm mại, ngón búp măng trắng muốt của cô gái. Xa Mát xách bọc khăn cram-ma của chị chủ tịch.

        Chúng tôi trở về lò rèn. Chan Thi đi trước, lúc này tôi mới nhận ra cô gái bận toàn đồ tím, chiếc khăn "voan" cũng màu tím. Phải rồi, hôm nay là thứ bảy, theo tục lệ đạo Hồi, con gái chưa chồng bận đồ tím. Dáng cô nhẹ nhàng như lướt phía trước tôi.

        Đến gần lò rèn đã nghe tiếng gõ chan chát trong nhà, ánh sáng hắt ra từ bếp than rừng rực soi rất rõ bộ ngực Phạm vạm vỡ, bắp thịt ở cánh tay cuồn cuộn, đôi lông mày rậm co vào giãn ra như cánh chim. Chan Thi mở tròn mắt nhìn Phạm. Một lát, cô nàng quay ra cửa, ánh mắt cô sáng lên kỳ lạ, tôi đặt ống bương lên bàn, vội vã đến đập tay lên đôi vai rắn chắc của Phạm.

        - Có khách.

        Phạm ngẩng lên, nhoẻn miệng cười.

        - Chào các chị... tôi còn mắc chút xíu. Các chị xá lỗi nghe.

        Tôi gắt khẽ:

        - Mai làm không được sao? Nghỉ tiếp khách đã.

        Phạm nói nhỏ:

        - Các cậu tiếp giùm đi, mình tranh thủ làm xong đêm nay, mai còn rèn cho xong mấy cái cuốc ấy, sắp tới đợt làm cỏ rồi.

        Tôi bước tới chiếc sạp lấy mấy cái chén đặt lên bàn. Xa Mát đã pha trà, trà tự tạo của lính miền tây Campuchia, bằng cây hà thủ ô cắt nhỏ phơi khô. Xa Mát định rót ra chén thì chị chủ tịch ngăn lại:

        - Mời các em dùng nước thốt nốt ngọt. Chan Thi rót nước mời các anh, em.

        Chan Thi rót nước ra chén, hương thốt nốt thơm ngào ngạt. Chị chủ tịch mở khăn cram-ma, thì ra đó là gói kẹo làm bằng đường thốt nốt. Chan Thi đã lùi lại ngồi ở góc bàn, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn Phạm. Phong tục ngươi theo đạo Hồi ở cái phum này vẫn kiêng kỵ con gái bưng nước mời con trai tận tay, khi chưa yêu nhau. Chị chủ tịch bưng từng chén nước đặt trước mặt chúng tôi:

        - Các em uống nước ăn kẹo đi.

        Thật bất ngờ, Chan Thi cầm một chiếc kẹo đến chìa trước mắt Phạm. Xa Mát và tôi đều trố mắt nhìn nhau. Chẳng nhẽ cô gái hoa khôi này lại phải lòng ông Phạm chúng tôi? Chị chủ tịch cũng đưa mắt nhìn vẻ ngạc nhiên. Chan Thi nói câu gì đó tôi không nghe rõ, chỉ thấy Phạm khẽ lắc đầu, nét mặt vẫn chăm chú vào việc. Trời, phải chi tôi có cái diễm phúc ấy, không chừng mừng đến phát khóc. Chan Thi nũng nịu:

        - Anh dùng một tí...

        Phạm vẫn không ngẩng mặt lên:

        - Tui đang mần công chuyện mà.

        Chị chủ tịch nói to:

        - Cô ấy có thương mới mời em dùng một tí, của tía đấy.

        Chan Thi nói thêm:

        - Người Chăm có câu: "Mời khách từ chối, xui hơn cháy nhà" đó.

        Nhưng tôi đang làm việc mà - Phạm hơi gắt.

        Đột ngột Chan Thi bước vội qua cửa, vụt chạy về phum. Hình như vừa chạy vừa đưa tay áo lau nước mắt. Phạm đóng xong cái đinh, xếp búa và đồ nghề vào hòm, rồi thong thả đi rửa tay, lát sau, trở lại bàn, chị chủ tịch trách:

        - Em hơi quá khắt khe đấy. Chiều lòng nó tí có phải hơn không. Sắp tới, cô ấy sẽ dẫn các em vào rừng đốn cây đấy.

        Phạm nói cương quyết:

        - Tui là người thợ, phải giữ nghiêm kỷ luật, chị à.

        Tôi gắt:

        - Ông máy móc thấy mồ. Ở đây việc quái gì phải nguyên tắc.

        Phạm vẫn điềm tĩnh:

        - Không nên nhân nhượng cho mình vi phạm nguyên tắc. Trong nhà máy chỉ cần anh sơ suất, lơ là một tí có thể gây chết người và thiệt hại hàng vạn đồng...


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:22:28 am

        Tổ lò rèn chúng tôi được thành lập vào giữa năm bảy chín, lúc ý phum Công-pông Cà-đây giải phóng được bốn tháng. Ba năm, dưới chế độ Pôn Pốt, người dân bị gom vào công xã, sống vất vưởng ở ngoài đồng. Phum sóc bỏ hoang, nhà cửa đổ nát, cỏ mọc rợp chuồng trâu chuồng gà, nhà trở thành nhà hoang, heo rừng vào ngủ trong bếp, công cụ sản xuất hỏng hết. Ngươi dân Công-pông Cà-đây trở về cầm cái dao, cái cuộc lưỡi bị han rỉ, cán bị mục. Đơn vị chúng tôi được giao nhiệm vụ giúp nhân dân phum ấn định và xây dựng cuộc sống mới. Chính Tư Phạm là người đề xướng thành lập tổ lò rèn này. Lúc đầu, ban chỉ huy trung đoàn Đồng Xoài chúng tôi còn ngần ngại, bởi lẽ tuy là một cái lò rèn thủ công nhưng chuẩn bị đủ dụng cụ chẳng phải dễ. Phạm đã hăng hái lập một phương án tỉ mỉ, cái bễ thụt hơi sẽ làm từ hai nòng cối 80 ly của Trung Quỗc bị pháo ta phá hỏng trong chiến dịch giải phóng Lếch, sắt thép để rèn là phương tiện chiến tranh địch để lại. Thường ngày Phạm vốn trầm lặng, vậy mà độ ấy trở nên sôi nổi hơn, gặp ai cũng vung tay, hăng hái kể về cái lò rèn, chúng tôi đều biết, trước khi mặc áo lính, Phạm là thợ hàn bậc bốn công tác tại một nhà máy cơ khí thành phố Hồ Chí Minh. Rồi Phạm được cử làm tổ trưởng cái lò rèn này.

        Xa Mát, chiến sĩ tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, cũng được điều về. Mấy tuần sau khi lò rèn hoạt động tôi cũng được bổ sung vào tổ. Tôi vốn chẳng có năng khiếu gì về rèn giũa. Đến cái khuy quai ba lô bị bật đinh cũng chẳng biết gắn lại, nói chi đến chuyện rèn dao, ren cuốc.

        Có một điều ngẫu nhiên thật thú vị, Xa Mát và tôi rất hợp nhau trong cuộc sống hàng ngay, có thế nào cũng xong. Đũa của chúng tôi là cành cây, gần tới bữa cơm mới nhao ra bờ so đũa ven sườn núi bẻ lấy hai đoạn, đưa sà vào mâm vừa tỉa lá, xong bữa trước làm tăm luôn. Xa Mát chỉ quen dùng muỗng, nĩa, các thứ ấy đã bị mất từ lúc còn ở đơn vị cũ, tới đây anh thay bằng lá mít cuốn lại. Chúng tôi gọi là cách sống sáng tạo của lính chiến trường.

        Phạm kịch liệt phản đối vã bắt tay vào làm ngay cuộc "cách mạng". Phạm sắm sửa cho hai đứa. Cậu ta bỏ ra nửa ngày chủ nhật vào rừng đẵn tre, ngồi mấy tiếng vọt hẳn một nắm đũa, phải đến ba chục đôi. Rồi ngày chủ nhật sau đó đào bới trong đống vỏ đạn, sắt thép chọn hai vỏ đạn 14,5 ly, gò thành hai cây muỗng tặng Xa Mát.

        Lò rèn chúng tôi được đặt dưới gốc đa cạnh con đường rải đá lớn, cách phum Công-pông Cà-đây chừng một cây sỗ. Hàng ngày tấp nập người vào ra, vui nhộn không thể tả. Nhân dân đưa dao cuốc, lưỡi cày đến nhờ rèn giúp. Có người làm cỏ ngoài đồng gãy cuốc cũng đưa về đây tra cán lại. Bộ đội đi qua ghé vào hút thuốc, uống nước, đùa bỡn vài ba câu rồi đi. Các cô lái trong phum đưa cả những đôi guốc, đôi dép tới nhờ Phạm đóng lại đinh, thay quai, ấy là những đôi guốc các cô bới trong đống gạch đổ của nhà mình bị Pôn Pốt dùng mìn đánh sập. Ngày bị đuổi ra khỏi phum nào có ai kịp mang theo gì đâu. Thời gian bị đày ải trong các công xã, họ phải đi chân đất. Bây giờ chợ búa chưa họp, hàng hóa chưa có. Không hiểu từ đâu các cô gái vùng này thích đi guốc mộc và Phạm là người duy nhất đẽo được hàng chục đôi tặng các cô ấy.

        Sáng thứ hai ấy, Chan Thi cũng đến dẫn chúng tôi trao rừng đốn cây.

        Chúng tôi đi dọc triền núi Kim Ri thẳng vào rừng Ô Răng, buổi sáng mùa mưa, vòm trời màu nước thép. Chúng tôi đi trong màn sương mỏng như làn khói nhẹ. Xa kia, dãy Ô Răng chìm trong biển mây mù, những chóp núi cao nhô lên xanh nhạt như những hòn đảo. Sau lưng chúng tôi là nếp đồi mềm mại thấp dần tới cánh đông Công-pông Cà-đây.

        Chan Thi dẫn đầu. Cô lao về phía trước, gấu xà rông thêu hình vuông trắng giữa có bông hoa dại đỏ lướt trên ngọn cỏ đuôi chồn, mái tóc vấn cao để lộ cái cổ loa kèn trắng ngần xuôi xuôi xuống bờ vai tròn lẳn.

        Nắng sớm còn le lói trên ngọn cây, chúng tôi đã tới thung lũng Cây Găng. Những cây găng thân chi chít gai - những cái gai sắc nhọn dài tới năm sáu cen-ti-mét - cao sáu bảy mét, to hơn bắp chân, rất thẳng, lá nhỏ. Tôi chưa từng thây ở đâu găng mọc nhiều đến thế.

        Phía xa mây mù đã nhóm dân lên đỉnh núi. Chan Thi chỉ lên núi đá dựng cạnh thung lũng, nói nhỏ với Xa Mát và tôi:

        - Hòn núi ấy tên gọi là Phnôm Pích Nin, có nghĩa là núi ngọc. Lưng chừng núi có một cây hang đá đẹp lắm. Tết Chô Chơ-nam thơ-mây trai gái trong phum tới tắm cho tượng Phật.

        Tôi gợi chuyện:

        - Chà, thích nhỉ. Bọn tôi lên thăm được không?

        - Trưa nay mời các anh lên thăm, đẹp lắm.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:22:58 am

        Phạm đã cởi khăn áo vắt lên cành cây và bắt tay vào đốn. Bàn tay như cái kim của anh nắm chặt cán dao phang từng nhát rất mạnh, lưỡi dao cắm phập vào thân cây. Chỉ một loáng anh đã đốn xong một cây. Anh phạt cành xếp vào chỗ trống trải, chặt tiếp, Xa Mát và tôi cũng dùng loại dao như của Phạm, cũng học theo cách cầm dao của anh, dồn hết sức bình sinh chặt, nhưng lưỡi dao chỉ bám vào thân cây, qua vỏ một tí là bật ra như phang vào sắt thép. Phải chặt hàng chục nhát mới ngã được một cây. Đốn được vài bốn cây bàn tay đã rát như xát muối, lòng bàn tay đỏ ửng, mu bị bong hai ba chỗ, máu rỉ ra, ngón tay rộp lên. Chan Thi cũng chặt rất nhanh, tôi ngạc nhiên không ngờ cô lao động giỏi đến thế, cô làm rất hăng, có điều nét mặt vẫn khó đăm đăm, cô đang dỗi với Phạm. Cô gái Chăm giận đến là dai. Ông Phạm nhà tôi không hề để ý đến điều đó, làm quần quật.

        Tới trưa, chúng tôi đã đốn được vãi chục cây. Kể ra chỉ làm cán cuốc, cán dao thì đã tạm đủ. Nhưng Phạm động viên chung tôi chặt thêm nữa, kẻo tốn công lặn lội vào đây.

        Trời đang trong xanh đến ngộp thở, nắng phả ngun ngút, bỗng nắng nhạt dần, gió tây thổi mỗi lúc một mạnh, chốc lát dội ào ào trên nóc rừng. Mây đen kéo tới ùn ùn. Gió bốc lá khô ném lên không, bay như bướm, không gian tối sầm lại. Một tiếng sét nổ như bom trên đầu.

        Chan Thi kêu to:

        - Trời sắp mưa to đấy, các anh à.

        Cô lấy khăn mùi xoa cột lên ngang mái tóc sau gáy, rồi thét lạc cả giọng:

        - Các anh theo em.

        Ba chúng tôi theo cô gái vượt qua một cái lòng khe cạn chạy ngược lên hang Pích Nin, cứ nhìn mảnh khăn trắng dập dờn như cánh chim hải âu sau gáy cô gái mà lao theo. Ống quần tôi móc vào gai rách toạc, người lảo đảo lao vào thân cây. Ngón chân vấp vào rễ cây tưởng bật móng, buốt tới tận óc, đầu gối như long ra, vẫn bám sát cô gái. Chan Thi chạy rất nhanh chạy ngược dốc mà cô lao vùn vụt. Mưa quất ào ào trên nóc rừng.

        Chúng tôi vào một cái hang đá. Vòm hang cao, lòng hang sâu hun hút. Phía ngoài cửa hang có những phiến đá nhẵn như bào. Cách cửa hang chừng chục mét xây bằng đá, bên trong có một bức tượng Phật ngồi xếp bằng chân trên hình một con rắn xòe ra năm cái đầu che lấy đầu tượng.

        Đứng ở cửa hang nhìn ra, mưa giăng mờ phía xa. Một lúc đã nghe tiếng nước réo ồ ồ. Đến lúc mưa mỏng dần, nhìn xuống đã thấy một con suối phóng qua chân núi.

        - Phải chờ con suối kia rút hết nước mới qua được.

        Chúng tôi đứng ở của hang. Phía xa những tia chớp nhấp nhóa rạch chân trời đầy mây, những đụn mây đen hình thù kỳ dị.

        Bất giác mắt Tư Phạm mơ màng, tôi chưa hề thấy ánh mắt cậu ta như thế bao giờ, giọng khấp khởi:

        - Các cậu coi giống lửa hàn chưa cà?

        Tôi nói đùa:

        - Sao chỉ các cậu thôi?

        Tư Phạm vẫn giữ nết mặt trầm ngâm:

        - Trong đời mình chẳng có gì quyến rũ bằng nghề hàn cả. Mình say mê từ lúc còn nhỏ.

        Chan Thi hất hàm nhẹ, nói khích:

        - Thế sao không ở nhà mà hàn, còn đi bộ đội?

        Tư Phạm điềm tĩnh:

        - Phải đánh giặc đã chớ. Còn giặc thì đất nước chả yên nữa là nhà máy. Vậy mà trước ngày lên đường tui cứ đứng ở cửa nhà ngó sang bên kia sông Sài Gòn, nơi đó có mấy chiếc tàu đang sửa, ánh lửa hàn chớp lóe, tựa như ánh chớp kia.

        Chan Thi ném về phía Phạm cái nguýt dài.

        Mưa tạnh, con suối dưới chân núi cũng biến mất ở rừng nước rút đến nhanh. Không thể tiếp tục đốn cây, chúng tôi vác mỗi người hai cây gỗ trở về.

        Ra khỏi thung lũng găng, ai nấy lóa mắt trước ánh nắng rực rỡ. Trước mặt phạm Công-pông Cà-đây hiện rất rõ những ngọn tháp củ hành nhô lên như tháp bút. Lên tới sườn núi Kim Ri, chúng tôi đã mệt nhừ, thở ra lỗ tai, Phạm bảo ngồi nghỉ lấy sức. Phía xa chớp vẫn rạch chân trời, mây đen dựng từng đụn.

        Xa Mát hỏi:

        - Học nghề hàn chắc khó, anh Phạm nhỉ?

        Phạm háo hức kể:

        - Theo tui, nghề chi mình say mê đều làm được. Ngày mình vào nghề đêm năm mơ ánh lửa hàn chập chờn trước mặt.

        Đôi môi Chan Thi mím chặt, mắt lơ đãng nhìn xa.

        Về tới lò rèn, chúng tôi ướt như ngụp dưới suối lên. Quân phục dán vào ngỡ khó gỡ ra được. Chan Thi trở về nhà ngay, nhìn cô ấy ướt đẫm, thương quá. Nhưng gương mặt vẫn hồng lên như thoa phấn, đôi mắt xanh thẳm, đẹp đến lạ kỳ.

        Thay quần áo xong, Phạm mở hòm đồ, lôi mấy đôi guốc dưới gầm giường ra sửa. Tôi lấy cây ghi-ta treo ở vách xuống đánh, còn Xa Mát hát. Bài nọ xọ sang bài kia. Chốc chốc hứng quá, cậu ta nhảy xuống đất múa. Một lúc cả hai đứa đều đói cồn cào. Xa Mát phân công:

        - Tôi đi vo gạo, ông nhóm lửa nấu cơm.

        Phạm đứng dậy:

        - Hai cậu cứ hát cho vui, mình nấu cơm, chút xíu là có ăn liền à.

        Tất nhiên tôi và Xa Mất mừng muốn nhảy cẫng lên và sẵn sàng nhường công việc ấy cho đồng chí tổ trưởng. Từ ngày về đây, hai đứa bọn tôi đã sinh tật hay "nhường" chuyện nấu nướng, dọn dẹp cho Phạm.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:23:23 am

        Ngọn lửa Phạm nhóm vừa liếm đáy xoong thì Chan Thi xuất hiện ở cửa; cô gái rục rỡ trong bộ đồ màu xanh, mái tóc xõa tràn lưng, trên đầu chăng ngang chuỗi cánh con cánh cam xanh óng ánh như ngọc. Đôi má mịn màng ửng hồng, tay xách chiếc giỏ đan bằng lá thốt nốt nặng trĩu.

        Cô đặt giỏ lên bàn, lấy ra bốn gói xôi gạo nếp đồ vơi trái thốt nốt giã nhỏ, thơm ngào ngạt. Chan Thi nói:

        - Má em bảo em đưa thức ăn mời các anh dùng.

        Xa Mát nhanh nhảu:

        - Thôi khỏi nấu cơm, ông Phạm à.

        Tư Phạm tươi cười bước tới.

        - Cảm ơn Chan Thi nghe.

        Chan Thi nguýt nhẹ:

        - Anh mà cũng biết cảm ơn sao?

        Rồi cô gái đặt gói xôi trước mặt Phạm:

        - Anh phải dùng hết, không Chan Thi bắt đền.

        Phạm thật thà:

        - Tui tưởng mỗi người một gói chứ.

        Chan Thi cười khẽ:

        - Ba gói sợ kỵ.

        Phạm nói đùa:

        - Thanh niên mà cũng mê tín vậy sao?

        Mặt Chan Thi đỏ lựng.

        Chúng tôi vừa mở gói xôi vừa xuýt xoa chưa nếm đã thấy ngon. Bỗng chị chủ tịch phum chạy ập vào:

        - Tàn quân Pôn Pốt đóng giả con buôn bắt mất hai con trâu giống của phum rồi.

        Chúng tôi sửng sốt. Hai con trâu là vốn quí của phum. Bọn chúng hiểm quá. Chan Thi hỏi rối rít:

        - Hồi nãy, em vẫn thấy trong chuồng. Mất bao giờ?

        - Khoảng một giờ rồi.

        Phạm đứng bật dậy, với khẩu súng AK báng gấp trên giá:

        - Các cậu bình tĩnh dùng bữa đi. Một mình tui đủ rồi. Tụi nó chưa dắt đi xa đâu.

        Chị chủ tịch nói:

        - Chúng nó đi về khe núi Kim Ri.

        Xa Mát xách súng.

        - Để tôi đi cùng, một mình ông đi không an toàn đâu - cậu ta nói với tôi - ông phải ở nhà.

        Mọi người lao đi, chỉ mình tôi ở lại, không thể nào ăn nổi. Đầu óc tôi căng thẳng chưa từng thấy.

        Một giờ... hai giờ... trôi qua vẫn chưa có tin tức gì. Đến quá nửa đêm, mệt quá, tôi nằm xuống sạp rồi thiếp đi.

        Tôi bị đánh thức bởi tiếng người gọi nhau ồn ào. Tôi nhào ra cửa phía trụ sở Côn-pông Cà-đây đỏ hai ba ngọn đèn bão, tiếng người từ đó vọng tới. Biết có chuyện, tôi vội lao tới, tim muốn nhảy khỏi ngực. Sân trụ sở phum đã tấp nập người. Tôi lách vào, gặp Xa Mát ở cầu thang. Xa Mát nói:

        - Ông Phạm bị thương nặng lắm.

        - Sao? Sao? Cậu bảo sao - tôi hỏi dồn.

        - Vào tới khe núi gần đến dãy Ô Răng thì nghe tiếng trâu rống. Anh Phạm bảo tôi canh chừng ở ngoài rồi lần vào. Được chục mét thì mìn nổ.

        Tôi lách qua mấy người vào chỗ Phạm nằm. Chan Thi đang ngồi ôm lấy ngang người Phạm, cô ngẩng lên, nước mắt ướt đẫm mặt. Chân phải Phạm bị cụt tới đầu gối, chân trái quấn băng trắng toát. Thấy tôi, Phạm cố nở nụ cười. Gương mặt Phạm vẫn bình tĩnh.

        - Nguyễn đấy à? Mình bị thương rồi.

        Tôi đặt tay lên ngực Phạm. Người Phạm nóng hầm hập. Mắt anh nhắm lại rồi mở ra, chớp chớp, đôi mắt vẫn rất sáng.

        - Mình khó sống nổi, các cậu nhớ rèn hết đồ để cô bác kịp làm mùa. Còn mấy đôi guốc mình chưa kịp đóng đinh...

        Chan Thi hốt hoảng:

        - Anh... Anh đừng nói dại, thần Inđra không vui đâu.

        Phạm bóp bóp tay tôi rất mạnh. Rồi cứ lỏng dần mắt anh bất chợt sáng lên. Đôi môi nhợt nhạt nở nụ cười thanh thản. Và người anh luội dần. Mọi ngươi đứng xung quanh thét lên. Chan Thi gục xuống người anh khóc nức nở. Cô vừa khóc vừa hôn lên mặt, lên mắt, lên môi anh. Cô như muốn giành anh trở lại cuộc sống. Nhưng đã bất lực. Cô giựt dây cánh cam trên đầu bẻ làm đôi đặt xuống đầu Phạm. Phong tục người Chăm khi vợ chồng vĩnh biệt nhau mới làm như thế. Một cụ già nói với tôi:

        - Con về nhà lấy quần áo của nó lên đây.

        Tôi chạy sấp ngửa trở về.

        Lát sau tôi quay trở lại, nhìn lên phum Công-pông Cà-đây trước mắt tôi là cả một rừng đuốc sáng tiến về trụ sở phum. Những ngọn đuốc làm bằng cành thốt nốt chẻ nhỏ ngâm kỹ, sáng rực không vương một ngọn khói, một đốm tàn. Hàng trăm ngọn đuốc đó tụ lại quanh Phạm như đóa hoa lửa. Tôi sực nhớ đến ánh lửa hàn mà Phạm hẵng thao thức mong nhớ.

Thành phố Hồ Chí Mình. 1-6-1984         


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:47:20 am
     
NHỮNG SỢI CHỈ VÀNG

HÀ PHẠM PHÚ         

        Buộc chỉ cổ tay
        Bằng ba sợi chỉ hồng
        To như những sợi dây vàng

        (Dân ca Campuchia)

        Hưng tụt từ trên chiếc ghế đẩu cao lênh khênh xuống, lui ra xa ngắm nghía cái giá để ba lô vựa được gắn vào bức tường gỗ bằng những chiếc đinh dài, gật gù tỏ vẻ hài lòng. Đã lâu có dễ đến ba năm, Hưng chưa được sống trong một doanh trại chính quy với những chiếc giường kê thẳng tắp, chăn màn gấp xong vuốt đi vuốt lại đến vuông thành sắc cạnh. Thực ra mỗi năm, chí ít Hưng cũng có vài ba lần từ dưới cơ sở trở về đoàn họp thành, báo cáo công việc, nhưng vào những dịp như thế anh thường tạt chỗ này chỗ kia, tiện đâu ăn đấy, ở dưới phum lên chẳng ai bắt anh phải giữ thật đúng kỷ luật trong doanh trại. Ba năm anh đã quen sống nếp sống dân dã có ít nhiều phóng túng, bây giờ vào trường quân chính của mặt trận dù đã là sĩ quan anh vẫn phải ghép mình vào kỷ luật mà người học viên nào cũng buộc phải thực hiện, do đó không thể không có những cái chật chưỡng ngỡ ngàng. Lớp học chưa khai giảng các học viên tập trung củng cố nơi ăn chốn ở. Hôm nay cả tiểu đội Hưng phải đi lấy củi, anh được phân công ở lại sửa sang chiếc giá để ba lô và đóng giá để bát.

        Chợt có người vỗ mạnh vào vai, Hưng giật mình quay lại. Hóa ra là Bảng, anh bạn cùng nhập ngũ một ngày, đang làm trực ban nhà trường. Bảng nhe răng cười:

        - Mình đem đến cho cậu tin vui, nhưng có thuốc lá đưa đây một điếu đã!

        - Ăn hối lộ à?

        Nói vậy nhưng Hưng lại chìa bao thuốc Rùm-đo cho bạn. Bảng nhón một điếu rõ khéo, bập vào môi, châm lửa, kéo một hơi dài, thở khói mủ mịt.

        - Đã ngươi thật - Bảng nói với vẻ khoái trá - Này có một cô đến tìm đấy. Cậu tốt số thế. Con mình, có bằng đẹp trai hẳn hoi mà chẳng em nào nhìn đến? À, mà một cô gái Campuchia xinh đẹp nhé.

        Hưng thay bộ quần áo lao động, chải lại mái tóc bù xù cho phẳng rồi theo Bảng ra nhà khách. Những cơn mưa cuối cùng vừa dứt. Gió từ sông Xê San thổi lên mát rượi. Nhìn xuống bến sông nước đang lắng trong lại, Hưng thấy một chiếc xuồng máy thon dài mũi cong vút, chiếc cần chân vịt gác lên ghềnh xuồng quen thuộc quá, từ màu sơn đỏ của chiếc máy nổ đến chiếc cần lái bóng nhẫy. Những chiếc xuống như thế chỉ có ở Luông Sval. Chân Hưng bỗng ríu lại. Nắng lóa mắt. Anh chưa kịp nhận ra cô gái mặc áo màu tím hoa cà, cuốn chiếc xà-rông nền nã là ai thì đã nghe thấy tiếng reo nho nhỏ:

        - Ôi, anh Hưng!

        Lúc này thì Hưng biết cô gái ấy là ai rồi, vờ kêu lên nhưng giọng hết sức vui vẻ:

        - Na Ri! Sao em biết anh ở đây mà tới tìm?

        Cô gái cúi xuống tay vò vò chiếc khăn cro-ma, giọng nhẹ bẫng, hơi giận:

        - Bố bắt em phải lên tận đoàn hỏi tin anh, chứ em, em chả đi đâu. Anh vô tình lắm, đi học mà không nói với bà con Luông Sval một lời!

        Hưng cầm tay cô gái, bảo cô ngồi xuống. Anh biết mình có lỗi. Hết phép, từ Việt Nam sang, anh ghé vào đoàn định báo cáo xong, có xuồng là đi Luông Sval ngay. Nhưng đồng chí phụ trách bảo ở lại không phải về xã nữa. "Trên cử đồng chí đi học quân chính, ngày mai phải có mặt ở trường rồi!".

        "Nhưng tôi chưa báo với xã, cũng phải chào bà con một câu chữ ạ?"

        "Dào ơi, vẽ chuyện!"

        Chỉ vì ý nghĩ đơn giản của đồng chí phụ trách nên mới xảy ra chuyện này đây. Cô gái vẫn còn ấm ức:

        - Hay bà con Luông Sval có điều gì ăn ở không phải với anh, hả anh Hưng?

        - Lớp học mở gấp quá, Hưng buộc phải thanh minh, nên anh không về chào bà con được, không về thăm bố và Na Ri được, dạ cứ áy náy mãi. Na Ri thông cảm nhé!

        Chỉ cần nghe Hưng nói vậy Na Ri đã thấy mát lòng mát dạ. Cô cười đôi mắt to đen nhánh ướt như hai giọt sương nhìn Hưng đăm đăm. Cô nói thầm thào như gió thoảng.

        - Bố bảo nhất định anh phải để dân phum Luông Sval làm lễ buộc chỉ cổ tay mới được đi.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:47:51 am

        Luông Sval là một phum ở sát biên giới Lào, bên bờ sông Mê Kông có đất liền và có đảo. Dân ở Luông Sval phần lớn gốc Lào, nói tiếng Lào, phong tục tập quân giống như người Lào. Mới chỉ sống ở Luông Sval ba năm, nhưng Hưng đã cùng chia cái sống, cái chết với dân phum, anh xem mảnh đất đó như quê hương thứ hai của anh sau cái làng chài trên bờ biển Phan Thiết. Vì thế anh không thể từ chối cái lễ buộc chỉ cổ tay, tiếng Lào gọi là Cula paxi còn tiếng Campuchia thì gọi là choong day. Phải báo cáo nhà trường. May thay đồng chí hiệu trưởng là một người tinh tế, ông quyết định cho Hưng nghỉ hai ngày. Như vậy anh có hẳn một đêm chia tay với bà con trong phum.

        Mờ đất hôm sau, Na Ri đưa xuồng đến đón Hưng. Sương mù bảng lảng trên những đỉnh rừng, lãng đãng phủ kín mặt sông. Tiếng nước chảy, tiếng cá quẫy nghe như rất xa, vọng đến từ cõi hư ảo nào đó. Trời se se lạnh nên Na Ri khoác thêm một chiếc áo len mỏng bên ngoài chiếc áo màu tím hoa cà, tóc bỏ lơi duyên dáng. Cô biết ăn mặc như thế, Hưng sẽ thích nhìn hơn.

        Hưng xách một chiếc túi nhỏ trong đựng quà Việt Nam để tặng bà con trong phum, tặng bố và Na Ri. Anh đẩy xuồng ra khỏi bến rồi nhanh nhẹn nhảy lên khoang. Thấy anh phong phanh một tấm áo mỏng, Na Ri quàng cho anh chiếc khăn cro-ma rồi nhường anh cầm lái.

        Hưng cầm chiếc dây nhựa đen dâu mỡ, cuộn mấy vòng quanh chiếc vô lăng rồi giật mạnh. Chiếc máy giật mình phun ra những làn khói trắng, sau đó rung lên đều đều. Anh bẻ làm cho mũi thuyền hướng ra giữa sông, rồi băng theo dòng nước, đến chỗ hợp lưu với sông Mê Kông thì đổi hướng chạy lên phía bắc. Nước đã rút nhưng vẫn còn lớn, nhiều đảo nhỏ còn đang ngụp lặn chỉ để hở những chỏm cây anh. Sương tan loãng dần, đã nhìn thấy hai bờ sông dốc đứng nhiều cây xoài để trơ những chùm rễ lớn vì đất bị lở trong mùa mưa vừa rồi. Làng mạc hai ven bờ sông lúc thưa lúc mau, những bến xuống được xẻ bậc hoặc đóng thang bằng gỗ. Những chiếc xuồng không, được neo bởi những xợi xích sắt, cứ dập dềnh lên xuống vì sóng đánh. Hưng nhẩm tính, từ ngã ba sông lên đến Luông Sval có chạy gắng lắm cũng phải sẩm tối mới tới được.

        Na Ri ngồi đối diện với Hưng, hai chân khép lại một cách kín đáo. Cô có khuôn mặt thanh tú, chiếc mũi dọc dưa, cái miệng nhỏ với đôi môi mọng. Bộ ngực tròn đầy phập phồng theo nhịp thở dưới làn áo mỏng căng. Cô nhìn Hưng tự nhiên, không còn e lệ nhu lúc gặp nhau ở nhà khách chiều qua.

        - Anh Hưng, Na Ri cất tiếng hỏi, anh nghĩ gì mà buồn như lá chuối gặp lửa thế?

        - Anh đâu có buồn, Hưng đáp rồi mỉm cười, anh đang nghĩ đến Luông Sval đấy. Anh không ngờ Na Ri lại nói tiếng Việt giỏi như thế, tiến bộ nhanh lắm!

        Hưng nói điều đó rất thực lòng. Những ngay ở Luông Sval, dạy Na Ri học, nghe Na Ri nói nhưng anh đâu có để ý. Thế mà chỉ xa có hai tháng trở lại, anh chợt như khám phá ra một Na Ri khác Na Ri đẹp, duyên dáng, ý nhị, thông minh. Ôi, Na Ri.

        Nghe Hưng khen, Na Ri ngượng nghịu lấy tay che nụ cười. Cô chợt nghĩ đến những ngày đầu khi anh mới về xã. Vậy mà đã ba năm. Vừa đến Luông Sval, còn chân ướt chân ráo, đội công tác của Hưng đã tỏa đi khắp phum gặp gỡ các gia đình, tổ chức nói chuyện, khi thì dăm ba ngươi, lúc thì cả xóm. Mấy ông ủy ban trước đó làm việc cầm chừng đã tích cực lên, phân công nhau trực hàng ngay để giải quyết công việc. Tình hình khá hơn, nhưng người dân đi ra ruộng về, đi ra rừng về cứ túm năm tụm ba to nhỏ chuyện gì, hễ thấy cán bộ đội công tác thì bỏ đi, lỉnh mỗi người một ngả. Thế rồi người ta nói công khai với nhau. Khơ me đỏ chỉ đánh Việt Nam không đánh người Khơ-me. Tất nhiên Na Ri cũng được người ta rỉ tai cho biết điều đó. Còn Hưng, anh có biết điều đó không, cô không rô. Hưng vẫn cứ đi lại thăm hỏi bà con, chăm chỉ học tiếng Khơ-me, tiếng Lào. Anh cũng tìm cách lành thân với Na Ri, nhưng cô lảng tránh. Cô muốn làm cho anh chán phải thôi, giận phải thôi. Nhưng anh không nản, cũng chả giận. Na Ri vừa thấy lạ, vừa thấy sợ. Cho đến một buổi chiều...

        Hôm ấy đội công tác được tập trung đi gặt giúp dân, đội trưởng Úc Nhem và Hưng ở lại ủy ban làm một số công việc. Bỗng có nhiều tiếng súng nổ ở phía ngoài phum. Một dân quân hốt hoảng chạy về, lắp bắp mãi mới nói được ai. Bọn phỉ Pốt bắn lén vào đội công tác. Hưng vội cùng Úc Nhem băng qua mấy ngôi nhà, thẳng tới nơi chiến đấu vừa mới xảy ra. Một đội viên quê ở Căng-đan hy sinh. Những cán bộ trong đội công tác, trừ Úc Nhem, đều mới được rút từ các cơ sở lên, chưa trải qua chiến đấu, vì thế gặp trường hợp này không khỏi lúng túng. Họ đứng vây quanh liệt sĩ, cúi đầu súng chúc nòng, lặng lẽ, nét mặt ai cũng lộ vẻ căng thẳng, xao xuyến. Một số dân tò mò đứng nhìn từ xa, xì xào bàn tán. Hưng chưa hiểu hết phong tục của người địa phương, anh chỉ thấy để liệt sĩ nằm mãi ở đây thì bất tiện. Phải đưa về trụ sở ủy ban, làm lễ truy điệu theo nghi thức quân đội. Ý kiến bàn bạc của Hưng được Úc Nhem đồng ý. Úc Nhem nói:

        - Việc này đối với tôi cũng mới lắm, tôi tin anh. Và rồi chắc dân sẽ hiểu anh.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:48:17 am

        Nghe Úc Nhem nói vậy Hưng mừng lắm. Anh rẽ đám đông bước vào xốc liệt sĩ lên vai đi về phía ủy ban. Lúc này dân phum đổ ra đường, nối vào sau Hưng thành một đoàn dài. Vừa khi ấy Hưng nhìn thấy Na Ri, liền gọi giật lại, nói như ra lệnh:

        - Na Ri, cô về nhà nấu ngay một nồi nước thơm!

        Không hiểu sao lúc đó, cái ý thức phản kháng luôn thường trực trong cô biến đi đâu mất. Cô đáp một cách ngoan ngoãn:

        - Vâng!

        Hưng dùng nước thơm lau rửa xong, lấy chiếc bạt duy nhất của mình liệm cho liệt sĩ. Tự nhiên nước mắt Na Ri ứa ra. Người đã chết đâu có phải ruột thịt của anh, sao anh quý trọng thương tiếc đến thế? Úc Nhem lấy quốc kỳ phủ lên mặt liệt sĩ. Hưng bước ra trước đám đông, nói bằng tiếng Khơ-me. Na Ri mở to mặt nhìn Hưng. Cô thấy mái tóc xoăn tự nhiên rất đẹp của anh xõa xuống trán, đôi mắt như có lửa. Từng lời của anh như rót vào tai cô, như dòng nước thấm vào ngực.

        - Thưa bà con, Hưng nói, bọn phỉ Pôn Pốt nói rằng chúng chỉ bắn người việt Nam, không bắn người Khơ-me. Nhưng hôm nay chúng đã bắn chết một người đồng bào của bà con, một người Khơ-me Căng-đan, một người bạn của tôi. Người bạn của tôi đây, ai trông thấy mà không biết đó là một người Khơ me Căng-đan chính cống. Bạn tôi có vợ con ở Căng-đan. Bây giờ vợ con bạn không bao giờ còn được thấy mặt bạn nữa. Bạn đã hy sinh thân mình vì nước Campuchia mới. Vì vậy tôi xin bà con hãy làm lễ cầu hồn cho liệt sĩ. Tôi hứa trước linh hồn bạn, tôi sẽ trả thù cho bạn.

        Quanh Na Ri nhiều người đưa tay lau nước mắt. Hưng nói tiếng Khơ-me chưa thạo, còn có chỗ sai, nhưng ý tứ của anh sáng sủa. Anh ấy trẻ người mà ăn nói chững chạc, mà dễ nghe quá. Bất chợt Na Ri bắt gặp mình nghĩ quá nhiều về anh người Việt, dơ quá, xấu hổ quá. Nhưng quê anh ta ở đâu, bố mẹ anh già hay trẻ, có đông anh em không? Vợ anh ta chắc phải xinh đẹp lắm? Sau này Na Ri có hỏi Hưng về chuyện đô, nhưng chỉ một lần. Hưng đáp rằng vợ anh chỉ là một cô gái bình thường, không đẹp cũng không xấu. Nhưng Úc Nhem lại bảo rằng anh chưa có vợ. Mỗi ngươi nói một đường, biệt tin ai. Na Ri muốn tin lời của Úc Nhem hơn.

        Tối hôm ấy bố Na Ri đã mời Hưng ăn cơm, ông dọn món mắm bò hoóc và món cheo. Na Ri thấy thế thì biết rằng bố đã coi anh là người thân thiết, tin cậy rồi. Bố cô ngồi với anh đến khuya, mặc dù chai rượu không cạn được phân nửa. Bố Na Ri chậm rãi, nói như mở gan ruột mình:

        - Tao nói thật với mày vì coi mày như anh trai của Na Ri (riêng điều ấy Na Ri không thích). Bộ đội Việt Nam rất tốt, đã giúp nhân nhân Campuchia đánh được Pháp, đánh được Mỹ, nhưng giúp xong lại rút về nước. Lần này bộ đội Việt Nam sang giúp nhân dân Campuchia đánh bọn diệt chủng sẽ lại rút về nước. Bọn ngoài rừng nói, con chim đậu rồi bay, cành cây không bay theo được. Lại nói, thuyền đậu rồi thuyền lại đi, bến không đi theo được. Bộ đội Việt Nam rút đi rồi, chúng nó trở lại, giết dân Campuchia một lần nữa. May bảo, vậy thì ai dám thân thiện với chúng mày.

        Hưng nắm tay bố Na Ri, giọng xúc động:

        - Bây giờ con mới thật hiểu bố. Con nói thế nay để bố nghe, bộ đội Việt Nam sẽ giúp nhân dân Campuchia xây dựng cuộc sống mới không cho bọn diệt chủng quay lại nữa. Nhất định thế đấy bố ạ.

        - Ừ, ừ - bố Na Ri lắc lư cái đầu bạc - Phải như vậy chứ, mà cái lý là phải như vậy, tao nói có đúng không Na Ri?

        Na Ri bất ngờ bị bố hỏi, ngượng đỏ mặt, đáp li nhí:

        - Đúng thế ạ!

        Hưng cho xuồng máy chạy sát vào bờ hòn đảo xanh nổi lên giữa dòng Mê Kông. Một bầy khỉ đùa nhau chí chóe vọt vội lên cao, mỗi con bám vào một cành cây, giương mắt thao láo nhìn chiếc xuồng với đôi trai gái. Hưng giơ nắm tay lên dọa, bày khỉ cũng bắt chước dọa lại. Na Ri không nhịn được, cười khanh khách. Hưng thấy ngượng vội tìm cách lảng chuyện:

        - Mới xa Luông Sval hai tháng mà anh cứ ngỡ đến hai năm.

        - Về Việt Nam là anh quên Luông Sval ngay thôi!

        - Ôi, Na Ri, em nghĩ gì thế? Anh không bao giờ quên Luông Sval đâu, vì anh đã là "ma" của đất Luông Sval rồi mà.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2017, 11:48:56 am

        Chuyện đó thì Na Ri chẳng quên được. Cô đã khóc hết nước mắt khi đốt đuốc cùng dân làng đi tìm Hưng trong cánh rừng khộp ở cuối phum. Đuốc cháy hết lại thắp đuốc mới, đi hết mảnh rừng này đến mảnh rừng khác, vẫn không tìm ra Hưng. Xã đội trưởng Rơn cùng đi với Hưng, thoát khỏi tay phỉ, chạy về báo với đội công tác và dân phum nơi chúng phục bắt hai người. Rơn kể:

        - Anh Hưng bảo tôi cùng đi xuống phum Tức Lò O. Chúng tôi không ai mang theo vũ khí. Đến khoảng rừng trống trải thì bọn Pốt xông ra. Bất ngờ quá. Khi đi qua chỗ rừng rậm, cây cối um tùm, cảnh giác thì không gặp chuyện gì. Ba thằng phỉ chĩa súng vào chúng tôi, bắt giơ tay. Hưng bình tĩnh nói:

        - Chúng tôi là dân ở phum Tức Lò O lên thăm người quen ở Luông Sval, bây giờ về nhà mà.

        - Tại sao hai thằng mày đi tối thế, định phục kích chúng tao phải không?

        Thú thực tôi run quá, chưa biết trả lơi thế nào thì Hưng đã nói:

        - Không phải mà, ngươi quen mổ trâu, giữ ở lại ăn, bây giờ mời về được, thật mà.

        Nghe thấy ăn ba thằng phỉ cùng nuốt nướt bọt. Tôi nghĩ thầm, chắc chúng nó đói. Một thằng phỉ nói:

        - Hai thằng mày đi theo chúng tao, vào rừng nói chuyện sau. Hưng giả bộ nằn nì:

        - Các ông tha cho chúng tôi về, vợ con đợi ở nhà.

        Bọn phỉ nhất định không nghe, súng lăm lăm trong tay dọa, không đi thì chúng giết. Gay go quá. Toi bụng nghĩ thầm, cứ xem Hưng làm thế nào thì làm theo thế. Hưng bảo:

        - Được thôi, chúng tôi sẽ đi. Nhưng thèm thuốc quá xin cho hút một điếu.

        Ba thằng phỉ nhìn nhau không đứa nào nói gì. Hưng móc túi lấy bao thuốc lá. Tôi lờ mờ đoán ra ý định của anh. Anh không hút mà chìa bao thuốc lá cho thằng phỉ ở gần bên nhất, khúm núm nói:

        - Xin mời ông trước.

        Anh giả vờ để rơi bao thuốc lá. Có lẽ vì quá thèm thuốc nên thằng phỉ mất cảm giác, cúi xuống quờ nhặt bao thuốc. Nhanh như chớp Hưng đá cho nó một cài. Không chậm trễ tôi cũng xô thằng giặc đứng cạnh, chạy bổ trào vừng. Tôi cứ chạy không dám ngoảnh lại. Nghe thêm mấy loạt súng nổ về phía ngược với hướng của tôi. Không biết Hưng có thoát không? Hay bọn phỉ giết anh rồi mang xác đi mất? Trời ơi, tôi thật có lỗi quá.

        Nhiều người cũng nghĩ như xã đội trưởng Rơn. Một nhà sư lên tiếng. Mọi người chợt im bặt. Nhà sư nói:

        - Dân phum phải làm lễ cầu hồn cho anh Hưng. Người tốt như thế khi chết phải được lên cõi niết bàn, phải được sống cuộc sống trường tồn.

        Thế là mọi người nghe theo. Không có ảnh Hưng người ta đem chiếc mũ có ngôi sao vàng của anh đặt lên bàn thờ. Nhà sư có chức sắc cao nhất trong chùa được mời làm chủ lễ. Trong lúc mọi người đang lầm rầm cầu nguyện thì Hưng xuất hiện. Anh ngạc nhiên hỏi:

        - Bà con làm gì thế này? Tụng kinh cho ai thế?

        Bố Na Ri ôm lấy anh, sờ nắn khắp người xem có thật là anh không, rồi nói:

        - Đúng là thằng Hưng đây, thằng Hưng bằng xương bằng thịt hẳn hoi đây. Nó còn sống, đạn của phỉ không giết được nó. Mọi người bỏ hết mọi thứ, chạy đến vây lấy Hưng, mỗi người hỏi một câu làm anh trả lời không kịp.

        - Tôi đánh ngã thằng phỉ, cướp được cái cặp tài liệu này, chạy vào rừng để tìm đường về phum, trời tối quá bị lạc, bây giờ mới về được. Cảm ơn bà con đã lo lắng cho tôi. Từ nay xin bà con coi tôi là dân của phum này.

        Hôm sau Na Ri nói với Hưng:

        - Anh mất cảnh giác để em sợ hết hồn, khóc như mưa trước mặt mọi người, bây giờ nghĩ thấy ngượng ghê.

        Hưng nhìn Na Ri thấy thương quá. Anh bảo:

        - Na Ri, em vào hội phụ nữ, đi vận động chị em làm cách mạng nhé?

        Na Ri ngước đôi mắt nhìn anh khẽ đáp:

        - Vâng!

        Tiếng Hưng kéo Na Ri ra khỏi dòng hồi tưởng:

        - Hội phụ nữ của em hoạt động có đều không? Kết nạp thêm được mấy hội viên nữa?

        - Chưa kết nạp được thêm ai, khó quá mà. Em chưa làm hết những việc anh bày cho đâu. Na Ri con kém lắm.

        Ngập ngừng một lát, Na Ri mới nói tiếp:

        - Anh có nhớ bà mẹ Sót ở cuối phum không? Bà già lúc nào cũng lặng lặng lẽ lẽ, nhà luôn đóng cửa im im, chẳng ai lui tới và cũng chẳng lui tới nhà ai bao giờ ấy, anh không nhớ à?

        - Nhớ, nhớ chứ - Hưng vỗ tay lên trán, đáp. Bà ấy đã gọi con ở rừng về rồi. Em bàn với Úc Nhem họp dân phum biểu dương bà ta, động viên anh con trai kể lại cuộc sống trong rừng, rồi làm lễ hứa hẹn chăm chỉ làm ăn, như thế có được không, đúng hay là trật?

        Na Ri ngượng đỏ mặt vì đã nói quá nhiều. Hưng nhìn Na Ri như nhìn thấy bông hoa vừa nở, sung sướng reo lên:

        - Đúng lắm! Na Ri tiến bộ nhiều lắm, anh mừng lắm!

        - Na Ri không thích anh khen nhiều thế đâu. Anh phải chê Na Ri thì Na Ri mới tiến bộ được.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 08:39:08 pm

        Những điều Na Ri nói thật là bất ngờ, giống như một chuỗi âm thanh trong trẻo reo vào lòng anh, cứ ngân nga mãi. Ở tâm hồn cô gái Khơ-me này có cái gì đó thật khó gọi tên ra, nhưng cảm thấy được, gần gũi. Hưng nhìn Na Rì với một đôi mắt thật lạ, khiến cô phải kêu lên:

        - Trời ơi, anh Hưng đừng nhìn em như thế, em ngượng lắm đấy!

        Bây giờ Hưng mới hiểu rằng, bắt đầu từ hôm ấy Na Ri đã chiếm lĩnh trái tim anh, nhưng anh đã tìm cách tự dối mình, hoặc cố làm ra vẻ không nhận thấy điều đó. Chợt Na Ri cất tiếng hát:

        Chiều buồn man mác
        Chim bói cá bay từng đàn
        Đậu dọc theo những dòng thác

        Giọng Na Ri trong, cao vút lên lan tỏa trong không gian. Giai điệu bài ca mênh mang như sông nước Mê Kông xôn xao những đàn cá, ào ạt cơn mưa như khói trắng trời. Gió thổi làn tóc của Na Ri bay tung, thoáng thơm hương làai hoa rừng nào đó. Hôm nay đón Hưng về, ngày mai tiễn Hưng đi, lòng Na Ri vừa vui vừa buồn, vừa chộn rộn trống trải. Hưng là người Việt Nam, Na Ri là người Khơ-me, họ có thể yêu nhau được không? Không biết. Nhưng hơi thở của Hưng luôn luôn sưởi ấm tâm hồn cô. Nhịp đập trái tim Hưng luôn luôn đập trong trái tim cô. Bây giờ nhớ lại cô chẳng còn ngượng nữa, chỉ tiếc rằng không giữ được giây phút đó dài mãi. Ước chi có thể kéo được thời gian lại.

        Dạo ấy đang mùa mưa. Đội công tác của Úc Nhem và Hưng đi hoạt động ở Tức Lò O. Luông Sval chỉ còn một số dân quân làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác xung quanh khu vực nhà ủy ban và kho thương nghiệp. Vắng Hưng, Na Ri thấy nhớ làm sao. Chiều nào ngôi trên nhà sàn cô cũng ngóng ra con đường rừng, chỉ mong sao nhìn thấy bóng anh. Bố đưa xuồng chở Úc Nhem về huyện họp. Vì thế căn nhà trống trải, buồn nhũn người ra. Mưa chốc chốc lại dội ào ào lên mái nhà, chớp lóe ở đâu đó. Tối ấy là tối thứ bảy vắng Hưng ở nhà. Na Ri khép cửa, đến thăm một cô bạn gái. Họ đang trò chuyện thì có ba kẻ lạ mặt xông vào, đứa nào súng cũng lăm lăm trong tay. Phỉ Pôn Pốt rồi. Na Ri thầm kêu như vậy. Cả hai cô chân tay cứ run lên, không biết làm thế nào. Bọn chúng thấy không còn ai nữa nên xúm lại quanh hai cô gái, đòi lấy gạo và rủ trốn ra rừng. Chúng nói:

        - Ra rừng chúng mày mới lấy được chồng, thanh niên đi hết với Khơ-me đỏ chúng tao rồi. Lấy chồng rồi, muốn ở Campuchia thì ở, muốn sang Thái Lan thì sang, sướng lắm. Ở lại không có thanh niên, không lấy được Việt Nam, chết già đấy.

        Phụ nữ Campuchia sợ nhất là không có chồng, nhưng Na Ri nói:

        - Chúng tôi ở lại phum thôi, có nhà không mưa ướt, có cơm không đói bụng. Các người nói sung sướng sao lại phải đi xin gạo?

        Lúc ấy cô nghĩ đến Hưng, thấy không còn sợ hãi gì nữa. Cô nói:

        - Chúng mày nên ra đầu thú với chính quyền cách mạng đi, sống lén lút như thế khổ lắm.

        Bọn phỉ bảo:

        - May đừng có mà tuyên truyền, đứng dậy đi theo chúng tao, chúng mày phải ra rừng làm vợ chúng tao.

        Na Ri không sợ chết, nhưng Na Ri sợ phải làm vợ phỉ. Cô muốn khóc nhưng cố nuốt nước mắt. Đừng để cho bọn phỉ thấy là mình sợ. Chúng giục:

        - Lấy váy áo nhanh lên!

        Na Ri nói với chúng:

        - Nhà tôi ở cách đây không xa, cho tôi về lấy tư trang.

        Bọn phỉ cười nhạt. Tiếng cười của chúng nghe như tiếng cóc nhái kêu:

        - Mày đừng có đánh lừa chúng tao. Mày đẹp đấy, khôn đấy, nhưng mà chưa ngoan. Đi người không cũng được, váy áo mà làm gì.

        Bọn phỉ dí súng vào lưng cưỡng ép Na Ri và cô bạn gái đi theo chúng. Đêm ấy bọn phỉ còn bắt thêm một cô gái nữa, nhà ở cuối phum. Chúng buộc ba cô vào một gốc cây để mặc cho mưa xối, sau đó mắc tăng võng ngủ lẩn khuất xung quanh. Sáng hôm sau chúng cởi trói, giục các cô lên đường sớm.

        - Nhanh nhanh lên, mấy con ranh này!

        Do mùa mưa, nước ngập, chúng phải đi đường vòng xa gấp đôi đường tắt, vì thế luôn luôn lo sợ bị bộ đội và dân quân đuổi theo.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 08:39:40 pm

        Na Ri lại trượt chân ngã. Thằng phỉ tức giận nện cô mấy báng súng vào vai, đau ê ẩm. Chúng dong ba cô gái đi suốt ngày không nghỉ. Tuy vậy chúng vẫn chỉ quanh quẩn ở khu vực Luông Sval - Tức Lò O, chưa thoát được đi xa, đói, mệt và rét khiến ba cô gái dường như không còn sức lực. Thằng phỉ vừa đánh Na Ri mấy báng súng đến bên cô, cất giọng khàn khàn:

        - Mày định đợi bọn Việt Nam đến cứu mày phải không? Đồ ngu. Chúng nó cũng sợ chúng tao giết, chúng nó chẳng tội gì mà chết vì một đứa con gái như mày. Đi nhanh lên.

        - Nói láo! Na Ri muốn thét lên, muốn nhổ vào mặt thằng phỉ.

        Nhưng cô không còn đủ sức lực, người cứ rũ xuống. Hai cô bạn gái cũng tả tơi chẳng khác gì Na Ri, cố sức dìu cô đi, nước mắt ròng ròng.

        Trời lại chạng vạng tối. Một ngày đang trôi qua. Mới qua một đêm, một ngày mà sao Na Ri cảm thấy dài như một đời người. Bọn phỉ vẫn giục đi chưa nghỉ. Bất chợt, Na Ri nghe tiếng ai đó thét gọi tên cô, kêu cô nằm xuống. Na Ri chẳng kịp nghĩ gì hơn vội vàng cùng hai cô bạn nhào xuống đất. Súng nổ những tràng dài, bọn phỉ bỏ chạy tán loạn. Như từ trong cổ tích, Hưng đột ngột xuất hiện. Anh chạy đến bên côm đỡ cô dậy.

        - Na Ri!

        Cô nghe tiếng anh gọi cô. Cô nhắm mắt ôm choàng lấy anh, gục đầu vào ngực anh, khóc. Anh để vậy một lúc lâu, sau mới khẽ thì thào vào tai cô:

        - Xuống thuyền về nhà đi, Na Ri!

        Cô ngoan ngoãn nghe theo lời anh. Ngồi bên cạnh Hưng, tựa nhẹ vào vai anh, Na Ri thỏ thẻ:

        - Sao anh biết được mà đi tìm cứu em?

        - Anh Khon dân quân đi thâu đêm sang Tức Lò O, báo tin dữ ấy. Bọn anh lo cho em quá, huy động dân quân truy tìm ngay. Lần theo dấu vết bọn phỉ thật hệt như chơi trò ú tim. Nhờ đi thuyền tắt rừng, bọn anh mới tới kịp, nếu không thì...

        Na Ri xen vào lời anh, giọng nũng nịu:

        - Thì anh để cho phỉ bắt em luôn chứ gì?

        - Đời nào lại thế, Na Ri!

        Hưng lần tìm bàn tay Na Ri trong bóng tối, nắm chặt. Na Ri cũng lần tìm tay anh, không rời ra nữa.

        ... Hưng bâng khuâng bắt gặp đôi mắt nhìn xa xăm của Na Ri, lời ca từ đâu dâng lên như dòng suối, tràn qua môi anh:

        Em có vóc người đẹp đẽ tuyệt vời
        Từ đâu tời mà duyên dáng quá thôi
        Thân hình em thơm ngát
        Tóc kết thành hoa tươi...

        Hưng hát, đối với Na Ri đó là điều bất ngờ. Cô lẩm nhẩm rồi cất tiếng hát theo, lòng tràn lên hy vọng.

        Đúng như Hưng dự đoán, xuồng về đến Luông Sval thì trời tối. Nơi bến sông đèn đuốc sáng rực, từ xa trông như đêm hội hoa đăng. Mặt nước tối sẫm chốc chốc lại được chiếu sáng lấp lánh. Khi Hưng bước lên bến, bà con vây lấy anh, cuốn anh đi. Những lời trách móc, những lời thăm hỏi, Na Ri ngắm nhìn anh suốt ngày trời bây giờ hòa vào toán bạn gái thi thoảng lại cười ré lên vì một lý do gì đó, chả ai biết. Bố Na Ri nhắc lại câu hỏi mà khi gặp anh ở trường quân chính cô đã hỏi:

        - Hưng, sao con đi mà không chào bà con trong phum một lời, đường có xa xôi gì, một ngày công thôi mà.

        - Con có bỏ Luông Sval đâu, Hưng đáp, con đi học một năm lại về mà.

        Ông lão gật đầu không nói gì, kéo Hưng vào thẳng nhà ủy ban. Leo lên sàn đã thấy một ngọn đèn măng-xông sáng trắng, giữa sàn đặt một chiếc mâm trên có để những sợi chỉ màu. Ông lão bảo Hưng ngồi xuống một phía, còn ông ngồi phía bên kia. Dân phum ngồi xuống theo, làm thành một vòng tròn, bao bọc lấy hai người. Ông lão nói:

        - Bây giờ con làm theo lời ta, đặt một tay lên vành mâm này, còn tay kia đưa lên trước ngực, thế được rồi.

        Ông già cũng đặt tay lên vành mâm. Na Ri đến ngồi sau lưng Hưng từ lúc nào, đặt nhẹ tay lên lưng anh. Người khác đặt tay lên lưng Na Ri, cứ thế lần lượt cho đến hết. Ông lão đọc những lời cầu nguyện, chúc cho Hưng đi chân cứng đâ mềm, không ốm đau bệnh tật, không hòn tên mũi đạn nào chạm tơi. Rồi tiếng hát cất lên. Chúng ta buộc chỉ cổ tay bằng ba sợi chỉ hồng. To như những sợi dây vàng...

        Mọi người lần lượt buộc chỉ cổ tay cho Hưng, ai cũng cầu chúc cho anh một điều tốt đẹp. Mắt Hưng như mờ đi. Những gương mặt thân quen, những làn hơi thở nóng bỏng. Anh ngỡ mình đang trôi bồng bềnh, mọi cảm giác đều không thật nữa. Những ai đó hỏi. Chúc con... Chúc cháu... Chúc em... rồi trống nổi lên. Hưng không con nhớ anh đã bị cuốn vào dòng người múa hát như thế nào nhưng anh nhỡ rất rõ tiếng Na Ri thì thầm:

        - Anh đừng quên Luông Sval có Na Ri nhé!

        - Na Ri ơi!

        Hưng gọi cô, nhưng tiếng trống bập bùng bao bọc lấy tiếng, nói của anh.

Stung Treng 10-1984       


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 08:57:35 pm
         
QUÃNG ĐỜI XƯA IN DẤU

SƯƠNG NGUYỆT MINH        

        Chồng tôi đang dạo một vòng quanh căn biệt thự nhỏ, vung tay chân làm các động tác thư giãn ở vườn hoa kiểng. Chồng tôi có thói quen này kể từ khi đứa con gái duy nhất của chúng tôi sang Pháp du học. Tôi biết, chồng đang đầy kiêu hãnh, tự mãn với những gì mình đang có.

        Tôi định kêu chồng vào nghỉ sớm thì con bé trực gallery gọi điện thoại về. Nó nói, có khách muốn mua bức tranh của tôi. Bức tranh có trận địa cao xạ pháo 37 ly hai nòng lúc hoàng hôn ở biên giới Tây Nam. Mấy cây thốt nốt rũ lá, một cây bị mảnh đại bác phạt cụt ngọn đứng như trời trồng gần công sự trận địa đen thầm in lên chân trời đang hồng rực. Mấy anh pháo thủ cầm mũ sắt ngồi nghỉ bên công sự đất đỏ nâu lở loét, nham nhở đạn pháo địch... Con bé trực gallery đã giải thích nhiều lần là bức tranh chỉ bày chớ không bán. Tác giả không hề có ý định kiếm tiền từ bức tranh. Nhưng người khách không chịu, nói, không bán, sẽ không rời khỏi phòng trưng bày.

        Tôi bảo:

        - Cháu nên nhẹ nhàng giải thích một lần nữa với khách. Họa sĩ mà cô được một người yêu tranh như thế là hạnh phúc lắm đó, cháu à. Đừng làm cho người ta mếch lòng.

        - Nhưng thưa cô! Khách cứ ngồi lỳ ở cạnh bức tranh đến ba giờ đồng hồ rồi. Bây giờ, đã gần mười giờ đêm, con không đóng cửa phòng tranh được. Khách là một người tật nguyền đi xe lăn nên con không nỡ... Cô đến giúp con đi.

        Tôi thay đồ, ra ngoài sân, bảo chồng: Có khách muốn mua bức tranh Hoàng hôn vùng biên của em. Con bé trực gallely không bán; nhưng khách cứ ngồi lý bảo quyết mua kỳ được. Con bé không đóng cửa phòng tranh được.

        Chồng tôi vừa làm một động tác thư giãn vừa bảo:

        - Bức đó nhiều khách hỏi lắm. Theo anh em nên bán đi.

        Tôi hơi cau mày:

        - Đã bao lần em biểu không bán là không bán.

        - Tiếc thì em lại vẽ cái khác, của nhà mình làm được mà. Món hời đó, em à. Để anh đưa em đi. Đêm hôm rồi, em đi một mình anh không yên tâm.

        Tôi bảo:

        - Anh không nhớ, năm mười bảy tuổi em đã vẽ bức tranh ấy ở biên giới Tây Nam à. Chỉ cần anh mở khóa ga ra ô tô cho em là đủ, em đi một mình được.

        Chồng tôi lắc đầu:

        - Em vẫn bướng bỉnh như ngày trước. Anh chịu em.

        Bạn bè bảo tôi may mắn, được chồng chiều chuộng, thương yêu. Anh không hề ghen cả khi nhìn thấy các bức họa chân dung tôi thời thiếu nữ do bạn bè vẽ ra viết những lời đề tặng chân thành, nghịch ngợm, ví như: Tình yêu của anh! hay Người yêu tôi hoặc Người tôi yêu. Nhà tôi rất giàu. Chồng tôi là nhà sưu tập tranh, có gallery ở ngay mặt tiền một đường phố lớn. Tranh của tôi cũng bán được. Chồng tôi chẳng phải là họa sĩ, nhưng thẩm tranh không đến nỗi nào. Anh là một người nhanh nhẹn, nắm bắt được thị hiếu người giàu. Nhìn tranh của các họa sĩ, anh biết cái nào bán được cái nào không. Chồng tôi có thể mua rẻ của họ và bán đắt cho người nước ngoài, người giàu trong nước. Anh lại có tài tranh thầu, thu gom, đặt vẽ, cung cấp hàng loạt tranh cho các cơ quan nhà nước hoặc khách sạn lớn mới xây dựng muốn trang trí nội thất. Suốt ngay, chồng tôi bận rộn với việc mua bán tranh.

        Tôi dừng ô tô ở trước cửa gallery thì vị khách mua tranh cuối cùng cũng vừa từ trong ra. Người đàn ông tật nguyền ngồi trên xe lăn, hai chân teo tóp buông thõng. Tay phải cụt đến khuỷu, bàn tay còn lại đẩy vành bánh xe vội vã như trốn chạy. Nhoang nhoáng trước mắt tôi là mái tóc xoăn bồng bềnh rũ xuống vầng trán cao, là khuôn mặt nhàu, khắc khổ, là vòng dây bạc có cái móng hổ đeo ở cổ... Chẳng lẽ đây lại là anh?

        Trời đất ơi! Chàng chuẩn úy tóc xoăn ngày nào. Mắt tôi nhòe đi...

        Dạo ấy là mùa khô năm 1978.

        Mặt trận biên giới Tây Nam đang đến hồi bỏng rát. Tin thắng trận hàng ngày hàng giờ dội về thành phố, nhưng thương binh cũng chuyển về tuyến sau dồn dập. Nghĩa trang liệt sĩ ở Gò Dầu và Trảng Bàng thêm nhiều mộ mới. Ở Sài Gòn, có lúc sôi lên sùng sục vì cái mùi chiến tranh đã ngào nghẹn lan về thành phố. Nhưng đêm về, sài Gôn vẫn lung linh, êm ả, thanh bình, như không hề có mất mát và chia ly.

        Giữa những ngày vừa bình yên và chiến tranh ấy, tôi và mấy bạn sinh viên cùng lớp đáp xe đò, hòa vào dòng người thanh niên xung phong, bộ đội lên biên giới Tây Ninh. Chỉ có điều, chúng tôi không đi chơi, đi cầm súng mà đi thực tế. Hồi đó, chúng tôi đang là sinh viên cao đẳng Mỹ thuật thành phố.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 08:58:22 pm
         
        Ông trung tá, chủ nhiệm chính trị sư đoàn xem giấy giới thiệu xong, bảo:

        - Tuần trước có cô nhà báo, nghe đại bác bọn Pôn Pốt bắn sang cứ ôm mặt khóc trong hầm, đến bữa chẳng dám ra ngoài ăn cơm. Tôi chỉ sợ các cô các cậu không chịu nổi bom đạn ba ngày lại bỏ về thành phố.

        Tôi tự ái, muốn phát khóc, van nài:

        - Cháu đọc truyện biết, ở ngoài Bắc năm 1970, sinh viên các trường Đại học xếp bút nghiên đi đánh giặc...

        Ông trung tá, ngắt lời tôi:

        - Ghê chưa kìa! Thì tôi cũng trong số sinh viên dạo ấy. Đó là thời cả nước có chiến tranh. Bây giờ, chiến tranh đang trước mặt các cô các cậu đó, nhưng sau lưng là Sài Gòn phồn hoa, đèn màu rực rỡ... Mà thôi, để tôi bảo trực ban xếp chỗ nghỉ cho. Lán dã chiến gần đây thôi, cùng khu ở và làm việc của sư đoàn bộ này.

        Dạo ấy, tôi mới mười bảy tuổi. Tóc xõa ngang vai, trẻ trung, tinh nghịch, tôi ra trận hồn nhiên quá. Tôi không biết chiến tranh mỗi ngày một lan rộng và ác liệt. Pháo từ bên kia biên giới vẫn vãi xuống sông Vàm Cỏ Đông, rót xuống thị xã Tây Ninh, câu vào Gò Dầu Hạ. Mảnh đại bác cắt ngang cây bần ly, phạt đứt ngọn thốt nốt. Dọc đường biên, phum, ấp bị đốt sạch chỉ còn trơ trọi cột nhà cháy dở đen thui, đứng im không chịu đổ, uất ức chọc lên trời...

        Từ sư đoàn bộ, chúng tôi tỏa đi các ngả, theo các anh chị phóng viên báo Binh đoàn xuống tận các đại đội. Có lúc chợp chảo còn đến tận các tiểu đội đang ở chốt, lấy tư liệu, ký họa ngay ở chiến hào. Nhưng phần lớn thời gian đi thực tế, chúng tôi vẽ chỉ ở trong tầm đại bác địch. Chẳng thấy gian khổ, vất vả, có lúc sợ cái chết, sợ bị thương vào mặt hay cụt tay không vẽ được nữa; rồi cái sợ hãi cũng qua nhanh vì ở mặt trận biên giới Tây Nam, người ta đều sống như nhau; nhịp điệu nhanh, mạnh, gấp gáp của chiến trận cuốn chúng tôi theo. Mãi sau này, tôi mới hiểu vì sao tôi đi vẽ ở mặt trận say sưa, hồn nhiên đến thế. Gần một tháng sau, để bảo đảm an toàn cho tổ sinh viên đi thực tế, người ta yêu cầu chúng tôi trở về sư đoàn bộ vẽ và tổ chức một phòng tranh cho bộ đội lần lượt đến xem. Tôi con nhớ rất rõ buổi chiều trước ngày Bộ tư lệnh Sư đoàn tổ chức "Rút kinh nghiệm giữ chốt", có một chàng chuẩn úy tóc xoăn xuất hiện ở lán dã chiến Ban tuyên huấn. Anh cắm cúi viết, vẽ cả sơ đồ có những mũi tên khác màu lên bảng. Gương mặt anh sạm nắng gió biên cương và hình như vương cả mùi thuốc đạn. Có thể anh rất từng trải trong trận mạc và ngày mai anh sẽ báo cáo điển hình.

        Chiều hoe hoe nắng. Bóng lá những cây thốt nốt đổ từng đám loang lổ. Rừng biên ải im ắng. Dường như đang có cuộc củng cố trận địa và bổ sung quân của cả hai bên nên đại bác không thấy nổ nũa. Chàng chuẩn uý tóc xoăn ra giếng lấy nước. Giáp mặt tôi anh giật mình sững sờ:

        - Trời ơ!? Bông hoa rừng hiếm hoi miền biên ải!

        Từ ngữ sặc mui học trò, có lẽ đây cũng chỉ là một cậu ấm mới rời giảng đường chưa lâu. Tôi nghĩ thế và hất mái tóc xõa, bĩu môi:

        - Đây không phải cổng trường đại học. Đừng chọc con gái. Tui hông chịu đâu.

        Anh nhìn tôi đăm đắm, rồi âu yếm:

        - Cưng ơi! Em có lúm đồng tiền duyên lắm.

        Tán gái giỏi ghê! Anh khen làm tôi ấp úng như ngậm hột thị không nói thành lời.

        - Tên em là gì? - Anh lại hỏi.

        Chưa kịp làm quen đã gọi là cưng, đã khen, đã hỏi tên. Tôi nóng bừng mặt, mắc cỡ, cái mắc cỡ của cô gái mới lớn được người khác giới khen. Tôi lắc đầu, chạy thình thịch về lều dã chiến của mình. Lán vắng lặng. Bọn bạn cũng đi xuống đại đội tăng – thiết giáp, vẽ ở đó đã hai ngày chưa về; chỉ có những bức tranh treo khắp chung quanh và bức của tôi trên giá đang vẽ dở dang. Tôi lấy gương, đứng một mình lặng lẽ soi. Đúng là lúm đồng tiền tôi duyên thật! Lời khen của anh khiến tôi tự tin, tôi ngắm khuôn mặt mình trong gương và khẽ mỉm cười.

        Rồi tôi lại vẽ. Mải quá, lúc buông cọ đã thấy hơi thở của anh nóng hổi bên má. Anh đến bên, lặng lẽ xem tôi vẽ Hoàng hôn vùng biên từ lúc nào chẳng biết.

        - Em bố cục hình chặt chẽ. Dùng màu bạo quá.

        Mặt tôi rạng rỡ vì lời khen, còn hơn lời khen của thầy khi trả bài ở trường. Tôi hỏi:

        - Thế ra... anh cũng... thạo...

        Không để ý đến câu hỏi nửa chừng của tôi, anh bảo:

        - Cây thốt nốt mọc ở ngay thành công sự trận địa pháo cao xạ thế nãy thí quay nòng pháo thế nào được hở cưng? Người lính xem tranh Hoàng hôn vùng biên sẽ cười em đấy.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 09:01:57 pm

        Tôi chịu anh nói đúng. Đi thực tế mà tôi không chịu hỏi và quan sát tỉ mỉ. Nhưng lòng tự ái của con bé mới thành người lớn trỗi dậy át cả lời nhận xét thẳng thắn, chân thành của anh và tôi không nói được một lời cảm ơn. Anh càng không để ý đến trạng thái tình cảm ấy. Anh ngồi lên võng, đu đưa nhẹ, rỗi rút cây chì 4B trong túi ngực, lấy tờ giấy, kê lên hai đùi vẽ. Tôi nhận ra chân dung mình. Bằng các đường nét phác thảo nhanh, gương mặt, đôi mắt, hai lúm đồng tiền của tôi sống động, thần thái đến lạ lùng, ngay cả tôi cũng chưa tự họa chân dung mình có cái thần như thế. Duy chỉ cái môi hơi cong bương bỉnh, mái tóc ngắn không xõa mà hất sang phải, đôi mắt sáng lắm. Anh thoáng nhìn tôi và mỉm cười tinh nghịch, việt nguệch ngoạc dòng chữ ở góc bức vẽ: Tình yêu của anh. Tôi bối rối thực sự. Anh ghi tiếp chữ: Tặng..., rồi ngừng lại, ngẩng lên. Lần này thì mắt anh nhìn tôi đăm đắm:

        - Đọc tên em đi cho anh đề tặng.

        - Hổng dám đâu!

        Tôi cúi đầu, hai má nóng ran... Lạ quá! Cả buổi chiều hôm đó, dường như anh không làm được việc gì. Anh có vẻ bần thần thế nào đó, chốc chốc lại quay người nhìn trân trân sang lán của tôi. Tôi thấy lòng mình cũng xốn xang đi ra đi vào. Bữa cơm chiều, tôi đi ăn muộn. Anh còn đến chậm hơn. Anh bưng đĩa quân dụng hai ngăn đựng nhiều thức ăn theo tiêu chuẩn đặc biệt đến ngồi bên cạnh tôi. Cái vòng dây bạc có móng hổ đeo toòng teng ở cổ anh, nhìn rất nghịch ngợm. Mái tóc xoăn bồng bềnh xõa xuống trán, trông thật dễ thương. Anh chọn những miếng ngon nhất bỏ vào bát cơm của tôi. Tôi ngượng ngùng chối đây đẩy. Anh ăn chậm, thỉnh thoảng lại gác đũa, chống hai tay ngồi nhìn tôi ăn, mắt thật buồn.

        - Anh ăn đi. Nhìn dữ zậy, em chịu hổng nổi.

        Anh cười hiền và lại nhìn tôi đăm đắm.

        Tôi nhấm nhẳng hỏi:

        - Ra trận anh không sợ à?

        - Em là con gái không sợ nữa là anh. Anh chỉ sợ mất bàn tay phải thôi. Mất bàn tay phải anh sẽ thành tàn phế, không vẽ được. Lúc ấy, anh sẽ là người như thế nào nhỉ?

        - Đừng! Anh đừng nói dại...

        Anh gật đầu, nhìn tôi âu yếm và hiền từ. Tôi cảm thấy anh thành thật và thân thiết, tin cậy vô cùng.

        Đêm ấy, trời biên giới Tây Ninh đầy trăng sao. Đại bác phía bên kia không bắn sang nữa, thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng đì đùng xa xa ngoại giáp biên rồi tắt hẳn. Ánh điện phía thị trấn Gò Dầu hắt lên nền trời một quầng sáng mờ mờ. Lá cây thốt nốt thêm đẫm ánh trăng, gặp gió lại xào xạc, xào xạc.

        Tôi ra sông Vàm Cỏ Đông tắm một mình. Dòng sông mênh mang đầy ánh bạc. Nước mơn man làn da mát dịu. Lập lềnh trên nước, tôi ngửa mặt nhìn trăng, sao. Trăng thì sáng rờ rỡ còn sao thì chi chít, nhấp nháy hoài. Dài Ngân Hà bàng bạc như chiếc khăn voan khổng lồ vắt hờ trên nên trời đêm. Trăng đổ ánh bạc xuống sông và sao cũng chen nhau ngụp lặn dưới dòng nước mênh mang. Bất chợt tôi nhớ đến bài hát Vàm Cỏ Đông. Bao nhọc nhằn, lo lắng, ám ảnh chết chóc ở vùng biên dường như bay biến hết. Tôi cảm thấy lõng mình dễ chịu, thư thái lạ. Đêm biên giới rõ ràng không hề có chiến tranh.

        Lên bờ. Nước chảy lướt thướt xuống bàn chân. Gió đồng bưng thổi khẽ xoa nhẹ lên tấm thân trần. Khoan khoái, tôi hít gió căng vồng ngực. Mùi phù sa non, mùi lá bần ly quyện lẫn, thoảng bay. Bất chợt, có tiếng hát nho nhỏ theo chiều gió bay đến. Lời ca: Vàm Cỏ Đồng! ới hỡi dòng sông. Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng... cứ mỗi lúc một gần. Tôi lúng tung, mới kịp cài xong cúc áo cuối cùng, anh đã hiện ra. Anh giật mình, sững lại. Tôi thu đống đồ ướt sũng, cong môi:

        - À. Lại là anh?

        - Xin lỗi! Tôi không cố ý.

        Tôi hất mặt lên, bướng bỉnh, hỏi:

        - Sao anh... lại đến đây?

        Giọng anh rầu rầu:

        - Chiều nay, đánh dữ lắm. Thằng bạn tôi ở đại đội tăng chết rồi. Chập tối mới biết. Tôi vừa ở đó về.

        Tự nhiên, tôi thấy thương anh, thương đồng đội của anh:

        - Đó là lúc chiều. Còn đêm nay yên tĩnh lắm, em nghĩ sẽ không đánh nhau đâu. Anh ngồi xuống đi, nghỉ một chút.

        Chúng tôi ngồi bên nhau. Sóng sông vỗ oằm oặp. Gió hơi lạnh. Vô tình tôi hơi nép vào người anh. Vẫn mùi phù sa non, mùi lá bần ly và lẫn thêm mùi thuốc súng từ áo anh. Tôi ngước mắt nhìn người lính, trong lòng tin cậy và thương. Gương mặt anh sạm nắng gió, rắn rỏi đến lạ lùng và phảng phất một nỗi buồn khó tả. Bên anh, tôi cảm thấy gần gũi, tự tin; bỗng nhiên thấy mình nhỏ bé, muốn được tựa vào anh.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 09:03:12 pm

        Anh bảo:

        - Hết chiến anh, anh sẽ về Hà Nội học nốt Đại học Mỹ thuật. Bây giờ anh tạm gác cọ, em gắng vẽ thay phần anh nhé.

        Tôi im lặng, gật đầu. Hóa ra, anh vào nghề trước tôi. Chiến tranh đã bứt anh khỏi cuộc đời sinh viên. Một thoáng ân hận trong lòng tôi bởi thái độ bướng bỉnh lúc ban chiều. Đúng lúc đó, anh khẽ khàng quàng tay lên bờ vai tôi. Tim tôi đập thình thịch, ngực dềnh lên như có sóng, da thịt nóng râm ran. Anh xoay người lại nâng cằm tôi lên và nhìn sâu vào trong mắt tôi. Trời ơi! Mắt anh có hình ngọn lửa. Giọng anh đầm ấm.

        - Anh yêu em.

        Rồi anh ôm tôi, ghi rất chặt. Da diết quá. Nóng bỏng quá. Nghẹt thở. Lồng ngực tôi tưởng như vỡ tung ra. Nhưng chẳng hiểu tại sao, khi đôi môi bỏng rát cuồng nhiệt lần tìm môi tôi thì tôi ứa nước mắt. Một thoáng thương yêu lẫn một chụt căm ghét, giận hờn bùng lên. Bốp. Tôi đã giang tay tát vào mặt anh. Anh lặng người, đầu rũ xuống. Bầu trời đêm chao đảo. Tôi bàng hoàng, không tin mình vữa hành động đúng hay là sai. Nước mắt tôi trào ra.

        - Anh... yêu... em... thực... lòng.

        Anh cố nói rõ ràng từng tiếng một, rồi đứng dậy bước nặng nề về lán dã chiến.

        Đêm. Tôi thao thức, nghĩ miên man. Chiến tranh ngày càng ác liệt chưa biết bao giờ sẽ kết thúc. Chiều mai, anh lại lên chốt. Ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh, mà anh thì trong trắng quá. Hơn hai mươi tuổi, phải chăng đây là lần đầu tiên anh định tìm mùi hương trên môi con gái. Nếu không may nằm xuống thì lòng anh có còn vấn vương, trĩu nặng vì chuyện mới xảy ra với tôi không? Thương anh quá! Tôi muốn vùng dậy chạy sang lán của anh, nhưng không sao cất nổi bàn chân...

        Đêm về sáng.

        Pháo bên kia biên giới lại câu vọt sang. Tôi chui vội xuống hầm. Pháo rơi gần quá. Căn hầm chữ A chao đảo. Lại có tiếng người kêu cháy. Nghĩ đến lán dã chiến của mình và những bức tranh, tôi hoảng hồn; nhưng lửa cháy to quá, tôi lại nép vào góc hầm.

        Lúc sau, pháo ngớt, tôi lóp ngóp chui ra. Mấy xe tải trúng đạn pháo, bình xăng nổ, cháy rụi. Lán dã chiến treo tranh cháy tơi tả. Tôi hốt hoảng chạy lại. Chú trưởng Ban tuyên huấn Sư đoàn đang đỡ chàng chuẩn úy tóc xoăn xuống cạnh cây thốt nốt. Thì ra, anh đã lao vào cứu những bức tranh khỏi cháy. Anh bị thương vào sống lưng và cụt tay phải đến khuỷu. Máu anh nhòa trên bức tranh Hoàng hôn vùng biên vẽ dở dang của tôi...

        Lát sau, anh tỉnh. Nhận ra tôi, anh cố nhìn thật lâu và khó nhọc hỏi:

        - Tên... em... là... gì?

        Tôi đả khóc, khóc như chưa bao giờ được khóc...

        Xe cứu thương đến. Người ta đưa anh về tuyến sau. Tôi chết lặng, đứng nhìn theo. Chiếc xe cứu thương xa dần rồi khuất hẳn vào bụi đỏ và những cây thốt nốt trong sáng sớm biên cương. Giật mình! Tôi mới sực nhớ chưa nói tên mình cho anh biết.

        Hôm sau, chiến tranh bùng lên dữ dội toàn tuyến biên giới Tây Nam. Binh đoàn cửu Long được lệnh chuyển quân làm nhiệm vụ mới. Chúng tôi trở về thành phố, mang theo những bức tranh đầy nắng gió, bụi đỏ và máu lửa.

        Năm tháng thời gian đã qua đi. Bức tranh Hoàng hôn vùng biên vẽ dở dang, có nét xóa cây thốt nốt ở thành công sự trận địa pháo cao xạ thấm những giọt máu của anh ngày ấy, tôi để nguyên không vẽ tiếp. Tôi cất giữ nó như báu vật vô giá. Tôi đã đi tìm anh khắp nơi. Gần hai mươi năm rồi! Tôi đã tốt nghiệp ra trường. Tôi đà thành đạt, được giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, Giải thưởng về đề tài Chiến tranh Cách mạng và Người lính của Bộ Quốc phòng. Tôi đã qua vài cuộc tình, rồi đứng đầu đứng số với người chồng bây giờ. Tôi vẫn không thể nào quên anh được. Thỉnh thoảng trong những giấc mơ đêm tối trời, tôi thấy anh hiện về. Tôi thảng thốt kêu, nhưng chẳng thành lời: Bây giờ anh ở đâu? Chàng chuẩn úy tóc xoăn ơi!

        Tôi đã để nguyên bức tranh vẽ dở dang ngày ấy thấm máu anh treo trong phòng vẽ và đặt ở vị trí trang trọng trong mấy cuộc triển lãm cá nhân. Xem tranh, người khen, người chê, người lắc đầu không hiểu. Tôi lặng im, chẳng một lời giải thích. Bức tranh dở dang, thấm máu người lính càng bí ẩn, linh thiêng. Tôi cũng treo bức chân dung tôi, anh ký họa dạo ấy và cũng có người hỏi mua. Bán làm sao được, khi quãng đời xưa ỉn dấu luôn đè nặng trên vai tôi.

        Tôi giật mình qua cơn mụ mị khi con bé trực gallery vỗ vào cánh cửa ô tô:

        - Cô ơi! Cô có vào phòng tranh hay là về? Muộn lắm rồi.

        Tôi đẩy cửa ô tô, bước ra, hấp tấp, bảo:

        - Cháu hạ bức tranh xuống. Không bán chác chi hết. Tặng... tặng cho khách.

        Con bé thấy tôi kỳ quá, ngẩn người không hiểu ra làm sao, đứng như trời trồng.

        - Kìa! Cô biểu cháu hạ bức tranh Hoàng hôn vùng biên xuống...

        - Đi rồi! Người khách ấy đi rồi.

        Lúc ấy, tôi mới thật sự hết mụ mẫm. Tôi xăm xăm bước vào phòng tranh. Con bé rảo bước theo, kể lể:

        - Đây! Ông khách ngồi trên xe lăn chỗ này đăm đắm nhìn bức tranh Hoàng hôn vùng biên. Năn nỉ hoài con không bán, ông khách lái xe đi vòng quanh phòng tranh. Nhìn thấy bức kỹ họa chân dung cô, ông khách giật mình, gọi con đến hỏi: "Chủ gallery của cháu là ai?” Con biểu: “Lá chồng người con gái trong tranh này.” Lạ lắm cô ạ! Ông khách lặng người đi rồi vội vã dùng bàn tay còn lại đẩy vành xe lăn ra ngoài, chẳng hỏi mua nữa. Vừa lúc cô đến đó.

        Tôi choáng váng, như vừa bị sét đánh bên tai. Tôi chạy vội ra ngoài. Người đàn ông tật nguyền tóc xoăn và cái xe lăn đã mất hút vào màn đêm phố đông người. Tôi khóc tức tưởi. Chẳng lẽ là anh - chàng chuẩn úy tóc xoăn ngày nào?

        Vừa lúc đó, chồng tôi phóng xe máy đến. Chồng tôi bảo:

        - Anh ở nhà nóng ruột quá. Khách đi rồi à?

        Tôi cúi mặt, cố gật gật đầu, không để chồng biết mình đang khóc. Chồng tôi bảo:

        - Đấy, anh biểu không nghe. Đi nhanh một tý nữa thì bán được. Để sẩy một món hời. Tiếc thật! Thôi đừng khóc nữa. Chẳng bán được cho người này thì bán cho người khác.

        Tôi chỉ còn biết kêu lên trong lòng: Chồng ơi! Là chồng! 


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 09:32:18 pm

SINH HOẠT TRÊN CHỐT

NGUYỄN ĐĂNG KỲ         

        Có thể nói Bổng thuộc lòng kế hoạch tết âm lịch của quản lý. Ba mươi cân nếp, hăm lăm cân thịt bò, một con heo... vẻn vẹn bấy nhiêu chữ làm gì chẳng thuộc.

        Kể ra, tết ở mặt trận Tây Nam tiểu đoàn cấp cho bấy nhiêu cũng đã tàm tạm. Con heo tuy chưa bằng thùng phuy nhưng béo ra béo, híp hết mắt, nằm ì một chỗ suốt ngày không nhúc nhích bước nào. Chất mỡ như vậy ổn rồi. Dưa hành thì xin thôi. Không rút người ra khỏi chốt xuống tận Plây-cu mua củ nén, củ kiệu, hành tỏi, cà-rốt đem lên chốt tiền tiêu? Diệu vợi quá, ăn bát cháo chạy ba quảng đồng. Không may bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri liều mạng nhổ mất chốt, thế có mà tai tiếng để đời. Cho cậu Hưng hai tờ giấy, vài viên kí-ninh vàng, chút thuốc đỏ, có ngay câu đối viền hoa lá cách điệu hẳn hoi, hết chỗ chê. Cây nêu hẳn là không được trồng. Có họa rồ mới đi dựng cột mốc cho bè lũ phản động quốc tế theo Mao nó hiệu chỉnh pháo. Mỗi ngày đánh nhau ít cũng dăm trận, nghe B.40, B.41 đã nhàm tai cần gì sắm pháo giấy. Cái khó nhất là bánh tết. Biết làm thứ gì cho hợp khẩu vị của mọi người? Những anh ở núi rừng Yên Thế, Lục Nam, Lục Ngạn thích bánh dày, bánh tro. Những anh ở Hải Phòng, Hà Nội, Thái Bình, ưa bánh chưng, bánh gai. Những anh ở Quảng Nam, Đà Nẳng, Nghĩa Bình, Thuận Hải, Phú Khánh lại khoái bánh tét, bánh tổ... Vả lại, nếp có đấy nhưng không có đậu xanh. Quanh đây đường kính mười lăm ki-lô-mêt tìm đâu ra một cọng lá dong? Có đạo diễn, có những diễn viên nhưng không có hóa trang, vở dàn dựng nên cho ai xem? Khán giả thì mỗi anh mỗi ý, mỗi anh một giọng điệu hài hước khá độc đáo. Bày đặt ra bánh trái không đâu vào đâu có mà i uôm hàng tháng cười ra nước mắt chứ chẳng chơi.

        Tính toán như vậy đã hết lẽ, xong Bông vần vừa ý với kế hoạch quá sơ lược của quản lý. Ngày nay người ta hay vin vào câu “hoàn cảnh chiến tranh” để đơn gỉản hóa mọi vấn đề. Bổng không thích cái lối đó. Bổng tán thành quan điểm của chính trị viên. Có lần anh đã nói trước đại đội: “Trong bất cứ hoàn cảnh nào người chiến sĩ cách mạng cũng phải tự làm chủ lấy cuộc sống của mình. Vui hay buồn, sướng hay khổ, tốt hay xấu, tiến bộ hay thụt lùi, có điều kiện khách quan mà cũng có điều kiện chủ quan. An phận thủ thường hay tạo thế bung ra, cái đó còn tùy ở ý chí của từng người”.

        Bổng cho rằng nói như vậy là đúng. Cứ nhìn vào cung cách ăn ở của đại đội 12 này đủ rõ. Cùng rừng săng lẻ, cũng nhà hầm cả thôi. Trung đội 1 cơm canh đặt tệch xuống đất, năm sáu người ngồi xổm vòng quanh, anh ngoảnh ra anh ngoảnh vào, chẳng ra làm sao. Trung đội 2 cơm ăn không hết, đổ trắng gốc cây, vần cho người đi nhổ củ mì, phạm kỷ luật thế có phen bị cạo trắng gáy. Trong khi đó trung đội 3 biết tranh thủ mọi thời gian ghép thùng B.40 làm giá súng, giường nằm, nền nềp như thế, ai dám bảo cái khó bó cái khôn? Trong chiến đấu cũng vậy thôi. Anh nào quen thói luộm thuộm, gặp đâu hay đó thì đánh đá chẳng ra gì. Anh nào ngăn nắp, trật tự thì tổ chức chỉ huy chiến đấu chặt chẽ, khoa học, đánh thắng không phải là việc khó khăn lắm.

        Kể cũng lạ, thường ngày có nhiều anh ù lì lúi xúi, nhưng tết nhất đến anh nào cũng cố tỏ ra có bàn tay tháo vát. Quản lý "Trương bụng” nhà ta hẳn vì thế mà càng thêm đau đầu.

        Thực ra tên cúng cơm của quản lý là Trương Văn Quý. Mới hăm hai tuổi mà trán Quý đã nhẵn bóng, đe dọa nay mai sẽ rụng sạch tóc. Đó là cái cớ để Bổng thả sức trêu trọc: “Nay mai ông Quý có phát tướng không thì chưa biết, còn như lên sói thì... đã rõ nét!". Rồi cái bụng Quý không biết vì sao cứ phề phệ ra mãi. Có phải Quý làm biếng tập thể dục đâu. Nói thế oan chết. Ở hậu cứ, chiều nào Quý cũng có mặt trên sân bóng chuyền, hò hét hăng ra trò. Khốn nỗi cái tạng người của Quý vẫn chẳng nhẹ nhõm đi được là bao. Trong một trận đấu bóng chuyền gay go, hai đội đuổi nhau sát nút, Quý nhảy lên đập hai quả liền. Không may cho Quý, cả hai quả cùng dính lưới bật trở lại làm cho tỉ số nghiêng hẳn về phía đội bạn. Bổng nóng máu quát một câu: “Thôi đi ông Trương bụng, nhảy với nhót, chưa qua ngọn cỏ mà cứ đập’’. Ấy thế là "Trương bụng” thành phụ danh của Quý.

        Những chuyện đùa tếu như thế đã thành cơm bữa. Quý không hơi đâu mà giận Bổng. Mặc dù tính cách đối lập như nước với lửa, anh mềm mỏng thâm trầm, anh năng nổ bồng bột. Quý và Bổng vẫn thân thiết với nhau như mọi người đều biết, điếu thuốc cấu làm đôi. Năm 1954, cha mẹ Quý và cha mẹ Bổng tập kết ra Bắc, cùng ở phố Cầu Đất Hải Phòng. Hai năm sau thành phố cảng có thêm hai công dân mới đó là Quý và Bổng. Đôi bạn cùng học một trường, cùng một thầy chủ nhiệm. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, gia đình Bổng và Quý lại về Quy Nhơn, thị xã quê hương. Bổng và Quý học tiếp khóa cuối của hệ phổ thông 12 năm. Nay thì Bổng đã thành trung đội trưởng trung đội 4 còn Quý phụ trách bộ phận hậu cần của đại đội...


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 09:32:45 pm

        Trở lại câu chuyện của những ngày giáp tết này. Quý cứ vắt óc nghĩ ngợi mãi chỉ vì anh chưa thỏa mãn với chút hàng nghèo nàn như thế. Quý đang tìm cách cải thiện thêm cho anh em đón xuân thật thoải mái, đầy đủ về vật chất, sảng khoái về tinh thần. Tất nhiên chuyện đó ban chỉ huy đại đội đã lo. Nhưng Quy là quản lý, phải đề xuất ỷ kiến, lo lắng như thế đâu phải là xách đèn chạy trước ôtô. Cải thiện cách sao đạt yêu cầu mà không vỉ phạm kỷ luật? Gay lắm đấy, Bổng sẽ góp một tay với Quý. Bỏ mặc Quý xoay sở một mình thì chẳng ra làm sao, Bổng khẽ huých vào lưng Quý:

        - Thôi, ông Trương bụng à, bóp đầu mãi thế, nó múp ra như quả B.41 của tôi. Mai mốt thắng trận trở về bả ở nhà làm sao nhận được ra ông?

        Quý quay lại khẽ đẩy tay:

        - Giỡn hoài, có để người ta làm việc không?

        Chợt thấy bao thuốc cồm cộm trong túi áo Quý, Bổng reo lên:

        - A, bắt quả tang nhé, có Tam Đảo bao bạc mà giấu anh em.

        Chọc thế cho vui chứ Bổng thừa biềt bao thuốc chưa bóc tem. Quý rút bao thuốc đưa cho Bổng:

        - Hút đi rồi để cho mình yên, mệt quá.

        Bổng rút một điếu, trả Quý bao thuốc.

        - Nghỉ chút đã. Tết này cho nhà em tham gia một tay với.

        - Xin ông.

        - Bổng tôi bảo đảm 15 lít cay, còn măng miến mộc nhĩ thì...

        Quý đẩy Bổng ra.

        - Thôi thôi, ông ba hoa cái gì thế? Đem gói thuốc cho các cậu ấy hút chung với.

        Bổng cầm bao thuốc nhoẻn cười còn muốn đấu khẩu với Quý nhiều nữa. Đồng chí liên lạc lắc lắc cánh tay.

        - Anh Bổng, thủ trưởng bảo anh lên nhận công tác.

        Bổng quay lại:

        - Chốt hả?

        - Chắc thế.

        - Chốt thì chốt.

        Bổng ra khỏi cửa còn quay lại nháy mắt với Quý.

        - Tin tưởng nghe, ông Trương bụng. Thế nào cũng có 15 lít cay.

        Quý nhìn theo Bổng, chẳng thèm tin. Bổng đánh giặc giỏi, chuyện đó Quý xin học tập đội bạn. Trận trước cậu ấy tự tay diệt sáu tên Pôn Pốt, thu một B.40, được tặng thường huân chương Chiến công hạng ba, còn chuyện tương cà mắm muối, Bổng đã nhúng tay vào bao giờ. Giữa rừng săng lẻ đi suốt ngày đường không gặp một người dân mà tính chuyện măng miến mộc nhĩ thì quả là tào lao.

        Không, Bổng không dám tào lao. Mọi việc Bổng đã sắp đặt chu đáo cả rồi. Nếu không lên chốt Bổng có thể thực hiện lời hứa với Quý ngay chiều hôm nay. Trung đội 3 trực chiến suốt cả tuần, để các cậu ấy về tắm giặt, hớt tóc, cạo râu, đón xuân mới là vừa. Bổng dẫn trung đội lên thay chốt.

        Trận địa trống trơ. Cây đổ ngổn ngang, khô cháy, sặc mùi thuốc đạn, cứ như nằm giữa bãi B.52. Rừng ô rô bị phạt trụi. Tầm xạ giới được mở rộng nhưng như thế là lộ mục tiêu. Từ xa bọn địch có thể nhìn rõ từng cái hầm kèo. Vậy mà suốt ngày hôm nay chúng không tổ chức trận tấn công nào. Thỉnh thoảng chúng bắn vài quả cối 120 ly. Kể cũng lạ, mọi ngày chúng bu bám dai dẳng như đỉa đói, dùng đủ mọi cỡ hỏa lực mà bọn phản động ở Bắc Kinh tuồn cho. Có ngày chúng đánh liên tục từ bốn giờ sáng đến lúc mặt trời lặn. Thế mà nay... Trung đội trưởng trung đội 3 trước khi xuống chốt đã dặn Bổng phải cảnh giác, có khi chúng thay đổi thích ứng. Nghĩ kỹ, Bổng thấy không có gì đáng ngại. Có bao nhiêu bí quyết, bọn quan thầy nó ở Bắc Kinh đã hà hơi tiếp sức cho cả rồi. Chẳng qua là đánh hết đạn, chúng phải nai lưng ra gùi, ngày mai lại tiếp tục bu bám. Cũng có thể chúng thay quân. Cũng có thể chúng giãn ra đào công sự lấy chỗ núp tránh hỏa lực của ta. Các cậu pháo binh đoàn Ba Tơ hồi này làm ăn khấm khá gọi đâu bắn trúng đó. Lính Pôn Pốt chết và bị thương khá nhiều. Tuy vậy chúng vẫn liều mạng nhổ cái chốt của Bổng. Con đường 19 kéo dài chạy giữa, một bên là đầm lầy, một bên là điểm cao 232. Đặt được ở đây hai khẩu đội ĐKZ 82 ly, chúng có thể khống chế chặt con đường 19. Xe muốn vượt đèo phải qua ngầm, ở cự ly 300 mét, ngắm bắn trực tiếp, xe không nổ tung giữa ngầm, cũng khó lòng lên khỏi dốc. Bổng hiểu rõ điều đó quan hệ như thế nào đến việc chi viện cho các đơn vị của ta đang giữ bàn đạp. Bổng bàn với trung đội phó cho một tổ bò lên chặn địch từ xa. Nằm mãi một chỗ dang tay đỡ đòn là “dở ẹc". Họ đã chán ngấy cái lối be bờ thụ động. Bung ra tìm địch mà đánh bao giờ cũng thú hơn. Bốn giờ sáng hôm sau. Bổng dẫn hai chiến sĩ mang mìn Clây-mo, hai B.40, một AK bò lên. Mấy hôm trước bọn Pôn Pốt dũi mãi ở cánh tây bắc. Cây rừng xơ xác, trống huếch hoác. Bữa nay có đem mồi nhử chúng cũng không dám rúc qua cái bãi cây đổ đất lở xạm đen thuốc đạn ấy nữa. Bổng dẫn anh em nhằm hướng tây nam. Tự tay anh đặt quả mìn Clây-mo phủ lá khô cẩn thận. Ba anh em nằm sau gốc cây to cảnh giới. Mờ sáng chúng tập kích hỏa lực. Nghe tiếng rú của đạn cối 120 ly, Bổng biết bọn phản động Pôn Pốt ăn cơm nhà thổi tù và cho Bắc Kinh đang đốt vèo những đồng nhân dân tệ một cách không hề tiếc tay. Đạn rơi vào giửa khoảng cách từ tuyến trung đến tuyền tiền tiêu của đơn vị Bổng. Bắn phá cái mảng rừng ô-rô đã bị đào bới xới lộn hàng chục lần rồi chẳng bứt nổi sợi lông chân nào của ai. Bổng yên tâm bò lên dặn lại hai chiến sĩ, khi nào anh bấm mìn Clây-mo mới được nổ súng. Bổng còn phải nằm sau gốc săng lẻ ấy khá lâu. Điều anh lo nhất, nều địch đi chệch hướng thì đúng là xôi hỏng bỏng không. Tuy vậy, anh cũng rất tin, chúng sẽ không thể đi con đường nào khác. Phải đánh phủ đầu bọn giặc mới lên thay một trận ra trò thì ngày tết năm nay ta mới yên ổn được!


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2017, 09:33:15 pm

        Bỗng Bổng nhổm hẳn người lên. Tiếng cưa, tiếng cuốc nghe rất rõ. Bọn mới thay phiên thật rồi. Chúng đang đào công sự. Đã thế chúng sẽ cho trinh sát đi lùng sục vòng ngoài. Bổng ra hiệu cho anh em nằm im tiếp tục theo dõi. Tay Bổng cầm chắc cái công tắc điểm hỏa quả mìn Clây-mo, mắt đăm đăm nhìn phía trước. Một, hai, ba... Bổng đã thấy những tên lính quần đùi, áo đen, chít khăn rằn, huy hiệu Mao Trạch Đông đeo trên ngực. Chúng lom khom rúc rừng ô-rô. Thằng thứ chín mặc bộ Tô Cháu màu xanh lá cây, đội mũ lưỡi trai vải mềm. Nó cầm khẩu M.79 lại còn đeo bên hông một khẩu súng ngắn. Bổng tự hỏi: Tiểu đội trưởng trinh sát hay là cố vấn Bắc Kinh đi ốp đây? Chạm trán lính Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã nhiều nhưng chưa bao giờ gặp nhóm trinh sát lại gọn thế này, Bổng mừng quá, mừng đến run người. Quả mìn Clây-mo quật đổ cả chín tên giặc. Hai chiến sĩ bắn liên tiếp bốn quả B.40 vào đội hình địch đang cưa cây làm hầm. Nhưng đã hiệp đồng, khẩu cối 60 ly đặt ở tuyến trung nổ cấp tập vào mục tiêu đã chọn sẵn. Đó là trận đánh thứ nhất trong ngày của trung đội Bổng.

        Bổng và hai chiến sĩ trở lại trận địa chốt giữ vừa lúc Quý đem cơm. Bao Tam Đảo chỉ còn một điếu dành riêng cho Bổng. Quý còn gói thuốc lào. Từ ngày đứng trong đội hình của binh đoàn ở mặt trận Tây Nam, các chiến sĩ mới từ Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hảl lên đã quen tay cuốn giấy chìa ra đón Quý. Sau trận đánh thắng được khói thuốc ngay trong chiến hào, anh nào cũng khoái quản lý như khoái trung đội trưởng của mình.

        Mãi đến chiều 30 tết trung đội 1 mới lên thay chốt. Bổng ở lại bàn giao tình hình. Anh về đến nhà khi trời đã xâm xẩm tối. Việc đầu tiên là Bổng chạy ra đầm lầy. Gọi là đầm lầy nhưng thực ra trước kia là ruộng lúa nước. Đồng bào bỏ làng đi lánh nạn. Lúa chín rũ xuống không ai gặt. Cỏ mạ xanh mượt cố vượt rạ khô ngoi lên. Bổng đã đào cái hố dài ba mét, rộng mét rưỡi, vơ rơm rạ ấn ống ủ nấm. Lạ thật, anh nào cuỗm mất nấm của Bổng? Rơm bới tung lên cũng không ủ lại lấy thêm lứa nấm thứ hai. Bổng chạy vội sang phía trái đầm lầy. Ở đây trước kia là làng đồng bào. Những nếp nhà sàn nép dưới bóng mít bóng xoài đà bị đạn pháo 105 ly của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xa-ri phá sập. Mít gãy cành. Xoài cũng gãy cành. Bổng vác cành mít khô xuống mé đầm lầy, cắt lau lách phủ lên. Độ ấm ấy, độ ẩm ấy, chỉ vài ngày mộc nhĩ mọc ra tua tủa. Ô hay, cậu nào chơi khăm nẫng tay trên của Bổng cả mộc nhĩ rồi? Kiểu này mấy cây bỗng bóng Bổng hì hục đục lỗ ủ men rượu khó mà an toàn. Bổng lao nhanh ra phía ấy.

        -Ai?

        Bổng quát, giọng giận dữ và sải chân nhảy tới. Ồ! Quý! Ai nói cậu biết thế? Quỷ đưa tay vuốt mái tóc lưa thưa trên cái trán nhãn bóng, nhe hàm răng trắng cười. Cái bụng quá cỡ của Quý ưỡn ra đằng trước.

        - Cậu lên chốt rồi, tớ nghĩ mãi. Những năm đánh Mỹ bộ đội mình được đồng bào cho uống rượu đót, khoái như uống bia. Chính trị viên chả nói cũng họ nhà đót cả thôi. Có phải cậu ủ men không? Tớ đoán chỉ cậu chớ không còn ai khác. Này, nếm chút ngon hơn rượu đót cậu ạ.

        Quý đưa bi-đông cho Bổng, hơi thở sặc mùi rượu.

        - Cậu dở lắm. Lần sau đục cái bụng cây to hơn, sâu hơn, ủ nhiều men, rượu mói đậm chứ.

        Bổng nhấp một ngụm. Chà, khoái quá! Ngọt như pha mật ong, thơm mùi rượu nếp. Rượu chè be bét thì chắc chắn bị kỷ luật rồi. Còn như cây hoang dại giữa rừng khéo chế biến thành thực phẩm, mạnh quân đánh thắng, không bằng khen cũng giấy khen. Thủ trưởng hẳn vừa lòng.

        Tiệc đón xuân của đại đội 12 sáng ngày mồng một tết có xôi đậu xanh. Nói thế chứ thực ra nõn bống báng băm nhỏ đồ xôi cũng bùi cũng ngậy lắm. Bổng tiếc là gấc chín đỏ rừng mà không cậu nào chịu đi hái về đồ xôi. Măng tươi xào thịt nạc đấy. Ấy, xin mách nhỏ để các đồng chí khỏi lầm. Đó là đọt bống báng thái nhỏ như măng tươi. Không tin đồng chí nếm thử xem, ngòn ngọt chứ không the thé cay đâu nhé. Món chân giò ninh nấm mộc nhĩ không ai dám chê. Nấm rạ tuy không thơm bằng nấm hương nhưng thử hỏi trên đời này đã mấy ai biết nấm rạ nấm hương như thế nào? Bống hứa với Quý 15 lít cay. Bây giờ không ai đem lít ra đo lường. Hai chục cái bi-đông xếp một hàng dài, 15 lít có dư rồi, không ai thắc mắc vào đâu được. Rượu bống báng nhắm giò ép, giò phê, giò lụa. Những món ăn cổ truyền Quỳ học cách làm từ ngày còn ở cảng Hải Phòng, bữa nay xem ra khá hấp dẫn.

        Xong tiệc mặn, đến tiệc trà. Khói thuốc um lên. Mấy cậu mắc chứng viêm họng bật ra ho. Lúc bấy giờ mặt anh nào cũng đỏ râng râng. Men rượu bống báng ngâm lâu ngà ngà chứ không hẳn là say. Kẹo đậu lạc tự nấu. Trà 331 vả thuốc Tam Đảo bao bạc, quà của hậu phương. Câu chuyện càng thêm đậm đà. Trung đội trưởng trung đội 2 đề nghị Bổng kể chuyện vui. Gì chứ cái đó Bổng có ngay. Anh nhìn Quý mủm mỉm đôi môi, ậm è nơi cổ họng, dập điếu thuốc đang cháy dở:

        - Nhân ngày xuân đề nghị các đồng chí chúc mừng quản lý nhà ta trước.

        - Tại sao?

        Quý chột dạ, cảnh giác ngay với trò đùa tếu của Bổng sắp nổ ra. Bổng tỉnh bơ, nói tiếp:

        - Trước ngày nhập ngủ Quý dẫn bà xã đi bệnh xá. Bữa đó có tôi đang ở đấy. Bà xã đi trước, Quý đi sau. Trời sắp tối lại mưa. Vợ chồng Quý cùng choàng ni-lông. Cô y sĩ thấy hai người bước vào cổng thì thở dài, ca cẩm:

        - Hai bà ở đâu mà sắp đến giờ nghỉ rồi mới rủ nhau đến khám thai!

        Cả đại đội phá ra cười. Bổng ôm lấy Quý xoa bàn tay vào cái bụng phề phệ quá cỡ và hôn lên má Quỷ.

        - Bạn bè với nhau đừng giãy thế. Cho tớ chúc mừng cậu cái nào. Xuân này cậu được lên chức ba rồi nhé. Hà hà!

        Tiếng súng từ chốt tiền tiêu nổ giòn. Bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri mò vào hay các cậu trung đội 1 đói bụng, đang "lên tiếng” giục anh nuôi mang cơm lên? Mọi người nghển cổ nhìn ra hướng chốt, nghe ngóng. Bổng phất tay một cái:

        - Yên trí, không có đòi gì hết. Mùng hai các cậu về ăn tết sau, đâu có đó. Nào, mời các bạn!


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2017, 09:43:50 am

SỰ SỐNG CÒN LẠI

TRUNG TRUNG ĐỈNH         

        Tôi quen chị Hồng, bác sĩ phụ trách khoa ngoại của bệnh viện X từ những năm đánh Mỹ. Hồi ấy tôi bị thương vào bả vai trong một chuyến công tác phía nam đường 19. Chị là người mổ vết thương cho tôi. Sau khi ra viện, từ ấy tới nay chúng tôi chưa có dịp gặp lại. Tình cờ, lần này về đây tôi được gặp chị.

        Sau bữa cơm chiều, chị mời tôi lên phòng trực “nói chuyện chơi”. Tôi đến sớm, đứng tựa hiên chờ. Trước mặt tôi, những dãy đồi phía bên kia đang loãng ra chuyển dần thành màu tím nhạt. Những đàn bò bước ung dung còn những bóng người có vẻ hối hả. Nhìn gần lại, dưới lòng thung là cánh đồng chạy vòng theo hình chữ u, màu xanh nhạt, màu tím đậm, màu vàng loang lổ, giống những nét phết nhanh của một bức tranh sơn dầu vẽ phóng khoáng. Viền quanh cánh đồng là con đường lớn chạy xoáy lên phía một ngôi làng với những vạt khói bò lan trên cỏ.

        - Xin lỗi anh - Chị Hồng đến từ phía góc hành lang - Tôi bận vì phải giúp người mẹ trẻ chăm sóc thằng bé người Campuchỉa nên đến muộn.

        - Vâng - Tôi trả lời chị - Thế ra bệnh viện mình lại nhận cả bệnh nhân Campuchia?

        - Đâu chỉ có vậy - Chị vừa mở khóa cửa vừa nói với tôi - Mời anh vào nhà, tôi sẽ kể cho anh nghe chuyện chú bé ấy. Anh là nhà báo, chuyện này có thể đăng được đấy.

        Chị ngồi đối diện với tôi, vẫn cái giọng nhỏ nhẹ mà cách đây gần chục năm tôi được nghe. Ly nước trên bàn sánh ánh điện. Phía ngoài của sổ, thung lũng đang chuyển vào đêm. Chị đặt một bàn tay lên khung cửa sổ nói:

        - Đã hơn mười năm cầm dao mổ, tôi gặp khá nhiều trường hợp éo le. Nhưng lần này, thú thực với anh, chưa bao giờ tôi tưởng tượng được. Là mẹ của hai đứa con, các cháu nhà tôi đều được sinh ra trong điều kiện đầy đủ. Càng nghĩ, càng thương thằng nhỏ quá. Nhưng bây giờ mọi chuyện đã qua rồi. Thằng bé được cứu sống, thế là mừng cho nó.

        Chị ngừng nói. Bàn tay nhỏ nhắn của chị lật qua lật lại quyển vở trên bàn. Chị mời tôi uống nước. Và chị đứng lên, tựa nghiêng người vào tuờng nhìn ra ngoài. Tôi lặng lẽ chờ chị. Và chị cứ đứng như thế, chậm rãi say sưa kể...

        Hơn ba tháng trời, trung đoàn 45, một trung đoàn anh hùng làm nhiệm vụ đánh địch bảo vệ tuyến biên giới Tây Nam. Ba tháng, bầu trời hầu như không hé ra được chút nắng. Ngoài trận địa, các chiến sĩ người nào người nấy bết bủn đỏ từ đầu đến chân, không có điều kiện tắm gội. Có nhiều người đứng trong chiến hào liên tục, nước ăn ruỗng cả móng. Các đơn vị chốt ăn ngủ tại chỗ. Lợi dụng mùa mưa, bọn Pôn Pốt đưa quân sang lấn đất của ta. Theo kế hoạch đánh địch, ngày 15 tháng 7 ta sẽ nổ súng diệt bọn chỉ huy đóng ở làng Plei o Ngo.

        Cả ngày hôm ấy trời mưa to lắm. Càng gần tối mưa càng dữ hơn. Diễn biến của trận đánh cũng mỗi lúc một quyết liệt. Tới tận lúc trời sập tối, tiếng súng vẫn chưa ngớt. Khu rừng già, nơi trung đoàn bộ đóng tưởng như bị nước mưa giập đến nát bét. Sấm chớp từ trên cao chém xả xuống. Gió bị hút sâu vào các hẻm núi chợt bung ra, quật vào vách đá, thân cây rút lên. Căn nhà hầm của trung đoàn bộ trong phút chốc bị nước mưa tràn vào. Mọi người chỉ kịp vơ vội những thứ cần thiết để lên bàn. Mấy đồng chí công vụ hì hụi tát nước. Các chiến sĩ vệ binh tăng cường cảnh giác. Các cán bộ trung đoàn xúm quanh tấm bản đồ bọc ny lông trải trên chiếc bàn tre dài giữa nhà. Đèn dầu không còn tác dụng nữa. Ba chiếc đèn pin cùng lúc rọi vào một điểm. Trung đoàn trưởng Hùng và chính ủy Thiết thay nhau gọi điện thoại. Các cán bộ trợ lý ngay trong lúc mưa ấy lần lượt ra chốt trực tiếp chỉ đạo chiến đấu. Các chiến sĩ thông tin lao đi bảo vệ đường dây. Các tổ trinh sát bung ra làm nhiệm vụ. Chị Hồng và y tá Long đã sẵn sàng túi thuốc.

        - Báo cáo thủ trưởng, có thương binh về!

        Một chiến sĩ đứng trên bậc của nhà hầm báo tin ấy cho chính ủy Thiết. Chị và Long theo anh Thiết ra ngoài. Trận mưa lớn đã qua, chỉ còn nước đọng trên những tán lá, thỉnh thoảng bị gió rung, đổ xuống rào rào. Chính ủy Thiết bấm đèn pin soi túi thuốc của Long. Chị và Long cùng hiểu ý bước dấn lên. Có tiếng chân lép nhép phía trước. Tiếng thở xả hơi, tiếng nói chuyện rì rầm. Đêm như có bức màn đen che mắt. Chị khoát tay, muốn xua cái màn đen ấy. Chính ủy Thiềt nắm tay chị:

        - Bình tĩnh.

        Chị biết chính ủy muốn nói gì. Chị là bác sĩ của quân khu xuống không phải để trực tiếp xử lý các vết thương mà là tổng kết, phân loại các vết thương, sau đó rút ra phương pháp cấp cứu và điều trị tốt nhất. Nói vậy nhưng chính ủy lại buông tay chị. Họ cùng tới bên cáng. Chính ủy mở tấm vải mưa phủ trên đòn, bấm đèn pin soi. Một gương mặt rất trẻ tái xanh hiện ra. Anh hấp háy mắt, gượng cười, cái cười thật quý hóa.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2017, 09:44:13 am

        - Thủ trưởng Thiết à?

        - Ừ, Hướng hả? Em bị chỗ nào?

        - Dạ, nó chơi vào giò...

        - Chịu khó chút. Gần phẫu rồi. Băng bó ra sao?

        - Được ạ.

        Chị cảm thấy yên tâm nghe Hướng trả lời rành rọt. Hướng tự kéo tấm vải mưa che lại.

        Tới cáng thứ hai. Cũng như lần trước, chính ủy Thiết mở ni lông, bấm đèn pin. Đồng chí này già dặn hơn, mắt linh lợi, cặp mày xếch ngược, miệng rộng. Thấy mọi người thăm hỏi, anh nhíu mày trả lời:

        - Chừ có đau hơn thủ trưởng. Dạ, ráng hung chớ. Nẹp kỹ quá nằm cứng đơ, khó chịu thấy mồ. Thủ trưởng cũng biết tên tôi? Dạ, trúng. Tám Hề đây ạ.

        Sau này chính ủy cho chị biết: Tám là tay hài hước nhẩt đơn vị, anh có thể đóng được ba vai kịch, hát ba giọng khác nhau.

        Rồi tới cáng thứ ba. Người thương binh nằm thiêm thiếp như ngủ. Đôi tay đặt trước bụng, thỉnh thoảng rên khẽ.

        Nghe anh em báo cáo còn một cáng nữa. Ba người đứng đợi. Chị Hồng định theo cáng này về phẫu. Việc của chị ờ bên đó.

        Chừng mười phút sau cáng thứ tư mới tới. Nghe tiếng chân bước nặng nhọc, tiếng rên cả tiếng rủa “đồ lợn”. Chị Hồng và chính ủy cùng bước tới. Chắc đồng chí này bị nặng lắm. Chị thấy hai đầu cáng là hai người cao to. Hai bên hai người giữ, một người đi trước bấm đèn pin soi đường. Chính ủy Thiết bảo anh em dừng lại. Người đi đầu đứng thẳng lên, giọng tức tối:

        - Không phải thương binh đâu thủ trưởng!

        - Hả? Đồng chí nói sao?

        - Tôi bảo không phải thương binh ạ.

        Người chiền sĩ vuốt nước mưa trên mặt, tiếp:

        - Con tù binh... Nó... sắp đẻ!

        Hai chiến sĩ đứng hai bên cáng. Người giữ phía chân. Người giữ phía đầu. Chiếc võng chợt lúc lắc rồi giãy giụa. Có tiếng rên ư ử phát ra. Hai chiến sĩ khiêng vừa được xả hơi lại phải đứng dang chân giữ nạng. Chính ủy Thiết toan mở ni lông thì chiếc võng lại quặn lên. Chị Hồng hỏi người chiến sĩ đi trước:

        - Các đồng chí định đưa về phẫu?

        - Vâng, đưa về chỗ chuyên môn chứ khoản này tụi tôi chịu!

        Chính ủy Thiết tới bên chị:

        - Chị thấy thế nào?

        - Để tôi coi thử.

        Thấy có ánh đèn pin rọi, con tù binh uốn mình úp mặt xuống. Chính ủy Thiết kéo vai nó lại. Nó co người cưỡng. Chợt nó ngoẹo đầu, ngửa mặt lên. Miệng nó bị nhét một chiếc khăn mặt. Đôi mắt nó sâu, ráo hoảnh. Nó nhìn mọi người hằn học. Một chiến sĩ nói:

        - Nó định cắn lưỡi, không làm thế không được.

        - Hãy cứu lấy đứa bé! - Chính ủy Thiết nói - Tình trạng nó thế nào?

        - Không rõ ạ - Người lính dẫn đường trả lời - Khi chúng tôi đánh vào khu nhà của bọn chỉ huy thì thấy mấy đứa con gái rúc trong hầm. Gọi ra hàng nhất định không ra. Chúng tôi phải kéo tay từng đứa. Thấy mặt nó hốc hác, bụng to, ngồi co rúm người khóc chúng tôi đoán là nó sắp đẻ nên mới đưa về đây.

        - Vợ lính à? Y tá Long nãy giờ đứng im, chợt hỏi.

        - Nó là lính của cụm điện đài - Đồng chí đứng phía bên kia cáng trả lời.

        - Thôi được - Chính ủy Thiết cắt ngang lời người chiến sĩ - Các đồng chí khiêng vào nhà quân y. Có chị Hồng bác sĩ đây, khỏi lo.

        Thế là ý định sang phẫu của chị phải ngừng lại. Biết làm thế nào khác được. Chính ủy Thiết nói thêm:

        - Chị cần gì cứ nói với Long.

        Căn nhà hầm của tiểu ban quân y không rộng lắm nhưng có giường, bàn đầy đủ. Long thắp cây đèn bão, ngọn đủ sáng trong nhà. Khi hai chiến sĩ khiêng vào, vừa đặt cáng xuống giường, nó đã trườn ra, ngả ngay xuống đất. Nó gieo người vật vã. Anh em khiêng lên, nó cố tình chống cự. Chị Hồng bảo hai người cởi trói tay cho nó. Các chiến sĩ đều nói không ai muốn trói cả, nhưng không trói thì không thể đặt nó vào võng được.

        Chiếc dây vừa cắt đứt nó đã chồm lên, gieo mình xuống. May mà mọi người xúm vào giữ được. Muốn nói cho nó rõ vài điều quá mà chẳng ai biết tiếng Khơ-me! Các chiến sĩ giữ nó nằm ỉm trên giường. Nó thở hừng hục. Bộ quần áo đen lấm bê bết. Cái đầu tóc cắt ngắn cũng bết bùn, quẹo vào trong. Nó cố tình giấu mặt vào tường. Chị Hồng lấy ống nghe, ngồi xuống cạnh giường. Con tủ binh ngoái lại nhìn. Chị vuốt tóc, lấy khăn tay lau mặt cho nó. Nó nằm im theo dõi chị. Chị giả lơ không để ỷ đến thái độ của nó. Con này còn trẻ. Nhìn bụng nó chị biết nó đang mang thai đứa con đầu. Chị bảo Long tiêm thuốc trợ sức. Khi mũi kim vừa đặt lên tay nó cựa mình phản đối. Nó thở nhanh một chặp rồi đột ngột ngừng. Đôi lông mày rậm của nó luôn cau lại. Nó nằm im. Anh em bỏ tay nó. Nó đưa hai bàn tay yếu ớt lên gỡ chiếc khăn mặt. Anh em thả luôn cả chân. Nó co người, nằm úp mặt xuống giường khóc rưng rức. Các chiến sĩ bỏ ra ngoài. Chợt nó ngoái lại rất nhanh nhìn chằm chặp vào chị. Đôi môi dày của nó thâm xịt run rẩy. Nó định làm gì? Chị cấu khẽ vào tay Long, đoạn giơ tay ra hiệu bảo nó nằm hẳn xuồng. Trời lại mưa to. Có tiếng rít hung dữ của những quả pháo cỡ lớn từ phía địch bắn sang. Tiếng nổ các loại súng liên thanh chợt rộ lên. Có tiếng chân chạy phía ngoài cửa.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2017, 09:44:48 am

        Chị đang khám thai cho nó thì trung đoàn trưởng Hùng tới. Chị báo cáo về thể trạng con tù binh. Trung đoàn trưỏng cho chị biết tình hình bên phẫu. Hai đồng chí bị vào chân đã mổ xong. Đồng chí bị vào tay choáng nhẹ, đang được cứu chữa. Không có điều gì đáng ngại xảy ra.

        Trung đoàn trưởng vừa ra khỏi nhà thì con tù binh lại giở quẻ. Nó úp tay vào mặt, vai so lại toan cắn lưỡi. Cậu Long rất nhanh phát hiện được. Long vung tay làm động tác giả tát vào mặt nó. Do phản ứng bản năng, nó giơ tay ra đỡ. Hai chiến sĩ đứng ngoài thấy vậy liền xúm vào. Đành phải trói tay và buộc khăn vào miệng nó lần nữa. Nó kêu ú ớ một lúc rồi nằm im, sắc mặt bỗng thay đổi, lúc đầu đỏ tím sau chuyển sang tái nhợt. Mắt nhìn ráo hoảnh, ngực rướn lên. Nó đau bụng? Qua khám, chị biết nó chưa đến ngày đẻ, nhưng trường họp này khó bảo vệ được cái thai quá. Chị bảo Long tiêm thêm trợ sức cho nó.

        Cứ nhùng nhằng như vậy cho tới sáng. Con tù binh không chịu nhận ra thiện chí của ta. Nhưng vì sao mà nó ngoan cố đến mức ấy thì chưa biết được. Đưa cơm cháo đến nó không chịu ăn. Đành giữ sức cho nó bằng cách tiêm thuốc.

        Cuối cùng sự việc vẫn diễn ra. Nó đẻ. Cơn đau bụng bắt đầu từ sáng. Đôi mắt vốn đục lờ của nó chợt sáng long lên. Nó thờ khó nhọc. Chị bảo anh em cởi trói cho nó. Sợi dây vừa mở, hai tay nó quờ quạng, tự tháo khăn buộc miệng rồi nhỏm dậy. Được chừng một phút nó lại nằm hẳn xuống rên yếu ớt. Bây giờ nó khóc tấm tức. Chị đặt tay lên trán nó. Nó ngước mắt nhìn chị. Chị ra hiệu bảo nó bình tĩnh. Nó lại uể oải ngồi lên, hai tay ôm bụng, mặt nhăn nhó. Chị đỡ cho nó tựa vào người. Long đã chuẩn bị xong những thứ cần thiết. Con tù binh gục đầu vào vai chị thở. Đã hai lần sinh, chị biết cái đau của người đẻ lắm. Hai bên hông tức anh ách. Dọc sống lưng như có vật gì rút lại. Bụng đau thốc lên ngực tưởng không thể sống nổi. Lúc ấy, người ta không nghĩ được gì. Chỉ mong cơn đau qua nhanh. Chỉ mong đứa con ngoan ngoãn ra gọn gàng. Chợt như bị hẩng, người nhẹ lâng, mồ hôi vã ra. Tiếng khóc của đứa con cất lên... Chị tin ở sức nó. Cơn đau cuối cùng đã đến. Cổ nó rụt lại, mắt nhắm nghiền, miệng há hốc. Nó đẻ. Thằng bé đã nằm trên tay chị. Chị làm rất thành công việc của người đỡ đẻ. Tiếng khóc của thằng bé cất lên thật đúng lúc. Tuy chưa đủ ngày nhưng tiếng khóc của nó cũng khỏe khoắn.

        Sau khi mọi việc đã gọn gàng, con tù binh làm hiệu đòi bế con. Mọi người không đồng ý chị đưa thằng bé cho nó. Thấy ai cũng có vẻ nghi ngại, con tù binh chắp tay vào ngực lạy lia lịa, nước mắt nước mũi đầy mặt. Chị mạnh bạo trao thằng nhỏ cho nó. Nó nhìn chị vẻ biết ơn rồi xoay lưng cho con bú.

        - Mẹ tròn con vuông rồi nhé - Y tá Long nói.

        Con tù binh nhìn theo khi thấy Long bước ra cửa. Hình như nó cũng hiểu ý câu nói ấy.

        Đến chiều mọi việc xong xuôi, chị rời trung đoàn bộ sang phẫu làm nhiệm vụ. Chị đi rồi, Long là người vất vả hơn cả trong việc chăm nom con con tù bỉnh. Chị và Long thường liên lạc với nhau bằng điện thoại. Lần nào chị cũng nhận được tin: “Nó khỏe, thằng cu kháu ra trò...”. Có hôm Long sang phẫu chơi với chị. Long bảo con tù bỉnh nói bập bẹ được tiếng ta. Nó nói hồi đánh Mỹ nó là báo vụ. Sau này Ăng ka biết, bắt nó làm. Chồng nó bị Ăng ka đưa vào Tây Ninh, mất tích. Long hỏi vì sao nó định cắn lưỡi, nó nhăn mặt trả lời: '‘Bị bắt, ở nhà mẹ và em cũng bị Ăng ka bắt và giết ngay. Cổ người ta mềm như cây chuối dưới lưỡi dao sắc!...”

        Chị Hồng ngồi xuống, hai bàn tay nắm lại, đặt lên cằm. Tôi ngồi im chờ chị kể tiếp.

        - Sau khi đánh bật địch ra khỏi làng Plei O Ngo và một loạt các chốt khác, bọn địch vẫn thỉnh thoảng cho những tốp nhỏ lẻ luồn sâu vào vùng ta quấy rối.

        Một hôm chị nhận được điện Long: “Thủ trưởng bảo nên đưa nó về tuyến sau, mời chị khám lại cho mẹ con nó”.

        Chị sang, thấy con tù binh đang ngồi khâu áo cho con. Thằng nhỏ ngủ trong chiếc võng bạt có đệm chăn chiên. Thấy chị, con tù binh mừng rỡ bế thằng nhỏ lên, hôn con, nựng con rối rít rồi không chút nghi ngại, đặt thằng bé vào lòng chị. Nhìn nó ngồi bới lại tóc và xăng xái chuẩn bị lên đường, chị biết nó rất mừng được về cái nơi an toàn.

        Đoạn đường từ trung đoàn bộ ra đường ô tô mất hai tiếng. Long nhận đi với nó cùng tổ du kich. Dọc đường gặp địch phục. Long và hai đồng chí bị thương vào chân vì mìn. Con tù binh sợ quá, giữa lúc anh em bắn trả địch nó ôm con chạy, được chừng ba bốn chục mét thì địch phát hiện được, chúng bắn xả theo. Một viên đạn làm nó gãy chân. Một viên khác xuyên qua ngực...

        May cho thằng bé còn nguyên vẹn, anh em đã chiền đấu bảo vệ được nó. Sau khi đưa bé về bệnh xá, một người mẹ Gia Rai đã nhận nuôi. Chị mới sinh bé cách đây nửa tháng. Chú bé Việt Nam ra đời trong khi chạy giặc ấy đã phải chia đôi phần sữa của mình để cứu vớt sự sống còn lại...

        Chợt có ba tiếng kẻng đánh gọn lỏn. Chị Hồng đứng dậy. Quyển sổ lật lật trên tay.

        - Tôi phải đi giao ban - Chị nói - Anh cần gì, chiều mai chúng ta lại nói chuyện tiếp.

        Chúng tôi cùng bước ra hành lang. Phía bên kia thung lũng điện sáng từng chùm. Có tiếng hát trầm của ai đó và tiếp theo, những giọng ngang ngang đến ngộ.

        Không biết chừng trong số những người hát ấy có Long. Tôi đi lại phía đó.

Hà Nội, 1981       


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2017, 09:55:45 am

THỊ TRẤN BIÊN GIỚI

HÀO VŨ         

        Hai chúng tôi quyết chẳng ai chịu ai. Tôi bảo:

        - Đó là rạp chiếu bóng. Dứt khoát!

        Ly cong cái môi lên:

        - Nó là nhà kho, dứt khoát!

        Chợt nhớ có tiếng xè xè trên đầu. Tôi vội kéo Ly ngồi thụp xuống. Một tiếng nổ chát chúa, dội đến tức ngực.

        Bao trấu xếp làm công sự bị một mảnh đạn xẻ rách, làm trấu rơi đầy tóc Ly. Tụi lính Pôn Pốt lại bắn sang đất ta. Tôi đứng lên quan sát. Mùi khét của thuốc đạn đến khó chịu. Bây giờ Ly mới lắc đầu cho trấu rơi xuống. Cô gái nhờ tôi lượm những vỏ trấu còn đính trên tóc, rồi hỏi:

        - Sạch chưa?

        - Sạch. Con gái có tóc dài, phức tạp thấy mồ.

        Ly không thèm để ý đến câu nói khiêu khích kia của tôi. Cô nhấn mạnh cái câu ban nãy:

        - Mình nói, dứt khoát nó là nhà kho đó.

        - Nó là rạp chiếu bóng!

        Những cuộc tranh luận giữa tôi và Ly, cô y tá của đơn vị, vẫn thường xảy ra, nên cả tiểu đội chẳng ai chú ý. Anh tiểu đội trưởng, sau tiếng pháo vừa rồi, lại nằm tựa lên bao trấu hút thuốc. Một cậu, sau cái giật mình ban nãy, lại ngủ tiếp. Còn tôi và Ly, hai đứa vẫn ngồi trên tấm ni-lông và vẫn chẳng ai chịu ai...

        Chiều hôm đó, lúc pháo địch hết hoạt động, Ly lại kéo tôi lên cây trâm, cũng là đài quan sát của đơn vị, nhìn về thị trấn đang bắt đầu xây dựng. Thị trấn cách biên giới có lẽ đến một tầm đạn pháo. Đứng trên cây trâm của điểm chốt nằm sát biên giới này nhìn vô, thị trấn đang xây giống như một bông hoa sắp nở. Những đống gạch đỏ rực là cánh hoa, còn dòng kinh lớn chạy qua thị trấn, chính là cành cây vậy.

        - Đó, cậu thấy chưa - Ly dán mắt vào ống nhòm - Nhà kia mà cậu bảo là rạp chiều bóng!

        - Nó là rạp chiếu bóng!

        Tôi nói thủng thỉnh, cố lấy giọng thật sự tin.

        - Xí!       

        Ly ném mạnh cái nhìn sang tôi. Ở tiểu đội, tôi và Ly bằng tuổi nhau. Trước kia hai đứa cùng học hết cấp III tại trường Tân An, lại nhập ngũ cùng một ngày, nên có phần thân nhau. Tôi nói “có phần” chớ không phải là rất thân nhau, hoặc thân nhau chung là có lý do.

        Ly là cô gái bướng bỉnh, phải nói lả rất bướng bỉnh. Tôi đã có kinh nghiệm như vậy. Hễ con gái mà có chút ít nhan sắc lập tức họ tự cho mình cái quyền đòi mọi người phải chiều theo ý mình! Cũng bời ở đời này lắm anh chàng yếu bóng vía lắm cơ. Chứ tôi ấy à. Cứ phớt! Tuy hai đứa bằng tuổi nhau, nhưng tôi giấu biệt không cho Ly biết cụ thể ngày sinh của mình, và bịa với cô ta rằng, tôi hơn cô ta sáu tháng. Mục đích, bắt cô ta phải gọi tôi bằng anh. Chớ không lẽ, cứ để cô ta cậu cậu, mình mình với tôi, làm như tôi là bạn gái của cô ta, thì đâu có được. Nhưng, như tôi đã nói, cô này ghê gớm lắm. Tôi khuyến cáo cô ta mấy lần:

        - Nè, tôi hơn tuổi cô đó, liệu mà xưng hô cho phải phép.

        Nghe tôi nói. Ly liền cong cái môi lên “xí” một cái.

        Và cô ta cứ thản nhiên gọi: "Phi ơi, lại mình biểu...”. Nghe cứ tức anh ách. Nhưng cô ta thế, biết làm sao?

        Tiểu đội tôi đang có mặt tại chốt tiền tiêu, có nhiệm vụ đánh chặn địch nếu chúng thọc sang đất ta. Chúng tôi còn phải cảnh giới cho đơn vị. Ban đêm thì cùng đơn vị bố trí đội hình phục kích. Ly là y tá của đơn vị. Lẽ ra, cô ta không được ra chốt với chúng tôi. Đang mùa nước lên, ở ngoài chốt thật vất vả, nhất là đối với con gái. Nhưng cô ta cứ đòi ra bằng được. Tôi đã nói với Ly:

        - Cậu đừng có bốc quá, Ly ạ. Chuyện đánh giặc là cái sự...

        Ly không để cho tỏi nói hết câu:

        - Mình dứt khoát sẽ ra ngoải chốt với các cậu. Miễn góp ý!

        Nghe có tức không? Nhưng con gái, dù sao họ càng có ưu thế hơn chúng ta. Đó là những giọt nước mắt, mà sách vở ngày xưa gọi là giọt lệ ấy mà. Hồi mới nhập ngũ, người ta phân công Ly ở quân y trung đoàn, cô ta đã dùng nước mắt để đòi được xuống đại đội chiến đấu. Bây giờ, cũng vẫn bản cũ soạn lại. Chẳng biết cô ta khóc lóc với đồng chí chính trị viên sao đó, mà cuối cùng cô ta được chấp thuận ra ngoài chốt cùng với chúng tôi. Gặp tôi, cô ta nói với cái giọng đắc thắng, môi cứ cong lên:

        - Cậu thấy chưa, mình đã nói ra chốt, là dứt khoát ra chốt mà.

        Chốt của chúng tôi nằm trong vuông tre, xung quanh nước ngập trắng băng. Đây là khu vườn của gia đình nào, chắc mới dọn đi từ dạo bọn Pôn Pốt giở trò xâm lấn biên giới. Hai ngôi nhà cháy rụi, một cây cột còn sót lại trên nền nhà, cháy đen, cứ đứng trân trân ra đó. Mảnh sân mới nền gai mắc cỡ phủ kín. Hôm đến nhận điểm, nhìn nền nhà loang lổ tro than, cả tiểu đội không ai cầm được nước mắt. Ly cứ khóc thút thít mãi, đến nỗi không giăng nổi võng. Tôi đến giăng hộ cô ta và lần đầu tiên, cô ta nhận sự giúp đỡ ấy mà không sợ mang tiếng là “phụ nữ yếu đuối”. Nhân dịp này, tôi tấn công luôn:

        - Đã biểu đừng ra chốt nữa mà cứ đòi... con gái con lứa...

        Vậy là Ly vội quẹt nước mắt, đứng dậy giằng lấy cái võng từ tay tôi, không thèm nhờ nữa. Tôi đành đứng lắc đầu.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2017, 09:56:27 am

        Ở đây, nước ngập, chúng tôi phải dùng trấu ướt dồn vô bao xếp lên làm công sự. Trong vuông tre, có một cây trâm cao, lá xanh um tùm, chúng tôi dùng nó làm đài quan sát. Những lúc tình hình êm, chúng tôi hay trèo lên đó nhìn về đất mình. Đứng trên đây, có thể thấy rất rõ xóm Giòng Bạng nằm gần đây với thấp thoáng mái lá trong vuông tre, những lip khoai xanh chạy thẳng như những đường kẻ trong khuông nhạc. Xa hơn nữa, là cái thị trấn đang bắt đầu xây dụng. Trước kia, đó là vùng đất bỏ hoang, lèo tèo vài ngôi nhà bám trụ lại từ hồi kháng chiến. Bây giờ, người ta đang dồn về ở, nhà dựng tạm hai bên con đường mới đắp. Ngổn ngang trên bãi đất trống là gạch ngói, vôi cát... Có thể nhìn rõ những giàn giáo đóng bằng cây trảm cao chót vót. Mỗi lần nhìn về thị trấn đang xây, một tình cảm tự hào, yêu mến cứ dâng tràn trong lòng chúng tôi.

        Nhưng cũng vì đó đã nổ ra cuộc tranh luận giữa tôi và Ly, một trong những cuộc tranh luận vào loại dai dẳng, bất phân thắng phụ.

        Một lần, trên cái mặt bằng ngổn ngang ấy, trong ống nhòm, chúng tôi thấy xuất hiện một ngôi nhà lớn nằm oai vệ bên bờ kinh. Ngôi nhà chưa kịp quét vôi, hẳn là mới xây xong. Chúng tôi truyền cho nhau cái tin ấy.

        - Nè, thị trấn sắp xây xong ngôi nhà lớn lắm nhen.

        - Vậy hả. Đâu? Đâu? - Những tiếng hỏi rối rít.

        Rồi cả tiểu đội thay phiên nhau trèo lên cây trâm để ngắm nhìn ngôi nhà mới, ngôi nhà xây đầu tiên trên vùng biên giới này. Và rồi, ai cũng chắc lưỡi:

        - Mới đó mà mau quá!

        - Chắc đó là rạp chiếu bóng, thị trấn là trung tâm văn hóa của huyện. Xây rạp chiếu bóng đầu tiên là đúng. Đồng bào ở đây thèm được xem phim quá mà.

        Ly lập tức cong môi lên cãi lại.

        - Mình bảo nó là nhà kho Thương nghiệp. Dứt khoát! Thị trấn phải xây nó đầu tiên, lấy chỗ chứa phân bón, máy cày v.v... để phục vụ sản xuất ngay chớ. Đợi đến bao giờ nữa? Đất ở đây vầy đó, mỗi bận bà con đi mua phân bón, mua dao, rựa, cày, cuốc xa thật là xa. Có khi cả buổi trời.

        - Cậu chẳng hiểu gì hết - Tôi nói - Nhà đó là rạp chiếu bóng vì rằng...

        - Xí. Nó là nhà kho.

        Chúng tôi quyết chẳng ai chịu ai.

        ... Bây giờ, Ly vẫn dán mắt vào ống nhòm. Gió thổi mạnh. Một cành lá chợt xòa xuống ống kính. Cô gái với tay bẻ gập cành lá vào, lại đưa ống nhòm lên. Chợt cô ta reo:

        - Cậu thấy đúng là cái nhà kho chưa? Bữa nay người ta đã xây xong cái mái hiên phía trước rồi đó, sắp hoàn thành rồi.

        Tôi ngồi ở cành cây kề bên giằng lấy ống nhòm từ tay Ly.

        - Bộ rạp chiếu bóng thì không có mái hiên?

        - Rạp chiếu bóng người ta phải đắp chữ chớ.

        - Họ đã làm xong đâu. Cậu không thấy là nó cũng chưa kịp quét vôi à?

        Ly vẫn không chịu thua:

        - Rạp chiếu bóng phải có chỗ bán vé, phải nhiều cửa   chớ. Đàng này chỉ có một cửa. Chỗ bán vé cũng không.

        - Lỡ đây là mặt sau của rạp thì sao.

        Ly ném mạnh cái nhìn sang tôi. Và môi cô ta lại cong lên:

        - Dứt khoát đó là nhà kho.

        Và tôi lại:

        - Dứt khoát đó là rạp chiếu bóng.

        Nhất định bữa được nghỉ phải vào thị trấn chơi đê tận mắt nhìn cái nhà lớn ấy, xem ai đúng ai sai. Hai đứa cùng nghĩ thế. Và Ly nói ý định ấy ra trước. Tôi gật đầu ngay, và còn thêm:

        - Đứa nào thua cuộc, phải bao nước mía uống thật đã.

        Ly nhận lời và nhấn mạnh:

        - Mười ly không uống hết cho người khác uống!

        Tôi sợ gì chớ:

        - Được. Mười ly lớn ấy!

        Nhưng đợt nghỉ ấy, hai đứa không vào được thị trấn.

        Trước đó một hôm, bọn lính Pôn Pốt đột ngột pháo kích dữ dội vào vuông tre chỗ chúng tôi đóng quân. Một bao trấu bị mảnh đạn xé rách toang, tuôn đầy trấu xuống đất. Bọn giặc định chiếm điểm chốt ư? Chúng tôi nhìn nhau lại nhìn xung quanh. Cây trâm chúng tôi hay trèo lên nhìn về thị trấn, cành gãy tơi tả. Mấy bụi cây ven con đường dẫn ra ngoài mí tre bị pháo dập nát. Không gian trống hẳn ra.

        - Phải trừng trị bọn này một trận đích đáng, nếu chúng mò sang.

        Anh tiểu đội trưởng nói thế. Và chúng tôi cũng gật đầu.

        Pháo ta bắt đầu bắn trả pháo giặc. Đã thấy nhiều cụm khói đạn pháo ta nổ bung phía bên kia.

        Hay là bọn giặc biết tụi tôi ở đây chỉ có một tiểu đội. Và chúng quyết tâm chiếm chốt bằng được?

        - Ngon thì vô đây.

        Tôi nói, Ly xiết lại quai túi thuốc, nhìn sang bên kia biên giới.

        - Chị thách mấy em sang đó. Và cô với lấy khẩu CKC thường dùng bắn tỉa hằng ngày vô thêm cho đầy băng đạn. Cả tiểu đội triển khai đội hình chiến đấu.

        Đúng như dự đoán của chúng tôi, giặc dùng một trung đội, chia làm hai mũi, thọc sang biên giới. Bọn chúng lúc đi xuồng, lúc lội bộ, tiến thẳng vào vuông tre.

        Đến gần vuông tre thì nước cạn. Chúng bỏ xuồng lội bộ. Nước sâu đến đầu gối. Chúng lom khom, chậm chạp tiến.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2017, 09:56:51 am

        Tôi đã nghe những anh lính cũ trong đơn vị cho biết kinh nghiệm này. Dù đánh giặc cả trăm trận cái phút đợi giặc bao giờ cũng hồi hộp. Tốt nhất lúc này là uống nước. Tôi liền với lấy cái bi-đông tu một hơi, xong đưa cho Ly. Ly còn hồi hộp hơn tôi. Cô cầm lấy bỉ-đông mà chẳng uống nổi, mắt cứ dán vào bọn giặc.

        - Đoàng!

        Tiểu đội trưởng nổ phát súng đầu tiên.

         Thằng đi đầu té rật xuống nước. Cái không khí chờ đợi căng thẳng bị phá vỡ. Ly liệng cái bi-đông xuống đất, ngón tay đã kéo nấc cò thứ nhất.

        Bọn giặc tản thưa hơn. Chúng lợi dụng những bờ dứa rải rác giữa đồng nằm xuống, bắn vào vuông tre. Rồi chúng lại dọ dẫm đi dần vào gần họng súng của chúng tôi.

        Nãy giờ tôi chưa nổ được phát súng nào. Kỷ luật ở đây đề ra là: Nếu giặc ở xa, chỉ được bắn tỉa. Đã bắn là phải trúng. Mà bọn Miên này thì láu lỉnh lắm. Chúng cứ nhảy lom chom từ bụi dứa này sang bụi dứa kia. Yếu lĩnh rất khó. Ly cũng chưa bắn được phát súng nào. Cái môi cong mím lại bên bá súng.

        Đạn giặc thì cứ cheo chéo trên đầu, ghim phầm phập vào những bao trấu. Bọn giặc đến gần hơn. Đã phân biệt được màu sắc từng chiếc áo chúng mặc. Tất cả bọn chúng đều mặc quần đùi. Áo thì đủ màu sắc. Trông chúng giống thổ phỉ hơn là một đội quân.

        Đạn chúng tôi bắt đầu bắn mạnh. Khắp vuông tre, đâu cũng thấy tiếng đạn nổ. Ở gần tôi, mỗi lần bóp cò cây CKC của mình, Ly lại lẩm bẩm:

        - Một thằng này.

        Thực ra trận đánh này chúng tôi chờ đợi đã lâu. Mọi phương án đều được chuẩn bị. Cho nên khi có hai mũi tiến của giặc đi qua khỏi bờ kinh ngang trước mặt, lập tức tiểu đội trưởng bật ra khỏi công sự. Anh chạy huỳnh huỵch qua suốt dãy công sự chiến đấu, nói lớn:

        - Đi thôi.

        Ly nhảy ra khỏi công sự khi nghe tiếng gọi. Cái túi thuốc nhỏ cột vào dây lưng, cây CKC cầm nơi tay, cô khom người chạy lên.

        Tổ vận động chiến đấu được thành lập theo phương án, gồm tiểu đội trưởng, Ly và hai đồng chí nữa. Họ có nhiệm vụ đánh bọc hậu bọn giặc.

        Bây giờ thì cả tổ đã ra khỏi vuông tre. Họ lợi dụng những bụi dứa, những gò đất, chạy tắt lên bờ kinh. Tôi ở lại cùng với bốn đồng chí nữa, giữ mặt chính diện. Nhìn theo bóng Ly chạy dưới ruộng nước, thỉnh thoảng lại hụp xuống vì một viên đạn vèo qua đầu, tôi thầm lo cho cô bạn của mình...

        Khi mũi bọc hậu hình thành đội hình chiến đấu. Họ bắt đầu nổ súng.

        Ở mặt chính dỉện, chúng tôi cũng nổ súng dữ hơn.

        Nhưng bọn giặc này cũng lì lợm lắm.

        Bị đánh bất ngờ từ phía sau, chúng quay đầu dáo dác, rồi nằm xuống các mô đất, bắn điên cuồng vào chúng tôi.

        Ở phía tôi, một chiến sĩ bị thương. Mất một tay súng. Mấy bao trấu bị đạn xé rách hết. Chúng tôi bật khỏi công sự, lợi dụng những gò đất trong vườn vừa vận động vừa bắn ra. Có một lúc tôi nhìn thấy áo mình rách mấy chỗ vì đạn. Rách lúc nào củng không hay. Chưa kịp nhận ra vết đạn gì, tôi đã vội hụp xuống. Một tiếng nổ ầm ở phía bên trái, cả người tôi nóng ran như vừa nhảy vào lửa, B.40 địch. Vội căng mắt nhìn ra ngoài, thằng xạ thủ B.40 đang lắp trái đạn thứ hai. Tôi bóp một điểm xạ. Nó té xuống nước, vỏ cây súng nằm lăn lóc trên gò đất nhỏ. Một thằng khác lao tới. Nó mặc quần đùi đen, tóc quăn tít. Có thể nhìn rõ mất nó ánh lên những tia sáng man rợ. Tôi nhảy sang một mô đất khác, bóp cò. Nó gục xuống. Một trái đạn giặc cũng vừa nổ ở chỗ tôi đứng ban nãy. Mô đất kê súng bị san bằng, bốc khói. Thằng này bắn cũng khá đó. Tôi nghĩ. Lại một trái đạn rơi xuống kề bên, đẩy tôi ngã dụi. Vội rờ lên người. Không thấy máu. Chỉ thấy tức ngực. Tôi cởi phăng chiếc áo đang mặc lại ôm lấy cây súng...

        Tiếng súng ở mũi bọc hậu nổ mạnh hơn.

        Dưới sự chỉ huy của tiểu đội trưởng, bọn giặc bị đánh cứ gom dần lại giữa cánh đồng.

        “Cối tép” ta bắt đầu xuất hiện. Những cột nước trắng xóa dựng lên giữa đội hình quân giặc.

        - Xung phong!

        Tiếng hô của tiểu đội trưởng vút lên. Từ bờ kinh, tổ vận động ùa ra. Họ chạy băng băng, đạp nước trắng xóa.

        Lập tức từ trong vuông tre, chúng tôi cũng ào ra. Tiếng hô xung phong dội vang lẫn trong tiếng súng nổ quyết liệt. Mặt nước đục ngầu, sủi bọt.

        - Giơ tay lên.

        Tôi thét bằng mấy tiếng Miên mới học.

        Một thằng Miên giơ súng lên định bắn, lập tức nó té ngay xuống. Một phát đạn từ phía sau đã kết liễu đời nó.

        Một, hai, rồi năm sáu thằng quỳ xuống giữa ruộng nước, giơ súng đầu hàng. Những thằng khác quay đầu tháo chạy.

        Tổ vận động lập tức truy kích.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 05:10:48 am

        Lúc này tôi mới nhìn thấy Ly. Cô bám sát tiểu đội trưởng chạy phăng phăng. Tóc cô tuột khỏi chiếc nón tai bèo từ bao giờ, rối tung trên vai. Cây CKC bốc khói trong tay cô.

        Một thằng giặc đang chạy phía trước Ly, bỗng té xuống. Chắc nó mệt quá. Ly ào tới. Thằng lính vội đưa cây súng lên trời. Nhưng cùng lúc ấy, nó kịp nhận ra người đuổi theo nó chỉ là một cô gái. Nó chợt bật dậy, nổ súng, lại chạy.

        Ly lảo đảo rồi đứng sựng lại giữa đồng. Viên đạn bắn vội ấy đã trúng vào Ly.

        Tôi hét lớn với hai đồng chí đang giải tù binh:

        - Ly bị rồi - Để tôi lên.

        Nhưng phía trước tôi, bỗng Ly vụt chạy lên một đoạn rồi đưa súng ngang vai.

        - Đoàng! Đoàng!

        Hai phát nổ. Thằng lính bắn cô ban nãy té xuống, chìm lỉm trong nước. Ly cũng đứng lại, rồi từ từ ngồi xuống. Tôi cũng vừa kịp chạy tới đỡ Ly.

        ... Trận chiến đấu kết thúc. Bọn giặc còn lại đã tháo chạy về bên kia biên giới. Pháo ta cũng bắt đầu nổ, kiềm chế pháo địch. Chúng tôi khẩn trương rút về vuông tre.

        ... Chiều hôm đó, chúng tôi được lệnh rời chốt, để đơn vị khác đến thay. Ly được đưa lên xuồng cùng với một đồng chí nữa, chở về quân y.

        Lúc chia tay tôi, Ly bảo:

        - Bữa nào khỏi, Phi lên đón mình về đơn vị nhen.

        Tôi gật đầu. Ly nói tiếp trong tiếng cười yếu ớt:

        - Mình còn phải ra thị trấn uống nước mía nữa chớ.

        Tôi lại gật đầu và cố cười mà không cười được. Tính tôi vậy, không giấu được xúc động. Bây giờ, dù Ly nói cái nhà đang xây là nhà kho hay nhà gì đi nữa, tôi cũng chịu hết.

        Chuyện cái nhà kho, tôi tưởng Ly đã quên đi. Vậy mà cô bé hiếu thắng ấy chẳng quên đâu.

        Hôm lên đón Ly ở bệnh viện về, hai chúng tôi cùng rẽ vào thị trấn chơi. Lúc đến cái ngã ba, Ly chợt bíu lấy áo tôi:

        - Nè nhớ chưa, mười ly nước mía đó.

        - Ừ.

        Tôi đáp lơ đãng làm Ly phát cáu:

        - Mình không cần ưu tiên thương binh đâu đó. Ai thua phải chịu.

        - Thì mình có nói gì đâu.

        Ly kéo tôi đi vào thẳng thị trấn. Và, đến đây, cả hai đứa cùng ngỡ ngàng. Thị trấn bây giờ không phải có một nhà, mà rất nhiều ngôi nhà đã mọc lên. Cái nọ đứng sát cái kia và cái nào cũng lớn cả. Những đống đá nằm rải rác hai bên đường, sắt thép ở đâu chuyển về chất đống trên cái gò gần đó. Chiếc máy keo Ku-bô-ta thì chăm chỉ kèo những “moóc" cát từ bờ sông đến, đám đất trống để đầy những đó cây tràm, một ngôi nhà nữa đang được thi công. Mới có thời gian Ly nằm viện, mà ở đây đã có sự thay đổi như vầy. “Tốc độ xây dựng thật kỳ diệu”. Tôi nói với Ly thế. Ly thì chẳng chú ỷ đến lời tôi nói. Cô gái mải đưa mắt quan sát khắp thị trấn. Chợt cô reo lên, kéo tôi lại gần một ngôi nhà lớn hai vách nghiêng hẳn ra ngoài:

        - Đó, nó đây. Nhà kho. Thấy chưa. Cậu thấy những bao trắng xếp trong đó không. Phân hóa học đó. Mình đã hiểu.

        Máu hiếu thắng bỗng nổi lên trong tôi. Tôi đưa mắt nhìn quanh, và thật là may:

        - Cậu thấy chưa. Cái rạp chiếu bóng kia thôi. Nó đó. Mình đã biểu. Nó lên như vầy mà...

        Ly đứng ngây ra nhìn cái rạp chiếu bóng mới xây. Hàng chữ đắp nổi: “Rạp chiếu bóng" như đang cười trêu tức cô gái. Ly lại quay sang nhìn cái nhà kho đằng sau mình. Chợt cô nói, cái môi cong lên:

        - Cậu còn nhớ, hôm ở ngoài chốt, mình chỉ nhìn thấy có một ngôi nhà.

        - Ừ. Thì sao?

        - Hai đứa sẽ tìm người hỏi, xem hai ngôi nhà này, cái nào xây đầu tiên ở đây.

        Tôi chấp thuận.

        Nhưng đến gặp anh chàng lái máy kéo đứng gần đó, thì anh ta trả lời rằng cũng mới lên đây chưa đầy một tuần. Lúc anh ta lên, thị trấn đã có nhiều nhà mới rồi. Hỏi người thứ hai, cũng y vậy. Chắc mới có đợt công nhân bổ sung về thị trấn.

        Hai đứa quyết định vào nhà dân gần đây nhất để hỏi.

        Nhưng vừa lúc ấy, có tiếng xuồng đuôi tôm ở ngoài bến xuống. Tôi đưa tay coi đồng hồ. Chắc anh em đơn vị lên đón. Giờ đây là giờ hẹn mà chúng tôi cùng chạy ra. Đúng là anh em trong đơn vị. Gặp nhau mừng quá. Mọi người cứ nắm chặt lấy tay Ly. Nếu Ly là con trai hẳn cô sẽ bị anh em ôm tròn lấy rồi.

        Ly mừng không kém mọi người. Xa đơn vị có hai tháng trời, mà nhớ kinh khủng. Cô nói vậy. Chúng tôi ríu rít kéo nhau lên xuồng. Chiều nay đơn vị hành quân. “Hên quá", Ly cứ nói vậy mãi từ lúc biết tin chiều nay đơn vị hành quân.

        Chúng tôi xuống xuồng. Chiếc xuồng nổ máy, phóng thắng về phía biên giới, cả đám ngồi trên xuồng cùng hát vang “Cả tình yêu, trao cuộc sống có thấy chăng ôi cuộc đời tình ta thắm nồng...”. Tiếng vỗ tay, tiếng hát, lẫn với tiếng máy nổ giòn giã. Xuồng chạy một đoạn khá xa Ly mới sực nhớ ra chuyện cái nhà kho của mình. Và chúng tôi đành phải hẹn nhau sẽ lên thị trấn vào dịp khác. Chắc cũng phải tháng sau. Chà, tháng sau thì ở đó lại có biềt bao thay đổi. Nhưng chúng tôi không thể quay lại thị trấn sớm hơn. Đơn vị sắp ra chốt. Và dĩ nhiên, Ly không chịu ở nhà, mà phải đòi đi cho bằng được.

Tháng 11-1978       


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 05:41:18 am

TRUYỆN RẤT KHÓ VIẾT

NGUYỄN ĐÔNG THỨC         

        Thiếu úy Quyết nói với Đức:

        - Đại đội tôi có khá nhiều điển hình. Nhưng trường hợp như anh muốn tìm thì chỉ có cậu Sơn ở trung đội 2. Quê quận Bình Thạnh. Trung sĩ, tiểu đội trưởng, chiến sĩ quyết thắng năm rồi của đơn vị. Anh đến cũng kịp lúc chứ cậu ấy đang chờ về đi học đại học đấy. Nhưng báo trước với anh, Sơn hơi ít nói, nhất là về những thành tích. Không dễ khai thác đâu nhé.

        Đức chỉ mỉm cuờỉ. Đó không phải là điều anh lo, vì mục đích anh đi kỳ này chi để tìm hiểu tâm tư tình cảm một vài chiến sĩ trẻ từ thành phố ra đi, vấp váp và trưởng thành như thế nào để có thể lập công xuất sắt ở biên giới cũng như trên đất bạn. Viết về những thành tích là việc dễ. Cái khó với Đức lần nàv là làm sao anh đi sâu vào được bên trong một người lính, nắm bắt được những gì không thể tìm thấy trong những bản báo công được đọc trước các đại hội.

        Vì vậy, Đức đã dành khoảng thời gian còn lại trong ngày đầu để gặp riêng Nhâm, trung đội trưởng trung đội 2, nói chuyên về Sơn. Sau đó, anh còn cẩn thận mượn Quyết bản báo cáo thành tích năm trước của Sơn để tranh thủ đọc cho đến khuya. Như nhiều thanh niên thành phố, Sơn có trình độ học vấn tương đối khá, đã học hết lớp 12 và đang chờ kết quả thi vào đại học thì đi bộ đội. Sơn còn có nhiều tài lẻ, trong đó phải kể đến tiếng đàn của anh. Đó là một người rất trầm lặng, nhất là thời gian sau này, mà như một quy ước ngầm, Nhâm cũng lướt qua không nói nguyên nhân tại sao. Sơn ít nói nhưng hoàn toàn không tiêu cực. Mọi nhiệm vụ được giao, Sơn đều hoàn thành xuất sắc. Nhất là trong chiến đấu.

        Đức dành cả buổi sáng hôm sau kín đáo quan sát Sơn để tìm dịp tiếp cận. Đại đội đang dưỡng quân bên một bờ suối. Bộ đội chơi bóng chuyền, tập võ, đánh “tiến lên”, tắm giặt, nhặt rau, bắt cá... Sơn đứng xem các bạn chơi bóng một lúc rồi đi lau súng bằng những động tác hết sức thuần thục và tỉ mỉ. Xong anh lặng lẽ xách thùng đi xa hơn về nguồn suối, gánh về cho anh nuôi liền ba lượt nước. Suốt buổi sáng, Đức không thấy Sơn nói một câu nào với ai. Và cả ngày hôm đó anh vẫn chưa tìm được một dịp thuận tiện để có thể bắt chuyện tự nhiên với Sơn. Kinh nghiệm cho Đức biết trong trường hợp này, tuyệt đối anh không nên đến chính thức phỏng vấn Sơn với giấy bút trong tay.

        Đức vẫn còn một niềm hy vọng. Anh là một tay ghi-ta có hạng và đã có thời một phần nhờ tiếng đàn mà có một mối tình đên giờ vẫn chưa phai. Đức hiểu những người cùng sở thích thường dễ tìm lại với nhau. Anh kiên nhẫn chờ thời cơ ấy đến.

        Quả vậy, buổi tối, sau giờ hội ý các cấp một chút, Đức bắt đâu nghe được tiếng đàn đâu đó ngoài bờ suối theo gió thấp thoáng đưa về. Đức cố kìm giữ đôi chân để vẫn bước bình thường như một người đi dạo mát. Anh đốt một điếu thuốc, im lặng đến ngồi bên Sơn, cảm thấy hương vị của khói thuốc như tăng lên trong âm thanh của tình khúc Romance quen thuộc. Chỉ vài giây sau, Đức đã ngạc nhiên nhận thấy trong tiếng đàn của Sơn cái sôi nổi thiết tha lại hơn hẳn cái trầm lặng dịu dàng, điều hơi trái ngược với bề ngoài của người thanh niên này.

        Sơn khẽ gật đầu chào Đức, rồi tiếp tục vừa đàn vừa mơ màng nhìn về bên kia suối. Một bản độc tấu khác bắt đầu. Đức bật tiếng kêu nhỏ của người vừa tình cờ gặp lại một kỷ niệm đẹp:

        - Natalila!

        Sơn dừng ngay lại, nhìn Đức lộ vẻ ngạc nhiên, rồi kín đáo liếc nhanh xuống bàn tay phải của Đức. Anh lẳng lặng đàn tiếp dù tiếng đàn đã ngượng ngùng hơn, cái ngượng ngùng của người mang cảm tưởng mình đang biểu diễn trước một tay sành điệu.

        Cuối củng Sơn ngừng tay, trao đàn mời Đức, thản nhiên như đã quen biết từ lâu:

        - Anh đàn giúp tôi lại bản vừa rồi. Tôi tự tập từ một bản rô-nê-ô, sợ không được đúng.

        Đức thận trọng đỡ lấy cây đàn. Anh quyết định sẽ không ngần ngại trổ tài trước Sơn. Tiếng đàn anh vang lên hết sức dìu dặt, thanh thản. Các đầu ngón tay của anh nhẹ nhàng vuốt những sợi dây đàn mỏng manh, và từ đó những nốt nhạc miên man tuôn ra, tỏa khắp không gian, hòa trong tiếng gió và tiếng suối, rồi lắng sâu trong hơi thở của mỗi người. Sơn cúi mặt mân mê một viên sỏi dưới chân. Rồi đột nhiên anh cất tiếng hát:

        - "Em, giấc mơ trong tốt, tiếng mưa - lá bay - gió êm như lời ru, dỗ anh ngủ trong đêm thương nhớ em vô vàn...”


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 05:41:46 am

        Bản nhạc hết nhưng những nốt cuối vẫn còn ngân mãi trong đêm. Cả hai củng im lặng lắng nghe cho đến lúc tiềng đàn đã tan hẳn. Đức đặt cây ghi-ta xuống, hỏi:

        - Sơn tự viết lời cho bài ấy à?

        Sơn im lặng gật đầu. Đức hỏi tiềp về “em" trong bài hát Sơn ngẫm nghĩ một chút, rồi nhìn Đức có vẻ do dự. Cuối cùng anh thở dài:

        - Chuyện cũ rồi anh.

        Câu chuyện bắt đầu từ đó. Mối tình thuở học trò của Sơn rất đẹp. Anh lên đường có nước mắt của người yêu tiễn chân. Trước đó, trong đêm chia tay, cô gái đã hát cho anh nghe nào là “Ước gì gửi đời em theo bàn chân anh bước”, nào là “Đêm ngày trong chiến đấu, anh với em sống vẫn gần nhau” và gì gì nữa... Họ hẹn sẽ chờ nhau, dẫu núi có mòn và sông có cạn.

        - Đơn vị ít nhiều đều biết chuyện chúng tôi, qua nhũng lúc tôi thường lấy hình cô ấy ra coi hồi mới sang đây, và qua những lá thư chúng tôi gửi cho nhau rất đều trong thời gian đầu. Nhưng rồi đơn vị tôi vào chiến dịch, cơ động liên miên. Tôí ít viết và ít nhận được thư hơn trước. Nhưng tôi vẫn tin cô ấy và vẫn an tâm chiến đấu, dù không sao khỏi buồn. Anh em an ủi và giúp đỡ tôi nhiều lắm. Ai củng xa nhà, xa cha mẹ, vợ con, người yêu... thì làm sao không thương nhau và chia sẻ cho nhau từng chút một? Mình không thể không ra gì khi có những đồng đội như vậy. Nhứt là anh Năm-tình nghĩa.

        Năm-tình-nghĩa cùng tổ với Sơn, lúc Sơn chưa nắm tiểu đội. Anh tên là Lê Văn Năm, chỉ vì hễ cứ mở miệng là nói "Ở đời tình nghĩa là quý” mà thành ra chế tên. Năm mồ côi cha mẹ từ nhỏ, một thân lăn lóc với đời qua đủ mọi nghề. Sau giải phóng một thời gian, anh được đưa vào trường Thanh niên xây dựng cuộc sống mới vì địa phương thấy anh sống quá vất vưởng và nghiền ma túy nặng. Năm được chữa trị lành bệnh, rồi qua lao động và học tập đã tỏ ra chuyển biến rất nhanh. Anh được ra trường, qua làm đội viên thanh niên xung phong, hơn một năm thì đăng ký qua bộ đội khi có chiến tranh ở biên giới Tây Nam.

        Cuộc sống dày dạn đã cho Năm tự rút lấy một triết lý sống riêng, “ở đời, tình nghĩa là quý". Anh kể Sơn biết sở dĩ anh thay đổi nhanh dưới mái trường Xuyên Mộc vì chính nơi này đã cứu sống anh và giúp anh hiểu được thế nào là cách mạng. Năm yêu chế độ mới vì thấy đây là một chế độ được đặt trên tình nghĩa, theo cách tiếp thu của anh. Mà theo anh, “Ở đời, tình nghĩa là quý".

        Năm-tình-nghĩa bộ tướng cao lớn dềnh dàng, mặt mày bặm trợn. Khi xung phong, trông anh lại càng dữ tướng. Anh chạy nhanh như một cơn lốc, mắt quắc lên, cằm bạnh ra, và bắn vừa nhanh vừa chính xác. Năm xử lý tình huống nhanh, liều lĩnh có tính toán, nói chung là “mần ăn được” theo cách nói của anh Thảnh, đại đội trưởng đại đội trinh sát này. Nhưng đối với anh em, anh lại hiền khô. Năm sống chan hòa, cởi mở, tốt bụng, nên mọi người trong đơn vị đều quý mến. Đặc biệt anh rất thương Sơn.

        Những người ít học dường như thường sẵn ít nhiều quý trọng những ai văn hay chữ tốt. Năm vốn mù chữ, chỉ mới biết đọc biết viết dưới mái trường Xuyên Mộc. Năm thương Sơn vì Sơn ít nói nhưng “chơi được", “học giỏi mà không lối’’ và đáng phục là đi bộ đội rồi, hay tin mình trúng tuyển vào đại học mà vẫn bình thản như không. Năm cũng biết nhà Sơn nghèo, anh là con cả, gia đình chỉ một mẹ và mấy đứa em. Sơn lại có người yêu đẹp “hết xẩy" đang chờ anh ở nhà. Nói chung Sơn nhỏ tuổi hơn Năm, ít kinh nghiệm sống hơn, nhưng theo Năm thì “ngon lành” hơn. Năm nói Năm tứ cố vô thân, chẳng còn gì ràng buộc trên đời, nều có nhiều chuyện chi phối như Sơn thì không chừng anh đã “vù" từ lâu.

        Điều Năm không ngờ nhất là anh được vào Đoàn. Buổi lễ kết nạp được tổ chức ở chiến trường, ngay sau một trận đánh đêm, rất đơn giản, nhưng có phần nghiêm trang và xúc động hơn những lần Sơn đã dự ở trường ngày trước. Bởi vì ở đây những thử thách không chỉ được trả bằng nhiệt tình mà còn bằng máu, và bởi niềm xúc động quá lớn của Năm. Mặt trời chưa lên và họ không dám đốt đèn. Nhưng ánh sáng của những phát báo hiệu bình minh vẫn đủ cho Sơn thấy được đôi mắt của Năm rớm lệ khi anh được gắn huy hiệu Đoàn lên ngực trái. Sau đó, Năm có hỏi riêng Sơn:

        - Tao đã kể cho mày nghe chuyện hồi đó tao từng đi “chôm chỉa”, lại ghiền xi ke phải đi cải tạo. Sao mày còn dám giới thiệu tao vào Đoàn?

        Sơn chỉ cười, nháy mắt, bắt chước Năm:

        - Ở đời...


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 05:42:15 am

        Năm rất quý chuyện tình của Sơn. Bởi lẽ anh chừa từng có được một người yêu, hay nói theo kiểu bộ đội, chưa từng có một mảnh tình vắt vai. Con gái "nhà lành", đối với Năm, là một cái gì không thể với tới. Năm chỉ biết những tạm bợ, mua vui, trả thù đời. Chỉ với Sơn, Năm mới biết tình yêu có những mặn nồng, dịu ngọt đầy thú vị như thế nào. Năm rất thích nghe Sơn kể về người yêu, về những kỷ niệm của hai người, và cả đơn vị thật ra cũng chỉ có mình anh là người được Sơn chọn để nhắc nhở hạnh phúc của mình. Thỉnh thoảng Sơn đọc vài đoạn thư của người yêu cho Năm nghe. Anh cứ chắt lưỡi, hít hà, vỗ đùi bép bép rất hào hứng. Riết rồi chính Năm cũng mong đợi những lá thư của cô ấy như Sơn, và âm thầm chia sẻ nỗi buồn với Sơn mỗi khi đơn vị có đợt; nhận thư mà Sơn không có. Càng về sau, nhiều đoạn thư cũ đi, màu mực phai và những nếp gấp phải nương nhẹ tay khi xếp mở. Nhưng mối tình vẩn đẹp, ít nhất là đối với Sơn và Năm. Họ cùng một tổ chiến đấu và chẳng bao lâu sau, Sơn nhận thấy Năm luôn giành lấy những phần việc nhiều nguy hiểm. Trước một mục tiêu, bao giờ Năm cũng giành lên trước dù Sơn là tổ trưởng. Nếu có rút lui, anh cũng tìm cách thu hút hỏa lực của địch về mình. Sơn có ý kiến thì Năm chỉ cười:

        - Mày chết uổng. Mai mốt còn về đi học. Rồi “em” nữa, bỏ cho ai?

        Đức ngồi nghe Sơn kể, vừa lạ lùng vừa thú vị. Những tưởng Sơn kể chuyện mình, không ngờ câu chuyện lại chuyền qua anh chàng Năm-tình-nghĩa nào đó đầy hấp dẫn. Nhưng ngay từ đầu, không hiểu sao Đức đã linh cảm và câu chuyện sẽ có một kềt thúc đau lòng và anh càng hồi hộp hơn khi mường tượng thấy đang vào đoạn gút. Cuối cùng, không dằn được, Đức hỏi:

        - Anh Năm giờ ở đâu?

        - Anh ấy hy sinh rồi.

        Sơn ngừng lại như để hồi tưởng, rồi kể tiếp:

        - Lúc đó là cuối năm 78, cao điểm của chiến dịch. Trận đánh hôm ấy rất ác liệt. Địch đang phản kích hòng chiếm lại một chốt chiến lược. Quả lựu đạn thằng địch ném sang rớt ngay vào công sự chúng tôi, rơi xuống giữa tôi và anh Năm. Lần đầu tiên tôi thấy cái chết đến ngay trước mắt. Tôi nhìn quả lụu đạn, người cứng đơ, không biềt làm gì và cũng chẳng suy nghĩ được gì. Chúng tôi tái mặt nhìn nhau và bất chợt tôi thấy mắt anh Nám lóe sáng. Tôi chỉ hiểu cái ánh sáng ấy khi thấy anh Năm đã chồm tới nằm đè lên quả lựu đạn. Tiếng nổ hất anh Năm bật lên trước đôi mắt kinh hoàng của tôi. Ngực và bụng anh vỡ nát nhầy nhụa máu lẫn đất bụi. Tôi xô đến ôm lấy anh. Anh đã chết rồi, ngay tức khắc, nhưng đôi mắt vẫn mở lớn nhìn tôi trân trối. Một cái nhìn suốt đời tôi sẽ không quên.

        Sơn ngừng kể, quay mặt ra dòng suối. Đức cảm thấy cổ mình tắt nghẹn, không nói được một lời. Bóng tối chung quanh dường như nặng nề hơn, với tiếng thở mệt nhọc của hai người và tiếng suối âm thầm chảy.

        Mãi một lúc sau, Sơn mới tiếp, giọng lạc hẳn:

        - Thay vì cả hai cùng chết thì anh Năm đã hy sinh cho tôi được sống, cũng chỉ vì sau này muốn tôi tiếp tục việc học và trở về với cô ấy. Tôi đã thầm hứa với anh Năm, dù có lúc tôi đã quên đi, là tôi sẽ sống sao cho xứng đáng với anh, và sau này có về được, tôi sẽ cố gắng học hành như ý anh muốn. Nhung còn cô ấy thì... Anh biết không, sau trận đó, tôi cũng phải nằm viện mất một tháng, rồi được trên cho về thăm nhà ít ngày. Tôi có mua cho cô ít mét vải hoa trong tiền dành dụm của mình. Đến đầu ngõ nhà cô, chân tôi run đến mức đi không muốn nổi khi nhìn thấy dàn hoa giấy quen thuộc ngày nào. Vậy mả... Cô ấy dường như có nhà Mẹ cô nói với tôi: “Nếu cậu thương em thì đừng đến đây cùng đừng thư từ gì nữa. Em nó sắp lập gia đình rồi...”

        Sơn nuốt nước miếng một cách khó khăn rồi tiếp:

        - Tôi đem xấp vải ra ngã ba đường, không biết đi đâu mà cũng không biết làm gì. Để lại thì chắc người ta không nhận, mà mang về thì sợ má tôi biết, bà buồn tội nghiệp. Tình cờ có một em bé ôm một cái rổ đi bán gì đó ngang qua. Em có rao mà tôi chẳng nghe được gì, chỉ thấy áo em rách nát cả. Bỗng dưng không hiểu sao tôi thây thương nhớ anh Năm quá. Tôi kêu em lại cho xấp vải rồi bỏ đi trước đôi mắt ngơ ngác nhìn theo. Hôm sau, tôi trở lên đơn vị và ở tới giờ.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 05:42:34 am

        Sơn ngừng nói, đưa tay vuốt mặt, trong khi Đức cảm thấy hình như hòn đá cứng vừa rồi anh đã vô tình nhặt lên đang vỡ nát trong tay. Đức xòe bàn tay và khi thấy những hạt bụi rơi xuống chân anh, anh mới hay đỏ chỉ là một cục đất lớn. Sơn nghiêng người về trước, và giọng anh trầm xuống, nhỏ như đang chỉ thì thầm với mình.

        - Khi bao lâu mình đã quen sống với hình bóng một người và dành tất cả nhũng suy nghĩ cùng hy vọng của mình cho người ấy, rồi bỗng dưng mình biết là... Thật kỳ lạ. Như thể mình không còn là gì nữa, không còn có gì nữa. Tất cả mọi điều chung quanh tự dưng mất hết ý nghĩa và cuộc đời dường như không còn gì vui. Cứ như thế tôi sống như một ngườiỉ ngớ ngẩn suốt một thời gian, trong khi trước kia anh Năm chỉ có một giây để quyết định chịu chết một mình, anh nghĩ tôi có tệ không? Thật tình thì làm sao tôi quên được, nhưng cứ nghĩ tới anh Năm, tôi lại thấy xót xa thêm. Anh chết cho tôi sống, một phần cũng vì cái mối tình trẻ con ấy, mà lối kể lể hào hứng của tôi đã làm anh đinh ninh đó là một hạnh phúc có thật và tôi sẽ tiếp tục hưởng khi trở về. Anh Năm chỉ thật sự được sống từ ngày được đổi đời dưới một mải trường cách mạng. Anh rất tốt và xứng đáng được hưởng bao nhiêu điều tốt đẹp mà xưa kia không hề dám nghĩ tới. Tại sao trong giây phút đó tôi không biết chết cho anh? Có phải tại cô ấy không? Có phải tại tôi còn ích kỷ, trước phút nguy nan chỉ biết có mình không?

        Một hôm, trong một trận đánh hiệp đồng cấp tiểu đoàn, mũi tấn công của đại đội tôi bỗng khựng lại vì một chốt hỏa lực của địch được tổ chức khá kiên cố, có cả đại liên và M.79, trong khi địa hình lại rất trống trải. Liên tiếp nhìn thấy mấy đồng đội bị đốn ngã, trái tìm tôi bỗng sôi lên một nỗi căm thù không sao kìm hãm đưọc. Như bị thúc đẩy bởi một sức mạnh vô hình, đột nhiên tôi bật dậy, chồm qua vật cản, la hét những câu vô nghĩa và vừa bắn vừa lao về phía trước. Nhưng chỉ mới được hai bước thì đã có người từ sau bay tới ôm chầm lấy chân tôi, giựt tôi ngả sấp và nhanh nhẹn lôi tôi về vị trí cũ, trong khi đạn địch bắn như mưa mà không hiểu sao không trúng. Tôi giựt mình khi nhàn ra đó là anh Thảnh. Anh thẳng tay tát tôi một cái và hét bằng giọng khản đặc:

        - Mày làm gì vậy? Điên à? Ai dạy mày cái lối đánh đấm đó?

        Tôi khóc mùi mẫn giữa trận địa, không phải vì đau mà vì cái tát làm tôi tỉnh ra, xấu hổ với đồng đội và chính mình. Suốt ngày hôm đó tôi không ăn mà cũng không dám nhìn mặt ai. Buổi tối, anh Thảnh đi tìm tôi:

        - Sơn, tao xin lỗi mày. Sáng tao đánh mày, bậy quá. Mày cũng biết tao nóng lắm và ì ạch hoài cũng vì vậy. Bộ đội cấm ngặt cán bộ đánh chiến sĩ, nhưng tao đánh mày như thằng anh đánh thằng em. Tao chẳng hiểu sao mày điên khùng như vậy. Từ hồi mày ờ Sài Gòn lên, tụi tao đả thấy khác rồi, nhưng mày im re, có ai biết được? Sao, có gì bây giờ nói đi. Đừng có giở trò nữa. Mày quên mất bà già rồi hả? Rồi con nhỏ gì người yêu của mày nữa...

        Chợt anh Thảnh đưa cả hai tay chụp lấy vai tôi lắc mạnh; Mày nói thiệt với tao đi. Nó bỏ mày rồi phải không?

        Làm sao tôi còn có thể giấu anh được nữa? Nghe hết câu chuyện, anh nhìn tôi bằng cái nhìn buồn bực, trách móc xen lẫn cảm thông.

        - Vậy mà mới đầu tao tưởng tại mày nóng trả thù cho thằng Năm. Thì ra tụi bây đứa nào cũng như đứa nấy. Mày coi thường mạng sống chỉ vì thứ con gái thúi đó sao? Tao không nói tới Tổ quốc, tới đơn vị. Chỉ riêng trách nhiệm đối với bà già, mày bỏ đâu? Thằng Năm chết cho mày sống. Mày cũng không cần nhá. Tao chưa thấy thằng nào tệ như mày. Nó chết cho mày vì mày là thằng bạn chiến đấu của nó. Mày cần sống vì nhiều cái khác chứ có phải vì một đứa con gái thôi sao? Giờ này tao hết nóng rồi, nhưng nếu đúng mày là em tao thì chắc tao còn đập một trận nữa.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 05:42:58 am

        Tôi ngồi lặng người nghe anh Thảnh nói, mồ hôi ra uớt cả áo. Tôi không coi thường mạng sống chỉ vì cô ấy đâu. Nhưng chỉ cái việc liều mình một cách vô nghĩa như vậy đã đủ để tôi có tội với tất cả người thân, còn sống và đã chết. Lần đầu tiên tôi xưng em với anh Thảnh:

        - Anh cứ đánh em đi. Em đúng là thằng tệ nhất đời.

        Anh thở dài

        - Mày biết vậy là được rồi. Tao không muốn nói nhiều. Mỗi lần tao mất đứa nào, mày cũng thấy tao bỏ ăn liền mấy bữa mà.

        Đã đứng lên toan bước đi, anh còn quay lại dặn:

        - Đừng có nghe thằng Năm-tình-nghĩa. Tao cũng từng đóng góp nó rồi. Ở đời tình nghĩa là quý. Chuyện đó ai không biết? Nhưng đâu phải với ai mình cũng trọn tình trọn nghĩa được mày?

        Đêm sau, anh Quyết, đại đội phó chính trị lại xuống, rủ tôi ra nói chuyện. Tôi biết anh muốn động viên tôi, không ngờ anh lại bắt đầu bằng một câu hỏi:

        - Cậu biết chuyện anh Thảnh đã có vợ con chưa? Tôi ngạc nhiên nhìn anh, vì từ ngày về đơn vị đến nay, tôi vẫn biết anh Thảnh cón độc thân dù đã ba mươi tuổi. Anh Quyết bắt đầu kể:

        - Đúng ra anh ấy sắp có con thôi. Chị ấy đang mang thai ba tháng thì bị bọn địch bắt. Nếu chị chịu khai chỗ hầm bí mật của anh ấy thì chúng sẽ thả, còn không thì... thằng quận trưởng nói trứng lộn úp mề còn ngon hơn trứng lạt, và bọn chúng thay nhau làm nhục chị cho đến chết. Đang mang thai ba tháng. Cậu hiểu chưa?

        Không để tôi kịp hết kinh hoàng. Anh Quyết lại kể tiếp chuyện anh Tuấn, B trưởng của tôi lúc ấy, tại sao từ 76 đến giờ không đi phép. Lần đi phép năm ấy, tính từ ngày đầu anh bước về nhà cho đến lúc anh trở lên đơn vị rồi nhận đưọc thư của mẹ báo vợ đã sinh con trai đầu lòng, chỉ có sáu tháng rưỡi. Không ai có thế trách gì sự kém tỉnh tường của đôi mắt một người lính chất phác trước một chuyến như vậy. Trong thư mẹ anh đã gọi anh về để giải quyết chuyện đứa con đẻ non sáu tháng rưỡi mà vẫn nặng ba ký và rất mạnh khỏe đó. Anh không về mà viết thư cho vợ, bảo chị hãy tự giải quyết. Cuối cùng chị ấy đã ra riêng, ở với người đàn ông thật sự là cha đứa nhỏ.

        Anh Quyết nói:

        - Tớ đã ở với Tuấn từ lâu. Cậu ấy thương vợ và trông mong một đứa con trai đầu lòng như thế nào, tớ biết lắm chứ. Nhưng cậu ấy có điên khủng như cậu đâu?

        Và anh kết luận:

        - Đó là hai trong nhiều chuyện tương tự mà tớ được biết trong đời quân ngủ ít ỏi của tớ. Không phải tớ muốn nói nỗi buồn của cậu còn chưa đáng kể, vì có ai lại đi so sánh những nỗi đau? Cũng không phải tớ kể để khuyên cậu gì cả. Không khuyên cậu nên tìm cách quên. Cùng không mừng cho cậu đã sớm thoát khỏi một người không ra gì. Theo tớ, đó là một lối an ủi tệ hại nhất. Tớ kể chỉ vì muốn cậu biết rõ hơn điều này, đời lính mình là vậy đấy. Không phải người lính nào cũng gặp những chuyên không may, đau lòng như thế. Nhưng chúng ta phải chuẩn bị tinh thần để sẵn sàng chấp nhận tất cả. Cái chết, cuộc sống gian khổ, nỗi xa gia đình, xa quê hương, và bao nhiêu hy sinh mất mát khác. Muốn vậy, phải hiểu rõ tại sao mình cầm súng. Mình đi chiến đấu là cho những ai và vì những gì? Thậm chí phải truy tới cùng nguyên nhân gây nên tất cả những cảnh đau khổ của chúng ta. Nếu cậu nghĩ tớ tranh thủ giảng chính trị cho cậu thì cũng được thôi. Nhưng đã ở bộ đội thì sớm muộn mình cũng sẽ hiểu tất cả những điều đó. Phải hiểu và đương nhiên hiểu. Khi đã từng cõng trên vai xác chết của đồng đội. Khi đi qua những phần đất điêu tàn của quê hương vừa đổ máu giành lại đưọc. Khi đã tận mắt nhìn thấy nhũng cái xác thương tâm của những người già, cỏ gái và em bé dân mình bị địch tàn sát. Khi đã bất gặp nụ cười của những người dân Campuchia vừa từ địa ngục trở về cuộc sống... Tớ tưởng qua một năm chiến đấu, cậu đã hiểu tất cả những điều đó rồi chứ.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 05:43:28 am

        Sơn ngừng kể, vung tay ném một vật gì đó. Có lẽ cũng là một viên đất bên mình, ra giữa dòng suối. Một tiếng động nhỏ vang lên. Đức nhìn theo, như thể trông mong sẽ tìm thấy nơi viên đất mất tăm, dù trời tối như bưng và anh cũng biết là dòng suối trôi nhanh sẽ cuốn đi tất cả những gợn sóng mà viên đất để lại trên mặt nước. Gió thổi nhè nhẹ như có bàn tay ai mơn man trên gáy hai người. Giọng Sơn thanh thản hơn:

        - Đó là chuyện hai năm trước. Giờ thì tôi không còn trách gì cô ấy mà chỉ mong cô được hạnh phúc, để đừng bao giờ phải ray rứt về việc đã làm. Mỗi người chúng ta đều có những hoàn cảnh riêng mà không hẳn lúc nào ai cũng có thể làm chủ được mình. Phải không anh?

        Đức lặng người đi nghe Sơn nói. Anh biết để nói được những điều này với giọng điềm tĩnh như thế, trái tim Sơn chắc hẳn đã trải qua những nỗi đau tưởng chừng tan nát được, rồi vất vả tự lành lặn như thế nào. Những nỗi đau đó cùng có lúc Đức đã bước qua. Anh buột miệng hỏi Sơn một câu mà sau đó thấy ân hận ngay.

        - Sơn vẫn còn yêu cô ấy phải không?

        Im lặng một lúc lâu. Sơn mới thở dài:

        - Vâng.

        Như tiếng gọi trong căn nhà trống, lời thú nhận vang dội trong tim Đức, khơi dậy trong anh bao xót xa tưởng đã ngủ yên một thời. Những cuộc tình đã qua không bao giờ trở lại, những dấu tích trong trái tim mỗi người sao vẫn mãi không phai? Trong đêm tối, Đức thấy Sơn khẽ lắc đầu như để xua đi cái bóng đen quá khứ đang ám ảnh mình, rồi nhấc đàn lên, rải nhẹ mấy ngón tay. Bài Legenda thánh thót vang lên. Đức bẻ cao cổ áo. Anh cảm thấy hơi lạnh từ dòng suối đã dâng lên tới chỗ hai người. Đặt một điếu thuốc lên môi. Đức bật diêm. Ánh lửa lóe lên, soi sáng một nửa khuôn mặt Sơn đang cúi xuống bên thùng đàn. Đôi mắt Sơn hơi khép lại, và giờ Đức mới để ý thấy Sơn có đôi mi dài, cong vút như con gái. Những sợi lông tơ phơn phớt trên má Sơn và những sợi vải tưa trên chiếc cổ áo đã sờn cũng ửng sáng trước ánh lửa, càng tạo cho gương mặt của Sơn một vẻ đẹp lạ lùng, vẻ đẹp mà trong đó Đức nhìn thấy cả niềm say mê, nỗi chịu đựng, nét phong sương, lòng tự hào và tính khiêm tốn cùng hiển hiện.

        Đức nhìn sững vào gương mặt ấy. Anh đã mường tượng hiểu tại sao chính người thanh niên vừa kể anh nghe câu chuyện đầy tính bi kịch của tình yêu và đồng đội này, cũng là một trong những chiền sĩ xuất sắc của đơn vị anh hùng mà anh đang đến thăm. Tại sao Sơn vẫn vững vàng đi tới sau những thất vọng nát lòng tưởng chừng không thể vượt qua. Tại sao Sơn vẫn điềm tĩnh nói được với anh "Tôi không còn trách gì cô ấy mà chỉ mong cô ây hạnh phúc, để đừng bao giờ phải ray rứt về việc đã làm". Những chiến công lừng lẫy bên cạnh nỗi buồn khó khuây, tấm lòng khoan dung trên nỗi cay đắng nhỏ nhoi, lý tưởng chung cao cả và ước mơ riêng lỡ làng...“ Không phải người lính nào cũng gặp những chuyện không may đau lòng như thế. Nhưng đã ở bộ đội thì sớm muộn mình cũng sẽ hiểu tất cả những điều đó. Phải hiểu và đương nhiên hiểu”. Vâng, nhưng còn Đức, làm sao Đức có thể giải thích những gì vừa tiếp nhận đó cho một số người đọc ở thành phố biết được, mà thương đời lính hơn, khi chính anh chỉ dám tự nhận mới mường tượng hiểu mà thôi?

        Đức hiểu Sơn không muốn, nhưng anh cảm thấy không thể không ghi lại câu chuyện vừa nghe được. Dù đúng như Quyết đã báo trước, Sơn chỉ kể chuyện hai năm trước mà không nói gì đến những thành tích của mình trong thời gian qua, nhưng đối với Đức, như thế cũng đã quá đủ để viết rồi. Dĩ nhiên anh sẽ không viết cho một người con gái vô tình nào đó mà anh hiểu Sơn đã cố ý giấu tên, đọc và âm thầm nhớ lại chuyện ước hẹn bèo bọt ngày xưa. Điều anh mong muốn lớn hơn nhiều, nhưng liệu anh có thực hiện được không với một bài viết ngắn ngủi chừng mười trang giấy và với một ít hiểu biết nhỏ nhoi của anh về đời bộ đội? Và anh sẽ bắt đầu câu chuyện như thế nào? Sẽ kết thúc ở đâu, chỗ Sơn cầm xấp vải hoa ra đứng ngẩn ngơ ở ngã ba đường hay chỗ Sơn vừa nhọc nhằn thú nhận vẫn còn yêu con người ấy?

        Que diêm tắt, Đức mới hay mình chưa đốt thuốc. Tiếng đàn bất chợt nghe như lớn hơn. Dòng suối vẫn róc rách chảy. Và những ngôi sao xa xăm trên kia chợt lấp lánh sáng, gợi nhớ một bài ca ai đó trong đời đã hát rồi quên.

(2-1981)         


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2017, 09:33:57 am

Y THUN

LÊ VĂN LINH         

        Chiếc xe hồng thập tự chạy vào cổng quân y viện, tài xế xe thắng gấp chiếc xe như muốn chồm lên trước khi dừng hẳn. Tôi đứng trong hiên nhìn ra nghĩ thầm: Lái xe như gã này, thương binh có ngày cũng chết vì gã, không biết đoạn đường này từ biên giới về đây gã đã phóng như thế nào? Người tài xế xuống xe rồi đóng sầm cửa ca-bin hối hả ra sau xe. Trên xe hai thương binh nhẹ bước xuống, còn lại ba chiếc băng-ca trong xe. Từ dãy nhà phía bên kia của phòng cấp cứu vài cứu thương nữ chạy băng qua sân, không hỏi một ai, mấy cô im lặng lên xe khiêng cáng xuống.

        - Bị thương ở đâu đấy, đồng chí.

        Người cáng thương nữ đột ngột hỏi anh tài xế. Anh im lặng như chẳng hề có việc gì xảy ra, từ từ đưa chiếc băng-ca cuối cùng xuống xe, rồi trả lời cộc lốc:

        - Ở biên giới.

        Cô cáng thương lườm anh rồi kèm theo nụ cười như chế nhạo:

        - Ông nói hay, ai lại không biết đánh nhau ở biên giới.

        Anh tài xế cười cười, nụ cười dễ dãi:

        - Đánh nhau ở biên giới Tây Ninh ấy mà, ác liệt lắm. Bộ đội ta vừa tiêu diệt bọn “K” gọn cả trung đoàn, tụi còn lại chạy có cờ. Thôi tôi đi nhen mấy cô.

        Nói xong anh tài xế lặng lẽ lên xe rú máy, không quên đóng sầm cánh cửa rồi hối hả cho xe ra cổng quân y viện như lúc đến. Cô cáng thương đứng nhìn theo bóng xe đã chạy xa để lại một ít bụi đỏ mờ, như muốn nghe thêm một chút nữa về chuyện biên giới. Nhưng tiếc quá... cô nhún vai nghĩ thầm - Người gì đâu mà khô như ngói. Lúc nãy quên nhìn kỹ mặt anh ta, hình như còn trẻ lắm thì phải, nhưng sao anh ta không để ý gì đến bọn con gái này nhỉ?... Anh ấy có vẻ vội vã lắm, chắc lại ra chiến trường nữa đây.

        - Nè! Vân. Thôi đi chứ. Mơ mộng gì đấy. Tiếc cậu tài xế hả. Chết với tao đấy nhé.

        Người con gái có khuôn mặt nhí nhảnh, đôi mắt thông minh từ đầu băng-ca nói với cô gái tên Vân rồi cười.

        - Ừ! đi.

        Tôi về quân y viện này đã khá lâu, nhưng tất cả đều còn xa lạ lắm, nhất là đám con gái ồn ào bên phòng cấp cứu và dưới nhà ăn. Hình như con gái đối với tôi bao giờ cũng khó quen thuộc... Tôi chỉ quen mặt mấy cô qua vài lần gặp nhau nơi hành lang của một khu nào đó trong viện, còn ngoài ra tên của các cô ấy thì tôi chịu.... chứ đừng nói là quen.

        - Ê! Đồng chí! Đồng chí!

        Cô gái tên là Vân nhìn vè phía tôi kêu lên. Tôi rời hành lang ra sân (hơi khó chịu về tiếng ê!).

        - Hộ giùm em một tay đi anh.

        Tôi bước lại nơi Vân.

        - Vân đưa tôi cáng cho.

        Cô gái tên Vân nhìn tôi, cặp mắt tròn xoe kinh ngạc. Vân định hỏi tôi “sao anh biết tên em”. Tôi đoán như vậy. Nhưng có lẽ không đúng lúc nên cô ta im lặng.

        Vân rời cáng đi theo sau. Tôi bước đi nhanh làm cô gái đi trước phải la lên:

        - Chậm tý anh.

        - Yếu thế, cô bé?

        - Ai không biết là anh mạnh!

        Cô gái ngoảnh mặt lại nói với tôi, xong lại còn lườm cho tôi một cái nên thân, như thầm bảo: đừng đụng vào tay này. Tôi cũng hơi ớn... Từ phía sau nhìn đến tôi thấy hai vai cô ấy run run, thì ra cô ta đang cười.

        Trên cáng người thương binh trở mình, anh rên khe khẽ.

        - Thôi hạ xuống, anh. - Vân nói với tôi.

        Chiếc băng-ca hạ xuống giữa phòng cấp cứu. Đầu người thương binh nghiêng qua.

        - Ê! - Tôi thốt lên đột ngột rồi cúi xuống nhìn người thương binh:

        - Trời! Y Thun!

        Căn phòng như quay cuồng quanh tôi. Những cảm giác thật kỳ lạ, choáng váng như tôi uống phải cốc rượu mạnh. Mọi người ngạc nhiên nhìn tôi.

        - Anh quen hở. - Vân hỏi tôi.

        - Bạn học cũ.

        Y Thun được đưa vào phòng hồi sức. Tôi ra đứng ngoài hành lang bồn chồn. Ôi! Không ngờ lại gặp Y Thun nơi đây, Y Thun của ngày nào cùng tôi nơi mái trường phổ thông. Y Thun đã lôi kéo tôi vào những kỷ niệm thật dễ thương của tuổi học trò mà tôi không thể nào quên được.

        Trường chúng tôi học là trường dành riêng cho học sinh miền Nam. Ở đây gồm đủ mọi thành phần con của cán bộ tập kết ra Bắc, con của liệt sĩ, con của gia đình có công trong việc nuôi dưỡng cán bộ, bản thân là dũng sĩ...

        Chúng tôi đã sống đầm ấm trong mái trường này, một tập thể đoàn kết và thương nhau hết mực, và cũng nơi đây tôi đã quen Y Thun người dân tộc Ê Đê của Tây Nguyên. Y Thun là bạn tôi cũng giống như những người khác, nhưng nếu như tình bạn cứ bình thản như dòng nước trôi thì không có gì để nói cả... Và tôi cũng có thể quên mất đi Y Thun.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2017, 01:55:15 am

        Tôi và Y Thun đã thân nhau một cách dễ dàng ngay năm học đầu tiên của cấp II. Ở Y Thun tôi thấy nhiều tính rất hay, ít nói, lao động giỏi và có rất nhiều tài vặt. Nếu như Y Thun chỉ nhường cho tôi một trong những cái ấy thì cũng đủ làm cho tôi nổi danh trong trường rồi.

        Nếu như ở môn bóng chuyền Y Thun là một tay đập cừ khôi của đội bóng thì ở môn bóng đá Y Thun lại là một tiền đạo làm nhiều thủ môn của đội bạn nản lòng. Nhưng đâu phải chỉ có ngần ấy... hàng năm nhà trường thường tổ chức thi thể thao vào những kỳ lễ lớn thì ở môn nào cũng đều có mặt của Y Thun. Chạy cự ly 100m, 1.000m, ném tạ, bơi lội, môn nào Y Thun cũng nhất cả. Nhiều lúc chúng tôi đã phải tự hỏi phải chăng Y Thun là nơi tổng họp của nhiều danh thủ ở mọi bộ môn. Còn riêng tôi, Y Thun đã làm cho tôi thèm ghê gớm.

        Buổi sáng tôi ra sân bóng của trường, lúc này ngoài sân đã đầy đủ tất cả, thời gian này đội bóng đá trường tôi luyện tập thường xuyên để chuẩn bị tranh giải bóng đá học sinh do Phòng giáo dục tổ chức hàng năm. Tôi vừa ra đến sân bóng, giáo viên thể dục thể thao hỏi tôi ngay:

        - Còn Y Thun đâu mà chưa ra?

        - Dạ Y Thun đi đâu em không biết. Có lẽ Y Thun bị bệnh, mấy hôm nay em thấy Y Thun có vẻ mệt mỏi lắm.

        Nhìn mặt thầy Ngọc, tôi biết thầy đang lo lắm, nhỡ như Y Thun không đá được trận sắp đến thì đội bóng khó mà thắng với mấy trường khác. Rồi ai đi thi điền kinh gồm năm môn phối hợp nữa đây.

        Cứ thật ra mà nói Y Thun là con cưng của thầy Ngọc và nhà trường. Y Thun đã được thầy Ngọc gỏi gắm với giáo viên chủ nhiệm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Y Thun tập dượt các môn. Thậm chí trong kỳ kiểm tra chất lượng học kỳ I vừa rồi, Y Thun đã thiếu điểm đến hai môn, đáng lẽ ra là Y Thun đã phải thi lại, nhưng “nhờ" thầy Ngọc nói hộ, giáo viên chủ nhiệm và bộ môn cũng thông cảm bỏ qua, vì thấy Y Thun đã cố gắng học và có hy vọng sẽ đuổi kịp bạn bè trong lớp.

        Thầy Ngọc định nói gì thêm, nhưng thôi. Sau buổi tập ấy tôi về phòng vì chúng tôi ở nội trú. Quái nhỉ? Y Thun đi đâu cà. Tôi chạy tìm khắp nơi, cuối cùng mới tìm thấy được Y Thun trên tầng lầu hai... Y Thun đang ngồi đó, hắn đang hút thuốc, đôi mắt màu đục của hắn như trùng xuống, đăm chiêu, thỉnh thoảng Y Thun rít một hơi thuốc rồi nhả khói từ từ... Ôi! Lần đầu tiên tôi mới thấy Y Thun như thế này. Y Thun nhớ nhà, nhớ Tâv Nguyên chăng. Nhớ nhà thì không rồi, bố mẹ của Y Thun đã ra đây từ lâu và sinh Y Thun nơi đây kia mà. Mỗi chủ nhật từ nơi bố Y Thun công tác ông vẫn đạp xe về đây thăm Y Thun... Tôi đã nghe Y Thun nói về Tây Nguyên do bố Y Thun kể cho Y Thun. Tôi vẫn thường nghe người ta ca ngợi về sự giàu đẹp của Tây Nguyên và con người Tây Nguyên. Tôi và Y Thun thường ước mơ sau này đất nước thống nhất tôi sẽ đi thăm Tây Nguyên còn Y Thun sẽ thăm vùng biên quê tôi.

        Y Thun vẫn ngồi im, đôi mắt màu đục của Y Thun không còn cúi xuống nữa, Y Thun nhìn qua bên kia dãy nhà dành cho học sinh nữ, dưới kia một cô bé đang ngồi học bài trong góc học tập cạnh cửa sổ. Thì ra hắn đang mơ mộng. Tôi đã đến sau lưng Y Thun nhưng hắn nào có hay...

        - Y Thun!

        Y Thun giật mình quay lại. Nhìn hắn, nhìn đôi mắt đục đục của Y Thun tôi thấy hắn bối rối, lúng túng như đã bị tôi bắt gặp hắn đang làm một việc tày trời.

        - À! Tao bắt được rồi đấy nhé! Dám cả gan nhìn con gái. Chết! Tao nói với bọn thằng Quang.

        Y Thun vừa nghe tôi nói đến tên Quang, cậu ta đã sợ thật sự. Trong bọn chúng tôi đã đặt Quang kèm theo cái tên nữa là “Quang thông tin”. Đúng là Quang thông tin, mọi chuyên lớn nhỏ ở trong trường này, chuyện ở ngoài thị xã, chuyện thời sự quốc tế... chuyện gì hình như “Quang thông tin” củng biết và khi “Quang thông tin” biết thì hẳn đã làm tròn chức trách với cái tên mà bọn tôi đã đặt cho hắn. Đến nơi này Quang nói một tý, lại phòng kia một tý, rồi cuối cùng mọi người đều biết.

        Sau mỗi câu chuyện “Quang thông tin” kể hắn còn phân tích thêm tí ti cho thêm phần quan trọng, mà chuyên gì bắt đầu kể hắn cũng: "Tao nghe đâu...” hay "Tao nghe đâu hình như...”. Thật là khổ sở cho những người liên quan trong câu chuyện hắn kể, nếu bị hắn chê, và ngược lại.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2017, 01:56:09 am

        Y Thun đả đứng hẳn dậy, hắn nhìn tôi bằng cặp mắt đục ngầu như nước sông Hồng tháng mười.

        - Không tao không có nhìn con gái đâu. Đứng nói bậy bọn thằng Quang nghe nhen, Minh.

        Y Thun vỗ vai tôi, hắn nói nhỏ nhẹ, giọng hắn trầm xuống nỉ non. Tôi thấy tội tội cho sự nhút nhát của Y Thun. Nếu như tôi, thì tôi cho qua ngay... nhìn con gái thì đã sao?

        - Ừ! Tao nói giỡn đấy. Thôi đi chơi với tao.

        Y Thun nhìn tôi, ánh mắt như cảm ơn. Thật là kỳ cục.

        - Đi đâu hở Minh?

        Tôi chỉ tay qua căn phòng phía nhà dưới dành cho nữ mà lúc nãy Y Thun đã nhìn.

        - Xuống đó chơi.

        - Xuống chỗ con gái à! Tao sợ lắm.

        - Nhát cáy. Chỉ chuyên môn nhìn trộm.

        Y Thun đỏ mặt khi tôi dùng tiếng nhìn trộm.

        - Đi không nè.

        Y Thun lưỡng lự nhưng do sợ chuyện cậu đã nhìn trộm bị tôi nối với bọn thằng Quang nên Y Thun cũng đành phải đi, nhưng còn nói rằng:

        - Nhưng xuống đó làm gì, kỳ lắm.

        - Thôi tào lao quá ông, cứ đi với tao đi, tao lấy cuốn sách tí thôi.

        - Ông nói gì thì nói, tui không biết đấy.

        Tôi cười nói:

        - Tao đã nhát rồi nhưng mày còn hơn tao.

        Tôi và Y Thun xuống dưới sân, trời lất phất mưa, những hạt mưa li ti. Không hiểu tại sao tôi lại thích những cơn mưa như thế này? Chỉ biết rằng đi dưới những cơn mưa ấy, thì hay lắm... nó có vẻ phong sương. Khi qua đến đầu dãy nhà dành cho học sinh nữ, tôi cứ để mặc cho những hạt mưa li ti ấy bám lên tóc cho có vẻ hay hay, tôi còn cho tay phải vào túi quần cho có vẻ tự nhiên và thêm phần người lớn. Tuổi dậy thì ưa làm dáng như một chú gà con tập gáy...

        - Thôi tao đứng đây mày vào đi.

        Nhìn vẻ mặt cương quyết của Y Thun tôi biết lần này hắn không đi thật... Tôi cũng cảm thấy sờ sợ, run run khi phải vào phòng con gái. Ôi! Những đứa con gái có gì đâu mà ghê thế nhỉ, tim tôi đã bắt đầu tăng nhịp, nhưng đã lỡ rồi, đã trót làm tàng với Y Thun rồi, nếu bây giờ mà bể thì ê mặt lắm. Biết thế cứ bảo thằng Hùng đòi sách lại có hay không? Mà tức thằng Hùng ghê, mượn của người ta mà bày đặt làm dóc cho con gái mượn. Bảo đòi lại thì nói kỳ lắm... Kỳ lắm. Thật là đáng ghét.

        - Đồ nhát gan! Đứng đó tao vào.

        Tôi lúc này như người bị bắt nhảy xuống nước giữa cơn gió lạnh... đây là lần đầu tiên khi tôi phải vào phòng con gái một mình. Mặc dầu những khuôn mặt này tôi có lạ gì đâu, nhưng kẹt nỗi lại đi đòi sách của Hồng Tuyết, đứa con gái có khuôn mặt trái xoan và đôi mắt theo tôi thì không chê vào đâu được. Hôm trước, lúc nhà trường tập trung học sinh toàn khối để nói chuyện, tôi đã nhỡ nhìn trộm Hồng Tuyết, tôi cũng đã nhìn giống như Y Thun đã nhìn cô bẻ nào lúc nãy. Nhưng không may cho tôi, Hồng Tuyết đã bắt gặp. Hai ánh mắt trẻ con gặp nhau ngập ngừng... Một luồng cảm giác lâng lâng đẽn với tôi, người tôi như nổi gai và cảm thấy lành lạnh nơi xương sống, còn Hồng Tuyết thì chớp mắt đỏ mặt. Cái chớp mắt đó đã làm tôi phải nghĩ nhiều.

        Tôi đã muốn bỏ về, nhưng sao mâu thuẫn quá, sợ mà vẫn muốn gặp. Trong phòng có tiếng ồn ào. Một cô bé (tôi vẳn thích kêu con gái là cô bé) nhìn ra. Thấy tôi cứ ngập ngừng ngoài cửa, cô bé bước ra hỏi tôi.

        - Anh tìm ai vậy?

        Tôi sắp sửa “dạ”. Nhưng kìm được, cũng may.

        - Tôi gặp Hồng Tuyết, chị gọi giùm tôi tí.

        Cô bé vào kêu Hồng Tuyết ra, khi Hồng Tuyềt đă đứng trước mặt tôi, tôi chỉ nói được mấy tiếng lí nhí trong cổ. “Hồng Tuyết cho tôi mượn lại mấy cuốn sách... của Hùng cho Tuyết mượn...”. Nói có mấy tiếng thế mà tôi đã tưởng mình vừa thuyết minh xong một tác phẩm. Hồng Tuyết cười rồi vào lấy sách đưa tôi.

        - Cảm ơn anh nhen.

        Tôi chào Hồng Tuyết, Hồng Tuyết lại mỉm cười... Tôi vừa bước ra ngoài sân, Y Thun đã hỏi tôi ngay:

        - Mày quen con đó à!

        Tôi nhún mình, rồi đưa ngón tay cái ra trước mặt Y Thun, trả lời:

        - Người yêu của tao đó. Mày không thấy nó cười với tao à.

        Y Thun ngây thơ hỏi lại:

        - Của mày thật à!

        - Ừ! Của tao đấy. Hết sẩy chưa!

        Hai đứa về phòng, mặt Y Thun rũ rượi như người chán đời. Tôi cũng chẳng hề để ý gì cả.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2017, 01:56:49 am

        Những ngày chuẩn bị tranh giải bóng đá học sinh đến thật nhanh. Đội bóng đá trường tôi ai cũng phấn khởi lắm vì nắm chắc hy vọng vào tranh giải vô địch năm nay, duy chỉ có Y Thun là vẫn buồn buồn. Thầy Ngọc lo lắng hỏi Y Thun: Sao lúc này Y Thun có vẻ buồn? Y Thun im lặng... hỏi mãi Y Thun mới nói Y Thun bệnh. Thầy Ngọc liền dẫn xuống phòng y tế của trường, y sĩ lắc đầu bảo không có bệnh gì cả. Trong bọn tôi đã có anh xì xào: "Thằng Y Thun làm cao gớm, nó tưởng không có nó đội bóng mình thua chắc”.

        Năm đó, không may cho đội bóng trường tôi, ngay trận đầu tiên trường tôi đả gập phải đội bóng trường Lê Hồng Phong. Đội này chơi rất khá, năm ngoái trưòng tôi vất vả lắm mới thắng được 1-0. Năm nay nghe đâu mạnh lắm. Thầy Ngọc cũng cảm thấy ngại ngại nhưng luôn động viên chúng tôi.

        Hôm đá bóng thật là vui, trường tôi đi xem thật đông ngồi hết cả một bên khán đài của sân vận động thị xã. Bên kia là học sinh của đội bạn, ngoài ra học sinh các trường khác cũng kéo về đây.

        Tôi mặc áo số 10 đá góc trái của hàng tiền đạo. Đây là lần đầu tiên tôi mới được đá chính thức trong một trận như thế này (từ trước chỉ chuyên môn làm cầu thủ dự bị), tai tôi nóng bừng lên và hãnh diện khi đội bóng chạy ra sân chào khán giả. Khi đi ngang qua nơi Hồng Tuyết ngồi, tôi cố tình đi chậm lại cho Hồng Tuyềt thấy, may mắn cho tôi, Hồng Tuyết đã nhìn thấy tôi, cô bé mỉm cười, mặt tôi bừng lên vì sung sướng.

        Y Thun là đội trưởng đội bóng đá trường tôi, hắn cầm bóng đi đầu. Sau khi qua mọi thủ tục, hai đội bất đầu chơi hiệp một. Thật là bất ngờ ngay những phút đầu tiên chúng tôi đã bị đội Lê Hồng Phong tấn công tới tấp, suýt làm bàn ở ngay phút thứ năm, khi số 8 hàng tiền đạo đội Lê Hồng Phong bằng cú sút chuẩn xác từ góc trái quả bóng bay vào khung thành, nhưng may quá bóng đã đụng vào xà ngang văng ra. Phía bên kia sân học sinh trường Lê Hồng Phong cổ vũ nồng nhiệt. Đội bóng trường tôi bắt đầu lúng túng.

        Ở phút thứ 16, Dân mang số 4 dẫn banh thật nhanh qua góc trái hàng tiền đạo của đội Lê Hồng Phong rồi đưa bóng cho Hùng, Hùng dẫn bóng qua hàng phòng thủ của đội Lê Hồng Phong, Hùng chuyền bóng nhẹ nhàng cho Y Thun (trên khán đài đã có tiếng ồn ào, học sinh các trường đều biết tiếng Y Thun từ năm ngoái...) Y Thun chận bóng lại, nhưng ê kìa... quả bóng đã tuột khỏi chân Y Thun. Cầu thủ đội Lê Hồng Phong đã kịp thời phá bóng.

        Ngoài sân có tiếng ồn ào, bàn tán:

        - Thằng Y Thun đã hết thời rồi.

        - Quả bóng như thế mà để mất, vậy mà làm cao. Dân bực tức vừa đi vừa nói. Y Thun cúi đầu im lặng.

        Trận đấu lại tiếp tục, đội tôi chơi hết ăn ý với nhau. Hàng tiền đạo hôm nay chơi mà sao dở thế, đã mất nhiều cơ hội làm bàn, cả Y Thun nữa.

        Phút 30 bằng cú đội đầu của đội Lê Hồng Phong, khi đội chúng tôi bị phạt góc trái, đội Lê Hồng Phong đã ghi bàn thắng đầu tiên.

        Đội Lê Hồng Phong vỗ tay ầm lên. Nhìn về phía màu áo hồng nơi Hồng Tuyết ngồi. Tôi cảm thấy khó chịu và nghĩ thầm: Không biết con gái đi xem đá bóng để làm gì?

        Chỉ còn năm phút nữa là hết hiệp một, tỉ số vẫn 1-0 nghiêng về đội Lê Hồng Phong. Khi được banh của Phước chuyền cho tôi, tôi liền dẫn bóng vào giữa “tính” làm bàn, nhưng đội Lê Hồng Phong kèm sát quá. Tôi liền chuyền bóng bổng cho Y Thun đang ở giữa. Nhưng Y Thun lúng túng để bóng chạm tay. Trọng tài thổi còi phạt. Học sinh trường tôi la ầm lên, có tiếng phản đối.

        - Y Thun ra sân đi! Thế đứa khác vào!

        - Y Thun hết thời rồi!

        Nhìn lên khán đài danh dự tôi thấy thầy Ngọc đứng dậy lấy khăn tay ra lau mồ hôi trán... Hiệp một chấm dứt, đội Lê Hồng Phong vẫn dẫn đầu với tỉ số 1-0.

        Giờ nghỉ giải lao chúng tôi quây quanh thầy Ngọc. Đằng kia Y Thun ngồi một mình, cúi đầu... Dân đề nghị thầy Ngọc cho thay Y Thun. Tôi liền phản đối, hãy để cho Y Thun đá tí nửa xem sao. Thầy Ngọc bằng lòng.

        Tôi đi lại nơi Y Thun ngồi.

        - Y Thun!

        - Gì!

        - Sao hôm nay cậu chơi tồi thế?

        - ...

        - Sao vậy Y Thun?

        Y Thun thở dài:

        - Tao không đá được, tao nhớ lắm.

        - Mày nhớ ai?...

        Y Thun im lặng.

        - Nhớ ai?

        - Tao nhớ Hồng Tuyết. Y Thun nói xong thở phào như trút được gánh nặng. Tôi như trên trời rơi xuống vì sửng sốt. Chao ôi! Cái miệng Y Thun thật là khổ sở khi phải nói điều này.

        - Mày nhớ Hồng Tuyết à! Tao nhường cho.

        Y Thun chộp tay tôi.

        - Mày nói thật hở Minh?

        - Ừ! Tao sẽ nhường, và giúp mày nữa.

        Nét mặt Y Thun tươi hẳn lên, đôi mắt hắn như chứa cả trăm ngàn vì sao.

        Trọng tài đà thổi còi hiệp 2.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2017, 01:59:18 am

        Đội Lê Hồng Phong thay người có vẻ chủ quan lắm. Ngay phút đầu tiên giao banh, tôi được banh, lừa qua hàng đầu của đội Lê Hồng Phong, tôi sút mạnh quả bóng bay qua cánh trái, Y Thun chạy nhanh như tên chặn được bóng, Y Thun dẫn qua hàng phòng thủ của đội Lê Hồng Phong rồi sút mạnh, quả bóng bay nhanh quá, thủ môn đội Lê Hồng Phong đứng ngẩn người...

        Tiếng vỗ tay của khán giả vang lên. Tỉ số đã ghi đều ở phút thứ hai của hiệp hai.

        - Hiệp đầu thằng Y Thun nó thả đấy.

        - Thế đấy chứ! Tao biết liền. Chả lẽ Y Thun lại chơi tệ thế à!

        Đi ngang qua đám học sinh, nghe lời bàn tán, tôi mỉm cười...

        Đội Lê Hồng Phong đã bắt đầu bị đội chúng tôi tấn công tới tấp. Ở phút thứ 20, Dân được banh dẫn sâu xuống phần sân của đội Lê Hồng Phong, nhưng đội Lê Hồng Phong kèm giữ quá, Dân đưa bóng cho Phước, Phước sút mạnh quả bóng đụng chân thủ môn đội Lê Hồng Phong văng ra, Y Thun chạy theo chặn lại rồi sút bằng chân trái, quả bóng bay vào góc trái của khung thành đội Lê Hồng Phong. Thủ môn bay ra nhưng đã muộn.

        Tỉ số đã nghiêng về đội trường tôi là 2- 1, chỉ còn 15 phút nữa thôi là trận đấu chấm dứt. Đội Lê Hồng Phong cố gỡ hòa, nhưng gặp phải hàng phòng thủ trường tôi khá mạnh, lại có thủ môn Hòe vượn bắt bóng như lượm trái cây, thành ra đã làm cho hàng tiền đạo đội Lê Hồng Phong nản lòng.

        Chỉ còn hai phút nữa.

        Y Thun được bóng, và tỉ số bây giờ vọt lên 3-1, (bàn thắng theo tôi nghĩ có lẽ Y Thun đền ơn).

        Trên khán đài dành cho học sinh trường tôi, tôi đã tìm thấy Hồng Tuyết dễ dàng nhờ màu áo vàng nổi bạt. Hồng Tuyết đứng vỗ tay ở xa quá, nhưng hình như Hồng Tuyết đang mỉm cười với tôi nữa thì phải...

        Kể ra con gái đi xem đá bóng cũng có lợi...

        Bây giờ đền lượt tôi buồn... có lẽ còn hơn cả Y Thun nữa. Tôi cũng đã ra ngồi một mình dưới gốc cày, cũng cầm điếu thuốc đàng hoàng, thuốc đã châm rồi nhưng tôi không hút (tôi không biết hút thuốc), nhưng nếu buồn mà không có khói thuốc thì lạt lẽo lắm.

        - Mình phải “nhường” Hồng Tuyết cho Y Thun. Thật là đau khổ ghê! Tuổi muốn làm người lớn sao cứ rắc rối nhiều chuyện. Ôi! Anh mắt của Hồng Tuyềt, nụ cười của Hồng Tuyết. Đã bao đêm rồi làm tôi cứ nghĩ vẩn vơ... trẻ con cũng có tình yêu của trẻ con. Mười sáu, mười bảy tuổi còn gì... Đã bao lần tôi đã đứng tần ngần dưới mưa cốt để nhìn thấy dáng Hồng Tuyết rồi về mới ăn ngon, ngủ yên, dù có nhìn cái cửa sổ đóng im lìm tôi cũng hài lòng.

        Thế mà bày giờ phải “nhường” Hồng Tuyết cho Y Thun. Tôi cảm thấy ghen ghen. Nhưng nhớ đến cái miệng thật tội nghiệp của Y Thun khi nói với tôi:

        - Tao nhớ Hồng Tuyết.

        Tôi lại thấy thương thương Y Thun. Thôi mình đành “hy sinh” vậy.

        Sáng nay Y Thun đã hỏi tôi, hắn muốn thương Hồng Tuyết thì phải làm sao. Tôi ra vẻ “quân sư" bĩu môi rồi nói:

        - Mày phải viết một lá thư tỏ tình.

        - Thư tò tình à.

        - Ừ!

        - Nhỡ nó không nhận thì sao?

        - Đồ ngu! Ở ngoài bìa thư ai bảo mày để trống không chi, mày phải trích bốn câu thơ của ông Xuân Diệu đề vào. Này nhé:

                                  “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất,
                                  Gửi cho em kèm với một lá thư
                                  Em không nhận là tình anh đã mất
                                  Tình đã trao không lấy lại bao giờ”


        Con gái nó rất mềm lòng mày ạ! Nó sợ mày buồn nên nhất định nó sẽ nhận và sẽ thương mày.

        Y Thun nghe tôi nói xong, hắn gật gù thán phục:

        - Mày tài quá,

        - Đó là sơ sơ thôi đấy nhé. Tao còn thuộc nhiều lắm kia.

        - Này Minh!

        - Gì?

        - Mày viết giùm tao một lá thư đi.

        - Ừ! Gì chứ giúp mày thì được.

        Buổi tối tôi đã bỏ cả học bài, mặc dầu ngày mai kiểm tra môn toán một tiết. Tôi ngồi vào góc học tập thảo cho Y Thun một lá thư để hắn gởi cho Hồng Tuyết.

        Đêm buồn thị xã...

        Hồng Tuyết thương nhớ!

        "... Hồng Tuyết sẽ ngạc nhiên nhiều lắm khi nhận được thư này của tôi...

        Tôi kết thúc bức thư: Thôi! Đêm đã khuya rồi gà đã gáy (tôi pha thêm tí màu mè cho hay). Tôi xin dừng bút nơi đây.

        Chúc Hồng Tuyết ngủ ngon.


Người yêu Hồng Tuyết         
Y Thun                 

        Viết xong, tôi đưa Y Thun đọc lại, Y Thun đỏ mặt rồi nói với tôi:

        - Ông viết gì mà ghê quá.

        - Kệ! Không sao đâu. Thư tỏ tình phải viết như thế mới được.

        Mà thật vậy, viết thư cho Y Thun tôi mới dám viết như thế chứ, còn cho tôi thì... Hai ngày sau, Y Thun đã gởi được lá thư cho Hồng Tuyết.

        Tôi đã giật thót ngưòi... khi nhìn thấy Y Thun và Hồng Tuyết đang đứng nói chuvện dưới sân. Không hiểu Hồng Tuyết đang nói gì, chỉ thấy Y Thun cúi đầu, mũi chân dí xuống đất, tay bứt cành lá bên cạnh. Thật không ngờ thằng Y Thun lại tài hơn mình, hay là nhờ lá thư mình viết cho nó “chất lượng” quá. Tôi cảm thấy tưng tức... mặt nóng bừng.

        Dưới sân Y Thun đã ngẩng đầu lên nói gì đó với Hồng Tuyết, mắt Y Thun nhìn lảng ra xa. Tôi nghĩ thầm: thằng Y Thun nhát quá, tao mà như mày thì phải biết, cứ nhìn thẳng vào mắt nó, có gì đâu mà sợ chứ.


Tiêu đề: Re: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2017, 02:01:19 am

        Hồng Tuyết đã đi rồi, Y Thun chạy tìm tôi.

        - Nói gì mà “tình” thế? Tôi kéo dài chữ tình ra như muốn trêu Y Thun.

        - Nguy rồi mày ơi!

        - Gì mà nguy?

        - Nó đòi đem thư cho thầy hiệu trưởng xem.

        - Hả! Mày nói sao?

        Y Thun lắp bắp nói lại. Tôi hơi run.

        - Thế mày có nói ai viết không?

        Y Thun ngần ngừ rồi đáp có.

        - Ôi! Mày hại tao rồi, tao nể mày lắm tao mới viết giùm, sao mày lại khai tao.

        - Tao đâu có muốn khai. Nhưng nó phê bình tao dữ quá. Nó nói còn nhỏ phải lo học cho giỏi, phải phấn đấu trở thành người học sinh tiên tiến. Chuyện ấy hãy còn quá sớm, chờ lớn đóng góp cho xả hội rồi hãy hay... Rồi nó bắt tao nhận khuyết điểm, sủa chữa... Nó là đoàn viên mà... Nó còn nói nhiều quá, nhưng tao quên mất...

        Từ hôm ấy mỗi khi gặp Hồng Tuyết tôi không dám nhìn. Nhỡ Hồng Tuyết ghét, đưa thư cho thầy hiệu trường xem, thì lại phiền...

        Và tôi cảm thấy sợ thật sự. Cuối năm đó, trong một đợt đăng ký nghĩa vụ quân sự, Y Thun đã tình nguyện gia nhập quân đội.

        Hôm nay Y Thun đã tỉnh dậy sau khi đã giải phẩu nơi đẩu và cổ chân. Y Thun đã ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi, vẫn đôi mắt đục đục, cái miệng thật là tội nghiệp như ngày nào, Y Thun cố gắng mới nói được: Minh!

        - Không ngờ gặp cậu nơi đây.

        Y Thun mỉm cười...

        - Thế đấy cậu ạ! Cuộc đời có những chuyện tình cờ mà mình không thể ngờ được. Cái ước mơ ngày nào hai đứa trở về miền Nam bây giờ đã thực hiện xong rồi...

        Tôi kể chuyện của tôi từ ngày Y Thun đi bộ đội.

        - Cậu đi bộ đội rồi, tớ ở lại một mình buồn quá trời. Nói thật với cậu, tớ nhớ cậu ghê lắm. Nhưng sao mà cậu tệ quá, chẳng hề viết cho tớ một lá thư nào cả... Tớ đeo đẳng sự học thêm hai năm nữa rồi tốt nghiệp 10. Nhưng tớ đã trượt ngay ở cổng trường Đại học, đây cũng là một bài học sâu sắc: “Những cậu nào ở mái trường phổ thông không lo học, mải nghĩ chuyện vớ vẩn, thì chỉ có vậy". Tớ đậu được tốt nghiệp thì cũng may rồi. Tưởng đâu phải mài sách thêm năm nữa rồi chứ. Rồi tớ đã trúng ngay vào đợt tuyển quân đi bộ đội. Vào bộ đội tớ được chọn làm y tá một năm rồi về đây gặp cậu...

        Tôi kể huyên thuyên. Y Thun nằm im lắng nghe, tưởng Y Thun nghe nữa tôi bèn kể tiếp.

        - Ê! Cậu còn nhớ Hồng Tuyết không? Y Thun gật đầu - Hồng Tuyết giờ thì “ngon" rồi. Sinh viên y khoa năm thứ hai, vẫn thường viết thư cho tớ luôn, có hỏi địa chỉ của cậu nhưng tớ chịu Hồng Tuyết có nhắc đến chuyện ngày xưa, câu chuyện trẻ con ấy mà, nghĩ lại xấu hổ ghê, đúng là ngựa non háu đá... Nhưng có thế mới gọi là kỷ niệm đáng nhớ phải không cậu?

        Y Thun cười... Tôi lại tiếp:

        - Còn chuyện của cậu? Thôi, cậu khỏi kể. Tớ đã biết rồi, cậu cừ quá! Tớ đã đọc báo thấy in ảnh của cậu, lại được tặng huân chương... tớ bắt thèm - Thế một mình cậu đã đánh một trung đội nó, hả?

        Y Thun trở mình rồi kể:

        - Cậu đọc báo cũng rõ, bọn "K" nó ác ghê lắm. Nếu cậu chứng kiến tội ác của chúng gây ra, cậu cũng sẽ như tớ thôi. Lần đầu tiên tớ đã khóc khi thấy những cảnh này... một lần tớ đã thấy một người phụ nữ thân thể trần truồng bị bọn lính "K" hiếp xong rồi đâm nát người. Nói thật với cậu, nếu như lúc ấy có một thằng “K” nào, tớ sè bóp cổ nó cho đến chết... Mà nếu như không có chúng nó, thì tớ đã ở Tây Nguyên sản xuất rồi. Cậu nghĩ xem, lúa, ngô đang độ chín chưa kịp gặt hái đành phải bỏ đi.

        Mấy hôm nay trời trở lạnh, khí hậu ở đây thật là đáng ghét, lúc nóng thì khô cả người còn lạnh thì nhức cả xương. Mùa lạnh chỉ dành riêng cho con gái, tôi nghĩ vậy... Ngay buổi sáng đầu tiên cái lạnh xuất hiện, thì ôi thôi, ngoài đường đúng là trăm hoa đua nở, đủ cả trăm nghìn màu áo. Nhìn hoa cả mắt. Hình như con gái chỉ chờ có thế... Cả cô Vân nữa, khi buổi sáng dưới khu phẫu đi lên tôi đã gặp Vân mặc chiếc áo len màu đỏ choét, nhìn nhức cả mắt. Thế mà tôi đã khen.

        - Vân mặc áo màu đỏ trông nổi ghê.

        Vân lườm tỏi... cái lườm của sự sung sướng.

        Bước qua dày hành lang khu hồi sức, tôi định rẽ vào thăm Y Thun nhưng ê kìa. Y Thun đi đâu mà mang xách thế nhỉ? Vừa thấv tôi, Y Thun đã nói ngay - tớ chờ cậu lâu quá. Hôm nay tớ về đơn vị.

        - Cậu chưa khỏi hẳn mà. Bác sĩ Ngọc bảo thế.

        - Thế là được rồi. Cậu ở lại mạnh giỏi. Dẹp xong thằng "K” tớ sẽ về thăm cậu. Tớ không bao giờ quên cậu. Dù sao...

        Tôi đưa Y Thun ra cổng quân y viện. Y Thun xiết chặt tay tôi, bàn tay Y Thun nóng hổi.

        - Thôi, tớ đi nhé cậu.

        - Ừ! Cậu đi...

        Dáng Y Thun tập tễnh vì vết thương chưa lành hẳn, đã khuất ở cuối hàng cây bạch đàn.

Chốt Sầm Rông         
Ngày 12-9-1978       

HẾT