Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: snowangel_2saw trong 15 Tháng Ba, 2008, 09:02:07 pm



Tiêu đề: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: snowangel_2saw trong 15 Tháng Ba, 2008, 09:02:07 pm
 
Những súng đầu tiên. Hỏa mai khoảng năm 1470
Thuốc nổ xuất xứ từ Trung Á, nơi sa mạc có nhiều mỏ diêm sinh tự nhiên, sau đó truyền vào Trung Quốc vào khoảng đầu Công nguyên, cùng với kỹ thuật chế những chất dễ cháy. Trong Thiên niên kỷ thứ nhất người ta đã dùng "Hỏa Hổ", là một thứ súng phun lửa. Đến thời nhà Tống cũng xuất hiện những giàn tên lửa đầu tiên. Từ đầu Thiên niên kỷ thứ 2, kỹ thuật luyện kim và trộn thuốc nổ hoàn thiện, người ta dần dần chế ra súng sát thương bằng đạn, thay cho lửa.

Từ đó, ở phương Đông, súng có tên là "Bác" (tức "súng"), "Thần Công" (công phá như thần), "Hỏa Thương" (thương lửa), "Hỏa Mai" (mồi bằng lửa)... Từ thời nhà Tống, tiếng súng còn được dùng làm hiệu lệnh, nên còn có tên là "pháo", loại súng chuyên để làm việc này còn gọi là "súng lệnh", để phân biệt với "pháo lệnh" là ống tre nhồi thuốc nổ không nòng.
Ngày nay trong tiếng Việt, "pháo" chỉ "súng lớn", nghĩa đó cũng thường được gọi bằng từ Hán-Việt "Đại bác". Đồng thời, chữ "pháo" hiện đại cũng chỉ những liều nổ giải trí, như "pháo hoa", "băng pháo"..., vậy đó là hai từ khác nhau cùng nguồn gốc và đồng âm.
Trong khoa học quân sự, súng được gọi là "vũ khí có nòng". Khoa học nghiên cứu về súng gọi súng là "kết cấu vũ khí có nòng". Khoa học nghiên cứu về chuyển động của đạn, gọi là "đường đạn", bao gồm các môn nhỏ hơn là "thuật phóng trong" mô tả chuyển dộng của đạn trong nòng và "thuật phóng ngoài" mô tả chuyển động của đạn ngoài nòng.
Súng trong tiếng châu Âu là cannon, xuất xứ là "ống". Hiện tượng này cũng giống như tiếng Việt có cụm từ "súng ống".
Từ "hỏa hổ" đến "đại bác"
Từ đời nhà Tống, súng là một ống đồng hay gang đúc, một đầu bịt kín, gọi là nòng. Đầu bịt kín có khoan một lỗ nhỏ để tra ngòi. Người ta đổ thuốc nổ vào đáy ống, nhồi tiếp đạn, lèn chặt. Khi bắn, đốt ngòi bằng lửa. Súng có thể bắn đạn cầu bằng gang hay đá, cũng có thể bắn mảnh gang (đạn ria). Thuốc nổ sử dụng là thuốc nổ đen, được trộn từ diêm sinh (KNO3) và bột than củi giã mịn. Khi thuốc nổ còn yếu thì chỉ dùng lửa sát thương. Hỏa Hổ có nguyên lý như những súng phun lửa ngày nay, thuốc nổ trộn dư chất khử. Đến thế kỷ 15, súng được Hoàng tử Hồ Nguyên Trừng hoàn thiện và sử dụng rộng rãi (sau ông làm Thượng thư bộ Công, đứng đầu ngành chế súng tại Trung Quốc). Cũng thời điểm đó, châu Âu xuất hiện những súng nhỏ yếu.

Súng hỏa mai.
Ban đầu, tất cả các súng đều mồi lửa, gọi "là súng hỏa mai". Đến thế kỷ 19 ở châu Âu chỉ còn súng lớn mồi lửa. Các súng bộ binh nòng dài, súng trường dần dần trở thành vũ khí quan trọng, chuyển dần sang dạng "súng kíp". Súng hỏa mai không tạo ra cơ hội điểm hỏa chính xác cho xạ thủ.


Súng kíp.
Năm 1517, người Đức đưa ra súng kíp đầu tiên. Súng được mồi bằng một bánh xe quay cọ vào đã lửa. Đến năm 1570, người Đức cải tiến súng này, kíp là viên đá lửa đập vào mặt kim loại, làm cháy thuốc ở cốc mồi. Lửa được dẫn qua lỗ nhỏ vào khối thuốc chính. Năm 1612, người Pháp cải tiến một lần nữa, đưa ra loại súng kíp phổ biến ở châu Âu, có nắp đậy thuốc súng, chỉ mở ra khi bấm cò để đá lửa lao vào, hạn chế ẩm. Đến đầu thế kỷ 19, súng trường đã trở thành vũ khí chính, với kim hỏa và hạt nổ, súng kíp mới hết thời. Dân tộc Mèo ở nước ta rất giỏi làm súng kíp bằng các phương tiện thô sơ.







(Theo wikipedia)


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - thuật phóng
Gửi bởi: snowangel_2saw trong 15 Tháng Ba, 2008, 09:07:57 pm
Trong lịch sử, thuật phóng trong được xây dựng qua ba giai đoạn, theo khả năng tính toán tăng lên, người ta tăng khối lượng tính. Ban đầu, các nhà bác học coi tốc độ cháy của thuốc nổ là nhanh tức thời, khí cháy không có tỷ khối, áp suất trong nòng luôn đồng đều

Điều này có thể mô tả gần đúng những súng yếu thời cổ nhồi thuốc nổ đen, chỉ cần tính toán đơn giản. Tiếp theo, đầu thế kỷ 20, người ta đã biết cắt lớp khối khí thuốc và mô tả dược tốc độ cháy, điều này chứng minh được áp suất và tốc độ khí thuốc không đồng đều trong nòng, đặc biệt quan trọng khi lượng thuốc nhồi tăng, lớn gấp nhiều lần khối lượng đầu đạn. Mức thuật phóng này cũng đã mô tả được gần đúng ống phóng không giật và cho ra đời các súng chống tăng phản lực như B-41, ĐKZ, mô tả được biến đổi áp suất và tốc độ khí thuốc không đồng đều ở các đoạn khác nhau trong nòng.
Ban đầu, thuật phóng được mô tả thành các bài toán song song, cho hàng nhiều người tính thủ công một lúc, người Nga có nhưng đơn vị tính toán lớn. Giai đoạn 3, hiện nay chạy được trên máy tính, băm nhỏ khí thuốc ra thành những phần tử nhỏ. Điều này mô tả được các hiện tượng cuộn, thắt dòng và những hiện tượng khác liên quan đến áp suất và tốc độ không đồng đều trên mặt cắt nòng, chứng minh được ảnh hưởng của kết cấu buồng nổ, đưa ra những phương án nòng hay ống phóng ưu việt nhất.
Hiện nay (2007), khoa học về súng tại Việt Nam rất hạn chế, chỉ có một số sách vở dịch hướng dẫn những nguyên lý cơ bản từ tiếng Nga hay tiếng Trung chủ yếu phục vụ việc sửa chữa và sử dụng. Ho hạn chế kiến thức của người dịch, sách có nhiều sai lầm. Nhìn chung, các nhà khoa học Việt Nam chưa thể mô tả quá trình bắn bằng toán học, những nhà chế súng Việt Nam thiếu kiến thức về toán và máy tính. Các phương pháp tính toán vẫn dựa trên giả thuyết áp suất đồng đều. Việc phát triển và sản xuất vũ khí hiện tại ít được những người đóng thuế quan tâm dẫn tới phân tán, lãng phí kinh phí.
Trong lịch sử, ngoài việc Hồ Nguyên Trừng làm dạng danh đại bác Việt Nam thì năm 1947, ông Trần Đại Nghĩa cũng chế dược bazooka kiểu 1944 Mỹ, góp phần quan trọng đánh Pháp.
Trong Khởi nghĩa Ba Đình hồi cuối thế kỷ 19, ông Cao Thắng cũng chế được súng trường, tuy nhiên chưa có khương tuyến (rãnh xoắn).
Đầu thế kỷ 19
Việc phổ biến súng rất chậm. Ban đầu súng được chế tạo ít. Các súng bộ binh đầu tiên được làm trong cán thương, nên có tên gọi "Hỏa Thương". Lúc đó, lưỡi thương có tác dụng như lê bây giờ, nhưng do súng yếu, nên lê quan trọng hơn súng. Những súng bộ binh đầu tiên gọi là "Hỏa Mai" do vẫn dùng ngòi lửa. Súng có cò kích nổ ban đầu goi là súng kíp, kíp nổ là đá lửa.
Đến đầu thế kỷ 19, ở châu Âu, súng bộ binh đã được dùng phổ biến, phần lê đã ít tác dụng hơn nên làm nhỏ đi. Tốc độ bắn khoảng vài phút/phát. Khả năng trúng mục tiêu người thật ở 50 mét khoảng vài phần trăm. Lúc này ở châu Âu cũng đã có những súng cối và đại bác bắn thẳng. Súng cối là các súng có tỷ lệ chiều dài nòng/đường kính trong nòng rất nhỏ, hiện nay tỷ lệ này của súng cối khoảng 10. Súng cối không cần giá càng phức tạp nhiều, vì đặt trên đế để đẩy phản lực xuống đất, do đó súng cối nhẹ mà bắn được đạn nặng đi xa. Nhưng súng cối bắn không chính xác nên chỉ dùng bắn đạn trái phá theo diện tích.
Cho đến đầu thế kỷ 20, súng cối vẫn rất nặng nề, thuộc nhóm súng cố định. Còn đại bác bắn thẳng (howitzer) ngày đó là tổ tiên của lựu pháo ngày nay, tỷ lệ chiều dài nòng/đường kính nòng khoảng 20-30.



(Howitzer là tên đặt cho loại pháo nhồi ít thuốc nổ thời cận đại, bắn đạn "đập đất", tức đạn chạm đất nẩy lên. Trái với pháo bắn thẳng chống tăng ngày nay thường nhồi nhiều thuốc. Tác dụng trên chiến trường của howitzer cũng giống pháo bắn thẳng và lựu pháo nòng ngắn ngày nay, bắn các mục tiêu nhìn thấy. Lúc đó, để bắn trái phá góc thấp không thể nhồi nhiều thuốc đẩy, sẽ làm đạn vỡ nổ ngoài ý muốn).
Tỷ lệ chiều dài nòng/cỡ nòng nay gọi là cal hoặc L. Cấu tạo pháo bắn thẳng ngày đó rất đơn giản, chả giá pháo ngõng ngáng khối lùi gì hết, nòng-giá liên kết thành một khối đặt trên bánh, ngày nay còn gọi là "pháo giá cứng". Mỗi lần bắn, súng lùi về sau, pháo thủ lại đẩy về trước. Đạn và thuốc nhồi từ miệng nòng. Đạn bi gang dùng để công thành, sau trận đánh, khi đã chiếm được thành, người ta đi nhặt các viên đạn này dùng lại. Đạn ria đặt trong các hộp, nhồi cả hộp vào nòng, đạn ria là các mảnh gang sát thương.
Thế kỷ 19 đánh dấu việc dùng nòng gang, thép thay thế cho nòng đồng và mồi lửa hạt nổ thay thế dần cho mồi lửa ngòi châm. Súng vẫn được sản xuất thủ công, đơn chiếc và dùng thuốc nổ đen.
Từ thế kỷ 18 đã có súng trường nạp đạn sau. Nhưng đây là đoạn buồng đốt của nòng có thể lật lên đươc để nạp thuốc nổ rời và đạn.
Patrick Ferguson chế ra khẩu súng nạp đạn sau năm 1772, nhưng trong trận đầu tiên loại súng này tham chiến, Brandywine, ông bị bắt và hết chuyện, súng ông mồi đá lửa. Đên năm 1811, John H. Hall, chế ra khẩu "M1819 Hall" bản vẽ xuất hiện vào ngày 21 tháng 5. Đến năm 1819, được đưa vào trang bị. Khẩu M1819 giống hệt Ferguson, nhưng sau đó được cải tiến để dùng mồi hạt nổ.
Khẩu Kammerlader-1842 của Na Uy có một núm dưới bụng buồng đốt để đặt hạt nổ, lửa dẫn qua ống nhỏ.
 
Nạp đạn khẩu Kammerlader-1842, Na-Uy
Kammerlader-1842 Na-Uy. 1 Chuẩn bị mở khóa. 2 Quay cần quay, mở buồng dốt. 3 Đặt hạt nổ. 4 Đổ thuốc nổ từ đấu đong vào. 5 Đặt đầu đạn. 6 Quay buồng đốt, khóa nòng, súng đã sẵn sàng.

Khẩu súng trường của Phổ kiểu 1848 Dreyse có vỏ đạn giấy, vỏ đạn dựng thuốc và đầu đạn rời nhau. Kim hỏa cắm xuyên qua vỏ đạn, thuốc nổ vào hạt nổ trên đầu đạn. Vỏ đạn đồng thử nghiệm từ đầu những năm 1840. Đến khoảng giữa thế kỷ 19, đạn có vỏ đồng mềm, hạt nổ ở tâm đáy vỏ, vỏ gắn chặt với đầu đạn đã được bán. Sau đó ở Mỹ đã có súng lắp nhiều đạn ổ quay, vỏ giấy.

Khẩu Antoine Alphonse Chassepot, tên trong biên chế quân đội Pháp "Fusil modèle 1866", có cấu trúc khóa nòng và đạn như các súng trường đầu thế kỷ 20. Khóa nòng quay có tay nắm. Đạn có vỏ giấy chứa đầu đạn+thuốc nổ+hạt nổ, vị trí hạt nổ tâm đáy vỏ đạn. Súng gặp nhiều phiền toái do tắc giấy, sau này người Pháp dùng khẩu vỏ đạn kim loại 1874, do viên sỹ quan Basile Gras cải tiến. Vào năm 1866, đây là khẩu súng hiện đại, nhồi nhiều thuốc, sơ tốc lớn trên 400 mét/s. Tuy vậy, giai đoạn này do dùng đạn chì, độ chính xác rất kém, nhưng cũng vượt xa hồi đầu thế kỷ 19.
Khẩu Martini-Henry 1871 (Anh) đã có đầu đạn vỏ đồng, gờ móc vỏ đạn. Đây là những súng trường bắn phát một đầu tiên. Lúc này ở Mỹ cũng đã có súng băng đạn tròn dài, đạn xếp nối đuôi. Cũng đã có súng gập nòng xuống nạp đạn. Súng trường trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 sử dụng các cỡ nòng khoảng 15 mm, 11 mm.



Tiêu đề: Re: Phân loại súng
Gửi bởi: snowangel_2saw trong 15 Tháng Ba, 2008, 09:10:42 pm
Súng ngắn (1835)
Súng lục (còn gọi là súng sáu) là loại súng cá nhân, kích thước nhỏ, nhẹ, có hộp đạn nằm trong báng súng, chứa 6-12 viên, dùng để sát thương ở cự li ngắn (50-70m).


Lịch sử
Súng ngắn loại bắn liên tục bằng ổ quay có nguồn gốc cổ bởi vì người ta có thể tìm thấy dấu vết của nó cùng với loại súng kiểu cần bật bông bằng đồng thanh có vào khoảng năm 1680, được lưu giữ ở Tower London và thuộc J.Dafte, một nhà chế tạo vũ khí London. Một loại súng cabin có thiết kế rất tương tự cũng đã được lưu lại và tìm thấy ở Viện bảo tàng công cộng Milwaukee (Mỹ).
Năm 1814, một thương gia ở Islington, gần London là J.Thomson đã đăng ký phát minh loại súng lục dùng đá lửa chứa một cơ cấu quay tiếp đạn 9 viên và chỉ một nòng. Năm 1818, một người Mỹ là E.Collier (có sự trợ giúp của đại úy A.Weeler và của C.Coolidge), đã tiếp tục với súng săn và một súng lục năm phát, nhờ một khóa nòng xoay. Tiếp sau họ là Devisme rồi Rissac (Pari) và một số nhà phát minh trước khi anh thanh niên S.Colt, 21 tuổi, mà tên tuổi sau này đã lưu vào hậu thế, nhận được giấy phép phát minh ngày 22 tháng 10 năm 1835.
Hiện nay tồn tại rất nhiều loại súng lục, mà nổi tiếng nhất chắc chắn là những sản phẩm của Mỹ như súng Colt (1836), Rugger hoặc Smith & Wesson.
Súng Colt (1836): Ngoài là nhà phát minh ra súng lục, S.Colt (1814-1862), người Mỹ, còn là nguời phổ biến nó nhờ sự hoàn thiện mà ông đem lại cho nó. Ngày 25 tháng 2 năm 1838 ông đã nhận bằng phát minh Mỹ, trong khi ông đã có bằng đó ở Pháp và Anh. Mặc dù có chất lượng tốt song loại súng lục đầu tiên đó bán được ít và khiến cho doanh nghiệp của ông bị phá sản. Phải mãi từ năm 1850 loại súng này mới trở nên phổ biến trên toàn thế giới.

Nguyên lý súng lục- Click chuột vào cò súng để bắn


Theo đặc điểm

Súng lục tự động (1895): Được đại tá quân đội Anh là G.V.Fosberry phát minh và đăng ký ngày 16 tháng 8 năm 1895, nó sử dụng lực giật lùi khi bắn để kéo búa kim hỏa lại và xoay ổ đạn một nấc. Súng được tung ra thị trường năm 1901 dưới tên gọi Webley-Fosberry, với cỡ theo quy chế Anh .455" hoặc .38" Colt Automatic.

Súng lục hai nòng (1856): Loại súng này có một trong các nòng dùng loại đạn bình thường và nòng kia cho đạn đi săn bằng chì, ngoài ra còn tọa thành trục của ổ đạn, đã được F.E.Le Mat, một người Pháp ở New Orleans phát minh ra; nó đã được đăng ký vào năm 1856 và được sử dụng trong suốt cuộc chiến tranh ly khai ở Mỹ. Việc chế tạo nó được tiếp tục với những sự may rủi khác nhau cho tới khoảng năm 1875.
Súng trường
Súng trường (tiếng Anh: rifle) là loại súng chiến đấu cá nhân, kích thước dài, nòng có rãnh xoắn, dùng để tiêu diệt sinh lực địch ở cự li gần bằng hỏa lực, báng súng hoặc bằng lưỡi lê lắp ở đầu nòng.
Phân loại theo tên gọi
Súng trường Winchester (1866): Ban đầu nó có tên là súng Henry nhưng sau đó vào năm 1866, hãng đổi tên thành Winchester do vậy nó đã mang tên mới. Những mẫu đầu tiên có thân kim loại màu vàng (đồng thau) thường được gọi là yellow boy (cậu bé vàng). Đó chính là loại súng hầu như gắn bó với lịch sử miền Viễn Tây (Mỹ).


Súng trường Mauser (1817): Sau Chiến tranh Pháp-Phổ 1870 súng trường của Paul von Mauser, người Đức, đã thay thế súng trường Dreyse. Năm 1898, lợi dụng những công trình khác nhau về súng bắn liên thanh và phát minh thuốc súng không khói, Mauser đã chế tạo ra loại Gewehr 98 nổi tiếng của mình mà ổ đạn 5 viên cỡ 7,92 mm. Nó vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Súng trường Lebel (1887): Được một nhóm các sĩ quan thuộc Ủy ban về súng bắn liên thanh phát minh ra, súng trường mẫu 1886 đã chính thức được Pháp chấp nhận ngày 22 tháng 4 năm 1887 và được biết với tên là Lebel (súng Lơben), theo tên của đại tá tư lệnh trường bắn Châlons, vốn đã lãnh đạo việc thử nghiệm nó trong suốt năm. Loại súng được sản xuất hàng loạt vào thời đó đã tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới mặc dù đã trở nên cũ vào năm 1914. Người ta vẫn còn tìm thấy nó ở Đông Dương cũng như ở Algérie.

Theo đặc điểm
Súng trường bán tự động (khoảng 1890): Những súng trường bán tự động đầu tiên, có cơ cấu bắn liên thanh hoặc nhờ lực giật lùi hoặc nhờ khí đốt, đã xuất hiện vào cuối thế kỷ 14. Đây là phát minh của tướng Mondragon, người Mexico, sau đó được sử dụng lại và cải tiến bởi anh em Clair, những người chế tạo vũ khí ở St-Étienne (Pháp), vốn đã nhận được giấy phép, nhất là đích thân thử nghiệm loại súng đó. Nhiều súng này đã được chế tạo ở Pháp từ năm 1890 tới 1914, ở những cơ sở khác nhau, như ban kỹ thuật của quân chủng pháo binh Pháp cũng như ở Đức (Mauser). Mặc dù vài loại súng này đã được sử dụng hạn chế trong Thế chiến thứ I (súng trường Meunier hoặc A6, súng R.S.C Model 17 và 18, cabin tự động Mauser của không quân) và một số loại súng thuần túy dân sự (Winchester .35"SL hoặc .401"SL của không quân), song phải mãi sau này với loại súng Pedersen, rồi nhất là với loại súng John Garand xuất hiện ở Mỹ thì kiểu súng này mới được sử dụng nhiều (1932).


Súng trường bắn các góc (thế kỷ 14): Nguời ta không biết ai phát minh ra loại súng trường bắn các góc. Có thể một người đi săn nào đó đã uốn cong nòng súng của mình. Ít nhất là từ thế kỷ 14 người ta đã thấy loại súng này ở miền Tây nước Pháp. Nó cho phép bắn thú săn mà không cần phải lộ ra. Trong Thế chiến thứ II, người Đức đã dựa theo hệ thống để biến đổi nòng súng bắn chặn của họ (Sturmgewhr 44) để nã các góc chết của xe thiết giáp.
Súng máy
Súng máy (tiếng Anh: machine gun), còn gọi là súng liên thanh, là một loại hỏa khí tự động vừa và nhỏ, có khả năng bắn thành loạt dài. Năng lượng để vận hành súng máy lấy từ lực giật của đạn hoặc khí thuốc sản sinh ra sau mỗi phát bắn. Do bắn liên tục nên nòng súng được làm mát bằng nước hoặc không khí. Đạn được tiếp từ băng bằng kim loại, vải hoặc hộp tiếp đạn.
Súng máy được dùng để tiêu diệt hoặc chế áp các mục tiêu trên đất, trên không, trên biển có cự ly dưới 2000 mét.
Từ thế kỷ 16 đã xuất hiện những mẫu súng liên thanh đầu tiên, trong đó có một số mẫu do Leonardo da Vinci thiết kế. Ban đầu chúng gồm nhiều nòng súng được ghép song song với nhau. Đến cuối thế kỷ 16 nó nhanh chóng rơi vào quên lãng do quá cồng kềnh và tốn nhiều thời gian nạp đạn.

Năm 1850, súng máy có hoặc một nòng duy nhất mà phía trước là một cơ cấu quay maniven đẩy một viên đạn và bắn; hoặc là một loạt nòng được lắp đạn và bắn nòng nọ sau nòng kia liên tiếp rất nhanh.
Nhờ sự xuất hiện của đạn có vỏ kim loại sản xuất hàng loạt đã tạo điều kiện cho việc chế tạo súng máy. Năm 1862 xuất hiện mẫu súng máy đầu tiên và cũng là mẫu phổ biến nhất do Richard Jordan Gatling (1818-1903), người Mỹ, sáng chế. Đây là dạng súng nòng quay có thể đạt nhịp bắn 3000 phát một phút với 10 nòng súng và động cơ điện đi kèm. (Nguyên lý của loại súng này được sử dụng ở loại pháo Vulcan có một môtơ điện cho phép bắn tới 6000 viên trái phá 20 mm trong một phút). Song do mới ra đời, súng máy Gatling vẫn còn nhiều hạn chế như vẫn phải tiến hành các thao tác cơ bản khi sử dụng như nạp đạn, lên cò bấm,... nên súng máy Gatling cũng không được sản xuất đại trà sau này.
Năm 1892 John Browning, người Mỹ, đã sáng chế ra súng máy hoạt động nhờ khí thuốc đầu tiên.
Súng máy hạng nhẹ (trung liên) lần đầu tiên ra đời năm 1902 do Madsen sáng chế. Khẩu súng này được trang bị cho quân đội nhiều nước từ đầu thế kỷ 20 và trong Thế chiến thứ I. Theo ước tính đến 92% số thương vong trong Thế chiến thứ I là do súng máy gây nên.
Súng máy cỡ nòng lớn (trọng liên) lần đầu tiên xuất hiện tại Đức năm 1918. Sau Thế chiến thứ I, trọng liên được trang bị cho cả ba quân chủng hải, lục, không quân của nhiều nước. Thời điểm này cũng đã xuất hiện nhiều súng máy cỡ nòng trên 15 mm trang bị trên máy bay, xe chiến đấu, hạm tàu, ...

Một số loại súng máy

Súng máy tự động (1884)
Hiram Stevens Maxim (1840-1916), người Anh gốc Mỹ, vào năm 1884 đã phát minh ra loại súng máy tự động đầu tiên bắn liên tục, hoạt động nhờ hiệu ứng giật lùi. Được sửa cho thích hợp với thuốc súng không khói vào năm 1884, nó đã tỏ ra có chất lượng tốt và nguyên lý của Maxim vẫn được duy trì trong phần lớn các loại súng máy ngày nay.

Xuất phát từ phát minh đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các phương án hoạt động. Vì vậy John Browning (1855-1926), người Mỹ, vào năm 1892 đã chế tạo ra loại súng máy đầu tiên hoạt động nhờ sự trích khí nổ. Năm 1893, đại úy Odkolek von Augeza, một sĩ quan cũ của quân đội Áo-Hung đã đăng ký một phát minh rất giống như vậy mà ông đã nhượng lại quyền cho hãng Hotchkiss et Cie.. Hãng này do một người Mỹ sống ở Pháp tên là Benjamin B. Hotchkiss (1828-1885) thành lập, đã trở nên nổi danh với loại pháo bắn bắn nhanh của hãng. Từ đầu thế kỷ, hãng đã chế tạo ra ra một số các mẫu mà đỉnh cao là loại súng máy nổi tiếng Model 1914 trang bị cho không chỉ quân đội Pháp mà cho cả quân đội của nhiều nước khác.
Súng trung liên (1902)
Năm 1902, Madsen, người Đan Mạch, đã giới thiệu một loại súng máy nhỏ, có thể xoay được và một người có thể di chuyển được. Những mẫu khác đã ra đời tiếp ở những hãng khác. Thực ra, rất nhanh sau đó đã có một sự khác nhau trong các loại súng máy nhỏ, dễ di chuyển nhưng cần nhiều người điều khiển như những loại nổi tiếng MG 34 và MG 42 trong Thế chiến thứ II, cũng tồn tại phương án "súng máy nặng" và khái niệm súng tập thể do một hoặc hai người sử dụng, nghĩa là súng trung liên (FM).

Loại súng trung liên đầu tiên xứng với tên gọi đó đã được đưa vào sử dụng chắc chắn là loại FM 15 của quân đội Pháp, cũng còn được gọi là CSRG theo tên của những người phát minh (Louis Chauchat, Charles Sutter và Paul Ribeyrolles) cũng như của cơ sở đã chế tạo các nguyên mẫu (hãng Gladiator). Đó là loại súng thô và khả năng vận hành kém nhưng được chế tạo với số lượng lớn và cũng được chấp nhận, do không có điều kiện hơn nữa, bởi quân đội Mỹ từ năm 1917.
Ngoài ra, còn các loại súng trung liên "Bar" của John Browning, ZB 26 Tiệp của anh em Holek (Vaclav, Emanuel và Frantisek Holek) và loại dẫn xuất từ nó của Anh, loại Bren Gun nổi tiếng, loại Lewis Anh bộ lắp đạn tròn, cuối cùng là loại FM Pháp Model 1924 M.29, được một nhóm dưới sự chỉ đạo của đại tá Reibel thiết kế ra.
Súng tự động

Súng tự động là loại súng có cơ cấu trích một phần năng lượng khi bắn đẩy vỏ đạn đã sử dụng ra ngoài, và nạp một viên đạn mới. Thuật ngữ này có thể dùng để chỉ các loại súng bán tự động, chỉ bắn một viên mỗi lần bóp cò, hay các loại súng hoàn toàn tự động, tiếp tục nạp đạn và bắn khi cò súng (hay một thiết bị kích hoạt nào khác) vẫn còn bị giữ hay đến khi hết đạn. Nghĩa được sử dụng của thuật ngữ vì thế tuỳ theo từng tình huống. "Súng lục tự động" hay "súng săn tự động" thường để chỉ một mẫu súng bán tự động, trong khi "súng trường tự động" lại thường mang nghĩa các kiểu súng hoàn toàn tự động hay một kiểu súng có thiết kế lựa chọn giữa bán tự động và tự động.
Tại đa số các quốc gia, thông thường chỉ nhân viên quân đội và cảnh sát được sử dụng các loại vũ khí hoàn toàn tự động. Tại Hoa Kỳ, súng máy đăng ký sau năm 1986 đã bị loại khỏi thị trường công cộng sau Luật bảo vệ người sở hữu vũ khí năm 1986.




Tiêu đề: Re: Súng phóng lựu chống tăng B-40 (RPG-2)
Gửi bởi: snowangel_2saw trong 15 Tháng Ba, 2008, 09:12:29 pm
 
 
Súng chống tăng B-40 hay súng phóng lựu chống tăng B-40 là loại ống phóng rocket (rốc két) chống tăng cá nhân xách tay đầu tiên trên thế giới được thiết kế bởi Liên Xô với tên RPG-2 (tiếng Nga: РПГ-2 Ручной Противотанковый Гранатомёт-2: Súng phóng lựu chống tăng xách tay phiên bản 2) bắn đầu đạn rocket PG-2 theo nguyên tắc đầu đạn phản lực.

Ưu điểm nổi bật của loại súng phóng lựu chống tăng này là rất đơn giản tiện dụng, dễ thao tác, bền, "nồi đồng cối đá" không cần kỹ thuật bảo dưỡng gì phức tạp, dễ chế tạo, rẻ... nhưng hiệu quả chiến đấu rất cao, uy lực lớn. Trong các năm 1960-1970 ngoài Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và các đồng minh khác của khối Cộng sản như Bắc Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Ai Cập, Iraq, Syria đặc biệt là Trung Quốc cũng sản xuất loại súng chống tăng này với số lượng rất lớn, tại Việt nam nó được nổi tiếng với tên B-40 phần nhiều do Trung Quốc cung cấp và được sử dụng rất rộng rãi trong chiến tranh Việt Nam và được đánh giá là loại hoả lực đa năng đánh gần rất hiệu quả của bộ binh.







Súng chống tăng B-40, cũng như B-41 là phiên bản cải tiến của nó sau này có thể được thao tác bắn dễ dàng chỉ bằng một xạ thủ, và là vũ khí hoả lực cấp tiểu đội trong Quân đội Xô Viết, nhưng trong thực tế chiến đấu trên chiến trường Việt Nam nó thường được sử dụng như vũ khí nhóm của tổ ba người một xạ thủ mang súng phóng lựu với giỏ 3 quả đạn, hai chiến sỹ yểm hộ và dự bị mang tiểu liên và mang lượng đầu đạn dự bị khoảng 5-10 quả.

Phát triển
Súng phóng lựu B-40 có phiên bản tiền thân của nó là RPG-1 là ống phóng chống tăng Panzerfaust của Đức Quốc xã được triển khai năm 1944 trong thế chiến II và đã phát huy tác dụng rất tốt hạ được rất nhiều xe tăng của Liên Xô trong trận đánh chiếm Berlin của quân đội Xô viết tháng 4 năm 1945. Nhưng khác với Panzerfaust là loại theo nguyên tắc súng không giật (nhiều người hiểu chưa đúng là loại rocket phản lực) còn RPG-2 (B-40) thực sự là ống phóng rocket trên nguyên tắc phản lực và là loại ống phóng lựu phản lực cá nhân đầu tiên trên thế giới. Nó được sản xuất hàng loạt năm 1947 và vũ trang cho các lực lượng vũ trang Xô viết vào năm 1949.






Năm 1961 Liên Xô chấm dứt sản xuất và thay thế loại RPG-2 này bằng RPG-7 trong các lực lượng vũ trang Xô viết, loại cải tiến này được biết đến ở Việt nam với cái tên B-41. Nhưng B-40 vẫn được sản xuất ở các nước khác nhất là Trung Quốc tiếp tục sản xuất B-40 với số lượng lớn và cung cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho nhu cầu chiến tranh và Liên Xô cung cấp cho Việt Nam số B-40 tồn kho của mình. Trên chiến trường Việt nam dùng lẫn lộn cả B-40 và B-41 chỉ đến năm 1973 thì tại chiến trường Việt Nam B-40 mới bị B-41 thay thế hoàn toàn. Và có lẽ chiến trường Việt Nam là nơi sử dụng nhiều nhất loại vũ khí này và là nơi B-40 thể hiện toàn diện được các phẩm chất và nhược điểm của mình để cải tiến cho các thế hệ súng phóng lựu chống tăng đời sau.






Cấu tạo
B-40 có kết cấu rất đơn giản là một ống thép 40 mm để phóng đầu đạn rocket 82 mm PG-2. Phần trung tâm của súng có ốp gỗ để cách nhiệt cho vai xạ thủ. Chiều dài cả súng đã lắp đạn là 120 mm và nặng 4,48 kg. Súng B-40 không trang bị kính ngắm quang học chỉ có khe ngắm gập được bằng khung sắt rất thô sơ và độ chính xác chưa cao: để bắn mục tiêu cố định tầm bắn chính xác của nó là 150 m và đối với mục tiêu di động tầm chính xác là đến 100 m.

Đầu đạn chống tăng B-40
Loại súng này chỉ bắn một loại đầu đạn chống tăng PG-2 (loại B-41 bắn nhiều loại đầu đạn) liều thuốc phóng là thuốc cháy đen được nén trong ống bìa được xạ thủ lắp vào quả đạn ngay trước khi bắn, khi đó quả đạn có ống đuôi dài và đuôi đó được đút vào nòng súng từ phía trước với phần đầu đạn ở bên ngoài.

Đầu đạn chống tăng có sức công phá lớn theo nguyên tắc đầu đạn lõm chuyển động bằng phản lực nhờ liều thuốc cháy đằng đuôi. Khi bay có cánh đuôi được mở ra để định hướng.
Vì là loại rocket có tốc độ và xung lực không cao độ chính xác của B-40 và cả B-41 phụ thuộc nhiều vào sức gió và kinh nghiệm của xạ thủ.

Một điểm yếu lớn của B-40 là tiếng rít phóng đầu đạn rất to có tần số cao có thể làm chảy máu tai xạ thủ, trong Quân đội Xô viết xạ thủ được trang bị mũ bảo vệ tai như của lính xe tăng, nhưng trong các điều kiện chiến đấu nhất là của các cuộc chiến tranh du kích, chiến tranh nổi dậy thì xạ thủ thường không có mũ chụp tai. Theo lời các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, nếu bắn trên ba quả đạn trong khoảng thời gian ngắn xạ thủ có thể bị điếc.






Lưới B-40
Trong chiến tranh Việt Nam để chống lại hoả lực B-40, B-41 của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam phía Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt nam Cộng hoà thường dùng lưới chống B-40 làm hàng rào để bảo vệ cho các mục tiêu cố định như chân cầu, trại lính, bồn nhiên liệu. Đó là lưới thép "mắt cáo" có thể cuộn lại được, kích thước các mắt khoảng 40-50 mm rào xung quanh mục tiêu. Đầu đạn B-40, B-41 là loại phản lực nên có vận tốc thấp, xung lực yếu không thể xuyên qua hàng rào bị mắc lại ở các "mắt cáo" lưới thép đàn hồi làm đạn không thể nổ khi va chạm và nếu có nổ cũng không gây hại cho mục tiêu, đạn khi bị mắc vào lưới cháy hết thuốc phóng và nằm lại đây. Hiện nay (2006) loại lưới này vẫn đang có nhu cầu sử dụng rất rộng rãi tại Việt nam để làm hàng rào các công trình xây dựng và để quây các bãi đất trống và vẫn được gọi theo tên cũ là "hàng rào B-40" hay "lưới B-40".

Các phiên bản B-40
• RPG-2: phiên bản của Liên Xô.
• Loại 56: phiên bản copy của Trung Quốc.
• PG-7: Phiên bản Ai Cập.
• B-40: Phiên bản Việt Nam.


(Theo wikipedia)


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: ChienV trong 16 Tháng Ba, 2008, 07:57:31 pm
Bạn lưu ý việc copy từ các nguồn khác trong phần thảo luận chỉ cho phép khi chứng minh hoặc làm cơ sở cho luận điểm của mình. Việc copy nguyên xi từ wiki như bạn đang làm sẽ làm tốn thời gian người đọc, tài nguyên diễn đàn và không được coi là thảo luận. Vì vậy các bài copy nguyên xi này, nếu trong thời gian tới bạn không có kế họach làm nguồn tham khảo cho luận điểm, ý kiến của bạn thì sẽ được xóa đi. Tôi sẽ để lại cái link nơi bạn copy về là đủ!

Mong bạn lưu ý!

Chú thích: trên wiki có nhiều kiến thức lộ cộ và sai, bạn để ý mà xem!


Tiêu đề: Súng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 19 Tháng Tư, 2008, 03:54:25 pm
snowangel_2saw chép một số đoạn của mình từ wiki sang đây, nhưng lại không nắm được ý mình. http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%C3%BAng&diff=1154747&oldid=1154498 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%C3%BAng&diff=1154747&oldid=1154498). Sau này, bọn nó sửa chữa lung tung, rồi mình cũng không đi lại gì với cái đống rác ấy nữa. Nhìn chung, mình thấy mấy acc hiểu biết một chút đều như vậy, chỉ còn mấy chú chuyển lửa về quê lộ cộ, dưng cơ mà mấy chú ấy ngu si khủng khiếp.
Cái đoạn định nghĩ vầ tầu thiết giáp Battléhip của mình cơ, chúng cố nhét bằng đường ỹ của chúng. cãi nhau loạn tùng bậy, rồi đến đoạn Iowa BB-61=tầu buồm = tầu sân bay = ship of the line... [http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Thi%E1%BA%BFt_gi%C3%A1p_h%E1%BA%A1m/L%C6%B0u_1] [http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Thi%E1%BA%BFt_gi%C3%A1p_h%E1%BA%A1m]

Súng đã phát triển như thế nào. ???? Topic này nói về súng.

Súng đã phát triển như thế nào. ???? Topic này nói về súng.

Chúng ta tự hào có Hồ Nguyên Trừng, có thể nói, ông là người có công lớn nhất trong việc chế súng. Qua thời của ông, súng từ một vũ khí chơi bời dọa là chính trở thành vũ khí chủ lực của loài người cho đến nay.

Hồ Nguyên Trừng là Tướng Quốc, phụ trách đắp thành đống chuyền chế Vũ khí của nhà Hồ. Hồ Nguyên Trừng bị bắt 1407 và đem về Nam Kinh cùng 17 ngàn tù nhân Việt Nam. Ông dâng cách chế súng để cứu cha em và nhiều người trong số tù binh. Ông được phong "Chủ sự", đứng đầu ngành chế súng nhưng sau gần 20 năm không nôpk lý lịch, như một hành động phản đối. Năm 1420, ông theo cuộc thiên đô về Bắc Kinh. Năm 1426, ông chấp nhận nộp lý lịch, một biểu hiẹn đống ý làm quan với Tầu, khi mà cuộc khánh chiến của vua Lê đã coi như thành công.  Ở Bắc Kinh, Hồ Nguyên Trừng lên Tả Thị Lang (thứ trưởng) bộ công rồi lên làm Thượng Thư (bộ trưởng). Nhờ ông, nhiều từ binh lập được nghiệp nơi phương xa, ngày nay vẫn còn những ngõ như "An Nam Doanh", "Giao Chỉ", "Đại An Nam Doanh" và "Tiểu An Nam Doanh", hoặc di chỉ còn lại như "Hỏa khí doanh" ở ngoại thành (gầm khu vực trước đây có mộ Hồ Nguyên Trừng). Con ông làm đến Hữu Thị Lang, cháu ông có thời làm Xá Nhân.

Một ông đặt tại nơi có Tên đất ngày nay là thôn Nam An Hà, xã Bắc An Hà (xã=hương), khu Hải Điện, Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Không hiểu hiện tại thế nào.

Về cuối đời, Hồ Nguyên Trừng đón một đám sư tăng do nhà sư Trí Thâm họ Trần chỉ trì, từ Việt nam sang, lập chùa Tú Phong (秀峰寺). Rồi ông tâu xin nhà vua Tầu ban Sắc Chỉ, liệt vào danh thắng năm 1443, ngày 8/4 âm lịch cùng năm, Lê Trừng đã sọan văn bia nói về việc xây chùa này. Toàn văn thác bản văn bia hiện lưu trữ tại Thư viện Bắc Kinh, phần đầu đề: "Sắc tứ Tú Phong tự bi, Chính nghị đại phu, Tư trị doãn, Công Bộ tả thị lang-Giao Nam Lê Trừng sọan, Quý Thuần viết chữ chính văn, Tưởng Khâm viết chữ triện, Chu Hưng khắc, Trí Thâm pháp sư đốc tạo". Bia có kích thước 156 x 78 cm, hiện còn tại chùa Tú Phong. Xem toàn văn văn bia theo ảnh chụp tại trang web của Thư viện Bắc Kinh: res2.nlc.gov.cn, ký hiệu bản chụp 8377. Chùa nay vẫn là một danh thắng nổi tiếng ở ngoại thành Bắc Kinh.

Văn học[/b]
Về mặt kha học xã hội. Hồ Nguyên Trừng cũng có viết văn, Trong thời gian ở Trung Quốc, ông đã viết tác phẩm "Nam Ông Mộng Lục" (Ghi lại những điều trong trí nhớ của Nam Ông (Hồ Nguyên Trừng)) năm 1438, đây cũng là tác phẩm duy nhất của ông còn lại đến ngày nay. Trong 31 thiên truyện, Hồ Nguyên Trừng dành 4 thiên để ghi về vua Trần Nhân Tông (Trúc Lâm thị tịch (số 2), Tổ linh định mệnh (số 3), Cảm kích đồ hành (số 17) và Thi ý thanh tân (số 19)).
Tác phẩn được đích danh Hồ Huỳnh, Thượng Thư Bộ Lễ Minh Triều (đứng đầu ngành xuất bản) đề từ năm 1440, có cả hậu tự năm 1442 của Tống Chương. Hồ Huỳnh viết: "Văn họ Hồ ngắn gọn mà nghiêm trang, cẩn mật, cao nhã mà uyên bác, theo tình kể lại, theo nghĩa đặt lời... Ca ngợi sự tiết nghĩa thì bừng bừng cảm khái, có thể uốn nắn phong tục, biểu dương trước thuật thì siêu thoát, thanh tân, có thể nuôi dưỡng tính tình...".
Ở lời nói đầu, Hồ Nguyên Trừng viết: "Trong xóm mười nhà thể nào cũng có người tín nghĩa như Khổng Tử, huống hồ nhân vật nước Nam không kể hết. Thời gian và chiến tranh làm sách vở tiêu tán hết, nên ông phải viết lưu lại cho đời".
Ông giải thích chữ mộng: Những nhân vật trong sách, một thời phồn hoa, rồi thời cuộc biến đổi không còn để lại vết tích, chỉ còn một mình tôi biết được và kể ra, như vậy chẳng phải mộng là gì!.

Tấm gương Việt Kiều vĩ đại[/b]
Hồ Nguyên Trừng là một tấm gương sáng ngời cho các Việt Kiều. Thân làm nô lệ tha hương mà kẻ thù phải tôn thờ kính trọng. Một lòng hướng về cố quốc, ở nơi đất khách làm rạng danh cố quốc.

Suốt thời gian cuộc kháng chiến của chúng ta chưa thành công, ông không nộp lý lịch, một hình thức "chưa công nhận" cái chính quyền mà ông phải phục vụ để đổi lấy mạng sống của cha, em, đồng bào. Chỉ đến 1926, khi cuộc kháng chiến của vua Lê coi như đã thành công, ông mới làm việc đó. Làm quan rất to (tạm, nhị phẩm) nhưng Hồ Nguyên Trừng vẫn nghèo, một mặt là phải lo cho rất đông đồng bào cùng đoàn tù binh, một mặt gốc rễ của ông ở xã hội mới vẫn nông, nhờ khối xã hội Việt Nam nho nhỏ này của ông mà nhiều tù binh đã sống sót và lập nghiệp được nơi đất khách với nghề nghiệp vững vàng.

Cuối đời, có chút bổng lộc thì ông đón sư tăng, lập ngôi chùa Việt, dựng bia ký, tâu xin sắc... một lòng thờ cố quốc.

Ngày nay, giới Việt Kiều thường bị bọn chính trị cơ hội hải ngoại bơm vá chọc ngoáy, và nhìn chung, có trình độ-đẳng cấp chính trị rất thấp. Hơn 2 triệu người Việt Nam ở Mỹ chẳng hạn, không có lấy một ông nghị liên bang, mà đúng theo tỷ lệ phải có 3-4 ông. Cũng như vậy, đúng ra phải có hàng trăm ông nghị tiểu bang và hàng ngàn ông chính quyền quận hạt, thay cho việc hầu như không có. Thiếu đại diện trong giới cầm quyền, người Việt Ở Mỹ đa phần làm những công việc lớp dưới và cũng ở đẳng cấp thấp nhất về quyền lợi chính trị. Thử hỏi, đến bao giờ người Việt Hải Ngoại mới có một ông bộ, ông thủ... ở một quốc gia đứng đầu thế giới như Hồ Nguyên Trừng.


Tài liệu cổ về Hồ Nguyên Trừng và Súng. Mình thiếu những thứ này quá, bạn nào bốt lên tiếp nhé.


Tiêu đề: Sử cổ nói về Hồ Nguyên Trừng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 19 Tháng Tư, 2008, 03:56:50 pm
Ở đây chỉ dẫn Chính Sử.

Họ Hồ quê ở Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Mâu, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá. Khi Hồ Quý Ly làm vua, Hồ Nguyên Trừng nhường ngôi vị thái tử cho em là Hồ Hán Thương. Ông chế tạo thành công súng thần cơ, đóng thuyền lớn 2 tầng, tầng dưới để chèo thuyền, tầng trên để chiến đấu, giống các Quy Giáp Thuyền xuất hiện ở Triều Tiên sau đó. Các giàn tên lửa bắn liên tiếp cũng xuất hiện ở Triều Tiên sau này từ mẫu Trung Quốc, là sản phẩm của Hồ Nguyên Trừng. Các vũ khí này đóng góp nhiều công vào các chiến tranh với Chiêm và Minh.

Các khí tương tự xuất hiện đồng loạt ở Viễn Đông. Ví dụ, Quy Giáp Thuyền của Tiều Tiên hay Hỏa Xa, xe bắn tên lửa nhiều nòng, cũng của Triều Tiên.

Một điều rất đáng tiếng là sau chiến tranh xâm lược của nhà Minh, thợ thuyền và sách vở mất rất nhiều. Thợ thuyền sang bên Tầu dùng trí nhớ mà làm việc, còn sách vở thất tán hầu hết, nên cấu tạo chi tiết những thứ này chỉ còn lại ở sách Tầu, ví dụ phần viết thêm của Hỏa Long Kinh hoặc Thần Cơ Thương Pháo Pháp.

Tài liệu trong sử còn về Hồ Nguyên Trừng không nhiều. Người đọc rất khó vì Minh Sử ghi ông và con cháu có họ Lê, đây là họ của Lê Huấn, cha nuôi Hồ Quý Ly. Tất cả chỉ là những mẩu tin rải rác, văn bia... thất tán ở nhiều điạ điểm và thư viện.

Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993 nói lần đầu đến Hồ Nguyên Trừng tháng 11/1394, phong chức Phán sư trong triều Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông. Tháng 6/1399 Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tư Đồ. Tháng 2/1400 Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần.

Hồ Quý Ly trong lòng muốn lập con thứ Hồ Hán Thương (là cháu ngoại Trần Minh Tông) làm Thái tử, bèn thăm dò ý Hồ Nguyên trừng bằng cách ra câu đối: "Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân" (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân). Nguyên Trừng khiêm tốn trả lời, ý nói không màng ngôi cao, chỉ mong được phụng sự đất nước: "Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc". (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường cột để chống nâng xã tắc). Tháng 12 năm 1400 Hồ Quý Ly tự xưng Thái Thượng Hoàng và nhường ngôi cho Hồ Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tả Tướng Quốc.

Cuối năm 1405, nguy cơ xâm lăng của nhà Minh ngày càng rõ rệt. Khi nghị bàn quốc sự các quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Hòa tức là chấp nhận sức ép của Bắc triều, cắt đất, cống nộp từ con người đến sản vật. Hồ Nguyên Trừng nói: "Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi". Hồ Quý Ly rất tâm đắc ý chí của Hồ Nguyên Trừng nên đã thưởng cho Trừng chiếc hộp đựng trầu bằng vàng.

Giữa năm 1406 Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ở khu vực Đáp Cầu Bắc Ninh ngày nay, vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, đợt xâm lược mới của nhà Minh có quân số lên tới 80 vạn. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái. Ông chỉ huy chiến đấu ở cửa Giao Thuỷ-Nam Định và cửa Hàm Tử. Tháng 6/1407, ông bị bắt ở cửa biển Kỳ La-Kỳ Anh-Hà Tĩnh, toàn bộ gia tộc bị bắt về Minh bị giải sang Kim Lăng (Nam Kinh - Trung Quốc).

Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993, ghi thêm, 1411 Hồ Ngạn Thần theo lệnh vua Trùng Quang Trần Quí Khoáng đến Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để cầu phong. Vua Minh sai Hồ Nguyên Trừng gặp Hồ Ngạn Thần thu thập tin tức Giao Chỉ.

Đánh giá về thời này, các nhà xã hội học đều thống nhất, cuộc xâm lược của nhà Minh đã làm tụt hậu mặt bằng phát triển xã hội hành trăm năm, phá vỡ những cải cách hành chính, kinh tế mạnh mẽ chớm phát triển thời nhà Hồ.



Tiêu đề: Sử cổ nói về Hồ Nguyên Trừng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 19 Tháng Tư, 2008, 04:06:23 pm
Theo các tài liệu nước ngoài thì ông cùng 17 ngàn người giỏi được đem đến Nam Kinh. Năm 1421, ông theo cuộc dời đô về Bắc Kinh. Cha ông, Vua Hồ Quý Ly không rõ cuối đời thế nào, cải táng ở núi Chung Sơn, Nam Kinh. (Dã Ký, tập thượng, Chúc Doãn Minh, viết theo lời kể của con cháu Hồ Nguyên Trừng). Cũng theo lời sách này thì năm 1426, em ông là Hồ Hán Thương đã được thả từ lâu.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Hà Nội 1998, ngoài nội dung cũ, liên quan đến Hồ Nguyên Trừng còn có các chi tiết: Vua nhà Minh ngự điện nhận tù binh và hỏi Hồ Quý Ly rằng: "Giết vua, cướp nước, như thế có phải là đạo người bầy tôi không?". Hồ Quý Ly không trả lời được, bèn giao cả xuống giam vào ngục tù, chỉ tha cho con là Trừng, cháu là Nhuế. Sau, Quý Ly ở trong ngục được tha ra, bắt đi thú thủ ở Quảng Tây; Trừng vì lành nghề chế binh khí, dâng phép chế súng lên vua Minh, nên được tha ra để dùng.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép lại việc nghi ngờ và chú thích lại sử cũ viết về việc vua Hồ Quý Ly bị giết trên đường đi thú. Minh Sử thì chỉ viết nhiều về Hồ Nguyên Trừng thời làm quan bên Tầu, tuy nhiên, viết kiểu ngắn gọn kiểu chính sử, nên thông tin không nhiều. Nhưng đoạn trong ngoặc đơn và dấu chấm phẩy sau đây là thêm vào cho dễ hiểu.

Theo Minh Sử: Vào thời Minh Thành tổ, Giao Chỉ được bình định, (kỹ thuật chế tạo) Thần cơ thương pháo được thu dung, thành lập và huấn luyện một binh đoàn trang bị súng thần cơ. Binh đoàn này rất nổi tiếng, đây là lần đầu tiên trên thế giới có một đơn bị bộ binh dùng súng làm vũ khí chính. Kỹ thuật này cũng được chép trong đoạn chép thêm của Hỏa Long Kinh.

Có thể phỏng đoán ông được Triều Đình và Quân Đội tầu tin dùng và đặc cách nâng đỡ-bất chấp một số thế lực khác chẳng mấy vui vẻ. Sự việc rõ ràng là, đến cả việc nộp lý lịch ông cũng xù. Nhưng có lẽ, trong khoảng 20 năm đầu tiên, ông làm quan chức bé và vẫn chưa an tâm về cha với em, nên chưa đóng góp gì nhiều. Sau khi chuyển về Bắc Kinh, Triều Đình trọng dụng ông cả về kỹ thuật và tài tổ chức công nghiệp, cùng kinh nghiệm chiến sự, nâng chức quan to và ông đã thực hiện cả cuộc cách mạng súng ống. Ông cũng chỉ lên đến tam phẩm (Thị Lang) và nhị phẩm (Thương Thư) trong thời gian 20 năm cuối đời.

Cũng có thể phỏng đoán rằng, ước mơ về đất cũ của ông và đại đa số tù binh sau cuộc thiên đô đã tắt, đồng thời, một xã hội mới đã mở ra một cơ hội mới với đám tù binh. Các tù binh Việt Nam xây dựng một cuộc sống mới. Họ để lại nhiều địa danh cũng như công trình, ví dụ, Thiên An Môn của Nguyễn An.

Cũng có thể phỏng đoán rằng, 20 năm đó cuộc kháng chiến của chúng ta chưa thắng lợi, một người luôn hướng về cố quốc như ông không thể nào đem tài năng của mình và đồng đội đi cùng cống hiến hết cho giặc được, ngoài cái mức giữ được bản mạng. Sau năm 1427, khi Triều Minh đã công nhận Triều Lê, ông mới đàng hoàng mà ngẩng đầu được.

Có thể phỏng đoán rằng, việc ông không nộp ký lịch, bất chấp đó là tội lớn, khi cuộc kháng chiến của chúng ta chưa chấm dứt, là tỏ ý không công nhận chính cái chức quan mà ông buộc phải làm để cứu cha, cứu em và các đồng hương.

Cũng có thể phóng đoán ông chỉ huy và đem theo rất nhiều người trong số 17 ngàn tù binh đó, cùng họ lập nghiệp ở xứ sở mới. Nhiều người trong số đó cũng có công to, như Nguyễn An, người đã thiết kế Thiên An Môn. Nhìn chung, triều Minh được xây dựng nên từ tầng lớp hạ lưu, những tàn dư của tầng lớp thượng lưu ngóc đầu dậy là bên ngoại Kiến Văn Đế thì đã cháy theo cung điện ở Nam Kinh, nên những người xuất thân hạ đẳng như đám tù binh An Nam dễ sinh sống hơn. Đây là một hiện tượng khá phổ biến, ví dụ, Trịnh Hòa cũng là một tù binh-nô lệ mà trưởng thành. Có lẽ, cần tìm hiểu nhiều thêm về 3 con người này, đặc biệt là Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn An là hai nhân vật có vai trò quan trọng trong bộ Công. Những đoạn trích dưới đây cho thấy ông hòa hợp với đám hoạn quan thế lực ngày đó và con ông vẫn làm quan lớn kể cả khi đám hoạn quan hết thời.

Cũng có thể phỏng đoán rằng ông đã dâng cách chế súng để cứu cha và em, lại đảm bảo lập nghiệp cho một phần trong số 17 ngàn tù binh người Việt đó. Một số sử cũ ghi rằng, nhiều người làm quan trong số họ, được tha chết, ăn yến ban rồi trúng độc chết. Có lẽ, ý này mô tả một cách khéo léo cái cách mà Hồ Nguyên Trừng đã cứu đám tù binh, những người làm quan cũ không chế súng đắp thành được đều được tha để đổi lấy súng, nhưng rồi bị khéo léo giết đi.

Theo Minh Sử: Tuyên Đức nguyên niên, tam nguyệt, thập thất nhật (ngày 24/4/1426). Viên chủ sự Doanh thiện Thanh lại ty thuộc Bộ Công tại Nam Kinh (hành tại) là Lê Trừng đã đủ thời gian để sát hạch. Bộ Lại dâng biếu hặc tội Lê Trừng, cho rằng lần sát hạch trước y đã không nộp cho Bộ bản Lý lịch sự vụ sau khi kết thúc chín năm làm việc. Nay đến kỳ sát hạch này y mới chịu nộp bản lý lịch, như thế là vi phạm quy định. Hoàng thượng phán: Trừng khi còn tại An Nam đã phạm trọng tội, hoàng tổ (ông nội) ta đã đặc xá và dùng y, nay việc y vi phạm là không lớn, vậy có thể bỏ qua. ( Minh Tuyên Tông thực lục quyển 16, trang 0409, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985).

Minh Sử. Sau đoạn trên: Lệnh phát lương tháng toàn bằng gạo cho viên hữu thị lang Lê Trừng thuộc bộ Công tại Nam Kinh (hành tại). Trừng là anh của tên đầu sỏ ngụy An Nam Lê Thương trước dây, y bị bắt đến kinh đô, Thái Tông Văn Hoàng-đế tha và dùng y; khởi đầu giao cho chức chủ sự ở bộ Công, Hoàng thượng tức vị, y được thăng Lang trung. Nội thần tâu y nghèo, bèn thăng chức Thị lang; đến nay lại ra lệnh cấp bổng hàng tháng toàn bằng gạo. ( Minh Tuyên Tông thực lục, quyển 35, trang 0875, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985). Đoạn này cũng cho thấy, ông có vẻ sống hóa hợp phe cánh với đám hoạn quan đang làm mưa gió ở triều.

Theo Minh Sử. Ban đầu khi làm quan (khoảng 1407 hay một hai năm sau đó), ông được phong đứng đầu Binh trượng cục (Cục chế tạo vũ khí, một cục trong Công Bộ), Công Bộ Tả Thị Lang rồi Công Bộ Thượng Thư (năm 1445). Lên Thượng Thư được một năm thì Hồ Nguyên Trừng mất, thọ 73 tuổi. con ông Lê Thúc Lâm đã thay ông tiếp tục chế tạo vũ khí cho nhà Minh đến khi về hưu năm 1470 ở tuổi 70. Cháu nội Hồ Nguyên Trừng là Hồ Thế Vinh, năm 1469 cũng được tuyển làm Trung Thư Xá Nhân tại Công Bộ.

Nguyên văn Minh Sử: Năm thứ 10 (Chính Thống), Kỷ Sửu (đúng ra là Ất Sửu 1445), Lê Trừng, vương tử An Nam, nhậm chức (Công bộ thương thư) vào tháng 6, chuyên lo cung cấp các thứ đồ dùng cho nội phủ. Bính Dần, năm thứ 11, tháng 7, Trừng chết. Minh sử tân hiệu, Academia Sinica, Đài Loan, Quyển 111, Biểu 12, Thất Khanh niên biểu, bảng 3418-3419: Công Bộ Thượng thư. Đoạn sử này tôn trọng nói là vương tử An Nam, khác hẳn bọn Tầu ô dốt nát cực kỳ ghen tức nhà Hồ, gọi ông bằng nhứng đoạn lằng nhằng đại khái là họ hàng bọn đầu sổ giặc. Cũng khác hắn cách gọi khinh miệt trước đây của chính sử Tầu.

Minh sử cảo (sách hệ thống lại Minh Sử): Chính Thống năm thứ 8 (1443), Trừng 70 tuổi, theo lệ phải về hưu, nhưng dâng sớ xin lưu dụng, hoàng thượng xét thương hoàn cảnh ông ta là người từ Giao Chỉ xa xôi đến, nên thuận cho. Trương Tú Dân- Minh đại Giao Chỉ nhân tại Trung Quốc chi cống hiến-Đài Bắc, 1992.

Vẫn sách đó: Thúc Lâm đủ thời gian sát hạch sau chín năm làm việc, bèn làm đơn trình bày đã 70 tuổi, theo lệ phải trí sĩ, nhưng quê tại Giao Chỉ xa xôi, không còn thân thuộc để về, xin tiếp tục làm việc, để báo đáp ân sủng, Hoàng Thượng (vua Thành Hóa) chấp thuận.

Minh Hiến Tông thực lục: Thành Hóa ngũ niên, tứ nguyệt, giáp tý ( ngày 21 tháng 5 năm 1469). Lấy con của viên Công bộ hữu thị lang Lê Thúc Lâm là Thế Vinh làm Trung thư xá nhân. Thúc Lâm là người Giao Chỉ, cha tên Trừng, là em của con (Lê) Quý Ly là (Lê) Thương, vốn là tù binh bị bắt về (Trung Quốc). Thái Tông Văn Hoàng Đế tha tội cho y (Trừng) và dùng làm quan, chuyên coi sóc việc chế tạo súng, đạn, thuốc nổ tại Binh trượng cục, cuối cùng làm đến Công bộ thượng thư. Thúc Lâm kế nghịệp cha, tiếp tục giám đốc việc chế tạo quân khí. Đến nay (Lê Thúc Lâm) xin cho con của y là Thế Vinh làm quan tại kinh đô để tiện cho việc chăm sóc. Hoàng đế nghĩ đến hoàn cảnh người từ phương xa đến, nên rủ lòng chấp thuận đề nghị ấy. Minh Hiến Tông thực lục, quyển 66, tờ 4.A (trang 1329), Trung ương nghiên cứu viện, Đài Loan, xuất bản năm 1985. Hồ (Lê) Thế Vinh có tên tự là Mạnh Nhân (孟仁), trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn Đông.

Lê Trừng, Lê Thúc Lâm, Lê Thế Vinh đều được an táng tại thôn Nam An Hà.

Hoàng Minh dị điển thuật: Thượng thư Bộ Công Lê Trừng, con là Thị lang Lê Thúc Lâm, vốn là tù binh người di. Trừng là em (đúng ra là anh) của vua ngụy Đại Ngu Lê Thương. Khi còn ở bản quốc (Giao Chỉ) làm quan đến Thiên Trường đẳng lộ Đại đô đốc, đặc tiến, khai phủ nghi đồng tam ty, nhập nội kiểm hiệu, tả tướng quốc, bình chương quân quốc sự, Thượng trụ quốc, tứ Tử kim ngư đại, Vệ Quốc Đại vương (lược một đọan trong cái tên quan tước của Lê Trừng dài dằng dặc đến 81 chữ, Vương Thế Trinh cố ý nhắc lại để nhấn mạnh Trừng cũng là ngụy đầu sỏ!). Trừng đã may không bị hành tội, mà do giỏi chế tạo súng thần thương nên cha con làm quan đến bát tòa (nhị phẩm), ăn lộc đến gần 50 năm, thọ hơn 80 tuổi (thực ra không đến); con y cũng thọ gần 80, có thể nói là hiếm có vậy! Hoàng Minh dị điển thuật, tập 5. Vương Thế Trinh (1570-1633). Đoạn này cho thấy lũ Tầu ô dốt ghen tị gia đình ông thế nào. Nguyên văn tiếng Trung trên nét

Theo Minh sử cảo, Triều Minh khi tế Thần Súng cũng thường hiến cúng Hồ Nguyên Trừng.

Các sách vở về Kỹ Thuật cũng chép giống như các sách vở về Xã Hội-Chính Trị. Ví dụ, phần viết thêm về sau của Hỏa Long Kinh có: Tháng sáu, năm Chính Thống thứ 10 (1445) thăng (Hồ Nguyên Trừng) làm Thượng Thư Bộ Công, giữ việc nội phủ, tháng 7 năm sau mất, hưởng thọ 73 tuổi. an táng tại vùng Bắc Kinh, mỏm Tây Sơn, dãy Ngọc Đài, thôn Nam An Hà. (Khảo biện "Hỏa long kinh", thuộc chủ đề Trung Quốc lịch sử văn vật, tác giả Lý Bân, Đại học Thanh Hoa xuất bản 1/1/2002. Phần trên nét. )

Có rất nhiều địa danh Việt Nam vẫn còn ở Bắc Kinh từ thời đó, cho thấy các tù binh ban đầu được đem về Nam Kinh, rồi sau đưa lên Bắc Kinh, đóng góp khá nhiều cho nhà Minh. Ví dụ, Tử Cấm Thành và Nguyễn An.



Tiêu đề: Súng của Hồ Nguyên Trừng.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 19 Tháng Tư, 2008, 04:11:23 pm
Vẫn còn quá thiếu những điểm này.

Người Tầu tập hợp các công nghệ chế súng của ông viết thành sách binh thư Thần cơ thương pháo pháp, như một kinh điển chế súng. Trong đó có cả những phép chế tạo và sử dụng Thần thương (súng, viết tắt của "thần cơ thương pháo"), Thần thương tiễn (giàn phóng tên lửa bắn liên tiếp), Thần cơ hỏa thương (súng phun lửa). Tiến bộ lớn nhất trong đó vẫn là Thần thương.

Súng của Hồ Nguyên Trừng được đem lên mặt trận phía Bắc chống nhà Nguyên, mỗi đồn vạn quân chỉ có 2 khẩu và chỉ được bắn khi nguy cấp. Sau đó, những súng trên được thu hồi về bảo vệ kinh thành và tránh rơi vào tay quân Nguyên.

Theo chân các đoàn thuyền Trung Quốc của Trịnh Hòa đến Ấn Độ, Ba Tư, kiểu súng lớn tân tiến này được truyền vào Trung Đông rồi phương Tây.

Năm Vĩnh Lạc (永乐, niên hiệu của Minh Thành Tổ, 1403-1424), triều đình nhà Minh lập ra Thần cơ doanh 神机营 chuyên cho ông nghiên cứu và chế tạo súng.

Đồ dùng thuốc nổ có ưu thế được đánh dấu bằng trận đánh trên hồ Bà Dương, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đánh Trần Hữu Lượng. Khi Yên Vương Chu Lệ (con thứ Chu Nguyên Chương) đánh cháu mình là Kiến Văn Đế (建文帝, cháu trưởng Minh Thái Thổ, kế ngôi chính thức), thì vũ khí cộng đồng chính đã là hỏa khí (Tầu cổ, Hỏa dược bao gồm các thuốc cháy và thuốc nổ, hỏa khí bao gồm súng và lửa). Việc Súng thay Hỏa Hổ diễn ra cỡ vài năm sau đó trên đoàn thuyền của Trịnh Hòa. Trận câu pháo tầm xa ỏ rõ uy thế của Thần Cơ Thương Pháo là Trịnh Hòa đánh Srilanka, pháo từ tầu câu vào cung điện cách 2km, buộc triều đình hòa nghị.


Về thân súng, thân súng có tỷ lệ chiều dài tăng-nòng dầy so với các ống cũ, có tay nắm điều chỉnh tầm hướng, có ngáng để lắp vào ngõng trên giá pháo, hình dáng này được giữ ở khắp Đông-Tây đến giữa Thế kỷ 19. Gang và Thép được dùng thay cho Đồng, nguyên liệu nguồn gốc Ba Tư, kể cả diêm sinh hay thép, đều được coi trọng như thứ nguyên liệu quý nhất. (Sắt Ba Tư-Sắt Tây Vực theo cách nói hồi đó, có thể hiểu là thép, còn sắt thường hồi đó phần lớn là gang xấu). Từ đó, ở Viễn Đông, pháo lớn đều làm từ sắt trong khi hỏa hổ vẫn có thể dùng đồng. Súng đồng chỉ còn lại ở châu Âu cho đến Thế kỷ 18 đầu Thế kỷ 19.

Đặc biệt tránh mưa ẩm, đảm bảo chiến đấu mọi thời tiết. Súng có lỗ ngòi rất đặc trưng, di chuyển về phía sau. Lỗ ngòi và thuốc nổ được bịt kín tránh mưa ẩm bằng gỗ mềm, ngăn cách không khí và đạn với thuốc. (Tài liệu của Tầu viết là dùng gỗ mục mã tử, không biết là gỗ gì). Cơ cấu dẫn lửa của ngòi đã có cốc mồi (flash pan), ống dẫn nhỏ dài loằng ngoằng chống phụt được dùng cho các súng hỏa mai đến giữa Thế kỷ 19 (tất nhiên là ở khắp Á Âu).

Thuốc nổ đen thì tiến vọt nhờ diêm sinh gốc khoáng mang về từ Ba Tư. Diêm sinh khoáng có nhiều trong vùng Trung Á, thay thế cho thứ diêm sinh tồi tệ lọc từ phân dơi của Viễn Đông. Sau nhiều thử nghiệm, Hồ Nguyên Trừng đã tìm ra các thành phần thích hợp nhất cho súng.

Đạn cầu được chọn lựa thay cho dòng lửa phụt lẫn với đạn là mảnh than củi cháy dở. Đạn cầu đá hay gang được dùng công thành, uy lực vượt trội máy bắn đá, lại gọn nhẹ thuận tiện hơn và dễ chế tạo nhiều hơn. Súng cá nhân còn thiếu nhưng khả năng sát thương bằng đạn ria, đạn mẫu tử vượt trội cả về tầm và sức so với các giàn tên liên châu nỗ.

Kiểu súng lớn này có một số đặc điểm ưu thế hơn so với các súng trước:

Công phá mạnh hơn, có thể đập vỡ thành.
Sát thương mạnh hơn.
Tầm xa hơn và dễ thay đổi tầm hướng.
Chịu được thời tiết xấu.
Sức công phá của đạn đã cao hơn các máy bắn đã, sức sát thương cạnh tranh với hỏa hổ và từ đây, súng trở thành vũ khí cộng đồng chính. Súng thời này thay thế và làm mất giống các máy bắn đá, máy phóng tên lớn và nỏ bắn nhiều tên liên châu nỗ. Súng vẫn chưa thay được hỏa đồng-hỏa hổ trong hải chiến-đốt các tầu gỗ, tuy nhiên, sức sát thương của súng trội lên. Từ đây, người ta không còn làm thứ đa năng lai hỏa đồng-Súng dùng sát thương nữa, mà chỉ làm các hỏa đồng nhẹ để đốt lửa thôi.
Đến cuối Thế kỷ 18, từ phương Tây, súng trở thành vũ khí cá nhân chính. Thuốc nổ tốt ở viễn Đông hiếm, tuy nhiên, những đơn vị đặc biệt tinh nhuệ vẫn dùng súng thay đao kiếm trong vai trò vũ khí chủ lực.



Tiêu đề: Thuốc nổ đen.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 21 Tháng Tư, 2008, 10:25:28 pm
Định nghĩa.
Thuốc nổ đen là một loại thuốc nổ. Nó là thuốc nổ đầu tiên do con người chế tạo ra, thuốc nổ đen được dùng làm thuốc nổ, thuốc súng, nhiên liệu cho tên lửa (rocket) và thuốc cháy chủ yếu (nếu không muốn nói là duy nhát) cho đến tận giữa thế kỷ 19.

Thời trung cổ, thuốc nổ đen ở Trung Quốc có tên hỏa dược (火藥, nghĩa là "thuốc cháy"), ở châu Âu nhiều người gọi là "black powder" (thuốc nổ đen), "meal powder" (thuốc bột) cũng có người gọi là "gunpowder" (thuốc súng). Nhiều cách gọi như thế vì trước đây chỉ có mỗi thuốc nổ đen vừa làm thuốc nổ vừa làm thuốc súng và vừa làm thuốc cháy. Từ gunpowder ngày nay vẫn dùng mặc dù thuốc súng đã đổi khác nhiều.

Trong các ngôn ngữ phương Đông cổ, hay dùng từ "thuốc" (Hán-Việt là "dược", 藥) để chỉ các hỗn hợp có chức năng nào đó được sử dụng gần như hóa tính ngày nay. Thuốc nổ đen ban đầu dùng làm thuốc cháy và tiếng Trung vẫn còn tên thủa ấy.


Lý-Hóa tính.
Thuốc nổ đen dạng bột mịn, màu đen xám của bột than, có thể có ánh kim của bột nhôm, mùi khó ngửi của lưu huỳnh. Ngoài ra, còn một số phụ gia khác như hồng hoàng để bắt cháy chẳng hạn.

Thuốc nổ đen dễ hút ẩm do đặc điểm của nitrat kali giã mịn. Thuốc nổ đen có thành phần bột nhôm rất nhanh chóng biến chất khi tiếp xúc với không khí.

Đặc tính cháy nổ.
So với các thuốc nổ khác, thuốc nổ đen dễ bắt cháy, tốc độ nổ không cao nhưng không thể kiểm soát được, năng lượng nổ yếu, sản phẩm cháy nhiều phần rắn gây hỏng thiết bị (như nòng). Nhiệt độ bắt cháy của thuốc nổ đen chỉ hơn 200°C, thời cổ, những loại thuốc cháy chứa muối thủy ngân và nhiều lưu huỳnh có nhiệt độ bắt cháy thấp hơn, chỉ 160°C, nhiệt độ bắt cháy cũng giảm khi sử dụng nguyên liệu tồi như phân dơi. Nhiệt độ bắt cháy không ổn định khi thành phần thuốc không chính xác. Các súng dùng thuốc nổ đen làm thuốc súng thường ngắn, nặng, yếu. Loại súng mạnh nhất được thiết kế để dùng thuốc nổ đen là hải pháo.

Thành phần hóa học.
Thuốc nổ đen là hỗn hợp nitrat kali (KNO3), bột than củi giã mịn. Một số loại thuốc nổ đen có thêm lưu huỳnh (dùng cho các vũ khí mạnh), bột nhôm (phát sáng cho pháo, tăng năng lượng cháy cho bom), hồng hoàng (muối thủy ngân, kích nổ).

Nitrat kali, thời cổ gọi là "diêm sinh", được lấy trong các mỏ tự nhiên. Diêm sinh cũng được lấy bằng cách hòa đất lẫn phân dơi trong hang với nước, lọc, cô đặc, sấy khô. Các thành phần hỗn hợp được để riêng, giã mịn, rồi mới trộn với nhau. Carbon của bột than củi là chất khử, diêm sinh là chất ôxy hóa. Các súng phun lửa hay hỗn hợp cháy trộn dư chất khử, để chúng tiếp tục cháy lâu. Thuốc có thể trộn thêm các thành phần khác, như chất độc, chất tạo khói, chất gây cay, mảnh sát thương... Các thành phần có thể để riêng rồi rắc lẫn lên vật gây cháy (rơm củi dầu), không cần trộn, ngay trước khi sử dụng, để dẫn lửa[1][2].

Phản ứng cháy của hỗn hợp rất phức tạp, đơn giản có thể viết:

2 KNO3 + S + 3 C → K2S + N2 + 3 CO2
Một cách viết phức tạp hơn, nhưng vẫn chưa mô tả được hết phản ứng[3]:

10 KNO3 + 3 S + 8 C → 2 K2CO3 + 3 K2SO4 + 6 CO2 + 5 N2
Chính xác, hỗn hợp có thành phần khối lượng như sau: 74,64% nitrat kali, 13,51% bột carbon, 11,85% lưu huỳnh. Trước đây, các thành phần hỗn hợp thành phần rất tồi, nên tỷ lệ khó chính xác, ảnh hưởng nhiều đến khả năng bắt cháy, tốc dộ cháy, năng lượng cháy. Giữa thế kỷ 18 ở châu Âu trộn hỗn hợp theo tỷ lệ 75% diêm sinh, 15% bột than củi, 10% lưu huỳnh[1].

Trong Binh Thư Yếu Lược có quy định rõ thành phần, loại cây lấy than, cách giã, số lượng chầy giã...

Lịch sử.
Người phương Tây thường cho rằng, các đạo sĩ ở Trung Quốc thế kỷ thứ 9, trong khi luyện đan, đã tình cờ phát hiện ra phản ứng cháy của hỗn hợp có diêm sinh. Người Trung Quốc khảo cứu các tài liệu từ thời nhà Tần và thế kỷ thứ 7. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng người Trung Á, nơi có những mỏ diêm sinh tự nhiên, đã phát hiện ra tính dễ gây cháy của chất ôxy hóa khá mạnh này, rồi mới truyền vào Trung Hoa.

Nhiều tài liệu lịch sử cho thấy, Assyria đã có những chiến thuyền đốt chuyên nghiệp như các hỏa thuyền của tầu. Chất đốt có thể là dầu lửa trộn với diêm sinh, lưu hoàng. Hy Lạp nhận được kỹ thuật hỏa thuyền muộn hơn, nhưng chất đốt lại chỉ còn là dầu mỡ thông dụng, không thấy nói đến diêm sinh. Kinh truyện cổ nhất của đạo Thiên chúa (bao gồm Do Thái giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo) cũng đề cập đến ánh lửa diêm sinh nhưng không rõ đời sau viết thêm vào hay là có từ trước. Những bằng chứng trên cho thấy, thời trong thiên niên kỷ liền trước Công nguyên đã dùng hỏa dược, chủ yếu ở Trung Đông. Nhiều người đọc dã sử Tam Quốc Diễn Nghĩa thường cho rằng Hoàng Cái dùng Hỏa Thuyền có diêm sinh-lưu hoàng đốt Tào Tháo trong trận đánh Xích Bích. Nhưng theo những thứ tin cậy, như Tam Quốc Chí, thì trận này Chu Du đã dùng các thuyền buồm chở rơm cỏ khô, phía sau có thuyền nhỏ đẻ tổ lái rút lui, các thuyền này áp sát các Mông Xung thuyền (蒙衝) của Tào Tháo, được ghi chép nhiều trong binh thư, tên Mẫu Tử thuyền[9].

Trong cuốn binh thư Võ kinh tổng yếu (武经总要), xuất bản thế kỷ 11, đã mô tả thành phần gần đúng của thuốc nổ và thuốc cháy dùng cho đạn của máy bắn đá (hồi đó gọi là sơn pháo).

Thuốc nổ 1: 48,5% diêm sinh, 25,5% lưu huỳnh, 21,5% thành phần khác;
Thuốc nổ 2: 50% diêm sinh, 25% lưu huỳnh, 6,5% bột than, 18,75% thành phần khác;
Thuốc cháy: 38,5% diêm sinh, 19% lưu huỳnh, 6,4% bột than, 35,85% thành phần khác;

Các thuốc nổ, thuốc cháy này sau được nhồi cho các súng lệnh và hỏa khí. Súng lệnh là súng rất giống ngày nay, nhưng không có đạn mà chỉ lấy lá khô hoặc gỗ chèn chống ẩm, dùng đốt lấy tiếng nổ to làm hiệu. Súng lệnh thừa kế chức năng của pháo lệnh trước đây, là gói thuốc nổ hay ống tre nhồi.

Các công thức thuốc nổ được chính xác rất chậm chạp, năng lực nổ bao gồm tốc độ cháy và năng lượng nổ cũng vì thế mà tăng rất chậm. Có sách viết rằng năm 904 người Trung Quốc đã bắn tên bằng thuốc nổ, giàn phóng tên lửa gồm nhiều ống phóng tre được người Triều Tiên học từ Trung Quốc cuối thế kỷ 14. Các tên lửa và súng được chế tạo trong thời nhà Tống, nhưng súng rất yếu, chủ yếu dùng thứ súng phun lửa có tên "hỏa hổ". Mãi đến thế kỷ 15, súng bắn đạn cầu mới mạnh mẽ và phổ biến, do công của Hồ Nguyên Trừng. Cũng thế kỷ 15, các trái phá "bóng nổ" xuất hiện, ban đầu dùng như lựu đạn. Thuốc nổ truyền vào châu Âu theo chiến tranh của người Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn. Năm 1453, Thổ Nhĩ Kỳ đánh thành Constantinople đã có súng 900 mm, bắn đạn 320 kg đi xa 1,6 km.

Thế kỷ 14-15, thuốc nổ đen phát triển mạnh mẽ. Bái Hỏa giáo, còn gọi là Minh giáo, đẩy lui ngựa của Mông Cổ từ Ba Tư, về đến Trunng Hoa rồi về tận Mông Cổ, đã đem theo kỹ thuật sử dụng hỏa dược chất lượng cao. Loại diêm sinh và sắt quý ở vùng này kết hợp với kỹ thuật miền Viễn Đông dã cho ra đời súng bởi công Hồ Nguyên Trừng, góp phần lập ra triều đại nhà Minh. Kể từ đây, súng thoát thai khỏi hỏa hổ và trở thành súng cộng đồng chính, thay thế máy bắn đá, máy phóng tên, nỏ bắn nhiều tên, liên châu nỗ. Súng này nhanh chóng phổ biến ra khắp thế giới theo chuyến đi của Trịnh Hòa.

Hỏa khí, cục thể hơn là các tên lửa, chất tăng sức cháy, súng phun lửa, đồ dùng dẫn cháy và đánh lửa... trở thành vũ khí cộng đồng chính trên thuyền từ khi Chu Nguyên Chương đánh Trần Hữu Lượng, lừng danh với trận đánh Hồ Bà Dương. Hỏa khí trở thành vũ khí cộng đồng chính trên bộ trong chiến tranh chống Kiến Văn Đế (con thứ Chu Nguyên Chương đánh cháu trưởng của ông). Sau khi chiếm được Việt Nam (1407) thì loại súng mới có sức bắn đạn cứng mạnh trở thành vũ khí cộng đồng chính, được chế tạo khẩn cấp và ứng dụng trong cuộc chiến với nhà Nguyên sau đó. Các phương pháp chế súng Việt Nam được nhà Minh chép thành cuốn binh thư Thần cơ thương pháo pháp (nghĩa là "cách làm súng đạn có nguyên lý máy móc của thần").

Súng nhỏ, dùng cá nhân phổ biến chậm hơn súng lớn. Nhà Minh lập ra những đội quân dùng toàn súng đầu tiên. Tuy vậy, việc phổ biến các súng nhỏ ở Viễn Đông rất chậm do thiếu công nghệ luyện sắt Trung Đông và quan trọng hơn là thiếu nguồn diêm sinh, lưu huỳnh chất lượng cao, nguồn gốc khoáng vật, có nhiều ở Trung Đông, Châu Phi và Mỹ. Nguồn diêm sinh có nguồn gốc phân dơi là nguồn cung chủ yếu ở Viễn Đông, bán với giá rẻ nhưng rất tồi.

Thuốc nổ đen dùng cho súng, súng phun lửa, trái phá đến đầu thế kỷ 20. Có nhiều loại thuốc nổ khác sinh ra trong thế kỷ 19, nhưng ứng dụng rất chậm chạp. Nitrôglyxêrin, nitrôcellulose (bông thuốc súng) đến đầu thế kỷ 20 đã thay thế thuốc nổ đen trong súng, trinitrôtôluen (TNT) thay trong trái phá. Các thuốc nổ đó dễ kiểm soát tốc độ, điều kiện cháy hơn, tỏa nhiều năng lượng và nhiều đặc tính tốt hơn

Sử dụng này nay.
Đầu Thế kỷ 20, thuốc nổ đen dược thay thế bởi các thuốc mới. Những lý do chính như sau:

Lý do đầu tiên là dễ sản xuất quy mô lớn, nitrôglyxêrin là thuốc gốc của những thuốc nổ công nghiệp đầu tiên. CHúng không phụ thuộc vào nguồn diêm sinh nhập khẩu hay thuộc địa, mà không phải nước nào cũng sẵn.
Năng lượng nổ mạnh. Nitrôglyxêrin có năng lượng nổ cao. RDX, HMX, PENT có tốc độ nổ cao.
Điều khiển được phản ứng cháy để làm đạn xuyên phá và đại bác nòng dài. Như TNT và nitrôcellulose (bông thuốc súng) đúc.
Dễ sử dụng, bao gồm các tính năng ổn định, mạnh, dễ nặn, dễ đúc nhồi...
Rẻ. Hỗn hợp nitrat amôni (NH4NO3) và bột nhôm rất rẻ và có năng lượng nổ cao. Nhược điểm của nó là nhiệt độ và áp suất kích nổ cao là nó văng đi rất nhiều nếu liều nhỏ nổ tự do.
Thuốc nổ đen hiện nay vẫn dùng trong các kíp nổ, ngòi nổ do chúng dễ bắt cháy. Ngày nay, người ta hay sử dụng hỗn hợp nitrat amôni và bột nhôm, gần giống thuốc nổ đen trong bom lớn, thuốc nổ công nghiệp.

Loại thuốc nổ gồm nitrat amôni, hoặc nitrat kali và bột than, rất dễ kiếm vì nitrat amôni, nitrat kali được dùng làm phân bón, điều này đã gây ra nhiều vụ nổ trái pháp luật.

Sử dụng dân sự.
Thuốc nổ dùng để phá đá, xây đường và đào mỏ. Thuốc nổ dùng trong đào mỏ từ thế kỷ 15[10], ghi chép sớm nhất còn lại về đào mỏ thuốc nổ là Hungary năm 1627[10]. Kỹ thuật này đem đến Anh năm 1638 bởi thợ mỏ Đức. William Bickford đưa ra kíp nổ an toàn, trước đó dùng rất nguy hiểm. Một lý do nguy hiểm nữa là khói bốc dày đặc và có thể kích nổ khí hầm lò. Công trình đầu tiên dùng một lượng lớn thuốc nổ là kênh Canal du Midi miền nam nước Pháp. Kênh này hoàn thành năm 1681 nối Địa Trung Hải và Vịnh Biscay, kênh dài 240 km và có 100 cửa cống. Một công trình khác dùng nhiều thuốc nổ đen là kênh Erie ở tiểu bang New York, dài 585 km, làm 8 năm, bắt đầu năm 1817. Trước nổ đen dùng rất nhiều trong xây dựng đường sắt. Ban đầu các đường sắt đi ngoằng nghèo leo qua núi, đi qua chỗ trũng bằng cầu. Nhưng sau này đường sắt hay cắt qua núi bằng đường xẻ và đường hầm. Đoạn 800 mét kéo dài của đường hầm hộp trên tuyến đường sắt Great Western nối London và Bristol ngốn 1 tấn thuốc nổ đen một tuần trong 2 năm. 12,9 km chiều dài của đường hầm Mont Cenisl hoàn thành trong 13 năm bắt đầu từ 1857, khoan khí nén và nổ thuốc nổ đen chỉ cho tốc độ 25 cm một ngày. Lúc này, phương pháp khoan nổ đã thịnh thành trong việc xây dựng đường hầm, hầm mỏ.

Đóng góp cho các công trình của thuốc nổ đen chỉ kéo dài đến khoảng già nửa thế kỷ 19. "hồ nổ" (blasting gelatine) của Alfred Nobel xuất hiện dưới dạng đóng chai, sau đó là dynamit cũng của ông được bán rộng rãi, là những thuốc nổ mới thay thế thuốc nổ đen đầu tiên.

http://www.musketeer.ch/blackpowder/history.html


Tiêu đề: Những súng trước thời Hồ Nguyên Trừng.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tư, 2008, 11:41:46 am
Không rriêng gì bạn snowangel_2saw, bên này, http://vndefence.info/modules.php?name=News&file=save&sid=55 các bạn cũng copy bài viết của mình và làm ta sao thất bản đi nhiều quá. Các bạn có thể thấy snowangel_2saw đưa nhiều ý kiến sai lầm trên kia, thậm chí PG-7 là đạn B40.

Thế này đi, HP làm lại một phiên bản súng nữa vậy.

Nhiều người thường cho là Hồ Nguyên Trừng chả có công gì ???? Mấy trường đại học lầm cẩm ở Sing còn làm luận văn chứng minh ông chỉ phát minh ra mỗi cốc mồi (Flash Pan). Sự ngu dốt thể hiện ở cả hai mặt: cốc mồi Flash Pan không hề nhỏ tí nào, nó đảm bảo chiến đấu mọi thời tiết và được duy trì nguyên thiết kế cho đến khi súng hỏa mai hết thời vào giữa Thế Kỷ 19. Mặt khác, những giáo sư ... Sing kia quên đi rằng, súng trước và sau Hồ Nguyên Trừng khác nhau một trời một vực.

Súng có từ khi con người biết dùng thuốc nổ. Những súng đầu tiên là cỗ máy bắn đá bắn thùng thuốc nổ hoặc diêm sinh trộn dầu gây cháy. Thành Cát Tư Hãn và quân Mông Cổ rất nhiều thứ pháo này. 砲 pháo - có bộ thạch, chỉ thứ máy bắn đá này. Nhưng dân tầu dốt nay dùng nhầm thành chứ bào có bộ hỏa 炮 tức là sao thuốc.

Tên lửa cũng xuất hiện vào đời Tống.

Tiến bộ hơn máy bắn đá là hỏa đồng 火筒. Một cái ống mỏng nhồi thuốc nổ yếu, sát thương bằng vãi lửa vào địch. Hỏa đồng đã rất gần với sung và có thể nói, Hồ Nguyên Trừng cải tiến súng từ Hỏa Đồng. Sau này, Hỏa Đồng vẫn tyồn tại song song với súng.

Những trận chiến lớn trước thời Hồ Nguyên Trừng như Trần Hữu Lượng-CHu Nguyên Chương, Kiến Văn Đế... thì thuốc nổ đã được dùng nhiều như là vũ khí cộng đồng chính. Nhưng súng thì chưa đến thời. Trận đánh lớn đầu tiên của súng là Trịnh Hòa đánh Srilanka, nã pháo các 2km, tỏ rõ uy lực vượt trội so với máy bắn đá và hỏa đồng.

Nhà Minh sau Hồ Nguyên Trừng cũng lập một binh đoàn đầu tiên trên thế giới lấy súng cá nhân làm vũ khí chính.

Châu Âu giữa Thế Kỷ 13 chỉ có pháo vò, bắn mũi tên. Pháo rất yếu vì nếu mạnh thì nó nghiền nát tên. Hồ Nguyên Trừng cũng đã thử nghiệm các loại đạn trước khi thiết kế ra súng bắn đạn cầu hay đạn ria, có vách chắn và cốc mồi.

Đến tận đầu thế kỷ 16, súng của Hồ Nguyên Trừng chưa truyền đến châu Âu. Kiểu pháo nòng mỏng được Thổ Nhĩ Kỹ truyền vào châu Âu, nhanh chóng được thay bởi pháo nòng dầy, Thần Cơ Thương Pháo của Hồ Nguyên Trừng.

Bộ Thương 步枪, ban đầu chỉ cấy giáo, vũ khí chính của bộ binh. Ngày nay, Bộ thương vẫn thỉ súng trường, tuy rằng mũi giáo đã bé lại còn như con lê. 火枪 Hỏa Thương ban đầu chỉ các cây giáo, kiếm, đao có thêm cái nòng nhỏ. Ban đầu nòng chỉ có tác dụng dọa là chính.

Hồ Nguyên Trừng phát triển mạnh việc sản xuất súng pháo vào những năm 1426-1446 khi ông mất. Từ đó, súng trở thành vũ khí chính. Các súng lớn dùng cộng đồng được dùng thay thế máy bắn đá, thừa kế chữ pháo. Còn những súng cá nhân phổ biến chậm hơn, thừa kế chữ thương. Te4en cuốn sách Thần cơ thương pháo pháp là "kỹ thuật chế tạo súng pháo của thần", cơ là cơ cấu kỹ thuật, cuốn này có thể do người Tầu viết lại theo kiến thức của ông, cũng có thể ông chấp bút nhưng không xưng danh, vì một đời mình, không khi nào Hồ Nguyên Trừng coi những công trạng bên Tầu của ông là vinh dự cả. Chữ thương còn có âm là sang, nên cũng có người đọc là "thần cơ sang pháo". Trong cuốn sách này có các phương pháp Thần thương (súng, viết tắt của "thần cơ thương pháo"), Thần thương tiễn (giàn phóng tên lửa bắn liên tiếp, tiếng Hán là Hỏa Xa, phát âm tiếng Hàn là hwacha), Thần cơ hỏa thương (súng phun lửa).
http://www.daviddarling.info/encyclopedia/C/Chinese_fire-arrows.html#top

Hồ Nguyên Trừng cũng có thể viết thêm Hỏa Long Kinh, năm 1412. Lúc nàyg, ông tuy chưa hết lòng với nhà Minh nhưng đã có uy tín lớn, Chủ Sự Binh Trượng Cục, đứng đầu ngành chế súng nước Tầu.


http://kthsu.gec.nthu.edu.tw/2007-proceedings/29.pdf (http://kthsu.gec.nthu.edu.tw/2007-proceedings/29.pdf)
Toàn văn "Minh thực lục" http://myboooks.googlepages.com (http://myboooks.googlepages.com)
Minh Sử Mạt Bản, đăng ký free.http://www.twango.com/media/mdmailbo-59.public/mdmailbo-59.10001 (http://www.twango.com/media/mdmailbo-59.public/mdmailbo-59.10001)
 

Tham khảo thêm Nguyên sử về súng thời đó so với những tiến bộ của Hồ Nguyên Trừng, đăng ký free.
http://www.twango.com/media/mdmailbo-43.333/mdmailbo-43.10037 (http://www.twango.com/media/mdmailbo-43.333/mdmailbo-43.10037)
http://www.twango.com/media/mdmailbo-43.333/mdmailbo-43.10037 (http://www.twango.com/media/mdmailbo-43.333/mdmailbo-43.10037)

Hạ tiếp, Minh thông giám (夏燮: 明通鑒) http://www.twango.com/media/mdmailbo-59.public/mdmailbo-59.10002 (http://www.twango.com/media/mdmailbo-59.public/mdmailbo-59.10002)

黄云眉 明史考证. 中华书局.1986 Hòang Vân Mi, Trung Hoa Thư Cục, 1986
http://www.twango.com/media/mdmailbo-59.111/mdmailbo-59.10014 (http://www.twango.com/media/mdmailbo-59.111/mdmailbo-59.10014)


*谢贵安:"明實錄"研究. Tạ quý an: "minh thật lục" nghiên cứu
*明實錄 (中央研究院歷史語言研究所校印)(全). "minh thật lục", Trung ương nghiên cứu viện lịch sử ngữ ngôn nghiên cứu sở giáo ấn (toàn văn).
*明實錄類纂. "Minh thật lục" lọai soạn, sắp xếp "minh thật lục". down load.
http://myboooks.googlepages.com (http://myboooks.googlepages.com)


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Ngocvancu trong 22 Tháng Tư, 2008, 01:34:41 pm
huyphuc này các tài liệu về súng đạn của huyphuc có thể đóng thành tập và lưu hành nội bộ được 0?nếu được cho xin 1 bộ nhé


Tiêu đề: Hỏa Long Kinh
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tư, 2008, 01:44:02 pm
Có thể thấy rõ công lao của Hồ Nguyên Trừng khi xem dến Hỏa Long Kinh (火龙经) của Tiêu Ngọc (焦玉) viết giữa thế kỷ 14, được viết thêm (có thể do Hồ Nguyên Trừng viết thêm) năm 1412, kho ông bị bắt sang Tầu vài năm. Theo như ảnh vẽ trong đó, cái gọi là pháo chính xác là hỏa đồng.

Chúng ta nếu có thời gian nghiên cứu rộng sẽ thấy, Hồ Nguyên Trừng biến súng từ một thứ đồ chơi trở thành vũ khí chính. Có lẽ, điều kiện bên Tầu khá thuận lợi để ông làm điều đó. Theo như những gì để lại, Hồ Nguyên Trừng rất chuộng "Sắt Tây Vực", có lẽ đây là thứ thép tốt buôn từ Trung Á hay Trung Đông sang, hơn hẳn loại gang xấu vẫn được gọi là sắt, thép ở Viễn Đông. Bác nào có rỗi chụp một đống thần công trong bảo tàng, sẽ thấy một hiện tượng phổ biến, pháo thời Thanh có vẻ chất lượng rất xấu, rỉ rỗ lớn, tệ hơn cả pháo Việt Nam. Rồi diêm sinh khoáng nguồn gốc sa mạc Trung Á cũng xịn thiên thần so với thứ diêm sinh lọc từ phân dơi rởm đời của Viễn Đông. Đến tận Thế Kỷ 19, loại thuốc súng buôn từ phương Tây sang vẫn là đồ xì tin ở Viễn Đông.

Sắt và diêm sinh Tây Vực theo đoàn Minh Giáo đánh quân Mông Cổ từ Ba Tư, đánh qua sa mạc, đánh qua Trung Hoa, đuổi Mông Cổ về tận Nội Mông. Nếu không có Hồ Nguyên Trừng, thì sắt và diêm sinh đó vẫn chỉ là hỏa đồng.

Đây là một trong những hình vẽ cổ nhất về súng, 1002, Liu Yongxia (không rõ tiếng Hán). Chữ trên hình là "thủ pháo" (pháo tay), chỉ rằng đây là súng cá nhân.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/misc-shoupao.jpg)

Hỏa Long Kinh Khảo Biện:
http://ch.shvoong.com/social-sciences/business-management/874428-%E7%81%AB%E9%BE%99%E7%BB%8F-%E8%80%83%E8%BE%A8/
Wiki tiếng Anh. Mịe, nếu mấy con nợn chuyển lửa về quê nhà không làm thối hoắc cái wiki tiếng Việt thì cũng có ích đấy.
http://en.wikipedia.org/wiki/Huolongjing

Mấy lão Việt Kiều Mỹ đặc biết tránh nhắc đến Hồ Nguyên Trừng. Cũng dễ hiểu, những Việt Kiều Mỹ có đẳng cấo chính trị quá thấp, chạn lòng trước sự nghiệp vĩ đại của ông.


"De Nobilitatibus Sapientii Et Prudentiis Regum" Walter de Milemete, 1326. Kiểu pháo này được gọi là vase cannon, pháo vò, bắn mũi tên. Tác động rất yếu, yếu hơn cả các hình vẽ hỏa đồng bắn hỗn hợp than cháy dở và lửa, thế kỷ 14, cuối Nguyên- đầu Minh.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/EarlyCannonDeNobilitatibusSapientii.jpg)

Năm 1470, súng hỏa mai châu Âu, trước khi thần cơ thương pháo truyền sang.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Lgehumble_1400.jpg)

Đoản kiếm kiêm súng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/sungco.jpg)


Hỏa Long Kinh (火龙经). Rõ ràng, hình này đã tiến bộ hơn máy bắn đá nhưng vẫn chỉ là Hỏa Đồng.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Chinese_Cannon_hoa_long_kinh.jpg)

Đây là một khẩu súng thời Nguyên. Trên thân súng có ghi nien hiệu. Không rõ súng dùng làm gì ???? có thể là "súng lệnh" bắn lấy tiếng kêu, hoặc là một loại vũ khí sát thương yếu. Cũng có thể là nòng súng buộc trên "hỏa thương".
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/800px-Yuan_chinese_gun.jpg)

Sau thời đó, Hồ Nguyên Trừng đã xây dựng nên thời đại của súng, đến nay vẫn chưa hết. Khồng còn là thứ đồi chơi lạ kỳ, mà đã là khẩu súng trường.
Súng hỏa mai mồi cò, một phát minh dặc trưng của Hồ Nguyên Trừng. Chính đây là "Thần cơ thương". Trong Thần Cơ Thương (súng có nguyên lý của thần), có nhiều loại, hình ảnh này là Hỏa Thằng Thương 火绳枪, súng hỏa mai mồi thừng lửa, chính là súng hỏa mai mồi cò. Còn gọi là Hỏa Thằng Câu Thương, 火繩鉤槍, hỏa=lửa thằng=thừng câu=móc thương=súng.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Ming_matchlocks.jpg)


Một đơn vị bộ binh thời Minh sau Hồ Nguyên Trừng, không những pháo, mà vũ khí cá nhân cũng đã lấy súng làm chính. Tuy nhiên, ở miền Viễn Đông, diêm sinh rởm và hiếm nên súng chậm phát triển.
Đơn vị trang bị súng làm vũ khí chính này chính là Thần Cơ Doanh, Minh Sử ghi: "Thành Tổ bình Giao Chỉ, lấy được Thần Cơ Thương Pháo Pháp (神机枪砲法), đặt Thần Cơ Doanh, ban đầu dùng Hỏa Thương, sau dùng Hỏa Thằng Thương". (Minh Sử, các cuốn 89,92). Thần Cơ Doanh là doanh quân oách nhất trong tam quân thuộc Kinh Quân (tựa như 80 vạn cấm vệ quân học trò của Lâm Giáo Đầu), có đâu 5 trại, khoảng 1 vạn rưởi (tuy nhiên đoạn quân số này có thể HP ngắt câu không đúng, mịe các chú tầu, éo có chấm phẩy giề). Sau này, súng đã được phổ biến hơn, chứ không riêng gì ở Bắc Kinh.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Ming_musketeers_chu_thich.jpg)

Đến năm 1521, chiến dịch lớn đầu tiên sử dụng hỏa thằng thương là đánh "西草灣之戰", Tây Thảo Loan Chi Chiến, đây là trận xung đột liên quân Pháp Bồ với nhà Minh ở Quảng Đông.
Chúng ta tự hào súng trường và một số súng quan trọng nữa, là phát minh vĩ đại của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Tư, 2008, 02:42:12 pm
Chú huyphuc_1981nb vẫn chưa chừa, phỏng? Anh vừa sửa bài của chú xong, tha thiết mong chú kiềm chế cái đầu và cái...ngón tay để cho lý lẽ có sức thuyết phục hơn! Ý tại ngôn ngoại, mong chú hiểu!


Tiêu đề: Siêu Pháo nòng mỏng, công thành pháo.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tư, 2008, 10:00:47 pm
Xem các đoạn trên ta đã thấy, vào lần hiệu chỉnh năm 1412, Hỏa Long Kinh đã có những bản vẽ mang tính cách mạng. Súng đã trở thành vũ khí bộ binh chính, có nòng có báng, có cò có tay cầm, ốp trước. Rõ ràng, đây là phát minh quan trọng nhất với loài người về vũ khí: khẩu súng trường. Nó tiến bộ hơn pháo vò, hỏa thương, hỏa hổ, hỏa mai cổ và đủ sức thay thế cây giáo.

Tuy nhiên, do khó khăn về thuốc nổ tốt nguồn gốc xa xôi Ba Tư mà thời Minh, chỉ những đơn vị đặc biệt mới trang bị "thần cơ thương".

Thần cơ thương pháo pháp còn có hai phát minh quan trọng nữa là pháo (súng lớn) và tên lửa. Trong bài viết này ta nói đến pháo. Cũng dùng phương pháo của bài thương tren, chúng ta xem những pháo đương thời của châu Âu.

Châu Âu biết đến pháo vào thời  mà Hồ Nguyên Trừng đã già. Tuy nhiên, những khẩu pháo này rất khác với Thần Công của Hồ Nguyên Trừng. Đặc điểm chung của những khẩu pháo châu Âu thời này là loại pháo nòng mỏng. Đây là tổ tiên của lực pháo Howitzer, tuy nhiên, vào thời đó, người ta lại bắn đạn đặc.

Đây là khẩu pháo lớn nhất thế giới thời cổ để lại, Tanjavur, nó cũng thuộc siêu pháo nòng mỏng. Điểm độc đáo là nòng hàn. Pháo làm khoảng Triều Raghunatha Nayak 1600-1645, Ấn Độ.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/RajaGopalaCannon.jpg)

Đây là khẩu "Great Turkish Bombard", hoặc có tên khác như "Basilic", "Dardanelles Gun",  "Hungarian Cannon", "Muhammed's Great Gun", "Royal Gun". Khẩu siêu pháo này đã bắn hạ thành Constantinople, tham ra chiến dịch Dardanelles.
Mehmed II tấn công Constantinople, tháng 4-1453, trong thời kỳ thành lập Ốttôman. Pháo ban đầu được đặt đúc ở Hungary cho chiến dịch này, được đúc bằng đồng thiếc (thau). Nòng trong dài 5,18 mét, đường kính 762mm, pháo nặng 17,27 tấn. Pháo gồm hai đoạn vặn vào nhau bằng ren, có các lỗ bẩy quay. Một khúc là nhồi thuốc nổ, khúc kia nhồi đạn. Pháo bắn đạn đá granit nặng 680kg. Pháo được kéo bởi 60 con bò và 400 mạng lính. Mất 7 ngày chuẩn bị cho pháo bắn. Mỗi ngày bắn 7-10 lần, sau 90 ngày thì tường thành sụp đổ.
Năm 1464, vua Mehmed II đặt hàng 42 khẩu bảo vệ thành Dardanelles. Nhưqngx khẩu này nặng 18,29 tấn. Năm 1807, chúng vẫn còn chiến trận nữa, tuy nhiên mỗi phát đạn bắn ra được làm bị thương 60 lính Anh trên một tầu chiến.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Muhammeds_Gun.jpg)

Đây là khẩu MONS MEG ở lâu đài EDINBURGH CASTLE, ANh Quốc, 1457, 6 tấn.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/monsmeg.jpg)


Đây là "Sa Hoàng Pháo", Царь-пушка bắn đạn đá 800kg. Pháo khiếp vía này nặng gần 40 tấn.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Kanon_in_het_Kremlin.jpg)


Các khẩu trên thuốc hàng "Công thành pháo". Tuy nhiên, cấu tạo của chúng là nòng mỏng, nhưng lại bắn đạn xuyên. Dĩ nhiên, tốc độ bắn thì chậm khủng khiếp luôn, cùng với số lượng người khổng lồ phục vụ. Sau này, người ta không làm pháo nòng mỏng to nữa. Các khẩu nòng mỏng bé thì vẫn tồn tại, dùng bắn đạn trái phá, chính là Howitzer. Howitzer có gia tốc đạn trong nòng thấp, tránh đạn trái phá phát nổ. Nó có thể dùng cách bắn đạn đập đất nầy lên đi xa thêm để tăng tầm.

Cái gì thay thế các siêu pháo công thành trên ???? Đó chính là thần cơ pháo của Hồ Nguyên Trừng, thứ mà mấy lão gìa ở Sinh chê là chỉ có khác cái lỗ mồi.

Hiận vẫn còn một số siêu pháo nòng mỏng. Các pháo ở châu Âu thường nhỏ hơn và có buồng đốt thon, khẩu pháo Ấn Độ Tanjavur lớn nhất còn lại, có nòng hàn. Một số khẩu pháo lớn nòng mỏng còn được chế tạo trong Thế Kỷ 17, nhưng nhìn chung, Thần Cơ Pháo nòng dầy thay thế ngay từ Thế Kỷ 16.


Tiêu đề: Thần Cơ Pháo
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tư, 2008, 11:19:50 pm
Bài viết này, HP đã trình bầy rõ ràng, người chế tạo ra súng trường là Hồ Nguyên Trừng.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20707#msg20707

Còn ở đây, chúng ta nói về pháo của ông.

Chính tên là Thần Cơ Pháo (pháo có máy của thần), nhưng khi tế thì tế Thần Công (Thần đánh phá), nên nhiều người nhầm thành súng thần công. Thật ra thì Thần Cơ Pháo chóng phổ biến hơn Thần Thương, vì Viễn Đông sắt và diêm sinh tốt hiếm. Pháo ngay lập tức trở thành vũ khí cộng đồng chính, các loại máy bắn đá công thành vĩnh viễn biến mất.

Pháo Thần Cơ khác với những khẩu pháo khổng lồ trên. Pháo có nòng rất dầy, nhồi nhiều thuốc nổ, bắn đạn công phá rất mạnh. Pháo có tay nắm đuôi và ngõng ngáng chỉnh tầm, đặt trên giá, chứ không đặt nằng ngay trên ụ đất. Phần tinh tế nhất là cốc mồi. Cốc mồi có miệng rộng, dễ châm, điều này tăng khả năng xạ kích vì điểm hỏa đúng thời điểm. Cốc mồi rộng nhưng đường dẫn luyửa cong và hẹp, tránh tổn thất khí nóng. Cốc mồi và liều trong nòng được che chắn chống ẩm bởi gỗ "mục mã tử" (không rõ gỗ gì). Cấu tạo cốc mồi này đặc trưng cho đến tận thế kỷ 19. Cốc mồi áp dụng cả trong Thương và Pháo (súng nhỏ súng lớn). Một đặc điểm nữa là pháo được đúc bằng thép khá tốt, trong khi đó, không hiểu sao ở châu Âu đến tận thế kỷ 19 còn chế pháo đồng.

Tốc độ bắn của pháo thần cơ ???? Pháo dĩ nhiên là gọn nhẹ, bắn vài phút một phát và chỉ cần chục người vận hành, chứ không cần đến hàng trung đoàn với tốc độ bắn vài phát một ngày. Pháo Công Thành nòng mỏng tuy to, nhưng chỉ tồn tại trong những năm 14xx và biến mất. Châu Âu vào cuối những năm 15xx đã phổ biến Thần Cơ Pháo. Và thế là thành quách hết thời.

Ở châu Âu, từ đó người ta chỉ chế tạo pháo nòng mỏng nhỏ, dùng bắn trái phá, chính là các Howitzer. Nòng mỏng nhồi ít thuốc để đạn trái phá không phát nổ trong nòng. Các pháo tầu dùng sức xuyên của đạn mạnh, đều bắn đạn đặc. Chỉ đến Thế Kỷ 19, Henri-Joseph Paixhans mới phát minh pháo bắn đạn trái phá sơ tốc lớn, được Nga chấp nhận trang bị trong khi đánh Thổ.


Chụp sách thế kỷ 17. Hình vẽ trong sách là Thần Cơ Pháo.
The Compleat Cannoniere, by John Roberts, London 1652.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Cannoniere_1652.jpg)

Một Thần Cơ Pháo điển hình, Pháp, Thế Kỷ 17.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Invalides-film125jpg.jpg)


Tiêu đề: Vài khẩu Thần Cơ Pháo
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 12:14:00 am
Các khẩu Thần Cơ Pháo suốt hơn 500 năm không thay đổi gì. Có lẽ cải tiến lớn duy nhất là nó được làm bộ giá cứng, cho lên bánh xe, có càng giảm giật. Pháo giá cứng thay đổi tầm hướng bằng cách đắp đất thêm vào bánh, càng. Khi bắn, pháo lùi về cánh lên đất đắp giảm tốc, các xạ thủ nhồi pháo rồi đẩy trở lại vị trí bắn, ngắm bắn và đốt. Cấu tạo pháo như vậy ổn định suốt từ đông sang tây. Có thể thấy có hai loại giá, một loại pháo cố định nòng rất to dầy, dùng giá 4 bánh. Loain pháo dã chiến dùng 2 bánh to hơn có cả càng.

Pháo Jaivana, khẩu pháo nòng dầy lớn nhất thế giới cổ. Cảng Jaivana, Ấn Độ, riêng cái nòng hơn 50 tấn. Pháo nhồi cả tạn thuốc nổ đen, theo ước tính máy tính, bắn đạn 50kg đi xa 32km. Pháo rất đẹp.
http://pib.nic.in/archieve/phtgalry/pg0599/pg24my99/2405996.html
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/p2405996.jpg)

Montréal, Québec, Canada,  http://patrick.verdier.free.fr (http://www.folp.free.fr/) (search:canon)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Canon_sous_la_neige.jpg)


Baranów Sandomierski Castle, Ba Lan.   
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Baranw_Sandomierski_-_castle_18.jpg)

Ở đâu thì pháo cũng thế, Pháo Huế nhà vịt
http://nguyentl.free.fr/html/photo_la_cour_royal_fr.htm
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/sung-than-cong-hue.jpg)

Nhiều nước ở chấu Âu vẫn dùng đồng, khẩu này 166mm, đúc năm 1787, Nga. Giá pháo này tiến bộ nhiều chứ, cuối Thế Kỷ 18 cơ mà.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/166-__.jpg)


Tiêu đề: 神机枪砲法 và 火绳枪. Cốc mồi và cò mồi, các loại cò khóa đầu tiên
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 02:14:23 am
Thần Cơ Thương Pháo Pháp (神机枪砲法) có nhiều món binh khí, trong đó có khẩu súng trường đầu tiên của loài người, là khẩu Hỏa Thằng Thương (火繩槍), hay còn gọi là Hỏa Thằng Câu Thương (火繩鉤槍). Hoả là lửa, thằng là thừng, câu là móc, thương là vũ khí chính của bộ binh: súng trường và giáo. Khoá mồi cò "Hoả Thằng" có một đoạn dây mồi lửa là sợi thừng cháy chậm, khi bóp cò, "kim hoả" là cái móc đầu có dây thừng mồi sẽ chọc vào cốc mồi.

神机枪 Thần Cơ Doanh là binh đoàn đầu tiên mà bộ binh dùng súng làm vũ khí chính, thay giáo. Ngày nay, địa danh này vẫn còn ở Bắc Kinh, cùng với An Nam Doanh, Hỏa Khí Doanh, Giao Chỉ Doanh, là những địa danh gắn bó với Hồ Nguyên Trừng và những tù binh người Việt.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20820#msg20820
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20707#msg20707
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20385#msg20385
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20386#msg20386

Ở ảnh trên, ta đã thấy trước thời Hồ Nguyên Trừng, người ta phải dùng một tay đốt ngòi, điều này làm thời điểm điểm hỏa không đúng, khi rất khó khăn chọn được được ngắm. Điều này cũng làm cho các súng nhỏ không hoàn toàn là súng cầm tay, ảnh trên cho thấy súng nhỏ nhưng vẫn phải chống đất như pháo (ảnh khẩu súng 1470). Bất chấp những lời dè bỉu của mấy lái chữ đê tiện, "học giả" người Tầu Sing ti tiện, Hồ Nguyên Trừng vẫn chế ra khẩu súng có cò, có tay cầm, có ốp tay, có đường ngắm cơ bản, có đường ngắm đúng và dĩ nhiên, có bóp cò. Không có những điểm đó, khẩu súng đúng là không còn là khẩu súng.

Từ ngày Hồ Nguyên Trừng chế ra súng trường, nó đã phát triển rất nhiều. Những phiên bản trên chụp từ Hỏa Long Kinh cho thấy lúc đó đã dùng kíp mồi (Thế Kỷ 15). Có thể, loại kíp mồi đó giống như của người Mèo sau này, dùng ống lông vũ đựng hỗn hợp thuốc nổ, đã silic, nếu có được bột đá lửa thì quá xịn.

Tuy nhiên, những súng trường đầu tiên không có kíp. Đó là súng hỏa mai mồi cò. Súng này có thấy Hỏa Long Kinh đề cập đến. Người Âu 1498 biết đến và buôn bán sang Ấn Độ, Nhật Bản. Nhưng rõ ràng, Kỹ thuật này được người Bồ Đào Nha chuyển về châu Âu và có xuất xứ nhà Minh, cụ thể hơn là đoạn viết thêm Hỏa Long Kinh năm 1412, và rõ ràng, đó vì thế chỉ là một trong những phát minh của Hồ Nguyên Trừng.

Nhớ lại, mấy nhà Sinh Gà Phò nói rằng, cái cốc mồi do Trừng chế ra chả là đinh rỉ gì ???? Mấy cha này chả biết gì về súng ống cả. Ít ra, cốc mồi-dây dẫn lửa là cái khóa nòng đầu tiên, cho phép điểm hỏa nhanh và kín. Không có Hồ Nguyên Trừng thì mọt đời dân tầu nhà nó vưỡn dùng thuốc nổ rờm của hỏa hổ và mồi ngòi giấy. Đại khái, ê, mày đứng yên để tao bắn mày nhé (nếu như súng đủ uy lực).
Cốc mồi đây, tuy quan trọng như thế nhưng cấu tạo của nó hết sức đơn giản. Nó chỉ là cốc thuốc nổ to dễ bắt lửa và một đường dẫn lửa nhỏ cho kín khi bắn. Cốc mồi (flash pan) này Tây vẽ, gin của Hồ Nguyên Trừng cốc mồi có nắp đật tránh mưa. Nắp đậy súng nhỏ là miếng sắt gang đồng gì đó, súng lớn là khúc gỗ mềm bịt kín.
Trước cốc mồi, người ta dùng ngòi mồi. Cốc mồi khác ngòi môi ở chỗ nó không cháy chậm mà nổ đốp một cái, tống sáp suất cao đẩy lửa qua lỗ dẫn lửa hẹp vào buồng đốt. Thật ra, tiếng tây "lash pan" là cốc nổ chớp, chứ tớ gọi là cốc mồi cho lai tây ta.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/flashpan-1.gif)

Rồi cò mồi là một kiểu khóa nòng kim hỏa tiến bộ hơn nữa. Thật ra nó chả có gì phức tạp, khi bóp cò thì cần ấn đầu dây mồi vào cốc. Sau này, Thế Kỷ 16 châu Âu có thêm nắp cốc mồi có bản lề mở ra được. Thế như cò mồi có vai trò rất quan trọng, nó cho phép cầm hai tay nâng súng và điểm hỏa chính xác, hay nói cách khác, đó là loại súng trường đầu tiên. Chốt an toàn chính là nắp cốc mồi.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/match.gif)

1530, Francis I lập một đội quân Pháp dùng súng hỏa mai mồi cò, sau nhà Minh hơn 100 năm, đây là lần dùng súng mồi cò quy mô kha khá đầu tiên ở châu Âu. Trước đó, năm 1521, Tầu đã dự định dùng loại súng này đánh hải quân Pháp-Bồ ở Quảng Đông.


Tiêu đề: Đánh lửa bánh xe. WHEEL LOCK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 02:30:58 am
MATCHLOCK là kiểu cò mồi, nhanh chóng dược thay bằng kiểu đánh lửa bánh xe WHEEL LOCK, đảm bảo chiến đấu thời tiết xấu tốt hơn. Kiểu này giống như bật lửa ngày nay, dùng bánh xe bật vào đá lửa mồi súng. Lật cần có viên đá lửa ra là vị trí an toàn, đậy nắp cốc mồi lại. Khi chuẩn bị chiến đấu mở chốt an toàn bằng lật nắp cốc mồi và hạ cần đá lửa xuống.
Súng có ý tưởng đầu thế kỷ 16.
Johann Kiefuss of Nuremberg đưa ý tường 1517.
1530, Charles V, vua Roma, chiếm Áo và Tây Ban Nha đã chuyển xưởng của Marquarte về Madrít cùng các kỹ thuật. 1560 người Đức cải tiến kết cấu máy và báng gỗ.

Tuy vậy, thời này ở châu Âu súng còn tồi, chưa có hình dáng của khẩu súng trường như bên Minh Triều.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/wheel.gif)
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/wheellock.gif)


Tiêu đề: Điểu đầu súng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 02:39:46 am
Súng đầu chim là loại súng có cò đánh lửa bằng cái mỏ đá lửa, giống mỏ đầu chim. Loại này có hai mức phát triển: liền nắp cốc mồi và rời.

SNAPHAUNCE, kiểu điẻu đầu súng nắp cốc mồi rời. Nguyên lý là mổ đá lửa vào một tấm kim loại trên nắp cốc mồi. Khi bóp cò, máy súng đẩy nắp cốc mồi trượt đi và ấn đá lửa vào mặt đánh. Mặt này là khóa an toàn, nghiên đi để tránh là vị trí an toàn, được giữ bởi lò xo lá.

Loại điểu đầu súng nắp cốc mồi tời này ra đời 1570, hay được gọi tiếng Tây là SNAPHAUNCE.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/snap.gif)
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/snaphaunce.gif)


Loại điểu đầu súng hiện đại hơn được gọi là FLINTLOCK, súng hỏa mai kíp đá lửa. Cũng có người bảo đây là súng kíp. Súng này được phát triển tại châu ÂU bởi Pháo 1612,  Marin le Bourgeoys, trợ lý cho xưởng Louvre của vua Henri IV. Người Âu học được của người Ả Rập FLINTLOCK và SNAPHAUNCE trước đó. Điểm khác căn bản hai loại súng này là FLINTLOCK có nắp cốc mồi liền với mặt đánh lửa, đồng thời là khóa an toàn, cốc mồi có dạng ấm có vòi. Nhờ đó, súng chắc chắn tin cậy. Súng được phổ biến rất nhanh nửa thế kỷ 17 sau đó và trở thành vũ khí chính cho đến Thế Kỷ 19. Tuy vậy, ở châu Âu, các kiểu cò cổ hơn vẫn được dùng do rất rẻ, lúc đó, máy móc như FLINTLOCK là tốn kém quýt sờ toọc rồi.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/flintlck.gif)
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/flintlock.gif)


Tiêu đề: Châu ÂU dùng súng từ bao giờ, Hand Gonnes, pháo vò ???
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 03:02:41 am
Như vậy, đến những năm 149x thì súng trường mới có mặt ở châu Âu, nhưng cũng phải một thế kỷ sau, người Âu mới làm súng đủ nhỏ gọn để khẩu súng trường khang khác khẩu pháo nhỏ. Điểu này chậm hơn nhiều so với Triều nhà Minh, đã có nhứng binh đoàn dùng súng, mà là súng trường thật sự, có báng có ngắm có ốp. Hỏa Long Kinh chỉnh lần cuối 1412, có kết hợp những kiến thức của Hồ Nguyên Trừng, đã nói đến cò mồi, trước châu Âu 80 năm. Còn khẩu súng dùng kíp như phần trên thì trước châu Âu 400-500 năm.

Chuyện phiên bản 1412 của Hỏa Long Kinh rất đáng nghĩ, kể cả cuốn sách đặc trưng của Hồ Nguyên Trừng là Thần Cơ Thương Pháo Pháp, Tác giả cũng từ chối không nhận. Có thể, như các phỏng đoán trang trước, ông không nhận sự nghiệp vĩ đại bên Tầu là vinh, mà chỉ là thân nô tỳ bán mình cứu cha, em và các đồng hương. Hồ NGuyên Trừng chỉ nhận mình là tác giả Nam Ông Mộng Lục, cuốn sách viết về nước Việt xa xôi. Ngay sau khi đến Nam Kinh, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đã bị phán tội giết vua cướp ngôi, không có lý được sống, Hồ Nguyên Trừng đã dâng sách chế súng đổi lấy mạng sống cha em, lập tức được làm "Chủ sự Binh Trượng Cục" (Cục trưởng cục quân khí), một chuyện quá đặc biệt đến nỗi dân Tầu tị nạnh đến nay, tất nhiên chỉ là những chú tầu đê tầu tiện, như mấy lão giả học Tầu Sing. Những hành động đó của Hồ Nguyên Trừng có ý tư cách vĩ đại chả kém sự nghiệp chế súng của ông mấy: Công Bộ Thượng Thư Tầu có quân đông có lẽ hơn dân số nhà vịt, về thực tế là chức to hơn vua nhà vịt.

Trong suốt Thế Kỷ 15-16, người Âu học được những mảnh lẻ kỹ thuật chế súng từ nơi xa, nhưng không thể cho ra và phổ biến súng trường. Ta ví dụ súng như năm 1400, còn năm 1470 và sau đó trên kia đã nói. Mãi đến giữa thế kỷ 16, người Âu mới chế ra báng súng trường và khẩu súng trường đủ gọn nhẹ, không còn là "pháo tay", "thủ pháo", "hand_gun".

Chúng ta đưa khẩu này lên để so, nó không thể ngăm bắn, không thể điểm hỏa đúng lúc, không thể cầm 2 tay tỳ vai cho vững, không thể chịu được lực giật mạnh vì không có báng tì...Đưa nó ra để thấy được công lao của Hồ Nguyên Trừng, ngoài cốc mồi, cò mồi... thì báng, tay cầm, ốp lót, đường ngắm... là những kỹ thuật không kém phần cơ bản của súng trường.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/handgonn.gif)

Cái này so với cái "thủ pháo" ở đây.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20707#msg20707

Rõ ràng, chúng cùng một lớp súng, nhưng chênh thời gian chẵn 400 năm.

Người Âu, như trên kia đã nói, học các loại súng trường từ Ả Rập. Họ cũng học loại súng vừa cavalry, có thể cầm một tay trên lưng ngựa. Sau này, cavalry gun của Ả Rập trở thành cạc bin (carbine). Đấy là thế kỷ 16-17.
Từ thế kỷ 15 trỏe về, họ có Pháo Vò và Hand Gonnes. Hand Gonnes rất giống pháo nhà nguyên, có thể quân Mông Cổ đem sang châu Âu. Còn pháo vò, những súng thô sơ này có thể do người Âu phát minh, tuy nhiên, nó rất hiếm và chỉ có mặt trên đời một thời gian ngắn thế kỷ 14.
Thế Kỷ 15, người Âu dùng toàn súng pháo có nòng mỏng và mồi lửa ngòi, chưa có cốc và đường dẫn hẹp. Các loại siêu pháo nòng mỏng trang trước và súng cá nhân dưới đây cho thấy điều đó.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20820#msg20820


Tiêu đề: Súng kíp, một tiến bộ vượt bậc của phương Đông
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 03:21:13 am
Khi phương tây đã học được phương Đông súng hỏa mai thì phương Đông lại vượt lên với súng kíp. Có thể thấy, các ảnh súng thời Minh trên trang trước là súng kíp.

Súng kíp cũng xuất hiện từ thời đầu Minh. Tuy nhiên, suốt mấy trăm năm sau đó, súng nhỏ không nhiều ở Viễn Đông vì thiếu sắt tốt và diêm sinh khoáng. Thứ diêm sinh phân dơi tồi tệ lại hiếm. Chỉ thời Minh, khi lắm tiền nhập ngoại diêm sinh tây Vực mới có những binh đoàn lớn dùng súng. Trong khi Thiên Triều dùng diêm sinh xịn thì các chư hầu đành bằng lòng với diêm sinh phò phạch xấu bẩn, tuy nhiên, không vì thế mà thiếu súng kíp. Súng kíp được truyền khắp các vùng rừng rậm non cao Đông Nam và Nam Á, cũng được truyền trên binh nguyên Trung Á khô cằn đến Trung Đông. Súng kíp có thể không được châu Âu dùng nhiều do tỷ lệ bắn không nổ kha khá của nó. Còn dân Nam Á mưa nhiều thì kíp hơn đứt hỏa mai.

Súng kíp không được như hạt nổ nhưng cũng thỏa mãn tuyệt vời yêu cầu chiến đấu mọi thời tiết, kể cả trong điều kiện nóng ẩm nhà Vịt với thuốc phân dơi xấu bẩn. Kíp khá giống hạt nổ nhưng không đập mà chọc, búa đập hạt nổ thay bằng kim nhọn cong. Kíp là ống lông vũ bọc thuốc nổ đen và hỗn hợp các đá phát lửa như đá oxyd-silic, có đá lửa của Vân Quý thì nghiền ra làm bột quá xịn. Lò xo ruột gà cũng thiếu nên các thợ khéo thiết kế lò xo lá. Súng kíp có mặt trong quân nhà Minh từ Thế Kỷ 15, sau đó rất phổ biến. Cũng không hiểu từ bao giờ, người tầu biết dùng Hồng Hoàng (fulminate thủy ngân), tuy nhiên, chỉ khi trộn thữ này với các thứ đá lửa thì mới có kíp nhậy và an toàn. Một trong những yêu cầu cao cấp của kíp là phải nhỏ, để buồng đốt kín và ít phát lửa.
Súng Kíp nhồi có phần mệt hơn súng hỏa mai đá lửa, vì vướng "bầu ngòi" đựng kíp, nhưng nhồi xong rồi chiến đấu thích hơn nhiều. Mỗi khi bắn không nổ ???? lên cò bắn lại.

Đến tận nửa đầu Thế Kỷ 19, súng châu Âu chỉ hơn ở Thuốc Nổ Đen ngon, khi họ chiếm được con đường buôn bán với Mỹ, Phi, Trung Đông, Ấn Độ là những nơi có các mỏ diêm sinh tốt. Còn thiết kế súng thì chưa có gì hay ho cả.
Gần hơn, súng Phú Lãng Sa với súng Vịt. Súng Phú chỉ vượt lên súng vịt nửa sau Thế Kỷ 19, khi có hạt nổ và đạn có vỏ. Còn các loại súng hỏa mai thì bất chấp có diêm sinh với thép tốt, đều không thể chiến đấu mọi thời tiết, gọn nhẹ, tin cậy, bắn nhanh, dễ bảo dưỡng như súng kíp.

Súng kíp với cái mỏ chim mổ kíp từ thời nhà Minh
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/sung_kip_cao_thang.jpg)


Súng Hạt Nổ được người Âu và Mỹ dùng đầu Thế Kỷ 19, nó đảm bảo chiến đấu mọi thời tiết hơn là súng hỏa mai. Reverend John Forsyth of Aberdeenshire phát triển phân bản tin cậy của hạt nổ năm 1805. Hạt nổ này gồm fulminate thủy ngân và thuốc nổ đen, đặt ở đầu ống dấn lửa của vòi cốc mồi. Búa đập vào hạt này phát nổ.

Hạt nổ cho phép nhồi sẵn thuốc cho các súng bắn nhiều đạn và tiếp theo là đạn có vỏ.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/percussion.gif)
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/percussion.gif)


Tiêu đề: RandomWalker, bác cú mèo già của ttvnol
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 09:49:37 am
http://5nam.ttvnol.com/quansu/395715.ttvn


Tiêu đề: Sắp lại theo thời gian. Súng trở thành vũ khí chính thay cho giáo kiếm.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 10:45:43 am
Thêm một vài ảnh về thời "tiền súng trường", các thủ pháo, Hand Gonnes. Có thể hiểu về chúng thế này. Nòng ngắn mỏng, nạp ít thuốc, nạp lâu, bắn yếu và tản mát khủng khiếp. Như ảnh các trận đánh trang trước trong Thế Kỷ 15 ở châu Âu, người ta phải đến sát chân tường mà bắn. Khái niệm đường ngắm cũng chưa thèm có ????? sao vậy nhỉ, dễ hiểu, bắn cách có vài mét thì cần qué gì ngắm.
Thủ phảo và súng lớn nòng mỏng ngắn thời đó không khác gì nhau về cấu tạo.
Có thể hiểu, người ta dùng chúng như một vũ khí hỗ trợ, vũ khí chính vẫn là đao thương giáo mộc. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ 14 ở Tầu và 15 ở Âu, Thủ Pháo và các thứa súng lớn nòng mỏng ngắn đã phổ biến.

Thủ Pháo (Hand Gonne, Hand Gun...) xuất hiện từ thời Bắc Tống. Năm 1002:
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/misc-shoupao.jpg)

Thủ Pháo (Hand Gonne, Hand Gun...), nhưng theo Huy Phúc, khẩu súng này rất yếu, nòng mỏng rộng ngắn, có thể chỉ là súng lệnh. Nhà nguyên thế kỷ 13.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/800px-Yuan_chinese_gun.jpg)

Pháo vò, đây là đặc sản của châu Âu trước khi Hand Gonnes truyền đến. Pháo bắn mũi tên, Thế kỷ 14. Bắn mũi tên thì không thể mạnh được vì mũi tên vỡ nát ngay. Các sách nói về thời Minh có nói đến việc Hồ Nguyên Trừng thử đạn hình mũi tên, rồi thấy không ổn và bỏ. Nhưng không thấy có pháo vò ở Việt Nam và Tầu.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/EarlyCannonDeNobilitatibusSapientii.jpg)

Hand Gonnes đã đến châu Âu. Những Hand Gonnes đầu tiên ở châu Âu cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15, khi mà Hồ Nguyên Trừng đang kháng chiến rồi bị bắt sang Minh Triều.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/lgenorth_3guns.jpg)

Các thứ "Hỏa Thương", "Hỏa Kiếm", "Hỏa Dao Găm"... Thế kỷ 14 ở châu Âu. Chuẩn bị phát bắn thì lâu, phát bắn yếu bởi cái nòng vừa ngắn vừa mỏng ???? súng vữa chưa hơn dao găm, sau phát bắn "dọa là chính" thì trận chiến dao găm thông thường diễn ra. Có lẽ, tác dụng lớn nhất của khẩu súng này là tiếng kêu gọi đồng đội đến trợ chiến.
Mặt khác, nhìn vào thấy tương đồng giữa súng nhà Nguyên Thế Kỷ 12-13 và súng châu Âu thời này. Điều này minh chứng cho luận điểm của các nhà lịch sử về việc các cuộc chiến Mông Cổ dã đem súng đến châu Âu.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/hoa_mai_va_doan_kiem-1.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/hoa_mai_va_doan_kiem_tiep.jpg)

Năm 1400. Đầu thế kỷ 15, đây là bằng chứng cho thấy lúc này ở châu Âu chưa có súng trường.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/lgehumble_1400-1.jpg)

Năm 1470, người châu Âu vẫn chưa có khái niệm đường ngắm, báng, tay cầm, ốp tay... và chưa có súng trường. Điều này cho thấy, súng Âu vẫn rất kém và chỉ là thứ đồ chơi dọa là chính. Chuẩn bị rất lâu mới được phát bắn, bắn thì ngàn phát trúng một, thằng nào trúng thì cú điên nên bởi... mẻ má xấu trai.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/pope_1470.jpg)

Năm 1475, trình độ súng châu Âu vẫn chưa hơn gì.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/humble_1475.jpg)

Đầu Thế Kỷ 15, Thần Cơ Thương của Hồ Nguyên Trừng đã là khẩu súng trường MATCHLOCK. Những súng này châu Âu chỉ có trong các Thế Kỷ 16 và 17.
MatchLock được Hồ Nguyên Trừng gọi là Hỏa Thằng Thương (火绳枪), một trong những phát triển kỹ thuật được ghi trong Thần Cơ Thương Pháo Pháp (神机枪砲法). Súng trường là phát minh quan trọng nhất về vũ khí và vẫn được dùng cho đến nay.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Ming_matchlocks.jpg)

Và những binh đoàn bộ binh đầu tiên lấy súng làm vũ khí chính, thế kỷ 15, nhà Minh. Trang trước đã nói, đây là đơn vị Thần Cơ Doanh (神机枪), sử dụng Hỏa Thằng Thương 火繩槍, còn gọi là Hỏa Thằng Câu Thương, 火繩鉤槍.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20707#msg20707
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Ming_musketeers_chu_thich.jpg)

Thế kỷ 17, Long Binh châu Âu. Long Binh là bộ binh cơ giới-bộ binh nặng, ngựa không dùng xung trận mà dùng thồ nặng. Trong ảnh thấy khẩu cavalry, tiền thân của cạc bin. Châu Âu học được các kỹ thuật súng trường và cạc bin qua người Ả Rập, đây là trào lưu truyền súng đến châu Âu lần thứ 2, những khẩu súng này không còn là Thủ Pháo-Hand Gonnes của Tống-Nguyên nữa, mà đã trở thành loại vũ khí quan trọng.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/dragon20koniecXVII.jpg)


Tiêu đề: Hỏa Thằng Thương 火绳枪, Ảnh súng hỏa mai mồi cò MNatchlock, súng trường
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 11:29:48 am
Ở đây đã nói về cơ cấu máy móc của Hỏa Thằng Thương. http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20774#msg20774 . Hỏa Thằng Thương là tên loại súng có cò đầu tiên, tuy nhiên, quan trọng hơn thế, nó là súng trường. Châu Âu có đơn vị đầu tiên dùng Hỏa Thằng Thương sau Minh Triều hơn 100 năm chút. Hỏa Thằng Thương được vẽ trong Hỏa Long Kinh sau lần chỉnh sửa 1412.

Hỏa Thằng Thương 火绳枪. Châu Âu gọi là matchlock. Đây là Hỏa Thằng Thương của Minh Triều, phiên bản nguyên thủy của Hồ Nguyên Trừng, có thể thấy, nó dùng máy lò xo trong.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Ming_matchlocks.jpg)

Nguyên lý súng hỏa mai mồi cò. Mồi cò và cốc mồi, báng và tay cầm, đường ngắm và ốp lót... đều là những thiết kế của Hồ Nguyên Trừng. Mồi cò tạo cơ hội điểm hỏa chính xác khi có đường ngắm. Trong khi đó: báng, tay cầm, ốp lót... tạo điều kiện xác lập đường ngắm. Đến nay vẫn là nguyên tắc cơ bản nhất của súng trường và súng trường vẫn là vũ khí cơ bản nhất của loài người. Thế mà lâu rồi dân chúng không Tế Súng, Hiến Trừng, láo thật.

Cốc mồi có cấu tạo miệng rộng để dễ châm và thời gian điểm hỏa chính xác, đậy kín để chiến đấu mọi thời tiết, ống dẫn lửa nhỏ để an toàn cho xạ thủ và không thất thoát nhiều khí nóng. Cốc mồi được áp dụng cho đến Thế Kỷ 19, khi có Hạt Nổ. Tuy nhiên, kết cấu lỗ dẫn lửa ngày nay vẫn giống cốc mồi. Nhưng đó chưa phải là những bộ phận chính của súng trường.
Dân viết lịch sử thường là lưng dài tốn vải, viết về súng ống thường chỉ nói đến máy điểm hoả của súng !!!! Trong khi đó, thân pháp lũ dài lưng quá đỉnh để hiểu được cấu tạo của súng trường. Cái bọn ăn bám kiêu căng đó lại hay có tính đê tiện, chê những bản lĩnh của lính bằng từ "võ biền", không thèm để ý. Súng ngắn tuy quít sờ toọc, pháo tuy lớn... nhưng chúng không phải là "chính khí binh gia", vũ khí chính của quân đội. Súng trường thừa kế tên cây giáo là "thương" được thiết kế sao cho chiến đấu hiệu quả nhất, chứ không được thiết kế để đẹp để oai. Nếu dân viết sử ngắn lưng thân thủ có một chút khí lực, sẽ gọi khẩu súng trên là Hoả Thằng Bộ Thương, Hoả Thằng Trường Thương... để phân biệt giáo dài, đao lớn với dao găm.

Súng trường có những bộ phận đặc trưng là gì, là nòng, là thuốc, là đạn, hay là buồng đốt. Ô, đó là những bộ phận chính nhưng đại bác hay súng ngắn đều có. Những bộ phận đặc trưng của súng trường là:
+Tay cầm, nơi cầm tay phải gần cò (tất nhiên với người thuận phải).
+Ốp lót, nơi cầm tay trái. Khoảng cách xa tạo thế cầm vững chắc.
+Báng tỳ, để tỳ súng vào vai, mục tiêu cao nhất là giảm rung động trước khi bắn, bắn chính xác. Mục tiêu phụ là giảm giật.
+Cò, ô, đây là một phận siêu quan trọng, nó cho phép thời điểm điểm hỏa chính xác, không cần vẫy vẫy: "Ới mày ơi, đứng yên để tao bắn mày".
+Nòng dài, tất nhiên, trường là dài, đây là loại súng trường đầu tiên của loài người. Đây là điểm khác hẳn với các "Thủ Pháo-Hand Gun-Hand Gonne-Hỏa Thương-Hỏa Kiếm-Hỏa dao găm". Các hỏa thương-Hand Gonne cho đến các siêu pháo công thành Thế Kỷ 15 châu Âu đều nỏng mỏng ngắn nhồi ít. Nòng mỏng nhồi ít nên nổ chỉ dọa là chính, rồi vác dao găm vào chiến sau khi hỏa dao găm nổ. Còn nòng dài và dầy, thì súng trở thành vũ khí chính của loài người cho đến nay.
+Đường ngắm. Gồm hai dường ngắm: đường ngắm cơ bản nối "mắt-thước ngắm-đầu ruồi", đường ngắm đúng là "mắt, thước ngắm, đầu ruồi, mục tiêu". Hình vẽ đơn vị của Thần Cơ Doanh trong Hỏa Long Kinh đang chiến cho thấy lính đã biết dùng đường ngắm. Hồi đó thước ngắm đầu ruồi chưa cần ??? tầm súng gần, lấy đường ngắm theo nòng là đủ.
Trên đây là những bộ phận dặc trưng nhất của súng trường, đánh dấu một bước tiến vĩ đại, súng đã thay đao kiếm. Nói một cách khác, mở đầu thời đại của súng mà đến nay chưa dứt.

Minh Sử ghi rõ: Thành Tổ bình Giao Chỉ, lấy được Thần Cơ Thương Pháo Pháp (神机枪砲法), đặt Thần Cơ Doanh, ban đầu dùng Hỏa Thương, sau dùng Hỏa Thằng Thương. Điều đó có nghĩa, Hồ Nguyên Trừng cùng các tù binh đã làm xuất hiện những đơn bị bộ binh của loài người đầu tiên dùng súng làm vũ khí chính. Ban đầu Hồ Nguyên Trừng trang bị cho binh chủng này súng Hỏa Thương, súng lai đao thương, sau đó là súng trường Hoả Thằng Thương.

Chúng ta thật tự hào, chính cha ông chúng ta đã chế ra thứ đồ giết người chủ lực của loài người, căn cốt của các cuộc chiến tranh, vũ khí chính quan trọng nhất của khoa học quân sự. Khác biệt của súng trường và hỏa thương chứng minh cả trí tuệ khoa học, trình độ quân sự và cả thâm pháp phi phàm của Hồ Nguyên Trừng và cha ông chúng ta, cũng như kinh nghiệm chiến đấu uyên thâm sành sỏi bậc nhất địa cầu của dân ta.

Súng Hỏa Mai Mồi Cò Hỏa Thằng Thương, matchlock có ba loại máy phổ biến: loại đơn sơ không lò xo, loại lò xo trong và loại lò xo ngoài. Nhìn trên các súng thời Minh thì thấy rằng, kể cả loại phức tạp an toàn nhất là lò xo trong đều có từ lúc đó.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20820#msg20820

Hình động này mô tả một khẩu mồi cò khá hiện đại. Nó có lò xo đàng hoàng
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/matchlock.gif)

(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/ml1600.gif)

Kiểu này là kiểu cò mồi đơn sơ nhất. Nó không có lò xo và tòan bộ máy móc chỉ là cò và nắp cốc mồi, cò kiêm kim hoả. Kiểu này cũng khá nhiều, vì rẻ. Ngày đó, kỹ thuật non kém, sắt mềm lại thiếu, có một hai chi tiết máy móc không dễ, nhất là lại có cả lò xo thì đại quýt sờ toọc.
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/gun4.jpg)


Đây là các kiểu cò mồi lò xo trong, rất đặc trưng của nhà Minh, là loại Hoả Thằng Thương tiên tiến phức tạp nhất. Khi súng trường truyền đến châu Âu (mất hơn 100 năm), thì nguyên bản thiết kế này được đem đến, có thể thấy các ảnh súng thời Minh trên kia.
Nhà Minh rất mạnh về súng pháo, quân Thanh đánh mãi không được. Nhưng Bồ Đào Nha buôn bán kha khá với Thanh, Hàn, Nhật... và một số thợ đúc súng Bồ Đào Nha đã đến vùng này các thế kỷ 16-17.
Sau này, thấy những khẩu súng nhà Thanh ở Bảo Tàng Lịch Sử Quân Sự Hà Nội có vẻ rởm lắm, to nhưng đúc thô rỗ nhiều mà rỉ rỗ nhanh hơn súng nhà vịt mít. Cuộc xâm lăng tàn bạo của quân Thanh đã làm sụt đi mặt bằng công nghệ Tầu, báo ứng cho năm 1407 đau thương của nước ta.
Người Âu thường dấu biến đi việc học công nghệ này của Minh Triều-qua con đường lòng vòng Ả-Rập, mà thường hay vỗ ngực khoe khoang đã chuyển giao công nghệ cho Mãn Thanh, Nhật, Đài... là những nước kẻ thù bị Minh Triều cấm vận. Súng mà Nhật học của Bồ ngày đó là kiểu cò không lò xo đơn sơ bên trên.
Tầu cũng nhiều thằng ti tiện. Có vài chú học giả đê tiện kiểu đó đã làm một luận văn năm ngoái ở Sing, rằng Hồ Nguyên Trừng chẳng chế được cái gì trừ cốc mồi và cò ????? Thôi, thương cho chúng vậy, những thằng trí thức kiểu dài lưng tốn vải, thứ Khổng Giáo đã hủ hoá thành xương khô mà vẫn bi bô dạy đời.
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/arf_0030a.jpg)
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/arf_0030.jpg)

Một kiểu cò mồi có lò xo lá bên ngoài cũng rất phổ biến. Kiểu này máy móc không được bảo vệ, nhưng rất rẻ mà vẫn bắn tốt như lò xo trong, nhược điểm là rườm rà không bền. Kể cả lò xo trong và ngoài thì đều là lò xo lá hay đơn giản chỉ là cái que đàn hồi, lò xo ruột gà chưa đủ rẻ để lắp vào đây. Mà hình như không phải là rẻ mà công nghệ chưa cho phép làm lò xo lá đủ mạnh.
Hình bên dưới thì khẩu súng đã quá rỉ cũ, nên độ dơ đã sai đi. Thanh ngang có đầu nhọn uốn lên trên trông như chữ L nằm ngửa chính là lò xo. Thanh chữ V có đuôi uốn cong queo là kim hỏa đấy. Đầu kim hỏa có kẹp buộc thừng mồi. Đầu có đuôi cong của kim hỏa là phần để đầu nhọn lò xo que đẩy kim hỏa chọc vào cốc mồi.
Cái cốc mồi chắc vỡ rồi, chỉ còn ống dẫn ở đầu chữ V. Cũng có thể đây nằm trong số súng hiếm chưa có cốc mồi, cắm ngòi, lai Hỏa Thương và Hỏa Thằng Thương. Cốc mồi cũng đi đến châu Âu hơn 100 năm, như các hình phóng ngắn mỏng cho thấy. Nếu đúng như thế thì khẩu này quá hiếm xịn, có khi đổi được cả cái T-90. Nếu không có cốc mồi thì chả mấy khi kim hỏa thừng chọc đúng lỗ dẫn lửa bé tí thế kia.
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/00088c.jpg)

Hình động dưới này chỉ hơi khác một chút, loại này có một lò xo lá bên ngoài, kim hỏa mổ ngược trước ra sau, máy súng ngắn gọn được chút, chỉ còn nhược điểm máy nằm ngoài:
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/Matchlock_motion.gif)

Chú chiến binh đây, hỏa mai mồi cò.
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/musketeer02.jpg)


Tiêu đề: Ảnh thêm về đá lửa bánh xe WHEEL LOCK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 12:04:47 pm
Ý tưởng xây dựng một đọan dài dài về súng ống có từ lâu. Mèo bay già RandomWalker là người đầu tiên triển khai (mịe, bới mãi mới ra).
http://5nam.ttvnol.com/quansu/395715/trang-4.ttvn
http://smg.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/?start=160

Đây là hình vẽ phối cảnh thời hiện đại bên trong của khẩu bánh xe. Hình vẽ rất hiện đại nhưng đã được làm nhăn nhó (giống mặt cú), cho "giả cổ".
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/wheellock-inside-040725.jpg)

Một khẩu súng rất hiến, có thể làm bởi một thợ thích bắt chước, giỏi rèn nhừng dốt đánh nhau, hay cũng có thể theo một đơn đặt hàng làm đồ lưu niệm. Súng có bánh xe nhưng không tau cầm kiểu Hand Gun, tân cổ giao duyên.
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/b17.jpg)

Một khẩu súng ngắn, rất đẹp nhưng quan trọng là đúng, có báng, tay cầm.
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/weel4.jpg)

Một khẩu súng trường
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/f2_2.jpg)

Khẩu nữa
(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/weel3.jpg)



Tiêu đề: Súng ngắn đánh lửa bánh xe Quít Sờ Toọc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 01:15:15 pm
Súng ngắn thì oai. Nhưng cứ tưởng tượng, đút khẩu súng ngắn có mồi lửa cháy nghi ngút vào túi quần rồi đi chiến các bé gái ????? Thật là không lịch bịch chút nào.

Mồi bánh xe thỏa mãn điều đó. Dễ hiểu, đây là loại súng có số lượng súng quít sờ toọc cực lớn. Các khẩu này bóng bẩy, lắm vàng bạc kim cương. Cũng nhiều khẩu rất "đỉnh công nghệ", ví dụ, những khẩu nhiều nòng bắn liên tiếp hay nạp đạn nhanh.

Tuy có từ trước, nhưng chỉ đến giữa Thế Kỷ 17 ở châu Âu mồi bánh xe mới phát triển, do dắt. Một trong nhữg động lực rất lớn phát triển loại mồi này là súng ngắn quít sờ toọc ở châu Âu và súng kỵ sỹ cavalry ở Ả Rập. Hai loại súng này sẽ phát triển thành súng ngắn của sỹ quan ngày nay và súng cạc bin (carbine). Tuy có cò, nhưng đánh lửa bánh xe ban đầu vẫnc mang dáng Hỏa Thương, hỏa kiếm hỏa dao găm-Pháo Tay-Hand Hand Gonne.  Nhìn các ảnh dưới đây, chúng ta thấy súng ngắn đã càng ngày càng khác Hand-Gun hỏa thương, càng ngày càng giống K54. Báng và đường ngắm hình thành và khẩu súng có dáng như ngày nay.

Chúng ta đã nói đến xưởng Nurnberg Puffer sau chuyển về Tây Bán Nhà rồi nhỉ.

Đây là một trong những khẩu súng ngắn bánh xe đầu tiên, làm thời vua Charles V những năm 1540–45, bởi một thợ tên là Peter Peck (1500/10–1596) tại Munich, Đức. Súng dài 49,2 phân. Súng có hai nòng và hai máy đánh lửa rời.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/Double-BarreledWheellockPistolofEmp.jpg)

Súng Thế Kỷ 17. Một dài 42,5cm và 45,5cm
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/fire3_pistol.jpg)

Súng kỵ sỹ Thế Kỷ 17
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/fire4_arq.jpg)

Một khẩu kỵ sỹ cavalry Thế Kỷ 16, năm 1560
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/wheellock_7.jpg)

Đây là loại súng ngắn rất nổi tiếng Thế Kỷ 16, do xưởng của Nurnberg Puffer (Hoa văn kiểu "Nhật nhĩ mạn thức" 日耳曼式, Tầu nó dịch thế, chả hiểu là phong cách giề) chế tạo. Khẩu trên năm  1593 khẩu dưới năm 1579.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/wheellock_pistol_1.jpg)

Phiên bản copy. Súng dài 52 phân, nòng 32 phân. Lúc này, khắp châu Âu, vương tôn quít sờ toọc săn lùng Nurnberg Puffer dắt lưng. Đám nhát gan đó mua súng có lẽ cần đẹp hơn là mạnh ???? Nhưng cũng có thể ai đó trong số họ khá dũng cảm, lại cũng có người thông minh, đã đẩy kỹ thuật chế súng phát triển. Khỏi phải nói các bác thợ phát tài thế nào, khi bán súng cho bọn không biết tiếc tiền. Hàng xịn bị nhái là đương nhiên.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/Puffer_arrang.jpg)

Chả phải nói phét. Cái thằng tậu khẩu này không bít vân vê được bà công hầu già chồng chán nào không.
Súng Pháp năm 1630. Phần gỗ làm bằng Hắc Đàn (tiếng Tầu dịch, không bít gỗ giề), phầm máy làm bằng bạc, phần nòng bọc vàng bạc chạm trổ, khảm đá với nhiều con giống.
Nếu chú ý kỹ hơn thì thấy câu nói xiền bạc bó chân tay, khéo tay đi bộ không bằng mặt rỗ đi ô tô... có vẻ đúng. Khẩu này có trình hơn hẳn mấy khẩu cùng thời bởi cái vít đá lửa, trông ra dáng đồ quy chế ngày nay lắm. Vật liệu tốt (bạc cơ mà), và chắc thằng thửa súng cũng thừa xiền để thuê thợ khéo. Ngày ấy chưa có các công nghẹ tiện nghiền dập ép... để làm ốc vít, toàn chạm trổ mà thành ren đấy.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/wheellock_11.jpg)

Nurnberg Puffer , Thế Kỷ 16, dài 3,5 phân. Trên cả mỹ miều !!!!!, ước gì có một cái dắt lưng đi săn mấy ẻm Trường Quốc Gia nhỉ.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/moi_banh_xe/wheellock_10.jpg)


Tiêu đề: Pháo súng nỏng mỏng châu Âu và pháo vò
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tư, 2008, 02:15:05 pm
Pháo vò, tranh vẽ trong sách Walter de Millimete Thế Kỷ 14. Nếu chỉ nhìn hình vẽ thì thấy hình như pháo vò chỉ là một sự tưởng tượng hoặc chỉ là một thử nghiệm. Cũng có thể, pháo vò được chế tạo và sử dụng trong một thời gian ngắn, thậm chí có thể suy đoán là nó được ứng dụng dựa theo lời kể của những người đã chứng kiến quân Mông Cổ dùng súng. Nhưng điều chắc chắn là nó rất yếu.

Nó không có hình dáng khoa học và rất nặng, cũng như bắn múi tên thì rất yếu, nếu không mũi tên sẽ vỡ vụn ngay trong nòng.
Tuy nhiên, trên thực thế, số pháo vò làm bằng đồng còn lại không ít, cho thấy, châu Âu đã thật sự phải chấp nhận sử dụng quả bầu lẩm cẩm này.

Sách Walter de Millimete Thế Kỷ 14
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/cannon_2.jpg)

Đây là pháo vò cuối Thế Kỷ 14 trong bảo tàng lịch sử Thụy Điển, nòng dài cỡ 30cm, đường kính 36mm
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/cannon_10.jpg)

http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20707#msg20707
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20820#msg20820

Chúng ta đã đề cập về vẫn đề này rồi nhỉ. Trước Thế Kỷ 16, châu Âu chủ yếu sử dụng loại súng yếu, bao gồm pháo vò và pháo ống nòng ngắn mỏng. Có lợi thế nhiều sắt-đồng, châu Âu chế ra những siêu pháo khổng lồ như trên kia, nhưng vẫn cứ là nòng ngắn mỏng.
Còn pháo vò, có thể là một phát minh của người Âu, nhưng rất ít dùng.

Súng châu Âu biết đến lần đầu qua người More Tây Ban Nha và người Ả Rập vào năm 1250 và 1275. Tuy nhiên, trước đó nhiều người Âu đã biết đến súng, hỏa hổ và xa hơn nữa là thuốc nổ. Ví dụ điển hình là Marco Polo, ông nói chả ai tin. Bùn cừi, đến lúc chết cha cố bảo ông xưng tội bốc phét, ông kếu liển ... không... tôi nói thật. Thật đáng thương cho cha cố, ông ta rủ lòng thương hại và cũng cầu chúa cho nhà du hành vĩ đại đang hấp hối.

Nhưng có thể phỏng đoán là người Âu dùng súng vào thời kỳ đó, thế kỷ 13.

Pháo nòng mỏng xuất xứ từ hỏa đồng và thủ pháo (súng cầm tay, hand gun) đến châu Âu từ nhiều đường. CHủ yếu là các hướng đi của quân Mông Cổ. Người Ả Rập đã học quân Mông Cổ kỹ thuật thuốc nổ và hoàn thiện nó nhờ sắt với diên sinh chất lượng cao, đến lượt mình, người Ả RRập lại dùng Minh Giáo của họ đuổi quân Mông Cổ từ Ba Tư về đến Nội Mông. Súng đến chấu Âu bởi hai đường.
Một là, hậu phương của Tây Đế Quốc Kim Trướng, sau trở thành nước Hungary, nay vẫn nói tiếng giống Mông Cổ, Quân đoàn của Truật Xích đã bỏ lại vùng này quay về hộ tang và rất lâu sau đó mới sang tây lần nữa được, nhưng lại hướng Nga.
Hai là Ả Rập, Quân Mông Cổ đã bị Ả Rập chặn đứng ở Xi Nai lần đầu tiên, sau này, con cháu Truật Xích muốn thoát khỏi ảnh hưởng của dòng Hốt Tất Liệt đã làm cuộc Tây Chinh của Các Trưởng Tử, đánh đến Trung Á, nhưng lại rẽ về Nga. Người Ả Rập có vai trò lớn với Minh Giáo cùng con đường mang nguyên liệu tốt làm súng đến đánh Nguyên Triều cho Hồ Nguyên Trừng.

Bản thân pháo nòng mỏng ngắn chỉ là cấu tạo phóng to của các Hand Gonne-Hand Gun-Thủ Pháo. Cho dù là siêu pháo khổng lồ như trên thì cũng vậy. Chúng cấu tạo đơn giản, nhồi được ít, nặng nề, yếu đuối, chậm chạp... Không khác nhiều so với hỏa hổ. Pháo có hai đoạn, có thể liền nhau nhưng vẫn có gờ ngăn cách. Lỗ mồi đơn giản, đến hoa văn cũng đơn giản.

Pháo nòng mỏng ngắn phóng to từ Thủ Pháo nhà Tống đó được đúc thành rất nhiều cỡ khác nhau. Chúng ta đã xem đại diện 3 khẩu công thành pháo của Ấn, Nga và Thổ. CÒn đây là tranh vẽ các tình huống dùng chúng ở châu Âu trong suốt Thế Kỷ 15, khi mà ở Viễn Đông, Thần Cơ Sang Pháo của Hồ Nguyên Trừng đã phổ biến.

Đây là ngắn mỏng của Tầu, ảnh chụp tại Sơn Tây 1945, đáng tiếc sau đó pháo đã bị bán sắt vụn. Pháo đúc năm 1377. So sánh thì châu Âu đang dùng pháo vò. Pháo nòng ngắn mobngr không hơn gì hỏa hổ nhiều, tồn tại ở Tầu trong thời gian rất ngắn và hiện vật còn rất ít.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/chinese_cannon_3.jpg)

Còn dưới đây là hình vẽ Thế Kỷ sau đó, Thế Kỷ 15 ở châu Âu.

Tranh Sáp của Anh, pháo dùng đạn đá.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/cannon_8.jpg)

Các cỡ pháo súng trong một trận công thành năm 1430.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/cannon_3.jpg)

Đây là "Súng cá nhân", cấu tạo không khác gì siêu pháo công thành Sa Hoàng cả. Cấu tạo này chưa có cốc mồi, cò... đứng nói đến đường ngắm, tay cầm sau, ốp tay trước và báng. Cùng với tranh công thành trên, cho thấy châu Âu đến cuối Thế Kỷ 15 chưa có súng trường. Cái gọi là súng cá nhân chỉ là pháo nòng ngắn cỡ nhỏ.
Ảnh trên là súng Thụy Sỹ những năm cuối cùng Thế Kỷ 14, súng nặng 2,25kg, đường kính nòng 30mm, nòng dài 18 phân, sau nòng có tỳ đỡ vào ngực (như báng, nhưng không phải sau cùng súng mà rẽ ngang)
Tiếp là súng của người vùng Bô-Hêm, 420x18mm.
Giữa là sơ đồ mặt cắt loại "súng cá nhân" này.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/hand_cannon_1.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/hand_cannon_12.gif)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/hand_cannon_11.gif)

Tấn công lâu đài, giữa Thế Kỷ 15. Tất cả các tranh vẽ đều cho thấy, trong suốt Thế Kỷ 15 châu Âu chỉ sử dụng loại pháo mỏng ngắn này. Nó thay thế pháo vò và được áp dụng cho cả vũ khí cá nhân lẫn vũ khí cộng đồng. Nó quá đơn giản, chưa có các khái niệm bóp cò hay ngắm bắn.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/hand_cannon_6-1.jpg)


Tiêu đề: Trận chiến lớn đầu tiên của Thần cơ thương pháo
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 24 Tháng Tư, 2008, 03:09:48 am
http://www.china.com.cn/aboutchina/zhuanti/lddw/2008-04/02/content_14083460.htm
http://www.guoxue123.com/biji/ming/0000/mrbj_023.htm (bắc chinh ký)

Thần cơ thương pháo 神机枪砲 không phải tên một loại súng, mà tên của một thế hệ kỹ thuật mới có tên là Thần Cơ Thương Pháo Pháp 神机枪砲法. Thế hệ công nghệ này là những kỹ thuật được tổng kết thành cuốn sách cùng tên. Minh sử nói: Thành Tổ (明成祖-Minh Thành Tổ) bình Giao Chỉ, lấy được Thần Cơ Thương Pháo Pháp (神机枪砲法) , nhưng Hồ Nguyên Trừng không nhận mình là tác giả cuốn này, cũng như đoạn viết thêm Hỏa Long Kinh năm 1412. Suốt thời gian bên Tầu, ông chỉ công nhận mình là tác giả "Nam Ông Mộng Lục", những giấc mơ nhớ quê của người phương nam.
Đến cả việc nộp lý lịch sau 9 năm làm quan ông cũng xù.

Thần Cơ Thương Pháo Pháp 神机枪砲法=công nghệ chế tạo súng pháo có nguyên lý của thần. Thương là súng cá nhân-thừa kế chữ thương là cây giáo, pháo là súng lớn cộng đồng-thừa kế tên pháo của máy bắn đá, cơ là máy móc hay nguyên lý máy móc, pháp là phương pháp hay cách làm mà nay gọi là công nghệ. Những sản phẩm của thế hệ công nghệ này gọi chung là Thần cơ thương pháo 神机枪砲. 3 sản phẩm nổi tiếng sau này là giàn phóng tên lửa nhanh Hỏa Xa (MRLS ngày nay), Súng phun lửa và súng pháo bắn đạn động năng.

Như đã nói, đặc trưng của thế hệ súng động năng mới là bắn nhanh và mạnh, chịu được thời tiết xấu, chế tạo tinh vi bằng vật liệu tốt.

Trận chiến đầu tiên lớn của Thần Cơ Thương Pháo là 6/1410. Lúc này, đã có Thần Cơ Doanh, mà như đoạn trên đã nói, là những binh đoàn dùng súng pháo đầu tiên trên thế giới. 
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20821#msg20821
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20820#msg20820
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20707#msg20707

Hòang Đế Vĩnh Lạc Chu Lệ đích thân dẫn 50 vạn quân đánh Nguyên. An Viễn Bá Liễu Thăng chỉ huy Thần Cơ Doanh của Kinh Binh (Quân Kinh Thành) theo Vĩnh Lạc Đế chiến thắng trận lớn ở Tĩnh Lỗ Trấn (静虏镇), nay là đồng nam hồ Kim Bối Nhĩ (今贝尔湖东南). Chỉ huy Nguyên là A Lỗ Thai (阿鲁台). Chu Lệ bố trí Liễu Thăng trước mặt trung quân, đích thân Chu Lệ cầm kỵ binh sau trung quân. Kỵ binh Mông Cổ tiến lên bị súng pháo bắn, Chu Lệ nhân đó tiến kỵ binh tiến đánh giành thắng. Tuy nhiên, kết quả trận đánh không lớn, quân Mông Cổ chạy lên phương Bắc. Quân Minh truy kích vài hôm thì không quen khí hậu, hồi triều.

Ngõa Thứ Bộ (瓦刺部) của Bắc Nguyên Triều nhân A Lỗ Thai (阿鲁台) suy yếu đem quân đánh bại Thát Đát Bộ (鞑靼部) của A Lỗ Thai. A Lỗ Thai chạy vào đầu hàng quân Minh, Vĩnh Lạc Đế phong cho làm Hòa Trữ Vương (和宁王). Nhân đó phát 50 vạn đại quân Bắc Tiến.

Trận chiến lớn thứ 2 của Thần Cơ Thương Pháo là 6/14104.
Tháng 3/1414, Vĩnh Nhạc (永乐, niên hiệu của Minh Thành Tổ) Đế Chu Lệ mang 50 vạn đại quân đánh Nguyên lần thứ 2 (第二次漠北之战, đệ nhị thứ mạc bắc chi chiến) hay là Minh Thành Tổ Viễn Chinh Mạc Bắc Chi Chiến (明成祖远征漠北之战). Lần Thứ Nhất là năm 1410. Nhà Minh chỉ ngoe ngẩy được với Nguyên cỡ gần 100 năm, may sao sau đó Thanh nổi lên trị Nguyên. Nhưng đi kèm cái không may là sau đó Thanh thịt nốt Minh.

Cuộc chiến này đích thân Hoàng Đế nhà Minh tiến đánh Mã Cáp Mộc (马哈木). Thượng tuần tháng 6 cùng năm, quân Minh đến đất Mã Cáp Mộc là Hốt Lan Hốt Thất Ôn 忽兰忽失温, ngày nay nằm trong đất Mông Cổ có tên Ô Lan Ba Thác Nam (乌兰巴托南) (éo bít viết tiếng Anh thế nèo, ai bít giúp với). Mã Cáp Mộc vác 3 vạn quân đánh trả-đừng cười, vì tỷ lệ như thế là bình thường với quân Nguyên thuần chủng.

Chu Lệ dùng kinh kỵ binh lừa Mã Cáp Mộc vào bẫy ba hướng. Trữ Dương Hầu Trần Mậu (宁阳侯陈懋) cánh trái. Phong Thành Hầu Lí Bân (丰城侯李彬) cánh phải.
An Viễn Hầu Liễu Thăng (安远侯柳升) đốc suất Thần Cơ Doanh cánh giữa, tạo thành ba cánh tiến công. Liễu Thăng mang theo các thể loại súng pháo các cỡ.

Liễu Thăng bắn thằng vào trung quân Mã Cáp Mộc, quân Mã Cáp Mộc ngã chết rối ren. Chu Lệ nhân đó dẫn kỵ binh tiến công thọc sâu cánh giữa, chọc thủng trận địch. Liễu Thăng mang súng pháo lên, từ giữa quân Thần Cơ Doanh bắn ra hai bên. Trận chiến toàn thắng.

Sau này, Nã Phá Luân hay Giucov đều nổi tiếng với những trận dùng súng pháo đánh kỵ binh. Nhưng đây là trận đánh lớn đầu tiên mang lại chiến lệ đó, trong điều kiện hoang mạc bằng phẳng thuận lợi cho kỵ binh.

Đây là trận đánh lớn đầu tiên mà Thần cơ thương pháo của Hồ Nguyên Trừng lập công lớn. Trận đáng diễn ra trong thời kỳ ông làm quan chưa được 9 năm.

A Lỗ Thai dưỡng quân Thát Đát một thời gian dưới trướng Minh Triều thì bị Vĩnh Lạc Đế đánh năm 1420. Cuộc chiến này nổi lên Binh Bộ Thương Thư Lý Khánh (兵部尚书李庆). Nhà Minh tiếp tục chính sách vừa chia vừa đánh Nguyên trong suốt 50 năm sau đó. Sự suy yếu của nhà Nguyên làm quân Thanh nổi lên, vốn quân Nữ Chân thường trước bị Liêu, Mông kiềm chế. Quân Thanh chiến đất và người Mông Cổ, lại chén nốt Minh Triều.

Mấy chú tướng trên sau đó. ???
Chúng ta đều biết. Thành Xương Giang chìm trong biển đạn lửa của quân nhà Lê, thất thủ nhanh như lửa cháy luôn. Liễu Thăng không biết, vẫn tiến về đó, mong hợp binh cứu Đông Đô. Liễu Thăng dẫn kỵ binh tiến lên trước, mất đầu trong con mưa "phiêu". Vài hôm sau, lần lượt các phó tướng lên thay đều tương tự, trong đó có Thương Thư Lý Khánh. Những gì còn lại của đoàn quân mạnh nhất Viễn Đông lúc đó cố lết đến thành Xương Giang nương nhờ và mất hết hy vọng sống. Số phận của đám tàn quân này kéo dài thêm vài hôm trên doanh trại lập vội bên chân thành, rồi bị bắt và giết không sót một mống.
Hồi đó, trong điều kiện du kích, chắc quân nhà Lê ít súng, nếu có thì cũng chỉ nhiều súng pháo nhỏ nhẹ, nhưng sức mạnh thì vẫn khủng. Sau này, trong xung đột Nam bắc Trièu và Trịnh Nguyễn thì số lượng súng pháo tăng lên kinh khủng.


Tiêu đề: Bọn hủ lậu với Hồ Nguyên Trừng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Tư, 2008, 01:57:15 pm
Trong Thiên Niên Kỷ thứ 2 thì đạo Nho đã hủ hóa lắm rồi. Chúng ta sẽ có dịp bàn luyận nghiêm túc về những ảnh hưởng của bọ hủ lậu này, tội tày trời của chúng là một xã hội Trung Quốc bị đè nén trong hủ lậu của bọn Nho Lưu ngu hèn. Người Tầu chỉ sảng khoái quật cường được những khi bị đám tự xưng là đệ tử Khổng Tử trói buộc đến mức chỉ còn vùng lên may ra trong 10 người thì có một người được sống. Những thời điểm đó, khoa học kỹ thuật nước Tầu phát triển rất mạnh, nhưng rồi lại nhanh chóng, nước Tầu lại bị chôn vùi trong đám hủ lậu đó.

Hồ Nguyên Trừng có công lớn với khoa học kỹ thuật và kinh tế Tầu. Không chỉ riêng làm súng, ông còn chỉ huy những xưởng làm sắt đúc đồng lớn nhất Tầu khựa, tạo tiền đề cho ngành công nghiệp này ở Minh Triều suốt 200 năm sau đó phát triển lớn nhất thế giới. Dưới tay ông, không chỉ Thần Cơ Thương Pháo Pháp thay thế kiếm đao, mà còn cuộc cách mạng chuyển từ đồng sang gang thép trong đúc nòng súng, đi trước châu Âu nhiều thế kỷ.

Trong số các quan lại trong lịch sử Việt nam, Hồ Nguyên Trừng là một số rất ít người thạo việc thiết kế tính toán, thạo việc chỉ huy nhiều thợ thuyền xuất chúng. Phải nói rằng, khả năng quan hệ với những anh tài kỹ thuật sau này, khi ở Tầu, là cơ sở nền tảng cho sự nghiệp của ông. Lúc đó, nhà Minh đánh các nơi, mang về kinh thành rất nhiều thợ thuyền từ nhiều nước. Một số người xuất chúng trong đó bổ sung vào đám hoạn quan, như Trịnh Hòa, Nguyễn An. Hồ Nguyên Trừng cứu được cha anh cùng đám tù binh bằng nghề làm súng, nhưng sau khi đến Yên Kinh, quan hệ khăng khít với đám hoạn lúc đó đang thực sự làm vua lại đảm bảo cho ông quyền cao chức trọng truyền đời.

Ta phải nhìn lại nhà Minh chút, để thấy cuộc chiến giằng co giữa đám hủ nho và những anh tài.
Chu Nguyên Chương xuất thân bần nông, chữ ít, cũng giống như đa phần anh em Hồng Cân khác. Nhưng Chu vượt lên vì vợ lại xuất thân gia đình chữ nghĩa. Sau khi Chu Nguyên Chương lên ngôi, đám hủ nho bám váy vợ, con, cháu trưởng của ông rồi giết sạch chiến hữu của ông, chúng làm rất có học, và mọi tội lỗi đổ lên đầu người đàn ông già lẫm.
Thế nhưng, một bộ phận các anh tài vẫn tồn tại. Trong khi vợ, con cả, cháu... của Chu Nguyên Chương tự chặt hết móng vuốt quanh mình, thay bằng son phấn hủ lậu, thì ở Bắc Kinh, con thứ Chu Nguyên Chương là Yên Vương vẫn phải ngày đêm chống đỡ với Bắc Nguyên. Chu chết 2-3 năm thì Yên Vương Chu Lệ giết Kiến Văn Đế cướp ngôi. Sau đó quân Chu Lệ đi đánh nhiều nơi nữa rồi về Bắc Kinh, đem theo một đoàn chiến lợi phẩm lớn là đám hoạn quan, những người tài hoa tuấn tú từ khắp nơi.
Rồi Chu Lệ lại thân chinh nhiều lần phạt Nguyên, đánh Đại Việt, dân Miêu Choang, dân phía Tây... Những chuộc chiến cực kỳ dã man, ví như dân Miêu Choang bị giết gần hết. Hay như sử Đại Việt, sử nhà Minh ghi về Đại Việt: thây chất thành núi, ruột người quấn thành cây to, rán mỡ người, mổ bụng người chửa lấy tai hài nhi lĩnh thưởng ????? Ở Kinh Đô mới, một công trường siêu khổng lồ chưa từng có mở ra xây thành Bắc Kinh ngày nay. Đa phần công trường này được bọn nô nệ và dân phu xây dựng. Tuy nhiên, có một nghịch lý: đám hoạn quan tài hoa tuấn tú đến thừ trăm miền đó dần đần trở thành những ông chủ thực sự của triều đại. Đến đây, lại một ra đám hủ nho mới bám vào cái triều đình ngầm này, thay ngôi và thậm chí nghi ngờ cả tra tấn đến chết con Chu Lệ. Lại những cuộc chém giết khủng khiếp, nhưng lần này là trong kinh thành nhà Minh.
Đám hoạn quan không con cái cũng cầm quyền ngắn ngủi, nhưng để lại những công trình huy hoàng của Nguyễn An (Việt Nam), hay những chuyến đi bất hủ của Trịnh Hòa (Đại Lý). Đám hoạn quan về cuối đời Trịnh Hòa quyền lực xuống dần, những rồi lại lên xuống mấy lần nữa. Nhưng kể từ đó, Tuyên Đức phải công nhận Đại Việt và Bắc Nguyên hồi phục dần dần.

Đời Minh sau đó trở thành vùng kinh tế-kỹ thuật phát triển rực rỡ nhất địa cầu, với sản lượng sắt, vải, với những công trường thủ công, mỏ than đá... đã chớm trởn thành nhà nước tư bản mới. Nhưng thay cho một cuộc cách mạng tư bản, lại là một cuộc xâm lăng của quân Thanh, cuộc xâm lăng nếu tính cả những khởi nghĩa khắp nơi thì lớn hơn Thế chiến 1, dã man hơn nhiều lần Hồng Cân của Chu Nguyên Chương, tất cả chỉ tại lũ hủ nho.

Về Hồ Nguyên Trưừng: cuộc xâm lăng của Thanh Triều làm súng nhà Minh vốn xịn nhất quả đất thay bởi súng do thợ Bồ Đào Nha làm đốc công. Truy nhiên, với pháo lớn, kiều cốc mồi vẫn rất đặc Viễn Đông. Hồ Nguyên Trừng đã đặt nền móng cho công nghiệp luyện kim Minh Triều, nền luyện kim lớn và hiện đại nhất thế giới ngày đó. Thế nhưng súng Thanh Triều thi hết sức rởm. Ngay cả cốc mồi cũng khác xa súng nhà Vịt, có vẻ như là súng Minh Triều không cải tiến gì. Thậm chí, có một số khẩu dùng mồi ngòi cháy chậm.

Khác hẳn đám hủ nho như vậy, Hồ Nguyên Trừng và cha em bị đám hủ lậu nhà Vịt, bên tầu bới móc rất nhiều. Điển hình là "Khâm định Việt sử thông giám cương mục", viết dưới triều đại nổi tiếng đê nhược là nhà Nguyễn. Bọn này đi xin Minh Sử rồi về chế lại, ví dụ, đổ cho Hồ Nguyên Trừng giúp giặc đánh vua Trùng Quang. (Lúc này vua tôi Trần Ngỗi-Trần Quý Khoang đã chém giết lẫn nhau, cả hai đều xưng Đế. Đế Quý Khoáng cử chánh phó sứ sang Tầu, có được gặp Hồ Nguyên Trừng. Về hai vị phó chánh này đổ cho nhau tội làm lộ quân cơ vì...nói chuyện với Trùng. )

Nhưng lũ hủ nho ngu hèn, truyền đời khinh thợ, không thèm học toán... thidf kiến thức kỹ thuật !!!!!! Nhiều đoạn đã làm các nhà nghiên cứu nổ óc. Ví dụ, đoạn Minh lấy Thần Cơ Thương Pháo đánh Đa Bang. Trong Minh Sử ghi rõ: Thành Tổ bình Giao Chỉ, lấy được Thần Cơ Thương Pháo Pháp, đặt ra Thần Cơ Doanh. Mà thằng tướng Thần Cơ Doanh đầu tiên, nổi tiếng Liễu Thăng bay đầu ở Mã Yên. Trước khi có Trừng, nhà Minh Chu Nguyên Chương đã nổi tiếng dùng hỏa khí, mà chũng ta đã chụp ảnh trong Hỏa Long Kinh, đó là Hỏa Đồng và pháo nòng mỏng ngắn. Liễu Thăng và các tướng khác của Thần Cơ Doanh trước khi bị Đại Việt chặt đầu đã lập rất nhiều công lao, làm Minh Thành Tổ nổi tiếng với Thần Cơ Thương Pháo.
Thấy triều Thành Tổ nổi về Thần Cơ thì chế sử là đánh Đa Bang bằng Thần Cơ ???? Chúng ta sẽ quay lại đề tài về lũ hủ nho ngu si đần độn khi có dịp.

Bọn Hủ nho đã cõng rắn cắn gà, xưng là Trần gọi Minh đến, uốn gối gọi Thanh đến. Nguyễn triều hết cõng Thái lại cõng Pháp. Nửa Thiên niên Kỷ thứ 2, Vịt Chúng nhà ta may mắn sống trong đám nho ngu hèn như vậy. Đám người không thèm học toán ????? Đám ấy đã làm các cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, Quang Trung Hoàng Đế tan vỡ hay thối dần, đất nước chìm trong loạn lạc.
Bọn hủ nho không thèm học toán, chỉ chau dồi môn chửi bậy hơn hai ngàn tuổi, nói về một trong những người giỏi kỹ thuật hiếm hoi của nước ta như thế nào không cần nói nữa.

Hồ Nguyên Trừng, như đã nói, một lòng với cố quốc. Một Việt Kiều vĩ đại làm gương cho bao thế hệ Việt Kiều. Suốt đời Minh Thành Tổ, ông không thèm nộp lý lịch, đó là một tội cực lớn (không phải dối lừa khi quân mà là khinh bỉ quân). Cũng hài, ông làm quan gần 20 năm, bướt đầu tiên đã là quan rất to, (Binh Trượng Cục Chủ Sự, cục trưởng cục quân khí, mà lúc đó ngoài quân khí+xây dựng ra chả còn ngành công nghiệp nào khác trong xã hội quân phiệt đang chiến tranh), mà 9 năm hết hạn không nộp lý lịch. Các sách nhà Minh đều ghi rõ Bộ Lại (như cục Cán Bộ), hặc tội ông. Đến 2 đời vua, năm 1426, khi Minh Thành Tổ chết đã lâu, Tuyên Đức lên ngôi thay bố, thay ông Thành Tổ Chu Lệ... thì Hồ Nguyên Trừng mới nộp lý lịch. Nhưng, lúc này, ông nộp bản lý lịch chính xác, và Triều Minh gọi ông là An Nam Vương Tử, chứ không phải kiểu nói lấy lòng trong khinh miệt: "em của con giặc đầu sỏ". "Gặc đầu sỏ" là Quý Ly, "con giặc đầu sỏ" là Hán Thương (Thật ra Trừng là anh, nhưng Thương lên ngôi coi như trưởng).
Bộ Lại hặc trừng tội làm quan gần 20 năm không nộp lý lịch !!!!! Tuyên Đức tuyên ngay dụ chỉ bênh Nguyên Trừng, rồi cho làm Tả Thị Lang. Lúc này đám hoạn quan Nguyễn An Trịnh Hòa cũng đã hay sắp làm những việc phi thường của họ.

Hồ Nguyên Trừng dâng Thần Cơ Sang Pháo Pháp để cứu cha, em và đồng đội. Đợi Minh Thành Tổ Chu Lệ đến 3 đời mới nhận làm quan (thông qua "nộp lý lịch"). Xâm Lược Ngoại Bang tuy bắt được ông nhưng coi trọng mấy đời nhà ông. Tuyên Đức phải công nhận Đại Việt, còn pho Sử Minh Triều phải công nhận Vương Triều nhà ông khi ghi ông là Vương Tử.

Mấy lão hủ nho ngu si đần thối có mở mồm dèm bậy ông thì chỉ tổ sau khi chết bị Huy Phúc Ninh Binh bửi cho là ngu si đần thộn mà thôi. Thế mà bọn hủ nho chưa chết hết. Gần đây có mấy thằng viết chữ vuông Singapore bình luận về việc súng Tầu đã có từ trước thời ông nhiều, Thần Cơ Pháo chỉ khác cái ngòi. Mịe, hủ nho ngu si đã hai ngàn rưỡi năm rồi, có thêm 3 thằng không thèm học toán nữa thì cũng thế. Chũng ta đã nói một ít, dần dần sẽ nói về các loại súng, sắt, thuốc và công nghệ. Bây giờ nhân dịp nói chuyện hủ nho, ta tìn hiểu cái cốc mồi, một phát minh đặc sắc của Việt Nam mà Hồ Nguyên Trừng đã phổ biến. Đây có thể coi như cò, khóa... đầu tiên. Ngay nay, cấu trúc ống dẫn nổ của đạn có vỏ vẫn là nguyên tắc này.

Mà bực quá, không sửa được nữa nhỉ. Cái này là người ta chú thích sai, mình không cẩn thận xếop nhầm. Đây là sơ đồ của một lọai Thần Cơ Thương Pháo, chứ không phải pháo nòng ngắn mỏng. Anh nào đã vẽ hình này (tất nhiên, thời cổ không có mặt cắt), vẽ để minh họa cái gì đó và vẽ sai, râu ông nọ cắn càm bà kia.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/hand_cannon_11.gif)


Tiêu đề: Cách mồi và hình dáng nòng của "pháo sơ khai nòng mỏng ngắn" chưa có cốc mồi.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Tư, 2008, 02:23:40 pm
Lão nào đi qua bảo tàng sưu tầm ít ảnh cốc mồi cho xin nhẩy, nhớ chụp cái biển tên hàng.

Ở dây, đã nói sơ qua về cốc mồi. Định vẽ mấy bức hình rồi sửa, nhưng bận vài hôm nó đông lại rồi.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20774#msg20774
Bực quá. Thôi, đã nói nhiều về Thàn Cơ Thương rồi, nói tiếp về Thần Cơ Pháo.

Thật ra, không phải là cốc mồi, mà là cốc nổ chớp, cốc bùng cháy, cốc chớp, tiếng Anh là Flash Pan. Tiếng Vịt Chúng là lỗ mồi. HP gọi là cốc mồi dẻ lai tây.
Mịe, 2500 hủ nho ngu si, bao nhiêu văn thơ truyền lại nhưng không truyền gì về những người phát minh ra giấy mực. Súng cũng vậy, hủ nho ghi rất ít và còn lại rất ít sách vở về những lò, thợ đúc súng, và cả cấu tạo súng.
Lại còn cả thứ binh thư không thèm có hình nữa. Ngay nay cũng thiếu gì, ra rả các lão chưa tốt nghiệp Trung Học lảm nhảm về thuyết tương đối.

Lỗ mồi trước thời Hồ Nguyên Trừng đơn giản là cắm ngòi. Như đã nói về súng trường, pháo cũng vậy. Thần Cơ Pháo Hay Thần Cơ Thương đều có yêu cầu cao về thời điển điểm hỏa. Chẳng phải lúc nào cũng ngắm bắn được mà giữ súng đợi ngòi cháy. Hay là bảo: "mày ơi làm ơn đứng yên để tao bắn mày."

Trước thời Hồ Nguyên Trường ta đã xem một loạt các hình ảnh về đồ cổ: sách còn lại, đồ còn lại, , tranh còn lại... HP đã trình bầy rằng đó là phóng nòng ngắn mỏng tiền thân của lựu pháo Howitzer sau này, nhưng lại bắn đạn đặc.

Thật ra, cũng có hai nhóm pháo loại này. Nhưng cấu tạo chỉ hơi khác nhau. Đó là loại có buồng đốt nhỏ tiên tiến hơn và loại ban đầu dùng thuốc nổ yếu.

HP vẽ ra đây vài hình.
Đây là mô tả loại pháo mỏng ngắn nguyên thủy. Khẩu Sa Hoàng ở Maxcơva, Khẩu Tanjavur của Ấn Độ.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765
Dễ nhận ra chúng vì cái ống pháo thằng đuỗn. Loại pháo này ra đời khi thuốc nổ còn rất yếu, khi dùng thuốc tốt thì người ta mới đúc dầy và nhồi ít hơn.
Pháo có buồng chứa chất nổ lớn và do đó, lỗ ngòi ngoi lên trước một đoạn khá xa. Nhồi ngòi vào lỗ mà châm lửa đốt, ngòi vừa ngăn cách trong ngoài, vừa dẫn lửa. Khi pháo nổ, khí thuốc sẽ tự động thông lỗ tra ngòi.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/sow_doof_sung_nongf_ngawn_mong_thee.jpg)



Tiêu đề: Kiểu pháo nòng nggắn mỏng có buồng đốt nhỏ sau nòng, tiền thân của Howitzer
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Tư, 2008, 03:55:45 pm
Phát triển tiếp theo của loại này là loại có buồng đốt riêng. Do thuốc tốt hơn loại trên nên chỉ cần buồng nhỏ. Tỷ lệ chiều dài, chiều dầy lòng thì vưỡn vậy.
Lựu pháo Howitzer chính là những khẩu loại này thêm một số thứ cải tiến. Nhờ buồng dốt nhỏ mà Howitzer  nhồi ít thuốc, bắn gia tốc đầu đạn thấp để tránh đạn nổ trong nòng.
Các khẩu MONS MEG và những khẩu tương tư dễ nhận ra nhờ cái đuôi thu bé lại như cái loa. Lỗ ngòi có thể ở trên hay là cạnh với súng nhỏ, súng lớn nằm sau.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765
Súng có thể có ngòi trên thên phần sau, ngòi khoan bên cạnh buồng dốt, ngòi ở sau đít súng.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/sow_doof_sung_nongf_ngawn_mong_t-2.jpg)

Mộ số khẩu phát triển thành nột buồng đốt hình trụ sau nòng, như sơ đồ dưới đây, khẩu pháo "Great Turkish Bombard" chính là một khẩu kiểu này. Nhưng thiết kế đặc biệt có buồng đốt rời, khóa nòng mạp đạn sau đầu tiên  ;D ;D ;D ;D
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/sow_doof_sung_nongf_ngawn_mong_t-3.jpg)



Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: shmel trong 26 Tháng Tư, 2008, 03:56:34 pm
Chúng ta đều biết. Thành Xương Giang chìm trong biển đạn lửa của quân nhà Lê, thất thủ nhanh như lửa cháy luôn. Liễu Thăng không biết, vẫn tiến về đó, mong hợp binh cứu Đông Đô. Liễu Thăng dẫn kỵ binh tiến lên trước, mất đầu trong con mưa "phiêu". Vài hôm sau, lần lượt các phó tướng lên thay đều tương tự, trong đó có Thương Thư Lý Khánh. Những gì còn lại của đoàn quân mạnh nhất Viễn Đông lúc đó cố lết đến thành Xương Giang nương nhờ và mất hết hy vọng sống. Số phận của đám tàn quân này kéo dài thêm vài hôm trên doanh trại lập vội bên chân thành, rồi bị bắt và giết không sót một mống.
Hồi đó, trong điều kiện du kích, chắc quân nhà Lê ít súng, nếu có thì cũng chỉ nhiều súng pháo nhỏ nhẹ, nhưng sức mạnh thì vẫn khủng. Sau này, trong xung đột Nam bắc Trièu và Trịnh Nguyễn thì số lượng súng pháo tăng lên kinh khủng.

Bác xem lại giúp em chỗ này đi ạ. Thành Xương Giang có hơn nghìn quân mà cầm cự được hơn 9 tháng trời, may là quân Lam Sơn kịp hạ vài ngày trước khi viện binh Minh sang. Em xem mấy khẩu pháo thời Lam Sơn ở BT lịch sử vừa bé vừa ngắn, chắc chỉ làm súng lệnh là cùng.

Bác có thể trích nguyên văn Hoả Long Kinh ra không ạ. Trước giờ em chỉ được nghe nói Hồ Nguyên Trừng chế ra đại bác, chưa hề được nghe nói tới súng trường Thần Cơ Thương.


Tiêu đề: Lỗ Mồi của Hồ Nguyên Trừng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Tư, 2008, 04:22:05 pm
Nhiệm vụ của các loại cốc mồi
Mới nói sơ sơ chưa có hình thì topic này nó đông bố nó lại. Thế là đành viết tiếp vàp đây.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20774#msg20774

Cốc mồi "phát triển theo nguyên tắc khác", mong muốn của nó là điểm hỏa tức thời, thêm nữa là tin cậy, an toàn, tránh mưa ẩm.
Vịt Chúng hay gọi là Lỗ Mồi, gọi là Lỗ Mồi vì kiểu Cốc Mồi Viễn Đồng này giống cái lỗ hơn là cái cốc, do Hồ Nguyên Trừng phát minh, tớ đã nói Cốc Mồi là từ tớ dùng lai đông tây mà, mỗi bên có một nửa. Phiên bản gin nhìn thấy rõ trong súng pháo Thanh-Vịt ở Bảm Tàng Quân Đội. Lỗ Mồi nhà Vịt giống mà hơi khác nhà Thanh như là anh em (đáng tiếc, lỗ mồi của Vịt Chúng lại là anh). Cốc mồi của Tây rất khác. Bài này chỉ nói về lỗ Mồi Viễn Đông.

Thần Cơ Pháo có nòng rất dầy chứ không như các pháo đốt ngòi trên, nên "hệ thống mồi", "mai system" được làm trong vỏ. Còn Súng Trường Súng Ngắn Tây thì có thể có cốc mồi như một cái tai. Phần lỗ tai là ống dẫn lửa cắm vào súng. Súng nhỏ ta thi vẫn cắm ngòi hay có thừng-thằng.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20770#msg20770

Việc đầu tiên khác biệt, điểm mồi được đưa về đáy súng, điều này cho đến nay đã được máy tính chứng minh là ưu điểm. Nó làm khí cháy chuyển động về trước tốc độ cao và làm tăng áp suất đặt lên đít viên đạn. Nhưng khác biệt lớn nhất lại là ở nguyên tắc mồi chứ không phải vị trí.

Nguyên tắc của cốc mồi như sau: khi bắt lửa, nó bùng cháy thành một vụ nổ nhỏ (flash), ở đáy cốc mồi, áp suất lớn, tống lửa qua  một ống dẫn nhỏ vào trong buồng thuốc. Miệng cốc mồi to dễ châm lửa. Ống dẫn lửa ngược lại, phải nhỏ để chống thất thoát khí thuốc và an toàn cho xạ thủ, vì lỗ dẫn khí phụt khí nóng ra mạnh như đạn.
Một nguyên tắc của thuốc nổ được Thế Kỷ 19 chứng minh là, tốc độ cháy tỷ lệ thuận với nhiệt độ, áp suất cháy. Vì vậy, dây ngòi áp suất thấp thì cháy chậm, còn trong những khối thuốc kín hay nửa kín đến chứa áp cao, thì vụ nổ diễn ra. Nhờ đó mà diểm hỏa tức thời.
Ngoài ra, cốc mồi còn có nhiệm vụ chống mưa ẩm, đặc biệt với vùng đầm lầy nhiệt đới nơi Vịt Chúng vẫy vùng.
Và yêu cầu cuối cùng là tin cậy, bền bỉ.


Việc điểm hỏa Thần Cơ Pháo quan trọng nhất trong Hải Chiến, được Trịnh Hòa thể hiện cho dân Nam Á lác mắt. Hồi đó, hai tầu bắn nhau bằng pháo mạn. Tất cả các pháo một mạn đều hướng về một hướng, chính cái tầu là ngõng chỉnh hướng pháo. Thuyền trưởng ra lệnh quay tầu, tầu từ từ quay trong khi thuyền trường theo dõi "đường ngắm cơ bản", tức đường thẳng nối mắt-thước ngắm-đầu ruồi. Khi thuyền trưởng thấy đường ngắm cơ bản gặp mục tiêu, "đường ngắm đúng" hình thành, phất cái cờ, thế là các pháo cùng ùng oàng một phát. Chỉ chậm nhanh chút nửa giây một giây là phí phát đạn nạp cả chục phút, vì tầu đã quay đi hoặc chưa quay đến hướng mục tiêu.

Để chống kỵ binh, thường dùng các hàng pháo bắn đạn ria, các hàng xếp trên dưới (sườn đồi), hay xen kẽ (đồng bằng), mỗi hàng một hiệu cờ. Chỉ khi địch xung phong đến rất gần, vài chục mét mới bắn, vẫy cờ nào hàng đó bắn, hàng khác nạp đạn (tầm dạn ria hồi đó chỉ sát thương đến đấy). Thông thường, hai bên và giữa trận địa pháo kiểu đó có các lối ngựa phi. Khi quân dịch thối lui hoặc đã quá mỏng, kỵ binh xuyên qua "mặt tiền" trận địa pháo xông lên làm vỡ trận địch. Kiểu bố trí pháo đó Nã Phá Luân thành thần, Giucov cũng hoàng tráng, nhưng tổ tiên phải là Chu Lệ (Kỵ) và Liễu Thăng (Pháo). (Tớ đã bốt trang trước, Minh Sử chép thế cho oai cũng nên, tớ như Chu Lệ thì kiếm mấy ẻm làm ngựa trong một cỗ xe nhẹ-phòng thất trận, chứ tội giề ra nắng).
Khi ngắm bắn ngựa voi đơn lẻ càng yêu cầu điểm hỏa đúng, đợi cái ngòi nó khò khè thì ăn cám.



Cấu tạo của Thần Cơ Pháo

Cấu tạo
Thần Cơ Pháo phức tạp hơn là Thần Cơ Thương, mặc dù nguyên tắc của nó đơn giản hơn. Có những Thần Cơ Pháo có ngưỡng nhồi đạn, trong ngưỡng là buồng đốt như hình dưới đât, cũng có loại nòng trơn nhẵn, đong thuốc rồi lèn thật chặt. Giải thích bên dưới.
Thần Cơ Pháo thường có bộ phận chính là nòng, được gia công bằng đúc. Ngoài thường có hoa văn, cốc mồi hướng lên trên. Nòng cũng thường có hai quai to để buộc dây vận chuyển, thêm một vài quai, tai...nhỏ dễ khiêng vác. Nòng Thần cơ thường có hai ngáng để lắp vào giá chỉnh tầm, thông thương đặt cố định trên đất đá hay trên xe 4 bánh. Nòng cũng có tay nắm sau để chỉnh, pháo nhủ hè nhau khiêng tay nắm lên và chèn dưới cao thấp sao cho đúng để chỉnh tầm.
Sau này có xe dã chiến 2 bánh tạo thành dã pháo, nhưng nhỏ.

Vật Liệu
Từ thời còn "chưa nộp lý lịch", Hồ Nguyên Trừng đã chuyển sang dùng sắt gang thay đồng, mà theo sách truyền lại thì ông ưa "sắt tây vực", không hiểu là thứ sắt gì ???? Sau này, ông lên Thượng Thư và xây dựng nên cả một công nghiệp luyện gang thép. Sau khi ông mất đến khi mất Minh vào Thanh thì Tầu là nước phát triển kinh tế tư bản công nghiệp nhất thế giới lúc đó, sản lượng gang thép trên đầu người và dân số đỉnh luôn, xuất phát từ các công trường khổng lồ và hàng triệu anh tài tứ xứ thời của Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn An, Trịnh Hòa. Vật liệu của phương Tây thì vẫn ưa đồng thiếc đến Thế Kỷ 19. Còn Thế Kỷ 16-17 thì Tây hầu như là pháo đồng.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/thaanf_cow_thuwowng_phaos_vowis_-1.jpg)
Hình trên là tớ vẽ Thần Cơ Pháo đúng kiểu thiết kế của Hồ Nguyên Trừng thuần chủng.

Cấu tạo và hoạt động của Lỗ Mồi
Cốc mồi gồm một cái phễu, rót thuốc vào một buồng nổ, từ buồng nổ có ống dẫn lửa sang khoang chứa thuốc liều chính. Đôi khi, buồng nổ không có và phễu kiêm luôn chức năng của buồng nổ, tuy nhiên, đáy phễu luôn phẳng nghiêng, hướng vào một góc hay cạnh của hình cắt phẳng ngang lỗ, có hình tam giác hay thang. Mặt cắt đứng của Phễu do đó luôn là một hình 4 cạnh.
Thuốc mồi cùng loại và được nạp sau thuốc liều. Sau hhi đã nạp thuốc liều và đạn, người ta đong đổ thuốc mồi vào cốc mồi. Nhờ đáy cốc phẳng nghiêng dốc và cái miệng lỗ dẫn đến buồng nổ dẹt nghư mồm vịt, (đây không có vẽ 3D nhẩy), mà thuốc mồi dễ dàng chui vào buồng nổ và ngập một phần ở đáy phễu, phần này để châm. "Kim Hỏa" là một cây gậy bằng tre gỗ, có gậy sắt đồng nhưng hình như hay bị bán hay cắm quán, nên phần sắt đồng chỉ là cái móc thừng (thằng câu) bằng đồng hay gang, các bộ phận của Kim Hỏa có vài lỗ xỏ và kẹp dây, dây thừng cháy ngắn dần, xạ thủ kéo dây điều chỉnh "kim hỏa". "Thằng Câu" còn được mọi là cần mồi (mai câu).

Khi đã nạp thuốc, phễu được ống kín bằng một thanh gỗ, sách ghi là Mục Mã Tử ???? là cái quái gì ai dịch hộ.

Khi buồng bổ của lỗ mồi nổ, áp suất rất cao, như là một buồng đốt phụ. Khí thất thoát không phụt thẳng lên gây nguy hiểm mà đi cong được thành phễu chặn lại, mất tốc độ rồi phân tán theo hướng nghiêng về phía trước, rất an toàn. Khí thất thoát khi liều chính nổ dù áp suất rất cao, nhưng đi qua ống dẫn lửa bé, đến buồng nổ cốc  mồi trông như một buồng nổ phụ, đã phân tán hết cả.

Nói đến phần liều chính.
Pháo Thần Cơ có thể có buồng thuốc riêng hay liền một ống. Nhưng pháo của Hồ Nguyên Trừng có buồng thuốc riêng, miệng có phễu. Lèn chặt thuốc rồi đậy bằng miếng gỗ Mục Mã Tử, rồi lèn đạn vào.

Thông lỗ mồi. Nhiều người nghĩ rằng lỗ mồi dễ tắc, nhưng không đúng, áp suất thuốc cao luôn tự thông lỗ mồi, ngoài ra, các pháo thủ cần có dụng cụ riêng để thông lỗ này. Không hiểu ngày đó có biết cách nhồi thuốc nổ vào mồi qua miệng nòng để thông lỗ mồi tắc không nhỉ ??? Ống dẫn lửa luôn làn trên to dưới bé, nhờ đó khả năng tự thông rất tốt.

Ưu điểm
Cốc mồi và liều chính đều được bịt bằng gỗ nên chịu được mưa ẩm. Trời mưa, việc đổ thuốc được che chắn nên pháo vẫn hoạt động được. Kể cả trời mưa to, khi bắn, sau khi rút cây gỗ chặn, có thể lấy một cái nón nhỏ che cốc mồi đợi lệnh bắn mà vẫn an toàn.
Cục gỗ bịt trước cực kỳ ưu điểm kể cả khi trời không mưa. Nó làm súng có thể nạp đạn trước và đợi mấy ngày vẫn bắn tốt dù trời có mưa. Khu trời không mưa, nó làm phản ứng cháy phát triển chính xác, đặc biệt khi bắn đạn ria. Khi áp suất nhỏ, tốc độ cháy nhỏ thì miếng bịt che kín, khi áp suất tăng, tốc độ cháy tăng theo thì gỗ mới vỡ, như là áp suất tống đạn bi giờ, chứ không thất thoát áp suất ngay thừ lúc còn nhỏ khi bắn đạn ria. Châu Âu không có cục gỗ này dùng đạn ria đặt trong cái hộp.
Ngay cả khi bắn đạn cầu rắn, cục gỗ này cũng làm phản ứng nổ diễn ra hoàn hảo hơn là không có nó.

Tất nhiên, khác biệt lớn nhất của loại pháo này lại không ở cốc mồi. Nó đã có nòng rất dầy, nhồi nhiều thuốc nổ tốt, tỷ lệ chiều dài nòng/đường kính lớn. Nhờ đó, phát đạn cỡ chục cân khi công thành giá trị bằng cả mấy trăm cân của các khẩu siêu pháo công thành nòng mỏng. So sánh khi công thành thì khỏi, pháo nòng dầy gọn nhỏ mỗi giờ bắn 10-20 quả chứ không đến nỗi một ngày 5-7 quả.
Chính vì vậy, dù số lượng sản xuất không ít nhưng siêu pháo công thành và luôn cả thành quách hết thời nhanh chóng với Thần Cơ Pháo.

Nhược điểm: khó đúc, chỉ thợ rất siêu mới đúc nổi, nên các lìu tìu như Nhật, Hàn, Thanh (chưa diệt Minh), Mông Cổ... mãi sau này mới có và thiết kế cũng đơn giản hóa phần cốc mồi.
Nhược điểm nữa là rất khó làm trên các pháo nhỏ và các pháo làm bằng thép tốt mỏng. Pháo nhỏ Viễn Đông có cốc mồi gần giống phương Tây hoặc vẫn dùng ngòi.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Tư, 2008, 04:26:24 pm
Chúng ta đều biết. Thành Xương Giang chìm trong biển đạn lửa của quân nhà Lê, thất thủ nhanh như lửa cháy luôn. Liễu Thăng không biết, vẫn tiến về đó, mong hợp binh cứu Đông Đô. Liễu Thăng dẫn kỵ binh tiến lên trước, mất đầu trong con mưa "phiêu". Vài hôm sau, lần lượt các phó tướng lên thay đều tương tự, trong đó có Thương Thư Lý Khánh. Những gì còn lại của đoàn quân mạnh nhất Viễn Đông lúc đó cố lết đến thành Xương Giang nương nhờ và mất hết hy vọng sống. Số phận của đám tàn quân này kéo dài thêm vài hôm trên doanh trại lập vội bên chân thành, rồi bị bắt và giết không sót một mống.
Hồi đó, trong điều kiện du kích, chắc quân nhà Lê ít súng, nếu có thì cũng chỉ nhiều súng pháo nhỏ nhẹ, nhưng sức mạnh thì vẫn khủng. Sau này, trong xung đột Nam bắc Trièu và Trịnh Nguyễn thì số lượng súng pháo tăng lên kinh khủng.

Bác xem lại giúp em chỗ này đi ạ. Thành Xương Giang có hơn nghìn quân mà cầm cự được hơn 9 tháng trời, may là quân Lam Sơn kịp hạ vài ngày trước khi viện binh Minh sang. Em xem mấy khẩu pháo thời Lam Sơn ở BT lịch sử vừa bé vừa ngắn, chắc chỉ làm súng lệnh là cùng.

Bác có thể trích nguyên văn Hoả Long Kinh ra không ạ. Trước giờ em chỉ được nghe nói Hồ Nguyên Trừng chế ra đại bác, chưa hề được nghe nói tới súng trường Thần Cơ Thương.

Tớ vẫn trích từng đoạn đấy chứ
CÒn Xương Giang, bạn sai rồi. Chủ trương của Nguyễn Trãi là: "Công thành vi hạ sách", nên không thành lớn nào bị công cả. Chỉ có Xương Giang nằm trên đường đi của quân tiếp viện nên cần công gấp, nếu không thì quân tiếp viện chui được vào thành như Vương Thông thì bắt buộc phải dùng đại hạ sách chứ không phải tiểu hạ sách. Chỉ một trận đánh ngắn tẹo là giải quyết được Xương Giang. Chiến dịch này ta làm gọn, Minh Sử cũng ghi ta làm gọn "những người trốn vào rừng giả làm dân cũng bị bắt hết". Số quân tham gia (tức là bị bắt và chết) Minh Sử ghi 7 vạn, ta ghi 10, ta có vẻ đúng hơn vì quân Minh thường đem theo rất đông lực lượng bán quân sự "dân binh", có thêm cũng rất đông phu phen, và thường cũng chỉ tính số quân chính quy không tính các đám kia.
Nguyễn Trãi được Liễu Thăng-Vương Thông chứng minh lý luận sau đó, không đánh nhưng tất cả các thành còn lại đều hàng.
Bạn nói đúng đấy, tớ cũng đã viết câu đó trong này rồi, nghĩa quân súng ống  còi lắm.

À, mà bạn và các bạn khác đi đâu chụp ảnh được súng ông cổ thì chụp gửi về nhé, chụp được cả cơ cấu máy móc thì quá sịn.



Tiêu đề: Thần Cơ Pháo nòng dầy của châu Âu.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Tư, 2008, 05:49:29 pm
Mới nói sơ sơ chưa có hình thì topic này nó đông bố nó lại. Thế là đành viết tiếp vàp đây.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20774#msg20774

Phần pháo Viễn đông ở đây.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21102#msg21102
Thật ra, pháo Ấn Độ cực kỳ phát triển, nhưng bọn này nó chẳng them khoe mẽ, hình như dân Nam Á và Đông Nam Á nó thế, pháo nhà Vịt cũng như Ấn chả mấy ai biết. Những khẩu lựu pháo và thần cơ pháo lớn nhất thời cổ đều ở Ấn. Thế nhưng chả có để viết ở đây về pháo Ấn hết.

Pháo Đông suy
Cho đến Thế kỷ 17 thì Thần Cơ Pháo của tây còi so với Ta, tuy nhiên, Chúng Vịt không có xiền mua sắt đồng để đúc nhiều pháo to. Nhìn chung, chiến tranh liên miên, kinh tế đình đốn, ở ta hết sức đáng tiếc là không hình thành một khu công nghiệp mới nào, kẻ cả có những địa danh hết sức thuận lợi.

Ví dụ vùng Thái Nguyên-Cao Bằng, lên nữa có đồng thiếc vàng bạc, có than có sắt và có đường sông vận chuyển.

Ví dụ vùng Quảng Ninh, than Quảng Ninh ngày nay không luyện sắt được, nhưng với những "lò cao" độ dưới chục khối thì quá xịn. Than Sắt nhiều khi cạnh nhau, lớp trên lớp dưới, như Cái Lân, Cái Bầu, lại ngay bờ biển (các vỉa than và sắt này còn ăn xướng dưới đáy biển)

Tuy nhiên, hai vùng đó lại toàn quân ly khai, cướp biển. Thế là pháo ta phần đông nhỏ tí, nhưng lại rất tinh vi và gang đúc rất mịn. Ta lại hầu như không có thép, không thể làm nòng súng trường, gần súng trường nhất chỉ là vài khẩu pháo để trên voi, cũng có "Hỏa Thằng", nhưng là là Hỏa Thằng Pháo, chứ không có Thương-súng trường.

Tầu thì bị tàn phá bởi chiến tranh xâm lược của Thanh. Sau đó, người Thanh mất mấy đời vưa ngu si võ biền mới biết một phần cách tổ chức nhà Minh. Nhưng cũng chỉ được mấy đời, thì lại chìm trong bọn hủ nho thối rữa, đàn bà và hoạn quan. Đặc biệt, pháo Tầu không tinh vi về mặt hình học bằng ta đã đành, HP quan sát thấy chúng rất nhiều khuyết tật đúc, chứng tỏ được đúc trong môi trường... chắc tham những như nhà Vịt bi giờ. Nhà Thanh nhiều pháo, pháo to, nhưng chất lượng lại quá phở.

Đến khoảng Thế Kỷ 18 thì pháo Tây hơn pháo Đông rồi.

Pháo châu Âu lớn đầu tiên phải kể đến khẩu "Great Turkish Bombard" được Thổ dùng tấn công Constantinople, tháng 4-1453, được làm ở Hunggary. Kiểu pháo nòng mỏng có buồng đốt sau nòng này sau trở thành lựu pháo Howizer, vùng này sau cũng sản sinh ra lựu pháo. Nhưng ở đây nới đến Thần Cơ Pháo, hay còn được gọi là Thần Công, loại pháo bắn đạn động năng, thường là đạn cầu đặc.
Nguồn gốc của hai cái tên này thì đã nói trước đây:
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20770#msg20770

Pháo Tây cổ
Tây cổ có ba nhóm súng lớn chính:
Howitzer, Lựu pháo, lựu đạn pháo, bắn đạn trái phá sát thương, đây là sản phẩm "nội địa" của châu Âu.
Cannon, gia nông pháo, giống Thần Cơ Pháo của Viễn Đông, ở đây gọi luôn là Thần Cơ Pháo-không phải định nghĩa mà chỉ là cách gọi cho dễ hiểu.
Mortar, Cối, mọc chê, mọt chê, bách kích pháo.
"Pháo" thì đã nói rồi, nó thừa kế "máy bắn đá", là tên vũ khí cộng đồng trước đây. Vậy nên "pháo" có thể hiểu là súng lớn, dùng cộng đồng. Pháo Tây-súng lớn Tây có 3 nhóm lớn là cối, lựu pháo và Thần Cơ Pháo. Ban đầu Tây dùng cannon (cà nông, tức cái ống tiếng Ý) chỉ tất cả các loại súng pháo, nhưng sau gọi tắt, Howitzer chỉ lựu pháo, cannon là Thần Cơ Pháo-pháo bắn đạn động năng, mortar-mọt chê-cối chỉ nhóm pháo nòng ngắn tũn. Tuy nhiên, bọn Tây làm lính quá dốt nát ít chữ nên sách vở chúng viết lại lẫn lộn hết cả các khái niệm này. "Cannon"-"cannone"-"cà nông" phiên âm ra tiếng Tầu là: 加农砲, Gia Nông pháo, cũng hay được viết là 加农炮 (gia nông bào chế). Cối không phiên âm mà gọi là pháo đánh gần "Bách kích pháo" 迫击砲, cũng được viết là 迫击炮.
http://quansuvn.net/index.php?topic=255.msg12034#msg12034
http://quansuvn.net/index.php?topic=255.msg12031#msg12031
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21185#msg21185

Thần Cơ Tây
Về cơ bản, Pháo Tây giống Thần Cơ Pháo, nhưng đơn giản hơn. Tuy nhiên có một vài điểm khác. Thứ nhất, là đến tận Thế Kỷ 19 vẫn chuộng đồng. Thứ nhì là Tây có nhiều lựu pháo và được dùng rất nhiều trong chiến tranh. Chúng thừa kế các kiểu nòng mỏng có buồng đốt sau nòng như ở đây, nhưng nhỏ. Tây cũng có đặc sản là cối. Lựu Pháo và Cối ta đề cập sau.

Cấu tạo Thần Cơ Pháo Tây thì chỉ khác pháo Đông ở Lỗ Mồi, Tây gọi là Cốc Chớp Flash Pan. Còn từ xe, giá, nòng, thông nòng... đều giống. À, cốc mồi khác đi kèm Kim Hỏa, Kim Hỏa Tây là bó đuốc đơn giản hơn Kim Hỏa đông. Một số cối để tránh nguy hiệm người ta cũng dùng mồi thừng, mắc vào đầu cây thương hay kích.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/thaanf_cow_thuwowng_phaos_vowis_-2.jpg)

Cốc Chớp Tây đơn giản không có phếu hình đa giác, chỉ có buồng đốt lộ thiên trông như là một cái phễu, đáy phễu có đường ống ăn thẳng vào buồng thuốc liều chính. Súng cá nhân và nhiều pháo có nắp cốc mồi, là miếng sắt mở ra bằng trượt hay bản lề. Ở mặt phễu khi châm, áp suất nhỏ nhưng ở đáy phễu thì áp suất khá cao, tống khí nóng qua ống dẫn lửa.
Dễ nhận ra cốc mồi tây vì nó không phễu lại lộ thiên, tròn nhỏ.

Tuy nhiên, không thiếu ngoại lệ, như khẩu sau lỗ nhỏ nhưng vuông. Mặt khác, đến Thế Kỷ 18, nhiều pháo của những nước mạnh ở châu Âu vẫn chưa có cốc mồi, mà chỉ là lỗ mồi nhỏ cắm ngòi hoặc đổ đầy thuốc.
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/Barrelof12-pound122-mmfortressgunCa.jpg

Ưu, Nhược điểm:
Lửa to, dễ ẩm xịt, dễ làm và thích hợp với Trung Đông, Châu Phi.

Mặt phễu bùng lửa to nên phải dùng đuốc, chứ nó thổi đứt thừng mồi. Tia lửa từ trong buồng đốt chính phụt thẳng ra nên rất mạnh nguy hiểm. Chính vì tạo thành ánh lửa sáng mạnh khi bắn mà gọi là cốc chớp, chứ không đơn thuần có tên lỗ mồi như nhà vịt.

Cốc mồi này hoàn toàn không có khả năng chống mưa. Nó được áp dụng trên tất cả các súng lớn nhỏ, thương pháo đều có. Súng trường súng ngắn nhỏ không đủ chiều dầy thì có cốc mồi như cái tai có đường dẫn lửa cong cắm vào nòng.

Tuy vậy, đây là kiểu cốc mồi học được từ Ả Rập vùng cả năm mới có một lần mưa, nên đặc điểm chống mưa hoàn toàn không cần. Thật ra, cốc mồi Hồ Nguyên Trừng giảm nguy hiểm khi châm cũng chỉ dùng nhiều hôm mưa, lúc phải lấy nón che mà đốt súng. Châu Âu thì chuyện mưa gió cũng chả hơn kém gì Ả Rập mấy. Lượng mưa dồn bằng hết vào tuyết rồi, mưa dưng cơ mà khô.

Ưu điểm lớn nhất là thợ đúc nào cũng đúc được cái phễu tròn vo này.

Cốc mồi đến châu Âu rất chậm. Khẩu pháo này đã dẫn ở trang trước, nó là của một bảo tàng Pháp. Nó chưa có cốc mồi mặc dù khẩu pháo đồng đúc giống hệt thần cơ pháo, nó được mồi bằng ngòi hoặc đổ đầy thuốc vào đường dẫn lửa, như các pháo vò. Pháo súng phương Tây thường dùng cả touchhole và flashpan. Touchhole là loại lỗ mồi đơn giản, đổ đầy thuốc hoặc cắm ngòi, có độ tin cậy thấp (đơn giản là gió thổi bay mất thuốc trước khi bắn), nhưng kiểu này được dùng rộng rãi cho đến hết thời Thần cơ pháo Thế kỷ 19. Flash pan-cốc chớp hay còn được gọi là Priming pan-cốc mồi chỉ được dùng rộng rãi trên súng cá nhân, súng trường và súng ngắn, nơi yêu cầu thời điểm điểm hỏa cao.

Pháo vò, có thể đúc bằng gang hay đồng, chưa có cốc mồi. Pháo có thể mồi bằng ngòi như hình dưới đây, có thể đổ đầy thuốc vào ống dẫn lửa như ngòi.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20835#msg20835
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/cannon_2.jpg

Thế kỷ 17 vẫn là đồng và chưa có cốc mồi
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20770#msg20770
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Invalides-film125jpg.jpg.

Muộn hơn ở ba Lan, cốc mồi đã rất đẹp, pháo đúc bàng gang.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20771#msg20771
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Baranw_Sandomierski_-_castle_18.jpg

Dưới đây là Thần cơ pháo châu Âu hồi mới xuất hiện, "Artillery Engineering and Communications Forces Museum", St. Petersburg.
http://www.saint-petersburg.com/museums/artillery-museum.asp

Đồng thau (đồng kẽm), bảo tàng Nga.
Ảnh độ phân giải cao của mình xem rõ cốc mồi, muôn hơn thời điểm này nửa thế kỷ, Anh-Pháp-Tây Bán Nhà... chư có khái niệm cốc mồi, chuyển từ ngòi sang lỗ đổ đầy thuốc. Điều này cho thấy, hình dáng pháo được "học lỏm" nhiều hơn là việc di chuyển các thợ lâu năm chuyên nghiệp. Pháo có thể được đúc theo "bản vẽ" kiểu như http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20770#msg20770 (http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20770#msg20770), thiếu thông tin.

Khẩu gần nhất 80mm, nặng 545kg, loại pháo của trung đoàn bộ binh. Đúc năm 1629 bởi Grigoriem Naumovưm. Không rõ nhồi bao nhiêu. 
Khẩu thứ 2 140mm, 2752kg, đúc năm 1618 ở Riga. Kiểu tay nắm đằng sau như cái quai có biệt hiệu "Rồng Lớn".
Khẩu có bánh là 152mm, "Sa Hoàng Akhiles" (Царь Ахиллес), 3603kg, đúc 1617 bởi Andpeem Chokhovưm (Андреем Чоховым).
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-Image-24-_152-_______2.jpg)

Dưới đây là ảnh của các cốc mồi của khẩu nhỏ (hình phải) và khẩu vừa (trên trái), tay nắm đẹp thật, của khẩu thứ tư (sau khẩu lớn có bánh xe)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/coocs_mooif/hoa_van_pha_nga_tk17.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/th_B8D0B2D0B5D0BDD0BAD0BED0B2D0BED0B9_.jpg) (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/B8D0B2D0B5D0BDD0BAD0BED0B2D0BED0B9_.jpg) (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/th_B8D189D0B0D0BBD18C_D0A6D0B0D180D-1.jpg) (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/B8D189D0B0D0BBD18C_D0A6D0B0D180D-1.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/th_B8D189D0B0D0BBD18C_D0A6D0B0D180D18C.jpg) (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/B8D189D0B0D0BBD18C_D0A6D0B0D180D18C.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/th_D0B0D0BBD18C_D0A6D0B0D180D18C_D090D.jpg) (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/D0B0D0BBD18C_D0A6D0B0D180D18C_D090D.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/th__D180D0B8D0B6D181D0BAD0BED0B9_D0BFD.jpg) (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/TK17wiki/_D180D0B8D0B6D181D0BAD0BED0B9_D0BFD.jpg)


Gang. ở cạnh mấy khẩu trên. Kiểu xe này do Piotr đại đế thiết kế. Hải Pháo, gang 132mm, 3473kg, đúc năm 1717. Thưởng pháo của Hải Quân to nặng nhồi nhiều hơn chút so với pháo thường.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/18-132-2.jpg)


Tiêu đề: Lựu pháo sát thương Howitzer
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tư, 2008, 01:41:50 pm
Các loại pháo Tây:
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21109#msg21109
Thật ra thì tây chúng chả phân biệt gì cannon và gun vả Howitzer. Nhưng ở đây, gọi kiểu pháo xuất phát từ châu Âu, từ những khẩu nỏng mỏng ngắn, là  Howitzer  và những khẩu nòng dài dầy học từ Viễn Đông là Thần Cơ Pháo cho dễ phân biệt. Ai dùng chúng như là định nghĩa thì sai, tớ không chịu trách nhiệm.

Bực quá, không sửa được các đoạn cũ thành ra phân thành nhiều mảnh. Mình định vẽ mấy cái hình mô tả, rồi lại bận. Cuối cùng nhăn nhó lấy MS_PainBrush bôi được mấy chú thì các đoạn trước đông cứng lại hết không sửa được nữa, đành viết thêm vào đây.

Pháo có nòng ngắn mỏng có buồng đốt nhỏ sau nòng, tiền thân của Howitzer đã được tớ nói đến ở đây
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21095#msg21095

Và trước đó, các khẩu công thành pháo.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765
Khẩu "Great Turkish Bombard" là khẩu pháo nòng ngắn mỏng có buồng đốt sau nòng đặc trưng (tuy rằng, do đúc bằng đồng nên nó vẫn thật sự rất dầy). Khẩu này được đúc ở Hungary.

Thủa ban mai của pháo nòng ngắn mỏng. Đây là thứ pháo được dùng ở tầu Thế Kỷ 14, rồi được thay thế bởi pháo nhà Vịt khi Hồ Nguyên Trừng sang Tầu-chính là Thần Cơ Pháo nòng dầy.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20835#msg20835

Lựu pháo Howitzer
Tiếng Tầu nay là "Lựu Đạn Pháo" 榴弹炮 hay là "Lựu Pháo" 榴炮, tiếng ta cũng là "Lựu pháo". Tuy nhiên, ngày cổ không rõ tên gọi lựu pháo thế nào ở Ta và Tầu. Tiếng Tầu "Lựu" 榴 là quả lựu, rất nhiều hột ở lớp vỏ. Điều này chỉ đây là loại trái phá sát thương.
Pháo này cũng có mặt trong binh thư yếu lược, nhưng bọn hủ nho không thèm học toán khi chép lại sách này ném mịe nó hình đi. Đối với lũ thối ấy, toán học hình học là nhảm nhí, chiến thắng định bằng ý, ý kiếm, ý pháo. Lúc nào ta sẽ trở lại đề tài bọn hủ nho, vì chúng ảnh hưởng rất nhiều đến sự nghiệp của Hồ Nguyên Trừng. Trong Binh Thư Yếu Lược cũng nói đến kỹ thuật bắn đập đất nhảy thêm, đạn mẫu tử (chứa trái phá con), đạn nhồi thuốc độc...
Mà này, Pà con ai kiếm được cuốn đó không nhỉ, hồi bé mình đọc trộm sách của bạn ông già, có cuốn có hình đấy.
http://quansuvn.net/index.php?topic=255.msg21181#msg21181 (http://quansuvn.net/index.php?topic=255.msg21181#msg21181)

Howitzer lần đầu xuất hiện trong tiếng Anh năm 1695 từ houwitser tiếng Hà Lan. Gốc lại từ Haubitze tiếng Đức, lại ban đầu tiếng Đức là Haubitze, xuất phát từ tiếng Bô-Hêm là haufnÿ, tức là "máy bắn đá", chỉ các máy bắn đá bắn trái phá truyền từ châu Á sang. Cùng với khẩu "Great Turkish Bombard" đúc ở Hungary, cho thấy khu vực này sau những cuộc chiến của quân Mông Cổ đã trở thành trung tâm kỹ thuật vũ khí châu Âu.
Tuy nhiên, nhiều người cho rằng Howitzer là từ tượng thanh, kể về tiếng đạn kêu o o o như đạn cối ngày nay.

Loại Lựu Pháo dã chiến còn có tên là "Unicorn". ("Lân Binh", "Unicorn" là "Bộ Binh Nặng", Giáp Bộ Binh, Bộ Binh Mặc Áo Giáp Nặng, tiếng Nga là "единорог").

Pi-ốtr đại đế và các vua Nga sau ông phát triển rất nhiều lựu pháo mới, đưa nước Nga lần đầu đứng trong hàng ngũ siêu cường. Tiếng Nga là "гаубицы", còn "пушка" chỉ Thần Cơ Pháo.


Cổ sử lựu pháo

Các khẩu bắn đạn động năng cứng nhưng nòng ngắn mỏng của châu Âu thế kỷ 15 nhanh chóng được thay bởi Thần Cơ pháo nòng dầy, nhưng cấu tạo của pháo nòng ngắn mỏng vẫn tiếp tục được phát triển. Lựu Pháo được dùng cùng với các loại pháo nòng ngắn mỏng bắn đạn động năng cùng thời Thế Kỷ 15, cũng được cải tiến cùng Thần Cơ Pháo. Tuy vậy, lựu pháo ít được dùng do hiệu quả thấp và chỉ phát triển mạnh trong thế kỷ 18, sau thời Piôtr Đại Đế, khi thuốc nổ và thép đã kha khá (trước đó mà bắn trái phá vào đâu thì ở đấy vỗ tay hoan hô đi đào mảnh gang bán). Sau khi pháo bắn đạn động năng được cải tiến thành Thần Cơ Pháo nòng dầy thì lựu pháo châu Âu vẫn có cái nòng cổ lỗ, suốt mấy thế kỷ, cho đến thế kỷ 19, chúng phát triển cùng với thần cơ pháo chỉ ở bánh, giá, lỗ mồi.
Tuy chậm, nhưng cái nòng vẫn dài dần dần. Giá pháo phát triển mạnh cuối Thế Kỷ 18, trong 19.

Ghi chép về dùng Lựu pháo ở châu Âu xuất hiện đầu thế kỷ 15, năm 1410 (trận Grunwald, Ba Lan đánh Lithuania), chiến tranh Bô-Hêm Hussite (1419-1434). Nhưng có nhiều bằng chứng rõ ràng rằng trước đó châu Âu đã có lựu pháo, điều này là dễ hiểu, các khẩu pháo ngắn mỏng và lựu pháo có phần nòng không khác gì nhau. Đạn trái phá có từ thời máy bắn đá-ví như sách Võ Kinh Tổng Yếu (武经总要) đời Tống. Trước Hồ Nguyên Trừng, nhiều sách vở đã nói đến súng bắn đạn trái phá.
Có thể hiểu, lựu pháo trước đây dùng đạn gang còn quá đắt đỏ, nên không phải không có mà là ít dùng.

Ở châu Âu, Lựu Pháo được sử dụng nhiều vào thời điểm mà thành quách trở lên lỗ thời bởi Thần Cơ Pháo, Thế kỷ 18. Lúc đó, các trận đánh quan trọng dần chuyển từ chân thành quách lâu đài ra đồng ruộng. Các pháo cũng cơ động hơn và xuất hiện các dã pháo. (Dã pháo là tiếng Việt chỉ pháo dã chiến, filed gun, trường pháo, pháo bãi). Mục tiêu sát thương dần cần nhiều hơn mục tiêu công thành. Trước đó, phần lớn pháo được trang bị là các Thần Cơ Pháo dùng trên tầu, trên thành và cũng được dùng để đánh thành, đánh tầu hay đánh các xe công thành. Lựu pháo thì không đánh các thứ đó, mà đánh bộ binh. Như vậy, lựu pháo rất thích hợp để đối chọi với những khối bộ binh mặc giáp, mang thương kích dài, xếp thành khống đông.

Nhưng cho đến giữa Thế Kỷ 19, trước khi có Hải Pháo của Henri-Joseph Paixhans người Pháp, Nga chấp nhận sử dụng đầu tiên, thì lựu pháo không dùng đánh được tầu nên rất ít lựu pháo được trang bị trên tầu. Đây cũng là thời điểm chấm dứt lựu pháo cổ.

Lựu Pháo Cổ so với Thần Cơ Pháo.  Thật ra thì các tiến bộ của chúng tiến lên cùng.
Đạn lựu pháo đường kính trong nòng lớn lớn, tỷ lệ chiều dài/đường kính trong nhỏ-chỉ hơn cối, đạn to nặng, sơ tốc chậm, bắn cầu vồng (đường đạn đi cao), góc bắn cao. Lại còn có kiểu bắn đập đất (trong Binh Thư Yếu Lược cũng nói đến), tức là đạn đập đất nảy thêm tăng tầm. Buồng đốt của lựu pháo nhỏ, chứa ít thuốc và thường tóp lại sau nòng
Dùng kỹ thuật đập đất tại sao không nhồi nhiều vào ???? à, vì sơ tốc mà lớn thì cần gia tốc lớn làm nổ trái phá trong nòng. Vì lúc đó chưa có thuốc viên cháy chậm nên nhồi nhiều là gia tốc lớn, chứ không làm được pháo nòng dài. Thuốc nổ ổn địch như TNT đúc cũng chỉ đầu Thế Kỷ 20 được áp dụng ở Đức, cho phép đạn trái phá đi được gia tốc lớn, thậm chí xuyên qua thép mà không nổ. Có người còn gọi Howitzer là pháo đập đất.

Trong khi đó, Thần Cơ Pháo có nòng dầy, bên ngoài thì to mà đường kính trong bé, tỷ lệ chiều dài nòng lớn, buồng đốt lớn, có khi phình ra to hơn nòng, nhồi nhiều, đạn bắn góc thấp, đường đạn thẳng (đường đạn đi thấp), sơ tốc lớn.

Điểm giống nhau là chúng phát triển cùng nhau, chúng chuyển từ đồng sang thép, cũng có giá, có ngáng, cũng chưa có ngõng, cũng có giá 4 bánh rồi giá 2 bánh với càng, cũng có tay nắm sau, cũng có Cốc Mồi, cũng bắn đạn cầu và nhiều thứ khác.



Tiêu đề: Ảnh lựu pháo
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tư, 2008, 03:22:51 pm
So sánh hai khẩu "lựu pháo" và "thần cơ pháo".

Khẩu lựu pháo bằng đồng Nga đúc Thế Kỷ 18. Thần cơ pháo của Canada.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Howitzer/180px-166-__.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Howitzer/180px-Canon_sous_la_neige.jpg)

Đây là ảnh cỡ to
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Howitzer/166-__.jpg
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Howitzer/Canon_sous_la_neige.jpg


Tiêu đề: Ảnh lựu pháo cổ
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tư, 2008, 04:40:26 pm
Con cú photobucket lắm rồi, ai xem có chỗ nào tốt tốt hơn mách với.

Cần châm Nga Thế kỷ 17-18, đầu cần có kẹp thừng mồi. Cần châm có mũi giáo để kiêm chức năng giáo.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Linstock_pskov.jpg)


Tiêu đề: Ảnh Thần Cơ Pháo cổ ở Nga
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tư, 2008, 08:13:26 pm
Pháo Nga ở bảo tàng "Lịch sử quân sự-Pháo, kỹ thuật và thông tin".
Sau thời Piôtr thì Nga trở thành siêu cường về pháo. Cho đến nay họ vẫn là đất nước có quân đội sử dụng pháo đứng đầu thế giới. Không những thế, sau này ta sẽ đề cập đến, Nga không sa đà vào những trào lưu pháo tịt nổi tiếng của Thế Kỷ 20, như những pháo khổng lồ và những Battleship. Điều đó cho thấy, hiểu biết về pháo ở Nga không gói gọn trong quân đội, mà được dân chúng tìm hiểu rộng rãi và nắm bắt đúng đắn.
Bọn Đức hồi Thế chiến 2 thường nói về pháo Nga, đó là sự khủng khiếp của bất cứu quân đội nào đương đầu với họ.

Kỳ lạ, khẩu Thần Cơ Pháo Nga cuối Thế Kỷ 17 này không giống pháo châu Âu mà lại rất giống pháo Viễn Đông, kể từ hình dáng nòng pháo đến cái cốc mồi. Ông nào ở Nga Ngố chụp rõ bên trong đáy cốc nhé. Mình đã mô tả bên trên, cốc mồi Viễn Đông là hàng Hồ Nguyên Trừng gin, cốc mồi có phễu to hình chữ nhật hay tam giác. Còn pháo châu Âu hoặc không có cốc mồi (chỉ có lỗ mồi nhỏ) hoặc là cốc mồi tròn lộ thiên không phễu, nên trông bé nhỏ.
Pháo Viễn Đông có cốc mồi châu Âu thì nhiều, bọn Bồ Đào Nha đến đúc pháo thuê ở Nhật, Hàn, Thanh (hồi chưa đánh được Bắc Kinh) và cả nhà Nguyễn cõng rắn cắn gà nhà nữa. Nhưng pháo Âu giống ngược lại thì hơi hiếm. Tuy nhiên, lúc này Nga đã oánh Xibêri, có thể có giao lưu ở vùng Antai.
Khẩu pháo theo tiêu chuẩn Nga, đạn 3 cân Anh, 76mm. Dài 1400mm. 350kg. Đúc năm 1711 taị Ôlônse (Олонце).
Được mô tả là pháo bắn nhanh của Trung Đoàn.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-76-___.jpg)

Khẩu dưới đây bắn đạn 2 cân Anh, 65mm. dài 130cm. nặng 148,6kg. Năm 1733. Trên thân pháo ghi tên đơn vị, chỉ huy và vinh quang Nữ Hoàng. "1733 года ея императорское величество пожалова пушку в Яицкое войской присланны Влаской станице атамана Турыбарина есаула Андрея Бородина старшины Никифора Мокобронова".
Pháo cuả trung đoàn Cossack.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:65-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:65-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg)
(http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:76-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D1%81%D0%BA%D0%BE%D1%80%D0%BE%D1%81%D1%82%D1%80%D0%B5%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/65-_.jpg)

2 cân Anh 62mm 92 cm  58,7 kg. Pháo đồng thau được đúc trong 1/4 đầu của Thế Kỷ 18, Nga
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:62-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:62-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-62-_.jpg)

Khẩu pháo lễ được đúc 1709 ghi dấu trận đánh Poltava. Ngoài được khảm vàng bạc, xe làm bằng thép Damas. Tuy là pháo lễ nhưng trừ đẹp ra thì cấu tạo như thường, bắn tốt.
Điều chú ý nhất ở đây là tuy làm từ đầu Thế Kỷ 18, nhưng kiểu xe xe giá pháo này lúc đó còn rất hiếm. Sau phổ biến ở cuối Thế Kỷ 18 và đặc biệt trong thế kỷ 19. Thần Công đồ chơi thường làm kiểu xe này.
Nòng dài 198 cm. cả pháo 381,6 kg. 76mm.  3 cân Anh.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:76-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:76-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-76-____-1.jpg)

Nòng một khẩu pháo đúc năm 1812. 3 cân Anh 76mm. 146cm. 243kg. Pháo được đúc bởi Iakôvôm Jôtrinưm tại nhà máy Niznhe-Isetskôm (Яковом Зотиным на Нижне-Исетском заводе).
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:76-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1812.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:76-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1812.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-76-____1812.jpg)

Nòng pháo cố định, gang 122mm, 12 cân anh, khối lượng 1343kg, đúc năm 1717 ỏ Vôrônhez bởi Nikita.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28122-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8_%281717%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28122-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8_%281717%29.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/12-pound122-mmbondedgunsGangThemass.jpg)

Nòng hải pháo, 152mm, gang, 24 cân Anh, gang đúc, 2899kg, đúc năm 1736 tại Vôrônhez
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_24-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28152-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D0%BE%D1%80%D0%B0%D0%B1%D0%B5%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_24-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28152-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D0%BE%D1%80%D0%B0%D0%B1%D0%B5%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/Barrelof24-pound152-mmshipgunCastir.jpg)

Nòng pháo đặt cố định, 122mm, 12 cân Anh, gang đúc, 1280kg, đúc năm 1726 ở Siberia.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28122-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28122-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/Barrelof12-pound122-mmfortressgunCa.jpg)

Nòng pháo đặt cố định, 18 cân Anh, 140mm, gang đúc, nặng 3000kg, đúc trong 1/4 đầu tiên của Thế Kỷ 18.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28122-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%28122-%D0%BC%D0%BC%29_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/18pound140mmbondedgunsCHugunnyjMass.jpg)


Tiêu đề: Pháo Thần Cơ Thụy Điển Thế Kỷ 18
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tư, 2008, 11:44:32 pm
Ở bảo tàng "Lịch sử quân sự-Pháo, kỹ thuật và thông tin".

Đây là quà tặng của Vua Thụy Điển Gustav Adolf tặng Sa Hoàng Alexander. Pháo bắn đạn 3 cân Anh (cỡ 1,4kg), 76mm, 142cm, 243kg. Đúc năm 1743 tại Stockholm bởir Gerhard Meyer.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-76-__.jpg)


Tiêu đề: Pháo châu Âu phát triển trong Thế Kỷ 18.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 01:51:32 pm
Sắt thép rẻ đi thay cho đồng là chìa khóa của phát triển. .
Tiến bộ kỹ thuật phổ biến trong quân đội rất chậm.
Có lẽ, tiến bộ sâu sắc nhất là sắt. Cho đến Thế Kỷ 19, pháo vẫn được đúc bằng đồng là chủ yếu, nhưng pháo sắt các loại càng ngày càng có vị trí quan trọng. Chúng ta cũng cần nhớ rằng, tốc độ công nghiệp lúc đó rất chậm, một khẩu pháo sẽ được dùng trong nhiều trăm năm và một lực lượng pháo binh mạnh phải được có lẽ đến nửa châu Âu đúc trong 30-50 năm. Vì vậy, mỗi phát kiến được phổ biến rất chậm, và để xây dựng một lực lượng pháo binh mạnh cần rất nhiều nỗ lực cộng với thời gian lâu dài.

Đồng thì tồi.
Chủ yếu pháo được dúc bằng đồng thau (đồng kẽm), nhưng không hiểu sao, HP quan sát thấy nhiều khẩu có màu đồng điếu (đồng thiếc) ???? Có lẽ, do quặng từng nơi và kỹ thuật tồi, đắt nên người ta chấp nhận chuyện luyện không kỹ.
Đồng dễ nấu, nhưng nó có ít, nó không đủ để làm nhiều pháo và đặc biệt, khi lựu pháo xuất hiện thì cần đạn kim loại thay đạn đá, điều này thì ???? rõ ràng, cần thứ nào đó nhiều hơn đồng. Sắt trở thành chìa khóa để có một lực lượng pháo binh mạnh vào đầu Thế Kỷ 19. Tuy vậy, trong thế kỷ 18, những bước tiến quan trọng với pháo sắt cũng diễn ra.

Sắt thì đắt
Sắt cùng được dùng với đồng ở châu Âu ngay từ những ngày đầu phát triển pháo. Nhưng sắt lúc đó còn rất xấu, chủ yếu là hợp kim gang xấu. Ta đã thấy, trong Thế Kỷ 18, Nga đã vượt lên sử dụng sắt trong các loại pháo cỡ lớn, động năng đầu đạn mạnh, các loại pháo thần cơ to, khối lượng nòng nhiều tấn. Sắt cũng là tiền đề quan trọng cho việc phổ biến súng, đặc biệt là súng trường: cần kỹ thuật khoan nòng, sắt chất lượng cao để làm cò, lò xo, đây thật sự là những loại thép chứ không còn là gang đúc nữa.

Rèn dập gang ra thép rất tốn công
Thép có hàm lược carbon thấp hơn gang, cho đến đầu Thế Kỷ 18, thì thép ở Viễn Đông chỉ làm được bằng phương pháp rèn đập, năng suất rất thấp. Người ta luyện gang thành thép bằng cách nung nóng gang rồi đập dẹp, gập lại rồi lại đập dẹt, nguội lại nung nóng, gang nóng tiếp xúc với không khí sẽ cháy bớt carbon. Đây là phương pháp luyện kiếm Nhật, nó được truyền từ Xyria-Batư vùng Cận Đông qua Trung Á, đến Mông Cổ-Liêu-Thanh... (Người Nhật, Hàn, Mông Cổ liên hệ mật thiết với người Trung Á và Tạng về huyết thống). Phương pháp luyện thép đó có thể cho ra đời những thanh kiếm rất tốt, nhưng không thể đủ thép đúc pháo được (và chưa chắc loại thép đó đã đúc được, vì khi nấu chảy thì chúng thành cái gì đấy). Người Âu trong Thế Kỷ 18 đã có những biện pháp nấu ra thép nhưng năng suất vẫn còn rất thấp, còn những loại thép làm những chi tiết nhỏ như cò súng trường thì vẫn có thể rèn dập từ gang được. Điều đó cho chúng ta thấy, khẩu súng với máy thanh thép đuôi chuột đã trưng lên mấy trang trước, hồi đó là cả một gia tài, mặc dù chúng chỉ là loại thép phở nhất hiện nay "thép dụng cụ", mà lại còn xấu hơn cả thép phở vì thành phần không đều, giòn và chóng mỏi.

Thép Damascus tốt nhưng hiếm 
Một kiểu thép nữa là thép Damas mà ta thấy ở khẩu pháo lễ trang trước. Đây là phương pháp luyện bí truyển vùng Cận Đông, nó tốt và đồng đều hơn loại thép rèn dập, đúc tốt và không thay đổi tính chất khi đúc, dẻo, đàn hồi (làm lò xo tốt)và sắc. Nhưng nó cũng không giúp được gì cho sự phát triển, vì nó đắt đỏ. Thực chất, ưu thế của loại thép này chỉ nằm một phần ở sự bí truyền, phần đắt chủ yếu là do nó được luyện từ một loại quặng hiếm.
Thép chỉ bắt đầu có nhiều vào đầu Thế Kỷ 19, khi có các lò luyện công nghiệp, nấu gang ở 1500-1800 độ, khi đó cho ra nhiều "gang trắng", không làm đồ được nhưng để luyện thành thép. Nhiệt độ thấp chỉ nhỉnh hơn nhiệt độ chảy của gang chỉ cho ra thứ gang xấu, loại gang xám tệ nhất trong các loại gáng xám, giòn và rỗ khuôn khủng khiếp, việc tăng dần nhiệt độ nấu của lò cao cho dần dần những thứ gang tốt hơn. Nhiệt độ cao hơn chút và có kỹ thuật đặc biệt, cho ra loại gang cầu được dùng rất nhiều trong Thế Kỷ 19.
Trước đây, nhà Minh đã đạt sản lượng gang rất cao, thời đỉnh điểm đến 10kg/đầu người/năm, đây là con số rất lớn lúc đó, càng khủng hơn khi sản lượng này tập trung quanh những thành phố lớn. Lượng thép nấu được cũng kha khá, bằng những lò lớn và những phụ gia đến nay thất truyền. Điều này đảm bảo nhà Minh có một lượng súng pháo khổng lồ và nền công nghiệp tập trung quy mô xuất hiện từ thời Hồ Nguyên Trừng. Tuy nhiên, bọn hủ nho đã làm nhà Minh suy đồi như tất cả các triều đình Tầu khác, Tầu bị phá hoại khủng khiếp trong chiến tranh của quân Thanh và pháo Tầu chìm nghỉm.

Tăng chất lượng gang bằng tăng nhiệt độ nấu.
Tuy thép còn rất ít, nhưng bù lại, chất lượng gang tăng lên. Các mỏ sắt lớn của Scandinavi thuộc về Thụy Điển và Nga trong Thế Kỷ 18 đã nhanh chóng cho ra một lượng lớn loại gang tốt hơn và ở trang trước, chúng ta đã thấy Piotr cho đúc hàng loạt các pháo lớn từ những năm 171x trở đi. Lúc này, gang đã nâng cao chất lượng sau khi chiếm được St. Petecbur và miền xung quanh mà nay là Phần Lan. Trước đó, ở đây đã có nhiều người Nga trốn chế độ nô nệ (thừa kế từ thời Mông Cổ), ra đây đào và luyện sắt. Chiếm eo đất và xây thành Petecbur và tiếp theo là Riga là chìa khóa để Nga phát triển. Riga là điểm trung chuyển thương mại lớn lúc đó nối vùng Biển Đen và Bắc Âu bao gồm Anh. Piốtr đã phát triển lợi điểm này bằng cách chiến nốt Biển Đen phụ thuộc Thổ (Tartar) và cho xây hàng loại các kênh nối các con sông, thông thuyền từ biển đen sang Baltic, chở được nhiều và hàng lớn hơn là đường bộ.
Việc tổ chức sản xuất quy mô lớn là chìa khóa để tăng nhiệt độ nấu gang. Chỉ có những lò cao đến chục khối và hơn nữa mới có thể cho ra thứ gang xám tốt ăn khuôn được nấu ở nhiệt độ cao, và tiếp theo là thứ gang trắng tốt. Sản lượng gang tăng đến lượt nó lại tăng nhiệt độ nấu các lò sau, vì tỷ lệ dùng gang thép làm vật liệu lò tăng lên. Sản lượng gang, chất lượng gang tăng tạo điều kiện tăng sản lượng đồng, nhưng điều đó diễn ra rất chậm so với gang thép do quặng không nhiều thư sắt.

Phát triển súng pháo. .
Pháo phát triển theo công nghiệp
Nhìn từ nòng pháo mà ra thì thấy rõ, nếu như Thế Kỷ 17, Pháo Nga chỉ yếu là loại pháo Thần Cơ đồng nòng dài hoa văn rất đẹp của Riga, thì chớm đầu thời 17xx, khi có Petecbur, pháo Nga đã hoàn toàn khác. Đến cuối thời Piotr Đại Đế và suốt Thế Kỷ 18, Nga đã đi tiên phong trong việc phát triển Lựu Pháo các loại, loại pháo này dần trở thành loại pháo quan trọng nhất và đến đầu Thế Kỷ 19, nó đã thống lĩnh chiến trường.
Một điểm mà các nhà sử học ít chú ý, Công Quốc Riga, (thật ra là một nước cộng hòa độc lập, tước Công là nhận của nước ngoài phong cho yên chuyện), trở thành một trung tâm đúc súng Thế Kỷ 17 không chỉ vì phục vụ Thụy Điển và Ba Lan đang đánh nhau, mà còn vì nguồn nguyên liệu diêm sinh khoáng được chở từ các mỏ Trung Á, qua Biển Đen, đi đường bộ đến Riga và đi dang Thụy Điển, Đan Mạch, Anh, Nga...Nguồn cũng này dĩ nhiên từ đó rơi vào tay Nga.
Tân Bán Nhà và Bồ Đào Nhà vẫn thống trị con đường dang Á, Phi, Viễn Đông. Nhưng họ chỉ mang về diêm sinh bên cạnh hạt tiêu. Kỹ thuật luyện kim của các nước Nam Âu tụt lại và pháo của họ cũng vậy.
Một điểm đáng chú ý là pháo Riga không chỉ đẹp mà còn nòng rất dài, dĩ nhiên là nó sẽ nặng và cồng kềnh, nhưng tất nhiên là rất mạnh. Pháo Riga cũng nhồi rất nhiều, (thường thì liều nhồi hoặc lọai pháo được ghi trên nòng đúc), nhưng sang Thế Kỷ 18, chất lượng thuốc nổ châu Âu tiến bộ rất mạnh, nguyên nhân của chuyện này còn phải bàn nhiều.
Lựu Pháo phần đông vẫn làm bằng đồng, nhưng chìa khóa của nó là gang sắt, để làm đạn. Một khẩu pháo chỉ nặng vài trăm cân, nhưng chỉ một trận đánh nhỏ, nó xơi nhiều tấn hay đến chục tấn gang.
Thép rẻ đi cũng làm cho súng cá nhân mà quan trọng nhất là súng trường phổ biến. Thế kỷ 18 là thế kỷ bản lề mà súng thay thế cho dao kiếm.

Trình độ phát triển của các nước châu Âu không đều.
Piôtr đại đế đưa nước Nga lên hàng Siêu Cường của châu Âu, nhưng rõ ràng, ông chưa được dùng nhiều những cỗ pháo mạnh, mà chỉ đến sau đó, nước Nga mới phát triển việc đúc súng pháo (như đã nói, xây dựng một lực lượng pháo binh mạnh lúc đó cần huy động đến nửa châu Âu trong 30-50 năm). Đến cuối Thế Kỷ 18 thì Nã Phá Luân và nhiều người khác chứng minh Pháo là hỏa lực quan trọng nhất của Lục Quân.
Thế Kỷ 17 thì vùng Pre-Baltic ngày nay, Ba Lan là những trung tâm đúc pháo quan trọng, như những phẩu pháo Riga rất đẹp trang trước. Rõ ràng, cùng một cỡ nòng những pháo Thế Kỷ 18 xấu hơn, dầy hơn, ngắn hơn và nhẹ hơn nhiều. Đồng thời, Triều đại Ogust của Ba Lan suy đồi đã làm thị trường Pháo ở đây giảm sút. Nga trước cũng có pháo giống ở đây, kể cả pháo mua và tự đúc. Nhưng từ Piôtr đại đế thì pháo Nga tiến bộ khác hẳn, pháo châu Âu cũng vậy, và ta có thể hiểu được rằg, Piôtr đại đế đã thu thập nhiều hướng, phát triển nhiều kỹ thuật pháo và đẩy cấu tạo pháo đi qua những bước tiến dài.
Đáng tiếc, không có ảnh những khẩu pháo Tây Ban Nha thời này-có bốt sau vậy, chúng mỏng yếu như lựu pháo Nga nhưng lại bắn đạn rắn như thần cơ Nga.  Trừ Nga, Thụy Điển (cùng trang giành bờ biển Baltic với Piôtr đại đế), Anh (quan hệ gần gũi với Thụy Điển) thì pháo còn lại ở châu Âu tụt hậu. Cuối Thế Kỷ 18, khi Cách Mạng cởi gông xiềng, kỹ thuật đúc pháo Phát mới đại tiến vọt. Đầu Thế Kỷ 18, ảnh hưởng của việc Piôtr đại đế đuổi người Thụy Điển, Ba Lan suy đồi, Đức nổi lên dần trở thành một cường quốc, dần dần súng pháo Đức cũng trở nên tiên tiến, nhưng phải nửa sau Thế Kỷ 19 (thậm chí gần đầu Thế Kỷ 20) thì súng pháo Đức mới bước vào thời hoành tráng.



Tiêu đề: Cơ động, bánh xe, càng pháo, giá pháo, ngáng pháo cổ
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 03:35:33 pm
Thank kiu Chiến Vịt.
Phát triển tính cơ động..
4 loại pháo khác nhau "tính cơ động".
Nga, Thụy Điển, Anh đạt được những tiến bộ quan trọng về pháo từ những năm đầu Thế Kỷ 18 cùng với kỹ thuật luyện thép. Sản lượng gang thép tăng, gang thép rẻ đi làm lựu pháo được dùng rất nhiều. Thời kỳ này thì thành quách lâu đài cũng đã được súng pháo cho vào lịch sử. Sắt rẻ và tốt cũng làm xuất hiện hàng loạt các loại pháo dã chiến.
Trong thế kỷ 18, pháo không còn là vũ khí lạ nữa mà dùng phổ biến và chia ra nhiều loại chuyên nghiệp. Ngoài cối, lựu và thần cơ, pháo còn tuân theo cách chia theo tính cơ động.
Pháo pháo đài: đặt cố định, nòng rất to nặng, sức mạnh. Pháo có giá quay hướng và ngỏng tầm. Hướng cũng chỉ quay được chút còn tầm chỉnh bằng đắp đất vào đuôi thân pháo. Sau này, pháo pháo đài được dùng cái xe giá có 4 bánh nhỏ (xe này thì từ Đông sang Tây đều giống nhau), Piotr cải tiến thành cái xe bánh lớn dã chiến nhưng vẫn giữ cái thân giá đó, xem mấy khẩu pháo gang trang trước. Việc đặt loại pháo cụ này trên xe gặp nhiều vấn đề.
Pháo tầu, hải pháo: cũng to nặng nhưng không bằng pháo pháo đài, chỉ cần chỉnh tầm, thậm chí không chỉnh tầm. Cũng có thể có xe 4 bánh nhưng ít.
Pháo trận địa, pháo vị trí (position): ngựa kéo đến trận địa pháo dã chiến, nhưng khi chiến đấu thì nằm yên trong đó.
Pháo dã chiến: kéo theo trận đánh. Field gun còn được dân lười học ngu si dịch thành "pháo đồng", "pháo bãi", "pháo ruộng", "trường pháo"... nhưng tiếng Việt chuẩn là "Dã Pháo". Hồi này bộ giáo dục nhà ta phát triển, dân lười học ngu si đắc chí nên ngôn ngữ cũng lộn xộn.
Pháo tầu thì chủ yếu là thần cơ, bắn đạn động năng phá tầu địch. Pháo pháo đài cũng là thần cơ bắn đạn đặc chống xe công thành và tầu địch.
Pháo trận địa thì có cả lựu pháo, thần cơ pháo và loại pháo đặc biệt bắn đạn ria (ta sẽ đề cập sau).
Pháo dã chiến thường là lựu pháo và pháo bắn đạn ria. Loại pháo thần cơ dã chiến trang trước chúng ta thấy nhiều, là kẻ thù của thành quách lâu đài, nó làm những thứ đó hết thời nhưng đến khi thành quách lâu đài không còn thì thần cơ dã chiến cũng hết thời. Chúng chỉ đắc dụng trở lại 200 năm sau đó khi thứ thành di động là xe tăng và battleship tham chiến. Thần cơ nhạt làm ảnh hưởng của Hồ Nguyên Trừng nhạt đi trong pháo châu Âu cuối Thế Kỷ 18. Tuy nhiên, lựu pháo và pháo bắn đạn ria vẫn thừa kế tất cả những tiến bộ của ông, trừ các miếng gỗ lèn.

Chúng ta sẽ đề cập về cối ngõng và cối khiên sau này.  Ở đây chỉ đề cập đến bánh xe.
Hải pháo, pháo tầu. Hải pháo là loại Thần Cơ pháo bắn đạn động năng, thường là đạn đá, gang đặc. Hải pháo có nòng rất dầy, tỷ lệ chiều dài nòng/đường kính lớn, sơ tốc lớn. Hải pháo thường rất nặng so với các dã pháo cùng cỡ, thường để cố định trên tầu. Thời "Ship of the line" thì Hải pháo không có chỉnh hướng, thậm chí không có cả chỉnh tầm.
Đây khà khẩu Hải Pháo kiểu 1833 bằng đồng thau, 77mm, 3 cân Anh, nòng nặng 272kg, nòng dài 150см, đúc năm 1837.
Link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1833.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e8/3-%D1%84%D1%83%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1833.jpg/800px-3-%D1%84%D1%83%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1833.jpg)

Bánh xe pháo phát triển.

Không bánh xe
Những khẩu pháo đầu tiên không có bánh xe và giá, hoặc giá đơn giản chỉ là một gối gỗ đá hay đất đắp. Việc vận chuyển chúng rất khó khăn. Ví như, 60 con bò và 400 nhân công cho khẩu "Great Turkish Bombard", đã nói ở đây (http://"http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765").
Pháo được đặt trên bệ đắp đất đá, chỉnh tầm hướng đều đắp thêm hay bớt, hay lấy đòn bẩy pháo trên các bệ này.

Cối đầu tiên cũng vậy, những cối rất khó di chuyển và cho đến hết Thế Kỷ 19 vẫn là đồ cố định. Cối chỉ vận chuyển dễ trong chiến tranh Nga Nhật bằng các cải tiến của sĩ quan Nga. Loại pháo nòng ngắn mỏng bắn ở chân thành đã được nói đến phát triển thành cối ở châu Âu cùng lựu pháo.

Xe giá 4 bánh nhỏ.
Xe bốn bánh, bánh nhỏ xuất hiện từ rất sớm, Thế Kỷ 15 và phổ biến khắp thế giới.
MONS MEG ở lâu đài EDINBURGH
Ở châu Âu, đến Thế Kỷ 17 thì pháo có Giá và Bánh đã phổ biến. Xem ảnh các trang trước. Nòng pháo được đúc hai ngáng hai bên để lắp vào giá (sẽ chụp ảnh giá sau). Giá pháo được đặt trên bốn bánh xe nhỏ. Kiểu giá-bánh này phổ biến khắp thế giới, từ đông sang Tây và vẫn còn ở Viễn Đông như nhà Vịt lạc hậu Thế Kỷ 19.
Giá pháo làm bằng gỗ dầy hoặc là đúc bằng đồng. Trước cao sau thấp trông vuông như hộp.
Bánh xe nhỏ như kiểu bánh xe goòng ngày nay, được làm bằng cách đúc. Kiểu giá pháo này rất nặng mà bánh xe nhỏ kéo cũng rất nặng. Đã thế, mỗi khi vòng chuyển, phải bẩy bánh xe nhấc pháo lên.

Giá bánh có hai chức năng, một là dễ di chuyển, hai là chịu lực guật. Thật ra, các Thần cơ pháo có tỷ lệ khối lượng đạn/súng rất nhỏ, nên lực giật mạnh nhưng động năng giật truyền vào nòng nhỏ và dễ tiêu hao. Điều đó thì tốt, nhưng mà nặng nề.

Dĩ nhiên là 4 bánh xe hộp cơ động hơn là buộc dây vào quai mà khiêng, nhưng cũng chỉ loanh quanh trong thành mà thôi. Việc vận chuyển của các loại pháo nhỏ cơ động vẫn phụ thuộc vào khiêng vác. Pháo lớn thì khiêng vác thủ công bằng cách lấy gỗ làm các đường ray hay con lăn cho chúng.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20771#msg20771

Ảnh khẩu pháo Canada có xe và bánh điển hình. Sau đây sẽ đưa ra ảnh của ngáng pháo.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Canon_sous_la_neige.jpg)

Có lẽ đây là những mẫu cuối cùng của giá càng pháo 4 bánh, bánh nhỏ. Xe không hộp mà có các thanh giằng chịu lực rất khoa học. Xe giá bằng đồng thau, bánh gang. Pháo đúc năm 1787.
Chú ý một điểm là khẩu pháo này có "hàm lượng công nghệ cao"  ;D ;D ;D. Nó có giá chỉnh tầm và ổ ngáng pháo dùng chốt trên. (Chốt đóng vào thanh đồng cong hình chữ U ngược). Khẩu này cũng có cái đầu ruồi nhỏ, nhưng chưa có thước ngắm.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9c/166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9c/166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/166-__.jpg)

Cái ổ ngáng nòng và cái chỉnh tầm. Ổ ngáng nòng có một tấm không rõ gang hay đồng ốp trục. Chố này chốt trên đã tháo.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/o_ngang_chinh_tam_luu_phao_1787.jpg)


Xe giá 2 bánh, bánh xe bò lớn.
Nhưng ngay từ thời xe hộp đã có nhiều pháo nổi tiếng làm bánh to, tuy vẫn là bánh đúc. Ví dụ, khẩu Sa Hoàng Pháo của Kremkin (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Great_Turkish_Bombard/Kanon_in_het_Kremlin.jpg).

Khẩu Sa Hoàng Pháo vẫn dùng xe hộp nhưng có thêm một bánh lái đằng sau. Không hiểu lúc bắn thì nó thế nào ??? vả lại, ảnh chụp không tin cậy lắm vì xe gin của nó làm bằng gỗ đã bị cháy năm 1812. Tuy nhiên, khẩu Thần Cơ lớn nhất thế giới còn lại là Pháo Jaivana (đúc năm 1720) thì có 4 bánh xe tốt, hai bánh trước rất to như bánh xe bò, hai bánh sau nhỏ.
Tuy nhiên, cấu tạo xe giá pháo điển hình phải là loại xe hai bánh có càng. Trang trước đã chụp một số hình của chúng.


Đây là pháo Riga 152mm, vẫn sử dụng xe hộp đồng đúc nhưng hai bánh trước rất to. Cấu taọ gần giống Pháo Jaivana.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-Image-24-_152-_______2.jpg)

Kiểu xe cuả Piôtr đại đế thiết kế cho pháo cỡ lớn. Nó hoàn toàn giống giá càng pháo 2 bánh xe to sau này.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/18-132-2.jpg)

Đây là kiểu bánh xe, giá, càng phổ biến được dùng cho đến hết Thế Kỷ 19, nó xuất hiện từ đầu Thế Kỷ 18.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_day/800px-76-____-1.jpg)



Sửa lại chút hộ bác HP cho lên hình ;)


Tiêu đề: Jaivana. Khẩu Thần Cơ lớn nhất thế giới còn lại.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 04:09:07 pm
Trong số các siêu pháo thời cổ còn lại thì chỉ có khẩu Jaivana thuộc loại Thần Cơ nòng dầy, bắn đạn động năng. Các khẩu pháo lớn khác còn lại đều là nỏng mỏng của thời kỳ chưa có Thần Cơ pháo, mặc dù chúng cúng được dùng bắn đạn đặc công phá bằng động năng nhưng không mạnh, sau kiểu đó dùng để bắn trái phá.

Pháo được đúc 1720, riêng cái nòng đã 50 tấn. Pháo có cấu tạo xe bánh lớn, nhưng vì quá to, người ta không dùng càng mà dùng bánh xe lái nhỏ.  Vào cái năm đó, kiểu xe này là kiểu xe có động rất khá nên trưong lên đây.

Pháo nhồi 100kg thuốc nổ đen bắn đạn cầu kim loại 50kg. Nhưng đạn đi đến 35km và rơi vào một cái làng không may ngay phát đầu tiên bắn thử nên không được dùng. Máy tính ngày nay cũng chứng minh pháo bắn xa như vậy.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Howitzer/Jaivana/2120Jaipur202828352920Jaivana20Cann.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Howitzer/Jaivana/DSC00422.jpg)


Gần nước ta có một khẩu Thần Cơ đúc vào đầu Thế Kỷ 17, bởi một người tầu lưu vong có tên phiên âm sang tiếng Thái Lan là Tok Kayan. Đây có thể là một di dân nhà Minh về Đông Nam Á thời quân Thanh tràn ngập nhà Minh. Người thợ lúc ấy đúc ba khẩu, sau rơi xuống biển một khẩu năm 1785 khi ra trận, và được đúc lại một khẩu tương tự năm 1787.
http://en.wikipedia.org/wiki/Image:Bangkok_Ministry_of_Defence_Cannon.jpg (http://en.wikipedia.org/wiki/Image:Bangkok_Ministry_of_Defence_Cannon.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/ee/Bangkok_Ministry_of_Defence_Cannon.jpg/800px-Bangkok_Ministry_of_Defence_Cannon.jpg)


Tiêu đề: Bánh, giá, càng của loại pháo 2 bánh có càng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 05:33:23 pm
Kiểu pháo hai bánh có càng xuất hiện từ đầu Thế Kỷ 18 ở Châu Âu và trừ đó về sau, chúng trở thành kiểu bánh càng của lực. Chó đến hết Thế Kỷ 19 thì chúng vẫn vậy, sang Thế Kỷ 20 với có kiểu càng cày mới, nhưng đại thể dáng 2 bánh vẫn thế. Tiền thân kiểu bánh càng này là kiểu cải tiến của loại xe hộp 4 bánh nhỏ. Xe hộp vẫn giữ nhưng có hai bánh trước rất to, như các khẩu pháo Riga đầu thế kỷ 17. Tuy nhiên, kiểu thân xe đúc đồng đó vẫn rất nặng nề và chưa có càng thật sự. Piôtr cùng quân đội của ông đã thử nghiệm rất nhiều kiểu xe 2 bánh với càng và chấp nhận loại càng gỗ điển hình hay dùng sau này. Piôtr cũng đã chế ncác kiểu xe, càng, bánh cho pháo cỡ lớn ngày đấy.

Pháo hai bánh có bộ phận quan trọng là hai bánh xe bò lớn. Bánh xe bò có đường kính lớn để kéo cho nhẹ (cái này thì bạn nào học hành nghiêm chỉnh môn vật lý đã chứng minh). Có các kiểu nam hoa gỗ vành gang đắt nhất, vành ốp sắt vằng đinh tán rẻ hơn. Kiểu đắt, khỏe nhất là bánh đúc gang đồng có nam hoa dẹt.
Phần ổ đỡ các bánh có cấu taọ giống nhau, đó là ổ đỡ trượt không bi. Mỗi bánh xe có hai ổ đỡ đặt xa nhau trên một ống gang đúc dài ở tâm bánh xe. Ống gang đúc này được đúc liền với "moay ơ" bánh. Kiểu bánh này rất khỏe, được dùng từ lâu nhưng đắt nên tốc độ phổ biến chậm.

Trục xe cũng bằng gang đúc nằm ngang gầm xe xỏ vào hai bánh. Trên trục xe là giá ngang bắt chặt vào trục. Càng là giá dọc cũng bắt liền vào giá ngang. Càng và giá ngang được ốp sắt tán đinh. Nòng được đặt lên một bộ phần làm bằng đồng hay gang, hai ngãng nòng được lắp vào ổ, đậy nắm trên của ổ và chốt chặt lại.

Càng cống xuống đất sau pháo, truyền lực giật xuống đất. Càng khá nặng để tăng ma sát càng và đất.

Kiểu cấu tạo này là "pháo giá cứng có càng". Khi bắn, pháo lùi lại sau giảm dần tốc độ do ma sát của càng với đất và dừng lại. Pháo thủ nhồi pháo rồi đẩy lên bắn tiếp. Để chỉnh tầm, người ta thay đổi chiều cao đất đắp ở càng. Để đổi hướng thì quay bánh xe. Khi di chuyển, gác càng lên xe ngựa, xe bò... để xe kéo, trên xe chở các thứ khác như thông nòng, cần mồi, cuốc xẻng.

Một số pháo điều chỉnh được tầm bằng cách kê vào sau nòng một số bộ phận, chũng ta sẽ xem ảnh sau.

Loại giá pháo hai bánh, có càng trên được dùng cho các pháo dã chiến và pháo vị trí tron Thế Kỷ 18. Sang Thế Kỷ 19 thì phần lớn pháo là dã chiến và vị trí nên loại giá pháo đó là chủ yếu.

Loại giá pháo này được thay bởi loại có ngõng ngáng chỉnh được tầm hướng, khi cơ khí phát triển trong Thế Kỷ 19.

Ghét cái photobucket quá mà chưa tìm được cái gì hay ho hơn, đành mượn tạm mấy cái này vậy, chũng nó dễ bay đi lắm, mà đến lúc đó thì không sửa được.


Ảnh ở đây lấy trong bộ sưu tập pháo đồng của bảo tàng " Military-historical Museum of Artillery, Engineer and Signal Corps" của Nga. Lấy pháo đồng cho cổ kính  ;D ;D ;D, chứ lúc này pháo sắt cũng nhiều. Đây chính là các lựu pháo dã chiến hiện đại. Người Nga đã phát triển một số lớn lựu pháo dã chiến vào đầu Thế Kỷ 18, đảm bảo cho những thắng lợi quân sự lớn của họ đầu Thế Kỷ 19. Trong lúc này, Anh Mỹ còn đang bám lấy những khẩu thần cơ và pháo bắn đạn ria. Thật ra cũng có lý, vì quân Anh thiên và Hải quân, chỉ cần pháo Thần Cơ mà thôi. Đến giữa Thế Kỷ 19, trong chiến tranh Nga-Thổ thì hai kiểu pháo này mới trộn được vào nhau trong Hải Pháo.
Cũng  vào cuối Thế Kỷ 18 đầu Thế kỷ 19, pháo Pháp tiến bộ vượt bậc trong Cách Mạng. Pháo quân Phổ cũng tiến bộ rất nhanh cùng với sự trao đổi kỹ thuật truyền thống với Nga và ự lớn lên nhanh chóc của nước Đức.



Tiêu đề: Toàn cảnh "Pháo giá cứng" có hai bánh xe bò và càng của Thế Kỷ 18-19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:10:26 pm
Toàn cảnh khẩu pháo lễ đã được bốt trang trước. Đây là khẩu pháo lễ 76mm đúc năm 1709, lúc đó, nó hết sức tiên tiến khi dùng kiểu giá có càng và 2 bánh này.
Cái vòng kim loại đằng sau càng là cái móc buộc dây để treo buộc pháo lên các xe khác. Khi hành quân, càng xoay ngược đi trước bằng cách đặnh treo lên xe ngược bò. Nòng cúi thấp chổng về đằng sau.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/79/76-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)


Tiêu đề: Ổ ngáng nòng pháo Thế Kỷ 19 bằng ốp trục và ốc vít
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:11:52 pm

Đây là hình gần một khẩu lựu pháo 152mm năm 1838. Ốc vít sau này mới có, còn trước đó, chủ yếu là chốt dùng để bắt nòng vào giá.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_1.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_1.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2c/152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_1.jpg/800px-152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_1.jpg)



Tiêu đề: Giá ngang pháo Thế Kỷ 18-19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:15:11 pm
Khẩu lựu pháo 125mm năm 1805. Giá ngang của pháo làm bằng gỗ ốp kim loại bọc quanh trục gang
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/17/125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg/800px-125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)



Tiêu đề: Bắt ốp ngáng trục nòng bằng hai chốt
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:18:07 pm
Khẩu lựu pháo "công nghệ cao 1787" đã bốt trên dùng hai chốt ngoài. Cấu tạo chốt của nó khá phức tạp. Ngáng pháo được lồng vào một vòng tròn vánh khuyên bằng gang thì phải, rồi mới đặt vào ổ, đậy nửa trên ổ rồi đóng chốt.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9c/166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9c/166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)

Kiểu chốt trong dưới đây sau đó được ưa dùng hơn, tuy đơn giản hơn.
Đây là trước khi có ốc vít. Cần biết là đồ cơ khí lúc đó chỉ rèn dập là nhiều. Đồi có giũa mài là trung lưu. Còn đồ có tiện phay là hết sức quít sờ toọc. Cái giá pháo này mất nắm trên của ổ ngáng pháo, nhưng vưỡn còn đủ hai cái chốt. Rút hai cái chốt được mắc bởi xích, đậy cái nắp bị mất vào và đóng chốt lại. Cũng có thể bảo tàng mở ra tế cho bà con dễ hiểu.
Khẩu lựu pháo 107mm cuối Thế Kỷ 18.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/59/107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg/800px-107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg)


Tiêu đề: Pháo giá cứng, thế kỷ 18-19. Bắt ổ ngáng nòng bằng bản lề và chốt.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:20:05 pm
Đây lại là kiểu ổ ngáng nòng khác. Bạn nào quan tâm thi vào đấy mở phân giải hết cỡ nên nhé. Kiểu này rất khỏe. Nó có một bản lề sau và một chốt trước. Cái móc cong con là tay cầm lật bản lề, chốt vẫn có xích.
Khẩu này có máy chỉnh tầm cũng khác. Nó chỉnh tầm bằng cách thay đổi vị trí con kê ở dưới cái vành sau pháo. Cách này làm việc trơn tru hơn khi pháo cũ.
Ngoài cải tiến cách chỉnh tầm, khẩu pháo còn có thường ngắm đầu ruồi trông cũng ngồ ngộ.
Xem cách chỉnh tầm bằng trục vít me đẩy tấm gỗ bọc đồng bài sau. Cách đó không ổn độ bền. Khi bắn, do độ dơ của trục ngáng pháo mà nòng pháo sẽ đập mạnh vào tấm gỗ bọc đồng chỉnh tầm. Đồng điếu và gỗ không cứng bằng nòng pháo đồng thau nên chónh biến dạng, xuất hiện gờ và làm việc không trơn tru. Các xạ thủ thường phải kích nòng pháo nên rồi mới vặn trục vít me khi tấm gỗ chỉnh tầm cũ.

Đây là một trong những khẩu sơn pháo đầu tiên. Thế kỷ 19 xuất hiện sơn pháo (mountain gun), là loại pháo nhẹ dễ dùng súc vật kéo đi trên vùng núi. Khẩu này 122mm, nòng dài 69,5mm, tầm bắn 1800 mét, khối lượng cái nòng 100kg.
Khẩu pháo có kiểu 1838, đúc năm 1853 tại Saint Petersburg bởi Ioganni.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fe/122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg/800px-122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)


Tiêu đề: Pháo Thế kỷ 18-19, chỉnh tầm
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:23:33 pm
Đây là lựu pháo Nga 122mm năm 1805.
Các bạn nhìn cái tay quay chỉnh tầm. Có một bắnh răng hãm ở trước tay quay. Khi muốn quay thì nhấc cái chốt hãm lên, khi hạ chốt hãm xuống thì nó khóa bánh răng lại. Trực vít me đẩy cái tấm gỗ nẹp đồng hình vát lên xuống, đẩy đít nòng lên xuống.  ;D ;D ;D
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/01/125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg/800px-125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)


Tiêu đề: Chỉnh tầm pháo Thế Kỷ 19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:36:44 pm
Cũng như cái chỉnh tầm trên, nhưng trục vít me được cắm vào một xà ngang có có cái tay quay thò ra bên sườn pháo đó. Kiểu chỉng tầm này quay thoáng hơn chứ.
Đây là khẩu lựu pháo 152mm kiểu 1832, đúc năm 1849 tại Quân Xưởng  Bryansk , bởi  Nazaro.
Kiểu pháo này đã bỏ cánh vành đuôi truyền thống của lựu pháo Nga đặc trưng của Thế Kỷ 18.
Nòng phháo cũng có đầu ruồi và thước ngắm đúc liền. Thước ngắn chỉ là một cái khe để lắp thước ngắm thật sự lên.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_2.jpg. (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_2.jpg.)
Đây là toàn cảnh khẩu này.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/70/152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/70/152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/36/152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_2.jpg/800px-152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_2.jpg)


Tiêu đề: Thêm hai bánh. Gun-carriage. Pháo Thế kỷ 18-19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 09:57:57 am
Người Nga nổi tiếng có giông ngựa thồ và kiểu xe ngựa 4 bánh. Pháo cũng vậy.
Như trước đã nói, sau càng pháo có vòng, móc bược dây để treo buộc vào xe ngựa xe bò. Còn đây là kiểu xe của pháo đã được thiết kế sẵn 4 bánh, có trục chuyển hướng. Khi hành quân, chỉ việc lắp thêm hai bánh vào càng.
Đây là khẩu 192mm nhồi một pút (16,5kg), lựu pháo. 2199kg, đúc năm 1854 ở  St. Petersburg bởi Shramchenko, tầm xa 2770 mét. 

Thông thường, pháo lớn có 4-5 loại đạn, khi cần thì nó sử dụng đạn nổ phá sát thương, nhồi ít hơn. Khi công thành thì dùng đạn đặc. Thước ngắm gập lên được.

Có thể nói, đây là khẩu pháo lai giữa bắn đạn động năng và đạn trái phá. Giống như Đ-30 122mm sau này.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%BB%D0%B0%D1%84%D0%B5%D1%82%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%BB%D0%B0%D1%84%D0%B5%D1%82%29.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/1_puts_coong_thanhf_phaos_1838_1-1.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/1_puts_coong_thanhf_phaos_1838_192m.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/1_puts_coong_thanhf_phaos_1838_1-2.jpg)


Đây là hình vẽ của Đức
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Gesch%C3%BCtzbedienung.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Gesch%C3%BCtzbedienung.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/52/Gesch%C3%BCtzbedienung.jpg)


Tiêu đề: Sắt, toán học và kỵ binh với Pháo Thế Kỷ 19.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 11:04:17 am
Kiểu pháo dã chiến lai giữa Thần Cơ Pháo bắn đạn động năng đặc và Lựu Pháo trái phá sát thương đến Thế Kỷ 19 rất phổ biến. Nhờ đó, người ta đỡ phải đúc cả hai khẩu mà vẫn có lực lượng pháo binh mạnh.

Mặt khác, kiểu pháo nằy đánh dấu một bước phát triển mới về hình dáng nòng. Trong Thế Kỷ 19, việc dùng toán học nghiên cứu về pháo đã hoàn toàn thay thế kinh nghiệm của thợ đúc. Chúng ta sẽ trở lại về nòng pháo theo các thời kỳ sau này.

Sắt
Việc dùng gang đúc pháo phổ biến ở thời nhà minh. Bắt đầu từ những công trường thủ công khổng lồ thời Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn An, Trịnh Hòa. Trờng thời gian đó, Hồ Nguyên Trừng đứng đấu ngành cơ khí-chế tạo máy-luyện kim, nói theo kiểu ngày nay (và tất nhiên đắp thành đào mương luôn thể, tất cả những gì về công nghiệp). Tiếp theo, nhà Minh phát triển cực thịnh. Thời đỉnh điểm của nhà Minh, sản lượng gang theo đầu người đạt đến 10kg/đầu nười/năm. Đây là con số khổng lồ thời đó, và càng khổng lồ hơn khi sản lượng này tập trung trong tay quân đội và ở những thành phố trung tâm. Về kinh tế, sản lượng gang lớn này cho phét kinh tế tư bản chớm phát triển với nhứng công trường thủ công lớn. Về quân sự, pháo nhà Minh vượt trội vì gang tốt và nhiều.

Pháo châu Âu Thế kỷ 17 vẫn chủ yếu dùng đồng, khi mà nhà Minh sắp sụp đổ. Sang Thế Kỷ 18, châu Âu rất nhiều súng đạn, nhiều hơn Minh Thanh và các trận chiến quan trọng chuyển ra ngoài đồng chứ không còn bên chân thàng nữa. Những khẩu pháo dã chiến lại cần nhẹ. Người ta chưa đủ kỹ thuật để đúc những khẩu pháo gang chính xác, dẻo, nhẹ, dai... để di chuyển, pháo gang chủ yếu được dùng làm các pháo cố định hay trên tầu (cũng là cố định). Thế là, Nga, Đức, Áo, Hung... những nước thiên về chiến tranh trên bộ dùng rất nhiều pháo đồng thau. Trong khi đó, Anh, Pháp, Mỹ đúc rất nhiêu cỗ pháo lớn bằng gang. Điểu này ngẫu nhiên, lại kích thích sự phát triển công nghiệp luyện gang thép của họ, then chốt cho cách mạng công nghiệp đang chớm nở. Trong Thế Kỷ 18, thép dần dần rẻ đi nhờ các phương pháo nấu nhiệt độ cao, thổi gió mạnh. Nhưng sản lượng thép vẫn còn rất ít và chất lượng thấp, sắt vấn dùng chủ yếu dưới dạng gang.

Đầy Thế Kỷ 19, người Anh và Pháp phát minh ra các lò luyện thép lớn, từ đây, người ta dễ dàng có ssản lượng hàng ngàn tấn thép một năm. Tiếp theo phương pháp Mác-tanh của người Pháp cho sản lượng cao hơn và chất lượng thép tốt, ổn định, chính thức bắt đầu thời kỳ đại công nghiệp.

Những Hải Pháo gang thép phát triển nhanh chóng và trở thành những cỗ máy chiến đấu khổng lồ, ta sẽ đề cập sau này.

Dã Pháo đa năng được chuộng, toán học phát triển rộng.
Năm 1938 Nga thống nhất lại súng pháo, các súng pháo này gọi chung là kiểu 1838. Nhưng đây là lần cuối cùng đồng được dùng nhiều. Thời điểm này cũng đánh dấu kiểu pháo lai Thần cơ-Lựu pháo được ưa chuộng. Đây là loại pháo khi cần bắn đạn đồng nặng sẽ nhồi nhiều, dùng đạn đặc. Khi cần bắn trái phá thì nhồi ít. Nòng pháo giống nòng Thần Cơ nhưng khoa học hơn.

Đặc biệt, trình độ văn hóa chung của xã hội tiến vượt bậc. Phần lớn sỹ quan, khẩu đội trưởng đã biết chữa và tính toán những phét tính đơn giản. Điều quan trọng nhất được phát minh ở Nga lúc này là các hiệu lệnh, ký hiệu, cọc chuẩn. Nhờ đó, một người chỉ huy lớn có thể ra lệnh rõ ràng cho một trận địa pháo về vị trí mục tiêu. Chỉ huy trận địa pháo dễ dàng tính toán và ra lệnh cho các khẩu đội tốc độ bắn, tầm, hướng và hiệu chỉnh.

Kỵ binh
Tầm lựu pháo lúc này là khoảng 1-2km, đủ với bộ binh địch nhưng quá thiếu với kỵ binh. Một đoàn kỵ binh dễ dàng xung phong đến trận địa pháo mà pháo mới bắn được 1/2 quả mỗi khẩu. Do đó, kỵ binh vẫn còn đặc dụng cho đến đầu Thế chiến II của Thế kỷ 20.

Mặt khác, các trận đại pháo cũng được xây dựng tốt với chông rào vật cản, hào lũy và bộ binh bảo vệ. Đặc biệt, chông xung phong có các loại pháo bắn đạn ria rất đáng sợ, chũng cũng dã chiến đi theo lựu pháo, ta sẽ đề cập sau.

Lúc này, Viễn Đông đang chìm đắm trong hủ nho, mịe !!!!!! 2500 năm không thèm học toán và tỷ lệ người biết chữ dưới 1%. Học trò Khổng Phu Tử không thèm biết chữ và nhìn chung không thèm biết làm gì ?????? Đừng nói đúc pháo, có pháo mà không ai bắn được, ngoài việc bắn không cần tính biểu diễn. Chó đến đầu Thế kỷ 20, Tầu và Vịt vẫn bị bọn hủ nho ngu muội như vậy che mắt. Ví như Định Viễn với Trẫn Viễn sau này, các võ quan nhà Thanh oai phong lẫm lẫm bắn không phát nào trúng.
Có lẽ phải đề cập đến bọn hủ nho này, Hồ Nguyên Trừng đặc biệt là kẻ mà bọn hủ nho ta và tầu ghét nhất.

Quạt gió bằng máy là một trong những chìa khóa để luyện ra gang tốt và tăng sản lượng thép từ gang. Trang Tầu năm 1313 , triều đại nhà Nguyên. Nguyên Triều thu thập rất nhiều tinh hoa kỹ thuật Á Âu đem về Đại Đô.
http://www.waterhistory.org/histories/waterwheels/
(http://www.waterhistory.org/histories/waterwheels/waterwheelill3.small.gif)


Tiêu đề: Pháo thép. Súng kíp thép người Mèo đi trước thời đại.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 11:19:20 am
Trong khi gang giòn xấu không thích hợp với những khẩu pháo cơ động nhẹ thì thép quá sịn so với đồng. Thép khỏe hon, nhẹ hơn và giờ đây có rất nhiều.

Thời đại đồ sắt của dụng cụ bắt đầu từ trước công nguyên vài trăm năm với thứ "thép dụng cụ" được luyện từ gang qua phương pháp rèn dập. Phương pháp luyện thép cổ đại nhất đó vẫn còn tồn tại cho đến nay qua cách luyện kiếm Nhật, lưu truyền trong các nước Thổ Phồn, Hung Nô, Mông Cổ, và Hàn Nhật Thanh (vùng thổ công nhà chúng ở Mãn châu). Tuy nhiên chỉ đến thế kỷ 19 thì thời đại đồ sắt mới thật sự bắt đầu trong nòng pháo, bằng lò Mác-tanh. Trước đó, các loại súng pháo thép cực đắt.

Ngay cả súng trường thời đầu cũng phần lớn là nòng gang đúc, chung công nghệ với Hỏa Thương. Thời Minh, Súng trường thép đã xuất hiện bằng thép luyện kiểu rèn dập. Việc xuất hiện súng kíp gắn liền với lịch sử đau thương của dân tốc Mèo. Đây là một phát minh vĩ đại hồi đó, nhưng người Mèo trong con đau thương cực điểm đã giữ bí mật vũ khí tuyệt đỉnh này.
Các nhà sử học gà vịt thường nhăn trán tìm hiểu nguyên nhân người Mèo di cư về phương Nam và chỉ ở trên đỉnh núi cao, với những dấu hiệu và văn hóa hết sức bí mật ???? Mịe, mấy thằng hủ nho đó giả vờ ngu hay là ngu thật đây !!!! Con quỷ tầng địa ngục 18 là Trương Phụ  lợi dụng ưu thế của súng pháo tàn sát Miêu Choang, chúng đầu độc tất cả các nguồn nước, theo báo cáo của Trương Phụ thì dân Miêu Choang 10 phần đã chết 9 (còn một phần hắn không báo cáo chắc tự tử !!!). Ở ta cũng vậy, vùng châu thổ sông Hồng vốn thịnh vượng thời Hồ Trần: "đắp xác người thành núi, quấn ruột người thành cây to, rán mỡ người, mổ bụng người chửa cắt tai mẹ con lĩnh thưởng"...   để Trương Phụ chơi vui. Mà mịe cái con quỷ này, suýt nữa thì nhà ta giết được nó báo thù, sao mà nó lại sổng.
Nhưng Trương Phụ đã không giết được hết người Mèo, họ sống trên những đỉnh núi cao, trong cuộc sống tự cung tự cấp.
Trương Phụ tâu xin đem Hồ Quý Ly đến Quảng Tây-Vân Nam để  lung lạc người Miêu Choang: một tấm gương bại trận. Không hiểu ông có di không, lúc đó ông đã hơn 70 tuổi, sau này HP chỉ biết được ông cải táng trên núi Chung Nam ở Nam Kinh, còn không hiểu "an táng" lần đầu ở đâu. Giam em và cha là một biện pháp nhà Minh trói buộc Hồ Nguyên Trừng, nhưng ông vẫn "không nộp lý lịch" cho đến khi mà nhà Minh phải gọi ông là "con vương tử An Nam", ít ra là công nhận trong triều đại nhà Hồ trong sử và giấy tờ. Rồi người Việt cũng làm cho Minh Triều phải nản chí. Tuyên Đức sai những tướng hiếu chiến nhất ra trận, rồi Liễu Thăng cụt đầu, rồi sau đó công nhận Đại Việt cùng với thi hành các chính sánh "để yên cho các nước ở xa" (cái kiểu này giống Đặng Tiểu Bình ghê).
Người Mèo sau đó chỉ sống trên những đỉnh núi cao-nơi nguồn nước không kẻ thù nào đầu độc nổi, đem theo văn hóa riêng và di cư về phương Nam. Còn nhiều dân tốc nữa di cư đợt này cùng với người Mèo. Họ đi mãi, ở lại trồng trọt vài vụ, đất cằn lại đi, mang theo và hoàn thiện dần súng kíp, cùng với kỹ thuật luyện thép bí truyền. Súng kíp của người Mèo được sản xuất bằng công nghệ súng trường hoàn chỉnh, đó là làm bằng thép và khoan nòng chứ không đúc. Tương truyền rằng, người Mèo phải mất rất nhiều công phu để có được thép làm nòng súng (bằng phương pháp rèn dập khủng khiếp). Nhưng chưa bằng khoan, tương truyền rằng, khi con trai "nhơn nhớn", bố con người Mèo thịt một trâu, lấy da cắt nhỏ thành dây khoan, và khoan hết da con trâu thì được cái nòng súng !!!!!!! Súng kíp là tiến bộ vượt bậc so với các súng hỏa mai đá lửa của châu Âu.     


Nòng khẩu pháo thép nhồi 6kg, 120mm, loại Dã Pháo. Nòng dài 188cm, nặng 530kg, đúc năm 1860 tại nhà máy "Hòang Tử Mikhailovsk". Khẩu này đã bắn biểu diễn ở Triển Lãm Quốc tế London 1862.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/e4/%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/e4/%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e4/%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg/800px-%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)


Tiêu đề: Dã Pháo Field Gun và Lựu pháo, "dã lựu pháo" Thế kỷ 18-19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 12:19:19 pm
Cái này thì mấy cái nồi hông đặt trên đầu khố đỏ khố xanh bùn cừi buò ra, đạn ca Trần Đoàn Đạo Sĩ bắt tớ gọi chúng là vịt ngan cọng hành, tớ không chịu. Vịt và Vịt Chúng là tên dễ thương gọi đàn vịt nằm trên mảnh đất lưng dài. Có gọi chúng nồi hông là vịt lạc loài may ra thì được.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D
Dã pháo tiếng Mỹ là Field Gun, pháo đồng, pháo ruộng, pháo bãi, trường pháo (trường là bãi).... Và được mấy cái nồi hông nhồi sọ gọi bằng những tên dễ thương như vậy .... ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D.

Thật ra, đây là loại pháo hỗ trợ bộ binh. Cấu tạo và nguyên lý chiến đấu của nó ngày nay hoàn toàn khác và không thể là pháo ruộng được nữa, mà đúng hơn ngày nay là pháo vị trí (position ) của Thế Kỷ 18. Nhưng Dã Pháo Field Gun vẫn thừa kế tên cổ theo chức năng. 300 năm tuy dài, nhưng cái tên khó bỏ.

Bọn ngu si đần thộn wiki thường có nhiều cãi cọ về tên các loại pháo, đặc biệt là Dã Pháo Field Gun. Chúng thường cãi cọ nhiều nhất xem đâu là lựu pháo, đâu là tăng pháo  ;D ;D ;D, đâu là dã pháo !!!!!!! mà không biết rằng các khái niệm này không tách rời dễ hiểu như âm và dương (mà, mịe bọn ngu si không bít, trong âm có thái dương !!!!!! ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D, chả có cái nào rõ ràng cả). Một khẩu pháo vừa có thể là dã pháo, vừa là tăng pháo lựu pháo, như khẩu Đ-30 122mm thừa kế pháo trên xe IS-2.

Một cái nữa mà mấy chú ngu si hay "tim hiểu" là lựu pháo hay dã pháo có từ bao giờ ????? rồi lũ ngu si soi sách vở tìm cho ra ngày xuất hiện của nó ????? !!!!! Lự pháo và dã pháo có từ ngững ngày còn máy bắn đá, những pháo dùng thuốc nổ đẩy đầu tiên đã có những loại nhẹ và bắn trái phá. Chỉ có điều, gang làm trái phá còn rất đắt nên lựu pháo chỉ được dùng nhiều từ Thế Kỷ 18.
---------------------------------------------------


Không được liền mạch, chúng ta đã nói về nguồn gốc lựu pháo ở đây. Lựu pháo châu Âu thừa kế pháo nòng mỏng ngắn trước khi có Thần Cơ từ phương Đông truyền sang. Lựu pháo được dùng nhiều vọt lên trong Thế Kỷ 18 bởi gang làm đạn nhiều lên. Trang trước, đã có một lô ảnh xe của "dã pháo" và nòng "lựu pháo" đặt trên xe đó, thành "dã lựu pháo".
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21094#msg21094
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21095#msg21095
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21185#msg21185

Thêm một cái ảnh về pháo nòng mỏng ngắn Thế Kỷ 15. Chúng có thể được chế tạo sau đó nhưng đều cấu tạo nòng mỏng ngắn, có buồng đốt thu hẹp phía sau, bắn đạn rất lớn công thành. Tốc độ bắn vài viên một ngày.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Cannon_in_Gent.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Cannon_in_Gent.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d4/Cannon_in_Gent.jpg/800px-Cannon_in_Gent.jpg)


Thêm một cái ảnh nữa để có cái nhìn đầy đủ về loại pháo nòng mỏng ngắn có buồng đốt nhỏ sau nòng. Buồng đốt nhỏ làm giảm đáng kể khối lượng pháo, khi bắn đạn cầu đường kính lớn cần nòng lớn. Chế độc cháy của thuóc cũng ngon lành hơn. Các khẩu pháo này hoàn toàn có thể bắn được đạn trái phá. Cái tiến bộ chậm là số lượng đạn chứ không phải kết cấu súng đạn, vì trái phá gang rất đắt chỉ được đáp ứng trong Thế Kỷ 18. Những khẩu lựu pháo ban đầu không khác gì những khẩu đại pháo công thành này cả, chỉ trong Thế Kỷ 18 chúng có thêm xe trở thành Dã Pháo mà thôi.
Khẩu pháo "Pháo lớn của các hiệp sĩ thánh Jon tại Jerusalem" (Knights of Saint John of Jerusalem). Nặng  3,325 kg, bắn đạn đá 260kg đi xa 100-200mét. Có thể pháo được đúc từ 1480 đến 1500. Người đặt hàng là thủ lĩnh băng đó, Pierre d'Aubusson. Pháo hiện đặt tại bảo tàng Musée de l'Armée.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:PierreD%27AubussonArmoiries.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:PierreD%27AubussonArmoiries.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2c/Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg/300px-Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg)

Trong Thế kỷ 18, Thần Cơ Pháo làm được sự nghiệp lẫy lừng, là đưa thành quách lâu đài vào trong sách sử, đuổi chúng khỏi sách quân sự "tân thời hiện đại". Tuy nhiên, khi các trận đánh chuyển ra cánh đồng, bãi chiến trường, thì Thần Cơ pháo chỉ bắn được đạn xuyên thất nghiệp. Thần Cơ pháo chỉ còn được dùng nhiều trên pháo đài, chiến hạm...

Phía Đông châu Âu là các nước có truyền thống tuyệt vời về vũ khí: Thụy Điển, Nga, Đức, Áo, Hung....thiên về đánh bộ chứ không đánh biển. Họ phát triển các loại pháo dễ kéo trên đồng rộng và sát thương cao. Pháo dễ kéo trên đồng rộng, đó là các dã pháo. Pháo sát thương bằng trái pha, đó là các lựu pháo.  Chũng ta đó có mhàng loạt ảnh về các dã-lựu pháo này. Đến cuối thế kỷ 19 thì chúng trở thành loại pháo chủ lực trên bộ. Thần Cơ ít được sản xuất dần.

Mịe cái phô tô bu kẹt. Chưa tìm ra cái picture server nào tử tế, pà con ai bít mách nhé.
Trên các bài có link trên, HP đã nói về sự phát triển của nòng của loại pháo nỏng mỏng ngắn. Nó thừa kế nhiều kỹ thuật của loại Thần Cơ nòng dầy bắn đạn động năng truyền từ Viễn Đông sang. Dến Thế Kỷ 18, nòng lựu pháo dần hình thành như thế này. Kiểu buồng đốt bé nhồi ít thuốc có từ "Great Turkish Bombard", MONS MEG ở lâu đài EDINBURGH (Anh). Lúc đó, người ta làm buồng đốt nhỏ để dễ nhồi ít, nhồi ít để bắn loại đạn động năng đập thành to khủng bố mà nòng không vỡ. Nay nòng không sợ vỡ nhưng nếu nhồi nhiều thì trái phá nổ trong nòng.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765

Cấu tạo của nòng lựu pháo Nga Thế Kỷ 18-19.

Đây là mặt cắt của Lựu Pháo Thế kỷ 18 và đầu Thế kỷ 19. Kiểu nòng này xuất hiện hình như trong thời đầu của Thế Kỷ 18, nó thịnh thành cho đến những năm 18...234...x, được thay dần bởi loại lựu pháo lai Thần Cơ pháo, có nòng giống Thần Cơ Pháo nhưng mỏng hơn.

Xuất phát từ pháo nỏng mỏng ngắn, nhưng Lựu Pháo thế kỷ 18 có cấu tạo nòng ưu việt hơn. Nhờ đó, pháo có tỷ lệ chiều dài nòng lớn hơn và nhẹ hơn. Tiến bộ lớn có thể quan sát thấy chiều dầy pháo thay đổi hợp lý, buồng nổ rất dầy nhưng phần gần miệng nòng mỏng.
Cũng vì cái nòng mỏng tang này mà gang xấu không dùng được cho các pháo dã chiến. Kiểu nòng mỏng tang ba khúc này cũng ưu việt hơn nhiều so với các lựu pháo Anh và Pháo đương thời.
Thế Kỷ 18, lựu pháo châu Âu vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý về chiều dài nòng. Đến Thế kỷ 19, nhờ sự can thiệp của các nhà toán học mà lựu pháo có mặt cắt nòng hoàn thiện hơn. Điều này chũng ta sẽ nói sau.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/ec/M%E1%BA%B7t_c%E1%BA%AFt_l%E1%BB%B1u_ph%C3%A1o_TK_18-19.JPG)

Tớ vẽ xấu  ;D ;D ;D ;D, ý tớ định vẽ là nó mỏng hơn Thần Cơ pháo.
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/thaanf_cow_thuwowng_phaos_vowis_-1.jpg

Đây là một hình ảnh cùng thời với Dã-Lựu pháo Nga. Cái phần đằng sau thuôn thuôn cho phép nòng nhẹ bớt đi, bên trong là buồng đốt thu nhỏ dần lại. Phần đó xuất phát thừ Pháp nên thường gọi những nòng có cái đó là nòng Pháp. Một điểm nữa là lỗ mồi di chuyển về sau rên một cái "mộc nhĩ" thò ra ở đuôi pháo.
Nhưng những khẩu pháo, kể cả muộn hơn của Pháp lại không có phần quan trọng hơn, tức là phần cuối nòng phình ra khum khum rất hợp lý, làm pháo nhẹ và cơ động. Các nòng lựu pháo Pháp này ngoài cái đuôi vót ra thì vẫn hoàn toàn là nòng Thần Cơ nặng nề.
Khách sạn Invalides Pháo, khẩu gần nhất là lựu pháo.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides_cannons.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides_cannons.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/b6/Invalides_cannons.jpg)


Loại lựu pháo Howitzer tiên tiến bắn được như thần cơ, pháo lai Thần Cơ và Howitzer
Trong Thế Kỷ 19, chủ yếu nhờ có thép, hai loại pháo này nhập làm một khẩu (tuy nhiên, vẫn có nhiều nòng đồng đa năng). Những khẩu kiêm chức năng bắn đạn động năng và đạn trái phá có cấu tạo nòng giống như Thần Cơ Pháo, nhưng làm từ gang đồng sắt tốt hơn, nòng mỏng hơn, đường kính trong lớn hơn. Người ta có đến 4-5 loại đạn cho chúng.
Đây là một tiến bộ vượt bậc, trước đó, lựu pháo vẫn phải nhồi ít thuốc bắn đạn đập đất nảy lên tăng tầm, vì sơ tốc quá thấp. Tiến bộ này được Nga Pháp ứng dụng đầu tiên, nhưng Nga sau đó ứng dụng rộng rãi hơn vì  sau 1815 Pháp suy yếu chút. Còn lựu pháo Anh thì vưỡn tiếp tục rất còi vì họ chỉ chăm chăm vào làm Thần Cơ đi đánh Ấn Độ với Tầu, xây dựng Hải Quân Hoàng Gia. Từ đây, lựu pháo loại vừa dã chiến có thể đạt tầm bắn gần 2km.

Lựu pháo lai Thần Cơ Chủ yếu là 3 loại đạn:

Trái phá. Đạn cầu gang rỗng, có một cái lỗ tra ngòi. Ngòi cũng bằng gang, có lỗ đổ đầy thuốc cháy chậm. Khi nạp đạn để hướng ngòi phía sau, nhờ đó ngòi cháy khi bắn. Tương truyền rằng Nã Phá Luân và tướng của ông đã mấy làn chán đời ngó trân trân viên đạn đang cháy ngòi (nhưng không chết). Khi bắn trái phá thì nhồi ít thuốc, lượng nhồi ghi trên nòng pháo. Với pháo nhỏ không sao, trái phá lớn có thể nổ ngay trong nòng rất nguy hiểm.

Đạn xuyên (đập thì đúng hơn), đạn cầu không có thuốc, Nhưng đạn không đặc, đạn được làm rỗng để chỉnh khối lượng theo yêu cầu. Khác với đạn Thần Cơ đặc thoải mái. Khi bắn đạn này nhồi nhiều thuốc nhất. Đạn này dùng để công phá thành trì, tầu thuyền, xe công thành... của đối phương. Đạn xuyên đập kiểu này vì thế không ưu việt như đạn của Thần Cơ Pháo. Nhưng trong một trận công thành chẳng hạn, một khẩu pháo làm hai nhiệm vụ thì sức mạnh mỗi nhiệm vụ nhân đôi với cùng số pháo.

Đạn xuyên phá (đập phá thì đúng hơn  ;D ;D ;D), giữa hai loại đạn trên, xuyên vào trong tường đất mới nổ. Loại đạn này ít được dùng vì công phá yếu.

Đạn xuyên phá chỉ được dùng khi bắn động nặng rất mạnh bởi Hải Pháo của Henri-Joseph Paixhans người Pháp.



Tiêu đề: Cách chiến đấu văn hóa cao, phương Đông bị thối rữa trong hủ nho.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 02:19:13 pm
Thành quách hết thời, lôi nhau ra ruộng tẩn.

Một điểm quan trọng nhất với dã pháo và tính toán. Dã pháo thời này đều có thước ngắm đầu ruồi đúc trên nòng. Đến Thế Kỷ 19 đã có thước ngắm gập (như súng cá nhân ngày nay). Chúng ta cần hiểu là pháo binh ngày đó không ngồi ở hậu phương, cách mặt trận nhiều cây số như ngày nay. Tầm bắn ngày đó chỉ vài trăm mét đến 1-2km, pháo thủ và địch quân nhìn rõ nhau. Một trận đánh pháo cũng như việc điều quân kỵ bộ, cần nhanh chóng khẩn cấp. hệ thống hiệu lệnh, công thức tính nhanh, cọc chuẩn... được thiết kế và phát triển. Quan trọng nhất là trình độ văn hóa của xã hội phát triển, nhiều người biết chữ. Đây là một trong những mấu chốt làm pháo Viễn Đông tụt hậu. Ơn bọn hủ nho ngu hèn, dân chúng không thèm học toán và cả nước Vịt hay Tầu chắc kiếm được vài chàng khẩu đội trưởng.

Vào Thế Kỷ 18, những trận chiến của Lục Quân dần trở nên thú vị với những cuộc chiến bài binh bố trận ngoài đồng, không còn ở chân thành quách nữa. Công sự đắp đất thấp và đào như hào cũng xuất hiện. Đầu Thế Kỷ 19, Pháp Nga lôi nhau ra chưởng những trận chiến kinh khiếp nhất kiểu này. Dưới trướng Nga có Phổ, Áo... và dân Đông Âu, Anh tham chiến đoạn cuối. Nga tham chiến trong Đại chiến Bắc Âu thời Piôtr giành thắng, rồi thế kỷ sau lại thắng tiếp Nã Phá Luân, thế là họ trở thành Siêu Cường châu Âu. Đứng từ tong nòng pháo nhìn ra, thì người Nga đã xây dựng được một lực lượng pháo binh khổng lồ, tân tiến và một lực lượng pháo thủ "thông thái" (biết cả chữ !!!), ngày đó, đó là một trong những tiêu chí tiến bộ xã hội khó kiếm, đảm bảo cho Pháo Binh hoạt động. Ta thử hình dung ra nhà Thanh có ngần đó pháo, họ lấy đâu ra hàng ngàn khẩu đội trưởng biết chữ và biết tính toán tầm hướng !!!!!!! Đến tận gần Thế Kỷ 20, Trẫn Viẽn với Định Viễn bắn toàn trượt.

Dễ dàng hình dung ra hình ảnh những cuộc chiến ngày đó. Pháo địch và mục tiêu đều nằm trong tầm nhìn và độ 1-5 phút phi ngựa nước đại. Trong khi đó, pháo bắn chỉ vài phút một quả (chớ nhầm với vài quả một phút ngày nay nhé, tốc độ đó hơn chán vạn một ngày 7 quả của Thế Kỷ 15 rồi). Nhiệm vụ của lựu pháo là hỗ trợ kỵ bộ binh, cần chuyển làn liên tục trong những diễn biến ngắn, sôi động. Những cuộc chiến kiểu này làm nổi bật vai trò của các tướng. (Như bại tướng Nã Phá Luân chẳng hạn !!! ;D ;D ;D ;D, thật ra gãn này cầm quân tốt, nhưng chỉ cầm quân trong trận thôi, còn cầm quân ở phòng giấy thì siêu ngu, nên mới ném mịe nó quân đi tuốt ở Ai Cập, Nga...).
Điều quan trọng là bọn văn (giống hủ nho phương Đông), không nói đến là hệ thống tín hiệu, chửi bọn văn sĩ ngu si thì có mà đến sang năm.

Cuối Thế Kỷ 18, súng trường cũng đã trở thành vũ khí chính, thay cho guơm giáo. Nhưng kỵ binh phi lao và dùng kiếm vẫn còn đắc dụng đến trước Thế Chiến 2 của Thế Kỷ 20.

Tổ chức pháo binh trong tình hình mới.
Để tuyền lệnh được dễ dàng, pháo binh cần tổ chức lại.

Người ta tổ chức pháo binh thành những tiểu đoàn (batation), mỗi tiểu đoàn chia ra làm nhiều ổ pháo (battery), mỗi ổ pháo có "ổ trưởng" và mỗi khẩu pháo có "khẩu trưởng", đều biết chữ cả. Phân biệt giữa ổ và tiểu đoàn ở chỗ, trong ổ, tất cả các khẩu pháo đều bắn vào một mục tiêu.
Các khẩu trong ổ làm chung một công sự.
Các công sự của Tiểu đoàn làm cạnh nhau thành một "trận địa pháo". Trận địa pháo có chông rào hào và bộ binh bảo vệ. Quan trọng trong bảo vệ nữa là có pháo bắn đạn ria. Về nguyên tắc, lựu pháo bắn được đạn ria nhưng có những loại chuyên nghiệp làm chuyện đó.

Nôm na thế này:
Chỉ huy pháo binh nhận được lệnh của Nguyên Soái: bắn vào quân địch trước mặt Đại Tướng xyz.
Chỉ huy pháo binh ra nhiều lệnh, trong đó có: tiểu đoàn n bắn cho tôi 4 khối ô vuông quân địch số pqr.
Chỉ huy tiểu đoàn n ra nhiều lệnh, trong đó có: ổ pháo abc, hướng a123, tầm b123, tốc độ bắn c123 quả một loạt.
Chỉ huy ổ cầm cờ ngoáy ngoáy theo quy định, lập tức, một số trong số các khẩu thấy khẩu đội trưởng nghiêm mặt hét lớn "Tầm, Hướng, nạp đ....ạn". Chỉ huy ổ gập cờ xuống, các chỉ huy khẩu gào toáng b...ắ...n. Thế là pháo thủ cầm gậy châm mồi lửa.

Đấy là bắn diện tích. Còn bắn xạ kích, thường là chống kỵ binh, thì mỗi ổ nhận được chỉ thị mục tiêu và ổ trưởng tính toán tầm hướng, rê nòng theo địch hô bắn cấp tập, giống như các ổ pháo của Thiêt Giáp Hạm sau này.

Việc tính toán cấp thấp dựa nhiều vào các công thức tính sẵn và kinh nghiệm. Kể cả kinh nghiệm ước lượng tầm hướng. Tuy nhiên, những kinh nghiệm và công thức tính sẵn đó được nghiên cứu chu đáo. Pháo Binh Nga được hỗ trợ bởi các nhà toán học xuất sắc (bạn nào học phổ thông về tính gần đúng có thể thấy một vài cách tính gần đúng của pháo binh Nga trở thành bài học phổ thông). Việc phát triển pháo binh trở thành một trong những động lực hiện đại hóa giáo dục !!!!!

Lựu pháo cần tính, còn Thần Cơ của Ship of the Line thì mù điếc chơi được.
Tính toán là điểm khác hẳn giữa Thần Cơ Pháo và Lựu Pháo. Thần cơ pháo thì chỉ cần nhắm cho đúng, cũng cần tầm nhưng không quan trọng nắm. Còn Lựu pháo Howitzer bắn góc cao thì tầm cần tính chính xác. Thần Cơ pháo có mục tiêu rõ ràng là tầu biển hay công sự trước mặt, còn pháo hõ trợ bộ binh cần hệ thống thông tin chính xác. Ta lấy ví dụ, Thần Cơ pháo trên tầu Ship of the Line chả cần lấy hướng và nó  chả cần thông tin gì về mục tiêu, pháo thủ mù chiến đấu tốt (chỉ một số ít tầu có lấy tầm, đa phần không lấy tầm và hầu như tất cả các tầu pháo đều không lấy hướng). Thời này Anh, Pháp, Mỹ, Tây Bán Nhà đang thiên về Thần Cơ pháo trên tầu, nên nói chuyện với họ về tính toán pháo binh họ cười cho.

Hai nhiệm vụ của dã pháo

Dã pháo Field Gun chiến đấu bằng hai khả năng chính. Một là cơ động, nó di chuyển nhanh chóng đến trận địa pháo. Hai là bắn đúng, ngồi trong trận địa pháo quan sát, nghe ngóng, tính toán và bắn. Đấy là hai nhiệm vụ cơ bản của Dã Pháo, loại pháo hỗ trợ bộ binh. Hai nhiệm vụ này chỉ đảm bảo một yêu cầu là rót trái phá đúng vào đầu địch.

Khả năng bắn đúng ngày nay là nhiệm vụ chính của Field Gun. Nhưng vào Thế Kỷ 18-19, thì khả năng cơ động mới là chính, vì tầm pháo quá còi. VCũng vì vậy, loại pháo hỗ trợ bộ binh, bắn trái phá sát thương mới có tên là Field Gun, pháo ruộng, pháo bãi, trường pháo. Quân Đội ta gọi là Dã Phão (pháo dã chiến), xuất phát từ nhiệm vụ quan trọng là di chuyển ngoài đồng ruộng.
Tính toán pháo (nay Quân Đôi ta gọi là Kế toán pháo) trở thành một ưu thế của văn minh mà bọn hủ nho tước mấy của Viễn Đông trong thế kỷ đen tối.


Tiêu đề: Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 03:00:39 pm
Một trong những sức mạnh lớn nhất của tất cả các loại vũ khí lại không nằm trong các nhà bác học, thợ giỏi hay tướng tài, mà là  nằm trong một sự tổ chức của họ. Ở nhiều nợi từ lâu đã có những hội đồng vũ khí, nhưng uy tín, thành viên tham gia, quyền năng và rốt lại lả các hội đồng đó chưa mang tính quyết định với vũ khí. Trong lịch sử thì cho đến Thế Kỷ 18, công nghệ chế tạo và cấu tạo vũ khí chưa có gì thay đổi nhiều cả, nên một hội đồng bàn về thiết kế vũ khí hơi thừa.  Nhưng đến Thế Kỷ 18 thì khoa học kỹ thuật đã bắt đầu tiến mạnh, như những hình dưới đây cho thấy, pháo tiến bộ nhanh, không như trước nữa.
Người Nga di tiên phong trong việc thành lập "Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh". Hội đồng có thành viên là những tướng lĩnh và các nhà khoa học uy tín. Hồi đó, thợ đúc ở Nga vẫn là bán nô lệ trong các công xưởng thành lập từ thời Piôtr nên sách vở không nói nhiều đến họ, nhưng nhìn hoạt động của hội đồng thấy được sự tham gia tích cực của họ. Hội đồng cho pháp binh Nga được hai ưu thế.

Hội đồng tập trung những tinh hoa về khoa học, kỹ thuật, kinh nghiệm quân sự và tiền bạc để phát triển. Không như những hội đồng của các nước khác đa phần là nhứng tướng lĩnh hay những nhà Quý Tộc chỉ tham khảo ý kiến và đánh giá, "Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh" Nga nghiên cứu, đúc pháo, thử nghiệm... là trung tâm lớn nhất nước về thiết kế pháo. Nhờ vậy mà tập trung được khả năng chiến trường, kỹ thuật và tài chính. Do đó, pháo binh Lục Quân Nga, đặc biệt là các cỗ pháo dã chiến, lựu pháo sát thương, pháo pháo đài các loại... tiến bộ nhanh chóng.

Hội đồng đưa ra tiêu chuẩn, do đó thống nhất được việc chế tạo pháo. Nói cụ thể hơn, kết quả nghiên cứu của hội đồng sẽ được đưa ra làm tiêu chuẩn thiết kế.  Từ đó, các nhà máy, quân xưởng sẽ sản xuất pháo theo.

Dĩ nhiên, hội đồng không chừa cả việc can thiệp vào mặt quân sự. Từ cờ hiệu, ký hiệu... đến động tác và chiến thuật, phương pháp tính toán, quan sát và đo đạc. Không chỉ thay đổi kỹ thuật sử dụng pháo, nhiều nhà bác học của hội đồng đạt được những tiến bộ lớn trong khoa học kỹ thuật, ví như phương pháp làm tròn đã nói đến.

Những điểm trên đảm bảo ưu thế về số lượng và chất lượng pháo, cũng như chiến thuật sử dụng pháo. Đầu Thế Kỷ 19, lựu pháo dã chiến Nga đã vượt lên đứng đầu châu Âu. Trong lúc đó, ở các nước khác, pháo là một thiết kế của một nhà máy, một vùng... nào đó và được các nhà sản xuất khác bắt chước theo-nếu như họ muốn. Điều đó xảy ra việc pháo không được chọn lựa thiết kế ưu việt và nhiều chủng loại khó cung cấp. Những điểm trên trở nên hết sức tệ hại trong thời buổi mà sãn xuất vẫn rất chậm và mỗi cuộc chiến cần lượng pháo và đạn sản xuất trong nhiều chục năm.

Hội đồng kiểu này tiếp tục được phát triển, sau này ta sẽ nói về các hội đồng vũ khí ở Nga và Đức sau.

Những sản phẩm lớn cụ thể của "Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh"  Nga ví như các Kiểu 1805 và Kiểu 1938, Kiểu 195x.... Mỗi kiểu như thế gồm rất nhiều loại pháo. Mỗi loại pháo bao gồm nhiều tài liệu về công nghệ, kích thước, vật liệu... và phương pháp thử nghiệm, đánh giá. Hội đồng này cũng như nhiều hội đồng khác đã góp phần tích cực vào khoa học Nga. Đến cuối thế kỷ 19, nó lại trở thành một công cụ trói buộc của chính quyền Nga đã suy đồi. Tuy nhiên, các thành phần khoa học trong các hội đồng đó vẫn không ngừng phát triển.

Trông người lại nghĩ đến ta. Hơn 200 năm sau "Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh" , nhà Vịt vẫn chỉ tụ tập được các hội đồng xôi thịt đánh chén, quàng quạc điếc tai. Đến mấy cái bệnh lợn gà rồi bệnh tả mấy năm chưa làm gì được đừng nói là cái đinh ốc cho pháo. Hội đồng gì ???? hội đồng nào quyết định bệnh tả không gọi là tả ???? dùng thuốc đắt gấp 40 lần ?????? và buồn cười nhất là tống 300 triệu xuống một cái hồ để .... khoác lác (300 triệu đổ đi ấy liệu feed back đến 299 triệu không nhẩy).


Tiêu đề: Lựu pháo Howitzer đồng thau năm 1787
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 03:17:17 pm
Khẩu lựu pháo này đã bốt rồi. Lựu pháo nhưng không dã pháo. Ghi là pháo trung đoàn, nhưng chắc là cái nòng. Con xe này thì không dã chiến chút nào mà thuộc loại pháo vị trí, hoặc trên tầu, trên thành...

Pháo 166mm, đạn khá nặng, 1,2 pút (19kg), tỷ lệ nòng 10, dài 161cm, nặng 692kg, đúc năm 1787. Pháo này chưa theo tiêu chuẩn hội đồng như sau này nhưng cấu tạo nòng đã chuẩn. Kiểu cấu tạo nòng này tồn tại cho đến gần giữ Thế Kỷ 19.

Link (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9c/166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg/120px-166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9c/166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg/800px-166-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)



Khẩu pháo lớn công thành được đúc nửa sau Thế Kỷ 18. Thuộc loại Lựu pháo hạng nặng, công thành của Lân Binh. Nòng đồng thau, đạn 1 pút (16,38kg), nòng dài 216cm. Cân nặng 1662,5kg. Tầm bắn tối đa 3620 mét. Pháo được kéo bởi 16 ngựa và điều khiển bởi 20 lính.

link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:245-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/3c/245-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg/800px-245-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)


Tiêu đề: Ảnh Lựu Pháo Howitzer cuối Thế Kỷ 18
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 03:18:21 pm
Vẫn là ảnh ở bảo tàng Military-historical Museum of Artillery, Engineer and Signal Corps.

Khẩu lựu pháo cuối Thế Kỷ 18 này đã bốt rồi.
Đạn nặng 8 cân Anh, đường kính 107mm, dài 114cm, nòng nặng 180kg, bắn xa 852 mét. Nòng đồng thau.
Đây là khẩu lựu pháo, dã pháo, sơn pháo đúng nghĩa. Lúc này, khái niệm sơn pháo còn ù ờ mới xuất hiện chưa thành hình. Cái nắm trên ổ ngáng thì đã chú thích trang trước rồi.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/59/107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg/800px-107-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%BA%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%28%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%29.jpg)


Tiêu đề: Lựu pháo đầu Thế Kỷ 18
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 05:19:50 pm
Đây là khẩu cối nửa pháo đúc thế kỷ 17, năm 1698, tại thành phố Glukhôve, bởi Karpôm Iôsiphônvichem.
Chính là tiền thân của lựu pháo. Tỷ lệ chiều dài nòng chỉ như cối cổ (có chưa đến 3), nhưng người ta làm ngáng, nỗ lực theo hướng cơ động và dễ chỉnh tầm.
Pháo đường kính 330mm, bắn đạn nặng 3 phút (48kg), nòng pháo nặng 865,7kg.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/23/330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg/687px-330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/47/330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/678px-330-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)



Đây là khẩu lựu pháo đúc từ đồng thau năm 1731 bởi Andray Arnôtôm (Андреем Арнольтом). Nòng pháo nặng 267kg, dài 99cm, đường kính 150mm, nhồi 1/2 pút (khoảng 8kg). Dùng chữ bên trên là "Vì đức tin và lòng trung thành".
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0.jpg
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg

Đáng chú ý là khẩu pháo có nhiều cái đặc biệt. Nó chưa thoát hẳng khỏi hình loại phòng nòng mỏng phương Tây, ngãng pháo thấp bên dưới như các khẩu bombard cổ điển và cấu tạo còn nhiều điểm của cối. Pháo có tỷ lệ chiều dài nòng thấp và nòng mỏng. Tuy nhiên đã có kiểu lỗ mồi thường gặp ở lựu pháo sau này, nhưng lại không có cái đuôi thuôn rất đặc trưng. Một số thiếu sót nữa như điểm ngắm được những người sử dụng vạch sâu sau khi đúc, chắc đánh dấu để gắn vật gì lên làm thước ngắm đầu ruồi.
Những điểm này cho thấy ở thời điểm này, Lự Pháo đang được hình hoàn thiện. Lúc này, khả năng của lựu pháo tăng lên do gang làm đạn nhiều. Đồng thời, như cầu dùng lựu pháo cũng tăng lên do yêu cầu các trận chiến xa thành quách.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cc/150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg/800px-150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/42/150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0.jpg/800px-150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/35/150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0_%28%D0%BF%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg/684px-150-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%B0%D1%83%D0%B1%D0%B8%D1%86%D0%B0_%28%D0%BF%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg)



Tiêu đề: Lựu pháo Thế Kỷ 18, 102mm đúc năm 1788
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 05:23:45 pm
Khẩu pháo đường kính nòng 102mm, đạn 4kg, nòng dài 126cm, nòng nặng 220,7kg. Nòng pháo được đúc năm 1788 tại quân xưởng St. Peterbur. Trong chiến tranh Nga-Thụy điển 1788-1790 pháo bị quân Thụy Điển chiếm. Đến chiến tranh 1788-1790, pháo được quân Thụy Điển bố trí tại pháo đài Sveaborg và lại rơi vào tay quân Nga.

link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:102-%D0%BC%D0%BC_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/df/102-%D0%BC%D0%BC_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg/800px-102-%D0%BC%D0%BC_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)


Tiêu đề: Lựu pháo vị trí cuối Thế Kỷ 18
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 05:28:03 pm
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21291#msg21291
Ở đấy đã nói về bốn nhóm pháo theo tính cơ động. Đây là khẩu pháo trận địa. Trong số các pháo hỗ trợ bộ binh thì pháo trận địa kém cơ động hơn và mạnh hơn, xa hơn. Nó thường được đặn cố định trong trận địa bảo vệ nghiêm ngặt và bắn xa hỗ trợ toàn trận đánh. Trong khi đó, các lộai pháo dã chiến hơn thì được kéo theo bộ binh trong những diến biến của trận đánh.

Loại lựu pháo dã chiến còn có tên là unicorn, Lân Binh, một loại bộ binh mang giáp nặng. Gọi như thế vì nhiệm vụ của chúng là hỗ trợ bộ binh và chũng được biên chế vào các đơn vị bộ binh.

Khẩu pháo này đạn 3 cân Anh, đường kính 70mm, dài 87cm, nặng 77,9kg, đúc nửa cuối thế kỷ 18.


link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3%D0%B0_%D0%BF%D0%BE%D0%BC%D0%B5%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%B8%D0%BB%D0%BB%D0%B5%D1%80%D0%B8%D0%B8.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/90/%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3%D0%B0_%D0%BF%D0%BE%D0%BC%D0%B5%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%B8%D0%BB%D0%BB%D0%B5%D1%80%D0%B8%D0%B8.jpg/800px-%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3%D0%B0_%D0%BF%D0%BE%D0%BC%D0%B5%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%B8%D0%BB%D0%BB%D0%B5%D1%80%D0%B8%D0%B8.jpg)


Tiêu đề: Lựu Pháo đầu thế kỷ 19.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 05:40:53 pm
Sang Thế Kỷ 19, ảnh hưởng của Hội Đồng Khoa Học đã mạnh, pháo được chế tạo theo các kiểu tiêu chuẩn. Ví dụ, kiểu 1805 hay kiểu 1838. Cách tiêu chuẩn hõa như thế ngày nay vẫn giữ.


Ở đây đã bốt một khẩu dã pháo 3 cân Anh kiểu 1805, 122mm.
http://quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21318#msg21318

Đây là khẩu nữa, dã pháo kiểu năm 1805, loại 3 cân Anh. Nòng đồng thau dài 101cm, nặng 108,1kg.
Pháo có đường kính 83mm, tầm bắn 1000 mét.
Nòng được đúc trong 1/4 đầu tiên của Thế Kỷ 19.
link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:83-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/91/83-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg/800px-83-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg)

Nòng Lựu pháo Dã chiến thử nghiệm đúc khoảng những năm 1808-1812. Đây là pháo được "Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh" đúc để thử nghiệm việc giảm khối lượng lựu pháo 3 cân Anh (khoảng 1,5kg).
Nòng pháo nặng 87,6kg. Dài 96cm. Đường kính nòng 78mm.
link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:78-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f0/78-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg/800px-78-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3.jpg)


Tiêu đề: Lựu Pháo Pháp đầu Thế Kỷ 19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 05:47:19 pm
Trên đã bốt một khẩu lựu pháo Pháp, lựu pháo mà giống hệt thần cơ chả cải tiến giề.
Đây là hai khẩu tiên tiến hơn nhiều của Pháp, đúc cuối Thế Kỷ 18 đầu thế kỷ 19, Nga thu được năm 1812. Hai khẩu này tiên tiến nhất trong quân Pháp lúc đó, chứng minh trình độ Lựu pháo dã chiến của Pháp thấp hơn Nga. Pháo rất nặng và ngắn.
Pháp trước khi đánh Nga vấn giống Anh và Tây Bán Nhà, chăm chăm phát triển Hải Quân vốn dùng toàn Thần Cơ nòng dầy bắn đạn đặc. Sau khi bị Đô Đốc Nenson cho đo ván thì quay sang phát triển lựu pháo, có tiến bộ nhưng chưa nhiều.

Cả hai khẩu đều là Lựu Pháo Dã Chiến. Nòng đều được đúc bằng đồng thau.

Khẩu trái 152mm, nòng dài 95cm, nặng 352kg. Ghi ngày sản xuất mồng 7 tháng 8  năm 1793 tại Strastburg.
Khẩu phải tiên tiến hơn, 24 cân anh, 152mm, nòng dài 101cm , nặng 278kg. Đúc năm 1805 tại Douai bởi thợ cả Beranzhe.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1812.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1812.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b1/%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1812.jpg/707px-%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1812.jpg)


Tiêu đề: Lựu pháo đầu Thế kỷ 19. Lựu pháo và Thần Cơ dã chiến kiểu 1805.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 06:09:17 pm
Lựu pháo dã chiến 1805
Đây là một kiểu pháo hội đồng, một kiểu lựu pháo dã chiến. Châu Âu cổ còn gọi lựu pháo dã chiến là "Lân Binh"-"unicorn", vì pháo dùng cho binh chủng này. Lân Binh chính là thứ bộ binh xếp hình ô vuông của Nã Phá Luân chết như ngả rạ đấy. Từ này trong tiếng Nga là "единорог".

Pháo bắn đạn 1/4 pút (hơn 4kg, mỗi pút 16,5kg), 125mm, nòng dài 153mm, nòng nặng 354kg. Bắn xa 1340 mét. Pháo được đúc năm 1805 tại quân xưởng  St. Petersburg. Tất nhien vẫn là đồng thau.

Trước đây, thường lấy đường kính nòng ra được luôn khối lượng đạn vì dùng đạn cầu bằng gang đặc, pháo thường nói kích cỡ bằng khối lượng đạn, như xx cân anh (3 cân anh khoảng 76mm). Tuy nhiên, từ đây về sau có một số loại đạn "cao tốc" cầu rỗng (như đạn dưới cỡ sau này), nên tỷ lệ đó khác đi và người ta bắt đầu thịnh hành đơn vị đường kính nòng thay cho đơn vị khối lượng đạn.

Từ khẩu trên cũng nhận thấy một điều là, thần chiến tranh đã bắt đầu thời đại kim khí, bộ quần áo sặc sỡ của thần bị pháo bắn te tua và bi giờ hoa lá cành bay sạch, còn mỗi nòng pháo trơn bóng.

Cũng dễ nhận thấy đặc trưng nữa của các Kiểu 1805 (nếu ngày đó em Vịt đã chơi với đại ca Gấu thì có thể có ký hiệu K05  ;D ;D ;D ;D). Đó là cái đầu ruồi be bé và chưa có thước ngắm. Thước ngắm chỉ dùng nhiều trên Thần Cơ pháo đặt cố định (pháo pháo đài), lựu pháo thì chả cần bắn trúng lắm. Vả lại, cái ngòi xoáy tính cũng đẩy đạn pháo đi xoắn trôn ốc và chả thể nào thật chính xác được mà cần thước ngắm.

À quên, một đặc trưng nữa của các kiểu 1805 là cái chỉnh tầm có vít me dọc, gỗ ốp đồng và khóa tầm bằng bánh răng như của đồng hồ.

link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)

link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)

link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/01/125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg/800px-125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)


So sánh với khẩu Thần Cơ cũng dã chiến kiểu 1805
Sao cái server thộn này mỗi lần bốt nó lại thêm cái đuôi vào url nhỉ, mất công vào lại xóa di.

Pháo bắn đạn 6 cân anh, dài nòng 175mm, đường kính 95mm, bắn xa 1670mét, đúc năm 1806 ở quân xưởng St. Petersburg bởi thợ cả Zdanôvưm

Toàn thân pháo (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:95-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)     Đuôi (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:95-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/5f/95-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/800px-95-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/75/95-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg/799px-95-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8F%D1%8F_%D1%87%D0%B0%D1%81%D1%82%D1%8C%29.jpg)


Tiêu đề: Lựu pháo cố định Thé Kỷ 19 . Lựu pháo pháo đài 197mm kiểu 1805.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 06:11:58 pm
Pháo 197mm, bắn đạn 1 pút (16,5kg) đi xa 3200 mét. Pháo được đúc năm 1814 bằng gang dầy 239mm. Nòng pháo nặng 1564kg.
link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BA%D0%BE%D1%80%D0%BE%D1%82%D0%BA%D0%B8%D0%B9_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/57/1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BA%D0%BE%D1%80%D0%BE%D1%82%D0%BA%D0%B8%D0%B9_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg/659px-1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BA%D0%BE%D1%80%D0%BE%D1%82%D0%BA%D0%B8%D0%B9_%D0%BA%D1%80%D0%B5%D0%BF%D0%BE%D1%81%D1%82%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)

Đây là mấy viên đạn. Những đạn này cũng là đạn Hội Đồng, gọi là đạn một pút kiểu 1805, dùng cho pháo hạng nặng và cối.
Ba thằng trên và thằng hình trụ bên dưới lần lượt là:
Đạn cầu đặc, dùng đánh tầu, công thành và bắn xe công thành.
Đạn trái phá sát thương.
Cũng giống đạn trái phá sát thương, nhưng là đạn cháy.
Hộp chứ đạn ria.

Từ "брандкугель" (b ran cu gen) từ đây được dùng để chỉ đạn cháy kiểu 1805, sau có một số người dùng chỉ đạn cháy pháo nòng trơn, nay ít dùng.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%9F%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B5_%D1%8F%D0%B4%D1%80%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%9F%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B5_%D1%8F%D0%B4%D1%80%D0%B0.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/94/%D0%9F%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B5_%D1%8F%D0%B4%D1%80%D0%B0.jpg/799px-%D0%9F%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B5_%D1%8F%D0%B4%D1%80%D0%B0.jpg)


Tiêu đề: Các kiểu pháo 1938. Sơn pháo 122mm kiểu 1838.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Tư, 2008, 06:16:26 pm
Pháo Nga 1938 là bước tiến bộ mạnh cuối cùng trước khi tốc độ tăng tiến chậm lại.
Một đặc diểm nổi trội lúc này là lựu pháo tăng sơ tốc, có thể đảm nhiệm nhiều chức năng của Thần Cơ pháo. Từ đây, người Nga có từ "гаубица-пушка", chỉ một loại pháo lai của lục quân. Trong đó  "пушка" là Thần Cơ pháo, bắn đạn động năng. Càn "Гаубица" là lựu pháo. Nôn na hiểu rằng loại này ngắn nòng, bắn động năng yếu hơn những loại Thần Cơ chuyên nghiệp, nhưng có thể đảm nhận một vài nhiệm vụ nào đó của Thần Cơ. Còn về bắn trái phá thì loại này tầm xa bắn mạnh hơn lựu pháo dã chiến cũ.

Cấu tạo nòng bi giờ có hình dáng ngoài giống Thần Cơ, chứ không còn cái thon đuôi bầu eo nữa. Tuy vậy, nếu bổ pháo ra thì nó khác Thần Cơ ở chỗ nòng mỏng hơn, điều đó là giữ như trước.
Pháo cũng có cải tiến cái chỉnh tầm và thường là có thước ngắm.

Lúc này, chiến thuật dùng pháo đã khá đầy đủ như đầu Thế Kỷ 20. Người ta đã biết chế ra những Sơn Pháo, là những khẩu pháo ngắn nỏng bắn gần nhưng rất nhẹ, dễ dùng súc vật kéo lên núi. Thông thường, tuy những pháo đó yếu, nhưng điểm cao luôn là lợi điểm quân sự quý giá với pháo binh. Nhưng khẩu pháo giống Sơn Pháo xuất hiện từ phân nhánh của Lựu pháo dã chiến từ cuối thế kỷ 18 (đã bốt hình), nhưng đến nay, cái từ "sơn pháo" được sử dụng rộng rãi. Trong Thế Kỷ 19 và đầu Thế Kỷ 20, Sơn Pháo được sản xuất và sử dụng rất nhiều. Hồi đánh Pháp, Sơn pháo chiến lợi phẩm là lực lượng chủ yếu của quân ta.

Khẩu Sơn Pháo 122mm kiểu 1838. Sơn Pháo là loại lựu pháo dã chiến nhẹ nhất, dễ dàng dùng súc vật chuyển lên núi. Sơn Pháo có nòng ngắn hơn bình thường.
Pháo thuộc lại Lựu pháo dã chiến của bộ binh (unicorn ), 122mm, 1/4pút (hơn 4kg chút), 100kg, đúc năm 1853 tại  St. Petersburg bởi Johann. Tầm bắn 1800 mét

link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fe/122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg/800px-122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)


Tiêu đề: Thần Cơ pháo nòng dầy kiểu 1833. Pháo Tầu.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Tư, 2008, 11:58:12 am
"Hội đồng khoa học pháo binh" được trao quyền năng quyết định đến mọi lực lượng pháo binh, nhưng ở đâu cũng vậy, luôn có mâu thuẫn trong việc phát triển. Những kỹ thuật cũ và thợ cổ, xưởng cổ và lạc hậu... luôn tìm được chỗ đứng. "Hội đồng khoa học pháo binh" Nga chỉ ảnh hưởng nhiều đến pháo của Lục Quân. Trong lúc đó, pháo tầu (cũng như tầu) Nga thì tiến bộ chậm như rùa. Đây là nòng pháo kiểu 1833, pháo tầu 77mm, bắn đạn 3 cấn Anh, đồng thau, nòng dài 150cm, nặng 272kg. Pháo được đúc trong quân xưởng Hải Quân năm 1837. Link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1833.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e8/3-%D1%84%D1%83%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1833.jpg/800px-3-%D1%84%D1%83%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1833.jpg)



Tiêu đề: 3 khẩu Pháo lục quân Anh Pháp Iran đầu Thế Kỷ 19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:03:06 pm
Đây là 3 khẩu pháo chiến lợi phẩm trưng bầy trong bảo tàng Lịch Sử Pháo Binh và Phụ Tùng (Military-historical Museum of Artillery, Engineer and Signal Corps).

Từ trên xuống dưới.

Khẩu 1/2 cân Anh, 56mm. Đây là khẩu pháo Thần Cơ Pháp, Thổ lấy được khi Nã Phá Luân bỏ lại toàn bộ đoàn quân của hắn ở Ai Cập về tiếm ngôi vua, (về sau đoàn quân này chết sạch và không đầu hàng ai mặc dù bị tứ phía bổ đánh, họ cố tìm con đường tuyệt vọng đi qua Tiểu Á về nhà, con đường sẽ phải đi qua rất nhiều nước và đoàn quân trung thành nhất với Nã Phá Luân này chết dần mòn trên con đường vạn lý trường chinh đau khổ đó).

Khẩu 6 cân Anh 95mm. Khẩu này do Iran đúc, dài 147cm, nặng 338kg, lấy được khi quân Nga chiếm Tvariza trong chiến tranh Nga-Ba Tư (Iran).

Khẩu 99mm Anh, dài nòng 159cm, nặng 286kg. Sản xuất tại xưởng William đất Anh năm 1806. Khẩu này được chuyển cho Ali Pasha ở Baghdad,  bị Ba Tư chiếm năm 1807. Về tay quân Nga năm 1826-1828 khi quân Nga chiếm Tvariza

Hìn dáng nòng các khẩu này cho thấy chúng lai giữa Thần Cơ và lựu pháo, các nước này chưa hình thành lựu pháo dã chiến. Sau khi mất quyền làm chủ mặt biển sau trận Trafalgar (23-10-1805), mới tập trung phát triển lựu pháo dã chiến cho Lục Quân. Nhưng như đã nói, thời đó tốc độ sản xuất rất chậm và người ta phải mất hàng chục năm để thay máu hay xây dựng các dơn vị pháo.
Anh thì vẫn chú tâm phát triển Thần Cơ pháo của Hải Quân cho đến mãi sau này.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1826-1829.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1826-1829.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/86/%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1826-1829.jpg/751px-%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1826-1829.jpg)



Tiêu đề: Lựu pháo kiểu 1838 152mm
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:16:41 pm
Khẩu này bắn đạn 1/2 pút (mỗi pút 16,38kg), 152mm, lựu pháo dã chiến, kiểu 1838, đồng thau, dài nòng 174cm, nặng 707kg, đúc năm 1849 tại quân xưởng Bryansk bởi Nazarov. Tầm bắn 1278 mét.

Không những hoa là cành mà cả mấy cái vòng gờ từ thôiừ nhà Minh đã bỏ (lúc nào chúng ta sẽ xem lại đám nòng pháo cổ này).

, Ẩnh lựu pháo 152mm kiểu 1839 (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838.jpg)

Ẩnh lựu pháo 152mm kiểu 1839 (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_2.jpg)

Ảnh nữa,  (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_2.jpg)

Ẩnh lựu pháo 152mm kiểu 1839 (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838._%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%B3%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82_1.jpg)

Ẩnh lựu pháo 152mm kiểu 1839 (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/70/152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/800px-152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: dongadoan trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:18:09 pm
Anh cảnh cáo chú huyphuc_1981nb nhé! Chú viết về kỹ thuật thì cứ viết, đừng lôi server của người ta ra mà nhiếc móc!


Tiêu đề: Lựu pháo công thành 192mm kiểu 1838
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:18:28 pm
Khẩu này một pút (đạn nặng 16,38kg), 192mm, lựu pháo công thành kiểu 1838. Nòng đồng thau, nòng dài 274cm, nặng 2199kg. Làm năm 1854 tại quân xưởng Petersburg bởi thợ cả Sramchenko.
Pháo bắn xa 2770 mét.

Có thể thấy, khái niệm pháo công thành bi giờ đã khác xa những khẩu nửa cối nửa pháo đầu thế kỷ 18. Xuất phát từ những khẩu pháo nòng mỏng ngắn, dựng đứng ven chân thành bắn ngược lên của Thế Kỷ 14. Rồi những khẩu cũng mỏng ngắn như thế, có buồng đốt hẹp sau nòng, to khủng bố, bắn đạn cầu đá granite mỗi ngày vài viên của Thế Kỷ 15. Rồi cối bắn góc thấp và loại nửa cối nửa pháo Thế Kỷ 17 đầu Thế Kỷ 18. Đến đây, pháo công thành đã là khẩu lựu pháo to.

Nhìn hai khẩu lựu pháo cũng thấy, chúng đã là loại pháo lại Thần Cơ-Lựu Pháo, kiểu pháo mà tiếng Nga gọi là "гаубица-пушка".
Đây chính là tiền thân của pháo lục quân hiện đại. Đích tôn chính dòng của chúng vẫn truyền đến ngày nay, Vịt chúng vẫn dùng, đó là ML20-152mm. các nước khac cũng phát triển theo những hướng tương tự. Tuy rằng sau này còn nhiều loại pháo lục quân nữa, nhưng kiểu pháo do "Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh" phát triển trong một thời gian rất dài đã đặt những cơ sở, cả kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật sử dụng và chiến thuật. Các nhà bác học ở đay đã đưa ra những phương trình toán học, hợp kim, cấu tạo và cả những động tác dùng pháo, những binh pháp sử dụng pháo.

Tuy nhiên, đến nửa sau Thế Kỷ 19 thì nước Nga suy yếu. Nền tảng xã hội Nga vẫn là nông nông nô thời Mông Cổ và những công xưởng của Piotr Đại Đế. Nhưng những nguồn lợi công nghiệp lớn đã được tư hữu hóa không lành mạnh, phần đông nằm trong tay lũ tiểu nhân. Những cơ cấu như "Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh" bị biến thành công cụ để nắm chặt nguồn lợi từ kinh phí công cộng. Những béo bỏw nhu đầu tư, thử nghiệm, phát triển thực tế... dần bị bon tha hóa thao túng. CHỉ cpòn phần lý thuyết và toán học vẫn được các nhà bác học phát triển tiếp, tuy rất chậm.

Trong khi đó, lúc đó chính là thời điểm sản lượng thép tăng vọt và tạo điều kiện rất lớn để thay da đổi thịt súng pháo. Chúng ta sẽ trở lại với sự phát triển súng pháo thời này sau, với các Hội Đồng mà người Đức lập ra và họ sẽ phát minh ra loại thuật phóng hiện đại mà chúng ta đang dùng.


link. đây, mỗi lần bốt xong nó lại chèn linh tinh vào, em lại phải sửa đại ca này. (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)
A hà, lúc nào đại ca có nhà em qua chơi, giờ mới về đây. Mà nhắn lại cho em cái số alô nhé.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/1d/1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg/800px-1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)


Tiêu đề: Có ngáng rồi, còn ngõng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:24:51 pm
Ngõng ngãng cũng như trái phá, có từ trước cả súng pháo. Vậy nên không có ai phát minh ra ngõng ngáng cho súng pháo cả. Mấy chú ngu si đần thộn trong wiki vưỡn thi nhau đi tìm cái phát minh không bao giờ có ấy rồi chửi nhau loạn tùng bậy  ;D ;D ;D ;D

Pháo, những là pháo dã chiến cần nhẹ, trong khi đó đồng lại yếu và nặng, nên thời đại pháo đồng thì chỉ có mỗi cái nòng là nặng. Như đã thấy, mãi đền đầu thế kỷ 19 pháo mới có vít me chỉnh tầm, còn chỉnh hướng vẫn là hai bánh. Trước đó thì chả tầm hướng gì cả.

Pháo Thần Cơ vẫn có hai trục ngáng đấy chứ. ???
Cái trục ngãng chỉ có mỗi mục tiêu là đặt nòng pháo lên giá mà thôi, người ta chỉ chỉnh tầm bằng đắp đất vào càng pháo. Rồi thì thiết bị chỉnh tầm đầu tiên ra đời là các con kê đít nòng.

Pháo tầu biển cũng vậy, cái giá chỉnh hướng pháo của Ship of the line chính là cái tầu, pháo gắn cố định vào tầu. Người ngắm pháo duy nhất cho toàn tầu là thuyền trưởng. Thía mà mấy nhà văn làm đồ giả cổ tung hô mấy chú pháo thủ anh hùng, nói thật, ngu bỏ mịe.  ;D ;D ;D ;D

Đến Thế Kỷ 18, cơ khí phát triển, thép rẻ đi, thì pháo mới có đủ bộ ngõng ngáng. Còn khi chưa có thép nhiều, thì bộ ngõng chỉ có trên pháo nhỏ, làm được bằng đồng.

Đây là một bộ ngõng đồng chắc thuộc loại cuối cùng.
Pháo 37mm bắn đạn 1/2 cân Anh, pháo của thủy quân (dùng bắn các thuyền nhỏ như pháo tầu tuần tiễu bi giờ). Pháo làm năm 1847.

link (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1847.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/3b/12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1847.jpg/800px-12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1847.jpg)


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: VNQuangvinh trong 30 Tháng Tư, 2008, 12:57:27 pm
Bác làm ơn cho biết cả lịch sử Đạn Đại bác nữa. Làm thế qué nào mà đạn trái phá cổ không nổ trong nòng nhỉ?


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Tư, 2008, 01:21:58 pm
Bác làm ơn cho biết cả lịch sử Đạn Đại bác nữa. Làm thế qué nào mà đạn trái phá cổ không nổ trong nòng nhỉ?


hef hef hef
Tăng gia tốc và tăng sức công phá được tiến hàng song song. Mấu chốt của chúng là pháo tầm xa Đức đầu Thế Kỷ 20.  Trước đó và sau đó thì tớ đã trình bầy rồi, mong các bạn đọc đủ.


 ;D ;D ;D ;D ;D ;D
Ohhh hô, mấy hôm nay lại bận rồi, đang viết dở mấy cái này lại quên sạch. Nói thật với đại ca Trần Đoàng Đạo Sỹ nhé, đúng là cái chương trình này có nhiều vẫn đề. Em mới ốm dậy, lúc nào rỗi độ đôi ba tháng em phải xem lại nó cái.
------------------
Lựu pháo Howitzer có từ trước khi có súng lớn cơ, đó là các máy bắn đá ném những bình đựng thuốc nổ, thuốc cháy... Ngay từ khi có pháo nòng ngắn mỏng, thì người ta đã làm đạn trái phá cho chúng, nhưng trái phá ban đầu rất đắt, đến mức quân địch hoan hô tưng bừng khi bị quân ta bắn trái phá, chúng túa đi tìm đào mảnh gang bán.
Mình đã nói về chuyện này rồi, cái tên Howitzer đến nước Anh cuối Thế Kỷ 17, trước đó nó xuất hiện ở Bô-hêm rồi Đức.

Trái phá nổ trong nòng vì gia tốc lớn làm xuất hiện áp suất lớn đột xuất, khi có gia tốc lớn. Việc kích nổ tăng theo gia tốc, kích thước trái phá và độ bẩn của các thành phần thuốc.  Trái phá càng lớn thì càng dễ kích nổ, súng lớn nòng dầy như thần cơ bắn đạn cóp vận tốc đầu nòng lớn khó bắn được trái phá. Loại diêm sinh Viễn Đông lọc từ phân dơi chứa nhiều axit vừa dễ nổ vừa tự phân huỷ theo thời gian mặc dù có để khô đến mấy. Loại diêm sinh khoáng tốt hơn, có ở sa mạc Trung Á và đặc biệt vùng chân núi An-pơ thì tốt hơn, tạo tiền đề cho một vùng công nghiệp vũ khí hùng mạnh trước đây của Áo, Hung, Slôvakia, Bô-hêm... và Đức sau này.

Những khẩu nòng mỏng ngắn ban đầu chỉ có tầm bắn vài trăm mét là điều kiện lý tưởng để bắn trái phá, vì chúng có gia tốc đạn trong nòng rất thấp. Với cỡ đạn 200-300mm, tầm bắn chỉ dưới 1km thậm chí chỉ 100-200 mét như các trang trước đã nói, đạn bắn rất an toàn. Do đó, sau những thời pháo nòng ngắn mỏng đầu tiên thì cối được dùng chuyên bắn đạn trái phá. Tuy vậy, cối hồi đó rất nặng không dễ di chuyển (ta sẽ nói về cối sau).

Howitzer là một hướng phát triển tiếp của pháo nòng ngắn mỏng, nó có bộ giá ngõng của Thần Cơ nhưng lại thừa kế cái nòng mỏng ngắn. Trông bề ngoài thì Howitzer chả khác Thần Cơ mấy, nhưng nhìn mặt cắt mới thấy rõ, Howitzer nòng mỏng, nhẹ, buồng đốt sau nòng nhỏ. Ban đầu, người ta chống trái phá nổ bằng nhồi ít, bắn gần (chỉ vài trăm mét). Thậm chí Howitzer còn được gọi là pháo đập đất do để tăng tầm mà không tăng sơ tốc, người ta bắn xuống đất rồi này lên. Trong "Binh Thư Yếu Lược" nói nhiều đến các cỡ pháo loại này.

Trong Thế Kỷ 18, đầu thế kỷ 19, "Hội đồng khoa học pháo binh" đã thử nghiệm rất nhiều để đưa ra những mấu lựu pháo mạnh mà không phát nổ. Đến 1838, kiểu lựu pháo lai Thần Cơ trở thành kiểu chủ lực trong số các pháo lục quân, như hai khẩu 152mm và 192mm trên. Thật ra, cải tiến trong này không nhiều, chủ yếu là tìm được giới hạn của sự phát nổ mà tiến sát đến nó một cách an toàn. Những tiến bộ quan trọng ở thuốc và đạn. Thuốc giờ đây được chế tạo theo công nghệ nghiêm ngặt, nguyên liệu chi tiết đến cả các cách hầm than, tên mỏ khoáng, cách bảo quản... cách giã (Trong "Binh Thư Yếu Lược" quy định đến cả giã tay bao nhiêu chầy, giã nước bao nhiêu chầy... Nhờ đó chất lượng thuốc ổn định.
Độ dầy của mỗi loại đạn được thử nghiệm tuyển chọn đúng, ruột thuốc không quá bé để tịt và không quá to dễ nổ.

Một cải tiến quan trọng khi dùng pháo lai là loại đạn Thần Cơ rỗng. Trước đây, dùng đạn đá rồi đạn gang đặc nên đường kính pháo cũng là khối lượng đạn luôn, ví dụ, 76mm khoảng 3 cân Anh. Khẩu pháo lai luôn cần đường kính lớn thuận tiện cho trái phá, nếu làm đạn gang đặc to đúng bằng trái phá thì nó rất nặng và yếu. Vậy người ta làm viên đạn gang không nổ nhưng rỗng và có khối lượng xấp xỉ trái phá. Ví như các viên đạn 1 pút dưới đây:
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21430#msg21430

Lúc này người ta cũng đã thử nghiệm dùng các liều khác nhau khi bắn các đạn khác nhau, như do trình độ văn hoá chung còn thấp, nên liều nhồi và khối lượng đạn chỉ có một kiểu và đúc ngay trên mặt nòng, việc áp dụng thay đổi liều rất khó khăn do trình độ chung của pháo thủ. Các bạn đừng cười, đến tận Thế Chiến II khẩu siêu pháo của Soái Hạm Rissơliơ, nước mẹ Phú Lãng Sa còn nhồi sai bắn tung nòng.

Đạn không nổ mà rỗng cũng có vai trò như đạn có guốc giảm cỡ ngày nay, làm cho khẩu pháo lai lựu pháo tuy mỏng nhẹ nhưng vẫn bắn được đạn Thần Cơ với sơ tốc khá, vì viên đạn nhẹ thơn các viên đạn Thần Cơ khác. Tuy vậy, các lựu pháo dù có cải tiến vắn không thể bắn đạn thần cơ thật mạnh. Những loại pháo bắn đạn động năng mạnh vẫn chỉ bắn đạn đặc và được đặt trên các tầu diệt tầu (Ship of the line), pháo đài chống tầu cửa cảng (sau này có tên pháo bờ biển).... Vì chúng quá chuyên nghiệp bắn đạn đặc nên khó bắn trái phá và thiếu hẳn các công dụng chống bộ binh. Vì vây,  người ta cũng làm nhiều các tầu hạng hai...ba... khả năng đối kháng diệt tầu yếu hơn Ship of the line, nhưng làm được nhiều việc hơn, đặc biệt là các tầu tuần tiễu có mang lựu pháo để bắn lên bờ, ( động tác này gọi là bombard), các Ship of the line sau này sẽ trở thành Thiết giáp hạm Battlesship khi loại pháo tầm xa của Thế Kỷ 20 xuất hiện. Còn các tầu mang lựu pháo sẽ trở thành các "tuần dương hạm".

Lúc bấy giờ, vận chuyển khó khăn nên khẩu đa năng nhẹ đắc dụng trên Lục Quân, lục quân rất nhiều lựu pháp lai vì vậy. Còn tầu chiến mạnh thì thiên về các Thần Cơ bắn đạn đặc. Các tầu tuần dương (và tầu cướp biển, tầu buôn vũ trang...), thích dùng loại Lựu Pháo lai Thần Cơ yếu hơn nhưng ăn cướp giết người tốt hơn.

Để mình tụ tập một số ảnh về đạn để vào một chỗ cho tiện theo dõi sự tiến bộ của đạn. Từ giữa Thế Kỷ 17 qua suốt Thế Kỷ 18 đến giữa Thế Kỷ 19, đạn không tiến bộ nhiều. Cái gọi tiến bộ đạn lớn nhất là công nghệ làm gang phát triển, gang rẻ đi và loại lựu pháo phổ biến, chiếm số đông so với Thần Cơ.


Tiêu đề: Cối cổ, cối ngáng, cối khiên, cối Cò Hum.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 01:37:01 pm
Như trên, chũng ta đã theo dõi 2 nhánh phát triển của súng. Ban đầu là các súng sơ khai như "pháo vò", rồi Thế Kỷ 15 ở châu Âu phổ biến loại súng nòng ngắn mỏng bắn xa 100-200 mét, thậm chí còn ngắn hơn. Một biến dị của chúng là những siêu pháo công thành nỏng ngắn mỏng, chúng sẽ phát triển thành lựu pháo mà chúng ta đã nói đến. Lựu pháo được dùng song song với loại pháo bắn đạn động năng Thần Cơ Pháo của Hồ Nguyên Trừng truyền từ phương Đông sang.

Một phát minh của người Âu là cối, nó được hình thành từ pháo nòng ngắn mỏng. Kiểu súng này rất ít được phương Đông dùng. Tại sao lại gọi là cối ?????? để hình dáng các bức hình của chúng trả lời. Theo tớ, rất nhiều khẩu như thế này được lính dùng làm cối thật sự, ví dụ giã phi-lê làm xúc xích dự trữ trước khi hành quân đánh lớn !!!!!!!!  ;D ;D ;D ;D ;D Đây là loại súng tân cổ giao duyên, chó đến đầu Thế Kỷ 20 nó không thay đổi gì. Nó có thể bắn xa, bắn nhanh, bắn trái phá tốt. Nó lại rất rẻ và tạo thành cơn mưa hoả lực kinh hồn bởi số lượng súng.

Ưu thế lớn nhất của cối lúc đó là nó bắn góc cao, lực giật đập xuống đất nên có thể làm khẩu cối lớn mà tốn ít kim loại. Trong khi các pháo Thần Cơ và Lựu pháo cần làm nặng để giảm động năng giật của nòng, (động năng chia cho đạn và nòng theo tỷ lệ nghịch khối lượng, tức là nòng càng nặng thì càng ít). Đồng thời, không cần cấu tạo giá ngõng ngãng phức tạp nên súng rất rẻ. 2 phần cấu tạo đáng kể nhất của cối từ cổ chí kim là nòng và đế. Một lợi điểm nữa làm cối có thể bắn với sơ tốc thấp mà đạt tầm bắn xa, là mật độ không khí trên tầm cao giảm đi ít lực cản.

Tuy nhiên, trước năm 1904, khi người Nga thiết kế ra cối dễ vận chuyển, thì cối là thứ vũ khí nặng nề, thường dùng bảo vệ thành quách lâu đài. Nó cũng tham gia công thành, nhưng vận chuyển khó khăn và hay bị tóm sống khi gặp phản kích.

Cũng như các loại nòng pháo, cối cổ làm bằng công nghệ đúc, với đồng thau là chủ yếu. Cũng như pháo, rất nhiều loại cối gang đã làm trước Thế Kỷ 18, sang Thế Kỷ 19 thì cối gang dần ưu thế. Nửa sau Thế Kỷ 19 trở đi thì cối thép phổ biến, và cũng như pháo, lúc này công nghệ khoan xuất hiện. Tuy nhiên, khoan áp dụng vào pháo nhanh hơn cối nhiều, đến Thế Kỷ 20 thì cối nòng khoan khoan mới phổ biến-nhưng cũng chả nhiều, cùng với việc tăng tỷ lệ chiều dài nòng và dùng đạn dài.

Không hiểu cối xuất hiện từ bao giờ. Loại cối đầu tiên là cối khiên. Người Âu không gọi là đế mà là khiên, đáng ra phải gọi là cối đế !!!!!. Cấu tạo không còn gì đơn giản hơn, một cái cối đặt nghiêng trên một cái đế đúc liền. Tỷ lệ chiều dài nòng siêu nhỏ, chỉ 2-3-4. Cối có thể có buồng đốt nhỏ sau nòng thể thuốc cháy tốt hơn và nhẹ bớt. Những cối đầu tiên cũng như siêu pháo công thành nòng ngắn mỏng, bắn đạn rất lớn và nặng, tấm rất gần. Gọi là cối khiên vì cái đế to bè khum khum như tấm khiên.

Sách vở thường ghi rằng, Menno baron van Coehoorn, một người lính phục vụ cho quân Hà Lan và Thuỵ Điển đã phát minh ra  cối Cò Hum vào Thế Kỷ 17, cối có hai ngáng như Thần Cơ để chỉnh tầm, đặt trên đế gỗ đóng đai đồng hay thép. Tuy nhiên, đây có vẻ là một phát minh dân gian, Cò Hum chỉ là người đầu tiên sử dụng quy mô lớn trong  trận công thành Grave năm 1674. Có thể gọi loại cối này là Cò Hom, Cò Hum. So với các cối có ngáng khác, cối Cối Cò Hum đặc trưng ở chỗ, ngáng ở cuối nòng.

Một loại nòng thứ 3 có ngáng. Nó phân biệt với cối Cò Hum ở chỗ ngáng nằm giữa thân nòng chứ không ở đít nòng. Đã nói rồi, đây là phát triển tiếp của loại cối cổ nhất, pháo nòng mỏng ngắn có thêm buồng đốt và thay đổi chiều dài nòng. Loại nòng này có trước Cò Hum và dần dần khác biệt với lựu pháo, có thể nói đây là hai nhánh rất gần nhau (cối loại này và lựu pháo). Loại này tất nhiên có trước Cò Hum và gọi là cối ngáng để phân biệt với cối khiên.

Thời chưa phân biệt cối và lựu pháo đây:
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21414#msg21414

Thật ra, những khẩu "pháo nòng mỏng ngắn" liền sau "Pháo Vò", tổ tiên sư cụ của pháo súng châu Âu chính là cối. Tuy nhiên, nhiều chú thích cãi cọ không muốn tin điều đó, kệ cái bọn wiki rác thối đó. Cái trang ấy đáng ra rất nhiều công dụng, nhưng cái bọn ngu si con cháu của em út Hàn Triệu nó tha hoá thành đống thối hoắc.
http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/cannon_3.jpg
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20835#msg20835

Về tên cối thì nhiều chiện để cười. Cối, Mortar, Mortier, dĩ nhiên rồi. Các cụ dùng tiếng Tây nhưng nói điệu cho dễ thương là moóc-chi-ê, mọt-chê, (quân ta thì các cụ bảo nói điệu, địch thì các cụ bào nói bồi  ;D ;D ;D). Tiếng tầu là "Bách Kích Pháo", pháo đánh gần, có nhiều loại pháo đánh gần nhưng Tầu dùng riêng từ này cho cối. Ngày xửa ngày xưa, em út Hàn Triệu có một lũ ăn bám, chỉ giỏi đánh trận trên bụng chị em và khoác lác. Lúc này đã dốt, học mót, lại thích nói khoác, nên mới có "Bích Kích Pháo" và "Bức Kích Pháo", ngu si đần thộn. ;D ;D ;D
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=255.msg21174#msg21174
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=255.msg12034#msg12034



Tiêu đề: Ảnh cối khiên Musée de L'armée.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 01:42:52 pm
Một cối khiên bằng đồng, bảo tàng Musée de L'armée. Phần buồng đốt được đúc dầy hơn. Lỗ mồi bé tí tẹo.
Người ta chỉnh tầm của cối khiên bằng cách đắp đất đặt nó nghiêng đi.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides-film143jpg.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides-film143jpg.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b8/Invalides-film143jpg.jpg/800px-Invalides-film143jpg.jpg)


Tiêu đề: Cối cầm tay Thuỵ Điển, 1705
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 01:49:53 pm
Đây là ảnh khẩu cối cầm tay Thuỵ Điển, năm 1705, bắn đạn 6 cân Anh (2,7kg). Người bắn chống đít cối xuống đất.

Hình này trích trong cuốn sách này. Nó được ghọi theo tiếng Bắc Âu là "haubit", mà sau này sẽ trở thành lựu pháo Howitzer.
http://runeberg.org/nfbs/0208.html (http://runeberg.org/nfbs/0208.html)

http://fi.wikipedia.org/wiki/Image:Svensk_sexpundig_handgranatm%C3%B6rsare%2C_Nordisk_familjebok.png?uselang=en (http://fi.wikipedia.org/wiki/Image:Svensk_sexpundig_handgranatm%C3%B6rsare%2C_Nordisk_familjebok.png?uselang=en)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/46/Svensk_sexpundig_handgranatm%C3%B6rsare%2C_Nordisk_familjebok.png)


Tiêu đề: Cối Cò Hum của Vơ-ni-dơ, National Historical Museum, Athens, Greece
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 02:08:18 pm
Cối Cò Hum. Hai viên đạn trái phá.
Nhờ có thể bắn xa với sơ tốc thấp nên cối được áp dụng rất nhiều để bắn trái phá. Vả lại, cối khó bắn đạn ria và đạn đặc, do khó bắn trúng điểm, nên đạn trái phá là loại đạn chủ yếu của cối. Kết cấu cối ngáng, thường được gọi là Cò Hum, thau đổi nhiều theo thời gian và không gian. Những khẩu ban đầu rất ngắn với cái bụng-buồng đốt trương phềnh to tướng.

Loại đạn trái phá có chỗ lồi sau hay được dùng cho pháo lớn sau này. Cái lỗ tròn là nơi cắm ngòi gang, giữa ngòi cõ lỗ đặt ngòi cháy chậm hay đổ đầu thuốc cháy chậm, khi bắn chổng ngòi vào buồng đốt.

Kiểu nòng ngắn mỏng này làm tỷ lệ khối lượng nòng/khôi lượng đạn trái phá ưu việt nhất trong các súng thời cổ. Lúc đó, giá thành sũng vẫn được quyết định phần lớn bằng khối lượng nguyên liệu, nên cối kiểu này có ưu thế tuyệt đối về giá thành, số lượng súng... bắn trái phá. Kiểu nòng ngắn mỏng dựng đứng có ngáng đít này ra sau kiểu nòng ngắn mỏng bắn ngang sau đây. Chúng tồn tại song song và loại bắn ngang trở thành lựu pháo.

Đây là một bạn chụp ở bảo tàng  National Historical Museum, Athens, Greece. Bạn ấy chú thích là Cối của thành Vơ-ni-dơ.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Venetian_cannon.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Venetian_cannon.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f0/Venetian_cannon.jpg/800px-Venetian_cannon.jpg)


Tiêu đề: Cối cổ của các Hiệp Sĩ Thánh Giôn 1480-1500, Musée de l'Armée.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 02:21:07 pm
Cối ngáng mà không Cò Hum.
Đây là kiểu cối ngáng được dùng bởi quân Pháp ở Trung Đông, đúc khoảng 1480-1500. Cối này phân biệt với cối Cò Hum ở chỗ, ngáng nằm giữa nòng như pháo, và cũng dễ bắn góc thấp. Loại cò Hùm thì ngáng nằm ở đít nhòng, chuyên dùng bắn góc cao.
Kiểu cối lai pháo nầy còn được dùng nhiều trong các Thế Kỷ 16-17-18. Nó có thể ra đời vào Thế Kỷ 15 biến thể từ loại pháo nòng mỏng ngắn. Loại này rất gần với lựu pháo. Có thể, chúng được đúc với yêu cầu bắn trái phá như lựu pháo, song đạn còn đắt nên vẫn phải thoả mãn yêu cầu bắn góc cao như cối bằng đạn đặc. Bảo tàng gi lại thì khẩu này dùng bắn góc cao đạn đặc công thành.

Cối này có buồng đốt sau bé, và có thể chúng được cải tiến thành lựu pháo.

Khẩu này được đúc bởi đơn đặt hàng của "Các Hiệp sĩ Thánh Giôn ở Jerusalem"-Knights of Saint John of Jerusalem, Huy hiệu của thủ lính đãm này, Pierre d'Aubusson đúc trên súng. Bắn đạn cầu đá nặng 260kg, tầm bắn 100-200 mét, mục tiêu là công thành. Nòng nặng 3,325 kg.
Bảo tàng Musée de l'Armée.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2c/Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg/685px-Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg)


Tiêu đề: Cối ngáng mà không Cò Hum Musée de l'armée
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 02:25:39 pm
Cối có ngáng mà không Cò Hum ở bảo tàng trên, Musée de l'armée .
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides-film124jpg.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides-film124jpg.jpg)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides-film123jpg.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Invalides-film123jpg.jpg)

Đây là loại cối ngáng đầu tiên và được sử dụng rất rộng rãi, kể cả khi cối Cò Hum phổ biến. Nó có nhược điểm là nòng quá ngắn, nhưng tốc độ bắn nhanh, nhẹ. Loại cối này rất thích hợp để bắn trái phá trong khoảng trước thế kỷ 18. Khi này, yếu cầu tầm bắn chỉ vài trăm mét và đạn trái phá còn rất dễ nổ phá.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c4/Invalides-film124jpg.jpg/800px-Invalides-film124jpg.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/52/Invalides-film123jpg.jpg/800px-Invalides-film123jpg.jpg)


Tiêu đề: Cò Hum-Paixhans, Cối lai Hải Pháo, cối Mỹ Thế Kỷ 19, cối mà không cối.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 02:42:35 pm
Cối Cò Hum là gì. Đó là loại cối ngáng, nhưng có bộ ngáng ở đít nòng chứ không phải ở giữa nòng. Nhờ ngáng, chỉnh tầm dễ dang hơn nhiều. Cần biết là mỗi khi bắn, góc tầm thay đổi chút, cưa lật cối ra mà đắp đất lại thì rất mất thời gian. Nhờ ngáng cối, chỉ cần thay đỏi con kê để chỉnh góc tầm.

Giữa Thế Kỷ 19, Henri-Joseph Paixhans phát minh ra cách để súng pháo bắn trái phá với sơ tốc lớn, nổi tiếng với loại Hải Pháo mang tên ông. Kỹ thuật này cũng được áp dụng vào cối và được dùng rất nhiều ở Nội Chiến Mỹ. Thật ra, kỹ thuật này trước tiên được áp dụng ở cối, sao mới đến pháo. Lúc này, Anh-Mỹ tụt hậu khá xa về pháo Lục Quân, quan trọng nhát là các Lự pháo dã chiến và trận địa, nên người ta đúc rất nhiều loại cối này để dùng thay cho các loại pháo bắn chính xác. Thật ra, như thế này thì không còn là cối nữa, nó không còn nhẹ, rẻ, bắn diện tích sát thương...
Khẩu Paixhans-Monster là khẩu cối to khủng bố của Thế Kỷ 19, không biết có phải là to nhất không, được dùng trong trận công thành Antwerp năm 1832.

Cối có hai ngáng ở đít nòng, tỷ lệ chiều dài nòng tăng so với cối bụng chửa trên kia, được đóng trên giá gỗ, Cối vẫn được dùng cho đến đầu Thế Kỷ 20, chỉ được người Nga thay thế năm 1904 trong trận đánh Cảng Đại Liên.

Đây là nội chiến Mỹ, Cò Hum tròn 300 tuổi. Anh-Mỹ thiếu trình độ lựu pháo như Nga-Pháp và đúc nhiều cối Cò Hum nòng rất dầy, tỷ lệ chiều dài lớn, bắn xa... để thay thế Howitzer tầm xa. Pháo Mỹ Anh trên bộ chỉ thiên về loại dã chiến nhẹ tầm rất gần, họ thiếu hẳn loại "pháo trận địa", cho đến nay ngôn ngữ của họ cũng vậy.

Có thể so sánh kỹ thuật đúc pháo của Anh, Mỹ lúc đó. Những khẩu cối này được dùng trong nội chiến Mỹ, sau khi những khẩu Howitzer Nga hình thành hình dáng khum khum tròn 100 năm. Thế nhưng, những khẩu cối này vẫn sử dụng cái nòng trùng trục, không hề có ý thay đối chiều dầy nòng theo áp suất bắn và ứng lực khi giật. Những điểm này rất giống pháo sơ khai, làm cho nòng nặng nề quá vô ích. Ví dụ, những khẩu cối như đây nặng đến nhiều tấn những bắn trái phá gần hơn và thiếu chính xác hơn nhiều so với một khẩu lựu pháo. Động năng đầu đạn của chúng chỉ có thể so với lựu pháo khi cưa đoạn nòng mỏng của lựu pháo đi mà thôi.

Suốt Thế Kỷ 19, Anh Mỹ nối tiếp các tham vọng bà chủ trên biển và họ chỉ thiên về loại Thần Cơ, kỹ thuật bắn trái phá tụt hậu hơi bị xa.

Khẩu 13 inch (khoảng 327mm) "Dictator". Nặng 17120 pounds (7772kg), bắn đạn 200lbs (90kg), tầm xa có thể đạt đến 4752yds (4343 mét), liều nhồi 20 pounds (9kg). Nó nặng gấp 5 lần cối gần gần cỡ cối đồng thau Nga kiểu 1805, như dưới đây.
James River, Va. Work party and mortars at "Butler's Crow's Nest"]
Source Library of Congress Prints and Photographs Division Washington, D.C
Date 1865
http://www.old-picture.com/civil-war/Petersburg-Virginia-DICTATOR.htm (http://www.old-picture.com/civil-war/Petersburg-Virginia-DICTATOR.htm)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:01817uCROP.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:01817uCROP.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fa/01817uCROP.jpg/800px-01817uCROP.jpg)


Người ta thường gọi là Cò Hum , nhưng bọn Mẽo thộn đọc ngọng di thành Cò Hom (coehorn).

Đây là điểm vượt sông  Appomattox River, Virginia, Nội Chiến Mỹ. Cối cò Hum vẫn không khác gì 300 năm trước. Lúc này, dùng cối đã rất lạc hậu, ở Nga, cối được thay thế bởi số lượng lớn Lựu Pháo (như đã bốt). Nhưng trình độ súng Mẽo lúc này là thuộc địa  ;D ;D ;D ;D ;D, chíp hôi.
Cối của quân Miền Nam, có vẻ như lạc hậu, mỏng, gần hơn là miền Bắc.
Detail of photograph Broadway Landing, Appomattox River, Virginia. Ordnance showing confederate coehorn mortar.
Source Library of Congress Prints and Photographs Division Washington, D.C.
Date 1865
 
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:CScoehorn.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:CScoehorn.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/01/CScoehorn.jpg/800px-CScoehorn.jpg)

Đây là một trận địa bảo vệ bờ biển. Cối không mạnh khả năng bắn chính xác, nhất là mục tiêu di động. Tuy nhiên không có chó thì bắt mèo ăn... đồ ăn của lựu pháo  ;D ;D ;D. Morris Island, 1865, 10inch (252mm).
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:10inSeacoastMortars.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:10inSeacoastMortars.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/73/10inSeacoastMortars.jpg/800px-10inSeacoastMortars.jpg)


Tiêu đề: Cối Ba Lan, Cò Hum chuẩn. Nửa sau Thế Kỷ 19.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 02:52:57 pm
Cối đông Âu, lâu đài Malbork , Ba Lan. "Thời đại đồ gang" có cả tiện, cuối Thế Kỷ 19.
Kiểu cối này có ngáng như Cò Hum, nhưng lại có nòng kiểu Nga. Người Nga không dùng nhiều cối, vì Nội Chiến Mỹ dùng cối thay chức năng Lựu Pháo của Nga. Thông cảm, lúc đó Nga đã là siêu cường còn Mỹ mới mở mắt.

Người Nga chỉ dùng cối như ngày nay, súng bắn trái phá tầm rất gần, thường dùng trên pháo đài chống bộ binh. Kiểu nào này rất mỏng, nhẹ so với cỡ đạn trái phá của nó. Nếu cần so tỷ lệ thì nhìn cảnh trên. Nòng kiểu này cũng rất ngắn và có bụng chửa như từ thời cổ. Vả lại, đây mới gọi là cối, chứ cối lai Hải Pháo trên thì còn gì là nhẹ, là nhiều, là cối nữa.

Kiểu này này có sau kiểu "nòng mỏng ngắn buồng đốt bé", cối lai lựu pháo. Hai kiểu nòng tồn tại song song suốt thời cổ và vẫn được Nga dùng cho đến thời đại đồ thép, nửa sau Thế Kỷ 19.

Thật ra, đây mới là phiên bản cối Cò Hum đúng gin, còn kiểu Mỹ trên là cối lai Hải Pháo của  Henri-Joseph Paixhans Thế Kỷ 19. Tuy lai như vậy, nhưng người Mỹ thường nói tắt, mà cái phần bỏ đi lại là phần chính.  ;D ;D ;D ;D (Kiểu như "tầu diệt tầu phòng lôi", các "khu trục hạm", lại là "kẻ hủy diệt", nghe như tầu sát thủ đối hạm ghê lắm).

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Malbork_-_Bombarda.JPG (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Malbork_-_Bombarda.JPG)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/90/Malbork_-_Bombarda.JPG/800px-Malbork_-_Bombarda.JPG)

Đây là nòng cối Cò Hum, kiẻu cổ điển hình. Nòng này được đúc ở "thời đại đồ gang", đầu Thế Kỷ 19, nay ở trên tường thành Akko (Acre), Israel. Cứ hình dung ra đồng thay gang là được khẩu cối Cò Hum cổ.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Sidsmith.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Sidsmith.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/59/Sidsmith.jpg/450px-Sidsmith.jpg)


Tiêu đề: Cối Nga, vừa khiên vừa ngáng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Năm, 2008, 03:05:43 pm
Trong Thế Kỷ 18-19, Nga vẫn đúc nhiều cối. Tuy nhiên, họ có nhiều lựu pháo, trong đó có những khẩu "lựu pháo vị trí" bắn xa, nên không đúc nhiều  loại cối nòng dầy, dài, bắn xa.

Cối ở Nga chỉ dùng bắn gần, thừa kế cái nỏng mỏng nhẹ cổ điển. Nhờ ưu thế rẻ của nó mà số lượng súng rất lớn, tạo thành hoả lực trái phá mạnh ở chân thành, ven trận địa, chống bộ binh. Cối Nga có thể bắn đạn cháy, đạn trái phá. Cối Nga cũng có loại đạn gang câm, thường là cầu rỗng hay cầu đặc, công thành. Trong khi đó, các cối Cò Hum Bắc Mỹ, Anh... không rẻ là bao so với Lựu Pháo hay Thần Cơ cùng cỡ và có tầm bắn khá xa.

Trông cối Nga rất khác cối các nước khác, nó là cối ngang lai khiên. Cối có đế rộng, người ta đặt vào đấy các con kê, nhờ đó dễ chỉnh tầm và bắn được góc thấp. Do nòng nhẹ nên lực giật của cối Nga rất mạnh và con kê trở thành một thiết bị quan trọng.

Đây là khẩu cối bắn đạn 1/4 pút (mỗi Pút xấp xỉ 16,38 kg). Cối pháo đài, đồng thau, nòng dài 41cm, đường kính 123mm, khối lượng 73kg (chỉ bằng 1/5 lựu pháo cùng thời, bằng 1/10 Thần Cơ pháo cùng thời, 1/30 Thần Cơ pháo đài đầu Thế Kỷ 18), đúc khoảng 1/4 đầu tiên của  Thế Kỷ 19

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:123-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:123-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:123-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%28%D0%BA%D1%80%D1%83%D0%BF%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%BF%D0%BB%D0%B0%D0%BD%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:123-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%28%D0%BA%D1%80%D1%83%D0%BF%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%BF%D0%BB%D0%B0%D0%BD%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fa/123-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg/800px-123-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0.jpg)


Tiêu đề: Cối Nga kiểu 1805, 335mm
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Năm, 2008, 02:47:48 am
Nòng cối Nga. Bắn đạn 5 pút (1 pút= 16,8kg), kiểu 1805, đồng thau, dài 111cm, nặng 1494kg, đúc năm 1808 tại Quân Xường St. Petersburg. Tầm bắn 2050 mét. 
Đạn từ trái qua phải: hộp đạn ria sỏi cứng (đạn ria đựng trong hộp thép, hộp thép vỡ khi bắn, dùng sỏi grana-sỏi gốc đá cứng "thạch lựu"), tiếp là các hộp đạn ria viên thép, đạn cháy, trái phá sát thương. Mỗi đạn đều cân nặng khoảng 5 pút (80kg)

Nhìn các tham số của cối này thấy được ưu thế của loại súng này. Một khẩu lựu pháo nặng gấp rưỡi gấp đôi thế này cũng chỉ chưởng được đạn 1 pút với tầm bắn tương tự.

Kiểu đế cối Nga có cả ngáng và đế đúc liền này trong hời đại đồng thau cho phép bắn góc ngang và dùng đạn ria. Đây là ưu thế của chúng mà kiểu đế cối Cò Hum không có.

Giá thành thì khỏi bàn rồi, phiên bản đồng thau mà chỉ nặng bằng 1/năm lần rưỡi của "Cối Paixhans" gần cỡ bằng thép. Cối kiểu Nga bắn gần hơn "Cối Paixhans", tuy nhiên, dùng cối để xạ kích tầm xa, chống "công sự di động" như "Cối Paixhans" thì lại là một sai lầm, hiệu quả không đáng kể. Tuy khác hình dáng, nhưng lợi điểm của cối kiểu Nga thế kỷ 18 đến nay vẫn đuợc cối hiện đại thừa kế, đó là súng rẻ đạn rẻ, có một số lượng lớn súng và một trận mưa trái phá sát thương tầm gần, bắn diện tích, không loại súng nào địch nổi ưu thế này, chỉ có tên lửa vượt được nhưng đạn đắt).
 
 Som sámh, ví như lựu pháo công thành kiểu muộn hơn, 1838, 192mm, nặng 2199kg, bắn xa 2770 mét.  (http://=http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21506#msg21506)

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/8f/335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg/800px-335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/76/335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg/800px-335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b9/335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/800px-335-%D0%BC%D0%BC_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%B0_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)



Tiêu đề: Ảnh cối gang Mỹ chụp 10/1864
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Năm, 2008, 03:05:16 am
Nửa sau Thế Kỷ 19 là kỷ nghuyên của Thép, một số cối vẫn bằng gang.

Tuy nhiên, dù công nghệ chế tạo có tiến bộ thì ảnh dưới đây vẫn thiếu hoàn toàn cấu tạo. Khẩu cối không hề thay đổi chiều dầy nòng và cực kỳ nặng nề vô ích. Như vậy, ưu thế nòng nhẹ của khẩu này mất hoàn toàn, nó được dùng như "pháo vị trí", hay là lựu pháo tầm xa ngày đấy, tầm bắn 3km, nặng gấp 3 lần khẩu trên kia, mặc dù làm bằng thép.

Ngày nay, người Mỹ hay dùng từ "field gun", dã pháo, chỉ những khẩu lựu pháo hỗ trợ bộ binh, bắn diện tích, ví như khẩu Vua Chiến Trường M107 175mm khi đánh nhau với ta. Thật ra, đây là khẩu "pháo vị trí" điển hình, lựu pháo tầm xa. Tuy nhiên, trong khái niệm pháo binh của người Mỹ đã không có "lựu pháo-howitzer" thật sự vào những thời điểm sinh ra lực lượng pháo binh như thế này. Nội chiến Mỹ, binh sỹ hai bên chỉ có loại "field gun" và cối  để hỗ trợ bộ binh. "Field gun" lúc đó là những khẩu pháo rất nhẹ, bộ binh kéo theo đội hình với tầm bắn chỉ vài trăm mét. Cùng nhiệm vụ với những khẩu "lựu pháo dã chiến" người Nga đúc từ cuối Thế Kỷ 18. Sau này, tất nhiên Mỹ cũng chế tạo "pháo vị trí" hiện đại-tức là lựu pháo tầm xa, nhưng vẫn thừa kế cái tên "field gun" vì vậy.

Thật ra, kiểu cối dưới đây cũng không hoàn toàn là cối Cò Hum, đúng ra, nó là loại cối Cò Hum có sử dụng các nguyên lý bắn trái phá của Henri-Joseph Paixhans, giữa Thế Kỷ 19. Đây là một cải tiến để bắn trái phá thuốc nổ đen tầm xa, mà đạn không nổ trong nòng hay trên mặt mục tiêu. Nhược điểm của loại súng này ????? Nó quá tốn vật liệu, lúc đó giá thành chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng vật liệu, do đó, không tạo thành lợi điểm có số lượng súng pháo lớn. Khi ra trận, một trận địa cối như thế này mất nhiều hôm để xây dựng trong thời buổi tầm bắn chỉ 2-3-4km, vì vậy, nó hầu như chỉ để công thành, vượt sông (công cái thành bờ sông  ;D ;D ;D ;D ;D ;D), bảo vệ mục tiêu-chống bộ binh... chứ không thể hành tiến theo đoàn quân như lựu pháo.

So sánh với nòng có hình dáng phức tạp
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21374#msg21374

Nhớ lại một chút về 4 loại pháo phân theo mức độ cơ động
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21291#msg21291

Đây là ảnh chụp mô tả khẩu cối tại Virginia, Petersburg, tháng 10/1864. Dễ thấy nặng như thế nào.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Virginia-mortar.gif (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Virginia-mortar.gif)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/33/Virginia-mortar.gif)


Tiêu đề: Henri-Joseph Paixhans và Hải Pháo. Đỉnh của thuốc nổ đen.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 12:34:06 am
Henri-Joseph Paixhans là một viên tướng người Pháp.

Henri-Joseph Paixhans tìm ra biện pháp để bắn đạn trái phá thuốc nổ đen với gia tốc lớn mà không bị phát nổ trong nòng, giảm khả năng phát nổ trên mặt mục tiêu. Bí mật công nghệ chỉ là các đệm gỗ trong đạn. Một tiến bộ bượt bậc là Henri-Joseph Paixhans và những người phát triển các kiểu pháo này đã thật sự chuyển từ thời đại đồng thau đúc sang thời đại gang đúc, rồi thời đại nòng thép khoan. Các nỗ lực gang thép này thuận tiện ở Anh từ phần tư tứ 2 Thế Kỷ 19, Nga chỉ sau 1850. Cũng khoảng 185x, ở Bắc Mỹ, cuộc các mạng gang thép cũng chớm nở.

Như trên đã đề cập, ban đầu ông áp dụng kỹ thuật này vào cối. Giờ đây có thể thoải mái nhồi nhiều liều phóng và đúc nòng rất dầy, tầm bắn lên đến 4-5km. Tuy nhiên, khẩi siêu cối công thành của ông năm 1832 bộc lộ nhược điểm cố hữu là nặng như cùm.

Một số đặc điểm lớn
Thực ra, loại cối hay pháo hay đạn cụ thể do Paixhans thiết kế không nhiều, nhưng rất nhiều loại súng pháo đạn tự nhận là Paixhans. Đó là một trào lưu có thể hiểu là "Pháo Cối sắt rất to dầy", sắt ở đây có thể là gang đúc nay thép khoan. Bản thân Paixhans "sịn" chỉ có một vài sáng kiến về đạn.

Guốc. Từ thời đạn đặc, Hồ Nguyên Trừng đã sử dụng đệm gỗ mềm để chống ẩm.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21102#msg21102
Còn Paixhans dùng một cái đệm gỗ y hệt như thế mới mục đích khác. Đệm gỗ nằm phía sau đạn, gắn với đạn bằng đinh tán đồng, biến hình dáng bên ngoài đạn cầu thành đạn trụ, ngòi không bị xoáy đi khi nhồi, ngòi đặt đúng hướng trong buồng thuốc nổ không lệch.
Trước đây, trước khi bắn người ta đóng ngòi gỗ vào trong đạn cầu. Ngòi gỗ thòi ra cái đuôi ở ngoài, chống vào thành nòng để đảm bảo khi nhồi nó không lộn ra đằng trước. Kiểu ngòi gỗ đó yếu không dùng được với đạn to, nên các cỡ pháo lớn chỉ bắn được đạn đặc, vì khi nhồi ngòi gỗ yếu gẫy trước vên đạn quá nặng. Trước đây bắn trái phá lớn chỉ dùng cối.
Đạn có guốc gỗ sau này áp dụng với cả đạn đặc, ở đây, chỉ còn tác dụng như miếng lèn gỗ của Hồ Nguyên Trừng, dùng để bịt kín buồng đốt và lèn chặt đạn không lăn rơi.
Xem lại các viên đạn cối không guốc còn lại.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21627#msg21627

Ngòi. Một nguyên nhân quan trọng làm đạn phát nổ trong nòng là ngòi bị thổi bay, kích nổ đạn sớm. Paixhans bỏ ngòi cháy chậm châm bằng liều đi, và sử dụng loại "ngòi nhoi" sơ khai. Khi đạn đập vào mục tiêu, một quả búa trong đạn sẽ theo quán tính đập hạt nổ.

Hình dáng nòng
Vì bắn được với gia tốc tốt hơn nên pháo cối Paixhans có nòng rất dầy. Nong thường làm bằng gang đúc, một sự ủng hộ cách mạng kỹ thuật sắt thép lúc đó và được các lực lượng "kỹ thuận mới", "công nghệ cao" ủng hộ nhiệt liệt, "kỹ thuật mới" và "công nghệ cao" ở đây là các nhà kinh tế làm sắt thép và các nhà kỹ tuật đang thần tượng gang thép. Sự hoan hô cổ vũ nhiều phần thái quá của các lực lượng này tạo ra một model thời trang "Hải Pháo Paixhans", mặc dù phần lớn trong số đó không liên quan gì đến các sáng kiến của Paixhans cả. Cứ pháo nào gang thép do dầy là Paixhans tuốt tuột.

Hạn chế. Paixhans vẫn chưa chống được đạn phát nổ trong nòng do gia tốc lớn và những khẩi Hải Pháo diệt tầu mạnh nhất vẫn phải dùng đạn gang đặc. Paixhans cũng chưa giải quyết được vấn đề đạn nổ ngay trên mặt mục tiêu.

Vài thông tin khác
Hải Pháo là loại pháo tầu, thử nghiệm đầu tiên năm 1824, đến năm 1840, có đơn đặt hàng đầu tiên súng nòng nặng 5 tấn. Nga là nước đầu tiên sử dụng Hải Pháo trong chiến tranh trên Biển Đen với Thổ. Sau đó loại pháo này được chứng minh ứu thế và dùng rộng rãi. Khỏi phải nói, Anh-Mỹ vụng về về pháo Lục Quân đánh bộ, thiên về tầu chiến, khoái khẩu loại này thế nào.

Do vẫn dùng thuốc nổ đen có tốc độ cháy rất cao, nên nòng pháo chỉ tăng được độ dầy mà không tăng được độ dài. Thế là nòng pháo Henri-Joseph Paixhans có đặc điểm đầu tiên là gù lưng ngắn tũn rất xấu. Ở bảo tàng Quân Đội còn mấy khẩu. Pháo cũng chưa có giá hãm đẩy về... và dùng giá của Thần Cơ cổ, nên nguyên lý giảm giật vẫn là đúc nòng thật nặng và pháo nặng khủng bố. Do nâng hết cỡ sơ tốc nên pháo rất nặng, không như các khẩu lựu pháo Nga nhẹ nhàng. Pháo Paixhans thuận tiện bắn chính xác góc thấp (xạ kích), ưu thế khi chống mục tiêu di động. Tầm bắn của pháo khi bắn góc thấp xạ kích khoảng 1-4km tùy loại. Tuy nhiên, Hải Pháo Paixhans cũng chỉ bắn trúng mục tiêu tầu biển hồi đó với tỷ lệ trúng chấp nhận được chỉ vài trăm mét. Những cỡ pháo 300-400mm có đạn nặng trên 80 km thì một viên có thể làm lập úp tầu buồm. Những loại Hải Pháo Paixhans ngắn mạnh nhất cũng chỉ bắn đạn đặc.

Cối Paixhans thì cực kỳ tồi tệ về thiết kế nòng, còn Hải Pháo Paixhans thì tiến bộ hơn nhiều, đã thay đổi độ dầy nòng theo đồ thị áp lực. Nòng rất dầy và chỉ sử dụng vùng đồ thị áp lực cao, nhồi nhiều, gia tốc đạn mạnh. Khác biệt với lựu pháo Nga có đoạn nòng rất mỏng sử dụng vùng đồ thị áp lực thấp, nhồi ít, gia tốc đạn thấp. Hải Pháo Paixhans thường nặng gấp 2-3 lần lựu pháo Nga bắn đạn cùng cỡ.

Nòng pháo ngắn, đã uốn lượn theo đồ thị áp suất và bỏ cái miệng nòng cơ gờ dầy. Miệng nòng này trước đây truyền lại theo kinh nghiệm, nó có từ thời đại đồng thau nửa trước Thế Kỷ 19, nó như một bộ giáp chốg méo miệng nòng trong chiến đấu, hết sức nguy hiểm, đặc biệt với loại lựu pháo mỏng, cối Nga miệng mỏng.

Đây là loại pháo cuối cùng dùng thuốc nổ đen, loại pháo cổ cuối cùng. Đúng ra, nó là trung gian giữa cổ và tân, giao duyên. Trong suốt quá trình phát triển của nó, người ta đã làm chính tầm, hướng (ngáng-ngõng và khóa), khóa nòng, đạn có vỏ nhồi sau... như một khẩu pháo hiện đại.

Pháo cũng tạo ra loại tầu trung gian giữa thời "Ship of the line" và các "Thiết Giáp Hạm". "Ship of the line" là loại tầu chiến đấu tronmg đội hình, dùng pháo mạn gắn cố định, tầu là giá pháo luôn. "Thiết Giáp Hạm" là loại tầu chiến đấu đơn độc, dùng tháp pháo quay. Trong "Nội chiến Mỹ", quân Miền Nam sử dụng một số tầu chiến lớn kiểu cũ cải tiến, không dùng pháo mạn mà thay bằng Hải Pháo gù Paixhans có ổ quay. Tuy nhiên, các thiết giáp hạm hoàn chỉnh đầu tiên lại là của Miền Bắc, chiếc USS Monitor.

Pháo cũng dược dùng như các loại "pháo pháo đài". Đôi khi, pháo được mô tả như như "pháo vị trí", nhưng thực chất là "pháo pháo đài" được các nhà văn ếch mô tả. Pháo ngoài việc diệt tầu cũng được bố trí trên các pháo hạm, là loại tầu nhiều súng pháo hỗ trợ bộ binh trên bờ.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21291#msg21291

Ảnh

Đây là bức ảnh một viên trái phá trước thời Henri-Joseph Paixhans.
Đạn rỗng nhồi thuốc nổ, vỏ đạn đúc gang có một lỗ nhồi cái ngòi bằng gỗ, trong cái ngòi bằng gỗ có dây cháy chậm quấn giấy. Kiểu này làm mất thời gian nhồi khi pháo thủ cần hướng chính xác lỗ tra ngòi về phía sau. Cũng nhiều nhược điểm khác như dễ lăn ra ngoài chẳng hạn.
(http://www.cwartillery.org/pshot.jpg)

Đây là một cái ngòi gỗ trước thời Paixhans.
Có hai loại ngòi, ẩm và khô.
Ngòi ẩm là thuốc nổ đên trộn với rượu mạnh hoặc cồn, đựng trong ngòi gỗ khoan lỗ rỗng và dán kín lại như đồ hộp, khí bắn, miếng gỗ dán vỡ đốt cháy thuốc. Loại ngòi này có tốc độ cháy rất ổn định, nhưng khó bảo quản.
Ngòi khô khà ngòi dùng dây cháy chậm quá giấy. Nó cháy với tốc độ không ổn định, nhưng dễ bào quản. Tuy nhiên, ngòi này về cơ học yếu và không tin cậy, dễ bị phá hủy khí bắn đạn. Một số cải tiến dùng ốg kim loại nhưng áp dụng ít. Một số cải tiến nữa dùng cả thân ngòi kim loại vặn vào đạn, cũng ít. Ngòi giấy hồi Nội Chiến Mỹ có mầy chỉ thị, vàng là 5 giây, xay lá cây là 7 và xanh da trời là 10.
Ngòi gỗ này sẽ được đóng vào viên đạn cầu gang trước khi bắn.
(http://www.cwartillery.org/woodfuse.jpg)

Một kiểu ngòi Bỉ có núm vặn chỉnh thời gian cháy, quá "sịn". Nó cũng dễ chế tạo nhưng là một bí mật quốc gia được Bỉ giữ trong nhiều năm nên được áp dụng ít ở Mỹ, vặn núm để thay đổi chiều dài ngòi hình khuyên. Trên núm vặn có số chỉ thị số giây cháy. Khoảng những năm 195x ngòi này được công bó rộng nhưng ngày đó công nghệ thay đổi rất chậm (đào tạo công nhân, sắm máy cắt gọt, tìm hợp kim...). Ngòi này có tên là "ngòi Bormann", ở Mỹ có một số hàng nhái như ngòi Baden hoặc Breithaupt, tuy nhiên, vì công nghệ có chậm nên ít được sản xuất. 
(http://www.cwartillery.org/bormann.jpg)


Còn đây là viên đạn đã đeo guốc gỗ của Henri-Joseph Paixhans.
(http://www.cwartillery.org/sshot.jpg)


Cây gậy châm (linstock ) hồi Nội Chiến Mỹ cũng có cải tiến, có một phễu bảo vệ thừng mồi thay cho kẹp đồng trước đây, đằng sau là đoạn thừng mồi dự trữ, được pháo thủ kéo ra dần trong khi chúng bạn nạp đạn và đẩy pháo.
(http://www.cwartillery.org/primer.jpg)



Tiêu đề: Pháo Paixhans 15In (380mm), Mỹ, 1864. Hải Pháo Béo Carronade.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 12:35:42 am
Carronade, béo nhẹ.
Trước khi có Hải Pháo Paixhans, vũ khí chính để các Ship of the line đá đấu là các thần cơ nòng dài, dầy, nặng bắn đạn đặc. Cũng như đạn dưới cỡ có guốc ngày nay, Thần Cơ bắn đạn tốc độ cao và dường kính nhỏ. Một nhược điểm thường thấy khi bắn đạn này vào tầu gỗ là nó xuyên béng qua gỗ, để lại một lỗ thủng bé có khi tự bịt và... không sao cả. Hải Pháo Paixhans thì khác, trái phá nổ tung trời, kể cả khi bắn đạn đặc thì với kích cỡ lớn của súng đạn, chiếc CSS Alabama cũng nghiêng đi khi trúng. Nếu mà thời đó tầu đúc bằng gang thì chắc không có Carronade.
Carronade là một phát minh của công ty Carron Company, một công ty đúc gang ở Falkirk, Scotland. Pháo được sản xuất trong khoàng những năm 177x đến 186x, thời của pháo đài nổi Ship of the line. Đây là loại pháo có tỷ lệ chiều dài/đường kính rất nhỏ, vỏ mỏng, nhồi ít, bắn đạn rất to, sơ tốc nhỏ. Pháo còn có tên "gasconade" hoặc "melvillade", trông ngắn tũn còn xấu hơn chú gù Hải Pháo Paixhans.
Do cấu tạo như trên mà pháo rất nhẹ và lực giật cũng rất nhẹ. Ví dụ, khẩu 32 pounder carronade, (15kg, khoảng 190mm, đạn cầu đặc gang cứ thế mà nhân chia ra đường kính), nặng dưới 1 tấn, trong khi khẩu Thần Cơ nòng dài bắn đạn cùng cỡ là 3 tấn. Pháo cũng dễ dàng làm bằng gang đúc, thứ đang rẻ đi với tốc độ siêu nhanh như DDR-3 hiện nay nên phát triển khá tốt, nó được dùng rộng rãi cho đến nội chiến Mỹ như pháo phụ, bên cạn pháo chính Paixhans. Nhược điểm thì dĩ nhiên, tầm rất gần.
Pháo cũng thích hợp với không gian tầu chiến, thời nạp đạn miệng nòng, hình dáng ngắn tũn đâm ra ưu thế. Kết hợp với nhẹ và giật nhẹ, pháo hay đặt trên các tần trên cùng của Siêu pháo hạm, pháo đài nổi Ship of the line.
Trong quá trình phát triển, đến khoảng giữa Thế Kỷ 19, chú lùn béo Hải Pháo Carronade đặt trên tầu thường có cấu tạo như sau. Pháo có giá chỉnh tầm vít me vặn vào mấu lồi sau đít nòng. Giá pháo được đặt trên một đế gỗ trượt lên. Lực giật làm pháo trượt lui về sau và không trượt quá đà bởi một chão néo chằng qua một cái tai đúc trên nòng. Pháo thủ nạp đạn rồi lại đẩy pháo lui về trước thò đầu ra bắn. Pháo cũng thường được đặt ở các pháo đài ven biển như Hải Pháo Paixhans.

scanned from Vaisseau de Ligne, Time Life, 1979
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Caronnade-schematics.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Caronnade-schematics.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/69/Caronnade-schematics.jpg/800px-Caronnade-schematics.jpg)




Trong suốt quá trình phát triển của mình, từ 1824 cho đến 1903-1905, Hải Pháo Paixhans có nhiều cải tiến như pháo hiện đại. Nhưng phiên bản nguyên thủy vẫn dùng giá của Thần Cơ, đạn cầu, nhồi thuốc rời vào miệng nòng.

Khi Hải Pháo Paixhans ra đời thì công nghệ khoan nòng cũng đã phát triển khá và được ứng dụng nhiều. Nòng khoan chính xác hơn nòng đúc rất nhiều, tạo ưu thế chống mục tiêu di động tầm xa. Tuy nhiên, Hải Pháo Paixhans chỉ hạn chế được phần nào khả năng trái phá phát nổ ở mặt mục tiêu bọc giáp tốt, nên chỉ chống được các tầu mọc thép IronClad trở xuống mà thôi. Thời kỳ Nội Chiến Mỹ thì Nòng Gang Đúc đang thịnh trị, pháo có thể bắn xa 4-5km, nhưng chỉ chiến đấu hiệu quả ở 100-200 mét, thậm chí thấp hơn.

Khẩu 15in (380mm) ở Washington D.C. 1864.
http://www.old-picture.com/civil-war/Cannon.htm (http://www.old-picture.com/civil-war/Cannon.htm)
(http://www.old-picture.com/civil-war/pictures/Cannon.jpg)


Tiêu đề: Tầu chiến cuối cùng của 1000 năm Thuốc Nổ Đen
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 01:28:57 am
Nửa đầu Thế Kỷ 20 đặc trưng bởi thứ Thiết Giáp Hạm BattleShip với pháo to dài, giáp dầy, động cơ trọng tải lớn, tầu trung tâm của nhóm tác chiến độc lập. Bắt đầu Thế Kỷ 19 là thời thống trị của Tầu tiền tuyến Ship Of The Line rất nhiều pháo, nhiều tầng, chạy buồm, chiến đấu trong đội hình hàng ngang nhiều tầu như nó. Trong khoảng thời gian trước Nội Chiến Mỹ, có 3 loại tầu trung gian đã hình thành.

Kiểu "Ship Of The Line" cải tiến, vẫn dùng buồm và thân gỗ, nhưng bỏ các tầng pháo mạn, chiến đấu độc lập, sử dụng giá pháo quay trên đặt "Hải Pháo Paixhans", thay cho nhiều pháo nhỏ ở mạnh cố định hướng là 1-2 khẩu pháo lớn ở giữa thân tầu trên giá pháo quay, là loại tầu chiến trung gian trước khi xuất hiện Thiết Giáp Hạm BattleShip. Chúng tồn tại ngắn ngủi vì những nhược điểm của mình. Những nhược điểm lớn nhất ????? có lẽ là chạy buồm, động cơ không có hay quá yếu, không bọc giáp, pháo lộ thiên trên boong.

Một thứ giống tầu "Ship Of The Line" hơn về pháo, là các tầu vẫn dùng pháo mạn. Nhưng có giáp dầy, gỗ bọc thép ví như CSS Virginia. Ngoài vỏ dầy có thép và động cơ hơi nước. Nó tồi tệ thế nào về tỷ lệ giá/tính đối kháng không bàn nữa, CSS Virginia rất đắt nhưng chỉ nổi tiếng vì nó là nạn nhân đầu tiên của Thiết Giáp Hạm, trận đầu tiên của chiếc đầu tiên, USS Monitor.

USS Monitor là Thiết Giáp Hạm, BattleShip đầu tiên, có bọc thép, tháp pháo quay. Nó cũng mở đầu một nhóm các Thiết Giáp Hạm dùng thuốc nổ đen, loại tầu chiến cuối cùng dùng thuốc nổ đen. Riêng chiếc USS Monitor có số phận đen đủi, thiết kế của nó còn nhiều thiếu sót, tuổi thọ ngắn ngủi, 1862-1862  ;D ;D ;D ;D ;D, ngay trận đầu ra quân đã phải tháo lui với súng kẹt đạn và thuyền trưởng mù, nhưng sau đó, đối phương phải hủy vì không sửa được, thật là "đồng quy ư tận". USS Monitor sau đó dễ dàng bị bão đánh chìm!!!! ;D ;D ;D ;D
USS Monitor mở đầu cho thời kỳ "Thiết Giáp Hạm dùng thuốc nổ đen", hay "Thiết giáp hạm dùng Hải Pháo Paixhans" hay là "Tiền Dreadnought". HMS Dreadnought là chiếc Thiết Giáp Hạm "All Big" đầy tiên, dùng pháo bắn đạn xuyên hiện đại, chấm dứt thời kỳ "Hải Pháo Paixhans" vào năm 1905.

Tuy số phận ngắn ngủi, tầu thấp tịt, một cơn giông khẽ cũng chìm...nhưng USS Monitor đã chứng miưnh các ưu thế của thiết kế mới. Công Trình Sư John Ericsson vĩ đại khai sinh ra đế chế Thiết Giáp Hạm thống trị mặt biển cỡ 90 năm là một sỹ quan người Thụy Điển, sau đó ông sang Anh làm việc và di trú sang Mỹ. Ngày nay, bọn Mỹ thộn thường lờ tịt đi chiện này.


Tiêu đề: CSS Alabama, tầu buồm sử dụng Hải Pháo Paixhans
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 01:30:30 am
Nội chiến Mỹ, con tầu khét tiếng của dân Miền Nam, nó hoạt động như một tầu tuần dương, chuyên đi săn tầu vận tải.

http://www.history.navy.mil/photos/sh-us-cs/csa-sh/csash-ag/alabama.htm (http://www.history.navy.mil/photos/sh-us-cs/csa-sh/csash-ag/alabama.htm)
http://www.history.navy.mil/photos/events/civilwar/cw-cru/kear-ala.htm (http://www.history.navy.mil/photos/events/civilwar/cw-cru/kear-ala.htm)
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h58000/h58739.jpg)

Thuyền trưởng Raphael Semmes, đứng dựa vào khẩu pháo bắn đạn 110 pounder, chuyến thăm Capetown, 1863. Đằng sau là thủy thủ trưởng executive officer, First Lieutenant John M. Kell.
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h57000/h57256.jpg)

Tử chiến, "hãy bắn hạ cờ địch". Sau đó, CSS Alabama bị USS Kearsarge bắn chìm.
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h01000/h01261.jpg)

USS Kearsarge có hai khẩu pháo "XI-inch Dahlgren shell gun" đặt trên giá quay, nay vẫn còn trong bảo tàng tại Chatham Annex, Williamsburg, Virginia. Trong ảnh là chủ hãng J. R. Wheeler và kỹ sư S. L. Smith.
http://www.cwartillery.org/afamgun.html (http://www.cwartillery.org/afamgun.html)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/taauf/Kearsarge_XIinchDahlgrenShellGun.jpg)

 


Tiêu đề: Thiết giáp hạm dùng Thuốc Nổ Đen
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 02:12:45 am
Đây là tầu hiện đại, có cả máy hơi nước và bọc thép, nhưng lại dùng loại súng cổ cuối cùng.

Các Thiết Giáp Hạm là phát minh Thụy Điển được thực hiện tại Mỹ, được quân Miền Bắc dùng đầu tiên trong Nội Chiến Mỹ. Chiếc USS Monitor được dóng bởi một công trình sư Thụy Điển. Đặc trưng của nó là tháp pháo quay, bọc thép, chứ không tầu gỗ trần trụi.

Những Thiết Giáp Hạm đầu tiên chất lượng không được tốt lắm nhưng chiến kết quả rất tốt, mở đầu 90 năm thời đại Thiết Giáp Hạm. Trận chiến đầu tiên là USS Monitor vs CSS Virginia, 9 tháng 3 năm 1862, trận chiến lịch sử diễn ra dưới sự chứng kiến của đông đảo người xem trên bờ. USS Monitor trúng một viên đạn làm mù thuyển trưởng, kẹt súng và rút lui. Nhưng CSS Virginia sau đó không chữa được và hủy.

USS Monitor bên phải. Nó quá nhỏ và sau đó bị bão đánh chìm.
http://www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-m/monitor.htm (http://www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-m/monitor.htm)
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h45000/h45973.jpg)


Tiêu đề: USS Monitor
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 02:32:31 am
Nhà Thiết kế Thụy Điển mở đầu thời đại mới.

John Ericsson (1803-1889), một sỹ quan Thụy Điển, sau làm ở Anh, rồi di cư sang Mỹ. John Ericsson là một công trình sư vĩ đại đã phát minh ra Thiết giáp hạm BattleShip, thống trị trên biển cả 90 năm. Ban đầu là những tầu buồm lai hơi nước, có pháo quay mang pháo lớn như USS Princeton-1843. USS Monitor đã phát triển hình dáng như một Thiết Giáp Hạm thật sự.
Bọn Mỹ ngu si ngày nay thường coi cái gì hay ho cũng là của chúng, rất ngại nhắc đến chiện một đặc sản Mỹ này lại có nguồn gốc Thụy Điển, thế là cái lũ mọi ấy lờ tịt đi chiện John Ericsson đã phát minh ra Thiết Giáp Hạm.
http://www.history.navy.mil/photos/pers-us/uspers-e/j-ericsn.htm (http://www.history.navy.mil/photos/pers-us/uspers-e/j-ericsn.htm)

USS Monitor 987 tấn, đóng ở New York thiết kế của John Ericsson. Tầu mang pháo Dahlgren 11 inch (279mm) do nhà thiết kế pháo nổi tiếng của Mỹ  John Adolphus Bernard Dahlgren thiết kế, cha ông là Bernhard Ulrik Dahlgrenm, nhà buôn và đại diện lãnh sự Thụy Điển. John Adolphus Bernard Dahlgren là nhà thiết kế Hải Pháo Paixhans danh tiếng thời này. Khẩu pháo của USS Monitor vẫn nạp đạn miện nòng, nòng trơn, đúc, gang nhưng đã có chỉnh tầm bằng vít me lớn.

USS Monitor là tầu gỗ bọc thép dầy, động cơ hơi nước, tháp pháo hình trụ tròn xoay quay tròn được, tháp pháo đặt giữa thân tầu, trong có 2 khẩu.

Đặc trưng, nhược điểm, và thời kỳ trung gian
Đặc trưng cơ bản của Thiết Giáp Hạm Battleship là tập trung số lượng lớn pháo mạn bé thành một vài khẩu, số lượng nhỏ như kích thước lớn, đặt trên tháp pháo quay giữa thân tầu. CSS Virginia là chiếc Ship of the line lạc hậu cuối cùng được thiết kế, và dĩ nhiên bị nhà cách mạng tiền phong USS Monitor đánh đổ.

Tuy vậy, tầm bắn của pháo thuốc nổ đen còn rất còi và hai chú chỉ giã nhau ở tầm vài chục mét đến 1-2 trăm mét. Nhà cách mạng tiên phong USS Monitor cũng có thiết kế chứa quá nhiều nhược điểm, ví dụ, nó dễ dàng bị bão đánh chìm và ngỏm củ tỏi ngày 31/12/1862 vì lý do đó, kết thúc cuộc đời đầy ý nghĩa và ngắn ngủi.

Nhược điểm cố hữu của Thiết Giáp Hạm là quá chuyên nghiệp diệt tầu và chả làm được cái giề ngoài chiện đó, ví như, bắn phá hỗ trợ bờ biển, chở quân... đều không thể đóng góp đáng kể. Giá của chúng lại rất đắt và do đó, duy trì một đội tầu "vô dụng" mà đắt đỏ là một gánh nặng lớn.

USS Monitor mở đầu cho một loại các chiến hạm trung gian giữa "Thời Đại Tầu Buồm" và "Thời Đại Súng Lớn" của BattleShip-Thiết Giáp Hạm. Bằng trận đánh với CSS Virginia, USS Monitor mang "Hải Pháo Paixhans" kết thúc dứt điểm thời đại của "Ship of the line" mang "Thần Cơ", mở đầu thời đại của các Thiết Giáp Hạm.
Tuy vậy, máy còn yếu, vỏ còn mỏng do thiếu thép và đặc biệt vẫn dùng pháo nhồi thuốc nổ đen cả trong liều phóng lẫn trái phá, các tầu loại USS Monitor chỉ là trung gian. Đến đầu Thế Kỷ 20, khi các điều kiện đã hội đủ, các "All Big" mới là các Thiết giáp hạm BattleShip thật sự. Anh-Mỹ hay nhận vơ chiến hạm đầu tiên được hạ thủy theo hướng đó là chiếc HMS Dreadnought năm 1905, mở đầu "thời kỳ Dreadnought", nhưng BattleShip thật sự đã ra đời từ lâu, từ USS Monitor còn công thiết kế pháo hiện đại lớn nhất lại từ Đức.

Tên
Cái tên Thiết Giáp Hạm được dùng trong nước ta cũng bừn cừi, điều này thì những thằng ngu si mod ở Wiki quá dốt nát để hiểu. Có điều ngọng hay nói, dốt hay khoe chữ, nên chúng sửa cái định nghĩa Thiết Giáp Hạm của tớ loạn tùng bậy lên, và thế là BattleShip=Ship of the line, Thiết Giáp Hạm=tầu buồm, thậm chí tầu buồm còn là Capital Ship, tầu trung tâm nhóm tác chiến và bằng tầu sân bay luôn thể. Rồi chũng tổ chức nhứng trận cãi vã dài dằng dặc theo đúng chiến thuật của những thằng ngụy già rỗi hơi để bảo vệ bằng được cái "thông thái" của chúng. Tớ dần thấy cái đám ngu si ấy nó thối quá nên không đi lại gì với chúng nữa. Chính ra, BattleShip tiếng Tầu Nhật Hàn dùng đúng hơn là "Chiến Hạm"-战舰, tầu chiến đấu đối kháng. Nhưng Chiến Hạm ở ta lại dùng với nghĩa khác, là "tầu có vũ trang" nói chung.

Nga+Liên Xô là nước không đóng Thiết Giáp Hạm, đó là một điều đúng đắn, còn tại sao Nga đùng thì đó là thời kỳ súng hiện đại, chúng ta bàn sau. Một số tầu chiến của nước mẹ đại Phú sang đến ta như Bretagne, cũng như Chiến hạm Rạng Đông của Nga đã đến ta, là các battlecruiser, tầu tuần dương thì nhỏ hơn tầu chiến đấu và chuyên đi bắt tầu buôn hay làm những nhiệm vụ chiến đấu với tầu yếu. Các battlecruiser còn có thể gọi là "Tầu Tuần Dương Thiết Giáp"-Armored cruiser, gọi tắt là Thiết Giáp. BattleCruiser lại trông rất giống BattleShip cả về hình dáng và nhiệm vụ (diệt tầu) và nhiều người nhầm như vậy, cái khác nhau là độ mạnh yếu thì bọn nhà văn thơ báo hơi ít chữ nghĩa để phân biệt. Dùng quen thì sai thành đúng.

Tầu thì sai kiểu khác, trước đây, nó sắm hai cái Kỳ Hạm của Bắc Dương Thuỷ Sư là Định Viễn và Trấn Viễn, đây là các "tầu gỗ bọc thép", IronClad. Nhưng nịnh Từ Hy nên gọi là Thiết Giáp Hạm cho oách, mặc dù đúng nghĩa IronClad là Trang Thiết Hạm 装铁舰, trang khác với giáp ở đây cũng chỉ ở mức độ, bọn văn sỹ đã ngu si, mà lại là nịnh thần thì càng si ngu. Bọn ngu si hiện đại bên Tầu thường chửi Từ Hy lấy xiền mua Hạm Đội đi xây vườn Viên Minh, chúng nó ngu si từ đó đến ngày nay. Mua Định Viễn, Trấn Viễn thì cũng như là xây vườn Viên Minh, đều chẳng có tác dụng gì về quân sự cả, trong khi đó xây vườn Viên Minh đẹp đẽ đáng yêu biết bao, mà lộc rơi vãi lại vào nhà thầu trong nước, chứ không thất thoát ra ngoài. Ngày nay, Tầu hiểu biết chút thì chúng gọi Định Viễn-Trấn Viễn rất đúng, nhưng cũng như tiếng Việt, wiki Tầu được lái bởi những thằng Tầu không ở đất Tầu bởi những mục tiêu đê tiện, những thằng đang bập bẹ học tiếng Tầu và cũng rất đặc trưng bời dốt hay khoe chữ. Phần Thiết Giáp Hạm trong đấy cũng lanh tan bành tầu buồm là tầu sân bay, còn hơn cả tiếng Việt. Cái đống rác thối ấy nó vốn thế.

http://www.history.navy.mil/photos/events/civilwar/n-at-cst/hr-james/9mar62.htm (http://www.history.navy.mil/photos/events/civilwar/n-at-cst/hr-james/9mar62.htm)
http://www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-m/monitor.htm (http://www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-m/monitor.htm)

(http://www.history.navy.mil/photos/images/h60000/h60660.jpg)
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h50000/h50954.jpg)
Vết đạn lỗ chỗ sau trận chiến.
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h61000/h61923.jpg)


Tiêu đề: XI-inch Dahlgren shell gun.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 02:52:37 am
Đây là pháo trên USS Monitor và USS Kearsarge (chiếc đã bắn chìm CSS Alabama).

Dahlgren là nhà thiết kế pháo lớn người Mỹ gốc Thụy Điển. Ông sống trong thời Hải Pháo Paixhans. Các mẫu pháo của ông xuát phát từ những khẩu đơn giản chỉ có giá cổ như Thần Cơ, rồi có hãm chỉ tầm bằng trục vít me, rồi nòng xoắn. Lúc này, phần lớn pháo vẫn làm bằng gang và công nghệ đúc, nhưng cũng bắt đầu ứng dụng rộng thép và khoan.
http://www.cwartillery.org/ve/dahlgrens.html (http://www.cwartillery.org/ve/dahlgrens.html)
http://civilwartalk.com/Siege_and_Seacoast_Artillery/p2_articleid/129 (http://civilwartalk.com/Siege_and_Seacoast_Artillery/p2_articleid/129)

Khẩu này 11 inch, 1856, dài tổng 159,7inch (4056mm), nòng nặng 16000pounds (khoảng 7 tấn rưỡi), tổng số đã sản xuất 550 tại Alger; Builders; Fort Pitt; Hinkley, Williams & Co.; Portland Locomotive Works; Seyfert, McManus & Co.; Trenton Iron Works; West Point; Có cả kiểu nòng có và không có gờ nòng.

Pháo có hãm chỉnh tầm vít me. Đuôi nòng pháo đúc thêm một cục lồi ra, trong đó ta rô lỗ vặn vít me lớn, đầy vít me bắt vào ổ quay trên giá pháo. Giá xe của pháo như pháo Thần Cơ, có khác ở chỗ làm bằng gang đúc lắp ghép. Khi đặt trên tầu cổ như USS Kearsarge, giá pháo được đặt trên "mâm pháo" quay được, đây là lần đầu tiên người ta thiết kế và ứng dụng "mâm pháo", nhờ nó, pháo mạn tầu được thay bằng pháo đặt giữa tầu.

Dahlgren chia pháo của ông thành nhóm ngắn và nhóm dài, khẩu này thuộc nhóm dài. Nòng trơn, gang, đúc, bắn đạn cầu, có hãm tầm vít me đứng bằng thép tiện. Pháo bắn được đạn trái phá (shell gun), phân biệt với loại pháo cùng thời chỉ bắn đạn đặc (solid gun), có động năng đầu đạn rất mạnh. CSS Alabama lộn nhào bởi một viên đạn đặc. Một số pháo của Dahlgren có nòng ngắn, rất gù, nhồi rất nhiều , gia tốc lớn chỉ bắn đạn đặc.

Tầm bắn khẩu này khoàng gần 2 dặm (cỡ 3km), nhưng "tầm bắn hiệu quả", nói theo cách ngày nay, rất thấp, thường chỉ chiến ở 100-200 mét. Những lý do chính ảnh hưởng đến tầm là độ chính xác kém bởi đạn cầu đúc, nòng đúc ngắn...

Anh em với khẩu này là khẩu 10inch bắn trái phá nòng nặng 12500 P, có tên " X-inch Dahlgren shell gun ". Khẩu nữa là "X-inch Dahlgren solid shot gun" nòng nặng 16500p, bắn đạn đặc rất mạnh.

(http://www.history.navy.mil/photos/images/h61000/h61671.jpg)
(http://www.cwartillery.org/ve/dahlXI.jpg)

Cũng như tất cả các pháo kiểu Paixhans khác, các pháo của  Dahlgren chủ yếu phục vụ trên tầu và pháo đài ven biển. Tuy nhiên, có một số khẩu cũng trong những yêu cầu khác. Khẩu lớn nhất mà ông thiết kế là 20 inch (508mm), dài ngoài nòng 216 inch (5480mm), nòng nặng 97300 pounds (44,2 tấn). 4 khẩu được chế tại Fort Pitt Foundry trong những năm 1864-67, một khẩu được Pêru chấp nhận trang bị làm pháo mặt đất, bị Chilê chiếm giữ trong chiến tranh "Guerra del Pacifico" (1879-1884), 3 khẩu còn lại thất nghiệp và bị bán sắt vụn.



Tiêu đề: Kiểu cổ cải tiến. Ship of the line chạy hơi nước.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 04:27:34 am
http://www.history.navy.mil/photos/pers-us/uspers-e/j-ericsn.htm (http://www.history.navy.mil/photos/pers-us/uspers-e/j-ericsn.htm)

Lạc hậu hơn John Ericsson, nhiều kiểu tầu đối kháng diệt tầu được thiết kế, như bản tân cổ giao duyên CSS Virginia (1862-1862).

Thực chất, đây là chiếc tầu có bố trí rất giống "Ship of the line", nhưng lại được thiết kế để đối kháng tay bo, hoạt động độc lập, chứ không ở trong "Line". Tầu có lực lượng chính vẫn là pháo mạn, nhưng có thêm các pháo giữa tầu trực chỉ trước và sau. Pháo tầu cố định hướng và chỉ chỉnh được tầm, ngắm pháo bằng chỉnh hướng tầu. Có 11 Hải Pháo Paixhans, 4 mỗi mạn, 2 đuôi, 1 đầu. Thực tế chứng minh 11 pháo kiểu nay bắn không dữ bằng 2 khẩu của USS Monitor vì thiếu giá quay.
Tầu thuộc loại tầu gỗ bọc thép, phần lớn thân tầu chìm trong nước, có mũi đâm nhau. Phần trên tầu được phủ một lớp gỗ dầy 60 cm hình mái nhà, ngoài có lớp thép dầy 10cm.

CSS Virginia dược đóng tại Norfolk Navy Yard, chiến 2 trận là hết đời. Trận đầu tiên, nó đâm, bắn làm chìm và hỏng sà lúp vũ trang Cumberland và tầu frigate Congress. Nó gây một cơn hoảng sợ lớn trong các nghị viên Miền Bắc, như một thứ vũ khí bất khả đánh bại. Thế nhưng trận sau bị USS Monitor của John Ericsson chơi 9/3/1862. Sau khi sửa tạm, thàng 4-5 tầu quay lại vị trí này, sau đó bị quân Miền Nam bỏ lại.


http://www.history.navy.mil/photos/sh-us-cs/csa-sh/csash-sz/virginia.htm (http://www.history.navy.mil/photos/sh-us-cs/csa-sh/csash-sz/virginia.htm)
http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh:Mariners_Museum_2007_015a.jpg (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh:Mariners_Museum_2007_015a.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/f3/Mariners_Museum_2007_015a.jpg)


(http://www.history.navy.mil/photos/images/h00001/h00314.jpg)

(http://www.history.navy.mil/photos/images/h61000/h61676.jpg)

Sơ đồ hai con tầu.
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h45000/h45978.jpg)


Tiêu đề: Ship of the line, tầu chiến tuyến, Tầu chiến chủ thực thời Thần Cơ Pháo
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Năm, 2008, 04:55:54 am
Quên, chưa mô tả Ship of the line, đây là các tầu sát thủ của thời đại tầu buồm.

Lên ngôi và lý do lên ngôi.
Khoảng cuối Thế Kỷ 18 và đầu Thế Kỷ 19, tầu chiến đã dùng pháo thần cơ làm vũ khí chính. Như đã nói, cuối Thế Kỷ 18, Pháp, Tây Bán Nhà, Anh đua nhau phát triển súng pháo cho tầu chiến, đó là các pháo thần cơ bắn đạn đặc động năng rất mạnh. Phim phò ngày nay dựng lại các trận đại chiến trái phá cứ là nổ tưng bừng, ngu mà ra. Trong khi đó Nga phát triển cối nhẹ và lựu pháo cho Lục Quân. Sự phát triển súng Thần Cơ cuối cùng cho ra Hải Pháo Paixhans, làm thay đổi cấu trúc tầu chiến. Tuy nhiên, chúng ta lùi lại trước 182x, thời của Thần Cơ. Quay lại vì quên chưa mô tả Ship of the line.
Ship of the line là loại tầu buồm nhiều tầng, lên ngôi thay thế "man of war" chèo tay do súng xuất hiện, tầu buồm chở nặng mang được nhiều súng thần cơ ưu thế hơn.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=544.msg6668#msg6668

Do tầm bắn thấp (chỉ vài trăm mét), gỗ không làm được tầu to chở pháo to, nên người ta phải đóng nhiều tầu, mỗi tầu mang nhiều pháo, chiều ngang trận đánh phát triển hơn là khoảng cách hai bên, tạo thành chiến tuyến "line of battle". Ship of the line chính là các tầu ở tiền duyên, chở pháo, tầu chiến đấu chủ lực. Pháo không có chỉnh hướng, được gắn chặt vào tầu, tất cả các pháo trên một mạn đều cùng hướng. Giá pháo chính là thân tầu. Thuyền trưởng ra lệnh cho tầu quay mạn về phía địch, khi đã đạt "đường ngắm", tức mạn chĩa vào địch, thuyền trưởng hô bắn. Rồi thì lại quay mạn khác trong khi mạn này nạp đạn.

Để tập trung hỏa lực, người ta làm rất nhiều pháo cho tầu, bằng 2-3-4 tầng, hàng trăm pháo chĩa qua lỗ châu mai mạn. Pháo thần cơ có bánh xe, khi bắn, pháo lùi lại, pháo thủ nạp đạn rồi lại đẩy lên trước. Người ta thường đánh giá thứ bậc tầu theo số pháo (không tính súng trường và cả loại pháo nhẹ như Carronade).

Các đặc trưng.
Các Ship of the line chuyên bắn đạn đặc nên nhiều thiếu sót, ngoài việc diệt tầu chiến mạnh của địch ra thì nó chẳng làm được gì. Người Anh chia ra 6 hạng tầu to, dưới 6 loại đó là "sà lúp vũ trang". Ship of the line đứng đầu trong 6 hạng, dưới đó là các Tầu hạng 2, Tầu hạng 3..., Tầu hạng 6.
Một loại tầu bé hơn Ship of the line, tuần tiễu, bắn đạn trái phá, đa năng hơn, hoạt động độc lập hơn. Khi Ship of the line tiến thành các Thiết Giáp Hạm BattleShip thì cái tầu tuần tiễu bắn trái phá trên phát triển thành các Tuần dương hạm Cruise. Chúng có khả năng "viễn dương" còn tốt hơn cả đại ca Ship of the line vốn nặng nề.
Loại Tầu Frai-ghết (frigate) thứ 3, cũng mang lựu pháo, hay dùng bắn hỗ trợ đất liền như pháo hạm, thường chiến đấu cùng Ship of the line trong đội hình.
Lúc đó, các tầu như "tầu buôn vũ trang", tầu "viễn dương" chuyên độc lập đi xa... cũng như các tầu tuần tiễu, đều mang lựu pháo đa năng. Chúng làm được nhiều việc hơn là võ sỹ chuyên nghiệp.

Khác biệt cơ bản nhất của Ship of the line và BattleShip ở chỗ, Ship of the line chiến đấu trong đội hình dàng ngang (line) của các tầu giống nó. Trong tiếng Tầu, BattleShip là Chiến Hạm 战舰, còn Ship of the line là Chiến liệt hạm 战列舰, "Liệt"-列 là dàn ngang, rất dễ nhầm có liệt thành không liệt. BattleShip, hay gọi là Thiết Giáp Hạm là tầu chủ lực của một hạm đội, tầu trung tâm của một nhóm tác chiến tác chiến độc lập (CapitalShip). Thép đóng được tầu to pháo to, nên cả nước chỉ cần 1-2 cùng lắm đến vài ba tầu, không cần cả đàn.

Ngày đó, việc chỉ huy hạm đội thực hiện bằng các cờ hiệu treo trên cột buồm, các cờ hiệu theo quy định tạo thành một câu nói nào đó. Từ "Kỳ hạm" được dùng như tầu chỉ huy hạm đội từ đó.

Bùn cừi bò, trước đây mình viết bài "thiết giáp hạm" trong wiki, có nói đến điều này. Nhưng mà mấy thằng mod ở đó cực kỳ ngu, mà thằng nào cũng thích thể hiện, cái đọan có liệt và không có liệt chúng  không biết, nhưng trích ra múa, sửa của mình.... thành ra Iowa class là tầu buồm. Mình chửi cho trận, chúng hè nhau mở một trận cãi tưng bừng. Nghe chúng nói ngu si quá, thế là từ đó tớ cạch.

Trận đánh Trafalgar, kẻ thắng cũng như kẻ thua đều có thiết kế tầu nhục nhã.
Đến đầu thế Kỷ 19 thì Anh, Tây Bán Nhà, Pháp có những hạm đội Ship of the line to tướng. Tuy nhiên, cũng như thiết giáp hạm sau này, các Ship of the line được đóng phục vụ lợi ích của các nhà thầu quân sự, chứ tác dụng chả bao nhiêu. Trận đánh lớn nhất của Ship of the line trong Thế Kỷ 19 là trận đánh Trafalgar 1805, Đô Đốc Anh Horatio Nelson chỉ huy quân Anh giành thắng, là một điếm nhục lớn nhất Thế Kỷ của Ship of the line. Lúc này, Ship of the line còn "chuẩn", chứ cái điếm nhục "USS Monitor vs CSS Virginia, 9 tháng 3 năm 1862" là Ship of the line cải biên rồi.
Liên Quân Pháp-Tây Bán Nhà dàn đội hình cánh cung, Horatio Nelson mang rất nhiều vũ khí bộ binh, chỉ huy hạm đội lao thằng vào cánh cung, đi ngoằn nghèo. Đi như vậy vì vừa đi vừa ngắm bắn sang hai bên (ngắm bằng hướng tầu). Hạm đội Anh xông thằng vào, ném mịe nó pháo phiếc, giáp lá cà. Thế là Horatio Nelson chứng minh rằng, Ship of the line lắm pháo vứt đi, cứ chiến kiểu ram (húc tầu) thời La Mã rồi nhảy lên giáp lá cả là thắng địch đông gấp bội, tức là Ship of the line không bằng 1/2 ram cổ ????? nghịch lý!!!!!. Ở đây liên quân chủ quan nên thiếu đồ giáp lá cà, thua sạch.
Horatio Nelson dùng 27 Ship of the line thắng 33 tầu Tây-Phú. Tầu liên quân mất chủ yếu do bị bắt (21 chiếc) !!!!!!!!  Vì chủ yếu là trận chiến giáp lá cà !!!!!! Mịe, nếy các tầu chèo tay La Mã Hy Lạp mà sống lại thì có lẽ chúng còn đại thắng to hơn nữa, vì tốc độ cao. Ngoài các Ship of the line, hai bên còn rất nhiều tầu khác hạng 2-3... trợ chiến.

Cũng giống như Thiết Giáp Hạm thời kỳ khổng lồ sau 1936 đến Thế Chiến II, Tầu Tiền Tuyến Ship of the line đầu Thế Kỷ 19 được đóng chủ yếu làm giầu cho những nhà thầu quân sự. Cuộc chiến của nó là cuộc chiến trên bàn trao đổi của các nhà thầu, chứ nó không được chế tạo vì mục đích chiến tranh !!!!!! Một sự mất dậy khốn nạn nhất của Quân Sự, cứ một trăm đồng tiền công quỹ mất đi cùng với cả ngàn vạn mạng lính, đổi lấy được 1-2 đồng lãi của các chủ thầu. Một "line ngang" quá dài nhiều chục km trong khi "tầm bắn hiệu quả" chỉ 100-200 mét dĩ nhiên là dễ bị một "line dọc" chọc thủng và áp sát giáp lá cà, khi đó, mỗi tầu trên "line ngang" đã bị chọc sẽ phải đối phó với nhiều tầu trên "line dọc" chọc thủng nó, nếu như ban đầu hai bên quân bình. Thế là "line ngang" khi đó trở thành một chiến thuật ngu ngốc ở mức kinh điển, khi bản chất của mọi loại chiến thuật là tập trung quân mạnh hơn ở điểm giao chiến. Chuyện dễ hiểu như vậy nhưng lũ thầu quân sự đã bịt mắt tất cả lũ Quít Sờ Toọc thối rữa và lớp người cách mạng mới nổi còn chưa biết hết những "công nghệ hậu trường" của đám trung thượng lưu.

Chiến Thuật ở đây rõ ràng không chỉ là cách đánh một trận chiến, nó bao gồm cả cấu tạo, thiết kế, hình dáng, kích thước... của các tầu tiền duyên chủ lực của Hạm Đội, được đóng trong nhiều chục năm. Những chiếc Ship of the line nặng nề không thể giáp lá cà mạnh được !!!!!  ;D ;D ;D ;D trong khi đó đội hình hàng ngang dài hàng chục km lại không bắn được. ;D ;D ;D ;D Và muốn tạo ra hạm đội mạnh chỉ có cách..... thay hết bằng tầu chèo tay Hy-La. ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. Đây là thiết kế của các nhà thầu ngu si về quân sự nhưng mạnh mẽ khi kiếm xiền công quỹ, họ nhồi mãi thật nhiều pháo vào tầu trong khi cả chục đời nhà họ không ai biết bắn pháo thế nào. Một trào lưu diễn ra trên khắp Tây Âu và còn đang diễn ra ngày nay, động lực của vô khối cuộc chiến.

50 năm sau thất bại khốn khổ này của Ship of the line, giữa Thế Kỷ 19, người ta vưỡn cho ra đời những con kỳ đà biển, kể cả có động cơ hơi nước hỗ trợ buồm. Điều này ngốn không biết bao nhiêu công quỹ mà hơn 90% số đó ném xuống biển, số còn lại chui vào túi các nhà thầu. Trong khi đó, các tầu chiến nhỏ hơn như các Fraigate, Tuần Dương, pháo hạm GunShip bắn trái phá hỗ trợ trên bờ rất thiếu.

Trận đánh biến Anh trở thành bá chủ trên biển hơn 1 Thế Kỷ liền.

HMS Victory.
HMS Victory của Horatio Nelson chụp năm 1884. Đây là tầu chỉ huy hạm đội ngày đó, tầu có nhiều cờ hiệu nên gọi là "FlagShip" (Kỳ hạm), từ này còn được dùng với nghĩa "chỉ huy hạm đội", "soái hạm" cho đến nay. Tầu thuộc loại Ship of the line hạng nhất. Ngày nay, Tầu vẫn còn trong Quân Xưởng Portsmouth để làm bảo tàng, nới cách đây 250 năm nó được đóng. Theo HP, nó là một tượng đài chiến thắng vĩ đại của các món thầu đã đánh bại các hạm đội của Anh Pháp, Tây Ban Nha.  ;D ;D ;D
Tầu được đóng từ 1759 đến 1765, hạ thủy thàng 7 năm 1759, hoàn thành  ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1765, 1778 tầu đi vào phục vụ. Vào ngày diễn ra Trận Trafalgar, tầu có 4 tầng pháo và một tầm tháp phụ, trang bị như sau:
Boong pháo dưới cùng: 30 khẩu 2,75 tấn pháo nòng dài Blomefield 32 pounders (15 kg)
Boong pháo giữa: 28 khẩu 2,5 tấn pháo nòng dài 24 pounders (11 kg)
Boong pháo tầng 3: 30 khẩu 1,7 tấn pháo nòng ngắn 12 pounders (5 kg)
Boong pháo tầng 4: 12 khẩu 1,7 tấn pháo nòng ngắn 12 pounders (5 kg)
Sân thượng: 2 khẩu pháo nòng trung bình 12  pounders (5 kg), 2 khẩu 68 pounder (31 kg)(Carronade, loại hải pháo bắn gần ngắn nòng).
Thủy thủ có "Điểu Đầu Thương" (Hỏa mai mồi đá lửa), không rõ cạc bin hay súng trường.
Tầu có 850 mạng, choáng nước 3500 tấn, dài 69,3 mét và sâu 6,6 mét.

Về tốc độ: 250 năm nay, bọn nhà thầu ngu hóa vẫn thường nhồi sọ vào đầu các chú thộn về tốc độ 8 đến 9 knots (15 đến 17 km/h), chú thích thêm là tối đa. Kỳ thật !!!!!, tầu có 5440 m2 buồm, mỗi mét rưỡi vuông buồm phải kéo một tấn trọng tải !!!!!. Khéo phải gió cấp 1000km/h thổi đều trong 10 ngày tầu mới đạt cái tốc độ tối đa nói trên. Dễ dàng thấy rằng, trong điều kiện gió thồi đều mạnh như gió mậu dịch, đi xuôi gió, tầu chỉ đạt 4-5 knot (hải lý/giờ), còn không tầu đi rất chậm như người đi bộ. Kiểu tầu này đi nhanh nhất khi gió thổi hơi xiên. Hình dáng tầu với mặt cắt trung bình 60 m2, tối đa hơn nữa, dài 70 mét, dài/ngang 6 là loại tầu rất bầu bĩnh nặng nề. Đây là điều tệ hại nhất của Ship of the line, nó thật sự là con kỳ đà trên biển.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/6a/Battleship1.jpg/497px-Battleship1.jpg)


Trận Trafalgar.
http://en.wikipedia.org/wiki/Image:Trafalgar_aufstellung.jpg (http://en.wikipedia.org/wiki/Image:Trafalgar_aufstellung.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/20/Trafalgar_1200hr.svg/606px-Trafalgar_1200hr.svg.png)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/aa/Trafalgar_aufstellung.jpg)

Cuộc chiến nhục nhã của pháo hạm, rõ ràng, những tầu ram chèo tay thời cổ với các chiến binh giáp lá cà ưu thế hơn là tầu mang pháo !!!!!  ;D ;D ;D ;D
Tranh này mô tả Horatio Nelson rời bỏ vị trí chỉ huy hạm đội, "lạnh lùng vung guơm ra sa trường" bằng nghĩa đen hoàn toàn, cảnh ông chỉ huy đánh chiếm sân thượng một tầu Pháp-Tây Ban Nha. Họa sỹ và Đô Đốc Horatio Nelson đều đã nhìn rõ sức mạnh được quân Anh thể hiện. Trong khi đó, dân Quít Sờ Toọc và "Thần dân yêu nước kính nữa hoàng" ở nhà vưỡn đang vỗ ngược về số pháo các loại của siêu pháo hạm Ship of the line.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ad/Mort_nelson.jpg/800px-Mort_nelson.jpg)


Tiêu đề: Súng pháo thử nghiệm. Thương Hiệu với Hội Đồng.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 02:16:30 am
Trông Người lại khóc với ta.
Từ Thế Kỷ 18-19 người ta đã thành lập những Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh, chế ra lắm thứ và thành siêu cường. Còn ta đến nay toàn hội đồng ăn thịt uống rượu nói phét. Không ở đâu mà những thằng vỗ ngực là bác học chỉ chuyên ăn hút tán dóc như ở cái xứ Vịt Ngan này, vịt chúng è cổ ra nuôi chúng nó ăn nhậu phè phỡn, nhậu say rồi lũ đó còn cưỡi đầu cưỡi cổ người ta, rồi lại còn xưng làm thầy !!!!!!! :-\ :-\ :-\ :-\ :-\. Ở xứ Vịt Ngan đó, nhà phát minh không phải bọn vỗ ngực xưng à bác học mà là toàn nông dân. Cái hồi tớ đi lính, mũ cối dép đúc chỉ dùng được 2-3 hôm, tiền vứt đi như nước, trong khi phải ăn sắn, đấy là thành quả khoa học của Vịt Chúng.

Phương Tây dựa vào danh tiếng của các nhà bác học, nên mới lưu truyền "Hải Pháo Paixhans", mặc dù như trên đã trình bày, đây chỉ là một ý tưởng, cái công của ông "Paixhans" chỉ là vách gỗ trong đạn trái phá và trình độ thiết kế chiều dầy nòng thì...xin lỗi, hơi bị khủng bố, chắc chưa học qua vật lý Cấp II. Tuy nhiên, ở thời đại gang thép đang rẻ đi nhanh chóng thì "thương hiệu Hải Pháo Paixhans" trở thành một lý do để người ta đúc pháo to, và phát triển chóng mặt. Những nhà thiết kế thường lấy vẻ mặt tự hào nói rằng pháo của họ là "Hải Pháo Paixhans", trong khi lẩm bẩm: "mịe, có mỗi cái đệm gỗ cũng làm bộ". Trong số các dặc điểm mà Pháo, Hải Pháo đạt được trong Thế Kỷ 19 thì cái đệm gỗ quá nhỏ và mất đi cũng nhanh chóng. Còn các đặc điểm khác: thép, ngáng và khóa tầm, ngõng và khóa hướng, cắt gọt, nòng khoan, khóa nòng nạp đạn sau, nòng xoắn, thuốc nổ và thuốc phóng viên rắn, đạn dài... rồi pháo nòng dài !!!!!! có lẽ không cần so sánh với cái đệm gỗ. Thế nhưng những khẩu pháo mặc dù không còn cái đệm gỗ vẫn cứ xưng là Pháo Paixhans.

Tuân theo thương hiệu "Hải Pháo Paixhans" thì dễ nhận được những hợp đồng làm nòng pháo lớn !!!!!! cũng nhờ ơn cái trình thiết kế độ dầy cao minh của "Hải Pháo Paixhans". Thật là một thương hiệu nặng khủng bố, đa phần Quít Sờ Toọc và chính khách đều kém trình vũ khí, và đều nghĩ rằng "Hải Pháo Paixhans" là một thứ pháo rất mạnh và rất nhiều gang, thế thôi, không cần biết nó là "pháo bắn đạn xuyên phá", có khẩu nào dù tiên tiến-bắn đạn xuyên phá mạnh như Dã pháo Thế Kỷ 20, mà lại nhẹ, họ cũng... bảo là pháo yếu. Nặng tỷ lệ thuận với sức bắn đạn xuyên phá, đó là thương hiệu "Hải Pháo Paixhans" tồn tại như tiên đề trong đại đa số, điều này tất nhiên được các nhà sản xuất gang thép tung hô vạn tuế và tạo điều kiện phát triển rất mạnh cho ngành công nghiệp trẻ này. Thật là một model thời trang giá trị.

Thật ra thì "Hải Pháo Paixhans" cũng không thọ lâu và dùng rộng. Nhược điểm chính như đã nói, trình độ thiết kế chiều dầy nòng của "Hải Pháo Paixhans" hầu như không có gì. Ông "Paixhans" chỉ làm được loại đạn trái phá không nổ lúc bắn, nhờ thế có thể bắn trái phá với gia tốc mạnh hơn, sơ tốc lớn hơn, làm đạn "xuyên phá" lai cả hai chức năng, trong đó chức năng "xuyên" đủ sức chống chiến hạm. Để bắn gia tốc mạnh thì cần nòng to dầy, nhưng "Hải Pháo Paixhans" với "cối Paixhans" lại thiết kế chiều dầy không tốt và rất nặng.

Người Nga cũng nắm được điều này, họ cải tiến đạn trái phá và hoàn thiện lựu pháo lục quân danh tiếng của họ theo hướng mới, với cách thiết kế chiều dầy nòng phức tạp và đương nhiên nhẹ nhàng hơn nhiều. Người Nga bước vào thời kỳ suy đồi cuối Thế Kỷ 19, bắt đầu trào lưu "thép", "cắt gọt"... thay cho "đồng thau", "gang", "đúc"... muộn hơn phương Tây. Nhưng khi nội chiến Mỹ vẫn dùng chủ yếu là gang đúc thì Nga đã có kha khá lựu pháo thép. Lúc này, Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh đã suy đồi theo chính quyền Nga, chỉ còn phần lý thuyết là tiên tiến, còn phần chế tạo thì bị lũ thầu sâu mọt thao túng sau khi tư hữu các công xưởng của Piotr Đại Đế.

Trước đó, nửa đầu Thế Kỷ 19, cuối Thế Kỷ 18, thì Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh vẫn thịnh vượng và có kha khá xiền tiến hành những thử nghiệm đi vượt thời đại. Sắp sang đến trang súng pháo hiện đại rồi, chúng ta xem lại vài công trình dang dở đó.

Có lẽ, mở đầu của thời Súng pháo hiện đại cuối Thế Kỷ 19 đầu Thế Kỷ 20, thì phát minh lớn nhất trong vũ khí là các Hội Đồng, điều này là đối lập với Thương Hiệu. Nhưng ta trở lại điều đó sau.


Tiêu đề: Kiểu khóa nòng đầu tiên. föglare
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 02:51:35 am
Có Lẽ, một Hội Đồng tương tự đã tồn tại ở Thụy Điển trước chiến tranh với Piotr. Có lẽ Hội Đồng như thế đã làm vũ khí của Thụy Điển đi trước thời đại. Nhưng dân Thụy Điển quá kiệm lời, đó là một đặc tính Quốc hồn Quốc túy của họ và ta không động chạm vào làm giề.  ;D ;D ;D

Người Thụy Điển thuận lợi khi bắt đầu đồ sắt vì có cái mỏ sắt rất tốt, Đức cũng thế. Lúc đó, luyện sắt không cần nhiều thứ gang cốc tốt vì lò bé tẹo, và quan trọng hơn sắt cũng chả cần  ;D ;D ;D ;D... tốt như ngày nay. Cái gọi là sắt chỉ là thứ gang xấu làm ở nhiệt độ thấp.

Ở đây đã thấy một chú khủng bố có sắt hàn, Thế Kỷ 17.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765

Dưới chú đó là khẩu "Great Turkish Bombard" còn được dùng cho đến Thế Kỷ 19. Đây là có thể khẩu pháo có khóa nòng đầu tiên trên đời, mặc dù nó không nạp đít nòng mà nạp từ giữa và miệng !!!!! Nòng pháo có hai đoạn vặn vào nhau, đoạn trên để đạn, dưới để thuốc, là kiểu pháo nòng mỏng ngắn có buồng đốt nhỏ sau nòng, loại pháo cổ lỗ Thế Kỷ 15 sau trở thành Lựu Pháo và Cối.


Còn đây là loại nòng hàn, có khóa nòng, nhưng từ thế kỷ 15-16, Thụy Điển, Stockholm, Army Museum.
Pháo có nòng hàn, cũng tương tự như khẩu Tanjavur, hàn bằng những đai thép hay gang đổ khuôn, ròi ta sẽ trở lại kiểu nòng này sau. Kiểu nòng hàn bằng đai đúc này là nỗ lực đầu tiên làm pháo nòng dài, xuất phát từ Minh Triều, trong những công binh xưởng của Hồ Nguyên Trừng lập ra, có thể là Hỏa Khí Doanh. Không hiểu sao nó đến Thụy Điển rất sớm !!!!! Có thể theo dân du mục !!!!!! Pháo cũng có ngõng ngáng tầm hướng đàng hoàng, chứ không là cái bệ đất hay cây gậy đương thời nới khác, có lẽ, nòng hàn dài tạo thành lực giật mạnh, cũng cho độ chính xác cao, và cần đến ngõng ngáng.

Quan trọng hơn là tốc độ bắn dó khóa nòng sau. Khóa nòng có một kiểu là buồng đốt rộng vặn vào nòng bằng ren, giống như "Great Turkish Bombard", nhưng cả đạn và thuốc nạp vào đây. Một biến đổi nữa, rất giống pháo hiện đại, khóa nòng kiêm tay cầm là một cần dài, chọc vào đậy kín buồng đốt bằng cách quay ren hay ngạnh then. Khi đẩy cần đóng buồng đốt, đầu cần nhồi luôn đạn và thuốc trên máng vào nòng, gài hay vặn cần vào máng là đóng khóa nòng. Một cải tiến nữa của kiểu này là cái then ngang xỏ vào để chặn khóa nòng. Tốc độ bắn rất cao, ngắm bắn tốt, nhưng vào thời đó cấu trúc này làm bằng gáng xấu và hơi yếu. Những nỗ lực đúc liền khối không hàn rất khó khăn do hình dáng phức tạp.

Kiểu súng vượt thời đại này có tên là "föglare", người Đức phiên âm là "Vögler", được chế tạo sử dụng Thế Kỷ 15-16.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Early_breech_loaders.jpg?uselang=vi (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Early_breech_loaders.jpg?uselang=vi)
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/bc/Early_breech_loaders.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/bc/Early_breech_loaders.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/bc/Early_breech_loaders.jpg/800px-Early_breech_loaders.jpg)

Phóng to cái kiểu khóa nòng then ngang.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/khoa_nong_thuy_dien_tk15.jpg)


Tiêu đề: Cối liên thanh Thế Kỷ 18
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 03:07:54 am
Dân Mỹ Anh thường vỗ ngực, nào là Galing hay Hiram Maxim là những người đầu tiên chế súng máy. Còn đây là trước họ 100 năm, không phải là thiết kế trên giấy mà là mẫu thử chạy tốt. Khẩu cối bắn liên thanh. Khẩu này thiết kế theo nguyên lý nhiều nòng, gồm 44 nòng cối kiểu Nga, 76mm, bắn đạn 3 cân Anh đặt trên một cái đĩa. Thảo nào hồi bé xem phim rất thích các chú bộ đội có súng đĩa, hóa ra nguồn gốc từ đây.

Đây là thiết kế của AK Nartova, chế tạo năm 1754 tại quân xưởng St.Petersburg. Mỗi nòng dài 23cm, đĩa gỗ đường kính 185cm, đĩa gỗ chia làm 8 phần, mỗi phần 5-6 nòng. Súng có cả vít me chỉnh tầm. Có mọt số súng kiểu này được chế tạo nhưng ít.

Vào thời buổi này, dùng đồ cơ khí như thế này là công nghệ siêu cao rồi. Một số lượng lớn đồ tiện như khẩu pháo này chắc giá rất đắt. 1 Thế kỷ sau, các pháo khác cũng còn rất ít đồ tiện.

Nòng là kiểu cối nòng ngăn mỏng có buồng đốt nhỏ sau nòng, đúc bằng đồng thau.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0 (http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/42/3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0._%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/800px-3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0._%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e5/3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0._%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B2%D0%B5%D1%85%D1%80%D1%83_2%29.jpg/800px-3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0._%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B2%D0%B5%D1%85%D1%80%D1%83_2%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/be/3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0._%28%D0%BA%D1%80%D1%83%D0%BF%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%BF%D0%BB%D0%B0%D0%BD%29.jpg/800px-3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%2876-%D0%BC%D0%BC%29_44-%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB%D1%8C%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BC%D0%BE%D1%80%D1%82%D0%B8%D1%80%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%82%D0%B0%D1%80%D0%B5%D1%8F_%D1%81%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B5%D0%BC%D1%8B_%D0%90._%D0%9A._%D0%9D%D0%B0%D1%80%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0._%28%D0%BA%D1%80%D1%83%D0%BF%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%BF%D0%BB%D0%B0%D0%BD%29.jpg)


Tiêu đề: Pháo Dã Chiến bắn đạn ria
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 03:24:14 am
Súng bắn đạn ria. Nòng Súng đồng thau, đúc năm 1722 tại Olonets. Súng bắn 3 cân Anh đạn ria, miệng nòng hình chữ nhật 80x230mm. Nòng dài 156 cm nặng 492kg. Xe gỗ hai bánh kiểu pháo dã chiến Thế Kỷ 18.
Súng dùng như Dã Pháo, kéo đi theo đội hình bộ binh hay cùng bộ binh bảo vệ các trận địa. Cũng có thể dùng súng để phảo vệ Pháo Đài.

Khi bắn, đạn ria nhồi trong hộp gỗ và tạo thành một hình chổi xòe rộng theo mặt ngang. Đây là súng thử nghiệm trước khi có Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh. Lúc đó, việc phát triển thử nghiệm chưa tập trung mà theo từng nhóm. Súng chỉ có mẫu thử nghiệm.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2b/3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg/783px-3-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg)


Tiêu đề: Súng hơi nước thử ngiệm Thế Kỷ 19
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 03:58:08 am
Đây là một thử nghiệm vượt trước thời đại.

Ngày nay, nhiều ý tưởng muốn sử dụng năng lượng của động cơ để bắn đạn. Điều đó cơ lý, vì thuốc nổ là một loại nhiên liệu cực kỳ tồi về tỷ lệ năng lượng/khối lượng, nó chỉ bằng phần chục xăng dầu than đá, mà lại còn đắt lòi kèn. Như vậy, nếu dùng được nhiên liệu thì vừa nhẹ, rẻ và dễ hậu cần. Tuy nhiên, chương trình FMBT (future main battle tank), dự định trở thành đại cách mạng vũ khí, xe tăng tương lai của Thế Kỷ mới... một tham vọng của Mỹ muốn vượt qua vị trí của xe tăng Nga, đã lùi sâu nữa vào tương lai. Vũ khí chính của FMBT Mỹ là khẩu rail-gun, bắn bằng điện. Tuy xe tăng gặp nhiều khó khăn, nhưng tầu biển thì các loại súng dùng năng lượng động cơ có vẻ có chỗ đứng.

Một thử nghiệm dưới đây đi quá sớm, năm 1826-1829. Do đại tá Kỹ sư  Karelinưm (Карелиным) thực hiện. Ssúng bắn đạn cầu 17,5mm (0,7in). Súng bắn bằng hơi nước, tốc độ bắn 50 phát/phút. Thử nghiệm năm 1929 thất bại.

Tuy nhiên, súng có quá nhiều tiến bộ so với thời đó. Ví dụ, nòng conposite gồm hai lớp hợp kim đồng. Hoặc ngay cả các chi tiết đều được dùng công nghệ cắt gọt, chứ không đúc và rất tinh xảo, các kiểu khớp bánh răng và hình dáng răng của nó đến đầu Thế Kỷ 20 mới phổ biến. Súng có giá và hãm chính tầm hướng nhanh bằng tay quay không kém gì các súng Thế Kỷ 20.

 :P :P :P e he, có cái nhầm lẫn ở đây nhưng không sửa được nữa rồi. Từ đầu topic, HP lạm dụng từ đồng thau-Brass, trong khi đó, đại bộ phận các súng pháo bằng đồng trong topic là đồng điếu (đồng thiếc), Bronze, hợp kim đồng và thiếc, hình như cũng có đoạn chú thích là đồng thiếc rồi. Còn đồng thau-Brass là hợp kim đồng và kẽm. Hợp kim hay sử dụng làm nòng pháo là "đồng pháo", BronzeCannon, là hợp kim chứa 88% đồng và 12% thiếc, cứng, chịu áp lực cao và dễ đúc. Trong khi đó, hợp kim này giòn hơn đồng thau-Brass, chỉ được dùng làm đồ thời thượng cổ, thời đại đồng muộn người ta đã chuyển sang đồng thau-Brass, đồng kẽm, dễ dập rèn gò nguội hơn. Trong hình dưới đây, bảo tàng chú thích là đồng đỏ làm giá, đồng điếu làm lõi nòng và các bộ phận đúc. Nhưng xem qua màu thì có vẻ người dịch nhầm, đồng làm giá là đồng thau-Brass. Đồng đỏ là đồng nguyên chất rất mềm chỉ dùng làm dây điện.
Xin lỗi pà con hén.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:17.5-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:17.5-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:Experimental_cannons (http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:Experimental_cannons)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/30/17.5-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/800px-17.5-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/18/17.5-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B4%D1%83%D0%BB%D0%BE%2C_%D0%B2%D0%B8%D0%B4_2%29.jpg/768px-17.5-%D0%BC%D0%BC_%D0%BE%D0%BF%D1%8B%D1%82%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D0%B0%D1%80%D0%BE%D0%B2%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%28%D0%B4%D1%83%D0%BB%D0%BE%2C_%D0%B2%D0%B8%D0%B4_2%29.jpg)

7-linear (17.5-mm) pilot steam gun. Ствол: green copper in the housing of red copper. An engineer corps, Colonel routes Karelinym. Made in 1826-29, firing bullets ball through water vapor, up to 50 rounds per minute. The tests in 1829 failed and the gun was passed in the arsenal of St. Petersburg. Military-Historical Museum artillery, engineering troops and the troops regard, St. Petersburg.


Tiêu đề: Xe chở đạn pháo Lục Quân thời đại đồ ngựa.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 11:10:07 am
Ở đây đã nói về cái xe, giá của pháo lục quân.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21353#msg21353
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%BB%D0%B0%D1%84%D0%B5%D1%82%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:1-%D0%BF%D1%83%D0%B4%D0%BE%D0%B2%D1%8B%D0%B9_%D0%BE%D1%81%D0%B0%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%BB%D0%B0%D1%84%D0%B5%D1%82%29.jpg)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:Gun-carriages (http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:Gun-carriages)
Xe của pháo gồm hau đọan được nối với nhau bởi một khớp. Khớp được tạo bởi một trục quay đứng và móc treo dây buộc, làm cho chiếc xe bốn bánh có hai trục trước sau quay được với nhau, cứ thế có thể làm nhiều "toa tầu".
Đoàn tầu đơn giản nhất chỉ gồm 2 trục, pháo đi giật lùi khi hành quân, gác càng lên xe 2 bánh đi trước, cắm trục đứng của xe vào lỗ trên càng và chằng dây qua vòng buộc khỏi tuột.

Ở đây cũng đã nói về các loại pháo chuia theo các kiểu cơ động. Pháo dã chiến, pháo vị trí, pháo tầu và pháo pháo đài.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21291#msg21291

Đoàn tầu còn kéo theo các "toa hàng" được nhóm ngựa riêng  kéo hay nối chung vào nhau. Các toa này chở pháo thủ, cần châm mồi, thông nòng, tống đạn, lau nòng, đạn, các bầu đụng thuốc cân sẵn... Thuốc và đạn trái phá đã nhồi được đựng trên xe nhẹ có hòm kín. Đạn trái phá được chuẩn bị ngay trước trận đánh, người ta đổ đầy thuốc và cắm ngòi, chêm chặt ngòi gỗ, trong khi đế gỗ Paixhans đã được đóng sẵn từ hậu phương.

Cái xe giá trên có gắn nòng và 2 bánh phụ của nó người ta gọi là Gun-carriage. Đôi khi, có người gọi Gun-carriage là khối giá, càng, bánh đỡ xe. Nhìn chung, là hệ giá-xe.

Loại 4 bánh dã chiến đã nói, gồm hai đoạn 2 bánh, tháo ra khi chiến đấu và nối vào nhau kép pháo giật lùi khi hành quân. Dùng cho "Pháo vị trí" và "Pháo dã chiến".
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/06/24pdrSiegeGun.jpg/800px-24pdrSiegeGun.jpg)

Loại 4 bánh nhỏ của "pháo tầu" và "pháo pháo đài":
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0e/34-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg/120px-34-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0.jpg)

Loại pháo tầu thời Nội Chiến Mỹ dùng cho tầu không có tháp pháo của Ericson, công trình sư Thụy Điển đã thiết kế những Thiết Giáp Hạm đầu tiên.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/63/Barbette_FrontPintleIron.jpg/800px-Barbette_FrontPintleIron.jpg)

Khẩu lựu pháo 8in thời nội chiến Mỹ. 3 toa. Toa móc thêm chở những tà vẹt gỗ để làm ray, ray để pháo lùi tiến khi bắn. Mỗi lần bắn, pháo lùi về và pháo thủ nhồi, nhồi xong đẩy lên. Toa đầu tiên (xe nhất) chở thùng đồ (lau nòng, nhồi nòng, cần châm, đấu đong...).
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d3/8inchMkVIHowitzerAndPlatform.jpg/800px-8inchMkVIHowitzerAndPlatform.jpg)

Thùng đồ pháo dã chiến Nga kiểu 1805. Thùng này chở đạn trái phá, thuốc... những thứ khó bảo quản.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/1c/%D0%9F%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BB%D1%91%D0%B3%D0%BA%D0%B8%D0%B9_%D0%BF%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%BE%D0%BA_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg/800px-%D0%9F%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BB%D1%91%D0%B3%D0%BA%D0%B8%D0%B9_%D0%BF%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%BE%D0%BA_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)


Tiêu đề: Một số Hải Pháo thời Nội Chiến Mỹ
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 11:15:51 am
Một số ảnh súng pháo dùng trong nội chiến Mỹ.

Đây là khẩu 15in (380mm) kiểu nòng ngắn. Những khẩu như thế này nhồi nhiều và bắn rất mạnh, thường dùng đạn gang cầu đặc. Trông béo ụ xấu quá.
John Ericsson đặt hàng, Dahlgrens thiết kế. Pháo tại Filipstad, Thụy Điển quê nhà hai ông, như là một quàd tặng. Pháo được đặt làm vì sau trận chiến của Monitor, cho thấy cần một loại pháo mạnh hơn. Nòng nặng 21 tấn. Nòng pháo được đúc bắn đầu năm 1863, trang bị cho lớp tầu kế tiếp USS monitor là lớp  Passaic.
Kiểu nòng ngắn nhồi nhiều thuận tiện trên tầu, không gian chật hẹp mà lại nhồi miệng nòng gây khó khăn cho những khẩu lựu pháo nòng dài giống kiểu Nga.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/Filipstad_15_in_gun.jpg)

Còn đây là kiểu giá pháo cổ điển thừa kế "Ship of the line", khi bắn, pháo trượt vào trong trên ray gỗ, pháo thủ nhồi miệng nòng, lại đẩy pháo ra chờ bắn tiếp, đuôi pháo có khoen chằng dây chống giật quá đà. Nhiều khẩu như thế này có cải tiến thêm khóa chỉnh tầm.
Trên giá pháo này đặt một khẩu kiểu nòng dài. Những pháo nòng dài nhồi ít hơn và đôi khi có thể bắn trái phá, nhưng tầm bắn và sức đập kém.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/Oregon_Gun_carriage.jpg)

Một chú béo
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/15inch_Dahlgren_smoothbore.jpg)

Đây là kiểu giá pháo có chỉnh tầm hướng John, Ericsson thiết kế cho những tầu không có tháp pháo quay, khắc phục một chút nhược điểm của chúng. Pháo có thể chỉnh hướng được tí tẹo.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/Ericsson_carriage.jpg)


Tiêu đề: Mặt cắt của tầu Montauk và một vết đạn
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 11:58:06 am
Mặt cắt của tầu Montauk
Thật khó hình dung ra tầu có pháo nhồi miệng nòng làm việc thế nào. Đây là mặt cắt của tầu Montauk với pháo tũn nòng ngắn. Pháo có vít me chỉnh tầm và ray trượt gỗ. Khi bắn xong, xe bốn bánh lùi về trên ray, nòng thụt vào trong để pháo thủ nhồi. Nhồi xong, pháo thủ đẩy xe cho nòng thò ra ngoài và châm mồi.

USS Montauk đã cải tiến so mới USS Monitor, có thêm buồng lái trên cùng cũng bọc thép. Tháp pháo và buồng lái vỏ toàn thép. Còn hai mạn thì gỗ bọc thép và rất dầy. Buồng lái cố định trong khi tháp pháo dưới nó quay, trục đỡ buồng lái xuyên qua giữa hai khẩu pháo.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/Cross_sectionofMontauk.jpg)


và một vết đạn

Bi giờ thì những đạn động năng mạnh như thế này gọi là "đạn xuyên". Nhưng khó mà yên tâm dùng từ "xuyên" khi nhìn vết đạn này. Mà gọi là "đạn đập" thì chả giống ai. Đây là viên đạn 8 in tàn phá một tấm thép 4 in bọc ngoài vỏ tầu gỗ bọc thép IronClad, ảnh chụp trong bảo tàng.
Một ưu thế của tầu gỗ là... tự bịt, nên một vỏ gỗ dầy 20-30 phân trở nên cười như công nông khi đạn thần cơ cỡ 3in bắn vào, đạn xuyên sang bên kia tầu và nếu không trúng ai thì... chả sao, còn nếu trúng ai đó thì chết là thường, không làm nước tràn vào tầu. Phim phiếc bi giờ làm cứ thấy tầu trúng đạn là trái phá nổ tưng bừng ???? đây là cuộc chiến cổ đại cuối cùng, mà đạn xuyên chống tầu vẫn chủ yếu là đạn đặc. Vì để chống cái ưu thế tầu gỗ mà phải làm đạn đường kính lớn và súng ngắn tũn gù lưng xấu òm.
Bức trang cũng cho thấy thép gay gang rất giòn !!!!! thép gang thời này chắc quá tồi, tỷ lệ carbon cao, có thể là gang, nhiều phốt-pho lưu-huỳnh, nhiệt độ nấu thấp và khuôn tồi nhiều ứng lực...

(http://www.ijnhonline.org/howard_special/The_Guns_at_Filipstad_pics_docs/8-in%20plate%20with%2015-in%20shot.jpg)


Tiêu đề: The two oldest Handguns of Switzerland
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 01:19:50 pm
Có cái ảnh
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/phao_co_nong_mong/hand_cannon_11.gif)

Mình tìm thấy trên nét, không chú ý, bốt lên ở đây:
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20835#msg20835

Rồi phát hiện ra đây là ảnh vẽ của một thằng tầu khựa chó chết, chả giống loại súng gì. Cấu trúc súng thì là Thần Cơ của Hồ Nguyên Trừng, tỷ lệ chiều dài cỡ vào khoảng Thế Kỷ 16 ở Phương Đông. Nhưng có cán nòng như "Hỏa Thương" của Thế Kỷ 14 của tầu trước khi "bình Giao chỉ được Thần Cơ".

Nhưng nó đông cha mất rồi không sửa được nên đã nói chiện lại ở đây:
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21091#msg21091

-----
http://www.musketeer.ch/blackpowder/freienstein.html

Đây là mặt cắt của HandGun, súng cổ châu Âu. Kiểu súng này giống Hỏa Thương, Hỏa dao găm... của Tầu trước đây, có thể đã theo Thành Cát Tư Hãn và các con cháu ông đến châu Âu. Nó còn chưa có cấu tạo nòng thẳng, tỷ lệ chiều dài nòng rất kém. Như đã nói, kiểu này có liền sau "Pháo Vò", rồi phát triển thành cối và lựu pháo, cũng như các siêu pháo công thành nòng mỏng ngắn. Dòng này phát triển ở châu Âu song song với dòng Thần Cơ Hồ Nguyên Trừng truyền từ phương Đông sang cho đến giữa Thế Kỷ 19.

2 handgonnes này tìm thấy trên nền toàn lâu đài cổ Freienstein tại Canton Zürich, gọi là "The two oldest Handguns of Switzerland", được chế tạo khoảng những năm 1380-1400. Súng có lỗ mồi giống hệt kiểu lỗ mồi nhanh của châu Âu dùng sau đó (không có ống quản dẫn lửa mà phễu cắm thằng vào buồng đốt). Vì chưa có nòng thằng và nòng rất ngắn nên súng này bắn rất gần và có lẽ, giống như các bức tranh trong link trên, nó chỉ bắn khi đã đến chân tường nhà địch. Súng bắn rất kém chính xác.

Súng được làm bằng cách đúc rồi rèn. Vật liệu khá tiên tiến, là một thứ gang tốt, có thể gọi là thép được rồi.
Một khẩu dài 29mm và một khẩu dài 18mm.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Handguns/The%20two%20oldest%20Handguns%20of%20Switzerland/The_two_oldest_Handguns_of_Switz-2.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Handguns/The%20two%20oldest%20Handguns%20of%20Switzerland/The_two_oldest_Handguns_of_Switz-1.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Handguns/The%20two%20oldest%20Handguns%20of%20Switzerland/The_two_oldest_Handguns_of_Switzerl.jpg)

Một kiểu súng Quí Tộc thời đó, tìm được Thế Kỷ 19, súng có thể được chế tạo trước năm 1399. Súng được đúc bằng "đồng pháo", một thứ "đồng thiếc" có tỷ lệ 88Cu-12Sn. Súng đã có buồng đốt riêng, tỷ lệ chiều dài tăng (10) và gia công rất chính xác, súng được gọi là Tannenberg Handgonne, rơi chìm trong nước nên được bảo quản tốt. Khi tìm thấy vẫn có đạn chì.
Công tước xứ Hessen tặng cho bảo tàng Nuremberg Museum.

Kiểu này sao rất giống Hỏa Thương bên tầu cũng thời điểm này. Nhìn thấy nó đã thấy nòng thằng, bắn chính xác và đã rất giống các lựu pháo sau này.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Handguns/tannenberg_rechts.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Handguns/TannenPlan690.jpg)


Tiêu đề: Nòng hàn cổ , kinh nghiệm, kỳ quặc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 09:08:35 pm
Một lô những điều kỳ quặc tyồn tại cùng với thời gian.

Ở đây đã nói về một loại nòng hàn. Công nghệ hàn hồi đó chẳng phải là hàn điện hàn xì, mà là đổ từng khoanh kim loại đúc để nối từng đoạn ống vào nhau.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21928#msg21928

Đây là một khẩu pháo tương tự, Đầu Thế Kỷ 16, cũng sử dụng nòng gang hàn từng khoanh như thế. Pháo Pháp chìm năm 1514 khi đánh Brighton.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/sungs_mucj_nats/BlackRockBrightonFrenchSunk1514.jpg)

Đầu Thế Kỷ 17, khẩu pháo nòng mỏng lớn nhất cổ đại còn lại ở Ấn Độ cũng là nòng hàn. Khẩu Tanjavur. Khẩu này minh chứng cho công dụng của việc hàn. Với lò nhỏ, người ta chỉ nấu được từng đoạn nòng rồi mới nối chúng vào nhau. Ở những khẩu nhỏ, có lẽ công nghệ hàn cho phép những lò bé tí chỉ nấu được chục kg gang mộ mẻ (thậm chí ít hơn) cũng đúc đuợc nòng pháo.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20765#msg20765

Đây là một thành tự chế tạo máy đỉnh cao của Thế Kỷ 15, Pháp. Pháo có cả chỉnh tầm. Những khoanh nòng có rác dụng giữ chặt nòng vào giá gỗ để đóng đai, chính là cái nòng mục trên chiếc tầu chìm năm 1514 trên đây, cũng giống như loại súng Thụy Điển trên kia. Đằng sau là khóa nòng nhồi đạn sau. Tuy nhiên, loại súng này rất yếu và nhanh chóng biến mất trước sự xâm lấn của loại Thần Cơ Hồ Nguyên Trừng nòng dầy. Vì đạn yếu nên đường đạn cong và không có chỉnh tầm thì không thể bắn được. Ngày ấy, với độ chính xác kém thì chỉ bắn vài trăm mét, với đường đạn thẳng như Thần Cơ thì chả cần tầm, hay có cần như không đáng kể.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/sungs_mucj_nats/hankhoanh_napdansau_phap_theky15.jpg)

Đây là nguyên bản công nghệ hàn Thế Kỷ 15 ở Tầu, những khẩu Thần Cơ Thương Pháo đầu tiên của Hồ Nguyên Trừng đúc gang ở tầu có kiểu nòng nhiều khoang thế này. Không hiểu cái nòng này đúc hay hàn, nhưng những khoanh của thời Minh đều xuất phát từ hàn và cứ thế lưu truyền sang châu Âu.
Có thể, những khoanh này có nhiều tác dụng khi đặt pháo lên bệ đất đá thời cổ, nhưng từ khi có xe, giá thì không hiểu tác dụng !!!!!! ??? chắc chỉ là theo kinh nghiệm truyền thống của các thợ đúc. Lúc đó, toán học vật lý còn là tà đạo, nói ai mà tin.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Mutianyu_cannon.JPG (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Mutianyu_cannon.JPG)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b9/Mutianyu_cannon.JPG/800px-Mutianyu_cannon.JPG)

Nòng hàn có khoanh, nhưng đúc cũng có khoanh !!!!!!!!!!!!!!!!!
Thế Kỷ 15, châu Âu thịnh hành loại pháo nòng mỏng ngắn, mà sau này phát triển thành Howitzer và cối. Cũng như châu Á, chúng rất nhiều khoanh.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Kwidzyn_bombarda.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Kwidzyn_bombarda.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d9/Kwidzyn_bombarda.jpg)

Dấu vết của công nghệ hàn lưu truyền cho đến đầu thế kỷ 18. Cùng những hoa văn loằng ngoằng, thời đại đồng điếu đặc trưng bởi các khoanh còn lại từ thời hàn cổ đại. Đồng điếu là kim loại dễ đúc, đồng pháo là loại đồng điếu cứng, chống mòn, chịu áp lực cao, không giòn lắm cho phép làm những nòng pháo mỏng bằng cách đúc-trong khi gang hồi đó không đạt yêu cầu. Thời đại nòng pháo đúc thống trị bởi đồng điếu như vậy.
Các khoanh này chỉ mất đi cuối thời đại đồng điếu (khoảng những năm 182x-185x) ở châu Âu.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Canon-IMG_0829.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:Canon-IMG_0829.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0e/Canon-IMG_0829.jpg/800px-Canon-IMG_0829.jpg)


Cái vành miệng nòng tồn tại từ thời những khẩu pháo nòng mỏng ngắn Thế Kỷ 14 (Tầu) và thế kỷ 15 (châu Âu). Các cối mỏng, lựu pháo Howitzer mỏng thì cái vành này có tác dụng lớn, nó chống méo miệng nòng cực kỳ nguy hiểm (có thể làm chết cả khẩu đội, mất pháo... khi bị đất đá văng phải. Nhưng với Thần Cơ nòng dầy thì tác dụng !!!???? Tuy vậy, Hải Pháo hồi Nội chiến Mỹ to khủng bố vẫn do dự chưa dám bỏ đi.
Năm 1500
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21628#msg21628 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21628#msg21628)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2c/Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg/685px-Bombard-MortarOfTheKnightsOfSaintJohnOfJerusalemRhodes1480-1500.jpg)

Và năm 1864 của Nội Chiến Mỹ, bé lắm rồi nhưng người ta chưa dám bỏ hẳn cái khoanh miệng nòng !!!!
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21798#msg21798 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21798#msg21798)
(http://www.history.navy.mil/photos/images/h61000/h61671.jpg)

Đầu Thế Kỷ 19, thời đại đồng điếu vẫn đang thịnh. Cùng với nó là hoa văn. Hoa văn và đồng điếu chỉ kết thúc vào khoảng 1850. Nội chiến Mỹ 186x thì pháo vẫn chủ yếu là gang đúc, tuy nhiên chất lượng gang đã mịn màng lắm rồi. Lúc này, cũng đã có một số pháo thép nhưng ít.

Đầu Thế Kỷ 18, pháo còn có cả thánh kinh và hình đức chúa. Mà, hồi đó pháo thủ toàn mù chữ, trong khi pháo lại nhiều chữ ???? ;D ;D ;D ;D
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21414#msg21414 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21414#msg21414)

Đầu TK 19. Cứ bảo Nga Ngố hoa hòe, đây, pháo Pháp còn văn hoa trên cả Sài Gòn. Kiểu 1805 Nga trang trí cực kỳ tiên tiến vì không... hoa văn.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b1/%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1812.jpg/707px-%D0%A2%D1%80%D0%BE%D1%84%D0%B5%D0%B8_1812.jpg)

1854, có lẽ là một trong những sản phẩm cuối cùng của thời đại đồng điếu, từ nay, mọi người dần quên lãng từ đồng pháo, loại đồng điếu 88%Cu12%Sn. Cuối thời đại đồng điếu, hoa văn và khoanh giữa nòng đã mát hẳn. Phía Nga từ các kiểu pháo của Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh năm 1805 đã bỏ khoanh và hoa.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/1_puts_coong_thanhf_phaos_1838_1-2.jpg)

Khẩu pháo thép hiếm hoi năm 1860, Nga, 120mm. lúc này, tuy đồng điếu đã hết nhưng thép còn đang chớm có. Pháo dùng trong nội chiến Mỹ chủ yếu là gang xám. Loại gang lúc này tốt, mịn hơn gang Thế Kỷ 18, nhưng vẫn chỉ là đúc. Nòng thép mở ra cánh cửa cắt gọt, cho ra nòng xoắn, khóa nòng, nạp đít... và bao nhiêu là thứ khác, chúng ta sẽ nói về pháo trung gian tân cổ sắp tới.
Cho đến lúc này, pháo vẫn bắn đạn cầu và tính theo cân nặng đầu đạn. Việc tính theo đường kính nòng có thừ thời Nga phát triển Lựu Pháo Howitzer Thế Kỷ 18, với việc dùng đạn cầu rỗng không thuốc nổ bắn trên lựu pháo. Nhưng việc tính theo cân nặng đạn vẫn tồn tại song song. Đến Nội chiến Mỹ, nói theo cách cân nặng đạn vẫn... oách hơn mấy thằng kỹ thuật lìu tìu dùng đường kính nòng. Khẩu này 123 cân Anh.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e4/%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg/800px-%D0%A1%D1%82%D0%B2%D0%BE%D0%BB_12-%D1%84%D1%83%D0%BD%D1%82%D0%BE%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%BE%D0%B1%D0%BB%D0%B5%D0%B3%D1%87%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D0%BE%D0%B9_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B8.jpg)

Lại còn cái này nữa, người Nga phát triển loại Lựu Pháo đặc trưng của họ trong Thế Kỷ 18. Nòng dài, mỏng, nhẹ, bắn đạn to đi xa... Họ bớt thừng tí cân nặng, nhưng cương quyết giữ cái vành đuôi nòng nặng nề. Chỉ để "tương thích" với xe giá đang dùng thần cơ. !!!!! ?????
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21318#msg21318 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21318#msg21318)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/01/125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg/800px-125-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%B5%D1%88%D0%B8%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B7%D0%B0%D0%B4%D0%B8%29.jpg)


Tiêu đề: Cuộc chiến lớn mở đầu Thời đại đồ sắt, Nội chiến Mỹ
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 05 Tháng Năm, 2008, 11:28:04 pm
"Thời đại đồ sắt bắt đầu từ giữa Thế Kỷ 19, thay thế thời đại đồng điếu"
"Thời đại đồ sắt bắt đầu từ Thế Kỷ 18, thay thế thời đại đồ đá"
Nói mấy câu tựa thế này thì bị mấy nhà sử học đánh nát đít.   ;D ;D ;D ;D ;D ;D Kệ họ, họ có tức nổ đom đóm mắt thì đạn gang thay đạn đá trong Thế Kỷ 18, nòng sắt thay nòng đồng điếu trong Thế Kỷ 19.
"Thời đại đồ sắt" có thể chia ra 3 giai đoạn: "Sơ kỳ đạn gang cầu" Thế Kỷ 18, "Trung kỳ nòng gang đúc" Thế Kỷ 19 và "Đại kỳ thép cắt gọt" cuối Thế Kỷ 19.  ;D :o ::) ;D :o :o ::)


Diễn biến thay đổi đồ sắt trước Nội Chiến Mỹ.

Tầu
Lạ một điều, pháo nhà Thanh rất to nhưng chất lượng gang và cấu tạo pháo đều tồi. Pháo nhà Thanh lại có mặt hơn châu Âu ở chỗ nhiều nòng gang ít nòng đồng. Có thể, ở vùng Viễn Đông đồng hiếm đắt. Nhưng nguyên nhân to hơn có lẽ là, từ thời Minh, súng gang thép đã khá nhiều, chiếm phần chủ yếu. Việc nòng súng gang nhà Thanh giảm chất lượng cho thấy, việc tham nhũng từ lâu đã tồn tại trong công nghiệp vũ khí. Đây là một nành công nghiệp khổng lồ, trong thời phong kiến là ngành công nghiệp lớn nhất, chiếm đại đa số giá trị công nghiệp, thủ công nghiệp và có trình độ phát triển tiên tiến nhất xã hội. Tuy nhiên, việc sắp xếp nhân sự ngành này trong thời xã hội suy đồi lại không theo ký kiến của khoa học, kỹ thuật, hay quân sự, mà là của chính quyền hoạn quan, hủ nho, lái buôn và ...các hoàng hậu công chúa.

Nhà Minh có công nghiệp luyện gang thép lớn nhất thế giới lúc đó. Trình độ kỹ thuật cao, sản lượng  và sản lượng bình quân đầu người đứng đầu thế giới. Lúc đỉnh điểm 10kg/người/năm, một con số khổng lồ thời đại thủ công, và khổng lồ hơn khi nó là nước đứng đầu dân số trên thế giới và sản phẩm tập trung tiêu thụ ở một vài vùng trung tâm. Tỷ lệ thép luyện được trong tổng sản lượng gang thép cao cho phép họ có những binh đoàn dùng súng hỏa mai châm tay và súng trường mồi thừng đầu tiên trên thế giới.
Những công trường thủ công khổng lồ đúc súng luyện sắt đầu tiên của nhà Minh được đặt nền móng bởi 17 ngàn tù binh Việt nam và Hồ Nguyên Trừng. Súng nhà Minh có pháo chủ yếu là gang, một chút pháo thép, ít pháo đồng. Đặc biệt súng trường làm bằng thép tốt đặc biệt lúc đó, hàng "công nghệ cao"  ;D ;D ;D ;D. Những súng trường đầu tiên sử dụng thép luyện bằng công nghệ rèn dập "sắt Tây Vực"-theo Hồ Nguyên Trừng, cho phép làm các chi tiết rất dài, đàn hồi, nhẹ, bền chắc và dẻo dai.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20707#msg20707

Châu Âu
Ở châu Âu đồng rẻ hơn Viễn Đông, có lẽ chính là lý do để thời đại đồ đồng kéo dài. Tuy nhiên, truyền thống súng pháo nhà Minh chìm đắm theo Nhạn Môn Quan. Nhà Thanh cũng như các lìu tìu khác ở Viễn Đông như Đài, Nhật.. đều không có công nghệ trung ương nhà Minh và Đại Việt, kể cả lìu tìu Đại Việt như Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà, đều thuê thợ Tây đúc, thường là thợ Bồ Đào Nha.

Thời đại nòng đồng điếu ở châu Âu bắt đầu từ khoảng đầu Thế Kỷ 15 đếng giữa Thế Kỷ 18, đặc trưng bởi pháo có nòng "đồng pháo", hợp kim 88% Cu và 12% Sn.

Thời đại đồ sắt ở châu Âu tuy bắt đầu muộn nhưng đến Thế Kỷ 18 thì sắt vẫn cứ trở thành chìa khóa của sự phát triển súng pháo châu Âu.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21282#msg21282

Nga
Thế Kỷ 18, Nga tiến chiếm và xây sựng Sankt Peterburg (Санкт-Петербург), tiếp cận những mỏ sắt tốt trước đây của Thụy Điển, rồi sau đó  họ phát triển các mỏ sắt ở vùng Uran, rồi Antai. Nửa đầu Thế Kỷ 18, Nga đúc rất nhiều nòng pháo gang. Nhưng lúc đó công nghệ đúc gang còn còi, gang còn xấu và nòng gang thường chỉ được áp dụng cho các pháo Thần Cơ bắn đạn đặc rất nặng, pháo pháo đài hoặc pháo tầu biển.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21253#msg21253 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21253#msg21253)
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21291#msg21291 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21291#msg21291)

Trong suốt Thế Kỷ 18 này và sang Thế Kỷ 19, Nga bận với rất nhiều cuộc chiến quan trọng của châu Âu, mà trong đó họ có vai trò chủ lực và... ơn chúa Chính Thống, họ đều thắng: Thụy Điển, Thổ, Pháp. Những cuộc chiến đó chủ yếu trên những cánh đồng, vì pháo Thần Cơ đã thổi quỵ những thành quách lâu đài. Người Nga đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển lựu pháo Howitzer với chìa khóa là đạn gang rẻ, nhiều. Đến đầu Thế Kỷ 19, Lựu pháo Nga đã có thiết kế nòng vượt lên đứng đầu Thế Giới thời đại đồng điếu, với nòng thay đổi độ dày hợp lý, mỏng nhẹ, dã chiến. Cùng với sắt và hình dáng nòng, là trình độ văn hóa cao của các pháo thủ. Không ở đâu lúc đó thành lập Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh, tìm được đông đảo các ổ trưởng, khẩu đội trưởng biết chữ biết tính, lựu pháo bắn đạn đường bay cao là thứ pháo khó dùng nhất trong các thứ pháo, bắn nó khác hẳn Thần Cơ cứ ngắm thẳng hướng nòng.
Tiêu chuẩn sản phẩm chứ không phải là thương hiệu, phương pháp thử nghiệm đanh giá khi nghiên cứu và phương pháp thử nghiệm đang giá khi nghiệm thu, khoa học sử dụng pháo và huấn luyện... là những sản phẩm còn quan trọng hơn khẩu pháo cụ thể. Hàng loạt những hội đồng và vũ khí có nguồn gốc các hội đồng, vũ khí không có thương hiệu mà là vũ khí công cộng, đồ "phục vụ"... xuất hiện cuối Thế Kỷ 19, làm nên cuộc cách mạng vũ khí đầu Thế Kỷ 20... Các hội đồng đó đều xuất phát từ tinh thần của Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh.

Tuy nhiên, đến thời đại đồ sắt, Hội Đồng Khoa Học Pháo Binh đã nhạt. Cuối Thế Kỷ 19, Nga bước vào một giai đoạn suy đồi, nguồn lợi từ các công xưởng của Piotr Đại Đế được tư hữu hóa không lành mạnh, hội đồng biến thành một công cụ của chính quyền suy đồi dùng phân chia tài sản công một cách đen tối. Nga vẫn dẫn đầu thế giới về thay đổi súng pháo trong giai đoạn cuối của chiến tranh Crimean, nhưng không còn tiến vững vàng như Thế Kỷ 18 nữa.

Henri-Joseph Paixhans
Trong khi Nga phát triển pháo lục quân đồng điếu thì Anh, Tây Ban Nha, Pháp hồi trước 1805 phát triển mạnh Hải Quân, các nước này sở hữu nhiều nhất "Ship Of The Line", vũ khí chủ yếu là Thần Cơ nòng dầy, dễ dàng làm bằng gang. Tuy nhiên, Trận đánh Trafalgar đặt một dấu hỏi to vào loại tầu này. Trận chiến làm kéo dài sự bắt đầu của Thời đại đồ sắt.

Cứu nguy cho sự khủng hoảng này là Henri-Joseph Paixhans, ông mở đầu trào lưu thay thế một núi pháo nhỏ bằng 1-2 khẩu pháo to khủng bố trên mỗi tầu, mang tên "Hải Pháo Paixhans". Khẩu pháo được "trào lưu công nghệ cao" (tức các nhà đúc sắt và các kỹ thuật gia yêu sắt), nhiệt liệt tán thưởng, bắt đầu kỷ nguyên mới, Thời đại đồ sắt. Thế là thời đại mới bắt đầu thuận tiện bằng kiểu pháo, cối to khủng bố với những hợp đồng đúc gang thép chưa từng có.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21792#msg21792

Công của Henri-Joseph Paixhans trong kỹ thuật pháo không bao nhiêu, nhưng với sự phát triển thị trường sắt thì quá hoành tráng. Lúc đó, ai nhận pháo mình thiết kế là một dạng Hải Pháo Paixhans liền được hoan hô nhiệt liệt, vì chắc chắn mỗi khẩu pháo đó sẽ tốn ít nhất là một chục tấn gang, thông thường đến Nội Chiến Mỹ là nhiều chục tấn. Về mặt hợp đồng kinh tế, đó là con số hoành tráng vĩ đại ngày đó, béo múp. Thế là rất nhiều loại pháo nhận là Hải Pháo Paixhans, mặc dù những đặc điểm cơ bản mà Paixhans đóng góp lại không có.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. Ví dụ, 3 đặc điểm của Hải Pháo Paixhans là bắn trái phá góc thấp, có guốc, ngòi đập nổ. Nhưng mà các Hải Pháo mạnh nhất đều bắn đạn đặc vưỡn... nhận vơ người sang làm họ như thường.  ;D ;D ;D ;D ;D
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21800#msg21800

Đặc trưng pháo binh Nội Chiến Mỹ.
Hải Pháo
Hải Pháo gang đúc khổng lồ đómg một vai trò quan trọng trong Nội Chiến Mỹ. Người ta cố gắng nhiều lần thay đổi cấu trúc của "Ship Of The Line", nhưng cuối cùng, mẫu tầu hoàn toàn mới của nhà thiết kế Thụy Điển đã xuất hiện và chiến thắng, Thiết Giáp Hạm bắt đầu kỷ nguyên 90 năm của mình. Thật ra, những tầu ban đầu chưa phải là thiết giáp, chỉ là bọc thép IronClad, nhưng tiếng Việt dùng cụm từ "Thiết Giáp Hạm" để chỉ BattleShip, tầu chiến đấu đối kháng, trong đó giáp chỉ là một phần.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21797#msg21797

Dã Pháo
Tuy "Hải Pháo Paixhans" có to lớn quan trọng thế nào chăng nữa thì những trận đánh trên bộ vẫn là quan trọng nhất với Nội Chiến Mỹ. Nếu bạn nào chú ý trong tiếng Anh sẽ thấy một điều kỳ quặc, từ Dã Pháo, Field Gun hiện nay dùng chỉ các thứ pháo tương tự như từ Lựu pháo pháo trận địa Nga xuất hiện Thế Kỷ 18. Ví như những khẩu nòng dài 155mm, M107-175mm (vua chiến trường), hay M46-130mm Liên Xô. Còn Dã Pháo thật sự, như khẩu 105mm Packgun lại được gọi là Lựu pháo Howitzer.

Chiện như thế này:
Đến cuối Thế Kỷ 18 thì Nga chủ yếu sử dụng lựu pháo trong lục quân. Họ chia pháo ra 4 loại chính: Pháo pháo đài, pháo tầu, pháo trận địa và pháo dã chiến-dã pháo, chúng xếp theo thứ tự tăng của khả năng dã chiến-cơ động. Trong đó, pháo trận địa và pháo dã chiến-dã pháo là những loại pháo dùng cho lục quân, pháo chủ lực đã đánh những trận chiến như Brôdinô, Berezina, Krasnoi...
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21291#msg21291
Những trận chiến điển hình như  Brôdinô, Berezina... thường được bố trí như sau. Quân đội mỗi bên xây dựng một vài "Trận địa pháo", loại pháo thích hợp nhất đặt trong cùng "trận địa pháo" là những Lựu pháo trận địa, Position Howitzer, пеший единорог, là loại Lựu Pháo Tầm Xa. Chúng sử dụng đường đạn cao, cong. Xung quang các trận địa pháo này có bộ binh yểm trợ, chống địch xung phong chiếm pháo. Trận đánh sẽ được bố trí bằng cách lấy các Trận Địa Pháo làm trung tâm. Hai bên điều động bộ binh, kỵ binh... chạy vòng quanh các Trận Địa Pháo mà tiến hành trận đánh. Lựu Pháo Tầm Xa đứng một chỗ nhưng di chuyển tầm hướng... để bắn địch đang di chuyển, hỗ trợ bộ binh ta. Việc sử dụng loại pháo này như trên đã nói, cần đông đảo các ổ trưởng, khẩu trưởng, trận địa trưởng và chỉ huy pháo binh có trình độ chữ viết, ký hiệu, tính toán cao, thời đó rất khó kiếm đủ.

Một loại pháo nữa được các khối bộ binh ô vuông kéo đi kèm. Vì phải đi kèm bộ binh nên chúng rất nhẹ, tầm bắn cũng gần. Sử dụng chúng rất dễ, bắn cứ như Thần Cơ, ngắm thẳng nòng. Những khẩu pháo này tăng cường hỏa lực trước mặt khối bộ binh, tương tự Đại Liên Trung Liên ngày nay, ví dụ, chống địch xung phong hay uủng hộ ta xung phong. Đây chính là các dã pháo, pháo dã chiến, field gun.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21431#msg21431

Nội chiến Mỹ chưa đủ trình độ sử dụng rộng rãi Lựu Pháo Trận Địa, chủ yếu do trước đó cả Anh, Mỹ, Tây Ban Nha đều có trình độ sử dụng pháo lục quân không cao, họ thiên về đánh biển bằng Thần Cơ và Hải Pháo. Việc sử dụng pháo bắn cầu vồng mà trình độ pháo thủ không cao thì đạn rơi vào đầu ta là chuyện thường, mà kiếm đủ số pháo thủ thì khó. Vì vậy, lực lượng pháo Lục Quân chủ yếu của Nội Chiến Mỹ là các khẩu Dã Pháo. Cũng cuối Thế Kỷ 18, từ Nga xuất hiện kiểu dã pháo dã chiến nhất, đó là sơn pháo, thứ pháo nhẹ dễ leo núi.

Trong Nội chiến Mỹ, nhờ Thời đại đồ sắt mà vị trí pháo thay đổi hẳn. Đây là trận chiến đầu tiên trên bộ mà pháo có số lượng lớn, chiếm 6% nhân sự toàn quân. Đó là chưa kể, một số lớn nhan lực bộ binh thường xuyên được điều động giúp pháo: kéo, đào, vận chuyển... Loại pháo chủ lực trong đó là dã pháo.
Từ Thế Kỷ 18 thì Hải Pháo đã gang nhiều. Trước thời điểm Nội CHiến Mỹ thì Hải Pháo gang đã thống trị. Nhưng trên bộ thì Nội Chiến Mỹ là cuộc chiến lớn đầu tiên mà "bộ pháo" sắt chiếm số đông. Trong cuộc chiến, tuy muộn, nhưng công nghệ cắt gọt, điển hình là nòng khoan, xoắn và đạn dài đã ưu thế. Ngoài ra, các ảnh hưởng lớn của thép và cắt gọt cũng xuất hiện, như khóa nòng và nạp đạn sau. Vật liệu sắt thì gang cũng thay dần bằng thép.
Hurrah for the Light Artillery! Bài ca Dã Pháo.
http://www.cwartillery.org/ltarty.html

Lựu pháo trận địa (khẩu dưới có ảnh):
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21318#msg21316

Người Nga đến cuối Thế Kỷ 18 phân ra các kiểu pháo dã chiến: Lựu pháo dã chiến ruộng, lựu pháo dã chiến bộ, lựu pháo dã chiến núi.
Lựu pháo dã chiến ruộng, полевой единорог khá lớn, vì di chuyển trên đồng dễ dàng.
lựu pháo dã chiến núi, горный единорог là sơn pháo. Pháo núi bé nhẹ hơn pháo ruộng.
lựu pháo dã chiến bộ, пеший единорог chính là loại bộ binh đẩy đi trong trận đánh, loại chủ yếu mà Nội Chiến Mỹ dùng.
lựu pháo dã chiến ngựa, конный единорог, to hơn loại người kéo chút.

Những phân chia này phát triển và trở nên không rõ ràng. Sơn pháo là loại pháo chủ lực của quân ta thời đánh Pháp, nguồn chiến lợi phẩm. Nay thì ... tuy nhiên, tên gọi vẫn còn như trên đã nói. Việc đơn giản hoá cách phân chia bởi vì tính dã chiến không còn nặng nề khi cơ giới hoá  và tầm bắn xa, chúng ta đã và sẽ còn đề cập nhiều đến chuyện này.
Loại pháo ruộng thường to hơn chút, nòng ngắn, bắn đạn lớn, bắn gần. Nhìn chung các loại lựu pháo đều cần hai thứ dã chiến: từ pháo bắn vào địch và kéo pháo. Pháo rộng dễ đi nên chỉ cần bắn gần.

Lựu pháo dã chiến bộ, dã pháo (khẩu trên không có hình, trong bài có hai khẩu, khẩu dưới có hình là pháo vị trí, đọc lại thấy lấy ví dụ ngô nghê quá  ;D ;D)
Khẩu này kiểu 1805, 125mm, bắn đạn nặng 1/4 pút (1 pút là 16,3kg), nòng dài 153cm, nòng nặng 354kg. Bắn xa 1340 mét.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21316#msg21316


Lựu pháo dã chiến núi, sơn pháo, kiểu 1938:
Bắn đạn 1/4 pút (khoảng 4kg), nòng dài 69,5cm, nòng nặng 100kg, bắn xa 1800 mét.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21317#msg21317

Lựu pháo dã chiến ruộng Nga 152mm kiểu 1938. Tiếng Việt Cổ ;D ;D còn có từ trường pháo là chỉ loại này.
Bắn đạn nửa pút (khoàng 8kg), nòng dài 174cm, nặng 707kg, bắn xa 128 mét.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21314#msg21314
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a2/152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838.jpg/789px-152-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B5%D0%B2%D0%BE%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838.jpg)



Tiêu đề: Lựu pháo dã chiến đi ngựa
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 06 Tháng Năm, 2008, 10:35:27 pm
Sơn pháo chỉ sản xuất một số ít cho những mục tiêu đặc biệt, nó dễ dàng dùng ngựa kéo lên đỉnh núi, lợi điểm pháo binh. Tuy nhiên, khối lượng nhẹ hạn chế nhiều chức năng nên không phải là loại pháo chủ lực. Sau này chúng ta sẽ bàn nhiều về sơn pháo, loại pháo anh hùng nhà Vịt.


Trong số các lựu pháo dã chiến có nhiều loại nhỉ ????!!!!!! Ngày đó không có cơ giới nó thế, vận chuyển khẩu pháo đi hàng trăm, hàng ngàn km để đến trận đánh. Rồi di chuyển rất nhanh trong khi trận đánh khốc liệt diễn ra. Tất cả những động tác đó đều không có tí động cơ nào. Chúng ta thật khó hình dung nếu không có chút thực tiễn. Người ta phải chia ra rất nhiều loại pháo theo mức độ cơ động như vậy.

Chắc ở trên nhiều bạn khó hiểu Lựu pháo dã chiến kéo bộ !!!!! Ở đây bốt lên cái lựu pháo dã chiến kéo ngựa, "конный единорог " để so sánh. Nó to hơn tí ti.
Khẩu pháo 1/4 pút (khoảng 4kg), 122mm, kiểu 1805, đồng điếu, nòng dài 141cm, nòng nặng 320kg, tầm 1480 mét, thuộc loại pháo ruộng. Pháo trận địa và pháo dã chiến ngoài nòng ra, thường khác thêm cái giá.


http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:122-%D0%BC%D0%BC_%D0%BA%D0%BE%D0%BD%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:122-%D0%BC%D0%BC_%D0%BA%D0%BE%D0%BD%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/63/122-%D0%BC%D0%BC_%D0%BA%D0%BE%D0%BD%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/800px-122-%D0%BC%D0%BC_%D0%BA%D0%BE%D0%BD%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81_%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)


Tiêu đề: Thần Cơ dã chiến
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 06 Tháng Năm, 2008, 10:54:30 pm
Bốt lên một khẩu pháo Thần Cơ cùng cỡ cùng đời để so sánh. Pháo Thần Cơ của lục quân không to khoẻ như pháo pháo đài và pháo tầu. Kiểu 1938 là kiểu cuối cùng thời đại đồng điếu ở Nga, lúc này sự phân biệt hai loại pháo Thần Cơ và Lựu Pháo không rõ ràng. Các nước khác lấy Thần Cơ bắn trái phá, Nga cải tiến Lựu Pháo dùng như Thần Cơ... và pháo lục quân cùng đạt đến một thiết kế khá giống nhau mặc dù từ hai hướng. Tuy vậy, những pháo bắn đạn động năng mạnh nhất vẫn không thể bắn trái phá, chuyên dùng để công thành diệt tầu. Lý do là đạn trái phá phát nổ khi có gia tốc lớn trong nòng.

Tiếng Nga, "гаубица" là Lựu Pháo, bắn trái phá. còn "пушка" là Thần Cơ, bắn đạn đặc động năng. Kiểu pháo hai mà một là "пушка гаубица". Anh-Mỹ thường gọi pháo bắn đạn động năng là "gun", pháo bắn trái phá là "howitzer", súng pháo các loại là "cannon", tuy nhiên, ngày nay người ta dùng bừa bãi tiếng Anh nên lẫn lộn hết cả. (Cái bọn đàn em của Hàn Triệu già ngồi rỗi bên mẽo lại ngu si về chuyện này hơn tất thẩy  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D).

"Howitzer" như đã nói, xuất phát từ "máy bắn đá" trong tiếng Bô-Hêm. Hiện tượng này cũng như "Pháo" trong tiến Tầu.

Thần Cơ dã chiến dài nặng hơn Lựu Pháo cùng cỡ. Khẩu này là kiểu 1805, 121mm, đạn 12 cân Anh (cỡ 5,4kg), nòng dài 172cm, nòng nặng 479kg, đúc tại quân xưởng St. Petersburg bởi thợ cả Paskhov. Tầm bắn 1800 mét. Đồng điếu.

Khẩu pháo "cân đối", có khoảng cách hai bánh lớn cân đối với chiều dài giá và nòng, giúp nó dễ xạ kích hơn trong thời đại không có hãm hướng. Pháo Thần Cơ cần bắn chính xác hơn Lựu Pháo. Pháo Thần Cơ bắn thiên về đạn đặc, công phá bằng động năng, dùng công thành hay tiêu diệt phương tiện đối phương, như pháo, xe, thuyền... Khẩu này nhỏ thiên về bắn phương tiện, các khẩu công thành lớn hơn.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:121-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%8C%D1%88%D0%B5%D0%B9_%D0%BF%D1%80%D0%BE%D0%BF%D0%BE%D1%80%D1%86%D0%B8%D0%B8_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:121-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%8C%D1%88%D0%B5%D0%B9_%D0%BF%D1%80%D0%BE%D0%BF%D0%BE%D1%80%D1%86%D0%B8%D0%B8_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:121-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%8C%D1%88%D0%B5%D0%B9_%D0%BF%D1%80%D0%BE%D0%BF%D0%BE%D1%80%D1%86%D0%B8%D0%B8_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:121-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%8C%D1%88%D0%B5%D0%B9_%D0%BF%D1%80%D0%BE%D0%BF%D0%BE%D1%80%D1%86%D0%B8%D0%B8_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/38/121-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%8C%D1%88%D0%B5%D0%B9_%D0%BF%D1%80%D0%BE%D0%BF%D0%BE%D1%80%D1%86%D0%B8%D0%B8_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg/800px-121-%D0%BC%D0%BC_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%8C%D1%88%D0%B5%D0%B9_%D0%BF%D1%80%D0%BE%D0%BF%D0%BE%D1%80%D1%86%D0%B8%D0%B8_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1805_%28%D0%B2%D0%B8%D0%B4_%D1%81%D0%B1%D0%BE%D0%BA%D1%83%29.jpg)


Tiêu đề: Sơn pháo kiểu 1838
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 06 Tháng Năm, 2008, 11:13:10 pm
Khẩu này đã bốt rồi nhưng bốt lại cùng chỗ tiện so sánh

Sơn pháo (mountain gun), là loại pháo nhẹ dễ dùng súc vật kéo đi trên vùng núi. Khẩu này 122mm, nòng dài 69,5mm, tầm bắn 1800 mét, khối lượng cái nòng 100kg. Bắn đạn 1/4 pút.
Khẩu pháo có kiểu 1838, đúc năm 1853 tại Saint Petersburg bởi Ioganni.

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fe/122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg/800px-122-%D0%BC%D0%BC_%D0%B3%D0%BE%D1%80%D0%BD%D1%8B%D0%B9_%D0%B5%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BE%D0%B3_%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%B7%D1%86%D0%B0_1838_%D0%B3%D0%BE%D0%B4%D0%B0.jpg)



Tiêu đề: Pháo pháo đài ở phương Tây. Kiểu xe 4 bánh.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 07 Tháng Năm, 2008, 01:05:21 am
Pháo pháo đài ở phương Tây vào Thế kỷ 18 có một số khẩu hơi khác Nga.  Thông thường, pháo pháo đài ở phương Tây thường ngắn và dầy hơn Nga, rất nặng. Cũng như Nga, phần lớn các pháo pháo đài thời này đều đặt trên xe gỗ 4 bánh, khi bắn xe lùi vào trong, pháo thủ nhồi xong đẩy xe lên bắn tiếp. Thế kỷ 18 xuất hiện nhiều xe đồng hay gang.
Lỗ châu mai loe ra để chỉnh hướng, chỉnh hướng rất phức tạp và mất thời gian, nhưng các pháo này bắn rất gần nên cũng ít phải chỉnh hướng. Cái này thì Nga cũng như thế, bốt lên một cảnh pháo đài không nóc để dễ hình dung.
Forte do Presépio de Belém, estado do Pará, Brasil

http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:FortePresepio-CCBY.jpg
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/65/FortePresepio-CCBY.jpg/800px-FortePresepio-CCBY.jpg)



Tiêu đề: Pháo tũn
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 07 Tháng Năm, 2008, 01:25:31 am
Loại khác nhiều nhất là loại có nòng rất dầy ở buồng đốt, nhưng nòng ngắn và chiều dầy nòng giảm nhanh, nên đầu nòng rất nhỏ so với đuôi. Loại này nhồi rất nhiều thuốc, thuận lợi là dễ thao tác ở trong các pháo đài có mái che hay gặp ở phương Tây. Có nhiều khẩu không lùi về để nhồi (đặt trên xe 4 bánh), mà khi bắn pháo cố định, miệng nòng hơi thụt vào sau lỗ châu mai để nhồi. Loại này có thể có ray ngang để dễ chỉnh hướng xuất hiện trong Thế Kỷ 19, rồi sau đó là loại giá vừa xoay vừa lùi được như đã bốt.

Pháo đài mà ổ pháo có mái che dành cái nóc để bộ binh hay các súng khác mần ăn. Pháo để tầng dưới, bắn qua lỗ châu mai.

Kiểu nòng tũn này tuy nặng, thao tác lâu, nhưng đường đạn căng, bắn mục tiêu di động như tầu bè thuận lợi hơn. Người ta sử dụng chúng vừa bắn đạn đặc vừa bắn trái phá bằng cách làm trái phá dài, rất nặng. Trái phá kiểu này dài, kiểu đó đạn rất tản mát do đạn xoáy lộn trong không khí, bắn rất gần, nhưng công phá tầu bè mạnh, lý do thì như đã nói ở đây.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21793#msg21793
Nhưng trái phá bắn gần thì không cần chính xác lắm.

Đạn nặng làm gia tốc thấp, tránh phát nổ. Kiểu đạn này được Phương Tây áp dụng nhiều trong lựu pháo, nó không chính xác nhưng nhồi nhanh vì không lo gẫy cái ngòi gỗ trong thời chưa có guốc. Khẩu này bắn rất xa, đến 3,5 dặm. Nhưng rõ ràng, nó chưa từng tham chiến nên khó đánh giã được kiểu súng đạn này.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21792#msg21792

Phong cách nòng tũn này còn tồn tại ở Hải Pháo thời Nội Chiến Mỹ. Đây là một khẩu đặt trên xe 4 bánh ở Gibraltar. Pháo có cái lỗ đằng đuôi để mắc quai chống lùi quá đà, quai bẳng chão lớn hay xích.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image%3AGibraltar%2C_Southport_Gates%2C_Kanone.JPG?uselang=en

Còn đây là khẩu 1800 ở Hurst Castle, pháo đài bảo vệ quân cảng  Portsmouth.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:Hurst_Castle (http://commons.wikimedia.org/wiki/Category:Hurst_Castle)
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:38_ton_gun_2_-_Hurst_Castle.jpg

Khẩu này nòng nặng 38 tấn, bắn trái phá 360kg.
http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:38_ton_gun_1_-_Hurst_Castle.jpg (http://commons.wikimedia.org/wiki/Image:38_ton_gun_1_-_Hurst_Castle.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cf/38_ton_gun_1_-_Hurst_Castle.jpg/800px-38_ton_gun_1_-_Hurst_Castle.jpg)

Đây là hình ảnh giá xoay mà không lùi, miệng pháo nằm trong lỗ châu mai.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c1/Fortpoint02-01-2006.JPG/800px-Fortpoint02-01-2006.JPG)

Bề ngoài pháo đài
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/17/Hurst_Castle_west_bastion_2.jpg/800px-Hurst_Castle_west_bastion_2.jpg)


Tiêu đề: Pháo lục quân Nội chiến Mỹ
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 07 Tháng Năm, 2008, 02:12:49 am
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg22071#msg22071

Ở đây, chúng ta đã nói qua về pháo Nội Chiến Mỹ. Dần dần chúng ra nói rõ hơn về pháo lục quân ở đây.
Như đã nói, ở Phương Tây, Lựu Pháo lục quân, nhất là các loại pháo dã chiến không phát triển như Nga. Anh, Pháp, Tây Bán Nhà đều đầu tư phát triển nhiều các loại pháo tầu và pháo cho pháo đài ven biển. Đây là các loại Thần Cơ bắn đạn động năng, chẳng nhẹ nhàng gì lắm để lục quân dùng. Sau 1805, Pháp mới phát triển nhiều loại pháo Lục Quân, đồng thời học kiếm chác được khá nhiều pháo phiếc của Ba Lan, Phổ, Áo... khi tụ tập "đại quân"  đánh Nga năm 1812. Tuy thất bại, nhưng Pháp học được khối điều từ pháo Nga. Yêu cầu cơ bản là bắn trái phá to đi xa xa mà pháo lại nhẹ.

Thật ra, vào đầu Thế Kỷ 19, lựu pháo phương Tây chỉ có Pháp là phát triển tương đối mạnh. Tuy vậy, những khẩu lựu pháo của họ sử dụng 1812 vẫn không có cấu tạo nòng hợp lỹ như Nga và nặng so với khả năng. Các nòng pháo này thiếu đoạn mỏng kéo dài phía trước cái bầu bầu buồng đốt. Lúc đó, toán và vật lý đã phát triển để chứng minh cái đoạn đó tăng sơ tốc đạn mà nhẹ. Nhưng thiếu những thử nghiệm để tìm ra hình dáng hợp lý mà không vỡ nòng. Cần biết là lúc đó chưa có máy tính để thử nghiệm ảo  ;D ;D ;D, mà mỗi năm chỉ sản xuất ra vài chục khẩu, không có đâu mà ném đi vài chục khẩu để đúc... thử. Trừ cái đuôi nòng bóp lại cho nhẹ bớt thì các khẩu lựu pháo này không khác gì thần cơ nặng uỵch cả.
Cái phần kéo dài mỏng phía trước nòng của pháo Nga là giải pháp hợp lý nhất thời đó để bắn trái phá. Nó ngược lại hoàn toàn với pháo tũn trên kia, pháo tũn phải nhồi nhiều, nòng ngắn, chỉ dùng vùng đồ thị áp cao của khí thuốc, gia tốc đạn lớn. Còn những khẩu lựu pháo nòng khum dài nhồi ít, nòng kép dài tận dụng vùng đồ thị áp thấp của khí thuốc, gia tốc chậm và nhờ đó, bắn sơ tốc cao, trái phá đi xa mà không phát nổ trong nòng.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21492#msg21492
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21427#msg21427

Vào thời điểm 1812, Lựu Pháo Dã Chiến Anh rất tồi. Do không xử lý được vấn đề gia tốc nên vẫn phải dùng phương pháp "đập đất" để bắn lựu pháo howitzer. Tức là bắn sơ tốc thấp, đạn đập đất nẩy lên tăng tầm.

Hồi nội chiến Mỹ, các khẩu pháo dã chiến của Lục Quân Anh, Mỹ được gọi là các khẩu Napoleon, do sử dụng thiết kế Pháp. Pháo Nã Phá Luân ở Mỹ có hai dạng. "Gun" là Thần Cơ bắn đạn đặc và đạn ria. Đạn đặc dùng để diệt xe cộ, công sự, pháo ... đối phương. Đạn ria là đạn bi thép hay sỏi cứng đặt trong hộp thép, khi bắn hộp vỡ, sát thương cỡ vài trăm mét. "Howitzer" là lựu pháo, nó đã hơn lựu pháo Anh ở chỗ có buồng đốt thu bé như lựu pháo Nga.

Tuy vậy, trình độ sử dụng lựu pháo bắn góc cao của quân Mỹ chưa đủ. Họ chưa thể kiếm đủ số pháo thủ biết cữ, biết tính... để sduwr dụng hệ thống hiệu lệnh, mệnh lệnh và tính toán đường đạn cầu vồng. Do đó, Nội CHiến Mỹ sử dụng phần lớn các pháo nhẹ tầm ngắn, kéo đến sát địch mà bắn, bắn trực tiếp hầu như không phải tính tầm hướng. Loại đạn ria ở Nga thường được dùng bảo vệ các trận địa pháo thì ở Mỹ đắc dụng khi khối bộ binh di chuyển, chúng chống xung phong và bắn phủ đầu khi xung phong.

Ngay cả các lựu pháo tầm xa cỡ 3km, ở Nga là pháo đứng, pháo trận địa, ở Mỹ cũng rất thiếu, cả hai miền đều dùng cối thay cho vai trò này. Họ dùng loại cối cải tiến Paixhans, Cối lai Hải Pháo, cối mà không cối. Không những khó bắn chính xác, chúng rất nặng và chỉ đạt mức cơ động cỡ pháo pháo đài.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21630#msg21630

Cả hai miền Mỹ trình độ lục quân cũng thấp. Nước Anh


Tiêu đề: Pháo nội chiến Mỹ. Robert Parker Parrott
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Năm, 2008, 05:03:27 am
Ơ, nó đã đông không sửa được rồi à. Thế thì viết thêm nữa vậy.


Không chỉ trình độ văn hóa chung của người dân và lính tráng, trình độ tướng lĩnh hai miền cũng còn xa so với Nga Pháp đầu Thế Kỷ 19 về lục quân, Mỹ và Anh chả mấy khi được đánh bộ. Toàn bộ nội chiến Mỹ hai miền không khi nào dồn được những trận đánh lớn, mà chiến tranh dàn trải ở nhiều nơi, nhiều thời điểm. Chúng ta nhớ lại là chiến trang Pháp-Nga 1812 cách đó 50 năm đã có những trận đại chiến lớn nhất lịch sử châu Âu. Bản chất của mọi loại chiến thuật chiến lược đều nhằm mục đích tập trung lực lượng mạnh trong những hành động theo ý mình. Kiểu chiến tranh dàn trải của Anh, Mỹ thì đến nay vưỡn vậy và có lẽ 1 ngàn năm nữa vưỡn thế. Những trận đại chiến lớn là nơi phát triển mãnh liệt trình độ sử dụng pháo và nguồn kinh nghiệm quý nhất để cải tiến pháo.

Ban đầu, kiểu pháo Anh được cả hai miền dùng nhiều với tên M1841, sau đó, kiểu pháo Pháp Napoleon được dùng với tên M1857. Cuối chiến tranh, rất nhiều pháo thương hiệu Mỹ xuất hiện, đều là những cải tiến trung gian giữa cổ và kim.


Thương Hiệu và không Hội Đồng
Tuy không có Hội Đồng hay Viện vào đưa ra những mẫu pháo tiêu chuẩn bắt buộc, nhưng các nhà sản xuất súng pháo cũng theo nhau sản xuất những loại súng pháo thống nhất, dĩ nhiên là như vậy, để dễ hậu cần. Chuyện này là "thương hiệu". một thương hiệu phổ biên sẽ được coi là một phong tục kinh doanh và được bắt chước theo. Đây là hình thức thống nhất tự phát cổ điển, từ lâu đã được Nga và quãng thời điểm Nội Chiến Mỹ có Đức, Pháp thay thế bằng hình thức hội đồng.
Ở Mỹ, sự phát triển ngược lại. Đầu chiến tranh, hình thức hội đồng sơ khai còn tồn tại. Đó là các kiểu 1841 và 1857. Kiểu 1841 là pháo lục quân Anh, nhanh chóng được thay bằng kiểu Pháp 1857, còn gọi là Napoleon, sau được cải tiến chút. Đến cuối cuộc chiến, khi nguồn lợi thầu quân sự đã tập trung và phát triển, hàng loạt thương hiệu ra đời, thường mang tên một nhà kỹ thuật hay hãng nào đó đứng ra đại diện. Không ít các thương hiệu nổi nhất tồn tại song song. Chính vì vậy, trong thời đại chiến tranh cấp bách là cơ hội để phát triển kỹ thuật, nhưng nước Mỹ không thoát ra khỏi cái vòng kim cô pháo cổ, mỗi thương hiệu có một cách cải tiến khác nhau theo xu thế hiện đại, và đều không là xu thế quyết định mà sau này kỹ thuật thế giới sẽ dùng.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21385#msg21385
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21926#msg21926


Kỹ thuật pháo.
Nội chiến Mỹ xảy ra khi cuộc cách mạng thép đã đến đà vọt lên. Cuộc cách mạng thép xuất hiện đầu Thế Kỷ 19 khi nười Anh tìm ra loại lò thổi để sản xuất nhiều thép. Trước đó, thép chỉ có được ít ỏi khi dùng những quặng quý hoặc công nghệ rèn dập cực kỳ tốn công. Mà, cuộc cách mạng thép là một phần lớn trong những nguyên nhân phát trinh Nội Chiến Mỹ. Thép nhiểu, thay dần gang trong hợp kim sắt. Ban đầu, nhười ta cũng dùng thép chủ yếu bằng đúc như gang, nhưng rồi công nghệ cắt gọt càng ngày càng phát triển. Trong thời điểm này, trên thế giới nòng xoắn đang phát triển, do chuyển được sang dùng đạn nạp đuôi, dùng nòng xoắn thuận tiện. Tuy nhiên, ở Mỹ phát triển loại pháo nòng xoắn nhưng nạp đạn miệng nòng. Robert Parker Parrott là một nhà thiết kế pháo nòng xoắn như vậy và chúng được gọi là pháo Parrott .

Đến cuối cuộc chiến thì nhiều nhà sản xuất vũ khí đầu tư vào nòng xoắn. Tuy vậy, ở cuộc chiến tranh này, khóa nòng và nạp đạn sau, đạn có vỏ...vẫn rất ít. Vì vậy, pháo của cuộc chiến này vẫn là loại pháo cổ.

Vật liệu sản xuất súng pháo vẫn phần lớn là đồng pháo, một loại đồng điếu. Công nghệ làm nòng vẫn chủ yếu là đúc. Vật liệu sắt và công nghệ cắt gọt tuy được áp dụng ít chậm nhưng vẫn tạo ra một số thay đổi. Ví dụ, hãm tầm bằng cọc vít me lớn và lỗ mồi có khóa. Lỗ mồi khóa cho phép thao tác nhanh, điểm hỏa đúng. Vật liệu hợp kim sắt vẫn chủ yếu là gang đúc, nhưng đã pha một chút gia công cắt gọt. Pháo vẫn nạp đạn miệng nòng, kể cả có xoắn, đây là một điểm phát triển ngược đặc biệt mà ta sẽ nói sau, nó thể hiện trình độ sử dụng pháo tồi của lính tráng, và họ chấp nhận kết quả chất lượng tồi, phát triển ngược do diều này mang lại, thực chất đây là cải lui.
So sánh, lúc này pháo thép đã xuất hiện trong quân đội nhiều nước, kể cả những loại pháo được cắt gọt khá nhiều.

Bắn góc thấp, súng nặng đường kính nhỏ
Đầu chiến tranh, hai miền phổ biến sử dụng loại lựu pháo lai thần cơ nhỏ, Nga gọi là kiểu Pháp còn Mỹ gọi là Nã Phá Luân. Loại này bắn đạn nhỏ, tầm gần và người Mỹ thường dùng bắn góc rất thấp (do thiếu nhân viên được huấn luyện chu đáo để bắn góc cao). Sau Parrott, loại nòng xoắn được đưa lên làm tiêu chuẩn cho quân miền Bắc, gọi là súng hậu cần (ordnance).

Vào đầu chiến tranh, phổ biến vẫn dùng đạn cầu nên việc quy đổi đường kính-khối lượng đạn vẫn như thời cổ. Sau đó, việc dùng đạn dài phổ biến nên đơn vị đường kính nòng không còn tương quan chặt chẽ với khối lượng đạn nữa. Pháo Mỹ cũng như các nước khác, khối lượng nhổi và đạn được ghi trên nòng khi đúc.
Dưới Đây là bảng các pháo Mỹ. Có thể thấy, do thiếu khả năng bắn góc cao nên người Mỹ thường dùng ở góc bắn thấp, tầm gần trong khi súng nặng. Vì vậy, đạn nhẹ so với khối klượng súng và dùng các cỡ nòng nhỏ. Như ta đã thấy, Kiểu 1905 Nga phổ biến dùng cỡ nòng 120mm-125mm, còn kiểu 1938 lựu pháo hội đồng dùng các cỡ nòng 152mm thậm chí 192mm. Chỉ có loại pháo tầm ngắn "sơn pháo", dễ bắn thì có tương quan chỉ nhỏ nhỏ hơn người Nga chút.

Đây là điều giải thích việc người Mỹ buộc phải dùng đạn dài quá sớm, "Cao Biền dậy non", để tăng khối lượng trái phá.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/danh_sach_phao_noi_chien_my.jpg)


Tiêu đề: Danh sách pháo Nội Chiến Mỹ quy đổi ra đơn vị tiêu chuẩn
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Năm, 2008, 01:34:32 pm
Danh sách pháo Mỹ.
Có thể thấy, Lục Quân Mỹ đều sử dụng pháo nhỏ nhẹ, "Pháo Dã Chiến" ruộng, "field gun". Những pháo này dễ dàng kéo theo và hỗ trợ bám sát trận đánh, nhỏ hơn loại pháo đứng, loại pháo dã chiến chiến đấu trong trận địa pháo, pháo trận địa.

Ngày nay, trong tiếng Anh-Mỹ, từ "Field Gun" dùng để chỉ các lựu pháo trận địa điển hỉnh như M107 175mm vua chiến trường. Điều ngược đời này xuất phát từ cuộc nội chiến này. Người Mỹ không sử dụng lựu pháo trận địa trong Nội Chiến, nhưng loại pháo này phát triển trở thành lực lượng pháo hỗ trợ bộ binh chủ yếu sau này. Vậy là người Mỹ dùng cái tên thứ pháo hỗ trợ bộ binh điển hình trong nội chiến để gọi tất cả những loịa pháo hỗ trợ bộ binh.  Trong khi đó, "Field Gun"  là loại pháo nhẹ cơ động hơn pháo trận địa nhiều. Trong ngôn ngữ của họ còn thêm nhiều kỳ quặc nữa, ví dụ, khẩu 105mm pack gun ngày này là dã pháo, "Field Gun"  điển hình, kéo sát đội hình chiến đấu, nhưng vẫn thích được gọi là Howitzer.

Phong cách pháo nòng dầy kiểu Pháp còn được phát triển mạnh sau này. Cho đến tận ngày nay, nó vẫn ảnh hưởng trong phong cách thiết kế Nga-phương Tây. Loại pháo phổ biến của người Nga vẫn được gọi là "nòng mỏng", kể các những loịa pháo bắn đạn xuyên cực mạnh như của T-90 hay Thần Cơ Lai Lựu Pháo Nga Thế Kỷ 19 vẫn mỏng. Trong khi đó, hậu duệ của Thần Cơ Lai Lựu Pháo phương Tây nay vẫn còn "nòng dầy".


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/danh_sach_phao_noi_chien_my_met.jpg)


Tiêu đề: 6-cân Anh, M1841
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Năm, 2008, 02:04:17 pm
Nó sớm được quân miền Bắc thay thế, nhưng vẫn được quân miền Nam sử dụng nhiều. Miền Bắc thay bỏi kiểu nã Phá Luân (M1857). Miền Bắc nhiều công nghiệp thép nhanh chóng vượt trình vũ khí lên trên miền Nam vốn nô lệ và trồng trọt.

M1841 là loại Thần Cơ cổ lỗ, thường được tầu chiến Anh Mỹ đời Ship Of The Line sử dụng làm vũ khí chính. Tuy nhiên, nó là loại nhỏ và cũng cổ so với súng Anh rồi. Nó dùng bắn trái phá cũng được nhưng đạn bằng nắm tay nổ cỡ quả pháo đùng  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. M1841 còn có kiểu 12 cân Anh, nhưng tính năng cũng chả hơn gì.

Nã Phá Luân (Pháo Thần Cơ Lai Lựu Pháo kiểu Pháp) Mỹ qua nhiều cải tiến, keó dài nòng  ra chút và cải tiến buồng đốt để dễ bắn trái phá (dễ dùng liều bé bằng buồng đốt bé). Kiểu buồng đốt Mỹ khác hẳn kiểu Nga-Pháp, nó có dạng hình trụ bé hơn nòng, có bậc ngăn rõ ràng với nòng.  Kiểu Nã Phá Luân cỡ to Mỹ gọi là  "false Napoleons" thực hiện bởi "National Park Service". Kéo dài nòng làm lính kêu khó khăn khi điều khiển pháo thủ công ngoài ruộng.

Mỹ cố gắng nỗ lực khoan rãnh xoắn cho Nã Phá Luân. Kiểu công nghệ James bao gồm giá, thiết bị và cách soi xọc, tăng dần kích thước rãnh. Tuy nhiên, kết quả không hay ho lắm. Nguyên nhân thì dễ hiểu, nguyên liệu đồng pháo không thích hợp cả với cắt gọt và rãnh xoắn.

(http://www.cwartillery.org/sb-six.jpg)
(http://www.cwartillery.org/4nypar.jpg)


Tiêu đề: Pháo ruộng bắn trực tiếp. M1857 12-Pounder "Napoleon"
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Năm, 2008, 02:48:48 pm
Ít bạn hình dung được bắn trực tiếp bà bắn cầu vồng góc cao !!!!!! Xem hình dựng lại vậy.

Khẩu pháo dã chiến được kéo lê trên bãi chiến trường theo đội hình bộ binh. Nó bắn góc rất thấp, gần như ngang, vào thằng đội hình địch ở khoảng cách chỉ vào trăm mét. Vì vậy, yêu cầu của pháo ruộng "field gun" là nhẹ, ngắn, thấp, bắn gần...  khác xa "pháo trận địa". Tuy nhiên, từ Pháo dã chiến ruộng "field gun" này lại được người Mỹ dùng cho pháo trận địa.

Chúng ta sẽ xem lại cách chiến đấu của khẩu đội và ổ đội sau

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/maingroup24.jpg)

Pháo Nã Phá Luân có tên như thế vì được quân đội của Na Phã Luân III chấp nhận trang bị. Nó là một trong những loại pháo cuối cùng của thời đại đồ đồng. Nó hơn đứt các loại pháo Anh vì nhẹ, tin cậy và mạnh. Đây là loại pháo vừa bắn đạn động năng vừa bắn đạn trái phá. Mỹ cải tiến chút buồng đốt nhỏ và tăng chiều dài nòng, giảm khả năng bắn đạn động năng và tăng khả năng bắn trái phá.
Pháo được thiết kế để làm "field gun", pháo dã chiến nhẹ được người đẩy đi trong trận đánh. Đây là loịa pháo của lực của quân miền Bắc. Sau này, các thứ pháo hỗ trợ bộ binh dược Mỹ gọi là "field gun" mặc dù chúng chẳng nhẹ và ruộng chút nào.
Ở Mỹ, pháo cũng bộc lộ nhiều nhược điểm, nhưng quân Mỹ đang thiếu công nghệ khó khắc phục. Còn ở chính quốc thì nó chìm đắm dưới súng pháo Phổ 1870-1871.


http://en.wikipedia.org/wiki/Image:CW_Arty_Confederate_Napoleon.jpg
M1857 12-Pounder "Napoleon"
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/d/dd/CW_Arty_Confederate_Napoleon.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/f/f6/CW_Arty_M1857_Napoleon_rear.jpg)

(http://www.cwartillery.org/cancutb.gif)
a - knob
b - neck
c - vent
d - trunnion
e - muzzle swell
f - muzzle face g - muzzle
h - rimbase
i - cascable
j - breech
k - chamber
l - bore


Tiêu đề: Vài cảnh thật Nội Chiến Mỹ
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Năm, 2008, 03:41:56 pm
http://www.civilwarartillery.com/basicfacts.htm

Pháo đài kiểu cổ hết thời.
(http://www.civilwarartillery.com/cwimages/FortPulaski3_small.jpg) (http://www.civilwarartillery.com/cwimages/FortSumterRuins_small.jpg)

Giao thời. "Công sự di động", kiểu hầm hào bán kiên cố của Thế Kỷ 20 chưa đến, nhưng các kiểu công sự dã chiến xuất hiện.
http://www.civilwarartillery.com/cwimages/FortSumter.jpg
(http://www.civilwarartillery.com/cwimages/FortSumter_small.jpg)(http://www.civilwarartillery.com/cwimages/napoleon_image.jpg)

Một đơn vị pháo
(http://www.civilwarartillery.com/cwimages/Howitzer12.jpg)


Tiêu đề: Nòng xoắn. Parrott
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Năm, 2008, 04:08:16 pm
http://www.civilwarartillery.com/cannon/chickamaugua/10pdparrottrifle.htm

Mấy thằng cà thộn trên wiki thường tranh cãi ỏn tỏi xem ai là người phát minh ra nòng xoắn. Đó là điều ngu si nhất quả đất, nòng xoắn được phát minh thừ cổ Hy La và có thể còn xa nữa. Các lực sỹ ném đĩa đều xoáy tít đĩa và điều đó trở thành một môn thể thao kinh điển. Súng từ Thế Kỷ 16 đã có nòng xoắn, nhưng về sau phổ biến súng nạp đạn miệng nòng, thuốc nổ rời, thật khó mà dùng rãnh xoắn.

Ta cũng đã biết rằng người ta từ lâu bắn đạn dài hòng trơn và dĩ nhiên không cánh đuôi, điều này làmg đạn tản mát rất lớn, nó ngoáy tít trong không khí. Tuy nhiên, đạn dài thỏa mãn nhiều thứ. Từ trước đến giờ, khối lượng đạn tuân theo đường kính nòng theo công thức thể tích hình cầu, điều đó bó buộc các nhà thiết kế. Ví dụ, các loại đạn tỷ khối nhẹ như đạn có bi sát thương. Hay vĩ dụ nữa, trường hợp dùng khẩu pháo bắn đạn thần cơ chịu được áp lực cao đi bắn đạn trái phá, không cần sơ tốc mạnh mà cần nặng-trong khi tỷ khối  trái phá lại nhẹ.

Đến đầu Nội Chiến Mỹ thì người ta đã phổ biến dùng đạn có guốc gỗ, Guốc gỗ cho thấy một ưu thế nữa của đạn dài, nó chuyển động trơn tru khi nạp đạn. Tuy nhiên, người ta làm bằng gỗ vì để gỗ vỡ ra khi bắn, không ảnh hưởng đến độ chính xác.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21792#msg21792

Người ta nỗ lực làm nòng xoắn để bắn đạn dài mà vẫn giữ hướng trục. Hiện tại (150 năm sau Nội CHiến Mỹ), có hai phương pháp xoắn. Một là tốc độ quay của đầu đạn cao như súng trường, nó giữ nguyên trục đầu đạn. Một là quay ít thôi để đầu đạn tương tác với không khí, uốn trục đầu đạn theo đường đạn cong, thường dùng cho trái phá.

Nhưng ngày ấy, người ta cần làm một loại nòng xoắn nhưng lại nhồi thuốc nổ miệng nòng. Đấy mới là điểm khó, trước đây tớ nghĩ bạc mặt.  ;D ;D ;D ;D ;D. Kể ra kỳ công thì cũng làm được mộ cái máy xọc, rồi cũng kỳ công nữa đi xọc gang và đồng điếu !!!!!!!!,  rồi lại lỳ công nữa trộn một mài vào gẻ ròi mất hàng năm trời đánh bóng...cái nòng không còn kích thước chuẩn. Nhưng các cụ thông minh hơn, Parrott Rifle dùng nòng gang, đúc, và.... đúc luôn rãnh. Đạn vành có khớp có khuyết ăn luôn vào rãnh đúc, đạn cũng đúc bằng gang. Chắc mọi người nhìn ảnh sẽ hình dung ra cách lắp đạn miệng nòng.

Phát minh vĩ đại, ngay lập tức cải thiện những khẩu lựu pháo dã chiến tồi tệ của nguân Mỹ. Giờ đây họ đã có thể dùng những khẩu nòng dầy, nhồi nhiều, ngắn và vẫn bắn đạn trái phá rất nặng. Một ưu thế nữa là bắn những loại đạn có tỷ khối rất thấp như đạn sát thương nhồi bi.
Parrott cũng là loại súng tiên tiến. Nó bỏ cái trò cổ lỗ đóng ngòi gỗ vào đạn, mà tiện ren bắt ngòi đàng hoàng. Parrott cũng bỏ cái ngòi châm bằng chính liều nhồi để bắn trong nòng. Ngòi quán tính mới đập hạt nổ  đốt dây cháy chậm khi súng bắn.

Chắc nhiều bạn đã thắc mắc về thứ trái phá cầu nặng 4,5 kg, 9kg... Thế Kỷ 18 và đầu Thế Kỷ 19. Nó chỉ nổ ra được cỡ chục  hai chục mảnh, mỗi mảnh nặng đến 300-500kg (gần nửa kg), đã thế một nửa số các mảnh cắm xuống đất. Sức sát thương không bằng quả lựu đạn gang "trái na" hồi đãnh Mỹ. Chả thế mà Nã Phá Luân đã có lần chán đời, ngó trân trân trái phá đang cháy ngòi, nhưng lại không chết. Parrott  10 cân Anh chấm dứt đêm trường trung cổ này bằng đạn sát thương có bi. Henry Shrapnel là một sĩ quan Anh đã đề xuất sử dụng loại đạn này từ đầu Thế Kỷ 19, nhưng như ta đã nói trên, chỉ có nòng xoắn mới đưa được nó vào thực tế. Loại đạn này vẫn còn giữ tên là Shrapnel. Thật ra thì từ lâu, nhiều nơi đã dùng bi trong trái phá, nhưng mà bọn Anh Mỹ cứ gào thét tên người nhà chúng, ta cứ gọi là đạn bi cũng được.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/Parrott/10pdparrott138muzzle2.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/Parrott/10pdparrott138muzzle1.jpg)

Đai đạn ở bên dưới. Ngay nay dùng đai mềm để gờ rãnh xẻ làm đạn quay. Nhưng ngày đấy dùng đai gang cứng lắp vào rãnh.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/Parrott/Parrott-Shell-lg.jpg)

Đây là bi và ngòi
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/noi_chien_my/Parrott/Shrapnel-lg.jpg)


Tiêu đề: Parrott dã chiến ruộng, "fileld gun" 10 cân Anh.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Năm, 2008, 05:34:07 pm
Parrott có hình dáng cái đuôi nòng đặc trưng.
Ngoài điều đó ra, pháo được thiết kế rất hiện đại lúc đó. Cái dáng pháo vẫn như cũ, nhưng cấu tạp càng giá đã khác hẳn. Hai tấm gỗ hai bên của càng tồn tại hơn 100 năm đã bỏ đi. Dĩ nhiên, tiến bộ lớn nhất là tỷ lệ khối lượng pháo so với đạn, tầm bắn, có thể thấy qua bảng so 10 cân Parrott và 12 cân Nã Phá Luân trên khia.

Parrott dã chiến ruộng, "fileld gun" 10 cân Anh có hai cỡ, 2,9in và 3 in. Không hiểu sao lại như thế.
http://en.wikipedia.org/wiki/Image:CW_Arty_10lb_Parrott_rear.jpg

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/6/60/CW_Arty_10lb_Parrott_rear.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/7/74/CW_Arty_10lb_Parrott_front.jpg)


Tiêu đề: Gun Carriage, xe càng pháo dã chiến phát triển
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Năm, 2008, 05:06:16 pm
Ở đây, đã nói qua về sắp theo thời gian


http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21928#msg21928
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg22052#msg22052

Loại xe càng cổ nhất cho pháo dã chiến xuất phát từ Trung Âu, Hung, Bun, Áo, Bô-Hêm... truyền vào Tây Âu. Ban đầu, nơi đây là các xưởng quân khí lớn của Thổ, đã đúc ra khẩu pháo  "Great Turkish Bombard". Xưởng này thừa kế những người thợ của các xưởng vũ khí lớn do quân Mông Cổ tạo ra. Đến giờ, Ngôn Ngữ và gen người vùng này vẫn đậm chất Mông Cổ, đặc biệt là Hung.

Loại pháo dã chiến đầu tiên xuất hiện trong Thế Kỷ 15, sử dụng loại nòng nhiều đốt, khoá nòng then ngang, nạp đạn sau giống như khẩu của Thuỵ Điển đã mô tả trên kia. Pháo yếu, đường đạn không căng nên người ta thiết kế giá chỉnh tầm. Loại pháo này được thay bởi loại Thần Cơ Hồ Nguyên Trừng truyền từ châu Á sang, bắn rất mạnh và vì vậy khó làm các giã phức tạp trong thời buổi kim loại yếu đuối.

Ta đã xem khẩu pháo  föglare của Thuỵ Điển với đầy đủ ngõng ngáng khoá nòng. Loại pháo này phổ biến ở châu Âu lúc đó. Đây là hình vẽ khoá tầm. Kiểu này dùng đặt cố định trên tường thành và mạn tầu chiến. Pháo phần lớn làm bằng gang đúc, đặc biệt là hàn. Một vài bộ phận làm bằng thép rèn (thép luyện từ ngang bằng cách đập đi đập lại).


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/dax_phaos/wallpiece.jpg)

Khi đặt trên xe, nó trở thành những khẩu dã pháo cổ nhất khoảng cuối Thế Kỷ 15 ở châu Âu, Culverin được sản xuất ở Bungaria. Hiện chưa tìm được những khẩu dã pháo kiểu Hồ Nguyên Trừng đã đánh Mông Cổ những năm 1410. CHán thật, lúc nào tìm được bốt sau.

Khẩu này năm 1460, đường kính nòng cỡ 70-80mm. Tỷ lệ chiều dài nòng lớn, nhưng nhồi rất ít và đường đạn cong do vật liệu hồi đó yếu.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/dax_phaos/culverin.jpg)

Khoảng cuối thế kỷ 15
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/dax_phaos/culverin2.jpg)

Kiểu hai càng xuất hiện trong Thế Kỷ 16 cùng với loại Thần Cơ truyền từ châu Á sang. Tuy nhiên, do súng pháo còn hiếm ít yếu nên loại xe này vẫn không phổ biến cho đến Thế Kỷ 18. Nó ít bộ phận hơn loại pháo trên, không có khoá nòng và khoá tầm, nạp đạn miệng nòng. Nó bắn rất mạnh. Pháo này phổ biến cho đến Giữa Thế Kỷ 18. Loại xe càng này có đoạn sau càng trượt trên mặt đất. Khi bắn, pháo lùi lại và đoạn trượt này hãm pháo bằng ma sát với đất. Pháo thủ nhồi, đẩy pháo lên và bắn tiếp.
double plate carriage, hệ xe càng hai tấm.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/dax_phaos/dblplate.jpg)

Đến thế kỷ 18-19, kiểu càng đơn, một trụ gỗ hộp bọc gang thép. Nó xuất hiện cùng lớn loại lựu pháo lai thần cơ, vừa bắn đạn động năng vừa bắn trái phá. Càng kiểu này ngắn hơn, có thể chống xuống rãnh hay đất đấp để hãm pháo nhanh hơn, lúc này pháo đã có tỷ lệ khối lượng nòng/động năng đạn khá tốt và giật mạnh. Tuy vậy, nó vẫn chưa trở thành cày hiện đại và vẫn chiến đấu kiểu lùi tiến như loại càng hai tấm.
Block trail Carriage, kiểu xe càng có càng hộp của Thế Kỷ 19.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Gun_carriages/dax_phaos/blktrail.jpg)




Tiêu đề: Cuộc cách mạng nào cũng lên voi xuống chó.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 14 Tháng Năm, 2008, 02:34:42 am
Đây không nói về nội chiến Mỹ lên xuống, mà là cuộc cách mạng đồng-thép.
Cuộc đồi đời từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt bắt đầu từ đầu thế kỷ 18, đến giữa thế kỷ 19 đã quyết liệt lắm rồi, nhưng còn lên voi xuống chó nhiều. Đồng điếu được thay bởi sắt, ban đầu là gang đúc, rồi thép rèn dập đúc, rồi thép luyện đúc, rồi thép cắt gọt. Chi tiết hơn, còn rất nhiều thay đổi: nòng trơn sang xoắn, xoắn đúc sang xoắn cắt gọt, nạp đạn trước thành nạp đạn sau...

Chũng ta cũng đã biết vế loại pháo cổ nạp đạn say có khóa nòng föglare và khẩu Trung Âu Culverin. Loại súng này phổ biến ỏ châu Âu Thế Kỷ 16, rồi được thay bởi thần Cơ của châu Á. Nguyên nhân là gia công tồi làm cho hệ thống phức tạp trở nên yếu đuối.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21928#msg21928

Kiểu khóa nòng tương tự được Martin von Wahrendorff đề nghị và chấp nhận 1837 ở Thụy Điển. Hai kiểu pháo Whitworth và Armstrong được chấp nhận ở Anh và được bán sang Miền Nam Nội chiến Mỹ. Whitworth thể hiện rõ rệt khả năng của pháo nòng xoắn: đạn dài, giảm sức cản và tầm bắn tăng vọt đến 10km. Whitworth cũng nạp đạn sau, đạn có vỏ. Tuy nhiên, đến 187x  Whitworth và Armstrong thất bại liên tiếp trong các chiến tranh, Nội chiến Mỹ và đánh Crưn Nga (cùng Thổ đánh Crimean). Thật ra, thất bại ở Nội chiến Mỹ là do Miền Nam không chủ động thiết kế, sản xuất pháo, đã không hiện đại hóa và thay đổi thiết kế khắc phục nhược điểm, mặc dù xuất phát ban đầu không ra gì, nhưng cuối cuộc chiến pháo miền Bắc hơn. Những năm 187x, Anh chuyển về những loại pháo nạp đạn miệng nòng.

Cuộc cách mạng đi giật lùi.

Khổ thân mấy chú nợn trên wiki cứ tranh luận xem ai là người phát minh và năm xuất hiện đầu tiên khóa nòng với nạp đạn đuôi. Mịe, nó có từ thượng cổ nhà súng và không còn ai nhớ người làm ra đầu tiên nữa. Loại pháo đó phổ biến từ Hung-Bun-Bô hêm, nơi có những xưởng vũ khí lớn của Thổ, truyền sang Tây Âu sau khi đã chinh phục Thụy Điển.


Tiêu đề: Martin von Wahrendorff (1789–1861)
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 14 Tháng Năm, 2008, 02:49:04 am
Chũng ta đã biết người Thụy Điển phát minh ra Thiết Giáp Hạm, còn đây là một người nữa. Đất Thụy Điển giữa Thế Kỷ 19 thật là nhiều anh tài.

Martin von Wahrendorff sản xuất loại súng của ông lần đầu tại Åker năm 1840. Kiểu ban đầu này sau đó được chấp nhận ở Sardinian. Pháo rất giống ngày nay, có khóa nòng, đạn có vỏ, đầu đạn vỏ mềm (bọc chì), nạp đạn sau, xoắn.

Khóa nòng là then ngang xỏ vào rất giống loại föglare cổ điển, nhờ có chất lượng kim loại tốt mà nó vững chắc không khác gì nạp đạn miệng nòng.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg21928#msg21928

Năm 1854, Thụy Điển chấp nhận sử dụng 3 loại pháo của ông, nhưng đều nòng trơn. Ông mát quá sớm.

Mạng lỗi, không úp được ảnh, úp đa te sau nhé. ngủ đây


Tiêu đề: Pháo Hồ Nguyên Trừng và đời sau ở Tầu.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 16 Tháng Năm, 2008, 12:34:59 am
Bọn TQ lắm thằng ngu thật. Đoạn này đã nói về súng Hồ Nguyên Trừng sang tầu
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.msg20872#msg20872

Nhiều thằng TQ đã ngu lại đê tiện. Ở thì súng không phải từ nhà nó, nhưng ở đây nó trích Minh Sử đàng hoàng, nhưng nói Hồ Nguyên Trừng học của Tây. ;D ;D ;D
http://bbs.tiexue.net/post_2634603_1.html


自明代开始,火器从西方流入中国,在军队中开始被大量使用。《明史志68》载:“至明成祖平交阯,得神机枪砲法,特置神机营肄习”。而京军三营中的这个 “神机营”就成了一支“洋枪队”。

tự minh đại khai thủy,  hỏa khí tòng tây phương lưu nhập trung quốc,  tại quân đội trung khai thủy bị đại lượng sử dụng. (minh sử chí 68)  tải: "chí minh thành tổ bình giao chỉ,  đắc thần cơ thương pháo pháp, đặc trí thần ky doanh dị tập".

Khởi đầu từ nhà Minh, hoả khí từ phương Tây du nhập tầu. (Minh sử quyển 68) viết: Đến Minh Thành Tổ bình Giao Chỉ, Được Thần Cơ Thương Pháo Pháp, Đặt Thần Cơ Doanh luyện tập.

đoạn này sớt ra một đống. Lú Tầu thua ta trận 79, cú lém. Hồi này nhiều anh tẹc nẹt, nhiều chú ngu si được đọc sách, thấy rằng Tầu học ta làm súng, cay cú mới đẻ ra đoạn Hồ Nguyên Trừng du học ở Tây  ;D ;D ;D ;D. Đê tiện thì dẫn đến ngu si, ngu si kéo theo đê tiện nó thế.  ;D ;D ;D ;D

自明代开始,火器从西方流入中国,在军队中开始被大量使用。《明史 志68》载:“至明成祖平交阯,得神机枪砲法,特置神机营肄习”。而京军三营中的这个“神机营”就成了一支“洋枪队”

Đấy là một cách cay cú.
Một cách hèn hạ nữa là 7/2001, đào được 20 quả đạn cầu trong chứa bi, được giám định là dụng trong trận công thành Đại Đô 1368. Các chú tra sử thấy nói là đạn của đại pháo  ;D ;D ;D ;D
Mà quên phéng đại pháo là máy bắn đá.
Cái chưa Cơ (máy, nguyên lý) ban đầu là máy bắn đá. Pháo ban đầu là trái phá. Sau này thời Mông Nguyên thì có nhiều loại máy bắn đá có tên là cơ.

Thần Cơ là loại máy thần, siêu máy, supper machine  ;D ;D ;D ;D ;D, công dụng như máy bắn đá nhưng khủng.

---------------------

Đoạn trên thực ra thế này
http://www.xysa.net/a200/h350/24mingshi/t-092.htm
明成祖平交趾,“得神机枪炮法,特置神机营肄习。神器制作以铜、铁为之、大小不等,大者用车、小者用架、
Minh Thành Tổ bình giao chỉ, đắc Thần Cơ Thương Pháo Pháp, đặc trí thần cơ doanh luyện tập. Thần khí chế tác dĩ đồng, thiết vi chi.
Minh Thành Tổ bình Giao Chỉ, lấy được Thần Cơ Thương Pháo Pháp, Đặt Thần Cơ Doanh luyện tập. Đồ của thần chế tạo bằng đồng sắt.

sách sau nói rõ hơn (cũng Minh Sử, quyển 92, binh chí thứ)
谓其得自西域者误也。古所谓炮,皆以机发石而已。明成祖平交趾,得神机枪炮法。特置神机营肄习。制用生熟赤铜相间。建铁柔为最,西铁次之。大小不等。大者发用车。次及小者用架,用桩,用托。大利于守,小利于战。随宜而用为行军要器。

 minh thành tổ bình giao chỉ, đắc thần cơ thương pháo pháp, đặc trí thần cơ doanh dị tập. chế dụng sanh thục xích đồng tương gian, kiến thiết nhu vi tối, tây thiết thứ chi, đại tiểu bất đẳng, đại giả phát dụng xa, thứ cập tiểu giả dụng giá, dụng thung, dụng thác. đại lợi vu thủ, tiểu lợi vu chiến, tùy nghi nhi dụng vi hành quân yếu khí


Minh Thành Tổ bình Giao Chỉ, lấy được Thần Cơ Thương Pháo Pháp, Đặt Thần Cơ Doanh luyện tập. Chế tạo dùng đồng đỏ nguyên chất, cần nhất sắt mềm, thứ cần nữa là sắt Tấy Vực. To nhỏ các loại. Loại to dùng xe, nhỏ dùng giá, dùng cọc, tay nâng. Rất lợi khi thủ, có lợi khi tiến, tuỳ mà dùng như vũ khí quan trọng khi cầm quân.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng, chỉ rõ, Thần Cơ Thương Pháo Pháp đã có súng trường dùng thép mềm phức tạp.

Thần cơ doanh là binh đoàn dùng súng đầu tiên trên thế giới. Có 3 doanh trực thuộc Kinh Quân thì Thần cơ doanh đứng đầu. Hai doanh còn lại có ngũ quân, mỗi quân 3 ngàn người. Như vậy, Tam Đại Kinh Quân có 2 doanh bé 3 vạn và Thần Cơ Doanh to nhất.

Thần Cơ doanh do Liễu Thăng là tư lệnh, quân số không ổn định vì lấy nhiều phu  (dân binh, không phải lính) và thợ bên Hoả Khí Doanh (của Hồ Nguyên Trừng). Ước đoán cũng phải 3-5 vạn.
Đoạn sau có nói, Trương Phụ tâu đem pháo đi sơn tây và các thành trấn xung yếu, nhưng cấm tiệt không được lộ hình dáng pháo !!!!!!!!
http://www.xysa.net/a200/h350/24mingshi/t-092.htm
http://www.bjcpdag.gov.cn/xiandu/zhanggu/12.htm

Binh chí tứ
http://220.174.246.48/LibWeb/novels/history/msqztyz/ms092.html
http://www.meet-greatwall.org/sjfz/sj/ms/ms92.htm


Có đoạn nói về việc nhà Minh cố bố trí xe tự hành, nhưng gặp nhiều khó khăn. Cái pháo đặt trên bánh là "tiểu xa", kiểu dã pháo.
Mấy con bựa chữ vuông tung hô là xe tăng  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D thấy xa là tăng


Cái b lốc gờ này nó tán phét về chiện Trịnh Hoà nã pháo Srilanka, có nói đến dùng pháo Việt Nam khác pháo tầu.
http://blog.sina.com.cn/s/print_53e0941f0100000h.html

------------
Giao lưu pháo Tây.
Sau Hồ Nguyên Trừng, tầu ngu pháo tụt thế nào thì đã nói chiện dài dài. Người tầu vượt lên đượ nhờ cha con Hồ Nguyên Trừng đứng đấu ngành súng pháo 63 năm, rồi ngu lại hoàn ngu. pháo Tây trội lên. Năm Gia Tĩnh thứ 2, Pháp Minh chiến  nhau, Minh thu được súng Pháp, thấy hay. Nhiều chú Tầu cho đó là thời điểm Minh học được súng tây hoặc là An Nam gần tây hơn nên súng đến trước !!!! ;D ;D ;D ;D

Thật ra là Tầu không phát triển được gì sau thời Hồ Nguyên Trừng và tụt dốc thảm hại về súng pháo. Ở đây có vai trò quan trọng của việc thép dẻo thất truyền, do tranh giành nội bộ mà đám tù binh An Nam và con cháu có thể đã ra ngoài làm ăn.  ;D ;D ;D
Mọi người ai biết cưa tầu có thể tìm sách này
《 minh sử kỉ 》。 hựu 《 binh chí 》 vân :“ phật lang ky pháo thức , dĩ đồng vi chi , trường ngũ lục xích , đại giả trọng thiên dư cân , tiểu giả sổ bách cân
Minh Sử Ký, sau đó là Binh Chí viết: cách làm pháo Pháp, lấu nguyên liệu đồng, dài 56 thước, to thì ngoài ngàn cân, bé trăm cân.
详见《明史纪》。又《兵志》云:“佛郎机炮式,以铜为之,长五六尺,大者重千余斤,小者数百斤。

Pháo này ban đầu nhà Minh gọi là Phật Lang Cơ, sau chế là 红衣大炮, hồng y đại pháo (thiên thông thứ 5) để phân biệt pháo sắt của HNT. sau  gọi là 大将 (Đại Tương), rồi 神威大将军炮 thần uy đại tương quân pháo, đúc năm sùng đức bát niên. Tên này truyền đến đời thanh.
http://club.xilu.com/wave99/msgview-950484-7477.html

Loại pháo này chính là loại Thần Cơ đồng phổ biến ở phương Tây mà chúng ta đã nói đến nhiều.
Pháo tầu bị pháo tây thôn tính cuối Minh. Từ đây cái tên Thần Cơ của Hồ Nguyên Trừng hay được nhầm là Thần Công.

Đây là một ví dụ rõ nhất về văn minh TQ. Nhờ ơn Vịt nhà mình, nó đã có cơ hội có đại công nghiệp luyện sắt, chế pháo tốt nhất thế giới. Nhưng rồi vẫn chìm trong ngu tối.
-------------------------------------------------
 Chú viết càng ít cay cú càng hay, mà nhắc chú gọi tên quốc gia cho đúng nhé! Nhắc lần cuối đấy


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 10 Tháng Tám, 2008, 12:29:22 am
Em thấy có mấy khẩu này trong Bảo tàng LSQS. Nhất định là đồ đạc trên đất Việt ta,  nhưng có cái nhãn hiệu không biết của ai.
Nhờ các bác giải dùm ạ.

(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-02.jpg)

(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-01.jpg)

(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-03.jpg)

(http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-04.jpg)


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 23 Tháng Tám, 2008, 05:46:00 pm

Bác nào cho em biết khẩu đại bác trong hình này là khẩu gì ạ ? Em cám ơn .



(http://i71.photobucket.com/albums/i152/bodoi_bucket/CaptureOfLang-Son.jpg)

-----------------------------------------
 Bạn nên resize hình trước khi post! Nhắc nhở lần 1!


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:36:27 am
Tình hình nghiên cứu có vẻ trầm lắng tợn.

Em xin phép được đặt ra một vấn đề nữa :

1. Ngày xưa, trong tập sách Ngựa Gióng, có một câu truyện lịch sử về nghĩa quân (thời nào không nhớ được). Để chiến đấu, họ chỉ có súng nhỏ, không có đại bác. Người thủ lĩnh đã đề xuất và cho chế 1 khẩu đại bác bằng gỗ nhãn, đánh đai bằng nẹp sắt. Và khẩu đại bác này đã tham gia chiến đấu,...

2. Trong 1 bảo tàng quân sự ở Paris (Pháp) hiện còn trưng bày 1 khẩu đại bác làm bằng gỗ ghép đai nẹp sắt, có ghi chú là quân Pháp thu được ở Vĩnh Long - Cocochine cuối thế kỷ 19. (Nguồn : hanoicorner.com, nick NguoiThangLong)

Vậy bác nào có thể có thêm tư liệu về vấn đề này ? Nếu tư liệu hay, có thưởng.




Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2008, 04:56:07 pm
Uhm, món này đã từng thấy trong mấy triển lãm vũ khí tự tạo. Chú thích là được sử dụng để phục kích đánh giao thông trong KCCP. Không thấy có đai gì cả, chắc bị tháo hết rồi.

Có thể là chính cái này:

...lão du kích Hứa Văn Khải còn tổ chức được tiểu đội lão dân quân đi giúp các huyện bạn đánh địch. Cụ còn tự sản xuất lựu đạn, súng đại bác bằng gỗ nghiến, bắn theo kiểu súng thần công thời xưa.

http://www.caobang.gov.vn/PrintPreview.aspx?ID=656


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 04:44:53 pm
cám ơn bác chiangshan, nhưng khẩu em tìm kiếm già hơn rất nhiều. Bác NTL bên Hanôicrner đã có ảnh, nhưng nay lại bỏ mất rồi. Mà thông tin thì không có thêm gì.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: dongadoan trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 05:16:06 pm
2. Trong 1 bảo tàng quân sự ở Paris (Pháp) hiện còn trưng bày 1 khẩu đại bác làm bằng gỗ ghép đai nẹp sắt, có ghi chú là quân Pháp thu được ở Vĩnh Long - Cocochine cuối thế kỷ 19. (Nguồn : hanoicorner.com, nick NguoiThangLong)
--------------------------------------------------
  Cuối TK19, khi Pháp xâm lược VN các cuộc khởi nghĩa của Võ Duy Dương và Nguyễn Trung Trực đều có đại bác bằng gỗ, nẹp đai sắt bắn đạn đá.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 06:43:08 pm
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện đang lưu giữ và trưng bày 18 khẩu súng thần công các loại. Súng đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ và chất liệu.
 
    Trong số 18 khẩu, phổ biến là súng thần công sản xuất từ thời Nguyễn, thế kỷ thứ XIX  và súng do Châu Âu sản xuất (Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha....) đưa vào Việt Nam.
 
     Súng được đưa về bảo tàng từ nhiều tỉnh thành trên cả nước. Đặc biệt có 8 khẩu được phát hiện, khai quật trong khu vực Hoàng thành Hà Nội.


http://www.btlsqsvn.org.vn/Bosuutap/?^?=-1000960


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Lancelot trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 07:20:38 pm
xin lỗi, ai có thể cho biết số súng Nhật thời Edo này là lọai súng điểm hỏa bằng phương pháp gì không? cốc mồi? Bánh xe hay cò mổ? Tôi thật sự nhìn mãi mà vẫn ko nhận ra. ???

http://i174.photobucket.com/albums/w87/kohaku-sama/UHW/800px-EdoJapaneseArquebuse.jpg


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 11:33:11 am
Cái loại này kẹp một dây mồi châm lửa sẵn. Khi bóp cò (điểm hoả) thì cần kẹp hạ xuống dí đầu dây mồi vào chỗ chứa thuốc mồi.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Lancelot trong 05 Tháng Mười Một, 2008, 10:23:15 am
ồ Thank very much cậu đã giải đáp. Cám ơn rất nhiều.

Súng thời năm 1600 mà cổ lổ vậy sao trời. Súng mua cuả Bồ Đào Nha gì mà tệ thế, tôi cứ tưởng súng dùng bánh xe hay cò mổ, ai ngờ. :-\.

Rồi súng tay mà to thế naỳ thì một người sao mà cầm nổi ???


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Mười Một, 2008, 10:38:01 am
Rồi súng tay mà to thế naỳ thì một người sao mà cầm nổi ???

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/43/Musketeers.jpg/800px-Musketeers.jpg)


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 05 Tháng Mười Một, 2008, 06:00:34 pm
Bạn xem cuốn "Ba người lính ngự lâm" chưa ?

Ngự lâm pháo thủ chính là những người trong ảnh trên vậy.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Lancelot trong 05 Tháng Mười Một, 2008, 06:24:00 pm
thú thật là chưa, chỉ nghe danh chứ chưa hề được đọc.

ý bác Chiangsang là người ta dùng 1 caí gậy chống để nâng súng ạ? Kiểu đó thì bên Tây em có thấy chứ em chưa thấy bọn Nhật dùng súng vậy lần nào. :-\

bức ảnh cuả bác nhìn cây súng có vẻ nhỏ quá, giống như cây thứ nhất từ trên đếm xuống trong cái hình cuả tôi chứ không phải là cây thứ ba, là cây tôi đang đề cập. :-\


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Lancelot trong 08 Tháng Mười Một, 2008, 07:50:29 am
xin lỗi, nhưng có ai biết thứ gọi là súng điểu thương, súng điểu sang mà nhà Nguyễn dùng đánh Pháp là thuộc lọai súng gì chúng ta đang bàn ở đây không? Nó cũng là lọai dùng đá lửa hay bánh xe ?

Và súng quá sơn là súng gì?

Đọc về thời kỳ nhà Nguyễn đánh Pháp hay nghe tới " ống phun lửa", có phải cái đó là Hỏa Hổ không vậy? ???


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 08 Tháng Mười Một, 2008, 04:18:15 pm
Lễ thi Tiến sĩ Võ - Bữa tiệc độc đáo tại Festival Huế 2008

Trong 143 năm tồn tại, triều Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi Hội Tiến sĩ Văn, nhưng chỉ tổ chức được 3 khoa thi Tiến sĩ Võ. Các khoa thi Tiến sĩ Võ đều được diễn ra dười thời vua Tự Đức, và cũng chỉ chọn được 10 vị Tiến sĩ và 22 vị Phó bảng. Các Tiến sĩ Võ được khắc tên trên bia đá dựng tại sân Võ Miếu (được xây dựng bên cạnh Văn Miếu) để tôn vinh võ học và những người có công lao với đất nước.

Khoa thi cuối cùng cách đây tròn 140 năm, do vậy, các thể thức, trang phục, nghi trượng trong nghi lễ thi bị mai một nhiều. Theo một số tư liệu mô tả, thì thời gian thi, nội dung thi, phép thi ...được hình dung như sau:

Thời gian thi là vào tháng 5 và kéo dài đến 25 ngày. Mồng 2-5 tiến trường; ngày mồng 6-7 thi trường nhất; ngày 10 và 11 thi trường nhì; từ 14 đến 19 thi trường ba; ngày 22 phúc thi bằng bài thi văn; ngày 25 yết bảng công bố người đậu.

Nội dung thi gồm: trường nhất, thi xách tạ chì; trường nhì, thi múa côn và múa trượng; trường ba, thi bắn súng điểu thương; phúc hạch: môn bắn súng điểu thương.

Không gian thi: Khảo thí về hành binh và phương pháp bài binh bố trận tại Tả đãi Lậu viện; khảo thí các môn võ nghệ tại thao trường Cẩm Y Vệ; khảo thí bắn súng điểu thương tại trường bắn Đông Ba.

Với ý nghĩa tôn vinh tinh thần thượng võ của dân tộc, trong khuôn khổ Festival 2008, lần đầu tiên Lễ hội Tiến sĩ Võ được tái hiện. Đây cũng là một trong năm lễ hội lớn được phục dựng và đưa vào phục vụ, được kỳ vọng sẽ tạo ra một sản phẩm du lịch độc đáo trong dịp Festival Huế 2008. Phần lễ sẽ gồm lễ rước chiếu chỉ từ Ngọ Môn ra Phu Văn Lâu; lễ tuyên đọc chiếu chỉ đọc tên những người trúng cách trong hội thi và tuyên bố các môn đã vượt qua vào chung khảo; tiếp đó là chung khảo các môn thi: trận pháp, múa côn, quyền, đao, kiếm và đối luyện tay không, tay không - binh khí, binh khí - binh khí; tuyên bố danh sách người đậu tiến sĩ và lễ tạ ơn sau khi ban áo mão; cuối cùng là lễ rước tiến sĩ vào Duyệt Thị Đường dự yến tiệc.

Tuy nhiên, do những khó khăn nhất định cả về thời gian, không gian, Lễ hội lần này sẽ được tổ chức cách điệu như một buổi chung khảo Tiến sĩ Võ, mang tính biểu trưng nhằm hướng đến cái đích cuối cùng đề cao ý nghĩa giáo dục của cuộc lễ, tôn vinh giáo dục nhân tài, tôn vinh tinh thần thượng võ của dân tộc, và để phục vụ nhu cầu thưởng lãm của đông đảo quần chúng và du khách du lịch trong thời gian diễn ra Festival Huế 2008.


..... Tóm lại là Ban tổ chức bỏ qua màn bắn điểu thương. Chắc vì không kiếm được khẩu nào.



Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 08 Tháng Mười Một, 2008, 04:22:40 pm
Câu hỏi về mấy loại súng đó, theo em biết, chưa có câu trả lời chính xác mà mới chỉ tạm xác định "kiểu giống như ......" vậy thôi.

Súng của Trung quốc đời Minh, được gọi là Huolongjing (Hoả long .....)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/50/Ming_matchlocks.jpg)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/dd/Ming_musketeers.jpg)


Súng của Nhật bản, có tên là Bajouzutsu :

(http://www.japanese-guns.com/gold_carp_waterfall_gun/goldinlaypistolfull.jpg)

(http://farm3.static.flickr.com/2268/2247358315_05a299ba40_o.jpg)


Thêm thông tin dưới đây :

Theo bài viết của Sun Laichen, giảng-sư đại-học CS Fullerton cùng nghiên-cứu-sinh trường National Univ of Singapore và Asia Research Institute thì người Hán quả thu-nhập một số kỹ-thuật hoả-công từ người Việt trong cuộc xâm-lăng Đại-Việt năm 1407, gọi chung là "thần-cơ thương-pháo pháp".
Những loại vũ-khí gồm thần-thương/thần-thương-tiễn/thần-cơ hoả-thương tác-giả dịch ra Anh-ngữ là "magic fire-lance arrow"; cách dùng cục gỗ ["mục-mã-tử"]dùng chèn giữa ổ thuốc nổ và đạn viên trong nòng súng để đạn bắn xa hơn; và nắp ổ nạp lửa phía chuôi súng.
Tác-giả nói rõ những loại súng này là "handguns" & "cannons". Hình chụp súng có kích-thước dài 44cm, nòng 5cm2 chứ không phải súng thần-công đại-bác. Việc Hồ-Nguyên-Trừng thì tác-giả xác-nhận họ Hồ bị giải cùng 17000 tù-nhân về Tàu. Vì họ Hồ có tài nên được trọng-dụng. Minh-triều bổ ông vào làm việc ở "Bingzhang ju" [không kèm chữ Hán nhưng chua nghĩa là "weapon manufacturing bureau"]. Họ Hồ đứng ra tổ-chức những đội quân chuyên dùng "súng Annam" phá quân Mông-cổ nên đến nay ở Bắc-kinh vẫn còn vài ngõ hẻm mang dấu-tích đó như "An-nam doanh", "Giao-chỉ", "Đại-An-nam doanh" và "Tiểu-An-nam doanh" tức là nơi đóng quân của mấy doanh-đội này. Suốt triều Minh, mỗi khi tế súng và thần hoả-công thì cũng tế một lễ cúng Hồ-Nguyên-Trừng!


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Lancelot trong 08 Tháng Mười Một, 2008, 05:16:47 pm
đọc mấy cuốn sử viết về Tàu hay VN ta ngày xưa luôn ngớ người ra mỗi khi nghe đến tên súng. Có lần tôi đọc 1 cuốn nói về quân sự Mãn Thanh, họ thống kê gần chục cái tên súng Tàu mà như vịt nghe sấm , chẳng thể biết được súng đó là súng gì. Hình như súng ta và Tàu xưa tùy theo kích cỡ mà đặt tên chứ ko phải tùy theo kỹ thuật của súng đó thì phải.


mấy cây hỏa long của bạn là cầm mồi lửa châm ngòi à? hay là như mấy cây súng Nhật của tớ? ??? Mà hình như mấy cây Hỏa Long ấy có lưỡi lê phải ko? Nhìn ko rõ. ???


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 28 Tháng Mười Một, 2008, 06:46:23 pm
To Lancelot :

Cái que ở đầu súng là 2 càng đấy ạ. Như trung liên ngày nay ấy mà.

Cuốn sách về nhà Mãn Thanh mà bác đã đọc là cuốn gì thế ạ ? Bác cho em biết tên với.
Trên mạng có một bài của cụ Nguyễn Duy Chính viết về quân sự Mãn Thanh, nhưng chỉ nói đến những cái tồi tệ thôi, không đả động gì đến thời cải cách quân đội của họ cả.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Lancelot trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 02:40:46 pm
đúng là của cụ Nguyễn Duy Chính  ;D, có cả đồng tên pháo với súng trong đó, nghe chẳng hiểu là súng như thế nào. ???


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 03:17:31 pm
Trong cuốn Almanac "Lịch sử các nền văn minh trên thê giới", có một phần viết về lịch sử súng đạn có nêu tên một số loại súng cổ  như vậy. Để em tìm lại xem có gì hay không.

Em có 1 thắc mắc mấy năm nay nhờ các bác trên mấy 4rum giải đáp mà chưa nhận được hồi âm. Lại nhờ các bác vậy.
Sự thể là như thế này : mấy cái lỗ đạn trên cửa thành Cửa Bắc là do Pháp bắn, nhưng nó bắn bằng loại đại bác nào ?

Xin các bác chỉ giáo.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: DepTraiDeu trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 03:44:20 pm
Trong cuốn Almanac "Lịch sử các nền văn minh trên thê giới", có một phần viết về lịch sử súng đạn có nêu tên một số loại súng cổ  như vậy. Để em tìm lại xem có gì hay không.

Em có 1 thắc mắc mấy năm nay nhờ các bác trên mấy 4rum giải đáp mà chưa nhận được hồi âm. Lại nhờ các bác vậy.
Sự thể là như thế này : mấy cái lỗ đạn trên cửa thành Cửa Bắc là do Pháp bắn, nhưng nó bắn bằng loại đại bác nào ?

Xin các bác chỉ giáo.

Đây có lời giải rồi nè bác

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=356.10


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 05:26:55 pm
Bác cho em chi tiết hơn được không ạ ? EM vào đúng chỗ đó mà không thấy. LẠi nhiều bài quá, sốt ruột chưa tìm được.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: DepTraiDeu trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 05:47:40 pm
Bác cho em chi tiết hơn được không ạ ? EM vào đúng chỗ đó mà không thấy. LẠi nhiều bài quá, sốt ruột chưa tìm được.

Bác chịu khó tìm + đọc 1 tí là ra mà. Thôi thì em cũng chiều bác 1 hôm nhé
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=356.msg59502#msg59502
:D


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 03:43:53 pm
Cám ơn bác đã giúp.

Em vẫn chưa thỏa mãn. Ở đây có thêm thông tin khác bác ạ.

http://www.tathy.com/thanglong/showthread.php?t=14611



Thưa ngài thống đốc

Tôi xin báo cáo cho ngài biết những cuộc hành binh dẫn tới việc chiếm tỉnh Hà nội và pháo đài chính của tỉnh đó.

Một tối hậu thư được gửi đi trước ngày 19 cho tổng đốc Đông Kinh (Ton-king). Tôi yêu cầu ông ta ra một văn bản tuyên bố không dùng vũ lực chống lại việc thi hành các điều kiện thương mại của tôi và ngưng việc chuẩn bị chiến tranh. Khi thấy không có trả lời, tôi quyết định tấn công thành Hà nội vào sáng sớm hôm sau.
Vào năm rưỡi sáng, toán thứ nhất gồm ba mươi thủy binh và một khẩu pháo 4 do trung úy hải quân Bain de Coquerie chỉ huy rời trại để vào vị trí trước cửa Tây Nam thành.

Năm giờ bốn mươi lăm, toán thứ hai gồm ba mươi pháo thủ hải quân do ông Trentinian chỉ huy lên đường tới cửa Đông Nam, cửa gần trại quân ta nhất. Cuối cùng, vào lúc năm giờ năm mươi, ông Esmez dẫn ba mươi thủy binh và ba khẩu pháo 4 cũng tiến về cửa Đông Nam. Theo sau ông ta có một đội dự bị bao gồm hai mươi thủy binh của chiếc Decres do một đại úy bộ binh của tàu này chỉ huy. Ông Bouillet, kỹ sư thủy văn cùng mười người ở lại bảo vệ trại.

Ngòai sông, các pháo hạm Scorpion và Espignole chuẩn bị cho việc bắn phá từ hôm trước. Đạn bắn phá sẽ hướng vào các cửa Tây, Bắc và Đông, tức là vào những cửa chúng ta không tấn công. Vào năm giờ sáng, một khẩu pháp 4 được đưa vào bãi pháo tại cổng một phố chạy thằng vào cửa Đông thành, chỗ đặt pháp chỉ cách bờ sông có mấy mét. Như vậy đường bắn của khẩu này thẳng, các đường bắn từ trong sông là đường bắn ước chừng nhưng tất cả các khoảng cách và hướng đã được xác định cẩn thận.

Đúng 6 giờ, tôi dẫn đầu đơn vị của ông Trentinian đặt chân lên cầu lũy bán nguyệt Đông Nam, tiếng súng trường của ông Bain nổ bên trái tôi và những trái đạn đầu tiên của pháo thuyền nổ trong thành. Quân địch hoàn toàn bị bất ngờ. Bị nhiều đợt tấn công, họ không biết điểm nào là điểm thực sự bị tấn công. Chúng tôi giải tỏa cầu khỏi những tấm chông bừa bộn khắp nơi mà không sợ đạn bắn. Khi các pháo thủ An Nam trên lũy vào được vị trí thì chúng tôi đã ẩn được ở sát tường công sự. Những người phòng thủ chỉ còn cách ném đá xuống. Chúng tôi dùng rìu nhưng không phá được cửa. Tôi cho đặt đại bác trên cầu và ba phát đạn liên tiếp đã mở đường cho chúng tôi. Ngay lập tức, ông Trentinian và toán bộ binh của hải quân lao vào bên trong công sự góc, tại đây quân phòng thủ không ẩn được phải chạy lên thềm đất ở chân thành hoặc chết đuối trong hào. Làn hỏa lực mãnh liệt của chúng tôi hướng vào những người trên mặt lũy và làm thất bại ý định của các pháo thủ địch nhiều lần định chĩa pháo về phía chúng tôi.
Trong khoảng thời gian trên, ông Esmez cho pháo chiếm vị trí trên cầu và bắn thủng cánh cổng trong tiếng rào rào của đá từ trên lũy ném xuống. Chiếc cửa vững chắc này chống đỡ khá lâu. Khi mở được lối vào, tôi lao vào vòm cổng cùng với mấy người lính theo sau và nhận ra trước mặt mình mấy người đang cắm lọng che cho một vị quan đang đứng chỉ huy phòng thủ. Tôi không ngờ viên quan này chính là tướng Nguyễn Tri Phương mà sự rất ngẫu nhiên khiến vị trí chỉ huy của ông ta lại chính ở cửa tôi phải tấn công. Một cuộc đụng độ ngắn bắng súng lục và súg saxơpô giải quyết hoàn toàn khu vực cổng. Lính An nam chạy tứ tán. Chúng tôi tháo cánh cửa và ngày lập tức đưa hai khẩu pháp lên mặt thành sẵn sàng nhả đạn vào phía trong. Cùng lúc đó tiếng kèn hiệu cho tôi biết ông Bain đã làm chủ tình hình cửa bên cạnh. Không có dấu hiệu của sự kháng cự trong công sự góc. Khi tấn công thành, ông ta đã quét nhiều loạt đạn đại bác từ bờ thành nhưng không trúng ai.
Lập tức tôi phái ông Trentinian vào trong thành để gặp tướng Phương và phái ông Hautefeuille, chuẩn úy hạng 1, cùng với mấy người nữa tới chiếm cửa Đông. Đồng thời tôi truyền lệnh cho ông Bain cùng với một nửa quân số tiến về Cửa Tây nơi đang có nhiều quân địch tháo chạy qua. Cuối cùng, nhận thấy nhiều địch quân đang trốn trong chiếc tháp nằm giữa hai cửa của mặt Nam và lính phòng thủ đầy nghẹt hai lầu, tôi cho ông Esmez tiến về phía đó, chỉ giữ lại đơn vị dự bị. Một lúc sau ông Esmez cho tung bay trên đỉnh Cột cờ lá cờ tam tài của Pháp, tín hiệu quy ước để các pháo hạm ngừng bắn phá. Lúc đó là 6 giờ năm mươi lăm phút. Oong Hautefeuille, chỉ có năm người đang bị đẩy lui. Tôi phái viên đại úy bộ binh tàu Decres cùng với đội dự bị tới chỗ ông ta và ra lệnh cho một khẩu pháo nhả đạn vào mặt này. Vài phút sau cờ Pháp bay trên năm cửa thành. Chúng tôi không có người nào bị thương.


Source: Hà Nội giai đoạn 1873-1888, tác giả André Manson.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: OldBuff trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 05:00:23 pm
Đoạn trên là báo cáo quân vụ của thiếu tá hải quân Phờ-răng-xít Gác-nhi-ê (Capitaine de vaisseau Francis Garnier) gửi đô đốc Đuy-pờ-rê (Dupré) về việc chiếm thành Hà Nội lần 1 vào ngày 20/11/1873. Lần đánh thành này không để lại vết tích đại bác trên cổng Bắc thành.


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: thoky trong 11 Tháng Mười Hai, 2008, 07:12:57 pm
Bác có thêm đoạn nào về anh Hăngri đánh Hà Nội thì hay quá.

Em thấy anh Hăngri đánh Sơn Tây với khẩu đại bác như thế này :

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f7/Riviere_pushing_the_cannon_forward_at_Sontay.jpg/800px-Riviere_pushing_the_cannon_forward_at_Sontay.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 21 Tháng Hai, 2009, 05:16:11 pm
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=654.msg79608#msg79608

Bạn SSX nói đúng rồi.

Một trong những mấu chốt quan trọng nhất của súng trường tấn công là đạn. Nó phải thoả mãn yêu cầu bắn được khi đang chạy. Đó là điểm mà súng trường tấn công khác súng trường hạng nặng.
Đạn nhỏ nhưng phải đảm bảo uy lực của súng trường, nếu không sẽ thành súng ngắn, đó là điểm súng trường tấn không khác súng ngắn bắn nhanh MP.

Khi Fedorov thiết kế súng và khi hội đồng súng trường thẩm định súng, người ta đã đặt rõ hai yêu cầu, một là bắn được khi đang chạy và làm súng bắn tỉa. Chỉ cần hai điểm cơ bản đó đã thể hiện một khẩu súng trường tấn công. Lúc bấy giờ, trên thế giới có rất nhiều súng trường tự động, nhưng không một khẩu súng nào là súng trường tấn công như Fedorov Avtomat.

Ví dụ, AVS-36 cũng có khả năng bắn liên thanh, làm súng bắn liên thanh đâu khó, nhưng không thể giữ súng được khi bắn loạt. CHính vì vậy, các súng trường tự động cùng thời với Fedorov Avtomat có khả năng bắn lien thanh dều phải nặng đến 8-9-10kg, ít ra phải 6kg, mới vững súng khi bắn loạt và đó là trung liên, không thể cầm tay xung phong và chiến đấu trong chiến hào chật chội.

Nhiều nước lúc đó có đạn nhỏ, nhưng lại thiếu trình độ quân sự để sử dụng đạn đó trong súng trường tấn công. Điều đó thể hiện thiên tài của Fedorov, đi trước thời đại cả về chiến thuật và kỹ thuật.

Quyết định dùng đạn ngoại của Hội Đồng Súng Trường Nga đã giết chết Fedorov Avtomat. Một mặt, do nhập ngoại nên người Nga không có điều kiện hoàn thiện dạn theo ý mình. Và quan trọng nhất, sau này đạn bị cấm vận, mà Fedorov Avtomat dùng đạn Mosin thì không còn là súng trường tấn công nữa.


Fedorov sau này tham gia mạnh trong việc nghiên cứu và phát triển súng bộ binh. Nhưng, vấn đề ông được đánh giá cao nhất là dạy học, một loạt các nhà thiết kế súng hàng đầu Liên Xô sau này đã tôn thờ ông làm thầy. CÓ thể đoán được, Fedorov rất giỏi trình bầy những vấn đề khó hiểu của ký thuật và chiến thuật. Cũng có thể nhờ đó, mà Fedorov thuyết phục được Hộ Đồng. Mặc dù hỗ trợ cực kỳ chậm và nhỏ giọt, nhưng như thế cũng còn may hơn các súng khác, như Tokarev, không được ai biết đến.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/Fedorop/file.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 21 Tháng Hai, 2009, 06:49:37 pm
bên trái ảnh này chính là khẩu súng này http://www.quansuvn.net/index.php?topic=654.msg79613#msg79613

Đôi chút lịch sử

Khẩu súng trường tự động đầu tiên trên thế giới được trang bị là khẩu Mondragon , khẩu súng cũng như AK và Fedorov, do một người lính thiết kế chứ không phải các công ty công nghiệp hay là các nhà khoa học tháp ngà, cả đời không nhìn thấy chiến trận.

Mình trình bầy khẩu này ở đây để các bạn hiểu thêm về phát kiến thiên tài Fedorov Avtomat. Không nắm được nguyên lý chiến đấu của súng trường tấn công, thì một khẩu súng dù đi trước, cũng chỉ là một súng trường tự động. Mondragon do một vị tướng của xứ sở xa xôi Mexico, Manuel Mondragon, (1855 - 1922.), thiết kế tại thành phố Tacubaya, công việc bắt đầu vào khỏng 1886-1890. Sau này, SIG (Schweizerische Industrie Gesellschaft) của Thụy Sỹ tham gia thiết kế lại một chút và nhận trách nhiệm sản xuất. Những mẫu thử nghiệm đầu tiên có từ cuối tk19. Năm 1908, súng được chấp nhận trong quân Mexico với tên "Fusil Porfirio Diaz Systema Mondragon M1908", đạn 7,24 x 57 mm Mauser (thường được gọi là 7 ly Mauser), đây là đạn tiêu chuẩn của súng trường Mexico lúc đó. Súng được sản xuất và dùng ở một số nước khác, được dùng khá nhiều ở Đức. Trong và sau Cách Mạng, Hồng Quân cũng có dùng súng này với tên Mondragon Avtomat.

Flieger-Selbstlader-Karabiner 15 (súng trường ngắn tự động cho máy bay, Model of 1915), được chấp nhận ở Đức. Trong cuốn hướng dẫn sử dụng của Bộ Chiến Tranh Phổ, 1-1917 có nói đến việc phải bảo dưỡng súng tốt, chuyên nghiệp trước và sau khi bắn. Một phiên bản khác sử dụng ở Đức và xuất khẩu sang Nga, gần giống trung liên, dùng băng rời 47 viên, bắn đạn Mosin ở Nga và đạn 7 ly Mauser ở Đức. (đạn Mosin 7,62x54mm rất giống đạn Đức 7,24x57mm trừ việc có gờ móc, trước Thế chiến I, Nga và Đức trao đổi kỹ thuật súng đạn nhiều và người Nga copy Đức). Một phiên bản Thụy Sỹ có băng tháo rời hai hàng 8 viên, rất tiên tiến lúc đó, nhưng do trình độ gia công, lúc đó loại băng này đắt và kém tin cậy. Phiên bản súng bắn phát một ở Nga và Đức dùng hộp đạn liền nhưng có kẹp đạn lắp sẵn, lắp phía trên như các súng trường khác.  Ở Đức có phiên bản dùng băng trống.

50 mẫu thử đầu tiên được sản xuất tại  S.I.G. Neuhausen năm 1893-1894. Dùng đạn 6,5mm (không phải đạn 6,5 dùng cho Nhật hay Bắc Âu sau này).

200 mẫu tiếp theo sử dụng để thử nghiệm một số đạn ".30-30 Winchester", 7 x 57 mm Mauser (sau này dùng), đạn Thụy Sỹ 7,5 x 55 mm Schmidt-Rubin. Đặc biệt là loại đạn  5,2 x 68 mm Rubin của Thụy Sỹ, thường gọi lagf đạn 5 ly Rubin.

Việc thiết kế súng có sự đóng góp của Rubin, đặc biệt là thiết kế đạn. 

Vào năm 1894, thì việc sử dụng thuốc súng viên chắc có điều khiển phản ứng cháy chưa được áp dụng lớn ở Thụy Sỹ, lúc đó, phổ biến là những loại thuốc súng không khói, thành phần giống thuốc nổ dẻo, áp suất tối đa cao và giảm nhanh. Sau này, Mauser đã áp dụng kỹ thuật thuốc viên để làm giảm áp suất tối đa, súng này thừa kế phát triển đó.

Loại đạn 5 ly Rubin lúc đó công nghệ sản xuất chưa hoàn thiện, không bóp đầu cát tút được đều hay làm cát tút thuôn nhỏ, phải dùng một kiểu thắt đầu nghẽn cổ chai, nghẽn này phá hủy thuốc viên nên không được áp dụng.

Súng dài 1105 mm , nòng dài 577 mm, tương đương cỡ nòng cạc bin của Mauser và Mosin, và thêm sau này là các kiểu 193x của hai súng trên cũng dùng cỡ nòng gần giống. Súng nặng 4,18 kg rỗng.

Manuel Mondragon bị quên lãng nhanh vì ông bỏ châu Âu trở về quê hương phục vụ, Mexico đang trong thời kỳ chống lại với con quỷ dữ Mỹ. Một người Mexico khác, Doroteo Arango trở lên lừng danh trên sách báo phim ảnh vì những hoạt động danh tiếng của ông, rất nhiều người tin rằng Doroteo Arango là người thiết kế súng.

Đôi chút đặc điểm.

Súng trường tự động  Mondragon dùng máy trích khí khóa nòng xoay.

Khóa nòng khá đặc biệt, có 6 tai, quay được nhờ một rãnh nghiêng. Vì có nhiều tai nên quãng đường chuyển động của bệ khó nòng để quay khóa nòng ngắn và chiều dài hộp khóa nòng (vỏ máy súng, receiver) ngắn. Khó nòng có các tai ở cả đằng trước và đằng sau. Chênh giữa đường kính tai và đường kính thân khóa nòng không lớn.

Trích khí tiết lưu dặt gần đầu nòng. Súng có piston nối liền bệ khóa nòng. Ống piston dặt bên dưới nòng. Lò xo đẩy về bao quanh cần piston. Trích khí hành trình dài nhưng có cấu tạo trông như xung ngắn. Súng có một lố trích khí vuông góc với trục nòng khá to.
Súng có lỗ trích khí to và không có điều chỉnh kích thước lỗ, nhưng có một bộ phận hiệu chỉnh lượng khí thoát đi ở đầu cylinder, nhờ đó, điều chỉnh năng lực đẩy về. KHí trích được chứa vào một khoang dự trữ và đẩy dần piston về sau, trong khi đẩy, khí vẫn thoát ra ngoài và lỗ thoát có ốc điẻu chỉnh.

Bệ khóa nòng chạy trên ray nằm bên ngoài, bên phải vỏ hộp khóa nòng.

Súng có một đệm lò xo giảm giật ở cuối hộp khóa nòng.

Kiểu khóa nòng nhiều tai này là tiền thân của M16, súng trường Thomson và nhiều súng trường Mỹ-Âu sau này. Khẩu súng sau này học nhiều  Mondragon là M1 Garand. Tuy nhiên, khác biệt của M1 là khóa nòng hai tai với móc đạn tin cậy trong băng hai hàng, là mẫu cho thiết kế các bộ phận đó ở AK. M1 cũng học cái đệm giảm giật.

Súng gia công khó, đặc biệt là trình độ ngày đó. Súng làm việc rất không tin cậy, dễ bị ảnh hưởng của bụi bẩn, điều kiện thường xuyên trong "trận địa chiến" WWI.

Súng có phần lê rất dặc trưng, lê to bản, hai cạnh sắc và sống lê cong vút.

Nhận xét

Có thể Manuen Mondragon đã có hướng thiết kế một súng trường tấn công, nhưng ông đã không đi đến đích. Mexico là một nước lạc hậu, không đủ trình độ hoàn thiện thiết kế cũng như sản xuất. Nỗ lực dùng đạn nhỏ 5,2 ly có thể là một nỗ lực tiến đến súng trường tấn công. Tuy nhiên, do phụ thuộc nước ngoài nên không thể đủ lực để ý tưởng-nếu có, đi đến thực tế. Sau này các nỗ lực bắn liên thanh đều chứng minh súng không hợp, phiên bản được dùng như trung liên tăng khối lượng lên gần 10kg dể giảm giật. Các phiên bản khác nhỏ hơn đều chỉ sự dụng bắn phát một.

Máy súng có ray bệ khóa nòng đặt ngoài, phần trong cũng che bụi kém, đường lùi về của tay lên cò hở. Kiểu khóa nòng nhiều tai thì đến M16 sau này vẫn khốn khổ. Piston cũng khít. Để bộ máy này vượt qua tắc, cần lực đẩy về của khí trích mạnh, chưa có kỹ thuật khí động như AK thì điều này làm súng yếu đi nhiều.

Ở đây có một tính toán sai lầm của nhà thiết kế, là làm tai khóa nòng ở cả đầu và đuôi khóa. Nhầm lẫn này cũng như việc làm khóa nòng nhiều tai vậy. Khi nhiều tai mà kích thước các chi tiết không đúng, thì chỉ có tối đa 3 tai chịu lực, các tai khác nghỉ khỏe. Đến một nửa xác suất chỉ hai tai chịu phần lớn lực, không ít khả năng chỉ một tai chịu toàn bộ lực. Đây chính là nhược điểm của M16 sau này. Nó rất không bền vì chỉ cần mòn chiều dài tai độ 1/10 mm là cái tai đó coi như bỏ. CHính vì thế M16 cần vật liệu và gia công cái khóa nòng đắt khủng khiếp mà vẫn không bền.

Thêm nữa, khóa nòng nhiều tai này hạn chế việc thiết kế một cái móc đạn hoàn hảo.

Ở thời 189x, có thể,  Mondragon làm nhiều tai để dùng đúng nghĩa thay nhau. NHư vậy thì đây là một sáng kiến tốt,. Hiện nay không còn các mẫu nguyên bản vừa gia công xong để đánh giá ảnh hưởng của sai số gia công và sau này khi vật liệu mòn. Nếu như thế, thì Mondragon quá thông thái so với M16.

Người Mexico dã có một niềm tự hào chói sáng, một khẩu súng trường tự  động đầu tiên trên thế giới được chấp nhận. Súng của Mondragon đã được sản xuất và sử dụng ở Thụy Sỹ, Đức, những nước thiết kế và sản xuất súng đứng đầu thế giới lúc đó.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondragon1-1.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondragona.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondragon_pat.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/MondragonCockingHandle.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondrifl.gif)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondrag769.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondragonb3b.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondragonb2c.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondragonb1a.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondragon_pat.jpg)


5,2mm Rubin
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/MondragonCartridge.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/Mondragon/mondrago.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 21 Tháng Hai, 2009, 11:50:12 pm
bên phải ảnh này chính là khẩu súng này http://www.quansuvn.net/index.php?topic=654.msg79613#msg79613

Hồi này Pháp theo kiểu Anh. gọi súng trường tự động bắn phát một là "bán tự động" fusil semi automatique FSA, sau này, họ lại gọi theo Nga-Đức, là súng trường tự động FA.

http://armesfrancaises.free.fr/FSA%201917.html
http://www.sturmgewehr.com/bhinton/FAMAS/
http://www.sturmgewehr.com/bhinton/French_MAS/

Cùng thời với Mondragon bắt đầu thiết kế súng trường tự động, nước Pháp cũng bắt tay thiết kế. Tuy nhiên, người Pháp lúc đó co công nghiệp hùng cường bậc nhất Thế Giới. CŨng lại tuy hùng cường, nhưng người Pháp chỉ rất nhiều ý tưởng, mà không phát triển sâu sắc các ý tưởng đó. Trong phần đạn, chúng ta đã thấy họ dùng đạn viên dẹt, nhưng viên dẹt rất tồi và sau đó bỏ đi. Chúng ta cũng thấy họ đã có đạn chóp đầu từ 188x, nhưng kết quả là chỉ tổ nước Pháp có hàng đống đạn cho súng trường, yêu cầu hàng đống loại nòng khác nhau, thậm chí, cùng một loại súng nhưng lại dùng một số loại nòng với đạn riêng.

Đây là kết quả của cái gì ?? của những nhà công nghiệp thiết kế súng a dua a tòng theo các sáng kiến, để nổi tiếng, để ưỡn ẹo với các quý bà hở lưng trong các phòng khách, để tranh giành các hợp đồng nhà nước vốn được quyết bởi các quý bà hở lưng, của các quý ông cãi nhau quanh năm trong chế độ đại nghị, mà hầu hết các ông cãi nhau đều chưa nghe tiếng súng, mà xem nhẹ ý kiến của các nhà toán học, nhà kỹ thuật và đặc biệt của các chiến binh.

SÚng trường tự động Pháp cũng vậy. Từ khoảng thời gian đó, các cơ sở như "Section Technique de l'Artillerie" (STA, cơ quan nghiên cứu súng pháo), 'Ecole Normale de Tir (ENT ), la Commission Technique de Versailles et l'Etablissement d'Artillerie de Puteaux ... thiết kế nhiều mẫu súng khác nhau, chúng có hai đặc điểm chung, một là không sâu sắc, hai là cãi nhau quanh năm và chả ai chịu ai.

Sau này MAS cũng vậy, từ năm 1922 dến 1949, MAS bán tự động, không thay đổi nhiều thiết kế, thử nghiệm rất chậm chạp, và ra đời thỉ đã quá lỗi thời. CHúng ta cần biết là MAS bán tự động được chấp nhận trang bị 1949, sau ... 30 năm ra đời, nó được chấp nhận tranh bị cùng năm với... AK và B40 !!!

Trước MAS bán tự động, hay "M.A.S. 49", có nhiều mẫu súng trường tự động Pháp cãi nhau ỏn tỏi từ 189x đến 1918, chúng quá phở và chết yểu mở đường cho MAS ra đời. Có hai model M1916 và M1917. Ở đây, mình trình bầy trước Model M1917, sau được cải tiến chút thành M1918, vì nó tuy ra sau, nhưng lại là bước... cải lùi của M1916.

Ở nước Pháp lịch thiệp, các chiến binh bặm trợn không có chỗ đứng, mà danh giá nhất là các quý bà hở lưng và các quý cô trễ ngực. Vậy nên, trong khi cãi nhau, các khẩu súng này không hề có chút gì nhắc đến đạn nhỏ, bắn trên đường chạy, chiến đấu trong hào....

------------------------

"Vinh Quang !!!"

FA= fusil automatique = súng trường tự động.
RSC= Ribeyrolle, Sutter, Chauchat = một liên danh tranh thầu.

RSC M1917 thắng thầu trong cuộc đấu tranh loạn xà ngầu của các loại đạn. Thật ra, đây là khẩu súng cực dở, khá giống đẳng cấp của Mondragon , cùng nguyên lý, cùng hở hoác, có cái cần truyền động đặt ngoài, nó chỉ thắng thầu bởi dùng cỡ đạn đó, thành ra là anh em kết nghĩa của Lebel.

Nó phở thế nào, M1917 được sản xuất cấp tốc ở MAS (Manufacture d'Armes de St.Etienne), một số chi tiết được gia công ở MAT vàv MAC. 80 ngàn khẩu M1917. M1918 sửa lại tí cho nhẹ, 10 ngàn khẩu.

Sau chiến tranh, cho đến 1936, MAS 1936, súng chủ lực Pháp, vẫn là lên cò tay. CÒn M1917, M1918 tiến tiến thế nào ?? hầu hết chúng đều được hoán chuyển thành súng cạc binh lên cò tay bằng cách tháo cần truyền động và bịt trích khí. Một lượng lớn binh sỹ dùng chúng mất ngón tay vì cần truyền động.

Khẩu súng đặc trưng cho nước Pháp lúc đó: lịch thiệp, nói hay, nhưng hời hợt không sâu sắc, bề ngoài là công nghệ cao, nhưng trong yếu đuối dốt nát, một nền kỹ thuật được quyết định bởi các salon, các mối tình đêm, với các nhà kỹ thuật chỉ giỏi giang bốc phét với gái. Người Pháp đã dùng thuốc đạn viên dẹt, nhưng thuốc đạn của họ lại không bằng đồ dã man ngu si dùng thuốc nổ dẻo, người Pháp có súng trường tự động, nhưng cách dùng súng trường này tốt nhất là bỏ cái tự động đi.


Cấu tạo.



RSC M1917 có máy súng trích khí, khoá nòng xay, bố trí giống hệt Mondragon . Cùng nguyên lý này về sau có AK, cũng như Mondragon , rất khác hình dáng chi tiết với RSC. NHưng RSC bó trí giông hệt Mondragon  tuy khác hình dáng chi tiết. Một dặc trưng của RSC là số lượng chi tiết rất ít, điều đó làm súng ổn định, nhưng như người quái thai dính liền các bộ phận, ổn định trong bệnh hoạn.

Trích khí từ lỗ vuông góc với nòng, ở đoạn gần đầu nòng như Mondragon . Nhưng điều chỉnh khác, điều chỉnh Mondragon là thay đổi kích thước lỗ thoát phụ. CÒn RSC điều chỉnh khí trích. Khí trích đi vào một buồng dự trữ, rồi vừa thoát đi, vừa đẩy piston về sau, piston hành trình dài. Vít điều chỉnh vặn trên một miếng thép , làm hai đoạn ren.

Cũng như Mondragon , lò xo dẩy về nằm ngay trên cần piston. Một thanh truyền động đặt ngoài bên phải vỏ máy súng cắm thẳng vào cần lên cò tay. Điểm này làm việc hoán cải súng thành lên cò tay rất đơn giản, chỉ cần tháo thanh truyền động và bịt trích khí. Thanh truền động đi qua một khuyên giữ hướng chỗ ngang cuối nòng, đến bệ khoá nòng, thanh truyền động làm rộng ra để tạo thành nắp đậy cửa thoát vỏ đạn, nhưng đậy trước thì hở sau, buồng cò hở toác. Khoá an toàn nằm ngoài súng, chặn ngay cần truyền động ngoài, không cho nó đẩy về, mở hộp khoá nòng.

Các bạn có thể dễ dàng hình dung ra, khi đang chiến đấu, có một viên đạn trong nòng chưa bắn, muốn khóa an toàn phải kéo khóa nòng về và móc ngón tay bật khóa an toàn, một viên đạn rơi ra ( ;D).

Súng không có ray bệ khoá nòng nằm mặt ngoài như Mondragon, nhưng vẫn hở toác, và thật ra khe chuyển động của tay lên cò thủ công vẫn là ray định hướng, và do cái ray kiểu đó quá mỏng nên nó nhanh mòn. Người ta làm như thế để dễ gia công hộp khoá nòng hình trụ bằng khoan từ sau ra trước. Bệ khoá nòng cũng hình trụ, dưới tay cầm có gờ trượt trên khe xẻ để thò cần lên cò ra ngoài, đây là ray duy nhất để giữ hướng bệ ngang của bệ khoá nòng.

Khoá nòng tròn, có tai hai hướng, xoay bằng hai mấu chéo lắp vào hai rãnh xoắn trên bệ khoá nòng. Tai có hai hướng như AK sau này, nhưng lại... có đến 6 tai, mỗi hướng gồm e3 tai xếp hàng dọc. Như trên doạn Mondragon mình đã nói, điểm này rất dở, nhưng đọc đến đoạn sau mình miêu tả M1916 thì các bạn sẽ thấy, đó kiểu biến đổi từ khoá nòng ren cắt của pháo. Trên pháo lớn, sai số 0,2 ly vẫn nằm trong khoảng đàn hồi tốt của ren dầy hàng phân, đường kính hàng tấc. Nhưng với tai chỉ vài ly của súng trường thì khác. Một là, các tai chấp nhận đàn hồi quá, điều kỵ với loại thép cứng làm nòng và khoá nòng, gây chóng mỏi. Hai là, chỉ hai thậm chí một tai chịu toàn bộ lực. Cũng như các bạn đặt một vận nặng lên hàng loạt lò xo, thì các lò xo đều chịu lực, nhưng, đặt trên hàng loạt que đũa dài ngắn khác nhau thì chỉ những que dài nhất chịu, và có làm bao nhiêu thì cũng chỉ 3 que chịu lực, đó là cán khoá nòng và hai tai nào đó. Một phần khả năng là chỉ một tai chịu lực cùng với cán khoá nòng. Sai số vài phần mười ly là đương nhiên, với thời nay còn khó khăn lớn cho các khoá nòng nhiều tai Âu Mỹ như M16, mà khoá nòng nhièu tai kiểu hoa khế như M16 hay Mondragon còn dễ dàn lực hơn là xếp hàng một, mà vài phần mười ly sai số là bắt tai đàn hồi đến 1/10 để dàn lực rồi.

Khóa nòng không có rãnh hất vỏ đạn, mà có một trụ lò xo, đạn móc vào móc vỏ đạn sau khi nó đã chui vào ổ đạn, ấn lò xo căng. Khi kéo dạn ra khỏi nòng, nòng không giữ đầu dạn nữa và trụ lò xo đẩy đạn hất ra ngoài. Móc vỏ đạn cũng không có lò xo ấn vào trong, khi nạp đạn vào nòng, móc vỏ đạn nằm chính chỗ khe hở, có thể mở ra một chút, đuôi vỏ đạn trượt từ dưới lên, sau đó khoá nòng ấn đuôi vỏ đạn làm móc buộc phải mở ra bởi mặt nghiêng phía trước móc vỏ đạn, khi khóa nòng xoay, móc vỏ đạn khép vào chỗ gờ chéo đầu hộp khoá nòng. Cái móc vỏ đạn bập bênh này được lắp vào khoá nòng bởi một chốt.
Cấu trúc này rất ẩu, khi kéo vỏ đạn ra khỏi nòng, thì móc vỏ đạn ở tư thế sẵn sàng mở, người tá làm giảm khả năng không kéo được vỏ đạn bằng cách làm mấu nghiêng ngược như lưỡi cầy, cắm ngược vào gờ móc, nhưng điều đó không cải thiện được bao nhiêu. Việc khoá an toàn để rút vỏ đạn tắc ra là thường xuyên.

Đó chưa phải điểm thiết kế ẩu nhất. Móc bắn phát một và cò được đúc liền. Điều đó làm khi bệ khoá nòng đẩy búa trong động tác lên cò tự động, thì đương nhiên xạ thủ vẫn giữ cò và ngón tay bị cò dập một cái, phản ứng khá hay gặp là nổ liền hai phát khi ngón tay bật ra tự nhiên khi bị đập đẩy ra.

Khác với M1916, ren cắt khớp vào khoá nòng không dặt trên nòng, mà đặt trên vỏ hộp khoá nòng. Việc tính toán thiếu sót sức bền thể hiện ở nhiều điểm, trong đó điểm này khá lớn. Sau vài ngàn phát bắn, tỷ lệ gẫy hộp khoá nòng khá lớn.

Nòng súng dùng khương tuyến chữ nhật rộng của Lebel, thừa kế từ các khẩu pháo xoắn đầu tiên tk19. Ngay lúc đó, pháo dùng kiểu rãnh xoắn đó cũng lạc hậu rồi đứng nói súng trường. Kiểu rãnh xoắn này ban đầu dùng cho đạn có khe khớp đúc sẵn lắp vào rãnh. Sau đó là đạn pháo có đai mềm, đạn Lebel ban đầu cũng có đai như vậy, đến thời đạn chóp nhọn  spitzer thì Lebel cũng chán kiểu này rồi. (Mà nước Phú Lãng Sa nhậy bén áp dụng từ cuối 198x , trước hàng chục năm Đức Nga, để các đạn Pháp sau này đánh nhau tơi bời) .

Cũng như các súng Pháp khác cùng thời, súng có chốt cắm lê bé tị tẹo mà sau này MP44 thừa kế, lê cũng bé tị tẹo nhét trong ốp gỗ song song với piston. Tất nhiên là không ai đem lê này đi vật tay với Mauser, Mosin, SVT, AVS, CKC (SKS) và AK cả.

Súng rẻ, nhưng lại chỉ gia công được phần chính trong các nhà máy lớn, có máy phay và khoan lớn, có các bộ gá chuyên dùng. Đây là điểm "tiên tiến" nhất của súng mà sau này M16 thừa kế, nó đảm bảo độc quyền gia công khá vững chắc.

Đến đây, chắc các bạn đã biết đầy đủ thủy tổ của M16. Khóa nòng hoa khế sau nhập vào súng trường Thomson rồi chuyển đến M16 là của Mondragon .  Trích khí trực tiếp là của MAS phát triển từ đầu tk20, của M16 giống  AG-42 Ljungman Thụy Điển hơn. Bệ khóa nòng và khóa nòng tròn, cùng với thiết kế nhiều tai, chính là của "R.S.C. M1917", Le fusil automatique de 8mm RSC modèle 1917. Còn cái AR-18 và LWRC ngày nay, thì dùng cái piston cố định, cylinder có lò xo đẩy về riêng của SVT. Có cái hay là M16 tập hợp của tất cả những điều hay: khóa nòng nhiều tai cần gia công chính xác, khoá nòng và bệ khóa nòng tròn cũng cần chuyển động chính xác, trích khí trực tiếp phun bẩn vào máy súng, bắn liên thanh siêu tốc thì bẩn phun vào siêu tốc... và M16 có khả năng kẹt bằng tất cả khả năng kẹt của những súng trên cộng lại, trừ "trích khí xung hành trình ngắn gián tiếp", LWRC, AR-18..., là điểm an toàn duy nhất trong các điểm trên mà M16 chê bai, có tổ tiên là SVT.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/rsc1917-2.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/rsc1917-1.jpg)


M1918
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/rsc1917-3.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-cache20bielle20en20place-.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-culasse20E020l27arriE8re-.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-dessin20culasse20E020l-1.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-culasse20E020l27avant-WEB.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-dessin20culasse20E020l27a.jpg)


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-coupe-dessin-WEB.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-clip20plei.jpg)


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-magasin20fermE9-WEB.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-magasin20ouvert-WEB.jpg)


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-clip20p-1.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-E9vent-dessin-WEB.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-arrEAtoir2.jpg)



(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-coupe20carter-dessin-WEB.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-GP20nB020c.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-dessin20dE9montage20extra.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-dessin20dE9pose20ensemble.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-GP20tEAte2.jpg)



(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-piE8ce20de.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-ensemble20.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-ensemble20mobile-WEB.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-GP20nB020c.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-GP20nB020P.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-GP20cuvett.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-tenons20BDC-WEB.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-GP20cuvette20de20tir-WEB.jpg)


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-coupe20dE9tente-dessin-WE.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA201917-dessin20pontet20E9clatE9-.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/RSC_M1917_M1918/FSA20191720du201B020type-pontet20dE.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Hai, 2009, 05:57:40 pm
Ở Pháp, lúc bấy giờ có hai loại đạn chính đánh nhau không bên nào chịu bên nào, là Lebel 8mm và 7mm Meunier. Lebel là đạn cổ, độ côn lớn (khó làm băng nhiều đạn) và có gờ móc (khó chuyển động). Mosin do nước Nga lạc hậu, tham rẻ, cũng có gờ, nhưng gờ Mosin và độ côn Mosin không đến nỗi như Lebel ngắn tũn.  Meunier là đạn có vỏ giống Mauser, độ côn vừa phải. Nhưng không bên nào chịu bên nào. Hơn nữa, mỗi loại đạn đó lại có nhiều kiểu lẻ khác nhau và nhiều lúc không dùng chung được nòng.

Trước FSA M1917, có phiên bản FSA M1916 dùng đạn Meunier. Nhưng súng quá tồi, được sản xuất rất ít. M1917 cũng chả hơn gì, chúng ta thấy đặc điểm giông như MP44 Đức sau này: một tập hợp tổng thể mới của những kỹ thuật lạc hậu.

FSA M1916 Meunier cũng có khóa nòng xoay, nhưng không trích khí. Đây là kiểu ngày nay được gọi là  "lùi dài", tức nòng lùi hết quãng đường công tác của khóa nòng. Kiểu này thường dùng cho súng bắn ít đạn như đại bác, vì nó làm ổ đệm lùi của nòng nhanh hỏng. Cũng như FSA RSC M1917, M1916 có các chi tiết nhỏ, khít, tròn và đánh giá sai sức bền vật liệu. Cùng lúc đó, Fedorov có các chi tiết chính của khóa nòng to vật vưỡng. Năng lực đầu đạn của M1916, 1917 đều yếu hơn Fedorov, mặc dù đạn to hơn. Bản cải tiến của M1917 là M1918 còn cắt ngắn nòng đi tiếp.

Vài nét cấu tạo .
FSA M1916 Meunier cũng dùng khóa nòng xoay, kiểu như ren cắt của đại bác. Nó giống ren cắt của đại bác hơn R.S.C M1917 nhiều. Khóa nòng có 3 hàng tai, mỗi hàng 4 chiếc, tổng cộng cơ 12 chiếc tai. Cùng với cấu tạo lùi dài, đây đúng là một khẩu đại bác tự động thu nhỏ.

Ren cắt nằm trên nòng, nòng có một máng kéo dài, máng này cùng nòng chuyển động trong hộp khóa nòng.

Khi bắn, ban đầu nòng và khóa nòng cùng lùi về sau. Khi đến đích, nòng được đẩy về trước, trong khi bệ khóa nòng bị hãm lại ở sau hộp khóa nòng. Khoảng cách bệ khóa nòng và nòng dài ra làm mở khóa nòng xoay, cũng hoạt động bằng rãnh nghiêng trên bệ khóa nòng. Khi nòng chuyển động về đầu hộp khóa nòng, thì bệ khóa nòng mới được đẩy về.

Lò xo đẩy về của nòng nằm trong ốp lót, bên dưới nòng, cùng chỗ lò xo đẩy về trên cần piston của Mondragon và M1917.
Lò xo đẩy về của bệ khóa nòng nằm trong báng.

Phần cò tiến bộ hơn M1917, búa nằm trước cò, khóa an toàn nằm dưới búa, khóa búa chứ không khóa bệ khóa nòng như M1917.

Khoá nòng cũng tiến bộ hơn mấu hất vỏ đạn. Sau này, AK có mấu hất vỏ đạn rất đơn giản gọn nhẹ, chỉ là một cái khe khớp vào một mấu trên hộp khoá nòng ( http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1539.msg47140#msg47140 ). Ơ M1916 cũng có cái khe, nhưng không phải để mấu nào thò vào, vì cấu tạo khoá nòng còn thô và cơ cầu lùi dài. (phải có chuôi khoá nòng nhỏ hơn đường kính đuôi vỏ đạn mới làm được như AK). Ở M1916, trong khe đó lắm một đòn bẩy, khi nòng ra xa bedẹ khoá nòng, một mấu ép vào đòn bẩy, bẩy viên đạn ra ngoài.
Tiến bộ hơn M1917 nữa là móc vỏ đạn đã có lò xo ép chặt vào trong.

NGoài ra, súng thừa kế tập hợp các lạc hậu kiểu Pháp, một chàng lịch thiệp có dáng thời trang nhưng diện toàn đồ cổ. Ví dụ, cái đầu nòng chằng có gì còn dùng cho đến MAS 49, thừa kế từ thời hoả mai. Lê bé tẹo chốt cắm lê bé như cái đũa là tiêu chuẩn cũng cho đến MAS 49.  Vì súng khó gia công nên M1907 quái thai dính liền chân tay mới thắng thế cho rẻ, nhưng sự lạc hậu khuyến mại thêm cho vụ này đạn Lebel ngắn tũn.

Gia công khó và cấu tạo rất phức tạp, tính toán sai sức bền làm vật liệu chóng mỏi, các chi tiết kín khít tròng thời đại lạc hậu... tất cả những điều đó làm súng đắt lòi kèn, số lượng ít (vài ngàn khẩu), dùng dở hơi. Thế nhưng linh hồn nó không mất, khoá nòng ty tỷ cái tai, chi tiến kín khít, khoá nòng và bệ khoá nòng tròn... sau này sẽ thành M16.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/72x567Meunier.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-cuvette20de20.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-culasse-WEB.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-tEAte20de20cu.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-tEAte20de2-1.jpg)



(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-tenons20culas.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-tenons20BDC-W.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-dessin20co-2.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-dessin20coupe.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/FSA20Meunier20STA20A6-VD-WEB.jpg)


kiểu đầu nòng "không có gì" sẽ được thừa kế đến tận "M.A.S. 49", rãnh xoắn chữ nhật rộng.
(http://www.sturmgewehr.com/bhinton/French_MAS/Fusil_M1917_Muzzle.jpg)

Hất vỏ đạn của AK, không cần bất cứ một chi tiết rời hay chuyển động nào, mấu chốt ở chỗ đường kính chuôi khóa nòng nhỏ hơn đường kính đuôi vỏ đạn, để mấu hất liền với vỏ hộp khóa nòng xiên được vào đuôi vỏ đạn qua khe. Để đạt được điều đó một cách hoàn hảo trong kiểu khóa nòng xoay, lại cần đến các tai vững chắc. (lính lác củ chuối,  http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1539.msg47140#msg47140  )
(http://i91.photobucket.com/albums/k308/cuchuoi_03/ak_abuse_report_part4_4a.jpg)



Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Hai, 2009, 06:05:32 pm
http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/FSA_Meunier_M1916/?start=all


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Hai, 2009, 06:06:25 pm
 Chả thấy tí "Tiểu liên AK" nào! Mod cắt những bài về phát triển súng đạn của huyphuc sang topic: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.0) đi nhé!


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Hai, 2009, 06:09:37 pm
Chả thấy tí "Tiểu liên AK" nào! Mod cắt những bài về phát triển súng đạn của huyphuc sang topic: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.0) đi nhé!

he he he he he

nó đó. Mondragon rồi đến M1 Garand rồi đến AK. NHánh nữa là Mondragon đến FSA 1917 rồi ra M16 đó.


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: bachecc trong 24 Tháng Hai, 2009, 11:10:26 am
Thấy các bác bình luận AK nhiều quá đọc một hồi rồi không còn nhớ được bao nhiêu nữa.
Thi thoảng em thấy máy chú bộ đội hành quân dã ngoại qua ga Phú Diễn nhà em em cung thấy khoái lắm, nhưng tiếc là vẻ oai hùng đó nghe chừng lâu lắm rồi chứ nhìn trang bị của bộ binh nhà mình so với máy thằng USA ở irack hay linh ISRE thì nghĩ mà xót nếu xung trận.
Bác nào có ảnh trang bị lính bộ binh nhà mình mới nhất cho em xem với để xem có dược khoảng 5000$ không


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: china trong 24 Tháng Hai, 2009, 01:04:23 pm
 Bỏ qua những từ mang tính cực đoan, bài viết của anh Huyphuc nhiều kiến thức lắm


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: nazi trong 25 Tháng Hai, 2009, 05:33:50 am
các bạn co thể post lên hình về hướng dẫn bắn AK-47 được ko vậy


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 25 Tháng Hai, 2009, 01:14:21 pm
Hi, ở đâu đó mình đã post đoạn video về cơ cấu AK.

Mình đã nói chuyên về "thời kỳ hy sinh toàn diện" của các nhà thiết kế súng Nga, khi xã hội suy đồi chỉ chăm chăm mua súng nước ngoài, thậm chí cả khẩu Mosin danh tiếng cũng bị bán các hợp đổng sản xuất ra nước ngoài. Trong thời kỳ đó, các nhà thiết kế súng phải nỗ lực hết mình mà hầu như không được để ý từ chính quyền, quân đội và các nhà công nghiệp. Trong nố lực đó, các nhà thiết kế súng Nga đã vượt lên hàng đầu thế giới cả về nguyên lý chiến đấu và cơ cấu máy súng. Họ đi trước thời đại tròn nửa thế kỷ.

Chính trong hoàn cảnh đó, các nhà thiết kế súng Nga đã gắn bó trong một nhóm giao lưu, có lớp trước lớp sau và tất cả đều đứng về phía Cách Mạng. Fedorov và Degtriarev cùng về Korvov và cùng nhau xây dựng nhà máy súng máy đầu tiên ở Nga và là nháy sản xuất súng máy bộ binh chủ yếu của Liên Xô nhiều năm sau đó. Năm 1918, trong một cuộc bầu cử dân chủ, hai ông trở thành lãnh đạo một xưởng vũ khí lúc đó còn không có tên tuổi. Ngày nay, đây là nhà máy lớn nhất ở Nga, sản xuất từ AT-14 Konhet, Inga SAM, súng máy cho bộ binh, súng trên máy bay và súng bắn dưới nước, có gần 10 vạn nhân viên, cũng là một hãng cơ khí-chế tạo máy hàng đầu thế giới. Phần quan trọng không kém, nơi đây là cái nôi hàng đầu đào tạo cấc nhà thiết kế súng bộ binh Liên Xô

Nhày máy được xây dựng khoảng năm 1917-1918. Trong những ngày đầu tiên, nhà máy sản xuất súng tự động Fedorov.

Phiên bản súng trường Fedorov, nhưng dùng đạn Mosin do bị cấm vận, và từ nó nó là trung liên, cũng thêm một vài cải tiến dùng đạn 6,5mm của súng này xuất hiện, nhưng kế hoạch sản xuất đạn mới bị loại do quá khó khăn. Khẩu súng có tên "súng máy xách tay của Fedorov", trong khoa học quân sự Nga, súng máy xách tay tức là trung liên. Khẩu súng có một vài cải tiến.

Tuy nhiên, phát minh quan trọng nhất lúc đó là kiểu khóa nòng Degtriarev . Kiểu súng trường tấn công và súng trường tự động áp dụng kiểu khóa nòng này là "ПУЛЕМЁТ РУЧНОЙ ФЁДОРОВА-ДЕГТЯРЁВА", Kiểu súng trường tự động này là kiểu súng đầu tiên áp dụng mẫu khóa nòng Degtriarev. Súng có phương thức quân sự và dáng vẻ bề ngoài giữ truyền thống Fedorov.

Detriarev là người cộng sự cho Fedorov từ năm 1908, trước đó, cùng làm việc với Fedorov, ông hưởng sự chỉ dẫn của nhà khoa học cơ bản Nikolai M. Filatov , người tham gia tính toán cùng Fedorov. Năm 1916, cùng khẩu Fedorov, Detriarep cũng trình bầy khẩu súng gần giống, nhưng có khóa nòng kiểu của ông. Khẩu súng không được hội đồng sún trường chú ý.

Chính quyền Cách Mạng đặc biệt quan tâm ngay lập tức đến ba mấu súng tự động Tokarev, Fedorov, và Degtriarev, đó là những súng đầu tiên được sản xuất ở nhà máy súng đạn đầu tiên, cũng là những súng đầu tiên dược quan tâm phát triển. Ngoài ra, phiên bản nữa là súng trường tự động Tokarev không được sản xuất ở nhà máy này (chung số phận bị Nga Hoàng xếp xó hơn chục năm trời), nhưng Tokarev cũng trở thành một trong những nhà thiết kế súng sáng chói nhất Liên Xô.

Дегтярев Василий Алексеевич, Vasily Alecksyevich Detriarov súng ra trong một gia đình truyền thống lại xưởng vũ khí lâu đời Nga Tula năm 1880. Năm 11 tuổi, bất chấp gia đình, ông bỏ học và đi làm thợ trong xưởng đó, đó cũng là năm mà súng trường Mosin ra đời và chế thử nghiêm tại đây. Năm 1901, ông đi lính và dần trở thành người lích nổi tiếng vì tài hiểu biết về vũ khí. Filatov chú ý đến ông và từ đó, Detriarov DP ra đời từng bước hơn 20 năm sau.


Như vậy, khẩu súng đầu tiên mà Detriarov  thiết kế mang kiểu khóa nòng mới không phải là khẩu trung liên DP, mà là khẩu súng trường tấn công. Sau này, khi đạn 6,5 mm không còn, thì nó là một trung liên, đồng thời, khóa nòng Degtriarov thay dần máy lùi. Lúc đó, xã hội rất lộn xộn và đến khi hết chiến tranh 1922, thì Liên Xô cũng rệu rã ốm đói, không có những kế hoạch phát triển lớn. Cuối thập niên 1920, DP trở thành khẩu súng đầu tiên được chấp nhận phục vụ chính thức dưới thời Liên Xô. Tuy nhiên, kể từ 1918-1922, súng đã được sản xuất khá nhiều, lúc đó không có khái niệm thử nghiệm, mà khẩu nào sản xuất ra cũng lên đường ra mặt trận ngay, người ta khó mà sổ sách được đâu trong chúng là súng trường tấn công, súng trường tự động, hay trung liên, đâu của Fedorov, đâu của Detriarov....


Có thể kể đến một số mẫu súng được sản xuất ở Kovrov thòi gian đó

SÚng máy cho máy bay kiểu 1922 Fedorov-Detriarov, ПУЛЕМЁТ АВИАЦИОННЫЙ ФЁДОРОВА-ДЕГТЯРЁВА, ОПЫТНЫЙ ОБРАЗЕЦ 1925 г. bắn đạn 6,5mm hai nòng. Kiểu 1925 gần giống, cũng đạn 6,5mm hai nòng.

Trung liên kiểu 1921 Fedorov-Detriarov, làm mát nước. Cũng bắn đạn 6,5mm. ПУЛЕМЁТ РУЧНОЙ ФЁДОРОВА-ДЕГТЯРЁВА, ОПЫТНЫЙ ОБРАЗЕЦ 1921 г. Kiểu 1922 có cả làm mát nước và không.

Trung liên hai cỡ đạn kiểu 1922 Fedorov-Shpagin, hai nòng, hai hộp băng song song cắm bên trên. Đây là một biểu hiện khó khăn về đạn lúc đó. Liên Xô lưỡng lự giữa việc tổ chức sản xuất một đạn mới rất tốn kém-đạn không gờ móc, trong điều kiện khó khăn, và việc nữa là bỏ hẳn loại đạn này.



Súng trung liên 6,5mm kiểu 1921
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/Fedorop/1f-74-1.jpg)

Tung liên 6,5mm kiểu 1922
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/Fedorop/1f-75-1.jpg)

Súng máy bay 6,5mm kiểu 1922
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/Fedorop/1f-63-1.jpg)

6,5 mm máy bay kiểu 1925
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/Fedorop/1f-64-1.jpg)

Trung liên hai cỡ đạn Fedorov-Degtriarev kiểu 1922
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/Fedorop/1f-76-1.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 25 Tháng Hai, 2009, 01:20:04 pm
Khẩu súng trường tẫn công đầu tiên trên thế giới có một anh em mang khóa nòng Degtrairov, cũng không ai biết đến, và nó biến thành trung liên vì đói như trên. Ngoài ra, Fedorov Avtomat còn được dùng trên xe tăng, máy bay...

Từ năm 1942-1943, КАЛАШНИКОВА đã thiết kế hai mẫu súng, một alf trung liên, hai là súng ngắn. Khẩu trung kiên RPA năm 1943 rất giống dáng vẻ bề ngoài của DP, nhưng dùng khóa nòng mới. Một vogf tròn của súng trường tấn công như vậy

Trung liên Kalasnikov
(http://claw.ru/a-voenn/gun/Img_05/1f-71.jpg)


Còn đây là khẩu súng ngắn bắn nhanh cùng tác giả, ông vẽ trên giường bệnh năm 1942.
(http://claw.ru/a-voenn/gun/Img_05/1f-27.jpg)


Đây là những khẩu liền trước của AK-46.

Từ AK-46 tiến lên AK-47, AK đã nhập một đặc điểm rất đặc biệt của AS-44. Đặc điểm đó thật ra không phải có một không hai, nhiều khẩu súng đã có. Nhưng kẻ thù của đặc điểm đó là những nhà lái buôn súng đạn, nên trong các quảng cáo ở phương Tây người ta im đi.

Đó là, thiết kế nhão, với khoảng các cách chi tiết lớn. Kiểu thiết kế này làm khẩu súng nhão dão, lắc long sòng xọc và không hiện đại tí nào. Nó làm giảm ma sát, chấp nhận ngững bụi bẩn lớn. Nhưng nó tạo thuận lợi cho kỹ thuật thấp chế súng, làm mất độc quyền của các ông lớn, vậy nên FSA M1916, M16, FSA M1917... ghét cay ghét đắng dặc tính này và suốt đời dặt dẹo.

Mondragon sử dụng 6 tai trước và 6 tai sau vì độ chính xác gia công hồi đấy quá tệ (khóa nòng mài giũa tay), lại không có điều kiện gia công phay hay tện móc số lượng lớn. 12 tai của ông như là các bộ phận thay thế nhau.

M1916 được làm trong quân xưởng nhà nước, cấc quân xưởng này có từ thời Nã Phá Luân, nhưng gia cônt và thiết bị bán cho chúng thì không nhà nước, vậy nên mới sử dụng thiết kế kín khít, không những hay tắc mà gây chong mỏi vật liệu.

Rõ hơn là M1916, nó bớt bỏ nhiều thứ cho rẻ, đến cả cò và hãm phát một cũng gắn liền. Thế nhưng cái nó cố giữ là hộp khóa nòng, khóa nòng trụ và rãnh xet ren cắt, chỉ có thể gia công trên các máy đắt tiền hồi đó.

Tư tưởng thiết kế như vậy đã làm súng trường Pháp chết ngỏm, nước Pháp đánh đâu thua đấy, rất giống nước Mỹ ngày nay. Đến năm 1949, sau 30 năm phát triển, khẩu súng trường tự động M.A.S. 49 mới được chấp nhận.

Ở đây, ta đáng nói về Degtriarev và DP, vậy liên quan gì đến MAS 49 ??

Liên quan nhiều chứ, khóa nòng của ông được áp dụng khắp nơi. Kiểu nguyên thủy có hai ngạnh xòe ra chống vào hai bên thành hộp khóa nòng (vỏ máy súng, reciver). Kiểu này có thể có loại không có búa, mà dùng ngay bệ khóa nòng làm búa. Một cải tiến nữa là không cần ngạnh nữa, mà chính khóa nòng nghiêng đi làm một ngạnh duy nhất. Vì ít bộ phận, ít chuỷen động rắc rối (ví dụ, khóa nòng không quay), nên kiểu súng này bền, tin cậy.

Không những kết cấu đơn giản, mà các kiểu khóa nòng này còn tận dụng được nhiều vật liệu như gang cầu, hay thép đen... rồi những công nghệ đơn giản, như mài rèn. Tỷ lệ vật liệu tốt và công nghệ cao ít. Không phải tự nhiên mà DP là loại súng máy đầu tiên của Hồng Quân. Các bạn có thể hình dung ra, một khẩu súng nào dùng khóa nòng như vậy, không có búa rời, hoàn toàn làm được từ thép đen và gang, trừ cái nòng khoan, trích khí, lỗ kim hỏa.. thì toàn bộ khóa nòng, bệ khóa nòng và vỏ hộp khóa nòng... đều có thể được thiết kế để chỉ dùng mài giũa tán đinh mà gia công lên, điều lý tưởng cho các cuộc khởi nghĩa khốn khó. Không ít mẫu súng đầu tiên có dáng vẻ khốn khó như vậy.

Đến những loại súng hiện đại hơn dùng kiểu ngạnh này, cũng chỉ tốn một ít hợp kim tốt ở dạng hai ngạnh. Còn dạng một ngạnh thì vẫn dùng khóa nòng gang cầu thoải mái, bất cứ người thợ lành nghề nào cũng có thể cưa một đoạn ray tầu hỏa và mài ra một cái kóa nòng chưa tính lỗ kim hỏa.

Và vì cái khóa nòng không quay, lại khá to, nên cái lỗ kim hỏa và kim hỏa cũng không cần thiết kế đặc biệt gì, thậm chí chả cần khoan mà đục tia lửa điện, kiểu gia công cả cần vật liệu máy móc cao quý gì cả.

Đứng trên quan điểm một người thợ, một người lính. DP có thiết kế súng cho chiến đấu và sản xuất, không vì quyền lợi của những người bán súng và bán máy làm súng. Đó là đặc điểm chung của Modragon, Fedorov, Degtriarov, Kalasnikov....

Kiểu máy Fedorov sau chỉ dùng cho súng ngắn bắn phát một và pháo. Vì cơ cấu lùi cả nòng có khối lượng và kích thước các bộ phận chuyển động lớn, không lợi khi bắn nhiều, vì chóng mòn các giá đỡ nòng. Tuy vậy, các bạn có thể thấy nguyên lý này cũng có các chi tiết to tướng, đảm bảo độ tin cậy, rất lính tráng. Trước đây súng trường không bắn nhiều như bây giờ, nên dần dần cơ cấu lùi nòng càng bị tránh.

ngạnh chéo và ngang này có ở khắp nơi. Từ khẩu nên gọi là pháo đúng hơn là súng, PTRD-1941, kiểu một ngạnh này được MP44 copy y sì (thế nhưng dân liệt não tiếng Anh luôn quảng cáo là khẩu nào đó copy MP44). Đây cũng là kiểu khóa nòng của SVT, AG-42 và MAS-49, cũng như phiên bản thử nghiệm súng trường tấn công Anh SM2.

AG-42 dự tính copy nguyên bản SVT, nhưng để cho rẻ, họ đã cải thành kiểu trích khí  trực tiếp có "key", kiểu mà AR-15 với M16 sẽ copy y hệt sau này. Thật ra AG-42 rất tồi, sau vài phát bắn, ở 100 mét có thể sai số 1 mét do nòng nóng không cân. Nhưng nước Thụy Điển không cần đánh ai, mà chỉ cần khỏi mua súng thằng nào lúc đó, để mà "trung lập". M16 thì dốt nát nên mới copy y nguyên cái nhược điểm này, nên Mỹ và Pháp đánh đâu chạy đấy. AG-42 có khóa nòng rất giống SVT, hơi khác MAS 49.

Thật ra, mình nói G43 copy SVT là không đúng lắm. SVT là kiểu khóa nòng một ngạnh, giống MAS, CKC (SKS), MP44, PTRD, AG-42... CÒn G43 chỉ copy SVT y hệt cái trích khí mà thôi (kiểu trích khí SVT sau được dùng AR-8 và LWRC). Còn kiểu khóa nòng của G43 là kiểu hai ngạnh  giống của DP và RPD sau này. Còn cái nắp hộp khóa nòng đúc hình mái nhà thì G43 rất giống AG-42. Nắp này kiêm luôn chức năng của bệ khóa nòng, cùng với chốt mở ngạnh. Đúng hơn là G-43 bằng DP lai với SVT, dáng súng và trích khí SVT còn cái khóa nòng DP.

Nhìn lại xa hơn, thì trích khí có "Cup Piston"-từ bọn Mỹ dở người dùng để gọi Cylinder, cũng là của DP. Nhưng cơ cấu này ở DP chưa thật tin cậy đặc trưng như SVT sau này.

Có thể nói, kiểu khóa nòng Degtriarev là kiểu khóa nòng tốt nhất thế giới lúc đó, đây là kiểu khóa nòng súng máy đầu tiên mà Hồng Quân sản xuất lớn, mở đầu cho thời kỳ vô địch súng bộ binh của Liên Xô. Trong nội chiến 1918-1922, hầu như chỉ các phiên bản súng của Fedorov được sản xuất. Khi chiến tranh vừa kết thúc thì DP được phát triển và sản xuất ít một.

Đây là hình ảnh nguyên thủy của "Cup Piston"-từ bọn Mỹ dở người dùng để gọi Cylinder, sau được dùng trên AR-18 và LWRC. Cấu trúc này được phát minh bởi DP, tuy vậy, đến cải tiến ở SVT nó mới trở thành hoàn hảo.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/4361.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 25 Tháng Hai, 2009, 03:52:50 pm
Ngay sau khi chiến tranh vừa kết thúc, Cạ Fedorov và Degtriarev bắt tay vào sản xuất súng trường tự động khác thay thế cho Fedorov Avtomat. Có một điểm khó khăn nữa thúc đẩy tiến trình này, đó là lãnh đạo Hồng Quân không duyệt sản xuất loại đạn 6,5mm cho Fedorov. Việc sản xuất loại đạn quy trình hoàn toàn khác trong nước Nga ốm yếu có vẻ làm nhiều người ngại. (Đạn Fedorov 6,5mm là đạn không gờ móc, phải dùng máy kiểu khác máy dùng cho đạn Mosin, chứ không chỉ là thay khuôn).

Khi sử dụng đạn lớn thì súng trường tự động không còn là súng trường tấn công nữa. Chúng có thể là trung liên hay súng trường tầm xa, hay kiêm chức như RPK sau này. Tuy nhiên, DP không có chức năng súng trường tầm xa, súng bắn tỉa, vì súng không bắn khi đã khóa nòng, điều này làm súng rung khá mạnh khi khóa nòng trước viên đầu tiên, tức là khả năng bắn tỉa 1 viên kém, đây là chức năng quan trọng bậc nhất của súng trường tầm xa, súng trường đối kháng battle rifle.

Dĩ nhiên là DP còn có một số nhược điểm nũa, ví dụ nó nặng chẳng hạn, nhưng nó rất tin cậy và dễ chế tạo. Thật ra thì súng cũng không nặng lắm. Việc bắn khi đã khóa nòng phải thêm bộ búa quay có hãm phát một rắc rồi, chúng không nặng lắm, quan trọng là lúc đó không có. Để so sánh, BAR cũng quên phéng mất chức năng súng trường, nặng hơn chút và dĩ nhiên không thể khỏe bằng đạn Mosin, rẻ bằng DP và tin cậy như DP.

Như vậy, DP đã chấp dứt sự nghiệp ngắn ngủi của Fedorov Avtomat, mặc dù sự nghiệp hoành tráng của nhà nghiên cứu Vladimir Fedorov vừa mới bắt đầu. Súng DP phát triển từ năm 1923, được thử 1926, duyệt năm 1927 nên được gọi là DP-27. Sau này súng còn được sửa vài lần nữa, thành DM-46, DPM... Đây là trung liên chủ lực của Liên Xô đến 195x, súng đầu tiên do Liên Xô thiết kế.

Thật ngược đời, DP sinh ra từ nỗ lực chế tạo súng trường tấn công Fedorov !!! Nhưng sự thật là như vậy. Từ khi phụ việc cho Fedorov, Degtriarev đã ngày đêm nghĩ đến một thiết kế súng có cấu trúc thật hoàn hảo. Những cấu trúc cơ bản của khóa nòng và trích khí được hình thành trước 1916. Năm 1916, Degtriarev ông chế tạo một súng thử nghiệm với sự giúp đỡ của hai ông ông chủ.  ( Fedorov và Filatov nâng đỡ Degtriarev, ban đầu Degtriarev đi làm thợ lính dưới quyền Filatov, sau đó Fedorov kéo về, vừa dưới quyền, vừa dạy dỗ và vừa .... tận dụng tài hoa khéo léo trong việc chế thử, cũng như các ý kiên thiên tài trong góc nhìn của người thợ và người lính). Khi thời gian trôi đi, việc bắn một lượng đạn lớn thể hiện việc ổ trượt nòng của khoá lùi mòn, đồng thời việc mất đi đạn súng trường tấn công và các khó khăn thời ốm đói khác đã đẩy kiểu khoá này thay thế.

Súng Degtriarev 1916 là khẩu súng trường tự động, súng trường tấn công, dùng khóa nòng và trích khí Degtriarev. Nhưng hỡi ơi, Súng trường Tokarep được chế bởi nhà bác học lừng danh như thế còn bị vứt xó đã hơn chục năm, nữa là chàng cần vụ chả học hành gì. Cũng may cho Degtriarev, Fedorov, Filatov đều đã sống thời kỳ "hy sinh toàn diện",  hiểu rằng người thợ tài hoa kia chả còn trông chờ được vào ai ngoài các ông chủ cả. Ở đây, một lần nữa chúng ta thấy sự cần thiết của những người thợ, người lính phi thường qua AK, Degtrỉaev, Mondragon... và cũng một lần nữa nhìn rõ tên vua đẻ non M16, hay FSA M197, FSA M1916...  được thiết kế bởi những người mới đọc về súng qua sách báo, những nhà kỹ thuật 100%.

Như trên đã nói, kiểu khóa nòng ngạnh do Degtriarev phát triển có một phiên bản cấu trúc cực kỳ đơn giản, không cần nhiều hợp kim, máy gia công... trừ cái nòng và trích khí thì hầu như được làm từ mài, rèn và tán đinh. Cấu trúc này không thèm cả búa và nẫy chống bắn phát thứ 2. Đó chính là DP-27. Cái trích khí này về sau khi tách rời piston ra sẽ thành SVT, G43, AR-18, LWRC... Nhưng DP còn rất khốn khó, lò so piston làm luôn lò so đẩy về duy nhất của toàn máy súng.

Kiểu máy súng ngạnh ngang này sau được G43 Hitler cải chút lắp trong vỏ súng và trích khí y hệt SVT. RPD về sau vẫn dùng kiểu máy súng như này, gần như giống hệt. Có thể hiểu rằng kiểu máy súng này nặng hơn các kiểu khác khi so RPD và RPK. SVT về sau vẫn trích khí bằng ống nối dài nòng gần giống DP, rồi mới chuyển sang lỗ khoan ngay trên nòng. Khẩu trung liên Đức MG 42 cũng cơ cấu gần giống nhưng thay hai ngạnh bằng hai vòng bi, trơn tru hơn nhưng lại cần kỹ thuật cao và hợp kim, sau này, người ta phát triển kiểu này thành máy lùi có con lăn làm chậm được dùng trong MP45 và phát triển về sau này, cấu trúc giống nhưng nguyên lý khác. Khẩu trung liên đầu tiên của Đức là MG 13 Dreyse, cùng hãng với súng mỳ danh tiếng của Phổ, khẩu này lùi ngắn như máy Fedorov, nhưng chi tiết máy làm nhỏ hơn, truyền thống Đức. Khẩu MG 34 là khoá nòng ren cắt nhiều tầng như FSA M1916, FSA M1917. Điều đó cho thấy, kiểu khóa nòng ngạnh ngang và ngạnh đứng đã làm nên cuộc cách mạng máy súng không chỉ ở Liên Xô, mà còn ở cả nước Đức. Thời cách mạng súng này chuẩn bị từ 192x và trang bị cuối  192x, 193x đã làm cho súng bộ binh Liên Xô từ vị trí thứ 2 vươn lên vị trí hàng đầu thế giới, ngoài khả năng lý thuyết khoa học, điểm trội nổi bật nữa là gia công và sử dụng đơn giản, rẻ, tin cậy, là những yêu cầu cơ bản của vũ khí Nga cho đến nay.

Madsen là khẩu trung liên đầu tiên trên thế giới 1896, xuất phát từ súng trường tự động. Khẩu này dùng máy lùi ngắn, đẩy khóa nòng và một thiết bị gạt vỏ đạn, nạp đạn riêng ngóc lên ngóc xuống. Madsen được Nga Sa Hoàng và Hồng Quân mua về dùng. Chức năng súng trường tự động thì kém Fedorov về độ tin cậy, nhẹ và đặc tuính súng trường tấn công. Trung liên thì dến tận thập niên 1950, Madsen Saetter chuyển sang dùng máy giống hệt DP, đúng hơn là giống hêth DPM, RP-46 và RPD. Madsen có máy làm lắc súng lên xuống, không hợp vơiis trung liên, mình sẽ nói sau. Nhược điểm này cũng có nhưng nhẹ hơn cả các súng ngạnh dọc một ngạnh như SVT, MP44... nên kiẻu khóa đó thường dùng cho súng trường tự động bắn phát một, riêng MP44 áp dụng cho súng liên thanh, MP42, MP43. MP44 đã trở thành trò cười dài tập trong giới chế súng Đức 1940-1945 thế nào thì thỉnh thoảng mình sẽ đề cập.

Máy súng này nó đơn giản thế nào ?? tốt nhất là ta xem ảnh.
http://www.nvkz.kuzbass.net/michael/raznoe/Dp.htm

Bệ khóa nòng lùi xuống đẩy về, đương nhiên là thế rồi. Khóa nòng có hai ngạnh , mỗi ngạnh có một mấu, mỗi mấu chạy trên một ray ở nền vỏ hộp khóa nòng (vỏ máy súng, reciver). Khi đẩy về, kim hoả chọc vào làm xòe ngạnh ra, khớp với đoạn ray xòe ra cùng, ngạnh chống vào thành hộp khóa nòng. Bệ khóa nòng phi lên làm búa luôn. Vì cái búa này khá hoành tráng nên kim hỏa cũng chả cần phải gia công chính xác ưu việt làm gì. Khi lùi, búa là bệ khoá nòng lùi trước, thả kim hoả tự do, mất tác dụng chốt nên, trong khi đó hai gờ vát của thanh vỏ máy súng ở nơi ngạnh chèn vào ép ngạnh khép nép vào khoá nòng, không còn chống nữa và khoá nòng lùi theo bệ khoá nòng. Cò chỉ có tác dụng chặn bệ khóa nòng đẩy về, khóa an toàn cũng vậy. Kiểu khoá nòng này nhà ta gọi là khoá nòng then, AK là khoá nòng xoay, khác tiếng Anh.

Cái gọi là máy súng chỉ có mấy khối: piston, bệ khóa nòng, khóa nòng, hai ngạnh, kim hỏa và cò. 2 cái lò xo duy nhất của đẩy về cổ piston và cò, hết chuyện. Trừ cái nòng và piston thì máy súng toàn các mặt phẳng. Một người thợ lành nghề cắt mẩu gang cầu ray tầu hỏa, chỉ cần dùng cái máy mài là gia công được gần hết cái khóa nòng. Phần còn lại là  vỏ hộp máy súng cũng mài và rèn được gần hết.

Súng cũng chả có chuyển động gì phức tạp nên đương nhiên là bền. Gang cầu làm khóa nòng không đủ độ bền mỏi như hợp kim làm ren cắt, hầy, nhưng cái khóa nòng này lại không phải đứng trên đầu gót chân giống diễn viên Ba Lê mà chịu mỏi. Hai tai ngạnh dồn lực chống đều sang cơ cấu lớn nhất của súng là vỏ hộp hóa nòng. Hai ngạnh này cũng như cái khóa nòng, không có máy móc thì du kích ta đem ta mài cũng ra.

Kểu ren cắt của đạn bác đặt trên súng trường thì khi một ren chỉ cần trội lên 1/10 ly, là nó chịu toàn bộ lực. Sự mỏi sinh ra khi nó phải đàn hồi 1/10 ly trên 1-2ly chiều dài để sẻ lực cho các ren khác. Ở pháo, sai số 1/10 ly thì ren vài chục ly, đường kính vòng cỡ tấc chịu được, áp dụng vào súng trường cõ lẽ cần gia công chính xác 1/100 ly, ngày đó chỉ dùng gia công... máy thí nghiệm và ngày nay chỉ dùng để làm súng trường có tuổi thọ một vài phát bắn.

Hai tai chống thế kia thì không tên nào ăn gian được hay cố chịu giúp bạn thêm tí cũng không xong. Lực tác động lên tai chỉ là lực nén, loại lực kim loại chống tốt nhất, không có một tí bẻ, uốn,kéo... nào cả. Vì các cơ cấu chịu lực chính không cái nào phải đứng nhón chân làm xiếc cả, nên độ bền mỏi cao. Thêm nữa, cái cơ cấu này cho mòn độ 1mm vô tư, thế là bắn được cả vạn viên rồi.

Tóm lại, để chế tạo súng thì đương nhiên phải có máy chuốt nòng. Nhưng phần việc còn lại chỉ là một xưởng trên thảo nguyên, ở một thành phố nhỏ, có một ga xép, vài cái máy phay, tiện và khoan nhỏ do một toa tầu ì ạch chở đến, rồi một chú sỹ quan Nga Hoàng cũ kéo theo anh cần vụ, tóc thầy trò đã điểm bạc mới được đổi đời, thế là có thể 90 năm sau trở thành xí nghiệp lớn nhất nước Nga.

Khó có thể hình dung hết những khó khăn của năm 1917 đó. Có lẽ, việc đầu tiên các nhà chế súng làm là hoán cải một đầu tầu hỏa thành máy phát điện. À, không, việc đầu tiên cáo lẽ là đi đào công sự và kiếm mấy bộ quần áo dân sự, mấy con ngựa để lẩn cho nhanh khi Hồng Quân kém khí thế lúc nào đó. Đấy là sự thật, nhà máy Kovrov cách Maxcơva 200km, mà Max còn tranh đi giật lại suốt 2-3 năm trời.

Trong những điều kiện như thế, ta hãy so sánh với BAR: Browning Automatic Rifle. Chúng nặng như nhau, BAR thì yếu hơn do dùng đạn 03-06 và hơi năng hơn chút vì có cái quạt gió. Thật ra đến lúc này đạn Mosin tuy mạnh hơn nhưng chỉ đến sau 1930 mới hoàn thiện hơn. Sử dụng loại máy súng được đánh giá là nặng, nhưng nó lại chả nặng hơn "các cường quốc năm châu" bao nhiêu, chỉ do tài hoa của người chế súng. Việc làm mát ?? thực tế đã chứng minh là trung liên không cần. Chức năng súng trường mà DP thiếu do dùng cái máy quá ư đơn giản ?? BAR thì máy tốt nhưng cũng quên cái đó. Các đặc điểm của súng vẫn còn ưu việt cho đến Thế chiến II. Đặc điểm rẻ và tin cậy thì đương nhiên không trung liên nào trên thế giới có được.

Trung liên là anh em của súng trường. Súng trường được hiểu là súng dùng chung đạn với súng trường tầm xa và trung liên. Dùng đạn bé hơn là súng ngắn, đạn to hơn là trọng liên đại liên ... Trung liên có chức năng chính là hỗ trợ nhóm. RPK thêm chức năng súng trường tầm xa, còn thời DP, ai cũng có súng trường bắn phát một tầm xa rồi nên trung đội thiếu đi một tay súng trong nhiệm vụ bắn tỉa cũng không đáng kể lắm.

Trước đây, mình tháo tung RPD ra và ngạc nhiên về cấu tạo tin cậy, đơn giản của nó. Thế nhưng vẫn thua xa DP về các đặc điểm cho dẽ chế tạo. Mình tự hỏi, nếu có một cuộc kháng chiến chống Pháp mà không có Chiến Dịch Biên Giới, chắc trong rừng sẽ có DP, SVT... là những súng dùng kiểu khóa nòng ngạnh.

Ngoài ưu điểm đơn giản, tin cậy, thiết kế ưu việt không làm mỏi vật liệu... kiểu khóa nòng DP đặc biệt hợp với trung liên thời giữa hai Thế Chiến ở chế độ bắn. Toàn bộ chuyển động của phần nặng như bệ khóa nòng, trích khí, khóa nòng... đều trước sau. Như vậy, súng không rung mạnh theo chiều đứng hay ngang, mà rung theo chiều trước sau, đây là đặc điểm làm loạt đạn liên thanh rất chụm. Súng trường bắn phát một ngày đó không cần loạt chụm. Súng máy hỗ trợ như đại liên, trọng liên... thì lại bắn loạt dài sát thương diện tích. Trung liên là súng máy hỗ trợ, tầm xa như đại liên, nhưng vẫn sát thương mục tiêu điểm bằng các loạt ngắn, nên nó cần loạt đạn chụm nhất trong các súng ngày đó. Và lúc đó, DP thỏa mãn yêu cầu này hoàn hảo. Thời Thế chiến II, khi chưa có súng trường tấn công, thì các MP, PP được dùng nhiều và do đó, các đơn vị dùng MP, PP sẽ thiếu khả năng sát thương điểm tầm xa, và trung liên bắn loạt ngắn chính xác cực kỳ cần để bù vào ở cấp đơn vị nhỏ nhất.

Nhược điểm.
Súng có hai nhược điểm khá lớn. Một là, băng đạn không tin cậy, nó đặt chênh vênh và dễ bị biến dạng khi vận động. Hai là, súng vẫn giữ hơi hướng súng trường, nên không bắn liên tục các loạt dài. Khi bắn như vậy súng trở nên nóng. Ba là, trích khí kiểu đó khá nặng, nhiều người nói như vậy (tuy nhiên, theo mình, trích khí đó không nặng mà do kiểu máy này bệ khóa nòng nặng, nên trích khí phải to khỏe).
Nhược điểm thứ hai khó phân biệt. Nó được bổ sung khi chuyển từ băng đĩa dang băng dây DPM, Đến năm 1946 DPM có tên chính thức là DP-46. Cái "nhược điểm" trích khí đó thì vẫn được dùng cho đến RPD.



Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Hai, 2009, 11:35:51 am
Cái băng đạn đĩa này dùng để khắc phục gờ móc của đạn Mosin, khi bắn nhiều gờ móc dễ sinh kẹt. Đây là điểm rất dở của loại gờ móc. Trước đây, trong các kế hoạch thiết kế dạn 1890, 1898, 1908... chính quyền Nga Hoàng đều lo không đủ lực lượng công nghiệp để chế đạn không gờ. Hồng Quân giai đoạn trước 1930 không đủ lực để sản xuất hàng loạt máy chế đạn mới. Nhưng đến năm 1930, khi áp dụng thiết kế đạn mới, Hồng Quận vẫn quyết dịnh dùng đạn có gờ vì tốc độ sản xuất súng trường vẫn rất thấp, không dễ gì quyết định ném hết súng cũ đi. Lần nữa như vậy cho dến ngày nay.  RPD chuyển hướng tháo vỏ đạn nên xoay móc hất vỏ đạn đi

DP rỗng nặng từ 8,3 đến 8,8 kg, tùy đời. Kiểu DPM (RP-46) mang băng dây vài như RPD sau này nặng hơn chút do có thêm một tầng trên nóc hộp khóa nòng cũ để kéo dây và nhổ  đạn ra khỏi dây, nòng cũng to hơn, súng RP-46 (DPM, DP-46) nặng hơn 13kg và nếu mang băng trống 200 viên nặng cộng 21kg, RPD thì nhẹ hơn DP vì dùng đạn AK M43 nhỏ hơn. DP băng đĩa có một số loại băng, phổ biến nhất là băng hai hàng xoắn vào nhau như lò xo. Loại băng 4 hàng cũng được trình diễn năm 1926-1928 và phiên bản Phần Lan copy, (nước Phần Lan vẫn tự coi là một phần của nước Nga và chỉ dùng vũ khí Nga, họ vẫn tự coi mình là tiền tuyến đánh Thụy Điển như thời Piotr Đại Đế). Các loại băng đĩa đầy đạn nặng từ 1,5kg đến 3kg.

DP dùng nòng dài 550mm ở phần xoắn, tổng 605mm chiều dài nòng (không kể loa), sơ tốc 840m/s. Tốc độ bắn của DP 600 phát/phút. RP-46 (PDM) và RPD đều có khả năng bắn loạt dài rất tỹ tã.


Trung liên DP-27, hộp đạn hai tầng 49 viên. Nhược điểm vị trí hộp đạn nhìn rõ. Khác với băng đạn cùng nằm trên một mặt phẳng với súng như các súng máy khác, kiểu băng này tuy chứa được nhiều đạn, nhưng lại cồng kềnh khi mang vác, đeo lưng... vừa gây khó khăn cho người mang súng, vừa làm băng đạn hứng chịu nhiều va đập.
Sau này, khi có đạn nhỏ M43 thì vai trò của DP tiến dần lên như là loại súng máy hỗ trợ bắn đạn to hơn đạn súng trường, một dạng như đại liên cá nhân ngày nay-loại đại liên nhưng mang vác bởi một người-Pecheneg, trong khi đó loại trung liên đúng nghĩa là RPD. Cải tiến theo hướng đó, RP-46 bắn băng dây nhiều đạn hơn, nòng to hơn. Băng dây cho phép bố trí nhiều đạn gọn gàng hơn. RP-45 và RPD dùng dây vải.
Sau này, quyết định thay RPD bằng RPK có nhiều vấn đề phản đối. RPK nhẹ hơn nhưng nhanh nóng nòng, khó bắn loạt dài tỹ tã. Lúc đó, RPK có chức năng súng trường tầm xa, cần hơn khi mà súng trường tấn công AK ngắn nòng giảm chức năng này.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/dp2719.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/dp2714.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp273.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp273.jpg)

Đây, cái trích khí gián tiếp với "key type cylinder" và "cup type piston" của LWRC và AR-18 đây. "cup type piston" là tên bọn quảng cáo nhồi liệt não cho .... mới, tức là cái cylinder trong ngôn ngữ dở người. "key type cylinder" là cái piston. Thật ra, kiểu trích khí đùng tiết lưu thì cấu trúc này bền, khỏe và tiết kiệm gas nhất. Nhưng đến SVT thì mới hoàn thiện bằng làm rời piston và lò xo đẩy về, được copy nguyên xi trong G43 và các súng trên.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp276.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp277.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp278.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp2712.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp2712.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/DP/gunpics_net_diass/dp2713.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/DP/6.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/DP/8.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/DP/9.jpg)

khóa nòng, kim hỏa, không hiểu của đời nào, hình như là RPD. Các bạn nhìn cho rõ nhé. Ơn cái búa to khủng bố, chính là bệ khóa nòng. Việc này vừa bớt được bộ búa, vừa chả tội gì phải dè sẻn khi thiết kế kim hỏa cả, to vô tư. Thế là các bạn xem, trừ cái lỗ kim hỏa đục bằng tia lửa điện, thì toàn bộ khóa nòng chỉ cần cưa, mài, rèn là được !!!
Cái này không hiểu của đời nào nhưng có điểm ưu việt của RPD, là làmg thêm khe kẹp ngạnh vào khóa nòng lúc chuyển dịch, khi kim hỏa đẩy lên thì ngạnh mới rời vị trí bị kẹp. Điều này làm súng chịu được sai số do mòn tốt hơn, bền hơn.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/DP/dp_bolt.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Hai, 2009, 01:41:50 pm
Buồn cười là bọn Mỹ rất tị nạnh với các nước khác về súng. Nhưng lại ngu ngộ. Ví dụ, để bĩu môi AK: "chúng bay chỉ là học Đức thôi", chúng dựng đứng lên chuyện MP44 là súng trường, mặc dù tên nó là MP-súng ngắn bắn nhanh, và chính Hitler trong quyết định đưa MP4 vào dùng, ngày 6 tháng tư năm 1944, đã chỉ rõ vai trò của nó phân biệt với súng máy G42 và súng trường G43. Bọn Mỹ ngu ngộ dịch láo G là súng trường vì G98, G43 là súng trường, nên G44 (STG44, MP44) là súng trường. Ngay trong cái quyết định 6-4-1943 đó, nếu theo bọn Mỹ ngu ngộ, thì ... MG42 cũng là súng trường. Thực tế, MG là "Maschinen gewehr" = súng máy của bộ binh, cũng như STG44= Sturmgewehr = súng tấn công của bộ binh.

Bọn Mỹ cố kiết cãi súng ngắn là súng trường vì đặt gewehr=súng trường, trong khi nó là vũ khí bộ binh, bất chấp người Đức và đứng đầu chính phủ Đức đều định nghĩa rõ, rập chữ MP44, MP45 lên vỏ súng... Đổi lại, người Đức gọi Thompson SMG là ... STG1928.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. Mình đã nói, ở nước Mỹ có thứ súng đạn nhỏ dưới âm 280m/s, tầm bắn 50 mét, nhình hơn súng cao su, kém cung tên... được goịn là súng ngắn, thì loại súng ngắn như M1 carbine ở đó nên gọi là súng trường, AL-47 là đại bác còn Mauser, Mosin... phải là tên lửa dạn đạo xuyên lục địa. Người Đứic còn giễu cợt hơn mình cái khái niệm G là súng trường khi đặt cho cái súng cao su Thompson M1 SMG. He he he, cái súng cao su ở Mỹ là súng trường.

Bạn SSX nói đúng, không ở đâu mà kiến thức về vũ khí tràn ngập trong hoang tưởng, tham nhũng và sự đầu độc của dân lái súng, đông đảo dân liệt não... như ở Mỹ.

http://www.brpguns.com/stgm1a.htm


Vì hàng loạt súng trường và trung liên hồi đó dùng kiểu máy ngạnh ngang và ngạnh đứng, nên ta tìm hiểu chúng để hiểu thêm về các yêu cầu cần có, ưu nhược của các kiểu máy trong súng liên thanh, súng trường và súng trường tấn công. Trung liên được Tầu gọi là một loại "tạp tân thương", súng tầm xa. Tầm ở đây là tầm với các súng sát thương mục tiêu điểm của đơn vị bộ binh nhỏ nhất, chứ không kể đại liên trọng liên.

Như mình đã nói, Trung liên là anh em với Súng trường, cùng ở đơn vị bộ binh nhỏ, cùng nguồn gốc. Nó là súng hỗ trợ, nhưng không như kiểu hỗ trợ bắn sát thương diện tích loạt dài như đại liên trọng liên. Thực chất, trung liên thừa kế kiểu chiến đấu của súng trường đối kháng battle rifle, đứng cố định diệt địch điểm tầm xa bằng các loạt ngắn, chỉ khác là bắn loạt thay cho từng phát thời cổ. Trong những yêu cầu của Hội Đồng Súng Trường dược Fedorov thỏa mãn qua Fedorov Avtomat có điều này, chính là súng đối kháng trong thời đại mới, thời đại liên thanh, battle rifle, battle gun sẽ là trung liên. Súng trường liên thanh rẽ làm hai nhánh trung liên và súng trường tấn công như vậy. Khi ta có trận địa như WWI, thì đó là trung liên, còn khi địch có trận địa, thì có súng trường tấn công.

Buồn cười, bị bọn lái súng làm liệt não, dân Mỹ lội ngược dòng nay từ ý tưởng. Họ yêu cầu M16 tương lai là súng trường đối kháng, battle rifle nhưng dùng.... đạn nhỏ. Đương nhiên là họ có ông vua đẻ non, không phải súng trường tấn công và cũng không phải trung liên, một thứ quái thai dặt dẹo, cũng như Pháp, người Mỹ đánh đâu là chạy tụt dép ở đó.


MG42 cũng sử dụng nguyên lý của DP. Người Đức tự hào về trình độ toán học và cơ khí, đầu tư nhiều phức tạp vào súng. Chính điều đó làm súng của họ càng đánh càng kém, khi chiến tranh khốc liệt, điều kiện chiến trường phức tạp làm súng hay hỏng, cấm vận làm nguyên liệu quý hiếm cạn... và nhường chỗ vị trí số một thế giới cho Liên Xô.

MG42 không khóa chết nòng như DP, mà để nòng lùi ngắn. Điểm này sẽ làm giảm lực giật dọc ảnh hưởng đến độ chụm loạt đạn ngắn. Nhưng các kiểu lùi nòng về sau chỉ dùng cho súng ngắn và đại bác, là những súng bắn ít đạn. Ở súng bộ binh bắn nhiều và ít được chăm hơn, thì lùi nòng làm mòn nhanh ổ lùi. Điều này làm giảm độ chính xác khi để thước ngắm lên bệ không lùi. CÒn nếu để thước ngắm lên khối nòng lùi, thì khi bắn nó giật liên tục chả nhìn thấy gì. Chính vì điều đó mà sau này bậc thầy tiên phong Fedorov đã dùng kiểu khóa DP.

Kiểu khóa hoạt động khá phúc tạp. Khi hệ thống lùi, ngoài việc khóa nòng, còn sinh ra một lực đẩy lùi kim hỏa về sau qua hai vòng bi. Trước điểm hỏa, kim hỏa tiến lên khóa chặt nòng và khóa nòng, khi kim hỏa lùi đến mức nào đó, nó mở khóa. Làm chậm việc mở khóa nòng bằng giảm lực tác động vào kim hỏa, làm kim hỏa lùi chậm.

Sau này, người Đức cải tiến kiểu khóa nòng này, gắn chết nòng vào giá súng, nhưng thay kim hỏa bằng khối lùi nặng, gọi là kiểu khóa con lăn làm chậm, được áp dụng trên MP45. Kiểu khóa này làm súng rất nhẹ trong khi ít cấu trúc phức tạp. Nhưng lại yêu cầu vật liệu quý ở con lăn và các mặt mà con lăn hoạt động ở vỏ hộp khóa nòng, khóa nòng và khối lùi. Sau này nhiều súng châu Âu áp dụng ở cỡ súng trường và trung liên. Tuy nhiên, kiểu con lăn làm chậm không lùi nòng, phải chấp nhận khoảng lùi khá lớn của vỏ đạn. Đìều này làm khả năng vỡ vỏ đạn tăng lên và người Nga chưa áp dụng, như khá nhiều mẫu súng có khoảng lùi vỏ đạn giống thế, như đòn bẩy làm chậm, đã được thiết kế. Đạn có độ côn ít, không gờ móc như đạn Mauser hay M16, NATO 7,62x51... lùi vỏ đạn tốt hơn.

MG42 bắn dây băng như DPM, RP46, RPD. Súng dài 122cm, nòng dài 53cm và nặng 11,6kg rỗng, ngang DPM hay RP-46. Súng có tuổi thọ nòng thấp 3000-4000 viên (độ vài trận), sau đó là phiên bản phủ crom thọ hơn. Khả năng nhanh nóng nòng ngang DP, thua xa DPM hay RP-46, RPD... vì khối lượng nòng giảm đi thế chỗ cho máy súng nặng.

Cũng như DP, súng bắn khi khóa nòng mở, không có khả năng súng bắn tỉa như RPK sau này, điều chưa cần khi súng trường tấn công chưa có.

Sau này có phiên bản súng trường tự động.

Ngoài chuyện phức tạp, súng cần nhiều hợp kim quý với tỷ lệ cắt bỏ khi gia công là gần 2/3 (cần 27,5kg hợp kim).

Tuy khó, nhưng về mặt gia công, súng rẻ hơn và cần 75 giờ máy, số giờ máy bằng một nửa MG34. Về mặt này thì ưu việt củat DP rất thể hiện.

Cũng có thể dễ dàng so sánh DP và MG42. MG42 dùng cùng nguyên lý nhưng đầu tư độ phức tạp của máy móc để có độ ưu việt hơn trong khẩu súng mới cứng. Nhưng điều đó, trước mắt làm tăng khối lượng chung và để đảm bảo, nó lại làm giảm khối lượng nòng và do đó, dẫn đến một nghịch lý, là DP bắn tin cậy, chính xác hơn. MG42 chỉ bắn chính xác hơn trong điều khiện tuổi thọ chưa đến 4000 viên, độ 20 băng, quá ít so với một trung liên..
Trung liên có một đặc trưng là dùng cá nhân bộ binh thường. Nếu là súng cộng đồng, lính hoả lực chuyên nghiệp... thì nó có các nhược điểm của đại liên. MG42 có khả năng thay nòng nhanh của một khẩu đội 2 người chuyên nghiệp, điểm này giống hệt PKMS, đại liên kiểu máy AK sau này. Thế nhưng, do tuổi thọ và nóng nòng, nó lại có tính năng giới hạn của trung liên. Dùng thì tốn như đại liên, tính ngang ngang DP và tuổi thọ kém hơn.
So sánh này làm nổi trội tính năng ưu việt của DP: nguyên lý phức tạp nhất khi thể hiện ưu việt trong cấu trúc đơn giản nhất.

Các kiểu DPM, RP46... thể hiện một tính năng mà đến ngày nay người Nga thấy cần thiết và xây dựng lại, đó là "đại liên cá nhân" PKP Pecheneg. Một súng có khả năng bắn loạt dài đạn nặng như đại liên, nhưng lại dùng cá nhân. Tuy nhiên, trong việc biên chế lại bởi sự xuất hiện AK, tính năng mà Detriarev một lần nữa đi trước thời đại khi cải tiến DP thành DPM (RP-46), đã bị bỏ qua trước RPK và PKMS. Nói đi cũng nói lại, RP-46 quá nặng so với đại liên PKMS, nhưng nó lại ra trước cả chục năm (thiết kế từ 1956, chấp nhận năm 1961). Tuy là trung liên, nhưng một người vác khẩu súng trên 20kg chắc khá vất. PKP Pecheneg ngày nay nặng 8-9 kg chính là điều mà các trung liên ngày đó mơ đến, nhưng khó thực hiện.


http://www.mg-42.net/mg42.htm
(http://www.brpguns.com/images/6302f.jpg)
(http://www.mg-42.net/images/MG42/mg42_1.jpg)
(http://www.mg-42.net/images/MG42/oldbolt.jpg)
(http://www.mg-42.net/images/MG42/newbolt.jpg)
(http://world.guns.ru/machine/mg42bolt1.gif)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Ba, 2009, 07:40:43 pm
Kiểu máy súng ngạnh ngang trên thường được áp dụng cho súng máy. Nó hết sức đơn giản, tin cậy, dễ chế tạo, đặc biệt là các phiên bản không dùng búa riêng mà dùng bệ khoá nòng kiêm búa như DP thì càng đợn giản.

Kiểu khoá nòng ngạnh nữa là một ngạnh còn đơn giản hơn nữa, kiểu này được áp dụng ở SVT, AG-42, PTRS-41 (súng trường chống tăng), CKC (nhà ta hay gọi là xê ca xê, đúng ra là SKS).... Vẫn có bệ khoá nòng, nhưng thay cho khoá nòng gồm 3 khối, hai tấm ngạnh và một cục khoá, thì kiểu một ngạnh chỉ có đúng một cục, là khoá nòng, khi cần khoá, nó nhiêng đi chống vào thành vỏ máy súng (hộp khoá nóng, reciver). Nhược điểm của kiểu này là làm súng rung theo chiều đứng không cân, nên chỉ áp dụng tốt tro0ng súng trường tự động bắn phát một. Thế nhưng không hiểu tại sao mà MP44 lại áp dụng cho súng bắn loạt. Nó đã là trò cười suốt mất năm trời ở Đức, nên nó có những cái chẳng giống ai là đương nhiên. Sau này, khẩu súng thử nghiệm SM-2 của Anh Quốc cũng vậy, nhiều nhà ái quốc trẻ tuổi của nước Anh tung hô SM-2 nhiều thứ, nhưng nhìn chung nó dừng ở thử nghiệm.


Nhiều súng hâm dùng máy phát một cho súng liên thanh. Nhưng cũng có kiểu súng phát một dùng máy liên thanh. Đó là G-43 Đức. G-43 tức là  "vũ khí chính của bộ binh, năm 1943". Súng được thiết kế từ đầu 194x bằng cách tham khảo súng Liên Xô, nhưng hoạt động rất tồi cho đến khi dùng kiểu trích khí của SVT. Kiểu trích khí SVT được hoàn thiện từ cấu trúc cơ bản của DP, hiện nay vẫn là kiểu trích khí áp lực-tiết lưu tốt nhất, hiện AR-18 và LWRC đang tung hô là tốt nhất vũ trụ, không biết có đúng không ? ;D. Khác biệt với DP là SVT dùng trích khí hành trình ngắn có đẩy về riêng.

Trích khí như vậy, còn máy súng thì là kiểu DP cải tiến cho súng trường tự động bắn phát một. Khoá nòng hình trụ tròn, tư tưởng khoá nòng và bệ khoá nòng trụ tròn thịnh trị khá lâu ta sẽ bàn sau. G-43 cũng dùng kim hoả chọc cho hai ngạnh xoè ra. Khi đẩy về lùi về, nó có một bộ phận chèn hai ngạnh xoè ra, bộ phận này chọc từ trên xuống, chèn vào phía trước hai ngạnh làm nó gập vào, chứ không dùng ray như DP. Bệ khoá nòng có ray riêng chạy trên nắp trên vỏ máy súng (hộp khoá nòng, receiver), có hình mái nhà bằng vật liệu đúc. Kiểu máy nhà này trông giống như AG-42 của Thụy Điển. AG-42 là bản sao của SVT nhưng lại không dùng trích khí piston.



Việc học toàn bộ cấu trúc của kè thù một mất một còn ngay trong chiến tranh khốch liệt, rồi dùng làm vũ khí chính, chứng tỏ danh tiếng lấu lừng của Mauser đã bị người Nga cướp mất.

Tuy nhiên, vấn đề là khi cải tiến thành khóa nòng trụ nhỏ, người Đức đã đánh mất các chi tiết to, ngắn, thẳng, khối đặc của DP, mà trở nên mảnh mai, cong queo, rỗng và dài, có các mặt trượt nhỏ. Điều này làm súng mới hoạt động trơn tru, nhưng máy súng chóng biến dạng hao mòn và không chấp nhận các tình huống "khó ở" như bụi , kẹt ... Sự êm ái trơn tru có lẽ tốt hơn với súng trường tấn công bắn loạt, nhưng G-43 là súng phát một !!!.

Hitler thì nhiều cái rồ, trong những cái rồ của hắn thì dặc biệt về kỹ thuật và "thân pháp" của bộ binh, hắn rồ dại bậc nhất. Lấy máy súng liên thanh cho súng trường và lấy máy súng trường gắn vào súng liên thanh !!!

Nhìn về trước. Kiểu máy hai nhạnh ngang này được một nhà thiết kế Thụy Điển lần đầu tiên vẽ vào thập niên 190x, năm 1907, cùng lúc Fepdrov Avtomat dược thiết kế, Rudolf Henrik Kjellman đã vẽ kểu máy hai ngạnh dùng kim hỏa đẩy xòe ngạnh ra. Nhưng các bản vẽ này không bao giờ được chế tạo mẫu thử. Nửa đầu TK20, Thụy Điển dùng lung tung các loại trung liên khác nhau thiết kế lại để dùng đạn 6,5mm của họ. Đáng chú ý có khẩu Swedish Kulsprutegevaer (Kg) m/1914  ( Sao lại Madsen của Đan Mạch).  Kg m/1939 sao lại khẩu Kulomet VZ/26 (ZB/26) Của Tiệp Khắc, đây là khẩu trung liên dùng máy trích khí, có trích khí khí động thẳng xiên ngược giống của AK say này, máy của khẩy này dùng khóa nòng chèn một ngạnh. Kg m/1940 do người Đức Hans Lauf thiết kế tại Magdeburg Maschinenfabrik AG.  Kg m/21 and Kg m/1937 chính là sao lại BAR. Các súng Thụy Điển đều không được thiết kế kỹ càng.

Bản vẽ của Rudolf Henrik Kjellman cũng vậy, ông đã không thực hiện nó và cũng đương nhiên không nỗ lực hoàn thiện thiết kế theo các yêu cầu thực tế.

Ta xem xét từ khẩu một, đầu tiên là G43. G43 ban đầu dùng loại động lực khí động Bang-tên người Đức Soren Hery Bang), nhưng thiết kế kiểu động lực thay cho trích khí khí động này không tin cậy, nặng. Năm 1941, cả hai phiên bản G41 của Mauser và Walther đều dùng trích khí này.  Đây là một thiết kế xuất phát từ những ước lượng sai lầm. Nhiều mẫu súng thử nghiệm của Liên Xô cũng dùng trích khí kiểu này nhưng rồi bỏ, không khẩu nào chấp nhận kiểu đó trong thực tế. G-43 mượn trích khí từ SVT, khóa nòng cải tiến vài chi tiết nhỏ.

Hệ thống động lực cho máy súng tên Bang do nhà thiết kế Đan Mạch trình bầy năm 1911, trong một nghiên cứu về súng trường tự động bắn phát một trước người Mỹ. Hệ thống gồm một piston đặt ở đầu nòng, đạn bay qua piston này nhờ một lỗ ở tâm. Luồng khí tốc độ cao đẩy piston về trước, kéo máy súng chạy. Máy này cũng dùng động lực giống trích khí vòng cung, như của Hans Lauf trong Kg m/1940 Thụy Điển. Nhưng Hans Lauf rất khác, có thể nói đây là thiết kế đầu tiên sử dụng cơ chế khí động giống như AK-47 sau này, luồng khí trong nòng được dẫn qua ống cung làm quay ngược lại, thời gian để dòng khí lộn ngược lại đủ để đạn ra khỏi nòng, nhờ đớ trích khí không làm ảnh hưởng đến đạn.

Kulomet VZ/26 chính là nguyên lý rất giống AK-47, tuy nhiên, trích khí không được tính toán hoàn hảo, thậm chí trông rất thô cổ. Nguyên lý đúng nhưng việc thiết kế không được đầu tư thử nghiệm công phu, khi thời đại mô phonghr máy tính chưa đến, cũng như áp dụng các sáng kiến tiên tiến nhưng thiếu kiến thức cơ bản để tính toán ra cấu trúc đúng đắn. Mình nhắc lại nguyên lý này chút, nó là một ống thằng chéo ngược về. Dòng khí lộn ngược lại rồi nén trong ống chậm, nên dạn kịp bay đi mà không bị ảnh hưởng. Piston hoạt động được bằng năng lượng đã tích lũy trong ống, ưu điểm là ống rất to, thẳng không bao giờ tắc như trích khí tiết lưu.

Nguyên lý AK-47 không mới, nhưng từ nguyên lý được áp dụng trên những khẩu súng vô danh tiểu tốt cho đến máy AK là đoạn đường dài. Trong thời đó, kiểu máy trích khí tiết lưu có buồng tích áp và điều chỉnh tiết lưu được dùng phổ biến nhất. Các thành phần cơ bản được hoàn thiện lần đầu trên DP và SVT vẫn còn đến ngày nay. Kiểu SVT gọn nhỏ, lại không vướng đường hất vỏ đạn và nạp đạn, tiện dùng cho súng trường. Buồn cười, gấn đây cả nước Mỹ ồn ào lên máy LWRC có trích khí nguyên lý tốt nhất vũ trụ, dân liệt não không biết đó là trích khí AR-18, chứ đừng nói đến thủy tổ SVT.

Kiểu trích khí DP thích hợp cho súng máy thường xuyên được chăm kỹ và bắn nhiều, nó lớn nhưng lại ít chi tiết. Kiểu này vẫn được dùng nhiều trên các súng trường và súng máy ngày nay, cùng một số cải tiến. Trong lúc đó, Garand, BAR không phát triển đầy đủ chỉ áp dụng một phần trong số các nguyên tắc và áp dụng nhiều nguyên lý sai lầm. Garand dùng một khe hình vòng khuyên trong nòng, xẻ cắt ngang nòng, với mục tiêu làm tác động đến đường đạn và độ co dãn nòng đồng đều, điều này chấp nhận một đai to nặng và chẳng ai ngày nay làm thế. BAR là trích khí hành trình dài đơn giản. Cả hai đều dùng tiết lưu và piston lớn, nặng, chấp nhận độ kín khít piston cao.

G-43, MG-42, STG-44 được Hiler quyết định là ba vũ khí chủ lực của quân đội Đức ngày 6-4-1944. MG-423 là súng máy, G là súng chủ lực, súng trường, STG là súng tấn công. MG-42 tức là súng máy của bộ binh năm 1942, Maschinen Gewehr.

NHiều bạn bè mình khó hình dung cơ cấu làm việc của máy súng MG-42 qua hình vẽ, nên mình post lại chút. Dưới đây là toàn bộ khối lùi, súng lùi ngắn cái nòng, rồi nòng dừng lại và sau đó cái kim hỏa vẫn lùi tiếp. Nạnh ngang là hai ổ quay C, gờ D ở vỏ hộp khó nòng, khi lùi về, gờ D đẩy hai ngạnh tròn C ép vào kim hỏa, làm kim hỏa lùi với tốc độ nhanh hơn. Khi kim hỏa chưa rời xa nòng, thì khối lùi ở tư thế bên phải: kim hỏa chèn hai trụ C ra hai bên ngoài, khóa nòng K kéo hai ngạnh tròn C, ngạnh kéo theo nòng, cả khối cùng lùi. Khi trụ ngạnh đi đến gờ D, gờ ép trụ vào trong, trụ lăn đẩy kim hỏa về sau. Khi kim hỏa lùi đủ xa để trụ lăn rơi vào khe khóa nòng, thì khóa nòng thả ra, thôi không kéo nòng đi cùng nữa, nòng dừng lại trong khi khóa nòng lùi tiếp.

Sau này, trong MP-45, người ta làm nòng tĩnh không lùi, nhưng làm phần kim hỏa nặng hơn. Do tốc độ lùi của nó cao mà khối lượng nhỏ nhưng lực hãm lớn. Kiểu máy lùi có con lăn làm chậm này được dùng trên một số súng trường tấn công, súng trường nặng và súng ngắn bắn nhanh nổi tiếng sau này. Khi dùng kiểu máy này làm súng bắn chỉ liên thanh thì súng rất nhẹ, ít bộ phận. Nhược điểm là khả năng tắc do vỡ vỏ đạn tăng lên, đặc biệt khi máy súng cũ mòn, do vỏ đạn lùi với nòng súng ngay trong khi bắn. Nhược điểm nữa là con lăn cùng các mặt công tác dính đến nó cần chế tạo bằng vật liệu quý. Ưu điểm là bỏ được ổ trượt nòng phức tạp, dễ hỏng, kém bền và nặng uỵch của MG-42.


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/MG42_maschinengewehr/MG_42_may_sung/8ef16c9f.jpg)
(http://maschinengewehr > MG_42_may_sung)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/MG42_maschinengewehr/MG_42_may_sung/009157c5.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/may_sung/mg3boltani.gif)





Thằng cha khỉ nào vẽ cái hình động trên của MG-42 quên mất phần quan trọng là kim hỏa. Kim hỏa bị đẩy lùi với tốc độ cao bởi hai con lăn kẹp vào đầu nhọn vát của kim hỏa, làm chậm vận động khép lại cùa hai con lăn, đảm bảo thời gian khóa nòng.
Hình trên phải thêm hình dưới này, đây là kiểu máy lùi con lăn làm chậm cải tiến từ kiểu máy MG-42.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/may_sung/roldelboltani.gif)


MG-42 chỉ bắn băng dây, nó bắn băng kim loại gần giống PK sau này, chứ không bắn băng vải như DPM, RP-46, RPD. Cũng như RP-46, không như RPD, MG-42 có vai trò như đại liên PK sau này, chứ không phải là trung liên. Tổ chiến đấu 3 người, xạ thủ bên phải, phụ bên trái, tổ trưởng và phụ mang theo súng ngắn bắn nhanh MP. Súng có các loại giá 2 chân và 3 chân. Điểm này chính là cái dở của MG-42: nó hiệu quả như trung liên nhưng lại nặng nề như đại liên. Súng cũng có hộp trống tròn tiện mang và hộp chữ nhật to chứa nhiều đạn. Phổ biến lắp băng 200 viên.

Vào thời MG-42, DP cũng cải thành DPM (RP-46), cũng nặng như vậy. Tuy nhiên, DPM cũng như RPD, rất bền và bắn loạt dài tỹ tã. Việc biến súng trung liên thành đại liên hồi đó do việc dùng súng ngắn bắn nhanh MP trở nên phổ biến, hỏa lực liên thanh đông đảo nhưng MP tầm gần. Cái cần bù lại là một súng máy tầm xa chứ không phải là một súng máy cá nhân-vốn đã đầy MP, dùng bắn kiềm chế khi các MP xung phong, cần loạt dài liên tục cho đến khi các MP vào tầm bắn. Sau này, RPD, RPK lại trở thành súng cá nhân vì kỹ thuật mới cho phép súng gọn hơn, cần nhiều súng hơn để đem xuống tiểu đội. MG-42 mà đem xuống tiểu đội thì xơi mất 1/3 biên chế.

Cũng vì cải tiến này mà DPM (RP-46) không được sản xuất nhiều, sau đó được thay bởi RPD rồi RPK, lại trở về cá nhân, nhờ đạn nhỏ. Đến năm 1949 thì Liên Xô thống nhất biên chế tiểu đội 9 người, 1 trung liên RPD và 1 B40, 7 AK. Về sau tiểu đội Liên Xô có khi 6 người. Ở Vịt, tiểu đội chia làm 3 tổ, 2 tổ mỗi tổ 3 AK, tổ hỏa lực 1 AK, 1 B40 và 1 RPD. Mỗi đại đội Vịt thêm 2 tổ đại liên PK và 2 tổ cối 60.

DP, MG... hồi đó tuy to, nhưng so với đại liên Maxim 40 cân thì nhẹ nhàng lắm rồi. DP ra đời từ súng trường tấn công Fedorov, đến Thế Chiến II, DP thoát hẳn kiếp súng trường khi nó nặng như đại liên ngày nay.  Nhưng đó cũng là phát triển cuối cùng của kiểu trung liên cá nhân trung gian DP nguyên thủy, trước khi súng trường tấn công được sản xuất số lượng lớn.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/MG42_maschinengewehr/gunpics_net/MG_42_At_War/49ff2cb5.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/MG42_maschinengewehr/gunpics_net/MG_42_At_War/d6e34faa.jpg)

Kiểu động lực Bang. Có rất nhiều kiểu máy súng được phát triển cùng hướng, nhưng DP đi trước và hoàn thiện nhất, được lưu truyền đến ngày nay, trong khi các kiểu khác chỉ còn là kỷ niệm.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/may_sung/7a6875d2.gif)



KG m/40 do Hans Lauf thiết kế cho Thụy Điển. Trích khí dùng cơ chế khí động, làm chậm quá trình trích khí bằng lộn ngược chiều chuyển động dòng khí. Nguyên lý thì giống AK-47 sau này, nhưng thiết kế thì "người nguyên thủy" quá.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/may_sung/f344ba7e.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Ba, 2009, 08:51:36 am
MG-42 và MP-45 đều dùng một kiểu máy khá đặc biệt có con lăn, mặt công tác của con lăn đều phải chịu một lực rất lớn, cỡ 5-6 tấn khi bắn, điều mà bên Liên Xô không thể chấp nhận được. Ngoài ra, chúng còn có những ưu nhược khác dưới đây.

NHiều bạn bè mình khó hình dung cơ cấu làm việc của máy súng MG-42 qua hình vẽ, nên mình post lại chút. Súng có nguyên lý DP nhưng toàn bộ máy súng di chuyển được trong máng chung. "thành hộp khóa nòng" như bên DP gắn liền với nòng, cùng khóa nòng và kim hỏa chuyển động trong máng súng.

Trên đây là toàn bộ khối lùi, súng lùi ngắn khối gồm cái nòng + khóa nòng + máng trượt khóa nòng + kim hỏa, rồi nòng dừng lại và sau đó cái kim hỏa vẫn lùi tiếp, kim hỏa lùi làm mở khóa nòng và khóa nòng lùi theo kim hỏa. Ngạnh ngang là hai ổ quay C, gờ D ở vỏ hộp khóa nòng, khi lùi về đến D, gờ D đẩy hai ngạnh tròn C ép vào kim hỏa, làm kim hỏa lùi với tốc độ nhanh hơn. Khi kim hỏa chưa rời xa nòng, thì khối lùi ở tư thế bên phải: kim hỏa chèn hai trụ C ra hai bên ngoài, khóa nòng K kéo hai ngạnh tròn C, ngạnh kéo theo nòng, cả khối cùng lùi.

Sau này, trong MP-45, người ta làm nòng tĩnh không lùi, nhưng làm phần kim hỏa nặng hơn. Do tốc độ lùi của nó cao mà khối lượng nhỏ nhưng lực hãm lớn. Kiểu máy lùi có con lăn làm chậm này được dùng trên một số súng trường tấn công, súng trường nặng và súng ngắn bắn nhanh nổi tiếng sau này. Khi dùng kiểu máy này làm súng bắn chỉ liên thanh thì súng rất nhẹ, ít bộ phận. Nhược điểm là khả năng tắc do vỡ vỏ đạn tăng lên, đặc biệt khi máy súng cũ mòn, do vỏ đạn lùi với nòng súng ngay trong khi bắn. Nhược điểm nữa là con lăn cùng các mặt công tác dính đến nó cần chế tạo bằng vật liệu quý. Ưu điểm là bỏ được ổ trượt nòng phức tạp, dễ hỏng, kém bền và nặng uỵch của MG-42.

Ở đây, có một bài toán khá đơn giản nhưng làm đau đầu các nhà chế súng khi quyết định lắp khóa nòng lùi như MP-45 hoặc lùi ngắn cả nòng như Fedorov, MG-42. Với đầu đạn 10 gram, sơ tốc 800 m/s, khối lùi ngắn gồm nòng, khóa nòng vào cỡ 4-8kg, thì vận tốc lùi chỉ vào 1-2,5 m/s. Vận tốc đó khá nhỏ để máy súng làm việc trơn tru, máy súng quá chậm, gặp bẩn tắc có thể bị hãm lại dễ dàng. Mặt khác, quãng đường lùi và đẩy về của khóa nòng cần ít ra 15-20 cm nhân hai, ra 30-40 cm, với vận tốc lùi như trên thì tốc độ bắn quá thấp. Nếu như sử dụng nòng nhỏ để tăng vận tốc lùi, dùng loại nòng chỉ 1-2-3kg, thì MG-42 rất nhanh nóng và chóng hỏng nòng. MG-42 có giải pháp là làm thêm nòng dự trữ, cơ cấu thay nòng nhanh... nhưng như thế thì nó cần tổ súng như đại liên PK sau này rồi, không còn là trung liên, được định nghĩa là súng máy cá nhân nữa. MG-42 tăng vận tốc kim hỏa lên, kim hỏa nặng sẽ kéo khóa nòng nhanh hơn vận tốc lùi nòng, đồng thời, trục quay trơn tru làm các bộ phận máy súng hoạt động thuận tiện hơn, để thêm phần giải quyết vẫn đề này.

Vì bài toán này mà súng MG-42 tuy to nặng như vẫn nòng nhỏ, tuy dùng cơ cấu trơn tru nhưng vẫn dễ tắc, tuy dùng nhiều hợp kim mà vẫn không bền. Ưu điểm của súng là trụ quay, vòng bi... có thể sản xuất hàng loạt rẻ, còn lại các cơ cấu khác của súng thì hình dáng đơn giản gần như DP, nhưng các mặt công tác với con lăn cần hợp kim đắt, đây là những nhược điểm chung của vũ khí Đức khi bị bao vây cấm vận. MG-42 có máy rất độc đáo, nên tạo nhiều ấn tượng với giới trẻ tìm hiểu súng nghiệp dư sau này, nhưng rõ ràng không nước nào theo Đức phát triển kiểu máy này cả, nhà ta thì sử dụng súng trong chiến tranh kha khá, súng Tây lấy của Đức, rồi ta chiến của Tây đánh Pháp, rồi viện trợ cho du kích miền nam đánh Mỹ Ngụy. Súng rất ít dùng, vì thế nên không để lại dư âm nhiều, nhưng cũng chứng tỏ súng không hay ho gì, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh phức tạp của nhà ta, khí hậu tồi, đất bùn bắn nhiều, quân du kích nhiều...

Với máy như MP-45, lại gặp vấn đề khóa nòng chuyển động ngay khi bắn, cùng với đạn bắt đầu chuyển động, nếu chuyển động khóa nòng lớn sẽ tăng khả năng đứt vỏ đạn, buộc lòng phải thiết kế khóa nòng sao cho chuyển động của nó trong lúc còn áp suất trong nòng không được đến mức kéo vỏ đạn hết phần dầy ở đuôi, phần này đạn Mauser và các đạn không gờ móc khác lớn, thêm nữa, đạn Mauser và đạn 5,56 x 45 (M16) NATO sau này có độ côn nhỏ, tránh dãn vỏ đạn trong loại máy này.  Mặt khác, lực đẩy khóa nòng lùi trong kiểu máy này lớn hơn nhiều kiểu trên, do diện tích đuôi vỏ đạn lớn, lực đẩy này thường lớn gấp hai lần lực đẩy đạn trong loại đạn lớn như AK-47. Loại đạn như MP-45 lực đẩy trung bình đoạn 40cm của nòng có thể đến 1500-2500 kg-lực. Ví dụ, với đạn nặng 10gram, khối lùi nặng 5kg, nòng dài 400mm, thì vỏ đạn lùi 1mm nếu không dùng đòn bẩy và đường kính vỏ đạn bằng đường kính đạn, nếu lực đẩy lùi gấp đôi thì quãng đường trên là 2mm, vượt quá con số chấp nhận được, vả lại, cũng không ai chấp nhận khối lùi 5kg nếu không lùi cả nòng như MG-42. Việc nhân tốc độ khối lùi trong trường hợp trên với 10 bằng đòn bẩy giảm được khối lùi xuống còn 0,5kg, vẫn là quá lớn với một MP nhưng có thể chấp nhận được với một súng trường. Tuy nhiên, loại đòn bẩy nhân tốc độ với 10 chắc chắn là khó gia công và không bền. Loại con lăn làm chậm như MP-45 có thể nhân tốc độ lùi gấp 2-3-4 lần, tức là cần những khôi lùi cỡ 1 kg. nếu không như thế thì phải chấp nhận khả năng vỡ vỏ đạn lớn.

Hai loại máy lùi trên, một thì quá nhanh, một thì quá chậm, nên được áp dụng rất chậm. Đây là hai điểm độc đáo của Đức. Bên Liên Xô không chấp nhận kiểu con lăn, vừa yêu cầu mặt công tác đắt, vừa không bền và không hợp với đạn có độ côn khá cao của AK. Liên Xô sau này cũng có hướng phát triển đòn bẩy được thử nghiệm, nhưng không được sản xuất lớn.

Cái photo bucket chán òm, chít rùi. Mình để đoạn post sau viết tiếp vậy. Cùng nhau tham quan một số loại máy súng máy đầu tiên, ta tìm thấy điểm hơn điểm kém của từng loại và sẽ hiểu nhưng ưu thế của AK quý giá như thế nào.

Chúng ta lấy DP mà so với các súng cùng nguyên lý MP-45 và MG-42. Cả hai súng Đức đều có ổ con lăn phải chịu một lực đến 5-6 tấn khi bắn, sự biến dạng của chúng ảnh hưởng luôn đến quá trình khóa. Đặc biệt, MP-45 và các máy có con lăn hãm lùi thì chụ lực lớn như trên trong khi con lăn đang di chuyển, sinh ra mòn lớn, mà mòn con lăn làm thay đổi mạnh tỷ số đòn bẩy. MG-42 con lăn đứng yên khi chịu lực lớn, giống như DP, nhưng đổi lại, nó buộc phải dùng cái nòng nhỏ xinh mỏng, không thích hợp với điều kiện lính tráng. So sánh, chúng ta thấy DP trích khí rất khác biệt, kể cả so với các súng sau nó trên thế giới, điều đó đã làm DP không phải chịu cảnh nòng nhẹ như MG-42. Còn hàng  loạt các súng máy khác hồi đó dùng các trích khí thiết kế đơn sơ về nguyên lý, to nặng và phức tạp về cấu trúc... mà mình sẽ post lên khi cái photobucket nó chạy.

Trích khí hay máy lùi... là các cơ cấu phát động, là động cơ của máy súng, một máy súng tốt phải có điều kiện tiên quyết là động cơ súng. DP quá tự hào khi thiết kế cái động cơ mà ngày nay được AR-18. LWRC... tung hô đến mây xanh, G-43 sao chép như là điều kiện tiên quyết để súng được chấp nhận trang bị...


Rudolf Henrik Kjellman Thụy Điển vẽ kiểu ngạnh ngang chèn kim hỏa đầu tiên năm 1907. Kiểu này không bao giờ được chế thử nghiệm. Mình chưa thấy bản vẽ nào cổ hơn, coi đây là bản vẽ khai sinh của kiểu máy then ngạnh.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/sung_thuy_dien/c83396ab.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/sung_thuy_dien/160df1f6.jpg)

BRNO ZB26



Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 04 Tháng Ba, 2009, 09:47:39 am
Chúng ta có một so sánh nữa, đó là khẩu ZB-26 (26zv) của Tiệp Khắc ( Czech-Slovakia), một trong những khẩu trung liên tốt nhất Thế giới lúc đó. Đức chấp nhận phiên bản dùng đạn Mauser 7,92mm với tên MG-36. Khẩu súng được Thụy Điển chấp nhận phiên bản dùng đạn Mauser với tên KG m/1939 sản xuất theo license tại Thụy Điển và thiết kế lại một chút, Thụy Điển có cả hai phiên bản 6,5 mm và 7,92mm Mauser được gọi theo tên nhà máy là BRNO, Anh Quốc chấp nhận phiên bản copy có licensse với tên Bren LMG.

ZB được Đức chấp nhận để hay thế MG đời cũ quá lạc hậu sau thời nước Đức bại trận. Khẩu MG-34 vẫn dùng máy ren cắt của pháo mà, sau đó, ZB nhanh chóng được thay bởi MG-42, anh em ngạnh ngang của DP, nhưng đã quá muộn cho nước Đức. ZB được chấp nhận do Đức chiếm Tiệp Khắc và tổ chức sản xuất hàng loạt trung liên có thể tiến hành ngay lập tức, chứ không đợi nghiên cứu thử nghiệm, cũng như các máy móc và quân xưởng mới. Được Đức chấp nhận trang bị chứng tỏ súng cũng không tồi lắm.

Đám ái quốc  Anh Quốc , cũng ngu lợn như các đám ái quốc nói tiếng Anh khác, thường quên béng Bren chính là ZB, sản xuất theo license. Liên Xô có một ít thu được khi đánh Rumania, Hungaria, các nước Baltic và sau trang bị cho các quân đoàn Tiệp Khắc.
Súng được tầu Tưởng mua và tổ chức sản xuất nhái, sau được tầu Cộng thu và dùng, nhưng hàng tầu rất chuối. ZB mang nhãn hiệu Bren được Anh cấp cho Pháp và ta thu được khá nhiều, một trong những loại trung liên chủ yếu của ta, nếu không nói là nhiều nhất.

Trong giai đoạn 1950 đến 1954 ta quan hệ thân mật với Tiệp Khắc, không hiểu bạn có viện trợ cho ta súng này không, có thể là có, vì ta đang dùng nhiều Bren, thận lợi để dùng hàng chính hiệu-tuy nhiên lại vướng vấn đề đạn, vấn đề này các bạn cứ hỏi bác Đoành và Cao Sơn. Sau 1954 thì chắc là ta dùng DP rồi, vả lại, RPK lúc đó cũng bắt đầu được sản xuất ở Liên Xô nên điều kiện để nhập DP dôi ra chắc xông xênh.

Súng được thiết kế bởi hai anh em người Szech là Vaslav và Emanuel Holek, một người Áo tên Marek và một người Ba Lan tên Podradsky tham gia thiết kế. Chúng ta cần nhớ rằng, dải Đông-Bắc Âu là quê hương của công nghiệp súng ống châu Âu. Mông Cổ đã đem thợ từ khắp thế giới đến đây, rồi tiếp theo, Otoman cũng đặt những công xưởng lớn nhất ở đây làm hậu phương cho họ. Cho đến đầu TK20 thì nơi này vẫn là trung tâm công nghiệp vũ khí.

BRNO ZB26 có chất lượng cao do thép đặc biệt sản xuất tại nhà máy Skoda . Nòng súng nóng đỏ nhúng luôn xuống nước mà không hỏng, giống nòng đại liên PK sau này, cũng như PK và MG-42, ZB 26 cũng có khả năng thay nòng nhanh. Tất nhiên, cả ZB và MG đều không có khả năng thay nòng cực nhanh bằng ổ nòng chính xác cao và bền trong điều kiện nóng đỏ của PK. Cũng may, đại liên PK không được cung cấp rộng rãi như AK, không thì khối lợn sẽ nói đại liên PK lấu mẫu từ ZB, hai khẩu súng dáng khá giống nhau.

Súng dùng trích khí, điểm đặc biệt là trích khí có nguyên lý rất giống nguyên lý của AK-47 sau này, có ống chéo ngược thẳng, nhưng thiết kế hình dáng cụ thể thì không như AK, mà to, phức tạp, dùng đoạn nối thêm nòng. Trích khí ZB26 không tận dụng được khả năng khí động như AK-47, không hiểu sao các nhà thiết kế lại tính toán sai cái điều ngay cả ước lượng cũng thấy, thời gian đạn bay trong ống nối thêm, tức từ lúc đạn đi qua lỗ trích khí đến lúc ra khỏi nòng, chỉ còn một phần ngàn giây, trích khí xiên xuôi như của Kg/1940 Thụy Điển trên đã yếu rồi, đừng nói là xiên ngược. Hiệu quả sử dụng luồng khí yếu, nên ZB26 dùng trích khí to đùng bù lại, do với DP có lẽ giống như gậy người nguyên thủy so với đồng hồ Thụy Sỹ.
Sau này có phiên bản dùng khuyên rống trong nòng chỗ trích khí, như ảnh dưới, khuyên này không cân đối. Tuy vậy, việc ảnh hưởng mạnh đến đường đạn không bao giờ được giải quyết đáng kể.

ZB-26 dùng khóa nòng chống vào thành vỏ máy súng bằng ngạnh nghiêng một cục chéo, giống của SVT, MP44, CKC (SKS), MAS49... Nhưng trích khí đặt dưới, ngạnh chống ngược lên trên. Như mình đã nói trên, kiểu ngạnh này làm rung súng theo chiều đứng một chút, một chút này được khếch đại lên bởi trích khi to, nặng, lỗ trích khí quá to đến mức phản lực của dòng khí trích có thể đẩy lệch nòng...

ZB-26 dùng băng hộp cắm trên, băng hai hàng hiện đại lúc đó, 20 viên.

ZB-26 có bắn phát một và chọn chế độ bắn. Trong thời đại súng trường thì việc làm một súng cộng đồng bắn phát một có vẻ thừa. Tuy nhiên, kiểu máy súng thích hợp với bắn phát một hơn là bắn liên thanh.

Nhược điểm của trích khí so với AK-47 do thiếu tính toán chu đáo của cácchuyeen gia kỹ thuật. Nhưng việc kém khả năng bắn liên thanh so với DP chứng tỏ việc thiết kế súng không được thử nghiệm kỹ càng, không được định hướng và đánh giá uốn nắn bởi các chiến binh. Súng có thép tốt, điều mà DP sinh ra trong ốm đói không có, có điều kiện gia công tốt... nhưng chất lượng chung lại không sánh được với DP.

DP trông thô lỗ, nhưng được thiết kế công phu để có thể chế tạo trong những điều kiện khó khăn, và dùng tin cậy, và trông như vậy nhưng DP nhẹ hơn ZB, lại chuyển động cân đối và êm ái hơn. Điểm quan trọng làm DP chất lượng cao, đó là súng nhìn rõ những yêu cầu của bắn liên thanh, đã làm loại trích khí chạy êm, máy súng cân bằng... điều mà các súng cùng thời cũng như sau DP rất nhiều còn thiếu.

Ngoài Bren (ZB 26) thì chỉ còn FN đầu bạc và BAR là trung liên nổi danh cùng thời với DP, mà chúng ta sẽ xem tiếp. Mịe cái bucket chứ, tiêu rồi. FN đầu bạc là một phiên bản gần giống của BAR, BAR là Browning Automatic Rifle, lúc đặt tên người ta chưa phân biệt được đâu là súng máy và đâu là súng trường, chức năng súng trường của BAR thì cũng như DP, khó mà tốt được vì bắn từ khóa nòng mở. Xem chừng, BAR ít nhất kém về cái trình độ đặt tên so với DP, đó là sự thật và quan điểm quân sự không đúng trong thiết kế súng sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời nó lâu dài. FN đầu bạc còn là biệt hiệu của Thiệu, cha này chơi gái khỏe nên có cái hỗn danh vậy.

Điểm khác biệt nữa của DP và ZB-26 là biên chế. DP nguyên thủy là trung liên đúng nghĩa, là súng máy dùng cá nhân, bắn loạt ngắn. Còn RP-46 (DPM), MG-42 đều là đại liên cỡ nhỏ, tuy năng lực bắn của chúng không sánh được với PK sau này, nhưng chúng là súng cộng đồng, súng của tổ 3 người, mà súng máy cộng đồng là hàng đại liên trọng liên rồi. Người ta gọi chúng là LMG (trung liên), là so với Maxim ngày đó nặng 40 cân (lúc nào sẽ xem lại Maxim-Tokarep).

DP-27 là súng máy cá nhân dùng cho tiểu đội vì lúc đó biên chế chủ yếu là súng trường lên cò tay Mosin, nên súng máy cá nhân rất cần để biên chế hoặc bổ sung cho các nhóm nhỏ, ví dụ tiểu đội phụ trách phòng ngự một hướng, nếu dùng súng cộng đồng thì ... 1/3 biên chế tiểu đội hầu hạ khẩu súng, thực tế, trong Kháng chiến chống Pháp, quân ta đánh giá 3 khẩu "MAS49 bán tự động" tương đương một trung liên, chưa kể 3 khẩu súng trường cơ động hơn ZB nhiều, cứ buộc 3 khẩu súng trường lại vào nhau mà so. DPM chiến đấu cùng tỷ lệ lớn MP, (tiếng Nga là PP, tỷ lệ ngang súng trường trong số lượng chung, với nhưng đơn vị mạnh lúc đó như cơ giới, hay đơn vị thường lúc tấn công ... thì tỷ MP cao hơn nhiều, chiếm chủ yếu), lúc đó cũng là thời buổi thai nghén AK. Ai cũng có súng máy rồi, nên súng máy chỉ dùng cho tầm xa, ở tầm xa thì chỉ đại đội phụ trách, nên ít cần trung liên mà cần nhiều đại liên. Sau này RPD, RPK dùng đạn nhỏ chung với AK, còn đại liên PK dùng như chức năng của DP-46 (DPM), MG-42, ZB-26. Và thực chất, MG-42, ZB là dạng đại liên nếu theo quan điểm ngày nay.

MG-42 và ZB-26 cần đông người vì sao ?? năng lực bắn của chúng có thể cao hơn DP-27, vì thay được nòng, nhưng liệu cao hơn bao nhiêu khi ZB bắn 150 viên liên tục phải thay nòng ?? Việc ZB rung mãnh liệt làm nó kém hiệu quả khi bắn loạt ngắn, mà bắn liên thanh loạt ngắn chính là chức năng trung liên, diệt mục tiêu điểm chứ không bắn diện tích. ZB do rung, kém bắn loạt ngắn, đâm ra phải bắn diện tích, là chức năng của đại liên. Làm đại liên thì ZB lại quá kém. Nói nôm na hơn, 3 khẩu DP-27 bắn tốt hơn nhiều 1 khẩu ZB hay MG-42. Còn để làm súng cộng đồng, bắn loạt dài thì các súng này không được cải tiến như DPM, RPD. DPM (RP-46) nặng 21 cân, hơn gấp đôi ZB và gấp hai rưỡi MG-42 8 cân, cũng to hơn nhiều DP-27 8 cân, nhưng với tổ 3 người thế quá nhỏ, đằng nào cũng tổ 3 người mà DPM bắn được loại dài tỹ tã và thực chất là trung liên nhưng có khả năng của đại liên.

Đây là điểm thiết kế đúng của DP, nó làm trung liên ra trung liên, đại liên ra đại liên. ZB tuy nhỏ như vẫn cần tổ chiến đấu đại liên và năng lực chiến đấu vẫn của trung liên. Điểm này thể hiện tầm quan trọng của việc thiết kế súng bởi những người lính, những người thợ, chứ không phải những quý bà hở lưng và những chàng sáng dạ được lòng các tiểu thư.

ZB mang tính chất như vậy, nó hàm chứa nhiều sáng kiến rất sáng giá sau này. Nhưng tất cả các chi tiết của ZB đầu được thiết kế rất vụng về, sơ khai, trong khi sử dụng nguyên liệu quý phái. Các ưu điểm của những kỹ thuật nổi tiếng sau này không sử dụng được, chỉ là áp dụng hình thức cho có, cho hay, cho thiên hạ biết ta là khí động đây. Trong khi đó nguyên lý trích khí của DP cổ điển, áp lực-tiết lưu, được hoàn thiện tiếp ở SVT và phát minh cylinder dịch chuyển cho đến nay vẫn được LWRC tung hô là tốt nhất vũ trụ. Không nhứng không tận dụng được ưu thế mạnh và tin cậy của AK-47, ZB còn gánh sự rung bật của loại trích khí này với mức độ khủng khiếp nhất có thể.

Một điểm hài hước là cái ống chéo được dùng để tiết kiệm khí, nhưng ZB bị ảnh hưởng đường đạn rất mạnh, tùy trích khí tốt xấu mà sơ tốc thay đổi đến 40m/s, từ 760-800.

Ta có thể thấy, AK làm trích khí cách đầu nòng khá xa điều này sẽ cho nhiều ưu thế trong máy súng, nhưng do đó cần tiết kiệm khí trích, nên mới dùng ống xiên ngược, dòng khí phải lộn ngược lại mới chui được vào ống nên thời gian khí vào ống bị làm chậm, lúc đó đạn đã ra khỏi nòng và đó là tiết kiệm khí trích. Đoạn này áp suất khí giảm chậm, nên việc tính toán hợp lý sẽ làm áp suất khí đẩy piston xung đi mạnh mẽ. Vì vậy, AK không cần tiết lưu nhỏ như DP mà ống trích to thẳng không bao giờ tắc. ZB đưa đoạn trích khí lên đầu nòng, lúc đó đạn đã sắp ra khỏi nòng không cần tiết kiệm khí trích, rồi áp suất ở đoạn này giảm nhanh, piston xung hoạt động yếu ớt. Cái hình thức lắp cho có, cho sang ở ZB nó như vậy. AK-47 không bao giờ tự hào về khả năng chống rung bật khi bắn liên thanh vì trích khí quá mạnh mẽ của mình. Máy của ZB vì trích khí yếu, nên phải làm piston to nặng dài, lỗ trích khí to mà ở tận đầu nòng, đẩy súng lệch rất khỏe, máy cũng chuyển động không cân bởi một ngạnh chéo. Điểm khác biệt nữa là ZB lại chuyên.... bắn loạt dài.

ZB có máy ngạnh cục chặn chéo, máy này được dùng trên các súng bắn phát một như SVT, MAS49, Ag-42... Nhưng cũng có những súng liên thanh lắp máy này là ZB, MP44 và SM2 Anh Quốc sau này. ZB ta đang bàn, MP44 trở thành trò cười suốt mấy năm trời trong làng chế súng Đức. Sau đó, MP44 lên ngai vàng trong cơn điên dại của Hitler, khi nước Đức đang sụp đổ trước SVT, DP và PPS, nó chỉ như một niềm hy vọng mới, quá đáng cười, khi một súng ngắn lại nặng như trung liên, một kết cấu mới được lắp từ những gì cổ lỗ nhất như ta đã biết. SM2 thì chỉ là khẩu súng thử nghiệm, chương trình có mục tiêu thiết kế súng trường tấn công theo AK-47 lúc đó đã phổ biến, và Anh Quốc không bao giờ thiết kế được loại súng trường tấn công nào cho đến nay. Một loại máy rung không cân thích hợp với súng bắn phát một, những súng liên thanh dùng nó có số phận như vậy.
Khi vừa được chấp nhận chưa đầy vài tháng (6/4/1944), MP44 đã phải nhường thiết kế mới cho MP45, máy cân không rung ngang. Máy MP45 còn nhiều điều đáng bàn, nhưng là máy súng liên thanh chứ không phải máy súng phát một.

Một khẩu súng nữa tuy được thiết kế trong thời đại còn rất lạc hậu, nhưng có tuổi thọ cao, vẫn bắn đều trong hai Thế chiến, đó là khẩu Madsen Đan Mạch, khẩu trung liên đầu tiên trên thế giới được chấp nhận. Nó cũng được thiết kế bởi những người lính. Madsen rung, lạc hậu... nó quá cổ mà, nhưng có nhiều chất lính tráng để người ta còn sử dụng nó lâu dài. Madsen sau này (Sau WWII). được Đan Mạch thay thế bằng kiểu súng sao chép DP của họ, cũng ngạnh chống giống hệt DP chứ không hơi khang khác như MG-42.


   
Phiên bản Đức MG-26(t) 7.92x57 mm, cũng là phiên bản BRNO Thụy Điển kg m/39. 6.5 x 55 mm Thụy ĐIển nhỏ hơn chút.
sơ tốc 760-800m/s
dài cả súng 1160 mm
nòng dài 668 mm
Khối lượng 10 kg
Tốc độ trung bình: 500 phát phút   
2 chế độ bắn phát một và liên thanh.
Băng 20 đạn hai hàng

Hôm nay cái bucket mới trơn trơn một chút

Trính khí xiên ngược kiểu AK, có lẽ đây là lần đầu tiên áp dụng. ZB-26 là một trung liên tốt bậc nhất phương Tây lúc đó, nhưng việc áp dụng kiểu này quá thô sơ, trích khí tiến quá lớn về đầu nòng, làm thời gian khí tác động quá nhỏ, đáng ra, vị trí này nên dùng kiểu khí động xiên xuôi như trung liên Kg m/1940 (SAV) (Knorre-Bremse), ZB-26 được chấp nhận ở Thụy Điển là Kg m/39 (Kg= trung liên, m= kiểu, 39=1939). NHư vậy, chỉ một năm ngắn ngủi kiểu xiên ngược đã phải thay bằng kiểu xiên xuôi như ảnh đã post trên. Vì trích khí yếu, nên phải làm trích khí rất to và tạo rãnh khuyên quanh lòng trong nòng chỗ trích khí. TRích khí này to nặng khủng bố so với DP và cái khuyên sau này không ai dùng. Những kiểu trích khí tuy có sáng kiến nhưng thiếu đầu tư tính toán cơ bản và thử nghiệm thực tế này mất đi nhanh chóng, trong khi kiểu trích khi DP phát triển mãi và đến nay vẫn được LWRC tung hô.
Trích khí AK-47 lừng danh về tin cậy mạnh khỏe, cùng áp dụng một sáng kiến, nhưng AK-47 chứng minh vai trò của việc tính toán và thử nghiệm công phu, vai trò của khoa học nền tảng và kinh nghiệm chiến trường.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/sung_thuy_dien/Kg_m_1939_BRNO_ZB_26/e206dd77.jpg)


Máy súng dùng khóa nòng chèn một ngạnh. Kiểu máy này làm súng trường phát một tốt vì nó dẹt nhẹ và đơn giản hơn DP hai ngạnh. Tuy nhiên máy súng rung theo chiều đứng, không hợp với súng liên thanh. Kết hợp với trích khí quá lớn và đặt xa tăng đòn bẩy làm rung, ZB rung rất mạnh và chỉ có chức năng bắn diện tích như đại liên là thực dụng.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/sung_thuy_dien/Kg_m_1939_BRNO_ZB_26/6be843b3.jpg)

m /1940 chuyển trích khí lên trên, băng đạn sang ngang
 Kgm1940 SAV Knorre-Bremse nhìn thấy ngay nhược điểm trích khí. Cũng là khí động, xiên ngược làm chậm quá trình trích khí, đây là đặc điểm tuyệt vời nhất trong trích khí của AK-47, nó to thẳng đặt sâu về cuối nòng mà vẫn mạnh khỏe và tiết kiệm khí. ZB dùng chức năng xiên ngược tiết kiệm khí ở vị trí đầu nòng, nơi không cần tiết kiệm khí, và làm máy súng yếu và rung, nhược điểm của trích khí AK-47 là quá mạnh làm rung súng, ZB khuếch đại điều đó lên với việc để lực rung ở điểm xa. Km/40 chuyển sang xiên xuôi để tăng cường khí trích, làm hai trích khí hai bên để cân bằng rung, cải tiến máy nhỏ đi giảm rung... tuy nhiên điều này làm súng quá cồng kềnh mà cải thiện chông rung cũng không được bao nhiêu.
Thụy Điển không muốn đầu tư nhiều vào súng đạn vì họ chả cần đánh ai, họ chỉ cần tự sản xuất súng cho có để tránh nhập khẩu, mà nhập khẩu là chơi với một bên nào đó và mất thế trung lập. Tuy nhiên, họ đã sớm nhìn ra nhược điểm lớn nhất của ZB-26. Trong khi đó, phương Tây thiếu khả năng đánh giá súng thực tế hơn Thụy Điển.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/sung_thuy_dien/Kgm1940SAV_Knorre_Bremse/ffbd7aeb.jpg)


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 06 Tháng Ba, 2009, 09:24:10 pm
Ôi trời, tưởng là cái photobucket hỏng, hóa ra máy mình dính một chú spy, nó đóng mở cổng thế nào ấy, bực cả mình.

ZB-26 sau này được cải tiến thành các phiên bản nhỏ ZB-30 và ZGB-33. ZB-30 cũng khắc phục những nhược điểm của trích khí và đến ZGB-33 thì hoàn toàn dùng trích khí của BAR, ngay từ ZB-30 đã thêm phần hiệu chỉnh khí trích. Trung liên Bren chính là phiên bản ZGB-33 sau dùng đạn Anh ".303 British" (7,7 x 57 Anh).

Trung liên Bren và ZB sau này bỏ đi cái trích khí kiểu AK đó, một minh chứng cho sự áp dụng các sáng kiến đáng giá một cách hào nhoáng bề ngoài, sẽ chỉ làm mọi thứ tồi đi. ZB sau này dùng trích khí lui vào đoạn giữa nòng, nhưng không thực hiện biện pháp tiết kiệm khí trích nào nữa, lỗ tiết lưu lớn. Nhắc lại là ZB sau được Đức sử dụng với tên MG-26(t), việc không hoàn thiện một trích khí nào cho trung liên cũng là một sức ép để MG-42 dùng máy lùi, vấp phải khó khăn từ cái nòng quá nhỏ.
Mẫu thử nghiệm ZB trước khi được chấp nhận hiện trong bảo tàng, chưa có trích khí xuôi sau của AK. Những kiểu trung liên lúc đó như Chauchat, BAR... không hoàn thiện trích khí và sau đó, ZB nỗ lực tiết kiệm khí.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/sung_thuy_dien/Kg_m_1939_BRNO_ZB_26/zb26_praha1_23.jpg)

Bren (ZGB-33), lùi trích khí vào trong, để mình tìm hình mặt cắt bốt lên, trích khí vuông góc tiết lưu lớn. Cũng là chuyện tình cờ, sau này AK-74 cũng dùng tiết lưu vuông góc, vì cỡ nòng nhỏ của AK-74 không sử dụng được trích khí xiên ngược nữa, rung mạnh của nó làm giảm hiệu quả chụm đạn loạt liên thanh của đạn nhỏ. Còn ở đây, sự thay đổi do bế tắc kỹ thuật trích khí, người ta không muốn tiết kiệm khí trích nữa.
(http://world.guns.ru/machine/bren_mk3.jpg)

-----------------

Chúng ta xem xét một hẩu súng nữa, BAR.

BAR không được gọi là trung liên, mà là Browning Automatic Rifle. Ở đây có một sự hài hước, hàng đống nhà ái quốc Hoa Kỳ, mà các nhà ái quốc này mang tiếng chung ngu si hơn bò, tung hô rầm rỹ "BAR là súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới", he he he he he, quá đê tiện tị nạnh trước ánh sáng tỏa ra từ AK mà, hết AK học MP đến AK chỉ là hậu duệ của BAR mà thôi .  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D

Ôi trời, các nhà ái quốc ấy nói đúng mới chết chứ. Hóa ra họ cũng chỉ ngu si bằng những người thiết kế concept BAR. Chuyện BAR là thủy tổ AK mấy năm trước ồn ào lắm, sau thì nó xẹp đi vì thối quá, dân làm ra ZB chưa bao giờ gọi nó là súng trường tấn công cả.

Câu chuyện bắt đầu từ Chauchat, trung liên Pháp. Người Pháp dự định thiết kế một loại súng trường tấn công thật sự, là Chauchat và BAR đó, các nhà kỹ thuật đã thỏa mãn ý muốn của các chuyên gia quân sự Pháp.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D Nghe quá hài, nhưng đó là sự thật, không phải tự nhiên mà Tây Phú có truyền thống đánh đâu thua đấy, rồi anh Mỹ thừa kế ;D. Lúc đó người Pháp gọi kiểu súng này là Walking Rifle. AK bắn được trong khi chạy, còn Chauchat và BAR bắn khi... dạo phố thong dong. Người Pháp tính thiết kế một súng trường dùng khi đang tấn công (nhưng không xung phong  ;D ;D ;D  ), không tỳ vai bắn  được thì xách bắn (ai mà tỳ vai đứng bắn được khẩu súng chục kg).
 ;D ;D ;D ;D ;D ;D
Theo người Pháp thì người ta không cần xung phong khi tấn công, mà dạo chơi sang công sự địch... làm khách quý.

Quá hài hước, nhưng đó là sự thật. Vào thời gian Thế chiến I, Đức đưa ra concept MP, kiểu súng có thể bắn thực hành không tỳ vai, cầm tay bắn ngang người. Nhưng kiểu bắn đó chỉ tác dụng ở tầm rất gần, và tầm đó chỉ cần đạn súng ngắn không cần đạn súng trường, đó chính là súng tấn công, STG, xung phong thương. Người Đức cho rằng thời điểm tấn công, giáp lá cà trong hào, người ta cần chạy rất nhanh, vừa chạy vừa bắn liên tiếp loạt ngắn, di chuyển thuận tiện trong hào chật hẹp...

Người Pháp thì nghĩ ngược lại (đúng lúc đó !!!), làm một khẩu súng to nặng gấp đôi ba súng trường thường, khi tấn công đi bộ dạo chơi. Rồ người, người Pháp đã lấy tốc độ tiến công của thời đại khối người Nã Phá Luân, lắp vào thời đại súng máy.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D và chế ra "súng trường tự động đi bộ" Chauchat.


Thế nhưng cái rồ dại ấy cũng có học trò, anh Mỹ anh ấy chấp nhận ngay một chú BAR tương tự. Browning là nhà thiết kế súng lừng danh, nhưng ông đã đem kỹ thuật cao minh đi thỏa mãn một yêu cầu ngu si của các nhà quân sự tồi.

Kết quả, súng bắn được khi đang di chuyển như AK, nhưng mà là đi bộ ỳ ạch chứ không ào ạt tiến công, một loạt bắn chỉ may ra trúng mục tiêu ở vài chục mét và nóng súng văng ngoắt về hướng.... quân ta. Làm súng trường thì cũng được, có điều nó bắn từ khóa nòng mở, là loại súng trường bắn tồi vì chuyển động của khóa nòng sẽ đẩy xiên đường ngắm đi. Thêm nữa, một khẩu súng trường nặng 9-11 cân thì cũng... nên đổi lấy 3 khẩu súng trường thường cho lành.  ;D ;D ;D

Cái đoạn dở người của Chauchat và BAR như vậy. Anh Pháp Mỹ luôn luôn sai concept vũ khí, cho đến ngày nay. Chúng là súng trường tấn công đầu tiên của thế giới, có thể, nhưng là trong những cuộc tấn công của người khổng lồ giữ được chúng bắn loạt liên thanh trên tay, cầm chúng ngang người xung phong trong chiến hào, và dĩ nhiên cũng chiếm công sự của loại người khổng lồ, chiều ngang chiến hào rộng hàng mét để súng không vướng.

BAR cũng dùng khóa nòng nghiêng, kiểu như SVT, MP44, MAS49... nhưng khóa nòng có hai phần khớp với nhau bằng một bản lề, khớp này nối lên bệ khóa nòng, khi bệ khóa nòng tiến lên khớp này ấn khóa nòng xuống, khóa súng, phức tạp hơn các khóa nòng nghiêng khác. Trích khí đặt dưới nòng và cũng không tính tiết kiệm khí trích, trích khí nằm sâu về cuối nòng và to. BAR có băng dưới hộp khóa nòng 20 viên. Cái độc đáo của BAR là có một vỏ phụ ngoài vỏ chính, môt bơm khi gắn với piston bơm khí qua khe này giúp thêm làm nguội nòng. Kiểu này sau gần trăm năm được áp dụng trở lại trong đại liên cá nhân Nga PKP Pecheneg, tuy nhiên, PKP đã ở thời đại mới, nhiệt độ làm việc của nòng cao hơn.

BAR được đánh giá là không thành công ở cả hai concept, súng trường và trung liên.
Ngoài việc nặng và không chính xác trong bắn phát một, nó còn quá phức tạp với việc bảo dưỡng một súng cá nhân. (tháo lắp súng bằng mỏ lết và búa, tô vít to...). Nếu dùng như súng trường liên thanh cũng không được, vì Không thể giữ nó khi bắn liên thanh mà không đặt súng xuống đất.
Khi là trung liên súng quá nhanh nóng nòng, điều này giống như các trung liên nhẹ cỡ 8kg thời đó, nhưng BAR không thay được nòng nưa ZB, Bren... hơn nữa, băng đạn 20 viên quá ít cho một trung liên... Và tóm lại, BAR chỉ có thể dùng như một súng trường nặng khủng khiếp.

Về mặt kỹ thuật, BAR cũng như các trung liên khác phương tây, một là dùng khóa nòng chèn ngạnh nghiêng, rung mạnh hướng nòng trong loạt liên thanh, mình đã nói rối, loại khóa này chỉ hợp cho súng trường phát một. Trích khí không hoàn thiện như DP dẫ đến trích khí lớn, không tiết kiệm khí và rung súng.

Khóa nòng BAR có cái dở là phức tạp nhất trong các khóa nòng nghiêng, trong khi khóa nòng nghiêng đem đến ưu thế là đơn giản, tin cậy, chỉ có một cục, thì BAR vứt điều đó đi. Cấu tạo súng nhìn chung cũng rất dở về mặt đơn giản hóa về kết cấu và vận hành, tháo súng phải dùng mỏ lết, búa ta và tô vít.

Không phải tự nhiên mà ngày nay LWRC vẫn tung hô kiểu trích khí SVT này, trích khí SVT hoàn bản hoàn thiện nhỏ gọn hơn của DP, thích hợp cho súng trường phát một và súng máy nhỏ. Kiểu máy súng chỉ rung theo chiều dọc hợp với súng liên thanh thì còn có các kiểu khóa nòng xoay như MG-34 Đức, nhưng súng này dùng ren cắt kiểu đại bác, hết sức lạc hậu. Sau này có MG-42 lừng danh như mình đã post, cũng rung cân đối, cùng nguyên lý với DP và cải tiến tiếp nữa ở MP-45. Không một súng nào lúc đó sánh chức năng trung liên nhẹ-LMG với DP cả. DP có nhược điểm không bắn loạt dài như các LMG cỡ trên dưới 10kg, đến DPM để toản mãn điều đó thì nặng đến 21kg, và chỉ quay lại khối lượng trung liên ở RPD, khi dùng đạn nhỏ. Cũng không trung liên nào lúc đó cỡ DP bắn được dài hơi cả.

Các súng khác kém trung liên DP vì nhiều lý do, nhưng BAR và Chauchat tệ hại vì sai concept (nguyên lý chiến đấu, nói nôm na là "cách chiến đấu chủ yếu", "cách chiến đấu nổi trội", "cách chiến đấu ưu thế", "miếng tủ"... của người chiến sỹ cầm súng), song song với đó là những nhược điểm về máy và trích khí. Không hiểu sao người ta ngu si đến mức lấy tốc độ Nã Phá Luân ghép vào súng máy. Mà BAR được chấp nhận năm 1918, đúng lúc MP18 bên Đức. Chết cười.

Chú Mỹ đang dạy chú ngụy bắn dọa chim.
Bắn ứng dụng không tỳ vai ngắm chỉ chính xác được ở vài chục mét, vì vậy MP chỉ cần đạn súng ngắn. Không hiểu từ đâu ra cái ý tưởng dùng đạn súng trường hạng nặng bắn liên thanh ứng dụng thế này ?? Bắn tầm xa mà không ngắm, không giữ được hướng súng thì vô dụng, chỉ tổ lộ vị trí.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/5/51/BARVietnam.jpg)

Browning M1917 và M1919 là những phiên bản súng máy Mỹ cùng thời với BAR M918, chúng chỉ nặng hơn BAR chút (14-15kg), nhưng bắn loạt dài tỹ tã. Đây là kiểu súng chức năng đại liên, bắn loạt dài tầm xa, nhưng tốc độ bắn hồi đó, cũng tương đương các đại liên khác thời đó, chỉ 400-600 phát phút. Súng máy ra máy, trường ra trường nên làm nổi rõ sự dở hơi của BAR.

Sự dở người của BAR thể hiện nhanh chóng, nhưng súng có tuổi thọ rất lâu vì nó trở thành con của Colt, như ông vua đẻ non M16 sau này. Ngay sau Thế chiến I, Colt cải tiến BAR lần đầu, bỏ hẳn chức năng súng trường và phát triển thành một súng máy hỗ trợ nặng ba chân, gọi là "BAR ba chân" luôn, tức phiên bản M1922. Phiên bản súng trường bắn phát một tự động được sản xuất cùng có tên Colt model 75 "Monitor", nó ban đầu được dùng cho cảnh sát-chức năng như bắn tỉa chống khủng bố, tuy nhẹ đi nhưng vẫn quá nặng với một súng trường và sớm chứng minh trong thực tế là thất nghiệp, chả hợp với vị trí nào. M1922 thì có bộ giá quá nặng, thiếu tin cậy và lại yêu cầu như một đại liên trong khi làm chức năng trung liên vẫn tồi.

BAR M1918A1 bỏ giá ba chân dở đi đầu thập niên 193x, thay bằng giá hai chân gấp được như trung liên ngày nay. Trích khí sửa thành đoạn nối dài nòng theo hướng tiết kiệm khí trích, nhưng kết cấu này chỉ làm tồi súng đi mà thôi, cũng như các nỗ lực trích khí nối dài khác.

Năm 1939, BAR M1918A2 ra đời. Một số súng được sửa lại từ sũng phiên bản cũ. Kiểu A2 vẫn có thể mang được giá ba chân nhưng thường thấy là giá hai chân đặt gần đầu nòng. Hệ thống làm mát được cải tiến chút. Điều quan trọng là bỏ hẳn phát một, thay bằng chọn hai chế độ bắn liên thanh nhanh và chậm (400-600 phát / phút). Tuy các nhà kỹ thuật chứng minh rằng cần vứt bỏ hẳn vai trò súng trường, nhưng như ảnh trên, đến tận nước Vịt, sỹ quan Mỹ ngu si vẫn giáo dục đám đàn em cái concept quá thông thái đó. Để cho đến nay, hàng chục chú đê tiện trước ánh sáng của AK vẫn tung hô: BAR và Chauchat là súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới.

BAR không bao giờ thay được cái băng đạn còi cọc, cho nên tuy bỏ hẳn chức năng súng trường, thì nó cũng vẫn là trung liên đói.
-----------------

Chúng ta thấy rằng, DP không bao giờ có ý định làm súng trường. Trước và cùng BAR, Fedorov đã được các nhà quân sự đặt yêu cầu bắn được khi đang chạy, đó là yêu cầu cơ bản của một súng tấn công. Phải ở những nơi mà khoa học quân sự quái thai thế nào mới có việc ghép tốc độ tấn công của khối người vuông thời Nã Phá Luân vào thời đại súng máy. Khi DP dùng "cup piston" của LWRC ngày nay thì phương tây xoay xở với hàng loạt kiểu trích khí. Cuối cúng, có hai loại động cơ súng tồn tại: không trích khí của MG-42 và trích khí đơn giản, chỉ cần chạy được ổn định khi không hỏng, vứt quách chuyện tiết kiệm khí, tin cậy ... của Bren hay BAR đời sau. Các trích khí này ống to, vuông góc, xa đầu nòng tốn khí, piston to mà kín khít, nên đương nhiên có tuổi thọ kém và dễ hỏng, cũng như ảnh hưởng mạnh đến đường đạn.

Đăc điểm trích khí của DP đi theo hướng khác AK. AK-47 đơn giản và mạnh mẽ bằng khí động. Còn DP dùng tiết lưu như các súng phương Tây khác, dùng áp lực tĩnh và hạn chế khí trích qua lỗ tiết lưu. Các trích khí tiết lưu đều có chung nguyên tắc: qua lỗ tiết lưu là khoang dự trữ khí, khi đạn đi qua lỗ tiết lưu, diện tích bé của lỗ làm khí trích chậm, càng bé càng chậm-càng chậm càng ít ảnh hưởng đường đạn, khí trích vào khoang và khi áp suất nòng mất, áp suất trong khoang giảm chậm cũng vì lỗ tiết lưu bé. Vì áp suất khoang giảm chậm nên nó đẩy piston máy súng làm việc muộn hơn khi đạn đã bắn đi. Nếu áp suất giảm nhanh, thời gian lực tác động lên piston ngắn, khối lùi chưa đủ vận tốc và do đó, phải làm piston lớn với trích khí to để lực mạnh, là loại trích khí tiết lưu tồi.

Kiểu của DP là dùng tiết lưu nhỏ, khoang dự trữ nhỏ, piston nhỏ, điều này tuy hiệu quả cao, tiết kiệm khí, dễ điều chỉnh, máy chạy êm rất cần cho súng bắn loạt, nhưng dẫn đến yêu cầu piston kín khít và dễ hỏng nên các súng trung liên trên không dùng được.

Ở DP, dòng khí phải lộn ngược trong cylinder di động (mà LWRC gọi ngược đời là "cup piston"), hạn chế sự thất thoát nên hạn chế yêu cầu kín khít trong thời đại ốm đói. Thực chất, sau khoang chứa là tác động của khí động, ngoài lỗ tiết lưu vào từ nòng, khoang chứa có một tiết lưu ra nằm trong lõi của piston cố định gắn vào trích khí, khí nén trong khoang chứa tăng tốc qua lỗ giữa piston cố định, lỗ giữa này có tác dụng như một tuye, đập vào mặt cylinder di chuyển, mặt là đáy cái chén nên LWRC mới gọi tên như vậy, dòng khí lộn ngược trong chén mới thoát được ra miệng chén, nên không cần lo chống thất thoát giống như turbine, vì là tác động khí động nên giống như AK, nó không cần kín khít. Vả lại, piston cố định và che chắn tốt trong ống ray của cylinder, ( cylinder gắn liền vào cần đẩy máy súng lùi ), piston lại kích thước nhỏ nên càng dễ bảo vệ, nên bền, thực chất piston và cylinder không làm ray cho nhau như các bộ piston thường, không mài vào nhau trong điều kiện khói bụi nhiệt độ cao.

Sau này, SVT sửa lại một chút, tách rời piston và cần của nó khỏi máy súng, lắp lò xo đẩy về riêng. Cải tiến này có thể làm nặng nề rắc rối và gây thêm hỏng hóc với súng máy, vốn hay hỏng hóc từ các nguyên nhân bên trong như chi tiết biến dạng hay cũ mỏi, nhưng lại tiện dùng cho súng trường, đồng thời có thêm ưu thế là hành trình piston ngắn nên đóng kín được cả khối, tăng độ bền, khả năng bảo vệ, độ tin cậy trước các ảnh hưởng bên ngoài. Đây chính là kiểu trích khí mà G43 sao lại y nguyên không thay đổi gì, LWRC học của AR-18. AR-18 phát chán cái kiểu ống dẫn khí của AG-42 Thụy Điển được áp dụng trên AR-15 (M16) nên học theo SVT.

Thật ra, Armalite lúc đó mới chập chững chế súng không biết một điểm, AG-42 là bản sao của SVT nhưng bớt cái cần piston đi cho rẻ (chuyện này thì người Thụy Điển nói trên trang của họ), Thụy Điển đã thử nghiệm và nhận ra nhược điểm của việc tiết kiệm, họ cũng đã nghiên cứu và chỉ rõ các nguyên nhân là nóng cong nòng, bẩn vào máy, lực đẩy yếu, khó điều chỉnh... nhưng họ không cần súng tốt và cũng không nên đầu tư súng ống lúc nước sôi lửa bỏng ấy, thằng Nga thằng Đức đang khát máu nó phẩy tay vãi vài quả bom thừa sang tèo đời. Và, cả mấy chi họ G43, AR-15, AR-18, LWRC...  con quên bố mẹ, chả ai nhớ đến tổ tiên SVT và xa hơn nữa là DP cả. Ờ, ông trời có mắt, các chi họ này đều đại diện cho bại trận, cả ở trên thương trường và chiến trường. Nhìn chung, chúng ta nếu có phải đi làm súng cũng nên thắp hương khấn vái tổ tiên một chút, gương kia to tày liếp.

mặt cắt dọc máy DP
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=654.msg81087#msg81087


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 07 Tháng Ba, 2009, 11:22:53 pm
Như trên mình đã nói, Chauchat là "súng trường tấn công đầu tiên của Thế Giới" và theo nhịp bước đó có anh BAR. Một ý tưởng ngu ngốc, ghép tốc độ của thời Nã Phá Luân với thời đại súng máy. Ngu ngốc hơn nữa, chính thời điểm Chauchat được chấp nhận sử dụng, Đức cũng chấp nhận khẩu MP đầu tiên trên Thế Giới, đó là MP-18. Khẩu súng tấn công này phát triển rực rỡ và đi ngược ngoắt 180 độ với Chauchat, BAR, tức là nhẹ đi chứ không to uỵch lên.

http://www.mitrailleuse.fr/France/Chauchat/Chauchat.htm
Louis Chauchat (sỹ quan, đại tá) và Charles Sutter (kỹ thuật) đặt ra việc chế tạo một súng tự động năm 1903, lúc đó họ đã dự tính nguyên lý máy súng lùi dài như sau này. Thiết kế hoàn thành năm 1908 với tên kiểu súng mới là "Fusil-Mitrailleur"="súng trường-máy". Thiết kế được xây dựng trên cơ sở Rudolf Frommer của Hungaria. Nhưng súng không được sản xuất mua bán cho đến khi Chauchat phiên bản 8 mm Lebel được chấp nhận tháng 7-1915, nên còn được gọi là "Fusil-Mitrailleur MLE 1915".

Chauchat có may mắn là con của một đất nước giầu có hùng mạnh, khoa học vũ khí không đỉnh lắm nhưng có công nghiệp kỹ thuật cao quy mô lớn và hiện đại bậc nhất Thế Giới, nên nó dễ dàng triển khai sản xuất số lượng lớn. 2 năm cuối Thế chiến I, khoảng 250 ngàn khẩu được sản xuất. Nhưng thời điểm sản xuất Chauchat ngắn, chỉ thế thôi vì súng yếu, dễ hỏng và đắt.

Chauchat có các phiên bản xuất khẩu sang Ba Lan bắn đạn 7.92x57mm Mauser và phiên bản Bỉ bắn đạn 7.65x54mm Mauser. Súng cũng được Pháp sản xuất phiên bản đạn 03-06 để đồng đội Mỹ dùng. Chính từ đây mà nó biến ngoắt thành "súng trường tấn công" ngược đời. Cái hài hước đầu thế kỷ là anh Mỹ anh ấy lại còn đầu tư lớn để phát triển nguyên lý ngược đời này, do ngộ độc từ quảng cáo Chauchat.

Súng còn có tên FNCS, "F.N.C.S" FN là Fusil-Mitrailleur, C và S là Chauchat và Sutter. Súng cũng hay được gọi tên FNGR, "F.N.G.R." R là tên giám đốc và G là tên xưởng Gladiator tại Paris.


Bọn Mẽo ngu si bao giờ cũng nhận Chauchat học từ máy Browning nhà nó !!! vì tự ái chuyện BAR là hậu quả của cái ... từ Chauchat: "súng trường tấn công nặng 10 cân". Thật ra, mỗi khi người nào tự hào về súng ống Mỹ là thấy cái ngu ngu khùng khùng trong họ rồi. Máy lùi dài kiểu Chauchat lúc đó đã có nhiều, được áp dụng trên nhiều súng ngắn và pháo cho đến ngày nay. Kiểu súng gần gũi về lùi dài là súng trường Rudolf Frommer (Hungaria). Kiểu Madsen, trung liên đầu tiên của Đan Mạch, trung liên đầu tiên được chấp nhận lớn trên Thế Giới cũng là lùi, nhưng nó dùng một con thoi chạy vòng đẩy khóa nòng ngóc nên xuống. Madsen có phiên bản súng trường được chấp nhận trang bị năm 1896, khẩu súng trường tự động đầu tiên được chấp nhận, và phiên bản trung liên năm 1902, trước khi Browning hay Chauchat mọc mũi sủi tăm vác phác thảo đi xin tiền đầu tư. Và do Chauchat rất yếu nên Madsen phổ biến khắp châu Âu và nước Mỹ, trước và sau khi Chauchat được sản xuất.

Thế nhưng máy súng Chauchat lại giống hệt AK-47 bây giờ. Chỉ có cái động cơ lùi dài là giống súng ngắn, giống đại bác. Còn máy Chauchat là khóa nòng xoay hai tai. Browning chưa bao giờ thiết kế súng ngắn nào dùng khóa nòng xoay hai tai cả, nên các bạn yêu nước Mỹ lại một lần nữa chứng tỏ sự ngu si của mình khi tung hô súng ống Mỹ. Mà ai tung hô súng ống Mỹ Anh đều có vẻ liệt não cả.

Chauchat được thiết kế với ý tưởng như vậy, nhưng nó không đến nỗi dại như BAR theo đuôi nó, sao vậy ??  Chauchat cũng được thiết kế bởi một người lính, nên concept của nó không đến nỗi ngược đời. Thật ra, Chauchat được thiết kế cùng lúc các súng trường tự động đầu tiên trên thế giới, khá sớm và do đó khó hoàn thiện chu đáo.

Khi chọn kiểu máy súng, những nhà thiết kế đã xác định đây là một trung liên đúng nghĩa. Lúc bấy giờ, súng máy như Maxim rất nặng (nửa tạ), nên khi tấn công, bộ đội chỉ toàn súng trường và lựu đạn, yếu thế. Một khẩu súng máy nhẹ xách được theo đội hình (nhưng không xung phong) là đúng concept. C và S đã chọn kiểu này để có cái bơm khí làm mát nòng.

Súng này có thể không bắn loạt dài tỹ tã như đại liên làm mát nước, chỉ bắn loạt ngắn và mang được ít đạn, nhưng sẽ hơn chán vạn đội hình toàn súng trường. Và điều khác biệt cơ bản với súng tấn công, ngược hẳn lại, là các súng máy này nặng, dùng hỗ trợ từ vị trí xuất phát xung phong, chứ không tham gia vào cuộc xung phong.

Nói tóm lại, đây là trung liên. Nó không phải là một súng tấn công vì không bắn được khi đang chạy.

Việc Chauchat biến thành súng trường tấn công là do một tranh cổ động, một người lính ôm Chauchat trong tư thế xung phong, miệng hét vang. Thế là người xem (và có thể là họa sỹ) hình dung khẩu súng đó đang nhả đạn tằng tằng và đường đạn lúc đó rất chính xác !!! Lúc đó, chiến tranh đang bế tắc ở trận địa chiến, hai bên đều sa lầy và khả năng xung phong quả thật là ... rạch trời rơi xuống cứu thế, đem bao hy vọng, như cái cọc cho khoa học chiến tranh đang chết đuối. Cái cọc thật sự là MP-18, nhưng không đủ sức cứu kẻ chết thật, còn kẻ không chết thì tưởng là mình có một cái cọc.

Nói cho đúng hơn thì trận địa chiến chỉ bị xe bọc thép các loại đánh bại mà thôi, khi trận địa bị đánh tan, thì chiến tranh trở thành cơ động và súng trường tấn công, MP... lên ngôi. Đức cũng có xe, nhưng họ đói quá, xe tốt nhưng ít, rồi thua, để các chú tây tưởng là Chauchat đại thắng, đem Chauchat ra là Đức chít liền.

Lúc đó, học vấn còn ít, đại đa số chiến binh, sỹ quan và dân chúng trình độ học vấn rất thấp, nên vẫn tồn tại khái niệm văn hóa đại chúng và văn hóa sự thật tách rời nhau (một sự dối trá công cộng). Không ít người tin vào cái tranh cổ động đó và đương nhiên báo chí tha hồ tung hô cái cọc cứu nguy cho khoa học quân sự đang chết chìm trong bãi lầy Véc-Đoong, trong trào lưu được lái bởi các nhà bán súng, ai dám bảo không thể giữ được Chauchat trên tay khi bắn liên thanh là phản quốc tức khắc.

Khi Chauchat chế ra khẩu súng của ông, ông đã thiết kế một súng trung liên có chức năng súng trường tự động, như ZB sau đó hay Madsen trước đó. Nhưng những nhà quân sự chưa bao giờ làm lính đã chuyển hướng sang một dạng khác, "súng trường đi bộ", một khẩu súng bắn khi đặt trên đất thành một khẩu súng bắn khi mang trên tay tìm chim.

Khổ thân cho các chú Mỹ, là các chú lại chỉ thích hấp thụ cái loại văn hóa hạ đẳng vốn được nói đến nhiều hơn là văn hóa đúng đắn, và dở người, văn hóa hạ đẳng thường xuyên trở thành quyết sách quốc gia ở nước Mỹ dân chủ tự do. Thế mới có chú BAR. Điểm khác của Chauchat và BAR ?? Chauchat chỉ bị người ta đổ tội cho là súng trường xung phong vì một cái tranh cổ động, còn BAR thì được thiết kế theo nguyên lý cổ động đó.

Đây là tranh cổ động, từ đây, Chauchat trở thành súng trường tấn công. Những người bốc phét và những vị sỹ quan quýt sờ toọc chưa bao giờ bắn súng tưởng rằng người ta có thể cầm chạy thế này một khẩu súng 10kg và bắn loạt chính xác bằng đạn súng trường hạng nặng.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/4d286fe1.jpg)

Còn đây là tư thế chiến đấu của Chauchat, súng phải được bắn cố định khi tỳ trên đất.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/f64a6f9f.jpg)


Về cấu tạo, Chauchat là máy có lùi dài khóa xoay. Súng dài 1170mm, ngắn hơn các súng trung liên khác lúc đó. Đây là kể cả chắn lửa đầu nòng 100 mm. Loại nhẹ nhất không vỏ trụ làm mát 8,870kg rỗng, đầy đủ vỏ hình trụ và loa chắn lửa 9,5 kg rỗng. Khối lượng có đạn hai kiểu trên là 9,8 và 10,45 kg. Nòng dài 445mm, quá ngắn. Súng có chọn bắn liên thanh và phát một, một khóa an toàn 3 chế độ: không bắn, phát một và liên thanh, nguyên lý khóa an toán rất giống AK sau này bất chấp hình dáng rất khác. Khóa nòng cũng giống AK.  Băng đạn một hàng đặt dưới bụng, có thể thấy nhược điểm do độ côn quá lớn của đạn 8mm Lebel, băng đạn quá cong. Băng 20 viên. Tốc độ bắn liên thanh rất thấp, 250 phát phút. Sơ tốc cũng chán óm, 630m/s, chưa xứng đáng là súng trường. Súng bắn liên thanh chậm, năng lực đầu đạn như MP, mà nặng 10kg, nên tính năng hỗ trợ quá kém. Súng còn nhiều nhược điểm nữa, nhưng cần nhớ rằng, đây là loại súng liên thanh ra đời rất sớm.

Đạn: mle 1886 D (đầu đạn khí động nhọn Spizer 12,8 g . 3 g thuốc BN3FD)

Súng dở chỉ do nó lạc hậu, nó lạc hậu do nó ra đời lâu rồi, lúc nó ra đời nó không là tiên tiến nhưng cũng là loai có sáng kiến. Có điều, cái sai là khi chấp nhận sử dụng. Nhiều loại súng liên thanh dạng trung liên đã có và mạnh mẽ hơn nhiều, tốt hơn nhiều, thế nhưng nước Pháp lôi một khẩu súng mà họ bỏ quên 7-8 năm lên sản xuất, khi chiến tranh bế tắc và đổi thành "súng tường tấn công đi bộ". Họ "chết đuối vớ được cọc" và tưởng tượng ra một concept chiến đấu mới cho trung liên, sản xuất ồ ạt. Thật ra không phải người Pháp vớ được cọc, mà vài ông cơ hội trong làng chế súng đã lau sạch bụi một khẩu súng cổ lỗ rồi phù phép biến thành cái cọc kiếm ăn. Họ bịa ra một nguyên lý chiến đấu hoàn toàn vô lý và ngược đời.

Một cái thuận lợi cho việc đó là khóa nòng giống kiểu AK của Chauchat, lúc đó còn ít nhà máy làm được, lúc đó thực hiện chi tiết này bằng cắt gọt, yêu cầu phải có các máy cắt gọt chính xác, hành trình dao đồng bộ, lúc đó rất hiếm. . Thật là công cụ đắc lực cho các hợp đồng độc quyền siêu lãi tiến triển. Nói một cách bi kịch, Chauchat là công cụ để những con đỉa hút máu đất nước đang khốn khổ bế tắc vì chiến tranh.

Chauchat lùi dài cả nòng và khóa nòng hết toàn bộ quãng đường lùi. Đây là nguyên nhân làm súng bắn rất chậm. Nó cố làm ngắn nòng đi cho thật nhẹ để cải thiện tốc độ bắn nhưng cũng chỉ đạt đến thế mà thôi, trong khi sơ tốc đầu đạn rớt xuống dưới mức súng trường, ở mức MP.

Nhược điểm của đạn quá côn thì mình nói rồi. Để xem băng đầy vơi, người ta làm nắp băng rất hở, tha hồ đất bụi bắn vào, rồi còn hàng loạt sơ khai của súng nữa, như tay cầm tròn  ;D.

Khóa nòng xay hai tai giống như AK sau này, khóa nòng cũng có chuôi hình trụ, hai mấu ghép vào hai gờ xoắn trên bệ khóa nòng, rất giống AK. Dây là điểm hay của súng, khóa nòng rất nhỏ nhẹ so với các khóa khác lúc đó. Mặc dù gia công loại này lúc đó đắt, nhưng nếu Chauchat thay lùi dài bằng trích khí thì đã có loại súng máy tốt nhất thế giới lúc đó nếu không kể khoản khó-dễ gia công, đắt-rẻ, cái mà không có trích khí thì Chauchat cũng đã phải gánh chịu.

Kim hỏa cũng nằm trong khóa nòng như AK, búa chính là bệ khóa nòng.

Khi lùi hết chiều dài, bệ khóa nòng bị mắc lại bởi một mấu, nòng về vị trí ban đầu trước-mở khóa nòng-trên đường đi nòng hất vỏ đạn ra, rồi bệ khóa nòng mới đẩy về móc theo đạn. Khi tiến lên vị trí nòng, khóa nòng quay hai tai và khóa buồng đốt. Khi đạn nổ, khóa nòng đẩy bệ khóa nòng về giữ trong tư thế khóa và tai khóa nòng kéo theo nòng súng, tất cả cùng lùi.

Cửa hất vỏ đạn bên phải, khá tiên tiến ngày đó  (nhưng anh MAS lại quay về cổ đại hất lên trên, Tây Phú lắm sáng kiến nhưng thiếu nghiên cứu sâu bao giờ cũng áp dụng sáng kiến rồi bỏ cuộc như vậy). Ke hất vỏ đạn khá giống M1916, M1917 FSA sau này.

Chauchat có giá hai chân, người ta thiết kế nó là một trung liên đúng nghĩa. Còn BAR chỉ sau khi thấy mình lố quá mới làm giá hai chân, rồi 3 chân. Chắc lúc đầu khi không có giá, BAR thương "súng trường tấn công" Chauchat lắm, lão già quá cẩn thận, bắn xách tay còn mang theo chân giá làm j` !.

Một điểm rất đáng chú ý, đó là bơm khí làm ngội. Khối lùi làm piston nén khí, nòng được bao bởi một vỏ, không khi đi qua khe giữa vỏ nòng và nòng làm mát nòng súng. Về sau, BAR học theo nhưng bơm chạy bằng trích khí theo máy súng. BAR là kết quả một trò đùa của Chauchat mà.

Súng làm súng trường phát một rất dở vì bắn khi khóa nòng mở. Làm súng máy thì nặng 10kg nhưng có động năng đầu đạn của MP và tốc độ bắn bằng 1/3, băng đạn bé tí xíu và đạn to đùng chỉ mang được vài băng. Ngoài ra, còn các đặc điểm thiết kế lạc hậu khác đem lại nhiều điểm không tốt. Súng dễ bị ảnh hưởng bời bụi bẩn, va đập và mang di chuyển khó. Trong khi đó rất đắt và chỉ chế tạo được bằng những máy tiên tiến nhất lúc đó.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/FMchauchat-carcasse-WEB.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/FMCSRG15Chauchat-VD-WEB3.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/405ac9a6.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/81d0629e.jpg)

thời điểm bắn, khóa nòng đóng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/90d165e8.jpg)

lùi hết, khóa nòng đóng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/2ba95ee2.jpg)

Nòng đẩy về trước, khóa nòng mở
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/2ba95ee2.jpg)

bệ khóa nòng đẩy về, hết quãng đường này khóa nòng đóng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/e5567434.jpg)

Khóa nòng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/9f894653.jpg)

Bộ máy phức tạp và khít khao, rất dễ tắc.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/chauchat/armesfrancaises/fd9c6143.jpg)



Mỗi lần các nhà ái quốc nói tiếng Anh bình luận về súng ống thì lại một lần họ thể hiện ngu si liệt não. Họ chế bai ánh sáng huy hoàng của AK-47: "chỉ là học của MP-44 mà thôi".

AK chả có gì chung với MP-44 cả, một súng là MP, tiếng Nga là PP, như PPSh-41, là súng ngắn bắn nhanh. Còn AK là súng trường. Súng ngắn thì không phải là súng dài. Máy móc thì AK chả có gì giống MP cả. AK trích khí động lực xung ngắn. MP-44 trích khí tiết lưu áp lực hành trình dài. AK là máy khóa nòng xoay hai tai. MP-44 là máy khóa nòng chèn nghiêng giống SVT, PTRS...

Buồn cười, cái ngu nhất của các chú bị đầu độc bởi quảng cáo, liệt não ngu si này không biết, là thế này. Bộ khóa nòng và móc đạn, đầu băng đạn của AK là học từ M1 Garand lừng danh của chính Mỹ.  ;D. KHóa nòng kiểu này được áp dụng đầu tiên ở đây, Chauchat.

Đây là điểm tiên tiến nhất chủa Chauchat. Nhóm thiết kế Louis Chauchat và Charles Sutter xuất sắc đã đi trước xa các súng Pháp M1916, M1917 và xa hơn nữa là MG-34 Đức về khóa nòng. Súng bộ binh khác pháo, áp dụng khóa nòng ren cắt nhiều tai, nhiều tầng vào súng nhỏ sẽ sinh ra việc chỉ một vài tai hoạt động, nó quá sức và chóng mỏi. Mondragon có thể đã áp dụng nhiều tai để thay thế nhau trong điều kiện gia công rất thiếu chính xác ngày đó, nhưng không còn những khẩu súng mới ngày đó để xem độ chính xác gia công thế nào để chứng minh được ý này. Khó nòng hai tai làm quãng được chuyển độn của bệ khóa  nòng dài, nhưng súng bộ binh chỉ dùng hai tai mà thôi.

Cũng lại buồn cười. Chauchat đi trước thời đại quá xa, sau này chính Pháp không dùng hai tai.

Cũng có thể lúc đó Pháp có thiết kế trung liên khác tốt hơn Chauchat đã lạc hậu, rất yếu, nhưng dù yếu, Chauchat là súng máy duy nhất dùng cá nhân, súng máy tiểu đội suy nhất của Pháp, trung liên duy nhất của Pháp được sản xuất lớn lúc đó. Có thể Chauchat được động viên vì một lý do xấu, nhưng nó đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, vì bản chất concept của nó đúng, nó là trung liên, chứ không phải súng tấn công, bất chấp người ta gán cho nó nguyên lý sai lầm.

Mặc dù già, yếu, nhưng Chauchat đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chắc những người thiết kế và bán Chauchat rất tốn công nhịn cười khi các chú BAR tung hô vạn tuế và xung phong theo cái ... nghịch của mình: "nguyên lý súng trường tấn công đi bộ".


Tiêu đề: Súng tiểu liên AK
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Ba, 2009, 11:43:54 am
Lang thang trên mạng sẽ thấy khá nhiều những đoạn dài kể lể về súng trường tấn công đầu tiên trên Thế Giới là Chauchat, khẩu thứ hai, dưới một người trên muôn người là BAR. Cũng buồn cười, khá nhiều đoạn kể lể Chauchat máy lùi dài là học từ súng ngắn của Browning, người thiết kế BAR. Dân ái quốc nói tiếng Anh vừa ngu si vừa đê tiện, quá tự ái trước BAR học concept "súng trường đi bộ bắn liên thanh", cố gắng kể lể điểm ngược lại. Trong khí đó, khóa nòng Chauchat hoàn toàn khác, súng lục Browning là chèn ngạnh nghiêng, còn Chauchat là khóa nòng xoay hai tai. Sao mà giống khóa nghiêng của súng ngắn MP-44 và khóa xoay hai tai AK đến thế.

Nhiều cái ngu si nhan nhản trên mạng đên mức người ta dị ứng, cứ ai khen súng ống Anh Mỹ cái gì là người ta cảnh giác xem đó có phải liệt não không.
Thật ra, nói đó là những nhà Ái Quốc là sai. Những cái nhan nhản trên nét đó chỉ là sản phẩm của bầy đoàn liệt não, kết quả của công nghiệp quảng cáo khổng lồ, của nền giáo dục tràn ngập cần sa và bạo lực. Những tên zum bai liệt não này được khoác lá cờ ái quốc để thêm nhiệt tình điên khùng kêu sủa, cũng như cải thiện tính hợp lý của chúng ( ;D). Chúng kêu sủa đến mức cứ ở đâu thấy bàn luận về súng ống Anh Mỹ là tràn ngập bởi những câu chữ vừa ngu si vừa đê tiện của liệt não.

Súng ống Anh Mỹ không phải là không có cái hay, nhưng người ta dị ứng, cứ thấy ai nói cái hay về súng ống Anh Mỹ thì 99% đó là liệt não nói về một cái súng dở người.

---------------

Nước Mỹ cũng vui tính, một quyết sách quốc gia được thực hiện từ một trò đùa của Chauchat. Lúc đó, Đan Mạch muốn trung lập và dễ dàng bị Đức xơi tái, sao mà bán súng Madsen được cho Pháp. Mà nước Pháp chỉ có mỗi Chauchat mà thôi, vậy nên Chauchat được sản xuất lớn và cũng chỉ sản xuất trong giai đoạn ngắn ngủi đó mà thôi. Chauchat có động năng đầu đạn rất yếu, nhà quảng cáo khéo léo đã biến điều đó thành ưu thế "súng trường tấn công" vì dù sao nó ít giật hơn Madsen. Nhưng dĩ nhiên là Chauchat không tham gia vào cuộc xung phong, chỉ bắn yểm trợ, vì Chauchat là trung liên nặng uỵch 9-10kg mà.

Thật ra, nước Mỹ không thiếu đầu óc, nhưng đầu óc Mỹ lại không yêu nước Mỹ, mà yêu tiền của Colt, đám Mỹ khùng ngu si thì được tiền của Colt khoác cho cái áo Ái Quốc, đứa nào dám bảo BAR dở người, thật khốn khổ cho những người yêu nước Mỹ thật sự. Phong trào ngu su lại bùng phát và trí khôn từ vua lái súng Colt tận dụng, một đại quân ngu si được dẫn đầu bởi bánh lái siêu giỏi về tham nhũng, cũng như Colt sau này sẽ mua AR-15 của Armalite. Nước Mỹ liền đem túi tiền to tướng, công nghiệp hùng hậu, hòa bình không bị tàn phá... ra tân trang Chauchat, làm ra khẩu súng mạnh, nhưng tẩu hỏa nhập ma từ trong trứng là BAR. Concept "súng trường bắn liên thanh đi bộ", cái rắm đùa nghịch của Chauchat, cổ vũ dân Pháp dũng cảm trong chiến tranh và cổ vũ dân Mỹ móc tiền dâng cho Colt.

BAR là gì, nói theo ngôn ngữ Lịch Sử Đảng là: "cuộc diến tập thắng lợi hoàn hảo, tiền đề cho việc dựng M16 lên ngai vàng sau này, bất chấp nó chỉ là bản đẻ non của AR-18". BAR có cái gì đó giống như máy bay F-12 hay F-22, nó thực hiện được hợp đồng bởi vì có concept không giống ai cả. Ban đầu, BAR còn không thèm có giá chân, chuyên bắn trên tay tìm chim. Mà buồn cười, Chauchat yếu, nên đâm ra lại đỡ tệ hơn BAR về sức giật, cùng là đi tìm chim, BAR càng làm đạn mạnh thì càng ngoắt nòng về hướng quân ta nhanh hơn.

Colt nắm ngay được những linh hồn của Chauchat. Chauchat thiết kế sơ khai nên rất khó làm, tệ hại cho quân đội và làm nó đắp chiếu khá lâu. Nhưng điều đó lại là công cụ rất hay để giành giật các hợp đồng, Chauchat tuy được thiết kế bởi CS, nhưng chỉ làm béo xưởng sản xuất dây chuyền Gladiator tại Paris. Những đặc điểm đó cũng sẽ được M16 thừa kế mãi sau này, tính khó làm với DP, AK là điều tệ hại không thể chấp nhận được, nhưng lại là yêu cầu số một của BAR và M16.

Madsen đã có từ rất lâu và phổ biến, thế nhưng trời cho Colt một cơ hội bán hàng. Đó là nguyên lý chiến đấu "súng trường đi bộ bắn liên thanh", được cổ động ở Pháp.  ;D ;D ;D ;D Bản chất của BAR chỉ là vậy. Madsen không có nguyên lý đi bộ bắn liên thanh, cổ rồi, xem đây.  ;D. Trên thế giới chỉ mình Chauchat làm được điều đó, nhưng Chauchat cổ lỗ yếu đuối. Hay quá, cơ hội đây rồi, tên lái súng quái vật bậc nhất nước Mỹ liền quăng tiền ra mời nhà thiết kế súng lừng danh nhất nước Mỹ Browning thỏa mãn yêu cầu này.

Không ai cạnh tranh với công cuộc ngược đời ấy cả. Trên đời này chỉ có hai cái súng có concept đó. Chauchat thì già yếu, vậy là còn mỗi BAR.
 ;D ;D ;D ;D

Buồn cười nối tiếp buồn cười. Chauchat mang được ít đạn vì đạn 8mm Lebel và băng một hàng đã kịch trần, các bạn xem trên, không còn chỗ đặt băng. BAR thì xông xênh chỗ, nhưng cũng chỉ mang 20 viên đạn, dù có chân giá thì BAR vẫn trung thành với nguyên lý "súng trường đi bộ bắn liên thanh".  ;D ;D Làm trung liên nhưng kém cỏi chỉ mang được 20 viên, lúc cao hứng dạy đàn em, Chauchat đã nói lớn "súng trường mang 20 viên là nhiều, mang nhiều nữa thì thành Madsen, DP à".  ;D ;D ;D Và thế là người kế nghiệp răm rắp tuân theo.

Chúng ta xem lại súng trường tấn công cần có những đặc điểm gì ?? chọn chế độ phát một và liên thanh, dùng bởi một người, có tầm súng trường... nhưng phải là bắn được khi đnag chạy, mới là "tấn công". MP có khả năng đó, nên là súng tấn công, MP không có đạn súng trường, nên là súng tấn công không phải trường. Chauchat và BAR có đạn súng trường, có bắn liên thanh, có chọn chế độ...chỉ thiếu chức năng tấn công thôi. Khẩu pháo cao xạ cũng thế, chỉ thiếu khả năng ai đó vác khẩu pháo bắn khi đang chạy.

À, BAR có cách giải quyết thông thái. Súng không bắn được khi đang chạy thì ta "quay chậm" cuộc tấn công thành tốc độ thời Nã Phá Luân. Súng ông không bắn được khi chạy thì chúng mày đi bộ mà tấn công.

-----------

Theo một số con số ước tính thì 250 ngàn Chauchat được xuất xưởng từ 1916-1918. Một vài con số kỹ tính hơn là 265 ngàn. Trong số đó có 18 ngàn Chauchat dùng đạn 03-06 cho quân Mỹ bạn nhậu. Vài chục ngàn Chauchat kiểu Ba Lan và Bỉ được sản xuất sau đó, một phần là hoán chuyển từ Chauchat Pháp bắn đạn 8mm Lebel.

Bỉ mua vì giá rẻ, lúc đó Bỉ ngay cạnh Pháp, cần mua hầu ông nhớn thắng trận đôi chút, càng rẻ càng tốt. Còn Ba Lan, nước này tách ra từ vòng ảnh hưởng của Sa Hoàng, đầu gấu định đánh cả ... đất mẹ, kết quả của giai đoạn này là năm 1939 kỵ binh Ba Lan xung phong anh dũng trước xe tăng Đức (ngày nay còn khối chú liệt não tự hào là lúc đó quân Ba Lan chết nhiều lắm). Kết quả của một nhà nước non trẻ nhưng chí lớn, chí chiến đấu lớn nhưng trí óc không lớn đủ dùng, lòng ngông cuồng dẫn đến ngu si và quá sớm bị tham nhũng đầu độc-trước khi đất nước đủ tuổi thanh niên, và tự đem mạng mình nuôi béo Chauchat. ;D ;D Ngày nay chuyện dại dột này còn dài dài nên không lạ.


----------------

Buồn cười. Lúc Chauchat được đưa vào biên chế cũng là lúc khẩu súng trường thật sự đầu tiên trên thế giới, khẩu Fedorov Avtomat được chấp nhận, và sau đó là khẩu MP-18 bên Đức, những khẩu súng tấn công thật sự. Trong khi Ba Lan mua "súng trường tấn công" Chauchat thì Đức cũng đang thực hiện khẩu súng trường tấn công đầu tiên của mình, cạc bin liên thanh M35, và hoàn thiện hàng loạt các MP khác. 

Trận địa chiến thời Chauchat bị xe tăng nghiền nát, chiến tranh cơ động đặt MP, PP lên ngôi vua đầu Thế Chiến II, và sau đó là súng trường tấn công . Vào thời điểm đó, kỵ binh Ba Lan anh dũng vung kiếm lao vào xe tăng Đức ở cổng thành Warsawa, dưới sự yểm trợ của Chauchat.

Đến nước Vịt. AK đã tràn ngập, MP, PP, SMG thì ê hề. Thế nhưng các chú Mỹ vẫn dậy anh ngụy còi cử tạ 10kg tỳ vai, hay xách súng bắn tìm chim. Súng trường tấn công BAR chiến đấu với AK như thế.  ;D ;D BAR có thể làm được trung liên, nhưng 20 viên đạn thì súng đói khổ quá. Mà so với ai, so với đối phương dùng Bren, RPD, RP-46 hay RPK đây. Chức năng trung liên thì ít đạn hơn AK, AK làm chức năng trung liên tốt hơn BAR, sự thật là như vậy mặc dù hài quá. Chức năng súng trường thì về mặt khối lượng là giống súng hỏa mai tiền sử . Đấy là chưa kể không ai khen súng trường bắn từ khóa nòng mở cả, nhất là loại khóa nghiêng rung mạnh như BAR.

Dĩ nhiên là BAR lạc hậu, thay thế một thế hệ súng trường tấn công mới là hợp lý, và BAR nhường ngôi cho AR-15 đẻ non.

Dưới đây là Video nhặt nhạnh lịch sử của BAR. Các bạn có thể thấy, súng trường bắn chậm này, súng máy nặng nề này, Chauchat dễ kẹt này... và các chiến binh sử dụng BAR như AK. Ngon lành a, khẩu súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới là Chauchat, khẩu thứ hai siêu hoàn thiện là BAR.

Bạn cứ cầm quả tạ 10kg nâng một tay ngang vai cách trước ngực 40-50 cm đi xem "chiến đấu" được bao nhiêu.  ;D . Trong đoạn này có cả trình diễn, trích phim... he he he, quân ta dùng BAR nhẹ nhanh như một SMG vậy, bắn chỉ rung nhẹ đầu súng. He he he he he he, truyền thống phi thực tế, hoang tưởng bởi phim hành động và bị đầu độc bởi quảng cáo vẫn còn đến ngày nay. Mà có cần đâu xa, trên kia có anh ngụy anh ấy tí nữa gãy cột sống chỉ để nâng BAR lên bắn tỳ vai, có giống đoạn quảng cáo trên tí tẹo nào đâu. Việc nâng quả tạ 10kg thì học sinh nào chẳng hình rung ra, thế mà cả một đất nước lại có thể tin vào sự phi lý như vậy.

Ngày nay, 90 năm sau nhìn lại BAR, nghe lại đoạn nó tự vỗ ngực là "súng trường tấn công" thứ 2 thế giới, sau Chauchat... thấy kỳ khôi nguyên thủy quá, nhưng, sự thật lại là như thế, đúng là như thế, 90 năm trước có chyện như thế. Thế nhưng, những chuyện tương tự thì vẫn diễn ra dài dài. M16, máy bay F-12 và nay máy bay F-22 vẫn được chấp nhận đấy thôi. F-12 đến nay cũng đã được người ta cười vào mũi rồi, nhưng M16 vẫn chưa lớn và F-22 đang xuất hiện thế chân. Một thế giới ngược đời ảo tưởng trong ngu si liệt não bởi quảng cáo.

Những năm đó, Fedorov và Chauchat cùng được chấp nhận và sau đó là BAR, BAR cùng năm với MP-18 Đức. Thế mới hài hước, chẳng nhẽ khoa học quân sự ở một số nơi hài hước đến vậy.


<embed width="448" height="361" type="application/x-shockwave-flash" wmode="transparent" src="http://i180.photobucket.com/player.swf?file=http://vid180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/BAR_M1918/video/2fea03b8.flv">


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: saruman trong 10 Tháng Ba, 2009, 08:15:17 pm
Minh họa cho tư  thế bắn
(http://i696.photobucket.com/albums/vv324/saruman89/USDoughboy1916-194.jpg)
Xạ thủ phải quỳ xuống, ép sát súng vào người để đề phòng ngã ngửa do giật. Bên cạnh còn 1 anh nữa, không rõ có phải để thay ca khi cần không ;D Mà kệp sát nách thế này thì không hiểu có cửa bắn trúng người ở cách 100m trở lên không


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Ba, 2009, 09:20:56 am
Các đồng chí ném bài của tôi đi đâu rồi ??

AK là súng trường tấn công. Nó khác súng máy cá nhân trung liên thế nào, nó khác súng trường tự động thế nào ?? các đồng chí dốt không hiểu được điều đó thì để người khác đọc.
Tại sao BAR và Chauchat xưng là súng trường tấn công mà lại không phải súng trường tấn công, các đồng chí có biết không ??
Tại sao máy DP dùng cho súng máy, máy SVT dùng cho súng trường, các đồng chí có biết không ?? tại sao máy AK lại phải thỏa mãn cả súng máy và súng trường ??
Tại sao AK lại là súng trường, vì nó có động năng đầu đạn thấp nhưng sức công phá của đầu đạn cao hơn NATO 7,62x51, vì AK bắn 3 viên chui qua một lỗ ở 200 mét... tại sao AK lại đạt được như thế ??

Các đồng chí xóa các đoạn đó đi thì trả lời các câu hỏi trên hộ tôi.

Nhắc thành viên huyphuc1981_nb dùng từ ngữ cho đúng mực!


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: Ngocvancu trong 11 Tháng Ba, 2009, 03:00:13 pm
@saruman:Theo hình thì tay kế bên là phó xạ thủ làm nhiệm vụ tiếp đạn,khi xạ thủ dính đạn sẽ thay thế.Nhìn khẩu súng ngắn đeo bên hông tay xạ thủ chính,thấy ló ra cái báng hình như là loại Colt 1911,nhưng thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất(1914-1918)súng ngắn của quân đồng minh đa phần là loại ổ quay thôi.


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: winter trong 11 Tháng Ba, 2009, 06:17:17 pm
Bài của bác Huy Phúc quá chuẩn có cơ sở trích dẫn cụ thể em hơi bị kính nể có điều bác xuống tay phím năng quá . Thỉnh thoảng bác làm cái cho nó văn nghệ thôi thôi chứ cứ đều thế này bác bị leo cây  ;D anh em hết cái đọc (Em đọc bài của bác từ bên TTVN cho tới tận đây )


Tiêu đề: Re: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 12 Tháng Ba, 2009, 01:19:18 pm
Không phải đâu, tay cầm Chauchat là sỹ quan, đem cái súng ngắn. Tay ngồi bên mới là người bắn Chauchat. Ở đây, có thể bức tranh mô tả cảnh nào đó, chỉ huy lấy súng của lính để làm điều gì đó.


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 13 Tháng Ba, 2009, 09:55:40 am
Cuộc chiến WWII. Bản chất của cuộc chiến này cũng như WWI. Cuộc chiến ra đời trong khi các nước tư bản già cỗi, bị mục rỗng bởi tham những và suy đồi, mải ăn chơi không làm, lâm vào khủng hoảng. Các nước già này lắm thuộc địa nên trong lúc khủng hoảng đóng cửa kinh tế. Điều này gâp nguy ngập cho các nước trẻ như Đức, và chiến tranh nổ ra. Tuy nhiên, cả hai cuộc chiến này có một sự quay ngắt trong quan hệ Nga-Đức. Nước Đức hình thành và lớn lên nhờ sự nghiệp của Piotr Đại Đế, ông đánh đổ các cuộc xâm lăng và ách thống trị Thụy Điển, nhân lúc nước Ba Lan suy đồi, Đức đã trở lên hùng cường từ một tiểu quốc Phổ nhỏ xíu. Quan Hệ Nga-Đức đến đầu tk20 vẫn rất anh em.

Nhưng nước Nga Sa Hoàng suy đồi, nước Đức thì hóa dại. Thay cho Hội Đồng Pháo Binh và các phát triển mạnh mẽ sau thời Piotr Đại Đế đến gần cuối tk19, chỉ trong 30 năm, nước Nga giờ đây tràn ngập tham nhũng, ngay cả khẩu Mosin danh tiếng cũng bị bán các hợp đồng sản xuất ra nước ngoài. Súng pháo Nga đầu tk19 tiên tiến nhất châu Âu, nay tụt hậu xa vời, hầu hết các loại pháo đều bán các món hời về thiết kế và chế tạo ra nước ngoài. Đầu tk20 là thời kỳ được gọi là "hy sinh toàn diện" của các nhà thiết kế súng pháo Nga, họ không được trợ cấp gì của công nghiệp, quân đội và nhà nước.

Nhưng sự mất mát lớn nhất về ngoại giao mà chính quyền Nga Hoàng để lại, là mất đi quan hệ anh em tự nhiên với nước Đức. Sau 1870, Nga vẫn đứng về phía Đức, nhưng dần dần, tham nhũng Pháp đã kéo tham nhũng Nga ngả dần sang bên kia, sự ngả dần song song với sự suy đồi về khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học bị đá ra đường và các hợp đồng béo bở bị bán ra nước ngoài, các công xưởng truyền thống ốm đói. Và thế là hai nước có quân sự mạnh nhất châu Âu lao vào chiến nhau chí tử.

WWII có nhiều cuộc chiến lẻ trước khi cuộc chiến chính bắt đầu. Trong đó, MP đã chứng minh vai trò của mình.
Nhìn về quá khứ, trong khi Mỹ Pháp ngu dốt format súng tấn công Chauchat và BAR nặng uỵch-hoàn toàn ngược chiều, thì Nga, Đức cho ra đời các súng rất hợp với tiến công. Nga đúng đắn nhất với Fedorov, nhưng thiết kế thiên tài này sớm chết đói trong cách mạng. Đức cho ra dòng MP-18, từ đâu, MP bắt đầu sự nghiệp danh tiếng cho đến khi được súng trường tấn công thay thế.

Bản chất của MP là súng ngắn bắn nhanh. Đạn nhỏ, mang được nhiều đạn.  Súng gọn, giáp lá cà trong chiến hào tốt. Nhưng đặc điểm quan trọng nhất là súng nhẹ, giật nhẹ, bắn được khi đang chạy, thỏa mãn động tác xuong phong, vừa chạy vừa bắn từng loạt ngắn vào các mục tiêu mới xuất hiện trong tầm rất gần, chỉ vài chục mét. Từ thập niên 193x, MP vên Đức dần được gọi là STG: súng xung phong. Đến Thế chiến II, Đức đã sản xuất MP với số lượng lớn, ngang súng trường, cho thấy MP dần dần chiếm vị trí súng chủ lực.

Bên Liên Xô,  Fedorov bị bỏ chết đói. Quan điểm Liên Xô vẫn lấy súng trường hạng nặng làm chủ lực, trong khi đó, Mosin nổi trội về đầu đạn mạnh mẽ, hợp với Nga, đồng thời việc phát triển hai loại đạn súng trường cùng lúc trong thời buổi khó khăn đó không được chấp nhận. Họ cũng có một chút MP nhưng sản xuất số lượng không phải là súng chủ lực. Cuộc chiến Phần Lan đã làm thay đổi mạnh quan điểm Liên Xô. Khác với WWI, nay xe thiết giáp các loại đã nhiều, công sự và cuộc chiến cố định đã lỗi thời, cuộc chiến cơ động phát triển và do đó, loại súng đặc trưng cho cuộc chiến cơ động, cuộc xung phong tốc độ cao ưu thế hơn. PPSh-41, rút kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu, vượt lên và được sản xuất nhiều thay thế cho PPD-34 của Degtriarev.

Vì lý do này mà nhiều người cho là PPSh-41 học của Suomi-33 Phần Lan, hoàn toàn không có chút gì như vậy. Suomi giống nhiều đặc điểm của PPD, và cả hai súng đều có nhiều điểm giống MP-28 Đức. Một số người "cẩn thận hơn" cho rẳng PPSh-41 học Suomi băng cối 71 viên, hoàn toàn không phải như vậy, vì băng này PPSh kế thửa của PPD, được đưa vào sản xuất năm 1938 ở kiểu PPD 34/38, trước chiến tranh Phần Lan. Suomi có hình dáng khối lùi piston hai tầng rất đặc trung, giữ hai tầng là đệm không khí giúp giảm rung. Hình dáng khối lùi piston này hoàn toàn khác khối lùi rất Nga của PPSh và khối lùi Phần Lan tuy làm việc êm, nhưng lại rất dễ hỏng hóc do kết cấu trụ kín khít (chỉ cần méo chút là kẹt), đặc điểm mà người Nga đặc biệt ghét.

Cái hơn của PPSh-41 là những đặc tính Nga: rất dễ chế tạo và tin cậy, súng được quân Đức tín nhiệm, không những thu chiến lợi phẩm trang bị chính thức mà còn sản xuất nhái rất nhiều để dùng đạn Đức, cái này giống SVT. Tuy nhiên, mặt ưu thế nhất của PPSh-41 và các PP Nga là đạn. Người Liên Xô cố gắng khắc phục nhược điểm tầm bắn thấp, sử dụng đầu đạn có tốc độ cao nhất trong số các súng ngắn sản xuất nhiều ngày đó, dùng đạn đường kính nhỏ như súng trường để giảm sức cản, nâng tầm bắn hiệu quả lên. Phương Tây đánh giá PPSh-41 là 200 mét, nhưng theo các tiêu chuẩn đánh giá khắt khe của Liên Xô thì không đến. Tuy ở 200 mét, khả năng bắn trúng viên đầu tiên của PPSh-41 thấp, nhưng có thể giữ súng quạt hết băng cối 70 viên, đảm bảo cày nát chứ không chỉ trúng, nên có thể theo Phương Tây 200 mét cũng được.

Cái mà Liên Xô học ở đây không phải hẩu PP hay Suomi, không phải học Phần Lan. Đó là thực tế chứng minh cần nhiều PP hơn và từ đó Liên Xô sản xuất PP như một loại súng chủ lực, gạo hay bánh mỳ, chứ không phải gia vị ăn chơi nữa.

MP và PP có hỏa lực nổi trội ở tầm gần, súng mang được nhiều đạn, bắn nhanh, bắn ở tầm rất gần vài chục mét không cần ngắm vì súng giật nhẹ-hiệu chỉnh súng theo vết chạm đầu đạn. Súng đặc biệt nổi trội khi chạy xung phong, các mục tiêu xuất hiện đột ngột ở tầm rất gần thi MP, PP quét được ngay, trong khi đó súng trường phát một quá nặng, không hiệu chỉnh được loạt quét gần, súng trường liên thanh như AVS, AVT thì giật quá khiết, rất ít người giữ được súng ổn định khi bắn loạt và cũng đủ khỏe mang hàng chục kg đạn.

Nhược điểm của MP, PP là nó có tầm quá gần. Bên Mỹ, thứ súng tầm bắn hiệu quả SMG Thomson hay SMG M3 Grease có tốc độ đầu đạn dưới âm 280m/s, tầm bắn hiệu quả chỉ 50 mét đã được coi súng đánh nhau và được trang bị như là súng chủ lực (khoảng 6-10 triệu các súng này đã được sản xuất). Nga và Đức không thể chấp nhận chuyện như thế, nhưng MP và PP vẫn gần.


Ở đây, chúng ta thấy có một lỗ hổng với MP, PP. Khi vào gần, hỏa lực rất mạnh, nhưng trên đường vào gần thì hỏa lực rất yếu, súng bắn kém chính xác, sát thương kém. Súng trường phát một bắn rất hiệu quả với tỷ lệ trung cao (gần như toàn bộ đạn bắn ra trúng mục tiêu cố định) ở các khoảng cách 150 mét-300 mét (tầm bắn hiệu quả của AK là 300 mét), ở khoảng cách 300-600 mét, hỏa lực súng trường vẫn rất đáng sợ, tuy khả năng trúng giảm đi, nhưng vẫn có hiệu quả với khả năng bắn trúng phát đầu mục tiêu cố định là gần 1/2.
Như vậy, từ 600 mét tấn công vào 300 mét, PP đã bị súng trường gây sức ép mạnh và trong khoảng 300-150 mét, MP và PP có hiệu quả thấp không đáng kể, trong khi đó là tầm bắn đáng sợ của súng trường. Đặc biệt xuất hiện nhiều súng trường tự động lúc đó thì số phát đạn súng trường ngang số loạt bắn MP, PP.

Người ta bù bằng trung liên. Đại liên với pháp hỗ trợ lính vào 300 mét, từ 300 mét, trung liên dừng lại và bắn áp chế.

Nhưng, khoảng cách từ 150 mét đến 300 mét thì lính vẫn xung phong trong hỏa lực của trung liên và súng trường địch, pháo đã dừng, trung liên ta thì ở khá xa mỗi cá nhân đang xung phong, không thể phản ứng trước các mục tiêu mới được phát hiện.

Chính vì thế, WWII lính được trang bị MP, PP xung phong và số lượng lính chết rất lớn, chủ yếu thương vong trong giai đoạn này, không còn cách gì khác, bộ binh tay không xung phong đưới làm đạn súng máy địch đúng nghĩa đen.

Cũng chính vì thế, súng trường hạng nặng vẫn được sản xuất số lượng lớn, và đây là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử phát triển vũ khí, hai loại vũ khí bộ binh ngồi chung ngai chủ lực, đó là súng ngắn bắn nhanh và súng trường hạng nặng. Đây là điểm vô lý, vì sẽ phải trang bị cho lính hai vũ khí cùng lúc. Thực tế, người ta trang bị súng máy cho nhưng đơn vị tấn công hoặc giai đoạn sắp tấn công, còn ngược lại là súng trường. Dĩ nhiên là, những đơn vị mang súng xung phong thì khi bị phản công rất yếu đuối, và ngược lại, những đơn vị mang súng trường hạng nặng thì không phản kích địch được.

--------------

Đứng trước mâu thuẫn này, người Đức đã chọn một giải pháp là nâng cao tầm bắn súng máy. Điều này nếu xét về mặt ký thuật thì đó chỉ là hình thức, nhưng nhìn sang góc chính trị, nó thể hiện sự dốt nát về quân sự của Hitler. MP Đức có thể có nhiều danh tiếng, như nó đã tham gia trong các chiến thắng trước Tiệp Khắc, Ba Lan, Pháp và sau đó, cũng như bên Liên Xô, được đẩy lên với vai trò vũ khí chủ lực. Hitler hiếu chiến liền tung hô MP như là một thành tựu xuất sắc, ưu thế trí não của nòi giống Aryan, và thật khó khi lại nói lại là: nên thay MP bằng một loại súng trường mới. Nhìn ở góc độ khác, khẩu súng trường tấn công thật sự đầu tiên của Đức, khẩu MKb-35, không hợp cạ với Hitler và bộ máy của ông ta đã lái vẹo đi chương trình này, đặc trung nhất là đạn được được thử nghiệm tại Mauser, đạn là cốt lõi của khẩu súng và chương chình dừng.

Kết quả của những việc trên là Đức chọn phương án nâng cao tầm bắn súng ngắn MP. Đạn M43 đã được cải tiến nhiều lần, rất bé so với đạn ban đầu của MKb-35, vì nó là đạn súng ngắn. Hài hước, đạn quá bé, MP-44 kéo dài hết cỡ nòng để tận dụng tốc độ đầu đạn và... nặng như trung liên, 5,2kg rỗng. Chương trình mới bắt đầu với hai khẩu MKb-42: MKb-42(H) do hãng C. G. Haenel, tác giả Haenel / Schmeiiser . MKb-42(W) do tác giả Carl Walther.

Hình dáng bên ngoài hai khẩu khá giống nhau. MKb-42(W) dùng khóa nòng xoay hai tai giống AK sau này. Tất nhiên có nhiều loại khóa nòng hai tai như vậy và AK rất khác, đặc trưng bởi tai to vật vã và chuôi bé xíu, còn các súng khác ngược lại. Piston của MKb-42(W) dạng hình cung rất ít gặp. Piston hình cung tròn bao quanh nòng, điều này làm súng co dãn do nóng và rung rất cân. MKb-42(W) có đặc trưng rất súng trường là bắn từ khóa nòng đóng. Phần cò búa chạy thẳng giống máy G-43, kiểu này làm súng không rung ngang hay đứng do cò búa. Súng nặng 4,4kg rỗng.
Cả hai khẩu đều dùng trích khí tiết lưu. Cả hai đều chọn bắn phát một và liên thanh. Cả hai súng đều chưa có ốp lót tay trước của súng trường, tai trái cầm trục tiếp vào băng hay ổ cắm băng, đặc trưng của súng tầm rất gần như MP, PP.
MKb-42(H) dùng loại máy phổ biến lúc đó cho súng tự động, là máy chèn ngạnh nghiêng, gây rung đứng khi bắn loạt liên thanh, điều này dở hơn các MP chỉ rung dọc. Mà cũng giống MP, MKb-42(H) bắn từ khóa nòng mở như MP, và do đó, khi bắn phát một độ chính xác thấp. Có thể nói, súng này bao gồm một tập hợp các giải pháp cũ rích cho một kiểu súng mới, do đó, nó nặng nề nhiều nhược điểm. Súng quá nặng 4,9kg rỗng.

Bọn liệt não bị ánh sáng của AK làm chói mắt thường nói AK học của MP-44, ở đây có điểm nữa để cho não chúng thêm liệt. MKb-42(H) sau trở thành MP-44 có máy chèn ngạnh nghiêng, hình dáng khóa nòng rất giống PTRS-41 (súng chống tăng Liên Xô) và CKC ( xê ca xê SKS nhà ta hay dùng), nguyên lý này chả liên quan gì đến AK cả. Khẩu có máy xoay hai tai nguyên lý giống AK lại là MKb-42(W) đã bị loại bỏ. Tuy nhiên, đặc trưng của khóa AK là chuôi nhỏ, do khoảng cách của chuôi khóa nòng và bệ khóa nòng lớn, cân đối, nên toàn bộ lực dồn vào tai, chuôi nhỏ làm khoảng chuyển động của bệ khóa nòng nhỏ và rất thoáng mát trơn tru, cùng là cấu tạo khóa xoay 2 tai, nhưng AK vượt trội ở điểm này.


Cả hai khẩu đều được sản xuất với số lượng cỡ chục ngàn để đem sang mặt trận Nga-Đức, mục tiêu đầu tiên rõ ràng là thử nghiệm đánh giá, mục tiêu kỹ thuật chắc chắn là đọ sức với PPSh-41. có thể thấy, MKb-42(H) sử dụng trích khí quá lạ, mình không có thực tế để đánh giá kiểu trích khí này. Nhưng có thể hiểu được là nó khá nặng, và còn nhiều nhược điểm chưa thử nghiệm hết. Thế nhưng, MKb-42(W) lại có lượng kỹ thuật mới, sang kiến mới quá tệ, nói đúng hơn là chỉ toàn các giải pháp cũ rích, không được chau chuốt trong một thiết kế mới và không hợp nhau cũng như hợp nguyên lý súng. cả hai MKb-42 thuần túy là MP và bắn từ khóa nòng đóng của MKb-42(H) tốt hơn.

Chắc chắn là có thể còn nhiều điểm nhỏ chưa ưu việt, nhưng cả hai súng đều có đường đạn tốt hơn PPSh-41. Đó là điểm đương nhiên. Từ súng ngắn MP, PP đến súng trường có một lỗ trống và chả cần thông minh gì cũng có thể làm đạn lấp lỗ trống đó, sao cho có một khẩu súng bắn loạt nhanh không cần tỳ đất như MP mà mạnh hơn các MP, PP đương thời.

MKb-42(H) có nhiều điểm tiến bộ, nhưng có lẽ, nó không thắng được MKb-42(W) do piston quá mới. Lúc đó, phương Tây chưa có piston nào đủ tin cậy. Piston DP sau này được SVT và CKC thừa kế, phát triển thành phiên bản lò xo đẩy về cần đẩy lùi riêng, rất hợp với súng nhỏ, sau này được áp dụng trong G-43, nhưng đây là năm 1942. Nhưng lúc đó ở phương tây trích khí và đẩy lùi rất đơn giản, đem đến nhiều nhược điểm, chúng ta cần nhơa lại là ở Đức, MG-42 dùng máy DP nhưng quyết định không dùng trích khí, bất chấp việc gánh theo cái nòng nhỏ rất nhanh nóng.

Mịe, cái thằng chí phèo nó move các đoạn post đi linh tinh bi h tìm cái tranh động về máy MG-42 cũng không thấy.

MKb-42(W) dùng trính khí và đẩy lùi truyền thống phương Tây, ảnh hưởng nhiều đến đường đạn, tốn khí, hay hỏng kẹt, hay dùng cho súng máy bắn loạt dài đạn hạng nặng, giá cao nhiều người chăm, bắn loạt dài chả cần xạ kích điểm và dùng đạn súng trường hạng nặng lắm khí (Nga My  ;D). MKb-42(H) cố gắng có một đẩy lùi mới, nhưng bị loại bỏ. Kể ra, bên Đức không như Liên Xô sau này, mọi người đoàn kết tập trung những ưu việt nhất về 3-4 mẫu, và bình bầu điểm chung của AK là nhất. Bên Đức, MKb-42(H) thua là ra đi hoàn toàn, MKb-42(W) không công nhận tí nào những điểm ưu việt của nó, ví dụ không dùng khóa nòng rung đứng chẳng hạn. Nếu như MKb-42(W) chuyển sang dùng trích khí SVT như G-43 cũng tác giả sau này, rồi dùng khóa xoay nhập từ MKb-42(H) thì Đức đã có phiên bản Kiểu 03 (2003) của Tầu rồi. Và nếu thế, thì bọn liệt não nói AK học từ MP-44 có chút lý lẽ.


Đánh giá chung về hai loại MKb-42 thế nào. Chúng ta hãy để người Đức-chủ nhân của chúng, làm điều đó. MKb là Maschinen Karabine: súng trường. Sau năm 1942, khẩu MKb-42(W) nghiền nát đối thủ và đồng thời với điều đó, người ta đổi tên chính thức nó thành MP-42 tức súng ngắn. Gọi là nghiền nát đúng nghĩa, vì AK khi tiến lên học nhiều thứ của đồng đội trên đường đua, nhưng MKb-42(W) vứt bỏ hoàn toàn các đặc tính dù tốt của đối thủ. Sau một số cải tiến nhỏ về súng và đạn, MKb-42(W) trở thành MP-44. Nòng kéo dài ra từ 364mm lên 419mm, súng tăng khối lượng rỗng lên 5,22mm, bằng trung liên RPK. Súng cũng lắp thêm cò búa để bắn từ khóa nòng đóng, cò búa quay.
Một thiết kế trung gian giữa MKb-42(W) và MP-44 là MP-43, sau đó ghép thêm đầu nòng của MKb-42(H) để phóng lựu. Phiên bản này là MP-43(1). Đây là đặc điểm duy nhất du nhập từ H sang W.

Súng trở thành trò cười trong giới chế súng Đức, bất chấp nó được Hitler ưu ái. Còn gì nữa, lấy máy súng phát một bắn liên thanh, các chi tiết cũ rích, nặng như trung liên và bắn đạn súng ngắn. Như mình đã nói, ngày 6-4-1944, sau quá trình phát triển khá dài, MP-44 được chấp nhận là súng xung phong STG của quân Đức, bên cạnh súng trường G-43 và súng máy MG-42.

Lúc này, súng dùng đầu đạn 125 grain (8,1 gram) và sơ tốc 680m/s.


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 13 Tháng Ba, 2009, 03:29:39 pm
Ngườ Đức đứng trên quan điểm "phóng to súng ngắn", Liên Xô ban đầu "Thu nhỏ súng trường", nhưng lại nhanh chóng chuyển sang quan điểm "Cải tiến đạn".

Quan điểm thu nhỏ súng trường còn tồn tại đến sau chiến tranh ở phương Tây. Trong khi Liên Xô hiện đại hóa kỹ thuật đạn để có được đạn nhỏ nhưng mạnh, thiết kế súng trường xung phong, thì Đức phóng to súng ngắn và phương Tây sau này thu nhỏ súng trường, như một dung hòa quan điểm của Liên Xô và Đức (rất đặc trưng của chế độ đại nghị châu Âu). Trong giai đoạn đến khi AS-44 được thử nghiệm bằng đạn M43 đời đầu, 7,62x41, Liên Xô đã đi qua bước đầu tiên là thu nhỏ súng trường, từ kết quả thử nghiêm trên chiến trường, AS-44 to cộng thêm rung khá mạnh, nếu thu nhỏ đạn thì không đủ yêu cầu mạnh, Liên Xô đã chuyển sang bước cải tiến đạn.
Đây là ba nỗ lực khác nhau, về hình dáng, thu nhỏ súng trường và phóng to súng ngắn không khác gì nhiều và đều khác một thế hệ súng mới mạnh mẽ.


Một sức ép với Đức là đạn Tokarev 7,62x25 khá mạnh. Cho đến giờ, đây vẫn là loại đạn súng ngắn mạnh, cái dở của nó là nòng súng cồng kềnh. Phương Tây ngày nay đánh giá PPSh-41 có tầm bắn hiệu quả 200-300 mét, quá cao so với chỉ số của Liên Xô (150 mét), do chênh lệch tiêu chuẩn đánh giá. Chúng ta cần biết là đạn M3 Grease sơ tốc 280 m/s dưới âm, tầm bắn hiệu quả 50 mét. Các đạn súng ngắn này có một nhược điểm là đều không được thiết kế để đánh nhau ở ngoài trận tiền, mà dùng cho các chức năng nhẹ như sỹ quan bắn hiệu lệnh hay cảnh sát. Chỉ vì Thế Chiến I sa lầy trong chiến hào mà đạn súng ngắn trở lên đắc dụng trong MP, và thật sự là, dùng MP-PP-SMG như vũ khí chủ lực ngoài trận tiền là bất đắc dĩ. Đạn Tokarev 7,62x25 có thể làm súng ngắn bắn phát một của các thầy quyền dài, nặng, nhiều nhược điểm..., nhưng là loại đạn súng ngắn tốt nhất lúc đó để chiến trên mũi nhọn xung phong, đạn súng ngắn tốt nhất để làm cái việc bất đắc dĩ sai vị trí trong thời buổi nước sôi lửa bỏng đó.

Việc sử dụng đạn súng ngắn tầm rất ngắn ra ngoài trận tiền đưa đến một vài nghịch lý. Đạn súng ngắn có thể có đường kính lớn và chiều dài ngắn, nhờ đó cùng một áp suất khí thuốc nhưng lực đẩy lớn, gia tốc lớn và làm ngắn nòng đi. Nhưng điều đó lại làm đạn nhanh tản mát trong không khí. Mặt khác, nòng ngắn bắn đạn nặng thích hơn, vì đạn nặng thì với sơ tốc thấp của nòng ngắn vẫn sát thương tốt. Nhưng tốc độ chậm đường đạn cong khó bắn chính xác. Súng ngắn bắn liên thanh MP (Maschinen Pistol) và súng ngắn (Pistole) có cái ngược giải pháp, đạn càng ngắn càng to thì làm súng càng nhẹ càng ngắn, hợp với P, nhưng MP không cần nhẹ ngắn thêm nữa, các bạn thấy, rất nhiều MP dùng báng như nối dài ra cho dễ cầm, mà đạn ngắn to lại phản tác dụng ở MP do tầm gần đi. Ở đây, ngược giải pháp do khác vị trí sử dụng, MP dùng tên mũi nhọn xung phong, cần đối phó với súng trường hạng nặng tầm xa, còn súng ngắn bắn phát một chỉ là súng hiệu lệnh, nếu có chức năng bắn sát thương cũng chỉ tầm rất gần.

May mắn, Liên Xô đã quyết định sản xuất khá nhiều đạn 7,62x25 Tokarev, bên Đức cũng có đạn rất giống 7,63x25 Mauser (C96, Liên Xô copy, súng ngắn C96 dùng khá nhiều ở Liên Xô và Nga Hoàng, trong "Thép đã tôi..." dịch là Maode), nhưng các súng MP Đức ại dùng đạn 9x19 Parabellum, đây là đạn dùng cho súng ngắn bắn phát một thế hệ sau của "Maode"-Mauser C96. Người Đức nối tiếp truyền thống MP-18, quá coi trọng đoạn xung phong tầm rất gần mà quyên đi việc, ngoài trận tiền, súng nào cũng cần tầm bắn vượt xa súng ngắn cảnh sát. Đạn nhỏ 7,62x25 Tokarev (bắn trên súng K54) nhanh chóng bị thay thế trong súng ngắn bắn phát một Liên Xô bằng loại đạn to (bắn trên súng K59). Có thể nói, đạn này ban đầu là đạn súng ngắn cảnh sát sỹ quan, nhưng sau này chủ yếu dành cho PP (MP, SMG).

Thế là PP Liên Xô như PPD, PPSh, PPS đều dùng đạn 7,62x25 Tokarev, và các MP Đức dùng đạn Parabellum. Hai loại đạn này cùng cỡ năng lượng đầu nòng 480-490MJ, nhưng sơ tốc của PPSh-41 là 480m/s, của MP-41 là 380m/s. Khả năng bị không khí cản đạn 9mm cũng cao hơn nhiều đạn 7,62mm, tốc độ mất nhanh hơn mặc dù đạn nặng hơn, đồng thời tản mát ngẫu nhiên do tác động không khí cao hơn. Ngoài ra, hiệu quả chung của việc sử dụng nòng-đạn MP tương đối kém trong súng mặt trận, dùng đan cỡ to hơn, nhưng nòng MP-40 không ngắn đi được bao nhiêu (PPD-40, PPSh-41, MP-40=273mm, 269mm, 251mm), độ dài súng thì như mình đã nói, người ta không cần lo chỉ theo khổ người mỗi nước và ý thích nhà chế tạo (788mm, 843mm, 833mm), khối lượng rỗng thì MP kém rõ rệt (3,23kg 3,63kg 4,03kg). MP-40 mang băng 32 viên nặng 4,7kg. PPSh-41 nặng 5,45 kg với băng trống 71 viên, 4,3 kg băng dài 35 viên. PPD 3,66kg băng 25 viên, 5,4 kg băng trống 71 đạn. Thật ra, với súng ngắn phát một cầm một tay thì đạn to có hiệu quả kích thước súng thể hiện rõ rệt, với súng cầm hai tay thì người ta quá thừa chỗ để kéo dài súng và nòng khi dùng đạn súng ngắn, nên đạn to nòng to nặng hơn trong khi vẫn phải bổ sung các bộ phận dài để tỳ vai cầm hai tay.

Cũng dễ dàng thấy một lợi thế nữa của PP trước MP, đó là người lính xung phong mang nhiều đạn hơn và lắp sẵn sàng trên súng nhiều hơn. Đạn vừa nhỏ hơn vừa nhẹ hơn. PPSh, PPD... dễ dàng mang băng 71 viên, bắn đè đầu các MP mang băng 3x viên. Các đoạn phim tài liệu và ảnh chụp chiến tranh cho thấy loại băng 71 viên được dùng rất nhiều, nếu không muốn nói là được dùng nhiều nhất trong thực tế. Việc mang được nhiều đạn là một thách thức với các súng tấn công cho đến ngày nay. Người lính phòng ngự dễ dàng có hàng tủ đạn, và thậm chí cũng dễ dàng có nhiều súng lắp sẵn đạn thay nhau, nhưng người lính xung phong có rất ít, họ không thể mang hàng tạ đạn, cầm hàng chục kg trên tay được. Số lương kg trung bình mỗi lính mang được chắc như nhau, và đạn nhỏ nhưng mạnh là ưu thế.

Ngoài ra, Liên Xô còn sản xuất khá nhiều các loại đạn xuyên hay tốc độ cao trên tiêu chuẩn 7,62x25 của họ và dùng khá nhiều giai đoạn sau của chiến tranh. Sơ tốc bắn nhiều loại đạn lên đến 550m/s (bắn trên nòng tiêu chuẩn thử 120mm đạt 520m/s). Sức xuyên của đạn sơ tốc cao cũng cao hơn đạn tốc độ thấp cùng mức năng lượng (ví như xe tăng dùng đạn giảm cỡ), nên các loại giáp chống đạn thông thường cả sau này cũng dễ dàng bị xuyên.

Như vậy, không nói về dễ chế tạo, tin cậy... chỉ nói về tầm bắn, PPSh và PPD trong năm 1942 là loại súng ngắn bắn nhanh tốt nhất thế giới. Và vì vậy, dễ hiểu là người Đức đã khát nước lao vào cuộc đua súng ngắn, mà quyên đi những yêu cầu mà MKb-35 đã đi đúng hướng, cần phải chế tạo súng trường.

Kết quả của điều này: MP-44 không có ốp lót tay trước, không được thiết kế để bắn tầm xa và không bao giờ là súng trường cả. Nó là súng ngắn mạnh nhất hồi đó, nhưng chưa là súng trường. MP-44 có sơ tốc rất gần sơ tốc các mẫu thử đạn M43 ban đầu, nhưng vẵn là một súng ngắn. Rất nhiều bạn hay lấy động năng đầu nòng để phân biệt súng ngắn súng trường... nhiều loại súng ngắn hiện đại có đạn nặng khủng khiếp, động năng đầu nòng khủng khiếp, nhưng hình dáng của nó là súng ngắn vì vậy nó là súng ngắn. Đặc trưng của súng trường là có chỗ cầm trước tiến về phía đầu nòng, cầm súng vững chắc để ngắm bắn tầm xa. MP-44 đặt tay cầm trước lên băng, hai tay quá gần nhau, là đặc trưng của MP, PP và không thể bắn xa tốt vì không thiết kế để bắn xa.

Dở nhất của MP-44 thể hiện trong cơ hội cuối cùng của nó. Sau năm 1942, được Hitler ưu ái, duy nhất súng này dùng đạn này. Thế nhưng, nó không nỗ lực thay đổi mạnh viên đạn mà dùng giải pháp vô vọng là kéo dài hết cỡ nòng súng. Thật khó hiểu ?? Lúc này, súng đạn đã là một, chỉ cần thay đổi một chút đạn thì súng đã nhẹ đi nhiều ?? Các súng khác chỉ cố kiết làm điều tương tự khi đạn đã fix vì loại đạn đó còn dùng cho nhiều súng khác. Ở đây, chỉ có một giải thích là bộ cạ của Hitler làm việc về súng đạn rất tồi. Một lần nữa, điều này lại gây một trò cười trong giới chế súng Đức.

--------------
Bên Mỹ, không phải vì M3 Grease hay Thomson SMG quá yếu mà người Mỹ bỏ đứng ngoài cuộc đua súng ống trong thời nước sôi lửa bỏng. Người Mỹ đưa ra M1 carbine, bắn đạn 7,1gram sơ tốc 570m/s. (Một số bạn nói với mình là M1 Carbine 600m/s, thật ra đây là "sơ tốc tối đa, bắn trên cái nòng tưởng tượng dài vô cùng và không xoắn"). Súng rất nhẹ, chưa đến 2 cân rưỡi rỗng. So sánh với đạn PPSh-41 trên 5 gram, 480m/s quá tốt.  Nếu chỉ tính sơ tốc và năng lượng đầu nòng thì đây là súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới. M1 Carbine được thiết kế 193x và ra đời trước WWII. Với cỡ khối lượng đầu đạn và sơ tốc như vậy, đạn có vẻ gần gũi với AK nhiều lắm.

Thế nhưng, người Mỹ hoàn toàn không có ý định thiết kế một súng trường tấn công hay sún ngắn tấn công. M1 Cacbine ban đầu được thiết kế để làm súng ở tuyến 2, ví dụ như súng trường ngắn của công binh, pháo binh, kỵ binh... như Mút Cơ Tông. Họ cũng thiết kế một loại đạn riêng cho súng, gọi là đạn ".30 Carbine". Đạn này có cấu tạo đầu đạn giống như đạn súng ngắn, tức là rất ngắn, tỷ lệ dài rộng của đầu đạn gần giống như 7,62x25 Tokarev. Như vậy, đây là loại súng trường dùng đạn súng ngắn, dùng ở tuyến 2 chứ không xung phong áp chế địch như MP, PP.

Mục tiêu của M1 ban đầu là như thế nhưng khối kẻ liệt não tự ái với Nga Đức, thường nói đạn ".30 carbine" được thiết kế để xung phong. Vì các văn bản của Mỹ nói ngược lại nên các bài viết liệt não hay có chuyện đoạn đầu thì M1 carbine ở tuyến 2, đoạn nữa ở mũi nhọn xung phong. Hoặc súng M1 carbine ở tuyến hai, còn đạn của nó ở mũi nhọn xung phong... các bài viết liệt não như vậy thấy đầy trên nét.


Chính vì tiến rất gần thời đại mới, mà lại không hiểu thời đại mới là gì, nên Mỹ không làm liên thanh cho M1, nó chỉ bắn phát một tự động (do không lo nòng nóng nên nhẹ). Người Mỹ vừa không biết chiến thuật, vừa thiếu trình độ cơ bản chế súng, để hoàn thiện súng này.Năm 1944, Mỹ làm liên thanh cho súng này thành M2, nhưng đó là thời điểm thử nghiệm MP-44 và AS-44, đã quá muộn. M2 được dùng lần đầu khi quân Mỹ đánh chiếm Okinawa năm 4/1945.

Ngoài việc đã quá muộn, thiếu kiến thức cơn bản làm súng đạn này chỉ có chỉ số động năng và tốc độ đầu nòng kha khá, còn độ chính xác và sức sát thương, tầm bắn hiệu quả... rất thấp do cấu tạo đạn ngắn như đạn súng ngắn thông thường. Tuy cùng cỡ vỏ đạn như đạn M43 của MP-44 (M1 dài 32,76mm, MP-44 dài 33mm), nhưng đạn ".30 carbine" đặc sệt đạn súng ngắn với đầu tròn thân ngắn, còn đạn MP-44 Đức lại dài hơn, đạn MP-44 có hẳn chóp nhọn spitzer đàng hoàng, cũng hướng về phía súng trường.
Thực chất, M1 carbine là một súng ngắn được gọi bằng tên súng trường carbine.

Khi dùng M1 trong chiến tranh, người Mỹ không hề có ý định đưa nó lên mũi nhọn xung phong. Khi thấy thời trang thế giới có vẻ giống M1 carbine-chỉ khác liên thanh, người Mỹ vội vàng đưa nó lên bằng cách làm ra M2 liên thanh, nhưng điều đó không hề ảnh hưởng đến tầm bắn vì vẫn dùng đạn cũ, gọi nó là súng trường tấn công giống như gọi một người đàn ông râu ria mặc váy là cô gái hấp dẫn vậy, có thời trang, nhưng không có bản chất.

Cú đánh võng này chứng minh rằng người Mỹ đã bước qua cục vàng mà không biết đó là vàng. Một lần nữa nó thể hiện trình độ súng ống Mỹ rất thấp, cả về chiến thuật và kỹ thuật. Cũng hài, người Mỹ gọi là súng trường (cạc bin là súng trường ngắn), nhưng lại yếu hơn cái mà người Đức gọi là súng ngắn (MP-44). Chính vì thế mà các con liệt não về sau này thi nhau chứng minh MP-44 là súng trường, bất chấp những người chế tạo ra và sử dụng nó dập chữ MP lên vỏ.  ;D

Ở Mỹ thì gọi M1 Carbine là súng trường cũng được, vì, nếu súng ngắn M3 Grease hay Thomson SMG có sơ tốc dưới âm, tầm bắn hiệu quả 50 mét kém cung tên..., thì M1 Carbine hoàn toàn đáng là súng trường. Và như thế thì AK sẽ là súng trường hạng nặng, Mauser, Mosin sẽ là đại bác.



Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 14 Tháng Ba, 2009, 01:28:39 am
Ở đây, chúng ta cần nhắc lại một chút về đạn AK.

Một số người cho rằng Liên Xô quyết định format đạn M43 của AK sau này do nhặt được các súng thử nghiệm MKb-42 Đức. Tuy nhiên, đạn Đức là đạn súng ngắn, còn M43 là súng trường. Liên Xô có truyền thống sử dụng và đánh giá súng trường tấn công thông qua Fedorov, cho đến trước Chiến Tranh Giữ Nước Vĩ Đại, thì Liên Xô vẫn dùng khẩu súng này trong Chiến Tranh Phần Lan.
(mịe cái thằng chí phèo, bây giờ lộn xộn không biết cái ảnh này nằm đâu)
Đồng thời, người Liên Xô cũng như Đức, sử dụng rất nhiều đơn vị có đội hình toàn bộ hay tỷ lệ lớn súng ngắn bắn nhanh PP, và dễ dàng thấy được khoảng trống của MP, PP. Mặc dù Liên Xô có đạn 7,62x25 mm TT, đảm bảo PP của họ có tầm bắn tốt nhất trong số các SMG, MP, PP hồi đó, nhưng khoảng trống vẫn rất lớn.
Và nhìn chung, chiến tranh ập đến quá nhanh và mọi nước đều vội vàng đem súng ngắn cảnh sát ra trận tiền. Dĩ nhiên là điều này sẽ làm xuất hiện yêu cầu một thứ súng mới. Nhưng súng đó thế nào.

Như vậy, sau năm đầu tiên của chiến tranh, điều dễ hiểu là Liên Xô cũng như Đức, muốn bù khoảng trống đó. Cũng dễ hiểu là Liên Xô nhớ đến Fedorov Avtomat. Lúc này, Fedorov đang cùng Degtriarep làm việc ở nhà máy súng máy chủ yếu của Hồng Quân, sự nghiệp của Fedorov đang vào giai đoạn chín nhất, khi ông đào tạo ra hàng loạt những nhà chế súng hàng đầu Liên Xô. Có thể hiểu rằng, dù không trực tiếp, nhưng thông qua học trò và bạn bè, tư tưởng của ông được truyền bá rộng rãi và nhanh chóng trở thành thực tế.

Fedorov Avtomat ngừng sản xuất và sử dụng chỉ vì không có đạn. Quãng thời gian từ lúc Fedorov format đạn 6,5mm của mình và bị buộc phải chuyển sang đạn 6,5mm Nhật  (năm 1913), đến lúc này đã quá xa, và nhiều thay đổi trong kỹ thuật đạn dược. Lúc này, một kiểu đạn mới không phải là một khó khăn như thời ốm đói, mà là một cơ hội để tận dụng những phát triển kỹ thuật mới, trong khi chúng thể hiện khó khăn  trong form đã cố định của Mosin.

Và Hồng Quân quyết định format một đạn mới hoàn toàn không giống với đạn MKb-42 như bọn liệt não thường hay miêu tả. Trong khi đạn MKb-42 thay thế đạn MKb-35 theo quan điểm thay súng trường thành súng ngắn, và được đặt tên là đạn súng ngắn (Pistole Patron), thì đạn M43 Liên Xô là đạn súng trường. Cỡ đạn ban đầu được AS-44 dùng là 7,62x41mm, gần giống cỡ đạn mà người ta dự định dùng cho MKb-35 (7,75x40 GECO), trước khi MKb bị bóp méo. Có một số ý kiến cho rằng, Liên Xô quyết định format đạn M43 của AK sau này do nhặt được các súng thử nghiệm MKb-42 Đức, nhưng rõ ràng, không ai lấy đạn súng ngắn làm mẫu cho súng trường cả, và Liên Xô có sẵn Fedorov Avtomat để đánh giá sơ sơ trước khi hoàn thiện đạn, không cần phải ngâm kíu nước ngoài và Liên Xô không hề bắt được viên đạn MKb-35 nào. Nếu như Liên Xô có thông tin về MKb-35 thì thông tin đó cũng có từ lúc trước chiến tranh và đơn giản là Liên Xô biết chương trình đó đã bị thay thế bởi súng ngắn.

Có thể Liên Xô biết thông tin về đạn MKb-35 7,75x40 GECO, cũng có thể Liên Xô dễ dàng thử nghiệm cỡ đạn bắn liên thanh được khi cầm tay, tìm cỡ lớn nhất có thể đảm bảo điều đó trong điều kiện kỹ thuật lúc đó... Bên Đức cũng còn có một số cỡ đạn khác gần giống... Nhưng điều đó không quan trọng vì nếu Liên Xô copy Đức thì đã copy việc bỏ những đạn đó. Việc Đức bỏ những đạn đó và Liên Xô biết thông tin này qua viêc thu được MKb-42, MP-43, MP-44... chỉ chứng minh Liên Xô trội xa hơn Đức về trình độ thiết kế và đánh giá súng mà thôi.

Một điểm nực cười nữa, là trong một cuốn sách xuất bản ở thế giới liệt não bên kia Đại Tây Dương (Senich, Peter R., The German Assault Rifle 1935 - 1945, Paladin Press, Boulder, Colorado, 1987), tác  giả chứng minh hùng hồn là đạn M43 Liên Xô chính xác được copy từ đạn 7x39mm Đức. Tác giả ngu dốt của những điều này không biết rằng mẫu đầu tiên của M43 có kích cỡ vỏ đạn 7,62x41mm, chứ không phải x39.

Cũng buồn cười, đạn MKb-42 sau khi thử nghiệm lại bị đánh giá là yếu quá. Quyết tâm thu nhỏ từ MKb-35, nó trở lên quá thành công ( ;D ;D ;D). Thành công ngoài mong đợi này làm nó được yêu cầu cải tiến ngược, tức cải lui cả súng đạn chút. Đạn đã fix kích thước rồi và do thiếu những kiến thức cơ bản để đầu tư phát triển tiếp, chỉ còn việc chọn đầu đạn mà thôi. Đạn 125gr mới cũng có tên M-43 như Liên Xô: PistolenPatron M43, đạn súng ngắn kiểu 1943. Hãng được Hitler ưu ái thiếu những hiểu biết tiên tiến và vụng về trong việc thiết kế súng. Kết quả là MP-44 có nòng quá dài, súng nặng như trung liên, nhưng lại không có ốp lót tay hay càng để ngắm bắn tầm xa. Sự kém cỏi của Hitler về quân sự đã làm cho người Đức trung thành với ý tưởng thiết kế súng MP, súng ngắn bắn liên thanh. Thiếu ốp lót tức là súng không thiết kế để bắn tầm xa trung tư thế bắn súng trường, và đó là nét rõ ràng nhất chứng minh MP là súng ngắn, đúng như những người thiết kế ra nó và Hitler đã xác định.

Điểm khác nhau giữa Liên Xô và Đức ở đây ??
Ngày 6-4-1944, Hitler ra lệnh fix 3 súng chủ lực. Trong đó, hai súng cá nhân là súng trường G-43 và súng tấn công STG-44 (MP-43). Như vậy, Hitler đã xác định tồn tại song song hai súng chủ lực, súng tấn công không phải súng trường. Súng tấn công là STG-44. Súng trường là G-43.
Còn Liên Xô nỗ lực thiết kế một Súng trường Tấn công và có AK.

Rất nhiều con liệt não nói tiếng Anh: MP-44 là súng trường tấn công. Nhưng Hitler đã ra văn bản nói rõ, súng tấn công là súng tấn công, súng trường là súng trường. Vả lại, khẩu STG-44 dập chữ MP-44, nó là MP, súng ngắn. Điều này dai dẳng nhưng rất hài, dân nói tiếng Anh cãi người Đức, cãi nguyên thủ quốc gia của họ, cãi ngay khẩu súng: mày không phải mày. Thế mới liệt não dở người.
---------------------

Đạn M43 kiểu đầu, 7,62x41, có kích cỡ gần giống đạn MKb-35. Và các súng trường Liên Xô đầu tiên dùng loại đạn này cũng có tên là cạc bin, ví dụ CKC (SKS). AS-44 và các súng cùng cuộc đua AK cũng được gọi là cạc bin liên thanh, như MKb-35. Việc lựa chọn kiểu đầu đạn này khá đúng đắn. Nó ngắn hơn đạn súng trường thường, nên nòng ngắn đi và súng nhẹ. So với đạn đường kính nhỏ 6,5mm của súng trường nặng, đạn M43 hao tổn tốc độ khi bay trong không khí lớn hơn, do đạn ngắn hơn. Nhưng đạn ngắn vừa phải này dễ dàng làm lệch tâm khí động, tạo hiệu ứng con quay tốt hơn để có đường đạn ngoài hoàn hảo, chính xác. Trong khi đó đạn súng ngắn bắn phát một thường quá thừa mỡ, không đủ làm đầu nhọn spitz mà mắt cắt tiến đến hình dáng của bi tròn. Đạn nhỏ dài hơn lại cũng vậy, để đảm bảo khối lượng thì đạn dài và mặt cắt của nó sẽ thành hình trụ chứ không phải là hình tam giác spitz nữa, hình trụ là kiểu đạn cuối tk19 mà sau này M16A2 sẽ thừa kế. Đây chính là điểm mạnh của AK-47, mà sau này nó sẽ bắn rất chính xác và sát thương cao hơn cả đạn lớn hơn nó, tuy rằng, đạn còn phải hoàn thiện một thời gian nữa. Cỡ đạn này với tốc độ xoáy vừa phải sẽ tự uốn trục của nó trên đường bay theo phương bay trong không khí, trong khi đạn bi tròn dễ lộn tùng phèo và đạn trụ lại cố định trục, đều dẫn đến tản mát. Khi gặp mục tiêu mềm, đạn mới ngoáy mạnh, truyền động năng ra ngoài phá mục tiêu, chứ không im ỉm đi xuyên qua như đạn bi, đạn trụ.

Như vậy, đạn mới chính xác hơn trong tầm bắn dưới 300 mét, trong khi đó hy sinh khả năng sát thương tầm bắn ngoài 1000 mét. Tầm bắn 300 mét là tầm đặc trưng của AK, gọi là "tầm bắn hiệu quả". Gọi như thế vì súng trường các loại đều có thể bắn xa, như súng trường hạng nặng 2000 mét, nhưng ở khoảng cách lớn khả năng bắn trúng giảm xuống đến mức không đáng kể. Súng trường thế hệ mới nhường các tầm bắn xa cho súng máy, pháo. Về sát thương, cũng trong tầm 300 mét đó, đạn súng trường hạng nặng có thể xuyên sâu qua nhiều người, nhưng điều đó cực hiếm, còn ở một người thì đạn súng trường cũ dễ xuyên qua mục tiêu, để lại một lỗ nhỏ, trong khi đó đạn AK phá theo thể tích lớn hơn nhiều.

Như vậy, súng kiểu mới bù lại khoảng trống giữa súng trường hạng nặng và MP, PP. Đạn nhỏ, mang được nhiều, bắn loạt không tỳ đất như MP, PP. Tầm bắn phát một dưới 600 mét hiệu quả như súng trường hạng nặng. Điểm dưới 600 mét đã được xác định đúng đắn ở cả yêu cầu của Fedorov Avtomat và MKb-35. Có thể nói, dưới 600 mét, thì súng trường tấn công kết hợp ưu điểm của cả hai loại, súng ngắn bắn nhanh và súng trường hạng nặng.

Tuy nhiên, sau những thử nghiệm ngoài mặt trận, AS-44 được đánh giá hơi nặng, đồng thời xuất hiện nhiều yêu cầu mới, trong khi đó, tác giả của nó, Sudaev ốm nặng rồi mất khi súng chưa kịp hoàn thiện. Những điểm này buộc Liên Xô phải nỗ lực nữa. Quan điểm cố định của Liên Xô là hoàn thiện các yêu cầu mà Hội Đồng Súng Trường đã cùng Fedorov xây dựng, gồm 2 điểm chính: giành thắng trong cuộc đấu tầm xa tay đôi và sử dụng chức năng bắn loạt trong giáp là cà. Hiện đại hóa 2 điểm chính này là chức năng súng trường và chức năng xung phong=súng trường xung phong. MP xung phong được, nhưng không súng trường.

Các yêu cầu của MKb-35 do viện Mauser xây dựng hơi thiếu. Họ yêu cầu chung chung một súng trường (có thể hiểu đây là yêu cầu súng trường), nhẹ, đảm bảo tầm bắn dưới 600 mét giữ hiệu quả súng trường (như Mauser). Như vậy, các yêu cầu này thiếu hẳn chức năng xung phong và do đó, Hitler bóp méo chương trình thành súng ngắn không phải là không có lý. Nhảy từ súng trường thành súng ngắn quá đà, MP-44 muốn vớt vát, nhưng không được bao nhiêu vì đạn đã fix kích thước và quá yếu.


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: DepTraiDeu trong 14 Tháng Ba, 2009, 05:31:38 am
Nhắc bác huyphuc lần chót: bác có bị gì thì bác đi khám đặng còn uống thuốc, còn bác vẫn cứ thích gọi người khác, quốc gia khác là liệt não thì xin mời bác đi mát mẻ! Ở đây chúng ta cần kiến thức lẫn văn hóa.
Trân trọng,

DTD


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 14 Tháng Ba, 2009, 07:41:42 am
tôi đang hỏi về cái post F-22 chưa ra đây. Anh làm mõ ở cái box này, mà mất post của tôi không ai trả lời là sao ??

Dù Mỹ nó có là quê hương của cụ tổ nhà anh thì ở đó cũng có người khôn và người liệt não. Hơn nữa, tôi đã đôi lần nói rằng, liệt não sùng tín M16, M1Ax, F-22... đa phần lại không phải người Mỹ mà là nạn nhân của họ.
Chuyện người ta dập lên khẩu súng chữ MP nhưng cố cãi súng MP là súng trường thì đó là biểu hiện là gì ?? anh thử dùng cái cụm từ gì để miêu tả chuyện đó. Tôi nói cái quốc gia nào là liệt não ?? anh đừng động lòng ngớ ngẩn như cái thái độ chí phèo rạch mặt ăn vạ tôi mới phát hiện ở anh. Vả chăng tôi nói một quốc gia nào đó liệt não, nêys đó là sự thật, thì động đến lông chân anh à ?


Nhắc bác huyphuc lần chót: bác có bị gì thì bác đi khám đặng còn uống thuốc, còn bác vẫn cứ thích gọi người khác, quốc gia khác là liệt não thì xin mời bác đi mát mẻ! Ở đây chúng ta cần kiến thức lẫn văn hóa.
Trân trọng,

DTD


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: hieubs trong 14 Tháng Ba, 2009, 08:16:24 am
Tôi thấy cách dùng từ ngữ của đồng chí có cái nick huyphuc có một số từ hơi khó nghe, bạn có thể viết bài phân tích cái hay cái dở nhưng đề nghị tránh dùng những từ ngữ hơi khó nghe để chê bai một ai đó, một quốc gia nào đó, tôi nghĩ rằng như vậy là vi pham nội quy của diễn đàn.
Đề nghị admin xem xét.


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 14 Tháng Ba, 2009, 09:38:24 am
hì, nếu bạn đọc những đoạn đã được chàng đẹp trai đểu này xóa đi bên AK vs M16 thì bạn sẽ thấy nó không khó nghe đâu. Anh ta dùng M16, bị tắc súng, lỗi có thể do Armalite hay Colt, nhưng anh ta đã dùng chiêu thức chí phèo rạch mặt ăn vạ để chọc tức tôi.

Tôi thấy cách dùng từ ngữ của đồng chí có cái nick huyphuc có một số từ hơi khó nghe, bạn có thể viết bài phân tích cái hay cái dở nhưng đề nghị tránh dùng những từ ngữ hơi khó nghe để chê bai một ai đó, một quốc gia nào đó, tôi nghĩ rằng như vậy là vi pham nội quy của diễn đàn.
Đề nghị admin xem xét.

To h bên dưới.
Bạn xem nó đỏ mặt tía tai thế kia, giống hàng tôm hàng cá hay mấy thằng du côn bến xe ??


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: haanh trong 14 Tháng Ba, 2009, 09:43:01 am
hehe , chết cười vì cái tay huyphuc này mới vừa là 1 chuyên gia tầm cở về vũ khí đã xoay sang thành bà hàng tôm hàng cá , quần săn tới bẹn tay chống nạnh nhảy cà tưng ;D
Em là fan hâm mộ của bác nên đề nghị bác bớt hàng tôm hàng cá lại tí kẻo bị treo thì có bài đâu cho em đọc ;D


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 14 Tháng Ba, 2009, 10:44:36 am
Cũng trong những ngày cuối cùng của chiến tranh, cuối cùng của nước Đức đó, người Đức không có hoạt động nào nhảy rõ ràng từ súng ngắn sang súng trường. Họ cố gắng khắc phục những nhược điểm dễ nhận mà người ta cười vào mũi MP-44. Điều này càng bức xúc khi trên chiến trường xuất hiện AS-44 thử nghiệm. Một số nguồn tin hiện nay rất khó kiểm chứng còn cho thấy nước Đức đã có thể có mấu AS-44. Nhược điểm dễ nhận thấy của STG-44 là nó quá nặng 5,2kg rỗng so với 3,7kg.

Thật ra, vấn đề quan trọng nhất với STG là đạn quá yếu, vấn đề thứ hai bao trùm hơn là người ta hoàn toàn không có ý thiết kế súng trường với ốp lót tay hoặc tay cầm trước tiến về đầu nòng để bắn xa. Cả hai vấn đề đều tiếp tục không được Đức quan tâm trong những ngày cuối này. Mà, họ tìm một biện pháp để dễ dàng giải quyết nhược điểm quá nặng mà nhiều người cuồi MP-44, đó là lấy khẩu "Thiết bị số 6" của Mauser Werke phát triển từ năm 1943. Cho đến lúc này, hậu duệ nhà Mauser tỏ ra khá yếu kém trước sự phát triển mạnh mẽ của vũ khí Liên Xô. Khẩu Thiết Bị Số 6, "Gerät 06" có máy dùng khóa nòng hai ngạnh, khóa bằng kim hỏa chọc lên, đây là nguyên lý của DP nhưng ngạnh là trục xoay giống như MG-42, nhưng máy lại dùng trích khí như DP chứ không lùi ngắn như MG-42.
Mình đã để đoạn miêu tả sự phát triển của kiểu máy này lên, nhưng nay thì nó lộn xộn không còn lần đâu ra nữa.
"Gerät 06" nặng khoảng 4,2-4,9kg tùy mẫu thử. Nó dùng cần đẩy lùi có lò so đẩy về rời của SVT, giống như G-43. Rõ ràng, đây là máy súng thích hợp với súng liên thanh hơn nhiều MP-11 súng máy phát một. Đồng thời, một ưu điểm nữa là máy kiểu này rất đơn giản ít bộ phận, rẻ hơn và nhẹ hơn. "Gerät 06" khắc phục việc phụ thuộc khối lượng nòng vào chế độ bắn của MG-42 và thích hợp cho một súng cá nhân. Thêm một điểm nữa rất tiến bộ, là "Gerät 06" đã chú ý đến việc tiết kiệm đạn bằng giảm tốc độ liên thanh, điều mà hơn 20 năm sau, AR-15 vẫn làm ngược lại.

Tuy nhiên, "Gerät 06" chỉ là bước trung gian. Sau một thời gian dài không có gì lóe sáng, nhà Mauser đã cải tiến một lần nữa kiểu máy ngạnh DP thành kiểu lùi có con lăn làm chậm nổi tiếng. Kiểu máy này nhẹ và đơn giản hơn nữa, mặc dù tốn một số công nghệ cao trong các mặt tương tác con lăn, nhưng nhìn chung nó tiết kiệm nguyên liệu quý trong điều kiện nước Đức cạn kiệt và khối lượng đã gần ngang các anh em của AS-44. Phiên bản mới vẫn dùng con lăn làm ngạnh khóa nòng, nhưng nó dùng lực lùi để đẩy máy chạy. Lực lùi qua các mặt nghiêng đạt tỷ số đòn bẩy 1/4 (khối lùi lùi nhanh gấp 4 lần khóa nòng và chịu lực bằng 1/4), tỷ số này cho phép hoạt động trong điều kiện súng cá nhân. Sau này, máy được dùng trên các súng CETME (Tây Ban Nha), nước Đức lại phải mua lại bản quyền... của chính mình sau khi bại trận với Heckler & Koch G3. Thụy Sỹ có SIG-510, G3 và SIG-510 rõ ràng là súng trường vì dùng đạn NATO 7,62x51, điểm nữa chứng tỏ chúng là súng trường vì chúng có ốp lót, tay cầm trước hoặc giá hai chân để bắn tầm xa, mặc dù MP-45 là súng ngắn. Tất nhiên, ví dụ, không vì giống nhau cái máy lùi dài mà súng ngắn là đại bác được.

"Gerät 06" chuyển thành "Gerät 06H" và được đặt tên Stg.45, súng xuong phong năm 1945, hay MP-45, súng ngắn bắn liên thanh năm 1945. Đây là Stg.45(M) Mauser, còn một loại súng nữa là Stg.45(H) của Haenel dùng trích khí dưới nòng. Rất nhiều khẩu MP-44 dập chữ MP-45 trong đầu năm 1945 nên cẩn thận nhầm.

Vấn đề khối lượng và độ tin cậy được giải quyết. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, bề trong là đạn thì vẫn còn nguyên vẹn. Buồn cười, khá nhiều đoạn như chàng não giống đẹp trai đểu viết tiếng Anh. Trong đó, STG-45 dùng nòng ngắn 419 mm như ban đầu của STG-44, nhưng lại có sơ tốc cao hơn, trong khi bắn cùng loại đạn  ;D . Cái đống rác thối wiki là nốc vội vàng những rác rưởi đó và khối chú đẹp trai đểu tung hô con cá mất MP-45. Thậm chí đến cả loai VG 1-5 có nòng ngắn tũn 380mm cũng có vận tốc đầu nòng 680-685 hay 690m/s !  ;D  Thật ra, loại đạn này có sơ tốc tối đa 680m/s, tức không súng nào đạt như thế.

Đạn M43 7,93x33mm được format năm 1938, cụ thể nhà thiết kế Hugo Schmeisser của C.G. Haenel đề xuất 18-4-1938. Ban đầu, đạn nhồi 1,5 gram thuốc, sau này cải tiến cuối năm 1943 để dùng cho MP-44 nhồi 2 gram thuốc, đầu đạn 6,95g. Vận tốc tối đa năm 1938 là 650m/s, năm 1943 là 680m/s.  theo hình ảnh dưới đây, thì đạn M43 năm 1944 đều là loại nhồi 1,5 gram thuốc, như vậy, thực chất phiên bản nhồi 2 gram thuốc chỉ là thử nghiệm và như vậy, thực chất, STG-44 có vận tốc đầu nòng 650m/s.


Sau chiến tranh, nước Pháp bị Đức đánh bẹp rúm, khâm phục thích thú kẻ cưỡng bức mình lắm, copy khẩu này thành "Carabine Mitrailleuse Modèle 1950" với khoảng 12 mẫu thử khác nhau. Đạn "7.65x35mm Cartoucherie de Valence" được chấp nhận năm 1948. Năm 1947 có một nỗ lực dùng đầu đạn nhôm, vỏ đạn cỡ 7,5x38. Đây là một nỗ lực làm giảm tỷ khối đạn như pháo sau này dùng guốc cho đạn xuyên, tác dụng của nó cũng như làm ngắn đạn, đạn không thể quá ngắn đến mức ngắn hơn đường kính, khi dùng vật liệu nhẹ thì cùng khối lượng nhưng chiều dài dài ra. Buồn cười bà đầm già Tây Phú, nhược điểm súng ngắn được bà ta khếch đại, cũng là tính đồng bóng rất thường thấy ở đầm già.

Bà này lại do dự giữa bạn trai Yanky trẻ dại và tên khốn nạn Quốc Xã ác như con thú, bà thiết kế kiểu MP-45 bắn đạn ".30 Carbine" của M1 Carbine. Bà này mắc cái bệnh hay gặp, là si mê kẻ cưỡng bức mình. Nối si mê ấy dai dẳng lắm, nhưng phận kẻ bị cưỡng bức hèn kém, bà ấy không có đạn. Mãi sau ày, Tây Phú mới có sự thỏa mãn trong FAMAS, cũng dùng khóa lùi có làm nhậm nhưng đòn bẩy, đạn công cộng NATO 5,56x45. Còn kết quả củng những nố lực "lai tạo sức mạnh" trên: năm 1949, khẩu súng trương bắn phát một MAS được chấp nhận làm súng chủ lực,  ;D sau AK-47 hai năm  ;D cùng năm B40  ;D.

Một đặc điểm cơ bản nữa của Stg.45 là nó có ốp lót trước giống Stg.44, người ta vẫn làm các vân tăng độ bám để cầm vào cổ băng, giống STG-44: chúng đều là súng ngắn. Ốp trước của Stg 44-45 chỉ là ống sắt có các cánh tản nhiệt, dùng để tản nhiệt và chỉ có thể cầm khi bắn rất chậm phát một. Nhưng có nhiều ảnh trình bầy ở đây là ống nhựa màu tím tối, rất đúng chức năng cách nhiệt lót tay xa. Ngạc nhiên ?? Lúc đó nhựa các loại, kẻ cả Bakelit gốc cao su vẫn còn rất ít dùng trong súng do chúng yếu, vật liệu nhân tạo dễ tạo hình hiện đại lắm lúc đó là gỗ dán gỗ ép. ?? có thể là người đời sau fake để cố chứng minh đó là súng trường. Cũng có thể vào những ngày hấp hối cuối đời, một vài Stg.45 có ốp lót nhựa bakelit, ví dụ dùng để trưng bầy trong bảo tàng Mauser sau này chẳng hạn, thực ra ảnh màu tím tối dưới đây cũng từ sưu tập cá nhân.

STG-45 Mauser chọn hai chế độ bắn liên thanh và phát một lên đạn tự động, tốc độ bắn liên thanh 400 phát phút. Một khóa chọn 3 vị trí: an toàn, liên thanh và phát một phía trên cò.

Loại máy này có một yêu cầy khá đặc biệt là nó kéo lùi vỏ đạn khi vừa bắn. Stg.45 có khoảng lùi 2-4mm, lúc này vỏ đạn đang căng ra ép vào thành buồng đốt. Có thể có những nguyên nhân làm vỉ đạn hỏng: vỏ đạn không trượt được lùi và bị kéo đứt, vỏ đạn bị kéo hết phần dầy ở đuôi và nổ... Do đó, kiểu máy này về sau ít được áp dụng mặc dù kết cấu đơn giản.
Để giảm chiều dài lùi vỏ đạn, cần tăng tỷ số đòn bẩy, điều này làm máy súng kém bền, và bản thân MP-45 cũng đã kém bền. Các loại máy súng này chuyển động trượt trong khi đạn nổ, lực ép lớn, nên chóng biến dạng. Một cách nữa là tăng khố lượng khối lùi, điều này làm tăng khối lượng súng. Vì vậy, các phiên bản thử nghiệm của Stg.45(M) có một số khối lượng khác nhau trên dưới 4kg. Tốc độ bắn cũng phụ thuộc một phần vào tốc độ khối lùi này, di chuyển trong khoảng 400-650 m/s.

Tỷ số đòn bẩy 1/4
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/hkpro_com_Internal/roller3.jpg)

Cơ chế súng, mình đã có ảnh động của cái này, nhưng lộn xộn quá.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/hkpro_com_Internal/roller1.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/hkpro_com_Internal/roller2.jpg)

Đây rồi
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/may_sung/roldelboltani.gif)

Thiết bị số 6 dùng trích khí
(http://world.guns.ru/assault/stg45m-g06.jpg)

Gerät 06H của Mauser , mẫu thử gần chung kết của MP-45.
(http://world.guns.ru/assault/stg45m.jpg)

STG-45(H) Haenel
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/stg45h.jpg)

Video G3 hoạt động
<embed width="448" height="361" type="application/x-shockwave-flash" wmode="transparent" src="http://i180.photobucket.com/player.swf?file=http://vid180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/Cutaway128.flv">

Ảnh có vẻ đúng của Stg.45, vị trí ốp lót là cánh tản nhiệt.
(http://www.sturmgewehr.com/bhinton/German-WWII_Rifles/StG45_LeftA.jpg)
Đây là trong bảo tàng, điều này cho thấy ảnh trên là đúng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/StG45_A.jpg)


Ảnh có vẻ được mông má, hoặc cũng có thể là mẫu thật nhưng có tính trưng bầy. Ốp lót nhựa thì cách nhiệt, ngược tính năng với ảnh trên ?? Nếu như ảnh trên là đúng thì súng dưới đây chỉ bắn phát một rất chậm.
Bộ sưu tập cá nhân của Kenneth Keilholz. Vả lại, nếu ốp lót này bằng nhựa thì nó không có đai, chắc là yếu đuối không đủ sức khỏe ra trận.
(http://www.sturmgewehr.com/bhinton/German-WWII_Rifles/StG45_Left.jpg)



Một ảnh fake quá vụng về , không bao giờ báng mở ra được. Điều hài hước là bắng xếp kiểu AKM. Hình súng gần giống MP-40. Cái ảnh này không cần bình luận cũng biết đẹp trai đểu chế ra để làm gì và cái não của chàng như thế nào.
(http://www.sturmgewehr.com/bhinton/German-WWII_Rifles/StG45_ProtoType.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/stg45mar4.jpg)


Đạn súng ngắn kiểu 1943, PistolenPatron (Pist. Patr. 43), lấy ảnh này dán vào súng trường Stg cho đẹp. Sau này, đẹp trai đểu cố chứng minh đây à đạn súng trường, đã đổi thành Kruz=ngắn. Đạn súng ngắn thay bằng đạn ngắn và lừa được khối kẻ như đẹp trai đểu.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/ritning_ptr43.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/ptr43.jpg)


Hộp đạn ghi rõ dùng cho STG-44 và gi rõ là đạn súng ngắn.
Cần chú ý rằng, các ảnh chụp lại này được đăng trên những trang tin nghiêm túc, như lịch sử vũ khí Thụy Điển. Chúng đều ghi rõ năm 1944, dùng cho STG-44 và nhồi 1,5 gram. Như vậy, cái gọi là cải tiến năm 1943 nhồi 2 gram thuốc chỉ là thử nghiệm, nó không đạt yêu cầu, ví dụ nòng quá chóng hỏng chẳng hạn, hay quá nóng chẳng hạn. Như vậy thì, sơ tốc thực tế của STG-44 chỉ 650m/s và STG-45 còn giảm nữa.
(http://www.sturmgewehr.com/bhinton/German-WWII_Rifles/StG44_AmmoLabel.jpg)



Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 14 Tháng Ba, 2009, 03:20:50 pm
Tại sao đẹp trai đểu lại cố gắng chứng minh pistole là súng trường ?? trong khi chữ súng ngắn MP được dập trên vỏ súng, được in trên nhãn hộp đạn, được vẽ trong bản vẽ thiết thế, được nguyên thủ quốc gia phân biệt với súng trường bằng một mệnh lệnh quan trọng ?? Tại sao ??
Tại vì MP44, MP45 có một tội, nó là súng ngắn nhưng lại mạnh hơn cái mà dân ngu si gọi là súng trường: M1 Carrbine. Vậy nên phải cố kiết chứng minh rằng, MP là súng trường để M1 còn làm súng trường. Câu chuyện hài hước lớn tầm nhất thế giới đã kéo dài hơn nửa thế kỷ nay. Người ta không hình dung ra thế giới này lắm kẻ ngu si đến như vậy, để mà tạo ra, kể cho nhau nghe và tin được câu chuyện như thế. Thật khổ cho Hitler, hắn chết phéng rồi, đốt xác rồi, nếu không thì nó lập ra đến hàng ngàn trại tập trung để rút lưỡi, có nên cần thiết thế không nhỉ, thế giới này đã đến mức cần thanh lọc chưa nhỉ ??.

Một khẩu súng nữa dùng đạn M43 là VG-15. Súng này dùng cho lực lượng "công nhân xung phong" Volkssturm, mang tên  VolkssturmGewehr 1-5=VG 1-5. Súng này bắn phát một và cũng có ốp tay, cũng được gọi là cạc bin, sản xuất khoảng 1 vạn khẩu. Tuy nhiên, nó có máy móc hoàn toàn giống một súng ngắn, có ống bao nòng làm chính khóa nòng, cơ cấu dùng cho súng ngắn bắn phát một của Barnitzke sau được áp dụng trên  Heckler-Koch P7. Kiểu hóa này là trích một lượng nhỏ khí thuốc vào thẳng lẫy hãm khóa, lẫy mở ra tách khóa nòng và nòng hiện đang cùng lùi.

Tất nhiên những mô tả viết bằng tiếng Anh về súng cũng khuyến mại thêm một điểm dành riêng cho liệt não, sơ tốc của súng là 685m/s. Về tẩy não thì đống rác thối chuyên dùng wiki rất sành sỏi, ở xã hội thông tin ngày nay, đâu đâu cũng có bả chuột, ai cũng biết điều đó, thế mà khối chú loạn tiêu hóa do ăn bừa:
http://en.wikipedia.org/wiki/Volkssturmgewehr_1-5

Cùng một loại đạn, nòng MP-44 dài trên 50 phân, nòng MP-45 hơn 40 phân và nòng VG 1-5 chưa đến 40 phân, nhưng cùng đạt vận tốc cực đại của đầu đạn .  ;D ;D MP-44 khốn khổ vi cái nòng dài, làm nó nặng như trung liên mà lại bắn đạn súng ngắn. Thế thì hỡi ôi, làm nòng dài cho nó làm gì, cứ lấy nòng 380mm của VG mà bắn cho khỏe. MP-44 yếu do trích khí ư ?? ôi trời đất ôi, đoạn nòng chưa đến trích khí đã dài hơn nòng VG rồi. Thế mà rất đông chú tin được, kể ra Hitler bảo chủng tộc của nó là Aryal cũng có lúc đúng, có điều cái dân bị thảm sát là Do Thái thì hắn ta nhầm to. Có thể hiểu, sơ tốc của VG 1-5 tầm cỡ 500-600 m/s. Một súng có máy và sơ tốc hoàn toàn là súng ngắn.

Con cá mất là con cá to. Các chú đồng thanh nhầm lẫn giữa vận tốc tối đa của đạn với vận tốc đầu nòng của súng. Bất cứ nòng thế nào bắn loại đạn đó đều đạt vận tốc tối đa !!  ;D  Vận tốc tối đa này cũng lớn dần lên theo năm tháng. Ban đầu là 680m/s nhỉnh một chút, một vài chú làm tròn hơi quá là 685, rồi nhiều chú thấy 685 hoàn toàn có thể làm tròn thành 690. Chưa thấy chú nào viết rằng 690 cũng coi như 700... nhưng có thể đẹp trai đểu thực hiện điều đó trong tương lai gần.

Nhưng VG 1-5 có ốp lót, vậy chắc là nó là súng trường ?? Ấy không, súng ngắn C96 cũng có thể lắp nòng dài và được nước ngoài gọi là một loại cạc bin. Gọi C96 là cạc bin cũng như gọi VG 1-5 là cạc bin vậy. Hơi kỳ khôi, vậy là tốt nhất dung tên người Đức đặt cho súng: "Súng ngắn tự động VG 1-5", ở Đức có loại súng ngắn bắn phát một nòng dài C96, vậy cũng có loại súng ngắn nòng dài kế nghiệp. (C96 có cái hộp gỗ, có thể lắp cái hộp gỗ đó vào tay cầm súng ngắn làm cái báng, từ đó bắn tỳ vai như bắn súng trường, lại có một loại nòng dài lắp vào, trông cũng na ná súng trường).
Tât nhiên, khi Hitler và Đức chết rồi thì dân nói tiếng Anh lại tha hồ chứng minh đây là cạc bin. Phải chứng minh chứ, nếu không phải đổi M1 Carbine thành M1 Pistol.

VG 1-5 nặng 4,3kg. Súng được dùng cho lực lượng tình nguyện giữ gìn an ninh, sau này, trong trận công phá Berlin, súng được dùng trang bị rộng rãi cho dân quân. Đương nhiên lợi thế của súng là đơn giản và cực kỳ rẻ. Nhược điểm của súng ? là nhược điểm của một súng rẻ, nó nặng uỵch như các súng bắn đạn hạng nặng Mauser Mosin. Nòng di động không chỉ một chiều nhanh chóng mòn ổ và lúc đó đường ngắm một nơi hướng nòng một nẻo.

P7 máy giống hệt
http://world.guns.ru/handguns/hg52-e.htm

VG 1-5
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/Volksgewehr-1.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/Vollksgewehr1-5.jpg)


Đây, chúng ta xem.
Vi trí cầm tay trái của súng trường tiến xa về trước, điều này đảm bảo bắn tầm xa. Súng trường khi bắn gần có thể đặt tay trái gần lại, tùy thế bắn, ví dụ khi mang hàng cồng kềnh cần kẹp cái gì đó. Súng được thiết kế để bắn xa thì bắn gần đương nhiên là được, nhưng súng không được thiết kế để bắn xa mà bắn xa thì là khẩu súng bắn xa tồi, may mắn nó có thể làm được phần nhỏ công việc, nhưng kết quả rất tồi.

Như vậy, đặc trung của súng trường là điểm cầm trước xa về đầu nòng. Không có đặc trưng đó thì là súng ngắn. Vậy MP-44 là súng trường hay súng ngắn.

Đây là AK, AK dĩ nhiên là súng trường.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/19759860_KVa5V-M.jpg)

MP-44 có ốp lót bằng thép không cách nhiệt, có lỗ thoát khí ở đây, rất nóng, không phải là chỗ để cầm.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/STG45/prototype/Sturmgewehr2044H.jpg)

MKb-42(H), vi trí tay cầm trước gần về cò, trên gốc băng, rất đặc trưng của súng ngắn bắn gần.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/MKBfrontas.jpg)

MP-43/1, tiền thân của MP-44.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/soldier-560.jpg)

10/1943, xạ thủ này bắn hai khẩu súng lúc đó còn rất mới, G-43 và MP-43/1. Không dưng mà Hitler phân biệt súng trường với STG, sự phân biệt đó ở đây. MP có thể lắp ống kính bắn tỉa, không ai cấm điều đó cả, nhưng nó phải cầm tay trái rất gần và chống băng xuống đất ven hào, điều đó làm súng không vứng và rất kém chính xác.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/g43sniper.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/mp44zf4.jpg)


Tư thế bắn súng trường G-43
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/svtuse.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/g43businessend.jpg)


Để bắn xa, như bắn tỉa, MP-44 cũng phải cầm xa. Nhưng chúng ta nhìn lại ảnh trên, đây là ống thép không cách nhiệt có lỗ thoát khí từ trích khí. Kha kha kha, nếu bắn liên thanh thì có món tay nướng. Thế này, khi bắn xa phải bắn rất chậm, vậy, nó không thành bão (ST) ở tầm xa, vậy không có chức năng tấn công ở tầm xa, gọi nó là súng tấn công tầm gần vậy. À, nhưng mà súng tấn công tầm gần thì là MP.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/tu_the_ban/nachtjager2.jpg)



Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: private trong 14 Tháng Ba, 2009, 04:23:27 pm
Buồn cười bà đầm già Tây Phú, nhược điểm súng ngắn được bà ta khếch đại, cũng là tính đồng bóng rất thường thấy ở đầm già.

Bà này lại do dự giữa bạn trai Yanky trẻ dại và tên khốn nạn Quốc Xã ác như con thú, bà thiết kế kiểu MP-45 bắn đạn ".30 Carbine" của M1 Carbine. Bà này mắc cái bệnh hay gặp, là si mê kẻ cưỡng bức mình. Nối si mê ấy dai dẳng lắm, nhưng phận kẻ bị cưỡng bức hèn kém, bà ấy không có đạn. Mãi sau ày, Tây Phú mới có sự thỏa mãn trong FAMAS, cũng dùng khóa lùi có làm nhậm nhưng đòn bẩy, đạn công cộng NATO 5,56x45. Còn kết quả củng những nố lực "lai tạo sức mạnh" trên: năm 1949, khẩu súng trương bắn phát một MAS được chấp nhận làm súng chủ lực,  ;D sau AK-47 hai năm  ;D cùng năm B40  ;D.

Bó tay chấm cơm canh nước tương.... nặng quá!


Tiêu đề: Cuộc chạy đua súng trường tấn công Nga-Đức
Gửi bởi: huyphuc198101 trong 14 Tháng Ba, 2009, 05:22:37 pm
Buồn cười bà đầm già Tây Phú, nhược điểm súng ngắn được bà ta khếch đại, cũng là tính đồng bóng rất thường thấy ở đầm già.

Bà này lại do dự giữa bạn trai Yanky trẻ dại và tên khốn nạn Quốc Xã ác như con thú, bà thiết kế kiểu MP-45 bắn đạn ".30 Carbine" của M1 Carbine. Bà này mắc cái bệnh hay gặp, là si mê kẻ cưỡng bức mình. Nối si mê ấy dai dẳng lắm, nhưng phận kẻ bị cưỡng bức hèn kém, bà ấy không có đạn. Mãi sau ày, Tây Phú mới có sự thỏa mãn trong FAMAS, cũng dùng khóa lùi có làm nhậm nhưng đòn bẩy, đạn công cộng NATO 5,56x45. Còn kết quả củng những nố lực "lai tạo sức mạnh" trên: năm 1949, khẩu súng trương bắn phát một MAS được chấp nhận làm súng chủ lực,  ;D sau AK-47 hai năm  ;D cùng năm B40  ;D.

Bó tay chấm cơm canh nước tương.... nặng quá!

Biết làm thế nào được bạn. Vào cái năm mà Đức đã thất bại, AK, súng trường có nguyên lý chiến đấu thế hệ mới đã được chấp nhận trạng bị 2 năm, B40 cũng được chấp nhận trang bị cùng năm đó, MAS-49 mới được chấp nhận sau 30 năm thai nghén. Vũ khí chính của Pháp là súng trường bắn phát một, lại tính chi li ra là ra sau AK !!. Đó là chưa kể MAS cũng chả ra làm sao để ngẩn mặt tự hào.


Mikhail Kalashnikov năm 1947
(http://kalashnikov.guns.ru/photos/3.jpg)


Rất nhiều súng thử nghiệm dùng loại đạn M43 ban đầu 7,62x41, loại đạn M43 mới chỉ được thử nghiệm năm 1947 và sau này, đến năm 1949 mới ổn định chất lượng cơ bản. Một vài thông số hình dáng.

Người ta thường nói đạn 7,62x39, nhưng đây chỉ là lối nói nhanh. Thật ra, tiêu cuẩ đạn bao gồm nhiều thứ chứ không chỉ kích thước vỏ đạn. Và ngay cả kích thước vỏ đạn trong tiêu chuẩn cũng bao gồm nhiều thứ chứ không chỉ chiều dài vỏ đạn và chiều rộng miệng vỏ, tất cả các chi tiết hình dáng như chiều dầy từng đoạn, gờ móc, rãnh móc, vai, cổ, mình... cho đến lỗ dấn lửa, chỗ gá hạt nổ... và đương nhiên là chất liệu và công nghệ.

đơn vị mm và gram
chiều dài
cả vả và đầu đạn 55,9
vỏ đạn 38,7
đầu đạn 26

Nặng
cả viên đạn có vỏ 16,2
vỏ đạn 6,8
đầu đạn 7,95
thuốc 1,6


Có nhiều mẫu thử AK trước khi được chấp nhận. Có vài mẫu năm 1946 được gọi là AK-46, một vài mẫu năm 1947 và 4 mẫu chưa được chấp nhận năm 1948. Mấu thử được chấp nhận là mẫu thứ 5 trong năm 1948, nhưng ngay sau đó, nó được cải tiến để dễ chế tạo hơn năm 1949. Có nhiều biến đổi nhỏ AK từ năm 1949 về sau cho đến những năm 195x được gọi chung là AKS.

Gọi là AK-47 thực chất là sai, vì những lý do trên, Năm 1947 chỉ là năm mà AK đã vào đến chung kết nghiên cứu, chứ chưa định hình thiết kế và công nghệ chế tạo. Thật ra AK có nhiều nhược điểm và nhiều mẫu khác oách hơn AK ở nhiều điểm, nhưng từ năm 1947 thì tiềm lực quốc gia dồn cho việc phát triển AK, các súng khác dần dần ít được nói đến. Cho đến 195x thì AK lại qua một trận đấu quyết liệt nữa và cho ra AKM. AK-74 cũng là kết quả của một trận đấu quyết liệt, một trong như đối thủ nặng ký là AL-7 với hệ thống cân bằng bắn rất chụm.

Khẩu AK-47 có nhiều tham số rất khác với các tham số hay được biết đến trên nét. Đặc biệt là cái đống rác thối wiki đã ngu si rồi nhưng lại lắm mồm tung tin đồn nhảm. Tham số hay được nói sai là tốc độ của AK khi bắn liên thanh. Trong các loại AK-47, AKM có tốc độ 400 phát phút là cao nhất, các loại AKS chỉ 200 phát phút. Các trang nhảm nhí thường cho tốc độ này là 600-700 phát phút, rất láo, không hề có cơ sở nào ngoài tin đồn nhảm.

Có thể dễ dàng kiểm chứng điều này, tốc độ bắn của AK làm người nghe phân biệt được rõ ràng tằng tằng tằng, nếu nó bắn 10 viên một giây hay hơn nữa thì không phân biệt được từng tiếng và chỉ là một loạt đạn díu vào nhau.

Cũng ngây thơ khi nghĩ ràng đó là chỉ số xấu. Đó là hướng đi rất chính xác được chứng minh trong chiến tranh Việt Nam. Xác định rõ nhiệm vụ là súng xung phong, AK cần tiết kiệm đạn cho bền bỉ và M16 giảm rất nhanh năng lực chiến đấu, chỉ sau 10 phút chiến đấu dã ngoại xa công sự hay xe vận tải. Lý luận điều này thì đơn giản, người lính cùng lắm là vác theo được 2-3 trăm đạn, thông thường là hơn trăm đạn, mà để được như thế thì phải là đạn rời, nếu đúc trong băng sẵn thì giảm xuống một nửa. Với số đạn như thế, loạt bắn M16 từ 6-10 viên, rất nhiều loạt đi hết cả băng...  thì chỉ 10-20 loạt, nhiều là 30 loạt M16 đã hết đạn, đó là chưa nói giữa chừng phải vẫy cờ hoãn chiến để nhét đạn rời vào băng nếu mang nhiều.
Đã là súng tấn công xung phong vào chiến hào địch thì không thể "từ từ, chúng mày đợi tao về nhà lấy đạn chơi tiếp". Trong khi đó, AK thông thường bắn loạt 2-3 viên, mang ít 5 băng sẵn cũng được 60 loạt, mang nhiều thì vô biên. Hơn thế nữa, khi đói, AK chuyển sang ốt phát một thì dền dứ vô tư chờ bạn xách đạn lên tiếp viện. Sau này, M16 phải tìm nhiều cách để tiết kiệm đạn, nhưng chưa thành công.