Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2010, 11:46:15 pm



Tiêu đề: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2010, 11:46:15 pm
CÁC THIẾT BỊ PHÒNG KHÔNG TỰ HÀNH

4. AMX-13 DCA

    Sự sản xuất thiết bị phòng không AMX-13 DCA cho quân đội Pháp được bắt đầu vào năm 1966. Đây là hệ thống được thiết kế trên gầm xe tăng chủ lực AMX-13, được trang bị tháp pháo đúc và pháo tự động 30mm. Thiết bị này bắt đầu gia nhập lực lượng vũ trang năm 1969. Cho đến khi chấm dứt việc sản xuất vào những năm 1980, đã có tổng cộng 60 thiết bị AMX-13 DCA được xuất xưởng, và là thiết bị phòng không tự hành duy nhất trong quân đội Pháp. Trong hệ thống điều khiển hỏa lực gồm có ra đa DR-VC-1A “Orl-Noir”, được lắp phía sau tháp pháo. Trên các phiên bản xuất khẩu được bán cho A rập Saudi trong những năm 70-80, thiết bị phòng không được lắp trên gầm xe tăng chủ lực AMX-30. AMX-13 DCA là hệ thống phòng không không tồi, mặc dù vào thời điểm này, chúng cũng phần nào trở nên lỗi thời.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Pháp
Kíp xe: 3 người
Khối lượng: 17 800kg
Kích thước: Chiều dài: 5,40m; chiều rộng: 2,50m; chiều cao: 3,80m (với ra đa dựng)và 3,0m (với ra đa    
nằm)
Tầm hoạt động: 300km
Bọc thép: 25mm
Trang bị: một pháo tự động 30mm “Ispano” hoặc “Erlicon”
Động cơ: một động cơ bộ chế hòa khí làm mát bằng nước SOFAM 8Gxb 250 sức ngựa
Tính năng hoạt động: Tốc độ tối đa trên bộ: 65km/h;
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: chỗ nông: 0,6m; độ cao: 0,65m; hố sâu: 1,7m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030540.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2010, 11:47:25 pm
 Thiết bị phòng không tự hành AMX-13 DCA:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/AMX-13_DCA1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2010, 11:48:53 pm
 Phiên bản xuất khẩu AMX-30 DCA:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/amx30d10.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2010, 11:49:24 pm
 Bản vẽ AMX-13 DCA:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/AMX-13_DCA_2v.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2010, 11:21:23 pm
5. “Willcat”

    Khi xuất hiện vấn đề, rằng các thiết bị phòng không tự hành trên gầm xe tăng “Leopard 1” của Tây Đức và “Trung sỹ York” M247 quá đắt đối với nhiều nước không mạnh về tài chính. Công ty “Crauss-Maffey” đã tiếp nhận công việc thiết kế một dòng những thiết bị phòng không tự hành mới, nhằm mục đích bán ra các thị trường ngoài biên giới châu Âu. Gầm của thiết bị mới được lấy từ loại xe ba trục “Transportpanzer” với số lượng lớn được sản xuất dành cho quân đội Tây Đức. Máy đo xa laze, ra đa phát hiện và hệ thống tự động theo dõi mục tiêu, đồng thời hệ thống điều khiển hỏa lực được vi tính hóa hoàn toàn. “Willcat” là loại vũ khí hiệu quả chống lại máy bay và các mục tiêu trên mặt đất. Giá thành không cao, bảo dưỡng và thay thế không quá phức tạp – đây là hai yếu tố hấp dẫn đối với nhiều nước có chi phí quốc phòng hạn chế.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 3 người
Khối lượng: 18 000kg
Kích thước: Chiều dài: 6,88m; chiều rộng: 2,98m; chiều cao: 2,74m (với ra đa nằm)                                                              
Tầm hoạt động: 600km
Bọc thép: không có thông tin
Trang bị: hai pháo 30mm “Mauzer” Mk 30-F
Động cơ: một động cơ diezen 8 xilanh với máy quạt tua bin “Mercedez Benz” 320 sức ngựa
Tính năng hoạt động: Tốc độ tối đa trên bộ: 80km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,6m; hố sâu 1,1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030541.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2010, 11:52:06 pm
6. M53/59

    Vào những năm 1950, Tiệp Khắc đã thiết kế và đưa vào sản xuất một loại thiết bị phòng không tự hành có tên gọi M53/59. Gầm của thiết bị phòng không này là loại xe vận tải ba trục “Praha” V3S và có phần tương tự với thiết bị ZSU-57-2của Liên Xô. Thiết bị M53/59 được thiết kế và chỉ có thể sử dụng trong điều kiện thời tiết tốt. Nó không được trang bị hệ thống nhìn đêm, không có các thiết bị bảo vệ phương tiện khỏi các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. M53/59 có thể sử dụng nhiều loại đạn cho các mục tiêu khác nhau trên mặt đất (đạn xuyên giáp) hoặc đạn nổ - nổ mảnh đối với các mục tiêu trên không. Một nhược điểm nữa của thiết bị này là khả năng cơ động dở trên địa hình mấp mô, rất khó sử dụng chung với các loại phương tiện thiết giáp bánh xích. Ngoài Tiệp Khắc, M53/59 còn có mặt trong biên chế quân đội Nam Tư và Libia.

   Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Tiệp Khắc
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 10 300kg
Kích thước: Chiều dài: 6,92m; chiều rộng: 2,35m; chiều cao: 2,59m                                                       
Tầm hoạt động: 500km
Bọc thép: không có thông tin
Trang bị: hai pháo 30mm tự động
Động cơ: một động cơ 6 diezen 6 xilanh “Tarta” T912-2 110 sức ngựa
Tính năng hoạt động: Tốc độ tối đa trên bộ: 60km
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,46m; độ sâu: 0,69m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030542.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2010, 11:53:40 pm
 Thiết bị phòng không tự hành M53/59:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M53_Praga.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:09:32 am
7. “Gepard”

    Thiết bị phòng không tự hành “Gepard” được thiết kế một cách đặc biệt dành cho việc hỗ trợ cho các đơn vị Tăng – thiết giáp và cơ giới cùng các phân đội nhằm chống lại các cuộc tấn công từ trên không trên đường hành quân. Trang thiết bị được bố trí trên tháp pháo bọc thép quay 360 độ, được lắp trên gầm xe tăng “Leopard 1”. Hai pháo tự động “Erlicon” bố trí hai bên ngoài tháp pháo – để khói súng không bị hút ngược vào buồng chiến đấu. Mỗi nòng súng có tốc độ bắn 550 viên/phút, mặc dù, thông thường chúng chỉ đạt tốc độ 20-40 viên. Cơ số đạn dữ trữ nói chúng gồm có 640 viên đạn cháy –xuyên giáp và 40 viên đạn xuyên giáp. “Gepard” được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực, trong đó bao gồm ra đa theo dõi, chỉ định mục tiêu và thiết bị nhận biết “bạn – thù”. Ra đa theo dõi, chỉ định mục tiêu đi kèm với sự điều khiển hỏa lực, máy vi tính và kính ngắm ổn định kiểu con quay. Ngoài ra, “Gepard” còn được trang bị thiết bị dẫn đường với đèn pha điện mạnh.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 47 300kg
Kích thước: chiều dài: 7,68m; chiều rộng: 3,27m; chiều cao: 3,01m
Tầm hoạt động: 600km
Bọc thép: 40mm
Trang bị: hai pháo 40mm, 7 thiết bị phóng lựu đạn khói
Động cơ: một động cơ diezen 10 xilanh đa nhiên liệu MTU 838 Ca M500 830 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên bộ: 65km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: chỗ nông: 2,5m; độ cao: 1,15m;
                                                                                      độ sâu: 3,0m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030543.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:10:35 am
 Thiết bị phòng không tự hành "Gepard":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/gepard1-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:11:11 am
 "Gepard" 1a2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/epard_1a2.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:11:47 am
 Bản vẽ "Gepard":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Gepard.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:13:37 am
 "Gepard" đang bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Gepardban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:40:57 am
8. GDF-CO3
                   

    Dòng thiết bị phòng không tự hành GDF, được sản xuất bởi hãng “Erlicon-Burle”, được thiết kế nhằm bảo vệ các mục tiêu chiến lược – như là các công xưởng hoặc các cơ sở quân sự. Gầm của phiên bản chạy trên băng xích được lấy từ xe bọc thép M113, còn phiên bản bánh hơi dựa trên cơ sở xe vận tải hai trục NUKA có sự tăng cường về độ cơ động. Thiết bị GDF-CO3 được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực ban ngày lẫn ban đêm, máy đo xa laze và ra đa tìm kiếm hệ thống “Contraves”. Hệ thống GDF có thể sử dụng nhiều loại đạn khác nhau, gồm có đạn cháy – xuyên giáp để bắn các mục tiêu trên mặt đất. Cấu tạo của hệ thống phòng không tự hành này có một số điểm không bình thường – kíp xe được bố trí tại phần đầu xe, trước tháp pháo. Thiết bị này cũng như là khung xe là ý tưởng của Thụy Sĩ.          

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Thụy Sĩ
Kíp xe: 3 người
Khối lượng: 18 900kg
Kích thước: chiều dài: 6,7m; chiều rộng: 2,81m; chiều cao: 4m
Tầm hoạt động: 480km
Bọc thép: 8mm
Trang bị: hai pháo 35mm, KDF
Động cơ: một động cơ diezen 6 xilanh GMS 6V-53T 215 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên bộ: 45km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: chỗ nông: 0,6m; độ cao: 0,61m; độ sâu: 1,8m                                    

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030545.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:09:58 pm
9. “Type 63”

    Để trang bị cho quân đội mình các thiết bị phòng không tự hành, người Trung Quốc đã thiết kế bằng cách tận dụng thân xe tăng T-34 (được chuyển giao với số lượng lớn từ Liên Xô cho đến khi giữa hai nước xảy ra khủng hoảng) và đặt lên đó một tháp pháo mở và pháo kẹp đôi tự động 37mm. Thiết bị này được chứng minh rất không thành công, bởi vì ban đầu nó không được lắp ra đa, vì thế việc quan sát mục tiêu phải thực hiện bằng mắt thường, còn vũ khí được điều khiển bằng tay. Và như vậy, hiệu quả bị suy giảm một cách nghiêm trọng – đặc biệt là khi bắn các loại mục tiêu bay tầm thấp có tốc độ cao. Ngoài ra, việc nạp đạn cho pháo cũng được thực hiện bằng tay, mỗi giá kẹp đạn gồm năm viên đạn. Thiết bị phòng không tự hành “Type 63” (mẫu năm 1963) được chuyển giao cho quân Giải phóng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam vào những năm 1960, ngoài ra nó chỉ được sử dụng trong Quân đội Trung Quốc. Không tính đến việc thiết bị này có hiệu quả tác chiến thấp, nó có mặt trong biên chế Quân đội Trung Quốc đến cuối những năm 1980.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Trung Quốc
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 32 000kg
Kích thước: chiều dài: 6,43m; chiều rộng: 3m; chiều cao: 3m
Tầm hoạt động: 300km
Bọc thép: 18-45mm
Trang bị: hai pháo phòng không tự động 37mm
Động cơ: một động cơ diezen 12 xilanh làm mát bằng nước 500 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên bộ: 55km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: chỗ nông: 1,32m; độ cao: 0,73m; độ sâu: 2,5m                  

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030546.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:10:38 pm
 Thiết bị phòng không tự hành "Type 63":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/type-63.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:11:06 pm
 Bản vẽ "Type 63":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/type63banve.gif)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:11:41 pm
 Bản vẽ "Type 63" của Quân đội Bắc Việt Nam:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/type-63banve.gif)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:46:43 pm
10. M42

   Hệ thống phòng không M42, được biết đến dưới tên gọi “Daster”, được thiết kế trên cơ sở  xe tăng M41 “Bylidor” và là điển hình của dòng xe bọc thép được thiết kế không lâu sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Vào giữa những năm 1951 và 1956, 3700 thiết bị M42 đã được sản xuất tại hãng “Kadillak”. Nhược điểm chính của thiết bị này là động cơ bộ chế hòa khí, làm hạn chế tầm hoạt động và không có hệ thống ra đa điều khiển hỏa lực – xạ thủ phải quan sát mục tiêu bằng mắt thường. Ngoài ra, tháp pháo mở cũng làm giảm khả năng bảo vệ cho kíp xe. Tuy vậy, ở Việt Nam, M42 đã thể hiện không tồi khi được sử dụng nhằm bắn các mục tiêu trên mặt đất. M42 có mặt trong lực lượng Cận vệ Quốc gia Mỹ đến những năm 1980. Trên tháp pháo được lắp pháo kẹp đôi 40mm và thiết bị truyền động của hệ thống phòng không M19, được thiết kế trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 22 450kg
Kích thước: chiều dài: 6,37m; chiều rộng: 3,23m; chiều cao: 2,85m
Tầm hoạt động: 160km
Bọc thép: 12-38mm
Trang bị: hai pháo phòng không 40mm, một súng máy 7,62mm
Động cơ: một động cơ bộ chế hòa khí 12 xilanh làm mát bằng nước “Continental” AOS-895-3 500 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên bộ: 72km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: chỗ nông: 1,3m; độ cao: 1,71m; độ sâu: 1,83m                  

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030547.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:47:10 pm
 M42:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ZSUM42.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:47:43 pm
 Các bản vẽ M42:

 Nhìn ngang:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m42banvengang.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 01:48:51 pm
 Từ trên xuống:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m42banvetutren.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:13:20 pm
11. M247 “Sergeant York”

    Bởi vì thiết bị phòng không tự hành “Vulcan” xét về mọi tính năng đều hoàn hảo, trừ tầm bắn và độ chụm đạn thấp, nên vào năm 1978, quân đội Mỹ đã đặt hàng thiết bị phòng không tự hành mới trên cơ sở xe tăng M48 nhằm thay thế cho M163. Tiêu bản đầu tiên, được sản xuất bởi hãng FAC, xuất hiện vào năm 1983. M247 được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực, gồm có các ra đa dò tìm và theo dõi mục tiêu. “Sergeant York” có thể bắn máy bay, trực thăng và các loại tên lửa có cánh chiến thuật (trong chiến tranh hiện đại, yếu tố này rất quan trọng). Gầm xe M48 biến thể đảm bảo cho M247 sự cơ động và khả năng bảo vệ, cần thiết cho nó có thể hoạt động cùng với xe tăng M1 “Abrams” và xe bọc thép M2 “Bradley”. Các thiết bị M247 có nhiệm vụ đảm bảo sự hỗ trợ về phòng không cho các xe tăng M1 và xe bọc thép M2.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 3 người
Khối lượng: 54 430kg
Kích thước: chiều dài: 7,67m; chiều rộng: 3,63m; chiều cao: 4,61m
Tầm hoạt động: 500km
Bọc thép: 120mm
Trang bị: hai pháo phòng không 40mm L/60 “Bofors”
Động cơ: một động diezen 12 xilanh “Teledayn Continental” ADVS-1790-2D 500 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên bộ: 48km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: chỗ nông: 1,2m; độ cao: 1,9m; độ sâu: 2,6m                  

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030548.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:13:59 pm
 Thiết bị phòng không tự hành M247 "Sergeant York":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m247usa.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:14:30 pm
 Bản vẽ "Sergean York":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m247banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:15:22 pm
 Bản vẽ cấu tạo M247:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M247banvecautao.jpg)



Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:33:34 pm
12. ZSU-57-2

    ZSU-57-2 là thiết bị phòng không tự hành đầu tiên của Liên Xô được sản xuất với số lượng lớn. Nó được thiết kế sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai. Thân xe là phiên bản đơn giản hóa của gầm xe tăng T-54 với độ giày giáp bảo vệ được giảm đi, điểm khác biệt chủ yếu so với bản gốc là tháo pháo lớn, mở ra trên nóc. Cấu trúc này có tỉ số tương quan rất tốt giữa sức mạnh động cơ và khối lượng xe, cùng với các thùng nhiên liệu dữ trữ đảm bảo cho ZSU-57-2 có tính cơ động cao và tầm hoạt động lớn. Tốc độ bắn thực tế của ZSU-57-2 là 70 viên/phút, vỏ đạn sau khi bắn được đẩy vào hộp dạng lưới, được bố trí phía sau tháp pháo. Thiết bị phòng không tự hành này được xuất khẩu một cách rộng rãi cho các nước thuộc khối Hiệp ước Vác–sa-va, đồng thời cho các quốc gia Bắc Phi và Cận Đông. Năm 1982, những thiết bị này được tham gia trong các hoạt động quân sự tại Li băng.

   Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 28 100kg
Kích thước: chiều dài: 8,48m; chiều rộng: 3,27m; chiều cao: 2,75m
Tầm hoạt động: 420km
Bọc thép: 15mm
Trang bị: hai pháo phòng không 57mm
Động cơ: một động diezen V-54 520 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên bộ: 50km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: chỗ nông: 1,4m; độ cao: 0,8m; độ sâu: 2,7m                   


(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030549.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:34:12 pm
 Thiết bị ZSU-57-2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Zsu572.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:34:58 pm
 ZSU-57-2 trong Bảo tàng tại Ba Lan:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ZSU-57-2balan.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:35:38 pm
 ZSU-57-2 trong Bảo tàng chiến thắng Đắc Tô:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ZSU-57-2baotangdakto.jpg)

(ảnh của bác Napoleon)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:36:57 pm
 Bản vẽ ZSU-57-2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ZSU-57-2banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 02:37:26 pm
 Bản vẽ cấu tạo ZSU-57-2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ZSU-57-2banvecautao.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 08:18:05 pm
PHÁO TỰ HÀNH

1. ASU-57

    ASU-57 được thiết kế vào những năm 1950 một cách đặc biệt dánh cho các sư đoàn Đổ bộ đường không Liên Xô (54 xe trong một sư đoàn). Loại xe này được thả bằng dù xuống một cách trực tiếp cùng kíp xem, các thiết bị hạ cách đặc biệt với tên lửa hãm được sử dụng cho sự hạ cánh mềm xuống đất. Pháo dành cho ASU-57 là bản biến thể của pháo ZIS-2, được thiết kế trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai, còn động cơ được lấy từ loại xe tải nội địa “Chiến thắng”. Không tính đến những nhược điểm – thân xe được hàn từ hợp kim nhôm, đem lại hiệu quả không lớn trong việc bảo vệ kíp xe, động cơ yếu và vũ khí không mạnh, ASU-57 còn phục vụ thêm 20 năm nữa cho đến khi được thay thể bằng mẫu pháo tự hành dành cho lực lượng Đổ bộ đường không mới ASU-85. Đối với lực lượng lính dù, những loại pháo tự hành này là vô cùng cần thiết, đưa đến những phương tiện bọc thép hạnh nhẹ cho người lính, được thả vào hậu phương quân thù, trở thành những phương tiện hỗ trợ hỏa lực pháo binh cơ động rất cần thiết.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Kíp xe: 3 người
Khối lượng: 3,3 tấn
Kích thước: chiều dài: 5m; chiều rộng: 2m; chiều cao: 1,2m
Tầm hoạt động: 250km
Bọc thép: 6mm
Trang bị: pháo 57mm Ch-51M, súng phòng không 7,62mm
Động cơ: động cơ xăng 4 xilanh M-20E 55 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 45km/h
                                   Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: đến 0,5m; hố sâu: đến 1,4m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030827.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 08:23:00 pm
 ASU-57 (Trong bảo tàng Quân đội Liên Xô):

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ASU-57btqdlx.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 08:24:00 pm
Hình vẽ ASU-57:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/asu_57vemau.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 08:26:26 pm
 Bản vẽ cấu tạo bên ngoài ASU-57:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/asu57banvecautao.jpg)

 Các chú thích:

1 – bộ giảm sóc; 2 – trục quay của bánh chịu lực đầu tiên; 3 – bánh chịu lực; 4 – bánh xích; 5 – đèn pha có rào chắn ngăn cách; 6 – thanh giằng chắn bùn; 7 – nắp bảo vệ bộ thông gió tản nhiệt; 8 – đèn pha với cơ cấu che kín ánh sáng; 9 – ăng ten; 10 – đèn chiếu sáng cỡ lớn; 11 – giáp bên của buồng tác chiến; 12 – tấm chắn nhỏ của cửa số quan sát bên; 13 – trục lăn; 14 – kết cấu ngăn tín hiệu dừng; 15 – trục quay của bánh kéo; 16 – bánh kéo; 17 – nắp cửa bình giữ nhiệt; 18 – móc kéo; 19 – chỗ gài xẻng và thiết bị thông nòng; 20 – bản lề cánh cửa trên động cơ; 21 – khóa đinh vít; 22 – thiết bị quan sát; 23 – tấm giáp bọc thép đầu buống chiến đấu; 24 – bản lề cánh cửa trên hộp truyền động; 25 – bạt che đốc pháo; 26 – kính ngắm; 27 – bản lề cánh cửa trên bộ tản nhiệt; 28 – vòng treo dây dù bên thân xe; 29 – nắp lỗ kiểm tra trục nâng trước của bộ phận truyền động; 30 – bộ giảm âm; 31 – cửa xếp trên động cơ; 32 – nắp miệng thùng tiếp nhiên liệu phía trước 33 – nắp bọc vải của buồng chiến đấu ; 34 – nắp buồng phụ tùng; 35 – nắp buồng ắc quy; 36 – cửa số quan sát phía sau; 37 – móc sắt giữ vải bạt; 38 – móc sắt giữ cưa; 39 – móc sắt giữ dây kéo; 40 – đinh vít kéo; 41 – xà cân bằng; 42 – trục xà cân bằng


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 08:28:22 pm
 Phiên bản sau của ASU-57: ASU-85:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ASU-85.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 08:28:54 pm
 Bản vẽ ASU-85:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ASU-85banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:21:55 pm
2. Pháo tự hành tấn công StuG III Ausf  F

    Pháo tự hành tấn công StuG III Ausf F được thiết kế vào năm 1941 theo mệnh lệnh cá nhân của Adolf Hitle nhằm tìm ra loại vũ khí vượt trội so với xe tăng Liên Xô KV-1 và T-34 trên mặt trận phía Đông. So với các lứa pháo tự hành khác trong dòng (biến thể A-E), thiết bị tự hành mới được gia tăng giáp bảo vệ, pháo mới 7,5cm Stuk 40 L/43 dài gấp 48 lần cỡ nòng được lắp thay thế cho pháo nòng ngắn cũ – tăng hiệu quả chống tăng một cách đáng kể cho thiết bị. Thân xe và các buồng cơ bản vẫn được giữ nguyên và được lắp thêm máy bơm để thải khói súng. Vỏ nòng pháo mới cũng được thiết kế lại làm tăng uy lực và đảm bảo an toàn khi giật. Biến thể Ausf F thể hiện hiệu quả cao trong việc chống lại các xe tăng KV-1 và T-34. Loại pháo tự hành tấn công này được sử dụng cho đến cuối chiến tranh, hình dáng thấp của nó đem lại sự thuận lợi cho khả năng ngụy trang trong các cuộc đấu tăng hay phục kích.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 23,3 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,31m; chiều rộng: 2,92m; chiều cao: 2,15m
Tầm hoạt động: 155km
Bọc thép: đến 50mm
Trang bị: pháo 75mm Stuk 40 L/43, súng máy 7,92mm
Động cơ: động bộ chế hòa khí “Maybakh” HL 120 TRM 265 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 40km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: đến 0,6m; hố sâu: đến 2,59m; chỗ nông: 0,8m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030830.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:24:29 pm
 Pháo tự hành tấn công StuG III Ausf F:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/StuG-III.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:25:36 pm
 Bản vẽ pháo tự hành StuG III Ausf F:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/stug3f.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2010, 09:27:41 pm
 Mô hình Stug III Ausf F:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/stugiiifhmohinh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:10:51 pm
3. Pháo tự hành tấn công StuG. III Ausf G

    SutG. III Ausf G trở thành biến thể cuối cùng trong dòng pháo tự hành StuG. III, được trang bị cho quân Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Loại pháo tự hành tấn công này được thiết kế trên cơ sở gầm xe tăng hạng trung Pz. Kpfw. III, vào thời gian đó đã bị dừng sản xuất, nhường chỗ cho dòng xe tăng “Panther” mạnh hơn. Biến thể “G” được gia tăng giáp bảo vệ, hơn hẳn so với lớp F trước đó, vì thế, thực tế đã thay thế lớp “F” trên chiến trường. Tuy vậy, thường xuyên xảy ra việc StuG. III Ausf G đảm nhận vai trò của xe tăng, chứ không phải của một loại pháo tự hành trong vai trò hỗ trợ bộ binh. Trong vai trò đó, loại pháo tự hành tấn công này đã thể hiện hiệu quả về kinh tế cũng như sử dụng hơn nhiều so với xe tăng – mặc dù nhược điểm về sự cơ động làm cho pháo dễ bị các tổn thương do lính bộ binh hay các loại súng phóng lựu chống tăng phản lực gây ra. Việc lắp thêm các tấm giáp hai bên thành phần nào gia tăng khả năng tự vệ của pháo. Nhưng sự thực là lính xe tăng Đức không hài lòng về StuG. III Ausf G trong vai trò như một chiếc xe tăng. Và đương nhiên, Ausf G đã chứng minh rằng nó là một trong những mẫu biến thể tốt nhất trong các phiên bản pháo tự hành tấn công và điều này đã được chứng minh qua các trận đánh trên chiến trường.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 23,4 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,77m; chiều rộng: 2,95m; chiều cao: 2,16m
Tầm hoạt động: 155km
Bọc thép: đầu xe 80mm
Trang bị: pháo 75mm Stuk 40 L/48, súng máy 7,92mm
Động cơ: động cơ bộ chế hòa khí “Maybakh” HL 120 TR 265 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 38km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: đến 0,6m; hố sâu: đến 2,59m; chỗ nông: đến 0,8m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030829.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:11:29 pm
 Pháo tự hành tấn công Ausf G:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/stuggG.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:12:12 pm
 Hình vẽ 3D Ausf G:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/stugiiigir.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2010, 11:23:55 pm
4. Pháo phòng không tự hành 76mm “Automatic”

    Hệ thống phòng không tự hành “Automatic” ban đầu được thiết kế như một loại xe tăng để hỗ trợ các máy bay trực thăng và những máy bay hạng nhẹ trên chiến trường, đồng thời cũng hiệu quả trong việc đối đầu với các phương tiện kỹ thuật hạng nhẹ của đối phương. “Automatic” được biết đến như một thiết bị có tháp pháo quay 360 độ với pháo tự động 76mm cùng hai ra đa (quan sát và theo dõi), hệ thống kính ngắm quang học điện tử cùng máy vi tính điều khiển hỏa lực, trong đó, toàn bộ các thiết bị phải hoạt động như một thể thống nhất. Tháp pháo với những thiết bị này có thể lắp lên bất kỳ xe tăng nào có bệ đỡ tháp pháo có kích thước tương ứng. Để thử nghiệm, thiết bị này ban đầu được lắp trên xe tăng Tây Đức “Leopard 1”. Sau đó, các phiên bản sao chép khác cũng được thực hiện một cách thành công.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 47 tấn
Kích thước: chiều dài: 7,08m; chiều rộng: 3,25m; chiều cao: 3,07m (với ra đa nằm)
Tầm hoạt động: 500km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một pháo tự động 76mm
Động cơ: động cơ diezen 10 xilanh đa nhiên liệu MTU 830 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 60km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1,15m; hố sâu: 3m; chỗ nông: 1,2m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030831.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2010, 11:26:02 pm
 Pháo phòng không tự hành 76mm "Automatic":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/otomatic.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2010, 11:27:43 pm
 "Automatic" ở góc quan sát gần hơn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Otomaticnhingan.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: Nguoixaquehuong trong 02 Tháng Ba, 2010, 08:49:36 am
cận cảnh pháo tự hành tấn công Ausf G

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-5805.jpg)

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-1527.jpg)

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-5828.jpg)

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-1533.jpg)

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-1531.jpg)

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-1534.jpg)

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-1530.jpg)

(http://www.worldwar2aces.com/panzer-tank/stug-iii/stug-iii-1540.jpg)


Nguồn worldwar2aces


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 02:35:22 am
5. Pháo tự hành SU-76M

    Những trận đánh đầu tiên trong năm 1941 đã cho thấy sự yếu kém của các dòng xe tăng Xô viết hạng nhẹ trong cuộc chiến tranh hiện đại với các phương tiện cơ giới hóa. Vì thế loại xe tăng hạng nhẹ mới T-70 có trang bị vượt trội bằng pháo ZIS-3 hay ZIS-76 đã được quyết định đưa vào sản xuất, nhằm tiếp nhận mẫu vũ khí chống tăng hạng nhẹ và cơ động. Đây là một loại vũ khí đạt hiệu quả trong chiến tranh, nhưng nó đem lại rất nhiều bất tiện cho kíp xe, vì thế, lính tăng Liên Xô gọi nó là “Suchka” (“Сучка” từ gốc:  “Cука”). Mẫu SU-76 đầu tiên xuất hiện vào năm 1942, đến giữa năm 1943, một số lượng lớn SU-76 đã được sản xuất. Nhưng cũng từ thời điểm này, giáp các xe tăng Đức đã được gia tăng đáng kể, làm giảm hiệu quả của pháo 76mm nên SU-76 được sử dụng trong mục đích cơ bản là hỗ trợ cho bộ binh. Đến năm 1945, một số lượng lớn Su-76 được chuyển hóa thành các phương tiện vận tải chở đạn hoặc làm xe sửa chữa – cứu kéo. Sau khi kết thúc chiến tranh, nhiều SU-76 được chuyển cho Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, nơi chúng được tiếp nhận và tham gia một cách tích cực vào cuộc chiến tranh Triều Tiên.


    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 10 500kg
Kích thước: chiều dài: 4,88m; chiều rộng: 2,73m; chiều cao: 2,17m
Tầm hoạt động: 450km
Bọc thép: 25-35mm
Trang bị: một pháo 76mm ZIS-3
Động cơ: hai động cơ xăng 10 GAZ  sức ngựa với 70 sức ngựa/động cơ
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 45km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,7m; hố sâu: 3,12m; chỗ nông: 0,9m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030832.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 02:35:54 am
 Pháo tự hành SU-76M:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Su-76M.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 02:36:45 am
 Một số hình vẽ SU-76M:

 SU-76M thuộc phương diện quân ngoại Baican tháng 8 năm 1945:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SU_76Mhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 02:37:41 am
 Thuộc phương diện quân Belarus (thuộc lữ đoàn pháo tự hành số 8, tháng 2 năm 1944):

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SU_76Mbelarus.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 03:07:32 am
6. Pháo tự hành “Bishop”

    “Bishop” được thiết kế vào năm 1942 như một loại pháo tự hành chống tăng thay thế cho pháo chiến trường 25 funt cấp tiểu đoàn, và đã kịp tham gia chiến đấu chống lại quân Đức trên mặt trận Bắc Phi. “Bishop” là thiết bị pháo tự hành với pháo chính 25 funt (87,4mm), được lắp trên gầm xe tăng “Valentain”. Đây không phải là một thiết kế hay – bởi vì thiết bị này có độ cơ động thấp và dễ trở thành những mục tiêu thuận lợi dành cho pháo binh đối phương. Pháo chính có tầm và góc hướng rất hạn chế, vì thế, “Bishop” không đem lại hiệu quả khi sử dụng trong mục đích chống tăng.  Nhưng “Bishop” là kinh nghiệm đầu tiên của người Anh trong việc thiết kế pháo tự hành và đem lại nhiều bài học cần thiết để sử dụng trong việc thiết kế các loại pháo tự hành sau này. “Bishop” bị loại bỏ khỏi lực lượng vũ trang khi quân đội Anh bắt đầu tiếp nhận loại pháo tự hành M7 “Prist” của Mỹ.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Anh
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 17,5 tấn
Kích thước: chiều dài: 5,64m; chiều rộng: 2,62m; chiều cao: 2,77m
Tầm hoạt động: 150km
Bọc thép: giáp đầu gần 60mm
Trang bị: một pháo 25 funt (87,4mm)
Động cơ: động cơ diezen 6 xilanh AEC A190 131 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 32km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,8m; hố sâu: 2,3m; chỗ nông: 0,9m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030833.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 03:16:21 am
 Pháo tự hành "Bishop":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bishop-03.png)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 03:36:57 am
7. Pháo tự hành “Sexton”

    Vào năm 1941,  người Anh đã tìm kiếm các loại xe thích hợp cho việc lắp trên đó loại pháo 25 funt theo tiêu chuẩn Anh. Vào thời gian đó, Canada bắt đầu sản xuất xe tăng “Ram”, nhằm thay thế các xe tăng hạng trung M3 của Mỹ trong quân đội Canada khi đó. Gầm của “Ram” rất thuận lợi cho việc lắp pháo 25 funt. Loại pháo tự hành mới được gọi tên là “Sexton”, được sử dụng nhưng những vũ khí tấn công trong việc hỗ trợ các phân đội xe tăng và được tiếp nhận tại Tây Âu trong những năm 1944-1945. Sự sản xuất thiết bị “Sexton” sau chiến tranh cũng rất khả quan với tổng số 2150 chiếc. Ngoài ra, trên gầm xe tăng “Ram” còn sản xuất một cách đặc biệt các loại xe tăng chỉ huy với sự giảm trang bị và tăng cường hệ thống liên lạc vô tuyến điện. Pháo tự hành “Sexton” có khả năng cơ động tốt trên địa hình mấp mô và hỏa lực mạnh, chúng tiếp tục phục vụ trong quân đội Anh cho đến những năm 1950, còn trong quân đội các quốc gia khác,chúng còn được duy trì cho đến thời gian gần đây.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Canada
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 25,9 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,12m; chiều rộng: 2,72m; chiều cao: 2,44m
Tầm hoạt động: 290km
Bọc thép: đầu xe: 107mm; đầu tháp pháo: 50mm
Trang bị: một lựu pháo 25 funt (87,6mm), hai súng máy 0,303 inch (7,62mm) “Brent”; một súng máy phòng không 0,5 inch (12,7mm) “Brauning”
Động cơ: động cơ hình sao 9 xilanh “Continental” 480 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 40km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,6m; hố sâu: 1,9m; chỗ nông: 1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030835.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 03:37:28 am
 Pháo tự hành "Sexton":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Sextonh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 03:38:00 am
 Bản vẽ pháo tự hành "Sexton":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/sexton.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 03:39:00 am
 Xe tăng "Ram" do Canada sản xuất:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Ramtang.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 03:40:07 am
 Gầm xe tăng "Ram"- trên đó lắp pháo chính 87,6mm - pháo tự hành "Sexton":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/gamxetangRam.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 06:36:29 pm
8. Pháo tự hành M56 “Scorpion”

    Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, quân đội Mỹ đặt ra yêu cần cần loại pháo chống tăng hạng nhẹ và cơ động, có thể thả xuống bằng dù từ đường không, nhưng quan trọng nhất – hỏa lực của nó phải tương đương với xe tăng. Loại vũ khí này được hãng “Cadillac” thiết kế, có tên gọi M56 “Scorpion” và được sản xuất từ năm 1953 đến 1959. Pháo tự hành M56 có mặt trong biên chế sư đoàn dù số 82 và 101 và một số không lớn được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, với mục đích chính là hỗ trợ cho bộ binh. Ngoài ra, M56 còn được xuất khẩu cho Tây Ban Nha và Maroc. Nhược điểm chính của thiết bị này là giáp bảo vệ mỏng và độ giật của pháo lớn, làm cho toàn bộ hệ thống bị kéo giật lùi về phía sau một khoảng cách khá lớn, có thể làm hỏng thước ngắm và toàn bộ xe bị phủ bụi. Vào những năm 1960, M56 được thay thế bằng M551 – tuy thế, cũng rất không thành công.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 7 người
Khối lượng: 7 tấn
Kích thước: chiều dài: 5,84m; chiều rộng: 2,58m; chiều cao: 2,1m
Tầm hoạt động: 225km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một pháo 90mm
Động cơ: động cơ xăng 6 xilanh “Continental” 200 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 45km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,7m; hố sâu: 1,5m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030836.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 06:37:01 pm
 Pháo tự hành M56 "Scorpion":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M56Scorpion.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 06:37:36 pm
 "Scorpion" nhìn từ phía sau:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M56nhinphiasau.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:06:34 pm
9. Pháo tự hành M7 “Priest”

    Đây là thiết bị pháo tự hành của Mỹ, tiếp nhận tên lóng tiếng Anh: “Mục sư”do hình dạng tháp pháo chỉ huy có dạng như nhà thờ, xuất hiện sau những cuộc thí nghiệm lâu dài với lựu pháo, được lắp trên gầm nửa băng xích. Nhưng theo yêu cầu đầy đủ của pháo tự hành, cần thiết một gầm xe chạy bằng xích hoàn toàn, vì thế trong sự tính toán cuối cùng, gầm xe tăng hạng trung M3 đã được sử dụng. Người Anh đã tiếp nhận nhiều thiết bị này theo Hiệp ước Lend – Lizơ và chúng được sử dụng lần đầu tiên trong thời gian diễn ra các trận đánh dưới El-Alamen mùa thu năm 1942. Sự hiệu quả của thiết bị M7 đã khiến Anh đặt hàng thêm 5500 chiếc nữa nhằm trang bị cho quần đảo Anh trong khoảng thời gia một năm sau lần đầu tiên chúng xuất hiện trên chiến trường. Nhược điểm chính là lựu pháo của M7 không theo tiêu chuẩn của Anh, vì thế, chúng không thể bắn được đạn do Anh sản xuất và yêu cầu hệ thống đạn dự trữ riêng. M7 tỏ ra là một thiết bị pháo tự hành cơ động và đáng tin cậy, được sử dụng trong các quân đoàn cho đến cuối chiến tranh, còn sau đó chúng tiếp tục phục vụ lâu dài trong vai trò xe bọc thép. Ngoài ra, M7 được xuất khẩu một cách rộng rãi sang các quốc gia khác.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 5 người
Khối lượng: 23 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,92m; chiều rộng: 2,88m; chiều cao: 2,54m
Tầm hoạt động: 190km
Bọc thép: đầu xe: 108mm; bên hông: 38mm
Trang bị: một lựu pháo 105mm M2A1; súng máy phòng không 12,7mm
Động cơ: động cơ hình sao 9 xilanh “Continental” 375 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 41,8km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,6m; hố sâu: 1,9m; chỗ nông: 1,2m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030837.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:07:03 pm
 Pháo tự hành M7 "Priest":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M7_Priest.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:07:33 pm
 Mô hình M7 "Priest":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/priestmohinh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:54:04 pm
10. “Abbot”

    Toàn bộ các mẫu pháo tự hành của Anh, xuất hiện ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, được thiết kế trên gầm xe tăng “Senturion” và được lắp pháo 25 funt hoặc 140mm. Nhưng khi đó, giới chỉ huy NATO yêu cầu thiết kế lại theo tiêu chuẩn pháo 105 hoặc 155mm. Kết quả là hãng “Vikkers” trong những năm 1950 đã thiết kế pháo tự hành 105mm “Addbot” để trang bị cho các đội quân Anh bên bờ song Ranh. Đây là thiết bị được bọc thép hoàn toàn với tháp pháo quay 360 độ, được kéo xuống gần cuối xe, nó được sử dụng trong các bộ phận pháo binh Hoàng gia cho đến khi được thay thế bằng pháo tự hành M109 của Mỹ trong những năm 1980. Cũng giống như phần lớn các thiết bị quân sự của Anh được sản xuất sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, “Addbot” tỏ ra là thiết bị đáng tin cậy và có hiệu quả trong chiến đấu. Một trong những phiên bản quan trọng nhất của thiết bị này là biến thể xe sửa chữa – kỹ thuật dành cho quân độ Ấn Độ. Phiên bản này có nhiều chức năng bổ xung dựa trên phiên bản gốc – ví dụ: có thể nâng các diềm chắn khi vượt sông, thiết bị nhìn đêm, đồng thời có các hệ thống chống lại vũ khí hủy diệt hàng loạt.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Anh
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 16,5 tấn
Kích thước: chiều dài: 5,8m; chiều rộng: 2,6m; chiều cao: 2,49m
Tầm hoạt động: 390km
Bọc thép: 6-12mm
Trang bị: một pháo 152mm; súng máy phòng không 7,62mm; 3 súng phóng lựu đạn khói
Động cơ: động cơ diezen 6 xilanh “Rolls-Roys” 240 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 47,5km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,6m; hố sâu: 2,06m; chỗ nông: 1,2m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030838.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 07:54:36 pm
 Pháo tự hành "Addbot":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Abbot.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 08:26:51 pm
11. Pháo tự hành 2S1

    Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô tập trung phát triển dòng pháo binh xe kéo – khác với các nước NATO, tập trung vào thiết kế các dòng pháo tự hành. Đến năm 1974, Liên Xô không có bất kỳ thiết bị pháo tự hành nào giống với phương Tây, được đưa ra một cách công khai. Thiết bị đầu tiên, nổi tiếng tại Liên Xô với tên gọi “Hoa cẩm chướng” (người Mỹ gọi là M1974) chỉ xuất hiện vào năm 1974. Thiết bị này phần lớn được trang bị cho các đơn vị xe tăng và bộ binh cơ giới (36 2S1 trong một sư đoàn tăng và 72 chiếc trong một sư đoàn bộ binh cơ giới).  Khác với phiên bản M1973 trước đó, “Hoa cẩm chướng” có khả năng di chuyển dưới nước, ngoài ra, gầm xe của nó còn được sử dụng cho việc thiết kế các xe bọc thép chỉ huy và trinh sát, đồng thời cho cả xe quét mình. 2S1 có bản xích rộng, cho phép hoạt động trên địa hình tuyết hoặc đầm lầy. Thiết bị pháo tự hành M1974 được xuất khẩu rộng rãi sang các quốc gia có truyền thống nhập khẩu vũ khí của Liên Xô: Angola, Algieri, Irac.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 15,7 tấn
Kích thước: chiều dài: 7,3m; chiều rộng: 2,85m; chiều cao: 2,4m
Tầm hoạt động: 500km
Bọc thép: 15-20mm
Trang bị: một lựu pháo 122mm D-32(gấp 35 lần cỡ nòng); súng máy phòng không 7,62mm
Động cơ: động cơ diezen JMZ-238M làm mát bằng nước 300 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 60km/h; trên mặt nước: 5km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,8m; hố sâu: 2,2m;

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030839.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 08:27:41 pm
 Pháo tự hành 2S1 "Hoa cẩm chướng":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/2s1-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 08:28:25 pm
 Bản vẽ 2S1 - M1974:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/2S1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 08:28:59 pm
 Pháo tự hành 2S1 bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/2S1dangban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2010, 08:29:40 pm
 "Hoa cẩm chướng" trong Bảo tàng các lực lượng vũ trang Liên Xô:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/2S1btqd.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 12:37:47 am
12. Pháo tự hành sIG 33

    Pháo tự hành sIG 33 được Đức thiết kế vào thời kỳ đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai và được sử dụng nhằm tăng cường cho lực lượng bộ binh. Phiên bản siG 33 đầu tiên đã xuất hiện trên chiến trường trong những chiến dịch tại Pháp vào tháng 5 năm 1940. Đây là loại lựu pháo 150mm sIG 33 thông dụng của Đức, được lắp trên gầm xe tăng hạng nhẹ Pz.Kpwf.I được bố trí một cách không gọn gàng từ những tấm thép, có tác dụng bảo vệ cho kíp xe khỏi mảnh đạn và vỏ đạn. Loại vũ khí này rất cần thiết cho bộ binh như là sự hỗ trở hỏa lực cơ động. Phần chính của xe nhô cao, còn gầm xe – quá tải nếu xét trên sự cơ động cũng như khả năng vượt chướng ngại vật của pháo tự hành. Sau đó, vào năm 1942, phiên bản mới được thiết kế trên gầm mạnh hơn của xe tăng Pz.Kpfw II với giáp bảo vệ được tăng cường. Loại pháo tự hành này phục vụ trong toàn bộ Chiến tranh Thế giới thứ hai và cho đến khi được dừng sản xuất vào năm 1944, đã có tổng cộng khoảng 370 xe được sản xuất.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 8,5 tấn
Kích thước: chiều dài: 4,835m; chiều rộng: 2,15m; chiều cao: 2,4m
Tầm hoạt động: 100km
Bọc thép: 6-12mm
Trang bị: một lựu pháo 150mm sIG 33
Động cơ: động cơ diezen 6 xilanh “Praha” 150 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 35km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,42m; hố sâu: 1,75m; chỗ nông: 0,9m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030840.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 12:38:30 am
 Pháo tự hành sIG 33:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/sig-33-1.png)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 12:55:05 am
13. Pháo tự hành “Hummel”

    Pháo tự hành “Hummel” là một thiết bị lai tạp, được thiết kế trên cơ sở các chi tiết của thân xe tăng
Pz. Kpfw III và Pz. Kpfw IV. Nó có kiến trúc bọc thép mở trên nóc tháp pháo và từ cuối năm 1942 được trang bị cho các sư đoàn xe tăng và cơ giới của Đức như sự hỗ trợ hỏa lực pháo binh. Lần đầu tiên pháo tự hành “Hummel” được sử dụng với số lượng lớn trong các trận đánh tại vòng cung Kursk vào tháng 7 năm 1943. Thiết bị này rất được phổ biến trong các quân đoàn của Đức vì tính cơ động cùng với những điều kiện làm việc rất thuận lợi của kíp xe 5 người. “Hummel” được sử dụng như sự yểm trợ về pháo binh cho các đơn vị xe tăng Đức và được tiếp nhận trên mọi mặt trận. Đến cuối năm 1944, đã có hơn 600 thiết bị “Hummel” đã được sản xuất, 150 chiếc trong số chúng được chuyển thể thành các xe tải đạn. Giữa các biến thể của chúng, có phiên bản “Oscatt” – với bản xích rộng, được sử dụng trong các trận đánh vào mùa đông trên chiến trường nước Nga. Thông thường, mỗi xe có cơ số đạn 18 viên cho lựu pháo 150mm.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 5 người
Khối lượng: 24 tấn
Kích thước: chiều dài: 7,17m; chiều rộng: 2,87m; chiều cao: 2,81m
Tầm hoạt động: 215km
Bọc thép: trên 50mm
Trang bị: một lựu pháo 150mm sFH 18/1 hoặc pháo chống tăng 88mm
Động cơ: động cơ xăng “Maybakh” HL 120 TRM 256 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 42km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,6m; hố sâu: 2,2m; chỗ nông: 1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030841.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 12:55:38 am
 Pháo tự hành "Hummel":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Hummel.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 12:56:17 am
 "Hummel" đang bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Hummelban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 01:21:42 am
14. Pháo tự hành “Type 4”

    Trong thời gian toàn bộ Chiến tranh Thế giới thứ hai, người Nhật sản xuất không nhiều những phương tiện kỹ thuật bọc thép hạng nặng như thế này. Điều này có thể được giải thích rằng từ các kinh nghiệm rút ra trong các hoạt động quân sự tại Trung Quốc và Mãn Châu Lý, người Nhật tình toán rằng chúng không thực sự quá cần thiết, nguyên nhân khác là sự yếu kém của ngành Công nghiệp Nhật Bản. Lựu pháo tự hành “Type” 4 được thiết kế dựa trên gầm xe tăng “Type 97”, nhưng loại lựu pháo này đã được tiếp nhận vào quân đội từ năm 1905. Năm 1942, chúng bị loại khỏi biên chế nhưng vẫn tiếp tục được sử dụng trong vai trò mới – phiên bản pháo tự hành. Pháo tự hành “Type 4” có giáp phòng vệ yếu, tầm bắn của pháo thấp bởi vì nguyên nhân cơ bản là sự tiếp nhận nhiều cơ chế nạp đạn riêng biệt. Người Nhật không thể sản xuất chúng với số lượng lớn và đồng thời không thể sử dụng chúng trong vai trò của các loại xe tăng xung kích, được sử dụng khi phòng thủ các quân đảo trên Thái Bình Dương. Loại pháo tự hành này không đảm bảo độ tin cậy khi phải đối đầu với pháo binh Mỹ.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Nhật Bản
Kíp xe: 4 - 5 người
Khối lượng: 13,3 tấn
Kích thước: chiều dài: 5,537m; chiều rộng: 2,286m; chiều cao: 1,549m (đến đầu lá chắn)
Tầm hoạt động: 250km
Bọc thép: 25mm
Trang bị: một lựu pháo 150mm “Type 38”
Động cơ: động cơ diezen V-12 170 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 38km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,812m; hố sâu: 2m; chỗ nông: 1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030842.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 01:35:26 am
15. Pháo tự hành ISU-152

ISU-152 là thiết bị pháo tự hành hạng nặng đầu tiên của Liên Xô trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. ISU gia nhập lực lượng Hồng quân vào năm 1943 – tham gia các trận đánh tại vòng cung Kursk. Được thiết kế trên gầm xe tăng KV-2, nó được sử dụng trong vai trò kép: pháo chống tăng và pháo tấn công hạng nặng. ISU nằm trong các đội quân tiên phong của Liên Xô trong những năm 1944 – 1945 và là một trong những lực lượng đầu tiên vào Berlin trong thời kỳ cuối chiến tranh. Điểm yếu chính của ISU-152 là cơ số đạn mang theo không nhiều do không gian chật chội bên trong xe, vì thế mỗi pháo tự hành yêu cầu lượng đạn tiếp tế một cách thường xuyên với sự hỗ trợ của những thiết bị vận tải chuyên dụng – rất nguy hiểm trong điều kiện chiến trường và không thuận tiện về mặt cơ động chiến thuật. ISU-152 còn tiếp tục phục vụ sau chiến tranh. Loại pháo tự hành này được sử dụng khi tấn công lực lượng nổi dậy tại Hunggari vào năm 1956.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Kíp xe: 5 người
Khối lượng: 46 tấn
Kích thước: chiều dài: 9m (tổng thể), 6,8m theo thân xe; chiều rộng: 3,07m; chiều cao: 2,48m
Tầm hoạt động: 185km
Bọc thép: 90mm
Trang bị: một lựu pháo 152mm ML-20S, súng phòng không 12,7mm
Động cơ: động cơ diezen V-2IS 520 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 40km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1,2m; hố sâu: 2,6m; chỗ nông: 1,3m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030844.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 01:35:58 am
 Pháo tự hành ISU-152:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ISU-152.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 01:36:47 am
 Bản vẽ ISU-152:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/isu152bave.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 01:37:34 am
 ISU-152 trong Bảo tàng Quân đội Liên Xô:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/isu-152btqdlx.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2010, 01:38:10 am
 ISU-152 tại Bảo tàng Kubinka:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Isu152Kubinka.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 01:18:57 am
16. Pháo tự hành 2S3 “Akatsya”

    Được biết đến tại Liên Xô với tên gọi 2S3 “Akasya”, còn trong các nước NATO, tên gọi của loại pháo tự hành này là M1973. 2S3 được sử dụng nhằm hỗ trợ hỏa lực cho các sư đoàn xe tăng và cơ giới trong quân đội Liên Xô ( khoảng 18 xe trong một sư đoàn). Gầm xe là phiên bản rút gọn của thiết bị chuyên chở hệ thống phòng không SA-4 và xe rải mìn GMZ, một trong những thiết bị được sản xuất tại Liên Xô trong nhiều năm. “Akasya” được trang bị hệ thống bảo vệ khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt và có khả năng bắn đầu đạn hạt nhân chiến thuật, nhưng không có các thiết bị để di chuyển dưới nước. Trong thời gian bắn, hai thành viên trong kíp xe phải đứng phía sau và làm nhiệm vụ tiếp đạn qua hai cổng nhỏ phía sau thân xe. Thiết bị pháo tự hành này rất phổ biến trong các nước nhập khẩu vũ khí của Liên Xô, nó được xuất khẩu sang Irak và Libia.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 25 tấn
Kích thước: chiều dài: 8,4; chiều rộng: 3,2m; chiều cao: 2,8m
Tầm hoạt động: 300km
Bọc thép: 15-20mm
Trang bị: một pháo 152mm, súng phòng không 7,62mm
Động cơ: động cơ diezen V-12 520 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 55km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1,1m; hố sâu: 2,5m; chỗ nông: 1,5m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030845.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 01:19:27 am
 Pháo tự hành 2S3 "Akasya":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/2S3Akatsiya.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 01:19:56 am
 Bản vẽ "Akasya":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/2s3.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 01:20:29 am
 2S3 trong Bảo tàng Quân đội Liên Xô:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/2S3btqdlx.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 01:53:23 am
17. Pháo tự hành DANA

    DANA là lựu pháo tự hành trên xe bánh hơi đầu tiên, gia nhập lực lượng vũ trong sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Bánh hơi, khác với băng xích, rẻ hơn về giá thành và công nghệ, đồng thời có tính cơ động chiến lược cao. DANA lần đầu tiên xuất hiện trong lực lượng vũ trang khối Hiệp ước Varsava vào năm 1980, do hãng “Shkoda” thiết kế dựa trên gầm xe vận tải bốn trục “Tatra-815” – một trong những thiết bị vận tải tốt nhất trong thời gian đó.Áp suất lên bánh xe có thể được điều chỉnh, đảm bảo tính cơ động cao trên vùng đất tơi xốp, bốn bánh trước của xe còn có thêm thiết bị phát điện bổ sung. DANA có ba trục đỡ thủy lực, được thả xuống đất trước khi bắn, màn chắn chuyên dụng dành cho công việc nạp đạn. Tốc độ bắn của DANA là 3 viên/phút, tốc độ này có thể duy trì trong 30 phút. DANA có mặt trong biên chế quân đội Libia, Ba Lan, Nga, Cộng hòa Séc và Slovakia.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Tiệp Khắc
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 23 tấn
Kích thước: chiều dài: 10,5m; chiều rộng: 2,8m; chiều cao: 2,6m
Tầm hoạt động: 600km
Bọc thép: 12,7mm
Trang bị: một pháo 152mm, súng  12,7mm
Động cơ: động cơ diezen 12 xilanh 345 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 80km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1,5m; hố sâu: 1,4m; chỗ nông: 1,4m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030847.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 01:53:48 am
 Pháo tự hành DANA:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/danatiepkhac.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 01:56:11 am
 Mô hình DANA:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/dana01mohinh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 02:21:55 am
18. Pháo tự hành M40 “Long Tom”

    Người Mỹ bắt tay vào thiết kế loại pháo tự hành có uy lực lớn vào tháng 12 năm 1943. Thiết bị này được lắp trên gầm xe tăng M4 và trang bị pháo 155mm “Long Tom”. Phía sau xe có trụ chống khối lượng lớn. Lúc bắn các trụ này được hạ xuống đất để giúp pháo không bị dịch chuyển khỏi vị trí khi bắn. Pháo “Long Tom” lần đầu tiên xuât hiện vào tháng 1 năm 1945 và được đưa sang Châu Âu cũng vào thời điểm đó, khi mà Chiến tranh Thế giới thứ hai gần như đã kết thúc. Vì thế, lần tham chiến đầu tiên của “Long Tom” là trong chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, nơi chúng đã thể hiện rất tốt vai trò của mình. Tổng cộng có 311 pháo tự hành “Long Tom” đã được sản xuất. Chúng cũng được quân đội Pháp sử dụng tại Đông Dương. Thời điểm M40 “Long Tom” xuất hiện, trên thế giới đã xuất hiện khái niệm chiến tranh hạt nhân, vì thế, những chiếc xe này được sử dụng một cách rộng rãi trong các thử nghiệm sau chiến tranh với sự đảm bảo cho kíp xe khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trên cơ sở “Long Tom”, được thử nghiệm các kiểu mẫu mà sau này được tiếp nhận trên các xe bọc thép hiện đại.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 8 người
Khối lượng: 36,4 tấn
Kích thước: chiều dài: 9m; chiều rộng: 3,15m; chiều cao: 2,84m
Tầm hoạt động: 160km
Bọc thép: trên 12,7mm
Trang bị: một pháo 155mm
Động cơ: động cơ diezen hình sao 9 xilanh “Continental” 395 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 38,6km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,6m; hố sâu: 2,26m; chỗ nông: 1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030848.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 02:22:38 am
 Pháo tự hành M40 "Long Tom":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M40_Long_Tom.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 02:23:17 am
 Khẩu đội M40 "Long Tom":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/khaudoiM40.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 02:25:35 am
 Hình vẽ "Long Tom":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/hinhveLongtom.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2010, 11:58:42 pm
19. Pháo tự hành 155mm Mk F3

    Vào những năm 1960, quân đội Pháp bắt đầu thực hiện việc thay thế các lựu pháo M41 của Mỹ đang có trong biên chế bằng các thiết bị pháo tự hành thiết kế nội địa. Loại pháo tự hành này được thiết kế trên gầm xe tăng AMX-13 và được biết tới nhiều với tên gọi Mk F3. Thiết bị này được trang bị hai trụ chống phía sau, được thả xuống đất khi bắn nhằm tăng độ vững chắc cho pháo. Mk F3 bắn đạn nổ 155mm tiêu chuẩn, ngoài ra còn có thể bắn được các loại đạn có động cơ tên lửa, đạn khói hoặc pháo sáng. Hệ thống bảo vệ khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt, đáng tiếc là không có. Sự sản xuất Mk F3 còn kéo dài đến đầu những năm 1980 và được xuất khẩu sang nhiều quốc gia khác ở Nam Mỹ và Cận Động. Điểm yếu cơ bản của thiết bị này là giáp bảo vệ yếu, kíp xe chỉ có hai người. Các nhược điểm khác trong đó có việc khi nó muốn chuyển động lùi, cần có sự hỗ trợ của xe kéo chuyên dụng.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Pháp
Kíp xe: 2 người
Khối lượng: 17,4 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,2m; chiều rộng: 2,7m; chiều cao: 2,1m
Tầm hoạt động: 300km
Bọc thép: 20mm
Trang bị: một pháo 155mm
Động cơ: động cơ xăng 8 xilanh SOFAM 8Gxb 250 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 60km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,6m; hố sâu: 1,5m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030849.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 12:00:35 am
 Pháo tự hành Mk F3:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Mk_F3.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 12:01:03 am
 Hình vẽ Mk F3:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/amx-13hinhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 12:15:42 am
20. Pháo tự hành 155mm GCT

    Pháo tự hành 155mm GCT được thiết kế nhằm thay thế cho pháo tự hành Mk F3. Sự sản xuất GCT được bắt đầu từ năm 1977, nhưng ban đầu, nó không phải được tiếp nhận ở Pháp mà tại A rập Saudi. Trong quân đội Pháp, GCT chỉ được tiếp nhận vào đầu những năm 1980 với 18 thiết bị trong mỗi trung đoàn xe tăng. Đến năm 1995, đã có khoảng 400 thiết bị pháo tự hành GCT được sản xuất dành cho quân đội và xuất khẩu. Điểm hiện đại so với Mk F3 là GCT có hệ thống nạp đạn tự động, nhờ đó mà tốc độ bắn lên đến 8 viên/phút, đồng thời được lắp thiết bị nhìn đêm và hệ thống bảo vệ kíp xe (tăng lên 4 người) khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt. Pháo của GCT có khả năng bắn được nhiều loại đạn, gồm có những loại đạn đặc biệt, mang theo mìn chống tăng. GCT được tiếp nhận như một loại vũ khí hiệu quả trong chiến tranh Iran – Irak – Irak đã mua 85 thiết bị tự hành GCT.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Pháp
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 42 tấn
Kích thước: chiều dài: 10,25m; chiều rộng: 3,15m; chiều cao: 3,25m
Tầm hoạt động: 450km
Bọc thép: 20mm
Trang bị: một pháo 155mm, súng phòng không 7,62mm hoặc 12,7mm
Động cơ: động cơ đa nhiên liệu 12 xilanh “Ispano – Soyuz” HS110 làm mát bằng nước 720 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 60km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,93m; hố sâu: 1,9m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030850.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 12:16:18 am
 Pháo tự hành 155mm GCT:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/GCT155mm.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 12:17:52 am
 GCT tại Pháp tháng 7 năm 2008 (trong cuộc duyệt binh kỷ niệm Quốc khánh Pháp):

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/GCT_155mmthang7taiPhapduyetbinh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:09:49 am
21. M109

    Đây là thiết bị được thiết kế theo chứng nhận của Mỹ vào năm 1952 trên cơ sở lựu pháo tự hành nhằm thay thế cho pháo M44. Những chiếc xe đầu tiên được sản xuất năm 1962, còn sau nhiều lần nâng cấp đáng kể, lựu pháo tự hành M109 trở thành một trong nhưng hệ thống pháo tự hành phổ biến nhất trên thế giới. Nó tham chiến tại Việt Nam, trong các cuộc xung đột A rập – Israel và trong chiến tranh Iran – Irak. Đã có 30 nước đặt mua loại pháo này nhằm trang bị cho quân đội. M109 có khả năng vượt chương ngại vật dưới nước, và bắn được nhiều loại đạn khác nhau, gồm cả đạn mang đầu đạn hạt nhân chiến thuật. Tính đến thời điểm này, trên toàn thế giới có khoảng 4000 thiết bị M109. Từ khi được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang, M109 đã chịu nhiều lần cải tiến: trên cơ sở của nó, đã phát triển phiên bản với tháp pháo mới và pháo nòng dài và các loại pháo khác, được trang bị hệ thống tự động điều khiển hỏa lực mới và tăng cường giáp phòng vệ. Đây là mẫu vũ khí vẫn sẽ được duy trì trong các lực lượng quân đội trên thế giới trong thế kỷ tới.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 23,7 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,61m; chiều rộng: 3,3m; chiều cao: 3,3m
Tầm hoạt động: 390km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 155mm, súng phòng không 12,7mm
Động cơ: động cơ diezen “Detroyt Dizel” mẫu 8V-71T 450 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 56km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,5m; hố sâu: 1,8m; chỗ nông: 1,1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030851.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:11:08 am
 Pháo tự hành M109:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:16:35 am
 Bản vẽ pháo tự hành M109:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109hinhve.jpg)



Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:17:31 am
 M109 trong chiến tranh Việt Nam:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109vietnam.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:30:48 am
22. Pháo tự hành M109A6 “Paladin”

    Pháo tự hành M109A6 “Paladin” 155mm (6,1 inch) có khung xe và hệ thống treo của mẫu M109 nguyên bản, nhưng phần còn lại được lắp mới hoàn toàn. Kích thước tháp pháo được gia tăng, giáp phòng vệ dày hơn. Trên tháp pháo là lựu pháo mới M284 dài gấp 39 lần cỡ nòng với  bệ khóa nòng có hình dạng mới, hệ thống nạp đạn tự động và loa hãm lùi hiện đại hơn. Ngoài ra, hệ thống điều khiển hỏa lực mới cũng được thiết kế, gần với hệ thống dẫn bắn của pháo phòng không – nó tự động tính toán cho pháo góc tầm và góc hướng cần thiết, định hướng thông tin cho bộ cảm biến xử lý. Cuối cùng là thiết bị tự động hóa, có khả năng phản ứng một cách nhanh chóng trước sự xuất hiện của mục tiêu, có thể bắn hạ các mục tiêu di động. Đây là điểm khác biệt, hơn hẳn so với phiên bản M109 nguyên thủy.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 4 người
Khối lượng: 28,74 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,19m; chiều rộng: 3,15m; chiều cao: 3,24m
Tầm hoạt động: 405km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 155mm M248
Động cơ: động cơ diezen “Detroyt Dizel” mẫu 8V-71T, V-8 450 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 56km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,53m; hố sâu: 1,83m; chỗ nông: 1,95m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030853.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:32:22 am
 Pháo tự hành 155mm M109A6 "Paladin":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109A6Paladin.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:33:59 am
 Hình vẽ M109 "Paladin":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M106Apalandinhanhve3d.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:41:16 am
 M109 "Paladin" tại vùng Vịnh:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109A6iraq.jpg)

 M109 trong quân đội Israel:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109ban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:47:56 am
 Các phiên bản của dòng pháo tự hành M109:
 
1. M109A1:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m109a1anh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:48:26 am
 Bản vẽ M109A1:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109A1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:48:57 am
2. M109A2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/LAND_M109A2.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:49:25 am
 Bản vẽ M109A2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109A2.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:54:32 am
3. M109A3:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m109a3anh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:55:19 am
 Bản vẽ M109A3:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109A3.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:56:42 am
4. M109A5:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M109A5.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 01:57:20 am
 Bản vẽ M109A5:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m109a5banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 11:23:10 pm
23. “Palmaria”

    Pháo tự hành “Palmaria” được thiết kế bởi hãng “OTO Melara” với mục đích cơ bản là xuất khẩu. “Palmaria” xuất hiện vào năm 1981 và khách hàng đầu tiên là Libia. “Palmaria” lấy gầm của xe tăng chủ lực OF-40, cũng được sản xuất và xuất khẩu cho Các Tiểu vương quốc A rập thống nhất, vì thế, pháo tự hành đã được sản xuất kịp số lượng và giao hàng trong thời gian tổng cộng một năm. Điểm bất bình thường là xe có buồng động cơ riêng dành cho việc quay tháp pháo, đảm bảo độ an toàn và hoạt động cho pháo ngay cả khi xe bị bắn hỏng. Pháo có hệ thống nạp đạn tự động và có thể tiếp nhận nhiều kiểu đạn, bao gồm loại đạn phản lực có động cơ khởi động (đương nhiên, loại đạn này mang được ít thuốc nổ). Hệ thống nạp đạn tự động cho phép pháo bắn tốc độ 15 giây/viên. Đồng thời, trên gầm xe tăng chủ lực OF-40 cũng phát triển thêm phiên bản phòng không – với hai pháo tự động 25mm.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Italia
Kíp xe: 5 người
Khối lượng: 46,632 tấn
Kích thước: chiều dài: 11,474m; chiều rộng: 2,35m; chiều cao: 2,874m
Tầm hoạt động: 400km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 155mm; một súng máy 7,62mm
Động cơ: động cơ diezen 8 xilanh 750 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 60km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1mm; hố sâu: 3m; chỗ nông: 1,2m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030854.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 11:23:43 pm
 Pháo tự hành "Palmaria":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Palmaria.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 11:24:22 pm
 Bản vẽ kích thước pháo tự hành "Palmaria":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Palmariabanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 11:25:20 pm
 Xe tăng chủ lực OF-40 sản xuất cho Dubai - gầm pháo tự hành "Palmaria":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/of40.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 11:26:06 pm
 Bản vẽ OF-40:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/of40banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2010, 11:58:56 pm
24. “Bendcanon”

    Hãng “Bofors” đã thiết kế nguyên mẫu pháo tự hành “Bendcanon 1A” vào năm 1960, nhưng những tiêu bản đầu tiên chỉ được xuất hiện vào năm 1966 do nhiều cuộc thử nghiệm kéo dài. Hệ thống này khác với các loại pháo tự hành của các quốc gia khác ở chỗ, thực tế đây là thiết bị pháo tự hành tự động hoàn toàn được tiếp nhận vào quân đội. Đạn của pháo được xếp trên 14 giá kẹp đạn, được bố trí bên ngoài xe, phía sau tháp pháo. Chỉ có lần đầu tiên việc nạp đạn phải thực hiện bằng tay, còn sau đó tự động hóa hoàn toàn. “Bendcanon” không được sản xuất với số lượng lớn, và sau hai năm, sự sản xuất hầu như bị đình chỉ - lý do cơ bản: do sức cơ động kém và rất dễ bị tổn thương trên chiến trường. Phiên bản cuối cùng của “Bencanon” cũng không có nhiều sự hiện đại hóa – được trang bị động cơ diezen “Rolls – Roys” và hệ thống điều khiển hỏa lực mới.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Thụy Điển
Kíp xe: 5 người
Khối lượng: 53 tấn
Kích thước: chiều dài: 11m; chiều rộng: 3m; chiều cao: 3,85m
Tầm hoạt động: 230km
Bọc thép: 10-20mm
Trang bị: một lựu pháo 155mm; một súng máy phòng không 7,62mm
Động cơ: động cơ diezen “Roll – Roys” 750 sức ngựa; tuốc bin khí 300 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 28km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,95mm; hố sâu: 2m; chỗ nông: 1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030855.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2010, 01:07:34 am
25. AS-90

    Sau khi không thành công với đồ án SP70, hãng “Bikkers – Armtrong” đã quyết định thiết kế một phiên bản pháo tự hành của riêng hãng. Quyết định khi đó là thiết kế một tháp pháo quay, để có thể lắp lên gầm xe tăng một cách đơn giản và để cho kết cấu của thân xe ít bị thay đổi nhất. Rất nhanh chóng sau khi xuất hiện, SP70 đã không được tiếp nhận một cách tích cực trong lực lượng vũ trang và thiết bị này yêu cầu được thiết kế mới. Bằng hình thức này, giới chỉ huy quân sự Anh đã đưa quyết định: tiếp nhận vào  trang bị phiên bản pháo tự hành M109 cuối cùng hoặc là sử dụng phiên bản AS-90 do chính Anh thiết kế. M109 không hoàn toàn vượt trội so với phiên bản của Anh do kích thước quá lớn, vì thế AS-90 đã được lựa chọn và đã được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang năm 1993. AS-90 trang bị pháo 155mm có chiều dài gấp 39 lần cỡ nòng, tuy nhiên có thể lắp các loại pháo đồng dạng dài gấp 45 hoặc 52 lần cỡ nòng – và có thể, phiên bản sau cùng trong tương lai gần sẽ trở thành tiêu chuẩn.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Anh
Kíp xe: 5 người
Khối lượng: 45 tấn
Kích thước: chiều dài: 7,2m; chiều rộng: 3,4m; chiều cao: 3m
Tầm hoạt động: 240km
Bọc thép: 17mm
Trang bị: một lựu pháo 155mm
Động cơ: động cơ diezen 8 xilanh “Cummins” 600 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 55km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1,5mm; hố sâu: 2,8m; chỗ nông: 1,5m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030856.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2010, 01:08:12 am
 Pháo tự hành AS-90:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/as90.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2010, 01:13:43 am
 Mô hình AS-90:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/AS90mohinh.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2010, 01:14:41 am
 Pháo tự hành AS-90 bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/as90ban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2010, 01:16:08 am
 SP70 - đồ án đã không mang lại thành công:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/sp70.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 12:12:14 am
26. G-6

    Xuất hiện vào đầu những năm 1980, G-6 được xem như dòng pháo thứ hai trên thế giới được lắp trên xe bánh hơi (phiên bản đầu tiên là DANA của Tiệp Khắc). Ngoài ra, không tính đến việc quân đội Nam Phi đã sử dụng chúng không tồi, không còn quốc gia nào khác sản xuất và tiếp nhận những hệ thống pháo tự hành tương tự như vậy vào quân đội của mình nữa. G-6 sử dụng gầm xe vận tải ba trục đặc biệt, phía sau xe có không gian làm việc hợp lý cho kíp xe, trên đó bố trí tháp pháo vơi pháo 155mm, trước đó được sử dụng trong quân đội Nam Phi dưới dạng pháo xe kéo. Để củng cố sự vững chắc của pháo, G-6 được trang bị những trụ chống chuyên dụng. Khi bắn, các trụ này được hạ xuống đất, còn hệ thống treo tạo cho xe có khả năng giảm sóc rất tốt khi hoạt động trên địa hình mấp mô. Mũi đầu xe dạng hình vát phục vụ cho việc chứa đạn, ngoài ra, đạn còn được bố trí trong cabin của lái xe.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Nam Phi
Kíp xe: 6 người
Khối lượng: 47 tấn
Kích thước: chiều dài: 9,2m; chiều rộng: 3,4m; chiều cao: 3,3m
Tầm hoạt động: 700km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 155mm
Động cơ: động cơ diezen 525 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 90km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,5m; hố sâu: 1m; chỗ nông: 1m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030857.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 12:12:44 am
 Pháo tự hành G-6:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/LAND_G6.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 12:13:07 am
 Bản vẽ G-6:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/g-6banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 12:13:31 am
 Pháo tự hành G-6 bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/g6ban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 01:04:21 am
27. “Panzerhaubitze 2000”

    Sau khi không thành công trong đồ án SP70, được ba nước đồng thiết kế, Đức quyết định tìm và thiết kế cho mình loại lựu pháo tự hành để tái trang bị cho quân đội. Các nhà thiết kế, đã dựa trên các mẫu của hai hãng, được lựa chọn mẫu, do công ty “Vegmann/MaK giới thiệu, và đã được kí hợp đồng. Trong thời gian này, “Panzerhaubitze” vẫn nằm trong tình trạng tiếp tục được hoàn thiện và sự sản xuất chỉ được bắt đầu vào năm 2000. Pháo tự hành mới có cấu tạo rất phức tạp, có khoảng 250 mẫu trang bị khác nhau trên nó. Thân xe và bộ phận truyền động được lấy từ xe tăng chủ lực “Leopard 2”, nhưng động cơ và hộp truyền động lại được bố trí phía trước thân xe. Phía sau bố trí một tháp pháo lớn với lựu pháo nòng dài gấp 52 lần cỡ nòng và bệ khóa nòng trượt cùng bộ hãm lùi đầu nòng lớn. Pháo và tháp pháo tự động hóa hoàn toàn, hệ thống nạp đạn tự động cho phép pháo có khả năng bắn 3 viên đạn trong vòng 10 giây.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Kíp xe: 5 người
Khối lượng: 55 tấn
Kích thước: chiều dài: 7,87m; chiều rộng: 3,37m; chiều cao: 3,4m
Tầm hoạt động: 420km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 155mm
Động cơ: động cơ diezen 12 xilanh MTU 881 1000 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 60km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1m; hố sâu: 3m; chỗ nông: 2,5m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030858.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 01:04:56 am
 Pháo tự hành "Panzerhaubitze 2000":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/pzh2000-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 01:05:30 am
 Mô hình "Panzerhaubitze 2000":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/mohinhPzb2000.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 01:06:14 am
 "Panzerhaubitze 2000" bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/pzh2000ban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 01:10:05 am
 Khẩu đội "Panzerhaubitze 2000":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/panzerhaubitze2000khaudoi.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 01:39:37 am
28. Lựu pháo tự hành hạng nhẹ 155mm “Raskal”

    Thiết bị “Raskal” được hãng “Soltam” (Israel) thiết kế và là một mẫu hiện đại trong dòng pháo tự hành. Yêu cầu đặt ra nhằm thiết kế một loại vũ khí có khối lượng không quá lớn, thậm chí có thể đi qua những cây cầu trên các trục đường thứ yếu và đường làng, khi cần thiết, hệ thống này có thể được vận chuyển bằng đường không. Trong quá trình thiết kế, không có bất kỳ gầm loại xe tăng nào hiện có được sử dụng. Phía trước bên trái thân xe là cabin dành cho lái xe, động cơ được bố trí phía sau cabin, còn tiếp đó là buồng trung tâm dành cho chỉ huy và hai pháo thủ. Lựu pháo 155mm hoàn toàn tự động hóa được bố trí phía sau thân xe với đạn pháo lộ thiên. Cơ số đạn bao gồm 40 viên. Trong đó, đầu đạn được bố trí trên các giá dọc theo thân xe, còn đuôi đạn được xếp trong các buồng bọc thép đặc biệt của xe. 

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Israel
Kíp xe: 4 người
Khối lượng:  19 500kg
Kích thước: chiều dài: 7,5m; chiều rộng: 2,46m; chiều cao: 2,3m
Tầm hoạt động: 350km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 155mm
Động cơ: động cơ diezen 1000 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 60km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1m; hố sâu: 3m; chỗ nông: 2,25m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030859.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 01:42:14 am
 Lựu pháo tự hành hạng nhẹ "Rascal":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/rascal1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:26:36 pm
29. Pháo tự hành 155mm “Norinko”

    Pháo tự hành 155mm “Norinko” của Trung Quốc có thiết kế quen thuộc – buồng lái và động cơ được bố trí phía trước xe, còn buồng chiến đấu trong tháp pháo lớn với pháo 155mm dài gấp 45 lần cỡ nòng nằm trên phần sau thân xe. Pháo chính có bộ hãm lùi đầu nòng và thiết bị tách khí, đồng thời có các thiết bị hỗ trợ để nạp đạn với bất kỳ góc tầm nào của pháo. Bởi vì quân đội Trung Quốc không sử dụng pháo cỡ nòng 155mm, trong khi loại vũ khí này bắn đạn tiêu chuẩn NATO, nên “Norinko” chỉ dành cho xuất khẩu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có được tên cụ thể của những khách hàng quan tâm đến loại vũ khí này. Theo một vài thông tin không hoàn toàn tin cậy, một số tiêu bản của loại pháo tự hành này đã được bán cho một nước vùng Cận Đông năm 1996.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Trung Quốc
Kíp xe: 5 người
Khối lượng:  32 tấn
Kích thước: chiều dài: 6,1m; chiều rộng: 3,2m; chiều cao: 2,59m
Tầm hoạt động: 450km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 155mm WAC-21
Động cơ: động cơ diezen 525 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 56km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,7m; hố sâu: 2,7m; chỗ nông: 1,2m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030861.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:27:20 pm
 Pháo tự hành "Norinko"

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/plz45-155norinko.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:30:15 pm
 Pháo tự hành "Norinko" bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/norinko.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:31:06 pm
 Pháo tự hành 155mm SH-1 - phiên bản của "Norinko":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SH-1firing-2.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:55:54 pm
30. M110A2

    Lựu pháo tự hành 203mm (8 inch) thường được sử dụng theo cặp như pháo 155mm (6,1 inch) và được lắp trên gầm pháo tự hành M109. Theo nguyên tắc này, một loại pháo tự hành đồng dạng với M107 cũng được thiết kế - pháo tự hành M110 trang bị pháo 8 inch. Nhưng kết cấu của nó không đem lại sự tin cậy và bị loại khỏi lực lượng vũ trang, còn lực lượng pháo binh Mỹ xuất hiện một lỗ hổng lớn  - không có những loại pháo tự hành hạng nặng khác, có khả năng bắn phá các mục tiêu nằm sâu trong hậu tuyến của đối phương hoặc có thể mang được đầu đạn hạt nhân. Khi đó, người Mỹ đã thiết kế được mẫu pháo tự hành 8 inch mới mang tên M110A1. Vào năm 1978, xuất hiện biến thể tiếp theo của nó là M110A2, có bộ hãm lùi đầu nòng, có cho phép sử dụng các loại đạn có sức công phá lớn hơn. Sau đó, tầm bắn của loại pháo tự hành mới có thể lên tới 23 km.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Kíp xe: 5 người
Khối lượng:  28 350kg
Kích thước: chiều dài: 5,72m; chiều rộng: 3,14m; chiều cao: 2,93m
Tầm hoạt động: 520km
Bọc thép: không xác định
Trang bị: một lựu pháo 203mm
Động cơ: động cơ diezen “Detroyt Dizel” 8V-71T, V-8 405 sức ngựa
Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 56km/h
                              Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1,01m; hố sâu: 2,32m; chỗ nông: 1,06m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030862.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:56:24 pm
 Pháo tự hành M110A2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m-110a2.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:56:56 pm
 M110A2 bắn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M110A2ban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:57:44 pm
 Các dòng pháo tự hành gần với M110A2:

 Pháo tự hành M110A1:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M110A1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:58:19 pm
 Pháo tự hành M107 "Vua chiến trường":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M107.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2010, 11:58:47 pm
 M107 trong chiến tranh Việt Nam:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/m107ctvn.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 12:28:23 am
TÊN LỬA PHÓNG LOẠT (KHÔNG ĐIỀU KHIỂN)

1. “Nebelwerfer 41”

    Hiệp ước Véc – xai đã cấm nước Đức phát triển pháo binh hạng nặng. Tuy nhiên, trong đó không hề nhắc gì đến tên lửa, vì thế, bắt đầu từ năm 1931, người Đức bắt đầu thiết kế các hệ thống tên lửa bắn loạt. Một trong nhưng phiên bản đó là súng phóng lựu phản lực “Nebelwerfer 41”. Hệ thống này được biết đến như một khối sáu nòng, được bố trí trên một khung hai bánh xe và càng di động. Chính viên đạn phản lực cũng có cấu tạo rất thú vị: động cơ được bố trí ở phía trước, còn thuốc súng được nhồi sau các vòi phun, phân bố ở phần giữa ống phản lực, còn thuốc nổ nằm ở đuôi đạn. Điều này làm tăng khả năng sát thương của viên đạn phản lực, bởi vì khi rơi xuống, chúng tiếp đất bằng mũi, còn sự nổ sẽ xảy ra trên mặt đất và mảnh đạn sẽ văng ra xa hơn rất nhiều.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Cỡ nòng: 158mm
Khối lượng thiết bị phóng: 770kg (đã nạp đạn)
Chiều dài đạn: 979mm
Khối lượng đạn: 31,8kg
Đầu đạn: đạn nổ mảnh/2,83kg
Sơ tốc đầu nòng: 342m/s
Tầm bay xa: 7060m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030923.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 12:29:24 am
 Tên lửa phóng loạt “Nebelwerfer 41”:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/nbw41_now.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 12:30:01 am
 Tranh vẽ “Nebelwerfer 41”:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/nwfhinhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 12:34:20 am
 Bản vẽ “Nebelwerfer 41”:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/nefer41banve.png)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 01:02:51 am
2. “Vyurfgranate 42”

    Tên lửa 21cm “Vyufgranate 42” của Đức làm người ta liên tưởng tới các loại đạn pháo cỡ nòng lớn và ổn định trong quá trình bay nhờ sự quay, có hình dạng của vòi phun phản lực. Phần trước của tên lửa mang khoảng 10,16 cân thuốc nổ, còn phần sau là động cơ, hoạt động bằng thuốc súng không khói, và cơ chế đốt cháy thuốc nổ. Khói thuốc súng được thải ra qua 22 vòi phun nhỏ trên thân tên lửa, với cách bố trí này, đảm bảo cho viên đạn chuyển động lên phía trước và đồng thời quay tròn theo trục thẳng. Phần đầu đạn được che bởi một mũ chụp đạn đặc biệt, dưới bộ phận này là ngòi kích nổ. Tên lửa được phóng từ hệ thống “Vyurfgranate 42” được biết đến như một tổ hợp năm nòng súng, được lắp trên khun hai bánh với càng di động, thiết bị được sử dụng trên thiết bị phóng tên lửa 15cm.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Cỡ nòng: 210mm (8,27 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 1100kg
Chiều dài đạn: 1,25m
Khối lượng đạn: 109,5kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh/10,17kg
Sơ tốc đầu nòng: 320m/s
Tầm bay xa: 7850m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030924.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 01:03:34 am
 Pháo phản lực “Vyurfgranate 42”:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Vyufran.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 01:47:01 am
3. Thiết bị phóng tên lửa 200mm thuộc quân đội

    Vào thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai, quân đội và Hải quân Nhật Bản hoạt động trong tình trạng rất không đồng bộ và ưa thích việc tự chế tạo và hiện đại hóa các loại vũ khí hơn là hợp tác với nhau. Thiết bị phóng tên lửa 200mm được thiết kế trong tình trạng đó. Trong kết quả từ việc tiếp nhận nững thiết bị giống nhau, chỉ khác nhau ở một vài chi tiết. Tên lửa thuộc quân đội, như trên hình vẽ, theo hình dạng rất giống với đạn pháo, với đầu đạn nổ, và động cơ tên lửa với thuốc không khói nằm ở phía sau. Đạn tên lửa hoạt động khi thuốc bị đốt cháy và phụt qua những vòi phun, việc bố trí như vậy giúp cho tên lửa quay tròn trong quá trình bay. Thiết bị phóng tên lửa là loại súng cối dài, có nòng trơn, tên lửa được đặt vào trong đó.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Nhật Bản
Cỡ nòng: 202mm (7,95 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 227kg
Chiều dài đạn: 983mm
Khối lượng đạn: 92,6kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh/16,2kg
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 2930m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030925.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 01:47:59 am
 Thiết bị phóng đạn phản lực 200mm thuộc quân đội Nhật Bản:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/sungcoiphanluc.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 11:07:39 pm
4. Tên lửa 4,5 inch M8

    Tên lửa 114mm (4,5 inch) trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ hai được xem như loại đạn tên lửa được phổ biến nhất trong quân đội Mỹ. Lúc đầu, nó được thiết kế dành cho các loại máy bay cường kích (để tấn công các mục tiêu trên mặt đất), và chỉ sau đó mới được tiếp nhận như một loại pháo mặt đất. Thiết kế của viên đạn không tồi – đầu đạn gồm có bộ phận trước, và có dạng đuôi ống dài, được bố trí tại trung tâm của gian dưới tên lửa. Xung quanh ống bố trí các thanh thuốc súng không khói, tạo thành động cơ tên lửa. Tên lửa duy trì được sự ổn định trong quá trình bay nhờ những cánh xếp cân bằng, được mở ra từ thân viên đạn dưới sự tác động của luồng không khí ngược nhiều, sau đó nó rời khỏi nòng của thiết bị phóng. Hệ thống được hiện đại hóa một cách thường xuyên, hình dạng bên ngoài của nó có nhưng những sự thay đổi khác nhau, nhưng trong nguyên tắc hoạt động, các biến thể M8A1, A2, A3 khác nhau rất ít.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Cỡ nòng: 114mm (4,5 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 13,6kg
Chiều dài đạn: 883mm
Khối lượng đạn: 17,5kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh/1,96kg
Sơ tốc đầu nòng: 295m/s
Tầm bay xa: 4200m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030926.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2010, 11:37:03 pm
5. Tên lửa phòng không 2 inch

    Đây là tên lửa 57mm của Anh, là mẫu thử nghiệm trong quá trình thiết kế phiên bản 76mm được biết đến nhiều hơn, nhưng bản thân nó hoàn toàn không có khả năng của một loại vũ khí phòng không. Sóng không khí, với kích thước tên lửa không lớn, được tạo ra khi phóng làm giảm sức công phá – rất quan trọng cho các tàu chiến cỡ vừa và các tàu vận tải, mà trên đó được lắp các hệ thống tên lửa này. Ngoài các loại tên lửa nổ mảnh thông thường, loại tên lửa cáp – dù (PAC) đặc biệt cũng có thể được tiếp nhận, có thể phóng lên độ cao gần 3000 mét và từ đó sẽ được thả xuống với dây thép, được buộc vào dù. Hình thức này có tác dụng như “hàng rào”, ngăn cản các máy bay ném bom của đối phương thực hiện các vụ tấn công và đưa chúng vào khu vực nguy hiểm. Tên lửa PAC được sử dụng trong hệ thống phòng thủ trên các sân bay của Anh nhằm chống lại các máy bay tầm thấp của Đức.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Anh
Cỡ nòng: 57mm (2,244 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: không xác định
Chiều dài đạn: 914mm
Khối lượng đạn: 4,88kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh/0,25kg
Sơ tốc đầu nòng: 457m/s
Tầm bay xa: 3038m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030927.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:00:05 am
6. Tên lửa 3 inch

    Tên lửa 3 inch (76,2mm) của Anh được thiết kế vào giữa những năm 1930 trong một giải pháp tìm kiếm sự kinh tế hơn so với pháo phòng không 3 inch. Nó có khối lượng gần như tương đồng với đạn pháo 76mm, cũng như sơ tốc đầu nòng vào tầm bắn. Loại vũ khí này đã được đánh giá không tồi, thiết bị phóng của nó được bố trí trên nhiều cảng biển và các cơ sở quân sự trong và ngoài biên giới nước Anh. Chúng thường được đặt tại khu vực gần bờ biển, bởi vì thiết bị này có thể phóng đồng thời 64 tên lửa, mảnh đạn và thỏi đúc rơi từ trên cao xuống có thể gây ra một số thiệt hại cho dân thường, vì thế, tốt hơn cả là chúng rơi xuống biển. Cũng như tên lửa 57mm, tên lửa 3 inch có một vài phiên bản bất thường. Ví dụ như tên lửa với tiêu chuẩn “K” có tầm bay cao đến 6770m, và rơi xuống đất bằng dù lớn, được giữ bằng hàng trăm sợi cáp thép bên ngoài quả đạn. Nếu máy bay của đối phương bị cuốn bởi những sợi cáp dù này, viên đạn sẽ bám vào thân máy bay và làm nổ nó.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Anh
Cỡ nòng: 76,2mm (3 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: hai nòng (số 2) – 556kg
Chiều dài đạn: 1,93m
Khối lượng đạn: 24,5kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh/1,94kg
Sơ tốc đầu nòng: 457m/s
Tầm bay xa: 6770m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030928.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:15:49 am
7. “Land Matress”

    Đây là loại tên lửa 32 nòng của Anh được thiết kế vào năm 1944. Các nòng tên lửa xếp thành một khối trên khung xe kéo hai bánh. Tên lửa được biết đến với động cơ được lấy từ tên lửa phòng không 3 inch và đầu đạn của tên lửa bờ 5 inch (127mm) có uy lực nổ của đạn rất lớn với ngòi chạm nổ. Lần đầu tiên nhữn thiết bị này được sử dụng bởi những đơn vị Canada khi tấn công vào Balheren, dành cho lực lượng phòng thủ trên quần đảo những tặng phẩm khủng khiếp. Trên một dàn của thiết bị “Land Matress” có thể phóng một số lượng thuốc nổ bằng với một khẩu đội pháo chiến trường. Sau đó hệ thống này được hoàn thiện theo hướng có thể được kéo trên các xe “Jeep” của Mỹ, nhưng chiến tranh đã kết thúc sớm hơn khi mà hệ thống mới được đưa vào các đơn vị pháo binh.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Anh
Cỡ nòng: 76,2mm (3 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 1118kg
Chiều dài nòng: 1,770m
Khối lượng đạn: 30,53kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh/3,18kg
Sơ tốc đầu nòng: 353m/s
Tầm bay xa: 7320m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030929.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:18:30 am
 Thiết bị phóng tên lửa "Land Matress" (bên phải):

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Land_Mattress.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:19:01 am
 Hình vẽ "Land Matress":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/landmatresshinhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:19:38 am
 "Land Matress" và đạn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/landmatressdan.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:46:35 am
8. M-13

    Hệ thống phóng tên lửa M-13 của Nga được giới thiệu như một vài rãnh dẫn hướng cho tên lửa 132mm. Hệ thống này được lắp trên xe vận tải ba trục, mặc dù đôi lúc chúng cũng được bố trí trên các xe tăng hạng nhẹ, xe chở và các thiết bị kỹ thuật khác được thực hiện bằng tay. Công việc thiết kế hệ thống này diễn ra vào đầu những năm 1930, nhưng nằm trong tình trạng bảo mật cao – không chỉ với thế giới mà cả với bộ phận lớn Hồng quân, bởi vì thiết bị này được trang bị cho các đơn vị NKVD. Tuy nhiên quá trình này vẫn được tiếp tục và chỉ đến tháng 6 năm 1941, những hệ thống này mới được đưa vào chiến trường – và đương nhiên khi đó, bí mật này mới được biết đến. Đó là câu trả lời gần như ngay lập tức đối với thiết bị phóng tên lửa 15cm “Nebelwerfer” của Đức. Sau đó, trong thời gian toàn bộ cuộc chiến tranh, những cuộc quyết đấu về thiết kế các hệ thống tên lửa giữa Liên Xô và Đức diễn ra một cách thường xuyên.

   Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Cỡ nòng: 132mm (5,2 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: khác nhau
Chiều dài đạn: 1,42m
Khối lượng đạn: 42,5kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh
Sơ tốc đầu nòng: 355m/s
Tầm bay xa: 8500m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030931.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:47:42 am
 (B)M-13 "Cachiusa":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm13.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:49:07 am
 Bản vẽ (B)M-13:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/BM_13_ZIS_6.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:49:56 am
 Hình vẽ BM-13:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/BM-13hinhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:50:33 am
 Dàn tên lửa BM-13 đang phóng:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/BM_13ban.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:51:03 am
 Phiên bản BM-13 trên xe Zil-151:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/BM-13-Katjuscha.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:51:35 am
 Bản vẽ BM-13 trên Zil-151:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm-13zis151.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 01:04:08 am
9. M-30

    Những tài liệu về hệ thống tên lửa 300mm (11,81 inch) là không đủ nhiều, bởi vì chúng đã bị loại bỏ khỏi trang bị sau chiến tranh, còn thời điểm chúng được tiếp nhận vào quân đội vẫn là bí mật. Những gì còn lưu giữ lại, chỉ là một vài hình ảnh, thậm chí hầu như không có thông tin. Có một vài nhận định, tên lửa có cấu tạo đặc trưng với động cơ bằng nhiêu liệu rắn, ngòi chạm nổ và đầu đạn nổ - nổ mảnh. Hệ thống phóng được giới thiệu là một khung dạng lưới hình chữ nhật với bốn rãnh dẫn hướng. Bộ phận phía sau của hệ thống được thả xuống đất, còn phía trước được nâng lên bởi hai trục nâng để đạt tới góc tầm cần thiết. Hệ thống này được vận chuyển ra chiến trường bằng xe vận tải, sau đó được tháo rời và bắn từ mặt đất. Loại vũ khí này được sử dụng rất giống với cách thức chuẩn bị của phần lớn pháo tấn công thế hệ trước. Một điều chắc chắn rằng những hệ thống này không bao giờ được bắn một cách trực tiếp từ trên xe vận tải.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Cỡ nòng: 300mm
Khối lượng thiết bị phóng: không xác định
Chiều dài đạn: không xác định
Khối lượng đạn: 72kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 2800m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030932.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 09:25:22 pm
10. “Panzerwerfer 42”

    Thiết bị phóng tên lửa “Nebelwerfer” của Đức có hai nhược điểm: một là sau khi bắn sẽ tạo nên những đám mây khói và bụi rất lớn; hai là tên lửa khi bay cũng kéo theo những vệt khói. Như vậy, khả năng lộ vị trí đặt tên lửa rất cao, và trở thành sự tự sát đối với pháo thủ. Để tăng cường an toàn cho thiết bị cũng như sự sống còn của pháo thủ, người Đức đã thiết kế phiên bản cơ động cho loại vũ khí này. Thiết bị phóng tên lửa 10 nòng được lắp trên nóc xe bọc thép bán xích, có thể di chuyển đến vị trí khác một cách nhanh chóng sau khi bắn. Đến năm 1942, hãng “Opel” đã sản xuất được 300 xe bọc thép dạng này và được tiếp nhận cho đến cuối cuộc chiến – đương nhiên là trên mặt trận phía Đông.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Cỡ nòng: 150mm (5,9 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 800kg
Chiều dài đạn: 979mm
Khối lượng đạn: 31,8kg
Đầu đạn: đạn nổ – nổ mảnh/2,5kg
Sơ tốc đầu nòng: 342m/s
Tầm bay xa: 7060m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030933.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 09:25:55 pm
 "Panzerwerfer 42":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/panzer_werfer_1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 09:26:24 pm
 Hình vẽ "Panzerwerfer 42":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/15-cm-panzerwerferhinhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 09:42:07 pm
11. Thiết bị phản lực D-3000 trên gầm xe “Walid”

    Hệ thống phóng tên lửa theo dàn D-3000 được cấu tạo từ 12 nòng, được lắp trên xe bọc thép “Walid” với buồng mở dành cho quân dù. Tên lửa 80mm được trang bị những đầu đạn đặc biệt với nhiệm vụ duy nhất là tạo màn khói. Bởi vì trên các hoang mạc thuộc Bắc Phi, những màn khói đó rất cần thiết để che phủ và hỗ trợ cho quân lính và các thiết bị kỹ thuật. Một dàn phóng của thiết bị D-3000 có thể tạo ra một màn khói có chiều dài 1km, và sau đó sẽ được tăng cường và hỗ trợ bởi các thiết bị phóng riêng biệt. Phiên bản khác của nó là D-6000 được giới thiệu như một thiết bị phóng tên lửa 122mm có sáu nòng. Nó được tiếp nhận khi cần thiết để tạo ra những màn khói lớn kéo dài đến 6000m.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Ai Cập
Cỡ nòng: 80mm (3,15 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 5400kg
Chiều dài đạn: 1,51m
Khối lượng đạn: 26,5kg
Đầu đạn: 7,8kg
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 2500m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030934.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 09:42:39 pm
 Thiết bị phóng tên lửa tạo màn khói D-3000:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/18walid.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 09:43:14 pm
 Hình vẽ D-3000:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/walid4x4hinhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 09:59:33 pm
12. SBAT-70

   Hệ thống SBAT-70 do Brazil sản xuất ban đầu để dành cho nhiệm phụ phòng không, nhưng sau đó, được chuyển hóa, có khả năng tấn công các mục tiêu trên mặt đất. Đây là loại đạn phản lực một tầng hoạt động bằng nhiên liệu rắn, được trang bị bộ phận ổn định dạng cánh xếp, được mở ra từ thân đạn sau khi tên lửa được phóng đi dưới tác động của dòng không khí. Thiết bị phóng được cấu tạo từ 36 ống dẫn hướng, lắp trên khung xe hai bánh và được trang bị cơ chế dẫn bắn góc tầm và góc hướng. Hệ thống này cần bốn người phục vụ. Đầu đạn được sử dụng có nhiều dạng khác nhau: dạng tiêu chuẩn: đạn lõm và nổ - nổ mảnh – nhằm tiêu diệt xe tăng và các lực lượng mạnh của đối phương. Ngoài ra, còn có đầu đạn hình quạt, chứa nhiều nguyên tố hình mũi tên (đinh…), đồng thời có đạn cháy (từ phốt pho trắng) và đạn huấn luyện. Hệ thống này được chỉ định dành cho xuất khẩu, nhưng khách hàng quan tâm tới SBAT-70, đến nay chưa được tìm thấy.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Brazil
Cỡ nòng: 70mm (2,75 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 1000kg
Chiều dài đạn: 1,41m
Khối lượng đạn: 11,7kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh/3,2kg
Sơ tốc đầu nòng: 700m/s
Tầm bay xa: 8500m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030935.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 10:02:26 pm
 SBAT-70:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SBAT-70.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 10:03:47 pm
 Đạn tên lửa của hệ thống SBAT-70:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/sbat-70dan.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 10:40:53 pm
13. “Type 63”

   Thiết bị pháo phản lực 107mm 12 nòng “Type 63” được sử dụng rộng rãi trong Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, được thiết kế vào cuối những năm 1950 để thay thế cho thiết bị “Type 50” sáu nòng 102mm. Mỗi sư đoàn bộ binh Trung Quốc được trang bị 18 thiết bị “Type 63”. Các nòng pháo được xếp thành ba hàng với 4 nòng trên mỗi hàng, toàn bộ được lắp trên khung với lốp thủy lực và càng pháo di động, và có thể được kéo bằng các phương tiện vận tải hạng nhẹ. Trước khi bắn, bánh xe được tháo ra, và thiết bị được cố giữ trên mặt đất trên hai trục cố định. “Type 63” có phiên bản rút gọn, dành cho lực lượng đổ bộ đường không và các đơn vị bộ binh sơn chiến. Phiên bản này có thể tháo ra thành các chi tiết đủ nhẹ để mang vác bằng sức người hoặc trong các túi hàng thồ. Thỉnh thoảng, thiết bị này cũng được lắp trên xe hai trục, và khi đó cần không gian vừa đủ cho tổ phục vụ bốn người và cơ số đạn dự trữ.

   Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Trung Quốc
Cỡ nòng: 107mm (4,21 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 602kg
Chiều dài đạn: 0,84m (2,76 funt)
Khối lượng đạn: 18,8kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh/8,33kg
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 8500m (5,28 dặm)

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030936.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 10:41:17 pm
 "Type 63":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/type-63-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 10:42:48 pm
 "Type 63" - H 12 trong Kháng chiến chống Mỹ (hiện vật trong Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam):

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Type_63btlsquvn.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 10:44:09 pm
 "Type 63" của Trung Quốc bị Sư đoàn 316 thu được tháng 2 năm 1979:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/H12btqd.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: GiangNH trong 12 Tháng Ba, 2010, 11:22:37 pm
"Type 63" của Trung Quốc bị Sư đoàn 316 thu được tháng 2 năm 1979:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/H12btqd.jpg)
  Hình như chú thích là: Pháo phản lực H12 của Trung quốc bị sư đoàn 316 thu được tháng 3 năm 1979 tại Lào cai.
  Ngoài trời "hàng Mỹ" nhiều vô kể, nhưng "hàng Tàu" chỉ có mỗi cái này. Hôm bác Đoàn cho em cái giấy mời sang xem triển lãm "Kỷ vật của..." , cái H12 này bị giúi sát vào gốc cây, em nhìn mãi mới thấy!


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Ba, 2010, 11:55:03 pm
 H. 12 là tên do mình đặt rồi bác ạ. "Type 63" là tên gọi chung, còn tên riêng TQ đặt cho hệ thống này thì em cũng chịu ;D. Vì "Type 63" còn là tên của loại xe tăng lội nước PT-85 hay K-63 hoặc là K3 ;D
 Chú thích là:

 
Pháo phản lực H. 12
Trung Quốc chế tạo, sư đoàn 316 thu ở Lào Cai trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc

 Ảnh đã được em điều chỉnh về kích cỡ nên chữ viết chú thích cũng hơi khó đọc. Em phải mở ảnh gốc ra mới đọc được ;D


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:40:04 pm
14. “Type” 70

    Hệ thống pháo phản lực 130mm của Trung Quốc thường được lắp trên xe bọc thép “Type YW 531” như là một thiết bị riêng. Thiết bị phóng được giới thiệu là một khối gồm 19 nòng, được lắp trên nóc xe và có thể bắn góc hướng 360 độ. Việc dẫn bắn và vận chuyển dàn phóng có thể được thực hiện ở trong xe, nhưng việc nạp đạn lại không rõ ràng: pháo thủ thực hiện thao tác nạp đạn bên trong xe, qua cửa ra phía trên hay phải ra hẳn ngoài xe. Tên lửa có cấu tạo đặc trưng – một tầng với động cơ hoạt động bằng nhiên liệu rắn và đầu đạn nổ - nổ mảnh. Phiên bản tiêu chuẩn có tầm bắn 10 100 mét, nhưng cũng có một vào phiên bản đặc biệt với động cơ tên lửa mạnh cùng thân xe dài hơn có tầm bắn lên tới 15km.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Trung Quốc
Cỡ nòng: 130mm (5,11 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 14 tấn
Chiều dài đạn: 1,06m
Khối lượng đạn: 32,8kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh/14,73kg
Sơ tốc đầu nòng: 436m/s
Tầm bay xa: 10 100

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030938.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:40:32 pm
 "Type 70":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/T70.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:41:17 pm
 Một số biến thể của dòng pháo phản lực 130mm:

"Type" 85:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/T85.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:41:48 pm
 "Type 82":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/T82.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:00:39 pm
15. BM-21

    Thiết bị pháo phản lực BM-21 được Liên Xô sản xuất vào đầu những năm 1950. Có thể tính BM-21 là sự kế thừa của những hệ thống tên lửa khác nhau trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai, nổi tiếng dưới tên gọi chung “Cachiusa”, bởi vì “Grad” cũng sử dụng nguyên tắc bắn theo dàn với tên lửa nhiên liệu rắn cùng sự hỗ trợ của những thiết bị dẫn hướng , được lắp trên gầm xe tải ba trục (Ural-4320). Sự thật là, các rãnh dẫn hướng trước đó đã được thay thế bằng 40 ống dẫn hướng được xếp thành khung và có góc bắn 120 độ theo góc hướng, góc tầm 55 độ. Đồng thời cũng có các phiên bản 12 và 36 nòng được bố trí trên các loại xe khác. Tên lửa có đầu đạn nổ - nổ mảnh và bốn cánh ổn định sau khi bay, được lắp dưới những góc không lớn nhằm hỗ trợ cho sự ổn định của tên lửa khi xoay trong quá trình bay.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Cỡ nòng: 122mm (4,8 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 13 700 kg (đã nạp đạn)
Chiều dài đạn: 3,226m
Khối lượng đạn: 77,5kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh hoặc đạn cháy/19,4kg
Sơ tốc đầu nòng: 690m/s
Tầm bay xa: 20 380m (12,66 dặm)
 
(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030939.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:02:45 pm
 BM-21 "Grad":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm21grad.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:03:15 pm
 Bản vẽ pháo phản lực BM-21:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm-21banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:03:48 pm
 Một đơn vị pháo phản lực "Grad":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Soviet122mmBM-21.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:04:36 pm
 "Type 89" - biến thể của "Grad":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Type89.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:05:04 pm
 BM-21 phóng đạn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/grad_phong.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:05:32 pm
 Trận địa pháo phản lực "Grad":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm-21phong.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:24:45 pm
16. BM-24

    Thiết bị BM-24 với đạn phản lực 240mm được tiếp nhận vào Quân đội Liên Xô vào đầu những năm 1950 cùng với BM-21, là những phiên bản hiện đạo hóa pháo phản lực nhiều nòng trong thời gian chiến tranh, được người Đức gọi là “Đàn organ của Stalin”. BM—24 được giới thiệu là khối dẫn hướng dạng lưới, rầm (dầm,xà) dẫn hướng có hình dạng khác nhau nhằm hỗ trợ cho tên lửa có khả năng xoay (quay) ổn định trong quá trình bay. Ban đầu BM-24 chỉ được tiếp nhận trong các sư đoàn cơ giới hóa của Quân đội Liên Xô, nhưng sau đó, chúng đã thay thế BM-21 trong toàn bộ các bộ phận thuộc Lục quân, ngoài ra, còn được xuất khẩu sang khu vực Cận và Viễn Đông. Một vài phiên bản BM-24 vẫn được khai thác sử dụng cho đến nay tại Châu Phi. Hệ thống BM-24 phóng tên lửa nhiên liệu rắn với đầu đạn nổ - nổ mảnh tiêu chuẩn.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Cỡ nòng: 240mm (9,45 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 9 200 kg (đã nạp đạn)
Chiều dài đạn: 1,18mm
Khối lượng đạn: 112,5kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh/46,9kg
Sơ tốc đầu nòng: 363m/s
Tầm bay xa: 10 300m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030940.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: ongbom_f2 trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:28:02 pm
Phiên bản BM-13 trên xe Zil-151:
(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/BM-13-Katjuscha.jpg)

Bác daibangden cho em xin tấm hình con xe zil-157  kéo pháo nghe bác.Em khoái loại vừa chạy vừa bơm lốp này lắm. ;)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:29:36 pm
 BM-24:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/BM-24.jpg)

 và hình vẽ:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm24hinhve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 04:47:46 pm
Phiên bản BM-13 trên xe Zil-151:
Bác daibangden cho em xin tấm hình con xe zil-157  kéo pháo nghe bác.Em khoái loại vừa chạy vừa bơm lốp này lắm. ;)
Zil-151 và Zil 157 là hai phiên bản khác nhau của dòng xe Zil đấy bác ạ.
 Zil-151 được sản xuất từ năm 1947 đến 1958.
Các thông số kỹ thuật chính:
 Chiều dài: 6390mm
 Chiều rộng: 2320mm
 Chiều cao: 2310mm    

 Zil-157 được sản xuất hàng loạt từ năm 1958, trang bị chủ yếu cho các lực lượng vũ trang. Zil-157 sử dụng cabin của Zil-151 với nhiều thay đổi.
Các thông số kỹ thuật chính:
 Chiều dài: 6684mm
 Chiều rộng: 2315mm
 Chiều cao: 2360(2915)mm

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Zil-157.jpg)
 
 Trong các lực lượng vũ trang, Zil-157 sau đó được thay thế bằng Zil-131.

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Zil-131.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 05:16:51 pm
17. BM-27

    Thiết bị pháo phản lực 16 nòng BM-27 được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang Liên Xô đầu những năm 1970 và có một vài biến thể. Mẫu năm 1977 có tên gọi BM-9P140. Thiết bị được giới thiệu là một khối với ba hàng ống dẫn hướng, trên hai hàng dưới bố trí sáu nòng, còn hàng trên cùng – bốn nòng. Toàn bộ được lắp trên xe vận tải sáu trục Zil-135. Trước khi bắn, bốn kích nâng được hạ xuống đất, đảm bảo độ vững chắc cho xe trong thời gian bắn. Sự thả các kích này diễn ra trong thời gian năm phút, sau đó, BM-27 được đặt vào trạng thái chiến đấu. Các tính năng của BM-27 hoàn toàn giống với các thiết bị phóng tên lửa nhiều nòng của Mỹ. “Uragan” được thiết kế nhằm hỗ trợ hỏa lực cho bộ binh trên chiến trường và có thể sử dụng trong nhiệm vụ chống tăng với các loại đầu đạn nổ - nổ mảnh, hóa học và đạn cháy, đồng thời còn sử dụng đạn chống tăng hoặc mìn chống bộ binh (dao động từ 24 đến 312 quả mìn). Một số BM-27 được bán cho Siry, nới vào năm 1982, được quân đội Siry sử dụng chống lại Israel. BM-27 là phiên bản hiện đại hơn các mẫu pháo phản lực của Nga trước đó và có thể bắn xa tới 40km.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Cỡ nòng: 270mm
Khối lượng thiết bị phóng: 23 000kg
Chiều dài đạn: 4,83m
Khối lượng đạn: 260kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh/100kg
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 25 000m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030941.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 05:17:21 pm
 BM-27 "Uragan":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/BM-27_Uragan.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 05:18:00 pm
 Bản vẽ BM-27:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm27banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 05:18:28 pm
 BM-27 phóng tên lửa:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/bm27phong.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 05:18:54 pm
 Hình vẽ BM-27:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/uraganphong.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 05:19:21 pm
 Bản vẽ cấu tạo "Uragan":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/banvecautao.jpg)

 Chú thích:
 Xe chiến đầu 9P140 - thiết bị phóng tên lửa theo dàn "Uragan":

1. Cabin
2. Buồng động cơ
3. Khối các nòng pháo
4. Kích nâng
5. Buồng nạp điện
6. Đèn pha với nắp ngụy trang
7. Cầu thang
8. Vị trí dành cho kíp xe trong quá trình điều khiển.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: ongbom_f2 trong 13 Tháng Ba, 2010, 06:34:19 pm
Zil-151 và Zil 157 là hai phiên bản khác nhau của dòng xe Zil đấy bác ạ.
 Zil-151 được sản xuất từ năm 1947 đến 1958.
 Zil-157 được sản xuất hàng loạt từ năm 1958, trang bị chủ yếu cho các lực lượng vũ trang. Zil-157 sử dụng cabin của Zil-151 với nhiều thay đổi.

Còn con xe này thuộc loại nào vậy bác. Bác thông cảm cho em chen ngang vì muốn hỏi cho kỹ ấy mà. ;D

(http://i762.photobucket.com/albums/xx269/hinhanh_10/ZIS-151-11.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Ba, 2010, 08:01:06 pm
 Là Zil-157K bác ạ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: ongbom_f2 trong 13 Tháng Ba, 2010, 08:12:28 pm
Rất cảm ơn bác daibangden  đã tận tình hứơng dẫn và giải thích.
Vì em xem trong này :

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=3557.80
Re: Xe vận tải trong kháng chiến chống Mỹ
« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2008, 08:44:37 pm

Nên mới mạo muội hỏi lại bác . ;D


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:21:24 pm
18. MLRS

    MLRS hay là “Hệ thống phóng tên lửa nhiều nòng” (Multiple Lauch Rocket System” được hãng “Vout” của Mỹ thiết kế vào năm 1976, sau những công việc lâu dài theo tên gọi GSRS (“Hệ thống tên lửa hỗ trợ cơ bản” – General Support Rocket System”). Sauk hi trải qua những thử nghiệm sơ bộ, hệ thống này đã được hãng “Vout” đưa vào sản xuất, trang bị cho quân đội Mỹ từ năm 1982. Đây là thiết bị tự hành trên gầm xe bọc thép M2 và có hai buồng dành cho đạn dữ trữ với mỗi buồng sáu viên đạn. Trong thành phần đạn có đạn nổ - nổ mảnh và đạn hóa học, đồng thời cả đạn chống tăng và mìn chống bộ binh. Giấy phép sản xuất MLRS đã được mua bởi các nước như Anh, Pháp, Italia, Tây Đức và Hà Lan. Lần tham chiến đầu tiên của MLRS vào thời gian chiến tranh tịa vùng Vịnh Péc xích năm 1991, nơi mà các đại đội MLRS trong thành phần lực lượng liên quân đã tạo nên những lỗ thủng lớn trên các tuyến phòng thủ của quân Irak trước khi lực lượng Đồng minh thực hiện các cuộc tấn công trên bộ vào Cô-oét.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Cỡ nòng: 277mm (8,94 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: 25 190kg
Chiều dài đạn: 3,94m
Khối lượng đạn: 308kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh; hóa học hoặc các loại đầu đạn riêng/khối lượng không xác định
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 42km

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030942.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:21:54 pm
 Hệ thống MLRS:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/MLRS.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:22:21 pm
 Bản vẽ MLRS:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/mlrsbanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:25:15 pm
 MLRS phóng tên lửa:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/mlrsphong.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:25:54 pm
 MLRS trên sa mạc tại Vùng vịnh:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/M270_MLRSaq.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:26:33 pm
 Hệ thống MLRS cùng xe bọc thép chỉ huy và xe kéo tiếp đạn:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/MLRS-system.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:40:54 pm
19. ASTROS II

    Từ viết tắt “ASTROS” diễn giải đầy đủ là “hệ thống pháo nhiều nòng”; đây là thiết bị pháo phản lực bắn theo dàn do hãng “Tectram” (Brazil) thiết kế và đầu những năm 1980 và mang ý nghĩa dành cho xuất khẩu. Xe vận tải ba trục nặng 10 tấn có khả năng di chuyển trên địa hình không tốt và cabin được bọc thép mỏng. Hệ thống này có thể bắn được các loại đạn phản lực nhiều kiểu và cỡ nòng khác nhau: 127mm (SS-20), 180mm (SS-40) và 130mm (SS-60), khi đó, số nòng dẫn hướng được lắp tương ứng là 32, 16, 4 và khối lượng của các loại đạn dao động từ 68 đến 595kg. Hệ thống được trang bị ra đa “Feldguard” của hãng “Contraves”, và trong tổ hợp phải có xe điều khiển – chỉ huy cùng các xe vận tải đạn dự trữ. ASTROS có mặt trong quân đội Brazil, đồng thời còn xuất hiện trong các nước thứ ba – ví dụ như ở Iraq trong thời gian chiến tranh Iran – Irak.

   Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Brazil
Cỡ nòng: 180mm (7,08 inch)
Khối lượng thiết bị phóng: khoảng 10 tấn
Chiều dài đạn: 4,2m
Khối lượng đạn: 152kg
Đầu đạn: đạn nổ - nổ mảnh;
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 16 000m

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030943.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:41:32 pm
 Hệ thống pháo nhiều nòng ASTROS II:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/ASTROS.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:42:04 pm
Bản vẽ ASTROS II:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/astrosbanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:42:36 pm
 ASTROS phóng tên lửa:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/astrosphong.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 01:43:09 pm
 ASTROS trong quân đội Malaysia:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Astros_II_Malaysian_army.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2010, 02:01:52 pm
20. “Avibras” X-40

   X-40 là loại tên lửa lớn nhất có mặt trong quân đội Brazil. Nó được thiết kể bởi trường Đại học Công binh và được tập đoàn hàng không Brazil “Avibras” sản xuất. Tên lửa có một tầng và hoạt động bằng nhiên liệu rắn, đảm bảo tốc độ cao và tầm bắn xa. Thiết bị phóng có ba rãnh dẫn hướng và đặt trên gầm xe tăng hạng nhẹ X1A1, đảm bảo góc bắn 360 độ. Gầm xe được trang bị ba trục nâng thủy lực, được thả xuống đất nhằm đảm bảo độ vững chắc khi bắn. Sau đó, tập đoàn “Avibras” đã thiết kế hệ thống ASTROS trên cơ sở X-40, những thiết bị mà vào đầu những năm 90, sau nhiều cuộc thử nghiệm đã được tiếp nhận vào quân đội Brazil và thay thế dần cho X-40.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Brazil
Cỡ nòng: 300mm 
Khối lượng thiết bị phóng: 17 000kg
Chiều dài đạn: 4,85m
Khối lượng đạn: 645kg
Đầu đạn: đạn nổ mảnh
Sơ tốc đầu nòng: 1285m/s
Tầm bay xa: 68 000m   

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030944.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:01:31 am
21. FROG-7

    Được tiếp nhận trong các nước NATO dưới tên viết tắt là FROG – “Free Rocket Over Ground” – đây là loại tên lửa tầm thấp bay tự do (không được điều khiển từ mặt đất). Phiên bản đầu tiên FROG-1 được công bố vào năm 1957. Biến thể FROF-7 xuất hiện vào năm 1967 sau những seri trung gian trước đó. Hệ thống này được xuất khẩu một cách rộng rãi, các biến thể trước đó của nó (FROG-3, -4, -5 và -6), vẫn được sử dụng cho đến hiện tại ở một số nơi. Tên lửa có một tầng, động cơ bằng nhiên liệu rắn với nhiều loại đầu đạn khác nhau. Tên lửa được vận chuyển trên xe bốn trục chuyên dụng, phương tiện mà trên đó tên lửa đồng thời được dẫn bắn và phóng. Điểm đặc biệt là đạn của hệ thống này có thiết bị hãm thủy lực, được sử dụng trong việc điều chỉnh quỹ đạo và tầm bay xa của tên lửa. Sự dẫn bắn tên lửa được thực hiện bằng phương pháp thay đổi góc tầm, đồng thời bởi sự điều chỉnh của thiết bị hãm trước khi phóng. Cũng như các loại tên lửa phóng không điều khiển khác, trong quá trình bay của đạn bị ảnh hưởng mạnh và không có sự tính toán khi gặp tác động của gió vào hai bên, vì thế bán kính sai lệch mục tiêu của tên lửa mẫu FROG lên tới khoảng 500m.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Liên Xô
Cỡ nòng: 550mm 
Khối lượng thiết bị phóng: 23 000kg
Chiều dài đạn: 9,11m
Khối lượng đạn: 2500kg
Đầu đạn: đạn nổ mảnh hoặc hóa học (450kg); đạn hạt nhân/từ 5 đến 25 kiloton
Sơ tốc đầu nòng: không xác định
Tầm bay xa: 70 000m   

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030945.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:02:44 am
 FROG-7:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/frog7.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:03:33 am
 FROG-7 và kíp chiến đấu:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/frog-7kipxe.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:04:25 am
 Xe vận tải đồng thời dẫn bắn và phóng FROG-7:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/FROG-7xephong.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:05:03 am
 Một số phiên bản trước của FROG-7:

 FROG-1:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/FROG-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:06:23 am
 FROG-4:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/frog4.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:06:58 am
 FROG-5:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/frog05.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:31:54 am
22. Hệ thống pháo tên lửa hạng nhẹ (LARS)

    Hệ thống này được tiếp nhận vào lực lượng quân đội Tây Đức năm 1970. Hiện nay, sự sản xuất LARS đã bị ngưng lại hoàn toàn, các thiết bị còn lại cùng đạn đã được bán cho Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Thổ Nhĩ Kỳ, những nơi mà chắc chắn chúng còn phục vụ thêm một vài năm nữa. Tên lửa có động cơ rắn, còn đầu đạn có chất nổ hoạt tính cao, khi nổ có thể vỡ thành nhiều mảnh, hình dạng và cấu tạo mà trước đó đã được xác định vơi chất liệu của viên đạn. Ngoài ra, có thể dụng đạn huấn luyện và đạn khói, đòng thời là các công te nơ – chứa trong nó tám mìn chống tăng, khi nổ mìn sẽ được phát tán quanh mục tiêu. Thiết bị phóng có 18 nòng, được lắp trên gầm xe vận tải ba trục MAN thông dụng của Mỹ. Góc tầm và góc hướng được xác định trước khi bắn, sau đó, có hai trục đỡ được hạ xuống đất, còn kíp xe ngồi trong cabin thực hiện thao tác cho hệ thống phóng tên lửa.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Cỡ nòng: 110mm (4,33 inch) 
Khối lượng thiết bị phóng: 17 480kg đã được nạp đạn
Chiều dài đạn: 2,263m
Khối lượng đạn: 35kg
Đầu đạn: đạn nổ mảnh/17,3kg
Sơ tốc đầu nòng: 640m/s
Tầm bay xa: 14 000m   

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030946.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:32:30 am
 LARS:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/LARS.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 02:33:04 am
 LARS trong trạng thái chiến đấu:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/lars2chiendau.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 03:31:24 pm
23. “Valikiri”

    Nam Phi thực hiện việc thiết kế các hệ thống tên lửa nhiều nòng vào năm 1977 – câu trả lời cho việc các nước láng giềng của Nam Phi được trang bị nhiều cả về số lượng lẫn chủng loại các hệ thống tên lửa bắn loạt của Liên Xô. Thiết bị mới bắt đầu gia nhập quân đội Nam Phi từ năm 1981, và được sử dụng lần đầu vào năm 1982 trên biên giới với Angola. Thiết bị phóng được biên chế trong một đại đội gồm 8 xe được sử dụng để chống lại các đội du kích. “Valikiri” có 24 ống dẫn hướng (ba hàng với 8 ống dẫn hướng trên mỗi hàng) và được lắp trên gầm xe vận tải hai trục hạng nhẹ SAMIL, trang bị khung có vải bạt phủ kín toàn bộ hệ thống, nhằm chống lại việc xác định được chúng từ xa hoặc từ trên không. Đạn tên lửa có cánh 127mm hoạt động bằng nhiên liệu rắn. Đầu đạn ngoài thuốc nổ còn chứa 8600 viên bi (quả cầu) thép, khi nổ rải ra diện tích 1500 mét vuông. Đầu đạn có ngòi nổ từ xa hoặc ngòi chạm nổ, để triển khai hệ thống cần tổng cộng 10 phút. “Balikiri” là thiết bị phóng tên lửa cơ động và hiệu quả trong các khu vực biên giới và chống lại các cuộc nổi dậy. Đặc việt là hệ thống này rất dễ ngụy trang trên các xe vận tải dân sự.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Nam Phi
Cỡ nòng: 127mm (5 inch) 
Khối lượng thiết bị phóng: 6440kg
Chiều dài đạn: 2,68m
Khối lượng đạn: 53,5kg
Đầu đạn: đạn nổ mảnh – hình quạt/18kg
Sơ tốc đầu nòng: 250m/s
Tầm bay xa: 22 700m   

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1030947.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 03:31:53 pm
 "Valikiri":

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Valkiri.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 03:32:21 pm
 "Valikiri" phiên bản Mk 2:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/valkirimk2.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 03:32:50 pm
 "Valikiri" phóng tên lửa:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/valkiriphongtenlua.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Ba, 2010, 03:35:17 pm
Từ điển thu nhỏ

1. Độ xuyên giáp: Khả năng của viên đạn xuyên qua giáp bảo vệ. Trong sách, độ xuyên giáp được viết theo công thức AAA/BB/C. Trong đó: AAA – độ dày của giáp bị xuyên (mm); BB- khoảng cách để viên đạn đạt độ xuyên giáp tốt nhất (AAA); C – góc chạm nổ hiệu quả nhất giữa viên đạn và giáp bảo vệ.

2. Đạn xuyên giáp: đạn chống tăng, có mũi hình nón được cấu tạo từ hợp kim cứng và mang theo lượng chất nổ lớn.

3. Toa tàu bọc thép: toa của đoàn tàu bọc thép, được bọc thép và trang bị pháo hoặc súng máy. Theo tiêu chuẩn, một đoàn tàu bọc thép bao gồm một số toa tàu bọc thép, đầu máy bọc thép với một số toa hỗ trợ cùng và khung không được bọc thép.

4. Pháo nòng trơn: pháo với nòng không có rãnh xoắn bên trong. Thường được sử dụng để bắn đạn có cánh (mìn) hoặc đạn tên lửa, sự quay của viên đạn trong quá trình bay được đảm bảo bởi góc của thiết bị vòi phun của động cơ tên lửa.

5. Bộ hãm lùi: có thể được bố trí ở cuối nòng pháo, có nhiệm vụ đẩy khói súng theo hướng ngược lại, làm giảm độ giật khi bắn

6. Cỡ nòng: đường kính phía trong nòng súng. Đây là đại lượng đồng thời được sử dụng để so sánh với chiều dài nòng súng (pháo), bởi vì chiều dài nòng trên cỡ nòng thường có tính tỷ lệ với nhau bởi sơ tốc đầu nòng của viên đạn

7.   Đạn nổ lõm: đạn nổ theo hướng, đầu đạn chứa thuốc nổ có dạng hình nón, đảm bảo khả năng xuyên giáp bằng tia lửa. Độ xuyên giáp của loại đạn này không phụ thuộc vào tốc độ bay của nó, vì thế, đạn nổ lõm được sử dụng nhiều trong các dòng súng phóng lựu xách tay hoặc các thiết bị phản lực hạng nhẹ. Tuy nhiên, hiệu quả của luồng nổ lõm sẽ bị yếu đi rất nhiều nếu góc chạm nổ khác góc 90 độ, và bị suy giảm hoàn toàn nếu như khi gặp phải giáp bảo vệ, viên đạn tiếp xúc với những chướng ngại vật nhẹ, làm giảm hiệu quả ngòi nổ. Ví dụ như trong thời kỳ cuối Chiến tranh Vệ quốc, để chống lại các loại súng phóng lựu chống tăng của Đức, các xe tăng Liên Xô đã được trang bị những tấm thép thông thường, trên những giá treo đặc biệt bao quanh xe trong mọi hướng. Ngoài ra, hiệu quả của luồng nổ lõm còn bị suy giảm bởi sự quay của đạn, vì thế, để bắn đạn nổ lõm, các xe tăng phải được trang bị pháo nòng trơn, khi đó để đảm bảo sự ổn định trong khi bay, các viên đạn được lắp thêm cánh.

8. Lót/đệm nòng (pháo)
: ống có rãnh xoắn, được đặt trong nòng pháo. Thiết bị này có thể thay đổi theo độ mài mòn, nhưng không thay thế được nòng pháo.

9.   Đạn trên cỡ nòng: đạn pháo, có đường kính đạn lớn hơn nòng pháo. Có tầm bắn không xa, nhưng uy lực lớn (so với kích cỡ của vũ khí).

10. Pháo rãnh xoắn: pháo, nòng có rãnh hình xoắn ốc bên trong, đảm bảo cho sự quay của viên đạn trong khi bay, làm tăng khả năng ổn định của đạn trong không khí và độ chính xác.

11. Đạn nổ mảnh: đạn, mang lượng lớn thuốc nổ, chứa bên trong thân đạn làm từ kim loại giòn. Thân đạn có thể bị phá thành nhiều mảnh một cách dễ dàng, nhằm tiêu diệt các lực lượng bộ binh và các thiết bị bay. Thỉnh thoảng, loại đạn này còn chứa bên trong các chất dễ cháy – các mũi tên kim loại hoặc các quả cầu/viên bi nhỏ.

12. Đạn dưới cỡ nòng: đạn pháo, cỡ nòng của bộ phận cơ bản nhỏ hơn so với cỡ nòng pháo. Thường có lõi dài và kim loại có độ cứng cao, được trang bị vòng găng/đệm hoặc các vòng đặc biệt, cũng kích cỡ với nòng pháo. Đạn dưới cỡ nòng được sử dụng nhằm tiêu diệt các phương tiện kỹ thuật hạng nặng, có giáp bảo vệ dày, nhưng rất ít hoạt tính nổ - nổ mảnh (hầu như không có chất nổ và chi mang theo các thành phần chất cháy), vì thế, khi trúng loại đạn này, không đảm bảo việc xe bị trúng đạn có thể bị loại ra khỏi vòng chiến.

13. РГЧ ИН (RGCh IN): bộ phận đầu đạn có sự dẫn bắn riêng (các đầu đạn tên lửa đạn đạo)

14. Đạn nổ: đạn, có thân mỏng, bên trong có chứa thuốc nổ với liều lượng cao nhât. Được tiếp nhận để phá hủy các căn cứ và công sự, có hiệu quả thấp trong việc chống lại bộ binh.

15. Đạn trái phá: đạn phá mảnh, được trang bị ngòi nổ từ xa và nổ trên mặt đất, rất hiệu quả trong việc tiêu diệt bộ binh không có các phương tiện kỹ thuật che chắn và bảo vệ.

16. Tầm bắn hiệu quả theo chiều cao: tầm cao tối đa, tại vị trí mà đạn pháo phòng không cỡ nhỏ có khả năng bắn hạ mục tiêu

17. Tầm bắn hiệu quả: khoảng cách xa nhất mà viên đạn có thể bay tới mục tiêu.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2010, 06:57:56 pm
Hình dạng cách mạng của vũ khí

Vào năm 1909, tại Đức đã diễn ra một cuộc triển lãm lớn về các thiết bị kỹ thuật hàng không. Trong trình tự của mình, các thợ quân giới đã giới thiệu những thiết bị bảo vệ khỏi những mối nguy hiểm từ trên khôn – những khẩu pháo bắn nhanh, được lắp trên gầm xe vận tải. Bằng hình thức này, vấn đề về việc vận chuyển các loại pháo tới khu vực chiến sự đã xuất hiện và câu hỏi về khả năng chống lại các vật thể bay đã được quyết định (trên lý thuyết). Tuy nhiên, nó không có phải là vấn đề cấp bánh trong các quân đội vào thời điểm, khi mà sự tin cậy rằng máy bay rất hữu ích trong công tác trinh sát đang chiếm ưu thế, nhưng tuyệt đối không đem lại thuận lợi trong các hoạt động quân sự kháci. Vì vậy, mặc dù vấn đề về chống lại các phương tiện trinh sát trên không của đối phương đã được đánh giá là vấn đề trước mắt, toàn bộ các loại pháo “chống khinh khí cầu” vẫn còn rất ít.

Vào 10 năm cuối cùng của thế kỷ 19, nhà công nghiệp “Krupp” của Đức đã thiết kế một vài mẫu lựu pháo hạng nặng để phòng thủ bờ biển, sau đó, chúng được hiện đại hóa với một trong các mục đích là trở nên thuận lợi hơn cho việc vận chuyển ra chiến trường bằng đường sắt. Nhưng khí đó, phía quân đội cho rằng đường sắt không thường xuyên gần với khu vực chiến sự và mẫu thiết bị kéo “Daimler – Benz” được hãng “Krupp” giới thiệu sử dụng nhằm cho mục đích này. Trong đó, hãng “Krupp” đã thiết kế lựu pháo cỡ nòng 42mm, có thể được đưa ra chiến trường theo từng bộ phận và lắp ghép với nhau theo sự hỗ trợ của cần trục tự hành. Lựu pháo được sử dụng cho khả năng tấn công các pháo đài, có khả năng bắn đạn cỡ 24mm (9,5 inch) – vào thời điểm đó là cỡ nòng lớn nhất dành cho đại bác, được vận chuyển trên lưng ngựa. Quân đội rất tán thành công trình của “Krupp”, còn loại pháo đó được mang tên “Bertha lớn” – theo tên gọi của con gái nhà công nghiệp.

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/42_cm_bertha.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2010, 07:50:20 pm
Vào thời điểm giữa những năm từ 1914 đến 1918, nhiều mẫu pháo mới đã xuất hiện. Một trong những số đó là các loại cối dã chiến hạng nặng, bắn theo quỹ đạo rất cao, cho phép viên đạn rơi vào các đường giao thông hào sâu. Loại súng cối này có thể bắn các loại đạn đặc biệt để tạo màn khói, ngụy trang cho các đơn vị di chuyển; sử dụng đạn pháo sáng để làm sáng trận địa và đạn màu để thông báo các loại tín hiệu khác nhau. Đôi lúc, đạn cũng được nạp hơi ga. Bởi vì chiến tranh kéo theo vào nó một số lượng lớn về con người, vai trò của các loại pháo càng trở nên quan trọng. Sẽ có những khoảng không gian lớn được mở ra trong khu vực hoạt động của pháo binh trên hướng của đối phương, các khẩu đại bác hạng nặng sẽ phá hủy các nhà ga xe lửa, , các pháo đài và các địa điểm dân cư, biến khu vực của các trận đánh trở thành những bãi đổ nát khổng lồ. Sau đó, xuất hiện các loại siêu pháo hoạt động trên đường sắt dọc theo các tuyến chiến trường, cự ly bắn đạn của chúng lên tới 20 dặm. Loại pháo hạng nặng nhất trong số này là “pháo Pari” của Đức, bắn vào thủ đô của nước Pháp với tầm bắn gần 70 dặm.

Chiến tranh làm tiêu hao rất nhiều tiền tệ, người và nguồn tài nguyên của quân đội các nước dân chủ, vì thế, việc tái vũ trang chỉ được bắt đầu từ cuối những năm 30 của thế kỷ 20. Trong 10 năm cuối cùng, các công trình sư và các nhà thiết kế đã có những thành quả đáng kể, thiết kế những mẫu vũ khí mới và hiện đại hóa các loại pháo cũ. Đến năm 1939, hầu hết quân đội được trang bị các loại pháo mới một lần nữa – mặc dù, cũng như trước đó, trong thành phần dự trữ vẫn có các mẫu pháo đã lỗi thời, được tiếp nhận từ những năm 1918. Chỉ có quân đội Anh được cơ giới hóa hoàn toàn. Quân đội Đức và Nga đến năm 1945 mới sử dụng các loại pháo ngựa kéo, Mỹ vào năm 1940 còn sử dụng kỵ binh cho các nhiệm vụ trinh sát.

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/Paris_Gun.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2010, 08:30:36 pm
Pháo binh trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai

Theo so sánh, pháo binh trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai không vượt trội một cách hoàn toàn so với pháo binh trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Điểm khác biệt cơ bản là sự tiếp nhận các phương tiện kéo một cách phổ biến, đồng thời sử dụng các lốp bơm hơi và tiếp nhận các loại đạn mới, có hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, còn đánh dấu những bước tiến chắc chắn trong công nghiệp luyện kim, đem lại những tiến bộ đáng kể về tính năng của pháo. Các loại pháo chống khinh khí cầu và các vật thể bay trên không đã mở đầu cho lớp pháo phòng không. Được trang bị các loại ra đa không mấy hiện đại, sau này là ngòi nổ từ xa, chúng trở thành những vũ khí hiệu quả, sức mạnh mà trước đây chưa có. Sự tiếp nhận phổ biến các phương tiện kỹ thuật bọc thép dã dẫn đến sự thiết kế dòng pháo mới – pháo chống tăng. Bởi vì giáp của các phương tiện thiết giáp thường xuyên được gia cố, vì vậy, các thiết bị chống tăng cũng phải được cải tiến, và kết quả là đến cuối chiến tranh, các loại pháo chống tăng đã trở nên cồng kềnh và không thuận lợi khi sử dụng. Không nhìn vào những điểm như pháo chống tăng có tính thuận lợi, cơ động và dễ ngụy trang, những mẫu pháo chống tăng cuối cùng xuất hiện vào năm 1945 có khối lượng trên 10 tấn và chúng dần bị loại khỏi lực lượng vũ trang.

Một dòng pháo khác được thiết kế, vào năm 1918 cũng được ghi nhận: pháo không giật. Trong các hệ thống này, một bộ phận lớn khói súng được phụt về phía sau, bù lại cho sức giật, và đẩy viên đạn về phía trước. Trong trường hợp không có hệ thống này, để sức giật bị triệt tiêu, cần có các cơ chế phục hồi đặc biệt và sự cần thiết những khung pháo khối lượng lớn, khối lượng làm giảm độ rung, xuất hiện khi bắn. Sự xuất hiện cơ chế này có thể tăng đáng kể tốc độ bắn của pháo. Ngoài ra, sự phát triển của các thiết bị bảo vệ đã thúc đẩy các nhà thiết kế chạy tới việc tạo ra những phương pháp xuyên giáp mới bằng cách tăng tốc độ hơn là khối lượng viên đạn.

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/P1020989.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2010, 08:35:55 pm
 Pháo chống tăng 100mm DS-3 mẫu năm 1944:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/antitan100mmM1944a.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2010, 01:26:37 am
Sự xuất hiện của đạn nổ lõm và sau đó là đạn với chất nổ plastic, cho phép sử dụng  khả năng xuyên giáp bằng chính sức của viên đạnmà không phụ thuộc vào pháo phóng loại đạn đó.

Chiến tranh Thế giới thứ hai đã đưa đến một sự thúc đẩy và sự phát triển dòng pháo tự hành Ban đầu, sự phát triển của nó đã vướng phải một số nhược điểm của các nền công nghiệp. Tuy nhiên, lực lượng pháo binh không cho phép sự thua kém về độ cơ động so với các đoàn tàu bọc thép, vì thế, cuối cùng, chúng cũng được lắp trên các gầm xích. Kết hợp với bộ binh tấn công, pháo tự hành trong một số thời điểm đã đóng vai trò của xe tăng. Vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai đã thúc đẩy thiết kế các loại đạn tên lửa có điều khiển và sự xuất hiện các loại tên lửa như những dòng pháo tự hành. Vào thời gian đó, nhiều nước đã loại ra khỏi biên chế những loại pháo bờ - từ đó, hầu như không sử dụng đến chúng nữa mà thay vào đó là các loại đạn phản lực hoặc tên lửa có khả năng bắn các mục tiêu trên biển với độ chính xác và cự ly lớn hơn. Những nỗ lực của các công trình sư được hướng vào việc thiết kế vũ khí hạt nhân, tên lửa phòng không và chống tăng điều khiển, và máy bay phản lực. Trong đó trong thời gian chiến tranh Triều Tiên vào đầu những năm 1950, quân Anh và Mỹ còn sử dụng những phương tiện kỹ thuật và pháo binh của thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ hai.

 Pháo tự hành Su-85:
 
(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SU-85.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2010, 01:31:13 am
 Pháo tự hành SU-100:
 
(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SU-100.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2010, 01:32:06 am
 SU-122:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SU-122_Kubinka.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2010, 01:32:50 am
 SU-122 nòng dài:

(http://i780.photobucket.com/albums/yy88/blackeagle2010/SU-122nongdai.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 04:54:42 pm
Pháo chống tăng 45mm 53-K mẫu năm 1937

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/137562899.jpg)

Pháo gồm hai bộ phận chính: nòng pháo và khung pháo. Nòng pháo được cấu tạo từ ống đơn khối và bộ phận nạp đạn phía sau. Khóa nòng dạng chêm thẳng đứng bảo đảm khả năng đóng khóa nòng pháo khi bắn bảo đảm sự tách vỏ đạn đã được khi mở khóa nòng. Nhờ sự xuất hiện của cơ chế bán tự động, pháo có tốc độ bắn cao: 15 – 20 viên/phút. khung pháo được thiết kế phù hợp với bố cục chung và dành cho nhiệm vụ chống tăng. Khung pháo được cấu tạo từ bệ đỡ với bộ phận chống giật, giá pháo di động phía trên với các cơ chế dẫn bắn, giá dưới cố định và có thể mở - đóng, đệm lò xo, lá chắn và thiết bị thước ngắm. Nhờ sự xuất hiện của càng pháo xếp mở bảo đảm khả năng bắn góc hướng 60 độ, còn đệm lò xo với các bánh xe hơi cho phép vận chuyển pháo bằng xe kéo với tốc độ 50km/h. Khi vận chuyển pháo tới vị trí chiến đấu, các càng pháo được doãng ra, đệm lò xo được đóng lại và các bánh xe gắn liền với càng pháo qua trục chiến đấu, bảo đảm độ vừng chắc cho pháo khi bắn và độ giảm giật. Khi vận chuyển trong trạng thái hành quân, càng pháo được thu lại, đệm lò xo tự động hạ xuống. 


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 05:18:39 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/image4.jpg)

Bố cục chặt chẽ và lá chắn không cao tạo cho pháo trở thành mục tiêu khó bị phát hiện trên chiến trường: chiều cao: 120cm, chiều dài: 402mm. Để tiện lợi hơn cho việc ngụy trang, lá chắn của pháo có thể gấp được. Pháo được tiếp nhận sử dụng bắn trực xạ mục tiêu bọc thép và các hỏa điểm của kẻ thù trên tầm xa 1,0 – 1,5km. Khi bắn trên cự ly lớn, việc quan sát kết quả bắn trở nên khó khăn do độ lớn của đám khói được tạo ra sau vụ nổ của đạn.

Đạn dành cho pháo là các loại đạn đồng nhất:

+ xuyên giáp 53-B-240

+ xuyên giáp – vạch sáng 53-BR-240

+ xuyên giáp – vạch sang 53-BR-240SP (đặc)

+ xuyên giáp – vạch sáng dưới cỡ nòng 53-BR-240P

+ phá mảnh 53-0-240 (thép)

+ phá mảnh 53-0-240A (thép đúc gang)

+ đạn ria 53-S-240

+ đạn khói 53-D-240

+ xuyên giáp – hóa học.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 06:59:20 pm
Đạn xuyên giáp và đạn xuyên giáp – vạch sáng được sử dụng nhằm tấn công xe tămg, xe bọc thép, hỏa điểm và các công trình phòng thủ. Trên tầm xa 500 mét với góc giao điểm 90 độ, chúng có thể xuyên giáp dày 43mm, còn tầm xa 1000 mét – 32mm. Đạn dưới cỡ nòng trên cự ly 500 mét với góc giao điểm 90 độ xuyên giáp dày 66mm, trên tầm xa 100 mét: 88mm. Trong thời gian của năm đầu tiên trong chiến tranh, những chỉ số này không bảo đảm chống lại các toàn bộ các xe tăng của Đức.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/imagephp2.jpg)

Đạn nổ mảnh được sử dụng để chống bộ bịnh và các hỏa điểm mở. Khi nổ trên bề mặt đất, đạn mang tới 100 mảnh sát thương, có diện tích chính diện 15 mét vuông chiều rộng và 5 – 7 mét chiều sâu. Các loại đạn ria được sử dụng để chống lại các cuộc tấn công của bộ binh tới trận địa hỏa lực trên tầm xa 400 mét. Đạn ria bao gồm vỏ đạn, được nạp trong vỏ đạn chuyên dụng. Khi bắn, đạn bay từ nòng pháo dưới một số góc và tiêu diệt đối phương trong chiều sâu 400 mét và theo chính diện: 60 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 07:06:25 pm
Ngoài các loại đạn trên, trong những năm trước Chiến tranh Vệ quốc còn các loại đạn xuyên giáp – hóa học và đạn khói cũng được sản xuất đồng thời. Đạn xuyên giáp – hóa học được sử dụng cho việc gây độc cho kíp lái xe tăng và binh lính trong các hỏa điểm trong thời gian dài. Đạn xuyên giáp – hóa học có khối lượng 1,43kg và chưa 16g chất độc hoạt tính mạnh.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/image1.jpg)

Pháo 45mm mẫu năm 1937 có mặt trong trang bị của các trung đội chống tăng biên chế trong các tiểu đoàn bộ binh cơ giới (2 pháo) và tiểu đoàn pháo chống tăng thuộc sư đoàn bộ binh cơ giới (12 khẩu). Trong các trung đoàn chống tăng độc lập, loại pháo này trang bị thành 4 – 5 đại đội (16 – 20 pháo).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 07:13:10 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/19341.jpg)

Cỡ nòng: 45mm

Chiều dài nòng : 2,07 mét (gấp 46 lần cỡ nòng)

Khối lượng của hệ thống:

+ trong trạng thái chiến đấu: 560kg

+ trong trạng thái hành quân: 1200kg

Chiều dài pháo khi xếp càng pháo: 4020mm

Độ rộng khi xếp càng pháo: 1634mm

Góc hướng: -8 đến 25 độ

Góc tầm: 60 độ

Tốc độ bắn thực tế: 15 – 20 viên/phút

Tầm bắn: 4400 mét

Tầm bắn trực xạ theo mục tiêu cao 2 mét: 850 mét

Sơ tốc đầu nòng:

+ đạn xuyên giáp: 750m/s

+ đạn nổ mảnh: 335m/s

Khối lượng đạn:

+ đạn xuyên giáp: 1,43kg

+ đạn nổ mảnh: 2,14kg

Độ xuyên giáp với góc giao điểm 30 độ:

+ trên cự ly 500 mét: 40 mm

+ trên cự ly 1000 mét: 32 mm


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 07:47:23 pm
Pháo phòng không tự động 25mm 72-K mẫu năm 1940

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/25-_.jpg)

Pháo gồm: pháo tự động, thước ngắm phòng không tự động, giá pháo với các cơ chế dẫn bắn, cơ chế cân bằng, lá chắn và khung xe kéo. Súng tự động bao gồm nòng với khóa nòng, các cơ cấu nạp đạn tự động (hộp tiếp đạn và khay đạn với máy đẩy), thiết bị chống giật và giá nâng. Toàn bộ các hoạt động cần thiết cho việc bắn pháo (mở khóa nòng, đẩy kim hỏa, đẩy vỏ đạn, tiếp đạn, đóng khóa nóng, đánh kim hỏa) được thực hiện tự động bằng sự tính toán sử dụng lực giật.

Pháo có khả năng bắn liên tục (chế độ tự động) hoặc bắn phát một. Khi đó, tốc độ bắn được bảo đảm 240 viên/phút. Pháo có khóa nòng thẳng đứng dạng nêm, hoạt động tự động khi bắn. Khóa nòng được mở bằng tay, khi nạp đạn lần đầu tiên hoặc nạp đạn lại có cánh tay quay bố trí trên giá nâng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười Hai, 2010, 07:18:10 pm
Các cơ cấu nạp đạn tự động bao gồm: hộp tiếp đạn và khay đạn với bộ phận đẩy. Khi đó, trong hộp tiếp đạn không có đạn, các cơ cấu bảo đảm tiếp đạn tự động liên tục trên khay đẩy đạn tới băng đạn. Hộp tiếp đạn có cơ chế dừng, nhờ sự hỗ trợ này, khả năng bắn tự động bị dừng lại trong các thời điểm khi sự nạp đạn không kịp đưa đạn từ khay đạn vào hộp tiếp đạn, và khôi phục lại khi lắp băng đạn không cần sự nạp đạn lại. Nguồn của hộp tiếp đạn: trong băng đạn 7 viên.

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/image4.jpg)

Nòng pháo được trang bị bằng ống thép nhẹ có thể thay thế. Sự thay thế xảy ra trong trường hợp nòng pháo bị nung nóng do bắn liên tục hoặc khi bị hỏng. Để cho pháo thủ không bị che mắt và và giảm tiếng ồn khi bắn, trên nòng pháo có loa che lửa. Các cơ chế bắn theo góc tầm và góc hướng được bố trí bên phải khung pháo. Tốc độ bắn theo góc tầm: 7 độ 30 phút một vòng quay của bánh đà trong cơ chế quay. Góc hướng không giới hạn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười Hai, 2010, 07:50:24 pm
Sự điều khiển hỏa lực được thực hiện với sự hỗ trợ của thước ngắm phòng không. Thước ngắm bảo đảm giải quyết giao điểm của đạn với mục tiêu, lựa chọn tọa độ ngắm đón mục tiêu theo các số liệu ghi nhận được: tầm xa nghiêng, tốc độ, hướng và góc bổ nào hoặc ngóc lên của mục tiêu.

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/image3.jpg)

Đạn dành cho pháo phòng không tự động 25mm 72-K bao gồm các loại đạn đơn chất với đạn nổ mảnh – cháy vạch sáng hoặc đạn xuyên giáp – vạch sáng. Đạn nổ mảnh – cháy vạch sáng và đạn xuyên giáp vạch sáng được sử dụng để bắn mục tiêu trên không. Đạn có ngòi nổ chính K-20 hoạt động tức thời. Nếu đạn không trúng mục tiêu sẽ gây sát thương cho bộ đội bằng các mảnh đạn khi rơi xuống đất, vì vậy, 5 giây sau khi trượt mục tiêu, đạn sẽ tự hủy trên không. Sự tự hủy được thực hiện qua ống vạch sáng. Đạn xuyên giáp vạch sáng được sử dụng nhằm chống lại các xe tăng hạng nhẹ và xe bọc thép. Đạn đặc (không có thuốc nổ). Kíp nổ KV-2 đóng vai trò chất gây cháy.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười Hai, 2010, 08:24:49 pm
(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/image2.jpg)

Với sự tính toán kinh nghiệm sử dụng pháo để bắn mục tiêu trên bộ bắt đầu từ năm 1943. Pháo được sản xuất với lá chắn, bảo vệ cho khẩu đội và các bộ phận của pháo khỏi đạn và mảnh đạn. Để vận chuyển pháo, sử dụng khung vận tải bốn bánh với lò xo giảm sóc trên mỗi bánh. Các bánh xe hơi có vành, được làm bằng cao su xốp. Bộ phận quay dùng để thay đổi hướng di chuyển của pháo. Trong trạng thái chiến đấu, khung vận tải được sử dụng làm bệ chống cơ sở. Khi chuyển từ trạng tháp hành quân sang chiến đấu, pháo được đỡ trên bốn trung theo thiết bị quay của trục bánh trước và sau. Trục đỡ khung được bố trí theo hình chữ thập (+) mang lại cho pháo độ vững chắc cần thiết trong khi bắn và ở mọi góc tầm. Việc nâng pháo chuyển trạng thái từ hành quân sang trạng thái chiến đấu và ngược lại được bảo đảm bằng bộ giảm sóc lò xo chuyên dụng, nằm bên trong ở hai đầu xà dọc của khung vận tải. Để chuyển từ trạng thái hành quân sang chiến đấu một cách nhanh chóng, trong huấn luyện yêu cầu khẩu đội thực hiện trong 40 – 45 giây. Sự chỉnh ngang của pháo được thực hiện bằng kích bố trí trên đầu xà dọc, đồng thời trên bản lề hai bên khung vận tải. Thiết kế của khung vận tải cho phép vận chuyển pháo trên đường nhựa với tốc độ 60km/h, trên đường đá cuội và đường đất: từ 15 đến 45km/h.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười Hai, 2010, 08:31:09 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/image5.jpg)

Cỡ nòng: 25mm

Chiều dài nòng: gấp 76,6 lần cỡ nòng

Tầm bắn cao tối đa: 2000 mét

Tầm bắn xa: 6000 mét

Góc tầm: -10 đến 85 độ

Góc hướng: 360 độ

Tốc độ bắn (viên/phút)

+ kỹ thuật: 240

+ thực tế: 70

Khối lượng (kg)

+ trong trạng thái hành quân: 1230

+ trong trạng thái chiến đấu: 1170

Khẩu đội: 5 người

Khối lượng đạn (kg)

+ nổ mảnh – cháy: 0,288

+ xuyên giáp – vạch sáng: 0,286

Sơ tốc đầu nòng (m/s)

+ nổ mảnh – cháy: 910

+ xuyên giáp – vạch sáng: 900.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười Hai, 2010, 11:00:13 pm
Pháo chống tăng Zis-2 57mm mẫu năm 1941

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/zis-2.jpg)

Pháo gồm hai bộ phận chính: nòng pháo cỡ nhỏ với khóa nòng dạng nêm thẳng đứng bán tự động và khung pháo dạng đệm lò xo với bánh xe hơi GAZ-Â. Khi bắn, khóa nòng được mở và đóng tự động, đạn được để trên khay đạn một cách thứ tự tới hộp tiếp đạn. Nhờ sự hỗ trợ này, tốc độ bắn tối đa có thể lên tới 25 viên/phút. Thiết bị giảm giật bao gồm phanh giảm giật thủy lực và bộ hãm khí nén. Cơ chế nâng có hai bộ phận, việc quay pháo được thực hiện bằng cơ cấu trục đẩy xoắn ốc. Khung pháo với càng pháo có thể đóng mở có bánh xe và bộ giảm sóc lò xo, được nâng lên khi bắn. Càng pháo: dạng hình hộp, tán đinh. Lá chắn của Zis-2 bao gồm tấm chắn trên và tấm chắn dưới. Tấm chắn dưới được cố định vào trục, trong trạng thái hành quân được mở ngửa ra sau và cố định trong vị trí nằm ngang. Zis-2 được vận chuyển bằng xe kéo với tốc độ 30km/h.

Trong cơ số đạn của Zis-2 bao gồm cac loại đạn nổ mảnh, xuyên giáp – vạch sáng đơn chất, đồng thời đạn ria để tấn công lực lượng bộ binh đối phương từ tầm xa 100 – 2000 mét.

Pháo được trang bị thước ngắm toàn cảnh PP1-2 với bộ truyền động hình cầu.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười Hai, 2010, 11:10:34 pm
Pháo Zis-2 gia nhập lực lượng vũ trang như là pháo chống tăng cấp trung đội trong các đơn vị cơ giới trong các đơn vị chống tăng Dự bị thuộc Tổng hành dinh

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/imagezis.jpg)

Do sự hiện đại hóa và nâng cấp giáp phòng vệ của các dòng xe tăng sau chiến tranh, Zis-2 đã nhanh chóng mất đi nhiệm vụ chống tăng cơ bản. Khả năng chống tăng trong những năm 1950 được trao cho các loại pháo 100mm mạnh hơn nhưng Zis-2 vẫn được duy trì một thời gian trong quân chủng đổ bộ đường không nhờ khối lượng nhẹ và khả năng cơ động. Biến thể nòng pháo của Zis-2 được sử dụng trên pháp tự hành đổ bộ đường không ASU-57.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười Hai, 2010, 11:59:18 am
Pháo cấp Tiểu đoàn Zis-3 76,2mm mẫu năm 1942

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/imagezis3.jpg)

Pháo gồm hai bộ phận chính: nòng pháo với khóa nòng và khung pháo. Khung pháo bao gồm giá nâng, thiết bị giảm giật, giá súng trên, các cơ chế dẫn bắn, cơ chế cân bằng, giá súng dưới, bánh xe với lò xo và khí tài thước ngắm.

Nòng pháo – đơn khối, nạp đạn đằng sau với bộ hãm lùi đầu nòng và hai giá kẹp đạn pháo, nhờ sự hỗ trợ này, nòng pháo được nối với các thiết bị giảm giật và giá nâng. Trong nòng pháo phân chia thành bộ phận rãnh xoắn và ngăn tiếp đạn. Bộ phận rãnh xoắn có 32 rãnh xoắn cố định với chiều dài gấp 25 lần cỡ nòng. Bộ hãm lùi đầu nòng được sử dụng nhằm hấp thu năng một phần lượng hãm lùi (khoảng 40%). Trong khi bắn, hơi thuốc súng hoạt động trên gờ hai vành trên và dưới bộ hãm, tạo thành lực bổ sung cho bộ phận hãm lùi của pháo, và làm giảm năng lượng của sự hãm lùi. Trên mặt cắt trước của bộ hãm lùi đầu nòng có vạch hai đường trục chuẩn vuông góc để cố định sử dụng trong việc lấy chuẩn cho thước ngắm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười Hai, 2010, 03:49:55 pm
Khóa nòng – dạng nêm với hình nêm hạ thấp và cơ chế bán tự động. Khóa nòng phục vụ sự đóng kênh nòng pháo, bắn và thải vỏ đạn đã qua sử dụng. Khóa nòng bao gồm các cơ chế: khóa, đập, ném và bán tự động.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/zis3.jpg)

Giá nâng – dạng mắt cắt nghiêng, các chốt nằm trên các ổ trục của khung trên, được đóng bằng các vòng giữ. Trên bộ phận trước của giá nâng gắn cố định các thiết bị giảm giật. Trục cơ cấu nâng bắt qua các lỗ trong phần lồi của khung. Đằng sau khung nâng được nối với trục của cơ cấu cân bằng. Nòng pháo trượt và giật xuống theo hướng khung nâng. Bộ phận lắc của pháo bao gồm khung nâng, cơ cấu chống giật cùng nòng pháo, khóa nòng. Khung nâng phục vụ cho việc định hướng nòng pháo khi giật và trượt và liên kết nòng pháo với các thiết bị giảm giật.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười Hai, 2010, 04:03:51 pm
Các thiết bị giảm giật được hình thành từ bộ phanh hãm thủy lực, sự chống giật dạng con thoi và bộ phận giảm giật khí nén. Thiết bị chống giật được sử dụng cho mục đích:

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/76mm.jpg)

+ hấp thu năng lượng chuyển động của bộ phận hãm lùi trên pháo khi bắn

+ điều hòa sự lăn của bộ phận hãm lùi sau khi bắn và đưa chúng lại vị trí bán đầu trong khi bắn ở góc tầm bất kỳ.

Các xi lanh của phanh hãm và bộ phận giảm giật được cố định trên giá kẹp đạn của nòng pháo (xi lanh phanh hãm – dưới, trục lăn – trên).

Thanh trượt của phanh hãm được cố định trên nắp trước của giá nâng, còn thanh trượt của bộ phận giảm giật cố định trên bệ trước của khung nâng; khi bắn, các thanh trượt được cố định, còn các xi lanh của thiết bị giảm giật trượt cùng nòng pháo.

Chiều dài hãm lùi tiêu chuẩn 680 – 750mm. Chiều dài hãm lùi giới hạn: 820mm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười Hai, 2010, 07:12:20 pm
Bộ phận bánh xe với lò xo được sử dụng dành cho việc vận chuyển pháo. Thành phần bao gồm trục, trục lò xo và bánh hơi. Bánh xe của pháo cũng tương tự như của xe vận tải GAZ-AA, nhưng ổ trục được thay thế. Trục lò xo gồm hai lò xo dạng xoắn ốc, bố trí trong các xi lanh gắn cố định trong mỗi đầu trục. Sự mở và đóng trục lò xo khi đóng và mở càng pháo được thực hiện tự động.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/762mm.jpg)

Lá chắn sử dụng cho việc bảo vệ khẩu đội pháo và các cơ chế khỏi bị tổn thương khỏi đạn súng trường và mảnh đạn. Lá chắn gồm các lá chắn di động trên và dưới có thể mở ngửa và ván đệm bọc thép.

Tấm chắn trên ở phần giữa có mặt cắt để đặt bộ phận nòng pháo, phía sau, trên phần cắt cố định tấm che. Bên trái nửa trên của lá chắn có cửa quan sát. Khi hành quân, cửa số được đóng bằng một lá chắn nhỏ di động.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười Hai, 2010, 08:41:41 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/danphao.jpg)

Thiết bị thước ngắm phục vụ việc dẫn bắn cho pháo tới mục tiêu. Chúng cho phép sử dụng bắn trực xạ hoặc bắn qua thước ngắm. Pháo, đường ngắm, vị trí đường ngắm, vị trí trục nòng pháo, và sự lắp trên các góc đường ngắm thẳng và ngắm bên.

Pháo được trang bị thước ngắm toàn cảnh (được sử dụng như pháo chống tăng – thước ngắm trực xạ PP1-2 hoặc OP2-1).

Để bắn, pháo tiếp nhận các loại đạn nổ - phá mảnh, đạn nổ mảnh, đạn xuyên giáp – vạch sáng,, đạn dưới cỡ nòng, đạn xuyên lõm, đạn nổ mảnh – hóa học, đạn ria và đạn phá mảnh đơn chất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười Hai, 2010, 09:06:16 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/19572.jpg)

Đạn nổ - nổ mảnh (OF-350) và đạn phá mảnh (O-350A) chế tạo bằng gang đúc được sử dụng nhằm tiêu diệt lực lượng bộ binh, các khẩu đội pháo binh và hỏa điểm của kẻ thù, đồng thời phá hủy các công trình phòng thủ hạng nhẹ. Đạn nổ - nổ mảnh và đạn phá mảnh được chế tạo từ chất liệu đồng dạng, chỉ khác ở vật liệu chế tạo thân đạn. Đạn nổ - nổ mảnh sử dụng ngòi nổ KTM-1-U hoặc KTMZ-1-U. Đạn phá mảnh sử dụng ngòi nổ KTM-1-U.

Ngòi nổ KTM-1-U có hai cơ chế:

+ không có nắp chụp – hoạt động tức thời (nổ mảnh)

+ có nắp chụp – hoạt động quán tính (nổ)

Bán kính hoạt động hiệu quả của mảnh đạn: 15 – 20 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười Hai, 2010, 10:06:43 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/19573.jpg)

Đạn xuyên giáp – vạch sáng (BR-350A, BR-354 và BR-350B) được sử dụng cho nhiệm vụ chống tăng, xe bọc thép, lỗ châu mai hỏa lực mạnh và các mục tiêu khác được che phủ bởi giáp bảo vệ. Tầm bắn trực xạ với xe tăng: 820 mét.

Đạn xuyên giáp – vạch sáng BR-350B khác với đạn xuyên giáp – vạch sáng BR-350A ở bộ phận đầu đạn và sự xuất hiện của hai rãnh cắt – tụ để ngăn chặn đạn bị vỡ khi xuyên giáp. Đạn xuyên giáp được trang bị hai ngòi nổ MD-8 và MD-7.

Đạn dưới xuyên giáp – vạch sáng dưới cỡ nòng (BR-345P) được sử dụng để tấn công xe tăng hạng nặng và pháo tự hành với tầm bắn trực xạ: 500 mét.

Đạn khói (D-350) được sử dụng để làm khuất các thiết bị và đài quan sát cũng, các trận địa cối hỏa lực, các khẩu đội pháo, hỏa điểm và lực lượng bộ binh của kẻ thù.

Ngoài ra, loại đạn này còn được tiếp nhận sử dụng chỉ thị mục tiêu, vạch tính hiệu bắn, đồng thời bảo đảm cho các cuộc tấn công của xe tăng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 04:25:19 pm
Những nhiệm vụ cơ bản của pháo:

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/19578.jpg)

+ tiêu diệt lực lượng bô binh địch

+ tiêu diệt các đơn vị hỏa lực bộ binh, chế áp lực lượng pháo binh của đối phương

+ tiêu diệt xe tăng và các khí tài cơ giới của kẻ thù

+ phá hủy các chướng ngại vật (trong trường hợp sử dụng súng cối và thủ pháo không có tác dụng)

+ phá hủy các công trình hạng nghẹ hoặc các hỏa điểm.

Loại đạn nổ - nổ mảnh có tầm bắn xa nhất: 13 290 mét. Tầm xa bắn trực xạ của đạn nổ - nổ mảnh OF-350: 820 mét (khi độ cao mục tiêu đạt 2 mét).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 04:31:57 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/imagezis76.jpg)

Tốc độ bắn của pháo: 25 viên/phút.

Khối lượng pháo trong trạng thái chiến đấu: 1150kg

Trong huấn luyện, thời gian khẩu đội chuyển pháo từ trạng thái hành quân sang trạng thái chiến đấu từ 30 đến 40 giây.

Pháo có thể vận chuyển bằng xe kéo hoặc ngựa (6 con). Việc vận chuyển pháo đạt tốc độ: trên đường nhựa: 50km/h, theo đường đất: 30km/h, trong điều kiện không có đường xá: 10km/h.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 04:59:23 pm
Sự tiếp nhận chiến đấu

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/zis376.jpg)

Theo các thông tin cụ thể, những khẩu pháo này đã xuất hiện trong quân đội vào năm 1942, thay thế dần dần cho các dòng pháo trước: pháo cấp tiểu đoàn mẫu 1902/30, mẫu năm 1936 (F-22) và mẫu năm 1939 (F-22USV). Năm 1943, những khẩu pháo này trở thành trang bị cơ sở trong các tiểu đoàn pháo binh, đồng thời trung các trung đoàn pháo chống tăng. Trong trận Kursk, Zis-3 cùng với pháo chống tăng 45mm và lựu pháo M-30 122mm trở thành lực lượng chủ lực của pháo binh Liên Xô. Khi đó, nhược điểm về khả năng xuyên giáp của đạn pháo đối với các loại xe tăng và pháo tự hành mới của Đức đã xuất hiện, và đã được giải quyết phần nào bằng việc trang bị đạn dưới cỡ nòng trong cơ số đạn, còn cuối năm 1944: đạn nổ lõm. Tiếp đó, đến cuối chiến tranh, Zis-3 đã khẳng định một cách chắc chắn trong trang bị cơ bản của các tiểu đoàn pháo binh, còn từ năm 1944, do nguyên nhân giảm sản xuất pháo 45mm và không đủ pháo chống tăng Zis-2 57mm, loại pháo này đã trở thành vũ khí chống tăng cơ bản của Hồng quân Liên Xô. Đồng thời, Zis-3 cũng được tiếp nhận một cách linh động trong quân đội Liên Xô khi chiến tranh với Nhật Bản.

Sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai, một bộ phận pháo đã được chuyển giao cho đồng minh của Liên Xô – sau đó thường được chuyển cho các nước thuộc thế giới thứ ba. Theo nhiều nguồn thông tin, một vài nước Châu Phi và Châu Á cho đến nay vẫn sử dụng loại pháo này trong biên chế quân đội. Số lượng còn lại trong quân đội Liên Xô được đưa vào kho một phần, số lượng còn lại bị tháo dỡ lấy kim loại.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 05:06:50 pm
Thông số kỹ thuật chính

Năm sản xuất: 1941

Năm tiếp nhận vào trang bị: 1942

Cỡ nòng: 76,2mm

Chiều dài nòng pháo: 3169mm (gấp 41,6 lần cỡ nòng)

Chiều dài rãnh xoắn trong nòng: 2587mm (gấp 25 lẫn cỡ nòng)

Số rãnh xoắn: 32

Chiều rộng rãnh xoắn: 5,38mm

Chiều sâu rãnh xoắn: 0,76mm

Góc tầm: -5 đến 37 độ

Góc hướng: 54 độ

Chiều dài pháo khi đóng càng pháo: 6095mm

Chiều rộng pháo khi đóng càng pháo: 1645mm

Chiều cao pháo với lá chắn: 1375mm

Độ cách đất:

+ theo trục: 340mm

+ theo càng pháo: 315mm

Đường kính bánh xe: 845mm

Khối lượng:

+ nòng pháo với khóa nòng: 321,5kg

+ nòng pháo với thiết bị giảm giật: 402kg

+ khng nâng: 125kg

+ pháo trong trạng thái hành quân: 1150kg

+ trong trạng thái chiến đấu: 1850kg

Tốc độ bắn: 15 – 25 viên/phút

Tầm bắn xa tối đa: 13 290 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 07:48:12 pm
Pháo cấp tiểu đoàn D-44 85mm

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/85_mm_divisional_gun_D-44_001.jpg)

Pháo 85mm cấp tiểu đoàn D-44 được thiết kể tại phòng thí nghiệm của công xưởng số 9 “Uralmashin”. Tuy nhiên mẫu thí nghiệm của pháo lại được sản xuất ở xưởng số 92 mang tên Stalin và nhận số tiêu chuẩn Zis-D-44. Sau các thí nghiệm, hệ thống được hoàn thiện tại xưởng số 9. Ngày 8 tháng 5 năm 1945, pháo Zis-D-44 đã được đưa đến trường bắn Gorkhoveskiy, nơi sau đó hai ngày – 10 tháng 5, pháo bắt đầu bắn thử. Trong thí nghiệm, pháo đạt tốc độ bắn 20 – 25 viên/phút. Sư chạy thử được thực hiện trên xe hơi “Ctudebekker”, và trên máy kéo “Ya-12” trên khu vực không có đường xá. Tổng cộng từ 19 đến 25 tháng 5 đã đi qua 1512km. Trong đó, trên cầu đá cuội 810km với tốc độ trung bình 25,7km/h, còn tốc độ tối đa: 33km/h. Còn trên đường cũ 426km có tốc độ trung bình 21,9km/h và tốc độ tối đa 40km/h. Trên 220km đường nhựa, tốc độ trung bình 41,2km/h, tốc độ tối đa 55km/h. Trên các khu vực địa hình không tốt và không có đường xá 56km, tốc độ trung bình: 11,7km/h.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:10:11 pm
Nhưng kết luận của Hội đồng về Zis-D-44 qua các thí nghiệm trên trường bắn là không đạt yêu cầu, trong đó có sự không bảo đảm việc tách vỏ đạn. Tuy vậy, sau lần thí nghiệm thứ hai, sau đó là thí nghiệm cấp binh chủng, pháo đã được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang dưới tên gọi “pháo cấp tiểu đoàn D-44 85mm”.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/85-___-44.jpg)

Nòng pháo D-44 gồm ống đơn khối, nạp đạn phía sau, các khớp nối, bộ hãm đầu nòng và các giá đỡ. Loa hãm đầu nòng dạng chủ động. Khóa nòng hình nêm thẳng đứng với cơ chế bán tự động. Bộ hãm lùi thủy lực. Các thiết bị chống giật bố trí trên giá đỡ dưới nòng pháo, khi bắn, chúng giật cùng với nòng pháo. Giá nâng được giới thiệu là giá đỡ hình trụ đúc. Cơ chế nâng nòng pháo dạng hình quạt. Cơ chế quay dạng trục. Cơ cấu cân bằng dạng đẩy, với bộ khóa không khí thủy lực cấu tạo từ một tháp nhỏ, bố trí bên trái nòng pháo.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:15:10 pm
Lò xo của pháo dạng xoắn. Trục chiến đấu gồm hai nửa trục thẳng. Bánh xe của pháo tương đương với xe hơi GAZ-AA được tăng cường lốp xe đạt tiêu chuẩn quốc gia.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/D44.jpg)

Thiết bị thước ngắm: thước ngắm S71-7 (ban đầu là thước ngắm toàn cảnh), thước ngắm quang học OP1-7, OP2-7, OP4-7, OP4M-7. Ngoài ra có thể tiếp nhận thước ngắm đêm APN-2 hoặc APN-3-7.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/601236.jpg)

D-44 được sản xuất quy mô lớn tại công xưởng số 9.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:27:28 pm
Cuối năm 1948, tại Phòng thiết kế của xưởng số 9 đã thiết kế pháo tự động CD-44 85mm và từ ngày 1 tháng 1 năm 1949, loại pháo được trình bày với Hội đồng Quốc phòng. Thiết kế được chấp nhận và năm 1949, xưởng số 9 đã bắt đầu sản xuất mẫu thí nghiệm, và hoàn thành vào quý 1 năm 1950. Sau các thí nghiệm ở xưởng và trên trường bắn, pháo SD-44 được hoàn thiện. Năm 1954, ba khẩu pháo SD-44 đã trải qua các thí nghiệm cấp binh chủng. Theo Quyết định của Hội đồng Quốc phòng Liên Xô số 2329-1105 từ ngày 19 tháng 11 năm 1954, pháo D-44 được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang. Tổng cộng 697 khẩu được sản xuất.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/d44huanluyen.jpg)
D-44 trên bãi tập

Nòng và khung pháo SD-44 được lấy từ D-44 với những sự thay đổi không lớn. Thiết bị đo đạc và đạn pháo hoàn toàn giống D-44. Trên một càng pháo lắp động cơ xe máy kiểu M-74 công suất 14 sức ngựa (4000 vòng/phút) bảo đảm tốc độ tự di chuyển 25km/h. Khối lượng pháo tăng lên 2250kg.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười Hai, 2010, 02:53:52 pm
Pháo chiến trường BS-3 100mm mẫu năm 1944

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/bs3.jpg)

Xe tăng mới của quân đội phát xít PzKpfw VI “Tigr” bị chiếm đoạt gần Leningrad tháng 1 năm 1943 đã gây sốc cho chỉ huy Hồng quân. Giáp “Tigr” dày, với sự nỗ lực lớn, chỉ có pháo 76,2mm F-22 và Zis-3 có thể xuyên thủng khoảng cách ly gần – cự ly có thể coi là tự sát. Những lần bắn các loại đạn chuyên dụng trên xe tăng mới bị chiếm đã chỉ ra rằng, lựu pháo 122mm M-30 có độ thẳng thấp, không đủ tốc độ và khi bắn mục tiêu có tốc độ di chuyển nhanh, nó ít mang lại hiệu quả, mắc dù sau khi tiếp nhận loại đạn nổ lõm, có khả năng xuyên giáp không tồi. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, để chống trả một cách hiệu quả với giáp đầu của “Tigr” chỉ có hai loại: pháo phòng không 85mm mẫu năm 1939 và pháo cấp binh đoàn A-19 122mm.

Cần nhớ lại về pháo 57mm Zis-2 và Zis-4, khi mà pháo 57mm đã chứng minh là hệ thống pháo duy nhất có thể chống lại các loại xe tăng hạng nặng của Đức mặc dù giá thành sản xuất rất đắt đỏ, còn sức nổ của đạn 57mm thua kém rất nhiều đạn pháo 76mm đồng dạng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười Hai, 2010, 03:17:46 pm
Đến giữa năm 1944, vấn đề đã trở nên rõ ràng rằng các khí tài có thể chống lại xe tăng mới nhất của Đức là không đủ. Còn ngay từ những năm 1940, nguyên soái G.I.Kulik đã đề xuất việc thay thế pháo chống tăng cỡ nòng nhỏ bằng pháo M-60 107mm có nhiệm vụ tương tự. Đây là ý tưởng căn bản, cho phep tiếp nhận một cách linh động pháo binh đa chức năng (tổng hợp) – bằng các sử dụng các loại đạn riêng biệt, loại pháo này có thể là lựu pháo chiến trường và pháo chống tăng, mặc dù việc bắn các loại đạn riêng của M-60 không cho cho phép đạt tới tốc độ bắn cần thiết của pháo chống tăng. Trong thời gian này, ngành công nghiệp quốc phòng cũng đã chế tạo các loại đạn pháo 100 đơn chất cho Hải quân, cho phép chế tạo vũ khí, mà năng lượng đầu nòng lớn gấp rưỡi so với pháo M-60 mẫu năm 1940.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/6ec9ca30eb2d.jpg)

Pháo chiến trường hạng nặng BS-3 100mm được thiết kế và xuất hiện trong lực lượng vũ trang tháng 5 năm 1944. Do độ xuyên giáp cực tốt, bảo đảm tiêu diệt bất kỳ xe tăng nào của kẻ thù, những người lính tiền phương đã gọi nó bằng tên “Mãnh thú”. Pháo đã mang lại nhiều thiệt hại cho lực lượng thiết giáp Đức. BS-3 đã được sử dụng một cách kịp thời trong vai trò pháo cấp binh đoàn nhờ tầm bắn xa. Tuy nhiên, về khả năng xuyên giáp và đạn nổ - nổ mảnh, BS-3 thua kém pháo A-19 nhưng vượt trội về tốc độ bắn khi sử dụng đạn pháo đồng nhất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười Hai, 2010, 03:27:21 pm
Khi chế tạo loại pháo này, các công trình sư của Phòng thiết kế dưới sự chỉ đại của V.G.Grabin đã sử dụng môt cách rộng rãi những kinh nghiệm đã thu được trong chế tạo pháo chiến trường và pháo chống tăng, đồng thời áp dụng hàng loạt các thiết kế mới, được tiếp nhận và phổ biển rộng rãi trong thiết kế pháo binh thời kỳ sau chiến tranh. Trên khẩu pháo này, lần đầu tiên sử dụng hệ thống lò xo xoắn cùng với cơ chế cân bằng thủy khí bảo đảm độ nhẹ và chặt, gọn của các chi tiết trên pháo.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/eac8e473401d.jpg)

Khung pháo được thiết kế theo sơ đồ trục nâng quay hình tam giác. Điều này cho phéo giảm tải lên giá pháo khi quay khung trên ở góc bắn cực đại. Bằng hình thức này, nếu trong sơ đồ thiết kế thông thường, mỗi giá pháo phải chịu tới 2/3 lực giật của pháo, còn theo thiết kế mới, lực giật tác động lên khung pháo ở bất kỳ góc hướng nào cũng không quá ½ lực hãm lùi. Điều đó cho phép giảm khối lượng khung pháo và của toàn bộ pháo một cách rõ ràng


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười Hai, 2010, 03:35:39 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/BS-3-batey-haosef-21.jpg)

Nhờ sự xuất hiện của khóa nòng dạng nêm với sự bố trí hình nêm thẳng đứng và cơ chế bán tự động, sự bố chi các cơ chế dẫn bắn góc tầm và góc hướng từ một bên mặt pháo, đồng thời tiếp nhận các loại đạn đồng nhất có tốc độ bắn 8 – 10 viên/phút. Đạn pháo đồng nhất bao gồm các loại đạn xuyên giáp – vạch sáng và đạn nổ - nổ mảnh. Đạn xuyên giáp có sơ tốc đầu nòng 895m/s trên tầm xa 500 mét khi góc giao điểm 90 độ xuyên giáp dày 160mm. Tầm bắn trực xạ: 1080 mét. Đạn nổ - nổ mảnh có khối lượng 15,6kg khi sử dụng trong vai trò pháo cấp binh đoàn nhằm chống lại pháo binh của kẻ thù và chế áp mục tiêu tầm xa. Tầm bắn lớn nhất của đạn nổ - nổ mảnh là 20 650 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười Hai, 2010, 03:40:23 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/131702597.jpg)

Để bắn trực xạ, pháo sử dụng thước ngắm quang học OP1-5, để bắn mục tiêu che khuất (bắn cầu vồng) – thước ngắm toàn cảnh S71A-5. Sự khó khăn khi chế tạo pháo được xác định là lựa chọn bánh x echo khung. Trong mục đích tăng cường công nghệ cho vũ khí và giảm giá thành, Phòng thiết kế dưới sự lãnh đạo của V.G.Grabin thường xuyên sử dụng bánh xe hơi tiêu chuẩn. Để chịu được khối lượng chiến đấu 3650kg của pháo BS-3, bánh xe tải ZIS-5 không đáp ứng được, còn bánh xe của xe hơi YaAZ lại quá lớn. Vì thế, trên pháo đã quyết định tiếp nhận bánh đôi từ Zis-5. Được trang bị các bánh xe này, pháo có thể dường vận chuyển bằng sức kéo cơ khí với tốc độ lớn đạt yêu cầu.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười Hai, 2010, 03:47:21 pm
Sức cơ động tốt, có tính năng kỹ thuật cao, pháo BS-3 đã được Hồng Quân sử dụng kịp thời trong giai đoạn cuối chiến tranh. Pháo nằn trong biên chế lữ đoàn pháo binh gồm 3 trung đoàn (48 pháo 76mm và 20 pháo 100mm), phối thuộc trong thành phần các tập đoàn xe tăng. Một số lượng pháo BS-3 được sử dụng trong vai trò pháo cấp binh đoàn của Hồng Quân trong thời gian này.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/100mmATandfieldgunmodel1944BS-3.jpg)

Đến cuối Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, ngành công nghiệp đã chuyển giao cho Hồng Quân khoảng 400 pháo BS-3. Sau chiến tranh, loại phao này còn phục vụ lâu dài trong biên chế quân đội Liên Xô, là cơ sở cho việc chế tạo dòng pháo chống tăng hạng nặng được sử dụng trong quân đội Liên bang Nga ngày nay. Loại pháo này đồng thời được bán và chuyển giao cho các nước khác, một số trong số đó cho đến nay vẫn còn trong biên chế, đã tham gia trong nhiều cuộc xung đột vũ trang và đã chứng minh là một loại pháo mạnh và hiệu quả. Một số lượng pháo BS-3 hiện nay đang nằm trong tình trạng niêm cất trong các kho của quân đội Nga.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười Hai, 2010, 03:50:56 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/20070621225050016p.jpg)

Tên gọi: pháo chiến trường BS-3

Cỡ nòng: 100mm

Chiều dài nòng pháo: 5,79 mét

Khối lượng: 3460kg

Góc tầm: -5 đến 45 độ

Góc hướng: 58 độ

Tầm bắn xa: 21 000 mét

Khối lượng đạn: 15,6kg

Tốc độ bắn: 8 – 10 viên/phút

Sơ tốc đầu nòng của đạn pháo: 900m/s


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 02:34:12 pm
Lựu pháo M-30 122mm mẫu năm 1938

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mm_howitzer.jpg)

Các cuộc tranh luận kéo dài về loại lựu pháo này đã diễn ra nhằm chế tạo một lựu pháo cỡ nòng mới, nhằm trang bị cho các trung đoàn pháo binh và bộ phận dự bị thuộc Đại bản doanh của Hồng Quân. Một số chuyên gia quân sự đã đề xuất việc chế tạo lựu pháo 105mm có khối lượng nhẹ và cơ động hơn. Cuối cùng cuộc tranh cãi này cũng được quyết định vào tháng 3 năm 1937 trong cuộc họp ở Moskva về thực trạng và phát triển kỹ thuật pháo binh. Trong cuộc họp này, Tổng Tham mưu trưởng Hồng Quân – nguyên soái A.I.Egorov đã phát biểu và ủng hộ một cách rõ ràng về loại pháo 122mm mạnh hơn. Cũng trong cuộc họp này, đã tiếp nhận quyết định giao việc thiết kế lựu pháo cho nhóm các công trình sư, đứng đầu là V.N.Sidorenko. Công trình sư F.F.Petrov đã quyết định giới thiệu trong cuộc thi thiết kế lựu pháo của mình được chế tạo theo trình tự các sáng kiến. Mùa thu năm 1937, hai mẫu thiết kế đã được xem xét bởi hội đồng đặc biệt và thiết kế của Petrov đã được phê duyệt.

Mẫu thí nghiệm đầu tiên của lựu pháo mới đã được đưa và thí nghiệm cấp xưởng cuối tháng 4 năm 1938, còn thí nghiệm cấp quốc gia bắt đầu từ giữa năm 1938. Lựu pháo đã vượt qua các cuộc thí nghiệm trong cùng năm và được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang dưới tên gọi “lựu pháo 122mm mẫu năm 1938 (M-30)”. Để đẩy nhanh sự bảo đảm trang bị pháo mới cho quân đội, việc sản xuất đã được triển khai ngay lập tức tại một số công xưởng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 02:59:05 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122_mm_howitzer_M1938_M-30.jpg)

Trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai, lựu pháo được sử dụng để giải quyết những nhiệm vụ sau:

+ tiêu diệt sinh lực đối phương trong các trận địa mở hoặc bị che khuất

+ tiêu diệt và chế áp các khí tài hỏa lực bộ binh

+ tiêu diệt các công sự mạnh và các công trình dã chiến khác

+ chống lại pháo binh và các phương tiện cơ giới

+ tạo cửa mở tấn công các cứ điểm (trong trường hợp không sử dụng được súng cối)

+ phá các bãi mìn

Điểm đặc biệt của lựu pháo là khung pháo với càng pháo di có thể gấp – mở, góc tầm và hướng lớn, khả năng cơ động cao khi sử dụng các phương tiện kéo cơ khí.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:09:37 pm
Nòng pháo bao gồm ống, vỏ và khóa nòng dạng trục. Khóa nòng dạng pít tông, với miệng bố trí lệch tâm để đẩy kim hỏa. Khóa nòng được mở và đóng bằng tay quay trong cùng thiết bị. Chốt và bóp cò kim hỏa cũng diễn ra đồng thời bằng một hoạt động - kéo dây giật; trong trường hợp tắc sự bóp cò bằng kim hỏa, có thể làm lại, vì thể kim hỏa luôn trong trạng thái sẵn sàng. Sau khi bắn, vỏ đạn được đẩy ra bằng cơ chế đẩy khi mở khóa nòng. Thiết kế này của khóa nòng bảo đảm tốc độ bắn 5 – 6 viên/phút.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mm_howitzer_M1938_M-30_in_Perm.jpg)

Khung pháo bao gồm: khung nâng, thiết bị giảm giật, khung trên, các cơ chế nâng, quay và cân bằng, khung dưới với hai càng pháo có thể đóng mở, bộ phận chuyển động với lò xo, thiết bị thước ngắm và lá chắn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:25:25 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/1232651096_o.jpg)

Thiết bị khung của lựu pháo đạt góc tầm từ -3 độ đến 63 độ 30 phút và góc hướng – 49 độ.

Rõ ràng, khi bắn pháo phải mở càng pháo. Trong trường hợp riêng, khi tấn công bất ngờ trong quá trình hành quân của xe tăng, bộ binh hoặc ngựa, hoặc nếu địa hình không cho phép mở càng pháo – khả năng bắn trên càng pháo đang đóng. Khi đó, góc hướng bắn là 1 độ 30 phút.

Khi mở và đóng nòng pháo đồng thời xảy ra việc đóng và mở tự động bản lò xo của bộ phận chuyển động. Trong vị trí kéo, càng pháo được cố định tự động. Nhờ sự đặc biệt này mà quá trình chuyển từ trạng thái hành quân sang chiến đấu chỉ mất tổng cộng 1 đến 1,5 phút.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:44:08 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/m30-001.jpg)

Lựu pháo M-30 tiếp nhận đạn pháo với liều phóng nạp rời. Các loại đạn cơ bản:

+ đạn nổ - nổ mảnh bằng thép (OF-462) với ngòi nổ RGM-2, D-1, RGM

+ đạn nổ mảnh O-462A với ngòi nổ RGM-2, D-1, RGM

+ đạn nổ mảnh O-460A nguyên khố với ngòi nổ RGM-2, D-1, RGM

+ đạn nổ lõm (xuyên giáp – BP-460A) với ngòi nổ V-229

+ đạn khói D-462 với các ngòi nổ KTM-2 và KT-2

+ đạn khói D-462A với ngòi nổ RGM-2


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 04:17:31 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mm_m-30_howitzer.jpg)

Lựu pháo có thể vận chuyển bằng phương tiện cơ khí cũng như bằng sức ngựa (xe 6 ngựa kéo). Tốc độ di chuyển bằng sức kéo cơ khí trên đường tốt: 50km/h, theo cầu đá cuội và đường xấu: 35km/h. Khi kéo bằng sức ngựa, lựu pháo móc sau xe kéo pháo, khi kéo bằng xe cơ giới, có thể vận lắp trực tiếp sau xe kéo.

Khối lượng lựu pháo trong trạng thái chiến đấu: 2450kg, trong trạng thái hành quân không có xe kéo: 2500kg, trong trạng thái hành quân có xe kéo: 3100kg.

Lựu pháo 122mm M-30 được nền công nghiệp Liên Xô sản xuất trong toàn bộ thời gian chiến tranh và sử dụng rộng rãi trên toàn bộ các mặt trận. Về chất lượng của pháo, nguyên soái G.F.Odintsov đã nói: “Không loại vũ khí nào có thể tốt hơn loại pháo này”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 04:20:51 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/M30_howitzer_.jpg)

Tên gọi: lựu pháo M-30 mẫu năm 1938

Cỡ nòng: 122mm

Sơ tốc đầu nòng của đạn: 515m/s

Góc tầm lớn nhất: 63,5 độ

Góc nghiêng: -3 độ

Góc hướng: 49 độ

Khối lượng trong khi chiến đấu: 2450kg

Khối lượng trong khi hành quân: 3100kg

Tốc độ bắn: 5 – 6 viên/phút

Tầm bắn xa nhất: 11 800 mét

Tầm bắn trực xạ: 825 mét

Khối lượng đạn nổ - nổ mảnh: 21,76kg


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 04:45:37 pm
Pháo cấp binh đoàn A-19 122mm mẫu 1931/1937

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mm_m1931.jpg)

Pháo 122mm cấp binh đoàn mẫu năm 1931 trở thành bước quan trọng trong quá trình phát triển pháo binh hạng nặng của Liên Xô. Pháo được thiết kế theo sự đồng ý với Hệ thống trang bị pháo binh thời gian 1929 – 1932 bởi nhóm các công trình sư Hiệp hội quân khí Toàn liên bang dưới sự lãnh đạo của C.P.Shukalov. Việc sản xuất hàng loạt được diễn ra từ năm 1931 trên một vài xưởng pháo binh trong đó có xưởng ở Motovbilkh.

Năm 1937, các công trình sư của xương này dưới sự lãnh đạo của F.F.Petrov đã thực hiện việc lắp nòng pháo lên khung pháo tiêu chuẩn 52-L-504A của lựu pháo – đại bác ML-20. Pháo mới nhận tên gọi pháo 122mm mẫu năm 1931/37 và cùng với lựu pháo MK-20 tạo thành “cặp đôi” pháo cấp binh đoàn – hai hệ thống pháo binh trang bị trong các trung đoàn thuộc binh đoàn pháo binh trước chiến tranh.

Pháo 122mm mục đích trước hết được sử dụng:

+ đối đầu với pháo binh đối phương

+ tiêu diệt các công trình, cơ quan dã chiến bố trí mở hoặc khuất sau vật cản,.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 04:56:27 pm
Trong quá trình chiến tranh, pháo cũng thường được sử dụng trong vai trò chống tăng, phá các hỏa điểm mạnh và lực lượng bộ binh đối phương. Pháo có thiết kế cổ điển và bao gồm nòng pháo với khóa nòng và khung. Nòng pháo được sản xuất theo hai dạng: với ống thường và nòng pháo đơn khối áp dụng công nghệ cao hơn. Khóa nòng pít tông có cùng cấu trúc với khóa nòng lựu pháo ML-20. Sự mở và đóng khóa nòng được thực hiện bằng tay quay. Khóa nòng được thiết kế theo cơ chế an toàn, ngăn ngừa sự mở khóa nòng không kịp thời khi bắn kéo dài hoặc bị tắc. Trường hợp chuyển trạng thái tự hành quân sang chiến đấu không chính xác, cơ chế khóa sẽ cản trở việc mở khóa nòng.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mm_m1931a.jpg)

Tốc độ bắn của pháo: 5 - 6 viên/phút. Khung pháo tiêu chuẩn bảo đảm việc dẫn bắn với góc hướng 58 độ, góc tầm 65 độ. Góc bắn lớn và sự xuất hiện của bốn loại đạn với liều phóng nạp riêng bảo đảm hỏa lực có độ linh hoạt cao.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:10:31 pm
Tầm bắn của đạn nổ - nổ mảnh khối lượng 25kg với sơ tốc đầu nòng 800m/s: 20 240 mét. Khi lắp ngòi nổ nổ mảnh, chúng mang theo mảnh nổ gây thiệt hại theo mặt chính diện 40 mét và chiều sâu 8 mét. Khi nắp ngòi đạn nỏ, độ sâu hình phễu: 1,3 mét, đường kính 3,3 mét. Đạn xuyên giáp khi bắn trực xạ ở tầm xa 900 mét xuyên được mọi loại giáp trên xe tăng đối phương.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/Zagan_122_mm_armata_wz_1931_37.jpg)

Pháo 122mm mẫu 1931.37 được vận tải bằng máy kéo bánh xích kéo pháo hạng trung với tốc độ lớn vừa phải: 25km/h. Với thiết kế này, khả năng di chuyển đạt cấp độ như vậy là không nhỏ đối với cả pháo và xe kéo. Điểm đặc biệt của pháo là bộ phận chuyển động của khung pháo liên kết với bộ phận quay của xe kéo một cách chặt chẽ, có khả năng quay theo mặt phẳng ngang và lắc trên mặt phẳng đứng một cách tương ứng với khung thấp của xe kéo trong khi di chuyển. Điều này tạo nên sự linh hoạt trong di chuyển của khung pháo và xe kéo. Xe kéo được nối với móc của phương tiện kéo bằng sự hỗ trợ của thiết bị kéo.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:19:32 pm
Để vận chuyển pháo và chuyển từ trạng tháp chiến đấu sang trạng thái hành quân, càng pháo có thể đóng mở được. khung pháo với trục quay được lắp vào trục của xe kéo và cố định bằng đai ốc. Nòng pháo được cách ly với các thiết bị giảm giật khi có sự hỗ trợ của các khí tài chuyên dụng kéo dài về phía sau và được cố định. Trong trường hợp đặc biệt, trên cự ly quá ngắn để vận chuyển pháo với nòng pháo, không cần chuyển sang trạng thái hành quân. Thời gian chuyển pháo từ trạng thái hành quân sang chiến đấu và ngược lại: 8 – 10 phút.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/Zagan_122_mm.jpg)

Pháo 122mm mẫu năm 1931/37 được nền công nghiệp quốc phòng Liên Xô sản xuất trong toàn bộ thời gian chiến tranh và được sử dụng như pháo binh cấp tập đoàn quân và cho lực lượng dự bị thuộc Đại bản danh trên toàn bộ các mặt trận của Chiến tranh Thế giới thứ hai.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:22:26 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mm_m1931_guna.jpg)

Pháo cấp binh đoàn A-19 mẫu 1931/37

Cỡ nòng: 121,92mm

Khối lượng khi chiến đấu: 7100kg

Khối lượng trong hành quân: 7800kg

Chiều dài nòng pháo: 5,483 mét

Góc tầm: -4 đến 45 độ

Góc hướng: 56 độ

Tầm bắn: 20 870 mét

Khối lượng đạn: 25kg

Tốc độ bắn: 3 – 4 viên/phút

Sơ tốc đầu nòng của đạn: 800m/s.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 06:16:40 pm
Pháo chống tăng D-48 85mm mẫu năm 1953

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/85-__-48_.jpg)

Pháo chống tăng 85mm D-48 được thiết kế bởi Phòng thiết kế thuộc công xưởng số 9 dưới sự lãnh đạo của F.F.Petrova trên cơ sở pháo D-44 cấp tiểu đoàn. Tiêu bản thí nghiệm D-48 được chế tạo tại xưởng số 9 và chuyển giao cho Bộ Tư lệnh pháo binh ngày 31 tháng 12 năm 1948. Các thí nghiệm trên trường bắn tại trường bắn pháo binh quốc gia quý 1 năm 1949. Tuy nhiên trong viên đạn thứ 399 của thí nghiệm loa hãm đầu nòng pháo đã gây thương tích cho khẩu đội. Sau khi hoàn thiện loa hãm đầu nòng mới trong nửa sau tháng 4, các cuộc thí nghiệm lại được khôi phục và kéo dài đến tháng 6 năm 1949. Mẫu pháo D-48 mới được hoàn thiện theo kết quả thu được trên trường bắn thí nghiệm hoàn thành bởi công xưởng vào tháng 4 năm 1950, còn sau đó, pháo đã trải qua các thí nghiệm so sánh với pháo chống tăng 85mm S-6 được thiết kế bởi Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 58 dưới sự lãnh đạo của G.V.Grabin. Theo các kết quả thí nghiệm, phía quân đội đã lựa chọn D-48 và pháo được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang năm 1953.

Đơn đặt mua 50 pháo D-48 đầu tiên được đưa cho xưởng số 9 năm 1953, nhưng công xưởng không thực hiện và hợp động đã chuyển sang xưởng số 57 tại thành phố Yurg tỉnh Kemerovsk (ngày nay là “Xưởng lắp ráp xe máy Yurg”). Tại đây, vào năm 1955 đã sản xuất loạt pháo D-48 đầu tiên.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:06 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/artmuzey033.jpg)

Điểm đặc biệt của pháo chống tăng D-48 (tên gọi của xưởng: 52-P-372) là nòng pháo dài gấp 74 lần cỡ nòng (6290 mét) để bảo đảm sơ tốc đầu nòng của đạn đạt cực đại. Nòng gồm ống đơn khối (số rãnh xoắn – 24), bộ phận nạp đạn, vỏ bọc ngoài và loa hãm đầu nòng. Bộ phận nạp đạn liên kết với ống bằng các khớp nối. Hiệu quả của loa hãm có thể tháo lắp: 68%. Chiều cao đường  lửa: 830mm.

Khóa nòng dạng nêm thẳng đứng với lò xo bán tự động được lấy từ pháo chống tăng 100mm mẫu năm 1944 BS-3 và hoàn thiện thêm để đạt tới tốc độ bắn tối đa 15 viên/phút.

Các thiết bị giảm giật (giảm sóc thủy lực và bộ phận hãm giật thủy khí) được cố định trên giá trên nòng pháo. Khi bắn, chúng trượt cùng nòng pháo và cơ chế đẩy khí nén cân bằng (bố trí bên phải nòng pháo.   


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 07:18:50 pm
Khung nâng đúc, dạng hình trụ. Bên trái nòng pháo lắp cơ chế nâng và trục quay, với những sự hỗ trợ này, có thể dẫn bắn theo góc tầm từ -6 đến 35 độ, góc hướng – trong giới hạn 54 độ. Toàn bộ các cơ chế nâng và quay nòng pháo đồng dạng với các cơ chế tương ứng của pháo D-44.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/-48_6.jpg)

Trong khí tài thước ngắm trên D-48 lắp thước ngắm cơ khí S71-77 (để bắn cầu vồng và bắn trực xạ, lắp thường trực), thước ngắm quang học OP2-77 hoặc OP4-77 (để bắn trực xạ lắp thường trực), thước ngắm toàn cảnh của pháo PG-1 (khi vận chuyển được tháo ra).

Sự thay đổi lớn nhất (theo so sánh với pháo D-44) là khung dưới của pháo thấp. Gần bản lề của khung dưới đúc gắn các càng pháo doãng mỡ được có tiết diện hình hộp. Trên cuối khung bên trái lắp trục lắm để di chuyển (lăn) pháo trên cự ly ngắn bằng sức người của khẩu đội.

Trong bộ phận chuyển động của pháo sử dụng các bánh xa của xe vận tải Zis-5 với lốp xe “tiêu chuẩn quốc gia” (bánh lốp bơm hơi). Sự xuất hiện của lò xo xoắn trên bộ phận chuyển động cho phép kéo pháo bằng các xe tải quân sự (4x4 hoặc 6x6) hoặc bằng xe kéo pháo bánh xích với tốc độ 60km/h.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 07:37:04 pm
Để chuyển pháo từ trạng thái hành quân sang chiến đấu và ngược lại, yêu cầu khẩu đội thao tác trong thời gian từ 1,5 đến 2 phút.

Cơ số đạn pháo gồm 100 viên đạn đồng nhất (được chế tạo một cách đặc biệt dành cho D-48): 44 đạn xuyên giáp và 56 đạn nổ - nổ mảnh (8 viên trong số đó nạp đạn hoàn toàn, 48 viên nạp đạn không hoàn toàn).

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/-48_1.jpg)

Pháo D-48 được sản xuất trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1957. Trong thời gian đó 819 khẩu pháo đã được sản xuất, trong đó 100 – D-48N (1957, tên gọi của xưởng: 52-P-372N, với thước ngắm ban đêm APN-2-77 hoặc APN3-77). Dây chuyền sản xuất D-48 được thực hiện ở Trung Quốc với tên gọi “Type-60” (“Kiểu 60”). Pháo có mặt trong lực lượng vũ trang các nước khối Varsaw, Pakistan (phiên bản Trung Quốc)….

Năm 1958, phần lớn các phần tử cấu trúc của D-48 được sử dụng để chế tạo dòng pháo chống tăng nòng trơn đầu tiên trên thế giới T-12 (2A19).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 07:49:13 pm
Biến thể

SD-48

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/-48_2.jpg)

Ngày 2 tháng 4 năm 1954, theo Quyết định của Hội đồng bộ trưởng số 598-265 đã bắt đầu thiết kế pháo chống tăng 85mm tự di chuyển SD-48. Thiết kế kỹ thuật của khẩu pháo này được gửi lên Bộ Tư lệnh pháo binh từ Phòng thiết kế số 9 ngày 26 tháng 11 năm 1954. Thiết kế bộ truyền động và bộ phận chuyển động được lấy từ pháo 85mm tự di chuyển D-44, nhưng để di chuyển pháo nặng hơn, yêu cầu động cơ mạnh hơn. Việc thiết kế này được giao cho Việc nghiên cứu chế tạo xe hơi. Ngày 5 tháng 9 năm 1955, bản vẽ động cơ đã hoàn thành và sau khi nhận vào xưởng số 9. Cuối năm 1956, mẫu thí nghiệm SD-48 đã được chế tạo. Các thí nghiệp tiếp sau không diễn ra. SD-48 không được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 08:08:47 pm
SD-66

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/-48_3.jpg)

Ngày 11 tháng 11 năm 1957, thiết kế pháo bánh hơi tự hành SD-66 do Phòng thiết kế số 9 thiết kế đã được trình lên Bộ Tư lệnh pháo binh. Pháo được giới thiệu là khung pháo bốn bánh hơi với pháo D-48, được lắp nhằm bảo đảm khả năng bắn vòng trên đốc pháo xe tăng. Cấu tạo của khung pháo – một khung với ca bin bọc thép đằng trức, bốn trụ trượt và được cố định chặt trên cầu dẫn động phía trước và phía sau của gầm xe tải GAZ-63. Từ GAZ-63, pháo SD-66 mượn các bộ phận hộp đổi chiều truyền động, hộp phân phối, bộ ly hợp, bộ giảm sóc thủy lực, tay lái và bánh xe. Trong di chuyển, tốc độ pháo đạt 65km/h, pháo SD-66 có động cơ làm nguội bằng chất lỏng NAMI-030-06 công suất 68 sức ngựa. Tầm hoạt động – 400km. Khối lượng pháo: 4,8 tấn, trong trạng thái hành quân – 5,47 tấn.

Sự điều áp tập trung trong các lốp xe cho phép được nâng cấp đáng kể khi chuyển qua SD-66. Khi đó áp lực riêng cực tiểu trên đất khoảng 0,3kg/cm2.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 08:21:14 pm
Để vận chuyển pháo từ trạng thái hành quân sang chiến đấu và ngược lại có hệ thống thủy lực, bao gồm bơm thủy lực, ba kích thủy lực dạng ống xếp và thùng chất lỏng. Sự mở bơm thủy lực và điều khiển kích thủy lực được thực hiện từ cabin của lái xe. Thời gian chuyển pháo sang trạng thái chiến đấu: 20 giây.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/-48_4.jpg)

Trên pháo bố trí 37 viên đạn (27 trong thùng và 10 viên đóng gói) cùng 4 người trong khẩu đội: 2 trong cabin và 2 trong chỗ ngồi đặc biệt, được bảo vệ trên giá xếp đạn khi hành quân.

Trong kết luận của Bộ Tư lệnh pháo binh đã đánh giá rằng trong thiết kế không thực hiện đầy đủ yêu cầu bảo đảm di chuyển trong khi hành quân với nòng pháo hướng về phía trước. Các công trình sư đã giải thích rằng, để giải quyết vấn đề này cần kỹ thuật phức tạp, làm giảm tầm nhìn của lái xe và tăng chiều cao của hệ thống. Đặc biệt, khi không có hệ thống treo, các cơ cấu của pháo và bộ truyền động sẽ tạo thành những sự sốc khi di chuyển trong điều kiện không thuận lợi. Mặc dù về mặt nguyên tắc, công trình SD-66 đã được phê duyệt và xưởng số 9 đã chuẩn bị một mẫu thí nghiệm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 08:25:38 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/-48_6.jpg)

Tên gọi: pháo chống tăng D-48 mẫu năm 1953

Cỡ nòng: 85mm

Khẩu đội: 6 người

Khối lượng trong trạng thái chiến đấu: 2350kg

Chiều dài nòng pháo: gấp 74 lần cỡ nòng

Kích thước (mm):

+ chiều dài: 9195

+ chiều rộng: 1780

+ chiều cao: 1475

Góc hướng: 54 độ

Góc tầm: từ -6 đến 35 độ

Sơ tốc đầu nòng của đạn (m/s):

+ dưới cỡ nòng: 1040

+ nổ lõm: 925

+ nổ - nổ mảnh: 1010

Khối lượng đạn nổ - nổ mảnh: 9,66kg

Tầm xa (mét):

+ đạn nổ - nổ mảnh: 18 970

+ bắn trực xạ: 1230

Tốc độ bắn: 15 viên/phút.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 12:55:12 pm
Lựu pháo D-30 122mm mẫu năm 1960

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/PICT0518.jpg)

Lựu pháo 122mm D-30 (121,92mm – 2A18) được thiết kế đầu những năm 1960 tại Phòng thiết kế số 9 Sverdlovsk thuộc xưởng pháo binh mang tên M.I.Kalinin (nay là Trường bắn quốc gia “Xưởng số 9”. Khung pháo D-30 với ba càng pháo cho phép thực hiện việc dẫn bắn theo góc hướng 360 độ.

Lựu pháo xe kéo D-30 được sử dụng để tiêu diệt các lực lượng bộ binh trên trận địa mở hoặc sau vật cản, trang bị kỹ thuật quân sự của kẻ thù. Lựu pháo 122mm D-30 lần đầu tiên xuất hiện vào đầu những năm 1960. Khung ba càng pháo cho phép pháo thay đổi góc hướng trong phạm vi 360 độ mà không cần di chuyển càng pháo. Bộ phận chuyển động được lắp trên khung trên, có kích để nâng và hạ pháo khi vận chuyển và chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu và ngược lại. Pháo được vận chuyển theo nguyên tắc khác thường – nòng pháo hướng về phía trước. Thời gian chuyển từ trạng thái hành quân sang chiến đấu: 1,5 – 2,5 phút.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 01:29:57 pm
Lựu pháo D-30 là một trong những hệ thống pháo binh phổ biến nhất trong quân đội các nước thuộc khối Warsaw trước đây. Ngoài ra, pháo được xuất khẩu một cách rộng rãi và sản xuất theo dây chuyền ở một số nước khác. Hiện nay, sự sản xuất dòng pháo này ở các nước SNG đã chấm dứt. Lựu pháo D-30 có nòng pháo dài gấp 38 lần cỡ nòng, trang bị loa hãm đầu nòng, giảm 50% năng lượng hãm lùi (bao gồm loa hãm hai khe theo các dạng khác nhau). Xà dưới của loa hãm lùi đầu nòng phục vụ việc nối pháo với khung kéo. Khóa nòng dạng nêm bố trí thẳng đứng bảo đảm việc đóng khóa nòng một cách tin cậy khi bắn và đẩy vỏ đạn sau khi bắn. Các thiết bị hãm lùi bố trí trong khung nâng trên nòng pháo. Khung trên với 8 cơ chế và khí tài cần thiết, đồng thời bộ phận chuyển động, tì trên khung dưới và có thể quay theo mặt phẳng ngang góc 360 độ.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/01.jpg)

Tới trận địa hỏa lực, bánh xe được nâng lên. Để bảo vệ khẩu đội, pháo có lá chắn nhỏ (không lớn). Biến thể của D-30 được sản xuất ở Trung Quốc, Ai Cập và Nam Tư cũ (D-ZOYu). Có một thời gian D-30 được sản xuất ở Iraq dưới tên gọi “Saddam”, tuy nhiên việc sản xuất được thực hiện dưới dạng nhập khẩu linh kiện.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 01:39:10 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/d-30-together.jpg)

Mẫu thí nghiệm gầm pháo tự hành trang bị D-30 cho quân đội Ai Cập do Tập đoàn Mỹ Bowen – McLaughlin – York và Royal Ordance (Anh) sản suất, tuy nhiên, những công việc sau đó đã không tiến triển. Trung Quốc đã sản xuất thiết bị pháo tự hành mang tên gọi “Type 85” 122mm. Thiết bị pháo tự hành 2S1 trang bị pháo cỡ nòng 122mm được chế tạo dựa trên cơ sở lựu pháo xe kéo D-30. Những biến thể cuối cùng của D-30 là D-ZOA và 2A18M có những khác biệt không lớn trong thiết kế.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 01:48:46 pm
Ngành công nghiệp quốc phòng Liên bang Nga đang giới thiệu tổ hợp nâng cấp, cho phép tăng cường tốc độ pháo xe kéo và rút ngắn thời gian triển khai pháo sang trạng thái chiến đấu. Lựu pháo D-30 có thể bắn với tốc độ 8 viên/phút với cùng loại đạn trên lựu pháo 122mm M-30, tuy nhiên có thể lựa chọn loại vỏ đạn với liều phóng mạnh hơn. Tầm bắn tối đa của đạn nổ - nổ mảnh: 15 400 mét, nhưng hiện nay đã tiếp nhận loại đạn phản lực cho phép tăng tầm bắn lên 21 900 mét. Các loạt đạn khác: đạn nổ lõm chống tăng, đạn khói, pháo sáng, đạn truyền đơn (với các tờ giấy bên trong), đạn hóa học (trong thời điểm này ít được sử dụng).

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/d30_02.jpg)

Rất thuận tiện, kích thước và khối lượng không lớn, độ tin cậy cao, pháo D-30 122mm cho tới ngày nay là mẫu pháo được phổ biến rất rộng trong Binh chủng pháo binh.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 02:15:26 pm
Nhiệm vụ chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mmd30.jpg)

Pháo xe kéo 122mm được sử dụng cho các nhiệm vụ sau:

+ chế áp (tiêu diệt) sinh lực đối phương trên mặt trận rộng hoặc trong các công sự bị che khuất

+ chế áp (tiêu diệt) các khí tài hỏa lực của bộ binh đối phương

+ phá hủy các công trình phòng ngự và hỏa lực kiên cố

+ phá hủy, hỗ trợ bộ binh và khí tài vượt qua bãi mìn và dây thép gai

+ chống lại pháo binh, xe tăng và các khí tài cơ giới của kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 02:26:24 pm
Các thông số kỹ thuật cơ bản

Đạn pháo

Tầm bắn xa nhất của đạn nổ - nổ mảnh (OF): 15 400 mét

Sơ tốc đầu nòng của đạn nổ - nổ mảnh: 690m/s

Khối lượng đạn: 21,76kg

Áp suất lớn nhất của thuốc súng: 250MPa

Sơ tốc đầu nòng của đạn nổ lõm quay: 740m/s

Khối lượng đạn: 14,08kg

Tầm bắn trực xạ khi bắn đạn nổ lõm tới mục tiêu cao 2 mét: 850 mét

Sơ tốc đầu nòng của đạn nổ lõm không quay: 724m/s


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 02:36:14 pm
Khai thác sử dụng

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/HQUKTF200900190235.jpg)

+ thời gian chuyển từ trạng thái hành quân sang chiến đấu và ngược lại: 1,5 – 2,5 phút

+ tốc độ bắn: 6-8 viên/phút

+ tốc độ vận tải lớn nhất khi sử dụng lốp xe tiêu chuẩn quốc gia: 60km/h

+ tốc độ lớn nhất khi sử dụng lốp khí nén: 80km/h

+ khẩu đội: 7 người


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 02:40:49 pm
Thiết kế

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/armymil.jpg)

+ số bộ phận rãnh xoắn định hướng của nòng pháo: 38

+ góc tầm lớn nhất: 70 độ

+ góc tầm cực tiểu: - 7 độ

+ góc hướng: 360 độ

+ chiều cao đường lửa: 900mm

+ chiều dài đường giật: 740 – 930mm

+ giới hạn chiều dài đường giật: 940mm

+ độ dài pháo trong trạng thái hành quân: 5400mm

+ chiều rộng pháo trong trạng thái hành quân: 1950mm

+ chiều cao pháo trong trạng thái hành quân: 1660mm

+ độ cao pháo trong trạng thái chiến đấu khi góc tầm 0 độ: 1420mm

+ chiều rộng: 1850mm

+ độ cách đất: 325mm


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 02:47:19 pm
Khối lượng

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/D-30-122mm-beyt-hatotchan-1.jpg)

+ khối lượng pháo trong trạng thái chiến đấu: 3200kg

+ khối lượng pháo trong trạng thái hành quân: 3290kg

+ khối lượng bộ phận hãm lùi: 1230kg

+ khối lượng bộ phận lắc: 1500kg

+ khối lượng bộ phận quay: 2550kg

+ khối lượng nòng pháo: 1050kg


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 06:35:56 pm
Lựu pháo D-74 122mm mẫu năm 1950

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/P1050033.jpg)

Lựu pháo D-74 là pháo nằm trong “cặp đôi” lựu pháo D-74 và D-20 152mm được thiết kế bởi Phòng thiết kế số 9 dưới sự lãnh đạo của F.F.Petrov.

Trên cơ sở thiết kế pháo binh đoàn D-71, mẫu pháo D-74 122mm cấp quân đoàn đã được thiết kế. Mẫu thí nghiệm đầu tiên được chế tạo tại xưởng số 9 đầu năm 1950 và trong ngày Quân đội Liên Xô 23 tháng 2 (hiện nay là Ngày những người bảo vệ Tổ quốc) năm 1950 đã được chuyển tới trường bắn của xưởng.

Đầu tháng 2 năm 1950, Bộ Tư lệnh pháo binh đã quyết định đồng nhất pháo D-74 với pháo 122mm M-62 – chế tạo trên cơ sở vỏ đạn M-62. Việc này yêu cầu thay đổi các thiết bị của ngăn tiếp đạn trên D-74.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 06:45:18 pm
Năm 1950, xưởng số 9 đã chế tạo lựu pháo đơn khối D-72 152mm để lắp trên khung pháo D-74. Trên D-72, ngoài nòng pháo đơn khối và loa hãm lùi đầu nòng, toàn bộ các chi tiết khác đều sử dụng từ D-74.

Nòng pháo D-74 bao gồm ống, vỏ nòng pháo, giá kẹp đạn và loa hãm lùi đầu nòng. Khóa nòng dạng nêm thẳng đứng với cơ chế bán tự động.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/d74.jpg)

Pháo D-74 và lựu pháo D-20 có chung khung. Sự khác biệt trong các chi tiết giữa hai khung pháo không lớn: mặt cắt của trục giảm sóc hãm lùi và đường kính giá kẹp đạn phía trước.

Càng pháo hàn, dạng ống. để di chuyển (lăn) pháo trên quãng đường, pháo có các bánh xe bên. Hệ thống lò xo xoắn với bánh khi bắn được đóng. Bánh xe lấy từ xe vận tải YaAZ với lốp xe 1200x20 đạt tiêu chuẩn quốc gia.

Khí tài thước ngắm bao gồm thước ngắm cơ khí S-71 với thước ngắm toàn cảnh dành cho pháo binh và thước ngắm trực xạ OP-2-97 (OP4-97, OP4M-97, OP4M-97K).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Hai, 2010, 06:53:55 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/122mmd74.jpg)

Tên gọi: lựu pháo D-74 mẫu năm 1950

Cỡ nòng: 122mm (121,9mm)

Khối lượng trọng trạng thái chiến đấu: 5500kg

Chiều dài trong trạng thái chiến đấu: 8630kg

Chiều rộng: 2400mm

Chiều cao theo lá chắn: 2000mm

Chiều dài nòng pháo với loa hãm lùi: 6450mm


Chiều dài nòng pháo với loa hãm lùi gấp 52,9 lần cỡ nòng

Góc hướng: 58 độ

Góc tầm: -5 đến 45 độ

Tốc độ bắn: 6 – 7 viên/phút

Tốc độ di chuyển trên đường nhựa: 60km/h

Tốc độ di chuyển trên đường đất: 15km/h


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 07:17:32 pm
Pháo chiến trường 130mm M-46

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/130mm.jpg)

Pháo chiến trường 130mm M-46 được thiết trong dòng pháo chế áp pháo binh đối phương, thay thế cho loại pháo chiến trường A-19 mẫu năm 1931/37 đã cũ. Theo sự tương ứng của những yêu cầu này, vào đầu những năm 1950 đã thiết kế mẫu thí nghiệm, còn năm 1954 những loạt pháo đầu tiên đã được sản xuất. Cơ sở nòng pháo 130mm sau đó nhanh chóng được tiếp nhận trong hệ thống pháo Hải quâ bởi vì Hải quân Liên Xô đã sử dụng rộng rãi cỡ nòng này.

M-46 là loại pháo hạng nặng và cồng kềnh, nhưng được bù đắp bằng tầm bắn xa tối đa (27 150 mét), được bảo đảm bởi nòng pháo dài (gấp 58 lần cỡ nòng). Rõ ràng, với tầm bắn xa như vậy, M-46 chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháo binh của quân đội nhiều quốc gia, mặc dù hiện nay, nó đang được loại bỏ dần khỏi lực lượng vũ trang do khối lượng quá nặng – trong trạng thái hành quân, M-46 nặng 8550kg. Phần lớn khối lượng tập trung ở khung pháo cồng kềnh với càng pháo đóng mở được, đem tới sự cần thiết sử dụng xe kéo hai bánh khi kéo, đặc biệt trong trường hợp nếu việc kéo xe được thực hiện bằng xe bánh xích, nòng pháo được xếp trên càng pháo. Khối lượng thêm được tạo ra từ các cơ chế chống giật nặng, các lưỡi cày lớn và lá chắn chống mảnh đạn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 07:29:12 pm
Quân đội Trung Quốc đánh giá cao M-46, đã chế tạo phiên bản riêng, nhận tên gọi pháo 130mm hoặc Type-59-1, đồng thời sử dụng các loại đạn của nó, trong đó có đạn 130mm ERFB-BB, cho phép tăng tầm bắn lên 38 000 mét. Các nước khác như Israel (có M-46 trong biên chế) và Nam Phi đã có khả năng sản xuất đạn pháo M-46 dành cho xuất khẩu. Mặc dù có tên gọi chính thức là “đại bác”, pháo cho phép sử dụng các loại thuốc phóng khác nhau.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/130-__-466.jpg)

Do khối lượng lớn của M-46, chỉ có một nước duy nhất chế tạo nó dành cho pháo tự hành. Đó là Ấn Độ. Trong quân đội Ấn Độ gồm có một số lượng pháo M-46 trên biến thể của gầm xe tăng “Vidzhanynt” mang tên gọi “Katcpulta”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 07:40:21 pm
Trong thông tin về sự loại bỏ dần pháo M-46 ra khỏi lực lượng vũ trang xuất hiện kiến nghị sử dụng khung pháo dành cho thiết bị pháo 155mm có nòng pháo dài gấp 45 lần cỡ nòng, cho phép sử dụng cơ số đạn phù hợp với tiêu chuẩn NATO, đồng thời đạn ERFB. Các tổ hợp hiện đại hóa được giới thiệu bởi Israel, Trung Quốc và tại Nam Tư cũ.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/130-__-46_1.jpg)

Hiện nay, pháo M-46 130mm vẫn còn trong biên chế của khoảng 40 quốc gia, trong đó có các nước SNG, Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ….


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 07:44:55 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/_M-46_130_mm.jpg)

Tên gọi: pháo chiến trường M-46

Cỡ nòng: 130mm

Khẩu đội: 8 – 10 người

Khối lượng đầy đủ: 7700kg

Chiều dài nòng pháo: 7,6 mét

Chiều dài tổng thể của pháo trong trạng thái hành quân: 11,73 mét

Chiều rộng của pháo trong trạng thái hành quân: 2,45 mét

Tầm bắn xa tối đa: 27 150 mét

Sơ tốc đầu nòng của đạn pháo: 930m/s

Khối lượng đạn: 33,4kg (đạn nổ - nổ mảnh)

Góc tầm: -2,5 đến 45 độ

Góc hướng: 50 độ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 08:27:18 pm
Lựu pháo ML-20 152mm mẫu năm 1937

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/15917064.jpg)

Lựu pháo – đại bác ML-20 được thiết kế trong hàng loạt các sáng kiến bởi các công trình sư của xưởng Motovilikh dưới sự lãnh đạo của F.F.Petrov. Song song với ML-20 là các công việc trên pháo ML-15. Sau cùng, mẫu ML-20 đã với thiết kế tốt hơn đã được lựa chọn sau khi khắc phục các nhược điểm về trục của khung pháo.

Nhờ thiết kế của khung pháo, bảo đảm góc hướng và góc tầm cực đại tương ứng 65 và 58 độ, đồng thời với sự xuất hiện của 13 loại đạn khác nhau, lựu pháo ML-30 là pháo trong số ít các loại pháo khi đó có khả năng hỏa lực linh hoạt.

Pháo lớp “lựu pháo – đại bác” có khả năng bắn góc tầm lớn của lựu pháo và sơ tốc đầu nòng của đại bác. Khả năng bắn trực xạ của đạn 152m có thể xuyên thủng bất kỳ loại xe tăng nào, còn khi bắn trúng tháp pháo, nó sẽ phá hủy phần đốc pháo, đôi lúc trên các cự ly xa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 09:16:31 pm
Lựu pháo – đại bác ML-20 được chế tạo năm 1936 bởi nhóm các công trình sư dưới sự lãnh đạo của F.F.Petrov tại xưởng pháo binh ở Motovilkh. ML-20 được thiết kế song song và cùng đệ trình lên Bộ Tư lệnh pháo binh với ML-15 trên cơ sở pháo 152mm mẫu 1910/1934. Cuối năm 1936, hai hệ thống pháo đã trải qua các cuộc thí nghiệm cấp quốc gia và ML-20 đã giành được thắng lợi và tiếp nhận vào trang bị của Hồng Quân dưới tên gọi “Lựu pháo – đại bác 152mm mẫu năm 1937 (ML-20)”.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/ml1937.jpg)

Mặc dù sử dụng nhiều chi tiết đồng nhất với pháo mẫu 1910/1934, lựu pháo – đại bác ML-20 có hàng loạt các yếu tố mới: khung trên đúc, cơ chế nâng và cân bằng mới, khí tài thước ngắm, cơ cấu thay đổi chiều dài giật (phụ thuộc vào góc tầm), cơ chế đóng và mở lò xo. Đây thực tế là một khung pháo mới được thiết kế tiêu chuẩn và nhận tên gọi 52-L-540A và sau đó được sử dụng khi chế tạo pháo 122mm mẫu 1931/37. Những chi tiết sao chép từ pháo mẫu 1910.1934 là nòng pháo với loa hãm lùi đầu nòng mạnh. Nòng pháo này dành cho lựu pháo – đại bác ML-20 được sản xuất trong ba phiên bản: đơn khối, nòng pháo với ống tự do và ống cố định. Lựu pháo – đại bác có khóa nòng pít tông, bảo đảm tốc độ bắn 3 – 4 viên/phút. Sự mở và đóng khóa nòng được thực hiện bằng tay quay. Đạn được bắn nhờ sự kéo cò sau khi giật dây điện. Việc đẩy vỏ đạn từ ngăn tiếp đạn của nòng pháo sau khi bắn, trong phần mặt cắt của bộ phận nạp đạn bố trí thiết bị đẩy, hoạt động tự động khi mở khóa nòng. Khóa nòng có cơ chế an toàn, cho phép mở khóa nòng bằng cách thông thường (quay tay quay) chỉ sau khi bắn. Trường hợp cần thiết có thể mở khóa nòng trước khi bắn, ví dụ để huấn luyện khẩu đội, cơ cấu an toàn chuyển đổi đóng – mở khóa nòng là cần thiết. Để ngăn ngừa viêc rơi vỏ đạn và đạn từ kênh nòng khi nạp đạn dưới góc tầm lớn, trên bộ phận trên lỗ pít tông của bộ phận nạp đạn có cơ chế giữ vỏ đạn. Nếu nòng không được liên kết (hoặc liên kết không hoàn toàn) với các thiết bị giảm giật, thì việc mở khóa nòng và nạp đạn không thể thực hiện được. Khi đó, việc mở khóa nòng bị ngăn cản bởi chốt của cơ cấu khóa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 09:56:32 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/ml20.jpg)

Nhờ thiết kế của khung pháo, bảo đảm góc tầm 65 độ, đồng thời sự xuất hiện rộng rãi của các loại đạn khác nhau với 13 loại đạn khác nhau, lựu pháo ML-20 được giới thiệu là loại vũ khí có hỏa lực linh hoạt. Pháo có những tính năng của lựu pháo với khả năng bắn cầu vồng và sơ tốc đầu nòng lớn của đạn pháo. Lựu pháo – đại bác ML-20 tiếp nhận các loại đạn với liều phóng nạp rời: đạn đại bác nổ - nổ mảnh OF-540; đạn lựu pháo nổ - nổ mảnh OF-530, đạn xuyên giáp – vạch sáng BR-540, đạn khoang bê tông của lựu pháo G-530. Tầm bắn xa nhất của đạn OF-540 khối lượng 43,56kg với sơ tốc đầu nòng 655m/s: 17 230 mét. Khi lắp ngòi nổ của đạn nổ - phá mảnh, nó mang lại các mảnh nổ theo chính diện 40 mét và chiều sâu 8 mét. Đạn xuyên giáp – vạch sáng BR-540 khi bắn trực xạ trên cư ly 800 mét xuyên giáp mọi loại xe tăng. Khi trúng tháp pháo sẽ phá hủy đốc pháo. Nói theo cách hình tượng là tháp pháo sẽ bị “thổi bay”. Thiết kế của khung pháo lò xo với bánh kép và vành cao su cùng sự xuất hiện đồng thời của bánh xe kéo pháo cho phép vận chuyển pháo bằng các máy kéo bánh xích hạng trung với tốc tộ tương đối cao: 25km/h. Thời gian chuyển từ trạng thái hành quân sang chiến đầu và ngược lại: 8 – 10 phút. Lựu pháo – đại bác ML-20 được sản suất trong toàn bộ thời gian chiến tranh và trang bị cho các tập đoàn quân pháo binh và lực lượng pháo binh dự bị thuộc Đại bản doanh.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 10:10:17 pm
Sự tiếp nhận chiến đấu

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/ml20152mm.jpg)

ML-20 được sử dụng cho việc bắn phá các trận địa bị che khuất theo các giao thông hào và sinh lực địch trên chiến trường, các công sự và chướng ngại vật, các công trình quan trọng trong hậu phương gần. Khi lắp ngòi nổ OF-540 khối lượng 43,56kg có khả năng tạo ra các mảnh nổ trên chính diện 40 mét và chiều sâu 8 mét. Mặc dù số mảnh nổ và độ tản thực tế thấp hơn là đạn của lựu pháo cùng cỡ nòng, ngay chính các mảnh nổ cũng có nặng hơn và có khả năng xuyên 20 – 30mm giáp. Vì thế, hỏa lực bắn chặn của đại đội pháo ML-20 bằng đạn nổ - phá mảnh tạo ra sự thiệt hại lớn không chỉ cho bộ binh và công sự của đối phương mà còn cho các phương tiện thiết giáp. Các mảnh nổ xuyên giáp các xe bọc thép vận tải, thành các xe tăng hạng trung và hạng nhẹ. Với các phương tiện thiết giáp hạng nặng, chúng loại khỏi vòng chiến các phần tử của bộ phận chuyển động, pháo và thước ngắm. Sự chấn động do nổ gần của đạn đủ mạnh để làm vỡ các chi tiết bên trong xe tăng hoặc pháo tự hành khi không xuyên được giáp.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Hai, 2010, 10:17:50 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/Ml-20-1939-152mm-gun.jpg)

Lần đầu tiên ML-20 tham chiến với số lượng không lớn trong các trận đánh trên sông Khankhin – Gôn, khi đó pháo không gây ra các thiệt hại lớn. Pháo được sử dụng một cách tích cực trong chiến tranh Liên Xô – Phần Lan, nơi mà chúng đã phá hủy các công trình phòng thủ và hỏa điểm mạnh trên phòng tuyến Mannergeym. ML-20 đã tham gia trong toàn bộ các chiến dịch lớn trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, cụ thể: đóng vai trò quan trọng trong trận Kursk, chứng minh là một trong không nhiều loại vũ khí có khả năng đối đầu một cách hiệu quả với các xe tăng vào pháo tự hành mới của Đức được bọc thép tốt. Sau chiến tranh, pháo còn phục vụ lâu dài trong lực lượng quân đội Liên Xô, được bán và chuyển giao cho các nước khác để trang bị cho lực lượng vũ trang của họ, tham gia tích cực trong hàng chục cuộc xung đột khu vực. Trong một vài quốc gia châu Phi và châu Á, ML-20 cho đến nay vẫn được được sử dụng theo các nhiệm vụ cơ bản trong các cuộc nội chiến và tranh chấp biên giới.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: binhnhi2009 trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 01:15:58 am

Pháo D-48 được sản xuất trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1957. Trong thời gian đó 819 khẩu pháo đã được sản xuất, trong đó 100 – D-48N (1957, tên gọi của xưởng: 52-P-372N, với thước ngắm ban đêm APN-2-77 hoặc APN3-77). Dây chuyền sản xuất D-48 được thực hiện ở Trung Quốc với tên gọi “Type-60” (“Kiểu 60”). Pháo có mặt trong lực lượng vũ trang các nước khối Varsaw, Pakistan (phiên bản Trung Quốc)….

Năm 1958, phần lớn các phần tử cấu trúc của D-48 được sử dụng để chế tạo dòng pháo chống tăng đầu tiên trên thế giới T-12 (2A19).


Bác daibangden giải nghĩa thêm về những chỗ đỏ ở trên. Sao lại những năm 50 mới có "dòng pháo chống tăng đầu tiên trên thế giới "? bn tưởng nó có từ trước đó lâu rồi chứ?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 03:57:58 pm

Pháo D-48 được sản xuất trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1957. Trong thời gian đó 819 khẩu pháo đã được sản xuất, trong đó 100 – D-48N (1957, tên gọi của xưởng: 52-P-372N, với thước ngắm ban đêm APN-2-77 hoặc APN3-77). Dây chuyền sản xuất D-48 được thực hiện ở Trung Quốc với tên gọi “Type-60” (“Kiểu 60”). Pháo có mặt trong lực lượng vũ trang các nước khối Varsaw, Pakistan (phiên bản Trung Quốc)….


Năm 1958, phần lớn các phần tử cấu trúc của D-48 được sử dụng để chế tạo dòng pháo chống tăng đầu tiên trên thế giới T-12 (2A19).


bác daibangden giải nghĩa thêm về những chỗ đỏ ở trên. Sao lại những năm 50 mới có "dòng pháo chống tăng đầu tiên trên thế giới "? bn tưởng nó có từ trước đó lâu rồi chứ?
Là dòng pháo chống tăng nòng trơn bác ạ. Các dòng pháo chống tăng trước 2A19 là nòng rãnh xoắn.
Cám ơn bác nhé, em viết thiếu. Em sẽ bổ sung ;D


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 06:16:20 pm
Biến thể

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152_mm_howitzer-gun_M1937_ML-20_1.jpg)

Trong quá trình sản xuất hàng loạt pháo được thay đổi rất đáng kể. Nòng pháo được sản xuất theo hai phiên bản: đá khối bắt chặt và đơn khối (trong một vài nguồn có nhắc tới phiên bản thứ 3: - nòng tự do, không lắc). Các mẫu sớm hơn của pháo có bánh xa với nan hoa và vành cao su từ pháo 152mm mẫu 1910/34.

Để lắp trên pháo tự hành, phiên bản ML-20S đã được sản xuất, có chiều dài bộ phận rãnh xoắn 3476,1mm, chiều dài loa hãm lùi đầu nòng gấp 32,2 lần cỡ nòng/2925mm với sự bố trí các cơ qua điều khiển khác, thuận lợi hơn cho pháo thủ trong các điều kiện khó khăn của buồng chiến đấu trong pháo tự hành.

Đồng thời cũng có một số mẫu thí nghiệm ML-20 nhưng không được đưa vào sản xuất hàng loạt.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 06:39:00 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/ML-20_SPb.jpg)

+ ML-20 với cát tút nạp điện. Năm 1937, Bộ Tư lệnh pháo binh đã đưa ra nghi vấn vì cho rằng khả năng kinh tế không đáp ứng được việc sản xuất pháo cỡ nòng trung bình với loại đạn này. Năm 1939, mẫu thín nghiệm ML-20 với loại cát tút này đã được sản xuất nhưng không thành công khi trải qua các thí nghiệm. Sau đó, sự tiết kiệm trong kim loại dành cho vỏ đạn đã bị loại bỏ bởi tốc độ tạo hỏa lực chậm và sự phá hủy ngăn tiếp đạn của pháo, không có khi sử dụng vở đạn nạp điện riêng.

+ ML-20SM – phiê bản nân cấp dành cho pháo tự hành. Khác với ML-20, phiên bản này không có loa hãm đầu nòng. ML-20SM được lắp thí nghiệm trên pháo diệt tăng tự hành ISU-152 mãu năm 1945 trên cơ sở xe tăng hạng nặng IS-3. Chỉ có một tiêu bản duy nhất được sản xuất và hiện nay đang đặt ở Bảo tàng Tăng – thiết giáp Kubinka.

+ BL-29: pháo được chế tạo bởi Phòng thiết kế số 172 năm 1946 và được giới thiệu là ML-20 với bộ phận nạp đạn đúc và khóa nòng dạng nêm.

+ ML-20 với khung phái và bánh xa theo mẫu pháo 130mm M-46. Năm 1950, pháo được chế tạo và mẫu thí nghiệm đã đưa vào các thử nghiệm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:08 pm
Pháo tự hành với ML-20

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/SU152.jpg)

+ Su-152: pháo tự hành trên cơ sở xe tăng KV-1, được sản xuất từ tháng 2 đến tháng 12 năm 1943. Tổng cộng: 670 xe.

+ ISU-152: pháo tự hành trên cơ sở IS-1, được sản xuất từ tháng 11 năm 1943 đến năm 1946 (thời gian cuối cùng vẫn còn là câu hỏi). Tổng cộng: 3242 xe.

+ ISU-152 mẫu năm 1945. Bản thí nghiệm trên gầm xe tăng IS-3, có một tiêu bản duy nhất được sản xuất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 07:09:17 pm
Đánh giá thiết kế

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152mm_howitzer-gun_M1937_ML-20__in_Perm.jpg)

ML-20, nói một cách chắc chắn là một loại pháo tốt. Nó nằm trong khoảng giữa dòng lựu pháo cổ điển với nòng ngắn và đại bác nòng dài uy lực mạnh, với ưu điểm đầu tiên về tầm xa hỏa lực, còn ưu điểm thứ hai là khối lượng (như kết luận sau đó, pháo có tính cơ động tốt và giá thành thấp). Trong thực tế, ưu điểm đầu tiên của ML-20 là có khả năng tấn công vào các trận địa mạnh hơn các lựu pháo phổ biến của đối phương, vượt xa tầm bắn của các loại lựu pháo mạnh nhất (tầm xa của lựu pháo 15cm F.H.18 của Đức: 13,3km). Bằng kết quả ưu điểm thứ hai, pháo được sản xuất với số lượng rất lớn theo so sánh với số lượng các loại pháo uy lực mạnh đã được sản xuất với giá thành cao hơn. Trong ví dụ cụ thể, có thể lấy pháo 15cm K.18 khối lượng 12,5 tấn và tầm bắn tối đa 24,8km được sản xuất từ năm 1940 tới 1943 trong số lượng 101 khẩu, hoặc loại pháo vượt trội khác là K.18Mrs.Laf 17cm (23,4 tấn, 29,6km) được sản xuất với số lượng 338 khẩu. Các đại bác nhẹ hơn của Đức 10,5cm K.18 (5,6 tấn, 19,1km) được sản xuất với số lượng nhiều hơn: 2135 khẩu, nhưng sức mạnh của đạn nổ - nổ mảnh không so sánh được với đạn 44kg của ML-20.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 07:22:45 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152_mm_howitzer-gun_M1937_ML-20_2.jpg)

Khi so sánh ML-20 với số lượng không lớn các loại pháo đồng dạng, nó có lợi thế rõ ràng. Pháo 155mm của Pháp mẫu năm 1917 – 1918 (đồng thời biến thể của Mỹ M1918M1) chỉ hơn ML-20 không nhiều về tầm bắn nhưng nặng hơn 3,5 tấn, độ cơ động thấp hơn và quỹ đạo bay của đạn thấp hơn vì góc hướng cực đại bị hạn chế trong khoảng 40 – 42 độ. Lựu pháo Séc K4 (trong quân Đức gọi là 15cm s.F.H.37(t)) nhẹ hơn 2 tấn nhưng thua kém về tầm bắn 2km so với ML-20. Ngoài ra, những khẩu pháo này ít phổ biến, tổng cộng chỉ có 178 khẩu. Người Đức không chỉ một lần đã thử chế tạo vũ khí, có tính năng gần với ML-20, nhưng không thành công. Lựu pháo 15cm s.F.H.40 không được sản xuất quy mô lớn do hàng loạt các nhược điểm về thiết kế; mẫu pháo khác 15cm s.F.H.42 có tầm bắn xa tối đa 15 100 mét được sản xuất 46 khẩu. Trong năm 1943 và 1944, quân đội Đức đã tổ chức cuộc thi thiết kế lựu pháo 15cm mới với tầm bắn 18km nhưng không thành công và không được đưa vào sản xuất quy mô lớn. Dòng pháo chiến trường hạng trung của Anh (140mm) được đưa vào sản xuất năm 1941 nhưng tầm xa chỉ có 14km, không quá vượt trội pháo 15cm s.F.H.18 và thua kém Ml-20 theo chỉ số này cũng như độ linh hoạt của hỏa lực.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 07:41:57 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152mm_ml20_hameenlinna_4.jpg)

ML-20 có rất nhiều loại đạn, cho phép pháo giải quyết những nhiệm vụ khác nhau. Ngoài các loại đạn điển hình dành cho hệ thống pháo binh cho các mục tiêu sinh lực địch, sở chỉ huy, kho tàng, trận địa pháo binh, ML-20 còn được trang bị đạn để hủy diệt các công trình hỏa lực mạnh, trong có có bê tông và hàng loạt các loại đạn trong trường hợp bắn trực xạ. ML-20 được sử dụng rất hiệu quả trong chiến tranh đường phố. Ngoài ra, có thể sử dụng ML-20 trong nhiệm vụ chống tăng. Đương nhiên, sử dụng pháo lớp này để chống tăng chỉ ở trong những trường hợp hãn hữu nhất bởi vì khi chống lại các mục tiêu này, ML-20 có kích thước rất lớn (dễ bị phát hiện và tiêu diệt), giá thành cao và tốc độ bắn chậm. Trong thời gian đó, trong nhiều trường hợp, ví dụ, như trận Kursk, khi các loại pháo chống tăng phổ biến không hiệu quả với giáp xe tăng mới nhất của kẻ thù, ML-20 đã được sử dụng vào nhiệm vụ chống tăng. Đạn xuyên giáp và xuyên bê tông của ML-20 đã phá hủy một cách dễn dàng các xe tăng hạng trung của Đức khi bắn vào bất kỳ vị trí nào, xe tăng hạng nặng “Tigr” đồng thời cũng bị tiêu diệt khi bắn trên tầm xa hàng kilomet trừ khi bị bắn vào thành tháp pháo. Pháo tự hành “Ferdinand” bị tiêu diệt dễ dàng khi bắn vào thành. Xe tăng “Panther” không có vấn đề khi bị trúng thành xe trên tầm xa, trong cự ly gần, trừ khi bắn vào đầu (mặc dù xác suất đạn nảy ra lớn cho tới khi xuất hiện đạn đầu tù). Khi đạn trúng xe tăng, đạn nổ - nổ mảnh với các xe tăng hạng trung phá hủy tháp pháo; tới các xe tăng hạng nặng tạo nên các chấn động (trong đó sự phá hủy các thiết kế của đốc pháo và sự bố trí tháp pháo khỏi trục quay đạt xác suất đáng kể), loại khỏi vòng chiến pháo chính, các thiết bị quan sát, kíp xe bị chấn thương.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 07:53:17 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152mm_ml20_hameenlinna_6.jpg)

Các nhược điểm của ML-20 có thể liệt kê: khối lượng lớn với hạn chế về tốc độ vận chuyển do thiết kế bảo thủ của khung pháo. Như thí nghiệm ML-15 đã chỉ ra, pháo có thể được thiết kế nhẹ và cơ động hơn. Để vận chuyển, cần có xe kéo mạnh – vốn có số lượng không lớn trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Đây là nhược điểm đã được ghi nhận trong pháo binh Phần Lan. Độ cơ động không cao đã dẫn đến việc pháo chỉ được trang bị ở các đơn vị cấp cao như quân đoàn pháo binh hoặc lực lượng dự bị của Đại bản doanh. Điểm yếu nữa có thể ghi nhận trên ML-20 là loa hãm đầu nòng. Sự xuất hiện của nó làm lộ vị trí ngụy trang pháo, sau khi đạn bay khỏi nòng pháo, khói thuốc sẽ chuyển hướng hoạt động sau khi qua loa hãm và tạo ra các đám bụi trên mặt đất. Việc này xảy ra rất rõ ràng khi bắn pháo ở các góc tầm không lớn, để đối phó lại vấn đề không mong muốn này, đôi khi mặt đất dưới nòng pháo được thấm ướt. Mặt khác, sự sử dụng loa hãm đầu nòng trong thời sản này đã trở thành phổ biến cho các loại pháo lớp tương tự.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 08:03:06 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/ML-20_howitzer_in_fortress_St_Petersburg.jpg)

Theo ý kiến của một vài sỹ quan quân đội Liên Xô, rằng ML-20 sẽ không phục vụ lâu dài trong lực lượng vũ trang. Trên thực tế, sự phối hợp các tính năng với độ tin cậy, không yêu cầu cao trong bảo dưỡng kỹ thuật, thiết kế hàn đơn giản và vượt trội nhiều loại pháo 152mm hiện đại ngoại trừ thua kém về tầm bắn và tương đương về độ chính xác và khả năng bắn cấp tập. Điều này cho phép ML-20 được duy trì lâu dài trong trang bị, nhưng đến đầu những năm 1970, nhiều pháo ML-20 đã gặp vấn đề về tuổi thọ của nòng pháo khi bắn cấp tập và đã bị loại khỏi biên chế, đồng thời có những hệ thống pháo binh hiện đại thay thế ví dụ như pháo 152mm 2A36. Tuy nhiên, với các pháo thủ thế hệ đi trước, vẫn còn những “nỗi nhớ”và “kỷ niệm ấm áp” về ML-20.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 08:13:51 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152mm_howitzer-gun_M1937_ML-20_.jpg)

Tên gọi: lựu pháo – đại bác ML-20

Cỡ nòng: 152mm

Khối lượng trong trạng thái chiến đấu: 7270kg

Khối lượng trong trạng thái hành quân: 7930kg

Sơ tốc đầu nòng: 655m/s

Góc tầm: -2 đến 65 độ

Góc hướng: 58 độ

Tốc độ bắn: 3-4 viên/phút

Tầm bắn: 17 230 mét

Khối lượng đạn nổ - nổ mảnh: 43,560kg

Tốc độ vận chuyển trên đường nhựa: 20km/h

Chiều cao đường lửa: 1613 mm

Chiều dài nòng pháo: 4412 mm (gấp 29 lần cỡ nòng – không có loa hãm lùi)

Chiều dài kênh nòng pháo: 4240mm (gấp 27,9 lần cỡ nòng)

Kích thước trong trạng thái hành quân

+ chiều dài: 8180mm (với xe kéo)

+ chiều rộng: 2345mm

+ chiều cao: 2270mm

+ độ cách đất: 315mm

Khẩu đội: 9 người


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: Hai Ruộng trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 09:22:30 pm
 Chiều cao, chiều dài nòng pháo bạn DAIBANDEN có nhầm đơn vị không ?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Hai, 2010, 09:28:35 pm
Chiều cao, chiều dài nòng pháo bạn DAIBANDEN có nhầm đơn vị không ?
Chiều dài, chiều cao, chiều rộng của pháo ML-20 tính bằng milimet (mm) hết bác ạ. Em viết nhầm!
Em đã sửa lại bài rồi Cám ơn bác nhiều! Cả nhà thông cảm nhé!


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:37:50 pm
Lựu pháo D-1 152mm mẫu năm 1943

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/D1_howitzer.jpg)

Sau khi chuyển sang tấn công, Hồng Quân xuất hiện yêu cầu các loại vũ khí mới có hỏa lưcj mạnh nhưng khối lượng nhẹ và cơ động, có khả năng đối đầu hiệu quả với các hỏa điểm và công trình kiên cố của kẻ thù. Loại pháo có thể thỏa mãn các yêu cầu này là lựu pháo 152mm. Tuy nhiên sự sản xuất lựu pháo 152mm mẫu năm 1938 đã bị dừng lại và trên thực tế, việc khôi phục sản xuất yêu cầu thời gian kéo dài. Ngoài ra, do khối lượng lớn và khả năng cơ động thấp, nó không đáp ứng được yêu cầu của binh chủng.

Sự chế tạo lựu pháo 152mm mới được giao cho Phòng thiết kế dưới sự lãnh đạo của F.F.Petrov. Để rút ngắn thời gian thiết kế, phòng đã thực hiện việc lắp lên nòng pháo 152mm mẫu năm 1938 loa hãm đầu nòng mạnh lên khung nâng cấp trong quá trình sản suất lựu pháo 122mm M-30. Trong thiết bị thước ngắm, sử dụng thước ngắm và kính ngắm toàn cảnh của loại lựu pháo này, còn khóa nòng lấy từ lựu pháo – đại bác năm 1937 ML-20 mẫu năm 1937.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:45:29 pm
Trong quá trình thiết kế, 5 mẫu thí nghiệm đã được chế tạo và trải qua các đợt bắn thí nghiệm trong tổng cộng 18 ngày. Mùng 1 tháng 5 năm 1943, lựu pháo được đưa tới Moskva để trải qua các thí nghiệm cấp binh chủng, còn cuối tháng 5, lựu pháo mới được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang Hồng Quân dưới tên gọi “lựu pháo 152mm mẫu năm 1943 (D-1)”.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/Cika_haubica_polowa_.jpg)

Nhờ sự đồng nhất rộng rãi với các loại pháo khác, trong quá trình sản xuất hàng loạt, D-1 chỉ yêu cầu tổng cộng nửa tháng và đến tháng 6 năm 1943, pháo đã được đưa vào trang bị các trung đoàn thuộc quân đoàn và sư đoàn pháo thuộc Đại bản doanh.

Trong cơ số đạn của lựu pháo bao gồm đạn có liều phóng nạp riêng với đạn nổ - nổ mảnh và đạn khoan bê tông. Khi cần thiết, đạn khoan bê tông có thể đóng vai trò đạn chống tăng. Tầm bắn xa của đạn nổ - phá mảnh: 12 400 mét. Khi lắp ngòi nổ phá mảnh, các mảnh đạn nổ có diện tục 2100m2: 70 mét chính diện và 30 mét chiều sâu. Nếu ngòi nổ được của đạn nổ được lắp, khi nổ trên mặt đất, đạn tạo ra hình phễu đường kính 3,5 mét và độ sâu 1,2 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:50:36 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/D1_Saint_Petersburg_2.jpg)

Để tăng độ cơ động của lựu pháo, các công trình sư đã loại bỏ việc sử dụng trục bánh xe đẩy ở càng pháo truyền thống. Điều này cho phép không chỉ giảm khối lượng pháo trong quá trình hành quân, và còn rút gọn thời gian chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu và ngược lại đến 2 phút. Nhờ có sự loại bỏ này, sự sử dụng khung lựu pháo M-30 khi chế tạo lựu pháo D-1 (bao bồm tăng cường khung nâng, lò xo, sử dụng bánh xe cỡ lớn với vành cao su, sử dụng bánh răng cao su), cho phép tốc độ vận chuyển của lựu pháo D-1 trên đường đất: 40km/h, theo đường đá cuội: 30km/h và trong điều kiện không có đường xá: 10km/h.

Kinh nghiệm chiến đấu khi sử dụng lựu pháo 152mm D-1 đã chỉ ra rằng, đây là một loại vũ khí rất đáng tin cậy, có độ chính xác và khả năng sống còn cao.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:43 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152-mm_howitzer_M1943_D-1.jpg)

Tên gọi: lựu pháo D-1 mẫu năm 1943

Quốc gia sản xuất: Liên Xô

Số lượng sản xuất: 2827 khẩu

Thời gian sản xuất: 1943 – 1949

Cỡ nòng: 152,4mm

Khối lượng trong trạng thái hành quân: 3640kg

Chiều dài nòng pháo: gấp 27,7 lần cỡ nòng

Góc hướng: 35 độ

Góc tầm: từ -3 đến 63,5 độ

Sơ tốc đầu nòng của đạn pháo: 560 – 620m/s

Tốc độ bắn: 3-4 viên/phút

Tầm bắn xa tối đa: 12 400 mét


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 08:08:08 pm
Lựu pháo 152mm D-20 mẫu năm 1955

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/Howitzer_D-20.jpg)

Nằm trong “cặp đôi” trong thành phần pháo 122mm D-74 và lựu pháo – đại bác D-20 được thiết kế bởi Phòng thiết kế số 9 dưới sự lãnh đạo của F.F.Petrov.

Tháng 12 năm 1949, xưởng số 9 đã chế tạo thiết bị tính toán đường đạn D-74B trên cơ sở khung pháo 152mm của lựu pháo – đại bác ML-20. Thiết bị tính toán đường đạn đã trải qua các thí nghiệm của xưởng với 23 viên đạn và và mùa xuân đã trải qua các thí nghiệm cấp quốc gia.

Năm 1950, xưởng số 9 đã chế tạo lựu pháo 152mm D-72 đơn khối để lắp lên khung pháo D-74. Trên D-72, ngoài nòng pháo đơn khối và loa hãm lùi đầu nòng, toàn bộ các chi tiết còn lại đều sử dụng từ D-74.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 08:17:21 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/4_d20_2.jpg)

Vào năm 1950 – 1952, lựu pháo D-72 cấp binh đoàn đã được chuyển phân loại sang lựu pháo – đại bác D-20 (D- chỉ số của xưởng, số 20 – theo sự đồng dạng với ML-20). Sự khác nhau về nguyên tắc của ML-20 và D-20 chỉ nằm ở góc tầm cực đại của ML-20 lớn hơn 20 độ so với D-20.

Năm 1956, xưởng số 221 đã sản xuất 64 D-74 và 32 D-20. Sự sản xuất cặp đôi này còn diễn ra trong thời gian dài. Trong đó sự sản xuất đại bác – lựu pháo D-20 diễn ra lâu hơn D-74.

Trên cơ sở D-20, năm 1968 đã chế tạo lựu pháo 152mm D-22 lắp trên thiết bị pháo tự hành 2S3 “Akatsia”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 08:44:21 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152-_-_-20_4.jpg)

Nòng lựu pháo – đại bác D-20 bao gồm ống, bộ phận nạp đạn, giá kẹp đạn và loa hãm đầu nòng. Khóa nòng thẳng đứng dạng nêm với cơ cấu bán tự động. Pháo D-74 và lựu pháo D-20 có chung khung. Sự khác biệt trong các chi tiết không lớn: mặt cắt của trục giảm sóc chống giật và đường kính giá kẹp đạn phía trước.

Khung nâng được giới thiệu là một hình trục rỗng với các vấu lồi, bao gồm trục của giá kẹp đạn và giá kẹp đạn trước được hàn liền nhau. Bộ giảm giật thủy lực, dạng mặt cắt với máy nén khí lò xo, dạng chữ “M”. Bộ phận giảm giật thủy khí, dạng chữ “M”. Trục giảm giật và bộ phận giảm giật được cố định trên giá kẹp đạn của nòng pháo và giật cùng với chúng.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152-_-_-20_3.jpg)

Càng pháo hàn, dạng hình hộp. Để di chuyển pháo trên cự ly ngắn có các bánh lăn bên. Bánh có lò xo xoắn, khi bắn không nâng lên. Bánh của xe tải YaAZ với lốp 1200x20 đạt tiêu chuẩn quốc gia.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 09:10:19 pm
Khí tài thước ngắm bao gồm thước ngắm cơ học S-71 với thước ngắm toàn cảnh pháo binh và thước ngắm trực xạ PO-2-97 (OP4-97, OP4M-97, OP4M-97K).

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152-_-_-20_2.jpg)

Trong cơ số đạn D-20, đồng thời trong hàng loạt hệ thống pháo 152mm khác trang bị đạn hiệu chỉnh (điều khiển) “Centimet”. Chủ số của tổ hợp “Centimet”: 2K24, còn tên đạn: ZOF38. Khối lượng đạn: 49.5kg, thuốc nổ trotyl: 8,5kg. Tầm bắn xa từ 2 đến 12km. Trong thành phần tổ hợp bao gồm thiết bị do xa chỉ thị mục tiêu. Trong đó, khi bắn trực xa, thời gian chiếu sáng được hạn chế trong một giây (1s), còn khi bắn cầu vồng – 3 giây. Như vậy, kẻ thù không kịp gây nhiễu và phát hiện nguồn bức xạ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 09:13:49 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/tech-52.jpg)

Tên gọi: lựu pháo – đại bác D-20 mẫu năm 1955

Cỡ nòng: 152,4mm

Khối lượng trong trạng thái chiến đấu: 5650kg

Chiều dài trong trạng thái chiến đấu: 8630mm

Chiều rộng: 2400mm

Chiều cao tính theo lá chắn: 2000mm

Chiều dài nòng pháo với loa hãm lùi đầu nòng: 5195 mét

Chiều dài nòng súng với loa hãm lùi đầu nòng gấp 34,2 lần cỡ nòng

Góc hướng: 58 độ

Góc tầm: từ -5 đến 45 độ

Tốc độ bắn: 5 – 6 viên/phút

Tốc độ vận chuyển trên đường nhựa: 60km/h

Tốc độ vận chuyển trên khu vực không có đường xá: 15km/h.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 02:55:25 pm
Pháo xe kéo 2B16 120mm NONA-K

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/82176671.jpg)

Lịch sử chế tạo

Kinh nghiệm thu được từ Afganistan dành cho Lục quân đã được triển khai và năm 1986, pháo xe kéo 120mm 2B16 “NONA-K” đã được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang. Pháo được trang bị cho lực lượng Lục quân.

Các đặc điểm thiết kế

Để bảo đảm chỗ dựa vững chắc với mặt đất trên trận địa hỏa lực, “NONA-K” có trang bị kích. Trong sự khác biệt với phiên bản tự hành, nòng súng được trang bị loa hãm lùi đầu nòng, hấp thu gần 30% năng lượng giật. Theo nguyên tắc, pháo 120mm 2B16 do xe GAZ-66 kéo và có thể bằng xe UAZ-469. Để tiêu diệt mục tiêu từ xa, pháo sử dụng đạn phản lực chủ động OF-50. Đạn có một động cơ phản lực nhỏ - sẽ mở sau khi đạn bay khỏi nòng pháo từ 10 đến 13 giây. Tầm xa của đạn phản lực chủ động: 13km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 03:29:19 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/s640x480.jpg)

Trong thành phần cơ số đạn pháo bao gồm đạn xuyên lõm được sử dụng nhằm chống lại các xe tăng chủ lực của đối phương ở tầm xa 1000 mét. Đạn nặng 13,2kg và dưới góc chạm nổ 90 độ có thể xuyên giáp dày 650mm.

Để chống lại các phương tiện thiết giáp hạng nhẹ và mục tiêu có kích thước thấp, pháo có thể sử dụng đạn hiệu chỉnh (điều khiển) “Kitolov-2”, sự dẫn bắn tới mục tiêu được thực hiện với sự hỗ trợ của sự chỉ thị mục tiêu bằng tia laze. Đạn “Kitolov” nặng 2,5kg, khối lượng thuốc nổ: 5,5kg. Đạn trang bị động cơ bằng thuốc súng, các xung động hiệu chỉnh được tạo ra trong thời gian bay. Xác suất tiêu diệt mục tiêu của đạn là 0,8 – 0,9. Tầm xa tối đa của đạn: 12,8km.

Điểm đặc biệt quan trong của pháo là nó có thể bắn đạn cối từ 120 đến 122mm. Khi đó có thể sử dụng các loại đạn cối do Liên Xô sản xuất (gồm cả đạn trước Chiến tranh) và đạn nước ngoài ví dụ như đạn súng cối 120mm RT-61 của Pháp. Trong số đạn cối của Liên Xô thường sử dụng loại đạn nổ - nổ mảnh OF-834BX. Khối lượng đạn giao động từ 16 đến 16,3kg, vì thế quỹ đạo của đạn thường giống nhau, tầm xa từ 430 đến 7150 mét, còn sơ tốc đầu nòng từ 119 đến 331mm. Trong quá trình bay, sự ổn định khí động học của đạn được thực hiện bằng cánh lái.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 03:32:18 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/82176674.jpg)

Tên gọi: pháo xe kéo 2B16 “NONA-K”

Cỡ nòng: 120mm

Tầm bắn xa tối đa

+ đạn nổ - nổ mảnh: 8,8km

+ mìn nổ - nổ mảnh: 7,1km

Tầm bắn cực tiểu: 1,7km

Góc tầm: từ -10 đến 80 độ

Góc hướng: từ -30 đến 30 độ

Khối lượng pháo: 1,2 tấn

Khẩu đội: 5 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 08:16:25 pm
Pháo xe kéo 152mm 2A35 “Giatsin-B”

Lịch sử chế tạo

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2A36_Giatsint-B.jpg)

Phòng thí nghiệm của xưởng lắp ráp xe máy Perm vào tháng 11 năm 1968 đã bắt đầu thiết kế mẫu pháo 152mm mới với tầm bắn được tăng cường. Pháo được thiết kế trong hai phiên bản chính – pháo xe kéo 2A36 “Giatsin-B” và phiên bản 2A37 dành cho thiết bị pháo tự hành 2S5 “Giatsin”. Tổng công trình sư – Yu.N.Kalachnhikov. Mẫu thí nghiệm của pháo đã qua các thí nghiệm ở trường bắn năm 1971 – 1972, và gia nhập lực lượng vũ trang Liên Xô năm 1976.

Pháo được sử dụng cho nhiệm vụ chế áp và tiêu diệt sinh lực địch, các khí tài hỏa lực và phương tiện kỹ thuật của đối phương trong khi hành quân, tại vị trí tập trung và trên các điểm tựa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 08:31:17 pm
Các đặc điểm kỹ thuật

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152-__-.jpg)

Nòng pháo cấu tạo từ ống, vỏ nòng pháo, bộ phận nạp đạn và loa hãm lùi đầu nòng. Loa hãm lùi đầu nòng pháo dạng nhiều buồng có khe nứt, hiệu của của loa hãm lùi: 53%. Khóa nòng dạng hình nêm thẳng với kiểu bán tự động. Các máy đẩy theo thứ tự đẩy đạn và vỏ đạn với liều phóng được thực hiện bởi chuỗi máy đẩy với thiết bị dẫn động thủy lực. Máy đẩy tự động hoạt động theo tuyến nạp đạn tới cuối trục và tự động quay về vị trí ban đầu sau khi đẩy đạn và vỏ đạn. Sự mở máy đẩy được thực hiện qua cần điều khiển bằng tay.

Thiết bị truyền động thủy lực của máy đẩy có nguồn điện từ ắc quy thủy khí, sự nạp điện diễn ra khi pháo giật. Bằng hình thức này, khi bắn loạt đầu tiên, sự mở khóa nòng và đẩy đạn được thực hiện bằng tay. Các thiết bị giật bao gồm bộ giảm giật thủy lực và bộ phận chống giật thủy khí. Khi giật, xilanh của thiết bị giảm giật cố định.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 08:47:55 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2a36_01.jpg)

Cơ cấu cân bằng khí nén, dạng đẩy. Các cơ chế nâng và quay dạng hình quạt. Càng pháo dạng hình hộp hàn. Khi bắn, bánh xe được nâng lên. Sự nâng và hạ pháo lên khung được thực hiện với sự hỗ trợ của kích thủy lực. Bánh xe dạng đĩa đôi vớ các lốp xe khí nén. Lò xo dạng xoắn.

Thiết bị thước ngắm bao gồm thước ngắm cơ khí BM-21 với thước ngắm toàn cảnh PG-1M và thước ngắm quang học OP4M-90A.

Pháo được vận chuyển bằng xe vận tải KraAz-255B hoặc các xe kéo ATT, ATS và ATS-59.

Hiện nay trang bị của 2A36 đã được nâng câp và bổ sung:

+ pin ắc quy dự trữ

+ khối khí tài chỉ huy pháo binh cấp trung đoàn

+ thiết bị nhận tín hiệu từ vệ tinh

+ khối an ten

+ hệ thống đo góc thủy lực tự hiệu chỉnh

+ máy tính điện tử

+ máy cảm biến tốc độ cơ khí


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 08:51:53 pm
Tình trạng

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/c1ee0408b1a0.jpg)

Thậm chí cho đến hiện nay, pháo 152mm 2A36 vẫn đáp ứng hoàn toàn về các yêu cầu kỹ thuật: có hỏa lực mạnh, tin cậy và cơ động, có thể vận chuyển trên bất kỳ cự ly nào bằng đường sắt, bằng đường thủy và đường không, có khả năng thực hiện những nhiệm vụ phức tạp trong mọi trận đánh binh chủng hợp thành.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Hai, 2010, 08:55:30 pm
Thông số kỹ thuật chính

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152-__-_5.jpg)

Tầm bắn (km)

+ cực đại: đạn nổ - nổ mảnh: 28,5; đạn tên lửa chủ động: 33,2

+ cực tiểu: 8,6

Tốc độ bắn: 6 viên/phút

Góc tầm: từ -2 đến 57 độ

Góc hướng: từ -25 đến 25 độ

Khối lượng đạn nổ - nổ mảnh: 46kg

Năng lượng đầu nòng pháo: 20 950kJ

Khối lượng pháo: 9,8 tấn

Khẩu đội: 8 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 01:13:00 pm
Lựu pháo xe kéo 2A65”Msta-B” 152mm

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2A65_Msta-B.jpg)

Lựu pháo 152mm “Msta-B” (chỉ số của Cục pháo – tên lửa: 2A65) được sử dụng để tiêu diệt các khí tài tấn công hạt nhân chiến thuật, các đại đội pháo binh và tên lửa, xe tăng cùng các phương tiện thiết giáp, pháo hủy các công sự dã chiến và các công trình bọc thép, chế áp sinh lực và khí tài hỏa lực, các trạm điều khiển, khí tài phòng không và chống tên lửa.

Để bảo đảm sự điều khiển tự động hỏa lực của các tiểu đoàn pháo trang bị “Msta-B”, các tổ hợp “Faltset” và “Kapusnhik” đã được chế tạo.

Pháo có mặt trong trang bị của quân đội Nga và các quốc gia trong không gian Liên Xô cũ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 01:27:16 pm
Lịch sử chế tạo

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2A65_152.jpg)

Lựu pháo 152mm “Msta-B” được thiết kế dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư G.I.Sereev (Phòng thiết kế đặc biệt “Barrikada” – OKB-221, ngày nay là Phòng thiết kế Trung ương “Titan”).

Các công việc thiết kế và nghiên cứu khoa học về chế tạo lựu pháo 152mm “Msta-B” bắt đầu từ năm 1976. Mục đích thiết kế: tăng tầm bắn, tốc độ bắn, tăng cường góc tầm, tăng hiệu quả của đạn tới mục tiêu, sự cơ động và các tính năng khác so với ML-20, D-1 và D-20.

Sự quan tâm chính khi thiết kế tập trung và sự bảo đảm độ tập trung đạn cao của lựu pháo bằng sự tính toán của các xí nghiệp chế tạo. Bố cục các chi tiết cơ sở của lựu pháo được thực hiện với kết quả bảo đảm sự cân bằng trong thời điểm xoay lớn khi bắn. Trong quá trình thiết kế và hoàn thành pháo đã tận dụng các nghiên cứu theo sự lựa chọn tối ưu của sự kết hợp thông số hình học và thiết kế của viên đạn, cho phép bảo đảm tăng cường khả năng khí động học của đạn nổ - nổ mảnh mới và độ chắc chắn trên quỹ đạo bất chấp chiều dài đang kể và hình dạng của đạn tầm xa.

Năm 1986, lựu pháo “Msta-B” được tiếp nhận vào lực lượng Lục quân.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 01:38:07 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/s640x480-1.jpg)

Pháo được sản xuất quy mô lớn vào năm 1987, hiện nay, pháo có mặt trong biên chế của quân đội Liên bang Nga và một số nước SNG.

Trong lựu pháo, những vấn đề thiết kế sau đã được giải quyết:

+ loa hãm lùi đầu nòng ba buồng với hiệu quả hấp thu 63% năng lượng giật

+ cơ chế dẫn bắn hai tốc độ, bảo đảm sự dẫn bắn theo góc tầm 70 độ và góc nghiêng trong góc hướng 5 độ

+ cơ chế nạp đạn với máy đẩy đạn lò xo, được chốt từ các bộ phận chống giật và ống dẫn dẫn hướng với sự truyền động từ khóa nòng

+ tự động ngắt chuyển động lò xo của bánh xe khi mở càng pháo.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 01:52:51 pm
Khí tài và đặc điểm

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2A65_152_mm.jpg)

Các bộ phận của lựu pháo 2A56 “Msta-B” có cấu trúc đồng dạng với các bộ phận của pháo tự hành 2S19 “Msta-B” (chỉ số của Cục pháo – tên lửa là 2A46) và sự khác biệt chỉ ở chỗ 2A65 có máy bơm để đẩy khói đạn khỏi kênh nòng pháo sau khi bắn.

Lựu pháo xe kéo 2A65 được thiết kế theo bố cục cổ điển của pháo binh. Pháo trang bị loa hãm lùi đầu nòng ba buồng và khóa nòng dạng nêm thẳng bán tự động, nòng pháo đơn khối dài gấp 53 lần cỡ nòng, các thiết bị chống giật thủy khí lắp trên nòng pháo (bộ phận giảm giật với sự làm nguội bằng chất lỏng và bộ phận chống giật), khung trên với lá chắn dành cho việc bảo vệ khẩu đội và các cơ cấu của lựu pháo khỏi đạn và các mảnh nổ nhỏ, các cơ chế nâng (hai tốc độ, dạng hình quạt), quay (hai tốc độ, dạng tay quay) và cân bằng, đồng thời khung dưới với hai càng pháo dạng mặt cắt hình hộp và hai bánh xe của bộ phận chuyển động. Trên khung dưới của khung pháp lắp thiết bị chuyên dụng với sự hỗ trợ của kích thủy lực hạ pháo khi chuyển từ chế độ hành quân sang trạng thái chiến đấu. Cuối các càng pháo hình hộp lắp các bánh xe bổ sung bằng kim loại, nhờ sự bổ sung này mà pháo có thể di chuyển tới vị trí bắn cần thiết mà không cần thay đổi vị trí của càng pháo 52 độ). Trong mặt phẳng đứng, cơ chế nâng của khung trên bảo đảm sự dẫn bắn theo góc tầm trong phạm vi từ -3,5 đến 70 độ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 01:57:52 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2A65_152_mm_howitzer-4585.jpg)

Để tăng cường tốc độ bắn và giảm số người trong khẩu đội, pháo được trang bị hai máy đẩy lò xo để đẩy và nạp đạn.

Khi chuyển pháo từ trạng thái hành quân, khung dưới được nâng lên và cố định gần nòng pháo và khung nâng, các càng pháo được mở và liên kết với rơ – moóc của thiết bị kéo. Loại xe kéo chuyên dụng của lựu pháo là xe tải quân sự “Ural-4320” với công thức bánh xe 6x6. Các bánh xe lò xo của pháo cho phéo kéo pháo trên đường nhựa với tốc độ 80km/h, trên khu vực đất xấu: 20km/h

Khẩu đội: 8 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:11:45 pm
Đạn pháo

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2A65_152_mm_howitzer.jpg)

Đạn pháo của “Msta-B” sử dụng đạn có liều phóng nạp rời được thiết kế dành riêng cho nó (và của 2S19 “Msta-S”, cũng như tiếp nhận các loại đạn của lựu pháo D-20, 2S3 “Akatsia” và ML-20.

+ liều ZVO58, ZVO72, ZVO73 (với sự nạp đạn hoàn toàn, tăng tầm và giảm tầm tương ứng) với đạn nổ - nổ mảnh ZOF45

+ liều ZVO91 với đạn nổ - nổ mảnh ZOF61 với thiết bị sinh khí dưới đáy và nạp đạn tăng tầm

+ liều ZVO96, ZVO97,ZVO98 (với sự nạp đạn tăng tầm, hoàn toàn và giảm tương ứng) với đạn nổ - nổ mảnh ZOF64

+ liều ZVOF32, ZVOF33 (với sự nạp đạn hoàn toàn và giảm tầm) với đạn nổ - nổ manhhr ZOF25


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:12:30 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2a65_02.jpg)

+ liều ZVO28, ZVO29, ZVO30 (với sự nạp đạn tăng tầm, hoàn toàn và giảm tầm) với đạn cát-xét (đạn mẹ - con) Z-O-23 với các phần tử nổ mảnh – xuyên lõm

+ liều ZVO13, ZVO14 (với sự nạp đạn hoàn toàn và giảm tầm) với đạn cát – xét Z-O-13 với các phần tử nổ mảnh

+ liều ZVNS38 với đạn rải nhiễu vô tuyến ZRB30-1-8

+ liều với đạn rải nhiểu ra đa định vị tích cực ZNS30

+ liều ZVDTs8 với đạn khói chỉ thị mục tiêu

+ liều ZVOF643 với đạn hiệu chỉnh với sự vạch sách bằng tia laze ZOF39 của tổ hợp 2K25 “Krasnopol”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:23:54 pm
Pháo xe kéo S-23 180mm

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/S-23_gun.jpg)

Pháo S-23 (chỉ số của Cục pháo – tên lửa: 52-P-572) được thiết kế theo bố cục truyền thống của pháo binh với khung hai càng và trong trạng thái chiến đấu, bánh trước được tách.

Nòng pháo dài 7170mm (gấp 39,8 lần cỡ nòng) và cấu tạo từ ống, vỏ bọc, các khớp chốt, bộ phận nạp đạn và loa hãm lùi đầu nòng. Chiều dài bộ phận rãnh xoắn của nòng pháo 6462mm, trong kênh nòng pháo của 40 rãnh xoắn sâu 3,6mm.

Khoa nòng pít tông, hai kỳ với nắp bịt hình tấm. Sự mở và đóng khóa nòng thực hiện bằng tay.

Sự sử dụng loa hãm lùi đầu nòng mang lại khả năng giảm lực giật của pháo một cách rõ ràng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:31:16 pm
Pháo có các thiết bị giảm giật thủy khí: bộ giảm giật thủy lực dạng van trượt – rãnh và bộ phận giảm giật thủy khí. Chiều dài giật thay đổi, phục thuộc vào góc tầm. Khi góc tầm từ 0 đến 30 độ, chiều dài giật: 1350mm, khi góc từ 30 đến 50 độ: 700mm (giới hạn chiều dài giật: 1440mm). Cơ chế dẫn bắn của pháo bảo đảm góc tầm từ -2 đến 50 độ, góc hướng: 40 độ. Cơ cấu nâng có dạng hình quạt và hai tốc độ dẫn bắn. Cơ chế quay dạng hình quạt, bố trí trên thùng đầu của khung trên . Tất cả các cơ chế có thiết bị dẫn động bằng tay (tay quay). Cơ chế cân bằng dạng thủy khí.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/S-23-180mm-beyt.jpg)

Pháo được bắn với sự sử dụng thước ngắm cơ khí S-85 với thước ngắm toàn cảnh pháo binh PG-1M và thước ngắm MBShP dẫn bắn trực xạ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: binhnhi2009 trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:32:26 pm
Lựu pháo xe kéo 2A65”Msta-B” 152mm

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/2A65_Msta-B.jpg)



Khẩu pháo có bánh xích tự hành bên trái nhìn giống (chứ không chắc là đúng) kiểu pháo trong một đoạn phim tư liệu thời WWII lúc HQ tấn công vào trung tâm Berlin, pháo đó bắn trực diện vào cả một tòa nhà, chỉ cần một phát mà sụp một góc. Bác daibangden nếu có tư liệu về loại pháo đó thì cung cấp giùm  :)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: chuchinhuoc trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:34:05 pm
Trích dẫn
Nòng pháo dài gấp 7170 lần cỡ nòng vào cấu tạo từ ống, vỏ bọc, các khớp chốt, bộ phận nạp đạn và loa hãm lùi đầu nòng. Chiều dài bộ phận rãnh xoắn của nòng pháo 6462mm, trong kênh nòng pháo của 40 rãnh xoắn sâu 3,6mm.

Nòng pháo dài thế công tử  ;D


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:37:47 pm
Pháo sử dụng các loại đạn nạp rời sử dụng ống liều phóng: nổ - nổ mảnh F-572 (khối lượng 88kg, thuốc nổ: 10,7kg, sơ tốc đầu nòng 860m/s, tầm bắn xa nhất: 30,39km), đạn nổ khoan bê tông G-572 (khối lượng 97,7kg), đạn hạt nhân chiến thuật 0,2 kiloton, đạn phản lực chủ động (khối lượng đạn: 84,09kg, khối lượng thuốc nổ: 5,616kg, sơ tốc đầu nòng: 850m/s, tầm bắn xa nhất: 43,7km)

Tốc độ bắn: 0,5 – 1 viên/phút

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/S-23_180mm_gun_Egypt.jpg)

Khung dưới trang bị hai càng pháo đóng – mở được có tiết diệt hình hộp. Mỗi càng pháo có một lưỡi cày chính và hai trục chống bên. Trong vị trí chiến đấu, khung pháo được nâng trên các trục của hai kích thủy lực, còn bánh xe được treo trên mặt đất. Khi bắn, hệ thống S-23 được đặt trên diện tích phẳng 8x8 (64 mét vuông) theo mặt đất cứng. Nếu đất không đủ độ cứng để chịu tải trọng của pháo, phần đầu của khung dưới S-23 sẽ được chôn xuống đất và được cố định bằng dây xích.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:42:11 pm
Trích dẫn
Nòng pháo dài gấp 7170 lần cỡ nòng vào cấu tạo từ ống, vỏ bọc, các khớp chốt, bộ phận nạp đạn và loa hãm lùi đầu nòng. Chiều dài bộ phận rãnh xoắn của nòng pháo 6462mm, trong kênh nòng pháo của 40 rãnh xoắn sâu 3,6mm.

Nòng pháo dài thế công tử  ;D
Nguyên văn thế này bác ạ: "Ствол имеет длину 7170 калибров". Đối chiếu lại với thông số kỹ thuật thì nòng pháo dài 7170mm. Nghĩa là số 7170 là chiều dài nòng pháo, không phải số lấn gấp của chiều dài nòng pháo so với cỡ nòng ;D.
Chiều dài của nòng pháo gấp gần 40 lần cỡ nòng pháo (7170:180) ;D
Cám ơn bác nhiều! ;D


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 02:58:06 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/S-23-180mm-beyt-hatotchan.jpg)

Khẩu đội pháo: 16 người, thời gian chuyển từ trạng thái hành quân sang trạng thái chiến đấu: 30 phút. Khi vận chuyển trông trạng thái hành quân, nòng pháo được kéo ra đằng sau và cố định gần vị trí hợp nhất của hai càng pháo, còn càng pháo được lắp trên vị trí của hai bánh trước đã được tháo rời.

Trong bộ phận chuyển động sử dụng các bánh xe đôi của xe hơi, bảo đảm khả năng vận chuyển với kích thước bánh xe nhỏ nhất. Toàn bộ bánh pháo có lò xo xoắn, nhờ đó, pháo có thể được kéo bằng thiết bị kéo pháo bánh xích AT-T trên đường nhựa với tốc độ 35km, còn khu vực không có đường xa: 12km/h.

Pháo S-23 180mm được tiếp nhận trong thời gian chiến tranh A-rập – Israel năm 1973.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 03:03:42 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/S-23-180mm1.jpg)

Tên gọi: pháo xe kéo S-23

Năm sản xuất: 1955

Năm gia nhập lực lượng vũ trang: 1955

Cỡ nòng: 180mm

Chiều dài nòng pháo: 7170mm

Chiều dài rãnh xoắn của nòng pháo: 6462mm

Số rãnh xoắn: 40

Chiều dài trong trạng thái hành quân: 10 490mm

Chiều rộng trong trạng thái hành quân: 3025mm

Khối lượng:

+ trong trạng thái hành quân: 19,75 tấn

+ trong vị trí chiến đấu: 21,45 tấn

Góc tầm: -2 đến 50 độ

Góc hướng: 40 độ

Khối lượng đạn

+ đạn nổ - phá mảnh: 88kg

+ đạn nổ - khoan bê tông: 97,7kg

+ đạn phản lực: 84kg

Sơ tốc đầu nòng

+ đạn nổ - nổ mảnh: 860m/s

+ đạn phản lực: 850m/s

Tầm bắn:

+ đạn nổ - nổ mảnh: 30,39km

+ đạn phản lực: 43,7km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 03:37:53 pm
Pháo 152mm hỏa lực mạnh Br-2 mẫu năm 1935

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152mm_m1935_gun_01.jpg)

Sau khi kết thúc Nội chiến, trong trang bị Hồng Quân có số lượng không lớn pháo hạng nặng uy lực lớn, trong đó chủ yếu sản xuất ở nước ngoài. Vì thế, năm 1926, việc đặt thiết kế lựu pháo 152mm tầm xa đã được thực hiện. Pháo Br-2 có nhiều điểm đồng nhất với lựu pháo B-4 230mm như cùng trên khung pháo chạy bằng bánh xích, và đảm bảo toàn bộ các yêu cầu đặt ra. Do sự chưa cần thiết của pháo binh hỏa lực mạnh trong thời gian đầu chiến tranh, các lựu pháo này nằm trong nhà kho cho tới khi bắt đầu các cuộc tấn công chủ động.

Sau Nội chiến, số lượng pháo uy lực mạnh do nước ngoài sản xuất của Hồng Quân, số lượng không quá nhiều và những công nghệ kỹ thuật đã quá lạc hậu, khả năng hỗ trợ và tình trạng sẵn sàng chiến đấu vô cùng hạn chế. Vì thế, năm 1926, Hội đồng Quốc phòng Liên Xô đã ra quyết định cần thiết thay thế các loại pháo do nước ngoài sản xuất bằng các nguyên vật liệu trong nước và xác định các cỡ nòng của loại pháo lớn, có sức mạnh đặc biệt. Ủy ban Pháo binh thuộc Cục Pháo binh đã đề ra chương trình thiết kế, bản vẽ và các đơn đặt chế tạo các mẫu pháo thí nghiệm. Pháo 152mm mẫu năm 1935 được thiết kế trong khuôn khổ chương trình này, đồng thời với tính toán yêu cầu của Hệ thống trang bị pháo binh năm 1933 – 1937. Pháo được sử dụng dành cho việc đối phó laoij với pháo binh đối phương, bắn phá các khu vực hậu phương. Thiết kế của loại pháo này có độ đồng nhất cao với cấu trúc của lựu pháo 203mm mẫu năm 1931. So với lựu pháo có sự thay đổi không nhiều về khung với bánh xích, cho phép bắn một cách trực tiếp trên mặt đất mà không cần sử dụng khung chuyên dụng. Yếu tố mới của hệ thống là nòng pháo 152mm với khóa nòng pít tông và nắp bịt bằng chất dẻo. Để bắn, pháo sử dụng loại đạn cát tút nạp rời với nhiệm vụ khác nhau. Tầm bắn xa nhất của đạn nổ - nổ mảnh 48,77kg: 25 750 mét, đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu đặt ra cho pháo.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 03:49:33 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/br2qtd.jpg)

Để di chuyển trong trạng thái hành quân, pháo Br-2 152mm cần hai xe kéo, pháo có thể di chuyển bằng các xe kéo chạy xích với tốc độ 15km/h. Nhờ sự hỗ trợ của bộ phận chuyển động bánh xích, bảo đảm độ cơ động cao của hệ thống. Trước chiến tranh, pháo 152mm mẫu năm 1935 đã gia nhập trang bị các trung đoàn pháo binh uy lực lớn độc lập dự bị thuộc Đại bản doanh (36 pháo mẫu năm 1935 và 1579 người trong mỗi trung đoàn), trong thời gian chiến tranh là cơ sở để triển khai thêm một trung đoàn tương tự. Do sự không thuận lợi của Hồng Quân trong thời kỳ đầu chiến tranh, pháo 152mm cũng như toàn bộ các pháo lớn, có uy lực mạnh đều được duy trì ở tuyến sau và chỉ tham chiến từ cuối năm 1942.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 04:07:19 pm
Sự tiếp nhận chiến đấu

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152_mm_gun_M1935_Br-2.jpg)

Pháo Br-2 được sử dụng nhằm tiêu diệt các công trình khác nhau sau lưng địch – trạm chỉ huy cấp cao, kho tàng, sân bay dã chiến, ga xe lửa, khu vực tập trung binh lính, các đại đội pháo tầm xa, đồng thời phá hủy các công sự dành cho bắn trực xạ.

Pháo Br-2 hoặc B-30 đã tham gia cuộc chiến tranh Liên Xô – Phần Lan, khi đó một pháo đã bị mất. Theo tình trạng tới tháng 6 năm 1941, tổng cộng Hồng Quân có 37 pháo Br-2 (thông tin khác: 38 pháo), trong các đơn vị dã có 28 pháo nằm trong thành phần các trung đoàn pháo hạng nặng thuộc lực lượng dự bị của Đại bản doanh và hai đại đội độc lập (nằm trong quân khu Arkhangel trong mục đích phòng thủ bờ biển). Các khẩu pháo còn lại nằm trong kho và trên trường bắn, trong mục đích huấn luyện và thí nghiệm. Trong quá trình tham chiến, sự tiếp nhận Br-2 rất ít, trong đó, có thông tin về sự sử dụng chúng trong trận Kursk. Đồng thời loại pháo này cũng có mặt trong lữ đoàn pháo binh thuộc Tập đoàn quân Cận vệ số 8 tháng 4 năm 1945, pháo được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên điểm cao Zeelov trong chiến dịch tấn công Berlin. Năm 1944, 9900 viên đạn Br-2 đã được bắn (tại Leningrad: 7100 viên bởi phương diện quân Pribaltic số 1 và Belorusia số 2), trong năm 1945: 3036 viên, trong năm 1942 và 1943, số đạn pháo được bắn không cố định. Một cách chắc chắn rằng, trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, loại pháo này không bị gây thiệt hại, bởi vì gần tháng 1 năm 1945, trong bộ phận dự bị thuộc Đại bản doanh vẫn duy trì đủ số lượng pháo như lúc bắt đầu chiến tranh: 28 khẩu. Dẫn chứng này được liên kết với sự sử dụng rất cẩn thận loại pháo uy lực mạnh, đồng thời sự di chuyển chúng kịp thời từ khu vực phía tây Liên Xô tới hậu phương năm 1941.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 04:19:17 pm
Biến thể

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/br2.jpg)

+ Br-2 với nòng được cố định – mẫu thí nghiệm

+ Br-2 với rãnh xoắn nòng pháo nông (chỉ số của Cục pháo binh: 52-P-550) – sản xuất không quá 7 pháo trong những năm 1936 – 1937

+ Br-2 với nòng pháo 162mm – mẫu thí nghiệm

+ Br-2 với rãnh xoắn nòng pháo sâu (chỉ số của Cục pháo binh: 52-P-551) – đã sản xuất 27 pháo trong thời gian 1939 – 1940

+ Br-21 – mẫu thí nghiệm với cỡ nòng 180mm

+ Br-2M – nòng pháo Br-2 trên gầm xe bánh hơi, gia nhập lực lượng vũ trang từ năm 1955.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 06:52:22 pm
Các thiết bị pháo tự hành với Br-2

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/Su-14-2.jpg)
SU-14Br-2

Pháp Br-2 được lắp trên mẫu pháo tự hành thí nghiệm SU-14-1, đã được đưa thí nghiệm ở trường bắn ngày 16 tháng 5 năm 1936 cùng với lựu pháo B-4 203mm. Đây là loại lựu pháo dạng mở với khối lượng 48 tấn được thiết kế trên gầm biến thể của xe hạng nặng T-35 với sự sử dụng các chi tiết của xe tăng hạng trung T-28. Các thí nghiệp trên trường bắn của SU-14-1 đã trải qua không thành công, mặc dù đã đánh dấu tiềm năng có thể hoàn thành thiết kế tiếp theo. Năm 1937, pháo được đưa vào kho theo thông tinh của một trong số những nhà thiết kế pháo P.Ya.Syzchintov.

Năm 1940, lúc bắt đầu chiến tranh Liên Xô – Phần Lan, pháo được quyết định chuẩn bị cho chiến tranh, dự kiện , các pháo uy lực mạnh sẽ tiêu diệt một cách hiệu quả phòng tuyến Mannergeyma. Tuy nhiên, sự hoàn thiện pháo, bao gồm tăng cường giáp bảo vệ với sự hỗ trợ của các diềm chắn thép và kín giáp đầu đã bị đình chỉ. Trên chiến trường, pháo tự hành không kịp tham chiến và nằm lại trên trường bắn ở Kubinka. Biến thể này của pháo trong các văn bản được biết dưới tên gọi SU-14Br-2. Mùa thu năm 1941, Su-14Br-2 đã bắn vào quân Đức từ cự ly xa khi chúng tiến tới gần trường bắn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 07:15:21 pm
Đánh giá thiết kế

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152mm_m1935_gun_07.jpg)

Pháo Br-2, cũng như các loại pháo hỏa lực mạnh khác, rất khó khăn đển có được thiết kế hoàn hảo. Trong nhiều thông tin, vấn đề này liên quan tới sự thiếu hụt về kinh nghiệm của các công trình sư trẻ tuổi của Liên Xô, những người mà “trường học” của họ chỉ là thu hoạch trên các mặt trận vào cuối những năm 1930 và đầu 1940. Sau một quãng đường dài, bao gồm cả sự chế tạo những mẫu thiết kế không thành công nhất và sự vay mượn rộng rãi kinh nghiệm chuyển gia của nước ngoài. Sự thiết kế loại pháo lớn, có uy lực mạnh, do sự phức tạp lớn của các hệ thống khi đó, đã được biết đến là một công việc đặc biệt theo so sánh với các lớp hệ thống pháo binh khác. Sự thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực này và thời gia làm việc không nhiều trên các hệ thống vũ khí tiên tiến nhất của nước ngoài đã cản trở rất mạnh các công trình sư Liên Xô và công việc của họ.

Vấn đề chính của Br-2 cũng như toàn bộ các phá hỏa lực mạnh là gầm bằng bánh xích. Thiết kế của khung gầm dự tính phải bảo đảm độ cơ động cao khi di chuyển theo đất hoang và đất cày, trong khu vực cho phép tăng cường khả năng sống còn của pháo sau sự tính toán thay đổi nhanh chóng trận địa hỏa lực trong điều kiện không được chuẩn bị trước. Trong thực tế, sự sử dụng khung xích đã dẫn tới sự cồng kềnh và cơ động rất thấp của toàn bộ hệ thống trong trường hợp chưa được chuẩn bị trận địa sẵn. Các khả năng linh hoạt của hỏa lực đã bị hạn chế rất mạnh bởi góc hướng – tổng cộng chỉ có 8 độ. Để quay pháo bằng sức người của khẩu đội trong giới hạn góc hưởng yêu cầu không dưới 25 phút. Ngay sự cần thiết tháo pháo khi hành quân và việc tháo rời nòng pháo khi vận chuyển cũng không mang lại khả năng cơ động và tăng tính sống còn của hệ thống. Pháo với được bố trí với sự khó khăn mặc dù có những xe kéo mạnh nhất của Liên Xô lúc đó, trong trường hợp giao thông không tốt (đường lầy và băng mỏng), hệ thống này thức tế mất khả năng cơ động. Vì thế, trong mọi trường hợp, pháo có khả năng cơ động tồi.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 07:25:23 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/br21935.jpg)

Trong các nhược điểm khác của pháo cần thiết ghi nhận về tốc độ bắn không cao mặc dù khả năng của nòng pháo sau hàng loạt các sự nâng cấp đã được trông đợi sẽ được tăng cường. Sự vội vàng với những thí nghiệm không thực sự đầy đủ của hệ thống trước khi sản xuất hàng loạt đã dẫn tới tình trạng không ít hệ thống pháo vị chia thành hai dòng khác nhau, khác nhau về rãnh xoắn của nòng pháo và loại đạn sử dụng.

Vấn đề với pháo lớn và uy lực mạnh do nội địa sản xuất đã bắt buộc lãnh đạo Liên Xô phải quay lại con đường sử dụng cách thí nghiệm khác -  sử dụng kinh nghiệm đã được chuyển giao của nước ngoài. Năm 1938, với tập đoàn “Shkoda” đã kí kết hợp đồng chuyển giao các mẫu thí nghiệm và tài liệu kỹ thuật cho hai hệ thống pháo hỏa lực mạnh: pháo 210mm và lựu pháo 305mm, tiếp nhận trong sản xuất với chỉ số Br-17 và Br-18.

Vấn đề chính còn tồn tại của toàn bộ pháo hạng nặng liên xô là khả năng sản xuất với số lượng lớn. Theo tình hình tháng 6 năm 1941, Hồng Quân chỉ được trang bị 37 – 38 pháo Br-2 bao gồm các mẫu trên trường bắn và hiệu quả thấp với rãnh xoắn nông, đồng thời 9 pháo Br-17 – khi bắn đầu chiến tranh đã không có đạn bắn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 07:35:12 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/___-2.jpg)

Để so sánh, quân đội Đức khi đó đã có trong trang bị một vài loại pháo hỏa lực mạnh 150mm: K.16 (28 pháo), SKC/28 (không dưới 45 khẩu),  K.18 (không dưới 101 pháo) và K.39 (53 khẩu). Toàn bộ chúng được giới thiệu là những hệ thống pháo binh cơ động cao trên bánh hơi với đạn uy lực mạnh. Ví dụ pháo 150mm K.18 có các tính năng kỹ thuật sau: khối lượng hành quân: 18 310kg, khối lượng chiến đấu: 12 930kg, góc hướng: 360 độ trên khung pháo hoặc 11 độ với sự triển khai càng pháo, tốc độ bắn: 2 viên/phút, tầm bắn xa nhất: 24 470 mét. Rõ ràng, K.18 tương đồng với Br-2 về tầm bắn nhưng vượt trội pháo Liên Xô trong mọi chỉ số còn lại. Đồng thời, các loại pháo Đức có hệ thống đạn pháo phong phú hơn, bao gồm ba loại đạn nổ - nổ mảnh khác nhau: khoan bê tông, xuyên giáp và bán xuyên giáp. Ưu thế duy nhất của Br-2 có thể là sự vượt trội về sức mạnh của đạn nổ - nổ mảnh, với thuốc nổ trong đạn nhiều hơn 1kg so với pháo đồng dạng của Đức. Thậm chí, loại pháo nặng hơn về khối lượng 170mm K.18 Mrs.Laf (sản xuất từ năm 1941 – 1945: 338 pháo), bắn đạn 68kg trên cự ly 29,5km cũng vượt trội Br-2 về độ cơ động.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 07:44:25 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/-2.jpg)

Đồng thời, còn sự đối chiếu thú vị về tính năng của Br-2 với pháo hạng nặng 155mm M1 “Long Tom” của Mỹ. “Long Tom” được thiết kế vào giữa những năm 1930 – như Br-2, có nòng pháo dài gấp 45 lần cỡ nòng, sơ tốc đầu nòng 853m/s. Mặc dù “Long Tom” thua kém Br-2 về tầm bắn xa cực đại gần 2km (23,2km so với 25km), nó có khối lượng trong trạng thái hành quân 13,9 tấn (trong trạng thái chiến đấu còn thấp hơn), ít hơn 4,5 tấn so với khối lượng chiến đấu của Br-2. Ngoài ra, pháo Mỹ được lắp trên khung bánh hơi bằng thiết kế đặc biệt với càng pháo gấp – mở được: bánh xe sẽ được nâng lên khi bắn, còn khung đặc biệt bởi trụ hạ xuống mặt đất. Theo so sánh với độ giật về phía sau lên mặt đất của Br-2 khi bắn trên khung bánh xích, điều này cho phép vượt trội hoàn hoàn về độ chính xác của hỏa lực; ngoài ra, phạm vi bắn góc tầm của “Long Tom” là 60 độ. Sự cơ động của “Long Tom” cùng với sự xuất hiện của các xe kéo mạnh và độ chính xác cao trong những vị trí không thuật lợi đã bù đắp rất nhiều, về sự thua thiệt trong tầm bắn xa không đáng kể so với Br-2.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 07:51:12 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/152mm_m1935_gun_02.jpg)

Tên gọi: pháo uy lực mạnh Br-2 mẫu năm 1935

Cỡ nòng pháo: 152,4mm

Chiều cao đường lửa: 1920mm

Khối lượng trong vị trí chiến đấu: 18 200kg

Khối lượng trong trạng thái hành quân: 13 800kg (giá khung với thiết bị lăn); 11 100 (giá pháo)

Chiều dài nòng pháo: 7170mm (gấp 47,2 lần cỡ nòng)

Chiều dài kênh nòng pháo: 7000mm (gấp 45,9 lần cỡ nòng)

Chiều dài: 11 448mm (trong vị trí chiến đấu)

Chiều rộng: 2490mm (trong vị trí chiến đấu)

Độ cách đất: 320mm (giá khung pháo), 310mm (giá pháo)
 
Sơ tốc đầu nòng: 880m/s

Góc hướng: từ 0 đến 60 độ

Góc tầm: 8 độ

Tốc độ bắn: 0,5 viên/phút

Tầm bắn xa: 25 750 mét

Khối lượng đạn nổ - nổ mảnh: 48,770kg

Tốc độ vận chuyển trên đường nhựa: 15km/h (trong tình trạng tháo rời)

Khẩu đội: 15 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười Hai, 2010, 12:59:20 pm
Lựu pháo B-4 203mm mẫu năm 1931

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/203mm_b-4.jpg)

Tổng quan

Ngày 11 tháng 12 năm 1926, trong cuộc họp của Ủy ban pháo binh đã ra quyết định: “Giao cho Phòng thiết kế Artkom trong thời gian 46 tháng thết kế lựu pháo 203mm uy lực lớn…”. Bằng văn bản số 51225/12Ya5 từ 22 tháng 3 năm 1927. Ủy ban pháo binh đã ra chỉ thị cho Phòng thiết kế “Artkom” hoàn thành những thiết kế tổng quan của pháo cấp quân đoàn 122mm, lựu pháo 203mm và 152mm. Người lãnh đạo các công việc thiết kế lựu pháo 203mm là A.A.Lender, còn sau đó là A.G.Gavrilov (Lender mất).

Thiết kế lựu pháo được hoàn thành ngày 16 tháng 1 năm 1928. Thiết kế được chuẩn bị theo hai phương án. Một phương án có loa hãm lùi đầu nòng và phương án còn lại không có. Thân pháo và đường đạn đạo của hai phiên bản giống nhau. Bản lựu pháo không có loa hãm lùi đầu nòng đã được đánh giá cao và ưa thích hơn.

Các bản vẽ hoạt động bộ phận lắc của lựu phao được thiết kế bởi Phòng thiết kế “Artkom”, còn các bản vẽ hoạt động của giá khung pháo trên banh xích do Phòng thiết kế xưởng “Bolshevik” đảm nhiệm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:06:46 pm
Mẫu thí nghiệm đầu tiên của lựu pháo B-4 203mm được chế tạo tại xưởng “Bolshevik” vào đầu năm 1931.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/203mm_b-4_howitzer_mod.jpg)

Trong tháng 6 đến tháng 8 năm 1931, tại Viện Công nghiệp nghiên cứu khoa học đã tiến hành bắn thử với mục đích lựa chọn đạn cho B-4.

B-4 bắt đầu đưa vào sản xuất hàng loạt tại xưởng “Bolshevik” năm 1932.

Cũng trong năm 1932, sự nâng cấp B-4 được thực hiện, cho phép tăng cường khả năng đạn đạo. Trên cùng khung pháo lắp nòng pháo dài và vững chắc hơn. Lựu pháo với nòng pháo cũ mang tên gọi “B-4 uy lực yếu” (MM), còn lựu pháo với nòng mới: “B-4 uy lực mạnh” (BM). Ngoài nòng pháo lớn và dài, lựu pháo BM còn khác với MM ở bộ phận nạp đạn. Không có sự khác nhau bên ngoài giữa hai dòng pháo BM và MM.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:13:48 pm
Năm 1933, sự sản xuất lựu pháo B-4 được bắt đầu ở xưởng “Barrikada”. Năm 1933, xưởng này chỉ sản xuất đươc một lựu pháo nhưng không thể hoàn thành cho đến cuối năm. Xưởng “Barrikada” đã bàn giao cho hai lựu pháo B-4 đầu tiên vào nửa đầu năm 1934.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/B-4-4579.jpg)

Do khả năng trong mỗi xưởng (“Bolshevik” và “Barrikada”), cấu trúc lựu pháo của mỗi xưởng sản xuất trên thực tế đã dẫn tới hai thiết kế khác nhau. Để khắc phục vấn đề nảy sinh này, năm 1937, công việc sản xuất được tiến hành theo một bản vẽ thiết kế duy nhất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:19:36 pm
Nhưng trên hết, sự đồng nhất trong sản xuất lựu pháo của các xưởng “Bolshevik” và “Barrikada” đã không đạt được thành công. Vì thế, năm 1938, việc sản xuất B-4 còn có sự tham gia của xưởng thứ ba: Novokramator.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/203_mm_howitzer_M1931_B-4_1.jpg)

Ban đầu, nòng pháo của lựu pháo BM và MM được chế tạo theo dạng cố định. Lót nòng thí nghiệm đầu tiên của B-4 uy lực nhỏ đã được chế tạo tại xưởng “Bolshevik” tháng 4 năm 1934. Lót nòng đầu tiên của B-4 uy lực lớn được chế tạo không sớm hơn cuối năm 1934. Sau đó, diễn ra việc chế tạo song song các loại nòng pháo cố định và có lót nòng của B-4 uy lực mạnh.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:26:56 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/203mmB_4.jpg)

Năm 1934, xưởng “Bolshevik” đã nhận đơn đặt chế tạo nòng thí nghiệm cho B-4 để bắn đạn rãnh xoắn. Sự chết tạo nòng pháo thí nghiệm kéo dài và đưa vào thí nghiệm bắn chỉ bắt đầu cuối năm 1936.

Tháng 12 năm 1935, trong Viện Công nghiệp nghiên cứu khoa học đã từ nòng thí nghiệm của B-4 tiến hành bắn thử đạn rãnh xoắn.

Các kết quả khả quan khi bắn đạn rãnh xoắn không được tiếp nhận. Ngày 25 tháng 3 năm 1938, Ủy ban pháo binh đã ra lệnh cho Viện Công nghiệp nghiên cứu khoa học “gửi tới xưởng “Bolshevik” không muộn hơn ngày 10 tháng 4 năm 1938 chế tạo nòng pháo B-4 số 128 với rãnh nghiêng để khắc phục rãnh xoắn”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:38:29 pm
Quá trình phục vụ chiến đấu của lựu pháo B-4

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/203mm_b-4_howitzer.jpg)

Gần ngày 6 tháng 3 năm 1933, trong quân đội có 7 lựu pháo B-4. Gần mùng 1 tháng 1 năm 1937, đã có 31 lựu pháo B-4 uy lực nhỏ và 88 lựu pháo B-4 uy lực lớn.

Lựu pháo B-4 được tiếp nhận trong chiến tranh Phần Lan năm 1939 – 1940. Đến mùng 1 tháng 3 năm 1940, trên mặt trận Phần Lan có 142 lựu pháo B-4. Có 4 lựu pháo B-4 bị mất hoặc loại khỏi vòng chiến.

Gần 22 tháng 6 năm 1941, Hồng Quân có 849 lựu pháo B-4.

Năm 1938 – 1939, đã thử tiếp nhận lựu pháo 203mm vào các trung đoàn pháo binh cấp quân đoàn (“các trung đoàn loại hai”) với 6 lựu pháo trong mỗi tiểu đoàn. Tuy nhiên, khi bắt đầu chiến tranh, B-4 đã bị loại khỏi quân đoàn pháo, trong đó, thay thế 6 lựu pháo, mỗi tiểu đoàn nhận 12 – 15 lựu pháo – đại bác ML-20.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:48:10 pm
(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/b4.jpg)

Gần chiến tranh, lựu pháo B-4 chỉ có mặt trong các trung đoàn lựu pháo hỏa lực mạnh thuộc lực lượng dự bị của Đại bản doanh.

Từ 22 tháng 6 đến mùng 1 tháng 12 năm 1941, 75 lựu pháo B-4 đã bị mất, còn nền công nghiệp quốc phòng Liên Xô đã sản xuất cho tới khi đó 105 lựu pháo.

(http://i984.photobucket.com/albums/ae326/daibangden_T95/B_4_2.jpg)

Trong quá trình chiến đấu, một số lựu pháo B-4 đã rơi vào tay quân Đức. Một bộ phận trong đó đã gia nhập lực lượng quân Đức dưới tên gọi pháo 20,3cm H.503(g). Đến tháng 3 năm 1944, trên mặt trận phía Đông, quân Đức có 8 lựu pháo 20,3cm H(g), đạn pháo bao gồm đạn 203mm của Liên Xô và đạn G-620 khoan bê tông của Đức.

Trong quân đội Liên Xô, lựu pháo B-4 cho đến cuối chiến tranh chỉ có mặt trong lực lượng pháo binh thuộc lực lượng dự bị trong Đại bản doanh. Đến 1 tháng 5 năm 1945, B-4 có mặt trong 30 lữ đoàn và 4 trung đoàn độc lập.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 05:27:41 pm
BM-13 “Kachyusa”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/IMG_2399_bm13.jpg)

Hệ thống pháo phản lực bắn loạt BM-13 được sử dụng cho các nhiệm vụ: tiêu diệt, chế áp sinh lực và các khí tài hỏa lực của quân địch được bố trí trên các trận địa mở hoặc sau các vật cản thấp; tiêu diệt xe tăng và các phương tiện cơ động của kẻ thù tại vị trí tập trung.

Trong thành phần xe chiến đấu BM-13 bao gồm:

+ xe chiến đấu

+ đạn tên lửa

Xe chiến đấu

Xe chiến đấu được cấu tạo từ bộ phận dẫn bắn cho pháo và bộ phận chuyển động.

Bộ phận dẫn bắn cho pháo bao gồm: cơ chế dẫn hướng, dàn phóng, khung quay, cơ cấu nâng và quay, khung phụ, trang thiết bị điện, khí tài thước ngắm và trang bị chuyên dụng của bộ phận chuyển động.

Thiết bị dẫn hướng được sử dụng để giữ đạn trên xe chiến đấu trước khi bắn và định hướng bay của đạn khi bắn. Mỗi thiết bị dẫn hướng được giới thiệu là một xà hình chữ “I” dài 5 mắt với rãnh dẫn hướng. Phía cuối rãnh có lắp thiết bị khóa – hãm và tiếp xúc. Thiết bị dẫn hướng được kết nối thành cụm nhờ sự hỗ trợ của trụ ba chân chống.

Dàn phóng được hàn từ các ống thép, là cơ sở cho các túi dẫn hướng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 05:34:59 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-13-STUd.jpg)

Khung quay được sử dụng để cố định dàn phóng với thiết bị dẫn hướng và cơ cấu nâng. Khung quay được kê trên khung dưới và xà đỡ và có thể quay quanh trục của khung dưới theo góc hướng từ -10 đến 10 độ theo trục dọc của xe.

Cơ cấu nâng dạng trục. Bảo đảm sự dẫn bắn theo góc tầm trong giới hạn 4 đến 45 độ.

Cơ chế quay dạng trục. Bảo đảm dẫn bắn theo góc hướng trong giới hạn -10 đến 10 độ.

Khung dưới là nền cơ sở của bộ phận dẫn bắn cho pháo của xe chiến đấu và được giới thiệu là khung hình chữ nhật, được gắn một cách cố định trên trụ chống của gầm xe.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 05:47:58 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/17.jpg)

Thiết bị điện phục vụ việc đốt thuốc phóng của đạn phản lực. Thiết bị bao gồm pin ắc quy, khí tài điều khiển hỏa lực, các hộp liên kết, thiết bị tiếp xúc và hệ thống dẫn động.

Dòng điện từ pin ắc quy được truyền tới cầu dao đổi mạch nằm trong cabin của xe, từ đó, qua hệ thống dẫn động – tiếp xúc với thiết bị dẫn hướng, và sau đó tiếp xúc với đạn phản lực.

Việc bắn có thể thực hiện bằng cách bắn trực xạ hoặc gián tiếp. Mật độ hỏa lực của 1 tiểu đoàn: 2,6 – 3,8 viên đạn trên mỗi héc ta trên diện tích 32 – 36 héc ta. Khi sử dụng đạn M-20, có mật độ gần 3 viên đạn/ha trên diện tích 16ha.

Thiết kế của thiết bị phóng cho phép di chuyển trong tình trạng đã nạp đạn với tốc độ 40km/h và nhanh chóng triển khai tới trận địa hỏa lực.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 07:14:04 pm
Đạn phản lực M-13

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/KatyushaMusee.jpg)

Đạn phản lực M-13 bao gồm 2 bộ phận: bộ phận chiến đấu và phản lực (đọng cơ thuốc súng phản lực).

Bộ phận chiến đấu bao gồm thân với hốc dưới ngòi nổ, đáy của bộ phận đầu và phần thuốc nổ với ngòi nổ bổ sung.

Động cơ thuốc súng phản lực bao gồm thùng, cánh – vòi phun, tấm gang mắt cáo, thuốc phóng, dây cháy chậm dẫn lửa và cánh đuôi (bộ phận cân bằng). Bên ngoài phía cuối của hai thùng có phần đội lên hướng tâm được bắt chặt bởi các chốt dẫn hướng, giữ đạn trên thiết bị dẫn hướng trước khi bắn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 07:30:40 pm
Thuốc nổ cấu tạo từ 7 ống thuốc mồi nitrogliserin hình trục. Dây cháy chậm được sử dụng để đốt cháy thuốc nổ. Khí được tạo ra khi đốt cháy thuốc nổ phụt qua các vòi phun, được bố trí trước các màng ngăn có nhiệm vụ ngăn cản sự phụt thuốc mồi qua vòi phun. Sự ổn định của đạn trong khi bay được bảo đảm với sự hỗ trợ của 4 cánh đuôi bằng rèn, nối với thân đạn bằng phưng pháp hàn.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Katjuscha-rakete.jpg)
Vỏ đạn M-13

Tầm xa của đạn M-13: 8470 mét, nhưng có độ lan tỏa rất lớn. Theo biểu đồ bắn năm 1942, ở tầm bắn 3000 mét, độ sai lệch bên 51 mét, tầm xa- 257 mét. Sơ tốc đầu nòng của đạn: 70m/s, tốc độ tối đa: 355m/s. Chiều dài đường lửa: 125 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 07:45:24 pm
Tài liệu lịch sử

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm13-8.jpg)

Sau khi tiếp nhận vào biên chế không quân đạn phản lực 82mm lớp “Không đối không” PS-82 (năm 1937) và đạn phản lực 132mm lớp “Không đối đất” RS-132 (năm 1938), Bộ Tư lệnh Pháo binh đã giao cho các nhà thiết kế đạn phản lực thuộc Viện Nghiên cứu khoa học nhiệm vụ chế tạo đạn phản lực của hệ thống pháo bắn loạt dã chiến trên cơ sở đạn PS-132. Sự xác định nhiệm vụ kỹ - chiến thuạt được giao cho viện vào tháng 6 năm 1938.

Trong sự tương ứng với nhiệm vụ này, vào mùa hè năm 1937, viện đã thiết kế loại đạn nổ - nổ mảnh 132mm mới, sau đó nhận tên gọi chính thức M-13. Theo so sánh với đạn RS-132, loại đạn này có tầm bay xa hơn và sức công phá mạnh hơn một cách đáng kể. Sự tăng tầm bay được thực hiện do kết quả của phương pháp tính toán tăng cường số lượng nhiên liệu phản lực, để làm được việc này, yêu cầu kéo dài bộ phận tên lửa và đầu đạn của đạn phản lực lên 48cm. Đạn M-13 có một vài điểm nổi trội so với RS-132 về tính năng khí động học, cho phép tạo độ dày đặc tập trung cao.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 08:27:50 pm
Các tính năng của thiết bị được cải thiện phần nào khi gầm xe tải ba trục Zis-6 cơ động hơn được tiếp nhận.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-13_Katyusha_in_Victory_Park.jpg)

Tháng 9 năm 1939, các nhà thiết kế đã chế tạo hệ thống phản lực MU-2. Trong phiên bản này, rãnh dẫn hướng được kéo dài dọc theo xe, bộ phận phía sau, khi bắn được treo trên các kích bổ sung. Khối lượng xe với kíp xe 5 người và cơ số đạn đầy đủ: 8,33 tấn, tầm bắn xa nhất: 8470 mét. Một loạt bắn 16 viên đạn phản lực, thời gian bắn: 8 – 10 giây. Xe ba trục Zis-6 bảo đảm cho MU-2 đạt yêu cầu cơ động khi đỗ, cho phép hoàn thành việc cơ động di chuyển một cách nhanh chóng và thay đổi trận địa. Để chuyển xe từ trạng thái hành quân sang chiến đấu mất từ 3 – 4 phút (thời gian tiêu phí cơ bản trong việc cố định kích).

Trên xe lắp sẵn thành phóng phụ để bắn ngay lập tức 24 viên đạn.

Trong tháng 9 năm 1939, đã diễn ra các cuộc thí nghiệm thiết bị MU-2 và theo kết quả, nó được tiếp nhận tới các cuộc bắn thử trên trường bắn của Bộ Tư lệnh Pháo binh. Sau khi hoàn thiện năm 1940, lần đầu tiên trên thế giới, thiết bị pháo phản lực bắn loạt đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng và trên trường bắn. Thiết bị nhận tên gọi BM-13-16 hay một cách đơn giản là BM-13 và đưa vào sản xuất. Viện Nghiên cứu khoa học tên lửa đã nhận đơn đặt hàng 5 thiết bị và lô đạn phản lực để đưa vào thí nghiệm cấp binh chủng. Ngoài ra, Cục Pháo binh Hải quân cũng đặt chế tạo một thiết bị BM-13 để thí nghiệm trong hệ thống phòng thủ bờ biển. Phía quân nhu đã ngay lập tức triển khai việc sản xuất dây chuyền đạn phản lực với sự tính toán khối lượng tiêu thụ lớn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 09:23:45 pm
Từ 15 đến 17 tháng 6 năm 1941, trên trường bắn Sofia ngoại ô Moskva đã tiến hành thử trang bị mới cho Hồng Quân. Ngày 17 tháng 6 đã diễn ra việc bắn thứ loạt đạn nổ - nổ mảnh M-13 từ hai thiết bị thí nghiệm. Việc bắn được tiến hành dưới sự theo dõi của Dân ủy Quốc phòng – Nguyên soái Liên Xô S.K.Timosenko, Tổng tham mưu trưởng Đại tướng G.K.Zhukov, Tư lệnh pháo binh Nguyên soái G.I.Kulik và phó Tư lệnh Thượng tướng N.N.Voronov, Dân ủy vũ trang D.F.Ustinov, Dân ủy phụ trách đạn dược P.N.Goremykin và nhiều tướng lĩnh khác. Hoạt động của đạn nổ - nổ mảnh đã gây ấn tượng mạnh: toàn bộ các mục tiêu bị phá hủy, toàn bộ khu vực đạn rơi bốc cháy.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/10940485.jpg)

Ngày 21 tháng 4 năm 1941, các lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã chấp nhận quyết định triển khai sản xuất quy mô lớn đạn M-13, thiết bị phóng BM-13 và bắt đầu thành lập các đơn vị pháo phản lực.

Khu vực sản xuất hàng loạt BM-13 được lựa chọn là xưởng mang tên Komitern tại Voronhez. Ngày 6 tháng 2 năm 1941, từ Viện Nghiên cứu khoa học số 3 đã có bản vẽ thiết kế pháo phản lực gửi tới Voronhez. Theo nhận định, bản vẽ của Viện số 3 đã xuất hiện những vấn đề cần thiết kế lại một cách nghiêm túc. Đầu tiên là vấn đề liên quan tới sự đơn giản hóa thiết kế và tăng cường tính năng kỹ - chiến thuật; thứ hai, yêu cầu công nghệ của ngành công nghiệp – sản xuất hàng loạt xe phóng. Trong thời gian tháng 3 đến tháng 4, cấu trúc của hàng loạt các chi tiết cơ bản của xe phóng trong xưởng đã chịu sự cải tạo căn bản và nhận thiết kế mới, đáp ứng việc đưa vào sản xuất hàng loạt dành cho thiết kế. Cấu trúc dạng hình hộp của thành dẫn hướng thành xà hình chữ U, trục sau của khung quay, thiết kế của cơ chế dẫn bắn góc tầm cũng chịu sự thay đổi căn bản.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 08:56:26 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Katjuscha_1938_Moscow.jpg)

Bản vẽ tổng quát của thiết bị được thiết kế trong Phòng thiết kế của xưởng mang tên Komintern được chuẩn bị ngày 10 tháng 6 năm 1941. Tuy nhiên khi thiết kế bản vẽ trong Phòng thiết kế, thiết bị chưa có một hình dạng cụ thể và công nghệ hoàn thiện để đưa vào sản xuất hàng loạt cũng như khai thác chiến đấu. Các chi tiết riêng biệt, ví dụ thiết bị dẫn hướng không được thí nghiệm và không có được độ vững chắc cần thiết, còn thiết bị quay được thiết kế trong hai phiên bản. Sự lựa chọn phiên bản tốt hợp đã được thực hiện trong các thí nghiệm hai thiết bị thí nghiệm đầu tiên trên trường bắn ngày 5 tháng 7 năm 1941. Hai thiết bị phóng BM-13 đầu tiên do xưởng mang tên Komitern sản xuất đã được đưa lên Moskva sáng ngày 2 tháng 7 năm 1941. Ngày 5 tháng 7 năm 1941, các thiết bị đã được mang đi thí nghiệm tại trường bắn ngoại ô Moskva, sau đó đưa về xưởng “Kompressor” thuộc Moskva (xưởng số 733) để khắc phục các thiếu sót. Từ mùng 10 tháng 7 năm 1941, xưởng mang tên Komitern đã bắt đầu thực hiện sản xuất xe phóng và đến 26 tháng 7 là xí nghiệp duy nhất trên Liên Xô sản xuất loại vũ khí này. Ngày 26 tháng 7 năm, lần đầu tiên, BM-13 được sản xuất tại xưởng “Kompressor”. Đến 12 tháng 8 năm 1941, việc này đã được làm rõ từ bản báo cáo của xưởng quân sự “Kompressor”: “trong một bộ phận của Hồng Quân đã có 53 xe phóng, trong đó xưởng mang tên “Komitern” đã sản xuất 41 xe”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 08:56:56 pm
Trong những tháng đầu tiên của chiến tranh, trong xưởng “Kompressor” đã có mặt nhóm các cộng tác viên thuộc Viện Nghiên cứu khoa học số 3. Giám đốc xưởng I.A.Dorozhkin nhớ lại – “Trong tháng 6 năm 1941, nhóm các công tác việc của Viện nghiên cứu khoa học đã có mặt tại đây. Họ giúp chúng tôi tìm hiểu và làm quen một cách tỉ mỉ với nguyên tắc làm việc của thiết bị mới, với các phương pháp kiểm tra các xe đã được sản xuất”. Tuy nhiên, sự có mặt của họ không lâu dài. “Kỹ sư trưởng của Viện Nghiên cứu khoa học số 3 A.G.Koctikov, Dân ủy P.I.Parshin đã được bổ nhiệm làm tổng công trình sư của xưởng, còn tôi, là phó của ông” – V.P.Barmin nhớ lại – “Trong khi sản xuất, sự hiểu biết của Kotikov rất ít. Về thiết kế của ông ta, như các công nhân lâu năm đã nói, không có hiệu quả - nó không chứng tỏ được khả năng được đưa vào sản xuất, trong khi cần sản xuất với số lượng lớn. Tôi đã quyết định làm tất cả theo ý mình, ông ta tức giận, viết các bản báo cáo để “tống cổ” tôi. Và cuối cùng, ông ta đã bị sa thải.” Ngày 16 tháng 10 năm 1941, mệnh lệnh sơ tán xưởng “Kompressor” tới Ural đã được ban hành.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Katyusha_launcher_rear.jpg)

Tuy nhiên, sự sơ tán còn chưa được hoàn thất, trong các xưởng bỏ hoang theo sự bố trí của phó Dân ủy, đã thành lập xưởng sửa chữa các “Kachyusa” bị hỏng trên chiến trường. I.A.Dorozhkin được bổ nhiệm làm lãnh đạo cơ sở sửa chữa. Cũng trong thời gian này, đoàn xe vận tải đã rời khỏi Moskva. Cùng với đó là số lượng lớn các chuyên gia, những người đã hiệu chỉnh và sửa chữa các “Kachyusa” một thời gian sau đó tại Ural.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 08:57:53 pm
Thiết kế để sản xuất hàng loạt BM-13 được chuẩn bị và tháng 7 – 8 năm 1941 đã được hoàn thiện trước đó khá lâu. Các thông tin báo về từ chiến trường rằng các thanh trên thiết bị dẫn hướng đã bị đứt, gãy do sự cố định không tốt, trong các góc tầm giới hạn và trong một số góc hướng, cơ cấu ổn định của một số viên đạn đã bị vướng do các kích. Ngày 16 tháng 8 năm 1941, đã có trường hợp vỡ thiết bị ổn định và vì lý do này, đạn đã rơi và khu vực trạm quan sát. Các nhược điểm xuất hiện trong thiết kế đã được khắc phục một cách không chậm chễ.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/kiev-33.jpg)

Gần mùng 1 tháng 11 năm 1941, các xưởng mang tên Kormitern, “Kompressor” và “Krasnaya Presnya” đã sản xuất được 456 thiết bị phóng Bm-13 trên gầm xe Zis-6 và 15 thiết bị phóng dành cho đạn phản lực M-13 trên gầm xe Zis-5. Việc thử lắp thiết bị phóng cho đạn M-13 lên xe Zis-5 đã không thành công và việc sản xuất theo phương pháp này đã chấm dứt. Cuối tháng 9 năm 1941, Phòng thí nghiệm của xưởng “Kompressor” đã bắt tay chế tạo thiết bị phóng cho M-13 trên gầm máy kéo STZ-5 có sức tải lớn, khả năng cơ động tốt và tuổi thọ động cơ cao. Sự thiết kế thiết bị phóng trên gầm máy kéo STZ-5 được thực hiện do hai nguyên nhân. Đầu tiên, sự cơ động của máy kéo so với xe tải Zis-6 trên đường vào mùa thu cao hơn, còn thứ hai, các xe tải Zis-6 được sản xuất rất ít. Thiết kế của bộ phận pháo, tác động đặc thù của khung bộ phận chuyển động (tính cơ động cao, trọng tải rung, lắc và đột xuất trên đường do cơ cấu của khung ngắn) đã chịu những sự thay đổi căn bản. Trong thiết kế của thiết bị phóng có chi tiết đặc biệt – khung dưới. Trên khung dưới đã lắp và cố định toàn biij các chi tiết cơ bản trong bộ phận pháo của xe, còn sau đó, nó (cùng với các chi tiết của thiết bị được cố định trên đó) được cố định qua lớp đệm giảm sóc với khung gầm máy kéo. Trọng tải cơ động lớn với thiết kế bộ phận pháo của thiết bị phóng trong khi hành quân được tháo bằng phương pháp này. Sự cố định bộ phận pháo trên gầm qua lớp đệm giảm sóc trở thành sự thay đổi trong toàn bộ thiết bị. Điểm mới khác là sự thay đổi cấu trúc dàn của bộ phận lắc trong thiết bị phóng, trong kết quả thu nhận được, là thành dẫn hướng có thể bắn ở góc tầm 0 độ. Điều này cho phép bắn trực xạ. Nhưng thiết bị phóng BM-13 trên gầm máy kéo STZ-5 có những nhược điểm, quan trọng nhất trong số đó là tốc độ thấp (10 – 14km/h) và tầm hoạt động không lớn (gần 200km) của máy kéo STZ-5, làm giảm rất nhiều khả năng cơ động của pháo phản lực. Các bản thí nghiệm thiết bị phóng trên gầm STZ-5 đã trải quan các thí nghiệm trong tháng 10 năm 1941 và được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang. Chúng được sản xuất hàng loạt tại xưởng mang tên Kormitern tại Voronhez. Tuy nhiên, do các nhược điểm đã nêu trên, thiết bị này được sản xuất với số lượng rất hạn chế.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 09:16:25 pm
Trong xưởng “Kompressor” đã thí nghiệm chế tạo thiết bị dành cho việc phóng đạn M-13 trên xe tăng hạng nhẹ T-40 hoặc gần hơn theo thiết kế xe tăng T-60. Các thí nghiệm thiết bị phóng M-13 trên xe tăng T-40 được thực hiện vào tháng 9 năm 1941 đã đạt kết quả theo yêu cầu. Các tính năng không tồi về đạn đạo được ghi nhận, nhưng thiết bị này không được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang. Nguyên nhân là do sự mất cân bằng của trung tâm trọng lực xe tăng do sự thay đổi khối lượng thiết bị trong tình trạng nạp đạn và chưa nạp đạn, và với thiết bị chuyển động của xe tăng khi thí nghiệm chịu sự quá tải quá lớn trong khi di chuyển.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/kiev-34.jpg)

Sự thành công trong chế tạo thiết bị phóng trên xe tăng KARS-1 của xưởng “Kompressor” đã tạo ra khả năng thiết kế thiết bị phóng tương tự trên xe GAZ-AA 1, 5 tấn vào cuối năm 1942 – đầu năm 1943 tại Chelyabinsk. Thiết bị mới nhận chỉ số KARS-2. Các thí nghiệm thực hiện trên trường bắn đã chỉ ra rằng, chiều dài của rãnh dẫn hướng 1250mm không bảo đảm yêu cầu về mật độ tập trung của đạn phản lực. Khả năng góc tầm không đảm bảo, còn việc tăng cường yêu cầu sự hoàn thiện lại mất rất nhiều thời gian (thay đổi hình dạng cabin xe, tăng khối lượng thiết bị dẫn tới khả năng không thể lắp trên gầm xe 1,5 tấn). Các thông tin về sản xuất KARS-2 không có nhiều.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 09:31:41 pm
Ngoài các xưởng “Kompressor” (Moskva) và xưởng mang tên Kormitern (Voronhez), thiết bị phóng với các kiểu khác nhau trong những năm chiến tranh đã được sản xuất ở “Chelybkompressor” (Chelyabinsk), “Uralelektroapparat” (Cverdlovsk), xưởng mang tên Quybưsev (Kirov), xưởng cơ khí (Penza), xưởng máy thành phố Gorki, xưởng mang tên K.Mark (Leningrad), xưởng mang tên Shevchenko (Kharkov), xưởng “Krasnay Presnya” (Moskva) và các xưởng khác, cho phép đáp ứng đủ yêu cầu của Hồng Quân và Hải quân Liên Xô về loại vũ khí này.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/kiev-35.jpg)

Việc sản xuất đạn phản lực được giao cho số lượng lớn các xí nghiệp sản xuất ô tô, máy kéo và chế tạo máy. Tháng 1 năm 1943, xưởng GAZ đã nhận lệnh sản xuất khẩn cấp một lô lớn vỏ đạn dành cho các “Kachyusa” mới, mạnh và xa hơn và phải xuất hiện trên chiến trường đầu mùa hè của chiến dịch tấn công. Trong thời gian rất ngắn, công việc sản xuất mới đã được triển khai và đưa vào hoạt động, bắt đầu sản xuất số lượng lớn vỏ dành cho đạn mới.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 09:45:26 pm
Đặc biệt ghi nhận sự đóng góp của Leningrad trong sản xuất và hình thành pháo phản lực dã chiến.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/35a7c3925efa.jpg)

Trong tháng 8 năm 1941, thành phố Leningrad đã đóng góp sản xuất đạn phản lực M-13 trong xưởng chính mang tên M.I.Kalinina với sự hỗ trợ hợp tác của cac xưởng Izhor, Admiraltey, Proletar, “Pnevmatika”, “Arsenal”, “Bolshevik”… Đến mùng 7 tháng 12 năm 1941, đã có 30 500 viên đạn M-13 được sản xuất. Sự hỗ trợ của việc năng vứng việc sản xuất đạn trong các xưởng ở Leningrad đã được Viện trưởng Viện tên lửa D.A.Shitov ghi nhận khi tới Leningrad cùng với đoàn của P.N.Degratiev.

Đầu tháng 9 năm 1941, các công nhân Leningrad trong xưởng mang tên Karl Mark đã sản xuất thiết bị BM-13 trên gầm xe Zis-6. Trước chiến tranh, xưởng mang tên Karl Mark sản xuất máy dệt. Sự sản xuất thiết bị phóng đạn phản lực được tập thể công nhân nắm vững trong vòng một tháng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 10:04:00 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/20081014151345012.jpg)

Tháng 7 năm 1942, trong Phòng thiết kế số 2 thuộc xưởng mang tên Kirov với sự thu nhận các kinh nghiệm từ Leningrad đã bắt tay vào thiết kế thiết bị phóng mang chỉ số KARS-1. KARS-1 là từ rút gọn của “hệ thống pháo phản lực ngắn”. Trong đó, gầm lấy từ xe tăng hạng nặng KV-1. Thiết bị được giới thiệu là một thùng bọc thép với nóc mỏ, trong trong trên các rãnh dẫn hướng lắp hai đạn phản lực. Toàn bộ trên xe tăng có bốn thùng như vậy. Xe tăng có thể bắn theo loạt hoặc bắn lần lượt 8 đạn phản lực, trong đó khả năng bắn đạn chỉ thực hiện theo hướng di chuyển của xe tăng. Sự dẫn bắn theo các mặt phẳng được thực hiện bằng thân xe tăng. Các thí nghiệm thiết bị phóng trên xe tăng với các rãnh dẫn hướng có độ dài khác nhau (2000, 1200, 1500 và 2400mm) được thực hiện trong mùng 7 – 8, 17 – 30 tháng 9 và tháng 10 năm 1942, thu được kết quả khả quan. Trong các bản báo cáo ghi nhận thông tin về mật độ hỏa lực và tầm xa thực tế hầu như không khác với thông số trong lý thuyết khi sử dụng rãnh dẫn hướng dài 5000mm. Trong cơ sở thí nghiệm đã đưa ra kết luận rằng KARS có thể sở thành vũ khí bổ sung hiệu quả của xe tăng KV. Thiết bị phóng KARS đã nhận được sự tán đồng của Cục trang bị tên lửa thuộc bộ phận pháo và súng cối Cận vệ Hồng Quân, được giới thiệu tiếp nhận vào trang bị của xe tăng KV. Cùng với đó là những nhược điểm của thiết bị, như không có sự độc lập trong khi bắn theo góc tầm và hướng (đối với thân xe tăng), giảm đáng kể độ linh hoạt của hỏa lực, đồng thời tăng độ tản mát của đạn phản lực gấp 1,5 lần theo so sánh với các thiết bị phóng M-13 thông dụng. Tuy nhiên cùng với việc dừng sản xuất xe tăng KV, thiết bị này cũng không được đưa vào sản xuất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Hai, 2010, 11:28:44 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/-13.jpg)

Sự xuất hiện của “Kachyusa” trên chiến trường lần đầu tiên đã gây ngạc nhiên cho kẻ thù và thúc đẩy ngành công nghiệp Liên Xô sản xuất quy mô lớn. Tuy nhiên, “Kachyusa” nhanh chóng bị thiếu hụt gầm xe tự hành – một vài tháng sau chiến tranh, Zis-6 đã ngừng sản xuất. Mặc dù vậy, mùa đông năm 1941 – 1942 ở Liên Xô đã bắt đầu nhận các xe của Mỹ, Canada và Anh. Theo đó, một số thiết bị phóng đã được sản xuất trên gầm các xe tải “International”, “Austin”, “Ford” (Canada), “GMS”, “Chevrolet”, “Dodge”, “Ford Marmon”…. Một số xe tải đã tỏ ra không thích hợp trong vai trò xe chiến đấu. Ví dụ như trong kết luận của Ủy ban kiểm tra do BM.Barmin, A.N.Vasiliev, N.F.Konoyko ký khi kiểm tra xưởng “Kompress” đã quan sát thiết bị M-13 lắp trên gầm xe “Dodge” được về từ mặt trận tháng 7 năm 1942, được tập trung lại đã đánh giá rằng các xe hơi “Dodge” không thể tiếp tục sử dụng để lắp M-13 sau khi xuất hiện sự hỏng, gãy trụ chống khi khai thác sử dụng. Các kết luận tương tự cũng được đưa ra với xe “Chevrolet” và một số xe hơi khác. Việc này đã dẫn đến việc giảm số lượng xe do nước ngoài sản xuất cho việc lắp hệ thống phóng trên đó. Các xe phổ biến nhất được tiếp nhận là “International” và “Ford-Marmon”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:27:21 pm
Thiết bị M-13 được lắp trên tấm trượt tuyết dành cho điều kiện mùa đông. Các thiết bị phóng đặc biệt được thiết kế cho điều kiện đồi núi, phòng không và chống tăng cũng được chế tạo.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/phoca_thumb_l_-13.jpg)

Sự xuất hiện của đạn phản lực hạng nặng M-20 nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực và khí tài của đối phương được che khuất sau vật cản, phá hủy các công trình phòng thủ dã chiến. Đạn được tiếp nhận vào trang bị tháng 7 năm 1942. Khối lượng chất nổ của trong bộ phận đầu đạn M-20 do các kỹ sư thuộc Viện Nghiên cứu khoa học số 3 chế tạo nhiều hơn gấp đôi so với khối lượng chất nổ của đạn M-13, còn khối lượng tổng thể tăng 35%. Trong khi đó, tầm bắn giảm 5,95km. Việc này đã giải quyết yêu cầu của các đơn vị quân đội khi chuyển sang tấn công. Đạn M-20 được bắn từ BM-13, nhưng do kích thước lớn nên đạn có thể bắn chỉ bằng các rãnh dẫn hướng trên.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:27:53 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM_13.jpg)

Năm 1943, phiên bản đạn phản lực nâng cấp đã được thiết kế, nhận tên gọi M-13UK (tăng cường mật độ tập trung). Để tăng cường mật độ tập trung, đạn M-13UK trong bộ phận được làm dày lên về phía trước của bộ phận tên lửa được thiết kế bố trí 12 lỗ theo dạng tiếp tuyến. Trong thời gian động cơ tên lửa hoạt động, một bộ phận thuốc súng sẽ phụt qua các lỗ này, làm cho viên đạn quay. Mặc dù tầm bắn giảm (7,9km), nhưng mật độ tập trung được tăng cường nhờ sự giảm diện tích tản mát của đạn và tăng độ dày đặc của hỏa lực lên gấp 3 lần so với đạn M-13. Sự tiếp nhận đạn M-13UK vào trang bị diễn ra vào tháng 4 năm 1944. Đạn phản lực M-13UK đã tăng cường sức mạnh cho bộ đội pháo phản lực rất nhiều.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 08:03:47 pm
Năm 1942, cộng tác viên thuộc Viện Nghiên cứu Khoa học số 3 – V.G.Bessonov và các cộng tác viên khác đã thiết kế đạn phản lực 132mm tăng tầm, nhận số hiệu M-13DD. Đây là dòng đạn phản lực đầu tiên với động cơ tên lửa hai buồng. Hai buồng được giơi thiệu là những buồng phổ biến ở đạn M-13 và được kết nối bởi vòi phun trung gian, có 8 lỗ nghiêng. Các động cơ tên lửa hoạt động đồng thời. Bộ phận chính của đạn M-13DD được lấy từ đạn M-13. Đạn M-13DD đã trải qua các thí nghiệm trên trường bắn ở Ural, sau đó được hoàn thiện và 15 – 16 tháng 3 năm 1943 trên trường bắn ngoại ô Moskva, thí nghiệm lần thứ 2 đã không diễn ra. Sau các thí nghiệm cấp binh chủng, đạn M-13DD được tiếp nhận vào trang bị tháng 10 năm 1944.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/09-11-14_-13.jpg)

Sự nâng cấp tổ hợp được thực hiện trong những năm sau chiến tranh. Về cơ bản, liên quan đến sự thay thế gầm xe. Thông tin được nhắc đến về sự sử dụng BM-13 lần sau cùng vào năm 1991.

Đồng thời, BM-13 được xuất khẩu sang Ba Lan, Yemen, Libia, Peru, Afganistan, Angola, Ai Cập, Cộng hòa dân chủ Đức, Hungari, Iraq, Siri, Việt Nam. Sự sản xuất BM-13 được thực hiện ở Iran, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Trong quân đội Peru, BM-13 được khai thác sử dụng cho đến năm 2009.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 08:18:10 pm
Sự tiếp nhận chiến đấu

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/katusha05.jpg)

Đặc điểm chung về sự tiếp nhận chiến đấu của lực lượng pháo – cối Cận vệ là:

+ vận động các khí tài chiến đấu trên khoảng cách lớn, có khả năng nạp đạn và nhanh chóng triển khai trận địa hỏa lực

+ loạt bắn của trung đoàn và tiểu đoàn diễn ra trong thời gian ngắn (1 – 2 phút) với tầm xa nhất tính từ trận địa hỏa lực

+ sự nạp đạn bằng tay cho thiết bị liên tục sau mỗi loạt bắn: 10 – 15 lần

+ độ tản mát lớn của đạn phản lực khi bắn và hình dáng không bình thường theo hình elip của đạn

+ giảm 2 lần diện tích hủy diệt bằng mảnh đạn, hơn đạn pháo 76mm và lựu pháo 122mm.

Hai đặc điểm sau cùng đã bắt buộc khi chuẩn bị bắn phải theo các mục tiêu đã định sắn, cần lựa chọn tầm bắn đạt hiệu quả cao nhất từ trận địa hỏa lực, cho phép sử dụng đạn đạt hiệu suất cao nhất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 08:53:01 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/137562929.jpg)

Khi xuất hiện khả năng toàn bộ các tiểu đoàn được bố trí trên một trận địa hỏa lực tổng hợp, mỗi tiểu đoàn có thể lựa chọn đồng thời một vài trận địa hỏa lực khác nhau. Tọa độ bắn được xác định theo bản đồ. Sự chuẩn bị trận địa trước không được thực hiện vì sau loạt bắn, các tiểu đoàn nhanh chóng di chuyển tới khu vực tập trung. Trong trường hợp ngoại lệ, do sự trinh sát của quân địch, sự tổ chức trận địa trong các tiểu đoàn chỉ được tổ chức sau khi tiếp nhận được mục tiêu tấn công và được tổ chức bởi sự quan sát khu vực nơi triển khai trận địa. Phần lớn loạt bắn của các đơn vị pháo – cối cận vệ là tấn công các mục tiêu bố trí sâu trong đội hình chiến đấu của đối phương. Việc này được giải thích: một mặt, tránh được thiệt hại cho các đơn vị tấn công bố trí trước khu vực phòng ngự của đối phương (độ tản đạn rất lớn và không kiểm soát được hoàn toàn), và mặt khác những mục tiêu để hỏa lực của các đơn vị pháo – cối phát huy hiệu quả cao nhất (đội ngũ, mật độ tập trung đông và dày đặc các đơn vị đói phương, sở chỉ huy, khí tài thông tin liên lạc…) nằm ở trong chiều sâu đội hình chiến đấu của đối phương. Vì thế, các mục tiêu của lực lượng pháo – cối Cận vệ được chỉ định cơ bản bởi chỉ huy của các đơn vị binh chủng hợp thành hoặc tư lệnh của sư đoàn pháo binh. Sự chuẩn bị rút gọn theo bản đồ là phương pháp chuẩn bị cơ bản cho các dữ liệu bắn ban đầu. Nhiệm vụ bắn được giao cho cấp tiểu đoàn và đại đội.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 09:00:59 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/c54632d5a291.jpg)

Các đơn vị có thể được sử dụng một cách hiệu quả cho việc chế áp và tiêu diệt từng phần sinh lực, khí tài hỏa lực của đối phương bố trí lộ thiên hoặc sao các vật cản thấp.

Sau loạt bắn của các đơn vị pháo – cối Cận vệ, bộ binh và xe tăng của đối phương gần như mất toàn bộ khả năng tấn công và trong thời điểm tức thời hoặc lâu dài không thể thực hiện những hoạt động mang tính chủ động (tấn công).

Bằng kinh nghiệm thu được, để bảo đảm tiêu diệt trận địa bố trí lộ thiên hoặc lực lượng bộ binh địch di chuyển cần 4 – 5 viên đạn/ha. Để tiêu diệt sinh lực địch trong các công sự có vật cản thấp cần 6 – 8 viên đạn/ha. Để tiêu diệt địch và khí tài hỏa lực bố trí trong các trận địa dã chiến mạnh, cần 30 – 40 đạn phản lực M-20/ha. Tiếp đó, để tấn công một mục tiêu, cần thiết không chỉ một mà cần hai, ba tiểu đoàn hoặc nhiều hơn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: longtrec trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 09:20:01 pm
NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ VỀ KATUYSHA.



Có 1 giả thiết về bài hát của Nga nổi tiếng trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 đó là bài hát "Katuysha", nói về tình yêu của cô gái hậu phương với chàng trai mặt trận đã được lấy để đặt tên cho 1 loại vũ khí mới, pháo phẩn lực phóng loạt "katuysha".

...Пусть он вспомнит девушку простую,
Пусть услышит, как она поет,
Пусть он землю бережет родную,
А любовь Катюша сбережет.....


...Hãy để chàng trai nhớ về cô gái giản dị,
Hãy để chàng trai nghe người con gái hát,
hãy để chàng trai bảo vệ Tổ quốc
Và tình yêu của Ktuysha....

Không một người lính Hồng quân nào thời đó không biết về bài hát "Katuysha" do М. В. Исаковский viết , lần đầu tiên được ca sỹ Valentina Baltishcheva hát ngày 27/11/1933 tại nhà hát lớn thành phố Moscow.

Chính về sự nổi tiếng của bài hát và sự tự hào của người lính Hồng quân nói giêng và người dân Xô Viết nói chung nên rất có thể tên bài hát  yêu mến "Katuysha" đã là tên được đặt cho loại vũ khí mới này.

Исаковский
sinh năm 1900 tại 1 gia đình nông dân tại làng Glotovka tỉnh Smolensk. Có 1 điều không hiểu vô tình hay có ý, pháo phản lực phóng loạt "Katuysha" lần đầu tham chiến tại Rudnya thuộc ngoại ô Smolensk.



P/M Mod Daibangden , tôi sẽ viết phụ họa cho Mod những điều thú vị xung quanh"Katuysha".


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 09:48:18 pm
Cám ơn bác longtrec ;D

(tiếp)

Thiết bị chiến đấu lắp trên xe hơi có độ cơ động cao có thể hành quân trên cự ly xa với tốc độ di chuyển cao. Quãng đường di chuyển trung bình của các đơn vị pháo – cối Cận vệ từ 150 đến 300km. Ngoài ra, các đơn vị này với lợi thế cơ động nhanh trở thành ưu điểm khi so sách với các đơn vị pháo binh khác. Trong sự khác biệt với các đơn vị pháo binh khác, các đơn vị pháo – cối Cận vệ luôn được bảo đảm 100% về quân số, khí tài kĩ thuật, trang bị và quân số. Số xe trang bị trong đơn vị pháo  - cối Cận vệ trong một lần mang toàn bộ quân số và khí tài cho 3 – 4 loạt bắn.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Katyusha.jpg)

Mệnh lệnh sử dụng các đơn vị pháo – cối Cận vệ được đưa ra trong mệnh lệnh của Bản doanh Bộ Tư lệnh tối cao số 4 từ ngày 8 tháng 8 năm 1941, quy chế chỉ huy của các đơn vị pháo – cối Cận vệ của Bộ Tư lệnh tối cao từ ngày 7 tháng 5 năm 1942, “Quy chế tiếp nhận các đơn vị pháo – cối M-30, M-30, M-13 khi đột phá phòng tuyến kẻ thù” được ban hành bởi Bộ Dân ủy Liên Xô ngày 4 tháng 4 năm 1943.

Đại đội pháo phản lực đầu tiên dưới sự chỉ huy của Đại úy I.A.Flerov đã ra mặt trận chiều mùng 1 tháng 6 năm 1941. Trong đại đội có 8 thiết bị BM-13 do Viện Nghiên cứu khoa học số 3 chế tạo và một lựu pháo 122mm (cho việc bắn định hướng). Ngày 14 tháng 7, vào lúc 15 giờ 15 phút, theo lệnh của Tư lệnh pháp binh mặt trận Thiếu tướng pháo binh G.S.Kariofilli, đại đội đã bắn loạt bắn đầu tiên vào vị trí tập trung bộ binh và xe tăng của quân địch trong khu vực Orsha. Loạt bắn thứ 2 vào 17 giờ 20 phút với 94 viên đạn. Đạn được bắn từ 6 thiết bị phóng vì xe số 7 bị hỏng cáp điện của bảng điều khiển bắn khi chuẩn bị bắn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 03:57:45 pm
Sự xuất hiện trên chiến trường của đại đối pháo phản lực do Flerov chỉ huy là sự kiện không hề dễ chịu đối với chỉ huy quân đội phát xít. Tư lệnh Lục quân Đức đã thông báo cho các đơn vị của họ ngày 14 tháng 8: “Người Nga có loại pháo phun lửa nhiều nòng… Pháo được bắn bằng điện. Khói được tạo ra trong thời gian bắn… Khi chiếm được loại pháo này phải thông báo một cách nhanh chóng”. Sau hai tuần, chỉ thị đã xuất hiện có nội dung: “Pháo của người Nga, được bắn có dạng đạn tên lửa. Trong chỉ thị có nói: “… các quân đoàn báo cáo về sự tiếp nhận loại vũ khí mới bắn đạn phản lực của người Nga. Từ một thiết bị trong thời gian 3 – 5 giây có thể tạo ra số lượng đạn lớn… Về mỗi lần xuất hiện của những khẩu pháo này, cần phải báo cáo cho chỉ huy, Tư lệnh binh chủng hóa học trong bộ chỉ huy tối cao ngay trong ngày.”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Katyusha_ZiS-151_Svidnik.jpg)

Trong 20 ngày tháng 7 năm 1941, trên mặt trận phía Tây đã thành lập đại đội pháo phản lực thứ hai, biên chế 10 thiết bị BM-13, nằm trong đội hình tập đoàn quân số 19, còn trong biên chế tập đoàn quân số 16 – đại đội thứ ba với b axe BM-13. Trong thời gian tháng 8 và tháng 9, thêm 5 đại đội pháo phản lực nữa được đưa tới các quân đoàn cơ động.

Ngày 22 tháng 7, đại đội pháo phản lực được đưa tới mặt trận Leningrad. Chỉ huy đại đội: trung sỹ P.N.Degtyzrev. Đại đội bao gồm 4 xe phóng BM-13 (hai trung đội hỏa lực), trung đội điều khiển và trung đội hậu cần. Trong thành phần đại đội có khoảng 50 xe hơi với 1500 viên đạn. Loạt bắn đầu tiên thực hiện vào đúng 22 giờ ngày 3 tháng 8 ở trận địa phòng thủ Lyga vào khu vực tập trung quân phát xít trong khu vực Kingisepp. Các phân đội và đơn vị pháo phản lực của mặt trận Leningrad được thành lập sau đó trong tình trạng bị bao vây.  Trong đó, tại xưởng mang tên Karl Mark đã thực hiện sản xuất số lượng lớn BM-13, còn trong xưởng số 4 mang tên M.I.Kalinin – sản xuất đạn phản lực.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 04:13:21 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm13.jpg)

Trong quá trình tiếp nhận tham gia chiến đấu của các đại đội pháo phản lực đã xuất hiện độ dày đặc của một loạt phóng (2 – 3 đạn/ha) là không đủ mạnh để tiêu diệt sinh lực địch và các khí tài hỏa lực đạt hiệu quả cao nhất. Việc tiếp nhận sử dụng lựu pháo 122mm trong vai trò bắn định hướng đã không phát huy hiệu quả cần thiết. Để đạn M-13 bắn định hướng không có ý nghĩa thực tế. Vì thế, cuối tháng 7 năm 1941, Đại bản doanh Bộ Tư lệnh tối cao đã ra quyết định về việc ản xuất khẩn cấp pháo phản lực theo tổ chức mới. Đơn vị cơ sở mới là trung đoàn. Khi đó, các đơn vị được thành lập, trong trang bị có các đội xe BM-13 với đạn M-13 và các xe chiến đấu BM-8 với đạn 82mm gia nhập biên chế.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 04:25:00 pm
Theo mệnh lệnh của Đại bản doanh từ mùng 8 tháng 8 năm 1941, 8 trung đoàn pháo phản lực đầu tiên đã được tổ chức. Đây là cột mốc quan trọng trong lịch sử “Kachyusa”. Các đơn vị mới đã nhấn mạnh vai trò của lực lượng pháo – cối Cận vệ thuộc lực lượng dự bị trong Đại bản doanh và những nhiệm vụ đặc biệt của các đơn vị được trang bị vũ khí phản lực này. Cũng theo mệnh lệnh này cũng giao nhiệm vụ quan trọng cho các tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân về độ bảo mật cho vũ khí mới và phá hủy chúng, không cho lọt vào tay kẻ thù.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-13_RB2.jpg)

Theo biên chế phổ biến, mỗi trung đoàn pháo – cối Cận vệ gồm 3 tiểu đoàn BM-13 hoặc BM-8. Trong tiểu đoàn có 3 đại đội, mỗi đại đội 4 xe phóng. Ngoài ra, trong trung đoàn còn biên chế tiểu đoàn phòng không và phân đội bảo đảm kỹ thuật. Nhưng trong tình trạng thiếu thốn trầm trọng các khí tài phòng không, nhiều đơn vị pháo phản lực đã được đưa ra chiến trường mà không có các đơn vị phòng không đi kèm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:00:51 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Chisinau_Moldova_2.jpg)

Đây là một trong số những ví dụ về hoạt động của các đơn vị pháo – cối Cận vệ. Ngày 25 tháng 7 năm1942, tại Phương diện quân phía Nam đã biến chuyển theo tình trạng nặng nề - với sự thiệt hại lớn của các binh đoàn thuộc phương diện quân khi rời khỏi sông Đông. Trên phòng tuyến này, các quân đoàn Liên Xô không thể ngăn chặn tập đoàn xe tăng số 1 của Đức chọc thủng tuyến phòng ngự của quân đội Liên Xô, tập trung các đơn vị cơ động của mình tới hướng Vesely và Salsk uy hiếp hậu phương Phương diện quân. Lực lượng thực tế duy nhất trong tay chỉ huy phương diện quân, có thể làm chậm thời gian di chuyển tới hướng bị uy hiếp và kìm chân quân thù là cụm pháo – cối Cận vệ cấp chiến dịch của phương diện quân (chỉ huy – đại tá Cận vệ A.I.Nesterenko). Các đơn vị của cụm quân đáp ứng được đầy đủ số đạn dược và có đầy đủ khả năng chiến đấu. Theo sự bố trí chiến đấu số N0433 từ 25 tháng 7 của Hội đồng tác chiến Phương diện quân phía Nam, trong thời gian vào đêm từ 25 đến 26 tháng 7, cụm quân cơ động thuộc Phương diện quân phía Nam đã được thành lập dưới sự chỉ huy của đại tá Cận vệ A.I.Nesterenko trong đó biên chế các đơn vị pháo – cối Cận vệ số 8, 43, 48, phân đội pháo – cối Cận vệ số 14 (với số lượng tổng số khí tài không ít hơn 60 đơn vị), sư đoàn bộ binh cơ giới số 176 trên 600 xe tải (được thành lập trên cơ sở tổ chức các đơn vị và phân đội bị thiệt hại), tiểu đoàn xe tăng độc lập số 62 (20 – 25 xe tăng BT, T-26, T-60), các tiểu đoàn pháo phòng không độc lập 113 và 240, các đại đội vận tải. Từ 27 tháng 7, các đơn vị thuộc cụm quân đã tham chiến. Nhiệm vụ chính của cụm quân là đóng vai trò hộ vệ, bảo đảm tổ chức rút lui cho các đơn vị hậu phương của Phương diện quân phía Nam lên Bắc Kavkaz, cầm chân một số lượng lớn các khí tài hỏa lực và các đơn vị cơ động của kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:22:20 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Russian_artillery_fire_in_Berlin.jpg)
"Kachyusa" trong chiến dịch công phá Berlin

Trong chiến dịch công phá Berlin với sự xuất hiện chiến tranh đường phố trong nội thành, sự tiếp nhận các đơn vị pháo – cối Cận vệ càng rộng rãi. Trong điều kiện chiến đấu trên hàng loạt con phố hẹp phần lớn loạt bắn của các trung đoàn pháo phản lực là bắn trực xạ với đạn M-20 và một phần đạn M-13. Đây là cách bắn hợp lý, đạt hiệu quả cao cho hỏa lực pháo binh. Trong quá trình chiến dịch Berlin, các loại pháo phản lực của Liên Xô đã bắn 372 230 viên đạn pháo với các cỡ nòng 82, 132 và 300mm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 12:58:56 pm
Thông số kỹ thuật

Xe chiến đấu

Gầm xe: Zis-6

Số lượng rãnh dẫn hướng: 16

Chiều dài rãnh dẫn hướng: 5 mét

Góc tầm: 4 đến 45 độ

Góc tầm: -10 đến 10 độ

Chiều dài trong trạng thái hành quân: 6,7 mét

Chiều rộng: 2,3 mét

Chiều cao trong trạng thái hành quân: 2,8 mets

Khối lượng trong trạng thái hành quân không có đạn: 7200kg

Thời gian chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu: 2-3 phút

Thời gian nạp đạn: 5 – 8 phút

Thời gian phóng một loạt đạn: 8 – 10 giây


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 01:03:44 pm
Đạn phản lực M-13

Đường kính đạn: 132mm

Sải cánh của cánh đuôi: 300mm

Chiều dài: 1456mm

Khối lượng:

+ thân đạn: 42,36kg

+ đầu đạn: 21,3kg

+ thuốc nổ: 4,9kg

+ động cơ phản lực: 20,8kg

Vận tốc của đạn

+ sơ tốc (khi vừa ra khỏi rãnh dẫn hướng): 70m/s

+ tối đa: 355m/s

+ chiều dài đường lửa: 125 mét

Tầm bắn xa tối đa: 8470 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 01:35:37 pm
BM-14-16

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_001_.jpg)

Trong thành phần hệ thống pháo phản lực bắn loạt BM-14-16 gồm:

Thiết bị phóng BM-14-16

Đạn phản lực M-14-16

Thiết bị phóng BM-14-16

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_014.jpg)

Thiết bị phóng được thiết kế theo sơ đồ bố cục cổ điển: bộ phận pháo được bố trí sau gầm xe tải. Bộ phận pháo bao gồm các thành dẫn hướng, dàn, khung quay, các cơ cấu nâng và quay, khí tài thước ngắm và trang thiết bị điện. Gói các thành dẫn hướng bao gồm 16 ống trơn, bố trí theo cặp đôi thành 8 hàng ngang. Đường kính trong ống: 140,3mm, chiều dài: 1150 mm. Với sự hỗ trợ của cơ chế dẫn bắn, gói các thành dẫn hướng có thể dẫn bắn theo góc tầm phạm vi từ 0 đến 50 độ, góc hướng: 140 độ (70 độ về bên trái hoặc phải tính từ trục dọc của xe).

Khi chuyển thiết bị phóng từ trạng thái hành quân sang chiến đấu, cửa sổ trước cabin được đống bằng các tấm thép, còn bộ phận sau của xe được treo trên mặt đất nhờ các trụ chống với kích hình xoắn ốc. Việc này mất thời gian 1,5 – 2 phút. Thiết bị phóng có thể bắn lần lượt từng dạn, tuy nhiên, chế độ bắn cơ bản: bắn loạt. Thời gian phóng loạt: 7 – 10 giây. Sự điều khiển bắn được thức hiện từ cabin xe hoặc bảng điều khiển phóng. Thời gian nạp đạn cho thiết bị phóng mất từ 2 – 3 phút. Trong trạng thái nạp đạn, xe có khả năng thực hiện tầm hoạt động xa. Kíp xe gồm 7 người. Trong khi hành quân, chỉ huy và lái xe ngồi trong cabin, những thành viên còn lại trong kíp xe – trên ghế ngồi lắp mở sau cabin.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 02:20:27 pm
Khi chế tạo thiết bị phóng, gầm xe tải bánh hơi Zis-151 đã được sử dụng. Động cơ xe tải: Zis-121 bộ chế hòa khí 6 xilanh công suất 92 sức ngựa (2600 vòng/phút). Trong bộ phận truyền động tiếp nhận bộ ly hợp khô hai đĩa, hộp truyền động 5 số và hộp phận phối hai cấp. Phạm vi hoạt động của bộ truyền động: 14. Bộ phận chuyển động được thiết kế theo công thức 6x6. Hệ thống treo trước: trên hai lò xo dạng bán elip dọc; hệ thống treo sau: xà cân bằng. Hệ thống treo của các bánh trước được nối bằng các đòn giảm sóc thủy lực hai mặt và lốp xe có tốc độ góc bằng nhau kiểu “Bendiks – Beyss”. Trong thành phần trang bị của xe hơi bao gồm đồng thời dẫn động thủy lực của hệ thống giảm sóc. Thiết bị phóng trên gầm xe có khả năng cơ động bảo đảm trên nền đất xấu. Khi di chuyển trên đường nhựa, xe đạt tốc độ tối đa 60km/h.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_005.jpg)

Gầm xe tải Zil-131 có động cơ bộ chế hòa khí 150 sức ngựa. Một bộ phận lớn thiết bị pháo phản lực BM-14-16 đã được lắp trên gầm xe này. Khi di chuyển trên đường nhựa, thiết bị phóng trên gầm Zil-131 có tốc độ tối đa 180km/h. Khả năng cơ động của xe được tăng cường đáng kể nhờ sự xuất hiện của hệ thống tập trung điều tiết áp suất không khí trong các lốp xe.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: longtrec trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 04:05:15 pm
Tiếp theo : NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ VỀ KATUYSHA.



 Nguyên mẫu của quả đạn "Katuysha" tức là quả đạn phản lực (RS) được 2 nhà kỹ sư Н. И. Тихомиров và  В. А. Артемьев nghiêm cứu năm 1921. Hai kỹ sư này thuộc phòng nghiêm cứu khí động lực ( ГДЛ- газодинамической лаборатории ) nghiêm cứu , cải tiến 1 loại đạn phản lực từ 1 phát minh của nhà sáng chế người Pháp có tên là Rakhmanov mà Nga thu được năm 1916. Quả đạn phản lực do người Pháp phát minh sử dụng thuốc súng "gelatin" không khói.

Năm 1937-1938 đạn phản lực được tiếp nhận ,trang bị cho Không quân Xô Viết trên các máy bay :

Đạn phản lực RS-82(82mm)/РС-82 (реактивный снаряд) được trang bị trên máy bay tiêm kích I-15, I-16, I-153 và sau đó đạn RS-132(132mm) - được trang bị trên máy bay cường kích Il-2 và máy bay ném bom SV.

Năm 1938-1941 Viện nghiêm cứu ứng dụng phản lực (Реактивный научно-исследовательский институт)
mới nghiêm cứu phát triển đạn phản lực (RS-13) đặt trên dàn phóng mặt đất,  lắp trên khung gầm xe ZIS ( lấy từ các chữ cái đầu Московский автомобильный завод имени Сталина- Nhà máy Ô tô mang tên Stalin đặt tại Moscow).

Chỉ sau ít giờ đồng hồ sau khi cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại xảy ra, BM-13 được quyết định sản xuất hàng loạt và chính ngày này , BM-13 (sau này gọi là "Katuysha") được  tiếp nhận trang bị.

Năm 1942 BM-31(310mm) mới ra đời.

Hỏa tiễn "Katuysha" phóng những quả đạn phản lực được cheo trên dàn phóng thẳng, nhưng cũng có dàn phóng xoáy ốc gọi là : BM-13SN. Năm 1963 khi sản xuất BM-21"Grad" đạn phản lực(122mm) mới được phóng đi từ ống phóng.

Katuysha là loại pháo phản lực sử dụng nhiều cỡ đạn nhất , BM-8 (82mm) , BM-13 (132mm) , BM-31(310mm) và sau này là BM-14 (140mm) và BM-21"Grad"(122mm), BM-27 "Uragan" (220mm) , BM-30 "Смерч" (300mm) và gần đây nhất là Buratino(TOS-1)/ Буратино (ТОС-1)-220mm.

Dàn hỏa tiễn "Katuysha" do Liên Xô sản xuất ,nhưng chỉ có 600 dàn  Katuysha được đặt trên khu gầm xe ZIS (do LX sản xuất) còn lại gần 20.000 dàn hỏa tiễn được đặt trên khung gầm xe (Studebaker US6) do Mỹ sản xuất.

Năm 1952, khi BM-14 được đưa vào trang bị thì Liên Xô  mới lắp đặt dàn phóng trên khung gầm xe ZIL-131.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 05:53:45 pm
(tiếp)

Đạn phản lực M-14

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_007.jpg)

Đạn phản lực M-14 bắn dưới dạng không điều khiển. Những viên đạn này được ổn định trong khi bay bằng kết quả tính toán theo độ quay nhanh (vài nghìn vòng/phút) theo trục dọc. Sự quay của đạn được thực hiện bằng khả năng phụt khí thuốc súng của động cơ phản lực qua các lỗ trong phần sau thân đạn, được bố trí dưới góc 22 độ gần với trục dọc thân đạn. Các viên đạn M-14 có sự tăng cường độ chính xác theo nhờ có cánh đuôi, nhưng tầm bắn giảm do năng lượng thuốc súng đã bị tiêu hao trong quá trình quay. Loại đạn chính của BM-14-16: đạn nổ - nổ mảnh M-14OF. Khi lắp ngòi nổ tức thì, đạn thiên về khả năng nổ mảnh, còn khi lắp ngòi nổ chậm, đạn có hoạt động nổ mạnh hơn.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_008.jpg)
Đầu đạn

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_009.jpg)
Thân đạn

Ngoài đạn nổ - nổ mảnh M-14OF, trong cơ số đạn của BM-14-16 còn có đạn M-14D, được sử dụng nhằm tạo ra màn khói và làm “mù” các trạn quan sát cũng như khí tài hỏa lực của đối phương. Các loại đạn với đầu đạn hóa học 140mm cũng đã được thiết kế và đưa và sản suất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 06:13:25 pm
Thông tin lịch sử

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_011.jpg)

Sự tiếp nhận kịp thời của Hồng Quân loại pháo phản lực trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai đã mở ra việc triển khai các công việc nghiên cứu và thiết kế loại vũ khí này trong những năm sau chiến tranh. Trong đó, chúng được hoàn thiện trong vai trò các thiết bị phóng loạt nhiều nòng (“xe chiến đấu” – theo thuật ngữ Liên Xô), cũng như các loại đạn phản lực. Một trong những loại đạn phản lực đầu tiên được tiếp nhận vào quân đội Liên Xô trong những năm 50 là đạn tuabin phản lực nổ - nổ mảnh 140OF. Một số thiết bị pháo tự hành và xe kéo nhiều nòng đã được thiết kế cho quân đội và xuất khẩu. Năm 1952, trong trang bị của quân đội Liên Xô đã tiếp nhận hệ thống pháo phản lực bắn loạt BM-14-16 đầu tiên được thiết kế dành cho đạn M-14OF (14 – đường kính đạn (đơn vị centimet); 16 – số rãnh dẫn hướng).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 06:30:34 pm
Hệ thống này trong thời gian dài đã được ngành công nghiệp Quốc phòng sản xuất và ngoài quân đội Liên Xô, BM-14 còn có mặt trong biên chế quân đội các nước thuộc khối Vác-sa-va, đồng thời ở Algieri, Angola, Campuchia, Trung Quốc, Ai Cập, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Somali, Siri và Việt Nam. Trong nhiều quốc gia, BM-14 đến nay vẫn được khai thác sử dụng.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/3d5f7bc12fbe.jpg)

Ban đầu, BM-14-16 được bố trí trên gầm xe tải ba trục cơ động cao Zis-151. Năm 1958, sự sản xuất dòng xe này chấm dứt và thiết bị phóng đã được lắp trên gầm xe Zil-131.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 06:41:11 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-14_019.jpg)

Trong số các thiết bị phóng sử dụng đạn phản lực 140mm M-14, đáng chú ý có: BM-14-17 trên gầm xe tải hạng nhẹ GAZ-63A 4x4, trang bị 14 ống dẫn hướng, thiết bị pháo xe kéo RPU-14 có 16 ống dẫn hướng bố trí theo 4 hàng với 4 ống phóng, trên khung với càng pháo đóng mở được. RPU-14 được trang bị cho các lực lượng đổ bộ đường không (hiện nay trong nhiều quân đội thuộc các nước SNG, loại vũ khí này được đưa vào lực lượng dự bị). Còn có thêm một thiết bị kéo được sản xuất tại Ba Lan. Thiết bị này được trang bị 8 ống dẫn hướng và cho đến nay vẫn nằm trong biên chế các đơn vị lính dù Ba Lan dưới tên gọi WP-8.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười Hai, 2010, 07:01:22 pm
Thông số kỹ thuật chính

Đạn phản lực M14OF

Đường kính đạn: 140mm

Chiều dài đạn: 1090mm

Khối lượng: 39,62kg

Khối lượng đầu đạn: 18,8kg

Tầm bắn: 9810 mét

Xe chiến đấu BM-14-16

Gầm xe: Zil-131 (6x6)

Khung kích thước trong trạng thái hành quân (mm): 6920x2300x3170

Khối lượng trong trạng thái chiến đấu: 8350kg

Tốc độ tối đa: 60km/h

Tầm hoạt động: 520 – 665km

Khả năng vượt hố sâu: 0,8 mét

Số lượng rãnh dẫn hướng: 16

Góc tầm: 0 đến 50 độ

Góc hướng: 140 độ

Thời gian bắn một loạt đạn: 7 – 10 giây

Thời gian nạp đạn: 2 – 3 phút

Kíp xe: 7 người


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 04:26:21 pm
BM-21 “Grad”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/05---grad.jpg)

+ Hệ thống pháo phản lực bắn loạt 9K51 BM-21 “Grad” bao gồm:

+ Xe chiến đấu BM-21 trên gầm xe “Ural 375D”

+ Hệ thống điều khiển hỏa lực

+ Đạn phản lực không điều khiển 122mm

+ Xe vận tải – nạp đạn 9T254

Trong biên chế đại đội pháo phản lực BM-21 có xe điều khiển 1B110 “Bereza” trên gầm xe vận tả GAZ-66, bảo đảm sự chuẩn bị các thông tin và số liệu phục vụ bắn.

Hệ thống pháo phản lực BM-21 được sử dụng cho việc tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường mở hoặc khuất sau vật cản, các khí tài kỹ thuật không bọc thép và xe thiết giáp trong khu vực tập trung, các đại đội pháo binh và súng cối, các sở chỉ huy cũng như các mục tiêu khác.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 04:46:09 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/35.jpg)

Xe chiến đấu BM-21 cho phép bắn pháo từ cabin mà không cần chuẩn bị trận địa hỏa lực, bảo đảm khả năng khai hỏa nhanh. Bộ phận pháo bắn loạt của xe chiến đấu BM-21 lắp trên gầm xe tải Ural-375D. Xe chiến đấu được giới thiệu là một thiết bị pháo phản lực tự hành được cấu tạo từ bộ phận pháo và gầm xe Ural-375D. Hệ thống điều khiển hỏa lực cho phép dẫn bắn lần lượt từng viên hoặc bắn loạt. Khi đó, hoạt động của máy cảm biến xung động bảo đảm kích hoạt động cơ phản lực, có thể điều khiển nhờ sự hỗ trợ của máy phân phối điện, lắp trong cabin BM-21 và với sự hỗ trợ của bảng điện tử trên cự ly 50 mét. Thời gian bắn hết một loạt đạn: 20 giây. Pháo có thể bắn trong phạm vi nhiệt độ cao từ -40 đến 50 độ. Các bước trình tự khi bắn được giảm xuống tối thiểu nhờ sự bay dốc xuống của viên đạn với sự lắc định hướng của thiết bị phóng. Loạt bắt của một xe chiến đấu bảo đảm diện tích tiêu diệt sinh lực địch 1000m2 và 840m2 với các thiết bị kỹ thuật không bọc thép.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 06:23:42 pm
Bộ phận pháo bắn loạt

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/133525.jpg)

Bộ phận pháo bắn loạt bao gồm 40 ống dẫn hướng, khung nâng, bệ, đốc pháo, các cơ cấu nâng, quay và cân bằng, cơ chế phanh hãm, các nắp chốt, khí tài thước ngắm, các trang bị khí nén, máy truyền động điện, các trang thiết bị điện và vô tuyến hỗ trợ.

Ống được sử dụng nhằm định hướng bay của viên đạn, hỗ trợ viên đạn trong chuyển động quay, đồng thời có nhiệm vụ vận tải đạn. Ống trên khung lắp bao gồm ống và phanh hãm. Ống được giới thiệu là thiết kế hình trụ với trục vít dạng chữ P. Đằng sau ông có bệ gấp mở nhằm cố định thân của khối – tiếp xúc. Trên mặt cắt đầu nòng có các đường chia độ vuông góc phục vụ việc kiểm tra của thước ngắm và độ song song của ống trong khối các ống dẫn hướng. Nắp chốt được sử dụng nhằm giữ đạn không bị rơi khi bắn ở góc tầm và khi vận tải, đồng thời tăng cường độ dốc cho đạn. Nắp chốt gồm có hai giá và tay gạt lắp trên trục. Các chốt điều chỉnh được lắp vào ống. 40 ống – được xếp theo 4 hàng theo 10 ống – là khối được cố định với khung nâng bằng các dải thép, then cài và nêm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 06:40:23 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1372_bm_21_grad.jpg)

Khung nâng phục vụ cho việc lắp khối các ống phóng và giá đỡ của thước ngắm và được liên kết với bệ chính bằng hai nửa trục mà trên đó, nó có thể quay (lắc) khi dẫn bắn theo góc tầm. Khung nâng khi lắp bao gồm khung nâng, giá, thiết bị hình quạt và cơ cấu cân bằng. Giá đỡ phục vụ việc hãm bộ phận lắc theo hướng bắn và để hạn chế khối các ống dẫn hướng hạ xuống khu vực cabin.  Thiết bị hình quạt phục vụ cho việc truyền động quay từ bánh răng gốc của cơ cấu nâng tới bộ phận quay, đồng thời tạo góc tầm cho bộ phận rung. Cơ cấu cân bằng phục vụ cho việc giảm momen lực khỏi khối lượng bộ phận rung của xe chiến đấu một cách tương đối với trục rung, mang tới khả năng giảm công suất của động cơ truyền động và cấu tạo từ hai khối (theo 6 tấm hình chữ nhật) các tấm lực xoắn (bên phải và bên trái). Sự vặn, xoắn của các tấm lực xoắn được tăng cường khi hạ bộ phận rung và giảm đi khi chúng được nâng lên.

Bệ cơ sở phục vụ cho việc lắp các cơ chế dẫn bắn, thiết bị hãm, trang thiết bị điện tử, trang bị khí nén và thiết bị khung nâng với sự hỗ trợ của các nửa trục cấu tạo từ bệ, nắp và đầu đệm giảm xung.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 06:54:41 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/133526.jpg)

Đốc pháo được sử dụng để liên kết các bộ phận quay với khung lắp, đồng thời, đốc pháo còn là ổ trục đỡ cho toàn bộ bộ phận quay của xe chiến đấu và cấu tạo từ các vành trên, dưới và trong, lớp đệm, vòng cách, các khối hình cầu và hai vành.

Cơ chế nâng được bố trí tại trung tâm bệ cơ sở, phục vụ việc dẫn bắn khối các ống dẫn hướng theo góc tầm cấu tạo từ bộ truyền động hành hình, các khớp nối an toàn, các chi tiết cố định trang thiết bị điện và khớp nối cơ chế nâng. Khả năng dẫn bắn chính từ thiết bị điện

Cơ chế quay được bố trí bên trái bệ cơ sở, phục vụ dẫn bắn theo góc hướng và cấu tạo từ bộ truyền động hành tinh, khớp nối an toàn, các chi tiết cố định thiết bị điện và các khớp nối cơ chế quay. Khả năng dẫn bắn cơ sở: từ thiết bị điện. Các cơ chế dẫn bắn cho phép dẫn bắn khối các ống dẫn hướng theo góc tầm từ 0 đến 55 độ. Góc hướng: 172 độ (102 độ bên trái và 70 độ bên phải tính theo trục dọc của xe chiến đấu).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:06:34 pm
Máy truyền động bằng tay nằm bên trái xe chiến đấu phục vụ dẫn bắn khối các ống dẫn hướng theo góc hướng và góc tầm trong trường hợp thiết bị điện bị hỏng (loại khỏi vòng chiến đấu). Bánh lái của bộ phận truyền động bằng tay là thiết bị truyền động duy nhất cho việc dẫn bắn theo góc tầm và hướng, được cấu tạo từ bánh lái, cơ chế khóa, các bánh xích, dây xích, thân, trục, trục dạng ống, bánh răng hình nón, ống, trục bánh răng, hai khớp nối hình cầu, các ống lót và trục quay.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-21_multiple_rocket_launcher_system_ural_truc.jpg)

Cơ cấu hãm (phanh) của bộ phận rung được sử dụng cho việc hãm bộ phận rung của xe chiến đấu trong khi hành quân và để hạn chế các góc nguy hiểm khi bắn qua cabin cấu tạo từ trụ chống, móc treo, tay đòn, vòng móc với các ròng rọc, bộ giảm chấn thủy lực, giảm sóc lò xo, các thùng khí nén và giá đỡ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:28:53 pm
Cơ cấu hãm của bộ phận quay được lắp bên phải bệ cơ sở, được cố định bằng các bu-lông và các khớp nối phục vụ cho việc hãm bộ phận quay của xe chiến đấu khi hành quân và cấu tạo từ thân, hai chốt hãm, hai lò xo, hai nắp, hai tay đòn, bốn ống lót bằng đồng, trục, các trục quay, các thanh xà ngang, hai giá đỡ và các thùng khí nén. Sự hãm của bộ phận quay chỉ xảy ra khi góc hướng bằng 0 độ, nhằm xác định vị trí các hốc trong đốc phái và tương ứng với 0 độ theo thước dẫn bắn thô.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1490.jpg)

Khung lắp sử dụng cho việc lắp bộ phận quay của xe chiến đấu và là bộ phận di chuyển giữa khung gầm xe vận tỉa và bộ phận quay bao gồm khung, xà ngang, hệ thống treo sau, các tấm bên phải và bên trái, các cánh phải và trái, nắp và giá đỡ.

Gầm khung phục vụ lắp bộ phận pháo của xe chiến đấu cấu tạo từ gầm xe tải Ural-375D, các xà dọc, giá đỡ của bánh dự trữ, khung trước, thùng các phụ tùng thiết bị số 1.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:47:50 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/GRAD-BM21_03.jpg)

Các thiết bị thước ngắm bố trí bên trái xe trên giá đỡ được sử dụng để dẫn bắn cho khối các ống dẫn hướng của xe chiến đấu tới mục tiêu và cấu tạo từ khí tài thước ngắm quan sát toàn cảnh D726-45 không có và thước ngắm toàn cảnh không có kính phóng đại pháo binh PG-1M. Chúng cho phép bắn trực xạ và bắn các mục tiêu bị che khuất sau vật cản. Để chiếu sáng vạch chia độ của thước ngắm và máy nhìn toàn cảnh khi bắn trong điều kiện tầm nhìn không tốt hoặc vào ban đêm, khi tài chiếu sáng “Luch-S71M” được sử dụng, ắc quy được lắp cố định trên chốt giá đỡ của thước ngắm.

Trang bị khí nén phục vụ việc truyền động cho các cơ chế hãm của bộ phận rung và quay, đồng thời đóng lò xo. Trang bị cấu tạo từ diềm chắn hai lớp bố trí trong cabin xe tải, các thùng khí nén và hệ thống các ống cao su.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 08:28:47 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/grad.jpg)

Máy truyền động điện được sử dụng cho việc dẫn bắn khối các ống dẫn hướng của xe chiến đấu trong góc tầm và góc hướng bao gồm trạm (đài) cung cấp năng lượng, thiết bị truyền động dẫn bắn theo góc tầm và góc hướng cùng tổ hợp các dây cáp điện. Hộp điều khiển, các bảng điều khiển là các khối chung của hai thiết bị truyền động. Các thiết bị truyền động dẫn bắn bao gồm:

+ thiết bị dẫn bắn góc hướng:

Máy tăng áp EMU-12PM

Động cơ MI-22M

Bộ phận dẫn bắn góc hướng

Khối tiếp xúc dẫn bắn góc hướng

+ thiết bị dẫn bắn góc tầm:

Máy tăng áp EMU-12PM

Động cơ MI-22M

Bộ phận dẫn bắn góc tầm

Khối tiếp xúc dẫn bắn góc tầm.

Trong trạm cung cấp năng lượng bao gồm hộp lựa chọn công suất, máy phát điện, rơ-le điều chỉnh R-5M, máy lọc F-5, các thiết bị đo đạc – kiểm tra (vôn kế M-4200 và tốc kế ITM), thiết bị phục hồi điện áp của máy phát điện.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 09:10:56 pm
Các trang thiết bị điện bổ sung được sử dụng để phát tín hiệu ánh sáng (trước và sau) chiếu sáng khung xe và các khí tài thước ngắm của xe chiến đấu. Nguồn điện được truyền đi từ ắc quy của xe. Trong thành phần nguồn gồm các khối trước và sau, các nút điều khiển phát tín hiệu ánh sáng, thiết bị chiếu sáng “Luch-S17M”, giá đỡ với tấm nối đầu dây và công tắc mở thiết bị “Luch” và  bật đèn pha, ổ điện thiết bị chiếu sáng “Luch” và tổ hợp dây điện. Thiết bị chiếu sáng “Luch-S71M” gồm bốn pin ắc quy, khí tài chiếu sáng thước ngắm và máy quan sát toàn cảnh, khí tài chiếu sáng chỗ làm việc của chỉ huy, thiết bị lắp đặt và thùng đựng các thiết bị.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Bm21.jpg)

Thiết bị vô tuyến bổ sung phục vụ việc thông tin liên lạc cấu tạo từ đài vô tuyến R-108M và máy tăng áp UM-3 với khối nguồn BM-150. Đài vô tuyến được lắp trong cabintreen giá đỡ, các ăng ten được lắp ở giá đỡ bên phải cabin.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 06:35:45 pm
Xe tải với tổ hợp giá đỡ 9F37

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM_21.jpg)

Xe vận tải được giới thiệu là xe hơi, trên khung lắp tổ hợp giá đỡ 9F37 và được sử dụng cho việc vận tải đạn, nhằm tiếp tế cho xe chiến đấu BM-21 và khi cần thiết bảo giữ đạn trên các giá đỡ lắp trên xe. Đạn được lắp trên các giá đỡ lắp cố định trên khung xa. Trên mỗi giá đỡ xếp chồng theo dạng hình thang từ 1 đến 20 viên đạn. Khối lượng của tổ hợp khi không có đạn: 320kg. Tổ hợp giá đỡ 9F37 gồm có hai giá đỡ bên trái và phải, bệ đỡ, túi dành cho các tài liệu, các bao trên giá đỡ và chi tiết liên kết cố định. Trên khung gầm xe hơi. Trên khung xe vận tải, các giá đỡ được lắp ở trung tâm, nối tiếp nhau, các rào chắn hai bên tháo lắp được. Giá đỡ được giới thiệu là cấu trúc hàn bằng nhôm, ở giữa có hai tấm ván với tấm ốp cao su trên đó để hàng đạn đầu tiên. Đối diện với bệ nối của các tấm ván trên các giá đỡ có hai kích làm nhiệm vụ siết chặt các dây xích sau khi xếp đạn lên. Khi xêp, mỗi viên đạn được dựa vào nắp tiếp xúc tới các góc nhỏ được gắn liền với các tấm đệm ốp lò xo. Khi đó, đường rãnh (khe hở) giữa các hàng rào tháp lắp được mang tới cho mỗi giá đỡ khả năng bảo vệ đầu đạn khỏi sự va chạm khi vận chuyển và khoảng cách với ngòi nổ không ít hơn 20mm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:18 pm
Đạn phản lực nổ - nổ mảnh M-210F (9M222U)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/rocket2.jpg)

Đạn M210F được tiếp nhận trong cơ số đạn BM-21 và được sử dụng cho nhiệm vụ chế áp sinh lực cùng trang bị kỹ thuật của đối phương. Đạn gồm có đầu đạn, bộ phận phản lực và ngòi nổ MRV-U và MRV.

Đầu đạn được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực và phương tiện kỹ thuật của quân địch và cấu tạo từ phân thân có hai ống lót từ tấm răng cưa kim loại ép vào trong cùng liều nổ với thuốc mồi. Trong bộ phận hình cung nhọn của thân đạn có rãnh hình trụ, lắp các vành hãm với lò xo (lớn hoặc nhỏ). Vành hãm nhỏ được tiếp nhận để tăng cường mật độ tập trung khi bắn từ 12 đến 19,5km, vành lớn: trong tầm xa dưới 12km.

Bộ phận tên lửa được sử dụng cho việc nối với đạn tới động cơ và đưa đầu đạn tới mục tiêu. Bộ phận tên lửa bao gồm thuốc đạn và thân của bộ phận tên lửa. Thuốc đạn nằm trong động cơ tên lửa và được giới thiệu là hai ống thuốc nổ hình trụ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:16:58 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/20710.jpg)

Các ngòi nổ chính MRV-U và MRV hoạt động theo dạng ngòi nổ tiếp xúc với sự tăng tầm sau khi rút ngắn sự hoạt động của bộ phận tên lửa trong ngòi nổ MPV-U và trên tầm xa 150 – 450 mét tính từ xe chiến đấu của ngòi nổ MRV, được sử dụng cho việc tiếp nhận xung động ban đầu cả bộ phận đầu đạn cho thuốc nổ khi gặp chướng ngại vật.

Các ngòi nổ có ba dạng:

+ hoạt động nổ tức thời – “O”

+ hoạt động nổ với sự giảm tốc chậm – “M”

+ hoạt động nổ với sự giảm tốc lớn – “B”

Khối lượng đầu đạn: 18,4kg, Chiều dài: 2870mm. Số lượng mảnh nổ: đầu đạn (khối lượng 2,4g) – 1640; thân đạn (khối lượng trung bình 2,9g) - 2280 Tầm xa: 20,1km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:21:18 pm
Đạn phản lực nổ - nổ mảnh 9M28F

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/133520.jpg)

Được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực, các khí tài kỹ thuật không bọc thép và các xe thiết giáp – vận tải của đối phương trong khu vực tập trung, các đại đội pháo binh và súng cối, trạm chỉ huy và các mục tiêu khác trên khu vực mở hoặc khuất sau vật cản.

Khối lượng: 56,5kg, khối lượng đầu đạn: 21kg. Chiều dài: 2270mm. Số lượng mảnh nổ: đầu đạn (khối lượng 5,5kg) – 1000; từ thân đạn: (khối lượng trung bình 3,0g) – 2440. Tầm bắn: 15km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:27:33 pm
Đạn phản lực 9M521 với đầu đạn nổ - nổ mảnh uy lực được tăng cường

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9m521.jpg)

Được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực, các khí tài kỹ thuật không bọc thép và các xe thiết giáp – vận tải của đối phương trong khu vực tập trung, các đại đội pháo binh và súng cối, trạm chỉ huy và các mục tiêu khác trên khu vực mở hoặc khuất sau vật cản.

Khối lượng: 66kg, khối lượngd đầu đạn: 21kg. Chiều dài: 2840mm. Tầm bắn: 40km. Khối lượng mảnh nổ: đầu đạn (khối lượng 5,5g) – 1000; thân đạn (khối lượng trung bình 3,0g) – 2240.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:31:39 pm
Đạn phản lực 9M522 với bộ phận chiến đấu (đầu đạn) nổ - nổ mảnh riêng

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9m522.jpg)

Được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực, các khí tài kỹ thuật không bọc thép và các xe thiết giáp – vận tải của đối phương trong khu vực tập trung, các đại đội pháo binh và súng cối, trạm chỉ huy và các mục tiêu khác trên khu vực mở hoặc khuất sau vật cản.

Khối lượng: 70kg, khối lượng đầu đạn: 25kg. Chiều dài: 3037mm. Tầm bắn: 37,5km. Khối lượng mảnh nổ: đầu đạn (khối lượng) 0,78g - 1800 và  (khối lượng) 5,5g – 690; thân đạn (khối lượng trung bình 7,5g) – 1210.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:36:45 pm
Đạn phản lực 9M217 với các phần tử tác chiến tự tìm mục tiêu

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9M217.jpg)

Được sử dụng nhằm tiêu diệt các phương tiện kỹ thuật thiết giáp (xe tăng, BMP, BTR, pháo tự hành).

Khối lượng: 70kg, khối lượng đầu đạn: 25kg. Chiều dài: 3037mm. Tầm bắn: 30km. Số lượng phận tử tác chiến tự tìm mục tiêu – 2. Khả năng xuyên giáp (giáp đồng nhất dưới góc 30 độ từ khoảng cách 100 mét) – 60 – 70mm


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:43:12 pm
Đạn phản lực 9M218 với các phần tử nổ mảnh – xuyên lõm

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/375px-122.jpg)

Sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt các phương tiện thiết giáp hạng nhẹ (BMP, BTR, pháo tự hành), sinh lực địch, máy bay và trực thăng trên bãi đỗ.

Khối lượng: 70kg, khối lượng đầu đạn: 25kg, Số lượng phần tử nổ mảnh – xuyên lõm: 45. Chiều dài: 3037mm. Tầm bắn: 30km. Độ xuyên giáp đồng nhất: 100 – 120mm


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:47:28 pm
Đạn phản lực rải mìn chống tăng 9M28K

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9m28k.jpg)

Được sử dụng để tạo thành các trận địa mìn từ xa trước mặt các phân đội chiến đấu của đối phương đang trên tuyến tấn công, cũng như trong khu vực tập trung. Có đầu đạn mẹ - con với mìn chống tăng PTM-3

Khối lương: 57,7kg, khối lượng đầu đạn: 22,8kg. Chiều dài: 3019mm. Số lượng mình: 3. Khối lượng mìn: 5kg. Khối lượng thuốc nổ: 1,85kg. Thời gian tự hủy: 16 – 24 giờ. Tầm bắn: 13,4km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:51:47 pm
Đạn phản lực rải mìn chống bộ binh 9M16

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9m16.jpg)

Được sử dụng để tạo thành các trận địa mìn từ xa. Có đầu đạn mẹ - con với mìn chống bộ binh POM-2.

Khối lượng: 56,4kg, khối lượng đầu đạn: 21,6kg. Chiều dài: 3019mm. Tầm bắn: 13,4km. Số lượng mìn: 5. Diện tích lan tỏa của mình sau một loạt bắn của xe: 250m2.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:58:32 pm
Đạn phản lực rải nhiễu vô tuyến 9M519

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9m519.jpg)

Được sử dụng để tạo ra các dải nhiễu vô tuyến nhằm mục đích hạn chế các hệ thống điều kiển của đối phương trong mắt xích chiến thuật bằng cách chế áp tuyến thông tin liên lạc vô tuyến, các trạm điều khiển của quân đội và pháo binh, các trạm phân tích thông tin mặt đất.

Tổ hợp 9M519 gồm 8 đạn giống nhau về khối lượng kích thước và tính năng khí động học chế áp các khí tài vô tuyến, hoạt động trong phạm vi tần số từ 1,5 đến 120MHz.

Khối lượng: 66kg, khối lượng đầu đạn: 18,4kg. Chiều dài: 3025mm, Tầm bắn: 18,5km. Các tính năng kỹ thuật của bộ cảm biến nhiễu R-032: dạng và kiểu nhiễu: ngăn chặn, tiếng ồn; thời gian hoạt động liên tục: 60 phút, bán kích hoạt động: 700 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Hai, 2010, 08:03:48 pm
Đạn phản lực hóa học – nổ mảnh 9M23

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/133522.jpg)

Được nạp 3,11kg chất hóa học R-35 hoặc 2,83 chất hóa học R-33. Ngoài ra, trong đầu đạn còn có 1,8kg thuốc nổ khi nạp chất “R-35” hoặc 1,39kg khi nạp chất “R-33”.

Đạn 9M23 được trang bị ngòi nổ cơ học MRV (9E210) và ngòi nổ định vị (9E310) có thể kích nổ trên độ cao 1,6 đến 30 so với mặt đất. Vụ nổ trên không làm tăng cường một cách đáng kể khu vực hoạt động hiệu quả của các mảnh nổ và chất độc. Đạn 9M23 mang lại 760 mảnh nổ với khối lượng trung bình 14,7g. Tầm bắn với ngòi nổ định vị: 18,8km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 03:08:55 pm
Thông tin lịch sử

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm21_01.jpg)

Lịch sử pháo phản lực bắn loạt thế hệ thứ hai của Liên Xô được bắt đầu từ giữa những năm 1950, khi mà yêu cầu tổ chức thành lập các hệ thống tiểu đoàn pháo bắn loạt với tầm xa trên 20km, được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực, các đơn vị kỹ thuật không bọc thép của kẻ thù trong chiều sâu trận địa phòng ngự chiến thuật gần nhất.

Hệ thống pháo tên lửa bắn loạt “Grad” được thiết kế nhằm thay thế các hệ thống BM-14 với đạn phản lực M-14 thuộc thế hệ đầu tiên sau chiến tranh. Đầu tiên, năm 1957, các công việc nghiên cứu hệ thống pháo phản lực chiến trường thế hệ mới được Cục Pháo – Tên lửa giao cho Phòng thiết kế Sverdlov số 203 (Tổng công trình sư A.I.Yaskin). Hệ thống pháo phản lực được thiết kế dưới sự tiếp nhận thiết kế không thành công trong các công việc phát triển đạn phản lực phòng không không điều khiển kiểu “Strizh” (“Voron”). Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, trên xe chiến đấu dự định bố trí 30 rãnh dẫn hướng cho hệ thống tên lửa. Nhiệm vụ này không thực hiện được do các đặc điểm thiết kế của tê lửa và sự hạn chế theo các kích thước trên các xe chiến đấu bố trí tổng cộng 12 – 16 rãnh dẫn hướng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 03:09:39 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-21-grad-2.jpg)

Trong Phòng thiết kế số 203 đã xác định rằng để đáp ứng các tính năng kỹ chiến thuật, cần thiết phải hoàn thiện lại các tên lửa (trong các chi tiết nhằm giảm kích thước đạn và tăng số lượng rãnh dẫn hướng, làm cánh đuôi ổn định gấp – mở được). Đây là công việc được giao cho công trình sư V.V.Vatolin - người đã chứng tỏ tài năng không tồi khi thiết kế BM-14-17. Đáng chú ý là các cánh đuôi ổn định không chỉ thiết kế gấp – mở một cách đơn giản mà được uốn cong theo mặt phẳng hình trụ với đường kính đạn 122mm. Trong trường hợp này, các rãnh dẫn hướng có thể thiết kế bằng các ống như BM-14-17.

Bản vẽ phác họa của xe chiến đấu với phiên bản tên lửa mới đã được trình bày, trong đó có trường hợp có thể đáp ứng các nhiệm vũ kỹ chiến thuật và bố trí 30 ống dẫn hướng. Để tiếp tục các công việc tiếp theo về hệ thống tên lửa, cần tìm các nhà thiết kế tên lửa. Phòng thiết kế số 203 đã tìm kiếm người thực hiện công việc này. Xưởng pháo binh Chelyabinsk số 66 và xưởng Sverdlov số 8 mang tên M.I.Kalinhin đã từ chối tiếp nhận công việc. Công việc thiết kế đạn đã thu hút được sự tham gia của Viện Nghiên cứu khoa học số 147 – cho đến thời điểm đó chưa có kinh nghiệm trong việc thiết kế này. Và vào năm 1958, tại Viện Nghiên cứu khoa học số 147, dưới sự chỉ đạo của A.N. Ganichev đã bắt đầu khởi xướng các công việc thiết kế đạn phản lực. Công việc nhanh chóng đã nhận được sự ủng hộ của Ủy ban quốc gia về kỹ thuật quốc phòng (lệnh của Ủy ban quốc gia về kỹ thuật quốc phòng từ ngày 24 tháng 2 năm 1959).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 03:56:03 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm-21-grad-1.jpg)

Thực tế các công việc thiết kế đạn phản lực là cuộc thi đua về cơ bản giữa Viện Nghiên cứu khoa học số 147 và Viện Nghiên cứu khoa học số 1. Viện Nghiên cứu khoa học số 1 đã trình bày bản đồ án hoàn thiện đạn phòng không phản lực kiểu “Ctrizh”. Theo các kết quả quan sát theo hai bản đồ án, Cục Pháo – tên lửa đã đánh giá đạn của Viện Nghiên cứu số 147 cao hơn. Một trong những điểm nổi trội hơn là công nghệ chế tạo thân đạn phản lực. Viện Nghiên cứu số 1 đã trình bày sự chế tạo đạn bằng phương pháp tiện từ ống có thành dày. Còn Viện Nghiên cứu số 147 đã tiếp nhận công nghệ chế tạo vỏ đạn phản, sự chế tạo đạn phản lực của Viện được thực hiện bằng phương pháp vuốt nóng.

Viện Nghiên cứu khoa học số 147 đã thiết kế đạn với hệ thống ổn định hỗn hợp. Đạn được giữ cân bằng bởi cánh đuôi và bằng cách quay. Mặc dù sự quay có tốc độ không lớn – 10 vòng/phút, và không tạo được hiệu quả đạt yêu cầu. Điều này được bù đắp bằng độ nghiêng của lực kéo trong động cơ, loại trừ được nguyên nhân tản mát quan trọng nhất của đạn.

Trong quá trình thiết kế bản vẽ phác thảo và thiết bị phóng, các nhà thiết kế đã thảo luận một vài phiên bản thiết kế của phần tử ổn định một cách tương ứng với thiết kế của ống phóng dẫn hướng. Việc này nghĩa là phải gắn cố định một cách thường xuyên cánh đuôi trên thân đạn và khung dẫn hướng hoặc cánh đuôi dẫn hướng được mở ra sau khi đạn ra khỏi ống dẫn hướng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 04:34:42 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm_21_1_grad_01.jpg)

Theo các tính toán, khi sự dẫn hướng khí động học của sự ổn định trong đường bay được mở ra sẽ tồi hơn bởi sự xuất hiện các rãnh cố định trong bản lề của chúng. Điều này mang tới sự rung, lắc trong bộ phận ổn định trong khi bay và giảm độ tin cậy chung của đạn phản lực. Các cánh ổn định được cố định một cách cứng nhắc không có các nhược điểm tương tự, tuy nhiên, ống dẫn hướng cho chúng sẽ chiếm vị trí rất lớn (theo so sánh với các ống dẫn hướng cho đạn với các cánh ổn định gấp – mở) và việc bố trí chúng trên xe chiến đấu xe bị giảm đáng kể về số lượng. Vì thế, để kiểm tra thí nghiệm về sự ảnh hưởng của cấu trúc bộ phận ổn định tới sự chính xác của đạn tên lửa, cả hai mẫu đạn đã được chế tạo, còn trên gầm cơ sở của xe M-14 – hai phiên bản của ống dẫn hướng. Các kết quả bắn kiểm tra diễn ra trên trường bắn “Staratel” thuộc Hạ Tagil không xuất hiện những điểm nội trội đặc biệt của đạn với bộ phận ổn định được cố định cứng. Trong kết quả do sự vượt trội rõ ràng về bố cục trong đạn phản lực “Grad”, lần đầu tiên trong các hệ thống pháo phản lực bắn loạt của Liên Xô tiếp nhận loại đạn bốn cánh đuôi dạng uốn cong trong vị trí phức tạp (chúng được cố định bằng cách vành đặc biệt), tiếp xúc một cách khít với mặt phẳng hình trụ của thùng đôi và không làm ảnh hưởng tới kích thước của đạn. Cánh đuôi ổn định của đạn chỉ được mở ra sau khi đạn rời khỏi ống phóng dẫn hướng. Trong kết quả, A.N.Ganichev đã tiếp nhận thành công loại tên lửa rất thuận lợi và phù hợp với ống dẫn hướng với với yêu cầu hình xoắn ốc cho sự xoay ban đầu của tên lửa. Trong khi bay, sau khi bay ra từ ống dẫn hướng, sự ổn định của đạn được bảo đảm bởi sự hỗ trợ của các cánh ổn định và bằng sự quay của đạn theo trục dọc. Sơ tốc quay ban đầu nhận được trong kết quả của tương tác của trục dẫn động của đạn và khe dẫn hướng dạng trục hình chữ P được tăng cường trong khi bay với sự hỗ trợ của các cánh ổn định bố trí dưới góc 1 độ theo trục dọc của đạn. Hệ thống ổn định này đã chứng minh gần như tối ưu. Trong sự phối hợp với động cơ công suất lớn từ thuốc súng một khối thuốc mồi đã thành công trong nhiệm vụ bảo đảm đạt tầm bắn 20km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:47:50 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-21Ural-375D.jpg)

Bằng cách này, tập thể các công trình sư dưới sự lãnh đạo của A.N.Granichev đã thành công khi trong việc kéo dài cánh của đạn phản lực theo các kích thước ngang mà không ảnh hưởng tới giới hạn đường kính tên lửa, và thành công khi lắp đạn vào thiết kế dẫn hướng cho đạn phản lựcd dạng ống. Đồng thời, họ cũng thành công trong việc phối – kết hợp các ưu điểm cơ bản của hai loại đạn được tiếp nhận trong các hệ thống phản lực bắn loạt.

Các lần bắn thí nghiệm động cơ đạn phản lực được bắt đầu năm 1960, khi đó, trong khuôn khổ thí nghiệm cấp cơ sở đã trải qua 53 lần, cấp quốc gia: 81 lần.

Sự tổ chức nhanh chóng các tiểu đoàn dã chiến trang bị pháo phản lực nhận tên gọi “Grad”, được chính thức ban hành bởi Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng từ 30 tháng 5 năm 1960 số 578 – 236. Các yêu cầu kỹ - chiến thuật của Cục pháo- tên lửa cho hệ thống pháo phản lực bắn loạt dưới số 0010044 được phê chuẩn ngày 10 tháng 10 năm 1960. Nơi thiết kế hệ thống chính được xác định là Viện Nghiên cứu khoa học số 147. Tổng công trình sư của hệ thống “Grad” là A.N.Ganichev.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 08:04:30 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/grad-1.jpg)

Các nơi thiết kế chính theo đề tài “Grad” được giao cho các xí nghiệp: Viện Nghiên cứu khoa học số 147 – cơ quan chính về thiết kế tổng thế hệ thống pháo phản lực bắn loạt thiết kế công nghệ và trang bị cho việc chế tạp thân đạn phản lực, Viện Nghiên cứu khoa học số 6 – nơi thiết kế nhiên liệu thuốc đạn rắn và động cơ, công nghệ sản xuất, Phòng Thiết kế quốc gia số 47 – nơi thiết kế trang bị bộ phận chiến đấu (đầu đạn), Phòng Thiết kế số 203 – nơi thiết kế thiết bị phóng – xe chiến đấu BM-21.

Một trong những yếu tố chính của hệ thống pháo phản lực bắn loạt là thiết bị phóng – xe chiến đấu BM-21 (số hiệu của Cục Pháo – tên lửa: 2B5). Trong thiết kế, cơ sở của thiết bị BM-21 được sử dụng toàn bộ các công nghệ được sử dụng khi thiết kế thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không 9P12 “Kub”, - hình dạng và cấu trúc của hộp được hàn từ các tấm thép. Bên trong gầm xe bố trí các cơ cấu dẫn bắn. Trong thành phần gầm xe chiến đấu đã lựa chọn xe vận tải quân đội cơ động cao “Ural-375” -  được sản xuất quy mô lớn ở xưởng xe tải Miasskyi từ năm 1961. Xe vận tải “Ural-375” được đặt mua bởi Bộ Quốc phòng Liên Xô và để tăng sức cơ động, xe có ba trục, tất cả đều là trục dẫn động. Ban đầu, nóc xe là vải bạt không thấm nước. Để sản xuất cho xe chiến đấu của hệ thống pháo phản lực đã yêu cầu nóc xe bằng kim loại. Vì thế, Phòng thiết kế số 203 đã thông báo tới xưởng Miasskyi với yêu cầu về chế tạo xe hơi có cabin bằng kim loại hoàn toàn. Tiếp theo (trong các thí nghiệm xe) được tăng cường tuổi thọ của trục cân bằng và thực hiện các thay đổi khác về thiết kế và hoàn thiện. Kết quả là xuất hiện xe tải “Ural-375D”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 08:23:05 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/__.jpg)

Cuối năm 1961, đã có hai xe chiến đấu BM-21 thí nghiệm được chế tạo, khi đó chúng đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng. Tháng 12 năm 1961, Cục Pháo – tên lửa đã cho chế tạo 2 xe và 500 đạn phản lực. Các thí nghiệm trên trường bắn cấp quốc gia của “Grad” được bắt đầu từ mùng 1 tháng 3 năm 1962 trên trường bắn pháo binh Pzhevka ngoại ô Leningrad. Trong tháng 3 đến tháng 5, BM-21 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước và binh chủng. Hai xe chiến đấu BM-21 đã bắn 663 đạn phản lực và xe hoàn thành hành trình việt dã 10 000km. Xe thí nghiệm khi đó dưới chỉ số 2B5 đã trải qua 3380km, trục gầm xe đã bị gãy. Các thí nghiệm đã được khôi phục, gầm xe mới nhanh chóng được hoàn thiện. Trên các xe này đồng thời cũng bị gẫy, trong số đó xuất hiện cả sự gãy cầu trước và sau, sự gãy trục các – đăng cũng xảy ra. Sauk hi toàn hiện toàn bộ tổ hợp thí nghiệm theo Mệnh lệnh của Hội đồng Quốc phòng số 572-130 từ 28 tháng 3 năm 1963. “Grad” được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang. Trong cùng năm đó, hệ thống được sản xuất tại Kubinka theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng N.S.Khrutsev.

Theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ ngày 29 tháng 1 năm 1964 số 98-32, “Grad” được sản xuất hàng loạt. Sự sản xuất quy mô lớn BM-21 được bắn đầu năm 1964 tại xưởng xe máy Perm mang tên V.I.Lenin (xưởng số 172). Trong cuộc duyệt binh tháng 11 năm 1964, những loạt xe BM-21 đầu tiên đã diễu qua Quảng trường đỏ. Do các vấn đề trong xưởng Perm, chúng không được hoàn thiện – thiếu bộ truyền động điện của bộ phận pháo.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 08:35:18 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/133520.jpg)

Trong quá trình triển khai sản xuất đạn phản lực quy mô lớn, thuốc đạn cũng được đưa vào loạt sản xuất tự động. Sự hình thành cơ cấu liều phóng, vận chuyển, kiểm soát hình học, khối lượng, đóng mác được bảo đảm trong quá trình này. Sự đóng gói liều phóng vào hòm được thực hiện trong chế độ bán tự động.

Cuối những năm 60, trong quân đội có khoảng vài trăm xe chiến đấu. Chỉ trong năm 1970 – 646 xe chiến đấu, năm 1971 – 497 (124 xe xuất khẩu), trong nửa đầu năm 1972 – 255 (xuất khẩu: 60).

Sự sản xuất các biến thể của xe được tiến hành ở Trung Quốc, Ai Cập, Iraq, Iran, Rumani và Nam Phi. Hiện nay, BM-21 có mặt trong biên chế lực lượng vũ trang của hơn 50 quốc gia (Abkhazia, Azerbaijan, Algieri, Angola, Armenia, Afganistan, Belorusia, Bungaria, Bosnia – Hersgovina, Burundi, Việt Nam, Gruzia, Cộng hòa Dân chủ Công gô, Ai Cập, Zambia, Ấn Độ, Iraq, Iran, Yemen, Kazashtan, đảo Síp, Kuba, Macedonia, Mali, Moroco, Mozambic, Mông Cổ, Namibia, Nigeria, Nicaragoa, Pakistan, Peru, Ba Lan, Tanzania, Ukraina, Phần Lan, các nước Cộng hòa Trung phi, Sri Lanka, Ecuador, Etiofia). Đến thời điểm này trong lực lượng vũ trang Liên bang Nga có khoảng 5000 hệ thống BM-21 và khoảng 3000 – trong quân đội các nước khác.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 08:38:57 pm
Sự tiếp nhận chiến đấu

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/2297_1.jpg)

Quá trình tham gia chiến đấu của tỏ hợp BM-21 lần đầu tiên và tháng 3 năm 1969 trên quần đảo Damanskyi trong thời gian khủng hoảng giữa Liên Xô và Trung Quốc.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/133521.jpg)

Trong những năm 70 – 90, tổ hợp “Grad” được sử dụng trong hầu hết các cuộc xung đột khu vực trên thế giới. “Grad” đã được tiếp nhận trong mọi điều kiện khí hậu khác nhau – châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 03:37:10 pm
Thông số kỹ thuật

Tên gọi: thiết bị pháo phản lực bắn loạt BM-21

Năm sản xuất: 1964

Năm tiếp nhận vào lực lượng vũ trang: 1963

Xe chiến đấu BM-21

Gầm xe: Ural-375D

Khối lượng (kg)

+ không có đạn và kíp xe: 10 870

+ trong trạng thái chiến đấu: 13 700

Chiều dài trong trạng thái hành quân: 7350mm

Chiều rộng (mm)

+ trong trạng thái hành quân: 2400

+ trong trạng thái chiến đấu: 3010

Chiều cao (mm)

+ trong trạng thái chiến đấu: 3090

+ khi ở góc tầm cực đại: 4350

+ trong vị trí rung, lắc 0 độ: 2680

Độ (khoảng sáng) cách đất: 40mm

Số lượng ống dẫn hướng: 40

Góc tầm của khối ống dẫn hướng (độ)

+ cực tiểu: 0

+ cực đại: 55 độ

Góc hướng (độ) tính từ gầm xe

+ bên phải: 70 độ

+ bên trái: 102 độ

Góc bắn vòng quanh cabin: -34 đến 34 độ

Tốc độ dẫn bắn của thiết bị truyền động điện (độ/giây)

+ góc tầm: 7

+ góc hướng: 5

Tốc độ dẫn bắn bằng thiết bị quay tay, vòng quay tay/phút

+ góc tầm: 6

+ góc hướng: 4

Thời gian bắn một loạt đạn: 20 giây

Tầm bắn (mét)

+ gần nhất: 5000

+ xa nhất: 40 000

Tốc độ di chuyển lớn nhất trên đường rải đá cứng: 75km/h

Tầm hoạt động: 750km

Khả năng vượt hố sâu: 1,5 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 03:56:13 pm
Thông số kỹ thuật các loại đạn phản lực

Số hiệu    Phân loại     Chiều dài (mét)     Khối lượng (kg)       Khối lượng đầu đạn (kg)    Tầm bắn(km)

9M22      nổ-nổ mảnh       2870                         66                            18,4                             20,1

9M28F   nổ-nổ mảnh        2270                         56,5                          21                               15

9M28K   rải mìn               3019                         57,7                          22,8                             13,4

9M16     rải mìn             3019                         56,4                          21,6                              13,4
                  
9M519   rải nhiễu           3025                         66                             18,4                             18,5

9M43     đạn khói            2950                         66                             20,2                             20,2

9M217   đạn mẹ-con       3037                         70                              25                                30

9M218  đạn mẹ-con        3037                         70                              25                                30

9M521  nổ-nổ mảnh        2840                         66                              21                               40
 
9M522  nổ-nổ mảnh        3037                         70                              25                                37,5


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 04:22:08 pm
Các biến thể

9K54 BM-21V “Grad-V”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/gradv.jpg)

Hệ thống pháo phản lực bắn loạt cho lính dù trên gầm xe GAZ-66 với 12 ống dẫn hướng

Năm 1963, trên cơ sở quyết định chính thức của Cục pháo – tên lửa, công việc thiết kế hệ thống pháo phản lực chiến trường BM(M)-21V đã được bắt đầu. Hệ thống này được biết dưới tên gọi “Grad-V”. Xí nghiệp sản xuất chính là Viện Nghiên cứu khoa học số 147 (từ năm 1966 là Viện Nghiên cứu khoa học quốc gia Tula về lắp máy móc chính xác, hiện nay là Doanh nghiệp sản xuất tổng hợp Liên bang – Doanh nghiệp Nghiên cứu khoa học quốc gia “Splav” (“Hợp kim”) thành phố Tula). Công việc được tiến hành cùng với các chuyên gia của các doanh nghiệp liên quan.

Hệ thống BM(M)-21V được chế tạo cho quân chủng Đổ bộ đường không, tuy nhiên, có thể được tiếp nhận trong biên chế các phân đội pháo phản lực cơ động dã chiến. Hệ thống được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang Liên Xô năm 1967.

Để huấn luyện kíp xe chiến đấu cần các yêu cầu đặc biệt, nhằm đáp ứng các tính năng kỹ thuật của quân chủng Đổ bộ đường không – tăng cường độ tin cậy, gọn nhẹ và khối lượng thấp. Hệ thống BM-21V có thể được đổ bộ với sự hỗ trợ của hệ thống dù – phản lực đặc biết với các phương tiện vận tải đường không khác nhau.

Hệ thống này đã và có thể đang có trong biên chế Lục quân Iraq (không có thông tin sau chiến tranh), Các nước cộng hòa Belorusia, Nga (trong quân dù), Ukraina.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 04:35:17 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Grad-V.jpg)

Trong thành phần hệ thống BM(M)-21V gồm có:

+ xe chiến đấu BM-21V (9P125)

+ đạn phản lực không điều khiển M-21F

+ xe vận tải 9F37

Bộ phận pháo được lắp trên gầm xe tải được hoàn thiện (biến thể) của xe tải GAZ-66B. Trên bộ phận sau của xe chiến đấu bố trí hai kích nâng cơ khí, nhờ sự có mặt này, độ vững chắc của pháo khi bắn được tăng cường. Việc truyền động dẫn bắn theo các góc tầm và hướng – bằng tay.

Xe chiến đấu có thể bắn lần lượt phát một hoặc bắn theo dàn từ trận địa hỏa lực không cần chuẩn bị trước khi địa hình nghiêng 4 độ. Thời gian bắn một loạt: 6 giây. Khi tiếp nhận chiến đấu, BM-21 và 9F37V có thể được sử dụng cùng nhau hoặc tự động. Việc nạp đạn cho khối ống dẫn hướng của BM-21V được thực hiện bằng tay với xe vận tải 9F37V từ mặt đất. Việc tháo khối các ống dẫn hướng của xe chiến đấu BM-21V được thực hiện bằng tay cũng như trên xe 9F37V hoặc từ trên mặt đất. Các xe của hệ thống có thể được khai thác sử dụng trong thời gian ngày và đêm, trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào khi nhiệt độ từ -40 đến 50 độ và độ ẩm tương đối 90% (khi nhiệt độ thấp hơn 20 độ), tốc độ gió 20m/s.

Khi bắn có thể sử dụng các loại đạn của hệ thống phản lực bắn loạt “Grad” và “Grad-1”. Theo thống kê, với sự hỗ trợ của các xe chiến đấu của nước ngoài BM-70, RM-70/85 có thể phóng đạn từ thành phần hệ thống “Grad”, có thế nhận định rằng, các loại đạn phản lực được sử dụng cho xe chiến đấu của nước ngoài cũng có thể phóng trên các xe chiến đấu BM-21 của Liên Xô và BM-21V. Loại đạn cơ sở (phổ biến) là đạn nổ - nổ mảnh M-21F. Tầm bắn cực đại khi sử dụng loại đạn này: 20,4km. Đồng thời có thể sản xuất loại đạn thế hệ mới tăng tầm bay xa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 04:51:30 pm
Thông số kỹ thuật

Số lượng ống dẫn hướng: 12

Đường kính ống dẫn hướng: 122,4mm

Góc tầm trong phạm vi quanh cabin

+ trong phạm vi từ -30 độ đến 30 độ theo phương ngang: từ 15 đến 45 độ

+ trong phạm vị từ -30… 30 đến 70 độ theo phương ngang: từ 0 đến 54 độ

Góc hướng tính theo trục xe

+ bên phải: 70 độ

+ bên trái: 70 độ

Tốc độ dẫn bắn của khối các ống dẫn hướng

+ góc tầm: 2 độ/vòng quay bánh lái

+ góc hướng: 2 độ/vòng quay bánh lái

Các kích thước trong trạng thái hành quân

+ chiều dài: 5655mm

+ chiều rộng: 2400mm

+ chiều cao: 2440mm

Khối lượng xe chiến đấu

+ không nạp đạn: 5200kg

+ nạp đạn với kíp xe: 6000kg

Bộ phận chuyển động

+ gầm: 3300mm

+ khoảng sáng cách đất: 315mm

+ vết bánh xe: 1800mm

Tốc độ di chuyển tối đa với đầy đủ trang bị: 85km

Tầm hoạt động: 875km

Thời gian triển khai (chuyển từ trạng thái hành quân sang chiến đấu): 3,5 phút

Thời gian nạp đạn trong các điều kiện ngay (đêm) từ mặt đất hoặc xe vận tải 9F37: 5 phút

Thời gian bắn một loạt đạn: 6 giây

Góc trước: 41 độ

Kíp xe: 2 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: binhnhi2009 trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 05:05:49 pm
Thông số kỹ thuật

Tên gọi: thiết bị pháo phản lực bắn loạt BM-21

Năm sản xuất: 1964

Năm tiếp nhận vào lực lượng vũ trang: 1963



Sao lại tiếp nhận trước khi được sản xuất bác? Phải chăng là bên quân đội mới chỉ có trong tay mấy cái mô hình và bản thiết kế là đã tiếp nhận luôn?
Lỡ từ mô hình đến sản phẩm thật nó lại có gì bất thường chưa lường hết thì quân đội lãnh đủ hả bác?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 05:16:23 pm

Sao lại tiếp nhận trước khi được sản xuất bác? Phải chăng là bên quân đội mới chỉ có trong tay mấy cái mô hình và bản thiết kế là đã tiếp nhận luôn?
Lỡ từ mô hình đến sản phẩm thật nó lại có gì bất thường chưa lường hết thì quân đội lãnh đủ hả bác?

Em dịch từ nguyên văn bác ạ:

"Год выпуска: 1964
Год принятия на вооружение: 1963"

Trong bài viết của em cũng có ở trên mà bác: "Sau khi toàn hiện toàn bộ tổ hợp thí nghiệm theo Mệnh lệnh của Hội đồng Quốc phòng số 572-130 từ 28 tháng 3 năm 1963. “Grad” được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang. Trong cùng năm đó, hệ thống được sản xuất tại Kubinka theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng N.S.Khrutsev.

Theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ ngày 29 tháng 1 năm 1964 số 98-32, “Grad” được sản xuất hàng loạt.
"

Tức là năm 1963 là năm Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Khrutsev ký quyết định tiếp nhận BM-21 "Grad" vào lực lượng vũ trang và năm 1964 là năm bắt đầu đưa BM-21 vào sản xuất hàng loạt. Trong thời gian từ sau khi ký quyết định cho tới khi chính thức đưa vào sản xuất quy mô lớn có một khoảng thời gian để hoàn thiện các thiếu sót về kỹ thuật rồi bác ạ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 05:18:13 pm
9К55 «Град-1»

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9p138_1.jpg)

Hệ thống pháo phản lực bắn loạt 9K55 “Grad-1” nằm trong mắt xích trung đoàn được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực và các khí tài kỹ thuật của quân địch trong các khu vực tập trung, các đại đội pháo binh và súng côi, các trạm chỉ huy các các mục tiêu khác một cách trực tiếp trên hướng chinh diện của mặt trận.

Hệ thống pháo phản lực 9K55 “Grad-1” được thiết kế trên cơ sở hệ thống pháo phản lực chiến trường BM(M)-21 trong mắt xích cấp tiểu đoàn được trang bị cho các phân đội pháo binh trong các trung đoàn bộ binh cơ giới và trung đoàn Lính thủy đánh bộ.

Nhà thiết kế chính của hệ thống – Viện Nghiên cứu khoa học lắp ráp thiết bị xe máy chính xác Tula (nay là Doanh nghiệp sản xuất tổng hợp Liên bang – Doanh nghiệp Nghiên cứu khoa học quốc gia “Splav”). Xe chiến đấu 9P138 của hệ thống “Grad-1” được chế tạo tại Phòng thiết kế quốc gia chế tạo máy nén khí Minaviaprom (Tổng công trình sư: A.I.Yaskin) trên gầm xe vận tải có khả năng cơ động cao Zil-131.

Hệ thống 9K55 “Grad-1” được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang Liên Xô năm 1976. Đồng thời, phiên bản xe chiến đấu trên gầm xích cũng đã được thiết kế.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/grad_ii_tracked.jpg)
Phiên bản "Grad-1" trên xe bánh xích

Hệ thống “Grad-1” có mặt trong biên chế quân đội Nga, Ukraina, Cộng hòa Belarus, Iraq (không có thông tin sau khi kết thúc chiến tranh).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 03:56:12 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9p138-2_1.jpg)

Trong thành phần hệ thống “Grad-1” gồm có:

+ xe chiến đấu 9P381

+ đạn phản lực không điều khiển 9M28F và các loại đạn phản lực không điều khiển 122mm khác

+ xe tải 9T450

+ tổ hợp các trang bị chuyên dụng 9F380

+ các khí tài học tập – huấn luyện

Xe chiến đấu (BM) 9P138 lặp lại các cấu trúc và bố cục cơ sở của xe chiến đấu trong hệ thống phản lực dã chiến BM (M)-21. Bộ phận pháo lắp phía sau gầm xe tự hành và được giới thiệu là khối các ống dẫn hướng trên bệ đỡ. Sự khác biệt với BM-21 là khối gồm 36 ống dẫn hướng, được bố trí thành 4 hàng (2 hàng trên: 10 ống; hai hàng dưới: 8 ống). Trong thành phần bộ phận pháo đồng thời có khí tài thước ngắm, các cơ chế dẫn bắn và các trang thiết bị thủy lực và kỹ thuật điện tương ứng. Để bảo đảm độ vững chắc khi bắn, bộ phận đằng sau các bánh gầm lắp bản lề với các kích. So với BM-21, khối các ống dẫn hướng của “Grad-1” được bố trí thấp hơn so với mặt đất, làm cho quá trình nạp của xe chiến đấu thuận lợi hơn đáng kể.

Hệ thống điều khiển hỏa lực cho phép bắn lần lượt hoặc bắn loạt. Để đốt cháy thuốc súng của đạn tên lửa cần các pin ắc quy, được sử dụng trong vai trò nguồn điện và máy cảm biến xung động. Dòng điện bằng sự hoạt động của máy cảm biến xung động có thể điều khiển từ cabin hoặc từ xa nhờ sự hỗ trợ của dây dẫn trên cự ly 60 mét tính từ xe chiến đấu. Khả năng bắn của xe có thể tiến hành trong phạm vi nhiệt độ môi trường từ -40 đến 50 độ.

Xe chiến đấu 9P138 được bố trí trên gầm xe ba trục khả năng cơ động cao Zil-131. Xe được trang bị động cơ bộ chế hòa khí 8 xilanh hình chữ V công suất 150 sức ngựa khi 3200 vòng/phút. Bộ ly hợp ma sát – khô, một đĩa, hộp truyền động năm số với bộ đồng bộ để bật các bộ truyền động số 2, 3, 4 và 5. Bộ phận chuyển động được thiết kế theo công thức bánh hơi 6x6. Các bánh trước của cầu dẫn động đóng vai trò điều khiển. Hệ thống treo của cầu – phụ thuộc vào các lò xo hình bán elip dọc, với các bộ giảm sóc thủy lực dạng ống lồng hoạt động hai mặt. Hệ thống treo của các cầu giữa và cầu sau – xà cân bằng trên các lò xo dọc dạng bán elip. Gầm xe có hẹ thống điều áp trung tâm trong các lốp xe. Khi hoạt động trên đường nhựa, xe chiến đấu BM 9P138 có tốc độ 80km/h. Sự cơ động trên đường địa hình xấu đủ cao, xe có thể vượt hố sâu 1,4 mét không cần chuẩn bị.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 04:16:53 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9P138.jpg)

Xe chiến đấu có thể được vận chuyển theo đường không trong bụng các máy bay vận tải quân sự đường không. Trong thành phần trang thiết bị hỗ trợ có đài vô tuyến song siêu âm và các thiết bị chữa cháy.

Hệ thống “Grad-1” có thể bắn các loại đạn được thiết kế cho hệ thống phản lực bắn loạt 9K51 “Grad”:

+ 9M28F với đầu đạn nổ - nổ mảnh (phổ biến nhất)

+ M-21F với đầu đạn nổ - nổ mảnh

+ 9M22S (MZ-21) với đầu đạn cháy

+ 9M28K với đầu đạn mẹ - con trong đó nạp các loại mìn chống tăng

+ 9M519-1…7: tổ hợp các loại đạn mẹ con với đầu đạn nạp các bộ cảm biến nhiễu hoạt động trong phạm vi đài thong tin liên lạc vô tuyến bước sóng ngắn và sóng siêu âm

+ 9M43 với đầu đạn tạo khói

+ 9M251 với đầu đạn nổ - nổ mảnh

+ 9M522 với đầu đạn nổ - nổ mảnh riêng

+ 9M217 với đầu đạn mẹ - con bên trong nạp các phần tử đạn tự tìm mục tiêu

+ 9M218 với đầu đạn mẹ - con nạp các phần tử đạn nổ mảnh – xuyên lõm.

Ngoài ra có thể bắn các loại đạn 9M28S, 9M28D, 3M16.

Hệ thống "Grad-1" được quân đội Liên Xô sử dụng trong cuộc chiến tại Afganistan.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 04:24:18 pm
Thông số kỹ thuật

Cỡ nòng: 122mm

Số lượng ống dẫn hướng: 36

Kíp xe: 3 người

Các kích thước trong trạng thái hành quân (mm)

+ chiều dài: 6900

+ chiều rộng: 2500

+ chiều cao: 2480

Góc tầm (độ)

+ cực tiểu: 0

+ cực đại: 55

Góc hướng (độ) tính từ trục xe

+ bên phải: 75

+ bên trái: 106

Tốc độ dẫn bắn bằng thiết bị truyền động điện (độ/s)

+ theo góc tầm: 2,6

+ góc hướng: 8,5

Thời gian bắn một loạt đạn: 18 giây

Thời gian nạp đạn: 7 phút

Tầm hoạt động: 525km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 05:55:01 pm
9K59 “Prima”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/post-1330-1137919568.jpg)

Hệ thống pháo phản lực bắn loạt đa chức năng tăng cường uy lực. Số lượng ống dẫn hướng: 50.

Hệ thống phản lực bắn loạt 9K59 “Prima” trong mắt xích tiểu đoàn được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực, khí tài kỹ thuật trong các khu vực tập trung, các đại đội pháo binh, súng cối, các trạm chỉ huy cấp lữ đoàn, sư đoàn và quân đoàn, các kho đạn cơ động, vật liệu dầu mỡ - chất đốt trong khu vực hậu phương và các mục tiêu khác trên chiến trường mở hoặc khuất sau vật cản.

Nhà thiết kế chính của hệ thống là Doanh nghiệp Nghiên cứu khoa học “Splav” (thành phố Tula).

Hệ thống được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang quân đội Liên Xô năm 1988 (1989).

Nhờ các giải pháp mới của hệ thống 9K59 “Prima” cho phép giải quyết nhiệm vụ tác chiến với số lượng xe rút gọn từ 6 đến 19 lần (phụ thuộc vào tầm bắn) theo so sánh với hệ thống pháo phản lực chiến trường BM-21 và tạo ra diện tích hủy diệt rộng gấp 7 – 8 lần và trong khoảng thời gian ngắn hơn 4 – 5 lần về thời gian trên chiến trường trong cùng một tầm bắn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 06:09:28 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/prima_tzm.jpg)
xe vận tải - nạp đạn 2T232M

Trong thành phần hệ thống pháo phản lực bắn loạt 9K59 “Prima” gồm có:

+ xe chiến đấu 9A51

+ đạn phản lực không điều khiển 9F53 122mm và các loại đạn phản lực không điều khiển 122mm khác

+ xe vận tải – nạp đạn 2T232M

+ tổ hợp các khí tài tự động điều khiển hỏa lực “Kapusnhik-B” (số hiệu 1V126)

+ xe đo đạc địa hình 1T12-2M

+ tổ hợp đo đạc khí tượng RPMK-1 (số hiệu 1B44)

+ các khí tài học tập – huấn luyện

Bộ phận pháo của xe chiến đấu được lắp trên gầm xe tải cơ động cao được hoàn thiện “Ural-4320”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 06:16:08 pm
Đạn phản lực không điều khiển 9F53:

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/vid_tzm.jpg)

Bản vẽ cấu tạo đạn

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9m53f.jpg)

1. Ngòi nổ; 2. bộ phận đầu đạn riêng với các chất gây cháy; 3. Khoang dù; 4. bộ phận tên lửa với hai khối thuốc đạn nguyên liệu rắn; 5. chốt dẫn động; 6. khối thiết bị ổn định


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 06:34:41 pm
Các đặc điểm trong thiết kế:

+ khối lượng ống phóng tăng lên 50

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/prima_tubes.jpg)

+ hoàn thiện bộ phận đầu đạn riêng hoạt động nổ mảnh khi bắn được cân bằng trong khi bắn để bảo đảm hoạt sự tiếp xúc của đạn tới mục tiêu dưới góc chạm nổ gần 90 độ

+ có khả năng thay đổi tốc độ bắn nhằm tăng cường mật độ tập trung và độ chính xác

+ đầu đạn được trang bị các khối nổ mảnh hai phần biệt lập

+ trong bộ phận tên lửa của đạn tiếp nhận cơ cấu đốt cháy hai dây dẫn

+ sự điều khiển chỉ huy trong thời gian phân chia đầu đạn được thực hiện từ xa (từ cabin xe chiến đấu)

Hệ thống phản lực bắn loạt “Prima” có thể bắn toàn bộ các loại đạn  của hệ thống BM-21, đồng thời một số loại đạn mới có hiệu quả cao hơn.

Loại đạn phổ biến 9M53F có đầu đạn riêng biệt, trong đó lắp ngòi nổ chính dạng tiếp xúc điện cơ từ xa 9E260-1 dạng tiếp xúc từ xa. Trong giai đoạn sau của, quỹ đạo cả đầu đạn tiếp xúc với mặt đất thực tế theo dạng thẳng đứng. Bằng hình thức này, các yếu tố gây cháy bảo đảm phát tán theo vòng tròn, tăng độ dày đặc cho diện tích phá hoại. Hệ thống có thể bắn lần lượt hoặc theo dàn. Thời gian bắn một loạt đạn: 30 giây. Sự điều khiển bắn được thực hiện từ cabin hoặc bản điều khiển từ xa. Quá trình nạp đạn – cơ khí hóa, thời gian nạp đạn: 10 phút.

Xe chiến đấu được trang bị đài vô tuyến sóng siêu ngắn và các thiết bị chữa cháy.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:03:47 pm
Các thí nghiệm và khai thác sử dụng

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/20906.jpg)

Năm 2006, lãnh đạo của nhà thiết kế hệ thống pháo phản lực bắn loạt ở Nga – Doanh nghiệp “Splav” (thành phố Tula) đã tới thăm một số các nhà kho tại nước Cộng hòa Kazastan và đã bị thuyết phục về sự xuất hiện một vài xe chiến đấu 9A51. Nhưng họ không có cơ hội để xác định tình trạng kỹ thuật của chúng.

Theo thông tin được đưa vào tháng 8 năm 2008, các công việc nâng cấp hệ thống đã được lên kế hoạch bởi phía Kazastan.

Năm 2009 đã diễn ra các cuộc bắn thử với sự hỗ trợ của xe chiến đấu 9A51 trong thời gian cuộc tập trận “Hiệp đồng – 2009” tại trường bắn Matybulak (tỉnh Zhambyl thuộc Cộng hòa Kazastan).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:10:23 pm
Thông số kỹ thuật

Xe chiến đấu 9A51

Dạng gầm xe: Ural-4320 với công thức bánh xe 6x6 được hoàn thiện

Số lượng ống dẫn hướng: 50

Các kích thước trong trạng thái hành quân (mm)

+ chiều dài: 7349

+ chiều rộng: 2430

+ chiều cao: 2680

Khối lượng xe chiến đấu khi nạp đạn: 13 845kg

Thời gian bắn một loạt đạn: 30 giây

Góc tầm cực đại: 55 độ

Góc hướng (độ) tính từ trục xe

+ bên phải: 60

+ bên trái: 60

Thời gian nạp đạn: 10 phút

Công suất động cơ: 180 sức ngựa

Tốc độ di chuyển tối đa (trên đường nhựa): 85km/h

Tầm hoạt động: 1040km

Khoảng sáng cách đất: 400mm

Kíp xe: 3 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:14:02 pm
Đạn phản lực không điều khiển 9M 53F

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/2009_training9a51.jpg)

Đường kính đạn: 122mm

Chiều dài: 3037mm

Khối lượng: 70kg

Tầm bay xa (mét)

+ cực tiểu: 5000

+ cực đại: 20 400

Kiểu đầu đạn: nổ - nổ mảnh riêng biệt

Khối lượng đầu đạn: 25kg

Phạm vi nhiệt độ hệ thống hoạt động hiệu quả : -50 đến 50 độ

Xe tải – nạp đạn 9T232M

Kiểu khung gầm: Ural-4320 hoàn thiện

Số lượng đạn tối đa có thể vận chuyển: 72 quả.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 06:15:01 pm
DP-62 “Damba”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/damba.jpg)

Hệ thống DP-62 “Damba” được giới thiệu là hệ thống phóng (rải) bom (thủy lôi) tự hành phòng thủ bờ biển.

Tổ hợp DP-62 “Damba” được sử dụng nhằm tiêu diệt các lực lượng người nhái, biệt kích và khí tài của kẻ thù dạng tàu ngầm siêu nhỏ và tàu ngầm trong nhiệm vụ phòng thủ chống biệt kích tại cửa vào các khu đỗ tàu và căn cứ tàu chiến, đòng thời bảo vệ các khu vực lãnh hải quốc gia.

Nhà thiết kế chính của tổ hợp “Damba” – Viện Nghiên cứu khoa học lắp ráp xe máy chính xác Tula (nay là “Doanh nghiệp “Splav” (thành phố Tula)). Ngày 21 tháng 12 năm 1969, theo mệnh lệnh của Hội đồng Quốc phòng Liên Xô số 999-362 về việc bắt đầu thiết kế thí nghiệm về việc chế tạo tổ hợp phản lực tự hành chống biệt kích “Damba”. Khi thiết kế tổ hợp, kinh nghiệm chế tạo hệ thống pháo phản lực phóng loạt cho Lục quân “Grad” và “Grad-1”. Sự thiết kế tổ hợp “Damba” được hoàn thành năm 1980. Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô số 0257, tổ hợp “Damba” được tiếp nhận vào trang bị của Hải quân Liên Xô. Sự sản xuất xe vận tải trong thành phận tổ hợp được giao cho xí nghiệp “Motovilikhin zavod” (thành phố Perm).

Việc xuất khẩu tổ hợp “Damba” được quyết định bằng mệnh lệnh của Tổng thống Nga số 8S4 từ ngày 25 tháng 7 năm 1998. Tổ hợp “Damba” trong hình thức xuất khẩu mang tên “Tổ hợp phòng thủ bờ biển phóng (rải) bom (thủy lôi) phản lực tự hành “Damba” (số DP-62E)”. Trong phiên bản xuất khẩu, các thiết bị và tài liệu liên quan khác với các yếu tố mà tổ hợp sử dụng trong Hải quân Nga.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 06:40:59 pm
Trong tổ hợp rải mình phòng thủ bờ biển DP-62E  gồm có:

+ đạn phản lực không điều khiển PRS-60

+ xe chiến đấu BM-21PD

+ tổ hợp trang bị kỹ thuật 95TO

+ tổ hợp tài liệu khai thác sử dụng

Tổ hợp hoạt động trong sự kết hợp với đài thủy âm trong hệ thống phòng thủ bờ biển hoặc trong chế độ tự động. Tổ hợp có khả năng cơ động cao.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/prc-60.jpg)
Đạn phản lực không điều khiển PRS-60

Đạn phản lực không điều khiển PRS-60 được sử dụng nhằm tiêu diệt các lực lượng biệt kích người nhái và các các khí tài bằng đầu đạn nổ nổ trên độ sâu từ 3 đến 20 mét. Đầu đạn nổ được nạp 20kg thuốc nổ. Nhờ đầu mút hình đĩa của đầu đạn, đạn PRS-60 bảo đảm sự không nảy ra khỏi mục tiêu trong toàn bộ phạm vi tầm xa từ 300 đến 5km. Đạn PRS-60 được lắp trong tổ hợp với ngòi nổ 95V (nơi thiết kế Viện Nghiên cứu khoa học “Poisk” – thành phố St. Peterburg). Theo yêu cầu của khách hành, có đạn phản lực không điều khiển 122mm PRS-60UT với đầu đạn quán tính và mô hình ngòi nổ lớp dành cho việc huấn luyện.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 07:02:14 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm21pd.jpg)

Xe chiến đấu BM-21PD được sử dụng nhằm bảo đảm khả năng bắn đạn từ 40 ống dẫn hướng. Tổ hợp có thể bắn từng viên, bắn lần lượt hoặc phóng loạt. Xe chiến đấu BM-21PD được thiết kế trên gầm xe tải có khả năng cơ động cao Ural-375D (Ural-4320), được đồng nhất một cách tối đa với BM-21 của hệ thống pháo phản lực bắn loạt “Grad” và được tăng cường bộ chỉnh lưu với thiết bị lọc. Bằng cách này, thiết bị truyền động điện của BM-21PD có thể hoạt động như một trạm cung cấp năng lượng riêng cũng như với sự hỗ trợ của bộ chỉnh lưu từ mạng lưới điện công nghiệp với hiệu điện thế 380V và tần số dòng điện 50Hz. Sự điều khiển phóng có thể từ cabin xe chiến đấu hoặc từ hầm kín. Xe chiến đấu được trang bị một tổ hợp thiết bị phụ tùng riêng. Sự chuyển giao và thành phần nhóm các thiết bị phụ tùng được xác định bằng hợp đồng.

Xe vận tải (TM) với tổ hợp giá đỡ đồng nhất 9F37M (2 giá đỡ, 20 viên đạn/giá) được sử dụng cho nhiệm vụ vận tải đạn, cung cấp chúng cho xe chiến đấu và khi cần thiết dành cho việc bảo vệ đạn trên giá, đồng thời vận chuyển các thùng chứa với ngòi nổ. Gầm xe biến thể của Zil-131 được sử dụng làm cơ sở cho xe vận tải.

Tổ hợp trang bị kỹ thuật 95T) được sử dụng cho việc tiến hành  các công việc thao tác với đạn trong quá trình bảo quản chúng tại căn cứ hoặc trong kho. Tổ hợp các khí tài học tập và huấn luyện được sử dụng để huấn luyện và chuẩn bị cho kíp xe.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 07:08:01 pm
Thông số kỹ thuật

Đường kính đạn PRS-60: 122mm

Chiều dài: 2745mm

Khối lượng đạn: 75,3kg

Khối lượng thuốc nổ trong đầu đạn: 20kg

Tầm bắn (mét)

+ cực đại: 5000

+ cực tiểu: 300

Độ sâu hiệu quả: 3 – 200 mét

Xác xuất tiêu diệt tàu ngầm biệt kích khi bắn nửa giàn (20 viên): 0,99

Thời gian phóng một loạt đạn: 20 giây

Phạm vi nhiệt độ hoạt động hiệu quả: từ -40 đến 50 độ

Số lượng ống dẫn hướng: 40

Khối lượng xe chiến đấu nạp đạn đầy đủ với kíp xe: 14 620kg

Kíp xe: 3 người

Tốc độ di chuyển tối đa: 75km/h

Khả năng vượt dốc sâu: 1,5 mét

Khối lượng xe vận tải – nạp đạn: 9500kg

Số lượng đạn trên xe vận tải: 40

Số lượng ngòi nổ trên xe vận tải: 40.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 02:37:35 pm
9K510 “Illyuminatsia”

Hệ thống pháo phản lực bắn loạt sử dụng cho việc bắn đạn vạch sáng.

Hệ thống phản lực mang vác 9K510 (“Illyuminatsia”) được thiết kế bởi các chuyên gia thuộc Hiệp hội Nghiên cứu khoa học “Splav” (hiện nay là Doanh nghiệp Nghiên cứu khoa học “Splav”, thành phố Tula) và các xí nghiệp liên quan. Năm 1989, việc thiết kế kết thúc. Hệ thống được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang theo mệnh lệnh số 048 của Tư lệnh quân chủng Lục quân từ 29 tháng 12 năm 1989.

Hệ thống gồm có: đạn phản lực không điều khiển 9M42, thiết bị phóng 2P312, bảng điều khiển phóng 9P611.

Khi bắn từ thiết bị phóng phản lực mang vác 2P132, đạn phản lực không điều khiển 9M42 với đầu đạn vạch sáng được sử dụng nhằm bảo đảm ánh sáng cho các hoạt động chiến đấu khi hoạt động trong điều kiện ban đêm của các phân đội bảo vệ biên giới và các công trình quan trọng, trong các tình trạng khẩn cấp và hiện tượng thiên tai.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 03:09:13 pm
Thông số kỹ thuật

Thiết bị

Khối lượng: 35kg

Chiều dài ống dẫn hướng: 1400mm

Góc tầm

+ cực tiểu: 25 độ

+ cực đại: 40 độ

Góc hướng: - 8 đến 8 độ

Đạn phản lực không điều khiển 9M42

Đường kính đạn: 122mm

Chiều dài: 1760mm

Khối lượng: 27kg

Tầm bắn

+ gần nhất: 1000 mét

+ xa nhất: 5000 mét

Thời gian phát sáng trong không khí: 90 giây

Phạm vi diện tích chiếu sáng khi độ chiếu sáng 2lx (lux): 500 mét


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 03:40:40 pm
A-215 “Grad-M”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/a215.jpg)

Hệ thống phản lực bắn loạt 122mm A-215 “Grad-M” được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch và khí tai kỹ thuật trên bờ khi đổ bộ, yểm trợ hoạt động đổ bộ, đồng thời dành cho việc phòng thủ các tàu đổ bộ khỏi sự tấn công của tàu chiến địch trong khi hoạt động trên biển. Tốc độ bắn cao và tầm bắn xa bảo đảm hiệu quả hỗ trợ hỏa lực cho lực lượng lính thủy đánh bộ.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật khi thiết kế hệ thống pháo phản lực A-215 trên tàu trên cơ sở hệ thống pháo phản lực Lục quân 9K51 “Grad” được phê chuẩn bởi Bộ Tư lệnh Hải quân ngày 12 tháng 1 năm 1966. Mẫu thí nghiệm đầu tiên của thiết bị phóng được chuẩn bị vào giữa năm 1969 tại xưởng số 172. Trong quý 3 và 4 năm 1969, mẫu đã trải qua các thí nghiệm của xưởng ở Perm, còn sau đó được đưa đi thí nghiệm tại các trường bắn trên bộ. Trong quý 1 năm 1970, tiêu bản thứ hai đã được xưởng hoàn thành. Bộ phận nạp đạn và các bộ phận trên boong tàu khác của thiết bị được sản xuất tại xưởng “Barrikada”.

Các thí nghiệm trên tàu của tổ hợp A-215 diễn ra trên biển Baltic từ 20 đến 7 tháng 5 năm 1972 trên tàu đổ bộ cỡ lớn BDK-104 thuộc thiết kế số 1171 (tên trong xưởng số 300). Trong quá trình thí nghiệm đã bắn 300 viên đạn M-21OF khi sóng biển cấp 6. Khi đó, các vấn đề vướng mắc và hỏng hóc không xuất hiện sau khi loại bỏ hoạt động tiếp xúc không đáng tin cậy của đạn xuất hiện khi lắp vào ống dẫn hướng phóng của thiết bị.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:06:36 pm
Theo kết quả các cuộc thí nghiệm trên tàu, A-215 đã được xác nhận và tiếp nhận trong trang bị của tàu chiến lớp 1171 (tên trong xưởng số 295 – 301…) và tàu thiết kế số 1174 (một thiết bị phóng với 320 viên đạn). Sau đó Viện Nghiên cứu khoa học trung ương tự động và thủy lực học – MOP (kim loại – oxit và chất bán dẫn) và LOMO (Hiệp hội quang học cơ khí Leningrad) đã thiết kế sơ đồ ổn định gián tiếp tự động. Trên cơ sở đó, năm 1977, thiết bị quan sát đo xa mới DVU-2 đã được chế tạo. Hệ thống A-215 với DVU-2 được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang năm 1978.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1171.jpg)
Thiết kế số 1171

Hệ thống pháo phản lực nâng cấp A-215 “Grad-M” nằm trong trang bị của các tàu pháo cỡ nhỏ thuộc thiết kế 21630 dòng “Buyan”. Tàu đầu tiên của thiết kế 21630 được khởi công ngày 30 tháng 1 năm 2004 tại thành phố Saint Peterburg trên xưởng đóng tàu “Almaz” và nhận tên gọi “Astrakhal” (tên gọi của xưởng: số 701). Ngày 7 tháng  2005, tàu được hạ thủy và năm 2006, gia nhập biên chế. Đến năm 2010, trong xưởng đóng tàu của “Almaz” dự định đóng 7 tàu trong dòng này (theo thông tin khác – 15 tàu đến 2015).

Hai hệ thống A-215 với cơ số đạn chung 320 tên lửa được bố trí trên tàu đổ bộ cỡ lớn mới thuộc thiết kế 11711 (do Phòng thiết kế Neva thiết kế). Tàu đầu tiên trong dòng nhận tên gọi “Phó đô đốc Ivan Gren” được khởi công tại xưởng đóng tàu “Yantar” thuộc Pribaltic ở Kaliningrad tháng 12 năm 2004, thời gian đưa vào hoạt động: đầu năm 2009.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:24:00 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1174.jpg)
Thiết kế số 1174

Trong thành phần tổ hợp A-215 “Grad-M” có:

+ thiết bị phóng trên boong tàu MS-73 (MS73M) với thiết bị nạp đạn dưới bong tàu

+ khí tài quan sát do xa bằng tia laze DVU-2

+ hệ thống điều khiển bắn PS-73 “Groza”

+ đạn phản lực không điều khiển 122mm

Trong cơ số đạn, loại đạn cơ bản được sử dụng là đạn nổ - nổ mảnh 9M22U – bảo đảm tầm bắn của hệ thống: 20km. Cơ số đạn: 160 viên

Trong hệ thống pháo phản lực bắn loạt A-215 có thể tiếp nhận đồng thời các loại đạn phản lực mới:

+ A3-TS-48 với đầu đạn nhiệt áp

+ A3-DS-48 tăng cường uy lực.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:48:04 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/astrahan.jpg)
Thiết kế số 21360 (tàu pháo lớp Buyan - "Astrakhal")

Để dẫn bắn từ xa và ổn định trong các điều kiện lắc (tròng trành) trên biển, thiết bị phóng MS-73 được trang bị thiết bị dẫn động tự động hóa. Thiết bị nạp đạn dưới boong tàu dạng mặt trống bố trí 8 khối phóng, mỗi khối 20 tên lửa không điều khiển. Khi nạp đạn, các khối được truyền theo cặp tới ống dẫn hướng của thiết bị phóng theo đường thẳng đứng. Sau loạt phóng, khối đạn rỗng được đưa trả lại tới mặt trống và cặp tiếp sau được đẩy tới ống dẫn hướng. Thời gia nạp đạn cho thiết bị phóng không quá 50 giây, thời gian nạp đạn lại: 2 phút. Hoặc lực được bắn trong chế độ tự động theo các dữ liệu của hệ thống điều khiển bắn – theo dàn hoặc từng viên. Khoảng cách giữa mỗi viên đạn được phóng trong chế độ bắn loạt: 0,5 giây. Thiết bị phóng cho phép thực hiện sự nâng cấp sâu rộng trong việc tiếp nhận các loại đạn cho đến đạn phòng không tầm thấp. Có thể tạo thành sự liên kết hệ thống phóng trong tổ hợp pháo – tên lửa độc lập của các tàu vận tải.

Hệ thống khí tài điều khiển bắn PS-73 “Groza” được thiết kế cho tổ hợp. Hệ thống khí tài điều khiển bắn bảo đảm việc báo sự xuất hiện của đạn trong ống dẫn hướng; sự tiếp nhận tự động các tọa độ hiện tại của mục tiêu; phân tích tự động và liên tục các góc dẫn bắn đầy đủ cho thiết bị phóng; đưa ra lệnh phóng đạn.

Phiên bản bố trí thiết bị phóng không có thiết bị nạp đạn với cơ số đạn một lần băn, nạp đạn bằng tay cũng đã được thiết kế.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:59:06 pm
Thông số kỹ thuật

Đường kính đạn: 122mm

Số lượng ống dẫn hướng: 40

Tầm bắn xa nhất: 20 700 mét

Tầm bắn gần nhất: gần 2000 mét

Góc tầm: từ - 6 đến 93 độ

Góc hướng: từ -164 đến 164 độ

Tốc độ dẫn bắn góc tầm: 26,4 độ/s

Tốc độ dẫn bắn góc hướng: 29 độ/s

Khối lượng thiết bị với các thiết bị bảo vệ và bổ sung: 16 500kg

Khối lượng tổ hợp không có đạn và phụ tùng: 20 727kg

Khối lượng tổ hợp có đạn và phụ tùng: 31 000kg

Các kích thước của hầm chứa (mét)

+ chiều dài: 4,5

+ chiều rộng: 4

+ chiều cao: 3,8

Các kích thước của thiết bị phóng trong khi hành quân không có các khối nạp đạn (mét)

+ chiều rộng: 1710

+ chiều cao: 2100

Kíp chiến đấu: 2 người

Khoảng thời gian bắn giữa 2 viên đạn trong dàn: 0,5 giây

Thời gian nạp đạn từ lần phóng đầu tiên: 46 giây

Thời gian nạp đạn: 120 giây

Thời gian bắn toàn bộ cơ số đạn: 7,3 phút.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:44:38 pm
«Град-П»

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/gradp.jpg)

Năm 1965, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ra lệnh cho Bộ Công nghiệp Quốc phòng thiết kế phiên bản hệ thống phản lực hạng nhẹ mang vác trên cơ sở đạn M-21OF dành cho việc chuyển giao đặc biệt cho nước ngoài. Tháng 7 năm 1965, hệ thống (số hiệu “Grad-P”) đã được thiết kế bởi các xí nghiệp số 18 và 45, sau đó đã được đưa vào thí nghiệm. Các yêu cầu về tính năng kỹ chiến thuật khi thiết kế hệ thống “Grad-P” đã không được đưa ra.

+ Viện Nghiên cứu khoa học số 147 MOP (kim loại – oxit – chất bán dẫn) – chịu trách nhiệm thiết kế toàn bộ hệ thống

+ Phòng Nghiên cứu thiết kế trung ương MOP – hệ thống phóng 9P123 và các chi tiết lắp ghép của hệ thống

+ Viện Nghiên cứu khoa học số 6 MOP – nghiên cứu thuốc đạn và chất cháy chậm

+ Viện Nghiên cứu khoa học số 11 MOP – thiết kế ngòi nổ

Các thí nghiệm tổng hợp của hệ thống phản lực mang vác hạng nhẹ “Grad-P” được diễn ra trên trường bắn Rzhevka trong bộ phận 33491 từ 27 tháng 7 năm 1965 đến 19 tháng 8 năm 1965. Trong tháng 8 năm 1965, hội đồng của bộ phận 33491 đã tiến hành thí nghiệm hệ thống này với 172 lần bắn (văn bản của hội động số 3620, bản phúc trình của bộ phận 33491 số 3668). Các thí nghiệm tổng hợp đã trải qua với các kết quả kéo dài (văn bản hội động số N-006340, bản phúc trình của bộ phận 33491 số N-006341) và hệ thống đã được đưa vào trang bị cho các phân đội đặc biệt.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 07:08:38 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/122mm_single_barrel.jpg)

Các tài liệu kỹ thuật được hoàn thiện theo các kết quả thí nghiệm tổng hợp của xí nghiệp số 18 và 45 được chuyển tới xưởng số 575 (thành phố Kirov) để đưa vào sản xuất hàng loạt. Theo mệnh lệnh của Ủy ban Quốc phòng Liên Xô số 2470 từ 22 tháng 12 năm 1965 theo việc hoàn chỉnh nốt các số liệu kỹ thuật hệ thống “Grad-P” của các nhà thiết kế chính, 20 thiết bị phóng đã được sản xuất  trong tháng 12 năm 1965 tại xí nghiệp số 45 và 180 thiết bị - tháng 1 đến tháng 4 năm 1966 tại xưởng số 575.

Toàn bộ các thiết bị phóng trong tình trạng được lắp ghép hoàn chỉnh và 20 tiêu bản thí nghiệm trong tháng 3 và 4 năm 1966 đã được đưa vào khai thác sử dụng tại địa chỉ giao hàng “075”. Theo mệnh lệnh của Hội đồng Quốc phòng Liên Xô số 442-137 từ ngày 6 tháng 6 năm 1966, Bộ Công nghiệp Quốc phòng trong nửa sau năm 1966 phải sản xuất và chuyển giao cho người nhận số “075” qua Ủy ban Nhà nước về viễn thông 200 thiết bị phóng 9P132. Số lượng thiết bị phóng đã chỉ định được giao cho xưởng số 575 và chuyển cho người nhận vào tháng 9 – 10 năm 1966. Cũng theo Mệnh lệnh này, theo đơn đặt hàng của Ủy ban Nhà nước về viễn thông năm 1967, sản xuất 300 thiết bị phóng và chuyển giao tới cơ sở bộ phận 64176 (Cục pháo – tên lửa) để bảo quản tạm thời trong vai trò dự trữ cho khả năng chuyển giao theo loạt. Trong quý I năm 1967, 120 thiết bị phóng 9P132 đã được sản xuất trong xưởng số 575.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 07:26:56 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/romdautk21.jpg)
Phiên bản "Grad-P" của Rumani đầu thế kỷ 21

Ngoài quân du kích miền Nam Việt Nam, thiết bị còn được sử dụng rộng rãi bởi quân đội Cuba ở Châu Phi, đồng thời các chiến binh Palestin. Đặc biệt, thiết bị mang vác để phóng đạn 122mm cho đến hiện nay còn có mặt trong trang bị của quân đội Trung Quốc, Ai Cập, Iran, Pakistan và Rumani. Đầu thế kỷ XXI, các chuyên gia Rumani đã giới thiệu phiên thiết bị mang vác để bắn  đạn tên lửa không điều khiển M21-OF-S đường kính đạn 122mm. Thiết bị phóng 9P132 không có trong trang bị quân đội Liên Xô.

Đáng chú ý, tại Iran có một hoặc hai phiên bản thiết bị mang vác với hai ống dẫn hướng để bắn đạn phản lực 107mm.

Trong nhiều năm khai thác sử dụng, tổ hợp “Grad-P” đã chứng minh khả năng sử dụng đáng tin cậy và ít hư hỏng. Trong quá trình chiến tranh đã có những trường hợp thiết bị được tháo rời thành từng phần và mang tới khu vực trận địa hỏa lực hoặc được giấu bởi những người du kích trong các đồng lúa và trong thời điểm cần thiết, có thể đưa vào trạng thái chiến đấu và bắn mà không bị hỏng hóc cũng như trên trường bắn. Mặc dù vậy, hàng loạt chuyên gia quân sự đánh giá rằng thiết bị phản lực 107mm của Trung Quốc nhờ kích thước và khối lượng thấp, thuận lợi hơn khi vận chuyển và tiếp nhận hơn là hệ thống phản lực 122mm kiểu “Grad”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 08:32:44 pm
Thiết bị mang vác 9P132 – là ống dẫn hướng với rãnh dạng chữ P để tạo ra sơ tốc quay đầu nòng và kiếng ba chân chống với các cơ chế dẫn bắn và khí tài thước ngắm. Thiết kế của ống dẫn hướng tương tự với thiết kế của ống dẫn hướng trên xe chiến đấu BM-21 nhưng chiều dài 2500mm – ngắn hơn 0,5 mét.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9k132.jpg)

Ống dẫn hướng với sự hỗ trợ của khung nâng được lắp trên bệ đỡ ba chân chống với đường lửa cố định. Mỗi chân chống được thiết kế theo dạng gấp – mở được. Chân chống trước được trang bị càng nhằm tăng độ vững chắc khi bắn. Các cơ chế dẫn bắn cho phép dẫn bắn thiết bị theo góc tầm từ 10 đến 40 độ. Phạm vi góc hướng (không thay đổi vi trí của thiết bị): -7 đến 7 độ. Thiết bị phóng trong trạng thái chiến đấu: 55kg, nó có thể được tháo rời thành hai bộ phận: nòng pháo (25kg) và bệ (28kg). Thời gian chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu: 2,5 phút và ngược lại: 2 phút. Sự dẫn bắn của thiết bị được thực hiện nhờ sự hỗ trợ của thước ngắm PBO-2 và các loại la bàn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 09:02:32 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9m22m.jpg)
Đạn 9M22M

Đạn của hệ thống “Grad-P” là loại đạn phản lực không điều khiển 122mm 9M22M “Malysh” (“Đứa trẻ”, “Đứa bé”). Đạn gồm hai bộ phận kín có thể tháo rời: một thùng động cơ phản lực và bộ phận đầu đạn nổ - nổ mảnh với ngòi nổ. Để bảo đảm cho việc phóng đạn, bảng điều khiển từ xa được trang bị máy phát điện, kết nối với thiết bị phóng bằng dây cáp điện dài 20 mét. Xung động ngắn của dòng điện xuất hiện với sự hỗ trợ của bảng điều khiển bảo đảm sự đốt cháy thuốc mồi của viên đạn. Ngọn lửa đánh vào rãnh trung tâm khối thuốc mồi của động cơ phản lực và đốt cháy nó. Khi lực đẩy đạt đến độ lớn xác địn, nắp tiếp xúc của đạn vỡ và tạo thành sơ tốc với sự cung cấp độ quay ban đầu do kết quả hoạt động theo rãnh chữ P. Khi rời khỏi nòng, các cánh lái trong khối thiết bị ổn định của đạn được mở ra. Các cánh lái được lắp dưới hoạt động theo cơ cấu lò xo dưới góc không lớn theo trục dọc của viên đạn.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/rachet.jpg)
Kíp chiến đấu

Kíp chiến đấu: 5 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 09:16:33 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/china.jpg)
"Grad-P" trong trang bị quân đội Trung Quốc

Trong thời gian khai thác sử dụng loạt thiết bị phóng 9P132 đầu tiên được sản xuất năm 1965 đã xuất hiện hàng loạt nhược điểm. Theo kế hoạch của các xí nghiệp sản xuất, được sự đồng thuận của Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Quốc phòng và chỉ huy bộ phận 64176 nhằm khắc phục các nhược điểm đã thực hiện các công việc sau:

+ hoạt động bánh đà của cơ cấu nâng được thiết kế không quá 1/10 vòng

+ vẽ (vạch) lại đường ngang của diện tích sau dưới dạng góc phần tư, bảo đảm sự xác định vị trí của góc phần tư trên diện tích

+ kéo dài tay quay bánh đà của cơ cấu nâng

+ kéo dài móc lò xo trên các đai của bệ

+ giảm khối lượng của băng khóa cho đạn

+ thực hiện việc ủ nhiệt cho các chốt nhằm giảm sự gãy, vỡ của chúng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 09:34:59 pm

Trong cuộc họp ngày 29 tháng 8 năm 1967 với đại diện của Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam dân chủ cộng hòa, đại diện phía Việt Nam đã đề nghị hàng loạt các yêu cầu nhằm nâng cấp hệ thống phản lực “Grad-P”, trong đó:

+ tăng tầm bắn của “Grad-P” (trên 10km), không tăng khối lượng tổng thể của thiết bị

+ tìm kiểm khả năng rút ngắn chiều dài nòng, làm cho thiết bị nhẹ hơn

+ lắp trên một thiết bị phóng 3 – 4 nòng pháo có thể tháo lắp, để có thể bắn 3 – 4 viên đạn trong 5 phút, cho phép tránh khỏi sự phản pháo của đối phương (khi đó lắp và bắn đạn cần 10 – 15 phút)

+ xem xét khả năng sử dụng thiết bị “Grad-P” trong khả năng chống trực thăng khi đáp để thả lính đổ bộ, khi đó trực thăng ở độ cao 200 – 300 mét.

+ bảo đảm dây cáp điện và tăng cường độ tin cậy trong hoạt động của bảng điều khiển (khi đó có tình trạng hỏng bảng điều khiển không rõ nguyên nhân).

Theo mệnh lệnh số N722 từ ngày 8 tháng 4 năm 1969, của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và Mệnh lệnh số 70 từ 20 tháng 4 năm 1968 của Bộ Chế tạo xe máy, công việc nâng cấp đạn và thiết bị phóng “Grad-P” đã được tiến hành nhằm đáp ứng cho kế hoạch của Bộ Chế tạo xe máy và Bộ Quốc phòng. Với việc tính toán các yêu cầu từ phía Việt Nam, biểu đồ kế hoạch dự kiến hoàn thiện các vấn đề cơ bản sau:

+ tăng tầm bắn

+ tăng chiều dài nòng của thiết bị phóng

+ giảm độ cao của bệ đỡ

+ nghiên cứu khả năng chế tạo thiết bị phóng với hai nòng

+ chế tạo bọc kín cho đạn

+ xác định khả năng bắn đạn M-21OF từ thiết bị 9P132

+ đưa ra trường bắn thí nghiệm đạn với đầu đạn cháy (nạp hỗn hợp cháy) 9M22MS và một số loại đạn khác.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: mrquang trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 10:18:44 pm
Nếu daibangden không phiền có thể giới thiệu thêm hệ thống pháo phản lực của hezbolla lắp trên xe pickup không?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 10:38:36 pm
Nếu daibangden không phiền có thể giới thiệu thêm hệ thống pháo phản lực của hezbolla lắp trên xe pickup không?
Bạn tìm được ảnh về loại pháo phản lực này không? Loại vũ khí này được lắp lên xe tải hạng nhẹ nên không có tên, hơi khó tìm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: su22 m4 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 11:03:38 pm
Nếu daibangden không phiền có thể giới thiệu thêm hệ thống pháo phản lực của hezbolla lắp trên xe pickup không?
Bạn tìm được ảnh về loại pháo phản lực này không? Loại vũ khí này được lắp lên xe tải hạng nhẹ nên không có tên, hơi khó tìm.

Loại pháo phản lực được du kích Hezbolla lắp trên xe bán tải để cơ động bắn sang Israel chính là Pháo phản lực "Grad - P", mà có một số nguồn tin cho rằng Hezbolla có nó qua Iran.  


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: mrquang trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 01:30:53 pm
Thân gửi daibangden, em nó đây, ngày trước lấy ở militarypower hay sao mà quên mất rồi?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 04:18:10 pm
Thân gửi daibangden, em nó đây, ngày trước lấy ở militarypower hay sao mà quên mất rồi?
Là các ống dẫn hướng của BM-21 thôi. Còn một phiên bản của loại pháo phản lực xe kéo 107mm do Trung Quốc sản xuất nữa. Viết xong đoạn cuối của "Grad-P" mình sẽ viết sơ qua về loại pháo này.
Bạn mrquang lưu ý khi viết bài:
1. Viết hoa chữ cái đầu câu
2. Cuối mỗi câu phải có các dấu câu tương ứng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 04:52:26 pm
("Grad-P" - tiếp theo)

Công việc nâng cấp hệ thống “Grad-P” được thực hiện bởi các xí nghiệp sản xuất sau:

+ xí nghiệp G-4576 – tổ chức chính trong hệ thống, nhà thiết kế đạn và cung cấp các mẫu đạn

+ xí nghiệp Kh-5498 – nơi thiết kế thuốc đạn và hệ thống dây dẫn cháy

+ xí nghiệp G-4406 – thiết kế thiết bị phóng

+ xí nghiệp V-8916 – thiết bị ngòi nổ

Các thí nghiệm nâng cấp hệ thống “Grad-P” được thực hiện ở bộ phận 33491 tương ứng với chương trình số 04244 từ ngày 31 tháng 5 năm 1968. Tại xí nghiệp G-4575 trong giai đoạn từ tháng 7 – 9 năm 1968 đã bắn khối lượng 292 viên đạn. Trong số đó:

+ 228 viên đạn được nâng cấp (9M22MD)

+ 54 viên đạn của hệ thống “Grad-P (9M22M)

+ 10 viên đạn M-21OF.

Các thí nghiệp được tiến hành từ thiết bị phóng 9P132 và các thiết bị phóng thí nghiệm một hoặc hai nòng (giá đỡ thấp hơn 220mm, còn nòng ngắn hơn 500mm so với thiết bị 9P132). Việc lắp ráp và chuẩn bị đạn khi bắn diễn ra trong bộ phận 33491.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 05:31:02 pm
Trong kết quả thiết kế, đạn 9M22MD tăng tầm bắn đã được chế tạo và trải qua các cuộc thí nghiệm bắn kiếm trả. Sự khác biệt của đạn 9M22MD với đạn 9M22M ở các điểm sau:

+ thay cho thuốc súng RSI-12M nặng 9,52kg là thuốc súng nhãn hiệu VIK-2D khối lượng 11,9kg

+ đường kính lỗ vòi phun dk=35,5mm, da=17,5mm thay cho dk=13mm và da=23,5mm của đạn 9M22M

+ thay đổi cấu trúc đồ thị của đuôi đạn.

Các kết luận cơ bản của bộ phận 33491:

+ đạn tăng tầm khi bắn từ thiết bị phóng 9P132 và các thí nghiệm thiết bị phóng một và hai nòng đã diễn ra đạt yêu cầu: quỹ đạo của đạn đúng, sự phá hủy đạn trên quỹ đạo không xảy ra

Đạn tăng tầm khi bắn từ thiết bị phóng 9P132 bảo đảm các tính năng sau:

+ tầm bắn thí nghiệm 15km, xa hơn gần 4km hơn đạn 9M22M

+ tầm bắn và mật độ tập trung trên chiến trường khi bắn bằng đạn 9M22M ở tầm xa tối đa đã nhận được kết quả thực tế tương tự khi bắn từ thiết bị 9P132 và các thiết bị phóng thí nghiệm với một và hai nòng

+ thiết bị phóng thí nghiệm với một và hai nòng thuận lợi hơn thiết bị 9P132:

• nòng của các thết bị phóng thí nghiệm ngắn hơn 500mm và nhẹ hơn 2,8kg so với nòng thiết bị 9P132

• túi với giá đỡ của thiết bị phóng thí nghiệm ngắn hơn 100mm và khi di chuyển không tỳ vào chân người mang vác

• các thiết bị phóng thí nghiệm với một hoặc hai nòng và thiết bị 9P132 khi bắn đạn tăng tầm với góc tầm 20 – 25 độ không vững chắc (bị lật)

• để loại bỏ (khắc phục) sự lật thiết bị phóng khi bắn ra đằng trước, cần thiết lắp vật nặng khối lượng 50kg. Vật nặng có thể sử dụng hai túi từ bộ phận tên lửa của đạn để trên mặt đất

• do độ sai lệch lớn khi bắn, sau mỗi lần bắn cần thiết điều khiển lại sự dẫn bắn cho các thiết bị phóng

• tốc độ bắn của các thiết bị phóng thí nghiệm với hai nòng có tốc độ bắn cao hơn so với thiết bị một nòng. Tuy nhiên, trong thiết bị hai ống dẫn hướng bị hạn chế trong lựa chọn phạm vi góc bắn (bên phải bị chặn bởi nòng trên) và để vận chuyển nòng thứ hai cần tăng thêm người trong khẩu đội

• các túi chuyên dụng bảo đảm độ kín của đạn khi để trong không khí nhưng độ chắc chắn của các túi này không đảm bảo

• đạn 9M22MS nạp hợp chất dẫn lửa MSO và SKS đã chứng tỏ hỏa lực và độ cháy không bảo đảm khi bắn tại chỗ và theo các mục tiêu

• đạn 9M22M với đầu đạn 9M22S nạp các phần tử cháy đã chứng minh khả năng hoạt động theo nguyên tắc của đầu đạn 9M22S khi bắn từ hệ thống “Grad-P”.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 07:52:26 pm
Hệ thống phản lực bắn loạt Type 63 (Kiểu 63)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/H12_Type_63.jpg)
"Type 63" trong Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam

Sự thiết kế hệ thống phản lực phóng loạt 107mm do quân đội Trung Quốc sản xuất tại xưởng số 847. Năm 1963, hệ thống mới đã trải qua các thí nghiệm và được tiếp nhận vào trang bị quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (NOAK) dưới tên gọi “Kiểu 63). Đầu những năm 80, các trung đoàn bộ binh Trung Quốc trang bị phổ biến 6 hệ thống này trong biên chế tiểu đoàn pháo binh. Sau đó, chúng được thay thế bằng hệ thống 130mm mạnh hơn. Đến thời điểm này, một số lượng không lớn hệ thống phản lực phóng loạt “Type 63” với các biến thể khác nhau vẫn có mặt trong biên chế các đơn vị lính dù, sơn chiến và cơ động của Trung Quốc.

Ngoài phiên bản xe kéo là phiên bản cơ sở, các phiên bản khác cũng được thiết kế và sản xuất: phiên bản đơn giản hóa “Type-63-1”, pháo tự hành phản lực “Type-81” trên gầm xe vận tải hạng nhẹ (4x4) với thùng vận chuyển cơ số đạn 12 viên, thiết bị phóng một nòng “Type-85” trên bệ đỡ ba chân cho các phân đội đặc biệt, đồng thời có thể bố trí trên các tàu nhỏ và thuyền.

Hệ thống rẻ và hiệu quả cao này được xuất khẩu và chuyển giao sang Siry, Albani, Việt Nam, Campuchia, Zair, Pakistan, Afganistan cùng hàng loạt các nước khác. Giấy phép sản xuất “Type 63” được thực hiện ở Iran, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và Nam Phi (hãng “Mechem Developments”).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:10:05 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/81.jpg)
Phiên bản "Type - 81"

Hệ thống phản lực bắn loạt “Type 63” gồm có thiết bị phóng xe kéo và đạn phản lực không điều khiển 107mm.

Thiết bị phóng theo cấu tạo tương tự các loại pháo xe kéo thông thường và cấu tạo từ khối các ống dẫn hướng, các cơ cấu nâng và quay, khí tài thước ngắm, trang bị điện và khung nhẹ. Khối các ống dẫn hướng bao gồm 12 ống nòng trơn bố trí thành ba hàng với bốn ống dẫn hướng trên một hàng. Khối này được cố định trên khung trên của khung hệ thống, nơi lắp thước ngắm và các cơ cấu nâng, quay. Với sự hỗ trợ của các cơ cấu này, các ống dẫn hướng có thể bắn theo góc tầm trong phạm vi từ 0 đến 60 độ và góc hướng từ -15 đến 15 độ. Khung dưới có hai càng dạng ống có thể đóng – mở và hai trụ bản lề phía trước bảo đảm độ vừng chắc của thiết bị khi bắn.

Trục lò xo với bánh lốp xe cho phép kéo thiết bị với tốc độ di chuyển vừa phải. Khi cần thiết, thiết bị phóng có thể kéo đến trận địa bằng sức người (của khẩu đội – 5 người).

Đạn phản lực một tầng 107mm được bắn và ổn định trong khi bay nhờ sự quay quanh trục. Động cơ phản lực có buồng đốt, trong đó bố trí thuốc phóng – 7 khối hình trụ với các rãnh trục). Để đốt thuốc phóng sử dụng kíp nổ. Sự quay được tạo thành bằng sự phụt khí thuốc của động cơ phản lực qua 6 vòi phun ở phần sau viên đạn. Các vòi phun được bố trí dưới góc gần trục dọc viên đạn. Sự điều khiển bắn được thực hiện với sự hỗ trợ của bảng điều khiển từ xa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:16:43 pm
Đạn phản lực một tầng 107mm:

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/nur63.jpg)

1. Phần đầu đạn;
2. Chất dẫn lửa;
3. Phần nhiên liệu rắn;
4. Khối vòi phun;
5. Vòi phun;
6. Phần tiếp xúc của kíp nổ;
7. Phần đuôi khối vòi phun;
8. Kíp nổ;
9. Ngòi nổ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:33:24 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/739kb.jpg)
Phiên bản "Type-63" trên gầm xe UAZ-469

Các loại đạn cơ bản:

+ đạn nổ - nổ mảnh

+ đạn nổ - nổ mảnh với sự tăng cường các mảnh đạn

+ đạn cháy (đầu đạn nạp chất phố pho trắng)

+ đạn rải nhiễu

Đầu đạn nổ - nổ mảnh có thiết kế giống như đạn nổ - nổ mảnh của pháo, được nạp thuốc nổ nhằm tăng sức phá hoại và sử dụng ngòi nổ tiếp xúc hoặc bổ sung. Ngòi nổ được lắp vào phần đầu viên đạn trước khi bắn.

Đầu đạn phản lực được sản xuất bởi hãng “Mechem Developments” bên trong có các phần tử trong hình dạng các quả cầu thép.

Phụ thuộc vào từng loại biến thể có chiều dài đạn khác nhau từ 760 đến 838mm. Khối lượng trung bình của đạn: 18,8kg.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:39:09 pm
Thông số kỹ thuật

Đường kính đạn: 107mm

Số lượng ống dẫn hướng: 12

Khối lượng đạn: 18,8kg

Tầm bắn tối đa: 8,5km

Khẩu đội: 5 người

Khối lượng thiết bị phóng trong trạng thái chiến đấu: 0,611 tấn

Kích thước thiết bị phóng trong trạng thái hành quân (mét)

+ chiều dài: 2,6 mét

+ chiều rộng: 1,4 mét

+ chiều cao: 1,2 mét

Thời gian bắn hết một loạt đạn: 7 – 9 giây

Thời gian nạp đạn: 3 phút.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: binhnhi2009 trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 01:19:33 am
Hệ thống phản lực bắn loạt Type 63 (Kiểu 63)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/H12_Type_63.jpg)
"Type 63" trong Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam



Cái này có giống cái ở ngoài gần cột cờ không bác daibangden?
Phải chăng cái này là TQ viện trợ VN trong KCCM còn cái ở ngoài là dùng để "dạy cho VN một bài học"?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 01:34:52 am
Đúng rồi bác ạ! ;D
Trong Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam có 2 tiêu bản của loại Type-36 107mm. Đây là tiêu bản quân ta sử dụng trong Kháng chiến chống Mỹ.
Tiêu bản bị Sư 316 thu được ở Lào Cai năm 1979 ở ngoài trời:
http://www.quansuvn.net/index.php/topic,364.msg8124.html#msg8124


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: mrquang trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 09:33:12 am
 Mr Daibangden cho hỏi thêm về xuất xứ cái tên H-12 của em nó được không. 12=12 ống phóng, còn H = gì nhỉ ?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 06:01:56 pm
Mr Daibangden cho hỏi thêm về xuất xứ cái tên H-12 của em nó được không. 12=12 ống phóng, còn H = gì nhỉ ?
H = hỏa tiễn, tên gọi này bắt nguồn từ hệ thống pháo phản lực H-6 trước đó của quân ta sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
http://www.quansuvn.net/index.php/topic,2775.msg38308.html#msg38308

Hình ảnh H-6:
http://www.quansuvn.net/index.php/topic,2775.msg38312.html#msg38312


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 06:58:14 pm
Hệ thống phản lực phóng loạt 9K57 BM-27 “Uragan”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9P140_Uragan.jpg)

Hệ thống phản lực phóng loạt “Uragan” được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt bất cứ cụm mục tiêu nào dễ bị tổn thương bởi các phần tử đạn tên lửa trên chiến trường cũng như trong công sự khuất sau vật cản như lực lượng bộ binh, các khí tài kỹ thuật không bọc thép hoặc bọc thép nhẹ, xe thiết giáp trong biên chế các đại đội xe tăng và bộ binh cơ giới, các phân đội pháo binh, tên lửa chiến thuật, tổ hợp phòng không và trực thăng đậu trên bãi; các trạm chỉ huy, thiết bị liên lạc và các công trình công nghiệp – quốc phòng, các thiết bị chống tăng và rải mìn từ xa trong khu vực tác chiến, tạo ra các lò lửa lớn và rải truyền đơn trên tầm xa từ 5 đến 35km.

Tổ hợp có thể khai thác sử dụng trong điều kiện tiếp nhận kẻ thù sử dụng vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học trong bất kỳ thời gian (ngày và đêm) và thời điểm nào (trong năm), trong các điều kiện khí hậu khác nhau khi khi nhiệt độ môi trường từ -40 đến 50 độ. Hệ thống phản lực bắn loạt “Uragan” có khả năng vận chuyển bằng đường sắt, đường thủy và đường không (IL-76, An-22, An-124).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 07:10:43 pm
Trong thành phần hệ thống BM-27 “Uragan” gồm có:

+ xe chiến đấu 9P140

+ xe vận tải – nạp đạn 9T452

+ các loại đạn phản lực

+ khối trang bị 9F381

+ Tổ hợp điều khiển hỏa lực tự động 1V126 “Kapustnhik-B”

+ khí tài học tập – huấn luyện 9F817

+ xe đo đạc, vẽ địa hình 1T12-2M

+ tổ hợp quan sát điều kiện thời tiết 1B44.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9T452_Uragan.jpg)

Xe chiến đấu 9P140 được thiết kế trên gầm xe bốn bánh có độ cơ động cao Zil-135LM (công thức 8x8). Bộ phận pháo gồm có khối 16 ống dẫn hướng, gầm (bệ) quay với các cơ chế dẫn bắn và các khí tài thước ngắm, đồng thời các thiết bị thủy lực và kỹ thuật điện. Các cơ chế dẫn bắn được trang bị thiết bị truyền động lực cho phép dẫn khối các ống dẫn hướng theo góc tầm từ -5 đến 55 độ. Khả năng bắn góc tầm từ 6 đến 55 độ.Góc hướng từ -30 đến 30 độ theo trục dọc của xe. Để tăng độ vực chắc của thiết bị khi bắn, ở phần sau xe có lắp hai trụ với các kích thủy lực. Đạn phản lực có thể được vận chuyển một các trực tiếp trong các ống dẫn hướng. Xe chiến đấu được trang bị các khí tài thông tin liên lạc (đài liên lạc vô tuyến R-123M) và khí tài nhìn đêm.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 07:32:39 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/image.jpg)

Các ống dẫn hướng được giới thiệu là các ống trơn với rãnh chốt dạng chữ P, khi bắn chốt của đạn phản lực trượt trên các rãnh này. Bằng cách này, sơ tốc đầu nòng của đạn được đảm bảo và mang lại độ ổn định cần thiết trong khi bay. Khi di chuyển theo quỹ đạo, sự quay của đạn được hỗ trợ khi các cánh ổn định lắp dưới các góc xác định theo trục dọc của đạn mở ra. Hệ thống có thể bắn lần lượt từng viên hoặc bắn loạt. Hệ thống BM-27 bảo đảm khả năng bắn loạt với tốc độ ổn định (toàn bộ 16 tên lửa được phóng với tốc độ bắn 0,5 giây/viên), đồng thời với tốc độ “không đều” (8 tên lửa đầu tiên: 0,5s/viên; 8 tên lửa còn lại: 2s/viên). Nhờ sự xuất hiện của chế độ bắn “không đều”, biên độ và tần số dao động của xe chiến đấu đã giảm một cách đáng kể, và tăng cường mật độ tập trung của đạn. Thời gian bắn một loạt đạn: 8,8 và 20 giây tương ứng với chế độ bắn ổn định và “không đều”. Khả năng bắn cơ sở: từ các trận địa che khuất (xe được đặt chìm trong hố). Việc bắn được thực hiện từ cabin hoặc từ bảng điều khiển từ xa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 07:53:24 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/image1.jpg)

Khối các ống dẫn hướng được lắp trên khung nâng – dạng sàn hình chữ nhật theo phương pháp hàn. Khung trên của khung nâng được liên kết bằng hai nửa trục. Khi bắn theo góc hướng, khung nâng lắc (quay) quanh hai nửa trục này. Bộ phận lắc được tạo thành từ sự kết hợp của khối các ống dẫn hướng, khung nâng, hàng loạt các chi tiết, thiết bị của thiết bị hãm, hệ thống đánh lửa, giá đỡ của thước ngắm… Bộ phận quay của xe chiến đấu phục cho việc đưa khối các ống dẫn hướng tới các góc hướng cần thiết và được cấu tạo từ bộ phận lắc, khung trên, bộ phận cân bằng, các cơ cấu nâng và quay, đốc pháo, chỗ đứng của pháo thủ, thiết bị dẫn bắn bằng tay, cơ chế hãm của bộ phận lắc, khóa thủy lực của bộ phận lắc, cơ cấu hãm bộ phận lắc. Thiết bị cân bằng phục vụ cho việc bù từng phần moment khối lượng của bộ phận lắc – được cấu tạo từ hai lò xo xoắn và các thiết bị cố định. Thiết bị nâng và quay phục vụ việc dẫn bắn khối các ống dẫn hướng theo góc tầm và góc hướng. Khả năng dẫn bắn chính: truyền động điện. Trong trường hợp bị hỏng và trong khi sửa chữa có thể sử dụng khả năng dẫn bắn bằng tay. Các thiết bị hãm có định bộ phận di động của thiết bị khi di chuyển. Khóa thủy lực của bộ phận lắc ngăn chặn sự gãy, vỡ khi bắn theo góc tầm và giảm tải cho thiết bị nâng khi bắn.

Trên xe chiến đấu lắp thước ngắm quan sát toàn cảnh cơ khí L726-45. Trong thước ngắm sử dụng thiết bị quan sát toàn cảnh pháo binh thông dụng PG-1M trong vai trò thiết bị nhìn và đo góc.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 08:06:35 pm
Trong cơ số đạn của hệ thống phản lực bắn loạt BM-27 có:

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/21496.jpg)

+ đạn phản lực 9M27F với đầu đạn nổ - nổ mảnh. Đạn được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực địch, các khí tài kỹ thuật không bọc thép và bọc thép nhẹ, phá hủy các trạm chỉ huy, các khí tài thông tin liên lạc và công trình công nghiệp – quốc phòng.

Khối lượng đạn: 280kg; đầu đạn: 99kg; thuốc nổ: 49kg; chiều dài: 4833mm; đường kính/ độ sâu của đất (do đạn tạo ra khi nổ): 8/3 mét; tầm bắn: xa nhất: 35,8km; gần nhất: 10km

+ đạn phản lực 9M27K với đầu đạn mẹ - con với các phần tử nổ mảnh. Đạn được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực và các khí tài không bọc thép tại khu vực tập trung.

Khối lượng đạn: 271kg; đầu đạn: 89,5kg; phần tử mảnh: 1,85kg; thuốc nổ của phần tử mảnh: 0,3kg; chiều dài: 5178mm; số lượng phần tử mảnh nổ: 30; số lượng phần tử mảnh cháy trong một mảnh nổ: 350; độ sâu xuyên giáp: trên cự ly 10 mét: 6mm; trên cự ly 50 mét: 3,5mm; ở 100 mét: 2 mm. Thời gian tự hủy của phần tử mảnh nổ: 110 giây; tầm bắn: xa nhất: 35km; gần nhất: 7,5km


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 09:10:12 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/88cc9a1070cee1f0-large.jpg)

+ đạn phản lực 9M27K1 với đầu đạn mẹ con chứa các phần tử nổ mảnh có khả năng nảy trên mặt đất

+ đạn phản lực 9M27K2 với đầu đạn rải mìn chống tăng. Đạn chứa loại mình PTM-1. Đạn được sử dụng cho nhiệm vụ rải các bãi mìn chống tăng từ xa – trước mặt các phân đội khí tài kỹ thuật của quân địch trên hướng tấn công cũng như trong khu vực tập trung.

Khối lượng: 271kg; đầu đạn: 89,5kg; khối lượng mìn: 1,5kg; khối lượng thuốc nổ trong mìn: 1,1kg; chiều dài: 5178mm; số lượng mìn chống tăng: 24; diện tích phát tán sau một loạt bắn: trên 50Ha; thời gian tự hủy: 3 – 40 tiếng; tầm bắn: xa nhất: 34km; gần nhất: 7km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 09:31:07 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Izobrazhenie_071.jpg)

+ đạn phản lực 9M27K3 với đầu đạn mẹ - con. Đạn được sử dụng cho việc tạo ra các bãi mìn từ xa, bảo đảm tiêu diệt sinh lực đối phương. Loại mìn sử dụng: PFM-1.

Khối lượng: 271kg; đầu đạn: 89,5kg; khối lượng mình: 0,08kg; khối lượng thuốc nổ trong mìn: 0,04kg; chiều dài: 5178mm; số lượng mìn chống bộ binh: 312; thời gian tự hiểu: 1 .. 40 giờ; diện tích phát tán sau một loạt bắn: hưn 60Ha; tầm bắn: xa nhất: 34km; gần nhất: 7km

+ đạn phản lực 9M51 với đầu đạn kích nổ. Đạn được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực địch, các khí tài không bọc thép, bao phủ và tiêu diệt các chướng ngại vật ngụy trang tự nhiên hoặc nhân tạo của quân địch.

Khối lượng: đạn: 256kg; khối lượng đầu đạn: 143,5kg; khối lượng thuốc nổ: 30,2kg; chiều dài: 5147mm; tầm bắn: xa nhất: 13km; gần nhất: 5km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 06:14:47 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-27-Uragan-DIA.jpg)

+ đạn phản lực 9M59 với đầu đạn chứa mìn chống tăng. Đạn được sử dụng cho mục đích rải các bãi mình chống tăng chiến thuật trước các phân đội xe chiến đấu của đối phương trên hướng tiến công cũng như trong khu vực tập trung.

Khối lượng: đạn: 270kg; đầu đạn: 90kg; khối lượng mìn: 5kg; khối lượng thuốc nổ trong mìn: 1,85kg; chiều dài: 5178mm; số lượng mìn chống tăng: 9; thời gian tự hủy: 16…24 tiếng; diện tích lan tỏa sau loạt bắn: 250Ha; tầm bắn: xa nhất: 35km; gần nhất: 10km.

+ đạn phản lực 9M27S với đầu đạn cháy. Đạn được sử dụng cho nhiệm vụ: tiêu diệt sinh lực địch, các khí tài hỏa lực và kỹ thuật của kẻ thù bằng những đám cháy lớn; phá hủy các kho tàng, thiết bị vận chuyển nhiên liệu và đạn dược; chống lại các cuộc tấn công hạt nhân; tiêu diệt vũ khí có độ chính xác cao và các trạm điều khiển; chiếu sáng bằng cách tạo ra các đám cháy lớn.

+ đạn phản lực 9M27D với đầu đạn truyền đơn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 06:25:12 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-27_Uragan1.jpg)

Thiết bị động lực gồm hai động cơ bộ chế hòa khí 8 xilanh dạng chữ V Zil-375Ya. Mỗi động cơ trong số này khi quay 3200 vòng/phút đạt công suất tối đa 180 sức ngựa. Bộ truyền động được thiết kế theo sơ đồ bên: các bánh xe mỗi bên tự quay bằng động cơ của chúng qua hộp truyền động, hộp phân phối và bộ truyền động bên riêng.Các bánh xe của trục đầu tiên và thứ tư – điều khiển, có hệ thống treo xoắn riêng với giảm sóc. Xe được trang bị hệ thống điều áp tập trung trong các lốp xe. Xe có sức cơ động và tính năng tốc độ rất cao. Khi di chuyển trên đường nhựa với tải trọng tối đa, xe có tốc độ 65km/h, tầm hoạt động theo nhiên liệu: 570km. Thể tích của thùng xăng chính: 300 lít; hai thùng dự trữ: 100 lít/thùng. Xe có thể vượt hố sâu 1,2 mét mà không cần chuẩn bị.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 06:26:44 pm
Hệ thống Uragan trong quân đội Ukraina:

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/pic_83.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/imageurg.jpg)

Nga (Lục quân):

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/uragan.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 06:33:10 pm
Kíp xe: 6 người (trong thời bình: 4 người): trưởng xe chiến đấu; pháo thủ (pháo thủ lâu năm); lái xe và 3 người khác.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9T452_Uragan.jpg)
Xe vận tải - nạp đạn 9T452

Sự nạp đạn cho thiết bị BM-27 được thực hiện với sự hỗ trợ của xe vận tải – nạp đạn 9T452, được thiết kế trên gầm xe tương tự xe chiến đấu. Mỗi xe vận tải – nạp đạn 9T452 vận chuyển 16 đạn phản lực và bảo đảm nạp đạn và tháo dỡ không mà không cần phải chuẩn bị trận địa, trong đó, có thể nạp từ bất kỳ xe vận tải nào, từ xe tải – nạp đạn khác và từ mặt đất. Quá trình nạp đạn được tự động hóa, thời gian nạp đạn: 14 phút. Sức tải của cần cẩu xe vận tải – nạp đạn: 300kg.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 06:41:00 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/52a6630ab8ab.jpg)

Trang bị của xe vận tải – nạp đạn bao gồm khung, rãnh rãnh máy đẩy, các giá cần cẩu, khu vực cho người điều phối, thao tác, các thiết bị nhấc, tải, thiết bị nối, lắp ráp, máy truyền động quay của cần cẩu, thanh (đòn, xà), thiết bị chính lý, hiệu chỉnh, trang thiết bị điện, phụ tùng. Rãnh với máy đẩy được giới thiệu là một xà gấp bố trí cơ cấu đẩy với tên lửa. Thiết bị chỉnh lý được sử dụng nhằm hiệu chỉnh trục tên lửa nằm trên rãnh với trục của ống dẫn hướng. Các cần cẩu bên trái và phải được sử dụng cho việc bố trí tên lửa. Trên xe tải – nạp đạn có ba máy truyền động điện: nâng (thả) tên lửa, quay cần cẩu, đẩy tên lửa tới ống dẫn hướng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 06:47:50 pm
Thông tin lịch sử

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/BM-27_Uragan.jpg)

Hệ thống “Uragan” được thiết kế vào đầu những năm 70 tại Xí nghiệp Nghiên cứu khoa khọc quốc gia “Splav” dưới sự lãnh đạo của tổng công trình sư A.N.Ganichev và vào năm 1976 đã được tiếp nhận vào quân đội Liên Xô. Hệ thống phản lực bắn loạt “Uragan” theo mục đích thiết kế nhằm thay thế cho một số tổ hợp BM-21 “Grad” đã cũ. Trong kết quả thiết kế và sự áp dụng hệ thống điều khiển bay mới cho đạn phản lực, độ chính xác của “Uragan” đã tăng lên 5 lần so với “Grad”.

Hiện nay, hệ thống này có mặt trong trang bị của Nga, Ukraina, Belorusia, Siri, Slovakia, Séc, Ba Lan, Afganistan và một số nước Trung Á trong Cộng đồng các quốc gia độc lập.

Sự tiếp nhận chiến đấu

Hệ thống phản lực bắn loạt “Uragan” được sử dụng trong các hoạt động quân sự tại khu vực châu Phi, Afganistan và trên lãnh thổ Liên Xô cũ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 06:56:39 pm
Thông số kỹ thuật

Xe chiến đấu

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm27.jpg)

Số lượng ống dẫn hướng: 16

Khối lượng xe khi nạp đạn với kíp xe: 20 tấn

Khối lượng xe không nạp đạn và kíp xe: 15,1 tấn

Góc tầm: 6 đến 55 độ

Tốc độ bắn tối đa bằng thiết bị dẫn động điện: 3 độ/s

Tốc độ bắn thấp nhất bằng thiết bị điện: 0,2 độ/s

Thời gian bắn môt loạt đạn

+ chế độ ổn định: 8,8 giây

+ chế độ “không đồng đều”: 20 giây

Tầm bắn

+ xa nhất: 35,8km

+ gần nhất: 5km


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 07:01:39 pm
Thời gian

+ chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu: 3 phút

+ nạp đạn: 14 phút

+ chuẩn bị trận địa tức thời: 1,5 phút

Khung gầm: Zil-135LM

Khối lượng gầm xe: 10,6 tấn

Các kích thước

+ trong trạng thái hành quân: 9,63x2,8x3,23

+ trong trạng thái chiến đấu: 10,83x5,34x5,24

Tốc độ tối đa: 65km/h

Tầm hoạt động: 570km

Khả năng vượt hố sâu: 1,2 mét

Kíp xe trong thời bình/thời chiến: 4/6 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 07:06:12 pm
Thông số kỹ thuật của xe tải – nạp đạn

Số lượng đạn mang trên xe: 16

Khối lượng xe với đạn và kíp xe: 20 tấn

Khung gầm: Zil-135ML

Khối lượng không có đạn và kíp xe: 15,22 tấn

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/P1000399.jpg)
(hình minh họa khung gầm xe tải - nạp đạn - cùng gầm xe chiến đấu BM-27)

Tốc độ tối đa: 65km/h

Kích thước

+ trong trạng thái hành quân: 10,2x2,85,3,25

+ trong trạng thái chiến đấu: 11x3,72x4,22

Kíp xe: 3 người.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: raucaixanh trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 04:30:04 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/romdautk21.jpg)
Phiên bản "Grad-P" của Rumani đầu thế kỷ 21

        Xin lỗi mấy bữa nay em mới để ý , sao cái ống phóng này nó thiết kế lạ thế bác ?
        Nó có ưu điểm gì mà người phải đục lỗ trên thân ạ ?


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 04:54:48 pm
9K58 BM-30 “Smerch” – hệ thống phản lực phóng loạt 300mm

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/smerch.jpg)

Hệ thống phản lực bắn loạt “Smerch” được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt các cụm mục tiêu dễ bị tổn thương bởi mảnh đạn trên chiến trường và trong công sự bị che khuất, các khí tài kỹ thuật không bọc théo, bọc thép nhẹ và thiết giáp của các đại đội xe tăng và bộ binh cơ giới, các phân đội pháo binh, tên lửa chiến thuật, tổ hợp phòng không và trực thăng trên bãi, phá hủy các trạm chỉ huy, thiết bị thông tin liên lạc và công trình công nghiệp – quốc phòng, rãi các bãi mìn chống tăng và bộ binh từ xa, trên cự ly từ 20 đến 90km.

Trong thành phần hệ thống “Smerch” bao gồm các khí tài:

+ xe chiến đấu 9A52 hoặc 9A52-2

+ xe vận tải – nạp đạn 9T234 hoặc 9T234-2

+ các loại đạn phản lực 300mm

+ các khí tài học tập – huấn luyện

+ tổ hợp trang thiết bị chuyên dụng

+ tổ hợp các khí tài điều khiển hỏa lực tự động hóa

+ xe quan sát địa hình

+ tổ hợp đo đạc khí tượng.

Thiết bị phóng gồm có bộ phận pháo và gầm xe bốn trục có độ cơ động cao “MAZ-79111” (9A52-2) theo bố cục truyền thống. Bộ phận pháo được lắp đằng sau gầm xe bánh hơi, đằng trước là cabin của lái xe (bên trái theo hướng di chuyển), buồng động lực – truyền động và cabin của kíp xe. Bên trong cabin của kíp xe lắp các khí tài thông tin liên lạc và thiết bị của hệ thống điều khiển hỏa lực.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:08:16 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9a52_smerch.jpg)

Trong thành phần bộ phận pháo bồm khối 12 ống dẫn hướng, bệ quay, các thiết bị nâng, quay và cân bằng, khí tài thước ngắm, thiết bị dẫn động điện và các trang thiết bị hỗ trợ.

Các ống dẫn hướng được giới thiệu là các cống trơn, trang bị rãnh hình chữ P để tạo sơ tốc đầu nòng cho đạn phản lực. Với sự hỗ trợ của các thiết bị truyền động lực của các cơ chế dẫn bắn, khối các ống dẫn hướng có thể bắn góc tầm theo phạm vi từ 0 đến 55 độ. Góc hướng 60 độ (30 độ về hai bên trái – phải theo trục dọc của xe).

Giữa các bánh xe của cầu thứ ba và thứ tư lắp các trụ thủy lực, có tác dụng treo (nâng) bộ phận đằng sau của thiết bị phóng khi bắn nhằm tăng cường độ vững chắc.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:33:50 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/bm30_real.jpg)

Đạn tên lửa được trang bị hệ thống điều khiển bay, hiệu chỉnh quỹ đạo hoạt động theo sự lắc và đảo lái. Sự hiệu chỉnh được thực hiện bằng các bánh lái khí động lực được tạo thành trong hoạt động bởi khí áp suất cao từ các máy sinh khí mang theo. Ngoài ra, sự ổn định của đạn khi bay còn có bởi sự quay trong không khí theo trục dọc, được bảo đảm bởi sơ tốc quay đầu nòng khi viên đạn quay trong ống dẫn hướng và hỗ trợ trong khi bay bằng các thiết bị cánh lái của bộ phận cân bằng mở ra dưới các góc theo trục viên đạn. Khi bắn loạt, độ tản mát của đạn không quá 0,21% từ tầm bắn.

Đạn 300mm của hệ thống “Smerch” được trang bị động cơ tên lửa nhiên liệu rắn trong nhiên liệu hỗn hợp. Đầu đạn có thể đơn khối hoặc dạng “mẹ - con”.

Hệ thống BM-30 có thể bắn từng viên đạn hoặc theo giàn. Thời gian bắn hết một loạt đạn: 38 giây. Sự phóng đạn được thực hiện từ cabin xe chiến đấu hoặc bảng điều khiển từ xa. Hỏa lực một loạt phóng cả 3 thiết bị “Smerch” về hiệu quả có thể so sánh tương đương với hai lữ đoàn trang bị các tổ hợp tên lửa 9K79 “Tochka-U”. Loạt phóng của một xe chiến đấu bằng các tên lửa 9M55K với đầu đạn “mẹ - con” chứa các phần tử nổ - nổ mảnh bao trùm một diện tích 40Ha.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:47:23 pm
Các loại đạn trong thành phần cơ số đạn:

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1212949851_o.jpg)

+ Tầm xa 70km:

• đạn phản lực 9M55F với đầu đạn nổ - nổ mảnh riêng; sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, các khí tài kỹ thuật không bọc thép hoặc bọc thép nhẹ tại các địa điểm tập trung, phá hủy các trạm chỉ huy, các thiết bị thông tin liên lạc và các công trình công nghiệp – quốc phòng.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 285kg; thuốc nổ: 95kg; phần từ cháy: 50g; chiều dài: 7600mm; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 20km

• đạn phản lực 9M55K với đầu đạn chứa các phần tử nổ mảnh; sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực địch và các khí tài không bọc thép của đối phương trên khu vực tập trung.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 243kg; phần tử nổ mảnh: 1,75kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng mảnh nổ: 72; số lượng mảnh nổ chứa phần tử cháy: mảnh 4,5g: 96; mảnh 0,75g: 360; thời gian tự phần tử nổ mảnh tự hủy: 110 giây; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhât: 20km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:49:56 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/romdautk21.jpg)
Phiên bản "Grad-P" của Rumani đầu thế kỷ 21

Xin lỗi mấy bữa nay em mới để ý , sao cái ống phóng này nó thiết kế lạ thế bác ?
Nó có ưu điểm gì mà người phải đục lỗ trên thân ạ ?
Trong trường hợp này thì là làm nhẹ ống phóng thôi ;D


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:06:55 pm
("Smerch" tiếp theo):

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/smerch_01_892.jpg)

• đạn phản lực 9M55K1 với các phần tử tự tìm mục tiêu; được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt các cụm khí tài thiết giáp và xe tăng từ trên không. Đạn được trạng bị các phần tử tự tìm mục tiêu “Motiv-3M”.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 243kg; phần tử tự tìm mục tiêu: 15kg; thuốc nổ trong phần tử tự tìm mục tiêu: 4,5kg; chiều dài: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử tự tìm mục tiêu: 5; độ xuyên giáp dưới góc 30 độ với giáp đồng nhất trên cự ly 100 mét: 70mm; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 20km.

• đạn phản lực 9M55K3 với đầu đạn “mẹ - con” cho mục đích rải mìn chống bộ binh; sử dụng cho mục đích rải các bãi mìn chống bộ binh chiến thuật. Đạn được trang bị mìn chống bộ binh “POM-2” với ngòi nổ tiếp xúc hoạt động tức thời.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 243kg; thuốc nổ trong mìn: 0,13kg;; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng mìn chống bộ binh: 64; kích thước mìn: 63x180mm; thời gian mìn tự hủy: 4… 100 giờ; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 20km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:21:32 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9a52smerch_01.jpg)

• đạn phản lực 9M55K4 với đầu đạn rải mìn chống tăng; được sử dụng cho nhiệm vụ rải các bãi mìn chống tăng từ xa trước các phân đội kỹ thuật của đối phương trên hướng tấn công cũng như trong khu vực tập trung. Đạn trang bị mìn chống tăng “PTM-3” với đầu ngòi nổ điện không tiếp xúc.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 243kg; mìn: 4,85kg; thuốc nổ trong mìn: 1,85kg; chiều dài: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng mìn chống tăng: 25; kích thước mìn: 330x84x84mm; thời gian mìn tự hủy: 16…24 giờ; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 20km.

• đạn phản lực 9M55K5 với đầu đạn chứa các phần tử xuyên lõm – nổ mảnh; được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực địch và các khí tài không bọc thép trên chiến trường và bị che khuất sau các chướng ngại vật.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 234kg; phần tử xuyên lõm – nổ mảnh: 0,24kg; chiều dài: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; chiều dài xuyên giáp đồng nhất: 120mml tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 20km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:35:03 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/smerch3.jpg)

• đạn phản lực 9M55K6 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị các phần tử tự tìm mục tiêu 9N268; được sử dụng tiêu diệt cụm các đơn vị thiết giáp và xe tăng từ trên cao.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 243kg; phần tử tự tìm mục tiêu: 17,3kg; thuốc nổ trong phần tử tự tìm mục tiêu: 5,8kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử tự tìm mục tiêu: 5; độ xuyên giáp dưới góc 30 độ với giáp đồng nhất ở cự ly 100 mét: 70mm; kích thước phần tử: 185x384mm; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:46:44 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/000sces3.jpg)

• đạn phản lực 9M55K7 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị các phần tử tự tìm mục tiêu kích thước nhỏ; sử dụng cho mục đích tiêu diệt nhóm các xe thiết giáp và xe tăng từ trên cao. Các phần tự tự tìm mục tiêu được trang bị khả năng định vị tọa độ mục tiêu bằng quang phổ hồng ngoại.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 243kg; phần tử tự tìm mục tiêu: 6,7kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử tự tìm mục tiêu: 20; kích thước của phần tử: 114x305mm; thời gian tự hủy: 110 giây; độ xuyên giáp dưới góc 30 độ với giáp đồng nhất trên cự ly 100 mét: 70mm; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 25km.

• đạn phản lực 9M55S với đầu đạn nhiệt áp; được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực đối địch trên chiến trường hoặc trong các công trình công sự, các công trình không được gia cố mạnh và khí tài không bọc thép của đối phương.

Khối lượng: đạn: 800kg; đầu đạn: 243kg; hỗn hợp thuốc nổ: 100kg; chiều dài: đạn: 7600mml thời gian đầu đạn tự hủy: 110… 160 giây; tầm bắn: xa nhất: 70km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Giêng, 2011, 04:36:47 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/0_d396_ea6cabaa_-1-orig.jpg)

+ Tầm xa 90km:

• đạn phản lực 9M525 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị các phần tử nổ mảnh; được sử dụng cho việc tiêu diệt sinh lực địch, các thiết bị kỹ thuật không bọc thép và bọc thép nhẹ của đối phương tại khu vực tập trung; phá hủy các trạm chỉ huy, thiết bị thông tin liên lạc, công trình công nghiệp quốc phòng

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; phần tử nổ mảnh: 1,75kg; thuốc nổ trong phần tử nổ mảnh: 0,32kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử mảnh nổ: 72; kích thước phần tử: 69x263mm; số lượng mảnh trong phần tử: khối lượng 4,5g: 96; khối lượng 0,75g: 360; thời gian tự hủy: 110 giây; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.

• đạn phản lực 9M526 với các phần tử tự tìm mục tiêu; sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt nhóm các khí tài kỹ thuật thiết giáp và xe tăng địch từ trên cao. Đạn được trang bị các phần tử tự tìm mục tiêu “Motiv-3M”.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; phần tử tự tìm mục tiêu: 15kg; thuốc nổ trong phần tử: 4,5kg; chiều dài: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử: 5; độ xuyên giáp dưới góc 30 độ với giáp đồng nhất ở khoảng cách 100mm: 70mm; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Giêng, 2011, 04:52:08 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9K58_Smerch_Russie_05.jpg)

• đạn phản lực 9M527 với đầu đạn rải mìn chống tăng; được sử dụng cho nhiệm vụ rải các bãi mình chống tăng chiến thuật từ xa trước các phân đội thiết giáp của đối phương trên hướng tấn công cũng như trong khu vực tập trung. Đạn được trang bị mìn chống tăng “PTM-3” với ngòi nổ điện không tiếp xúc.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; mìn: 4,85kg; thuốc nổ trong mìn: 1,85kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng mìn chống tăng: 25; kích thước mìn: 330x84x84mm; thời gian tự hủy: 16…24 giờ; tầm xa: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.

• đạn phản lực 9M528 với đầu đạn nổ - nổ mảnh; được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực, các thiết bị kỹ thuật không bọc thép và bọc thép hạng nhẹ của đối phương tại khu vực tập trung, phá hủy các trạm chỉ huy, các thiết bị thông tin liên lạc và công trình công nghiệp – quốc phòng.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; hỗn hợp thuốc nổ: 95kg; phần tử nổ mảnh: 50g; chiều dài: đạn: 7600mm; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Giêng, 2011, 05:12:12 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1241042144_f.jpg)

• đạn phản lực 9M529 với đầu đạn nhiệt áp; được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường hoặc sau các công sự phòng thủ vững chắc và các công trình, thiết bị kỹ thuật quân sự không bọc thép và bọc thép nhẹ.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; hỗn hợp thuốc nổ: 100kg; chiều dài: đạn: 7600mml thời gian tự hủy: 110…160 giây; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.

• đạn phản lực 9M530 với đầu đạn nổ dạng xuyên; được sử dụng nhằm phá hủy các công trình công nghiệp quốc phòng của đối phương (các công sự vững chắc, bãi cất – hạ cánh, bờ đê, đập, kho tàng, các khí tài thông tin liên lạc…)

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; thuốc nổ: 75kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; thể tích đạn tạo ra trên mặt đất: 160m3; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Giêng, 2011, 05:27:35 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1241042116_f.jpg)

• đạn phản lực 9M531 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị các phần tử xuyên lõm – nổ mảnh; được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực và các khí tài kỹ thuật bọc thép nhẹ trên chiến trường và khuất sau vật cản.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; phần tử xuyên lõm – nổ mảnh: 0,24kg; thuốc nổ trong phần tử: 0,035kg; chiều dài: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử: 615; kích thước phần tử: 43x118mm; độ xuyên giáp đồng nhất: 120mm; thời gian tự hủy: 130… 260 giây; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.

• đạn phản lực 9M532 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị các phần tử tự tìm mục tiêu kích thước nhỏ; được sử dụng cho mục đích tiêu diệt cụm các xe thiết giáp và xe tăng trên cao. Các phần tử tự tìm mục tiêu được trang bị sự định vị tọa độ mục tiêu bằng quang phổ hồng ngoại và phần tử tự tìm mục tiêu 9N282 “Gnom”.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; phần tử tự tìm mục tiêu kích thước nhỏ: 6,7kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử: 20; kích thước phần tử: 114x307,5mm; độ xuyên giáp dưới góc 30 độ đối với giáp đồng nhất ở khoảng cách 100mm: 70mm; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Giêng, 2011, 05:53:10 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/img_58_28380_3.jpg)

• đạn phản lực 9M533 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị phần tử tự tìm mục tiêu 9N268; được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt cụm các thiết bị thiết giáp và xe tăng từ trên cao.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; phần tử tự tìm mục tiêu: 17,3kg; thuốc nổ trong phần tử: 5,8kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử: 5; kích thước phần tử: 185x384mm; độ xuyên giáp dưới góc 30 độ dưới giáp đồng nhất trên cự ly 100 mét: 70mm; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.

• đạn phản lực 9M534 trang bị thiết bị bay không người lái kích thước nhỏ (đạn phản lực – trinh sát); sử dụng cho mục đích trinh sát cấp chiến dịch. Trong thời gian 20 giây, thiết bị bay không người lái quét tình trạng bối cảnh chiến trường và truyền tới tổ hợp máy tính của hệ thống pháo phản lực bắn loạt, đồng thời tới các tổ hợp pháo binh hoặc tên lửa chiến thuật khác các toa độ mục tiêu trinh sát được, cho phép tiếp nhận tiêu diệt mục tiêu đó hoặc các mục tiêu khác xuất hiện. Đạn trang bị thiết bị bay không người lái 9M61.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; thiết bị bay không người lái: 40kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; đường kính thân thiết bị bay không người lái: 200mm; chiều cao thiết bị bay không người lái: 500mm; thời gian bay:12 phút; phạm vi quan sát: 25km2; tầm xa truyền tải thông tin: 70km; tầm băn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Giêng, 2011, 06:15:25 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/RSZO_Smertch.jpg)

• đạn phản lực 9M536 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị các phần tử xuyên nổ mảnh; sử dụng cho mục đích tiêu diệt sinh lực, thiết bị, vũ khí và phương tiện kỹ thuật đổ bộ của đối phương, được bố trí trong các thùng chứa của tàu đổ bộ.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243mm; phần tử xuyên nổ mảnh: 2kg; thuốc nổ trong phần tử: 0,6kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng phần tử xuyên nổ mảnh: 72; kích thước phần tử: 40x800mm; độ dày xuyên giáp đồng nhất: 20mm; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.

• đạn phản lực 9M537 với đầu đạn “mẹ - con” trang bị các phần tử nổ mảnh không tiếp xúc; được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực, anten, thiết bị phóng và ngư lôi, trạm điều khiển, trang bị, thiết bị tàu cứu nạn và phương tiện kỹ thuật đổ bộ của đối phương.

Khối lượng: đạn: 815kg; đầu đạn: 243kg; phần tử nổ mảnh: 4,5kg; thuốc nổ trong phần tử nổ mảnh: 0,9kg; chiều dài: đạn: 7600mm; đầu đạn: 2049mm; số lượng mảnh nổ: 32; kích thước mảnh nổ: 114x215mm; tầm bắn: xa nhất: 90km; gần nhất: 25km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Giêng, 2011, 06:28:00 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/sm_users_img-90993.jpg)

Hiệu quả cao trong tiếp nhận chiến đấu của hệ thống phản lực bắn loạt “Smerch” được bảo đảm bằng sự hỗ trợ của hệ thống điều khiển hỏa lực tự động “Vivariy”. Hệ thống này kết nối mốt số xe chỉ huy nằm trong sự bố trí chỉ huy và tham mưu thuộc lữ đoàn hệ thống phản lực bắn loạt, đồng thời phối thuộc với hệ thống chỉ huy cấp tiểu đoàn (3) và đại đội (18). Mỗi xe trong số đó được lắp trên gầm “KamAZ-4310” có máy tính kỹ thuật số E-715-1, bộ phận hiển thị, máy in, khí tài thông tin và thiết bị phân loại. Thiết bị xe tham mưu – chỉ huy của hệ thống “Vivariy” bảo đảm sự trao đổi thông tin với cấp trên phối thuộc và hỗ trợ các đơn vị điều khiển, giải quyết nhiệm vụ quy hoạch tập trng hỏa lực và hỏa lực theo cấp đội, đoàn, thực hiện sự chuẩn bị thông tin bắn, thu nhận và phân tích thông tin về tình trạng các phân đội pháo binh.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 04:21:33 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1241131080_g.jpg)

Trong thành phần hệ thống tên lửa phóng loạt “Smerch” có xe vận tải – nạp đạn 9T234 trên gầm xe “MAZ-79112” hoặc 9T234-2 trên gầm xe tải “MAZ-543A”. Loại xe này được trang bị cần cẩu và mang theo 12 viên đạn. Quá trình nạp đạn được tự động hóa và thực hiện trong thời gian 20 phút.

Khi chế tạo thiết bị phóng và xe vận tải – nạp đạn, các gầm xe này thực tế là thiết kế giống nhau – sử dụng động cơ diezen 12 xilanh dạng chữ U D12A-525A công suất 525 sức ngựa (khi tốc độ quay 2000 vòng/phút). Bộ phận truyền động – thủy khí với hộp biến tốc thủy lực và hộp truyền động ba cấp kiểu hành tinh có sự đổi sổ tự động.

Bộ phận chuyển động được thiết kế theo công thức 8x8. Hai cặp bánh trước đóng vai trò bánh điều khiển. Hệ thống treo trên toàn bộ các bánh xe: xoắn, độc lập. Trên các bánh xe lắp các lốp xe lớn, áp suất không khí được điều chỉnh bởi hệ thống điều áp tập trung (với sự truyền không khí qua các trục và ổ trục).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 04:31:09 pm
Khi di chuyển trên đường nhựa, xe tải đạt tốc độ tối đa 60km/h, chúng có thể di chuyển trên mọi địa hình, vượt dốc 30 độ và hố sâu 1 mét. Tầm hoạt động cùng nhiên liệu mang theo: 850km.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/149970-6656a-18179914-.jpg)

Sự nâng cấp xe chiến đấu 9A52-2 liên quan tới nâng cấp thiết bị điều khiển và thông tin liên lạc cùng hệ thống điều khiển dẫn bắn hỏa lực tự động hóa, cho phép bảo đảm và bổ sung:

+ khả năng tự động hóa tiếp nhận và truyền tải thông tin tốc độ cao; bảo bệ hệ thống khỏi sự truy cập thông tin trái phép, hiển thị thông tin trên màn hình và lưu trữ thông tin

+ tự động đo đạc và định hướng tại chỗ cho xe chiến đấu với sự biểu hiện trên bản đồ điện tử

+ tự động tính toán thiết bị bắn và tầm xa.

+ dẫn bắn cho khối ống dẫn hướng không cần thước ngắm và kíp xe không phải rời khỏi cabin.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 04:45:35 pm
Thông tin lịch sử

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/149970-6656a-18179914-.jpg)

Hệ thống đực thiết kế vào đầu những năm 80 tại Xí nghiệp Nghiên cứu khoa học quốc gia “Splav” trong sự hợp tác với hơn 20 xí nghiệp sản xuất khác của Liên Xô. Sự thiết kế được bắt đầu dưới sự lãnh đạo của tổng công trình sư thuộc Xí nghiệp “Splav” – A.N.Ganichev và hoàn thành dưới sự lạnh đạo của G.A.Denezhkin. Năm 1987, hệ thống được tiếp nhận vào trang bị quân đội Liên Xô. Hiện nay, hệ thống “Smerch” có mặt trong trang bị quân đội Nga, Ukraina, Belorussia, Azerbaizan, Peru, Algieri, Co-oet và Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.

Sự xuất hiện của hệ thống “Smerch” đã đáp ứng các yêu cầu mới được đặt ra trong các điều kiện hoạt động quân sự hiện đại so với các hệ thống tương tự. Trong sự khác biệt với các hệ thống “Grad” và “Uragan” trước đó, hệ thống “Smerch” cho phép đạt được độ chính xác gấp ba lần trên tầm xa 90km. Để so sánh: hệ thống “Grad” có thể đạt tầm bắn 20km, còn “Uragan” mặc dù có thể bao phủ một diện tích khá lớn nhưng tầm bắn tối đa cũng chỉ đạt 35km.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 04:53:19 pm
Sự tiếp nhận chiến đấu và tình trạng hiện nay

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/16998.jpg)
BM-30 trong trang bị quân đội Ukraina

Hệ thống “Smerch” được sử dụng trong các hoạt động quân sự ở Bắc Cavcaz.

Sự đơn giản trong thiết kế và hiệu quả tin cây cao đã thu hút được sự chú ý của khách hàng nước ngoài.

Hiện nay, “Smerch” có mặt trong quân đội Nga, Ukraina (94), Belorussia (40), Peru (10), Algieri (18), Co-oet (27) và Các tiểu vương quốc A rập thống nhất (6). Ấn Độ và Trung Quốc cũng quan tâm tới hệ thống này.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 05:15:53 pm
Biến thể

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/smerch-T.jpg)
Một trong các biến thể "Smerch -T" trên gầm xe TATRA 816

Năm 2007, trong triển lãm hàng không vũ “MAKS-2007”, biến thể mới của hệ thống “Smerch” đã được giới thiệu. Xe chiến đấu mới được giới thiệu là khối các ống dẫn hướng bố trí trên gầm xe bốn trục được dẫn động hoàn toàn “KAMAZ”. Sự thiết kế này làm tăng tốc độ và sự cơ động của biến thể mới so với phiên bản cũ. Sự nâng cấp xe chiến đấu với 6 ống dẫn hướng (thay cho 12) với hệ thống điều khiển hỏa lực mới cho phép phân tán đại đội và tăng cường tính sống còn của hệ thống trong điều kiện bị đối phương phản pháo. Toàn bộ các thông tin được phân tích bằng máy tính, không có sự tham gia của con người. Khối 6 ống dẫn hướng có đường kính 300mm tiêu chuẩn.

Xe chiến đấu mới đã thu hút được sự chú ý của các nước Cận Đông và Đông Nam Á do kích thước nhỏ và phù hợp với địa hình và khả năng cơ động trong các hoạt động quân sự.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 05:36:13 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/149970-6656a-18179914-.jpg)

Tên gọi: hệ thống phản lực bắn loạt BM-30 “Smerch”

Gia nhập lực lượng vũ trang năm 1987

Kíp xe: 3 người

Số lượng ống dẫn hướng: 12

Đường kính ống dẫn hướng: 300mm

Góc tầm: 0 đến 55 độ

Góc hướng (theo trục dọc xe): -30 đến 30 độ

Tầm bắn (km)

+ xa nhất: 90

+ gần nhất: 20

Diện tích lan tỏa sau một loạt bắn: 67,2Ha


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 05:40:33 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/1241042068_f.jpg)

Thời gian

+ chuẩn bị từ thời điểm nhận mệnh lệnh đến khi khai hỏa: 1,5 – 3 phút

+ trên trận địa chuẩn bị tạm thời: 1 phút

+ bắn loạt: 38 giây

+ nạp đạn: 20 phút

Tốc độ tối đa: 60km/h

Tầm hoạt động: 850km

Khả năng vượt chướng ngại vật

+ dốc: 60 độ

+ hố sâu: 1 mét

Pham vi nhiệt độ hoạt động hiệu quả: -50 đến 50 độ

Chiều cao so với mực nước biển: 3000 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: hoangpilot trong 02 Tháng Giêng, 2011, 09:04:43 pm
(http://koreadefence.net/wys2/file_attach/2010/02/04/1265274306-10.jpg)

Bác daibang cho em hỏi tên của phiên bản Smerch này +phiên bản Smerch trong tấm hình này hình như có tầm bắn xa hơn phiên bản cũ thì phải ? ;D


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2011, 09:38:53 pm
(http://koreadefence.net/wys2/file_attach/2010/02/04/1265274306-10.jpg)

Bác daibang cho em hỏi tên của phiên bản Smerch này +phiên bản Smerch trong tấm hình này hình như có tầm bắn xa hơn phiên bản cũ thì phải ? ;D
Bạn tìm theo tên gọi "9A53 Tornado" nhé ;)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 03:13:49 pm
TOS-1 “Buratino” – hệ thống hỏa lực hạng nặng 220mm

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/-1_.jpg)

Hệ thống hỏa lực hạng nặng TOS-1 “Buratino” được giới thiệu là hệ thống hỏa lực bắn loạt 30 nòng. TOS-1 được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực định trên chiến trường và trong công sự phòng thủ, đồng thời các khí tài kỹ thuật bọc thép hạng nhẹ và vận tải trong vai trò yểm trợ trực tiếp các phân đội xe tăng và bộ binh cơ giới trong khi tấn công hoặc phòng ngự bằng cách tiêu diệt mục tiêu bằng các loại đạn phản lực với đầu đạn nhiệt áp và đạn cháy.

Hệ thống hỏa lực hạng nặng “TOS-1” được sử dụng nhằm tiêu diệt cụm tổ hợp các mục tiêu bằng sự tương tác (ảnh hưởng) của nhiệt độ cao và áp suất dư. TOS-1 có thể được biên chế trong các đơn vị bộ binh cơ giới hoặc xe tăng, tiêu diệt lực lượng tấn công của địch với trận địa hỏa lực mở hoặc xây chìm. Trong thành phần TOS-1 bao gồm xe chiến đấu của hệ thống hỏa lực bắn loạt, được thiết kế trên gầm xe tăng bao gồm thiết bị phóng cấu tạo từ khung quay với giá nâng ngoài; thùng vận tải – phóng với 30 ống dẫn hướng phản lực dành cho tên lửa không điều khiển 220mm được cố định trên các giá nâng qua trục và trụ của giá đỡ. Sự dẫn bắn cho thiết bị phóng tới mục tiêu theo góc tầm và góc hướng được thực hiên bằng các thiêt bị truyền động lực tự động hóa từ hệ thống điều khiển hỏa lực cấu thành từ thước ngắm, máy do xa lượng tử, máy tính toán đường đạn và máy cảm biến độ nghiêng. Toàn bộ hoạt động dẫn bắn của thiết bị tới mục tới góc tầm cần thiết được tiến hành trong điều kiện kíp chiến đấu không rời khỏi xe với sự hỗ trợ của thước ngắm và thiết bị truyền động động lực tự động.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 03:32:30 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/2350_1.jpg)

Khối lượng thiết bị phóng: 42 tấn. Đạn sử dụng: đạn nhiệt áp hoặc đạn cháy. Khối lượng đạn phản lực không điều khiển: 175kg; đầu đạn: 45kg. Tầm bắn từ 400 đến 3500 mét. Khối lượng đầu đạn tên lửa không điều khiển của đạn nhiệt áp: 74kg. Tầm bắn từ 400 đến 2700 mét. Thời gian bắn một loạt đạn: 7,5 giây. Diện tích phá hủy trong cả hai trường hợp: 1Ha. Hỏa lực có thể bắn từng viên hoặc bắn theo giàn, sự phóng đôi từ hai ống dẫn hướng và hàng loạt với khoảng cách giữa các viên đạn là một phần tư (1/4) giây.

Đạn phản lực không điều khiển gồm đầu đạn với chất liệu hỗn hợp và ngòi nổ cùng bộ phận tên lửa hoạt động bằng nhiên liệu rắn. Trong cơ số đạn tiếp nhận hỗn hợp chất lỏng (dạng propilnitrat) và kim ngoại nhẹ (bột magie). Trong thời gian đạn bay, hỗn hợp được bố trí bên trong thiết bị để tạo cho hỗn hợp tính đồng nhất.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 03:57:58 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/buratino_004.jpg)

Sự tăng cường các tính năng kỹ chiến thuật của TOS được thực hiện bằng kết quả của sự hiện đại hóa trong thiết kế. Trong hệ thống điều khiển hỏa lực có các máy cảm biến đo nghiêng và độ lệch, được kết nối tới máy tính đường đạn, trong thiết bị thước ngắm quang học sử dụng thước ngắm đo xa rung (lắc), máy cảm biến toàn cảnh đo góc chênh lệch của thước ngắm đo xa và góc vị trí mục tiêu được lắp có định trên kính phản xạ, kết nối với máy tính toán đường đạn, còn trên độ chênh lệch của các thiết bị thước ngắm dẫn bắn góc hướng và góc tầm bổ sung thêm các máy cảm biến góc mục tiêu, máy ngắm và máy đo độ lệch của thước ngắm toàn cảnh, được kết nối tới hệ thống dẫn động thủy điện dẫn bắn góc tầm, trong đó, nguồn điện của máy tính toán đường đạn và thước ngắm được kết nổi tới hệ thống dẫn bắn thủy điện của góc hướng qua thiết bị chỉnh lưu chế độ hoạt động. Khi đó, thiết bị truyền động dẫn bắn góc tầm, thiết bị phóng và máy cảm biến phản hồi sẽ được kết nối với nhau một cách nối tiếp, còn máy cảm biến phản hồi đóng vai trò thiết bị thu. Thân của máy được cố định trên ổ trục của giá đỡ của thước ngắm toàn cảnh đặt ở ngoài, còn trục đầu ra của máy qua trục trung gian và các thiết bị kết nối được nối với ổ trục giá đỡ của thùng vận tải – phóng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 04:27:19 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/buratino_003.jpg)

Xe được thiết kế trên gầm xe tăng T-72. Trong xe, chỗ làm việc của trưởng xe và trắc thủ được bố trí trong phần giữa thân, được đóng với nóc xe đóng mở với cửa ra vào và buồng với các thiết bị quan sát, còn trong khung giữa các rãnh có các lỗ cửa hình chữ nhật trung tâm kéo dọc theo trục xe trên cửa ra vào của kíp xe. Khi đó các rãnh được lắp nhằm bảo đảm sự cố định giá đỡ đạn. Đầu đạn quay về hướng mũi xe, còn cần cẩu và thiết bị cẩu lắp trên khung có thể nạp đạn cho thiết bị phóng với sự bố trí đạn trong cơ số đạn về phía trước theo hướng di chuyển của xe và bộ hãm bắn trong khi hành quân giữa các rãnh trên chiều cao thấp hơn mép trên của thành xe, đồng thời trang bị thiết bị dẫn động thủy lực với sự tăng cường chế độ cố định trong khi hành quấn sơ với chế độ hoạt động, trong đó, hai bên thành được làm từ các khối théo sử dụng cho việc nâng bản lề của thân xe khi chuyển trạng thái chiến đấu sang hành quân. Khi đó, bản lề của các thành bên liên kết với các tấm lá chắn bố trí theo hướng ngửa giữa các thành trước và bên trong khi làm việc và được cố định với thành trước, còn thành sau được thiết kế trong dạng hai cánh cửa, liên kết với khung qua hình cầu đứng. Ngoài ra, các lá chắn có thể được trang bị các chốt định vị, trên hai bên của thành trước cố định các giá đỡ với chốt dưới các chốt định vị đã kể trên, còn trong phần giữa thân xe trước vách ngắm của buồng động lực – truyền động lắp các thùng nhiên liệu bổ sung.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 04:38:38 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/f1.jpg)
TOS-1M

Kíp xe: 3 người.

Xe vận tải – nạp đạn (TZM) được sử dụng cho nhiệm vụ vận tải đạn phản lực không điều khiển, nạp và tháo đạn khỏi thiết bị phóng. Xe được giới thiệu là tổ hợp thiết bị vận tải bố trí trên gầm xe bánh xích hoặc bánh hơi có độ cơ động cao.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 04:51:09 pm
Thông tin lịch sử

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/DEN_7331.jpg)

Hệ thống hỏa lực hạng nặng TOS-1 là một trong số các khí tài (súng phun lửa phản lực bộ binh “Shmel”, bom ODAB-500….) được tiếp nhận đạn nhiệt áp và đạn nổ. Hệ thống bao gồm xe chiến đấu với đạn phản lực không điều khiển và xe vận tải – nạp đạn được thiết kế vào cuối những năm 70 tại Phòng thiết kế “Xưởng lắp ráp xe vận tải Omsk” (tổng công trình sư A.A.Morov” cùng với Phòng thiết kế “Xưởng Motovilikhinskye) (nơi sản xuất các hệ thống “Grad”, “Uragan” và “Smerch”). Trong gầm xe tự hành sử dụng khung gầm xe tăng T-72 (“Công trình 634”).

Hiện nay có hai phiên bản hệ thống hỏa lực hạng nặng. Phiên bản đầu tiên là xe chiến đấu 42 tấn mang tên TOS trong bị khối 24 ống dẫn hướng cho đạn phản lực; phiên bản thứ 2 – TOS-1 “Buratino” – 46 tấn với trang bị 30 ống dẫn hướng. Hệ thống được sản xuất với số lượng không lớn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 05:03:51 pm
Tình trạng hiện nay

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/element-678271-misc-IMG_6309.jpg)

Hệ thống hỏa lực hạng nặng TOS được tiếp nhận trong các hoạt động quân sự ở Afganistan và Chesnhia nơi nhiệm vụ của chúng là yểm trợ cho 3-4 xe tăng. Sau khi bắn một loạt đạn, xe ngay lập tức rời khỏi vị trí ẩn nấp để bảo đảm sự an toàn khỏi các súng phóng lựu và pháo binh. Những kế quả đầu tiên trong việc tiếp nhận TOS-1 “Buratino” (tấn công làng Komsomolskoe, Chesnhia”) được ghi nhận vào tháng 3 năm 2000. Tháng 3 năm 2006 trên trường bắn Shilov thuộc quân khi Siberi, TOS-1A đã tham gia nhiệm vụ chiến thuật chống khủng bố. Hệ thống có mặt trong trang bị của các binh chủng phòng chống phóng xạ, hóa học và sinh học (phòng hóa).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2011, 05:08:51 pm
Thông số kỹ thuật

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/47ab4b1b0bf2.jpg)

Khối lượng: 42 tấn

Kíp xe: 3 người

Đường kính ống dẫn hướng: 220mm

Số lượng ống dẫn hướng: 30

Tầm bắn

+ gần nhất: 400 mét

+ xa nhất: 3500 mét

Thời gian bắn hết một loạt đạn: 7,5 giây

Công suất động cơ: 840 sức ngựa

Tốc độ tối đa: 60km/h

Tầm hoạt động: 550km

Khả năng vượt chướng ngại vật

+ tường cao: 0,8 mét

+ hố rộng: 2,7 mét

+ hố sâu: 1,2 mét

+ dốc: 32 độ.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2011, 05:25:09 pm
Tổ hợp tên lửa chiến thuật 9K79 “Tochka”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/tochka1.jpg)

Tổ hợp 9K79 “Tochka” (OTR-21) được sử dụng nhằm tiêu diệt các mục tiêu độc lập quan trọng, nhóm và diện rộng các mục tiêu cố định trong chiều sâu phòng ngự của đối phương: các thiết bị tên lửa, khí tài thuộc tổ hợp trinh sát – xung kích trên bộ, các trạm điều khiển, bãi đáp trực thăng, sân bay, khí tài kỹ thuật thiết giáp. Tổ hợp có tầm bắn xa từ 15 đến 70km và sai số trung bình 250 mét.

Thành phần một lữ đoàn (quân đoàn) tên lửa độc lập: 2 – 3 tiểu đoàn tên lửa độc lập. Trong tiểu đoàn tên lửa độc lập: 2 – 3 đại đội với 2 – 3 thiết bị phóng.

Thành phần tổ hợp:

+ các tên lửa chiến thuật 9M79B, 9M79B1, 9M79K và 9M79F (5 đơn vị)

+ thiết bị phóng tự hành 9P129

+ xe vận tải – nạp đạn: 9T218

+ xe vận tải 9T222 và 9T238

+ xe kiểm tra – thí nghiệm tự động 9V818 hoặc 9V819 hoặc 9V820 với máy phát điện ESB-12-VS/400-M1U1 trên rơ-moóc

+ xe phục vụ kỹ thuật 9V844.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2011, 05:38:11 pm
Các tên lửa chiến thuật 9M79B, 9M79F, 9M79K

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/tochka.jpg)

Tầm bắn tối đa: 70km, tầm bắn gần nhất: 15km

Đầu đạn:

+ 9M79B – hạt nhân AA-60 (từ 10 đến 100kiloton – kt)

+ 9M79B1 – hạt nhân Â-86

+ 9M79F – đạn nổ - nổ mảnh 9N123F, khối lượng: 482kg, số lượng mảnh nổ: 14 500; tầm nổ cao: 20 mét

+ 9M79K – đạn “mẹ - con” 9N123K, khối lượng: 482kg, dung lượng: 50 mảnh nổ đặc biệt (18 000 mảnh nổ), tầm nổ cao: 2000 mét, diện tích phá hoại: 3,5 – 7ha

Hệ thống điều khiển: quán tính.

Sai số: 250 mét

Khối lượng tên lửa: 2000kg

Kích thước: chiều dài: 640mm; đường kính: 650mm; sải cánh – 1440mm

Tốc độ bay: 300 – 500m/s

Động cơ: động cơ tên lửa nhiên liệu rắn (sức kéo: 9788kg lực)

Nhiên liệu: hỗn hợp chất rắn DAP-15V

Vận chuyển tên lửa trong thùng vận tải – phóng: tên lửa – 9Ya9234; đầu đạn – 9Ya236


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2011, 05:52:58 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/image3.jpg)

9M79FR “Tochka-R” – tên lửa chiến thuật tiêu diệt các loại ra đa định vị.

Hệ thống dẫn đường: ra đa định vị thụ động. Tầm xa bám bắt ra đa định vị - 15km. Sai số: 45m

Đầu đạn 9N123FR: nổ - nổ mảnh. Phạm vi phá hoại: hơn 2ha.

Tên lửa 9M79 – một tầng, điều khiển với sự bố trí bánh lái và cánh hình chữ X. Đầu đạn nối liền với thân có thể sử trong dạng đầu đạn hạt nhân (AA-60), nổ (9N123F), “mẹ - con” (9N123K, 50 mảnh đạn đặc biệt) và các loại đầu đạn khác. Đầu đạn được nối tiếp với thần tên lửa bằng 6 buloong kiểu bản lề gấp theo liên kết hình nhẫn, còn sự kết nối điện được thực hiện bằng cáp. Cánh tên lửa trong trạng thái hành quân được gấp lại, hướng vào nhau theo cặp.

Sự khởi động tên lửa được thực hiện theo hướng nghiêng, còn sau khi phóng, tên lửa thực hiện vòng quay tới hướng mục tiêu. Hướng di chuyển của thiết bị phóng của “Tochka”: -15…15 độ nhằm giảm xác suất phát hiện ra điểm phóng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2011, 06:16:30 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/image4.jpg)

Tên lửa trên toàn bộ quỹ đạo bay được điều khiển bằng phương pháo tự động, quán tính với tổ hợp máy tính kỹ thuật số mang theo của hệ thống điều khiển, bảo đảm độ bắn trúng chính xác cao. Để tăng cường hiệu quả phá hủy mục tiêu, tên lửa hoàn thành sự cơ động (quay theo độ lắc) và bổ nhào tới mục tiêu dưới góc gần 90 độ. Bằng phương pháp này, trục đạn nổ của đầu đạn 9B123F được hướng dưới trục thân đầu đạn một cách tuyệt đối tới góc xác định, còn diện tích phá hoại cực đại được thực hiện bằng vụ nổ trên không ở độ cao 20 mét. Các phép tính toán nhiệm vụ bay của tên lửa được thực hiện với sự sử dụng bản đồ địa hình số, nhận được khi trinh sát không ảnh và vũ trụ trên khu vực của đối phương.

Thiết bị hệ thống dẫn đường (khí tài KGP, 9B64), thiết bị tính toán phân tán (rời rạc) – tương tự (DAVU,9B65), khối tự động mạng theo (9B66) và khối điều khiển (9B150) được bố trí trong thùng thiết bị. Liên kết quang học của thiết bị KGP) tới thành tên lửa từ thiết bị phóng trên mặt đất hoặc xe kiểm tra – thí nghiệm được bảo đảm bằng dây dẫn sáng.

Động cơ nhiên liệu rắn một chế độ trong thân làm từ thép hợp kim chất lượng cao với lực kéo theo lý thuyết 9788kg lực bảo đảm tốc độ bay của tên lửa 300 – 500m/s. Các cánh,  được lắp trong thân tên lửa, các vành, đai trên và dưới (để vận tải và nạp đạn) được lắp trong thân tên lửa, đồng thời máy cảm biến độ dốc để truyền tín hiệu tới thời điểm tên lửa dôc xuống hướng mục tiêu. Sự đốt cháy thuốc đạn 9Kh151 (perchlorat ammonia, cao su với lượng thêm bột nhôm) được thực hiện bằng chất dẫn lửa được phụt ra từ hai họng phụt kiểu 15Kh226.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2011, 07:54:36 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/image5.jpg)

Trong thùng đuôi bố trí 4 máy lái (hai ở trên, hai dưới) với sự sử dụng các thiết bị điều khiển (4 máy lái khí động học và 4 máy lái cơ khí). Trong thời kỳ đầu quỹ đạo bay, khi tốc độ tên lửa chưa đủ mạnh để bánh lái khí động học hoạt động, tên lửa được điều khiển bằng các bánh lái cơ khí, còn sau đó – bằng cánh bánh lái khí động học dạng lưới. Trong thùng đuôi đồng thời bố trí thiết bị thủy lực (9B67) với thiết bị truyền động thủy lực (9B16) để bảo đảm hoạt động của máy lái và nguồn năng lượng phát điện tuabin (9B14) trong thành phần khối tuabin khí (9B152), khối điện trở (9B151) và khối điều tốc (9B242).

Khi tên lửa được trang bị đầu đạn nổ - nổ mảnh khối lượng 482kg (khối lượng thuốc nổ 162,5kg) và tầm cao nổ 20 mét, nó bảo đảm tiêu diệt mục tiêu trên diện tích 2 – 3ha. Khi đó, có thể tạo thành 6000, 4000 và 4500 phần tử nổ mảnh khối lượng tương ứng 21, 10 và 5,5 gram. Đầu đạn “mẹ - con” khối lượng 482kg với 50 phần tử nổ (khối lượng thuốc nổ trong mỗi phần tử:1,45kg) khi nổ trên độ cao 20 mét bảo đảm tiêu diệt mục tiêu tập trung trên diện tích 3,5 – 7ha.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2011, 08:04:03 pm
Thiết bị phóng tự hành (SPU) 9P129

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/5921.jpg)

Baza – bánh hơi “thiết kế 5921” (6x6)

Kíp xe: 3 người

Khối lượng: nạp đạn: 18,145 tấn; rỗng: 17,8 tấn

Độ cách sáng: 400mm

Động cơ: diezen 5D20B-300; công suất: 300 sức ngựa

Tốc độ: trên đường nhựa: 60km/h; theo đường đất: 40km/h; không có đường: 15km/h; bơi: 8km/h

Tầm hoạt động: 650km

Thời gian chuẩn bị phóng: chuẩn bị phóng số 1: 2 phút, từ khi hành quân: 16 – 20 phút; rời khỏi trận địa hỏa lực: 1,5 phút.

Khoảng cách giữa các lần phóng: 40 phút.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 04:44:12 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/baz5921.jpg)

Thiết bị phóng 9P129 được sử dụng cho nhiệm vụ vận tải và phóng một tên lửa. Khí tài thiết bị phóng bảo đảm giải quyết nhiệm vụ nối điểm khởi động, tính toán nhiệm vụ bay và ngắm của tên lửa. Sự chuẩn bị đo đạc địa hình và kỹ thuật của trận địa và sự bảo đảm thời tiếp phóng không yêu cầu. Sự phóng theo mục tiêu có thể được thực hiện 16 – 20 phút sau khi hành quân và đi đến trận địa.

Sự sống cao được bảo đảm bằng khả năng rời khỏi trận địa sau 1,5 phút sau khi tên lửa khởi động, đồng thời nâng thời gian nâng tên lửa để phóng mất 15 giây. Khi ngắm, cảnh giới trực chiến và khi thực hiện phần lớn thao tác trong quá trình trước khi phóng, tên lửa ở trạng thái nằm ngang. Trong khi hành quân, hướng của tên lửa đặt theo phương ngang, còn buồng vận tải được đóng ở phía trên bằng hai cánh cửa thép. Trong vị trí chiến đấu, các cánh cửa thép được mở ra và nằm ở hướng góc cao 78 độ.

Toàn bộ bánh xe của khung gầm đều là bánh dẫn động, các lốp với khả năng điều áp không khí. Để di chuyển trên nước, có hai động cơ phụt nước – các bơm dạng chân vịt. Trên mặt nước, khung gầm được điều khiển bằng các bơm phụt nước điều tiết lắp ngầm trong thân xe. Hai xe có khả năng di chuyển theo mọi loại đường xá.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 05:06:42 pm
Xe vận tải – nạp đạn (TZM) 9T218

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/image2.jpg)

Kíp xe: 3 người

Khối lượng: 18,145 tấn

Tốc độ: trên đường nhựa: 60km/h; đường đất: 40km/h; bơi: 8km/h

Tầm hoạt động: 650km

Thiết bị truyền động thủy lực, diềm chắn đạn. Thời gian nạp đạn cho thiết bị phóng: 19 phút.

Các khí tài cơ bản của xe vận tải – phóng bảo đảm cho đại đội tên lửa không trang bị đạn chở đạn đến trận địa. Toàn bộ thùng kín của xe có thể bảo trì và vận chuyển theo khu vực tác chiến hai tên lửa trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cùng với các đầu đạn. Trang bị chuyên dụng của xe gồm có thiết bị truyền động thủy lực, diềm chắn đạn và một vài hệ thống khác, cho phép trong khoảng thời gian 19 phút thực hiện việc nạp đạn cho thiết bị phóng. Nhiệm vụ này có thể được thực hiện trong bất kỳ sự không chuẩn bị trước về kỹ thuật trên trận địa, các kích cỡ cho phép lắp trên thiết bị phóng và xe vận tải – nạp đạn hàng loạt các thiết bị mang theo. Các tên lửa trong các thùng kim loại có thể đồng thời bảo trì và vận tải trong các xe vận tải của tổ hợp. Mỗi xe có khả năng bố trí hai tên lửa hoặc bốn đầu đạn.

Các khí tài điều khiển thông tin liên lạc – KShMR-145BM (R-130, R-111, R-123).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 05:13:55 pm
Xe vận tải (TM) 9T222 và 9T238

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/ZIL137.jpg)
Xe vận tải Zil-137 (9T222)

Xe tải trong thành phần gồm xe kéo Zil-137 (9T222) hoặc Zil-137T (9T238) và xe bán kéo 99511.

Sự khác nhau theo nguyên tắc giữa các xe này có khả năng truyền lực xoắn từ lực kéo tới cầu bán tải: 9T222 – truyền tải thủy lực, 9T238 – truyền tải cơ khí.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/ZIL137_.jpg)

Số lượng tải: tên lửa: 2 hoặc 4 đầu đạn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 05:21:25 pm
Tổ hợp trang bị 9F370

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/16411.jpg)

+ các thùng vận tải: tên lửa: 9Ya234, đầu đạn: 9Ya236

+ xe goòng kho hàng – sân bay 9T114 (để vận chuyển thùng 9Ya236), 9T127 và 9T133 (để vận chuyển thùng 9Ya234)

+ để vận chuyển tên lửa và đầu đạn sử dụng các toa đẳng nhiệt 9T62, 9T63, 9T610

+ việc vận chuyển tên lửa được thực hiện với sự hỗ trợ của xà ngang 9T315, xà 9T64, 9T66, giá 9T55.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 05:30:54 pm
Các khí tài phục vụ kỹ thuật và thao tác

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/ss21belorussia.jpg)
"Tochka" trong quân đội Belorussia

+ xe kiểm tra – thí nghiệm tự động hóa AKIM 9V819 cho nhiệm vụ thực hiện thao tác với tên lửa và đầu đạn, trừ các thiết bị chuyên dụng

+ xe phục vụ kỹ thuật MTO 9V844 – để kiểm tra bản điều khiển của thiết bị phóng và xe kiểm tra – thí nghiệm tự động

+ xe phục vụ kỹ thuật MTO-4OS được sử dụng cho mục đích sửa chữa và phục vụ bộ phận cơ sở (bằng các xe hơi bốn bánh)

+ tổ hợp trang bị 9F370 để thực hiện các quy trình thao tác với đầu đạn và tên lửa cơ sở và thuốc súng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 05:39:55 pm
Các khí tài học tập – huấn luyện

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/SS-21parade.jpg)

+ tên lửa học tập – huấn luyện (UTR) 9M79F-UT, 9M79K, 9M79K-UT

+ đầu đạn học tập – huấn luyện: 9N39-UT, 9N64-UT

+ mô hình khối lượng – kích thước GBM: 9M79-GBM

+ mô hình mặt cắt phần tên lửa 9M79

+ mô hình mặt cắt đạn đầu đạn nổ - nổ mảnh hoạt động tập trung 9N-123F-RM

+ mô hình mặt cắt đầu đạn “mẹ - con” 9N123K-RM.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 05:55:46 pm
Các thiết bị huấn luyện

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/tochka-1.jpg)
"Tochka" trong lực lượng Hải quân

+ 9F625 – tổ hợp thiết bị huấn luyện dành cho việc luyện tập kíp xe của thiết bị phóng

+ 2U43 – khi tài huấn luyện điều khiển của lái xe trong thiết bị phóng

+ 2U420 – khí tài huấn luyện trắc thủ

+ 2U41 – thiết bị huấn luyện dành cho huấn luyện nguyên tắc đo đạc với la bàn thủy văn 1G17

+ 2U413 – thiết bị huấn luyện – tên lửa 9M79F, có tác dụng hỗ trợ các phần tử của tổ hợp.

Ngoài các phương tiện kỹ thuật đã được liệt kê, trang bị của các phân đội kỹ thuật còn có cần cẩu 9T31M1 và xe bảo đảm sự sống của kíp lái 8T331 và các phương tiện kỹ thuật khác.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 06:07:12 pm
Thông tin lịch sử

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/strona_143_toczka.jpg)

Sự thiết kế tổ hợp tên lửa cấp tiểu đoàn “Tochka” được bắt đầu theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng từ ngày 4 tháng 3 năm 1968. Nơi chịu trách nhiệm chính theo đề tài là Phòng thiết kế lắp ráp thiết bị Kolomen (Kalomen), còn tổng công trình sư là S.N.Nẹpobedin. Hệ thống điều khiển tên lửa được thiết kế tại Viện Nghiên cứu khoa học Trung ương tự động hóa và thủy lực học. Thiết bị phóng được thiết kế và sản xuất hàng loạt tại cơ sở “Barrikada” ở thành phố Volgarad. Sự sản xuất hàng loạt của tên lửa tiến hành ở xưởng thiết kế xe máy Votkin. Khung gầm cho thiết bị phóng và xe vận tải – nạp đạn được sản xuất tại Bryansk.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 06:19:20 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/tochka1ss21.jpg)
"Tochka" trong quân đội Ukraina

Hai lần phóng tên lửa điều khiển “Tochka” đầu tiên được tiến hành năm 1971 trong quá trình thí nghiệm cấp xưởng. Sự sản xuất hên lửa hàng loạt bắt đầu năm 1973. Tổ hợp được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang năm 1976 theo Mệnh lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô số 0011. Tháng 4 năm 1971, công việc thiết kế biến thể tên lửa “Tochka-R” được bắn đầu với hệ thống tự động dẫn bắn thụ động tới mục tiêu bị bức xạ vô tuyến (đài ra đa định vị, đài vô tuyến….). Hệ thống dẫn bắn bảo đảm tầm xa bám bắt mục tiêu trên cự ly trên 15km. Khi đó, thiết kế của tên lửa, ngoại trừ đầu đạn, còn toàn phần được giữ lại. Độ dẫn bắn chính xác của “Tochka-R” tới mục tiêu đang hoạt động một cách trực tiếp không quá 45 mét, còn khu vực phá hủy trên 2ha. Năm 1970, việc thiết kế đầu đạn cho tên lửa mới trong dạng đơn khối được bắt đầu với loại đạn nổ - nổ mảnh và đạn “mẹ - con”.

Năm 1988, trên lãnh thổ Liên Xô và Đông Đức được triển khai không dưới 140 tổ hợp 9K79 “Tochka”. Hiện nay, ngoài Nga, tổ hợp này được phân bố ở Belorussia, Ukraina, Kazastan, Azerbaijan, Bulgari, Ba Lan, Slovakia, Siry và Yemen. Theo phân loại NATO, tổ hợp nhận tên gọi SS-21 “Scarab” (tên gọi theo hệ thống DoD của Mỹ: FROG-9).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2011, 06:31:14 pm
Sự tiếp nhận chiến đấu

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/11248.jpg)
Tên lửa "Tochka-U" phóng từ lãnh thổ Bắc Osetia mùng 9 tháng 8

Tổ hợp “Tochka-U” được sử dụng một cách linh hoạt bởi các lực lượng Liên bang để tiêu diệt các công trình và địa điểm quân sự ở Chesnhia.Theo chi tiết, tổ hợp được tiếp nhận trong tập đoàn quân hợp thành số 58 để tiến hành các cuộc tấn công vào trận địa của các chiến binh ở khu vực Bamut. Mục tiêu được lựa chọn là các kho vũ khí và trại lính lớn của quân khủng bố. Sự xác định vị trí chính xác được định vị bằng các khí tài trinh sát vũ trục, sau đó theo dõi quỹ đạo đạn đạo bay của tên lửa cho đến thời điểm tiêu diệt.

Trong thời gian xung đột Gruzia – Nam Osetia tháng 8 năm 2008, các tổ hợp tên lửa “Tochka” của Nga đã tấn công từ khu vực Bắc Osetia vào các công trình và cơ sở của Gruzia.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:15:39 pm
Thông số kỹ thuật

Thông tin chung

+ phân loại: tên lửa chiến thuật

+ tầm bắn (km)

• gần nhất: 15

• xa nhất: 70

+ loại đầu đạn: thông dụng, hạt nhât

* điều kiện khai thác sử dụng: từ -40 đến 50 độ (khoảng 6 tiếng đồng hồ từ -60 đến 40 độ, từ 50 đến 60 độ)

* tốc độ gió:25m/s

 +có khả năng vận chuyển bằng đường không

Thiết bị phóng tự hành

+ kíp xe: 3 người

+ khung gầm cơ sở: bánh hơi, 6x6

+ khối lượng:

• rỗng: 17,8 tấn

• nạp đạn: 18,145 tấn

+ độ (khoảng sáng) cách đất: 400mm

+ động cơ: diesel 5D20B-300

+ công suất: 300 sức ngựa

+ tốc độ tối đa:

• trên đường nhựa: 60km/h

• đường đất: 40km/h

• khu vực không có đường xá: 15km/h

• bơi: 8km/h

+ tầm hoạt động: 650km/h

+ thời gian (phút)

• chuẩn bị phóng trong trạng thái số 1(trực chiến): 1-2 phút

• chuẩn bị phóng từ trạng thái hành quân: 16 – 20 phút

• rời khỏi trận địa hỏa lực: 1,5 phút

Tốc độ giữa các lần phóng: 40 phút


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:19:15 pm
Xe vận tải – nạp đạn

Kíp xe: 3 người

Khung gầm: bánh hơi 6x6

Khối lượng khi nạp đạn: 18,15 tấn

Khoảng sáng cách đất: 400mm

Động cơ: diezen 5D20B-300

Công suất: 300 sức ngựa

Tốc độ tối đa (km/h)

+ đường nhựa: 60

+ đường đất: 40

+ không có đường: 15

+ bơi: 8

Tầm hoạt động: 650km

Thời gian nạp đạn của thiết bị phóng: 19 phút


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:23:27 pm
Thông số kỹ thuật tên lửa 9M79

Phân loại: nhiên liệu rắn, một tầng

Phân loại đầu đạn: hạt nhân, nổ - nổ mảnh, nổ mảnh “mẹ - con”

Hệ thống điều khiển: tự động, quán tính

Bộ phận điều khiển: cơ khí và khí động lực

Chiều dài (mm)

+ tên lửa: 6400

+ đầu đạn: 2325

Khối lượng (kg)

+ tên lửa khi khởi động: 2000

+ đầu đạn: 482

+ nhiên liệu: 926

Nhiên liệu: DAP-15B

Sức kéo động cơ: 9788kg lực

Thời gian hoạt động của động cơ: 18,4 – 28 giây

Độ cao quỹ đạo: 6 – 26km

Thời gian bay: 43 – 163 giây.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:27:15 pm
Thông số kỹ thuật các loại đầu đạn

Đạn 9N123F

Phân loại: đạn nổ - nổ mảnh

Số lượng mảnh nổ đặc biệt:  –

Khối lượng: 482kg

Khối lượng mảnh nổ đặc biệt: -

Khối lượng thuốc nổ: 162,5

Khối lượng thuốc nổ trong mảnh nổ đặc biệt: -

Diện tích phá hoại: 2 – 3 héc ta (ha)

Đạn 9N123K

Phân loại: đạn nổ mảnh -  “mẹ - con”

Số lượng mảnh nổ đặc biệt:  50

Khối lượng: 482kg

Khối lượng mảnh nổ đặc biệt: 7,45kg

Khối lượng thuốc nổ: -

Khối lượng thuốc nổ trong mảnh nổ đặc biệt: 1,45

Diện tích phá hoại: 3,5 - 7 héc ta (ha)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:29:36 pm
Một số hình ảnh về tổ hợp tên lửa chiến thuật 9K79 "Tochka" (9K79-1 "Tochka-U" - điểm khác biệt của hệ thống sau nằm ở tầm xa và độ chính xác cao hơn):

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/____26.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/U-tochka.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9p129-7.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:31:33 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/-.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Tochka-U_rep.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9p129-6.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:32:33 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Tochka-U.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/Tochka_U.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/OTR-21_Tochka_d.jpg)


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 04:33:41 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/OTR-21_Tochka_TEL.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/OTR-21_Tochka_U.jpg)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/OTR-21U_Tochka.jpg)




Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 08:38:14 pm
Tên lửa đạn đạo chiến dịch – chiến thuật R-2 (8Zh38)

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/R-2SS-3.jpg)

Khi thiết kế tên lửa đạn đạo R-2 với tầm bắn tăng gấp đôi (so với tên lửa R-1), S.P.Korolev đã gia nhập Viện Nghiên cứu khoa học số 88 vào năm 1948, còn theo một vào thông tin, Korolev đã bắt đầu thiết kế tên lửa R-2 trên thực tế là song song với R-1 từ ngày 12 tháng 4 năm 1948. Các thí nghiệm thiết kế bay bắt đầu vào tháng 9 năm 1949 trên trường bắn Kapyctin Yar và được hoàn thiện vào tháng 6 năm 1951. Lần phóng thí nghiệm đầu điên của phiên bản tên lửa thí nghiệm R-2E với mục đích kiểm tra khả năng làm việc của hệ thống cho tên lửa R-2 tương lai diễn ra vào ngày 21 tháng 9 năm 1949. Tổng cộng đã có 6 lần phóng và hai trong số đó không thành công. Trong thời kỳ 1950 – 1951 đã diễn ra thêm 30 lần phóng nữa, trong số đó có 24 lần thành công và vào năm 1952, thêm 14 lần phóng với 12 lần thành công.

Ngày 27 tháng 11 năm 1951, R-2 được tiếp nhận vào trang bị của lực lượng tên lửa Liên Xô và 30 tháng 11 năm 1951 và sau đó, theo lệnh của bộ trưởng Quốc phòng Ustinov D.F về việc sản xuất hàng loạt tên lửa.

Để tăng tầm bắn, lần đầu tiên đầu đạn được tách rời với thân tên lửa bằng các hoàn thiện các bộ phận chủ động trong khi bay đã được tiếp nhận. Ngoài ra, khối lượng tên lửa được giảm xuống bằng sử dụng thùng nhiên liệu mang theo từ hợp kim nhôm nhẹ. Thùng với chất ô xy hóa treo vẫn được duy trì. Động cơ mới RD-101 của Valentin Glushkov theo so sánh với động cơ RD-100 có vòng quay tuabin cao hơn, áp suất trong thùng được tăng cường và sử dụng nhiên liệu với sự tăng cường đến 92% độ đậm đặc của cồn etilen. RD-101 bảo đảm yêu cầu sức kéo cao hơn động cơ RD-100. Các sơ đồ thiết kế điện tử và thủy khí được hoàn thiện, nối khí hơi với chất xúc tác rắn thay cho chất lỏng.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 08:50:57 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/ss-2siblinh.jpg)

Để tăng cường độ chính xác, hệ thống điều khiển lấy từ tên lửa R-1 được hoàn thiện bằng hệ thống hiệu chỉnh vô tuyến mang theo, giảm sự trôi song song của tên lửa. Theo đó, hệ thống điều khiển tự động không nhạy cảm. Điểu thực hiện sự hiệu chỉnh vô tuyến yêu cầu sự bố trí sau trận địa phóng hai ra đa định vị điều khiển hoạt động của tên lửa trong khi bay. Việc này rõ ràng làm phức tạp hóa quá trình khai thác sử dụng và tiếp nhận tên lửa. Thuốc nổ trotil tăng cường khối lượng cũng được chế tạo, khi nổ, có diện tích phá hủy 950km2.

Trong thiết bị điều khiển, tiếp nhận các cánh lái khí hơi và khí động học được tiếp nhận. Thiết bị phóng mới, thuận lợi cho cả R-1 và R-2 được thiết kế cho tên lửa R-2. Thời gian chuẩn bị tên lửa cho tới khi phóng: 6 giờ (như của R-1), còn thời gian đưa tên lửa vào trạng thái chiến đấu được giới hạn: 15 phút, sau đó, nhiên liệu cần được đổ hoặc đưa vào tên lửa

Sự sản xuất hàng loạt được tiến hành tại xưởng Quốc gia Liên bang số 586 tại Dnepopetrovsk tháng 6 năm 1953.

Những lần phóng diễn tập quân sự đầu tiên của R-2 trong Quân chủng.được thực hiện trong nhiệm vụ của bộ phận chỉ huy các lực lượng tên lửa năm 1952.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2011, 09:03:44 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/sibling.jpg)

Năm 1953, đã tiến hành thí nghiệm tên lửa với các bộ phận đầu đạn có chất lỏng phóng xạ “Geran” và “Generator”. Phiên bản tên lửa đầu tiên “Geran” nổ ở tầm cao với chất lỏng phóng xạ và tạo ra các đám mưa phóng xạ. Phiên bản “Generator” có khả năng phá hoại thấp hơn. Về các công việc tiếp theo về “Geran” và “Generator” không có trong các nguồn tài liệu mở. Chỉ biết rằng, vào đầu những năm 50, Phòng thiết kế của xưởng Kirov đã thiết kế các xe chuyên dụng với quá trình điều khiển nạp nhiên liệu cho tên lửa từ xa. Nhiên liệu tên lửa “nhiên liệu lỏng và chất ô xy hóa”. Mẫu xe thí nghiệm đầu tiên (06.801) được sử dụng để nạp nhiên liệu cho tên lửa “Generator”. Xe được chế tạo tên gầm xe vận tải YaAZ-210D. Khối lượng tổng thể của xe: 22 tấn. Năm 1955, thêm hai thiết kế tương tự trên cùng khung gầm cũng được chế tạo, nhận số hiệu “06.802” để nạp nhiên liệu cho tên lửa “Planer” và Akkumulyator”, đồng thời “06.805” để tiếp nhiên liệu cho tên lửa “Generator-5”.

Các kỹ sư hạt nhân sau đó đã chế tạo đạn đặc biệt cho R-2, trong đó có bộ phận đầu đạn tên lửa. Tháng 11 năm 1955, các chuyến bay thí nghiệm R-2 với đầu đạn tăng cường đã diễn ra. Trong Quân chủng, đầu đạn hạt nhân của R-2 được tiếp nhận năm 1956.

Năm 1954, trên cơ sở phiên bản chiến đấu của tên lửa R-2, tên lửa thăm dò địa lý R-2A (V-2A) đã được chế tạo.

Tháng 12 năm 1957, bằng quyết định của Chính phủ, giấy phép sản xuất và toàn bộ tổ hợp, tài liệu của R-2 đã được bán cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 04:18:01 pm
Tên lửa đạn đạo tầm trung R-5, R-5M (8K51) SS-3 “Shyster”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/r5.jpg)

Tên lửa R-5 là sự phát triển tiếp theo được thực hiện trên R-2.Vào đầu những năm 50, trong Phòng thiết kế thí nghiệm đã thực hiện việc thiết kế một loại tên lửa mới hoàn toàn R-3 hoặc “sản phẩm 8A67”, với tầm bắn xa 3000km. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cưú của thiết kế này đã đưa ra kết luận do nhiều khó khăn trong việc chế tạo động cơ ô xy hóa dầu mới và hàng loạt các nguyên nhân khác đã dẫn đến việc chuyển sang thiết kế tên lửa mới R-3A, nhận tên gọi R-5.

Các công việc thiết kế tên lửa R-5 được thực hiện bởi sự liên hiệp giữa các tổ chức dưới sự chỉ đạo của S.P.Korolev (tên lửa, tổ hợp), V.P.Glushko (động cơ), N.A.Pilyugin (hệ thống điều khiển và khí tài kiểm tra – phóng), B.P.Barmin (trang bị khởi động, tiếp liệu và hỗ trợ trên mặt đất), V.I.Kyznetsov (các khí tài chỉ huy). Trong thời gian một năm, tập thể các công trình sư dưới sự lãnh đạo của Tổng công trình sư Phòng thiết kế số 1 D.Kozlov và các chuyên gia của xưởng thí nghiệm đã thiết kế tên lửa mới và đưa nó tới trường bắn ở Kapustin Yar để tiến hành các thí nghiệm bay.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 04:37:56 pm
Dự kiến, quá trình thí nghiệm sẽ trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn đầu: thí nghiệm, giai đoạn thứ ba: các thí nghiệm bắn hiệu chỉnh và sát hạch.

Giai đoạn đầu tiên của các thí nghiệm bay trên tên lửa R-5 thực hiện trong tháng 3 – 5 năm 1953. Lần phóng đầu tiên trên tầm xa 550km vào 15 tháng 3 năm 1953. Tổng cộng diễn ra 8 lần phóng: 2 lần trên tầm xa 270km, 5 lần trên tầm xa tối đa 1200km và 1 lần – 550km. Trong đó, 6 lần tên lửa tới mục tiêu. Lần phóng thành công đầu tiên trên tầm xa tối đa vào 19 tháng 4 năm 1953.

Khi chuẩn bị trong giai đoạn hai các thí nghiệm bay của R-5, trong thiết kế tên lửa và hệ thống điều khiển đã có hàng loạt thay đổi.

Giai đoạn hai của thí nghiệm bay diễn ra trong tháng 10 – 12 năm 1953. Tổng cộng có 7 lần phóng trên tầm xa 1185km. Một trong số đó không thành công do lỗi của mạng dây cáp mang theo đã cung cấp mệnh lệnh cảnh báo đóng động cơ tên lửa và dẫn đến việc không hoàn thành tầm bay xa.

Giai đoạn thí nghiệm bay lần thứ ba diễn ra từ tháng 8 năm 1954 đến tháng 2 năm 1955. Tổng cộng có 19 lần phóng: 5 lần bắn hiệu chỉnh, 10 lần thí nghiệm sát hạch. Ngoài ra, còn thêm bốn lần phóng hiệu chỉnh do không thành công trong việc xử lý điều khiển vô tuyến tầm xa.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 04:56:20 pm
Đúng như dự đoán, với những lần phóng đầu tiên, các lỗi thiết kế đã xuất hiện. Trở ngại trong việc sử dụng R-5 bao gồm khối lượng lớn, có lực cản khí động học cho các thiết bị ổn định cao, tạo cho thiết kế của tên lửa không có tính ổn định. Do đó, toàn bộ thiết kế 20 mét này có dạng một thùng chứa với chất lỏng, giảm sự ổn định một cách tịnh tiến và gây thiệt hại cho các dây cáp đàn hồi. Hệ thống điều khiển được thiết kế ở Viện Nghiên cứu khoa học số 885, không thể đối phó được với sự cháy các cáp tự động bên trong thiết kế và sự ổn định tự động, các cánh lái khí ga và không khí rất khó khăn trong việc duy trì R-5 tại ví trí cần thiết trên quỹ đạo bay.

Ban đầu, tầm bay xa tối đa không quá 1000km do sự phá hủy đầu đạn của R-5 không duy trì được trước sức cản của không khí. Để bảo vệ khỏi sự cháy của lớp vỏ thép trên đầu đạn R-5, lần đầu tiên tiếp nhận dạng thạch cao chịu nhiệt đặc biệt dày 6mm trên cơ sở vật liệu chịu nhiệt cao.

Mặc dù toàn bộ các quá trình đều phức tạp, các công việc hoàn thiện tên lửa vẫn được tiếp tục. Đầu năm 1955, sự tin cậy của hệ thống và các chi tiết đã đáp ứng được yêu cầu đề ra. Mục tiêu chưa đạt được là đầu đạn hạt nhân. Sự thiết kế vì thế đã bị trì hoãn.

Trong các điều kiện này, đã nhận được quyết định tiếp nhận tên lửa đạn đạo tầm trung R-5 với đầu đạn được nạp thuốc nổ thường có khối lượng 1000kg. Các tên lửa lớp này gia nhập trang bị trong các lữ đoàn kỹ thuật thuốc Lực lượng dự bị trong Đại Bản doanh, nơi đã từng khai thác sử dụng tên lửa R-2 trước đó. Mỗi lữ đoàn có 6 thiết bị phóng (theo các thông tin khác, tên lửa đã được gia nhập lực lượng vũ trang nhưng không đưa vào sản xuất hàng loạt).


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 05:14:00 pm
Các công trình sư đã tiếp tục tìm kiếm phương pháp tăng cường khả năng tác chiến của tên lửa. Để tăng cường hiệu quả trong khu vực mục tiêu, đã có những sáng kiến đáng chú ý. Ngoài đầu đạn tiêu chuẩn, tên lửa còn mang theo 2 và sau đó là 4 đầu đạn bổ sung, cho phép bắn phá diện rộng hơn. Sự thật là, khi đó tầm bay xa của tên lửa giảm xuống còn 820 và 600km tương ứng. Hiệu quả của hai phiên bản đầu đạn trên là thấp.

Tên lửa đạn đạo R-5 được thiết kế một tầng theo sơ đồ không ổn định với các thùng nhiên liệu mang theo từ các tấm hợp kim nhôm. Để nhiên liệu thừa, trong hai thùng đã lắp các phễu dập lửa và để cho độ chắc chắn của các thùng nhiên liệu và bảo đảm không bị không khí xâm nhập trong các thiết bị bơm khí tràn vào động cơ tên lửa, áp suất dư không lớn được tạo thành trong các thùng nhiên liệu. Trong động cơ khởi động, tên lửa tiếp nhận động cơ nhiên liệu lỏng RD-103 với sức kéo trên mặt đất 41 tấn do V.P.Glyshko thiết kế. Trong thành phần nhiên liệu sử dụng 92% cồn etilen và ô xi hóa lỏng.

Trong tên lửa tiếp nhận hệ thống điều khiển hỗn hợp. Để giảm sai số lệch mục tiêu của đầu đạn đã bổ sung kênh hiệu chỉnh vô tuyến. Các cánh lái cơ khí và khí động học được chế tạo nhằm tăng cường sự điều khiển trong bộ phận chủ động của quỹ đạo.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 05:31:20 pm
Tháng 4 năm 1954, các công việc trên phiên bản tên lửa hoàn thiện đã được bắt đầu. Tên lửa nhận tên gọi R-5M. Sự nâng cấp tập trung trước tiên và trang bị tác chiến, thiết bị động cơ và hệ thống điều khiển. Kết quả là tăng cường tầm bắn của tên lửa lên 200km. Theo đó, lần đầu tiên việc áp dụng các khối thiết bị dự trữ chính của hệ thống điều khiển đã tăng cường độ tin cậy cho tên lửa. Lần đầu tiên trên tên lửa lắp hệ thống cảnh báo nổ tự động để phá huy tên lửa trong trường hợp gặp phải độ sai lệch lớn từ quỹ đạo bay.

Tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân 300kt có khả năng tách rời khỏi thân trong hành trình bay cuối. Sai số vòng so với tính toán là 3,7km, sai số giới hạn: 6km.

Ngày 20 tháng 1 năm 1955, trên trường bắn Kapustin Yar đã diễn ra lần phóng thử đầu tiên của tên lửa R-5M. Ngày 2 tháng 2 năm sau đã thực hiện lần phóng (lần sát hạch thứ 5) của tên lửa với đầu đạn hạt nhân 80kt – trùng với thời gian bắt đầu Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Hoạt động này mang tên “Baikal”. Trung tướng P.A.Degtyarev là chủ nhiệm Hội đồng quốc gia trong thời kỳ diễn ra những cuộc thí nghiệm này. Sự phóng đã thành công. Sau nửa tiếng, đầu đạn đã rơi trúng mục tiêu định sắn (hình vuông) ở Karakum  gần Aral, sự tự động kích nổ đầu đạn đã hoạt động tốt.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 05:44:46 pm
Tổ hợp tên lửa với tên lửa tầm trung R-5M được tiếp nhận vào trang bị các lữ đoàn kỹ thuật thuộc Lực lượng dự bị ngày 21 tháng 6 năm 1956. Nó có nhiều điểm hiện đại hơn so với tên lửa R-5 tiền nhiệm. Sự phóng tên lửa được tự động hoàn toàn. Trong quá trình chuẩn bị trước khi phóng, sự kiểm tra mọi thao tác phóng được thực hiện. Sự khởi động của R-5M diễn ra từ thiết bị phóng trên mặt đất (bàn phóng) có thể lắp ở trên các khu vực phù hợp.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/r5m1.jpg)

Đương nhiên là tổ hợp tên lửa chiến đấu có những nhược điểm. Sự kiểm tra trước khi phóng, thao tác tiếp liệu và ngắm tên lửa được thực hiện mà không có các khí tài tự động hóa, làm tăng đáng kể thời gian chuẩn bị phóng. Việc này yêu cầu thời gian vài giờ để chuẩn bị tên lửa trước khi phóng. Sự tiếp nhận chất ô xy hóa bốc hơi nhanh của ô xy lỏng không cho phép duy trì tên lửa trong tình trạng nạp nhiên liệu quá 30 ngày. Các thùng ô xy hóa phải được thay thế thường xuyên. Vì thế, để kịp thay thế ô xy dự trữ cần cần có các thiết bị sản xuất lớn, mạnh trong khu vực đặt căn cứ tên lửa. Tất cả làm cho tổ hợp tên lửa trở nên kém cơ động và dễ bị tổ thương, hạn chế sự triển khai trong lực lượng vũ trang.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 05:51:01 pm
Trong trường hợp chiến tranh tổng lực, mỗi phương diện quân sẽ được cung cấp một lữ đoàn kỹ thuật thuộc Lực lượng dự bị. Nhưng sự tiếp nhận chiến đấu của các tên lửa này có thể thực hiện chỉ sau khi nhận được mệnh lệnh từ Đại bản doanh.

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/shyster.jpg)

Sau khi thành lập Quân chủng Tên lửa chiến lược ngày 17 tháng 12 năm 1959, toàn bộ các lữ đoàn kỹ thuật thuộc Lực lượng dự bị được trang bị các tổ hợp tên lửa với tên lửa đạn đạo tầm trung R-5M đã nằm trong thành phần các lực lượng vũ trang Liên bang Xô Viết. Đồng thời, các tiểu đoàn tên lửa cũng được tái thành lập. Trong 5 tiểu đoàn, tiếp nhận 1 tổ hợp tên lửa này với 8 tên lửa R-5M. Tổ hợp với “sản phẩm 8K51” được đưa vào sản xuất tại “Yuzhmashe” ở Dneproetrov với số lượng không lớn – 48 tên lửa. Sự khai thác sử dụng các tên lửa này tới năm 1967.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 06:19:07 pm
Tên lửa đạn đạo tầm gần R-11, R-11M (8K11) SS-1 “Scud A”

(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/r-11.jpg)

Sự thiết kế tên lửa R-11B trên các thành phần sôi cao: axit nitric và dầu lửa được bắt đầu vào năm 1953 tại Viện Nghiên cứu khoa học số 88 (OKB-1). Tổng công trình sư: S.P.Korolev.

R-11 theo so sánh với R-1 có khối lượng khởi động và tầm bắn (bay xa) thấp hơn 2,5 lần. Kích thước nhỏ khi các tính năng bay – chiến thuật cao có khả năng kéo dài sự bảo quản trong tình trạng nạp nhiên liệu, tạo cho tên lửa khả năng sử dụng tỏng phiên bản cơ động trên các khí tài vận tải khác nhau.

Động cơ nhiên liệu lỏng S2.253A (tổng công trình sư – Isaev) với áp lực cung cấp thành phần nhiên liệu hoạt động trên chất đốt T-1 (dầu lửa) và chất ô xy hóa AK-20I.

Thành phần nhiên liệu dưới áp suất của sự giảm không khí từ các khối khí vượt qua các màng và truyền tới máy phát điện khí ga, tự đốt cháy. Áp suất tăng cường đi qua màng của máy phát điện khí ga và hơi ga tới các thùng chất đốt và chất ô xy hóa, tạo thành áp suất, cần thiết để đẩy các thành phần nhiên liệu tới động cơ.

Hệ thống điều khiển – quán tính. Sai số tầm xa: -3000….3000 mét.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 06:43:16 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/2P19_9K72.jpg)

Thiết bị phóng từ hành mang tên 803 dành cho tên lửa 8A61 và 8K11 được thiết kế ở xưởng Kirov (Leningrad) vào những năm 1955 – 1956 dưới sự chỉ đạo của K.N. Iliyin. Thiết bị phóng được lắp trên khung gầm thiết bị pháo tự hành ISU-152K. Khối lượng thiết bị phóng 40 tấn, tốc độ tối đa: 42km/h. Điểm đặc biệt của thiết kế là trong trạng thái hành quân, tên lửa nằm trên ống phóng có hình dáng như khung thuyền. Trước khi phóng, tên lửa được đưa vào vị trí thẳng đứng và được cố định bằng xà phía sau bệ phóng. Thiết bị phóng 06.803 nhận số hiệu 8U218 và đưa vào sản xuất hàng loạt ở xưởng Kirov từ năm 1959. 06.803 được chấm dứt sản xuất bằng Mệnh lệnh số 1116 từ 10.10.1962.

Các thí nghiệm bay của R-11 được bắt đầu trong tháng 4 năm 1953 trên trường bắn Kapustin Yar. Giai đoạn thí nghiệm đầu tiên được tiến hành từ 18 tháng 4 đến 2 tháng 6 năm 1953 với 10 lần phóng tên lửa. Lần phóng thành công đầu tiên vào 21 tháng 5 năm 1953.

Theo các kết quả thí nghiệm bay đã tiến hành hàng loạt các hoàn thiện trong thiết kế của tên lửa – lắp các thiết bị hàng rào trong thùng phóng, cho phép bảo đảm khả năng phóng hoàn thiện hơn. Thiết kế động cơ phải chịu những sự thay đổi đáng kế, bảo đảm kín hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 06:54:57 pm
(http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/9P117_9K72.jpg)

Giai đoạn thí nghiệm thứ hai bắt đầu từ 20 tháng 4 đến 13 tháng 5 năm 1954. Trong 10 lần phóng tên lửa R-11, chín (9) tên lửa đã đạt tầm xa 270km với xác suất sai lệch tầm xa: 1,19km và sai lệnh bên: 0,66km.

Từ tháng 12 năm 1954 đến tháng 1 năm 1955 đã diễn ra năm lần phóng hiệu chỉnh thành công. Sau 10 lần thí nghiệm sát hạch vào tháng 1 – 2 năm 1955, ngày 13 tháng 7 ngăm 1955, tên lửa R-11 đã được tiếp nhận vào trang bị. Toàn bộ thời gian thí nghiệm đã thực hiện 35 lần phóng, trong đó 29 lần thành công.

Năm 1958, ba trung đoàn kỹ thuật thuộc Lực lượng dự bị trang bị các tổ hợp tên lửa chiến dịch – chiến thuật R-11 đã được chuyển giao cho Lục quân.

Theo Mệnh lệnh của Chính phủ từ 26 tháng 8 năm 1954, tên lửa R-11M cho Lục quân đã được thiết kế. R-11M khác với R-11 ở đầu đạn hạt nhân “RDS-4” 10kt. Sau khi trải qua 5 lần phóng sát hạch năm 1958, tên lửa R-11M đã được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang từ ngày 1 tháng 4 năm 1958 theo Mệnh lệnh của Chính phủ Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2011, 07:05:47 pm
Để có thể khai thác sử dụng tên lửa R-11M một cách phổ biến, tại Phòng thiết kế số 1 đã chế tạo tổ hợp trang bị cơ động trên bộ: bàn phóng được vận chuyển trên xe tải, còn trong trạng thái chiến đấu được đặt trực tiếp trên mặt đất. Sau đó, theo nhiệm vụ kỹ thuật, Phòng Thiết kế số 1 ở xưởng Kirov (Leningrad) đã thiết kế thết bị phóng tự hành trên cơ sở xe tăng hạng nặng cho tên lửa R-11M. Thiết bị khởi động này có thể di chuyển tới các khu vực quy định với tên lửa đã nạp sẵn nhiên liệu, chuẩn bị trong thời gian ngắn và thực hiện việc phóng, sau đó quay lại căn cứ, lấy tên lửa mới và thực hiện nhiệm vụ phóng từ khu vực khác. Trong đó, thời gian chuẩn bị cho tên lửa phóng rút ngắn từ 2 tiếng xuống còn 30 phút.

Trên cơ sở tên lửa R-11, đã chế tạo tên lửa khảo sát địa lý R-11, sự phóng được thực hiện trên vùng Đất Mới theo chương trình của năm địa vật lý quốc tên năm 1958.

Ngày 20 tháng 8 năm 1957, theo lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng về việc chuyển giao tên lửa R-2 cho Trung Quốc. Sau đó, tên lửa R-11 cũng được chuyển giao. Năm 1960 –