|
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: chichbong trong 17 Tháng Ba, 2008, 04:01:00 pm Bây giờ con mới hiểu Khoanh tròn trong chiếc kén thiếu nữ của ngày cuối cùng cùng tôi nhìn theo mẹ. mẹ còn trẻ quá. Tóc mẹ chưa bạc sợi nào. Lưng mẹ thẳng và dáng đi nhanh nhẹn. Mẹ trân trọng bưng lễ vật để lên bàn thờ bố. Mắt mẹ dịu dàng vô biên cương. Và một nét cười bừng lên trong ánh mắt. -" Con gái chúng mình đi lấy chồng rồi đấy". Rồi đột ngột nước mắt lại dâng đầy. Mẹ quay nhìn xuống ngực mình, rồi mẹ nhìn trải khắp căn phòng. Ngày mai, khi tôi chui ra khỏi kén, tôi thành ngài sinh con đẻ trứng, mẹ sẽ chỉ còn một mình với căn phòng trống vắng. Mẹ còn quá trẻ, nỗi cô quạnh sẽ trùm lên mẹ trong quãng đời còn lại. Ai sẽ làm thay đổi được điều đó? Sẽ chẳng thay đổi được số phận đâu. Chiến tranh qua đi và để lại muôn vàn những goá phụ như mẹ tôi. Nhưng có lẽ một đứa con, một giọt máu yêu thương để lại giứa hai điểm ngắm sẽ làm dịu bớt phần nào. và chính tôi, một con bé bảy tuổi ngày ấy đã không mang lại cho mẹ cơ may cuối cùng. Bố nhập ngũ tôi còn bé lắm. Nỗi nhớ bố chỉ cất thành tiếng khóc chứ chưa biết nói thành lời. Người vợ trẻ nhớ chồng không san sẻ cùng ai cũng hoà thành tiếng khóc. Hai mẹ con sống trong một căn hộ tập thể. Ban ngày mẹ đi làm, tối về hai mẹ con thủ thỉ nói chuyện về bố. Tôi lớn hơn một chút, mẹ thường mang anbum ra chỉ cho tôi ảnh bố. Như vậy bố như chỉ vừa sang hàng xóm và sắp về đó thôi. Sự thực thì hai mẹ con mang nỗi niềm nhớ thương bố khắc khoải. Buổi trưa hôm ấy, bố về nhà đột ngột. Hai mẹ con đang ngồi ăn cơm. Mẹ sững sờ buông rơi chiếc bát. Con trân trân nhìn bố một lúc. Thấy đúng bố rồi, oà reo lên nhưng vẫn bẽn lẽn nấp vào vai mẹ. Bố bế bồng con lên, quay cuồng: -Chao ôi lớn thế này rồi kia à? Mà bảy tuổi rồi phải không? Bố vẫn đếm mà. Rồi bố ôm lấy mẹ. Bố hít mãi vào tóc mẹ, thì thầm "Hai giờ thôi em ạ". tàu đỗ ngoài ga hai tiếng nữa. Mẹ rối rít cứ chạy xung quanh bố. Mẹ bế lấy con lại đưa cho bố. Ngoài cửa có mấy người đi qua thì thào: - Hình như chú Quân nhà cô Nga về thì phải? Mẹ như sực tỉnh. Chạy ra đóng chặt cửa. Tôi ngồi trong lòng bố sung sướng. Nỗi sung sướng của con muốn trào ra ngoài. Con chạy ra bảo cho cái Hoa, thằng Tú biết rằng bố đã về. Tôi tụt xuống khỏi lòng bố. Tôi chạy ra mở cửa. Mẹ không bằng lòng kéo tay tôi lên. Mẹ bế tôi ôm chặt vào lòng ngồi xuống bên cạnh bố. Mẹ áp mặt vào lưng bố. Bố ôm mẹ vào ngực. Mẹ thổn thức: -Đừng khóc em ạ! Tôi ngơ ngác nhìn mẹ. Sao mẹ phải khóc kia chứ. Vì sao lại đóng cửa thế kia. Mở to ra cho các bác hàng xóm vào chơi chứ. Các bác ấy cười nói vui lắm. mẹ sẽ hết khóc ngay. Con sẽ ngồi vào giữa lòng bố thế này, cho cái Hương hết hãnh diện nhé. Nó làm như chỉ một mình bố nó về hôm nọ. - Sao mẹ lại khóc. Con chạy ra ,ở cửa gọi các bác sang nhà chơi cho mẹ vui nhé. Xong tôi tụt ngay khỏi lòng mẹ chạy ra mở cửa. Mẹ chạy theo định nắm tay tôi lại - Đừng con! Rồi như mẹ chợt nghĩ ra điều gì đó. -À, mẹ cho con năm hào này. Con sang rủ cái Hoa ra đầu phố mua kem mà ăn. - Vâng ạ! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: chichbong trong 17 Tháng Ba, 2008, 07:38:51 pm Tôi cầm tiền vung vẩy chạy. Cái kem trong phút chốc làm tôi quên mất bố. Tôi chạy ù sang rủ các Hoa. Hai đứa vừa ra đến cổng gặp ngay bà bán kem rong, tôi mua cho nó một chiếc, tôi một chiếc. Tôi đưa kem lên miệng rồi chợt nghĩ ra.
- Bố tớ về rồi đấy! - Bố cậu về à? Sao không gọi cho tớ biết với. - Vừa về xong. Sang nhà tớ đi - Để tớ về bảo cho mẹ tớ biết đã Thế rồi mồm nó hét toáng lên từ cổng - Mẹ ơi, bố bạn Loan về rồi. Chú Quân đi bộ đội về rồi. Tôi cũng chạy ào về nhà. Tôi muốn chạy vào lòng bố ngồi chễm chệ trước khi mọi người đến. Tôi muốn mọi người biết rằng, tôi có bố đây này, bố tôi về đây này. Bao nhiêu lần tôi thèm cái cảnh cái Hương ngồi giữa lòng bố nó. Cánh cửa đóng kín sừng sững trước mắt tôi. tôi đẩy cửa, cửa chốt từ bên trong. Tôi đẩy cửa sổ,cửa sổ cũng cài kín. Tôi căng mắt nhìn qua lỗ khoá. Trong nhà tối om tôi không sao nhìn thấy gì. Tôi đứng im băn khoăn, hay là bố mẹ đi vắng. Tôi pnhìn chiếc khoá vẫn lủng lẳng một bên. Nếu bố mẹ đi đâu sẽ phải khoá cửa chứ. Tôi áp tai vào cửa nghe ngóng. Tôi chợt nghe thấy tiếng mẹ nho nhỏ. Thế là tôi biết bố mẹ vẫn ở trong nhà. một nỗi dỗi hờn con trẻ ập vào lòng tôi. Tôi bị bỏ rơi. Tôi đập vào cánh cửa. - Mẹ ơi, mở cửa cho con vào với. Im lặng. Tôi đập mạnh hơn - Mẹ ơi, mở cửa cho con Im lặng. Tôi chợt gào lên và chợt nhớ ra có cả bố ở trong ấy nữa. - Bố mẹ ơi, mở cửa cho con vào nhà với. Cái Hoa đã đứng bên cạnh tôi lúc nào. Nó ngơ ngác nhìn tôi. - Sao bố mẹ cậu lại đóng chặt cửa không cho cậu vào. Loáng thoáng vài ba người hàng xóm đi qua trước cửa nhà xem có chuyện gì. Tôi uất ức trào nước mắt. Tôi khóc ầm lên. - Bố mẹ ơi cho con vào với. Bố chạy xô ra trước. Bố ôm lấy tôi, úp mặt vào bụng tôi cù. Tôi đẩy bố ra. Mẹ vẫn đang vấn tóc cho gọn, rồi chạy ra mở toang cửa. Mẹ nhìn thấy cái Hoa đang ngơ ngác nhìn mẹ và mấy người hàng xóm nhìn mẹ cười. Mẹ cáu bất ngờ. Mẹ xông vào tôi phát lấy phát để, rồi oà khóc. Thế là hai mẹ con tôi khóc. Bố bật cười gỡ mẹ ra: - Bình tĩnh lại nào, con có lỗi gì đâu. Mẹ ôm mặt khóc nức nở. Tôi bỗng sợ hãi. Tôi không khóc nữa. Tôi ngước mắt nhìn bố. Mắt bố sạm đen, sắt lại như đang dồn nén một điều gì đó. Bố bỗng nhìn xa, vút ra khỏi cửa. Tôi khẽ kéo áo bố. Bố như bừng tỉnh. Bố cúi xuống cười với tôi. - Con ngoan của bố, con có nhớ bố không? - Con yêu bố. Mẹ vẫn khóc. Bố quàng tay ôm mẹ vào ngực. Bố ôm gọn cả hai mẹ và tôi: - Đừng khóc nữa nào. Em yêu của anh. Sắp đến giờ anh phải đi rồi. Đừng làm cho con sợ. - Em mong anh từng ngày. Em muốn có thêm một thằng cu…bom đạn nhỡ có mệnh hệ nào. Con bé này lớn sẽ đi lấy chồng…Còn có một mình em… Bố cười rất tươi, bố thì thầm vào tai mẹ: - Anh sẽ quay về khi em còn rất trẻ. Sẽ không lâu nữa đâu. - Vâng lần trước anh cũng bảo em thế. Vậy mà đã năm năm rồi. Năm năm nữa em sẽ ba hai. Bố lại cười: - “Gái ba mươi tuổi đang xoan” - Anh - mẹ dụi đầu vào ngực bố cười. - Nào chúng ta cùng vui lên chứ. Bố vòng tay kéo đầu con, đầu mẹ vào bố, ba cái đầu đập nhẹ vào nhau. Cả nhà phá lên cười. Như chờ có tiếng cười ấy hàng xóm bắt đầu kéo nhau vào. Họ đã ngấp nghé cả ở ngoài. Phút chốc cả nhà đầy ắp tiếng cười nói vui vẻ. Mỗi người góp một câu. Mắt mẹ long lanh vui sướng. Hai tiếng đồng hồ trôi như một giấc mơ. Mẹ thảng thốt không biết xếp thứ gì vào ba lô cho bố. Bố bế tôi và hàng xóm đưa tiễn, cả một đoàn người dài. Mẹ con tôi đi với bố ra tận bến tàu. Bố cứ liếc nhìn mẹ như định nói điều gì, mẹ lại đưa mắt nhìn tôi, nên bố chỉ cười. Lúc bố lên tàu mẹ lại oà khóc. Tôi an ủi mẹ: - Mẹ khóc làm gì, bố không chết đâu. - Em nghe thấy không? Anh không chết được đâu. Lời nói con trẻ như lời tiên tri em ạ. Chờ anh nhé. Rồi bố giơ ngón tay cái sát mặt mẹ: - Một thằng con trai! Chiến tranh không có ngoại lệ. Bố đã ra đi vĩnh viễn. Thế là đã ba lần năm năm bố không về nhà và đấy cũng chính là thời gian để cho tôi đã lớn khôn. Sẽ trọn mười lần, hai mươi lần năm năm nữa, bố mãi mãi không bao giờ trở về để lại mẹ suốt đời với một niềm khao khát thiếu phụ dở dang. Tiêu đề: Ngôi sao trên đỉnh dốc Mù Chang - Ngô Tự Lập Gửi bởi: chichbong trong 17 Tháng Ba, 2008, 07:41:01 pm Cả làng Hoạch không một ai biết rằng đêm ấy thằng Hùng, con trai bà Hai Vách đã trở về.
Lúc ấy gà vừa gáy canh tư. Bà Hai Vách nhận ra tiếng bước chân thằng Hùng khi nó vừa tới chân đồi. Những bước chân bây giờ mạnh mẽ khiến đất đồi rung chuyển lên từng đợt nhưng vẫn láu ta láu táu như xưa, hệt như lúc nó mới tập đi chập chững trong tay bà. Bà nhào dậy, vặn to ngọn đèn dầu hoả rồi lập cập ra mở cửa Đã bao đêm bà chờ đợi giây phút này, mặc dù bốn năm trước bà nhận giấy báo tử của nó. Bấy giờ cả xóm kéo sang chia buồn, an ủi. Với bản tính nhút nhát, bà không nói gì, chỉ cám ơn mọi người, nhưng sau đó dứt khoát không nhận tiền tử tuất. Làm sao thằng Hùng của bà chết được cơ chứ. Nó còn trẻ lắm, khoẻ lắm, ai cũng khen là hiếu thảo. Nó sẽ trở về cho mà xem. bà biết nhất định nó sẽ trở về. Nó sẽ trở về để sớm bật dậy, vươn vai như như một con gà trống choai chưa đủ lông cánh, xách hai thùng nước chạy một mạch từ dưỡi chân đồi lên. Nó cày giỏi, đường cày thẳng băng mà ngọt. Buổi chiều nó vác búa đi đánh gốc bạch đàn làm củi và không bao giờ quên kiếm đoạn rễ chay cho mẹ nhai trầu. Chẳng hiểu tại sao bà lại tin rằng thằng Hùng sẽ trở về vào ban đêm. Vì thế ban đêm bà rất ít ngủ. Bà thắp ngọn đèn dầu, để sẵn trên bàn thờ, dưới tấm ảnh chồng. ở đấy bao giờ cũng có một cặp bánh chưng. Thằng Hùng thích ăn đồ nếp. Hồi còn ở nhà có lần ngày tết nó nhai nhoay nhoáy, trông mà phát thèm. Bà còn dành sẵn vại gạo nếp trong nhà. Lo là lo thằng bé về bất thần, chứ còn bà thì cần gì, vài lát sắn mèo trừ bữa là xong. Dầu, gạo nếp, đỗ xanh ngốn hết phần lớn số tiền bán hoa quả trong vườn. Bốn năm nay, bà Hai Vách không nhớ đã bao lần gói bánh chưng để thay cho cặp bánh cũ đã mốc meo trên bàn thờ. Bốn năm nay, ngọn đèn dầu chong chong thức đợi. Nhà bà Hai Vách nằm trên đỉnh dốc Mù Chang. Dân trong vùng đã quen đêm đêm từ dưới chân dốc nhìn lên thấy ngôi sao nhỏ nhấp nháy cô đơn nhưng ấm áp. Người ta xót xa mà nói: “Tội nghiệp bà già. Anh ấy làm sao còn trở về được nữa!”. - Anh ấy làm sao còn trở về được nữa! – Chiều tối hôm đó dân làng lại nói với nhau như thế. Họ không thể ngờ được rằng niềm tin của bà mẹ già đã đúng. Thằng Hùng hiện ra trước cửa. Thằng Hùng đây, thằng tí nhau của bà đây. Nó mặc bộ quân phục màu cỏ úa, ba lô trên vai, chiếc mũ có ngôi sao lấp lánh, cao lớn quá, chững chạc quá, đúng như bà tưởng tượng. Hai mẹ con ôm chặt lấy nhau mà khóc thoả thuê. “Nó đã đói ngấu rồi còn gì!”. Bà Hai Vách bóc bánh rồi ngồi ngắm con ăn. Tổ cha nó, cái miệng nhai nhoay nhoáy, trông mà phát thèm! Lúc bấy giờ trời đã gần sáng, dân làng Hoạch đang ngon giấc. Đêm hôm đó cũng như mãi mãi sau này không ai biết thằng Hùng đã trở về. Hai mẹ con bà Hai Vách không bao giờ còn xa nhau nữa, ngôi nhà nhỏ cũng thôi thấp nháy đêm đêm trên đỉnh dốc Mù Chang Hôm sau dân làng đưa bà đi bằng chiếc xe tang. Lễ mai táng vừa xong thì trời đổ mưa. Dân làng ngạc nhiên: Điều đó chứng tỏ họ vừa tiễn biệt một con người hạnh phúc. Tiêu đề: Anh bộ đội và lũ trẻ nhỏ - Hải Hồ Gửi bởi: chichbong trong 31 Tháng Ba, 2008, 05:55:45 pm ANH BỘ ĐỘI VÀ LŨ TRẺ NHỎ Hải Hồ Cái Mỹ có một anh bộ đội thật là đẹp. Đấy là một anh bộ đội bằng đất mẹ mới mua cho Mỹ phiên chợ hôm qua. Anh bộ đội mới về nhà cái Mỹ được một lúc, phải, chỉ một lúc thôi mà cái thế giới trẻ con khắp cõi “xóm Mít” đều bàn tán, nắc nỏm, ao ước xôn xao giống như câu chuyện của những người lớn khi có một tin thời sự nóng hổi đặc biệt, như tin tên lửa Liên Xô bay sau lưng mặt trăng chẳng hạn. Thật đúng là như thế! Bọn con gái thì cho rằng anh bộ đội rất hiền và rất xinh, bởi lẽ anh chỉ bằng củ khoai dong, hai chấm mắt đen láy, lại có cả má hồng, cái miệng nhỏ lúc nào cũng mỉm cười với chúng nó. Bộ quần áo thì xanh ngăn ngắt như thể con cánh cam. Mà mũ cũng có huy hiệu sao vàng hẳn hoi nữa kia. Ôi, nom đến là xinh! Ừ, bọn con trai thì cho là anh bộ đội rất oách bởi lẽ rõ ràng anh lúc nào cũng mang một khẩu súng trước ngực. Mà súng tiểu liên hẳn hoi nhá. Sau lưng ụ lên cái ba lô, chắc hẳn nhiều thứ nặng lắm. Hai con mắt cứ nhìn thẳng vào chúng nó. Còn đôi chân thì bao giờ cũng đứng rất nghiêm như thể sắp duyệt binh, giả dụ ai hô: “Một. Hai” chắc anh ta có thể đi đều bước ngay tắp lự. Oách thế kia chứ! Lũ trẻ con xúm lại; đứa nào cũng muốn cầm xem, sờ vào cái áo cánh cam, cái mũ có sao vàng, cái sũng đen trũi và sờ cả vào khuôn mặt nho nhỏ hồng hồng của anh ta nữa. Thật là một anh chàng dễ dãi, đứa nào cầm đến anh ta cũng mỉm cười tươi tỉnh; một nụ cười lành như đất! Nhưng cái Mỹ thì thật là khắt khe, nó chỉ cho mỗi đứa cầm xem một tí vừa đủ để nó khoe xong một câu : “Của tao đấy! Đẹp không?” Chỉ một loáng thế thôi, rồi nó đòi anh bộ đội của nó lại ngay như sợ anh ấy cười với bạn nó lâu quá. Việc này làm cho thằng cu Mài, bạn cách rào của cái Mỹ, thèm vô kể. Rõ ràng nó mới chỉ kịp sờ được vào cái mũ có sao vàng của anh ta thôi, thế mà cái Mỹ đã vội đòi phắt ngay lại. Ôi! nom cái Mỹ nó cầm nhè nhẹ anh bộ đội, cái Mỹ khẽ khoanh tay vào ngực như ẵm em bé, cái Mỹ giả vờ ru như ru em ngủ, thằng cu Mài thấy thích biết mấy. “Mình cũng phải có một anh bộ đội mới được”. Cu Mài nghĩ trong bụng thế và rồi nó ngán ngay cái xe bốn bánh không thiết chơi nữa. Gọi là xe nhưng thực ra nó chỉ vốn là hai cái lõi chỉ luồn kéo vào một cái khung bằng dây đồng, phía trên có đóng một miếng gỗ mỏng. Bố cu Mài làm cho nó từ dạo phục viên. Cu Mài vẫn kéo xe bằng một sợi dây gai rõ dài và thường chiếc xe vẫn chở đủ mọi thứ. Chuyến nào cũng đầy ú hụ những hàng hoá: gạo và ngô thì bằng những nắm đất bột và sỏi con, vải vóc đẹp là những mảnh lá cuộn tròn, còn như củ khoai luộc thì chính là một chú lợn béo quay chở gọn một chuyến xe khá nặng. Nhưng bây giờ thì chẳng ai thích gì bằng anh bộ đội nữa rồi. Đến trưa nó nói với bố: - Con không thích cái xe nữa bố ạ! Người bố nhìn vào đôi mắt tròn giống mẹ của nó: - Sao thế vậy? - Con thích cái anh bộ đội. Người mẹ bật cười với cả bố lẫn con: - Thì bố mày chẳng là bộ đội mãi còn gì? Cu Mài chỉ sang bên phía rào: - Không! Bộ đội cầm súng như của cái Mỹ kia! Và nhất định cu Mài kéo bằng được bố sang gặp anh ta. Người bố ngắm nhìn và cũng khen: “Thật là khéo!” Còn anh bộ đội thì cười với cả hai bố con. Một nụ cười dễ dãi và thân mật quá chừng. Có điều là anh ta vẫn đứng nghiêm và ôm chặt khẩu súng trước ngực như không hề bao giờ quên nhiệm vụ. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: chichbong trong 31 Tháng Ba, 2008, 06:01:10 pm Vốn khéo tay lại chiều con, sau khi ngắm nghía một lúc rõ lâu, người bố quyết định làm cho cu Mài một anh bộ đội bằng gỗ. Công việc bắt đầu ngay từ hôm ấy. Cứ sau mỗi buổi đi làm đồng về, bố con lại lúi húi đục đẽo ở mé thềm. Phải mất trọn một tuần anh bộ đội mới hình thành. Một anh bộ đội khá rắn chắc. Chỉ có việc trang điểm cho anh ta tí chút nữa là hoàn thành. Cu Mài ngồi xem bố tô điểm đôi mắt nó ánh lên niềm chờ đợi sung sướng. Cũng thật là giản dị, chỉ một nước phẩm xanh là anh ta có bộ quần áo mới. Khẩu súng cũng đen nháy màu mặc nho. Lại đủ cả chấm quân hiệu nền đỏ sao vàng nữa kia. “ Không thua gì anh bộ đội của cái Mỹ cả”. Cu Mài nghĩ bụng thế. Nhưng sao bố lại chấm xanh đỏ vào ngực anh ta thế nhỉ? Cu Mài vội hỏi:
- Cái gì thế hử bố? - Huy hiệu Điện Biên mà. Cu Mài vội nhìn vào ngực bố. Nó hỏi luôn: - Cũng giống như bố à? Người bố gật gù: - Ừ! giống chứ! - À! thế anh ấy cũng biết đánh Tây! Nói xong, cu Mài vòng tay ngồi im, mắt không rời anh bộ đội trong tay bố. Chỉ một lát bố con lại hỏi nhau: - Kìa? Sao bố không vẽ mà hồng? - Đánh Tây thì không cần má hồng. - Giống má bố à? - Ừ, đúng thế. Cu Mài nhìn bố giây phút rồi bỗng nhiên nó bảo bố: - Con cũng không cần má hồng. Người bố lắc đầu: - Má con vẫn hồng đấy thôi! Cu Mài thốt sờ tay lên má, nó không nhận: - Đâu? Người bố cười ngất: - Hồng đấy! Cái má giống mẹ mày như đúc. - Ứ! Mẹ bảo con giống bố kia mà. Bố cười rộ lên, to hơn, vui sướng hơn. Bố thơm mạnh vào chòm tóc cu Mài và giúi anh bộ đội vào lòng nó: - Xong rồi đấy! Giữ lấy con! Thế là việc cu Mài có anh bộ đội đeo huy hiệu Điện Biên lại như một thời sự mới mẻ đến với lũ trẻ “xóm Mít”. Hai anh bộ đội bé bỏng được gặp gỡ làm quen ngay. Họ cùng cười với nhau mãi. Hẳn đúng là một đôi tri kỷ xa nhau lâu ngày nay mới gặp lại. Anh nào cũng nắm chắc tay súng trước ngực như dặn dò nhau đừng có bao giờ xa rời quân ngũ. Còn lũ trẻ thì tha hồ mà cãi nhau thật kịch liệt về việc anh nào đẹp hơn và oách hơn anh nào. Kể ra hai anh bộ đội này khó mà so sánh ai hơn ai kém kia đấy. Một anh thì rắn chắc như gỗ, nom mạnh mẽ rắn rỏi như vừa mới từ trận chiến đấu oanh liệt xa xôi trở về. Nét mặt, khuôn người còn hằn rõ nét khắc khổ gian truân. Nom có vẻ tự hào ra dáng. Chắc hẳn anh ta không hề biết sợ một kẻ thù nào cả. Một anh son trẻ tươi vui, có nụ cười lành như đất. Dáng dấp khá là chững chạc, với khẩu tiểu liên cầm ngang tầm ngực dường như sẵn sàng đón mọi thử thách mà anh ta sẽ không cần đắn đo do dự một chút xíu nào hết. Bởi thế câu chuyện tranh cãi của lũ trẻ cứ om tỏi lên mà cũng khó lòng ngã ngũ. Vả lại chúng không thích kết luận. Thôi cứ là cầm xem mỗi đứa một tí cho thích là được! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: chichbong trong 31 Tháng Ba, 2008, 06:06:55 pm Lũ trẻ xem hết một lượt rồi bèn để cả hai anh đứng ở bậc cửa. Thật đúng là bằng nhau, chẳng anh nào cao hơn anh nào nổi một ly nhé. Một đứa thích chí hát bài “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh…” Cả bọn ùa hát theo, cả vỗ tay nữa. Tiếng hát lanh lảnh cả khu vườn “xóm Mít”. Hai anh bộ đội mỉm cười nghe bài hát quen thuộc, họ đứng rất thẳng bên nhau có vẻ hài lòng lắm.
Hát xong, một đứa lớn nhất bọn, lớn hơn một cái đầu, bảo cả bọn: - Này! Chúng mình tập trận đi! - Có mang bộ đội đi không?- Cu Mài hỏi thằng bạn thế. - Có chứ! Bộ đội mà lại không tập trận à? - Được! Cu Mài gật đầu tán thành ngay và nó vội khoe với lũ trẻ: - Anh này cũng đánh Tây ở Điện Biên ròi đấy nhớ! - Dô…ối! - một đứa con gái giảu mồm ra vậy. Cu Mài trợn mắt cãi: - Bố tao bảo thế mà lị! Thế thì chúng mình cử anh ấy là chỉ huy - thằng lớn nhất bọn nói thế và nó tuyên bố ra vẻ dứt khoát: - Đứa nào bằng lòng thì đi lấy súng mau lên. Lũ trẻ ùa vào trong bếp và ùa cả ra dọc hàng rào. Chỉ thoáng một lát chúng đã trở đứng nối đuôi nhau ở sân. Đứa nào cũng có một thanh củi, một cái que hoặc là vác ở vai, hoặc là buộc dây quàng sau lưng, hoặc giắt ngang sườn như thể một thanh kiếm báu của người hiệp sĩ. Thằng lớn hô lũ trẻ tập hợp. Nó cũng ra lệnh điểm số một hai, ba…cho đến đứa chót, giống hệt như các anh bộ đội sắp ra thao trường. - Nghiêm! Nó hô xong liền quay lại bước tới trước thềm chào hai anh bộ đội đang đứng song song ở bậc cửa và báo cáo luôn: - Quân ta đã tập hợp xong! Đề nghị đồng chí bên phải (Nó giơ tay chỉ anh bộ đội của cái Mỹ) ở nhà canh gác doanh trại không cho quân địch đánh chiếm. Một thằng bé đứng giữa hàng nói xen vào: - Ê! Cậu phải nói như trong phim ấy kia. Rồi nó bước ra, ưỡn ngực nói luôn: - Phải canh gác doanh trại, bảo vệ Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Khi nó quay về hàng ngũ thì thằng bạn đứng cạnh khe huých nó khen: - Cậu nói thế mới oai. Cu lớn vẫn tiếp tục báo cáo, nó chỉ vào anh bộ đội của cu Mài và nói: - Còn đồng chí này, yêu cầu chỉ huy chúng tôi ra mặt trận tiêu diệt quân thù dã man… Cả hai anh bộ dội cùng vui lòng nhận nhiệm vụ với nụ cười dễ dãi và họ phải chia tay nhau ngay lập tức. Một anh được để lên chiếc xe bốn bánh do chính tay cu Mài kéo đi đầu. Cả bọn khom khom người tiến theo sau, toán quân hướng về góc vườn. Cũng giống như mọi hôm, mặt trận được diễn ra ác liệt tại đấy. Còn anh bộ đội giữ nguyên nhiệm vụ canh gác thì vẫn đừng nguyên trên bậc cửa. Anh ta đứng thẳng mà không hề biết mỏi tí nào. Xung quanh vắng vẻ, chỉ còn mỗi cái Mỹ và cái Lúa ngồi lại ở thềm. Bọn con trai không chịu cho chúng ra mặt trận. Hai đứa vào nhà lấy khoai luộc chia cho nhau ăn, chúng chia cho cả anh bộ đội nữa. Nhưng anh ta nhất định không chịu ăn rồi, lúc canh gác ai lại ăn uống linh tinh thế được. Tiếng reo, tiếng súng “Pằng pằng, đoành đoành” từ một góc vườn dội vào lanh lảnh. Một con chim chích choè đậu trên ngọn đọt cau nhún đuôi hót “ chiu chót”. Nắng non trưa vàng roi rói. Nắng bò dần đến ngưỡng cửa, nhưng có hề gì, anh bộ đội vẫn đứng đinh ninh không lộ vẻ gì là ngại ngùng nắng gió cả. Cái Mỹ bỗng nhiên rủ bạn: - Chúng mình chơi ru em đi. Cái Lúa đồng ý ngay: - Ừ! Không chơi đánh nhau nữa! Ru em thích hơn. - Thế chúng mình ra bài “Hoà bình chim trắng…” nhớ Thế là cái Mỹ bế anh bộ đội, còn cái Lúa bế củ khoai; hai đứa cùng ngồi võng đưa bổng tít và chúng nó ra cho em ngủ, tiếng ru thánh thót: Hoà binh chim trắng a trời xanh Có anh bộ đội giữ canh hoà bình Con chim chích choè trên ngọn cau cũng hót véo von như hoạ theo lời ru của hai đứa gái nhỏ. Lúc này góc vườn đã im tiếng hò reo. Súng đã lặng. Chắc là quân địch đã bị tiêu diệt vì bọn trẻ đã quay ra bắt chuồn chuồn kim và nhưng con bướm nhỏ cánh vàng kéo đến xập xèo trên vạt rau khoai lác đác trổ hoa tim tím. Riêng anh bộ đội vẫn đứng nguyên trên xe gỗ để dưới gốc mít. Anh ta đứng rất thẳng, không hề chịu buông súng, mắt dõi nhìn phía trước. Hình như anh ta lo cảnh giác quân địch, sợ chúng trở lại đánh úp lũ trẻ đang nhởn nhơ giữa vườn đầy bướm. Đã là bộ đội thì không được một chút nào lơ là nhiệm vụ cơ mà. Bởi vậy anh ta vẫn đứng nguyên ở vị trí, đứng rất vững không hề thay đổi. Chắc hẳn lúc này anh cũng đang nóng lòng nghĩ tới người bạn chiến đấu lúc chia tay. Ừ! Anh bạn ấy có làm nhiệm vụ như mình không nhỉ?… Làm tròn chứ? Mãi tới lúc tan đồng, người mẹ trở về thấy cái Mỹ và cái Lúa đã ngủ say tít. Hai đứa trẻ gái thở đều đều, má chúng hồng hồng mìn mịn như da những quả đào chín. Chỉ có anh bộ đội thì vẫn không chịu ngủ. Anh ta đứng gọn trong lòng hai đứa trẻ, tay ôm khẩu súng trước ngực, mắt nhìn thẳng về phía trước. Anh ta mỉm cười với bà mẹ. Cõ lẽ anh ta rất hài lòng về công việc của mình, cái việc thức canh cho em gái ngủ, giấc ngủ êm ả dịu ngọt trên chiếc võng nhỏ khe khẽ đu đưa./. Tiêu đề: Sau khúc hát ru Gửi bởi: chichbong trong 09 Tháng Tư, 2008, 05:42:42 pm Sau khúc hát ru Mạnh từ chiến trường trở về sau tám năm xa Hà Nội. Anh tìm đến Hưng, người bạn học cùng với anh trong những ngày ở đại học. Hai người xa nhau lâu đến thế mà khi cửa vừa mở ra Hưng đã nhảy phắt từ trên giường ra tới cửa, hét lên "Mạnh!", rồi ôm chầm lấy anh. Tám năm ở chiến trường, Mạnh luôn nghĩ đến giây phút này sau mỗi lần kỷ niệm của hai đứa dào lên trong ký ức. Thế mà bây giờ Mạnh vẫn bị xúc động, đôi mắt màu nâu của anh bối dối trên gương mặt tái xanh vì sột rét: - Cậu phải ở với tớ cho đến giờ phép cuói cùng, hiểu chưa? - Vừa nói, Hưng vừa túm ba-lô của Mạnh vứt xuống giường, rồi chưa tin hẳn là Mạnh đang đứng trước mặt mình, Hưng lại ôm quàng lấy Mạnh một lần nữa làm cho khuôn mặt tái xanh của Mạnh phút giây ửng đỏ lên.. Từ chiến trường về, Mạnh đã mất gần mười ngày phép để chuyển thư từ, quà cáp đến tận một số nhà bạn bè của anh mà do công việc họ chưa về thăm nhà được. Còn lại hai ngày anh nghỉ phải để dành cho Hưng- người bạn anh quý nhất trong những ngày học với nhau ở trường. lẽ nữa là bố Hưng, người công nhân già của một nhà máy in trong quân đội đã thực sự coi anh như con sau lần gia đình anh bị bom ở quê. - Chỉ sợ cậu không kham nổi tớ trong hai ngày thôi. Nghe cái từ quen thuộc rất riêng của bạn, Hưng reo lên thích thú: - Kham nổi, mấy cũng kham nổi... Ồ! Mà tại sao chỉ có hai ngày? Hưng sựng lại nhìn Mạnh. - Là vì... Mạnh lúng túng chưa biết nói thế nào thì Hưng đã nói ào đi: - Đừng có mà lôi thôi, ông tướng! Chốc nữa bố về tha hồ mà "là vì" với ông cụ. Trong phút gặp lại như thế này, " cánh đàn ông" như anh thường không hay nói nhiều. Và nếu có một cử chỉ nào đấy để biểu lộ tình cảm của mình thì lại quá vụng về. Vì thế mặc dầu Hưng cứ nao người lên mà cuối cùng anh chỉ ấn vào tay Mạnh nào chậu thau, nào xà phòng, khăn tắm...và đẩy cậu ta vào buồng tắm phía cuối sân. Trên nhà, Hưng cứ đi lại quanh quất cố nghĩ cách xoay thêm một cái vé văn công để tối nay Mạnh cùng xem. Cuối cùng cái ý nghĩ cần thiết cũng loé vụt ra, anh gọi với vào buồng tắm, bảo Mạnh: "Tắm xong ở nhà không có đi đâu nhé, ông tướng!" . Rồi anh túm lấy xe đạp dắt ra đường, nhảy phóc lên phóng vút đi. - Những năm ở chiến trường cậu không được xem văn công lần nào à? Hưng hỏi. - Không. - Thảo nào, từ tối qua đến giờ cậu như người mất hồn ấy! Phải công nhận hay tuyệt! - Cái gì hay tuyệt? - Cái mục " Đừng tặng hoa riêng em" của cô bộ đội lái xe với cánh lính trẻ ấy! - Ờ... - À, mà tại sao khi cô ta hiện ra sân khấu cậu lại nắm chặt tay tớ thế? - Và không thèm nghe Mạnh trả lời. Hưng nói say sưa - Cô gái hát tuyệt diệu, cứ như hút lấy mọi người. Mạnh này, cậu có nghĩ thế không? Mãi lâu không nghe bạn nói tiếp, mạnh quay lại. Bao năm rồi đôi mắt nó vẫn cứ mơ mộng như thế! Trước đây mỗi lần thế Mạnh chỉ lặng người đi như muốn hiểu thấu cái khoảng tầm mà sức nhìn của đôi mắt ấy gợi mở. Gì đây anh cũng đã hiểu nhưng vẫn hỏi: - Nghĩ như thế là thế nào? - Là tất cả phông màn, sân khấu dường như không đủ sức chứa nổi tiếng hát ấy. Mạnh cười vang. "Sự cực đoan của trí tưởng tượng" -biệt hiệu anh tặng cho bạn không ngờ Hưng lại giữ nó lâu đến thế. - Cậu biết không, cái lèn đá mà cô gái hát trong bài hát hiện ra với tớ lung linh và sinh động hơn cái phông người ta dựg lên đấy nhằm để gợi. - Ở Trường Sơn cũng có một cô gái hát được như thế. - Ai? - Một cô văn công. - Tất nhiên rồi nhưng tên cô ta? - Cô ta có rất nhiều tên. Toàn do lính đặt. - Nhưng chắc chắn không thể hơn được - Hưng nói quả quyết. Mạnh mỉm cười rồi như muốn nói với Hưng một điều gì đấy. Nhưng chưa kịp nói thì Hưng đã hất hàm, bảo: - Cái vé của cậu tối qua chính là cô ấy cho đấy! - Sao?- Mạnh nhỏm dậy, quay phắt sang Hưng, hỏi: - Cậu làm gì như đỉa phải vôi thế? Rồi Hưng cười xoà và nghĩ rằng mấy năm vào lửa ra lửa thế mà tính nhát gái của Mạnh vẫn chưa dạn ra. - Ồ...Mình muốn hỏi sao lại vẫn là cô ta? - Cô ta là bạn tớ.Sáng qua cô ấy đã đưa vé mời tớ. Đùng một cái, cậu về. Thế là lúc cậu tắm, tớ phải đến cô ấy. Tưởng là không được vì là sắp tới giờ biểu diễn không thể xoay kịp. Tớ nói là tớ có một thằng bạn thân ở chiến trường mới về rất yêu nghệ thuật. Không hiểu vì cậu là người ở chiến trường ra hay vì cậu là người yêu nghệ thuật mà nghe thế cô gái liềnđến nằn nì với một anh trong đoàn. Chẳng biết cô ta nói những gì mà anh ta đồng ý đổi chiếc vé độc thân của tớ trao hai cái vé liền ghế cho cô ta. - Cô ta... là bạn cậu từ bao giờ thế? - Những năm sơ tán cơ quan tớ ở gần đoàn văn công ấy. - Ra thế! - Cô bạn sắp đến mà điện lại mất. Thế có bực mình không chứ! Hưng lại bật công tắc một lần nữa. Vẫn vô hiệu. Mạnh bật khỏi giường như lò xo. Những cơn sốt ban chiều làm anh kiệt sức. Chân tay rời nhão ra, đau nhừ. Anh nằm vật xuống. Tiêu đề: Re: Sau khúc hát ru Gửi bởi: chichbong trong 09 Tháng Tư, 2008, 05:45:38 pm Có tiếng gõ cửa. Hưng chạy ra. Mạnh vội kéo tấm chăn chùm kín đầu.
- Cậu ấy đã cắt sốt nhưng chưa dậy được. - Có thuốc cho anh ấy chưa? Giọng nói nghe thoảng như thường nghe ở các bệnh viện. Rồi Mạnh nghe bước chân đến gần anh. Anh giữ chặt đầu mép chăn bít láy đầu. Mồ hôi vã mèm ra trán nhưng cũng không sao ngăn được cậu Hưng đã kéo tấm chăn xuống, nói với cô gái: - Bạn nối khố mình đấy! Cô gái nhìn Mạnh rất nhanh. Nhưng cũng đủ để cái điều làm Mạnh băn khoăn suốt từ tối qua tới giờ không còn nữa: Anh không còn sợ mình bị nhầm. Bao năm rồi anh vẫn không thể nào quên được đôi mắt lúc nào cũng cười trên khuôn mặt thanhh tú ấy. Hưng đặt chiếc ghế đẩu mời cô gái ngồi rồi anh ngòi xuống giường với Mạnh. Chiếc đèn hoa kỳ lù mù đặt ở bàn chỉ đủ hặt một vầng sáng vàng nhạt về một bên người con gái. - Anh đã đỡ chưa?- Cô gái hỏi Mạnh. - Người lính chúng tôi cắt cơn sốt là khoẻ ngay thôi - Mạnh cố gượng dậy. - Anh ngỡ tôi không biết sốt rét là gì sao? - Sốt định kỳ như người vay nợ đến hạn phải trả ấy mà! Và như muốn chứng thực điều mình nói là đúng nên Mạnh đã ngồi ngay dậy. Hưng chồm tới đỡ lấy Mạnh, bắt anh nằm trở lại. - Cho mình được tiếp khách nữa chứ! Rồi Mạnh nói với cô gái - Cậu ấy còn khắt khe hơn ông thầy thuốc khó tính. Sau khi xếp chăn gối cho Mạnh tựa và gối đầu lên thành giường để có thể nói chuyện được, Hưng đi pha trà. - Anh ở chiến trường nào? - Tôi ở Trường Sơn. Cô gái bưng miệng cười: - Anh làm như cả Trường Sơn chỉ có một chiến trường. Đồng chí xem thường nhau quá! - Đâu ạ. - Cậu ấy ở tít đỉnh Trường Sơn. Ông tướng là kỹ sư hữu tuyến- Hưng vứa rót nước mời mọi người. - Vậy đơn vị anh có phải K.87 không? Cô gái hỏi hấp tấp rồi chăm chăm nhìn Mạnh. Cổ họng Mạnh như đắng lại. Anh nhìn thẳng vào cô gái. Và...trog khoảng tranh tối tranh sáng của căn phòng này. Mạnh biết cô gái đã không nhận ra anh. Anh chậm rãi nói: - Cậu ấy nói vui đấy! Đơn vị tôi ở trường Sơn nhưng dưới chân núi. - Thế mà tôi cứ tưởng anh ở trên ấy thì thích quá. Cách đây bốn năm, tôi đã đến đấy phục vụ. Bây giờ không biết anh em ở đấy còn nữa không? - Chị vào tận nơi ấy thì giỏi thật! - Lúc này Mạnh đã hoàn toàn trở lại bình tĩnh. - Không dễ đâu. Lúc đầu các anh trong đoàn nhất định không cho đi. Sợ leo núi không nổi. Lo tôi vào bãi "toạ độ sốt rét" ấy thế nào cũng bắt anh em võng ra. - Các bố lo "thân gái dặm trường"mà lại - Hưng nói cắt ngang. - Nghe vậy tôi hơi băn khoăn. Tôi không sợ vất vả. Nhưng chỉ lo nhỡ ra sốt rét ác tính, tôi nghe nói những người chưa sốt rét bao giờ cũng dễ bị ác tính, phiền anh em phải cáng ra thì tội quá. Nhưng rồi tôi quyết định đi vì nghĩ những người đang sống nơi heo hút đó đang mong chờ chúng tôi. Và tôi đã đi đến nơi. Điều ấy làm cho cả đoàn bị bất ngờ. Còn tôi sau lần ấy tôic ó một kết luận nhỏ: bất kỳ trong việc gì cứ làm quá sức mình đi một tí sẽ thích hơn và có khi chính đấy còn là niềm hạnh phúc không ngờ. - Kết luận thú vị nhỉ? - Hưng vừa cười vừa nhìn cô gái. Cô gái bỗng bối rối khi biết rằng, mọi người dường như không tin điều cô vừa nói. Cô quay sang phía Mạnh: - Thật đấy! với tôi quả thật là như thế. - Tôi có một anh bạn nghĩ hệt như chị. Cô gái nhìn Mạnh cười biết ơn. - Chị là diễn viên đã lâu chưa? - Mạnh hỏi đột ngột. - Tám năm. Nhưng với tôi, có lẽ thực sự của công việc chỉ có cách đây bốn năm, sau chuyến đi công tác đầu tiên của tôi ở chiến trường - Cô gái nói thêm. - Tại sao? Cô gái mỉm cười: - Cõ lẽ tôi phải dẫn giải dài dòng để chính hai anh kết luận hộ vậy. Tiêu đề: Re: Sau khúc hát ru Gửi bởi: chichbong trong 09 Tháng Tư, 2008, 05:48:40 pm Đấy là lần đầu tiên đoàn chúng tôi đi pục vụ chiến trường - Khi cô gái bắt đầu kể. Mạnh đã ngồi hẳn dậy. Anh tựa lưng vào thành giường. " Xưa nay hắn vẫn là thằng say chuyện". Hưng nghĩ vừa đăt vào tay Mạnh cốc nước chanh nóng và bắt anh uống.
Vì đang chiến đấu ác liệt, nên đoàn chúng phải phân tán đi phục vụ lẻ các đơn vị. Tôi cùng mấy đồng chí nam đi theo một đơn vị thông tin. Anh em ở rải rác suốt dọc Trường Sơn. Đơn vị ở sâu nhất từ đông sang tây là k.87. Gần trưa chúng tôi đến nhà kho của đơn vị thì trời đổ mưa. Mưa núi hạt to như đồng xu đổ xuống cứ như đóng dấu lên mặt đất xốp. Bầu trời phút chốc như cái vung úp sụp lên đầu tôi. Mí mắt như có ai kéo trì xuống. Chân tay rã rời. Người ngai ngái bần thần như vừa muốn làm một cái gì như vừa không muốn làm gì hết. Anh em biết tôi sắp sốt quyết định tôi ở lại. Hai đồng chí được K.87 cử đón đã chờ chúng tôi từ đêm qua, nhìn tôi phân vân. Các anh cho biết vào đến đấy còn phải đi già nửa buổi đường. Lắm dôc. Đi theo đường giao liên khá vất vả. Một trong hai đồng chí đưa cho tôi một cốc nước đừng và hai viên thuốc sốt. Đấy là một thanh niên khoảng hai mươi lăm tuỏi. Trên gương mặt mai mái vì sốt nhiều là đôi mắt trầm tĩnh. Cái ánh nâu trong đôi mắt ấy như hai ngọn lửa mà bất kỳ ai nhìn vào đấy cũng thấy một cái gì đầm ấm. Và có lẽ chính vì thế mà tôi buột miệng hỏi anh: - Liêu tôi có đi nổi không anh? Anh nhìn tôi. cái nhìn như muốn đo sức vóc của tôi đi đến một lời quyết định. Và khi tôi biết mình bé nhỏ chỉ đứng tới vai anh ta thì tôi đã cầm chắc câu trả lời của anh. Mặt tôi xìu đi. - Với chúng tôi thì những ngày sốt, chúng tôi vẫn gùi hàng trên đường. Tôi ngước nhanh, nhìn anh. Hai ngọn lửa đã biến thành hai giot sáng vời vợi trên màu mắt trong veo của anh. Thế là một quyết định mãnh lịêt đến với tôi từ câu ấy. Tôi bỏ hết các thứ lại, chỉ mang theo bộ quần áo với một tấm dù mỏng để đi cho nhẹ. - Chị cứ để nguyên cả ba-lô, tôi mang hộ! -Anh ta nói. - Nặng lắm. Không thể mang nổi đâu! - Tôi nhìn chiếc ba-lô với trăm thứ bà rằn của con gái mà ngao ngán. - Chị cứ để chúng tôi mang hết, không nhỡ vào trong kia thiếu thứ gì chúng tôi chẳng ai tương trợ chị đâu. Tiếng cười toả ra và chúng tôi lên đường. Đi hết mấy độ dốc trời tạnh hẳn mưa. Tôi dừng lại cởi tấm ni-lông và buồn cười là mặt ngoài của nó thì khô mà mặt trong lại nhơm nhớp ướt. - Chị tháo nhièu mồ hôi thế may ra sẽ không sốt- Đồng chí đưa đường bảo thế, rồi anh nói thêm- Chị kiếm chố thay quần áo đi không nó ngấm nước vào, lạnh, dễ ốm. Ngày xưa mẹ tôi chẳng bao giờ bảo nổi tôi một điều gì về những chuyện như thế. Thậm chí có hôm mùa đông, tôi gội đầu xong, đầu sũng nước, mẹ tôi lấy khăn bông lau, tôi không nghe và sau đó cảm một trận suýt chết nhưng cái tính khí ấy đâu vẫn hoàn đấy. Còn lúc ấy không hiểu sao tôi đã làm theo lời anh ấy ngoan ngoãn như một đứa trẻ. Quá trưa, chúng tôi tới một con suối thì gặp một đoàn bộ đội gùi hàng đang nghỉ bên bờ. Thấy tôi, mọi tiếng cười lập tức bặt lại và sau đấy là những cặp mắt chiếu xoáy. Người ta nói "Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò". Còn với tôi, trong phút giây này thì "Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là lính". Có trời mà biết được họ sẽ 'tặng" mình những lời bình phẩm gì đây. - Ai...qua suối cõng thuê đ.. â...y...! Tiếng cười rào lên như mưa đá. Nghe giọng bắt chước y hệt những người rao mua lông gà lông vịt, tôi biết chắc anh lính ấy là người Hà Nội nên tôi dạn hẳn ra. - Đồng chí đồng hương ơi! - Tôi gọi. - Đồng khói thôi. Trận cười lại rào lên. Tôi có cảm giác trận cười ấy dội xuống người tôi. Trong lúc chưa biết tìm đâu ra đất để chui thì một đoàn dồng bào Pakô, Vân Kiều đi đến. Họ cũng gùi hàng chiến dịch. Họ cười, nói nhìn tôi: - "Con mun o lư hung!" (Con gái đẹp hung!). Nhìn nét mặt hiền từ xởi lởi của họ tôi đã nắm chặt tay từng người lắc mạnh. Một thanh niên cầm chặt tay tôi, anh vừa lắc, vừa nói: "Bộ đội o lư hung!". Tất cả cười ồ lên. Tôi bối rối vì xấu hổ, cầu cứu cả đoàn. Tôi nhìn người chiến sĩ đưa đường. Trong đoàn anh là người duy nhất hiểu tiếng Vân Kiều nhưng anh chẳng chịu nói cho tôi hay mà chỉ tủm tỉm. Thấy tôi càng bối rối, đồng bào càng siết chặt tay tôi. Mọi người tính đến chuyện qua suối. Mưa rừng suối lũ rất nhanh. Nhìn những người lội ra giữa dòng, nước ngập quá cổ, anh em trong đoàn nhìn tôi. "Biết mà, dính vào các bà lắm cái lôi thôi". Tôi như đọc được câu đầu cửa miệng ấy trong mắt mọi người. Và tôi lội ào xuống suối. Anh chiến sĩ đi đường bỗng nắm tay tôi kéo lại và nhoáng một cái, anh đã nhấc bổng tôi lên. Mọi người chuyền tôi như chuyền một quả bóng qua suối. Chuyền một quả bóng qua suối cõ lẽ không có gì phải nghĩ. Chuyền một đứa trẻ qua suối có lẽ không có gì phải phân vân. Nhưng chuyền một người con gái thì không đơn giản. Tôi cảm nhận điều ấy trên mỗi cánh tay của mỗi chiến sĩ. Bởi thế khi đặy chân xuống bờ bên kia tôi đứng lặng đi: với tôi mọi lời nói dường như không còn đủ nghĩa. Chúng tôi chia tay với bộ đội và đồng bào. Anh thanh niên Vân Kiều tặng tôi chiếc gậy hèo rất đẹp của anh, nói: "Bộ đội o lư đi mạnh giỏi hây!". Mấy chị phụ nữ bỏ cả tẩu ra , cười với tôi. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 03 Tháng Năm, 2008, 09:53:42 pm GIẾNG TRONG Chỉ còn chừng cây số nữa là hết cánh đồng. Quân lính anh nào cũng khát. Nước trữ trong bi đông vắt giọt đến mấy bận, khô cong. Dẫu Tào Tháo ở đây cũng khó mà động viên nổi binh sĩ. Vinh cho trung đội dừng lại, bảo: “Xóm làng kia rồi. Nhưng liên lạc tiền trạm chưa báo. Địch ta khó biết. Cứ đi. Chỉ được qua. Cấm dừng. Khát ráng chịu, còn hơn tất cả phải ăn đòn”. Truyện ngắn . LÊ TẤN HIỂN Cánh đồng Chó Ngáp – nghĩa là cánh đồng dài, rộng quá, đi hết, đến chó cũng phải ngáp. Có thể, những đoàn quân đầu tiên đi qua đây đã đặt tên như thế. Dẫu có hơi quá quắt, nhưng quả thật, lính mình không ngoa. Giữa chiến trường, cái quá quắt cuả ngôn từ lại có gì như dễ thương, thậm chí, cần thiết nữa. Đơn vị tôi đang hành quân qua cánh đồng mang cái tên khôi hài dữ tợn này. Đêm ấy không trăng. Nhưng trời đầy sao. Chúng tôi đã thấm mệt. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo, thấm sang cả ba lô, rồi lại khô. Cứ thế đến mấy lần, mà vẫn chưa đi hết cánh đồng. Tiểu đội hậu cần, vốn đã lủng củng nồi xoong, lại dắt thêm con cầy tơ - đổi được của đồng bào dân tộc, nghe đâu bằng một cái chăn chiên. Biết lính trung đội mê món “mộc tồn”, mấy cậu anh nuôi cố giữ, định đến vị trí tập kết làm bữa khao quân trước khi vào trận mới. Nhưng chưa hết nửa cánh đồng, con chó đã nằm rịt, không chịu đi, tròng dây kéo cũng không nổi. Đành để cu cậu nằm lại. Tội nghiệp. Nó chưa ngáp, nhưng chắc gì sống nổi giữa đồng đất bao la nà. Mấy thằng tích giữ củ riềng trong túi cóc chép miệng tiếc. Có ai đó lên tiếng: “Dào, nó chưa chết là may. Ngay tao cũng sắp... ngáp đến nơi rồi. Khát khô cổ...” Người vừa nói là Vinh. Vinh “ba toác". Nó là thằng đa ngôn bạo mồm nhất đại đội. Thằng ruột ngựa, nhiều khi đến sống sượng. Nhưng chẳng một ai giận được nó bao giờ, mặc dù nhiều khi phát chối, phát ngượng vì nó. Không giận nổi, vì nó luôn nói đúng. Hồi còn ở pháo, thời huấn luyện, có đoàn kiểm tra của “sư” xuống thăm. Vinh đang “đóng vai trực chiến”. Thấy không mang mũ sắt trên mâm pháo, một ông trợ lý hỏi: “Sao không đội?”, nó tỉnh bơ: “Dạ trực vờ, đội làm gì. đánh nhau thật, khỏi nhắc. Mới lại, cơm đã ít, nặng đầu chỉ chóng đói...”. Mấy đứa cùng khẩu đội tức lắm, mà không nhịn được phải quay đi, cười. Vậy mà nó được việc. Ngay hôm sau đoàn về, thấy cơm nhiều hơn. Không ai nói ra, nhưng biết đấy do công thằng “ba toác”. Một lần khác, hồi còn trên đất Bắc, đơn vị chuẩn bị ăn tết. Có mấy thằng lính nhớ nhà không chịu nổi, trốn ra đường cái, vẫy xe “vù. Ú ớ thế nào vớ ngay phải xe trung đoàn bộ. Thế là cả tốp bị mời về. Hôm sau hội bỏ ngũ phải lên đọc kiểm điểm trước đại hội. ông chính uỷ dự nghe, bảo: “Khuyết điểm rõ rồi. Còn tự nhận kỷ luật, chưa thấy ai nói...”. Bỗng từ dưới hàng quân, một người bước lên, giậm gót, đứng nghiêm chào. Thì ra là Vinh. Nó dõng dạc: “Tôi xin bảo lãnh và cam đoan với danh dự chiến sĩ, đây sẽ là lầm lỗi cuối cùng của chúng tôi trước lúc ra trận!”. Chính ủy nhíu mày, nhưng xúc động nhiều hơn là ngạc nhiên: “Đồng chí nhân danh gì?” – “Dạ, đồng hương” – Vinh đáp gọn lỏn. Kết quả thật không ngờ. Mấy tay trốn hụt được về hàng. Kỷ luật cũng được xí xóa. Ông chính ủy thay vì “lên lớp” nán lại hàng giờ với đại đội, kể chuyện kỷ niệm thời tân binh... Từ đó, Vinh “ba toác” trở thành niềm tin cậy và chỗ dựa của lính tráng đại đội. Bất kể đầu bò đầu bướu đến đâu, hễ Vinh đã nói một tiếng là răm rắp. Trước ngày vào B, Vinh được đề bạt A trưởng. Rời đất Bắc, nó được phong trung đội phó. Hành quân được hai trạm, tay trung đội trưởng “khung” lăn ra sốt rét, phải nằm lại. Thế là “ba toác” được chỉ định nắm quyền. Lên cán bộ, nhưng mồm miệng nó vẫn thế, có khi còn bỗ bã hơn. Được cái nó làm ra trò, từ chỉ huy, quản lý, phân công, cách đánh, cách lui... một mình nó một kiểu. Nhưng trận nào cũng thắng. Lính các trung đội khác, trông sang mà thèm. Chỉ còn chừng cây số nữa là hết cánh đồng. Quân lính anh nào cũng khát. Nước trữ trong bi đông vắt giọt đến mấy bận, khô cong. Dẫu Tào Tháo ở đây cũng khó mà động viên nổi binh sĩ. Vinh cho trung đội dừng lại, bảo: “Xóm làng kia rồi. Nhưng liên lạc tiền trạm chưa báo. Địch ta khó biết. Cứ đi. Chỉ được qua. Cấm dừng. Khát ráng chịu, còn hơn tất cả phải ăn đòn”. Đến khi qua cái làng ấy, nghe tin đơn vị khác mấy thằng suýt chết vì uống phải nước giếng có thuốc độc. Cả trung đội lè lưỡi. Thoát nạn. Chúng nó xúm nhau vào tung Vinh lên, reo hò, khâm phục. Nhưng vẫn không có nước. Lại suốt một ngày nhai lương khô thay cơm, bụng dạ ráo như bánh đa. Đến mồ hôi cũng không còn mà ra nổi. Ai cũng biết, nhịn ăn một ngày, còn dễ. Chứ nhịn uống, khó lắm... Vinh vừa đi ngược hàng quân, vừa nói: “Thằng nào có tiếu lâm, kể đi. Giời bể, đông tây, yêu đương, ma quái gì cũng được. Hay thằng nào có giọng, thì hát, nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh, cho phép tất. Cố lên vài chặng nữa. Cây cỏ sống được thì mình sống được. Lính chưa gặp đạn bom, muốn chết cũng khó...” Tang tảng sáng. May thay, có liên lạc của C báo: “Vùng an toàn. Cho quân nghỉ nấu cơm. Nhắc các đơn vị tuyệt đối chấp hành chính sách dân vận!”. Vinh nghe xong, cười ha hả. Đợi cậu liên lạc đi khuất, bảo: “Lại có “chất tươi” rồi. Nghe đây, thằng nào thằng nấy cất kỹ “chim đi”! Đứa nào để sổng, để bay, cứ đúng luật thời chiến mà xử: Chặt!”. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 03 Tháng Năm, 2008, 09:56:24 pm GIẾNG TRONG (tiếp) Các A trưởng báo: Anh em xin được đi kiếm nước uống. Vinh lệnh: “Giữa nguyên hàng quân. Tạt vào ven đường mắc võng. Sẽ có người mang nước đến tận mồm. Mệnh lệnh cứ ào ào, bỗ bã như thế, mà nghiêm. Xuống tới tiểu đội quân chấp hành tắp lự. Cấm thấy tiếng kêu ca phàn nàn gì. Lính trung đội quen rồi. Vinh đã nói là làm. Vả lại, càng vào sâu vùng lửa đạn, họ càng biết rằng, nắm giữ sinh mạng chiến sĩ, không ai khác, chính là người chỉ huy trực tiếp này. Vinh đi kiểm tra một lượt hàng quân. Rồi lấy thêm hai người – Chi và Tối – hai vị đồng hương trốn hụt hồi tết năm ngoái cùng đi. Tối, thực ra tên là Tôi. Điểm danh trung đội đến lần thứ hai, Vinh bảo: “Tên gì nghe khó chịu bỏ mẹ, vào đánh nhau rồi lẫn lộn, chết oan có ngày. Đổi! Từ nay gọi là Tối. Xấu một tó, nhưng đố thằng nào dám nhầm...” Vinh – Chi và Tối, thành cái bộ ba “tam cúc”, cũng chẳng ra ra “tướng sĩ tượng” hay “xe pháo mã” gì, chỉ biết, cứ hành quân hay đánh trận thì thôi, nhưng hễ có chặng nghỉ, lại kè kè, không thể thiếu. Thấy Chi có vẻ giữ ý, Vinh to tiếng tuyên bố trước trung đội: “Chúng tao đồng hương thân nhau hơn là đương nhiên. Đừng thằng nào thắc mắc ghen tỵ gì. Luật chiến trường không ai cấm móc ngoặc. Mẹ, toàn súng, đạn với cát – tút, thằng nào cũng có cả. Móc cái gì?”. Vinh bằng tuổi Tối. Còn Chi kém hai. Thấy hai đứa cứ “anh anh, em em”, Vinh phát khùng: “Tao hỏi thật, chúng mày gọi tao là anh, vì sao?”. Cả hai thằng đang ngớ ra, chưa hiểu, Vinh tiếp: “Vì tao là chỉ huy hay vì hơn tuổi?”, rồi thẳng một lèo: “Thôi cứ mày tao mẹ nó đi cho dễ, anh em rồi có lúc phải nể, phải nhường. Nể, nhường ngoài mặt trận khó xử lắm...” Tối, vốn dân đại học văn hoá lý lẽ: “ Thôi, đã là anh em, căn vặn làm gì. Cũng chẳng nệ tuổi tác hay chức vị. Chúng mình kết nghĩa. Xong chưa?”. Tư đó, Vinh mới chịu nghe, nhưng còn dặn thêm: “Thằng nào không thực lòng, vào trận, cho dính đạn chết quách. Giả dối, chả cứ anh em, sống cũng bằng thừa”. Ba người vào làng. Vinh bảo: “Tao đi lo nước cho anh em. Thằng Chi, kiếm nhà nào không có con cái, mình vào mắc võng, làm một giấc. Còn thằng Toói, xem đâu có hoa quả gì, “dân vận” một ít về đây. Độ một tiếng sau, thấy từ trong làng, bốn nă cô gái, chừng như cũng vừa thay bộ cánh mới, lũ lượt gồng gánh tiến ra. Họ mang nước tới tận hàng quân. Chè tươi hẳn hoi. Lính tráng được dịp thoả thuê, đem hết bình tông, cả thùng lương khô ra chứa. Lại lâu lắm mới có dịp gặp dân, nhất là con gái, anh nào anh nấy ra sức khua môi múa mép. Pha trò, châm chọc. Lính mà, ở đâu chẳng thế. Ai giận được. Chi đi khắp làng, rồi quay về thẽ thọt: “Khó quá, nhà nào cũng có, ít nhất một cô gái, anh Vinh ạ...” Vinh thở dài: “Thôi cũng đành! Chọn lấy một nhà, mắc võng ngoài vườn... Mà mình có ngủ với chúng nó đâu mà sơk” Còn Tối, sở dĩ Vinh phân đi kiếm hoa quả, cũng có lý do của nó. Thằng này cứ như thể sinh ra là để làm chỉ huy, biết người biết của, ranh mãnh ra phết. Chả là có một banạ, ba đứa vừa mắc võng giữa rừng, đang đung đưa kể chuyện quê, chợt Tối nhìn lên tán lá phát hiện một cành quéo, có quả hẳn hoi. Tối la lên. Ba đứa chụm đầu nhìn, nuốt nước miếng. Ở rừng, vớ được thứ hoa quả vườn, cứ như bắt được vàng, lại là của chua, quý lắm. Hoá ra, họ nằm ngủ cách một cây quéo rừng có dăm mét mà không biết. Nhưng khốn nỗi, cây cao chót vót, thân to lì chẳng thấy cành chạc gì, xung quanh lại toàn giống săng lẻ trơn tuồn tuột, khó mà trèo hái. Chỉ có bắn tỉa từng quả là chắc ăn nhất, đạn thì không thiếu, nhưng tiếng súng, sợ lộ bí mật hành quân. Đành chịu chết. Tối chót mạnh mồm: “Tao vốn dân trèo me trèo sấu thành thế, cao thế chứ cao nữa cũng chưa là gì...”. Vinh cười khẩy: “Nói phét! Tao thách. Thằng Tối mà hái được mươi quả xuống đây, tao xin... giặt quần cho mày!” Bị kích động, Tối nghĩ mưu, nối ba cái thắt lưng to vào nhau, buộc ngang lưng như kiểu dây an toàn của thợ điện. Loay hoay một hồi cũng leo được tới ngọn. Bữa ấy, chẳng phải mươi quả, mà cả trung đội ăn canh chua một tuần mới hết quéo. Trưa. Lính trung đội mệt, ăn uống xong là lên võng ngủ hết. Tối, Vinh và Chi chọn ba gốc cây sau vườn, mắc võng thành hình tam giác. Mà nào đã ngủ được. Chi ngây thơ: “Làng xóm gì chỉ thấy rặt con gái!”. Vinh quát: “Ngu, thế mà cũng mở miệng nói. Có về làng mình, bây giờ cũng thế. Khác gì. Trai tráng ra mặt trận cả, gì mà không chỉ còn con gái... Thế con bé nhà mày đâu mà chưa thấy mặt mũi ra sao cả?” – “Chắc nó thẹn...” – “Thẹn? Tao cam đoạn nếu đang trong nhà, thế nào nó cũng nấp khe cửa nhìn trộm chúng mình...”. Rồi cả ba phá lên cười. Nửa đêm hôm ấy, liên lạc báo, chúng tôi mới được lệnh thu võng hành quân. Đời lính, kiểu thoắt đến thoắt đi, oái ăm thế là thường. Nhưng với Vinh lần này, thấy nó cứ ngơ ngẩn đến khó hiểu. Chi nháy tôi: “Lại có chuyện gì rồi!”. Quả nhiên, độ ba giờ sau, đi qua một cánh rừng khộp lưa thưa, Vinh lệnh cho trung đội dừng lại, đặt ba lô, tập hợp thành hàng ngũ hẳn hoi. Giữa đường hành quân, chuyện như thế là hiếm. Nên mọi người đều đoán hẳn có việc gì hệ trọng sắp xảy ra. Sáng trăng suông. Vinh đứng trước hàng quân dễ đến mấy phút, chẳng nói năng gì. Không khí lặng lẽ, hồi hộp. Cuối cùng nó nói, giọng run run là lạ: - Chúng ta từ đất Bắc vào đây, sướng khổ, sống chết có nhau. Lòng dạ như cái bánh chưng, chẳng giấu giếm lừa dối nhau điều gì. Từ ngày trên bảo tôi làm chỉ huy, tôi đã biết số phận bọn mình gắn bó với nhau rồi. Biết anh em tin, tôi cũng cố xứng đáng với anh em, bấy nay chẳng nề hà phân biệt... Ngưng một lát, Vinh tiếp: - Nhưng hôm nay, tôi đã phạm tội lừa dối anh em, hưởng vui thú một mình... Tôi muốn dừng lại đây, để trung đội xử tội, đúng luật chiến trường, như tôi đã nói... Cả trung đội ngạc nhiên, ngơ ngác chưa biết chuyện gì. Như hiểu ra, Vinh nói: Đêm qua, cũng là lần đầu tiên trong đời, không làm sao giữ nổi... tôi... đã ngủ với một cô gái trong làng. Anh em không biết, trên không biết, nhưng tôi biết. Tôi phải chịu kỷ luật trước anh em. Tất cả có thế, anh em xử đi...! Cả trung đội im phăng phắc, không biết xử lý sao. Anh em ngạc nhiên và bàng hoàng nhiều hơn vì cái tính cách “thẳng thừng” đến độc đáo chưa từng thấy ở người chỉ huy của họ. Cuối cùng, các tiểu đội xin phép được hội ý, thảo luận, rồi cùng thống nhất uỷ quyền Chi và Tối truyền đạt ý kiến anh em tới Vinh. Đại ý là: “đẻ bảo đảm hành quân chiến đấu, trung đội tiếp tục lên đường. Khuyết điểm B trưởng chưa có căn cứ và nhân chứng, chưa thể quyết định kỷ luật. Đợi hết chiến dịch luc xét lại. Mệnh lệnh chiến đấu là trên hết, ai cũng phải chấp hành. Vừa mềm vừa rắn, lại có tình có lý, ấy thế mà cũng phải mỏi mồm mới thuyết phục nổi Vinh. Trước lúc hành quân tiếp, Vinh còn nói: “Chúng mày quá đáng lắm. Nghĩ cho kỹ mà xem. Đừng tưởng vậy là tốt với tao. Người đời bảo “nhất tội nhì nợ”, đáng tao chỉ mắc một, giờ lại phải đeo hai... Tội còn cho – nợ lỡ tao chết, ai trả?... Rồi cứ thế lùi lũi đi. Suốt đêm hành quân ấy, không thấy nó nói gì. ... Chiến dịch nối tiếp chiến dịch. Trung đội đã cùng C phối hợp đánh chiếm và giải phóng nhiều chốt điểm và địa danh quan trọng. Trên gọi trung đội là “trung đội Nguyễn Quang Vinh”, nên thành đơn vị điển hình với nhiều cách đánh táo bạo và dũng cảm. Các tiểu đội cũng đều đã có đứa hy sinh. Bận rộn, tất bật, chuyện của Vinh với cô gái đó, cũng không ai nhắc nữa. Cho đến một đêm, giải phóng xong thị trân Đ., trung đội nghỉ trong một rừng cao su bên sườn đồi. Ba người lại mắc võng bên nhau, thức rất khuya. Vinh hỏi: “Mai mốt toàn thắng, nếu được về, việc đầu tiên chúng mày sẽ làm gì?”. Tối nói sẽ trở lại trường địa học. Chi bảo sẽ “cưới vợ trước đã, rồi làm gì thì làm. Nó chờ lâu quá rồi”. Còn Vinh, sau khi im lặng hồi lâu, nó nói: Việc đầu tiên là tao sẽ đào một cái giếng, thật sâu, cho mẹ tao tắm. À, ừ, phải xây một cái nhà tắm đàng hoàng nữa. Tội nghiệp bà cụ, tao đi rồi, phải gánh nước mà dùng. Chùng mày còn nhớ không, cái ngày hành quân qua đồng “Chó ngáp ấy. Càng khát, tao càng thương mẹ ở nhà, đến rớt nước mắt. Quê mình nghèo quá, mang tiếng gần thành phố, mà đến hạt nước lã cũng chẳng mấy nhà sắm nổi làm của riêng... Ngừng một lúc như nuốt cơn nghẹn ngào, Vinh trầm ngâm: “Rồi cũng từ cái giếng, mới sinh ra chuyện của tao với người con gái làng chiến khu ấy...” Rồi nó kể: “Tối hôm ấy, sau khi cho trung đội giải tán về ngủ lấy sức hành quân, tao cũng về võng, ở cái vườn nhà cô bé mà thằng Chi chọn ấy, đặt lưng, ngủ liền. Được một giấc khá dài, tự nhiên tao thức dậy. Khôn gian im ắng. Trời trăng suông, mà sáng lắm. Trong gian nhà vẫn thấy có ánh đèn. Tao thấy nóng nực nhớp nháp, bỗng muốn đi tắm. Mà của đáng tội, nào đã biết cái giếng ở đâu. Thế là trở dậy, đánh bạo và vô tư nữa, vào gõ cửa. Có tiếng con gái đáp ngay, chứng tỏ cô ta vẫn đang thức. Ngọn đèn khêu to, rồi cửa mở. Trời, chúng mày có biết không, khó mà tưởng tượng nổi, một cô bé trẻ, chừng hai mươi, đẹp, tóc buông sau vai trong bộ đồ ngủ, nói không quá, cứ như tiên giáng tràn. Giọng nói nữa, sao mà nhẹ nhàng duyên dáng đến thế. Tao sững lại một lúc, đâm lúng túng, mãi mới nói nổi câu hỏi. Cô bé gọi tao là “thủ trưởng. Chứng tỏ đã theo dõi sinh hoạt của trung đội từ sáng. Dẫn tao ra cái giếng sau nhà, nhìn phía sau, dưới ánh trăng, thân hình cô bé cân đối, chắc lẳn và nói thật, hấp dẫn nữa. Ra tới giếng, cô ta còn hướng dẫn “thay đồ chỗ này, để quần áo chỗ kia, múc nước ở đó...” ròi bảo “Cứ tắm tự nhiên, qua giếng nhà em, thủ trưởng không tắm cũng uổng...” và quay vào. Khi múc nước tắm, tao mới hiểu ý câu cô bé vừa nói. Cái giếng tròn và to hiếm thấy, đầy ắp, múc không cần dây. Nước mát, ngọt và cảm giác trong sạch tinh khiết kỳ lạ. Đang giội ào ào, lại thấy cô bé đi ra, tao vòng sang thành giếng bên kia, thụp thấp người xuống, quay lưng lại. Nghe tiếng cô bé: “Em mang xà bông để anh dùng. Mấy bữa nay kẹt ở khẩu, không mua được thứ tốt. Xài tạm nghen...” Tao chờ cô bé vào hẳn, mới quay ra tắm tiếp. Xong xuôi rồi, mát mẻ, thơm tho, tìm áo mặc chẳng thấy đâu nữa. Thì ra, lúc ra đưa xà phòng, cô bé đã cầm cái áo của tao vào nhà. Tình thế thật quá quắt, nhưng không biết đây là âm mưu hay vô tình, tao đang luống cuống thì có tiếng vọng ra, nhỏ nhẹ: “Tắm rồi há, áo của anh mang vô đây rồi. Vô nhà mà thay...” Chết cha, đến nước này còn biết làm gì hơn. Thế là tao khép nép, khúm núm bước vào. Cánh cửa khép hờ, đèn khêu đủ sáng, tao thấy rõ ái áo của mình vắt trên sợi dây thép căng trong nhà, bên trên có tấm khăn tắm trắng tinh. Đẩy cửa bước vào, trong nhà không có ai. À, ra thế, cô gái tế nhị nhường chỗ cho tao thay đồ. Có phần yên tâm hơn, tao máy nhỏ ngọn đèn, rồi bình tĩnh lấy khăn lau người. Có tiếng chốt cửa rất khẽ, tao quay ra, chúng mày tin nổi không, trong bóng tối mờ mờ. Cô bé, và cả tao nữa, như chết lặng, đứng im mấy giây, nhìn nhau, rồi đột nhiên cô lao vào ôm lấy tao, ghì xiết… Cuối cùng, trước lúc tao về võng, cô bé mới bảo: “Hết chiến tranh, anh về đây nhé. Ba má em giặc bắn. Anh hai cũng hy sinh rồi…” Tao xúc động quá, quay vào ôm chặt cô bé, nghẹn ngào; “Tan giặc, nhất định anh sẽ về. Anh sẽ lấy em!” Sực nhớ, còn giữ được tấm ảnh, tao giở túi lấy ra đưa cho cô, rồi quay về võng. Cũng may, chỉ lát sau có lệnh hành quân, thú thực, không thì, một là tao sẽ lại vào nữa, hai là sẽ nằm mà khóc suốt đêm ấy mất. Tao thương cô bé vô cùng. Đơn vị đi, tao cũng chẳng kịp nói với cô ấy lời nào. Nhưng, chúng mày tin tao không, cái câu tao nói lúc ấy là nói thật đấy. Hết chiến tranh, tao sẽ lấy cô ấy, rồi đưa về Bắc với mẹ tao.” Chi và tôi lặng đi, không ai nói thêm nữa. Câu chuyện kể như một lời tự thú, mà họ lại cảm thấy không gợn chút tội lỗi nào. Có tiếng pháo địch ì ầm từ xa, kéo ba dòng suy nghĩ chân thành và non trẻ trở về với thực tại. “Ôi, chiến tranh bao giờ mới hết. Bao giờ đất nước sạch bóng quân thù.” Và họ cùng đi vào giấc ngủ với những mộng mơ khác nhau. Nhưng thảy đều trong trẻo, hiếm hoi và thật xa lắc, mênh mang với thực tại. Sớm hôm sau, trước lúc lên đường, tự nhiên Tối và Chi nắm chặt tay Vinh. Mà sao lại bắt tay? Cùng trong hàng quân cả mà. Vinh bảo: “Kỳ này ác liệt đây. Sẽ lâu mới gặp lại”. Tối như bịn rịn: “Gì thì gì, tan trận, tìm nhau nhé”. Còn Chi, mắt nó long lanh: “Còn sống, thì chúng mình trước sau cũng gặp lại. Nhưng anh Vinh, anh phải về với cô ấy nhé, cô gái có giếng nước trong ấy…” Mệnh lệnh hành quân thần tốc. Đơn vị được lệnh phối hợp cùng các binh chủng tiến về Sài Gòn. Trung đội phải xé lẻ ra, đi với tăng, với thiết giáp, với pháo… Bộ ba, mất liên lạc với nhau từ sớm hôm ấy. Và họ không thể ngờ rằng, đêm qua, lại là đêm cuối cùng còn được mắc võng bên nhau. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 03 Tháng Năm, 2008, 09:57:58 pm GIẾNG TRONG (tiếp) Chiến tranh qua đi. Đã hai chục năm đất nước im tiếng súng. Với một cuộc đời, thời gian ấy cũng dài. Nhưng với những người lính của trung đội, một phần năm thế kỷ yên bình sao mà nhanh, và ngắn ngủi. Dư âm của đạn bom cùng những kỷ niệm chiến trường, trong mỗi chiến sĩ trung đội, vẫn còn rõ nét lắm. Tất cả như vừa mới hôm qua… Cả trung đội, ngoài những người vĩnh viễn nằm xuống ngoài mặt trận, cứ rơi rớt, thưa thớt mỗi năm… Tất tật chỉ còn non nửa. Non nửa, theo cách gọi của chiến trường, nghĩa là trung đội vẫn còn. Họ thỏa thuận với nhau một cái nếp: hàng năm, cứ đúng ngày kỷ niệm hội tòng quân, tất cả mọi người, bất kể xa gần bận rộn, họp nhau về bên nếp nhà tranh ở một xã ngoại thành, nhà liệt sĩ Nguyễn Quang Vinh – gặp mặt. Họ góp nhau xây đào cho bà cụ Vinh một cái giếng, có căn nhà tắm xinh xinh. Cứ mỗi lần về đây, họ lần lượt ra tắm. Cái giếng nước mát, trong lạ kỳ, nhìn thấu tới đáy. Một điều lạ, giữa lòng giếng, trồi lên một vật gì lấp lánh, như tỏa sáng. Những hạt bọt nước li ti cứ từ đó nổi lên liên tiếp không ngừng. Lần nào cũng vậy, khi vặn đài sen xả nước đầy mặt mũi, nước giếng mát lạnh, mà cảm giác những giọt nước ấm nóng ứa ra từ khóe mắt mỗi người còn rõ lắm. Họ vừa tắm, vừa thầm khóc thương nhớ Vinh, không sao cầm lòng nổi… Đoạn kết Chi đã lấy vợ, vẫn cô bạn chờ đợi từ ngày đăng lính. Họ đã có hai đứa con gái. Cậu ấy tốt nghiệp bác sĩ, lại vừa đi tu nghiệp ở Pháp về. Còn Tối được giữ lại giảng dạy ở trường đại học. Ngành văn. Cuối năm vừa rồi, họ quyết định rủ nhau trở lại miền Nam, thăm những vùng đất xưa họ đã đi qua một thời lửa đạn. Và đặc biệt, họ muốn tìm lại cái làng chiến khu có người con gái mà từ lâu, họ đã coi như người thân của trung đội. Làng xóm đã thay đổi nhiều quá, phải mất non hai ngày đường, họ mới tìm tới được cái làng ngày xưa. Đây rồi, căn nhà có giếng nước to tròn, và vườn cây ngày ấy mặc võng. Ra đón họ là một phụ nữ tóc điểm hoa râm nhưng vẫn còn đọng nhiều nét xinh đẹp thuở thiếu nữ. Giữa gian nhà xây khang trang, dáng dấp một trụ sở làm việc nhiều hơn là nhà ở, tấm ảnh Nguyễn Quang Vinh được phóng to lồng trong khung kính trân trọng, tuyệt không thấy một dải băng đen. Nghĩa là, chị ấy chưa biết Vinh không còn nữa? Hay cũng có thể, chị không muốn nghĩ rằng anh ấy đã chết? Dẫu sao họ không thể biết, và không ai bảo ai, hai người tự thấy phải tôn trọng những điều mà người phụ nữ này ước muốn. Chi chỉ lên tấm ảnh Vinh, chưa kịp hỏi, thiếu phụ đã lên tiếng, vô tư và vui vẻ: “Chồng tôi đấy. Ảnh đi xa, chưa về!” Không biết như thế có là tàn nhẫn không, hai người đồng đội im lặng trong niềm xúc động trào dâng. Và họ quyết định không nói ra sự thật đau đớn về người chồng thân yêu của chị. Họ ở chơi tới trưa, và được biết chị là phó bí thư và kiêm chủ tịch xã. Hai người được tiếp đãi nồng hậu hơn khi chủ nhà biết rằng họ cũng là những người lính vượt Trường Sơn năm ấy. Cuối cùng, họ xin phép được ra giếng tắm. CáI giếng đã gắn bó một mối tình thủy chung, sắt son mà chỉ mình họ biết. Hai người lặng lẽ, trầm ngâm bên thành giếng. Và kìa, lạ chưa, dưới đáy nước trong suốt, một điểm sáng lấp lánh trồi lên. và từ đó, những hạt bọt nước li ti cứ nổi lên, liên tiếp, không ngừng. Nước giếng long lanh. Và trên khóe mắt hai người đồng đội, hai cựu chiến binh cũng long lanh ướt. L.T.H Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:24:37 am CÁT TRẮNG Cô còn nhớ rất rõ đêm hôm ấy, khi anh tung cát đứng dậy, cát dưới chân anh bay lên mù mịt. Lửa lân tinh dưới biển toé sáng. Sóng ầm ầm xô vào bờ cát sôi sục. Đầu đằng kia, Cảm cũng đang nhảy qua những xác chết, đường lê sáng loáng như một làn chớp phóng thẳng vào lưng những thằng giặc bỏ chạy xuống sát mé nước. Truyện ngắn . NGUYỄN TRÍ HUÂN Đạo không thể nhớ được một cách rõ ràng anh đã hấp tấp đi khỏi cái bệnh xá nhỏ và hẹp ấy như thế nào. Dường như lúc chia tay với anh, mọi người đều nhìn anh bằng một đôi mắt trách móc. Điều đó phải cho đến lúc này, khi đã ra đến cửa rừng Đạo mới mường tượng nhận thấy, và tự nhiên những cái nhìn trách móc ấy cứ xoáy mãi vào tâm can Đạo. Đạo cảm thấy khó chịu với chính mình. "Mày đã cư xử chả ra làm sao!". Đạo thở dài, lòng bỗng day dứt và cũng phải đến tận lúc đó, anh mới hiểu hết mình đã gắn bó với cái bệnh xá nhỏ ấy như thế nào. Hơn hai tháng trước đây, Đạo buộc phải vào viện với một khuôn mặt khổ sở và suốt trong khoảng thời gian dài dặc đó, Đạo cứ giữ nguyên một khuôn mặt khổ sở như thế. Vốn là một người hiếu động, Đạo có thể chịu đựng được mọi sự giày vò của vết thương nhưng không sao chịu nổi sự giày vò của nỗi nhớ. Vì thế, khi được ra viện, Đạo đã hấp tấp chạy như đi trốn, đến nỗi anh quên chào cả mấy đồng chí hộ lý trong bệnh viện. Mấy tháng trời qua, Đạo luôn luôn nhớ biển, nhớ cái tiếng sóng nôn nao thúc vào mạn thuyền, nhiều lúc tưởng không thể nào chịu đựng thêm được nữa. Bây giờ thì nỗi vui háo hức được về với biển lắng đi, Đạo lại bồi hồi nhớ bệnh xá, nhớ những cơn đau vật vã của cậu Lâm và giọng nói van nài, tha thiết của cậu Hải: "Lâm ơi, tao thương mày lắm! Mày đừng van nữa. Chị y tá đến rồi kia. Đừng làm cho chị ấy khổ!". Bất giác, Đạo khẽ rờ tay lên vết sẹo trên cổ. Vết sẹo như có lửa nóng bỏng. Anh vội rụt tay lại gượng nhẹ cài nút áo rồi đi như chạy lên đỉnh một ngọn đồi chi chít hố đạn đại bác và đạn cối 106 ly 7. Một luồng gió bất ngờ ào đến thổi rạp những bụi lau thưa thớt còn lại trên đỉnh đồi, biển đột ngột hiện ra trước mắt Đạo xanh thẳm, vô tận. Đạo đứng ngây người. Tự dưng nước mắt muốn trào ra. Ở rất xa mà Đạo tưởng như nghe rõ tiếng sóng đang ào ạt tiến vào bờ vừa hùng dũng, vừa uy nghi và kih đã trào lên bờ cát rồi, sóng nằm xoài ra đắm đuối trên những dấu chân người... Quê hương Đạo không có biển. Anh sinh ra ở một làng cát ven dòng sông Đáy. Quanh năm nước sông đục ngầu, chở đầy phù sa cuồn cuộn đổ ra biển. Dọc hai bên bờ sông, từng dãy lò nung thủy tinh đắp bằng đất sét lúc nào cũng hừng hực những lửa... Đạo gặp biển từ lâu. Sóng và gió đã thổi chất mặn của muối biển tràn ngập khắp cơ thể Đạo, nhưng mãi cho tới trận đánh ở Sa Thạch vừa rồi, biển mới thực sự trở thành nỗi nhớ của anh. Lần ấy, Đạo bị thương nặng và một ông già cùng với một cô gái - con của ông - đã giấu anh dưới ván thuyền, đưa anh tránh càn trên khắp những vùng biển dày đặc tàu giặc. Những ngày ấy nếu không có tiếng sóng thì buồn biết bao. Sóng đã kể cho anh nghe về những mùa cá hố, những mùa cá chuồn, về đời sống phóng đãng, dũng cảm của những người dân biển trước những con sóng dữ... Đạo sửa lại chiếc dây lưng, lúng túng như bị một người trông thấy sự xúc động vụng về của mình, Đạo chạy lao xuống dốc, luống cuống và rạo rực. Biển thấp dần rồi khuất hẳn sau những hàng cây lớn rất nhanh dưới chân đồi. Đạo về đến đầu làng Sa Thạch lúc mặt trời gần lặn. Làng như vừa qua một cuộc càn nên không khí rất im ắng. Trên con đường trục chạy vòng vèo giữa làng, những dấu giày đinh còn in chồng chéo lên nhau hỗn độn. Một vài người lánh càn về muộn, đòn gánh nghiến trên vai trèo trẹo. Có tiếng trẻ khóc, tiếng gắt và tiếng gàu múc nước ở một chiếc giếng cạn. Sóng biển ầm ào sau những hàng dừa đã hết trái, xơ xác. Đạo tạt vào một ngôi nhà gần đấy. - Chào thím! Giặc hắn vừa mới càn sao vầy thím? - Đạo hỏi khi thấy một người đàn bà ngồi xây lưng ra ngoài đang nhặt những hạt lúa vãi tung toé trên cát một cách kiên nhẫn. Người đàn bà không quay lại, trả lời giọng bực dọc: - Còn chi nữa. Quân bất nhơn vậy đó. Đến cái quần đàn bà cũng không từ! Trong bếp lửa cháy bập bùng, một người con gái ngồi day mặt ra nhìn Đạo. - Ủa, anh Đạo! - Cô gái chợt kêu lên thảng thốt làm người đàn bà cũng vội vã quay lại. - "Hương!" - Đạo khe khẽ gọi như biết bao nhiêu lần an thầm gọi tên cô. Người Đạo rùng lên còn cô gái thì đứng khựng nơi ngưỡng cửa, ngó Đạo trân trân. Lửa bếp cháy lan ra ngoài nổ lép bép, khô khát. - Sao Hương lại ở đây? Bác đâu? - Cha em đi biển. Nhà hắn đốt trọi rồi. Anh bỏ ba lô xuống đi chớ. Thím Tư, anh Đạo mà con đã kể cho thím nghe hồi hôm đó. - Con nhỏ nó cứ nhắc hoài, tao cứ ngỡ thằng Cảm. Chú mạnh thiệt chưa? - Dạ, mạnh - Đạo đã trở lại trạng thái thoải mái, tự chủ. Anh cởi ba lô trong lúc Hương luýnh quýnh chạy vào ấn lại củi vào bếp. Bà thím thôi không nhặt những hạt lúa trên cát nữa. Bà dong dả chạy ra ngoài. Chắc là đi kiếm thức ăn. Đạo biết nhưng không giữ. - Giặc hắn càn có đông không Hương? Đưa rau đây anh nhặt cho. - Một đại đội. Hắn ngủ ngoài cồn cát. Sáng vô, chiều về. Ba em ổng nhắc anh miết. - Ba nhắc hay Hương nhắc? Cô gái đỏ mặt. Cái nhìn làm Đạo cúi xuống. Một cảm giác lạ, đột ngột chạy như một đợt sóng rân rân trong cơ thể. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:27:15 am CÁT TRẮNG (tiếp) Lát sau Đạo đi ra biển. Gió và sóng như ùa vào ngực anh. Đạo rạo rực, ngây ngất và thật lạ, có lúc anh lại cảm thấy biển như ở phía sau mình, ở xung quanh mình, còn anh đang đứng trên một con thuyền, sóng cứ mềm mại luồn qua, luồn lại dưới đáy con thuyền đó. Một loạt súng chợt rộ lên ngoài cồn cát làm những cảm giác ấy của Đạo mất đi. Người Đạo bỗng chuyển sang một trạng thái khác. Anh trở lại nhà giữa lúc Hương đã dọn xong bữa ăn. Bà thím lại ngồi nhặt từng hạt lúa trên cát một cách kiên nhẫn. - Du kích xã đóng ở đâu Hương? Này, bọn bảo an chúng nó có mấy chục đứa tất cả? - Anh hỏi làm chi vậy? Lát em sẽ dẫn qua bên thôn đội. Giờ phải ăn cơm đã. Coi bộ anh đói hung rồi đó! Nói xong cô gái cười. Đôi mắt sâu thẳm như màu nước biển lúc chiều tối. Không hiểu sao, mỗi lần bắt gặp cái nhìn của Hương, Đạo lại liên tưởng đến cái màu xanh sâu thẳm, chói chang của biển. Chợt nhìn thấy vết sẹo đo đỏ ló ra trên cổ áo Đạo, lòng cô gái se lại. Những kỷ niệm lại phập phồng trong ngực cô. Ngày ấy anh cứ bảo em là Biển, còn em thì lại sợ. Nếu không vì vết thương của anh, em đâu dám đi trên những con sóng đó. Ăn cá đi anh, sao cứ dựng đũa hoài. Đừng làm em mắc cỡ như hồi hôm nữa... Ngoài xa, ở cuối hàng dừa, sóng biển vẫn ầm ầm bào lên bờ cát nồng nhiệt và dữ dội. Cô gái bới lại mái tóc, khuôn mặt trái xoan hơi nghiêng nghiêng về phía Đạo. - Anh và anh Cảm ra thuyền trước đi. Ba em ổng đang đợi đó! Đạo kiểm tra cây tiểu liên một lần cuối, lên đạn, khóa chốt an toàn rồi cùng với Cảm, một du kích có nụ cười bẽn lẽn, đi về phía biển. Họ đi thành một hàng, cô gái vừa đi vừa nghịch ngợm nhặt những vỏ sò đủ màu lấp lánh trên cát tung về phía trước. Sương biển bốc lên mờ mịt. Những đợt sóng dồn dập như phả những giọt sương ấy vào mặt họ. Đêm qua, Hương đã dẫn Đạo đi gặp đồng chí chính trị viên thôn đội. Cô gái đưa anh đi lòng vòng khắp làng rồi dẫn anh ra trước biển. - Thôn đội trưởng đó. Ở đây không có chính trị viên. Cô gái mỉm cười tinh nghịch, khuôn mặt trái xoan hơi nghiêng nghiêng, tiếng cười của cô thoảng tan trong không khí mát lành của đêm biển. - Ủa, hồi hôm chính anh đặt tên cho đồng chí đó thôi. Có việc chi mà gấp dữ vậy anh? Đạo sững người. Anh không ngờ thôn đội trưởng lại chính là cô gái. Ngày Đạo bị thương, Hương còn là một cô nữ sinh trung học nhút nhát. Cô sợ biển và sau mỗi lần thay băng cho Đạo, cô lại lén bỏ ra mũi thuyền thút thít khóc. Hương nói cô chính thức thôi học và xin vô nhập đội du kích thôn sau ngày đưa Đạo về bệnh xá non một tuần lễ. Hai người đứng nói chuyện được một lát thì Cảm đến. Họ kéo nhau đi về phía cửa biển. Trước mặt, cồn cát nổi lên lập loè với những đống lửa đốt vung vãi. "Chắc bọn chúng nó đang nấu ăn" - Đạo lẩm bẩm. Anh chợt quay lại. Một ý nghĩ bất ngờ loé lên sáng rực như một tia chớp. Đạo nắm lấy cánh tay của Cảm, giọng anh run lên sôi nổi: "Thế vầy, được không? Bọn mình sẽ lót trong cát một ngày, đêm tung cát dậy mà đánh, chắc gọn"... Từ ngoài xa, những cồn sóng lân tinh trong suốt cứ lừng lững ập vào bờ, rồi lại hối hả rút lui, rồi lại sầm sập xô tới. Ba người ngồi ở sát mé nước, mắt dòm ra phía cửa biển lặng lẽ quan sát và sáng nay, họ cùng xuống một chiếc thuyền do bác Tám, cha cô gái chở ra cồn cát. - Xuống khéo không té. Tôi tưởng chú quên biển rồi chớ! - Quên sao được bác, con trông về hoài thôi! Chiếc xuồng nổ máy, biển như phẳng lặng hơn. Sương tan dần và cái màu xanh vô cùng, vô tận ấy chả mấy chốc đã lại vây bọc xung quanh Đạo. Cô gái ngồi rất thấp trong khoang thuyền. Đạo và Cảm nằm lẫn vào đống lưới bao giờ cũng chiếm một khoảng lớn. Lòng Đạo háo hức, anh tưởng tượng đến lúc ba người tung cát bật dậy đánh vỗ mặt vào bọn giặc. Chuyện cứ y như trong tiểu thuyết trinh thám vậy. Đạo mỉm cười khi nhớ đến gương mặt ngơ ngác, bẽn lẽn của Cảm: "Nếu chúng nó nhóm lửa nấu ăn ngay trên bụng mình thì biết tính cách sao!". Đạo là một chiến sĩ trẻ. Anh ham mê đánh giặc hơn bất kể một công việc nào khác. Thấy giặc, Đạo không thể ngồi yên được. Những chuyện hành hung, cướp giật của chúng lại càng làm cho lòng ham mê đó của anh hừng hực lên như lửa cháy. Đạo mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Bố anh chết giữa một cơn say điên đảo. Những kỷ niệm mà Đạo còn giữ được về bố vẫn là những cơn say tàn nhẫn ấy. Hồi đó, Đạo chỉ thấy sợ, thấy ghét mà không hiểu trong cuộc đời quá ngắn ngủi của bố mình chứa chất một nỗi khổ u uất không sao giải thoát nổi. Bố anh đã từng đi lính cho Pháp rồi bỏ trốn về trong một cơn say điên dại. Từ đó ông cụ luôn luôn tự giày vò, hành hạ mình cho đến chết. Mãi sau này khi Đạo nhận ra được những tâm sự day dứt của bố thì ông không còn nữa. Lúc bấy giờ Đạo mới thấy thương bố xót xa. Sau khi bố Đạo mất được ít lâu thì Đạo mất mẹ. Anh còn nhớ đêm hôm ấy, có một người đàn ông cao lớn, vai khoác một chiếc tay nải vải nâu đã cũ tìm đến nhà Đạo lúc sao tua rua gần lặn. Mẹ Đạo vội vã trở dậy. Hai người đi được nửa giờ thì chó rộ lên ở bãi cát bên kia sông. Con đò cũng bị bắn nát, ván thuyền trôi giạt trên những ngọn sóng đục ngầu, sôi réo lên ở hai bên bờ cát... Từ đó, Đạo bắt đầu một thời kỳ lang thang trên khắp các bãi sông của bọn chủ thầu trong vùng. Ngày này nối ngày khác, anh gò lưng kéo những xe bò cát nặng nề đổ vào những lò nung thủy tinh đỏ ngòm những lửa. Nhiều khi Đạo đứng mê mẩn hàng giờ nhìn những người thợ lấy ra từ cửa lò từng khối thủy tinh lỏng trong suốt. Đạo bị cuốn hút vào công việc đó. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:31:49 am CÁT TRẮNG (tiếp) Đạo mơ ước trở thành một người thợ đúc thủy tinh. Sau này khi đã là một sinh viên khoa thổ nhưỡng học, ước mơ ấy vẫn lấp lánh trong những dự định lớn lao của anh. Nhưng cũng giống nhiều người bạn khác cùng lứa tuổi, Đạo luôn cảm thấy lòng mình như có một điều gì đó chưa yên. Bấy giờ, chiến tranh đã lan ra cả nước. Những chiếc máy bay Mỹ hôm nào cũng ầm ầm lao qua bầu trời thành phố. Tiếng bom đã chấn động đến mọi ngõ ngách của cuộc sống. Vào một buổi chiều mùa hạ, Đạo về làng. Anh đi lang thang trên những khu ruộng cát, dưới vầng mặt trời lúc nào cũng đỏ cháy lên gay gắt. Đạo chui vào hầu hết các lò thủy tinh, để rồi sáng hôm sau, anh lặng lẽ từ biệt dòng sông, từ biệt những triền cát, nơi mẹ anh đã chết như cái chết của một chiến sĩ. Ngày ra đi, Đạo đã tâm niệm rằng, sẽ không còn kỷ niệm nào sâu nặng hơn, tha thiết hơn những kỷ niệm về mẹ, về dòng sông quê hương nữa. Nhưng Đạo đã lầm. Ba năm ở chiến trường của anh là ba năm dày đặc kỷ niệm. Đạo lại gặp những dòng sông, những triền cát. Từ những dòng sông, những triền cát ấy, anh đã lao vào những cơn xoáy lốc của những trận đánh dữ dội. Đạo hoạt động nhiều năm ở vùng ven biển này và có lẽ chính cái sóng gió hung hãn, không hề biết khoan dung đó của biển đã tạo cho anh một lối đánh hiểm hóc, táo bạo. Với lối đánh ấy Đạo đã gieo những nỗi kinh hoàng cho bọn giặc trong khắp khu vực đơn vị anh hoạt động. Có lần ở trụ sở xã Mỹ Hoài, giữa lúc bọn hội đồng xã cùng với bọn bình định đang chuẩn bị bước vào bữa tiệc khởi đầu cho chiến dịch "bình định trắng" của chúng thì Đạo cùng với một du kích khác bất ngờ bật ra từ một chiếc tủ đứng kê ở góc nhà. Khẩu tiểu liên rung lên trong đôi bàn tay của anh. Lần khác, Đạo đóng vai một đại uý an ninh ngụy, cùng với ba chiến sĩ khác, bận đồ lính thản nhiên vượt qua mấy tầng lính gác vào thẳng phòng làm việc của tên thiếu tá quận trưởng quận Bồng Đức. Không may, một đồng chí đi cùng để lộ nòng khẩu tiểu liên sau chiếc áo khoác. Biết bị lộ Đạo vụt đứng dậy, đưa tay chộp lấy chiếc đài "sô-ni" để trên bàn, ném vỡ mặt tên quận trưởng, xách cặp tài liệu mật của nó rồi lại ung dung thoát ra bằng lối cửa chính... Sau lần bị đơn vị Đạo giả làm đoàn lái buôn đánh cho tơi tả ở xóm ba Sa Thạch, bọn bảo an không dám nghỉ trong làng nữa. Chúng ngủ đêm ở cồn cát ngoài cửa biển. Sáng ra chia thành nhiều mũi thọc vào đất liền, bắt đầu một ngày cướp đoạt, chém giết. Buổi chiều chúng lại hợp điểm ở bãi cát, xách ôm theo những của đã vơ vét được lên thuyền kéo về đồn. - Hôm qua bọn cướp lại đốt thêm hai ngôi nhà nữa. Gà vịt trong làng chúng cũng bắt đi hết trọi. Làng không còn tiếng gà như nằm ngủ miết anh Đạo hè? Cảm nói khẽ khẽ, Đạo nghe tiếng được, tiếng mất. Hai người vội nằm rạp xuống kéo lưới phủ kín mình khi có tiếng xuồng máy vang lên ở phía trước. Ba chiếc thuyền chở hai trung đội địch đang chậm chạp vào bờ. Lúc đi ngang qua thuyền bác Tám, một thằng hỏi như quát: - Đi biển sớm dữ vậy, ông già? - Có đi sớm mới có cá cho mấy thầy nhậu chớ! Bác Tám trả lời trong tiếng máy nổ phành phạch. Mùi xăng tỏa ra nồng nặc. Khi bọn giặc đi khỏi, bác Tám bẻ lái hướng mũi thuyền về phía cồn cát. Nắng sớm đổ đầy trong khoang thuyền. Đêm ấy những người dân Sa Thạch không ngủ. Trời vừa mới ập xuống, người ta đã kéo nhau ra bãi biển lặng lẽ ngồi đợi. Trước mắt họ, những con thuyền, mũi hướng về phía cồn cát cũng dềnh lên, dềnh xuống trầm tĩnh và trang trọng. Biển im lìm, giấu kín những con sóng dữ. Vài du kích không nén được đi đi lại lại. Bóng người, bóng súng in đậm nét lên vạch sáng của đường chân trời. Cứ thế cho đến ba giờ sáng. Đột nhiên, một ánh chớp lựu đạn loé lên ngoài cồn cát. Tiếng nổ vừa dội lại đã bị chìm lấp bởi hàng loạt những tiếng súng nổ khác, bởi tiếng sóng. Chớp loè loè từng đám như phụt lên từ mặt biển. Rồi tiếng AK nổ. Đường đạn bắn găm, đỏ rực. Lâu lắm mới nghe tiếng đại liên địch phản ứng từng loạt ngắn rời rạc, khắc khoải. "Vầy là ngon rồi". Một người nào đó bất chợt kêu lên, giọng run run và lạnh. Những người khác thở trút ra và đều cảm thấy luống cuống. Trong một khoảnh khắc, không ai nhớ mình đang ở đâu nữa. Nhưng cũng chỉ mươi phút sau đó, từ rất xa ngoài cửa biển, từ những căn cứ nằm sâu trong đất liền, pháo địch bắt đầu hộc lên. Đường đạn réo xoèn xoẹt qua đầu mọi người trùm xuống cồn cát những quầng lửa sáng rựng. Đèn pháo treo dọc cửa biển. Ánh đèn túa ra cháy xèo xèo, kéo theo một cái đuôi khói rớt chầm chậm xuống mặt nước. Không ai bảo ai, tất cả mọi người cùng chạy ào xuống thuyền một lúc. Súng lựu đạn, mác va chạm lích kích. Những chiếc thuyền nổ máy chồm lên. Mũi thuyền đè sóng vùn vụt lao về phía cửa biển. Trời cũng vừa rạng. Mới đó mà đã nửa năm trời trôi qua. Cuộc sống thanh bình như một người đi vắng lâu ngày đột ngột trở về làng với vẻ mặt vừa bỡ ngỡ vừa quen thuộc. Người ta đổ xô ra bãi biển vào những buổi chiều, mắt dõi tìm trên sóng những thuyền cá và khi bắt gặp cồn cát đang sừng sững như một con tàu, lòng mọi người lại dịu xuống yên tĩnh và mặt biển như cũng bớt mênh mông hơn. Đạo đã nằm lại trên đỉnh cồn cát ấy. Những người đi biển đêm kể rằng, đêm đêm họ vẫn thấy anh bồng súng đứng gác trên đỉnh cồn, người sáng lên lấp lánh như màu cát biển. Có người bảo anh đã biến thành một loài chim làm tổ trong cát, suốt ngày chao lượn trên sóng gọi báo cho những thuyền lưới biết vùng biển nào nhiều cá hố, cá chuồn... Đôi khi họ còn cam kết rằng, nhiều buổi sớm ra cồn, họ đều bắt gặp những dấu dép cao su mới nguyên, cát trên cồn còn in rõ vết nước của một người vừa mới bước lên từ dưới biển... Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:33:37 am CÁT TRẮNG (tiếp) Đạo lặng lẽ ra đi và một cuộc đời mới của anh lại được bắt đầu bằng những truyền thuyết dân dã. Trong một cuốn sổ còn lại của anh, trang cuối cùng có ghi mấy dòng chữ vắn tắt: "Cát biển Sa Thạch - hàm lượng si-líc - Nhà máy kính - công suất...". Đó là những điều duy nhất mà anh còn để lại. Ngoài Hương ra, không một ai hiểu được những dòng chữ sơ lược ghi trong cuốn sổ tay ấy. Nhưng có một điều mà mọi người thấy rất rõ là anh yêu vùng biển này, và để ghi công đức của anh, Đảng bộ và nhân dân Sa Thạch đã xây một bia mộ trên đỉnh cồn với những dòng chữ cũng rất vắn tắt, sơ lược: "Liệt sĩ... sinh ngày... mất ngày... tại cửa biển Sa Thạch". Không một ai biết thêm gì về cuôc đời của anh cả. Vào những đêm trăng, cát trên cồn sáng lên như một bầu trời với vô số những vì sao nhỏ, lóng lánh. Những đêm như thế, Hương và trung đội du kích của cô thường đi dạo trên bãi biển. Cô gái thôi không nhặt vỏ sò như ngày nào nữa. Vỏ sò không làm cho nỗi nhớ của cô nguôi được. Cô còn nhớ rất rõ đêm hôm ấy, khi anh tung cát đứng dậy, cát dưới chân anh bay lên mù mịt. Lửa lân tinh dưới biển toé sáng. Sóng ầm ầm xô vào bờ cát sôi sục. Đầu đằng kia, Cảm cũng đang nhảy qua những xác chết, đường lê sáng loáng như một làn chớp phóng thẳng vào lưng những thằng giặc bỏ chạy xuống sát mé nước. Vào những giây phút chót của trận đánh, Đạo bị thương ở ngực. Khi Hương dìu được anh lên đỉnh cồn thì pháo đất, pháo hạm đã chụp đạn xuống dày đặc. Trong những tiếng nổ hỗn loạn của kim loại, Hương thấy Đạo khe khẽ gọi và lúc cô cúi xuống, khuôn mặt của anh chỉ còn lại một nụ cười... Sau này, mỗi lần nhớ tới cái đêm kỳ lạ ấy, Hương lại không sao quên được nụ cười của Đạo. Nụ cười đã làm cho lòng cô than thản. Theo ý muốn cuối cùng của anh, mọi người đành để anh nằm lại trên đỉnh cồn. Nhiều đêm biển động, Hương lo lắng bồn chồn. Hai cha con cô lục đục trở dậy đi vội ra bãi biển. Những đêm như thế cô không sao ngủ được. Rồi kẻ thù trở lại làng cô với những khuôn mặt quỷ quyệt hơn. Những mùa cá lại bị bỏ qua. Pháo bắn suốt ngày trên cửa biển, trên đỉnh cồn. Khắp làng không còn một ngôi nhà nào nguyên vẹn. Đội du kích của cô rút vào hoạt động bí mật. Những trận đánh lại diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Làng biển Sa Thạch lúc nào cũng như có lửa. Cuộc sống cứ thế căng thẳng và kéo dài cho tới một ngày kia, khí trời trở nên oi bức. Mây đùn lên ở ngoài xa tầng tầng. Những con sóng trăn trở vỗ vào bờ. Nhìn bọt biển phơn phớt một màu tím, người dân biển biết sắp có bão lớn và người ta thấp thỏm chờ đợi cũng căng thẳng và ngột ngạt như trước một trận đánh lớn. Cuối cùng cơn bão ấy đã đến. Suốt đêm, sóng biển gầm thét quật vào bờ bức thiết, giận dữ. Gió gào rú trên những khung cửa ngỏ. Vườn dừa quật ngã. Sấm nổ rung đất và chớp chạy từng luồng sáng rực trên biển. Hương và trung đội du kích của cô bất ngờ tập kích diệt gọn một đại đội lính chủ lực ngụy chính trong cái đêm bão táp đó. Khắp nơi, tiếng súng vũ trang khởi nghĩa cùng nổ dậy đồng loạt. Hàng ngàn, hàng vạn người kéo về bức rút quận lỵ Tam Sa. Cờ, dáo mác dựng rợp trời. Những trung đoàn chủ lực từ căn cứ địa cũng bắt đầu tràn xuống đồng bằng, đạp hết cứ điểm này đến cứ điểm khác. Đó là những ngày vui nhất của quê hương cô. Cô cảm thấy tự hào mỗi khi nghĩ về Đạo. Chưa bao giờ làng biển của cô có một cơn bão lớn như thế, một trận đánh lớn như thế. Vài ngày sau bão tan. Biển lặng dần. Một màu xanh mềm mại tha thiết lại hiện lên. Làng biển nát tươm, xơ xác. Không ai buồn vì mọi người đều biết rằng, một mùa cá chật chội khoang thuyền sẽ trở về với họ. Người ta lại cuồn cuộn đổ ra bãi biển với một tâm trạng mới mẻ, khác thường. Đột nhiên, có tiếng kêu thất thanh của một cô bé: - Cồn cát trôi mất rồi! Má ơi, mộ anh Đạo... Kinh hoàng, người ta chạy ào ào về phía cửa biển. Lòng người nào cũng nhói lên, ngơ ngác. Chỗ cồn cát chỉ còn là một khoảng biển xanh thẳm, vô tận. Hương cúi xuống bốc lên tay mình một nắm cát. Vậy mà cô vẫn nghĩ, không còn ai có thể gắn bó với làng, với biển hơn cô nữa. Cô nhớ tới một dòng sông quanh năm đỏ ngầu phù sa. Anh đã sinh ra bên một dòng sông như thế. Cô hình dung ra những dãy lò thủy tinh với hình dáng của những người thợ đang rút ra từ lửa những khối thủy tinh trong suốt như nước biển... Buổi chiều hôm đó, những thuyền lướt từ ngoài khơi trở về, thuyền nào cũng đầy ắp cá. Biển lại hiền hòa, sóng từng đợt trào lên bờ cát rồi nằm xoài ra đắm đuối trên những dấu chân người... Người dân Sa Thạch còn kể thêm rằng, chưa có năm nào biển được mùa cá như sau cơn động biển, động trời năm ấy. Bình Định xuân 1973 N.T.H Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:45:47 am NGÀY KHÔNG BÌNH THƯỜNG Minh đẹp một cách yếu ớt, Bạo đẹp một cách khỏe khoắn và tháo vát. Ðó là một đôi bạn rất thân và cũng rất hay giận nhau. Thế quái nào Minh lại yêu anh đại đội trưởng pháo, to và đen nhẻm. Bạo lại yêu anh chàng sinh viên có phần yếu đuối, lịch sự và kiểu cách. Anh sinh viên ấy cùng tuổi với Bạo. Bạo rất bực với cách xưng hô "tôi" trong mỗi lá thư của anh ta gửi đến. Nhưng đó chỉ là nhược điểm nhỏ thoáng qua. Bạo vẫn yêu anh ta nhiệt tình và say đắm. Truyện ngắn . PHẠM HOA Trời đã sắp sáng. Bạo biết thế vì cô đã thức được một lúc lâu. Ðêm qua, Bạo bồn chồn như đứa trẻ ngủ trong đêm ba mươi Tết, chỉ thấp thỏm mong trời mau sáng. Một loạt bom xa xa làm cô chợt tỉnh. Từ lúc đó, Bạo không nhắm mắt được nữa. Cô nằm im một lát mới nhỏm dậy. Căn nhà hầm tối, đen như trong hộp, râm ran tiếng ngáy của đồng đội. Cô rón rén bước ra cửa. Bên ngoài, trời sáng lờ mờ mát lạnh. Bạo cảm thấy tỉnh táo và khỏe khoắn. Một cảm xúc háo hức là lạ. Cô muốn chạy vù ra sân. Muốn gọi tất cả mọi người dậy. Bạo dừng lại ngắm những giọt sương đang từ từ tròn hạt. Lúc quay vào nấu cơm ăn sáng, cô đụng đổ cây đèn, rồi lại đụng đổ cả chiếc xoong đựng nước uống trên bàn. Cô phì cười vì sự vô ý của mình. Sạp nằm có tiếng cựa mình. Chị Thành quát: - Ðứa nào đấy? Bạo bịt miệng cười: - Em đây. Một lát sau, ở góc hầm có ánh lửa cháy bập bùng. Không riêng gì Bạo, ngay sau đó các cô gái khác đều trở dậy cả. Mới năm giờ sáng, họ dậy sớm hơn mọi khi. Căn nhà hầm nhộn nhịp, chứa đựng vẻ khác thường. Ðó là một buổi sớm của ngày hai mươi - Ngày không bình thường của tiểu đội thông tin trên đèo Văng Mu, điểm chốt của điểm cao trên một ngàn mét. Là ngày vui của các cô gái. Hôm nay họ sẽ nhận được thư nhà, thư bè bạn, thư người yêu. Mỗi một tháng họ được nhận thư một lần vào ngày hai mươi. Thư gửi đến sẽ dồn về ban chỉ huy đại đội, cơ quan đóng cách họ những mười lăm cây số dưới thung lũng. Dưới đó, anh liên lạc sẽ dần bóc thư của từng người một đọc dõng dạc qua máy điện thoại. Họ không còn cách nào tốt hơn. Chính năm cô gái trên Văng Mu yêu cầu đại đội làm như vậy. Nếu không chờ thư đến tay các cô lại chậm thêm vài chục ngày nữa. Những lần đầu, bao nhiêu bí mật gia đình, bí mật tình yêu bị bóc trần như ban ngày, các cô rất ngượng. Lại có thêm vài anh tủm tỉm cười, chế nhạo, các cô la lối lên. Ðại đội trưởng phải ra lệnh cấm không được ai bén mảng lên nhà đại đội khi cậu liên lạc đọc thư vào máy. Tất cả quen dần thành nếp sống bình thường của năm chiến sĩ thông tin trên điểm cao. Từ đó, ngày hai mươi trở nên gần gũi thân thiết, là ngày mong chờ của các chiến sĩ. Một ngày vui thực sự, ngày họ được hòa nhập vào đời sống hằng ngày của những người thân ở phương xa. Ðó là ngày thiêng liêng và đặc biệt quan trọng đối với những người đang yêu như Bạo. Nhất là chỗ ở của các cô gái lại chót vót trên cao một ngày hàng chục trận bom giội xuống, thiên nhiên lại tàn khốc, là nơi bom đạn ác liệt, là nơi mà nhiều bạn bè không quen biết... Bạo vẫn hí húi nấu cơm trong góc hầm. Cô mặc chiếc áo mỏng không có tay, mặt đỏ rực lên vì nóng. Sáng nay Bạo có vẻ bận rộn và vụng về. Ðánh đổ đèn, đánh đổ xoong là Bạo. Bỏ quên hộp thịt đã mở dưới đất cho kiến vào cũng là Bạo. Chốc chốc lại thấy chị Thành hỏi vọng vào: - Ðứa nào đổ nước ra cửa hầm tràn cả vào nhà đây? Bạo chạy ra cửa xem, tủm tỉm cười: - Em. - Lại em. Ðãng trí quá em ạ. Trong hầm, các cô gái vội vã thu dọn những đống dây điện, đống cuốc, xẻng vào góc. Căn hầm sáng sủa và rộng rãi hơn. Một điều lạ nữa là hôm nay: không ai bảo ai, các cô đều chải tóc soi gương tỉ mỉ như trong ngày sẽ có khách đến chơi. Tiểu đội có Minh là nhỏ nhắn, thanh mảnh được coi là đẹp gái nhất. Minh rất hay tỉa tót làm dáng, nhưng cô vẫn thầm ghen với nước da đỏ thau của Bạo. Minh đẹp một cách yếu ớt, Bạo đẹp một cách khỏe khoắn và tháo vát. Ðó là một đôi bạn rất thân và cũng rất hay giận nhau. Thế quái nào Minh lại yêu anh đại đội trưởng pháo, to và đen nhẻm. Bạo lại yêu anh chàng sinh viên có phần yếu đuối, lịch sự và kiểu cách. Anh sinh viên ấy cùng tuổi với Bạo. Bạo rất bực với cách xưng hô "tôi" trong mỗi lá thư của anh ta gửi đến. Nhưng đó chỉ là nhược điểm nhỏ thoáng qua. Bạo vẫn yêu anh ta nhiệt tình và say đắm. Cả tiểu đội có năm chị em. Chị Thành không giống các cô. Chị cao và nhỏ người, nắng chiến trường làm nước da chị đen sạm và khắc khổ. Chị hơn các cô một tuổi. ý thức làm chị của Thành rất rõ. Các cô gái ở đây đều rất nể và sợ Thành. Có lẽ chỉ có Bạo là người dám nói đùa với chị. Thành cũng rất mến Bạo. Mặc dù Bạo có ngang tàng đôi chút, nhưng lại dũng cảm, việc phá mìn vướng, cả đại đội không ai giỏi hơn Bạo. Bạo bê nồi cơm nóng hổi đặt ra tảng đá. Cùng lúc đó, chiếc máy điện thoại đặt trên bàn nứa rung lên bần bật. Một hồi chuông dài và gắt. Thành dẹp sổ theo dõi công việc sang bên, chạy tới cầm máy. "Hồng Hà đâu...". Một giọng đàn ông ồm ồm cộc lốc của ông trung đoàn trưởng pháo. Ông nói một câu ngắn của người quen ra mệnh lệnh: - Khu vực dê sáu tám (D68) bị mìn vướng, đứt toàn bộ dây. Yêu cầu sáng nay phải nối cho họ trực chiến. Thành buông máy nhẩm tính toán luôn. Chị có thói quen sắp xếp công việc ngay sau khi nhận điện. Tổng số dây điện khu vực tiểu đoàn pháo vị chi là hai ki-lô-mét. Vừa phá mìn vướng vừa rải dây, nối dây, mất đứt hai người một ngày vất vả. Sau đó chị giục mọi người đi ăn cơm. Trong đầu Thành thoáng linh cảm thấy rằng: công việc hôm nay sẽ rối mù lên cho mà xem. Nắng đẹp thế này, nhất định nó sẽ đánh mạnh. Năm người con gái ngồi xúm quanh chiếc bàn ăn nhỏ. Chiếc ghế buộc bằng ba đoạn nứa võng xuống phát ra tiếng kêu kẽo kẹt. Minh sốt sắng nhất. Nhỏ người nhưng rất nhanh. Ba cô cướp được ba cái bát lành. Bát của chị Thành tất nhiên là không cô nào dám tranh. Còn lại là chiếc bát thủng trôn vì bom bi. Bạo phải dọn bếp núc nên chậm chân ra sau. Cô cầm chiếc bát hỏng lên, nhất định không chịu thua. - Hôm nay đến lượt đứa nào ăn bát thủng ! - Cái Minh. - ứ! Hôm qua em ăn bát thủng rồi. - Mới có buổi chiều. Phải cả sáng nay nữa mới đủ một ngày. - Không. - Này. - Không. - Này. Giằng nhau một lúc, Bạo cười: - Thế mày gọi tao là chị tao nhường cho. - Thì chị. Nào chị Bạo ơi! - Dạ đi. - Dạ. Ðược chưa. - Ðược. Em ngoan ăn cơm rồi đi phá mìn cho giỏi nhé. Chị cưng, chị thương. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:46:25 am NGÀY KHÔNG BÌNH THƯỜNG(tiếp) Bạo còn đáo để vuốt đầu Minh mấy cái, chị Thành giục, họ mới bắt đầu bưng bát. Miếng cơm vừa trôi khỏi miệng, lại có điện thoại. Lần này là điện dưới đại đội công binh gọi lên. Ðường dây từ đơn vị gọi lên sở chỉ huy sư đoàn tiền phương bị đứt. Một giờ đêm qua ở dưới đó có một quả bom nổ chậm bất chợt nổ. Bữa ăn lại được tiếp tục. Vẫn cái đà vui vẻ một cách khác thường ấy, Bạo dọa sẽ mách tay đại đội trưởng pháo là Minh ghẻ ruồi. Bao giờ Minh cũng yếu lý lẽ hơn. Cô chỉ còn biết chê cái tên của Bạo, cái tên thô như một người lên gân. Ai lại Quang Bạo, Minh Bạo hay là Thành Bạo dù sao nghe vẫn vương vướng. Cái tên này phải hình dung ra một cô gái to béo gân guốc, đáo để... Một loạt bom. Rồi một loạt nữa. Ba loạt cả thảy. Cả hầm lắc mạnh như sắp vỡ đôi. Sau đó là tiếng phản lực sà rất thấp, có cảm giác như các ngọn cây cũng bị gió quật tung. Các cô gái nhìn nhau, đoán: - Chắc ở cây số mười. - Không! Cây số mười bốn. - Có khi sát chân đèo. Họ còn đang xác định vị trí bom rơi thì có điện. Từ lúc đó, điện gọi tới tấp lên tổ chốt thông tin. Ðơn vị nào cũng la ầm lên đường dây liên lạc của họ bị đứt. Các cô gái phải ăn cơm nhanh hơn. Thành hết nhận điện của đơn vị này lại cắm phích nghe đơn vị khác. Anh nào cũng to mồm đòi phải nối dây ngay tức khắc, Thành phát bẳn lên, quát vào máy: - Từ từ đã nào. Làm gì mà các ông hét ầm lên như thế? Phải hiểu cho người ta chứ. Thành buông máy sững sờ giây lát. Chị giắt lại mấy sợi tóc vương trên má, nhẩm tính. Dê sáu tám hai người. Ðại đội công binh một người buổi sớm, buổi chiều lên sư đoàn bộ. Xuống lèn đá một người. Rồi chị tặc lưỡi thầm nghĩ: bận mấy cũng chẳng bằng đêm hôm kia. Ba lần B.52 ném bom luôn xuống đèo. Quả nổ, quả không. Vừa rải dây, nối dây mất một ngày một đêm mới xong. Cùng lắm chỉ bằng hôm đó chứ mấy? Các cô gái đã biết trước tình thế. Họ đứng dậy sau bữa ăn. Cô nào cũng trong tư thế sẵn sàng. Có cô đã đội mũ sắt, khoác súng vào người. Chị Thành và miếng cơm cuối cùng rồi đứng dậy nốt... Chị phân công việc luôn. Năm người đều ra mặt đường cả. Bạo và chị sẽ xuống Dê sáu tám. Khi đi mang theo dụng cụ phá mìn vướng. Thoắt một cái họ đã đứng ở ngã ba rẽ đi các hướng. Họ vội vã chia tay nhau. Ðến chỗ ngoặt, Minh vẫn còn ấm ức với Bạo. Cô giơ nắm tay nhỏ xíu lên dọa: - Tối nay, nối dây về sớm "ông" nhận thư của mi qua điện thoại cho coi, "ông" sẽ nhận là Bạo. Bạo cười to: - Thách Minh đấy! Thách đấy! Bạo khoác tấm lá chắn cao ngang đầu đi trước. Tấm lá chắn là vật che mảnh đạn hình tam giác, được kết bằng những nùn rơm to và chắc như bắp tay. Dụng cụ phá mìn còn có cây sào dài bảy tám mét, có chạc dùng để quơ những sợi dây mìn vướng nhỏ như sợi tóc. Loại mìn vướng này rất nhạy và rất hiểm độc. Một cơn gió thoảng qua cũng có thể làm cho mìn nổ. Hai người còn luồn qua sào phá mìn một cuộn dây điện nặng chục cân. Bạo là cô gái siêng năng và chăm chỉ. Khi yêu, tình yêu của cô cũng rất mạnh mẽ. Trong tâm hồn cô gái trẻ này có một khoảng rộng yên tĩnh, đằm thắm và thiết tha dành cho người mình yêu. Vốn sinh ra trên đồng đất trồng màu ven sông Hồng, Bạo rất chân thật và hơi vụng về. Gần như cô không biết viết thư, không biết nói những câu hoa hòe hoa sói. ở giữa điểm cao như vùi mình trong bom đạn, đời sống đơn giản đi nhiều lắm. Công việc bình thường ở đây là ăn ngủ, phá mìn và nối dây điện. Không hề có thứ công việc nào xen lẫn, không khái niệm thứ bảy, chủ nhật. Không có một giờ rảnh rỗi. Vậy mà trong mỗi lá thư bao giờ Bạo cũng mở đề bằng câu: "Hôm nay nhân tiện ngày chủ nhật" hay "Hôm nay nhân tiện trời mưa..."; có hôm cái Minh vớ được mẩu thư viết dở, nó tò mò xem rồi đọc toáng lên. Bạo đứng đực ra nhìn, mặt đỏ gay, một lúc mới biết chạy tới giằng miếng giấy lại. Thế mà Bạo còn làm thơ gửi cho anh sinh viên rất giỏi chữ nghĩa. Ðại khái cũng câu ba câu bảy gập ghềnh như đá dưới lòng suối cạn: Bèo hợp lại tan Hoa nở rồi tàn Nhưng tình yêu giữa đôi ta không đứt Như sợi dây em nối đêm ngày... "Tìm bảy ngày cũng không thấy vần" - Vẫn cái Minh ranh mãnh nó vớ được, đọc xong nó nói như vậy. Từ đó, mỗi lúc hậm hực điều gì muốn trả thù, Minh lại lấy giọng ê a ngâm: "Bèo hợp rồi lại tan..." thế là đủ để Bạo toát mồ hôi, chịu thua. Mãi sau này Bạo phải mặc cả đổi chỗ nằm gần cửa hầm cho Minh, nó mới chịu quên cái đoạn thư khổ sở đó đi cho. Thế nào chiều nay Bạo cũng có thư. Cô tin rằng lá thư sẽ rất dài. Từ chiều hôm qua Bạo đã linh cảm như vậy. Niềm tin ấy làm Bạo bồn chồn thích thú. Cô vui khác ngày thường. Bạo cảm thấy mình yêu cuộc đời hơn, yêu mảnh đất chiến trường mà cô đang sống và yêu mọi người. Cô tự hứa từ nay cô sẽ dễ dãi hơn đối với Minh. Không kể chuyện ma con khỉ độc dọa nó nữa. Cô yêu cả con đường gập ghềnh này, cả những ngọn cây cỏ xanh này, cho đến con chim đang hót xa xa... Hai người đi sâu vào cánh rừng le tốt ngập đầu. ở đó lác đác có những cây cọ rừng mập mạp xanh tốt, lá vươn dài như lá dừa. Thỉnh thoảng mới thấy những cây khộc già nua đầu cành đang nứt những búp lá non tơ. Cho đến lúc nghe tiếng ho của một pháo thủ và con gà cục ta cục tác trong khẩu đội gần đó, thì họ dừng lại. Ðã đến khu vực mìn vướng nổ. Nhiều trái tự hủy, để lại một đám đất nát bét và một khoảng cây cối giập, gãy xơ xác. Chị Thành quan sát xung quanh rồi nhận xét: - Dây mìn đấy, Bạo ạ! Mắt thường mà cũng trông thấy một quả kia kìa! Bạo nhìn theo hướng bàn tay Thành. Một trái mìn mầu xám xù xì nấp dưới một cành cây nhỏ. Cô quạt bằng mũ sắt, tắc lưỡi: - Kệ nó chị ạ. Chọc một cái là nó nổ, sợ gì! Bạo nói rồi vẫn ung dung ghếch AK lên đùi, cầm mũ sắt quạt. Trời nóng. Trên đôi má đỏ chín của Bạo đã có mấy giọt mồ hôi. Khi đã buộc tóc lại thật gọn, xắn quần xắn tay áo, họ mới đứng dậy bắt đầu công việc. Bạo dựng lá chắn lên, chống thật chắc chắn. Cô ngồi thụp phía sau như một đứa trẻ đi trốn. Chị Thành đứng xa hơn làm nhiệm vụ rải dây. Bạo đưa sào lên phía trước. Cô chỉ cần vung sào, khuấy động cành cây ngọn cỏ, chạm vào bốn sợi dây vướng nổ là trái mìn sẽ nổ. Trái mìn đầu tiên Bạo phá hôm đó lại không phải là trái chị Thành trông thấy. Ðó là quả vùi sâu trong đống lá mục. Cô vừa tung sào bất thần đã có tiếng nổ. Bạo giật bắn người rồi lại cười khanh khách. Bụi chưa tan, cô đã dịch lá chắn về phía trước rồi giải lao một phút. Cô hỏi chị Thành. - Sinh viên đại học chắc họ sống sướng lắm chị Thành nhỉ? Ông bạn em ông ấy viết thư, em cảm thấy các ông ấy sang trọng lắm. Có đúng không chị? - Ðấy là em cảm giác thế. Họ cũng vất vả lắm. Họ ở một phòng mười hai người cơ đấy! Bạo lẩm bẩm: - Có thể là như vậy. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:47:53 am NGÀY KHÔNG BÌNH THƯỜNG (tiếp) Bạo lại thu mình sau tấm lá chắn. Cô đưa sào về phía trước. Trái mìn lần này gan góc hơn. Bạo phải quơ chục lần nó mới nổ. Tiếng nổ vẫn rất to làm Bạo giật nảy mình, cô đưa ống tay áo quệt mồ hôi trên mặt rồi quay về phía Thành nói chuyện tiếp. - Em có một miếng vải hoa rất đẹp. Em sẽ cắt một chiếc áo lót thật nghịch ngợm. Cổ theo kiểu trái tim xoay về vai trái. Hàng khuyết sẽ xẻ bên hông. Nói xong chưa kịp nghe Thành trả lời, cô lại ngồi thụp xuống, dịch tấm lá chắn về phía trước. Bạo phá mìn say mê tỉ mỉ và ung dung làm người khác đến phát thèm lên được. Ðó là cung cách phá mìn rất bình tĩnh, thông minh mà chị Thành cũng khâm phục. Công việc này rõ ràng không thể để một người vội vàng, hấp tấp làm được. - Ngày còn ở nhà ấy mà, cái "lão" người yêu của em bấy giờ còn nhỏ và yếu hơn em cơ. Có hôm đi chăn bò ngoài bãi sông Hồng, em dọa cho sợ, phải đuổi bò về cơ đấy. Thành cười: - Thật là đáo để. Thành cũng có biết qua người yêu của Bạo. Cái anh chàng quá trẻ ngồi vắt chân qua lan can thềm nhà chụp một kiểu ảnh rất điệu. Thành không chê gì anh ta. Chị chỉ thoáng ngờ vực trong lòng một điều, hình như Bạo sắc sảo hơn anh ta quá nhiều. Trong cuộc đời thực, liệu đôi trai gái này có sánh vai nhau được không? Bạo đã phá đến trái mìn thứ năm, thứ sáu... Họ đã trông thấy khẩu đội pháo xa xa. Rất lạ là hôm nay, Bạo không quen được với tiếng nổ. Mỗi một tiếng mìn dội lên Bạo vẫn giật nảy mình quay lại cười khanh khách. Chị Thành thấy Bạo có vẻ chủ quan quá, quát vọng lên: - Bạo! Chú ý vào. Coi chừng đấy! Bạo cười, đôi môi đỏ chót rất xinh. - Chị yên tâm. Một mình em đã phá hàng nghìn quả mìn rồi. Niềm vui ấy lan sang cả Thành. Phải, chị rất tin tưởng Bạo, nhưng điều ấy cũng có thể xảy ra lắm chứ? Công việc quen thuộc của Bạo là phá mìn, nhưng ai biết đâu được, bất cứ một sự chủ quan nào chẳng gây ra tai nạn? Phía trước kia, trong những bụi cây lòa xòa hiền lành, một ụ đất mấp mô, hay dưới đám lá mục, là những cái chết bất thần đang rình núp chờ đón; nhất là hôm nay Bạo lại có vẻ coi thường. Nghĩ như thế, tự nhiên Thành muốn ứa nước mắt. Chị yêu Bạo quá. Chị muốn đối xử dịu dàng với Bạo, muốn cho Bạo cái gì. Ðứng trước những người tốt người ta thường có những ý nghĩ trong lành hơn. Chị Thành đứng ngẩn người ra nhìn Bạo hồi lâu. Cô ấy vẫn cúi lom khom sau chiếc lá chắn. Và hễ cứ sau một trái mìn nổ, Bạo quay lại chuyện trò. Vẫn là dòng suy nghĩ sôi nổi của Bạo về bạn, về người yêu. Sau khi nói xong chẳng cần biết Thành có nghe hay không, cô lại quay về phía trước, dịch tấm lá chắn lên. Họ trở lại Văng Mu lúc sương mù đã kết thành từng cụm đặc sánh trên đầu. Bất ngờ lý thú là lúc đi cả tiểu đội chia tay nhau ở chỗ rẽ, lúc về lại gặp nhau đúng chỗ ấy. Ðủ mặt cả năm người, Bạo trông thấy từ xa Minh đi trước. Nó thất thểu vì đói và nhọc. Cứ sau một ngày lăn lộn ngoài đèo khuôn mặt đầy đặn của nó lại bị vơi đi một tí. Bạo vẫn tỉnh như không gọi rối rít: - Tớ cứ tưởng cậu về lâu rồi! - Thì người ta cũng tưởng đằng ấy về lâu rồi. - Tớ làm mà cứ nóng cả gan ruột. Chỉ sợ cậu về trước mệnh danh tớ, nhận thư. - Tớ mà về trước xem, chả phải bàn. - Thôi thôi các cô! Chóng lên. Còn khối việc phải làm ra đấy. Họ vào đến trước sân, chị Thành đã buộc xong hai chiếc tăng vào những gốc cây nhỏ. Những chiếc tăng xòe nặng buộc thõng xuống để hứng sương đêm lấy nước dùng. Mỗi đêm một tấm tăng rộng có thể hứng được một lít nước. Mười chiếc tăng hết đêm họ sẽ dồn được mười lít nước. Thứ nước kết tinh từ hơi sương trong ngăn ngắt. Trừ khi bom đánh gần, hơi sương qua khói thuốc đạn sẽ đắng ngắt như pha thuốc ký ninh. Các cô gái lần lượt căng những chiếc tăng ra đón nước. Sương dày làm ướt cả mặt, cả tóc. Khu đèo lạnh hẳn xuống vài độ. Tối hôm đó các cô gái ăn cơm rất nhanh chóng. Hầu như ai cũng vội, cũng mong cho đến cái giờ phút mong chờ ấy. Các cô không đùa ầm ĩ nữa. Cái Minh nhỏ bé lại còn tỏ ra chín chắn, nó nói: - Biết mình có thư không mà trông. Cái gì đến sẽ đến, cái gì không đến sẽ không đến. Bạo vạch mặt: - Rõ đồ nói khoác. Có thật không mong thư không? Thế thì cử cậu đi sửa đường dẫn lên sư bộ nhé. - Ứ, tớ cũng có mong. Bạo cười ha hả. Chưa đến sáu giờ tối, các cô đã xúm xít bên tảng đá. Ai cũng tỏ ra bình thản. Chỉ có Bạo vẫn xông xáo đứng trong cùng, là người cầm ống nghe máy điện thoại. Phải đến hai chục phút rồi, Bạo vẫn chưa liên lạc được với đại đội. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng sét nổ sàn sạt, rầm rầm trong máy điện thoại, cầm lấy ống nghe giật nẩy tay lên. Bạo sốt ruột gắt: - A-lô... Thăng Long đâu. Cắm dây cho chặt vào. Cuối cùng sự mong chờ của các cô gái đã được thỏa mãn. Tiếng cậu liên lạc rõ mồn một trong máy. Cậu ta bảo mọi người đều có thư, trừ chị Thành. Tất cả các cô thở phào một tiếng. Thư của Bạo được đọc trước. Mặt cô đỏ ửng lên, cô đứng vào nghe máy, nụ cười bỗng nở trên môi ngượng ngập. Mọi người chăm chú nhìn Bạo. Họ không được nghe đọc thư, nhưng tò mò muốn biết Bạo có tin lành hay dữ. Tin buồn hay vui. Bắt đầu mặt Bạo đỏ chín, nghe đọc thư, cứ thế cô tái dần đi. Một tay Bạo buông thõng xuống. Các cô ngạc nhiên sợ hãi nhìn Bạo. Giây phút căng thẳng ấy cũng chấm dứt khi Bạo chuyển ống điện thoại cho Minh. Mặt Bạo chợt đỏ bừng, mấy giọt nước mắt nóng hổi lăn rất nhanh qua má. Cô ấm ức dằn từng tiếng: - Hắn vẫn chẳng xưng anh với mình. Cóc cần! Các cô gái nhìn nhau rồi phá lên cười. Cứ thế lần lượt từng cô. Họ xếp hàng chờ đến lượt mình vào nghe cậu liên lạc đọc thư. Thời gian vẫn trôi. Ở Văng Mu, một tháng lại có một ngày không bình thường như vậy. Nhưng nói cho cùng, cái ngày ấy cũng chỉ là ngày bình thường trong suốt bốn năm trời dài đằng đẵng trên điểm cao Văng Mu của những người lính. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:53:29 am CHIỀU VÔ DANH Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lạ là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời mới vô duyên làm sao? Ờ, tại sao kẻ thù lại bắn tồi đến thế? Tôi cũng xông lên, cũng phơi mình lù lù trên bãi trống kia mà! Sao tôi không dính một viên đạn? Ôi, Thời, mày thiêng lắm! Bom đạn tránh người mà! Nhưng mày đâu biết nó tránh những ai? Truyện ngắn . HOÀNG DÂN Nhìn vợ tôi tất bật với bữa ăn tươi chiều nay, tôi nghĩ: “Đàn bà các vị chúa là hay cầu toàn! Cần quái gì phải chẻ hành chẻ ớt cho mất thì giờ? Tống vào dạ dày thì còn đẹp cái nỗi gì?”. Nghĩ vậy, nhưng tôi chỉ mỉm cười, không dám nói ra thành lời. Thằng Long, con trai tôi hỏi: - Bố cười cái gì thế? Tôi ôm nó vào lòng, thủng thẳng: - Bố buồn cười vì mẹ con chiều bố con mình quá thành ra phải đợi món “mầm đá” khí lâu. Vợ tôi lườm: - Người đâu mà háu đói hơn cả trẻ con! Tôi cười: - Biết làm sao được! Đời lính đã rèn cho anh thói quen phải ăn nhanh, chạy nhanh và hôn cũng nhanh nốt. Thằng Long cười khanh khách: - Ê, bố nói bậy nhá! Vợ tôi bê nồi sườn bung với dọc hà và nghệ vào, nói: - Xong rồi! Anh vớt cho con mấy miếng sườn để nó gặm thịt. Tôi loay hoay đảo ngoát vớt ra một bát sườn đầy, những miếng sườn giẻ quạ ninh nhừ nom đã thấy ngon. Thằng Long vừa thổi phù phù vừa gặm mút một cách thích thú. Nó nhai xương và nhã bã ra đầy một góc mâm. Vợ tôi cằn nhằn - Con phải cho bã xương vào cái bát con kia kìa, không được nhả ra mâm. Tôi gạt đi: - Kệ nó, có khách khứa gì đâu mà ngại. Đã đói thì chớ, vợ tôi lại chẳng chịu bớt một thao tác nào của cái quy trình ăn bún bung rất là rườm rà: gắp bún vào bát, trần nước sôi, rắc hành và rau thơm, chan nước sườn bung... Tôi sốt ruột, gắt khẽ: - Thôi đưa đây, anh làm lấy cũng được.! Nhận bát bún nóng từ tay vợ, chưa kịp ăn, tôi chợt cảm thấy nôn nao lơm giọng. Tôi đặt bát bún xuống, nhắm mắt để cố trấn tĩnh lại, nhưng không thể nào chịu nổi cái cảm giác buồn nôn đang dâng lên cuồn cuộn. Người tôi ớn lạnh, ghê ghê như bị tái phát một cơn sốt rừng. Tôi cố gắng đứng dậy lảo đảo bước tới cái giường và nằm vật ra hổn hển. Vợ tôi hốt hoảng quăng tuốt cả đũa với muôi, vội chạy ra đỡ tôi nằm xuống. Một bàn tay đặt lên ngực tôi, một bàn tay sờ trán tôi, vợ tôi run run: - Anh làm sao thế? Tôi nhắm nghiền mắt, khẽ nói: - Em cứ ra ăn với con đi. Anh chỉ chóng mặt qua loa thôi. Chắc là anh bị thiếu máu não thật. Có lần bác sĩ đã bảo thế nhưng anh không tin. Vợ tôi càng lo lắng hơn: - Bệnh ấy có nguy hiểm không hả anh? Tôi trả lời quấy quá: - Nó cũng vớ vẩn như cảm cúm thôi mà! Thằng Long chợt nheo nhéo gọi: - Mẹ ơi, nhiều kiến đen quá. Nò bò đầy mâm đây nay! Trời ơi! Kiến đen! Chính đám sinh vật li ti ấy đã khiến tôi suýt ngã gục trên bát bún bung. Chúng đang nhe răng gặm sồn sột trong óc tôi... Vợ tôi tất tả trở lại mâm và kêu lên: - Trời ơi, sao con nhã bã xương lung tung ra cả sàn thế này? Tại con nên kiến mới bò vào nhiều đến thế đấy. Thằng Long cãi: - Ứ phải tại con. Tại nhà mình nhiều kiến thì có. Thằng Long nói đúng. Nhà tôi ở trên một gò đất nên ai cũng bảo nhà tôi là thiên đường của các loài kiến. Tôi đã từng tưới dầu hoả, rắc thuốc diệt kiến mà xem ra chẳng ăn thua gì. Có lần tôi đã xoắn cả mớ giấy để đốt chúng, nhưng không xuể. Không thể nào tiêu diệt nổi đám sinh vật quái quỷ ấy. Mà hễ nhìn thấy chúng là tôi như bị dị ứng và buồn nôn. Để khỏi phụ công vợ đã mất cả buổi chiều cho một bữa ăn tươi, tôi bèn vùng dậy, hùng dũng bước ra mâm và ngồi xuống: - Nào, bố con mình tiếp tục đi! Nhưng rồi, đầu óc tôi bỗng loé sáng những chùm đèn dù ma quái, lơ lửng... Tiếng bom nổ. Tiếng đạn rít. Tiếng gào thét của những người đã chết. Một mớ âm thanh ầm ầm náo động trong tâm tưởng tôi. Tôi chỉ còn nhìn thấy hàng triệu con kiến đen đang xâu xé những mẩu xương thịt của đồng đội tôi trong cái buổi chiều ảm đạm ấy. Tôi bỗng nhớ lại tất cả những gì mà tôi đã cố quên đi. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:54:43 am CHIỀU VÔ DANH (tiếp) ... Trường Sơn, những chiều mưa rấm rứt. Những cánh rừng đại ngàn âm u, ẩm ướt. Vắt rào rào quăng mình trên lá mục vừa bén hơi người. Tôi ì ạch bám sát đội hình hành quân. Đầu chúi xuống hai vai tê bại, đầm đìa mồ hôi, ớn lạnh. Dù đã độn lót khá kỹ, những cành đạn cối 60 ly vẫn cứ thản nhiên và vào lưng tôi đau thon thót. Một tiếng chửi bật lên khe khẽ: “Tổ cha...”. Tôi ngẩng đầu lên. Vũ đang quài tay ra phía sau sờ mó cái ba lô vuông nhầy nhợt mỡ. Chết cha rồi! Cái thùng mỡ 10 ký đã bục vỡ trong ba lô. Mỡ nhểu giọt xuống lá rừng. Mỡ chảy theo lưng áo, ống quần và luồn qua gót chân, chui vào mặt dép đúc, trơn tuột. Vũ hơi cúi người, lột dép cầm tay và lại chửi: “Tổ cha bay!”. Tôi buồn cười, nhưng không cười nổi. Mệt quá. Chỉ khẽ nhếch mép. Phải nói Vũ là thằng tốt nết nhất tiểu đội. Chỉ có nó mới chịu đeo cái “của nợ” ấy trên lưng mà đi ròng ròng ngày này qua tháng khác. Mồ hôi trộn vào mỡ khét mù. Lúc nào cũng nhớp nháp ngứa ngay. Có môt đêm, trong lúc đang mò mẫm lao người xuống một cái dốc đứng, Vũ túm phải một cây nứa tép dập, cây nứa cứa lòng bàn tay vũ tướp máu. Máu, mỡ, mồ hôi quyện vào nhau lầy nhầy. Nghĩ mà sởn gai gà! Vũ lầm lũi bước đi trước mặt tôi. Cái thằng chân đi vòng kiềng mà khoẻ và lì số một. Hắn là con dân chài nòi vùng biển Nghệ An mà! Ôi chiến tranh kỳ diệu. Con người sinh ra và lớn lên trong bão tố biển khơi bỗng nhiên nhảy lên rừng sâu núi thẳm để tải bộ thế này? Tôi chợt nghĩ đến Thời. Hắn là một gã lính ba trợn ba trạo. Có thói quen nói mà không bao giờ thèm để ý đến người nghe. Những ngày đầu sống với hắn, tôi cứ chờn chờn ghê ghê. Người đâu mà băm bổ, thô lỗ? Có lệnh tạm dừng, triển khai đào hầm, dựng lán. Tôi thở phào. Sẽ được xả hơi vài ba ngày đây. Không ai bảo au, tất cả đều nặng nề thả người đánh phịch xuống đất, xoạc rộng hai chân, ngả người vào chiếc ba lô và lim dim đôi mắt. Không ít chàng lính đã ngoẹo đầu ngủ rũ. Tôi cũng thèm ngủ kinh khủng. Đầu óc cứ mê mụ, bồng bềnh... Bỗng tôi giật thót. Một cái bàn chải sắt nào đó đang chà sát lên má tôi. Tôi tỉnh hẳn. Thời! Chính hắn! Hắn đang nhăn nhở cười. Dù biết hắn chính gốc Khâm Thiên – Hà Nội, tôi vẫn cứ ngờ ngợ. Hắn có bộ râu tua tủa rất đàn ông. Hắn không giấu giếm niềm tự hào về bộ râu rễ tre ấy. Hắn thường cao giọng kể đi kể lại mối tình đầu của mình. Hắn bảo sau mấy đêm đi chơi với bé (hắn gọi người yêu là “bé”), hắn hỏi: “Em có biết anh yêu em từ bao giờ không?” Bé đáp: “Chưa thấy!”. Thế là hắn lia râu túi bụi vào mặt bé. Hắn bảo bé cứ sướng rên lên... Mỗi lần kể xong, hắn lại cười khùng khục: “Cái hôn không râu như cà phê không đường!” Chẳng hiểu sao, các chiến hữu nghe mãi cái chuyện vặt ấy mà không chán? Ngược lại, hễ hắn dứt lời là tất cả ôm bụng cười ngả nghiêng, ngặt nghẽo, cười đau quặn thắt cả ruột gan. Đứa thì tung hô Thời là “lãnh tụ của ái tình”. Đứa lại gọi hắn là nhà “Ma sát thịt”. Còn tôi thì buột mồm gọi nôm là “Thời râu!” Xem ra Thời có vẻ ưng ý với cái tên của tôi hơn cả. Hắn chộp ngực tôi, day thật lực và hùng hồn tuyên bố: “Thời... râu! Được đấy. Vừa nho nhã, vừa đời và cũng rất...đực! Ô hô! ông Nghĩa thánh thật!...” Vừa nói Thời vừa làm động tác nhún nhảy. A! Tôi thoáng bối rối, nhưng kịp trấn tĩnh ngay. Cái phản xạ đầu tiên của người lính mà tôi cũng quên phắt đi mất. Đi thì thôi, hễ dừng là phải đào hầm, cưa cây. Tôi vừa ngật ngưỡng kéo cưa vừa lơ mơ ngủ và rồi lăn ra đất lúc nào không hay. Thời hì hục cắt gỗ một mình. Sau khi bó gỗ thành hai ccọ to, Thời mới đánh thức tôi dậy. Tất nhiên vẫn là bằng... bộ râu! Hắn cất giọng khàn khàn: - Về thôi! Dứt lời, hắn xốc vác gỗ to tướng lên vai và lắc lư bước đi như con gấu. Tôi nhìn theo và thèm khát một sức vóc cường tráng như hắn. Hắn khoẻ phát sợ. Hai bên nách kẹp hai bao gạo 50 ký, hắn có thể ung dung bước đi như kẻ nhàn tản dạo mát. Dạ dày hắn có sức chứa bảy lần vục đầy cơm bằng loại bát B.52 và cao hứng lên, có thể tráng miệng thêm hai phong lương khô nữa. Hắn ăn như hùm, nhưng làm khoẻ như voi nên mọi người đều vui vẻ nhường nhịn hắn và hắn cũng sẵn lòng gánh vác giúp anh em những công việc nặng nhọc. Cái sức lực hơn người của hắn còn được chính hắn oang oang tô vẽ không chút ngượng ngùng rằng: “Mẹ kiếp! Đêm nào tao cũng mơ thấy bé. Và đêm nào tao cũng đánh mất một thằng Thời con. Biết đâu trong đám những thằng Thời con chưa kịp làm người ấy, chẳng có đứa sẽ là thi sĩ. Hô hố...” Sau khi đào xong hầm thì tất cả đều mệt lử. Tôi cảm thấy cơ thể rệu rã, miệng đắng ngắt, mắt nảy đom đóm. Vẫn còn một việc nữa là lấp đất, Thời thở dốc, tì ngực vào cái cán xẻng, lầu lầu: - Mẹ kiếp! Toàn nhữmg việc nặng nhọc, khốn khổ. Thằng lính mà phải làm cả thợ sơn tràng, thợ đấu, ngựa thồ... thì đến đá cũng phải xỉu, nói đếch đến người! Nhìn đôi mắt đỏ ngầu đờ đẫn của Thời, tôi biết hắn đang phải vật lộn với con đói ngủ dữ dội lắm. Tôi giằng cái xẻng trong tay hắn, bảo: - Ngủ đi! Giờ thì đến lượt tao làm việc chứ. Có lẽ chỉ đợi thế, Thời đổ vật xuống đất, ngáy luôn. Bộ râu lem nhem đất và đầy những cọng lá khô quăn queo rung lên đều đều sao mà ngon lành? Vừa phủ xong đất lên nóc hầm, chưa kịp chui vào ngồi thở thì có lệnh hành quân gấp. Cha mẹ ơi! Nước sông công lính. Chúng tôi lần ngược trở lại co đường vừa mới đi hôm trước. Nghe đâu địch đã đánh hơi thấy một cuộc di chuyển lớn của binh đoàn. Tôi lắng nghe tiếng rên “eo...u u” dai dẳng của thằng OV-10 và buột mồm hỏi một câu bầng quơ: - Chẳng lẽ nó ở tít trên cao kia mà cũng nhòm thấy cái thùng mỡ trên lưng Vũ khoèo hay sao? Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:55:13 am CHIỀU VÔ DANH (tiếp) Chiến dịch lớn đã bắt đầu. Nó cuốn những người lính vào một cơn lốc chóng mặt. Nó thổi bay những ý nghĩ vụn vặt từng đeo bám trong đầu, nhưng cũng thổi bùng lên một nỗi khát thèm được sống tưởng đã bị vùi lấp trong vô vần những biến cố, những sự kiện chồng chéo lên nhau xô bồ, hỗn tạp. Sống - đó là niềm hy vọng mỏng manh của những người lính trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào, nhưng dường như càng mỏng manh nó càng hối thúc người lính phải suy nghĩ về nó một cách nghiêm chỉnh. Chúng tôi hối hả hành quân giữa các làng quê và đô thị. Những bàn chân quen bước thấp bước cao trong rừng, nay nện gót trên mặt đường nhựa phẳng lỳ cứ tức anh ách. Máu tụ lại, da phồng rộp, vỡ toét, bỏng rát lên tận óc. Vừa đi vừa chạy vừa chạy vừa thở và xuýt xoa đau đớn. Dừng chân là nổ súng. Nổ súng xong lại chạy xuốt đêm ngày. Chiến tranh kết thúc đến nơi rồi. Mộtc cuộc chiến dù dài lâu đến đấu vẫn có ngày kết thúc! Và sẽ có một viên đạn cuối cùng dành cho một người lính cuối cùng ngã xuống trước giờ phút khải hoàn. Chúng tôi đi suốt đêm và dừng lại ở một trảng cát. Phía sau lưng là một cánh rừng cao su bạt ngàn. Còn trước mặt là căn cứ địch rộng tám kilômet vuông. Đó là mục tiêu phải đánh chiếm của đơn vị chúng tôi. Một tổ ba người moi một cái hố chiến đấu. Tôi, Vũ và Thời cũng âm thầm đánh vật với cát. Tiếng lưỡi xẻng bập vào cát sột sẹ. Tiếng thở nặng nhọc, gấp gáp. Những chùm pháo sáng của địch lơ lửng trên bầu trời, thứ ánh sáng lạnh lẽo ma quái. Thỉnh thoảng, một loạt đạn lửa từ trong căn cứ địch vọt lên bầu trời, loằng ngoằng những đốm lửa ma trơi. Đang moi sâu dưới hố, Thời bỗng nhảy phắt lên, thở hồng hộc. Tôi ghé sát vào hắn, thì thào: - Sao thế? Thời lia cái cằm bàn chông vào má tôi, giọng rin rít: - Xương! Xương người! Tôi và Vũ ngớ ra. Thời lẩm bẩm: - Dép đúc, dây lưng... Vũ buột miệng, lào thào: - Quân ta à? Tôi lẳng lặng lấy ra tấm ni lông màu cỏ úa và trải rộng trên cát. Thời nhảy xuống hố. Hắn thận trọng moi dần từng cái xương vùi trong cát ướt đưa lên cho chúng tôi. Tôi và Vỹ loay hoay xếp đặt. Tất cả là ba bộ hài cốt. Một tổ ba người bị bom vùi từ bao giờ? Chắc là từ hồi F9 trừng trị sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” của bọn Mỹ. Ngày ấy, bị địch giội bom rải thảm, nã pháo cực nhanh và dùng hàng đàn xe tăng bọc kín sau lưng, các chiến sĩ F9 đã quyết tử trên mảnh đất đẫm máu này. Mai sau, chẳng biết có ai đến đây để cắm một tấm bia với dòng chữ: “Nơi yên nghỉ của hàng trăm liệt sĩ vô danh thuộc sư đoàn 9 – QGPMN”? Thời chống hai tay vào mép hố, nhảy lên. Hắn vừa buộc túm tấm ni lông thành một bọc trông lởm khởm vừa thì thầm: - Dám thưa hương hồn các anh. Bọn em gồm ba đứa là Thời râu, Vũ khoèo và Nghĩa thư sinh trói gà không nổi... Nghe Thời khấn khứa, tôi chạnh lòng. Khoé mắt cay cay. Vũ cũng xúc động lắm. Hắn dụi nhanh mắt vào tay áo. Còn Thời khấn xong thì ngồi xổm, bần thần. Bộ râu bê bết cát ướt của hắn như dài ra, tua tủa, rung rung. Lát sai hắn chỉ tay xuống hố, giọng khàn đục: - Phải mai táng theo nghi lễ nhà binh! Tôi và Vũ còn đang ngơ ngác chưa hiểu ý định của Thời thì hắn đã gắt khẽ: - Mỗi thằng nộp ba viên đạn AK thay cho ba loạt súng bắn vĩnh biệt. Thời đặt cái bọc xuống đáy hố, xếp chín viên đạn thành một hàng ngay ngắn bên cạnh cái bọc và nhảy lên. Sau khi lấp đầy cát vào hố, Thời bảo: - Ngày mai, đứa nào còn sống phải nhớ đánh dấu ngôi mộ này. Nếu quên thì thằng Thời râu mang trọng tội lừa dối các linh hồn chết, hiểu chưa? Chúng tôi hì hục moi cát đào một cái hố khác. Vừa buông xẻng thì pháo binh ta cũng khai hoả. * Hàng nghìn quả đại bác và hàng chục phi đạn ĐKB gầm rít vang trời. Không gian như vỡ toác và rùng rùng chuyển động. Cùng lúc, các cỡ súng của địch cũng thi nhau khạc đạn. Cả một vùng trời đất bị nung nóng ngùn ngụt lửa khói. Không thể phân biệt nổi tiếng nổ của súng ta và súng địch. Chỉ còn một mớ âm thanh hỗn độn ù ù như xay lúa, chát chúa như muôn vàn cặp đe búa gõ đập loạn xạ bên mang tai. Nép sát vào nhau dưới hai làn hoả lực khủng khiếp, chúng tôi tưởng như ngạt thở trong trạng thái cảm xúc đầy mâu thuẫn. Chợt thấy sung sướng là vì được chứng kiến đoạn kết ngoạn mục của một cuộc chiến tranh kéo dài ba thế hệ. Lại thoắt run bởi thấm thía nỗi sợ hãi xon người. Chao ôi, những ngày thiếu đói triền miên của cuộc đời sinh viên, những cơn nguy khốn cùng cực giữa vòng vây kẻ thù, những lời khen chê vô bổ, những soi mói đố kỵ tầm thường của người đời... Tất cả, phỏng có nghĩa lý gì khi chỉ lát nữa thôi, có thể sẽ bị vùi sâu dưới cát? Vào khoảnh khắc yếu đuối nhất của bản năng con người khi phải đối mặt với tử thần, tôi bất giác nhìn sang Thời. Hắn nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, những sợi râu đen bóng dựng đứng lên như con nhím xù lông. Nhưng, không hiểu sao, tôi thấy hắn rất đẹp. Một vẻ đẹp ngạo nghễ gai góc, hình như hắn bất cần? Và vì thế, có lễ hắn không có những phút yếu đuối như tôi? Tôi bỗng nôn nao thèm khát có được phẩm chất liều lĩnh như hắn. Tôi bị thuyết phục trước vẻ đẹp ngang tành, dữ dằn của Thời. Tôi ôm lấy hắn. Khác với mọi lần, bộ râu của hắn không hề gây cảm giác khó chịu, mà hình như những sợi râu cắm vào da thịt tôi khiến tôi có thêm sức mạng, giúp tôi can đảm hơn! Đột nhiên, Thời quàng tay riết chặt cả tôi và Vũ. Tôi nghe rõ nhịp đập không bình thường của cả ba con tim. Thời nói. Lần đầu tiên, tôi được nghe hắn noi bằng một giọng run run, ngập ngừng: - Nếu còn sống, chúng mày phải ra Hà Nội. Tao có hai đứa em gái... Hoả lực của ta đột ngột chuyển làn, bắn sâu vào căn cứ địch. đó là hiệu lệnh mở cửa. Đại đội chủ công chúng tôi bắt đầu phần việc của mình. Người thứ nhất ôm bộc phá lao lên. Một tiếng nổ rung chuyển trận địa. Cát bụi, mẩu dây thép gai, ống bơ... bay lên tung toé. Dường như địch cũng nín thở, căng tai căng mắt chờ đợi cái biến cố sinh tử này? Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:56:15 am CHIỀU VÔ DANH (tiếp) Cửa mở chìm trong lưới đạn dày đặc của kẻ thù. Chớp lửa loang loáng chói mắt. Tiếng nổ rền rĩ vô tận. Cát bị quyện vào khói lửa vón cục thành từng cây nấm xám khổng lồ từ từ bay lên không trung, tản ra, che kín cả một góc trời vần vũ... Con số thương vong tăng lên chóng mặt. Hầu hết các cán bộ trung đội, tiểu đội đã hy sinh. Đồng đội của chúng tôi lần lượt gục ngã ở các hàng rào vòng ngoài. Vẫm còn hai hàng rào dây thép gai nữa. Chính trị viên trưởng Toán rướn cổ thét to, giọng khản đặc: - Đồng chí Hào dẫn bộ đội lên mở cửa! - Rõ ... o õ! Lát sau đã thấy hai người trườn ngang qua mép hố của chúng tôi. Đó là Bê phó Hào và chiến sĩ Bình. Hào động viên Bình: - Bình tĩnh nhé! Ôm chặt bộc phá, chuẩn bị lao lên áp sát mục tiêu. Bình ngẩng mặt lên, lý nhí: “Rõ!”. Bỗng “hự” một tiếng, Bình ngoẹo đầu sang bên phải. Một viên đạn xuyên qua trán Bình. Máu và óc trắng phun ra xối xả. Hào giật khối bộc phá trong tay Bình, đứng bật dậy, vọt lên. Nhưng cả một băng tiểu liên cực nhanh AR15 của địch đã hất anh ngã ngửa. Đầu Hào thõng xuống vai Thời. Thời nâng gáy Hào, vuốt mắt cho anh. Thời xoay xác Hào nằm dọc theo mép hố, lẩm bẩm: “Thế là toi một cây tiếu lâm!”. Những sợi râu dựng đứng của Thời chợt giãn ra nom dễ sợ. Chiến sĩ Ngọ từ phía sau bò lên, tiếp tục công việc dang dở của Bình và Hào. Ngọ bị trúng đạn vào chân nhưng vẫn cố lết lên. Chúng tôi dán mắt vào Ngọ. Hai mươi thước. Mười thước. Năm thước... Một vồng lửa tròn lăn tới và trong nháy mắt đã nuốt chửng Ngọ. Súng phun lửa! Thời chửi toáng lên: “Đ. mẹ! Chúng nó xịt súng phun lửa!”... Nhưng, Ngọ vùng đứng đậy. Toàn thân Ngọ rừng rực như một bó đuốc. Bó đuốc khét lẹt ấy lừng lững tiến về phía hàng rào. Một tiếng nổ kinh thiên động địa. Thịt xương người chiến sĩ bị hút vào cây nấm xám khổng lồ, bay lên trời và tan biến trong khoảng không mờ mờ, vô định. Thắng, cậu liên lạc đại đội chạy ào đến chỗ chúng tôi như một cơn lốc. Thắng nằm sấp, hổn hển: - Các anh trong Ban chỉ huy đại đội bị thương và hy sinh ba người rồi. Chỉ còn chính trị viên phó Huấn. Cấp trên chi viện xe tăng. Anh Huấn bảo anh Nghĩa cử người ra rừng cao su dẫn xe tăng vào vị trí chiến đấu. Hết! Truyền xong lệnh, Thắng chồm dậy và lao vụt đi. Tôi bật lên tiếng kêu thảng thốt. Những con rắn lửa loằng ngoằng đang quấn lấy người Thắng. Chúng nó đổ đạn vào một mục tiêu trần trụi trên mặt đất. Trời ơi! Thắng còn trẻ quá. Chưa đầy mười tám tuổi và mới suýt soát ba mươi sáu ký! Thời thở dài: - Tôi và ông phải đi bộ đội và đi bộ đội là phải. Còn nó? Ai bắt nó tống gạch đá vào túi quần. Ai bắt nó khai gian ngày sinh tháng đẻ? Đến lượt tôi thở dài. Thời nhăn nhó: - Ông đa cảm bỏ mẹ. Sao không ở nhà mà làm thơ? Thôi, xin chào! Dứt lời, Thời đứng dậy sửa lại bao đạn chuẩn bị vọt lên khỏi hố. Tôi vội vàng: - Không! Việc này của tao. Thời nheo mắt nhìn tôi. Những sợi râu của hắn giật giật như thể có một bàn tay vô hình nào đó đang túm những chân râu kéo tụt vào trong da. Tôi hiểu, đó là dấu hiệu của sự điên khùng. Mặc! Tôi vụt đứng dạy. Vũ cũng lập tức đứng dậy. Tôi ấn vai hai chiến hữu: - Ngồi xuống! Nó xơi gọn cả tổ bây giờ! Vừa kịp thụt xuống thì “oành”, một quả đạn cối 81 ly rơi sát mép hố. Oành! Oành! Oành... Mảnh cối rít lên lạnh gáy. Cát bụi trút ào ào xuống đầu khiến chúng tôi tối tăm mặt mũi. Thời khạc nhổ ầm ầm và văng ra một câu chửi rất tục. Cối địch bắn lui dần về phía sau lưng chúng tôi. Hình như chúng muốn ngăn chặn quân ta ở trong rừng cao su? Bỗng “xoẹt – rầm – oành! Oành oành oành...” Những tiếng nổ loạn xạ đã nuốt chửng tiếng gào thét của Thời. Chúng tôi đều ôm đầu, nhắm mắt. Chúng nã pháo 155ly. Những quả đạn réo lên như xé màng nhĩ và nổ từng chuỗi như bom chùm. Thời lắc đầu rũ đất cát, rác rưởi đầy tóc đầy râu, gào lên: Nghe đây! Sau này chúng mày chịu khó lang thang khắp 36 phố phường Hà Nội tìm “bé” cho tao. Còn bây giờ, tao ra dẫn xe tăng. Đứa nào cãi, tao rút chốt lựu đạn US cho chết luôn cả ba ở đây! Tôi gai người trước những lời lẽ quyết liệt của Thời. Đầu óc sách vở của tôi còn kịp hiểu rằng Thời là một hiệp sĩ mà chúng tôi phải chịu ơn suốt đời. Vũ rơm rớm nước mắt: - Anh Thời ơi, anh cầm nốt chỗ bông băng cá nhân của em... Rồi Vũ run rẩy móc túi ngực ra mấy viên tăng lực ấn vào miệng Thời, nói vội: “Anh ăn đi để lấy sức”... Tôi ôm lấy Thời, âm thầm gạt nước mắt. Những sợi râu xuyên qua áo lính, mơn man trên da thịt tôi buồn buồn, nao nao. Mắt tôi nhoè nhoẹt, cay xót. Thời buông tôi. Đôi mắt hắn đỏ ngầu, nhưng không phải màu đỏ của cơn đói ngủ hôm nào. Hình như hắn cũng khóc? Theo cách của hắn. Những mao mạch trong mắt hắn vỡ ra thành nước mắt. Hắn cất giọng khàn khàn, là lạ: - Vĩnh biệt! Thời phốc lên và mất hút trong biển cát bụi mịt mù. Tôi căng mắt dõi theo bóng Thời. Không thấy gì cả. Chỉ có khói lửa cuồn cuộn. Một cảnh tượng tan hoang, hỗn độn. Có cái gì đang sụt lở ầm ầm trong tâm tưởng? Lòng đầy mặc cảm, tôi muốn được hét lên gọi tên Thời. Hắn thế đấy! Dám sống thật với con người thật của mình. Đùa bỡn với tất cả! Tôi mệt mỏi ngồi thụt xuống hố và lại bồn chồn đứng bật dậy. Vũ nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe, thẫn thờ. Cái hố cát nơi chúng tôi đang đứng chợt như rộng ta, toang hoác, trống trải lạ lùng - Ước gì nó rộng nữa, rộng mãi và tan biến thành biển cả hay sa mạc. Mặt đất bỗng rung lên cùng với những tiếng động lạ. Xe tăng! Tiếng ai đó reo lên. Tôi và Vũ cùng dán mắt vào cánh rừng cao su. Đúng là xe tăng rồi! Bốn chiếc xe tăng T34 từ trong rừng cao su lừ lừ bò ra. Xe tăng ta vừa hành tiến vừa nã đạn yểm trợ cho bộ binh mở cửa. Chúng tôi nhìn rõ Thời ngồi chễm trệ trên chiếc xe tăng đi đầu. Bàng hoàng vì sự xuất hiện đột ngột của bốn chiếc xe tăng, súng địch chợt im bặt khoảng mấy giây đồng hồ. Nhưng, ngay lập tức, quân địch điên cuồng giáng trả. Một cơn mưa đạn cấp tập ác liệt trùm lên bốn chiếc xe tăng. Mặt đất chao đảo. Không gian như bị nung nóng hàng ngàn độ trong cuộc đọ sức của sắt và lửa. Tưởng như tất cả sẽ hóa lỏng trong chớp mắt. Bỗng, một quầng lửa màu da cam bùng lên, phủ kín chiếc xe tăng đi đầu. Một tiếng nổ long óc... Chiếc xe tăng bốc cháy đùng đùng. Con mãnh thú bị tử thương còn kịp gửi lời chào vĩnh biệt bằng mấy phát đạn cuối cùng. Không có chiến sĩ nào bật nắp tháo pháo nhảy ra! Bi tráng thay là cái chết của những người lính xe tăng. Họ tự đến, tự đi, tự bắn chào vĩnh biệt và tự mai táng cho mình! Mắt tôi hoa lên, chập chờn... Lửa vàng rừng rực... khói đen cuồn cuộn... Tiếng nổ âm u, văng vẳng... Mười ngón tay vô tri của tôi chới với bấu vào bờ cát đang sụt lở... Thời ơi! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:56:52 am CHIỀU VÔ DANH (tiếp) Tôi cũng không nhớ nổi, sau cái chết của Thời cùng năm chiến sĩ xe tăng, tôi và Vũ đã xông lên như thế nào và vì sao tôi còn may mắn sống sót? Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lạ là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời mới vô duyên làm sao? Ờ, tại sao kẻ thù lại bắn tồi đến thế? Tôi cũng xông lên, cũng phơi mình lù lù trên bãi trống kia mà! Sao tôi không dính một viên đạn? Ôi, Thời, mày thiêng lắm! Bom đạn tránh người mà! Nhưng mày đâu biết nó tránh những ai? Chiến tranh đến trời long đất lở và ra đi lặng ngắt như thế này ư? Tôi lẳng lặng bước đi như một kẻ mộng du. Tôi lẩm bẩm gọi tên từng người đang yên nghỉ theo những tư thế rất khác nhau. Vũ đây! Chàng trai vùng biển chất phác vô tư, chỉ nghe nói đến chuyện người ta hôn nhau đã thẹn thùng ngượng nghịu. Tôi quỳ xuống vuốt mắt cho Vũ và cúi đầu vĩnh biệt. Nước mắt tôi ứa ra, ròng ròng. Bên má tôi còn ấm nóng hơi thở của Vũ đêm nào, gần đây lắm, chỉ vài chục tiếng đồng hồ thôi... Bây giờ... Tôi nấc lên nghẹn ngào và lảo đảo đứng dậy. Tôi vừa loạng chạng bước thấp bước cao vừa lảm nhảm gọi tên đồng đội. Bình này, Ngọ này, Hảo này, Lân này, Hùng này, Phong này, Khương này... Bỗng tôi khựng lại. Thắng! Chú liên lạc đại đội nằm ngửa, giang rộng hai tay hai chân, đôi mắt mở to nhìn bầu trời cao xanh vòi vọi. Tôi ngồi xụp xuống, vuốt mắt cho Thắng nhưng vô ích. Thi thể người lính trẻ đã lạnh ngắt, cứng đờ. Chẳng lẽ Thời luôn luôn đúng? Đôi mắt trong veo của Thắng chưa kịp hiểu gì hết! Cả cuộc đời và cả chiến tranh. Thế mà lồng ngực bên trái của Thắng đã hứng trọn một loạt đại liên bắn vỗ mặt? Tôi cúi đầu im lặng. Không gian cũng im ắng lạ thường. Chỉ có giò ù ù bên tai. Bầu trời quang đãng bao la. Và con người sao mà bé bỏng? Và tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng, khi buông vũ khí, tôi mới là kẻ đáng thương đến chừng nào? Bất giác, tôi vồ lấy khẩu AK, lên đạn và chĩa thẳng nòng súng lên trời. Tôi nghiến răng bóp cò. Có tiếng ai đó quát to. Mặc! Tôi quẳng cái hộp đạn rỗng và lắp tiếp một băng khác. Lại lên đạn và xiết cò. Ai đó bóp mạnh vào vai tôi, quát: - Điên hả? Không được bắn nữa! Tôi mắm môi, miết cứng vòng cò. Một tiếng “đoàng” lẻ loi, khô khốc. Hết đạn. Đó là viên đạn cuối cùng trong đời lính của tôi. Tôi thẫn thờ buông thõng khẩu súng. Tôi bỗng thèm được nghe tiếng gầm của hàng ngàn khẩu trọng pháo. Thiếu vắng những âm thanh đó, tâm hồn tôi như hụt hẫng? Chính trị viên phó Huấn đứng trước mặt tôi. Nom anh hốc hác, nhợt nhạt. Anh buồn rầu, nói: - Không tìm thấy xác Thời, ông ạ! Tôi giật nẩy người: - Sao? Mất xác à? Huấn gật đầu và lầm lũi bước đi. Tôi chạy như bay tới chỗ chiếc xe tăng bị bắn cháy đen thui. Không còn dấu vết gì của Thời, kể cả một vệt máu cháy đen.! Chúng tôi dàn hàng ngang tìm kiếm. Mười phút. Hai mươi phút. Rồi ba mươi phút. Bất chợt, tôi dừng lại trước một đám kiến đen lổm ngổm, xúm xít. Tôi vội ngồi xuống, dán mắt vào cát. Không có gì cả. Đàn kiến đang kiếm ăn trên một vũng máu tím bầm đầy cỏ rác và bụi bặm. Tôi thất vọng đứng dậy đảo mắt nhìn đám kiến đen đang tầng tầng lớp lớp bu quanh một miếng mồi. Một miếng mồi tua tủa râu đen. Tôi qùy đầu gối xuống cát, chống hai tay, chổng mông, phồng má lấy hơi thổi đám kiến đen đang lăn xả vào phần thi thể của Thời. Vô ích! Chúng cứ ỳ ra không chịu buông tha miếng mồi. Và hình như chúng còn cố tình trêu ngươi tôi? Chúng chúi đầu rúc sâu vào các chân râu, ngoáy chân, một cách ngạo mạn. Mắt tôi long lên nhức nhối. Những con kiến đen to dần, to dần đến khủng khiếp. Những sợi râu của chúng oằn oại như những cái vì bạch tuộc. Những chiếc răng của chúng nhọn hoắt như răng cá mập. Người tôi chợt đờ ra, lạnh toát. Một nỗi sợ hãi xen lẫn sự kinh tởm dâng lên khiến tôi nghẹt thở và buồn nôn. Kiến đen, những con vật nhỏ bé hiền lành vụt trở thành những tên đồ tể khổng lồ say máu một cách điên dại. Chúng đang gặm sồn sột khiến tôi đau đớn và bất lực. Nhưng, chính vào cái thời khắc yếu đuối một cách quái gỡ ấy, hàng ria vểnh lên ngạo nghễ của Thời đã hối thúc tôi hành động. Tôi dùng bàn tay phải cướp lại mảnh thi thể của Thời. Những con kiến đen túa ra trên mu bàn tay và các kẽ ngón tay của tôi. Chúng tràn cả lên trên phía cổ tay. Tôi điên tiết dùng bàn tay trái miết mạnh giết từng con cho đến khi không còn một mống kiến đen nào trên tay tôi nữa. Giá có một nắm rơm hoặc một can xăng, tôi sẽ phóng hỏa thiêu sạch lũ kiến nhung nhúc trên mặt đất. Tôi dùng hai đế dép đúc chà đi xát lại đám kiến đàn chạy trốn náo loạn. Tôi biết là không thể nào tận diệt được những sinh vật nhỏ bé này bởi vì chúng có mặt ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. Và bởi vì tạo hóa sinh ra chúng cũng như đã sinh ra con người vậy. Mọi tính toán nhằm tận diệt lẫn nhau đều có kết cục đáng buồn. Tôi thốt rùng mình như bị lên con sốt rét ác tính... ... Trong cơn mơ chập chờn mộng mị, tôi nghe văng vẳng một lời ai đó rất mơ hồ: “Không khéo tay này bị bệnh thiếu máu não cũng nên!”. Nguồn: Tạp chí VNQĐ Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:58:06 am CÂY SỐ 42 Sân bay Tân Sơn Nhất, một buổi chiều. Những ngọn gió nam không bị vật gì kìm hãm, rít vù vù trong cuộc đuổi nhau bất tận, cuốn tung những ngọn cờ trên nóc nhà ga, và bên cạnh tôi những tà áo dài của các chị em trong đoàn đi đón khách bay vờn lên như những cánh bướm. Truyện ngắn. DŨNG HÀ Chiếc máy bay TU.134A lăn những vòng bánh cuối cùng rồi dừng lại ở vị trí quy định. Mấy phút sau chiếc cầu thang đã được đặt xong và cửa máy bay mở rộng. Các vị khách quốc tế xuất hiện trên khung cửa giơ tay vẫy chào đáp lại những cánh tay và những lời reo vui nồng nhiệt của chúng tôi, những người đón khách. Đó là những vị khách đến dự một cuộc họp quốc tế quan trọng được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với các bạn trong đoàn ra đón, tôi lần lượt bắt tay các vị khách quý, những nhân vật có tên tuổi, nam và nữ của hai lục địa. Họ đều cao lớn, khoẻ mạnh với những gương mặt cởi mở, trang nghiêm, hoặc bỡ ngỡ với những màu da trắng hồng hoặc nâu và đen. Tôi xiết chặt tay một người mặc âu phục xám, dáng cao và mảnh khảnh, có hàng ria đen khá đậm để theo kiểu người Ả Rập và chào anh bằng tiếng Pháp. - Chúc mừng đồng chí đã đến thăm đất nước chúng tôi. Người khách nắm chặt tay tôi và thật bất ngờ, anh đáp lại bằng tiếng Việt khá sõi: - Chào đồng chí! Rất cảm ơn đồng chí đã ra đón chúng tôi. Đồng chí có mạnh khỏe không? Ngạc nhiên tôi ôm lấy người bạn quốc tế mà ngay từ câu nói đầu tiên đã tỏ ra am hiểu phong tục Việt Nam. Anh đã chẳng hỏi thăm ngay sức khỏe của tôi như một người bạn thân lâu ngày mới gặp lại đó sao? - Anh nói được tiếng Việt? Hay quá! Anh nói được nhiều không? - Tàm tạm - Anh bạn nhã nhặn gật đầu, miệng tủm tỉm, lộ vẻ hóm hỉnh - Tôi nói còn xoàng hơn mấy cha kia! Anh hất hàm về phía những người bạn quốc tế đang tíu tít bên những cô phiên dịch và những bạn bè quen thuộc ra đón. "Chà! Vớ được anh Tây mắm tôm". Tôi hết sức hứng thú trước sự bất ngờ này, nghĩ thầm trong bụng rồi lần lượt bắt tay những người bạn khác. Sau đó, tất cả chủ và khách cùng nắm tay nhau đi vào phòng khách của nhà ga. Anh bạn mà tôi vừa quen, đi trước cùng các đồng chí trong ban chấp hành ra đón. Tôi nhìn anh từ phía sau. Lưng anh hơi còng và lệch vai bên phải. Nhìn kỹ thấy bước chân anh hơi tập tễnh dường như chân trái có tật. Mái tóc đen dài và xoăn của anh đã bạc trắng ở hai bên thái dương. Tôi bỗng mơ hồ như đã gặp anh ở đâu. Nhưng nghĩ mãi không nhớ ra. Đêm hôm ấy, trong căn phòng nhỏ trên tầng lầu ba của một khách sạn bên sông Sài Gòn, tôi cứ trăn trở mãi không ngủ được, bâng khuâng nhớ lại cảnh tượng ban chiều. Cùng phòng với tôi, là một anh bạn ở Hà Nội vào. Chúng tôi trao đổi với nhau những nhận xét, những cảm nghĩ và ấn tượng ban đầu trong cuộc tiếp đón những bạn quốc tế. Tôi kể lại cho anh bạn Hà Nội nghe về người khách nói tiếng Việt rồi phàn nàn: - Trí nhớ mình tồi quá! Hình như mình đã gặp ông ấy ở đâu một lần. Anh bạn đã ngái ngủ nhưng cũng gắng tỏ ra lịch sự trả lời: - Ông thử nhớ lại những lần ông đi họp ở Liên Xô, ở Đức, ở Tiệp, ở Mông Cổ hay đi thăm Ấn Độ, Cu Ba xem? - Cái gương mặt ấy, kiểu tóc ấy, bộ ria mép ấy, rõ ràng là người Ả Rập. Anh bạn Hà Nội cười phá lên: - Nói như thế cũng chẳng khó gì! Nhưng họ là người nước nào? Thôi ngủ đi! Mai hỏi khắc biết! Chỉ mươi phút sau, tôi đã nghe tiếng ngáy đều đều của anh bạn Hà Nội. Thế mà tôi vẫn không sao ngủ ngay được. Kỳ lạ! Hình ảnh người bạn quốc tế cứ xoắn lấy tôi. Tôi lặng lẽ ngồi dậy đốt một điếu thuốc rồi đến bên song cửa nhìn ra. Đêm đã về khuya. Từng cơn gió mát lạnh từ sông Sài Gòn thổi vào vuốt ve da thịt khiến tôi thấy tỉnh táo hẳn lên. Ngoài đường Tôn Đức Thắng chạy dọc bờ sông, lúc này xe cộ đã thưa thớt hẳn, không còn nghe thấy tiếng nổ phành phạch đến nhức tai của những chiếc xe lam hay xích lô máy, cũng như không còn phải hít cái mùi khói dầu khét lẹt do những chiếc xe đó phun ra. Không gian thoảng mùi êm dịu của hoa dạ hương từ một vườn hoa hay một dã thự nào đưa tới, lẫn với mùi tanh nhàn nhạt của mặt sông xao động dưới những ánh đèn xa và hương vị ngọt ngào trong vắt lúc này của gió. Thỉnh thoảng, có tiếng vọng ì ầm từ bên kia bến phà Thủ Thiêm hay mãi bên Khánh Hội hoà với tiếng còi xa xăm của vài chiếc tàu nhỏ đang rời hay cập bến. Dọc bến Bạch Đằng hàng trăm ngọn đèn lung linh mờ tỏ trên những con tàu đại dương sơn màu trắng, vàng hay nâu, dăng hàng, trang nghiêm, im lìm như một hạm đội đang chuẩn bị chiến đấu. Bầu trời cao thẳm đen sẫm. Ức triệu vì sao lung linh trải ra tít tận chân trời. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 10:58:38 am CÂY SỐ 42 (Tiếp) Tôi lục tìm trong trí nhớ, hồi tưởng lại tất cả những chặng đường đã đi qua ở nước ngoài, những hội nghị, những cuộc viếng thăm, những ngày tắm nắng ở bờ Bắc Hải, những buổi toạ đàm ở Niu Đely… Nhưng hoài công. Tôi đã không thể nhớ lại được một gương mặt nào như thế, với dáng đi tập tễnh, đôi vai lệch và tấm lưng dài hơi còng như thế. Tôi lại trôi theo dòng hồi tưởng ngược về những năm tháng xa xưa, trong những ngày gian nan chống Mỹ, dọc đường khu Bốn, khu Năm, theo đường Trường Sơn vào tận các bưng biền miền Nam, đến khi tôi trở về thành thị và những ngày sôi động ở Sài Gòn. Không. Tôi đã không gặp một người nào như thế! Tôi đốt điếu thuốc "475" thứ ba, tiếp tục lần ngược dòng ký ức về tận những ngày xưa cũ, quãng thời gian chống Pháp, tiếp quản Thủ Đô đuổi giặc ở đồng bằng Bắc Bộ, ngược về chiến dịch Điện Biên Phủ. Tính tôi vốn như vậy: đã vương vấn nghi hoặc một điều gì là tự tìm cách lý giải đến cùng cho đến khi sáng tỏ mới thôi. Bỗng như tia chớp loé: một kỷ niệm vụt hiện lên trong trí nhớ tôi. Rồi nó cứ xoắn xuýt mãi, lúc đầu còn mơ hồ mỏng manh như khói sương, sau dần dần tụ hội lại, ngày càng rõ nét, càng hoàn chỉnh. Tôi bàng hoàng vui sướng kêu lên: "Đúng rồi!". Nhưng ngay sau đó, cảm giác hoài nghi khi nghĩ về thực tại lại lập tức chế ngự đầu óc. Tôi tự nhủ: "Không làm gì có chuyện như thế! Người đó đâu còn nữa! Ở đời thiếu gì người giống nhau!". Tôi bồi hồi trở về giường, khẽ khàng đặt lưng để khỏi làm anh bạn Hà Nội thức giấc. Tôi đặt cho mình một nhiệm vụ là sáng mai phải tìm gặp anh bạn ban chiều và hỏi cho ra ngọn ngành. Yên tâm, tôi ngủ thiếp đi. Hôm sau cuộc họp được tiến hành trong một hội trường tráng lệ của thành phố. Tôi ngồi ở chỗ dành cho các nhà báo trong nước được mời. Cả buổi sáng, cả buổi chiều, tôi nhìn lên phía đoàn chủ tịch, tai lắng nghe những lời phát biểu qua máy phiên dịch, mắt lại luôn nhìn anh bạn chiều qua. Rõ ràng anh là một nhân vật quan trọng trong cái tổ chức quốc tế Á - Phi này. Người ta gọi anh một cách trọng vọng là Ápđun Môhamét. Tôi cũng nhận thấy một điều khác lạ. Ápđun ngồi trên ghế đoàn chủ tịch, thường đưa mắt nhìn về phía chúng tôi. Cặp mắt nâu hơi sâu và trầm tĩnh của anh như tìm kiếm và khi anh phát hiện ra tôi, dường như cặp mắt ấy ánh lên một nét bỡ ngỡ lẫn mừng vui. Khi anh bước lên diễn đàn, giọng nói của anh trầm ấm và kiên nghị: - … Trong cuộc chiến tranh thần thánh chống bọn xâm lược Mỹ, nhân dân Việt Nam anh hùng đã giành được sự đồng tình, ủng hộ của cả loài người tiến bộ. Bằng những cống hiến của mình, những bạn bè của các đồng chí ở khắp năm châu đã góp phần tích cực vào việc lên án bọn xâm lược, ca ngợi và cổ vũ cuộc chiến đấu chính nghĩa của Việt Nam. Chúng tôi vui mừng và tự hào trước sự đánh giá của bạn về phần cống hiến nhỏ bé này. Ngày nay trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước của Việt Nam, chúng tôi cũng giành toàn bộ tình cảm và sự ủng hộ của mình. Chúng ta đoàn kết với Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc, giữ gìn độc lập dân tộc và bảo vệ hoà bình… Phiên họp cuối cùng chấm dứt, mọi người ùa ra hành lang sân nghỉ ngơi trong lúc chờ đi dự buổi chiêu đãi của Uỷ ban Nhân dân thành phố. Tôi đến ngồi trên chiếc sôpha, cạnh một chiếc bồn lớn bằng sứ tráng men xanh, trồng một cây bông sứ đẹp mê hồn, chờ cho Môhamét dứt khỏi những bạn bè. Thì chính anh ấy đã bước đến bên tôi với dáng cả quyết đáng mến: - Xin lỗi! Tôi muốn được nói chuyện với anh, được chứ? Tôi vội đứng dậy, nắm lấy tay anh, không giấu được vẻ mừng vui: - Tôi rất mừng là lại được nói chuyện với anh. Mấy ngày qua anh bận quá. Tôi có một băn khoăn muốn hỏi anh… Ápđun ôm lấy vai tôi nồng nhiệt nói: - Trời ơi! Chính tôi cũng đang muốn được gặp anh. Tôi cảm thấy rất quen anh, như là đã được gặp anh ở đâu rồi. Tôi khẽ nắm tay anh: - Anh cho phép tôi hỏi, trước đây anh đã sang Việt Nam lần nào chưa? Anh học tiếng Việt từ bao giờ mà nói khá thế? - Tôi sang đây lần này là thứ ba. - Lần thứ nhất là bao giờ? Hồi chiến tranh chống Pháp, anh có ở đây không? Ápđun nhìn chằm chằm vào mặt tôi, mặt đỏ lên vì xúc động: - Lần thứ nhất là từ cuộc chiến tranh Pháp - Việt. Lúc ấy tôi là lính trong quân đội Liên hiệp Pháp. Tôi hồi hộp hỏi dồn: - Anh có dự trận Điện Biên Phủ không? - Tôi có dự. Tôi là lính của tiểu đoàn lê dương đóng trên đồi Anne Marie. - Anh có ở trong đoàn tù binh về Thanh Hoá không? - Có! - Anh có nhớ vụ trực thăng ở cây số 42 không? - Trực thăng? Không bao giờ tôi quên được việc ấy! - Anh còn nhớ một commăngđăng và một cô gái thanh niên xung phong không? Ápđun nắm chặt cánh tay tôi. Nét xúc động tràn ngập ánh mắt anh: - Tôi có nhớ! Làm sao có thể quên được! - Thế anh có phải là người lính đó không? - Chính tôi đấy! - Trời ơi! Hoá ra anh đấy ư? Anh có nhận ra tôi không? Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 11:00:14 am CÂY SỐ 42 (Tiếp) Ápđun Môhamét bỗng run lên. Ánh mắ nóng bỏng của anh như cắm sâu vào mắt tôi. Trong một thoáng, hình như anh đang cố hình dung ra một bóng dáng xa vời của dĩ vãng. Cặp môi anh mấp máy, rồi anh ôm chầm lấy tôi, hoan hỉ kêu lên: - Mon commandanf!(1) - Bella! Bỗng chốc, tôi bật nhớ ra tên anh. * * * Lúc ấy, vào khoảng ba giờ chiều ngày mồng 7 tháng 5. Tiểu đoàn chúng tôi đã đánh chiếm hoàn toàn cứ điểm A1 mà tướng Đờ Cát gọi bằng cái tên mỹ miều là Anne Marie, sau một tháng giằng co ác liệt. Các đại đội, với số quân vơi đi quá nửa, chia nhau chiếm giữ các vị trí, các ụ súng, các giao thông hào, sẵn sàng đánh địch phản kích từ trung tâm Mường Thanh lên. Sở chỉ huy tiểu đoàn đặt trong một công sự đắp nổi bằng bao cát mà trong sơ đồ tác chiến, chúng tôi gọi là Ụ Thằng Người vì nó ở ngay bên một gốc cây cụt, trông xa như một người bước lom khom. Tù binh đã được đưa ra hết phía sau từ buổi sáng, nhưng đó đây, từ các hầm bí mật, bọn lê dương, có vài tên sĩ quan chỉ huy vẫn ngoan cố chống cự. Chúng luồn lỏi trong những đoạn đường hào lấp kín, bất ngờ ném lựu đạn vào những ụ súng có bộ đội ta chốt giữ. Công việc tảo trừ bọn tàn quân kéo dài đến tận chiều và đến lúc này mấy tên tù binh cuối cùng đã bị dồn vào một lô-cốt không mái che. Một chiến sĩ cắp khẩu tiểu liên "Tuyn" đứng gác. Tôi đứng trên Ụ Thằng Người chiếu ống nhòm nhìn xuống khu Mường Thanh. Chiều tháng 5, trong khu lòng chảo rất oi bức. Trời trong xanh kông gợn một đám mây. Hai chiếc Đakota bay khá cao đang cố lượn những vòng tuyệt vọng, thả dù xuống khu trung tâm. Những chiếc dù trắng tung ra, lủng lẳng những chùm đạn đại bác 105 ly, những hòm thực phẩm. Còn những cuộn dây thép gai thì chúng cứ đẩy thẳng xuống, gây nên khủng khiếp cho bọn lính đang lúc nhúc dưới các hầm hào. Tiếng súng lớn nhỏ dội lên khắp nơi. Mấy chiếc xe tăng T18 cuối cùng đang cuống cuồng chạy đi chạy lại. Nhưng toàn bộ khu trung tâm đã lộ ra một quang cảnh nhốn nháo hỗn loạn khác thường. Dọc những mép hào giao thông nối liền các vị trí còn lại của địch, trông xa giống như trăm ngàn tổ kiến, những tên lính Pháp đang lũ lượt chạy dồn vào khu trung tâm. Rất nhiều tên đã bỏ súng nhảy lên ngồi trên mép hào. Xa xa, về phía Tây và Nam, bỗng xuất hiện những lá cờ trắng. Đại đội trưởng Thuỵ giương ống nhòm quan sát một lúc, bỗng hét to: - Anh Vũ! Địch đầu hàng rồi! Khắp đồi A1, vang động những tiếng reo hò. Các chiến sĩ cực kỳ phấn khởi, nhảy cả lên nóc lô cốt. Giờ cáo chung của tập đoàn cứ điểm đã đến rồi! Đúng lúc đó hàng loạt tiếng đề-pa của súng cối 120 ly từ Hồng Cúm vèo vèo rít gió, hướng về phía chúng tôi. Tôi chỉ kịp thét: - Nó bắn đấy! Nằm xuống! Hàng chục quả đạn cối 120 ly đã ầm ầm quật xuống đồi A1. Tiếng nổ chát chúa như xé tai. Khói đen đặc trùm kín nơi chúng tôi đang đứng. Tiếng kêu thét "Mon Diêu!" của mấy tên tù binh lẫn trong tiếng kêu thất thanh của đại đội trưởng Thuỵ: - Tôi bị rồi anh Vũ ơi! Chúng tôi lao vào lô-cốt giam tù binh giữa làn khói bụi sặc sụa khét lẹt. Chiếc lô-cốt đã vỡ tung. Một quả đạn rơi đứng giữa căn hầm lộ thiên, giết chết tươi ba tên tù binh. Tên còn lại máu me đầy mặt đang run bắn, nép vào góc tường, giương cặp mắt nâu đờ dại nhìn chúng tôi, miệng lắp bắp: Mon Dieu! Mon Dieu!(1). Tôi ôm đại đội trưởng Thụy trên tay. Một mảnh đạn đã làm đùi trái anh bị gãy nát và trên bụng anh, máu trào ra ướt đẫm bàn tay tôi. Gương mặt Thuỵ tái xanh, nhưng Thuỵ nói vẫn bình tĩnh: - Anh Vũ! Nó chỉ có thể phản kích bằng hoả lực được thôi! Cho anh em sơ tán rộng ra. Đưa Thụy sang căn hầm khác cấp cứu và tổ chức cáng thương đưa anh về phía sau xong, y tá tiểu đoàn băng bó cho tên tù binh còn sống sót. Nó có vẻ chịu đựng, tự tay xé rộng ống quần để lộ vét thương đỏ lòm. Cặp môi dày của nó mấp máy: - Merci! Merci bien mon caporal(2). Tôi đang cay đắng vì tổn thất bất ngờ xảy ra trước giờ toàn thắng, không khỏi mỉm cười trước câu nói "cầu tài" của tên lê dương. Tôi dằn giọng bảo nó: - Thấy rõ bộ mặt Đờ Cát chưa? Đứa nào giết chúng mày?! Tên tù binh ngước cặp mắt thảm hại nhìn xác mấy tên đồng bọn lẩm bẩm: "Khủng khiếp quá! Khủng khiếp quá!". Tiểu đoàn trưởng Dũng bắn trọn một băng đại liên quét sườn một toán địch dang lò dò lên chiếm lại đồi Châu Ún, chi viện cho đơn vị bạn. Anh vất súng, nện đôi giày đinh chiến lợi phẩm cồm cộp đi vào. Tay đặt lên khẩu Brôninh Canada, anh nói rít trong kẽ răng. Anh nói tiếng Pháp rất thạo: - Chúng mày phải chết. Nhìn nòng súng chĩa vào ngực mình mỗi lúc một gần, tên tù binh bật dậy: - Mon commandant! Tôi không có tội! - Không có tội! Mày? Một tên lê dương? - Thưa ông, tôi đã phản chiến! Tôi đã chạy sang hàng ngũ các ông. Tiểu đoàn trưởng phì cười: - Chúng tao bắt mày tại trận mà mày lại là hàng binh à? Tên tù binh vẫn đứng theo tư thế nghiêm: - Xin phép ngài thiếu tá được báo cáo! - Nói đi! - Thưa ngài thiếu tá! Cách đây ba ngày tôi đã rời khỏi căn cứ này chạy ra rừng để tìm đến hàng quân đội Việt Nam. - Hắn lóng ngóng lần túi trong chiếc áo "bắt gà" rộng lùng thùng rút ra một tờ giấy trắng gấp cẩn thận: - Thưa ngài thiếu tá! Tôi nhặt được tờ truyền đơn của các ngài cách đây một tuần. Tôi liền đào ngũ chạy ra rừng. Nhưng loanh quanh ba ngày không gặp bộ đội Việt Nam. Tôi lại bị quân tuần tiễu bắt gặp, trả về đại đội. Tôi bị phạt giam ba ngày. Khi các ngài đánh vào, capiten(1) buộc tôi cầm súng chống cự. Tôi chỉ bắn lên trời, cầu Chúa che chở cho. Đúng lúc ấy các ông tràn vào… Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 11:01:07 am CÂY SỐ 42 (Tiếp) Tôi để ý nhìn kỹ tên tù binh: mái tóc đen xoăn tít rối bù, gương mặt đen sạm gầy guộc, cặp mắt nâu trũng sâu, một hàng ria mép đen và chiếc lưng hơi còng. Trông hắn có vẻ thành thật bên trong nỗi mệt mỏi cực độ về thể xác. Tôi hỏi: - Tên anh là gì? Cấp bậc? Lập tức, tên tù binh rập gót giày: - Benla. Binh nhất, thưa ngài thiếu tá! - Bao nhiêu tuổi? - Thưa ngài thiếu tá, hai mươi tám. Tôi ngạc nhiên nhìn hắn. Tôi tưởng hắn phải đến bốn mươi nhăm. Tiểu đoàn trưởng Dũng phẩy tay làm một cử chỉ cắt ngang: - Không thể tin anh được. Anh bị bắt tại trận với vũ khí trong tay. Anh là tù binh chiến tranh. Ra chỗ kia tập trung. Tên tù binh chớp cặp mắt mệt mỏi, cúi đầu bước theo một chiến sĩ, dáng đi lộ vẻ nhẫn nhục. Ba ngày sau, tiểu đoàn chúng tôi nhận được một lệnh khá đặc biệt "áp tải hai nghìn tù binh Pháp về hậu phương Thanh Hoá". Cấp trên còn đề ra yêu cầu phải bảo đảm đầy đủ số tù binh không được để hao hụt, đào ngũ dọc đường. Để giữ bí mật an toàn, tránh máy bay địch phát hiện bắn phá, các đơn vị áp tải tù binh đều phải hành quân đêm. Chúng tôi chia số tù binh đồng đều về cho các đại đội. Các đơn vị tổ chức lại thành từng toán, chừng ba chục tên. Cứ mười tên thành một tổ, chỉ định một tên có cấp bậc cao nhất làm tổ trưởng. Mỗi tổ tù binh do một tổ ba người của ta trông nom đôn đốc. Gay go nhất là vấn đề lương thực dọc đường. Chúng tôi ăn thế nào thì cấp cho tù binh như thế. Nghĩa là chỉ có gạo và muối trắng. Đôi khi có ít lạc và vừng. Tù binh đựng gạo bằng tất cả thứ gì chúng có: ống quần, bít tất, áo sơ mi, quần đùi, vỏ hộp. Chiến dịch áp tải tù binh mới đầu tưởng cũng đơn giản nhẹ nhàng. "Có gì lắm đâu? Chỉ là việc dắt những tên lính bại trận đã bị tước vũ khí về hậu phương trình diện với đồng bào như dắt một đàn bò thôi mà". Cánh tiểu đội trưởng trẻ măng bảo nhau thế. Hoá ra đó lại là một công việc hết sức phức tạp và vô cùng gian khổ. Đội quân viễn chinh lê dương thất trận, trong nỗi vui sướng vô biên lộ ra trên cửa miệng từng đứa "fini la guerre"(2) đã chơi cho chúng tôi một vố, khiến chúng tôi, những người thắng trận phải một phen điêu đứng suốt chặng đường dài dằng dặc trong hơn một tháng trời. Một buổi chiều, từ chỗ trú quân ven đường gần ngã ba Tuần Giáo, chúng tôi dẫn tù binh vượt đèo Pha Đin. Đó là một cái đèo nổi tiếng vì độ cao, độ dài và khó đi, là nỗi gờm sợ của những chàng lái xe kéo pháo. Tôi cùng cậu liên lạc vượt lên trước. Từ chỗ đứng trên cao, nhìn xuống đoàn tù binh trải thành một hàng dài vô tận. Sương buông xuống, phả những hạt lạnh li ti lên mặt khiến tôi thấy tỉnh táo hẳn lên. Tôi ngắm nhìn cái dòng người rồng rắn loang lổ ở dưới kia, ngẫm nghĩ và thấy thấm thía ý nghĩa của hai chữ chiến thắng và độc lập. Những tên lính hung hãn kia chẳng đã một thời là nỗi khiếp đảm đối với mọi người dân ta đó sao? Trước ngày Cách mạng tháng Tám, đừng nói một tên lính Pháp, mà chỉ một tên lính khố xanh bản xứ, thậm chí một tên lính cơ, lính lệ ở cái xó huyện đường cũng đã là nỗi sợ hãi ngày đêm với từng người đàn bà, ông già hay em nhỏ, nhất là với dân quê. Thế mà nay, trải qua một cuộc đổi đời, trời long đất lở. Những thiên lôi, quan lớn, phượng hoàng… với thân xác to lớn, cồng kềnh chỉ còn là một lũ quân ô hợp, cực kỳ bạc nhược, chỉ trong một hai ngày đã phơi bày ra tất cả những gì xấu xa hèn yếu. Trông chúng mới thảm hại làm sao! Chúng đội trên đầu những cái gọi là mũ: mũ sắt kiêm nồi nấu súp, mũ vải, calô và cả nồi nhôm. Quá nửa trong bọn chúng là đầu trần, chân đất, quần đùi, áo cộc. Lại có đứa chỉ có độc cái quần tắm trên người, phơi ra cái thân hình đỏ ửng như tôm luộc. Đứa nào cũng râu ria, lông lá. Cũng có đứa mang đủ các thứ linh tinh trên người: từ chiếc ba lô nặng chịch những đồ hộp đến đôi giày đinh mới nguyên đeo trên cổ chắc là mới khoắng được trong kho trước phút đầu hàng. Có đứa chỉ đi người không, hai tay đút túi quần vẻ mặt lì lợm hoặc phớt đời. Có đứa chỉ xách trên tay một chiếc vỏ hộp cát-cút. Đi bên cạnh với dòng người hỗn tạp, hôi hám ấy, là từng tốp chiến sĩ ta với vóc dáng bé nhỏ với súng ống đạn dược trang bị theo cơ số chiến đấu và một chiếc ba lô mỏng tang sau lưng. Vượt qua mấy đoạn đèo, đoàn tù binh đuổi kịp một đơn vị nữ Thanh niên xung phong cũng trên đường trở ra. Các cô đều mặc quần đen, áo sơ mi xanh màu lá, dép lốp, mũ nan, gài lá nguỵ trang. Nhiều cô khoác tấm vải dù hoa, một kỷ niệm kiêu hãnh của người ở chiến trường trở về. Cô nào cũng gồng gánh nhưng xem ra chẳng có gì là nặng. Khác hẳn những ngày trước đây, các cô nhìn toán tù binh dài dặc vượt qua bằng ánh mắt thản nhiên, tò mò, thích thú và khinh thị. Những tiếng nói lao xao trong trẻo cất lên giữa lưng đèo lạnh ngắt: - Khiếp, trông chúng nó kinh kinh là! Bây giờ em mới nhìn thấy tận mắt đấy. - Các cậu ơi! Thằng râu đỏ kia có cái bụng to như bụng Đổng Trác. - Eo ơi! Chúng nó hôi quá. - Các anh ơi! Cho chúng em mỗi đứa một thằng về kéo cầy nhé. Trâu nhà em tầu bay nó bắn chết rồi. - Ơ hò… Bộ đội mà gặp dân công… Ai đi hò lờ Như anh gặp chị… ai đi hò lờ Như ông gặp bà… Hò lơ ới lơ, lắng tai nghe chúng tôi hò lơ. Tiếng ồm ồm của một cậu nào bỗng cất lên nghịch ngợm khiến quang cảnh trở nên nhộn nhạo. Khắp hàng quân, ran ran tiếng cười nói, tiếng đùa cợt, tán tỉnh của các chàng lính trẻ. Các cô gái, cười như nắc nẻ, dúi đẩy nhau, đấm vai nhau thùm thụp. Bọn tù binh cũng giương những cặp mắt mèo hau háu nhìn các cô gái. Chúng trao đổi với nhau những cái hất hàm, nháy mắt, những câu bình phẩm tục tĩu và cười hô hố. Vài tên còn chụm những ngón tay bóp bóp vào không khí. Thấy thế, đại đội trưởng Lâm hầm hầm vỗ bao súng quát: - Cu xoong tù binh! Đứa nào động tới chị em tau bắn tại chỗ! Bọn tù binh như hiểu ý qua dáng điệu của người mà chúng gọi một cách kính cẩn là "mon capitaine"(1) liền im bặt lấm lét bước nhanh. Một cô gái đi sau, sát vệ đường lấy sức bước lên một hòn đá. Bất ngờ cô trượt chân ngã quỵ xuống. Cô gái kêu lên một tiếng hoảng hốt, đứng ngẩn nhìn theo chiếc ba lô chưa biết xử trí ra sao… Giữa lúc mọi người đi trước chưa biết làm gì thì trong đoàn tù binh, một người đã tự động tách khỏi hàng và lao theo chiếc ba lô. Chỉ một phút sau anh ta đã leo lên và đặt chiếc ba lô trước mặt cô gái miệng lúng búng. - Của cô… Xin chào! Cám ơn… Trước vẻ bỡ ngỡ và có chiều ngượng ngập của cô gái, anh ta chạy vội về hàng của mình. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 11:01:54 am CÂY SỐ 42 (Tiếp) Việc nhỏ đó cũng đủ là đề tài câu chuyện kéo dài trong chặng vượt đèo. Khi cậu liên lạc láu táu kể chuyện đó cho tôi nghe, tôi nảy ra ý tò mò muốn biết mặt người tù binh đó. Tuy trời đã nhá nhem tối nhưng tôi cũng còn nhận ra một dáng hơi quen. Vừa đi bên cạnh anh ta, tôi hỏi: - Anh đã giúp đỡ một người của chúng tôi. Thế là tốt. Người tù binh ưỡn ngực nhưng vẫn bước: - Xin cảm ơn ngài thiếu tá! - Tôi trông anh hơi quen. - Thưa ngài thiếu tá! Tôi đã được hân hạnh gặp ngài trên đồi Anne Marie sau khi pháo của quân đội liên hiệp Pháp đã giết hại mấy đồng đội của tôi. - À! Tôi nhớ, Benla, đúng tên anh vậy không? Mấy tên tù binh đi bên cạnh Benla nhìn anh ta bằng cặp mắt ghen tị. Benla lộ vẻ vui sướng nhưng giọng vẫn điềm đạm: - Rất cảm ơn ngài thiếu tá. * * * Một tuần sau, ngày nghỉ đêm đi, chúng tôi vẫn hành quân trên trục đường 41 về hậu phương. Bọn tù binh xuống sức trông thấy. Chúng không quen đi bộ, lại nhiều đứa không có giày, phải xé quần áo quấn lấy bàn chân mà đi trong khi nhiều đứa khác thường là bọn sĩ quan lại có đôi giày dự bị đeo trên cổ… Chúng không biết nấu súp nên bao giờ cũng phải ăn cháo sống. Còn ngủ thì gần giống như bộ đội ta, đã có những đệm lá khô trong rừng. Sau một đêm hành quân, sáng ra điểm danh lại thiếu hụt dăm bảy đứa. Nhiều tên, nhất là bọn quê ở Bắc Âu, Trung Âu tỏ ra bạc nhược và vô kỷ luật hơn cả. Chúng cứ tụt dần về cuối hàng và chờ dịp chiến sĩ ta sơ ý, liền tạt ngang vào rừng, chui sâu vào những lùm cây rậm rạp và lăn ra ngủ. Chúng sợ hoặc lười đi đêm. Sáng dậy, chúng mới đủng đỉnh lên đường tìm theo đơn vị mà chúng biết chắc thế nào cũng phải cắm biển đón. Gặp dân bản, chúng lén lút mò vào, vơ vét tất cả những gì chúng có thể vơ vét được: hàng sọt lá khoai lang khô giành nuôi lợn, chúng nhét đầy túi, làm thuốc lá hút dần, mấy quả muỗm xanh, mấy quả trứng gà trên ổ, con chó con còn đang bú mẹ. Một buổi sáng sớm, khi chúng tôi vừa thức dậy sau một hai giờ chợp mắt vội vàng, một dân quân người Thái, tay cắp súng, đã áp tải một tên lê dương đến trả. Anh lôi trong túi quần "bắt gà" của nó một vốc hành khô, mấy chiếc men lá dùng để nấu rượu và một con lợn sữa đã chết cứng. Đại đội trưởng Lâm quắc mắt: đơn vị anh bị mất nhiều tù binh nhất. - Mi lấy những thứ ni ở mô? Ai cho mi bỏ hàng ngũ? Tên tù binh, người Tây Đức vẫn nhơn nhơn: - Thưa ngài đại uý! Có một "lơ nhà quê" cho tôi. - Cho mi, răng người ta đến tận ban chỉ huy báo cáo? Tên tù binh giương cặp mắt ốc nhồi lấc láo nhìn đi chỗ khác nhún vai vẻ phớt đời. - Mẹec! Cu xoong! - Đại đội trưởng Lâm, cáu tiết cho luôn nó một cái đá đít, quát: - Về hàng! Mi còn phạm kỷ luật lần nữa, tau bắn đó! Tên lê dương vẫn lấc láo, nghênh ngang tìm về "grúp" của mình giữa những tiếng cười hô hố của đồng bọn. Một đêm đã khuya, bọn tù binh được lệnh nghỉ chân tại ven đường. Trăng rừng hắt ánh sáng xanh xao lên mọi người khiến mọi khuôn mặt trở nên gày võ. Tôi ngồi trên một thân cây đổ, tình cờ lại ở ngay cạnh người tù binh có tên là Benla. Đến nay, anh ta vẫn nhận mình là hàng binh. Khi tôi châm một điếu thuốc Cẩm Thuỷ và rít một hơi, qua ánh lửa, tôi nhìn thấy vẻ thèm thuồng trên ánh mắt Benla đang nhìn chằm chặp vào điếu thuốc. Nhưng Benla không xin. Tôi biết anh ta đang phải chịu đựng sự dày vò ghê gớm. Tôi chỉ còn điếu ấy là cuối cùng, liền đưa cho anh ta: - Anh cầm lấy mà hút. Người tù binh gần như vồ lấy điếu thuốc, miệng nói: - Rất cảm ơn ngài thiếu tá! Anh ta mới rít được một hơi, lập tức đã có mấy bàn tay chìa ra. Anh ta cố rít thêm được một hơi nữa rồi đành tiếc rẻ chuyển điếu thuốc cho người khác một cách miễn cưỡng. Im lìm độ vài phút, bỗng người tù binh lên tiếng, giọng rụt rè: - Xin phép ngài thiếu tá! - Anh muốn hỏi gì? Giọng anh ta đắn đo: - Tôi xin được ngài thiếu tá giải thích cho về hội nghị Giơnevơ hiện nay đến đâu rồi? Liệu có thể chấm dứt chiến tranh được không? Tôi ngạc nhiên về những câu hỏi của người tù binh và bỗng thấy có cảm tình với anh ta. Tôi nói vắn tắt diễn biến mới nhất của hội nghị mà tôi nghe được qua bản tin của sư đoàn, nói rõ lập trường của phái đoàn ta và quan điểm phản động của Bidault, ngoại trưởng Pháp. Nghe xong, người tù binh thở dài: - Bidault là một con lừa! Ông ta muốn tiếp tục chiến tranh bằng máu của chúng tôi, những binh lính thuộc địa. - Anh là người nước nào? - Thưa, tôi là người Angiêri. - Trước kia, anh làm nghề gì? - Thưa, tôi dạy học. Tôi dạy văn tại một trường trung học ở Orăng. - Tại sao anh lại vào lính lê dương? - Đó là bi kịch lớn nhất của đời tôi, thưa ngài. Tôi là con cả trong một gia đình đông con. Cha tôi có nợ nần, quá hạn không trả được bị người ta đưa ra toà. Nước Pháp mộ lính lê dương, hứa hẹn rất nhiều quyền lợi, ba hoa những điều hấp dẫn "đấy chỉ là một cuộc du lịch sang sứ nhiệt đới Châu Á không mất tiền". Và điều quan trọng là họ ứng trước một khoản tiền. Tôi lại bị sa thải vì bị coi là có những quan điểm quốc gia quá khích. Vì thế, tôi đánh canh bạc liều. Kết quả thật là bi đát. Chúa đã trừng phạt tôi. Tôi còn giải thích thêm cho anh ta về hoàn cảnh của Tổ quốc anh và nói về chỗ đứng của anh đáng lẽ phải có ở chỗ nào. Anh ta chỉ im lặng ngồi nghe. Một lát, anh đứng lên, tư thế nghiêm trước mặt tôi: - Thưa ngài thiếu tá! Cho phép tôi được hân hạnh biết tên tuổi của ngài. - Ồ! Anh hỏi để làm gì? - Thưa ngài, tôi đã có sự ngộ nhận về những sĩ quan Việt Nam. Bộ chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp tuyên truyền rằng, cán bộ Việt Minh là những người nhà quê, không biết chữ và hoàn toàn dốt nát về tri thức quân sự. Tôi phì cười, châm biếm: - Như đã được chứng minh ở Điện Biên Phủ phải không? Người tù hàng binh không cười: - Thưa ngài thiếu tá, Coócnây đã viết "la valeur! N'attend point le nombre des années"(1). Các ngài đã chứng minh hùng hồn như vậy. - Anh thuộc Le Cid(1) đấy nhỉ? Benla lại rập gót giày: - Rất cảm ơn ngài thiếu tá về lời khen. Tôi là giáo viên dạy văn học cổ điển Pháp. - Thế mà anh lại đi cầm súng đánh thuê. Tôi mong rằng lần này thoát chết được về quê hương, anh sẽ lại có chỗ đứng trên bục giảng. Người tù hàng binh cúi đầu: - Rất cám ơn ngài thiếu tá. Cuộc hành quân của chúng tôi mỗi ngày một trở nên khó khăn. Đêm nào, tù binh cũng đào ngũ hàng chục đứa, mặc dù chúng tôi đã nát óc tìm mọi biện pháp ngăn ngừa. Chúng lén đổ gạo đi để khỏi phải mang, chui vào rừng, đánh một giấc, để rồi sáng mai, leo lên những ngọn núi phía tây, tìm đường trốn sang Lào. Chúng mò vào nhà dân, bắt gà lợn, hiếp phụ nữ, đã có tên bị dân quân trong bản Mèo bắn chết. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 11:02:39 am CÂY SỐ 42 (Tiếp) Một đêm, đại đội phó đại đội Ba lên tìm tôi, nhăn nhó: - Báo cáo tiểu đoàn, đơn vị tôi có một thằng tù binh chết. - Tại sao? Tên nó là gì? - Thằng Gavrini, lê dương người Nam Tư. Nó đang đi, bỗng loạng choạng ngã vật ra, người cứng đờ. Cấp cứu xoa bóp chẳng ăn thua. Theo qui định của sư đoàn, nếu đang hành quân, có tù binh nào chết thì báo cho đội chôn cất của trung đoàn đi phía sau, còn đơn vị vẫn tiếp tục hành quân để bảo đảm kế hoạch. Chúng tôi cũng làm như thế. Nhưng sáng hôm sau, khoảng mười giờ đã thấy đại đội phó đại đội Ba lên, miệng cười ngoác tận mang tai: - Nó chết quái đâu! Mẹ cụ cái thằng Gavrini! Nó lười đi đêm, chơi xỏ mình giả vờ chết để được tự do nằm ngủ. Đến lúc đội tải thương mang cuốc xẻng đến, đào xong hố, khiêng nó đi chôn, nó mới chồm dậy, chạy bán sống bán chết. Tôi cho nó cái bạt tai. Tôi đã quan sát đoàn tù binh, phát hiện ra có một trung đội toàn người Bắc Phi là tỏ ra khá nhất. Sau mười lăm ngày hành quân. Số quân của trung đội này vẫn đầy đủ. Họ ít nói, có ý thức giúp đỡ nhau, ở mỗi nơi trú quân, thường đóng riêng ra một chỗ. Tôi biết ý chí hồi hương của họ rất mãnh liệt. Trong trung đội đó có người tù hàng binh Benla. Một đêm đi qua Mộc Châu. Đêm cuối tháng đã tối, lại càng tối thêm bởi những vách đá sừng sững hai bên đổ bóng xuống mặt đường. Trời về sáng. Sương mù lạnh ngắt rắc đầy như mưa bụi, rỏ lộp bộp trên những tàu lá chuối rừng. Tôi có việc bận họp ở trung đoàn nên phải đuổi theo đơn vị. Trên khúc đường quạnh quẽ thấp thoáng trong sương lạnh một bóng người cao lênh khênh hai tay chống hai chiếc gậy dài, đang tập tễnh dò dẫm lê từng bước chân nặng nề với dáng vẻ hết sức nhẫn nại. Trong cái vắng vẻ đến rợn người, tôi nhận ra một tù binh, liền bước lên ngang anh ta hỏi: - Anh ở "công voa" nào? Sao lại tách ra khỏi hàng? Giọng người tù binh bỗng có vẻ mừng rỡ: - Thưa ngài thiếu tá, tôi bị ốm quá nên không theo kịp công voa. Tôi đã được ông đại uý cho phép đi chậm suốt đêm. Hoá ra là Benla. Trạnh lòng, tôi hỏi: - Sao anh không nhờ đồng đội dìu đi hay nằm cáng một đoạn đường. Tôi đã ra lệnh cho tù binh phải mang theo băng ca kia mà? Benla lắc đầu quầy quậy, giọng đầy bi thảm: - Thưa ngài thiếu tá, tôi ốm đã ba ngày nay nhưng tôi quyết không bỏ công-voa, bởi vì tôi phải sống, phải về được tổ quốc tôi dù có phải bò đi nữa. Đồng đội cũng có giúp đỡ tôi, nhưng họ cũng đã quá mệt nên tôi quyết định tự mình phải cố gắng là chính. Đêm qua, thấy tôi di tụt lại sau, mặt ông đại uý thương tình chỉ định mấy đứa dìu đi. Nhưng khi vắng mặt săngtinen(1), mấy thằng người Ý này chửi rủa, đấm đá tôi thậm tệ. Tôi đã phải van lạy chúng nó để cho tôi đi một mình. Vâng, thưa ngài thiếu tá, tôi thấy khổ quá, nhiều lúc muốn chết cho đỡ cực. Nhưng rồi tôi lại cố đến kiệt sức. Tôi phải sống bằng mọi giá. Dù có què quặt về được đến quê nhà, gặp lại những người thân và nếu có thể thì đem hết sức còn lại làm được một việc gì có lợi cho sự giải phóng của Tổ quốc tôi. Sáng nay, tôi lại đi vượt qua cả công-voa vì không tìm thấy biển cắm. Những thằng nằm lại đêm qua, sáng dậy đã đi trước tôi. Chúng lột hết biển cắm, cuộn hút thuốc lá, thành ra tôi cứ lê từng bước đi suốt ngày, mãi chiều nay mới gặp lại công-voa. Rồi Benla kể lại cảnh mấy thằng tù binh người Tây Ban Nha và Anh khiêng cáng anh ta hồi đêm. Khi thấy Benla quá ốm, hai chân sưng vù, quấn đầy giẻ rách mà vẫn tập tễnh cố bám theo đoàn, đại đội trưởng Lâm liền giữ hai tên tù binh cao lớn còn khá khỏe mạnh, đang vác chung một chiếc băng ca bằng nứa, do bộ đội ta làm cho: - Các anh hãy khiêng người này! Hai thằng làu bàu trong cổ họng, tỏ ý không muốn làm. Một thằng gân cổ lý sự: - Nhưng thưa ông đại úy! Tôi phải khiêng nó thì khi tôi ốm có đứa nào khiêng tôi không? Đã biết đặc tính chúng, đại đội trưởng Lâm xẵng giọng: - Chấp hành mệnh lệnh! Miễn cưỡng hai thằng đặt chiếc băng ca xuống. Benla lập cập nằm vào cáng, miệng lẩm bẩm: "Merci! Mercibiencamarades"(1). Đại đội trưởng Lâm đi kèm chúng một quãng rồi vượt lên đầu hàng quân. Hai tên tù binh khiêng cáng cố ý trùng trình đi chậm rồi tụt lại sau cùng. Khi đường đã vắng không còn bóng người, hai thằng bắt đầu xỉ vả người nằm trong cáng: - Thằng chó đẻ! Mày là thằng mọi đen mà dám bắt chúng tao phải hầu hạ à? - Chết mẹ mày đi! Đồ giòi bọ! Mày không đáng sống! Chúng trao đổi với nhau bằng thứ tiếng lóng mà Benla không hiểu được. Đến một lùm cây rậm bên đường, hai thằng dừng lại cùng hô: hai... ba rồi thẳng tay, quăng luôn cả cáng lẫn người xuống khe núi. Xong việc, chúng thản nhiên cười hềnh hệch, xoa tay đi thẳng. Phúc cho Benla! Chiếc cáng rơi trúng bụi cây sim mua rậm rạp nên vướng lại. Benla bị hắt văng xuống đất. Choáng váng, anh cố hết sức thu tàn lực bò dậy, quờ quạng tìm hai cái gậy của mình và bò lên đường, người ướt đẫm nước khe và nước mắt. Anh lại tập tễnh bước đi với đôi chân sưng phù quấn giẻ rách, rát bỏng như kim châm. -... Thưa ngài thiếu tá, tôi căm thù chúng nó. Chúng nó là lũ lang sói không có một chút tính người. - Tôi sẽ tìm ra hai tên ấy và sẽ trừng phạt chúng. Tôi sẽ ra lệnh cho chúng phải khiêng anh. - Xin đa tạ ngài thiếu tá. Nhưng xin ngài đừng ra lệnh cho chúng. Nhất định chúng sẽ giết tôi. Người tù hàng binh đã bình tĩnh trở lại, nói với tôi bằng một giọng van lơn và cả quyết. Tôi bảo anh ta dừng lại, tìm chỗ ngủ đêm nay, rồi bấm đèn pin, xé một tờ giấy trong quyển sổ tay,viết nhanh: "Ban chỉ huy tiểu đoàn... cho phép tù binh này được đi riêng ban ngày trên đường 41. Đề nghị các đơn vị không bắt giữ anh ta. "Tôi ghi rõ họ tên, chức vụ của mình, ký tên rồi đưa cho anh ta: - Cầm giấy này mà đi. Mệt quá thì cứ nghỉ. Buổi sáng thì cố tìm về đơn vị còn có cái mà ăn. Hôm nay, anh nhịn cả ngày à? Tôi bảo cậu liên lạc đưa cho anh ta gói xôi lạc, suất ăn của cả hai người. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 07:58:13 pm CÂY SỐ 42 (Tiếp) Máy bay trinh sát của Pháp bắt đầu sục sạo tìm kiếm dấu vết tù binh Pháp. Từ mấy ngày nay, một chiếc Michel cứ bay dọc đường 41. Chúng đã đánh hơi thấy bọn tù binh, do những tên đào ngũ đã leo lên núi, nhìn thấy máy bay của chúng bay qua thì đốt lửa, vẫy khăn làm hiệu. Bộ tư lệnh sư đoàn lệnh xuống: "Phải đặc biệt đề phòng khả năng bị ném bom vào đội hình quân ta và đổ trực thăng đánh cướp tù binh, nhất là bọn sĩ quan. Nghiêm trị bọn phá rối". Sự phiền phức đã xảy ra ở cây số 42, trên đường từ Mộc Châu về Suối Rút. Trưa hôm ấy, đoàn tù binh trú quân trong một cánh rừng rậm, bằng phẳng phía tây đường. Tù binh đã nấu nướng, cơm nước xong. Nhiều tên đã lăn ra ngáy khò khò. Nhiều đứa đi tắm dưới con suối trong vắt. Trên mặt đường ở khu vực các đại đội đều có cắm những tấm giấy nhỏ ghi địa chỉ: "ler công voa" - "2ème công voa"... lác đác vẫn còn những tên tù binh đến chậm. Đã quen lệ, chúng nhòm vào từng tờ giấy, nhận ra đơn vị của mình liền phởn phơ tìm đến nơi. Đại đội nữ thanh niên xung phong cũng trú quân gần đấy, phía đầu dòng suối. Khoảng 1 giờ trưa, có tiếng máy bay từ hướng đông nam vẳng lại nghe mỗi lúc một gần. Trong nháy mắt, chiếc Michel bay sạt ngọn cây, to như một chiếc phà, phơi cái bụng xám mốc. Một phút sau, nó bay quành trở lại và lượn những vòng rất thấp gần chạm ngọn cây quanh khu vực trú quân. Tiếng rít rú của động cơ dội vào vách núi gây nên một không khí hết sức căng thẳng... Thật không thể tưởng tượng được! Hàng trăm tên tù binh, như có ma lực hấp dẫn, bỗng chồm dậy la hét, reo hò loạn xạ. Chúng leo lên cây, chạy lên mặt đường cái tung khăn, vẫy mũ. Những đám khói từ đâu ùn ùn bốc lên cao. Bọn tù binh có nguy cơ nổi loạn! Tiểu đoàn trưởng Dũng tay lăm lăm khẩu Brôning Canada đã lên đạn, quát lớn: - Bọn tù binh ngồi im không được nhúc nhích! Các đại đội dàn lực lượng vây tròn chúng lại! Súng trường, lắp lưỡi lê! Trung liên vận động lên chiếm núi cao bên phải đường! Sẵn sàng bắn máy bay! Tiếng thét oai nghiêm, cùng vẻ mặt sắt đá của anh đã có hiệu lực. Các chiến sĩ lập tức lắp lưỡi lê lên nòng súng và lên đạn các khẩu tiểu liên. Bọn tù binh dần dần bị đẩy sâu vào rừng. Chiếc Michel như đã phát hiện ra mục tiêu, lượn những vòng rất hẹp chung quanh nơi trú quân. Bỗng từ bụng nó, tung ra hai chiếc dù trắng treo lủng lẳng mấy chiếc hòm nhỏ. Rồi nó cất lên cao, bay mất hút về phía Đông Nam. Tôi cùng một tổ trung liên chạy lên mặt đường 41 và vận động lên một quả núi trọc cao nhất gần đấy ở phía đông đường. Giữa lúc ấy, lại thấy một chiếc trực thăng từ đâu phành phạch bay tới. Nó lượn quanh ngọn núi mà chúng tôi đang vận động lên, gần như treo tại chỗ rồi hạ thấp dần. Một chiếc thang dây tung ra, lủng lẳng. Trong khoang chiếc trực thăng, mấy cái đầu thò ra ngoài, nhìn xuống. Gần tới đỉnh đồi, tôi đã nhìn thấy một cảnh tượng gay cấn diễn ra: bốn tên tù binh lao vào một chiến sĩ ta đang cầm một con dao trong tay. Tôi nhận ra một chiến sĩ nuôi quân ở tiểu đoàn bộ. Hai tên xông vào giằng được con dao và thẳng cánh đâm vào bụng anh chiến sĩ. Cậu này tránh được mấy đòn ác hiểm, nhưng nhát đâm cuối cùng đã làm anh ngã xuống. Đúng lúc tên tù binh giơ cao con dao định đâm bổ xuống thì khẩu trung liên đã rít lên. Chiếc trực thăng tròng trành rồi hốt hoảng vụt lên cao, kéo theo chiếc thang dây đung đưa, bỏ lại dưới bụng nó mấy tên tù binh với khoảng cách chừng vài ba thước. Ba tên tù binh thấy nguy, liền lao đầu chạy tuột xuống sườn núi phía tây, thoát khỏi tầm đạn và nhanh chóng mất hút trong rừng rậm bạt ngàn. Cũng lúc ấy, từ sườn núi, có hai người nữa chạy lên, tay xách súng cabin. Đó là hai cô ở đội thanh niên xung phong. Tôi nhận ra, một trong hai người con gái ấy là người đã bị ngã ở đèo Pha Đin và được người tù binh nhặt giúp chiếc balô đưa trả với vẻ lịch thiệp. Từ xa, các cô đã hỏi gấp: - Các anh ơi! Cho chúng em chiến đấu với! Ngẫu nhiên, hai tốp chúng tôi cùng lao tới tên tù binh còn lại đang đứng đờ ra như một xác chết. Cô gái có mái tóc cắt ngắn vội chạy tới đỡ người chiến sĩ dậy. Máu loang ra thấm đỏ tay cô. Bừng bừng nổi giận, tôi chạy tới sau lưng tên tù binh túm cổ áo nó lắc mạnh rồi xoay mặt nó quay lại. Tôi sững sờ: - Benla! Té ra lại là mày à! Mày trả ơn chúng tao như thế này phải không? Thằng chó chết! Tên tù binh Benla rũ ra như con gà bị cắt tiết, chân tay run lẩy bẩy, hai chiếc gậy rơi xuống đất. - Thưa ngài thiếu tá! Xin tha tội cho tôi. Chúng nó rủ rê, cưỡng ép tôi. Nếu không, chúng giết... Tôi cười gằn: - Rốt cuộc, mày vẫn là một thằng lê dương mạt hạng! Tao phải bắn mày vì tội phá rối cuộc hành quân và hành hung chiến sĩ của chúng tao. Tên tù binh ngã quỵ xuống, òa lên khóc: - Thưa ngài thiếu tá! Ngài cứ bắn tôi đi! Vâng! Vâng! Tôi là kẻ đào ngũ! Tôi đã theo chúng nó. Trời ơi! Tôi chỉ muốn sống được trở về quê hương sớm ngày nào hay ngày ấy. Tôi đã nghe chúng nó. Tôi có tội với các ngài. Vâng! Xin ngài cứ bắn tôi đi! Những giọt nước mắt đùng đục chảy trên khuôn mặt hốc hác của hắn lúc này không làm tôi động tâm. Tôi nhìn cậu chiến sĩ nuôi quân. Cô gái đã băng bó cho anh xong và đặt anh nằm nghiêng trên vạt cỏ. Cảm giác vừa phẫn uất, vừa cay đắng nghẹn ứ trong lòng tôi. Tôi đã bị tên tù binh phản bội. Tôi thật quá ngây thơ khi tin rằng ở trong trái tim một tên lê dương, lại có một ngọn lửa khát khao chính nghĩa đang bùng cháy. Chung quy chó sói vẫn là chó sói. Tôi rút khẩu súng ngắn ra, lạnh lùng: - Cầu chúa đi! Tên tù binh ngước nhìn tôi với vẻ tuyệt vọng nhưng không khóc nữa. Nó quỳ xuống, tay làm dấu thánh giá. Hồng - cô gái có mái tóc cắt ngắn - rụt rè lên tiếng: - Em có ý kiến! Xử nó thế nào thì tùy các anh. Nhưng thằng này, em thấy nó ốm quá, mà suốt tuần qua, ngày nào chúng em cũng thấy nó chống gậy lần đi. Cái thằng đâm anh bộ đội là thằng có râu quai nón mầu râu ngô kia! Nó chạy thoát rồi. - Làm sao cô biết? Không chạy trốn mà nó ở đây à? - Cách đây một giờ, em trông thấy mấy đứa dưới đường. Thấy chúng nó đông, em vội nấp vào bụi. Em thấy ba thằng kia xì xồ gì với thằng này như chúng nó cãi nhau, rồi chúng kéo thằng này lên núi. Khi nghe có tiếng trực thăng, em gọi được cái Soan chạy lên, chính mắt em nhìn thấy thằng râu xồm xông vào đâm anh bộ đội. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 07:59:20 pm CÂY SỐ 42 (Tiếp) Trong lòng tôi lúc này có sự giằng co dữ dội. Một mặt là những tên tù binh cực kỳ ngoan cố đã cố tình phá hoại cuộc hành quân, chỉ điểm cho máy bay địch và nghiêm trọng hơn là chúng dám hành hung cả chiến sĩ ta. Tội ấy đáng phải xử bắn để răn đe những đứa khác. Tên tù binh này phải đền tội, chẳng qua cũng giống như hàng ngàn những tên giặc đã bỏ mạng trong chiến trường Điện Biên Phủ. Chẳng có gì đặc biệt. Tôi bỗng nhớ lại tất cả những gì nó đã nói với tôi trong suốt chặng đường. Tôi hình dung vẻ mừng rỡ của bố mẹ nó khi thấy nó đột nhiên bước vào nhà, thấy sự hoan hỉ của những đứa học trò trong một lớp học nào đó ở trường trung học Orăng xa xôi khi thấy nó xuất hiện trên bục giảng. Biết đâu, nó chẳng có thể trở thành người cầm súng trong vùng chiến khu nào đấy của tổ quốc nó. Nó có thể trở thành người có ích cho đất nước đang còn nô vong của nó chăng? Bắn hay tha! Y tá tiểu đoàn đã chạy lên và cùng mấy chiến sĩ dìu cậu anh nuôi lần xuống núi. Thở dài, tôi nhét khẩu súng vào bao: - Tạm tha cho mày! Tội trạng sẽ xét sau. Về ngay công voa. Tên tù binh đứng nghiêm chào tôi, rồi tần ngần một giây hắn bước đến trước mặt Hồng, cô gái vừa lên tiếng xin tha cho nó, cúi rạp đầu, cung kính nói bằng tiếng Việt: - Merci bien! cam ơn cô... cam ơn lăm lăm! Khi tên tù binh ngước lên nhìn cô gái, tôi cảm thấy ánh mắt anh ta trở nên hiền dịu, ấm áp khác thường, khiến cô gái bắt gặp cái nhìn ấy, cũng phải ngượng ngập, quay mặt đi... Khi đoàn tù binh vượt qua sông Suối Rút, đi vào địa phận Thanh Hóa, thì điều kiện sinh hoạt của bộ đội và tù binh được cải thiện khá hẳn lên. Tù binh được phát thuốc lá Cẩm Thủy và cả thịt trâu. Lại là trâu còn sống. Hai tên phi công chân sưng vù, được ưu tiên cưỡi trên lưng trâu. Hai tên khác vào loại lười đi đêm, xung phong cầm thừng dắt trâu đằng trước. Lại hai tên nữa kiếm được một cớ chính đáng là cầm roi đuổi trâu đi phía sau. Quang cảnh hài hước đó diễu qua các thị trấn dọc đường, gây nên những trận cười râm ran khắp nơi, nhưng bọn tù binh cứ điềm nhiên phớt lờ. Chúng bắt đầu hiểu rằng chúng đã về đến căn cứ an toàn, chắc chắn sống sót và ngày trở về quê hương không còn xa nữa. Sức khỏe chúng khá dần lên. Kỷ luật cũng tiến bộ hẳn. Không còn tên nào đào ngũ nữa. Đại đội nữ thanh niên xung phong cũng cùng về nơi tập kết tù binh và tổ chức lại thành những tiểu đội cấp dưỡng, với nhiệm vụ nuôi bọn tù binh, chờ ngày trao trả cho đối phương. Tiểu đội nữ do Hồng, cô thanh niên xung phong làm tiểu đội trưởng được phân công nấu ăn cho hai trăm tù binh. Nhà ở, nhà ăn, đều là nhà dân. Vì thế, nỗi vất vả của chúng tôi và ban quản lý tù binh tăng lên gấp đôi. Tù binh được cắt phiên nhau xuống giúp nhà bếp. Chúng vui sướng như điên với công việc này vì được nhìn các cô gái, được ăn vụng thực phẩm các cô mua về như cá, đậu và nhất là thịt trâu, thịt bò. Chúng rút dao găm lén cắt từng miếng thịt sống đút vào túi quần "bắt gà", rồi lỉnh ra một chỗ xé thành từng miếng nhai ngấu nghiến. Một buổi sáng, tôi xuống kiểm tra nhà bếp của đại đội Hai. Mấy tên tù binh đang huỳnh huỵch bổ củi. Bên cái giếng to giữa sân đình, Benla đang thả gầu múc nước. Anh ta không múc bằng cái khau mo cau mà bằng cả chiếc thùng gánh nước, kéo lên một cách nhẹ nhàng. Bên cạnh anh ta, Hồng, tay áo xắn đến khuỷu, đang vùi hai cánh tay vào chiếc chậu gỗ cực lớn vo gạo. Dáng điệu anh tù hàng binh từ tốn và rõ ràng tỏ ra ngoan ngoãn mỗi khi cô gái lắc đầu, hất mái tóc xõa che lấp khuôn mặt rám nắng. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng nói của mỗi người, bằng những cử chỉ và cả bằng mắt. Thỉnh thoảng, cô gái lại cười như nắc nẻ. Tôi bước tới, lên tiếng: - Chào cô Hồng! Thế nào, Benla, anh khỏe chứ? Benla buông thùng, ưỡn ngực đứng nghiêm: - Xin chào thiếu tá! Rất cám ơn ngài. - Cô nói chuyện gì với anh ta thế? Cô gái bỗng đỏ mặt, ngượng nghịu bê thúng gạo ướt sũng đứng lên: - Em đang tranh thủ dạy anh ta học nói đấy! Cô gái đi rồi, Benla vẫn đứng nghiêm bên giếng nước nhưng ánh mắt đuổi theo cô gái. Mỉm cười, tôi bảo: - Benla, nghỉ! Cho phép anh ngồi xuống đây. Anh thấy cô gái Việt Nam của chúng tôi thế nào? Benla xin phép rồi ngồi bệt xuống sân gạch. Giọng anh ta trầm trồ: - Tuyệt vời! Thưa ngài thiếu tá! Cô gái này đã cứu tôi thoát khỏi tử hình - anh ta ngượng ngập - Tôi suốt đời biết ơn cô ấy. - Anh thấy cô ấy thế nào? - Một cô gái vị tha, hiền dịu và xinh đẹp, thưa ngài thiếu tá. Phụ nữ Việt Nam rất đẹp. Cô ấy giống như những cô gái đẹp nhất xứ tôi. Cặp mắt anh ta phút chốc trở nên mơ màng và đượm buồn. - Thưa ngài thiếu tá, cô ấy cũng có cuộc đời éo le. Ngạc nhiên, tôi hỏi: - Anh biết cô ấy ư? Do đâu vậy? - Thưa thiếu tá, tôi đã mạn phép hỏi cô ấy. - Cô ấy nghe sao được? - Thưa, cô ấy nghe và nói được tiếng Pháp, tuy không thật chuẩn xác lắm. Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. -...? - Thưa ngài thiếu tá! Cô ấy là con một viên chức ở tỉnh, đã học qua tiểu học trước chiến tranh nên biết ít nhiều tiếng Pháp. Gia đình cô ấy sơ tán về Nho Quan, chẳng may bị quân Pháp giết hại trong trận càn năm năm hai, chỉ còn có một cô ấy sống sót. Tôi hoàn toàn bất ngờ trước câu chuyện, lại thấy ân hận mình thật vô tâm. Hóa ra trong bước đường kháng chiến, cũng có lắm chuyện lạ kỳ. Có những số phận lạ lùng ở ngay bên cạnh mà mình chẳng hề biết tới. Hơn một tháng sau, thực hiện hiệp định Giơnevơ, chúng tôi đưa đoàn tù binh lúc này đã lại sức ra bãi biển Sầm Sơn. Hải Thôn là địa điểm được hai bên thỏa thuận để nhận người của mình. Một chiếc cầu phao dài được bắc từ bờ cát ra biển, dùng làm cầu tàu. Hàng chục cổng chào kết lá dừa được dựng lên. Những lá cờ màu cùng những cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió lộng như vẫy chào những con người ưu tú trở về. Nhân dân địa phương, đông đến mấy ngàn người, mặc quần áo ngày hội, tay cầm cờ xếp thành hàng dọc lối đi. Những giây phút cực kỳ xúc động. Giữa những tiếng hò reo của trẻ em, tiếng hô khẩu hiệu của thanh niên, là tiếng nức nở của mẹ già. Nhân dân ôm lấy những con em mình áo nâu, đầu trọc, vừa cười vừa khóc. Những cảnh tượng thiêng liêng ấy đập vào mắt những tù binh đang tập trung gần đấy, chờ đến lượt xuống thuyền ra tàu. Nhiều tên thẫn thờ, mắt đỏ hoe. Họ ăn mặc giống nhau: chiếc mũ lá rộng vành, bộ quần áo màu xanh lá cây, đôi dép cao su và một cái túi xách nhỏ đựng những vật dùng thường ngày. Tôi đi dọc hàng tù binh, nói chuyện, khích lệ và tiễn biệt họ. Bỗng thấy Benla chạy tới, giọng hồi hộp trong hơi thở gấp: - Kính chào ngài thiếu tá! - Benla! Chúc anh lên đường may mắn! Hãy chấm dứt cuộc đời lính đánh thuê, về chiến đấu cho tổ quốc anh. Benla xúc động thật sự, rơm rớm nước mắt: - Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chính phủ Bác Hồ, các sĩ quan và binh sĩ quân đội Việt Nam về lòng nhân đạo này. Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn ngài thiếu tá. Xin cho phép được hân hạnh bắt tay ngài. Anh nắm chặt tay tôi bằng cả hai bàn tay cứng cáp rồi đưa lên môi hôn một cách kính cẩn. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 04 Tháng Năm, 2008, 08:00:24 pm CÂY SỐ 42 (Tiếp) Khi tôi bắt tay anh lần nữa và định quay đi, Benla ngập ngừng nói với theo: - Thưa thiếu tá, tôi có thể nhờ ngài giúp cho một việc được không? - Sẵn sàng lắm? Anh có việc gì cần. Benla rút trong túi ngực ra một phong thư, vuốt ngay ngắn rồi trân trọng đưa cho tôi bằng cả hai tay: - Xin ngài làm ơn đưa giúp bức thư này cho cô Hồng. Sáng nay vì đi vội nên tôi chưa kịp gửi. - Tôi rất vui lòng chuyển giúp anh bức thư này đến tận tay cô ấy. - Thưa thiếu tá, bức thư để ngỏ, xin ngài xem cho và nếu ngài không cho là xấu, xin ngài chuyển giúp cho. - Anh cứ yên tâm. Tiếng còi tàu rít lên. Đoàn tù binh xếp hàng lần lượt bước xuống cầu phao. Tôi xắn quần đứng dưới mép nước, vẫy chào họ. Tù binh reo lên: - Finit la guerre(1) - Rapatriement!(2) Tiếng của Benla chìm đi trong những đợt sóng ập vào bờ: - Mong có ngày được gặp lại ngài thiếu tá! Trên đường về, tôi mở bức thư của Benla ra xem, theo yêu cầu của anh. Nét chữ đẹp, cứng cáp, viết bằng tiếng Pháp: Thưa cô Hồng, Tôi là người chịu ơn cô cứu sống. Suốt đời, tôi biết ơn và thờ phụng cô. Rồi đây, tôi sẽ trở về chiến đấu cho Tổ quốc tôi, cũng giống như cô đang chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam. Hình ảnh cô mãi mãi ngự trị trong trái tim tôi. Sau này tôi sẽ nên người một khi đất nước tôi được hoàn toàn giải phóng. Tôi nhất quyết xin trở lại đây để được gặp cô và xin Chính phủ Việt Nam được đón cô về. Tôi tha thiết hy vọng ngày ấy cũng không quá lâu và cô cũng chưa quên kẻ bất hạnh nhưng hết sức trung thành với cô. Môhamét Benla * * * Cuộc gặp gỡ quốc tế của chúng tôi tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết thúc. Chúng tôi bay ra Hà Nội, trái tim đất nước. Sau mấy ngày hoạt động thăm viếng, hôm nay, tôi lại được cùng các bạn đồng nghiệp tiễn những người bạn quốc tế về nước. Vì cương vị giao thiệp, tôi không được ngồi cùng xe với Ápđun Môhamét. Mãi đến sân bay Nội Bài, tôi mới lại được gặp anh. Chúng tôi uống cạn ly cà phê trên tầng hai của nhà ga sân bay, rồi không hẹn mà nên, hai chúng tôi cùng đứng dậy xuống cầu thang dạo quanh vườn cây mới trồng. Những hàng bạch đàn và trắc bạch điệp non tơ ướt đẫm sương mai, đung đưa thân hình gầy guộc, cố gắng tỏa ra một bóng mát nhỏ nhoi và nhân hậu đổ xuống nền xi măng lát lối đi. Gió sớm, thơm ngát mùi lúa chín và hương hoa đồng nội Chiếc Bôing 707 sừng sững trên sân đậu như tương phản với đàn trâu lưng bết bùn đất đang kéo những chiếc xe quệt ra đồng. - Thế là tình bạn của chúng ta đã được thử thách qua nửa đời người chứ không phải chỉ có mấy ngày. Anh có cho phép tôi nghĩ thế không? - Hoàn toàn đồng ý! - Tôi rất mừng là anh đã thực hiện xuất sắc lời hứa đối với Tổ quốc anh. Cũng như tôi, anh đã cầm súng chống kẻ xâm lược và sau đó đã phục vụ Tổ quốc theo khả năng phát triển của mình. Môhamét thân thiết ôm lấy vai tôi. Một nụ cười hóm hỉnh hiện trên khuôn mặt cương nghị của anh: - Bây giờ đã đến lúc tôi giới thiệu với anh về vợ con tôi. Hôm nọ anh có hỏi nhưng vì chuyện cũng dài nên thú thật tôi cũng định để đến lúc này mới nói với anh. Môhamét rút ví lấy ra một tấm ảnh cỡ 9x13 đưa cho tôi. Nhìn qua cũng thấy ngay ảnh của gia đình anh: anh mặc bộ âu phục đứng giữa, bên một thiếu phụ và hai bên là cậu con trai và cô con gái cũng đã lớn. Tôi khen xã giao: - Đẹp lắm! Nhưng Môhamét theo đuổi một ý nghĩ khác: - Anh nhìn kỹ nhà tôi xem. Tôi nhìn lại tấm ảnh. Người thiếu phụ uốn tóc cao, mặc áo xanh, váy trắng, nét mặt đầy đặn, xinh đẹp và thùy mị. Tôi mơ hồ thấy một gương mặt hơi quen. Bỗng tôi reo lên: - Cô Hồng phải không? Vẻ mặt Môhamét rạng rỡ hẳn lên: - Trí nhớ anh thật tuyệt vời! Chính cô ấy đấy! - Anh nói nhanh lên tôi nghe nào? Môhamét như trẻ lại mấy tuổi: - Ngày ấy, vào đến Sài Gòn là tôi đấu tranh đòi hồi hương. Về đến nước nhà, tôi tìm tham gia Mặt trận Giải phóng và chiến đấu với cương vị đại đội trưởng. Năm 57, sau khi nước tôi giành được độc lập, qua đường ngoại giao, tôi xin trở lại Việt Nam để tìm cô ấy. Nhà Hồng ở gần thị trấn Nho Quan. Hồng vẫn chưa lấy chồng. Khi tôi và một cán bộ của Bộ Ngoại giao Việt Nam tìm đến, cô ấy đã khóc và đưa cho xem bức thư tôi gửi anh ngày ấy. Tôi được phép Chính phủ Việt Nam đưa Hồng về nước. Bố mẹ cô ấy đã mất sớm, họ hàng cũng không còn ai. Thành ra, ngót ba mươi năm xa Tổ quốc, Hồng vẫn nhớ nước mà chưa về được. Thỉnh thoảng, cô ấy vẫn ôn lại kỷ niệm cũ cho các cháu nghe. Tôi hết sức cảm động, nhìn kỹ tấm ảnh và thầm liên tưởng lại quãng ngày gian khổ chúng tôi hành quân trên đường 41 và cảnh tượng đã xẩy ra tại cây số 42. Thấm thoắt mà đã ba chục năm trời! Môhamét cầm lấy tấm ảnh, rút bút ghi mấy chữ nắn nót ở mặt sau rồi đưa cho tôi: - Xin tặng anh tấm ảnh này với tất cả ý nghĩa của nó. Sang bên ấy, Hồng có thêm tên là Rôdơ Mari. Hai cháu cũng có tên Việt Nam, cháu trai tên là Hùng Cường, còn cháu gái là Ái Việt... Tôi chỉ nắm chặt tay anh không nói rồi trân trọng cất tấm ảnh vào chiếc ví trên túi ngực. Tôi tiễn anh đến tận chân cầu thang máy bay. Anh ôm hôn tôi thắm thiết nhiều lần, rồi trước con mắt ngạc nhiên của các bạn quốc tế và trong nước, anh bỗng đứng nghiêm giơ tay lên vành mũ, giọng trang nghiêm: - Merci bien mono commandant!(1) -------------------------------------------------------------------------------- (1) Ngài thiếu tá. (1) Lạy chúa! (2) Cám ơn! Rất cảm ơn thầy cai. (1) Ông đại uý. (2) Hết chiến tranh rồi! (1) Ngài đại uý. (1) Tài năng chẳng cần phải đợi chờ năm tháng. (1) Bi kịch cổ điển của Coócnây (1606 - 1684). (1) Lính gác. (1) Cảm ơn! Rất cảm ơn các bạn. (1) Chấm dứt chiến tranh! (2) Hồi hương. (1) Rất cám ơn ngài thiếu tá! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 07 Tháng Năm, 2008, 07:21:15 pm THỜI GIAN LẶNG LẼ Khoảng 10 giờ sáng ngày mồng 4 Tết âm lịch năm 1972 Cả khu vực xóm Trại, nơi đóng quân của đại đội 4, tiểu đoàn 10 râm ran chuyện không hay; một cô gái đến chơi với người của đơn vị, đã bỏ đi để lại một đứa bé còn đỏ hỏn, dễ chừng mới được vài tháng tuổi... Cả đại đội rối tinh rối xòe. Cán bộ nháo nhào, chiến sĩ thì chạy xuôi chạy ngược. Người có liên quan trực tiếp là binh nhất Nguyễn Ngọc Phú, nguyên sinh viên Đại học Sư phạm II, tiểu đội trưởng tiểu đội 5, trung đội 2 được gọi lên và bị các thủ trưởng thẩm vấn liên tục. Truyện ngắn. DƯƠNG TỬ GIANG Cái vẻ đẹp trai thong dong thường ngày như biến đâu mất. Mái tóc đen mượt rối bời, mướt mồ hôi trán, trông bơ phờ mệt mỏi mà vẫn còn ngơ ngác, kể chuyện mà vẫn không hiểu sự tình nó là thế nào. Câu chuyện được kể lại lỗm bỗm, không biết đâu là đầu đâu là cuối. Đại để như Phú nói: Cô ta là bạn học từ hồi phổ thông, cũng có quan hệ với nhau từ hồi nghỉ hè. Bẵng đi thế rồi sáng nay cô ta bế đứa bé đến, cứ khăng khăng nói là con anh. Em cứ tưởng nói đùa, đang ngồi nói chuyện bình thường thấy cô ta đặt đứa bé ra phản, nói là để cho nó ngủ yên rồi bảo ra ngoài xem cảnh núi đồi, cũng chủ quan không tìm ngay... Khuôn mặt rầu rĩ, giọng nói của Phú khổ sở quá: "Các thủ trưởng bảo em phải làm gì bây giờ?". Kế hoạch lùng sục, tìm kiếm cô gái được triển khai tắp lự. Những là ra ga gần nhất, rồi hai ga trên và dưới. Những là đường cô ta quay lại, thậm chí cả lối đi xuôi nếu cô ta nghi binh. Những là vào từng nhà dân, chú ý cả những ao hồ, hàng quán ven đường. Bữa cơm trưa được ăn vội vàng, toàn bộ trung đội 2 được huy động. Từng tốp 3 người được quán triệt, dặn dò kỹ càng. Lúc đi căng thẳng, hăm hở bao nhiêu, vài tiếng sau khi trở về thì đều rã rời, chán trường bấy nhiêu. Ai cũng thuộc lòng hình dáng, khuôn mặt, trang phục, thậm chí kiểu dép cô ta đi, thế mà tất thảy đều chịu thất bại, không hoàn thành nhiệm vụ. Lúc 3 giờ 15, thấy toán cuối cùng về cũng lắc đầu, đại đội trưởng dậm chân bành bạch rồi nghiến răng ken két: - Không lẽ cô ta độn thổ? Từ lúc cô gái bỏ đi , việc bế ẵm đứa bé được giao cho binh nhì Nguyễn Thị Hạnh, chiến sĩ gái tiểu đội nuôi quân. Đứa bé khóc ngặt nghẽo, không biết nó muốn gì, đòi gì. Chỉ thấy binh nhì Hạnh vã mồ hôi, bơ phờ không kém binh nhất Phú. Đến 4 giờ 5 phút chiều, sau khi bàn bạc hội ý mãi, chỉ huy đại đội thấy chỉ còn mỗi cách là bế đứa bé lên tiểu đoàn, xin hướng giải quyết. Mệnh lệnh lập tức được thi hành, chính trị viên đại đội cùng Phú và Hạnh bế đứa bé lốc thốc lên đường. Tình huống hi hữu này cũng làm cho chỉ huy tiểu đoàn lúng túng không kém, chắc trong đời binh nghiệp của các anh chưa bao giờ gặp phải. Vấn đề xem chừng khó giải quyết. Tiểu đoàn trưởng đỏ mặt tía tai khi nhìn qua đứa bé: - Lính với tráng, tí tuổi đầu đã nhăng nhít. Cậu phải tìm bằng được và trao trả đứa bé này cho cô ta rõ chưa! Chính trị viên tiểu đoàn thì ôn tồn: - Em có biết nhà cô ta chứ gì? Được rồi, vấn đề là phải làm tốt công tác tư tưởng, phải quán triệt cho gia đình cũng như cô ta hiểu rõ tình hình. Chúng ta còn rất nhiều việc hệ trọng phải làm, chúng tôi cũng tin là gia đình và cô ta sẽ thấy được vấn đề để nhận lại cháu bé. Liên quan của em đến đâu và mức độ ra sao thì sẽ giải quyết từng bước. Còn tham mưu trưởng lại trầm ngâm: - Nhưng nếu như tìm đến nhà mà họ không nhận và cũng giả định là cô gái không có ở đấy, chưa về hoặc đã bỏ đi chỗ khác thì sao đây? Mọi vấn đề được lật đi lật lại, các tình huống được giả định và các phương án khắc phục được nêu ra. Cuộc hội ý rồi cũng đi đến hồi kết thúc. Văn thư tiểu đoàn khua máy chữ rào rào, văn bản đưa ra tới tấp, riêng Hạnh được nhận hai tờ giấy có cùng nội dung được đóng dấu đỏ chói: Đơn vị M ngày... tháng 2 năm 1972 Kính gửi: ủy ban hành chính xã Bạch Đằng Cháu bé đây không phải là con của quân nhân Nguyễn Thị Hạnh. Do những khó khăn mà đơn vị chưa thể khắc phục được, nếu gia đình đồng chí Hạnh rộng lượng, vui lòng tiếp nhận và nuôi dưỡng cháu thì đơn vị hết sức hoan nghênh và cũng mong ủy ban hành chính xã tạo mọi điều kiện cho gia đình trong việc nuôi dưỡng chăm sóc cháu. Đơn vị xin biết ơn gia đình, ủy ban hành chính xã và xin gửi lời chào quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. T/M. Đơn vị, Tiểu đoàn trưởng: Thượng úy Đỗ Văn Huynh Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 07 Tháng Năm, 2008, 07:21:43 pm THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp) Những người chờ và đi trên chuyến tàu chợ lúc 7 giờ 45 phút tối hôm 4 tết năm ấy từ Thanh Hóa ra Hà Nội hẳn chưa quên cảnh một đôi trai gái mặc quân phục nhưng mặt mũi còn non choẹt, bế theo một đứa bé, tất tưởi chen lên tàu. Anh chàng trông cao ráo lắm, đẹp giai nhưng thái độ gượng gạo, có vẻ thất thế, đeo hai ba lô cái trước cái sau, đi trước mở lối. Cô gái không đẹp, dáng người đẫy đà, bộ quân phục có vẻ hơi chật so với vóc dáng tràn đầy sinh lực của cô. Nét mặt hiền lành, thái độ bình tĩnh, cô gái chậm rãi đặt từng bước chân. Có vẻ như cô vừa sợ ngã, cũng như sợ ai đó vô tình bất cẩn, động vào đứa bé. Cả hai không ai nói với ai câu nào, và từ lúc ở sân ga cũng như khi lên tàu, đôi trai gái nhẫn nhịn, chịu đựng những cái nhìn đầy ẩn ý của mọi người. Tàu chạy được một đoạn, đứa bé ậm ẹo khóc. Rồi nó khóc to hơn. Bà khách sồn sồn ngồi dựa lưng vào ghế của đôi trai gái nói vọng sang: - Nó đói đấy. Anh chàng lóng cóng lôi ra cái bát sắt quân dụng, rồi bi đông nước, rồi đường, rồi sữa, rồi lập cập pha pha quấy quấy. Thằng bé vẫn nhắm nghiền mắt, chóp chép uống được vài thìa, rồi nó nghẹo đầu ngủ. Im lặng chỉ được mươi phút. Thằng bé lại khóc và lần này thì nó khóc to hơn, lâu hơn. Nghe mà sốt ruột quá. Bà khách sồn sồn nghển cả người lên thành ghế, càu cạu nhìn cô gái rồi càu nhàu: - Rõ chẳng ai như nhà chị này, con khóc như thế mà cấm chịu vạch áo cho nó bú. Không có sữa thì cứ cho nó ngậm. Tí tởn lắm vào, giờ còn xấu hổ nỗi gì. Cô gái thở dài, bặm môi quay mặt đi. Cô gái ấy chính là Hạnh. Hạnh chẳng hé răng đến nửa lời, cô chỉ thấy mệt và đói, đúng rồi, suốt từ trưa đến giờ, Hạnh đã ăn uống gì đâu. Khi trưa, nghe chị em kháo nhau, thế là cô chạy sang. Khi thấy thằng bé nằm chỏng chơ ở phản, khóc oe oe, chủ nhà cũng không có ai, thế là cô bế thằng bé lên. Lúc đầu thì cô cũng thấy ngột và khó chịu lắm vì thằng bé cứ rúc đầu vào ngực cô. Sau cô cũng thấy bình thường, quen quen đi rồi chỉ thấy thương nó. Da nó đỏ hồng, những mạch máu li ti, mầu xanh, mỏng manh và yếu ớt. Môi nó bé xíu, nhỏ như hai cánh hoa hồng. Hai mắt nhắm nghiền, trông nó tội nghiệp, giống như con chuột đồng mới đẻ: Người ta bảo những đứa bé trông đỏ đắn như thế này, khi lớn lên sẽ trắng trẻo xinh xắn lắm, chẳng biết có đúng thế không. Mà sao mẹ nó bạc ác, nhẫn tâm đến thế. Những ý nghĩ ấy cứ miên man, lộn xộn trong đầu Hạnh. Cho đến khi bảo là phải bế nó lên tiểu đoàn, Hạnh có ý nghĩ là muốn bế nó thêm một lúc nữa. Thế là Hạnh xung phong. Lên đến Tiểu đoàn, khi chờ các thủ trưởng hội ý, rồi lại nghe nói phải bế thằng bé đi tàu ra Hà Nội, tự dưng Hạnh lại thấy ái ngại thay cho Phú. Chứ còn sao nữa, cả một đoạn đường trường như thế, anh ta sẽ xoay xở ra làm sao. Hơn nữa cô cũng lờ mờ cảm thấy là thằng bé có vẻ bén hơi cô. Thế là Hạnh lại xung phong. Bây giờ, khi đã ở trên tàu, Hạnh không hề ân hận một tí nào về việc đã bế thằng bé. Cô chỉ thấy mệt và đói. Tàu chợ, ì ạch như rùa leo dốc, lại người lên người xuống, í ới gọi nhau, ồn ào chen lấn. Hơi người nồng nặc, ngột ngạt quá. Thằng bé ngủ không yên, nó cứ giật mình thon thót và khóc liên tục. Có lúc tiếng khóc của nó như tắc đi, nghẹn lại, nó nấc từng hồi, còn mắt thì vẫn nhắm nghiền. Hạnh thấy xót xa trong lòng, đã mấy lần cô trào nước mắt nhưng vì tối quá nên không ai nhận thấy. Bụng dạ Hạnh rối bời. Lúc thì cô muốn tàu chạy nhanh, về là tìm được và trao ngay thằng bé cho mẹ nó, để nó khỏi mệt. Nhưng chỉ lát sau thì cô lại mong ngược lại, rằng tàu chạy thế này cũng chẳng sao, cứ như thế này mãi cũng được. Đấy, nó đã im và ngủ ngon lành rồi còn gì. Hạnh chẳng muốn xa thằng bé tí nào. Vừa chớm hình dung ra việc phải trao thằng bé cho mẹ nó, cô tự đập vào tay mình một cái, dứt khoát không nghĩ nữa. Và Hạnh ôm chặt thằng bé vào lòng. Bên cạnh anh chàng Phú đã say sưa ngủ từ lúc nào. Tang tảng sáng, tàu đến ga Hàng Cỏ. Phú đeo ba lô đi trước dẫn lối, còn Hạnh bế thằng bé, lếch thếch theo sau. Vòng vèo mấy dãy phố thì đến nhà cô gái, linh tính báo cho Hạnh biết là cô gái không có ở đây, điều đó cứ làm cô băn khoăn, không biết nên vui hay nên buồn. Phú luồn tay qua cái lỗ nhỏ sát tường của cái cổng sắt đã bắt đầu xệp xệ, thấy vang lên hai tiếng leng reng ngắn, rồi lại thấy Phú cúi xuống, di di mũi giày. Có tiếng loẹt xoẹt, rồi một người đàn bà gày gò mà Hạnh có cảm giác là ở bà ta cái gì cũng nhòn nhọn, bà ta cau có rút cái chốt then cổng. Khi nhận ra Phú, ánh mắt sắc lẹm của bà ta cụp xuống rất nhanh, bà ta cất giọng vồn vã nhưng nhạt thênh thếch: - Ô cậu Phú! Cái gì thế? - Cháu muốn hỏi: Tuyết có nhà không ạ? - Sao, anh vẫn còn hỏi nó cơ à? Nó không có ở đây. Hạnh thấy rõ ràng là bà ta sững người khi trông thấy cô bế thằng bé. Rồi bà ta nhẹ giọng: - Chào cô, là cũng mong cô thông cảm giúp. Bất tiện quá nhưng tôi cũng đã đến giờ đi làm. Mặt Phú tái đi, Phú ngắc ngứ bảo: - Cô ạ chuyện là thế này: Hôm qua Tuyết có vào đơn vị cháu... Mắt bà ta long lên, bà ta xoe xóe: - Nó cũng đến chỗ anh cơ à, thế thì con này hư thân mất nết quá rồi, vào đấy làm gì cho anh mất thì giờ. Mà này, nói thật cho anh biết nhé, gia đình tôi từ nó đã từ lâu rồi! Bỏ mặc Phú và Hạnh đứng ở chỗ nửa đường nửa sân như thế, bà ta ngoảnh người bước vội vào trong nhà, lại còn đóng mạnh cửa ra vào đánh rầm một cái, làm thằng bé giật nảy người. Một vài ánh mắt của những người chung quanh, rồi cũng cái nhìn na ná như thế của những người qua đường tò mò nhìn Hạnh và Phú, Hạnh thấy bối rối khó nghĩ quá. Rồi Hạnh lại thấy Phú cũng quay ngoắt người, lùi lùi bước. Thái độ yếm thế ấy của Phú làm Hạnh bực mình, Hạnh lật đật bước theo và hỏi khẽ: - Thế nào, đi đâu bây giờ? - Tôi phải quay lại nhà cô ta, tìm gặp bằng được mẹ cô ta rồi muốn ra sao thì ra. Thật là nhẫn tâm, thật là vô nhân đạo! Tất cả những điều được chứng kiến từ sáng làm cho Hạnh thấy buồn nản, Hạnh mệt mỏi bảo với Phú: - Vô ích thôi, anh không tìm thấy cô ta thì cãi vã với bà ấy phỏng có ích gì, bà ấy cố tình ruồng bỏ thằng bé rồi, anh có thấy như thế không? Trong lúc thay tã cho thằng bé, chợt nhớ đến hy vọng cuối cùng, Hạnh nói: - Anh thu xếp đi, về nhà tôi. Chị gái tôi cũng mới sinh cháu, may ra... Về đến làng vào lúc non trưa, vừa ở trên xe bước xuống, Hạnh đã xăm xăm rảo bước đi trước làm Phú cứ như phải chạy gằn theo sau. Trong lòng Hạnh vừa xốn xang, vừa rối bời. Đã ngót năm nay cô chưa được về làng, những cảnh vật quen thuộc loang loáng trước mặt, một vài người í éo gọi cô chỉ trỏ điều gì đó. Hạnh cứ gật đầu bừa mà xăm xăm bước vội. Thực tình thì Hạnh có nóng ruột, không biết chuyện này rồi được thu xếp thế nào. Tâm trí cô dồn hết vào thằng bé và cô thấy trách nhiệm đặt hết lên vai mình, thôi thì hãy biết thế đã. Thằng bé sắp được bú, đúng rồi thằng bé sắp được bú sữa của chị cô, điều ấy như thúc giục, làm cô bước nhanh hơn. Khỏi phải nói gia đình Hạnh ngạc nhiên đến mức nào và băn khoăn ra sao khi thấy Hạnh nói ra dự định của mình. Cô như đọc ra được những ánh mắt của mọi người và thấy lo lo, chột dạ khi chờ thầy mình xem giấy tờ. Mân mê mãi tờ giấy, lại mân mê đến cặp kính lão, rồi thầy Hạnh cũng nói khẽ khàng: - Dù sao cũng là việc phúc đến nhà. Cũng là vất vả lắm đấy, thôi thì cũng tùy ở mẹ Tâm cả thôi! Hạnh muốn nhảy lên khi nghe thấy bố nói ra điều ấy, cô cũng cảm thấy chị Tâm cũng thích thích thằng bé. Cơm nước xong xuôi thì họ lại lếch thếch kéo nhau lên ủy ban. Ông phó chủ tịch xã chậm rãi đọc tờ công văn của đơn vị rồi đưa mấy tờ giấy khai sinh cho Phú. Ông hỏi như bâng quơ: - Đặt tên nó là gì đấy. Nghĩ đến câu nói của bố lúc trưa, lại chưa thấy Phú nói gì, Hạnh lanh chanh: - Phúc ạ, Nguyễn Hồng Phúc, bác ạ. - Mắt anh tinh, anh viết đi rồi tôi ký. Khi Phú viết xong, vừa liếc qua ông đã xổ ra một tràng: - Chữ anh này đẹp ghê, đại học hả? Nhưng không được, không được rồi. Thằng bé phải có mẹ chứ? Phú tần ngần: - Bác ạ, cháu không muốn ghi tên người đàn bà bạc bẽo ấy vào đây một tí nào. Ông phó chủ tịch lắc đầu quầy quậy: - Không được. Tôi cũng không hiểu anh đại học ở cái chỗ nào. Tôi hỏi anh nhé: Anh đẻ ra nó bằng đường nào, bằng nách à? Mặt Phú như dài thuỗn ra, Phú chẳng nói được câu gì. Im lặng dễ đến hàng phút. Một ý nghĩ chợt đến, thế là Hạnh nói luôn: - Hay đề tên cháu hở bác? Phải rồi, anh đề tên tôi vào cũng được! Nói dứt lời, Hạnh lại đỏ mặt tưng bừng. Ông phó chủ tịch trân trân nhìn Hạnh. Rồi ông ngả người, cười khà khà: - Thôi thì tùy nhé! Mà này, bút sa gà chết đấy con ạ. Gà con thì sống, còn chẳng biết gà mẹ sau này đào bới ra sao? Lúc ấy, Hạnh chẳng bận tâm tý nào về ý tứ câu nói ấy của ông phó chủ tịch. Nhìn nét mặt như nhẹ đi của Phú, cô cúi xuống nhìn thằng Phúc đang hé mắt hấp háy, hình như là nó đang cười với cô. Còn Hạnh, cô chỉ nghĩ: - Gớm, anh tí con ạ, được bú đẫy có khác. Tối hôm ấy, Hạnh và Phú lại xuống ga, lên tàu quay trở về đơn vị. Cái ánh đèn bão lúc lắc, lúc lắc ở cuối đoàn tàu xa dần rồi mất hẳn. Hạnh nhìn ra ngoài: tối như mực. Con tàu lao vun vút trong đêm. Hạnh thấy mình lâng lâng, như nhẹ bỗng, nhưng rồi lại nặng trình trịch. Cô nhớ thằng Phúc, cô ứa nước mắt, buột miệng gọi: con ơi. Chừng như nhớ ra, cô giật mình quay sang: bên cạnh anh chàng Phú ôm ba lô, đã ngủ, say sưa từ lúc nào. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:26:36 pm THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp) Sẩm tối ngày 26-3-1972, lúc đại đội đi hội trại hết trên tiểu đoàn thì Hạnh nhận được thư chị Tâm. Chị Tâm viết: ... Mọi việc ở nhà vẫn bình thường. Còn thằng Phúc, lạy trời nói trộm vía thì nó cũng dễ nuôi đấy. Nó đã biết lẫy. Dưng mà, cả đường và sữa gửi về nhà nhiều quá. ăn thì lâu hết mà bán đi thì bất tiện. Mà các em cũng phải giữ lại để bồi dưỡng sức khỏe chứ. Còn việc này thì chị muốn nói riêng với dì là hôm đi, dì có đưa cho 12 đồng, mấy hôm sau lại thấy dững 35 đồng trong giấy khai sinh của thằng Phúc. Thế là của Phú rồi. Hôm nọ lại gửi về 7 đồng nữa, cho nên là lúc nào, dì cũng phải lựa lời mà nói với chú ấy. Chị cứ nghĩ nếu như chị đẻ sinh đôi, thêm thằng Phúc thì cũng đến vậy mà thôi... Nói vào lúc nào nhỉ, mà lựa lời là thế nào? Hạnh thấy bí quá và băn khoăn cho đến tận lúc ngủ. Thời gian lặng lẽ trôi đi... Ngày 2-9-1975, trung sĩ quân y Nguyễn Thị Hạnh được Bệnh viện huyện tiếp nhận vào làm việc. Vai đeo ba lô, tay xách hai con búp bê có những cái mắt nhấp nháy, khi vừa xuống tàu và đặt bước chân đầu tiên xuống sân ga, Hạnh khẽ reo lên: thế là xong. Trong lòng cô, đâu đó như có tiếng hát ngân nga. Cô sắp được gặp lại cha mình, gặp lại chị, gặp lại quê hương. Cô không đi đâu xa nữa, cô luôn được ở gần họ và một điều làm Hạnh thích thú lắm, ấy là được gặp lại thằng Phúc. Chắc nó cũng lớn chứ nhỉ, đã gần bốn năm rồi còn gì. Bước chân vào cổng, Hạnh thấy chị Tâm đang sàng gạo, còn hai đứa bé đang chơi đùa gì đó. Hạnh nhận ngay ra thằng Phúc, nó e dè nhìn Hạnh. Chị Tâm cười cười: - Các con chào dì đi. à, Phúc thì phải chào mẹ, mẹ Hạnh vẫn viết thư về cho con đấy. ôi chào, búp bê đẹp chưa này. Chào mẹ đi. Thằng Phúc vẫn ngập ngừng, nói ấp úng câu gì đó rồi lảng ra sau lưng chị Tâm. Hạnh buông ba lô, cô bước lại rồi xoa đầu nó: - Ừ, dì cũng được. Hôm nay thì tha, nhưng mai phải gọi là mẹ. Dì mới thực là mẹ, mẹ đẻ ra con đấy. Rồi Hạnh bật cười rũ rượi, chị Tâm nắc nẻ cười theo làm hai đứa trẻ cứ ngơ ngác mãi. Đêm hôm ấy, Hạnh thấy khó ngủ quá. Lẽ ra phải ngược lại mới đúng chứ. Cô nhủ thầm như thế rồi tự đoán, chắc là vì lạ nhà, hoặc lúc tối phải uống một hai chén trà đặc khi tiếp mọi người đến chơi. Lúc sắp đi ngủ, Hạnh phải dỗ dành mãi, rồi chị Tâm cũng phải quát lên nữa, thằng Phúc mới phụng phịu, lên chõng nằm cạnh Hạnh. Thấy nó cứ vật vã, sì sục Hạnh nghĩ là có thể nó lạ nên phải vỗ về nó mãi. Rồi cô nghĩ đến việc những người mẹ hay ru con. Thế là cô cũng đọc lên khe khẽ những bài hát, câu ca từ đời nảo đời nào, mãi như thế thành thử Hạnh lại thiu thiu ngủ trước. Giấc ngủ có vẻ êm đềm, đang đến một cách chậm chạp khó khăn, bỗng Hạnh giật bắn người, có cái gì đó lờ quờ, mơn man trên ngực cô. Hiểu ra là tay thằng Phúc, Hạnh thở phào. Cô kéo lại áo rồi mắng nó: - Làm thế là xấu, ngủ đi. Thằng Phúc không chịu, có lẽ nó cũng mới gà gà ngủ. Rồi nó nhì nhèo bật khóc ti tỉ, đòi vào với mẹ Tâm. Đêm đã khuya lắm, Hạnh phải nghiêm giọng: - Nín ngay, mẹ đánh đòn bây giờ. Lời dọa của Hạnh chẳng có tí hiệu lực nào, thằng Phúc cứ nhì nhèo, ghét thế không biết. Gian bên, chị Tâm cũng đã tỉnh giấc. Vừa nghe giọng chị Tâm, thằng Phúc đã lồm cồm ngồi dậy, dỏng tai chờ đợi. Thấy chị Tâm bảo: - Xin lỗi mẹ đi. Nhưng chỉ đợi có thế, thằng Phúc ngắc ngứ câu gì, rồi vén màn chạy tót đi làm Hạnh cứ buồn cười mãi. Nghỉ ở nhà nửa tháng thì Hạnh đi nhận việc. Cô được bố trí một phòng riêng 15 m2 trong khu tập thể của bệnh viện. Trong phòng có một cái giường cá nhân bằng sắt sơn xanh hòa bình đã chớm rỉ , một cái tủ gỗ mỏng dính, quét sơn mầu trắng nham nhở, có chiều cao bằng chiều rộng của cái giường. Không sao, thế là quá hạnh phúc, quá thừa thãi so với khi nằm võng ở rừng. Hạnh nghĩ thế lúc kê lại cái tủ đã ọc ạch, có tiếng mọt cọt kẹt đâu đó. Những ngày này với Hạnh mới dễ chịu làm sao. Nắng như không gay gắt mấy còn mưa dầm gió bấc hình như cũng ít hơn thì phải. Đi đâu cũng ríu rít hai mẹ con, đồng nghiệp hàng xóm thì quen rồi, chứ bạn bè xưa ít gặp thì chắc lạ lẫm và ngạc nhiên lắm. Hạnh luôn nhớ đến ơn của bố cô, đến công sức quá vất vả của chị Tâm. Này nhé, Hạnh không phải mang nặng đẻ đau, không phải gánh một tí điều tiếng gì, không bú mớm nâng giấc, thuốc thang sài đẹn cũng không nốt, ấy vậy mà bây giờ, cái thằng Phúc trông như trong tranh, lúc nào cũng bi bô gọi cô là mẹ. Còn muốn đòi gì và còn gì hơn thế nữa. Cô ngồi trông nó xúc cơm ngon lành thì chỉ muốn nó ăn thêm bát nữa. Với Hạnh thế nào cũng xong, bo bo, bột mỳ hay ngô tẻ già luộc thì cũng như nhau cả thôi, mà cô còn nhịn ăn, có lúc bỏ bữa đấy. Hình như Hạnh có béo lên, quần áo cứ chật dần. Cũng chẳng sao, miễn là đừng ốm đau, mệt mỏi gì là được. Nhưng Phú chẳng có tin tức thư từ gì cả. Sao thế nhỉ, hòa bình đã mấy năm rồi, bao nhiêu người đã nườm nượp trở về, chí ít thì tin tức cũng đã rõ ràng. Hay là anh ta đã, không, chắc không việc gì đâu, mình thật vớ vẩn. Chỉ cần Phú đã trở về, nhớ đến Hạnh hay không thì tùy, miễn là trông thấy thằng Phúc là được, trông nó, Phú phải thích lắm nhỉ? Đôi lúc Hạnh cứ nghĩ miên man, vẩn vơ như thế và cô cũng phải tự thú nhận là hồi này cô hay nghĩ và nhớ đến Phú rất nhiều. Có lần, đã lâu lắm, cô mơ thấy Phú nhưng máu me đầy mình và có mùi hôi khó chịu lắm, nhưng chỉ thoảng qua thôi và cô tỉnh ngay được. Còn lần sau, đấy là một trưa chủ nhật, cả hai mẹ con cùng đi ngủ. Giấc ngủ êm đềm đến thật nhẹ nhàng. Hạnh thấy mình đang đi lên một quả đồi, chung quanh toàn hoa sim, mát mẻ và vắng lặng lắm. Bất ngờ, Phú ở trên đồi chạy xuống quần áo mới tinh, hàm răng trắng bóng. Phú ôm chầm lấy Hạnh nhấc bổng cô lên rồi lại đặt cô xuống. Hạnh như lịm đi, cô kêu lên: "Ôi, anh ơi!", nhưng cô lại cuống quít, hình như không phải Phú, đấy là khuôn mặt của ông bảo vệ bệnh viện... Không được, cứu, cứu tôi với, mà sao vắng lặng thế này. Tiếng kẹt cửa làm Hạnh tỉnh giấc. Hạnh dụi mắt và tự cấu vào mình, thì ra là Hạnh vừa mơ. Nhưng máu vẫn rần rật và người cô vẫn còn bừng bừng. Thằng Phúc hỏi: - Mẹ gọi gì đấy. Hiểu ra thằng Phúc đã không ngủ, trốn mẹ đi chơi, Hạnh thấy tức nó. Cô mắng nó xơi xơi: - Gọi gì à, làm sao mà không ngủ. Đi đâu về nhễ nhại thế này. Quần áo nữa kìa, bẩn quá đi thôi. Phúc, tự úp mặt vào tường đi. Thằng Phúc nhích nhắc đi vào tường, len lét quay đầu nhìn mẹ. Chắc nó cũng ngạc nhiên lắm khi nhìn thấy mẹ nó. Người đang ngồi trên giường kia, tóc tai rã rợi, mặt mũi sưng sỉa đỏ như phát ban, lại đang gầm gừ quát tháo, có lẽ không phải mẹ nó. Chừng như Hạnh cũng nhận ra một điều gì quá đáng ở mình. Cô im bặt và lặng lẽ soi gương. Cô giật mình khi thấy mình lạ đến thế. Gớm ghiếc làm sao. Rồi Hạnh cũng tĩnh trí lại được. Cô ôm chầm thằng Phúc vào lòng, nhẹ nhàng xoa đầu nó và không nói một câu nào nữa. Nhưng suốt cả chiều hôm ấy, Hạnh như người khác. Người cô cứ nóng ran,mụ mị và mê muội đi. Trong cơn mộng du và nỗi thèm khát dai dẳng, Hạnh tự hành hạ mình, với một cái cuốc và một đôi quang gánh, cô thay toàn bộ lớp đất trên mặt của 12 m2 đất được chia để trồng rau. Chẳng nhớ là bao nhiêu gánh, gánh đất cũ đi và gánh đất mới về. Ai hỏi, Hạnh bảo đất này bạc màu rồi. Đêm về, nỗi ám ánh ấy vẫn không buông tha cho Hạnh. Cô không tài nào ngủ được. Hạnh giở thư của Phú, chỉ có hai lá thôi mà cũ lắm rồi, cô đã thuộc lòng. Hạnh thoáng thấy lo lo khi mân mê cái khăn mặt mà Phú quàng lên cổ cô hôm nào. Rồi Hạnh lấy diêm và một tờ báo. Hạnh đốt tờ báo và hơ cái khăn lên đó. Tờ báo cháy lem lém. Người ta bảo làm như thế này là người đi xa phải nóng ruột. Chẳng biết có đúng không? Ngày 15-8-1978. Hạnh đi xin cho thằng Phúc vào học lớp 1, trường của thị trấn. Người ta yêu cầu phải có giấy khai sinh và hộ khẩu, kèo nèo mãi thì người ta cũng nhận. Lý do phải nói khó là vì thằng Phúc chưa có hộ khẩu ở thị trấn. Người ta trách cô, sao mà bất cẩn quá, sao mà không nhập hộ khẩu cho thằng Phúc. Hạnh cũng không ngờ cái chuyện giấy tờ hành chính lại lôi thôi, nhiêu khê đến thế. Cũng không nên trách cô, thực ra Hạnh đã chủ tâm bởi cô tính rằng cứ để việc thằng Phúc đấy, đợi Phú về hãy hay. Cô chẳng muốn nói ra vì chính cô cũng thiệt thòi nhiều khi mấy năm không làm hộ khẩu cho thằng Phúc theo mình. Đã mấy lần có mấy người nhắc, cô chỉ ậm ừ. Là bởi vì cô đã tính thế. Nhưng đến nước này thì không thể được nữa rồi, phải làm hộ khẩu cho thằng Phúc thôi. Biết khi nào Phú mới về. Nộp đơn và giấy khai sinh hôm trước thì chiều hôm sau Hạnh được mời lên phòng tổ chức hành chính để làm việc. Bình thản ngồi xuống ghế, Hạnh lặng lẽ nhìn người cán bộ phụ trách việc quản lý theo dõi hồ sơ. Có lẽ anh ta chưa đến 40 tuổi, quần áo phẳng phiu, da trắng bệch, cặp mắt bé tí như hai vết rạch tiểu phẫu trên khuôn mặt bèn bẹt. Tóc lưa thưa, mươi sợi dài thõng thượt, cố che lấy cái trán đã hói trơn lên tận đỉnh. Hôm nay, Hạnh mới nhìn rõ mặt anh ta, chẳng biết ai rỗi hơi nói là anh ta mê Hạnh. Mình thì có đẹp gì nhưng anh ta thì rõ là đồ trai hoi. Nghe nói con gái anh ta cũng đã lớn lắm và anh ta đang chê vợ già, quê đâu xã dưới thì phải. Hạnh chẳng thấy ưa anh ta tí nào. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:27:39 pm THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp) Anh ta rót nước, cất giọng điệu đà và mềm như bún: - Uống nước đi em, thế bao giờ cho các anh ăn cỗ đấy nhỉ? - Chưa, có lẽ cũng còn lâu đấy - Hạnh đáp qua loa cho xong chuyện. Cái giọng mềm oặt ấy vẫn không tha, hình như nghe lại thẽ thọt hơn: - Lâu là đến bao giờ, anh ấy đang làm gì, chức vụ thế nào, công tác ở đâu? Hạnh xẵng giọng: - Làm gì, ở đâu, dễ thường tôi phải khai với anh à? Im lặng. Khuôn mặt bèn bẹt ấy không hề biến sắc. Anh ta nhếch một cái cười, tợp một ngụm nước. Rồi anh ta rướn người, nghiêm mặt: - Xin lỗi, có những việc tổ chức phải được biết và nắm rõ. Đồng chí Hạnh chưa lập gia đình có đúng không? - Anh xem lý lịch thì rõ. - Có nghĩa là chưa kết hôn. Vậy cháu Phúc là con ngoài giá thú? Hạnh ớ người, cô chẳng biết trả lời thế nào. Anh ta lại dồn tiếp: - Tại sao đồng chí không ghi vào lý lịch. Anh ta đắc thắng, kẻ cả chìa mấy bản lý lịch mới toanh: - Yêu cầu đồng chí ghi rõ và bổ sung lý lịch. Ngày hôm nay là... Chẳng phải nghĩ ngợi gì, Hạnh ngoáy ngoáy trên mấy tờ lý lịch ấy. Mà việc gì phải nghĩ ngợi, việc làm rõ như ban ngày, trước chưa khai thì bây giờ khai, đã sao đâu nào. - Hết rồi à. Hạnh chẳng buồn đáp, buông cái bút đánh cạch xuống bàn. - Chiến tranh, thời chiến mà? Biết vậy, cũng không ngờ nhỉ - Cái giọng mềm oặt ấy lại nhẽo nhợt. Hạnh thấy bừng bừng trong người, cô đứng phắt dậy: - Anh không được nhắc đến thời chiến, biết vậy thì anh làm gì nào. Này, nói cho anh biết nhé: Anh có mắt cũng như không. Cái mặt mỏng dính ấy càng bẹt thêm ra, anh ta cũng chồm lên rồi the thé: - Cô nói bé thôi, quát ai đấy. Tôi cảnh cáo cô về hai tội: thiếu trung thực với Đảng và lăng mạ cán bộ. Làm gì à, rồi cô khắc biết. Hừ, trông thế mà lẳng lơ! Hạnh đập bàn đánh rầm: - Lẳng lơ à, thì đã sao? Còn hơn khối kẻ rúc nách vợ! Đùng đùng bỏ ra ngoài, Hạnh vẫn còn thấy gai cả người. Cô chẳng sợ gì cả, nhưng cô thấy buồn quá. Buồn cho chính mình, mà hôm nay làm sao mình lại ngoa ngoắt như thế. Buồn cho sự đời nhiêu khê và phức tạp, chuyện của cô đơn giản, khác nào một cộng một bằng hai, vậy mà nhiều người vẫn chẳng tìm hiểu cho ra ngọn ngành, đưa cô vào thế bí, lại còn buộc tội cô nữa. Cả chiều hôm ấy, Hạnh thấy chán ngơ chán ngắt, cô chẳng tập trung đầu óc tí nào. Đã vậy, chiều tối về nhà, thầy Hạnh lại nhắc đến chuyện riêng của cô làm cô càng sốt ruột. Cô ngồi đầu hè tựa lưng vào cột, lặng lẽ nhìn bầu trời cao rộng mà thấy rối bời. Trăng chưa lên. Bầu trời chi chít những sao là sao, lặng lẽ và nhấp nháy. To rộng thế nhưng xem ra lại mạch lạc chứ không lộn xộn, rối mù như trong đầu cô. Thực ra Hạnh cũng thấy núng thế lắm rồi. Cô cũng biết mình rõ lắm chứ! Bao nhiêu gương mặt của những người đàn ông như chập chờn trước mặt. Anh Tứ thầy giáo cấp 3 nhé, anh Vân công an huyện. Rồi cả anh Bảo mới lên phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp nữa chứ. Toàn là những người đàng hoàng cả và họ cũng đều thực lòng với cô đấy thôi. Nhưng cứ nghĩ đến chuyện phải yêu ai thôi là cô lại thấy ngài ngại. Cô nghĩ đến hình ảnh thằng Phúc nằm chỏng trơ ở phản năm nào. Có khác nào cô là người bỏ rơi nó. Rồi với Phú nữa, nghĩ đến người khác tức là không chung thủy với Phú. Nhưng đã có gì với nhau đâu. Mà như thế thì đáng gọi là gì nhỉ? Phải, hôm ấy, trời cũng đầy sao thế này, có điều oi bức hơn thôi. Suốt từ trưa, cả tiểu đội Hạnh quần quật với những chuyện chia bôi gạo, cá khô, mắm ruốc. Rồi còn nắm cơm cho hơn trăm con người. Lúc sẩm tối, Phú có đến tìm thì Hạnh vẫn nói tưng tửng: - Vâng! Thế anh đi mạnh khỏe nhé. Rồi Hạnh lại cắm cúi với công việc. Thấy Phú cứ loanh quanh rồi lật đật chạy đi, Hạnh bỗng thấy bứt rứt: Dù sao thì anh ta cũng sắp đi xa, vào nơi hòn tên mũi đạn chứ có phải chuyện chơi, lành dữ đã biết thế nào, rồi cô lại nhớ đến thằng Phúc. Thôi thế là bố nó phải đi xa thật rồi. Chẳng gì thì cũng có chuyện liên quan đến thằng bé... Hạnh chưa biết làm gì thì tiếng còi tập trung đã cất lên lanh lảnh, nghe đanh từng hồi dài. Trong bóng tối oi bức của một ngày đầu hè, những ánh đèn pin loang loáng, những tiếng gọi í ới, thúc giục, nhắc nhở nhau. Rồi chỉ loáng sau, từ các ngõ xóm, hơn trăm con người, lặc lè ba lô, lỉnh kỉnh súng ống, lầm lũi trong bóng tối, nối nhau ra tập trung ở sân kho, trước cửa bếp nuôi quân của Hạnh. Vịn tay vào cây cột, Hạnh căng mắt. Là Hạnh có ý tìm Phú, nhưng trông ai cũng giống nhau quá, mũ cối sùm sụp thế này. A, nhưng tiểu đội trưởng thì thường đi đầu đấy. Mới được có ba hàng, Phú đâu nhỉ? Hạnh đang căng mắt thì Phú lại đến ngay cạnh làm cô kêu ớ lên một tiếng. Dưới vành mũ cối, Hạnh thấy hàm răng Phú trắng lấp lóa: - Tôi đi đây, chào Hạnh lần nữa nhé! Hạnh thấy mình run run. Cô đang cố tự chủ, định nói câu gì cho thật tình cảm nhưng đúng mực. Nhưng lạ quá, đầu óc như biến đâu mất cả mà khuôn mặt với hàm răng trắng lóa của Phú cũng như mờ đi. Ô hay, mình khóc à. Hạnh thấy tay Phú cũng run run khi nắm tay cô. Khuôn mặt hai người gần nhau lắm. Đột ngột, Phú kéo khuôn mặt cô rồi hôn lên tới tấp. Hạnh thấy rụng rời cả chân tay, cô chưa biết phản ứng thế nào thì bàn tay Phú đã xoa rất dịu dàng lên khuôn mặt cô, rồi lại ở phía sau trên thắt lưng. Hạnh chẳng biết làm gì cả, cô không kịp kêu. Hình như Hạnh có dướn người lên. Việc ấy chỉ xảy ra trong mươi giây, Phú nói nghẹn ngào quá: - Anh đi, em ở lại nhớ giữ gìn sức khỏe. Nhất định anh sẽ về với em, với con. Người Hạnh run như phải cảm. Cô không nói được câu gì rành rẽ. Nước mắt khiến cô tắc nghẹn. Phú cởi khăn của mình lau cho cô rồi quàng lên cổ Hạnh. Tiếng chỉ huy dõng dạc: Đại đội tập hợp. Tất cả chỉ có vậy, thế là Phú đi, đi mãi. Nhớ tới chuyện cũ hôm nào, Hạnh thấy trong người bừng bừng. Cô chạy ra giếng, rồi cứ nguyên cả quần áo như thế múc nước dội ào ào. Tiếng thùng va vào thành giếng loảng xoảng trong đêm khuya. Lời bàn của những người ngoài cuộc. Tôi, phó ban bảo vệ một công trường trọng điểm biết được câu chuyện trên một cách hết sức tình cờ. Cậu nhân viên dưới quyền đưa cho tôi một quyển sổ bìa bọc nhựa đen đã cong queo, một cái gương soi bé xíu đã mờ và một khăn mặt mầu cỏ úa đã cứng quèo. Cậu ấy nói nhặt được mấy thứ trên tại bãi cỏ hoang, cạnh hàng rào của công trường mà chúng tôi đang thi công. Cậu ấy phán đoán: có thể những thứ này là vật chứng còn lại của một vụ trộm nào đó mà bọn bất lương đã bỏ lại. Bởi ban bảo vệ chúng tôi đang giữ những thứ ấy nên tôi đã thông báo, ai là chủ nhân của chúng xin liên hệ theo số máy: - Trong giờ: 04. 864196. Hoặc ngoài giờ: 04.862.408. Sở dĩ tôi phải nói vậy là vì trong cuốn sổ ấy không thấy đề quê hương địa chỉ gì cả. Trang đầu chỉ ghi Nguyễn Thị Hạnh, hòm thư 705161 JC..., mấy số sau ở sát mép trang bị quăn, số lại mờ nên không đọc được. Trang tiếp theo chép những câu danh ngôn, chẳng hạn câu đầu tiên là: "Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó, thép trở nên cứng rắn và không hề biết sợ". Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:29:18 pm THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp) Những trang tiếp theo chép những bài hát, được ưa thích một thời như: Đường cày đảm đang, Tiếng hát trên Đường 9 chiến thắng, Câu hò trên bến Hiền Lương... Có cả bài Ru con Nam Bộ. Rồi lẫn lộn vào đấy là những câu thơ, có những câu chẳng rõ đọc được ở đâu. Ví như: - Nước còn giặc ta đi đánh giặc. Sức trẻ lên đường, Đất nước chuyển rung. Để trống năm trang thì đến những dòng nhật ký. Ngày bắt đầu là 31-12-1971, ghi lại những cảm xúc đầu tiên khi xa nhà, nỗi nhớ gia đình, quê hương. Những ngày tiếp theo nói về cuộc sống quân ngũ, những chuyện phấn đấu, riêng tư và dừng lại ở đoạn cuối cùng như tôi vừa kể trên thì còn một tí nữa là hết giấy. Đọc những dòng nhật ký ấy, tôi thấy rất ấn tượng. Nét chữ mềm mại ngay thẳng, câu cú rành mạch, thú thực là tôi đã chép nguyên văn những ngày, những đoạn có liên quan đến câu chuyện này, chỉ có một mạo muội duy nhất là đã thay đổi đại từ nhân xưng cho tiện kể hơn mà thôi. Nhưng cái đoạn dừng lại như thế làm tôi băn khoăn quá. Chẳng hiểu rồi cuộc đời và số phận của những con người ấy sẽ ra làm sao, chuyện riêng tư của họ sẽ được thu xếp như thế nào. Tôi nghĩ là anh đã bình an vô sự trở về, anh sẽ gặp lại chị và họ sẽ lấy nhau. May mắn có thể đến với họ như thế lắm chứ, nhưng biết đâu có thể còn khối điều bất hạnh đã đến với họ thì sao? Chịu, tôi không thể nào đoán được. Nhưng dù có thể gì gì đi chăng nữa thì tôi vẫn tin tưởng ở nơi chị bởi tôi láng máng nhận ra rằng, tình yêu của chị dành cho anh luôn nguyên vẹn, mãi mãi là những điều mới mẻ, tinh khôi. Còn nghĩa cử và tấm lòng của chị dành cho thằng Phúc thì như nước của sông dài biển rộng, dẫu có qua ba vạn sáu ngàn ngày chắc cũng chẳng thể nào vơi cạn được. Chưa rõ kết cục câu chuyện thế nào, nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ đinh ninh như thế. D.T.G Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:33:41 pm XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG - Dừng lại đã nào… Ngày ấy, chị Túc xinh lắm. Ở vào tuổi mười tám chị tươi rói như một bông hoa. Với thân hình thon thả, bờ vai chị tròn trịa, lẳn trong chiếc áo màu nâu tươi. Không biết bao nhiêu cặp mắt si mê đã đậu vào đó. Không biết bao nhiêu lời mây gió đã thoảng qua tai chị. TẠ DUY ANH ____________ Tiếng một chàng trai đuổi theo chị như tiếng gọi khắc khoải bật ra từ nơi sâu thẳm của một lồng ngực bị dồn ép. Chị Túc từ từ quay lại. Cặp môi chín mọng của chị khẽ mở ra, để lộ một nụ cười có sức hút mê mệt. Cặp mắt giống hai miếng cau bổ khéo của chị chớp chớp nhìn xuống đất. Chị xinh đẹp nhưng chẳng tự kiêu chút nào. Đáp lại tiếng gọi, chị chờ đợi. Nhưng rồi người gọi dường như kính sợ trước một hình ảnh quá xa vời tựa cái ảo ảnh của một giấc mơ còn sót lại, cứ đứng ngây ra trước mặt chị. Chiều nào chị Túc cũng có mặt bên giếng nước. Người ta bảo con gái nết na không dám soi mình vào gương. Mỗi lần cúi xuống kéo gầu nước, chị bồn chồn với chính hình ảnh của chị tận đáy giếng. Sóng nước chập chờn, lung lay đùa giỡn với chị. Bất chợt chị ngước lên, phá ra cười một mình. Tiếng cười của chị vô tư như chính vẻ duyên dáng của chị. Thoáng cái đã thấy chị gánh hai thùng nước, chân trắng ngần bước đi mềm mại. Lại có ai đó gọi, chị Túc nghiêng mái đầu thay cho lời đáp. Trai làng lần lượt lên đường. Chiến tranh thò bàn tay vào lôi tuột đi các chàng trai mới chớm tuổi mười tám. Chị Túc sang tuổi hai mươi rồi hai lăm lúc nào chị không nhớ. Mỗi lần tiễn thanh niên lên đường là mỗi lần chị Túc khóc cạn nước mắt. Những đơn vị bộ đội ở đâu ầm ầm kéo đến làng tôi, ở lại vài tháng đủ để thương để nhớ. Rồi một buổi sáng nào đó khi chúng tôi tỉnh dậy đã biến đi như có phép. Một lần tôi thấy mẹ tôi vừa đọc thư vừa sụt sùi lau nước mắt. Mẹ chỉ bảo tôi thư của chú Kiều từng ở nhà tôi. Lúc vắng mẹ, tôi mở trộm thư ra đọc. Tôi đánh vần cho bọn trẻ cùng làng đang tròn mắt ra nghe. "… Cả tiểu đoàn em qua khỏi Quảng Trị chỉ còn vài chục người. Tụi nó đánh ác lắm chị ơi! Cả một vùng đất rộng mênh mông bị cày đi xới lại đến nỗi biến thành một thứ bột màu thuốc súng…". Ở cuối thư, sau khi đã "vĩnh biệt chị và các cháu" chú Kiều còn "à quên cho em gửi lời chào đến cô Túc". Ngày ấy, chúng tôi chưa hình dung được sự khốc liệt của những dòng miêu tả đó. Chiến tranh như con ngáo ộp mà chúng tôi rất sợ nhưng sẵn sàng cợt nhả trở lại. Hôm sau mẹ tôi đưa thư cho chị Túc. Chị nằm xoài ra giường hết lật sấp lại lật ngửa tờ giấy. Dường như lời thăm hỏi kia của chú Kiều chỉ là cái vỏ. Chị muốn tìm cái "bên trong" kia! Lúc chị trả lại thư cho mẹ tôi, khuôn mặt chị thoáng một chút bần thần. Nhưng cũng giống tụi trẻ chúng tôi, chị Túc không có nhiều thời gian để mà vẩn vơ. Cả làng lại cuốn vào đủ thứ lo toan để đón một đoàn quân khác. Các chú bộ đội cỡ tuổi chị Túc thường mượn cớ đến nhà tôi đánh cờ, nhưng hễ chị Túc bước vào là bàn cờ lập tức thuộc về chúng tôi. Chúng tôi có thể tuỳ ý đổi chỗ quân tốt cho quân tướng, thậm chí có thể đút cả xe, pháo, mã… vào túi đem ra chỗ khác chơi trò lăn bánh xe… Sau mấy tháng, đơn vị bộ đội lại biến mất. Làng tôi lại hẫng đi độ nửa tháng, buồn nhớ mênh mông. Cảm giác trống vắng lây sang cả tụi trẻ con chúng tôi. Rồi cả làng lại ầm lên những tiếng hỏi nhau, tiếng bước chân chạy rầm rầm đến gõ cửa nhà nhau. Đấy là khi thư của các chú bộ đội gửi trở lại. Từng đám, từng túm quay lại hướng về ai đó đang căng lá thư ra đọc oang oang. Những gương mặt lo âu, mừng tủi, đan cài vào nhau tuỳ theo lứa tuổi. Chị Túc cũng nhận được một lá. Một lá thư đề ngoài bì dòng tên chị, viết hoa bằng nét chữ trận mạc. Ngay tối hôm đó, chị đến tìm mẹ tôi. Tuy mẹ tôi chỉ hơn chị dăm tuổi nhưng chị Túc phải gọi bằng thím. Dưới ánh lửa chập chờn của đêm tàn đông, gương mặt chị trở nên nghiêm trang sâu sắc lạ thường. Chừng lâu lâu im lặng, chị Túc lập cập lôi từ lồng ngực ra tấm phong bì tự gập. Chị liếc nhìn tôi giọng thì thào: - Thằng cu ngủ chưa? - Chơi cả ngày, đặt mình xuống là ngủ như chó - tiếng mẹ tôi. - Cháu có chuyện này muốn nói với thím - giọng chị Túc phập phồng. Tuy mắt vờ nhắm nghiền nhưng tôi biết mẹ tôi đang tóm lá thư từ tay chị Túc. Mẹ tôi kéo ngọn đèn gần lại, lật ngược lật xuôi rồi đưa trả chị: - Đọc lên xem nào! Có hai thím cháu chứ có ai mà sợ. - Thím không được hở ra với ai - Chị Túc mặc cả. - Con bé này, chuyện trẻ con! Chị Túc thở sâu mấy cái rồi bắt đầu đọc: "Quảng Trị ngày… Em yêu quý!". Chị Túc phải dừng lại để lấy hơi. - Của ai đấy? - Mẹ tôi hỏi nóng sốt. Chị Túc giả tảng không nghe thấy, tiếp tục đọc một cách khó nhọc: "Có thể chỉ lát nữa tôi không còn trên mặt đất này. Trận bom ác liệt lúc chiều đã cướp khỏi tay tôi hai chục chiến sĩ. Chắc chắn rồi sẽ đến lượt tôi. Chiến tranh là may rủi. Là cuộc chơi đỏ - đen tàn khốc nhất: phải được cả hoặc mất tất! Nhưng hãy còn một lát nữa để tôi kịp chuẩn bị lần chót cho cuộc ra đi không bao giờ biết trước. Giờ này trăng vừa lên. Thật kỳ lạ khi tôi có cảm giác tất cả đều bình yên, tuồng như chiến tranh bị đẩy lùi mãi, chỉ còn như một dư âm. Và tôi chờ đợi. Em có biết tôi chờ đợi điều gì không? Tôi… chờ em bước ra từ vầng trăng. Em sẽ băng bó những vết thương, làm nguội mặt đất, bởi vì em là vị Phúc thần của những người lính trận như tôi…". Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:35:49 pm XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp) Chị Túc không sao đọc tiếp được nữa và mẹ tôi phải giằng lấy đọc tiếp phần cuối. Tôi không biết lá thư nói tiếp những gì, chỉ thấy sau đó cả mẹ tôi và chị Túc cùng im lặng. Bỗng mẹ tôi thở dài đánh sượt: - Ôi chao, bao giờ cho hết cảnh binh đao! Này, có phải của cái anh chỉ huy ấy không? - Vâng, chính anh ấy. - Nghe thư tôi đủ biết. Người cao ráo thế, thảo nào… cũng thật tội nghiệp cho anh chị. Nhưng chị Túc chợt khóc nấc lên: - Đêm chia tay… anh ấy… chỉ… xin cầm tay cháu một lần… mà không được… chắc anh ấy đau khổ lắm… hức hức… - Anh ấy sẽ càng yêu cháu… ừ, giá như… Mẹ tôi vờ cúi xuống xoay lại thế nằm của tôi. Rất nhanh tôi thấy mẹ tôi quệt tay áo lên mắt. * * * Đông Hà ngày… Khe Sanh 9 giờ ngày… Nam Lào, bên một tảng đá có khóm hoa Trinh nữ ngày… Chị Túc sắp xếp những lá thư theo thứ tự ngày tháng. Có lá gửi từ mùa hè, đến tay chị Túc đã mùa đông. Có lá dường như được viết giữa cánh rừng đước nơi tận cùng đất nước. Thảng hoặc có lá thư do bị lưu lạc quá lâu, qua quá nhiều nơi, đến mỗi trạm đều có chữ viết thêm đằng sau phong bì: "Nhanh lên đồng hương". Rồi ở trạm khác lại có dòng viết vội: "Đã duyệt và thấy cần phải lưu hành". Cho đến một trạm nào đó, dòng chữ viết còn lấp lánh một ánh mắt lính: "Tình yêu thời chiến phải thần tốc. Gửi đồng bào miền Bắc triệu cái hôn"… Chị Túc trân trọng những tình cảm trận mạc như giữ cho mình một báu vật. Trong hàng trăm lá thư nhận được, chị Túc chỉ viết trả lời được mươi người. Số còn lại không có địa chỉ. Điều đó khiến chị Túc day dứt. Nhưng điều chị khổ tâm nhất chỉ mẹ tôi biết, anh chỉ huy viết lá thư đầu cho chị, thay lời cầu hôn, không thấy thêm một lời hồi âm nào khác. Thời gian ấy mặt trận B1 đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Chị Túc là tổ trưởng tổ "phòng gian, bảo mật" của xã. Từ 7 giờ tối, đội phòng gian có quyền xét hỏi bất cứ người lạ nào qua làng. Chiến tranh lan ra miền Bắc. Những tên điệp viên cải trang dưới mọi hình thức dò dẫm vào bất cứ nơi nào nghi có lực lượng quốc phòng. Làng tôi là một điểm chú ý của chúng. Huyện vừa thông báo trường hợp lão ăn xin bị tổ dân quân của chị Túc bắt bữa trước chính là một gián điệp cải dạng. Làng xóm im lìm như sắp vào trận. Nhưng trăng thì cứ sáng, bất chấp cả chiến tranh. Ở phía đê Bộc vẳng lên từ hội gặt lúa đêm những câu hò vừa chua ngoa vừa tình tứ. Mọi đêm cùng gặt, chị Túc rất sợ tụi này. Làng chỉ toàn đàn bà nên bọn con gái trở nên bạo mồm bạo miệng. Đã có lần chị bị đám đàn em ấy bao vây, bắt phải cung khai tên tuổi người yêu. Bí quá chị Túc đành nhận "Yêu lính". Tưởng thế là xong, ai ngờ chúng cùng hét lên: - Hôn nhau chưa? Chị Túc sắp ngất xỉu thì một đứa trả lời thay: - Rồi! - Cảm giác thế nào? - Như điện giật! Thế là chị Túc bỏ chạy. Trông chị lúc ấy thật tội nghiệp. Tiếng hò vẫn lúc xa, lúc gần tuỳ theo hướng gió. Chị Túc có cảm giác từng câu hỏi đang trôi bồng bềnh về phía chị. Gió phả hương lúa mát rượi vào ngực chị "có thể cả những câu hò". Chị thầm nghĩ. Chị đặt ghếch súng qua vai, mặt dõi vào biển sương mù lãng đãng… Có tiếng người bước rất khẽ trên cỏ. Dưới ánh trăng chị Túc nhận ra cái dáng cao lớn của một gã con trai. Đến gần chỗ chị Túc, bóng đen đứng im phăng phắc. Chị Túc run run xốc lại súng, khẽ hỏi bằng giọng nghiêm khắc: - Ai? - Tôi. - Tôi là ai? - Tôi là kẻ cô đơn. - Nói rõ ngay, anh làm gì ở đây, không tôi bắn. - Ngày nào Túc chẳng "bắn" tôi chưa thoả à? Giọng trả lời có vẻ thiểu não nhưng không giấu được chất nhơn nhớt của kẻ biết rõ đối tượng trước mặt. Nhưng cũng chính cái giọng ỡm ờ ấy của gã đàn ông khiến chị Túc bình tĩnh lại ngay. Anh ta ra đây vào giờ này làm gì nhỉ. Cái anh chàng luôn chải chuốt, từng xoắn lấy chị vào buổi làng mở hội thi nấu cơm. Nhớ rồi. Anh chàng Hào công tử, con ông phó Dộc. Tuy cùng lứa, cùng làng nhưng cả năm cả đời chị Túc chỉ thoáng gặp anh ta vài bận. Hầu như Hào không bao giờ có mặt trong đám trai làng. Chớm đến tuổi nghĩa vụ, lấy cớ theo học nghề của bố, Hào biến mất tăm. Rồi bất chợt anh ta lù lù có mặt ở hội thi nấu cơm, bảnh bao như một trí thức thành phố. Anh ta bám chặt lấy chị Túc khiến có lúc chị mất bình tĩnh. Tuy vậy ở vòng một: nấu cơm trên cạn - chị vẫn giật giải nhất ngon lành. Mở vung cơm ra, mùi gạo tám bốc lên nao núng cả người. Những hạt cơm, trăm hạt như một, còn nguyên hình hạt gạo, nhưng đưa chiếc đũa cả vào, bàn tay cảm nhận thấy ngay độ mềm, xốp đúng độ của hạt cơm vừa nước, chín tới. Bát cơm không khác gì bát bông! Ban giám khảo là các cụ rất khó tính, sành ăn, chỉ việc xếp chị Túc lên hàng nhất. Sang vòng hai: Nấu cơm dưới nước. Điều kiện thi thật ngặt nghèo. Người dự thi được cấp một bó mía xương gà, loại mía dòn và mềm, một chiếc nồi và một bao diêm. Mía xương gà phải nhai hít lấy nước để bã có thể cháy được. Mọi động tác không được thừa một ly, thiếu một ly. Phải tính toán thế nào để mía hết, cơm đủ chín, ngon và nhanh nhất. Thế mới đúng cái nghĩa " gái đảm hậu phương" như tên cuộc thi. Bị hàng ngàn cặp mắt đông nhất là bộ đội "chiếu tướng" chị Túc lúng túng mất lúc đầu vì chiếc "thúng" hình vỏ dưa cứ "giã gạo" trên mặt nước. Nhưng giải nhất vẫn thuộc về tay chị để tiếp tục vòng ba, cũng là vòng cuối cùng. Vẫn các điều kiện của vòng hai nhưng người dự thi từ "cô gái" của vòng một, "người vợ" của vòng hai, bắt đầu "làm mẹ" ở vòng cuối cùng. Người ta trao cho "người mẹ" một đứa bé đang tuổi nghịch. Chỉ cần đứa bé khóc một tiếng coi như hỏng thi. Chẳng biết xưa kia ai nghĩ ra cái trò này để kén con dâu? Chị Túc thẹn đỏ mặt với ý nghĩ ấy. May mà bẩm sinh cho chị có một sự hiền dịu tuyệt vời. Từ đầu đến cuối vòng thi, đứa trẻ cứ hết ôm cổ "mẹ" lại giơ tay chào "các chú bội đội", cho đến nắm bã mía cuối cùng. Cũng là lúc hơi cơm chín đẩy vung bốc ngào ngạt. Tất cả những người nín thở theo dõi trên bờ hò reo như sấm khiến suýt hắt chị và đứa bé xuống nước. - Em là cô Tấm trăm phép mầu chứ không phải người trần mắt thịt. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:39:17 pm XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp) Vẳng bên tai chị là lời tụng ca không ngớt của "anh ta". Khi chị rẽ đám đông để thoát ra ngoài, "anh ta" liền bám theo như cái đuôi. Cách chị một đoạn "anh ta" lầm lì bước với vẻ đau khổ của kẻ bị bỏ rơi. Giờ đây lại chính cái giọng ấy, đượm thêm sự cầu khẩn van lơn. Chị Túc thấy trào lên chút thương hại. Chỉ có điều tại sao anh ta không ra trận? Dạo ấy lời thắc mắc như vậy là điều tai hại khôn lường cho chàng trai nào đó "tụt lại". Một là anh ta sợ chết. Hoặc nếu không, hẳn có thể anh ta bệnh hoạn, khiếm khuyết gì chăng? - Anh ra đây làm gì? - Chị Túc dịu giọng. - Vậy là cuối cùng sự kiên nhẫn của tôi không đến nỗi uổng. - Có ai bắt anh phải kiên nhẫn "ở lì" một chỗ đâu! - Chị Túc vẫn nhẹ nhàng. Gã đàn ông "có tật, giật mình" hiểu ngay ý mỉa mai của chị Túc, vội lên tiếng. - Đừng nghĩ rằng tôi sợ chết. Sáng mai tôi sẽ khoác ba lô ra trận ngay, nếu đêm nay… Chị Túc thấy lạnh sống xương. Gã đàn ông đã ở rất gần thừa cơ sán lại. - Trăng đẹp thế này mà tâm hồn Túc cứ lạnh như giá vậy ư? - Không cẩn thận tôi giải anh lên huyện đấy. - Túc không thể ban cho tôi một thời cơ để tôi thanh thản ra đi sao? Túc có biết tôi chưa ra trận vì lẽ gì không? Tôi yêu em… - Vớ vẩn! Anh không thấy xấu hổ khi đặt điều kiện ấy à? - Tôi không đi đâu cả, nếu không được một lần quỳ dưới chân em, để nghe từ miệng em lời thú nhận rằng em chưa từng yêu ai… - Nếu anh thật lòng quan tâm đến tôi như một người bạn thì tôi cũng thật lòng cảm ơn. Chỉ có thế thôi! - Chỉ có thế thôi! Trời ơi, làm sao em tàn ác thế. Em biết thừa rằng tôi yêu em, không thể thiếu em. Em biết thừa rằng đời tôi sẽ còn lại gì nếu không có em trong tất cả những gì tôi sẽ lao vào. Xin em cứ việc nguyền rủa, đánh mắng tôi như đánh mắng một con chó, chỉ cần em đừng tàn ác như lời em vừa nói, không đúng với tình hình hiện nay của em. Tự nhiên trái tim chị Túc dịu xuống bằng cái bản tính nữ giới tuyệt vời của chị. Dù sao anh ta cũng có vẻ cô đơn thật. Một người đẹp trai, sang trọng như anh ta lấy đâu chẳng được vợ giữa buổi đàn ông biến đi hết sạch này. Chị thương hại. - Anh ngồi xuống đây. Nhưng tôi xin nói trước, trái tim tôi đã trao cho một người, không còn chỗ để nhận những tình cảm tôi tin là rất chân thật của anh. - Đừng nói dối, - gã đàn ông kêu lên. - Tôi van em, tôi lạy em. Chỉ cần em nói em yêu tôi, ngày mai tôi sẽ yên trí ra trận, tôi sẽ lập công, tôi sẽ… Anh ta dừng lại vì bắt gặp cái nhìn mênh mông từ cặp mắt mênh mông. Nhưng anh ta không hiểu gì cả. Anh ta không biết lúc ấy chỉ duy nhất có một người trong cặp mắt chị Túc: "Người ấy" từng ước thấy chị ôm bó hoa quấn dải lụa xanh bước ra từ vầng trăng. Và anh ta chỉ là gã đàn ông giúp chị gợi rõ thêm hình ảnh "người ấy" của chị. Mắt chị Túc càng mênh mông dõi vào khoảng vũ trụ đầy huyền bí. Gương mặt chị có đến mấy phút bất động, đẹp như pho tượng tạc bằng loại gỗ trắng. Nhưng tất cả vụt tan biến, tất cả nát vụn trong một tích tắc. Chị Túc thấy cái khối đen trước mặt nhảy dựng lên rồi như đang rơi xuống cái hố đen ngòm. Trời sao quay cuồng ngay trước mắt chị cùng với tiếng giập lép bép của mầm cỏ bị chà xát. Chị định hét lên "buông tôi ra" nhưng bàn tay gã con trai đã bịt lấy miệng chị. Anh ta trườn như con bò sát khổng lồ trên cơ thể chị, đôi tay tham lam đang bóp vụn tất cả những gì lọt vào nó. Chị thấy ngạt thở và muốn nôn. Toàn thân chị co dúm lại. Vầng trăng vỡ oà ra, ứa máu. Nhưng vào giây phút ấy, cái giới hạn của sự thiêng liêng bị đẩy đến mép bờ vực ô nhục đang ở tích tắc cuối cùng có một sức mạnh nào đó, chưa từng có ở chị bởi còn tiềm tàng mãi nơi đáy lòng tin, nơi tận cùng của điều thâm nghiêm phải giữ bằng mọi giá đã giúp chị lật sấp người xuống. Tiện thể chị co chân đạp một cái thật mạnh vào khối đen đang mất hướng, khiến anh ta rống lên một tiếng như con chó bị đánh. Chị chồm bật dậy, chộp khẩu súng, đứng lùi xa một đoạn. - Mày tỏ tình kiểu ấy phải không? - Giọng chị Túc sắp bật thành lửa. - Tao sẽ trả lời mày theo kiểu của tao. Gã đàn ông còn ôm bụng lăn lóc chán để nghe tiếp lời tuyên án: - Thì ra mày trốn lủi cái chết để định tạo ra những cái chết khủng khiếp khác phải không? - Tôi chỉ chứng tỏ tình yêu của tôi. - Tình yêu của quỷ sứ! Cút ngay khi tao còn chưa kịp lên đạn. Gã đàn ông lồm cồm bò dậy, quần áo tả tơi, cắm đầu đi qua họng súng đang chĩa về phía anh ta. Đi một đoạn anh ta quay lại, nói vớt vát: - Thèm chết cha còn làm bộ… - Phải, tao thèm, tao rất thèm một gương mặt đàn ông nhưng không phải một con quỷ như mày. - Dù sao đây cũng đã… là thằng đàn ông đầu tiên… Giọng gã đàn ông tráo trở đến khả ố. Thay cho lời đối lại. Chị Túc kéo quy lát đánh "roát" cùng với bước nhảy cỡn lên của gã đàn ông. Chị mím môi rê nòng súng theo bóng đen đang chạy thục mạng. Khi đầu súng đã dính chặt vào lưng gã, chị liền nhắm mắt lại. Nhưng tay chị lả dần xuống cùng với ý nghĩ chợt loé lên "cứ để cho nó sống. Loại người đó sống còn khổ hơn chết". * * * Tôi không còn nhớ đã bao nhiêu lượt đơn vị bộ đội dừng chân ở làng tôi. Có thể vài chục lần. Những người lính trẻ măng ra đi ngày ấy đều hẹn ngày nào sẽ trở lại. Chiến tranh đang một mất một còn nên cái "ngày nào đó" thật xa vời. Hàng chục năm sau vẫn không thấy một ai trong số hàng vạn chiến sĩ đã từng ở làng tôi trở lại. Nhưng lần nào cũng vậy, vẫn cái điệp khúc bi tráng: "Ngày nào đó…". Cũng vài chục lần làng tôi háo hức chờ những lá thư. Có lá ra đến miền Bắc, người viết nó không còn. Có lá viết nguyệch ngoạc vài ba câu hỏi thăm như lời hấp hối vội vã. Người nhận được nhiều thư nhất, tất nhiên vẫn là chị Túc. Có thể có người chưa kịp đọc lời yêu thương của chị đã thịt nát xương tan ở một cánh rừng nào đó. Nhưng tất cả những người lính ấy đều không thể không mang hình ảnh chị trước lúc ngã xuống để lại cho người đời hàng ngàn bí ẩn về chiến tranh. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:40:51 pm XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp) Chị Túc bước sang tuổi ba lăm đúng vào năm hàng triệu người cười, khóc vì mừng tủi. Mẹ tôi và chị Túc cứ gặp nhau là ghì nhau xuống giường, chan nước mắt lên ngực nhau. Rồi chị Túc bắt đầu sợ những nơi ồn ào. Cùng với niềm vui chiến thắng những giọt nước mắt của chị Túc lẫn cả vào nỗi tủi hờn của tuổi ba lăm! Khi tỉnh táo lại, chị lặng lẽ đến bưu điện lục tìm điên cuồng trong đống thư gửi từ miền Nam. Chị câm lặng làm cái việc "mò kim đáy bể" ấy suốt cả tháng ròng. Vẫn không thấy dấu hiệu nhỏ nào của những người từng hẹn "ngày nào đó". Lẽ nào chiến tranh đã ngốn hết sạch họ? Ở làng bắt đầu rì rầm bàn tán. Những người bằng tuổi chị, chỉ may mắn hơn do chồng đui, điếc, để có cả một bầy con, dè bỉu chị điên rồ, lãng mạn, dở hơi… Trong hàng mớ lý lẽ thực dụng của họ không phải vô lý cả. Họ cho rằng có bao nhiêu làng quê trên đất nước này từng là nơi người lính dừng chân. Vả lại sau chiến thắng còn ti tỉ thứ khiến anh nghĩ đến trước. Anh ta cũng có bố, mẹ và một vùng quê. Họ cho rằng, mỗi người có một bổn phận. Bổn phận của chị Túc là phải làm vợ ai đó còn sót lại để làm tròn nghĩa vụ của trời trao cho người phụ nữ. Chị chờ ai, chờ cái gì và điều đó đem lại cái gì? Một thân phận héo mòn, cô đơn. Chả nhỡn tiền ra đấy ư? Khối kẻ sau chiến thắng liền quên phắt mình đã từng sống được nhờ lời ước hẹn thuỷ chung của ai đó, tự cho mình một cái giá cực đắt để vỗ tuột tất cả? Những ngày đó, những lời đó khiến chị Túc sống gần như nghẹt thở. "Lẽ nào anh ấy lại cũng trong số những kẻ đó. Anh có còn chờ em bước ra từ vầng trăng nữa không nếu anh còn sống?". Rồi cả làng lại thấy chị Túc ra đi, âm thầm như con vạc lẻ đàn. Lần này chị đi là đi một biệt. Khắp làng, như mọi khi, lại bùng lên từng đợt đủ thứ bàn tán. Kẻ rỗi mồm nhiều vô cùng nên cũng nhiều chừng ấy những lời đồn tai quái. Người này cho rằng chị bị loạn tình do thèm khát đàn ông. Người kia cho rằng chị Túc không chịu nổi những tiếng pháo nổ liên miên mùa cưới. Tiết trời heo may, hun hút thế này với một người đàn bà ba lăm! Chị Túc đi được mấy tháng thì anh Hào về. Không ai ngờ anh còn sống kể từ cái đêm suýt chết trên đê Bộc và sáng hôm sau bị áp giải lên huyện theo lời đề nghị của tổ trưởng tổ phòng gian bảo mật. Anh Hào về, có lẽ là sự kiện quan trọng nhất làng tôi. Anh đeo lon thiếu tá, phóng một chiếc hon đa "sáu bảy" đen trũi, cuốn bụi mù mịt. Chó của cả làng sủa váng lên chạy theo. Bọn trẻ con ùa ra đón anh. Trên cái đèo hàng, một kiện gì đó to bằng một chiếc tủ khiến những cặp mắt "cổ hủ" làng tôi bị cái hình ảnh hiện đại ấy làm cho loá mắt. Mọi người quên nghe chuyện chị Túc để hướng về anh Hào. Anh vạm vỡ, hồng hào tựa như chiến tranh chỉ là một trò chơi rất bổ ích. Anh cười nói oang oang, bẹo má đám con gái bị dồn về một xó. Nhà cụ phó Dộc trở thành điểm thu hút trí tò mò mạnh mẽ nhất. Người ta kéo đến để "vì tình làng nước" hút một điếu ru-bi, chê khét như lông chó, sờ tay vào con búp bê Nhật biết mở mắt nhắm lại, để hỏi "tình hình miền Nam, thấy bảo" trong đó "hàng hoá vứt bừa bãi như ta vứt rác ngoài này", để "xem thằng Hào làm gì mà vơ được lắm của thế?". Vả, tất nhiên, "để mừng cụ phó Dộc có cậu con leo đến hàm tá!". Anh Hào trở thành thần tượng làm khuôn mẫu cho mọi lời giáo huấn hay nhất từng có ở làng tôi. "Cứ trông thằng Hào đấy". "Cũng là mang nặng đẻ đau, con người ta vừa "đỏ ngực" vừa khuân của thiên hạ về dưỡng bố" v.v… Đáng nghe hơn cả là những lời kể từ miệng anh Hào. Anh kể về chiến tranh như các bà ở chợ nói về giá cả. Nào là những hầm rượu Pháp còn chưa có chủ nhận, ai lấy bao nhiêu tuỳ thích. Nào là một tổng kho nào đó có thể tặng bất cứ ai vào thăm một chiếc đồng hồ mạ vàng, còn loại xe tàng tàng như anh đi thì nhà nào cũng có dăm ba chiếc cho trẻ đi học. Tất cả những điều đó anh Hào kể rất hào hùng, tuồng như việc hy sinh cả triệu người kia chỉ để cho những người như anh tha hồ đe nẹt bọn tư bản, địa chủ, để cần gì là được ngay thứ đó như trong chuyện cổ tích. Khi "cao trào" thăm hỏi đã giảm xuống thì đến lượt các loại khách ở nơi khác đến. Những ông khách này ra vào im lặng, trao đổi bằng mắt phần nhiều và khi ra đã có người nhà làm "cọc tiêu" ở ngõ. Cụ phó Dộc bỏ hẳn nghề đục đẽo, thứ bẩy, chủ nhật lại "xách một túi" đi đâu không biết. Tất cả không qua được con mắt tò mò của làng tôi, họ còn biết cả rằng anh Hào chưa biết lấy đường ngắm cơ bản! (Tin này thì chính xác vì làng tôi có đội dân quân, thấy bảo đã có lần rước anh Hào làm thầy). Anh Hào đã quá phép ba ngày. Cụ phó Dộc đâm ra ủ ê vì lý do anh không chịu lấy vợ. Riêng việc vì sao anh nấn ná chưa đi thì cụ phó và cả làng không ai biết. Anh Hào chờ chị Túc. Anh còn mối hận năm xưa với chị trên đê Bộc. Nhưng trong ký ức anh, khuôn mặt thiên thần của chị vẫn là mối thách đố, không chịu được. Nó át đi cả ý nghĩ trả thù vẫn nung nấu trong sự suy nghĩ của anh. Cần thiết anh vẫn cứ quỳ xuống như thường. Sự chậm phép của anh cũng không uổng. Còn hai ngày nữa là trọn một tuần anh ở "rốn" lại thì hôm sau chị Túc về. Mười phút sau "đề tài chị Túc" lại át mất "đề tài anh Hào" trong chương trình "thời sự làng tôi". Anh Hào có ý không rời bộ quân phục tá, nổi bật lên đôi quân hàm đỏ chói. Bỗng anh giật mình khi thấy đứa trẻ con nào đó bi bô "bà Túc", đến mức mồ hôi anh vã ra. Ừ nhỉ! Người đàn bà ấy đã sắp sang tuổi bốn mươi. Tại sao anh quên khuấy mất điều đó. Khỉ thật! Mình đã uổng công chờ một phụ nữ đã tàn phai tất cả những gì khiến mình say mê, khiến mình phải sống bằng mọi giá, bằng mọi giá để trở về. Thì cũng nên biết "cô ta" thế nào! Anh Hào lại chọn đúng cái điểm từng bị chị Túc bắn doạ năm xưa làm nơi chờ chị đi qua. Anh sợ không nhận ra chị từ xa nên thuê một đứa bé điếu ru-bi để nó làm hộ điều ấy. Rồi người anh đợi cuối cùng đã xuất hiện. Khi đứa trẻ "báo động" "cô ấy kia kìa" tim anh khẽ nhảy lên một nhịp khác thường. Cô ta kia ư? Làm sao anh ta có thể tin được. Điều quan trọng nhất là không cho cô ta biết mình là ai. Toàn thân anh vã mồ hôi khi người đàn bà da mặt xanh xao, hơi có dấu hiệu phù nề cứ tiến thẳng về phía anh. Không kịp chạy nữa rồi. Và anh thở phào khi người đàn bà ấy câm lặng đi qua. Thế là thoát! Cần phải chuồn thật nhanh! Anh không biết rằng có một lần người đàn bà đưa mắt qua vai, nhìn chiếc cổ béo núng của anh, không mảy may xúc động. Sáng hôm sau, anh Hào đi từ gà gáy. Chó của cả làng đuổi theo xe anh ra tận đê Bộc. Con đường chi chít vết chân trâu khiến chiếc xe nhảy chồm chồm. Từ đấy đến huyện, không một lần nào anh Hào ngoái lại. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:42:16 pm XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp) Nhật ký của chị Túc Ngày… Mình đã lục gần hết đống thư khổng lồ ở bưu điện Hà Nội. Mấy cô nhân viên thật tốt bụng. Hàng ngày họ phải đáp ứng đủ thứ yêu cầu rắc rồi, lại thêm cả yêu cầu quái đản của mình. Vẫn không thấy anh ấy đâu. Kìa, Kiều nào kia? Nếu chính là anh Kiều năm xưa có thể biết chút ít về anh ấy. Tim mình đập loạn lên. Làm sao thế này? Mình run run lật đi lật lại tấm phong bì. Khỉ quá! Cô Kiều chứ không phải anh Kiều. Có mấy người cũng lục tìm như mình, thỉnh thoảng một người lại rú lên rồi chạy như hoá điên ra phố. Bao giờ cho đến lượt mình?... Thế là đã hai ngày mình biến khỏi làng Hạ. Giờ này không biết mọi người nghĩ gì về mình. Một con điên! Thì mặc xác họ. Mình chỉ thương Lê. Lê khổ quá. Lê lấy chồng bảy năm không có con, chịu mọi đòn búa của dư luận. Rồi cả lão bố chồng tai ác, một con quỷ hình người. Chính lão lập mưu để con trai lật giường đuổi Lê ra khỏi nhà giữa đêm mưa bão. Nào ngờ kẻ mò đến ngôi miếu đầu tiên lại chính là lão bố chồng ấy. Lê chưa kể cho mình cách lão ta van xin thế nào. Nhưng mặt Lê đủ đoán ra Lê vừa trả được mối thù bằng cách hiến thân cho lão bố chồng. Có lẽ Lê tin bằng cách đó cô sẽ xé toạc tấm màn đạo đức giả của gia đình nhà chồng. Cô bắt họ chịu cầm tù trong cái mê cung vô luân, để như một dòng họ nào đó để đến lúc tuyệt diệt. Làng Hạ ngày nay khác nhiều quá, người ta bắt đầu tập thói quen dưng dưng với mọi chuyện. Ngày… Vẫn không thấy anh ấy. Tổng cộng tới bốn mươi Mạnh nhưng không có Mạnh nào của mình. Hay anh bắt mình sang thế giới bên kia vẫn lang thang tìm anh, để thử thách lòng chung thuỷ. Thật là gở! Mình vẫn tin, nếu còn sống nhất định anh sẽ trở lại. Trăng dịp này đang xanh… Ngày… Mình chợt nảy ra ý định ấy khi nhìn thấy một anh thương binh ngồi lẻ loi trên ghế đá. Hình như thế giới náo nhiệt xung quanh không tới được anh? Sao anh ấy buồn thế? Anh bị cụt một chân, một tay và chi chít vết thương trên mặt. Khuôn mặt khắc khổ của anh im lìm lạc vào trời chiều. Cặp mắt anh không hướng về cái gì cụ thể. Ngoài mình ra có ai để ý đến người tàn tật kia không nhỉ? Cách chỗ anh mấy mét, đôi trai gái đang vờn nhau như mèo. Trời ơi, họ làm gì thế kia khi trời chưa kịp tối… Mình muốn bỏ chạy vì không thể còn gì ghê tởm và tàn ác hơn… Ghê tởm… vì… (Hay là mày ghen với người ta đấy hả Túc?). Nhưng độc ác thì quá chừng. Ít ra họ cũng nên biết có một kẻ mất mát gần hết đang cô đơn ở ngay bên cạnh họ. Mà lạ chưa! Ngay cả điều đó cũng không tới được anh. Anh vẫn ngồi câm lặng, mắt nhìn những ngôi sao cũng đang muốn chạy trốn. Trông anh như cái bóng trong bức tranh đen trắng. Bất chợt anh ngước nhìn mình. (Sao lại nhìn mình?). Trời ơi, mình làm sao đủ sức để chịu đựng cặp mắt buồn mênh mông, như từ đó đang ùa ra từng mảng tối sẫm trong khu vườn đầy ánh trăng… của anh. Đến lượt mình ngồi bất động. Hai con người của thế giới hiện đại kia đã xong việc, mệt mỏi và chán ngắt. Họ sẽ kéo nhau vào một tiệm ăn nào đó để "tái sinh" cái gánh nặng đè lên hai chân họ. Hình như họ mới là những kẻ cô đơn! "Tối rồi!". Mình giật bắn mình, sợ hãi ngước nhìn anh đã ở bên cạnh từ lúc nào. "Vâng, tối rồi". - Mình đáp như cái máy - "Anh chờ ai ở đây?". "Không ai cả! Chỉ do tôi thích được ở riêng một mình một thế giới!". "Ngày nào cũng thế?". "Đã nửa năm… và sẽ đến hết đời". Chiếc chân gỗ nện xuống mặt đá lộc cộc và cứ thế xa dần cho đến khi tấm lưng của anh hoà tan vào màn đêm. Ôi biết đâu "anh ấy" của mình cũng giống như anh thương binh kia? Biết đâu "anh ấy" cũng tưởng tượng ra cảnh mình đi lấy chồng có một đàn con, để hành hạ chính anh bằng cái hồi ức về quá khứ? Không, em sẽ tìm anh. Sẽ tát cho anh một cái trước khi chan nước mắt lên ngực anh. Ngày… Tất cả mười tám trại thương binh nặng mình đã đến, đều không có anh. Những thương binh ở đủ mười tám trại, khi trả lời mình họ đều nói một câu gần giống nhau: "Có thể, anh ấy đã chết". Tại sao họ lại nói như vậy về đồng đội? À, có lẽ họ nói về chính họ. Họ tự cho họ có quyền thay mặt đồng đội thử thách mình. Không, điều đó chứng tỏ anh ấy còn sống, đang đau khổ nghĩ về mình ở cái trại thương binh cuối cùng mà mình chưa kịp đến. "Làm sao em biết hết đất nước này có bao nhiêu trại thương binh". Mình thấy giận anh ấy quá chừng. Ngày… Hôm nay thì mình tin anh ấy đã chết, hoặc đúng hơn, anh ấy còn mãi mãi. Không hiểu ai xui cho mình lang thang vào viện bảo tàng chiến tranh. Ôi, cuộc đời thật trớ trêu! Vì tất cả những "kỷ vật" kia mà mình tin và chờ đợi. Nhưng chính nó lại ngầm thông báo có biết bao nhiêu chàng trai đã ra đi và ngã xuống. Mình buồn bã ngắm một bức hoạ, màu loang lổ. Trời ơi, sao lại có hình mình treo ở đây? Rõ nhận vơ! Chắc là một cô du kích anh hùng nào đó. Lớp bột hoà tan từ chất diệp lục khiến bức hoạ như được xếp bằng hàng ngàn chiếc lá. Nhưng sao, nhưng sao… mình muốn bỏ chạy ngay tức khắc để thoát khỏi cặp mắt trên bức vẽ. Tiếng hô thuyết minh chợt vang lên (may quá!): - "Đây là một trong những kỷ vật đặc sắc nhất của chiến tranh mà chúng tôi kiếm được trên thi thể một chiến sĩ ngã xuống trước cửa ngõ Sài Gòn. Có lẽ anh đã mang tấm hình cô gái này trong tim suốt thời chiến tranh, bởi vì xin các vị chú ý dòng chữ nhỏ bên dưới "thần chiến thắng". Có lẽ anh nảy ra ý định vẽ lại người yêu vào một đêm trăng… Một vị khách của nước bại trận đã đặt giá cả triệu đô la để có được kỷ vật đã đem về Mỹ. Mình bỏ chạy vì không đủ sức dối mình. Nhất định đây là một cô gái khác. Nếu đấy là mình… "chúng tôi tìm thấy trong thi thể một chiến sĩ… "Không, không thể như thế được. Anh vẫn còn sống ở nơi cuối cùng mình chưa kịp đến. Nhưng cái nốt ruồi ở mép dưới cô gái trong tranh, cái nốt ruồi, trời ơi sao mình chưa bao giờ biết mình có cái nốt ruồi ở mép dưới… mình đã đập tan chiếc gương dối trá"… Ngày… Đã ba tháng mình lang thang bằng nỗi vô vọng và cái niềm cay đắng. Mình trở lại và ngồi trên chiếc ghế đá hôm nào. Vẫn anh thương binh ấy, thêm ba tháng nữa vào cái sáu tháng "một mình một thế giới" trước đây của anh. Cách đấy mấy mét không phải đôi "hiện đại" bữa nọ, mà là bông hoa ai đó để quên. Bông hoa tím sẫm lại dưới trời chiều, như vết máu loang. "Tối rồi!". "Vâng, tối rồi!". "Chị tìm gì ở đây?". "Không - gì - cả! Chỉ là sự trở lại". "Tôi tin thế!". "Anh tin gì cơ?". "Tôi tin chị sẽ trở lại". "Thật kỳ lạ!". "Phải, lạ lắm. Lạ, nhưng tại sao cả tấm sắt thép đè lên tôi nhưng tôi vẫn cứ sống để trở về. Bởi vì - tiếng anh đau đớn - tôi biết thế nào cũng có người không tìm cái gì như chị!". "Và một người không - chờ ai như anh?". "Không, cả tôi và chị, chúng ta đều nói dối. Chị đang đi tìm cái đã mất, mà với chị, không gì thay thế được, nên cuộc đời này không còn gì đáng cho chị tìm. Còn tôi, tôi chờ một người". "Tôi cũng chờ một người, nhưng anh ấy đã chết. Có lúc tôi nghĩ anh ấy cũng giống như anh. Liệu có khi nào anh nghĩ một người phụ nữ cũng giống như tôi, đang chờ anh không?". "Khi tôi hăm hở lao vào cuộc chiến, tôi chưa kịp đính ước với ai cả. Lúc đó tôi mới mười tám tuổi và có lẽ điều đó là một nỗi may lớn. Không ai trên đời vì tôi mà lương tâm cảm thấy bị vò xé, ngay cả bây giờ. Tôi xin chị, chị hãy đi ngay khỏi nơi này. Giấc mơ chỉ nên để nó thoáng qua. Kéo dài mãi sẽ là nỗi chịu đựng. Vả lại tôi cũng không còn sống được bao lâu nữa". Anh loạng choạng đứng dậy, người lệch sang một bên. Tiếng lộc cộc xa dần, xa dần cho đến khi chỉ còn lại tiếng tim mình đập hối thúc, buốt nhói trong lồng ngực. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 10 Tháng Năm, 2008, 09:48:50 pm XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp) Ngày… Anh đã trở lại, vẫn những tiếng lộc cộc, lộc cộc quả quyết và kiêu hãnh. Đến lượt mình nhắc lại lời anh hôm trước. "Em tin thế nào rồi anh cũng sẽ trở lại". "Thật ư?" "Lẽ nào anh bỏ em một mình khi chính anh bảo em "tối rồi?". Anh nhìn sâu vào mắt mình, gương mặt bừng sáng như trẻ thơ. Không hiểu sao, phút đầu tiên mình trao cuộc đời cho anh, mình lại khóc dữ dội đến thế. Cả anh cũng khóc… Lúc đó mình tin rằng, chỉ cần nước mắt của anh hoà vào nước mắt mình, những thiên thần ở đó sẽ bước ra. Ngày… Chưa bao giờ mình được ngắm một khuôn mặt đàn ông kỳ lạ đến như vậy. Một chút cuồng nộ trong đáy mắt, với cái gì đó gần như nỗi khổ ải ở khoé miệng anh. "Thật ư?". "Những một tháng mà!". Anh ngồi lặng đi, tay rờ rẫm lên những mạch máu li ti của mình. Chẳng biết anh có nghe thấy gì không. Còn mình thì mình thấy rõ tiếng hồi âm từ một thế giới xa xôi báo hiệu có cái gì như sự cộng hưởng của hai trái tim, đang nhoi nhóp, trường tồn và vĩ đại. "Có thật!" hàm răng anh lấp lánh. "Vâng, có thật!". Anh vùng dậy, hú hét như hóa dại. "Có thật! Có thật!". Tiếng chiếc chân gỗ nện xuống mặt đá dồn dập như tiếng bản nhạc hành khúc. Ba ngày sau anh chết vì một cơn tái phát dữ dội. * * * Giờ đây có ai về làng Hạ, hỏi đến chị Túc sẽ được mọi người trả lời thế này: "Chị Túc chửa hoang phải không? Cả làng ai còn lạ? Một dạo chị ấy điên tình bỏ đi lang thang rồi đem về một đứa con, chẳng hiểu sao từ bấy đến nay sống im lặng như người câm. Của đáng tội thằng bé mới đẹp chứ, cứ như từ trong bức tranh bước ra ấy. Ôi chao, hồng nhan bạc phận. Giá như hồi ấy đừng bắc bậc làm cao, cứ lấy béng anh Hào bây giờ chả sướng một đời"! Làng tôi được mỗi anh ấy là khá. Đi bộ đội, một trận không qua, một viên đạn không bắn mà đến được hàm tá! Bây giờ thử hỏi đã ai sướng bằng anh ấy. Tuy vợ gàn dở, xấu xí nhưng con nhà quyền thế, của nả như nước. Anh ấy cứ việc bám áo bố vợ mà tiến vù vù. Vâng, cứ hỏi "chị Túc chửa hoang" thì cả làng chẳng ai lạ! Không mấy ai còn nhớ xưa kia chị Túc xinh đẹp và tài đảm nhất làng. T.D.A Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 14 Tháng Năm, 2008, 09:19:05 pm NGƯỜI BẠN LÍNH LỜI TÁC GIẢ: Viết truyện ngắn có cái thú là chơi bố cục và chi tiết. Một truyện ngắn không có bố cục chặt chẽ, chi tiết đắt là rất khó đứng vững. Các truyện ngắn của tôi thường có nguyên mẫu trong đời sống, dĩ nhiên phải kết hợp nhiều người, nhiều hoàn cảnh, cô đúc lại trong một truyện. Truyện ngắn Người bạn lính là chuyện của nhiều người tôi quen biết, nhân vật Tấn được sáng tạo từ những nguyên mẫu đó. Truyện được dựng ở khung cảnh, chi tiết, ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Truyện được viết từ những năm Tám mươi của thế kỷ trước nên có một số chi tiết hơi bị cường điệu hay nói cách khác là hơi nống lên để gây cười. Tuy vậy, tôi cũng đồng ý với một số nhà nghiên cứu cho rằng Người bạn lính là một trong những truyện tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng. Truyện ngắn . NGUYỄN QUANG SÁNG Tôi không ngờ, người mà tôi sẽ viết bản báo công để chọn phong anh hùng là thằng bạn của tôi, thằng Tấn. Bạn cùng xóm, bạn từ lớp một đến lớp ba trường làng. Hai đứa xa nhau từ khi tôi học cấp hai, còn nó ở lại nhà với nghề mộc, nghề cha truyền con nối và chơi thì chơi với bạn chăn trâu hàng xóm. Tuổi mười bốn mười lăm mà nó làm được khối tiền. Khéo tay, nó lượm gỗ vụn, đục đẽo làm những cái ghế nhỏ như cái cốc, cái bàn nhỏ như bàn tay, làm cả bộ salon nhỏ xíu, khách hàng ai cũng thích mua để trưng tủ kiếng. Hết cấp hai, tôi lên tỉnh, từ nhà trường tôi ra thẳng chiến khu. Còn nó, cũng năm ấy (không hẹn) nó ra đi từ trại mộc. Ấy là năm 1950, hai đứa cùng tuổi mười tám. - Mầy viết báo công cho tao hả Quang? Vẫn cái giọng xuề xoà thân mật “mầy tao”. - Được không? Hay là chọn người văn hay chữ tốt hơn tao? - Được mầy là tao mừng. Tao thấy mấy thằng sắp làm anh hùng như tao, thằng nào cũng khổ. Nhà báo, nhà văn tụi mầy tra hỏi còn hơn công an hỏi cung, hỏi cả cái ngày còn ở truồng, hỏi ở nhà ăn cái gì nữa. Cực hơn đánh giặc. Với mầy thì tao khỏi nói, ăn cá chốt hay cá linh, ăn đọt xoài chấm mắm hay bông điên điển làm nhưn bánh xèo, mày biết ráo. Đánh giặc bằng ống thụt, tắm sông, nhảy từ lan can cầu nhảy xuống, hay leo dừa, leo xoài, lật đất cày bắt dế hay đá cá lia thia, cái gì tao chơi mày cũng chơi, khỏi hỏi, khỏi nói, được mầy là tao khỏe. Một đôi câu của Tấn, đủ gợi lên trong tôi cả một thời thơ ấu. Tôi cảm thấy rạo rực, muốn cầm viết, viết ngay. Viết về Tấn nhưng chan chứa tâm hồn của tôi. - Viết mầy là thằng Tấn trọc được không? - Được, mầy muốn viết gì thì viết. Gọi nó là Tấn trọc, vì ở trường có đến ba thằng Tấn. Tấn đen, Tấn sún, nó là Tấn trọc. Chẳng hiểu sao, từ lớp một đến lớp hai, cái đầu của nó lúc nào cũng trọc lóc, đầy u với nhọt. Bù lại cái đầu u nần lam nham thuốc xanh thuốc đỏ, nó có cặp mắt sáng, tròng trắng rất trắng, tròng đen rất đen với một nụ cười hiền lành. Đến năm lớp ba, nhờ một người Tàu bán tương chỉ cho một bài thuốc gia truyền: cháo lươn với đậu xanh, vừa mát vừa xổ chất độc. Chỉ có vậy mà cái đầu của nó lành lặn từ lúc nào chẳng ai hay biết. Sau, dù có một mái tóc rậm đen, nó vẫn mang danh là Tấn trọc. Bấy giờ, ngồi trước mặt tôi là một người đàn ông hơn ba mươi, dạn dày chinh chiến, rắn chắc trong bộ quân phục mà cách ăn mặc trông không được nghiêm chỉnh cho lắm, hơi xốc xếch, xuềnh xoàng. Chiến công nổi bật của nó là trận đánh vừa chặn đứng một cánh quân Mỹ đợt hai năm Mậu Thân (1968) trong một làng vùng ngoại ô Sài Gòn. Đơn vị nó nằm trong một vị trí bất lợi. Một bên là quốc lộ, một bên là con sông. Trên quốc lộ là xe tăng, là thiết giáp; dưới sông là tàu chiến, trên trời là trực thăng. Xa hơn là dàn pháo của căn cứ Bình Chánh, dàn pháo được mệnh danh là “dàn nhạc Tân Tây Lan”. Đơn vị nó hơn một trăm tay súng nằm trong cụm vườn thưa, lấy mương nước, gốc cây làm công sự. Giữa lúc hiểm nghèo ấy, Tấn đeo B41 leo lên ngọn dừa, lần đầu tiên trong chiến tranh Tấn là chiến sĩ dùng B41 từ trên ngọn dừa bắn hạ trực thăng. Chiếc trực thăng hình con cá lẹp, như con diều hâu sắt vừa quay cánh vừa sà xuống thấp, chưa kịp phóng rốc két thì bùng lên thành một đám cháy. Bầy trực thăng hốt hoảng, vội vã dạt ra xa. Chiến sĩ ta đồng loạt xông lên với tiếng reo hò. Tàu chiến bị trúng đạn phụt lửa, xe tăng bị B41 bốc cháy mềm như sáp. Trận đánh im tiếng súng vừa lúc trời sụp tối. Trận đánh của Tấn tôi viết thật tỉ mỉ, tôi nghĩ, chỉ một trận đánh ấy đủ cho Tấn xứng đáng là anh hùng. Cho nên những phần khác về cuộc đời của nó, tôi chỉ lướt qua. Vậy là đêm đêm, người viết báo công và những vị sắp là anh hùng cùng nhau làm việc không nghỉ ngơi, ghi rồi lại hỏi dưới ánh sáng của ngọn đèn chai, còn hai đứa tôi thì ra trảng, nhìn trăng sao, hóng gió, uống rượu và nhắc chuyện đời. - Sao? Có viết lại chuyện cô ở Thanh Hóa không? Tôi nhắc lại chuyện cũ, Tấn ngửa mặt cười. - Hồi còn đóng quân ở Thanh Hóa có một cô mê tao. Cô ta bảo: “Em xấu gái, em biết anh chẳng lấy em làm vợ đâu! Em chỉ có chỗ này là đẹp thôi”. Cô ta mở nút áo cho mình xem bộ ngực, đẹp thiệt. Không sao dằn lòng được, nhưng mình muốn đến thì cô ta xê ra. “Em sợ”. “Sợ gì?”. “Em muốn hiến cho anh nhưng sợ anh phản tỉnh”. “Không. Không. Anh không phản tỉnh đâu mà?!”. “Thôi, thôi, bây giờ thì nói thế, chứ đến lúc chỉnh huấn, cái đèn lù mù, chuyện gì mà các anh không nói, càng nói càng tiến bộ, chết là chết chúng em. Ở làng bên, có một cô như em, bị anh bộ đội phản tỉnh. Xấu hổ, cô bỏ làng đi mất!”. Hôm rồi, nhân dịp đi mua bò cho đơn vị, mình trở lại Thanh Hóa tìm cô ta, lần này mình nhất định xin hỏi làm vợ. Về đến làng thì biết cô ta đã có chồng rồi. Cô ta khóc và trách: “Sao hồi ấy anh không bảo với em!”. Trở về đánh một đàn bò mấy chục con qua ga Hàng Cỏ, mấy cô gái tóc quăn đứng bên đường kêu hỏi: “Anh bộ đội ơi, anh dẫn bò đi đâu mà nhiều thế?”. Đang buồn, đang quạu, lại mắc cỡ, mình đốp lại: “Dẫn bò đi phidê!”. Mấy cô nhìn lại mình, hai con mắt như ngọn đèn pha... Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 14 Tháng Năm, 2008, 09:20:11 pm NGƯỜI BẠN LÍNH (Tiếp) Kể xong, Tấn bỗng nhảy úm xuống suối, tôi hốt hoảng: - Mầy làm gì vậy? - Tắm cho đỡ buồn. Nhớ lại, tôi hỏi: - Bây giờ còn tắm cho đỡ buồn nữa không, cha? - Đêm nào mà không xối ào ào cho đỡ buồn. - Vợ con tính sao? - Thấy ai, gặp ai mà tính... Mấy ngày sau, bản viết của tôi được trả lại kèm theo lời phê: “... Viết về thành tích khá sinh động, nhưng còn phần lý lịch. Phải viết rõ vì động cơ gì mà hành động. Không thể không bị bóc lột, không thể không căm thù đế quốc phong kiến. Điều này cần phải được đào sâu”. Đọc xong tôi đổ mồ hôi trán. Thế là tôi bắt đầu hành hạ thằng bạn tôi: - Nhớ lại xem. Mầy bị bóc lột như thế nào? Mầy căm thù đế quốc phong kiến ra sao? Kể lại cho tao viết. - Tao thì mầy biết rồi, hỏi gì nữa? - Nhưng có một thời gian mình xa nhau. - Thì cũng vậy, mầy đi học, tao làm thợ mộc với ông già. - Động cơ nào mày đi theo cách mạng? - Tới tuổi quân dịch, không đi để tụi nó bắt lính, cầm súng bắn lại bà con à? - Được, được nhưng phải nhớ cho kỹ, phải đào sâu thêm, bị bóc lột ra sao? Tấn thở dài: - Tao là lính, tao chỉ biết đánh giặc – còn mầy là thằng viết, mầy phải nghĩ, viết sao nghe được thì viết. Thật đau đầu! A, tôi nhớ ra rồi. Hồi nhỏ cái đầu của nó hay bị u nhọt. Tôi viết, hồi nhỏ, gia đình bị bóc lột, nghèo khổ, không đủ ăn nên thường hay bệnh hoạn. Nhớ nó hay đi chăn trâu, tôi viết, có lúc nó phải đi chăn trâu cho chủ, ăn không đủ no, đêm phải ngủ ngoài chòi, mưa gió. Còn cái đoạn nó khéo tay làm ra khối tiền thì tôi xóa sạch. - Cần đọc lại cho mầy nghe không Tấn? - Khỏi. Tao có sao mầy cứ viết vậy là được! * * * Sau đó trong đợt bình bầu, Tấn được phong danh hiệu anh hùng. Năm sau, tôi và bạn bè tình cờ đi qua đi qua đơn vị của nó. Tôi rủ: - Ghé thằng bạn anh hùng tao chơi. Thằng điệu đời lắm. - Nhắm có gì không, tụi tao đang đói. - Tiệc tùng không dám hứa, nhưng ít nhất cũng có một con thịt, không nai cũng dộc, tệ lắm thì cũng một con cheo. - Vậy thì đi! Vào đến trạm gác đầu tiên, được tin Tấn họp. Từ trạm gác đến hội trường không xa lắm. Hội trường lợp bằng lá trung quân, không có vách, trống huơ trống hốc, đứng từ trạm gác nhìn vào tôi thấy Tấn ngồi trên hàng ghế Chủ tịch đoàn. Vừa nhắn tin, tôi vừa đứng thấp thoáng cho Tấn thấy. Từ trên ghế Chủ tịch đoàn nó nhờ một người lính nhắn ra chờ. Chúng tôi ngồi bệt xuống đất lưng dựa lên ba lô, hút thuốc, ngồi chờ. Hút hết điếu này lại mồi qua điếu khác, tôi chờ đến phát ngượng với bạn bè. Một cái nhướng mày: - Sao, chờ hay đi? - Ráng chút. Từ hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Tấn bước ra: - Tấn! – Tôi như reo lên, rối rít giới thiệu với Tấn, đây phóng viên thông tấn xã, và đây là nhà thơ. - Chào các đồng chí! Tấn hơi cúi người, bắt tay từng người, trong nháy mắt, tôi nhận ra sự khác lạ của anh qua phong cách. Trịnh trọng trong bộ quân phục thẳng thớm, lạ với con mắt của tôi, khó chịu hơn là sự trịnh trọng trong cách bắt tay từng người, trịnh trọng mà xa cách. Còn tôi thì anh như không thấy. Có lẽ anh sợ tôi vồ vập, sợ những cử chỉ thân mật quá đáng của tôi. - Các đồng chí đến làm việc với đơn vị? Cạnh bên anh lại có một chiến sĩ bảo vệ, với khẩu A.K. Ba thằng bạn cùng mở tròn mắt dồn lên mặt tôi. Tôi ngượng đến muốn độn thổ. - Sẵn đi qua, tụi này ghé thăm. - Vậy hả? Tiếc quá, đơn vị đang họp. Vừa lúc, trong hội trường có tiếng vỗ tay. Tấn vội cúi người chào: - Các đồng chí ngồi chơi. Lại cúi người trịnh trọng bắt tay, lần này thì Tấn không quên bắt tay tôi trước khi quay vào hội trường. Từ đó, không đến nỗi giận, nhưng tôi buồn. Dù không tới lui, thư từ, tôi vẫn nghe và dõi theo từng bước đi của Tấn. Từ trung uý, thẳng lên đại uý, Tấn thường được các cơ quan mời đến báo cáo điển hình, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng. Hội nghị nào có Tấn, Tấn cũng ngồi ghế chủ tịch, ngực lấp lánh huân chương. Nghe đến anh hùng Trần Đình Tấn là tiếng vỗ tay rộ lên. Bẵng đi hơn năm, nhớ là mùa hè năm 1971, tôi đang bị say nắng dưới chòm cây tai ghé bên rìa trảng. Có tay ai đập khe khẽ trên đầu võng, giật mình mở mắt, tôi không tin, đưa tay dụi mắt. - Mày còn sống hở Quang? Nó, người bạn anh hùng. - Chết cũng khó! (Những năm chiến tranh ác liệt, gặp nhau, hỏi thăm người nào đó, không hỏi mạnh khỏe mà hỏi sống hay chết, thành quen). - Dậy đi... - Nó vừa bảo vừa đưa tay rút dây võng bắt tôi phải bật dậy. - Bếp đâu, củi đâu? Tao nấu nước. Trà củ măng, thuốc Rubi chiến lợi phẩm – Tấn vừa nói vừa mở thắt lưng treo lên chạc ba cây. - Rượu đế với khô sặt. Chiều nay tao ở đây với mầy. - Khô sặt? - Được không? - Đâu mầy có? - Bên vợ. Tôi nói như hét: - Mầy có vợ? - Chẳng lẽ ở góa? - Ai? Ở đâu? - Ấy, từ từ rồi tao kể. Thằng bạn anh hùng của tôi, nó vẫn như xưa, vẫn là thằng Tấn, vẫn xuề xòa, vẫn cởi mở, tôi ước gì có mấy thằng bạn cùng trường năm trước cũng có mặt ở đây. “Tao nói có sai đâu, nó rất điệu đời mà!”. Sau một tuần trà, vừa ném cái tàn thuốc, nó xề lại bếp lửa, đặt con khô sặt lên than hồng. Ôi, chẳng biết bao nhiêu năm rồi tôi mới nghe lại cái mùi thơm của con khô quê hương. Chúng tôi lại nhắc đến mùa nước nổi, mùa giăng câu, mùa đặt lọp đặt lờ trên đồng nước. Hai đứa hai chiếc võng mắc song song, giữa là chiếc bàn nhỏ được trải bằng tấm ni lông màu lá. Trên bàn: bình toong rượu Tấn mang tới, hai cái chén mắt trâu, ba con khô sặt bằng bàn tay trên tờ bản thảo. Vài giọt nắng rơi qua kẽ lá, râm ran tiếng ve rừng, và tiếng rền rĩ ì ầm của phản lực quần đảo trên bầu trời. - Mầy là nhà báo, nhà văn, tao nghĩ mầy không giận tao. Mới nghe sẽ được tuyển làm anh hùng, thằng nào không khoái. Khi được phong hiệu anh hùng rồi, tao thấy khổ hơn làm dâu trăm họ. Có lúc tao nghĩ, tao không còn là tao nữa, tao như thằng nào vậy! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 14 Tháng Năm, 2008, 09:22:18 pm NGƯỜI BẠN LÍNH (Tiếp) Tấn dừng lại, mở tròn hai con mắt. Tôi bỗng nhớ hai con mắt học trò của nó ngày xưa. - Ngày thường tao cười ha hả, thích thì cười, chẳng ai nói. Bây giờ cười như vậy thì có người nhắc nhở, anh hùng đừng cười như vậy. Vậy còn nhẹ, có người nói sau lưng: “Anh hùng gì mà cười nghe ha há”. Anh hùng phải cười ra sao, tao chẳng biết, nên có lúc tao chẳng dám cười. Trước đánh giặc xong cứ chẳng biết làm gì, rủ nhau đi săn, nhậu, nói chuyện đời. Bây giờ có người hỏi, anh hùng mà nhậu nhẹt kia à! Thèm rượu muốn chết. Mình thì ăn mặc xốc xếch, quen rồi, bây giờ anh hùng phải giữ quân phong, quân kỷ. Trước giận thì chửi thề, vui cũng chửi thề cho nó đã. Bây giờ – anh hùng mà sao mở miệng là chửi thề? Nhiều lúc, thèm chửi thề hơn thèm thuốc. Giận nhau thì mầy tao, bây giờ anh hùng rồi, nói năng, xưng hô phải gọi nhau là đồng chí. Đó, đại khái là vậy, cho nên lúc nào tao cũng cứng như cây củi. Nghĩ cho cùng chẳng qua là anh em thương mình, muốn cho mình bất cứ lúc nào, nhứt cử nhứt động là anh hùng. Thôi, cũng được đi. Chuyện này mới đau. Một hôm, một bầy trực thăng đảo qua chỗ đóng quân, thấy nó nghiêng cánh biết là nó sắp bắn, tao nhanh chân tọt xuống hầm. Sau đó tao nghe xì xầm: “Anh hùng mà nhát như cáy. Trực thăng mới liếc qua mà đã són đái trong quần!”. Mấy lần sau, nó bắn, tao kênh mình đứng, xoay xoay theo gốc cây, may, đạn nó tránh. Nghe nói mà thương, tôi nâng ly: - Thôi bỏ, tao hiểu. Nói chuyện vợ con nghe đi. - Khoan, mầy cho tao cởi cái áo, mặc cái quần cụt cho nó đã. Quần áo nó ném lên cành cây, ngồi lại võng vừa lắc tới lắc lui vừa xé một miếng sặt đưa cho tôi: - Vô đi, rồi tao kể. Hai đứa cạn ly. - Chuyện vợ con cũng gian nan, tưởng cưới cô này, té ra lại cưới cô khác. Mầy biết, nói theo kiều miền Bắc, tao là con cả, lại là đứa con trai duy nhất. Ba má tao chỉ có cháu ngoại mà không có cháu nội. Năm rồi tao móc gia đình lên thăm, ba tao có dắt theo một cô gái cho tao coi mặt, tên Thảo, tuổi hăm hai, người cùng làng ở xóm Đình, nhưng hồi mình đi cô ta mới tám, chín, không quen không biết. Nếu hai người ưng nhau thì bên vợ cho phép làm đám cưới ngay tại rừng, không cần trở về hỏi han gì nữa. Mấy ngày ở chơi, Thảo lo cho tao đủ điều, lo cơm lo nước, vá quần vá áo. Tao ưng rồi, nhưng tất nhiên là phải báo cáo với đơn vị, với chi bộ. Không ai phản đối nhưng chi bộ có một đề nghị: cần thẩm tra lại lý lịch. Nếu tao là chiến sĩ thường thì chẳng có gì phải thận trọng đến vậy. Với lại, Thảo là người trong vùng địch kiểm soát, lại nhằm lúc địch đang tung chiến dịch Phượng Hoàng, cần cảnh giác Thiên Nga chui vào hàng ngũ mua chuộc cán bộ. Cũng vừa lúc đơn vị lên đường hành quân, tao mới có dịp xin hoãn. Nửa năm sau, chi bộ nắm rõ được lý lịch bên gia đình bên gái, mới đồng ý cho. Tao liền nhắn tin về. Mỗi lần đi là mỗi lần sống chết, cho nên cả bên cha mẹ đồng ý cho Thảo theo bà má giao liên, một mình đi lên rừng lấy chồng, và theo chồng ở lại chiến khu. Còn sui gia thì nhậu với nhau, coi như mời nhau ăn đám giỗ. Trên đường Thảo bị trực thăng bắn chết. Bà má giao liên về, vừa kể, vừa khóc. Bà má nhờ anh em trạm giao liên chôn cất cho. Tôi bỗng nghĩ đến cô gái, tiếng là đã có chồng, nhưng lại đời đời nằm lại dưới nấm mồ giữa cánh đồng hoang. - Rồi sao? – Tôi hỏi sau phút ngậm ngùi. - Nghe chuyện, ai cũng thương. Còn mình thì lao vào chiến đấu. Coi như đã có một đời vợ, lý lịch mình cũng ghi: Vợ – Lê Thị Thảo, hy sinh. Bất ngờ, sau một trận đánh trở về, đồng chí trung tá bí thư Đảng uỷ gọi mình lên, bảo: “Đảng ủy đã lo vợ cho đồng chí rồi. Không đâu xa, cô mật mã, con gái của đồng chí hậu cần bên Bộ Tư lệnh. Mai đồng chí lên đường”. “Chào đồng chí anh hùng – Ông già vợ mình là người vui tính, chào mình như vậy – Lý lịch đôi bên không có gì phải lo, bây giờ chỉ còn có việc gặp mặt. Cứ tìm hiểu, ưng thì tuyên bố, không hợp nhau thì là đồng chí. Con gái của bác là Nguyễn Thị Nương Nương, nhưng cứ gọi là Nương cho gọn... Là nhân viên mật mã, suốt ngày trong rừng sâu, chẳng mấy khi được tiếp xúc với ai, hơn cả đi tu, đã ba mươi, cũng muộn màng như mình. Vưa mới gặp mình đã nghĩ ngay: đây đúng là cái bến của mình, cái bến của một tay chèo đường dài quá mệt mỏi. Cắm sào thôi. Mình ở đó một tuần để tìm hiểu. Một tuần nhưng chỉ gặp nhau đôi lần. Công việc của mật mã hầu như chẳng được ngơi nghỉ. Khi nào Nương rảnh, hai đứa mới dẫn nhau ra chòi ngoài trảng. Ở đó mới nhìn thấy trời, thấy trăng sao. Rảnh rỗi, không biết làm gì, mình trổ tài làm mộc, đóng cho mỗi cô một cái bàn, cái ghế, đóng cho cơ quan một bộ bàn dài để tiếp khách. Có một buổi chiều hai đứa ngồi ngoài trảng, trời vừa sụp tối, mình đưa tay choàng qua vai cô, mầy biết cô ta phản ứng ra sao không? Cô ta hất tay mình xuống: “Anh hùng mà làm vậy người ta cười!”. Khổ không? Tao chẳng biết tỏ tình thế nào cho đúng là người anh hùng – thế là tao ngồi nghiêm, mắt nhìn thẳng lên một vì sao. Hết phép, tao về, cô ta hứa sẽ trả lời sau. Một tháng sau, tao làm đám cưới. Anh em cất cho tao một ngôi nhà lợp lá trung quân, dưới bóng cây cầy, bên bờ suối, thật thơ mộng. Dưới thềm là căn hầm chống bom B52, gọi là hầm bảo vệ hạnh phúc. Cha ơi! Cái đêm đầu của vợ chồng, vừa háo hức, vừa bối rối, vừa hồi hộp, chẳng biết phải tỏ lòng thế nào cho phải. Cô ta nằm cuộn tròn trong tấm vải dù pháo sáng, nằm thẳng như một cái gối. Còn tao thì nằm nghiêng. Chẳng có đứa nào ngủ, cứ trằn trọc cũng chẳng biết nói năng gì, chỉ nghe hơi thở của nhau. Cho đến gần sáng, nghe tiếng rền của phản lực, nghe tiếng bom dội lại từ xa, mình bỗng chợt nghĩ, nếu bom B52 rớt xuống, thì mình mang tiếng là có vợ mà chẳng biết gì. Nghĩ vậy, tao liền bật dậy như một người lính xung trận, “lên cò nổ liền mấy phát”. Sau đó, tao hoảng, không biết sẽ bị vợ trách thế nào đây. Không ngờ, cô ấy ôm cổ tao, thì thầm: “Anh đúng là một anh hùng!”. Tấn dằn ly rượu xuống bàn quay mặt, cười sượng sùng. * * * Sau ngày giải phóng gặp lại, nó trách: - Mầy làm hại tao quá Quang ơi! - Chuyện gì? - Cái bản báo công của mầy. Sau ngày vào thành phố, tao đang sắp xếp công việc để về quê thì ông già tao lên. Cha con gặp nhau tất nhiên là mừng nhưng mặt ổng lại hầm hầm, bảo tao: bà con lối xóm nếu không tận mắt đọc, không tận tai nghe cái bản báo công của tao qua đài thì cũng nghe người khác kể lại. Mấy bà dì ông cậu đến mắng vốn ông già tao: “Hồi nhỏ nó qua chơi, nó thích đi chăn trâu thì chăn trâu, có ai thuê, ai mướn, ai bóc lột nó, hiếp đáp nó, để cho nó căm thù!”. Ông già tao ổng đưa tay vỗ bồm bộp vào ngực: “Còn tao, thằng cha mầy, tao đâu có nghèo đến nỗi cho mầy ăn đói để mầy bị u bị nhọt. U nhọt thì thằng nhỏ nào không bị. Mầy nói thêm nói bớt để làm gì? Để làm anh hùng à? Đảng, Nhà nước nói, dân tộc mình là dân tộc anh hùng, mầy thấy chưa đủ sao? Thôi mầy đừng có về, mầy về, bà con không ai nhận mầy đâu!”. Nghe ông già nói, tao đau quá, tao có khóc bao giờ, vậy mà nước mắt tao cứ chảy. Chẳng lẽ mình bị mất hết dòng họ với quê hương? Tôi ngồi lặng, không ngờ cái ngòi bút của tôi lại gây ra một hậu quả nặng nề đến như vậy. Sau, tôi lại gặp người cậu của Tấn, một nhà giáo từ Hà Nội về, ông cho tôi thêm một bài học qua giọng mắng nhiếc: - Khi anh viết văn, anh muốn cho người ta bay lên trời hay độn thổ, muốn cho người ta mọc ba đầu sáu tay cũng không ai nói, còn báo cáo, báo công thì phải thật chứ! Chuyện đã qua bao nhiêu năm nhưng mỗi lần chợt nhớ mà mỗi lần thấy nhục cho ngòi bút của mình. Cái ngòi bút nhọn sắc như đâm vào tim tôi, nhói đau. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 14 Tháng Năm, 2008, 09:23:59 pm NGƯỜI BẠN LÍNH (Tiếp) Nghe tin Tấn chuyển ngành, đang trở lại nghề cũ, đóng bàn đóng ghế, tôi chưa kịp đến thăm anh thì anh đến thăm tôi, báo tin đã qua thời gian nan. Ngày vào thành phố, với cương vị là trung tá trong ban quân quản, trong tay anh không biết bao là nhà cao cửa rộng, nhưng anh lại chọn một căn nhà trong hẻm. Bây giờ bạn bè anh, người cùng cương vị anh hoặc thấp hơn anh, nhờ ở mặt tiền, nhờ ở villa, chỉ cần cho thuê, cho mướn cũng đủ sống. Còn anh, lương trung tá, vợ chuyên viên hai, hai đứa con, đứa sinh trong rừng năm 1972, đứa trong bụng mẹ về thành phố, những năm củi quế gạo châu không đủ sống, phải sống nhờ gạo “viện trợ” của hai bên cha mẹ dưới quê. Từ chiến trường Campuchia trở về, mất sức anh xin chuyển ngành, về phụ trách tổ chức cho một xí nghiệp. Qua một năm, Tấn thấy công việc không hợp với mình. Anh tự thấy mình không đủ sức hiểu người trên, người dưới và người chung quanh. Họ không dễ hiểu dễ nhận như những người lính của anh. Người ta tặng quà, anh không dám nhận, được mời đi tiệc tùng cũng e ngại. Anh thấy đằng sau những buổi tiệc linh đình là một cái gì đó sẽ đến với anh. Có được một bữa nhậu tình nghĩa thật hiếm hoi. Đã đến cái tuổi muốn thảnh thơi, anh xin nghỉ hưu. Hưu sống sao đây? Vợ chồng anh sống sao cũng được, không đòi hỏi gì, chỉ thương hai đứa con bị thua thiệt, muốn xem ti vi màu phải xem nhờ hàng xóm, đi học thì nhờ bạn bè chở giúp. Vợ anh, thỉnh thoảng lại bị sốt rét rừng tái phát, vẫn xanh xao, mỗi ngày mỗi yếu, không xông xáo như chị em. Cũng may nhà có được cái sân, anh che mát làm trại mộc. Khởi đầu là sửa bàn sửa ghế cho lối xóm, sau đóng bàn đóng ghế cho các quán cà phê, quán bia ở vỉa hè. Chỉ cần đóng ghế cóc thôi cũng đã có đồng ra đồng vào. Dần dần, khách đến đặt bàn, đặt tủ. Một mình làm không xuể, anh về quê, kéo lên những tay nghề đang thất nghiệp. - Đến bữa nay thì vững rồi, tao muốn mày dẫn tao đi chơi một trận, xả hơi – Tấn vưa nói vừa đưa tay vỗ túi – Bữa nay tao có. Nhìn cái vẻ hớn hở và xềnh xoàng của Tấn, tôi ướm: - Đi bia ôm? Tấn trợn mắt nhưng miệng lại tủm tỉm: - Thì cứ thử xem. Nè, tao nghe nói nhà báo tụi mầy ở đâu cũng có mặt, thiệt bụng là đi chơi, nhưng nếu có ai bắt bẻ thì nói là đi lấy tài liệu, phải không? Tôi cười. - Như tụi mầy sướng thật! - Dám đi không? - Ừ thì đi, Đừng sợ tao hư! Nói vậy chứ tôi đưa đến một quán khác, một cái quán quen, có cỏ cây thơ mộng, có máy lạnh rì rào, có nhạc lúc xập xình, lúc nỉ non, có các em son phấn tới lui, bưng rót, có khăn ướt ướp dầu thơm, một cái quán sạch sẽ và nhiều nghĩa. Tình cờ gặp mấy anh bạn nhậu làm xuất khẩu, những người bạn làm ăn khá giả. Thế là chúng tôi quây thành một bàn. Tấn đưa tay xuống bàn quèo tôi, biết ý tôi giới thiệu anh, thằng bạn tôi, chủ một trại mộc. Anh bạn làm xuất khẩu của tôi, một người bạn trên dưới năm mươi, khỏe mạnh, đầu hớt “cua” cũng vốn là con nhà lính, liền bưng ly đưa thẳng lại Tấn: - Một ly làm quen! Cả hai đều cạn trong một hơi, hai cái ly vừa đặt xuống thì hai cái “bốp” nổ cùng một lúc, trong ánh đèn màu, hai cô em xuất hiện từ lúc nào, đã bật nút hai chai Heineken và những cái ly màu vàng lại đầy bọt. Sẵn đà tôi giới thiệu về cái xóm mộc của làng tôi và tay nghề cha truyền con nối của anh. Anh bạn xuất khẩu của tôi như bắt được của: - Mình nghe tiếng cái làng mộc của mấy anh từ lâu mà chưa có dịp tới, sẵn đây, để gọi là làm quen, anh có thể đóng cho tôi một bộ ghế cổ, có cẩn ốc, có chạm rồng, được không? - Đó là nghề của gia đình tôi. - Vậy thì ta ký tắt. Sáng mai tôi đến trại mộc của anh. Nếu như đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, tôi sẽ đặt anh dài dài... Mời! Ra khỏi khách sạn, Tấn vừa đi vừa bảo: - Mình không ngờ do nhậu chơi mà được một hợp đồng ký tắt! – Tháng tới, thằng con tao có xe đi học rồi! - Xe gì? - Xe đạp. - Tao tưởng mầy nói Honđa. - Chưa, chưa đâu. - Nếu đóng được hàng xuất khẩu dài dài thì ti vi màu cho con đâu có khó gì? Tấn gật gù: - Tao cũng đang nghĩ. Nói mầy đừng cười, đêm nay như là đêm đầu tiên tao bước vào đời. Tấn không say, có lẽ anh đang vui nhiều hơn. Anh đi như cái dáng đi ngày xưa lúc là anh lính chăn bò ở Ba Vì, sau vài ly rượu, đi hơi lắc lư. - Mầy thấy đêm nay vui không? - Tôi hỏi. - Đã. N.Q.S Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 18 Tháng Năm, 2008, 10:54:29 am CHUYẾN XE ĐÊM Ông run hết cả người, cảm thấy mất hết tự chủ. Cảnh tượng trước mắt ông là sự thật mà như ác mộng. Tên phỉ thiện xạ nào đó bắn thật chính xác, ba viên đạn xuyên qua ngực người lái xe, phá chếch ở phía lưng anh. Anh gục xuống, lưng hơi cồm dậy, ở đó máu đã ứa ra đen thẫm. Vậy là hết rồi! Hết rồi! "Phát đạn đầu chúng dành cho người lái xe. Phát thứ hai là một quả B41". Bọn tàn quân vẫn giữ cái lối xử sự như thời chúng còn thống trị đất này: chúng không ưa bắt tù binh, không sử dụng trại giam. Chúng giết người ngay tại chỗ, gọn ghẽ và chóng vánh... Ma Văn Kháng Chiếc xe lại hỏng. Lần này là lần thứ mấy, kể từ lúc nó rời biên giới? Ngồi ở băng ghế sau, người phụ nữ phương Tây xinh xắn không nhớ, nhưng khó chịu và buồn lo lộ ra mặt. Bởi vì lúc này trời đã tối. Trời tối ở một vùng đất xa lạ, còn ngổn ngang, bừa bộn vết tích của chiến tranh. Đất hoang lạnh, loang lổ những vết cháy. Cây xém, ủ rũ cạnh những đống vỏ đạn pháo lớn và những vòng thép gai bò loằng ngoằng gớm guốc. Đường đã vắng từ lúc chập tối. Giờ thì chẳng còn sự sống trên mặt con đường gập ghềnh, lồi lõm hố đạn pháo. Không có xe đi ngược chiều và cùng chiều, kể cả những chiếc xe bò kéo, bánh xe to một cách cổ lỗ và như là vô lý của những người dân vừa ra khỏi cuộc chiến tranh đang tìm đường trở về quê cũ. Không còn tiếng nó lăn lọc cọc đều đều trong hành trình giống như trong một cuộc viễn du vô định. Giờ, chiếc xe trở nên cô đơn. Họ đã phải đổi xe ở biên giới. Chiếc Mazda sang trọng được thay thế bằng chiếc com-măng-ca cũ kỹ, mình đầy bụi, lam lũ, không có biển số. Trông nó đã nao cả lòng, nhất là khi nghe người sĩ quan dặn người lái xe: "Chú ý: gặp ai, không được nói cho họ biết xe chở ai, đi đâu. Dọc đường, không cho bất cứ ai đi nhờ xe". Người phụ nữ hiểu ngay từ lúc đó: tính mạng của họ trên đất nước xa lạ này hoàn toàn phụ thuộc vào chiếc xe và anh lái xe, một chiến sĩ Việt Nam nhỏ nhắn hiền lành. Ôi chao! Chiếc xe thì quả là không tin cậy được. Giờ, nó lại chết giữa vùng đất mênh mang, nhìn đâu cũng chỉ thấy mờ mờ những cây thốt nốt cao lớn, chơi vơi trên vòm trời, chẳng có gì chơi vơi, chông chênh như loài cây ấy vào lúc này. Thấy xe hỏng, người đàn ông phương Tây ngồi cạnh người phụ nữ, từ nãy vẫn lim dim như hoài niệm cái gì đó, choàng tỉnh, đẩy cửa xe, chui ra. Đó là một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, bụng xệ. Cái bụng xệ không gây ấn tượng chậm chạp, nặng nề. Vì cái quần gin bó tôn người ông cao lên, rất hòa hợp với cái áo bu-dông bó gọn thân trên và cái vẻ háo hức trẻ trung trên khuôn mặt dãi dầu, từng trải. Ông là phóng viên của nhiều tờ báo lớn trên thế giới, quen với những khung cảnh chiến trường, nỗi hiểm nguy và những sự kiện mới mẻ, sôi động của hành tinh. - Rô-da, em cứ yên tâm. Người đàn ông ghé mắt vào cửa xe, an ủi người phụ nữ. Cạnh ông, chị nhỏ bé, non nớt như một cô em út. Họ mới lấy nhau. Và người đàn ông đã thuyết phục được vợ mới cưới thuận theo cái ý muốn phản ảnh cái máu mê nghề nghiệp của mình: hưởng tuần trăng mật trên con đường thiên lý của nghề nhà báo, ở một đất nước xa xôi, đầy bí hiểm: "Em có biết không? Bọn cai trị ở nước ấy bắt đàn ông, đàn bà phải sống cách biệt trong các trại tập trung. Chúng chỉ định người đàn bà này lấy người đàn ông kia. Chúng cũng tổ chức cưới cho họ. Cưới hàng chục cặp ghép đôi như ghép gà, ghép lợn rồi ai lại về trại nấy. Không ai được phép có một cái gương. Ai soi mặt dưới bóng nước, bắt gặp chúng đập chết liền". Nghe người chồng nói vậy, người vợ rùng mình. Thật kinh khủng và quái gở. Làm sao có thể tin được? Tính tò mò được khơi dậy, chị bằng lòng. Và họ bay đến Việt Nam rồi bây giờ quá cảnh ở đây, vùng đất nước vừa mới thoát khỏi cái tai ương khủng khiếp vô nhân đạo nhất kia, mới có ít ngày. Được sự an ủi của chồng, người phụ nữ yên dạ. Chị gật đầu hơi nũng nịu. Và người đàn ông hôn vợ rồi đi lên phía đầu xe lúc này nắp ca-bô đã mở, hất lên; ở đó, lúi húi bóng người lái xe bé nhỏ. - Xe làm sao thế, anh người Việt? Người đàn ông hỏi, giọng cố tỏ ra không sốt ruột. - Thủng két nước, ông ạ. Người lái xe đáp khẽ, nhưng lại chợt giật mình chồm lên, gào vào trong xe lúc đó ánh đèn vừa lóe dậy vàng đục; Tắt đèn! Tắt đèn đi, chị ơi! Người đàn ông quay đầu lại. ánh đèn trong xe vừa bật - chắc là người phụ nữ định tìm cái gì đó - đã tắt ngấm. Người phụ nữ kêu len the thé chừng như bực bội. Người đàn ông bước lại xe nhún vai. Trong xe, im thin thít. Cả hai đều tự hiểu một cách thật sâu xa rằng, ánh sáng lúc này là mục tiêu của bao điều hung hiểm. Tốt nhất là im lặng trong đêm và chờ đợi. Nhưng mà chờ đợi bao lâu nữa? Thủng két nước giữa chốn này! Người đàn ông đứng tựa lưng vào cửa xe như chở che cho vợ, nhìn anh lái lúi húi ở đầu xe, chốc chốc lại thở dài vô vọng. Nhưng bỗng, thình! Nắp ca-bô xe đập xuống. Người đàn ông bước nhanh lên đầu xe. Người lái xe đang lau tay. Lát sau, ông quay lại, mở cửa xe, gieo mình xuống cạnh vợ, thở phào sung sướng: - Thủng két nước! Nhưng, thật là kỳ diệu! Thật là kỳ diệu! - Chữa được rồi. Bốp? Người phụ nữ níu vai chồng riu ríu: Chữa xong thật rồi à! May quá! - Anh ta đã chữa. Bằng gì em có biết không? ở Cu-ba năm sáu mươi, anh cũng gặp một ca như vậy. ở Ăng-gô-la vừa rồi chiếc xe chở anh cũng rơi vào tình cảnh tương tự, người lái xe bít lỗ thủng bằng xà phòng. Còn ở đây, bây giờ, anh lái xe người Việt này chít các lỗ thủng bằng cứt trâu! Thật là kỳ lạ! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 18 Tháng Năm, 2008, 10:58:32 am CHUYẾN XE ĐÊM (Tiếp) Thật là kỳ lạ! Lúc chiều tối, họ đã gặp những chiếc xe từ chiến trường về, đi ngược chiều với họ. Nhiều chiếc không kính. Có chiếc dùng đèn pin thay đèn pha và cả hai vợ chồng đều cười như nắc nẻ khi thấy một chiếc xe trên nóc buồng lái đặt một phuy xăng hỏng. Xăng đã theo vòi cao su rỏ thẳng xuống đầu máy, chắc là bơm xăng hỏng. Họ đã băn khoăn tự hỏi: những người chiến sĩ kia, vì lẽ gì mà vất vả thế? Họ đem thân họ đến đây nào có phải giải phóng cho đồng bào họ? Ai cũng biết người Việt đã trải qua hơn ba chục năm chiến tranh trên đất nước của chính mình rồi. Người phóng viên đã hỏi câu đó với một vị chỉ huy ở biên giới. Người chỉ huy nguyên là một thầy giáo dạy tiếng Pháp. Ông không trả lời thẳng vào câu phỏng vấn của nhà báo: "Theo chỗ tôi biết, trong ngôn ngữ tất cả các nước châu Âu, đều có chữ tình. Tình yêu, tình bạn, tình gia đình, tình thầy trò - Ông nói điềm đạm - Nhưng trong tiếng Việt chúng tôi, cạnh chữ tình còn có chữ nghĩa: nghĩa, về phương diện nào đó, là kết tinh của chữ tình, nghĩa vợ chồng, nghĩa bạn bè, nghĩa xóm giềng lân bang…". Đó là một điều mới lạ nữa đối với người phóng viên. Và bây giờ thì xe đã chữa xong, tiếp tục lăn bánh, người phóng viên lại có cảm giác ngỡ ngàng, mỗi bánh xe lăn là một bước đi vào những điều chưa biết, từ cảnh quan tới không khí, cảnh trời. "Mùa khô kéo dài sáu tháng. Người đàn ông nhớ tới một trang sách trong cuốn sách khảo cứu về đất nước này mà ông đã được đọc rất kỹ trước khi qua đây. Bạn có thể nhìn thấy cây thốt nốt xa tít ở chân trời chỉ còn nhỏ bé, đơn côi như ngọn cỏ, đứng chơ vơ như chứng nhân từ tiền sử. Đất phù sa cổ khô, chờ mưa xuống sẽ xuê ra, tơi tả. Lúc ấy người Khơ-me sẽ sạ lúa, cứ mỗi mẫu là 60 cân hạt. Cây lúa cao lên, họ sẽ bừa ào đi. Cây yểu tự chết. Cây nào sống sót thì sống mạnh mẽ, mãnh liệt, y hệt con người ở xứ sở này. Đất nước sống bằng gạo và khô cá này ngờ đâu đã có lịch sử từ 2500 năm trước Công nguyên, đã trải qua các vương quốc, vương triều…". Bánh xe chạm đánh kịch vào gờ một chiếc cầu, cắt đứt dòng suy tưởng của người đàn ông. Cả hai vợ chồng cùng hơi bị xô về phía trước. Và họ cũng nhìn thấy lố nhố trong bóng đêm ba bốn cái mũ sắt cùng mấy ngọn súng tiểu liên. Người lái xe ngoảnh ra cửa, đưa tay lên chào những người gác cầu, nói cái gì đó và chiếc xe lại lăn đi ngay. Sự gặp gỡ thỉnh thoảng một chiếc cầu và các trạm gác vừa làm cho vợ chồng người phóng viên yên lòng, lại vừa gây cho họ cảm giác phấp phỏng. Xe cách cầu được một quãng, người lái xe trẻ tuổi quay lại, vẻ như bâng quơ: - Không có bộ đội thì trong vòng một ngày, chiếc cầu sẽ bị bọn phỉ phá sập ngay. Người phụ nữ co người lại sau câu nói đó. Nhất là lúc này đêm bỗng trở nên nhờ nhờ sáng, người đàn ông háo hức vì nghề nghiệp, đã chuyển lên ngồi ở ghế trước và không khí trở nên hắt hiu khác thường. Đêm mờ càng hiện ra sự vắng vẻ, cái vắng vẻ chứa chấp những bất trắc khôn lường. - Một đất nước huyền thoại và trữ tình, Rô-da ạ. Người chồng quay lại, đắm chìm trong suy tưởng, thoát khỏi cái hiện thực lạnh lẽo ngoài kia. Người vợ đã bíu lấy cổ chồng, giọng lạnh run: - Bốp. Lạy chúa! Sao chúng ta không đợi sáng mai hãy đi. - ờ, nghề nghiệp của anh, Rô-da à, trong tĩnh lặng buổi đêm ta nhìn được chiều sâu của các sự kiện. - Lạy Chúa! Em vừa đọc xong "Chùm nho uất hận" của Stenbéc. Sao em có cảm giác chúng ta đang ngồi trong chiếc xe Hudson của gia đình Tôm đi về miền Ca-li-phoóc-nia xa xôi, vô định quá. - Đừng nghĩ u ám thế, Rô-da. - Lạy Chúa, trong cuộc di cư tuyệt vọng ấy, thoạt đầu là ông nội Tôm chết, kế đó bà nội Tôm… Người đàn ông lắc đầu, im lặng. Cái rùng mình từ người phụ nữ lan sang ông, lướt qua ông, để lại trong ông một cảm giác lửng lơ. Và khi thấy xe chạy gần một tiếng đồng hồ nữa mà không gặp lại một chiếc cầu nào thì ông thấy nỗi lo sợ của người vợ là hợp lý. Ông cũng thấy mình như đang chờ đón một cái gì đó như là sự may mắn, điều rủi ro, và các chức phận cảm giác của ông căng dần lên, làm ông khó chịu. Thấm nhiễm khắp không gian là cơn tê giá của những hãi hùng tưởng tượng mà hết sức đáng sợ. Trời đất trống tuếch, nhưng dường như ở bất cứ nơi nào đó cũng có thể nẩy ra một cái gì đó rất bất ngờ, ở ngoài sự phỏng đoán của con người. Sự tương phản tình cảm ở trong xe, đối cực với trạng thái tâm lý của người phụ nữ và phần nào của người đàn ông, là trạng thái tinh thần của anh lái xe. Anh còn rất trẻ trong bộ quần áo lính, những bộ quần áo lính không bao giờ mới, nhưng bao giờ cũng làm cho người mặc trẻ ra. Chỉ độ hăm mốt, hăm hai, anh có một khuôn mặt không thật đặc sắc, nhưng dễ mến, nhìn bán diện, cái trán hơi dô, gò mũi cao và cái cằm thon lẹm, nhỏ, hệt cằm con gái. Song đáng chú ý nhất là con mắt. Xe chạy không đèn. Nhưng mắt anh là ngọn đèn. Hình như nó phát ra hai luồng sáng. Và con người trẻ tuổi ấy lại diễn tả sự bình tĩnh đến mức người đứng tuổi vốn có ưu thế này, phải ghen tị. Sự bình tĩnh thuần thục và tự nhiên làm sao. Đó không phải là sự lên gân cố tình, hay thái độ vô tư lự, không hiểu biết. Cũng chẳng phải là sự phớt lờ, khinh bạc. Sự bình tĩnh vì từng trải, vì làm chủ được sự vật, hòa hợp một cách thật nhuần nhuyễn với cái gì đó như là một bản lĩnh chiến sĩ, có thể hiện lên thành hình hài cho một kiệt tác điêu khắc. Người phóng viên phương Tây cảm nhận điều đó không thật rõ ràng, nhưng ông muốn ghi lại hình ảnh này trong ký ức và ông đang tìm từ ngữ, phong điệu để định hình sự diễn đạt. Nhưng, ông bị đột ngột. - Ông nên ngồi ra ghế sau đi. Người lái xe bỗng ngoảnh sang người phóng viên, nói khe khẽ, nét mặt không hề thay đổi, nhưng đó là một nét mặt khó miêu tả nhất vì đằng sau cái thần thái tự nhiên ấy là cái mênh mang, sâu thẳm của tinh thần. Người phóng viên dò doán, cố nắm bắt cái tinh thần ấy thì người lái xe đã thêm: - Ngồi trên ghế trên này nguy hiểm đấy, ông ạ. Lần này giọng nói của người lái xe có vẻ nghiêm trang. Lập tức, người phóng viên cảm thấy bị xúc phạm. - Tôi đã từng ở mặt trận Pa-lét-xtin. Tôi đã ở bãi biển Hi-rôn Cu Ba khi bọn Mỹ bị đánh trả tơi bời. Tôi vừa ở Ap-ga-ni-xtăng về… Người lái xe quay lại, hai con mắt thông minh chớp chớp. Anh hiểu ông nhà báo, nhưng hơi mỉm cười: - Ở đây, bọn tàn quân Pôn Pốt nó ranh ma lắm, ông ạ. Phát súng đầu tiên nó dành cho người lái. Phát sau là một quả B41. Tháng trước có một ông bị vạ lây với tôi vì thế, may chỉ bị thương. Vả lại đừng nên để bà ấy ngồi một mình. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 18 Tháng Năm, 2008, 10:59:27 am CHUYẾN XE ĐÊM (Tiếp) Cơn tự ái của người phóng viên tan ngay sau câu nói ấy. Ông hiểu rồi: không phải người lái xe coi thường ông. Nhân cách này cao cả và lạ lùng: anh ta chỉ muốn một mình mình hứng chịu nỗi hiểm nguy. Xe dừng lại một phút để người đàn ông chuyển về hàng ghế sau. Và khi xe tiếp tục chuyển bánh ông lại rơi vào một trạng thái tâm lý dở dang, lừng chừng rất quen thuộc. Y như cái cảnh tranh tối tranh sáng nhuốm một vẻ bâng khuâng ở ngoài xe: đồng hoang trải rộng chập chờn những đám sương trắng mỏng mảnh như khói, ẩn giấu đâu đó nỗi kinh dị về những huyền tượng yêu ma, quái đản. Xe đã gặp lại một chiếc cầu. Trên dặm đường thăm thẳm đó là nỗi an ủi duy nhất của nó. Lần này trời sáng hơn. Và vì người lái dừng xe xin thuốc lá người gác nên người phóng viên nhìn rõ gương mặt, những anh bộ đội Việt Nam: những người lính rất trẻ, tỉnh táo và mắt lấp lánh nhiệt tình khi nhận ra trong xe có hai người phương Tây, nhất là lại có một phụ nữ. Nhưng, cuộc gặp gỡ như định kỳ ấy lại khiến người phụ nữ thấp thỏm. Về tâm linh, chị tinh tế hơn chồng. Sau phút yên lòng, chiếc xe đi vào nỗi bơ vơ, đơn chiếc. ở mỗi đoạn đường, hai cây cầu là hai điểm nương tựa, an toàn và chỉ có vậy thôi, còn khúc giữa dằng dặc là dặm đường đầy những bất hạnh khôn lường. Người phụ nữ níu tay chồng dồn dập hơi thở: - Bốp! Thật là kinh khủng! Chỉ với cái không khí này em cũng đã hiểu bọn người xưa kia thống trị xứ sở này tàn ác như thế nào. Nhưng, sao ta lại dấn thân vào đất này? Thật là mạo hiểm! Mà em cũng chẳng hiểu: Tại sao người Việt lại dính vào công việc ở đây. Họ rỗi việc quá hay sao, nên thấy đám cãi nhau liền xô lại can. - Không phải! Bọn Pôn Pốt đánh họ đấy chứ! Người đàn ông cải chính. Người phụ nữ lắc đầu: - Em không thích, Bốp ạ. Chúng ta sống yên ổn, thái bình và buôn bán với ai thỏa thuận với ta. Sao họ không như ta? Lần này người đàn ông không giải thích cho vợ nữa! Chị là một phụ nữ xinh đẹp, đảm, yếu đuối và ngây thơ. Vậy thôi. Nhưng người lái xe sau khi nghe người đàn ông dịch lại câu nói của người phụ nữ, gần như nhoai nửa người qua lưng ghế, anh chỉ lái có một tay. - Chị chưa hiểu dân tộc tôi. - Anh nói - Chị tôi, năm trước xung phong đi xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên. Hăm hở lắm. Nhưng vừa rồi tôi về phép thì gặp bà ấy bồng bế tất cả con cái về làng. Không phải là bà ấy không chịu được khổ. Trên ấy sung túc là khác. Nhưng bà ấy về vì… nhớ quê. Cái làng quê Việt Nam giữ chặt chân người ta lắm. Người ta chẳng muốn rời khỏi làng mình, xã mình, huyện mình, tỉnh mình, chứ đừng nói đi tới nước khác. Người Tàu thì khác! Với ba củ lạc rang, họ đi khắp thế giới. Họ đến đất này thoạt tiên xin ngủ nhờ đầu hè nhà người Khơ-me. ít lâu sau, họ mở sòng bạc, cửa hàng tạp hóa. Rồi họ lấy vợ người địa phương. Rồi bắt đầu mua đất. Người Cam-pu-chia đánh bạc hết tiền, cầm đất. Hết đất, thế là vợ chồng con cái lên xe cho bò kéo đi. Thực dân một cách êm thấm là cái cách của người Tàu. Còn chúng tôi, tất nhiên không phải thế. Nhưng nói thế nào để chị hiểu nhỉ? ờ, vấn đề chính trị, ờ, đúng là Pôn Pốt đã gây sự với chúng tôi… nhưng không phải chỉ có thế… Hình như lúng túng về cách diễn đạt, người lái xe trở lại tư thế bình thường, hai tay xoay nhè nhẹ vòng tay lái: - Ông bà trông kìa, có giống cánh đồng ma không? Người Khơ-me có câu thành ngữ rất hay: "Người Tàu đuổi người Khơ-me, người Khơ-me đuổi ma". Đó, cầm đất cho người Tàu xong, người Khơ-me lại lặn lội đến các cánh đồng hoang, bắt đầu khai phá. "Anh ta hiểu biết vấn đề một cách sâu xa". Người phóng viên nghĩ. Nhưng, câu chuyện về tội ác của bọn người cai trị đất nước này lẽ ra có thể kể lại rất nhiều nữa nhưng đã bị dừng lại. Dường như không muốn gây những ấn tượng nặng nề cho người phụ nữ, cảnh ở ngoài xe đã đủ lắm rồi, anh lái, sau một vòng cua hẹp, giọng bỗng trở nên nhẹ tênh: - Đến Cam-pu-chia, ông nên đưa bà ấy đi xem Ăng-co. - Anh đã đi chưa? Người phóng viên hỏi. - Tôi đã đưa khách đến đó một vài lần. Chà! Thật là cả một kỳ quan. Mùa khô này, ông bà nếu xem ở phía đông nên xem từ quãng tám giờ đến mười giờ sáng. Lúc ấy mặt trời vàng như mật ong, tượng các vũ nữ rực rỡ, lộng lẫy nét hình, đẹp hơn tượng trong hoàng cung nhiều. ừ, đẹp nhất là tượng phụ nữ. Mà phụ nữ Cam-pu-chia đẹp thật. Bà chị tôi 38 tuổi đã xồ xề. Phụ nữ dân tộc này 40 vẫn thon gọn vóc dáng đầy sức sống nữ tính - Anh lái xe mỉm cười: Ông bà nên đến Ăng-co. Đến đó, ông thử nghĩ, giả dụ ông có một người xóm giềng tài năng như thế… Người phụ nữ bị nỗi sợ hãi ám ảnh giày vò, không để ý tới ý tứ chứa đựng trong từng câu nói của anh lái xe, nghe chồng chị dịch lại chưa hết, đã lắc đầu quầy quậy: - Không! Không! Tôi chẳng đi đâu cả! Lạy Chúa! Đến Phnôm-pênh tôi mua vé máy bay về ngay nước tôi thôi. Bốp! Thôi đừng kể những chuyện khủng khiếp nữa. Những câu nói gay gắt của người phụ nữ làm không khí trong xe trở nên nặng nề. Không ai nói nữa. Và lúc này, xe đang đi vào vùng tối âm u. Bóng đen từ khu rừng cao su rậm tỏa ra, vệt đường trước kính xe chìm lẫn trong cõi mông lung. Mắt căng, rọi cái nhìn tập trung về phía trước, anh lái xe cho xe chạy chậm chậm như vừa chạy vừa dò đường. Người phụ nữ nép vào bên chồng, run rẩy. Chị lẩm nhẩm như đọc kinh: "Bốp! Chắc chắn họ đã dò mìn cẩn thận rồi chứ". "Bốp, sao mãi không đến một chiếc cầu nào?", "Bốp, dừng lại ở trạm gác cầu sắp tới nhé. Em chịu không nổi nữa rồi!". Và nỗi sợ hãi của chị đã tới cực điểm, đã thành sự thật. Chị bỗng ôm chặt chồng, rú lên một tiếng khiếp đảm và tắt nghẽn. Đoành! Đoành! Đoành! Đạn vừa nổ ba tiếng phá vỡ bóng đen. Đó là tiếng súng bắn chiếc xe của bọn tàn quân. Người phóng viên chồm lên, thét một tiếng còn kinh hãi hơn tiếng rú của người phụ nữ, ông nhìn thấy người lái xe đập mặt xuống vành tay lái: - Trời! Ông run hết cả người, cảm thấy mất hết tự chủ. Cảnh tượng trước mắt ông là sự thật mà như ác mộng. Tên phỉ thiện xạ nào đó bắn thật chính xác, ba viên đạn xuyên qua ngực người lái xe, phá chếch ở phía lưng anh. Anh gục xuống, lưng hơi cồm dậy, ở đó máu đã ứa ra đen thẫm. Vậy là hết rồi! Hết rồi! "Phát đạn đầu chúng dành cho người lái xe. Phát thứ hai là một quả B41". Bọn tàn quân vẫn giữ cái lối xử sự như thời chúng còn thống trị đất này: chúng không ưa bắt tù binh, không sử dụng trại giam. Chúng giết người ngay tại chỗ, gọn ghẽ và chóng vánh. Người đàn ông lảo đảo đứng dậy, mất hết tri giác. Nhưng ông bỗng nắm lấy lưng ghế trước. Sao lạ thế này? Trong cái phút hoàn toàn tuyệt vọng này, khi người vợ yêu quý đã chết ngất bên mình, kỳ lạ quá, người đàn ông bỗng thấy trọng lượng thân thể mình sụt xuống, ông hẫng người, chông chênh trong một cảm giác mờ mờ ảo ảo: ngoài cửa xe, cảnh bỗng chuyển dịch như các khuôn hình của một cuốn phim. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 18 Tháng Năm, 2008, 10:59:57 am CHUYẾN XE ĐÊM (Tiếp) "Xe vẫn chạy". Người đàn ông bàng hoàng khi thấy phía sau xe vụt qua một luồng hơi nóng ngột và một tiếng nổ lớn. Ông ngồi xuống nghiến chặt răng. Quả thật chiếc xe có khựng lại, nhưng chỉ một giây thôi. Và bọn tàn quân chưa kịp phóng quả lựu đạn hủy diệt vào nó, nó đã tiếp tục lăn bánh. Chiếc xe không chết! Nó lao vùn vụt, tốc độ xem ra có phần còn nhanh hơn lúc nãy. Tựa như có một lực vô hình đẩy nó. Tựa như có một phép thần nào điều khiển nó. Tựa như trong nó vừa xuất hiện một bầu năng lượng mới chưa từng có. Bởi vì anh lái xe người Việt vẫn gục trên tay lái, máu càng lúc càng đẫm khoảng lưng áo. Bởi vì anh lái như đang ở trong giây phút hấp hối: thỉnh thoảng anh lại nghểnh lên giống như là quằn quại, nhìn về phía trước, rồi lại giụi mặt xuống tay lái, đau đớn hực hực thở hắt ra. Mười phút sau, chiếc xe đỗ lại ở một cây cầu có những người lính gác. Anh lái xe đã bất tỉnh, nhưng chân vẫn còn đặt hờ trên chân ga, tay vẫn nắm chặt vành tay lái. * * * Câu chuyện về chiếc xe vượt qua cõi chết vô cùng khó hiểu đã trở thành một trong những chuyện kỳ lạ của chiến tranh. tính toán chi li thì với ba viên đạn xuyên qua phỏi, anh lái xe người Việt coi như đã gục ngay tại chỗ rồi. Cũng không phải chiếc xe đã chạy theo quán tính. Đường rừng ở đây ngoằn ngoèo, không theo một sơ đồ cố định nào. Vả lại, tính ra, nó đã chạy được tới gần mười cây số để tới sự sống an toàn. Câu chuyện gây xôn xao cho các bác sĩ và các phóng viên. Hai vợ chồng người phóng viên phương Tây đến bệnh viện. Anh lái xe người Việt chưa chết. Đến bên giường anh, người phụ nữ đặt bó hoa lên cái bàn nhỏ cạnh anh, nước mắt giàn giụa. Còn người đàn ông, thói quen nghề nghiệp lại hòa vào xúc động của ông. Ông nắm tay người lái xe trẻ tuổi, rưng rưng: - Thật là kỳ diệu! Vì sao lại có thể như thế được, anh người Việt ơi? Mặt nhợt vì mất máu, anh lái xe mấp máy đôi môi nhỏ: - Lúc ấy tôi như chết rồi. Nhưng ông bà là người tôi có trách nhiệm phải đảm bảo an toàn, ông bà như mọi người, cần phải sống. Ông bà lại mới lấy nhau. Tôi như chết rồi, nhưng chân ga chưa chết, mắt cũng như tay cố sống thêm, cố gắng để sống thêm. Ngước lên nhìn người phụ nữ mi mắt đầy nước, anh lái xe nhoẻn cười, nụ cười in dấu cơn đau, méo xệch: - Ông bà nên đi thăm Ăng-co đi. Đó mới là sự kỳ diệu… Anh nói thế đã là quá sức rồi. Người phóng viên vội ghi lại ngay những lời của anh. Vì đó có thể là những lời cuối cùng của một người đã tự biểu hiện một cách hết sức tự nhiên và khiêm tốn nhân cách dân tộc mình: một dân tộc vị tha, sống, chết vì người khác, điều đó đã thành một đạo lý, một nguồn năng lượng vô tận của họ… 4-12-1980 M.V.K Tiêu đề: Xin đừng gõ cửa Gửi bởi: trachvandung trong 20 Tháng Năm, 2008, 02:05:32 pm Xin đừng gõ cửa
Xuân Thiều Thực ra, Hảo không điên như lũ trẻ mất dạy ở khu gia đình tập thể K.42 thường trêu. Gặp anh, chúng xì xào "Trung tá điên, Hảo điên". Có đứa còn giả vờ cúi đầu chào anh kính cẩn: "cháu chào chú Hiển". Và cả bọn cười phá ra cười. Ðấy là cách nói lái, Hảo điên thành Hiển đao. Cả khu K42 đều biết, trung tá Hảo không hiểu vì lý do gì, mà về hưu lúc mới 43 tuổi. Từ một sĩ quan nhanh nhẹn hoạt bát và vui tính, anh bỗng hóa như người mất hồn, im lặng, nhẫn nhục. Thường chỉ tủm tỉm cười. Gặp ai tủm tỉm đã đành, ngồi một mình cũng vậy. Chị Phúc, vợ anh hốt hoảng chạy thầy chạy thuốc hết đông, tây y lại sang cả bệnh viện tâm thần ở Trâu Qùy. Người ta đều bảo, anh bị một cú sốc gì đó về tâm lý, lên tổn thương thần kinh, một dạng tâm thần phân liệt. Ðến một lúc nào đấy, sẽ khỏi thôi. Ðến lúc nào đấy là bao giờ hở trời, chị Phúc than vãn. Một cú sốc về tâm lý, chị cũng linh cảm vậy, nhưng không biết ngọn nguồn. Anh Hảo không hay đem chuyện ở đơn vị tâm sự với vợ con. Chỉ biết trước lúc về hưu một thời gian, anh có đổi tính đổi nết, hay cáu gắt vớ vẩn. Cáu gắt đấy rồi lại bần thần đấy. Cứ ngồi ngẩn mặt ra, nhìn chăm chăm vào một điểm mơ hồ nào đó ngoài cửa sổ. Ngoài ấy chỉ có mấy cây đu đủ. Sau nữa là bức tường nhem nhuốc của dãy nhà khách. Chẳng có gì đáng để chiêm ngưỡng. Vào thời kỳ đó, anh có chứng giật mình. Ai gọi giật giọng, anh giật mình, mặt cứ tái ngoét. Ðặc biệt, anh sợ tiếng gõ cửa. Ðang đêm, nghe tiếng cộc cộc gõ cửa, anh tung chăn choàng dậy, thở hổn hển, không lên tiếng đã đành, còn có vẻ sợ sệt, thu nhỏ mình lại sau tấm màn gió. Chị Phúc đã treo một tấm biển phía ngoài: "Xin đừng gõ cửa, cứ gọi tên người nhà". Hàng xóm đã quen, ai đến có việc gì cũng chỉ gọi khẽ. Chỉ mấy người khách xa, vô tình mới làm cho anh Hảo hốt hoảng. Sau mỗi lúc giật mình hốt hoảng, anh trằn trọc, không ngủ được. Về hưu, bệnh giật mình của anh càng nặng, trở thành ngớ ngẩn lúc nào không biết. Chị Phúc đã tìm đến bộ tư lệnh quân chủng, nơi anh làm việc. Phòng cán bộ tiếp chị lịch sự, tử tế, nhưng chị không moi được điều chị cần biết. Họ bảo, về hưu là do nguyện vọng của anh, lá đơn có chữ ký của anh sờ sờ trước mắt chị. Chẳng ai ép anh về hưu. Cũng chẳng làm gì có chuyện cú sốc về tinh thần. Cán bộ trong phòng quân lực, nơi anh làm việc, đều nói anh sống hòa thuận với đồng sự, chẳng bao giờ xích mích. Cán bộ đơn vị rủ nhau tới thăm anh, cho quà, khuyên chị đưa anh vào viện. Chị chỉ còn một cách thắp hương lên bàn thờ khấn vái tổ tiên phù hộ cho chóng đến cái lúc nào đấy. Chị Phúc buồn. Nói đáng tội, anh Hảo tuy bị tâm thần nhưng hiền khô, không đập phá, không đi lang thang, không quát nạt vợ con, không cà khịa với ai, kể cả với đám trẻ con hư đốn thường chạy theo anh trêu chọc. Chỉ cười tủm tỉm. Nhiều khi thấy anh cười cười như vậy, cũng đâm sợ. Anh vẫn lao động bình thường, chăm luống rau, nấu cám lợn, quét nhà quét sân, giặt giũ quần áo, đọc sách. Chỉ có điều là hầu như trí nhớ của anh lặn đi đâu, bà dì ruột anh đến thăm, anh lơ láo, cụ hỏi ai, khiến bà dì đứng khóc tu tu.Vẫn đọc sách đấy, nhưng không nhớ. Ðọc Tam Quốc đến tập 5 rồi quay lại đọc tập 3. Quá khứ đối với anh là một cõi u minh, suốt mấy năm, chẳng lúc nào anh nhớ được một chút kỷ niệm. Nói cho đúng hơn, anh nhớ được trong thời gian rất ngắn, từ sáng đến chiều chẳng hạn. Những việc mới xảy ra hôm qua, anh quên biến hoặc nhớ, cũng nhớ láng máng y như người bình thường nhớ một chuyện xa xưa lắm. Một hôm chị Phúc trước lúc đi làm, dặn anh bảo thằng Hiếu đi chợ mua su hào. Thằng Hiếu đi học về, vất cặp ra giường, anh ấn tiền vào tay nó, nhưng không thể nào nhớ ra tên củ su hào. Anh lấy que vẽ ra đất một cái hình bầu dục có mấy sợi dâu.Thằng bé lên mười một tuổi gật gật đầu ra vẻ hiểu ý, chạy ra chợ mua về một túm hành. Lại có hôm, cô hàng xóm gửi thằng bé một tuổi nhờ anh trông hộ. Thằng bé đang ngủ chợt tỉnh dậy khóc. Chị Phúc bảo anh bế nó dậy, xi đái. Thằng bé cứ ưỡn lên khóc không chịu đái, nhưng đũng quần anh lại ướt lũng nhũng. Chị Phúc đành lắc đầu, thở dài, đại loại thế. Nhìn vào mắt anh, dễ nhận ra vẻ ngớ ngẩn, lạc hồn lạc vía đi đâu. Một buổi chiều, vào lúc tan tầm, một chiếc commăngca mang biển đỏ đỗ xịch trước nhà chị Phúc. Dân khu tập thể thường có nết tò mò, trẻ con xúm đen xúm đỏ, người lớn ngấp nghé lảng vảng. Không ai để ý đến thiếu tá Cần phó phòng bảo vệ của quân chủng anh làm việc trước kia, người ta tròn mắt ra nhìn một thiếu phụ xinh đẹp, quần áo sang trọng môi son má phấn, nước hoa ngoại thơm lừng, tay xách ví đầm, chân đi giầy cao gót. Thiếu tá Cần giới thiệu với chị Phúc, từ ngoài cửa. Rằng chị khách là Việt kiều ở Canada về tìm đến đơn vị xin gặp anh Hảo, anh Phan Nhân Hảo. Ðơn vị đã nói rõ với chị về hoàn cảnh của anh, song chị thiết tha đòi được gặp. Cần đã xin xe đơn vị đưa chị về đến tận nhà. Thiếu phụ Việt kiều nghiêng đầu lễ phép chào chị Phúc, làm chị bối rối. Càng bối rối hơn là khi khách vào nhà, nhà cửa tuềnh toàng, bộ xa lông bằng gỗ nan cũ kỹ làm nơi tiếp khách ấm chén còn cáu bẩn. Anh Hảo buông cuốn "Hồng Lâu Mộng" ra, vừa lúc Cần đi tới vui vẻ chào "thủ trưởng". Không biết, Hảo có nhận ra người cùng đơn vị cũ không, vẫn bắt tay, bàn tay lỏng lẻo. Thiếu phụ không ngồi, đứng trân trân nhìn anh Hảo từ đầu tới chân, nét mặt xúc động. Bỏ cặp kính râm ra, thiếu phụ thốt lên. - Anh Hảo đấy ư? Anh có còn nhận ra em nữa không? Ðôi mắt chớp chớp, dường như Hảo cố nhớ, nhưng làm sao có thể nhớ ra, khi đầu óc còn chìm đắm trong cõi u muội. Anh lắc đầu. - Em là Hường đây! Huỳnh Thị Mỹ Hường ở Khang Xuyên! Giá là người tỉnh táo, khi thiếu phụ nhắc lại như thế, ắt phải reo lên. Mà anh vẫn nhìn bằng cặp mắt vô hình. Lại lắc đầu. Bỗng dưng thiếu phụ chạy đến nắm tay anh rân rấn nước mắt: - Trời ơi! Sao anh đến nông nỗi này? Anh là ân nhân của em, đã cứu sống em, cho em được làm người, mà anh thì thân tàn ma dại. Sau giải phóng, biết anh còn sống, em đã về Huế tìm anh. Ðến Mang Cá, người ta bảo anh chuyển ra Bắc rồi. Miền Bắc rộng lớn thế, biết tìm anh ở đâu. Cuối năm 1978, có người bảo lãnh, vợ chồng em mới sang cư trú ở Canada. Sang nơi đất khách quê người, em vẫn giữ một lời nguyền, nhất định phải gặp được anh, để tạ ơn tái sinh. Bây giờ, gặp được anh rồi, em mừng khôn xiết. Dẫu anh bệnh tật, dẫu anh không còn nhớ ra em, cũng xin anh nhận cho em mấy lạy đền ơn. Người thiếu phụ chợt quỳ sụp xuống nền xi măng trước mặt anh, vừa lạy vừa khóc nấc lên, khiến mọi người bàng hoàng. Một không khí im lặng thiêng liêng bao trùm lên gian nhà. Không ai hiểu gì cả, mà cảm thấy có một nỗi niềm sâu nặng trong trái tim người khách lạ. Những khuôn mặt tò mò ngoài chấn song cửa cũng trở lên nghiêm trang. Chị Phúc cầm cái ấm định đi pha trà, mà đứng chôn chân tại chỗ, tay run run, rơm rớm nước mắt. Còn cái Hằng, con gái lớn của chị đang học lớp 11 thút thít thành tiếng. Chị Phúc chạy tới đỡ thiếu phụ: - Em xin chị! Em xin chị! Mời chị ngồi ... Anh Hảo từ nãy giờ vẫn đứng, đôi mắt anh chợt sáng hẳn lên, dường như cái màn sương mù u ám trong đầu anh đang dạt trôi, anh đang cố gắng phục hồi lại trí nhớ. Khi đã ngồi đối diện với thiếu phụ, anh Hảo nở một nụ cười. - Sao cô Hường biết được địa chỉ đơn vị cũ của tôi mà tìm đến? Thiếu phụ đang lau nước mắt, mừng quýnh: - Anh nhớ ra tên em rồi ư? Trời ơi! Còn em không bao giờ quên cái tên Phan Nhân Hảo. Lúc chia tay anh hồi năm 69 ấy, em vẫn nhắc với anh rằng Phan Nhân Hảo nghĩa là một người họ Phan tốt bụng, em còn nhớ quê anh ở ngoại thành Hà Nội, có đúng không? Chẳng biết Hảo có thật hiểu hay chỉ theo thói quen mà gật đầu. Chị Phúc đáp thay chồng: - Vâng đúng đấy ạ! Quê nhà em ở Gia Lâm. Thiếu phụ nói tiếp: - Chuyện tìm tung tích anh dài lắm. Năm 82, em về nước, trở lại Khang Xuyên viếng mộ cha mẹ, thăm họ hàng, rồi lại lên Huế đến trại lính Mang Cá hỏi tin anh. Người ta bảo bây giờ đấy là bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Trị Thiên, không ai biết anh cả. Buồn quá, trở lại Sài Gòn. Tình cờ gặp anh Tốn. Anh có nhớ anh Tốn thợ may ở chợ Quán, Khang Xuyên nữa không? Anh ta khoe từng làm bí thư chi bộ thời chiến tranh, sau bị bắt quân dịch. Hồi thất trận 1975, anh Tốn đã bị chính đơn vị anh bắt. Anh còn giao cho anh Tốn phụ trách đám tù binh ở Cửa Thuận. Hồi này anh ấy lãnh đạo một công ty buôn bán đồ may mặc với nước ngoài ở Sài Gòn, giàu có và sang trọng lắm. Trước ở Khang Xuyên, quả thật anh Tốn rất mê em, tán tỉnh em mãi, nhưng em không thể... yêu được bởi em đã có người yêu, bây giờ chính là chồng em. Dù sao gặp anh Tốn, một người làng, em cũng mừng. Nói chuyện loanh quanh một lúc, hóa ra anh Tốn biết địa chỉ của anh. Nghe nói anh Tốn cũng xin địa chỉ của anh ở nhà O Thẻo, Khang Xuyên. Hình như hồi anh ra Bắc, anh vẫn viết thư thăm hỏi O Thẻo luôn. Biết được địa chỉ của anh, nhưng em không còn thời gian để ra Hà Nội nữa. Vé máy bay sang Thailand em đã cầm trong tay. Về Canada em viết thư liền cho anh. Không có hồi âm. Em lại viết thư thứ hai, thứ ba.Vẫn không có hồi âm. Lần này về Sài Gòn em chưa ghé vào anh Tốn. Thực tình em ngại. Bây giờ ai cũng có gia đình riêng cả, con cái đã lớn, vậy mà gặp em, anh vẫn gợi chuyện hồi xưa. Tính nết anh Tốn chắc anh còn lạ gì, hiếu sắc và sấn sổ... Anh Hảo lắng nghe chăm chú, có lúc anh cau mày lại cố tập trung trí nhớ. Và dường như câu chuyện dông dài của thiếu phụ tạo thành những mắt xích móc nối với nhau một cách hợp lý, khiến anh tìm được mã số đang cởi mở những u uẩn lưu cữu của mình lâu nay. Anh lẩm bẩm: - Tốn! Tốn! Tốn! A, nhớ ra rồi, thằng đểu! Thằng mặt...! Anh gầm lên một từ rất tục với khuôn mặt tím rịm và đôi mắt bốc lửa. Mọi người sửng sốt và ngượng. Trong im lặng, không ai dám nhìn vào mặt nhau. Chị Phúc phá tan sự im lặng bằng cách mời khách uống nước. Cái Hằng ý tứ đặt trước mặt bố cốc nước đun sôi. Anh Hảo uống ừng ực. Chất nước lạnh làm anh tỉnh lại, chợt nhận ra mình đã quá lời. - Tôi xin lỗi cô! Bởi tôi giận quá! Nói cho đúng hơn là hiểu ra nỗi giận của mình. - Không có gì đâu anh! - Thiếu phụ đỡ lời nhưng trong lòng cũng vỡ ra một ước đoán, chắc tay Tốn có quan hệ tới cuộc đời anh. Anh Hảo trở lại hoạt bát, nụ cười trên môi cố xóa đi cái ấn tượng tục tĩu anh vừa gây ra. Anh kêu lên: - ấy, tôi quên mất... - Anh giới thiệu vợ và các con bằng một lối nói vui và chuyển sang thăm hỏi Mỹ Hường về chồng con, về đời sống ở nước ngoài. Lại hỏi về làng Khang Xuyên và người đàn bà tên là O Thẻo nào đấy. Câu chuyện giữa hai người sôi nổi, chân tình. Nét mặt anh biến đổi theo tình cảm của câu chuyện, không ai có thể nghĩ rằng anh mắc bệnh tâm thần. Cái nhìn đờ đẫn vô hồn mới ban nãy thôi, biến đâu mất. Giờ đây cặp mắt dậy thần sắc, sáng lunglinh. Chị Phúc và hai đứa con, cái Hằng và thằng Hiếu nhìn nhau, vui mừng và ngạc nhiên. Dẫu còn nửa tin nửa ngờ, nhưng họ đều cảm nhận được sự thay đổi đột ngột trong trạng thái, tâm lý và tình cảm của anh Hảo. Chuyện trò một lúc, Hảo mới nhận ra sự có mặt của Cần. Với vị khách là Việt kiều ở Canada về tìm gặp một cán bộ đã nghỉ hưu mấy năm nay, thay vì ghi hộ địa chỉ nhà riêng, đơn vị lại cho xe, cho phó phòng bảo vệ đi cùng, hẳn không phải vì xã giao. Anh nhìn Cần như lần đầu tiên mới gặp nhau. Rồi cảm ơn Cần đã đưa khách quý đến, nhất thiết gia đình phải lưu khách lại. Nhờ Cần chuyển lời cảm ơn thủ trưởng đơn vị. Hiểu ý Cần xin phép về. Chiếc máy ghi âm bé xíu nhưng cực nhạy trong túi áo Cần, dù sao cũng được việc. Dân khu tập thể K42 bàn tán xôn xao về chuyện người khách Việt kiều sang trọng tới thăm nhà Hảo "điên" và ở lại qua đêm. Sáng hôm sau, ăn uống xong, vợ chồng Hảo cho gọi xích lô, tiễn chân khách ra đến ngoài đường phố. Người thì bảo, đấy là người tình cũ của Hảo hồi chiến đấu trong Nam. Ðáng khen thay là chị Phúc chẳng hề ghen tuông, lại tiếp đãi nồng hậu. Vào tay tôi mà xem, không quại cho mấy gậy cũng tống cổ ra khỏi nhà và xích chân ông chồng lại. Bậy nào! Người khác cãi, chỉ bạn bè thôi. Nhưng trò đời, khi giàu có sang trọng, người ta nổi máu nhân đức, nghe bạn bị tâm thần, phải tới thăm cho quà. Chẳng phải quà nhỏ đâu, không đến ngàn "đô" cứ cổ tôi mà chặt! Chỉ có vài người đứng ngoài chấn song cửa sổ hôm đó mới biết sự thật. Người khách lặn lội từ nước ngoài về, tìm anh Hảo để tạ ơn đã cứu sống chị, thì chịu. Ðến ngay như chị Phúc cũng không biết. Ðêm có khách lưu lại, anh Hảo cho thằng Hiếu sơ tán sang hàng xóm, cái Hằng chung giường với khách. Còn anh vào phòng sau. Có dễ gần bốn năm, vợ chồng mới lại nằm chung. Da thịt tuổi bốn mươi của chị Phúc như được hồi sinh. Chị đã vuốt ve anh, ôm hôn anh. Và chị cũng thực sự sung sướng mãn nguyện trong vòng tay anh, vòng tay vẫn xiết chặt như hồi mới cưới nhau. Vậy mà khi thủ thỉ hỏi anh về chuyện người khách nằm giường ngoài, thì anh tặc lưỡi. Ðể tâm làm gì, hồi chiến tranh, cái sống cái chết cách nhau một sợi tóc, chuyện cứu sống nhau là bình thường. Và chị chẳng gạn hỏi, chẳng nỡ làm phiền anh. Bởi trong lòng chị đang oà vỡ một niềm vui quá lớn, bỗng nhiên chồng chị trở lại bình thường như có phép màu. Dân khu tập thể cũng ngạc nhiên không kém chị. Người ta thấy anh vui vẻ hoạt bát như xưa. Gặp anh, lời chào hỏi đã khác, nhìn vào mắt anh càng hoàn toàn khác. Dấu hiệu đầu tiên ai cũng dễ thấy là anh lại chạy thể dục buổi sáng. Ngày xưa, dẫu trời rét căm căm , anh vẫn không bỏ thói quen, không chạy ra đường cũng chạy quanh sân. Từ lúc vướng bệnh, anh nằm co ở nhà. Mấy hôm nay, anh trở về nếp cũ. Tinh mơ đã nghe chạy thậm thịch ngoài đường. Ðám trẻ con rồng rắn chạy theo anh. Làm một thôi trở về sân, mặt mũi hơn hớn, anh lao vào đá bóng cùng tụi nhỏ. Hoặc làm trọng tài trận đấu. Còi toe toe. Chú Hảo ơi! Bác Hảo ơi! Cấm đứa nào dám lếu láo gọi: "Hiển đao" như trước. Người ta thêu dệt đồn đại. Rằng chị Việt kiều nọ tặng anh một loại thuốc quý hiếm, uống vài viên là dây thần kinh săn lại như tơ se. Rằng trò nhân ngãi với nhau là thế, xáp được mặt nhau là bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ. Rằng có khi đấy là nàng tiên giáng thế chăng? �n ở hiền lành như vợ chồng anh Hảo ắt phải động đến thiên tào v.v.. Chuyện cứ tán nhăng tán cuội, nhưng anh Hảo khỏi bệnh là có thật. Tiêu đề: Xin đừng gõ cửa (cont) Gửi bởi: trachvandung trong 20 Tháng Năm, 2008, 02:06:52 pm ở Bộ Tư lệnh quân chủng, đơn vị cũ của Hảo, cái tin Hảo khỏi bệnh cũng được các sĩ quan chào xáo. Cũng chỉ một chốc thôi ai hơi đâu mãi chuyện về anh sĩ quan về hưu. Riêng thiếu tá Cần phó phòng bảo vệ thì thực sự băn khoăn. Toàn bộ câu chuyện về hưu của trung tá Hảo, anh đều biết tường tận, giờ đây thêm diễn biến mới, buộc anh phải suy xét. Ðóng chặt cửa phòng nghiệp vụ, anh mở cuộn băng ghi âm nghe lại. Cái giọng gầm lên chửi tục của Hảo nghe như có sự bùng nổ. Có thể chính lúc đó, anh mới nhận ra kẻ làm hại mình là Tốn. Thiếu tá Cần lục tìm hồ sơ mang ký hiệu Y8. Anh đọc lại lá thư tố giác viết năm 1982 của một người tự xưng là Lê Huy Tốn. Ðịa chỉ không cụ thể, chỉ nói là cán bộ hiện công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Lá thư kể khá chi tiết về mối quan hệ giữa Hảo và Mỹ Hường, một tên chỉ điểm địch trong chiến tranh. Và lưu ý đơn vị theo dõi hành tung của họ hiện nay. Chứng cứ có thể nằm trong bức thư của Mỹ Hường từ Canada gửi về. Quả thật, sáu tháng liền sau đó, Quân bưu đơn vị lần lượt nạp cho phòng bảo vệ ba bức thư của Mỹ Hường gửi cho Phan Nhân Hảo. Nội dung ba bức thư không có thông tin gì đáng nghi vấn, toàn chuyện thăm hỏi trách móc sao không có hồi âm. Soi kính lúp, dùng thuốc hóa học kiểm tra vẫn không thấy chữ chìm chữ nổi gì cả. Hồi đó, còn là thượng úy trợ lý, Cần đã áy náy, giữ thư riêng lại là phạm pháp. Song đại tá Lê Hớn, phó chủ nhiệm chính trị kiêm trưởng phòng bảo vệ đã lý sự nghe ra có vẻ xuôi tai, thư riêng liên quan đến an ninh quốc phòng, thì không còn riêng nữa. Phải giữ lại để tiếp tục nghiên cứu theo dõi. Bây giờ, đại tá Lê Hớn đã về hưu tận trong Quảng Ngãi, nhưng ba bức thư còn lại đây . Cùng với ba bức thư là biên bản cuộc đối thoại giữa đại tá Lê Hớn và trung tá Phan Nhân Hảo, lúc đó là phó phòng quân lực . Biên bản này do chính tay Cần chép lại dựa trên cuốn băng ghi âm, hiện còn cất giữ trong hộp chống ẩm.
"... - Anh có quen ai là Hường không? - Không, cái tên đó không nhớ. - Ðể tôi nhắc lại anh. Hồi năm 1969 lúc anh còn là trung úy chỉ huy đội trinh sát an ninh, có lần nào đấy anh nhận nhiệm vụ thủ tiêu một con gián điệp ở Khang Xuyên tên là Huỳnh Thị Mỹ Hường. - à, tôi nhớ ra rồi, vâng có một cô gái tên là Mỹ Hường. Chuyện đã quá lâu. - Mười ba năm, kể cũng dài, nhưng tôi tưởng anh phải nhớ chứ? - Nhớ sao hết được? Có chuyện gì vậy anh? - Cũng là chuyện cũ thôi. Chúng tôi muốn biết, sao hồi đó anh không giết mà tha cho nó. Lại không báo cáo cho tổ chức biết? (Im lặng một chút, rồi có tiếng cười của Phan Nhân Hảo). - Ai moi chuyện cũ ra để ton hót với các anh thế? Chỉ làm rối chuyện lên thôi. - Anh Hảo ạ! Anh nên nhớ đây là cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh giữa người có trách nhiệm và đương sự. Anh không nên giễu cợt. Nghiệp vụ đòi hỏi chúng tôi phải biết hết mọi việc, dẫu cũ thế, chứ cũ nữa cũng phải tìm hiểu. Vậy là anh công nhận sự việc chứ? - Vâng, thưa đại tá, đúng như thế! - Anh có thể giải thích kỹ hơn không? - Sao lại không? Chuyện hơi dài và không nên hiểu một cách giản đơn. Anh ở quân chủng này đã lâu, chắc hồi 1969 anh ở Hà Nội hoặc sơ tán về vùng quê nào đó, còn tôi ở phía nam Huế, một vùng chiến trường quá gian khổ và ác liệt, nhất là sau Mậu Thân. ở căn cứ trên rừng lính chúng tôi ăn mỗi ngày một lạng gạo chia làm hai bữa nấu lẫn với môn thục. Chậu cháo màu xanh nhễu nhão ấy, chắc chắn heo nhà tôi bây giờ cũng lấy mõm hất đi. Sống cầm hơi như thế để gây dựng lại cơ sở coi như đã mất trắng. Khang Xuyên xưa là một xã hoàn toàn giải phóng, nơi chúng tôi quen thân, sà vào đâu dân cũng nuôi, vậy mà lúc đó... (im lặng một lát để nén xúc động) cán bộ, đảng viên, du kích, người bị giết, kẻ bị bắt, số khác hoặc chạy lên Huế, vô Ðà Nẵng, Sài Gòn hoặc nhảy lên rừng, xin ra Bắc. Trật tự xã hội nằm trong tay kẻ địch. Còn hơn các xã khác mất trắng, Khang Xuyên vẫn trụ lại được ba đảng viên sống hợp pháp do anh Tốn thợ may ngoài chợ làm bí thư. Chúng tôi đã cử về Khang Xuyên một tổ ba người do thiếu úy Lân phụ trách, họ đào hầm bí mật lớn ngay trong vườn nhà O Thẻo, một đảng viên ngoài năm mươi tuổi góa chồng, con gái đã đi ở riêng. Người đàn bà mù chữ ấy thật nhân hậu, tốt bụng và cực kỳ dũng cảm. Ðêm thứ ba, xảy ra sự cố. Lúc trời tối mịt. O Thẻo mở hầm cho tổ của Lân lên. Ðang ăn cơm thì những họng súng AR15 của địch chĩa tới. Nhanh như chớp, Lân ném cả bát cơm vào mặt tên đứng gần nhất và hô anh em chạy. Súng nổ. Hai đồng đội của anh bị giết tại chỗ, máu lẫn với cơm. Chỉ Lân chạy thoát. Tất nhiên O Thẻo bị bắt. Thực ra O Thẻo bị chúng bắt từ ngoài vườn, lúc O đứng gác cho anh em ăn cơm. Bị tra tấn hành hạ dã man nhưng O chỉ một mực khai rằng, thấy mấy người lính giải phóng vô nhà xin ăn cơm, thương họ mà cho ăn. Thế thôi. Không khai báo những đảng viên hợp pháp khác. O bị đày ra Côn Ðảo, sau giải phóng miền Nam, mới trở về. Lân chạy thoát, một ngày nằm giữa ruộng nước lúa đang thì, đỉa bám đầy lưng, bụng rỗng, đêm hôm sau, chờ tới khuya mới mò vô làng, tìm Tốn, nhưng không gặp. Tốn tạm lánh đi nơi khác phòng O Thẻo khai báo. Lại tìm đến ông Quán, một đảng viên già bị bệnh tê thấp. Nắm xong tình hình, đánh một bụng cơm no căng, Lân một mình một bóng mò về căn cứ báo cáo. Cú thất bại ấy làm đội trinh sát an ninh chúng tôi đau điếng. Vẫn quyết tâm trở lại Khang Xuyên. Dân Khang Xuyên không thể phản bội cách mạng, trước sự o ép của địch, họ đành nín thở chờ thời cơ đó thôi. Phải tạo thời cơ cho họ. Nhưng trước khi trở lại Khang Xuyên, phải biết nguyên nhân vụ thất bại vừa rồi. Ðịch hú họa tập kích hoặc có chỉ điểm? Trường hợp thứ hai thì phải tiêu diệt tên chỉ điểm đã. - Anh có thể nói ngắn hơn được không? Ði thẳng vào vấn đề chúng tôi cần biết! - Muốn hiểu kỹ, đừng ngại nghe kỹ anh ạ! Bởi anh ở quân chủng này lâu, e không biết nhiều về trinh sát anh ninh. Thực chất công việc của chúng tôi hồi đó là tiêu diệt bọn ác ôn, gián điệp. Chúng tôi đều qua lớp vũ thuật cả. Qua 5 năm làm trinh sát an ninh, riêng tôi... (Phan Nhân Hảo xòa ngửa hai bàn tay ra) tự tay tôi đã giết không kém một tá ác ôn, gián điệp. Ðang đêm đột nhập vào nhà đối tượng, lấy danh nghĩa cách mạng "mời đi học", thế là cho đi luôn. Không nổ súng, nổ súng bị lộ. Không dùng lưỡi lê, dao găm, sẽ có vết máu. Có thể dùng chiếc gậy ngắn bằng dùi trống đánh một phát vào chỗ hiểm sau gáy, đối tượng uỵch, ngáp mấy cái là tắt. Nhưng mang gậy cũng lích kích. Chỉ bằng hai bàn tay này thôi. Bấy giờ tôi mới ngoài hai mươi tuổi khỏe như trâu mộng, hai bàn tay cứ như hai gọng kìm. Cầm chéo hai tai chó trên cổ áo sơ mi của đối tượng mà xiết chặt, giỏi lắm chỉ hai phút sau là đối tượng nghẹo đầu, nước dãi ộc ra. Ðàn bà còn dễ hơn, chỉ tay không bóp cổ cũng chóng vánh. Giết xong, vùi luôn và ngụy trang chỗ vùi, coi như đất bằng. Ðến ngay như chúng tôi cũng không thể nhớ nổi tên ác ôn nọ bị thủ tiêu nằm nơi đâu cho thật chính xác. Trường hợp phải giết để cảnh cáo, chúng tôi giết tại nhà đối tượng, bên cạnh xác là lời tuyên án. Công việc của chúng tôi để lại những ấn tượng không vui, nếu không gọi đó là những ám ảnh khủng khiếp. Ðấy là tiếng ằng ặc của người bị bóp cổ, là cái mùi nước dãi ộc ra trước lúc tắt thở cái mùi hoi hoi tởm lợm rửa tay bằng xà phòng thơm lá chanh ba ngày sau chưa phai. Ðấy là thứ tiếng phát ra từ dưới huyệt sau khi đã vùi xong, một loại nấc khan trầm và rè như cóc ho. Ðấy là nỗi day dứt không hiểu những cặp mắt lồi ra như ngạc nhiên trước cái chết của mình, có cặp mắt nào thực sự nói điều oan ức không? Chính những ấn tượng không vui ấy cùng với sự thanh thản trong lòng khi trả lại tự do cho cô Mỹ Hường, tôi đã quyết định xin chuyển sang lính đặc công. Bận độc một chiếp xilip, bôi nhọ nồi hoặc pin đèn khắp người, tiểu liên, thủ pháo trong tay, luồn vào tận giường ngủ thằng Mỹ mà chơi nhau, hoàn toàn yên trí những kẻ bị giết kia chỉ được sám hối lúc về cõi chúa. - Anh vừa nói tới Mỹ Hường. Hẳn là các anh phát hiện ra chính nó là chỉ điểm của địch ở Khang Xuyên. - Không phải chúng tôi phát hiện. Huyện ủy thông báo dựa trên báo cáo của cơ sở, nghĩa là của chi bộ Khang Xuyên. - Và anh đã phản đối? - Trái lại, tôi rất mừng. Tìm được tên chỉ điểm mà diệt, chúng tôi sẽ cho quân về "lún" lại ở Khang Xuyên ngon lành. Tuy thế, tôi vẫn thận trọng. Mỹ Hường là ai, tôi không biết. Nhưng tay Lân biết. Ðấy là một cô học sinh thi trượt tú tài về bán tạp hóa với mẹ ở chợ Quán. Bố cô là công chức bưu điện trong Sài Gòn. Nghe đâu, cô từng tham gia phong trào học sinh ở Huế. Hồi Khang Xuyên còn là vùng giải phóng, ở Huế về, cô cũng sinh hoạt thanh niên. Theo Lân đấy là một cô gái xinh đẹp duyên dáng. Thời xinh đẹp duyên dáng cũng dẹp, đã làm chỉ điểm là phải đền tội. Trước lúc quyết định hành sự, tôi còn cử Lân luôn về Khang Xuyên gặp Tốn thẩm tra lại. Tốn cung cấp thêm một số chi tiết. Rằng, người ta thấy Mỹ Hường mấy lần nói chuyện với bọn cố vấn Mỹ bằng tiếng Anh. Mỹ Hường có quan hệ mật thiết với tên thiếu tá quận trưởng, nghe đâu anh em con dì con già gì đấy. Rằng trước đêm xảy ra vụ đột kích ở nhà O Thẻo, buổi chiều Mỹ Hường có tới chơi nhà O nói chuyện lai rai, lại còn đi nghiêng ngó ngoài vườn. Ngần nấy chi tiết cũng chưa khẳng định được tội ác, nhưng có thông báo của huyện của chúng tôi vẫn hành sự. Thành lập một tổ công tác ba người tôi trực tiếp chỉ huy. Thêm thiếu úy Lân, thổ công ở Khang Xuyên và chuẩn úy Nẫm, người Tày Cao Bằng, một cây đẹp trai, da trắng và môi đỏ chót như môi con gái. Ðêm ấy, tôi còn nhớ, trời nhờ nhờ, chừng như trăng mười bảy, mười tám gì đó bị mây che phủ. Chúng tôi luồn về Khang Xuyên an toàn, móc với Tốn và chính Tốn dẫn chúng tôi tới nhà đối tượng. Sau đó Tốn lánh mặt. Nguyên tắc hoạt động bí mật ở vùng tạm chiếm, Tốn lánh mặt là phải. Gõ cửa. Tôi đã gõ cửa nhà đối tượng nhiều lần. "Cộc, cộc, cộc" cái tiếng của ngón tay gõ vào ván gỗ nghe đùng đục là mệnh lệnh giết người . Cũng là một ám ảnh dai dẳng. Thú thật với anh, mãi gần đây mỗi khi nghe ai gõ cửa nhà mình, tôi vẫn còn giật mình, cảm thấy ớn lạnh. - Anh kể dông dài quá đây! Anh nói ngắn gọn vì sao anh không giết tên chỉ điểm ấy, hoặc thấy nó xinh đẹp duyên dáng hoặc vì có ý nghĩ gì đó vừa nảy sinh? - Theo tôi, giết đúng đối tượng là hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bức thiết, trái lại, giết sai đối tượng là phạm tội giết người. Tôi không muốn là kẻ giết người vô căn cứ. (Im lặng một lúc). - Nghĩa là anh không công nhận Mỹ Hường là chỉ điểm. - Ðúng thế - Lý do? - Giản đơn thôi. Những tên ác ôn; gián điệp, chỉ điểm đều có khuôn mặt khác, thái độ khác, giọng điệu khác, hành động khác với cô gái này. "Mời đi học", ba tiếng ấy không có tên phản động nào không hiểu. Phải xạ ngay lập tức. Hoặc run lẩy bẩy, mặt đổ chàm. Hoặc đỏ mặt lên phản đối gay gắt. Có đứa làm ầm lên buộc chúng tôi phải dí súng vào lưng. Có đứa mắt trước mắt sau, chực tẩu thoát. "Mời đi học" là cục vôi giơ ra trước mắt con đỉa. Cô gái này vui vẻ, hớn hở nữa là khác. Lại hỏi đi bao lâu, mang chăn màn đã đành, chỉ tiếc không kịp sắm cái võng, chắc học "trên xanh" phải không mấy anh? ở trên xanh, em có khối đứa bạn. Bà mẹ lo cuống, cô an ủi. Một tháng ăn nhằm gì mẹ, ai hỏi mẹ phải nói thác là con vô Sài Gòn nghe. - Chắc anh chưa gặp những đứa gián điệp cao tay, hớn hở vui vẻ chỉ là bền ngoài nhưng nó đã nhẩm tính cách khác trong bụng. - Chẳng có cách gì khác, khi đang đêm, một cô gái tay không bị ba anh lính trinh sát an ninh, tiểu liên, súng ngắn áp giải. Có là bay đàng trời! Ðiều băn khoăn của chúng tôi lúc đó không phải là cô gái đào tẩu hoặc hạ thủ chúng tôi, mà ở chỗ khác. Dường như cả ba anh em chúng tôi đều linh cảm rằng cô gái này vô tội. Giá lúc đó, tôi gân lên một chút thì Lân và Nẫm phải im re, chỉ có chấp hành. Chậc, chiến tranh là thế, cứ lệnh mà làm, ai hơi đâu phân giải rằng oan hoặc không, dẫu giết nhầm một người cũng không hề tai hại đến sự nghiệp chung. - Và anh đã phóng thích cho con chỉ điểm? Tiêu đề: Xin đừng gõ cửa (cont) Gửi bởi: trachvandung trong 20 Tháng Năm, 2008, 02:07:49 pm - Sự việc không giản đơn như thế. Ðiều băn khoăn ấy đeo đẳng chúng tôi suốt chặng đường dài hàng chục kilômét cho đến lúc chúng tôi gặp tai họa. Một trận pháo bất chợt chụp đúng đội hình hành tiến chúng tôi lúc vừa mớm đến chân đồi Thắm. Vùng giáp ranh là tuyến bắn chặn thường xuyên của địch. Dứt pháo, trong khói đạn mờ mịt là một vùng đồi sim im lặng hoàn toàn. Rồi có tiếng rên, lại có tiếng khóc. Thôi, chết tôi rồi, Nẫm bị thương khá nặng vào bụng. Lân bị một mảnh pháo vào sọ, chết ngay. Cô gái khóc vì quá sợ, nhưng cũng nhanh tay băng bó vết thương cho Nẫm và giúp tôi đào huyệt. Khi vùi Lân, cô gái khóc ròng. Lại tiếp tục lên đường, bây giờ trời đã mửng sáng . Tôi bí mật tháo hết đạn trong băng và trao cả hai khẩu AK, hai chiếc bồng nhỏ của Lân và Nẫm cho Mỹ Hường, tôi cõng Nẫm ì ạch mãi mới tới cửa rừng, mới chặt cây mắc võng làm cáng, Mỹ Hường vai trước, tôi vai sau chúng tôi khiêng được Nẫm đến một trạm xá đội vận tải, mệt muốn chết. Ðến đây, Mỹ Hường gặp một bạn gái làm y tá vốn là học sinh cũ ở Huế lên. Hai chị em cứ tíu tít mãi, không chịu rời nhau. Tôi quyết định nghỉ một đêm ở trạm xá lấy lại sức. Sáng dậy, ăn uống xong, xin một nắm cơm vắt, lại lên đường. Bây giờ chỉ còn Mỹ Hường và tôi. Ði đâu? Rừng Trường Sơn mênh mông bạt ngàn. Mỹ Hường hỏi, đường còn xa nữa không anh Hảo? Cũng còn xa xa, tôi đáp vu vơ. Lớp học có đông không anh? Ðông. Tôi đáp vu vơ. Cô gái hỏi chuyện luôn miệng, còn tôi đáp cho có lời đáp, trong lòng đang ngổn ngang một cách xử sự. Khó mà tin cô gái này là chỉ điểm, nó đã tìm cách đào tẩu. Suốt một chặng đường dài thiếu gì cơ. Có sự u uẩn nào đây chăng? Báo cáo của chi bộ Khang Xuyên do tay Tốn làm bí thư, chưa có bằng cớ xác đáng. Cũng có khi chẳng vì thù oán, khử được một tên chỉ điểm, há chẳng phải là thành tích của chi bộ trong công tác an ninh hay sao? Tôi không muốn bàn tay mình dính máu người lương thiện. Sẽ phải trả tự do cho Mỹ Hường. Nhưng để quyết định của tôi đảm bảo chính xác, tôi phải thẩm tra lại một lần cuối. Dừng chân bên bờ suối vắng, rửa ráy tay chân xong, chúng tôi ngồi nghỉ. Bây giờ tôi mới ngắm kỹ cô ta, quả là một cô gái đẹp duyên dáng. Tôi gợi chuyện cô, giọng nói và nét mặt dung dị, nhưng thực chất là thẩm vấn. Hỏi từ cha mẹ họ hàng, anh em, đến đời tư của cô, quan hệ của cô trên Huế, dưới Khang Xuyên. Rồi xoay sang chuyện liên quan đến vụ địch tập kích vào nhà O Thẻo. Mỹ Hường nói, cả làng gọi O Thẻo, còn cô đúng ra phải gọi thím. Ông nội cô và bố chồng O Thẻo là anh em ruột. Hôm đó, cô đang ở Huế về nhà mới nghe chuyện, chỉ biết hỡi ôi. Người ta nói hai người lính giải phóng bị bắn chết trong nhà, lính ông Thiệu còn đem trói vào gốc cau, suốt nửa ngày hôm sau, mới cho chôn. Rõ quân thất đức. Biết thím Thẻo bị tống nhà lao, mà chưa kịp đi thăm. Vậy là lời khai của Mỹ Hường (tôi tạm gọi lời khai) hoàn toàn khác với lời tố cáo của tay Tốn. Tuy đã hai năm rõ mười, tôi càng làm mặt nghiêm, nhìn thẳng vào mắt Mỹ Hường mà bảo, rằng có kẻ cho chúng tôi biết cô đã nhúng tay vào vụ thảm sát đó, cô đã chỉ điểm cho lính ngụy cô nghĩ sao? Mỹ Hường đang vui vẻ hơn hớn chợt tái mét mặt, rồi khóc oà. Trời ơi, sao người ta có thể vu oan giá họa cho cô như thế. Dì ruột cô lâm bệnh phải nằm nhà thương Huế, mẹ cô bảo phải lên thăm nuôi gì cả tuần lễ, nào cô có biết nếp tẻ gì về việc giết người giải phóng ở nhà thím Thẻo. Mà sao cô nỡ làm hại bộ đội giải phóng, còn làm hại cả thím Thẻo của cô được. Cô không thể thất nhân thất đức như thế! Tôi nói thẳng với Mỹ Hường rằng, không phải chúng tôi dẫn cô đi học, chẳng có lớp học nào cả, chúng tôi được lệnh dẫn cô đi hỏi tội. Ðang khóc, bỗng cô lau nước mắt, môi run run, cô ném vào mặt tôi một cái nhìn thách thức: vậy thì anh bắn em đi! Không, tôi không thích bắn cô, nếu giết cô, tôi đã hành động lúc còn dưới trảng cát vắng vẻ, hoặc dưới giáp ranh từ đêm hôm qua. Tôi không tin cô là chỉ điểm là gián điệp. Tôi sẽ trả lại tự do cho cô với một điều kiện:
(Có tiếng cười của đại tá Lê Hớn) - Anh chớ vội nghĩ về tôi như thế. Bây giờ tôi mới 26 tuổi, chưa vợ, khỏe mạnh, chẳng đến nỗi xấu, lại con trai Hà Nội, có bằng đại học, tôi có thể bộc lộ tình yêu với cô ta, mà không thấy ngượng. Cũng như mọi người trẻ trai, nhìn khuôn mặt thanh tú, đôi môi thật duyên, chiếc cổ trắng ngần và bầu ngực nở nang của Mỹ Hường, cũng có phút chốc con thú đàn ông trong người tôi trỗi dậy. Hoặc tán tỉnh, hoặc cưỡng đoạt hoặc khêu gợi cô ta hiến dâng, bề nào cũng được. Chỉ hai người mà rừng quá vắng. Có điều tôi biết chắc chắn, sau khi thỏa mãn với người con gái này, nhất thiết tôi phải bóp chết cô ta. Như vậy tôi sẽ được nhiều bề. Vừa thỏa mãn, vừa có chiến công, vừa không lo sợ hậu quả. Nhưng lại mất một điều quan trọng, ấy là tự làm mất mình. Nhờ trời, tôi không bao giờ chịu đánh mất mình. Bởi thế, điều kiện của tôi đề ra cho Mỹ Hường là phải giấu tung tích đi, cấm không được lai vãng về Khang Xuyên. Cô muốn sống ở Ðà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ gì cũng mặc, nhưng sự có mặt của cô ở Khang Xuyên sẽ bất lợi cho cô và cho cả tôi. Cô gật đầu. Tôi lại dẫn cô tiếp một chặng đường đến cao điểm Eo Gió. ở đây đã nhìn thấy quốc lộ số 1, chỉ cần hai tiếng đồng hồ đi bộ là có thể vẫy xe ô tô. Chúng tôi chia tay. Nấn ná ngập ngừng một chút, rồi cô gái ôm chầm lấy tôi, khóc thút thít. Quả thật lúc đó trái tim trai trẻ của tôi đập loạn nhịp, cảm giác như hụt hơi. Không để cho sự xúc động trì níu, tôi nhẹ nhàng gỡ tay cô gái. Hãy can đảm lên, chúc mọi sự bằng an và giữ trọn lời hứa. Sau này, có lúc nào đấy chợt nhớ lại, tôi gọi đó là cuộc chia tay màu xanh. - Thôi được, cứ cho rằng anh tin việc làm của mình là đúng, sao không báo cáo cho tổ chức biết sự thật? - Thực ra không ai ký lệnh cho tôi giết cô gái ấy, huyện ủy chỉ thông báo cho biết tình hình. Ðồng chí phụ trách an ninh huyện giao cho đội trưởng trinh sát an ninh là tôi xem xét. Nghĩa là tôi có quyền quyết định số phận của đối tượng. Tôi đã phóng thích cô gái, bởi tin việc làm của tôi đúng, bởi tin vào sự thành thật và trong trắng của cô gái. Còn lúc bấy giờ mà báo cáo đúng sự thật thì câu chuyện trở nên vô cùng phức tạp. Chắc không ai tin tôi, bởi nhân chứng duy nhất còn lại là chuẩn úy Nẫm cũng đã chết ở trạm xá vận tải, vì vết thương quá nặng. Ðã không tin thì người ta bẻ hành bẻ tỏi tôi đủ điều. Bị kỷ luật thải hồi là may, còn hơn đón nhận cái chết. Mượn bàn tay kẻ địch để loại bỏ một người bị nghi ngờ là một cách giết người đó sạch sẽ nhất. Tôi rất am hiểu chuyện đó. - Vậy là anh cũng sợ chết? - Tôi sợ cái chết phi lý nhàm chán, nhưng không sợ cái chết có mục đích cống hiến. Như đã trình bày, sau vụ Mỹ Hường cùng với những ám ảnh nghề nghiệp, tôi nhất quyết chuyển sang bộ đội đặc công. Anh xem lý lịch tôi chắc biết, ba năm làm đại đội trưởng đặc công tôi đã có ba bằng dũng sĩ và hai huân chương. Khi lên cán bộ tiểu đoàn, tôi mới chuyển sang bộ binh. Năm 1975, tôi là đại úy tiểu đoàn trưởng bộ binh tấn công vô Huế, truy kích địch xuống tận cửa biển Thuận An. Trong đám tù binh tóm được tình cờ tôi nhận ra Tốn. Hắn khai là bị bắt quân dịch ngay sau khi chi bộ Khang Xuyên đổ bể, nghĩa là người đảng viên già cuối cùng tên là Quán cũng bị địch bắt nốt. Bí thư chi bộ gì mà chịu cầm súng cho địch từ bấy đến giờ. Dù sao gặp lại hắn trong tư thế tù binh bị bắt, tôi cũng thêm an tâm về việc trả lại tự do cho Mỹ Hường. Hắn cứ bám lấy tôi, nhưng tôi tránh. Chúng tôi không nhắc gì đến Mỹ Hường cả. - Anh có gặp Mỹ Hường lần nào hoặc có biết tin gì về cô ta không? - Hồi ở Huế tôi có về lại Khang Xuyên thăm O Thẻo, O có cho biết Mỹ Hường đã có chồng con trong Sài Gòn, bố mẹ cô đều mất cả. Chỉ biết thế thôi, chứ tôi không tìm cách liên hệ, chẳng để làm gì cả. - Anh có gặp Tốn không? - Tốn đi cải tạo, có lần hắn đi tìm tôi ở Mang Cá, năn nỉ xin tôi chứng nhận cho hắn có làm bí thư chi bộ Khang Xuyên, thêm nữa trong thời gian đi quân dịch vẫn móc nối với quân giải phóng. Hắn gãi đầu gãi tai, nháy mắt tinh quái với tôi rằng sẽ không quên ơn. Chẳng đời nào tôi hạ bút ký xằng xịt như thế, tôi nén giận, bảo hắn tìm mấy ông đảng viên cũ ở Khang Xuyên hoặc huyện ủy mà xin. Hắn kỳ kèo mãi, tôi mới nổi nóng đuổi hắn đi. - Chuyện anh kể đã dài, cứ hẵng biết thế! Dù sao cũng là ý kiến riêng anh - Phải đợi tổ chức xem xét, kết luận. Ta tạm dừng ở đây". Ðọc lại hồ sơ vụ Y8, thiếu tá Cần ngồi thừ người. Sự việc không có gì khó hiểu, vậy mà hồi đó phòng bảo vệ do đại tá Lê Hớn chủ trì không thể kết luận được. Lá thư ký tên Lê Huy Tốn rõ ràng là nặc danh, địa chỉ không có, và lời lẽ chỉ gọi là để đơn vị lưu ý, nhưng lưu ý một vấn đề chính trị nguy hiểm, quả là chết người. Phải chăng Tốn chỉ là Tốn? Mà một người như Tốn làm sao tin cậy được? Vụ Y8 không kết luận, hồ sơ nằm im trong tủ "mật", nhưng nghi án về Hảo cứ treo đấy. Không đề bạt được trưởng phòng, đến niên hạn thăng quân hàm đại tá lại kẹt. Ðại tá Lê Hớn gọi Phan Nhân Hảo lên, kiên trì thuyết phục, kể cả mớm cung, yêu cầu Hảo viết lại hoặc viết bổ sung thêm về quan hệ giữa anh và Mỹ Hường. Hảo phản ứng, không có gì phải nói lại, nói thêm. Ðại tá Lê Hớn đánh bài ngửa, nếu sự việc còn mù mờ không kết luận được thì việc đề nghị thăng quân hàm cho anh là khó. Tốt nhất, anh làm đơn xin về hưu. Sẵn sàng Hảo lấy giấy bút viết nhoay nhoáy, ký rẹt một chữ. Thế là xong, đại tá Lê Hớn thở phào. Coi như ông hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng nhận thêm một bậc lương nữa, trước khi nghỉ hưu. Lê Hớn mang theo cái thở phào về chăm mảnh vườn của mình trong quê đã vài năm nay. Còn hồ sơ vụ Y8 vẫn nằm mốc meo trong tủ "mật". Cán bộ thay thế lúc này đến mới toanh, không ai biết kỹ vụ Y8, ngoài thiếu tá Cần. Lòng đầy băn khoăn thiếu tá bèn trình bày với các thủ trưởng của mình. Các thủ trưởng nghe chăm chú, cuối cùng đều nói giống nhau. Rằng chuyện cũ bới lại làm gì, thôi dẹp. Muốn kết luận vụ này, không thể đơn giản. Nếu gọi là để trả lại danh dự cho anh Hảo, thì có ai làm mất danh dự anh đâu. Dù sao, anh đã về hưu lâu lâu, với lại nghe tin khỏi bệnh là mừng. Thế nhé! Hai chữ "thế nhé" có nghĩa là chỉ thị cấp trên, vậy mà thiếu tá Cần không sao giải tỏa được sự ấm ức trong lòng. Chẳng nhẽ để anh Hảo chịu tiếng oan, dẫu không ai biết chuyện ngoài một cán bộ có trách nhiệm, thì chính tâm tư anh cũng đau đớn, làm sao thanh thản được. Lương tâm cắn rứt, thiếu tá Cần quyết định đến thăm Hảo, nói cho anh biết sự thật, chỉ mong anh thông cảm giùm. Một buổi sáng chủ nhật, Cần đạp xe đi, trong chiếc túi vải treo đầu ghi đông có một chai cuốc lủi nửa lít, mươi gói lạc rang mua ngoài quán nước. Anh em gặp nhau có cái mà lai rai, tâm sự. Hôm đó, Hảo ở nhà một mình. Chị Phúc ra chợ, hai đứa con đều đi học thêm ngoài giờ. Anh đóng cửa, nằm đọc lại Tam Quốc. "Cộc, cộc, cộc", tiếng gõ cửa đột ngột làm anh giật bắn mình, ngồi choàng dậy, cuốn sách rơi xuống đất. "Cộc, cộc, cộc", tiếng gõ cửa gấp hơn mạnh hơn. Tim đập loạn xạ, mồ hôi rịn ra trên trán, Hảo thở hổn hển, mắt chợt hoa lên trong một đám mây mù bao phủ trước mặt. - "Cộc, cộc, cộc", có ai ở nhà không? Anh Hảo ơi, anh Hảo! Hảo vẫn ngồi đờ đẫn như người lạc vía. - Anh Hảo ơi, ngủ à? Cần đến chơi đây mà! "Cộc, cộc, cộc" - thiếu tá Cần, tay xách túi vải, đang hớn hở gõ cửa mạnh hơn chợt nghe một tiếng gầm: - Cút mẹ mày đi! Tiên sư cha mày! Cần vội lùi ra, ngơ ngác chưa kịp hiểu tiếng gầm là có thật hay nghe nhầm, thì cánh cửa xịch mở. Phan Nhân Hảo nét mặt hoang dại, mắt đỏ ngầu, tay lăm lăm chiếc then cài cửa. Chiếc then cửa vung lên trong một tiếng hét, y như lúc xung phong. Miệng ú ớ, mặt tái mét. Cần kịp né tránh và cóc cò chạy. Cây đủ đủ trước hiên bị phạt cụt ngọn, ở đấy nhựa đùn lên trắng hếu. Mấy bác hàng xóm chạy tới giữ Hảo lại, dìu anh vô nhà, trong lúc anh vẫn thở hổn hển, chẳng nói chẳng rằng. Khi hoàn hồn, thiếu tá Cần, tuy chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, vẫn phải nhờ mấy đứa trẻ vác hộ xe đạp ra ngoài sân khu gia đình, tay run run mở khóa, mắt vẫn để ý về phía xảy ra điều kỳ quái. Kể từ hôm ấy, dân K42 không nghe thấy chân chạy thể dục buổi sáng của anh Hảo, đám trẻ con đá bóng thiếu trọng tài, cãi nhau ỏm tỏi. Anh Hảo trở lại căn bệnh như cũ, chỉ tủm tỉm, nét mặt ngây dại. Anh lại quên, chẳng những quên hết quá khứ, mà quên rất nhanh, kể cả những việc vừa xảy ra- Anh bảo cái Hằng vào ngủ với mẹ, còn anh chung giường với thằng Hiếu, hai bố con anh đắp hai chăn. Chị Phúc thở dài, cái Hằng và thằng Hiếu cũng buồn. Buồn nhất là lũ trẻ con mất dạy trong K42 lại cúi gập người "cháu chào chú Hiển ạ" và phá ra cười. Chị Phúc cho treo lại tấm biển "Xin đừng gõ cửa" vừa gỡ ra chưa đầy tháng. Niềm vui ngắn ngủi quá, tiếng thở dài của chị não nuột hơn. Lời khấn của chị trước bàn thờ hương khói nay có khác. Chẳng những khấn tổ tiên ông bà phù hộ độ trì, chị còn khấn vái cầu mong người đàn bà có tên là Mỹ Hường quay lại. Biết đâu người đàn bà xinh đẹp nọ là tiên trên trời giáng thế cứu giúp chồng chị chăng? Chị hoàn toàn không hiểu cội nguồn những việc xảy ra, lắm lúc muốn đến đơn vị cũ của chồng, hỏi chuyện thiếu tá Cần mà ngại ơi là ngại. Chị Phúc đâu biết, sau ngày xảy ra điều kỳ quái ấy và nghe tin Phan Nhân Hảo trở lại bệnh cũ. Cần đã xin chuyển công tác. Không biết anh đến đơn vị nào và chắc gì còn tiếp tục công việc cũ nữa. 10-1991 Tiêu đề: Anh không có lỗi Gửi bởi: trachvandung trong 20 Tháng Năm, 2008, 02:50:44 pm Anh không có lỗi My Lan Cu Trí mếu máo chạy từ ngoài ngõ về ôm chầm lấy mẹ, vừa khóc vừa kể lể : Mẹ ơi, bọn thằng Hà nó gọi con là thằng "chí Phèo", hu hu hu. Chúng nó bảo con không phải là con của mẹ... hu hu hu,.. - Thôi nín đi, nín đi con, các bạn ấy đùa ấy mà, con không phải là con trai của mẹ thì là con ai cơ chứ? Chúng nó bảo mẹ nhặt được con ở ngoài lò gạch ấy, hu hu hu... Con ứ thích tên là Trí đâu, ngày nào chúng nó cũng trêu con. Ðể mai mẹ thưa cô giáo, cô sẽ phạt bạn nào hay trêu con. Thôi nín đi, con trai ngoan của mẹ nào, rửa mặt mũi chân tay rồi ăn cơm nhé! - Vâng ạ! Nhìn thằng bé ngoan ngoãn đi rửa mặt, chị băn khoăn tự hỏi : không biết sao bọn trẻ lại biết cu Trí không phảị là con đẻ của chị... và ai đã bịa ra cái tình tiết quái ác "nhặt được ở ngoài lò gạch" để trêu chọc thằng bé vậy? Ðúng là cu Trí không phải là con đẻ của chị, nhưng không phải chị đã nhặt được nó ở ngoài lò gạch. Câu chuyện về thằng cu Trí là một trang bí mật trong cuộc đời chị mà cho tới nay chị vẫn giấu kín. Chị nghĩ đó là điều cần thiết để giữ trọn niềm hạnh phúc cho người chồng mà chị yêu quý suốt đời? ... Chị đã chờ đợi thuỷ chung suốt tám năm anh đi đánh Mỹ ở chiến trường miền Ðông Nam Bộ. Khi giải phóng miền Nam, anh trở về thì họ đã ở ngoài tuổi ba mươi và mới sinh con đầu lòng. Nhưng thật đau đớn, đứa con làm họ mong chờ với bao hy vọng lại chỉ là một quái thai! Vì yêu thương chồng, không muốn anh phải đau khổ, thất vọng, chị đã đề nghị với các bác sĩ không cho ai biết sự thật phũ phàng đó. Cũng may là khi chị sinh con, anh đang làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Cam-pu-chia. Khi viết thư báo tin cho chồng, chị nói là do trở dạ lâu nên con bị ngạt không cứu được. Anh rất đau buồn, nhưng vẫn hy vọng rồi họ sẽ có đứa con như mong muốn. Vậy mà mãi đến bẩy năm sau khi anh chuyển ngành công tác tại một xí nghiệp gần nhà, chị mới sinh lần thứ hai. Lần này chị đã bốn mươi tuổi nên đẻ khó, phải mổ, nhưng hai anh chị đều rất vui mừng vì họ đã có một cậu con trai rất kháu, nặng những ba cân hai. Lúc ấy chị rất sung sướng, tưởng như mình là người hạnh phúc nhất trần gian!... Rồi một hôm, cô bác sĩ sản khoa - người bạn thân nhất của chị - đến chào tạm biệt chị để đi công tác nước ngoài. Hai người bạn tri kỷ "dốc bầu tâm sự" rất vui vẻ , cởi mở và cô bác sĩ bảo : - Mình nghĩ là cậu không nên đẻ nữa... Chị cười rất tươi : - Không đẻ nữa là thế nào, ông xã nhà mình đang gạ trong năm nay sẽ đẻ thêm cô con gái nữa đấy! Thật trần đời có một người yêu quý con như anh ấy? Cậu biết không, anh ấy còn bảo, bây giờ nếu có ai đòi đổi thằng cu Trí lấy cục vàng nặng bằng nó, anh ấy cũng chả thèm! Ghê chưa? ừ kể có thêm một đứa con gái nữa cũng hay, nhưng riêng với cậu thì mình khuyên chân tình đấy, hãy nghe mình... - Nhưng vì sao cơ chứ, hay là mình già rồi thì không nên đẻ nữa? - Không, không hẳn là như vậy. Mình nói điều này chỉ mình cậu biết thôi, mà phải bình tĩnh đấy, có hứa không nào? - Ôi, cậu làm mình hồi hộp đến chết đi được. ừ, thì xin hứa! Lẽ ra không nên nói, nhưng vì mình sắp đi xa, nên không thể không nói với cậu. Thế cậu có biết vì sao lần đầu cậu sinh lại như vậy không? - À có lẽ khi có thai mình ốm nên uống thuốc linh tinh.... - Cậu tin chắc như vậy ư? Không phải vậy đâu. Các bác sĩ sau khi xét nghiệm đã kết luận, trường hợp của cậu là do chồng cậu bị nhiễm chất độc điôxin ở chiến trường miền Nam... - Ôi! Thật vậy sao? Nhưng... - Chắc cậu muốn nói về thằng cu Trí phải không? - Ðúng vậy... - Nó đâu phải con của cậu! - Trời ơi! Lẽ nào nó không phải là con của tôi? - Hôm ấy, các bác sĩ mổ cho cậu đã lấy ra một cái thai giống như lần trước, mình nhìn nó đã ngất xỉu đi vì sợ hãi... Chị bỗng khóc nấc lên. - Lẽ nào đời tôi lại bất hạnh đến thế nào? Vậy mà lần trước tôi cứ tưởng là lỗl tại mình... Trời ơi!. Bình tĩnh lại đi, cậu đã hứa rồi cơ mà! Vậy thì thằng bé ấy ở đâu ra? - Ðêm hôm trước có một cô gái trẻ đến bệnh viện một mình. Ðẻ xong cô ta được đưa về phòng sản phụ, còn đứa con trai đưa sang phòng nhi theo quy định của Viện. Sáng hôm sau đến giờ cho con bú thì không thấy cô ta đâu nữa, chỉ thấy dưới gối một mảnh giấy vỏ bao thuốc lá ghi mấy chứ : "Em lỡ lầm, không có điều kiện nuôi con. Xin các bác sĩ cứu giúp cháu bé , em xin chịu ơn suốt đời...". Các bác sĩ đã biết rõ hoàn cảnh của cậu và yêu cầu mọi người hãy giữ kín chuyện này. Sự thật là như vậy. Ðến hôm nay, đã hơn một năm trôi qua rồi, mọi sự đều tốt đẹp gia đình cậu sống hạnh phúc. Vậy là tốt lắm. Những người thầy thuốc cũng chỉ mong có thế. Mình chỉ muốn khuyên cậu phải chú ý dùng biện pháp, đừng có thai nữa bởi vì cậu sẽ không bao giờ có được một đứa con nguyên vẹn với anh ấy đâu. Nói ra với cậu điều này thật tàn nhẫn, nhưng đó là lương tâm, là trách nhiệm người thầy thuốc để tránh cho cậu nỗi đau khổ. Hãy hiểu cho mình, mình chỉ muốn mọi điều tốt đẹp cho cậu thôi! Mình hiểu và rất biết ơn cậu và các bác sĩ đã làm việc đó... Chỉ có điều xin đừng ai tiết lộ cho anh ấy biết, một mình mình đau khổ là đã đủ rồi... Chị đã hết sức gắng gượng để không đổ sụp xuống trước sự thực đau đớn này. Chị hiểu rằng, hạnh phúc hôm nay chị có được là nhờ tấm lòng nhân hậu của những người thầy thuốc, chị phải ra sức vun đắp cho cái gia đình nhỏ của mình luôn được vui vẻ đầm ấm. Anh tỏ ra mãn nguyện vì có đứa con trai khôi ngô, khoẻ mạnh mà anh yêu quý nó hơn mọi thứ ở trên đời. Mỗi khi rảnh việc, anh thường "kiệu" cu Trí trên vai đưa nó đi chơi quanh xóm. Hễ ai khen thằng bé khoẻ, đẹp trai như tranh, anh lại cười nói vui : Khoẻ như con nhà lính mà lại! Tớ là tớ bác bỏ cái thuyết "cha già con cọc" của thiên hạ đấy! Suốt mấy chục năm chinh chiến, cuộc đời anh phải trải qua bao gian nan, vất vả, giờ được về công tác gần nhà, quấn quýt bên vợ con và bằng lòng với những gì anh đang có trong tay. Hạnh phúc của người lính thật là giản dị. Anh chẳng còn mong gì hơn thế? Và cuộc sống cứ bình lặng trôi qua theo năm tháng. Ðôi khi chị cứ lẩn thẩn tự hỏi : Có phải là chị đã lừa dối anh, như lần đầu chị giấu anh sự thật về đứa con không nên người - lần ấy chị vẫn tưởng là lỗi tại chị. Còn lần thứ hai phải mổ nên chị không biết về sự thật, chỉ biết là khi tỉnh dậy, các bác sĩ đã báo cho chị biết đã sinh con trai! Chị đâu có ngờ chiến tranh đã cướp đi vĩnh viễn của anh cái khả năng và hạnh phúc làm cha của những đứa con bình thường. Hiểu theo một kiểu nào đó thì đúng là anh đã sống yên vui hạnh phúc trong sự day dứt của chị. Nhưng rồi sẽ có một ngày nào đó, sự bí mật này được khám phá và anh sẽ đau khổ như thế nào? Cái gia đình bé nhỏ này sẽ ra sao? Trên đời này liệu có bí mật nào chôn vùi mãi mãi được không? Chị luôn ám ảnh bởi mặc cảm rằng chị đã lừa dối chồng, nhưng chị không thể nói lên sự thật đau lòng đó, vì chị rất yêu anh. Trong tâm trạng ấy, chị càng ra sức vun vén và càng nỗ lực có thể của mình để anh luôn cảm thấy sự ngọt ngào của hạnh phúc, cho dù chị phải chịu muôn vàn đắng cay âm thầm. Ôi, giá như anh biết được rằng chị yêu anh đến chừng nào! "... Ai gây nỗi bất hạnh này? Em không oán trách anh đâu, em hiểu rằng anh không có lỗi, mà chính là tội ác của chiến tranh! ... Nếu người có thể gọi đó là sự lừa dối thì em đã lừa dối anh, hãy tha thứ cho em! Em không phải là kẻ lừa dối. Tất cả chỉ vì em yêu anh!...." Ðã bao lần chị thầm nghĩ như vậy khi nép mình trong vòng tay âu yếm của anh! Tiêu đề: Ngày cuối cùng của chiến tranh Gửi bởi: trachvandung trong 20 Tháng Năm, 2008, 04:24:44 pm Ngày cuối cùng của chiến tranh
Vũ Cao Phan Không hiểu vì sao cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa kể ra câu chuyện này, mặc dù còn như in đôi tay gày guộc của ma xơ* run rẩy lần tìm chiếc chìa khóa, vạt sân hoang, những khuôn mặt trẻ con và tiếng kêu thảng thốt của chính tôi lúc đó, hai mươi năm trước... Lúc đó, sớm của một ngày trước Ba mươi tháng Tư, năm người lính đứng bên chiếc cổng sắt xiêu vẹo, phía trong nhô cao một tháp xi măng lênh khênh. Vậy là đây rồi. Chúng tôi gọi cửa. Người gác dan chạy ra rồi thụt vô luôn. Có cái gì đó lao xao, rồi im, rồi lao xao. Mãi sau, vài cái đầu thập thò và một người đàn bà bận đồ đen từ sâu hút trong sân đi ra: - Dạ thưa, các ông là giải phóng? - Vâng, chúng tôi có thể vào? - Dạ được. Cửa mở. Tôi ngó lại người đàn bà: - Ðây là nhà thờ sao? - Dạ không, trường học, đây là trường học, thưa trung úy. (Bà kêu đại vậy chứ tôi có mang thứ phù hiệu nào trên người đâu). Nhưng trường học đóng cửa rồi, chắc đã cả tháng nay. Còn chúng tôi ở Cô nhi viện G, từ miền Trung chạy giặc, Giê su, xin lỗi (bà lấm lét nhìn tôi) chạy bom đạn mới tấp vô. Nơi này bữa trước làng lính có ở, sau họ nhường cho Cô nhi viện. Bất giác tôi nắm chặt báng súng, nghi ngại: - Còn lính ở trong không, thưa bà? Bà già cũng hoảng hồn: - Dạ không, không có, họ đi hết trơn từ mấy bữa rồi. Hồi hổm có tốp chạy qua đây trút bỏ đồ lính rồi cũng "dông"luôn. Những thứ "trút bỏ" được nhìn thấy ngay ở chỗ quẹo. Cả xứ sở đang lên cơn sốt di tản, khó mà xác định đây là vùng mới giải phóng hay vẫn còn nằm trong tay quân đội Sài Gòn. Chúng tôi dừng lại bên chiếc tháp. Không giống một tháp canh. Mà một trường học có nó để làm gì cũng không rõ. Có vẻ như tháp được dùng cho mục đích quan trắc thường xuyên nào đấy. Sơ sài nhưng khá vững. Tôi yêu cầu đồng đội cảnh giới rồi leo lên. Cuộc tổng tiến công trực tiếp vào nội đô Sài Gòn đã nổ ra từ ngày hôm qua. Các đơn vị phòng không được lệnh bám sát bộ binh đánh địch trong hành tiến. Nhưng trung đoàn tôi thì dừng lại ở hướng này, cách Sài Gòn khá xa về phía bắc, sẵn sàng đón lõng những đường bay địch mà rất có thể xuất phát từ các căn cứ ngoài Việt Nam bất ngờ lao đến một lúc nào đấy. Tôi, Chủ nhiệm trinh sát trung đoàn được chỉ thị thiết lập gấp một đài quan sát cho nhiệm vụ trên. Chúng tôi đã phát hiện ra chiếc tháp từ chiều hôm qua trên bản đồ UTM tỷ lệ 1/25000 mới lấy được của địch và phải mất gần sáu giờ đồng hồ cho việc tìm đến nơi. - Lý tưởng! Không thể nói khác được. Tôi gật đầu với các chiến sĩ khi đã ở dưới mặt đất. Quả vậy, đài quan sát được đặt ở đây chẳng những nằm thẳng hướng xác định mà xạ giới quan sát lại rất rộng, không bị che khuất. Tôi mở máy liên lạc với trung đoàn trưởng, báo cáo tình hình rồi khẳng định bắt đầu nhận nhiệm vụ. Từ giờ phút này, mạng hai oát trên tất cả các trận địa pháo cao xạ đã sẵn sàng nhận chỉ thị mục tiêu của chúng tôi. Hơn thế nữa, trung đoàn trưởng trao quyền trực tiếp hạ khẩu lệnh xạ kích cho tôi trong trường hợp khẩn cấp. Tôi nói với ma xơ Giám đốc Cô nhi viện, người đàn bà bận đồ đen, rằng do nhiệm vụ quân sự, chúng tôi sẽ ở lại đây. Rằng cũng do tính chất của nhiệm vụ quân sự, tôi muốn được xem qua nơi đóng quân. Bà già khẽ khàng đáp "dạ" nhưng đôi mắt của bà lại không có vẻ như vậy. Nắm chắc địa bàn công tác là tác phong của người lính trinh sát nhưng tôi còn có ý muốn tìm kiếm một vị trí tập kết cho cái đơn vị nhỏ bé của mình. Gần như hành quân suốt đêm, tất cả đều đã thấm mệt. Tôi để Vinh, một tiểu đội trưởng trinh sát già dặn ở lại đài quan sát rồi cùng các chiến sĩ bước theo ma xơ. Ngôi trường tọa lạc trong một khuôn viên khá rộng song hầu như chỉ có một dãy nhà ngang với dăm bảy phòng học mà giờ đây Cô nhi viện dùng làm nơi ăn ở lẫn nơi học tập, vui chơi cho các cháu. Mới di tản đến nhưng nơi có vẻ các ma xơ vẫn cố gắng duy trì nền nếp cũ. Chúng tôi lướt qua các phòng, gắng không gây xáo động những khuôn mặt trẻ thơ hồn nhiên, đủ các lứa tuổi. Một bé trai làm bộ chĩa súng lên trời bóp cò trước sự kinh hãi của ma xơ phụ trách lớp. Tôi mỉm cười. Trẻ em là trẻ em, dù chúng ở đâu. Trong một phòng khác, các bé gái đang học khâu vá. Gian cuối cùng, cửa khóa. Tôi hỏi ma xơ liệu đây có phải là phòng thừa còn bỏ trống không thì bà đáp nhanh như tên bắn: - Dạ không. Ðây là nơi tôn nghiêm nhất, thưa trung úy, nhà nguyện của Cô nhi viện. Nó cũng là nơi chứa các đồ Thánh lễ. Hẳn thế, đây là Cô nhi viện công giáo mà. Như vậy chúng tôi chỉ còn cách dựng lều trú quân ở một góc nào đó. Không sao. Có vẻ như đọc được ý nghĩ của tôi, ma xơ Giám đốc chỉ xuống một căn nhà nhỏ gần như tách biệt: - Các ông coi thử căn nhà này. Một gia đình của Cô nhi viện đang ở đó, nhưng chúng tôi có thể thu xếp được. Gia đình có ba người, một thiếu phụ trẻ với đứa con nhỏ và một thiếu nữ, cỡ 16, 17 tuổi. Vẻ mặt hơi rầu của thiếu phụ là điều mà chúng tôi có thể giải thích, vì ma xơ đã cho biết chồng của chị đang chốt ở một phòng tuyến nào đó. Tuy thế khi thấy chúng tôi vào nhà, sau lời chào, thiếu phụ đã mau mắn kêu thiếu nữ: - Lấy nước mời mấy chú đi em, Dịu Thơm. Ôi cái tên nghe bình yên quá. Chiến tranh dường đâu có ngụ ở nơi này. Trong khi cô gái còn chưa kịp tìm thấy bình nước thì ma xơ Giám đốc đã nhanh chóng quyết định: - Cô Hồng thu xếp để chuyển gia đình lên ở chỗ tôi cho mấy ông giải phóng mượn tạm chỗ này ít bữa. Và quay lại phía tôi: Trung úy định ở lại đây bao lâu? - Hết chiến tranh, thưa ma xơ. Tôi cười. Nhưng chiến tranh cũng chỉ còn một trận đánh này và tôi không nghĩ rằng nó lại kéo dài. Thêm một lần ma xơ nhìn tôi như có chút phân vân. Ngày hôm ấy chúng tôi thay nhau trực trên đài quan sát với biết bao nôn nóng khi nghe tiếng pháo từ hướng đông, hướng tây và xa hơn nữa, hướng nam. Ðôi lúc mơ hồ vọng đến cả tiếng súng nhỏ. Sẽ đến rất gần một ngày Sài Gòn; ngày mai, ngày kia, hay...? Nhưng đã xảy ra một chuyện làm đảo lộn công việc của chúng tôi. Bắt đầu là binh nhất Ruân, con chiên xứ đạo gốc Hải Hậu băn khoăn tìm đến vào lúc cuối chiều: - Anh ạ, có chuyện này khó hiểu. Em hỏi ma xơ khi nào thì hành lễ, lúc đầu ma xơ làm bộ như không nghe, rồi sau đó bà hỏi: "Mấy ông giải phóng cũng quan tâm chuyện đó sao? Chúng tôi làm lễ rồi, cảm ơn". Em phải nói rằng em là con Chúa, bấy lâu ở rừng chỉ đến thầm với Chúa được thôi, nay có nhà nguyện thì sướng nhất rồi, em muốn đi lễ. Em nói thế, ma xơ nhìn em rất lạ rồi bỏ đi mà không nói gì thêm. Anh thấy không, chúng mình đến đây từ sớm, đã có buổi lễ nào đâu? Không có lễ sáng mà cũng chưa thấy lễ chiều. Em để ý kỹ lắm mà. Ma xơ nói thế thì lạ thật! Tiêu đề: Ngày cuối cùng của chiến tranh (Cont) Gửi bởi: trachvandung trong 20 Tháng Năm, 2008, 04:25:26 pm Tôi chưa kịp chia sẻ mối nghi hoặc thì tiểu đội trưởng Vinh xuất hiện:
- Báo cáo chủ nhiệm, không ổn đâu! - Vinh hạ giọng. - Có địch! Vinh cho biết anh đi kiếm rau dền, rau rệu quanh trường, vừa lúc qua phía sau nhà nguyện thì đột ngột cửa sổ hé mở rồi đóng vội lại ngay. Anh áp sát chân tường và nghe thấy bên trong có tiếng động. - Anh xem. - Vinh chỉ. - Ðứng đây mình vẫn nhìn thấy ổ khóa trái đen đen kia. Rõ ràng là... Ruân đưa thêm ý kiến: - Có một lúc ma xơ đi ngang chỗ khóa cửa, em để ý thấy bà bước chậm, miệng lẩm bẩm điều gì đó và đôi mắt thì không yên ngó vào một chỗ. Các chiến sĩ trinh sát của tôi khá đấy. Tôi cũng đã thấy đôi điều ngờ ngợ và giờ đây thì rất nhanh, như một phản ứng nghề nghiệp, tất cả các dữ kiện được xâu lại để bật lên thông tin chủ yếu này: ma xơ Giám đốc đã giấu ai đó - những ai đó - trong nhà nguyện kia vào lúc chúng tôi vừa hành quân đến đây. Ai? Tôi không có lý do gì để không đồng ý với tiểu đội trưởng Vinh rằng đó là địch. Và chúng thậm chí không chỉ có một tên. Rất có thể địch đã để lại đây một tốp nhỏ - vì lý do nào đó - sau khi "nhường khu trường cho Cô nhi viện" như lời ma xơ. Và cũng có thể đó là những tên chối bỏ cuộc chiến từ đâu đó chạy về, vẫn như lời ma xơ. Tôi quyết định phong tỏa nhà nguyện mà không cần cật vấn thêm ai nữa. Phương án tác chiến được vạch ngay với hai kịch bản cho những tình huống, hoặc địch lợi dụng trời tối để lén rút chạy, hoặc chúng mưu đồ tập kích lại chúng tôi. Chỉ biết rằng từ giờ phút này với năm người, gánh nặng của nhiệm vụ chiến đấu đã tăng lên gấp bội. Ðể có thể khống chế được mặt sau ngôi trường, tôi không có cách nào khác là phân công Ruân đem tăng võng ra mắc ở mấy gốc cây xế phía hồi nhà. Ðộng tác này không thể không đập vào mắt ma xơ và mặc dù lúc đó đã tối trời, tôi vẫn cái thấy cái nhìn của bà hướng đến như muốn hỏi: Vậy thì cần làm gì, căn nhà mà các ông yêu cầu? Vậy là cuối cùng, đã đến với chúng tôi một đêm bức bối và hồi hộp lạ thường. Pháo cứ rền lên từng đợt, chớp cứ rung bần bật phía đường chân trời và thân xác chúng tôi thì căng lên hết nỗi. Chúng tôi lắng theo bước chân chiến thắng của đồng đội, chúng tôi lo làm nhiệm vụ được giao, và chúng tôi... Thôi, khỏi cần kể thêm. Khuya mọi thứ có dịu đi nhưng tuyệt nhiên không một ai muốn chợp mắt. Lúc đó quãng nửa đêm, trăng hạ tuần chưa qua khỏi ngọn cây. Tôi làm hiệu bí mật theo dõi khi đồng đội phát hiện một bóng đen. Bóng đen từ đầu bên kia dẫy nhà men theo chân tường, lợi dụng sự che khuất của các bóng cây, chầm chậm, di chuyển về hướng này. Cuối cùng thì bóng đen cũng đến được gốc cây cách nhà nguyện lối chừng mươi bước. Mục đích có thể là đã rõ: tên này, hoặc làm nhiệm vụ đưa tin, hoặc tìm cách mở cửa cho đồng bọn. Nhưng điều tác hại là cả khoảng trước cửa nhà nguyện lại hết sức trống trải, và kẻ phiêu lưu kia đành hầu như án binh bất động nơi gốc cây. Tôi dự kiến bắt sống nhưng chưa kịp hành động thì ngay lúc đó đã đẩy tới một tình huống bất ngờ. Bóng đen bỗng tách khỏi gốc cây, nghe ngóng rồi nhảy lên bậc thềm chỗ cửa nhà nguyện và chắc là bước hụt, y ngã sấp với một tiếng "xoảng". Rất nhanh, bóng đen đứng vụt dậy biến mất về hướng ngược lại. Tôi quyết định không đuổi theo. Buổi sáng, các chiến sĩ thu được từ hiện trường một cặp lồng với cơm canh tung toé, mấy ổ bánh mì và một chiếc dép. Vậy là mục đích của cuộc phiêu lưu ban đêm đơn giản hơn điều chúng tôi tưởng. Tôi cho xếp gọn các thứ, để ngay ngắn trên thềm nhà nguyện. Ngày làm việc đã trở lại mà không một ai trong Cô nhi viện đi qua hướng này, trong khi các ma xơ thì có vẻ lóng ngóng đứng ngồi chẳng yên. Cũng chẳng có lễ sáng trong nhà nguyện nữa, đương nhiên. Và cũng không một ai trong chúng tôi nhìn thấy ma xơ Giám đốc đâu, bà như giấu mặt vậy. Tất cả giống một sự đồng lõa tự tố cáo. Vào phiên liên lạc sớm với trung đoàn, tôi được nhắc tăng cường cảnh giác và được biết thêm rằng ngày hôm nay - rất có thể là ngày hôm nay - các quân đoàn bộ binh sẽ tiến vào nội đô. Trong báo cáo của mình tôi cũng đề cập đến tình hình mặt đất nơi tác nghiệp và xin được toàn quyền hành động. Trung đoàn trưởng đồng ý: "Gắng hết sức bắt sống hay gọi hàng. Ðừng phung phí cái chết, chiến tranh sắp qua rồi. Vả lại ở đó đang có nhiều trẻ em phải không?" Tôi quyết định đi tìm ma xơ Giám đốc, phải nói chuyện với bà ta trước đã. Tất nhiên sẽ không có thuyết giảng về chính tà, về chỗ đứng, dù ở thời điểm này. Càng không cần vòng vo Tam Quốc. Tôi nghĩ là mình hiểu bà. Các ma xơ luôn hành động hướng thiện như bằng chứng đây về trại mồ côi. Tình huống mà chúng tôi gặp phải cũng vậy, hẳn vì bà muốn tránh đổ máu. Tôi sẽ nói với ma xơ rằng chúng tôi cũng muốn thế, do đó xin ma xơ vận động những kẻ đang ẩn náu trong nhà nguyện kia buông súng đầu hàng. Cách mạng sẽ khoan dung. Nhưng tôi được trả lời là ma xơ Giám đốc đang ốm? Không thể chần chừ, tôi nói với một ma xơ khác có vẻ đứng tuổi: - Xin ma xơ lấy chìa khóa mở căn nhà nguyện kia. Chúng tôi cần kiểm soát trong đó. - Giê su! Bà thốt lên. - Nhưng tôi không có chìa khóa. Thứ đó ma xơ Giám đốc giữ. - Thì ma xơ trình lại với bà ấy yêu cầu của chúng tôi. Từ giờ phút này nhà nguyện bị phong tỏa xin ma xơ thu xếp để tất cả mọi người, nhất là trẻ em chuyển hết về đằng kia. - Tôi tuyên bố. Ma xơ làm dấu thánh rồi tất bật đi luôn. Nhưng hơn nửa tiếng trôi qua, không thấy bà quay lại. Tuy nhiên các trẻ em đã được đưa ra khỏi khu vực phụ cận. Phải hành động ngay. Tôi triệu tập bộ đội, chỉ để một chiến sĩ ở lại đài quan sát. Vinh tới, anh nói mà không biểu hiện một trạng thái nào rõ rệt trên nét mặt: - Quân ngụy đã đầu hàng. Anh nghe đây... Vinh tăng chiết áp của chiếc đài bán dẫn Sô-ny lúc nào cũng cặp kè bên sườn anh. Ðập ngay vào tai tôi lệnh hạ vũ khí cho quân đội Sài Gòn của Tổng thống Dương Văn Minh. Tôi cảm nhận cả mình cũng không có cảm xúc rõ rệt nữa khi hướng về đồng đội: - Chúng ta sẽ đánh trận cuối cùng của chiến tranh. "Ðiều gì cũng có thể xảy ra", ý nghĩ đó lướt nhanh trong khi tôi phân công vị trí chiến đấu cho các chiến sĩ. Mọi sự chấp hành đều lập tức và tuyệt đối. - Phá khóa gọi hàng! Tôi ra lệnh. - Kìa Chủ nhiệm, ma xơ... Tôi quay lại. Ma xơ, ma xơ Giám đốc bỗng như từ đâu đó hiện ra đi về phía chúng tôi, bước chân lẩy bẩy như khựng lại, như trờ tới. Khi bà gắng giơ cao một chùm chìa khóa, hào hển điều chi mà khi đến gần mới nghe rành: - Xin đừng bắn vô trỏng, trung úy... Mới chỉ qua một đêm, ma xơ đã gầy rộc hẳn đi. Bà cúi xuống, đôi tay gầy guộc run rẩy lần tìm chiếc chìa khóa nhà nguyện. Có lẽ bà đã đếm qua nó cả chục lần nhưng vẫn tìm, tìm hoài. Cuối cùng thì bà cũng giữ lấy một chiếc, nhìn lên: - Trung úy để tôi. Thoắt một cái, động tác của ma xơ bỗng trở nên nhanh hoạt lạ lùng. Bà như khẳng định lại tư thế Giám đốc. Khóa nẩy, cửa mở, sau dấu Chúa tuẫn nạn, bà kêu rành rọt: - Má đây, ra đi các con... Và bất đồ đổ ụp dưới chân tôi, bà nấc lên: - Lạy Chúa, xin các ông đừng giết. Chúng đâu có tội, chúng không có tội... Thôi rồi! Tôi chợt hiểu tất cả khi từ trong góc tối của nhà nguyện, thất thểu, sợ sệt và hốc hác vì đói bước ra ba đứa trẻ lai: hai Mỹ đen, một Mỹ Trắng. "Trời! Lại có thể như thế sao Chúa ơi". - Lấy sữa trong ba lô pha cho các cháu mau đi! Tôi nói với đồng đội trong khi cúi xuống đỡ ma xơ dậy. Và cũng chỉ nói được đến thế, tôi đã phải xoay người bước nhanh để lẩn trốn những giọt nước mắt của chính mình. "Lại có thể như thế được sao, lại có thể...". -------------------------------------------------------------------------------- * - Maxơ gốc tiếng Pháp: Ma souer (chị của tôi, xơ của tôi) nhưng được Việt hóa trong khẩu ngữ từ miền trung trở vào để chỉ người phụ nữ tu hành trong nhà thờ Thiên Chúa giáo, thường làm những việc thiện trong nhà thờ (tương tự như từ xơ, nhưng được hiểu với nghĩa tôn quý hơn). Tiêu đề: Thư nhà - Hồ Phương Gửi bởi: trachvandung trong 21 Tháng Năm, 2008, 09:26:21 am Ðây là một trong những truyện ngắn đầu tay của nhà văn Hồ Phương viết trong thời gian đang diễn ra cuộc kháng chiến 9 năm lần thứ nhất (1945 - 1954). Qua truyện ngắn bạn đọc có thể thấy hình tượng người nông dân mặc áo lính ra trận nhưng lòng dạ vẫn hướng về quê hương bản quán nơi có lũy tre xanh, những cánh đồng bát ngát và những người thân yêu ruột thịt. Thư nhà Hồ Phương Tôi ghếch súng vào ba-lô định quay ra làm giấc ngủ con thì Lượng đưa cho tôi một mảnh giấy: - Cho Phượng xem thư của em mình vừa gửi xong. Tôi giở ra, bức thư chỉ là một mảnh giấy nhỏ đã ố nước. Chữ nhòe hết già nửa. Chỉ còn đọc được mấy chữ đầu và vài dòng cuối cùng: .... ngày 15-12-1948 Anh Lượng kính mến, Em gửi thư này không biết có tới được tay anh. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ...Ðông Triều bây giờ cơ cực lắm anh ạ. Chúng nó đóng không biết bao nhiêu là đồn nữa. Chúng nó càn quét Ðông Triều cũng không còn biết bao nhiều bận nữa. Làng ta chúng đốt gần trụi hết. Pháp đang cố lập hội tề nhưng không được. Dân làng đói rét, khổ sở, may nhà ta thày mẹ còn sống cả, chỉ hay ốm vặt thôi. Chị Chi vẫn còn ở làng. Chị ấy bảo nhất định chờ anh đấy. Thôi em không viết nữa. Em còn muốn viết thật dài cho anh nhưng hồi này em yếu lắm, sức em chỉ còn một phần ba ngày trước thôi anh ạ. Chúc anh mạnh khỏe giết được nhiều Tây. Bao giờ rỗi, anh xin phép về thăm nhà nhé. Em Lân Tôi bỏ thư xuống: - Lâu nhỉ! Từ tháng tám bây giờ mới tới nơi. Ðược tin nhà cũng yên bụng đấy nhỉ. Thế nào? Lượng có định về thăm nhà, thăm cô Chi nào đó không? Lượng bỏ chiếc mũ nan, vuốt mái tóc xõa xuống trán, cười: - Mình về rồi! Về trước khi thư này đến đây. - Hồi nào nhỉ? Sau trận Ðồng Khuy ở Ðông bắc, mình có công tác đi liên lạc với đội võ trang ngoài Hồng Quảng nên tiện thể ghé về nhà một buổi. Hơn bốn tháng rồi còn gì. Có buồn ngủ không, mình kể lại cho mà nghe, cũng nhiều cái rắc rối lắm cơ Phượng ạ... Tôi cõng ba-lô, giắt hai quả lưu đạn, khoác một khẩu tiểu liên, lên đường về qua lối Mai Xiu. Mấy hôm ấy, mưa dườn dượt, mưa thối đất thối cát, mưa trên rừng núi đáng lẽ buồn chết người đi được, nhưng trái lại, tôi thấy vui ghê, vì chắc chắn chuyến này thế nào cũng được rẽ qua nhà một tí. Anh tính ba năm rồi còn gì... Quần xắn móng lợn, áo tơi lá cuốn tròn, chiếc gậy song cầm chắc trong tay, thế là cứ đi phăng phăng. Ðường trơn thế mà không ngã cái nào cả. Chỉ mong bay ngay về để được trông thấy ông cụ, bà cụ, chú Lân và Chi... người yêu của tôi. Cứ một mình xuyên rừng, qua suối, đi miết hơn một ngày mới về tới Mai Xiu. Vết tích cuộc nhảy dù càn quét vẫn còn. Nhà cửa cháy trụi; trâu bò, người chết ngổn ngang. Trận Ðồng Khuy chính tay tôi đâm sáu tên giặc, đốt cháy ba nóc nhà như không, mà về đây tôi thấy lạnh người. Tôi lại sực nhớ tới Ðông Triều, quê cũ. Một người bạn cho biết hồi đầu hè: "Ðông Triều tan tác, điêu linh lắm! Giặc tàn phá không còn thương một búi cỏ. Làng tôi cũng bị đốt ra tro. Nhưng gia đình tôi vẫn toàn vẹn. Chi vẫn chờ tôi". Cái đau đớn vì quê hương bị tàn phá, thêm cái vui vì gia đình bình yên càng làm cho tôi sốt ruột, muốn về cho chóng. Trời càng mưa tôi càng đi khỏe. Thế rồi tôi vượt Mai Xiu, sang Huyền Bồ, núi rừng vẫn ngàn rậm rạp. Ðường đi tắt, nhỏ teo hoang vu. Cỏ dại cao chấm rốn. Tôi vẫn đi miết không mỏi. Không khí ở đây đã thấy nhè nhẹ, thoáng thoáng gió bể. Chao ôi! Ðông Triều... Hồng Gai. Ðêm tối bưng, lạnh buốt. Gió bấc hun hút. Phải vượt qua con sông Cầu, giặc đã gác kín. Tối, sông nhỏ nom cũng thành mênh mông. Ngại ngùng thật. Tôi tắc lưỡi. Ðồng Khuy cũng chẳng coi mùi nữa là... Thế là Sten, lựu đạn, quần áo buộc lên đầu, tôi khẽ rẽ lau lội xuống. Nước rào rào. Ngại quá. Ðèn trên đồn đỏ nhuộm như ứa máu. Tôi bơi đứng, cố đạp nhanh sang bên bờ. Chợt nghe đằng sau cũng có tiếng nước oàm oạp. Ngoảnh lại thấy hai bóng người đang bơi theo. Thôi chết rồi! Ðúng là tụi giặc đuổi theo rồi. Ðời tôi có lẽ tàn ở đây chắc. Tôi nghiến răng, bao nhiêu sức đổ ra hết, đạp phăng phăng. Ðến bãi cát, mệt quá, tôi lảo đảo ngồi bệt xuống. Hai bóng người cũng vừa nhoài lên. Tôi lặng rút tiểu liên, lên đạn, từ từ đưa lên ngang sườn... Một giọng đàn bà: - Ai? Tôi dằn từng tiếng: - Giơ tay lên! Tiến lại gần đây! Dưới ánh sao lờ mờ, tôi nhận ra hai người quen quen. - Trời! Ai như anh Lượng? Tôi nhận ra rồi: - ồ! Chị Thu, chị Viên. Ðây là hai chị cán bộ của Ðông Triều khi trước. Họ ra hiệu cho tôi nói khẽ rồi chỉ tay về phía ga. Tôi hiểu ý, khoác vội chiếc áo, xách súng rảo cẳng theo hai người về phía một tòa miếu sát dãy núi đá. Chúng tôi vào một khu vườn rậm. Lâu lắm tôi mới gặp Thu, Viên. Ngày trước họ là hai thanh nữ đẹp có tiếng trong vùng. Bây giờ họ đã có vẻ điềm đạm, một nét nhăn mờ trên má. Thu, Viên vẫn hoạt động cho đoàn thể! Cơ sở phụ nữ, du kích, các đoàn thể cứu quốc của Ðông Triều bây giờ vững lắm rồi. "Ðông Triều hồi trước xác xơ khốn đốn thật. Dân ăn cháo, ăn bẹ để kháng chiến. Nhiều lúc khốn khó, tưởng chừng có thể tan vỡ. Nhưng bây giờ Ðông Triều cứng cáp lắm rồi. Anh Lượng ạ! Ðông Triều đang sẵn sàng chờ các anh về. Ðông Triều đang giằng co với giặc, chống khủng bố, càn quét. Chính quyền bù nhìn của giặc không sao đặt nổi. Nhiều làng vẫn kháng chiến mạnh mẽ, chẳng hạn như làng anh...". Tôi bó gối ngồi nghe giọng nói ấm áp của Viên, thấy lòng nhẹ hẳn. "Ðông Triều bây giờ cứng cáp lắm rồi... Nhiều làng vẫn kháng chiến mạnh mẽ, chẳng hạn như làng anh...". Tôi nhớ lại ngày theo bộ đội tới Ðông Triều lên Việt Bắc, tôi đã phải ứa nước mắt nhìn lại Ðông Triều. Tôi quay hỏi Viên, Thu: - Các chị có biết tin gì về nhà tôi không nhỉ? Thu lắc đầu nhìn xa xôi: - Cũng đã lâu không sang bên đó, không rõ lắm! Chỉ biết đại khái là các cụ, chú Lân vẫn mạnh. Còn Chi... Tôi nín thở. - Còn Chi, tôi nói anh phải bình tĩnh mà nghe nhé. Chi bị Pháp bắt, làm ô uế, rồi thả về. Và từ đó Chi cũng bắt đầu tích cực hoạt động. Bây giờ Chi là một cán bộ phụ vận của liên xã... - Và Thu, ngập ngừng - ... Chi nó không muốn bao giờ gặp anh nữa vì... Nhưng mà kể ra thì con bé cũng "gì" quá. Tôi bàng hoàng, lặng đi, nhưng rồi trấn tĩnh được ngay, sờ tay chỉ thấy mồ hôi trán nhơm nhớp. Thế mới biết cảm giác của người lính thành trai cũng là một điều hay thực. Tôi lảng sang chuyện khác: - Nội đêm nay tôi phải về tới nhà mà đường lối tắt không quen lắm. Hai chị nếu có thể cùng đi... Thu, Viên gật đầu. Về khuya sao càng sáng lạnh, xanh biếc, lấp lánh. Nhìn lên buồn buồn. Bỗng có tiếng quát tháo ngoài cửa miếu. Rồi ba phát súng nổ ròn. Giặc đến vây rồi! Thu, Viên cuống lên. Tôi lẳng lặng xách súng đứng dậy ra hiệu cho họ đi theo. Chúng tôi rẽ đám cây luồn ra để chạy lên núi, thì một tràng tôm-sơm rít qua đầu, chiếc mũ nan chồm lên, chực bay xuống. - Chúng nó kia kìa! Có ra không? Ông bắn bỏ mẹ bây giờ. Mặc! Tôi nhào ra, Thu, Viên chạy theo. Thế là ba đứa luồn vào các bụi cây dại, lần đường lên một chỏm núi xa nhất! Ðằng sau, tụi Pháp, ngụy binh vẫn chửi om sòm, quạt tiểu liên vào các bụi cây sau miếu. Ðến lưng chừng núi chúng tôi đứng lại thở. Thu lắc đầu: - Gian lao thật! Nhưng có phải có một lần này thôi đâu. Chúng tôi cứ phải qua lại mãi mãi. Chi nó gan và nhanh hơn chúng tôi nhiều. Nghe tiếng "Chi" người tôi nóng bừng. Tôi phất tay leo lên. Hai người hổn hển bò theo. Chừng nửa đêm tới đỉnh. Có một cái hang rộng. Chúng tôi dừng lại. Phía chân trời xa xa có đèn lấm chấm thành vệt dài. Thu chỉ tay: - Hồng Gai đấy! ờ mà Hồng Gai thật! Ðèn điện sáng lờ mờ. Biển mênh mang đen sẫm, những cù lao lí tí. Gió bể thổi vào phần phật. Tôi đặt chiếc mũ nan, vuốt tóc thở dài. Mệt cũng có, buồn cũng có. Hồng Gai! Bao nhiêu là kỷ niệm hồi ông cụ tôi làm cai khu mỏ, tôi thư ký sở mỏ. Nghèo khổ. Chiều chiều tôi lê gót chân rã rời, buồn nản trên "kè" hay ngoài bãi Cháy nhìn bể mịt mùng, chim vật vờ trắng muốt. Tôi gặp Chi bán hàng rong. Chúng tôi hiểu nhau, yêu nhau. Ðời tôi bắt đầu có chút ánh sáng. Rồi tôi và ông cụ được tham gia đoàn thể. Ngày Tổng khởi nghĩa, chúng tôi, cả Chi, về cướp Ðông Triều. Cho đến nay! ồ... Cái thằng Pháp. - Chết chửa này! Nó bắn rách toang chiếc mũ của anh, anh Lượng này! Viên giơ chiếc mũ rách soạc trên chỏm. Tôi rùng mình. Viên đạn chỉ vào sâu thêm một chút nữa thì thôi... Ðêm lạnh! Trời thăm thẳm. Sao xanh biếc đầy trời khó ngủ quá! Chiều hôm sau chúng tôi về tới làng. Từ xa đã thấy lũy tre đỏ xuộm vì bị đốt cháy. Tôi muốn chạy lên. Tôi lắng nghe tiếng lọc xọc của những khung cửi dệt trong làng vọng ra như những năm nào, ngày nghỉ từ Hồng Gai về thăm nhà. Nhưng không có gì cả. Ðồng vắng ngắt, thênh thang lạnh như tha ma. Chúng tôi tới gần cổng làng. Bỗng uỳnh! uỳnh! Hai quả moóc-chi-ê nổ cách chúng tôi chừng ba mươi thước. Ba đứa nhoài sấp xuống! Rồi liên thanh réo ầm ầm cuối làng. Ðạn xé không khí, rú rít. Thu tái mặt: - Chúng nó về càn quét! Chạy thôi anh! Tôi ngần ngừ, nhưng sau cả quyết: - Tôi nhất định phải vào! Hai chị chạy đi, mau! Thu, Viên nhìn nhau, nhìn tôi rồi rẽ xuống cánh ruộng chạy miết. Tôi thấy máu trong người muốn sôi lên. Tôi lên đạn: - Phải vào! ít nhất hạ cũng được hai mươi thằng có chết rồi mới hả. Tôi chạy tắt vào cổng làng, thấy giao thông hào chi chít. Tôi nhảy phốc xuống, chạy về phía một ngôi nhà gạch để chọn một tử giác an toàn nhất chĩa súng ra. Lúc bấy giờ tôi bình tĩnh lắm. Nhưng sự thực, tôi cũng ân hận: mình chết cũng không sao nhưng còn công tác? Tôi càng thấy người nóng như điên. Nhất định không cho giặc hạ nổi, tôi nghĩ thế. Súng dần dần ngớt. Nghe súng, tôi đoán được tình thế. Súng du kích bình tĩnh, chắc; súng giặc cuống quýt, lồng lộn. Sẩm tối, tiếng súng im hẳn. Thế là tụi giặc không vào sâu trong làng được. Tôi khoái quá, thấy tự kiêu hãnh, vì cái làng "xôi thịt" của tôi bây giờ đã đường hoàng chơi nhau được với giặc. Trời tối hẳn, tôi mới mò ra, ngồi lâu chân tê, đi dạch dẹo, óc mệt mỏi. Hình ảnh Thu, Viên chập chờn trong đầu. Ðằng cuối làng có tiếng reo à à. ánh lửa hồng hồng, ngọn tre lá lăn tăn. Lại giặc chắc? Tôi nép vào một bức tường. Không! Tiếng cười tiếng hát. Có lẽ của dân làng. ờ mà biết đâu không có thày, mẹ, Chi, chú Lân ở đấy. Tôi rảo cẳng, tay nghênh ngang khẩu sten. Bỗng một tiếng thét ở lỗ con góc tường bật ra. - Ai! Ðứng lại! Giơ tay lên! Tiêu đề: Thư nhà - Hồ Phương (Cont) Gửi bởi: trachvandung trong 21 Tháng Năm, 2008, 09:27:22 am Một mồi lửa bừng lên. Anh du kích chạy ra. Tôi nhận rõ là con cụ Ðiều Năm. Nhưng hắn chưa nhận ra tôi. Hắn ghé sát vào mặt tôi mà nhìn mãi rồi reo:
- Ơi trời ôi! Anh Lượng! Anh về bao giờ thế? Sao anh lại về vào lúc này! Tôi nghe nói anh bị... bị đạn ở Lũng Vài rồi cơ mà! Hắn nắm tay tôi nói liến thoắng. Hắn trẻ quá, vẫn tươi vui như cũ. Mấy anh du kích khác ùa ra. Toàn anh em thanh niên làng quen thuộc cả. Họ xoắn lấy hỏi chuyện. Tôi cảm động quá không nói được nên lời. Ngày tôi đi, làng mới có sáu tay súng mà bây giờ, theo lời họ, đã có hai trung đội thoát ly. - ồ anh về đúng lúc thắng trận! Chúng nó chỉ giết được hai con trâu, đốt cháy trụi một chòi canh. Dân làng đang mổ trâu "ăn khao" ngay cuối làng vui lắm, anh đi đến cả thể đi. Anh mới về không rõ chứ, ba xóm phía cuối làng, độ ba trăm thước, địch đặt vị trí, chỉ rình bắn vào làng. Chúng nó đốt làng ta bốn lần. Bốn lần bị đốt, bốn lần làng làm lại, chúng lại đốt. Cứ thế giằng co mãi. Nhưng cóc cần, ngày lên núi ở, tối lại về khai hội, mít-tinh, kiểm thảo, có lo gì. Truyền kiếp cho nó cũng chẳng lập được hội tề. Anh du kích nói một thôi say sưa, nóng bỏng. Chúng tôi kéo đến bãi cỏ trước nhà ông Xôi. Ba bốn đống lửa sáng lòa. Trai làng đang mổ hai con trâu bị Pháp bắn. Người đen nghịt. Anh em giới thiệu tôi. Cả làng hoan hô. Thế là mấy tràng 12,7 ùng ục reo lên. Ðạn đi đâu cả. Vẫn vui, tôi kể mấy trận chiến thắng ở Ðông Bắc làm quà. Dân làng lại hoan hô ầm ầm. Thoáng có tiếng xì xào: - Lượng con ông Ðộ đấy mà. Ði vệ quốc Việt Bắc có khác. Rắn rỏi đáo để. Rõ tội nghiệp về nhà bố mẹ chẳng còn. Tôi lạnh người. Run cả bàn tay. Bây giờ tôi mới nghĩ đến nhà. Một anh du kích khoác tay tôi ra chỗ vắng thì thầm: - Mấy lần Pháp về bắt lập hội tề đều bị đánh lui. Chuyến tháng trước nó về bắt được ông bà nhà đem về dụ không được, bắn rồi. Chú Lân bây giờ yếu lắm. ốm quặt quẹo luôn. Nó làm thư ký cho huyện đội bộ cách đây chừng sáu cây. Nó bảo hồi ông bà còn sống, nó gửi cho anh ba bốn lá thư mà không thấy trả lời. Ðầu tôi nóng cháy. Tôi muốn khóc mà không ra nước mắt. - Anh có muốn gặp chú Lân thì mai. Còn chị Chi... Tôi ngắt lời: - Tôi biết rồi anh ạ. Việc ấy cũng không hề gì. Miễn là Chi vẫn trung thành với dân với nước. Có tiếng còi rúc, anh du kích xin lỗi về tập hợp. Tôi lặng lẽ vào một ngõ tối. Tôi tìm đường về nhà. Quanh co mấy lối rào mục đổ xiêu vẹo. Tôi tới chiếc cổng tre của nhà. Tim tôi như ngừng đập. Một cái gì mừng mừng tủi tủi làm tôi muốn rơi nước mắt. Cánh cổng vẫn như xưa, mốc rêu, vết giấy dán nham nhở. Chắc là dấu vết những bức tranh ông tướng của chú Lân hồi còn bé. Tôi đẩy cánh cửa, tiếng kẹt lạnh người. Tôi đã chắc chắn là không còn ai ra đón tôi nữa nên hững hờ bước vào mảnh sân đã lên rêu trơn trơn. Cỏ um tùm mấy nhóm. Cuối sân, chiếc nhà tranh năm gian vẫn còn, nhưng một đầu đổ sụp. Hai chiếc cột cháy thui đứng sừng sững. Tôi rón rén bước vào hiên, mấy cửa phên cót ghép tre kín mít. Tôi đẩy ra. Lòng nhà tối om, lạnh buốt, tiếng muỗi vo ve buồn xé ruột. Tôi bước hẳn vào, mái tranh thủng toang toang. ánh sao nhợt nhạt lọt vào từng mảng mờ mờ dưới nền đất ẩm. Tôi đứng lặng người, nghe rõ tiếng tim đập. Tôi lòe bật lửa. Trên giường, một mảnh giấy úa vàng nằm trơ, tôi nhặt lên trang một quyển vở nào. Tôi phủi bụi bỏ vào túi trên. Một lúc lâu tôi quay ra. Có bóng người thoáng qua giậu. Bóng một người đàn bà. Tôi chạy ra. Người ấy đứng lại: - Chị Vựng đấy à? - Không, Lượng đây! Người ấy lùi lại: - Trời ! Anh Lượng về ư? Tôi tiến lại. Tôi nắm lấy tay Chi. Hai đứa đứng lặng hồi lâu, rồi Chi nức nở. Tôi lắc mạnh tay Chi: - Các chuyện anh rõ cả rồi. Anh không giận Chi. Anh vẫn... vẫn yêu Chi. Tại thằng Pháp cả! Thầy mẹ em cũng như thầy mẹ anh đã... Không hiểu sao đến đây tôi nghẹn lời không nói được nữa. Chúng tôi ra đường cái rồi đi về cuối làng, ngồi trên một bãi cỏ. Hai đứa lại im lặng không nói được gì. Chi tỏ ý tiếc tôi về muộn không gặp thầy mẹ tôi. Tôi ngậm ngùi bảo Chi: "Các cụ chết cho chúng ta được sống, cũng như bao người khác hy sinh để cho có Ðông Triều." Hai đứa lại im lặng rồi tôi bảo mai phải đi ngay. Chi không giữ tôi, nhưng bảo nên sang thăm chú Lân, tôi bằng lòng. Chúng tôi lặng lẽ vượt cánh đồng, qua ba mũi 12,7 rồi tới bờ một con sông rộng. Chi để tay lên mồm khẽ hú. Không có tiếng trả lời. Chi lắc đầu rồi ngập ngừng: - Hay là ta bơi sang hở anh? Tôi lưỡng lự. Bên kia sông chợt lóe mấy ánh lửa như đèn pin rồi vài tiếng súng nổ vu vơ. Chi nói khe khẽ: - Tụi nó ở vị trí bên kia đi tuần! Tôi kéo tay Chi: - Trở lại thôi Chi ạ! Mạo hiểm vô ích! Chi ngước mắt nhìn tôi, giọng đau khổ: - Anh! Thế còn chú Lân... Tôi lấy giọng thản nhiên: - Khi nào Chi sang thăm em, bảo anh hỏi thăm. Rồi chúng tôi lủi thủi quay về. Hai đứa lại im lặng. Tới gần làng tôi dựng lại từ giã Chi. Chi nhìn tôi. Trong bóng tối, tôi cũng nhận thấy mặt Chi tái đi. Tôi dằn từng tiếng: - Chúng ta phải can đảm nghe không Chi? Can đảm nhé! Công tác đoàn thể cho trọn vẹn. Chi cúi đầu nức nở rồi ngẩng lên cương quyết: - Vâng anh đi! Em đợi... Tôi không thể nói gì thêm nữa, quay đi, bước thật mau. Vừa đi, tôi vừa có cảm giác Chi thẫn thờ nhìn theo và đang vẫy. Khi đi khuất ngọn tre làng cũ tôi mới đi chậm lại. Trời tờ mờ sáng. Ngôi sao mai vàng óng đã hiện trên nền trời sáng như bạc phía đông. Lượng ngừng lại chống hai tay ra sau nhìn lơ đãng xa xa. Tôi vỗ vai Lượng: - Té ra bức thư này đến rất lạc hậu, càng làm cho Lượng... Lượng xua tay cười: - Không đáng kể Phượng ạ! ồ, một thằng lính... Chúng tôi chuyển sang chuyện Bắc Cạn giải phóng lúc nào không biết. 1949 Hồ Phương Tiêu đề: Nước mắt khô - Đặng Nhật Minh Gửi bởi: trachvandung trong 21 Tháng Năm, 2008, 04:18:43 pm 1.
Việc Hà được chọn đóng vai nữ chính trong bộ phim sắp quay của đạo diễn Lê Văn, đối với cô là một hạnh phúc quá bất ngờ. Từ ngày tốt nghiệp khoa diễn viên trường điện ảnh tới nay đã ngót năm năm, cô chỉ được vài lần lướt qua trước ống kính trong các vai phụ với những câu thoại vô nghĩa, hoặc có khi chỉ im lặng như một cái bóng. Có người dè dặt cho rằng, cô đã chọn nhầm khi quyết định dấn thân vào cái nghề khó khăn nhưng đầy quyến rũ này. Quả thật Hà có một ngoại hình đẹp nhưng không lấy gì làm đặc sắc cho lắm. Khi thi vào trường điện ảnh, cái làm cho các vị trong ban giám khảo chú ý tới cô có lẽ là sự nhạy cảm. Trong tiểu phẩm thi với tình huống giả định: một cô gái được tin anh trai mình hy sinh ở ngoài mặt trận, Hà đã khóc òa lên, khóc nức nở, làm tất cả những người có mặt phải nghẹn ngào. Sau đó trong giờ giải lao một vị giám khảo đứng tuổi đến gần cô hỏi nhỏ: có phải trong gia đình cô có anh trai hy sinh thật không và biết chắc chắn rằng tiểu phẩm kia chỉ là sản phẩm của hư cấu thì toàn thể ban giám khảo nhất trí cho cô mười điểm về môn diễn xuất. Hà đã trúng tuyển. Trong những năm học ở trường, Hà được mệnh danh là "Hà mau nước mắt". Tiểu phẩm nào cần đến những cảnh trào nước mắt là ắt phải có mặt cô. Tuy vậy khả năng nhạy bén ấy cô chưa được lần nào ứng dụng trước ống kính. Bởi vậy khi cầm đến kịch bản của bộ phim sắp làm, cô hiểu rằng đây là thời cơ có một không hai để bộc lộ hết khả năng tiềm ẩn của mình. Ôi những giọt nước mắt được quay cận cảnh trước ống kính, được phóng đại lên màn ảnh có sức gợi cảm biết bao! Cứ nghĩ đến những tình huống trong phim là nước mắt cô cứ chực trào ra. Lần thứ nhất cô sẽ khóc khi tiễn người yêu ra trận. Lần thứ hai cô sẽ khóc khi bất ngờ gặp anh trong cùng một đơn vị chiến đấu, và lần thứ ba cô sẽ khóc vì sung sướng khi cả hai cùng được giao nhiệm vụ đi sâu vào lòng địch để thực hiện một phương án tác chiến cực kỳ táo bạo. Những ngày chiến đấu trong nội thành, những phút chờ đợi lập chiến công, rồi cả hai cùng hoàn thành nhiệm vụ trở về căn cứ an toàn... và cuối cùng là những giọt nước mắt hân hoan trong ngày lễ mừng công. Một bộ phim mà theo như đạo diễn Lê Văn tuyên bố sẽ mang tính sử thi anh hùng ca nhưng lại chứa đầy mầu sắc trữ tình lãng mạn. Hà chờ đợi từng phút từng giây ngày bấm máy. Đến gần ngày quay cô lại biết được một tin vui: bạn diễn của cô sẽ là nghệ sĩ Ưu tú Trần Thái. Được đóng đôi với một diễn viên tầm cỡ như vậy là một may mắn cho những ai mới bước vào nghề như cô. Xin nói đôi chút về người nghệ sĩ này. Anh cao một mét bảy mươi, vóc người cân đối, sống mũi cao (hơi quá cao), mồm rộng với hàng râu quai nón lún phún xanh. Có điều gương mặt ấy trắng quá nên trong chỗ bạn bè thân mật người ta thường gọi anh bằng cái tên "Thái Tây lai". Thái đóng nhiều phim, không kể hết... Anh mê điện ảnh lừ ngày còn ngồi trên ghế trường phổ thông. Những ngày ấy anh thích la cà vào các rạp chiếu bóng, thu thập ảnh các tài tử xi- nê hơn là công việc đèn sách. Niềm say mê đó anh đã phải trả bằng một cái giá khá đắt. Hai năm liền anh thi trượt đại học và đến lúc không còn lý do gì để trốn nghĩa vụ quân sự được nữa thì vận may ập đến. Trong một quán cà-phê nọ khi Thái vừa trả tiền xong bước ra cửa thì một người đàn ông đeo kính râm to bản đến vỗ nhẹ vào vai anh hỏi địa chỉ nhà riêng. Hai hôm sau Thái được mời lên Xưởng phim chụp ảnh, quay thử và lập tức được chấm vào vai một thanh niên du đãng trong bộ phim Tình cuối của đạo diễn Lê Văn. Vào thời điểm ngay sau ngày giải phóng miền nam, việc đi lại giữa hai miền còn khó khăn, không phải ai cũng được nhìn tận mắt những phố phường xa lạ, những khung cảnh ăn chơi của một thời đã qua. Bộ phim Tình cuối đã đánh trúng cái tâm lý đó của đông đảo khán giả. Báo chí ca ngợi tính tố cáo kịp thời chế độ thực dân kiểu mới, còn khán giả thì đổ xô đi xem để thỏa chí tò mò. Sau phim đó đạo diễn Lê Văn được liệt vào hàng đạo diễn có hạng và diễn viên Trần Thái được nổi danh bởi những màn phóng Honda bắn súng lục rất ngoạn mục. Cuộc đời anh từ đấy sang trang. Không ai nhớ hết những vai anh đã đóng, lúc thì kỹ sư trẻ có nhiều sáng kiến, lúc là tiểu đội trưởng trinh sát, rồi công an hình sự, thuyền trưởng tàu viễn dương... lại có khi anh là ca sĩ, phó tiến sĩ du học nước ngoài về... Nếu phải đóng những vai phản diện thì cấp bậc của anh bao giờ cũng từ sĩ quan trở lên. Trong những bộ quân phục sĩ quan địch, trông anh lại càng hào hoa. Thì ra niềm đam mê từ thuở nhỏ đã không phụ anh và ân nhân của đời anh là đạo diễn Lê Văn. Mọi việc chuẩn bị cho ngày xuất quân của đoàn làm phim đã được hoàn tất. Cấp trên đã duyệt cho đoàn một kinh phí khá đặc biệt xuất phát từ ý nghĩa chính trị của bộ phim tương lai. Nó lớn gấp năm lần kinh phí trung bình cho các phim khác. Dĩ nhiên sẽ là bất công nếu không kể tới công lao chạy chọt cửa trước cửa sau của chủ nhiệm phim cùng những hứa hẹn cam kết với những người có thẩm quyền về các khoản chia chác sẽ được hợp pháp hóa trong quá trình chi tiêu của đoàn làm phim sau này. Đến phút chót trước ngày đoàn lên đường bỗng xảy ra một chuyện trục trặc. Đạo diễn Lê Văn sực nhớ trong phim có nhiều cảnh quay nguy hiểm cần phải có người đóng thay cho diễn viên chính. Trong bảng chức danh nghề nghiệp quy định cho một đoàn làm phim không có chức danh này. Tổng dự toán của phim cũng không dự trù cho cái khoản chi đột xuất này. Chủ nhiệm tranh luận với đạo diễn, đạo diễn cãi lại với chủ nhiệm nhưng rồi cuối cùng mọi việc đều được thu xếp ổn thỏa. Đoàn làm phim vẫn lên đường đúng ngày đã ấn định, riêng phó đạo diễn sẽ đi sau cùng. Anh được giao ở lại cầm giấy giới thiệu của Xưởng phim đến Bộ tư lệnh đặc công. Đó là sáng kiến của chủ nhiệm Nhàn, một người cực kỳ tháo vát và biết tìm ra lối thoát trong mọi tình huống. Khi người chiến sĩ đặc công có tên là Hiếu đến đoàn làm phim thì mọi người đều phải công nhận rằng từ vóc dáng cho đến cả gương mặt anh rất giống với diễn viên Trần Thái, chỉ khác có nước da. Da anh đen hơn và đôi lông mày rậm hơn. Đã 35 tuổi mà anh vẫn chưa vợ. Đi chiến đấu suốt bảy năm ở chiến trường miền nam, rồi được điều ra bắc làm huấn luyện. Đơn vị đóng quân ở một vùng núi non xa cách dân cư nên anh chẳng có điều kiện được gặp ai ngoài đồng đội và những lính mới nhập ngũ. Mỗi năm vài ngày nghỉ phép vội vã về nhà anh cũng chẳng kịp để ý đến cô gái nào mặc cho sự nôn nóng của bà mẹ già và các bà chị đã con đàn con lũ. Được đơn vị giao nhiệm vụ, anh hăm hở lên đường, nhớ lời thủ trưởng căn dặn trước khi đi: Phải coi đây cũng là một nhiệm vụ chiến đấu. Đoàn làm phim đang quay tại một khu rừng cách thị xã Biên Hòa không xa. Khung cảnh giống hệt như Trường Sơn những năm đánh Mỹ. Chưa có những pha nguy hiểm nên chưa ai cần đến Hiếu. Cũng chẳng ai cho anh biết nội dung phim. Hằng ngày anh có mặt tại đoàn như một khách tham quan. Hôm đầu tiên đến hiện trường để lại cho Hiếu một ấn tượng thật lạ lùng. Anh thấy người ta đốt lên một làn khói trắng nhẹ như sương lan khắp khu rừng làm những lia nắng xuyên qua kẽ lá bỗng hiện lên rõ mồn một. Hiếu bàng hoàng nhận ra giữa những tia nắng đó có một người từ xa đi lại. Một cô gái đầu đội mũ tai bèo, áo bà ba ôm sát thân hình thon thả. Gió khẽ lay động trong vòm lá, gió lay động chiếc khăn rằn vắt trên vai cô gái. Từ phía khác có một chiến sĩ đeo súng ngắn ngang hông chạy lại. Họ gặp nhau dưới gốc cây... Bỗng có tiếng quát thật to làm Hiếu giật mình: STOP! Đạo diễn Lê Văn đến bên hai diễn viên giảng giải: - Hai người yêu nhau, xa cách lâu ngày, gặp lại nhau. Tình cảm phải như thế nào chứ- Rồi ông đạo diễn thét lên:- Phải ôm lấy nhau, phải vồ lấy nhau... sát vào nhau hơn nữa... cứ coi như xung quanh không có ai, chỉ có hai người. Làm lại!- Rồi ông quay nhìn chung quanh ra lệnh:- Khói trắng đâu? Đốt thêm lên. Tản đều ra như một lớp sương mỏng thôi. Khói trắng bắt đầu dâng lên... Cô gái lại xuất hiện giữa những tia nắng... Gió khẽ lay động trong vòm lá... Chiếc khăn rằn đung đưa theo nhịp bước... Người chiến sĩ chạy tới... Họ ôm nhau... STOP! Có tiếng đạo diễn hô: Chuẩn bị quay lần ba! Và khói lại dâng lên... và cô gái lại xuất hiện giữa những tia nắng... Bỗng STOP! Mọi người ngừng lại ngạc nhiên nhìn về phía đạo diễn đang giải thích cho quay phim: - Không có gió, mất đi chất thơ, cậu hiểu không? Chừng 15 phút sau khu rừng xào xạc gió, nhưng một đám mây che lấp mặt trời làm mất đi những tia nắng xuyên qua kẽ lá. Tất cả lại kiên nhẫn chờ đợi. Hai diễn viên chính ngồi nghỉ dưới gốc cây. Người diễn viên nam nói gì đó làm cô gái bật cười. Tiếng cười vang lên trong khu rừng làm Hiếu chợt bồi hồi xao xuyến. Anh nhìn thấy đôi vai và mái tóc dày rung lên sau mỗi nhịp cười. Bất giác cô gái quay lại nhìn về phía anh. Trong ánh sáng của khu rừng khuôn mặt cô trở nên xanh xao... Hiếu sững sờ nhìn cô hồi lâu. Cô gái dường như cũng nhận ra điều đó. Bỗng có tiếng ai đó hô to: Có nắng rồi ! Tất cả trở về vị trí. Bối cảnh Trường Sơn người ta phải quay một tuần liền mới xong. Ngày nào Hiếu cũng có mặt với đoàn từ sáng cho tới khi tắt nắng, và ngày nào cũng vậy, anh ngẩn ngơ ngắm nhìn Hà mỗi khi cô vừa hóa trang xong, khoác lên mình bộ bà ba đen. Trần Thái vốn dày dạn trong lĩnh vực này nên nhận ra ngay hiện tượng bất thường ấy. Một lần sau khi quay xong, lên xe trở về khách sạn, Thái nói khẽ vào vai Hà: - Cô bỏ bom anh chàng bộ đội rồi. Trông có vẻ si tình lắm. Hai người được một trận cười ngặt nghẽo. Nhưng từ đó Hà bắt đầu để ý đến anh chàng bộ đội có mặt trong đoàn như một cái bóng. Cứ mỗi lần cô mặc trang phục, hóa trang xong là anh lại đến gần, không nói năng gì, cũng không gợi chuyện làm quen. Những lúc ấy Hà vờ như không hay biết thản nhiên đọc kịch bản để ôn lời thoại coi như không có sự hiện diện của anh. Những cảnh nhỏ của trường đoạn rừng đã được quay xong. Còn lại là những đại cảnh. Hôm ấy cả đoàn đến địa điểm quay rất sớm. Chủ nhiệm phim thương lượng với địa phương xin đốt một vạt rừng. Người ta bôi cơ-rếp tẩm xăng vào các thân cây rồi cùng một lúc nổi lửa hệt như sau một trận bom na-pan. Hiếu phải băng mình qua biển lửa đó. Bom nổ tung trời (dĩ nhiên đó là những quả bộc phá bằng tro trộn với mùn cưa). Nhưng lửa thì đích thực là lửa. Máy quay đặt thật xa để thâu trọn khu rừng và cũng là để khỏi lộ mặt Hiếu. Hiếu di chuyển thoăn thoắt giữa biển lửa đó. Anh cũng không biết đến bao giờ thì ngừng vì không nghe được tiếng hô của đạo diễn. Trong lúc đó người ta đã chuyển sang quay những cận cảnh diễn viên Trần Thái với gương mặt đen xạm khói, quần, áo tả tơi. Đạo diễn đích thân cầm ca nước vẩy vào mặt anh để tạo những giọt mồ hôi. Tiếp đến là cảnh Hiếu băng qua thác lũ. Anh chỉ còn là một chấm đen vật lộn trong xoáy nước ngầu bọt trắng xóa. Khi Hiếu lên được tới bờ thì đạo diễn hô tắt máy. Diễn viên Trần Thái đứng vào vị trí của anh, lê từng bước nặng nhọc đi về phía ống kính, để lại sau lưng con suối đang gầm thét. Hiếu làm việc tận tình đến nỗi đạo diễn Lê Văn không thể đòi hỏi gì hơn ở anh. Còn Trần Thái thì mừng thầm sau chuyến này chắc chắn anh lại gặt hái một thành công mới nữa. Dần dà anh cảm thấy như Hiếu chính là mình vậy. Những cảnh hành quân leo núi, không có gì nguy hiểm Thái cũng đề nghị Hiếu đeo ba-lô đi thay anh. Đạo diễn chỉ cần bổ sung vài cận mặt Thái còng lưng dưới chiếc ba-lô nặng trĩu trên vai, thế là xong. Đoàn làm phim di chuyển địa điểm về một thành phố lớn, nơi sẽ diễn ra những cảnh tượng còn ngoạn mục hơn với những trận đột kích táo bạo vào sào huyệt địch, những pha đuổi bắt làm đứng tim người xem. Chủ nhiệm Nhàn liên hệ với tổng kho Long Bình mượn được đầy đủ trang phục vũ khí cho một tiểu đoàn địch. Hàng tấn thuốc nổ, khói đen, khói mầu, ét-xăng, cờ-rếp được di chuyển đến các địa điểm đã được quy định. Một phương án tác chiến đã được sắp đặt chu đáo dưới quyền chỉ huy tối cao của người tổng tư lệnh là đạo diễn Lê Văn. Những ngày ấy ông cầm loa pin đi giữa hiện trường hệt như một vị thủ trưởng sắp xung trận. Lại những cảnh khói lửa ngút trời. Trần Thái, trong vai người chiến sĩ cùng đồng đội xông thẳng vào sào huyệt địch. Những cận cảnh được quay từ nhiều góc độ: Trần Thái bóp cò, nghiến răng, nòng súng bốc lửa... những xác địch nằm ngổn ngang và bao giờ cũng vậy, những cảnh nguy hiểm người ta dồn lại để quay sau cùng. Hiếu lại có dịp được làm việc. Theo yêu cầu của đạo diễn, lần này anh phải nhảy qua những hàng rào kẽm gai dựng đứng như một bức thành, rồi leo theo ống máng nước lên nóc tòa nhà cao 9 tầng, từ đó nhảy sang nóc tòa lầu khác... ống kính khi hất ngược lên, khi chúc xuống, thu trọn cái bóng nhỏ nhoi của anh thoắt ẩn thoắt hiện giữa đô thành rực lửa. Hà không được chứng kiến những cảnh quay đó. Những ngày ấy cô được nghỉ, nhưng không lúc nào được ngồi yên . Luôn có người mời cô đi đây đi đó để tiếp xúc với giới hâm mộ điện ảnh. Chưa bao giờ cô cảm thấy hạnh phúc như vậy. Lao động của một đoàn làm phim là một loại lao động đặc biệt - không hẳn lao động trí óc mà cũng không hẳn lao động chân tay. Người thì tất bật khuân vác những vật nặng như đường ray, cần trục. Người lại tỷ mẩn ngồi tết những sợi lông mi... Người suốt ngày ghi ghi chép chép, lại có người chỉ ngồi không bóp trán suy tư. Mỗi người một phần việc, ít ai can thiệp hoặc làm thay cho ai . Đôi khi họ tranh cãi nhau như mổ bò, nhưng rồi lại dàn hòa ngay sau đó. Tối đến hoặc những ngày mưa gió đố ai nhìn thấy mặt họ. Mỗi người có một thú vui riêng, có khi họ đi thâu đêm suốt sáng nhưng đúng lúc cần làm việc lại có mặt đông đủ. Những lúc rỗi rãi Hiếu chẳng biết đi đâu ngoài ra vào nơi nhà trọ hết đọc sách lại ngủ... mà có ngủ được đâu. Nếp sinh hoạt của người lính bị đảo lộn, sự nhàn rỗi làm anh thấy khó chịu. Một đêm không ngủ được Hiếu quyết định xuống đường thì gặp Hà từ buồng của Trần Thái bước ra. Cô ngượng ngập nhìn anh định chào nhưng Hiếu đã đi khuất xuống cầu thang. Sau một vài lần chạm trán như vậy, Hiếu bèn xin chủ nhiệm chuyển sang ở tầng khác. Việc đó làm Hà áy náy vô cùng. Cô định bụng sẽ gặp thẳng anh để nói chuyện nhưng Hiếu cố tình lảng tránh. Một buổi chiều Hà quyết định gõ cửa phòng anh. - Anh Hiếu. Tôi muốn làm việc với anh. Hà nói vẻ nghiêm nghị. - Việc gì vậy?- Hiếu ngạc nhiên. - Việc đóng phim- Hà đáp- Mai anh sẽ diễn cùng tôi. Hiếu trở nên lúng túng hỏi lại: - Sao tôi không thấy ông đạo diễn bảo gì cả? - Ngày mai ông ấy mới nói cụ thể. Đây là trường đoạn duy nhất trong phim tôi diễn cùng anh. Hiếu mời Hà ngồi, hỏi tiếp: - Vậy tôi phải làm gì bây giờ? Hà ngồi xuống ghế ôn tồn giải thích: - Mỗi khi sắp diễn một đoạn nào thì tối hôm trước các diễn viên phải tập với nhau. Tôi vẫn làm như vậy với anh Thái, mặc dầu anh ấy là một diễn viên giàu kinh nghiệm. Hiếu bắt đầu hiểu những gì Hà muốn nói trong cuộc viếng thăm đường đột này. Anh nhìn Hà khẽ cười rồi nói : - Cô Hà ạ... Đây là lần đầu tiên tôi làm việc cùng các nghệ sĩ. Có điều gì không biết cô chỉ bảo cho. Hà đặt lên bàn cuốn kịch bản, lật tìm trang cần đọc, nói: Tiêu đề: Re: Nước mắt khô - Đặng Nhật Minh Gửi bởi: trachvandung trong 21 Tháng Năm, 2008, 04:18:55 pm - Đoạn này tuy không có thoại nhưng lúc diễn vẫn phải lột tả cho được tâm trạng bên trong của nhân vật. Anh cứ đọc đi đã.
Theo yêu cầu của kịch bản, Hiếu bị quân cảnh địch săn đuổi. Anh phải chạy qua một chiếc cầu để đến chỗ hẹn. Nhưng muốn nhanh chóng thoát khỏi vòng vây, anh đã nhảy từ trên cao xuống mặt đường. Vừa lúc đó chiếc ô-tô của giao liên nội thành lao tới đón anh phóng ra ngoại ô. Trường đoạn này đạo diễn muốn thu trọn trong một cú máy để tăng tính chân thật. Trước lúc quay, Hà nhận thấy người bạn diễn của mình bồn chồn đứng ngồi không yên. Cô muốn động viên anh nhưng lại thôi. Anh chỉ là cái bóng trên màn ảnh. Hà có mặt ở điểm quy định khi những cảnh săn đuổi trên cầu đã quay xong. Cô ngồi lên chiếc xe con nổ máy sẵn chờ hiệu lệnh. Có tiếng hô quen thuộc của đạo diễn: Tất cả chuẩn bị? Máy! Bắt đầu. Lá cờ đỏ trong tay người trợ lý đạo diễn bỗng vẫy mạnh. Xe ô-tô lao tới. Bỗng có tiếng kêu thất thanh của ai đó. Chiếc xe phanh két đột ngột. Hà nhìn thấy Hiếu nằm sóng soài trên mặt đường ngay trước mũi xe. Cô lao ra ngoài chạy đến nâng anh dậy nhưng toàn thân anh mềm nhũn, bất động. Một dòng máu đỏ chầm chậm chảy ra từ khóe môi. Những người trong đoàn phim ùn đến, bế xốc anh lên ô-tô. Chiếc xe lao đi. Tất cả đoàn phim bàng hoàng, không ai thiết làm gì nữa. Lát sau chủ nhiệm phim phóng xe trở lại trấn an mọi người: - Chỉ bị thương nhẹ thôi. Anh chị em cứ tiếp tục làm việc. Rồi gọi đạo diễn ra một góc riêng, ông trao đổi nhỏ: - Cảnh vừa rồi quay được chưa? Đạo diễn gật đầu. - Vậy tiếp theo anh định xử lý thế nào? Đạo diễn Lê Văn suy nghĩ giây lát rồi trả lời: - Được. Tôi đã có cách. Quay ra phía đoàn làm phim, ông dõng dạc lên tiếng: - Tất cả về vị trí. Tiếp tục quay. Trần Thái đâu? - Cậu nằm vào đúng chỗ kia- Đạo diễn chỉ về phía có vết máu trên mặt đường nhựa- Coi như cậu vừa nhảy xuống, bị thương, nhưng khi cô gái biệt động thành, người yêu của mình từ trên xe lao tới, thì vùng dậy. Cô gái dìu cậu lên xe, xe phóng đi. Rõ chưa? - Rõ. - Hóa trang đâu?- Đạo diễn ra lệnh tiếp. Cho ít máu lên mặt diễn viên. Cô hóa trang vội vã xách túi đồ nghề chạy đến. Những vệt máu đỏ tươi được thận trọng điểm lên mặt người diễn viên đang nằm ngửa trên mặt đường. - Tất cả chuẩn bị - Tiếng đạo diễn hô- Máy! Bắt đầu! Một giây im lặng... rồi hai giây... năm giây trôi qua... Có tiếng quát của đạo diễn. - Hà đâu? Vào hình đi ! Nhưng không thấy Hà đâu cả. Tất cả đoàn làm phim nhớn nhác nhìn quanh tìm. Hà không có thật. Nhanh trí đạo diễn lập tức ra lệnh: - Cô hóa trang đâu? Mặc trang phục của nhân vật vào nhanh lên. Đóng thay cô Hà. Máy bắt từ sau lưng. Người xem lúc này chỉ chú ý đến nhân vật nam. Không ai nhận ra được sự khác biệt. Trong lúc đó tại bệnh viện, các bác sĩ đang ra sức cứu chữa cho Hiếu. Anh bị chấn thương sọ não. Người ta nghi rằng có thể anh bị xuất huyết ở bên trong nên nạn nhân hôn mê. Khi Hà đến nơi thì Hiếu đã được đưa vào phòng mổ. Cô cảm thấy mình có lỗi với anh, với những tình cảm âm thầm của anh trong những ngày qua. Cô đinh ninh rằng tất cả chỉ vì cô mà anh đã hồi hộp, mất bình tĩnh khi lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất anh được đóng cùng với cô. Đến chiều tối thì Hiếu dần dần tỉnh lại. Khi mở mắt ra, trong làn khói mỏng như sương, anh nhìn thấy gương mặt một người con gái. Hiếu mấp máy môi như muốn gọi nhưng một vật gì đó đè nặng lên ngực làm anh không cất tiếng được. Hà khẽ lay anh gọi: - Anh Hiếu... Em đây mà... Em là Hà đây mà... Anh có nhận ra em không? Nhưng anh không nhận ra. Anh lại chìm thiếp đi vào cơn mê. Tối hôm đó rất khuya Hà mới trở về khách sạn. Cô lấy chìa khóa sang buồng anh thu dọn đồ đạc để sáng mai trả lại căn buồng cho nhà trọ. Chẳng có gì nhiều ngoài chiếc túi xách với vài bộ quần áo lính, vài cuốn truyện anh mới mua có lẽ chưa kịp đọc. Hà nhìn thấy trên mặt bàn một bức thư đang viết dở. Cô hồi hộp nghĩ rằng có lẽ là bức thư anh viết cho cô. Nhưng không phải. Bức thư viết cho một người bạn nào đó. Thư viết như sau: "Định vào tới nơi sẽ viết thư ngay cho cậu. Nhưng công việc chưa xong nên chưa thực hiện được lời hứa. Chuyện đóng phim thì không có gì đáng kể. Chỉ biết đây là một bộ phim về chiến tranh, mà chiến tranh thì bọn mình không lạ gì. Riêng có một chuyện tình cờ mình muốn kể cho cậu. Ngay hôm đầu tiên đến chỗ đoàn quay phim mình nhìn thấy một cô gái tên là Hà. Cứ mỗi lần cô mặc bộ đồ bà ba đen vào người trông giống hệt cô giao liên ngày nào chúng mình cùng yêu. Giống đến mức mình phải sững sờ. Chẳng lẽ cô ấy còn sống? Nhưng không phải. Cô ta là một diễn viên và chỉ giống lúc đóng phim thôi. Xong việc, đoàn phim hứa sẽ bồi dưỡng cho ít tiền, mình sẽ lên Tây Ninh tìm thăm mộ cô ấy...". Đọc tới đây Hà cảm thấy hụt hẫng như người đang rơi từ trên cao xuống. Cô không khóc được, chỉ cảm thấy trong miệng mặn đắng, vị mặn đắng của những giọt nước mắt khô. Ba tháng sau bộ phim hoàn thành. Những khung cảnh chiến trường ngoạn mục trên phim làm nhiều người trầm trồ tán thưởng. Những buổi chiếu ra mắt, những cuộc chiêu đãi, gặp gỡ tiếp xúc với khán giả làm Hà bận bịu không lúc nào ngơi. Đôi lúc cô muốn gặp lại Hiếu, nghe nói anh đã ra viện, nhưng biết anh ở đâu mà tìm, ngay cả địa chỉ của anh Hà cũng không kịp hỏi. Một lần gặp đạo diễn Lê Văn, Hà thổ lộ nỗi băn khoăn của mình. Ông đạo diễn sau một giây im lặng, nói với cô như sau: Trong cuộc đời muốn làm được một cái gì đó để mọi người tán thưởng, cần phải có những người hình nhân thế mạng. Họ có rất nhiều. Đấy là chuyện thường tình. Nhìn đôi mắt lạnh lùng của đạo diễn Lê Văn, Hà thấy nổi gai khắp mình. Dường như đoán được những tình cảm xáo trộn trong cô, người đạo diễn giảng giải tiếp: - Chuyện không may này xảy ra không phải lỗi tại chúng ta. Chỉ vì anh ấy quá tin vào những việc mình làm. Giá anh ấy hiểu được rằng đây chỉ là một trò giả. - Một trò giả?- Hà ngạc nhiên hỏi lại. Đạo diễn mỉm cười gật đầu: - Chiến tranh đâu có như trong phim của chúng ta. Sau phim đó người ta không thấy tên diễn viên Thúy Hà xuất hiện trên bất cứ bộ phim nào nữa. Thực ra cũng có đôi lần cô được mời quay thử trong một vài vai, nhưng khả năng nhạy cảm không còn như xưa, nghĩa là những lúc đạo diễn cần cô khóc thì mắt cô lại cứ ráo hoảnh. Nhiều người tỏ ý tiếc cho một tài năng mới nhú đã chóng tàn. Cô đã giã từ màn ảnh, lấy chồng, có con, có một sạp hàng nho nhỏ trong chợ. Một hôm có một người khách dừng lại trước sạp của cô chọn mua một chiếc túi xách. Hà mừng rỡ nhận ra người bộ đội đóng phim năm nào. Anh cho biết anh đã được đơn vị cho xuất ngũ về quê với giấy chứng nhận thương binh loại hai. Khi Hà nhắc lại chuyện cũ, người thương binh chỉ cười rồi nói: - Có gì đâu... nhiều bạn bè tôi đi chiến đấu còn bị thương nặng hơn tôi nhiều. Có người còn không trở về... Tôi cũng như họ, chỉ là người chấp hành nhiệm vụ của trên giao. Rồi anh vui vẻ kể cho Hà nghe có lần ở bãi chiếu bóng làng anh chiếu bộ phim của đạo diễn Lê Văn. Anh rủ bà con trong xóm đi xem nhưng không ai nhìn thấy bóng dáng của anh đâu cả. Không ai biết rằng đã có lần anh đóng phim. Hà cố giữ anh lại, mời về nhà ăn cơm, nhưng anh từ chối vì phải đáp tàu lên biên giới hẹn sẽ ghé lại khi trở về. Anh hỏi Hà giá cả của một số mặt hàng lặt vặt rồi vội vã chia tay. Nhìn cái dáng cao gầy của anh đi khuất về phía ga nhập vào đoàn người đi buôn lên biên giới, nước mắt Hà lại chực trào ra, nhưng cô không khóc được nữa, cô không còn là "Hà mau nước mắt" như xưa nữa rồi. Tháng 12 năm 1991 Tiêu đề: Bông súng tím - Lương Thị Vân Anh Gửi bởi: trachvandung trong 21 Tháng Năm, 2008, 04:34:34 pm Đặt ống nghe xuống bàn, Khang vẫn chưa hết bất ngờ vì cái tin anh vừa nhận được. Tháng trước anh có về quê làm giỗ ông nội nhưng không nghe cha mẹ đả động gì tới chuyện này. Anh hỏi chú, vẫn là câu hỏi nửa thật, nửa đùa vui như các lần trước - chú chỉ cười, nụ cười giống như một cái ngáp dài mà phải cố nín nhịn: "Khi nào hả? Khi nào có cô dâu."
Chú đã ngoài 40 tuổi, tóc lại lốm đốm bạc. Hồi mới từ chiến trường trở về, trông chú giống một cành củi khô, da xám ngoét như vỏ chuối luộc. Cả nhà nhìn chú trân trối, ngờ vực, mẹ luýnh quýnh chạy lại ôm chầm lấy chú mà xoa đầu, nắn vai rồi khóc òa: - Chú Biền ! ... Phải em không? - Chị ơi ! Em đây,... em Biền đây ! Cha vẫn ngồi bất động nơi góc chiếu đang trải giữa sân. Thấy chú, cha chỉ thốt lên được một tiếng khan đặc: "Em ơi !..." rồi nước mắt ứa ra, miệng cha mấp máy không biết là cười hay khóc. Cả nhà đã nhận được giấy báo tử của chú cách đấy bảy năm rồi. Hôm cầm tấm giấy, mẹ lặng lẽ khóc rồi cất kỹ vào ngăn kéo tủ không cho cha biết, vậy mà cha lại tìm ra. Cha bỏ nhà đi đâu hai ngày sau mới về, cha không khóc mà chỉ thầm thỉ một mình: - Rứa là em cũng làm tròn nhiệm vụ của mình rồi ! Trở về được năm tháng, ông chủ tịch xã giới thiệu cho chú vào công ty xây dựng 480 của tỉnh. Được một thời gian, chú xin công ty cho đi học thêm về chuyên ngành cầu đường. Học xong ba năm, mẹ dẫn hai, ba đám về làm mai mối cho chú nhưng chú chỉ cười trừ. Khang không hiểu tại sao mãi mà chú vẫn chưa chịu lấy vợ. Mới tháng trước thôi, khi nghe Khang hỏi: Khi nào thì chú mới chịu lấy vợ? Chú vẫn trả lời anh bằng một câu cũ rích mà anh đã thuộc như bài học vỡ lòng. Thế mà mẹ vừa gọi điện ra báo tin trong tháng này chú cưới vợ. "Chú nhắn con thu xếp về sớm để còn đi rước dâu với chú". "Cô dâu nhà ở đâu hả mẹ?". "Chú mày bảo ở mãi trên Quan Khê". Cái tên Quan Khê như đánh thức trong Khang biết bao kỷ niệm thời thơ trẻ mà anh chẳng thể quên. Từ lúc sang Liên Xô học rồi được phân về Hà Nội công tác anh vẫn luôn coi mảnh đất Quan Khê là quê hương thứ nhất của mình mỗi khi bất chợt có cảm xúc buồn vui ào đến. Mặc dù đó là nơi cha mẹ anh theo dân làng sơ tán trong những năm giặc Mỹ leo thang đánh ra miền Bắc. Nhưng anh đã được sinh ra ở nơi ấy và lớn lên trong những tiếng cười và giọt nước mắt của bạn bè. Chú chỉ hơn anh bốn, năm tuổi, tuổi thơ của anh thường có chú bên cạnh. Nhớ hồi đám ma ông Cả Khiêm, con cháu khóc rầm rĩ đến hai ngày mà chưa chịu đưa ma, tiếng kèn, trống kêu suốt cả buổi, khổ nhất vẫn là hai ông thổi kèn, chiếc loa kèn đen sì như chiếc phễu rót nước mắm. Hai người thợ kèn thay nhau phồng mồm, rướn cổ lên như con rắn hổ mang lắc lư cái đầu về phía trước. Đứng xem chán, chú kéo O Na ra đầu cổng nói nhỏ gì đấy, O Na hăm hở chạy về nhà. Nhà O có cây khế to che kín cả sân giếng, những quả khế chua vàng ruộm và căng mọng như chiếc bát ăn cơm. Nhét đầy hai vạt áo. O lại tất tưởi chạy sang đưa cho chú. Rồi cứ thế chú đứng trước đám thợ trống kèn cho quả khế vào miệng cắn rôm rốp. Chú cố tình nhăn mặt như đứa trẻ con bị đứt tay, cái lưỡi lia lia ra ngoài xuýt xoa. Tiếng kèn cứ đuối dần, đuối dần, không còn ai oán, bi thương nữa, tiếng của nó lúc vổng lên, lúc lại kéo dài ra i ỉ. Khang và chú cứ phải ôm bụng mà cười. O Na mới đầu không hiểu gì, nhưng mỗi lần thấy chú và Khang đưa quả khế lên miệng nhai là tiếng kèn lại chìm nghỉm, miệng hai người thợ kèn méo xệch, nước dãi kéo ra cả hai bên mép thì O cũng luôn phải lấy vạt áo mà lau nước mắt, O cười không ra tiếng nữa. ánh mắt hai ông thợ kèn nhìn hai chú cháu Khang hăm dọa và van vỉ. Chuyện đó đến tai cha Khang. Buổi tối hôm ấy ông bắt hai chú cháu nằm sấp xuống tấm phản rồi vụt cho đến lúc chiếc roi tre trong tay ông mềm ra vẫn chưa chịu thôi: - Ai bảo chúng mày làm cái việc hư đốn như vậy, hả? - Tại O Na mang khế sang, chứ con không... - Khang mếu máo. - Không phải. Tại em cho con Na khế rồi bảo nó ăn. Cha Khang tức giận, chiếc roi tre trong tay ông gẫy ra làm đôi từ lúc nào không biết. Buổi tối, khi đi ngủ, Khang không nằm ngửa được, hai bên mông đít đau ê ẩm, chú cũng trở mình liên tục. - Khang này ! Mi thấy đau không? - ... - Tau thấy ê ê cái mông à. * Khang về tới đầu cổng đã thấy chiếc xe hoa đứng quay đầu ra ngoài, tiếng xe máy bóp còi chát cả tai, một số người đã ngồi sẵn trên xe chỉ đợi chú rể bước vào trong xe hoa là nổ máy. Chú từ trong nhà chạy ra kéo tay anh lôi tuột vào trong. - Về muộn rứa, Khang? Thế còn cái Nhung? - Dạ ! Nhà cháu đang bận lớp tập huấn, không về được. Còn cháu cũng có việc đột xuất nên bây giờ mới về đến nơi - Khang nhìn chú như cố thanh minh. - Thôi, về là tốt rồi. Mọi người đang chờ, họ sốt ruột rồi đấy ! Chú đẩy anh vào cùng ngồi trong xe, "Kiêng cọ cái gì. Cứ ngồi đấy. Khi về, mi lên xe chú Ban đèo. Nhá." Khang ngoan ngoãn nghe theo lời chú như đứa học trò lớp một nghe lời cô giáo. Lâu lắm rồi, dễ chừng mười mấy năm anh chưa có dịp trở về để đi trên con đường đất cát như thế này, con đường mà ngày xưa anh vẫn thường theo chú đuổi trâu ra bãi sông rồi vào ruộng ngô bẻ trộm mang ra nghĩa địa hì hụi nướng. - Mi thấy có khác chi không? Chỗ xanh xanh phía trước là bãi ngô làng Bồng đó. Vẫn như xưa... Mi còn nhớ cả đấy chứ? Khang không thể quên được. Ngày ấy đám chăn trâu làng Bồng chỉ có sáu người, chú được phong làm thủ lĩnh, còn O Na chú phân làm lính gác cổng. O Na kém chú hai tuổi nhưng người chỉ cao bằng ba lần cái chổi rơm quét nhà, nước da thì trắng xanh như hạt ngô nếp. Mới đầu thấy O là con gái, lại có vẻ chịu khó, dễ bắt nạt, đám trẻ chăn trâu bắt O phải chăn cả đàn trâu mười một con. O chạy theo đàn trâu có hôm vấp ngã long cả móng chân, máu tứa ra thấm đỏ gấu quần. - Bọn bay con trai mà bắt con gái đi đuổi trâu à. Hắn chạy theo trâu làm răng được... Cho con Na nghỉ, ở nhà kiếm củi khô, ra bến đò canh chừng cho tụi tau "đánh du kích". Ngã ba bến đò là trung tâm của con đường về làng, từ đấy có thể nhìn ra bãi ngô một cách rõ nhất, vừa có thể để ý được người từ trong làng đi ra mà báo động cho "quân du kích" đang bẻ trộm ngô ngoài bãi. Thời ấy, ngô nhiều vô kể, kéo dài dọc theo hai bên triền sông hàng cây số. Nhưng ngô lại không của riêng nhà nào, mà do hợp tác xã quản lý. Thành ra chỉ đợi đến lúc ngô rụng râu, lớp áo ngoài bạc trắng mới được bẻ về sân đình chia cho từng nhà. Tụi trẻ con lại thích ăn ngô từ lúc còn đang ngậm sữa, ăn vừa ngọt vừa mát, chứ đợi đến lúc ngô khô rồi thì có cho, chúng cũng ném cho gà ăn. O Na mải mê nhìn theo con đò chở khách qua sông mà không để ý tới phía đằng sau, trong làng có người đang lừng lững đi ra phía bãi ngô. Đến kho O quay lại và nhận ra ông bảo vệ của xóm thì ông đã tới rất gần. Mặt O tái mét, chân tay luýnh quýnh run bần bật. Không kịp vẫy nón để ra hiệu nữa, O chạy vụt vào bãi ngô kề đấy, mắt dáo dác nhìn xung quanh. - Anh Biền ơi ! Anh Biền ơi. - Con ni. Vô đây làm chi? - Bảo vệ... Bảo vệ đang ra. Gần lắm rồi. - Răng không phất cờ hiệu? Thôi, theo tau. Chú đứng lại huýt sáo, chốc lát cả đám chăn trâu đã có mặt đầy đủ, trước mặt người nào cũng có một ôm ngô tròn lẳn và xanh mướt. - Tụi bay, đứa mô có quần dài thì cởi ra, cho ngô vào đó... Nhảy xuống sông bơi lên bãi Nè đi. Bảo vệ đang ngồi trên bờ chờ bọn mình đó. Nghe đến hai tiếng bảo vệ, Khang sợ quá không kìm lại được, cả hai ống quần ướt sũng, nằng nặng. - Thằng Khang đái ướt quần rồi, đựng ngô răng được? Cả đám trẻ con chăn trâu chỉ có Khang và O Na mặc quần dài, thấy vậy mắt O Na rơm rớm, tay thì xua liên hồi. - Không lấy quần em... Không được lấy quần em. Tiêu đề: Bông súng tím - Lương Thị Vân Anh(Cont) Gửi bởi: trachvandung trong 21 Tháng Năm, 2008, 04:34:54 pm Mà cũng không ai dám lấy thật. Ngô vẫn được bỏ vào hai ống quần của Khang. Khang lại quá bé nên không thể bơi qua sông, đành phải cởi truồng đi lại phía bờ giả vờ ngồi ị ở đấy. Còn chú dẫn O Na chạy về phía nghĩa địa vào trốn trong ngôi mộ của ông Đò. Ngôi mộ do dân trong làng góp tiền xây, nên to và cao nhất trong tất cả các ngôi mộ ở nghĩa địa này. Người ta bảo ông thiêng lắm, dân trong làng không biết ông từ đâu đến, chỉ có các cụ già hay kể rằng, xưa kia ông là người chèo đò, trong vùng có tên Chánh Tổng nổi tiếng độc ác và tham lam, nó đã cướp vợ ông, đày con trai ông đi biệt xứ và chiếm đoạt bao nhiêu đất đai của người dân về cho mình. Một hôm hắn bảo ông chèo đò cho qua sông. Ông chở nó đến giữa sông, chỗ nước xoáy nhất thì bất ngờ xoay mái chèo, con đò chòng chành rồi úp cả hai người xuống sông. Người ta vớt xác ông lên và chôn nơi bến sông này. Mộ ông cứ to dần, to dần, lấn cả lối đi, dân làng bảo đó là mộ kết. Họ xây lên cho ông một ngôi mộ bằng gạch và xi măng. Các cụ trong làng cũng không biết tên ông, mỗi lần đi qua ngôi mộ này, người ta thường lấy tên con đò mà gọi tên ông.
- Anh Biền ơi, anh nghe thấy chi không? - Chi mô? - Ông Đò đang rên này. - Mi sợ à. Đồ con nít. - Thật. Ông Đò đang rên. Ông nứ rên hừ... hừ ! Chỉ nghe có vậy, chân chú bỗng mềm nhũn, chú ù té kéo O Na ra khỏi ngôi mộ chạy một mạch lên triền đê, tới bãi Nè đã thấy đám trẻ chăn trâu và Khang đang nướng ngô, ăn hết gần một nửa. Khang hớn hở: - Ngô vẫn không có mùi chi cả. Trong cả đám chăn trâu, hình như O Na quý chú nhất, chỉ có chú là O chịu xưng bằng em gọn gàng như vậy. Hôm cả đám trẻ chơi trò cô dâu chú rể, chú đã bơi ra sông, ngắt một ôm bông súng tím về kết hoa cho cô dâu. Khi thấy chú chuẩn bị đặt vòng hoa lên đầu O Na thì Khang phụng phịu, ngón chân cái cứ dứ dứ xuống đất, mắt đã dấp dính nước: - Cho cháu làm chú rể với. Chú chần chừ quay lại, đưa vòng hoa tím về phía Khang, Khang mừng rỡ đưa tay áo quệt nước mắt rồi đón lấy vòng hoa. Chẳng hiểu có phải vì gió hay không mà vừa chớm xuống tóc O Na thì vòng hoa đã bay xuống dòng sông, Khang nhìn chú vẻ tiếc rẻ và cầu khẩn. Chú đưa hai tay về phía trước chụm lại rồi bất ngờ lao ùm xuống nước, nhưng vòng hoa bị gió thổi mạnh quá trôi dạt ra giữa sông. Chú càng ra sức bơi thì gió càng đẩy những bông hoa tím xa bờ hơn nữa. Tới vùng nước xoáy - nơi mà trước kia ông Đò đã dìm thằng Chánh Tổng thì những bông hoa súng xoay thành từng vòng tròn, vòng tròn cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi chìm xuống đáy sông. Chú ngẩng đầu lên lấy hơi rồi lặn xuống chỗ vùng nước xoáy ấy. Lặn mãi mà không thấy chú lên, Khang đã thấy chờn chợn nơi sống lưng, đám trẻ chăn trâu đưa hai tay lên miệng làm loa hét thật to: - Biền ơi lên đi. Lên đi Biền ơi ! Mặt sông vẫn lặng phắc, O Na òa khóc tức tưởi: Anh Biền ơi, anh đừng chết. Ông Đò không bắt anh xuống mô. Hư... hư. Thế rồi O cũng lao xuống sông, bỗng O hét lên thảng thốt: - Có ma. Hắn đang túm chân... O Na chạy được lên bờ thì chú cũng vừa ngoi lên, ngay chỗ O vừa lao xuống. Trên tay chú, vòng hoa súng chỉ còn trơ lại những cuống hoa tím ngăn ngắt, những cánh hoa còn sót lại cũng mềm oặt và gẫy gập. Thấy người O ướt như chuột lột đứng khom rom một góc, nước mắt nước mũi nhòe nhoẹt, chú nhìn sang Khang: - Hắn làm răng mà khóc? - Em tưởng anh Biền bị chết chìm rồi. Anh đừng lặn lâu như hồi nãy nữa nhá. - Thôi nín đi, rồi tẹo nữa anh làm cho cái khác. Cái này bị hỏng rồi ! Lớn lên một chút, đám bạn trong làng vẫn thường gán ghép tên Khang và tên O Na với nhau, Khang không phản đối như những đứa con trai khác bằng cách đuổi nhau với chúng trên con đê cho tới khi túm được một đứa để đấm thình thịch vào lưng chúng mới chịu thôi, trái lại, Khang thấy thinh thích khi chúng trêu như vậy. Mặc dù O Na hơn Khang hai tuổi nhưng có chấp cả mấy đứa con gái trong làng thì cũng chẳng có ai xinh như O Na, hơn nữa trong đám trẻ chăn trâu, ngoài chú ra thì O Na là người chơi thân với Khang nhất. Khi Khang đang học dở cấp hai thì chiến tranh cần thêm chi viện. Con trai trong làng ra quân gần hết. Chú vào líựnh đặc công nước. Trước lúc đi, mẹ gọi chú lại hỏi xem chú có ưng ai trong làng này không để mẹ mang trầu cau đến đặt chỗ, chú nhìn Khang mỉm cười, ánh mắt ẩn chứa nhiều tâm sự rồi chú quay sang lắc đầu trả lời mẹ. Ba năm sau thì mẹ nhận được giấy báo tử của chú. Chú hy sinh khi nhận nhiệm vụ lặn sâu xuống lòng sông gài mìn vào tàu địch, con tàu nổ tung, còn chú thì không tìm thấy xác. Biết tin này O Na lặng lẽ khóc rồi chạy ra bờ sông mặc cho tiếng khóc vỡ òa. Ngay sau đó O xin đi thanh niên xung phong - vào chiến trường nơi chú đã hy sinh. Lúc cha mẹ rời nhà về quê cũ, Khang đang học bên Liên Xô. Khi về nước, anh chỉ lại thăm xóm Bồng có một lần trước khi ra Hà Nội công tác. Từ đó đến nay đã mười mấy năm rồi, bây giờ Khang lại đang đi trên triền đê, trở lại xóm Bồng cùng với chú. Chiếc xe đi trên con đường mấp mô ổ gà chốc chốc lại đẩy chú và Khang ngã dúi về phía trước, từ trong túi áo ngực của chú rơi ra chiếc khăn mùi xoa đã sờn mép gấp. Khang cầm lên, ngay góc phải của chiếc khăn là một bông hoa súng được thêu bằng chỉ tím. - Gần hai mươi năm rồi, Khang nhỉ? Khang bỗng giật mình. Gần hai mươi năm trước, đấy là thời gian chú lên đường nhập ngũ, và cũng mười mấy năm rồi, Khang không nhớ nữa, khi anh sang Liên Xô học, O Na cũng tặng anh một chiếc khăn có bông hoa súng như thế này, chỉ khác là bông hoa súng không được thêu bằng chỉ tím như chiếc khăn của chú. Khang bỗng nhớ tới câu chuyện cảm động mà anh được nghe từ khi còn ngồi trên giảng đường đại học. Câu chuyện kể về ba chàng trai cùng yêu một cô gái, nhưng cả ba người không ai dám nói ra tình cảm thật của mình, còn cô gái, với ba người cô đều quý mến và tin tưởng như nhau, cô không muốn ai phải buồn. Lúc ba người con trai sắp lên đường nhập ngũ, cô gái mới đem chiếc bánh của mình tự làm ra và bảo rằng: Chiếc bánh này em đã cắt làm ba phần, để dành cho ba người, trong ba phần đó sẽ có một chiếc nhẫn của em. Nếu ai ăn phần có chiếc nhẫn thì em xin gửi tình cảm của mình cho người đó. Trong lúc ăn bánh một người bỗng reo lên: "A ! Chiếc nhẫn. Mình có chiếc nhẫn rồi". Hai người còn lại nhìn nhau và chỉ biết mỉm cười chia vui với bạn. Rồi hai người ấy hy sinh, lúc an táng cho các anh, đồng đội tìm thấy trong túi áo của mỗi người đều có một chiếc nhẫn được gói rất cẩn thận. Thì ra, cả ba phần bánh cô gái đều cho vào đấy ba chiếc nhẫn, nhưng khi thấy bạn mình vui mừng gặp được chiếc nhẫn ấy, hai người còn lại không nỡ đánh mất niềm vui của bạn nên đành phải nói rằng mình là người không may mắn. Chỉ có cô gái mới hiểu được tình cảm của hai người lúc đó. Trong tình yêu cũng cần có sự cảm thông và chia sẻ. Lúc này mọi thắc mắc trong Khang gần như vỡ òa, cổ họng anh khô khốc. - Cô dâu... - Là O Na. Khang à ! Là O Na? Chừng ấy năm trời mà chú không hề cho Khang biết điều gì. Cũng chỉ là sự gặp gỡ ngẫu nhiên thôi. Con người trở về sau chiến tranh thường có nhiều mặc cảm. Chiến tranh bao giờ cũng đem đến sự mất mát, hụt hẫng. Bảy năm đi thanh niên xung phong, khi trở về, không còn ai quen thuộc. Bến đò vắng người chèo, O Na trở thành người lái đò từ lúc ấy. Những bạn bè thuở chăn trâu không còn ai, tất cả đều nằm lại nơi chiến trường, sau chiến tranh dường như O là người may mắn nhất. O lấy cát từ bến sông đắp lên thành những ngôi mộ cho bạn bè của mình. Khách qua đò vẫn gọi O bằng cái tên cô lái đò làng Bồng quen thuộc. Khi chỉ còn một mình, O ngồi trên đò, thả xuôi mái chèo cho trôi dọc theo triền ngô, tiếng lá ngô chạm vào nhau trong đêm thao thiết, mái chèo cũng còn có đôi, nhưng O Na thì vẫn chưa lấy chồng. Rồi một ngày kia dân làng Bồng thấy xuất hiện một người đàn ông lạ, tóc đã hoa râm ngồi khóc trước một ngôi mộ trong nghĩa địa. Hỏi ra mới biết đấy là con trai của ông Đò, sau nhiều năm bôn ba nơi đất người, nay mới tìm về được quê cũ. Người đàn ông ấy khóc cho số phận của cuộc đời mình và khóc thương cho thân phận của những con đò trên dòng sông này. Con sông chưa đi hết một đời mình mà đã có biết bao cuộc đời của những người chèo đò sống và chết với dòng sông. Những người làm công việc giao thông trên sông thường lấy niềm vui của khách đi đò làm niềm vui của mình, còn những chuyện đau buồn chỉ biết tâm sự với mái chèo, với sông nước. Từ lúc bị đày đi xa, ông đang còn là một đứa trẻ, giờ đây trở về đã trở thành một ông già tóc trắng mà dòng sông vẫn vậy, vẫn những mái chèo khua vội vã mỗi khi có tiếng khách gọi qua sông. Con đường nối liền giữa làng ông với thị xã vẫn chỉ bằng những chuyển đò ngang như thế này. Chút vốn liếng dành dụm được, ông đem ủng hộ làng Bồng để xây dựng cây cầu bắc qua sông, ông bảo như vậy ông mới đền ơn được dân làng đã cưu mang, chăm sóc cha ông lúc về già. Bến đò rồi sẽ trở thành ký ức khi cây cầu mới được mọc lên, O Na không biết là vui hay buồn nữa, từ khi đi thanh niên xung phong trở về, O đã gắn cuộc đời mình với mái chèo, với dòng sông này rồi... O chèo đò, chở những người kỹ sư qua thăm dò địa chất của lòng sông, rồi sự gặp gỡ ngẫu nhiên ấy đã đưa những kỷ niệm thuở xưa cùng trở về. Người kỹ sư xây dựng cầu của công ty 480 không ngờ lại là câu bé chăn trâu đã từng lặn xuống đáy sông, chỗ nước sâu nhất chỉ vì một vòng hoa súng tím. Đám cưới của chú và O Na có mười chiếc thuyền kết hoa súng tím chở qua bên sông, con sông xưa dường như mênh mông hơn, sóng nước lăn tăn ánh lên những sợi hồng tía đan chồng lên nhau như tấm áo dệt từ kim tuyến. Tháng ba, ngô bên bãi đang kỳ trổ bông, gió từ dòng sông thổi lên phả vào không gian lớp bụi phấn trắng hồng như một chiếc khăn voan mỏng. Trên sông, chiều xuống cũng chậm hơn. Tháng 5-2000 Tiêu đề: Âm bản chiến tranh - Vũ Ngọc Tiến Gửi bởi: trachvandung trong 30 Tháng Năm, 2008, 07:54:47 am Rừng chiều lạt nắng, hầm hập oi nồng. Cơn mưa rào chợt đến, làm dịu bớt cái nóng khủng khiếp của miền tây đất Quảng. Cái thứ nắng nóng như rang khô đám lính của tiểu đòan suốt nhiều ngày đêm lầm lũi đưa pháo lên tận ngọn núi Chảo Lớn triển khai trận địa, chờ lệnh phát hỏa, tiêu diệt cứ điểm Cà Tang, mở đường cho đại quân tiến vào giải phóng huyện lỵ Quế Sơn. Đói, khát và sức nặng của những khẩu pháo 105 ly tháo rời đã vắt kiệt sức lực từng người. Trong mưa, từ quan đến lính, tất thảy trần truồng như nhộng, thỏa thê tắm mát và uống thứ nước ngọt trời cho để quên đi những cái bụng lép kẹp đang thèm cơm, thèm sắn. Người ta khi đã cởi truồng ra rồi thì ai cũng hiền khô, hồn nhiên đến kỳ lạ. Vậy nên khi D trưởng An chạy đến bên Luận, dáng người lòng khòng, của nợ kia thì lõng thõng bên đùi, khác hẳn với D trưởng An oai nghiêm, thét ra lửa thường ngày, anh không sao nhịn được, cười đến gập người, thắt ruột. Ông vẫn thản nhiên ra lệnh, còn Luận thì cứ ngỡ ông đùa:
- Tiểu đội trinh sát của cậu mau tập hợp, có nhiệm vụ gấp. - Lệnh gì lúc này hở thủ trưởng? - Đài quan sát vừa báo có một tốp dân địa phương đi làm rẫy, đang trú mưa ở gốc cây, gần trận địa pháo của ta. - Thế thì sao ạ!- Luận ngúng nguẩy đùa dai, còn thủ trưởng thì quắc mắt. - Lại còn sao với giăng gì nữa. Lộ mẹ nó hết cả bây giờ chứ bỡn à. Họ có 10 người: 5 ông già, 2 thiếu nữ và 3 thanh niên. Các cậu khẩn trương bao vây, tiếp cận, một kèm một, khống chế và trói họ lại, canh giữ cho hết đêm nay, đợi ta nổ súng đánh xong cứ điểm Cà Tang thì thả cho họ về. Nhớ ôn tồn giải thích thật khéo, mình là quân giải phóng, không được làm gì vi phạm chính sách dân vận… - Rõ!... Luận chợt hiểu ra tính chất nghiêm trọng của sự việc. Anh nhao đi tập hợp đám lính trinh sát đang tỏa ra đùa nghịch như quỷ sứ, tán dóc với lính pháo thủ ở từng khẩu đội. Có 2 chiến sĩ bị cảm nhẹ, còn lại vừa khéo 10 người đi làm nhiệm vụ. Ai nấy chỉ mặc độc chiến quần xà lỏn, mang theo dây thừng, dao găm và súng ngắn, nom hung dữ chẳng khác gì thám báo ngụy. Tất cả khép thành vòng cung, tiến dần về phía mục tiêu. Cách chừng vài trăm mét, Luận đưa ống nhòm quan sát, quả có đúng 10 người như lời D trưởng. Họ đều ăn mặc theo lối dân tộc Cơ rông, một tộc người rất thiểu số ở miền tây QuảngNam. Chẳng hiểu vì sao, đôi tay anh cứ run run rê ống kính nhìn ngắm kỹ 2 cô gái. Một cô cao to, vai bè, tướng đàn ông. Cô kia, anh nuốt nước bọt đánh ực, mắt đờ ra ngây ngất vì vẻ đẹp hoang dại. Dáng người thon, đôi vai để trần, ngực tròn căng, mắt nai ngơ ngác… Chợt cô gái phát hiện ra anh đang cầm ống nhòm, vội thét to: - Thám báo Mẽo đấy, chạy mau! Cả tốp người nháo nhác tản ra tứ phía, chạy thục mạng. Luận ra lệnh: - Đuổi theo. Mỗi người nhằm một đối tượng, đừng chồng chéo nhau, làm thật gọn như kế hoạch đã bàn ở nhà. Dứt lời, Luận chồm lên lao theo hướng cô gái. Số phận xui khiến 2 cô gái tách riêng, chạy về phia bờ suối. Anh cũng kịp nhận ra người chạy cùng hướng với mình là A phó Phát. Bất giác Luận mỉm cười hiểu ra lý do, chỉ A trưởng và A phó mới có ống nhòm, thản nào... Anh cố hết sức chạy vượt lên để giành phần chộp lấy cô gái mắt nai. Cuộc dượt đuổi trong cơn mưa rừng quyết liệt và hung bạo như con sói đói hồng hộc chồm theo chú thỏ non ướt nhóet. Nhưng khi vồ được nàng rồi thì Luận xuống sức thở gấp. Có lẽ cả tháng trời anh đói triền miên, mỗi bữa chỉ có muôi cháo loãng và hai mẩu sắn bé như ngón chân cái làm sao vật nổi cô gái sơn cước săn chắc, lại được ăn no, ngủ kỹ. Sự thèm muốn đụng chạm với da thịt đàn bà làm anh lú lẫn, quên bẵng mình còn có dao găm, súng ngắn khống chế con mồi. Lăn lộn, cào xé nhau hồi lâu thì cô gái đọat được dao găm, ngồi chồm hỗm lên bụng anh, quắc mắt, dí lưỡi thép vào cổ họng. Thế là tong đời một cách nhục nhã! Anh nghĩ vậy và thở dài chờ chết, nước mắt ứa ra, gọi khẽ hai tiếng mẹ ơi!... Hình như cô gái nhận ra giọng Bắc, thóang ngạc nhiên, nhưng vẫn gằn giọng hỏi: - “Giải phóng” à? - Ừ, giảiphóng quân, quê miền Bắc. - Sao “giải phóng” lại đi cướp hiếp đàn bà? - Không phải đâu. Giải phóng quân đưa pháo lên núi, sắp bắn vào cứ điểm Cà Tang để giải phóng Quế Sơn. - Thế thì sao nữa? - Cán bộ thấy em và mấy người kia đi làm rẫy về, đứng trú mưa sát gần trận địa, sợ bị lộ bí mật quân sự nên lệnh cho bọn anh bao vây, tạm giữ đồng bào hết đêm nay, chờ đánh trận xong sẽ thả về nhà thôi. - Thật vậy không? - Thật mà, thám báo Mẽo hay quốc gia làm sao biết nói giọng Bắc, tin anh đi… - Hèn gì đàn ông mà ốm nhom, vật đàn bà cũng không nổi, sức đâu mà cướp hiếp. Rõ tội nghiệp! - Tại tụi anh đói quá, với lại đã quen ôm đàn bà vật lộn thế này bao giờ đâu. - Hí hí… hí…, quân mình đánh lẫn quân ta, em cũng là du kích chứ bộ… Cô gái quăng con dao găm, cười khúc khích. Tiếng cười làm nàng rung lên, mông của nàng vì thế cứ nhay đi nhay lại trên bụng chàng trai chưa từng biết đến mồ hôi đàn bà chua mặn thế nào trong đời. Thóat cơn hiểm nghèo, giờ Luận lại được đê mê vì sung sướng. Anh nhắm nghiền con mắt, tận hưởng một thứ khóai cảm kỳ diệu. Đôi bờ mông của nàng hình như cứ trôi dần, trôi dần xuống dưới. Luận mở to mắt, bàng hòang không tin được đó là sự thật. Lúc vật lộn, anh đâu ngờ miếng vải gai quấn trên ngực nàng đã bị bung ra, rơi mất, để lộ đôi bầu vú trắng nõn, cao vồng, núm vú đỏ hồng như một chấm son, phập phồng lên xuống theo nhịp thở. Chiếc váy người dân tộc thực ra cũng chỉ là tấm vải quấn quanh người che phần dưới, khép chờm hai mép vải ở đằng trước. Giờ nàng đang ngồi dạng chân trên bụng anh nên nó như được mở toang và người dân tộc đâu có biết dùng đồ lót. Luận nhìn thấy rõ cả một vùng cấm tam giác đang mời gọi. Bản năng giống đực làm cái của nợ trong quần xà lỏn tự do nổi lọan, bất chấp kỷ luật dân vận của D trưởng dặn dò lúc giao nhiệm vụ. Cái đầu Luận bảo đừng mà bên dưới thì … cương lên. Cô gái cũng cảm nhận được sự cương nở ấy, thóang đỏ mặt, nhưng… thích… Nàng cười rất hồn nhiên, chống hai tay lên cỏ, từ từcúi xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối, buông thả cho mọi sự cuồng nhiệt, đê mê diễn ra sau đó. Suốt một đêm, giữa rừng xanh kỳ bí, họ thành Êva và Adam, quấn vào nhau lăn lộn nhiều lần, quên đói, quên mệt, quên cả tiếng pháo 105 ly rầm trời bắn vào cứ điểm Cà Tang, chỉ thấy tràn trề lạc thú nơi hoang dã… * * * Cái đêm vụng về, bị động tập làm đàn ông trước giờ tiểu đòan nổ súng là những khoảnh khắc thần tiên nhất trong đời, nhưng vì hai chữ lập trường ám ảnh, buộc Luận phải cố quên nó. 33 năm thoắt qua đi, mỗi lần nhớ đến D trưởng An, nhớ đến Phát, anh phải cảm ơn số phận cho mình cái cơ hội nếu có chết như Phát cũng đã biết mùi đời. Dù đói, mệt, nhưng sức trai tuổi 20 vẫn đủ cho anh hưng phấn quá tam ba bận. Sáng dậy, biết tên cô gái là Hơ Miêng, tên một lòai hoa dại của núi rừng, anh sung sướng cắn vào đùi non của nàng, đòi thêm một lần cuối, trước lúc chia tay. Chỉ cách một bờ ruộng, anh chứng kiến thằng Phát A phó không được như vậy. Nó còn mất lập trường hơn anh, úp mặt vào chỗ ấy gào lên vì sung sướng, gọi tên các thủ trưởng xem ai sướng hơn nó. Nhưng nó vừa qua trận sốt rét còn đâu sức lực, chỉ sau một lần đã nhọc phờ, trên bảo dưới không nghe, đành bất lực làm tình bằng tay, bằng lưỡi. Khổ nỗi cô gái của nó tên Hơ Ngoan mà chẳng hiền, mỗi lần bị Phát kích động nàng lại cong người rú lên những âm thanh điên dại, rồi chồm dậy đè lên người nó, dùng cái của mình nhay đi nhay lại mãi cái của Phát đang héo rũ, không sao ngóc lên được. Chuyện mất lập trường này chỉ hai thằng biết, sống để bụng, chết mang theo, hở ra là tong đời. Phát chết vì một mảnh bom B52, khi đơn vị rút khỏi huyện lỵ Quế Sơn, chuyển quân về Sơn Bình, gần ngã ba sông Thu Bồn và sông Trường. Tội nghiệp cho nó chết vào lúc 3 giờ sáng, chắc là đói lắm. Hồi chiều, đơn vị hết gạo, mỗi thằng chỉ được ăn nửa bát ngô bung vàng khè, hạt to và cứng như răng ngựa. May mà nó còn kịp được biết tý chút mùi đời. Phát chết rủi cho nó, nhưng cũng có phần may cho Luận vì cái tội mất lập trường kia chỉ còn là bí mật của riêng anh. Nói vậy thì đểu và bất nhẫn lắm lắm ! Song “một miệng thì kín…”, cổ nhân đã dạy rồi. Phát là thằng bạn tốt nhất trần đời của Luận. Nó cùng học khoa lý, trường đại học Tổng Hợp Hà Nội với anh, cùng nhập ngũ một ngày. Trong tiểu đội trinh sát, nó luôn giành phần việc nặng, việc nguy hiểm thay cho Luận. Đi dã ngọai, kiếm được miếng ăn tươi nó luôn mang về dúi vào màn của anh. Ăn vụng lúc ngủ cũng nhục lắm, song ở đời khi người ta đói cũng có lúc đành chấp nhận. “Đồ ăn thì ít, chia ra tất cả cùng đói, chi bằng để một thằng no.”- Phát thường động viên bạn như vậy. Chỉ có điều tính Phát hay lô bô ba la, hứng lên nếu nó lỡ mồm khoe với thằng nào chuyện Luận với Hơ Miêng thì còn đâu cái thành tích lập trường vững vàng bấy lâu anh khôn khéo ẩn mình, được các thủ trưởng biểu dương nhiều lần. Nói như Bảo, cái thằng lính trinh sát nổi tiếng gan dạ, đa tài nhất tiểu đòan: “Hai tiếng lập trường nghe mơ hồ, trìu tượng và thối khắm nhất mày ạ! Nó là cái con C gì cơ chứ ? Ấy thế mà suốt cả một thời gian khổ, oanh liệt, nó bỗng thành thứ vũ khí hiểm độc để người ta vùi dập hay tâng bốc một con người cụ thể.” Nạn nhân của hai chữ lập trường đau nhất cũng là Bảo. Chuyện xảy ra chẳng đáng gì phải kết tội, phê bình, kỷ luật, nhưng Luận ngày ấy đã không dám can đảm đứng ra bênh vực cho chiến sĩ trinh sát ưu tú của tiểu đội mình. Tháng 3 năm 1975, các khẩu đội pháo 105 ly của tiểu đòan được lệnh bao vây, khống chế sân bay Đà Nẵng và bến cảng Tiên Sa, không cho địch rút chạy an toàn. Bảo đã gan dạ chỉ huy một nhóm bám sát mục tiêu, tính tóan chính xác tọa độ, giúp các khẩu đội trưởng kết toán góc độ và hướng bắn. Lẽ ra Bảo được tuyên dương anh hùng, thưởng Huân chương chiến công, không may giữa lúc ta ăn mừng chiến thắng, anh vớ được bộ quân phục thủy quân lục chiến ngụy còn mới cứng, sẵn có máy ảnh chiến lợi phẩm, anh mặc đồ của ngụy, chụp vài pô ảnh làm kỷ niệm nên bị quy tội mất lập trường, chịu án kỷ luật khá nặng. Vì thế, sau ngày thống nhất, Luận được giải ngũ tiếp tục vào đại học rồi đi làm nghiên cứu sinh ở Nga; còn Bảo vẫn ở lại đơn vị, tiếp tục đánh trận ở biên giớiTây-Nam. Điều làm cho Luận khổ tâm, thương bạn nhất là khi gặp lại Bảo ở chiến trường về, thấy anh bị thương đúng vào chỗ hiểm, mất khả năng làm thằng đàn ông. “Lính ta ra khỏi cuộc chống Mỹ, vấp phải lũ lính nhãi ranh 14- 15 tuổi của Khơ Me đỏ mà phải gọi chúng là bậc “Cụ” về chiến tranh du kích, mày ạ !”- Bảo ôm chầm lấy bạn chua chát nói. Anh đi trinh sát bị vướng mìn, các chuyên gia y học lão luyện ở Viện 103 cũng chỉ có thể tạo hình bằng cách nối thêm vào cái ấy của anh một mẩu nhựa, không đủ thỏa mãn đàn bà nên 3 lần cưới vợ rồi, 3 lần phải ly dị. Từ lính pháo tầm xa đầy uy lực thời chiến, nay anh thành “lính pháo phòng không” thời bình. Tiêu đề: Âm bản chiến tranh - Vũ Ngọc Tiến (Cont) Gửi bởi: trachvandung trong 30 Tháng Năm, 2008, 07:55:21 am * * * Đêm nay sao dài gấp nghìn lần cái đêm Luận cùng Hơ Miêng ân ái bên bờ suối. Có biết bao sự việc, gương mặt của thời máu lửa cứ ẩn hiện trong đầu anh. Cuộc gặp mặt các cựu chiến binh của trung đòan tăng - pháo kết hợp ở quân khu V thời chống Mỹ có thể sẽ đảo lộn cuộc sống của Luận những năm tháng sau này. Bảo gặp anh không còn vồ vập, suồng sã như mọi lần. Cái nhìn của Bảo hướng vào anh như thôi miên, nhiều ẩn ý khó đóan ra được. Thường thì trong các cuộc gặp mặt, lúc họp chung, Bảo ngồi im re, chỉ hào hứng tán bậy, chửi tụcvăng mạngkhivào tiệc rượu. Lần này Bảo đến trễ, nồng nặc hơi men, mắt đỏ vằn, dắt theo một bé gái chừng 13- 14 tuổi. Hội trường khi ấy đang nghiêm trang phát kỷ niệm chương và cuốn lịch sử pháo binh khu V.Trên hàng ghế danh dự, Luận được ngồi chung với mấy vị tướng và các thủ trưởng cũ nay đã về hưu, vinh danh lão thành cách mạng. Bảo bước vào, nhìn xóay vào Luận vài giây rồi quay sang cháu bé giới thiệu: - Xin các thủ trưởng cũ, mới và anh em chiến hữu nhìn cho rõ, đây vừa là cháu nội vừa là cháu ngọai của trung đòan ta, chính xác hơn là của tiểu đòan pháo 105 ly anh hùng. - Nói rõ và cụ thể xen nào, Bảo ơi!- Cả hội trường nhao lên. - Thế là đủ, cần gì phải nói rõ. Thằng nào có con có cháu thì tự biết. Đau xót là ở chỗ tôi vừa cứu cháu Hơ Linh thóat khỏi ổ mại dâm tại thị trấn Hà Lam, thủ phủ huyện Thăng Bình. Cả bố lẫn mẹ cháu đều là giọt máu thuần chủng cách mạng của lính ta gửi lại trong trận đánh Quế Sơn năm 1972. Từ Hà Lam vào khu căn cứ của trung đòan ta chỉ có hơn 40 cây số theo quốc lộ 16E mà vợ chồng chúng nó sau 30 năm thống nhất, sống khổ như chó lợn nên cháu Hơ Linh mới ra nông nỗi này. - Cậu lại phát biểu mất lập trường rồi, Bảo ơi ! Về chỗ ngồi đi cho hội nghị tiếp tục- Một thủ trưởng cũ ôn tồn nói. - Ơ hay!...Thế nào là lập trường hở thủ trưởng? Nó là cái Đ gì mà làm khổ tôi đến mức bây giờ cái C cũng chẳng còn để lưu truyền nòi giống tổ tiên dòng họ? Sống thật với bản năng tính người, nói ra những sự khốn nạn là mất lập trường ư ? Này Luận! Cậu đang ngồi hàng ghế danh dự vì cậu đã lên quan, làm thứ trưởng một bộ quan trọng, hãy trả lời đi. Luận cố tránh ánh mắt nhìn như moi tim, móc óc của Bảo. Anh xúc động rưng rưng, đứng dậy, bước khỏi hàng ghế danh dự, lại gần bạn, dìu Bảo về chỗ ngồi ở cuối hội trường. Thật lòng anh không muốn về lại chỗ cũ, nhưng ngồi gần Bảo và Hơ Linh lúc này thì anh không dám. Khỏi cần Bảo giới thiệu, chỉ mới thóang nhìn cô bé bước vào hội trường, anh đã nhận ra nét quen quen. Chẳng lẽ anh đã có con gái với Hơ Miêng. Chẳng lẽ Phát và Hơ Ngoan đêm ấy chỉ đủ sức một lần hoan lạc mà lại kịp có con trai với nhau. Chẳng lẽ mới 33 năm mà số phận đã ghép con anh, con Phát thành vợ chồng, sinh ra bé Hơ Linh. Trời ơi! Thật kỳ diệu và cũng thật khủng khiếp. Liệu Bảo có nhầm lẫn không và nếu đúng thì sẽ phải xử sự ra sao đây? Luận biết, từ ngày xuất ngũ, Bảo về quê Bát Tràng theo nghề ông cha, mở lò gốm mỹ nghệ. Mười năm lại đây, doanh nghiệp của anh phát đạt, nổi tiếng về nhiều sản phẩm xuất khẩu. Năm nào, đến dịp 30 tháng 4, anh đều về thăm lại chiến trường xưa, tặng địa phương vài chục triệu đồng. Sao Bảo không hề kể gì với Luận về Hơ Miêng và Hơ Ngoan… Luận tìm về Bát Tràng không làm Bảo ngạc nhiên. Anh nắm tay bạn, giọng lanh tanh: - Về rồi hả? Tao biết sớm muộn gì mày cũng về tìm tao hỏi chuyện. Về sớm thế này là tốt. Nhưng sao lại đi xe máy, không dùng ô tô Thứ trưởng đưa vợ con mày đi cùng ? Sợ hả ? - Không, sợ thì không, hoang mang tí chút thì có. - Sợ vợ nổi tam bành còn có lý, chứ hoang mang vì danh dự Thứ trưởng làm cái Đ gì cho tổn thọ. - Không… Tao chỉ hoang mang vì liệu mày có nhầm không và cái chuyện tao với Phát làm đêm ấy mày biết từ bao giờ? Bảo đấm nhẹ vào lưng Luận cười xả láng: - Có thể mày không tin, nhưng tao biết tỏng mọi chuyện ngay từ đầu. - Và mày im lặng giữ kín suốt những năm ở chiến trường ? - Tố giác chúng mày ư, tao sẽ không bằng con chó ghẻ, bởi tao cũng thèm được như thế. Tao thấy hai thằng có ống nhòm chạy về một phía là đóan ra lý do, lính trinh sát rất nhậy cảm. Song phải làm nhiệm vụ trước đã. Tao đuổi theo một thằng thanh niên lóang cái là chộp được. Ngỡ tao là lính công hòa, tay dao, tay súng như sắp làm thịt mình, nó lạy như tế sao, thú nhận mình là du kích, khai ông ổng từng trận địa pháo để được tha mạng. Điên tiết, tao tống vào mõm nó mấy quả đấm thôi sơn, trói ghì vào gốc cây, chẳng thèm giải thích nữa. Xong xuôi, tao lộn trở lại hướng bờ suối. Giời ơi là giời ! Nhìn chúng mày làm tình với hai em giữa nơi hoang dã tao thèm rỏ nước dãi. Người tao như phát cuồng lên. Trong đêm tối, tao tưởng tượng ra từng động tác của chúng mày và khao khát. Nhưng nếu tao xông vào sẽ làm chúng mày mất hứng, đòi mần chung thì tao hóa thành đồ xúc vật… - Vậy mà bấy lâu tao cứ ngỡ Phát chết rồi thì chuyện này của tao cũng chôn theo nó. Mày là ân nhân của tao, không biết lấy gì báo đáp. - Không hẳn thế. Nếu tao tố giác, mày bị kỷ luật, có thể sẽ biên chế sang địa phương quân thì Hơ Miêng sẽ được có chồng, đâu đến nỗi khổ nhục về sau. - Tại mày không cho tao biết sớm- Luận thở dài, mắt rớm lệ. - Đừng quá buồn, tao cũng mới biết chuyện đời của Hơ Miêng, Hơ Ngoan thôi. - Mày về thăm khu căn cứ thường xuyên đã 10 năm cơ mà? - Nhưng chưa từng gặp hai nàng. - Sao thế? - Họ sống biệt lập trong rừng, bị tách biệt khỏi cộng đồng. Cái thằng du kích chết dấp, lạy tao như tế sao ấy từ lâu đã mê Hơ Miêng. Sau năm 1972, Quế Sơn giải phóng, nó được làm Chủ tịch xã. Biết Hơ Miêng có thai nó vẫn lẵng nhẵng chạy theo đòi cưới, bị nàng từ chối. Ăn không được thì đạp đổ, nó kết tội Hơ Miêng và Hơ Ngoan mất lập trường, ngủ với lính cộng hòa nên khai trừ khỏi Đảng và du kích, đầy họ vào sống trong rừng. Hai đứa trẻ lớn lên trong chiếc lán nhỏ bé giữa rừng, bên hai bà mẹ cô độc nên chúng thành vợ chồng rất sớm cũng là lẽ tự nhiên. Hơ Linh, cháu ngọai của mày ra đời trong hòan cảnh trớ trêu đó. Một gia đình ba đời tủi khổ vì ma ám lập trường, thì mình tao mất cái con C vì nó có là gì giữa cuộc đời này.. - Thằng Chủ tịch xã chó đểu, tao muốn băm vằm nó - Luận nghiến răng rít lên phẫn nộ. - Thằng ấy đi tù vì tham ô đồ cứu tế đồng bào bị lũ lụt từ lâu rồi, không đợi mày phải ra tay. Giá như trước lúc ra Bắc, mày không sợ thứ ma ám lập trường, đi tìm Hơ Miêng! - Mày bảo tao bây giờ phải làm gì? - Cuối năm ngoái, tao vào khánh thành trường tiểu học do mình bỏ tiền tòan bộ ra giúp xã xây dựng, nghe nói có một cháu học sinh lớp 5 bỏ học, đi hoang, gia đình và nhà trường tìm kiếm gần một năm chưa thấy. Nghe chuyện về hòan cảnh Hơ Linh tao xúc động, đánh xe vào rừng tìm gặp bố mẹ nó, hóa ra số trời run rủi lại gặp cả Hơ Miêng và Hơ Ngoan. Giờ thì họ ổn rồi. Tao đã nhờ bạn bè tìm được Hơ Linh, xây một ngôi nhà 2 tầng ở thị trấn huyện làm cửa hàng cho họ kiếm sống. Mày chỉ cần đưa vợ con vào gặp họ nhận mặt con gái, con rể với cháu Hơ Linh là đủ. - Nhưng tao muốn làm hơn thế. - Cái đó tùy mày, nhưng đừng miễn cưỡng mà đắc tội mất “lập trường”với vợ con không biết chừng… Mày biết không, khi thằng Chủ tịch xã tuyên bố kỷ luật, hai nàng Hơ Miêng, Hơ Ngoan cùng nói: “Chúng tao theo cách mạng là thật cái bụng, đâu có lươn lẹo nhưmày.Chỉ có cái L của chúng tao là không biết lập trường của tổ chức tròn méo thế nào thôi. Ra tổ chức thì ra, vào rừng thì vào, chúng tao Đ sợ, chúng tao đi làm một kiếp người”. Tao nghe họ kể như nghe lời một triết gia vĩ đại. Cái sự thần thánh của cuộc chiến tranh giành độc lập, sách báo viết đã nhiều, đọc lên cũng sướng cái lỗ tai. Nhưng đó là dương bản của chiến tranh, lũ nhà văn, nhà báo mặc sức tô vẽ muôn hồng nghìn tía, tao Đ cần cái dương bản ấy. Cái phầm âm bản của chiến tranh chỉ có hai màu tối sáng, những thằng lính như tao với mày gậm nhấm đến hết đời. Chuyện của mày với Hơ miêng chỉ là mảnh vụn rất nhỏ của âm bản khổng lồ mà mấy mươi năm gậm đã hết đâu… . * * * Chia tay Bảo ra về, lòng Luận rối bời, the thắt. Anh phóng xe máy như điên, mặc cho số phận may rủi có thể sẽ ném thân xác anh vào gầm ô tô, càng hay, cho quên đi tất cả. Bảo nói, đã thắp nhang khấn vái, xin với Phát rồi, còn Luận. Liệu anh có thể nghe theo lời bạn, chấp nhận với số phận an bài, đừng phá vỡ tổ ấm gia đình đang hạnh phúc. Bảo muốn anh chỉ đưa vợ con vào Quế Sơn gặp mặt, nhận người rồi nhường hai bà Hơ Miêng và Hơ Ngoan làm vợ nghĩa tình để Bảo có con, có cháu như bao người bình thường khác. Đến con C của Bảo cũng bị chiến tranh tiện đứt mất thì lời đề nghị ấy là chân thành, hợp lý chứ đâu phải vì thương hại cho hoàn cảnh éo le của Luận. Nhưng anh vẫn thấy không thể… Anh muốn làm một thằng người cho đáng mặt người, sao đời lại xui khiến anh phải hành xử không hơn gì một con vật?... Luận không về nhà. Anh lang thang khắp Hà Nội, rồi tìm một khách sạn yên tĩnh ở ngoại ô trăn trở với điều thỉnh cầu của bạn… Hà Nội 5/2005 Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 31 Tháng Năm, 2008, 09:02:04 pm NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội Cái chức giám đốc, thời kinh tế thị trường này coi chừng cũng không có gì khó. Khánh vốn là một công nhân xây dựng bình thường. Cũng nhờ mấy đận làm ăn xa quê gặp hên nên có tiền rủng rỉnh. Lại thêm bên nhà vợ và sự hỗ trợ của bạn bè, Khánh thấy cái túi tiền của mình không chừng chẳng biết tiêu vào việc gì. "Sao lại không? Đúng lúc ấy vợ Khánh mách anh có tài, làm cái anh công nhân quèn thế đủ rồi, giờ phải làm giám đốc". "Ủa! Em tưởng cứ có tiền thì muốn làm gì cũng được sao?". "Riêng cái đó anh lại đần. Để em bày. Anh tìm lấy vài anh bạn thân trong nghề xây dựng của anh í. Mở ngay một công ty trách nhiệm hữu hạn. Cái này dễ ợt. Anh sẽ là giám đốc. Cán bộ nhân viên à? Để em lo. Đừng ham các em đẹp, nó bóc cho không còn cả áo lót mà mặc đấy! Riêng cánh thợ, anh chọn lấy độ chục người. Thế là thành cái công ty chứ gì đâu?". Truyện ngắn. NGUYỄN BẢO - Ai cho mình làm, phải được phép của Nhà nước hẳn hoi đấy em ạ! - Xí, phép với chả tắc, có tiền là xong tuốt. Cái đó vô tư đi. Khánh thấy ý của vợ hay. Hỏi số bạn bè thân hữu, họ vào hùa ngay. Cũng một thời hăng hái tham gia bộ đội đánh Mỹ, bây giờ hoà bình trở về, nhiều người chưa có công ăn việc làm. Hùn vốn với nhau dựng cái công ty, hay quá đi chứ. Thế là tờ trình, là đề cương, là chạy "sếp" này, "sếp" kia, cấp này cấp nọ để có được tờ giấy phép. Vợ Khánh rõ là người mẫn cán trong việc khai sinh ra công ty, khai sinh ra một giám đốc. Công ty trách nhiệm Pết-ép-Lây ra đời. Khánh bảo vợ: "Tìm cái tên gì giản dị, dễ nhớ, dễ hiểu". Vợ Khánh lườm: "Thời này phải có tí tiếng Tây, tiếng Tàu vào, càng khó hiểu càng được chú ý, càng được quý trọng". "Mình có biết cái tiếng nước ngoài khỉ gió gì đâu?". "Ôi! Cần gì phải biết, quan trọng là anh phải nghe em. Không nghe là hỏng đấy". Chiều vợ, Khánh thuê nhà mặt phố làm văn phòng hẳn hoi. Đoạn đầu thôi khỏi phải nói, rôm rả nổ trời. Mấy anh được phân làm trưởng phòng, phó phòng, sáng nào cũng tay ôm cặp đến cơ quan. Kế hoạch này, kế hoạch kia đầy ắp, sáng láng. Dần dà nhiều người không muốn làm ăn kiểu cò con này. Phải tiến tới nhận những công trình lớn tương xứng với bộ mặt công ty. Vợ Khánh thẽ thọt với chồng: "Nghe chúng nó vừa vừa. Nghe em đây này"… Nhờ xoay xở của vợ, công ty Khánh vẫn nhận đều đều các công trình. Cũng là "miếng" nhỏ thôi nhưng nuốt dễ trôi, ví như nhà tư nhân, hai ba tầng, sửa chữa vôi ve những nhà tập thể, nhà cơ quan. Một hai năm đầu, lời lộc không tú ụ nhưng chẳng đến nỗi èo uột. Gương mặt giám đốc phẳng phịa, hồng hào hẳn lên. Khánh tiếp tục nhận người vào công ty: "Ôi dào! Mấy trăm bạc lương cho họ chứ có đáng gì. Toàn người thất nghiệp…". Khánh cho sắm sanh bàn ghế văn phòng, cho mua một số máy móc cần thiết chuẩn bị điều kiện làm những công trình vừa và lớn… * * * Tiếc thay, cuộc đời không phải cứ muốn là được. Vợ chồng Khánh mở được công ty trách nhiệm hữu hạn, thì các cặp vợ chồng khác cũng chẳng dại gì không nghĩ đến chuyện đó. Thời đổi mới, các gia đình khá giả hẳn lên. Ai cũng nghĩ đến xây nhà, sửa nhà. Nghề xây dựng bỗng dưng vơ được tiền của thiên hạ. Vậy thì tại sao không mở công ty, không làm cai lâu dài… ấy thế là nháo nhác loạn xạ. Đâu đâu cũng có người đi tăm công trình. Công trình Nhà nước, công trình tư nhân. Họ hứa hẹn phần trăm, họ quà cáp phong bì phong bao đến các ông chủ, bà chủ, các "sếp". Công ty Pết-Ép-Lây chẳng những không nhận được công trình lớn, công trình vừa mà mấy cái công trình nho nhỏ cũng khó cạnh tranh với đám cai đầu dài và các công ty khác. Không khí làm ăn lắng dần. Một số người bắt đầu nghĩ đến việc rời khỏi công ty. Họ sớm nhận ra rằng: bám vào công ty thế là đủ. Không tự xoay sở rồi ăn cám. Vậy là một số lên gặp Khánh với vô vàn những lý do để rút êm. Số còn lại làm ăn cầm chừng, vừa làm chỗ Khánh vừa làm chỗ khác. Họ thương giám đốc của họ lắm. Giám đốc là một người tốt, rất tốt. Đến công trường nghe anh em thợ kêu ca, giám đốc rút tiền túi ra cho họ. Tiền mua thuốc hút cũng đủ giám đốc khốn đốn, bởi lẽ, một bao thuốc giám đốc hút một điếu thì đám thợ hút 19 điếu. Giám đốc cũng ít khi mắng mỏ ai… Nhưng họ cũng đã nhìn thấy công ty sẽ tanh bành, họ sẽ ngắc ngoải vì cái lòng tốt này của giám đốc… Một năm nữa trôi qua, đã có khá nhiều gia đình, tập thể đến la lối rằng các công trình do công ty Pết-Ép-Lây xây dựng không có chất lượng. Khánh phải cho thợ đến bảo hành, bỏ tiền ra mua nguyên vật liệu. Cán bộ, nhân viên tỏ ra nhớn nhác, làm việc được chăng hay chớ. Khánh hô hoán nâng cao chất lượng, đẩy mạnh sản xuất nhưng công ty vẫn lợm nhợm không đâu vào đâu. Công trình ngày càng ít, lời lãi không đáng kể. Khánh chiều hết mọi người. Ai bảo gì cũng nghe. Số cán bộ công nhân viên này cũng là bạn bè chí cốt. Khánh không muốn mất lòng họ. Mình cũng có tài cán gì đâu. Làm ăn có đận có lúc. Điều cốt yếu là đừng để họ ghét mình, phản mình. Đấy là cái lẽ sống của Khánh. "Khi làm cái anh công nhân quèn thì thế cũng được. Còn đã là ông giám đốc thì phải khác. Phải quyết đoán, dám chém, dám vác. Phải quản lý con người. Phải có uy, có trên có dưới". Vợ Khánh nói tỏ ra rất thành thạo công tác quản lý. Dù lên lớp, giảng giải cho chồng đến mấy Khánh vẫn đầy mặc cảm. Cũng lắm khi Khánh cố ra oai, cố ra vẻ kiên quyết, đưa ra sáng kiến. Những lúc ấy mọi người chỉ còn cách bụm miệng cười. Và đáng cười hơn: sau đó, những điều Khánh "lệnh" cho mọi người thực hiện đều không đâu vào đâu. Vợ Khánh biết không thể "cải tạo" được đức ông chồng, mới nghĩ ra một mưu, nhờ người manh mối kiếm cho chồng một phó giám đốc có nhiều kinh nghiệm. Đương nhiên, chị dúi cho chồng tiền để trả lương cho phó giám đốc này. Thôi thì đã sinh ra một ông giám đốc dĩ hoà vi quý thì cạnh ông là một cấp phó sắc sảo, kiên quyết và rất mực nguyên tắc. Hai người bổ sung tính cách cho nhau là vừa đẹp. Người phó giám đốc mới là Khoán, thua Khánh một hai tuổi, được học hành chu đáo ở trường Đại học Xây dựng. Từng đi làm cơ quan Nhà nước, đi làm thuê, làm tư đủ cả. Kinh tế thị trường: chỗ nào đồng ra, đồng vào khá hơn, làm ăn dễ chịu, hợp với mình thì làm, chứ đâu phải cứ làm Nhà nước mới sang. Tiếp xúc với Khánh, với vợ Khánh, anh thấy mến cả hai người này, ít ra bề ngoài họ cũng là những con người hiền lành tử tế. Điều đáng nói hơn: qua trò chuyện, biết Khánh là lính chiến ngày xưa ở rừng khu V cũng là người cùng sư đoàn với Khoán. Nhưng sự dễ chịu đối với Khoán kéo dài không lâu, mặc dù giám đốc với anh rất niềm nở, rất tin cậy. Việc đầu tiên anh thấy cần làm là tổ chức lại công việc ở văn phòng. Hình như giám đốc muốn ban phát chức quyền cho tất thảy mọi người nên đẻ ra nhiều chức sắc. Có mỗi hai người cũng thành lập một phòng. Công ty nhiều phòng ban đến phát ngốt nhưng công việc lại không rõ ràng. Mọi cái đều dựa vào công ty, vào cái chung, vào ban giám đốc, hầu như không có bộ phận nào chịu trách nhiệm riêng về một điều gì. Lương bổng, thưởng phạt, sàn sàn như nhau. Có chênh cũng chỉ chút ít gọi là. Cơ quan thuận hoà êm thấm nhưng không kích thích nhau làm việc. Người này ỉ lại người kia. Làm cũng vậy, không làm cũng vậy, tội vạ gì làm nhiều. Cái tinh thần xã hội chủ nghĩa, làm tập thể nghe chừng mới chỉ là khẩu hiệu, hoặc ở đâu đó. Điều cốt lõi là lương. Cái đó giám đốc lo. Làm được công trình thì chia bôi nhau, không làm được đã có "quỹ" riêng của nhà giám đốc. Đã có tháng cơ quan rỗng két, giám đốc quẳng tiền cho cô tài vụ xinh đẹp phát cho mọi người, chỉ với điều kiện đừng để bà xã giám đốc biết. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 31 Tháng Năm, 2008, 09:03:44 pm NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN (Tiếp) Một giám đốc thương cán bộ nhân viên đến thế quả là hơi hiếm. Mọi người khen trước, khen sau. Cả cơ quan ngập tràn lời khen. Khen cũng thành thói quen. Ban đầu chỉ là khen giám đốc. Thấy giám đốc vui vẻ rộng rãi hơn lại khen ông phó rồi khen qua các phòng, các ban. Ai cũng được khen. Phê thành tối kỵ. Giám đốc khó chịu. Ai cũng khó chịu. Ở một cơ quan không ai chê ai, thế mới tài. Nhưng sự thực thì không phải thế. Người ta không thể công khai đành dấm dúi thì thọt phía sau lưng. Cái sự đó làm Khoán khó chịu. Tuy nhiên! Khoán về đây không phải để khó chịu những chuyện như thế. Cái thiết yếu lúc này là làm sao tổ chức lại lực lượng, làm ra làm, chơi ra chơi chứ không thể nhùng nhằng thế này được. Công ty Pết-Ép-Lây này y hệt cung cách làm ăn kiểu hợp tác xã nông nghiệp trước đây. Cũng đất ấy, cũng người ấy nhưng gia đình xã viên nào cũng chỉ làm lấy điểm. Mùa màng vì thế thất bát liên miên. Người làm ruộng nhưng lại túa ra thành phố đi mua gạo cứu đói. Cũng đất ấy, người ấy, khi khoán đất đến hộ lao động, đất ruộng của họ khác hẳn, cây lúa, cây màu khác hẳn. Người nông dân được suy nghĩ, trăn trở, lo toan, phát huy mọi sáng kiến trên mảnh ruộng của mình. Lúa, màu không những đủ ăn mà còn dư thừa. Giá gạo rẻ đến khó tin. Đất nước có gạo, xuất khẩu vào loại nhất nhì thế giới… Khoán đã say sưa nói với Khánh những điều như thế. - Phải khoán công việc cho từng người anh ạ. Như thế mới tạo cho họ sống hết mình với công việc. Về tổ chức, anh mạnh dạn dẹp bớt các ông trưởng phó phòng ban vô tích sự kia đi. Bảy phòng ban là không cần thiết mà còn cản trở công việc. Dồn lại thành bốn thôi. Bốn phòng ban với những chức năng khác nhau. Họ tự lo liệu phần việc của mình. Vấn đề là chất lượng chứ không phải hình thức anh ạ! Giám đốc Khánh lắc đầu ái ngại: - Thôi được, để dần dần rồi tính. Khoán trút một hơi thở dài. Tuy mới về làm việc ở công ty này, mới tiếp xúc với Khánh ít buổi nhưng anh hiểu câu trả lời của Khánh không phải bằng lời nói kia. Cái chính là anh đã đọc được ý nghĩ trên nét mặt Khánh. Một gương mặt nhút nhát, thiếu năng động, thiếu tự tin. Cái chức giám đốc là do anh có tiền và do đó có quyền. Công ty này, thắng hay bại do anh ta quyết định. Dù mình có sáng kiến bằng giời cũng chịu thua thôi. Nhưng mình cũng có quyền của mình chứ! Mình có thể từ chối chức phó giám đốc. Thà làm một anh cán bộ bình thường, một công nhân bình thường ở đâu đó. Sáng hôm sau, ở khu tập thể công ty, Khoán đang tập thể dục thì Khánh đến. Khánh vui, điềm đạm, không nhắc gì đến những đề đạt của Khoán bữa qua. Khánh mừng rỡ báo tin cho Khoán đã nhận được hai công trình có đến chục tỷ đồng nhờ tài tháo vát của bà vợ. Hai công trình này sẽ làm rạng rỡ mặt mày cái công ty trách nhiệm hữu hạn Pết-Ép-Lây. Cả hai công trình Khánh muốn giao hết cho Khoán phụ trách. Khánh nói: - Ông lo giúp tôi công trình này, đừng để sơ sảy gì về kỹ thuật. Có ông nhất định ta sẽ thắng đậm. - Anh giao cho anh Hoán - Khoán dứt khoát. Hoán cũng là phó giám đốc được mời về trước Khoán. Khoán đứng bật dậy, gương mặt khó chịu như đang phải cố nén điều gì. - Tôi chưa thể nhận bất kỳ công việc nào nếu không có sự thay đổi về tổ chức như tôi đã đề đạt với anh hôm qua. Khánh tròn mắt ngạc nhiên. Nhưng rồi Khánh hiểu. Khoán là người nóng nảy. Anh ta cũng không phải dễ bị mua chuộc bằng tiền. Không nhượng bộ anh ta, chắc chắn anh ta sẽ không cộng tác với mình. Không phải Khánh không nhận ra cái hợp lý, cái khoa học trong việc tổ chức biên chế, khoán sản phẩm, giải tán bớt phòng ban như đề nghị của Khoán. Khốn khổ cho Khánh. Sau Khánh còn biết bao nhiêu người không đồng tình việc này. Để họ tự ái, làm lẩy rồi bỏ mặc công việc, công ty sẽ nát tươm. Anh còn lạ gì cán bộ ở công ty, làm không làm nhưng muốn có phần. Được thì chung hưởng, không được thì ông giám đốc chịu. Nhiều người lĩnh lương ở đây nhưng vẫn tranh thủ đi làm ở công ty khác. Chỗ chính thì làm việc lơ là nhưng chỗ phụ lại làm việc rất nghiêm túc. Có lẽ cũng phải đưa ra khỏi cơ quan một số người thôi. Kể cũng tội. Họ sẽ đến anh ca cẩm, van xin. Rồi ra anh sẽ lại mủi lòng và chẳng quyết được gì. Nhưng thôi, dù sao cũng phải hứa với Khoán sẽ chỉnh đốn lại lực lượng lao động… Còn giải tán ban bệ khó lắm thay. Giải tán phòng ban đồng nghĩa với việc các trưởng phòng ban không còn quản lý, chỉ huy ai nữa. Gọi là phòng ban thực ra chỉ vài ba người. Lúc đầu muốn vui vẻ cả làng, tôn nhau lên thế. Ai ngờ sau thành thật. Có thể gộp vài ban lại với nhau cũng không sao. Trưởng phòng ban không chỉ là giải quyết khâu oai, mà còn hơn người khác về kinh tế. Ngoài suất lương như mọi người họ có thêm lương trách nhiệm và kèm theo là chênh lệch tiền thưởng ngày lễ ngày tết… Họ không muốn "dẹp" bớt phòng ban là thế. Họ không muốn khoán sản phẩm đến tận tay người lao động cũng là thế. Họ nói cứ để như cũ vừa ấm áp cơ quan, vừa vui vẻ cấp trên, cấp dưới, có chết ai đâu? Khánh được tâng bốc lên chín tầng mây về năng lực, về phẩm chất, về đủ mọi điều là ở chỗ Khánh chiều được tất thảy mọi người, là ở chỗ biết dựa vào mấy ông trưởng phòng ban thân thiết, to mồm. Mất lòng họ ư? Khốn! Gay lắm. Không, thà mất lòng một mình Khoán. - Những việc thế này không vội được. Có lẽ phải đưa ra công ty bàn bạc. Chấn chỉnh lại công việc cho từng người thì được, chứ bớt các phòng ban chưa chắc mọi người đã đồng ý ông ạ! - Không đồng ý là cái chắc. - Khoán gay gắt. - Có gì khó hiểu đâu. Do cá nhân thôi. Vì quyền lợi riêng mà họ không đồng tình… Ngẫm ngợi gì đó, Khoán đứng bật dậy, vung tay nói như chỉ để chính mình nghe: - Có những việc không thể đem ra bàn, rồi biểu quyết. Đã là thằng cán bộ chỉ huy, quyết không được theo đuôi quần chúng. - Quay lại trước mặt Khánh, Khoán nói tiếp. - Những ai phản đối, tôi đếm cho anh nghe nhé… Và Khoán đếm từng người. Tay này quái quỷ thật - Khánh tự thú. Khoán mới về được vài tuần mà đã hiểu kỹ thế thì giỏi quá. Trong tâm khảm Khánh vẫn phục Khoán. Khoán là sĩ quan quân đội, từng qua chiến tranh, đầy đủ bản lĩnh, trách nhiệm. Về nguyên tắc tổ chức, anh không thể cãi lại Khoán. Anh chỉ phập phù lo. Đâu chỉ có sự phản đối của mấy ông trưởng phòng, ban. Dưới họ còn có những người khác. Những người trong bụng thì bất tuân, nhưng bề ngoài thì lại ủng hộ. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 31 Tháng Năm, 2008, 09:05:23 pm NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN (Tiếp) - Nếu giải tán bớt phòng ban tôi và anh phải chấp nhận đương đầu với một số người đấy - Khánh dè dặt. - Sao lại là đương đầu. Phải vạch ra cho họ hiểu thế nào là đúng sai. Chúng ta làm việc này vì lợi ích của ai mới được chứ! Những cán bộ, công nhân lăn lộn vất vả với công việc của công ty, phải được tăng lương. Những ông cán bộ chắp tay sau đít, làm ít nói nhiều, chỉ đáo qua cơ quan để phán và lĩnh lương, cho nghỉ đi. Người trầy lưng tróc vẩy ra lao động kiếm đồng tiền về cho công ty phải được tôn vinh ưu đãi tử tế. - Cũng từ từ ông ạ! Vừa qua công ty có chút lãi rồi. Cứ bình tĩnh, không sốt ruột được đâu. Giàu ai chả muốn, công bằng ai chả muốn, nhưng trước hết phải yên ổn. Được lòng công nhân nhưng mất lòng mấy ông cán bộ - công ty sụp tiệm như bỡn. Có thể tăng cho người lao động trực tiếp chút đỉnh để họ yên lòng nhưng phải khéo. Khoán nghiến răng, tay đã định đập xuống bàn nhưng may kìm lại được. Điều anh nói đâu chỉ vì đồng tiền. Công nhân đòi hỏi sự công bằng chứ đâu dấm dúi chuyện này chuyện kia. Anh cứ còn giữ cái thói nhu nhược muốn được lòng tất cả mọi người của anh thì công ty sẽ tụt dần chứ chẳng được thế này đâu… Cũng may là những suy nghĩ ấy Khoán chưa kịp nói ra. Chiếc điện thoại di động Khánh để trên bàn đổ chuông. Anh cầm lấy nghe rồi vội vã chào Khoán đi ra khỏi phòng. Khẩn đến thế chỉ có thể là của lệnh bà. Khoán nghĩ. * * * Một tuần rồi hai tuần. Những điều Khoán nói với Khánh coi chừng không mảy may tác dụng. Anh bắt đầu chán và tiếc thời gian công sức của mình. Anh gặp giám đốc Khánh lần chót, không phải để bàn việc mà để nói lời cuối cùng. Ngày tháng cứ trôi còn Khánh vẫn cứ từ từ, nghiên cứu. Rõ là anh và Khánh không hợp nhau trong ý nghĩ, việc làm. Nghĩ như thế Khoán nhấc máy điện thoại: - Thế nào giám đốc. Ý kiến của tôi bữa trước hình như giám đốc bỏ ngoài tai. - Không bỏ, nhưng để nghiên cứu kỹ ông ạ! - Vậy xin tạm biệt giám đốc nhé! Tôi đã quá kiên nhẫn chờ đợi sự nghiên cứu của giám đốc. Và bây giờ thì không thể hơn được nữa. Xin phép giám đốc bắt đầu từ hôm nay tôi được thôi việc. Tôi thấy mình không thích hợp với công ty này. - Này anh Khoán - Giọng Khánh hốt hoảng. - Bình tĩnh nào! Đã có chuyện gì đâu? Ta vẫn sống êm ấm với nhau. Công việc vẫn bình thường cả mà! - Đúng thế! Nhưng tôi sợ sự êm ấm của các anh lắm rồi. Công việc vẫn bình thường? Thôi anh cứ yên trí với cái bình thường ấy di. - Anh Khoán, nhưng anh đi đâu mới được chớ? - Anh khỏi lo. Tôi tự liệu được lấy thân tôi. - Này, này anh Khoán ơi! Tôi… Khánh cố níu kéo nhưng đầu dây bên kia máy đã úp xuống đánh cạch. * * * Tổng giám đốc công ty Clê-xi-mếch, công ty kinh doanh tổng hợp đang phất lên như ngọn cờ đầu trong việc làm ăn có lời. Ông cũng xuất phát từ hai bàn tay trắng với một khao khát làm giàu cho đất nước, giải quyết việc làm cho mọi người. Dẫu bộn bề công việc, ông vẫn lắng được những dư âm buôn bán, lời lãi, làm ăn tốt xấu của các bạn đồng nghiệp. Nghe tin Khoán rút khỏi công ty xây dựng Pết-Ép-Lây vì tính tình ngang bướng, không hợp với giám đốc, không hợp với công ty đã khiến anh chú ý ngay. Có được một công ty xây dựng nữa sẽ có hàng trăm công ăn việc làm cho con em cán bộ công nhân viên ở cái tổng công ty này. Cái đó mới là sự giúp đỡ, là lòng thương với con người. Hiềm một nỗi, anh chưa tìm ra được người tài. Mang máng nghe những lời đồn đại về Khoán, anh bỗng tò mò muốn biết con người này ra sao. Anh không sợ sự ngang bướng. Cái đó có thể bồi dưỡng giáo dục. Anh sợ nhất là sự bất tài. Cái sự cưỡng quậy của Khoán không chừng báo hiệu một tài năng. Nghĩ vậy, anh tranh thủ đi gặp Khoán ngay. Nhà Khoán khá khang trang, gần trung tâm thành phố. Trưa. Nắng loá mắt. Đất trời như nung trong lửa. Vào nhà Khoán mát hẳn. Khác với một số người hay đánh giá phẩm chất con người qua sự giản dị, bình thường. Không! Đã là anh cán bộ phải chững chạc đàng hoàng. Quần áo phải đâu ra đấy. Nhà cửa không được phép nhếch nhác bề bộn. Muốn gây dựng được một cơ ngơi bề thế cho một tập thể, trước tiên phải lo được cho thân mình, cho gia đình mình. Đương nhiên, bằng sức lao động, bằng chất xám, bằng đồng tiền chính đáng. Khách chủ ôm chầm lấy nhau: Trời ơi, thì ra họ là bạn cùng tiểu đoàn hồi đánh Mỹ. - Sao tớ nghe nói cậu vào Nam? Cả gia đình đang ở trong đó. Định nhắn tin qua truyền hình xem có tìm nổi không? - Ôi, em vào Nam ra Bắc đủ cả. Lận đận lắm. Gia đình mới ổn định mấy năm nay, nhưng công việc vẫn còn lung tung. Anh Thanh, em có biết tin anh. Cũng đôi lần định tìm nhưng thấy anh làm to quá sợ như người ta nói: "Thấy người sang bắt quàng làm họ". - Tớ biết, phần mặc cảm ít thôi, nhưng chuyện cũ cậu vẫn chưa tha thứ cho mình. Thôi, mọi chuyện cho qua nhé. Thế này là tốt quá rồi. Cậu về chỗ tớ đi. Tớ đang có ý định mở một công ty xây dựng. Khốn nỗi chưa tìm được người đứng mũi chịu sào. Có cậu còn gì bằng. Hai phó tớ đã dấm sẵn rồi. Số người còn lại, về công ty cậu tuyển tiếp. Mà không cần đông người cậu ạ. Tớ bảo đảm lương gấp bốn năm lần chỗ cậu đang làm. Khoán có vẻ thờ ơ trước lời mời của thủ trưởng cũ. Hình như tâm trí của anh chưa dứt khỏi kỷ niệm xưa. Một kỷ niệm không thật đẹp giữa anh và vị tiểu đoàn trưởng của mình. Bữa đó, tiểu đoàn anh giấu lực lượng ở một bãi bói mênh mông, bên này sông Kỳ Lam, chuẩn bị tối sẽ tiến đánh đồn Bình Long bên kia sông. Chẳng hiểu sao, mới chiều nhập nhoạng máy bay đã quần đảo liên tục. Rồi hai chiếc tàu gáo vút thẳng vào khu vực giấu quân rà sát mặt đất, bắn rốc két và đại liên vào từng chiếc hầm. Bộ đội trúng đạn bị thương rất nhiều. Một số không chịu được đã chui ra khỏi hầm. Việc tiểu đoàn bị lộ là không còn nghi ngờ gì nữa. Khoán nhảy ra khỏi hầm đi gặp Thanh xin được bắn máy bay. "Không được, không được. Manh động là tự sát. Nhiệm vụ của tiểu đoàn là tối nay vượt sông, đánh Bình Long, anh biết không?". "Sao tôi không biết, nhưng còn lực lượng đâu mà bảo toàn ạ? Không nổ súng chút nữa địch sẽ đổ bộ binh xuống, nhặt không còn sót người nào đâu". "Đừng nói bậy, không được nổ súng. Cho anh em tiếp tục bí mật dưới công sự. Chỗ nào không giữ được thì lặng lẽ rút về phía bờ sông. Nghe rõ chưa?". Câu cuối cùng tiểu đoàn trưởng nói như quát rồi bỏ đi. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 31 Tháng Năm, 2008, 09:05:50 pm NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN (Tiếp) Đời lính là thế, có những mệnh lệnh không phù hợp một chút nào nhưng vẫn phải chấp nhận. Hai chiếc tàu gáo thấy đối phương không đụng cựa gì mặc nhiên hạ độ cao, soi vào từng người găm đạn. Đã có lúc Khoán thấy quá mức chịu đựng của mình. Trường hợp này một người lính mới nhập ngũ nếu được lệnh cũng bắn cháy được máy bay. Và như thế không những bộ binh địch không thể đổ quân được mà số máy bay trực thăng như chuồn chuồn trên đầu Khoán nhiều chiếc sẽ phải bùng cháy tơi tả. Đêm hôm đó, địch chiếm được bãi bói. Bộ đội thương vong ngổn ngang bên bờ sông. Tiểu đoàn trưởng lạc một ngày sau mới tìm được. Còn Khoán cho đến nay vẫn đau đớn tiếc nuối là đã không nổ súng bắn vào những chiếc máy bay hỗn láo kia… Sau trận đánh bất thành đó, lực lượng tiểu đoàn mỏng tang. Cấp trên bổ sung cán bộ chiến sĩ còn lại cho các đơn vị khác. Sau chiến tranh Khoán có nhìn thấy Thanh trên truyền hình với cương vị là một tổng giám đốc đang nổi như cồn. Tổng giám đốc Nguyễn Thanh được coi là một trường hợp khá đặc sắc. Tổng công ty anh ra đời trong khi nhiều công ty xí nghiệp Nhà nước phải giải tán vì làm ăn thua lỗ. Tự anh đi liên hệ xin khai sinh cho tổng công ty. Tự anh lo xoay xở tìm người. Trụ sở ban đầu đi thuê. Vốn liếng ban đầu đi vay. Vậy mà chỉ mấy năm sau nó nổi đình đám như một hiện tượng kỳ lạ. Ở đâu người ta cũng tìm đến nó. Vốn cố định lớn. Cơ ngơi bề thế, khang trang. Xe cộ, máy móc vào loại hiện đại. Báo giới đua nhau tung hê. Chỗ nào cũng thấy bàn tán về tổng công ty. Lương bổng cán bộ, công nhân vào loại khá. Tổng công ty trở thành một trong những đơn vị kinh doanh giàu nhất thành phố! Nhiều người không khỏi ngỡ ngàng. Một số tổng giám đốc muốn được làm quen với anh để học hỏi kinh nghiệm và được giúp đỡ. Người lao động không mong mỏi gì hơn được làm ở một tổng công ty như thế. Nhưng đây cũng là con mắt tinh đời của một tổng giám đốc. Anh không cần nhiều người làm việc. Những người lọt mắt xanh anh không dễ. Khoán vốn ước thèm có đất để dụng võ. Nhưng về chỗ Thanh thì chưa bao giờ anh nghĩ đến. - Anh thương thằng em, vừa bị đuổi khỏi công ty Pết-Ép-Lây phải không? - Khoán nửa đùa nửa thật. - Đừng! Cậu đừng bao giờ có ý nghĩ ấy với tớ. Tớ biết, không ai đuổi cậu cả. Chẳng qua cậu chưa chọn được người đáng mặt làm việc đấy thôi. - Không dám. Thủ trưởng nói quá. - Tớ biết cậu còn thành kiến với tớ. Nhưng đời người cũng có lúc sai lầm chứ cậu! Nhờ cái sai lầm hồi đó mà sau này tớ vững chãi hơn. Thôi cậu tạo thời cơ cho tớ đi. Tớ hứa, về đây cậu sẽ được nhiều thứ. Cũng là chút thành tâm của tớ đối với cậu, đối với những sai lầm trước đây vậy. - Thủ trưởng không thích đùa đấy chứ? - Đùa thế nào, trong chuyện này? - Vậy thì tôi đồng ý. Chỉ yêu cầu thủ trưởng từ nay trở đi không cần nói với tôi về cấp chức, về lương bổng. Tôi biết chỗ thủ trưởng là thế nào chứ. Nhưng tôi nhận về vì tôi là thằng mê làm việc. Sau một thời gian, thủ trưởng cứ hê tôi đi, nếu tôi vô dụng. Còn thủ trưởng cũng cho tôi quyền được đi nơi khác nếu tôi thấy không phù hợp ở chỗ thủ trưởng. Cứ nói trước với nhau như thế cho thật sòng phẳng. Tổng giám đốc Thanh quyền uy nghiêng thiên hạ, bao nhiêu bạn bè, chiến hữu đầu đơn về công ty, anh chưa thể tính đến. Vậy mà có người ngang ngược với anh như vậy. Không! Có lẽ không hẳn thế. Anh sững sờ, và có chút ngượng ngập: - Thành thật xin lỗi ông. Tôi chỉ nói đùa cho vui. Ông bỏ quá nha. Ngay cách xưng hô của Thanh cũng dè chừng hơn. * * * - Sự cố đầu tiên khi Khoán bước khỏi công ty Pết-Ép-Lây là công trình nhà văn hoá của tỉnh S. xin rút hợp đồng. - Phải hỏi xem lý do vì sao chứ? - Vợ Khánh nghiến răng kèn kẹt, tay săm soi vào mặt chồng. - Có nhiều lý do, nhưng lý do chính mà họ không nói ra, nhân lực mình mỏng quá. - Láo lếu, làm sao biết mỏng với dày. Nó không làm, phạt, phá hợp đồng đâu dễ thế được. - Ôi, ăn thua khỉ gì. Khi ký kết có ai nhắc cụ thể về cái đó đâu, giờ nó cãi, mình biết làm sao? - Ngu. Giám đốc gì ngu thế. Hợp đồng thì phải rất rõ ràng chứ. Thế còn chuyện biếu xén cả trăm triệu đồng, chịu mất luôn chắc. - Cái đó bà làm chứ sao còn hỏi. Mà khéo ra toà vì chuyện ấy đấy. Ai cho phép đi đút lót. Đi đút lót cũng có tội. Tôi đã nói với bà cả trăm lần bà không chịu nghe. Tôi ngu hay bà ngu đây? - Trời ơi là trời! Kiểu ni mất cả chì lẫn chài rồi, kiểu ni bán cả nhà không đủ trả nợ rồi… Hai vợ chồng đang chì chiết nhau thì Hoán thủng thẳng bước vào. Từ bữa Khoán bỏ đi khỏi công ty, Hoán vừa mừng vừa lo. Mừng vì Hoán không còn đối thủ để cạnh tranh, cũng là phó nhưng dưới con mắt mọi người, Khoán được nể trọng hơn. Giờ chỉ một mình dù tài hèn sức mọn Hoán cũng biết chắc mình sẽ được cưng như cục vàng. Mừng hơn nữa là công ty đang có đà. Chỉ ngạo mạn như Khoán mới đi khỏi công ty lúc này. Cùng một lúc có đến hai công trình kếch xù. Thật là nằm mơ cũng chẳng thấy. Nếu có lo là ở chỗ Hoán biết ông giám đốc chỉ giỏi đi xây. Tính toán không ra đâu. Hoán ư? Cũng không giỏi giang gì. Cờ đến tay thì phất. Phải công nhận có tay Khoán mọi chuyện sẽ ổn hơn. - E hèm… - Hoán đánh động để vợ chồng Khánh thôi hục hặc với nhau. - Anh chị đừng quá lo như vậy. Có gì ta cùng bàn bạc gỡ ra. Đay nghiến nhau chẳng giải quyết được gì đâu. - Thì đấy, giao cho anh em nhà chú. Cái nhà văn hoá ấy tôi đã bỏ một trăm hai mươi triệu rồi đấy. - Ấy, đừng bi quan quá sớm. Một trăm hai mươi triệu chưa nghĩa lý gì với công trình hàng chục tỉ. Được nhận công trình ấy, mình lời gấp hàng chục lần tiền bà chị bỏ ra. Bây giờ tôi tính thế này. Đâm lao phải theo lao. Thằng nào đã nhận tiền bà chị cho nó nhận nữa. Dùng cái đó xích nó vào hợp đồng đã ký. Chỉ có cách đó mới cứu vãn được. - Hắn đi vào Thanh Hoá mấy hôm nay rồi - Khánh rầu rĩ. - Càng tốt. "Điệu hổ ly sơn". Thuê xe vào Thanh Hoá ngay. Chộp bằng được nó. Lại đây, cả hai lại đây tôi bảo… Khi cả ba cái đầu chụm vào nhau, Hoán mới thì thào vạch một mưu kế. Theo Hoán, công trình nhà văn hoá chỉ là tiền chùa. Mấy tay thủ trưởng không cần biết chất lượng kỹ thuật, độ lâu bền, hay mỹ thuật gì đâu. Họ làm phách, gây sức ép thế để moi tiền đấy. Không ai chê tiền cả. Nó ngúng nguẩy là vì muốn mình nôn ra nhiều hơn. Đấm vào mõm nó hai chục triệu. Hai thằng phó mỗi thằng chục triệu nữa. Đám đàn em mỗi đứa vài triệu. Đương nhiên tách xa chúng nó ra. Không để chúng biết mình giúi tiền cho thằng nào với thằng nào! Khi bàn, chúng sẽ ngậm tăm hết. Và rồi xem. "Công trình đố có vào tay ai ngoài anh em nhà mình…". Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 31 Tháng Năm, 2008, 09:06:54 pm NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN (Tiếp) Tiền trong tủ nhà Khánh còn nhiều, nhưng mỗi lần rút ra cũng làm vợ Khánh thắt cả ruột. Thôi đã trót thì phải chét vậy. Chị đành giao tiền cho Hoán. Hoán mang đi trăm triệu đồng. Đi hết ba ngày. Hôm về Hoán trả lại cho vợ Khánh một nửa tiền. Không biết nửa tiền kia Hoán có giao cho ai không, nhưng chủ đầu tư công trình nhà thanh niên tỉnh S đồng ý thực hiện hợp đồng đã ký. Vợ chồng Khánh mừng thôi là mừng, tin thôi là tin. "Chú ấy tốt lắm chứ. Việc êm như thế chú ấy bảo hết cả trăm mình làm gì được nào?". Rồi từ cái sự tin đó Hoán được vợ chồng Khánh giao cho việc cai quản hai công trình đã nhận. Công trình đầu tiên là cho chủ tịch H. Nhà riêng nhưng quy mô cũng chẳng kém trụ sở một cơ quan Nhà nước. Hoán đã ngửi được mùi thơm ngậy của công trình này. Chủ tịch tỉnh thì tiền nặng túi lắm, thanh quyết toán sẽ rất nhanh. Càng mừng thầm trong bụng, Hoán càng thấy sự ra đi của Khoán là rất khờ dại. * * * Công trình nhà riêng của chủ tịch H. gần kết thúc, Hoán mới ngã ngửa ra rằng, giám đốc Khánh chỉ có thể là một công nhân xây lát. Một giám đốc không chỉ có cái nhìn bao quát mà còn phải rất cụ thể. Nhận một công trình phải tính ra được sự lời lãi thế nào? Phải bỏ vào đó bao nhiêu tiền. Và làm xong anh được bao nhiêu tiền. Đằng này nhờ vợ đi "xin" công trình, còn anh ta ký ào. Theo nhẩm tính sơ sơ của Hoán, ngôi nhà của chủ tịch tỉnh H. không những không có lời mà có thể âm. Công trình nhà thanh niên cũng chẳng mầu mỡ gì. Thật ra nếu giám đốc Khánh không tính toán được thì phải chọn tham mưu giỏi, chọn được kế toán, tài vụ dốc tâm, dốc sức vào công việc. Khốn thay, bộ máy hành chính của giám đốc là một loạt người không có công ăn việc làm, đến ôm lấy chân giám đốc xin xỏ công việc. Giám đốc rủ lòng thương nhận tuốt vào cơ quan. Có những người anh không biết bố trí làm gì. Giám đốc thích vui vẻ, thích đông người để công ty có bề thế. Vậy thôi! Lúc đầu, người ta chưa đòi hỏi lương lậu gì. Nhưng được vài tháng bắt đầu thắc mắc đủ kiểu. Tiền trong túi giám đốc cũng vơi rồi, vả lại còn bao nhiêu việc lớn lao hơn, ví dụ công trình đang xây dở kia. Thế là anh tìm cách lảng tránh. Những ngày này, thậm chí anh chui lủi ở đâu không ai rõ. Mọi việc giao hết cho Hoán. Hoán thành trung tâm của con nợ. Nợ cán bộ công nhân viên cơ quan, nợ khách hàng, nợ hàng xóm, nợ họ hàng nhà Khánh… Đủ thứ nợ. Một năm cật lực làm việc cho công ty, Hoán cũng chỉ đủ tiền ăn xài, chưa gửi được cho vợ con đồng nào. Vậy nhưng bề ngoài anh lại mang tiếng là được vợ chồng giám đốc chiều chuộng, tiền lương thừa mứa. Anh biết Khánh không kẹt xẻn gì với anh. Khánh đã hứa khi xong công trình sẽ giao cho Hoán một "cục" gửi về nhà luôn thể. Không thể có cái "cục" ấy nữa rồi. Cán bộ công nhân viên có người gần cả năm nay chưa được giám đốc chi cho đồng nào. Họ ngao ngán trông đợi vào ngày bàn giao công trình. Biết công trình là con số không, họ sẽ bỏ đi, không nói là sẽ nổi loạn. Lẽ ra, Hoán phải gặp giám đốc bàn bạc. Nhưng ghét thay, vợ giám đốc lại không thích điều đó. Đến nhà, anh và giám đốc nói một thì bà giám đốc nói hai. Đi đâu, bà tính từng phút, từng giờ. Bà làm như thể ai gần chồng bà thì móc hết túi tiền hoặc xúi bẩy chồng bà làm những chuyện dại dột không bằng. Anh ít đến nhà giám đốc, ít bàn bạc với giám đốc là vì vậy. Anh vẫn ngỡ giám đốc không đến nỗi ất ơ đến thế. Khi anh biết thì mọi việc đã quá chậm. Không! Phải tìm cách lo liệu cái thân mình thôi. * * * Một mảng tường lớn ở tầng hai ngôi nhà đang xây của chủ tịch tỉnh H. mới sáng sớm tinh mơ đã đổ đánh "rầm". Các nhà bên cạnh hốt hoảng tưởng có bom nổ cạnh nhà. "Thôi rồi! Chắc khi làm không tính ngày tính tháng, không cúng bái tử tế…". Rất nhiều người đoán già đoán non như thế. Khánh, mặt, tóc, quần áo trắng bụi, chui ra từ đống gạch vữa lộn nhộn ấy: tay bóp vụn một nắm hồ rơi lả tả xuống đất: "Trộn cát với xi măng ẩu thế này không đổ sao được". Răng anh nghiến ken két, nước mắt dân dấn. "Thế anh Hoán đâu, anh Hoán đâu hả?". Khánh hỏi đám thợ. Họ cũng đang buồn nẫu ruột, trả lời nhát gừng: "Sao sếp lại hỏi chúng tôi? Cả tuần nay có gặp anh ta đâu?. Trời ơi! Lạ! Đúng lúc ấy bà xã ông chủ tịch tỉnh H. trong bộ áo váy sặc sỡ, xăm xắm bước thẳng tới trước mặt Khánh. - Anh làm ăn thế đấy phải không? Thế mà nói thì ngọt như mía lùi. Bây giờ anh định sao! Để chúng tôi còn liệu! - Chị cứ bình tĩnh, sẽ hoàn tất ngôi nhà cho chị là được chứ gì? - Được là được làm sao? Thợ thuyền anh làm ăn thế mà bảo được. Các anh đang ở đây mà đã xảy ra thế này, các anh biến rồi chúng tôi níu vào đâu hử. Trời ơi! Thế mà có ít công nợ đến đòi chèo chẹo. Khánh ngơ ngác. Ơ hay, đòi nợ là thế nào. Ngôi nhà này, công ty bỏ vốn ra đã lấy đồng nào đâu? Phải đến tận khi vợ chủ tịch dí tận tay Khánh tờ ghi nhận đã lĩnh tiền do Hoán ký nhận anh mới ngã ngửa ra. Đúng là anh đã phải cố gắng lắm mới khỏi đổ kềnh ra như bức tường kia. Cái thằng Hoán khốn nạn đã lạm dụng sự tin cậy của anh đến thanh toán số tiền xây dựng ngồi nhà này rồi. Lẽ nào nó biến như con mẹ hàng lươn. Sao lại có kẻ vô lương tâm đến vậy chớ? Sao lại có thằng phản bạn đến thế chớ! Bây giờ thì không còn cách nào khác, chính Khánh phải tay thước, tay bay ra hiện trường làm việc. Anh chỉ huy trộn xi măng với cát theo tiêu chuẩn quy định, anh giăng dây rợ, hò hét thợ cùng làm với anh. Chỉ ở công trường, con người anh mới hiện nguyên hình là anh, hoạt, năng động. Nhưng đấy cũng chỉ là những lúc sự đam mê nghề nghiệp làm anh hứng chí. Còn ra, khi nghĩ đến công nợ phải trả, nghĩ đến món tiền Hoán đã cuỗm đi, chân anh lại run, tay loắng ngoắng, mắt mờ mịt, đất trời như chao đảo. Trời đất ơi! Thế mà lại còn một công trình nữa anh đã ký. Ai sẽ gánh vác với anh? Chia sẻ với anh trong cơn hoạn nạn này? "Roắc - đùng". Cùng với tiếng gãy đổ của giàn giáo, của bức tường đang xây, người ta nghe những tiếng "rầm rầm" tiếp theo là tiếng "ối, ối". Khánh có một cảm giác rất lạ. Đứng trên giàn giáo mà anh hẫng hụt chơi vơi. Thôi chết rồi, hình như chân móng ngôi nhà đang tụt, kéo theo cả mảng tường. Khi anh kịp nghĩ được như vậy cũng là lúc không thể nghĩ được gì nữa. Anh cùng ba người nữa đã rơi từ độ cao trên hai mét xuống đất, miên man, bất tỉnh. Công trường nhộn nhạo hẳn lên. Tiếng than khóc, tiếng bước chân rầm rập, tiếng xe cấp cứu rú còi. Lúc này thật là "Hoạ vô đơn chí" đối với gia đình giám đốc Khánh. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 31 Tháng Năm, 2008, 09:08:18 pm NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN (Tiếp) Trong căn phòng làm việc sang trọng của tổng giám đốc công ty Clê-xi-mếch, có ba người đang mang ba tâm trạng khác nhau. Thanh đi đi lại lại trong phòng, mặt đăm chiêu: - Anh nói thật đi, anh Khoán, tôi hoặc công ty có lỗi gì với anh, có điều gì không đáp ứng được yêu cầu của anh? - Anh đừng nghĩ như thế! Không đúng với bản chất của tôi và sẽ làm cho mọi việc nặng nề ra. Tôi vốn là một người lính, có gì tôi nói thẳng, nói thật. Anh rất tốt với tôi. Tôi không có gì phàn nàn về tổng công ty cả. Có điều Khánh cũng là bạn chiến đấu của tôi trước đây, bây giờ đang cơn hoạn nạn, tôi muốn giúp Khánh, vậy thôi. - Còn tôi, không là bạn của anh chắc. Và ai bảo đảm rằng anh đi khỏi cái công ty xây dựng này, những công trình dang dở kia không sụp đổ như bên công ty của Khánh. - Không có! Anh yên tâm đi. Công ty anh Khánh thế nào thì anh biết rồi. Anh nói đúng, cũng là bạn với nhau cả nhưng rõ ràng là Khánh đang gặp hoạn nạn, cần có bàn tay bạn bè hơn. Còn công ty xây dựng của tôi anh khỏi phải băn khoăn. - Tôi biết, tôi biết. Công ty của anh đang có uy tín, đang có nhiều công trình, đang làm ăn phát đạt… - Thanh ngắt lời Khoán, giọng có chút hờn dỗi. - Tôi không nghĩ như thế. Tôi muốn nói rằng hai phó giám đốc của công ty còn trẻ, có trình độ. Một trong hai người lên làm giám đốc thay tôi đều được cả. Và thú thật, cũng cần có chỗ để thử thách họ, để họ phát triển. Giám đốc chỉ có một cái ghế, mình ngồi miết, để họ đấy hở anh? Trong khi Khoán cố khôi hài để không khí căn phòng không tràn ngập sự nặng nề buồn tủi thì chốc chốc vẫn có tiếng thở dài não ruột của tổng giám đốc Thanh và tiếng thút thít của vợ Khánh. Mới mấy ngày mà trông chị già đi đến sợ. Tóc trổ những mảng xám trắng. Mặt hốc hác, đuôi mắt lộ rõ những nếp nhăn. Quần áo không còn được chải chuốt như trước, mà xồ xệch, lếch nhếch. Hành động cử chỉ của chị đôi lúc như của người hoá rồ. Thì đó, chị đang chạy lại tổng giám đốc, quỳ xuống, tay vái lia lịa: - Xin anh, cả nhà tôi, cả họ hàng nhà tôi cám ơn anh. Tôi chắc phải tự tử nếu anh Khoán không đến giúp chúng tôi. Chúng tôi đang sạt nghiệp vì nợ. Công trình thì tan nát thế kia mà không có ai lo liệu được… Anh hứa đi anh Thanh. Anh cho anh Khoán đi chứ. Các anh là bạn bè cũng từng sống chết với nhau cả… Chính câu sau cùng rất tỉnh táo, rất khôn ngoan của vợ Khoán làm Thanh mủi lòng. Thật ra, chịu để cho người ta rước đi một giám đốc trung thực, giỏi giang như Khoán khỏi cơ quan mình chỉ có là điên. Nhưng anh biết làm sao trong hoàn cảnh thật đáng thương này. Dẫu thế, anh cũng chỉ có thể đáp ứng một phần nguyện vọng của vợ Khánh. Anh biết hai phó giám đốc mà Khoán đào tạo có thể thay được Khoán. Những công trình, công ty đang xây dựng là vững chắc nhưng không vì thế mà anh bỏ mặc Khoán. Khoán là bạn, là đồng nghiệp, là người khởi đầu gây dựng và đưa công ty xây dựng này lên. Biết bao công lao. Lúc này là lúc công ty đang gặt hái, Khoán lại bỏ đi để hứng lấy cái "cơ đồ" đang đổ nát của Khánh, anh yên tâm sao được. - Tốt nhất là thế này - Thanh chậm rãi. - Tôi đồng ý cho anh Khoán qua đó, tính toán lại lời lãi cho công trình, xốc xách lại đội hình… Nhưng với điều kiện đi giúp thôi. Anh vẫn là giám đốc ở đây, hưởng mọi chế độ ở đây. Khi nào bên ấy yên ổn, anh lại về đây. - Anh Thanh, rất cảm ơn anh, nhưng như thế tức là anh không hiểu gì về tôi rồi. Tôi không thể không làm gì mà lại hưởng tiêu chuẩn ở đây được, dù anh và công ty không phàn nàn gì. Tôi hiểu như thế, nhưng cũng phải biết ngượng, biết áy náy khi nhận những thứ không do công sức của mình làm ra chứ? Và tôi nói thật với anh, trước đây chính tôi bỏ công ty của Khánh là vậy. Với tôi, mọi việc phải rõ ràng. Mỗi người phải gắn trách nhiệm của mình vào một công việc cụ thể, sống chết với nhiệm vụ cụ thể đó… Ở nước mình, có quá nhiều người cái gì cũng làm, cái gì cũng biết, được cất nhắc lên vị trí nào cũng nhận. Thực ra cái gì cũng lơ mơ láng máng, bổng lộc thì hưởng quá nhiều. Cần phải có một cuộc cải cách. Khi nào chấm dứt được việc này, đất nước mới có cơ khá lên được. Công ty Khánh và cả Khánh sụp đổ anh biết vì sao không? Không có nền móng vững chãi. - Ô hay - Thanh kêu lên. - Nhưng chắc gì bên ấy đã chấp thuận ý tưởng của anh? Chắc gì người ta để cho anh gây dựng một nền móng mới theo cách của anh? Vợ Khánh không còn khóc nữa. Hình như chị cũng chỉ đợi đến lúc này để nói rành rẽ, khẩn thiết về những điều chị và chồng đã bàn, đã thoả thuận với nhau. Khánh đang nằm viện, chân bị gãy chưa biết lúc nào mới đi lại được. Mà có đi lại được thì Khánh cũng sợ cái chức giám đốc lắm rồi. Anh chị sẽ dành toàn bộ sự quyết định nơi Khoán. Khoán sẽ làm giám đốc mãi mãi, sẽ có quyền tuyển người, loại người khỏi công ty. Khánh sau này có sức khoẻ cũng chỉ làm anh thợ chính, anh đốc công, đó là sự công bằng, là công việc phù hợp với con người và khả năng của Khánh… Vợ Khánh dẫn giải những điều đó với Thanh và Khoán. - Nên thế! - Thanh nói - Nếu cần một lời khuyên, tôi cũng sẽ khuyên Khánh nên thế! - Có nghĩa là anh đồng ý cho tôi đi rồi đấy nhé. - Khoán phá lên cười. - Tối nay nếu anh không bận tôi và anh vào viện thăm Khánh. - Hẳn thế rồi, nhưng đến đó tôi sẽ có một phương án, của riêng tôi. Phương án này vừa cứu vãn được Khánh, giúp sức được với anh, mà tổng công ty này lại không mất đi một người tài. - Tôi cũng ngầm đoán ra phương án của anh rồi đấy. Họ cười vui vẻ đi ra khỏi phòng. N.B. Tiêu đề: Một câu chuyện trong chiến tranh – Đào Duy Gửi bởi: trachvandung trong 02 Tháng Sáu, 2008, 10:03:51 am Nguồn : http://elib.quancoconline.com
Tôi và Cường không chỉ là bạn đồng niên, đồng học mà còn là đồng đội thời kháng Mỹ. Hết chiến tranh, hai đứa cùng về học Đại học Quân sự trên Vĩnh Yên, rồi tôi vào thành phố Hồ Chí Minh sống và làm việc. Gửi phương xa - Tranh của Dương Bích Liên Gần ba chục năm sau ngày ra trường, vợ chồng Cường mời tôi ra thăm Hà Nội. Ở Hà Nội đã được ba ngày. Nhanh thật! Chiều nay ngủ dậy muộn, tôi rời khách sạn lững thững ra vườn hoa Hàng Đậu. Cứ thế bách bộ dọc đường Quán Thánh. Hồ Tây đây rồi, mặt hồ lấp lánh trong nắng chiều. Lần ra quán Bánh tôm Tây Hồ ngày xưa, vẫn còn đây gốc si già quen thuộc. Tìm lại đúng vị trí thuở trước bọn tôi hay ngồi mỗi lần về phép, sau khi gọi một phần bánh tôm tôi còn nhắn theo: “Nhớ cho chú nhiều nước chấm đấy nhé!”. Cô bé phục vụ tủm tỉm cười mà chả hiểu cô cười vì cái nỗi gì? Đang “gặm nhấm” những kỷ niệm cũ bỗng có tiếng phụ nữ: “Xin lỗi anh, hai chúng tôi có thể ngồi đây được không?”. Tôi ngẩng lên, trước mặt là hai phụ nữ, họ không còn trẻ nhưng đều đẹp. Tôi để ý cô lớn tuổi hơn có một nốt ruồi phía trên môi. “Tôi chỉ có một mình. Xin mời hai chị!”, rồi kéo ghế mời khách. Họ cảm ơn. Sau khi đã yên vị, cô ít tuổi nói: “Chị Hạnh ơi, hôm nay em chiêu đãi nhé! Chị chọn món đi!”. Vừa nói cô vừa đưa thực đơn về phía bạn mình. (Chẳng hiểu sao hai người phụ nữ kia lại chọn đúng cái bàn mà tôi đang ngồi, trong khi những bàn khác gần đó còn trống? Chắc họ cũng có một kỷ niệm nào đó như tôi ở cái bàn này?). … Ngay lúc đầu, nhìn người phụ nữ lớn tuổi với nốt ruồi trên môi tôi đã nhớ mang máng đã gặp chị ở đâu? Khi lục lọi trong bộn bề ký ức mà không thể nhớ đã gặp người phụ nữ này trong hoàn cảnh nào. Họ chuyện trò tự nhiên. Tôi cố không chú ý đến câu chuyện họ đang trao đổi. Chỉ loáng thoáng, họ là hai người bạn cũ lâu ngày gặp nhau, một người vẫn ở Hà Nội, còn người kia hình như ở nước ngoài mới về. Bỗng có tiếng chuông điện thoại, người phụ nữ ít tuổi xin lỗi bạn ra ngoài. Còn lại người phụ nữ lớn tuổi, chị quay sang phía tôi: “Xin lỗi nếu có gì phiền mong anh bỏ qua! Chúng tôi là bạn cũ lâu ngày gặp nhau. Ngày xưa chúng tôi thường hay ngồi ở đây. Hôm nay biết là phiền anh nhưng chúng tôi không muốn vị trí khác. Mong anh thông cảm!”. - Không sao, chị đừng bận tâm! Lúc này tôi mới có cớ để xen vào câu chuyện của họ: - Xin lỗi, chị tên là Hạnh? - Sao anh biết? - Tôi thấy người bạn của chị gọi như vậy… À, mà hơi tò mò một chút, nếu không phải chị bỏ quá cho. Chị làm nghề giáo phải không? - Ôi! - Chị ngạc nhiên - À… vâng, ngày xưa, tôi từng là giáo viên, dạy văn nhưng bỏ nghề lâu rồi. - Có thời gian nào chị dạy ở Trường cấp III Quảng Yên? - Trời! Sao anh biết? - Chị ta trân trân nhìn tôi. Lúc này thì tôi đã nhận ra trước mặt mình là người đàn bà mà tôi quen biết hơn ba mươi năm trước. Đúng là cái tên Hạnh và nốt ruồi trên miệng đã làm tôi lờ mờ nhận ra thoạt đầu mới gặp. - Chị Hạnh! Chắc chị không còn nhớ em? Phan đây. - Trời ơi! - Người phụ nữ thảng thốt - Phan! Có thật Phan không? - Rồi hai tay đưa lên ngang ngực như cố kìm nén cảm xúc của mình. Chị nhìn vào tôi với đôi mắt nước lồng quanh. Một khoảng lặng không ai nói một lời. Chờ cho xúc động vơi đi, chị mới nói: - Hơn ba mươi năm rồi, Phan thay đổi thế này làm sao mà nhận ra? Nhiều năm qua chị đã cố tìm Phan mà không gặp. Bây giờ Phan ở đâu? Cứ tưởng chiến tranh đã cướp nốt Phan rồi… Người bạn của chị cũng ngạc nhiên không kém về sự gặp gỡ của hai chúng tôi, cô cứ để cho chúng tôi trò chuyện. Vì chị đã có hẹn tối nay, còn tôi cũng không muốn để vợ chồng Phương phải đợi cơm chiều. Cho chị số điện thoại, địa chỉ khách sạn, hẹn gặp lại, chúng tôi chia tay nhau. ... Quen chị Hạnh vào đầu năm 1972 khi đơn vị tên lửa của chúng tôi cơ động về trận địa dự bị ở thị trấn Quảng Yên. Quảng Yên là một thị trấn nhỏ, cách Hải Phòng khoảng 30-40 km, trên đường đi Bãi Cháy. Sau khi tốt nghiệp phổ thông năm 1971, tôi nhập ngũ và được tuyển vào bộ đội tên lửa cùng một số sinh viên. Đơn vị chúng tôi được lệnh gấp rút huấn luyện chuyển loại tên lửa mới. Sau gần một năm huấn luyện, đơn vị được điều động về Hải Phòng, bảo vệ thành phố Cảng, chuẩn bị đánh trả lại chiến dịch tập kích của không quân Mỹ cuối năm 1972. Trận địa nằm trên quả đồi nhỏ. Khi chúng tôi đưa khí tài về thì trận địa đã được chính quyền địa phương huy động nhân dân góp công sức làm xong. Chỉ còn việc triển khai đội hình và bắt đầu luyện tập các phương án tác chiến. Ngày ấy, tôi là một chàng trai 18, cao 1m70, trắng trẻo đẹp trai, ham mê nhiều môn thể thao, lại thêm gần một năm ăn uống tập luyện đầy đủ theo chế độ đặc biệt nên càng vạm vỡ và sung mãn. Bên trong cơ thể cường tráng ấy là một tâm hồn tươi trẻ, lãng mạn, đầy nhiệt huyết. Ngoài thời gian trực chiến, chúng tôi hay đá bóng và hoạt động văn nghệ. Tối tối vẫn có kẻ chong đèn làm thơ, đọc tiểu thuyết. Tôi là ủy viên Ban chấp hành đoàn. Chi đoàn đơn vị kết nghĩa với chi đoàn Trường cấp III nơi chị Hạnh dạy học. Chị là Bí thư Đoàn trường, lúc đó khoảng 24 hoặc 25, đã có chồng và có một con gái nhỏ. Chồng chị tên Sơn, là hoạ sỹ, công tác ở Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Ninh. Cơ quan mãi tận thị xã Hòn Gai, thỉnh thoảng vài tháng anh mới về thăm nhà. Cháu gái tên Hương, mới hơn một tuổi… Tôi cũng không mấy quan tâm đến đời tư của chị mà chỉ biết chị là người Hà Nội, là đồng hương. Do quan hệ công tác nên hai chị em thân và quý nhau. Đơn vị có tôi và Cường là dân Hà Nội; ngày nghỉ chúng tôi thường ra nhà chị. Căn nhà cũ kĩ nằm bên trong thị trấn, mái lợp ngói âm dương, phía dưới là bếp và công trình phụ, phía trên có một căn gác xép đủ kê được một cái giường, một cái bàn làm việc và cái tủ nhỏ, sàn nhà lát bằng gỗ. Trước nhà là khoảng vườn có cây dâu da to, bóng lá phủ kín sân. Chị nói nhà này là của một gia đình học sinh, không có ai ở. Cách đây hai năm sau ngày anh chị cưới, em học sinh nói với gia đình cho vợ chồng chị mượn. Hàng ngày đi dạy học, chị gửi con cho bà cụ hàng xóm. Thường ra chơi với chị vào sáng Chủ nhật, khi thì giúp chị chẻ củi, khi thì giúp chị đi mua gạo, xách nước hay sửa chữa lặt vặt trong nhà. Từ 16 tháng 4 năm ấy, chúng tôi bị cuốn vào những trận đánh. Suốt đêm 16, địch dùng nhiều loại máy bay, từ nhiều hướng đánh vào Hải Phòng, kể cả máy bay ném bom chiến lược B.52. Đơn vị tôi bắn không biết bao nhiêu quả đạn nhưng hiệu quả rất thấp do bọn Mỹ sử dụng loại nhiễu mới, làm giảm khả năng phát hiện và điều khiển tên lửa. Suốt một ngày một đêm mà đơn vị chỉ hạ được vài chiếc, trong khi đạn bắn lên với cơ số lớn. Đơn vị bị thiệt hại nhiều, một phần ba số trận địa bị đánh phá, có trận địa bị bom và tên lửa không đối đất san phẳng. Chưa từng thấy một chiến dịch tập kích nào của không quân Mỹ ác liệt và kéo dài đến thế. Về cuối năm, mật độ máy bay Mỹ hoạt động trên không phận Hải Phòng thưa dần. Chúng tôi được phổ biến địch chuẩn bị lực lượng tập trung đánh lớn vào Hà Nội, tạo “quả đấm chiến lược” buộc ta thay đổi một số điều khoản trong “Hội đàm bốn bên” tại Pa-ri. Đơn vị tôi vẫn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao. Khoảng tháng 8 năm đó, vì đã lâu không ra thăm chị Hạnh, hôm ấy là Chủ nhật, Cường phải trực chiến tới 9 giờ mới hết ca, tôi hẹn: “Đã lâu rồi không ra thăm chị Hạnh. Chẳng biết mấy tháng qua bom Mỹ ác liệt thế, gia đình có sao? Chị còn ở chỗ cũ hay đi sơ tán theo trường? Tao ra trước, khi nào hết trực thì mày ra! Cứ tạt qua chỗ nhà cũ xem sao!”. Qua đoạn đường nham nhở hố bom, một vài ngôi nhà bị bom làm sập và tốc mái. Thị trấn vắng vẻ quá. Hàng cây cơm nguội dọc hai bên đường đang mùa ra quả, những quả cơm nguội tròn nhỏ ly ty bằng đầu đũa chín đỏ, ẩn hiện trong vòm lá xanh. Làm tôi nhớ lại tuổi thơ hay ngậm cơm nguội thổi bắn nhau bằng ống tre, ống trúc… Tiêu đề: Một câu chuyện trong chiến tranh – Đào Duy Gửi bởi: trachvandung trong 02 Tháng Sáu, 2008, 10:05:01 am Thật may khi ra tới nơi thì chị Hạnh có nhà. Thấy tôi, chị mừng lắm: “Thấy máy bay Mỹ đánh vào trận địa bọn em, chị lo quá. Trường thì sơ tán ở xa, vừa lo dạy vừa lo đảm bảo an toàn cho học sinh, chị không biết làm cách nào để tới thăm bọn em. Không biết có ai việc gì không? Chị mới về lại thị trấn tuần trước, đang định vào trận địa thăm bọn em”. Tôi nhìn quanh: “Bé Hương đâu hả chị? Anh Sơn có hay về?”. “Cháu chị gửi về Thuỷ Nguyên với bà nội. Còn anh Sơn đã nhập ngũ, đang huấn luyện ở Mai Sưu, Hà Bắc…”.
Thời gian trôi đi. Cuối năm 1972, vì có thành tích trong chiến đấu, tôi được chọn về tập trung tại Trường văn hoá của Quân chủng, ôn luyện chuẩn bị thi đại học vào tháng 7 năm sau. Trước khi đi học, đơn vị cho nghỉ phép về thăm nhà trong dịp Tết. Mùa Đông năm ấy thật lạnh, mưa phùn cộng với gió mùa đông bắc làm cho da thịt thêm tê tái. Nhận giấy phép buổi chiều, sau khi chia tay anh em trong đơn vị, Cường đạp xe đưa tôi ra bến để đón xe về Hà Nội. Ra tới nơi, hỏi người trực bến thì được biết chỉ còn chuyến xe cuối ngày, khoảng 6 giờ tối mới chạy. Tôi nói với Cường: “Thôi, mày về đi! Cứ yên tâm, tao sẽ đem thư và tới nhà thăm phụ huynh!”. Nhìn bóng Cường gò lưng đạp xe ngược gió, khuất dần sau dãy phố trong buổi chiều cuối năm u ám tự nhiên tôi thấy lòng mình buồn tê tái… Đến 6 giờ rồi 7 giờ mà chẳng thấy chuyến xe nào. Bến xe vắng tanh. Phân vân xem có nên quay lại đơn vị rồi sáng mai đi sớm, tôi quyết định chờ thêm lúc nữa. Tới 9 giờ thì mọi hy vọng đều tiêu tan. Lòng bồn chồn phần vì đã lâu không được về thăm nhà, phần vì không hiểu trong đợt đánh phá của không quân Mỹ vào Hà Nội cuối tháng Chạp vừa rồi gia đình có làm sao? Việc được chọn đi học cộng với cấp trên cho nghỉ phép Tết làm tôi xốn xang, hồi hộp. Nôn nao khó tả. Cho tới lúc này mới cảm thấy trống trải, cô đơn. Đang lang thang không biết nên ở lại bến xe hay quay trở về đơn vị, thì bỗng nhớ tới chị Hạnh. Việc quan trọng thế mà không báo cho chị, ít ra thì cũng xem chị có nhắn hoặc gửi gì về nhà. Thật chẳng ra làm sao, thế mà cũng mang tiếng chị em đồng hương thân thiết?! Tôi cảm thấy xấu hổ về sự bàng quan của mình. Xốc lại ba lô, kéo cổ áo cao lên cho đỡ lạnh, tôi băng qua vài con phố nhỏ. Ánh đèn vàng hắt hiu. Đường phố thưa thớt bóng người, hai dãy phố cửa nhà đóng im ỉm, thỉnh thoảng một vài nhà có ánh điện le lói qua cánh cửa chớp khép kín. Từng đợt gió lạnh lùa những đám lá rụng trên đường nghe xào xạc. Chẳng mấy chốc tôi đã đứng trước nhà. Thấy trong nhà có ánh điện, tôi gõ cửa. Tiếng chị Hạnh hỏi vọng ra: “Ai đấy?”. “Em đây, em Phan đây. Mở cửa cho em với!”, tôi nói qua khe cửa, rồi nghe tiếng bước chân gấp gáp. Vừa mở cửa chị vừa ngạc nhiên: “Sao Phan ra chơi muộn thế, có việc gì không em? Vào đi em!”. Đỡ ba-lô cho tôi, chưa kịp nghe trả lời, chị đã hỏi: “Phan ăn cơm chưa, để chị nấu? Nhà có mì sợi, chị nấu mì với cà chua cho Phan ăn”. Trong khi chờ chị chuẩn bị đồ ăn, tôi nói rõ hoàn cảnh của mình. Chị nói: “Có gì đâu mà ngại. Cứ nghỉ lại đây, sáng mai ra bến xe cho tiện. Nhân thể chị gửi lá thư chúc Tết và ít tôm khô về cho bố mẹ chị”. Ăn xong, chờ chị viết thư và gói quà, tôi cho tất cả vào ba-lô gọn gàng theo thói quen người lính. Định bụng sáng mai cứ thế “hành quân”, chẳng còn sợ quên gì. Trên giường, bé Hương đã ngủ từ chập tối. Sau khi trải chiếu xuống sàn gỗ và lục tìm một hồi kiếm cho tôi chiếc chăn chiên, chị nói có phần ái ngại: “Thôi, Phan nằm tạm thế này nhé!”. Tôi nói: “Chị đừng lo, em mặc cả quần áo cộng với chiếc chăn này cũng ấm chán. Với lại bây giờ cũng đã hơn 10 giờ rồi, còn mấy tiếng nữa là sáng, chị cứ yên tâm!”. Chị giục tôi đi ngủ. Lên giường với bé Hương, qua ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn ngủ, chị còn nói chuyện mãi. Nghe chị kể mới biết anh Sơn đã vào chiến trường. “Thế là anh Sơn đã đi xa rồi, Phan ơi”, chị nghẹn ngào rồi im lặng. Trong đêm nghe rõ tiếng chị thở dài và cả tiếng nấc. Từ lúc đó trở đi tôi không sao ngủ được, phần thì háo hức sắp trở về nhà, phần vì lạnh, phần nghĩ về hoàn cảnh của chị. Thương chị vô cùng. Ngoài trời từng đợt gió lùa qua tán lá của cây dâu da, nghe tê tái. Đâu đó tiếng chim đêm khắc khoải. Càng về khuya, trời càng lạnh, tôi trằn trọc không sao ngủ được. Khoảng 1-2 giờ đêm đang thiu thiu, chợt nghe tiếng chị khe khẽ: “Phan không ngủ được à? Có lạnh lắm không? Hay… Phan lên giường ngủ với cháu cho đỡ lạnh?”. Vốn trong sáng và vô tư cộng với trời quá lạnh, tôi nghe theo chị. Trên giường, chị nằm trong, bé Hương nằm giữa, còn tôi nằm ngoài. Đang lạnh vớ được chăn bông ấm cộng với mùi thơm là lạ, đặt mình xuống chỉ mấy phút tôi ngủ như chết, chẳng còn biết trời đất là gì. … Trong giấc ngủ, tôi mơ màng thấy đơn vị bị máy bay Mỹ tấn công. Bom và tên lửa bắn dữ dội vào trận địa. Cả trận địa ngập trong lửa và máu. Người tôi nóng bỏng. Tôi như bị thương. Cơ thể phía dưới bỏng rát. Hình như cả máu nữa. Thằng Cường ôm chặt lấy tôi, nó luồn tay lần sờ khắp cơ thể như muốn xem còn bị thương chỗ nào. Và, nó cởi hết quần áo tôi để cho cứu thương băng bó… Giật mình tỉnh giấc trong cái cảm giác nửa tỉnh nửa mơ, mồ hôi vã ra. Rõ ràng trên cơ thể tôi là một cơ thể khác mềm mại và nóng bỏng đang ghì chặt. “Trời ơi, chị Hạnh!”. Chị vội đưa tay lên bịt lấy miệng tôi. (Tiếng kêu ấy trong tiềm thức hay vì ngạc nhiên, bối rối mà tôi kêu lên?). Chị hôn lên môi, lên má tôi, chị hôn khắp cơ thể tôi. Bàn tay chị mềm mại lướt trên da thịt tôi. Một cảm giác lâng lâng, bồng bềnh, lần đầu tiên trong đời tôi biết. Lúc này lý trí hoàn toàn tê liệt, tôi chỉ còn hành động theo bản năng, làm theo bàn tay hướng dẫn, chỉ bảo của chị. Mò mẫm, ngập ngừng như một cậu học trò ngoan ngoãn. Dần dần chủ động hơn, tôi phản ứng lại mãnh liệt tình cảm của chị dành cho mình. Tiếng chị rên khe khẽ. Chị cố kìm nén cảm xúc. Sợ bé Hương tỉnh giấc mà tự lúc nào con bé đã được chuyển vào phía bên trong. Dù với cái tuổi 18 đầy sung mãn, nhưng cũng bất lực trước cơn bão lòng dữ dội của người phụ nữ một con lại xa chồng trong một đêm đông đầy tâm trạng. Đêm ấy không biết bao nhiêu lần tôi thức giấc. Mỗi khi tỉnh dậy thì mọi việc gần như đã an bài. Giống như trận địa sau khi giao chiến, tôi chỉ còn như người lính hậu cần đi phía sau làm nhiệm vụ dọn dẹp chiến trường. Chị chủ động tất cả. Rồi hai chúng tôi thiếp đi... Mở mắt ra thì trời đã mờ sáng. Gỡ vòng tay chị đang ôm lấy mình, lồm cồm bò dậy, mặc vội bộ quần áo. Lúc này cảm giác tội lỗi dâng tràn. Qua ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ khuôn mặt thân quen ẩn dưới mớ tóc đen dày xoã trên gối, trông chị thật thanh thản. Tôi ôm vội chiếc ba-lô, nhẹ nhàng xuống thang gác. Lách mình qua cánh cổng, sau khi thò tay chốt lại khoá bên trong, tôi đi như chạy ra bến xe. May mắn vừa kịp chuyến xe sớm. Mấy ngày nghỉ phép chóng vánh trôi qua. Trở lại đơn vị, giống như con chim non sợ cành cong, tôi trốn chạy không dám gặp lại chị, phải nhờ Cường đem thư và quà gia đình ra cho chị. Trước khi đi học, tôi cũng không dám ra nhà để từ biệt. Sau khi tôi đi, đơn vị cũng được lệnh hành quân di chuyển... Từ cái đêm đông giá rét năm 1972 ấy cho tới hôm nay gặp lại chị vừa đúng 33 năm. Và chuyện ngày xưa tôi cũng đã quên, không còn nhớ nữa… Tối nay, chị hẹn tới thăm. Đang chuẩn bị đồ uống để mời khách thì nghe tiếng chuông điện thoại. Đầu dây bên kia có tiếng cô bé tiếp tân: “Chú có khách. Cô ấy tên là Hạnh”. “ Đúng rồi! Cô ấy là khách của chú. Cháu mời cô lên!”. Có tiếng gõ cửa. Chẳng kịp để tôi ra mở, chị đã ào vào phòng như một cơn bão. Chị nhào tới ôm lấy tôi. Chị gục mặt trên vai tôi mà khóc. Đôi vai chị rung lên trong tiếng nấc. Tôi vô cùng bối rối. Sự việc xảy ra quá nhanh làm tôi chẳng kịp phản ứng. Phải mất đến mấy phút để cho những xúc động vơi đi, dìu chị ngồi xuống ghế, tôi lấy khăn lau nước mắt cho chị. Mãi sau chị mới khẽ nói: “Đêm nay, chị ở lại với Phan được không?”. “Chị ở đây cả tuần cũng được. Phan muốn nghe kể mấy chục năm qua chị đã sống ra sao?”. Đêm ấy, chúng tôi không ngủ. Chị kể về quãng thời gian sóng gió, khó khăn và đầy biến cố của đời mình kể từ ngày anh Sơn vào chiến trường. “…Và sau cái đêm “giông bão” mùa đông năm ấy, rồi sau hiệp định Pa-ri về Việt Nam, miền Bắc trở lại sống trong hoà bình. Trường từ nơi sơ tán trở về thị trấn, chị tiếp tục dạy học. Cuộc sống ngày càng khó khăn. Cuối năm 1973, chị sinh cháu trai, đinh ninh đó là giọt máu của anh Sơn để lại. Ngoài dạy học, chị làm thêm đủ nghề để sinh sống, hết trồng rau, lại nuôi heo. Chị học thêm cả nghề may để may gia công cho hợp tác xã. Cuộc sống cứ thế trôi qua cho tới năm 1975, như bao người phụ nữ khác có chồng ra mặt trận chỉ mong ngày đón người chiến thắng trở về. Chờ mãi, chờ mãi cho tới đầu năm sau thì nhận được tin anh đã hy sinh. Chị đã khóc, khóc không còn nước mắt. Tinh thần suy sụp…”. Chị nói thời gian ấy chẳng muốn sống nữa. Cũng may học sinh và anh chị em giáo viên trong trường động viên, an ủi. Nhất là khi nghĩ tới hai đứa con thơ còn bé dại mà chị đã vượt qua để sống và nuôi con. Tiêu đề: Một câu chuyện trong chiến tranh – Đào Duy Gửi bởi: trachvandung trong 02 Tháng Sáu, 2008, 10:05:51 am Cuối năm 1979, “sự kiện Nạn kiều” rộ lên khắp trong Nam ngoài Bắc. Nhất là ở Hải Phòng và Quảng Ninh có làn sóng người Hoa vượt biên. Trong trường có đồng nghiệp là người Hoa, thấy chị khổ quá, sau khi phân tích đã khuyên chị nên đi (nếu đi họ sẽ giúp vì họ cũng tổ chức ra đi cho cả gia đình).
Sau bao đêm suy nghĩ, cuối cùng chị quyết định đưa hai con xuống tàu. Một năm sống tại trại tỵ nạn Hồng Kông, chị được tổ chức Di dân quốc tế đưa tới Canada. Ở đấy gần ba chục năm, cuộc sống bây giờ đã ổn định. Hai cháu đã lớn. Hương đã lấy chồng và có công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán. Cháu trai là chuyên viên của một công ty máy tính đa quốc gia, còn độc thân, sống với mẹ. Chị đã nghỉ việc, hưởng trợ cấp, hàng năm thường về Việt Nam thăm họ hàng. Nhắc lại chuyện cũ, chị vô cùng ân hận đã để xảy ra chuyện ngày xưa giữa hai chúng tôi. Chị cũng không hiểu nổi vì sao lại có phút giây “điên loạn” như thế. Chị nói sau ngày ấy chị đã tìm tôi để giải thích và mong tôi tha thứ mà không làm sao tìm được. “Còn bây giờ chắc chẳng cần phải giải thích nữa, phải không Phan? Vì chúng ta đều “đã lớn”, sự từng trải đã giúp chúng ta hiểu. Con người trong một hoàn cảnh cụ thể nào đấy có những phút giây yếu đuối, chúng ta có thể tha thứ cho nhau”. Giọng chị buồn buồn: - Còn chuyện của chị và Phan ngày xưa, nó có những éo le riêng mà chị đã chôn chặt trong lòng cho tới tận hôm nay… Càng lớn Dũng, con trai chị, càng giống Phan. Và chị lờ mờ hiểu rằng Dũng không phải là giọt máu của anh Sơn. Khi còn nhỏ và cho tới tận bây giờ, hai đứa con chị luôn tin rằng bố của chúng là một người anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc. Hai đứa rất yêu thương nhau và kính trọng chị. Chúng hiểu chị đã hy sinh tất cả cho chúng… Có những sự thật khi nói ra, trái tim ta được giải thoát, trở nên nhẹ nhõm và thanh thản. Ngược lại có sự thật thời gian qua đi, ta không dám đụng chạm tới, cứ để yên như vốn dĩ từ trước đến nay và… phải thừa nhận nó. Chị đã chọn cho mình cả hai giải pháp. Giải pháp thứ hai chị dành cho hai đứa con. Còn giải pháp thứ nhất chị dành cho Phan. Dù cho Dũng không phải là giọt máu của anh Sơn, một người anh hùng, thì nó cũng là giọt máu của một người lính đã dâng hiến và hy sinh một phần tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc mà chị hết sức yêu quý. Chị luôn cầu mong nếu như Phan còn sống, chị sẽ tìm gặp được Phan. Và điều mong ước ấy đã trở thành sự thực, một sự diệu kỳ như trong mơ. Cho đến bây giờ thì chị chẳng còn ân hận gì nữa khi gặp lại Phan và nói cho Phan biết sự thật về câu chuyện của hơn ba chục năm về trước. Tiêu đề: BỨC TRANH Gửi bởi: trachvandung trong 02 Tháng Sáu, 2008, 10:07:58 am BỨC TRANH – NGUYỄN MINH CHÂU Nguồn : http://elib.quancoconline.com Tôi là một họa sĩ. Tôi không phải là một người viết văn. Tôi phải tự giới thiệu như vậy ngay từ đầu, không hề có ý muốn mong chờ hay cầu khẩn nơi các bạn đọc một thái độ rộng lượng. Ngay từ đầu, tôi phải nói vậy để tự dặn mình, tự ra lệnh cho mình, tôi viết chuyện này ra đây là viết cho tôi, cho một bức tranh tôi vừa vẽ xong. Thứ nữa, tôi viết cho một người thứ hai. Viết cho tôi hoặc cho một người thứ hai, một người thợ cắt tóc, thì những điều tôi sắp viết ra đây cũng chỉ là những lời tự thú. Không biết đã bao nhiêu tháng nay, từ cái hôm vô tình tôi đến cắt tóc ở cái hiệu đó và phát hiện ra anh thợ cắt tóc đó, tháng nào tôi cũng tự bắt buộc mình đạp xe hai ba cây số đến cắt tóc ở đó. Cũng đã không biết bao nhiêu tháng nay, tôi cặm cụi để hết tâm sức vẽ một bức tranh sơn dầu. Sơn dầu vốn là một chất liệu không phải thuộc sở trường của tôi, nhưng với cái nội dung đó, tôi không muốn dùng thuốc nước hay sơn mài. Thuốc nước, cái nghệ thuật chấm phá của thần bút cũng như không khí lấp lánh hư ảo của sơn mài không thỏa mãn tôi, - tâm trạng một họa sĩ muốn dùng ngọn bút vẽ để tự tìm hiểu mình, tự phán xét mình. Sáng nay tôi đã vẽ xong, và lúc này, tôi đang ngồi trước bức tranh tự họa của mình, tự đối diện với mình. Các bạn hãy thử tưởng tượng khuôn mặt của một người khách đang ngồi như bị đóng đinh vào chiếc ghế mộc của một cửa hiệu cắt tóc, với một tấm khăn choàng trắng buộc trùm kín ngực. Một cái mặt người rất lớn chiếm gần trọn bức tranh. Những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa cái đầu tóc tốt rợp như khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra. Khuôn mặt của người khách: một cặp mắt mở to nhìn trừng trừng vào luồng ánh sáng, một cái nhìn khắc khoải, bồn chồn, kinh ngạc và đầy nghiêm khắc. Phần bên dưới của khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: cái cằm hai bên mép bị phủ kín bởi bọt xà phòng. Không thấy rõ cái miệng, chỉ trông thấy một vệt lờ mờ mầu đen nổi bồng bềnh trên đám bọt xà phòng phồng to. Cái khuôn mặt đó thoạt nhìn thật xấu xí và lạ lùng, nhưng càng nhìn lâu càng giống tôi. Đó là khuôn mặt của mình, khuôn mặt bên trong của chính mình, tôi tự nhủ thầm. Đó là khuôn mặt của tôi lúc ngồi trên chiếc ghế mộc, đầu kê trên thành chiếc ghế được lót bằng một khúc gỗ lõm có lót da và đang ngước nhìn lên, đối mặt với người thợ cắt tóc. Để các bạn dễ theo dõi, tôi phải kể ngay rằng cách đây khoảng tám năm, tôi đang công tác ở một chiến trường cực kỳ xa xôi giáp biên giới miền Tây Nam Bộ. Khi nhận được lệnh trở ra miền bắc để cùng các họa sĩ ngoài Hà Nội chuẩn bị một cái triển lãm ở nước ngoài, thì tất cả tranh và ký họa của tôi vẽ trong mấy năm đã chất lên đầy một cái sạp lán giữa rừng căn cứ. Tôi lọc lấy chỉ độ một phần ba, vậy mà trên đường tôi đi ra, các đồng chí phụ trách các trạm giao liên trên từng chặng từng chặng một, phải thay phiên nhau cử một chiến sĩ của trạm đi theo "thồ" tranh cho tôi. Hôm đó, đoàn chúng tôi đi qua một vùng trên đất bạn nổi tiếng nhiều biệt kích, lại rất đói, cũng là cái "rốn" của bệnh sốt rét. Chúng tôi được nghỉ lại một ngày để dưỡng sức, lán của nhóm khách đi đường chúng tôi dựng ngay trên đầu một cái lán khác của anh em chiến sĩ trong trạm. Buổi trưa, tôi đang ngồi vẩn vơ ghi mấy cái dáng hòn đá, thân cây trước lán nghỉ của mình, thì trông thấy một người chiến sĩ nước da xam xám và cặp môi thâm sì đang leo mấy bậc dốc từ lán dưới đi lên. Người chiến sĩ đi thẳng đến trước mặt tôi ngồi xuống xem tôi vẽ. Rồi sau mấy câu chuyện làm quen, người chiến sĩ tha thiết thỉnh cầu tôi vẽ cho anh một bức chân dung. Tôi bỗng thấy tự ái. Tôi là một họa sĩ, chứ đâu phải một anh thợ vẽ truyền thần (!) Tôi từ chối khéo bằng cái mặt lạnh lùng. Người chiến sĩ tỏ vẻ phật ý, anh nhìn vào cái mặt lạnh lùng của tôi một thoáng rồi lẳng lặng quay lưng lại tôi, chậm rãi đi xuống dưới những cái bậc dốc. Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên đường. Thật một điều không ngờ, chẳng biết ai xui khiến thế nào mà chính người chiến sĩ trưa hôm qua lại "thồ" tranh cho tôi, chính lại là anh chứ không phải một người nào khác. Thật là phiền cho tôi quá! Vừa ra khỏi trạm, người dẫn đường đã báo cho khách biết trên dọc đường phải vượt thật nhanh khi leo một con dốc, sau đó là một con suối rất trống trải, đã có một vài đoàn bị bọn biệt kích bắn lén hoặc máy bay thám thính phát hiện. Cái nghề đi đường rừng nó là như vậy, nói một chữ chung chung là đèo, dốc, suối... nhưng ở thực địa mặt mũi chúng chẳng chỗ nào giống chỗ nào cả. Đi đến quá trưa, chúng tôi gập lưng lại, lội qua một quả núi đất không dốc lắm, mọc đầy cỏ tranh đang trổ bông rất đẹp và lác đác có những hòn đá tai mèo. Những vỉa đá tai mèo mọc lởm chởm giữa cỏ tranh mỗi lúc một dày, và khi quả núi đổ sang sườn dốc bên kia thì chỉ có rặt đá tai mèo đen kịt, chúng tôi vừa thở dốc ra cả bằng mũi, bằng tai, năm ngón tay bịt chặt lấy chỏm đầu từng hòn đá một mà lần xuống. ác thay cái bãi đá tai mèo nằm giữa khúc suối dưới chân núi. Có lẽ nó rộng đến năm trăm thước. Con suối chảy đến đấy thì phình rộng ra chảy lênh láng và réo lên ầm ầm trên một cái nền đá lởm chởm. Tuy đã được nghỉ một ngày nhưng sau khi leo qua được quả núi thì tôi đã thấm mệt. Tôi dò dẫm đi giữa khúc suối một cách vất vả quá, cứ dần dần bị tụt lại sau. Rồi chân tôi tự nhiên bị sỉa xuống một hẻm đá ngầm dưới nước. Tôi giơ hai tay lên trời chới với... Người chiến sĩ "thồ" tranh cho tôi đang đi phía trước, cách một quãng khá xa, vội vã quay lộn lại. Nếu anh không đến kịp có lẽ là tôi bị dòng suối cuốn đi. Anh cởi chiếc ba lô sau lưng cho tôi, khoác vào trước ngực mình. Anh đỡ lấy tôi, giúp tôi rút cái chân lên. Rồi dìu tôi đi. Tôi thở dốc. Mồ hôi vã ra như tắm. Hai mắt đổ đom đóm. "Đồng chí cố gắng lên - Người chiến sĩ vừa đi vừa động viên tôi - Tôi dìu đồng chí đi nhanh qua bên kia suối sẽ nghỉ. Nếu thằng L.19 đến, chúng mình cứ ngồi xuống. Nó chẳng thấy gì cả đâu!". Tôi không đủ sức theo kịp đoàn được nữa. Qua bên kia suối, người chiến sĩ lấy dầu con hổ bóp chân cho tôi, lúc ngồi nghỉ. Rồi bắt đầu từ đó, chỉ có hai người, anh và tôi, đi trong rừng. Tôi chỉ có thể đi người không. Người chiến sĩ vừa phải "thồ" đống tranh của tôi sau lưng (to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường) lại vừa phải mang thêm chiếc ba lô riêng của tôi trước ngực. Có lẽ tất cả đến sáu bảy chục cân. Mà người chiến sĩ có khỏe mạnh gì cho cam! Tôi không nói thì chắc các bạn cũng biết, ngay từ lúc người chiến sĩ đến gặp tôi để nhận mang cái bó tranh, tôi đã khó xử đến thế nào? Thế mà bây giờ, trên dọc đường, không những riêng cái đống tài sản của tôi mà cả chính tôi cũng đã trở thành một gánh nặng cho anh. Xưa nay tôi vẫn cho mình là một kẻ cũng biết tự trọng, và cũng biết suy nghĩ. Giá người chiến sĩ tỏ thái độ lạnh nhạt hoặc mặc xác tôi nằm lại một mình, tập tễnh đi một mình giữa rừng, thì tôi cũng thấy là cái lẽ phải. Xưa nay tôi vẫn quan niệm rằng: sống ở đời, cho thế nào thì nhận thế ấy. Cái cách cư xử của người chiến sĩ đối với tôi chỉ có thể giải thích bằng lòng độ lượng. Độ lượng? Thế nhưng tôi nhiều tuổi hơn? Tôi lại là một họa sĩ có tên tuổi? Xưa nay tôi chỉ mới thấy lòng độ lượng của kẻ trên đối với người dưới. Bây giờ đây thì chính tôi, một kẻ bề trên, đang được một người dưới tỏ ra độ lượng với mình. Tối ngày hôm đó, hai chúng tôi phải ngủ lại nửa đêm giữa rừng. Người chiến sĩ mắc võng cho tôi nằm rồi ôm súng ngồi gác bên cạnh. Nhưng làm sao mà ngủ được? Tôi đến ngồi bên anh, trên một phiến đá. Rừng đêm tối mò và đầy hăm dọa. "Tôi xin lỗi đồng chí về cái việc hôm qua... - tôi nói khẽ bên tai anh - Đến mai, thế nào tôi cũng phải vẽ đồng chí. Một bức, thật đẹp!". "Giá có một chỗ nào có thể chụp ảnh thì tôi không dám phiền đồng chí nhiều vậy đâu! - Anh nói chậm rãi - ác một cái, ở trong rừng, chẳng có hiệu ảnh". Ngừng một hồi rất lâu, anh lại mới tiếp: "Vừa rồi tôi gặp cậu tân binh ở ngoài mới bổ sung vào. Mới biết, không hiểu sao gia đình tôi ngoài bắc lại nghe tin tôi hy sinh. Thư từ ở đây gửi về ngoài ấy mất một năm. Mấy năm nay tôi định gửi về nhà một cái ảnh theo cái điều ao ước của mẹ tôi từ lâu, mà không chụp ở đâu được!". Tôi ngắt lời anh: "Vậy thì tôi sẽ vẽ đồng chí một bức thật giống. Tôi sẽ trực tiếp mang theo ra. Đồng chí hãy viết một lá thư nữa và ghi địa chỉ gia đình cho tôi. Tôi sẽ trực tiếp mang thư và "ảnh" đồng chí tới tận nhà...". Tôi sốt sắng bàn với anh kiếm củi nhen lửa để tôi vẽ ngay, nhưng anh ngăn lại. "Đừng đốt lửa!" - Anh nói. Tiêu đề: BỨC TRANH Gửi bởi: trachvandung trong 02 Tháng Sáu, 2008, 10:08:43 am Sáng sớm hôm sau, anh đưa tôi đến trạm mới.
Tôi hoàn thành bức chân dung người chiến sĩ "thồ" tranh chỉ trong khoảng nửa tiếng đồng hồ. Tôi không thể có hoàn cảnh vẽ chậm chạp, rềnh ràng được. Bởi vì, ngay sau đó tôi lại phải theo đoàn lên đường đi chặng tiếp theo, và người chiến sĩ cũng đang có nhiệm vụ mang đồ đạc cho một đồng chí cán bộ cao cấp trong một đoàn khách đi vào trạm của anh. Cả hai chúng tôi đều vội, đến nỗi anh cũng chẳng kịp viết thư mà chỉ kịp ghi cho tôi cái địa chỉ. Rồi hai chúng tôi chia tay nhau. Thành công của nghệ thuật có đôi lúc là một cái gì rất cầu ơ, điều này có lẽ chỉ có anh em chúng tôi trong nghề với nhau mới thấu hiểu hết được. Chắc các bạn sẽ lấy làm lạ - cũng có thể chẳng lấy làm lạ - nếu được biết rằng cái "bức ảnh truyền thần" người chiến sĩ mà tôi đã vẽ vội vẽ vàng trong cái buổi mờ sáng ở trong rừng đó, về sau, hoàn toàn ngoài cả dự định của tôi, đã nghiễm nhiên trở thành một tác phẩm hội họa nổi tiếng của tôi, không những ở trong nước, mà cả ở nước ngoài nữa. Thật thế, chính bản thân tôi cũng không thể nào lường hết được quy luật đào thải của thời gian. Một điều thật đáng buồn là tất cả số tranh và ký họa mà tôi đã tốn biết bao công phu mang từ trong chiến trường ra chuyến đó, chẳng có một bức nào còn lại được, mặc dầu một số lớn đã được bày triển lãm, đã được in rải rác trên báo. Trong khi đó, "bức ảnh truyền thần của người thợ vẽ" thì lại còn lại mãi mãi, như một cái "đinh" của sự nghiệp sáng tác của tôi, trong những năm chiến tranh. Đáng lý ra tôi không bao giờ đến cắt tóc ở cái hiệu ấy. Nhà tôi cũng như cơ quan tôi làm việc đều ở phía cuối thành phố. Vậy mà cái hiệu cắt tóc chẳng có gì đáng phải chú ý đó ở tận đầu phía tây bắc thành phố, lại nằm trên một phố nhỏ khuất nẻo có lẽ là lần đầu tiên tôi đặt chân đến. Sáng hôm đó, một buổi sáng mùa hè, tôi có công việc đến một cơ quan, nhưng người tôi định tìm gặp chẳng may lại đi vắng. Tôi dắt xe ra, lượn vòng vèo quanh mấy khu phố cổ phía bắc để ngắm nhìn những mái ngói, những mảng tường. Tôi lang thang với con mắt nghề nghiệp khoảng vài tiếng đồng hồ. Buổi sáng đó, nếu trong túi tôi có một mẩu bút chì và cuốn sổ ký họa thì sau đó không bao giờ tôi nảy ra cái ý định đi cắt tóc. Tôi bước vào một cửa hiệu có hai ghế nhưng cả hai đều đã có khách. Tôi liền quay ra, dắt xe men theo một bức tường rất dài. Cuối bức tường, có một cái quán bán nước mở ngay bên một cái ngõ, một đám đông thanh niên đang ngồi nhẩn nha uống nước chè chén và hút thuốc. Bên cạnh quán nước lại thấy một cái hiệu cắt tóc khác. Chẳng có gì đáng có thể được gọi là "cửa hiệu" cả: kề sát bên mái là quán nước, một mảnh vải ni-lông tăng bộ đội che lấy một khoảng đất bằng bốn chiếc chiếu nằm hơi thụt sâu xuống vương vãi đầy những lọn tóc. Một chiếc ghế mộc cũ kỹ, có lẽ do người thợ cắt tóc tự đóng lấy, trên thành ghế vắt một chiếc khăn choàng trắng khá sạch sẽ. Quán cắt tóc vắng thợ. Chỉ thấy một bà cụ già đang cầm chổi quét những lọn tóc vun vào một góc. Tôi dựng xe đạp vào bức tường phía ngoài vỉa hè, bước vào. Cái quán cắt tóc thoạt trông vẻ ngoài chẳng có gì hấp dẫn nhưng điều khiến tôi có cảm tình ngay là trên bức tường, phía trên tấm gương soi, có dán bức tranh nổi tiếng của tôi. Đó chính là bức ký họa chân dung người chiến sĩ đã "thồ" tranh cho tôi tám năm về trước. Lúc bà cụ già ngẩng lên, tôi mới biết đó là một người lòa. Nghe tiếng chân của tôi bước vào, bà cụ cầm chiếc chổi ngẩng lên, từ từ hướng cặp mắt trắng đục về phía tôi. Tôi nhận thấy một nét rạng rỡ, hoan hỉ đang từ từ lan ra trên khuôn mặt bà: "Mời ông ngồi chơi một lát. Cháu nó uống chén nước xong là bắt tay làm cho ông ngay! Thưa, ông chỉ đợi cho mấy phút thôi ạ!". Tôi đáp "vâng" và đến ngồi vào chiếc ghế. Bà cụ lại tiếp tục quét, nhưng có lẽ vẫn còn áy náy sợ khách bỏ đi mất nên lại ngẩng lên: "Có báo mới cháu nó để trên bàn. Ông coi đi!". Tôi giơ tay cầm tờ báo trên hàng chai lọ và giở ngay trang tư có đăng nhiều tin tức thế giới. Tờ báo hàng ngày có một số tin mới. Tôi không phải loại người say mê môn bóng đá đến mức quá khích như một số người khác, nhưng cái bài tường thuật trận đấu bóng trên sân cỏ ở một thủ đô bên châu Mỹ La-tinh khéo quá, đã hấp dẫn tôi đến mức người thợ cắt tóc trở về lúc nào tôi không biết, tôi cứ để mặc cho người thợ cắt tóc quấn vào ngực chiếc khăn choàng, rồi dùng lược chải qua mái tóc, rồi bấm thử tông-đơ tanh tách bên tai, rồi hình như anh ta kêu tôi để tóc tốt quá lâu không chịu cắt. Cho đến lúc anh ta dùng hai bàn tay xoay cái mặt tôi cho thẳng và hất cái mặt tôi ngẩng cao lên hơn một chút, thì tôi mới chịu buông tờ báo. - Bác cắt như cũ chứ? - Vâng. Trước mặt tôi, kề ngay sát, lúc bấy giờ là một anh thanh niên trạc ngoài ba mươi. Anh ta có một khuôn mặt mà hình như tôi đã từng gặp, nước da mai mái của người đã từng ở rừng. Một chiếc sơ mi bằng vải phin trắng ngả mầu cháo lòng và chiếc quần bộ đội cũ vá một vài miếng đang bốc lên một thứ mùi sin sỉn, mùi quần áo của những người thợ cắt tóc. Tôi có thói quen không sửa được, thích trò chuyện: - Anh làm ở tận trong cái ngõ này chắc ít khách? - Cũng đủ lắm. Phần nhiều khách quen. Nhưng hồi này cái nghề chúng tôi làm ăn cũng khó khăn. Tôi cãi: - Khó khăn là những thứ nghề khác, những công việc khác, ví như những người mua gian bán lận, chứ như cái nghề của anh, thời nào mà sợi tóc chẳng mọc dài ra, người ta bao giờ mà chẳng phải cắt tóc? - Nhưng bác tính, khi người ta làm ăn dư dả, có đồng tiền, thì mới năng trang điểm, tô vẽ cái răng, cái tóc chứ? - Vậy thì tôi chịu anh. Anh làm nghề này lâu chưa? - Đã gần mười lăm năm. Từ lúc tôi còn đi học và chưa đi bộ đội kia. Tôi có tính hay lãng quên những việc không đáng quên một chút nào, nhưng ông trời vốn dĩ phú bẩm cho tôi một trí nhớ đôi lúc chớp lóe lên, có thể nhìn thấy rõ một ngày trong đời của tôi hồi sáu bảy buổi, như nhìn vào một bức ảnh cũ. Thế là tôi đã nhận ra được người thanh niên làm nghề cắt tóc đó. Đúng, chính là người chiến sĩ đã "thồ" tranh cho tôi, tám năm về trước. Ôi chao, lúc ấy, tôi chỉ muốn có một cái mặt nạ, hoặc bé xíu lại như một hạt đậu, trên cái ghế cắt tóc. Tôi biết nói thế nào để các bạn có thể cảm thụ được cái cảm giác phạm tội của tôi lúc ấy nhỉ? Có bao giờ bạn dọn nhà không? Khi người ta phải thay đổi chỗ ở, có những thứ đồ đạc tưởng mất biến từ lâu, lục lọi, tìm kiếm khắp vẫn không thấy, thì tự nhiên lòi mặt ra tận trong góc tủ, dưới gầm giường. Có những thứ đồ vật vô nghĩa. Có những thứ nhắc tới một chút kỷ niệm đẹp đẽ. Có những thứ gợi lên một câu chuyện chẳng hay ho gì, tưởng đã quên hẳn cái chuyện đó thì bây giờ cái đồ vật lại từ xó xỉnh, bụi bặm, từ trong xó tối từ từ bò ra, cái vật vô tri lại thủ thỉ nói chuyện với anh, khiển trách anh, lên án anh. Tại sao ngày ấy tôi đã không đưa "tấm ảnh" đến cho gia đình anh? Tại sao tôi không giữ lời hứa? Mà tôi vẫn còn nhớ, tôi đã hứa với anh và cả với tôi nữa, đinh ninh và hùng hồn lắm, và cũng thực tâm lắm chứ? Trong cái đêm ấy, khi tôi ngồi bên anh trên phiến đá giữa khu rừng bên nước bạn, giá có phải chạy qua làn đạn của địch, hay băng qua ngọn lửa, thì tôi cũng quyết định sẽ vượt qua, để đưa tấm hình về trao tận tay những người trong gia đình anh, để đền đáp chút ít tấm lòng độ lượng quá lớn lao nhưng lặng lẽ mà anh đã đối xử với tôi. Lúc ấy, mắt tôi đã rưng rưng khi nghe kể chuyện ở ngoài này, bà mẹ anh đang nhầm tưởng anh đã hy sinh. Và buổi sáng hôm sau, lúc chia tay nhau, tôi lại còn hứa đi hứa lại, để cho anh trở về thật yên tâm và tôi lại còn nhớ, tôi đã nắm tay nhiều lần không nỡ rời, tôi ôm anh, rồi thật là giả dối chưa, tôi lại còn hôn anh nữa, trước khi lên đường đi chặng tiếp. Từ bữa đó, tôi đi bộ ròng rã gần ba tháng thì ra đến Hà Nội. Ngày đó, khi đặt chân về đến Hà Nội, tôi vẫn còn mang ý định đến thăm nhà anh ngay, và mang theo bức vẽ đến. Nhưng chỉ sau một tuần lễ, tôi đã thiết lập được với cái xã hội hậu phương chung quanh những mối quan hệ mới, cái không khí chiến trường tự nhiên nhạt nhòa đi, cái mối nhiệt tâm của lúc còn ở trong đó vơi bớt đi - không, đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh! Tôi phải nhận rằng, chỉ sau một tuần lễ, được bè bạn sành sỏi nhất trong nghề đánh giá bức ký họa thật cao, tôi liền lờ quên cái người mẹ đang ôm ấp mối đau khổ vì ngộ nhận con trai đã hy sinh đang ở ngay trong thành phố, tôi liền đóng gói bức ký họa chung với những bức tranh đem đi dự triển lãm Việt Nam ở nước ngoài. ỷ vào ngày giờ đi quá cấp bách, tôi cũng không kịp nghĩ đến việc tới thăm bà mẹ anh nữa! Có những lúc con người ta không còn chỗ trú nấp. Đó là cái lúc ngồi ngửa mặt lên chiếc ghế, tôi nhận ra anh một cách chắc chắn, biết không thể nào nhầm được nữa! Tôi chỉ còn mong anh không nhận ra tôi. Không, nhất định anh phải nhận ra chứ, khuôn mặt tôi gần mười năm nay chụp ảnh thấy ít thay đổi lắm. Mà cái mặt mình chỉ cách mặt anh có mấy tấc. Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi đang được bàn tay anh dằn ngửa ra. Da mặt tôi cứ dày lên. Tôi nhắm mắt, rồi mở mắt. Mỗi lúc mở mắt, tôi không thể nhìn đi đâu khác cặp mắt anh. Trời ơi, có lẽ tôi ngồi trên ghế cắt tóc ở cái quán này đã một nửa thế kỷ? Chốc nữa, sắp tới, anh sẽ làm gì tôi đây? - Đồ dối trá, mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã lòa cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm hình tao đã được trưng trên các tạp chí hội họa của khắp các nước. Người ta đã trân trọng ghi tên mày bên dưới, bên cạnh mấy chữ: "Chân dung chiến sĩ giải phóng". Thật là danh tiếng quá! - Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc nghệ sĩ là phục vụ cả một số đông người, chứ không phải chỉ phục vụ một người! Anh chỉ là một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để cho tôi quên đi, để phục vụ cho cái đích lớn lao hơn. Anh đã thấy đấy, bức "chân dung chiến sĩ giải phóng" đã đóng góp đôi chút vào công việc làm cho thế giới hiểu cuộc kháng chiến của chúng ta thêm! "A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả... Có quyền lừa dối hả? Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi. Anh cút đi!" Giá lúc đó, sau khi cắt tóc xong, anh bảo tôi hãy ngồi lại để hỏi cái món nợ tám năm về trước, thì có thể sau đó tôi không trở lại cái quán cắt tóc ấy nữa, cũng nên. Thế nhưng anh vẫn làm như không hề bao giờ quen biết tôi. Khi tôi ra về, anh chào tôi một cách thân mật, nhã nhặn sau khi nhận tiền cắt tóc. Đã gần một tháng rưỡi, tóc tôi dài quá, mà vẫn chưa cắt. ít hôm tôi lại đạp xe trở lại ngôi quán đó, nhưng vừa chớm đến nơi thì tôi đã cắm cổ đạp thật nhanh, cố giấu mặt đi. Mỗi lần đạp vụt qua khỏi cái quán cắt tóc ấy, tôi phóng hẳn sang một đoạn phố khác, cứ sợ đôi mắt người thợ cắt tóc nhìn theo, nhưng trong bụng lại cảm thấy thất vọng. Tôi lại mon men đạp trở lại, y như một kẻ đã trở nên lẩn thẩn, tôi đến ngồi ở một cái quán nước trước cổng một cái bệnh viện bên kia đường, cách cái quán cắt tóc một quãng. ở đấy, khách uống nước bao giờ cũng đông. Tôi ngồi lẫn vào. Tôi gọi một chén nước, vừa uống vừa nhìn sang. Lần nào tôi cũng trông thấy anh, nhưng có lần thấy bà mẹ anh, có lần không. Một bận, đến hai ngày liền tôi không thấy anh thợ của tôi làm việc. Cái quán cắt tóc bỏ vắng hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba vẫn thế. Và lại thấy một người đàn bà ra dọn dẹp, chứ không phải bà cụ già lòa như mọi ngày. Tôi chạy sang. Chiếc ghế cắt tóc không còn nữa. Chỉ còn chiếc gương và mấy cái chai lọ. Người đàn bà hỏi tôi: - Bác đến cắt tóc? - Vâng. - Nhà em mấy hôm nay đang dọn cái chỗ làm mới ở phố ngoài kia. Ngày mai xong. Xin mời bác đến. Vợ anh có vẻ trạc tuổi gần ba mươi. Một khuôn mặt đàn bà hiền lành. Chị vừa nói vừa bóc tấm tranh của tôi ra. Tôi gợi chuyện. - Bức tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ? Người đàn bà hơi đỏ mặt, cuốn tấm tranh lại một cách cẩn thận. Lâu sau mới đáp: Tiêu đề: BỨC TRANH Gửi bởi: trachvandung trong 02 Tháng Sáu, 2008, 10:09:19 am - Anh nhà tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy. Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo.
- Anh ấy nói với chị thế? - Vâng. - Hôm trước tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ... - Là mẹ anh nhà tôi. Thế ra bác là khách quen? - Vâng. Bà cụ bị tật lâu chưa? - Thưa đã lâu. Đã chín năm nay. - Vì sao? - Bà cụ lòa đi cũng vì anh nhà tôi. Ngày đó bỗng nhiên có tin ra nhà tôi hy sinh. Bà cụ đâm ốm. Anh ấy là con một. Bà cụ nhớ anh ấy, nửa đêm cũng trở dậy đi lang thang. Cứ khóc hoài... - Bà cụ lòa từ năm nào, chị biết không? - Từ 69. - Từ tháng mấy? - Tôi cũng không nhớ thật rõ, có lẽ khoảng giữa năm. Tôi ra đến Hà Nội vào đầu tháng ba năm ấy. Nếu tôi là một người tử tế ra thì không khéo bà cụ không bị lòa, không những thế mà tôi còn có thể làm cho bà cụ khỏe ra! Chính tôi đã làm cho bà mẹ anh trở thành mù lòa? Mấy lần tôi đã bước vào một cửa hiệu cắt tóc sang trọng ngay trong phố nhà tôi mà trước đây tôi vẫn thường cắt, nhưng lại lấy cớ này cớ nọ, quay trở ra. Mấy lần tôi đã định "tẩu thoát". Nhưng chính tôi lại bắt giữ tôi lại. Tôi lại kiên nhẫn tự thuyết phục mình một cách xử trí êm nhất: đừng bao giờ đặt chân đến trước mặt người thợ cắt tóc và bà mẹ anh ta nữa. Người ta đã dời cái quán đến một phố khác. Lần trước, anh ta đã nhận ra cái mặt của anh rồi. Thì lúc này là cơ hội "tẩu thoát" êm nhất. Cái người săn đuổi mình đã rẽ sang lối khác thì mình lại cũng rẽ vào đấy làm gì? Nhưng anh có đuổi theo tôi đâu? Đấy là tôi muốn tự nguyện đến nạp mình, cho lương tâm. Tôi lại tiếp tục dụ dỗ: sau hàng chục năm ở bộ đội, anh ấy lại trở về làm nghề cũ. Chắc hoàn cảnh kinh tế của gia đình cũng khó khăn. Tôi nghĩ đến việc hay là vay mượn gom góp một số tiền lớn, cái số tiền mà tôi đã thu được nhờ bức ký họa chân dung kia, bí mật gửi cho anh. Vẫn không được! Tôi vẫn không cho phép mình lấy đồng tiền để thay cái mặt mình. Tôi lại đạp xe đến gần cái nơi anh mới dời đến. Chỗ đó là đầu một cái ngõ ăn ra một đường phố nhỉnh hơn phố cũ. Chỗ làm mới cũng xoàng xĩnh như chỗ cũ, chỉ hơn trước có một bức mành che. Thỉnh thoảng tôi lại đạp xe qua, đá cái mặt về phía bức mành, nghe tiếng tông đơ rỉa tanh tách, và liếc nhìn cái dáng người thanh niên đang đứng cắt tóc phía sau. Rồi lại phóng xe vút qua đi. - Cái anh thợ cắt tóc ở đây dời chỗ làm rồi, phải không bà? - Tôi vờ hỏi bà chủ quán nước ở cái ngõ cũ trong khi ngồi chen giữa một đám đông khách uống nước, hút thuốc và kháo chuyện vặt. - Anh ấy dời phố ra ngoài. Cách mấy ngõ thôi. Chắc ông là khách quen? - Thưa vâng. - Cái thằng T. Cắt tóc, số nó nhờ được con vợ! - Một người khách bình phẩm. - Thì còn phải nói! - Bà chủ quán cũng nói xen vào - ngày xưa khi anh ấy còn ở bộ đội trong B, tuy chỉ là chỗ láng giềng thôi, nhưng cô ấy chăm sóc bà cụ lúc ốm đau chẳng khác con cái trong nhà. Về sau anh ấy trở về cũng vì cảm tấm lòng mà lấy. - Ông trời sinh ra con người cũng lạ. Có người tốt vậy, có đứa đểu cáng lật lọng hết chỗ nói. Cái đầu tóc tôi đã tốt quá, ngứa không chịu được! Mà tại sao cứ muốn giở chứng, cứ tự đem mình ra mà hành vậy? Tại sao lại cứ muốn tự dẫn xác đến cái quán ấy cơ chứ? Ngay buổi sáng đó, tôi đạp xe trở về dưới phố nhà tôi, lập tức đến cắt tóc ở cái hiệu quen đã mấy năm nay. Thật là thoải mái, dễ chịu. Trời lại nắng nhạt, cũng thật dễ chịu. Cái hiệu quen sạch sẽ, thơm phức. Bác thợ kêu ầm lên chắc hồi này nhà họa sĩ bận lắm, bận lắm, mấy lần đến rồi lại không có thì giờ cắt, để cho cái đầu trở thành một khóm rừng! Bác thợ quen lại còn khuyên tôi nên làm việc có điều độ. Tôi lại vui vẻ (đấu hót) với bác như mọi lần trước kia. Thật là vui. Phải nói đây là người thợ cắt tóc giỏi nhất thành phố, làm rất cẩn thận, lại rất quý tôi. Được cắt tóc cho một nhà ông họa sĩ! Bác cẩn thận, cân nhắc từng nhát dao, nhát kéo. Bác nâng niu cái đầu, cái mặt tôi. Những ngón tay sờ đụng vào cái đầu, cái mặt tôi như đang sờ đụng vào một vật rất quý. Thế nhưng tôi cũng trở lại cắt ở đấy chỉ có một lần đó. Tôi quyết định phải trở lại cái quán kia. Tôi quyết định phải chường cái mặt mình ra, chứ không được lẩn tránh. Tôi không cho phép tôi chạy trốn. Tôi quyết định phải trở lại đấy vào buổi sáng, và đến thật sớm, lúc chỉ có tôi và anh. Để cho anh có hoàn cảnh thuận tiện chỉ vào cái mặt tôi mà hỏi: "Bác là cái nhà ông họa sĩ ngày xưa đấy ư? Bác đã làm cho bà mẹ tôi khóc hết nước mắt để trở thành mù lòa như thế kia? Được rồi, vậy thì xin mời ngồi vào đây!" Bên trong bức mành vẫn chỉ thấy bày chừng ấy thứ đồ đạc: chiếc ghế mộc, chiếc khăn choàng sạch sẽ vắt trên thành ghế, chiếc bàn con để bánh xà phòng thơm và mấy thứ chai lọ, tấm gương soi mặt khách, phía trên tấm gương vẫn dán bức chân dung người thợ cắt tóc tám năm trước. Anh thợ của tôi ngồi quay lưng ra, một chân vắt lên thành ghế, đang ăn một vắt xôi gói trong cái lá bàng. Bà mẹ anh cũng có mặt, ngồi xổm cầm chiếc vồ đập những hòn gạch vỡ nèn chặt xuống nền đất. Bà cụ lại ngước mắt lên nhìn tôi như lần trước khuôn mặt đờ đẫn và hoan hỉ: - Thưa ông đến cắt tóc? - Vâng ạ! Tôi có cảm giác hồi hộp của một anh bộ đội giữa trận đánh đồn vừa vượt qua lớp lớp hàng rào để bám được vào cái đột phá khẩu. Lúc ban nãy, khi đạp xe vừa chớm đến quãng đường phố ngang với bức mành, chỉ chút xíu nữa là tôi đã nhấn mạnh chân vào bàn đạp cho bánh xe lăn thật nhanh như mọi lần, "Thưa ông đến cắt tóc?", "Vâng ạ!" một lần nữa, nếu tôi gieo thêm một chút xíu yếu đuối trên cái mặt cân tiểu ly vô hình, tôi sẽ không đáp "Vâng ạ!" mà có thể trả lời: "Không ạ" rồi phóng xe đi thẳng như mọi lần. Anh thợ cắt tóc nghe mẹ lên tiếng mới quay người lại. Tôi vừa kịp nhận ra được từ nơi cặp mắt vẫn còn trẻ của anh chiếu thẳng về phía tôi một cái nhìn ban đầu soi mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại. Nhưng những diễn biến phản ứng trên cái mặt người thợ chỉ diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại trở lại cái vẻ mặt và cử chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề. Da mặt tôi tự nhiên dày cộm lên. - Mời bác ngồi! Tôi cố trấn tĩnh để khỏi run lập cập, bước tới ngồi vào cái ghế gỗ như một cái ghế tra điện. - Bác vẫn cắt như cũ? - Vâng. Bàn tay người thợ ấn cái gáy tôi xuống. Tôi trông thấy hai ống quần quân phục đã cũ kỹ và đôi bàn chân xỏ trong dép cao su. Bà mẹ anh vẫn ngồi bên cạnh cái ghế cắt tóc, bàn tay dăn deo vừa sờ soạng trên mặt đất, vừa cầm chiếc vồ nện lên những viên gạch chan chát, nhát trúng nhát trật. Từng mảng tóc trên đầu tôi rớt xuống. Tôi có cảm giác tôi đang ngồi cho người thợ giải phẫu não, mà không đánh thuốc mê. Rồi người thợ cắt tóc, một tay nâng ngửa cái mặt tôi lên, một tay cầm lấy con dao nhỏ sáng loáng. Tôi khẽ liếc mắt thấy lưỡi dao sắc lẹm, vậy mà anh vẫn đem mài đi mài lại trên một tấm da. Tôi khắc khoải nằm ngửa mặt chờ. Tôi khẽ thử động đậy cái gáy, nó như đã bị chốt vào miếng gỗ lõm có lót da. Ngay trước mặt tôi vẫn là cái bộ mặt thật của tôi vừa được lột khỏi ra cái mặt nạ hàng ngày, đang phản chiếu trong tấm gương. "Hàng ngày anh vẫn nói đùa một cách độc đáo với bạn rằng: tạo hóa nặn ra muôn loài, mỗi loài bằng một thứ bột nhão riêng khác nhau. Xong rồi mỗi thứ thừa một tý, đem gộp chung tất cả lại, để nặn ra anh?" "Có lẽ thật thế, trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ?" "Bây giờ trước mặt tôi, anh nghĩ thế nào về cái luật công bằng ở đời của anh: cho thế nào thì nhận thế nấy?" "Tôi xin nhận đã gây nên đau khổ cho bà mẹ anh. Tôi đã lừa dối anh. Tôi đã thu thêm được tiền của và tiếng tăm trên sự đau đớn của anh. Bây giờ anh cứ trừng phạt tôi. Anh xử tôi thế nào cũng được!" "Không bao giờ! Nếu tôi xử phạt anh, nếu tôi thực hiện cái quan niệm về luật công bằng ở đời của anh, thì cái hôm đó, tám năm trước đây, khi quay lại đón anh giữa suối, tôi đã xốc ngược anh lên rồi vứt tõm vào khúc suối giữa bãi đá tai mèo rồi!" "Lần này anh lại đối xử với tôi như lần trước đây?" "Phải". "Anh cũng không trách mắng, chỉ trán chỉ mặt tôi?" "Không! Anh cứ yên tâm. Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều cống hiến cho xã hội". "Tôi vẫn thường gặp mặt anh ở ngoài đường luôn luôn đấy chứ! Một lần tôi đứng xem anh ký họa khu phố cổ. Một lần tôi đến xem phòng trưng bày tranh của anh. Một lần khác, tôi đi theo mấy người bạn làm xưởng vô tuyến truyền hình đến quay chỗ xưởng làm việc và gian phòng riêng của anh. Anh không nhận ra được tôi đấy mà thôi! "Bây giờ anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi!" "Không". "Tôi có phải cút khỏi đây không?" "Không. Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!" Phải, giá thử lần thứ nhất tôi đến, hoặc lần thứ hai trở lại, và các lần sau nữa, mà người thợ ấy nổi giận đuổi tôi ra khỏi ngôi quán, thì chắc chắn tôi không đủ thì giờ nhìn kỹ cái mặt mình đến như thế. Gần nửa năm, tôi đã để vào bức tranh sơn mài tất cả công sức và sự suy nghĩ, và trong suốt thời gian ấy, một đôi lần tôi cũng gợi lại chuyện cũ nhưng người thợ vẫn một mực cố tỏ ra chưa hề bao giờ quen biết tôi. Trở về làm một anh thợ cắt tóc cũng như lúc ở bộ đội, anh vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công việc đã làm. Lời đề nghị rụt rè của anh: Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình. Bây giờ thì cái tác phẩm mới của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình, để viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội họa thể hiện một cái mặt người rất lớn: những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa mái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt, thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra. Phần bên dưới khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: dưới cằm và hai bên mép phủ kín bọt xà phòng. Không trông rõ miệng, chỉ thấy một vệt mầu đen lờ mờ nổi bồng bềnh trên những đám bọt xà phòng. Và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm. Hết Tiêu đề: Không đề Gửi bởi: HienTM trong 12 Tháng Sáu, 2008, 12:03:42 pm Với tất cả tấm lòng trân trọng.
Chuyện nhỏ xíu ở cái làng heo hút giữa núi rừng ấy. Cái con Len của nhà ông Trungsỹ cuối làng [gọi lão là trungsỹ, không phải lão là trung sỹ, vì thật ra nghe đâu lão ấy cũng đã từng đến chức D trưởng, (chả biết dê đến mức nào!?) lão thích gọi mình là trungsỹ, thế thôi.] Theo dân làng đồn đãi, Lão ấy vốn dân Bình Dương, nghe đâu tên thật là Thọ (!?) Con Len, từ 19 năm nay vốn gầy nhom, tóc cháy nắng, quanh năm suốt tháng luôn quấn mình trong bộ bà ba bạc thếch, cháo lòng. 19 năm nay ngày ngày nó quanh quẩn cùng cha mẹ mãi lo cái ăn cái mặt, nó không biết nhan sắc nó ra sao, chỉ nghe cha mẹ thường nói với nó, rằng nó đẹp như một bông hoa rừng khoe sắc, nó giỏi và nó ngoan như bất cứ cô con gái ngoan đáng tự hào nào khác của dân tộc Việt Nam này. Bỗng một ngày, trong lúc đang cùng cha mẹ đào củ mỳ trên rẫy, nó bỗng muốn hát, những bài hát từ thuở thiếu thời mà đêm nào cha mẹ cũng hát thì thầm riêng cho nó nghe nay bỗng quyện lại, bỗng trào dâng. Thế là nó hát, hát bằng cả trái tim, bằng cả tâm hồn, với tất cả sự mộc mạc của một cô bé nông thôn hẻo lánh chưa từng học hát. Tiếng hát cất lên, vô tư, trong sáng và cao vút. Ôi chao ! như có phép thần thông, mỗi tiếng hát, mỗi tiếng ngân nga bao hình ảnh hiện ra, đây là những ngọn đồi xanh mướt, kia những nóc nhà sàn mái cong vút, nọ là những chiếc khăn càma, xa xa lại là bức lũy xiêu vẹo bằng thân cây, chông chênh, cao thấp giữa rừng biên giới…. Ôi, bài hát chưa từng có nhạc sỹ nào viết ra, khi âm trầm những giọt nước mắt, khi cao vút với tiếng đề pa đầu nòng, khi dập dìp như tiếng bước rón rén lúc lại dồn dập với nhịp quân hành… Dân làng kéo ra rẫy đông lắm, ai ai cũng đều tấm tắc khen nhỏ Len, khen cái nhà của lão trungsỹ như “tiềm long phục hổ”. Len vẫn cứ hát, dân làng ngồi vây quanh nghe như uống từng lời hát của nó. Cũng phải thôi, trước giờ nghe nhạc trên Đài phát thanh, đài truyền hình toàn nghe nhạc sỹ chuyên nghiệp, có ai được nghe hát A capella như thế này đâu !! quả là rất hay, rất mộc ! Cứ thế cả cái làng này ai cũng tự hào về làng mình, vì làng mình có những gia đình như lão trungsỹ, vì có bé Len và bao cô bé khác đang ẩn mình. Đây là lần đầu tiên mà cả làng cùng chung 1 niềm tự hào, lần đầu tiên dân làng dẹp bỏ những tỵ hiềm, xích mích để mỗi ngày cùng ra rẫy chờ nghe bé Len hát. Bé Len cũng thế, cảm nhận được sự yêu mến của dân làng, bé hát ngày càng hay, hát như rút ruột ra, cứ mãi hát những bài chỉ của riêng bé, mặc bao tiếng khen, tiếng vỗ tay đôi khi hơi lạc điệu của dân làng. Không chỉ hát hay, mà ngày nay dân làng còn nhận ra cô bé Len ngày nào lem luốt bây giờ đã lớn, đã là cô gái xuân thì mơn mỡn. đôi mắt đen láy như chứa cả Biển Hồ… ôi chao, cỡ hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam coi bộ mà đặt chưng vô đây cũng không có cửa à nhe ! Con gái quê quả là đáng trân trọng, với ngôi sao như thế mà ở thành thị, chỉ vỗ tay sai nhịp 1 cái thôi là ngoe ngoẫy bỏ xuống sân khấu ngay… bé Len thì khác, Len hiểu cái tình mà mọi người dành cho mình, và vì thế Len luôn cố gắng hát thật nhiều, thật đều như một món quà của mình dâng tặng cuộc đời. Và rồi một hôm, ông Trương - một nhà nho trong làng - sau một bài hát của bé Len, bỗng đứng lên… tay phủi phủi cái đít quần dính chút bụi đất do nãy giờ ngồi bệt dưới đất để nghe hát, tằng hắng mấy tiếng và.. - Thưa bà con, cả cái làng này của chúng ta, từ ngày có tiếng hát bé Len dân làng ta ai ai cũng khâm phục, ai ai cũng tự hào về bé. Không chỉ bé Len hát hay mà bé Len còn rất đẹp. Tiếng vỗ tay tán đồng như khích lệ, ông Trương tiếp lời. - Tui thấy như vầy, một tài năng tầm cỡ như bé Len, một nhan săn như bé Len mà để ngày ngày phải làm rẫy, phải hát giữa cái rẫy đầy cát, bụi này thử hỏi có phải hoan phí tài năng của nước nhà không ? Hơn nữa, bé Len là niềm tự hào của cả làng ta, vậy ta cũng nên tạo điều kiện, giúp đỡ bé Len ra mà đi thi ca sỹ, hoa hậu hoa hẹo với người ta. Vậy mà bỗng nhiên thằng Gù nó trở chứng, cái thằng xưa nay ăn nằm ở Làng này cũng lâu rồi, chẳng ý kiến ý cò gì cả, vậy mà nay bỗng nhiên mở miệng… aha.. hay là nó mê con bé Len rồi đây ?? - Tui xin lỗi vì đã chen ngang câu chuyện. Nhưng tui thấy như vầy. Len là Len của làng mình, Len có hát hay, có đẹp như vậy là do Len ở làng mình, Len hít thở cái không khí trong lành của làng, Len cùng chơi đùa với mọi người trong làng, và cái mà Len hát là bài hát mà Len có được khi hát giữa nương giữa rẫy. Thử hỏi mọi người, nếu bắt Len hát cái bài hát mà ai ai cũng hát được thì Len còn cái tâm hồn để mà hát không ? Thử hỏi mọi người, nếu cho rằng Len thi xong rồi thì sẽ là hoa hậu, là ca sỹ, vậy rồi Len đó có phải là Len của làng mình nữa không ? theo tui, Len hãy cứ là Len, hãy để chính Len chọn con đường cho mình, dẫu biết ông Trương đây xuất phát từ ý tốt, nhưng tui nghĩ mình cũng không nên tạo áp lực cho Len làm gì ! Hơn nữa, nếu chúng ta tự hào về Len, muốn giới thiệu về Len, chúng ta chỉ đơn giản là mời mọi người phương xa về làng ta, cùng nghe Len hát những bài hát mộc mạc này, vậy không những ta giữ được Len mãi là cô thôn nữa đẹp mặn mòi mà làng ta còn có thể có thêm bao nhiêu người biết tiếng… chưa nói là còn làm được du lịch nữa à nghen ! Tiếng vỗ tay, cùng với đôi lời xì xào, nào là bé Len hát hay thật đó, bé Len hát lạ thật đó, nhưng đi thi là phải có bài bản, phải có biên tập, đạo diễn, phải có ông cố vấn, bà bầu này nọ… sợ bé Len khớp mà khó thi. Mặc ! ông Trương vẫn tiếp lới với cái niềm tin cao cả rằng mình đang làm cái điều tốt đẹp nhất, cái ý tưởng tốt đẹp nhất cho bé Len, cho dân làng, mà cái lão trungsỹ ấy cũng chưa từng nghĩ ra - Mọi chuyện rất là đơn giản, bé Len sẵn có giọng hát, sẵn có sắc hương, chúng ta cứ chịu khó tập luyện cho bé hát mấy bài thu sẵn trên cakaôkê cho nó nhuầng nhuyễn, lo gì mà không đúng tiêu chuẩn. Vã lại, cái chính là chúng ta đi thi để phô diễn, để trưng bài cho mọi người biết làng chúng ta có bé Len. Chứ còn bà con mà muốn nghe bé Len hát, dễ ẹc, tui nói thiệt, nó hát như vầy làng ta thấy hay, thấy thích thì nó cứ hát với làng ta như vầy, còn khi nó thi ca sỹ, hoa hậu gì đó, thì chịu khó hát cho đúng khuôn khổ chút là yên thôi. Khéo lo ! Cái lý lẽ ấy xem ra cũng khó bắt bẻ, dân làng im lặng, dù sao thì mình cũng vốn dĩ nông dân, bíết gì đâu mà chen vô bàn, trong khi người ta ít ra cũng là nhà nho nhà bom, hay chữ hơn mình nhiều. Đêm đó ông trungsy hỏi bé Len “hồi chiều con nghe ông Trương nói vậy, con nghĩ sao” bé Len im lặng hồi lâu… bỗng ngân nga câu hát… ôi mà cũng không giống câu hát.. nghe quen quen như cái lời thằng Gù hồi chiều… “à ơi … Len thì vẫn cứ là Len hãy Len chọn con đường mình đi…à ơi” Tiêu đề: Mặt trời bé con của tôi Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Tám, 2008, 11:01:07 pm MẶT TRỜI BÉ CON CỦA TÔI Thùy Linh Tôi gặp cậu bé Nguyên lần đầu tiên ở nhà một người bạn. Tối hôm ấy đến chơi nhà Hà – đứa bạn thân nhất hồi tôi còn là sinh viên – thấy Hà đang ngồi chơi với một cậu thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi mặc bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình. Chẳng hiểu sao tôi bị chú bé ấy thu hút suốt buổi nói chuyện. Có lẽ tại đôi mắt! Đôi mắt như mượn của người lớn lắp vào khuôn mặt còn đầy lông tơ, trông dè dặt và buồn mênh mang. Khi nó cười, thì khuôn mặt bị biến dạng đi, còn vẫn không xua được ánh buồn. Lúc nó về, tôi hỏi Hà được biết, năm Nguyên lên tám tuổi thì bố mẹ nó bỏ nhau. Thằng anh mười sáu tuổi ở với bố, Nguyên ở với mẹ. Được nửa tháng, thằng anh nhớ em quá nên đến xin bố cho hai anh em cùng về ở với mẹ. Vài tháng sau, mẹ đi lấy chồng. Theo yêu cầu của người chồng mới, người mẹ bỏ hai đứa con để theo ông ta. Không chịu theo mẹ về ở với bố dượng, hai anh em tự kiếm sống ở với nhau. Năm Nguyên mười ba tuổi, cậu anh bị bắt đi tù vì tham gia mấy vụ ăn cắp trong nhà máy. Từ đó Nguyên sống một mình. Hà kể đến đây thì có khách. Khi về suốt dọc đường tôi cứ nghĩ về cậu bé đáng thương kia. Nhưng tình thương ấy cũng chỉ là cơn gió lạ tràn qua, khiến tôi có cảm giác se lạnh trong chốc lát nếu không có một buổi chiều… Gần hết giờ làm, tôi xin phép trưởng phòng để đong gạo. Đầu tháng, lại sắp tết nên cửa hàng gạo khá đông. Trước tôi có khoảng bốn chục chỗ xếp lằng nhằng đủ thứ: bao tải, nón rách, gạch, làn… tôi ngao ngán xếp bao tải vào cuối hàng rồi lên trên đứng. Trước ô cửa bán người ta đứng túm tụm chẳng ra hàng lối. Ai ghi sổ xong phải lách mãi mới ra được chỗ lấy gạo. Tiếng cô bán hàng đang nói với người mua. - Đong hết nhé, một cân gạo nếp, bảy cân gạo, năm cân mỳ, năm đồng tám. - Chị cho em đong một nửa thôi – người mua là một chú bé. - Hôm nay không có bao lẻ - Cô ta gắt gỏng. - Dạ… nhưng… em không đủ tiền. Hai bên đôi co, những người đứng phía sau nhao nhao: - Đi đong gạo không mang đủ tiền thì làm sao? - Thôi tránh ra cho người khác lên mua. Mấy ông bà phía trên xích lên cho, đừng để ai chen vào. Chú bé không mua được gạo lách đám đông chui ra. Hóa ra là Nguyên. Mặt nó đỏ bừng, tay cầm cái bao tải bị rách mấy chỗ được buộc túm lại, giận dữ nhìn những người đứng sau vừa phản đối, nó lẩm bẩm câu gì đó rồi bỏ đi. Sau giây phút ngỡ ngàng, tôi chạy theo gọi giật lại: - Nguyên, quay lại chỉ bảo. Nhận ra tôi, đôi mắt dịu đi nó khẽ cười: - Chị cũng đi đong gạo ạ! - Em không mang đủ tiền hả? Chị có đây này, quay lại đong đi. Nguyên lắc đầu, tôi nắm cánh tay nó lắc nhẹ: - Tết đến nơi rồi, em còn định để đến hôm nào nữa? - Dạ… - Nó ngập ngừng – Em hết tiền rồi… Vay chị lấy đâu mà trả. Em chẳng đong nữa đâu – Nó hất nhẹ tay tôi như giạn dỗi, bỏ đi. Tôi đứng nhìn theo cái dáng lòng khòng trong bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình ấy, cái đầu ngẩng cao vẻ bất cần, tôi chợt hiểu: Nguyên đã khước từ sự thương hại của tôi. * * * Với hoàn cảnh riêng của mình tôi không mặn mà lắm trong việc đón năm mới. Sáng ba mươi tôi dậy sớm đi chợ, nấu nướng. Cả mấy ngày tết, tôi chỉ làm cơm có ngày này, trước là để cúng tổ tiên, ông bà, bố mẹ, sau là để ăn lai rai cả tuần lễ, khỏi phải lịch kịch. Làm xong, ngồi ăn một mình thấy chán ngắt. Mời mấy đứa bạn nhưng chúng đều từ chối. Cũng phải, tết nhất nhà nào chẳng muốn sum họp đầy đủ, người nào không được may mắn ấy phải chịu. Ăn xong, tôi lấy đĩa thịt gà, đĩa xôi, một khoanh giò, hai cái bánh chưng, gói riêng từng thứ vào tờ báo để đem xuống nhà Nguyên. Sau buổi gặp nó ở cửa hàng đong gạo, tôi nảy ra ý định sẽ tìm đến nhà nó. Mục đích để làm gì tôi không nghĩ đến, chỉ biết Nguyên là đứa trẻ rất đáng thương. Thêm người bạn nhỏ tuổi ấy cũng tốt chứ sao! Qua ngã tư Cửa Nam, tôi mua một bó hoa hồng trắng. Nhà Nguyên ở gần nhà Hà, nhưng tôi không qua rủ Hà vì sợ mối quan hệ láng giềng sẽ làm Nguyên ngại ngùng. Phòng bốn mươi nhăm, bốn mươi sáu, bốn mươi bảy – đây rồi! Tôi ngập ngừng gõ cửa. Liệu có bị chú bé đuổi ra với túi đồ này không nhỉ? Thái độ của nó hôm đong gạo làm tôi chờn chờn. - Chị! Sao chị biết nhà em? – Nguyên mở cửa, cười rất tươi chào tôi. Chiếc áo bộ đội mặc vội vẫn chưa cài hết cúc. Tôi bước vào giữa phòng và chưa biết phải làm gì. Căn phòng ngoài rộng chừng mười hai mét vuông, giữa nhà sát tường kê chiếc bàn nhỏ và bốn chiếc ghế. Trong góc nhà có một cái tủ con, cánh đã bị mọt thủng lỗ chỗ. Có thể đó là gia sản duy nhất của bố mẹ nó để lại. Nguyên vào buồng trong, lúc sau đi ra, thấy tôi vẫn đứng như trời trồng giữa nhà, nó kêu lên: - Chết, chị ngồi xuống ghế đi. Đun bằng “tầu ngầm” đấy chị ạ, nhanh không? – Nó giơ ấm tích nước còn nghi ngút khói lên, rót ra hai chiếc chén để chỏng chơ trên bàn – Em chẳng có chè đâu, chị uống tạm nước trắng nhé! - Chị đến chơi, mặc dù chưa được chủ nhân đồng ý. Đứng ngoài cửa lo bị lót lá dắt tay ra ngoài đường, ai dè được chiêu đãi món thanh thủy. Nghe tôi nói nó cười, nhưng nụ cười ấy nhanh chóng biến mất. Tôi trách mình đã đùa quá sớm. Nguyên ngồi xuống ghế ỉu xìu: - Cái hôm đi đong gạo em dở hơi quá phải không chị? - Chuyện vặt ấy mà – Tôi gạt đi – Thế đã đong gạo được chưa? - Hôm trước nhờ các cô bác xung quanh góp cho em hơn trăm bạc ăn tết. Em đã đong và vẫn còn nguyên đây – Nó móc túi lôi ra hai tờ năm mươi đồng, một tờ hai mươi đồng và mấy đồng bạc lẻ. - Chiều nay chị làm cơm cúng ngồi ăn một mình buồn quá, định gọi em xuống nhà chơi luôn, nhưng ngại em… - Tôi hất hàm cười với nó. - Chị ở một mình thôi à? - Ừ - Tôi kể cho Nguyên nghe qua hoàn cảnh của tôi. Từ lúc đó câu chuyện giữa chúng tôi trở nên thoải mái hơn. Tôi bỗng thấy một chú bé Nguyên khác hẳn, hoạt bát, vui vẻ. Cũng phải thôi, cuộc sống có những nét giống nhau thì dễ đồng cảm và hòa hợp với nhau. Tôi thiếu thốn tình cảm của người mẹ từ bé nên rất hiểu sự mất mát ấy trong Nguyên. Nhưng Nguyên khổ hơn tôi gấp vạn lần vì có mẹ mà như không. Tôi lấy các thứ mang theo từ nhà để lên bàn. Nguyên hấp tấp chạy vào buồng lôi ra hai chiếc bát con, một chiếc đĩa và một cái bát ô tô. Nó phân bua: - Rổ bát nhà em chỉ vậy thôi! Hà kể cho tôi nghe: một lần bà hàng xóm cho nó mấy miếng thịt kho nó bầy lên mâm nhưng để đấy và chỉ ăn muối ớt, ngày hôm sau cũng thế, đến ngày thứ ba mới ăn. Thấy tôi trầm ngâm nó hỏi: - Chị làm sao thế? - À… không! - Chị xem, em ăn tết cũng đầy đủ các thứ đây này – Nó đứng dạy đi về phía buồng, vén tấm ni lông, bên trong là chiếc bảng hình chữ nhật. Nguyên kéo chiếc bảng ra giữa nhà, lấy cái ghế chặn phía sau. Trên bảng vẽ lọ hoa đào, mứt tết, bánh chưng, con gà ngậm bông hồng đỏ nằm trên đĩa… Toàn hương vị ngày tết, Nguyên cười: - Em vẽ đấy, đẹp chứ chị? Giao thừa xong em sẽ kê ở chỗ kia, ai vào cũng thấy ngay. Tôi không cười được. Sống mũi tôi cay xè như hít phải ớt bột. Tôi sức nhớ bó hoa mua từ lúc nãy vẫn còn để trong túi. Thấy hoa Nguyên chạy lại mừng rỡ: - Loại hoa này em thích đấy. Để em kiếm cái cắm. Chà, tết năm nay em xôm thật! Nguyên chạy ra ngoài sân, lúc quay vào mang theo ống bơ sữa bò đã gỉ. Nó đổ nước vào đấy rồi đưa cho tôi. Tôi giơ chiếc ống bơ lên ngắm nghía, còn đang ngần ngại thì Nguyên giục: - Chị sợ nó xấu chứ gì? Không lo em đã có cách, chị cứ cắm vào. Nguyên lấy hai tờ giấy xanh màu cẩm thạch dán liền lại. Loáng một cái nó đã gấp xong hình chiếc lọ, chụp ra bên ngoài ống bơ. Tôi và nó cùng lùi ra xa ngắm nghía. Tôi trầm trồ: - Đẹp thật! Hoa trắng nền xanh trông rất nổi lại nhã. Được khen, Nguyên cười gật gù có vẻ khoái chí. Nó kể cho tôi nghe chuyện lớp học, bạn bè như chưa bao giờ có người để nói chuyện. Tôi sống lại thời học sinh với đủ trò nghịch ngợm, khiến nhiều khi bố mẹ, thấy cô phải bực mình. Nỗi buồn man mác ám ảnh tôi suốt cả ngày hôm qua biến đâu mất. Đang kể, chợt nhớ ra điều gì, Nguyên chạy vào buồng, chui tuột xuống gầm giường lôi ra một khúc gỗ dài, một đầu gắn chiếc ống bơ sữa bò trắng tinh, phía trên có thanh sắt dài cong cong. Nguyên lấy tay phủi bụi trên đó như sợ bị đau. Nó khoe: - Em có cái này nữa cơ. Đàn bầu em tự làm lấy đấy. Tiêu đề: Re: Mặt trời bé con của tôi Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Tám, 2008, 11:03:31 pm Tôi tưởng mình mang đến niềm vui cho Nguyên, không ngờ bị cuốn hút vào thế giới riêng của nó. Hết cái lạ này đến cái lạ khác, vui có, cười ra nước mắt có. - Bây giờ em đàn cho chị nghe nhé. – Nó nghếch một đầu chiếc đàn lên bàn, còn đầu kia để xuống đùi, tay mân mê cái cần cong cong nhìn tôi lưỡng lự - chơi bài gì bây giờ… À, phải rồi! Tiếng đàn rè đục. Tôi chẳng hiểu Nguyên đang chơi bài gì nữa. Một mớ âm thanh lùng bùng bên tai. Một hồi Nguyên ngẩng lên nhìn tôi: - Chị có biết bài gì không? - Chịu, em đánh đàn mà cứ như đánh đố ấy. Nó nhe răng cười đổ lỗi tại cái đàn tự tạo để lâu ngày không đánh nên dây bị gỉ. - Bài hát này em thích lắm mà không biết đầu đề. Như thế này… - Nó e hèm một cái rồi cất tiếng hát bằng cái giọng đang vỡ - Cầm lá thiếp này lòng hướng vô Nam. Dù xa muôn trùng nhưng tình em vẫn ngàn năm không mờ… Thôi em chẳng hát nữa kẻo chị lại cười. Chị nge đoạn này nhé, nghe này… Tình tình tình gió bay. Nghe ra chưa? Tôi rũ ra cười vì kiểu đánh đàn của nó. Mặc tôi cười, Nguyên vừa đánh vừa minh họa bằng lời hát. Hết bài nó hất hàm nhìn tôi: - Nghe êm chứ chị? Tôi cũng bắt chước điệu bộ của nó hai tay xoa xoa vào nhau, gật gật đầu ra chiều tán thưởng, nhưng rồi không nín được, tôi cười phá lên. Nguyên ngất ngư cười theo. Đang vui, Nguyên chậm chạp đứng dậy, dựng đàn vào góc nhà. Nhìn dáng điệu thẫn thờ, buồn bã của nó, tôi hỏi khẽ: - Em làm sao thế? - Chị có phải về trước giao thừa không? – Nguyên vẫn đứng góc nhà hỏi chẳng buồn quay mặt ra. - Không, chị ở lại đón giao thừa với em. Chị mang theo cả bánh pháo đây này. - Thật không? Chị ở lại nhá? – Nó quay ngoắt lại, mắt sáng bừng, khiến tôi không dám nhìn thẳng vào đấy – Thế mà em cứ tưởng… Hóa ra nó buồn vì tưởng tôi phải về. Nếu Nguyên bé lại một chút hoặc tôi già thêm chục tuổi thì tôi sẽ ôm riết lấy nó vào lòng. Nguyên mấp máy môi định nói câu gì nhưng lại thôi, rồi bước nhanh đến bên tôi cuống quýt: - Chị em mình phải dọn dẹp qua nhà cửa để tí nữa còn đón giao thừa chứ. Chị quét nhà và bày biện lại cho em, em ra đây một tí. Không đợi tôi trả lời Nguyên chạy vù ra cửa. Lúc quay về cầm theo túi kẹo. Nguyên lấy tờ giấy trắng cắt thành hình hoa và để túi kẹo lên đó. - Hôm nay được phép chi vào “ngân quỹ”. Phải có gì khao chị chứ! Giao thừa xong chị em mình sẽ phá cỗ. Cỗ của Nguyên là mấy thứ tôi mang đến, thêm túi kẹo nó vừa mua. Tôi bày tất cả lên bàn, cạnh lọ hoa hồng. Chỉ còn nửa tiếng nữa là giao thừa. Nguyên tìm chiếc que để treo bánh pháo khi đốt. Nó làm rất cẩn thận như chuẩn bị cho một việc trọng đại sắp sửa diễn ra tại đây. Vừa làm, nó vừa nói chuyện với tôi: - Có mấy thằng bạn rủ em đến nhà tụi nó đón giao thừa.Em chả thích thế, dù sao mình cũng là người lạ. “Thằng bé nghĩ gớm thật!” – Tôi thầm nghĩ – những đứa trẻ như nó thường khôn hơn lũ trẻ cùng tuổi, bởi sớm phải tự quyết định mọi việc của bản thân. Tôi dù sao vẫn còn sự chăm sóc của người cha. Tôi không biết mình sẽ ra sao nếu ba tôi mất sớm hơn? Lúc này tôi mới có dịp nhìn kỹ khuôn mặt Nguyên. Phải nói là Nguyên đẹp trai, khuôn mặt thon thả đôi mắt đen mở to được che bởi hàng mi dài cong vút – một đôi mắt đặc con gái. Nhìn hàng ria mờ đen phía trên môi cu cậu tôi bật cười. Nguyên nhìn tôi ngạc nhiên: - Chị cười gì thế? - À… Em làm khéo tay như con gái ấy – Tôi nói lảng. - Phải làm cho nó quen tay chứ. Em còn biết khâu nữa cơ. Chị xem này - Nó giơ lưng về phía tôi. Miếng vá bằng bàn tay ở giữa lưng lộ rõ cả đường chỉ. Tiếng chuông đồng hồ từ vô tuyến ở các nhà xung quanh thong thả gõ từng tiếng. Đó đây đã râm ran tiếng hơi pháo. Nguyên nhìn tôi, hiểu ý, tôi gật đầu. - Em tắt đèn chị nhé. Để xem ánh lửa từ những quả nổ trông đẹp hơn. Nguyên xòe diêm châm lửa đốt. Quả pháo cối đầu tiên nổ rất giòn. Mặc dù đã chuẩn bị trước, tôi vẫn hơi bị giật mình theo phản xạ tự nhiên. Đợi quả pháo cuối cùng nổ xong, tôi bảo Nguyên: - Năm nay chị em mình sẽ gặp nhiều cái may, vì pháo nổ rất tốt. Không thấy Nguyên trả lời, tôi nhìn sang. Hai tay vịn vào song cửa sổ, mắt nhìn xa vời vợi. Qua ánh đèn từ ngoài đường hắt vào tôi thấy ở khóe mắt nó hai giọt lệ lớn sắp sửa lăn xuống má. Tự nhiên nước mắt tôi trào ra. Cũng giờ này năm ngoái tôi còn đón giao thừa với ba ở bệnh viện. Năm nay ba bỏ con một mình. Ba ơi... - Chị! Nguyên quay sang tôi giọng nghẹn ngào: - Chị... Chị là chị gái của em nhé! Tôi nhìn nó cười trong khi hai hàng nước mắt kéo vệt trên hai má. - Nguyên! Chị sẽ là chị của em mãi mãi. Nếu ba còn sống chắc ba sẽ rất thích vì có thêm một cậu con trai đấy! Nguyên cười rồi đưa tay lên quệt má. Tôi chẳng buồn lau mặt nữa. Chúng tôi đứng như vậy nhìn ra phía xa rực ánh đèn các mầu. Xung quanh là tiếng pháo nổ khi xa khi gần, liên tục. Một năm mới bắt đầu... * * * Mẹ tôi mất năm tôi lên tám tuổi - cái tuổi bắt đầu cảm nhận được tình yêu của người mẹ đối với mình một cách có suy nghĩ. Tôi vẫn còn nhớ mấy hôm sau khi mẹ mất, ba không khóc nhưng thường nhìn tôi thở dài. Lúc ấy trong ba có vẻ suy nghĩ ghê lắm. Một lần đi học về tôi khoe với ba là cái Thụy được mẹ nó may cho một cái váy rất đẹp. Mấy hôm sau, thấy ba sưu tầm ở đâu rất nhiều tranh ảnh những đứa bé mặc váy hỏi tôi thích kiểu nào, rồi ba mang vải đến nhà người quen nhờ họ hướng dẫn cắt và tự tay ba khâu cho tôi. Từ đó đến khi tôi học hết cấp ba, quần áo của tôi đều do ba may cho. Tốt nghiệp Đại học, ba giục tôi lấy chồng, nhưng tôi bảo chưa tìm được người tâm đầu ý hợp, ba đùa yêu: thế tâm với ý của con thế nào để ba chọn giùm. Thực ra trong thâm tâm, tôi rất sợ lấy chồng mà phải về nhà chồng, để ba không ai chăm sóc. Hơn nữa chẳng may phải người không tốt, họ đối xử tệ bạc với ba thì tôi sẽ ân hận suốt đời. Năm ngoái ba mất vì bệnh ung thư phổi, tôi đã phải trải qua giờ phút kinh hoàng khi nghĩ rằng chỉ có một mình ở trên đời. Trước đây và bây giờ tôi rất nhiều bạn bè, chúng thường xuyên đến chơi với tôi, an ủi tôi làm tôi đỡ đi phần nào cảnh cô đơn. Bọn tôi thường tổ chức các buổi nói chuyện, vui chơi, ăn uống ngay tại nhà tôi. Lúc ấy, tôi thấy rất vui vẻ. Khi mọi người ra về, mình tôi đối diện với bốn bức tường của căn phòng thì sự trống trải lại xâm chiếm tôi. Cuộc sống của tôi từ ngày có Nguyên khác hẳn. Chúng tôi đến với nhau tự nhiên như sinh ra trên đời này là để có nhau. Tôi cảm thấy thời gian nhàn rỗi của mình có ích hơn khi phải bận rộn, lo toan cho cả người khác. Mặc dù tôi nói bã bọt mép, Nguyên vẫn không chịu rời bỏ nếp sống cũ: sáng đi học, chiều đi học, tối gánh nước thuê cho mấy hàng phở ở đầu phố để kiếm sống. Quen Nguyên một thời gian tôi mới biết, hơn hai năm nay nó không hề nhận một đồng nào của bố mẹ nó gửi về cho. Nếu họ đến thăm thì nó tìm cách lẩn trốn. Hàng xóm láng giềng khuyên nó không nên như thế. Nguyên chẳng nói gì nhưng lần sau vẫn lặp lại như cũ. Người ta đã bắt gặp có lần Nguyên đứng ở cửa sổ nhìn theo bóng mẹ nó đi chiếc Diaman cho đến khi khuất hẳn. Đôi mắt vốn đã buồn lại buồn hơn. Tiếp xúc với Nguyên tôi thấy rằng thằng bé có một nghị lực ghê gớm mà tôi không có được. Sống trong môi trường như vậy mà Nguyên vẫn giữ được mình thật là hiếm! Học hết lớp chín, Nguyên nói với tôi là xin đi làm. Tôi khuyên thế nào nó vẫn một mực: em không thể sống dựa vào lòng tốt của người khác mãi được. Có điều kiện em sẽ học sau, em hứa với chị như vậy! Sau khi cân nhắc khá lâu, tôi đã kiếm được việc làm cho Nguyên theo nguyện vọng của nó. Công việc chủ yếu là phụ việc cho các họa sĩ trong một xưởng họa. Chỗ đó tuy lương ít hơn mấy nơi khác mà tôi đã hỏi, nhưng yên tâm hơn vì Nguyên học hỏi được nhiều điều ở bậc đàn anh cho cái nghề nghiệp mà nó mơ ước đã chớm bước vào. Hôm lĩnh tháng lương đầu tiên, Nguyên phóng xe thẳng một mạch về nhà tôi, mồ hôi nhễ nhại, một tay thu ra phía sau, khuôn mặt sáng bừng. Chưa khi nào tôi thấy nó tươi tỉnh như thế: - Hôm nay em được lĩnh lương. Thế là em đã làm ra tiền rồi nhé. Em mua cho chị cái này, đoán xem, cái mà chị vẫn thích ấỵ Thấy tôi đoán sai, nó sốt ruột giơ bắp ngô nướng ra, dứ dứ rồi rụt nhanh về. - Có thế mà không đoán ra. - Ôi! Đưa cho chị đi Nguyên, chị thèm chảy nước miếng ra đây này - Tôi kêu toáng lên. Nguyên rối rít kể chuyện các anh chị ở cơ quan đã chúc mừng nó ra sao, có anh còn tặng nó một chiếc túi để đựng đồ đi làm. Với nó, đó là một sự kiện trọng đại trong đời. Tiêu đề: Re: Mặt trời bé con của tôi Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Tám, 2008, 11:05:33 pm - Em mới đi làm một tháng mà thấy khỏe hẳn ra. Chị xem này - Nó đứng dậy vươn vai, hít căng lồng ngực hãy còn phẳng lỳ của đứa trẻ đang lớn. Trong thâm tâm, tôi luôn mơ ước Nguyên sẽ trở thành một họa sĩ nổi tiếng. Sự mong mỏi ấy nhiều khi trở thành niềm tin chắc chắn trong tôi, bởi Nguyên rất có năng khiếu hội họa và giàu nghị lực. Chị em quý nhau như vậy nhưng bất cứ sự giúp đỡ nào của tôi hơi thiếu tế nhị một chút thì Nguyên khéo léo từ chối ngay. Tôi gọi đùa nó là “mẹ chồng” bởi cái tính khe khắt ấy. Nó cười rồi nói với giọng buồn buồn: “Ở hoàn cảnh em dễ bị người ta nghĩ xấu. Anh em đã vậy, có người tưởng em rồi cũng thế”. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu hết lòng tự trọng của những đứa trẻ như Nguyên lớn đến mức nào? Một lần, tôi và Nguyên đi chợ, nó xách làn lẽo đẽo đi sau. Gặp một thanh niên mù ăn xin, tôi để vào mê nón của anh ta đồng bạc. Lúc ngẩng lên bắt gặp ánh mắt khinh bỉ và cười mỉa mai của Nguyên. Ra khỏi cổng chợ, nó bảo: - Sao chị lại cho anh ta? Anh ta vẫn còn khỏe mạnh kia mà! - Ai muốn vậy đâu em. Em không thấy anh ta mù sao? - Anh ta mù thì còn chân tay. Thiếu gì việc dành cho người mù, việc phải đem khuyết tật của mình để cầu xin của bố thí của người ta. Thà chết đói còn hơn! Nguyên nói cũng có lý, nhưng nghe cái giọng lạnh lùng ấy tôi không thể chịu được. Tôi bực bội bảo: - Em đừng tàn nhẫn như thế. Các cụ đã bảo “giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay” đó sao? Nghiêm khắc với mình nhưng phải rộng lượng với người khác chứ! Suốt dọc đường về, tôi và Nguyên không tranh luận gì thêm. Có lẽ nào nó lạnh lùng với đau khổ của người khác đến thế được chăng? Hay nó bị mất mát nhiều trong tình cảm đến mức chai sạn nên khó rung động đến nỗi đau của người khác? Nguyên lặng lẽ đi bên tôi, có thể nó liên tưởng đến chuyện của nó. Được, càng hay! Cuộc sống của chị em tôi êm ả trôi đi. Từ ngày Nguyên đi làm, tôi bắt nó mỗi tháng phải dành mười đồng gửi tiết kiệm, nói đùa là để cưới vợ. Nó xấu hổ nói lảng: “Nếu thế em chẳng để dành nữa”. Ở một mình, nó lôi bạn bè về nhà bày bừa khiếp lên được. Tranh vẽ treo lộn xộn khắp tường, bột mầu rơi loang lổ trên nền nhà, chỗ cái ấm, chỗ cái chén. Tuần nào tôi cũng phải lên dọn dẹp hộ nó nhưng chỉ ngày hôm sau lại đâu vào đấy. Tôi, Nguyên và bạn bè của nó thường tổ chức những chuyến chơi xa vào ngày thứ bảy, chủ nhật. Tụi nó mang theo đồ nghề, tới nơi nào có phong cảnh đẹp là mải mê ngồi vẽ và phân công tôi lo bữa ăn. Biết công việc của tôi hay cần đến sách vở, Nguyên rất chịu khó đi lùng các hiệu sách tìm mua cho tôi những cuốn truyện, sách nghiên cứu vừa in. Không hiểu học được ở đâu, nó viết một câu to tướng vào tủ sách của tôi: “Kẻ nào cho mượn sách là kẻ ngu. Kẻ nào giả sách lại còn ngu hơn”. Tôi thuyết phục mãi nó mới chịu bỏ đi... Thứ bảy, tôi về sớm hơn một chút, đi mua mấy lạng thịt làm bún chả và gọi dây nói báo cho Nguyên về ăn cơm. Đợi đến bảy giờ tối, vẫn chưa thấy nó đâu, tôi sốt ruột đi ra, đi vào. Gần tám giờ, Nguyên mới lò dò về đến cửa đã liến thoắng không kịp để tôi hỏi han câu nào: - Chị chờ em lâu lắm phải không? Em có chút việc ở cơ quan. Em đói điên lên đây này. Hôm nay em sẽ ăn hết những thứ chị làm cho mà xem. - Thì rửa mặt đi đã nào! Ngồi ăn, Nguyên kể cho tôi nghe hôm qua ở cơ quan nó có đợt khám nghĩa vụ quân sự, trúng tuyển năm người, xưởng họa của nó cũng có một anh đi đợt nàỵ - À quên mất, em được cơ quan cho đi học đấỵ Nó móc túi lấy tờ giấy đưa tôi xem. Đó là công văn quyết định của Nguyên nghỉ công tác từ tháng chín để ôn thi vào trường Cao đẳng mỹ thuật. Nguyên đã có bằng cấp III bổ túc văn hóa. Gần cuối bữa ăn, Nguyên bảo tôi: - Chị ơi, em... em... - Nó bỏ lửng không nói tiếp. Tôi bỏ bát bún đang ăn dở nhìn nó khó hiểu. Thảo nào đang lúc nói chuyện, tôi có cảm giác như nó định nói chuyện gì đó nhưng còn ngần ngạị - Chị tính xem em nên đi học hay đi bộ đội? - Nó nhìn tôi không chớp mắt. Thật khó trả lời. Lâu nay tôi vẫn là người chị khuyên bảo lời hay lẽ phải. Bây giờ sẽ phải nói với nó ra sao? Đi bộ đội hay đi học? Nếu suy bì hơn thiệt thì đi học sẽ tốt hơn nhiều. Nguyên sẽ có cả một tương lai mà tôi hằng mong mỏi cho nó. Nhưng khi nó đã cân nhắc giữa việc đi học và đi bộ đội thì có nghĩa nó nhận thức được vai trò của người thanh niên và sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, vất vả của người lính. Tôi nhìn Nguyên và bỗng thấy nó già dặn hẳn lên. Ừ, nó mười tám tuổi rồi còn gì! Tôi biết, Nguyên đã quyết định, chỉ vì tôn trọng tôi nên mới hỏi như vậy. - Cái đó tùy em - Tôi nói chậm rãi, mắt không rời vầng trán thông minh được phủ bởi lọn tóc đen phía trước của Nguyên - Em đã lớn, chị tin em sẽ có quyết định đúng đắn. Nhớ báo sớm cho chị biết ngày đi. - Đấy em biết mà, chị bao giờ cũng nói điều phải... - Nó ngập ngừng rồi nói rất nhanh: - Hơn nữa em ra đi để bù lại phần nào lỗi lầm của anh em, để người ta hiểu những đứa như em hơn. Nguyên cầm đĩa lên và trút hết chả còn lại vào bát của tôi: - Chị ăn đi, em gắp cho chị chẳng được bao lâu nữa. Hôm nay em đã khám sức khỏe, loại A1 nhá. Chị cứ chê em còm nữa đi. Ăn xong, Nguyên dành việc rửa bát. Trước khi bê mâm đi, nó còn lấy khăn mặt ướt và cốc nước đưa cho tôi. Thế là Nguyên đi bộ đội đã được sáu tháng. Vắng Nguyên tôi thấy cửa nhà vắng vẻ hẳn. Mỗi tháng Nguyên thường viết cho tôi ba bốn lá thư. Chẳng có chuyện gì xảy ra mà nó không kể, nào là bà chủ nhà rất thương hay để dành cho củ khoai, củ sắn mỗi khi đi tập về; nào là các trò nghịch ngợm của các cậu lính trẻ... Nó viết: “... Ngoài giờ luyện tập em vẫn tranh thủ vẽ thêm, nghỉ lâu sợ cứng tay mất. Được nhiều nhiều em sẽ gửi về cho chị xem, góp ý và giữ hộ em. Em rất khỏe. Tăng cân so với hồi ở nhà, da đen hơn trông như anh nông dân ấy, chắc chị không nhận ra mất”. Thư tôi nhận được cách đây hai tuần Nguyên báo đã đi lên biên giới phía Bắc. Trước đây, tôi chưa khi nào hỏi mà cũng chẳng nghe thấy Nguyên nhắc đến bố mẹ. Đột nhiên hai hôm trước ngày lên đường, Nguyên hỏi tôi: - Chị thấy em có nên đến chào bố mẹ em không? Hóa ra trong tâm hồn Nguyên vẫn còn một góc không nhỏ dành cho những người đã sinh ra rồi bỏ rơi mà tôi cứ tưởng không bao giờ Nguyên tha thứ cho họ. Hồi còn bé chỉ là sự giận dỗi, tức tối của con trẻ không được người lớn vuốt ve âu yếm. Nhưng khi lớn lên hiểu hết mọi việc diễn ra xung quanh, một mặt nó phán xét, một mặt thèm khát tình yêu của bố mẹ. Bằng cách có thể xa, nhưng ranh giới giữa tình yêu và sự căm thù thực là mỏng manh, Nguyên không căm thù bố mẹ nó, nhưng tình yêu ngày một cạn đi khiến người nó khô cằn. Chính cái đó mới là điều đáng sợ. Tôi rất mừng khi nghe Nguyên nói. Tối hôm ấy, tôi chuẩn bị cho nó quần áo đẹp nhất và giục đi. Khi Nguyên về, tôi không hỏi chuyện nhưng nhìn đôi mắt nó tôi đoán chuyện gì đã xảy ra. Đôi mắt đẹp ấy buồn hơn nhưng bớt sự lạnh lùng, chua chát. Bây giờ tôi mới chợt hiểu sức mạnh ghê gớm của tình yêu mà tạo hóa đã ban cho con người! Một năm nữa lại trôi qua. Một năm Nguyên làm anh bộ đội. Tối nay cũng như mọi tối khác. Viết xong bài báo để ngày mai nộp cho phòng, tôi lôi len ra đan. Đứa bạn đi công tác ở Đức về cho nửa cân len mầu xám, tôi dành để đan cho Nguyên. Mầu này rất hợp với đàn ông, hơn nữa ở biên giới mùa đông rất lạnh. Nguyên thường viết thư kể cho tôi nghe về bông tuyết đầu mùa phủ long lanh trên tán lá rừng... Đan thì đan chứ biết làm thế nào gửi lên cho Nguyên được. Khoảng mười giờ đang định dọn dẹp giường đi ngủ thì có tiếng gõ cửa. Ai đến chơi khuya thế nhỉ? Hay là Nguyên về? Tôi mừng rỡ đứng dậy, thì cánh cửa hé mở. Trước mắt tôi là anh bộ đội trạc ba mươi tuổi, quần áo bám đầy bụi đất. Chắc anh ta vừa đi qua chặng đường dài khá vất vả. Thấy vẻ ngạc nhiên, bối rối của tôi, anh ta nói luôn: - Tôi là Trung, cùng đơn vị với Nguyên. - Thế ạ! Mời anh vào chơi. Anh vừa trên đó về? Tôi hấp tấp đi pha nước, hỏi chuyện rối rít khiến khách không nói được câu nào. Bất giác, tôi quay lại nhìn Trung. Anh ta quay mặt đi khi bắt gặp cái nhìn của tôi. Tôi linh cảm có chuyện chẳng lành. Trung vẫn ngồi mân mê cái mũ mềm trong taỵ Không chịu được không khí căng thẳng ấy, tôi run run hỏi: - Có chuyện gì xảy ra với Nguyên phải không anh? - Vâng... Nguyên... hy sinh. Anh ấy nói gì thế nhỉ? Tôi thấy mình đang ngồi trên con thuyền trôi bồng bềnh, các bức tường nhà chao đi, chao lại. Tiếng Trung rơi lõm bõm vào tai tôi như tiếng người thở đứt quãng... Chúng tôi đi trinh sát thì lọt vào ổ phục kích của địch... Gần hết đạn mà địch vẫn tràn lên rất đông... Anh Trung phải quay lại báo cho đơn vị biết thôi... Không!... Nghe em, anh còn bé Sơn, đừng để bé Sơn phải mất bố... Tôi, hạ sỹ Nguyễn Thành Nguyên ra lệnh cho binh nhất Nguyễn Văn Trung phải chấp hành mệnh lệnh... Khi đơn vị tôi diệt xong ổ phục kích của địch, đến nơi thì Nguyên đã tắt thở, trên người có chín vết đạn bắn vào... Bóng đèn giữa nhà tỏa ra quầng xanh, đỏ, vàng giống như ánh đèn các mầu rọi vào chỗ chị em mình đứng đón giao thừa hôm nào, đúng không Nguyên?... Có phải Nguyên đấy không?... Đừng buồn chị nhé, đi bộ đội về em sẽ học ra trò cho mà xem... Em sẽ vẽ tặng chị bức tranh to đúng bằng người chị hôm cưới... Mặc thử áo len này đi, chị đan cho em đấy... Ôi, em không giơ tay lên được; đau quá, chúng nó bắn em. Chúng tưởng thế là chia rẽ được chị em mình chắc... Ai để hòn than lên ngực tôi thế này? Trời ơi, bức bối quá! Cả chiếc khăn quàng cổ này nữa, vứt đi! Đột nhiên người tôi run bắn lên như chạm phải lửa, nước mắt cứ thế chảy ra không sao ngăn được. Hãy chỉ đứa nào bắn em, Nguyên, chị sẽ trả thù cho em. Đừng bỏ chị, em ơi..! Không biết tôi sẽ ngồi khóc bao lâu nếu anh Trung không kéo tôi trở về với thực tại. - Chị hãy bình tĩnh lại. Nguyên dặn tôi đồ đạc của cậu ấy đưa về cho chị. Đây... Trung đưa cho tôi chiếc ba lô đã bạc mầu đang để dưới chân bàn. Anh xin phép ra về vì đã khuya, trước khi ra cửa anh còn quay lại bảo tôi: - Chị đừng tỏ ra mềm yếu, Nguyên không thích thế đâu. Câu nói ấy như một liều thuốc làm ngưng đọng mọi cảm xúc, mọi suy nghĩ trong tôi: ngưng đọng cơn hoảng loạn đang xâm chiếm tôi. Tôi ngồi lần giở ba lô của Nguyên. Có hai bộ áo quần bộ đội bạc mầu. Còn một chiếc áo bộ đội nữ - có lẽ là chiếc áo mà Nguyên đã viết thư kể cho tôi: “Em lấy chiếc áo mới phát nhờ cô cấp dưỡng cắt và tự tay khâu lấy cho chị. Chẳng hiểu có vừa với người chị không?”. Một tập tranh vẽ cuộn tròn rất kỹ, xếp giữa mấy bộ áo quần. Và cuối cùng là chiếc hộp sắt nhỏ, dẹt, hình chữ nhật. Tôi mở ra, bên trong có ba bức ảnh đã ngả màu vàng. Một bức ảnh người đàn ông, một bức ảnh người phụ nữ, đằng sau là chữ Nguyên viết hồi còn bé “Đây là bố”, “Đây là mẹ”. Còn bức ảnh thứ ba, đứa bé đang lẫy đằng sau có ghi dòng chữ: “... Mặt trời bé con của mẹ”. Lần giở được những thứ ấy ra, chân tay tôi mỏi rã rời như vừa phải làm một việc quá nặng. Không buồn mắc màn, tôi với tay tắt đèn rồi nằm vật ra giường, với chiếc áo len đan giở úp lên mặt... * * * Bạn bè, người quen hỏi thăm tôi về Nguyên, thì hoặc là tôi né tránh câu trả lời, hoặc là tôi nói thật điềm tĩnh: “Nguyên hy sinh rồi!”. Đó là điều không thể có trong tôi trước đây, một người không biết kiềm giữ niềm vui hay nỗi buồn đau. Sao lại thế? - Tôi không trả lời rành rẽ được, chỉ biết đó là ảnh hưởng của Nguyên đối với tôi. Em kiên quyết và bình tĩnh trong khó khăn, vui buồn của cuộc sống ngay từ những ngày em chưa làm người lớn. Và, chính vì vậy em sống có trách nhiệm biết bao! Tôi đã tìm đưa cho bố mẹ Nguyên ảnh chân dung họ thời trẻ. Họ đã khóc. Người đàn ông gục mặt vào song cửa, lặng lẽ lau mắt, còn người phụ nữ thì òa lên. Cả hai nơi tôi không ngồi lại lâu, chẳng phải vì tôi ghét bỏ họ, trái lại tôi còn thương họ nữa, nhưng quả thật tôi không thể nói chuyện với họ được. Còn bức ảnh đứa trẻ đang tập lẫy thì tôi giữ, tôi thấy mình có quyền làm việc ấy. Giữ bức ảnh đó, là giữ mãi hình ảnh của Nguyên khi buồn bã, khi cười đùa... là giữ mãi một cuộc đời cho cuộc đời mình. Con người đi qua, ánh sáng còn để lại mãi, phải vậy không? Và, em là mặt trời bé con của chị, phải vậy không, Nguyên? Tháng 8-1983 Het Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Chín, 2008, 11:35:15 pm Tác giả: Hoàng Thái Sơn
Địa chỉ: 1080.com.vn KỂ CHUYỆN CHIẾN TRƯỜNG Đến ga Tam Lu thì hành khách nhận được thông báo tàu phải dừng lại chờ sửa chữa một đoạn đường phía trước do cơn lũ quét bất ngờ hồi ba giờ sáng đã bóc mất. Tam Lu là cái ga xép giữa rừng với bóng núi xanh mờ pha đầy không gian và sự vắng lặng cùng tiếng chim bìm bịp chỉ chờ các chuyến tàu vút qua là tức khắc ập về, kéo mọi thứ trở lại thời hoang sơ. Đoạn đường bị hỏng đang được chữa chạy tích cực, tuy thế theo nhà tàu thì khả năng đi được ngay là khó. Vậy nghĩa là phải chờ mất một buổi hoặc lâu hơn. Hành khách lục đục đổ xuống sân ga, mấy dãy quán hàng lơ thơ phút chốc trở nên quá tải, những tàng cây lúp xúp đây đó cũng nhanh chóng bị chiếm lĩnh. Một số hành khách tìm đến mấy nơi xa hơn ngồi uống nước hoặc ngả lưng trên thảm cỏ. Lần đầu tôi tới đây, không thể ngồi một chỗ mà trừ khu nội ga buồn tẻ ra thì ngoài bờ suối kia, rặng núi cao ngất trước mặt kia cũng đáng được để mắt đến lắm. Tôi đi quanh ngót một giờ đồng hồ với đôi ống quần bám đầy bông cỏ may rồi quay lại tìm mấy đứa bạn. Là sinh viên mới ra trường đi nhận công tác, chúng tôi mang theo chuyến đi nhiều đam mê, háo hức, cái gì cũng muốn tìm hiểu và cái gì cũng dễ đặt ra câu hỏi. Dưới mái hiên một ngôi nhà nhỏ, mấy thằng bạn tôi đang ngồi vây lấy một ông già. Tôi nhận ra ngay ông cụ đi cùng toa với chúng tôi, khoảng sáu lăm tuổi, vóc người nhỏ nhắn và đặc biệt hay chuyện. Cụ lên tàu cách đây một ga, mới đi với chúng tôi một độ đường thế mà cụ đã hỏi khắp lượt mấy đứa, thậm chí còn nói tính nết ai ra sao, ai tương lai có cơ làm to... Cụ vô tư kể về gia cảnh mình, rồi làng cụ có bao nhiêu thương binh, bao nhiêu liệt sĩ, lại cả chuyện vừa qua có mấy tay phá rừng vừa bị tóm... Còn chuyến đi này của cụ rất quan trọng, là đi làm chứng cho phiên xử một vụ tranh chấp tài sản đầy ngang trái, kẻ có quyền cậy thế làm càn, coi thường phép nước và đạo lý; chuyến này cụ phải ra tay... Ông cụ đang kể một câu chuyện cho đám bạn tôi nghe. Tôi đặt dép ngồi xuống một bên. À, chuyện đánh giặc thời chống Mỹ cứu nước. Do đâu mà có tiết mục “kể chuyện đêm khuya” vào giờ chính ngọ này thì không rõ. Có thể vì một lý do rất tình cờ: một cánh chim lạc gió bay ngang qua khiến người lính già nhớ lại một kỷ niệm nào đó, cũng có thể từ những bàn luận về chuyến tàu tắc nghẽn dẫn sang một tình huống bất trắc, trái khoáy thường xảy ra trong chiến tranh... - Đến lúc trời sáng toét ra mới biết phía trước cửa mở, cạnh một ụ đất là một ổ súng máy được chúng bố trí rất khéo - cụ già tiếp tục câu chuyện - Ụ súng bị che khuất bởi túm cây mua, nòng chỉ nhô lên miệng hầm, lúc tối trời chỉ thấy nó khạc lửa nhưng chịu không biết nó nằm nơi nào. Con “chó lửa” giấu mặt này đã kìm bước tiến của quân ta, cả một đại đội tăng cường lọt vào cửa đồn rồi đành phải nằm rạp chờ đợi. Trước tình hình ấy, bố quyết định không quay trở lại xin chỉ thị của đại đội trưởng nữa, mà lui về giật khẩu B40 trong tay một cậu đang ép mình dưới giao thông hào, rồi bò lên, đưa cái tổ súng máy chết tiệt kia vào vòng ngắm, bình tĩnh bóp cò. Một tiếng nổ đinh tai kèm theo quầng lửa sáng rực, thế là đi đời quân chó má! Quân ta ào ào tiến lên. Bố bị ù tai bởi tiếng đạn chống tăng, không còn nghe gì nữa, cứ trương mắt nhìn theo ánh chớp và theo mọi người mà lao tới!... Sau trận ấy, rút kinh nghiệm mới thấy là tổ trinh sát trong khi nắm địa hình đã bỏ sót một hỏa điểm ngay hướng tiến chính diện của quân ta khiến gây thương vong ngoài dự kiến và trận đánh phải kéo dài. Trong tác chiến đây là điều tối kỵ, binh thư xưa kia cũng nói nhiều về chuyện này... Trận ấy bố được tiểu đoàn, rồi trung đoàn khen, lại còn được đi dự một hội nghị cấp quân đoàn báo cáo kinh nghiệm chủ động xử lý tình huống, tạo thời cơ cho đơn vị đánh thắng giòn giã... Phải nói ông cụ có khiếu kể chuyện. Cụ kể rành mạch, lớp lang đâu đó, giọng lúc lên bổng lúc xuống trầm cộng với điệu bộ của đôi tay khiến câu chuyện không mấy lạ lùng gì nữa vẫn lôi cuốn người nghe. Chúng tôi gọi một cút rượu từ mái quán. Rượu trắng trong veo, chỉ cần khẽ lắc là bọt trào lên. Cụ già nhấp một ngụm nhỏ rượu, dừng lại, đôi môi đụng đậy. Đó là cung cách của các ông già sành rượu ở các làng quê. Biết đích thị là rượu ngon, cụ mới ngửa cổ nốc cạn trong rừng rực chất men lan tỏa. Chúng tôi đề nghị cụ kể tiếp bởi thời gian xem ra còn dài. - Bố kể những gì rồi các chú? - Cụ già đặt chén xuống đất, khà một cái rõ to. - Bố kể ba trận đánh. Trận Mậu Thân tại Huế, rồi trận nào đó ở Tây nguyên mà ta phải nhịn ăn, chia khẩu phần ít ỏi cho tù binh, rồi trận bố bắn B40 tiêu diệt một ô súng máy của địch ở làng Vây. - Ờ, có một chuyện nhỏ là trong trận đánh vào Huế năm Mậu Thân, lính ta chẳng hiểu vì sao lại lọt vào một tiệm kim hoàn vô chủ. Có mấy cậu tham, giắt vàng vô lưng như nhặt khoai. Bố liền trừng mắt: “Được vàng là chết! Ông cha dạy rồi, nghe chưa, đừng ngu! Chiến tranh đang dài, phải giữ mạng sống mà đánh giặc, chết sao vội. Bỏ xuống hết đi!”. Thế là mấy chú lính non choẹt sợ mất vía, liền kính cẩn đặt dây chuyền, nhẫn ngọc lại chỗ cũ... Thời ấy mà tham thì nay bố cũng giàu to. Khớ khơ khơ!... Mấy giờ rồi, tàu sắp chạy chưa? - Dạ chưa đâu. Nhà tàu bảo cứ đợi. - Ờ, thì đợi... Trước chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ta đánh vào một thị trấn, bố không nhớ tên nữa, chỉ nhớ thuộc tỉnh Savanakhet. Tổ trinh sát của bố được đưa về bản Xà Đon gần kề đó điều tra địa hình ngót hai tháng ròng trước khi ta khai hỏa. Trên bố trí bô ở nhà một ông già Lào, là cơ sở tin cậy của ta ngay trong lòng địch. Nhà có cô con gái tên Bun Then. Ngày ngày bố cùng Bun Then cưỡi voi vào thị trấn, tiếng là đi thồ hàng vì trong nhà làm nghề buôn bán lặt vặt, thực chất đi quan sát địa hình. Nhờ Bun Then mà bố tự do đi lại nhiều nơi trong vai một anh thanh niên Lào, anh họ Bun Then. Nhờ sắc đẹp và tài ăn nói của mình mà Bun Then nắm được nhiều nơi quan trọng trong thị trấn rồi đêm về vẽ lại bản đồ cho ta. Hai tháng sống cùng gia đình Bun Then, bố có rất nhiều kỷ niệm, nhưng nhớ nhất là một lần vấp phải quân phái hữu lùng ráp. Lúc đó giữa trưa, bố đang ngủ ngon giấc trước thềm nhà thì nghe bước chân chạy rầm rập quanh hồi. Vừa choàng mắt đã thấy mấy thằng Lào ngụy léo nhéo chửi tục rồi leo lên cầu thang. Bố lao ngay vào buồng Bun Then, quên mất tập bản đồ lâu nay thu thập được lúc ngủ đem gối đầu ở ngoài thềm. Thử hình dung xem, nếu tập bản đồ lọt vào tay địch thì cơ sự sẽ ra sao? Nhất định chiến dịch bị lộ và phải dừng lại, cả nhà Bun Then và bố sẽ bị giết, thậm chí cả bản bị san phẳng! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Chín, 2008, 11:38:21 pm Đến giờ bố vẫn ngạc nhiên về tài trí của người con gái Lào xinh đẹp ấy. Té ra Bun Then đã tinh ý thấy bố để quên tập bản đồ phơi ra trước mắt quân giặc. Không kịp làm gì hơn, Bun Then liền ngồi ngay xuống sàn thềm gỗ lát, xòe tấm váy hoa sặc sỡ trùm lấy tập bản đồ trên 30 trang chi chít hình vẽ! Bun Then cười nói lả lơi, lại cả gan kéo chúng ngồi xuống bên cạnh. Mấy tên lính biết Bun Then từ lâu, chúng thường qua lại tán tỉnh, nhưng chưa bao giờ được người đẹp ve vuốt, cười cợt, lại còn vít cổ tặng cho mấy cái hôn. Mấy thằng lính được đà sàm sỡ, nắn bóp Bun Then. Cũng may hôm đó ông già ở nhà. Thấy chướng quá, ông già đằng hắng mấy cái rồi rút con dao giắt bên vách cái rột, thế là lũ trâu bò hiểu, đành đứng dậy ra đi. Bun Then giả bộ luyến tiếc hẹn gặp lại khiến chúng mừng rơn, có biết đâu cô nàng đã lừa được bọn chúng để bảo vệ bí mật trận đánh của quân ta, giải phóng quê hương làng, bản.
- Sau rồi thế nào ạ? Bun Then và bố yêu nhau chứ? Cụ già chun mũi, nhấp thêm chén rượu, rồi chỉ tay lên dãy Trường Sơn: - Các chú có tin là thỉnh thoảng bố nhìn lên dãy Trường Sơn để nhớ về những ngày tháng không thể nào quên không? Bố đã đi dọc đất nước triệu voi, tham gia nhiều trận đánh; nhưng nhớ nhất là đôi mắt nàng Bun Then, tưởng như trong mắt có lửa. Nhưng bố quyết không làm khổ Bun Then. Sau chiến dịch, bố chia tay Bun Then. Bố biết không có điều kiện để yêu thương nhau, không thể lợi dụng tình cảm Bun Then, mặc dù cô gái Lào chờ anh lính Việt tỏ tình, chờ một lần nắm tay buộc chỉ trong ngày tết năm mới Bun Pi May! Mấy lần Bun Then nói rằng Bun Then rất muốn qua Việt Nam để xem biển rộng ra sao. Lúc đó bố mới kể là biển đẹp như nọ, bao la như kia, thật ra là bịa bậy cả chứ bấy giờ bố cũng chỉ biết biển qua bản đồ thôi. * * * Sau bão, trời trong nắng vàng và lặng gió, núi rừng nghi ngút bốc hơi từ cơn mưa vừa tạnh. Sân ga dậy mùi ẩm mốc từ những đám lá mục lâu ngày, những mái nhà rêu phủ và quán lá kết bè rác bẩn. Hành khách sốt ruột đi đứng nhộn nhạo, có người trèo lên hỏi tận đầu tàu bao giờ mới thông đường. Sau mấy lần trả lời theo kiểu “có khả năng”, “theo trên cho biết”, “căn cứ tình hình”... rồi cũng đến lúc có thông báo chính thức đường đã thông, mọi người lên tàu đi tiếp. Chúng tôi lên tàu xem lại hành lý. Câu chuyện chuyển qua đề tài những lần kẹt tàu, con đường ngang tự mở của dân cắt đường ray và những tai họa thảm khốc. Cụ già ngồi im lặng vê thuốc hút bên cửa sổ chắn lưới. Chúng tôi mời cụ điếu đót nhưng cụ lắc đầu, nói rằng chỉ quen hút loại thuốc nhà trồng. Cụ lôi trong bọc ra cho chúng tôi xem những ngọn thuốc đuôi lươn bề ngang chỉ bằng bản thắt lưng. Chúng tôi im lặng ngồi bên cụ già không quen biết nhưng giờ đây đã trở nên khá gần gũi. Sau khoảng thời gian dài chờ đợi, con tàu dường như cũng hối hả lao đi. Ga Tam Lu mờ dần sau lớp kính vẩn đục. - Qua khỏi trảng sim này, đi một lúc nữa là tới ga Tân Lý, bố sẽ xuống đó. Chúng ta sẽ chia tay và chắc khó có dịp gặp lại các chú. Thành ra có câu chuyện này nếu bố không kể cho các chú nghe thì không được. Chúng tôi tin rằng còn một câu chuyện ly kỳ nào đó nữa trong chiến tranh mà ông già đã trải qua đang gợi lên trong lòng, khiến ông không thể không bộc bạch như một nỗi niềm đau đáu phải giãi bày. - Các chú tin những chuyện vừa kể là chuyện của bố chứ gì? Không phải. Bố chưa đi bộ đội bao giờ, suốt đời chỉ là một nông dân quen sống ở làng. Những chuyện ấy là chuyện của người làng, cụ thể là những người lính từ chiến trường trở về. Họ cùng lứa với bố, cũng có cả bọn đàn em. Hiện người đã chết, người sống thì một số đui què, nghễnh ngãng. Toàn bọn đánh giặc giỏi nhưng nói năng vụng về. Có cậu ít mồm ít miệng, vụng điều thưa tiếng nói mà chịu thiệt thòi, giấy tờ thất lạc cả, không biết kêu ai. Có đứa bị địch bắt giam ở Côn Đảo, về làng bị nghi oan là theo Mỹ mà không cách chi thanh minh được, thậm chí đàn bà con gái tử tế không ai thèm lấy. Có anh là dũng sĩ diệt Mỹ nhưng vợ quát một câu là đái ra quần… Các chú mà nghe họ kể về chính cuộc đời họ... nhưng như tơ rối, phải sắp xếp lại mới thành chuyện được. Mà cái làng của bố mấy cha cán bộ cũng không thua đám bộ đội nói trên, thành tích thì nhiều nhưng đến nay vẫn chưa được cấp trên công nhận cái anh hùng lực lượng vũ trang, chỉ vì không biết viết báo cáo! - Nhưng cháu hỏi thật, bố có bịa thêm không đấy? - Đời nào! - Cụ già cười - Giá kể mà ăn tiền thì ta sẽ bịa chơi. Đây chỉ kể chuyện thật người làng ta thôi. - Chà, thế mà cháu cứ tưởng... Mà bố kể chuyện hay thật, phải công nhận. Nếu được học hành nghiêm chỉnh, ý cháu nói là bố được đào tạo cẩn thận, có khi lại chẳng thành nhà văn. - Bố là nhà thơ - cụ già cười rung bộ râu cằm lưa thưa - Dân làng gọi bố là nhà thơ, mà thơ bố cũng không xoàng. Tôi chợt ngẫm lại ở mỗi làng quê ta thường có một ông già hóm hỉnh, vui tính, hay làm thơ đặt vè, đặt lời nói lái, đặt câu đố hoặc hay đố chữ. Đó là những con người tài hoa, tinh tế trong cảm thụ, dí dỏm trong đối đáp và sống hồn nhiên... Cụ già này chính là người như vậy. Thấy chúng tôi ra chiều có ý muốn biết thêm về cụ, cụ bèn cười nheo đuôi mắt rồi nói: - Làng bố có bốn xóm Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi xóm có một nét riêng, và bố có thơ như sau: Xóm Đông là xóm anh hùng Đi mô quát nấy lung tung làng tàng Xóm Tây ở bẩn nhất làng Xóm Nam sắm chổi quét đàng làng đi Xóm Bắc có thói ngủ khì Trưa ngày mụ vẫn ôm ghì lấy ông. Chúng tôi lăn ra cười, tàu vào ga lúc nào không biết. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 18 Tháng Mười Một, 2008, 07:37:54 pm Khắc dấu mạn thuyền .... Những giọt mưa bom có thể xô đổ một rặng núi, có thể chôn sống một dòng sông, vằm nát một đại ngàn. Còn bây giờ thì không phải là mưa, mà cả một trời bom đang giáng xuống. Và không phải núi, không phải rừng mà là nhà cửa, phố xá. Bầu trời bao la tột độ hung tàn. Thành phố thì nhỏ như lòng bàn tay. Sức hủy diệt thì tối đa, và mạng người mong manh biết mấy. Tôi nghĩ. Người gồng lên, căng nhức, chờ đợi.... Đời tôi, đi đây đó đã nhiều, nhưng lại rất hiếm dịp được thấy Hà Nội. Chỉ một lần thuở bé, rồi một lần hồi chiến tranh, và mấy năm sau này thêm đôi lần nữa. Thành thử, ở Hà Nội, ngoài hồ Hoàn Kiếm với cầu Long Biên, tôi chỉ đại khái biết một ngôi nhà là nhà ga Hàng Cỏ và một con đường là đường xe điện. Nhưng, mặc dù như vậy, mỗi khi nhắm mắt lại nhìn sâu vào những nẻo đường của ký ức, bao giờ tôi cũng thấy hiện lên, tuy rất đỗi mơ hồ, bóng dáng của Hà Nội phố xá. Cái thành phố sâu thẳm, xa lạ, chẳng chút thân thuộc ấy, từ lâu lắm rồi đã lẳng lặng ăn vào đời tôi như là một trong những miền đất thân yêu nhất, dẫu rằng đấy là một tình thân yêu tưởng như không đâu, một duyên nợ hầu như vô cớ. Không hẳn là một nỗi niềm mà chỉ là bâng quơ một cảm giác, không thành một câu chuyện mà chỉ như là một nốt sầu còn vương lại của thời trai trẻ chiến tranh, một thời tuổi trẻ đã hoàn toàn mai một nhưng dư âm vọng suốt đời. Như tiếng mưa rơi. Như tiếng gió lùa. Như tiếng lá rụng. Mà không bao giờ quên. Từ bấy tới nay, thời gian mất đi đã hai chục năm tròn. Hà Nội thuở đó với Hà Nội bây giờ có lẽ đã như là một trời một vực. Ngày ấy, từ mặt trận Quảng Trị, tôi lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp Bộ tư lệnh đang đóng ở rìa thủ đô. Khi chúng tôi ra tới nơi, thành phố đang ngất trời bom đạn. Đây thực sự là cuộc đụng đầu sống mái, một trận quyết chiến vì lẽ mất còn. Giữa huống cảnh chung nước sôi lửa bỏng như thế, chẳng dám màng gì một chuyến về quê, tôi chỉ xin được rảo vào phố để rải non chục lá thư của anh em đồng đội người Hà Nội đã gửi gắm. Tôi muốn trao thư tận tay các gia đình, để có thể nhận được ngay hồi âm mang ngược vào đơn vị cho lính ta sướng. Lựa ngày Nô-en, cấp trên thuận cho tranh thủ. Hạn đến 0 giờ phải trở về trình diện. Tôi vào thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước. Mặc dù không biết phố nào vào với phố nào, lại ôm trong mình những chín lá thư, nhưng thoạt đầu tôi nghĩ không việc gì phải lo. Chỉ cần hỏi tới một địa chỉ, rồi từ đấy lần lượt nhờ người ở địa chỉ trước đưa mình đến địa chỉ sau. Không dè, rốt cuộc, cả chín lá thư tôi đều phải lùa vào phòng qua khe cửa. Ngày hôm ấy, dường như cả Hà Nội đã khóa trái cửa, bỏ nhà đấy mà đi. Xong được lá thư chót, trời đã tối sầm. Phố dài vắng ngắt ngâm mình trong mưa, tù mù những vùng đèn đường. Tôi hỏi được về Vọng. Một anh dân phòng diện ủng, vận áo tơi bạt, tận tình dẫn tôi đi một đoạn khá xa đường. Đến ngã ba nọ, trước khi chia tay, anh chỉ xuống cặp ray đường tầu điện chạy sát vỉa hè và bảo tôi cứ bám theo đó mà đi là đến. Sụp mũ cối xuống, dựng cổ áo lên, tôi lần sâu vào trong màn mưa phùn mờ mỏng dưới trời đêm lạnh buốt. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại. Thăm thẳm nối nhau những chặng đường khuya không ánh sáng đèn, không một bóng bộ hành, không bóng một hàng quán. Hơi thở lạnh ngắt của đêm mưa ngấm vào tận cái dạ dày tôi trống rỗng. Các khớp xương cóng nhức cứng đơ như đang rời cả ra và rơi rụng. Cơn sốt âm ỉ từ chiến trường dâng lên dọc sống lưng, tôi sởn gai ốc, và không ngớt rùng mình. Đầu óc chậm chạp chung chiêng, đầu gối những muốn khuỵu xuống. Đi chưa được mấy đường, tôi đã bắt đầu đếm bước. Màn đêm ướt át như đông lại. Không nhìn thấy gì trước mắt, suýt nữa thì tôi đã xô người tới va mặt vào một cái đầu tầu điện đen ngòm đậu chết cứng giữa lòng đường. Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè, rồi lảo đảo tấp vào dưới mái hiên một ngôi nhà. Răng va lập cập trong miệng, tôi tựa lưng vào cánh cửa đóng chặt, rồi từ từ trượt người xuống, ngồi phệt lên cái bậc tam cấp ướt đẫm hơi mưa và lạnh như một cây nước đá. Rét mướt buốt tim, tôi rên hừ hừ và rồi cũng không rên nổi nữa. Cũng không sao ghìm lại được cơn run, cứ run bắn lên, run cầm cập. Thân nhiệt của mình lúc này có lẽ chỉ còn bằng với người đang ngắc ngoải, cái đầu đã tê cóng của tôi lờ đờ nghĩ, không khéo mà khốn đến nơi rồi, không khéo mà là một cơn ác tính. Những người bị sốt rét ác tính nằm chết trên võng giữa rừng sâu, còn mình thì chết ngồi, chắc thế, và sẽ hóa thành tảng đá co ro trước cửa nhà người ta. Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm. Đã ướt lại ướt thêm một lượt nữa, tôi thở hắt, mặt mày xây xầm. Biết là cần phải dốc toàn lực bình sinh mà đứng dậy và bước đi, song hết rồi, nghị lực đã tê bại. Sinh lực xuống nhanh như mực nước trong một cái bình bị đập vỡ đáy, sự sống trong tôi xoay tròn một vòng và từ từ, lặng lẽ lật nghiêng. Đúng khi đó, sau lưng tôi, cửa kẹt mở. Tôi nghe thấy nhưng mà không ý thức được tiếng động ấy. Cơn choáng ngất gần như là một nỗi yếu mềm, một sự buông lơi, như thể một tiếng thở phào, nhẹ nhàng ru tôi ra khỏi tôi... Thời gian ngưng lại, không biết là trong bao nhiêu lâu. Tôi từ từ mở mắt. Tâm trí đậu xuống ở đâu đó bên rìa một vầng ánh sáng rất mờ. Vẫn còn bồng bềnh, vẫn còn u u minh minh, song tôi biết là lúc này mình đã ở trong một căn buồng, chứ không phải đang ở giữa chừng cơn mê sảng. Tường phòng hình như là quét vôi ve nhưng mà có lẽ do lâu ngày nên mầu vôi đã bợt. Trần nhà u tối. Không khí ấm sực mùi dầu long não. Tôi khẽ đụng cựa. Dưới lưng, nan giường ót ét. Người tôi ủ trong chăn, đầu kê lên gối. Yên tĩnh, khô ráo và ấm áp đến khó tin. Tôi trở mình. Từ trên chiếc bàn con kê ở góc buồng, ngọn lửa đèn dầu nhỏ liu điu im lìm tỏa ra một quầng sáng tù đọng mầu vàng đục. Tích tắc đều đều trong đêm vắng, tiếng đồng hồ để bàn một mình rả rích với thời gian. Chợt nhớ đến giờ giấc, tôi giật mình, rên lên. - Ôi, anh... - Một bàn tay nào đó êm ái áp vào má tôi, một giọng nói se sẽ, nhỏ nhẹ, thì thầm: - Ôi, anh tỉnh rồi. Ôi, em lo quá... Tim như thể đứng dừng lại, lại như thể đập loạn xạ, tôi ngây người. Chuyện gì thế này nhỉ, cô gái nào thế này? - Tôi... - Mãi mới mở miệng nổi, tôi nói, nhưng ấp úng, lưỡi ríu vấp, chẳng nói gì được - Tôi ở đâu đây... đây là đâu? - Đây là nhà em mà anh, - Bàn tay cô gái nhẹ nhàng đưa lướt trên trán tôi. - Anh là khách của em mà. Tôi cố định thần, cố lấy sức, thở dốc, và nặng nhọc xoay người sang phía chủ nhà. Cô ngồi ở mép giường, nhưng gương mặt lại lùi khỏi vùng chiếu sáng của ngọn đèn. Tôi chỉ thấy được hai bờ vai với phần một mái tóc của cô buông xõa. - Anh vẫn còn hơi sốt đấy, nhưng vậy là đỡ nhiều rồi. May quá đi mất. Chứ cư như lúc thoạt đầu thì sợ quá. Ôi lúc ấy anh làm em hết cả hồn. - Nguy rồi... - Thều thào tôi nói - Quá phép mất rồi... Tôi, tôi phải đi đây... - Ô kìa anh, anh đi đâu thế nào được. Ra ngoài rét bị lại còn nguy hơn. Với lại quần áo của anh phải hong bếp lúc nữa, chứ chưa mặc được đâu, còn ẩm lắm. - Cái gì? Tôi hoảng hồn, sực tỉnh, đưa tay sờ nhanh lên đùi, lên ngực. Người tôi tái dại đi, nhưng muốn co rúm lại. Dưới tấm chăn bông, thằng tôi đã như trần trụi! - Bây giờ để em xuống bếp đưa cháo lên anh ăn nhé. - Thản nhiên, cô gái nói, sẽ sàng đứng dậy, rời khỏi giường. - Bộ quần áo em để cạnh gối, anh mặc tạm. Cũng là đồ bộ đội đấy. Nói đoạn, không cầm theo cây đèn, cô quay lưng đi ra phía cửa, bước mò trong bóng tối. Tôi tung chăn, ngồi nhỏm dậy. Từ trong chăn, hơi dầu gió nóng hực phả ra cay mắt. Tôi xỏ vội xỏ vàng vào quần áo. Bộ Tô Châu hăng mùi băng phiến, còn mới và khá vừa với tôi. Đàng hoàng trong quân phục, tôi như lấy lại được sinh khí, dẫu rằng toàn thân vẫn đau nhừ, đầu óc váng vất, và trong tai, phần còn lại của cơn sốt vẫn đang kêu o o. Nhưng mặc dù nhọc mệt đến thế, tôi vẫn kịp ngửi thấy lập tức mùi cháo nóng, khi cô chủ nhà còn chưa vào hẳn trong buồng. Cô bước đi rất nhẹ, đôi guốc chạm rất khẽ trên sàn gỗ. Cô để mâm xuống bàn, vặn cao bấc đèn lên. - Tạnh mưa rồi anh ạ. - Cô nói, và không hiểu sao, lại thở dài. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 18 Tháng Mười Một, 2008, 07:38:42 pm Khắc dấu mạn thuyền (Tiếp)Trong nhập nhoạng tranh tối tranh sáng của căn phòng, tôi lặng nhìn. Người con gái xa lạ tuyệt vời ấy như thể một ảo giác hiện thoáng lên trước mắt tôi, một ảo giác tuyệt trần, xinh đẹp và hiền dịu. Xinh đẹp và hiền dịu, gương mặt, cặp mắt, đôi môi, thực thế, mặc dù thật ra tôi đã không thể kịp nhìn rõ cô. Bởi vì, giờ của thành phố này đã điểm. Chỉ trong nửa phần của một tích tắc, trời đất không kịp trở tay, không kịp cả đến rùng mình. Một cái gì đó kinh khủng, một cái gì đó choáng hồn, như một nhát chém sả, đột ngột xé toạc sự tĩnh lặng ra làm đôi. Chiếc phản lực trinh sát, chỉ một chiếc thôi, bất thần cắt ngọt một đường bay sấm sét, khoan thủng thinh không, là sát sàn sạt mái ngói những ngôi nhà, tuốt dọc sống lưng thành phố. Trong phòng, cả đến ánh đèn dầu cũng như chết lặng đi, nín thở... - Hình như qua rồi, - Cô gái lên tiếng, gần như thì thầm, và run run, phác một nụ cười nhợt nhạt - Hình như nó chỉ dọa. - Ừ, - Tôi nói - Nó chỉ là một thằng thám báo bay vụng đánh lén mà thôi. Đừng... Tôi định trấn tĩnh cô, định bảo rằng không việc gì phải sợ, thì còi báo động rú lên, cướp lời tôi. Mặc dù qua mấy đêm rồi đã nghe quen, và mặc dù đã đón trước, tiếng còi vẫn làm tôi lạnh cả tim. Dường như chưa đêm nào lời cảnh báo của chết chóc lại vang lên dễ sợ đến nhường ấy. Và B52, B52, B52... B52 đang tiến vào, loa phóng thanh khẩn thiết cấp báo, giục giã. B52. Cách Hà Nội chín mươi cây số. Tám mươi cây số. - Bọn Mỹ! - Tôi nói - Chúng nó đang vào. Thằng Mỹ vừa nãy là thằng bay mở đường. - Vâng. B52 đấy. Lại một đêm nữa. - Phải ra hầm thôi! - Tôi không nén nổi hồi hộp - Chúng nó vào sát rồi. Mau lên! - Nhưng, anh thấy trong người thế nào? - Cô gái thở dài, đầy vẻ lo âu trẻ thơ - Ngoài trời rét lắm. Cảm giác lâm nguy đột ngột trở nên nhức nhối. Miệng tôi như khô đi, họng thắt lại, trống ngực nện thình thịch. Xưa nay linh tính không khi nào đánh lừa tôi. - Anh phải ăn đi một tý đã. Cho nóng... - Không! - Tôi nói, giọng khàn hẳn - Nóng nguội gì. Bom xuống bây giờ đấy. Rải thảm vào đây đấy! - Sao anh biết? - Cô gái thốt lên kinh ngạc. - Ngửi thấy chứ còn sao! Mau lên, ra hầm! - Tôi sẵng giọng, như quát. Thổi tắt ngọn đèn, cô gái nắm lấy cổ tay tôi kéo nhanh ra khỏi buồng. Sự căng thẳng nơi tôi đã truyền sang cô nỗi hãi hùng. Cô thở hổn hển. Tiếng guốc gõ mau, gấp gáp. Chúng tôi xuống cầu thang, sau đó còn phải qua một hành lang rất hẹp, ẩm ướt và sâu hun hút, rồi mới ra đến ngoài đường. Trời đã tạnh mưa và màn đên thì như có phần nào quang ra trong bầu không khí trong suốt rờn rợn. Giữa lòng đường, trước cửa nhà, cái đầu xe điện vẫn lù lù đứng đấy như một chiếc tàu mắc cạn. Cái hố cá nhân bằng xi măng đúc, miệng mở ra đen ngòm ở mép vỉa hè. - Chúng mình ra hầm công cộng đi anh, - Cô gái nói trong hơi thở gấp - Những cái hố tròn này em chẳng bao giờ dám xuống. Dưới đó đầy nước. Rợn chân lắm. - Lại còn thế! - Tôi gắt. - Ngay kia thôi mà, anh. Với lại ở đó đông người, đỡ sợ. Chúng tôi bước lao đi, ngược chiều gió thốc. Cả thành phố đã ẩn mình. Trên mặt đất chết lặng chỉ còn trơ vơ có hai chúng tôi, sóng đôi nhau trong nỗi kinh hoàng. Thời khắc từng giây từng giây một như bị nuốt đi mà chặng đường trốn chạy thì hầu như không cùng. Một ngã ba. Rồi nữa một ngã tư. Cái hầm công cộng của cô gái đâu mãi không thấy. Mà vì vướng đôi guốc nên cô nàng không chạy được. Với lại, trời ơi, có chạy cũng không kịp nữa rồi. Vùng ngoại vi đã khai hỏa. Các trận địa pháo 100 ly đồng loạt cất tiếng gầm. Chớp giật sáng lóe. Và tên lửa, từng cặp, từng cặp rẽ trần mây, ầm ầm lao lên, vạch những luồng đỏ rực. Nhưng, giữa sấm sét của quân ta đang cấp tập giành đòn, bằng kinh nghiệm máu xương và sự sống chết rủi may của một thằng lính chiến trường, tôi đã nghe thấy từ trên đỉnh trời đêm thăm thẳm cái mà tai tôi còn chưa thể nào nghe thấy, cái mà linh tính đã báo trước. Và tôi biết, với hai chúng tôi, thế là hết. Bom rồi. Bom sẽ phang chính diện đoạn đường này. Đang lúc này, số phận lại tàn nhẫn đặt chúng tôi lọt vào giữa một quãng phố rất dài, mà hai bên đường không hề có nhà cửa, chỉ có hai chặng bờ tường cao chạy liền một mạch. Và dưới ánh chớp của những đường đạn cao xạ, tôi không thoáng thấy một chút hầm hố nào ở hai bên vỉa hè. Một tọa độ tuyệt vời của cái chết. Có cố rảo thêm vài bước chân nữa cũng thế thôi. - Nó cắt bom rồi! - Tôi nói, và nắm nhanh lấy khuỷu tay cô gái, kéo cô đứng dừng lại. - Kìa anh. Chỉ đoạn nữa thôi! - Không kịp đâu, - Tôi thong thả nói, bình tĩnh đến ghê người - Bom đang thả xuống đây đấy. Nằm xuống mau lên đi. Và đừng có hoảng. Cô gái ngoan ngoãn nằm áp xuống cạnh tôi, dưới chân bức tường gạch. Hẳn là cô rất hoang mang, nửa tin nửa ngờ trước lời khẳng định chết người ấy của tôi. Song, chỉ mười giây nữa không hơn, tôi biết thảm bom sẽ chạm đất. B52, những con khủng long giời sầu đất thảm ấy, tôi còn lạ gì. Trong kia, chúng bay ban ngày ở độ cao vừa phải, đội hình khi sáu chiếc khi ba chiếc, lừng lững càn quanh trời, cày vào thinh không những luống dài khói đặc, ồ ồ dội bom như mưa trời. Những giọt mưa bom có thể xô đổ một rặng núi, có thể chôn sống một dòng sông, vằm nát một đại ngàn. Còn bây giờ thì không phải là mưa, mà cả một trời bom đang giáng xuống. Và không phải núi, không phải rừng mà là nhà cửa, phố xá. Bầu trời bao la tột độ hung tàn. Thành phố thì nhỏ như lòng bàn tay. Sức hủy diệt thì tối đa, và mạng người mong manh biết mấy. Tôi nghĩ. Người gồng lên, căng nhức, chờ đợi. Nhưng, tôi hầu như không nghe thấy tiếng nổ. Mặc dù đã đón trước, vẫn cứ bị bất ngờ. Thình lình, tối tăm mặt mũi. Mặt đất rùng mình, rướn lên. Không gian méo lệch đi. Rồi cái gì đó nóng bỏng, rực lửa, nhọn hoắt, và tung tóe, đập vào mặt. Hơi bom nóng đặc xộc đầu phổi. Cô gái lăn sát vào tôi. Tìm sự che chở. Cô nép sát tấm thân lạnh cóng vào người tôi, thở sát vào khuôn mặt tê dại nhưng đẫm mồ hôi của tôi, tóc cô tung xõa ra. Lại một dây bom nữa, lần này như ngay ở bên kia bờ tường. Đất đá, xi-măng, gạch ngói, nhà cửa cùng một lúc nổ tung. Trời đất rống kêu, rền vang như gang vỡ. Sóng xung kích ào qua ập lại. Chết này! Chết này! Chết - ết - ết...! Tôi nghiến răng ôm ghì lấy cô gái, đợi cái chớp mắt cuối cùng tan xương nát thịt. Bom à à rơi, hú vang, man rợ, nối nối vào nhau rồ rồ. Cứ mỗi luồng tiếng nổ và hơi bom quạt tới, thân thể chúng tôi càng xoắn vào nhau. Nhừ tử vì sức ép, cả hai đờ đẫn, ngất ngư. Thình lình, cái chết nhả móng vuốt. Bầu trời như sập cửa đánh sầm một cái. Rồi hẫng đi, lặng phắc. Tiếng nổ của quả bom cuối cùng dập tắt mọi tiếng nổ. Chúng tôi vẫn nằm, ôm riết lấy nhau. Dường như cả hai đã hoàn toàn tê liệt, không thể nào ý thức được, không thể nào cảm nhận nổi cái sự sống sót ngoài dự kiến này. Lặng đi như thế khá lâu, cô gái mới đụng cựa thân mình, duỗi người ra khỏi tôi. Chậm chạp, tôi đỡ cô đứng dậy. Một bên vai áo rách toang, tóc xõa rối, ánh mắt sợ hãi, cô luống cuống quờ quờ chân tìm đôi guốc, không biết để làm gì cái đôi guốc cao gót ấy. Khói đặc trôi là là. Mùi thuốc bom khét cháy. Trời mây bầm đỏ. Trong khi đã đỡ tiếng ù, tôi nghe thấy từ đâu đó phía trước rất gần, dậy lên tiếng kêu cứu. Rồi cả đoạn phố ầm ầm lên huyên náo. Từ phía sau, rầm rập một đám đông đổ tới cuốc xẻng, xà beng, với cáng thương, hối hả tràn qua. "Đứng ì ra thế à! - Ai đó giận dữ quát lên với tôi, gay gắt, đau đớn, khàn đặc - Hầm sập, người thì chết, ngay trước mắt kia kìa, giời ơi-ơi...!" - Ôi giời ơi, hình như chỗ hầm công cộng, anh ơi! ở đó bao nhiêu là người... - Cô gái kêu lên thảng thốt. - Anh phải lại đó góp một tay. Em về trước đi. Anh về sau! - Tôi nói. Và vùng ra khỏi tay cô, tôi hộc tốc chạy băng theo đám đông. Vừa chạy vừa ngoái lại, xua xua tay, gân cổ hét "Về đi! Chờ ở nhà!". Khi chạy đến bãi bom, trước khi cùng mọi người lao khuất vào trong vùng phố xá vừa bị hủy diệt, vừa ngổn ngang, vừa tanh bành, ngập khói, tôi còn kịp ngoảnh nhìn lại một lần nữa, và nhờ thế mà còn được nhìn thoáng thấy qua màn đêm sẫm mầu lửa cái hình bóng thân yêu và hư ảo ấy một lần cuối cùng... Lẽ ra thì đấy không thể là lần cuối cùng, bởi vì lẽ ra thì tôi đã trở về được căn phòng hồi đêm ấy và gặp lại được người con gái ấy của tôi. Khi đó đã báo yên từ lâu, trời đã sáng hẳn. Cứ theo đường tầu điện, con đường mòn độc đạo hồi đêm, tôi rảo bước quay trở lại ngôi nhà. Thoạt tiên, tôi chẳng để tâm, chỉ lẳng lặng bước tránh lên vỉa hè. Buổi sớm mai giá lạnh, phố xá thưa người, cái tầu điện già lão và sặc mùi gỉ sắt ấy không buồn thúc chuông, thả sức lao uỳnh uỳnh, hàng bánh sắt nện rầm rập, rít lên, tóe lửa. Động cơ điện rú è è chói tai. Nhưng nó vừa vụt qua thì lập tức tôi sững người, như thể bị một roi vút thẳng vào tim, sực tỉnh song chết lặng đi. Phố dài hun hút, thẳng tắp, không có lối rẽ. Dọc hai bên đường nhà liền nhà, san sát và hoàn toàn đơn điệu, nhà nào cũng y như nhà nào. Một mặt tiền ảm đạm cau có dưới một mái hiên lợp bằng những tấm tôn gỉ. Một cửa ra vào và một bậc tam cấp bước hẳn xuống vỉa hè. Trước mỗi nhà đều có một hố tròn bằng xi-măng đúc sẵn. Tầu điện đã chạy rồi, vật chuẩn độc nhất đã di động, nên giờ đây điều duy nhất tôi còn có thể xác định được là ngôi nhà ấy nằm ở phía trên vỉa hè bên nào. Song bên nào mà chẳng thế. Mấp mô, trồi sụt, lênh láng những vũng nước đọng trước những bậc thềm. Những mái hiên dột nát, những mảng bờ tường. Những cây bàng. Những cây cột điện... Không còn thời gian nữa, nhưng hồi lâu, như thể nhấm nháp nỗi tuyệt vọng, tôi vẫn cứ bước thấp bước cao, dạo đi dạo lại nhìn vào cửa những ngôi nhà, nhìn vào mặt những người từ trong đó đi ra. Cho đến khi lại một chuyến tầu điện leng keng chạy tới, tôi mới chịu khuất phục. Mặt mày vẫn nhem nhuốc tro than, tay chân xây xát, quần áo tả tơi và vẫn còn loang lổ vết máu của những người bị nạn trong đêm, tôi nặng nhọc lê bước, đầu cúi gầm, men theo cặp ray xe điện, đi về phía cửa ô. Trở về sau chiến tranh, khi họa hoằn có dịp nào qua Hà Nội thì tôi vẫn chỉ một lối mòn xe điện ấy để đi. Cứ như thế thôi, chẳng phải để tìm thấy một cái gì, cũng chẳng phải là để đi đến đâu. Lần gần đây nhất xuống ga Hàng Cỏ, tôi mất dấu con đường mòn. Hà Nội đã xóa bỏ tầu điện. Phố xá huy hoàng. Nhà cửa đẹp đẽ. Đời sống sung sướng... Có lẽ đến một ngày nào đó, người ta có thể hình dung nổi đã có thời tồn tại chính trên xứ sở tươi đẹp này những cảnh tượng đại loại như cảnh tượng tôi từng thấy hai chục năm về trước, khi tôi còn rất trẻ. Bảo Ninh Tiêu đề: Mảnh trăng cuối rừng Gửi bởi: selene0802 trong 31 Tháng Giêng, 2009, 09:28:30 pm Mảnh trăng cuối rừng Nguyễn Minh Châu Nguồn http://vnthuquan.net Ngọn bấc cháy đã gần lụi chợt bùng lên nổ lép bép trong chiếc ống bơ sữa bò đựng dầu cặn. Ngoài rừng sâu tĩnh mịch vọng lại tiếng suối chảy và tiếng kêu khắc khoải, tha thiết của đôi chim trống mái. Đã khuya rồi mà hơn mười anh em lái xe vẫn còn kẻ nằm người ngồi ngổn ngang trong chiếc lán nứa xiêu vẹo của tổ xăng dầu, chưa ai chịu đi ngủ. Sau tấm bìa che bớt ánh sáng, ngọn đèn dầu cặn toả một cụm khói lớn, soi tỏ hơn chục khuôn mặt dầu dãi và chiếu hắt ra ngoài đoạn đường mấp mô những hố bom và vết bánh xe tải sâu ngập gối. Đêm nay mưa dầm, trung đội lái xe được dịp trở về gần đông đủ. Cái lán nứa rất ồn ào, thỉnh thoảng một dịp cười vang lên chuyển cả rừng. Không biết ở trên đời còn có cảnh gì vui và náo nhiệt hơn những đêm như đêm nay, những chiến sĩ lái xe sau nhiều chuyến rong ruổi trên các ngả đường nay trở về gặp mặt nhau. Sau hàng chục đêm thức chong bên tay lái, tưởng như họ cứ nằm xuống là con mắt sẽ díp lại, vậy mà chẳng ai buồn ngủ cả - Xong chưa nào, đến lượt tớ kể nhé ? Người này chưa nói hết, người khác đã dặn trước như thế bằng giọng hết sức háo hức. Hình như trong đầu từng người đang xôn xao vô vàn hình ảnh trên dọc đường, và chính lúc này, những hình ảnh ấy đang chen lấn nhau đòi sống lại. - Xong chưa nào, đến lượt tôi kể nhé ! Một anh nằm trong góc tối nói. ...Một đêm, đầu tháng ba năm nay, chuyến xe chở hàng của tôi xuất phát từ kho K3. Lần ấy đồng chí lái phụ của tôi đánh xe đi nhận hàng thay tôi, vì tôi đang bận dự cuộc họp các lái xe lâu năm ở tiểu đoàn bộ. ở tiểu đoàn ra, tôi sẽ đón xe của mình dọc đường và đi hàng luôn. Hãy nói về cậu lái phụ của tôi một chút. Đấy là một đồng chí tân binh vui, trẻ, làm việc xốc vác nhưng tính tình hơi lẳng lơ một tý. Câu chuyện tôi kể đây cảy ra hồi tôi chạy mấy chuyến đột xuất bên đường miền Tây. Con đường miền Tây dạo ấy đang mùa mưa lũ, nhưng địch cũng đánh rát lắm ; những quãng qua khe qua ngầm nhất là quãng cầu Đá Xanh, anh chị em giao thông đang vật nhau với địch để quyết giữ con đường lên biên giới. Hôm đó trời vừa tối, mưa lác đác, tôi ở tiểu đoàn bộ ra đường đứng đợi xe bên đầu dốc bản Vang cháy. Một mảnh ni lông gói chiếc võng dù cắp bên nách, chiếc đèn pin khoác lủng lẳng trước ngực, tôi đứng hút thuốc lá phì phèo với các vẻ ung dung, thư thái. Phải nói, làm anh lính lái xe suốt mùa khô sang mùa mưa, con người như đã gắn vào buồng lái được một phút nhàn rỗi như thế thật hiếm và quý hoá. Tôi cứ tréo chân tựa bên gốc cây bên đường, thở khói thuốc vòng tròn và ngắm vầng trăng khuyết mỏng manh bằng con mắt mơ mộng. Nhưng rồi chẳng được lâu. Tôi bắt đầu sốt ruột thấy xe cộ cứ lao qua vun vút trước mặt như ngựa đua, thế mà chẳng thấy đồng chí lái phụ đánh xe lên. Trời tối càng lâu, nỗi sốt ruột của tôi càng tăng. Tôi hết sức lắng tai vẫn chẳng nghe tiếng "hát" quen thuộc. Tôi bực quá đỗi ! Giữa thời chiến, xe mình chỉ cần vượt lên thiên hạ nửa vành bánh, khi qua phà qua ngầm đã đủ nhàn. Hơn nữa, chuyến này, tôi đã dự định sẽ chạy sớm, giao hàng sớm để kịp quay về giấu xe ở rừng xăng lẻ. Giấu xe ở đó thật chắc chắn, lại gần nơi người chị ruột của tôi công tác. Tôi đã xin phép cấp trên, trong chuyến đi hàng này sẽ ghé thăm chị tôi. Chị tôi biên thư cứ phàn nàn : "Đã hơn ba năm chưa được gặp cậu Lãm đấy !". Nhưng dầu sao đó cũng chỉ là một việc riêng. Tôi đang bực và lo xe không lấy được hàng hay gặp trở ngại gì, thì đồng chí lái phụ đánh xe lên, từ dưới chân dốc, đã bóp còi inh ỏi như xe chữa cháy. Mặc tôi gắt, đồng chí lẳng lặng trao phiếu hàng cho tôi, vui vẻ đặt vào trong cốp gói xôi lạc và một bi đông nước đường. - Chúc anh đi may mắn nhé! Anh chàng vui tính nháy mắt ranh mãnh, rồi phát mạnh vào vai tôi một cái đau điếng. Xong, anh chàng co chân nhảy xuống đường. Chuyến này, theo phân công của trung đội, chỉ mình tôi đi. Tôi vẫn thường nhận một mình một đầu xe. Đồng chí lái phụ làm việc ở nhà. Từ biệt tôi xong, đồng chí phụ lái vừa đi qua mấy bước đã quay lại nắm tay nện vào cánh cửa xe sầm sầm : - Anh Lãm này, theo phiếu giao hàng, tôi kiểm lại thấy thiếu một chiếc lốp. Tôi đã bắt anh kho ký nhận vào trong phía rồi đấy nhé ! - Được. Tôi trả lời và rất bằng lòng về công việc ấy. - Còn một cái nữa, cái này có nhưng mà không ghi trong phiếu... - Còn gì nữa ? - Phía sau, có một người ngồi nhờ lên cầu Đá Xanh đấy. Tôi ngạc nhiên hết sức, hỏi vặn : -Sao cậu tự động vô nguyên tắc thế hử ? Nguyên do thế này, anh ạ... Thế này... Mặc dù những lý do cho đi nhờ xe đồng chí lái phụ trình bày đều hợp lý, tôi vẫn giận đồng chí ấy. Tôi đoán ngay con người đang ngồi sau kia nhất định là một cô gái. Và, trước mặt tôi liền hiện ra cảnh tượng hết sức quen mắt : Một bên là cái vẻ nũng nịu của một cô nàng ôm chiếc nón trắng đứng sát cửa xe, một bên là những câu hỏi ỡm ờ của "anh tài phụ" của tôi đang ngồi vắt vẻo trong buồng lái, một nụ cười và một đốm thuốc lá ló ra ngoài. Thế là đủ tai hại cho tôi rồi ! Tàn cho được câu chuyện ấy thì xe lên sớm làm sao được ? Đồng chí lái xe phụ đã quay về phía sau từ lúc nào. Tôi vẫn còn ngồi phân vân mấy giây. Xe chạy qua bao nhiêu chặng nguy hiểm mà trong xe lại có người đi nhờ ? Nhưng chẳng lẽ bây giờ bảo người ta xuống đi bộ ? Thôi được ! Tôi quyết định đi. Trước lúc mở máy. Tôi quay lại nhìn qua tấm lưới sắt gắn sau lưng, chỉ thấy tối mò mò như hũ nút và mùi cao su mới xông sang. Chẳng hiểu người khách đi nhờ ngồi ở góc nào. - Ai ngồi trong đó ? - Tôi lên tiếng, giọng hỏi chẳng lấy gì làm ôn tồn lắm. Không có tiếng đáp. Chỉ thấy động lịch kịch giữa các chồng lốp ôtô ở phía sau. Rồi lại nghe tiếng kêu lục cục khẽ như gà con cựa trong ổ. Tôi đoán câu chuyện trao đổi giữa tôi và đồng chí lái phụ, "người khách" đã nghe rõ hết, và bây giờ thấy tôi lên tiếng hỏi, người ấy sợ. Chắc người ấy đang phấp phỏng sợ tôi không cho đi nhờ. Nhưng người đó là ai ? Tiêu đề: Re: Mảnh trăng cuối rừng Gửi bởi: selene0802 trong 31 Tháng Giêng, 2009, 09:28:47 pm - Có ai ngồi sau đó ? - Tôi nhắc lại câu hỏi, lần này giọng đỡ gay gắt hơn.
- Tôi đây.. Tôi nhờ đồng chí lên cầu Đá Xanh một tẹo. Quả tôi đoán chẳng sai. Rõ ràng tiếng trả lời của một người đàn bà, một cô gái, tiếng nói trong lắm và rất bình tĩnh, cứng cỏi nữa là khác. Mặc, tôi vẫn hỏi gặng : - Đàn ông, hay đàn bà ? - Đàn ông ! - Thôi đi cô, đáng lý tôi đã mời cô xuống, đây là xe chở hàng quân sự ! Cô lên cầu Đá Xanh có việc gì ? - Em là công nhân giao thông. Anh gì ban nãy đã xem chứng minh thư rồi. Em về trên đơn vị có chút việc. Tôi hỏi bừa một câu cho vui : - Việc gì ? Hay là cô đi thăm chồng hay người yêu. - Em đi thăm người yêu đấy. Tôi vội nổ máy và trong bụng cũng phát hoảng lên vì cái cách con gái ăn nói đối đáp bạo dạn nhường ấy. Nhưng nghe giọng nói, chẳng phải giọng một câu nói đùa. Biết đâu đấy, biết đâu cô ta nói thật ? Các cậu ơi, hãy chịu khó đợi một chút ! Đồng chí lái xe đang kể chuyện nằm khuất trong bóng tối lên tiếng kêu gọi. Mọi người đang nóng lòng muốn biết lý lịch cô gái đi nhờ xe. Họ cứ làm ồn ào thúc giục đòi kể tiếp. Ngoài rừng vọng tiếng suối chảy tràn trên đá và tiếng đôi chim kêu rụt rè ở hai góc rừng. Người kể chuyện khom lưng qua góc ngoài tấm sạp nứa, đôi mắt nheo tít lại vì khói, thổi tắt ngọn lửa xanh cháy trong lòng chiếc ống sữa bò. Căn lán phút chốc chìm trong bóng tối đầy tiếng động kỳ lạ của đêm rừng. Câu chuyện lại được kể tiếp. Các đồng chí đừng sốt ruột vì cô gái. Hãy để cô ta ngồi đấy giữa hàng chồng lốp ôtô... Bây giờ, tôi kể xen vào một câu chuyện nhỏ, chuyện riêng của tôi. Tôi có một người chị ruột làm cán bộ ở một hạt giao thông quãng cầu Đá Xanh. Cách đây bốn, năm năm, trong chúng ta có đồng chí nào hay chạy con đường miền Tây, chắc còn nhớ cảnh tấp nập, đông vui của công trường xây dựng cầu Đá Xanh. Từ ngày đầu mới mở công trường, chị Tính, chị tôi, đã có mặt. Chị tôi ở tổ đá. Những người con gái làm đá đông lắm, có hàng trăm cô. Trong tổ đá của chị tôi có một cô tên là Nguyệt. Phải, Nguyệt là trăng. Cái tên khá đẹp ! Đấy là một cô học sinh mới rời ghế nhà trường đi kiến thiết miền Tây. Chị tôi coi Nguyệt như một cô em gái, rất yêu mến Nguyệt, bởi lẽ cô ta rất ngoan ngoãn và tích cực. Bức thư nào gửi về cho tôi, chị Tính cũng nhắc đến tên người con gái ấy, kể lể đủ các đức tính tốt đẹp. Rồi trong một bức thư, chị tôi bảo : "Chị đã tính toán, đã nhằm cô Nguyệt trên này cho cậu. Trên đời khó tìm được một người con gái như thế !" Bức thư sau, chị tôi giục tôi lên "xem mặt", và nói : "Chị cũng đã nói thẳng ý định của chị với cô ấy. Nó chỉ đỏ bừng mặt lên không nói gì. Nhưng khi nào chị nói chuyện về cậu, về cái chuyện cậu trốn nhà đi tuyển bộ đội, cô ta ngồi nghe rất chăm chú. Cậu tranh thủ lên ngay nhé. Nguyệt nó cũng đang muốn gặp cậu. Chỉ cần hai người gặp nhau một lần là xong thôi !" Hồi đó, sau khi đi bộ đội, tôi làm chiến sĩ lái xe phụ thường chạy các tuyến đường ngoài Bắc. Tôi cũng đi vài chuyến miền Tây, có ghé vào công trường thăm chị Tính và cô Nguyệt, nhưng không gặp cả hai người. Trong những bức thư gửi cho chị tôi, tôi thường viết thêm đôi câu hỏi thăm Nguyệt và ngụ ý hứa hẹn gặp Nguyệt. Chắc chắn Nguyệt sẽ được xem tất cả những lá thư của tôi gửi cho chị Tính nên đã hiểu biết về tôi ít nhiêu. Giữa chốn rừng núi heo hút, một bức thư đến đều xem như của chung của mọi người. Bẵng đi mấy năm, chị tôi về Hà Nội học. Rồi xảy ra cuộc kháng chiến chống Mỹ ; tôi xuất ngũ rồi tái ngũ. Bao nhiêu đường sá miền Tây và miền Trung, địch bắn phá dữ dội ! Tôi chưa kịp lấy vợ nhưng câu chuyện cô Nguyệt và những bức thư của chị Tính tôi đã quên từ lâu. Chị Tính đi học gần hai năm lại quay về tuyến đường miền Tây. Từ nơi rừng núi quen thuộc, chị lại biên thư cho tôi, lần này kể chuyện địch bắn phá cầu Đá Xanh, chuyện các đơn vị giao thông quyết bảo vệ đường cho xe chạy. Những chuyện ấy với tôi chẳng có gì lạ. Nhưng lạ lùng hết sức, chị tôi nói quả quyết Nguyệt vẫn nhớ và đan chờ tôi. Qua mấy năm, có bao nhiêu người hỏi, nhưng cô ta đều trả lời đã trót hẹn với một người rồi. Chị tôi cho biết Nguyệt đang làm ở ngầm, một nơi rất ác liệt, vẫn ở gần chị. Cô ta giờ đã lớn, càng ngoan ngoãn, dũng cảm và lại xinh đẹp hơn trước nữa kia. Thú thật, lần này cầm lá thư của chị Tính, tôi rất sung sướng và cảm động. Và cũng thật kỳ lạ ! Qua bấy nhiêu năm sống giữa bom đạn và tàn phá, mà một người con gái vẫn giữ bên lòng hình ảnh một người con trai chưa hề gặp và chưa hứa hẹn một điều gì ư ? Trong lòng cô ta, cái sợi chỉ xanh nhỏ bé và óng ánh, qua thời gian và bom đạn, vẫn không phai nhạt, không hề đứt ư ? Hạnh phúc người con gái ấy đem đến cho tôi quá nhiều. Cho nên tôi cảm thấy mình như một kẻ chịu ơn. Tôi phải gặp Nguyệt ! Tôi quyết định biên thư cho chị tôi, hẹn ngày gặp Nguyệt ! Đấy là cái ngày mà tôi đã được đại đội cho phép nghỉ. Sau chuyến xe chở lốp lên kho tiền tiêu, tôi sẽ quay về cánh đồng săng lẻ giấu xe, rồi ghé vào chỗ chị Tính làm việc. ở đó, chị Tính sẽ dẫn tôi xuống đội của Nguyệt. Tôi sẽ ở lại chơi một hôm, với tư cách là... khách qua đường của đội nữ công nhân giao thông bến ngầm. Chiếc Gát lăn bánh rất êm trên đường. Đêm rừng thật vắng vẻ và yên tĩnh. Tôi đặt nhẹ mấy ngón tay trên vòng lái, mắt nhìn phóng về phía trước, và hình dung trước lúc tôi đến giữa đám các cô gái nghịch như quỷ sứ. Gặp tôi, Nguyệt sẽ nói rất ít, còn các cô bạn thì sẽ làm loạn lên. Nhưng chẳng hề gì, họ đều là những người bạn của anh em lái xe, đều là những người con dũng cảm, chân thực và mến khách. Tôi đi được mươi cây số thì gặp một đoàn xe xích kéo pháo kềnh càng xuôi xuống, đành phải đỗ xe bên đường để tránh. Tôi tranh thủ chui xuống gầm xe, soi đèn pin xem lại chiếc bóng đèn. Tôi đang loay hoay vặn chiếc bóng thì nghe tiếng hỏi bên cạnh : - Anh đi bóng quả táo hay quả dưa đấy ? - Ai kia ? - Em đây mà ! Tiêu đề: Re: Mảnh trăng cuối rừng Gửi bởi: selene0802 trong 31 Tháng Giêng, 2009, 09:29:17 pm À, cô gái đi nhờ xe. Trong ánh đèn gầm hắn xuống mặt đường hiện ra ngay trước mũi xe một đôi gót chân bóng hồng, sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ, gấu quần lụa đen chầm chầm mắt cá. "Ra vẻ cô này không phải người lao động rồi - Tôi nghĩ - Hay là người ta đi thăm chồng hay đi thăm người yêu thực ?
Tôi chui từ gầm xe, đưa hai tay dụi mắt: - Chào cô, lần sau nếu xe dừng, cô đừng nhảy xuống như thế này nhé ! - Nhưng mà ngồi trong ấy mùi cao su khét quá, anh cho em đứng ngoài này thở một tý. Qua làn ánh đen tù mù của đoàn xe xích lao đi ầm ầm bên cạnh, tôi kịp nhận thấy vẻ xinh đẹp của cô gái, một vẻ đẹp giản dị và mát mẻ như sương núi toả ra từ nét mặt, lời nói và tấm thân mảnh dẻ, khác hẳn với nhiều cô gái công trường thường cô nào cũng thấp và đẫy đà. Cô ta mặc áo xanh chít hông vừa khít, mái tóc dày tết thành hai dải. Chiếc làn và chiếc nón mới trắng loá khoác ở cánh tay một cách nhẹ nhàng. Tôi hỏi : - Cô làm ở ngầm Đá Xanh hay chỉ về đấy thăm ai ? Trên khuôn mặt sáng sủa thoáng một nét e thẹn : - Em làm ở ngầm... - À, quên, tôi chưa kịp hỏi tên cô đấy nhé. - Em là... Nguyệt ! - ...À thế...! Tôi vờ như không, vội đưa mắt ngắm cô gái một lần nữa thật kỹ lưỡng. Rồi, tay mở rộng cánh cửa buồng lái, tôi vồn vã mời : - Sau ấy mùi cao su khét lắm đấy. Mời cô lên... Bên cạnh còn chỗ ngồi... Đoàn xe xích kéo pháo 57 mới khoẻ làm sao. Đường sá, núi non cứ rung chuyển ầm ầm. Trái tim tôi cũng muốn nảy lên trong lồng ngực. Cô gái cố ý ngồi sát mé cửa, chiếc làn cói ôm gọn trong lòng, giữa hai chúng tôi để một quãng cách rộng. Thú thật, trong đời lái xe của tôi, chưa bao giờ tôi mời một cô gái lên ngồi trong buồng lái. Đây là một trường hợp đặc biệt. Tôi với tay bật ngọn đèn nhỏ trong buồng lái. Cô gái ngắm "cái nhà" cỏn con của tôi bằng cặp mắt tò mò và hơi rụt rè. Tôi bắt đầu hỏi dò khéo léo : - Ở đội ngầm của cô, có nhiều cô tên là Nguyệt lắm thì phải ? - Sao anh biết ?... Đội em có ba Nguyệt. Nhưng một người đã hy sinh, chỉ còn em và một chị nữa là hai thôi. - Cô Nguyệt hy sinh bao giờ ? Tôi vội hỏi, rõ ràng nghe tiếng nói của mình mà như của người khác. - Cách đây đã ba, bốn tháng, trong trận địch ném bom đánh sập hẳn cầu Đá Xanh. Chị ấy chiến đấu dũng cảm lắm, mà ngày thường lại hiền lành, ai cũng tiếc. - Cô ấy có chồng chưa ? - Chưa. Hình như mới có người yêu. Tôi nắm vòng lái thật chặt. Mặt đất dưới bánh xe, như đang nghiêng ngả, đảo lộn. Tôi cho xe đi chầm chậm và lại hỏi : - Còn cô Nguyệt thứ hai ? - Chị ấy đã bốn con rồi ! Chúng em thường gọi đùa là chị Nguyệt "lão". Sao anh hỏi tỉ mỉ vậy ? Tôi thở phào và nói đùa một câu nhạt thếch. Lòng tôi rối như tơ vò. Chẳng lẽ lại đi hỏi thăm cô ta có biết chị Tính hay không? Chỉ cần hỏi thế, mọi sự sẽ vỡ ngay, nhưng tôi vẫn không muốn hoặc không dám hỏi. Tôi không muốn đi sâu vào câu chuyện riêng giữa chuyến công tác. Thế nhưng rồi tôi vẫn cứ phải phân vân : trong hai người con gái, một trẻ và xinh đẹp ngồi bên cạnh, và một người đã chết anh dũng, ai là người đã từng mang canh cánh trong trái tim tuổi trẻ mối tình đầu đối với tôi suốt mấy năm, mà tôi lại tỏ ra hờ hững ? Một trong hai người, ai là người tôi sắp tìm đến, ai ? Người tôi sắp tìm đến là ai ? Câu hỏi ấy cứ xoay trong óc tôi, như một cái dùi nung đỏ bỏng rát. Nếu Nguyệt đã hy sinh thực thì tôi sẽ mang mối hận mãi mãi. Xe đang lao qua quãng dốc. Từng mảng rừng, lèn đá, những bãi gianh ngổn ngang hố bom từ trên cao rơi áp xuống tấm kính buồng lái. Tôi qua đi bỗng như có linh tính, vội đạp phanh cho xe chậm lại. Qua tấm kính trước mặt, hiện ra một ngọn đèn pháo sáng xanh lét run rẩy soi loè nhoè, ở trên đầu. - Không nghe tiếng máy bay sao lại có pháo sáng hử ! Tôi nghe ngóng và thốt lên. Từ đầu, cô gái ngồi chống khuỷu tay lên thành cửa nhìn ra ngoài. Cô quay vào, nói : - Không phải đâu. Trăng đó anh ạ. Trăng thật. Hôm nay đầu tháng. Từ đầu hôm, tôi vẫn đi giữa đêm trăng mà không biết. Cô gái vẫn bình thản ngồi nhìn ra ngoài trời. Tôi quẹt diêm châm một điếu thuốc rồi tăng số cho xe phóng nhanh hơn, trong lòng vẫn không hết gượng. Già đời trong nghế lái xe, bom đạn nguy hiểm gặp đã nhiều, tôi vốn không phải anh nhút nhát, vậy mà không hiểu sao đêm nay nhìn trăn ra pháo sáng ! Qua tầm kính ướt hơi sương, mảnh trăng nằm giữa những tầng mây hiện ra tái ngắt, ánh sáng loè nhoè, mỗi lúc xe nảy lên hay vòng qua chỗ lượn, mảnh trăng lại chập chờn lay động, có lúc thấy rơi tõm xuống khoảng tối mịt mù của cánh rừng già như một trò chơi ú tim. Khoảng gần khuya, trên các chỏm rừng, gió tây nam cuốn mây xám về một góc rồi thổi giạt đi. Gió thổi vào cành lá nguỵ trang trên nóc xe ràn rạt. Trên đầu chúng tôi, khoảng trời đêm trên cao trở nên trong vắt, cao lồng lộng, trong khoảng sâu thẳm nổi lên một tiếng chim mơ hồ. Nhưng ở lưng các cánh rừng, sương trắng không biết từ đâu cứ đùn ra mãi. Dòng sông bên trái đường phút chốc biến mất, chỉ còn là sương trắng phủ kín, thảng hoặc mới thấy một chỏm rừng, một ngọn núi đá bên kia sông nhô lên, đen đủi và cô độc giữa một mầu trắng xoá. Xe tôi chạy trên lớp sương bềnh bồng. Mảnh trăng khuyết đứng yên ở cuối trời, sáng trong như một mảnh bạc. Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng. Không hiểu sao, lúc ấy, như có một niềm tin vô cớ mà chắc chắn từ trong không gian ùa tới tràn ngập cả lòng tôi. Tôi tin chắc chắn người con gái đang ngồi cạnh mình là Nguyệt, chính người mà chị tôi thường nhắc đến. Chốc chốc, tôi lại đưa mắt liếc về phía Nguyệt, thấy từng sợi tóc của Nguyệt, đều sáng lên. Mái tóc thơm ngát, dày và trẻ trung làm sao Tiêu đề: Re: Mảnh trăng cuối rừng Gửi bởi: selene0802 trong 31 Tháng Giêng, 2009, 09:29:47 pm Bất ngờ, Nguyệt quay về phía tôi và hỏi một câu gì đó. Tôi không kịp nghe rõ vì đôi mắt tôi đã choáng ngợp như vừa trông vào ảo ảnh. Trăng sáng soi thẳng vào khuôn mặt Nguyệt làm cho khuôn mặt tươi mát ngời lên và đẹp lạ thường ! Tôi vội nhìn thẳng vào đoạn đường đầy ổ gà, không dám nhìn Nguyệt lâu. Từng khúc đường trước mặt cũng thếp từng mảnh ánh trăng...
- Anh nhỉ ? Có phải không nhỉ... - Cô hỏi gì ? - Em hỏi có phải các anh lái xe đi nhiều nơi, chắc hẳn quen biết nhiều người lắm? - Đời lái xe chúng tôi như vạc ấy, cô ạ ! Nay rừng này, mai qua suối kia, nhưng tháng này sang tháng khác vẫn làm bạn với đường, với trăng thôi. Chẳng biết lúc ấy ai mới móc miệng cho mà tôi bỗng trở nên ăn nói văn vẻ đến thế ! Quá nửa đêm, chúng tôi đến gần cầu Đá Xanh thì trăng lặn. Chúng tôi không nói chuyện nữa. Mảnh trăng đã khuất hẳn xuống khu rừng ở sau lưng. Tôi bật chiếc bóng đèn quả dưa cho sáng hơn và bảo Nguyệt : "Cô chú ý nghe hộ, từ đây đường thường có máy bay" ; Nguyệt vẫn thản nhiên ngồi nhìn ra ngoài : - Anh cứ yên tâm, đoạn này, em quen lắm !. Nguyệt hướng dẫn cho tôi đánh xe rẽ sang con đường xế về phía ngầm. Con đường thấp hẳn xuống, quanh co, sục lên một thứ bùn quánh nhão nhoét quanh những hố bom cũ và mới. Tôi dán mắt qua mặt kính, thận trọng lái hai bánh trước tránh hai vệt bánh xe như hai cái rãnh thoát nước ở giữa đường. Có đoạn, bánh trước sục xuống rãnh sâu quá, Nguyệt phải xuống "xi-nhan" cho tôi kéo lên. Có đoạn không nhích lên được. Tôi phải cài số phụ, rồi tăng ga mãi. Không khí trong buồng lái nóng sực. Lốp xe quay tròn, xiết trên đá khét lẹt. Nguyệt nhìn đoạn đường khó đi, nói như thanh minh : - Chúng nó ném bom luôn, chúng em đã rải bao nhiêu đá mà đường sá còn ra thế! Tôi vò chiếc mũ vải trong bàn tay, lau mồ hôi rồi tính đến lúc sắp phải từ biệt Nguyệt : - Cô sắp xuống rồi chứ ? Bao giờ xuống, cô bảo tôi để tôi dừng xe. Đáng lẽ Nguyệt đã xuống ngang quãng trạm gác bến ngầm ở ngã ba, nhưng cô muốn đưa tôi đi tiếp sang bên kia sông. Cô cười, nói đùa: - Anh đã cho em đi nhờ xe, lúc khó khăn lại bỏ anh ư ! Tôi nói rất nghiêm trang : - Thế nào chúng ta cũng còn gặp nhau ! Mà dù cô xuống từ dưới kia, tôi cũng không bao giờ nghĩ cô là một người khi khó khăn thì bỏ người khác. - Sao vậy, anh ? - Trông cô, tôi biết... Một làn nước hiện ra trước mặt. Đoạn ngầm Đá Xanh ngắn thôi, nhưng mấy hôm trước mưa lũ, nước dâng cao trên mặt đá đến hơn một mét. Vừa đánh xe xuống, đã nghe nước tràn vào ống sả hơi ùng ục. Chiếc xe lắc điên đảo, lúc ngoi lên lúc hụp xuống như một con trâu nước dữ tợn. ánh đèn chiếu sáng mặt nước loang loáng. Ra đến quá nửa ngầm thì nước sâu quá, xe không đi được nữa. Nguyệt đứng bám bên cánh cửa hướng dẫn cho tôi đi đúng giữa hai hàng cọc tiêu. Cô vội nhảy ùm xuống nước, bảo tôi tắt đèn. - Có máy bay à ? - Để em nghe kỹ xem đã. Anh cứ tắt đèn đi. Loáng đèn dưới nước trông xa lắm đấy ! Đèn tắt. Chưa bao giờ trời tối đến thế, chỉ nghe tiếng nước vỗ ì oạp vào tai xe. Tôi cố tiến, lùi nhưng xe chỉ lắc lư, vòng lái nặng như cối đá. Giữa đêm lạnh mà quần áo tôi ướt đẫm. Nguyệt để cả quần áo thế, nhanh nhẹn lội phăng sang bên kia bờ giúp tôi cột dây tời vào một gốc cây. Tôi xoay sở như đánh vật một lúc, cuối cùng cũng đưa chiếc xe leo lên được tới quãng đường rải đá khấp khểnh. Chúng tôi thở không ra hơi, đang mồ mẫm cuốn dây tời thì máy bay đến. Từ sau rặng núi đá dựng đứng bên trái, bọn chúng ập đến như tiếng sét. Tiếng máy bay ầm ầm. Tôi vứt vòng dây sắt nặng trĩu trên tay, chạy nhào về phía xe. Vừa chạy được hai bước, tôi đã bị Nguyệt túm trở lại, nhanh và khoẻ hết sức. Nguyệt đẩy tôi ngã vào giữa một vật gì rất cứng và sâu. Nghe hơi thở và tiếng nói của Nguyệt rất bình tĩnh : - Chúng đánh tọa độ đấy Một ánh chớp giật mát lạnh, đất rùng lên một hồi. Lặng đi mấy giây, tưởng có thể nghe được tiếng vỗ cánh của một con dế rất nhỏ, bỗng đâu đất, đá và cành cây bé cành cây lớn rơi ầm ầm, ràorào. Tôi vừa kịp nhận ra mình đang đứng giữa một cái khe chỉ vừamột người hai bên là hai gốc cây to. Nguyệt đang nấp ở mé ngoài. hai thằng địch khác lại sắp lao xuống, lại sắp một đợt khác ! Tôi nắm tay kéo Nguyệt vào khe, nhưng Nguyệt nhất định không chịu. Nguyệt thét lên : -Anh bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó! Không ngần ngại, tôi bế xốc Nguyệt đặt giữa cái khe giữa hai gốc cây rồi chạy về phía xe đỗ. Địch bắn hai mươi ly đỏ lừ, nghe rát cả mặt. Xe tôi vẫn đứng đó, lửa đã bén vào lốp. Tôi dập lửa, trèo lên xe, nổ máy. Nguyệt cũng vừa chạy đến bên cánh cửa. - Cho xe chạy đi anh, nó còn tiếp tục đánh ngầm đấy ! - Chạy chứ ! Một loạt bom rất gần, hơi bom xô Nguyệt ngã dúi. Tôi kéo Nguyệt vào trong đóng cửa buồng lái rồi chẳng đèn đóm gì hết, cứ theo lời Nguyệt chỉ đường, tôi cho xe phóng. Địch quây tròn trên đầu như xay lúa, rất thấp, thả pháo sáng và bắn hai mươi ly. Mặc, tôi cứ chạy, và Nguyệt cứ nói rành rọt như người đếm bên cạnh : - Anh ngoặt sang trái... Trước mặt có hố bom đấy... Chuẩn bị, sắp lên một cái dốc có "cua"... Qua một quãng khó đi và tối quá, Nguyệt nhảy xuống đi dò trước. Tôi cứ nhằm cái bóng trắng nhờ nhờ của Nguyệt trước mặt mà lái theo. Lên quá độ hai kilômét, tôi dừng xe nép vào bên một "ta luy" cao có cây rậm. Tôi bật đèn buồng lái. Cái tôi trông thấy đầu tiên là có vết máu bên vai Nguyệt, vết máu chảy xuống đỏ cả cánh tay áo xanh. Tiêu đề: Re: Mảnh trăng cuối rừng Gửi bởi: selene0802 trong 31 Tháng Giêng, 2009, 09:30:17 pm Chết thật, cô ta bị thương rồi ! Không biết Nguyệt bị thương loạt bom đầu tiên, lúc tôi nấp dưới khe, hay khi cô vùng chạy theo tôi trở về xe ? Thú thực, lúc ấy trong lòng tôi dấy lên một tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục.
Nguyệt nhìn vết thương, cười. Khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh và xinh đẹp. Từ đầu đến chân, cô ta ướt như một con công vừa tắm. Tôi rút chiếc mùi xoa đầy vết dầu mỡ trong túi, buộc ngoài lần áo xanh để cầm máu. Tôi đề nghị đưa Nguyệt sang bên kia ngầm về đơn vị, nhưng Nguyệt gạt đi : - Đây là giang sơn của em rồi. Anh đi đi, không trời sáng mất ! - Rồi Nguyệt lại cười : - "Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ sướt da thôi. Từ giờ đến sáng, em có thể đi lên đến tận trời được !". Gà rừng đã eo óc gáy thưa thớt. Tôi không thể bỏ xe được. Tôi đành từ biệt Nguyệt, nắm bàn tay thấm ướt máu rất lâu, và tôi nói một lời hứa đinh ninh : - Ngày mai, tôi quay về, nhất định tôi vào... thăm Nguyệt ! Tôi lên xe, phóng như bay về phía tiền tiêu, với một tâm trạng vui sướng và rộn ràng rất lạ, và lại rất lo lắng cho Nguyệt, lúc nào cũng thấy trước mắt bóng một người con gái mặc áo xanh, một bên cánh tay buộc chiếc mùi xoa của tôi, với chiếc làn và chiếc nón trắng mới, cô ta đang đi trở lại về phía ngầm. Có lúc, tôi lại thấy cô quay lạ, khuôn mặt đẹp lộng lẫy đầy ánh trăng... -Thế nào, kể tiếp đi ! Ngày hôm sau sống chết cậu cũng phải mò tới cái đội nữ công nhân ấy chứ ? Những người nghe chuyện vẫn tỉnh như sáo. Có lẽ đã hai ba giờ sáng. Gà rừng gáy eo óc, thưa thớt. Nghe tiếng đôi chim trống mái gọi nhau đã gần hơn. Đêm ấy tôi chạy nhanh đến như vậy, nhưng lên đến tiền tiêu giao hàng cho kho xong, thì trời đã gần sáng. Thế là không kịp quay về rừng săng lẻ giấu xe nữa, đành đánh xe đi giấu ngay ở đấy. Và lại hí húi đi kiếm lá nguỵ trang, tháo xăng, nấu cơm ăn. Thật chán hết sức ! Thế là bay đi một ngày phép ! Đại đội trưởng lại bố trí cho tôi đi một chuyến nữa lên tiền tiêu vào ngay đêm sau. Lần này, tôi kịp ghé thăm chỗ hạt giao thông của chị tôi, cũng đóng không xa đội nữ công nhân phụ trách ngầm. Lán đội nữ công nhân giữa khu rừng săng lẻ rất đẹp. Con gái bao giờ họ cũng chu đáo và chăm chỉ chứ không tềnh toàng như chúng mình. Lán họ ở sạch sẽ, ngăn nắp, có nhà ăn, nhà câu lạc bộ... Thấy tôi đến, chẳng phải chị chị Tính, mà các chị em khác đều niềm nở, toàn là những tay ăn nói khiếp cả. Nhưng còn tôi lòng dạ nào mà đối đáp với họ ! Việc đầu tiên là tôi quan sát thần sắc của chị Tính ; hai ngày qua tôi đã tin chắc chắn không thể nào sai được rằng người con gái mình đang tìm gặp thì đã gặp, nhưng đến đây, tôi lại nghĩ Nguyệt có thể là người con gái đã anh dũng hy sinh từ cách đây ba, bốn tháng. Chị Tính dẫn tôi vào nhà, và trách : - Hôm kia, sao cậu không về ? Nguyệt nó chỉ tranh thủ lên được có một hôm, đợi cậu suốt ngày không thấy, cô ấy lại phải về dưới ty rồi ! Thế là trống ngực tôi không đánh nữa. Tôi tò mò hỏi : - Cô ấy về dưới ty làm gì !? - Cô ấy đang dở học lớp đảng viên mới ở dưới đó. Hai chị em chúng tôi đang dở chuyện thì một chị to béo, trạc gần bốn mươi, hai tay cắp hai cái bì đựng măng xồng xộc đi vào và hỏi: - Đâu, cậu Lãm, em trai chị Tính tới mà sao không đến trình diện với tôi hử ? Chị túm lấy tôi trong hai bàn tay hộ pháp : - Mặt mũi sáng sủi đấy chứ, lái xe à ? Tôi hỏi thế này nhé, anh đã biết tội của anh chưa ? Chị Tính cứ ôm miệng cười. Còn tôi thì chẳng hiểu gì cả. Lát sau, mới biết chị làm tổ trưởng nấu ăn của đội, đấy chính là chị Nguyệt "lão", một người bạn thân thiết của chị tôi từ lâu. Chị Nguyệt "lão" vui vẻ "mắng" tôi một hồi nữa, đầy những "cớ sao", "cớ sao" mấy năm trời để cho "cái Nguyệt" nó đợi đỏ mắt, có muốn "tìm hiểu" người ta hay không thì cũng phải bảo một câu chứ! Rồi chị kể : hôm nọ, "nó" trở lên đây, đi nhờ xe vận tải của một anh bộ đội, xe bị bom dọc đường, may mà chỉ bị thương rất nhẹ thôi. Chị hỏi : -Anh vẫn chưa biết mặt nó, hử ? Rồi kéo tuột tôi đến trước một hàng ảnh nhỏ xít dán chi chít trên tờ giấy bao xi măng giữa nhà câu lạc bộ. Chị Nguyệt "lão" chưa kịp trỏ, tôi đã nhận ra tấm ảnh của Nguyệt. Cách đây mấy năm, trông cô như một con chim non đang tập bay. Nguyệt đang đứng cheo leo giữa lưng núi, trên vai vác một chiếc máy khoan, đôi mắt đen láy ngây thơ nhìn ra xa. Nhìn bức ảnh ấy, tôi không khỏi nhớ những ngày rộn ràng xây dựng những chiếc cầu. Ngọn núi Nguyệt đang đứng chính là một ngọn trong dãy núi đá xanh cao sừng sững nằm bên trái bến ngầm. Ngày khởi công xây dựng chiếc cầu ở đây, đội đá của công trường có hang trăm cô. Tháng này sang tháng khác, với một sợi dây da bảo hiểm buộc ngang lưng, họ dũng cảm trèo lên những tầng đá cao, chọn những vỉa đá xanh đẹp nhất về xây cầu. Chiếc cầu làm trong gần hai năm mới xong, xanh biếc và đẹp như một giấc mộng, nhưng vừa khánh thành được mấy tháng thì máy bay Mỹ đã đem bom tới phá sập. Buổi chiều hôm đó, chị Tính và chị Nguyệt "lão" tiễn tôi ra đến bờ sông. Chị Nguyệt "lão" giơ nắm tay to lớn ra trước mặt tôi : -Khối anh cán bộ khá hẳn hoi muốn yêu nó. Nó chỉ chờ gặp anh đó thôi ! Coi chừng cứ phóng xe chạy biến đi, tôi không có dây tơ hồng nhưng đã có dây trói lợn trói anh lại ! Tôi vội vàng nhét vào trong chiếc túi cấp dưỡng nhọ nhem của chị một chiếc phong bì miên rất cẩn thận. Suốt buổi trưa, tôi đã mượn giấy bút biên cho Nguyệt lá thư đầu tiên. Ra đến rừng săng lẻ, tôi chưa về chỗ giấu xe vội, mà men bờ sông ra ngoài cầu. Con sông miền Tây in đầy bóng núi xanh thẳm, hai bên bờ cỏ lau chen với hố bom. Chiếc cầu bị cắt làm đôi như một nhát rìu phang rất ngọt. Ba nhịp phía bên này đổ sập xuống, những phiền đá xanh lớn rơn ngổn ngang dưới lòng sông, chỉ còn hai hang trụ đứng trơ vơ giữa trời. Tôi đứng bên bờ sông giữa cảnh một chiếc cầu đổ và lại tự hỏi : qua bấy nhiêu năm tháng sống giữa cảnh bom đạn và tàn phá những cái quý giá đó chính bàn tay mình xây dựng nên, vậy mà Nguyệt vẫn không quên tôi sao ? Trong tâm hồn người con gái nhỏ bé, tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào vuộc sống, cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn giội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá nổi ư ? ...Người kể chuyện tự nhiên ngừng bặt như đang lắng nghe tiếng trả lời đâu từ trong lòng mình. Những người bạn cũng không hỏi, không đòi kể tiếp và nói chuyện ồn ào như những lần trước. Hẳn đã gần sáng. Ngoài rừng sâu, đôi chim gọi nhau suốt đêm đã im tiếng, có lẽ chúng đã tìm thấy nhau. Chân trời phía rừng Tây bỗng ửng sáng. Rồi trăng đội chỏm cây từ từ nhô lên. Từng chiếc lá đùng đình trên nóc lán loé sáng như những mảnh bạc. ánh trăng khuya lặng lẽ soi đầy trên mái và đoạn đường đầy vết xe trước cửa. Người kể chuyện ngẩng lên ngắm mảnh trăng vừa lên rồi nằm xuống giữa những người bạn lái xe. Anh giục: - Ngủ thôi các cậu ! Mai còn chạy... Nguyễn Minh Châu Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 21 Tháng Tư, 2009, 01:58:06 pm Hồi ức của một binh nhì Nguồn: http://www.vannghequandoi.com.vn ...Chỉ ba phút nữa Nụ sẽ ngả vào vòng tay tôi, mềm mại như một thiên thần bé nhỏ. Thú thực trong giờ phút nghiêm trọng nhất cuộc đời ấy, tôi có thoáng nhớ đến gia đình, đến kỷ luật quân đội, đến tòa án binh, nhưng tất cả đều nhanh chóng mịt mờ đi: Chỉ ba phút nữa thôi, tôi sẽ ôm đầy vòng tay một cơ thể ấm nóng và hôn nàng mà không sợ bị thép gai cào cấu... Hồi ấy, nghĩa là cách đây tròn hai mươi năm, tôi, hai mươi tuổi cùng các "chiến hữu" của tôi đang huấn luyện ở vùng trung du Vĩnh Phú, cách thị xã Vĩnh Yên 7 km về phía núi Tam Đảo. Chúng tôi thuộc số quân trung đoàn 207 xe tăng thiết giáp. Mới nghe đến đây thôi, hẳn có bạn thắc mắc sao đã gọi là "xe tăng" lại còn "thiết giáp"? Xin thưa đó là hai danh từ khác nhau để gọi hai loại xe khác nhau. Xin cung cấp với các bạn một định nghĩa rút gọn của xe tăng: "Là một loại xe chiến đấu chạy bằng xích có tháp pháo quay tròn 360 độ". Thế nghĩa là nó khác với thiết giáp là có pháo, lại không giống với pháo tự hành là pháo của nó có thể quay 360 độ trên xe. Câu chuyện của chúng tôi hai mươi năm trước trên vùng đồi trung du Vĩnh Phú có liên quan đến cái "tháp pháo quay tròn 360 độ" ấy. Thế là chúng tôi thuộc trung đoàn 207. Tiểu đoàn và đại đội mấy thì không nhớ nữa. Đơn vị huấn luyện mà lính đến rồi đi không mấy gắn bó - chỉ nhớ rằng tham mưu trưởng trung đoàn là ông Phùng Minh, một đại úy có phong độ rất "hắc xì dầu". Và ngay tại đây, trong mùa hè nóng bỏng năm 1972 khi tiếng nổ của đại pháo ở cổ thành Quảng Trị đang âm âm vọng về réo gọi, thì chúng tôi, trên những ngọn đồi trung du đầy bóng bạch đàn đã làm nên những chuyện tày đình, để lại những kỷ niệm "ác liệt" không kém gì trận mạc. Chúng tôi đóng quân trong làng, tất nhiên rồi "quân với dân như cá với nước", cá mà rời nước thì có mà ngáp. Nhưng có một điều thuộc về quân lệnh là cấm léng phéng với con gái chủ nhà. Vả lại, chúng tôi học lái suốt ngày, về đến nhà là mệt lử, đêm phải gác xe. Bãi xe lại là xe tăng, tất nhiên không thể để trong làng mà ở trên đồi. Đơn vị tôi chọn được một địa điểm rất hay. Số là, quả đồi bạch đàn ấy trước đó đã có một hàng rào kẽm gai. Hôm tìm địa điểm, ông đại đội phó bảo thằng Bá Hùng đi trinh sát. Trở về, hắn thì thầm với bọn tôi rằng bên kia hàng rào có rất nhiều "ami xinh tươi" mặc quân phục. "Mẹ kiếp! đóng bãi xe ở đấy thôi chớ đi đâu nữa". Sau đó, chúng tôi làm mặt lạnh kéo tới gặp đại đội phó, giơ tay chào theo kiểu quân sự và báo cáo rằng, đây là một địa điểm đóng quân mang tính chất chiến lược, chiến thuật, rằng có thể tiến công phòng thủ đều tiện lợi v.v... và v.v... Khi đại đội phó hỏi: Bên kia hàng rào là đơn vị nào thì thằng Hùng báo cáo mập mờ rằng: đó là đơn vị chiến thuật, kỷ luật nghiêm, có thể là hậu phương vững chắc cho đơn vị ta. Chao ôi! Chúng tôi đâu có biết rằng bên hàng rào kẽm gai kia là cả một thế giới riêng, một đơn vị cơ yếu đặc nhiệm của Bộ Quốc phòng có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc chiến tranh của cả nước và những bóng "ami mặc quân phục" kia chính là những chiến sĩ báo vụ cơ yếu được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Có lẽ đây là một trong ít lần ông đại đội phó được cái đám "giặc đầu bò" là chúng tôi đối xử nghiêm túc và kính cẩn, nên ông có phần cảm động mà chấp nhận đóng bãi xe ngay trên nửa quả đồi tai ương ấy. Và với quyết định đó, ban chỉ huy đại đội bắt đầu phải chịu đựng và trả giá cho những trò ba trợ của tụi tôi. Có lẽ cái lam sơn chướng khí của đất tổ Hùng Vương được tích lũy từ thời khai thiên lập địa đến năm 1972 đã xì hơi nhập vào chúng tôi mà sinh ra các chuyện nghịch ngợm ấy chăng. Ban ngày chúng tôi phải đi tập lái xe. Lái đủ các khoa mục: Hạn chế thẳng, hạn chế chữ Z, vách hụt, vách đứng, sống trâu, cầu vệt... Đã qua các thời kỳ tậm tọe: sang số, tăng ga, xuống số, vù ga... với cái bảng cầu chì dài dằng dặc: đuôi (cầu chì đèn đuôi), hồng (hồng ngoại), hông, còi, quạt-nhờn-đồng khởi-mù pha. Tóm lại, chúng tôi có vẻ là những chú chim ra ràng đang tập bay. Chiều chiều chúng tôi xin trợ giáo được tự lái xe ra bãi, cố ý đỗ sát hàng rào, vù ga thật mạnh, ngõ hầu gây được sự chú ý của "phía bên kia". Mất hơn mười ngày như thế mà chẳng nước non gì cả. Những bóng áo binh phục mầu nhạt bó sát những eo lưng tròn lẳn vẫn chỉ thấp thoáng sau bóng cây bạch đàn đằng xa. Một lần chúng tôi đến sát hàng rào đánh bạo gọi với vào: - Này! Các đồng chí ơi! ... Và mừng rơn khi thấy có người đi tới. Nhưng té ra là hai gã đàn ông có súng, mặt lạnh như tiền, hỏi: - Các đồng chí cần gì? - À, ờ... chúng tôi xin một tý xà phòng, à quên xin ngụm nước uống, khát quá. - Ở đây không có xà phòng và cũng chẳng có nước uống đâu nhé. Nói xong, hai gã đàn ông có súng quay đi. Chà thật là "phí rượu" mấy cha hách gớm! Nói thật chứ bọn tôi đâu có sợ mấy khẩu AK báng xếp nơi tay bọn hắn. Gì chứ súng thì bọn tôi cũng có, có điều là hơi to một chút. Khẩu pháo 100ly trên xe đó, tôi mà khạc một cái thì... Nhưng chúng tôi cũng thừa biết là không thể tấn công bằng cách ấy được, phải tìm mẹo khác, nhất định phải "móc nối" cho bằng được một số "ami" mới nghe. May thay, thằng Tuấn lại có một cái đàn ghi ta. Bọn tôi tất thảy đều qua vài năm ở trường đại học nên chơi đàn cũng khơ khớ, hát cũng đúng thanh nhạc, riêng tôi lại có cả cái giọng "ôpêrêt" tàm tạm. Vậy là, trăng trung tuần vằng vặc, đồi trung du lộng gió, lá bạch đàn xao xác rụng, chúng tôi ôm đàn ngồi trên tháp pháo xe tăng thả theo làn gió nam mát rượi qua bên kia hàng rào bài tình ca Nga rất "ác chiến". "Giờ này anh về đâu hỡi người lính cũ binh đoàn... Nếu giờ này bạn hiền còn thiếu một gia đình... Có nhiều cô đẹp như ca khúc ban chiều". Mất ba đêm như thế mà không thấy động tĩnh, chúng tôi nản quá. Ban đêm không nước non gì nên ban ngày chúng tôi vặc nhau luôn luôn. Mùa trăng đang qua, khóa huấn luyện sắp kết thúc, chúng tôi biết ngày lên đường vào Nam chiến đấu không còn xa nữa. Vậy mà! Ban đầu chúng tôi chỉ chơi đàn theo kiểu "gọi tình". Ai ngờ đến đêm thứ năm, tiếng đàn thằng Hùng nghe khác hẳn, cả cái giọng "ôpêrêt" của tôi cũng rà đi lúc nào không biết. Từ trên đỉnh núi Chi-ta xa vời, mưa tuyết vẫn rơi tuyết đầy trời. Chợt nghe tin đến chân tay rụng rời. Người lính em yêu ngã ngựa rồi. Không may gãy tay rồi còn đâu lấy tay lành vuốt tóc em dài... Tất cả chúng tôi gục đầu xuống, mơ màng nghĩ đến một điều gì rất xa, về một kỵ sĩ nào đó ngã ngựa, về khoa văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội mà tôi mới kịp gửi thân theo học hai năm, về ngày nhập ngũ, về chiến trường Quảng Trị đang đỏ lửa mùa hè, đêm trăng vàng, sương buông đồi trung du ớn lạnh. Bỗng có tiếng vọng nghe thảng thốt. - Hát nữa đi các anh! Lập tức chúng tôi ngẩng đầu lên, thằng Hùng buông rơi cây đàn xuống cỏ: Sát hàng rào bên kia tập hợp đủ một tiểu đội chiến sĩ gái thấp thoáng dưới trăng, huyền ảo như những nàng tiên vừa bay từ trên trời xuống... ... Các bạn cựu chiến binh thân mến! Tôi nói điều này chỉ các bạn mới hiểu và tin chúng tôi, rằng: Ngay trong đêm đó, cái đêm huyền thoại, khi tiếng đàn nức nở lặng đi và những cái bóng eo lưng mặc quân phục mầu cỏ úa nhạt hiện ra bên hàng rào. Chúng tôi đã đến, đã nói chuyện và dường như đã quen nhau từ lâu lắm rồi, đã tìm nhau lâu lắm rồi, dường như chúng tôi đã yêu nhau. Hai đội binh đều áp sát hàng rào kẽm gai, từng đôi một xoắn xuýt tâm sự - như chúng ta thường nói là không biết mệt mỏi. Tôi mạnh dạn cầm tay "người chiến sĩ gái" dành cho tôi. Mãi đến cuối buổi, tôi mới biết được tên thật của nàng là Nụ. Lạ lùng thay, Nụ không có ý định rụt tay lại. Cổ tay Nụ tròn và mát. Tôi nhìn rất lâu vào cái cổ tay ấy rồi ngước lên thấy Nụ cười, một nét cười hiền lành và say đắm, mà sau này suốt hai mươi năm qua tôi không hề tìm thấy bất cứ ở đâu dưới gầm trời này. Bên cạnh tôi lúc đó cũng đầy tiếng thì thào khe khẽ và cảm động của bọn thằng Bá Hùng, Hoàng Sâm, Quốc Tuấn. Trong ánh trăng vằng vặc diễn ra một cảnh tượng hết sức kỳ dị trông như một vũ điệu huyền ảo: Tám đôi trai gái cầm tay nhau qua hàng rào kẽm gai mắt cáo mà cứ trân trân nhìn nhau, không thể nhúc nhích được vì các vòng kẽm gai sắc nhọn như những chiếc vòng khóa chặt các đôi tay. Đêm ấy, khuya lắm chúng tôi mới rời nhau ra, không phải vì buồn ngủ hay mệt mỏi mà vì trời đang rạng dần. Cũng phải mười năm sau tôi mới hiểu vì sao các cô gái cơ yếu đó có thể chấp nhận tình cảm nhanh chóng và nồng nàn đến thế. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 21 Tháng Tư, 2009, 01:59:12 pm Hồi ức của một binh nhì (Tiếp) Các bạn có tin được không, cái cảnh cầm tay nhau như chuẩn bị khiêu vũ ấy tái diễn đến bảy đêm. Bọn chúng tôi, ban đầu do nghịch ngợm, đến thời gian sau nghe các cô kể chuyện mới thấy thương thương và mủi lòng thực sự. Chúng tôi hôn nhau qua hàng rào. Nụ của tôi nước mắt chứa chan. Tôi loay hoay xoay xở mãi mà không có cách gì ôm được nàng. Nụ cho biết, các cô phải làm việc dưới một chế độ kỷ luật rất nghiêm, vì như tôi nói từ đầu, đấy là một công việc cực kỳ quan trọng và tuyệt mật. Mỗi tháng các cô mới được ra khỏi hàng rào một lần và phải đi cùng nhau, hạn chế tiếp xúc với người ngoài, phải về trước giờ điểm danh buổi tối. Thường thì khi xuất ngũ hay phục viên các cô được giải quyết đồng loạt và ngay sau đó Bộ Quốc phòng thay mã khóa cơ yếu để đề phòng bị lộ. Đấy, tình yêu của bọn chúng tôi nằm trong tình thế nghiệt ngã như vậy đấy. Tôi thì không tin rằng sẽ còn đóng quân tại đó cho đến cái buổi mà Nụ của tôi được ra ngoài hàng rào. Tình hình chiến trường đang nóng như cơn sốt. ở Quảng Trị giặc đã phản công tái chiếm thành cổ. Bộ binh chiến đấu thiếu hỏa lực đột kích nên rất gian nan. Đơn vị hối hả hoàn thành các khoa mục cuối cùng. Đến những ngày cuối cùng tôi cuống lên. Tôi khao khát được một lần, một lần thôi ôm Nụ vào lòng, quàng tay vòng qua cái eo lưng mặc quân phục nổi lên đường cong đẹp như một thiếu nữ trong hội họa Phục Hưng. Tôi giống như chú nghé con bị nhốt trong chuồng vươn cái cổ khát khao với tới đám cỏ mới nhú lên sau những đêm mưa. Một lần thôi rồi chết cũng được. Tôi quyết định đột nhập doanh trại đơn vị cơ yếu đặc nhiệm. Nghe tin này thằng Hoàng Sâm và Bá Hùng xúm lại can, các hắn vẫn chưa quên được bộ mặt băng giá của hai gã đàn ông khoác súng dạo nọ. Nhưng chí tôi đã quyết, không ai có thể ngăn cản được. Chiều hôm ấy, tôi đánh xe về đậu sát hàng rào húc đổ một cây bạch đàn. Mặc, tôi không sợ, có húc đổ một cây chứ mười cây tôi cũng húc. Tôi hồi hộp chờ trời tối: Thằng Sâm và thằng Hùng hứa giúp tôi. Phần tôi, tôi tranh thủ xác định lại hướng tiến đến cái "ki ốt" mà đêm đêm Nụ vẫn trực ca từ 20 đến 21 giờ. Màn đêm buông xuống, lạy trời, đêm hạ tuần trời tối đen. Tôi đang đứng bên hàng rào dõi mắt về phía sâu trong doanh trại đến chỗ có mấy ánh đèn thắp ắc quy rồi. Trong đêm tối, cái tháp pháo quay chầm chậm nửa vòng trên xe rồi lặng lẽ gác cái nòng 100 ly đen trũi, lạnh buốt ngang qua hàng rào. Tôi lẩy bẩy ôm cái ống thép dài ngoằng ấy bò lên, vượt qua trên đầu hàng rào, rồi thả tay rơi xuống. Mọi việc đang tiến triển tốt đẹp. Tôi đang ở phía trong bờ rào, thuộc vùng cấm địa. Thằng Sâm đang quay cái nòng pháo trở ra. Chỉ ba phút nữa Nụ sẽ ngả vào vòng tay tôi, mềm mại như một thiên thần bé nhỏ. Thú thực trong giờ phút nghiêm trọng nhất cuộc đời ấy, tôi có thoáng nhớ đến gia đình, đến kỷ luật quân đội, đến tòa án binh, nhưng tất cả đều nhanh chóng mịt mờ đi: Chỉ ba phút nữa thôi, tôi sẽ ôm đầy vòng tay một cơ thể ấm nóng và hôn nàng mà không sợ bị thép gai cào cấu. ... Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Đôi môi tươi đạn xé Chưa một lần biết hôn Tiến lên, hỡi hiệp sĩ Tankistơ! Tôi thì thầm hô khẩu hiệu. Sau lưng tôi, cả hai thằng Sâm và Hùng đều áp người vào hàng rào giục: "Nhanh lên". Và tôi tiến lên đến gần chỗ có ánh đèn hắt ra. Trong đêm cái ki ốt trông rất kỳ lạ, ma quái. Tôi ghé mắt nhìn qua kẽ hở và chợt bàng hoàng: Nụ đang ngồi nhận mật mã giữa một vầng sáng trắng ánh điện và vô số những máy móc rất lạ mắt. Em ngồi đó như thiên thần mất ngủ! Tôi thì thầm nhẩm một câu thơ không biết của ai hay là tôi mới nghĩ ra, rồi thu hết can đảm gõ vào cánh cửa. Mọi việc diễn ra sau đó tôi không đảm bảo là nhớ hết, nhưng cái cảm giác thì bây giờ đã hai mươi năm trôi qua tôi vẫn còn nhớ, và mỗi lần nhớ đến tôi lại ớn lạnh. Đèn vụt tắt cánh cửa sắt bật mở nhanh và mạnh hơn tôi tưởng. Nụ xuất hiện trong bóng tối với bộ mặt đen thui cùng với khẩu súng nhỏ chĩa thẳng vào mặt tôi: - Ai? đứng im, giọng hô sắc nhọn như một mũi kim. Tôi cứng người hoảng hồn: - A... Anh đây... Tư... ờng. - Trời ơi, anh Tường. Chết mất thôi, anh chạy nhanh đi không người ta bắn chết bây giờ! Tôi lắp bắp: - Nụ, anh yêu em, cho anh... - Biết rồi, anh chạy nhanh đi, anh vào đây bằng lối nào, mẹ ơi, cứu anh ấy với! Tôi hoảng cả hồn, sợ gần chết, không biết trời đất là gì nữa. Nụ đút súng vào lưng quân phục dùng cả hai tay xô mạnh vào vai tôi, nhưng đã muộn: "Báo động". Phía đằng sau vang lên những tiếng thét giật giọng, tiếng AK lên đạn, tiếng con chó béc giê gầm lên. Tôi chạy cuống cả chân tay. Đây rồi hàng rào kẽm gai, cái nòng pháo đang quay rất chậm. Đã nghe tiếng bước chân rào rào, ánh điện đèn pin loáng thoáng. Tôi cuống cà kê định lao đầu vào hàng rào nhưng lập tức dừng ngay lại, hàng rào mắt cáo rất dày và là một thứ kẽm gai rất sắc. May thay, cái nòng pháo đã hạ xuống, tôi bật người đu lên nhưng lại buột tay. Đêm, sương xuống ướt đẫm khối thép, cái chỗ tôi đu tay vào lại dính một tý mỡ trơn nhẫy. Tôi nhảy hai lần và thở phào co người lên. - Đứng lại, giơ tay lên! - một ánh đèn pin chiếu thẳng vào lưng tôi, thốt nhiên cái "cần trục" ngưng lại. Tôi thét: - Quay nhanh lên Sâm. - Pằng! Tôi lạng người, mắt hoa đom đóm, trong tia chớp hiểm nghèo vừa vượt qua, tôi còn kịp nghĩ rằng mình đã chết và buông tay cho người rơi xuống ngay sát hàng rào. * * * Nếu không có lệnh cấp tốc lên đường chiến đấu ngay sáng hôm sau, chắc chắn tôi đã phải ra tòa án quân sự và lãnh vài năm tù giam. Chỉ huy đã bảo vệ tôi và ký vào tờ cam kết với đơn vị bạn rằng, đó chỉ là trò trai gái thông thường. Mặc dầu vậy, trong vòng hai tiếng đồng hồ, quân báo đã lục tung cái sơ yếu lý lịch ba đời ăn củ chuối của gia đình tôi rồi mới tạm yên tâm cho tôi lái xe tăng vào Nam. Giây phút cuối cùng khi chuẩn bị lên đường, không cầm lòng được chúng tôi đã đến bám vào hàng rào gọi toáng lên, và các em đã đến. Cơn choáng "vượt rào" còn chưa qua, nghe chúng tôi thông báo lệnh đi chiến trường, các em bàng hoàng. Nụ, nước mắt đầm đìa cầm tay tôi khóc mãi điệp khúc: - Tha lỗi cho em, tha lỗi cho em... Giây phút ấy tôi có nhìn thấy những chiến sĩ cảnh vệ ban đầu. Họ ý tứ đứng xa nhìn lại. Mãi sau mới đến gần chào chúng tôi và nói lời thông cảm với vẻ mặt hết sức thân thiện. Thế là chúng tôi đi, khi lái xe lên tàu ở ga Vĩnh Yên chúng tôi mới nhớ ra rằng, chưa hề biết quê hương các em ở đâu và hòm thư của đơn vị các em. Cả một lời hẹn ngày về cũng không thằng nào kịp nói - thật là "ngu lâu" cả một bọn! ... Rồi, chiến trường đẫm máu cuốn chúng tôi đi... * * * Hỡi các em Nụ, Quang, Lài, Bích, Lâm... hiện giờ các em ở đâu? Đang là một phụ nữ nông dân lo toan miếng cơm, manh áo cho chồng con, vui vầy với khói lam chiều, giàn mướp, mái gianh, đang là một chủ sạp hàng chợ Châu Long, Đồng Xuân nào đó hay đã trở thành mệnh phụ, phu nhân một bộ trưởng, thứ trưởng, cục, vụ, viện nào đó? Dù các em đang là ai, phục vụ đức ông chồng nào cũng xin các em một phút - một phút thôi như buổi chia tay năm nào lên đường vào Nam đánh giặc - nhớ đến chúng tôi, những chú lính lái xe tăng nghịch ngợm nhất dưới gầm trời này. Những người lính thuộc trung đoàn huấn luyện 207 đã cùng các em làm nên những chuyện động trời mùa hè năm 1972 trên đồi bạch đàn Vĩnh Phú. Chúng tôi, hai mươi năm qua như Hoa Xuân Toàn, Phùng Anh Dũng, Nguyễn Tự Chính đã ngã xuống ở chiến trường như những hiệp sĩ chết vì quê hương và người đẹp. Có người bị thương cháy hết mặt mày đã lui về làm vườn, vào hội chiến binh vùng sơn cước. May thay chưa có ai chết vì trụy lạc xa hoa. Chúng tôi vẫn là những Hoàng Sâm, Quốc Tuấn, Mạnh Tường, Bá Hùng tuyệt diệu của các em. Tuy đuôi mắt có nhiều nếp nhăn, râu ria có mọc ra rậm rạp, nhưng trái tim chúng tôi vẫn trẻ trung, vẫn nguyên vẹn đến hoang sơ những kỷ niệm ngọt ngào với các em, cả mùa hè đầy lo âu khi là Tankistơ trên đồi Vĩnh Phú. Vĩnh biệt những người bạn gái tốt nhất trên đời, hẹn gặp lại sau hai mươi năm nữa, như thể hai mươi năm qua chúng ta đã không thể gặp nhau. Nguyễn Thế Tường Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 21 Tháng Tư, 2009, 02:59:24 pm Sợi tóc Nguồn: http://www.vannghequandoi.com.vn Doanh trại im lìm khuất sâu trong thung lũng. Phía tả là dòng sông Lục Nam, nước xanh biếc hờ hững trôi xuôi. Giữa dòng ngào ngạt hoa rừng, hoa từ thượng nguồn tung tẩy trên sông lấp lánh nắng chiều. Phía hữu non cao lấp ló trong mây trắng bồng bềnh in xuống những vạt rừng xanh thẫm. Hết mùa huấn luyện, đơn vị trầm u trở lại với núi rừng. Là anh lính vệ binh bồng súng huýt sáo suốt ngày, chán lại nghêu ngao nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh, ca trù cũng i í được vài câu, ngày tân binh huấn luyện ở đây, đông đúc nhộn nhịp, tôi thường ra oai chấn chỉnh mấy chàng lính “cậu” ra vào qua cổng. Giờ mong họ lượn cho vui mắt cũng chẳng có. Ở đơn vị, tôi được mệnh danh là ông cụ non. Cái danh ấy có nhiều lẽ. Đầu tiên, bất kỳ chuyện gì tôi đã “xuất khẩu”, y như rằng có lớp, có lang, và nữa, dù là lính gác cổng nhưng nhiều khi cũng lên mặt lý sự ra phết. Vô luận đồng chí là cấp nào ra vào cổng không đúng tác phong, lập tức tiếng còi “toét” lên veo véo. Còn nhớ cách đây mấy tháng, có một thủ trưởng mang quân hàm thượng tá ngang nhiên phóng xe qua cổng, cứ như đơn vị là nhà riêng của mình. Toét một tiếng chẳng dừng, tôi buộc phải phải toét liên hồi báo động. Tiếng còi liên thanh khiến vị thủ trưởng giật mình phanh “két” xe trừng mắt nhìn tôi. Sau lần đó tôi được tặng giấy khen và quân hàm cũng được nâng lên một cấp, từ binh nhì lên binh nhất, oai ra phết. Nhưng cái danh ông cụ non ở trung đội cảnh vệ khó xoá đi được bởi một lý do nữa là tôi nghiện thuốc lào, nghiện từ khi học phổ thông. Ngày rời ghế nhà trường cũng là lúc biết đến thứ tiêu khiển quê mạc này. Lần đầu tiên bập vào lõ điếu, ho sặc sụa, dãi bắn tứ tung, nước mắt xối ra đỏ ngầu, đầu óc bung biêng xáo trộn. Thế mà đến ngày vào lính thì tôi đã trở thành dân chơi thuốc lào sành điệu. Cái điếu cày của tôi thường xuyên được thay nước, thông nõ bằng lông gà hàng ngày, đến nỗi cánh lính vệ binh biến thể câu “Súng là vợ…” thành ra “Điếu là vợ…” tặng tôi. Cái điếu cũng lạ, cũng biết giương oai diễu võ, mỗi lần bắn cứ tanh tách tanh tách như AR15 bật nấc liên thanh. Bạn thân nhất của tôi trong trung đội là một đồng hương, tuổi quân tuổi đời đều hơn tôi, đã có vợ. Những đêm tôi gác, lão không ngủ được, hay mò ra than thở: - Vợ tớ đẻ kém quá, hai lần đều “vịt giời!” - Nên động đến sách báo một chút, mẹo vặt đầy ở trong đó chứ ở đâu. Tôi động viên bạn. Kỳ thực lão thèm thuốc ê a câu chuyện làm quà, lão “rít” đỏ nõ không ngớt, chán rồi mới lần về chỗ ngủ. Có lần đứng gác, đúng lúc tôi đang nâng khẩu AR15 lên “bắn”, cũng là lúc các thủ trưởng qua cổng. Dí dỏm nhất là trung đoàn trưởng Ngô. Thấy tôi líu ríu từ trạm gác bước ra trong màn khói, chuyệnh choạng chân nọ đá chân kia, trung đoàn trưởng mỉm miệng cười: “Đồng chí nên bỏ thuốc, tớ có một đứa con gái mới thi đỗ đại học, nó đang khao khát một tình yêu với lính. Nếu cậu bỏ thuốc, tớ sẽ “xin nhau” cho”. Tôi cảm ơn nhưng trong bụng thầm nghĩ, trung đoàn trưởng ở tận xứ Thanh, sức đâu mình yêu xa thế. Cho đến một hôm. Trời chiều, nắng vàng hoe dội xuống sông Lục Nam. Còn vài giờ nữa hết ca gác, thường ca gác này rất nhiều cậu hoảng. Thứ nhất, nắng ấm dễ ngủ gật. Thứ hai, cũng là lúc các thủ trưởng ở thao trường về. Nhưng với tôi lại khá an toàn, hễ hai mí mắt đè díp xuống liền đưa tay vón ngay điếu thuốc bắn một phát là hết ngái ngủ. Đang ngồi rung đùi ngâm mấy câu Kiều bỗng một chiếc xe SUZUKI như từ trên giời rơi xuống xịch đỗ ngay trước mặt. Người đàn ông cầm lái từ từ nhấc chiếc mũ bảo hiểm ra. Ngồi sau là một cô gái mặt hoa da phấn khẽ cúi đầu chào. Tôi đang ngỡ ngàng, tâm trí đang dồn cả vào cô gái thì người đàn ông lên tiếng quát: - Đồng chí Thanh, nghiêm! Tôi giật bắn người nhìn sang. Ôi! Thủ trưởng Ngô. - Dạ… Dạ… Em chào thủ trưởng! Vừa nói tôi vừa chạy lại gỡ tấm ba-ri-e. - Dạ, thủ trưởng đội mũ bảo hiểm kín quá lại quần áo dân sự nên… - Tớ đùa cậu tí thôi - Giọng nhỏ nhẹ, vừa nói Trung đoàn trưởng vừa rút trong cốp xe ra một cái bọc được gói bằng giấy báo, tươi cười dúi vào tay tôi: - Này, quà của cậu đây! - Dạ… Tôi tròn mắt - Thủ trưởng mua quà cho em? - Lần này ở quê ra, duy nhất tớ chỉ mang quà cho cậu. Còn nữa, tối nay mời cậu lên phòng. Tôi ngây người, ngoái nhìn cô gái e thẹn ngồi sau xe, thầm nghĩ - Trung đoàn trưởng tâm lý ra phết - rồi thủng thẳng trở vào trạm gác. Lúc này, tôi mới bóc gói quà Trung đoàn trưởng vừa tặng mình. Hả? Thuốc lào! Khà… Khà… đúng thuốc lào Thanh Hoá. Thuốc lào Thanh Hoá có một ưu điểm rất đặc biệt, sợi nhỏ li ti, óng vàng, hút vào “phê” chết thôi luôn, không loại thuốc nào “nhái” được. Tôi lôi điếu ra hút thử luôn. Khoái chí “bắn” luôn mấy điếu. Khói chưa kịp chui ra hết khỏi miệng, hai mắt tối sầm ngã chúi về phía trước. Trời ơi! Thuốc ngon quá! Tỉnh dậy, miệng đắng ngắt. Thấp thoáng có bóng người vào ra qua cổng, mặc. Nhưng dù thuốc có ngon đến mấy vẫn không khoả lấp được hình ảnh xinh tươi của cô bé đi cùng Trung đoàn trưởng ban chiều. Cơm tối xong, tôi thay đồ, quần đen áo trắng, tóc chải rẽ ngôi rất phong lưu lững thững lên phòng thủ trưởng. Tới cửa phòng, tôi khựng lại, chút suy tư hiện trong đầu. Đích thị là con gái của thủ trưởng rồi. Mình đến một mình thế này mọi người cho là đánh quả lẻ. Nghĩ vậy, tôi liền quay về gọi thêm lão đồng hương. Lỡ xảy ra chuyện gì sẽ có đồng hương cùng gánh đỡ. Cửa phòng mở. Ánh điện từ trong hắt ra kẻ một đường sáng chạy xuống chân đồi. Thấy hai chúng tôi xuất hiện, Trung đoàn trưởng vẫy tay mời vào. - Chào các cậu, các cậu thấy đặc sản quê hương tớ thế nào? Chúng tôi khép nép ngồi vào ghế đối diện. Mắt sáng lên khi thấy cái điếu cày tre nhẵn thín nạm inox bóng loáng dựng ngay đầu bàn. Tôi nghĩ bụng, thủ trưởng đúng là một tay thuốc lào có hạng, lại cho lính cả bánh thuốc đủ thấy quý lính đến mức nào. Thấy hai chúng tôi ngắm nghía cái điếu, Trung đoàn trưởng Ngô khẽ mỉm cười. - Đồ xịn đấy! Mời các cậu! - Dạ! Chúng em dùng rồi, ngon lắm thủ trưởng ạ! - Tớ nói là nói cái điếu của tớ kia! Đồ gia bảo đấy. Vừa lúc ấy, từ phòng trong bước ra cô gái. Thấy tôi lúng túng, Trung đoàn trưởng nói ngay: - Con gái tớ! Ra chào các anh đi con, lính của cha đấy. Cô gái nhè nhẹ đi qua chỗ chúng tôi, hương thơm thoang thoảng, không phải hương quế cũng chẳng phải hương trầm mà là hương của hoa rừng ngất ngây lăn rơi trên da mặt đờ đẫn của tôi. Ôi! Em xinh quá, tôi khẽ thốt thầm nhìn vào ánh mắt nàng. Nàng cũng bạo dạn nhìn tôi, đôi mắt long lanh như chú nai ngơ ngác bên dòng sông Lục. Bỗng có tiếng điếu cày rít lên, tôi sực trấn tĩnh. Đó là thuốc mà Trung đoàn trưởng mời bạn tôi hút thử. Bạn tôi là người nghiền nặng nên một phát không đủ đô, phát thứ hai lại bắn tiếp. Trung đoàn trưởng phá lên cười, hai tay vỗ vào nhau bồm bộp. Tôi rất thèm nhưng đành phải ngồi im chấp nhận, vì cái nhìn sắc lạnh của nàng đang chĩa vào anh bạn đồng hương. Vốn dĩ anh đã có vợ nên không phải ý tứ hãi sợ gì nữa. Đang khi tôi ớ người ra đờ đẫn vì khói thuốc quện vào mắt, vào mũi, đánh thức các tri giác của tôi thì nàng đứng dậy xin phép ra ngoài. Tôi nhìn theo nàng thầm rủa ông bạn đồng hương vô ý cố đấm ăn xôi giải tỏa cơn nghiền. Khói thuốc đã khiến nàng không thể ngồi lâu thêm được nữa? Tôi như kẻ mất hồn khi nàng khuất sau cửa phòng khách. Nhưng cơ hội đã đến, nhân lúc vắng nàng, Trung đoàn trưởng ra hiệu và tôi hiểu ý ngay, liền véo một điếu rõ to thả vào nõ. Ngọn lửa bập bùng liếm từng sợi thuốc vàng ươm. Bỗng cổ họng tôi rát bỏng, có cái gì rất lạ xộc vào tim óc, khói quặn lên yết hầu khiến cuống họng như bị một vật cứng nhọn chẹn lại. Tôi vội buông điếu, chân tay đờ đẫn, mắt tối sầm, máu trong huyết quản sôi lên òng ọc và ngã vật xuống. Tôi cố vươn cái cổ ngẳng ra để thở, nước từ hai hố mắt trào ra, chập chờn phía trước là sếp và anh bạn chả hiểu gì đang huơ chân huơ tay cổ vũ cho một cầu thủ thuốc lào nghiệp dư tội nghiệp đo ván trên sân. Một lát sau lập cập bò dậy tôi khó nhọc nói: - Đặc sản của thủ trưởng có lẫn tóc. Em vừa phát hiện ra thì khói đã xộc vào rồi. Rồi chúng tôi uể oải xin phép ra về. Ngoài trời đen thui, cơ ngực vẫn co thắt dồn dập. Không biết từ đâu, nàng xuất hiện từ khoảng sáng bước đến. Nàng cười, ngước nhìn tôi, phía sau là những vạt rừng tối sẫm. Đứng bên nàng, chân tay tôi lóng ngóng, lại vẫn như còn mùi khét của khói thuốc lẫn tóc chết tiệt đang phả ra. Nàng thỏ thẻ: - Em sơ ý để rơi tóc vào thuốc. Em xin lỗi. Tôi ấp úng: - Không phải lỗi tại em. Có lẽ là tóc của người hái thuốc trên đồng. - Không! Nàng phụng phịu- Đó là tóc của em. Em không muốn bố em cũng như các anh hút thuốc. Em ghét mọi người hút thuốc… Với cả, bộ đội các anh… ai cũng thế… khờ lắm! Nói xong người con gái òa khóc chạy hút vào bóng đêm. Tôi nén tiếng thở dài, vậy là mình phải chia tay với thuốc?… Gói thuốc thủ trưởng tặng tôi gửi cho người bạn đồng hương. Cậu ấy là vầng trăng đã có nơi có chốn chẳng sợ mây sợ gió, còn tôi thân phận binh nhất phòng không phải nâng niu dù là đám mây thoảng qua. Nhưng sự đời thật quá đỗi bất ngờ. Không một ai ngờ được sau cú ấy, tôi trở thành con rể của thủ trưởng thật. Không biết do trời xui đất khiến thế nào lại bén duyên cầm sắt. Nàng thử thách tôi cũng kỳ lạ. Nếu thi đỗ sĩ quan thì cho bắn thuốc lào và yêu thoải mái. Ái chà chà! Đố nhà giầu húp tương. Bây giờ, mỗi khi lễ tết ngồi với bố vợ nay đã là đại tá sư đoàn trưởng, hai bố con vừa khề khà nhả khói bên cái điếu gia truyền vừa ôn lại câu chuyện sợi tóc duyên nghiệp và binh nghiệp. Chợt làn gió ở đâu thổi đến mang mùi hương hoa rừng đặc biệt chỉ tôi mới nhận ra. Và, một sợi tóc khe khẽ đậu xuống những ngôi sao trên đôi cầu vai thượng úy… Nguyên Thanh Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 23 Tháng Tư, 2009, 11:44:32 am Anh Sức Nguồn: http://www.vannghequandoi.com.vn Trưởng phòng tổ chức của nông trường lật đi lật lại tập hồ sơ của tôi, rồi ông giương kính lên và bắt đầu đọc. Ông đọc rất say mê mặc dù tôi biết chắc chắn ông đã đọc tập hồ sơ của tôi ít nhất cũng dăm bảy lần... Cũng như mọi lần, sau khi đọc qua mỗi trang, ông cẩn thận thấm nước bọt vào đầu ngón tay rồi mới lật qua trang khác và điểm thêm bằng những tiếng khen "Được" hoặc "Cái này được". Cái kiểu đọc như vậy, dĩ nhiên khiến tôi rất sốt ruột. Như mọi lần, tôi chuẩn bị để nghe ông kết thúc bằng câu "Thôi được! Anh cứ để hồ sơ lại đây để chúng tôi xem lại đã". Cái cảnh đi xin việc, năm lần ra ba lần vào là chuyện thường. Nhưng lần này ông ta đọc có vẻ lâu hơn, bình tĩnh hơn, thỉnh thoảng ông còn dừng đọc, ngước lên nhìn tôi một lượt như để xem có cái gì không được khớp giữa tôi và những dòng chữ trong tập hồ sơ vậy? Cuối cùng, tôi thở phào, ông đã gỡ kính ra, tin cậy đặt nó lên tập hồ sơ của tôi. - Được! Được đấy. Lý lịch của anh thật là tuyệt. Chưa có một dấu vết gì cả. Nhưng này - Ông đột ngột nhô nửa người qua bàn - nghề nghiệp chính của anh là gì? Tôi sốt ruột nên đáp hơi sẵng giọng: - Nghề chính của tôi là… đánh giặc ạ. - Ái chà! Đánh giặc - ông bỗng cất tiếng cười vang - Khá đấy! Nhưng ở đây làm gì có giặc nhỉ? - Bỏ ngay cái giọng công thần ấy đi, anh bạn trẻ nhé. Tuy vậy, tôi thích anh, anh đại đội trưởng xe tăng ạ. Ban giám đốc đã đồng ý tiếp nhận anh rồi đấy. Nhưng… ở đây chúng tôi không có xe tăng cho anh chỉ huy, gay thế? - Tôi có thể lái xe xích, xe cần cẩu hay bất kỳ loại xe hơi nào. - Thế thì tốt. Ông trưởng phòng xoa hai bàn tay vào nhau - nhưng rất tiếc ở đây chúng tôi có vài cái xe rách thì xe nào cũng có ít nhất là ba anh tài xế rồi. Tuy vậy… chúng tôi đã quyết định giao cho anh phụ trách cả một đội xe, được chứ? - Dạ… tôi cũng có thể… - Nghĩa là được, phải không? Một đội hơn hai chục đầu xe chứ ít ỏi đâu. Nhưng là xe bò kéo, chứ không phải xe hơi đâu nhé! Nói xong ông lại cười vang và có vẻ thích thú ngắm nhìn bộ mặt ảo não của tôi. Vậy ra người ta giao cho tôi… lái xe bò? Thật chẳng còn ra làm sao. Nhưng chẳng lẽ cứ ăn không ngồi rồi mãi? Tôi là thương binh, được phục viên đã gần một năm nay rồi. Giá như tôi ở nông thôn thì mọi việc đơn giản hơn nhiều. Chỉ việc đến ban quản trị xin nhận vài sào ruộng khoán là ổn. Khốn nỗi tôi lại là dân thành thị, vườn tược chẳng có mà các nghề khác thì… tôi chưa kịp học một nghề gì trước khi đi bộ đội cả. Các đồng chí bên uỷ ban nhân dân thị xã có gợi ý mời tôi lên làm ở văn phòng uỷ ban. Nhưng tôi biết tôi không thể ngồi yên ở bất kỳ cái văn phòng nào lấy một tuần. Tôi thích làm việc ngoài trời, được đi lại, xê dịch hoặc đôi khi còn hò hét nữa. Tôi chỉ sợ nhận làm việc ở cái nơi cực kỳ nghiêm chỉnh ấy mà tính khí của tôi lại hơi bồng bột, không khéo dăm bữa nửa tháng tôi ngứa chân ngứa tay, rồi làm ăn cẩu thả hay nói năng không được chững chạc cho lắm, lại phiền cho những người cưu mang mình. Vậy nên tôi từ chối để vác hồ sơ đi xin việc ở khắp nơi, cho đến khi gặp cái ông trưởng phòng. - Thế nào? - Ông trưởng phòng lại hướng về phía tôi - Chắc là đồng chí sẽ không nhận việc này chứ gì? - Tôi biết mà… Cánh thanh niên các anh thì chỉ thích nơi nào tao nhã một chút. Cái nghề đánh xe bò… Nhưng thôi được!... Ưu tiên đồng chí là thương binh, tôi có thể xếp đồng chí làm việc ở bộ phận hành chính… - Không, tôi vội xua tay - Tôi xin nhận xuống đội xe bò. - Hả? - Bác cứ cho tôi xuống đội xe. - Nếu vậy thì hay lắm. Ông trưởng phòng xoa tay hể hả. Có thế chứ! Đúng là là… phẩm chất của giai cấp công nhân. Nếu đồng chí về đó thì chúng tôi yên tâm lắm. Xem ra phải hơi cứng đầu một chút thì mới cầm cương được cánh xe bò kéo. Chà… chà! Một ổ tiêu cực đấy! Đời thuở nhà ai họ dám bán cha cả bò của nông trường rồi vu cho kẻ trộm lấy mất. Dĩ nhiên là những kẻ như vậy là vào tù rồi. Nhưng… cũng chưa phải rồi mọi việc xấu xa ấy sẽ chấm dứt. Hừm… lạ thật! Táo gan thật! Về đó anh phải đặc biệt chú ý đến tay Nguyễn Văn Sức. Hừm… một tay đã từng lái xe bộ đội Trường Sơn. Cũng vào sinh ra tử cả đấy. Đến khi hoà bình, chuyển ra làm đội trưởng đội xe vận chuyển dân chính thì bắt đầu trở chứng. Quả là… Anh tính, đời thuở nhà ai anh ta dám bán gần hết cả một xe vải quý cho con buôn để lấy tiền chia nhau? To gan thế đấy! Dĩ nhiên rồi đến cái đoạn phải chịu kỷ luật, bị đuổi về. Không bị đi tù còn là may đấy. Ấy thế mà rồi thì… Về đây, anh ta làm cách nào đó, có giời biết, mà ông phó giám đốc nhà này cứ say như điếu đổ, rồi nhận anh ta vào làm ở đội xe. Tôi biết mà, hắn lại định nhắm vào cái khâu tiếp xúc với nhiều cơ sở vật chất nhất. Để làm gì, hả? Với những người như anh ta, thì không phải để làm cách mạng đâu, anh nhớ lấy điều đó! Mặc dù năm vừa qua anh ta được bầu là chiến sĩ thi đua hẳn hoi. Nhưng tôi vẫn ngờ lắm. Cái tay đội trưởng cũ ngu ngơ quá, bị chúng nó xỏ mũi cả. Anh thì phải khác, nhớ đấy! Vì anh là cán bộ, đảng viên lại xuất thân từ giai cấp công nhân. Nếu anh mà cũng lơ mơ thì… cứ cứ… coi chừng đấy! Ông trưởng phòng đe nẹt tôi một cách thân ái rồi trịnh trọng mở cặp ra lấy tờ quyết định tiếp nhận trao cho tôi. - Đấy… Việc của anh thế là xong. Anh làm nốt các thủ tục còn lại rồi nhanh chóng về mà nhận bàn giao công tác. Kể từ ngày hôm nay anh chính thức là… cán bộ của nông trường này rồi. Những lời huấn thị của ông trưởng phòng tổ chức không làm tôi bực mình lắm mặc dù nó thấm đậm chất gia trưởng. Có lẽ vì tôi đang vui. Dù sao thì mọi việc chạy xuôi chạy ngược cũng đã kết thúc. Từ nay tôi đã là anh đội trưởng một đội xe bò kéo của nông trường. Chứ đâu phải chuyện chơi? Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 23 Tháng Tư, 2009, 11:45:28 am Anh Sức (Tiếp) Cũng như tất cả các vị thủ trưởng mới nhậm chức, sau khi nhận bàn giao tài liệu, sổ sách, bản thống kê tài sản v.v… tôi quyết định bỏ ra vài ngày để làm quen với công việc và anh em công nhân dưới quyền chỉ huy của mình. Tôi định tổ chức hẳn một cuộc họp để ra mắt và "ra tuyên bố" về "chính sách" của mình… Nhưng đã gần hết một tuần mà tôi không làm sao gom đủ quân về trụ sở để tổ chức cuộc họp ấy. Cuối cùng, tôi phải bãi bỏ ý định ấy và đành "nhập gia tuỳ tục". Nghĩa là tiếp tục dùng cái bảng thông báo ở đầu nhà để phân công công việc và ra những chỉ thị cần thiết. Sau đó tôi quyết định đi theo anh em chở hàng một vài chuyến để tìm hiểu công việc. Tuy chưa nói với ai, nhưng tôi định chuyến đầu sẽ đi với anh Nguyễn Văn Sức. Tôi chọn đi với anh là vì hai lẽ. Thứ nhất, vì những lời lưu ý đặc biệt của ông trưởng phòng tổ chức. Thứ hai, sau một tuần làm việc ở cơ quan, tôi đã có vài lần được tiếp xúc với anh Sức. Tự nhiên tôi lại có cảm tình với anh. Ở anh có một cái gì đó chững chạc, bền vững chứ không có những nét xộc xệch cẩu thả, tạm bợ như số đông anh em đánh xe ở đây. Tôi không nghĩ rằng người ta đã phạm kỷ luật, thậm chí phạm tội một lần thì không thể thay đổi được. Ông trưởng phòng có vẻ mê cái lý lịch của tôi. Nhưng, tất cả những sự tốt đẹp, trong sạch của quá khứ có bảo đảm để tôi mãi mãi là người tốt hay không lại là chuyện khác. Tôi đã từng biết không ít những người vẫn được coi là tốt, là trong sạch đã nhanh chóng hư hỏng như thế nào. Ngược lại, tôi từng biết những người phạm tội, xa xẩy đã vươn lên để trở lại với bản chất tốt đẹp của một con người chân chính như thế nào. Quá trình thứ hai, chắc chắn phải gian khổ, vất vả hơn quá trình thứ nhất. Vì thế, tôi muốn đi với anh một chặng đường. Khi tôi đến, anh em trong đội đang nhận hàng để chuẩn bị cho chuyến đi ngày hôm ấy. Một số anh em đã đóng hàng xong đang quây quần xung quanh bác Mạc, một người nhiều tuổi nhất trong đội. Cánh thanh niên vừa chuyền tay nhau cái điếu cày chạm khắc rất cầu kỳ của bác Mạc vừa cười nói ồn ào. Sức không ở trong đám đông ấy, anh vẫn đang loay hoay bên xe của mình. Thấy tôi tới, một thanh niên ở trần, mặc quần bò, đội mũ cối rộng vành liền la lên: - Thủ trưởng tới đấy… Chú ý! Bò bê… Tất cả nghiêm! Mọi người cười rộ cả lên. Tôi cố làm ra vẻ tự nhiên bước tới. - Chào anh em!... Mọi việc ổn cả rồi chứ? - Xong cả rồi đấy anh ạ. - Bác Mạc lên tiếng trả lời thay mọi người - Ba xe chở cỏ khô. Năm xe chở gạch và xi măng vào cho đội Sáu xây lò đường. Riêng xe của anh Sức và xe của tôi thì chở phân đạm và vào xóm Trại cho đội Mười hai bón thúc ngô. Sau đó hình như chở gỗ từ đó ngược ra Sơn Tây giao cho nhà máy đường để đổi lấy mắm ma-ri. Anh muốn đi với xe nào thì tuỳ. Ông thủ trưởng trước, dạo mới về cũng đã đi thử với tôi một chuyến! Nhưng chỉ được vài cây số thì ông ta bắt đầu ngáp, rồi gật, bập cả đầu vào thành xe. Tôi đành phải trải chiếu lên trên hàng cho ông ta ngả lưng. Nhờ giời, ông ta ngủ liền một mạch đến tận nơi trả hàng. Khi lay ông dậy, tôi nói đùa "Nếu tôi mà tiêu cực thì tôi bán quách cả thủ trưởng cho mấy con mẹ phe ngoài chợ Ba Trại rồi". Mọi người lại cười ồ lên. Tôi cũng cười theo rồi vỗ vai bác. - Thôi, thế thì tôi sẽ đi với bác và anh Sức. Nếu tôi ngủ dọc đường, hai bác cứ việc quẳng tôi xuống đường. - Lại nói cái chuyện ngủ - Bác Mạc hào hứng tiếp tục câu chuyện - Có lần đi chở than ngoài cảng Sơn Tây về đêm. Trăng thanh gió mát, xe cứ nhẩn nha lọc cọc lăn trên đường. Tựa lưng vào tải cỏ khô, tôi ngủ cha nó lúc nào chẳng biết. Đến khi mở choàng mắt ra thì… Quái! Đây là đâu thế nhỉ? Bỏ mẹ, đây đã tới gần đập Phùng rồi cơ à? Thì ra cái con mẹ này nó định kéo mình về Hà Nội chơi một chuyến chăng? Nghĩ đi nghĩ lại vẫn còn thấy may. Giá mà gặp thằng bợm nào nó trèo lên, xúc cha nó hết than có lẽ cũng chẳng biết. Vô phúc còn bị nó xịt ê-te cho mình lịm đi rồi tháo mất bò như ông Sáu Đỗ ngoài Sơn Tây thì cũng đành chịu chứ biết làm sao? - Năm ngoái anh Sức đã chẳng chơi cho cái bọn mất dạy ấy một vố ra trò ấy à? - Cậu thanh niên đội mũ cói rộng vành lên tiếng - Xe anh ấy chở phân đạm từ Sơn Tây về, đến quá dốc Đồi Thông, đang mơ mơ màng màng thì bốn thằng ập tới. Chúng dí dao găm vào cổ anh và đòi anh phải để cho chúng lấy vài tải đạm. Cưỡng lại thì chúng đâm chết ngay. Anh Sức rất khôn ngoan liền bảo chúng "Các ông đã định lấy thì cứ khuân tất cả xuống rồi trói tôi lại. Sáng mai có người đi qua, tôi sẽ kêu họ cởi trói lập biên bản. Chứ các ông chỉ lấy một vài bao rồi tha tôi thì về cơ quan tôi cũng đến chết". Bọn kia tưởng chuyến này "trúng quả", máu tham liền nổi lên. Thế là chúng bảo anh dừng xe, rồi ì ạch khuân hàng xuống. Chúng tưởng gặp phải anh chàng yếu đuối nên càng chủ quan chẳng đề phòng nữa, xúm cả lại bốc hàng. Thế là anh Sức lựa lúc chúng sơ hở, rút được cây gậy cài bên thành xe rồi nhảy bổ tới phang cho hai thằng gần nhất mỗi thằng một gậy gục ngay tại chỗ. Hai thằng còn lại hốt hoảng tháo chạy. Anh trói gô hai đứa bị đòn lại, quẳng lên xe rồi đưa vào giao cho một đơn vị bộ đội đóng quân gần đó. Mấy hôm sau công an tóm được nốt hai thằng còn lại. Hồi đó nhà báo chả về tận nơi phỏng vấn, rồi chụp ảnh, viết bài đăng trên báo là gì? - Có, tớ có đọc bài báo ấy - Một anh khác vội chen vào - Phải nói bài báo viết rất hấp dẫn ly kỳ. Nhưng… tớ không khoái cái đoạn anh Sức nghĩ. Lúc ấy thì làm quái gì mà nghĩ được nhiều thế? Thậm chí lại còn nghĩ đến cả mấy chục héc-ta ngô, lạc của nông trường đang chờ phân nữa? A… anh Sức đây rồi! Này, lúc ấy anh có nghĩ lắm như thế không anh Sức? - Nghĩ gì? - Sức vừa bước tới nên chẳng hiểu mô tê gì cả - cho mình mượn cái điếu. Chuẩn bị đi thôi chứ còn gì. Bò bê nó đang dậm chân dậm cẳng ầm ầm lên kia kìa. - Bọn tôi đang kể cho xếp mới nghe cái tích anh đánh cướp cứu tài sản xã hội chủ nghĩa đấy. Cậu thanh niên đội mũ rộng vành vừa nói vừa khẽ nháy mắt - Hôm nay thủ trưởng sẽ tiếp tục đi sâu đi sát để tìm hiểu đồng chí chiến sĩ thi đua của đội xế bò ta đấy. Sức quay lại, nhìn thấy tôi anh khẽ gật đầu thay cho câu chào rồi hỏi. - Anh định vào đội xóm Trại à? - Vâng, tôi muốn đi với anh một chuyến. - Được, xin mời anh - Sức trả lời sau khi rít một hơi thuốc lào - Anh lên xe tôi, bò của bác Mạc hôm nay không được khoẻ lắm đâu. Anh em đánh xe cũng vội vã trở về xe của mình. Tiếng giục bò vang lên. Tiếng bánh xe lăn trên con đường rải đá lọc cọc. Một hồi kẻng đổ rền báo giờ làm việc buổi sáng đã đến. Các cô trong đội trồng dừa từ ngôi nhà tập thể túa ra đường. Cô nào cô nấy nai nịt như thể sắp bay vào vũ trụ: Chân đi giày ủng, tay đeo găng bảo hộ lao động, khăn trùm đầu trùm cổ kín mít, chỉ có hai con mắt là các cô vẫn phải để cho nó lóng lánh, liếc ngang liếc dọc nhoay nhoáy. Chẳng bù cho lính của tôi, mười người thì tới sáu bảy người ở trần phơi ra những mảng lưng, mảng ngực đen cháy, những bắp thịt cuồn cuộn. Vậy mà cái duyên bóc trần ra ấy của "Lính xế bò" vẫn buộc các cô phải để mắt tới. - Ê… Này các em đội dấm dớ… A quên, đội giồng dừa chứ nhẩy! - Cậu đội mũ rộng vành ngồi ngất ngưởng trên chiếc xe chở cỏ khô vung roi hét lên. - Muốn ăn cơm tám với giò, lại đây mà ủn xe bò với anh. Nào…! - Anh Phong ơi! Cho bọn em ngồi ca-bin xe bò với nào. - Lên đây! Lên đây. Ca-bin của anh đây thì êm hết xẩy!. - Nhưng mùi nước đái bò… khai lắm! Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 23 Tháng Tư, 2009, 11:56:42 am Anh Sức (Tiếp) Các cô cùng cười ré lên khiến anh chàng đội mũ rộng vành cứng họng, mắt đỏ phừng lên. Bị hố với các em, anh ta đâm cáu, hai cái mông bò bị vụt lia lịa một hồi. Nhưng… chỉ một lát sau đã thấy anh ta nằm ngửa trên đống cỏ khô, vừa dứ dứ cái roi lên trời vừa hát vang lên. Ra đến ngã ba, mấy chiếc xe chở cỏ khô rẽ lối khác. Xe của Sức và của bác Mạc nhằm thẳng vào hướng Ba Vì đi tới. Trước mắt chúng tôi là những đồi cỏ sữa của trung tâm bò giống Môn-ca-đa, thứ cỏ có sức sống mãnh liệt và có hương vị đặc biệt do nước bạn Cu-ba giúp ta gây giống và gieo trồng. Vào ban đêm, mùi cỏ bị nắng nung khô tái, suốt ngày toả ra mùi hương nồng say, thấm đậm trong không gian, khiến bất kỳ ai đi qua đây cũng thấy nao lòng. Buổi sớm, sương còn đọng long lanh trên những ngọn cỏ, hương thơm vẫn nồng nàn khiến ta cứ ngỡ chính những giọt sương kia đã toả ra cái hương vị lạ lùng ấy! Nhưng rồi mặt trời lên, sương tan. Sự hào nhoáng của những giọt sương mỏng manh tan biến ngay dưới ánh ắng mặt trời nhưng hương cỏ thì vẫn nồng đượm, vẫn lắng đọng, quanh quất đâu đây, êm dịu luồn lách vào tận da thịt, như nhắc ta đừng bao giờ quên cái hương vị diệu kỳ này. Nhưng làm sao có thể quên, dù chỉ một lần qua đây? - Buổi sáng thật tuyệt vời, phải không anh Sức? Tôi hỏi và đợi câu tán đồng của anh. Nhưng hình như anh không nghe tiếng, như quên cả sự có mặt của tôi trên chiếc xe này. Mắt anh nhìn đăm đắm như bị hút vào một điểm nào đó ở phía trước. Gương mặt anh lúc đó thật đẹp. Một vẻ đẹp đầy nam tính, khoẻ khoắn, góc cạnh và lộ rõ vẻ từng trải, dày dặn nhưng chưa hề chai sạn. - Anh có thuốc lá không? Anh hỏi khẽ và vẫn không nhúc nhích. - Có đây. Tôi trả lời rồi vội rút bao thuốc lá trong túi ra đưa cho anh. - Cám ơn! Anh nói khẽ khi điếu thuốc đã bắt lửa. Sau đó anh lại im lặng. Anh ngậm điếu thuốc trên môi và lặng lẽ hút, lặng lẽ nhả khói, không một lần nhấc ra khỏi môi cho đến khi điếu thuốc chỉ còn một mẩu nhỏ anh mới thổi phù một cái cho mẩu thuốc bay ra vệ đường. - Anh nghiện thuốc lắm, phải không? Tôi hỏi khi nhìn thấy cung cách hút sách lạ lùng ấy của anh. - Không. Tôi không nghiện bất cứ thứ gì. Nhưng thứ gì cũng chơi được tới cùng như bất cứ một kẻ nghiện ngập chính cống nào. - Anh đã từng là lái xe mà - Tôi nói như để thừa nhận sự sành sỏi của anh. Nhưng anh lại cười khẩy. - Chắc ông Phục trưởng phòng tổ chức đã kể cho anh nghe đủ điều xấu xa về tôi, phải không? Tôi gật đầu xác nhận điều đó vì tôi biết, trước những người như anh mà nói dối là một sự ngốc nghếch. - Nhưng anh có tin không? - Không. - Thế thì anh lầm rồi. Tất cả những điều ông ta nói về quá khứ của tôi đều đúng cả đấy. Ông ta biết rất kỹ và nhớ rất dai - Anh bỗng cười vang rồi sôi nổi nói tiếp - Có điều… chưa bao giờ ông ta hiểu đúng tôi cả. Ông ta là một người… Biết nói thế nào nhỉ? Có thể nói là một người trong sạch, tận tuỵ và rất nghiêm khắc. Ông ta có thể ngồi miệt mài bên đống hồ sơ ngày này qua ngày khác, bất chấp giờ giấc, thời tiết, ngày nghỉ hay ngày lễ… Và nếu anh đến xin việc chẳng hạn, vô phúc lại tưởng ông ta cũng giống như một số cán bộ tổ chức khác, mà định giúi cho ông ta một thứ gì đó, dù chỉ là một bao thuốc lá loại rẻ tiền thôi thì… anh sẽ hết đời! Ông ta sẽ liệt ngay anh vào danh sách những thằng vứt đi của xã hội. Chẳng thế mà, tuy đã từng là cán bộ tổ chức của một xí nghiệp vận tải, nghĩa là ngồi ở cái vị trí mà người ta có thể hái ra tiền, nhưng ông ta vẫn sống rất nghèo, rất thanh bạch, hàng ngày vẫn đi về bằng chiếc xe đạp mà ông cụ đẻ ra ông ra mua từ hồi còn thằng Tây kia. Về mặt ấy và về sự tận tuỵ với công việc, ông ta thật là một người đáng kính trọng. Nhưng ông ta có một cái lỗi, thậm chí là một cái tội nữa, là chỉ tin vào lý lịch, chỉ làm việc với những hồ sơ khô cứng chứ không tin vào con người với tất cả những cái tốt và cái chưa tốt của họ. Với ông ấy, chỉ có hai loại người, loại đã có tội, đã bị kỷ luật hoặc có lý lịch không trong sạch và loại hoàn toàn trong sạch, chưa có "phốt" gì bị ghi trong lý lịch hồ sơ. Với loại thứ nhất, ông ta coi như hoàn toàn khả nghi, không thể dùng được, phải lập tức tìm cách mà xéo đi cơ quan khác. Tôi cũng là người đã từng bị ông ta xếp vào loại này. Rất không may cho tôi là về tới tận cái xó xỉnh này tôi đã lại thấy ông ta lù lù ngồi đó rồi. Thực ra, sau khi bị kỷ luật, tôi cũng chẳng thiết tha trở lại làm một anh công nhân viên chức Nhà nước làm gì. Nhưng nhờ có ông phó giám đốc nhà này, ông Thức ấy mà, ông ta động viên, tạo điều kiện cho tôi vào làm việc ở nông trường, không phải vì ông ấy thấy tôi cần phải trở lại biên chế nhà nước để có miếng cơm manh áo. Ông ấy hiểu tôi, biết tôi hoàn toàn không phải người xấu, không có ích gì cho xã hội nữa. Được ông Thức khuyến khích, tôi làm đơn xin vào nông trường. Đến khi bước vào phòng tổ chức cán bộ, vừa nhìn thấy ông Phục, tôi đã phát ớn, định quay về. Nhưng tôi lại nghĩ. Thì đã sao? Nếu mình rút lui, chẳng hoá ra những ý nghĩ của ông ta về mình là vĩnh viễn đúng hay sao? Mình không thể trở thành người tốt, người có ích cho xã hội nữa hay sao? Nghĩ vậy, tôi cứ liều tiến tới. Dĩ nhiên ông ta ngạc nhiên, và ông ta kiên quyết không chịu chấp nhận tôi. Cuối cùng, có lẽ nể ông Thức nên ông ta tạm dẹp những nguyên tắc của mình qua một bên để hé cửa cho tôi trở lại làm anh công nhân. Nhưng… ông ta luôn luôn cảnh giác với tôi. Có lẽ ông luôn nghĩ rằng Sức này định tuồn vào để moi của Nhà nước một lần nữa đây. Ngay cả cái lần tôi đánh nhau với bọn cướp để cứu tài sản Nhà nước ấy mà ông ta vẫn nhìn hiện tượng ấy bằng cặp mắt cảnh giác. Tôi được anh em tín nhiệm bầu làm tổ trưởng, rồi chiến sĩ thi đua, ông ta cũng chưa tin, có lẽ ông ta nghĩ rằng tôi chuẩn bị một "cú" gì đây nên mới ra vẻ tích cực, liêm khiết đến thế? Anh thấy ông già ấy có kỳ cục không - Anh lại cất tiếng cười vang rồi kết luận - Tuy vậy, tôi không hề thù ghét ông ta. Vì, suy cho cùng, ông ta vẫn là một người tốt, một cán bộ tận tuỵ trong công việc và liêm khiết, trong sáng. Ông ta trong sáng ngay cả trong sự thành kiến một cách kỳ quặc với những người như tôi. Những lời kết luận của anh Sức về ông trưởng phòng tổ chức khiến tôi ngạc nhiên. Khi ngẫm nghĩ lại tôi hiểu và càng mến phục anh hơn. Tôi biết, trước mặt tôi là một con người có phẩm cách, có ý chí và nhân hậu. Cuộc đời của anh hẳn lắm thăng trầm, chỉ có sự từng trải mới tạo nên cho con người những phẩm chất ấy, mới giúp con người có khả năng để không ngộ nhận, để có thể phân biệt được những khoảng sáng và những vùng còn tối tăm trong mỗi con người. Tôi muốn biết về những thăng trầm ấy của cuộc đời anh vì tôi biết, ở đó những phẩm chất của anh đã được bộc lộ và thử thách. * * * Tuy vậy, tôi vẫn im lặng chờ đợi. Đã qua hết những đồi cỏ và bây giờ, trước mắt chúng tôi là những đồi dâu của nông trường dâu đồi. Ai là người đầu tiên đã mang cây dâu từ miền bãi lên vùng đồi cằn cỗi này nhỉ? Cũng là một cuộc cách mạng, một cuộc biến cải chứ đâu phải chuyện bình thường. Ấy vậy mà bây giờ cây dâu mọc xanh tươi ở đây, được chấp nhận ở đây một cách tự nhiên, như tạo hoá sinh ra vốn đã như thế. Người qua kẻ lại cũng coi sự có mặt của cây dâu kia ở đây là chuyện thường tình, chẳng ai biết tới sự trăn trở đau đớn của cây dâu và của những người lần đầu tiên đặt cây dâu xuống vùng đồi đá ong này. Anh Sức không phải là người sinh ra ở đây và cũng không phải vào đời bằng nghề đánh xe bò. Nhưng phải tới đêm hôm ấy, tôi mới được biết vì sao anh đã đến đây và trở nên gắn bó với vùng đất này. Lượt trở về xe chúng tôi chở gỗ ván xẻ. Chúng tôi gỡ mui xe ra, chất gỗ lên rồi trải chiếu nằm khểnh trên đó mà ngắm trăng, mặc cho đôi bò tận tuỵ và trung thành nhẩn nha kéo đi. Những lúc như thế này mới thấy nghề đánh xe bò cũng không phải tồi tệ gì. Có thể nói là thơ mộng ấy chứ. Suy cho cùng thì nghề nào mà chẳng có những lúc nhọc nhằn cay đắng và những lúc thảnh thơi nhàn hạ như những ông hoàng? Đêm nay chúng tôi là những ông hoàng. Ngửa mặt lên gặp một trời đầy trăng; xung quanh mặt đất ngạt ngào hương cỏ, hương cây, thuốc lá trong túi còn đủ hút tới sáng: nước chè đặc đầy hai bi đông và nếu đói bụng thì đã có một rổ khoai luộc chị em đội xóm Trại vừa biếu hồi chiều. Xe của bác Mạc nằm lại đợi sáng mai chở lợn về nông trường. Có lẽ vì thế mà tôi và anh Sức cảm thấy hoàn toàn được tự do. Chúng tôi có thể lang thang trên đường suốt cả đêm mà không bị ông già khó chịu và cẩn thận luôn miệng thúc giục. - Hồi còn lái xe ở Trường Sơn những đêm trăng như thế này thật quý vô cùng - Anh Sức bắt đầu câu chuyện khi xe chúng tôi ra đến đường lớn. Bọn mình có thể đàng hoàng chạy trên những con đường bị bom đạn địch cày xới tơi bời mà không phải dùng đèn. Bỏ nghề lâu rồi mà bây giờ cứ tới những đêm trăng như thế này tôi vẫn thấy nao nao cả người, cứ như sắp sửa nhảy lên xe mà phóng vù đi vậy. - Anh chuyển sang lái xe dân chính từ hồi nào? - Năm bảy mươi sáu - anh kể. Như anh biết đấy, sau chiến tranh, người lính nào cũng bắt đầu nghĩ đến cuộc đời mình, đến cái tổ ấm của mình. Đó là lẽ tự nhiên. Tôi cũng vậy. Những năm còn là bộ đội Trường Sơn, tiếng là ở phía trước nhưng năm nào tôi chẳng có dịp ghé qua nhà vài ba lần. Nhưng đi thì đi, về thì về, tôi nào có để ý nhiều đến cái gia đình riêng nbỏ bé của mình. Hình như mọi cái đều ổn cả. Cái nhà do bố mẹ làm cho, dù là nhà lợp lá, nhưng vẫn còn có vẻ chắc chắn. Vợ đẻ sòn sòn ba năm đôi, nhưng "giời sinh voi giời sinh cỏ" các cháu vẫn lớn đều, vẫn có cơm ăn áo mặc, chứ có đến nỗi nào mà phải lo. Tuy vẫn chưa hơn cuộc sống thanh đạm của ông cha xưa bao nhiêu nhưng thời chiến, đòi hỏi nhiều làm gì. Vợ ở nhà vẫn phải vo vo véo véo mới đủ ăn, đủ mặc thật đấy nhưng thỉnh thoảng chồng còn ghé thăm nhà được trong khi chồng con người ta vẫn đi biền biệt, thế là mình hơn người rồi. Đòi hỏi gì nữa? Mình cũng vậy, sau bao ngày vào sống ra chết, được ra nhận hàng một chuyến, được tranh thủ ghé về thăm vợ thăm con, thế là nhất rồi, hơn người rồi. Đòi hỏi gì nữa. Cứ nghĩ, có lẽ cuộc đời chỉ cần thế này là đủ, miễn là không còn chiến tranh, không còn nay sống mai chết. Nhưng rồi chiến tranh cũng đến lúc chấm dứt. Cả dân tộc vui mừng, hể hả vài ngày, vài tháng rồi mỗi người phải tiếp tục cuộc sống riêng của mình. Hoà bình rồi, cũng phải thu xếp đời sống sao cho kha khá hơn một chút chứ. Vợ bắt đầu nhắc tôi chuyện nhà đã dột, giá như có tiền xây lên, lợp ngói thì tuyệt. Hợp tác đưa điện về, hoà bình rồi phải dần dần điện khí hoá nông thôn chứ. Nhưng có điện thì có nhu cầu về đồ điện. Chí ít cũng phải có cái đài cho con nghe, có cái quạt đỡ ngày nóng bức cho những đứa bé… Trong xóm đã có nhà người ta khuân được ti vi, tủ lạnh về rồi kia kìa. Mà họ cũng là cán bộ, bộ đội cả đấy chứ? Bấy giờ về thăm nhà mới thấy cái nghèo của mình lòi ra. Vợ con mình sống vất vả quá. Nhà cửa của mình loang toàng quá. Không thể thế này mãi được! Là cái thằng đàn ông, để vợ con nhếch nhác, thua kém mọi người đủ đường thì còn ra làm sao? Mình là bộ đội, làm gì thì làm thế nào được? Nhưng hà cớ gì mình phải ở bộ đội mãi nhỉ? Mà làm lính suốt đời được à? Hoà bình rồi, mình đã hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc. Còn nghĩa vụ với gia đình thì… Thế là tôi viết đơn xin chuyển ngành. Đúng dịp đó đơn vị cũng đang thu gọn đội hình nên tôi được chấp thuận ngay. Hồi ấy bộ đội lái xe Trường Sơn có giá lắm nên tôi dễ dàng được tiếp nhận vào một xí nghiệp vận tải của Bộ Nội thương và được giao phụ trách một đội xe chạy đường dài. Tất cả dễ dàng như được sắp đặt từ trước vậy. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 23 Tháng Tư, 2009, 07:27:01 pm Anh Sức (Tiếp) Những tháng đầu chưa có chuyện gì xảy ra, tôi vẫn còn giữ được cái chất của một người chiến sĩ. Nói như cách nói của cánh lái xe dưới quyền tôi lúc bấy giờ là tôi vẫn còn "sặc mùi lính tráng". Tuy vậy thu nhập của tôi cứ tăng dần lên. Nhiều khoản phụ thu lạ lùng đến mức tôi không thể hiểu nổi, nhưng thực tình, cũng cố làm ra vẻ vô tâm, không tìm hiểu xem đồng tiền từ ngõ ngách nào mà cứ chảy về ngày một nhiều hơn. Có tiền tôi tiêu pha rộng rãi hơn, thỉnh thoảng gửi về cho vợ dăm ba trăm hoặc mua sắm một vài thứ cần thiết. Tôi cam đoan với anh rằng người ta làm quen với cái sự sung sướng, đầy đủ dễ dàng hơn làm quen với gian khổ, hy sinh rất nhiều. Chẳng bao lâu tôi đã không thể hút nổi một điếu thuốc rẻ tiền như chúng ta vừa hút và sáng nào không có một tách cà phê thì mồm cứ nhạt hoét và làm ăn sẽ chểnh mảng suốt cả buổi. Tôi càng khó tính trong ăn uống, hút sách bao nhiêu thì ngược lại, càng trở nên dễ tính hơn với những thói hư tật xấu của anh em trong đội bấy nhiêu. Bên tai tôi thỉnh thoảng đã vang lên lời khen ngợi của những người dưới thẩm quyền "Thủ trưởng của chúng ta dạo này chịu chơi lắm rồi!". Tôi cảm thấy yên tâm, khi lầm tưởng rằng mình đã hoà nhập được với môi trường mới. Nhưng rồi, cái ranh giới cuối cùng cũng phải đến. Một sợi dây mỏng manh đã giăng ra trên đường. Có bước qua cái sợi dây ấy hay không? Ở bên này có nghĩa là tôi vẫn ít nhiều còn là tôi. Còn nếu bước qua bên kia tôi sẽ trở thành một kẻ khác. Bấy nay, mặc dù có lờ mờ cảm thấy những khoản tiền "phụ thu" mà anh em trong đội thỉnh thoảng chia cho là tiền bất minh. Nhưng tôi vẫn lờ đi, coi như chưa biết gì. Đã đến lúc tôi phải đối mặt với chính tôi. Số phận đã định thế rồi. Lần ấy tôi trực tiếp đi với anh em một chuyến vào miền Nam với ý định sẽ kết hợp mua một vài thứ đồ điện về cho gia đình. Vào đến Vinh thì chúng tôi dừng lại nghỉ đêm. Tôi thấy mấy anh em lái xe thỉnh thoảng lại chụm đầu bàn bạc với cậu đi áp tải hàng. Họ bàn bạc có vẻ căng thẳng và thỉnh thoảng lại liếc mắt về phía tôi. Cuối cùng, một cậu đại diện cho họ quyết định trao đổi thẳng thừng với tôi. Sau khi rào trước, đón sau cậu ta cho tôi biết là trên xe "thừa ra" khoảng hơn chục kiện vải quý. Nghe mà kinh người! Tôi quyết định phải kiểm tra lại hàng và quả nhiên số hàng thừa trên xe hoàn toàn có thực. Mọi người đang chờ tôi quyết định "xử lý" số hàng thừa đó. Giá như nó chỉ có một ít thì họ có thể đủ gan để tự giải quyết rồi. Cái cậu được phân công vận động tôi không rời nửa bước. Cậu ta quả là có tài thuyết khách. Cậu ta vạch ra đủ mọi viễn cảnh khi chúng tôi có trong tay món tiền khổng lồ nếu đem "đẩy" số hàng ấy cho con buôn. Cậu ta hứa chuyến này vào Sài Gòn sẽ trực tiếp đi tìm mua cho tôi một tủ lạnh và một chiếc ti vi thật "nghiêm chỉnh". Cậu ta cũng không quên nhắc đi nhắc lại rằng với số tiền đó vợ con tôi có thể "tiến thẳng" từ cuộc sống còn chật vật thiếu thốn hiện nay lên một cuộc sống sung túc tiện nghi. Vả lại, có ma nào biết chứ? Hàng xuất ra khỏi kho rồi, chúng tôi cứ giao đủ cho nơi nhận theo hoá đơn, chứng từ là được rồi, ai biết đấy là đâu? Tôi đề nghị được suy nghĩ một đêm, sáng mai tôi sẽ quyết định. Tôi có biết đâu đó là cái đêm khắc nghiệt nhất, cái đêm tôi phải quyết định lấy số phận mình, nhân cách của mình. Cái đêm tôi phải quyết định có bước qua sợi dây ghê gớm kia không? Tôi nằm trằn trọc suy nghĩ. Đêm đó trong tôi có hai con người co kéo nhau, tranh cãi với nhau. Đó là cái người đích thực của tôi, và hắn, kẻ bấy nay còn xa lạ, mặc dù đã lảng vảng quanh tôi. Cuối cùng, hắn đã thắng. Tôi bước vào một ngày mới với bộ mặt hốc hác vì mất ngủ. Thực ra, không phải tôi đang bước đi mà hắn đã bắt được tôi làm tù binh và đang giải tôi đi. Trước khi hạ vũ khí, lý lẽ của tôi thật đơn giản. Thôi, ta chỉ làm một cú này thôi. Với số tiền ấy, ta đủ để xây cho vợ con cái nhà, mua sắm vài đồ dùng cần thiết và sau đó… sẽ không bao giờ ta làm bậy nữa. Nhưng thật không may cho tôi. Ở tổng kho, sau khi thấy mất hàng, họ đã rà lại tất cả các đầu mối đến nhận hàng và chú ý ngay tới đoàn xe của tôi, là đơn vị nhận hàng nhiều nhất ngày hôm đó. Ngay ngày hôm sau đoàn xe của tôi đã bị ách lại dọc đường để kiểm tra. Dĩ nhiên, người ta không thấy số hàng đó trên xe nữa. Nhưng… không hiểu sao tôi lại tin rằng cuối cùng người ta vẫn cứ tìm ra thủ phạm nên ngay sau khi các đồng chí công an và thanh tra của ngành ra lệnh cho đoàn xe của tôi tiếp tục chạy thì tôi đột ngột quyết định phải thú nhận tất cả. Tôi đã làm việc đó trước những lời xỉ vả của cánh lái xe. Mặc họ! Với tôi thế là hết rồi. Tôi được miễn truy tố vì hành động thành khẩn đó và… có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ. Thật là điều nhục nhã! Tôi chỉ bị buộc phải thôi việc. Thế là… sau hơn chục năm làm chiến sĩ tôi đã trở về quê hương như một kẻ tội phạm. Ở làng, không hiểu vì sao mọi người cũng biết được chuyện ấy? Nhiều người nhìn tôi bằng ánh mắt khinh bỉ. Tôi cắn răng chịu đựng tất cả. Nhưng một hôm, tôi đang ngồi ở nhà buồn rũ rượi thì có một người lộc cộc chống nạng bước vào sân nhà tôi. Tôi sửng sốt kêu lên khi nhận ra đó là Thân, bạn chiến đấu cũ của tôi ở cuối huyện. Anh đã bị thương trong cái lần cùng tôi chở hàng vào Tây Thừa Thiên. Đã lâu lắm tôi không gặp anh, sao hôm nay anh lại tự lần tới tận nhà tìm tôi? Tôi chồm dậy, định chạy ra đón anh thì anh đứng sững lại, cầm cây nạng chỉ thẳng vào mặt tôi mà hét lên: "Đồ hèn! Sức dài vai rộng làm gì không nuôi nổi vợ con mà phải đi ăn cắp!". Tôi chết điếng người, chưa kịp định thần thì anh đã quay mặt, lộc cộc chống nạng đi thẳng. Tôi lao vội theo anh, rên rỉ "Anh Thân! Ở đây đã… tôi muốn… tôi muốn nói…" "Thôi im mồm đi! - Anh quay lại quát - Tao lặn lội đến đây chỉ để nói với mày một câu thế thôi. Để yên cho tao đi không tao phang cho một gậy bây giờ!". Nhìn thẳng vào đôi mắt bừng bừng lửa giận của anh tôi phát hoảng. Và, tôi không đủ sức để giữ anh lại nữa. Sau cú đó tôi gục xuống ốm một trận thập tử nhất sinh. Tất cả mọi thứ bệnh tật trong chiến tranh tưởng đã nằm yên trong người tôi bỗng ầm ầm trỗi dậy. Tôi nằm bẹp suốt hai tháng giời. Vợ tôi tất bật ngược xuôi chạy thuốc chạy thang. Những thứ tôi mua sắm về được lần lượt "đội nón ra đi". Thật là của thiên lại trả địa. Năm đó lại đúng vào năm mất mùa. Nhà tôi hết ăn ngay từ trước tết nhưng vợ tôi vẫn tần tảo chạy vạy ngược xuôi để bố con tôi vẫn có bữa rau bữa cháo. Ăn miếng cơm của vợ mà nước mắt tôi cứ trào ra. Lời xỉ mắng của Thân như một vết khắc bằng lửa vào tim tôi. Nhục nhã, ê chề quá phải không anh? Nhưng rồi tôi khỏi bệnh. Cùng với sự chiến thắng bệnh tật, một ý nghĩ lúc nào cũng thiêu đốt lòng tôi: "Ta phải tự tay ta làm nên tất cả. Phải chứng minh với mọi người rằng thằng Sức này không phải đã hoàn toàn bỏ đi, không phải chỉ ăn cắp mới sống được, mới nuôi được vợ con!" Bằng cách gì tôi chưa biết nhưng tôi quyết định phải chứng minh được điều ấy. Anh Sức đột ngột dừng câu chuyện ở đó rồi cho bò dừng lại nghỉ. Sau khi ném cho đôi bò một ít cỏ khô, anh lấy chiếc chiếu trên xe xuống, trải ra vệ đường rồi bảo tôi: - Ta lót dạ vài củ khoai chứ. Các cô đội xóm Trại nổi tiếng mát tay đấy. Khoai của họ ngọt lừ. Anh ăn thử vài củ đi cho vui. Chúng tôi ngồi bên vệ đường, vừa ăn khoai luộc, uống nước chè tươi đặc sánh, vừa ngắm trăng. Câu chuyện của anh Sức vẫn còn ám ảnh tôi nên tôi ăn uống không thấy ngon miệng nữa. Hình như biết tôi sốt ruột, một lát sau anh lên tiếng kể tiếp: - Sáng mai mời anh ghé thăm "trang trại" của tôi. Cái gì chớ sắn, khoai, lạc, đỗ thì chỗ nào trong nhà tôi cũng có. Cũng đã có lần ông Phục ghé thăm nhà tôi. Dĩ nhiên, ông đã nhìn cơ ngơi của tôi bằng con mắt ngờ vực. Sao cái thằng quái này lại giàu có thế này. Trông cứ như cơ ngơi của một thằng địa chủ vậy. Với ông ta, tôi chẳng thể giải thích gì được. Nhưng với anh thì… tôi muốn kể cho anh nghe để anh hiểu. Bởi vì, anh là đồng đội của tôi. Không gì có thể đáng buồn hơn là bị đồng đội nghi ngờ, phải không anh. - … Sau khi khỏi bệnh - anh Sức kể tiếp - tôi quyết định ra đi. Nhiều hôm tôi nằm trên chiếc chõng tre ngoài thềm, nhìn lên ngọn Ba Vì này và nghĩ rằng ở đây vẫn còn nhiều đất, hẳn tôi có thể bằng sức lực và trí thông minh của mình làm ra ngô lúa, sắn khoai, tạo dựng được cơ nghiệp. Tôi tin như vậy và quyết định ra đi. Trước khi đi tôi đến gặp Thân. Thấy tôi đến anh không nói một lời mà chỉ lẳng lặng đi pha nước mời tôi uống. Nhưng tôi không uống, mà cũng không ngồi xuống nữa. Tôi nói luôn: - "Anh Thân ạ. Tôi biết anh rất giận tôi. Nói cho đúng ra anh rất thương tôi, anh chỉ căm ghét những gì xấu xa trong tôi thôi. Vì vậy, tôi đến để gặp anh không phải để thanh minh mà yêu cầu anh giúp đỡ. Lúc này các cháu đang đói, tôi đang gặp khó khăn. Nhưng tôi sẽ nghe lời anh, sẽ bằng sức lực và trí tuệ của mình để làm nên cơm áo nuôi vợ nuôi con và trở thành một người có ích cho xã hội. Để có thể bắt đầu, tôi muốn anh đỡ đầu tôi ít nhiều làm vốn liếng! Tôi không đi buôn đâu. Nhà tôi sẽ lên núi - Tôi vừa nói chỉ lên Ba Vì - ở đó, với bàn tay này tôi có thể làm nên tất cả". "Nếu vậy thì được - Anh Thân gật đầu và dịu giọng - Tôi sẽ không tiếc anh bất cứ cái gì nếu tôi có. Vậy, anh cần gì". "Anh cho tôi vay đỡ hai chục cân gạo và hai trăm đồng bạc. Có vậy thôi. Tôi cũng nói trước rằng số tiền gạo này có thể còn lâu tôi mới hoàn lại cho anh được". Thân gọi vợ vào bảo xúc cho tôi hai chục cân gạo và đưa ngay cho tôi hai trăm đồng bạc. Tôi xin phép đi ngay mặc dù anh cố giữ tôi lại. Số tiền, gạo ấy tôi chia đôi, một nửa mang về cho vợ con, một nửa mang theo. Hành lý của tôi gồm hai bộ quần áo bộ đội đã cũ, một bộ tăng võng, một chiếc ca men bộ đội, một con dao và một cái cuốc. Ngoài ra còn phải kể đến chiếc xe đạp tồng tộc và một gói thuốc sốt rét nữa chứ. Tôi cũng không nói cho vợ con biết rằng mình sẽ đi đâu, làm gì. Vợ tôi vốn rất tin tôi nên cũng chẳng giữ, chỉ dặn tôi chú ý giữ gìn sức khoẻ và giúi cho tôi một hộp dầu cao sao vàng đề phòng khi cảm mạo, ốm đau. Thế là tôi đến với Ba Vì. Vùng này, như anh biết đấy, cũng không phải hoang vu gì. Đất đai đã được khai phá nhiều chỉ còn những nơi đất đã bạc màu hoặc ở thật sâu trong các khe núi, hoặc dưới trầm trũng. Tôi đạp xe đi "kiểm tra" suốt một lượt dọc theo các con đường mà chiếc xe tồng tộc có thể đưa tôi tới được. Sau đó tôi nghĩ, nếu một mình, với vốn liếng nhỏ nhoi này mà lao vào "làm ăn lớn" ngay thì sẽ gãy. Phải vừa làm vừa tự kiếm sống và thỉnh thoảng gửi được chút ít gì về để đỡ đần vợ con. Thế là tôi chọn được một phương án cực kỳ khôn ngoan. Tôi không lao vào núi mà lại đạp ngược trở ra tận ngoài dốc Đá Bạc rồi bắt đầu triển khai công việc. Cứ dọc theo hai bên đường từ đó vào tận chân núi, hễ nơi nào còn một vạt đất có thể đặt được trăm gốc sắn là tôi dừng lại, phát cỏ dọn dẹp qua loa rồi đi xin hom sắn về đặt. Những thẻo đất như thế thường còn rất nhiều ở hai bên đường, không ai chú ý tới vì chẳng bõ công. Nhưng với tôi thì lại khác. Nó đỡ tôi được bao nhiêu công sức trong việc khai phá. Hàng ngày tôi vừa trồng sắn vừa đi mót sắn được ít nào tôi cũng thái luôn rồi quẳng lên đường nhựa. Cứ như thế, hai ba tuần tôi cũng có được một hai tải sắn khô mang về cho gia đình ăn độn và chăn nuôi. Đồng thời, mỗi tuần tôi cũng đặt vào lòng đất được vài ngàn hốc sắn. Dọc theo đường quốc lộ và ven những triền đồi từ Sơn Tây vào Ba Vì nơi nào tôi cũng có sắn. Chỉ có điều không bao giờ có nương lớn cả. Ấy vậy mà trong năm đầu tôi đã có gần ba vạn hốc sắn chứ không ít ỏi gì đâu. Đôi khi gặp phải trằm bùn sụt tới bụng, đất rất tốt nhưng không ai nghĩ đến chuyện cấy lúa. Thế thì tôi làm. Tôi đi đẵn cây chuối về, ghép thành những cái bè rồi đi xin mạ. Tôi thả bè xuống mặt trằm rồi cứ ngồi trên đó mà cắm mạ xuống. Những người địa phương nhìn thấy tôi cấy lúa trằm, ai cũng lắc đầu le lưỡi. Nhưng trời ơi, lúa ở những nơi ấy mới tốt làm sao! Mà nào có phải phân gio, cỏ giả gì đâu. Có ai ngờ tôi đã thu được một tấn lúa ở những cái trằm như vậy. Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: hoacuc trong 23 Tháng Tư, 2009, 07:27:45 pm Anh Sức (Tiếp) Hàng ngày tôi làm việc say sưa. Tối đến, bạ đâu tôi ngủ đấy. Khi thì ngủ trọ trong nhà dân, khi thì treo võng nằm ngoài rừng. Dần dần, suốt một nẻo từ Đá Bạc vào Ba Vì ở đâu người ta cũng biết tôi. Lúc đầu người ta cứ nghĩ rằng tôi là một thằng ngớ ngẩn. Nhưng dần dần họ hiểu tôi và nhiều người đã coi tôi như bạn bè. Tôi có thể đi về, ăn ngủ, gửi thóc lúa sắn khoai ở nhà họ bất kỳ lúc nào. Những ngày lang thang, gối đất màn sương ấy với tôi thật đáng ghi nhớ suốt đời. Anh thử tưởng tượng những đêm tôi treo võng nằm ngoài nương một mình, buồn tới mức nào? Nhưng tôi không hề nản, vì tôi tin ở ý chí của mình, tin ở bàn tay và khối óc của mình. Tôi biết trước mắt, tôi chưa có ích cho xã hội, nhưng tôi đã có ích cho gia đình. Vợ con tôi đã đỡ chật vật hơn nhờ kết quả lao động của tôi. Tới vụ thu hoạch sắn anh có biết tôi làm thế nào không? Cũng là một thứ ranh vặt thôi. Tôi bán cứ một đồng một gốc, cho dân xe thồ. Sắn của tôi hầu hết ở bên vệ đường, nên rất dễ bán. Còn đâu chưa bán được tôi thái phơi khô gửi khắp nơi. Lúa cũng vậy, tôi chỉ gửi về cho các cháu vài ba tạ, còn gửi thiên hạ tất. Thế là chỉ một năm, tôi đã có một vốn bốn liếng đáng kể để có thể tiếp tục "sự nghiệp" của mình rồi. Nhưng có được như vậy thật gian khổ, đôi khi phải chịu nhẫn nhục, cay đắng nữa. Tôi đã vượt qua được tất cả. Tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện đưa vợ con lên định cư ở vùng này. Quê tôi là một vùng đồng chiêm trũng, lụt úng liên miên, dân số lại quá đông nên làm ăn rất chật vật. Nhưng, chỉ mới hé răng nói ra một câu, vợ tôi đã gạt phắt đi. Rồi một dịp may tới, khiến tôi buộc phải quyết định một bước ngoặt lớn của cuộc đời. Tình cờ tôi làm quen được với ông chủ tịch xã cái xã mà hiện nay tôi đang ở. Trước ở đây ông ta đã từng chỉ huy một đội thanh niên xung phong của huyện ở hoả tuyến nên rất thông cảm với cánh lính Trường Sơn chúng tôi. Ông ta vận động tôi xin lên định cư ở xã nhà và hứa sẽ giúp tôi tạo dựng cơ nghiệp. Tôi đồng ý ngay và về xin phép xã để đưa gia đình đi định cư. Xã đồng ý, nhưng vợ tôi nhất định không chịu đi. Tôi quyết định bước đầu hãy đưa đứa con lớn lên trước. Khi bố con tôi dắt nhau lên trên này, chính quyền địa phương liền "cấp" hẳn cho một quả đồi. Ngày mai anh sẽ thấy các vị trong chính quyền địa phương ở đây hào phóng tới mức nào. Nhưng lúc đầu hai bố con tôi ra đứng ngắm khu đồi được chia mà ngao ngán cả người. Đồi trọc lóc, chỉ lơ thơ vài cây sim mua, đất đá ong trơ ra đỏ quạch. Nhưng tôi không ngán, vì tôi biết không có thứ đất nào lại là đất bỏ đi cả. Suốt mấy tháng trời hai bố con tôi xoay trần ra, đánh vật với quả đồi ấy. Trước tiên tôi đào một con hào chạy vòng quanh quả đồi để dẫn nước vào, bởi vì tôi biết muốn cải tạo đất, muốn phủ xanh đồi trọc thì trước hết phải có nước cái đã. Đào xong hào thì số đá ong vật lên cũng đủ để hai bố con tôi xây dựng cả một "lâu dài" rồi. Ngày mai anh tới sẽ thấy, mấy ngôi nhà của tôi đều xây bằng đá ong vật từ con hào quanh đồi lên cả đấy… Bây giờ con hào ấy vừa là nơi chứa nước, vừa là nơi thả cá thả lươn của gia đình tôi… Hai bên bờ hào tôi trồng dừa, trồng chuối và đủ các loại cây ăn quả. Ngày mai mời anh ghé qua, thưởng thức những thứ cây nhà lá vườn ấy với tôi cho vui… Nhưng thôi… ta đi chứ? Ngồi lâu quá có lẽ bò nó buồn ngủ rồi đấy. À, đôi bò này tôi cũng mua vào dịp ấy đấy. Hồi ấy không đắt như bây giờ. Khi bố con tôi dắt về năm sáu con bê một lúc nhiều người đã kêu ầm lên là bố con tôi giàu ngầm. Nhưng hồi đó có đáng bao nhiêu, chỉ dăm tạ lúa là đủ. Vậy mà khi bán lại hai chú này cho nông trường, tôi đã được lời gấp mấy lần rồi. Mà bán với giá rẻ chứ đâu có bán đắt như ngoài chợ. Nào các chú mày dứng dậy cả đi chứ! Gối mỏi chân chồn rồi hả! Đường còn xa đấy chứ đừng có tưởng giỡn nhé! Sáng hôm sau, trên đường từ Sơn Tây về tôi đã trở thành một vị khách quý của gia đình anh Sức. Tôi sững sờ đứng trước cái cơ ngơi rất khang trang mà gia đình anh đã tạo lập nên do bàn tay lao động của mình. Một ngôi nhà năm gian xây bằng đá ong rất cao ráo và thoáng đãng. Ngoài ra còn chuồng lợn, chuồng gà, chuồng bò và các công trình phụ. Toàn bộ quả đồi sau nhà anh đã được phủ xanh bằng chè, dứa, mía, và các loại cây ăn quả. Trước cửa nhà là khu vườn toàn là giống mận Lạng Sơn, có lẽ chỉ năm tới là bói quả. Khi tôi bước vào cổng, hai đàn lợn nái gần hai chục con, nghễu nghện diễu qua trước mắt như để giới thiệu với tôi sự chuyên cần của chủ nhà. Chỉ tính sơ số lượng ấy sắp sửa cho anh hơn chục ngàn bạc rồi. Anh Sức chỉ đàn lợn, rồi cười: - Giống của nhà bác Thân đấy, anh ạ. Năm kia lên thăm tôi, bác ấy phê bình kịch liệt tôi về cái chuyện không nuôi lợn nái trong khi ở đây thức ăn rất sẵn. Khi trở về, bác cho cậu em trai mang ngay lên cho tôi một đôi lợn giống. Bây giờ thì anh thấy đấy, hai đàn lợn ấy sẽ giúp tôi bao nhiêu việc. Trước hết tôi phải mua một cái máy bơm nước, phải có máy bơm thì mới có thể mở rộng diện tích cây ăn quả được, anh ạ. Suốt buổi sáng, tôi đi thăm vườn tược, cây cối, đàn gia súc của anh Sức. Gần trưa hai anh em tôi ra con hào đánh cá trắm cỏ về cho chị Sức làm cơm. Tôi không được biết vào cái đận anh Sức bị kỷ luật trở về, rồi lăn ra ốm, chị vất vả ra sao? Nhưng bây giờ chỉ nhìn qua cũng biết ngay rằng chị hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình. - Tôi đi làm ở nhà cũng lấn bấn đấy, anh ạ! - Anh Sức nói khi chúng tôi đã ngồi xuống bộ bàn ghế sa lông còn thơm mùi gỗ - Việc nhà đã bận, lại còn việc hợp tác. Thằng cháu lớn thì vừa đi bộ đội. Cũng lại được đi học lái xe. Không khéo lại giẫm phải vết chân của bố thì chẳng ra làm sao. Trước hôm cháu đi, bố con tôi thức gần hết đêm. Tôi đã nói hết lẽ đời với cháu. Cũng chẳng giấu cháu điều gì về quá khứ của mình để cháu tự rút lấy bài học mà vào đời. Nhưng có lẽ cháu nó khá, anh ạ. Điều cơ bản là nó ý thức lao động, có ý chí, có lòng tự trọng và biết tôn trọng mọi người. Hồi mới vào bộ đội, tôi đâu có hiểu biết nhiều và chín chắn được như nó. Anh trông kia kìa - Anh chỉ lên một tấm ảnh lồng trong khung kính - Tôi với bác Thân chụp chung hồi vừa học xong khoá lái xe đấy. Nom cái mặt tôi mới ghét chứ, cứ câng câng ra ấy! Tôi chăm chú nhìn bức ảnh hai người lính mà nhận ngay ra anh Sức, mặc dù anh và người lính trong ảnh chẳng còn mấy nét giống nhau. Thời gian và những nỗi gian truân vấp váp trên đường đời đã biến anh lính vô tư có đôi mắt nhìn ngước lên như thách thức với tất cả kia thành một người từng trải, dày dạn và rất hiểu mình. Đôi mắt của người đang ngồi trước mặt tôi đã thoáng xuất hiện sự mệt mỏi như đôi mắt của một người vừa đi bộ qua một chặng đường nhiều đèo dốc. Tuy vậy, đôi mắt ấy vẫn ấm áp, nhân hậu, tự tin và đôi khi vẫn ánh lên những tia sáng của một nghị lực sắt thép mà chúng ta vẫn thường nhìn thấy trong ánh mắt của những người chiến sĩ. Khuất Quang Thụy Tiêu đề: Y Seng Gửi bởi: trieumien trong 30 Tháng Tư, 2009, 08:00:22 am Truyện ngắn.
TRIỆU MIỆN Đã bao nhiêu năm rồi tôi chưa có dịp về lại vùng căn cứ. Một dịp may đã đến, anh bạn làm ở ngoại thương muốn đến buôn Chư Đrăm nơi có những người đan hàng mỹ nghệ rất hấp dẫn. Nghe đến vùng buôn này có hàng mỹ nghệ tôi bị cuốn hút vào ngay. Với ý định xong việc của ông bạn, tôi ở lại vài ngày để thăm bà con quen biết đã cưu mang mình trong những năm tháng chiến tranh. Thế là tôi và anh bạn lên xe đi một mạch đến buôn Chư Đrăm. Vừa đến buôn Chư Đrăm bà con chỉ ngay đến nhà của nghệ nhân đan gùi. Trước mắt tôi không nhiều, chỉ ước chừng trên chục chiếc gùi các kiểu, các cỡ to nhỏ khác nhau, cái nào cũng có sức cuốn hút không thể dứt ra được. Sau khi chào chủ nhân, giới thiệu nhau về ý định của chúng tôi, chủ nhà là một người có tầm vóc cao to, chân trái cụt đến đầu gối, với một cái nạng anh đi lại nhanh nhẹn. Tuổi đã trên 50, rất khoẻ khoắn, cởi mở. Mời uống nước, anh bảo cô con gái chừng mười bảy, mười tám tuổi thân hình thon thả, mặc bộ váy áo có hoa văn mát dịu, rất nhã nhặn cầm từng chiếc gùi đến chỗ chúng tôi nói nhỏ nhẹ : “ Mời các ông xem”. Cô gái đã học kiểu tiếp thị ở đâu nhanh thế, cái miệng, đôi mắt mời chào dễ thương, không muốn xem cũng phải xem, không muốn mua cũng phải mua. Cả hai cha con đều có những nụ cười chào khách rất cuốn hút. Tôi và bạn tôi cùng một ý nghĩ, hai đứa nháy mắt cho nhau “cơ chế thị trường đã lan đến vùng buôn sâu, buôn xa này”. Vừa uống nước, tôi vừa nói bằng tiếng Êđê với chủ nhà. Chủ nhà vô cùng ngạc nhiên hỏi lại tôi bằng tiếng Êđê “anh cũng biết tiếng Êđê à ?” - “Vâng, trước tôi ở vùng này mà.” - “Anh ở đây mà tôi không biết?”. Tôi cười, nói lại “Xin lỗi, anh tên gì?” - “Tôi là Ama H’Lan.” - “Không, tôi hỏi tên chính của anh cơ.” - “À, tôi là Y Seng”. Quá mừng, tôi nắm chặt tay Y Seng lắc lắc “Ôi, Y Seng, Y Seng trước ở trại thương binh đây phải không?”. Đến lượt Y Seng vui mừng “Đúng rồi, đúng rồi.” Hai chúng tôi ôm nhau xúc động. Ông bạn tôi và cả cô gái ngồi ngây nhìn chúng tôi chẳng hiểu ra thế nào. Tôi kéo Y Seng ngồi xuống và giới thiệu với bạn tôi bằng tiếng phổ thông “Đây là anh Y Seng, một con người kỳ lạ, kỳ lạ đến khó có thể tưởng tượng nổi.” Bạn tôi thắc mắc “Kỳ lạ về cái gì ?’ - “Một câu chuyện ly kỳ và hấp dẫn.”, tôi quay về phía cháu gái “cả cháu cũng không biết được câu chuyện của Ama cháu đâu.”. Tôi nói với Y Seng “Anh Y Seng, à anh H’Lan này, hồi tôi ở cơ quan tuyên huấn tỉnh có nghe huyện đội 9 báo về có một cán bộ tiểu đội bị thương lạc giữa rừng 7 ngày mà không chết. Câu chuyện đó cách đây đã ba mươi năm nay mới được gặp con người kỳ lạ đó. Thôi thế này, tối nay chúng tôi ở lại đây muốn nghe anh kể lại câu chuyện của anh. Cơm nước khỏi lo, chút nữa cho xe ra chợ mua món ăn về anh em ta bù khú với nhau, anh đồng ý chứ ?”. Y Seng hơi lưỡng lự nhưng nét mặt hào hứng ngay “Đồng ý !” Thế là đêm hôm đó dưới ngọn đèn điện sáng trưng là một bàn rượu nhẹ hút từ ché rượu cần vào những cái chai con với vài đĩa lạc rang, mực nướng thơm lừng. Vừa nhấm nháp, Y Seng kể lại câu chuyện cách đây đúng 30 năm vào giữa những năm 1966, cả vùng nam đường 21 đã được giải phóng. Bằng tiếng phổ thông khá rành rọt và có chút văn hoa, tôi và bạn tôi lắng nghe chăm chú như hồi xưa nghe câu chuyện cổ tích: Không gian im ắng rất đáng sợ. Bây giờ Y Seng mới nhận ra đã qua một trận chiến đấu ác liệt ở đây. Nhè nhẹ hé đôi mắt nhìn cảnh vật chung quanh. Cả ta và địch đều lui quân hết. Y Seng từ từ nhỏm dây. Ôi! Cổ chân trái đã bị dập nát, máu chảy ướt đẫm cả vùng cỏ dưới chân. Không biết thời gian ngừng tiếng súng đã bao lâu, nhưng nhất định địch sẽ cho quân đến trận địa lấy xác. Nghĩ vậy Y Seng cởi chiếc áo túm chặt láy bắp chân trái không cho máu chảy ra. Xoay bao đạn và súng lên lưng, Y Seng lật sấp người lết lui xa trận địa. Lết đến đâu dựng lại đám cỏ tranh xoá dấu vết hướng đi, cứ thế lết đi. Tới gốc cây to, Y Seng dừng lại với ý nghĩ chờ đồng đội đến tìm. nhưng ở đó cảm thấy không an toàn, Y Seng lết vào trong bụi cà xơ có những lùm cây thấp ẩn nấp. Càng về trưa, nắng càng gay gắt. Máu vẫn rỉ, người vừa mệt, vừa khát. Y Seng đành phó mặc cho sự may rủi. May ra anh em tìm được đưa về. Mà nghĩ cũng dại, mình lết ra đây ai biết mà tìm. Rủi không ai tìm thấy, mình phải chờ chết tại đây....rồi Y Seng không biết gì nữa. Tiếng súng nổ chát chúa làm Y Seng tỉnh dậy. Đúng là địch đến trận địa, chúng nổ súng thị uy và bảo vệ cho quân lính lấy xác. Nhất định chúng sẽ lùng sục. Theo bản năng, Y Seng co người gọn lại, đã nằm sát gốc cây cà xơ mà vẫn cảm thây hở trên, hở cả hai bên. Y Seng nín thở, áp tai xuống đất nghe tiếng động. Bỗng một cơn mưa ập đến, những hạt mưa to xối xả đổ xuống. Cái lạnh bên trên ép xuống, cái nóng bên dưới bốc lên làm Y Seng rất khó chịu. Không nằm sấp nữa, Y Seng lật người lên, há miệng đón những hạt mưa. Cơn khát dịu hẳn, Y Seng cảm thấy mình khoẻ lên và an tâm vì mưa này chắc chắn địch rút hết. Giữa khu rừng bạt ngàn chỉ còn lại một mình Y Seng. Cơn mưa chỉ lướt qua vài chục phút nhưng cũng đã cứu sống được Y Seng. Lúc này Y Seng mới nhớ lại trận đánh. Địch ngạo nghễ tayđầy súng ống, đạn đeo đầy người đi đúng vào trận địa phục kích của đại đội. Tất cả đồng loạt nổ súng. Địch bị đánh bất ngờ, đứa ngã xuống, đứa tháo chạy, chưa đầy mười phút trận địa đã im tiếng súng. Đây là trận đầu tiên của Y Seng từ khi ra trường về đơn vị. Thắng lợi nhanh quá làm Y Seng mừng quá đỗi muốn nhảy lên hô to cho hả lòng nhưng không giám. Mải say sưa với chiến thắng, khi Y Seng ngoái lại sau không còn ai nữa. Vừa lúc đó từng chùm bom, pháo bắn chát chúa vào trận địa.Y Seng bị thương vào lúc này.... Đã trôi qua chừng mười tiếng đồng hồ rồi. Trời sắp tối. Không thể nằm đây được, phải tìm đường về vùng giải phóng. Vùng này hồi còn làm du kích đi phối hợp với bộ đội huyện Y Seng biết khá rõ. Không thể chần chừ được, còn mặt trời tranh thủ lết đi, một cái lết lúc trời sáng còn hơn mười cái lết vào ban đêm. Hướng về vùng giải phóng, Y Seng lết dần, lết dần... Trời sập tối, không lết nữa, Y Seng chọn một gốc cây to nằm nghỉ. Tuy rất mệt nhưng không sao ngủ được, Y Seng nằm nghĩ miên man, bao nhiêu ký ức hiện dần lên : Đây giòng Đăk Tuôr xanh thẳm, Y Seng cùng các trai làng làm những ống đàn t’rưng nước suốt đêm ngày vang lên những âm thanh rộn rã núi rừng, rộn rã buôn làng, làm cho H’Mai cô gái có đôi mắt sáng, giọng nói thanh thanh của âm hưởng Êđê nghe như chim cứ đòi Y Seng phải làm một chiếc t’rưng nước ngay con suối trước buôn H’Mai để H’Mai nghe tiếng đàn t’rưng là nhớ đến Y Seng. Y Seng hứa mà chưa làm được vì đã vào đơn vị bộ đội chiến đấu rồi.... Đây chiếc xe GMC của bọn ngụy, du kích và bộ đội tỉnh thu được nguyên ven trong trận đánh ở Giang Ré. Lần đầu tiên và cũng là người đầu tiên của buôn, Y Seng được đi trên chiếc xe ô tô to do anh bộ đội lái về vùng giải phóng. Càng nghĩ càng thấy quân giải phóng mình giỏi, cái gì cũng làm được. Đi qua buôn, đồng bào ùa ra bám lấy xe, thấy Y Seng ai cũng reo mừng, trầm trồ. Y Seng đứng trên xe hét to, gọi hết tên các chàng trai, cô gái đang vẫy tay đón Y Seng, cứ như Y Seng thu được xe và lái về buôn ấy. Vui quá... Còn trận chiến đấu sáng nay, lần đầu tiên Y Seng nhìn thấy rõ những tên giặc bị trúng đạn ngã đổ nhào, những tên hoảng loạn tháo chạy vứt cả súng... Rồi thực tại đã đánh thức cơn mơ mộng của Y Seng. Thôi đành đêm nay nằm đây, mai lết đi tiếp. Phải về được tới đơn vị. Cái mệt mỏi, tê dại đã kéo Y Seng vào giấc ngủ. Y Seng tỉnh dậy do tiếng rên rỉ của một con nai bị trúng mang cung, thỉnh thoảng ré lên tiếng kêu tuyệt vọng. Chắc chắn gần đây có rẫy của đồng bào buôn Knul. May mà đêm qua mình không lết tới đó, chắc chắn cũng bị vướng mang cung như con nai kia. Bây giờ sáng rồi, lết vào rẫy sẽ kiếm được cái ăn đỡ lòng rồi lết sang bên kia sông, đó là vùng giải phóng. Tới bìa rẫy, ôi những trái bắp non, bẹ xanh muốt, bẻ xuống Y Seng có thể nghiến ngấu đến chục cái bắp để bù lại hơn một ngày rồi chỉ nuốt nước mưa. Dưới đất nằm la liệt những trái dưa dòn, bớt cơn khát cháy bỏng cả môi. Y Seng bò nhanh vào giữa rẫy. Sẽ ăn một bữa no. Vừa đặt tay vào thân cây bắp, bỗng bên tai Y Seng văng vẳng tiếng nói của chính trị viên Hà nhắc nhở mọi quân nhân luôn luôn làm tốt công tác dân vận, nhất là đối với dân vùng địch, đừng để cho địch lợi dụng tuyên truyền nói xấu cách mạng. Đúng rồi, chỉ một cái bắp, một quả dưa cũng đủ cho địch nói xấu cách mạng, nói xấu quân giải phóng. Y Seng vội bỏ tay xuống và lết đi như bị ai đuổi. Rời khỏi rẫy một đoạn Y Seng mới dừng lại với lòng thanh thản, không luyến tiếc như mình đã làm được một việc to lớn. Mặc cho cái đói, cái khát cồn cào Y Seng vẫn lết đi tiếp, không nghĩ ngợi gì nữa. Suối Ea Kla đây rồi, Y Seng lòng mừng quá đỗi. Nhưng trước mắt Y Seng một suối nước mênh mông, chảy xiết, hậu quả của cơn mưa đầu nguồn chiều qua. Suối Ea Kla sao thấm được với sông Đăc Tuôr ở buôn mình khi nước lũ tràn về, Y Seng vẫn cùng trai buôn vượt qua lấy gỗ khô từ nguồn trôi về làm củi như một trò chơi thú vị. Nhưng bây giờ với một cái chân bị thương, làm sao đây. Ôi may quá, sát bờ bên này là một cành cây khô lớn nổi bồng bềnh đang bị kẹt ngay trước mặt Y Seng. Cách giúp ta vượt qua suối Ea Kla đây rồi. Bứt một sợi giây rừng gần đó. Y Seng buộc súng vào một đầu giây, đầu kia buộc vào cành cây khô, Y Seng từ từ lết xuống, chân bị thương gác lên thân cây nổi, chân còn lại dùng hết sức đạp vào bờ đẩy cành cây ra giữa dòng. Kết hợp cả tay và chân còn lại Y Seng đã lái sang bờ bên kia. Cởi giây, kéo súng lên, Y Seng tiếp tục lết tiếp về phía sau. Trời sắp tối. Vượt suối đã quá sức của Y Seng, bụng không thấy đói nhưng người quá mệt, về đến đây là an tâm rồi, Y Seng tìm chỗ nghỉ đêm. Lại một đêm nữa, đêm này Y Seng không thể chợp mắt được, vết thương sưng tấy, nhức nhối không chịu nổi, mỗi lần nhói buốt, Y Seng phải ngồi dậy, thấy đỡ lại nằm xuống. Lết đến thân cây to, tựa lưng vào cây, gác chân bị thương lên cành cây cong Y Seng thấy đỡ đau nhức hơn. Cứ thế nửa nằm nửa ngồi, thỉnh thoảng nghiến răng chống đỡ với những cái buốt thấu xương thấu tuỷ. Đêm dài quá, nhưng Y Seng không lo nữa vì ở đây là đất vùng giải phóng rồi. Bắt giác Y Seng chợt nghĩ đã có vài lần theo bộ đội ra khu vực này nhận hàng bà con vùng địch gửi ra lúc gạo, muối, xà bông, đường, sữa, lúc kẹo bánh, vải vóc, cả cá khô, lưỡi cưa sắt..., rất nhiều thứ, mỗi tuần vài lần. Nghĩ đến đó cơn đói trỗi dậy. Trong bụng chẳng còn gì, chỉ có ít nước chiều qua uống ở suối cho đỡ khát. Hình ảnh những bát cháo hiện lên cứ như diễu cợt. Kể cũng lạ, khi thèm muốn những thứ gì cứ như mình đã được ăn thứ đó. Thế là cứ ngồi ước, mơ đủ thứ trên đời, cứ tưởng đến khi trở về đơn vị, khỏi được vết thương mình chắc ăn khoẻ lắm. Sáng sớm mai phải lết ra tới đường. Chim rừng đã ríu rít, những tia nắng ban mai chiếu qua kẽ lá nhập vào màn sương đêm chưa tan thành những tia nắng kỳ diệu mà Y Seng chưa hề cảm nhận được bao giờ. Mầu sắc rực rỡ, không khí trong lành. Sao lại có một buổi sáng đẹp như thế. Đã bao giờ mình có thời gian ngắm cảnh ban mai giữa rừng già như thế này đâu. Cái không gian tươi đẹp đã kích thích được lòng hăng hái của Y Seng. Y Seng cảm thấy yêu đời, khoẻ khoắn hơn. Ngồi tận hưởng cảnh đẹp một chút, Y Seng lại bắt đầu lết, cứ cắm cúi lúc lết, lúc nghỉ, chẳng nghĩ đến thời gian, chỉ mong sao cho chóng ra tới đường. Phía trước rừng thưa hẳn, chắc đã tới đường, Y Seng lết nhanh hơn. Nhưng đến nơi lại là bãi xình lớn. Chỉ còn cách lết theo bờ mới thoát khỏi bãi xình quái ác này. Đã mệt lại mỏi, mệt về sức, mỏi về tinh thần, nhưng ước muốn ra tới đường thúc dục, Y Seng lại tiếp tục lết đi.... Văng vẳng có tiếng xe ở phía sau, Y Seng dừng lại định hướng. Thôi chết, mình lạc rồi, cái xình lớn kia đã làm cho Y Seng lạc hướng. Lập tức Y Seng quay lại lết rất nhanh, bất chấp gai góc, đất lồi, đất lõm. Cách mép đường chừng 5 mét Y Seng nhìn thấy chiếc xe lừ lừ đi tới. Không có cách nào, Y Seng hét lên, nhưng còn hơi đâu mà hét, tiếng máy nổ lớn hơn, số người ngồi trên xe không hề hay biết gần chỗ mình có một người đang cần cấp cứu. Xe lướt qua, nỗi thất vong ập đến làm cho tinh thần, nghị lực Y Seng suy sụp. Y Seng nằm vật xuống, đầu gối vào cây súng không đạn. Cả thân hình như miếng đất nhão gắn chặt xuống đất, chỉ có hơi thở phập phồng yếu ớt chứng tỏ đó vẫn còn là một sinh linh. Chiếc chân bị thương sưng to, bắp đùi tím lịm. Cái đau nhức của vết thương không đánh thức được Y Seng nữa. Y Seng thiếp đi. Tiêu đề: Y SENG Gửi bởi: trieumien trong 30 Tháng Tư, 2009, 08:00:49 am Trận mưa to phủ lên người Y Seng ướt sũng. Cái lạnh ngấm vào người làm Y Seng từ từ hồi lại. Trời đen như mực, thỉnh thoảng cơn chớp loé lên Y Seng mới nhận ra mình vẫn còn nằm giữa rừng. Y Seng vật ngửa người lên đón nhận những hạt mưa rơi vào bụng, vào mặt, lúc đầu còn thấy ran rát nhưng sau chỉ thấy cái lạnh thấm vào từng thớ thịt, tận tim gan..... Nhắm mắt lại, há to mồm đón nhận những hạt mưa nhỏ sâu vào tận cổ họng. Y Seng cảm thấy thích thú, tinh thần đã sảng khoái hơn, coi như một phát hiện mới mà chưa bao giờ Y Seng nghĩ tới. Cơn mưa đã tạnh, khu rừng đón nhận những ánh sáng mờ mờ, những bóng cây đen dần hiện ra trên bầu trời xám xịt. Y Seng để hai bàn tay gập trên đầu định thần lại một lúc lâu mới biết mình hiện ở đâu. Phải rồi, chờ sáng sẽ bò ra nằm giữa đường nhất định xe sẽ phát hiện được. Niềm tin đã làm cho Y Seng an tâm, phấn chấn.
Rừng cây mầu đen chuyển dần thành mầu xanh thẫm và dần dần xuất hiện những mầu xanh non trên những búp cành. Tiếng chim bắt đầu rộn rã. Những tia nắng lung linh hiện ra từ phía trên cao hướng đầu Y Seng chiếu xuống sao đẹp thế. Y Seng nằm ngửa tận hưởng cảnh ban mai lần thứ hai, lần này rực rỡ đủ mầu sắc, huyền ảo hơn vì sau một trận mưa bầu trời trong xanh, sạch sẽ, không khí thoáng mát dễ chịu. Những tia nắng âm ấm cứ mơn man trên chiếc bụng lép kẹp dính đầy đất buồn buồn, dễ chịu. Y Seng nhỏm dây tìm cành cây cong gác cái chân bị thương lên cho nước dốc chảy về phía mông và hứng ra cho ánh nắng chiếu vào, rồi lại nằm ngửa tận hưởng cảnh bình minh. Chẳng cách đường bao xa, chưa vội đi. Nhưng rồi cái nắng nhè nhẹ kia đã trở thành những tia nắng quái ác, gay gắt, nóng bỏng, bức bối khó chịu, nhất là từ khi nước từ đất ẩm gặp nắng bốc lên làm không khí vừa ẩm, vừa nóng. Y Seng không thể chịu được đành bò ra sát đường trú dưới gốc cây to rậm cho đỡ những tia nắng nóng cháy da. Chỗ Y Seng nằm không yên được, để tránh cái nắng chói chang giữa trưa và cái nắng xiên chéo lúc xế chiều, Y Seng phải quay tròn quanh gốc cây tìm chỗ mát. Thế rồi một ngày nữa trôi qua không hy vọng. Lại một lần suy sụp tinh thần, thôi đành phó mặc thân xác cho may rủi. Chỉ còn chờ đợi và chờ đợi. Đã chờ, đã đợi thời gian như ngừng lại, cái mà mình mong chẳng bao giờ đến. Hết một ngày tiếp đến một ngày nữa. Y Seng thiếp đi trong chờ đợi. Con người ta gặp lúc tuyệt vọng, khi mơ hồ thấy một điều gì có thể cứu được mình sẽ tạo ra một sức mạnh kỳ lạ. Y Seng cũng vậy. Khoảng giữa buổi ngày hôm sau Y Seng nghe văng vẳng tiếng xe. Như có một sức mạnh vô hình đã dựng Y Seng dậy, Y Seng thấy không hề mệt mỏi, quơ lấy súng lết nhanh qua vũng nước sâu ra nằm giữa đường chờ, hy vọng. Chiếc xe đã từ từ dừng lại, người lái xe từ trên ca bin nhảy xuống đến chỗ Y Seng. Suốt mấy ngày rồi Y Seng chỉ chờ có giây phút này. Đôi mắt lờ đờ nhưng ánh lên niềm vui, niềm hy vọng và biết ơn. Miệng khô không nói được nên lời. Trên xe một số người nhảy xuống vây quanh và nhìn Y Seng ái ngại, đang chờ quyết định của lái xe. Vừa lúc đó người lái xe nói “Anh em giúp tôi một tay”. Bốn năm anh em túm lại khiêng Y Seng một cách thận trọng. Nhưng người lái xe không chuyển Y Seng lên xe mà lại chuyển vào trong rừng chỗ gốc cây Y Seng đã nằm ban sáng. Sau đó anh chạy vào ca bin lấy một gói nhỏ để lại chỗ Y Seng. Tất cả lặng lẽ lên xe không một lời dặn lại. Y Seng thất vọng lại ngất đi. Khi tỉnh dậy không biết mình đang ở đâu. Nhìn quanh lại thấy chỗ cũ. Lòng Y Seng vô cùng bối rối. Y Seng thầm nguyền rủa những kẻ vô lương tâm, vô nhân đạo, chúng không phải là người. Nghĩ đến những hành động của lái xe Y Seng vô cùng thắc mắc. Ừ, nếu là địch chúng bắn chết hay bỏ lại cho chết, thu súng, nhưng đây lại không phải, gói nhỏ trong đựng một cái bánh mì, một gói kẹo, với cách khiêng gượng nhẹ của số người này thì không phải là địch nhưng sao lại không chuyển mình về nơi chạy chữa ? Bao nhiêu câu hỏi mà không thể giải đáp được. Thôi đành vậy. Bụng đói nhìn cái bánh mì mà không muốn ăn vì miệng khô quá, không còn nước miếng để nuốt nữa. Y Seng lấy mấy cái kẹo bỏ vào miệng, chất ngọt thấm dần ra lưỡi tạo nên một chất keo ngòn ngọt rồi trở thành một thứ nước lỏng trôi xuống làm cổ họng Y Seng động đậy, nuốt dần cái chất ngọt vô cùng quý giá này.... Y Seng đã ngậm và nuốt được gần nửa gói kẹo, cổ họng đã dịu lại, lưỡi đã mềm vì có chất nước. Y Seng nghĩ đến ăn một chút bánh mì, moi lấy ruột bánh ăn trước, nó mềm ra không phải nhai mà vẫn nuốt được. Có chút chất ngọt và chất bột vào ruột cơ thể Y Seng có sự chuyển động mới, cảm giác thấy nhạy hơn, đôi mắt đã có sức sống. Càng tỉnh bao nhiêu Y Seng càng thắc mắc bấy nhiêu. Chẳng lẽ ta lại phải đi tiếp ? Đang miên man suy nghĩ tính kế, Y Seng đã nghi ngờ nên rất tinh, phát hiện từ xa từng bước đi của nhiều người. Nhất định tên lái xe đó đã về báo cho địch đến đây bắt mình. Lúc này là lúc ta phải ra tay để chứng tỏ khí phách của người chiến sĩ quân giải phóng. Súng không còn đạn, với báng súng này cũng phải đập chết ít nhất một tên. Nghĩ vậy Y Seng nhanh chóng lết rời khỏi gốc cây lớn, đến một bụi cây um tùm để tạo thế bất ngờ đánh tốt hơn. Từ xa có 5, 6 người cùng đi xe đạp, đến chỗ Y Seng nằm cũ họ dừng lại. Đi đầu là một anh to lớn, trông rất quen mặt nhưng chưa nhớ là ai. Các anh em khác toả ra đi tìm và cảnh giới hai đầu đường. Đến gốc cây không thấy Y Seng, anh em ngơ ngác. Y Seng chợt nhớ, à đúng rồi, Y Bình, Y Bình y sĩ phụ trách trại cùi buôn Ea Na. Biết anh em đến cứu mình, Y Seng muốn la lên mà không la được, đành giơ súng đập túi bụi vào lùm cây. Thấy động, anh em đến vui mừng khi thấy Y Seng. Cũng lúc đó Y Seng ngất xỉu không biết gì nữa. Sau này mới biết anh em dùng võng gác lên xe đạp chở về buôn Ea Na mà không giám dùng ô tô sợ xóc Y Seng không chịu được dễ xảy ra nguy hiểm. Y Seng được sự đùm bọc, chạy chữa, nuôi dưỡng và bảo vệ khỏi tai mắt của bọn tề điệp của bà con trại cùi Ea Na. Vết thương đã lành dần. Biết Y Seng là quân giải phóng, lại là người dân tộc bà con càng quý mến, tin tưởng coi như người của trại mình. Được hơn 2 tháng Y Seng được đưa về điều dưỡng tại trại thương binh gần buôn Y Seng. Khi về đến trại thương binh Y Seng mới biết ngay sau đó đơn vị cử một tổ 4 người đi tìm Y Seng nhưng không thấy. Khi sắp sửa ra về thì địch ập đến. Tiếng súng mà Y Seng nghe được chính là lúc anh em bị địch đánh, may mà không ai việc gì. Đấy câu chuyện của Y Seng chỉ có thế ! “Ôi câu chuyện không thể tưởng tượng nổi”, anh bạn tôi la lên và ôm chặt lấy Y Seng đầy xúc cảm đến ứa nước mắt. Và rồi anh cũng đặt một câu hỏi: “Anh Y Seng này, làm sao anh mà anh vượt qua được ?”, Y Seng trả lời: “Đến bây giờ nghĩ lại mình cũng không biết vì sao, nhưng mình chắc rằng một điều là mình muốn sống trở về với đồng đội.” Câu chuyện chỉ có thế mà sao cứ đọng lại trong tôi và anh bạn ngoại thương của tôi vốn chỉ quen hàng hoá và tiền bạc một cách sâu sắc và cảm động đến vậy. Sáng hôm sau, anh bạn tôi đã ký một bản hợp đồng với Y Seng nhận mua trong năm 1000 chiếc gùi các cỡ với giá rất đẹp. Trước khi ra về chúng tôi ôm chặt lấy nhau, chia tay trong lòng đầy xúc động, không muốn rời nhau. Anh bạn tôi giọng nghẹn ngào khi những chiếc gùi của Y Seng được chuyển lên xe: “Anh Y Seng này, những cái gùi tôi mua của anh hôm nay không phải là cái gùi mỹ nghệ bình thường, mà là những chiếc gùi chứa cả một câu chuyện cổ tích hiện đại của dân tộc Việt Nam ta và nhất là của dân tộc Êđê đầy tính sử thi đấy. Ai mua lại bất cứ chiếc gùi nào của anh làm ra tôi đều kể cho họ nghe câu chuyện của anh đấy !” Y Seng cười, một nụ cười đầy nước mắt sung sướng. Tháng 6 năm 1997. Tiêu đề: Vị tướng không cành tùng Gửi bởi: 3m_h0k_t1n trong 30 Tháng Tư, 2009, 02:20:53 pm (Nguồn: Nguyễn Thế Duyên - vnthuquan.net)
Một buổi sáng chủ nhật của tháng sáu, Diu một thằng bạn lính của tôi đột nhiên đến nhà. Vừa vào đến cửa nó đã bảo ngay -Mặc quần áo vào. Đi. -Đi đâu? Tôi vừa mặc quần áo vừa hỏi lại nó. Nó không trả lời vào câu hỏi của tôi mà lại gắt um lên -Giời ạ. Sao mày lại mặc bộ quần áo này- Nó quay sang vợ tôi- Bộ quần áo lính của nó ngày xưa đâu. Em lấy ra cho nó. Vợ tôi mở tủ lôi ra chiếc ba lô đã bạc thếch theo năm tháng, lấy ra bộ quân phục đưa cho tôi. Thằng Diu nhìn tôi gật gù tỏ ý hài lòng. -Có thế chứ. Tao tưởng mày đã vứt bộ quân phục này . -Vứt thế nào được với ông ấy- Vợ tôi cười nói ngay-Anh không biết đấy thôi. Anh ấy đã từng cho em mấy cái tát vì bộ quân phục này đấy. Thằng Diu trợn tròn mắt ngạc nhiên. Nó không thể tin rằng một thằng nổi tiếng là sợ vợ như tôi mà lại dám tát vợ chỉ vì một bộ quân phục. Nhưng chuyện đó là có thật. Hồi đó nhà tôi mới xây lại nhà. Toàn bộ nội thất cũng được thay mới, thế là bao nhiêu những thứ không dùng đến vợ tôi đem tống khứ đi hết và vật đầu tiên mà bà ấy vứt đi lại chính là chiếc ba lô bên trong đựng những thứ ngày xưa tôi mang ở chiến trường về. Thật phúc đức cho tôi. Không hiểu tại sao mà ngay tối hôm đó tôi lại đột nhiên hỏi vợ về chiếc ba lô -Em vứt đi rồi- Vợ tôi trả lời gọn lỏn- Giữ làm gì những thứ ấy cho nó bẩn nhà. Lời vợ tôi nói chưa dứt thì đã hứng ngay hai cái tát thẳng cánh. Mắt tôi vằn đỏ. Tôi chỉ thẳng tay vào mặt vợ giọng rít lên -Ngày mai mà cô không lấy lại được những thứ ấy mang về thì cô ra ngay khỏi nhà đấy. Rõ chưa? Vợ tôi sợ xanh mắt. Cũng lạ, tôi thì nổi tiếng sợ vợ còn vợ tôi thì lại nổi tiếng là đỏng đảnh, hơi một tý là hờn dỗi đến mấy ngày thế mà lần ấy cô ta lại không hề hờn dỗi lại còn tìm mọi cách xoa dịu sự tức giận trong tôi. Ra đến ngoài đường thằng Diu mới bảo Hôm nay trung đoàn tổ chức họp mặt những chiến sĩ cũ của trung đoàn đang sống ở Hà Nội. Có đại diện của trung đoàn từ trong Tây nguyên ra Nơi gặp mặt là nhà của một người ngày trước chiến đấu ở trung đoàn. Chúng tôi đến nơi thì mọi người đã khá đông đủ. Mừng mừng tủi tủi. Ba mươi năm sau khi rời quân ngũ chúng tôi mới lại gặp được nhau. Những kỉ niệm xưa sống lại trong lòng. Nhiều người không cầm nổi nước mắt. -Thằng Chung Tý Bìu đâu nhỉ. Sao tao không thấy nó? -Mày còn nhớ hồi ở 601 không? Mày sơi nguyên một quả US thế mà không chết mới tài chứ -Thằng Long ở cối 160 kìa. Long, lại đây, nhìn thấy mày là tao lại nhớ đến ông Thạch lúc ông ấy chửi mày “Long ơi! Mày bắn chết bố mày rồi” Người có tên là Long chạy lại, cười toe toét -Phúc tổ bẩy mươi đời nhà các ông. Hôm ấy quả cối 160 mà nổ thì cả cái tiểu đoàn bộ của các ông đi rồi. Mọi người ồn ào cười nói. Người ngồi , người đứng, túm tụm thành những đám nhỏ năm sáu người một nhắc lại những kỉ niệm ngày xưa. Đột nhiên một ai đó hô lớn -Nghiêm! Tất cả bỗng im phắc. Mọi người đứng cứng người đưa tay lên chào. Tôi nhìn ra, một người mái tócđã bạc gần hết , chân đi tập tễnh vừa bước vào phòng. Một người đeo quân hàm trung tá, chắc người này vẫn còn phục vụ trong quân đội chạy lên phía trước dập mạnh gót giầy. -Báo cáo sư trưởng, tôi , trung tá Nguyễn Thành hiện đang là trung đoàn trưởng trung đoàn 66 xin vui mừng được đón sư trưởng đến gặp mặt với anh em trong trung đoàn Ông già cười xòa. Tôi nhận thấy ông đang cố nén xúc động. -Thôi mà , cậu làm gì mà trịnh trọng thế. Bây giờ thì còn sư trưởng với sư chiếc gì nữa. Tớ đến đây với tư cách là một người lính của trung đoàn thôi Nói xong, ông quay ra phía chúng tôi, xua xua tay. -Thoải mái đi. Hôm nay không có sư mới sãi gì hết. Tất cả là những thằng lính của một trung đoàn hai lần anh hùng. Thế thôi. Tôi quay sang hỏi nhỏ thằng Hường ,một thằng bạn cùng nhập ngũ với tôi trong trường đại học. Nó hiện vẫn trong quân đội đeo hàm đại tá. -Ông nào đấy mày.? Thằng Hường trợn mắt nhìn tôi. -Người đã cứu mày mà mày không biết là ai à? Nói rồi nó túm lấy tay tôi lôi ra chỗ ông già -Thủ trưởng, thủ trưởng có biết thằng này không? Ông già nhìn tôi lắc đầu cười. -Làm sao tớ nhớ hết được các cậu -Thằng này thủ trưởng chưa gặp nhưng nhất định thủ trưởng sẽ nhớ nó. Nó là thằng sống sót duy nhất trong khẩu đội cối 82 mà thủ trưởng đã phải xuống tận trung đoàn đích thân chỉ huy để lấy xác tử sĩ trong trận cắt đường 14 đấy. Ông già ngạc nhiên nhìn tôi. Ông ồ lên một tiếng. -Người ấy là cậu à? Mạng cậu lớn thật đấy Ông xúc động. Tôi cũng xúc động. Tiêu đề: Re: Vị tướng không cành tùng Gửi bởi: 3m_h0k_t1n trong 30 Tháng Tư, 2009, 02:21:31 pm Hồi ấy tôi là lính trong khẩu đội cối 82 của trung đoàn. Trung đoàn được giao nhiệm vụ cắt đường 14, khẩu đội cối được bố trí ngay trên đỉnh một quả đồi trông xuống con đường. Đường 14 vốn là cái cuống họng của thị xã plâycu nên khi đường bị cắt đến ngày thứ ba thì địch bất ngờ đổ một lữ đoàn dù đến đoạn bị ta cắt để giải tỏa con đường.Thế là khẩu đội tôi bị vây giữa một lữ đoàn dù. Chúng tôi đánh nhau suốt từ sáng đến chiều. Cối dựng thẳng đứng nòng lên trời thả đạn. Địch không sao lên được nhưng chúng tôi cũng không phá nổi vòng vây. Đến chập tối thì hết đạn. Mấy anh em chỉ còn độc một quả US cuối cùng. Chúng tôi nhìn nhau, không ai nói với ai , tất cả chui vào chiếc hầm chữ A. Tôi đưa cho khẩu đội trưởng quả US cuối cùng rồi tất cả nắm lấy tay nhau. Địch đã lên đầy cửa hầm. Chúng tôi tất cả đều nhìn người khẩu đội trưởng . Cả năm cái đầu đều gật. Người khẩu đội trưởng rút chốt quả US. Chúng tôi nhắm mắt lại. Nhưng không. Thay cho việc cho nổ quả US để chết cùng nhau, người khẩu đội trưởng lại ném quả US cuối cùng lên trên miệng hấm. Trái US nổ, địch kêu la inh ỏi rồi một loạt những trái US ném xuống hầm. Tôi không còn biết gì nữa. Khi tỉnh lại tôi thấy mình đang nằm trong quân y viện.
-Cậu có biết không, hồi đó sau hai lần trung đoàn xuất kích mà vẫn không lấy được xác các cậu ,trung đoàn đã phải đề nghị lên sư cho bỏ xác tử sĩ- Ông bồi hồi nhớ lại. Chúng tôi ngồi xúm quanh ông im lặng nghe ông kể- Đối với tớ, đó là một quyết định thật khó khăn. Về nguyên tắc để đánh một lữ đoàn chúng ta cần ít nhất hai trung đoàn tham chiến thế mà lúc đó trong tay tớ không còn một trung đoàn nào ,mà bỏ xác các cậu lại như đề nghị của trung đoàn thì tớ thấy có tội với các cậu -Sau phải làm thế nào hả thủ trưởng? Một người hấp tấp hỏi chen vào. Ông cười -Còn giải quyết thế nào nữa. Phải đánh thôi. Tớ cắt một tiểu đoàn của thằng 24 cho đánh rát những vùng ven thị xã làm địch phải rút bớt lực lượng về đấy. Còn tớ thì xuống thẳng trung doàn đích thân chỉ huy trận ấy. May mà lấy được xác các cậu. Ông dừng lại. Mắt ông mờ đi, xa xôi. Đột nhiên ông đặt tay lên vai tôi, nhìn thẳng vào mắt -Cậu có biết để cứu sống được cậu trận ấy trung đoàn đã tổn thất thế nào không? -Không ạ -Gần hai mươi người. Chính xác là mười bảy người đã hi sinh để cứu sống cậu.-Tôi cúi mặt nhìn xuống đất. Ông nhìn khắp lượt chúng tôi rồi nói giọng trầm trầm-Hãy sống cho xứng đáng với những người đã chết. Cuộc gặp mặt tan, tôi với mấy thằng bạn học cùng nhập ngũ ngày xưa kéo nhau vào một quán bia. Tôi hỏi thằng Hường, thằng duy nhất trong chúng tôi vẫn còn phục vụ trong quân đội. -Sao hôm nay mày không đeo quân hàm cho oách? -Làm sao tao dám đeo quân hàm đại tá trước mặt một người đáng lẽ phải đeo quân hàm cấp tướng Tôi ngạc nhiên -Mày nói thế nghĩa là quân hàm của ông ấy còn thấp hơn mày sao? Nó buồn bã gật đầu. -Không những thấp hơn mà còn phải nói rằng ông ấy không còn gì cả Tôi túm lấy vai nó lắc mạnh. -Sao lại thế? Mày nói đi Nó vớ lấy vại bia tu ừng ực như muốn nuốt tất cả những uất ức vào trong lòng. Nó dằn mạnh chiếc vại không xuống bàn. Mắt nó đỏ kè. -Sau khi chiến tranh kết thúc, mấy năm sau người ta phát hiện ra trong khi khai lí lịch để kết nạp đảng ông đã không khai bố mình là thành phần địa chủ. Thế là người ta khai trừ ông ra khỏi Đảng, tước quân tịch, đuổi ông ra khỏi quân đội. Tôi nắm chặt lấy mép bàn, người run lên vì phẫn nộ. -Sao lại thế được. Có thể khai trừ ra khỏi Đảng nhưng làm sao có thể tước quân tịch đuổi ông ra khỏi quân đội được.Khi gọi ông ấy nhập ngũ sao người ta không thấy ông ấy là con cái địa chủ? Thằng Hường thở dài cay đắng -Mày còn lạ gì tình hình bộ quốc phòng trong những năm tám mươi ấy nữa. Tất cả chúng tôi đều im lặng, chán nản, thất vọng. Chẳng lẽ cầy cáo chết chó săn bị làm thịt vẫn còn trong thời đại vũ trụ này? Tiêu đề: Re: Vị tướng không cành tùng Gửi bởi: 3m_h0k_t1n trong 30 Tháng Tư, 2009, 02:22:20 pm *
* * Không hiểu sao từ lúc thằng Hường nói cho chúng tôi biết về số phận của người sư trưởng , tôi lại mong muốn gặp ông. Nhất là khi tôi được biết thêm rằng sau khi ông bị đuổi khỏi quân đội ông đã phẫn chí tẩm xăng vào người tự thiêu. Người tự tử thì có nhiều nhưng rất ít người tự tử bằng cách đau đớn này. Phải có điều gì đó đổ vỡ ghê gớm lắm người ta mới chọn cách này để chết. Và tôi muốn biết sự đổ vỡ đó. Tôi xin địa chỉ ông từ thằng bạn và quyết định đến thăm ông. Nhà ông ở là một hiệu bán phở ở khu Thanh Xuân. Khi tôi đến, ông nhận ngay ra tôi. Ông ấn tôi ngồi xuống một chiếc bàn. -Ngồi xuống đây làm với tớ một chén rượu đã- Rồi ông quay lại nói với bà vợ-Này bà nó, cho chúng tôi một đĩa gì để lai rai. Lâu lâu rồi tôi mới được ngồi với một thằng lính của mình. Tôi định chối từ thì bà vợ ông đã bảo -Chú cứ ngồi chơi với ông nhà tôi cho vui. Đừng ngại. Các chú ấy đến đây luôn ấy mà. Nói rồi bà mang ra cho chúng tôi một đĩa cổ cánh gà đầy vật . Thấy tôi có vẻ áy náy bà cười. -Chú thấy mất một đĩa thịt gà hơn hay là mất một ông chồng yêu quý hơn? Nhờ có các chú đến chơi mà ông nhà tôi mới vui vẻ được như thế này đấy. Ông đỏ mặt. -Sao bà cứ luôn nhắc đến cái chuyện dại dột của tôi mãi thế? Bà vợ lườm ông. -Ông chả dại thì khôn với ai. Chỉ vì một chút danh hão mà suýt mất mạng. May mà thằng cả kịp thời nhìn thấy không bây giờ người ta xuống Văn điển phong cho ông quân hàm cấp tướng. Ông cười , rót rượu ra chén. -Thôi tôi xin bà. Bà để anh em chúng tôi còn uống rượu. Uống đi cậu. Ông cầm chén tợp một ngụm lớn. Rượu vào mặt ông tái đi. Ông cầm cái chén, xoay xoay nó trên tay. Trầm ngâm một lúc bỗng ông nói với tôi -Lạ thật đấy cậu ạ. Lúc khó khăn ác liệt, cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi tóc thì không một ai nghĩ đến công danh nhưng đến khi thanh bình rồi thì hai chữ công danh sao mà lớn thế ai cũng cố giành lấy. Không giành được thì trở nên hậm hực phẫn chí. Thật ngu hết sức. Tôi cười hỏi ông -Có phải chính vì hai chữ công danh ấy mà thủ trưởng suýt mất mạng không? -Có lẽ cũng vì nó thật- Ông gật đầu công nhận-Cậu thử nghĩ xem, đang ở đỉnh cao quyền lực. Đi đến đâu người ta cũng đứng nghiêm chào. Mở mồm là nghe thấy hai tiếng “Báo cáo”, “Thưa tư lệnh” đùng một cái rơi xuống đáy vực “ Tên lừa dối đảng” Đau lắm chứ. Hận lắm chứ. Cậu không biết đấy thôi. Quyền lực làm người ta nghiện còn ghê gớm hơn cả ma túy. Một kẻ nghiên ma túy chỉ có thể làm hại đến chính bản thân mình. Cùng lắm là làm hại thêm cho vợ con hắn. Nhưng một kẻ nghiện quyền lực thì có thể làm hại cho hàng chục, hàng trăm , thậm chí hàng nghìn con người. Thật may mắn cho tớ, tớ chỉ mới bắt đầu chớm mắc nghiện thứ ma túy “Quyền lực” ấy. Vẫn còn kịp cai nghiện. Ông cười thoải mái, nét mặt ông dãn ra. -Thì cái cú kỉ luật ấy là liều thuốc cai nghiện bắt buộc rồi còn gì. Thủ trưởng không cai cũng không được. -Cậu nhầm rồi. Nếu chỉ một cái quyết định kỉ luật mà có thể cai được cơn nghiện quyền lực thì sao có thể gọi nó là ma túy được.- ông hăng hái xua xua tay phản đối ý kiến của tôi- Cũng giống như thằng nghiện khi không có tiền mua ma túy không được hút nó bị cơn nghiện vật . Quyền lực cũng vậy, khi nghiện nó rồi người ta sẽ dùng mọi thủ đoạn để giành lấy bằng được nó . Lúc đó thì không còn tình nghĩa, không còn đồng đội. Chỉ còn quyền lực và khi dùng mọi thủ đoạn rồi mà vẫn không giành được nó thì bóng ma của nó sẽ ám ảnh anh suốt cả cuộc đời. Cậu cứ lên mạng đọc thì sẽ thấy. Bao nhiêu kẻ cả cuộc đời chiến đấu cho mảnh đất này thế mà về cuối đời vì cơn nghiện quyền lực đã quay lại chửi cả một quá khứ của chính mình. May cho tớ là có các cậu nếu không không biết tớ còn u mê đến bao giờ. Điều ông nói làm tôi rất ngạc nhiên. Không biết tại sao chính chúng tôi lại làm ông cai được cơn nghiện quyền lực trong ông. Tôi dè dặt hỏi lại -Thủ trưởng bảo sao? Chính chúng tôi làm thủ trưởng cai được cơn nghiện -Đúng đấy.- Ông gật đầu- Hồi ấy tớ chỉ mới chớm nghiện thôi. Trong tớ hồi ấy vẫn còn hai tiếng “Đồng đội”.và “Danh dự”. Điều lúc ấy tớ sợ nhất là các cậu coi thường tớ, khinh bỉ tớ. Khi nghe tin tớ tự tử thằng Hiên , chính ủy sư đoàn ,hồi ấy nó đã được phong tướng đang họp ở Hà Nội cùng một lô những anh em cũ chạy đến bệnh viện thăm tớ. Trước mặt bao nhiêu người , trong lúc người tớ vẫn còn quấn đầy băng, nó giáng cho tớ một cái tát đến nẩy đom đóm rồi quát -Đồ ngu ! Lúc mày lao lên cửa mở mày có nghĩ đến cái quân hàm cấp tướng không?. Ông lại cười. Một nụ cười tươi rói -Ừ, nó nói đúng. Mình ngu thật. Trước cửa mở mà nghĩ đến công danh thì người ta lùi xuống chứ ai còn dám lao lên. Đến lúc mọi người từ biệt ra về, không ai bảo ai, tất cả đều đứng nghiêm dơ tay lên vành mũ chào tớ mà toàn bọn cấp tá làm cả phòng bệnh phải ngạc nhiên. Điều đó làm tớ xúc động. Tớ biết, tớ vẫn còn trong lòng các cậu. Ông nhìn tôi, thấy chén rượu của tôi vẫn đầy nguyên. Ông dục -Uống đi chứ. Mà khi ra khỏi quân đội cậu quân hàm gì nhỉ? -Tôi là trung úy ạ. Ông hắng giọng rồi nói to -Đồng chí trung úy -Có tôi -Sư trưởng sư mười hạ lệnh cho đồng chí uống cạn chén rượu ngay lập tức -Rõ Tôi cười nâng chiến rượu lên cụng li với ông và một hơi uống cạn chén rượu. Tiêu đề: Re: Vị tướng không cành tùng Gửi bởi: 3m_h0k_t1n trong 30 Tháng Tư, 2009, 02:22:32 pm * * * Hai năm sau, một hôm tôi nhận được điện thoại của thằng Hường. Nó báo tin ông chết. Tang lễ được cử hành tại nhà tang lễ Thanh nhàn. Hội cựu chiến binh của sư đoàn quyết định những người lính của sư đoàn đến dự tang lễ tất cả đều phải mặc quân phục. Tôi vội vàng mặc quân phục đến đưa ông. Tôi đến nơi, nhà tang lễ đã đầy nghẹt lính. Hai hàng quân danh dự mặc lễ phục trắng toàn là những đại tá mái đầu đã trắng phớ.Đứng đầu hai hàng quân danh dự là hai vị tướng. Không có súng, ban tổ chức đã có sáng kiến lấy những cây gậy gỗ thay cho súng để bồng. Từng tốp lính nối đuôi nhau đi quanh linh cữu ông vĩnh biệt người chỉ huy của mình trong tiếng nhạc của bài hồn tử sĩ trầm buồn. Tất cả chúng tôi bằng mọi phương tiện đều tìm cách xuống tận dưới Văn điển. Khi mộ được đắp xong vị tướng vốn ngày trước là chính ủy sư đoàn hô lớn. -Tập hợp. Chúng tôi im lặng xếp thành đội ngũ. Một khối lính vuông vắn. Rất nhiều người phải đứng giữa những vũng nước cho đội ngũ được chỉnh tề. Chính ủy hô đanh, gọn -Bồng súng! Chào! Rập! những cây súng gỗ của hàng quân danh dự rắp lên vai. Chúng tôi ưỡn ngực, đứng nghiêm nhất loạt đưa tay lên vành mũ. Đúng lúc ấy, một chiếc U Oát phóng vào. Chiếc xe đầy bụi đất. Nó đã phải chạy từ rất xa đến đây. Cửa xe mở, Một viên trung tá nhẩy vội ra tay ôm theo một vật được bọc trong lá quân kì màu đỏ. Tôi nhận ra đó chính là trung tá Nguyễn Thành trung đoàn trưởng trung đoàn 66. Anh đến trước mộ, đứng nghiêm chào rồi quay ra nói với mọi người. -Thưa các thủ trưởng, Thưa toàn thể các đồng chí. Bộ tư lệnh sư mười không thể ra đưa tiễn sư trưởng Trần Đoàn được . Sư đoàn có ủy quyền cho tôi, trung đoàn trưởng trung đoàn 66, trung đoàn mà ngày trước sư trưởng vốn là lính và đồng thời cũng là trung đoàn trưởng của trung đoàn mang một tấm bia để dựng trước mộ sư trưởng. Nói rồi anh từ từ mở lá quân kì lấy ra một tấm bia kính cẩn chôn ngang hàng với tấm bia của gia đình. Trên tấm bia chỉ khắc mấy dòng chữ Tướng Trần Đoàn Sư trưởng sư 10 Tất cả chúng tôi cúi đầu mặc niệm. Tôi đợi cho mọi người về hết. Chỉ còn lại một mình. Tôi đến bên mộ ông thắp một nén hương cắm lên mộ. Tôi nói to thành tiếng -Xin ông yên nghỉ. Ông mãi mãi là một vị tướng trong lòng chúng tôi,những người lính của ông. Hà nội ngày 9-3-2009 Tiêu đề: HỌ ĐÃ TRỞ THÀNH ĐÀN ÔNG _ Phạm Ngọc Tiến Gửi bởi: ngọc trong đá trong 31 Tháng Bảy, 2009, 01:49:32 pm HỌ ĐÃ TRỞ THÀNH ĐÀN ÔNG
Tiếng người dẫn chương trình rành rọt vang trên loa phóng thanh: - Sinh viên năm thứ tư khoa Văn trường đại học X, Phạm Vân Ngọc với tham luận: "Sự hy sinh - Những giá trị đích thực của nó thông qua số phận người phụ nữ trong chiến tranh giữ nước". Đã gần hết giờ buổi sáng của hội thảo khoa học sinh viên khoa Văn các trường đại học. Hội trường ồ lên - Lại chiến tranh, đây có phải văn đàn đâu, lật xới làm gì mảng hiện thực cũ mèm ấy - Rách việc thế, chiến tranh thì can hệ gì đến hội thảo khoa học này - Mà biết quái gì về chiến tranh - Nữ sinh viên Vân Ngọc thoáng chút ngập ngừng. Rồi cô mạnh dạn từng bước một, đĩnh đạc tiến lên bục diễn đàn. Dáng vẻ dứt khoát ấy, cộng vào tà áo dài trắng tha thướt và một khuôn mặt đẹp dịu dàng, bất ngờ làm hội trường ồn ã ắng hẳn đi. Bằng một giọng run run, cô trình bày quan điểm của mình dựa trên các luận cứ khoa học đã được thử thách và một loạt dẫn chứng minh họa. Tham luận rất ngắn. Thoạt đầu chẳng có gì đáng nói. Hội trường im lặng. Thứ im lặng miễn cưỡng và có phần thờ ơ. Vấn đề không mới. Sự hy sinh ấy thời gian đã nghiền ngẫm nó đầy đủ. Chỉ đến phần cuối cùng của tham luận, nữ sinh đặt vấn đề trên nền một dẫn chứng cá biệt, lạ lẫm thì hội trường hoàn toàn sôi động. Có mặt ở cuộc hội thảo, ngoại trừ số ít các nhà văn, nhà lý luận, nghiên cứu và giảng dạy văn học, còn đa phần sinh viên. Cô ta nói gì thế nhỉ? Sao lại thế? Hơn một nửa số người có mặt rầm lên phản đối. Tham luận kết thúc trong tiếng bàn tán, bất bình. Cô gái sững sờ. Mặt cô từ đỏ bừng chuyển dần sang trắng bệch. Phản ứng mạnh mẽ và đột ngột của người nghe khiến cô chôn chân, chết lặng. Phải đến mấy giây cô mới bừng tỉnh được. Giọng nói ai đó căng như loạt liên thanh quất mạnh vào khuôn mặt đang ngơ ngác của cô: "Đảo lộn mọi giá trị. Không cần sự hy sinh nhơ nhuốc ấy. Điên!". Cô gái rùng rùng người rồi đổ sập xuống. Một tích tắc. Cô bật dậy cũng rất nhanh, ào chạy khỏi hội trường. Vấp. Ngã. Lại vấp. Hội trường ắng đi, ngột ngạt. Không đành được, tôi băng theo. Có một cái gì đó ào ụp trên khuôn mặt ngây thơ của cô gái. Cô lau thật nhanh những giọt nước mắt đang tứa ra. Khoảnh khắc. Giọng cô gấp gáp: - Chú! Chú từng là người lính, từng cầm bút. Chú trả lời cháu đi. Chiến tranh đã lâu sao mọi người quên nó nhanh đến vậy? Tại sao không chấp nhận sự hy sinh nhiều thua thiệt ấy? Đạo lý ư, chiến tranh mà, tại sao lại coi điều đó làm hoen ố chiến thắng? Trả lời cháu đi, kìa chú! - Cha cháu là một trong những người đã trở thành đàn ông khi đi qua cuộc đời cô ấy. Chú đã biết điều đó. Sao chú vẫn im lặng. Chú cần phải biết thêm điều này. Mỗi khi gặp khó khăn tưởng chừng như phải gục ngã, bao giờ cha cháu cũng gượng dậy bằng được. Vì cái gì? Chính vì người đàn bà năm trước. Cho dù thời gian đã qua đi, nhân cách của cô ấy không hề bị hoen ố. Im lặng. - Tại sao thế? Không! không! chú trả lời cháu đi. Đừng im lặng, chú. Cháu van chú. Sao? chú nhẫn tâm thế. Độc ác! Im lặng. Tôi xiết chặt tay cô gái. Bằng một sức mạnh của sự đổ vỡ, cô vằng khỏi tay tôi và vùng chạy thật nhanh. Tôi đứng lại. Loa phóng thanh lại vang rành rọt: - Sinh viên năm thứ tư trường đại học Z Nguyễn Trung Hiếu với tham luận: "Thi pháp ảo trong thơ điên của Hàn Mặc Tử". Năm ấy chị hai mươi hai tuổi và tròn một tuổi quân. Đó là quãng thời gian ác liệt nhất của chiến tranh chống Mỹ. Binh trạm của chị nằm kề sát mặt trận. Những đoàn quân sau chặng dài hành quân mệt mỏi, nằm tập kết tại binh trạm để rồi tỏa ra khắp các hướng chiến trường. Chị là chiến sĩ quân lương. Kho của chị nằm giữa một cánh rừng đại ngàn. Tiếng là đại ngàn sóng bom đạn đã phát đi quang quẻ những tầng cây rậm rịp. Vào đến đây số chiến sĩ nữ như chị thật hiếm. Cả binh trạm vài trăm con người chỉ có dăm người là nữ. Duy nhất chị là người thành phố. Chị không đẹp - Đấy là chị tự đánh giá mình. Điều ấy đúng, nếu như chị vẫn còn ở thành phố quê hương. Nhưng ở đây, giữa hoang vắng của rừng rú, giữa nghiệt ngã của chiến tranh với vóc dáng thon thả, tóc đen mượt, nước da trắng của người thành phố lại chưa trải qua sốt rừng, chị là người đẹp nhất. Sát kho chị có một con suối. Nước lặng phắc, trong vắt. Suối không sâu nhìn thấy cả ánh vàng dưới đáy. Chị có thói quen tắm buổi sáng. Vì thói quen này chị bị phê là tiểu tư sản. Cái đó là tất nhiên đối với người chiến sĩ nữ là người thành phố. Chị có học. Văn khoa hẳn hoi. Dở đại học thì tình nguyện đi vào chiến trường. Sáng ấy! Hình như đã sang thu, trời lành lạnh. Mặt trời chưa lên. Sương bàng bạc. Nước bàng bạc. Da thịt chị cũng bàng bạc. Tất cả bàng bạc một mầu tinh khiết. Chị bất động giữa dòng suối như một pho tượng tạc vào thiên nhiên, im lặng tận hưởng đến cùng ban mai trong trẻo. Không có chiến tranh, không có phiền não, không có ưu tư... Mọi thứ vào giờ khắc ấy, dường như bị đẩy lùi, tan biến. Chị khỏa nước thật nhẹ. Bỗng chị ngồi thụp xuống. Có tiếng soạt khẽ. Vút từ ngọn búi lồ ô ven suối một chú gà soạch thẳng vào rừng. Đã sáng. Chị từ từ xoay lưng lại. Linh cảm phụ nữ mách bảo có người nhìn trộm thân thể chị. Giọng nói trẻ xoáy vào hõm đá. - Đẹp quá! Hệt như thần vệ nữ. - Vệ nữ thì tao không biết nhưng hơn đứt bọn con gái quê tao. - Mày nhìn trộm chúng nó à? - Không, quê tao trai gái đều tắm chung cầu ao. Dưng mà không được trắng thế kia - Có tiếng thở dài. - Lần đầu tiên tao được nhìn con gái rõ đến thế. - Tao cũng vậy thôi. - Tao chưa có người yêu đã đành. Còn mày, lẽ ra đã cưới trước khi đi B, tưởng mày phải biết? - Mày ngu thế, dễ cứ yêu là lột trần con người ta ra được à? Đừng hòng! - Giọng nói trầm hẳn xuống - Nếu muốn, tao có thể đã biết được cô ấy. Tội nghiệp, cứ giục cưới, mày bảo mình đi biết bao giờ về. Con gái có thì, tao không muốn cô ấy cột vào mình, để phải đằng đẵng chờ đợi. Bom đạn thế này biết cái gì sẽ xảy ra. Tao nhất quyết không chịu cưới. Trước hôm đi hai đứa dắt nhau ra đồng bãi, ngồi đến sáng. Cô ấy tức tưởi khóc. Thương quá. Cô ấy bảo không cưới cũng được, cứ để lại cho cô ấy một đứa con. Chiến tranh kéo dài bao lâu mặc kệ. Tiếng tăm, dư luận mặc kệ. Khổ thế nào cô cũng chịu được. Cô sẽ nuôi con chờ đợi. Bao nhiêu năm cũng vẫn đợi. Thú thật, có giây phút tao đã xiêu lòng định tặc lưỡi. May kìm được. Chắc cô ấy sẽ hiểu. Sau này dù thế nào, tao cũng nhất định tìm về cô ấy. Chỉ tiếc, có mệnh hệ gì... - Suỵt, khẽ chứ. Ai nghe được thì chết. Tao cũng đang định nói. Đất nước loạn lạc, mình thân trai xông pha mũi tên, hòn đạn là phải. Nhưng bom đạn biết đằng mù nào mà tránh. Tao ở thành phố, nhà không đến nỗi, lại được chiều chuộng, cái gì cũng biết cả. Hiềm một nỗi, bây giờ có nằm xuống, mình, tiếng là thằng trai lừng lững mà chưa được thành đàn ông, kể cũng tiếc. - Thôi ra đi mày, lấy nước rồi còn về. Từ từ thôi kẻo lộ, ngượng chết. Chị không bỏ sót lời nào. Mắt chị hút theo bóng hai người lính trẻ. Chị đã quên bẵng họ vừa trộm nhìn chị. Đoạn đối thoại vô tình của hai người lính tác động ghê gớm đến chị. Người chị ớn lạnh. Chị rùng mình. Sao nước suối bỗng dưng lại lạnh buốt thế này? Toàn thân run rẩy, chị bấu chặt tay vào gờ đá sắc cạnh. Chị nghiến chặt răng, cố đẩy lùi cảm giác buốt tê tái đang dần chiếm cơ thể chị. Có thể thế được chăng? Tại sao chị không hiểu ra điều ấy. Anh ơi, linh hồn anh có phiêu bạt, lang thang ôm niềm tiếc nuối kia không? Chị thấy mình chới với. Không! Ngã xuống là chết. Chị vận hết sức gượng dậy. Lạnh quá. Người chị rùng rùng đón nhận trăm, nghìn mũi kim buốt giá đâm vào da thịt. Không biết bằng cách nào chị lên được đến bờ, mặc quần áo và lết về đơn vị. Chị ngã vật ra sạp hầm bất tỉnh. * * * Chị thấy chòng chành. Người chị nảy lên rồi giần xuống. Bom gì lạ thế. Thôi chết, sao người chị lại trôi đi thế này. Sập hầm rồi. Không phải. Chị đã bị sập hầm một lần. Chị vẫn còn nhớ. Ngạt lắm. Toàn thân bị chèn cứng. Tay chị bươm bả, quào, móc. Tất cả tối đen. Chị gắng sức gào thật to. Không được. Chị cố gắng nghĩ đến một điều gì để dẹp nỗi sợ hãi. Mẹ chẳng hạn. Không, tội nghiệp lắm. Chắc chắn mẹ không thể chịu đựng được khi thấy tình cảnh này của chị. Bố vậy. Bố hy sinh ở Điện Biên. Chị chưa một lần biết mặt bố. Bộ đội hay nhỉ. Có dịp đáo qua nhà, gửi lại đứa con, rồi đi biền biệt không về. Không ổn. Bố lắc đầu: "Nhà có mỗi mình con, đừng chết". Tốt nhất là nghĩ đến điều khác. Anh. Đúng rồi, anh cũng chết trong một trận bom tọa độ. Bom đánh trúng hầm. Đồng đội vất vả mới đưa được xác anh lên mặt đất. Tay anh vẫn khư khư chiếc bút máy Trường Sơn chị tặng. Có lẽ lúc ấy anh đang miệt mài với trang bản thảo. Nghĩ đến đấy, chị bỗng thấy trời lóe sáng. Chị nhắm chặt mắt. Có tiếng người lao xao. Đồng đội ơi. Người chị nhẹ bẫng. Sống rồi, chị òa khóc. Ơ, sao người chị cứ trôi mãi thế này. À, chị đang đu quay ở công viên. Bị chóng mặt, sợ quá, chị thét lên gọi mẹ. Không phải mẹ. Mẹ không bao giờ áo trắng, mũ trắng. Tiếng ai đấy nhỉ? Lạ lắm: "Bốn mốt độ bốn. Mê sảng". Bóng trắng nhòa đi. Chị trôi nhanh hơn. Hóa ra chị bị sốt. Đâu thế kia? Cầu Long Biên. Phải rồi. Vẫn còn khói bom khét lẹt. Cầu vừa mới bị bom bứng đi mất một nhịp giữa. Tiếng ai đó: "Trung đội khoa Văn đâu rồi? Nhanh lên. Văn với viết các bố là chúa lề mề đấy". Cháy. Rốc két bắn vào khu lao động Phúc Tân. Cháy ghê quá. Chị chạy ra mép sông. Xác một con đò vật vờ trên sóng, một đầu dềnh vào bãi cát. Chị chõ loa xuống mặt nước: "Có ai bị thương không?". Sông rền rền hú lại: "... Thương... Không...". Chị bật cười. May, ai nhìn thấy thì chết. Đồng bào đang lâm nạn, mình lại cười, vô duyên thế. Anh vẫn mắng đùa chị vô duyên. Ghét thật. Đi mà tìm duyên khác mặn mòi. Mẹ bảo: "Con gái vô tâm hay cười, sau này lấy chồng sẽ khổ". Mẹ ơi, thế thì con sẽ ở với mẹ suốt đời, lấy chồng làm gì cho khổ. Nhưng kệ, khổ mà được cười là tốt rồi mẹ ạ. Chị vẫn trôi nhanh. Bây giờ có cảm giác chị bay thì đúng hơn, chị đã lên đến sân thượng. Anh đâu rồi, chậm thế. Ban nãy chị hỏi: "Có dám lên sân thượng chết cho tình yêu không?". Trả lời: "Mai tớ đi B rồi. Sợ đếch". Chị từ nơi trường sơ tán cố về kịp để tiễn anh. May quá, còn trọn cả một đêm. Ngồi cạnh nhau, chị muốn tựa vào anh mà vẫn cố tình nhích xa thêm. Điệu thế mới là con gái. Anh hỏi: "Học khổ không?". Vờ vẫn, ai chả biết vừa tốt nghiệp đã được bổ làm phóng viên mặt trận. Đây mới năm thứ ba. Thời gian nhanh lắm nhé. "ờ nhanh, nào hôn đi". Phải mọi khi xem, chị sẽ làm bộ giận. Còn hôm nay, chị ngả hẳn người vào anh. Người đâu tham thế, ngạt quá. Còi hú. Mặc kệ. Còi lại hú. Báo động cấp ba rồi. Mặc kệ. Xoẹt trên đầu, sao nó bay thấp thế. Đạn cao xạ lừ lừ bay, nở đầy trời. Bom nổ, hắt lên những quầng sáng vàng vọt. Ngôi nhà tầng chao đảo. Anh áp thân thể che kín người chị: "Xuống nhé?". Không, chị lại cồn cào tìm môi anh. Mảnh văng rào rào. Anh gằn giọng: "Thôi đi xuống . Nguy hiểm lắm". - "Anh sợ à?". - "Không. Anh lo cho em". Chị lắc đầu. Giọng chị xa xôi: "Em muốn ở bên anh mãi mãi". Lòng chị rộn ràng, chị xiết chặt anh như muốn truyền sang cho anh tất cả những gì chị có. Tình yêu. Cả thành phố lửa cháy rừng rực. Sân gác thượng hồng lên. Bỗng chị thảng thốt: - Không! Không được đâu anh. - Anh yêu em! - Đừng, đừng. Đó là điều thiêng liêng. Em không muốn nó xảy ra vào lúc thảm khốc này. - Em yêu. Mai anh đi rồi. Vào lúc nào nữa? - Bao giờ chiến thắng, anh về và cưới em. - Nhưng bao giờ thì chiến thắng. Mười năm hay một trăm năm? - Em không biết. - Chả nhẽ chúng mình cứ phải đợi mãi? - Đừng, đừng nói thế. Hãy tin em. Tình yêu của em. Sau đó chị khóc rất lâu. Anh thầm thì xin lỗi. Không, anh không có lỗi gì cả. Chúng mình yêu nhau cơ mà. Em chỉ muốn... Hừng đông đã rạng. Chị thấy thương anh vô cùng. Thành phố lúc ban mai trở nên yên tĩnh lạ thường. Dường như tất thảy những gì xảy ra trong đêm đều không phải là sự thật. Chị thấy tĩnh tâm trở lại. Anh cũng thế. Cái đêm đau đớn ấy của chiến tranh như đã lùi thật xa. Anh nồng nàn hôn chị. Chị hiểu rằng nỗi đau đớn của chia ly bây giờ mới thực sự bắt đầu. * * * Tiêu đề: HỌ ĐÃ TRỞ THÀNH ĐÀN ÔNG (P 2) _ Phạm Ngọc Tiến Gửi bởi: ngọc trong đá trong 31 Tháng Bảy, 2009, 01:51:19 pm HỌ ĐÃ TRỞ THÀNH ĐÀN ÔNG
* * * Trận sốt ác tính quật chị nằm hơn hai tháng trời tại bệnh viện của mặt trận. Bệnh tật tàn phá ghê gớm cơ thể chị. Nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng lắm. Câu chuyện xảy ra bên bờ suối sáng ấy hằn vết vào tâm hồn chị. Chị nhớ lại ngày nhận được tin anh hy sinh. Chị đã nấc lên. Nấc nghẹn ngào mà không hề có nước mắt. Thì ra thế, nước mắt không thể dành cho những nỗi đau đến tận cùng. Anh ơi, đau đớn quá. Thời gian nào có xa, mới chỉ cách đêm chia tay không đầy ba tháng. Người chị rộc đi. Chị sụm xuống. Có lẽ những ngày ấy nếu không có mẹ, chắc hẳn chị đã hoàn toàn gục đổ vì tuyệt vọng. Tấm lòng của người mẹ từng nếm trải đau đớn của mất mát, với nỗi cảm thông vô bờ, đã tỏa truyền hơi ấm, sưởi nóng trái tim, tưởng chừng đã lạnh băng của chị. Chị xin phép mẹ đặt ảnh anh lên bàn thờ bố. Rồi chị tình nguyện vào chiến trường. Mãi mãi chị biết ơn mẹ. Chiến tranh khốc liệt đã nhanh chóng cuốn chị vào guồng quay khổng lồ của nó. Chị hy vọng bằng trách nhiệm của người lính, bằng thời gian chị sẽ phần nào nguôi ngoai nỗi đau đớn mất anh. Nhưng buổi sáng khắc nghiệt ấy đã tàn nhẫn quất mạnh vào vết thương của chị. Vết thương chưa kịp lành miệng lại bật ra, túa máu. Anh có thế không? Nếu linh hồn anh đang lang thang với niềm tiếc nuối kia thì chị quả là có tội. Sao đêm ấy, chị không dâng hiến tất cả sự trinh bạch của đời con gái cho anh? Sao lại không? Chị ân hận quá chừng. Ý nghĩa ấy ám ảnh dày vò chị. Buổi rời viện về đơn vị, một mình trên con đường mòn xuyên rừng, nỗi ám ảnh ấy càng gia tăng khủng khiếp. Cứ mỗi bước đi, chị lại thấy anh ở đâu đó. Lần thì chị thấy anh thấp thoáng sau một gốc săng lẻ già. Tiếng anh thoảng trong gió: "Anh yêu em". Có lúc chị lại thấy anh bị treo lơ lửng giữa những tầng cây. Người anh đầy máu. Tiếng anh đứt quãng: "Bao giờ thì hòa bình hả em?". Chị cố bước thật nhanh không dám trả lời. Trong hoang vắng của rừng, cái hoang vắng mà từ lâu chị đã quen thuộc không hề sợ hãi, nỗi ám ảnh ấy cứ lớn mãi, lớn mãi, dày vò chị không ngừng. Có lúc không đành được chị phải dừng lại. Vẫn anh, cánh tay băng bó và khuôn mặt đầm đìa máu, tay kia anh thả từng trang bản thảo. Gió tạt những tờ giấy về phía chị. Tiếng anh: "Đọc đi em. Nhật ký chiến trường đấy. Có em nửa phần trong ấy". Chị ôm lấy đầu. Chị không thấy sợ hãi. Càng tuyệt nhiên không thấy trống vắng, cô đơn. ý niệm cô đơn kể từ ngày anh mất đã không còn tồn tại trong chị. Chị dừng lại giản đơn chỉ vì thấy tủi thân quá. Chị òa khác. Lẫn trong nước mắt, trong tiếng nấc nghẹn ngào, là âm thanh tức tưởi: "Nhưng tôi có tội tình gì?". Không có ai trả lời chị. Chị khóc càng lớn. Nỗi tủi quạnh dâng đầy. Khóc chán chị lại đi. Bây giờ chẳng có ai dỗ dành chị cả. Mẹ ở xa quá. Chị đi đến bờ một con suối rất rộng. Trong veo. Chị ngắm mình dưới nước. Chị bàng hoàng không nhận ra nổi mình. Sau cơn sốt chị như già đi hàng chục tuổi. Chị thấy cả bóng anh bên cạnh, anh tư lự. Chị thảng thốt: "Anh chán em rồi sao?". Thoắt cái bóng anh biết mất. Chị sợ hãi ngẩng tìm. Anh đã ở bên kia con suối. Tiếng anh xa rền: "Yêu em mãi đến ngàn năm". Anh vừa dứt lời, nước suối bỗng réo ùng tục. Tiếng nó rên rỉ phía thượng nguồn. Đất dưới chân chị rùng rùng chuyển. Nước biến thành mầu máu đỏ, ào lên. Thôi chết, lũ, lũ lớn. Chị quáng quàng quay trở lại. Nước bén gót. Chị bám vội vào một thân cây leo thật nhanh. Bỗng chị giật mình. Có tiếng người ở trên cao: "Đừng sợ lính T10 đây. Chị ở kho binh trạm phải không? Lũ cường đấy, leo nhanh lên". Nước tiếp tục dâng cao. Chị và người lính trẻ tìm được một chạc cây có thể nghỉ tàm tạm. Mưa tạt xối xả. Lẫn trong tiếng mưa, thoảng ầm ì tiếng động cơ máy bay C130. Tiếng ầm ì nặng dần. Phút chốc cánh rừng ngập nước bỗng run bần bật. Uột... ù... ộ... uột... Đạn bốn mươi ly vãi tung tóe từng tràng. Chị nép người dưới chạc cây. Một loạt đạn nổ sát sạt. Mảnh cây cứng ráp bị đạn băm trúng, văng khắp người chị. Lại một loạt đạn nữa gần hơn. Người lính đẩy chị xuống, lấy thân mình đè lên che cho chị. Chạc cây chao động. Một quầng lửa lóe sáng. Mái tăng hai người vừa căng để che mưa bị bốc gọn. Thiếu chút nữa cả chị và người lính trẻ đã bị hất tung xuống nước. Hơi thở người con trai xa lạ phả nóng rực một bên tóc chị. Chị có cảm giác mình đang ở trên sân thượng đêm nào và nỗi ám ảnh ấy lại ùa đến. Chị đột ngột quyết định. Chị vít mạnh đầu chàng trai áp vào ngực mình. Thực ra ý định dâng hiến sự trinh bạch của chị đã mãnh liệt ngay từ loạt bắn đầu tiên của kẻ thù. Có lẽ không phải thế, ý định ấy đã đến với chị từ trước. Nó hình thành ngay từ buổi sớm hôm nào bên bờ suối. Chị không hề đắn đo. Còn đắn đo gì nữa, biết đâu chỉ trong khoảnh khắc cả chị và người lính sẽ không còn. Chàng trai trẻ thế. Không, em ơi hãy nhận một chút ít tâm hồn chị để trở thành người đàn ông chân chính, để đừng phải mang niềm tiếc nuối đơn giản kia, nếu chẳng may em vĩnh viễn ra đi từ cuộc chiến tranh khốc liệt này. Người lính thoáng chút ngỡ ngàng. Rồi anh chợt hiểu. Anh run rẩy áp thân thể thanh xuân của mình vào chị. Tràn ngập trong cảm giác hạnh phúc đến mãn nguyện. Chị nín thở cố giữ thật lâu niềm hạnh phúc ấy. Hạnh phúc ơi! Đấy là nỗi ám ảnh đã dầy vò chị. Đấy là mất mát chia ly làm đau đớn chị. Đấy là niềm nuối tiếc trẻ trai, chị cần san sẻ. Đấy là sự dâng hiến của chị. Hạnh phúc. Dòng máu ấm, âm ỉ lan tỏa khắp cơ thể chị. Nước bỗng rút. Mưa bỗng tạnh. Đạn ngừng nổ. Tiếng máy bay câm bặt. Và thời gian ngừng trôi. Chị hoàn toàn mãn nguyện. Sau này, khi có những chàng trai trẻ đi qua cuộc đời chị, trở thành đàn ông, chị vẫn giữ nguyên vẹn được cảm giác mãn nguyện của lần đầu tiên dâng hiến. Người lính trẻ xúc động tràn nước mắt: "Chị, đời con gái của chị...". Lúc ấy, chị khe khẽ lắc đầu. Hình như chị đã mỉm cười. Chị âu yếm vuốt tóc người lính. "Đừng khóc em. Kìa nín đi. Đàn ông sao lại khóc". Chị thoáng thấy bóng anh. Mặt anh rạng rỡ. Nỗi ám ảnh nhẹ dần. Đúng là chị đã mỉm cười. "Suốt đời, không bao giờ em quên được chị". Chẳng cần phải thế đâu em. Chị hạnh phúc lắm rồi. Cảm giác mãn nguyện của hạnh phúc làm chị vững tin. Vững tin đến lạ thường. Ngay cả lúc chị đứng trước cơn giận dữ của đồng đội đang kết tội chị, chị vẫn thấy lòng mình thanh thản. Chị im lặng đón nhận sự giận dữ tất yếu ấy. Chị không nói một lời thanh minh. Thanh minh điều gì nữa. Mọi thứ đã rõ ràng. Chị thấy thương đồng đội của mình. Họ tốt quá. Họ vất vả vì chị. Chị biết ơn họ. Đồng đội ơi, tôi xin gánh chịu tất cả. Chỉ đến khi người ta lôi ra từ bồng tay của chị vài thứ kỷ vật nho nhỏ những người lính để lại khi chia tay, thì lòng chị thực sự cồn lên. Mặt chị tái đi. Bất giác chị đưa tay áp vào vùng bụng. Ở đấy phát ra những nhịp thở mỏng manh, yếu ớt. Chiếc bút máy, tấm ảnh ghi dòng địa chỉ, một cánh bằng lăng ép khô, chiếc huy hiệu, cái lược từ xác máy bay, có cả một chiếc nhẫn bằng bạc để chị đeo kỵ gió... Từng khuôn mặt hiện lên. Họ đã trở thành đàn ông. Những người nào trong số ấy đã nằm xuống. Chị lảo đảo ôm chặt lấy bụng. Niềm hạnh phúc của chị đang quẫy đạp. Anh ơi, con của chúng mình... * * * À ơi, con ngủ cho ngoan . Chị sẽ được làm mẹ. Vào những lúc một mình, chị khe khẽ hát bài ru con. Chị mong nó sẽ là con trai để được mang hình hài anh. "À ơi con ngủ cho ngoan", cây hát ấy lần đầu tiên bật ra trong giây phúc chị dâng hiến cho người lính trẻ. Chẳng hiểu sao người lính mãi rúc khuôn mặt non tơ của mình vào ngực chị. Chị thấy âm ấm vùng ngực. Có một dòng máu rần rật chuyển. Ngực chị cương lên. Chị thấy lòng ấm áp quá. Cảm giác lạ lùng lần đầu tiên òa đến khiến chị xao xuyến. Chị thấy thân thể mình lớn vút và hồn mình rộng ra, rộng mãi. Cõi lòng chị mênh mông, bao dung. Có một cái gì đấy nhè nhẹ, nhè nhẹ... động cựa nơi bụng chị. Cảm giác ấy rõ dần. Chị thấy váng vất. ý nghĩ được hạnh phúc làm mẹ vụt đến lớn quá. Chị sẽ được làm mẹ! Và câu hát ru của ngàn đời ngàn đời, chẳng biết ký thác vào tâm hồn chị từ bao giờ, khoảng khắc ấy bật ra, ngân nga: "à ơi con ngủ cho ngoan". Cả chị, cả người đàn ông đang thiêm thiếp trên ngực chị đều sửng sốt, lặng đi trước lời ru dịu dàng của mẹ. Hạnh phúc. Chị sắp được làm mẹ. Đêm nay, chị cố thức để khâu xong cho con bộ quần áo lọt lòng. Giá không có chặp bom lúc nửa đêm hẳn chị đã hoàn tất công việc. Vừa khâu chị vừa khe khẽ hát. Chợt một bóng người lao vào hầm. Đèn pin lấp lóe rọi thẳng vào mặt chị. Chị dơ tay. Bộ quần áo bé xíu thành tấm chắn luồng sáng độc ác. Chị không lạ gì hắn. Người đó cùng đơn vị. Từ lâu hắn đã khao khát chị. Rất nhiều lần chị đã thẳng thừng cự tuyệt nỗi ô nhục ấy. Giọng hắn rít lên khác thường: - Sao? Cô không biết gì à? Trận bom vừa rồi tám đồng chí của ta đã trở thành liệt sĩ. Vậy mà cô vẫn thản nhiên chuẩn bị cái công việc nhơ nhuốc kia. Thật xấu hổ. Chị đứng phắt dậy. Chị có thể bị nhục mạ, có thể mất mát tất cả và chịu đựng đến cùng. Song, chị không thể để đứa con của chị, đứa con của những người lính bị xúc phạm. Ánh đèn pin quét xuống ngực chị. Linh cảm chẳng lành, chị lùi lại, lấy tay che ngực. Khoảng khắc của dục vọng. Người đàn ông sấn đến, hổn hển: "Tôi đã giữ cô ở lại. Tôi đã bỏ qua cho cô tất cả. Hôm nay chúng ta sòng phẳng. Cô hãy cho tôi điều mà những người lính khác được làm". Một cảm giác kinh tởm ập đến. Làm sao chị có thể chấp nhận điều nhục nhã ấy. Chị phải đâu sống cho đam mê của bản thân mình. Giọng chị đau đớn van vỉ: "Xin anh đừng làm thế. Đừng làm nhục đứa bé. Đừng làm nhục những người lính đã từng làm cha của nó. Có thể trong số họ có người nằm xuống. Xin hãy để linh hồn họ thanh thản yên nghỉ...". Chị chỉ kịp nói đến đây, chị bỗng thấy mình tối tăm mặt mũi. Chị bị quật xuống nền đất. Chị dãy dụa thật mạnh. Chị chồm dậy được, chị cố nhoài tay với khẩu AK treo trên vách. Không kịp. Một lần nữa chị bị quật ngã. Lần này mạnh hơn. Chưa bao giờ chị phải gánh chịu đau đớn đến thế. Con ơi! Thế là hết. Mẹ không giữ được con rồi. Tha lỗi cho mẹ. Chị bươn bả chạy khắp rừng. Trong đêm tối, không xác định hướng chị vẫn lần tìm đến khúc suối dạo nọ. Ban mai. Sương bàng bạc. Nước bàng bạc. Da thịt cũng bàng bạc. Tất cả một mầu bàng bạc. Chị bất động giữa dòng suối như một pho tượng tạc vào thiên nhiên, im lặng tận hưởng đến cùng hạnh phúc và khổ đau vừa nếm trải. Chị khỏa nước nhè nhẹ. Chị áp tay vào bụng và chị hát thật khẽ: "À ơi con ngủ cho ngoan". Chị thấy lòng mình ấm áp. Vào chính giây phút ấy, chị hiểu rằng, linh hồn anh không hề lang thang với niềm tiếc nuối. Anh đã bình yên an nghỉ. Và họ, những người đàn ông đi qua cuộc đời chị, có ai trong số đó đã hy sinh vì Tổ quốc, chắc chắn trước lúc vĩnh viễn ngã xuống họ đã nghĩ đến chị. Khi tôi vào chiến trường, câu chuyện về người đàn bà ấy đã lan truyền khắp các hướng mặt trận như một huyền thoại. Ở mặt trận phía Đông, người ta kể rằng, xác người đàn bà trôi dạt đến cuối nguồn. Phải đến tuần lễ sau mới tìm được. Không có một cỗ áo quan nào vừa thân thể chị. Phải hạ một cây dẻ to để lấy gỗ đóng hòm. Một trung đội công binh mất đến ngày trời mới hoàn thành nhiệm vụ. Đó là chiếc áo quan to nhất, xưa nay chưa từng có ở chiến trường. Ở mặt trận phía Tây, người ta kể rằng, không biết bằng cách nào người đàn bà leo lên được và treo cổ chết trên ngọn cây chò lớn vài chục người ôm, cao đến trăm mét và sống đến ngàn năm có lẻ. Phải vất vả mới hạ được xác chị an toàn. Sau đó một hôm, không bom đạn, không gió, mưa, sấm, sét, bỗng dưng cây chò sập đổ. Trước đấy, kể cả B52 cũng không đánh gục nó. Ở mặt trận phía Nam, người ta kể rằng, sớm ấy, bất thần bom tọa độ chụp xuống khúc suối. Xác chị văng thành ngàn, vạn mảnh. Sau đó khu rừng trở nên tốt tươi kỳ lạ. Hoa lá, cỏ cây, chim chóc chen chúc ríu rít. Bom đạn, chất độc tàn phá thế nào cũng không hủy diệt nổi. Còn ở binh trạm, người ta xếp chị vào quân số mất tích. Không ai biết gì hơn về số phận của chị. * * * Tôi không có cách nào để trả lời cô gái. Có điều, tôi nghĩ rằng, người đàn bà năm xưa hẳn phải có một khuôn mặt dịu dàng, thánh thiện như cô sinh viên năm thứ tư này. Tôi đành câm lặng chịu lời kết tội là kẻ độc ác của cô gái. Duy nhất, tôi chỉ có thể làm được mỗi một việc, là viết lại câu chuyện này để ít nhiều tôn trọng một sự thật. Quyền phán xét nó thuộc về bạn đọc. PHẠM NGỌC TIẾN Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: trachvandung trong 03 Tháng Chín, 2009, 02:56:57 pm Có một người đàn bà như thế Cơn mưa buổi chiều tháng Bảy ập xuống nghĩa trang Lộc Vinh cách trị trấn Lộc Ninh vài cây số. Nước xối trắng trời, trắng đất. Rừng cao su chìm trong mưa. Cô gái níu cánh tay người đàn bà đứng tuổi đứng bên ngôi mộ trong nghĩa trang đất đỏ, nước mắt hòa mưa... Ông Tùng chọn bộ quần áo đẹp nhưng nền nã, hỏi vợ: – Em mua đồ gì đến giỗ anh Hỷ? Vân ngồi trước bàn phấn, mắt sáng, môi hồng, da mịn, mỉm cười: – Năm nay ngoài bánh trái, hoa quả, em sắm tặng anh Hỷ chiếc ô tô. – Anh nhìn gói đồ đi ăn giỗ to quá. Anh Hỷ hy sinh ở Bình Long năm bảy hai, không biết lái xe hơi? – Mấy người ta mua xe hơi cho người thân, em cũng tặng anh ấy một chiếc. Minh họa: A.Dũng Lúc đó hai đứa con của họ, thằng Hưng mười sáu tuổi, chở bé Hương mười tuổi, đi học thêm về. Từ trên lầu chị Vân gọi vóng xuống: – Con à, hai đứa chuẩn bị đi qua nhà cô Ninh ăn giỗ. Tiếng “dạ” của hai đứa ấm cả căn nhà. Tùng lái xe con bốn chỗ sáng bóng chở ba mẹ con Vân dừng lại ở căn nhà nhỏ, khang trang, sạch sẽ trong hẻm rộng đường số 16, Thủ Đức. Từ trong bếp, chị Ninh đon đả chạy ra, vẫn cầm đôi đũa bếp: – Chào cả nhà! Vân bước tới ôm lấy chị Ninh, nói: – Chị vẫn trẻ, khỏe. Tùng cười gật đầu thay lời chào Ninh, anh sững lại thấy Ninh ngót năm chục tuổi, vẫn thon thả, mắt sáng, da hồng. Thằng Hưng và bé Hương khoanh tay: – Con chào bác Ninh. Anh Vinh có nhà không bác? – Anh Vinh đi mua bia chút về. Ninh kéo Vân vào nhà. Tùng bưng gói đồ lễ đặt lên bàn thờ, trước di ảnh anh bộ đội trẻ, mỉm cười, mắt trong veo, lồng trong khung kính, khung có hoa văn rất đẹp. Lư hương khói nhang uốn éo như múa tỏa mùi trầm đằm trong căn nhà ấm cúng. Vinh chạy xe Honda chở thùng bia về tới cửa thì Hưng và Hương reo lên: – A… em chào anh Vinh. – Anh chào hai em! Ông Tùng trong nhà đi ra, Vinh xuống xe khoanh tay: – Con chào bố. Dì Vân có qua không bố? – Có. Bà ấy trong bếp với mẹ con. Hai bà gặp nhau là không bao giờ hết chuyện. Hôm nay ngày giỗ anh Trần Hỷ, hy sinh ngày mười bảy, tháng tám, năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai, tại làng Mười lăm, quốc lộ Mười ba, cách Chân Thành (Chơn Thành) sáu cây số. Tiếng rù rì của hai người đàn bà trong bếp; tiếng hỏi và tiếng trả lời của Vinh với Hưng và bé Hương vọng vào tai ông Tùng. Bé Hương nhõng nhẽo với Vinh đàn bản “Con mèo lười”, nhưng Hưng năn nỉ Vinh đàn bài “Chiều trên bến cảng”. Vinh cười vuốt tóc hai đứa em cùng cha khác mẹ. Ông Tùng sau khi đốt nhang trên bàn thờ, khấn vái xong, khoanh tay nhìn ba đứa con, bỗng nói: – Theo bố, hôm nay giỗ bác Hỷ, Vinh đàn bài “Tiến về Sài Gòn”, điều mong ước của bao chiến sĩ chiến trường trong những năm chống Mỹ. Nhưng bố Hỷ của các con không có mặt ở Sài Gòn ngày Ba mươi tháng Tư năm Bảy nhăm. Vinh ơi, đàn bài đó cho bố Hỷ và mọi người trong gia đình mình nghe. Vinh cười, xoa đầu bé Hương nói: – Con đốt nhang khấn bố Hỷ, con đàn bài “Tiến về Sài Gòn” mời bố con về. Ăn cơm xong Hưng và Hương yêu cầu bài gì anh đàn bài đó. Được không? Bé Hương vỗ tay hoan hô. Tiếng đàn piano vang lên bản nhạc rộn ràng, trầm hùng lao xao cả khói nhang. Từ bếp chị Ninh và Vân lên nhà, bố con Tùng cùng Vinh vừa đàn vừa hát. Chị Ninh và Vân cũng hát theo. Chị Ninh cầm đôi đũa bếp gõ nhịp nhịp: “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù…”. Lúc sau tiếng hát của gia đình Tùng và chị Ninh đã dừng, Vinh dạo thêm một khúc nhạc lời hai của bài hát; tiếng đàn vang trong căn nhà, mọi người đứng nghiêm nhìn lên bàn thờ, tấm hình của người chiến sĩ lung linh mờ ảo trong khói nhang như cũng mỉm cười. Khách của chị Ninh đến là bác tổ trưởng dân phố, anh Chính, đồng đội cũ của anh Hỷ. Mâm cơm cúng ngày giỗ của người chiến sĩ, chị Ninh nấu đơn giản, canh rau cần nấu với lòng gà, quả trứng, chén cơm, thịt gà luộc lá chanh… Vinh cùng ông Tùng hóa vàng, khi Tùng đốt cái xe hơi làm bằng giấy, Vinh bỗng buồn buồn nói: – Bố con nhà quê chưa bao giờ ngồi xe con, không biết ông có hài lòng nhận món quà này không? Cái xe hơi cháy bùng, tàn đỏ rực, gió cuốn bay tứ tung. Chị Vân xách xô nước chạy ra nhìn tàn tro của cái xe hơi bay, chị nói: – Anh Hỷ nhận xe rồi đó - Và chị té nước vào đám tro hóa vàng. Ăn cơm xong, lúc sau bé Hương kéo Vinh vào chỗ để đàn piano. Chị Ninh và Vân dọn dẹp xong lên nhà. Tùng nói với Vân: – Anh có việc ở công ty, em và hai con ở đây chơi, chiều anh ghé đón. Thằng Hưng và Hương khoanh tay chào bố, Vinh rời cây đàn ra cửa khoanh tay: – Con chào bố ạ! Con Hương cười vênh cái má trắng hồng hỏi: – Mẹ ơi, sao anh Vinh đã có bố Hỷ còn có cả bố Tùng, sao anh có hai bố hả mẹ? Vinh ngồi đàn bản nhạc bản theo yêu cầu của bé Hương. * * * Cơn mưa buổi chiều tháng Bảy ập xuống nghĩa trang Lộc Vinh cách trị trấn Lộc Ninh vài cây số. Nước xối trắng trời, trắng đất. Rừng cao su chìm trong mưa. Cô gái níu cánh tay người đàn bà đứng tuổi đứng bên ngôi mộ trong nghĩa trang đất đỏ, nước mắt hòa mưa: – Mẹ ơi, đúng phần mộ anh Hỷ rồi. Bia người ta đề chữ Liệt sĩ Trần Hỹ hy sinh ngày 17 tháng 8 năm 1972. Giấy của tỉnh đội ghi rõ đúng nghĩa trang, đúng phần mộ và ngày, tháng hy sinh. Anh tên Hỷ, người ta đánh dấu “ngã” thay dấu “hỏi “. Người đàn bà nấc lên: – Con ơi, Hỷ ơi, mẹ Hào và em Ninh đến thăm con đây. Mưa quá làm sao đốt nhang được Ninh ơi! Cô Ninh và bà Hào quỳ trước ngôi mộ mà tấm bia tên “Liệt sỹ Trần Hỹ”. Mưa ào ào, tưởng như trời có bao nhiêu nước trút xuống vùng trời Lộc Ninh có nghĩa trang này. Bà Hào để bánh trái, nến tiền vàng mã lên mộ của con trùm áo mưa lên. Trời tối nhanh. Ninh đưa áo mưa của mình cho bà Hào, hai mẹ con về chợ Lộc Ninh gặp anh bộ đội. Bà Hào hỏi: – Anh “rì” ơi, cho tôi hỏi ở đây có nhà “chọ” không? Anh bộ đội nghe thổ ngữ vùng sông Thái Bình, nhận ra đồng hương. Anh hỏi: – Cô và bác người Thái Bình phải không? Bà Hào rét run, nói: – Mẹ con tôi người Quỳnh Phụ, Thái Bình. – Quê cháu rồi. Mời bác và cô theo cháu vào đơn vị có chỗ ăn nghỉ. Bà Hào và Ninh theo anh bộ đội vào đơn vị nơi anh công tác. Anh nói tên Tùng trung úy, cán bộ ở đây. Tùng đưa hai mẹ con bà Hào vào phòng khách của đơn vị, anh nuôi lo cơm nước. Lúc sau bà Hào và Ninh tắm xong, Tùng mời hai mẹ con bà Hào xuống bếp ăn cơm. Ăn cơm xong, Tùng vào phòng khách thăm mẹ con bà Hào. Trời se lạnh, trong tiếng mưa rơi, bà Hào kể với Tùng: “Anh Tùng ạ, Ninh không phải con gái mà là người yêu của Hỷ con trai tôi. Ninh và Hỷ ở cùng xã, Hỷ đang học Đại học Thủy lợi ở Hà Nội được lệnh nhập ngũ. Hỷ về thăm nhà trước ngày lên đường. Hai đứa yêu nhau đã mấy năm, Hỷ bảo gia đình bỏ trầu để không anh nào nhòm ngó cô Ninh nữa. Tôi nói với ông nhà tôi như thế cũng tốt, đứa ở ngoài mặt trận vững tin chiến đấu, con Ninh ở nhà chú tâm học tập. Trước sau gì đất nước mình cũng hòa bình, Hỷ về là cưới ngay. Sau ngày bỏ trầu, tôi coi Ninh như một thành viên trong gia đình. Ngày giỗ, tết Ninh đến nhà tôi như đứa con về nhà mình. Hai gia đình lúc vui bàn chuyện ngày Hỷ về làm đám cưới to nhất làng. Đùng một cái cuối năm Bảy ba, ông Phó chủ tịch và ông Xã đội trưởng đến thăm gia đình. Hai ông cán bộ xã nhìn nhau. Tôi hỏi: "Thằng Hỷ nhà tôi hy sinh rồi phải không?”. Ông Phó chủ tịch mở sắc cốt lấy tờ giấy báo tử trao cho chồng tôi. Tối hôm sau chính quyền xã làm lễ truy điệu đồng chí Liệt sĩ Trần Hỷ. Sau ngày giải phóng, tờ giấy báo tử ghi rõ hy sinh ngày 17 tháng 8 năm 1972 tại mặt trận Bình Long. Tháng sáu con Ninh nhà tôi tốt nghiệp, hai mẹ con đi thăm mộ Hỷ…”. Nghe chuyện của bà Hào, Tùng xúc động nhìn Ninh trân trọng. Hôm sau chia tay, Tùng hỏi Ninh ra trường về dạy ở đâu chưa? Nhìn trời Lộc Ninh, nắng mùa mưa hiền dịu, rừng cao su xanh đến nôn nao cả lòng người. Ninh nói: – Em ước được dạy học gần đây, có điều kiện chăm sóc phần mộ anh Hỷ. Ninh và bà Hào về quê rồi, Tùng cứ băn khoăn điều ước muốn của Ninh. Ba năm sau, Tùng chuyển ngành về Sở Xây dựng thành phố, rồi bất ngờ nhận được thư của Ninh nói nhờ người thân xin cho Ninh dạy ở Trường phổ thông cơ sở Giồng Ông Tám. Tùng đến thăm Ninh, hai người thỉnh thoảng đi chơi với nhau. Năm sau nhân ngày hai bảy tháng bảy, Tùng chở Ninh viếng mộ Hỷ ở Lộc Ninh. Sáng đi, chiều về. Ninh mệt. Tùng đưa Ninh về phòng của mình ăn uống, Ninh mệt ngủ thiếp đi. Gần sáng, Tùng năn nỉ, Ninh buông xuôi. Khi biết Ninh có thai, Tùng cầu hôn. Ninh khóc. Sau nhiều lần Tùng năn nỉ, Ninh im lặng. Rồi Ninh sanh bé trai, kháu khỉnh, đặt tên là Vinh. Tùng đến chăm sóc. Một hôm Ninh nói với Tùng: – Thiệt lòng em rất quý trọng anh, nhưng nghĩ đến việc chung sống với anh là ngực em ngộp thở. Lạ thật. Tình yêu nó có tiếng nói riêng, không phải có con với nhau là có tình yêu. Tùng buồn so. Thế rồi năm sau nữa Ninh và Tùng đi Lộc Ninh viếng mộ Hỷ. Tùng đặt trái cây, tiền vàng, lên phần mộ của Hỷ. Mộ Hỷ cùng những ngôi mộ trong nghĩa trang đã được xây khang trang đẹp đẽ. Tùng đốt nhang khấn: “Anh Hỷ ơi, em là Tùng, chiến sĩ của tiểu đoàn mười hai, cùng sư đoàn với anh đây. Ninh và em đã lỡ có con với nhau, em lạy anh tha thứ cho chúng em để Ninh về ở với em…”. Bỗng gió từ rừng cao su ào tới cuốn bay tứ tung những tờ tiền vàng. Ninh đuổi theo nhặt lại nói: “Anh Hỷ em nổi giận đó! Tình yêu của em đã trao cho anh Hỷ rồi”. Năm sau Tùng về quê lấy vợ đưa vào thành phố. Đó là Vân, cô gái trẻ hơn Ninh gần mười tuổi, xinh đẹp. Vừa học xong Trung cấp kế toán. Thời gian trôi đi, năm Vinh mười tuổi, hai mẹ con đến nhà Tùng chơi. Hôm đó Vân đang giỡn với bé Hưng sáu tuổi. Thấy người đàn bà dắt cậu con trai tươi cười vào nhà: – Chào Vân, anh Tùng có nhà không em? Vân nhìn người đàn bà xa lạ cùng cậu con trai coi thông minh: – Chị gặp anh Tùng có việc gì, nếu không ngại chị nói với em, em nói lại với anh ấy. – Tôi đến thăm anh Tùng có việc riêng, không nhờ gì. Vân lên lầu nói với chồng có một chị và cậu con trai chờ ở phòng khách. Tùng bước xuống cầu thang. Vừa thấy Ninh, Tùng reo lên: – Chào Ninh và con trai! Vân trố mắt nhìn chồng. Vân nhớ chuyện khi anh ngỏ lời yêu, anh nói có đứa con trai là sự thật. Lúc đó Vân cho Tùng nói đùa thử lòng Vân. Ninh và Tùng hỏi thăm công việc sức khỏe của nhau. Ninh cười kéo Vinh ngồi vào ghế và gọi Vân: – Vân lại đây chị có chuyện cần nói. Rồi bằng giọng bình thản nhẹ nhàng, Ninh kể chuyện chị có con với Tùng. Việc này không ai có lỗi. Vinh là đứa con ngoan, thông minh, học giỏi. Là người ai cũng phải biết nguồn cội của mình, cha là ai, phải có bà con dòng họ nội ngoại. Ninh ôm vai con trai chỉ vào người đàn ông ngồi đối diện: – Cha của con đó. Con lại với cha của con. Vinh lau nước mắt bước ôm lấy Tùng. Tùng ôm chặt lấy Vinh. Chị Vân và Ninh cũng đẫm lệ. Từ đó Ninh thường đưa Vinh đến thăm gia đình Tùng, Tùng cũng đưa vợ con đến thăm nhà Ninh. Họ trở thành bạn thân của nhau. Ninh và Vân coi nhau như chị em. * * * Nắng nhạt. Bầu trời thành phố dịu mát. Tùng dừng xe ở cửa nhà Ninh. Anh xuống xe vào nhà thì Vân và Ninh vẫn thủ thỉ chuyện về tính nết của những đứa con. Tùng chào cả nhà rồi nói: – Chiều nay mời cả nhà đi ăn cháo mực! Quay sang chỗ Ninh và Vân, Tùng nói: - Vinh có bạn gái rồi đó, hai bà bàn rồi tính lo cho Vinh để sớm có cháu bồng nghe. Bé Hương đang đánh nhịp cho Vinh đàn, nghe vậy vỗ tay reo lên: – Hoan hô anh Vinh. Anh Vinh cưới vợ thì vui quá phải không anh Hưng - Bé Hương nũng nịu - Anh Vinh có vợ vẫn phải đàn cho em nghen. Cả nhà cùng cười! Chiếc xe con Tùng lái hòa cùng dòng xe trên con đường rợp bóng cây buổi chiều dịu mát này. Nguyễn Ngọc Mộc Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tám, 2011, 08:34:43 pm BIỂN KHÓC 1. - Đi thôi anh em! Tư Trung nhìn đồng hồ xong rồi cất lời ra lệnh. Năm người xúm lại mũi tàu hò nhau kéo chiếc dây neo to bằng cổ tay. Tài công nổ máy. Tiếng máy gừ gừ nghe êm tai. Đợi chiếc neo vừa được kéo lên khỏi mặt nước, chiếc tàu gỗ nhằm hướng Bắc lao đi. Đáng lẽ, theo kế hoạch đã lên sẵn từ trong năm, hết rằm tháng Giêng là Tư Trung cùng anh em sẽ lên đường ra Bắc để tiến hành công việc. Nhưng nấn ná mãi vì phải chờ qua lễ khao lề nên bây giờ mới đi được. Cứ vào độ này hằng năm, khi mùa mưa bão ở miền Trung đã dứt, huyện đảo Lý Sơn quê anh lại diễn ra các cuộc tế lễ dành cho những hùng binh năm xưa đã ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo thỉêng liêng của Tổ quốc. Là con dân của đảo nên Tư Trung không thể bỏ được nghi lễ rất linh thiêng này. Tư Trung còn có một chân trong đội đua thuyền truyền thống của đảo. Với sức khỏe, sự nhanh nhẹn vốn có của mình, anh được phân công vào đội dầm chèo. Hầu như các cuộc đua thuyền truyền thống nào trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa của đảo Lý Sơn hằng năm, thuyền rồng của anh đều giành vị trí quán quân. Tư Trung hãnh diện lắm. Nhà Tư Trung ba đời nay làm nghề lặn biển. Cái nghề sao mà cơ cực vô cùng. Người ta nói nghề này là “Ăn cơm dương gian làm việc âm phủ” quả không sai. Lúc còn là thằng bé cởi truồng thường hay đi dọc bến tàu nhặt cá tôm rơi vãi, Tư Trung đã thấy cha và ông nội ngày ngày đi lặn kiếm ốc, sò gai, hải sâm đem về cho bà nội và mẹ bán. Lên mười ba tuổi, anh đã theo cha và chú Ba đi lặn. Lòng biển có một sức lôi cuốn, mê hoặc Tư Trung đế ghê gớm. Hễ hôm nào không được lặn là anh cảm thấy trong người bứt rứt khó chịu. Tư Trung là người có sức khỏe phi thường. Anh có thể lặn sâu xuống được ba mươi sải nước. Trong gia đình Tư Trung cho đến bây giờ, có ba người chẳng may gặp nạn bởi nghề lặn đó là ba, chú Ba và anh Hai Đởm. Cha anh chết thảm cách đây mười lăm năm. Chú Ba và anh Hai Đởm thì liệt nửa người do lặn quá sâu bị nước ép. Bây giờ họ trở thành người tàn phế sống nhờ vợ con. Nhiều lúc Tư Trung cũng muốn bỏ nghề lặn bởi nó quá hiểm nguy. Nhưng nghĩ lại, nếu bỏ nó thì biết làm nghề gì để kiếm sống đây? Thôi chậc, sinh nghề tử nghiệp. Chẳng qua cũng chỉ vì miếng cơm manh áo cả. Hà bá nó bắt mình lúc nào thì mình đành chịu vậy, biết răng chừ? Có điều mình sẽ phải cẩn thận hơn cho vợ con được nhờ. Tư Trung lập luận như vậy. Bây giờ thì Tư Trung đã là chủ của một chiếc tàu lặn biển với đồ nghề hiện đại nhất đảo. Anh chuyển sang lặn tìm phế liệu bởi mặt hàng này dưới biển rất nhiều. Kiếm ăn được. Tư Trung cùng tốp thợ năm người của mình đều là những tay lặn cừ khôi trong họ tộc từng rong ruổi đi khai thác phế liệu ở nhiều vùng biển trong Nam ngoài Bắc. Số tiền kiếm được cũng kha khá. Anh đã xây được một ngôi nhà tương đối hoành tráng ở làng. Mở cho vợ một sạp vải ở chợ. Hai đứa con ăn học đàng hoàng. Nhìn thấy vậy, Tư Trung càng cảm thấy yêu nghề và quyết tâm gắn bó với nghề lặn hơn. Trước hôm lên đường đi chuyến này, Tư Trung có biện chút lễ ra thắp nhang ngoài mấy ngôi mộ gió và đền thờ cá ông để cầu mong cho chuyến làm ăn gặp nhiều may mắn, tránh mọi tương ương. Lúc quay về, anh rẽ vào nhà ông Tám “âm phủ” nhờ xem giúp chuyến đi thế nào. Ông Tám “âm phủ” là thầy bói nổi tiếng ở huyện đảo này. Ông Tám “âm phủ” thắp ba nén nhang lên bàn thờ. Khi xem ba con bài mà Tư Trung vừa bốc, ông bấm đốt ngón tay một lúc rồi ngần ngừ: - Lạ thiệt! - Là sao ông Tám? – Tư Trung hấp tấp hỏi lại. - À, ờ..! Mày đi chuyến này coi chừng được cá to nghe hông Tư? Một chiếc ghe của mày tao e chở không hết hàng đâu! - Vậy hả? Mà hàng gì hả ông Tám? - Ừa, thì sắt thếp chi chi đó! Mà chỗ đó thiêng lắm đó nha, có thể có người nữa đó! - Hả? - Tư Trung giật mình - Có người là sao ông Tám? - Thì tao đã bảo rồi, khu vực đó rất thiêng, ra đến nơi mày phải làm một cái lễ đầy đủ bài vị nhang đèn rồi thành tâm cúng bái để cho người ta phù hộ. Không ai làm hại mày đâu! - Dạ, ông Tám ghi cho con những thứ đồ lễ để về vợ con đi sắm cho kịp sáng mai đi! - À mà này, mày về dặn với mấy anh em bạn là tối nay cấm đứa nào được gần vợ nghe chưa? Nếu không nghe thì đừng trách tao không nói. - Dạ, con biết rồi ông Tám! Tư Trung vội vàng cầm mảnh giấy của ông Tám “âm phủ” đưa cho. Miệng hấp tấp chào ông rồi tất tả phóng xe ra cổng. 2. - Bây giờ là ngày hay đêm? - Bình minh hay hoàng hôn? - Trưa hay tối? - Chịu! Biết bao lần Tài và Thức đều tự đặt ra câu hỏi và rồi cuối cùng cũng tự trả lời cho mình bằng một câu cụt ngủn như vậy. Nằm cạnh Thức, Tài cứ trằn trọc, theo thức mãi. Thỉnh thoảng, có một con bạch tuộc hay con cá đuối cô đơn nào đó đi qua ngôi nhà của họ. Chúng lóe lên một chút ánh sáng lân tinh ma quái rồi vội tắt lịm. Hoang lạnh. Câm bặt. Một cõi u tịch đến dợn người. Bao quanh đây là một màn đêm đặc quánh. Cái ý niệm về không gian, thời gian coi như không có. Tất cả đều tối thui. Một quầng bùn cát vẩn lên hắt vào mũi làm Thức chợt tỉnh giấc. Anh mở mắt, quờ tay sang bên cạnh. Tài khẽ cựa mình rồi húng hắng ho. - Tài không ngủ hả em? - Thức khẽ hỏi. - Không hiểu sao em không ngủ được anh ạ! - Tài thủng thẳng đáp. - Có chuyện gì à? - Em cũng chẳng biết có chuyện gì nữa. Hôm nay em thấy trong người nó làm sao ấy. Cứ nôn nao khó tả! - Hay là nhớ em Lài? - Thức vừa hỏi vừa tủm tỉm cười. - Nhớ nhưng biết làm sao được hả anh? - Tài chợt chùng giọng - Bây giờ chắc cô ấy đã là một bà giáo về hưu, con cháu đề huề rồi anh nhỉ? - Ừ, chắc vậy! - Anh Thức này, tại sao anh em mình ngủ suốt mấy chục năm nay rồi mà không cảm thấy chán hả anh? Năm qua tháng lại chỉ mỗi điệp khúc “Ngủ - thức - ngủ” mà không thể có việc gì hơn ngoài cái điệp khúc cũ mèm ấy. Chán thật! - Tài khẽ lắc đầu, chép miệng. - Em nói còn thiếu, cái điệp khúc ấy phải là “Thức - ngủ - nhớ - thức - nhớ - ngủ”. - Là sao anh? - Nếu không có những ký ức, những kỷ niệm mà ta đã từng trải qua thì làm sao anh em mình có thể tồn tại được nơi đáy biển âm u này. Chúng ta đang sống bằng những kỷ niệm của một thời trai trẻ đấy thôi! - Vâng, và đến bây giờ thì chúng ta vẫn là những gã trai làng non tơ. Anh vẫn là chàng trai hai mươi hai, còn em mười chín. Chúng ta chẳng già đi chút nào anh nhỉ? - Ừ, nhưng anh khổ tâm hơn em vì trước lúc lên đường anh đã kịp có một người vợ và đứa con trai lên hai. Thà như em chưa có gia đình thì còn ít người đau khổ, mà bản thân mình cũng đỡ dằn vặt hơn. Đằng này… không biết bây giờ mẹ con cô ấy ở quê thế nào? Tội mẹ con cô ấy quá Tài ạ! - Vâng, mặc dù em chưa có vợ con như anh nhưng em cũng đã có người yêu. Lài là mối tình đầu của em. Chúng em yêu nhau bằng tất cả sự chân thành. Lúc ấy Lài đã là một cô giáo làng. Lúc chia tay lên đường, cô ấy động viên em nhiều lắm. Lài hứa sẽ chờ em trở về. Hai đứa sẽ báo cáo gia đình rồi tổ chức lễ cưới. Lài sẽ thường xuyên sang thay em chăm sóc bố mẹ em. Cô ấy tốt thật anh ạ! Không lúc nào là em nhớ về cô ấy! - Thì chiến tranh nó nghiệt ngã là vậy mà em! - Thức thở dài. Như nhớ ra điều gì, Tài nhổm dậy hỏi Thức với giọng hấp tấp: - À, anh Thức này! Anh có nhớ chính xác là anh em mình ở đây được bao lâu rồi không anh nhỉ? - Ba mươi lăm năm, bốn tháng, mười một ngày! - Ôi, trí nhớ của anh tuyệt thật. Thế mới đúng là ông anh khẩu đội trưởng của em! Bái phục, bái phục! - Có gì đâu mà tuyệt với chả vời, tài với chả giỏi. Nếu tài giỏi thì anh em mình đâu phải ở những nơi tối tăm u uất như thế này. Có thể bây giờ em sẽ cùng Lài và những đứa con đang đi du lịch đâu đó, còn vợ chồng anh đang gặt lúa trên đồng hay đi làm cỏ lúa. Thế mới thuyệt, em hiểu chưa? - Thôi, thôi, thôi anh đừng nói nữa, em không chịu được nữa đâu! Em khóc đấy! - Tài xua tay, giọng có vẻ hơi gắt. - Cái thằng này, chỉ được cái mau nước mắt… - Mà thôi anh ơi, cất cái chuyện thời gian, năm tháng, vợ con ấy lại đi, em buồn ngủ lắm rồi. - Ừ, ngủ đi em…! Dòng nước ấm khẽ chảy qua khoang tàu làm lay nhẹ những trang giấy cháy sém nằm lả tả cạnh hai người. Hai khẩu AK rỉ sét bên cạnh họ vẫn nằm lặng ngắt. Lòng bàn tay Tài còn nắm chặt miếng mica hình trái tim. Chắc là cậu ấy định làm quà kỉ niệm để gửi về cho Lài. Nhưng không kịp… Một đàn cá nhỏ lững lờ bơi đến rỉa mấy sợi rong rêu bám vào thân tàu rồi lại lặng lẽ bỏ đi. Tất cả đều câm lặng một cách đáng sợ. Hai người lính lại chìm sâu vào giấc ngủ miên man vô định. 3. Ngày. Vậy là mình đã trở về đơn vị an toàn. May mà vẫy được chiếc xe tiếp phẩm của tỉnh đội để trèo lên đi nhờ được cả quãng đường dài. Đi bộ thêm mười sáu cây số nữa mới về đến đơn vị. Mệt. Không, nhằm nhò gì! Được về tranh thủ thăm mẹ con Thoan là vui lắm rồi. Dẫu có phải đi bộ cả trăm cây số mình cũng chấp nhận. Chiều nay, vừa khoác ba lô xuống tàu, anh em ùa ra đòi quà. Đi vội quá nên Thoan chỉ kịp gói cho mình được một ít bánh gai để làm quà cho anh em trong đơn vị. Anh Huấn chính trị viên đùa bảo: “Cả tàu này sướng nhất Thức rồi đấy! An tâm công tác nhé!” Ba ngày về tranh thủ mình làm được những việc gì nhỉ? Đi thăm bố mẹ hai bên này. Bố mình và bố Thoan đều già yếu lắm rồi. Mình biếu bố vợ chai rượu thuốc mua ở cửa hàng dược, cụ vui lắm. Đi cuốc cỏ lúa giúp Thoan được hai buổi này. Tội Thoan quá, một nách vừa nuôi con nhỏ vừa đảm đương hai mẫu ruộng. Mình lại đi xa chẳng giúp gì được cho Thoan nhiều. Trước hôm đi, Thoan bảo mình dói lại mái nhà tranh bị dột, nhưng thời gian nghỉ tranh thủ đã hết nên không thể làm kịp. Đành hẹn Thoan dịp khác mình về vậy. Mà tóm lại, sướng nhất trong dịp tranh thủ này là được ôm hai mẹ con Thoan cho bõ những ngày xa cách. Cu Tuấn ban đầu nhìn thấy mình còn lạ nhưng khi thấy bố và mẹ nó tình tứ với nhau nhiều nên cũng nghe theo mẹ bập bẹ gọi “Bố, bố”. Nghe mà như nở từng khúc ruột. Cứ hở ra tý nào là mình và Thoan lại quấn lấy nhau. Vội vội vàng vàng như ma đuổi. Thoan bảo: “Anh tham thế?”. Mình cười: “Tại chiến tranh nên anh phải thế!”. Thoan lại bảo: “Lúc nào anh cũng đổ tội cho chiến tranh. Thế nếu hết chiến tranh chắc anh chẳng còn yêu em nữa phải không?”. Hạnh phúc đến với mình thật nghẹt thở. (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tám, 2011, 08:54:28 pm BIỂN KHÓC (tiếp theo) 4. Vùng biển Long Châu. Tư Trung cùng anh em thành kính đem đồ cúng lễ ra trước mũi tàu. Những bộ quần áo giấy và vàng tiền địa phủ được dằn bằng mấy cục đá đem theo để khỏi bị gió thổi bay xuống biển. Tự tay Tư Trung thắp nhang, rót rượu ra ba chiếc ly rồi quỳ xuống. Năm anh em trong đội cũng quỳ xuống phía sau Tư Trung. Mọi người đều chắp hai tay lên ngực nhìn về phía bát nhang. Giọng Tư Trung lầm rầm trong gió: “Con nam mô a di đà Phật! Con nam mô a di đà Phật! Con cúi đầu quỳ lạy các chư vị Nam Hải Đại Vương, những người đã nằm lại vùng biển này…!”. Tư Trung vừa kết thúc bài khấn nôm, mọi người trên tàu sì sụp vái lạy. Bỗng ba cây nhang bùng lên cháy thành ngọn lửa. Mắt ai cũng sáng lên. Tư Trung lắp bắp: “Vậy thì đúng rồi, đúng rồi! Thiêng thật! Thiêng thật! Thần biển và các vị tảo sa tảo lạc phù hộ anh em mình rồi! Con nam mô a di đà Phật…!”. Tư Trung cùng anh em thả quần áo, vàng mã và rải gạo, muối, rượu xuống biển. Xong xuôi, cả nhóm ngồi quây quần lại để hưởng lộc vừa cúng. Tư Trung mừng ra mặt bởi đã hai ngày quần thảo khắp khu vực Long Châu này, tốn kha khá dầu rồi mà vẫn chưa có tín hiệu từ lòng biển. May mà trưa nay, khi tàu vào đến vị trí này thì máy dò kim loại kêu tút tút liên hồi làm mọi người mừng thở phào nhẹ nhõm. Cộng với hiện tượng lúc nãy ba cây nhang bỗng nhiên bùng cháy nữa nên càng củng cố thêm niềm tin là tìm được mỏ phế liệu lớn. Tư Trung hạ lệnh cho anh em sửa soạn cơm nước thật tươm tất để ăn lấy sức và tiện thể động viên tinh thần cả tàu. Tối nay, tốp lặn bắt đầu xuống biển thăm dò, đánh dấu vị trí. Sáng mai sẽ tiến hành khai thác phế liệu. Tâm trạng ai cũng phấn chấn lạ thường. Tư Trung rít mạnh hơi thuốc, mắt nhìn xuống nước. “Hơn hai mươi sải, làm được!”. Anh lẩm bẩm. Biển vẫn một màu đen thẫm. Con tàu nhỏ lắc lư qua lại trên sóng. Xa xa, một vài chiếc tàu cá mỏng manh tựa lá tre đang tất tả chạy về. 5. Đêm… Đêm nay, gác ca gần cuối. Không gian thatạ yên tĩnh, vắng lặng. Chẳng có chút gì là dấu hiệu của thời chiến cả nhỉ? Anh em đang say giấc ngủ. Ai cũng mệt vì phải căng mình làm công tác sửa chữa, bảo quản vũ khí máy móc. Tàu nằm sâu trong hẻm núi chờ lệnh xuất kích. Dạo này bọn khu trục thường mò vào tận khu Long Châu khiêu khích. Chúng liều lĩnh, lì lợm thật. Được thôi, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Chúng ta sòng phẳng với nhau nhé! Nhìn về hướng quê nhà mà thấy nhưng nhức trong lòng. Không biết giờ này mẹ con Thoan ngủ có ngon giấc không? Cu Tuấn của bố có quấy mẹ không nhỉ? Bố thương con quá Tuấn ạ! Con còn quá nhỏ để hiểu được nỗi buồn của bố khi phải xa mẹ, xa con. Những ngày không có bố ở nhà, con phải ngoan, không được quấy mẹ nghe không con! Mẹ vất vả vừa nuôi con, vừa đồng áng, vừa chăm ông bà nội. Ông bà nội già rồi mà bố cũng chưa giúp được gì nhiều. Con phải thường xuyên lên chơi với ông bà nội để ông bà vui con nhé! Con là cháu đích tôn của ông bà, trọng trách nặng nề lắm đấy Tuấn ạ! Bố rất thương mẹ con mà chẳng biết làm sao. Vì bố là bộ đội, bố phải trực chiến liên tục con ạ! Khi nào đánh giặc xong, bố sẽ về quê để được gần mẹ con con. Bố sẽ đền cho hai mẹ con tất cả những ngày xa cách. Hai mẹ con cố chờ bố nhé! 6. Chiều… Trưa nay toàn biên đội được ăn tươi mừng Quốc khánh. Cả biên đội được chỉ huy cho phép làm thịt hẳn một con lợn to vật vã. Chà, hôm nay toàn chuyện vui. Sẽ kể từng chuyện một. Trước hết là chuyện đánh tiết canh. Tàu nằm trên sóng cứ bồng bềnh lắc qua lắc lại nên nhiều anh em bàn lui hay là thôi, sóng như thế này thì tiết đánh ra làm sao đông được? Thằng cu Soi “báo vụ” liền khua tay: “Ấy, ấy… các bác cứ để em, em chịu trách nhiệm cái vụ lẻ tẻ này cho!”. Chà, cái thằng này ăn nói có vẻ bốc đồng nhỉ? Anh Đại thuyền trưởng hỏi: “Có chắc không? Nếu đánh hỏng thì sao?”. Hắn lại chặc lưỡi cười tủm: “Ấy dà…! Báo cáo thủ trưởng, nếu đánh hỏng mẻ tiết canh này thì em xin từ cái chức báo vụ số 1 ngay!” Lão Hoan “cơ điện” là đồng hương Thái Bình với Soi tiết lộ: “Anh em yên tâm, nhà thằng Soi ba đời nay làm nghề bán cháo lòng tiết canh đấy!”. Mọi người thở phào rồi hô: “Quyết!”. Vậy là lao vào mỗi người mỗi việc. Thằng Soi quả thật là giỏi thật. Bốn mươi lăm bát tiết canh, bát nào bát nấy đông cứng. Thằng Thái “ra đa” bảo, các bác trừ cho em xin một bát tiết, em sẽ lấy dây lạt xâu lại tý nữa cầm về cho mẹ thằng cu ăn cho đỡ thèm. Cả tàu cười như nắc nẻ. Lâu rồi không ăn lòng lợn tiết canh. Hôm nay ngon quá. Gắp miếng lòng cho vào mồm tự nhiên lại nhớ mẹ con cu Tuấn ở nhà. Mà thôi, đã bảo là kể chuyện vui cơ mà… 7. Trời tối đen như mực. Gió lạnh sởn da gà. Ánh đèn của một vài chiếc thuyền câu mực phía xa xa chiếu lại như những ngôi sao nhỏ nhoi đang lang thang giữa màn đêm đặc quánh. Tư Trung ngồi bên mạn tàu vừa điều chỉnh chiếc máy nén khí vừa chăm chú theo dõi anh em làm việc phía dưới. Điếu thuốc luôn đỏ chót trên môi. Thỉnh thoảng có con cá chuồn liều mình lao lên khỏi mặt nước bay về phía Tư Trung. Anh né người, con cá giãy đành đạch rồi phơi cái bụng trắng bệch trên sàn tàu. Những con mực ống nhao lên ăn đèn. Chiếc đèn pha được chỏa xuống mạn tàu làm sáng lên một khoảng nước trước mặt. Một tiếng đồng hồ đã trôi qua. Không biết ở dưới đó anh em đã tìm được gì chưa? Đây là vùng biển lần đầu tiên mình thử sức. Liệu sự thật ở dưới đáy biển có đúng với những tiên đoán của ông Tám “âm phủ” không? Những câu hỏi cứ nảy ra trong đầu Tư Trung. Kinh nghiệm mấy chục năm làm nghề đã tạo cho anh sự bình tĩnh, can đảm khi phải đối mặt với những tình huống xảy ra trong quá trình lặn. Trong tốp lặn này chỉ có thằng Thắng là còn hơi non nghề. Đáng lẽ công việc của nó là điều chỉnh máy nén khí phía trên nhưng lúc ăn cơm xong, nó xin phép Tư Trung được lặn cùng mấy anh để củng cố tay nghề. Đắn đo một lúc rồi Tư Trung cũng đồng ý với điều kiện chỉ cho nó lặn một tiếng thôi. Nó chưa quen nghề bằng anh em thì chỉ cho nó đi theo học nghề là chính. Muốn lặn thì hôm sau sẽ chọn một vùng nước cạn hơn cho nó lặn ban ngày, có gì còn dễ xử lý. Làm cái nghề này không tham, không cố được. Nếu không tuân thủ điều đó thì chết như chơi. Nếu có phúc thì sinh mạng cũng chỉ còn là nắm thân tàn ma dại. Dân lặn biển ở Lý Sơn đang cần những người như thằng Thắng để nối nghề. DÙ cái nghề này có nghiệt ngã, hiểm nguy đến đâu thì cũng cần phải tồn tại. Tồn tại để sống. Đáy biển là cơm áo gạo tiền. Cái thằng quỷ này răng lâu vậy nhỉ? Định thi gan cùng mấy tay kia chắc? Tư Trung đang thắc mắc một mình thì thấy ánh sáng loa lóa dưới nước. Ánh sáng đèn đang dần trồi lên mặt nước. Chiếc đèn pha gắn trên trán nhô lên khỏi mặt nước, người mặc bộ đồ cao su bơi về mạn tàu. Thằng Thắng. Tư Trung mỉm cười. Anh giơ tay kéo nó lên tàu. Thằng Thắng tháo kính lặn, nhả ống thở, mồm thở hổn hển. Nó cởi chiếc túi lưới đeo bên cạnh mình, thò tay lấy mấy thứ ra đưa cho Tư Trung. Tư Trung nhìn kỹ. Một hộp bảng điện tàu, một chiếc thước song song bằng mica, nắp hộp điện, la bàn. Tư Trung chau mày: “Tàu đắm hả?”. “Vâng, một chiếc tàu đắm anh Tư ạ. To lắm!”. Thắng vừa thở vừa trả lời. Dưới mặt nước lại có tiếp mấy người ngoi lên. Vừa trèo lên tàu, khuôn mặt ai cũng tỏ vẻ căng thẳng. Mọi người đều xác nhận những gì vừa tận mắt thấy dưới làn nước sâu. Bảy Nam cầm khẩu súng AK đã rỉ sét đưa cho Tư Trung: “Là một con tàu anh Tư ạ!”. Cầm khẩu súng chỉ còn lại phần thép, Tư Trung giọng run run: “Tàu chiến. Chắc là tàu của bộ đội mình!”. Bỗng Tư Trung nhìn khắp lượt anh em rồi quả quyết: “Được rồi, sáng mai tôi sẽ xuống. Chúng ta sẽ tìm để đưa các anh ấy lên!”. Tư Trung lẩm bẩm: “Ông Tám “âm phủ” thiêng thật! Nói đâu trúng đó!”. (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Tuyển tập truyện ngắn về người lính Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tám, 2011, 08:55:51 pm BIỂN KHÓC (tiếp theo) 8. Đêm… Tất cả đã xong. Ngày mai sẵn sàng xuất kích. Không khí chiến đấu đang bùng lên hừng hực. Căng thẳng. Ngột ngạt. Bọn khu trục đang mò vào quấy rối. Chúng mày sẽ biết tay ông. Anh em quây quần trên boong mũi tàu hóng mát. Điếu cày rít sòng sọc, phả khói um trời. Chè Thái Nguyên đặc quánh, thuốc lá Tam Đảo mấy bao vứt xoài ra mặt boong. Ngày mai ra trận rồi, cứ thoải mái đi! Chuyện trên trời dưới biển được kể râm ran. Thằng Tài ngồi dựa lưng vào bệ pháo nghêu ngao hát. Mấy anh em ngồi cạnh buột miệng bảo: “Tài ơi, làm một bài bố chết đi!”. Tài e hèm một tiếng rồi cất lời thống thiết: “Bố ơi là bố ơi…! Con về mà không kịp gặp bố, đau xót quá bố ơi là bố ờ… i…!”. Mọi người cười rũ rượi. Lại có tiếng: “Khóc mẹ đi!”. Tài lại khóc bài về mẹ. Theo yêu cầu của “khán giả”, Tài khóc tiếp những bài về anh, chị, cậu, dì… Mỗi bài khóc mang một tâm trạng, một nỗi niềm riêng. Tiếng khóc của thằng Tài thật ỉ ôi nhưng rất có hồn. Đầy đủ vang, rền, nền, nẩy. Thì ra trước khi nhập ngũ, Tài đã có mấy năm lang thang làm nghề đánh giày kiêm thành viên của ban nhạc hiếu trên Hà Nội. Nó chuyên khóc thuê cho những gia đình có người thân qua đời. Họ cần tiếng khóc cho vơi bớt nỗi cô đơn, hiu quạnh. Giọng hát của nó được ông bầu Sẩm đánh giá cao. Số tiền Tài kiếm được cũng kha khá. Khi nó về quê giỗ ông nội thì đúng đợt anh cán bộ xã đội cầm giấy khám tuyển nghĩa vụ quân sự đến nhà. Vậy là nó ở lại và nhập ngũ cho đến hôm nay. Đang chu cái mỏ ra nức nở làm trò cười cho mọi người thì thuyền trưởng từ dưới khoang chui lên quát cho một trận: “Im mồm ngay! Mai kia muốn chết cả nút hay sao mà giờ đã truy điệu sống cả tàu rồi? Mà mấy ông này nữa, giải tán về ngủ đi mai còn lấy sức hành quân!” Mọi người lục tục chui xuống khoang. Chỉ còn mình với cây súng AK ngồi gác. Biển thật phẳng lặng, hiền hòa. Lúc này lại nhớ tới Thoan. Nhớ em lắm Thoan ạ! Ước gì bây giờ anh có một phép màu nhỉ? Chắc em sẽ hỏi là để làm gì chứ gì? Tất nhiên là anh sẽ đi mây về gió như Lão Tôn để được gần em và con. Chỉ một chút thôi, một chút thôi Thoan ạ! Ngày mai anh ra trận rồi. Ước gì được gần em để ngửi mùi hương bồ kết trên mái tóc của em, được rúc vào ngực em như thằng cu Tuấn đòi tí mẹ. Được như thế thì còn gì bằng, anh sẽ may mắn lắm đấy. Nhưng… tiếc thật! Xung quanh anh bây giờ là súng đạn, là ngư lôi, là mệnh lệnh. Chẳng có một phép màu nào cả Thoan ạ! Ngày mai, trước tàu chiến, máy bay của giặc không biết mình có gặp may không nhỉ? Chiến tranh, có ai nói trước được điều gì đâu. Mình chỉ mong sớm kết thúc chiến tranh, được bình an trở về làm thằng dân cày, lấy đít con trâu làm chuẩn. Vợ chồng sớm tối có nhau. Thế là mãn nguyện lắm rồi. Nhưng không, chiến tranh đều có quy luật riêng của nó. Muốn được sớm trở về với gia đình, với quê hương thì càng phải chiến đấu. Chiến đấu đến cùng. Không thể dung tha cho bọn cướp nước. Ngày mai tao sẽ lấy đường ngắm thatạ chuẩn để tặng cho chúng mày những viên kẹo đồng sáng lóe. Tao sẽ quyết tâm lập thành tích để đem về tặng cho mẹ con cu Tuấn nhà tao. Chúng mày chờ đấy! 9. Cơn mưa buổi sáng làm cho bầu trời quang đãng hơn nhiều. Ánh nắng vừa ló ra làm cho cảnh sắc trở nên rực rỡ. Trong khuôn viên nghĩa trang liệt sĩ, tiếng chim hót líu lo như lũ trẻ con đang mải nô đùa. Trong căn phòng rộng rãi, hai chiếc tiểu sành được kê ngay ngắn, phía trên phủ hai lá cờ Tổ quốc đỏ tươi. Mùi hương tỏa ra thơm ngát. Xung quanh, những người lính Hải quân và bà con nhân dân đứng san sát chăm chú theo dõi. Đội tiêu binh súng tuốt lê nghiêm trang đứng bên cạnh hai người. Tiếng nhạc “Hồn tử sĩ” vang lên trầm hùng. Lễ truy điệu bắt đầu. Một vị tướng Hải quân đi lên phía trên. Ông nhìn mọi người định nói một câu gì đó nhưng nghẹn ngào một lúc mới nói nên lời: - Thưa các đồng chí, thưa bà con nhân dân…! Đây chính là hai đồng đội trên tàu phóng lôi của tôi trong trận xuất kích đánh đuổi tàu khu trục của địch xâm phạm hải phận của Tổ quốc năm xưa - Ông ngừng lại, rút khăn mùi soa trong túi ra lau nước mắt rồi run run nói tiếp - Trận đánh đó, tàu chúng tôi bị tên lửa từ máy bay, pháo hạm của tàu khu trục bắn chìm. Mãi đến hôm nay tôi mới được gặp lại hai người trong số họ. Thức ơi, Tài ơi, các đồng đội còn nằm lại dưới lòng biển ơi! Các cậu có nghe mình gọi không…? Tất thảy mọi người trong căn phòng đều rưng rức xúc động. Họ cúi đầu mặc niệm. Không gian trở nên yên lặng. Những ngọn nến tỏa ánh sáng lung linh huyền ảo trước di ảnh hai người. Nằm cạnh nhau, Thức và Tài chăm chú nhìn mọi người. Bỗng Tài ngờ ngợ ra điều gì bèn gọi thầm Thức: - Anh Thức, anh Thức ơi! - Gì vậy Tài? - Anh có thấy ông tướng này trông quen quen không? - Ừ, ai hình như…, à! - Thức bật kêu lên - Anh nhớ rồi! - Ai vậy anh? Sao em không nhớ nhỉ? - Anh Huấn, anh Huấn đấy Tài ạ! Anh Huấn đã trở về và thành tướng rồi! - A, anh Huấn, đúng rồi - Tài kêu lên - Sao anh ấy già quá anh nhỉ? - Suỵt, nói khẽ thôi! Ba mươi mấy năm thì phải già đi chứ? Chỉ có anh em mình là trẻ mãi thôi! Hai người lại đưa mắt nhìn xuống dưới kia. Anh Huấn vẫn đang kể cho mọi người nghe câu chuyện bi tráng về con tàu của mình. Đứng bên cạnh anh là Tư Trung và nhóm thợ lặn, những người đã có công đưa các anh về đất mẹ sau mấy chục năm lưu lạc. Những người lính và bà con nhân dân đến dự lễ mắt ai cũng ngấn lệ. Thức và Tài vẫn đưa mắt kiếm tìm. Kia rồi! Thức kêu lên sung sướng. Đứng phía sau lưng anh Huấn là mẹ con Thoan. Họ chít khăn trắng trên đầu. Mắt Thoan đỏ hoe. Cô ấy già đi nhiều quá! Ôi, thằng cu Tuấn đã lớn bằng này rồi sao con? Có phải đứng bên cạnh Tuấn là vợ con của nó không? Vậy là cuối cùng mình cũng được trở về quê hương, được về cùng Thoan và các con. Chỉ có điều, mình chẳng thể cùng Thoan và các con đi làm cỏ lúa hay đi chăn trâu được nữa rồi… Thoan ơi, em có nghe anh gọi không hở Thoan? Thức cay cay sống mũi. Trước mắt anh hình ảnh bỗng nhập nhòa. - Anh Thức, anh Thức ơi! - Tài gọi giật làm Thức bừng tỉnh. - Lại gì nữa đây hả thằng em? - Thức quay sang Tài. - Anh ơi, mẹ em đâu? Lài đâu hở anh? Tội nghiệp thằng Tài, đến giờ vẫn chưa tìm được mẹ. Bỗng Tài gieo lên: “A, mẹ! Mẹ kia rồi! Mẹ ơi, con đây mà!”. Mẹ Tài được mấy chú lính trẻ dìu lên phía trước. Tay mẹ xách chiếc làn cói đựng mấy bắp ngô, nải chuối tiêu, mấy quả trứng gà. Mẹ nhìn trân trân vào Tài, mắt nhòe lệ. Mẹ nấc lên: “Con ơi, mẹ chờ con mấy chục năm nay rồi con ơi…!”. Tài muốn chạy xuống đỡ mẹ nhưng không thể ngồi dậy được. Trời, mẹ tôi già như thế này rồi ư? Mẹ gầy còm như chiếc lá cuối thu, miệng móm mém. Mẹ vẫn mặc chiếc áo chiêm bâu bạc phếch như ngày xưa. Đến giờ vẫn khổ thế này sao hở mẹ? Con thương mẹ lắm mẹ ơi! Tài khóc hu hu như đứa trẻ. Thức phải quay sang nhỏ nhẹ dỗ dành Tài. Mãi một lúc sau Tài mới chịu nín. Tài lại đảo mắt tìm kiếm ai đó. Anh hết nhìn sang trái, sang phải lại dướn mắt nhìn xuống phía sau căn phòng chật cứng người. - Lài đâu rồi hở anh? - Cái thằng này - Thức xẵng giọng - Bây giờ cô ấy đã già, đã có gia đình riêng rồi. Chắc gì cô ấy đã ở đây mà ngóng với trông? Nghe Thức quát, Tài thở dài vẻ buồn rầu: - Vậy là em chỉ còn mỗi mình mẹ, Lài đi lấy chồng mất rồi, em mất Lài thật rồi! Thức lặng thinh. Mặc kệ, hôm nay cho cậu ấy khóc thật thoải mái. Tiếng khóc sau hơn ba mươi lăm năm mang đầy nỗi niềm thương nhớ, đoàn tụ, chia li. Bầu trời bỗng nổi cơn gió mạnh. Lác đác có hạt mưa. Mưa to. Những hạt mưa thi nhau đổ xuống nghĩa trang. Mưa trắng trời trắng đất. Mấy chú chim sẻ bị mắc mưa ướt lướt thướt, chúng run rẩy nép dưới mái hiên nhà. Hai bát hương bỗng nhiên bùng cháy. Hai ngọn lửa nằm cạnh nhau rực sáng căn phòng. Ánh lửa soi rõ từng ánh mắt mọi người đang chăm chú dõi theo. Ngoài kia trời vẫn đổ mưa… Lê Mạnh Thường |