|
Tiêu đề: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Ba, 2008, 01:35:54 pm Tên sách: Trận chiến Điện Biên Phủ
Tác giả: Jules Roy Dịch giả: Ngô Bình Lâm Nhà xuất bản: Hà Nội Năm xuất bản: 2004 Số hoá: ptlinh, chuongxedap Cet ouvrage, publié dans le carde du Programme de participation à la publication, bénéficie du soutien du Centrel Culturel et de Coopératon de l’Ambassade de France en République Socialiste du Vietnam. Cuốn sách này được xuất bản trong khuôn khổ Chuơng trình hợp tác xuất bản với sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác của Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp La bataille de Dien Bien Phu - Jules Roy © Edition Albin Michel, S.A-Paris 1989 Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Ba, 2008, 01:42:30 pm Cuốn sách này xin dâng tặng: TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ Và tất cả những ai, sau khi đã chiến đấu, đã vượt qua được nỗi đau đớn, cảnh bị bắt làm tù binh hoặc lỗi nhục nhã của những kẻ thua trận cũng như niềm ngây ngất và sự hân hoan của những người chiến thắng, vẫn còn lòng tin ở sự công bằng, phẩm chất của sự hy sinh và còn tin vào tình yêu. J.R Không một ai ôm trọn hình ảnh quân đội trong trái tim bằng tôi. Tất cả những ai nhắc đến quân đội, trong lúc chúng tôi vắng mặt đi chiến đấu là đã nuôi dưỡng con cái họ bằng những món ăn ngon vả mặc cho chúng quần áo nhung lụa, trong lúc đó tôi nhìn thấy những chàng trai của mình mặc những chiếc áo khoác rách tả tơi và những chiếc quần bộ đội cũ nát, tự tồn tại bằng món thịt sống. Và vì những sai lầm mà lẽ ra người ta có thể tránh được, chín nghìn người trong số họ đã nằm lại trong những nấm mồ bị lãng quên. FLORENCE NIGHTINGALE Về cuộc chiến tranh CRIMÉE Không phải là chuyện không được phép gánh chịu nỗi bất hạnh. Tuyệt nhiên không phải là chúng ta ở Carthage(1), nhưng mà dù cho câu chuyện không bị đẩy đi xa đến thế, sẽ là tốt để biết được tại sao một vị tướng bị đánh bại lại đã như thế! Hoàng tử DE LIGNE - Nhà vua HENRI: Toà lâu đài ở gần đây tên là gì? - MONTJOIE: Người ta gọi nó là Azincourt(2) - Nhà vua HENRL: Nếu thế, chúng ta sẽ gọi trận đánh này là trận chiến Azincourt SHAKESPEARE Heri V, màn IV ___________________________________________________ (1) Carthage: Thành phố ở châu Phi. Thành lập năm 814 trước CN. Thủ đô của một nước cộng hòa vùng biển hùng mạnh. Trên bán đảo ngày nay gần nước Tunisie. Đã từng chiếm thuộc địa ở Sicile (Ý). Tây Ban Nha chống lại quân La mã. Bị người Arập chiếm năm 698. (2) Azincourt: địa danh vùng Bắc nước Pháp thuộc Pas de Calais. Ở đây quân đội Pháp bại trận trước quân đội Anh, 25/10/1415. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2008, 12:50:29 pm I THAI NGHÉN MỘT HUYỀN THOẠI Một vị tướng Chỉ huy không thể che giấu các lỗi lầm của mình trong chiến tranh bằng một mệnh lệnh của vị quân vương hay của vị bộ trưởng của mình khi mà người ban bố mệnh lệnh đó ở cách xa bãi chiến trường và hiểu biết ít hoặc không hiểu một tí gì thực tế cuối cùng của các sự việc. Từ đó rút ra kết luận là mọi vị tướng chỉ huy phải gánh lấy trách nhiệm khi thực hiện một kế hoạch mà ông ta thấy là sai lầm, ông ta là người có lỗi. Lẽ ra ông ta phải trình bày các lý do, nhấn mạnh các nguyên nhân để sửa đổi kế hoạch, cuối cùng xin từ chức còn hơn phải là công cụ dẫn tới sự tan vỡ của đội quân của mình Napoléon Những câu châm ngôn về chiến tranh và những suy nghĩ Ngày 19 tháng năm 1953 Một vị tổng chỉ huy, ông ta không đến giống như một viên quận trưởng. Trong cái nóng ngột ngạt của buổi giữa trưa, tất cả các viên tướng và các đô đốc của miền Nam Việt Nam, trang phục mầu trắng, đứng trên bãi rộng của sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn, chờ đợi chuyến bay đường dài từ Paris đến, chuyến bay này đã bị chậm mất bốn mươi lăm phút, nhường cho chiếc máy bay Dakota của viên cao ủy nước Pháp, đến từ Hà Nội, được hạ cánh trước. Ngồi trên chiếc máy bay Constellation, tướng Navarre, nét mặt tư lự đưa mắt ngắm nhìn cái khoảng mênh mông và đáng sợ của những bãi lầy, những vành đai ao hồ cuộn tròn trên những khu đất trũng, nơi đó mặt biển thọc sâu những ngón tay của nó vào. Đây là một phần của cái vương quốc rộng lớn mà ông đã nhận lấy trách nhiệm bảo vệ. Mặt nước lấp lánh dưới ánh mặt trời và những ngôi làng với những mái nhà gianh nằm chen chúc dưới những rặng tre khổng lồ. Máy bay ngược lên hướng bắc, bay trên khu bến cảng và trên những khu vườn của thành phố, lăn bánh trên mặt đường bê tông và dừng lại. Xuất hiện trong khung cửa chiếc máy bay Constellation, Navarre không chỉ thấy ngột ngạt bởi cái lò lửa giống như cái lò lửa của sân bay tạm dừng chân ở Calcutta. Một người khác hẳn đã khó mà từ chối buổi nghi lễ tại chỗ để chào đón mình. Chắc hẳn, ông đã biết tất cả các nghi thức ấy kể từ ngày ông nắm chiếc ca-táp nhỏ cầm tay của các viên tổng chỉ huy và các thống chế. Nhưng mà lần này, ông là ông hoàng mà người ta chờ đợi và trước mặt ông hoàng ấy, kèn trống đã nổi lên. Với những thú vui tinh tế ấy mà người tiền nhiệm của ông, tướng Salan, lúc này đang kéo dài những cuộc thăm viếng chia tay ở Bắc Kỳ, đã từng say sưa ngây ngất, Navarre chỉ nhâm nhi với một niềm thích thú kín đáo - sau này khi đã biết được cái giá của nó, ông thở phào nhẹ nhõm gạt bỏ niềm thích thú ấy. Tập hợp các tham mưu trưởng của ba quân chủng, các cơ quan hậu cần, các thầy thuốc, dược sĩ và bác sĩ quân y, những người phụ trách các dịch vụ và thông tin liên lạc, các viên mật thám người Việt Nam hay hòa hảo, khoảng năm chục chiếc mũ kê pi và mũ cứng có những chiếc lá sồi mạ vàng lóng lánh nổi lên phía sau lưng cái bóng dáng dân sự, to béo và mềm yếu, đẫm mồ hôi và nước thánh của viên cao ủy. Hai tiểu đoàn bồng súng chào cùng với tiếng nhạc và ánh cờ bay. Navarre nhìn thấy tất cả sức mạnh dưới chân mình. Gia nhân của ông, nếu như ông muốn, có thể là gia nhân của quốc vương. Lá cờ hiệu bay phần phật trước gió, bằng một cử chỉ hay một chữ ký ông có thể mang lại hạnh phúc hay bất hạnh cho rất nhiều người. Người ta cân nhắc các ý kiến và các giây phút lặng thinh của ông, người ta sẽ im tiếng, dừng tay trước những lời phán truyền mà ông ban bố. Người ta gắng sức tìm cách làm cho ông tránh khỏi thời tiết gay gắt, cốt để tài năng của ông được thoải mái, tài năng sẽ giải quyết mọi bài toán. Ngày hôm đó, ông sẽ chỉ làm cái việc nhìn thoáng qua Sài Gòn, thông qua các đoàn tùy tùng của mình, nhưng mà ông đoán ra được tiếng rì rầm dữ tợn của hoạt động buôn bán, của tỷ lệ chiết khấu và của đồng tiền đang chảy như nước, của những hộp đêm về một lễ hội bất lương, tiếng rì rầm không bao giờ ngừng lại. Trong cái thành phố không có chim chóc này, những bông hoa không có hương thơm. Dưới những mầu sắc rực rỡ, trông chúng nặng nề, gợi dục, ám ảnh. Những bản nhạc ấy, những tiếng còi cảnh sát ấy, cảnh nhộn nhịp của đoàn xe chở đầy những ngôi sao quân hàm và những chiếc mũ lưỡi trai viền vàng ấy, phải chăng chúng biểu dương cuộc đăng quang của một vị công tước mới của Đông Dương hay là bước khởi đầu của một cuộc giải thể rùm beng? Buổi tối, Navarre mỉm cười nói với viên sĩ quan tùy tùng: - Anh có biết vụ chuyến bay của ngài Letourneau làm cho nhà nước tốn mất bao nhiêu không? Hai trăm nghìn francs đấy. Lúc kết thúc bữa ăn trưa do viên cao ủy tổ chức để chào mừng ông, người ta được tin, sau hai tháng chống cự, đồn Mường Khoa thất thủ. Đồn này nằm cheo leo trên một đỉnh núi ở ngã ba hai con sông Nậm U và Nậm Pạc, cách sáu mươi kilômét về phía tây nam Điện Biên Phủ, một địa danh mà Navarre chưa từng nghe nhắc đến. Một đại đội binh sĩ người Lào và một vài dân binh đã biến mất. Lần đầu tiên, quân Việt đã sử dụng đạn pháo chứa lân tinh, lấy được trong các hòm đạn của đạo quân viễn chinh hoặc là từ Trung Quốc chuyển tới. Sự kiện này không có sức nặng trong cái ván bài người ta đang chơi ở Sài Gòn và việc mất giá bất ngờ giáng xuống đồng bạc một tuần lễ trước đó, có những hậu quả khác. Người ta thanh lý để mua đô la, các cửa hiệu đóng cửa, việc xuất khẩu bị đình lại và các kho hàng được kiểm kê. Chính phủ Việt Nam dự kiến một cách trơ trẽn việc xét lại sự hiện diện của mình ở trong khối Liên hiệp Pháp, nếu như khối Liên hiệp ấy cản trở các công việc. Tại chợ đen ngoại hối, sự sụp đổ của đồng bạc Đông Dương biểu lộ một thảm họa khác, hơn là việc thất thủ một đồn quân nhỏ bé. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Tư, 2008, 05:14:26 pm Ngày 21 tháng năm 1953 Hai lỗ mũi nhăn lại, Navarre xua đuổi những mùi vị của Sài Gòn. Vội vã đến để nắm lấy quyền sở hữu mảnh đất được tấn phong và gặp gỡ tướng Salan, người giữ mọi chiếc chìa khóa của mảnh đất ấy, ông đi ra Hà Nội cùng với ngài Letourneau. Ông phải nhanh chóng bắt tay vào việc, bởi lẽ một khi các thủ tục xã giao thường lệ đã làm xong, toàn thể bộ máy chỉ huy tối cao ở Đông Dương thời gian qua, tiếp theo Salan, sẽ chui vào những khoang hạng nhất của máy bay và tàu thủy: viên tư lệnh cao cấp của xứ Bắc Kỳ, viên tham mưu trưởng liên quân ở Sài Gòn, viên tư lệnh không quân và tư lệnh ở Lào, ba viên chỉ huy trưởng khu vực trong số năm khu vực ở vùng đồng bằng đóng nắp các hòm con của họ lại. Bản thân ngài Letourneau cũng chuẩn bị rút lui, ông ta nói vậy, chẳng lo lắng gì cho tương lai. Thái độ thẳng thắn, vẻ hiền từ giả tạo, những mưu mẹo khôn khéo của ông chẳng mang lại điều gì: ông không dám làm phiền lòng bất kỳ ai và luôn luôn thấy người ta nhiều mưu mẹo hơn mình. Về sau, người ta sẽ trách cứ nền Đệ tứ Cộng hòa là đã không sắp xếp việc hồi hương của những người có trách nhiệm từng đợt một. Thực tế, dưới con mắt nhân từ của viên cao ủy, tướng Salan đã tìm cách thực hành, cùng với những ngày cuối cùng của kíp tướng De Lattre, chính sách đốt sạch, phá sạch dưới bước chân của người kế nhiệm De Lattre. Navarre không phản đối. Có đôi chút ngây thơ, ông tưởng rằng cái khoảng trống lớn ấy sẽ giúp đỡ ông. Một sĩ quan cấp tướng duy nhất tự nguyện ở lại với ông: thiếu tướng Cogny, chỉ huy một sư đoàn cơ động ở Bắc Kỳ. Navarre đã nắm được thông tin: Cogny đã thành công trong mọi kế hoạch của mình và đó là con người của vùng đồng bằng sông Hồng. Cogny đang gặp vận may. Navarre đã được Letourneau đồng ý rằng sẽ đề nghị với chính phủ thăng cấp cho Cogny lên trung tướng. Trên giải đất rộng mênh mông với 700.000 kilômét vuông, dân số ba mươi triệu người này Navarre đoán rằng những cái bẫy sẽ không thiếu, và rằng những cái bẫy nguy hiểm nhất không phải là những cái mà quân đối phương sẽ giăng ra dưới chân ông. Nhưng thử hỏi có mảnh đất hành động nào lại kích thích hơn mảnh đất của Mourmelon(1) đây? Để cho 375.000 con người của phía quân xanh mà Navarre sắp sử dụng cùng với các đội quân ra đời từ các quốc gia liên hiệp, đối mặt với 125.000 quân chính quy, 75.000 quân địa phương và 150.000 du kích của phía quân đỏ, bãi chiến trường nào đây với những đồng bằng cháy bỏng bị chia cắt thành những ruộng lúa, những khu rừng rậm có hổ và voi, những con sông lớn vươn dài ra biển cả, những rặng núi lô xô, nếp gấp lớn đá vôi bị gió mùa thổi qua, nằm kề bên cạnh Trung Quốc và đường chí tuyến Cancer, và 2.500 kilômét bờ biển vẽ nên một cách kỳ lạ đôi vai, chiếc gáy, hộp sọ và khuôn mặt nhìn nghiêng được vẽ biếm họa của con người Colombey cô đơn, lao đầu xuống biển, chiếc mũi và đôi cánh tay chĩa về phía Singapour! Những suy ngẫm của Navarre chuyển theo chiều u ám: cỗ máy người ta vừa mới giao phó cho ông quyền chỉ huy không còn trơn tru nữa. Đạo quân viễn chinh chỉ nhúc nhích theo từng khối lớn, trong tiếng ầm ỹ của xe tăng và xe tải, không thể nào sống nếu không có sự vượt trội ghê gớm về phương tiện, đối mặt với một đối phương cơ động và có mặt khắp nơi một cách đáng sợ, họ nắm được mọi thứ, phần lớn những đòn đánh của đạo quân viễn chinh đều rơi vào khoảng không. Quân sĩ thì mệt mỏi và cái hệ thống điều hành họ lại quá nặng nề. Cuộc chiến giết người một cách mù quáng ngay trên mảnh sân của một quán cà phê, cũng như trên đoạn đê nhỏ bên ruộng lúa; những ngôi làng nhìn bề ngoài hiền lành che giấu những pháo đài; một đứa trẻ dắt trâu ăn cỏ là một lính gác; những bà già miệng móm mém đi rải mìn; những người nông dân biến thành những kẻ bóp cổ các thân hào, nhân sĩ. Để chiếm giữ được hai mươi kilômét đường giao thông, cần phải có nhiều tiểu đoàn, nhiều cụm pháo binh và xe thiết giáp. Các đơn vị này, buổi tối đến, phải rút về các phòng tuyến, bỏ lại khoảng không gian cho đối phương. Nếu như người ta có thể nghĩ rằng, ở đôi nơi, có một phòng tuyến thì chẳng có nơi nào là hậu phương bởi lẽ mọi thứ đều đe dọa và nguy hiểm. Ở nước Pháp, ai đã ngờ tới điều này? Từ Trung Quốc ở kề bên, vũ khí và phương tiện đổ về các sư đoàn của tướng Giáp. Bảy năm trời đã sử dụng và không mài sắc được cái công cụ lẽ ra phải phục vụ cho chiến thắng, và cuộc chiến tranh được tiến hành ở đó là cuộc chiến tranh rẻ tiền cộng với sự trợ giúp của Mỹ. Rẻ tiền ư? Nó chi phí một hay hai tỷ mỗi ngày và mỗi con tàu nhổ neo từ Sài Gòn hay từ Hải Phòng bao giờ cũng có một khoang hầm chật ních những chiếc quan tài. Thông qua viên sĩ quan tùy tùng vốn cũng là một người bạn cũ và trở lại Đông Dương trong nhiệm kỳ thứ ba, Navarre được biết đầy rẫy những chuyện phản bội: không một ý kiến nào, không một văn bản cũng như một động thái nào lại không lập tức được thu lượm và bị rò rỉ. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như những kẻ khốn khổ ở trước mặt cũng có xe tăng và máy bay? Có thể là người ta tóm được họ, nhưng từ phía họ, họ có thể lao đầu vào húc bởi lẽ những kẻ khốn khổ đó tin chắc rằng, sớm hay muộn, họ sẽ thắng cuộc và không mảy may sợ chết. Về phía chúng ta, tại sao người ta chiến đấu? Không còn một ai biết được điều đó nữa. De Lattre là người đầu tiên đã tuyên bố: vì nền độc lập của Việt Nam. Nhưng mà mọi người bất cần đến nền độc lập của Việt Nam, bắt đầu ngay từ bản thân nước Việt Nam, vốn đã có độc lập hoặc là chẳng cần gì độc lập. Quân đội Việt Nam(2) lang thang đi tìm kiếm một niềm tin và chính phủ của nó đã quyết định chẳng có quyền lực gì cũng như chẳng có sự trung thực nào. Với 50.000 đồng bạc, người ta được miễn làm nghĩa vụ quân sự. Các sĩ quan trẻ tuổi tốt nghiệp các trường quân sự trước hết lựa chọn ngành hậu cần và các cơ quan quản lý hành chính, ở đó người ta có thể ních dầy túi. Duy nhất những người ra sau cùng, hai tai cụp xuống, đi tới các đơn vị chiến đấu. Thử hỏi, họ có ham muốn gì để đi chết cho ngài Tâm, thủ tướng chính phủ(3), cho tướng Hinh, con trai của ngài Tâm, hay cho đức vua Bảo Đại, người đã hiểu được là triều đại các quốc vương An Nam đã buồn bã kết thúc cùng với ông ta và ông ta chẳng phải phục vụ bất kỳ ai ngoài bản thân ông ta? Từ thống chế De Lattre, còn lại một phòng tuyến các lô-cốt đổ bêtông, nhằm bẻ gãy các đợt sóng tấn công ở vùng ven đồng bằng, ở đó người ta gắn chặt những cái đít nặng và những đầu óc lạc hậu "trong lớp bêtông "cứt" nhất". ______________________________________ 1. Moumlelon: Tên một trại lính ở thành phố Marne. nước Pháp - N.D. 2. Đây là quân đội của ngụy quyền Việt Nam. Trong cuốn sách này từ “quân đội Việt Nam” tác giả đều dùng để nói về quân đội ngụy quyền. 3. Đây nói chính phủ ngụy quyền lúc đó. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Tư, 2008, 05:24:38 pm Navarre ngồi vững trong chiếc ghế bành của mình. Nào, nếu như bầu không khí bị ô nhiễm và cái công cụ xộc xệch thì cần phải có mưu kế. Một nụ cười kéo dài hiện lên trên nét mặt của vị tổng chỉ huy mới, khiến cho khuôn mặt hiền từ của ông có pha chút cay đắng. Ngày 7 tháng 5 vừa rồi, ngài René Mayer, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã cho gọi Navarre tới phố Varenne. Navarre vừa đi kiểm tra ở nước Đức trở về. Được thống chế Juin - Navarre vốn là tham mưu trưởng của thống chế - báo trước cho biết, Navarre đã trình bày những lý do từ chối của mình: ông chưa từng phục vụ ở Đông Dương và hoàn toàn không có khả năng. Khi mà ngài René Mayer, giữa khung cảnh của những đường thiếp vàng, những tấm thảm bằng dạ và những khu vườn lộng lẫy ở điện Matignon(1), đề nghị ông thay thế tướng Salan, Navarre đã không kịp giải trình những lý lẽ để phản đối: vị chủ tịch Hội đồng bộ trường gạt bỏ tất cả bằng một cái phẩy tay nhẹ. Ngài René Mayer cho là ông có khả năng nhìn mọi việc bằng con mắt mới mẻ và nhanh chóng học hỏi được, ngài tỏ lời khen ngợi tính thận trọng, đầu óc thông minh lạnh lùng và sự khôn ngoan của Navarre. Hiển nhiên, đối với một chức vụ cao cấp như vậy, người ta đã phải tìm kiếm khá lâu trong niên bạ để có được vị tướng bốn sao Henri Navarre, những ý kiến bác bỏ đã không đứng vững được khi mà những tài năng thiếu đến mức như vậy và rằng không một ai hơn được. Tướng Valluy, người duy nhất nắm được vấn đề và là người chịu trách nhiệm về vụ oanh tạc Hải Phòng vào năm 1946 không phù hợp với điều mà ngài René Mayer đòi hỏi Navarre phải tìm ra: một lối thoát trong danh dự cốt để cho chính phủ có thể thương lượng và chấm đứt cuộc chiến tranh. Tăng viện ư? Không có vấn đề đó. Tướng Navarre sẽ không nhận được gì to lớn. Quân lực ư? Ngài René Mayer đọc cho ông nghe bài báo mà ngài Edouard Daladier viết trên một số báo buổi chiều: "Quốc hội sẽ phản đối một việc làm ngớ ngẩn như vậy ". Khi rời khỏi điện Matignon, tướng Navarre nghĩ về ngài René Mayer: "Ông ta điên...". Trở về Fontainebleau, ông báo cáo với thống chế Juin: - Ngài có nhiều cách để giữ tôi lại, ông bổ sung thêm như vậy ít nhất tôi phải ở cùng với ngài trong hai năm ở Trung Âu. - Nghĩa vụ của anh là phải nhận lời, thống chế đáp lại, trước sự sửng sốt của Navarre. Cần phải có một ai đó chịu hi sinh. Để động viên ông, thống chế Juin đưa cho ông xem một bản báo cáo của mình sau một chuyến khảo sát mới đây. Trong bản báo cáo này, thống chế tỏ ra lạc quan: để giải quyết bài toán, chỉ cần vài tiểu đoàn và vài tháng trời, nhưng cần phải đề phòng một cuộc tấn công tổng lực ở vùng đồng bằng. Tóm lại, người ta nghĩ rằng quân Việt không có đủ phương tiện để tiến hành một cuộc chiến tranh cơ động và rằng họ có thể gục ngã nếu người ta tràn lên xô đẩy họ. Chẳng phải Navarre đã từng là kỵ binh hay sao? Ông nhận lời. Navarre là ai? Cái tên phấp phới như một lá cờ tung bay trước gió kể từ năm 1915 khi mà hai anh em có tên Navarre trở nên nổi tiếng trong đội ngũ phi công khu trục. Tuy nhiên, không có mối quan hệ họ hàng nào giữa các phi công và vị tướng, lúc này năm mươi nhăm tuổi, xuất thân từ một dòng họ nhiều đời của những công chứng viên, luật sư và quan tòa vùng Normandie(2). Sinh vào một ngày 31 tháng bảy, như vậy đó là một con sư tử. "Bởi vì đó là ý chí của tôi", là câu châm ngôn mà ông hay sử dụng. Về thể chất cũng như tinh thần, đó là một con báo. Chàng kỵ sĩ này không nhỏ bé nhưng mà nửa thân trên mảnh dẻ, hơi ngả ra phía sau, do vì luôn luôn ngồi trên lưng ngựa cho nên dáng điệu của ông không uyển chuyển và ông có vẻ được thoải mái khi đứng trước các tấm bản đồ và các bánh xích của xe tăng hơn là trong các cuộc đua ngựa. Ông không phải là người vung kiếm. Ở ông mọi chuyện diễn ra trong đầu óc; gần như trong toàn bộ sự nghiệp, ông hoạt động trong các đơn vị trinh sát và cơ quan tham mưu. Vừa thân thiện vừa xa cách, độ lượng và lạnh lùng, ông có được sự tự chủ hiếm có và một tài khéo léo lớn để chinh phục người khác. Hình như ông giữ kín mọi chuyện kể cả khi ông ngờ vực. Quyết đoán, dút khoát, ông có thể giữ im lặng lắng nghe những lập luận dài dòng mà không bao giờ để mình bị lôi cuốn vào đó. Tự tin, nói nhiều, nếu như việc đó là cần thiết. Cứng rắn, nhanh nhẹn, cái nhìn của ông như một tia chớp chiếu thẳng vào những người đối thoại với mình rồi quay đi, khác hẳn với giọng nói có thể là nồng nhiệt, khoan dung hoặc gay gắt. ông làm cho người ta có cảm tưởng là ông nắm sâu các vấn đề đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để cho giải pháp mà ông lựa chọn không vấp phải những sự phản đối. Khuôn mặt ông sắc sảo dưới vầng trán nhẵn bóng và mái tóc mầu xám xẹp xuống. Một trong những nét tiểu sử cho thấy rõ là ông không biết âm nhạc và hội họa, và rằng ông yêu lũ mèo. Với nhiệt tình phục vụ ông, người ta đã so sánh ông, do đôi mắt mầu xám và đôi lông mày rậm, với thống chế De Saxe(3), một trong những vị tướng lĩnh vĩ đại nhất một thời đã qua. Cần phải tránh đi quá xa trong việc so sánh, khi mà người ta đề cập tới LỊCH SỬ và rằng kết cục của những tấm thảm kịch đã được biết rõ. ______________________________________ 1. Matignon: Tòa nhà xây năm 1721 trên phố Verenne ở Paris. Là trụ sở của Hội đồng Bộ trưởng nước Pháp. 2. Normandie: Vùng Tây Bắc nước Pháp - Nơi quân đồng minh đổ bộ tấn công quân Đức trong đại chiến Thế giới lần II, 1944 – N.D. 3. Maréchal de Saxe: Viên tướng nước Pháp (1696 - 1750) là con vua Auguste II. Có trận tháng ở Fontenoy. - N.D. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Tư, 2008, 05:28:46 pm Ngày hôm đó, trong Tòa nhà nước Pháp, trụ sở của viên cao ủy ở Hà Nội, ngài Letourneau đã mời các viên tướng ở Bắc Kỳ tới ăn trưa cùng với Navarre. Trong phòng khách, Salan chỉ trao đổi những câu chuyện xã giao tầm phào. Là con hổ hoàng gia có hàm răng sắc nhọn và khuôn mặt nở nang với nhiều nét nhăn, ông đưa đôi mắt buồn bã, lơ đãng nhìn con người sắp kế nhiệm mình. "Nho nhã, thanh mảnh, lịch lãm luôn luôn cảnh giác", ông thầm đánh giá con người ấy và giữ im lặng. Gonzalez de Linarès. Chỉ huy trưởng các lực lượng ở Bắc Kỳ, mà người ta gọi thân mật là "Chú Li", có những cử chỉ thoải mái hơn, có người tình là một cô gái lai Hoa xinh đẹp, ông nổi tiếng là một người nói thẳng. Bạn đồng khóa với Navarre, ông ngồi trên tay ghế của Navarre và dùng giọng nói thân mật: - Này chú nhỏ Henri, chú đến làm cái quái gì ở cái "đống phân" này vậy? Tớ thì tớ ra đi. - Chuyện anh ra đi đúng là chuyện rầy rà đối với tôi, Navarre đáp lại. - Ai sẽ thay anh? - Tôi đã yêu cầu Cogny. - Đừng có chọn tay ấy, Linarès nói, khẽ chạm vào khuỷu tay Navarre. Đó là một tay đáng ghét. - Anh có giới thiệu cho tôi ai khác không? - Quả thật, chẳng có ai, và dưới những chiếc quạt trần đang quay, ngài Letourneau đi quanh các viên tướng như một con gấu xù lông. - Thưa tướng quân, ngài nghĩ thế nào? - Navarre hỏi Salan. Đôi mắt của Salan long lanh tia chớp: - Cogny có những phẩm chất tốt. Ngài Letourneau chuyển cho Navarre một tờ giấy người ta vừa đưa cho ông. Navarre thích mạo hiểm. Hình như, thậm chí, ý kiến bác bỏ của những người ngang hàng với mình lại khuyến khích ông giữ vững ý định. - Đây là bức điện đề bạt Cogny lên trung tướng, Navarre nói. Lát nữa, tôi sẽ chỉ định ông ấy là chỉ huy trưởng của xứ Bắc Kỳ. Vả lại lúc này Cogny đã xuất hiện. Điều nổi bật trước tiên ở Cogny đó là thân hình: cao 1m87 và tầm vóc vạm vỡ. Hoàn toàn không hề lợi dụng ưu thế đó, hình như lúc nào ông cũng muốn nhún mình. Giọng nói của ông nhã nhặn, đôi khi vuốt ve. Ông là người dễ tiếp cận, đôi mắt mầu xám dễ dàng xúc động, bàn tay ông rộng mở. Trước mặt hàng quân, ông không cần phải áp đặt: chỉ cần ông xuất hiện với đôi vai nở nang của một cầu thủ bóng bầu dục và cách nói thẳng thắn của vị nam tước trong vương quốc đích thực ở Jérusalem. Người ta quý mến đức tính giản dị, bộ trang phục dã chiến mà không lúc nào ông rời bỏ, chiếc thắt lưng nhà binh bằng da sần, dưới bộ ngực nở nang không có huân huy chương của ông. Người ta đoán ra được là khi ở giữa bộ máy chiến tranh, ông như đang ở giữa nhà riêng của mình, với vẻ: chuyên dáng và lịch lãm của một nhà qúy tộc đi trên mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình. Cái anh chàng ba đời nông dân ấy, bị De Lattre chinh phục, tỏ ý rằng De Lattre vẫn là ông thầy và hình mẫu, cái bóng vĩ đại có đủ mọi khả năng, thậm chí xuất hiện là trừng phạt, áp đặt vầng hào quang cho các sĩ quan chỉ huy, áp đặt tài năng cho các binh sĩ. Lòng trung thành luyến tiếc - tưởng nhớ tới ông chủ cũ ấy - cuối cùng làm cho người ta cảm động. Bị cấp trên khó chịu vì nổi tiếng trong việc tranh cãi các mệnh lệnh, được cấp dưới yêu mến, Cogny tạo ra được một khung cảnh huy hoàng nào đó trong các nghi lễ xã giao và kể cả trong ngôi nhà quân sự của mình, ở đó ông tiếp đón các khách khứa bình thường nhất với những cung cách đặc biệt. Được gọi một cách vô lễ là "Coco tiếng còi" do vì cái sở thích của ông sử dụng quá mức các đội mô tô hộ tống, Cogny bị buộc tội là muốn tạo dựng một mảnh đất nam tước trong vương quốc Đông Dương, áp đặt ở đó các quan điểm và các nhân viên của mình, tổ chức ở đó những cơ quan mật vụ. Là con người hùng mạnh với ngoại hình đáng sợ, Cogny là con bò tót do bởi vóc dáng của thân hình và sức mạnh mà nó chứa đựng, sức đề kháng mà khối thân hình đó trương ra trước đối thủ. sức nặng mà nó áp dụng trước các chướng ngại, những cơn giận dữ hình thành trong khối thân hình đó và bùng nổ với sức mạnh của những cơn giông tố xứ Bắc Kỳ. Trong bộ áo giáp tựa như che phủ cho ông từ đầu đến chân, ấy vậy mà lại có một khiếm khuyết thuộc lĩnh vực con tim: chỉ một tiếng nói có thể làm cho Cogny bị tổn thương sâu sắc. Lúc đó ông không hề tha thứ và luôn luôn cảm thấy mũi kiếm đã chạm vào người mình. Dễ dàng bị chinh phục và điều khiển, ông sẽ cúi đầu, lao thẳng vào cái người mà ông cho là chịu trách nhiệm về vết thương của mình, và tìm cách chà đạp kẻ đó dưới gót chân. Mặc quần sóc, trông ông có vẻ càng cao to. Do mặc cảm vì thân hình to lớn của mình, đôi khi ông chỉ lùi lại để lắng nghe. Navarre kéo ông ra một góc và báo cho ông biết việc bổ nhiệm ông thay thế De Linarès với một ngôi sao thứ ba(1) trên quân hàm. Khuôn mặt Cogny rạng rỡ và một nỗi xúc động đột ngột đẩy ông về phía Navarre. - Ngài sẽ không phải hối tiếc về việc đó, ông nói. Cũng buổi tối hôm đó, khi bữa ăn kết thúc, vào lúc người ta phục vụ nước ngọt, Salan nói với Navarre. - Thưa tướng quân, ngài phải đề phòng, bởi lẽ Việt Minh đang tổ chức những đơn vị lớn và theo một cơ cấu của châu Âu. - Trong trường hợp đó, Việt Minh sẽ toi mạng, Navarre nói. ________________________________________ 1. Cấp hàm trong quân đội Pháp: - Thiếu tướng: hai ngôi sao - Trung tướng: ba ngôi sao - Thượng tướng: bốn ngôi sao. - N.D. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Tư, 2008, 05:34:21 pm Ngày 22 tháng năm 1953 Do vì vẫn chưa có được một cuộc trò chuyện nghiêm túc với Salan, Navarre yêu cầu sĩ quan tùy tùng của mình đề nghị với Salan một chương trình đi khảo sát chiến trường xứ Bắc Kỳ. Trước tiên, ông ấy muốn tới thăm pháo đài Nà Sản, việc duy trì cứ điểm này đang làm cho bộ chỉ huy và một vài thành viên trong chính phủ bận tâm. Trong chiến dịch trước đây, tướng Giáp, vốn đã nắm giữ được phần lớn vùng phía Bắc xứ Bắc Kỳ, với ba mươi tiểu đoàn đã chiếm được toàn bộ vùng không gian nằm giữa con sông Hồng và con sông Đà. Trước cuộc tấn công mới của ông ta triển khai về hướng xứ Thái, thử hỏi Salan có thể áp dụng chiến thuật gì đây? Rút các đội quân đồn trú của ông ta ra khỏi xứ Thái để chuyển xuống vùng đồng bằng chăng? Như vậy là sớm hay muộn sẽ mở toang con đường đi sang Lào. Kể từ khi người ta rút bỏ Lạng Sơn và Cao Bằng, mọi việc kiểm soát sự thông thương giữa khu vực mạnh của đối phương và Trung Quốc đã không còn nữa. Một cuộc rút lui mới xuống đồng bằng có nghĩa là thú nhận sự yếu kém. Salan muốn tranh thủ thời gian và khiến cho đối phương bị bất ngờ khi đặt họ đứng trước một con nhím giận giữ khác thường. Để chặn ngang con đường phía Tây và bảo vệ Lai Châu, Salan đã ném từ trên trời xuống một cứ điểm vững chắc ở Nà Sản. Thắng lợi của một kế hoạch mà tính táo bạo của nó đã làm cho tôi phải run người lên, lần đầu tiên khi tôi tới thăm cái pháo đài mà Gilles vừa mới nhận quyền chỉ huy, cái pháo đài được xây dựng dựa vào việc tướng Giáp thiếu thốn các phương tiện: hoặc là ông ta không thể kéo pháo binh tới sử dụng ở đó hoặc là việc duy trì ba sư đoàn và các vũ khí nặng ở một khoảng cách rất xa các căn cứ là ngoài khả năng lôgic của ông ta. Tướng Giáp cũng có thể tránh vật chướng ngại, nhưng nếu quay về các căn cứ của ông ta ở Bắc Kỳ để cho mùa mưa qua đi, ông ta có nguy cơ nhìn thấy con nhím ấy nở bung ra, cắt đứt con đường và quấy rối các tuyến giao thông. Theo lôgic tướng Giáp buộc phải tiến đến vật chướng ngại và nhổ bỏ nó đi. Salan tin rằng cuộc tấn công của đối phương sẽ vấp ở đó và do vì không đủ khả năng đảm bảo nhu cầu của năm mươi nghìn chiến binh và dân công để đứng chân tại chỗ, tướng Giáp sẽ rút lui, bị tổn hại mà không thể nuốt trôi một miếng xương quá lớn đối với ông ta. Đòn đánh táo bạo của Salan, tuy nhiên, mang theo một nguy cơ: tướng Giáp có thể đã có bước tiến trong việc chỉ huy các trận đánh; nếu như coi thường các tổn thất, tướng Giáp quyết định tấn công tổng lực thì tham vọng đánh bại quân Việt có thể quay đầu chống lại Salan, biến thành một thất bại thảm hại. Hai viên tướng đối thủ đã từng gặp nhau trong những cuộc điều đình được móc nối, sáu năm về trước, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào thời kỳ mà Leclerc đã đặt chính phủ Pháp đứng trước ngã ba đường hoặc là huy động quân số để đánh bại cuộc nổi dậy hoặc là thỏa hiệp với nó. Từ đó được chấp nhận rằng Salan, mà người ta gọi là "anh Ba Tầu”, đã có kinh nghiệm về đối thủ trực tiếp và luôn luôn phá vỡ những ý định của họ. Tính cách bí ẩn, một nụ cười thoáng qua đôi khi xuất hiện trên khuôn mặt dầy dạn phong trần của ông, đôi mắt xám rất linh hoạt, trên ngực mang tấm biển bề thế của những cuống huân huy chương mầu sắc rực rỡ chứng minh ông là viên sĩ quan được tặng thưởng nhiều nhất trong quân đội Pháp, gắn liền với vẻ huy hoàng của vị tổng chỉ huy; Salan nổi tiếng về việc hút thuốc phiện để suy nghĩ tìm ra các sáng kiến. Bị ngăn cách với tướng Giáp bởi cả một vùng rộng lớn những khu vực không thể nào thâm nhập được cùng với những bí mật, Salan tựa như đang chơi ván bài pôkơ với ông Giáp. Vào thời kỳ này, khi những bức điện từ Nà Sản đánh tới, người ta nhìn thấy Salan đưa ngón tay khẽ chạm vào một con voi nhỏ bằng ngà, ông ta thường mang theo trong hành trang và đặt trên bàn làm việc. Nét độc đáo của tình hình chiến sự đã thu hút cả một đám đông những phóng viên quốc tế tên tuổi. Lần đầu tiên trong cuộc đối chọi, hai quân đội có nguy cơ đụng đầu dữ dội trên bãi chiến trường, ở cách xa các thành phố và khối người đông đúc giữa các đồng lúa. Người ta quay lại kiểu chiến tranh cổ điển, quay lại với Jules César(1), với Scipion người châu Phi(2) hoặc với Jugurtha(3), người ta nghĩ tới trận chiến ở Zama, ở đó Annibal(4) khiêu khích quân La Mã. Tướng Giáp đã gửi cho bộ đội của ông ta một bản tuyên bố, trong đó ông ta nói với họ rằng, số phận cuộc chiến tranh tùy thuộc vào lòng dũng cảm của họ, bởi vì, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, ông ta đã quyết định, quả vậy, như Salan đã dự kiến, tấn công Nà Sản. Qua hai đợt ông ta bị tổn thất ở đó, có khoảng gần một nghìn tử sĩ trên hàng thép rào gai và nhón năm đầu ngón chân để rút lui, bằng lòng với việc kìm chân đội quân đồn trú bằng một vài tiểu đoàn. Salan thắng lợi nhưng chiến thắng có tính chiến thuật đó không có mảy may ý nghĩa quyết định. Một bộ phận của không quân phải dùng để tiếp tế và chi viện cho trận địa, nếu như người ta duy trì lâu hơn nữa, trận địa đó sẽ phơi mình trước những nguy hiểm của một đợt tấn công mới. Chính vì Nà Sản vẫn là điểm nhạy cảm của khu vực chiến trường cho nên Navarre cảm thấy phải nhanh chóng tới thăm nơi đó. Trước ngày lên đường sang Đông Dương, ngờ vực rằng mình sắp tiếp nhận một tài sản thừa kế đã nhiễm độc, Navarre đã nói với ngài De Chevigné, Bộ trưởng Chiến tranh rằng: "Việc rút khỏi Nà Sản sẽ là hành động chỉ huy đầu tiên của tôi, và tôi sẽ không lặp lại những trận đánh kiểu như vậy... ". Ngoài ra, Cogny vừa mới khẳng định với ông rằng Nà Sản hiện không còn giúp ích gì nữa. Để đánh giá mọi chuyện bằng một cái nhìn thoải mái hơn, Navarre, thậm chí, không muốn có một thành viên nào của bộ tham mưu xứ Bắc Kỳ đi theo. Với viên phi công hỏi ông muốn bay ở độ cao nào, ông trả lời: "Ở một độ cao mà tôi nhìn thấy được một cái gì đó". Và ông ngồi trong khoang lái của phi hành đoàn để quan sát được tốt hơn. Trong vùng lân cận Mộc Châu, ở đó các trận địa pháo cao xạ của quân Việt được bố trí, viên phi công không dám hạ độ cao. Một loạt đạn đột nhiên vây xung quanh chiếc Dakota, một loạt đạn khác chạm vào máy bay nhưng không gây thiệt hại gì nghiêm trọng. Máy bay tới Nà Sản và hạ cánh ở đó, hai cánh lỗ chỗ vết đạn. Navarre được tiếp đón bởi một con người nét mặt buồn bã, khô khan, ngờ vực, với bề ngoài bí ẩn: đại tá Berteil. Berleil đã nhận được mọi văn bằng và các thánh lễ trong quân đội; ông ta đã sử dụng thứ ngôn ngữ chậm rãi và trừu tượng của những chức vụ cao cấp mà ông đang chuẩn bị bước tới. Vẻ bề ngoài không giúp ích cho ông. Đây không phải là con người của chiến trận mà là con người của cơ quan tham mưu. Ông ta suy ngẫm, xây dựng các lý thuyết, có vẻ như nắm giữ được những bí mật ghê gớm, có kinh nghiệm về những tính toán của cấp trên và có một niềm tin mà không một chuyện hài hước nào có thể làm cho suy giảm. Chẳng hạn, ông tin rằng Nà Sản đã có ích. Có lẽ bởi vì ông đã chỉ huy nó kể từ khi tướng Gilles, vốn là linh hồn của Nà Sản, ra đi chăng? Có lẽ bởi vì ông không muốn nghĩ rằng mình chỉ có thể là người đóng vai phụ chăng? Ông ta dành cho Navarre sự quan tâm đặc biệt và đưa Navarre đi thăm trận địa với một thái độ tôn kính cứng nhắc. Theo bản năng, Navarre cảm thấy ở ông ta một đồng minh. Ông ta không để lộ liễu chuyện này giống như Cogny, ở Cogny người la cảm thấy có quá nhiều cá tính và sự nóng nảy. Vả lại, đối với Berteil, Cogny không phải là một nhà tiên tri. Navarre sẽ nhớ tới Berteil khi cần thiết và sau này đã sử dụng Berteil làm cấp phó cho mình, phụ trách về tác chiến, phối hợp hành động của phòng Nhì và phòng Ba. Thực tế, Berteil nhanh chóng trở thành viên sĩ quan đáng sợ nhất trong đám người vây quanh vị tổng chỉ huy mới. Mặc dù quyết tâm cao độ chấm dứt kế hoạch Nà Sản đến như vậy mà Navarre cũng bị ấn tượng bởi quang cảnh khu trận địa hầm hào, tại đó các tiểu đoàn của tướng Giáp đã kéo tới hít bụi, cũng như bởi sức mạnh, sức khỏe và sự thanh thản mà người ta cảm nhận được ở đó. _________________________________________ 1. Jules César: Một tướng giỏi người La Mã (101 - 44 trước C.N). Thắng lợi trong cuộc chinh phục những người Gaulois, và nhiều trận thắng khác. Trở về làm vua ở La Mã. 2. Scipion I'Africain: tướng giỏi của gia đình Cornélia (235 - 183 trước C.N) - Nhiều trận thắng ở Tây Ban Nha, thắng tướng Annibal của thành phố Carthage (202 trước C.N). 3. Jugurtha (vua xứ Numidie); sinh năm 154 trước C.N, chống lại người La Mã. Bị Marius đánh bại. 4. Anninbal: tướng giỏi của thành phố Carthage (247 - 183). Đã đánh chiếm Tây Ban Nha, miền Nam nước Pháp, vượt qua dãy núi Alpes - Trở về Châu Phi, bị L'Apricain đánh bại. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2008, 12:10:01 pm Ngày 25 tháng năm 1953 Những nhân vật của tấm thảm kịch, chậm chạp bước tới chỗ ngồi của mình phía sau tấm rèm che kín. Đã bắt đầu lan truyền những tin đồn về Navarre, con người mà người ta quan sát bằng một con mắt phê phán và hơi lo ngại. Người ta nhắc lại việc ông đã tỏ ý ngạc nhiên rằng vùng đồng bằng vốn được đạo quân viễn chinh chiếm đóng vững chắc đến như vậy mà vẫn bị quân Việt quấy rối và rằng khi trao tặng các tấm huân chương, ông đã bất cẩn gắn những huân huy chương ấy lên bộ ngực phải của những con người được đón rước long trọng. Ông đã mở đầu một cuộc họp các sĩ quan với câu nói sau đây: "Thưa các vị, để thắng được cuộc chiến tranh này...", sau đó nhìn thấy có ai đó mỉm cười, ông đã ngừng lời và truy hỏi lý do, cái lý do mà người ta vội vã trí trá. "Thắng được cuộc chiến tranh này", ở đây không một ai nghĩ như vậy và đó cũng không phải là chỉ thị mà Navarre nhận được từ Paris. Rút ra khỏi cuộc chiến tranh đó với ít tổn hại nhất, hình như bên trong đầu óc mọi người, đó là công thức thích hợp nhất để áp dụng trong tình thế hiện tại. Kể từ khi mối nguy của một thất bại đè nặng, các công ty lớn khai thác hầm mỏ, các nhà máy xi măng, nhà máy sợi, vải, các đồn điền cao su đã chuyển vốn và tài sản dự trữ tới các khu vực khác trên thế giới; tài sản mà nước Pháp còn sở hữu được tại các quốc gia liên hiệp không bằng khoản chi phí cho một năm chiến tranh: Sáu trăm tỉ và một trăm sĩ quan trẻ. Cứ trong ba năm người ta phải hi sinh cả một khóa sĩ quan trường đào tạo Saint Cyr để bảo vệ thế giới phương Tây. Cuộc chiến tranh Đông Dương, kể từ khi bắt đầu đã giết chết 3 viên tướng, 8 đại tá, 18 trung tá, 69 thiếu tá, 341 đại úy, 1.140 trung và thiếu úy, 2.683 hạ sĩ quan và 6.008 binh sĩ Pháp; 12.019 lê dương và người châu Phi, 14.093 lính bản địa. Những con số này không nằm trong số mất tích: hơn 20.000, cũng như những thương binh và bệnh binh phải hồi hương: hơn 100.000. Nếu như nước Mỹ cung cấp những đồng đô la, chính là bằng cách đó, nước Mỹ đã mua dòng máu mà nước Pháp đổ ra thay thế cho Mỹ. Trong cuộc thập tự chinh nào đây? Người đầu tiên, De Lattre đã tung ra cái từ ngữ đó. Nước Mỹ vì sự sống còn của nó, đấu tranh chống lại nước Nga, có mọi lợi ích để tin vào điều đó Nhưng mà, nếu như điều đó là có thực, tại làm sao trong nước chúng ta lại không có một Pierre l'Ermite(1) mới đứng lên và hô hào trên các bãi công cộng kêu gọi mọi người vũ trang? Tại sao lại có ít những thanh niên đăng ký đi sang Viễn Đông như vậy, và tại sao, thay vì cống hiến những đứa con trai của mình, dân tộc lại đã lựa chọn việc trả tiền cho những kẻ đánh thuê? Ngược lại những người này bước xuống đầy những con tàu, đi bảo vệ một lý tưởng mà bản thân nước pháp cũng không tin tưởng. Những người Pháp duy nhất dám dũng cảm gánh vác lấy công việc đó, đã làm việc vì nghề nghiệp hay vì sở thích. Số lượng nhỏ nhoi của họ làm cho họ phấn khích, hơi ấm của dân tộc quất mạnh vào nhiệt tình của họ, các trung đoàn quân dù trở thành những chủng viện của lòng dũng cảm, của sự quên mình, của sự hi sinh hoàn toàn tự nguyện. "Bạn nên nhớ rằng cái đang chờ đợi bạn đó là cái chết", Bigeard nhắc lại câu nói này với các binh sĩ của mình khi anh xây dựng giáo lý về niềm tin của mình. Ở đấy, người ta không chiến đấu do vì vòng quay tác chiến chỉ định là Đông Dương và người ta coi khinh việc khi trở về mẫu quốc có thể mua được một chiếc xe ô tô: người ta chiến đấu vì nghĩa vụ quân sự và do vì người ta không chấp nhận việc mình bị đánh bại, trên chiến trường cũng như trong cuộc sống. Đối với những con người trong sáng này, vốn đã chọn lấy điều tốt nhất của cuộc sống ở trong chiến trận và biết rằng cái điều tốt nhất ấy dẫn tới cái chết. Thế còn Bảo Đại thì sao? Bảo Đại là công việc của quốc gia. Không phải là công việc của họ. ở trong các trung đoàn quân dù hay là dẫn đầu các đơn vị lê dương cũng những con người ấy, vốn sống cách xa những người mà họ yêu quý từ nhiều năm nay, và mang niềm tin cháy bỏng trong lòng đã tự chất vấn mình. Sau khi độc lập được trao trả cho Việt Nam, họ sẽ ra đi, nhưng mà ngay sau khi một vùng đất được giải phóng, bám gót theo họ, những nhân viên thu thuế kéo tới, thu thập những loại thuế lạc hậu và triều đại các quan lại tiếp tục đè nặng lên dân chúng. Lúc đó, làm thế nào đấu tranh với niềm hy vọng mà chế độ cộng sản huơ lên trước mặt? Cùng một ý thức về nghĩa vụ đó đã kích động không quân và hải quân. Những sĩ quan không buộc phải phục vụ ở Đông Dương tình nguyện ra đi vì tình bạn. Họ không thể nào tiếp tục uống rượu trên quảng trường Elysés(2) trong khi các bạn bè đang ngã xuống. Một lớp người ưu tú mà người ta không yêu cầu đạt tới một mục tiêu đáng phấn khởi đã chuộc lại lỗi lầm về thái độ lãnh đạm của một dân tộc vốn chẳng hiểu gì về cuộc chiến tranh này và nghi ngờ rằng các chính phủ của mình bảo vệ những lợi ích mờ ám ở đó. Chuyện gì đang diễn ra ở Đông Dương, quả thật, có ai biết đến chăng và nếu như biết, có ai dám nói lên chăng? Chưa một tờ báo nào dám công bố rằng tướng Salan đã cắm vào trong mỗi căn cứ và gần như trong mỗi đồn bốt một nhóm vô lại là những nhân viên mật thám, chúng tra tấn và hành động tùy thích, chúng chỉ chịu sự chỉ huy của những cơ quan trực thuộc một hội đồng, hội đồng này lại giả bộ không biết đến chúng. Không một linh mục nào dám đứng trên bục giảng, bác bỏ cuộc chiến tranh mà người ta tiến hành đối với một đất nước bị giai cấp phong kiến và những kẻ xâm lược áp bức từ nhiều thế kỷ nay và tuyên bố rằng nghĩa vụ đích thực của nước Pháp là chiếm được cái đế chế rộng lớn nhất trên thế giới: trái tim của mọi người. Ấy vậy mà, ngoại trừ những người thấy có lợi ích khi cộng tác với chúng ta, dù cho sau đó lại phản bội, hoặc là khiếp sợ thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản, còn thì đàn ông và đàn bà ở Việt Nam không đứng về phía chúng ta. Trong chuyến du hành thu thập thông tin, ngài Aldai Stevenson đã lấy làm ngạc nhiên về việc, trái ngược với những người Triều Tiên, không một ai mỉm cười khi ông ta đi qua và ông đã tự hỏi, làm thế nào những người lính đánh thuê của đạo quân viễn chinh lại có thể đòi hỏi ý nghĩa trong một cuộc chiến tranh chống lại Việt Minh mà lại là vì nước Việt Nam. Một người Mỹ khác, David Schoenbrun, nhà báo nổi tiếng không có dấu hiệu gì là bài Pháp, đã tố cáo tội lỗi cố hữu của thời đại thuộc địa: những cái quyền bất khả xâm phạm ấy mà nước Pháp vốn quên một những bài học của cuộc CÁCH MẠNG(3) của mình, đã không tôn trọng và như vậy vi phạm đến nền tự do của nước Việt Nam, trong khi nước Pháp chỉ có ở đó những lợi ích vật chất. Việc che giấu để duy trì những căn cứ chiến lược của cuộc thập tự chinh tạo ra một trạng thái mập mờ rất lớn. Những người ưu tú không hiểu được tại sao giới trí thức lại không ủng hộ họ và cho rằng mình bị phản bội. Mặc dầu không biết đến điều đó, bây giờ không phải là họ đi theo César mà là đi theo Ponce Pilate(4). Navarre biết tất cả những vấn đề đó nhưng phải nói rằng, những vấn đề đó còn lâu mới làm cho ông phải phiền muộn, việc tiếp xúc với thực tế đã hướng ông tới một thái độ lạc quan nào đó. Khi trở về Hà Nội, ông bổ sung đầy đủ kíp của mình và phát hiện ra một viên chánh văn phòng, đại tá Revol, trước đây là cấp phó cho tướng Gilles, ở Nà Sản. Đây là một con người điềm tĩnh, có chiếc mũi dài, mảng đầu hói và đôi mắt hiền từ, tạo ra vẻ bề ngoài tốt bụng nhưng giả tạo của một con chó săn tài giỏi. Sinh ra với thiên hướng về châu Phi, ông ta không thấy thoải mái ở Đông Dương. Ngược lại tư tưởng không thủ cựu tinh tế và danh hiệu của ông là nguyên giáo sư về khoa sử dụng vũ khí trong trường Saint Cyr làm cho Navarre hài lòng, Navarre vốn đang tìm cách gắn bó với những con người độc đáo và thậm chí có những ý tưởng trái ngược với mình. Tại sao Salan lại không đưa ra cho người kế nhiệm mình bản chỉ thị của chính phủ ngày 24 tháng 4 năm 1953 trong đó căn dặn ông nên ưu tiên cho việc mất đất hơn là những trận đánh uy hiếp sự an toàn của đạo quân viễn chinh? Nếu như đó là tài liệu quan trọng, thì vị tổng chỉ huy phải luôn luôn ghi nhớ trong đầu và nếu như tài liệu đó tuy không hướng dẫn cụ thể việc tác chiến nhưng lại đã nêu rất rõ những mối nguy hiểm không được phạm phải dù cho vì bất cứ lý do gì. Phải chăng Salan không dám thú nhận là mình đã bị bãi nhiệm hay là ông ta tưởng rằng Navarre đã được chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, người bổ nhiệm ông ta vào chức vụ mới, cho biết tinh thần của bản chỉ thị đó. Ngài René Mayer đã có cử chỉ ngần ngại vô bổ khi né tránh không đưa cho tướng Navarre đọc bản đánh giá của chính phủ về một số trận đánh mà người tiền nhiệm Navarre tiến hành trên vùng thượng du. Lẽ ra ông ta đã có thể giúp cho Navarre nhìn nhận dưới một khung cảnh khác cái trận địa hầm hào Nà Sản vốn đã mang nhiều dáng dấp của Điện Biên Phủ. Liệu Salan, trong những cuộc trao đổi ngắn ngủi giữa hai người, có thổ lộ cho Navarre biết những nguy cơ tồn tại khi lặp lại kinh nghiệm của Nà Sản, hoặc cho rằng Navarre có khả năng tự phân biệt được sự khôn ngoan nằm ở chỗ nào cho nên Salan đã không nhắc nhở Navarre nên phản đối chiến lược "những con nhím"? Liệu ông ta có nhấn mạnh đến khả năng thích ứng của tướng Giáp khi ông ta biết rằng Navarre có ý định bảo vệ hướng tây bắc bằng việc bổ sung Điện Biên Phủ thêm vào hai căn cứ Lai Châu và Nà Sản trong một hệ thống mà người ta đã mệnh danh là quần đảo Salan, bởi lẽ từ một năm trời nay, Salan đã mơ ước đánh chiếm Điện Biên Phủ? Đối với Salan quả là một việc thú vị khi để mặc cho một đối thủ là Navarre đem mạo hiểm ở nơi đó những ngôi sao ngây thơ mà bản thân mình thì chẳng gãp nguy hiểm gì... _______________________________________ 1. Pierre l'Ermite: Nhà tôn giáo sinh ở Amiens (Pháp) (1050-1115) - Người tích cực kêu gọi và tham gia cuộc Thập tự chinh thứ nhất - N.D. 2. Elysés: lâu đài nổi tiếng ở góc phố Saint Hononé và phố Marigny xây dựng năm 1718. là dinh tổng thống Cộng hòa Pháp từ năm 1873 - N.D. 3. Ý nói của cách mạng Tư sản ở Pháp 1789. 4. Ponce Pilate: Toàn quyền của người La Mã ở Judée. Do sợ bị nổi loạn đã giao chúa Jésus cho các quan tòa tôn giáo, nhưng không cho là mình có lỗi, mà cho là những người Do Thái phải chịu trách nhiệm về việc đó. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2008, 12:13:19 pm Ngày 16 tháng sáu 1953 Kế hoạch Navarre là cái gì đây? Không có gì khác ngoài cái mà vị tổng chỉ huy trình bày với các viên tư lệnh các vùng đất, được ông triệu tập tới Sài Gòn, ba tuần lễ sau khi ông tới đó ông đã lần lượt tới thăm họ ở ngay sở chỉ huy của họ trong cái mùa thời tiết đã biến bầu không khí thành một lò lửa. Ông đã lắng nghe họ nói. Ông đã ghi chép vào sổ tay. Ông đã đi ra thực địa. Ông đã kiểm tra các đơn vị của đạo quân viễn chinh, các đồn bốt độc lập, các tiểu đoàn của quân đội Việt Nam. Ông đã nghe thấy tiếng đại bác nổ trong đêm khuya. Ông đã nhìn thấy xác chết của đối phương trên hàng rào thép gai, nhìn thấy những người nông dân cầy ruộng đi sau con trâu của họ, gập đôi người trên đoạn tay cầy hoặc lon ton bước đi trên đường cái, chiếc đòn gánh kĩu kịt trên hai vai. Ông đã điểm lại quân số, bố trí họ trên các tấm bản đồ, cân nhắc đi cân nhắc lại bài toán trong dầu. Ông đã tìm cách quên đi tất cả những gì đã học hỏi được ở châu Âu. Chưa một lúc nào ông có tham vọng đối với cái cương vị mà lời gợi ý của ngài René Mayer và vận mệnh của quân đội mang tới cho ông và không một ai có thể ngờ vực là ông làm việc để giành lấy thêm một ngôi sao, bởi lẽ Navarre là một con người trung thực. Được cảnh báo về những khả năng của con người, thậm chí ông biết rằng ông phải đề phòng đối với các tùy tùng của mình nhiều hơn là đối với đối phương. Tất cả đều phải thúc ép và ông cũng phải tự thúc ép mình giành chiến thắng. Cho đến tận lúc này, ông chưa hề có một quyết định nào. Có những quyết định được đề ra nhưng chưa bao giờ được lựa chọn ở cương vị này, và không phải là ông không biết rằng sẽ có những người phải chết vô ích khi các viên tướng mắc sai lầm. Nhưng mà giờ đây khi ông đã nhận nhiệm vụ chỉ huy, việc này không phải do mánh khóe cầu xin gì, thì ông sẽ chỉ huy. Như vậy là ngày 16 tháng sáu, ông trình bày rằng bản thân ông, Navarre, sẽ giải quyết bài toán như thế nào. Trước hết, trong chiến dịch sắp tới, người ta sẽ giữ mức hạn chế thận trọng, cốt để khôi phục lại đạo quân viễn chinh, trả lại tinh thần và sức sống cho đạo quân đó. Việc cần làm là tránh chạm trán quyết liệt với đại bộ phận quân đối phương. Những nguy cơ lớn nhất nằm ở miền Bắc, nhưng vùng đất này nằm chắc chắn trong tay các đơn vị có năng lực; ở đó người ta sẽ tiếp tục cái mà người ta dè dặt gọi là "công cuộc bình định". Và người ta sẽ ngăn ngừa trước những hành động tấn công của đối phương bằng cách đập tan chúng trước khi chúng kịp nổ ra. Miền Nam có nguy cơ sụp đổ nếu như các mối đe dọa hiện ra ở đó được đẩy lên khẩn trương hơn. Nhờ vào một vành đai bao vây thực hiện ở phía bắc vĩ tuyến 18, một cuộc tấn công tương đối dễ dàng sẽ thanh toán các đơn vị thuộc quân khu 5 của Việt Minh, bị ngăn cách với xứ Bắc Kỳ bởi một dãy núi hình thành một đường giới tuyến tự nhiên. Cuộc tấn công này sẽ mang tên Atlante. Ngược lại, trong chiến dịch tiếp sau đó, người ta sẽ tìm kiếm mục tiêu đối chọi. Trước tiên, người ta sẽ tấn công vào các kho lúa gạo, các vùng dự trữ nhân lực và cuối cùng là bản thân khối chủ lực của đối phương để tiêu diệt nó. Ý tưởng này được tướng Salan để lại cho ông thừa kế cùng với Điện Biên Phủ, trở thành nền tảng của kế hoạch. Còn về phần quân đội ngụy Việt Nam, Navarre đã lưu ý đến câu nói nhàm chán mà người ta lải nhải trước mặt ông để che giấu tình trạng bất tài của lớp sĩ quan và sự thờ ơ của binh sĩ: quân ngụy Việt Nam sẽ khôi phục mạnh mẽ các đơn vị chiếm đóng chính quy và sẽ cho phép chúng ta tăng cường khả năng tấn công. Đây chính là bản Kinh Thánh của nhà vua Jean(1). Nhưng mà nhà vua Jean thì đã chết rồi và Navarre không lầm lẫn đối với bảng cân đối cụ thể của những con số. Nếu như quân ngụy Việt Nam hiên ngang bước đi trong các cuộc diễu binh thì đối với chuyện đánh nhau họ chẳng thích thú gì. Người ta hiểu được đội quân ấy: khác với Việt Minh, đội quân đó không biết được tại sao, bởi lẽ họ biết quá rõ là vì ai, mà người ta muốn họ chiến đấu. Đó là những nét lớn trong chiến lược của Navarre. Chúng mang dấu ấn của một kỵ binh: dựa vào việc phòng ngự để hồi phục sức khỏe về thể chất và tinh thần cho đạo quân viễn chinh, sau đó sẽ áp dụng một tinh thần tiến công, dồn ép đối phương để ngăn cản đối phương tổ chức hành động tổng lực của các sư đoàn và tiêu diệt đối phương ở nơi nào mà không có ưu thế về quân số. "Người ta chỉ có thể chiến thắng bằng cách tấn công" đó là chủ đề của lá thư thứ nhất ông gửi cho đạo quân viễn chinh. - Thưa các vị, các vị có ý kiến phản bác gì không? Cogny có ý kiến. Tình hình bế tắc trên vùng đồng bằng làm cho ông sợ hãi. Ông cho rằng hệ thống bố trí tĩnh của ông có nguy cơ bị quân đối phương tràn qua một khi xảy ra cuộc tấn công tổng lực. Ông cũng lo ngại việc tổng chỉ huy sẽ rút khỏi vùng đất của ông những binh đoàn cơ động để sử dụng cho cuộc hành binh Atlante, sắp ngốn mất nhiều quân số. Khi ở Bắc Kỳ, Cogny đã trình bày tình hình với tổng chỉ huy cũng với những tấm bản đồ, những bảng thống kê và cũng những ý tưởng đã phục vụ cho việc thuyết trình với thống chế Juin, bốn tháng trước đây. Để cho tổng chỉ huy hiểu rõ tình hình, thậm chí Cogny đã dùng một giọng nói nhỏ nhẹ gần như dịu dàng tỏ rõ một thái độ tôn kính quá mức, những dấu hiệu của tình cảm đó, Navarre đã tiếp nhận với một lòng khoan dung và hơi buồn cười. Điều mà Cogny muốn thật đơn giản, sáng suốt và đúng đắn: trên vùng thượng du, né tránh những trận đánh không nắm chắc phần thắng và chỉ tung vào đó những đơn vị biệt kích hoặc những đơn vị chính quy gọn nhẹ, có thể luồn lách được. ở vùng đồng bằng, nơi tình trạng thối ruỗng đang lan rộng, duy trì một tư thế tấn công thường trực chống lại quân đối phương đang thâm nhập, cuối cùng tung ra những đòn đánh thường xuyên và ầm ĩ ở những vùng ven để làm rối loạn hệ thống tiếp tế hoặc làm lung lay việc đứng chân của các sư đoàn Việt Minh. Navare đảm bảo sẽ làm như vậy. Thống chế Juin đã nhắc ông về chuyện đó. Vì vậy ông cố gắng phá vỡ những đòn đánh của đối phương trước khi chúng diễn ra. Ông đã bật đèn xanh cho Cogny một loạt những hành động theo kiểu đó. Tất cả những chuyện đó toát lên sức khoẻ, sự sáng suốt, trạng thái thăng bằng. Người ta chỉ có thể thảo luận về thời cơ và hiệu quả của trận tấn công mà Navare muốn chơi sang ở phía nam vĩ tuyến 18, nhưng người ta vỗ tay khi ông bộc lộ ý định sâu xa của mình: "Mục tiêu số một của tôi là xóa bỏ các thói quen. Đạo quân viễn chinh thiếu ý chí tiến công và tính cơ động. Tôi sẽ gắng sức để trả lại cho nó những đức tính đó". Cuộc tiến công này không có vẻ gì là đưa ông tiến thật xa và nó có thể giúp ông lay chuyển cái trạng thái vô cảm đang lan rộng. Một mình chịu trách nhiệm, ông là vị quan toà duy nhất. Điều tốt và rõ ràng, đó là việc ông quyết định và tuyên bố rằng trong chiến dịch sắp mở màn, ông sẽ né tránh trận đánh tổng lực. _________________________________________ 1. Bí danh của thống chế De Lattre de Tassigny. N.D. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2008, 05:20:48 pm Ngày 24 tháng bảy 1953 Cho mãi đến tận lúc này, riêng chỉ có Việt Minh là biết cách xây dựng các kế hoạch và thực hiện những kế hoạch ấy- Navarre bỏ ngoài tai những lời bàn tán ầm ỹ xung quanh kế hoạch của ông ta. "Chiến thắng sẽ đến nếu người ta thúc đẩy nó, sau khi đã loại bỏ mọi chướng ngại vật cản đường". Ông đã nói như vậy. Sáng sủa, điềm đạm, khuôn mặt như rạng rỡ lên từ một vầng sáng nội tại, nảy sinh từ trận thắng ở Lạng Sơn, những bức điện khẩn của các phái viên đặc biệt về trận thắng này hãy còn đang rung lên, tướng Navarre trình bày một cách thoải mái, bằng một giọng nói tự tin và rành mạch, ở điện Elysés, bản kế hoạch mang tên mình nhưng sự thực phải nói ông là đồng tác giả cùng với Salan. Cử toạ thật đáng nể? Tổng thống, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tám bộ trưởng, bốn quốc vụ khanh, một thống chế của nước Pháp và bốn vị tham mưu trưởng các quân chủng. Phải chăng Cogny nhờ vào cuộc thử nghiệm vừa ghi được ở Lạng Sơn, cùng với những tiếng vỗ tay hoan hô đã nâng Navarre lên bệ tượng đài? Sẽ là hiểu sai lệch không khí của những cuộc họp chính trị ấy, trong đó mỗi người chăm chú đề phòng những người ngồi bên cạnh mình và bảo vệ lợi ích của bộ mình, của khu vực mình. Chiến thắng non trẻ của Navarre ngược lại, có vẻ như phục vụ cho mục đích của mỗi người, bởi lẽ nó cung cấp dẫn chứng là người ta có thể giành được bước tiến chỉ với những phương tiện mà Navarre hiện có. Bị chảy máu, phải đương đầu với những vấn đề của thời hậu chiến và những khoản đầu tư cho các chương trình xây dựng và tổ chức, đất nước tiếp tục mong muốn chấm dứt cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng mới không hề giấu giếm rằng chính phủ có ý định bắt tay vào cuộc thương thảo với đối phương ngay sau khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết. Vấn đề sự chi viện của Trung Quốc không có vẻ gì là được chính Navarre xem xét ngay trong phần đầu của bản tường trình, với giả thuyết là nó không gia tăng, lại đã khơi gợi ra được nhiều ý kiến phản bác. Trung Quốc chỉ có thể thay đổi trong một thời gian dài, những kế hoạch đòi hỏi nỗ lực của nhiều triệu con người. Trả lời ý định của ông muốn xây dựng một căn cứ không - lục quân ở Điện Biên Phủ để bảo vệ nước Lào, vấn đề phòng thủ mảnh đất này được đặt ra và không được giải quyết Từ đó Navarre kết luận rằng người ta để cho ông con bài trắng. Thực tế, nếu như các viên tham mưu trưởng đã góp ý với chính phủ là không nên bắt buộc Navarre phải bảo vệ nước Lào, tuy nhiên chính phủ lại cũng không dám xóa bỏ cho ông nhiệm vụ đó. Người ta không thể nào "nói ra hay ghi thành văn bản là chúng ta sẽ không bảo vệ nước Lào". Câu nói này là của vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng. Trong trường hợp câu chuyện bị rò rỉ, phải chăng người ta sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với các quốc gia liên hiệp? Nhất là, liệu người ta có thể đề ra quyết định đó từ Paris chăng? Nói ngắn gọn, Uỷ ban Quốc phòng chui ngay vào một đám mây mỗi khi có việc đề ra một chỉ thị cụ thể cho viên tổng chỉ huy. Nước Lào ư? Cần phải bảo vệ nó mà như không bảo vệ nó, lại vừa vẫn bảo vệ nó. Không được nói rằng người ta sẽ không bảo vệ nó và phải làm ra vẻ như người ta bảo vệ nó mà vẫn không có bất kỳ điều gì mạo hiểm khi ta bảo vệ nó. Còn về phần vị bộ trưởng tài chính, ông ta tuyên bố phản đối mọi việc làm rỗng ruột kho bạc của ông ta, không một xu cho kế hoạch Navarre. Tướng Corniglion- Molinier, bộ trưởng không bộ phát biểu với cách nói hùng hồn và gay gắt vốn có. Sức mạnh của Corniglion nằm ở tính hài hước của ông, bởi lẽ đó là một con người rất tốt bụng. Là phi công, ông đã từng hạ cánh ở Điện Biên Phủ vào năm 1946 cùng với Leclerc. - Điện Biên Phủ ư? Ông kêu to lên như vậy trước mặt cử tọa cao cấp lúc đầu vui thích rồi sau sửng sốt. - Các vị cứ tưởng tượng ra một sân bay ở giữa quảng trường Mars trong khi kẻ địch chiếm giữ quả đồi Chaillot(1). Hơn nữa, với một cự ly như vậy, cách xa Hà Nội và Hải Phòng, thì các máy bay chỉ có mỗi việc là bay lên và bay về. Tướng Navarre đáp lại rằng đây là một quan điểm của phi công không phù hợp với ý kiến riêng của ông về tình thế hiện tại, tuy nhiên nỗi ngờ vực đã nhen nhóm. Ngoài ra, trong khi vẫn thừa nhận rằng ông phải tiến hành một trận đánh rất ác liệt tướng Navarre đã thẳng thắn mà nói rằng trận đánh đó có thể gặp phải những thất bại nặng nề. Để kết luận, Uỷ ban Quốc phòng hết lời tán dương bản kế hoạch, tuy nhiên yêu cầu Navarre áp dụng kế hoạch tuỳ theo khả năng của ông và đề ra những kiến nghị tiết kiệm hơn trong một thời hạn khá gần. Về sau Navarre nhiều lần nói rằng biên bản cuộc họp này không hề được thông báo cho ông và không phải là ông không biết rằng ngài René Mayer chỉ yêu cầu có mỗi một chuyện: tìm ra một lối thoát trong danh dự và rằng lập trường của ngài Joseph Laniel dù cho có vẻ hết sức nước đôi trước con mắt của ông và rất khó thay đổi, cũng chẳng khác chút nào. Không một ai nhấn mạnh để giúp cho vị tổng chỉ huy và viên quốc vụ khanh về quan hệ với các quốc gia liên hiệp tìm ra được một giải pháp đúng. Vị bộ trưởng quốc phòng, ngài René Pléven, phản đối việc đẩy mạnh cố gắng về quân sự nếu như chính phủ thuộc địa Việt Nam vẫn không quyết định xây dựng được một quân đội đích thực và ông yêu cầu rằng một nhiệm vụ rõ ràng phải được xác định cho tướng Navarre, việc này đã không được tiến hành. Đó chính là điều mà ngài Laniel coi như những chỉ thị cụ thể nhất mà một chính phủ có thể đưa ra cho một viên tướng chỉ huy. Thốt ra từ cửa miệng của ngài Laniel, câu nói thật có duyên. Ngài Laniel là một người thợ dệt thật thà của vùng Calvados(2), được ông bố thúc đẩy bước vào con đường hoạt động chính trị và trở thành bộ trưởng nhờ vào trò chơi của tình bạn và những công việc giúp ích cho người khác. Ở cái tuổi sáu mươi tư, các biến cố đã đưa ông trở thành một chủ tịch hội đồng bộ trưởng cũng như chẳng bao lâu sau đưa ngài Coty trở thành tổng thống nước cộng hòa, người này cũng như người kia đều là những mẫu số chung nhỏ nhất của các đảng chính trị. Ngài Laniel không phải là một ai đó, cũng không phải là một vật gì đó, mà là một con số không. Nội các của ông được cấu tạo, cũng như các bài diễn văn của ông nhờ vào những cái kéo cắt và lọ hồ dán. Ở điện Matignon, người ta không gọi ông là "Chủ tịch" cũng chẳng gọi là "Ông chủ” mà là "Cái ông Joseph khốn khổ". ________________________________________ 1. Đồi Chaillot: Tòa nhà xây trên đồi Passy năm 1878, nhân cuộc triển lãm năm đó. Xây lại năm 1937. – N.D. 2. Calvados: một vùng của xứ Normandie (Tây Bắc nước Pháp). Một vùng công nghiệp giàu có. – N.D. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2008, 05:22:50 pm Ngày 25 tháng bảy 1953 Navarre không tỏ vẻ quá ư khó chịu, ngày 24 tháng 7, đó là một thực tế. Có lẽ ông không đáng giá là người ta đã tán thành toàn bộ bản kế hoạch của mình, nhưng ông tin chắc là người ta không bác bỏ nó. Ông không nổi nóng, ông không đe dọa xin từ chức. Ông không điện cho Sài Gòn để thay đổi các quan điểm về cách thức tiến hành các trận đánh. Ngày hôm sau nữa, Navarre đã hạ lệnh nghiên cứu, trong trường hợp có một cuộc tiến công của đối phương trên vùng thượng lưu sông Mékong, một hành động phòng ngừa có nội dung là bất ngờ chiếm lấy vị trí Điện Biên Phủ. Navarre đã xem và sửa chữa bản mật lệnh này trước khi rời khỏi Sài Gòn và chắc chắn là ở ngay Paris. Do vì ông không có mặt ở Đông Dương cho nên chính đô đốc Auboyneau là người ký bản mật lệnh ấy, bởi lẽ đô đốc có thâm niên lâu hơn tướng Bodet, phó tư lệnh. Thủ tục quân sự không quan trọng: tác giả, chính là Navarre, ông vừa mới cụ thể hóa theo cách hiểu của ông những chỉ thị mà ông không nhận được. Thử hỏi Navarre sẽ có lỗi ở chỗ nào khi hi vọng có được những phương tiện mà người ta mặc cả với ông? Liệu có ai dám trách cứ ông vì đã muốn giành thắng lợi trong chiến tranh hoặc vì gần như đặt ra một việc đã rồi trước một chính phủ vốn chưa bao giờ bắt buộc ông phải đệ trình báo cáo trước khi lao vào bất cứ một việc gì? Bản mật lệnh ngày 25 tháng 7, khi được chuyển tới trên bàn các vị bộ trưởng và các tham mưu trưởng, không gây ra bất kỳ một xúc động nào, tuy nhiên nó đã chứng tỏ rằng Navarre không hề thay đổi các ý định của mình và rằng ông đang chuẩn bị đánh chiếm Điện Biên Phủ, ở Paris người ta chẳng biết nơi đó là cái gì và do bản năng, người ta không muốn. Vậy thì, ai là người dẫn dắt cuộc chiến tranh này? Chẳng có ai cả. Làm thế nào một trận đánh, như trận đánh Điện Biên Phủ lại sắp sửa nổ ra? Có phần nào là tình cờ. Tướng Navarre, người có nhiệm vụ duy nhất là tìm ra cho quốc gia một lối thoát trong danh dự đã hành động theo ý mình, với điều kiện không đòi hỏi thêm bất kỳ một sự tăng viện nào. Là một nhà quân sự giỏi, ông phải hiểu được điều đó. Người ta hiểu rằng ông thấy bất bình khi phải tung đạo quân viễn chinh ra theo ý kiến của cái viên cao ủy thiếu năng lực, những vị bộ trưởng chịu trách nhiệm về những mối quan hệ mơ hồ với các Quốc gia Liên hiệp, các tên gọi lạc quan, dưới cái tên ấy người ta tập hợp các chính phủ ma của Việt Nam, Lào và Cămpuchia, và những ủy ban quốc phòng địa phương. Nếu như, vì tình cờ, một vị bộ trưởng có điều gì ngờ vực về cơ sở đúng đắn của các hoạt động quân sự, ông ta sẽ xin ý kiến của vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng, ông này không dám cho ý kiến và đành nghe theo. Còn về các phương tiện, quân số và vũ khí thì thuộc về ba quân khu, cùng với không quân và hải quân, các đơn vị này đều rất hà tiện xương máu của họ: và tiền bạc thì thuộc về Bộ Tài chính, bộ này không nhè ra một tí gì. Dưới triều đại của mười chín chính phủ kế tiếp nhau, chuyện vẫn là như vậy. Từ bảy năm trời nay, mọi chuyện diễn ra như vậy. Một vị tổng chỉ huy duy nhất, tướng De Lattre, đã nổi giận và gạt bỏ các cấp trung gian, không phải là để có được những mệnh lệnh mà ông sẽ không đồng ý tiếp nhận mà là để đòi hỏi người ta phải khuất phục những mong muốn của ông ta; tiếng nói của ông đã vang tới tận châu Mỹ, ông tới đó thuyết giáo về cuộc thập tự chinh của thế giới phương Tây. Khi ông chết, bầy ếch nhái lại trở lại vị trí cùng với bản đồng ca của chúng, và Salan đã thận trọng bước đi xuyên qua bãi lầy của những con đường thứ bậc. Navarre đã chấp nhận việc chỉ huy trong những điều kiện như vậy. "Cần phải có ai đó hi sinh thân mình", thống chế Juin đã nói như vậy. Sau này, Navarre sẽ viết một cuốn sách để tự bào chữa. Nói về tình hình chính trị, về tinh thần tư tưởng của đạo quân viễn chinh Pháp và của quân ngụy Việt Nam về hoàn cảnh, về quyết tâm chiến thắng và về niềm tin của đối phương, cuộc phân tích mà ông viết ra là đúng đắn và rõ ràng. Ông đã nhìn đúng. Ông không hề có chút ảo tưởng nào. Nhưng mà đó là một cuốn sách xuất hiện sau những biến cố chứ không phải là một cuốn nhật ký hành quân. Ngày chủ nhật cuối cùng của tháng bảy 1953, trước khi lên đường trở lại Đông Dương, trong một bữa ăn trưa ở chỗ các bạn hữu, Navarre đã nhắc lại câu mà ông đã nói với ngài De Chevigné để làm an lòng ông ấy: "Tôi sẽ không phạm phải các sai lầm của những người tiền nhiệm". Khi trở lại Sài Gòn, ông vẫn giữ nguyên những ý kiến ấy và ông chuẩn bị mở màn trận Điện Biên Phủ, cũng như Salan đã mở màn trận Nà Sản. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2008, 05:24:58 pm Tháng tám 1953 Cogny lúc đầu, hình như nhìn nhận việc di chuyển các tiểu đoàn từ Nà Sản lên Điện Biên Phủ theo cách nhìn, số lượng là số lượng và giá trị là giá trị. Ông ta viết cho Navarre: “Tôi không tin tưởng tuyệt đối vào giá trị của trận địa hầm hào để bịt chặt một hướng. Luang Prabang cách Điện Biên Phủ hai trăm kilômét: chúng ta mạo hiểm một Nà Sản mới trong những điều kiện xấu hơn". Và ông ta đề nghị nhiều cách giải quyết, bởi lẽ hoàn cảnh đã không còn giống như một tháng trước đây, để rút đơn vị đồn trú ở Nà Sản bằng đường bộ hay đường không, vừa bỏ lại tại chỗ một tiểu đoàn cuối cùng, tiểu đoàn này sẽ tan vỡ và chạy ra các khu du kích. Thực tế, cuộc rút bỏ cuối cùng này được quyết định ngày 5 tháng tám ở Hà Nội, nhân cuộc viếng thăm của Navarre đến đây từ hôm trước để chủ trì một cuộc duyệt binh và trao tặng các huân huy chương của trận Lạng Sơn. Navarre gắn thêm một chiếc lá cọ lên các huân chương chữ thập chiến tranh của Cogny, De Gilles, của đại tá Ducournau hăng hái sôi nổi nhiệt tình, người chỉ huy trận đánh; của trung tá Raberin, người đã cùng với binh đoàn cơ động của mình đi đón các đơn vị quân dù. ông gắn lên lá cờ hiệu của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, tiểu đoàn này do Bigeard chỉ huy, bản thân Bigeard trong bộ trang phục dã chiến, hai tay áo xắn ngược lên, người thẳng đơ, mái tóc cắt ngắn dưới một chiếc mũ nồi mầu đỏ đầy vẻ khiêu khích, giống như chiếc mào con gà sống, một nụ cười thoảng qua trên vành môi. Navarre cũng thế, đôi lúc ông mỉm cười, kể cả khi ông gắn huân chương lên vầng ngực đồ sộ của Cogny, đến nỗi tưởng như ông phải nhón mười đầu ngón chân để rướn người lên mới với tới. Vào thời kỳ này, ở Bắc Kỳ, người ta như sống trong lò lửa. Mồ hôi đầm đìa nửa thân trên mọi người, thấm đẫm những chiếc áo sơmi. Những chiếc quần vải, nhanh chóng nhầu nát, bay phấp phới. Trong những giây phút khác, Navarre tựa như chìm đắm trong một vẻ trang nghiêm, nếu không phải là buồn bã. ông không phải là con người của những nghi lễ quân sự lớn. Cây gậy chỉ huy bọc da ông cầm trong bàn tay trái làm cho ông thấy vướng víu. Cogny, về phía mình, chỉ có nghĩ tới Nà Sản. Điện Biên Phủ ư? ông đã xếp cái kế hoạch này lùi vào phía sau khá xa của việc bố trí lại thế trận ở Lai Châu và theo ông nghĩ, Navarre cũng thế. Với mục đích đánh lừa quân Việt, những bức điện giả đã được viên tư lệnh trận địa ở Nà Sản đánh đi yêu cầu tăng viện cho mình ba tiểu đoàn. Để nhử mồi các đài quan sát, quân dù sẽ nhảy xuống từ những chiếc Dakota đầu tiên, sau đó máy bay dân dụng bắt đầu việc chở quân rút đi theo nhịp điệu cứ sáu phút xếp xong một máy bay, đúng theo yêu cầu của cơ quan vận tải quân sự. Người ta cũng đưa đi theo gần một nghìn hai trăm nông dân người Thái và ba trăm thân hào trong vùng lân cận đã từng hợp tác với người Pháp: đàn ông, đàn bà, con trẻ trèo lên các khoang máy bay cùng với hành lý, bát đĩa, những chiếc chảo chất đầy quần áo cũ, chai lọ, trong lúc đó những chiếc B26 và máy bay khu trục bay lượn trên các đỉnh núi kế bên, sẵn sàng nổ súng vào mọi vật động đậy. Bất chấp những cơn giông nổ ra mỗi đêm và gây trở ngại cho chuyến đi, đến cuối buổi chiều ngày 11 tháng tám chỉcòn lại khoảng vài chục người phải bốc đi, trong lúc đó các máy bay khu trục phá hủy các kho đạn dược và những chiếc xe tải. Cogny tuyên bố ở Hà Nội: "Tôi thấy sung sướng hơn là buổi chiều ở Lạng Sơn". Henri Amouroux sau này hỏi viên thiếu úy Makowiak, người trở về sau cùng: Anh sẽ làm gì nếu như chiếc máy bay của anh không thể hạ cánh được? - Tôi sẽ đi bộ để quay về. Việc Việt Minh không có phản ứng là do một sự cố nhỏ nhưng lại có tầm vóc lớn: máy thông tin trên đài quan sát của đối phương bị hỏng hóc. Sửa chữa xong, máy vô tuyến chuyển đi các bức điện đã bị dồn đống lại, trái ngược với trật tự về thời gian... Khi mà bộ chỉ huy quân Việt biết được tầm quan trọng của thông tin đó thì đã quá muộn để hành động. Cogny đã có lý khi nói rằng thắng lợi vượt quá mọi hi vọng. Phải chăng về cơn mưa những lời ca ngợi đổ xuống các viên tướng của họ ngày hôm sau, các phi công phải mắc nợ việc làm ngớ ngẩn của một chiến sĩ thông tin đối phương. Mười năm sau, khi tôi đặt ra câu hỏi cho tướng Giáp, ông vừa mỉm cười vừa trả lời: - Một trong những nguyên tắc chiến lược của chúng tôi là tìm cách giành quyền chủ động, Navarre đã nói rất nhiều về việc giữ vững quyền chủ động của ông ta. Các đơn vị bao vây Nà Sản số lượng không nhiều lắm và thời kỳ đó không nằm trong thời kỳ các hoạt động lớn của chúng tôi. Chúng tôi đã nghĩ là nếu Navarre rút bỏ cứ điểm Nà Sản, thì việc đó sẽ thuận lợi cho chúng tôi. Con người lạc quan này, tôi thấy hình như che giấu một chút bực mình nào đó. Với việc rút bỏ Nà Sản, một thắng lợi mới được ghi vào bản thành tích của Navarre. Trước ngưỡng cửa của chiến dịch đã mở màn, tướng Giáp quyết định nhổ bỏ cứ điểm kể cả nếu như ông phải tung ra những đợt xung phong bước qua tất cả, bởi lẽ tướng Giáp biết rằng người ta không tính đến số người chết khi mà thắng lợi nằm ở cuối trận đánh và các binh sĩ của ông chấp nhận cái chết với một niềm phấn khích. Điều đó đã làm cho chúng tôi cảm thấy ớn lạnh xương sống. Người ta có thể giả định một cách đúng đắn rằng việc rút bỏ Nà Sản thành công đã mang đến cho đối phương một nỗi thất vọng khá là cay đắng mà tướng Giáp chỉ tìm cách để che giấu. Người ta sẽ quan tâm đến điều đó. Người ta chuẩn bị cho ông ta một đòn phản kích. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2008, 05:29:03 pm Mười lăm ngày đầu tháng mười một 1953 ĐIỆN BIÊN PHỦ, như vậy là đã không được tiến hành theo hướng đó. Người ta đã suy nghĩ đến việc đó. Người ta đã nói đến vấn đề đó. Người ta đã dùng đến nhiều tấn giấy đánh máy và nhiều ki lô chất xám để cân nhắc các thuận lợi và khó khăn của vụ việc. Tất cả các ý kiến không phải là giống nhau. Thậm chí người ta còn cãi cọ nhau. Trong thời gian xen kẽ, Navarre đã cử cấp phó của mình, tướng Bodet mang một văn kiện về nước cho chính phủ, trong văn kiện đó ông giữ vững ý kiến về sự cần thiết thực hiện nguyên vẹn kế hoạch của mình và nhất thiết phải nhận được tăng viện. Câu trả lời mang về là mơ hồ. Kế hoạch được phê chuẩn nhưng việc bảo vệ nước Lào không được xác định; các phương tiện ông đề nghị sẽ được cung cấp trong mức độ có thể. Tuy nhiên ngày 11 tháng chín, ngài Pléven, bộ trưởng quốc phòng đã nhắc lại với tướng Navarre rằng ông phải bằng lòng với mức tăng viện mà người ta đã chấp thuận cho ông ngày 24 tháng bảy, nói cách khác là chẳng có gì. Cái quyết định này mà ngài Pléven, tựa như bám vào một phương sách cuối cùng, đã kiên quyết không cho tôi xem văn bản gốc, như vậy là ấn định rõ ràng cho Navarre những lực lượng ông có thể tính đến: những lực lượng mà ông đã nắm trong tay. Tuy nhiên, khi mà cuộc hành binh Điện Biên Phủ không còn là một ý định ít nhiều được tán thành hay là phê phán mà là một kế hoạch thực sự đang trên bước đường thực hiện, ai sẽ là người lo lắng đây? Chắc chắn là một vài người. Ai phản đối đây? Không có ai. Vị bộ trưởng không bộ, chịu trách nhiệm giúp đỡ ngài Laniel về các công việc ở Đông Dương rất ít khi gặp gỡ vị quốc vụ khanh chịu trách nhiệm về Đông Dương bởi vì các văn phòng của họ không nằm trong cùng một khách sạn. Tại sao lại không cùng đứng trên một chiếu nghỉ cầu thang? Sự thực, lý do là không một ai ở trong chính phủ hiểu được một tí gì trong vấn đề đó. Nếu như không nhìn thấy ở Điện Biên Phủ cái khả năng có thể bịt chặt một hướng thì Cogny lại là người đầu tiên nhìn thấy ở đó một địa điểm tốt để thả neo bám vào xứ Thái, một căn cứ không - lục quân hỗ trợ cho các hoạt động chính trị - quân sự. Người ta nhìn thấy nhiều điều thú vị ở cái từ này trong phương ngữ Đông Dương. Navarre không lầm lẫn trong chuyện này. Nếu như ông ta đứng chân ở Điện Biên Phủ thì trước hết là với cái cớ khóa chặt cửa ngõ thông sang nước Lào, giống như người tiền nhiệm của ông đã có dự định tiến hành. Ấy vậy mà, vào cuối tháng mười, tướng Giáp không chịu mở cuộc tấn công tổng lực ở vùng đồng bằng và tung sư đoàn 316 của ông ta lên tây bắc, hướng về Lai Châu. Vấn đề bảo vệ Luang Prabang lại được đặt ra với một tính thời sự càng nóng bỏng hơn do việc ngày 22 tháng mười, ở Paris, chính phủ Pháp đã ký kết với nước Lào một hiệp định, theo đó nước Pháp có nghĩa vụ bắt buộc phải bảo vệ người bạn đồng minh của mình. Navarre đọc lại trong bản di chúc Salan để lại cho ông, câu nói chốt sau đây: "Điều cho phép chúng ta bảo vệ được nước Lào, đó là làm sao không để cho Việt Minh duy trì ở đó từ hơn 20 cho đến 25.000 con người”. Không một văn kiện bí mật nào lại đi yêu cầu vị tổng chỉ huy coi bản hiệp định của điện Matignon như một tờ giấy lộn. Nếu như người ta đã bỏ mặc chuyện ấy trong trạng thái mơ hồ thì như vậy có thể đánh giá, không phải là vô cớ, rằng những điều ngập ngừng không nói ra trong mùa hè đã bị xua tan, và rằng chính phủ của ngài Laniel đã lựa chọn việc bảo vệ nước Lào. Ấy thế mà viên cao ủy mới ở Đông Dương, ngài Maurice Dejean, lại không phải là một nhà ngoại giao có thể có những đánh giá dựa trên những giả thiết. Sau này, trong một văn kiện gửi lên chính phủ, ông ta đã viết rằng việc bảo vệ nước Lào, đối với bộ chỉ huy ở Đông Dương chỉ là việc tìm kiếm một cơ hội đánh bại quân Việt và có thể là ông có lý. Tạm thời lúc này, ông ta im lặng và không hề xin ý kiến của vị bộ trưởng cấp trên của ông ta, điều đó chứng minh rằng ngay chính ông ta cũng chỉ có thể đánh giá được tầm quan trọng của Điện Biên Phủ, sau khi trận đánh đã nổ ra. Nếu như ông ta cho ý định chiếm giữ Điện Biên Phủ là nguy hiểm hoặc vô ích thì tại sao ông ta lại không thận trọng ngay lập tức rút tất cả các viên bi ra khỏi ván bi-a và bằng mọi sắc thái của thứ ngôn ngữ được coi trọng ở Bộ Ngoại giao nói ra rằng cái công thức bảo vệ nước Lào đã không được ông chấp thuận? Ngày 2 tháng 11 trong một bản mật lệnh đặc biệt khác, vị tổng chỉ huy đã xem xét vấn đề tăng cường củng cố hệ thống bố trí ở hướng tây bắc đạt mức vững chắc cao nhất và việc bảo vệ nước Lào có một cơ cấu được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Ông muốn làm cho đối phương không chiếm giữ được những cánh đồng lúa ở Điện Biên Phủ và do đó ngăn cản không cho họ có thể duy trì cường độ trận đánh mạnh mẽ trong một thời gian dài, trận đánh cần thiết để họ quét sạch đội quân đồn trú. Cogny phản ứng. Mối bận tâm của ông ta được là người mạnh nhất ở giữa khu vực bãi lầy của mình khiến ông ta lo ngại rằng Điện Biên Phủ của tổng chỉ huy sẽ ngốn mất của ông nhiều tiểu đoàn. Không hề tuyên bố là mình phản đối kế hoạch, bởi lẽ Navarre có tầm nhìn sáng suốt mà ông không có và trong mọi trường hợp, có nhiều hơn ông một ngôi sao, Cogny chỉ nêu ra, có phần hơi lúng túng theo thói quen vốn có rằng ưu thế về chính trị của việc duy trì một căn cứ ở xứ Thái bổ sung thêm vào ưu thế chiến lược của một vành đai bảo vệ ở vùng Bắc Lào, câu nói đó tỏ ý rằng về cơ bản, Navarre đúng. Nhưng ông nói thêm, bởi lẽ lập luận của Cogny vốn sử dụng những cách vòng vo khác thường, rằng việc thực hiện kế hoạch Điện Biên Phủ sẽ hủy bỏ lời hứa hẹn của ông, là tự mình giữ vững vùng đồng bằng với những gì ông hiện có trong tay. Lập trường của Cogny thật là kỳ quặc. Ở phần cuối bản mật lệnh này, Navarre nhắc lại rằng đối với ông, vùng đồng bằng xung quanh Hà Nội vẫn là chiến trường chủ yếu rằng ông không muốn thấy mình bị uy hiếp ở đó mà rằng nếu như về phần mình, Cogny thấy không thể rút bớt các đơn vị của ông ta, thì, được rồi, Navarre sẽ trao vùng Tây Bắc cho du kích và trong một thời hạn chưa xác định, tạm gác kế hoạch Điện Biên Phủ lại. Cơ hội chủ yếu mà Cogny không nắm lấy. Do tình cảm gắn bó với xứ Thái chăng? Nhưng thử hỏi sự gắn bó sẽ ra sao nếu như Điện Biên Phủ gặp thảm họa? Đơn giản, hình như vậy, bởi vì có một ngôn ngữ quân sự và một trật tự trên dưới, và rằng khi những cái đó được thể hiện ra bàng cách nào đó thì những ý muốn của một người chỉ huy trở thành những mệnh lệnh. Cái việc rút bớt lực lượng đi mà Cogny cho là hết sức nguy hiểm đối với mình, đến mức ông ta để lộ ra rằng, bằng bất cứ giá nào ông ta không muốn thực hiện, việc ấy Cogny không công khai từ chối bởi lẽ Navarre cho rằng có khả năng; và nếu như Navarre cho là có khả năng thì Cogny không thể nói là "Không ?" nếu không muốn phạm phải một hành động vô kỷ luật điển hình. Chắc chắn Cogny đã phạm phải cái tội khi quân này nếu như bản thân ông ta không bị cảm dỗ bởi cái Điện Biên Phủ nhỏ bé riêng của ông ta, vốn đang tự bảo vệ và nếu như ông ta nhìn thấy tất cả những mối nguy hiểm của cái Điện Biên Phủ kia, vốn không tự bảo vệ được. Sau những thắng lợi ở Lạng Sơn và Nà Sản, phải chăng ông đã không sai lầm khi tỏ ý bi quan đến như vậy đối với kế hoạch dự định của Navarre? Không phải là một sự tán thành, câu trả lời của ông lại cũng không phải là một lời từ chối: nó trôi nổi trong một kiểu đồng ý buồn bã. Do vì là cấp dưới, vậy là Cogny tung ra cuộc hành binh: "Castor": trận nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Kế hoạch của trận đánh đã gây ra trong cơ quan tham mưu của ông những phản ứng dữ dội khiến cho ông lại thay đổi ý kiến nhưng nếu như kế hoạch ấy thành công, thì Cogny có thể có được phần vinh quang và nếu như nó thất bại thì những ý kiến dè dặt phân vân mà ông đã nêu ra sẽ bảo vệ ông. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2008, 05:30:42 pm Theo đúng lôgíc, các sự kiện hiện ra như vậy trước mắt một nhà sử học, nhìn theo trật tự thời gian, ông cảm thấy choáng váng. Bởi lẽ câu trả lời lùi hoãn của Cogny nói với Navarre là trong ngày 6 tháng mười một. Ấy vậy mà các phiếu ghi chép ở cơ quan tham mưu của Cogny chỉ trích kế hoạch Điện Biên Phủ lại ghi ngày mồng 4. Như vậy là ngày hôm ấy, Cogny đã chuẩn bị để nói "Không" với tổng chỉ huy. Cần phải thú nhận rằng nếu như đã có những ý kiến phản bác thì cái câu "Không" ấy đã không được thốt ra. Do bởi vì trong đầu óc của vị tổng chỉ huy vẫn chưa phải là khái niệm Điện Biên Phủ cứ điểm vững chắc mà là Điện Biên Phủ "bước sơ thảo". Cogny, người đã run lên cho Nà Sản; Gilles, người đã chỉ huy ở đó và đã cúi gục vầng trán võ sĩ trước những trận tấn công của quân Việt, không có quyền cảnh báo Navarre về những gì chờ đợi ông ta ở Điện Biên Phủ. Điều mà Cogny không dám công khai nói ra, ông ta gửi gắm nó vào ngòi bút của tham mưu trưởng của mình: "Tôi tin chắc rằng Điện Biên Phủ, dù ta muốn hay không, sẽ trở thành một vực thẳm dành cho các tiểu đoàn, không có khả năng tỏa rộng ra xung quanh, ngay sau khi chỉ cần bị một trung đoàn vây chặt lại... Những hậu quả của một quyết định như vậy có thể rất nghiêm trọng ". Nhưng mà Cogny đã phục tùng bởi vì kỷ luật luôn luôn là sức mạnh chủ yếu của các quân đội và không một ai có thể trách cứ ông là đã miễn cưỡng tuân lệnh. Ngoài ra, vốn nổi tiếng là một trong số những cấp dưới bướng bỉnh, làm thế nào ông lại đã có thể không nghe lời một con người mà ông vẫn còn chưa hiểu rõ? Có vực thẳm dành cho các tiểu đoàn mà người ta dự báo ấy: hẳn là không thể nhầm lẫn, các viên tướng đã thì thầm nhắc đến bằng cách đối chiếu với những gai góc của các quy tắc, các chỉ thị, các bản hướng dẫn và của tôn ti trật tự. Đối với Cogny, con người vùng Normandie ấy vốn thường lật đi lật lại những lý lẽ và các câu chữ của mình, địch thủ chính là vị tổng chỉ huy, hơn là quân Việt. Về ngôi sao thứ ba và cương vị chỉ huy của ông ta, Cogny phải chịu ơn Navarre, nhưng không phải là ông không biết rằng Navarre, được báo trước là ông không hay ho gì đang rình đợi những phản ứng của ông và giữa hai viên tướng, một ván bài tế nhị đã bắt đầu. Tất nhiên, ngày 6 tháng mười một, trước mắt Cogny đã có những tờ phiếu nặng trĩu của cơ quan tham mưu của ông, nhưng ông giả bộ tạm thời không để ý đến chúng, bởi lẽ ông đã yêu cầu các sĩ quan của mình gấp rút hoàn thành báo cáo. Tiếp sau, ông đánh hơi thấy một cái bẫy trong đoạn cuối của bản mật lệnh đặc biệt ngày 2 tháng mười một. Ông tự nhủ là cái ông Navarre này, quá ngây thơ, sau này có thể sẽ đổ vấy cho ông phải chịu trách nhiệm về những việc đã không được thực hiện; và Cogny không trả lời là "Không", trong nỗi khiếp sợ bị buộc tội là nhát gan hay là bỏ lỡ cơ hội giành một chiến thắng. Nói cho cùng cái quyết định đang nói đến, thuộc phạm vi chiến lược là lĩnh vực phụ trách của tổng chỉ huy, và nữa, Cogny có thể cung cấp lực lượng tăng viện bởi lẽ tướng Giáp hình như đã từ bỏ cuộc tấn công vùng đồng bằng. Rút cục là một trong số người đầu tiên, Cogny đã muốn có Điện Biên Phủ. Và trận đó phải thành công. Không có điều gì đơn giản đến như thế! Để khám phá điều này, không cần phải nghiên cứu các tài liệu, năm mươi năm về sau, mà chỉ cần phỏng vấn các diễn viên của tấn thảm kịch. Xuất hiện gần như là tình cờ, cái tên Điện Biên Phủ dần dà có sức nặng. Từ ý tưởng này đến ý tưởng khác, từ mưu mẹo này đến mưu mẹo khác, từ tham vọng này đến tham vọng khác, người ta đã trôi dạt đến những mối hiểu lầm to lớn. Navarre đã nhận được một nhiệm vụ không rõ ràng. Điều rõ ràng là ông phải đương đầu với tướng Giáp và người ta sẽ buộc tội ông về tất cả những thất bại mà ông gặp phải. Cũng còn là vì ông tự cảm thấy, tựa như bất đắc dĩ, phải chịu trách nhiệm về danh dự của nước Pháp về quân sự, với ý thức về tất cả những gì diễn ra sau đó đối với đất nước, một khi ông từ chối. Và Navarre không phải là con người để từ chối nhiệm vụ. Không có gì dễ dàng trong việc thai nghén cuộc phiêu lưu này nhưng thật bõ công để người ta cố gắng hiểu rõ. Ngày 11 tháng mười một, đại tá Nicot, tư lệnh không quân vận tải của đạo quân viễn chinh nhận được lệnh tập trung toàn bộ máy bay của mình. Thông minh, dũng cảm, kiên quyết, Nicot không muốn phạm phải sai lầm. Ông nắm vững các đội bay và các phương tiện của mình; ông biết có thể chờ đợi gì ở đó. Có chút đầu bò đầu bướu nhưng phẩm chất thật là tốt trong một nhiệm vụ như vậy! Nicot không chỉ tuyên bố rằng đoàn máy bay vận tải không đủ khả năng đảm bảo việc tiếp tế thường xuyên cho Điện Biên Phủ, mà ông còn ghi rõ trong một bản báo cáo mà tôi đã được đọc. Navarre lắng nghe không có phản ứng gì. Corniglion Molinier đã từng nói đến vấn đề đó, theo cách nói khác: các phi công thường muốn rằng các nhiệm vụ phải tùy thuộc vào kỹ thuật, trong khi Navarre đòi hỏi điều ngược lại. Chuyện đảo ngược kỳ lạ hay là chuyện linh cảm? Phải chăng thái độ càu nhàu khó chịu của Nicot phản đối kế hoạch Điện Biên Phủ đã khiến cho Cogny đột nhiên thấy lo ngại hay là vấn đề bước vào công việc cụ thể. việc tiếp xúc với thực tế do việc nghiên cứu tình thế và do bởi màn sương mù và trận mưa bất ngờ đổ xuống vùng đồng bằng xung quanh Hà Nội? Liệu Cogny có đột ngột tự hỏi rằng nếu nh được rút bỏ gánh nặng Nà Sản, phải chăng ông ta sẽ rơi vào một cái bẫy đáng sợ hơn? Khi lại lên máy bay đi Sài Gòn để xác định kế hoạch chi tiết của trận đánh, đại tá Berteil nắm chặt trong cặp tài liệu một lá thư riêng, trong đó Cogny tuyên bố dứt khoát phản đối kế hoạch của tổng chỉ huy, tuy không đi đến chỗ từ chối không thực hiện kế hoạch đó. Kể từ lúc này, mọi việc đã rõ ràng. Navarre không thể mạo hiểm sáu tiểu đoàn quân dù ngược với ý kiến của những con người phụ trách việc chỉ huy và tiếp tế cho các tiểu đoàn đó Ngoài ông ra, ai là người mạo hiểm trong chuyện đó? Thôi được, nếu như ông không thấy khó chịu với những ý kiến phản đối thì ông không tính đến chúng, ông đã có quyết định. Theo đúng lôgic và theo đúng tôn ti trật tự, việc tuân lệnh hay là từ chức đó là việc của những người khác. Cogny chịu trận và không từ chức. Dù sao, viên trung tướng trẻ tuổi này đã làm hết sức mình để tổng chỉ huy quan tâm đến những mối nguy hiểm đang chờ đợi ông. Nhưng mà tạm thời lúc này những mối nguy đó không vượt quá những mối nguy của bản thân kế hoạch Castor. Ngoại trừ những phức tạp đột biến, các tiểu đoàn sắp được thả xuống có thể thu hồi về một tháng sau đó. Sự thực, Cogny bao giờ cũng sợ mình mắc sai lầm, không làm trọn nhiệm vụ của bản thân, một nhiệm vụ vốn không đơn giản, và bỏ mặc quân sĩ trong cảnh rắc rối. Vậy là, cũng cái ông Cogny, trong tháng sáu, đã thúc đẩy Navarre đánh chiếm Điện Biên Phủ, sẽ chao đảo giữa ý thức kỷ luật quân sự bảo ông phải tuân lệnh và lòng yêu nước thúc giục ông, bằng việc từ chức, để tố giác một sai lầm to lớn mà ông từ chối tham dự. Nhưng làm thế nào mà con người của những cánh đồng vùng đồng bằng lại hiểu được rằng ông đang đi lạc đường cùng với các đơn vị chưa được chuẩn bị, ở cách xa trụ sở của mình, hướng tới một trận đánh, sắp làm cho ông phải thua thiệt? Đối với đại tá Nicot. cảnh tượng rõ ràng hơn: người ta không thể vi phạm quá lâu những thông số về tải trọng của các máy bay, về các điều kiện sử dụng trước hoàn cảnh khí tượng hoặc chiến thuật mà không có nguy cơ bị gẫy cánh ở đó. Trong mọi trường hợp, việc đánh giá của đại tá Nicot, dựa vào kinh nghiệm của Nà Sản hoàn toàn đúng đắn và dựa trên những cảnh báo mà không quân, kể từ một năm nay, đã gửi cho Salan cũng như Navarre, về vấn đề Điện Biên Phủ. Sự thực chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2008, 10:08:41 pm 15 tháng mười một 1953 Theo sáng kiến của chính mình, ngài Marc Jacquet, quốc vụ khanh phụ trách mối quan hệ với các Quốc gia Liên hiệp, và như vậy là phụ trách chỉ đạo cuộc chiến tranh, đến Sài Gòn. Phải chăng ông đã bị ấn tượng về những quyết định được lựa chọn hai hôm trước, trong cuộc họp của ủy ban Quốc phòng mới mà ông có tham dự? Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ có lời chúc ông có chuyến đi tốt lành. Ở Đông Dương, ngài Jacquet đại diện cho chính phủ, ít nhất là trong việc tiếp nhận các văn kiện, thư tín. Nếu như trong đầu óc của Navarre còn tồn tại những ý nghĩ lộn xộn thì ông có mặt ở đó để giảm thiểu chúng. Ấy vậy mà, ngài Jacquet khẳng định với Navarre rằng nếu như Việt Minh đến được Luang Prabang, cú sốc giáng xuống công luận ở nước Pháp sẽ lên án việc tiếp tục cuộc chiến tranh. Nếu như viên cao ủy có ý kiến trái ngược với bộ trưởng của ông ta, thì bộ trưởng sẽ đề cao vấn đề đó trong bản báo cáo ngoại giao mà tôi đã được đọc. Đối với Navarre, như vậy là vấn đề không còn gì phải nghi ngờ: cả trong tâm hồn và ý thức, ông tự coi là bắt buộc phải bảo vệ nước Lào và không một ai nói ngược lại. Làm như thế nào đây? Với những phương tiện mà ông có trong tay, việc bảo vệ nước Lào không phải là dễ dàng. Thành phố được xây dựng ở giữa rừng rậm, trong lưu vực sông Mékong, hai bên bờ toàn những núi cao; đường băng sân bay thì ngắn, các vùng phụ cận không được lát phẳng. Khôn ngoan hơn hết, cần phải ngăn chặn việc tiếp cận Luang Prabang không phải là bằng một chuỗi kế tiếp các chướng ngại mà đối phương sẽ lần lượt phá vỡ hết cái này đến cái khác mà là ngăn chặn ở cách đó hai trăm kilômét trên vùng Tây Bắc, trong lòng chảo Điện Biên Phủ, nơi mà Salan là người đầu tiên khoe khoang những lợi thế với Navarre. Về sau người ta đã trách móc Navarre là trước khi hành động không nắm được ủy ban Quốc phòng, cơ quan ở Paris chịu trách nhiệm chỉ đạo cuộc chiến tranh, và ngài Jacquet có cảm tưởng rằng Navarre, vốn không cho ông biết những ý nghĩ bí ẩn của mình, hình như bận tâm nhiều đến khía cạnh chiến lược của kế hoạch của mình hơn là trường hợp đặc biệt của nước Lào. Navarre cũng biết rằng cái ủy ban Quốc phòng này sẽ họp lại dễ dàng như một nhóm bạn bè chơi bi-a, rằng ông sẽ hỏi xin thêm những chỉ dẫn mới và sẽ chờ đợi những quyết định của ủy ban. Vả lại, phải chăng Navarre thật tha thiết nhận được những chỉ dẫn rõ ràng? Chính ngài Jacquet là người phải đề ra câu hỏi. Còn về cái lời trách móc kia mà người ta nêu ra với ông là đã không tính toán các trận đánh sát hợp với những phương tiện có trong tay, thì Navarre thực tâm tin là mình có thể mua được món đồ hảo hạng này bằng số tiền mình có. Điện Biên Phủ đối với ông, không đắt giá hơn Nà Sản đối với Salan. Vào thời kỳ ông sắp quyết định tung các đội quân dù xuống Điện Biên Phủ, những ý đồ của tướng Giáp càng lộ rõ thêm: đại bộ phận đội quân chiến đấu của đối phương chuyển mình hướng sang nước Lào. Đứng chân ở Điện Biên Phủ, Navarre sẽ khiêu khích đối phương. Chỉ có ai không hiểu tướng Giáp mới tưởng tượng ra rằng ông ta sẽ không tung ra hết lực lượng để rửa sạch mối hận thất bại của mình ở Nà Sản. Chắc chắn, Navarre đã không nhìn nhận các vấn đề đơn giản đến nh¬ thế. Những ý tưởng rõ ràng nhất được thể hiện trong ngôn ngữ của Học viện Chiến tranh, làm rối rắm và nặng trĩu các trí nhớ, những văn kiện và mật lệnh siêu hình phủ kín nhiều đống giấy đánh máy. Một con mèo không còn là con mèo, những con đường mòn có thể sử dụng được, những khoảng không gian mở ra trước mặt các tiểu đoàn, các binh đoàn cơ động và các đơn vị thiết giáp, không quân làm tròn mọi nhiệm vụ, bất chấp các điều kiện khí tượng. Nhưng mà trên đất liền, những con người vẫn là những con người và những quả núi vẫn là những quả núi. Để ngăn chặn được các sư đoàn đang hành tiến một cách vô hình, ban đêm hay ban ngày hòa lẫn vào cây rừng, Navarre chỉ nhìn thấy một hành động: bám đánh đối phương trước khi họ xuất phát hoặc ngay lập tức sau đó cắt đứt các tuyến đường liên lạc của họ để buộc họ phải quay trở lại, rồi mở một trận đánh tổng lực mà trong kế hoạch của mình, Navarre đã tuyên bố là muốn né tránh. Nói về cách giải. quyết này, về sau Navarre đã viết: “Vậy là cách giải quyết đó hứng lấy một nguy cơ hết sức rộng lớn ". Và thừa nhận một phần nào trách nhiệm. Dù sao, ở trước mặt ngài Jacquet, ông chỉ để lộ ra niềm lạc quan của mình. Có một Navarre bí ẩn. Như vậy là Navarre tin rằng bằng việc chiếm đóng Điện Biên Phủ, ông ta sẽ trực tiếp bảo vệ các khu vực bị uy hiếp. Vả lại, thử hỏi ông ta mạo hiểm điều gì? Viên tham mưu trưởng của ông, viên phó tư lệnh phụ trách tác chiến của ông, các kỹ thuật viên và các chuyên gia thuộc kíp của ông, tất cả, tiếp sau Salan, đều nhắc lại với ông rằng ở một khoảng cách xa các căn cứ của họ như vậy, Việt Minh không có khả năng đứng chân được lâu dài. Giọng nói tin tưởng, đôi môi khẽ bĩu ra, các sĩ quan phòng Nhì của ông cho ông biết là các sư đoàn của tướng Giáp cần phải sống bằng gạo, số gạo này do các dân công vác trên vai tiếp tế, và hầu như mất hết trên dọc đường vận chuyển. Navarre đã tìm được dẫn chứng về chuyện đó, sát tới từng kilômét và từng kilôgam, trong một tài liệu nghiên cứu rất bí mật của người tiền nhiệm về tình hình đối phương. Điều mà không một ai ở Học viện Chiến tranh nhận thức được, đó là việc tồn tại của một đội quân chiến đấu lại có thể được đảm bảo bởi năm mươi nghìn dân công, mỗi người vận chuyển vài kilôgam gạo: điều mà một vị tướng tổng chỉ huy đã trải qua suốt cuộc đời binh nghiệp trong các cơ quan mật vụ, huống chi là một đại tá say sưa với những chức vụ mới đầy uy quyền của mình, người đã nghiền ngẫm Clausewistz(1) chứ không phải hoàng tử De Ligne(2) hoặc đại tá Ardant du Picq(3), cũng đều không ngờ tới, đó là tải trọng của đoàn dân công có thể tăng lên hơn mười lần nhờ sử dụng những phương tiện thô sơ và tài tình: những chiếc xe đạp ấy xuất xưởng từ nhà máy Saint Étienne hoặc những xưởng máy của hãng Peugeot mà Việt Minh sử dụng từ năm 1951, bộ chỉ huy Pháp không thèm chú ý tới nhiều lắm, lại là những công cụ có khả năng thồ được ba trăm ki lô gạo. Càng hay, Navarre, vốn chưa bao giờ mạo hiểm cuộc đời mình, nếu không phải là trong những ván bài bridge, giữa bầu không khí thật thà, trang trọng của những cuộc tiếp khách cấp tỉnh, và còn đặt cược ít hơn, khi mạo hiểm mà không hay biết cuộc đời của hàng nghìn con người và nay đặt cược, trong lúc hiệp định đình chiến ở Triều Tiên đã được ký kết từ ngày 27 tháng bẩy, quả quyết rằng sự viện trợ của Trung Quốc sẽ không gia tăng. Ở Paris, ngày hôm đó, theo sáng kiến của vị bộ trưởng quốc phòng, ngài René Pléven và của tướng Ely, tham mưu trưởng liên quân, viên phó đô đốc Cabanier, tổng thư ký ủy ban Quốc phòng lần lượt được tổng thống và chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng triệu tới gặp và yêu cầu ông ta đi gấp sang Sài Gòn. Giải pháp cho cuộc chiến tranh lúc này chỉ còn xuất hiện trong cuộc thương lượng và người ta nghĩ tới việc nối lại việc tiếp xúc với Việt Minh, việc này có thể bị ảnh hưởng bởi những kế hoạch dự định của tướng Navarre. Tướng Ely trình bày dài dòng tình thế hiện tại với đô đốc, người được ủy thác một nhiệm vụ mà người ta không dám giao phó cho các công văn ngoại giao. _______________________________________ 1. Clausewistz: tướng và học giả quân sự nước Phổ (1780 - 1831)- Chống lại đạo quân của Napoléon. Thành lập Viện Hàn lâm Chiến tranh ở Beclin (Đức) 2. Hoàng tử Ligne: Tướng quân sự. sinh ở Bruxelles (1735 - 1814). Phục vụ quân đội Áo rồi quân đội Nga. Tác giả nhiều cuốn sách. 3. Ardant du Picq: Nhà văn quân đội Pháp (1821- 1870) - tác phẩm có ảnh hưởng lớn đền quân đội thời kỳ 1914 – 1918. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2008, 10:16:33 pm Ngày 17 tháng mười một 1953 Ở Hà Nội, diễn ra cuộc họp để quyết định trận đánh. Giữa một khung cảnh thời tiết nặng nề và xám xịt, các nhân vật chính trị quan trọng từ Sài Gòn đến ngay trong buổi sáng, cùng với Navarre: ngài Marc Jacquet, bộ trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo cuộc chiến tranh, ngài Maurice de Jean, cao ủy, ngài Nguyễn Văn Tâm, thủ tướng chính phủ Việt Nam(1). Người ta tập trung họ vào lúc 17 giờ 30 trong phòng bản đồ và kể với họ một câu chuyện mơ hồ: người ta sắp thay đổi một vị trí then chốt và bàn giao vai trò của Lai Châu cho Điện Biên Phủ. Những nhà chức trách dân sự không được nắm bí mật quân sự. Họ không được phát biểu chính kiến. Ngài Jacquet sẽ không có bản báo cáo để điện về cho chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: ông ta chẳng hiểu tí gì. Chiếc tẩu thuốc ngậm trong miệng, ông ta chỉ biết hít vào và nhả khói ra. Cuộc họp quân sự chủ chốt đã diễn ra một tiếng đồng hồ trước đó trong văn phòng tổng chỉ huy. Trước tiên Navarre và Cogny có cuộc gặp riêng với nhau. Cogny có trong tay những tài liệu nặng trĩu: ý kiến của viên tham mưu trưởng và các trưởng phòng của ông, được soạn thảo thành các tờ phiếu mà ngày 4 tháng mười một, ông đã yêu cầu họ làm, khi mà có lẽ ông còn mơ tưởng Điện Biên Phủ như là một điểm thả neo hấp dẫn cho những hoạt động chính trị - quân sự ở xứ Thái, hoặc là lúc đó ông còn chưa dám nói "Không" đối với kế hoạch của Navarre. Tất cả những tờ phiếu đều phản đối trận đánh. Ý kiến của đại tá Nicot chỉ khẳng định những vấn đề thuộc phạm vi không quân. Trên nét lớn, Cogny trình bày những ý kiến phản bác sau đây với Navarre: Điện Biên Phủ tuyệt nhiên không ngăn cản được việc Lai Châu sẽ thất thủ trước một sư đoàn 316 duy nhất, và sẽ không chốt chặn được con đường sang Lào: đối phương luồn qua mọi chỗ và những khái niệm của châu Âu về chiến lược chẳng có một chút giá trị nào ở Đông Dương. Gạo không phải là thức tối cần thiết đối với Việt Minh: đó chỉ là một phần trong việc tiếp tế mà họ cần và nếu như họ muốn, họ có thể kiếm được trong các vùng lân cận. Các đội biệt kích không gây trở ngại gì nhiều lắm cho họ và không quân không thể nào cắt đứt lâu dài đường xá của họ. Cuối cùng nếu như sư đoàn 316 có sự tăng viện của các sư đoàn khác thì năm tiểu đoàn người ta dự kiến để chiếm đóng khu vực sẽ không đủ và người ta buộc phải rút bớt một cách nguy hiểm lực lượng ở vùng đồng bằng. Tuy nhiên, bản thân cuộc hành binh nếu may mắn, có thể thành công. Chính những hậu quả của nó mới là tai hại. Cogny chỉ làm cho Navarre khi trở về Sài Gòn phải tuyên bố với sĩ quan tùy tùng của ông: "Tôi đã không làm sao nắm được chính xác ý kiến của tướng Cogny... ". Navarre hỏi các viên tướng Maston, Dechaux và Gilles xem có ý kiến phản bác gì không. Do vì người ta vừa mới được tin là ba tiểu đoàn của trung đoàn 148 chiếm giữ khu vực Điện Biên Phủ, mà người ta tưởng là đang được tự do, tất cả đều trình bày những lý do chiến thuật và kỹ thuật và đồng thanh khuyên là nên hủy bỏ cuộc hành binh. Gilles cho rằng không nên trực tiếp đánh chiếm Điện Biên Phủ bằng trận nhảy dù, mà là từ nhiều hướng khác nhau. Tướng Dechaux nhận xét rằng việc duy trì cái căn cứ mới này sẽ tiêu hao nghiêm trọng tiềm lực của đoàn không quân vận tải, rằng đội máy bay khu trục sử dụng ở đó không có hiệu quả lớn, do bởi khoảng cách xa và rằng điều kiện khí tượng giữa Hà Nội và vùng thượng du thường khác nhau sẽ đặt ra những bài toán có thể làm ảnh hưởng xấu đến việc tiếp tế cho căn cứ mới. Khoảng cách ba trăm kilômét đã phức tạp và trầm trọng hóa mọi điều kiện sử dụng không quân. Đối với mọi người, đó là khoảng cách to lớn, ngoại trừ đối với Navarre, đối với cấp phó của ông ta, viên phi công Bodet và đối với cơ quan tham mưu. Khoảng cách đó, thể hiện một sự lãng phí to lớn về phương tiện và quân số, nhân lên gấp bội những nguy cơ thời tiết xấu kéo dài thời hạn khai thác các thông tin, gia tăng khối lượng xăng dầu tiêu thụ và tải trọng tiếp tế. Ngược lại, thu hẹp hoạt động của các máy bay khu vực trên vùng lòng chảo chỉ còn ở mức một vài phút một chuyến. Các thùng xăng dự bị mà các máy bay khu trục mang theo cũng sẽ làm giảm tính cơ động của chúng và số lượng nhỏ các máy bay phục vụ hiện có sẽ đẩy nhanh sự hao mòn của các phương tiện. Tướng Navarre lắng nghe một cách lịch sự. Nụ cười thoáng trên vành môi ông làm cho người ta nghĩ rằng các cấp dưới bao giờ cũng tìm thấy đủ mọi lí do để không chấp hành mệnh lệnh mỗi khi những mệnh lệnh đó đòi hỏi những tính toán khó khăn. Ông giữ vững quyết định của mình. Câu hỏi cuối cùng của ông là: "Có làm được không?”. Vậy có thể làm được. Lúc đó, không quân phải phục tùng những yêu cầu phục vụ và tìm cách vượt qua khó khăn. Kỹ thuật phải phục vụ cho chiến thuật. Kết thúc cuộc họp, Gilles tự động đứng dậy và khẳng định rằng mọi việc sẽ được tiến hành và cuộc hành binh sẽ thắng lợi. Một niềm vui ngắn ngủi làm rạng rỡ khuôn mặt của Navarre. Tướng Navarre, về sau này đã tóm tắt với tôi lập trường của ông như sau: “Đã có những ý kiến phản bác nhưng sự có mặt của ba tiểu đoàn đối phương là mối lo ngại duy nhất mà người ta cảm thấy. Tôi đã giữ vững quyết định của mình". Đại lá Berteil đã nói thêm về phần mình: "Tướng Navarre đã thông qua vì hai lý do: ông muốn ngăn chặn không cho sư đoàn 316 tiến đến Lai Châu và do vậy bảo vệ được nước Lào, việc này người ta vừa mới cam kết một cách trịnh trọng. Và rồi, trong tư tưởng của tướng Navarre, chỉ có vấn đề Cuộc hành binh Castol chứ không có những việc tiếp sau đó". Bốn sĩ quan dù và hai phi công tự giam mình trong một biệt thự cách biệt ở Hà Nội cùng với một nữ thư ký và người lái xe của tướng Cogny, là nhân viên in ấn rônêô, họ soạn thảo các bản mệnh lệnh của Cuộc hành binh Castor sẽ mở màn ngày 18, ngày 19 hoặc 20 tháng mười một, tùy theo tình hình thời tiết. Họ không hề biết rằng họ đang làm việc để chuẩn bị cho một trong những biến cố lớn nhất sắp làm rung chuyển thế giới phương Tây. Kể từ lúc này, mọi việc đã sẵn sàng trên sân khấu của tấm thảm kịch. Tấm màn sân khấu chẳng bao lâu nữa được kéo lên và đội quân nhạc của lê dương vừa rồi đã cất tiếng chào mừng vị bộ trưởng, lúc này đang đi qua các đường phố của Hà Nội để quay về nơi trú quân. "Này, chiếc dồi lợn kia kìa...". Chỉ còn một cơ may hết sức nhỏ nhoi để cho một chuyện gì đó bị chuệch choạc vào giây phút cuối cùng. __________________________________ 1. Chỉ chính phủ ngụy quyền Việt Nam. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2008, 10:18:30 pm Ngày 19 tháng mười một 1953 Tháng mười một là cái tháng chuyển mùa, giữa mùa mưa vốn đã biến cánh đồng thành một cái hồ rộng mênh mông đầy bùn, với cơn mưa phùn sắp kéo tới cùng với mùa đông. Năm ấy, một bầu trời đầy mây nặng nề xen kẽ với những cơn gió lạnh, nhưng các buổi chiều trải ra trên không trung những màn mây mỏng, những vệt khói dài của những chiếc máy bay khu trục xé rách màn mây ấy. Hà Nội giống như một trại quân lớn vùng Bắc Phi, với những toa xe điện loong coong tiếng chuông, những người đạp xe đạp đi dạo phố, những cô gái xinh đẹp với tà áo dài mầu tím, những quán rượu, quán nước nhỏ nằm bên bờ các hồ nước, ở đó những đôi tình nhân nắm tay nhau đến để mơ mộng dưới ánh trăng. Dưới mặt nước hồ phẳng lặng như tấm gương soi, gần những con rồng của đền Ngọc Sơn, truyền thuyết kể rằng có một thanh kiếm được dấu kín. Mỗi buổi tối, được vung lên trên vùng đồng bằng, thanh kiếm ấy tỏa ra long lanh, soi sáng màn đêm. Tướng Bodet đã triệu tập hai viên tiểu đoàn trưởng của đợt nhảy dù thứ nhất, các thiếu tá Bréchignac và Bigeard, những người được chọn lọc để không có chuyện gì sơ sẩy. Ngày hôm trước và ngay buổi sáng hôm nay, cuộc hành binh đã bị hủy bỏ do vì có một đợt gió lạnh bao trùm cả vùng thượng du. - Thứ nhất, ông nói với hai sĩ quan dù, công việc phải trơn tru. Nhưng nếu như ở phía dưới quá gay go, các bạn đừng do dự. Hãy cứu lấy "đồ đạc" và rút sang phía Lào. Các bạn tự đánh giá. Người ta sẽ yểm trợ các bạn. Cuối cùng nếu như ngày mai, khí tượng không tốt, Điện Biên Phủ sẽ vĩnh viễn không diễn ra. Xin chào, các quý ông. Tướng Bodet, phó tướng của Navarre không phải là một nhân vật của bi kịch. Với bộ râu rủ xuống, chiếc mũ lưỡi trai đội lệch, thân hình nhỏ bé và thái độ vui nhộn, nói đúng hơn, trông ông ta như những vai diễn tâm tình của đường phố hoặc những người của hãng Marx Brothers. Tuy nhiên, đây là một con người tốt bụng và quả cảm. Dù sao, ở gần Navarre đến như vậy ông ta nắm được chuyện “bí mật của thần thánh". Cái câu này có nghĩa gì vậy: "Nếu như khí tượng không tốt …”? Số phận của một vụ việc ở tầm mức quan trọng như vậy không tùy thuộc vào một vài đám mây vớ vẩn, trừ phi là cả một ngày mây hoặc là lúc đó, ông ta càng cố giấu kín bao nhiêu thì càng để lộ ra rằng, do vì bị những lý lẽ trái ngược tác động, Navarre do dự chăng? Có thể chính là vì không thật sự tin tưởng vào công trình của mình mà ông ta dựa vào các điềm báo trước, hoàn toàn giống như một viên tướng của thành Rome chăng? Không. Nếu như điều kiện khí tượng xấu, Điện Biên Phủ không diễn ra do bởi vì vụ việc bị lộ, ba tiểu đoàn quân Việt sẽ không thể bị bất ngờ. Để đánh lừa đối phương người ta đã phao tin là số máy bay được tập trung sắp phục vụ một cuộc hành binh trên phía bắc, tương tự như trận tháng bảy đánh vào Lạng Sơn. Từ Sài Gòn, người ta điện báo với Navarre rằng đô đốc Cabanier từ Paris tới, đề nghị được ra Hà Nội để gặp Navarre sớm hơn. Vốn dĩ không phải là không biết, chỉ có thể là do ngài Jacquet, mà ủy ban Quốc phòng đã họp lại vào ngày 13 tháng mười một, Navarre có lẽ nghĩ rằng đô đốc mang tới cho mình những mật lệnh mà ông đã giả bộ đòi hỏi hết sức tha thiết. Ấy vậy mà, thay vì tỏ vẻ đôi chút nôn nóng muốn nhanh chóng được biết những mật lệnh đó, và tựa như ông đánh hơi thấy ở đó có chuyện bất trắc, Navarre lệnh cho cơ quan báo với đô đốc không cần bay ra và đợi ông sắp sửa quay về. Bởi lẽ quả thật ngày hôm đó, ông quay về, không vội vã. Nếu như điều kiện khí tượng tốt, Điện Biên Phủ sẽ mở màn vào ngày hôm sau. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2008, 10:33:29 pm II CÁI BÃY Cần phải chú ý lựa chọn một điểm cao, để có thể lao xuống kẻ địch với nhiều ưu thế hơn. Nhưng điều quan trọng nhất là tuyệt nhiên không tập trung quân đội của anh trên một cánh đồng nằm dưới chân một quả núi mà quân địch có thể đánh chiếm một cách dễ dàng; bởi lẽ dựa vào pháo binh của họ, quân địch sẽ nghiền nát anh từ trên các điểm cao kề bên. Thật là vô ích nếu anh tìm cách ngăn cản các khẩu đội pháo của họ, không ngừng bắn trúng anh không chút khó khăn; bị vướng víu vì chính các đơn vị của anh, anh sẽ không tài nào gây trở ngại cho kẻ địch. Machiavel(1) "Nghệ thuật của chiến tranh" - Cuốn IV Tình đoàn kết, cái sức mạnh đầu tiên và tối cao của các quân đội, quả thật được xây dựng bởi mệnh lệnh của những quy tắc nghiêm khắc có tính kỷ luật, kèm theo những niềm hăng hái mạnh mẽ. Nhưng mà chỉ ra lệnh là chưa đủ. Một sự kiểm soát trong chiến đấu, không một chuyện gì có thể bỏ qua được, trong khi đảm bảo việc chấp hành kỷ luật, sẽ phải đảm bảo tình đoàn kết chống lại những mềm yếu khi đối mặt với nguy hiểm, những mềm yếu mà chúng ta biết rõ; để cảm nhận được, đây là điểm quan trọng nhất, để thực hiện một áp lực tinh thần mạnh mẽ và thúc đẩy mọi người tiến lên, vì sợ hãi hay vì danh dự, sự kiểm soát này, con mắt của mọi người để ý đến mỗi người, đòi hỏi ở trong mỗi đơn vị là những con người hiểu rất rõ nhau và hiểu rõ sự kiểm soát ấy như một nghĩa vụ và một luật lệ về số phận chung... Bốn con người dũng cảm không hiểu nhau sẽ không trung thực bước vào một cuộc tấn công của con mãnh hổ. Bốn con người kém dũng cảm hơn, nhưng hiểu nhau rất rõ, tin chắc ở tình đoàn kết và do đó là chỗ dựa lẫn nhau, sẽ tiến bước một cách kiên quyết. Toàn bộ môn khoa học về tổ chức các đội quân là ở chỗ đó. Đại tá Ardant du Picq "Nghiên cứu về trận đánh " Ở cuối giải bình nguyên của vùng đồng bằng viền quanh mọi hướng, kể cả trên mặt biển, những ngọn núi hình thành trong lớp đá vôi, lô nhô trên đường chân trời. Trên hướng bắc và tây bắc, bắt đầu một vùng núi liên tục ở đó những con sông mở một dòng chảy bằng những nhát chém của những thác nước chảy xiết. Suốt hàng trăm kilômét cho tới tận đường biên giới với Trung Quốc và ở phía bên kia, những dốc núi dựng đứng, được che phủ bằng một thảm thực vật của rừng rậm và những cây lớn, nâng bổng mặt đất lên và lay động nó. Những động vật hoang dã chui luồn dưới khu rừng rậm ấy, nhưng con người chỉ có thể tiến lên với con dao phát rừng. Chỉ có những con đường có thể qua lại được, những con đường ấy còn thâm nhập một cách khó khăn vào các hẻm núi, ở đó du khách bị phó thác cho một vụ lở núi hay một cuộc phục kích. Một vài ngôi nhà gỗ, mái lợp rạ, tập trung lại bên bờ những dòng suối ngay khi một thung lũng nhỏ cho phép cấy được lúa. Trên lưng chừng cao, đôi khi người ta nhìn thấy những túp lều, gần cạnh đó, cách biệt với phần còn lại của thế giới, những gia đình vỗ béo vài con lợn và trồng ngô, cây thuốc phiện trên những sườn núi mà họ đã đốt cháy để làm nương. Tuy nhiên, rải rác trên giải địa hình nhấp nhô lộn xộn, viền quanh bởi những vách đá và những ngọn núi răng cưa, chia cắt nhau bằng những khoảng đất không gian không thể nào vượt qua được ấy, mấy khoảng đất núi sụt lở đã giữ chân được những kẻ xâm nhập vào đó, lúc này đã bắt tay vào cày ruộng và chăn nuôi đàn trâu. Cái con quỷ dữ đã thúc đẩy các viên tư lệnh của đạo quân viễn chinh nghe theo lời cám dỗ xây dựng ở đó những căn cứ vững chắc, tự khép kín trên mọi hướng, giống như những con nhím cuộn tròn mình lại, con quỉ đó có tên là: Sự dễ dàng. Bởi vì chiếm giữ các đỉnh núi thì quá gay go, người ta bèn đứng chân dưới vùng đất trũng, ở đó máy bay có thể hạ cánh và xe tải có thể lăn bánh. Rút kinh nghiệm từ những lần ở Hoà Bình cũng như ở Nà Sản, cái thảm họa do thiếu tính đúng đắn, đã không mang lại một bài học nào. Khu lòng chảo lớn nhất trong tất cả các lòng chảo, nằm ở một nút giao thông giữa Trung Quốc, Việt Nam và nước Lào, là một miếng mồi nhử nay chuyển thành nỗi ám ảnh; người ta tưởng rằng khoảng rộng lớn của nó, lần này sẽ giúp cho nó thoát khỏi những chuyện bất ngờ xấu và rằng đối phương mà người ta bỏ lại các điểm cao cho họ như thường lệ, với niềm tin là người ta có ưu thế hơn họ về hoả lực, đối phương ấy sẽ không bao giờ đến gần được khu lòng chảo mà không bị tổn thất nặng. Khu lòng chảo ấy mang tên Điện Biên Phủ. Nằm giữa vùng núi non của xứ Thái, người ta chỉ biết nó với cái tên Mường Thanh. Hình thù của nó giống như một chiếc lá cây sồi, những con suối nhỏ là những đường gân lá, và một con sông lớn hơn là sống lá. Xa hơn nữa, một con sông khác, sông Nậm Nưa, bắt vào một nhánh của sông Mékong. "Mường" trong ngôn ngữ Thái, giống như "Phủ” trong tiếng Việt có nghĩa là tỉnh lỵ về hành chính. Thông thường, người ta không nói Điện Biên Phủ mà là Điện Biên. "Điện" có nghĩa là lớn, "Biên" là biên giới. Điện Biên Phủ có thể dịch là: "Tỉnh lỵ lớn về hành chính ở vùng biên giới" - Không có gì buồn tẻ hơn. Lần lượt bị tàn phá bởi người Trung Quốc, người Xiêm, người Mẹo và những người Thái, Điện Biên Phủ bị người Pháp chiếm giữ vào năm 1887 và quyền cai trị nó được viên tướng người Xiêm, Phya Surisak chuyển giao cho Auguste Pavie, một cựu trung sĩ hậu cần của lính thuỷ đánh bộ, trở thành một kế toán bưu điện, nhà thám hiểm và nhà ngoại giao; tên ông đã được lấy để đặt cho con đường mòn cho phép các kỵ sĩ đến được Lai Châu. Khoảng một trăm thôn bản đã tập hợp ở đây chừng mười nghìn cư dân, họ tự nuôi sống bằng lúa gạo trồng ở ruộng và một ít rau dưa, gia cầm và lợn. Trong thung lũng là những người Thái, theo truyền thuyết sinh ra ngay ở đây, nhờ cây gậy của một ông thần gõ vào một quả bầu.Trên các đỉnh núi những người Mẹo trồng cây thuốc phiện, và các bà vợ của họ đã dùng dao khía vào các quả thuốc phiện sau mùa cây đã nở hoa để có được nhựa thuốc phiện. Ở lưng chừng núi những người Xá bị xua đuổi bởi người Mẹo rồi những người Thái trở thành những nô lệ phục vụ cho các thân hào, nhân sĩ, họ giống như những con vật hoang dã hơn là những con người. Đường trục lớn, theo hướng bắc - nam, dài mười bảy kilômét, đường trục nhỏ năm kilômét. Những quả đồi vây bốn xung quanh, tròn và mềm mại như những cặp vú, hoặc nhọn hoắt, lớp đá vôi trần trụi, được đẽo gọt thành những bậc thang cao thấp cho đến tận những đỉnh nhọn nhất, vẽ thành một vòng tròn răng cưa xung quanh khu lòng chảo, với một giải rừng cây u tối. Bình độ chênh lệch giữa dòng sông chạy xuyên giữa khu lòng chảo, mang tên Nậm Ngừm theo tiếng Thái và Nậm Rốm theo liếng Việt, với các đỉnh đồi ngự trị hai bên dòng sông là khoảng bảy trăm mét. Một vị trí chiến lược ư? Chắc chắn là như vậy. Bởi lẽ đúng thực là nếu đối phương đến từ phía đông và tiến về sông Mékong sẽ bị lối đi qua đó hấp dẫn để nghỉ chân và tìm kiếm đồ tiếp tế, và rằng người nắm giữ Điện Biên Phủ sẽ làm chủ được khu vực và một phần của vùng Đông Nam châu Á,với điều kiện phải chiếm giữ đồng thời khu lòng chảo và những điểm cao khống chế lòng chảo, mở mang đường xá ở đó, xây dựng một sân bay có đủ phương tiện hỗ trợ kỹ thuật, theo từng chặng từ xa đến gần sân bay; bởi lẽ khi thời tiết xấu, việc bay tới đó rất nguy hiểm, và trước khi lao xuống xuyên qua lớp mây bao phủ giải đất trũng, cần phải cảnh giác với những ngọn núi vây quanh rất gần. Một vài vũ khí được bố trí hợp lý đủ để bảo vệ khu vườn Eden(2) này, ở đó khối cư dân bận tâm lớn nhất đến việc thu hoạch mùa màng hoặc bán được những bánh thuốc phiện. Bị vây chặt giữa những cây muỗm, cây cau, cây cam, cây chanh, giải thung lũng ồn ã tiếng nháo nhác của bầy gia cầm và tiếng ủn ỉn của những con lợn nhỏ lông đen, đôi khi bị hổ cắn chết nếu như chúng mò mẫm đi ra ngoài thôn bản. Trong cái lòng chảo mà các phi công nhanh chóng đặt cho cái tên xấu xí "cái bô", tất cả các viên tướng đều đã mơ ước được đứng chân ở đó. Bản thân tướng Giáp đã nhìn thấy cái vị trí chủ chốt đối với người nào chiếm giữ được khu lòng chảo và rất nguy hiểm đối với ông nếu như ông không đánh bật được đối phương ra khỏi vị trí đó. Từ thời kỳ quân Nhật, còn lại một sân bay; từ thời người Pháp, một đồn binh mà những bức ảnh chụp từ thời đó cho thấy viên đại úy đội chiếc mũ thuộc địa, một tay cầm chiếc can, cùng với viên trung úy của mình và một con chó, đứng trước một hàng rào cây thùa. Cũng như Salan, Navarre muốn đứng chân ở đó với tham vọng hành động. Trên một tấm bản đồ tỉ lệ một trăm nghìn, điều đó đứng vững. Các sĩ quan của phòng Ba(3) có tầm nhìn vĩ đại sẽ cắm lên đó những lá cờ nhỏ. Đối với ai đó nhảy dù xuống hoặc đi bộ xuyên qua rừng núi, thì những chuyện bất ngờ sẽ đáng kể nhiều hơn và câu chuyện huyền thoại sẽ biến mất. Còn về các nhà chức trách dân sự trịnh trọng, các bộ trưởng, các viên cao uỷ, các nghị sĩ và chủ tịch các uỷ ban nối tiếp nhau đóng vai trò những du khách đắt giá và đôi khi ham muốn, rất ít người trong số họ đứng trước tham vọng làm lớn của các cơ quan tham mưu, còn giữ được dù là mẩu nhỏ nhất của sự tỉnh táo. Trong mọi trường hợp, không một ai trong số họ dám biểu thị sự thận trọng nhỏ nhất. Bởi vì họ không hiểu gì trong chuyện đó chăng? Than ôi không cần phải là phù thủy để đo đếm được mức độ của các nguy cơ, nhưng mà cần phải nhắm mắt để phủ nhận chúng hoặc dù thế nào cũng muốn ôm lấy chúng. _____________________________________ 1. Machiavel:Nhà cầm quyền và sử gia người Ý (1469- 1527)- Là nhà yêu nước và là nhà văn lớn. - N.D 2. Eden: Khu vườn của thiên đường.theo truyền thuyết phương Tây. - N.D. 3. Phòng ba: Phòng tác chiến theo tổ chức của quân đội Pháp. - N.D. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2008, 10:52:20 pm Ngày 20 tháng mười một 1953 Lúc 4 giờ 30 sáng, theo sau một máy bay bốn động cơ Privateer của không quân trên biển, thường được dùng để thám hiểm vùng biển xa và là máy bay sẽ thăm dò khí tượng, chiếc máy bay Dakota số 356 được trang bị những máy thông tin đảm bảo mọi đường liên lạc của công việc chỉ huy, cất cánh từ một sân bay tại Hà Nội. Phi hành đoàn chở theo một đoàn gồm các sĩ quan cấp tướng có trách nhiệm mờ màn hoặc huỷ bỏ cuộc hành binh ghê gớm nhất trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Sau một đường lượn tròn bên trên những ánh đèn của thành phố, bởi lẽ lúc này trời còn tối, viên phi công hướng mũi máy bay sang hai mươi độ so với hướng chính tây, tắt các đèn đỗ tại chỗ và giữ tốc độ chậm. Vào khoảng 5 giờ 45, khi mà ngày bắt đầu rạng, những khuôn mặt áp chặt vào cửa kính máy bay nhìn thấy, giữa trung tâm của một giải lô nhô những đỉnh núi đang bám vào vầng sáng của buổi bình minh, một khu lòng chảo kéo dài đang tích tụ một khối lớn lớp tuyết bốc thành hơi. Tướng Bodet, phó tướng của Navarre và tướng Dechaux bước lại bên Gilles, lúc này đang đưa con mắt độc nhất, sục sạo rặng núi lờ mờ mà một thảm thực vật nhiệt đới che phủ là những cánh rừng và những rặng tre rậm rạp. Dechaux cúi khom thân hình cao lớn của mình để đứng ngang tầm với mẩu thuốc lá nhô ra dưới chòm râu của Bodet. - Sắp sáng rồi sao? Gilles hỏi. Xám nhạt và bồng bềnh, như sủi bọt khi gặp những dốc núi đầu tiên và trườn mình chui xuống các vực sâu, đó là màn sương mù lộ dần dưới những tia sáng mặt trời đầu tiên. Các viên tướng nhìn nhau lắc đầu. Chiếc Dakota tiếp tục bay thẳng, tiến về đường biên giới của Trung Quốc, vài phút sau đó bẻ hướng sáu mươi nhăm độ sang trái, theo hướng tây nam để tới được giải thung lũng dốc xuống thành từng đoạn uốn lượn rộng về phía sông Mékong. Lúc 6 giờ 30, văn bản đã giải mã của bức điện do máy vô tuyến đánh về cho khu thành cổ ở Hà Nội được chuyển tới trụ sở của Cogny, bên bờ hồ Hoàn Kiếm: "Ở Điện Biên Phủ, sương mù đang tan dần". Gilles tỳ cằm lên lòng bàn tay và ngả người vào lưng ghế ngồi, nét mặt cau có. Một năm trước đây, ông ta giam mình trong cứ điểm Nà Sản và trải qua các đêm dài chờ đợi những cuộc tấn công của quân Việt. Vào thời kỳ đó, tôi đã trông thấy khuôn mặt lạnh như đá, với ánh mắt loé sáng và tấm thân nặng nề của ông ấy di chuyển trong hang rồi buông mình xuống một cái giường dã chiến, trong một vài thời điểm yên tĩnh, bị cắt đứt bởi tiếng chuông của những chiếc máy bộ đàm bọc da. Các sĩ quan và các thư ký nâng những tấm chăn được dùng để che cửa ra vào, đặt các giấy tờ lên bàn làm việc của ông, trên đó một chiếc đồng hồ sáng loáng nằm bên những bản kế hoạch chỉ huy; lúc đó tiếng rì rầm trò chuyện và tiếng lách cách của máy chữ vọng vào; những bức tường phủ kín bằng những chiếc chiếu cùng những mảnh trần ghép bằng những thân cây rừng hạn chế tới một nửa cường độ của những tiếng động ấy; trên trần có mắc những chiếc bóng đèn điện cháy sáng suốt ngày đêm. Chốc chốc những lớp vụn đất đỏ đổ ào xuống. Ông đã yên lành ra khỏi nơi đó, cái chàng trai Gilles, và đã giành được ngôi sao cấp hàm thiếu tướng bên bờ chiếc bẫy khổng lồ đó, chiếc bẫy có thể đổ sập lên người ông và giết chết ông bất cứ lúc nào. Đối phương đã bị chùn bước trước hệ thống phòng ngự của ông, nhưng nguy cơ một cuộc tấn công tổng lực luôn luôn lơ lửng trên đầu cứ điểm bị bao vây. Gilles biết rõ rằng, nếu như họ muốn và nếu như họ chịu đặt giá thì quân Việt sẽ đánh bại ông. Và rồi, ông không ưa gì cái thị trấn của lũ chuột chũi, ở đó mỗi khi người ta bước ra khỏi hầm hào là chạm phải hoả lực của đối phương. Niềm thích thú của ông, đó là được tung các tiểu đoàn qua khung cửa mở rộng của những chiếc Dakota, nhảy chụp xuống một đối phương bị bất ngờ, nghiền nát tất cả thành từng mảnh và quay trở về hết sức khẩn trương trên đường ray của một cuộc hành binh được tổ chức tốt, giữa ban ngày. Cho nên khi quân Việt rút đi, ông đã yêu cầu được dời khỏi nơi đó. Người ta đã quay lại tìm ông để chỉ huy cuộc hành binh Castor. Làm lại một Nà Sản, ở đó các đơn vị ưu tú đã rơi vào tình thế bất động, ở đó mọi đồ tiếp tế đều phải rơi như mưa từ trên rơi xuống và lần này, ở một khoảng cách xa gấp đôi đến các hậu cứ. Ở vị trí của Gilles, người ta chỉ biết phục vụ các ý đồ của bộ tổng chỉ huy và chấp hành. Ông sẽ ném binh đoàn của mình xuống, cột chặt nó vào mặt đất rồi nhường lại chỗ cho một ai đó, bởi lẽ sức khoẻ của ông đã có những dấu hiệu đáng lo ngại. Mong muốn này người ta đảm bảo sẽ tôn trọng. Khi chiếc Dakota, từ phía nam bay ngược lên, màn sương mù gần như đã tan, trải mình thành những giải dài trên đỉnh rặng núi. Người ta đã phân biệt được đôi chỗ mảng ô vuông những ruộng lúa màu vàng và màu xám nhạt của Điện Biên Phủ. Một vải giải khói bốc lên từ các thôn bản, dưới ánh mặt trời lúc này đã lên cao. Một đợt gió mạnh từ Trung Quốc thổi tới đã quét sạch những khối mây lớn mầu xám, từ hai ngày nay tích tụ lại trên bầu trời vùng thượng du. Viên phi công rẽ ngang và giảm bớt hoạt động của động cơ. Lúc 7 giờ 20, ở Paris là 24 giờ 20, bức điện ngắn mà tướng Cogny nhận được và truyền đạt lại, gây ra sự xáo động mạnh. Các viên chỉ huy đơn vị chỉ từ ngày hôm qua mới được biết địa chỉ và mục tiêu mà mình phải tới. Chỉ mãi tới khi đứng dưới cánh máy bay, những người chấp hành được tập trung sẵn sàng hành động từ lúc trời còn tối đen mới được biết mình sẽ đi đâu, trận đánh diễn ra như thế nào. Và họ được lệnh lên máy bay. Lúc 8 giờ 15, việc cất cánh của đoàn quân lớn bắt đầu. Trời lạnh. Khoảng sáu chục chiếc Dakota được tập trung từ ba ngày nay lần lượt cất cánh và tập hợp lại thành từng nhóm ba chiếc một, mũi máy bay sơn mầu xanh, vàng hay đỏ, hình thành một hàng dọc kéo dài hơn mười kilômét, hai bên sườn là những chiếc máy bay ném bom B.26 "Invaders". Trong mỗi chiếc máy bay vận tải, hai mươi bốn quân dù, thu mình trong khối trang thiết bị, đầu đội mũ dã chiến, hút thuốc, ca hát hay nhai kẹo cao su cho đỡ sốt ruột. Ý nghĩ rời khỏi chiếc máy bay ở đầu một sợi dây bao giờ cũng chỉ có thể khiến những người nào không nhảy cảm thấy dửng dưng. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:33:59 pm Trong khu lòng chảo Điện Biên Phủ, tất cả bầu trời bốc khói. Màn khói hình thành những giải rộng, bị các đỉnh núi thu hút rồi ném trả lại, màn khói tan ra, chao đảo, khép lại để rồi lại mỗi lúc một xé rộng thêm dưới những nhát kiếm của ánh nắng. Đến từ những thôn bản trong vùng lân cận, ở đó chỉ còn lại các cụ già và những phụ nữ bận con mọn, những người nông dân vội vã thu hoạch vụ lúa duy nhất trong năm. Trên những cánh ruộng lớp rơm rạ được xén cao, để lại làm thức ăn cho trâu bò, những người phụ nữ buộc gọn những bó lúa để lại từ hôm qua và đã khô; những người đàn ông chất những bó lúa thành những đống lớn hình chóp nón, gồng những đống cây dương xỉ của những người nông dân xứ Basque(1). Ở chỗ khác, những nhóm người đập lúa trên những vuông chiếu, các thiếu nữ lấy chân vò đạp bó lúa màu vàng hoe thơm tho, và dùng những chiếc quạt tròn quạt mạnh lúa, họ giơ quạt lên quá trên đầu rồi đột ngột vặn người hạ quạt xuống theo nhịp điệu của một điệu múa thiêng liêng. Lúc 9 giờ buổi sáng, ở Sài Gòn, đô đốc Cabanier được dẫn vào văn phòng của tướng Navarre. Đô đốc Cabanier là một con người nhã nhặn và điềm đạm, những cương vị mà ông nắm giữ tạo cho ông thói quen bước đi nhẹ nhàng. Bầu không khí trong ngôi biệt thự của viên tổng chỉ huy giống như bầu không khí một bệnh viện. Mọi thứ ở đó toát lên vẻ trật tự và gọn gàng. Ở đó, người ta không xô đẩy nhau; ở đó người ta không nghe thấy tiếng nói to. Cảnh đông đúc của việc buôn bán và sự nghèo khổ gần như không chạm tới vành ngoài của khu phố các dinh thự ấy. Trong căn phòng làm việc được bố trí trong gian buồng ngủ của bà Sa lan trước đây, tiếng ro ro của chiếc máy điều hòa không khí át hẳn tiếng ầm xa xa của cái thành phố ẩm ướt và nhớp nháp. Gian phòng rộng trống trơn. Không có nhiều khung ảnh mà là một tấm bản đồ Đông Dương hầu như choán hết mảng tường trước mặt Navarre. Phía sau ông là một chiếc két sắt, ở trong tầm tay. Trên bàn không có ảnh chụp, cũng chẳng có giấy tờ. Mấy chiếc ghế xung quanh một chiếc bàn tròn. Đô đốc đưa tay sờ soạng chiếc tẩu thuốc nằm trong túi áo va rơi bằng vải trắng nhưng chưa dám rút ra. Navarre chỉ hút thuốc lá điếu bản xứ kể từ giữa trưa. Viên sĩ quan tùy tùng bước vào và đặt những bức điện báo lên mặt bàn. Navarre liếc xem rồi xếp chúng lại. Đô đốc ngồi ngay ngắn trong ghế bành; gần như ông thấy lạnh trong cái buồng nhỏ có gắn máy điều hòa này. Những thủ tục xã giao trao đổi xong, thì đề cập đến nhiệm vụ của đô đốc: Tổng thống và chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng muốn hỏi vị tổng chỉ huy liệu ông có nghĩ rằng do vì hiệp định đình chiến ở Triều Tiên đã được ký kết và những hậu quả mà biến cố có thể mang tới trong vấn đề sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Minh, kể cả do vì tình thế thuận lợi được tạo ra bởi những thắng lợi quân sự mới đây ở Bắc Kỳ, đã đến lúc tiến hành thương lượng để có thể ngừng bắn ở Đông Dương? Navarre có thể nhận thấy một cách chua chát sự đồng nhất quan điểm giữa mối bận tâm của ngài René Mayer về việc giải quyết bài toán bằng cách thương lượng với Trung Quốc và những ý định của người kế nhiệm ông ta, bản thân ông này cũng bị tác động bởi câu nói của De Lathe, vào năm 1951, trong phòng khách của điện Élysés: "Nếu như những người Trung Quốc nằm im ta sẽ thành công". Liệu việc kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên có lôi kéo những người Trung Quốc hành động chăng? Nghĩ như vậy hình như cũng là lẽ tự nhiên. Navarre im lặng kéo dài. Sau đó ông mỉm cười, đẩy lại phía đô đốc, tập hồ sơ trong đó những bức điện tập trung thành đống. - Mời ngài đọc đi. Vậy là đô đốc biết được rằng một cuộc hành binh không vận rộng lớn đang được tiến hành trên vùng thượng du và rằng ba tiểu đoàn quân dù trong giây lát sẽ như cơn mưa trút xuống Điện Biên Phủ. Khuôn mặt Navarre bừng lên một niềm tự tin rạng rỡ, thoáng chút diễu cợt. Đối với ông, câu trả lời với chính phủ đã có nhờ ở hành động mới mà ông vừa bắt tay vào, và câu trả lời đó là "Không!". Tại sao? Cần phải qua một thời gian nào đó, sự chi viện của Trung Quốc mới gia tăng và trong trường hợp đó, các cơ quan tình báo sẽ được báo động kịp thời, cuối cùng tình thế quân sự sẽ lại còn tốt hơn bây giờ vào mùa xuân sắp tới. Như vậy người ta có thể thương lượng trong những điều kiện tốt nhất. Tóm lại: một tiếng "Không" dút khoát. Đô đốc lẳng lặng ghi chép. Người ta khó có thể nghĩ rằng tướng Navarre vốn nắm được cơ hội không ngờ tới để tiếp nhận những chỉ thị mà ông đang chờ đợi, lại không hỏi đô đốc về thái độ của ủy ban Quốc phòng mới đây, đối với bản thân mình. Nhưng mà đô đốc cũng đã được chính phủ ủy thác việc truyền đạt cho tướng Navarre những quyết định vừa mới có. Ngay đúng vào thời điểm mà ông quyết định mở màn trận Điện Biên Phủ, như vậy là Navarre nhận được lời khẳng định là ông không thể trông chờ gì ở mẫu quốc: ủy ban Quốc phòng một lần nữa khuyên ông, thậm chí không có một lời nhắc nhở đến việc bảo vệ nước Lào, cần tính toán kế hoạch sát với khả năng của mình, yêu cầu ông nên hạn chế các tham vọng muốn kìm giữ đối phương và cảnh báo rằng ông sẽ không nhận được lực lượng tăng viện mà ông yêu cầu. Điều đó có nghĩa là hành động mà ông vừa bắt tay vào làm, trong mọi trường hợp cũng không được tán thành. Đó là cái mà người ta gọi là bị giáng một đòn đau. Đô đốc Cabanier không dứt khoát rút chiếc tẩu thuốc ra khỏi túi áo. ông không phải là con người đặt ra những câu hỏi ngoài phạm vi câu hỏi mà ông đã làm tròn trách nhiệm và cũng không phải là người vượt quá nhiệm vụ được giao. Có lẽ phải chăng là để an ủi mà ông đã nhắc lại với Navarre, câu hét to của tướng Corniglion Molinier, bộ trưởng không bộ vào mặt tướng Fay, tham mưu trưởng không quân, vốn từ chối gửi thêm các không đoàn sang Đông Dương: "Anh là một thằng giữ đồ chứ không phải là một phi công. Anh giữ dịt số máy bay của anh như một tay thủ kho giữ dịt những đôi giầy trong cuộc chiến tranh những năm bảy mươi?". Lúc đó, Navarre có lẽ nghĩ rằng chính phủ biết cách áp đặt đối với việc phòng thủ quốc gia cũng như bản thân ông áp đặt đối với chính phủ khi đặt chính phủ trước việc đã rồi, ở Điện Biên Phủ. Trong khoảng giữa 10 giờ 35 và 10 giờ 45, những chiếc máy bay Dakota đầu tiên xuất hiện từ các ngọn núi và thả ba nghìn quân dù xuống hai khu vực, một ở phía tây bắc thị trấn Điện Biên Phủ, được đặt tên là Natacha; nhảy xuống khu vực này là tiểu đoàn dù số 6 do anh chàng Bigeard bất kham chỉ huy, cùng với một đại đội công binh. Khu vực thứ hai, ở phía nam, mang tên Simone, dành cho tiểu đoàn số 2, trung đoàn dù thuộc địa của Bréchignac. Sau giây lát đờ đẫn vì sửng sốt, đám nông dân trên cánh đồng hoảng loạn, bỏ chạy về các thôn bản có vẻ như nằm ngoài phạm vi cuộc hành binh hoặc là chạy vào các quả núi. Những người phụ nữ mà tôi phỏng vấn chín năm sau ở các thôn xóm vẫn còn run sợ khi hồi tưởng lại những giây phút ấy? Một trong số đó, lúc bấy giờ ở phía bắc khu lòng chảo, bản Kê Phai và đang đi xuống Điện Biên Phủ để hái lá dâu cho tằm ăn. Khi đàn máy bay Dakota thả đám dù phía sau lưng chị, trông giống như những cụm bông trắng trên bầu trời, chị hoảng sợ đến nỗi co cẳng chạy dọc theo các dòng suối tìm vào những dốc núi gần nhất và chỉ quay về nhà vào lúc nửa đêm để nhìn thấy xóm thôn không người và ngôi nhà của mình hoang vắng; đứa con gái của chị mười một tuổi đã mang theo một nồi gạo bỏ đi. Ở bãi nhảy Simone cách bãi nhảy Natacha năm kilômét, tiểu đoàn của Bréchignac dàn quân trên một vùng hoang vắng nằm giữa dòng sông và những dốc núi phía đông gần nhất, trong khu vực Hồng Cúm. Do những trục trặc thông tin của các đơn vị không quân, cuộc nhảy dù được thực hiện quá xuống phía nam, không chính xác như mong muốn, nhưng không gặp sự kháng cự nào cả. Trên bãi nhảy Natacha, nằm cách năm trăm mét về phía tây đường băng chính của sân bay, quân Việt rất đông và trận chiến hết sức quyết liệt. Các đại đội của tiểu đoàn dù số 6, nằm dưới lưới lửa ngay cả khi chưa tiếp đất, đã bị chặn đứng tại chỗ. Bigeard gọi đội cứu viện và chỉ có thể liên lạc vô tuyến với đội ấy trước 12 giờ trưa. Một chiếc dù bốc cháy như bó đuốc rơi xuống; mười người bị chết, trong đó hai người chết ngay khi còn lơ lửng trên không, mười người trọng thương, hai mươi mốt người bị thương nhẹ, mười một bị thương khi nhảy. Việc liên lạc với sở chỉ huy trên không khó khăn và Bigeard tự mình điều hành số máy bay B.26 có nhiệm vụ yểm trợ cho đơn vị mình. Những dãy dài những con sứa màu trắng và màu ka ki rơi xuống các ruộng lúa, đổ nghiêng ra và cuộn mình lại ở đó. Đám người gọi nhau, tìm đến với nhau, lắp một băng đạn vào súng, tiến về phía những cụm khói mầu đánh dấu các địa điểm tập hợp, dừng lại giây lát, nhảy chồm lên, và gặp nhau. Một vài người nhờ có chỗ ẩn nấp hay gặp được một bờ ruộng, đưa bi đông nước lên miệng tranh thủ uống một ngụm. Những loạt đạn nổ ròn. Chạy băng qua các thửa ruộng lúa chưa gặt thật là khó khăn. __________________________________ 1. Basque: một vùng của nước Pháp và Tây Ban Nha trên sườn dãy núi Pyrénées. - ND Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:36:59 pm Cogny đã rời khỏi sở chỉ huy của ông ở Hà Nội, nhảy lên một chiếc Dakota và dẫn Berteil cùng đi với mình. Ngồi trên máy bay, ông đưa mắt ngắm nhìn hồi lâu rặng núi, trên đỉnh rặng núi ấy là một giải bờm dày những cây cối và lớp cỏ cao, viền quanh khu lòng chảo kéo dài mầu xám. Về phần mình, Berteil mơ tới một Nà Sản khác, vững mạnh hơn, là miếng mồi câu ghê gớm ném ra cho quân Việt để thu hút họ kéo đến đông đảo và nghiền nát họ. Ở độ cao này, người ta không nhìn thấy những người chết đã nằm gục ở đó rồi, mặt quay lên bầu trời và những huyền thoại phồng to lên như những đám mây. Bữa ăn trưa, các viên tướng và những bộ óc của cuộc hành binh Castor gặp nhau ở Lai Châu, cách tám mươi kilômét trên phía bắc trong giải sóng lừng màu xanh của rặng núi cao khá dài tới tận Trung Quốc. Từ nơi đó, một con đường mòn chất lượng xấu bám theo dòng chảy của những con suối, nước chảy xiết và xuyên qua những đoạn đèo gấp khúc đưa du khách đến Điện Biên Phủ một cách chật vật. Ở Hà Nội, người ta tiếp xăng đầy cho những chiếc Dakota quay trở về các căn cứ. Không một ai được phép rời xa máy bay, những bữa ăn lót dạ được mang ra tận máy bay cho các phi hành đoàn. Lúc 14 giờ, đợt thả tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 diễn ra ở bãi nhảy dù Natacha, ở đó Bigeard đã bắt đầu thấy bối rối, một nửa tiểu đoàn của anh rơi vào tình thế bị cô lập và hiện vẫn chưa có một khu vực nào để cho các máy bay trực thăng hạ cánh chở thương binh đi. Những trận đánh rất dữ dội gây ra tâm lý hoang mang lớn. Vào khoảng 16 giờ, quân Việt rút xuống phía nam, tới phía hữu ngạn con sông và do vì việc liên lạc với binh đoàn cùng sở chỉ huy trên không bị trục trặc cho nên đã ngăn trở việc chặn đường rút lui của họ. Lúc 17 giờ 30 khi trời đã sẩm tối Bigeard đã bố trí được sở chỉ huy của mình ở trong khu vực Điện Biên Phủ, và từ đó tiếp xúc với bốn đại đội thuộc tiểu đoàn. Tiểu đoàn của Bréchignac, từ phía tả ngạn con sông, tiến vào và đứng chân trên những quả đồi gần nhất ở phía đông. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, hai khẩu đội pháo 75 không giật, một đại đội súng cối 120 li và một trạm giải phẫu được thả xuống buổi chiều, tất cả nằm lại trên bãi nhảy Natacha. Viên đại úy - bác sĩ André, lần đầu tiên nhảy dù, đã bị chết. Tiểu đoàn 910 và đại đội 226 của Việt Minh đã bỏ lại tại chỗ chín mươi xác chết và bốn thương binh. Lúc 16 giờ 15, bức điện gửi chính thức, thượng khẩn và được mã hóa, báo tin cho chính phủ biết về cuộc hành binh Castor, được chuyển đi cho Paris. Và mặc dù ngài Jacquet lúc này đang có chuyến đi thăm các nhà ăn hoàng gia ở Lào và Căm bốt, bức điện được gửi một cách hình thức cho ngài quốc vụ khanh phụ trách quan hệ với các quốc gia liên hiệp, trên phố Lille, ở đó có cơ quan cơ yếu. Trên giải đất viền quanh ngôi làng Điện Biên Phủ, bầy trẻ con đầu đội những chiếc mũ nồi cáu bẩn, đám cụ già và phụ nữ, khuôn mặt tròn hiền hậu, đôi mắt den, vốn không kịp bỏ chạy, ngồi sát bên nhau, dưới chân những ngôi nhà sàn bằng gỗ mái lợp tranh của họ, trong lòng đầy sợ hãi và tò mò, quan sát những người lính đang nói trước ống nói của các cỗ máy vô tuyến, có những chiếc ăngten trông như bộ râu của những con dế. Tuy chẳng hiểu được tí gì trong ngôn ngữ của đám binh lính ấy nhưng những người phụ nữ hiểu rằng cái đám người vũ trang này không hề mang lại hạnh phúc cho giải thung lũng. Khắp nơi, các tiểu đoàn sục sạo vào các ngôi nhà phần lớn vắng người, ở đó sặc sụa mùi vị của những gian chuồng trâu được bố trí ở dưới nhà sàn trong dãy cột chống nhà. Một đoạn thang rộng đưa người ta lên khoảng hiên, dẫn vào ngôi nhà tranh, sàn nhà là những mảng tre đan, mỗi bước đi lại võng xuống. Các lính dù kéo những tấm rèm che cửa các gian buồng, những gian buồng này được ngăn cách bằng các tấm liếp đan bằng mây. Họ đốt những tờ giấy bạc ngay tại bếp lò trong nhà, nơi mà lớp tro hãy còn nóng, ở phía dưới chiếc nồi bắc trên chiếc kiềng ba chân. Lũ mèo sợ hãi trốn lên trên xà nhà. Ở dưới sân, đàn chó vàng, lông dựng lên tua tủa, cất tiếng sủa ầm ỹ; đàn lợn tìm cách quay về chuồng và những chú ngựa nhỏ của người Thái, bờm và lông đuôi rậm rạp, nhúc nhích trong những ngăn riêng của chúng, giống như một chiếc lồng ở trên cao, mũi thở phì phò ghếch trên đoạn máng ăn trống không, được làm bằng một thân cây khoét rỗng. Đêm xuống, yên tĩnh trở lại. Những tiếng chó sủa giận dữ chào đón vầng trăng tròn đầy đang dâng lên phía bên trên rặng núi. Ở Paris, lúc này là giữa trưa. Được giải mã ở phố Lille, bức điện từ Sài Gòn được viên chánh văn phòng của ngài Jacquet chuyển tới ngài chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông này thông báo với tổng thống, ông bộ trưởng quốc phòng, các vị bộ trưởng và các viên tham mưu trưởng. Bức điện gây ra một sự ngạc nhiên to lớn. Những người đọc bức điện ấy nhìn lên tờ lịch của họ. Do vì múi giờ của Đông Dương sớm hơn múi giờ của Paris sáu tiếng đồng hồ cho nên bức điện tựa như đã tới nơi ngay cả trước khi được đánh đi, ngay trong ngày hôm ấy; nhưng mà quả thật, Paris có vẻ như đi chậm hơn Đông Dương mấy năm trời. Nếu như người ta lục tìm lại những tập báo chí lưu trữ của thời kỳ đó, vào thời điểm cái ngày thứ sáu 20 tháng mười một 1953 ấy, người ta sẽ thấy rằng có khả năng Gaston Dominici đã có một kẻ đồng lõa và rằng chiếc máy bay thử nghiệm của người Mỹ Sky Rocket đã đạt tốc độ hai nghìn kilômét mỗi giờ. Vấn đề chính trị lớn lúc này là khối phòng thủ chung châu Âu. Cho đến tận năm giờ sáng, đường bay tới Orly đã phải chuyển sang để hạ cánh ở tận sân bay Le Bourget do vì có sương mù. Trời chưa có băng tuyết nhưng mùa đông đang tới gần: từ mười lăm ngày nay, trời đầy sương mù trên khắp nước Pháp, ngoại trừ trên dãy núi Alpes và vùng Provence. Ở nhà hài kịch nước Pháp người ta diễn một vở của Philipe Hériat, “Những đám cưới chạy tang", một âm mưu đã được toan tính để chống đối lại vở diễn này. Ở rạp T.N.P. vở Lorezaccio cùng với Gérard Philippe; ở rạp Madeleine, vở "Hélène hay là niềm vui được sống" của André Roussin. Vào thời điểm mà người ta tự hỏi vì sao Navarre lại đã mở màn một trận đánh với quy mô lớn như vậy ở cách xa các căn cứ của ông ta đến như thế, thì ngài Maurice Dejean, nguyên đại sứ ở Tokyo, được bổ nhiệm làm cao ủy ở Đông Dương nhờ vào ngài Paul Reynaud được giao phó cùng với ngài Jacquet, gánh đỡ gánh nặng các công việc ở Đông Dương cho chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ngài Maurice Dejean hầu như buổi nào cũng vậy đều tổ chức tại lâu đài Norodom, nơi ông ta trú ngụ một cách sang trọng, bữa tiệc ăn tối mà đô đốc Cabanier được mời tham dự, hoặc là ông ta tham dự ở Nôngpênh một bữa tiệc tối chào mừng ngài bộ trưởng nhân dịp bộ trưởng đi qua đây. Thêm hay bớt một bữa ăn tối, ở nơi này hay ở nơi kia, điều đó không quan trọng. Người ta không lãng phí thời gian để tập hợp những biến cố loại như thế: trên khắp xứ Đông Dương, người ta tổ chức những bữa tiệc đứng, tiệc ngồi, mỗi khi buổi tối đến là để thoát khỏi nỗi lo ngại đang ngày càng dâng lên trên mảnh đất đối nghịch này. Cái ngày hôm ấy, thử hỏi có ai lại đi phán xét rằng người ta đã không mở sâm-banh để chào mừng trận Điện Biên Phủ ở một bàn tiệc chính thức nào đó? Ngài Dejean hiểu lờ mờ ý nghĩa của trận đánh trên bình diện quân sự. Còn về phần tướng Navarre, ông phân tích tỉ mỉ các vấn đề của cuộc tranh chấp mà ông không dám đương đầu và chơi trò ú tim với họ. Là con người kín đáo, ông né tránh mọi ảo tưởng đối với công vụ của đô đốc và đô đốc thì tự bằng lòng để ghi nhận lại niềm lạc quan mà bộ chỉ huy cao cấp tỏ rõ trước ngưỡng cửa của một chiến dịch mới mở; trong tất cả các văn phòng dân sự và quân sự, người ta nhìn nhận tương lai trong niềm tin tưởng. Việc đánh chiếm Điện Biên Phủ bùng nổ như một dẫn chứng mới về sức mạnh và tính cơ động chiến lược của đạo quân viễn chinh. Duy nhất, tướng Navarre biết rằng chính phủ có thể trách cứ ông vì đã không xin ý kiến chính phủ trước khi có một quyết định như vậy. Bởi lẽ ông đã cân nhắc tất cả những hậu quả chiến lược của trận Điện Biên Phủ, vậy thì làm thế nào mà ông lại có thể để cho mình bị sa vào một cái bẫy được? Với những đầu óc loại như thế này, điều nguy hiểm chính là không bao giờ, chẳng có thứ gì, cũng như chẳng có bất kỳ ai có thể thuyết phục được họ là họ phạm sai lầm. Ngay cả khi ở dưới đáy sâu vực thẳm, họ vẫn khẳng định rằng họ đã cứu vãn tất cả, và rút cục người ta sẽ phải tự hỏi rằng nếu như họ đã không thể nào thuyết phục được chính họ, thay vì thuyết phục người khác, thì họ là những người duy nhất nắm được sự thật. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:40:32 pm Ngày 21 tháng mười một 1953 Cùng với đợt nhảy dù buổi sáng, Gilles lao xuống bãi nhảy Natacha, cùng một lúc với trung tá Langlais, người đã nhận được quyền chỉ huy binh đoàn. Ông tiếp đất một cách chính xác trong tư thế cuộn tròn người, nằm sấp bụng một lát và quan sát khu đất. Con mắt giả mà lần nhảy nào ông cũng tháo ra, ông-nắm chặt nó trong một túi áo vét. Ông rơi xuống một chỗ gần bên một đống rơm cao, trông giống như một chiếc bánh ngọt, những bó lúa vừa gặt được xếp chồng lên nhau ở đó, một hàng rào bằng thân cây tre không cho trâu bò động chạm tới. Khắp bốn phía, đoàn người rơi xuống như mưa. Phía xa hơn, những chiếc máy bay B.26 lượn tròn trên không, Bigeard điều hành những chiếc máy bay ấy yểm trợ cho những trung đội vẫn còn đang đánh nhau với quân Việt trên các dốc núi gần nhất. Ngôi làng, vùng xung quanh và phía nam khu lòng chảo cách đây năm kilômét, nơi có một tiểu đoàn nhảy xuống bãi nhảy Simone, đều đã nằm chắc trong tay quân dù. Ngày hôm ấy, cuộc hành binh Castor giống như một cuộc thao diễn thường lệ. Gilles chậm chạp đứng dậy, kéo chiếc dù về phía mình, cuộn tròn lại rối vo viên như một khối bột mềm, nhét vào trong chiếc túi xách, trên miệng túi ông xếp bộ đồ nai nịt của lính dù; tiếp đó ông tháo bỏ chiếc mũ da và đội chiếc mũ nồi mầu đỏ lên đầu. Ông vác túi xách lên vai và tiến về địa điểm tập họp. Các phóng viên nhiếp ảnh của cơ quan thông tin vốn đã nhảy xuống cùng với hai cha tuyên úy, chĩa ống kính về phía ông. Một vài giải sương mù mỏng tang hãy còn bám vào bên sườn dãy núi, ở đoạn đầu rất xa của cánh đồng sáng loáng, đến nỗi tựa như những giải sương mù ấy bồng bềnh trên bờ một hồ nước. Trên lớp đất lúc này đã khô và nứt nẻ, những đoạn gốc rạ cao trong ruộng lúa kêu sột soạt khi chạm vào lớp vải cứng của những chiếc quần dài bó chẽn ở đoạn mắt cá chân. Gilles ưỡn bộ ngực ở đó lóng lánh hai ngôi sao bạc. Ông muốn quát to khi nhìn thấy một lính dù chuẩn bị tiếp đất quá cứng nhắc và đành chỉ gầm gừ trong miệng. Nào, ở cái tuổi bốn mươi chín và bất chấp thân thể đau ê ẩm, lão già Gilles mới chỉ tốt nghiệp khóa đào tạo quân dù năm năm trước đây, vẫn còn chưa kết thúc cuộc đời mình? Điều đó không hề ngăn cản Gilles có lời chúc mừng may mắn cho ai đó sẽ nắm quyền sở hữu khu lòng chảo này. Bởi lẽ ông cũng sẽ không ở lại đây với bất cứ giá nào. Một chiếc xe máy nhỏ chờ đón ông. Gilles mắc chiếc túi xách lên xe, cầm tay lái và mở ga. Ông vội vã tìm gặp Bigeard, với khuôn mặt kiêu căng cùng những câu nói lễ phép đầy khiêu khích của anh ta và nhất là viên tham mưu trưởng mà ông rất quan tâm và khó có thể thiếu được con người ấy, trung tá Fourcade. Cái mà ông yêu thích, nhà quý tộc Gilles ấy, đó là cái cảnh náo nhiệt nhộn nhịp trên không và trên mặt đất, cái tiếng động ồn ào, cái bẫy người đông đúc cùng với khối trang thiết bị. Langlais do lúc tiếp đất khó khăn đã bị rạn một mắt cá chân: xấu hổ, bực tức, ông ta im lặng. Cho chuyển về hậu phương. Buổi chiều, trong dòng thác từ trên trời trút xuống, bao gồm đoàn người, những khẩu pháo, những hòm thực phẩm và những cuộn dây thép gai, những cuộn dây này khi tiếp đất lại nhảy chồm lên và được người ta mệnh danh là những chiếc gối đầu của phù thủy, đột nhiên xuất hiện một chiếc xe ủi nặng bảy tấn, vọt ra từ chiếc bụng há toác của một chiếc Packet, và chui sâu xuống ba mét đất. Người ta san lấp đầy những đoạn giao thông hào trên đoạn đường băng cũ của sân bay, ở đó có tới một nghìn hai trăm hố sâu phải lấp kín. Trong khoảng một trăm ngôi làng của khu lòng chảo và trên những sườn núi và vì sợ hãi họ bỏ chạy tới đó, mười nghìn người Thái, ngửa mặt lên trời, lẳng lặng ngắm nhìn quang cảnh diễn ra trước mắt. Trong đoạn thung lũng Điện Biên phủ, những chiếc dù mà người ta chưa kịp thu gom, trông giống như một đống quần áo giặt khổng lồ, đổ tung tóe giữa đám xác trâu chết. Một vài ruộng lúa chín bị tàn phá bởi trận bão xoáy này. Mặc những bộ váy áo mầu đen dài xuống tới tận mát cá chân, những người phụ nữ gọi lũ trẻ con quay lại mỗi khi chúng định rời xa mình và ôm chặt lấy những đứa trẻ mà họ địu trong một cái địu đeo bên sườn. Trong số họ, ở những người khá giả hơn, một băng vải thêu chạy dọc mép tà áo mở giữa ngực, từ cổ áo khép kín xuống đến giải thắt lưng bằng lụa, bằng da hay bằng dây rừng. Các bà già chùm kín mái tóc trong một loại khăn quấn tròn, những phụ nữ đã có chồng búi một búi tóc hình trụ trên đỉnh đầu, các thiếu nữ thì để tóc xõa xuống sau lưng. Trên nét mặt mọi người lộ rõ vẻ lo lắng và những người Thái không hề nghĩ rằng chính bản thân tổ tiên của họ cũng đã từng là những kẻ xâm lược. Ở cái xứ sở không có điện năng này, không một người nào có được chiếc đài thu thanh chạy điện và đài bán dẫn thì chưa lên được đến nơi này. Tuy nhiên tin tức vẫn lan truyền đến tình cờ qua những cuộc gặp gỡ trên các nẻo đường núi, đến bằng nhiều kênh kỳ lạ làm biến dạng chúng đi. Lần này, những nỗi bất hạnh mới nào sắp đổ xuống đây và nếu như phải rời bỏ nhà cửa, thì sẽ sống ở đâu và bằng cách nào đây? Những gia đình người Mẹo đã dắt đàn ngựa chạy vào ẩn nấp trong các hang động. Bắc trên một bếp lò xây gạch, trong lòng bếp người ta đốt cháy các thanh tre, là chiếc xanh rộng miệng trên đó có để một chiếc nồi đột nhiên trở thành một vật báu không gì thay thế nổi. Buổi tối hôm ấy, tướng Cogny vui vẻ cười phá lên trước mặt đám nhà báo. Cogny vốn có nhược điểm ấy. Ông nói đến rất nhiều chuyện, gợi lại vấn đề chiến tranh du kích, các đội biệt kích, một địa điểm thả neo. Có thể là, như sau này ông ta khẳng định, với ý định đánh lừa đối phương chăng? Vì sao ông ta đã nói ư? Người ta nhớ mãi, nhất là câu ông tuyên bố: "Nếu như tôi có thể, cách đây năm tháng, ngay khi tôi nắm được quyền chỉ huy, thì tôi đã bốc trọn gói Nà Sản chuyển lên Điện Biên Phủ”. Cogny ngồi chỉ huy ở Hà Nội, cách Sài Gòn một ngàn năm trăm kilômét, nơi mà Navarre ngồi chỉ huy. Cách đó một vạn hai ngàn kilômét về phía tây, ở Paris, ngày hôm đó, ủy viên thư ký của hội đồng quốc phòng, vốn đã họp lại trong ngày 13 tháng mười một, đệ trình lên ngài Marc Jacquet, vẫn chỉ là về hình thức, bản quyết nghị của hội đồng liên quan đến đường lối của cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Ngài Jacquet đã nắm được quyết định đó và vốn đã không dám nói cho Navarre biết, cho nên đã không tiếp nhận bản quyết nghị của hội đồng. Ông tiếp tục chuyến viếng thăm các thủ đô láng giềng và theo dõi diễn biến của cuộc chiến tranh mà thậm chí không biết rằng đô đốc Cabanier đã được giao phó một công vụ đi gặp viên tổng chỉ huy. Không một ai có thể chống lại cuộc phiêu lưu ấy, kể cả ông bộ trưởng tài chính, người mà sau khi trả lời về kế hoạch Navarre: "Không một xu” đã nói thêm: "Ít nhất là..." cùng với ngài chủ tịch hội đồng bộ trưởng lúc đó, ông ta dã đưa ra một kế hoạch nham hiểm. Để nắm được cơ may cho kế hoạch Navarre, cần phải nhận được từ nước Mỹ khoản tiền một trăm tỷ đô la, đó là cái giá của kế hoạch này. Nếu không, xin chào, ta bỏ rơi nó. Một cuộc mặc cả vô sỉ mà các vị đứng đầu chính phủ thường biết cách đưa ra. Đối với Eisenhower(1), đó là vấn đề nắm lấy hay buông tay; khi mà đạo quân viễn chinh lên đường, nước Mỹ tự thấy đứng trước những trách nhiệm của bản thân, và đứng trước một cuộc chiến tranh phải tiến hành không lâu sau hiệp định đình chiến ở Triều Tiên. Ngược lại, nếu như nước Mỹ chịu chi tiền, thì ngài Laniel sẽ đề nghị với ổng thống Hợp chủng quốc một cuộc hội kiến và sẽ kết thúc bằng một bản tuyên bố kiểu sau đây: "Ở Đông Dương, nước Pháp và nước Mỹ cùng có chung một mục đích và thật là vô ích nếu hy vọng chia rẽ hai nước đó. Đứng trước một sự thật, hai nước đó yêu cầu đối phương tiến tới một giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp". Cuộc hội nghị trên các hòn đảo Bermudes, chỉ diễn ra vào tháng chạp, nhưng ngay từ tháng chín, nước Mỹ đã xuất chi. Với niềm thích thú thỏa mãn, ông bộ trưởng tài chính rót vào kho bạc rỗng của quốc gia số tiền một trăm tỷ đô la của kế hoạch Navarre. Cái kế hoạch này, bây giờ ông ta không chống lại nữa, việc thực hiện kế hoạch ấy bị đe dọa bởi Bộ Quốc phòng là nơi phải cung cấp nhân lực. Cuộc chiến tranh Đông Dương, chẳng những không phải tốn kém gì mà ngược lại đã có lời và máu của các binh sĩ đã được hoàn lại bằng đô la. Người được lợi nhất trong việc buôn bán đó là chính phủ Pháp chính là bởi vì nước Việt Nam không được nhận khoản hoa hồng mà họ kháng nghị. Buổi sáng, một lễ tang đã diễn ra trên khu ruộng lúa để chôn cất những người chết của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, những chiếc dù được dùng là vải khâm liệm họ. Việc đó diễn ra ở đâu vậy? Không còn biết được nữa. Không cách xa ngôi làng nhiều lắm. Những chiếc thập tự bằng gỗ được quét sơn trắng và những vòng hoa được xếp trên các ngôi mộ, xung quanh ngôi mộ là một vòng dây thừng như thường lệ. Khu nghĩa trang, chính giữa có một chiếc cột cờ, có thể rồi sẽ được mở rộng hơn. _____________________________________ 1. Eisenhower: Lúc đó là tổng thống nước Mỹ. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:43:41 pm Ngày 22 tháng mười một 1953 Từ trong khoang của một chiếc máy bay Beaver bước ra, tướng Cogny thân hình cao to, cử động một cách khó khăn; ông duỗi thẳng người ra và đứng dậy tay chống vào chiếc gậy leo núi, cổ áo mở phanh ra trên lớp da thịt nhăn nheo, đồ sộ của khoanh cổ. Thu mình lại trong bộ trang phục mầu da báo, thái độ cau có, Gilles trông thật nhỏ bé và co quắp khi đứng bên cạnh Cogny. Cogny chào lại, bắt tay thân thiện và nheo đôi mắt vì ánh nắng. Ông đưa mắt quan sát bốn xung quanh, cái xí nghiệp dùng để chế tạo ra những chiến thắng và những người chết, lúc này đang hoạt động hết cỡ, và ông mỉm cười. Ý nghĩ của ông đối với tất cả những việc đó, Gilles biết rõ. Gilles dẫn ông về sở chỉ huy của mình, báo cáo với ông những biện pháp đã được thực thi để bảo vệ cứ điểm trước mọi cuộc lấn công, vị trí và nhiệm vụ của các cụm pháo binh, chi tiết kế hoạch trinh sát đã được thực hiện. Cogny tán thành, ông lại tiếp tục cuộc chất vấn nội tâm mà ông vốn không ngừng đeo đuổi từ năm tháng nay. Ông không thể nào không nghĩ đến cái tổ ong bò vẽ Nà Sản mà ông đã rút chân ra được một cách kịp thời. Để rồi chui vào đây ư? Đôi lúc ông rướn cao người lên, nhìn xuống đất, đưa cái đầu bọc sắt của cây can gại gại lớp đất, giống như con bò tót đưa móng guốc gãi đất và tấm thân cao lớn của ông tựa như sụm hẳn xuống. Ông không mong mỏi gì ở Nà Sản, vốn có nguy cơ lần lượt nuốt chửng từng tiểu đoàn trong số các tiểu đoàn của vùng đồng bằng, ấy vậy mà, ngày hôm qua, ông đã nói cái câu mà người ta đã trách cứ ông trong thời gian dài: "Nếu như cứ điểm mạnh Nà Sản lúc trước được lắp trên các bánh xe lăn, thì tôi đã chuyển nó tới Điện Biên Phủ...". Ở Nà Sản người ta cảm thấy bị vây chặt; nằm trong tầm súng của quân Việt người ta không thể bước đi một bước mà không bị theo dõi. Ở đây, ít nhất là... Những vách núi gần nhất, vả lại những chỗ đó người ta sẽ không để cho quân Việt đứng chân được, về phía đông cũng như phía tây đều cách xa năm hay sáu kilômét. Những đỉnh núi thực thụ, cách tám kilômét; trên hướng bắc, mười kilômét; dưới hướng nam còn cách xa hơn nữa. Người ta thở được, người ta cảm thấy thoải mái. Người ta sắp hành động. Cogny ưỡn lồng ngực. Những điểm cao xa xăm kia, nơi mà đối phương sẽ đứng chân, phải chăng nằm ngoài tầm với của các nòng đại bác 105 và 155 li? Trong trường hợp đó, không quân sẽ ném bom để bổ khuyết. Gần năm nghìn con người bận rộn trên giải đất Điện Biên Phủ, đào hố chiến đấu, rải dây thép gai, xúc đầy đất vào trong các bao tải, tắm gội dưới sông, bố trí lều trại trú quân và bếp ăn, thu gom số dù, tháo mở các hòm đồ. Một vài trái phá bắn vào trong dãy núi để hiệu chỉnh xạ kích. Khói và bụi bốc lên bên trên khu cứ điểm trong lúc đó các máy bay trút các khối tải trọng xuống như mưa. Các văn phòng thuộc cơ quan tham mưu của Gilles truyền đi các điều chỉ dẫn, máy điện thoại réo chuông, đài thông tin vô tuyến nổ lép bép. Đó là không khí vui vẻ của những hoạt động thành công. Chẳng bao lâu nữa, chính những người chết cũng sẽ trở về Hà Nội bằng máy bay. - Dù sao, Gilles nói với Cogny trong một lần gặp riêng, với âm sắc vùng Catalan(1) cộng thêm vào vẻ hiền từ vốn có của ông, tôi sẽ rất sung sướng khi mà anh tìm được cho tôi người kế nhiệm. - Đang nghĩ đến chuyện đó. Gilles, tuy nhiên là con người phải phép. Bản thân ông cũng là một con bò tót, nghiền ngẫm nhiều ngày liền cùng một bài toán, bám chặt vào những lí lẽ của mình, bướng bỉnh, thận trọng hay gào thét, nét mặt cau có khi không có được cái mà mình mong muốn. Kinh nghiệm đã thu lượm được, sắp tới không có ích gì hay sao? Gilles không còn cảm thấy sức khỏe bình thường và đôi lúc chịu khuất phục trước những cơn mệt lỏi đột ngột. Quả tim không ổn và bắt buộc ông phải hạn chế hoạt động. Ông đã thấy chán và đánh hơi thấy mối nguy hiểm cận kề. - Ở Nà Sản tôi đã sống sáu tháng trời như một con chuột. Xin sử đụng tôi ở chỗ nào thoáng đãng. - Xin hứa, Cogny nói. Đây chỉ là vấn đề ngày một ngày hai. Nếu như Cogny nài ép, Gilles hẳn là đã khuất phục và dòng chảy các biến cố đã thay đổi. _____________________________________ 1. Catalan: vùng đông bắc Tây Ban Nha. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:49:47 pm Cách không xa con đường, ở đó nhiều đoàn dân công mang vác và những chiến sĩ của sư đoàn 316 hành quân đi qua, dưới một túp lều mà mái lá hòa lẫn vào với cành lá ven rừng, một con người lẳng lặng nghiên cứu tấm bản đồ lớn tỷ lệ bốn trăm nghìn, mở rộng treo thẳng đứng trước mắt ông. Qua những báo cáo mà ông nhận được, ông cố gắng xác định tầm cỡ của biến cố mà Navarre gây ra ngày 20 tháng mười một ở Điện Biên Phủ. Không rời mắt khỏi tấm bản đồ, ông hỏi các sĩ quan trong Bộ Tổng Tham mưu và rồi lại im lặng. Không một ai ở xung quanh ông lại tỏ ra sốt ruột. Người ta biết rằng ông có khả năng nhiều ngày liền ở trong tư thế cầu nguyện như vậy để rồi bất ngờ chợt tỉnh lại vào một buổi sáng. Lúc đó ông gọi các trợ lý lại và vừa đọc các mệnh lệnh vừa, đôi khi, nắm tay đấm xuống mặt chiếc bàn dài kê trên chân niễng mà ông thường đi vòng quanh. Cái người đàn ông tầm vóc trung bình này, vừa qua trạc tứ tuần, cử chỉ chậm chạp, dáng điệu nặng nề, thái độ có phần lịch thiệp, mặc một chiếc quần cắt xấu và một chiếc áo va-rơi cổ cao, trên vai và ngực áo không hề đeo cấp hiệu cũng như huân huy chương, đó chính là Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân. Giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông sinh ra trên những giải cát rộng lớn miền Trung Việt Narn, gần biển, ngày mồng một tháng chín 1910, ở An Xá trong tỉnh Quảng Bình. Vào cái thời kỳ người ta gọi ông là Võ Giáp, ông đã theo các khóa học náo nhiệt về triết học và luật học trong một trường đại học ở Hà Nội. Ngay sau khi một ý nghĩ tỏa sáng trong tâm trí ông thì niềm tự tin hiện lên trên khuôn mặt này thật lớn lao. Niềm tự tin ư? Nói đúng hơn đó là trí thông minh: cái trí thông minh gây tai tiếng đã giúp cho một - nguyên giáo sư sử học trường tư thục - dám dũng cảm đương đầu với một quân đội của châu Âu được trang bị vững mạnh, nắm trong tay mọi phương tiện cho phép dắt dẫn cuộc chiến tranh đến bất kỳ nơi nào và vào bất cứ lúc nào, trong lúc các đơn vị của chính ông thì phải di chuyển bằng đôi chân mang theo vũ khí, đạn dược và lương thực, thực phẩm. Theo gương người thầy của mình, tướng Giáp sử dụng các phương tiện mà ông có trong tay và mảnh đất mà ông thông thạo hơn đối phương, bởi lẽ đó là mảnh đất quê hương, tổ quốc của ông. Cái mà dưới con mắt của các nhà chiến lược kinh điển tạo thành một thế yếu kém không thể vượt qua nổi, dần đà trở thành một ưu thế đã khiến cho đối phương chịu thất bại. Trong phần lớn các trường hợp, thử hỏi có ích gì khi nắm được những vũ khí nghiền nát đối phương nhưng đối phương đó lại chuồn mất. Làm thế nào để truy đuổi đối phương ấy nếu như nó "lai vô ảnh, khứ vô hình"? Kể từ khi ông thành lập quân đội nhân dân trong các chiến khu, Võ Nguyên Giáp đã nghiền ngẫm về địch thủ cũng như về lực lượng của chính mình. Học viện Chiến tranh của ông là rừng rậm. Cho đến tận lúc này ông không tính đếm bằng con số hàng nghìn tấn, mà là bằng mấy chục kilôgam cho một người mang vác. Các tiểu đoàn của ông đã đi qua nhiều nghìn kilômét, nhưng mà là chia thành nhiều chặng đi của bộ binh và do vì ông biết rằng quân địch có thể chụp xuống đầu ông bất cứ lúc nào, ông sống ẩn dật và sẵn sàng biến mất nếu bị phát hiện. Dần dà, ông đã tôi luyện công cụ của mình, mở rộng ảnh hưởng của Đảng, áp đặt học thuyết bằng cách thuyết giáo đối với những phần tử trung thành và giải tán những phần tử thờ ơ, biến đổi quân đội nhân dân thành vô số những tế bào gắn kết với nhau và sẵn sàng hi sinh thân mình vì chiến thắng của cuộc cách mạng. Là nhà sử học, ông đã biết được rằng không có bất kỳ điều gì là bất khả thi đối với những ai dám làm và đã đặt nền móng cho chiến thuật và chiến lược của ông: khi người ta không thể đánh bại kẻ địch được trang bị vũ khí mạnh hơn vũ khí của bản thân mình thì cần phải vô hiệu hóa các vũ khí đó và chờ đợi khi có cùng những thứ vũ khí ấy, lúc đó sự xuất hiện của chúng sẽ nhân đôi hiệu quả. Không bao giờ để cho mình bị bất ngờ, ngụy trang kín đáo, chỉ tấn công khi có ưu thế rõ rệt và tin chắc ở chiến thắng, tiến hành các công việc chuẩn bị một cách chậm chạp và tỉ mỉ, thực hành đòn đánh một cách vũ bão, khẩn trương, tướng Giáp đã kiên trì vận dụng thích hợp cho mình những nguyên lý chiến tranh của vua Alexandre Đại đế và của Napoléon và rút ra những bài học từ những thất bại của mình. Thậm chí người ta còn tự hỏi, liệu ông ta có học hỏi ở hoàng tử Ligne và ở đại tá Ardant du Picq chăng? Còn về kinh nghiệm của Mao Trạch Đông, ông đã rút ra những gì có ích cho mình: bỏ khoảng rộng xung quanh các cứ điểm mạnh nếu như chúng khó đánh chiến, quan tâm đến việc né tránh những trận đánh không nắm chắc thắng lợi, không ngừng lẩn tránh khi kẻ địch mạnh, tấn công địch khi chúng rút lui, động viên nhân lực và tinh thần chống lại kẻ địch vì một lý tưởng đơn giản và rõ ràng. Các binh sĩ của ông chiến đấu vì những truyền thống của cha ông họ. Về lòng căm thù, tướng Giáp không khó khăn gì để nuôi dưỡng trong con tim mình những tình cảm cần thiết: bà vợ ông bị bắt và bị tòa án quân sự đặc biệt của Hà Nội kết án tù khổ sai chung thân, đã chết trong một nhà tù của Pháp do bà cũng giống như ông, đấu tranh vì nền độc lập của tổ quốc. Phải chăng ông đã nói: "Mỗi một phút đồng hồ, hàng trăm nghìn người chết trên mặt đất này. Cuộc sống và cái chết của hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn con người, phải chăng họ là đồng bào của chúng tôi, điều đó không nói lên điều gì hay sao?" ông đã tỏ vẻ bất bình để tự bảo vệ trong câu chuyện đó khi tôi đặt ra cho ông câu hỏi. Cái câu nói tàn nhẫn ấy tuy nhiên không hề có vẻ ầm ĩ từ cửa miệng của ông và tôi thấy hình như, nếu ở vào địa vị của ông, có lẽ tôi đã phải hét lên để thuyết phục chính những người anh em của mình rằng chiến thắng chỉ có thể giành được bằng cái giá ấy. Khuôn mặt hiền từ và đôi khi đầy nét hài hước mà tôi đã nhìn thấy ở những nơi vẫn còn ám ảnh những bóng đen của nhà vua Jean(1) cùng các tướng lĩnh của ngài, tôi có thể hình dung ra khuôn mặt ấy từ ánh sáng của những biến cố đã nhào nặn ra ông dưới những tác động của nỗi đau khổ và lòng ham muốn trả thù. Cái khuôn mặt nở nang đầy nét thông minh ấy, cái vầng trán cao rắn rỏi dưới một mái tóc đen và cứng ấy, tính quyết đoán hiện ra rõ rệt. Lần lượt lộ ra tính thích diễu cợt, sự mưu trí. lòng tốt, và một sức mạnh không có gì đè bẹp nổi. Nếu như trong cái trận đánh mà chủ tịch Hồ Chí Minh mô tả với David Schoenbun ở Fontainebleau ngày 11 tháng chín năm l946, Navarre nắm trong tay một khối sức mạnh áp đảo thì tướng Giáp là con mãnh thú chuẩn bị sẵn sàng để nhảy chồm lên người ông ta: "Đây sẽ là một cuộc chiến tranh giữa một con hổ và một con voi. Nếu như có lúc nào đó con hổ dừng lại thì con voi sẽ dùng đôi ngà để chọc thủng bụng con hổ. Duy có điều con hổ sẽ không dừng lại. Nó ẩn nấp trong rừng rậm lúc ban ngày và chỉ xông ra lúc ban đêm. Nó sẽ nhảy chồm vào con voi, cắn xé từng mảng thịt trên lưng voi rồi lại biến mất vào bóng tối, và con voi sẽ chết vì kiệt sức và mật máu”. Navarre lẽ ra phải luôn luôn giữ lại bức ảnh của tướng Giáp ở trước mắt, trong phòng làm việc của mình, giống như Montgomery(2) giữ lại bức ảnh của Rommel(3) trong chiến dịch Ai Cập. Có lẽ, phải chăng ông ta nghĩ rằng làm như vậy sẽ là quá đề cao một con người vốn đã không trải qua những khóa học quân sự cao cấp và người ta chỉ gọi là đại tướng trong ngoặc kép. Mao Trạch Đông cũng vậy, ông ta không phải là một nhà quân sự chuyên nghiệp, nhưng mà trong mọi nghệ thuật, ông ta có những năng khiếu muộn mằn. Vào thời kỳ này, tướng Giáp không còn ở trong giai đoạn chập chững nữa. Đối với một người nghiệp dư, ông đã thành công, ngay từ chính những thất bại của mình, trong việc tôi luyện một đội quân chiến đấu bao gồm không phải là một vài đội quân du kích nữa, mà là sáu sư đoàn bộ binh, mỗi sư đoàn có ba trung đoàn, một sư đoàn pháo binh và công binh và các đơn vị vận tải và pháo phòng không. Với một công cụ như vậy, làm thế nào ông lại không chấp nhận tác chiến nếu như ông bắt chước các quân đội của châu Âu? Chắc chắn, Navarre chính là tính tới cái cơ hội này khi tuyên bố với Salan, lúc ông ta nghĩ tới Việt Minh: "Nếu thế, họ sẽ toi mạng...". Phải, nếu như tướng Giáp ném các xe tải và các khẩu đội pháo binh ra các con đường, thành từng đoàn lộ liễu, thì ông ta thất bại. Nhưng Navarre đã lầm khi ông ta giả định là vị giáo sư sử học có thể rơi vào cái bẫy đó. Con hổ Giáp chỉ tiến lên từng bước một, không một giây phút rời mắt khỏi con voi mà nó muốn tiêu diệt, đưa chân thăm dò mặt đất và chỉ đặt xuống đó toàn bộ thân hình khi nó thấy sức đề kháng đã đủ mạnh. Tướng Giáp đã biết được mọi chi tiết của cuộc hành binh Castor với một cảm giác vừa vui thích, vừa lo ngại: rất không coi thường Navarre và Cogny, ông không giả định là các viên tướng này có thể mạo hiểm một cách tùy tiện và tự hỏi liệu công trình này là một đòn đối phó với việc di chuyển của sư đoàn 316 lên hướng tây bắc, hay là nó nằm trong ý định muốn chặn con đường của ông tiến sang phía Lào. Sự thực, ông không sợ gì giả thuyết này cũng như giả thuyết kia: 316 sẽ tới được mục tiêu của nó, bất chấp sáu tiểu đoàn mà Navarre vừa ném xuống khu lòng chảo nhưng 316 phải tăng cường gấp đôi các biện pháp để tránh bị phát hiện và bị oanh tạc bởi những máy bay khu trục và máy bay ném bom, có thể đặt căn cứ ở Điện Biên Phủ, như vậy là chỉ cách khu vực hoạt động có mấy phút cất cánh. Ngược lại, nếu như Navarre chịu đứng chân ở đó… Các sĩ quan cơ quan tham mưu của tướng Giáp tán thành kết luận của thủ trưởng họ: "Navarre đã bị tóm chặt". _______________________________________ 1. Jean: Bí danh của tướng De Latre de Tassigny. - N.D 2. Montgomery: Thống chế của quân đội Anh. 3. Rommel: Thống chế của quân đội Đức trong Đại chiến thế giới 2 đối chọi nhau trên chiến trường châu Phi - Trung Đông. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:55:15 pm Ngày 23 tháng mười một 1953 Ở Điện Biên Phủ, cái vòng tròn lớn tiếp tục và thả xuống những cuộn dây thép gai, những phuy ét-xăng, những hòm đạn dược, thực phẩm và rượu vang ướp lạnh; những khối đạn pháo và phương tiện đủ loại rơi xuống ầm ầm như cơn mưa đá của những trận bão, rải rác trên vùng ven của thành phố nhỏ bé, ở đó, những chiếc dù đôi khi còn bám lơ lửng trên các cành cây và trên các mái nhà tranh. Những chiếc máy bay Morane 500 đã cất cánh từ đường băng sân bay để bay trên vùng lân cận khu lòng chảo và thả pháo sáng soi đường cho các đội trinh sát đi sục sạo lần lượt từng ngôi làng và tiến đến những dốc núi gần nhất để truy tìm đám quân Việt tản mát vào trong dãy núi mà các nhân viên quan sát thường nhầm lẫn với đám cư dân quá sợ hãi trong thung lũng. Hôm qua, các cha tuyên úy đã tổ chức lễ thánh trên những bàn thờ dã chiến, bởi lẽ đó là ngày chủ nhật. Người ta đốt các bụi rậm phía trước mặt các khu xạ giới của những điểm tựa đầu tiên, và mùi khói khét lẹt bị gió đè xuống thổi lan ra khắp cứ điểm. Người ta đốn hạ cây cối, chặt ngắn để làm xà ngang, cột chống. Từ bụng sau há hoác của một máy bay Packet, một khối khổng lồ đột nhiên nhảy nhót. Hai mươi mốt chiếc dù đủ các màu, được cột chặt vào nhau, nở bung và tỏa rộng phía trên chiếc máy bay, giống như một bông hoa uy nghi. Trong lúc tiếng hoan hô vang dội bay lên không trung, chiếc xe ủi đất mới đung đưa đi lại ở đầu sợi dây néo và nhẹ nhàng đặt mình xuống ruộng lúa, thẳng đứng trên đoạn bánh xích của nó. Lần thả đầu tiên thất bại hẳn là do một tính toán sai lầm, trongviệc chuyển đổi số đo trọng lượng của người Mỹ. Lần này, cỗ máy tì lên một mặt phẳng bằng kim loại, được mở rộng bằng một loạt các phiến gỗ, vươn dài ra ngoài như những tay đỡ, không cho chiếc xe lật nghiêng. Những thỏi chì lớn đã hạ thấp trọng tâm của chiếc xe. Mọi người tiến lại, sờ nắn chiếc xe, lắc đầu: "Cái anh này, có ai đó nói, chắc chắn anh ta sẽ ở lại đây…” Những anh lính dù ngồi trên mình những con ngựa Thái nhỏ nhắn vừa được lôi ra từ các gian chuồng, đi nước kiệu. Khẩu tiểu liên treo trước ngực, chạm vào một tay lái bằng sắt thô, hai chân kẹp chặt lấy những chiếc xe máy Vétspa hai bánh nhỏ xíu, những người lính thông tin chạy đi chạy lại trên những đoạn đường mòn ngoằn ngoèo. Gần bên lá cờ hiệu của Gilles cắm trước một túp lều, giữa những dàn ăngten thu thanh, bày trẻ con thích thú ngắm nhìn những thứ đồ chơi nổ ròn rã ấy, nhưng khuôn mặt những người phụ nữ lộ rõ sự sợ hãi mỗi ngày một thêm căng thẳng. Rất nhiều người đàn ông vẫn còn lang thang trên núi, không biết đi về đâu? Nhiều đồ chơi khác sẽ còn rơi xuống như mưa, đáng sợ hơn những thứ đã rơi xuống bởi lẽ những con người của đạo quân viễn chinh có vẻ ở lại đây lâu dài. Thử hỏi ai sẽ trả tiền cho những cây ăn quả mà người ta đã chặt hạ? Ai sẽ thu hoạch mùa màng? Ai sẽ ngăn cản không cho phá hoại lúa má còn chưa gặt được về? Ai sẽ đền bù cho những con trâu bị giết chết? Bigeard và Bréchignac đã thấy buồn chán. Cú đánh mạnh đã kết thúc và phải chờ nhiều tháng mới có một cú khác, nếu có một cú nữa. Một cách máy móc, những người phụ nữ lại bắt tay vào quay chiếc cối xay lúa, và cử chỉ của họ mang một ý nghĩa vừa cao cả vừa đáng buồn cười. Những ngôi nhà vẫn đứng vững trên hàng cột, giữa hàng cột ấy chen chúc đám gia cầm, đàn lợn con và bầy trâu. Phía trên là nơi trú ngụ của các gia đình, trong một gian buồng rộng, sàn nhà ghép ván được cột lại xộc xệch, bên trên trải những tấm chiếu, những tấm vách ngăn bằng tre hoặc những tầu lá lớn đan vào nhau; che cho một mảnh sân ở đó những đêm mùa hè người ta nằm ngủ, là một mái lợp bằng gianh kéo dài với những đường chạm trổ chữ thập trên những thanh rui mè. Ở Sài Gòn, trên trang điểm báo của Paris mà viên sĩ quan tùy tùng đưa cho ông xem, Navarre đọc được tấm áp phích lớn của tờ Nước Pháp buổi chiều: "Bắc Kỳ: cơn mưa lính dù trút xuống Điện Biên Phủ". Người ta có thể giả định là khuôn mặt của Navarre ngay lập tức cau lại; trên hai cột báo đầu tiên, lồ lộ hàng chữ đậm lời tuyên bố của Cogny: "Đây không phải là một trận đánh như ở Lạng Sơn mà là bước mở màn của một cuộc tiến công". Nào có ai đã thúc ép Cogny phải tuyên bố bất kỳ chuyện gì và ai đã cho phép ông ta làm việc đó? Về phía mình, Navarre đã im tiếng và không một ai trong căn phòng của ông nói điều gì. Người ta không thể điện thoại từ Sài Gòn ra Bắc Kỳ, ít nhất khi người ta không phải là nhà quân sự nhưng mà cánh báo chí, họ biết cách tìm được Cogny. Có thể là được Cogny báo trước, tay phái viên đặc biệt của tờ Nước Pháp buổi chiều hẳn đã mò ra Hà Nội và từ đó điện về tòa soạn. Là con người kín đáo, Navarre không thích những lời bình luận về một cuộc hành binh chỉ vừa mới mở màn mà lẽ ra phải gây bất ngờ cho chính phủ cũng như cho đối phương. Bức điện tín của ông gửi cho ngài quốc vụ khanh phụ trách các mối quan hệ với các quốc gia liên hiệp thế là đủ và Paris là người duy nhất có quyền cho giới thông tin biết tầm quan trọng, nếu như Paris thấy đó là điều thích hợp. Trong tâm trí của Navarre, Cogny đã khôn khéo ôm về mình thắng lợi của trận Lạng Sơn. Câu quảng cáo rùm beng ấy nhằm mục đích gì, bởi lẽ không phải Cogny là người đã quyết định có trận Điện Biên Phủ, mà chính là tổng chỉ huy? Cái từ ngữ "bước mở màn một trận tấn công" có nguy cơ làm cho công luận và chính phủ lo ngại. Phải, Cogny chen chân vào đâu đây? Những đánh giá về chiến lược không phải là nhiệm vụ của ông ta. Về phần mình, nếu như Navarre đã có thể dắt dẫn cuộc chiến tranh như ý ông muốn, kể cả không cho cánh báo chí biết được những gì mà ông dự định, thì việc đó ông đã làm. Bởi lẽ tất cả những gì tự nói ra sẽ làm cho đối phương nắm được và giúp ích cho họ trong khi người ta vẫn còn phải mò mẫm phán đoán những phản ứng của họ trước những thực tế rõ ràng nhất. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:57:17 pm Ngày 25 tháng mười một 1953 Ở Điện Biên Phủ, ngày hôm ấy, vào khoảng 11 giờ 30, chiếc Dakota đầu tiên hạ cánh xuống đường băng phủ kín những tấm ghi sắt. Công binh đã đi trước kế hoạch của họ một tuần lễ, và các máy bay vận tải sẽ đổ bộ những phương tiện trên không thích hợp để thả dù xuống. Một đài thông tin dẫn đường, hoại động từ ngày hôm qua, cung cấp cho các phi công vật chuẩn để xuyên qua lớp mây. Những thương binh và những chiếc dù có thể được chuyển về Hà Nội, và nhất là các tiểu đoàn thuộc binh đoàn của Gilles có thể được thay thế bởi những đơn vị khác không quý giá bằng. Quân dù sục sạo các vùng lân cận và áp tải về, dưới áp lực của những khẩu tiểu liên, những người đàn ông tìm cách chạy vào trong núi, đám người này bước đi, đầu cúi gằm. Họ bị nghi ngờ và người ta nhốt họ lại. Các sĩ quan trinh sát hỏi họ, để tìm cách biết được các tiểu đoàn quân đối phương bị quân dù đánh bất ngờ hiện nay ẩn nấp ở đâu. Những người Mẹo quay về tìm kiếm đàn gia cầm gia súc và một vài thứ của cải mà họ bỏ lại ở nhà lúc vội vã bỏ chạy. Trên rặng núi cách xa chừng hai chục kilômét tôi đã phát hiện một cựu du kích thời kỳ đó ở giữa một vài gia đình đang gặt lúa gần một đoạn đèo. Ngồi bên khẩu súng trường mà anh ta nắm trong tay, nòng súng chĩa lên giời, báng súng đặt trên mặt đất, anh ta có vẻ như đang bảo vệ những người phụ nữ mặc những chiếc áo dài bằng vải bông, hai ve áo nhuộm đủ mầu sắc, đang vừa gặt vừa líu lô trò chuyện; trong số họ, những người khá giả hơn đeo những đôi hoa tai hình lưỡi liềm và những chiếc vòng cổ bằng bạc. Tên anh ta là Vừ Doa Dính. Vũ khí của anh ta, một khẩu hỏa mai thì đúng hơn là một khẩu súng trường, không có đường ngắm, dài hơn rất nhiều tấm thân người lùn tè của anh ta. Năm 1953 anh ta hai mươi sáu tuổi. Hiện nay cậu con trai của anh ta cũng đi săn, không bao giờ hạ mình làm công việc đồng áng, cũng giống như anh, được trang bị như một chiến binh thời cổ đại, một chiếc sừng trâu đựng thuốc súng đeo ở thắt lưng, và một chiếc túi dết chứa đầy đạn sắt vụn. Treo lủng lẳng ở cổ họ, một chiếc vỏ đạn cũ đựng các kíp nổ. Cả hai che giấu mái tóc dưới một chiếc mũ bịt kín hai tai, trong khi đó một tấm khăn quấn bịt kín một nửa mái đầu của những người phụ nữ cạo trọc, để lại một túm tóc trên đỉnh sọ. Khuôn mặt Mông Cổ của anh ta đầy mưu mẹo, nhăn nheo, đôi mắt đen ti hí của anh ta không ngừng nhìn tôi rồi nhìn phong cảnh xung quanh, anh ta sục sạo để tìm kiếm chim chóc mà anh ta phải đến thật gần để giết chết, những con bò rừng thì phải tới cách mười mét, hươu nai thì cách hai mươi nhăm mét. Chúng tôi cùng nhau đi bộ về cái xóm kề bên, nằm lọt giữa những tảng đá, gần một dòng suối nhỏ và một mái nhà gianh đang bốc khói, nền nhà bằng đất nện. Trong số những dụng cụ thô kệch dùng để chế tạo vũ khí, có một chiếc cốc của cơ quan hậu cần quân sự nằm chỏng chơ trên mặt bàn, và tôi có thể đọc thấy ở đó, phía trên một ngày tháng đã bị xóa đi, một dòng chữ khắc bằng mũi dao trên vỏ kim loại "Louise thân yêu". Một chiếc bếp lò để rán đã cũ nằm đó, được biến thành chiếc đàn ghi-ta. Chín năm về sau, những mảnh vài dù được phơi khô cùng với quần áo và đám trẻ con chơi trò đánh quăng bằng những quả đạn súng cối 60 vứt đi. Tôi hốt hoảng tránh ra xa lũ trẻ. Ngồi thu lu im lặng, một bà già nhét những củ khoai vào trong một chiếc túi. Trên những vì kèo bàng tre của khung nhà, treo lủng lẳng những miếng da có dính mỡ và một con diều hâu đã vặt lông mà một người thợ săn vừa bắn được. Chính tại đây, nơi Vừ Doa Dính quay về để tìm kiếm đàn lợn và bầy gà có mầu lông sặc sỡ của anh ta thì vừa lúc một chục dân binh ăn lương của người Pháp đã bắt anh ta đi theo về Điện Biên Phủ. Ở đó anh ta gặp lại ba người đàn ông và ba phụ nữ của các bộ tộc láng giềng, mà người ta sử dụng cũng như anh, để làm lao công. Anh ta nghĩ là đã vĩnh viễn phải xa rời những người thân, rặng núi và khu rừng của anh ta; lòng anh ta tràn đầy tuyệt vọng và căm thù. Trong khu phố cũ của Điện Biên Phủ, đám trẻ con mạnh bạo hơn, đến gần những người lính đang đào hố chiến đấu gần các ngôi nhà và xin họ sôcôla. Chúng không biết rằng bản thân những ngôi nhà cuối cùng cũng biến mất trong tiếng kêu răng rắc, giống như cây cối và chúng sẽ bám vào váy mẹ chúng hoặc là được mẹ chúng cõng trên lưng, đi ẩn nấp ở cách nơi đây nhiều kilômét để nhường chỗ cho những con người của chiến trận. Những khu trú quân dã ngoại hình thành và ban đêm mọi người nằm ngủ trong những mái lều nhỏ hình thù như chiếc mũ cảnh sát. Ban ngày cái khu trại mênh mông này mang dáng vẻ vui tươi của một chuyến cắm trại ở nông thôn. Người ta tắm rửa trong dòng nước trong xanh của sông Nậm Rốm, con sông không sâu lắm, khôn khéo chảy giữa đôi bờ màu đỏ son, người ta giặt quần áo dưới sông và phơi lên đám dây thép gai. Người ta hâm nóng các xuất ăn trong những chiếc sanh, nồi mượn được, đặt trên những bếp lò khoét vào lòng đất. Những chuỗi dù màu trắng và màu ka ki phấp phới tung bay, từ những chiếc Dakota rơi xuống, và khi khối hàng chạm đất đổ nằm xuống mặt đất và ngọn gió thổi phồng chúng lên đột ngột trước khi hất ngửa chúng ra. Những kíp tháo dỡ khối hàng ra khỏi dù, chuyển hàng về những khu kho ngày càng chất đống. Mỗi lần gói buộc đòi hỏi mười phút lao động của những người tiếp vận và yêu cầu có hai mươi mét dây thừng. Những tiếng đại bác nổ đanh. Những nòng súng cối hạng nặng kêu vang trong giây lát như tiếng chuông, trước khi đạn ra khỏi nòng, những chiếc Moranne vo vo bay lượn trên không kiểm soát đường đạn tới mục tiêu. Ở Hà Nội, tướng Cogny trán nhăn lại, lắng nghe viên trưởng phòng Nhì của mình, thiếu tá Levain, báo cáo với ông về hiện tình của đối phương. Levain là một sĩ quan đẹp trai, tác phong tỉ mỉ, bình tĩnh, chỉ xây dựng những dự đoán của mình trên những thông tin chắc chắn. Điều mà Levain thông báo có vẻ ở mức độ nghiêm trọng đặc biệt; cũng vì vậy anh ta tránh mọi bình luận: đêm qua, bộ phận thám không theo dõi mạng thông tin của Việt Minh đã bắt được mệnh lệnh di chuyển mà tướng Giáp điện cho sở chỉ huy của các sư đoàn 308, 312 và 351. Theo những dự đoán của Levain, sư đoàn 316, lúc này đã trên đường hành quân sẽ tới Điện Biên Phủ vào ngày 6 tháng mười hai, sư đoàn 308 ngày 24, sư đoàn nặng 351 ngày 26 và cuối cùng sư đoàn 312 vào ngày 28. Đối với Levain, điểm đến của các đơn vị lớn này mà người ta theo dõi ngày và đêm chưa phải là chắc chắn nhưng mà là một khả năng cực kỳ nghiêm trọng. Cogny lập tức gửi cho Navarre một bức điện mà ở Sài Gòn người ta tiếp nhận trong trạng thái bi quan. Người ta trách cứ kíp của Cogny đã trưng ra một chủ nghĩa lạc quan giả tạo để phóng đại tầm quan trọng của xứ Bắc Kỳ và cảnh báo kíp của Navarre chớ có động đến, dù cho là chỉ tí chút, những đặc quyền mà kíp của Cogny đã giành được. Người ta chăm lo đến vấn đề thám không để thu lượm thông tin. Nhiều đài thám không đặt dưới sự chỉ huy của một sĩ quan trinh sát cao cấp thường xuyên dò bắt những mệnh lệnh của đội quân chiến đấu của Việt Minh và chuyển những tin tức đó về Sài Gòn và Hà Nội, ở đó người ta giải mã chúng. Ấy vậy mà, Việt Minh sử dụng một mật mã chính trị, một mật mã tác chiến (phòng Nhì và phòng Ba) và một mật mã cung cấp (phòng Một và phòng Bốn). Bộ chỉ huy Pháp nắm được mật mã cung cấp và như vậy có thể giải mã ngay lập tức những mệnh lệnh liên quan đến vấn đề quân số và phương tiện, vũ khí của đối phương. Nhưng mà, nếu như cơ quan tham mưu của Cogny chỉ giải mã riêng những gì mà các đài thám không của ông ta thu được, thì công việc của cơ quan tham mưu của Navarre phải mở rộng trên tất cả số đài thám không ở Đông Dương. Từ đó suy ra, Navarre thấy rằng dù cho có nắm được thông tin đến đâu, Cogny cũng có thể phạm phải một vài sai lầm trong việc phân tích và tổng hợp. Không bao giờ Navarre, ở con người này việc thu thập và khai thác các thông tin gần như đã trở thành một bản chất thứ hai, chịu chấp nhận một giá trị chắc chắn cho những chẩn đoán của người khác. Ngoại trừ những sự thật đã quá hiển nhiên, còn thì Navarre chỉ có tin tưởng vào những cơ quan của chính mình và nói cho cùng vào chính bản thân mình. Thậm chí ông không thèm hỏi viên trưởng phòng trinh sát của xứ Bắc Kỳ. Một sĩ quan Việt Minh hồi chính thời gian rất lâu sau này, đã nói về phía họ như sau: “Trận nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ đối với bộ chỉ huy của chúng tôi là một bất ngờ may mắn. Cuộc chuyển quân đầu tiên của sư đoàn 316 có mục đích khiến cho bộ chỉ huy quân Pháp giảm nhẹ áp lực ở vùng đồng bằng và phân tán lực lượng của họ. Chính là cuộc hành binh ở Điện Biên Phủ đã dẫn tới quyết định chuyển lên hướng tây bắc những sư đoàn khác". Trở về Paris, đô đốc Cabanier báo cáo nhiệm vụ của mình với tổng thống và chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Cái tên Điện Biên Phủ vẫn còn chưa mang ý nghĩa gì lớn dưới những lớp gỗ mạ vàng của điện Élysés và điện Matignon. Đô đốc chỉ có thể mô tả không khí lạc quan tràn ngập trong bộ chỉ huy cao cấp của đạo quân viễn chinh và rằng ngài Vincent Auriol, ngài Josep Laniel và tướng Ely ghi nhận với một vẻ hài lòng thận trọng. Trong chuyến đi, đô đốc không hề gặp ngài Jacquet và không một ai, kể cả tướng Navarre đã nói cho ngài Jacquet biết là đô đốc đã được Paris cử đi công vụ. Ngài Jacquet chỉ biết được chuyện này ba tuần lễ sau đó và là chính từ bản thân tôi mà mười năm về sau ông biết được hoặc giả bộ biết được, mục đích chuyến công vụ của đô đốc, mục đích đó, ngoại trừ tướng Ely còn thì các viên tham mưu trưởng cũng không bao giờ được thông báo. Viên cố vấn kỹ thuật của ngài Jacquet đã bỏ quên chiếc cặp sách tay của bộ trưởng trên giá để đồ đạc trong khoang chiếc máy bay Constellation khi quá cảnh ở Karachi và tìm kiếm vô hiệu khi máy bay đã cất cánh - Chiếc cặp nhỏ đã biến mất. Đến Beyrouth, ngài Jacquet đã yêu cầu viên đại diện ở đó mở cuộc điều tra. Người ta chỉ tìm lại được chiếc cặp nhỏ ba tháng sau đó thông qua đại sứ quán Pháp ở Londres - Trống rỗng. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 08:58:49 pm Ngày 28 tháng mười một 1953 Đột nhiên, Cogny tính toán đến mức độ rộng lớn của mối đe dọa đang hình thành. Từ pháo đài của mình ở vùng đồng bằng, ông có thể tung ra những đòn đánh, quấy rối hậu phương và các tuyến giao thông, bám đánh một bộ phận đội quân chiến đấu và có thể buộc họ phải quay lại. Từ những căn cứ nằm ở xung quanh Hà Nội hoặc Hải Phòng, không quân có thể ồ ạt vào trận. Các máy bay khu trục mỗi ngày có thể thực hiện hai hay ba cuộc oanh tạc bằng bom và đại liên vào các đội hình hành quân. Navarre nghi ngờ những kết luận của Cogny vừa từ Điện Biên Phủ trở về, hai ngày trước đây. Cogny đánh giá và Berteil đồng ý với ông rằng đây không phải là các sư đoàn của đối phương đang kéo lên mà chỉ là các bộ phận của những sư đoàn đó, rằng có thể thậm chí đây là những mệnh lệnh điều động giả tạo và tạm thời lúc này không thể rút ra kết luận gì. Ông ta muốn giữ nguyên vẹn tiềm lực tấn công của mình để có thể sử dụng khi cần thiết. Các sĩ quan vây quanh ông thậm chí hết sức phấn khởi trước thực trạng. Họ cam đoan là máy bay sẽ nghiền nát các sư đoàn đang di chuyển và chặng đường hành quân của họ không ngừng bị cắt đứt, sẽ không thể nào vượt qua được. Cuối cùng tướng Navarre tuyên bố rằng ông thấy những khả năng di chuyển và đứng chân của các sư đoàn Việt Minh, có vẻ đã được đánh giá quá cao. Tướng Giáp, ông đã có lời đảm bảo của tướng Salan về việc này, không có các phương tiện để nuôi sống bốn sư đoàn ở nơi cách xa đến như thế bên ngoài các căn cứ tự nhiên của họ trong thời gian dài đến như vậy Không một ai cãi lại ông: lời đánh giá này có sức mạnh của một giáo lí ở khắp mọi nơi. Không một ai tin vào tính cơ động chiến lược và khả năng hậu cần của Việt Minh. Không một ai hoặc gần như vậy, trong quân đội Pháp lại quá giàu trí tưởng tượng để coi thường tinh thần và tài khôn khéo của đối phương. Salan, người vừa rời khỏi cương vị tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh, vẫn còn coi tướng Giáp như một học sinh - sĩ quan đang tập sự điều khiển các trung đoàn và cho là ông ta đáng sợ vì những cái mà ông ta nắm trong tay hơn là hiệu quả mà ông ta có được từ những thứ đó. Navarre chưa nắm chắc được đối thủ và tìm cách khám phá chiến thuật và chiến lược của đối thủ, bằng cách nghiên cứu những báo cáo của phòng Nhì và nghe ngóng ý kiến của các viên chỉ huy trưởng khu vực. Mối lo ngại duy nhất của ông nằm trong vấn đề sự chi viện của Trung Quốc mà ông đã đánh giá quá cao, một cách sai lầm, những tác động chiến lược, hoàn toàn giống như ông đã lầm lẫn khi gán những thắng lợi nhỏ mới đây cho tài năng của bản thân ông. Tuy nhiên, bốn tháng sau khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết, để thực hiện tốt kế hoạch của mình, Navarre có mong muốn là sự chi viện của Trung Quốc không tăng lên. Và, quả thật, nếu như sự chi viện của Trung Quốc gây trở ngại cho các kế hoạch của bộ tổng chỉ huy của Pháp, lúc đó mọi ván bài kinh điển sẽ hỏng hết. Nếu như các máy bay và xe tăng Trung Quốc đứng lên đối chọi với các máy bay và xe tăng của Pháp thì bộ tổng chỉ huy có thể tuyên bố là mình thất bại. Nhưng mà, do vì Navarre không tin chắc vào thiện ý của đối phương, ông cam đoan, đúng là cái từ mà ông đã dùng, rằng sự chi viện của Trung Quốc sẽ y nguyên như hiện nay. Trong con người mọi viên tướng đều có một tay chơi bài poker: khoản đặt cược được trả bằng máu. Tại sao Berteil vốn không phải là một người ngớ ngẩn, lại không nhắc nhở vị tổng chỉ huy chú ý đến đường cong tăng trưởng của sự chi viện của Trung Quốc đối với Việt Minh? Tại sao cái đường cong này lại đã đột ngột đi xuống trong lúc mọi điều kiện đều thúc đẩy nó phải đi lên? Bộ tổng chỉ huy quân Pháp cũng biết rằng chiến dịch của Việt Minh trong mùa thu 1952 đạt tới diện rộng một trăm kilômét kéo đài trong hai tháng và số người tham chiến là ba mươi nghìn người; chiến dịch mùa xuân 1953 mở rộng trên hai trăm kilômét, thời gian cũng kéo dài trong hai tháng và con số người tham chiến là bốn mươi nghìn người. Một viên hạ sĩ cũng có thể dự đoán là chiến dịch tiếp theo sẽ còn rộng hơn nữa và sử dụng những phương tiện cao cấp hơn. Trong đại bộ phận các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh, người ta còn đánh giá kế hoạch tập trung bốn sư đoàn Việt Minh là chuyện không tưởng: để nuôi sống năm vạn chiến binh, năm vạn dân công sẽ phải liên tục vận chuyển gạo ăn. Việc tiếp tế phương tiện và vũ khí đạn dược bắt buộc phải sử dụng các tuyến giao thông mà máy bay sẽ chụp được và tiêu diệt các đoàn xe. Kể cả nếu như người ta giả định một nỗ lực như vậy là khả thi, thì do chính bởi khối lượng và quy mô vĩ đại của nó, nỗ lực đó cũng không thể vượt quá một thời gian khá là hạn chế. Người ta đặt căn cứ Điện Biên Phủ đứng trước nguy cơ một cuộc tấn công tổng lực nhưng cuộc tấn công đó không thể kéo dài hơn một tuần lễ, bởi lý do tổn thất mà nó gây ra và nhịp điệu tiếp tế sẽ tăng lên gấp bội trong những mức độ mà đoàn dân công không thể chịu đựng được. Còn về phần không quân, lực lượng này sẽ đảm nhiệm việc tiêu diệt các phương tiện hạng nặng vốn buộc phải lăn bánh lộ thiên. Lập luận có vẻ như không có thiếu sót. Quả thật, cho đến lúc này đây chính là cách thức mà quân đội của Việt Minh vào trận. Đội quân đó hành quân bộ và nếu như giữa Hà Nội và Điện Biên Phủ theo đường chim bay là ba trăm kilômét, thì có tới năm trăm kilômét đường rừng núi dẫn tới Điện Biên Phủ và ít nhất sáu trăm kilômét từ các căn cứ của các sư đoàn tới Điện Biên Phủ. Thật biện chứng khi nghĩ rằng các đơn vị của đối phương sẽ không thể tới nơi trong trạng thái còn sung sức cho phép họ tham chiến. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2008, 09:01:44 pm Ngày 29 tháng mười một 1953 Đó là ngày chủ nhật đầu tiên của lễ Avent. Các cha tuyên úy của đạo quân viễn chinh sáng nay đã đọc những câu khai lễ nhà thờ: "Deus meus, in te confido, non erubescam neque irrideant me inimici mei. Thượng đế, con tin tưởng ở Người, cầu mong con không phải xấu hổ vì việc đó, và rằng những kẻ thù của con không chế nhạo con". Và những lời của thánh Paul nói với những người La Mã trong cuốn Êpitre: "Hora est jam nos de tommo surgere. Đã đến lúc chúng ta phải tỉnh giấc". Trong tòa Nhà thờ Lớn Hà Nội xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ lỗ, dễ thương bởi gian chính điện được sơn màu đỏ chói và màu vàng và bởi mối bận tâm của nó để giống với một Nhà thờ Đức Bà ở Paris thu nhỏ, toàn bộ trát thạch cao, mặt trời chiếu thẳng vào các ô cửa kính và tiếng guốc gỗ của bầy trẻ con vang lên lóc cóc. Như thường lệ, các linh mục đọc Kinh thánh bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Thời tiết tốt vẫn còn kéo dài. Ở Điện Biên Phủ cũng như ở Hà Nội, trời nóng. Lúc 13 giờ 45, một chiếc Dakota chỉ huy hạ cánh. Navarre cùng với Cogny bước ra. Cả hai gắn các huân chương chữ thập cho các binh sĩ, sĩ quan dù có thành tích nổi bật trong cuộc hành binh Castor. Một số người được truy tặng. Ngồi trên máy bay Navarre nhắc Cogny cần tìm một người thay thế Gilles. - Anh chọn ai làm ứng viên? - Ông hỏi Cogny như vậy. - Tôi cũng đã dự kiến một người... - Có thể là chúng ta nghĩ giống nhau - Navarre nói. - Thử xem nào. - Vanuxem không thật xuất sắc. Tôi nghĩ đến Castries. Một kỵ binh sẽ được đánh giá cao ở Điện Biên Phủ, tình thế ở đó rất biến động. Chúng ta cần có ở đó một con người năng động và đẩy lùi được quân Việt. - Đó cũng là ứng viên của tôi. Navarre nói. Anh có thể chỉ định Castries lúc nào tùy ý. - Thưa tướng quân, Cogny nói, tôi muốn là tự tướng quân thông báo cho ông ấy. Trước việc bổ nhiệm này. Gilles tỏ vẻ hài lòng. Trước hết là ông được ra đi. Nói cho đúng, Gilles chưa hề nghĩ đến Castries, một kỵ binh, đối với tình hình như ở đây nhưng mà bởi lẽ Ducournau đi rồi, còn đại tá Vanuxem, một trong số tướng lĩnh của De Lattre, vốn đã nổi tiếng là một chỉ huy binh đoàn cơ động nhưng lại là người không thật biết tiết kiệm quân số. Castries, người vừa cùng với Vanuxem tốt nghiệp Học viện Quân sự cao cấp, đã biết sử dụng các đơn vị thiết giáp của mình ở vùng đồng bằng và nắm vững kiểu chiến tranh mà người ta tiến hành ở đó. "Một kỵ binh, Cogny vừa nói vừa đưa chiếc can chỉ vào địa giới rộng lớn của khu lòng chảo để tranh thủ một lời tán đồng, ông ta có thể phi nước đại ở trong khu đó". Gilles mỉm cười, tin là một câu nói hóm hỉnh. Phi nước đại ư? Bằng cái gì và bằng cách nào đây? Castries sẽ chỉ có những chiến binh hạng hai để luồn lách vào rừng rậm và các tiểu đoàn quân dù sắp cùng với Gilles trở về hậu cứ. Cogny có một lí đo khác để phấn khởi nhìn thấy Castries bay lên hướng Điện Biên Phủ: Không thể nào hòa giải được với viên tướng vừa mới từ Amiens đến để nắm quyền chỉ huy khu vực phía nam vùng đồng bằng, người đã đòi hỏi việc chào đón mình phải có mười tiêu binh đi xe mô tô, tay đeo găng trắng và một buổi lễ long trọng. Castries vốn không bao giờ không tranh thủ cơ hội để tỏ ý với ông chủ mới của mình rằng ông ta là người thừa. Việc bổ nhiệm là chỉ huy trưởng Điện Biên Phủ sẽ dàn xếp mọi chuyện. Thực tế, chính Vanuxem sẽ là người kế nhiệm Castries và viên tướng tốt bụng sẽ không đứng vững được lâu trước một con mãnh thú. Còn về phần Navarre, ông đã nghĩ tới Castries người mà ông biết rõ. Khi còn là trung úy, Castries đã từng ở dưới quyền của ông với cương vị quản trị trưởng đại đội, là thiếu úy khi anh ta là đại đội trưởng của đơn vị thiết giáp số 16 ở Saint Germain, và sau này là chỉ huy phân đội thiết giáp thuộc tập đoàn quân số 1, khi mà Navarre chỉ huy trung đoàn kỵ binh người Ma rốc số 3, trung đoàn mà tất cả sĩ quan và binh sĩ đều quấn chiếc khăn cổ màu đỏ ghê gớm, chiếc khăn đã khiến cho De Lattre buồn cười rũ rượi. Trong cái xứ sở vây quanh ông là những con người không đáng tin tưởng, Navarre bám lấy tất cả những ai mà ông tưởng có thể nhờ cậy được. Theo Navarre,vốn biết rõ con người ấy, Castries là một sĩ quan nổi bật, bị chê trách nhưng có thể nói chuyện được, thường có thái độ khinh khỉnh nhưng mà là một kỵ binh đáng khen ngợi, có năng khiếu chiến trận. Dưới thời của Napoléon, Castries hẳn sẽ là Lassalle, viên tướng tiên phong ưu tú của Đạo quân Lớn. Và ở đây đúng là cần có một kỵ binh, lúc này Navarre không nghi ngờ gì nữa khi ông ngồi trên chiếc xe Jeep do Gilles lái chạy ngoằn ngoèo trên những nẻo đường đầy bụi trong giải thung lũng. Những khoảng đất rộng này, cần phải phi nước đại để phát quang, làm cho khu vực tiếp cận được quang đãng. Một thứ men say dần dà làm cho đầu óc ông chếnh choáng; ông hít thở làn gió ấm áp, ông hơi nheo mắt trước ánh nắng, trừ phi là những lúc ăn mặc dân sự, còn thì không bao giờ ông đeo kính dâm. Để nhảy chồm từ đầu này đến đầu kia khu lòng chảo và quét sạch các đỉnh núi, Castries vốn là người chỉ huy đi đầu của ông trong việc Karlsruhe(1) sẽ làm việc tuyệt vời với những chiếc xe thiết giáp mà người ta sẽ tháo rời từng bộ phận để chuyển tới đây. Những đỉnh núi cao chế ngự toàn bộ khu vực, trên mọi hướng, nằm ngoài tầm mắt thì sao đây? Navarre có không quân để giã gạo những điểm đó. Cái giải đất hành động này ở Điện Biên Phủ, Castries sẽ dùng hỏa lực của các khẩu đại bác và vũ khí tự động để quét sạch, nếu như Việt Minh mạo hiểm bước vào đó. Điều bất hạnh đối với xứ Đông Dương, có lẽ đó chính là việc các kỵ binh chưa bao giờ được bộc lộ hết tài năng của họ: giờ đây là Navarre và Castries, người do ông lựa chọn. Làm thế nào mà Navarre lại không tin chắc rằng mình chiến thắng? Lúc 16 giờ 50, chiếc Dakota chở các viên tướng và đoàn tùy tùng cất cánh. Navarre chìm đắm trong một nỗi sung sướng im lặng. Những con quái vật của Điện Biên Phủ, cõng ông trên lưng, phi nước đại. _____________________________________ 1. Karlsruhe: Thành phố của nước Đức - Thủ đô của xứ Bade, nằm dưới chân khu rừng Đen. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 01:18:36 pm Ngày 30 tháng mười một 1953 Ở Thái Bình, trên vùng cửa sông Hồng, nơi Navarre đã đi qua hai tháng trước đây, niềm vui được gặp lại Castries đã biến đổi Navarre. Dưới cánh chiếc máy bay Beaver, ở đó Castries giơ tay chào ông, khuôn mặt Navarre rạng rỡ vì được gặp lại một đồ đệ trung thành: tâm trạng ông ngời sáng niềm hạnh phúc, những ý tưởng gần như hài hước. Con người của Navarre có năng khiếu thổ lộ tâm trạng ấy một cách lịch thiệp trước đôi mắt sững sờ của Cogny; với Cogny, chiếc quần sóc đôi tất ngắn của lính dù và chiếc gậy lớn leo núi bỗng nhiên tạo ra một ngoại hình giả tạo. Lần này, đây là một sự bổ nhiệm quan trọng mà Navarre mang tới cho người cấp dưới cũ của ông: Chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm Điện Biên phủ. Castries không biểu lộ một niềm vui quá trớn. Những ngôi sao cấp thiếu tướng, người ta đã hứa hẹn trao cho ông, cũng như cho Vanuxem, vào mùa xuân tới. Phải chăng ông sắp chui vào một câu chuyện rối rắm? - Nếu như ngài có ý định xây dựng một trận địa phòng ngự, ông nói với Navarre như vậy, thì đó không phải là sở trường của tôi. Tôi đề nghị ngài chỉ định một người nào khác. - Gilles muốn tái diễn lại Nà Sản, Navarre đáp lại. Tôi không nhất trí với cách ấy. Điện Biên Phủ phải trở thành một căn cứ tấn công. Chính vì vậy mà tôi đã chọn anh. Để thuyết phục hoàn toàn Castries, Cogny nói thêm: - Ở đó, cần có một ky binh vùng núi. Anh sẽ là người kỵ binh đó và anh xây dựng đài chiến thắng trong những không gian rộng lớn của vùng thượng du. Đầu đội chiếc mũ ca lô đỏ, quấn khăn cổ chiếc khăn quàng của đội kỵ binh số 3, chiếc khăn gợi nhớ cho Navarre một thời kỳ may mắn, cầm trong tay chiếc gậy có nhiều đốt của trường đua ngựa, luôn luôn có anh cần vụ người Ma rốc theo sau, đại tá Christian Marie Ferdinand de la Croix De Castries, sĩ quan chỉ huy của đội lê dương danh dự, mười sáu lần được tuyên dương, đại diện cho lớp sĩ quan quý tộc mà tính chất, tên gọi, quá khứ tham chiến và truyền thuyết có thể dắt dẫn, bất chấp mọi chông gai, tới những cương vị cao nhất trong quân đội. CON NGƯỜI mang thanh gươm phải là con người vĩ đại của Tây Ban Nha và là kỵ binh. Castries có cụ ông là thống chế của nước Pháp và bộ trưởng hải quân dưới thời vua Louis XV, một cụ ông khác là đồng sự của La Fayette(1), trung tướng và công khanh của nước Pháp. Toàn bộ tổ tiên ư? Một thống chế, một đô đốc, bốn vị phó toàn quyền, năm hiệp sĩ của thánh Esprit, tám trung tướng, những bức chân dung của các vị này hẳn là có mặt trong khu thái ấp nam tước được tậu vào năm 1495 trong vùng lân cận Montpellier(2). Dáng vẻ sắc sảo với một chiếc mũi diều hâu, đôi mi mắt nặng nề dưới hàng lông mày đen và rậm, khuôn mặt tư lự, thoáng nét buồn bã của nhân vật của Greco(3), kết thúc với chiếc cằm nhỏ và một cái miệng của người tiếp tân quyến rũ của những bữa tiệc ngoài trời. Thân hình gầy gò, mềm mại, căng thẳng; giọng nói có phần lúng búng, gay gắt một cách kỳ lạ trước máy điện thoại. Là trung úy trong đơn vị thiết giáp số 11, trong cuộc đua ngựa của Lâu đài Lớn, ông đã vô địch thế giới về nhảy cao trong năm 1933 với con ngựa "Bay trước gió" và về nhảy xa hai năm sau đó với con “Bền bỉ". Người ta đi xem ông tập luyện ở khu phố Dupleix để khâm phục ông. Hồ sơ lý lịch của ông đầy những tật xấu của tuổi trẻ và những khoản nợ nần bài bạc. Một con ngựa để cưỡi, một địch thủ để vung kiếm, một cô gái trong giường ngủ, đó có thể là lẽ sống của ông. Nếu không quá xét nét những chuyện kia thì mục đích ấy nhanh chóng chiếm được cảm tình của mọi người. Đó là một con người của thế kỷ khác mà chiến tranh, đàn bà và bầy ngựa đã gắn kết vào thế kỷ của chúng ta. De Lattre đã thích ông bởi vì ông liều lĩnh, có tên tuổi, hay tranh cãi và đã mang ông đi theo sang Đông Dương cùng với kíp của mình. Dưới chiếc mũ ca lô đỏ với năm vạch lon vàng, người ta không thể tin là ông bất tài. Đó là một anh hùng và một thủ lĩnh. Huyền thoại của ông đã được tạo dựng. Ông uống rượu thành thần và những người Mỹ bị kích động đã hôn lên môi ông trong các quán rượu. Người ta nhận thấy ở ông tính giản dị của một nhà quý tộc lớn. Để xử lý những vấn đề nghiêm trọng, ông tự nguyện tỏ vẻ coi thường, ngược lại xem xét cẩn thận khi gặp những vấn đề ít quan trọng hơn. Cái kiểu diễu cợt ấy, có nghĩa là đùa rỡn, mà ông áp dụng nhiều khi khiến cho những ai không hiểu thấy phân vân. Sự thật, ông là con người như thế nào đây? Những tấm gia huy mầu xanh da trời với chiếc thập tự mạ vàng của ông, nhà thờ ở Albi đã cho gắn lên những chiếc đàn ống đồ sộ do dòng họ Castries cung tiến. Việc mình được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng căn cứ Điện Biên Phủ chỉ làm cho Castries ngạc nhiên một phần. Chính Navarre là người đã đề nghị ông quay trở sang Đông Dương giữa lúc ông đoạt được một chiếc cúp mới trong cuộc đua ngựa ở Saumur(4). Ông không phản đối nữa, bởi lẽ ý định của Cogny là tiến hành một trận đánh phòng ngự -tấn công sẽ diễn ra trên khu tam giác Điện Biên Phủ - Lai Châu - Tuần Giáo, dựa vào Điện Biên Phủ, căn cứ để phòng ngự. Phần còn lại của bản chỉ lệnh, người ta đưa cho ông một bản sao, thử hỏi Castries có thể có suy nghĩ gì khi chưa được tận mắt quan sát thực địa? Ông sẽ nghiên cứu vấn đề này ngay sau khi nắm quyền chỉ huy. Nhưng mà chưa nắm chắc được địa hình khu vực giống như ông đã nắm tình hình vùng đồng bằng, ông tự cảm thấy mơ mộng khi nghĩ tới một trận vận động chiến trên khu tam giác rừng núi mà Cogny nhắc tới, đường huyền của khu tam giác là tám mươi kilômét và chiều cao là bốn mươi. Trên khu vực này chỉ có những đoạn đường mòn xấu và hiếm hoi, một vài con đường dành cho những người chăn lừa và một con đường tỉnh lộ số 41(5) mà người ta biết là bốn bề bị đối phương chiếm giữ. Đã thấy hình như những khả năng hoạt động thực sự chỉ dành cho những đơn vị trang bị rất gọn nhẹ. Ở Nà Sản, nơi mà địa hình không khá hơn, người ta đã hành động. Gilles đã cố gắng nhúc nhích. Hai lần, một binh đoàn bao gồm hai tiểu đoàn quân dù đã tiến ra hướng đông nam, gần Mộc Châu và về hướng tây đến tận Tạ Khoa. Một lần khác, một tiểu đoàn đi về Sơn La và tiến đến ngoại vi của Tạ Bú. Người ta quên mất rằng đạo quân viễn chinh còn lâu mới chỉ bao gồm toàn những nhà vô địch. ____________________________________ 1. La Fayette: Là tướng và chính khách của Pháp (1757 - 1834) tham gia tích cực vào cuộc chiến tranh Độc lập ở Mỹ. Thuộc phái bảo hoàng tự do ở Pháp trong Cách mạng 1789 -1830. 2. Montpellier: thủ phủ quận Hérault tây nam Paris 746km. vùng công nông nghiệp giàu có. 3. Greco: Họa sĩ gốc Hi Lạp (1541 - 1614) - sống ở Ý sau đó sang ở hẳn Tây Ban Nha. Tác phẩm tranh hiện thực huyền bí, độc đáo, táo bạo. - N.D 4. Saumur: Thủ phủ quận Maine ét Loire bên bờ sông Loire. Có trường huấn luyện kỵ binh và xe thiết giáp, thành lập 1825. - N.D 5. Là đường số 6 theo cách gọi của phía Việt Nam Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 01:27:24 pm Ngày 3 tháng mười hai 1953 Navarre ban bố bản chỉ lệnh riêng và bí mật về phương hướng tác chiến mang số 949 mà ông đã soạn thảo kể từ khi quay về Sài Gòn; bản chỉ lệnh này đã bị sở chỉ huy không quân tìm mọi cách để huỷ bỏ mà không có kết quả. Bản chỉ lệnh sắp đè nặng lên số phận của Đông Dương và của đạo quân viễn chinh. Ngay từ đoạn thứ nhất, sau những thủ tục buồn tẻ và việc giới thiệu tình hình, ông đột ngột thể hiện ở đó ý định của mình là chấp nhận trận đánh trên hướng tây bắc bằng cách tập trung phòng ngự tại căn cứ Điện Biên Phủ, căn cứ này phải được bảo vệ bằng mọi giá. Chấp nhận trận đánh giữa lúc một trong những căn cứ chủ yếu ủng hộ kế hoạch Navarre dựa trên mối quan tâm muốn tránh né trận đánh ấy, cho đến khi nào đạo quân viễn chinh tìm lại được sức mạnh và bộ não của nó, có nghĩa là phải một năm sau ư? Chắc chắn, phải chăng tháng bảy vừa rồi, ông đã viết đúng là ông chỉ muốn tránh né trận đánh tổng lực và lần này phải chăng ông chỉ nói trận đánh trên hướng tây bắc. Mà nếu như ai đó có thể nhầm lẫn khi đọc bản chỉ lệnh này thì chắc chắn đó không phải là bản thân Navarre, người đang dự định mở một cuộc tấn công ở phía nam, chiến dịch Atlante và quyết định đương đầu với tướng Giáp ở Điện Biên Phủ, trong lúc không có chuyện gì bắt buộc ông phải làm việc đó và rằng ông biết rõ, ngay từ ngày 20 tháng mười một, rằng ông sẽ không nhận được những tăng viện mà ông yêu cầu. Liệu có một giây nào đó ông đã nghĩ là một nguy cơ như vậy không nên đánh giá quá lớn chăng? Để cho một con người thận trọng và bình tĩnh như ông, bị lôi cuốn vào một chuyện may rủi lớn đến như vậy thì đúng là cái cảm hứng muốn mở trận đánh trong khu lòng chảo đó đã nảy sinh trong tâm trí ông vào cái ngày ông đi thăm Điện Biên Phủ. Và rằng không một ai trong văn phòng của ông đã cảnh báo ông về một quyết định như thế, thậm chí không hề gợi ý cho ông về những hậu quả của quyết định ấy. Dù cho có chiều theo những hoạt động của trí tưởng tượng và của con tim đến đâu, ông vẫn đối mặt với niềm tin chắc chắn, được chia sẻ nếu không phải được gợi ý bởi những người xung quanh, rằng các sư đoàn Việt Minh không thể nào tự do hành động trên vùng rừng núi ấy và sẽ không bao giờ có chuyện tranh giành với ông để chiếm lấy căn cứ đó. Điện Biên Phủ đối với ông là một tia sáng đột ngột, chói loà, quét sạch mọi ý kiến phản bác. Ông biết đâu là sự thật. Sẽ là ngây thơ khi mà trong giây lát nghĩ rằng Cogny có vai trò nào đó trong quyết tâm của Navarre. Mối ác cảm sâu sắc giữa hai con người đã bộc phát theo bản năng, riêng bản thân nó cũng đã gạt bỏ mọi sự can thiệp của Cogny. Nếu như, tình cờ, Cogny có đòi hỏi quyền tác giả của kế hoạch Điện Biên Phủ thì Navarre sẽ vội vã kéo ông ta ra một cách có lý: thắng lợi thì chia đôi, nhưng không một ai lại đi đòi hỏi cái phần thất bại của mình và Navarre biết rằng trong trường hợp này, mình là người duy nhất bị buộc tội. Ấy vậy mà, ông thích gánh lấy trách nhiệm để có thể áp đặt ý muốn của mình mạnh mẽ hơn. Sự thực, Navarre bị hấp dẫn bởi kích thước của cái thung lũng ở đó các xe thiết giáp có thể nghiền nát mọi kẻ dám mạo hiểm tới đó cũng như ở khoảng cách xa với những ngọn núi lớn, sẽ bắt buộc một "lực lượng pháo binh bất ngờ" của đối phương phải đứng chân trên những sườn núi dốc đứng. Tình trạng đó cũng sẽ đặt ra đối với một lực lượng phòng không muốn vây hãm khoảng không trung phía bên trên sân bay. Theo ý kiến của mọi pháo thủ, các khẩu đội pháo binh đối phương sẽ phơi mình ra trước ống kính của các đài quan sát bố trí dưới lòng chảo trong lúc họ đưa pháo vào chiếm lĩnh vị trí hoặc lúc họ nổ súng. Họ sẽ bị bịt miệng ngay lập tức bởi những đòn phản pháo hoặc bởi máy bay ném bom. Điều mà các pháo thủ khẳng định với Navarre, hiển nhiên là tất cả đều tin chắc như vậy. Bản thân Cogny cũng là pháo thủ. Nếu như ông có nêu ra ý kiến nhỏ nhặt nào đó để phản bác cứ điểm phòng ngự ở Điện Biên Phủ thì ý kiến đó không thể dựa vào mối đe dọa đến từ pháo binh của dối phương. Cùng với nỗi bất lực của Việt Minh trong việc nuôi dưỡng lâu dài các sư đoàn của họ ở xa khu căn cứ, ở điểm đó người ta đã động chạm đến chính học thuyết quân sự của đạo quân viễn chinh. Đó chính là lý do vì sao Navarre tham chiến. Đó chính là làm thế nào mà ông chỉ vạch kế hoạch các trận đánh dựa trên những giả thiết mà từ đó ông rút ra được những kết luận mang sức mạnh của những giáo lý: sân bay sẽ luôn sử dụng được và nếu như trận tấn công vào Điện Biên Phủ diễn ra thì nó chỉ kéo dài trong thời hạn đủ để cho đối phương phải rút lui tiếp sau một thất bại. Tuy nhiên, từ ba ngày nay, thung lũng Điện Biên Phủ chìm trong màn sương mù, chỉ tan hết vào cuối buổi sáng và người ta chưa tìm được phương sách để thả trang thiết bị xuống, dù là mò mẫm. Còn về chuyện máy bay hạ cánh, thì không thể được vì không có phương tiện dẫn đường tại chỗ. Ấy vậy mà đó lại là một thắng lợi vang dội mà Navarre đang chuẩn bị. Chưa bao giờ người ta lại thấy một vị tướng khi lựa chọn một địa hình để mở trận đánh lại không tin rằng, dù chỉ trong giây lát, mình sẽ hạ gục đối phương tại đó. Cogny dự đoán đến cuối tháng sẽ có hai sư đoàn đối phương ở Điện Biên Phủ, nhưng Navarre ngờ là ông ta bôi đen sự thật và Navarre không chịu chui vào bẫy - bởi ông cho đó là một cái bẫy. Về phần mình ông cho là ông chỉ phải đối phó với một sư đoàn, được tăng cường tương đối mạnh, điều đó thì ông thừa nhận: có nghĩa là khoảng hơn một chục tiểu đoàn cộng thêm một số vũ khí hạng nặng. Không có gì phải khiếp sợ. Ở thời điểm nắm quyền chỉ huy, Navarre đã tuyên bố như thế này: "Chiến thắng là một người đàn bà chỉ dâng hiến cho những ai biết cách giành lấy". Ngày hôm đó, vấn đề bảo vệ nước Lào lùi xuống hàng thứ yếu và được sử dụng để che giấu cái lí do thật sự của trận Điện Biên Phủ: cũng như tất cả các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh, Navarre tin là đã tìm thấy cơ hội bất ngờ để đánh bại quân Việt một cách ngon lành. Về phía họ, các sĩ quan trong bộ tham mưu của tướng Giáp cũng đi đến kết luận như của Navarre: cần phải tham chiến ở Điện Biên Phủ. Nhưng mà đối phương quyết định như thế nào đây? Tất cả bọn họ đều nắm vững tình hình khu vực, chính bản thân họ cũng đã quá vất vả trước những trở ngại là rừng núi và sự thiếu vắng những con đường giao thông thuận tiện, cho nên họ cũng chẳng nghĩ là đạo quân viễn chinh có thể là người duy nhất thấy thoải mái ở đó. Trong trường hợp này, kinh nghiệm của Nà Sản sẽ có ích: chỉ cần đưa đội quân chiến đấu đến, sẵn sàng hoạt động và tồn tại. Trước câu hỏi đạt ra cho ông ta, vị chủ tịch hội đồng cung cấp(1) không chút do dự trả lời: sẽ gay go nhưng nhiệm vụ không vượt quá những khả năng có thể. Cần phải động viên toàn dân và kêu gọi mọi ý chí của các cá nhân: ba mươi, bốn mươi và nếu cần, năm mươi nghìn dân công, nam và nữ, nhiều ngàn con ngựa, mỗi con tương đương sức tải của bốn dân công, hàng trăm con thuyền xuôi ngược trên các dòng sông lớn nhỏ trở theo nhiều tấn gạo và đạn dược, những chiếc ôtô tải kéo pháo, một số lượng to lớn những chiếc xe đạp Peugeot, mua được từ nhiều năm trước trong các cửa hiệu ở Hà Nội, chỉ cần sửa sang cho thích hợp là đủ để cho mỗi chiếc thồ được ba trăm ki lô, vận chuyển nhiều tấn gạo và đạn dược ở những đoạn đường được phân công trước. Đối với một quyết định quan trọng đến như vậy, cuộc họp của Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam sẽ xác định phương châm tác chiến, trong vài dòng đơn giản, phương châm này sẽ quyết định đường lối chính sách của đất nước và cuộc cách mạng. Tướng Giáp và các cấp phó của ông tìm đến khu làm việc của chính phủ. Tiếp đón họ ở đó có đồng chí Chủ tịch Hồ Chí Minh, đôi mắt lanh lợi, thân hình mảnh khảnh trong bộ quần áo bà ba bằng vải bông màu đen, chòm râu thật ấn tượng và quyết đoán; đồng chí phó thủ tướng Phạm Văn Đồng, gầy gò và lịch lãm, với giọng nói âm vang như tiếng đàn viôlông xen và đôi mắt sâu thẳm, tràn đầy niềm tin thắng lợi; đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, trong bộ quần áo nghiêm chỉnh mầu xanh lá cây. Đồng chí Giáp trình bày tình hình và những khả năng có thể xảy ra: việc cơ động của sư đoàn 316 đã làm phân tán các đơn vị của đạo quân viễn chinh; vấn đề là quyết định những trận đánh sắp tới. Một mối đe dọa đối với Điện Biên Phủ sẽ bắt buộc Navarre phải tăng viện cho đội quân đồn trú ở đó mà người ta có thể tiêu diệt. Sau một cuộc nghiên cứu tỉ mỉ mọi chi tiết, đồng chí tổng tư lệnh được giao nhiệm vụ tập hợp các phương tiện cho hành động. _____________________________________ 1. Lúc đó bên ta có thành lập Hội đồng cung cấp Mặt trận với nhiệm vụ đảm bảo mọi yêu cầu tiếp tế cho mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng là chủ tịch, và nhiều uỷ viên thuộc quân đội, cơ quan chính phủ, chính quyền địa phương v.v...- N.D. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 01:44:09 pm Ngày 4 tháng mười hai 1953 Nhà văn nào, trong bốn mươi năm đã được tiếp xúc với kho tư liệu bí mật của quốc gia để viết cuốn lịch sử của trận chiến Điện Biên Phủ sẽ buộc phải dừng lại ở cái ngày mà Navarre giả bộ tiếp nhận được lời cảnh báo do chính phủ gửi cho ông ta. Tuy nhiên, lá thư do viên tổng thư ký thường trực của hội đồng quốc phòng gửi cho ngài Marc Jacquet, người chịu trách nhiệm trực tiếp truyền đạt cho Sài Gòn những quyết định của uỷ ban ngày 13 tháng mười một, hai tuần lễ nay đã nằm im trong két sắt của vị tổng chỉ huy. Thế thì người ta tự hỏi vì sao Navarre lại muốn tỏ ra bị bất ngờ khi đọc được một văn bản mà đô đốc Cabanier mang tới cho ông và lại chỉ đến tay ông theo con đường công văn thứ bậc trên dưới. Phải chăng ông không tin là đô đốc Cabanier đã chuẩn bị cho ông cú sốc ấy vào ngày 20 tháng mười một? Thậm chí ông không ngờ vực xem liệu đô đốc có thể sẽ nói gì với ông khi mà ông tỏ ý muốn tránh cho đô đốc, khỏi phải vất vả để ra Hà Nội? Như vậy phải chăng ông không thích được chủ động để mở màn trận đánh mà mình đã quyết định và gạt bỏ mọi áp lực hay sao? Duy có điều, lúc đó liệu ông có tính toán đến sự khiển trách nặng hay nhẹ sẽ rơi xuống đầu ông, tính đến sự suy đoán đi trước việc đó? Dù cho luôn luôn tỏ ra là con người tự chủ cao độ, sự kinh hoàng mà ông thoáng cảm thấy, vào cái ngày 4 tháng mười hai ấy, trong các hồi ức của ông có vẻ phù hợp với lịch sử chứ không phải với sự thật: ông không thể bị bất ngờ bởi lẽ ông đã biết. Nhưng ông là người duy nhất biết được. Là con người kín đáo, ông vẫn luôn luôn dấu kín đối với mọi người xung quanh cái lý do đích thực của chuyến đi của đô đốc Cabanier. Những phản ứng của ông, như vậy phải được coi như những phản ứng bề ngoài. Vả lại, không một nhà sử học nào lại có thể tin rằng một quyết định quan trọng đến như vậy, được Navarre chờ đợi từ nhiều tháng nay lại được đi bằng một con đường bình thường. Giá tiền một tấm vé khứ hồi hạng nhất dành cho một sứ giả theo đúng lôgíc phải tiết kiệm một khoản đáng kể nhiều tỷ đồng, nhiều máu và nước mắt. Dù cho ngài Jacquet không biết một tí gì, chuyện đó cũng không thay đổi được gì, với giả định chuyện đó là có thực. Ngài Jacquet chịu trách nhiệm về phương châm của cuộc chiến tranh một cách dập khuôn. Ông ta chẳng hiểu tí gì và chẳng làm điều gì. Nhưng người ta phải tôn trọng sự thật để nói rằng một số nhân vật của nền Đệ tứ cộng hoà đã hiểu rằng cần phải thông báo với Navarre càng sớm càng hay về một quyết định lẽ ra đã tránh được cuộc phiêu lưu ở Điện Biên Phủ. Phản ứng đầu tiên của Navarre có vẻ là trong sáng: ông có ý định từ chức. Người ta tự hỏi vì sao ông không có ý định ấy vào ngày 20 tháng mười một. Có lẽ ông đã soạn thảo nội dung bức điện mà ông sắp gửi cho chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi gạch xoá và xé đi. Liệu ông có thổ lộ nỗi lòng với tham mưu trưởng của mình, tướng Gambiez nhỏ nhắn, tròn chĩnh và dễ mến chăng? Liệu ông có nghe được từ cửa miệng của Gambiez rằng lúc đó ông sẽ được thay thế bởi ai đó mềm mỏng hơn và rằng bài toán không vì thế mà không được giải đáp? Cái cảm giác rằng ông vừa mới giành được thắng lợi sau lưng người khác và sẽ vứt miếng mồi ngon ấy lên mặt bàn của uỷ ban tối cao bị kinh ngạc liệu có giúp cho ông chiến thắng được cái cử chỉ đầu tiên của ông chăng? Tại sao, lúc đó, đứng trước một tình thế như vậy ông lại không xin từ chức ngay từ ngày 20 tháng mười một, khi đô đốc Cabanier truyền đạt cho ông lời phủ nhận của chính phủ? Đó là câu hỏi mà Navarre tự đặt ra cho mình trong cuốn sách của ông nhưng mà là vào ngày 4 tháng mười hai. Ông trả lời câu hỏi ấy bằng những câu chung chung. Cái điều rõ ràng, đó là những con người có cá tính như Lyautey(1) hoặc De Lattre sẽ không quá bối rối với những điều đắn đo trung thực nhiều như vậy và sẽ biết cách nói "Không" ngay lập tức, trong khi đó Navarre thì chỉ bằng lòng phân vân suy nghĩ. Là tham mưu trưởng xuất sắc, ông thường nhường bước trước những ai mà hoàn cảnh đặt vào các cương vị cao hơn ông: đó là phẩm chất tuyệt vời đối với con người phục vụ một ông chủ, nhưng là dấu hiệu mềm yếu đối với bản thân người thủ trưởng vốn không được phép khuất phục và lại càng không được nuôi dưỡng cho mình những hy vọng và ảo tưởng của một ván bài chính trị. Ngoài ra Navarre đã chịu đi tới một lời thú nhận mà ông không nắm được tầm quan trọng và vốn đè nặng trong tâm trí ông: "Chắc chắn tôi sẽ làm việc đó (việc xin từ chức) tuy nhiên, nếu như tình hình thực tế được cung cấp cho tôi đầy đủ rõ ràng trước khi trận đánh quyết định được mở màn". Điều đó chứng tỏ, vào thời kỳ đó, ông không hề có một ý nghĩ nào về những mối nguy hiểm mà ông đặt đạo quân viễn chinh vào thế phải đối mặt. Kể cả trong trường hợp này, đáng lo ngại là việc tướng Navarre tìm ra được một lý do khác để tự bào chữa trước LỊCH SỬ về việc đã chấp nhận quyền tổng chỉ huy và một lần nữa nhớ lại câu nói của thống chế Juin: "Cần phải có ai đó hi sinh thân mình". Những câu nói kiểu ấy đưa ta đi xa. Ngoài ra Navarre còn nói rằng ông không đụng đầu vào một bức tường mà là một "tấm chăn lông vịt". Tấm chăn lông vịt ấy, nếu như không phải ông mà là những người khác thì họ đã chém đứt bằng một nhát gươm và rũ hết đám lông vịt của nó. Dù sao, Navarre vẫn còn có thể điện cho Paris nói rằng ông huỷ bỏ bản chỉ lệnh của mình, mới chỉ đề ngày hôm trước, cốt để đặt chính phủ trước những trách nhiệm của bản thân chính phủ. Ông chỉ đành lòng đánh điện tựa như đô đốc Cabanier chưa bao giờ tới chỗ ông: "Tôi sẽ ghi nhận lời từ chối này trên bảng thống kê đã dài về những giải pháp tạm bợ đã được áp đặt cho tôi, những giải pháp đã làm suy yếu tiềm lực tác chiến của tôi". Trong cuốn sách của mình, ông nói thêm rằng giọng điệu của câu nói đó đã làm cho ông hết sức hối hận và kết luận những suy nghĩ đã tỉnh ngộ của mình bằng câu sau đây: “Công văn này không mang lại kết quả gì cụ thể''. Phải, thử hỏi một vị tổng chỉ huy đang phải có những quyết định quan trọng và khẩn cấp, có thể chờ đợi gì ở một bản công văn đây? Phải chăng ông ta không hiểu rằng thủ tục lịch sự, lễ phép và vô bổ của những câu văn chính thức giờ đây không còn cần thiết, rằng ông không thể nào còn là một cấp dưới ngoan ngoãn nữa mà là một con người trên hai vai đang đè nặng trách nhiệm đối với máu và danh dự của cả một đạo quân và rằng, nếu ông đúng, thì ông phải nhảy lên máy bay để đi Paris, xuất hiện trong những phòng khách mạ vàng của điện Élysée và điện Matignon và đòi hỏi những mệnh lệnh rõ ràng! Sự thực ông đã quá tin chắc vào thắng lợi. _____________________________________ 1. Lyautey: Thống chế Pháp (1854- 1934). Từng tham chiến ở Đông Dương, Madagascar, Marốc - Bộ trưởng Chiến tranh 1916 - 1917. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 01:49:49 pm Ngày 5 tháng mười hai 1953 Trong ban ngày, theo từng chặng ba mươi kilômét và ban đêm, từng chặng năm mươi kilômét, các sư đoàn Việt Minh tiến về Điện Biên Phủ, bước chân khẩn trương, bám theo hai bên vệ đường. Không có gì phân biệt giữa các sĩ quan và các chiến sĩ bình thường. Vả lại, ở đây không có các sĩ quan mà chỉ có những con người được giao các chức vụ: trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng hoặc cụm trưởng pháo binh, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng hoặc khẩu đội trưởng. Nếu như họ không làm tròn nhiệm vụ, họ sẽ nhận được kỷ luật cảnh cáo. Không có lời cảnh cáo thứ hai. Không có một ai, giống như ở trong quân đội Pháp, có được cấp hàm bởi lẽ chưa có hệ thống cấp bậc. Trong trường hợp tái phạm, trung đoàn trưởng sẽ được biết là anh ta bị cách chức, trung đội trưởng thì biết rằng mình trở thành anh lính trơn. Thôngthường, việc tự phê bình đủ để phát hiện các khuyết điểm và sai lầm. Trong quân đội nhân dân, người ta thừa nhận sai lầm ngay cả khi chúng chưa có biểu hiện công khai. Mỗi một chiến sĩ mang theo vũ khí cá nhân, đôi khi là một khẩu pháo không giật hay một bàn đế súng cối, một túi dết, một bao gạo mười lăm ki lô khoác qua vai, đồ dùng cá nhân, một bi đông nước và một ít muối đựng trong một ống tre. Người ta hành quân từ bình minh cho tới hoàng hôn hay ngược lại, mỗi giờ nghỉ chân mười phút. Ban đêm, những chặng hành quân thật nhọc nhằn. Tới nơi, người ta đào các hầm hào để ẩn nấp và nằm ngủ tại chỗ, sau khi ngâm chân trong một chậu nước nóng có pha muối. Các chiến sĩ không phải ai cũng đi giầy; rất nhiều người giống như các dân công, chỉ có những đôi dép với những sợi quai được cắt bằng săm lốp cũ đôi khi làm cho họ bị sứt sát cả bàn chân. Để xua đuổi cơn buồn ngủ và nỗi mệt nhọc, người ta ca hát những bài hát cổ, trong đó không bao giờ có những câu hát phóng túng. Nếu trời mưa, lẽ tự nhiên là bài hát về cơn mưa với đoạn điệp khúc: Trời mưa, ướt áo ướt quần Nhưng không ướt được tinh thần chúng ta. Đi cắt ngang hoặc vượt lên trước một đoàn dân công là tất cả tràn ngập một không khí vui vẻ cao độ. Lúc đó, người ta gọi nhau, người ta sáng tác ứng khẩu những câu thơ, người ta pha trò. Các cô thiếu nữ hỏi to: "Chồng em có ở đây không?" và giơ tay chỉ trỏ vào các chiến sĩ, vui mừng kêu lên: "Anh ấy kia kìa?...". Rồi làm ra vẻ bực bội, buồn bã bước đi trong những tiếng cười ròn rã. Khi những chặng đường giao nhau, một không khí ngây thơ lúng túng làm náo nhiệt các bãi tắm bên sông, các khu trú quân, những cuộc gặp gỡ trong đêm tối. Người ta tưởng đâu là một cuộc dạo chơi của đám học sinh chủng viện gặp gỡ các nữ tu sĩ nhỏ tuổi. Tòa chủng viện của họ đó là một sức hi sinh cả thể xác và tinh thần cho tổ quốc, mục đích duy nhất của những cuộc gắn bó. Ngôn ngữ của người lính, về bản chất là giản dị, ít có khuynh hướng thanh cao hoá lý tưởng chiến đấu, ở trong quân đội nhân dân giống như ngôn ngữ của đám trẻ con chơi trò đánh nhau; những tình cảm duy nhất thể hiện trong đó là một ý thức kỷ luật tuyệt đối và một nhiệt tình mang hình ảnh của Épinal.(1) Nếu như mỗi một nhóm dân công mong muốn được ghi tên trên bảng danh dự thì mỗi một nhóm chiến binh có tham vọng được hi sinh. Qua thời gian dài chế diễu chuyện đó, cuối cùng người ta đến phải ngạc nhiên vì kết quả của kiểu thuyết giáo này. Theo từng tổ ba người ở trong mỗi đơn vị, mọi người được gắn kết thành những tế bào không thể chia cắt. Thử hỏi, những tư tưởng nào còn có thể che giấu được đây? Làm thế nào những tâm tư thầm kín nhất có thể kháng cự lại cái sự thúc ép chúng bộc lộ diễn ra từng giây từng phút? Các mệnh lệnh không phải là chỉ được thực hiện: mỗi người tuyên thệ luôn luôn sẵn sàng để hoàn thành vượt mức yêu cầu. Cái cỗ máy mà Navarre sắp đụng đầu vào thật là ghê gớm, ông ta không biết điều đó. Những cổ vật gây ấn tượng nhất trong nhà bảo tàng Điện Biên Phủ không phải là các loại vũ khí, cũng chẳng phải là những chiến lợi phẩm thu được từ những kẻ chiến bại, trước những cổ vật ấy, những giọt nước mắt đã chảy vì đau khổ hay vì nhục nhã. Thử hỏi bây giờ liệu người ta có còn khóc nữa ở Waterloo(2) hay không? Tình bạn đã gắn kết những con người lại với nhau, cuối cùng một ngày nào đó nó sẽ bao trùm lên trái đất, bất chấp họ thuộc về chính phủ nào. Ở Điện Biên Phủ, cần phải tìm kiếm ý tưởng của những người khởi xướng là ở đó trong các tủ kính mọi vật không hề gây sự chú ý, và đều quan trọng như nhau. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng hai hiện vật chủ yếu đó là một đôi dép đã mòn vẹt đế và đồ dùng trong gian lán gồm chiếc chân bàn đẽo gọt thô kệch từ cành cây và đôi niễng kê chiếc giát giường tre, nơi ông Võ Nguyên Giáp đã làm việc và nằm ngủ ở cách đại tá De Castries chỉ có vài kilômét. Về sau này, khi một nhà bảo tàng có tầm cỡ nhân loại, sẽ trưng bày những dấu vết của mọi sự hiểu lầm đã chia rẽ các dân tộc, cần phải bổ sung công khai chiếc máy điều hoà không khí trong văn phòng của tướng Navarre và chiếc ghế bành trên chiếc máy bay của ông, để chứng minh rằng có những sức mạnh đã nâng bổng các tâm hồn và đột nhiên tạo ra cái điều kỳ diệu vĩ đại nhất trong mọi điều kỳ diệu: lúc đó, trong số tất cả những sinh thể, những con người nhút nhát nhất do vì họ là những người thông minh nhất, sẽ tiến tới chỗ coi thường hai kẻ thù ghê gớm nhất của họ, đó là nỗi đau khổ và cái chết. "Đôi chân của chúng tôi là đôi chân thép", các chiến binh của quân đội nhân dân có thói quen nói câu ấy để vui đùa. Con tim của họ cũng như vậy. Nếu như họ không muốn xua đuổi ra khỏi đất nước họ những con người mà người ta gọi bằng cái tên chung là những người phương Tây, những "ông Tây", thì làm thế nào họ lại chấp nhận cuộc sống gian khổ đến như vậy và đương đầu với đại bác và máy bay của quân địch? Khắp nơi người ta đã thuyết giảng rằng cuộc kháng chiến sẽ lâu dài, gian khổ và ác liệt và rằng phải đợi nhiều năm mới có các vũ khí cần thiết và phải học hỏi để sử dụng các vũ khí ấy để giành thắng lợi. Nhưng mà, kể từ ngày 26 tháng mười một, bản nhật lệnh đầu tiên của tướng Giáp đã khởi dậy một niềm hi vọng khác thường. Chính là ở Điện Biên Phủ có thể sẽ diễn ra trận quyết chiến. Nếu như mỗi chiến sĩ của quân đội nhân dân sẵn sàng đổ máu và mỗi một dân công nam giới và phụ nữ sẵn sàng sử dụng đôi chân và đôi vai của mình phục vụ cuộc chiến tranh giải phóng, thì sự nghiệp giải phóng đã ở trong tầm tay. Thật là một thời cơ quý giá. Những "ông Tây" không mảy may ngờ vực và tỏ vẻ hết sức coi thường tất cả những gì liên quan đến việc di chuyển và tồn tại của quân Việt. Từ khi tin mới lan truyền tới các trung đoàn và lần lượt lan truyền tới từng thôn xóm, niềm vui làm giảm nhẹ gánh nặng trên vai, và rút ngắn các khoảng cách; tiếng hát vang lên trên các nẻo đường và các khu trú quân trong rừng sâu. Sự hối hả đến được nơi đó và được tham chiến nung nấu tinh thần của đạo quân, với đạo quân này cần phải nhắc lại rằng công tác chuẩn bị sẽ khó khăn hơn bao giờ hết. Chính là ở trong khu vực tỉnh Thanh Hoá, một trong những vựa lúa của đất nước này, mà viên tham mưu trưởng của trung đoàn 57 thuộc sư đoàn 304 biết được tin về sự kiện đó Trong số ba trung đoàn hợp thành sư đoàn này, trung đoàn thứ nhất sắp tham dự chiến dịch ở Trung bộ, trung đoàn thứ hai nằm mai phục ở gần vùng đồng bằng; một trung đoàn duy nhất sẽ lên Điện Biên Phủ, đó là trung đoàn của ông ta. Và chính là thông qua những suy diễn kế tiếp, nhờ vào địa danh nơi trú quân trước khi xuất phát và thời hạn tới được nơi tác chiến mà tôi xác định được vấn đề đó. Mười năm về sau, chuyện đó vẫn còn được coi là một bí mật quốc gia và những bí mật nhỏ nhoi ấy đã làm cho tôi thấy khó chịu cho mãi tới lúc tôi hiểu ra rằng người ta đã không công khai chuyện đó cho bất kỳ ai. Bản thân tướng Giáp cũng đã không muốn khẳng định tấm sơ đồ phân bố lực lượng mà cơ quan phòng Nhì của Pháp đã xây dựng một cách chính xác. Chắc hẳn, bởi vì cuộc chiến đấu để thống nhất nước Việt Nam vẫn còn chưa kết thúc cho nên ông Giáp không cho là mình được tự do công khai hoá các kế hoạch vẫn đang tiếp tục được thực hiện. Viên tham mưu trưởng trung đoàn 57 đi cùng tôi trong chuyến tôi trở lại thăm Điện Biên Phủ. Mười hai ngày chung sống đã giúp cho tôi hiểu được ông ấy. Được giao nhiệm vụ bảo đảm cho chuyến đi được tốt đẹp cũng như mối quan hệ của tôi với các nhà chức trách địa phương, ông nhanh chóng thể hiện một tình bạn với tôi và tôi đáp lại tương ứng. Mong muốn của tôi nắm được mọi vấn đề lúc đầu làm cho ông ấy ngạc nhiên. Ngoài ông ta, những người khác cũng không giấu nổi một sự ngờ vực khi thấy một kẻ thù cũ đến tìm hiểu chiến trường cũ. Nhưng khi sự hiện diện của tôi được thừa nhận là xuất phát từ một mối quan tâm khách quan, việc tiếp đón trở nên nồng nhiệt hơn và dần dà, những câu chuyện tâm tình cởi mở hơn. Viên tham mưu trưởng của trung đoàn 57 trước đây, lúc này mang quân hàm đại úy ở trong quân đội. Ông tên là Nguyễn Hiền. Là con trai người nông dân vùng Phủ Lý, khu đồng bằng, ông đã đi học ở Hà Nội và biết tiếng Pháp. Ngoại hình của ông mảnh mai từ thời nhỏ. Ông đã bị thương vào mắt ngay sau khi vào quân đội và ít lâu sau, bị thương vào vùng cột sống, một mảnh đạn cối nằm lại gần quả tim và người ta không gắp ra được. Từ vết thương đó, ở hõm vai ông còn một vết sẹo hình ngôi sao. Được các bác sĩ cứu chữa tận tình, ông đã sống sót và giữ cương vị chỉ huy trong một đơn vị bộ binh. Mọi người giúp đỡ ông hành quân bằng cách đeo giúp ông bao gạo mỗi khi ông bị các vết thương hành hạ. Khi tôi quen biết ông, ông cân nặng chưa tới năm mươi ki lô, đôi tay và đôi chân của ông khẳng khiu như những đôi dùi trống. Thời kỳ trận Điện Biên Phủ ông hai mươi bốn tuổi và còn gầy yếu hơn. Trên khuôn mặt dài và linh lợi của ông, với đôi mắt hơi xếch, khuôn mặt hơi có nét của người Tây Ban Nha do nước da, vầng trán và chiếc mũi, những niềm vui và nỗi buồn của ông hiện ra một cách thoáng qua, ở đó có thể đọc thấy những nét ngây thơ và nhiệt tình kiểu của dân tộc ông. Trước hết, trung đoàn của ông đã hành quân đi bộ một nghìn kilômét trước khi nhận được lệnh tiến lên Điện Biên Phủ. ____________________________________ 1. Épinal: Thủ phủ tỉnh Vosges, tây nam Paris 366km. Có nhà thờ, nghề làm ảnh, nghề dệt. - N.D 2. Waterloo: Địa danh ở Pháp nơi Napoléon đại bại. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 08:44:23 pm Ngày 6 tháng mười hai 1953 Chấp hành một quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng, tướng Giáp ban bố lệnh động viên. Tài liệu quan trọng mà các đài thám không không bắt được bởi lẽ chắc hẳn nó đã được phát đi một cách bí mật và rằng không một ai trong các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh đã từng xác định hay muốn xác định là có tài liệu đó, nếu không là bằng một cách rất mơ hồ, có thể do vì tài liệu đó chưa hề tìm thấy được trên bất kỳ một tù binh hay một xác chết nào. Tướng Giáp nói rõ trong đó mục tiêu phải đạt được và xác định nhiệm vụ của mỗi người: "Các đồng chí phải sửa chữa đường sá, chiến thắng mọi trở ngại, vượt qua mọi khó khăn, chiến đấu không ngừng nghỉ, vượt qua cái rét và cái đói, mang vác nặng đi xuyên qua rừng núi và thung lũng, và chọc thẳng cho tới trận địa của quân thù để tiêu diệt chúng và giải phóng cho đồng bào của chúng ta... Các đồng chí, hãy tiến lên!". Người ta có thể giả định rằng những biện pháp đặc biệt đã được áp dụng để tránh cho tài liệu đó rơi vào tay quân địch, một bản tài liệu mà khi đọc nó thì sẽ không còn chút nghi ngờ gì dù là nhỏ về ý định của bộ chỉ huy Việt Minh. Ở cách sở chỉ huy của tướng Giáp hai chặng đường, và sống cuộc sống cũng như ông, trong những mái nhà gianh ẩn trong rừng và cách xa các xóm làng, Ban chấp hành Trung ương dẫn dắt cuộc chiến tranh. Còn về vấn đề sự có mặt hiển nhiên của Bác Hồ hay tướng Giáp, thì tính kỷ luật được tôn thờ đã chứng minh tác động hiệu quả của nó đối với những con người mà mười năm sau vẫn còn giả bộ không biết mình thuộc về trung đoàn nào. Ngoài ra, người ta tuyệt nhiên không bao giờ dùng các tên Giáp hay Điện Biên Phủ mà chỉ dùng các mật danh đã quy định: Ngọc, dành cho ông Giáp và Trần Đình, dành cho Điện Biên Phủ. Ngày 7 tháng mười hai 1953 Chỉ mãi tới buổi tối hôm qua, quyết định của tổng chỉ huy về việc chấp nhận trận đánh mới tới được Hà Nội. Trong một bức điện dài Cogny báo cho biết việc nhận được quyết định đó muộn mằn: trong bản chỉ lệnh của mình, do vì Navarre yêu cầu một cách đúng đắn rằng người ta duy trì càng lâu càng tốt một đội quân đồn trú ở Lai Châu, cho nên Cogny trình bày những lí do đã buộc ông phải vội vã rút bỏ thị xã này. Cogny nói thêm là những hoạt động trên bộ mà Navarre muốn thấy ông tiến hành trên đoạn Sơn La, Tuần Giáo, Thuận Châu, có nghĩa là trung bình cách Điện Biên Phủ bảy mươi kilômét, là vượt quá khả năng của ông kể từ khi đối phương cắt đứt con đường tỉnh lộ số 41. Điều đó, một tay hạ sĩ cũng có thể nói được, bởi lẽ anh ta nắm được những con đường mòn mà tướng Navarre và viên phó tư lệnh tác chiến của ông nhìn từ trên máy bay rất cao; người ta không thể thấy, kể cả nếu như không có mặt đối phương ở đây, làm thế nào mà đội quân đồn trú ở Điện Biên Phủ, vốn lúc này hầu như không có một phương tiện cơ giới nào lại có thể mở rộng hoạt động trên bộ ra một bán kính năm mươi kilômét được. Năm mươi kilômét, trên tấm bản đồ tỷ lệ bốn trăm nghìn, đối với một sĩ quan tốt nghiệp trường tham mưu thì chỉ là một đoạn một trăm hai mươi nhăm mihmét. Đối với một tay hạ sĩ thì đó là sáu mươi nghìn bước chân, có nghĩa là hai ngày đi bộ trên đoạn đường phẳng và dễ đi. Nhưng khi là khu vực Điện Biên Phủ thì những cách nhìn như vậy làm sai lệch các con tính nhẩm. Hãy để những chuyện đó cho các đầu óc linh hoạt tính toán. Cogny cũng báo tin rằng Việt Minh đã đứng chân rất vững trên con đường Pavie, cắt đứt dứt khoát đường liên lạc giữa Lai Châu với Điện Biên Phủ nơi mà hai trung đoàn thuộc các sư đoàn 308 và 312 đang hướng tới. Huyền thoại về căn cứ tấn công vững mạnh đã bắt đầu bong lớp vỏ ngoài, tách nứt, và những vết nút dài đã lượn ngoằn ngoèo trên khoảng mặt tiền. Ấy vậy mà thực tế chỉ mới chạm lướt qua huyền thoại ấy chưa đầy vài ngày. Những bức điện, từng giờ một, dồn dập rơi xuống mặt bàn của Navarre chứng tỏ là tình thế đang đi xuống. Nếu thế, tại sao lại ngoan cố trong sai lầm? Nếu như Navarre tin chắc là nhìn thấy toàn bộ lực lượng tác chiến của đối phương được huy động tới Điện Biên Phủ, chắc chắn Navarre đã không phạm phải hành động thiếu thận trọng là khiêu khích đối phương ở đó giữa thời điểm mà cuộc tấn công Atlante sắp thu hút nỗ lực chủ yếu của ông ở cách đó sáu trăm kilôtmét; nhưng ông không tin vào tình hình mà viên trưởng phòng Nhì ở Hà Nội trình bày với ông ngày 28 tháng mười một. "Đứng trước các tấm bản đồ, trên đó có đánh dấu hoạt động di chuyển của các sư đoàn Việt Minh, sau này Cogny nói như vậy, tôi có cảm tưởng là ông ta không hiểu”. Một bản nhạc mà ông không nghe chăng? Navarre chỉ tin vào chính mình, biểu lộ một thái độ nghi ngờ về nguyên tắc đối với tất cả những thông tin đến với mình bằng một kênh khác ngoài kênh của bản thân và đặc biệt là đối với xứ Bắc Kỳ, ở đó ông thấy hình như Cogny ngày càng muốn xây dựng một lãnh địa của mình và chơi ván bài riêng rẽ. Ngày 3 tháng mười hai, Navarre bám vào điều mà ông nghĩ: một sư đoàn có mặt trong vùng. Nó có thể được tăng cường chứ không phải có nhiều sư đoàn như Cogny phán đoán. Tuy nhiên, Lai Châu thất thủ như một quả chín rụng kể cả trước khi người ta kịp lay chuyển huyền thoại. Nếu vậy, Navarre sẽ buộc tội Cogny là đã hành động không đúng lúc. Trò chơi thông minh và ngây thơ mà Cogny là nạn nhân đầu tiên khi ông ta chạm vào ý tưởng của những hoạt động lớn trong một khu vực mà đường sá tắc nghẽn và địa hình thì gập ghềnh, nghẹt thở, thuận lợi cho những trận mai phục của một đối phương không biết mệt mỏi. Ở các đơn vị của đạo quân viễn chinh, chỉ có một vài tiểu đoàn quân dù là thông thạo với những cuộc chiến tranh rừng rậm gian khổ. Các đơn vị khác không thể vượt qua những chặng đường quá xa bằng những phương tiện thô sơ của bản thân, còn không quân, nếu không vận chuyển được họ, thì phải mở đường và tiếp tế cho họ. Ấy vậy mà chính cái ngày Cogny cho rút bỏ Lai Châu một cách đúng đắn thì Navarre. chẳng những không hủy bỏ chỉ lệnh đầu tiên của mình, mà tiếp tục ban bố một chỉ lệnh thứ hai càng gia tăng những mối nguy hiểm của bản thứ nhất. Ông đã quyết định mở trận đánh ở Điện Biên Phủ, ông biết rằng ông sẽ không nhận được những tăng viện mà ông yêu cầu và có nhiệm vụ tính toán hành động phù hợp với khả năng của ông, nhưng mục tiêu chủ yếu ông muốn đạt tới đó là xóa bỏ khu vực đối phương hoạt động trên những cao nguyên rừng núi ở Trung Kỳ. Chính cuộc hành binh này vốn không liên quan gì đến Điện Biên Phủ nếu không phải là làm tăng thêm nguy cơ ở đó, là cuộc hành binh mà ông muốn mọi việc phụ thuộc vào nó. Vượt qua gió bão và bùn lầy, người ta sẽ thực hiện kế hoạch. Nhắm mắt trước mọi việc diễn ra ở khu vực Điện Biên Phủ, bịt tai trước những ý kiến phản bác của những con người xứ Bắc Kỳ, Navarre và Berteil bám vào ý tưởng vĩ đại của mình. Có gì mà họ phải sợ nào? Ý kiến lan truyền trong mọi cơ quan tham mưu, đó là quân số của Việt Minh đã đạt đỉnh cao nhất. Nếu như đối phương tấn công Điện Biên Phủ, họ sẽ làm như ở Nà Sản: cuộc tấn công không thể kéo dài quá vài ngày. Sau đó, việc khai thác thắng lợi sẽ bắt đầu. Đấy, đó chính là điều Navarre tán thành và thuyết giáo. Ngày hôm đó, bắt đầu từ không giờ, đại tá De Castries nắm quyền chỉ huy Điện Biên Phủ, mà trong ngôn ngữ quân sự người ta gọi là Binh đoàn tác chiến Tây Bắc. Gọi tắt là Gono, một tên gọi của sinh viên y khoa mà sau này tôi thấy ngờ vực. Castries vốn là một chiến binh xuất sắc hẳn không để cho mình sa vào cái bẫy đó. Chắc chắn Castries sẽ nói với Cogny: "Thưa tướng quân, xin thay đổi nhiệm vụ cho tôi: tôi không thể hoàn thành được". Bởi lẽ Castries không được phép thử hoàn thành nhiệm vụ, hoặc là từ vựng quân sự không còn có nghĩa nữa. Castries phải hoàn thành nhiệm vụ đó. Tám kilômét đường kính hoạt động xung quanh đường băng sân bay, như vậy là một hình tròn năm mươi kilômét chu vi, mà người ta chỉ có thể chiếm giữ bằng một quân số bốn hoặc năm sư đoàn. Hoặc là, lúc đó, để ngăn cản đối phương tiếp cận trận địa không dưới tám kilômét thì Castries buộc phải hành động. Ấy vậy mà Castries lại không thể hoạt động được. Bigeard đã báo cáo cho Castries điều đó, Bigeard đã thử đi ra bất cứ chỗ nào mà anh ta có thể, bằng những phương tiện cá nhân và bây giờ thấy mình bị vây chặt ở mọi nơi. Bigeard không phải là kỵ binh. Anh ta từ trên trời rơi xuống và vượt qua các chướng ngại, đi bộ quay về, chui xuống các vực sâu và chạy lên các đỉnh núi. Ở đây, ngay khi người ta gặp những dốc núi gần nhất, cần phải dùng dao phát rừng để mở một con đường chui qua dưới đám dây leo bám dày đặc trên cây cối hoặc là chúi giữa đám cỏ cao và những mảnh rừng thưa. Bầy ngựa cũng như đoàn xe tăng không bao giờ có ích tí gì trong giải rừng rậm này. Castries không phản đối. Hẳn là ông ta chưa nắm được đầy đủ vấn đề. Ông ta cho rằng viên tiểu đoàn trưởng Bigeard phóng đại và rằng những cuộc trinh sát bình thường, được hoả lực pháo binh và không quân yểm trợ, hoặc là những cuộc trinh sát bằng sức mạnh và những trận đánh mạnh sẽ có thể phá huỷ các loại vũ khí ở trước mặt, trong lúc đó những chiếc Bearcat đã có thể tấn công bổ nhào ngay trong khu lòngchảo. Có lẽ, cũng như mọi người, Castries tin rằng đối phương không bao giờ có trong tay những vũ khí hạng nặng và nếu như nhờ vào điều thần kì họ có thể kéo những thứ đó đến đây thì đại bác của chính chúng ta sẽ nhanh chóng nghiền nát. Cogny đã không biết bao lần nhắc lại rằng Castries là chàng kỵ binh miền núi, bay trên các đỉnh cao, hai lỗ mũi của con ngựa phun ra lửa, câu nói ấy Castries không dám nghi ngờ gì. Nhưng mà, qua vài ngày, cái quan điểm hấp dẫn về những hoạt động trong khu tam giác nổi tiếng đã sụp đổ. Lai Châu biến mất, không còn vấn đề mạo hiểm dù là mười kilômét ra hướng đông. Không còn một ai tin vào điều đó nữa. Cái đó cũng không hề gì. Người ta muốn để mặc cho mọi người nghĩ rằng trong tư tưởng người ta tin vào chuyện đó, rằng có lẽ rồi sẽ có một người điên có thể thực hiện những trận trinh sát bằng sức mạnh ấy, cùng những trận đánh với tốc độ của một đội quân rừng núi thiện chiến, những hoạt động tấn công chỉ có sức mạnh bằng những từ đánh ra trên máy chữ. Không một ai muốn thừa nhận rằng Điện Biên Phủ do vậy đã bị thu hẹp để đóng vai trò của một siêu - Nà Sản, và rằng đám dân binh mà người ta giao phó những hành động quấy phá sẽ chịu chung số phận cùng với đám dân binh của Lai Châu: những đội quân dự bị Việt Minh đánh úp trên các đoạn đường mòn, những xác chết tả tơi rách nát, những con ngựa nằm phơi bụng dưới bộ yên cương... Gilles sung sướng là đã rút chân ra khỏi tổ ong bò vẽ và nhường lại quyền chỉ huy cho De Castries. Cuộc chia tay đã không diễn ra xúc động: chẳng bao lâu nữa Gilles sẽ gặp lại các tiểu đoàn của cuộc hành binh Castor mà người ta sắp nhấc đi từng đơn vị một để tái lập lực lượng tổng dự bị. Gilles thấy Castries có vẻ tin tưởng vào tương lai. Dù sao Gilles cũng tự thấy mình được phép có lời khuyên với Castries: "Hãy cẩn thận, ông nói với Castries như vậy. Nếu cậu để mất một tấc đất, cậu sẽ toi mạng...". Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 08:50:31 pm Ngày 10 tháng mười hai 1953 Ngày hôm ấy, cứ điểm Béatrice được thiết lập. Chính là bằng con đường tỉnh lộ số 41 cũ, đi qua dưới chân đám di tích của Béatrice và chạy ngoằn ngoèo dọc theo con sông Nậm Rốm, mà người ta đến Điện Biên Phủ bằng đường bộ khi từ Hà Nội lên. Chính là bằng con đường này, tôi đã tới nơi đây vào ngày 19 tháng mười một 1962. Thuộc lòng các địa danh vì đã nghiên cứu chúng trên các tấm bản đồ và các bức không ảnh, ấy thế mà tôi vẫn ngạc nhiên khi thấy mình có mặt ở Điện Biên Phủ tuy rằng từ khá xa, tôi đã nhận ra đường nét của những đỉnh núi nhưng chưa bao giờ nhìn bao quát được khu lòng chảo. Thực tế, con đường chạy xuôi xuống, dốc thoai thoải, giữa những quả đồi, và người ta chỉ có thể phát hiện ra khung cảnh kì vĩ khi ở dưới thấp. Từ ngay vị trí của Béatrice, ở đó một tượng đài khiêm tốn đã được dựng lên, nếu như người ta nhìn về hướng đông bắc, người ta sẽ bao quát được những dốc núi phủ đầy cây cối dốc xuống và ngay gần đó, những thửa ruộng vây quanh bản Him Lam. Ngược lại, từ hướng đông, lẩn khuất vào những ngọn núi cao hơn, đồ sộ hơn, nằm ở phía bên kia con đường, kẻ tấn công có thể tiếp cận dễ dàng. Như vậy Béatrice có lẽ là một cứ điểm mạnh với điều kiện được bảo vệ bởi một số điểm cao khác. Bị cô lập, nằm ở cách khu phòng ngự trung tâm một cự li như vậy, Béatricẹ bị phó mặc cho đối thủ muốn đánh chiếm nó bằng mọi giá. Để tin rằng người ta có thể từ cứ điểm đó, ngăn chặn lâu dài bước tiến của những đơn vị xung phong đầy quyết tâm, thì cần phải để mình bị huyễn hoặc bởi vài câu chuyện hoang đường: năng lực vượt trội của đội công binh quân Pháp, niềm tin mù quáng ở các phương tiện hoả lực và tính vô địch của đội quân lê dương. Công binh của quân Pháp chỉ có giá trị khi nó trội hơn các đội công binh khác, các phương tiện kỹ thuật luôn luôn có thể bị nghiền nát bởi những phương tiện vượt trội hơn và dù cho rất anh dũng, đội quân lê dương, giống như mọi đội quân ưu tú, không thể thay thế mọi thứ. Hai tiểu đoàn quân dù, trong vòng hai ngày đã bảo vệ cho việc bố trí đơn vị III/13 bằng cách tiến về bản Nà Loi cách đây sáu kilômét rồi rút về sau vài trận đánh. Sẽ khó khăn nếu tiến xa hơn nữa mà không tổ chức những cuộc hành binh lớn mà lúc này quân số của Điện Biên Phủ không còn đủ khả năng cung ứng nữa, bởi lẽ nghệ thuật của Việt Minh là không để cho họ bị bám đánh bao giờ và thu hút các đơn vị nặng nề của đạo quân viễn chinh ra khỏi tầm yểm trợ của pháo binh trong căn cứ. Nhưng cái ảo tường rằng có thể hoạt động được vì việc đó là cần thiết sẽ còn kéo dài. Mỗi một cố gắng vô ích để di chuyển, mỗi một ngày lãng phí thử tiến lên các ngọn núi, lấy mất đi hàng nghìn cánh tay trong các công việc củng cố vững chắc khu lòng chảo. Vả lại, làm thế nào mà người ta có thể khắc phục được nỗi chán ghét cố hữu của bộ binh phải đào hầm hào để chui rúc xuống đó trong khi mọi người đều tin chắc là Việt Minh không có pháo binh? Ngoài ra, do vì Điện Biên Phủ chỉ là vùng đất thuần chất nếu muốn có đá thì phải đi xa mười lăm kilômét vào trong những khe vực của sông Nậm Rốm hoặc đi về phía nam, tới những khe lũng của sông Nậm Nưa. Một trận lở đất đơn giản, một gốc cây duy nhất đổ ngang xuống đường mòn thế là hết đời những kẻ bạo gan dám mạo hiểm mò mẫm tới đó. Không, không có lấy một tảng đá? Không có lấy một hòn sỏi. Chi tiết này có tầm quan trọng to lớn: từ thực tế này người ta sẽ không xây được một thứ gì, sẽ không đổ được bê - tông và riêng chuyện gỗ lạt, những đoạn thân cây được sử dụng làm hầm hào, sẽ đầy những mấu và vặn vẹo, khiến cho người ta không thể nào cấu trúc được những công trình nghiêm túc. Những phiến gỗ, những tấm ván và những đoạn rui mè cần thiết cho việc xây dựng một cây cầu đường bộ cũng đã buộc phải chở bằng máy bay từ Hà Nội lên. Mặc kệ! Các đơn vị kỹ thuật được tổ chức là để chiến thắng những khó khăn xuất hiện do những tình thế chiến thuật, nhưng Navarre cần phải biết rằng đạo quân mà ông ném xuống khu lòng chảo này đã rơi vào cảnh bị vây hãm. Cái xí nghiệp lớn đã bắt đầu hoạt động. Sáu mươi chiếc Dakota mỗi ngày thả dù hoặc hạ cánh đổ xuống một trăm rưỡi tấn đạn dược, thực phẩm, dây thép gai, những đôi giày đế cao su hoặc những đôi săng - đá đế đinh, những tấm bạt lều, dụng cụ y tế hoặc phương tiện thông tin. Hàng chục máy bay khu trục và máy bay B.26 xuyên thủng lớp mây để phát hiện và tấn công đối phương. Hàng ngàn người lao động để cột các khối đồ vào những chiếc dù, gấp gọn dù lại, chất đầy các xe tải và giải phóng đồ đạc ra khỏi các máy bay, vần đẩy những quả bom, lắp đầy các băng đạn đại liên và đại bác liên thanh, đổ đầy các bình xăng, bình dầu dự trữ, và lập các bản danh sách và số liệu. Từ xa người ta có thể nghe thấy cỗ máy chiến tranh gầm gừ, nhưng người ta có thể dừng nó lại khi người ta biết là nó khởi động không trơn tru, rằng nó có nguy cơ nghiền nát quá nhiều sinh vật và lăn xuống nấm mồ chung, giữa những chiếc hố xí ô nhiễm, quá nhiều thanh niên lẽ ra không phải gánh chịu cái số phận ấy. Ngày 17 tháng sáu năm 1647, lúc bình minh, Condé lúc này đang vây hãm thành Lérida(1), tập hợp các tướng tá của mình và tóm tắt với họ tình thế: sức mạnh của hệ thống phòng thủ đã làm chậm trễ các công việc vây hãm, dịch bệnh đã tấn công vào đạo quân, cái nóng dữ dội và những dòng sông tràn bờ do tuyết tan bổ sung thêm vào những khó khăn chồng chất, tình trạng đào ngũ tăng nhanh trong các trung đoàn tuyển mộ ở phía nam. Vì tất cả những lí do đó, Condé vĩ đại(2) cho rằng mình đang đứng ở vị trí bất lợi. Mở trận tấn công vào những phòng tuyến nằm dưới chân một quả núi đá, với những đơn vị suy kiệt, đối mặt với một đội quân đồn trú mạnh được ứng cứu bởi một đạo quân bao gồm một vạn bộ binh và ba nghìn kỵ binh sẵn sàng phi tới, đó sẽ là thất bại chắc chắn, có thể là tan rã hoảng loạn. Condé quyết định rút ra xa trong lúc ông biết rằng triều đình nước Pháp đang chờ đợi ở ông tin báo mừng thắng trận. Ngày hôm đó, nhìn bề ngoài công việc của các chiến binh không có gì khác trước. Buổi tối, toàn bộ đạo quân được lệnh báo động; trong ban đêm, người ta tháo dỡ các khẩu pháo và ngày hôm sau, cuộc rút quân bắt đầu. Một văn thư gửi cho Mazarin được mở đầu bằng những câu sau đây: "Ngài sẽ không ít ngạc nhiên, tôi tin chắc như vậy, sau tất cả những hi vọng mà tôi đã mang tới cho ngài; khi được biết là tôi đã rút bỏ cuộc vây hãm thành Lérida; ngài hiểu tôi khá rõ để tin rằng không phải không nhọc lòng và đau đớn, và rằng hi sinh danh dự của tôi trong việc phục vụ đức vua, tôi đã không có chút cố gắng vượt qua bản thân... ". Lần đầu tiên kể từ khi ông chỉ huy quân đội đối mặt với kẻ thù, vượt qua nỗi bất bình của tướng tá, vượt qua những lời diễu cợt và nhục mạ, Condé vĩ đại đã rút lui để cho đạo quân của mình không phải gánh lấy một sự mạo hiểm mà ông đánh giá là quá mức. Bản thân Mazarin đã lợi dụng việc này để gièm pha ông. Nhưng mà, sự thực chẳng bao lâu sau được mọi người biết đến, chiến thắng mà hoàng tử vừa mới giành được với chính bản thân mình khi không sợ bị coi như một kẻ hèn nhát đã làm cho thắng lợi của ông càng to lớn hơn. Navarre cũng vậy, ông ta có thể dừng lại. Rất nhiều các vị đại tá và các viên tướng muốn đánh bại Việt Minh sẽ la lên rằng người ta đã tước bỏ mất của họ một trận thắng, nhưng những người khác cuối cùng sẽ tán thành ông. Chính phủ vốn để cho ông tự do điều khiển tác chiến theo ý ông, sẽ khen ngợi sự khôn ngoan của ông. Tiếp theo cái quyết định tham chiến dũng cảm của ông, việc rút bỏ này sẽ được coi như là một trong những hành động dũng cảm nhất mà từ trước đến nay chưa một vị tư lệnh nào thực hiện được. Ông được làm chủ các hành động của mình, khá kiêu ngạo để áp đặt việc ấy và khá mạnh để biến nó thành chiến thắng. Nếu muốn, ông ấy có thể đợi thêm vài ngày nữa cốt để cho các sư đoàn đối phương lao sâu vào các con đường của vùng thượng du, rồi rút dù giống như ông đã làm ở Nàsản. Ông sẽ cứu vãn được nước Lào nếu như ông buộc được tướng Giáp phải quay lại và nếu như, dựa chắc chắn vào các căn cứ của mình ở Hà Nội, ông mở màn những trận tấn công càn quét vào hậu phương của mình. Ở Avaricum, gần thành phố Bourges, trong cuộc chiến tranh của những người Gaules, đơn giản do vì đối thủ đứng chân trên một quả đồi, bao bọc bởi những bãi lầy và vật chướng ngại, César đã cho các đội lê dương của mình lùi lại và cũng hủy bỏ cuộc tấn công. Ấy vậy mà các binh sĩ của ông vốn ham muốn đánh thắng đến mức họ tỏ ý bất bình rằng chỉ nhìn thấy họ quân địch cũng đã đủ thấy sợ hãi. Tất cả đòi hỏi phát lệnh xung phong. Bỏ ngoài tai những tiếng la hét của họ, César hạ lệnh cho đạo quân quay đằng sau, tin chắc là những điều kiện xấu của trận tấn công không đáng để phải hi sinh những mạng sống mà chính những con người đang phản đối mình sẽ phải trả giá. Tạm thời, mọi việc đều chống lại Navarre, ngoại trừ niềm tự tin của các đơn vị. Ngày hôm đó, người ta đã phát hiện, ở vùng lân cận Điện Biên Phủ, sự có mặt của sư đoàn 316 và các vũ khí nặng của nó. Ai đã ngăn cản các lực lượng đó tới nơi? Không một ai. Phòng Nhì đã thu thập được rất nhiều thông tin khác cực kỳ rõ ràng và đã thông báo rằng một bản phác thảo tình hình: trung đoàn công binh 151 đã nhận được lệnh mở thông đường cho ôtô trên con đường tỉnh lộ 41 cho đến ngoại vi Điện Biên Phủ và được yêu cầu mở rộng đoạn đường vòng Tạ Khoa - Cò Nòi để cho các xe cộ của sư đoàn 351 thông qua; sở chỉ huy tiền phương các đơn vị chiến đấu và hậu cần khu vực Tây Bắc đặt ở Mường Phăng, bản thân tướng Giáp ở lùi lại phía sau một chút, ở Thuận Châu, ông đã gửi cho bộ đội một bản nhật lệnh. Đó là bản mệnh lệnh động viên ngày 6 tháng mười hai mà dù thế nào, các cơ quan mật vụ không thể không nắm được nội dung và rằng không thể nào Navarre lại coi đó như một lá thư chết. Bản thân Navarre cũng đánh giá quân số di chuyển của đối phương là mười nghìn người. Trưởng phòng Nhì của ông dự đoán rằng nếu như tất cả các bộ phận dịch chuyển của các sư đoàn 304, 308 và 312 là nhằm vào hướng Tây Bắc thì đối phương có thể tập trung vào cuối tháng, hai mươi hai tiểu đoàn ở Điện Biên Phủ, điều này xoá sạch mọi đánh giá lạc quan ngày 3 tháng mười hai. Uỷ ban Quốc phòng đã lạnh lùng nhắc lại với vị tổng chỉ huy là ông phải tính toán các kế hoạch sát với những phương tiện có trong tay và cái quyết định tham chiến của ông vừa mới đến được Paris, làm cho người ta lo ngại. Nếu như ông ta thất bại, người ta sẽ đổ mọi chuyện lên đầu ông. Chính phủ chỉ có ý nghĩ duy nhất, chấm dút chiến tranh này, nếu cần bằng thương lượng. Trận đánh chiếm Điện Biên Phủ này sẽ là một cuộc thực tập tuyệt vời đối với đạo quân viễn chinh, không quân và các bộ tham mưu, và tướng Giáp luôn luôn sẽ tự hỏi rằng Navarre muốn gì và ông ta giăng chiếc bẫy nào cho mình đây. Ở chỗ đối phương, do vì khuôn mặt của Navarre dài và nhọn và đôi mắt của ông ta sắc lẹm, người ta mệnh danh ông là "con cáo". Nhưng mà ông, Navarre, lúc này biết rằng trong mọi việc ông sắp xếp đều là sai lệch. Trên một tấm bản đồ tham mưu, những cái đó đứng vững nhưng đứng trước thực tế của giải đất, của thời tiết, của phương tiện và con người, mọi thứ đã rạn nứt. Nếu như ý nghĩ rút bỏ lởn vởn trong đầu Navarre thì ai sẽ khuyến khích ông chịu nghe theo ý nghĩ ấy? Xung quanh ông, chẳng có một ai. Castries có lẽ là người duy nhất mà Navarre tin tưởng, bởi lẽ Castries ở tại chỗ, tự mình nắm vấn đề, thì im lặng. Castries nắm quyền chỉ huy chưa được bao lâu. Trước khi đưa ra những gợi ý hay cảnh báo nhà cầm quyền tối cao chống lại cái có thể là một quan niệm sai lầm, Castries phải chờ đợi, phải thử nghiệm, bản thân phải tin chắc trước khi thuyết phục những người khác. Nếu như Castries đã lựa chọn thì chính là Castries phải kiên quyết giành thắng lợi bất chấp mọi khó khăn. Còn về Cogny, tất cả những lời cảnh báo của ông ta, trước con mắt của Navarre vẫn đáng ngờ, Navarre cho rằng ông ta mong muốn mình thất bại. Vả lại, Cogny ngày hôm qua vừa đến Điện Biên Phủ đã không nghi ngờ gì về thắng lợi của trận đánh. Điều ông ta muốn, đó là Navarre đừng có nhấc đi bất kì lực lượng nào mà ông ta có ở vùng đồng bằng. Trong khung cảnh tiện nghi sang trọng của ngôi biệt thự, ở đó Navarre bố trí sở chỉ huy của mình, cách xa cái nồi dã chiến des Mares, ở đó bộ tham mưu hoạt động sôi sục, mọi thứ toát lên vẻ trật tự, hài hoà, sức mạnh. Không có bất kỳ chuyện gì có thể ảnh hưởng đến bộ não đang làm việc ở đó, trong gian phòng nhỏ có máy điều hoà. Không khí bên ngoài chỉ tới đó sau khi đã được lọc qua, mát lạnh. Tiếng ồn ào và cảnh náo nhiệt không chạm tới đó. Còn lại là trí tưởng tượng, chứng tỏ rằng ở đó những con người có khả năng làm những việc lớn khi người ta bắt buộc họ làm. Điều đã dẫn dắt Navarre đi tới mở trận Điện Biên Phủ luôn luôn giữ nguyên giá trị trên bộ mặt chính trị của nó: chặn con đường Việt Minh tiến sang nước Lào. Tuy nhiên Navarre tự hỏi mình, với một sự thành thật mà không một ai nghi ngờ, trong khung cảnh cô quạnh thống thiết của những người chỉ huy. Nếu như câu chuyện không giống như với César hay hoàng tử Condé vĩ đại, thì đó không phải là vì ông thiếu dũng khí, mà là thiếu sự hiểu biết xứ sở và đạo quân của mình, bởi lẽ ông không phải là con người không dám gạt bỏ chuyện ngớ ngẩn. Ông thiếu một ngọn đèn rọi sáng. Kể cả một thiện ý, bởi lẽ không một ai, trong bộ tham mưu của ông đã nhắc nhở ông chú ý đến những mối nguy hiểm mà ông lao tới, và ông đã quá tin cậy vào trí thông minh của các cộng sự và quá tôn thờ những nguyên tắc mà ông học được dưới những mái nhà vòm của Học viện Quân sự. Berteil nhắc lại với ông rằng người ta sẽ bẻ gãy quân Việt ở Điện Biên Phủ như đã bẻ gãy họ ở Nà Sản. Đó là quyền của Berteil. Lỗi lầm của Navarre là đã tin vào điều đó ______________________________________ 1. Lérida: Thành phố của Tây Ban Nha, bị hoàng tử Condé vây hãm năm 1646. - N.D 2. Condé le Grand: Hoàng tử nước Pháp (1621-1686) một trong số tướng giỏi triều vua Louis XIV. Đánh thắng nhiều trận, vây hãm thành Lérida của Tây Ban Nha năm 1646. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 08:53:53 pm Ngày 15 tháng mười hai 1953. Trong đêm, trung tá Langlais quay trở lại Điện Biên Phủ, đã dẫn được theo mình về trại toàn bộ ba tiểu đoàn quân dù, trước đó, từ năm ngày nay đã thử tìm cách tiến về đồn Mường Pồn, nằm trong đoạn khe vách đứng, con đường mòn Pavie, bám theo khe núi này, ở cách mười sáu kilômét về phía bắc. Ba tiểu đoàn quân dù, tuy nhiên không phải là một dàn đồng ca trẻ con. Tiểu đoàn 8 xung kích, trước tiên ra đi theo từng đội xung kích độc lập để chi viện đón những dân binh cuối cùng của Lai Châu, tới được các điểm cao, sau khi thoát được các trận phục kích và tiêu diệt, tiểu đoàn 8 đã bị bao vây. Hai tiểu đoàn khác, tiểu đoàn 5 người Việt Nam và tiểu đoàn 1 ngoại quốc lên đường tiếp viện. Một trận chạm trán đã làm cho hai đơn vị đó mất đứt một ngày ở cách sân bay bảy kilômét, ở chỗ mà con đường Pavie bắt đầu đi sâu vào dãy núi. Cuối cùng gặp được nhau, cả binh đoàn buộc phải rút lui sau khi đã tổn thất nặng và bố trí tiểu đoàn 1 ngoại quốc đi đoạn hậu. Với khoảng mười hai chuyến bay, mỗi chiếc trực thăng chuyển đi được sáu mươi sáu thương binh. Còn về những người chết, người ta chôn cất họ tại chỗ cùng với lời cầu nguyện của một cha tuyên uý râu rậm trông giống một chiếc trống cái của đội lê dương, và mặc bộ trang phục dã chiến loang lổ như da báo. Trong một khu nghĩa địa tạm thời nằm trên một đỉnh núi, giữa đám lau lách, những tảng đất lớn mầu đỏ đánh dấu các ngôi mộ; mấy tấm ván hòm đạn đóng đinh vào mấy chiếc cọc được dùng làm bia mộ. Một trung đội lính người Việt Nam nhỏ bé bồng súng chào, lưng đeo lựu đạn, mặt nhăn nhó dưới ánh nắng chói loà. Để phân biệt họ với những con người đội những chiếc mũ đan bằng nan tre, chỉ có hình thù chiếc mũ sắt của Mỹ, trông tựa như đè gí họ xuống bởi khối hình to lớn và trọng lượng của nó. Khi mà giữa ban đêm Langlais tới được những ngọn núi nơi diễn ra các trận đánh, qua máy vô tuyến ông chỉ nghe được những mệnh lệnh và những báo cáo rối loạn. Tảng sáng, bộ phận còn lại của tiểu đoàn từ trong rừng bước ra, với những bộ mặt xanh xao hốc hác, râu đâm ra tua tủa. Langlais nghĩ đến câu của Castries nói với mình lúc đi: "Bắt cho tôi vài tù binh". Dù cho đắt giá đến đâu, bài học kinh nghiệm sẽ không vô ích nếu như những ảo tưởng được bong ra khỏi đôi mắt của các viên tướng. Kể từ lúc này người ta biết cần phải nhìn nhận những khả năng thâm nhập của các trục giao thông trong vùng: những hẻm núi ở đó, cỗ máy của đạo quân viễn chinh không thể triển khai được; muốn tiến lên, phải bố trí bảo vệ mọi hướng trên các điểm cao. Con đường Pavie chỉ là một đoạn đường núi chạy theo thung lũng vách dựng đứng của sông Nậm Cố. Các đại đội tách ra hai bên sườn, hành tiến nhọc nhằn qua địa hình nhô lên, tụt xuống cùng với lớp cây cỏ, và khi mà mệt mỏi sau cuộc hành quân xuyên rừng, nặng nề vì các trang bị dã chiến tiến lên các đỉnh núi ở đó đám cỏ cao hoặc cây cối che khuất tầm nhìn, họ sẽ hứng lấy làn đạn bán gần của một đối phương nấp kín trong các hầm hào. Mọi chỗ đều là ổ phục kích, ảo ảnh, lừa dối và cái chết. Đám cỏ cao đang lay động, người ta không rõ đó là vì gió hay là vì có đội du kích nào đó động chạm tới. Khi các máy bay khu trục tấn công bằng bom napan, đối phương tản ra, bỏ lại một vài xác chết cháy đen, và bố trí ở xa hơn trước khi quay trở lại, khi mà mối nguy hiểm từ máy bay đã không còn nữa. Các sĩ quan tham mưu ở Sài Gòn đã hết sức tức tối khi bước ra khỏi vòi tắm hoa sen và giận dữ gõ tay vào điếu thuốc lá để đọc các báo cáo; sự thật mạnh hơn trí tưởng tượng của họ: Việt Minh mệt nhoài có khả năng sống và chiến đấu trên vùng thượng du, không có chuyện thả dù lương thực và đạn dược, và là bậc thầy trong nghệ thuật nguỵ trang, còn đạo quân viễn chinh thì không sao hoạt động được. Castries, tay kỵ binh sôi sục, bị chặn đứng ở khắp mọi nơi phía trong khu lòng chảo, liệu có nói là mình không thể hoàn thành nhiệm vụ mà người ta giao phó chăng? Castries vẫn còn hi vọng. Có lẽ Castries nghĩ rằng chuyện sắp thay đổi cùng với sáu chiếc xe tăng mà người ta hứa cho ông. Castries mở rộng trên hướng tây bắc một điểm tựa thứ hai mang tên Anne Marie. Anne Marie, đó là nữ anh hùng của một bài hát Đức mà đội lê dương hát khi diễu binh: Anne Marie, em đi đâu trên thế giới này? Em đi tới thành phố có những người lính ... Do vì hai tiểu đoàn người Thái rút từ Lai Châu về có vẻ chất lượng quá kém cho nên Cogny đồng ý cho Điện Biên Phủ mười một liều đoàn thay vì chín. Ngay lập tức, ông đề ra việc xây dựng một trung tâm phòng ngự nữa, mang tên Isabelle, ở cách năm kilômét về phía nam, để bố trí ở đó một cụm pháo yểm trợ, không phụ thuộc vào hoả lực của khu phòng ngự chủ yếu; nằm trong tầm bắn của những khẩu pháo để yểm trợ hướng bắc, Isabelle cố định ba tiểu đoàn để bảo vệ cứ điểm. Được xem xét để bảo đảm tuyệt đối, ngày 2 tháng mười hai, tướng không quân Bodet, phó tướng của Navarre phê chuẩn một quyết định là trong ngày 12 và ngày 13 tháng mười hai ở Mường Sài, mở một tuyến liên lạc về hướng tây nam với nước Lào bằng cách bố trí các nhóm dân binh trong vùng Sốp Nao cách Điện Biên Phủ bốn mươi kilômét và một số nhóm khác, ở giữa đường, trong dãy núi đá vôi của bản Na Tí. Cogny phản đối việc này. Ông tuyên bố, kể cũng đúng, rằng không cần thiết để phân tán ba tiểu đoàn trong tám ngày trời để bố trí các đội trinh sát vốn tự họ có thể đi vào vùng núi. Ngược lại, Cogny những muốn thành lập một binh đoàn vệ tinh, có thể được tăng cường bằng thả dù, hoạt động ra vùng xung quanh Điện Biên Phủ để quấy rối hậu phương của Việt Minh. Toả ra xung quanh ư? Castries không phản đối. Ông không kêu la rằng người ta bơi trong ảo tưởng và rằng cách xem xét của cơ quan tham mưu là những ý kiến vớ vẩn. Con đường đi về Sốp Nao không khá hơn con đường Pavie, những chướng ngại cản trở việc hành tiến cũng giống nhau và trang bị của bộ đội không có gì thay đổi. Người ta không thể giải toả được những dân binh ở cách vài kilômét về phía bắc, và người ta ngoan cố muốn tổ chức các hoạt động khác xa hơn ở phía nam, xuyên qua những địa hình mấp mô. Không một ai phản đối. Bigeard đã đi Hà Nội, công việc của anh đã xong, và tiểu đoàn của anh sắp tới chỗ anh. Navarre và Cogny yêu cầu trong số mười một tiểu đoàn của Điện Biên Phủ thì bốn tiểu đoàn thường xuyên tham gia vào các hành động tiến công. Thực tế vẫn còn chưa làm cho một ai phải ngạc nhiên. Ngày 14 tháng mười hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân Việt Nam. Ông tuyên bố rằng nếu chính phủ Pháp muốn đi tới một hiệp định đình chiến, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng tiến hành những cuộc thương lượng. Ngài Nguyễn Văn Tâm, thủ tướng Chính phủ Việt Nam(1), đã trả lời rằng ông ta nhìn thấy ở đây một hành động tuyên truyền nhằm reo rắc tư tưởng chán nản trong hàng ngũ các lực lượng quả cảm đang chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản và chính phủ Pháp, về phần mình, được Navarre bảo đảm là tình thế vào mùa xuân tới sẽ tốt hơn, đã nhắc lại rằng không thể xem xét các lời tuyên bố thông qua trung gian của báo chí và đài phát thanh. Tám năm về trước, đã có một quả bom nguyên tử trên bầu trời Hiroshima, nhưng mà trong hội đồng bộ trưởng người ta vẫn bám theo chủ nghĩa hình thức không suy giảm. Chỉ có những văn bản ngoại giao, được chuyển giao không phải bởi những thông báo nhỏ mọn mà là bởi các vị đại sứ, trong những chiếc cặp da mềm, mạ vàng là đáng kể. ____________________________________ 1. Tức chính phủ ngụy quyền Việt Nam. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 09:01:02 pm Ngày 17 tháng mười hai 1953 Hôm qua, tướng Navarre đã hạ cánh giữa cơn mưa ở Hà Nội và đã có cuộc hội kiến dài với Cogny. Chậm hơn thời tiết thường lệ, cái rét đã bao trùm lên dải đồng bằng xứ Bắc Kỳ từ một chục ngày nay. Đàn ông và đàn bà đã khoác những chiếc áo len dài tay cũ hoặc những chiếc áo bông ra ngoài những chiếc áo sơ mi hoặc áo lót. Người ta đội cho đám trẻ con những chiếc mũ bịt kín hai tai. Mưa phùn xuất hiện ngày 14 tháng mười hai. Navarre và Cogny vốn biết rằng cuộc hành binh về phía Mường Pồn đã phải trả giá cho nên nghiên cứu cuộc hành quân tới Sốp Nao. Cogny nhăn nhó. Ông bào chữa cho vấn đề hệ thống vệ tinh của mình. Sự thật, hệ thống vệ tinh này, ông đã hình dung khác với những gì ông mô tả trong các văn bản chính thức của mình. Ông những muốn hành động, xung quanh Điện Biên Phủ, bằng những đơn vị nhẹ, không lao vào những trận đánh mạo hiểm, không ngừng quấy rối đối phương rồi tản mát vào rừng sâu để rồi quay trở lại khi mà đối phương không chờ đợi nữa, sẵn sàng để được tăng cường vào thời điểm thuận lợi bởi một binh đoàn đáng sợ hơn. Tổng thể tạo thành không phải là một vệ tinh mà là một đám mây hay là một cụm những tiểu hành tinh. Cogny nghĩ rằng lúc đó quân Việt sẽ phải phân tán một bộ phận quan trọng lực lượng đang bao vây khu vực để tiêu diệt lũ quấy rối ấy hoặc nếu như họ coi thường thì vào thời điểm bất lợi họ có nguy cơ phải chống đỡ một trận đánh bất ngờ. Thật vậy, một tổ chức kết hợp quân chính quy và dân binh, dập khuôn theo kiểu tổ chức của đối phương, đối với Cogny có vẻ là một công thức lý tưởng và hấp dẫn. Sao chép kết cấu tổ chức của Việt Minh và các phương thức tác chiến của họ, cho đến lúc này, chỉ có một vài người chỉ huy các đội xung kích là nghĩ tới và làm được. Bằng chuyện thần kỳ nào mà đột nhiên thực hiện được cái điều vốn không phải là chuyện quen thạo? Bị hấp dẫn bởi ý tưởng của Cogny, đại tá Crèvecoeur đột nhiên chỉ định một trong số các sĩ quan người Lào của ông để dắt dẫn trò chơi khó khăn này, nhưng tướng Navarre thì không để mình bị thuyết phục là trong việc này có cơ may thắng lợi. Như vậy là Cogny sẽ không bao giờ cung cấp cho chính mình dẫn chứng rằng dự án của ông ta là không tưởng và cho những người khác là ông ta nắm bắt được thực tế. Liệu có khả năng, về phần mình, ông cũng cưỡi trên những ảo tưởng vĩ đại chăng? Cogny vốn đã kêu ca rằng tiềm lực không quân đã bị Điện Biên Phủ nuốt chửng, liệu có sẵn sàng sử dụng không quân để thả dù và chi viện giữa rừng rậm những người lính dù của đội vệ tinh của ông và sau đó thu gom về như thế nào? Và, ngoài ra, tôi không thật tin chắc là Cogny tin vào việc đó: đầu óc phức tạp và thậm chí xảo quyệt dưới vẻ bề ngoài nhiệt tình, được áp dụng để đạt được mục đích bằng những con đường vòng vèo, liệu Cogny có thật sự nghĩ rằng một hoạt động như vậy lại có cơ may thắng lợi trong một vùng rừng rú và bị quấy phá, ở đó những tuyến giao thông duy nhất là những con đường dành cho lừa ngựa? Quen thạo với những không gian rộng lớn, bằng phẳng của những ruộng lúa, con người của vùng đồng bằng ấy vốn thích thú nhắc đi nhắc lại rằng đôi chân ông ta bám trên mặt đất và chỉ chịu nghỉ ngơi khi mà Nà Sản được rút bỏ, liệu ông ta có mất trí hay không? Thắng lợi của trận đánh Lạng Sơn liệu có làm cho ông ngây ngất? Liệu ông có nghĩ rằng ông đòi hỏi quá nhiều, trong nhiều tuần và có thể nhiều tháng, ở những con người chỉ có thể cống hiến hết mình nếu như nỗ lực diễn ra trong thời gian ngắn? Bằng những chiếc xe tải ông sẽ thu gom họ lại bởi lẽ đường sá, xe tải không đi lại được? Những xe thiết giáp nào sẽ yểm trợ họ? Những máy bay nào sẽ thả dù lương thực và đạn dược cho họ và nếu nguy kịch thì chi viện cho họ? Ai sẽ mang vác các khối nặng trang thiết bị cho họ giữa rừng sâu? Tất cả những câu hỏi ấy không có lời đáp. Không bao giờ có câu trả lời giữa giấc mơ: mọi việc chỉ diễn ra ở đó bằng phép lạ. Người ta tìm thấy lời giải thích cho những trò chơi trí tuệ ấy trong kinh nghiệm may mắn nhưng chưa hoàn chỉnh của trận Nà Sản, trong trận đánh đó nhiều tiểu đoàn đã mạo hiểm tiến ra ngoài căn cứ hơn năm mươi kilômét. Cùng với thời gian, và nhờ những ảo tưởng giúp sức, người ta quên mất rằng trước sau vẫn là cùng những con người ấy, Bréchignac và Bigeard, là những người duy nhất có khả năng giống như quân Việt, hành quân năm mươi kilômét trong một đêm, đi chân không, vận dụng các mưu mẹo như đối phương, sống như họ và quay trở về dẫn theo tù binh để rồi ngủ thiếp đi hai mươi bốn tiếng đồng hồ dưới hố cá nhân. Điều mà Bigeard và Bréchignac đã làm, đôi khi bị dắt dẫn bởi những cơ quan tham mưu không quen thạo với nhiệm vụ của họ, tại sao những người khác lại không thể thực hiện thành công? Ai là người nhớ lại những điều kiện giống như những kinh nghiệm đã qua? Ai nghĩ được rằng xung quanh Nà Sản, lực lượng đứng chân của đối phương kém hùng mạnh hơn bây giờ? Bigeard và Bréchignac, nếu như họ hãy còn ở đây, hẳn sẽ dũng cảm để nói rằng họ không thể lặp lại ở Điện Biên Phủ những gì họ đã dám làm ở Nà Sản. Điều mà người ta cũng quên đó là năm tháng, mệt mỏi và những thử thách đã làm xói mòn nhiệt tình và ý chí chiến đấu của đạo quân viễn chinh và rằng giờ đây, trước trận địa mở, đương đầu với một tiểu đoàn Việt Minh, phải cần tới hai hay ba tiểu đoàn thuộc các lực lượng đã suy yếu và phân tán của tướng Navarre. Thực tế Navarre bám vào cuộc hành binh Sốp Nao, bác bỏ ý tưởng về hệ thống đội vệ tinh và một lần nữa từ chối Cogny về những trận tấn công vào Thái Nguyên và Chợ Chu,. những trận đánh này hợp lý hơn và một trận tấn công khác, ít tốn kém hơn, vào phủ Đoan Hùng. Những trận này, Navarre không tin là bởi vì ông cho rằng chúng không đủ mạnh để phá vỡ hệ thống của đối phương. Con người bí hiểm Navarre, đó chính là sự hoà trộn mật thiết giữa cái hợp lí và bất hợp lí. Ngày hôm đó, còn một hi vọng nữa: giữa cơn mưa, Navarre bay lên Điện Biên Phủ, cùng với Cogny trên chiếc Dakota của tướng Lauzin, tư lệnh không quân của đạo quân viễn chinh. Castries, nhân dịp này, đeo đầy đủ các cuống huân chương, đã làm đúng thủ tục. Khi máy bay hạ cánh, lúc 11 giờ 30, một trung đội lính Marốc, đầu quấn khăn và đi những đôi ghệt mầu trắng của Tây Ban Nha, bồng súng chào. Trên vùng thượng du, trời đẹp. Navarre, người không thích những bữa ăn trưa kéo dài trong nhà ăn đã cùng chủ nhà chia vui trong một bữa ăn nguội mà ông cho mang từ Hà Nội lên. Sau đó, ông ngồi trong chiếc xe Jeep có tấm kính chắn gió lật ngửa xuống mũi xe, do Castries lái, cây gậy đua ngựa, đầu nhọn có mấu, dựng phía sau lưng. Đoàn người đi thăm các ngọn núi đã phát quang của Béatrice, ở đó trung tá Gaucher, chỉ huy bán lữ đoàn số 13 ngoại quốc, tiếp đón họ. To béo, hay càu nhàu, ít nói, dưới chiếc mũ kê pi lê dương, Gaucher trưng ra một khuôn mặt rộng của ông thầy tu hay soi mói. Những vách núi dốc đứng đã được bao bọc bởi hàng rào thép gai, người ta khống chế toàn bộ thung lũng, ở đó con sông Nậm Rốm trải dài những đoạn uốn khúc sáng loáng dưới chân những quả đồi tròn nằm ven sông về phía đông. Ở phía tây bắc, phía bên kia một dãy lô nhô những gò đống mà đội quân đồn trú không chiếm giữ, người ta nhìn thấy đoạn đồi dài mầu tím của Gabrielle. Ở đó người ta sắp cho đốn hạ cây cối, đốt hết bụi rậm, bởi lẽ người ta quyết định bố trí một điểm tựa mới với hơn một tiểu đoàn. Đối diện với sườn dốc nhộn nhạo, phủ đầy cây cối từ phía dưới dốc lên, nơi đó sẽ diễn ra các trận tấn công, tầm nhìn thoáng đãng hơn, nhưng địa hình bị chia cắt bởi những đoạn khe và lô nhô những đỉnh đồi hình chóp nón, xanh rờn chạy ngược lên đến tận những đỉnh núi cao nhất, địa hình ấy thuận lợi cho các cuộc thâm nhập và tiếp cận. Không hề gì? Trước khi nhảy chồm lên bộ ngực của Điện Biên Phủ thì cần phải chiếm được cái khoảng vai đất đỏ ấy, từ nơi đó đội lê dương sẽ khạc lửa và vãi đạn ra. Gaucher không phải là một nhà trí thức mà là một con lợn lòi tựa lưng vào những trận địa phòng ngự rắn chắc. Quân Việt sẽ không nuốt trọn anh ta mà không bị tắc cổ và những gì mà các khẩu liên thanh không hạ gục được thì đường đạn cầu vồng của súng cối và các nòng pháo 155 sẽ giải quyết. Navarre dừng lại trong tư thế quen thuộc của ông, đầu hơi ngửa ra phía sau, hai tay chống lên hông, thân hình gói gọn trong bộ trang phục dã chiến bằng vải dầy, cắt xấu và đã nhàu nát trên đường đi. Các sĩ quan theo sau ông, đứng im lắng nghe những lời giải thích của Gaucher. Mũi hếch lên, đại tá Revol hít hà những mùi vị mà cơn gió từ hướng đông mang tới, ở hướng đó con mồi đang trú ngụ. Dưới chiếc mũ kê pi hơi hất ngửa về phía sau, Navarre mỉm cười, nhưng nụ cười chua cay này giống như một nét nhăn, còn lâu mới làm cho ông thư giãn, mà khiến cho khuôn mặt "con cáo" của ông co rúm lại. Ở đây vai trò của ông dừng lại ở chỗ nói ra điều ông muốn và không đi sâu vào những chi tiết. Thực tế Cogny giữ cương vị của một tư lệnh quân đoàn. Theo chương 412 của bản chỉ thị về cách sử dụng có tính chiến thuật các đơn vị lớn, Cogny phải xác định trận địa phòng ngự và chỉ rõ những phần đất nào phải giữ được bằng mọi giá. Castries, trên thực tế được coi như một sư đoàn trưởng: nhiệm vụ của ông ta là xây dựng kế hoạch phòng ngự. Navarre chỉ cần bổ khuyết những thiếu sót mà không phải lên lớp nghiệp vụ cho các cấp dưới. Ông đã quyết định đơn giản là giúp đỡ họ bằng cách cung cấp cho họ những chiếc xe tăng. Một thông tin có tầm nghiêm trọng đặc biệt đã làm ông chú ý khi ông ở Hà Nội: sư đoàn 308 vượt qua năm mươi kilômét chỉ trong có hai ngày. Với tốc độ đó, sư đoàn này sẽ có mặt ở Điện Biên Phủ trong khoảng một tuần lễ. Liệu có ai còn nghi ngờ rằng đó là nơi tiến đến của sư đoàn ấy? Nhưng mà ai có thể khẳng định rằng đó là toàn bộ sư đoàn đang di chuyển chứ không phải là một bộ phận của nó? Trong trường hợp này, dựa vào những đánh giá đó, ngày 3 tháng mười hai, Navarre đã đi đến quyết định công nhận trận đánh vẫn luôn luôn đúng đắn và không có điều gì cho phép thay đổi, dù là nhỏ nhất, những biện pháp được áp dụng để đối phó với một sư đoàn duy nhất của đối phương, sư đoàn 316, kể cả nếu như nó được tăng cường tương đối lớn. Giả thử số tiểu đoàn của đối phương có gấp đôi lên, và điều giáo lý vẫn tồn tại, người ta không thể rút bỏ mà không bị buộc tội là mất tinh thần: đối phương không thể tiến lên, và không một lực lượng pháo binh nào có thể yểm trợ cho họ mà không bị tiêu diệt. Mười hai tiểu đoàn của tập đoàn cứ điểm, không có chỗ cho những ai có dấu hiệu nao núng tinh thần. Mười hai tiểu đoàn này được bảo vệ bởi những khẩu đại liên và đại bác có thừa thãi đạn dược, phải chăng không đủ khả năng quét sạch và vô hiệu hoá mười hai tiểu đoàn Việt Minh? Không phải là nếu họ muốn đến được khu lòng chảo sẽ phải phơi mình ra trước hoả lực của quân đồn trú hay sao? Nếu thế, ai dám phản bác Navarre nào? Tay pháo thủ Cogny có thể phản đối điều gì nào? Bản thân Castries sẽ phản đối điều gì đối với cuộc phiêu lưu mà người ta buộc ông phải tiến hành trong vùng Sốp Nao, trong lúc thậm chí ông chưa đến được Mường Pồn? Ông phải là người kỵ sĩ vượt qua những khoảng rộng lớn của vùng thượng du, cái định nghĩa lãng mạn của một vai trò khó mà gánh vác nổi, cái định nghĩa mà Navarre khẳng định tầm quan trọng bằng cách gạt bỏ những ý kiến phê phán của Castries. Một phi công hỏi liệu người ta có nhận thấy những ngọn núi khống chế Isabelle hay không? Người ta trả lời rằng đã cử một đội trinh sát, đội này đã phải mất hai mươi bốn tiếng đồng hồ để tới được những đỉnh núi gần nhất và bằng ấy thời gian để quay về. Ở trên cao đó, có lớp cỏ voi che khuất hoàn toàn mọi tầm nhìn. Không. Không có mối nguy hiểm nào đến từ phía đó. Ra đi lúc 17 giờ, Navarre đã không xem xét bất cứ ý kiến nào của Cogny, còn Cogny thì vẫn không rời bỏ cái ý tưởng về hệ thống vệ tinh của mình, cái ý tưởng sẽ "du cư hoá" cuộc sống ở xung quanh Điện Biên Phủ (động từ này đã được ưa thích trong bảng từ vựng quân sự). Ông này cũng như ông kia vẫn luôn nghĩ là mình có khả năng hoạt động. Các viên tướng không bao giờ bước xuống khỏi những con quái vật mà họ đã cưỡi lên một cách dễ dàng đến như vậy. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 09:06:24 pm Ngày 23 tháng mười hai 1953 Tuyến liên lạc về hướng Sốp Nao, Bigeard đã đánh giá là: "Trò lừa bịp". Và thực tế mãi mãi không một ai hiểu được nó nhằm mục đích gì. Tiểu đoàn lê dương ngoại quốc số 3 đã đến được Mường Khoa sau hai mươi mốt ngày đi bộ xuyên qua các con đường mòn của nước Lào và cô gái dũng cảm Brigitte Frang, người đã nhảy dù xuống đầu họ, đã mô tả họ với những bộ mặt của những người sống trong trại tập trung. Viên thầy thuốc trẻ tuổi của họ sụt mất mười ki lô. Nhiều người sốt thương hàn đang hấp hối. Cùng với họ, Brigitte Friang đã tiếp tục tiến lên qua những đêm trăng tròn, vượt qua những con sông bằng thuyền độc mộc giữa bầy ngựa thả cho bơi sông, ngụp lặn trong những khe sâu, trượt xuống những dốc núi nhớp nháp bùn nước, dùng điếu thuốc lá đốt cháy những con đỉa để chúng nhả ra, nằm ngủ trong những túp lều bỏ hoang hoặc trên nền đất đen kịt của những đám cháy rừng. Né tránh những bản làng, các thung lũng mà quân Việt có mặt ở đó, các tiểu đoàn của Vaudrey cuối cùng đến được những túp lều của Sốp Nao nằm lọt thỏm trong vòng tròn núi đá. Buổi chiều ngày hôm đó, họ bắt gặp bộ phận của Langlais. Langlais, một bên mắt cá chân bị đau, và Vaudrey vừa bắt tay nhau vừa nâng cốc uống một ngụm rượu "Rum" trước ống kính quay phim. Brigitte Friang tiếp tục đi cùng các bạn mình ở đội xung kích số 8 do đại úy Tourret, đồ đệ trung thành của Bigeard, dẫn đầu, vượt qua những con suối lớn lội nước đến ngang bụng, những đoạn đường mòn sũng nước và lớp cỏ cao nghẹt thở. Viên thầy thuốc của tiểu đoàn, trung úy đẹp trai Patrice de Carfort, bản thân anh ta cũng bị sưng một mắt cá chân, bình tĩnh phân phát cho những người đổ gục những mũi tiêm, những viên thuốc muối và dầu thơm. Buổi tối, người ta tìm cách hong khô quần áo bằng những đống lửa nhỏ, không dám thổi cho bốc to. Có một phóng viên nhiếp ảnh Mỹ mới đến hôm qua tên là Dixie Reds, bằng máy bay Morane mà Castries đã cho đến chở thương binh. Anh phóng viên tiếp tục đi, một cách ngang tàng, với đôi giày da bóng lộn, chiếc quần dài thành phố và cà vạt trong cuộc hành quân nhọc nhằn, chiếc xà-cột của anh ta chất đầy những cuộn phim và một chai rượu Bourbon đã uống cạn. - Cái đó chứng minh điều gì? Langlais đã bảo tôi. - Không có tuyến liên kết nào được thực hiện. Cuộc hành binh Sốp Nao là cuộc hành binh để đưa tin. Chuyện vớ vẩn. Cần phải để cho người ta nghĩ là Điện Biên Phủ không bị bao vây. Tôi đã rất vất vả để phát hiện trong tất cả những người Thái và người Mẹo của chúng ta một người dẫn đường tồi cho một nghìn hai trăm con người, trong lúc lẽ ra cần phải có ai người dẫn đường tốt cho một đại đội. Trong cơ quan tham mưu ở Sài Gòn, người ta không hiểu vì sao tôi không sử dụng những con đường đẹp đến vậy được vạch màu đỏ trên các tấm bản đồ. Đây không phải là vùng Beauce(1). Thiếu những cột chỉ đường. Nếu như phải tác chiến, tôi sẽ bỏ một tiểu đoàn phiêu lưu mạo hiểm. Tôi chọn cách chơi trò ú tim với quân Việt và né tránh những đoạn đường hẻm núi vì ở đó đoàn ngựa thồ vất vả mới qua được sẽ bị chẹn cổ; tôi đã chọn việc mở đường mòn bằng dao phát rừng. Vả lại Castries không đồng ý là tôi đi mở tuyến liên lạc đó với nước Lào nhưng ông đã phải tuân lệnh. Rừng rậm ư? Trong toàn bộ đạo quân viễn chinh chỉ có hai tiểu đoàn đã thực hành tác chiến ở đó: các tiểu đoàn của Bigeard và Bréchignac. Chúng tôi đã mệt lử ở đó và đã không thể nào khiêng đi theo trên cáng dù chỉ là một người. Nếu nắm vững cuộc chiến tranh trong vùng này hẳn ai đó đã không thể ra những chỉ lệnh như vậy... Đám mây mù của Cogny, người đã có thể tạo ra nó, khuấy động nó, làm cho nó trở nên đáng sợ ư? Quân việt sẽ quét sạch đám mây mù ấy trong vài ngày. Điều này cũng vậy, than ôi, chắc chắn là như vậy, đây là một cách nhìn không tưởng. Bản thân Langlais cũng quên rằng ông đã từng có thời điểm định quay trở về thông qua dãy núi đá vôi của bản Na Tí để tuân theo những mệnh lệnh nhận được. Và rằng ông đã tranh cãi gay gắt với Tourret vốn kiên quyết thuyết phục ông quay về theo đường thẳng, lên núi và xuống đồi. _________________________________________ 1. Beauce: thuộc ngoại ô Paris là vùng đồng bằng phẳng có một sổ ngọn đồi thấp. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 09:11:08 pm Ngày 24 tháng mười hai 1953 Tin lớn của cái đêm hôm mà Navarre đã thông cảm ngủ lại ở Điện Biên Phủ không phải là tin tốt lành. Viên trưởng phòng Nhì của Cogny, người đã báo tin bi quan đó cho cơ quan tham mưu của Sài Gòn, thậm chí cũng không thể tự khen mình là đã nhìn đúng: sư đoàn 308 đã có mặt ở đây, và sự có mặt của nó ở phía nam khu lòng chảo treo lơ lửng mối đe dọa một cuộc chặn đứng hai tiểu đoàn từ Sốp Nao quay về. Có đại tá Revol im lặng đi bên cạnh, Navarre đến đây lúc chiều với vẻ mặt "chua như dấm" cùng tiểu đội lính dù bảo vệ. Những người hiểu ông khen ông về tính giản dị và dễ dãi, nhưng nhất trí với nhau về nỗi vất vả mà ông cảm thấy khi phải tỏ ra tự nhiên trong các mối quan hệ đám đông tạo ra ở ông một sự nhút nhát vụng về nào đó, làm cho ông lúng túng. Navarre chui vào sở chỉ huy cùng với Castries và người ta đã không trao đổi với nhau những ý kiến dễ chịu. Rõ ràng, giữa Castries và ông không có sự hoà hợp, và người ta tranh cãi thẳng thừng về cuộc họp các chỉ huy đơn vị và các sĩ quan đã được quyết định triệu tập vào lúc sẩm tối. Những ý nghĩ nào nung nấu trong ông vào cái giây phút mà ông phải truyền cho những người lắng nghe mình một bầu nhiệt huyết nào đó? Có lẽ ông không muốn biết đến những ý nghĩ nào khác ngoài những ý nghĩ ông đã thổ lộ ở khách sạn Caravelle: "Những điều kiện quân sự của chiến thắng đã hội đủ!". Ấy vậy mà, ông biết rằng sư đoàn 308 đang tiến về phía ánh sáng của tập đoàn cứ điểm. Theo Castries, có lẽ ông nói: "Các bạn chiến đấu vì Điện Biên Phủ..." điều đó có vẻ không thật rõ ràng. Điều còn nhớ được từ bài phát biểu của đại úy Capeyron thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13, đó là cuộc chiến tranh sắp chấm dứt nếu như chính phủ giữ lời hứa đã nói với Navarre. Đại úy Capeyron và rất nhiều các sĩ quan cùng với anh sẽ cảm thấy hơi bị thương tổn, nếu như trận Điện Biên Phủ chỉ là một trận thắng có tính chiến lược, giành được trong những lĩnh vực cao cấp của các cơ quan tham mưu, bởi những bộ óc tinh tế, mà không có việc những con người trực tiếp chiến đấu đã băm nát đối phương giữa hàng rào dây thép gai. Các đồng đội và bản thân anh sẽ cho là mình bị tước đoạt quyền sở hữu bởi cái kết cục bất thường của cuộc chiến tranh lạ lùng này. Capeyron sẽ phải trở về nước Pháp vào tháng năm sang năm. Nếu vậy, tháng tư anh sẽ đi Hà Nội, ở đó mười lăm ngày trước khi xuống tầu thuỷ. Đây là một con người giản dị, sáng suốt và không thiếu tính hài hước. Anh đến với đội lê dương sau một thời tuổi trẻ phiêu lưu. Anh ba mươi chín tuổi, một giọng nói dịu dàng và đôi mắt xám dưới một mái tóc rậm màu nâu. Anh vừa mới trở về tiểu đoàn, tay chống gậy vì anh bị thương khi tham chiến ở vùng đồng bằng. Khắp nơi, trong những giao thông hào và những căn hầm, tiếng hát cất lên. Đội quân lê dương biết cách ăn tết Noel: theo truyền thống, mỗi binh sĩ nhận được quà tặng từ tay đại đội trưởng hay trung đội trưởng; mỗi sĩ quan nhận được quà tặng từ tay anh em trong đơn vị. Lúc mười giờ tối, buổi lễ cầu nguyện diễn ra gần sở chỉ huy, ở đó một cây thông Noel đột nhiên rực sáng lên trong bóng tối. Một bàn thờ được dựng lên trước mặt mái lều tròn của nhà nguyện, dưới những chiếc dù lớn đủ màu sắc, xung quanh bàn thờ là những bó đuốc lửa bập bùng trước gió. Trăng chưa lên nhưng ở phía đông, sau lưng mảng tối sẫm của rặng núi, bầu trời đã mờ sáng. Đầu cúi xuống, đôi mắt tư lự môi hơi trễ xuống, Navarre đứng thẳng trên hàng đầu, hai bên là Castries và Revol, một chiếc áo varơi vải dầy khoác ra ngoài báo bludông, bởi vì trời lạnh. Tóc cắt ngắn, đôi mắt long lanh dưới hàng lông mày rậm, cằm và mũi đều nhọn, đối với Castries chỉ còn thiếu một chiếc áo choàng khoác vai là hoàn toàn giống một anh lính thày tu. Nhìn thấy họ đứng im trong giây phút để cầu nguyện, vây quanh một ông chủ lớn cay nghiệt và quá tỉ mẩn, có dễ người ta nghĩ đến những hiệp sĩ dòng Temple thô thiển và lắm mồm nếu như Paule Bourgeade, nữ thư ký xinh đẹp của Castries không đứng ở đầu hàng đằng kia, đôi môi tô son đỏ, mặc bộ quân phục thô kệch. Phải chăng cô ta là một trong số những thiên thần mà những con người cần đến? Hai cánh tay bắt chéo, mặt hướng lên phía bàn thờ, cô ta không lường được phạm vi rộng lớn của cuộc phiêu lưu đang bắt đầu. Một bài hát cất lên, Stille Nacht, heilige Nacht, mà những người tốt giọng nói tiếng Đức tung vào màn đêm, giữa những tiếng đạn súng cối vang lên phía xa xa, tựa như những tiếng trống lễ thiêng liêng. Nếu như người ta có thể nghĩ là mình đang sống trong vương quốc đích thực của Jérusalem, đây là một buổi lễ nguyện của các hiệp sĩ nước Đức, bởi lẽ bài đồng ca O Tannenbaüm nối tiếp bài Stille Nacht. Lúc dâng bánh và rượu lễ, trong khung cảnh im lặng uy nghi, hai loạt đạn liên thanh nổ giòn và một chuỗi những vệt lửa đỏ vọt lên phía các ngọn đồi. Sau lễ chúc phúc, cử tọa tản ra. Navarre nói lộ ra là chẳng bao lâu nữa chiến tranh có thể sẽ kết thúc. Vị tổng chỉ huy chủ trì bữa ăn đêm ở chỗ Castries. Gaucher đến chậm, hơi chếnh choáng, và kể lại các trận đánh của mình. Navarre, khó chịu, rút lui nhanh. Trong nhà ăn tập thể của sĩ quan đội lê dương, bốn người uống cạn một chai sâm banh. Giọng trò chuyện cao lên, khắp nơi người ta hát các bài Lily Marlène và Anne Marie. Một đám sĩ quan tràn vào sở chỉ huy của Castries, lúc này mặc chiếc áo gilê màu đỏ, có hàng cúc mạ vàng. Castries mời họ uống rượu. Một tay tiểu đoàn trưởng cao lớn, hơi ngang tàng, tiến về phía Castries. - Anh biết không, quân lê dương vốn không thích gì lắm đám kỵ binh, nhưng mà anh, người ta hiểu anh. Thế thì... Anh ta tháo chiếc huy hiệu của bán lữ đoàn số 13 trên ngực mình và gài vào vùng trái tim của Castries trong tiếng vỗ tay rào rào. - Thế đấy, thưa đại tá! Không thể nói gì hay hơn với đại tá. Người phóng viên được chứng kiến quang cảnh này đến từ Hà Nội trên một chiếc Dakota, chở đầy những chiếc quan tài của cơ quan hậu cần, bao gồm những tấm ván gỗ rời, sẵn sàng để ghép lại. Cách đó hai mươi kilômét, giữa rừng rậm, Langlais và Tourret ăn tết Noel bằng một ca cà phê hâm nóng, trên ngọn lửa của một ngọn nến, dưới gầm một nhà sàn đổ nát, với hi vọng ngày hôm sau sẽ quay về được Điện Biên Phủ, thoát khỏi đối phương mà những dấu vết còn mới toanh họ chỉ nhìn thấy ở khắp nơi. Trong tất cả các nhà nguyện và các ngôi nhà thờ ở Đông Dương, các giáo sĩ Pháp và các linh mục Việt Nam chuẩn bị các máng cỏ, đặt vào đó những bức tượng thánh nhỏ, rắc lên những cây thông và chiếc mái gianh một chút tinh thể đường ngọt. Buổi đêm, một đám tín đồ công giáo khiêm tốn và nhiệt thành, chen đầy trong các nhà thờ, lầm rầm cầu khấn, van xin, hát nguyện, xen giữa tiếng hét của đám trẻ con; những người lính lê dương, lính dù mặc bộ quần áo rằn ri, các sĩ quan của đạo quân viễn chinh, họ cũng thế, tiến lại gần bàn thờ Chúa. Chiến đấu cho thế giới phương Tây ở đó một con người đã được dạy dỗ phải có tình thương, công bằng và tình yêu, họ cần có niềm động viên này bởi lẽ cuộc chiến tranh xa xôi này đôi khi bao trùm lên đầu họ những câu hỏi mà họ không dám hoặc không biết cách trả lời ra sao: đối phương không hề biểu lộ tình thương, mọi cử chỉ của chính họ bị rình mò, mọi ý kiến của họ bị lặp lại, mỗi bước chân của họ đều có thể dẫn họ tới cái chết. Trong cái cộng đồng đột nhiên gắn kết họ với một dân tộc mà họ không hiểu được ngôn ngữ, có một lúc họ không còn cái cảm giác cay đắng là những người ngoại quốc, trong cộng đồng ấy có số ít người không mong muốn họ ra đi: chính bản thân phần lớn tâm lý những người công giáo, quá ư sợ hãi vì mình đã đến gần chủ nghĩa cộngsản, biết rằng nước Pháp rồi sẽ ra đi và mong muốn rằng nước Pháp không bị bắt buộc phải làm việc đó sớm hơn thời hạn người ta nghĩ. Trong các nhà ăn tập thể và trong lời thầm kín của các lễ xưng tội, các ý kiến chuyển theo một chiều hướng khác với thói quen. Mỗi người có cảm tưởng rằng ở Điện Biên Phủ đang chuẩn bị diễn ra một trận đánh quyết định số phận của cuộc chiến tranh. Bầu không khí bao trùm toàn bộ xứ Bắc Kỳ nói rõ điều đó, không còn gì phải nghi ngờ: Cỗ máy mà hai bên tung ra vượt quá tất cả những gì mà cho đến lúc này người ta chứng kiến, và các nhà báo lên thăm trận địa về đều nói như vậy. Điều làm mọi người kinh hãi, đó là chặng đường ba trăm kilômét giữa Hà Nội và Điện Biên Phủ và rằng cần phải chuyển lên đó qua chặng đường ấy, những con người, những khẩu đại bác và kể cả những bao thuốc lá và lượng máu dự trữ. Ấy vậy mà, mùa thời tiết sắp đến sẽ không thuận lợi cho việc sử dụng không quân. Vị tổng chỉ huy đã có sự lựa chọn này không chiếm được lòng tin: cho đến giờ phút này, ông ta chưa có gì nổi bật trong cuộc đời binh nghiệp; người ta thấy ông lạnh lùng, xa cách, vụng về trong việc điều khiển con người, không biết nói những câu mang tới niềm hy vọng hay kích thích năng lực của mọi người. Ông ta không bám vào được Người ta còn chưa dám thú nhận rằng ông ta đã ôm lấy gánh nặng quá sức, tuy nhiên, nếu như chiến thắng mỉm cười với ông thì ông sẽ trở thành người chỉ huy có uy tín nhất Đông Dương; lúc đó, mọi khuyết điểm sẽ giúp cho ông trở nên hấp dẫn và người ta tha thứ cho ông tất cả nếu như, con cáo biết cách đánh bại con hổ, ông bắt buộc tướng Giáp phải quỳ gối. Buổi tối hôm đó, có bài nói nào dành cho những con người mà Navarre quyết định ném vào một khu lòng chảo, khu lòng chảo mà các sư đoàn của Việt Minh cũng đang lao tới. Nói chuyện hoà bình với những con người đang buộc phải tiến hành chiến tranh, nói chuyện rút bỏ với những người mà nghề nghiệp là không lùi bước và hiện không có được sự lựa chọn nào khác, thử hỏi có ai làm được việc đó. Ấy vậy mà những ngôi sao, những người chăn cừu, đàn cừu của xứ Bethléem(1) không khác gì lắm đàn trâu, những người Mẹo vùng núi và những ngôi sao của Điện Biên Phủ. Tất cả cần có một đấng Cứu thế. Những cánh cửa vĩnh cửu trên trời, chúng chỉ mở ra cho một ông vua của sự thật và công bằng. ___________________________________ 1. Bethléem: Thành phố của Palestine (Jordanie) nơi sinh của chúa Jêsus - N-D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Tư, 2008, 09:35:24 pm Ngày 25 tháng mười hai 1953 Liệu đây có phải là một hậu quả của chuyến thăm cuối cùng Điện Biên Phủ của ông chăng? Đột nhiên, ở Navarre, giọng điệu thay đổi. Người ta phát hiện thấy trong giọng điệu đó những rung động của một sự nghiêm trọng mà không có dấu hiệu gì báo trước. Liệu có phải ông bị bất ngờ vì tính chính xác của những dự đoán của phòng Nhì của Cogny về những di chuyển của các sư đoàn Việt Minh? Ý tưởng rằng mình có thể mắc sai lầm liệu có nảy sinh trong ông? Đối với Navarre, quyết tâm của đối phương cuối cùng đã lộ rõ trong bản báo cáo về tình hình mà trưởng phòng Nhì của chính ông đệ trình lên: tướng Giáp tập trung quân số và các phương tiện quan trọng, và cụm từ “những phương tiện cơ giới" xuất hiện cả trong những bản thông báo được giải mã. Mối đe doạ này, đây là lần đầu tiên Navarre nhận biết được tiếng vang sấm rền của nó. Vào thời điểm này, ông đã phải thừa nhận là căn cứ không - lục quân ở Điện Biên Phủ đã bị bao vây tứ phía. Lính Tabor của cứ điểm Isabelle không còn tới được bờ sông Nậm Nưa nữa, cũng như quân lê dương của cứ điểm Béatrice đã không còn có thể mạo hiểm trên con đường dẫn ngược lên bản Nà Lòi, và trung tá Louis Guth, tham mưu trưởng của Castries đã bị giết chết, ngày 28 tháng mười hai, bởi một phát đạn trong một khe núi, trong cuộc trinh sát địa hình vùng xung quanh Gabrielle, lúc sẩm tối. Các tiểu đoàn ở Sốp Nao may mắn thoát khỏi được sư đoàn 308. Điện Biên Phủ, giống như đã bị bao vây. Liệu có ai còn dám tin vào điều trái ngược? Thậm chí người ta không còn thấy có cách nào để đánh bật các vũ khí nặng mà người ta phát hiện được trong vùng ven các dốc núi gần nhất. Với hệ thống bố trí có chiều sâu của đối phương, sẽ là sai lầm nếu nghĩ đến việc tung một đội quân xuyên qua rừng rậm để tiến công một cụm pháo binh. Việt Minh không chỉ bằng lòng với việc tràn ngập vùng thượng du. Họ triển khai về vùng giữa sông Mékong tựa như họ có ý định chia cắt nước Lào làm đôi. Thái lan đã ban bố tình trạng báo động trên chín tỉnh phía bắc và đông bắc, Thà Khẹt bị quân ta rút bỏ và cuộc hành binh Atlante, được dự tính từ tháng sáu, hình như tỏ ra đúng đắn để ngăn chặn cuộc tiến công của đối phương. Điện Biên Phủ, tạm thời lúc này, được ưu tiên số một trong nỗ lực, nhưng những lực lượng dự bị quan trọng sẽ được rút đi ở khắp nơi để đương đầu với tình thế chung. Cũng như các vùng khác, xứ Bắc Kỳ sẽ phải cung cấp phần đóng góp và Cogny lo lắng vì chuyện đó. Khai thác các thông tin có trong tay, Navarre cho tấn công vào các tuyến giao thông. Ngày 25 và 26 tháng mười hai, hai mươi ba máy bay khu trục ném hai mươi ba tấn bom xuống một trong những nút giao thông được dự kiến, nút Mercure. Ngày hôm sau, việc thông thương của đoạn đường đó được tái lập. Từ Sài Gòn, nơi ông quay về vào ngày Noel, sau một chặng dừng chân ở Séno, ở đó ông xuất hiện trong cảnh hoảng loạn, Navarre đã gửi cho Cogny những ý kiến nhận xét qua một bức điện. Ông đã nhận thấy một hệ thống bảo vệ quá yếu chống lại hoả lực pháo binh, hệ thống hàng rào dây thép gai không đủ dày và quá ít mìn và bẫy sập. Ông thấy ngạc nhiên vì điểm tựa phía bắc Gabrielle được coi là cần thiết lại vẫn chưa được bắt đầu xây dựng và cuối cùng tình hình chính trị tạo ra bởi việc lập lại chính quyền của Đèo Văn Long đã có những tác động xấu tới việc tuyển mộ dân binh. Thực tế, nếu như một số căn hầm chất lượng kém, lỗi đó vừa do tư tưởng coi thường đối phương và cách làm cẩu thả cũng như vừa do vật liệu xấu mà người ta sử dụng. Để chịu đựng được thử thách của một quả đạn pháo 105, một căn hầm phải được chống đỡ bởi hai xà ngang bằng thân gỗ tròn đường kính mười lăm xăngtimét, nằm dưới một lớp đất dày một thước, và trên lớp đất là một lớp đá để kích cho đạn nổ. Do vì không có đá ở trong thung lũng, người ta thay thế chúng bằng những mảnh ghi sắt sân bay, những viên gạch thu gom được hoặc những bó cành cây, những thứ này dù sao có cũng hơn không, giúp cho việc thoát nước. Gỗ tươi của các thân cây tạo thành lớp bảo vệ rất kém vì tình trạng thiếu an ninh thường ngăn trở việc đốn hạ cây trong rừng. Về sau, Cogny khẳng định là đã cố gắng tối đa, tính đến các phương tiện và thời gian: có nghĩa là đã làm hết sức. Liệu Cogny có mong muốn trận đánh ở Điện Biên Phủ, như ông đã tuyên bố ngày 30 tháng mười hai với đặc phái viên của hãng United Press, hay là ông muốn đánh lừa đối phương bằng cách làm ra vẻ mong muốn nó. Sau khoảng cách mười năm, nói như thế nào đây? Điều bất hạnh, đó là không có một ai đã từng yêu cầu Cogny có những tuyên bố và rằng những tuyên bố duy nhất mà người ta có được từ miệng ông vào thời kỳ đó đều ủng hộ trận đánh này. Cái mà người ta có thể giữ lại như một tài liệu hoàn toàn không có tính sao chép, đó là bản báo cáo sai lệch của viên tướng thanh tra của pháo binh thuộc đạo quân viễn chinh, hai hôm trước đi cùng Cogny lên Điện Biên Phủ; báo cáo này là lời khẳng định dành cho Castries rằng khối lượng pháo binh ở Điện Biên Phủ là đủ và lời kết luận rằng đối phương không thể nào nã pháo vào ban ngày và lúc thời tiết quang đãng. Đây là điều khoản chủ yếu trong bản hợp đồng được thông qua, ngày 29 tháng mười hai, gần như là trước mắt công chứng viên, với sự hiện diện của viên phó tướng của Navarre, cùng Cogny, giữa đại tá De Castries và viên tướng tư lệnh các lực lượng không quân. Không quân yêu cầu duy trì hoàn hảo tình trạng của đường băng và bảo vệ nó chống lại những phát đạn bắn thẳng khiến nó không thể sử dụng được. Việc củng cố trên hướng bắc cứ điểm Gabrielle vốn đảm bảo trục cất cánh và những đường lượn tròn thả dù, việc ngăn cản tuyệt đối không cho đối phương bố trí các cụm pháo cao xạ trên các ngọn núi hay trong lòng chảo là cần thiết. Không quân yêu cầu người ta buộc phải tấn công các khẩu pháo đối phương, nếu như có và rằng người ta phải bảo vệ khu đỗ các máy bay khu trục và các đài thông tin của không quân. Đổi lại không quân cam kết mỗi ngày chuyển lên Điện Biên Phủ ít nhất một trăm tấn bom đạn, sẽ yểm trợ hệ thống phòng ngự bằng hoả lực trực tiếp và gián tiếp của mình, bằng những chuyến bay trinh sát và hệ thống đài quan sát của mình. Cuối cùng không quân nhận được lời đảm bảo rằng, nếu như có sự cố làm cho đường băng không sử dụng được, sự cố đó sẽ chỉ kéo dài trong vài ngày. Lo lắng đến việc giúp đỡ Castries phát hiện những cụm pháo của đối phương, tướng Lauzin đã đề nghị sử dụng một quả bóng quan sát, hình thù như chiếc dồi lợn mà người ta sẽ chi phí lớn để mang từ Versailles đến; quả bóng này được thả lên trên lớp mây đôi khi che kín cả khu lòng chảo. Cái chiến cụ thời tiền sử chắc chắn sẽ nhanh chóng bị bắn rơi này, sẽ kiểm soát các ngọn núi khi các máy bay không thể cất cánh được. Ý tưởng này không được thực hiện. Trong bản chỉ lệnh ban bố ngày hôm đó, Navarre cố gắng không để lộ ra chút gì tâm trạng bi quan đang xâm chiếm tâm tư ông. Ông đã chấp nhận trận giao chiến trên vùng thượng du; nếu như lúc này ông thấy hối tiếc về chuyện đó, ông không phải là con người lúc nào cũng tranh cãi về các trách nhiệm của mình, lại càng không phải là người chối bỏ những trách nhiệm ấy. Suy nghĩ lại cái quyết định mà ông bắt đầu tin là nó bất hạnh, ông tự khen mình về việc đó và nhắc lại rằng ông muốn thắng cuộc. Không phải ông không biết rằng, trong những hoàn cảnh đôi khi bắt buộc các vị tướng phải giao chiến phần lớn đều có chuyện rủi ro, nhưng mà không có cái gì mất đi khi toàn bộ còn chưa mất và những biến cố bất ngờ hoặc những việc làm liều lĩnh đôi khi lật ngược thế cờ. Do ông có nghĩa vụ phải dự kiến mọi chuyện và rằng cái tốt nhất đã được xem xét đến còn cái xấu nhất là vấn đề còn phải nghiên cứu. Vậy là ông nêu ra giả thiết rằng trận đánh, mắc sai lầm do bởi những phương tiện rất mạnh mà đối phương lần đầu tiên tung ra, không biến chuyển theo chiều hướng thuận lợi cho ông vì pháo binh chặn đứng không cho máy bay hạ cánh và rằng pháo cao xạ bóp nghẹt căn cứ. Ông bèn yêu cầu Cogny và đại tá Crévecoeur hết sức bí mật, để cho những người tình cờ sẽ thực hiện kế hoạch đó không biết được, soạn thảo một cuộc hành binh mà ông đã đặt tên là Xenophon, để trường hợp mà đội quân đồn trú trong cứ điểm có vẻ sắp bị tiêu diệt, người ta sẽ phải tiến hành sơ tán họ. Như vậy, mọi việc đã rõ. Không một ai còn có thể cho là mình nhầm hoặc nhận được thông tin sai lệch. Đối với xứ Đông Dương, năm mới sắp bắt đầu có tất cả những cơ may giống như hiệp đấu cuối cùng của một trận đấu quyền Anh, hạng cân trung bình: sau rất nhiều cú tránh đòn, cả hai đối thủ đã lần lượt bước ra khỏi tấm thảm và lấy lại hơi thở trong góc đứng của mình, chuẩn bị để lại nhảy chồm vào nhau một lần nữn. Cho đến lúc này, các trọng tài cho điểm không. Hiệp đấu cuối cùng sắp kết thúc trận đánh. Cần phải thừa nhận cho tướng Henri Navarre một việc làm đáng khen kỳ lạ: đó là việc không sợ lời phản cung của các cấp dưới trực tiếp khi họ nhìn thấy trước thất bại. Ông còn đi xa hơn nữa tới đâu đây? Chắc chắn, ông viết rằng ông chỉ chịu rút bỏ các đơn vị ở Điện Biên Phủ vào giây phút cuối cùng, nhưng không một ai trong số người vây quanh ông lại có thể tán thành cách nhìn bi quan ấy. Càng có lí do hơn, không một ai có thể tin vào những cách nhìn đã bị gạt bỏ, kể từ khi việc sư đoàn 308 có mặt đã chặn đứng mọi ý định rút chạy. Giống như César ở Avaricum, giống như Condé vĩ đại đứng trước Lérida, Navarre nghĩ rằng tình thế có nguy cơ xoay chiều về hướng thảm bại. Rằng phải chăng ông đã không có đủ can đảm để thách thức nhiều hơn nữa những con người đang cho rằng, đối với tướng Giáp, họ chỉ ngoạm một miếng là xong, những con người tỏ ra bất bình rằng người ta thậm chí dám nghi ngờ thắng lợi? Rằng phải chăng ông không quyết định để rút chạy? Sự có mặt của sư đoàn 308 đã làm rắc rối mọi việc và việc rút chạy các tiểu đoàn sẽ diễn ra không phải không có tổn thất, nhưng mà pháo binh đối phương vẫn còn chưa vào vị trí và nó sẽ bị dập đầu nếu để lộ các trận địa của mình. Ngày 10 tháng mười hai rút lui thì cũng còn chút ít cơ may không rụng lông gẫy cánh, nhưng dù sao vẫn là còn. Duy có điều, cuộc hành binh sẽ là một cuộc tháo chạy tán loạn, uy tín của Navarre vì thế sẽ bị lu mờ và nhất là, cái dẫn chứng rằng trận thắng là một miếng mồi nhử đối phương kéo tới sẽ không bao giờ có được. Navarre chắc chắn sẽ không nghe theo lập luận này. Ông chỉ có lòng tin rất hạn chế đối với ý kiến của Cogny và trái ngược với tất cả những ai coi thường nó, ông nể sợ pháo binh của đối phương. Nếu như ông quyết định không rút chạy, đó là vì, bất chấp tâm trạng bi quan làm cho nét mặt ông u ám, ông tin vào thắng lợi. Vả lại, sẽ là không hiểu gì về những con người và những ý nghĩ đang chế ngự họ khi giả định là mọi việc sẽ diễn ra đơn giản đến thế. Không có chuyện gì thay đổi bởi con số của một năm mới chao đảo trong tiếng lốp bốp nhỏ của những nút chai sâm-banh làm yên lòng mọi người. Dù cho đôi khi mù quáng và ngớ ngẩn đến đâu, những con người vĩ đại trông bề ngoài như đang xem xét, suy nghĩ và đám tùy tùng đặt lòng tin vào họ. Khi mà nỗi bất lực của người chỉ huy trở nên hiển nhiên, lúc đó chỉ cần có chút ít sự việc để khiến cho các biến cố, tựa như dòng nước tìm kiếm độ dốc của nó, chảy về hướng của số mệnh hay của nỗi bất hạnh. Ở Điện Biên Phủ, chưa có con bài nào tung ra. Sự thông minh tỉnh táo vẫn còn nằm trọn ở hai phía, giống như ở những võ sĩ quyền Anh trong tư thế cảnh giác, rình đợi giây phút mà đối thủ sơ hở. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 05:56:47 pm III CÁI BÔ Pháo binh của cứ điểm, ngược lại, được bố trí bên trong chiều dày của lớp vỏ bọc, lớp này sẽ cực kỳ dày và ở khắp nơi đều nằm thành hai tầng. Cần phải bắn thật thẳng mới phá huỷ được nó, và đó sẽ là việc bất khả thi, bởi lẽ chỉ có miệng nòng pháo là nhô ra ngoài bức tường thành... Hoàng tử De LIGNE Đã chứng minh được rằng một đội quân có thể đi qua nơi mà một con dê đi qua; thậm chí với những sợi dây thừng người ta có thể chuyển các khẩu đại bác lên những ngọn núi cao nhất, bố trí ở đó những trận địa bằng phẳng và đốn hạ những cây cối che phủ đỉnh núi từ thời sáng tạo ra thế giới, tiêu diệt một khu trại quân địch vốn không chờ đợi một trận mưa đạn từ trên mây trút xuống. Hoàng tử De LIGNE Ngày 1 tháng giêng 1954 Khi Cogny tới Điện Biên Phủ ngày 29 tháng mười hai, ông đã phải lượn tròn hơn một tiếng đồng hồ trên khu lòng chảo rồi mới có thể xuyên qua lớp mây và hạ cánh: vùng trời bay đã bị cản trở. Một cơn mưa phùn nặng hạt đã bao trùm vùng đồng bằng. Nước mưa làm bóng loáng mặt đường, chảy xuống từ các mái nhà, làm mờ mịt mảng kính chắn gió của xe tô và giải ven bờ hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Trên các căn cứ không quân, các phương tiện kỹ thuật dẫn đường thiếu thốn đến nỗi mỗi lần cất cánh phải cách quãng mười lăm phút. Với nhịp điệu này, nếu như trời không hửng lên một chút vào khoảng giữa trưa thì cần tới mười tiếng đồng hồ để cho cất cánh được bốn mươi chiếc Dakota cần thiết cho việc duy trì cuộc sống ở Điện Biên Phủ. Ngày hôm ấy, các phi công đã có thể chuyển tới chỗ mà kể từ nay phải gọi là trận địa hầm hào chứ không còn là một căn cứ tác chiến tấn công và phòng ngự, đơn vị bộ binh cuối cùng mà ở đó người ta chờ đợi: tiểu đoàn số 5 của trung đoàn bộ binh người Algérie số 7, đơn vị cuối cùng được chỉ định để chiếm giữ Gabrielle cách đây bốn kilômét, nằm trên trục đường bay cất cánh, trên sườn thoai thoải của một quả đồi dài có cây cối, có phần nào chế ngự cửa ngõ hướng bắc. Cách đó bốn hay năm trăm mét, dưới chân vài thửa ruộng lúa, một số quả đồi khác rộng hơn chạy ngược lên những đỉnh núi dựng đứng, được che phủ bởi một thảm thực vật rậm rạp, ở đó một kẻ tấn công khéo léo có thể đưa vũ khí tới gần. Người ta sẽ đến được đó tuỳ thích, từ dãy núi sẫm màu, trong dãy núi đó, đạo quân của tướng Giáp phân tán mà không có dấu hiệu gì có thể phát hiện ra được: không một chuyển động, không một hầm hào, không một ngọn khói. Những vết nham nhở duy nhất trên sườn núi là những đám cháy mà những người Mẹo, mùa vừa qua đốt nương để trồng cây thuốc phiện. Cái cứ điểm mạnh Gabrielle có tầm quan trọng lớn đến mức chính bản thân các phi công đã yêu cầu phải bố trí, chỉ có hi vọng được yểm trợ bởi hỏa lực pháo binh của khu phòng ngự chủ yếu: Béatrice và đội lê dương của nó ở cách hai kilômét rưỡi về phía đông nam, ngăn cách với Gabrielle bởi những khúc sông và những quả đồi khác; Anne Marie và đội quân người Thái của nó ở cách hai kilômét phía tây nam. Với Gabrielle và người chỉ huy của nó, không chỉ cần có đại liên và súng cối để chống giữ mà còn phải có một ý chí thép, bởi lẽ ở đó người ta sẽ cảm thấy đơn độc; thậm chí người ta không có được những điều dễ chịu của cuộc sống trong khu phòng ngự chủ yếu: dòng điện do các nhóm công binh cung cấp, đồ tiếp tế được thả dù ngay tại chỗ, cái cảm giác an tâm trước số đông người và khối vũ khí tích trữ chất đống. Một vài sĩ quan chỉ huy đội quân người Algérie sẽ tự hỏi người ta giành cho mình số phận nào đây nếu như họ có thể đọc được tài liệu mà ngày hôm đó tướng Bodet giữ chặt trong chiếc cặp da trên máy bay bay về Paris. Đó là một lá thư dài của tướng Navarre đánh số một trong các công văn chính thức của năm mới, một năm đầy u ám với những viễn cảnh mà bản chỉ lệnh bí mật ngày 31 tháng mười hai làm nảy sinh. Mặc dù nội dung lá thư trong khi kế hoạch nêu lên là lôgíc và được xây dựng chặt chẽ, thì việc phân tích có vẻ mờ nhạt và hình như thiếu sáng sủa trong tư tưởng của người cộng sự đã soạn thảo lá thư. Nhưng mà điều đó là thứ yếu. Điều chủ yếu là cơ bản, và điều cơ bản khiến cho nhữngngười tiếp nhận tài liệu ấy chìm đắm trong cảnh lúng túng, không biết làm thế nào thoát ra khỏi cảnh phân vân khó hiểu. Làm thế nào mà họ hiểu được rằng cách đây năm tuần lễ, cũng con người đó vốn đã trả lời một câu “Không" dứt khoát đối với những đề nghị rụt rè để tiến hành các cuộc thương lượng, giờ đây lại cân nhắc sự thất bại của một công trình mà người đó đã lao vào thực hiện mà không xin ý kiến hoặc bất chấp ý kiến của chính phủ. Ngày 2 tháng giêng 1954 Từ Hà Nội, đặc phái viên thường trực của hãng tin A.P. truyền đi lời tuyên bố mới của tướng Cogny như sau: "Bộ chỉ huy quân Pháp tin chắc sẽ giáng cho Việt Minh một đòn thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ. Chúng tôi chờ đợi những trận đánh ác liệt kéo dài. Chúng tôi sẽ thắng cuộc ". Ở Cogny cũng thế, giọng điệu đã thay đổi và niềm tin tưởng hạ thấp xuống vài độ. Cogny là người đầu tiên đã nói rằng Điện Biên Phủ, trên con đường đi sang Lào, có giá trị như một chiếc bánh được niêm phong nhưng Cogny nghĩ một cách có lý rằng đây là một chuyện khác, rằng những con súc sắc vẫn còn đang lăn tròn và rằng chuyện tướng Giáp bị thua cuộc là câu chuyện không phải dễ dàng gì. Đối với ông ta, Cogny không thể ngăn cản được điều gì cả. Navarre có thể làm mọi chuyện. Tại sao ông ta đã không quyết định rút lui khi mà sư đoàn 308 còn chưa ở trong trạng thái tham chiến. Không chỉ có César ở trận Avaricum hoặc Condé ở trước mặt thành Lérida.1 Trong lịch sử quân sự, những tướng lĩnh khác đã từ chối tham chiến khi đối phương không xuất hiện như họ mong đợi và nếu như chưa từng có tấm gương nào thì Navarre lẽ ra sẽ nêu một tấm gương vì niềm vinh quang của ông ta. Trước khi gặp khó khăn, De Latrre đã không chút do dự để lại đưa vào cuộc mười hai tiểu đoàn ấy vốn là khoản đặt cược của ván bài poker, để tung chúng vào hậu phương của đối thủ ở gần Hà Nội, quấy rối ở đó và tuyên truyền rùm beng rằng đã chơi cho quân Việt một đòn đáng kể. Giờ đây nếu Navarre nghĩ đến chuyện đó thì đã quá muộn. Mưa phùn lại sắp trùm lên vùng đồng bằng và các máy bay vận tải sẽ vất vả để bốc đi được mỗi ngày một tiểu đoàn. Kể cả nếu như ông quyết định rút đi thì Navarre cũng không thể làm được việc đó nữa và ở Đông Dương, không một ai sẽ tha thứ cho ông nỗi nhục đó. Ông không có đủ uy tín để được người ta tin ngay lập tức và phục tùng. Ông sẽ ngã gục trước những tiếng la ó. Từ trên các đỉnh núi khống chế khu lòng chảo mầu xám Điện Biên Phủ, nhiều nghìn các chiến sĩ đội những chiếc mũ nan tre hoặc mũ lá, ngắm nhìn những cuộn khói của tập đoàn cứ điểm và không chút nghi ngờ là họ sẽ còn sống để tiến vào dải thung lũng. Nhưng họ không phải là những người mà tướng Giáp dám coi như một khoản đặt cược trên bàn đánh bạc: họ là đoàn quân giải phóng của nước Việt Nam và họ biết rằng họ chiến đấu vì nền độc lập của tổ quốc chống lại một chế độ thuộc địa đang trên con đường biến mất ở bề mặt quả địa cầu. Nếu như họ chết thì sẽ là với tiếng hô vì tự do, thốt ra từ cửa miệng. _________________________________ 1. Xem chú thích ở chương II. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 06:01:42 pm Ngày 3 tháng giêng 1954 Đối với Navarre, không có cái gì bị mất nếu như ông từ chối việc đó, bởi lẽ ông biết rõ những nguy hiểm mà ông đang đương đầu. Trước những quân cờ mà đối phương dịch chuyển bất ngờ đối với ông, Navarre đã nhìn thấy kế hoạch của chính mình bị đảo lộn: trận đánh tổng lực mà ông muốn né tránh đã áp đặt lên ông và ông không còn có thể thoát ra nữa, bị vướng víu trong tấm lưới mà chính ông đã muốn tung ra. Tuy nhiên, cũng như ông, tướng Giáp không có khả năng tổ chức và huấn luyện những sư đoàn mới để tung vào bãi chiến trường hiện tại; dù cho các phương sách để nuôi dưỡng các đơn vị của tướng Giáp về gạo, về vũ khí nặng và đạn dược có phát triển phong phú đến đâu thì thời gian và sức mạnh để chiến thắng được khoảng cách xa, cuối cùng sẽ thiếu hụt đối với tướng Giáp. Đặt giả thiết xấu nhất, Điện Biên Phủ có thể cùng số phận với Nà Sản, cứ điểm mà tướng Giáp đã không nuốt nổi bởi vì ông không có hàm răng đủ chắc cũng như cái bụng đủ rỗng. Ở Điện Biên Phủ cũng thế, sẽ đến thời điểm mà những trận mưa làm gián đoạn các trận đánh: nếu như Điện Biên Phủ kháng cự được, lúc đó tướng Giáp sẽ phải cho các sư đoàn của ông rút về phía sau, băng bó các vết thương trong các khu trú quân mùa hè; đội quân đồn trú trong tập đoàn cứ điểm lúc đó có thể chuồn đi, giống như ở Nà Sản, và chui qua dưới mũi của tướng Giáp. Navarre vẫn còn có thể tự do hành động để mang tới trận đánh này, dù cho chuẩn bị không tốt đến đâu, những phương tiện vượt lên trên rất nhiều những phương tiện của đối thủ. Navarre sắp sửa đặt trọn gói vào Điện Biên Phủ, điều này không một ai nghi ngờ, ngoại trừ một số rất ít sĩ quan. Cogny không thuộc trong số đó, ông đã đọc được lá thư ngày 1 tháng giêng gửi cho chính phủ. Đây này, Navarre bám giữ kiên quyết vào kế hoạch tuyệt vời của mình. Atlante, cuộc tấn công mà ông muốn tung ra ở Nam và Trung bộ, ông coi đó như vở diễn chủ lực của mình, tuy không tin chắc thắng cuộc bởi lẽ, nhắc đến nó, ông đã viết: “Nếu như trận đánh thành công". Trong trường hợp đó, nó sẽ có giá trị đối với ông như một tấm thẻ chiến tranh. Ngược lại, nếu như trận đánh Điện Biên Phủ thất bại, Navarre không hiểu rằng mình sẽ bị đánh bại. Về phía mình, tướng Giáp không hề cảm thấy điều gì ngờ vực. Cuộc tấn công của Navarre trên những cao nguyên núi rừng ở phía nam chỉ là một miếng mồi nhử. Tướng Giáp biết rằng ván bài sẽ diễn ra ở Điện Biên Phủ và chính là ở cách đó mấy kilômét, trong khu rừng Mường Phăng kể từ một tháng nay, ông đã bố trí sở chỉ huy của mình để điều khiển trận đánh. Vào cuối buổi sáng, ở Hà Nội, trời hửng. Cogny bay lên Điện Biên Phủ, ăn bữa trưa ở nhà ăn tập thể của Castries. Lúc 13 giờ 05, Navarre tới cùng với viên cao uỷ, ngài Dejean. Người thợ máy bắc chiếc thang để bước xuống. Trong khung cửa mở rộng, chiếc mũ calô đỏ của Castries xuất hiện trong ánh nắng. Quân sĩ thì tươi tỉnh và món súp rất ngon. Phải ba ngày nữa, người ta mới tổ chức lễ Hiện thân của Chúa, nhưng giờ đây đã có các "pháp sư” hạng nhất. Ngài đại sứ cao uỷ và vị tổng chỉ huy đi duyệt một trung đội của tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5. Ngài đại sứ tay cầm chiếc mũ, vừa bước đi vừa nhìn xuống chân đội quân danh dự. Navarre mỉm cười. Bên ngoài chiếc áo bludông, ông khoác thêm chiếc áo vét bằng vải mới láng bóng, khiến cho ông có dáng vẻ giả tạo. Loại người hùng ác chiến vốn không phải là sở trường của ông. Ông cầm trong tay cây gậy chỉ huy nhẹ bằng sậy. Bộ quân phục không hợp với người ông, không che giấu được cái bụng hơi to và lẽ ra phải thu gọn nó lại thì vạt áo đã lượn phồng theo hình tròn. Chiếc quần dài, hai ống bay phất phơ xung quanh đôi cẳng chân ông. Khi bước đi, ông có khuynh hướng cúi đầu xuống tựa như gánh chịu sức nặng của các ý tưởng riêng tư và nhìn trộm những người đối thoại với mình, hoặc là, đột nhiên dừng lại ngửa đầu ra phía sau, vẻ diễu cợt và khiêu khích. Đi bên cạnh ông, Cogny khó khăn mới che giấu được nỗi khó chịu. Cổ áo để hở, quân phục nhầu nát, chiếc gậy leo núi nắm trong tay, đôi mắt lo ngại, trong thâm tâm Cogny đã chuẩn bị bản buộc tội chống lại trận đánh Atlante. Đứng trước mặt ngài Dejean, người ta im lặng: một quan chức dân sự dễ có thể hiểu lầm một từ trong ngôn ngữ quân sự. Người ta đưa ông đi dạo trong cứ điểm. Có phần hơi lặng lẽ, viên cao uỷ thực thi một nghĩa vụ khi đi thăm cứ điểm. Cái vầng trán trơn bóng này, cái vẻ mặt bề ngoài toát ra tính dễ dãi hay tính cứng rắn này, tuỳ theo người ta đặt vào đó câu chuyện gì, là của một nhà ngoại giao không hiểu gì nhiều lắm các vấn đề quân sự và có nghĩa vụ thu xếp sao cho các kế hoạch phù hợp với đường lối của chính phủ. Chỉ đạo cuộc chiến tranh ư? Nếu muốn vậy thì người ta phải trao cho ông quyền hạn. Lúc đó, có thể, ông sẽ tự buộc tội mình. Ông tiếp tục tổ chức các bữa ăn tối, tiếp đón các vị bộ trưởng, các hoàng tử và các quốc vương. Trên bàn ăn, phép lịch thiệp thu xếp các câu chuyện mà các văn phòng khuấy động lên, nhưng bầu không khí vẫn luôn luôn nghiêm túc và khi mà các cuộc trò chuyện kéo dài sau bữa ăn tối, nếu như thiếu rượu uýtski, người ta phục vụ món bia để nói rằng thời gian đã dài. Bức thư Navarre gửi cho chính phủ ngày 1 tháng giêng đã đưa vị cao ủy vào một trạng thái phân vân sâu sắc, bởi lẽ, ở Sài Gòn ông cũng không biết gì hơn ngài Jacquet ở Paris. Mối bận tâm chủ yếu của ông là nắm được những ý đồ của các viên tướng mà không làm cho họ quá khó chịu và từ đó rút ra những vấn đề để đánh điện gửi về cho bộ của mình. Dù sao, ông cũng không đến nỗi quá ư bất tài như các nhà quân sự giả định và đã lên tiếng hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu như pháo binh đối phương bố trí trên các đỉnh núi hoặc trên những sườn núi dốc xuống. Người ta trả lời ông rằng quân Việt có thể đã rất khó khăn để chuyển tới đó một lực lượng pháo binh quan trọng và vận chuyển đạn dược đi xuyên qua rừng rậm của vùng thượng du, máy bay kiểm soát các con đường tiếp cận tới đó và rằng các khẩu đội có nhiệm vụ phản pháo sẽ tiêu huỷ những khẩu pháo nào bắt buộc phải lộ mình ra khi nhả đạn. Pháo binh đối phương chưa bao giờ được sử dụng với một hoả lực mạnh và có tầm xa. Nó chỉ được sử dụng để can thiệp trong vài dịp hiếm hoi bằng hoả lực bắn thẳng, trên vùng đồng bằng và những đồn bốt gần đường biên giới với Trung Quốc. Các nòng súng đã được sử dụng là cỡ 75 của Nhật, cỡ 75 và 57 của trung Quốc. Các khẩu 105 chưa bao giờ được dùng đến. Ngài Dejean, có lẽ nhớ lại câu ngạn ngữ cổ: "Thung lũng thu hút những quả đạn tròn" cho nên hình như không thấy mình được thuyết phục. Người ta nhắc lại với ông rằng quân Việt không có các pháo thủ có khả năng bảo đảm hàng rào phòng không có hiệu quả hoặc gây trở ngại cho hoạt động của cầu hàng không. Cho đến tận năm 1953, pháo phòng không các cỡ nòng nhỏ chỉ gây trở ngại cho các máy bay trinh sát hoặc vận tải ở những vùng gần các bãi nhảy dù trên núi. Tuy nhiên, ở Hoà Bình, người ta đã ghi nhận được những phát đạn trúng đích đầu tiên. Viên cao uỷ chịu thua. Lúc 15 giờ 30, ông lại bay đi Viên Chăn và Sài Gòn trên chiếc Dakota riêng. Bức thư của Navarre gửi cho chính phủ, tuy nhiên, lại đã khiến cho ngài Maurie Dejean hiểu rằng những nỗi bất hạnh mà ông không chuẩn bị đón nhận có thể chụp xuống dải đất mà người ta đã giao phó trách nhiệm cho ông. Những gì ông đã nhìn thấy, khoảng rộng lớn của khu lòng chảo, số lượng các đơn vị được bố trí, những khẩu đại bác nằm trong các hầm bảo vệ như các lỗ tổ ong vây tròn, những chiếc máy bay khu trục cất cánh từ đường băng trước những cụm mây bụi dày đặc, những chiếc xe tải, những công việc tổ chức trận địa, những khoảng cách mà ông ngồi trên xe Jeep băng qua từ điểm tựa này sang điểm tựa khác, mạng lưới hàng rào dây thép gai, tư thế của các sĩ quan, tất cả mọi thứ làm cho ông tin là đối phương, nếu dám mạo hiểm tới đây, cũng sẽ không bao giờ tới gần được sở chỉ huy của De Castries, người chỉ huy ghê gớm có đôi môi bĩu ra một vẻ khinh khi và chiếc gậy chống đẹp, đầu nhọn bịt bạc. Hai hôm sau, viên cao ủy báo cáo cho bộ trưởng của mình biết rõ ý định của bộ chỉ huy tối cao ở Đông Dương bằng một bức điện làm cân bằng tác động khó chịu của bức thư ngày 1 tháng giêng: "Bộ chỉ huy chúng tôi đánh giá là trận đánh nếu như do đối phương tung ra sẽ rất ác liệt nhưng mang đến cho chúng ta những cơ may nghiêm chỉnh giành thắng lợi. Cho đến nay, đạo quân của tướng Giáp chưa hề đứng trước một nhiệm vụ đáng sợ bằng việc mở trận tấn công Điện Biên Phủ". Đây là lần đầu tiên trong một tài liệu chính thức, cấp hàm tướng được dành cho ông Võ Nguyên Giáp thậm chí không còn dùng đến những dấu ngoặc kép khiếm nhã. Cách nhìn đi đôi với sức nặng của vũ khí. … “Trận đánh nếu như do đối phương tung ra...” viên cao ủy điện như vậy. Trước đây, cách khoảng thời gian một năm, ở Nà Sản người ta tự hỏi nhau. Người ta hầu như đã chắc chắn là tướng Giáp sẽ không tấn công, bởi lẽ ông ta không tốt nghiệp Học viện Chiến tranh. Trong nỗi ngờ vực, người ta còn dựa vào một chương trong bản giáo lí của đạo quân viễn chinh nói rõ rằng quân Việt không bao giờ tấn công khi mà họ tự thấy vũ khí được trang bị ngang sức với kẻ địch hoặc là họ đứng trước những khó khăn quá ư nghiêm trọng. Tướng Salan đã có yêu cầu tôi sửa đổi một vài đoạn trong bài tường thuật mà tôi gửi từ Nà Sản về để khỏi làm nản lòng tướng Giáp. Được bổ sung về nguyên tắc rằng tướng Giáp không có pháo binh và nếu như có, ông ta cũng không thể hoặc không biết cách sử dụng, và rằng những phương tiện và quan điểm biện chứng của ông ta cũng không cho phép ông ta cầm cự hơn một tháng trời ở trên vùng thượng du, cái chương sách nằm lòng này nằm trong học thuyết của các sĩ quan chỉ huy và quân sĩ. Thử hỏi, cái con người nghiệp dư bốn mươi hai tuổi này, đem so sánh với các tài năng mà người ta đào luyện ở quảng trường Joffre, con người này có thể nghĩ rằng mình là một bóng đen nguy hiểm đối với các tướng lĩnh thực thụ, được bổ nhiệm bởi hội đồng các bộ trưởng và đối với một đại tá vừa mới tốt nghiệp các lớp cao học quân sự, trường đào tạo thống chế hiện đại hay sao? Ấy vậy mà vào thời kỳ Nà Sản, người ta đã có thể nghĩ một cách hợp lí rằng tham vọng đánh chiếm cứ điểm vững chắc sẽ cung cấp cho tướng Giáp cơ hội kết thúc chiến tranh có lợi cho ông ta bằng việc chấp nhận một sự hi sinh to lớn trong những trận đánh liên miên và trong một cái chết ở cấp độ vi mô. Một chiến thắng giành được trong nhữngđiều kiện như vậy trước đạo quân viễn chinh, hẳn sẽ thừa nhận trong tư tưởng mọi người thắng lợi vẻ vang của chế độ Việt Minh và thúc đẩy nước Pháp thương lượng. Lần này nữa, câu hỏi duy nhất đặt ra với tướng Giáp chịu trách nhiệm chấp hành các mệnh lệnh của Đảng, là câu sau đây: “Ta cần có những gì để nuốt gọn được Điện Biên Phủ”. Không quân cản trở ông ta bởi lẽ không quân nhìn thấy, phá huỷ và tiếp vận. Miễn sao nó bị bịt mắt, rằng các đòn đánh của nó rơi chệch mục tiêu hoặc tác động phá hoại của nó hạn chế, và rằng nó bị bẻ gãy ngay ở trên không và tại các căn cứ của nó, thế là bài toán được giải đáp. Đội quân đồn trú Điện Biên Phủ sẽ chết ngạt. Giả định rằng tướng Giáp có thể trong giây lát, không bị hấp dẫn để nhảy xuống một miếng mồi như vậy là chuyện điên rồ. Tuy nhiên, cũng như ông ta đã từ bỏ Nà Sản sau khi hiểu được rằng không thể làm được đến tận cùng thì ông ta cũng có thể từ bỏ Điện Biên Phủ nếu như ông ta thấy Điện Biên Phủ có vẻ như nằm ngoài tầm với. Như vậy công việc dành cho Navarre là biết được ông Giáp muốn gì; với Cogny và Castries là làm sáng tỏ điều muốn đó của tướng Giáp. Cho đến nay: quả thật là tướng Giáp chưa bao giờ đứng trước một mạo hiểm lớn đến vậy, nhưng mà, mỗi năm qua đi lại tăng cường lực lượng của ông ấy, mở ra cho ông ta những con đường thông sang Trung Quốc. chở thêm xe cộ đến các bãi xe, chất đầy trong các kho dự trữ của ông ấy các khẩu đại bác và đạn dược. Tại sao lại coi ông ta là một người ngớ ngẩn? Tại sao lại tưởng tượng rằng ông ấy sẽ không biết sử dụng pháo phòng không? Và hai nghìn chiếc xe đạp mà một thông báo thu nhận được đã pháp hiện, vào khoang lễ Noel, trên các đường mòn ở Điện Biên Phủ, chúng dùng để làm gì vậy? Liệuchúng có giống như chiếc xe đạp mà nhà truyền giáo ở Lai Châu trở thành cha tuyên úy trong cứ điểm Isabelle: đạp đi thăm các con chiên trong các thôn bản chăng? Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 06:03:01 pm Những chiếc xe đạp ở cơ quan phòng Nhì từ ba năm nay, người ta đã biết chúng dùng để vận chuyển. Người ta ước lượng một chiếc xe đạp có thể chở từ gấp hai lần đến hai lần rưỡi trọng lượng của người đẩy nó đi. Nhưng những người đẩy xe ấy nặng không bao nhiêu. Thực tế, trọng tải của một chiếc xe đạp lên tới tận ba trăm ki lô, hơn cả sức tải của một con voi. Những đoạn đòn bằng gỗ để củng cố vững chắc khung xe và cổ phuốc đằng trước, những thanh tre để nối dài tay cầm cần lái và các tay nắm của dây phanh là thành phần chủ yếu của khối thiết bị mà mỗi người thồ xe mày mò tìm cách hoàn thiện. Được phân bổ thành nhiều khối hàng và được ngụy trang, tải trọng được nhân lên bởi mười hay mười hai dân công và hàng nghìn chiếc xe đạp đi lại ngày đêm. Khi mà những chiếc xe đạp vào cuộc, giờ đây không còn là phải tính đến hàng ki lô mà là hàng tấn. Người ta nói chuyện đó với Navarre, ông không thèm quan tâm đến. Đối với ông, nếu như ông không bảo vệ được nước Lào hoặc nếu như kế hoạch của ông bị đảo lộn bởi những biến cố ông không biết lường trước, tại sao ông không đánh điện xin các chỉ thị hơn là xin các tăng viện mà người ta chưa bao giờ hứa hẹn với ông? Khi mà đây là vấn đề an toàn của đạo quân viễn chinh và mạng sống của quân sĩ của chính ông, có ai bắt buộc ông phải gánh lấy những trách nhiệm về chính trị ở cấp độ của chính phủ nào? Ngày hôm đó chắc chắn Navarre đã xác định với Castries những thông tin về đối phương mà ông nắm được. Castries được biết rằng mình phải sẵn sàng đứng trước việc các máy bay bị bắn rơi và các phương tiện cơ giới bị lật nhào xuống dốc núi. Liệu Cogny có quan tâm đến những sơ hở tồn tại trong hệ thống phòng ngự và về hai điểm tựa cô lập ở cách khu phòng ngự trung tâm nhiều kilômét? Hay là, người này kẻ kia, liệu người ta có vững lòng với những ý nghĩ trọn vẹn, những câu nói ngớ ngẩn hoặc những cái bĩu môi khẽ của cấp trên ngay mỗi khi động đến vấn đề các phương tiện của đối phương chăng? Navarre có thể được tha thứ bởi vì đã không hiểu biết một đối phương hành quân đi bộ, giống như vào thời của tướng Annibal. Ông không phân vân để nắm quyền tổng chỉ huy mặc dầu ông đã nhận nhiệm vụ đó mà không tự thấy là mình quá không xứng đáng, nhưng mà không phải ông là người sẽ nhận được các trái phá của quân Việt, nếu như chúng rơi xuống. Liệu Cogny và Castries có năn nỉ để nói với ông rằng tổng thể các pháo đài sẽ không đứng vững nổi trước những gì sắp diễn ra? Tôi không biết mảy may, nhưng tôi tự nhủ nếu như có chuyện đó thì hẳn là người ta không giấu giếm tôi. Ấy thế mà, hình như đúng là nếu như người ta có nghiên cứu các bài toán đó thì người ta đã không giải chúng. Có lẽ, do bởi vì Navarre thậm chí không xem xét đến việc từ bỏ cuộc hành binh Atlante chăng? Tuy nhiên, ông là người đầu tiên được báo cho biết điều gì chờ đợi mình ở Điện Biên Phủ. Nếu như lúc đó ông là nạn nhân của ý tưởng mà Castries và Cogny hình dung về sức mạnh của tập đoàn cứ điểm thì lần này ông có thể được tha thứ vì đã tin tưởng ở một người khác, không phải là bản thân mình. Ở Paris, ngài Jacquet, vừa mới từ Đông Dương trở về, đọc lá thư của Navarre do tướng Bodet mang tới và đột nhiên sửng sốt, vừa nhồi đầy một cối thuốc mới vào tẩu vừa được biết rằng vị tổng chỉ huy có những mối ngờ vực. Lúc 17 giờ một trung đội khác bồng súng chào danh dự để Navarre quay trở về Hà Nội. Khung cảnh gây ấn tượng. Xưởng máy kêu ròn. Các khối hàng từ trên trời rơi xuống như mưa. Lớp bụi đất tiếp tục bám phủ các khuôn mặt và quần áo. Cogny bước lên ngồi bên cạnh Navarre, ở phía trước khoang lái, bên một chiếc bàn làm việc. Xa hơn, ở phía sau, đám sĩ quan tuỳ tùng thăm dò lẫn nhau. Tiếng động cơ át tiếng trò chuyện. Cogny lễ phép hỏi Navarre xem liệu ông có định mở màn cuộc hành binh Atlante, việc chuẩn bị cho trận đánh này đã hút kiệt dòng máu của đạo quân viễn chinh. Khi người ta hiểu Navarre, một câu hỏi như vậy lẽ ra không được đặt ra. Navarre trả lời ngắn gọn, với tư thế một con người tự tin: cuộc hành binh Atlante, do ông mong muốn và xếp đặt, là hành động tấn công duy nhất có tầm cỡ một chiến dịch hướng vào hệ thống phòng ngự; nó sẽ diễn ra. Lúc đó, lần lượt từng lý lẽ một, Cogny chứng minh tất cả những lập luận chống lại cuộc hành binh đó: địa hình đòi hỏi những quân số lớn, những đòn né tránh của đối phương không chịu để cho bị bám đánh, lực lượng tăng viện sẽ thiếu vắng ở Điện Biên Phủ nếu cuộc tấn công xảy ra. Cogny không nói với Navarre rằng tập đoàn cứ điểm không đủ vững chắc, rằng mình sẽ phải bố trí nhiều vật chướng ngại khác trước mặt quân tấn công và rằng ông sẽ cần đến các tiểu đoàn mà Navarre đang lấy đi của ông đưa vào trận Atlante. Nói gọn lại, và chắc chắn do vì bản thân ông không sợ nhiều lắm, về cuộc cãi cọ, cho nên ông không dọa dẫm Navarre, con người, tuy nhiên kể từ lễ Noel có vẻ cảm nhận được những mối đe dọa đang tích tụ lại. Vả lại, tại sao ông lại đi dọa dẫm về vấn đề Điện Biên Phủ, đối với một con người vừa mới ra lệnh cho ông nghiên cứu kế hoạch Xénophon và đã dự kiến trước mọi việc? Thu mình trong chiếc áo đi mưa giống như chiếc áo choàng rộng, Navarre giữ vẻ thản nhiên và xa cách. Ông thông cảm lắng nghe Cogny phác ra trước mặt mình một bài học về chiến lược, ông để cho Cogny nói hết, nhắc lại, trở lại ý tưởng về "hệ thống vệ tinh" của Cogny rồi chỉ cho Cogny thấy rằng Atlante sẽ giảm thiểu sự tự do hành động của Cogny ở Điện Biên Phủ, và ông đột ngột dừng lại. - Nếu như tôi không thể chơi ván bài Atlante như tôi muốn, tôi sẽ xin chính phủ bãi nhiệm tôi, ông nói để chấm dứt câu chuyện. Cogny im lặng nhẫn nhục. Tấm thân cao to làm ông thấy vướng víu. Ông hơi thu mình lại trong chiếc ghế bành. Navarre ngoảnh đầu về hướng chiếc cửa sổ gỗ tròn, qua đó quang cảnh nhấp nhô của vùng thượng du diễu qua, đó là lãnh địa của các sĩ quan cấp dưới, của quân sĩ và của đám quân Việt đang chiến đấu vì đất nước của họ. Số mệnh của ông là bay trên các đoàn quân và áp đặt ý chí của ông. Đối với con người lạnh lùng và bướng bỉnh này vốn đã không ngừng thoát ra khỏi mọi chuyện rắc rối và luôn luôn từ chối tất cả, đối với khuôn mặt nhìn nghiêng sắc nhọn này, mái tóc mầu xám và nhẵn mượt này, ở đó vành mũ kêpi đã để lại một đường tròn hằn rõ, Cogny cảm thấy một thứ gì đó giống như sự ghê tởm. Ông cảm thấy đơn côi và luyến tiếc tay Salan mưu mẹo, với những cái nhìn sắc lẹm, với hàm răng ác độc của con dã thú. Bản thân Salan cũng có thể phạm phải những sai lầm, nhưng mà người ta có thể tiếp cận ông ta, nắm lấy ông ta và thuyết phục được ông ta. Navarre có vẻ như không có chỗ nào để bấu víu vào được. Đối với tình bạn lại càng kém hơn. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 06:13:59 pm Ngày 5 tháng giêng 1954 Graham Greene, ngày hôm đó, có dịp đi qua, được mười dự bữa án trưa ở nhà ăn tập thể của Castries, người mà Graham so sánh khuôn mặt xương xẩu với khuôn mặt của diễn viên kịch Ernest Milton. Ở bàn ăn, khi đại tá Piroth nói về Nà Sản thì đại tá De Castries ngắt lời người bạn và nắm tay đấm xuống bàn, hét lên với giọng điệu mà Graham gọi là một kiểu cuồng nhiệt của kịch Shakespeare. - Im đi! Tôi không muốn nghe thấy ở đây một tiếng nào về Nà Sản, vốn là một trận địa hầm hào. Chúng ta đang ở trên một căn cứ tấn công. Câu nói này, Graham kể thêm, được nối tiếp bởi một khung cảnh im lặng ngượng nghịu mà một sĩ quan cấp phó của Castries, Séguins Pazzis chắc là muốn phá vỡ, cho nên đã hỏi nhà văn rằng ở Paris ông đã xem vở Christophe Colomb của Claudel chưa. Trong cuộc thăm viếng các điểm tựa tiếp sau đó, Graham Greene hỏi người dẫn đường: - Đại tá có ý gì khi nói đến "căn cứ tấn công"? Đưa tay khoát rộng, viên sĩ quan chỉ vào dãy núi: - Để cho chúng tôi có khả năng tấn công, thì không phải cần đến một binh đoàn xe tăng mà là một nghìn con lừa. Theo lời tướng De Castries, thì câu hét to vừa rồi của ông ta có mục đích đánh lừa đối phương, thông qua Graham Greene. Ngày 15 tháng giêng 1954 Về những gì liên quan đến mình, Cogny hình như không cảm thấy chút ngờ vực nào. Ngày hôm đó, trở về sau khi đi kiểm tra hệ thống phòng ngự trên phía bắc và phía nam tập đoàn cứ điểm, ông tuyên bố với phóng viên ở Hà Nội của hãng U.P: "Tôi mong chờ cuộc tấn công ở Điện Biên Phủ. Chắc chắn, pháo binh Việt Minh sẽ có thể gây trở ngại cho chúng tôi trong một thời gian, nhưng chúng tôi sẽ bắt họ câm miệng. Do vì ông ta không thể dùng sức mạnh tiến sang Lào trong nỗi lo sợ xuất hiện sau lưng mình một vật chướng ngại, tướng Giáp sẽ đứng trước tình thế bắt buộc phải tấn công. Tôi sẽ làm tất cả để ông ta phải ăn bụi và nhường cho ông ta niềm ham muốn mạo hiểm trong vấn đề chiến lược lớn". Những câu nói mà ở thời đại chúng ta, cơn gió không còn cuốn theo đi nữa, và giống như những lời thách thức xưa kia được ném ra từ các thành luỹ. Ở đây, do vì người tấn công chiếm giữ các điểm cao và kẻ bị vây hãm nằm ở dưới vùng trũng, cách nhau một khoảng cách khá xa, lời thách thức buộc phải vay mượn những kiểu thức khác so với lời thách thức của Hector1 trên các bức tường luỹ của thành Troie.2 Qua các chặng đường, toàn bộ những lời tuyên bố của các tướng lĩnh và chính khách về Điện Biên Phủ, cuối cùng cũng về tới bàn làm việc của tướng Giáp. Để tranh thủ thời gian, đại tá De Castries, với sự đồng ý của bộ chỉ huy, sử dụng một phương tiện đơn giản và trực tiếp hơn: ông cho các máy bay tới rải truyền đơn xuống các trận địa của đối phương và xuống các con đường, hoặc là cho tung vào làn sóng vô tuyến của mạng lưới chỉ huy đối phương những thông báo có nội dung khiêu khích quân Việt: ''Các anh còn chờ đợi gì mà chưa tấn công, nếu như các anh không phải là những kẻ hèn nhát? Chúng tôi chờ đón các anh". Hay nữa: ''Chúng tôi đã sẵn sàng. Bởi lẽ các anh mạnh như vậy, xin các anh kéo tới đi". Rút cục, xưa kia Hector gọi Achille là “tên đồ tồi khốn khổ", mà ngày nay chúng ta chuyển sang một từ ngữ cụ thể hơn, và Achille đã chửi Hector bằng việc gọi Hector là "đồ chó". __________________________________ 1. Hector: Người dũng cảm nhất trong các thủ lĩnh thành Troie- Con cả của vua Priam- Bị Achille giết. 2. Troie: Thành phố vùng Tiểu Á. Theo truyền thuyết bị người Hi Lạp vây hãm mười năm. Hiện có những vết tích ở Hissarlik. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 06:16:09 pm Tôi đã không thể tìm thấy dấu vết tương tự của những lời thách thức ấy, nhưng mà tinh thần của chúng là tinh thần đó. Ở đây có vấn đề hèn nhát. Theo lời một tù binh người Việt, việc rải số truyền đơn này đã gây ra trong hàng ngũ quân đội nhân dân một trận cười vui nổ trời và tướng Giáp kêu to: "Họ ở lại. Lần này, tôi nắm chắc được họ". Tôi đã nhìn thấy chiếc máy chữ in rônêô của Castries: nó nằm trong nhà Bảo tàng Điện Biên Phủ. Cách chặng đường đi bằng xe Jeep một hay hai đêm, trong một túp lều hoà lẫn hoàn toàn vào với cây lá khu rừng, một người đàn ông vừa lật ngửa một chiếc mũ cối nội địa, vừa thò vào bên trong lòng mũ một bàn tay gầy guộc đến mức người ta tưởng như bàn tay trong suốt: "Quân Pháp ở đây..." và người ấy đưa một ngón tay lướt quanh vành mũ rồi nói thêm: “Chúng ta ở đây". Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có tên gọi Nguyễn Tất Thành, hay Nguyễn Ái Quốc. Người cha ông, một quan lại cấp tỉnh của triều đại phong kiến ở Việt Nam, bị cách chức do vì từ chối không chịu học liếng Pháp và vì đã truyền bá “Huyết thư từ hải ngoại" của nhà lãnh tụ dân tộc Phan Bội Châu. Dưới vầng trán mờ rộng và túm tóc râu muối tiêu, cái nhìn lúc thì cháy bỏng lúc thì giễu cợt, chiếc mũi thẳng, đôi tai nở nang và chòm râu hào hiệp, ông trông như không còn biết là ở tuổi nào, cùng với thân hình của ông quá ư gầy gò, đó là nơi trú ngụ mỏng manh của một tâm hồn kiên cường và không khoan nhượng. Ông đã từng phục vụ như một người hầu bàn trên các con tàu thuỷ, người rửa bát đĩa trong các khách sạn lớn ở Paris, người quét tuyết thuê ở Londres. Xen kẽ vào những thời kỳ ở tù là những thời kỳ hoạt động bí mật và đấu tranh chính trị, cuộc đời đã dẫn dắt ông sử dụng mọi phương sách để đạt tới mục đích: nền độc lập của nước Việt Nam. Là người độc thân dày dạn, giờ đây đóng vai trò ông già chia kẹo cho trẻ con, và nhà thông thái mơ mộng đứng trước các quả đồi, tuy nhiên đó là một nhà cách mạng không thoả hiệp và không thể mua chuộc được, suốt cả năm mặc cùng một bộ quân phục không có cấp hàm. Ỏ con người ông, như Jean Lacouture đã ghi nhận, có người cộng sản trung thành, có diễn viên xiếc Auguste, có người môi giới Trung Quốc, có ông Gandhi của dòng thánh FanÇois, hoà trộn với nét duyên dáng có tính toán của sự vụng về của ông để tạo thành nét dịu hiền, đột nhiên biến mất bởi một giọng nói bất bình, nhanh chóng bị khỏa lấp bởi một nụ cười mềm mại độ lượng: đó là một trong số các nhân vật độc đáo nhất của nền chính trị thế giới. Ở với ông, chúng tôi ở cách xa các vị cao uỷ đang mỗi buổi tối tổ chức một bữa tiệc ở lâu đài Norodom. Ở ngoài tầm nhìn của họ tuy nhiên lại đứng trước mặt họ, ở cách xa mười hai hay mười lăm nghìn kilômét rừng rậm, khuôn mặt đầy nếp nhăn và chòm râu dài thưa của cái người đàn ông nhỏ nhắn, gầy gò tựa như đang bay trong bộ quần áo ngày nghỉ của người lái xe lửa: Bác Hồ, người đã quên tên thật của mình và tất cả những gì tạo thành cá nhân mình để hoá thân vào với đất nước mình. Được chi viện bởi cái nhìn long lanh dưới vầng trán rắn rỏi của mình, ông sẽ dùng một ngôn ngữ vang lên bên tai dân tộc của mình và biết cách kêu gọi dân tộc đó đứng lên tự vũ trang, dân tộc mà ông muốn giành lại quyền sống và danh dự. Nhưng mà theo gương của rất nhiều những người khác, sau này ông trở thành mẫu mực và người dẫn dắt cho những tấm gương đó, ông đã từng có lúc mơ tưởng tới một sự hợp tác với những gì ông hiểu về nước Pháp, ở đó ông đã biết phân biệt những kẻ tham lam và nguy hiểm với những người sáng suốt và hào hiệp. Đối với ông, Leclerc là một “tay xoay xở", Sainteny là một con người ông tin tưởng được. Hạn chế chủ yếu của ông là đã muốn đi trước thời gian, khi mà, ở châu Âu chưa một ai nghĩ rằng thời kỳ của chế độ thuộc địa đã chấm dứt và rằng các đế quốc sẽ lần lượt tan rã nếu như họ không muốn giải thoát cho các thuộc địa cũ. Theo gương nước Anh, các nước lớn phải áp đặt sức mạnh của mình bằng cái ý tưởng có được về chế độ thuộc địa nhiều hơn là bằng cái ý tưởng mà các đạo quân viễn chinh và những đội hải quan gieo rắc. Cái thế giới ngăn cách Bác Hồ với những người đại diện của nước Pháp đó không chỉ là một cách thức để phát biểu hay để lắng nghe, một ngôn ngữ hay một nền văn minh, bởi lẽ nền văn minh của Bác Hồ, nếu như còn chưa phải là nền văn minh cơ khí, thì cũng không có gì tiếp thụ từ nền văn minh của ngài Letourneau hay ngài Dejean. Đó cũng là cái thế giới sau này ngăn cách ngài Lacoste với Belkacem Krim: thế giới của những con người chiến đấu không phải vì những chiếc ghế bộ trưởng, những tờ ngân phiếu, hoặc những vùng lãnh thổ, mà là vì nền tự do của dân tộc họ. Cũng như người ta tìm thấy họ ở chỗ chúng ta trong những hoàn cảnh lớn, vào thời điểm của cái nghèo, cái đói và cái chết cùng xuất hiện. Vào thời điểm đó, người ta được biết một cuộc họp hội đồng bộ trưởng sắp diễn ra ở Thái Nguyên. Người ta nắm được ngày và giờ của cuộc họp, nhưng thị xã Thái Nguyên bao gồm một số lớn những ngôi làng và các xóm nhỏ. Các thành viên Ban chấp hành Trung ương Đảng sẽ họp ở trong ngôi nhà gianh nào đây? Để có thể nghiền nát toàn bộ dưới những quả bom, cốt để không ném trượt Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng thì cần phải có hàng trăm chiếc máy bay B.26, nối tiếp nhau thành nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau vài phút. Người ta đã không có số máy bay ấy. Để không đốt cháy đầu mối đã cung cấp thông tin mật người ta đành bỏ cuộc. Cũng còn vì, tướng Giáp đã bố trí sở chỉ huy của mình ở ngoài các khu dân cư, trong những đáy khe sâu vách dựng đứng, giữa những tảng đá đổ ngổn ngang. Những tấm bản đồ trải rộng trên những khối đá được dùng làm bàn viết, vây xung quanh là một cơ quan tham mưu toàn những thanh niên, tướng Giáp trong bộ quần áo sẫm màu, đầu để trần, mái tóc chải ép xuống thái dương bên trái và để lộ vầng trán cương nghị, phân tích các sai lầm của Navarre, dự kiến câu trả lời của mình, và ra quyết định. Cogny đã gửi cho Navarre, với danh nghĩa bản báo cáo, tờ sao của bản chỉ lệnh mà ông ta đã gửi cho Castries, tiếp sau bản chỉ lệnh u ám của tổng chỉ huy. Ông ta đã sử dụng màn pháo hoa của những ý định tiến công mà ông tưởng có thể chấp nhận được trong khuôn khổ, nếu như có thể nói như vậy của cái hệ thống vệ tinh và che giấu kế hoạch rút chạy đội quân đồn trú Điện Biên Phủ thành hành động tích cực tiến sang nước Lào, cốt để không giáng một đòn tệ hại vào tinh thần của người chấp hành chủ yếu, viên đại tá chỉ huy binh đoàn Gono. Chà, rõ ràng: cái tên thật hay, cái tên Gono ấy! Và biết bao là sự thận trọng! Cái gì vậy! Cái vị anh hùng truyền thuyết này, cái viên sĩ quan sôi sục cổ quấn chiếc khăn đỏ này vốn đã biết trước Bigeard rằng mình bị bắt buộc phải chết vì tổ quốc bởi vì mình tham gia chiến tranh, cái tay kỵ binh này đã từng biết bao lần chứng tỏ lòng dũng cảm và sự hăng hái trong việc tấn công đối phương hẳn sẽ phải đập rộn con tim khi được biết là công việc của mình không ổn? Nhưng mà lúc đó, nếu như người hậu duệ của một dòng dõi các thống chế và là người con trai của một trong những vị tướng vĩ đại nhất của nước Cộng hoà, không còn sinh khí nữa, thì người ta sẽ thay thế anh ta bằng Vanuxem, nếu như người ta muốn bằng mọi giá tôn trọng con số vạch lon, hoặc thay thế bằng Bigeard, nếu như người ta muốn có một viên chỉ huy có khả năng nhấc bổng những con người và những trái núi. Trên thế gian này không có chuyện gì có thể làm mất tinh thần Bigeard bao giờ, con người mà dòng máu chứa sẵn chiến trận và có một năng khiếu hiếm hoi về cái xứ sở này và về cuộc chiến tranh mà người ta tiến hành ở đó. Nhưng mà Bigeard chỉ có bốn vạch lon, và trong cái quân đội kinh điển này vốn kêu ca vì nó quá nhiều những kẻ bất tài chỉ huy mình, kinh nghiệm thực tiễn thu được không có ích gì: thâm niên bao giờ cũng đáng kẻ hơn tài năng. Bigeard hoặc Vanuxem có một ưu thế khác: cả hai đều để vợ ở lại nước Pháp, không có những bà vợ đi theo để sở hữu ở Hà Nộinhững toà biệt thự theo chức vụ. cùng với xe tô, lái xe, công vụ và máy điện thoại, để bộc lộ tâm trạng và ầm ĩ can thiệp vì lợi ích của những ông chồng mình. Bằng quyền hạn nào mà người ta đã che giấu sự thật đối với đại tá De Castries? Tại sao người ta không nói cho Castries biết điều gì đang chờ đợi ông ta? Còn lâu mới bị khiếp sợ vì chuyện đó, nếu như ông ta là con người tất nhiên phải như thế, thì ông ta sẽ được cổ vũ vì chuyện đó. Ông ta sẽ hiểu ra, bởi lẽ vây quanh ông ta chỉ bao gồm những sĩ quan đọc thuộc lòng những chương trong cuốn giáo lý của họ, rằng Gabrielle và Béatrice không đủ sức để bẻ gẫy những đợt sóng giận dữ của đối phương, khi ở cách cứ điểm trung tâm nhiều kilômét. Các viên tiểu đoàn trưởng mà ông đã giao phó việc phòng thủ một vài điểm tựa không phải đã không nói với ông điều đó và ông nhớ lại câu nói của Gilles: "Nếu cậu để mất một tấc đất, cậu sẽ toi mạng". Ít nhất, liệu ông có biết rằng bộ chỉ huy tối cáo của Việt Minh đã yêu cầu mọi điểm vượt qua con đường tỉnh lộ 41 đều phải chịu được trọng tải mười hai tấn hay không? Để vận chuyển qua đó loại xe cộ cỡ nào đây? Với những câu hỏi này, câu trả lời là có. Castries hiểu mọi chuyện về đối phương. Cogny gửi cho ông mọi bản tổng hợp tình hình của phòng Nhì của mình. Nhưng mà người ta không muốn mạo hiểm làm ảnh hưởng đến tinh thần của ông khi một hôm nào đó nói với ông rằng, có lẽ... Người ta trông cậy vào ông, hoàn toàn đơn giản vậy thôi, khi thời khắc điểm, sẽ đánh bại Việt Minh. Vậy là Cogny yêu cầu Castries nghiên cứu những giả thiết về một cuộc can thiệp về phía tây nam hướng tới Mường Khoa và một cuộc truy kích về hướng Sơn La bắt liên lạc với một binh đoàn sẽ được thả dù ở Nà Sản, việc này có thể, trái ngược với mục đích mà người ta bí mật nhằm tới, khẳng định trong tư tưởng Castries là ông ta đang nắm ưu thế. Castries cũng gọi cả Langlais tới. - Cậu biết nắm lại những con đường mòn mà theo đó, cậu đã đi tới Sốp Nao chứ? - Tại sao? - Langlais sửng sốt hỏi lại. - Rất có thể cậu sẽ quay lại đó trong một ngày sắp tới. Cái lực lượng không quân này, trái ngược với những gì ông nghĩ, ngày 28 tháng mười một, đã không thể ngăn cản các sư đoàn Việt Minh ào ạt kéo tới, làm cho Navarre nổi giận. Phó tướng của ông, tướng Bodet đánh giá là trận đánh của không quân được chỉ huy kém nhưng mà thực tế phương tiện trinh sát và tấn công các phi công có trong tay bị hạn chế, khí tượng gây trở ngại cho họ và đối phương lợi dụng đêm tối và mây mù che phủ để tiến hành các bước di chuyển. Hơn nữa, họ chỉ di chuyển khi được ngụy trang, hoặc gần được như thế. Hàng chục nghìn dân công, đòn gánh trên vai, vận chuyển gạo, muối hay cá khô, thực phẩm nuôi sống bộ đội và cán bộ, những quả đạn súng cối, những băng đạn đại liên hoặc đẩy những chiếc xe đạp của họ, những người nông dân được huy động sửa chữa các đoạn đường bị trúng bom hay mở những tuyến đường mới dưới sự chỉ huy của các chiến sĩ công binh, đều tản ra mỗi khi có tiếng báo động máy bay và những vòng lá ngụy trang được móc trên trang thiết bị của họ, hoà lẫn họ vào với cây lá xung quanh. Những chiếc xe tải lăn bánh ban đêm. Ban ngày họ chui sâu, không để lại dấu vết, vào những đoạn đường hầm dưới lá rừng, ở đó ẩn náu những xưởng máy, những nhà ăn tập thể và những phòng nghỉ. Không một sợi khói nào bay lên bởi vì chiến sĩ anh nuôi Hoàng Cầm, sau trở thành anh hùng quân đội, đã có sáng kiến đắp bếp lò không có khói. Để ra đòn thì phải nhìn thấy, và không quân thì mù tịt. Navarre tỏ ra bi quan và nghĩ rằng mình có phần trách nhiệm. Ông yêu cầu Cogny ghi một dấu ấn cá nhân vào trận đánh và buộc tội về tính thiếu hiệu quả của trận đánh trong việc liên lạc giữa ông với bộ chỉ huy không quân. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 06:20:35 pm Ngày 19 tháng giêng 1954 Bất chấp những cuộn mây phủ kín các thung lũng vùng thượng du và cánh đồng vùng đồng bằng, các phi công của không quân và không quân của hải quân tấn công các con đường và các kho tàng. Vào thời điểm đó một trăm hai mươi bảy tấn bom đã được ném xuống một điểm duy nhất mang tên Mercure. Chậm nhất là bốn mươi tám tiếng đồng hồ, sau mỗi lần đoạn đường bị cắt đút, những chiếc xe tải của đối phương lại tiếp tục lăn bánh và thời tiết mỗi lúc một xấu hơn đã hủy bỏ các cuộc ném bom. Kể từ tháng mười một, khoảng hai tá máy bay loại đó đã phải rất vất vả để bảo dưỡng, để cuối cùng có một kết quả thật là rẻ mạt. Việt Minh đã áp dụng một phương pháp sửa đường: xung quanh những điểm xung yếu, họ tập trung cư dân của các ngôi làng lân cận hơn mười nghìn người trên con đường tỉnh lộ 13b và con đường tỉnh lộ 41. Sau khi những chiếc máy bay ném bom bay qua, đoàn quân của họ, khi cần sẽ làm nhiệm vụ trung chuyển, kéo từ trong các khu rừng ra, mang theo xẻng, cuốc, thúng mủng, sọt tre. Để trục xuất những quả bom nổ chậm còn chưa nổ, người chính trị viên kêu gọi những người xung phong tình nguyện. Những người nhỏ bé nhất trong số họ trườn mình xuống các hố bom và buộc chiếc móc sắt ở đầu một sợi dây thừng vào các cánh bom. Sau đó, người ta dùng sợi dây kéo quả bom lên và vần ra xa làm cho nổ. Để vô hiệu hoá những trái bom “bướm", chỉ nổ khi chạm mặt đất người ta dắt đàn trâu đi qua đi lại khu vực có bom. Trong các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh, người ta được tin bộ chỉ huy tối cao Việt Minh vừa mới hạ lệnh dành ưu tiên tuyệt đối cho việc vận chuyển bằng mọi phương tiện những quả đạn pháo 105 và đạn súng cối 81. Ngày 20 tháng giêng 1954 Ngày hôm ấy, nhờ việc thu được và giải mã một số thông báo mới, người ta hiểu được ý nghĩa của cái mệnh lệnh về cung cấp đó: cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ sẽ diễn ra trong đêm 25 rạng ngày 26, tận dụng ánh sáng trăng trung tuần. Một cơn sốt sung sướng xâm chiếm tâm tưởng các sĩ quan tác chiến ở Hà Nội và ở Sài Gòn, và Navarre đón nhận tin đó một cách bình thản. Cũng không vì thế mà ông huỷ bỏ việc mở màn giai đoạn đầu của cuộc hành binh Atlante; giai đoạn đó phải kéo dài hơn một tháng và sử dụng hai mươi nhăm tiểu đoàn trong khu vực tỉnh Savanakhet, ở đó Navarre muốn tiêu diệt các lực lượng đối phương nằm trong vùng giữa sông Mékong và bờ biển. Việt Minh lùi ra xa sông Mékong và ẩn nấp trong giải rừng nội địa và các cao nguyên núi non. Một mặt trận mới được hình thành mà Navarre sẽ phải tiếp tế bằng máy bay. Ở Điện Biên Phủ, trung tá Langlais, chỉ huy trưởng hai tiểu đoàn dù thuộc lực lượng dự bị, tiếp tục nghiên cứu kế hoạch phản kích nhằm để giành giật lại những khu vực mà đối phương sau này có thể đánh chiếm được. Có quá nhiều những giả thiết đến nỗi người ta phải hết sức khẩn trương: trước hết chiếm lại Gabrielle hoặc Béatrice, những cứ điểm nằm ở xa nhất. Cần phải đi vào chi tiết các hành trình, sử dụng những sườn dốc đối diện, vòng qua các vật chướng ngại, hàng rào dây thép gai và các khúc sông, áp dụng hoả lực bảo vệ vòng ngoài, tính toán tỉ mỉ thời gian cần thiết để phát triển, xác định hoả lực yểm trợ của các đơn vị bạn kề bên. Có điều đã biết chắc chắn là sẽ không thể có một cuộc phản kích nào diễn ra trong ban đêm, bởi lẽ các đơn vị trong cứ điểm không quen thạo việc tác chiến trong bóng tối. Giống như trong một kịch bản rất trơn tru, cần phải lặp đi lặp lại việc thực tập với những cuộc bắn đạn thật, đủ thấy người ta đã phát hiện được nhiều sai sót trong việc thực hành tác chiến. Ngày 23 tháng giêng 1954 Cogny đã chuyển cho Navarre bản dự thảo kế hoạch hành binh Xenophon có nội dung sơ tán đội quân trong tập đoàn cứ điểm trong trường hợp có thảm họa. Ông không giấu giếm Navarre để nói rằng kế hoạch quá ư liều lĩnh đến nỗi nó có vẻ bất khả thi. Đại tá Crèvecoeur về phía mình cũng nói như vậy. Từ hai bản dự thảo, không bao giờ Navarre thèm thông báo lại cho các cấp dưới của mình biết ý kiến tổng hợp hay kết luận mà ông rút ra được từ những dự thảo kế hoạch đó. Đối với Cogny, cuộc bao vây Điện Biên Phủ của đối phương sẽ dày đặc đến mức phải cần đến những phương tiện lớn để mở được một lối thoát, qua đó chỉ những đơn vị nhẹ mới có thể luồn ra được. Lần đầu tiên viết cái từ "thảm họa", cuối cùng Cogny nói rõ sự thực của một tia sáng giờ đây đã không còn mang tới hi vọng cho các quan điểm trong công tác tham mưu nữa, những quan điểm mà bản thân ông đã để cho mình bị lôi cuốn trong thời gian dài: "Bên ngoài các đường mòn, ông đã viết, không thể nào tổ chức hành tiến cho những đoàn quân lớn". Ông gợi ý sử dụng con đường cũ từ Điện Biên Phủ đi Sốp Nao, ở đó các xe bánh xích có thể đi được, với điều kiện trong quá trình hành tiến phải mở thông một vài đoạn. Tuy nhiên địa hình chưa hề thay đổi kể từ khi người ta mơ tưởng biến địa hình đó thành một bãi chiến trường tấn công, và đúng là người ta đã bố trí vào đó một tay kỵ binh. Như vậy là Cogny nhấn mạnh làm sao để cho mười ba nghìn năm trăm con người, quân số lúc đó của đội quân đồn trú, không bị bắt giữ khi tìm cách tháo chạy và để cho Điện Biên Phủ được bảo tồn bằng mọi giá. Để làm yên lòng Navarre, ông nói thêm rằng không một ai ở Điện Biên Phủ biết được ý định thực sự của kế hoạch. Nhưng mà liệu có ai lại có thể hiểu nhầm về cái tên gọi mà người ta đặt cho kế hoạch ấy được? Xenophon.1 là tác giả của cuốn Anabase, và Anabase đó là cuốn sách nói về trận rút lui của mười ngàn người trong lịch sử. Dự kiến về cuộc tấn công được chờ đợi, Navarre phác ra hai giả thiết trong mộc bản chỉ lệnh mới bí mật: hoặc là đối phương sẽ nhảy vào tập đoàn cứ điểm với toàn bộ sức mạnh của họ, hoặc là họ bằng lòng với việc vô hiệu hoá nó và chuyển đi hướng khác một bộ phận quân số của họ. Trong trường hợp thứ hai này Navarre cho rằng chỉ có khoảng một chục tiểu đoàn Việt Minh có thể xâm chiếm nước Lào, bởi lẽ tất cả những tiểu đoàn khác sẽ bị cầm chân do sức kháng cự mạnh mẽ của tập đoàn cứ điểm, những đòn quyết liệt của đội quân đồn trú sẽ tiêu diệt các đơn vị tấn công và các khẩu pháo. Thậm chí ông còn dự kiến, nếu như so sánh lực lượng cho phép, sẽ phải mở trận tấn công vào căn cứ Tuần Giáo. Người ta có thể nhận thấy một khoảng cách lớn lại đột nhiên ngăn cách những quan niệm về tác chiến của hai viên tướng. Navarre cùng các cộng sự tiếp tục vạch những mũi tên lên các tấm bản đồ tham mưu, trong lúc đó những cuộc trinh sát gần như không vượt qua khỏi đường viền quanh của trận địa phòng ngự. Tấn công căn cứ Tuần Giáo bằng đường bộ là câu chuyện nằm mơ; tưởng tượng ra rằng các tiểu đoàn của Langlais sẽ có thể xung phong lên các đỉnh núi để tiêu diệt các cụm pháo của đối phương ở đó, điều này chứng tỏ rằng người ta chưa hề hỏi han Langlais về những khó khăn của ông ta, hoặc là người ta coi Langlais như một kẻ bất tài. Trong trường hợp đó, thì phải cách chức ông ấy. Về phần mình, Cogny ý thức được việc đối phương và địa hình. Đến lượt mình, chỉ thị mà ông đề ra cho Castries và sau này ông coi như bản hiến chương của việc phòng ngự không đi chệch sang những cái nhìn không thực tế: ngày hôm trước, ông quay trở lại Điện Biên Phủ. Ông điểm lại các phương tiện chiến đấu, xác định nhiệm vụ của trận địa phòng ngự, tỏ ý với mọi người rằng thắng lợi không phải là không có khả năng và rằng phải giành lại từng mẩu đất bị đánh chiếm. Nhưng mà rõ ràng hình như, trong tư tưởng của ông, Béatrice và Gabrielle đã bị thất thủ ngay từ bây giờ bởi lẽ chúng không nằm trong bản liệt kê các điểm tựa phải giữ được bằng mọi giá. Trongtrường hợp này, làm thế nào ông có thể tưởng tượng rằng dù sao ông cũng là người chiến thắng nếu như đường băng sân bay trở nên hư hỏng hoàn toàn. Nhờ vào pháo binh của ông ta, không có một giây phút nào mà chàng pháo thủ Cogny lại nghĩ rằng pháo binh quân Việt có thể trụ nổi dưới hoả lực của những khẩu đại bác của đại tá Piroth. Đối với Cogny cũng như đối với mọi pháo thủ của đạo quân viễn chinh, tướng Giáp không thể nào sử dụng các khẩu pháo bố trí ở phía bên kia các ngọn núi do bởi đường đạn cầu vồng sẽ vướng víu và tầm bắn quá xa, cũng như không thể bố trí các khẩu pháo ở phía bên này các ngọn núi bởi vì, khi nhìn thấy họ bắn, người ta sẽ tiêu diệt họ. Về phần mình, không có giây phút nào, Castries lại nghĩ rằng bộ binh quân Việt có thể tiến lên dưới làn đạn pháo và đứng chân được trên những vị trí chiếm lĩnh. ___________________________________ 1. Xenophon: Sử gia và triết gia. Một tướng của thành Athènes (Hi Lạp) (427 - 355) - TrCN. Tác giả cuốn Anabase. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 09:37:18 pm Ngày hôm đó, người ta cũng biết là một trung đoàn thuộc "sư đoàn thép", sư đoàn 304, mà người ta biết là đã xuất phát đã tới Điện Biên Phủ. Đó là trung đoàn 57, mà viên tham mưu trưởng tên là Nguyễn Hiền, ông này hành quân với một mảnh đạn súng cối nằm trong ngực bên cạnh quả tim.
Đối với ba tiểu đoàn của trung đoàn này, từ Yên Bái lên Điện Biên Phủ, trên bốn trăm năm mươi kilômét đường mòn là cảnh sống địa ngục. Ngày và đêm, tiếng hét "máy bay"... vang lên và các hàng quân vội tản vào rừng để tránh khỏi con mắt của máy bay. Mọi người có gì ăn này: phần lớn một nắm cơm nguội lạnh giữ lại từ bữa ăn hôm trước, gói trong một mảnh lá cọ; nghiêm cấm không được nhóm lửa, ngoại trừ những chặng nghỉ, trong những bếp lò không khói sau vài tiếng đồng hồ hành quân, với vũ khí và đồ đạc nặng trĩu. Đoạn đường gay go nhất là giữa Thuận Châu và Tuần Giáo, đoạn đi qua đèo Pha Đin, ngọn đèo này có tên như vậydo vì các điểm cao của nó, thường là chui trong lớp mây, trông như chạm tới trời. Trên các ban đồ tham mưu đèo này có tên là đèo những người Mẹo. Do vì ở đó luôn luôn bị đe dọa bởi một cuộc oanh tạc của máy bay, mặc dầu đã có các khẩu đội cao xạ được bố trí, cho nên đơn vị phải hành quân một mạch, gần như chạy bộ, trong một đêm, bất chấp pháo sáng do máy bay thả xuống vượt qua ba mươi kilômét đường chữ chi, trên sườn một quả núi trọc ở trong vùng. Một vài đoạn trên dốc hành trình, hàng ngày bị ném bom, bị hư hại đến mức đi bộ qua đó cũng vất vả và rằng từng đoàn xe tải bị tác nghẽn trong đó nhiều giờ liền. Đôi khi công binh cũng phải bạt lở từng đoạn núi đá để san phẳng thành đường đi. Khi tôi hỏi đại úy Hiền, liệu máy bay có gây khó khăn cho đơn vị của ông ta không, ông trả lời rằng chỉ có những ai chưa tham gia chiến tranh trong hàng ngũ của ông ta mới có thể ngờ vực điều đó. Nhưng ông nói thêm, dù cho máy bay có mạnh gấp trăm lần, cũng không thể ngăn cản được đơn vị của ông vượt qua. Càng bước tới gần bao nhiêu, thì một nỗi căm giận thiêng liêng càng tràn ngập tâm hồn các chiến sĩ và dòng người như nước chảy, bao gồm nam nữ, cùng xe cộ tiến về Điện Biên Phủ trên con đường tỉnh lộ 41 bị máy bay cày xới, hoặc là từ Điện Biên Phủ quay về để đi chở những chuyến hàng khác. Trong cái đêm trung đoàn 57 hành quân qua đèo Pha Đin, may sao sương mù dày đặc và giá buốt. Để cho ấm người, tham mưu trưởng Nguyễn Hiền móc một nhúm thuốc lá sợi ra khỏi chiếc túi ni lông cuộn thành điếu thuốc và lần lượt mỗi người hút một hơi. Tuy rằng báo động có máy bay là thường trực vậy mà những ngọn đèn pha một chiếc xe tải vẫn rọi sáng loà mảng bóng tối và làm tung tóe trên không trung những cành cây, lá cây bị đốt cháy. Có ai đó dừng xe lại. - Cậu làm như thế mà hòng thoát khỏi được máy bay à? - Vâng, thưa bố, người lái xe vừa nói vừa cười. Khi máy bay ở trên đầu tôi, tôi dừng xe và tắt máy. Bố bảo như vậy, ở trên cao ấy, nó làm được gì nào? Trung đoàn cũng gặp một đoàn xe Molotova, vừa từ mặt trận quay về, thùng xe rỗng không, đang chờ thông đường ở một đoạn đường tránh. - Các anh ở sư đoàn nào đấy? Còn các anh, các anh là ai? Những người lái xe hỏi vậy. - Bộ binh, ông Hiền trả lời, cắt đứt mọi chuyện tò mò. - Này các bạn bộ binh, một người lái xe kêu lên. - Đây là phần cho các cậu. Và trong tiếng vỗ tay hoan hô, anh ta đưa cho họ gói bánh bích quy và một gói thuốc lá Gaulois lấy được trong một gói hàng được thả dù xuống trên tuyến lửa. - Lần này thì mình cho các cậu đấy, anh lái xe nói thêm. Lần sau thì các cậu tự xoay xở tại chỗ nhé. Chỉ mãi đến một tiếng đồng hồ sau khi trời rạng, họ mới đến được chân đèo và như thường lệ, họ đào hầm hố để nằm ngủ. Trước khi đi nghỉ, các trung đội trưởng kiểm tra xem màn của anh em có được dắt cẩn thận hay không. Ở Tuần Giáo, nơi người ta đảm bảo phân phối đồ tiếp tế, do phải kiểm tra trọng lượng các khối hàng phân phối cho nên đã xảy ra những cuộc cãi cọ dữ dội, một số phải rọi đèn để xem mã cân và một số khác thì sợ rằng dù cho chỉ le lói, những tia sáng đó cũng có thể thu hút lũ máy bay ném bom. Từ căn cứ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ phải hành quân ba đêm liên tục để vượt qua quãng đường tám mươi kilômét: quãng đường từ Paris đi Chartres. Con đường đầu tiên chạy dọc theo một thung lũng mà tôi thấy là tươi sáng khi tôi đi qua đó, ban ngày, chín năm về sau. Những vành bánh xe lớn, có guồng cối xay múc nước dưới sông đổ vào các kênh thuỷ lợi; những đàn trâu, thân mình bóng loáng lớp bùn, gặm sồn sột trong những mảnh ruộng rạ và đằm mình trong những vũng nước; người ta đập lúa bên những đống rơm. Những người nông dân đi ngang qua trước mặt chúng tôi, ngồi trên lưng những con ngựa nhỏ, bờm dài mầu vàng nâu. Từng chỗ, từng chỗ lớp đá vôi xuyên thủng lớp da ngoài mầu xám của những ruộng lúa, nhọn hoắt và đột ngột chặn ngang đường đi, chỉ để lại một khe nhỏ năm giữa những vách đá đen kịt. Rồi thì, thung lũng thu hẹp lại, các ngôi làng xa nhau ra và biến mất, quang cảnh trở nên hoang dại và ngạt thở, dòng sông chảy xiết dưới một vòm cây tre. Đột ngột, dưới chân một tảng đá lớn con đường mà trên suốt hành trình người ta tìm cách mở rộng, giờ đây mang một dáng vẻ đáng sợ. Suy ngẫm thì thấy là cũng chẳng khác gì, không hơn cũng không kém tất cả những con đường trên vùng thượng du mà các vị tướng muốn sử dụng để hoạt động. Những kỹ sư cầu đường táo bạo đã vạch ra những con đường ấy vào một thời kỳ mà các nhà cầm quyền di chuyển không có đoàn hộ tống, đi qua một xứ sở hoà bình. Sụt lở, đầy rãnh sâu, chúng chỉ còn giữ lại cái tên là con đường và được thể hiện bằng những nét vạch trên các tấm bản đồ. Trèo lên và tụt xuống các khe rãnh: lội qua các dòng sông suối, bên cạnh các tác phẩm nghệ thuật bị phá huỷ những con đường đó làm cho động cơ xe máy gầm réo, bẻ gãy các lò so, làm sụn lưng người ngồi trên xe. Những chiếc xe đi trước làm bốc lên một màn bụi đất bám dính vào mặt người. Chúng lại còn xấu hơn nữa khi các đoàn xe tiến lên, dưới mối đe dọa bị máy bay tấn công, xuyên qua cái ổ gà khổng lồ với những đoạn đứt gãy được sửa chữa tồi, khi trời mưa thì lõm bõm lớp bùn dính nhớp nháp, các bánh xe làm bắn toé bùn lên người các anh lính bộ binh. Do vì các đoàn xe chỉ có thể gặp nhau ở một số điểm, những đoạn đường này lại hẹp cho nên người ta phải móc những chiếc xe bị “pan" vào những chiếc đi trước cho đến tận đoạn đường bánh tiếp sau. Cách Điện Biên Phủ khoảng hai chục kilômét, nhiều nhánh đường rẽ đột nhiên mở ra chạy vào rừng. Người dẫn đường đưa trung đoàn 57 rẽ lên hướng bắc, bám vào những con đường khác thuộc mạng lưới giao thông do tướng Giáp cho làm để kéo các khẩu pháo tới và bố trí trong hệ thống hoả lực pháo binh của ông. Được phủ kín bằng những cành lá cũng như các xe tải kéo chúng, bản thân chúng cũng giống như những bụi cây dày đặc, những nòng pháo 105 thuộc sư đoàn nặng 351 đã đi qua đây và còn tiếp tục đi qua nữa. Ban ngày được che giấu trong những đường hầm là rừng cây, chúng đã tới được những điểm cao của Điện Biên Phủ, nhờ vào những đoạn hào khổng lồ, khoét vào dãy núi đá vôi. Trong phần lớn các trường hợp chỉ cần mở rộng những con đường nhỏ của người Mẹo hoặc những con đường lâm nghiệp thời kỳ thuộc địa, đủ để cho xe tải đi qua được. Công việc quá sức bởi những phương tiện thời nguyên thuỷ của công trình! Để thu ngắn khoảng cách, người ta đã tấn công các dốc núi theo những góc độ chóng mặt. Không cần nghĩ đến nặng nhọc vất vả, những thân cây lớn dùng để bắc cầu, được chuyển đi trên lưng người và những con đường chạy ngược lên, men theo sườn vách đá, không có rào chắn và khi trống trải, hai vệ đường được trồng những cây chuối dại và những cây tre, thân dài uốn cong xuống, những cây này được đào lên, mang tới trồng có cả rễ. Những công trường không ngừng xuyên thủng núi đồi. Hàng trăm người đàn ông, đàn bà và những thiếu nữ dùng cuốc cuốc đất, san phẳng vách núi, bốc đất chuyển đi bằng những chiếc thúng tròn, những chiếc xe cút-kít đẩy tay và những chiếc xe ba gác có hai bánh, họ lựa chọn kỹ càng lọc ra những viên đá dùng để lát mặt đường hoặc đôi khi đi tìm kiếm đá lát đường ở cách chỗ đó nhiều kilômét. Đoàn người của trung đoàn 57 cất tiếng hát. Họ không còn cảm thấy sức nặng của vũ khí trên vai nữa. Họ chào hỏi, nói chuyện bông đùa với những nhóm người đã sống nhiều tuần lễ trong những khu rừng với những bụi rậm bám đầy những con vắt, chỉ chờ đợi có người đi qua để bám chặt vào lớp da của họ. Ngày và đêm, khu rừng không ngừng vang lên tiếng cuốc xẻng, hoà trộn với tiếng hót của chim chóc lúc thì lanh lảnh, lúc thì trầm trầm, tiếng mổ ám ảnh của con chim gõ kiến và tiếng gầm của những con dã thú sợ sệt. Cuộc tổng động viên cả một dân tộc này, được mở màn bởi quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng để giành lấy chiến thắng bất chấp mọi khó khăn trở ngại, đã gạt bỏ mọi khó khăn của chính họ. Họ mơ hồ cảm thấy rằng họ tham dự vào một biến cố ghê gớm, đột nhiên ngấm vào con người họ đến tận xương tuỷ, mang tới cho họ niềm tin vững chắc là họ sắp chiến thắng và rằng điều mà cho đến tận lúc này đòi hỏi biết bao cố gắng, mù mịt sẽ mở ra một khung cảnh chói loà. Từng bước một, ngày tiếp ngày và đêm nối đêm, trận đánh biết bao hi vọng đã nằm trong tầm tay và thắng lợi của trận đánh đó chỉ còn tùy thuộc ở lòng dũng cảm của họ. Trên sườn một quả đồi ở gần đó, một giọng hát khác có vẻ như để đối đáp với tiếng hát của họ, truyền tới với nhịp điệu hùng mạnh, lúc thì hoại bát lúc thì nghiêm trang, cơn gió đưa tiếng hát rõ mồn một tới trước mặt họ: Hò dô ta nào! Kéo pháo ta vượt qua đèo! Người ta không trông thấy nhóm người đang kéo khẩu pháo ở đầu những sợi dây thừng và những chiếc tời, từng xăngtimét một, khẩu pháo nhích dần về chiếc hầm khoét sâu vào núi đá và có thể phải chăng là để chào mừng khẩu pháo đã chui vào hầm, công việc đã hoàn thành mà tiếng hát ấy cất lên. Khi mà, sau một giai điệu chậm rãi hơn, tiếng hát dừng lại ở đoạn ngắt thì một tiếng hét dài bung ra từ các lồng ngực. Các chiến sĩ dừng chân trong giây lát, tay giương cao khẩu súng về phía có tiếng hét nẩy sinh từ nỗi nhọc nhằn và niềm tin của con người. Khi viên tham mưu trưởng Nguyễn Hiền quay lại để kiểm tra cho đoàn quân tiếp bước hành quân, ông nhận thấy là đồng đội của ông đã biến đổi. Ông không biết nói là vì sao, nhưng đôi mắt ông, đột nhiên nhoà lệ, đã nói rõ điều đó. Chỉ mãi đến tám giờ tối, đêm đã xuống, ở cuối chặng đường, sau khi đã đào hầm hố, mọi người mới có thể chui xuống đó, cuộn tròn mình trong những tấm nilông để nằm ngủ. Viên tham mưu trưởng trung đoàn 57 người cuối cùng tham gia vào các lực lượng bao vây Điện Biên Phủ, lúc đó mới biết đến một chuyện mà với tính hay bông đùa, ông ta gọi là một tình thế khó xử. Từ ba ngày nay, ông đã không có dịp tắm rửa và muốn đi tắm. Cuối cùng bản thân ông cũng thế, ngã vật xuống một cái hố và nhắm mắt lại. Ông vẫn còn chưa nhìn thấy ánh sáng đèn trong sân bay là cứ điểm, nhưng mà ông cảm thấy nền đất êm dịu, tựa như một mảnh đất hứa. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 09:43:17 pm Ngày 25 tháng giêng 1954 Trở lại Đông Dương từ một tuần lễ nay, ngài Jacquet, cùng với viên tham mưu trưởng lục quân sang trước ông tám ngày, ngồi ở Hà Nội lắng nghe tướng Cogny phác thảo bức tranh các mối đe dọa đang tích tụ lại trên đầu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Navarre có mặt ở đây, và Cogny không sợ là ông có gây trở ngại gì. Đã có phần lo ngại, ông bộ trưởng đột nhiên dỏng tai nghe. Thân hình vuông vức, cử chỉ mềm mại, mái tóc hoa râm cắt ngắn càng làm nổi bật khuôn mặt thô kệch, ông lẳng lặng nhét đầy một cối thuốc mới vào chiếc tẩu rồi đột nhiên hỏi Navarre xem liệu Navarre có đủ tin chắc sẽ giành chiến thắng hay không. Hôm qua, một khối chất nổ, dấu trong một chiếc cặp da suýt nữa đã nổ tung trong buổi lễ cầu nguyện của các sĩ quan một đơn vị vận tải. Đó là ngày chủ nhật thứ ba sau lễ Hiện thân mà kinh thánh nhắc lại câu chúa Jésus nói với một trăm người: "Tôi không xứng đáng để các bạn bước vào dưới mái nhà của tôi, nhưng xin các bạn chỉ nói cho một lời , và kẻ đầy tớ của tôi sẽ khỏi bệnh. Bởi lẽ tôi phải phục tùng các cấp chỉ huy, tôi có các binh sĩ dưới quyền chỉ huy của tôi và tôi nói với một trong số họ: "Đi đi” và anh ta ra đi…” Navarre đầu tiên làm ra vẻ không biết đến Cogny, nhưng mà thân hình to lớn của Cogny đứng cứng đơ tựa như một lời phản bác câm lặng, sau đó ông cau có trả lời. Ông nhắc lại một cách khô khan những lập luận làm cơ sở cho kế hoạch của mình, nhận mạnh đến sự cần thiết ông cảm thấy phải bảo vệ nước Lào, nhắc lại những áp lực ông phải gánh chịu khi đánh chiếm Điện Biên Phủ và kết luận bằng việc nêu lên con số gây ấn tượng về các lực lượng của tập đoàn cứ điểm đối mặt với một đối phương bị chặn lại trên bước đường tiến sang Lào và không có phản ứng gì ở vùng đồng bằng. Ngài Jacquet không thấy bản thân mình có tư cách để phản bác. Vả lại, thử hỏi nhân danh ai mà ngài Jacquet nêu ra ý kiến phản đối đây? Tuy nhiên ngài vẫn hỏi Cogny. - Các lực lượng ở Bắc Kỳ sẽ đón nhận tin thất bại ở Điện Biên Phủ như thế nào? - Sẽ đón nhận, Cogny đáp. Nhưng còn Paris thì sao? - Tôi hi vọng là Paris sẽ không phải đứng trước sự kiện bất ngờ ấy, ngài Jacquet nói câu đó trước mặt Navarre nín lặng. Khắp nơi người ta hi vọng chờ đợi cuộc tấn công được thông báo. Mỗi buổi tối, trong các đường hầm ở Điện Biên Phủ, ở đó lớp bụi đất màu vàng mà các máy bay khi cất cánh, các loại xe cộ và bánh xích của những chiếc xe tăng bốc tung lên, lại rơi xuống và bám dầy khắp nơi, người ta lau chùi vũ khí sau khi những khẩu đại bác nhả những loạt đạn đầu tiên, gây ra những đám cháy trên rặng núi. Những cuộc báo động liên tiếp làm căng thẳng thần kinh. Tất cả đám thanh niên ấy vốn buồn chán, mơ tưởng tới nửa cốc rượu sủi bọt trên mảnh sân phẳng của tiệm cà phê, tới những vòi tắm hoa sen và đàn bà, và thả mình vào những trò kỳ quặc của đám học sinh trung học bị trầm uất. Thứ nước lã của dòng sông Nậm Rốm và thứ rượu mạnh sẫm màu mà cơ quan hậu cần thả dù xuống dưới cái tên vang ướp lạnh làm cho họ trở nên buồn bã. Đôi khi với vẻ trào phúng đen tối người ta cất giấu rượu bia trong những chiếc quan tài để chuyển lậu tới Điện Biên Phủ. Sự xuất hiện của những phụ nữ hộ tống trên máy bay, cô nữ thư ký xinh đẹp của Castries, Brigitte Friang mà người ta sốt sắng tiếp nhận những điếu thuốc lá nhuộm đỏ, khuôn mặt bôi phấn hồng của các cô gái Ouled Naïl1 của nhà thổ quân sự ở Lai Châu, được di chuyển đồng thời với đội quân đồn trú, và của một nhà thổ khác từ Hà Nội chuyển lên, làm cho họ nghĩ đến chuyện làm tình. Ở cứ điểm Béatrice, thậm chí người ta đã đào những căn hầm bố trí khéo léo cho các phụ nữ ấy, tất nhiên có cách xa đối phương hơn một chút. Bệnh viện của tập đoàn cứ điểm đã làm được vai trò của nó là vì người ta sơ tán được các bệnh binh, thương binh và những người chết. Chỉ trong một tháng, người ta đã chuyển về Hà Nội hai trăm thương binh, bảy mươi nhăm người bị tai nạn và ba trăm năm mươi tư người ốm. Trạm xá chỉ có bốn mươi hai giường. Chỉ có bảy giường trong phòng hồi sức. "Không sao, Castries bảo Brigitte Friang, trong trường hợp có cuộc tấn công, người ta sẽ để thương binh ở khắp nơi...". Để đi tìm kiếm họ, chỉ có một xe cứu thương và hai xe Jeep. Nhà xác đã được đào ở gần bệnh viện. Năng suất của trung đội khử trùng nước không đủ và tất cả các đơn vị không có xe bồn chứa. Người ta thiếu màn chống muỗi cá nhân và bệnh sốt rét tồn tại trong tất cả các ngôi làng trong vùng xung quanh. Vào thời điểm một màn đêm mới buông xuống, bắt đầu cảnh chờ đợi. Một chiếc Dakota đom đóm bay lượn trên trận địa, sẵn sàng thả bom chiếu sáng. Mười ngày có trăng. Trăng mọc trước lúc mặt trời lặn, một khối màu vàng to lớn trên bầu trời. Không một ai biết được nếu như nó xảy ra, cuộc tấn công sẽ mở đầu như thế nào, đêm hôm đó. Chắc chắn, giống như ở Nà Sản, bằng một hoả lực súng cối tập trung vào Béatrice và Gabrielle hai điểm nhô ra của pháo đài năm mươi hay một trăm nòng cối cùng một lúc nhả ra các trái phá cỡ 81 li. Trên hướng bắc hoặc đông bắc, màn đêm đột nhiên xé toang ra, sắt thép chụp lên đầu mọi người, nền đất há toác ra dưới đòn nện mạnh của một kẻ vô hình. Phía sau các lỗ châu mai của các căn hầm, các xạ thủ bóp cò các khẩu súng liên thanh. Rồi thì pháo binh của tập đoàn cứ điểm sẽ bước vào hành động và cái chết đổ ập xuống các đỉnh núi, ở đó các đơn vị của đối phương đang tập trung lại để xung phong. Trong tất cả các thôn bản vùng xung quanh, người ta ra khỏi các túp lều và ngắm nhìn những vầng sáng của trận đánh. Bầy trẻ con bắt đầu khóc lóc. Những con vật trong rừng rậm bỏ chạy. Lúc đó bốn hoặc mười tiểu đoàn Việt Minh sẽ lao tới các đỉnh đồi của Béatrice hay ngọn đồi tròn của Gabrielle, hết lớp sóng này đến lớp sóng khác, đi trước là các nhóm đánh bộc phá có nhiệm vụ mở các đột phá khẩu trong hệ thống rào dây thép gai và phá huỷ các lô cốt, những người này chết cùng với khối bộc phá nổ. Hàng nghìn chiến sĩ đầu đội mũ lá cọ hoặc mũ đan bằng nan tre, chân đi những đôi dép làm bằng săm lốp ôtô, lưng đeo từng chùm lựu đạn sẽ bị nghiền nát dưới quả đấm thép của đại tá Piroth hoặc dưới những loạt đạn của Béatrice và Gabrielle. Cầu mong cho đòn đánh diễn ra và chấm dút cảnh chờ đợi không sao chịu đựng nổi đối với một biến cố có thể sẽ quyết định số phận của cuộc chiến tranh. Trí tưởng tượng của những con người thuộc đạo quân viễn chinh đưa họ bay đi xa nhiều nghìn kilômét, tới nơi những người vợ, một bầu trời êm dịu, những mái nhà và một mảnh đất không giống những thứ ở đây đang chờ đợi họ. Trong căn hầm, với những mảng vách chất đầy những bao đất và những tấm chiếu, đại tá Castries ngồi trước bàn làm việc, vầng trán tì vào bàn tay phải, lắng nghe tiếng động của đêm trường. Trong bàn tay trái của ông, một điếu thuốc lá kẹp chặt giữa đốt cuối ngón tay trỏ và ngón tay cái đang cháy dần; ông sẽ hút điếu thuốc ấy cho tới lúc bỏng môi. NGƯỜI ĐÀN ÔNG mang thanh kiếm mơ màng, đôi mắt trống rỗng mơ hồ nhìn ngắm phía trước mặt mình một tờ giấy trắng ở gần chiếc gạt tàn và một chiếc bàn thấm, một cây thước trong suốt có khắc vạch, mấy chiếc bút chì màu, hai chiếc đèn pin cầm tay. Ánh sáng toả ra từ những bóng đèn không có chụp, mắc trên trần hầm. Một chiếc máy chữ kêu lách tách trong khoảng sâu của căn hầm, khoảng sâu tựa như bóp nghẹt những tiếng động và tiếng chuông run rẩy của một máy điện thoại. Choán gần hết một mảng vách hầm, tấm bản đồ tỉ lệ lớn của tập đoàn cứ điểm, được phủ ngoài một lớp nilông trắng trên đó người ta đã vẽ bằng nét bút chì đậm những dấu hiệu theo quy ước. Thật kì lạ cái số phận như số phận của người kỵ binh này, trải qua các đêm và một phần các ngày của mình dưới lớp đất sâu hai mét, bị quây tròn. Một chiếc xe Jeep đứng đợi ở đầu một cửa hầm, bước ra đó trên một sàn hầm dốc nghiêng. Nếu như đêm nay quân Việt tấn công có lẽ Castries sẽ biết được cuộc phiêu lưu này sẽ dẫn tới đâu, có thể là niềm vinh quang hay nỗi nhục nhã. Bản thân ông, ông chiến đấu vì hai ngôi sao bạc trên cấp hàm, những ngôi sao lẽ ra ông sẽ có được mà không cần đến cuộc phiêu lưu này và được tăng thêm một cấp trong đội LÊ DƯƠNG danh dự. Ông hoạt bát lên. Không thể nào thất bại khi có không quân yểm trợ, mười hai tiểu đoàn vùi sâu trong khu lòng chảo, hai mươi tám nòng đại bác và mười sáu nòng súng cối hạng nặng của ông sẵn sàng nhả đạn. Cogny từ Hà Nội luôn luôn quan tâm đến ông, và với Cogny ông có thể nói chuyện bất kỳ lúc nào ông muốn, rõ ràng, nhờ vào một máy bộ đàm khi phát đi làm nhiễu các sóng khác và khử nhiễu khi tiếp nhận. Lúc cuối ngày các máy bay đã sục sạo các ngọn núi, tìm kiếm những dấu hiệu, phát hiện những cuộc chuẩn bị tấn công. Không có hoặc gần như không có gì: những chuyển động mà pháo binh đã giải quyết, và không có ý nghĩa gì lớn, không có những thông tin là một cuộc tấn công sẽ diễn ra. Tuy nhiên Castries biết rằng đối thủ của mình mạnh và vũ khí lợi hại nhất của họ là giữ bí mật: người ta không trông thấy họ đến và họ biến đi với cùng một nghệ thuật, một khi trận đánh kết thúc, cốt để tránh những đòn đánh bồi. Đối thủ tung ra hành động chớp nhoáng, giữa màn đêm tối. Khi bình minh ló ra, họ đã ở xa hoặc tan biến vào giữa rừng rậm, trong những ruộng lúa, bãi lầy hoặc trong những đường hầm bí mật nằm trong lòng đất các thôn bản. Dưới vùng đồng bằng mà ông thông thạo, Castries đã hơn một lần quây kín đối thủ và tiêu diệt họ cùng với đoàn xe thiết giáp. Ở đây, Castries đã tìm kiếm họ một cách vô hiệu. Hầu như mỗi ngày ông đã bay trên rặng núi. cùng với Piroth, chủ nhiệm pháo binh, trên một chiếc máy bay quan sát để tìm cách phát hiện những dấu vết và nơi bố trí của đối phương. Castries muốn tự thuyết phục rằng quân Việt sẽ bắt buộc phải lộ mình ra. Lúc đó các lòng súng đại bác sẽ nghiền họ thành tro bụi. Ông hơi nới rộng chiếc khăn quàng mầu đỏ và dụi điếu thuốc lá vào chiếc gạt tàn. Đối với ông, nếu như trận tấn công diễn ra, ông cầu mong là nó mạnh mẽ và kéo dài không lâu. Tạm thời, ông sẵn sàng chơi bài bridge nếu như tìm được thêm ba người: chẳng hạn, viên tham mưu trưởng mới, thiếu tá Keller, người duy nhất cùng với ông có thể được đọc những bản tổng hợp của phòng Nhì của Cogny, viên trung tá đội lê dương Gaucher chỉ huy phân khu trung tâm, với cái mồm của lũ cướp biển và Langlais, mà sở chỉ huy cũng không ở xa, người đã nắm hai tiểu đoàn quân dù được dự trữ cho những trận phản kích. Dự trữ ư? Không hoàn toàn như vậy. Lúc bình thường, các đơn vị này bảo vệ một mặt cứ điểm Claudine và người ta tính có thể nhanh chóng tập trung họ lại. Castries bấm chuông gọi cô thư ký riêng, Paul Bourgeade, cô gái hai mươi tám tuổi đời, với đôi mắt mầu hại dẻ mà ông đã gặp ở vùng phía nam khu đồng bằng, ở đó cô đã phục vụ trong năm năm với một tinh thần dũng cảm mà rất nhiều người đàn ông có thể phải ghen tị với cô. Giống như cô gái duyên dáng và mảnh mai Brigittle Friang, cô thuộc về loại những phụ nữ mà người ta ngạc nhiên khi gặp thấy ở trong các đạo quân và họ thấy thích thú cuộc sống đó bởi lẽ ở châu Âu, họ đã trải qua những thử thách mà họ tìm cách quên đi, họ thấy thoải mái hơn khi được sống bên cạnh những người đàn ông đang mạo hiểm cuộc sống hơn là trong cảnh sống tư sản hèn nhát. Dù cho cuộc đời của họ đã gặp những bi kịch, giống như cuộc đời của những cô gái khác đi sang vùng Viễn Đông, không một ai nghi ngờ gì điều đó và không một ai tìm cách để phát hiện. Đối với các cô gái ấy, đạo quân viễn chinh là biểu tượng của những gì mà đoàn quân lê dương cống hiến cho những con người mà một câu chuyện thất tình hay một lệnh quản thúc của xã hội, một ngày nào đón đưa tới văn phòng tuyển mộ. Cô gái này, Castries thấy mến, và người ta hiểu ông. Ông dẫn cô đi theo trên xe Jeep khi ông đi kiểm tra các điểm tựa; cô ghi các nhận xét của ông vào trong cuốn sổ tốc ký của mình, và để lại sau lưng cô những giấc mơ và một mùi hương thoảng nhẹ của nước hoa Dior, thứ đồ trang sức duy nhất mà cô có, giống như Brigitte Friang nhảy dù xuống cùng với lủng củng hộp phấn, những lọ nước rửa mặt và thỏi son môi. Hơi khó gần, một cô thư ký thuộc thứ hạng ấy chăng? Ở Đông Dương, kể từ thời De Lattre, tinh thần táo bạo là câu chuyện thường xuyên. Cuộc chiến tranh này chẳng phải có chút hơi hướng câu chuyện hòn đảo Atlantide2 hay sao? Paule Bourgeade xuất hiện trong bộ quần áo nặng nề và đôi giày nhà binh, mang thêm nét duyên dáng đầy ý vị cho khung cảnh. Cô mỉm cười. Cô xinh đẹp, khác thường, và hẳn rất nhiều các đội viên lê dương và lính dù phải ngoái đầu lại nhìn... Xứng đáng với một thống chế trên mặt trận. - Một ván bridge, Castries bảo, cô thử tìm cho mấy tay chơi. Cô nàng Bourgeade bước đi. Cô yêu cuộc sống này và thích mạo hiểm. Đó là quyền của cô và thậm chí tính cao thượng của cô. Sai lầm duy nhất của cô là đã để cho mình được tặng thưởng tấm huân chương chữ thập chiến tranh ở Điện Biên Phủ, trên mặt trận của quân đội. ________________________________________ 1. Oulet – Naïl: một số bộ lạc sống ở miền nam Algérie du canh, du cư trên dãy núi Ouled - Naïl. - N.D 2. Atlantide: Một hòn đảo, theo truyền thuyết phương Tây, ở vùng Đại Tây Dương, nơi có nhiều chuyện lạ. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 09:48:12 pm Ngày 26 tháng giêng 1954 Trận tấn công đã không diễn ra và đây là lần đầu tiên một thông tin có giá trị như vậy có vẻ bị cải chính. Có thể là cái lệnh hủy bỏ đã được uỷ thác cho các phương tiện thông tin khác chắc chắn hơn là máy vô tuyến. Ngài Jacquet hạ cánh xuống Điện Biên Phủ lúc 13 giờ 50, cùng đi có ngài Dejean, tướng Blanc, các tướng Navarre và Cogny. Đội nghi lễ quen thuộc có mặt tại vị trí. Trang phục của một nhà quý tộc nông nghiệp vốn có thói quen bước đi giữa các luống cày, ngài Jacquet cao lớn che giấu nỗi lo lắng của mình dưới những cuộn khói của một tẩu thuốc lá cắn chặt trong hàm răng, phía bên trên chiếc cằm béo hai nấc. Đi bên ông, ngài Dejean, áo sơ mi trắng và cà vạt sáng mầu, tựa như cải trang trong một bộ áo liền quần mầu dịu có khóa kéo của hãng Eclair khiến cho ông giống như một nghệ sĩ xiếc. Ngay sau khi xuống khỏi máy bay, để tiện chào đại tá De Castries, ông đã đội một chiếc mũ cao bồi loại sang, một bên vành mũ gấp lên thật kĩ, và dây mũ buộc qua cằm. Do vì ông thấy vướng víu cho nên ông nhanh chóng nhấc mũ ra và gần như suốt cuộc viếng thăm ông cầm chiếc mũ kỳ lạ ấy trong tay. Khí trời mát mẻ và tướng Blanc quấn quanh cổ một giải khăn mỏng, phất phơ bay trên đôi vai ông nổi bật cấp hàm năm ngôi sao. Cũng ngậm trong miệng chiếc tẩu thuốc, ông lắng nghe, vẻ mạt khô khan, hào hiệp, chiếc gậy leo núi cầm trong tay, cương vị của ông đã rõ ràng. Castries mời Jacquet lên chiếc xe Jeep do mình lái, theo sau là đoàn tuỳ tùng quen thuộc, xe cộ đi cách nhau khá xa để tránh bụi. Castries đưa Jacquet đi thăm trận địa, bắt đầu bằng cứ điểm Béatrice, ở đó những người lính công binh râu rậm của đội lê dương mang tới cho quan khách cái cảm tưởng đặc thù của họ: Béatrice, nếu cần, sẽ là một trận Camerone1 mới. Ở đây có một đài quan sát, tầm nhìn rộng lớn bao quát toàn bộ tập đoàn cứ điểm và những ngọn núi khống chế khu lòng chảo. Những chiếc ống nhòm hai tròng được cố định trên giá đỡ, đặt trên mỏm đồi của sở chỉ huy. Ngài Jacquet trèo lên chỗ đó và đùng một cái, thụt chân vào một lớp đất mới đào đến tận đầu gối. Trung tá Gaucher đỡ cho ông đứng lên. Minh bạch, tinh tế, lặng lẽ, luôn luôn chờ đợi, viên trưởng phòng thông tin của cao uỷ mỉm cười: - Này, ông trung tá, ngài Jacquet nói, anh em chui ở dưới ấy ư? - Ồ, Gaucher trả lời. Trên đầu họ có năm mét dầy các vật liệu và thân cây tròn. Xin bộ trưởng yên tâm, hầm hào ở đây chịu được. Thử hỏi, liệu ai có thể nghi ngờ được đây? Một tiểu đoàn lê dương, bám chắc vào ba mỏm đồi ở Béatrice, mười một tiểu đoàn khác, vây quanh các khẩu đại bác của họ, trong đoạn thung lũng, từ dưới đó bốc lên những cuộn khói của các bếp ăn tập thể và giải rừng rậm mà người ta vẫn còn đang đốt cháy, cái đó có thể “ra trò" đấy chứ. Để kết thúc chuyến viếng thăm và làm cho các quan khách phải ngạc nhiên, khâm phục, người ta dẫn họ tới sở chỉ huy của Piroth, chỉ huy toàn bộ pháo binh. Piroth đã bị mất một cánh tay trong trận đánh ở Italie, ống tay áo bên tay bị cụt, ông gài vào thắt lưng. Chiếc mũ ca lô rộng của ông chờm ra ngoài mảng sọ cạo trọc. Chiếc mũi to tròn, đôi mắt ẩn sâu dưới vầng trán, đôi môi mỏng, chiếc mụn cóc trên một bên má, tất cả tạo thành cái đầu của một đấu sĩ môn vật tự do hoặc một cầu thủ bóng bầu dục. Bằng một cái vẫy tay, ông cho các khẩu đại bác khạc đạn vào bất cứ chỗ nào ông muốn và khẩu đội pháo 155 bắn cầu vồng của ông sẽ phá huỷ những khẩu pháo đối phương nằm phía sau các đỉnh núi. Khuôn mặt đỏ bừng và cơn giận dữ của ông làm cho người ta yên tâm. Người ta yêu quý ông vì sự nổi tiếng của ông. Thắng lợi tuỳ thuộc vào những đòn phản kích sấm sét của ông, ở sự sáng suốt, ở những đài quan sát, ở tính cứng rắn của ông. Là đại úy phi công dự bị, ngài Jacquet nghĩ đến các đường băng sân bay và thấy lo ngại cho chúng. Dù sao, nếu như đối phương có thể chạm tới những đường băng ấy, dù cho chỉ bằng những quả đạn cối cỡ lớn, mọi việc sẽ rắc rối. Hai mươi bốn đại bác 105, một khẩu đội 155, mười sáu súng cối cỡ lớn, cái đó ông thấy cũng không thật ghê gớm. Ở Triều Tiên, quân Mỹ tập trung hàng nghìn đại bác ở phía sau phòng tuyến của họ. - Này ông đại tá, ngài Jacquet nói khi rút lui, tôi được biết ở Hà Nội còn hàng trăm khẩu đại bác chưa dùng tới. Ông phải lợi dụng có chuyến viếng thăm của một bộ trưởng để yêu cầu cung cấp bổ sung cho ông một số khẩu đấy. - Sao cơ! Piroth kêu to, tức tối. Thưa bộ trưởng, xin ngài xem kế hoạch hoả lực của tôi đây. Đại bác ư, tôi có quá ư thừa thãi, vượt quá mức mà tôi cần. Với tướng Blanc, một kỹ sư bách khoa và một pháo thủ được đào tạo cơ bản, đã từng là cấp trên của Piroth và cũng từng hỏi liệu có đủ những gì mình cần hay không, Piroth trả lời: - Nếu như tôi được báo trước ba mươi phút thì trận phản pháo của tôi sẽ có hiệu quả. Thế nếu như ông ta không được báo trước thì sao? Nếu như ông ta không bao giờ được báo trước? Người ta biết là quân Việt đã kéo tới đây hai mươi bốn khẩu pháo 105 mà không một ai xác định được vị trí của chúng. Kiên trì, người ta chờ đợi chúng tự bộc lộ để tiêu diệt chúng. Khi buổi chiều sắp hết, Navarre đến gần ngài Jacquet. - Chúng tôi có cảm giác là chúng sắp tấn công trong đêm nay, ông nói nhỏ với bộ trưởng. Tôi rất không muốn để cho bộ trưởng phải mạo hiểm. Những chiếc Dakota của đoàn tuỳ tùng cất cánh lúc 16 giờ 45 bay về Hà Nội. Ba tiếng đồng hồ là quá ngắn ngủi để đánh giá một tình thế như tình thế ở đây, kể cả với tướng Blanc. Về những gì thuộc phạm vi của mình, như vậy tuy nhiên cũng đã đủ để cho ông lo ngại đến chuyện xấu nhất. Đối với ông, đây không phải là trận Verdun như người ta đã bảo ông mà là trận Somme và pháo binh sẽ quyết định số phận của trận đánh. Nhưng còn Navarre thì mỗi nét dè dặt khó chịu nhỏ nhất cũng bộc lộ sự tự tin lạnh lùng đến mức biến thành giễu cợt và hơi khinh khi, khi ông ta tìm cách chỉnh đốn những sai lầm trong cách đánh giá hay khi trả lời những câu hỏi mà ông ta cho là trẻ con. Ngài Dejean đã đội lại chiếc mũ đẹp của mình. Nếu như ông muốn bắt chước những con người của chiến trận thì vì sao ông không theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh và khoác lên người một chiếc áo ngắn thuộc đồ cung cấp? Bên ngoài một toà lâu đài thử hỏi ông ta nhìn thấy gì trong đám cộng sự không phỉnh nịnh ông? “Tôi đã đưa ra cho các vị quan khách của tôi nhiều câu hỏi về vấn đề Điện Biên Phủ, sau này ngài Dejean đã viết như vậy. Tôi không nhận thấy ở mọi người cùng một niềm phấn khởi như nhau. Hai trong số họ những muốn là Điện Biên Phủ không bị tấn công. Một trong số họ liên tưởng đến những điểm bất lợi của một vị trí bị đối phương khống chế. Nhưng không có một ai phát biểu ý kiến là vị trí này nguy hiểm và cần phải rút bỏ trong thời hạn sớm nhất. Không một ai tỏ ra lo ngại thật sự. Trước cuộc tấn công của đối phương vài ngày, nỗi lo sợ chủ yếu của bộ chỉ huy của chúng ta ở Đông Dương vẫn là lo sợ Việt Minh từ bỏ cuộc tấn công tập đoàn cứ điểm”. Một bức điện từ Paris báo tin một phái đoàn sắp sang Đông Dương cùng với vị bộ trưởng quốc phòng để nghiên cứu tình thế về quân sự. ___________________________________ 1. Camerone: Trận đánh trong cuộc chiến tranh Mexique, 30/4/1863. Ngày này trở thành ngày truyền thống của đội lê dương ngoại quốc của quân đội Pháp. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 09:52:46 pm Ngày 27 tháng giêng 1954 Ngay từ sáng sớm ngài Jacquet đã điện thoại cho tổng chỉ huy Navarre. - Thế nào? - Không thấy họ tấn công, Navarre trả lời, giọng ngượng ngùng. Hình như đã xác định được là ông Hồ Chí Minh đã triệu tập Ban chấp hành Trung ương Đảng vào hôm trước cuộc tấn công để có một quyết định tập thể. Lợi dụng hệ thống phòng ngự của tập đoàn cứ điểm còn chưa hoàn thiện để thâm nhập vào toàn bộ hệ thống theo nhiều đường trục, chia cắt thành nhiều mảnh và lần lượt tiêu diệt từng khu đề kháng, đó là mong muốn chung. Sẵn sàng chuyển sang hành động nếu như nhận được lệnh, tuy nhiên tướng Giáp nêu ý kiến là ông không thể đảm bảo thắng lợi vì những tổn thất to lớn có thể phải gánh chịu và do các đơn vị còn thiếu kinh nghiệm trong những trận tác chiến quy mô lớn đến như vậy. Ngoài ra, tất cả các vị trí của pháo binh chưa được hoàn toàn ưng ý, một số khẩu còn chưa tới được hầm bảo vệ, một số khẩu khác phải thay đổi trận địa, kế hoạch hoả lực còn phải điều chỉnh. Một thắng lợi nhanh chóng theo ông là mạo hiểm; ông muốn tiếp tục công tác chuẩn bị và tiến bước vững chắc. Quyết đánh để đánh thắng đó là câu khẩu hiệu của quân đội nhân dân. Ban chấp hành Trung ương tán thành nguyên tắc chiến tranh cách mạng này và sửa lại như sau: chỉ tấn công khi nắm chắc thắng lợi, nếu không thì thôi. Như vậy là hành động dự kiến trong đêm 25 rạng ngày 26 bị huỷ bỏ. Người ta đi xa hơn. Người ta quyết định là trận đánh Điện Biên Phủ không chỉ được coi như một trận tấn công vào tập đoàn cứ điểm mạnh, được xây dựng trong thời hạn tương đối ngắn, mà phải như một chiến dịch dài ngày, kéo dài đến tận mùa mưa, và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, kết thúc bằng việc tiêu diệt hoàn toàn quân địch. Để chiếm giữ toàn bộ vòng ngoài khu lòng chảo, trước tiên người ta sẽ tấn công hai cứ điểm Béatrice và Gabrielle, tiếp đến là khu phòng ngự trung tâm, bằng một loạt trận kế tiếp bao gồm các trận cường tập và các trận đánh lấn dần, trong lúc đó sẽ cô lập cứ điểm Isabelle. Mỗi trận cường tập, được tiến hành mạnh mẽ với một khối lớn hoả lực và bộ binh sẽ nhằm mục đích chế áp toàn bộ quân địch ngay trong đêm thứ nhất. Các đơn vị xung kích sẽ được thay phiên trước khi bị hao tổn và lần lượt rút ra nghi ngơi bên ngoài khu vực tác chiến. Trong thời gian người ta hoàn thiện hệ thống đường xá xung quanh Điện Biên Phủ và tích trữ đồ tiếp tế đủ loại, sư đoàn 308 được tăng cường hai tiểu đoàn của trung đoàn 148 sẽ rời khỏi vùng lân cận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để đánh lừa tướng Navarre và di chuyển về hướng tây nam. Còn về không quân, người ta sẽ gây trở ngại cho những cuộc thả dù của chúng và sẽ bắn phá các máy bay bằng việc cắm vào những sườn đồi gần nhất sau đó kéo xuống tận thung lũng những khẩu pháo cao xạ được ngụy trang khéo léo. Trái ngược với điều người ta khẳng định sau này từ phía người Pháp, quyết định lùi hoãn cuộc tấn công được đề ra không hề có mặt bất kỳ một cố vấn Trung Quốc hay Liên Xô nào. Nếu như có, với danh nghĩa giúp đỡ về kỹ thuật, thì các cố vấn nước ngoài có mặt trong hàng ngũ quân đội nhân dân cũng không có quyền lực gì. Điều mà Navarre và Cogny không nắm được, ngày hôm đó, đó là phần lớn lực lượng pháo binh Việt Minh đã vào vị trí. Trung đoàn pháo hạng nặng 105 thuộc sư đoàn nặng 351 đã bố trí phần lớn trong số hai mươi bốn đại bác 105 thành các khẩu đội nằm trong hầm núi đá dày hàng mét mà không một ai phát hiện được. Tướng Giáp thậm chí còn chơi sang, cho xây dựng những trận địa giả để thu hút hoả lực. Nếu như Cogny biết điều đó, ông ta sẽ vội vã hạ lệnh chôn sâu các khẩu pháo của tập đoàn cứ điểm, lúc này bố trí ngoài trời bắn về mọi góc phương vị, và Piroth sẽ không còn trả lời ngài Jacquet là mình có quá nhiều đại bác: ông ta sẽ đòi thêm gấp ba lần. Castries cảnh giác, nhưng chủ nhiệm pháo binh của ông đã xua tan mọi nỗi lo sợ của ông. Không một giây phút nào, người ta lại chịu để ý tới giả thiết là quân Việt có thể bố trí pháo binh của họ trên những sườn núi dốc xuống thung lũng: việc này kể từ thời Napoléon cũng đã không còn tiến hành nữa. Người ta bố trí các khẩu đội ngoài tầm nhìn trên mặt đất của đối phương, ở sườn núi phía bên kia, từ đó chúng sẽ nhả đạn nhờ vào những cách tính toán kinh điển. Trong trường hợp Điện Biên Phủ, các pháo thủ của đạo quân viễn chinh thống nhất thừa nhận rằng chiều cao của các đỉnh núi hoàn toàn không cho phép đường đạn với tới trung tâm thung lũng. Vậy là quân Việt bắt buộc phải bắn thẳng, từ những sườn núi dốc xuống thung lũng đối mặt với Điện Biên Phủ. Trong trường hợp đó, người ta sẽ nhìn thấy họ và sẽ tiêu diệt họ. Ngoài ra, người ta tiếp tục tỏ ý lo ngại nhiều nhất về khả năng đối phương có thể vượt qua một địa hình mấp mô lộn xộn và không có đường mòn để kéo tới đây những thứ gì ngoài các khẩu súng cối và pháo 75. Vả lại, chính là những khẩu sơn pháo 75, đêm hôm qua vừa nã đạn vào các vị trí. Không một giây phút nào, người ta không nghĩ rằng tướng Giáp lại không muốn đánh đòn nghi binh. Theo ý kiến các chuyên gia kỹ thuật người Pháp, loại pháo đó không có khả năng thực hành các trận tập trung hoả lực và các căn hầm chống đỡ một cách dễ dàng các đòn đánh của nó. Để có được những ngờ vực về những kết luận đó, phải có đầu óc thực tiễn của Gilles hoặc của Bigeard. Còn như tướng Navarre, ông bắt đầu cảm thấy hết sức ngờ vực sự phán đoán của các cấp dưới đến nỗi không có điều gì làm ông ngạc nhiên, nhưng không vì thế mà ông thay đổi kế hoạch của mình. Trường hợp Navarre đặc biệt phức tạp hơn. Ngày 31 tháng giêng 1954 Nói về trận đánh vừa mới diễn ra để tìm cách phá huỷ một khẩu đội pháo binh, và về những trận mà ông từng chỉ huy, Langlais nói: "Những trận thất bại đẫm máu”. Tuy nhiên: "Ta sẽ cho họ thấy...". Câu nói này Robert Gillain nghe thấy ở mọi nơi. ''Người ta sắp cho họ thấy chúng ta là những ai: cho quân Việt và những kẻ khác thấy”. Đó là lời giải thích mà đặc phái viên tờ báo Le Monde nêu ra về vấn đề này. "Những kẻ khác" nào đây? Các nhà quan sát của Paris và những nơi khác. “Kéo quân Việt xuống khu lòng chảo" đó là giấc mơ của đại tá De Castries và toàn thể bộ tham mưu. "Nếu chúng xuống, thì chúng nằm trong tay chúng ta". Trận đánh lớn có thể gay go, "nhưng chúng ta sẽ chấm dứt nó. Và cuối cùng chúng ta sẽ có cái mà chúng ta thiếu: một mục tiêu tập trung mà chúng ta có thể nện đòn". Robert Gillain đã phản ánh những ý kiến từ nơi đó mà tính xác thực không có gì phải nghi ngờ. Anh đã nói với Castries về nỗi ngạc nhiên của mình khi thấy Castries bỏ mặc các đỉnh núi cho đối phương. - Anh không hiểu tí gì về chiến thuật hiện đại, người chỉ huy binh đoàn Gono đã trả lời anh như vậy, cắt đứt cuộc trao đổi với một cái bĩu môi khinh khi, và sau này nhắc lại rằng ông ta muốn thông qua các nhà báo để đánh lừa đối phương. Trước khi lên đường đi Paris, một sĩ quan cao cấp thuộc một cơ quan tham mưu ở Sài Gòn đã bảo cho Robert Gillain biết là tình thế chưa bao giờ tốt hơn hiện nay và Robert đến đó là đúng lúc. Sư đoàn 308 đột nhiên kéo quân sang nước Lào, gây ra nỗi ngạc nhiên to lớn trong các nhà chiến lược, sư đoàn đó nếu như bị quấy rối, chỉ có thể là do những đơn vị mà nó gặp phải trên đường hành quân. Làm thế nào mà người ta đuổi theo nó và bằng những phương tiện gì được? Việc chiếm đóng Điện Biên Phủ chẳng giúp ích gì cả. Navarre vội vàng củng cố Luang Prabang bằng hàng rào dây thép gai và xe bọc thép, ở đó có vị vua già bại liệt nằm trong giường và trong lúc mà trên sân khấu thế tấn công của cuộc hành binh Atlante dậm chân tại chỗ thì tướng Giáp phản kích bằng đòn tấn công trên các cao nguyên Trung bộ. Đây là một ngày quan trọng đối với viên hạ sĩ Sammarco, thuộc bán lữ đoàn số 13. Anh được biết rằng mình được đề bạt trung sĩ và tuy rằng việc đề bạt chỉ bắt đầu tính từ ngày 1 tháng hai, anh vẫn đính các vệt lon lên quân hàm trên hai vai. Do vì anh có phần nổi trội trong đại đội, cho nên người ta sử dụng anh vào những công vụ khác nhau. Mỗi buổi sáng, anh đi tới khu trại giam giữ một nghìn hai trăm tù binh và phạm nhân quân sự mà người ta chuyển từ Hà Nội lên, chọn ra ba mươi người lao dịch để thu gom các bọc hàng rơi từ trên trời xuống rồi chất lên các xe tải. Đôi khi, anh chỉ huy đội hộ tống của lính lê dương theo sau trung tá Gaucher trong các cuộc đi kiểm tra của ông ấy. Sammarco là một chàng trai hai mươi sáu tuổi, bình thản và tự tin, nước da nâu mai mái. Anh cao và rắn rỏi. Bố đẻ anh là người Ý, anh sinh ra gần Salon de Provence và hay nói: "Peuchère..." với một âm sắc miền Nam rất rõ rệt. Nói về tình thế, anh có những ý nghĩ giống như trung tá Gaucher, thủ trưởng và Thượng đế của anh. Gaucher bảo anh rằng đại bác 105 của quân Việt làm bằng gỗ và anh tin như vậy. Vì vậy anh chẳng có chút lo lắng gì khi nằm ngủ trong căn hầm, chắc chắn không chịu nổi một quả đạn cối 81: những vật liệu tốt, những thân cây, đoạn gỗ tròn được dành để cấu trúc hầm sở chỉ huy. Nhưng mà thử hỏi liệu quân Việt thậm chí có biết sử dụng súng cối của họ hay không? Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 09:55:17 pm Ngày 3 tháng hai 1954 Trên khắp nước Việt Nam, người ta ăn tết, tết năm mới theo âm lịch và tuần trăng đầu tiên của tháng giêng. Ở Sài Gòn, Hà Nội và khắp đất nước, người ta trao tặng quà cho nhau, người ta trang hoàng nhà cửa bằng những con rồng và con cá chép lớn làm bằng giấy, các Táo quân cưỡi cá chép lên chầu giời, người ta đốt pháo. Thông thường, đây là ngày giá lạnh nhất trong năm; nhưng mùa xuân đã tới gần và trên phía bắc các cây đào nở hoa. Trong đêm 30 tết, chiến sĩ liên lạc của bộ chỉ huy mang tới cho tham mưu trưởng trung đoàn 57 một mệnh lệnh di chuyển lên phía bắc khu lòng chảo. Đêm tối như mực, không còn nhìn thấy đường đi. Trên sườn núi dốc đứng, bàn chân trượt dài và vấp phải những tảng đá nhọn hoắt mà đại úy Hiền gọi là đá tai mèo. Nửa đêm, máy bay đom đóm thả pháo sáng ngăn trở cuộc hành tiến. Người ta đi mỗi giờ chưa đầy năm trăm mét. Giữa trưa, chào mừng ngày tết, những phát đạn pháo 75 bay ra từ những sườn núi gần nhất phía đông bắc, nhằm vào các máy bay đang sử dụng đường băng. Một khẩu đội duy nhất, được bố trí và ngụy trang trong những chiến hào đào sẵn, bắn 103 quả đạn trong ba mươi phút với những khẩu pháo 75 Mỹ có bánh lốp thu được từ chiến dịch Hòa Bình. Một trong ba khẩu đội trưởng tên là Nguyễn Minh Tư. Đây là một chàng trai ghê gớm, có hàm răng trắng, một tay thích bông đùa và có khổ người khác thường trong quân đội nhân dân, vốn phần lớn là những người nhỏ nhắn. Cao to như một pháo thủ của thành phố Metz1, thích đàn bà và rượu vang ngon, khẩu đội trưởng Tư chắc chắn có thể một mình di chuyển cả một khẩu pháo. Giọng nói của anh khoẻ khoắn, tiếng cười ròn tan. Hoả lực của ba khẩu pháo, cách nhau mỗi khẩu năm mươi mét, thực hành bắn trực tiếp vào mục tiêu ở cách xa bốn kilômét, mỗi loạt chín phát đạn. Sau loạt đạn thứ hai, pháo binh của Piroth trả lời, được điều chỉnh từ một đài quan sát của cứ điểm Eliane, nhưng các quả đạn rơi xuống các trận địa giả, ở đó có hai chiến sĩ cho nổ bộc phá, làm giả như đạn ra khỏi nòng. Pháo của Piroth bắn tổng cộng 1.650 quả đạn 105. Các máy bay khu trục và máy bay B.26 thả 158 quả bom xuống các trận địa giả, sau đó là các trận địa thật; đạn rốc két làm bị thương nặng ba người và một số bị thương nhẹ, bắn trúng một bếp nấu ăn. Xe tăng lại gần và bắn vào những chỗ họ cho là lỗ châu mai của các khẩu pháo. Ở sở chỉ huy của De Castries, người ta tin là đã phá huỷ toàn bộ. Buổi chiều, mọi người ca hát, khiêu vũ, thổi sáo và thổi kèn ácmônica bên các dòng suối kín đáo không ai nhìn thấy. Các dân công kéo tới hoan hô các pháo thủ, tướng Giáp gửi điện biểu dương khẩu đội trước toàn sư đoàn. Dân công và bộ đội chia nhau những chiếc bánh chưng truyền thống có hạt tiêu và những khoanh giò cùng kẹo bánh ngày tết. Giống như mười lái xe trong tiểu đội, anh lính Trần Văn Tha, nhanh nhẹn như con thỏ, đã lấy đầy bình xăng cho chiếc xe tải của mình, lúc 5 giờ chiều, lại xếp năm can xăng hai mươi lít vào trong thùng xe và thay thế những cành lá tươi vào lưới ngụy trang. Tha là hình ảnh trái ngược của khẩu đội trưởng Tư: trong gia đình anh, không có ai cao lớn và anh chỉ cao có một mét năm mươi. Thân hình bé nhỏ không gây trở ngại gì cho anh, ngoại trừ việc lái chiếc xe G.M.C, và anh để một chiếc gối đệm sau lưng để ngồi cho vừa và xích gần lại các cần điều khiển. Ban đêm, cùng với cả đoàn, anh chạy xe không về Tuần Giáo, trên xe xếp chỗ cho các dân công cùng ngồi, bởi lẽ anh thích trò chuyện, trao đổi ý kiến. Chạy xe không, chiếc xe G.M.C anh thấy nặng hơn chiếc Molotova nhưng khá dễ điều khiển và theo hướng đó, đường dễ đi. Anh đến Tuần Giáo lúc một giờ sáng, dừng lại hai mươi phút ở căng tin để uống trà và ăn một bát cháo đường và chỉ về tới Sơn La lúc 9 giờ sáng khi sương mù đã tan, sau khi vượt qua đèo Pha Đin không khó khăn, bật sáng toàn bộ đèn xe vì trời đầy mây. Anh nhớ lại cái đêm anh lăn bánh trong trạng thái ngủ gà ngủ gật, không một ai báo cho đoàn xe biết có máy bay, thì vừa lúc tiếng nổ ầm ầm và những vầng sáng của bom nổ làm anh giật mình. Lúc đó, theo như quy định bắt buộc, người lái chiếc xe đi đầu phải mở hết tốc độ, bật các đèn pha và những chiếc xe khác thì hãm phanh và tắt hết đèn. Ở Sơn La, anh dừng chiếc xe G.M.C của mình ở trong khu rừng là căn cứ của cơ quan hậu cần, rút hết xăng trong bình dự trữ để cho nếu có bị ném bom, xe không bị cháy, kiểm tra mức dầu và nước làm nguội động cơ, đi ăn chút gì đó và nghỉ ngơi. Trong thời gian đó, người ta chất hàng lên chiếc xe của anh, với những khối hàng mà đoàn xe đến từ Yên Bái chở tới. ____________________________________ 1. Metf: Thủ phủ của tỉnh La Moselle ở phía đông bắc Paris 312km. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 09:57:46 pm Ngày 4 tháng hai 1954 Sáng hôm đó, lúc bảy giờ ba mươi, sau đêm hành quân thứ ba, trung đoàn 57 tới nơi trú quân mới của mình trên một ngọn núi ở hướng bắc cách bọn "Tây" năm kilômét đường chim bay, lúc này còn chưa nhìn thấy chúng. Chắc hẳn là trên sườn ngọn Pha Song, gần bản Na Khau Hu. Lúc đó trung đoàn biết được nhiệm vụ của mình: kéo các khẩu pháo 105 trên các trận địa của chúng. Chuyện bất ngờ đối với đại úy Hiền, đó là thấy mình ở giữa một số lượng đáng kể các khẩu đội pháo cao xạ với những chiếc nòng dài, thanh thoát như những cây sào nhô lên khỏi các bụi cây, nơi mà đơn vị vừa chui vào đêm qua, cho đến tận lúc này, vẫn nằm ở ngoài rìa bãi chiến trường. Giờ đây trung đoàn 57 thấy mình được ném vào giữa trung tâm các sư đoàn, trong làn sóng đan chéo nhau của những chiến binh mang vũ khí và các dân công bước đi chân sáo dưới gánh nặng của khối hàng tiếp tế và đạn dược. "Bắt Navarre xuống đây đi, các anh?...", người ta hét to câu ấy với các pháo thủ cao xạ, đứng chen chúc xung quanh các bệ pháo. Hai lạng gạo, một ít thịt, một thìa đường cho bữa ăn tối và những tiếng vỗ tay, quả là ít ỏi để ăn Tết và đón mùa xuân. Có tin đồn là, từ dưới đồng bằng gửi lên, việc chuyển vận rất nhiều thư từ và tặng phẩm đã bị chậm lại, nhường cho những công văn cao cấp thượng khẩn nhưng đối với mỗi con tim, có cái tết nào vui hơn là cái đêm ba mươi ở giữa những khẩu pháo vẫn còn chưa khạc lửa và một số người đi lại sờ vào những khẩu pháo ấy, tựa như không còn tin vào đôi mắt của mình nữa. Khi mảnh trăng lưỡi liềm biến vào sau những đỉnh núi phía tây, trung đoàn tiến lại gần những khẩu pháo 105 mà họ phải đẩy vào trong các căn hầm do các chiến sĩ công binh đêm ngày đào khoét thẳng vào sườn núi, dưới một tấm lưới dây leo che giấu công việc khỏi con mắt nhòm ngó của máy bay và vừa đào, vừa xoá hết dấu vết. Những truyền thuyết đã ra đời, mà người ta nhắc đi nhắc lại. Người ta nêu tên một chiến sĩ khi những sợi dây kéo pháo bị đứt đã lấy thân mình chèn vào các bánh xe của khẩu pháo đang trên đà lăn xuống dốc. Khắp nơi người ta hát bài ca trong vài tuần lễ đã trở nên nổi tiếng bài Hò kéo pháo: … Vực sâu thăm khẳm Vực nào sâu bằng chí căm thù … Kéo pháo ta lên đi nào Trận địa đây vùi xác quân thù... Lần này, vinh dự thuộc về trung đoàn 57, đúng vào lúc nhiều loạt đạn pháo 105 do các khẩu đội của đại tá Piroth bắn tới, rơi xuống, có thể không phải là cần câu, ngay gần ở đó, khiến cho khu rừng rung lên và rên rỉ. Trên một sườn dốc bốn mươi nhăm độ tiếp nối một khe sâu, các trung đội cột dây thừng vào người, trong lúc đó các pháo thủ, khom lưng bên các bánh xe, đẩy những thanh chèn to tướng vào dưới các lốp xe. Bài hát nổi tiếng, ông Hiền biết rằng không phải ở đây người ta hát. Hai bàn tay nắm chặt lấy các sợi dây, đôi chân bám sâu vào lớp đất, mọi người lắng nghe tiếng nói the thé và kéo dài của người chỉ huy khích lệ cố gắng. - Huây!... Hà! Hai càng trước quay lên trên cao, khẩu pháo nhích lên vài xăngtimét, dừng lại, rồi lại nhích lên. Trung bình mỗi phút nhích lên một mét trên những góc độ gay go nhất, như vậy mỗi giờ chỉ chuyển dịch được năm chục mét và tính cả giờ nghỉ, mỗi ngày nửa kilômét. Ban đêm, chỉ được một nửa. Cần thiết là trước khi rạng sáng, khẩu pháo phải được cột chặt và ngụy trang, hoà lẫn vào cây rừng xung quanh, mọi dấu vết kéo pháo phải biến mất để cho các máy bay quan sát và chụp ảnh không phát hiện được tí gì. - Huây!...Hà! Các lồng ngực hít dài, rồi thì thân người và đôi cánh tay căng ra hết mức. Mồ hôi chảy ròng ròng trên các khuôn mặt, và phần thân trên, trong lúc đó người chỉ huy điều hoà nhịp điệu. Ở cách tập đoàn cứ điểm như vậy và trên các đỉnh núi mà máy bay thường xuyên bay lượn, người ta không thể tưởng tượng rằng các khẩu pháo có thể được kéo cả ban ngày. Còn về những hầm pháo, vẫn còn lại một vài căn hầm mà người ta có thể lên tới được ở trên núi, sau nhiều giờ đi bộ khi mà bản thân những chiếc xe Jeep cũng không có đường lên nữa. Lúc đó người ta gặp lại những đoạn hầm dài đan chéo nhau, được đào bằng cuốc chim, giống như tổ những con chim mồi, bây giờ không còn con đường nào dẫn tới đó nữa do vì nước mưa và cây cỏ đã xoá sạch hoặc che lấp mọi lối vào. Giờ đây, có lẽ đó là nơi trú ngụ của lũ gấu. Bên trong hầm vẫn còn lại, nửa thân chôn xuống lớp đất, những chiếc vỏ đạn pháo đã bị rỉ sét vì ẩm ướt và một vài mảnh vải rách bám dưới trần hầm, cấu trúc bằng những thanh gỗ tròn lớn được chống đỡ bằng những thân cây chuyển tới đây trên lưng người. Thời gian nhanh chóng huỷ hoại những gì còn lại của các vị trí hoả lực và những nơi nghỉ ngơi cũng như các ổ chứa đạn. Nếu như người ta dám tiến lên và nếu như có thể gạt hết bụi rậm và cành cây che kín lỗ châu mai sang một bên, người ta sẽ nhìn thấy thung lũng Điện Biên Phủ, những đoạn sông uốn khúc và những cột khói bốc lên trên các thôn bản hay những cánh đồng và cơn gió cuốn hút những cột khói lên núi. Ngày xưa, bằng mắt thường, người ta có thể phân biệt được hệ thống dây thép gai như lưới mắt cáo, các khẩu đội pháo binh của đại tá Piroth nằm trong những ô tròn như tổ ong, và gần một gốc cây cụt thẳng đứng ờ giữa cánh đồng, sở chỉ huy của đại tá De Castries. Buổi tối. che giấu dưới một miếng vải nilông căng lên làm mái lều, đại úy Hiền thắp lên một ngọn đèn nhỏ làm bằng một hộp kẹo ho Valda cũ, bên trong có nhét đầy bông tẩm dầu hỏa và một chiếc van xe đạp dùng làm ống muống. Ngày 4 tháng hai 1954, bằng dòng chữ nhỏ li ti như vết chân ruồi, sau này vất vả lắm mới đọc lại được, đại úy ghi dòng sau dây vào cuốn sổ nhỏ xinh trong đó có nhật ký hành quân: "Cái lạnh và cái đói quấy phá chúng tôi, nhưng chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ tiêu diệt quân địch". Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 10:04:06 pm Ngày 5 tháng hai 1954 Ở thời điểm này, ai có thể nghĩ là Việt Minh có bao giờ lại tấn công? Việc ra đi của sư đoàn 308 tựa như chứng minh điều đó: tướng Giáp sẽ không dám. Người duy nhất nhìn đúng và đánh hơi thấy mưu mẹo đó là Cogny. Ngày 3 tháng hai, trong một bản chỉ lệnh gửi cho Castries, Cogny đã dự cảm thấy ý định của đối phương có thể là đi quấy rối về phía Luang Prabang và sau đó kéo sư đoàn 308 trở lại Điện Biên Phủ. Trái ngược với ý định của Navarre định rút bớt lực lượng của đội quân đồn trú, ông quyết định chỉ tin là tướng Giáp từ bỏ tấn công nếu như sư đoàn 312 và pháo binh đi theo sư đoàn 308. Cogny vẫn tin chắc là ngay cả trong trường hợp đó, tướng Giáp cũng tìm cách nghi binh. Ngày hôm ấy, Navarre viết thư cho Cogny nói rằng sở dĩ ông yêu cầu tính đến cuộc hành binh Xénophon là do mối lo ngại phải đối phó với chuyện xấu nhất. Đối với ông, tình huống bất trắc Xénophon đã không còn giá trị và tướng Giáp tự thấy không đủ khả năng tấn công Điện Biên Phủ. Như vậy, chính Cogny đã có lí. Khi tôi hỏi tướng Giáp vì sao ông đã tung sư đoàn 308 sang Lào, ông đã trả lời tôi: "Để đánh một đòn lạc hướng và quét sạch các đơn vị của các ông ở đó". "Chính xác hơn, ông nói thêm, nhằm mục đích quét sạch một vài tiểu đoàn cơ động mà quân viễn chinh Pháp đã bố trí cheo leo trên các rặng núi và để che giấu công việc chuẩn bị tấn công của chúng tôi, và hợp tác với các đơn vị Pha thét Lào để cắt đứt mọi đường rút lui của tướng Navarre về phía nước Lào". Trong trường hợp này, Cogny lại càng có lí: mạng vệ tinh của ông ta, nếu như được tổ chức vững mạnh và được đặt lên quỹ đạo của nó, đã có thể gây trở ngại cho tướng Giáp. Về điều này, lúc đó không một ai có nghi ngờ gì, ngoại trừ có thể là Navarre. Điều mà người ta nghi ngờ, đó là khả năng bố trí, duy trì và di chuyển mạng vệ tinh đó; đó là việc trong vòng vài ngày hà hơi tiếp sức cho cái binh đoàn bao gồm những đơn vị nhỏ bé, đó là một việc làm không thể nào ứng tác nhanh chóng: tạo ra tính thống nhất, lòng ham muốn và ý chí chiến đấu. Thực tế có hề gì, nếu như chỉ riêng sự hiện diện của mạng vệ tinh đó cũng đã khiến cho tướng Giáp ở trong trạng thái thiếu an toàn, trạng thái mà Cogny mơ ước, trạng thái ngăn cản tướng Giáp mở cuộc tấn công? Ở đây hình như người ta lại rơi vào những ảo tưởng. Tướng Giáp sẽ không vất vả gì nhiều lắm để quét sạch cái mạng vệ tinh ấy cũng như ông đã phủi bụi ở nước Lào: một sư đoàn quân Việt chuyển động và chiến đấu trong rừng rậm; đối phó với nó, những câu chuyện tưởng tượng không có ích gì. Ngoài ra, liệu Cogny có sợ rằng tướng Giáp tấn công tập đoàn cứ điểm hay không? Câu trả lời là "Không". Không, trong câu trò chuyện ở hành lang, Không, để mang tới cho Castries những bình thở ôxy1, hay là Không, trong vòng bí mật của những suy ngẫm? Với con người xứ Normandie Cogny; thật khó khăn để mạo hiểm trong sự vững tin. Với Cogny không bao giờ là "Có hay Không ''; mà là “Có và Không". Về ý nghĩ thật sự của Cogny lúc đó, giờ đây không còn dấu vết. Cũng sẽ như thế, nếu như Cogny lúc đó có tin rằng Điện Biên Phủ sẽ kết thúc trong thảm họa. Ngày 6 tháng hai 1954 Ở Paris, Uỷ ban Quốc phòng họp lại. Ngài Pléven nêu nhận xét là tình hình ở nước Lào là khó khăn và rằng tướng Navarre có thể đặt ra cho ngài một câu hỏi, hai bức điện của viên tổng chỉ huy và của ngài Dejean có vẻ đã nêu ra câu hỏi đó: việc bảo vệ nước Lào liệu có vẫn luôn luôn còn là một mục tiêu trong đường lối của chính phủ hay không? Ý kiến của thống chế Juin là số phận của đạo quân viễn chinh phải đặt trước số phận của nước Lào, và hội nghị của ủy ban thống nhất tán thành ý kiến đó. Thống chế nói thêm, ông tin là có khả năng rút bỏ Điện Biên Phủ nhưng căn bệnh tâm thần về chiến thuật những con nhím được phổ biến trong quân đội, có nguy cơ làm tê liệt các sáng kiến. Ngài Pléven, ngày hôm sau nữa sẽ bay sang Đông Dương. Ủy ban dành cho ngài, ngoại trừ những gì liên quan đến các cuộc thương lượng với đối phương, toàn quyền quyết định về mặt quân sự trong trường hợp khẩn cấp không cho phép ngài xin ý kiến của chính phủ. Thực tế, cùng với ngài Pléven, chính là uỷ ban các tham mưu trưởng, với tướng Ely là chủ tịch sẽ đi sang nghiên cứu tình hình tại chỗ và sửa chữa các sai lầm. Ngài Pléven, người đã phàn nàn mình chỉ là một người cho máu, đột nhiên có được những quyền lực mà ít chính khách trước ông có được. Ngày 7 tháng hai 1954 Đến từ Sài Gòn và Séno trên chiếc máy bay của tướng Navarre, ngài De Chevigné, quốc vụ khanh về chiến tranh, hạ cánh xuống Điện Biên Phủ. Trước lúc hạ cánh mấy phút, viên phi công có nguy cơ bắt buộc phải nhào xuống khu lòng chảo khá táo bạo để tránh đạn pháo cao xạ đã đề nghị vị bộ trưởng buộc chặt dây an toàn. Ngài De Chevigné, vốn không biết là có pháo cao xạ, tỏ vẻ ngạc nhiên. Nỗi ngạc nhiên của ngài càng gia tăng khi máy vô tuyến chuyển tới ngài một thông báo trong đó tướng Cogny và đại tá Castries báo cho biết là nghi lễ đón chào ngài không diễn ra trên đường băng, hiện nằm dưới hoả lực súng cối của đối phương và yêu cầu ngài khẩn trương ra khỏi máy bay, ngay khi máy bay dừng bánh và lên chiếc xe Jeep đang chờ đón ngài. Sau này ngài De Chevigné nói về nỗi sửng sốt mà ngài cảm thấy lúc đó. Thậm chí ông còn nói: "Kể từ thời Roland ở Roncevaux chưa bao giờ người ta thấy những chiến binh đi bộ trong một hẻm núi như vậy". Sự thật, nếu như ông biết được các phi công đã mệnh danh khu lòng chảo Điện Biên Phủ với cái tên gì thì khi nhảy vào ngồi bên cạnh De Castries trong chiếc Jeep, và tướng Cogny ngồi ghế phía sau, thì cảm tưởng của ông sẽ là tức giận. Điện Biên Phủ quả thật là cái bô nước tiểu mà đội quân đồn trú chiếm giữ ở dưới đáy và Việt Minh thì ở trên miệng bô. Nguyên chỉ huy trưởng một lữ đoàn thuộc địa của các lực lượng nước Pháp tự do ở Trung Đông, nguyên trưởng phái đoàn quân sự của tướng De Gaulle ở Washington, bị thất bại, nguyên cao ủy ở Madagascar, hòn đảo mà ông đã bình định với những phương sách đặc biệt, liên kết với gia đình De Castries, ngài De Chevigné có thân hình và giọng nói của một anh hàng thịt dễ mến, đã muốn ở lại Điện Biên Phủ hai ngày để nắm được tình hình trước khi ngài Pléven tới. Ông đã gặp gỡ trong nhiều giờ với các đại tá và các tiểu đoàn trưởng để nhìn thấy hết và hiểu hết sự thật. Phải chăng tại đây sau khi bất cẩn làm nổ một trái lựu đạn gài bẫy người ta đưa cho ông xem, ông đã chất vấn là người ta đánh đồng loạt những vết xước nhỏ như những vết thương chiến tranh hay sao? Một buổi tối, cải trang thành anh lính trơn, ông đã tham gia một đội tuần tra. Nhưng mà thử hỏi một vị bộ trưởng có thể rút ra kết luận gì khi mà đứng trước mặt ông, các sĩ quan luôn luôn giữ thái độ dè dặt kể cả những người như Gaucher hoặc Piroth, cùng tốt nghiệp một khoá trường Saint Cyr với ông? Hay nữa, như Langlais, bạn học cũ trong trường sĩ quan dự bị với ông. Điều mà ngài De Chevigné nắm được khi rời khỏi Điện Biên Phủ đó là vị trí có vẻ vững mạnh mặc dầu việc tổ chức trận địa đôi chỗ chưa đầy đủ và rằng đội quân đồn trú sẽ bị hất trở lại dữ dội ngay khi nó tìm cách trèo lên miệng bô, nơi mà nó đã bị dính chặt vào. Để trình diễn với ông, Castries đã cho xuất trận hai tiểu đoàn rất giỏi, được pháo binh và máy bay yểm trợ, hai tiểu đoàn này cũng không ra quá khu lòng chảo được hơn một kilômét; nhưng mà trận chiến đấu đã không xảy ra và không một ai tỏ vẻ lo ngại về kết cục của trận đánh. Mọi người đều nói với ông như Castries và Cogny: “Điện Biên Phủ sẽ là Nà Sản nhân lên mười lần. Chúng tôi sẽ không chỉ đè bẹp một mà là bốn sư đoàn”. Ngày 8 tháng hai 1954 Ở Sài Gòn, ba hôm trước, tướng Blanc đã phác họa với ngài Jacquet một bức tranh khá u ám về tình hình chính trị và quân sự. Trong dáng điệu hào hiệp và giọng nói vùng Catalan, tướng Blanc nhìn thấy sáng suốt, đánh giá nhanh chóng và phát biểu ý kiến của mình kể cả khi người ta mong muốn là không chấp nhận ý kiến đó. Cá tính của ông có lúc nào đó, đã cản trở ông có được những cương vị mà ở đó những cái đầu mềm dẻo ít kháng cự hơn cái đầu của ông, rồi sau đó ông lại được chỉ định để giữ một nhiệm vụ khó khăn. Trong thời gian dài bị đánh giá là không biết phục tùng, ông đã chứng minh là mình sinh ra là để chỉ huy. Về Đông Dương, ông đã có cái nhìn thực tiễn: năm 1950, dự cảm thấy mối thảm hoạ đang thai nghén, ông đã khuyến cáo việc rút bỏ Cao Bằng. Trung Quốc, Việt Minh, tình trạng yếu kém của quân đội Việt Nam2 và sự bất tài của những người chỉ huy đội quân đó, mang đến cho ông những lo ngại nghiêm trọng về Điện Biên Phủ. Theo ý ông, cần phải rút bỏ xứ Bắc Kỳ để có thể giữ vững Nam Kỳ và Trung Kỳ và để đạt được mục đích đó, tiến hành thương lượng để chấm dứt trong danh dự một cuộc chiến tranh trong tương lai sẽ kéo theo việc đánh mất vùng Bắc Phi. Đối với ông, tiếp tục làm tổn hại sinh mạng của đạo quân viễn chinh mà các lực lượng dự trữ đang suy giảm dần là một tội ác. Ngài bộ trưởng lắng nghe tướng Blanc nói mà không ghi chép, vừa rít tẩu thuốc, vừa gật đầu. Buổi chiều, khi dừng chân ở Nice, ngài Jacquet trên đường ở về Paris đã gặp phái đoàn Pléven. Trong một phòng khách ở sân bay, ông trao đổi cảm tưởng với ngài Pléven và tướng Ely. - Tôi rất bi quan, ngài Jacquet nói. - Chúng tôi còn bi quan hơn, ngài Pléven trả lời. Chính vì vậy mà chúng tôi đi sang đó. __________________________________ 1. Ý nói để tiếp sức. - N.D 2. Chỉ quân đội ngụy theo Pháp. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2008, 10:09:24 pm Ngày 9 tháng hai 1954 Hôm qua, lần đầu tiên, các chiến binh của trung đoàn 57 mà người ta cho nghỉ ngơi sau khi kéo mấy khẩu pháo lên núi, đã có thể nhìn thấy khu lòng chảo Điện Biên Phủ. Mệt mỏi đến mức họ mơ ước được ngủ một mạch hai mươi bốn tiếng đồng hồ và ăn mấy miếng đường, ấy vậy mà họ đứng ngắm một hồi lâu khoảng không gian tối đen của giải thung lũng, dưới ánh trăng lấp loáng một vài ánh thép bạc, ở đó mười hai tiểu đoàn, ẩn nấp trong các lô cốt, đang chờ đợi họ. Điều gây ấn tượng nhiều nhất đối với đại úy Hiền, từ nhiều năm nay quen sống như một con sói bị săn đuổi, đó là vầng ánh sáng của đường băng sân bay và hệ thống cọc tiêu của nó gồm những bó đuốc đốt bằng ét - xăng, ngọn lửa lay động trước gió, gợi lại cho ông những đống lửa củi nhỏ mà người ta đốt lên trên ngưỡng cửa các ngôi nhà, để tưởng nhớ những người đã khuất. Biết bao bước chân hành quân và biết bao nỗi gian khổ, cuối cùng đã dắt dẫn họ tới trước trận địa, ở đó quân địch tập trung lại đang thách thức họ. Họ nhớ tới những từ ngữ mà người ta nhắc đi nhắc lại, từ trung đoàn này sang trung đoàn khác, những từ ngữ in trên các tờ truyền đơn của De Castries trong tiếng Việt người ta gọi là Đờ-Cát-Tri, gọi họ là đồ hèn nhát. "Hèn nhát", đó đúng là cái tiếng cuối cùng mà người ta phải nghĩ tới. Họ là những con người giản dị, nhẫn nhục, cuồng tín đến mức quá đáng, sẵn sàng hiến dâng cho những nghĩa vụ lớn trong tương lai, nhưng tuyệt nhiên không hèn nhát; điều đó chứng tỏ là đối phương hiểu sai lệch về họ đến mức nào hoặc là chúng muốn nhục mạ họ. Theo cái cách lặng lẽ và bướng bỉnh của một võ sĩ hạng nhẹ nhảy nhót trước một võ sĩ hạng nặng mà không trực tiếp đối mặt, họ đã tiến lại gần, đã đẩy lùi đối thủ hùng mạnh của họ vào sát sợi dây thừng bao quanh võ đài và sau biết bao đòn né tránh và nghi binh, đang chuẩn bị giáng cho đối thủ một đòn đúng sức của mình, với những khẩu pháo xưa kia đã từng nã đạn vào họ. Mọi người trong trung đoàn 57 đứng lặng lẽ trước cái hố sâu khổng lồ, bên trên hố sâu ấy những cuộn khói trôi nổi, kéo dài ra về phía những đỉnh núi bàng bạc dưới ánh trăng. Đó chính là nơi họ phải tiến xuống để rửa sạch những nỗi nhục, những bất công và cắm lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ cuối cùng đã mang tới cho họ một Tổ quốc. Ngày 15 tháng hai 1954 Ở tất cả những ai viếng thăm tập đoàn cứ điểm, đều bắt gặp cùng một nỗi ngạc nhiên trước phong cảnh và địa thế. Mịt mù với hệ thống đường sá và những giải bụi dài mà xe cộcuốn lên phía sau chúng, khu lòng chảo náo nhiệt bởi cuộc sống của một đạo quân nhỏ đang chờ đợi giờ xung phong, chôn xuống đất các vũ khí của nó, thu gom đồ tiếp tế mà người ta ném xuống cho nó, giải ra xung quanh nó những chướng ngại vật, nấu ăn và tắm rửa dưới dòng sông chảy ra từ những ngọn núi rậm rạp cây cối gần nhất. Xa hơn nữa, những đỉnh núi lởm chởm nối tiếp nhau, dâng cao lên cho tới tận đường chân trời ở đó không có dấu hiệu gì của một đối phương hoàn toàn hoà lẫn vào với rừng cây và canh chừng mọi chuyển động phía dưới thung lũng. "Một sân vận động ", theo câu chữ của Robert Guillain, mà Việt Minh chiếm giữ các bậc lên xuống. - Tất nhiên, một viên đại úy nói với Henri Amouroux, đặc phái viên của tờ báo Tây Nam, họ nhìn thấy chúng tôi rất rõ, thi thoảng nhằm bắn vào chúng tôi, đánh dấu những vật chuẩn trên các con đường. Tất cả những chuyện đó không quá nghiêm trọng. Henri Amouroux, hơi so vai thụt đầu, bước đi một cách thận trọng tựa như để khỏi thu hút sự chú ý của tất cả những người đang rình mò ở trên cao, tới sở chỉ huy của đại tá Castries, trình diện với ông. - Anh là nhà báo, Castries nói, vừa khẽ bĩu môi nhìn về hướng tờ báo Le Monde và tờ điểm báo mà ông vừa vứt xuống mặt bàn. Lại thêm một người nữa. Anh có biết là nếu như Robert Guillain quay lại đây, thậm chí ông ta không phải xuống máy bay. Tôi sẽ cho bốn tay súng bảo vệ ông ta. Vậy mà cứ nói là ông ta đã uống rượu cô nhắc của chúng tôi? - Thưa đại tá, tôi biết Robert Guillain... - Người đã viết rằng Điện Biên Phủ là một cái hố của bầy sư tử! - Một hình ảnh, một hình ảnh đơn giản. Vả lại như vậy không có vẻ là thiếu xác thực. - Nếu thế, Castries hét to, anh cũng giống những người khác, anh cũng thế ư? Vậy thì xin cứ để chúng tôi yên tĩnh làm công việc của chúng tôi. Nếu như quân Việt tấn công, các anh sẽ thấy chúng tôi tiếp đón họ như thế nào. Mọi việc đã sẵn sàng, thưa ông Amouroux, có thế thôi. Mời anh lấy một xe Jeep. Anh cứ đi mà xem. Từ những gì nhìn thấy được, Henri Amouroux có một cảm giác nửa tin tưởng nửa lo ngại. Anh đã đi ra cứ điểm Anne Marie gặp lại thiếu uý Makowiak, cấp phó của đại úy Guilleminot chỉ huy tiểu đoàn người Thái số 3, đã cùng với họ ẩn nấp trong một căn hầm giống như một nấm mồ, cùng ăn một bữa với họ. - Chúng tôi đến đây để đi diễu binh và chúng tôi sẽ đi diễu, Guilleminot bình thản nói. - Ở đâu vậy, thưa đại úy? Henri Amouroux sửng sốt hỏi. Guilleminot khẽ phẩy tay. - Người ta sẽ diễu binh. Buổi tối, sau khi Guilleminot tra cứu xong cuốn danh bạ mà anh ta vẫn mang theo cho đến lúc này, trong lúc Amouroux nằm dài trên đệm đang định ngủ thì quân Việt bắn pháo 75. Các sĩ quan mặc quần áo trong bóng tối và bước ra ngoài. Những con chim vẫy cánh trong màn đêm. Những con quạ này, có lẽ tôi đã nhìn thấy chúng bay qua từ đông sang tây khu lòng chảo, mỗi buổi tối, và từ tây sang đông, mỗi buổi sáng theo từng bầy đen kịt và kêu quàng quạc. Đột nhiên, trong vầng sáng của pháo sáng do chiếc Dakota trực canh thả ra, những khẩu tiểu liên do Makowiak chỉ thị mục tiêu cho các xạ thủ, bắt đầu nổ ròn, và pháo binh của tập đoàn cứ điểm nã đạn vào vòng ngoài của một điểm tựa và bắn lên những đỉnh núi, ở đó những đám cháy do bom napan vẫn còn đang bốc lửa. Rồi thì cảnh im lặng trở lại và mọi người quay vào đi ngủ, lại nghe tiếng ễnh ương kêu oàm oạp. Ngày hôm đó, lúc bình minh, trong màn sương mù, Henri Amouroux tham dự một trận đánh mới do trung tá Langlais tổ chức cùng với ba tiểu đoàn. Guilleminot là người dẫn đường cho anh tới tận bản Ta Po, cách đó hai kilômét, nằm dưới chân ba ngọn đồi của cứ điểm Béatrice. Dân chúng trong bản, còn đang ngái ngủ, vừa ngáp vừa chạy ra khỏi nhà; phụ nữ đã bắt đầu giã gạo. Đi tìm hiểu thực tế, Henri Amouroux đã tự hỏi mình về những người nông dân có vẻ mặt lãnh đạm ấy và tự hỏi về bản thân có thể là đang xông pha vào những nơi nguy hiểm một cách vô ích. Xuyên qua đám cỏ cao, anh tiến ra sông Nậm Rốm mà người ta lội qua. Đột nhiên những viên đạn rít gió, những phát trái phá rơi xuống, một cha tuyên úy cúi xuống khuôn mặt của một trung úy bị giết chết, khuôn mặt đã bị ruồi khoét nham nhở, trong lúc đó, qua máy bộ đàm, một đại úy gọi trực thăng: “Mặt trời gọi Mặt trời lớn, xin gửi Alouette tới... " và các thương binh từ trong rừng kéo ra, vịn vào vai nhau bước đi. Một bộ phận của tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 đã bị tiêu diệt, và một trung đội trưởng mình đầy máu me bước tới, một mắt bị hỏng, bàn tay vịn trên vai của người dẫn đường, giống như nhà vua Créon.1 Đạn súng cối trút xuống như mưa vào lúc chiếc trực thăng sắp hạ cánh và người ta trả số thương binh quay trở lại trong bản. Theo lời khuyên của cha tuyên úy, Henri Amouroux đi theo họ, đỡ cho một người Italie. - Tôi, tôi sẽ được tặng huy chương màu vàng, viên trung đội trưởng nói để an ủi. Huy chương màu vàng, đó là huy chương quân sự. Trên khuôn mặt của viên trung úy được khiêng đi trên cáng, người ta đã phủ lên một chiếc mùi xoa màu hồng. Lại một lần nữa, mục tiêu không đạt được và pháo 75 quân Việt nã vào trận địa. - À phải, thưa ông Amouroux, Castries nói, người ta bắn vào đầu chúng tôi. Thế thì sao nào? Tôi đội chiếc mũ ca lô đỏ để họ nhìn thấy tôi rõ hơn. Lúc ăn trưa, chỉ xoay quanh có mỗi câu chuyện về bài báo của Robert Guillain và cái từ ngữ “hố sư tử", vốn đã làm mọi người ở đây bất bình. Ngoài ra, phải chăng người ta đã hiểu rằng đây là cái hố trong đó bầy sư tử chờ đợi trước khi diễn ra những trò xiếc? Được so sánh với bầy sư tử, kể cả bầy sư tử bị nhốt chuồng, chưa bao giờ là một lời nhục mạ. - Quả thật, một thiếu tá hơi giễu cợt, nói với Henri Amouroux, dân nhà binh chúng tôi không thật thông minh... Những người chết trong buổi sáng được khiêng lên máy bay dưới làn đạn pháo và trước một đội tiêu binh danh dự nhếch nhác, vội vã làm cho xong việc. Amouroux trở về cùng với mười sáu thương binh. Anh đã nghe thấy một người Tây Ban Nha, đầu gối bị vỡ, rên rỉ suốt chặng đường: "Cái chân của tôi, người ta sắp cắt bỏ nó, cái chân của tôi...". Trên chiếc máy bay Curtis Commando do Henri Bourdens lái, máu chảy thành suối từ những chiếc quan tài. ________________________________ 1. Créon: Nhân vật của Sophocle. Là ông vua chuyên chế của xứ Thèbes (Hi Lạp). - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:02:40 pm Ngày 16 tháng hai 1954 Mỗi buổi chiều, ở trong tập đoàn cứ điểm, khắp nơi người ta chơi bóng chuyền và đi tắm. Đại uý Capeyron, chiếm giữ vị trí Claudine 5 cùng với một đại đội thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13, nghĩ rằng mình không bỏ qua một hoạt động nào. Cũng như các đồng đội, thậm chí mỗi lúc anh ta càng thêm có cảm tưởng là cuộc chiến tranh đã kết thúc và quân Việt sắp sửa ra đi. Khi những khẩu đại bác của Piroth bất thình lình phá vỡ khung cảnh im lặng để hiệu chỉnh hỏa lực của một bài tập quen thuộc, thậm chí anh ta không hề giật mình. Một đêm nữa bắt đầu trong tiếng ì ì của những chiếc Dakota trực canh đi tuần, những người lính gác chuẩn bị đốt đuốc từ trên các bức tường lũy để quan sát đối phương. Nếu như tiếng còi rú lên, đại úy Capeyron biết đây lại là một cuộc báo động. Nhưng nếu như đây là một trận tấn công? A, ai mà chẳng thấy thích? Cái tiếng kêu thật vui vẻ, thở phào nhẹ nhõm, sẽ bay lên bên trên những căn hầm khốn khổ của Điện Biên Phủ. Ở Hà Nội, ngài Pléven triệu Cogny, mặt đối mặt, ở Toà nhà nước Pháp vào lúc cuối ngày để hỏi xem ông ta nghĩ gì về khả năng rút ra khỏi cuộc chiến. Cogny tỏ ý đối nghịch với chiến lược của Navarre cũng như cuộc hành binh Atlante. Ngày 18 tháng hai 1954 Ở Điện Biên Phủ, hôm qua, có một người mới đến bổ sung cho trạm xá số 29, đó là thiếu tá bác sĩ Paul Grauwin. Đây là một nhà giải phẫu tài năng mà sở thích ham muốn phiêu lưu đã dẫn dắt anh vào hàng ngũ của đạo quân viễn chinh. Cái con người cao lớn của vùng Flandre này, nổi tiếng về sức mạnh thể chất thể hiện trong công việc cũng như lòng hảo tâm. Nằm bên trên một cái cổ và phần thân trên của con bò tót, khuôn mặt của anh rạng rỡ bởi đôi mắt xanh rất hiền dịu ẩn sau đôi kính đầy vẻ khoan dung. Đó là một trong số những con người hiếm hoi mà người ta không thể gặp gỡ mà không yêu quý. Grauwin không bao giờ từ chối bất cứ thứ gì đối với những ai đang đau đớn và kẻ địch duy nhất mà anh biết, đó là nỗi đau đớn. May thay, bác sĩ Grauwin cũng biết quan sát và ghi chép. Được người tiền nhiệm hướng dẫn, anh đã đi thăm nơi bố trí làm phòng mổ, căn hầm của bác sĩ, vách được phủ bằng lớp vải liệm, các gian hồi sức và máy thông tin, kho dự trữ thuốc men và dụng cụ. Cũng như Brigitte Friang, khi đi qua các nơi, anh chỉ đếm được có bốn mươi hai giường nằm. - Nếu như có một trăm thương binh chuyển tới thì các anh làm thế nào? Anh hỏi bác sĩ tiền nhiệm. - Lúc nào cũng có máy bay. - Nếu như sân bay không sử dụng được thì sao? - Lúc đó, anh sẽ sử dụng khu hầm của đội G. C.M.A. Nằm ở bên kia đường và một hàng rào thép gai chữ chi, lối đi lại lộ thiên, đó là khu hầm của đội G. C.M.A - tên gọi của một nhóm các đội biệt kích dù hỗn hợp chịu trách nhiệm khai thác tình báo từ các tù binh. Langlais đã gọi nhóm này một cách khinh bỉ là một ổ chấy rận gồm những người Thái và người Mẹo hỗn hợp với khoảng một chục người Âu và do một viên đại úy cũ của các trung đội đặc biệt thời kỳ Thế chiến thứ hai chỉ huy, Langlais đã ra lệnh cho tay đại úy này phải cất chiếc mũ nồi đỏ đi. - Tôi thấy hình như trạm xá ở quá gần sở chỉ huy, bác sĩ Grauwin vẫn còn nói. - Đó là do thiếu tướng - bác sĩ Terramorsi bố trí như vậy cho thuận tiện hơn. - Trong trường hợp bị ném bom thì sao? - Bác sĩ cứ nói đùa, một viên sĩ quan nói. Thử hỏi chúng lấy gì mà ném bom? - Và nếu như các anh có ba trăm thương binh thì sao? Đến lượt thiếu tướng - bác sĩ Jeansotte hỏi, hôm ấy ông này tháp tùng Navarre trong cuộc kiểm tra mới ở Điện Biên Phủ. Grauwin im lặng. Việc đó để cho ban chủ nhiệm tài giỏi của Cục Quân y trả lời. Thiếu tướng - bác sĩ Jeansotte gật đầu trước những thông số về độ dày của trần hầm mà người ta cung cấp cho ông, tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy hệ thống đường giao thông trong khu trạm xá lại lộ thiên và trèo lên trên mặt đất: - Này anh bạn, nếu như ở đây có đánh nhau to, ông nói với Grauwin, vừa đưa mắt nhìn khoảng mênh mông của tập đoàn cứ điểm, các anh có một bước lùi tới bốn chục năm và riêng mình anh, anh không xoay sở được đâu. Ngày hôm đó, những tin tức xấu đến tai vị tổng chỉ huy. Các đài thám không đã bắt được một mệnh lệnh quy định năng suất vận chuyển hàng ngày của Việt Minh từ năm mươi tăng lên bảy mươi tấn và người ta đã thu được trên người một tù binh bản vẽ một căn hầm của đại bác. Tướng Cogny nói chuyện đó với đại tá Berteil, ông này tỏ ra rất bị sốc cũng như bản thân Cogny, bởi lẽ các bức không ảnh chưa từng phát hiện được dấu hiệu nào như vậy. Các điều kiện khí tượng, những cây rừng lớn rậm rạp lá, và những thung lũng vách dựng đứng làm phức tạp mọi chuyện. Các phi công máy bay Bearcat đã mạo hiểm lớn, khi bay thấp để chụp ảnh với góc độ nghiêng trong những khu vực mà người ta sợ rằng có bố trí các khẩu đội pháo cao xạ. Bất chấp sự giúp đỡ của các chuyên gia giỏi nhất từ Triều Tiên đến, những người đã khuyến cáo việc chụp xen kẽ ảnh mầu và ảnh đen trắng hoặc sử dụng tia hồng ngoại, cố gắng của những nhà phân tích không ảnh vẫn vô hiệu. Cho đến lúc này, không mảy may có dấu hiệu chứng minh sự có mặt của các khẩu đội pháo đối phương. Berteil vừa suy nghĩ vừa trả lời Cogny: - Nếu như thông tin là chính xác thì việc phản pháo có nguy cơ gặp khó khăn. Piroth, được thông báo, nhún vai: - Anh phải coi chừng pháo binh đối phương, Berteil bảo Piroth. Quân Việt có sử dụng pháo binh như quân Trung Quốc ở Triều Tiên, đặt pháo trong hầm và bắn thẳng. Có lẽ nếu cẩn thận thì nên che chắn cho các khẩu pháo của anh. - Đại tá De Castries đã nghĩ đến chuyện đó rồi, Piroth trả lời. Người ta đã xem xét giả thiết này. Nếu coi như giả thiết đó có giá trị, thì cần có thêm gấp đôi số đầu pháo và tiến hành khối công việc to lớn. Ở Nà Sản, pháo binh trong căn cứ đã bắn lộ thiên và bắt buộc mấy khẩu pháo đối phương phải im tiếng: người ta sẽ làm như Nà Sản. Quân Việt là những lính bộ binh đáng sợ, nhưng pháo binh của họ thì chỉ là trò cười Nhưng nếu như có lực lượng pháo binh đó thì sao? Nếu như nó đã vào vị trí thì sao? "Nếu như cậu không nhìn thấy nó, thử hỏi cậu bắn vào đâu nào?" Castries thường hỏi Piroth như vậy. “Ít nhất ta sẽ thấy nó khi nó nhả đạn. Piroth luôn luôn trả lời như vậy. Và tôi sẽ nghiền nát nó". Castries, vốn không phải là pháo thủ, tin điều đó, nhưng mỗi lần như thế ông lại bặm môi tỏ vẻ phật ý. Để tự trấn an, ông nhắc lại với mình là không quân sẽ bổ khuyết vào chỗ còn yếu kém của việc phản pháo và rằng trận tấn công sẽ kéo dài không lâu. Gaucher, nếu như ông ta biết sự hiện hữu của những căn hầm pháo đó, có lẽ ông ta sẽ buồn cười. Ngoài ra, người ta tự nhủ là nếu như tài liệu bắt được trên người tên tù binh ấy là xác thực thì đối phương hẳn phải lao vào những công trình hết sức rộng lớn đến nỗi không thể thoát khỏi con mắt của không quân và rằng họ sẽ thiếu thời gian và phương tiện để có thể hoàn thành đúng thời hạn. Không một ai có thể tưởng tượng, kể cả suy luận một cách trừu tượng, rằng những công trình đó, phần lớn, đã làm xong. Và kể cả nếu như quân Việt có thể bố trí các khẩu pháo thành từng trận địa, thử hỏi chúng sẽ bắn được bao nhiêu phát đạn? Một số lượng nhỏ. Chỉ cần chờ đợi tình trạng đối phương hết đạn. Về điểm này, hình như đã có sự nhất trí trong cuộc hội kiến kéo dài hai tiếng đồng hồ giữa Navarre, Cogny và De Castries. Từ Berlin, người ta báo tin một cuộc hội nghị quốc tế sẽ mở trong tháng năm, ở Genève, để xem xét các vấn đề của châu Á. Không điều gì có thể tin là các sự việc sắp biến đổi một cách thần kỳ, và rằng thông báo về một cuộc hội nghị sẽ đánh tráo được những con súc sắc đang lăn trong một ván bạc, thay đổi được cấu trúc của những căn hầm trong tập đoàn cứ điểm, cỡ nòng các khẩu đại bác của đại tá Piroth hoặc quyết tâm của những con người đang sống trong khu lòng chảo và xung quanh đó. Ngày hôm ấy, ngài Dulles1 có một cuộc nói chuyện riêng với ngài Bidault.2 Ông ta bảo ngài Bidault rằng mình chờ đợi một cuộc tấn công tổng lực ở Đông Dương. Kể cả nếu như chuyện đó là có thực thì chính tướng Navarre là người muốn có Điện Biên Phủ và đã chấp nhận giao chiến ở đó. Đó đúng là nơi mà mọi người mong muốn đương đầu với đối phương. Nếu như có một vài mối bất hoà ở trong đội quân đồn trú thì đó là rất nhiều sĩ quan trẻ đã trách cứ bộ chỉ huy thiếu hăng hái. Những cuộc hội nghị không bao giờ làm cho các nhà quân sự lo ngại khi họ nắm phần thắng trong tầm tay, hoặc giống như Navarre họ tuyên bố rằng họ biết cách thúc đẩy chiến thắng. Mọi cuộc chiến tranh, kể cả sau những chiến thắng, đều kết thúc bằng các hội nghị và trong lúc này sẽ là vô ích khi tính đến một sự chi viện nào khác ngoài sự hi sinh và lòng dũng cảm. Với thượng nghị sĩ dân chủ Mike Mansfield, người đã có câu hỏi liệu Hoa Kỳ có gửi các đơn vị hải quân và không quân sang Đông Dương, trong trường hợp người Pháp phải chịu áp lực lớn hơn ở đó, hay không? Ngài Ch. E. Wilson, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã trả lời: "Trong lúc này, không có điều gì chứng minh việc nâng cao thêm mức viện trợ hiện tại của Hoa Kỳ là đúng đắn". Và bản thân Tổng thống Eisenhower cũng đã tuyên bố: " Không có ai khác phản đối việc can thiệp nhiều hơn bản thân tôi. Không có điều gì bi thảm hơn đối với chúng ta là phải tham gia vào một cuộc chiến tranh công khai ở Đông Dương. Máy bay, vũ khí, các phái đoàn dân sự và các chuyên gia kỹ thuật, đó là tất cả những gì có thể từ nước Mỹ đến để chi viện cho nước Pháp”. Từ phía Trung Quốc, Việt Minh nhận được không quá một phần mười khối viện trợ của Mỹ đối với Pháp: không có xe lăng, người ta đi bộ, và trên các con đường lớn đường nhỏ hàng vạn chiếc xe đạp tăng lên gấp mười lần tải trọng của những người dân công xe thồ. Nhưng mà lòng tin nằm ở phía nào, và ở phía nào người ta chấp nhận hi sinh vì một mục đích nào đó? Cái tên đức vua Bảo Đại không thuộc trong số những cái tên người ta nêu lên để chiến thắng cái đói cái khát hay nỗi đau đớn. Cái tên ngài Josep Laniel cũng thế. Ở Điện Biên Phủ, một đám cháy khổng lồ do các máy bay khu trục gây ra trên dãy núi, bốc lửa đỏ rực trong màn đêm. Người ta nói với René Mauriès, đặc phái viên của tờ báo La Dépêche du Midi rằng: “Bọn họ làm cái gì vậy nhỉ? Giờ đây, người ta đã chán ngấy phải chờ đợi bọn họ kéo đến rồi. Họ hãy chấm dút cái trò đó đi?" ____________________________________ 1. Dulles: Lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao của Mỹ. - N.D 2. Bidault: Thủ tướng nước Pháp lúc đó. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:10:42 pm Ngày 19 tháng hai 1954 Vào lúc 11 giờ, những chiếc máy bay chở phái đoàn Pléven và đoàn tuỳ tùng của các viên tham mưu trưởng cất cánh từ sân bay ở Hà Nội. Một đợt không khí lạnh đã làm cho thời tiết đột ngột xấu đi ở vùng đồng bằng, mưa phùn đã tạnh được vài hôm, nay lại tiếp tục. Ngược lại, trên vùng thượng du, thời tiết tốt. Vài phút sau khi xuất phát, những chiếc Dakota bay vào phía bên trên lớp mây tầng nhấp nhô, từ trong tầng mây đó những ngọn núi tròn đen sẫm hiện ra. Dần dà, những dải thung lũng xuất hiện, tràn ngập ánh nắng, vẫn còn gắn kết với nhau bởi những dải sương mù mảnh mai mà nhiệt độ đang xua tan dần. Bữa ăn trưa được phục vụ trên máy bay và các điềm báo trước là điềm lành. Tướng O’ Daniel, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ ở Đông Dương và là cố vấn quân sự của Tổng thống Eisenhower, lúc ở Washington đã tỏ ý thích thú đối với cái tập đoàn cứ điểm, nhô ra từ lòng đất. Castries đã "có được" ông ta. Ở Điện Biên Phủ, đơn vị được chỉ định tiến hành nghi lễ chào danh dự các vị bộ trưởng là đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn số 13. Đại úy Capeyron, chỉ huy đại đội, đeo trên ngực tấm huy hiệu vẻ vang của bán lữ đoàn số 13: một chiếc thập tự Lorraine màu xanh trên nền trái lựu đạn huyền thoại. Một tiếng đồng hồ trước khi máy bay hạ cánh, bốn trung đội lê dương đứng xếp hàng, trang phục gọn gàng, râu cạo nhẵn, giầy đánh bóng. Đại úy Capeyron trông thấy một lính dù, cổ quấn chiếc khăn mầu hồng, đầu đội chiếc mũ nồi mầu đỏ từ một chiếc xe Jeep có cắm lá cờ hiệu nhỏ bước xuống. Do vì mới chỉ được nhìn thoáng qua người chỉ huy binh đoàn Gono trong buổi tối Noel, lúc Navarre họp mặt các sĩ quan để nói với họ rằng chiến tranh chắc chắn sắp kết thúc ở đây, cho nên Capeyron tự nhủ: "Đây hẳn là đại tá De Castries". Rồi anh bước lại phía người đó và giơ tay chào. - Thưa đại tá, anh nói, tôi xin trình diện đại đội của tôi với đại tá? - Không, Castries đáp lại vừa bắt tay Capeyron. Cứ như thế này, anh cũng đã vất vả rồi. Để một lúc nữa hãy bồng súng chào. "Đây là một tay tử tế, Capeyron nghĩ bụng, và không kiêu căng". Đoàn xe hộ tống đã có ở đây, đội hộ tống đã sẵn sàng. Quả thật, từ hai chiếc Dakota bước ra các quý ngài và những người nổi tiếng. Ngài De Chevigné quay trở lại trong tình thân mật. Đặc phái viên của tờ báo La Dépêche du Midi nghe thấy ngài Pléven bảo De Castries: - Ông biết chứ, ông đại tá, cả nước Pháp đều dồn con mắt vào các ông! Do tế nhị, Navarre không có ở đây. Sự vắng mặt này thể hiện rõ tính cẩn thận của ông không muốn có tác động gì đến những đánh giá của các nhân vật cao cấp. Để thay mặt mình, ông đã cử tướng Bodet, ông này đội mũ cát két trắng, một mẩu thuốc lá ngậm trong hàng ria mép. Tì tay vào chiếc gậy đua ngựa, điếu thuốc lá ngậm bên mép, tay giơ thẳng về phía đối phương. Castries, con người mà dưới thời đế chế có lẽ trở thành công tước Điện Biên Phủ, giải thích hệ thống tổ chức của tập đoàn cứ điểm với tướng Ely mà năm ngôi sao nổi bật trên vành mũ kêpi và với ngài Pléven, ăn mặc như một ngư dân đánh bắt cua bể, một chiếc mũ rộng vành chùm xuống tận tai. Đứng trước những vách chắn làm bằng những túi chứa đầy đất cát và những đoạn nhô ra có những nòng súng đại liên, Castries, người kỵ binh nổi tiếng về những hành động vô kỷ luật trong doanh trại và những chiến tích trên mặt trận, liệt kê lực lượng của mình, giới thiệu các điểm tựa bằng những cái tên lãng mạn của chúng: Béatrice, Anne Marie, Gabrielle, Eliane, mà người ta đều hình dung là xinh đẹp và mang khuôn mặt của một người phụ nữ yêu quý, những cứ điểm nhô lên bên trên các ngọn núi lạnh giá, ở đó các đơn vị lính lê dương, lính Algérie và lính Marốc đang chiếm giữ. Sau lưng Castries, lồ lộ cái mồm lắm lời của Langlais, đầu đội mũ nồi mầu đỏ, người chỉ huy hai tiểu đoàn quân dù. Thử hỏi ai có thể nghi ngờ được nào? Trên nóc hầm sở chỉ huy, một vài quan khách ngạc nhiên khi nhìn thấy những chỗ yếu: - Xin các vị đừng lo, Castries nói, hầm vững chắc đấy! Trên cứ điểm Béatrice. Ở đó tập trung một bộ phận của tiểu đoàn 3 bán lữ đoàn 13, đội lê dương thực hiện vai trò thường lệ. Chỉ còn thiếu có đội nhạc binh. Tướng Ely kín đáo đề nghị vị bộ trưởng chú ý đến tính thiếu vững chắc của các căn hầm. - Ông trung tá này, ngài Pléven hỏi Gaucher, cứ tựa như là ông bước đi trên một lớp trứng gà, - tiếc thay, phải chăng cần tính đến lực lượng pháo binh quân Việt, bởi lẽ người ta có nói với tôi là họ có pháo binh. Gaucher ưỡn ngực, thít chặt chiếc khăn quàng cổ, nhíu đôi lông mày rậm rủ cả xuống hai mắt và đứng nghiêm. - Thưa bộ trưởng, Gaucher phản ứng, anh em sẽ chiến đấu như ở trận Verdun. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, viên trung úy chỉ huy đại đội mà người ta đến thăm, phát biểu ý kiến mặc dù không có ai hỏi: - Thưa ngài bộ trưởng, anh ta nói to, sẽ là một thảm họa nếu người ta không chiến đấu. Đây là cơ hội duy nhất để đè bẹp quân Việt. Chính vì thế, mặc dầu vốn hơi lạnh lùng như một tảng đá, nhưng khéo léo muốn tỏ ra nhã nhặn, dịu dàng và sẵn sàng lắng nghe mọi lời thổ lộ cũng như ban bố những mệnh lệnh, cái nhìn của ông nấp sau đôi kính và những quyền lực vô hạn, ngài Pléven quay lại, dáng vẻ rụt rè, mặc dầu thân hình ông cao lớn, mặc dầu chức vụ quan trọng mà ông đang đảm nhiệm. Tướng Ely không hề nhúc nhích. Phái đoàn tiếp tục bước đi, yên lặng trong một lúc. - Dù sao, tay đặc phái viên của tờ báo La Dépêche du Midi nói với một viên sĩ quan tham mưu của De Castries, nếu như quân Việt có pháo binh... - Anh nghĩ xem, cần phải cả một trung đoàn để đẩy một khẩu pháo 75 lên một ngọn núi. Để kéo nó đến đây từ cách xa mấy trăm kilômét, lúc đó, anh tưởng tượng xem cần có đến đám dân công đông như kiến cỏ ấy chứ. Tuy nhiên. viên thiếu tá Mecquenem, chỉ huy tiểu đoàn bộ binh người Algérie số 7 đóng ở Gabrielle, xin được có cuộc hội kiến với tướng Ely. Trước đây anh ta đã phục vụ trong phái đoàn quân sự ở Washington, dưới quyền tướng Ely, và thiếu tá Keller, tham mưu trưởng của De Castries, có đề nghị xin thay thế anh ta. Mọi việc không phải đều diễn ra tốt đẹp. - Tôi sẽ gặp anh tối nay. Tướng Ely bảo Mecquenem như vậy. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:12:47 pm Ở cứ điểm Isabelle, sau một bản báo cáo thận trọng của trung tá Lalande, mà chiếc mũ kêpi lê dương che chở cho một khuôn mặt hiền lành, lễ phép và có kỷ luật, ngài Pléven tìm kiếm xung quanh mình những lời lẽ để động viên tinh thần lạc quan, lúc này đang dần dần bộc lộ một cách dè dặt, nhiều mối lo ngại vẫn còn lẩn khuất. Trở về sở chỉ huy của De Castries, ngài Pléven quay sang nói với vị quốc vụ khanh phụ trách chiến tranh và các viên tướng nhận xét đó của mình. Những câu trả lời đều chung chung, thận trọng hoặc lễ phép. Thử hỏi liệu có ai có thể cho ý kiến trong những điều kiện tương tự? Trời đẹp, đã ấm áp như một ngày xuân. Rất nhiều đôi mắt ẩn mình sau đôi kính râm. Đây không phải là nơi để làm mất tinh thần của đội quân đồn trú, để phủ nhận tác phẩm của những người chịu trách nhiệm về phương châm tác chiến hoặc để đưa ra những câu hỏi về những gì người ta nhìn thấy và không nhìn thấy. Im lặng là vàng và mỗi câu nói có nguy cơ nhanh chóng quay trở lại trong sự bối rối của người đã nói ra. Ngài Pléven là một chính khách quá ư tài giỏi để đâu đến nỗi không hiểu rằng im lặng là cách xử sự duy nhất thích hợp trong một cuộc trao đổi ý nghĩ như thế này. Nhưng đồng thời, ông không thể không biểu thị sự hài lòng mà ông cảm thấy và làm ông yên tâm. Còn lại một sĩ quan cấp tướng cuối cùng mà sự đồng ý sẽ hoà chung vào sự nhất trí làm rạng rỡ khuôn mặt nhăn nheo của ngài Dejean: tướng Fay, tham mưu trưởng các lực lượng không quân, từ nãy đến giờ vẫn giữ im lặng, nét mặt hơi phụng phịu. - Còn ông, thưa tướng quân? - Ngài Pléven nói. Tướng Fay không thật cao lớn. Đây là một con người suy tư, điềm đạm, minh bạch, lo lắng tỉ mỉ đến việc hoàn thành những nhiệm vụ được giao phó, và xa lánh mọi thú đam mê. Vẻ bề ngoài lạnh lùng nhưng lòng hảo tâm của ông hiện ra trên khuôn mặt tròn; người ta có thể chê trách ông một vài nhược điểm vốn bắt nguồn từ việc ông luôn luôn thận trọng không để cho mình phải va chạm một cách vô ích. Ông cân nhắc từng câu nói, ghét nói to, tính toán các cử chỉ, nhưng đôi mắt xanh lơ của ông có thể đắm mình trong một nét cứng rắn vô song. Sở dĩ tướng Navarre đã được yêu cầu bố trí các kế hoạch sát với những gì Navarre có trong tay đó là bởi vì về phần mình, tướng Fay cũng không có đủ nữa: ông không còn đủ các phi đội để sử dụng vào những nhiệm vụ không phục vụ cho tương lai; và rằng chính phủ hạn chế quá mức khoản ngân sách dành cho ông cho nên ông không thể lãng phí. - Thưa ngài bộ trưởng, Fay nói dịu dàng, tôi rất tiếc là đã không tham gia vào bản hòa tấu ngày hôm nay. Những gì tôi đã nhìn thấy chỉ càng củng cố cho tôi một ý kiến mà tôi sẽ phát biểu một cách thẳng thắn, với ý thức về những trách nhiệm mà tôi đang gánh vác. Ý kiến đó đây: tôi sẽ có lời khuyên với tướng Navarre rằng ông nên lợi dụng quãng thời gian tạm lắng xuống mà ông có được, và lợi dụng khả năng ông vẫn còn có thể sử dụng hai sân bay để rút khỏi nơi đây toàn bộ quân số mà ông có thể, bởi lẽ ông đã thua trận. Chấm hết. Fay thu mình lại và không chịu nói thêm một tiếng nào. Nỗi sửng sốt chụp xuống ngài Pléven và các sĩ quan lục quân đội ngột quay người lại. Khuôn mặt dài khắc khổ của tướng Ely lạnh tanh. Cogny nhún vai và cười gằn. Người ta vội vã đi ra xe Jeep và đây là một cuộc khởi hành cau có. Bộ mặt của De Castries đột nhiên nhăn nheo như tấm khăn quàng mầu hồng của ông ta. Trên máy bay, ngài Pléven cúi xuống phía tướng Ely, người đã không thích nghe ý kiến của thiếu tá Mecquenem, và thổ lộ tâm sự riêng của mình: - Những con người mới đáng khâm phục làm sao ? Họ mong muốn là đối phương tấn công họ. Tôi xin thú thật là tôi không mong muốn như vậy. - Tôi cũng thế, tướng Ely nói. Buổi tối, ở Điện Biên Phủ, đặc phái viên tờ báo "La Dépêche du Midi" nhắc lại câu nói của ngài Pléven: "Nước Pháp dồn mọi con mắt vào các anh...". - Chắc chắn là vì thế, mọi người phản ứng lại, mà hôm nay người ta đã cấm chúng ta không được phơi quần áo lên hàng rào dây thép gai. Hà Nội, mấy nhà báo được tiếp đón ở Toà nhà nước Pháp. Với Brigitte Friang, khi cô ta hỏi ông là liệu ông có gặp khó khăn trước thông báo sẽ có cuộc hội nghị Genève hay không, ngài Pléven trả lời là Việt Minh không thể nào giành được chiến thắng. Và do vì cô ta hỏi đi hỏi lại mãi, ngài Pléve cắt đứt câu chuyện như sau. - Này cô, nếu tôi ở vào vị trí của tướng Giáp, tôi sẽ rất lo ngại ngay với việc có thông báo về hội nghị ở Genève. Ở Sài Gòn, Navarre cũng triệu tập các nhà báo, sau khi đã mắng nhiếc họ, ông lại tìm cách xoa dịu. Ngày hôm đó, Navarre tuyên bố, đặc biệt với một thái độ lạnh lùng đầy quyền lực: - Việt Minh đã đạt tới đỉnh cao các tham vọng của họ rồi, và vừa mới cho thấy dẫn chứng là họ đã vượt qua những khả năng hậu cần. Robert Guillain, đặc phái viên của tờ Thế Giới, người đã vừa mới công bố một loạt những bài viết gây ấn tượng về Điện Biên Phủ, sau khi đã đến nước Lào và Hà Nội, bằng cách đi xe lửa qua nước Xiêm, giống như phần lớn các thính giả trong cuộc họp báo đó rất không tán thành ý kiến của Navarre. - Chúng ta theo đuổi một nghề nghiệp lý thú, anh kêu to lên trước mặt mấy đồng nghiệp. Ngài tổng chỉ huy vừa mới giải thích mọi chuyện với chúng ta theo một chiều, và tôi, một nhà báo đáng thương, tôi xin quả quyết nói rằng ông ta đã phạm phải một sai lầm bi thảm hoặc là ông lừa dối chúng ta. Tôi xin thề là tình hình mà ông giới thiệu với chúng ta, hoàn toàn không giống với thực tế. Điều mà ngài tổng chỉ huy và đám thuộc hạ còn thiếu, đó là cái nhìn khách quan và mới mẻ của chúng ta đối với các biến cố. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:19:51 pm Ngày 25 tháng hai 1954 Ngày Pléven đã quay về Sài Gòn ngày 19 tháng hai và cùng với tướng Ely rút lui ra Vũng Tàu với lý do để soạn thảo một báo cáo mà người ta đã biết là sẽ không dẫn đến kết quả gì; sự thực là để trao cho Việt Minh, mà người ta đã hé lộ cho ông biết là họ mong muốn như vậy, cơ hội để chấm dút cuộc chiến bằng một cuộc gặp gỡ bí mật. Tiếp sau đó. Navarre coi việc thông báo về hội nghị Genève, hội nghị mà ngài Pléven trước hết chỉ coi là một phương tiện thích hợp để tiến tới một giải pháp hoà bình, là một tai họa đối với các kế hoạch của mình. Phải chăng Navarre thiếu những lí lẽ để chứng minh là tướng Giáp lúc đó sẽ nhận được sự viện trợ to lớn hơn hay là những biến cố tiếp sau sẽ giúp đỡ tướng Giáp điều chỉnh những phản ứng mà lúc này chưa hề có? Càng tự tin hơn bao giờ hết và khéo léo tính toán mưu kế, Navarre tự thuyết phục là mình vẫn là hiệp sĩ của thế giới phương Tây. Nhưng mà những ước vọng và những bài biện hộ không thay đổi được lịch sử. Thông báo về Hội nghị Genève cũng không làm thay đổi gì chiến lược của Việt Minh nhiều hơn là cuộc họp ở Berlin đã không gợi ý cho tướng Giáp tóm chặt Navarre ngay tại cái bẫy của chính ông ta. Công việc chuẩn bị cho cuộc bao vây Điện Biên Phủ bắt đầu từ ngày 25 tháng mười một 1953 và cái quyết định tiêu diệt đội quân đồn trú của đạo quân viễn chinh ra đời ngày 6 tháng mười hai sau đó. Để xua tan những lo ngại mà tướng Ely có thể cảm thấy, Navarre đã bác bỏ ý kiến nhận xét của tướng Fay về mặt kỹ thuật mà ông giả bộ ngạc nhiên vì người ta chưa hề nói cho ông biết bao giờ: theo Navarre, tướng Fay lo ngại rằng các đường băng sân bay ở Điện Biên Phủ không thể sử dụng được vào mùa mưa, nhưng một cuộc điều tra đã xác định được là trong quá khứ, những đường băng ấy chưa bao giờ bị tê liệt quá hai hay ba ngày, những đường cống thoát nước và những tấm ghi sắt càng giảm thiểu nguy cơ đó. Dù sao, kể từ lúc này, không thể nào rút đội quân đồn trú ở Điện Biên Phủ đi mà không phải gánh chịu những tổn thất to lớn. Tướng Fay không tranh cãi, mặc dầu những nhận xét của ông nằm trong phạm vi chiến thuật và chiến lược. Trước mặt tướng Ely, Navarre tuyên bố với tướng Fay: - Điện Biên Phủ đã được lựa chọn sau khi đã cân nhắc đủ mọi lí do và chính đây là nơi chúng ta sẽ giành chiến thắng. Fay không cho là mình bị thua. Ông quay lại nhìn thẳng vào mắt Navarre. - Anh nghĩ cho kỹ đi, ông bảo Navarre. Tôi rất muốn ở lại đây một tuần lễ, và tự tay mình điều khiển cuộc lui binh. Tôi cam đoan với anh, người ta sẽ bốc lên máy bay tất cả những gì có thể được. Để ủng hộ anh, tôi sẽ không tiếc công tiếc sức và bất cứ thứ gì cần thiết. Navarre mỉm cười và từ chối lời đề nghị. Lại một lần nữa, đối với ông, ý kiến của một phi công là không đáng kể. Nếu như trí nhớ của ngài Pléven đã không giữ lại chút gì về ý kiến của tướng Fay phản đối việc duy trì tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và nếu như tướng Ely đã không dành cho ý kiến của viên tham mưu trưởng các lực lượng không quân sự chú ý xứng đáng, đó chính là vì ý kiến này đã không được nhào nặn bằng sức mạnh mà một cuộc tranh cãi như vậy đòi hỏi. Ở Điện Biên Phủ, viên tham mưu trưởng không quân đã phát biểu trước mặt ngài bộ trưởng. Ông cho rằng ngài bộ trưởng sẽ phải tỏ rõ ý muốn được tìm hiểu vấn đề đó rõ hơn và ông không dám vượt qua mặt tướng Ely để giáng đòn rõ rệt rằng ông phản đối việc đó, cũng như làm hại người đồng sự Navarre, vượt qua tục lệ thông thường. Bầy sói có thể nhe răng ra với nhau: cần phải có những hoàn cảnh nghiêm trọng hơn để cho chúng cắn xé lẫn nhau. Từ bản báo cáo Pléven do tướng Ely soạn thảo, không còn lại chút gì liên tưởng đến giải pháp rút lui của tướng Blanc và những góp ý của tướng Fay. Đây là một tài liệu dành cho chính phủ và nó sẽ chứng minh là ngài bộ trưởng các lực lượng vũ trang và viên tham mưu trưởng của hệ thống quốc phòng, thống nhất cùng một chiều hướng suy nghĩ, tuân theo cùng một đường lối. Tản mát trong văn bản, những ý tưởng được phát biểu ra của các thành viên trong phái đoàn hoặc do các nhân vật gặp gỡ được, chỉ phục vụ cho việc chứng minh rằng không có giải pháp bằng vũ lực. Khi mà ngài De Chevigné giờ đây tuyên bố là ông đã yêu cầu bổ sung vào bản báo cáo đó câu sau đây: "Ở Điện Biên Phủ, giới quân sự mong muốn là người ta tấn công. Vị quốc vụ khanh về chiến tranh và bản thân tôi không cùng chia sẻ quan điểm đó... " thì ngài De Chevigné đã lầm và mặc dù tướng Ely không nhảy lên ngồi trên lưng những con quái vật của Navarre, ông cũng đã không dũng cảm để vạch mặt những con quái vật đó. Bản báo cáo không hề giấu giếm rằng tình hình là đáng lo ngại nhưng lại động viên người ta an tâm bởi cái cảm tưởng về cá nhân con người vị tổng chỉ huy: Navarre đang điều hành. Về sau, tướng Ely thì thầm: “Trong vòng ba ngày, Navarre đã thuyết phục được tất cả bọn tôi...". Lúc đó, ngài Pléven nhảy lên ngồi phía sau vị cố vấn Ely, trên lưng những con quái vật khác loại chạy đường trường, trong một thời gian, đảm bảo cho một đa số vững vàng tại quốc hội: một quân đội Việt Nam1 bao gồm tám trăm nghìn người đầy nhiệt huyết, một sự chi viện như nước chảy của người Mỹ. Sau này, khi ngài Pléven khẳng định rằng không có báo cáo nào với nội dung ý kiến trái ngược của sĩ quan cấp tướng ở Điện Biên Phủ, thì xét về câu chữ, ông không hề lừa dối: ý kiến của tướng Fay chỉ là ý kiến nói miệng. Bản báo cáo duy nhất bất lợi không bao giờ tới được phạm vi chính phủ, và chỉ có chữ ký duy nhất của một đại tá: Nicot. Về tướng Ely, người ta thường ca ngợi đức khiêm tốn và nhún nhường. Người sĩ quan tốt nghiệp trường Saint Cyr này, đã bỏ hai mươi năm trời để từ cấp trung úy vươn tới cương vị tiểu đoàn trưởng, nhờ vào tính nhún nhường, suốt đời ẩn mình để giữ được cương vị cao nhất trong hệ thống ngạch bậc quân sự. Thử hỏi, ông còn thiếu đức tính nào đây? Ông chỉ uống nước trắng, chỉ đưa ra những đánh giá dè dặt, không bao giờ buộc tội bất cứ ai, bất cứ thứ gì. Trong một cơ chế mà những con người có cá tính chỉ có tương lai trong những cơn bão tố thì ông không dám yêu cầu bất cứ điều gì và không biết từ chối bất cứ điều gì. Nếu như có thêm mấy ngôi sao bám vào tay áo của ông và đột nhiên trong vòng bốn năm đã có thêm bốn ngôi sao, thì chuyện đó là ngoài ý muốn của ông. Nếu như ông tỏ ý có một điều mong muốn nào thì đó là mong muốn không phát biểu ra bất cứ nguyện vọng gì. Ông phục vụ. Là hình ảnh đẹp của một người lính hàn lâm viện, ông tự nuôi dưỡng trong đầu óc những truyền thuyết và chui vào trong bộ áo giáp của những người khác. Câu kinh nhật tụng của ông là câu: "Vinh và nhục của nghề quân sự”, của Alfred de Vigny. Thân hình cao đẹp và thon thả của ông gây ấn tượng; cánh tay phải bị liệt một nửa do một vết thương chiến trận, ông chào bằng bàn tay trái mà ngón cái có vẻ bị gẫy. Trên khuôn mặt nước da mai mái, giống như mặt thuỷ tinh mờ, hiện rõ vẻ nhẫn nhục, trang nghiêm, sự tự chủ và tầm cao những ý tưởng đang ẩn náu bên trong. Liệu có ai tin là ở trong ông có lòng tham vọng? Ông không vật lộn để giành lấy mà chỉ có được khi người ta loại bỏ. Khi không còn ai có mặt để nhận một nhiệm vụ, người ta thấy có Ely. Ông đã đại diện cho quân đội Pháp ở Standing Group của Lầu Năm Góc bởi vì không có một ai muốn nhận một cương vị ở cách xa mặt trời đến như vậy và ông trở thành tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang vào một thời điểm không có một ứng viên nào xuất hiện để đưa dẫn đám ma của cuộc chiến tranh Đông Dương. Sinh năm 1879 ở Salonique, nơi đó bố ông chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người Pháp bên cạnh những người Thổ Nhĩ Kỳ, ông còn lưu giữ lại từ thời thơ ấu những ảnh hưởng sâu sắc về đạo Thánh vùng Cận Đông, lẽ ra, nếu như ông có năng khiếu về tôn giáo, đã có thể đưa ông trở thành Hồng Y giáo chủ của nhà thờ La Mã. Ông biết chờ đợi, giả bộ lãnh đạm thờ ơ, thoát khỏi đối thủ đúng lúc và quay trở lại bằng những bước chân rón rén khi mà mọi nguy hiểm đã được gạt bỏ. Nếu như ông có viết hồi ký, thì bao giờ đó cũng không chỉ là những bảng vàng danh dự, bởi lẽ ông tự coi mình như là chiến sĩ bảo vệ những nghi thức và truyền thống. Là người giữ cờ, tự bản thân cuốn mình vào trong những đường nếp của lá quốc kỳ, ông tự thấy mình sẵn sàng xả thân để đoàn kết những người anh em đối địch với nhau và hoà giải những người không thể hoà giải được. Phục vụ tất cả các chính phủ với cùng một lòng tận tụy và tính nhẫn nhục, ông không bao giờ biết phản đối; giơ tay ra với mọi người, ông chỉ xung phong phát biểu một ý kiến nếu như ông không bác bỏ một ai; mong muốn tránh né cho những người khác tất cả những mạo hiểm trong nghề nghiệp, ông không thừa nhận cái quyền gánh lấy bất kỳ mạo hiểm nào cho mình. Nếu như ông có thiếu sót thì như vậy đó chỉ do hiểu biết hạn hẹp và nếu như ông đã không dám quở trách Navarre thì ông cũng không dại gì quan tâm đến lập trường sắc sảo của tướng Fay và lựa chọn việc quên đi cái mà ông thấy có vẻ là một mâu thuẫn quá đáng. Lời nói gió bay và do nhu nhược, tướng Fay đã không viết thành văn bản. Ely cứu vãn tương lai, và ngài Pléven tưởng đâu đi theo mình một nguyên soái, thực ra lại chỉ có ở bên cạnh mình một viên tướng như các tông đồ của chúa Jésus. Nhưng mà trong hai người ấy, ai là người giỏi nhất trong khoa nghiên cứu tâm lý đây? Ai biết che giấu sự thật giỏi hơn đây? ________________________________________ 1. Chỉ quân đội ngụy theo Pháp. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:24:49 pm Ngày 28 tháng hai 1954 Không có được những cuộc tiếp xúc bí mật như mong muốn, phái đoàn Pléven quay trở về Paris, mùa xuân đang đến gần, không khí bay bổng, những rạp chiếu bóng và những tiệm cà phê trên các đường phố lớn. Từ cuộc viếng thăm của một vị bộ trưởng đến đây với những quyền lực đầy đủ của chính phủ chỉ còn lại một tấm huy hiệu sĩ quan cao cấp của đội lê dương danh dự đính trên ngực của tướng Navarre. Ở Điện Biên Phủ, không quân phải ném xuống một khối lượng quá lớn trọng tải nhiều tấn gồm đạn dược và những cuộn dây thép gai để dành một phần trọng tải đó cho việc làm thay đổi tình trạng buồn tẻ của các khẩu phần do hậu cần cung cấp. Không bao giờ có rau, nước khoáng hay nước hoa quả. Rượu mạnh bị cấm và thứ rượu vang ướp lạnh làm đau dạ dầy. Người ta không bán thuốc lá điếu. Lần đầu tiên viên trung sĩ Sammarco thu gom các gói hàng thả dù, một chiếc hòm bị vỡ làm tung toé những chiếc hộp dung tích một lít, có dán nhãn Khẩu phần vang ướp lạnh. Anh ta biết đó là rượu vang và dùng hai nhát dao găm chọc thủng chiếc hộp mà không đọc lời ghi chú: "Pha lẫn với hai lít nước". Khé cổ, đắng chát, thứ nước này tựa như mùi thùng khuy rửa không sạch. Thứ này kém xa thứ rượu vang mầu đỏ tươi xứ Provence và những chai rượu vang Ý có bọc rơm mà ông bố anh mang về trang trại vào những ngày lễ tết. Khi quay về căn hầm, Sammarco ném mình xuống đệm ngủ. Những ngọn đồi mà anh ta không còn nhìn thấy nữa, quay tròn trong đầu óc anh, giống như một bánh xe quay trong công viên không thể nào hãm lại được nữa, những chiếc dù chụp xuống đầu anh và làm anh nghẹt thở. "Con muốn ta làm gì cho con đây?" Chúa Jésus hỏi người mù trong kinh Phúc âm ngày chủ nhật. "Lạy chúa, xin cho con được nhìn thấy!" Và chúa Jésus bảo người ấy: "Con nhìn đi! Lòng tin đã cứu vớt con". Nhưng mà, ai có lòng tin đây? Trước khi ra mặt trận, mỗi tiểu đoàn của quân đội nhân dân đã được học chính trị trước mọi bài huấn luyện quân sự. Được tập trung theo từng đại đội, các chiến sĩ được mời kể lại cuộc đời của mình và họ nhận ra rằng cùng một số phận đã gắn kết họ lại với nhau. Hoà lẫn với một số những người con trai các gia đình thành thị và trí thức, sẵn sàng hi sinh cho nền độc lập của nước Việt Nam và hơn tất cả những người khác, được thuyết phục về sự cần thiết phải tiến hành cuộc cách mạng, gần như tất cả bọn họ đều là những nông dân nghèo. Ông cha của họ đã phải lao động để không bị chết đói, đã bị giam cầm hoặc tù đầy. Một số chiến sĩ xưa kia phải đi ở đã bị đánh đập và những ông thầy dậy chữ cáu giận đã bắt họ phải cúi xuống ngửi phân. Trong bầu không khí tụng niệm tôn giáo ngự trị trong các lớp học buổi tối ấy, có ai đó khóc oà lên và những con người đã dày dạn chiến trận lúc đó không thể cầm được nước mắt. Tất cả họ thuộc về cùng một khối những người khổ nhục, sẵn sàng hi sinh cuộc đời mình vì một danh dự, trong cùng một toà chủng viện đau khổ đang tiến bước tới thắng lợi. Và nếu như thắng lợi này chỉ là một chế độ nô lệ mới mà họ không nhìn thấy nỗi bất hạnh thì phải chăng ít nhất là họ đã lựa chọn nó. Ngày 2 tháng ba 1954 Ngài Pléven, từ ngày hôm qua đã xuống máy bay ở Orly, ngay lập tức cùng với ngài De Chevigné đến chỗ ngài Laniel, ở đó một cuộc họp liên bộ trưởng được triệu tập. Tuyên bố của ngài Pléven với báo chí cho biết niềm tin mà một vị tổng chỉ huy mang tới cho mọi người, vị tổng chỉ huy ấy tin chắc là mùa đông kết thúc mà không mang lại kết quả tích cực nào cho phía đối phương. Tin đồn nhanh chóng nói rằng, họ sợ lộ bí mật, cho nên sẽ không có báo cáo chính thức và rằng các bản tường trình sẽ chỉ diễn ra trong những cuộc họp và trong hội nghị của ủy ban quốc phòng. Tuy nhiên những lời rì rầm lo ngại lan truyền từ miệng này đến tai khác trong các hành lang của toà nhà quốc hội. Ngài Pléven triệu tướng Salan, trở thành tổng thanh tra của Bộ Quốc phòng kể từ khi ngài Pléven đi sang Đông Dương, đưa cho viên tướng đọc bản báo cáo của mình và bảo: “Ta có thể làm gì để cứu vãn Điện Biên Phủ?". Vào thời điểm này, ở Hà Nội, một cuộc họp mặt các hiệp sĩ diễn ra tại sân bay Gia Lâm, ở đó Gilles chia tay với các đơn vị quân dù thuộc đạo quân viễn chinh. Sức khoẻ của ông suy sụp; một cơn nhồi máu cơ tim khiến ông kể từ nay không được cử động mạnh, và buộc ông phải trở về Pháp. Ông không hề có ảo tưởng, bố già Gilles đó. Ông biết rằng từ nay ông chỉ có thể ngồi trong các cơ quan tham mưu và rằng ông sẽ không còn thường xuyên nhảy lên một chiếc Dakota nữa. Để che giấu nỗi xúc động làm ông nghẹt thở, ông ho, khạc nhổ, trao đổi những câu pha trò rẻ tiền với những người bên cạnh, đóng vai trò con người thô lỗ dửng dưng. Ông không biết rằng ông đã mặc lại bộ trang phục da báo và đội chiếc mũ nồi đỏ lần cuối cùng trong cuộc đời. Bằng cái khoát tay rộng, ông gọi lại bên mình trung tá Langlais, nhân dịp này sẽ lại quay lên Điện Biên Phủ, và vẻ mặt lúc này như càng thêm khô khan, thêm căng thẳng. Với đôi mắt xanh lơ, khuôn mặt sứt sẹo, đôi tai vểnh ra, Langlais giống như một thuỷ thủ xứ Bretagne cải trang thành lính dù. Những ý kiến Langlais nêu ra không êm đẹp gì. Langlais khẳng định với Gilles là người ta đã gây ra cho binh đoàn của mình rất nhiều chuyện tệ hại. - Nhưng mà, rút cục, Gilles hỏi, nếu quân Việt tấn công, thì đứng vững chứ? Langlais cười hô hố. Vấn đề đó không đặt ra. - Chúng tôi có mặt ở đó, Langlais nói. Và ông đưa tay chỉ ra phía các tiểu đoàn đứng tập hợp thành hình vuông dưới một bầu trời mây thấp, mưa phùn đang làm cho đường băng sân bay bóng loáng. Lần lượt chiếc trước chiếc sau, những chiếc Dakota từ từ lăn bánh về điểm cất cánh, tăng thêm sức động cơ, nặng nề vút lên và biến mất vào trong mây, hướng lên Điện Biên Phủ. Gilles đi duyệt các đơn vị, giơ tay chào các lá cờ, dừng lại trước mặt từng sĩ quan và từng lá cờ hiệu của đơn vị, ngắm nhìn khuôn mặt của quân sĩ bằng con mắt nhoè lệ mà không bao giờ người ta phân biệt được thật rõ với con mắt bên kia, nằm bất động trong hốc mắt. Chỉ có một con mắt dịu dàng, dưới vầng trán nặng nề, Gilles gầm gừ trong cổ họng sờ nắn các cánh tay, ghi sâu vào trong trái tim hình ảnh những chàng trai này vốn sẵn sàng quại nhau vì ông. Một cuộc gặp của các hiệp sĩ ư? Nếu như người ta có hỏi các chàng trai này, rất ít trong số họ có thể trả lời được và một vài sĩ quan sẽ nhún vai: Hiệp sĩ, người bảo vệ các bà vợ góa và những kẻ bị áp bức, những câu chuyện cổ xưa của một đạo quân tiến bước về nấm mồ của Chúa, tất cả đã biến mất bởi quả bom nguyên tử ở Hiroshima và những trại tập trung huỷ diệt của phát xít. Phần đông những người đang có mặt ở đây đã lựa chọn binh chủng quân dù do xu hướng hay là do tình cờ, và mối tình đồng đội là điều mà họ tôn thờ. Họ không nhảy dù vì đức vua Bảo Đại, người mà họ khinh ghét hoặc không biết tới. Langlais, Bigeard, Bréchignac, Botella, Tourret, và tất cả những viên đại úy cá tính khó chịu, lời nói cay độc, đứng nghiêm khi bố già Gilles đi qua, đều chiến đấu duy nhất là để giữ lấy nước Pháp, không để cho nước Pháp phải bước xuống địa ngục. Người ta còn chưa dạy dỗ họ biết cách hành hạ đối phương. Họ tôn trọng đối phương và thậm chí ghen tị với đối phương, bởi lẽ đối phương của họ có ưu thế hơn họ là đi chết để nhìn thấy lá cờ của đối phương thay thế vào vị trí lá cờ của họ: đó là quyền của đối phương. Nghĩa vụ của quân dù, đó là không chịu lùi bước nhường lại vị trí. Họ cũng chẳng có lí lẽ sâu xa gì và điều đó là tốt: lí lẽ hẳn không phải là sở trường của họ. Họ không phải là những người đã gây ra cuộc chiến tranh Đông Dương, cũng không phải là những người xác định lí tưởng phải bảo vệ. Họ được hưởng thụ những quyền tốt hay xấu của cái dân tộc mà họ là những đứa con trai, mặc dù, đôi lúc họ tự cảm thấy là những đứa con hoang. Họ tiến bước bởi vì các chỉ huy của họ bảo là phải đi. Tinh thần của họ không cao hơn tinh thần của người đội trưởng trong bản Kinh Thánh, vốn hẳn không thật thông minh, quả vậy, bởi lẽ họ chỉ là đội trưởng chứ không phải là quan chức hay giáo sư. Điều làm cho họ khác biệt với những người khác, đó là họ không dừng lại trước khi người ta yêu cầu họ dừng lại. Đêm hôm đó, trung đoàn 57 trượt xuống sườn núi phía tây khu lòng chảo để chiếm lĩnh vị trí xung quanh cứ điểm Isabelle. Đại úy Hiền đã đi xuyên qua bản Phương, hoàn toàn bị đốt cháy. Anh đã dừng lại bên mấy cây bưởi còn sống sót một cách thần kỳ. Trong gia đình anh ngày xưa cũng như trên khắp vùng đồng bằng người ta làm bánh trôi, bánh chay có hương thơm hoa bưởi và kỷ niệm bất ngờ này gần như làm cho đôi mắt của anh nhoà lệ. Anh tự thề với mình sẽ chiến đấu đến cùng để trả lại cuộc sống cho ngôi làng và để cho hương thơm hoa bưởi vào mùa xuân khỏa lấp cái mùi hôi thối từ hậu quả của bom napan. Kết thúc cuộc duyệt binh ở Gia Lâm, như thường lệ, người ta uống một bình rượu cùng với sĩ quan các quân, binh chủng khác, các cha tuyên úy và các vị tướng. Langlais không dề dà trong bữa tiệc rượu. Trên chiếc máy bay đưa ông trở lại Điện Biên Phủ, trong lòng ông có điều gì đó băn khoăn. Trung tá Denef, cấp phó phụ trách tác chiến của Cogny vốn cũng là một lính dù được chuyển về cơ quan tham mưu, người mà Langlais cho là dương dương tự đắc và cũng không thích gì mình, hôm nay lại đã nồng nhiệt bắt tay ông. Langlais tự hỏi vì đâu lại có cử chỉ nồng nhiệt bất thường ấy của một đồng đội mà mọi thứ đều đối nghịch với ông, sau đó đột nhiên ông hiểu ra rằng Denef đã xử sự tựa như là sẽ không còn gặp lại ông nữa: "Nếu thế, Langlais tự nhủ, họ tưởng là ở Điện Biên Phủ tất cả đều đã toi mạng hay sao?". Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:26:57 pm Ngày 4 tháng ba 1954 Ở Điện Biên Phủ, buổi chiều, cùng với Cogny, Navarre đi thăm các điểm tựa chủ yếu. Ông hỏi các chỉ huy trưởng đơn vị và những câu trả lời là thống nhất: người ta vững vàng chờ đợi quân Việt, không một chút do dự. Navarre cảm thấy điều đó! Hôm qua, ông đã từ chối cuộc hành binh vào Lạng Sơn do Cogny đề nghị, bởi vì ông sợ rằng sẽ phung phí những phương tiện còn lại và thích giữ chúng nguyên vẹn trong tay để sử dụng khi cần thiết. Đối với ông, một trận thắng ở Lạng Sơn sẽ không có tiếng vang đáng kể nào với Điện Biên Phủ, và một trận không thành công ở đó sẽ làm suy yếu Điện Biên Phủ một cách nguy hiểm. Ngoài ra, nếu như bị ấn tượng về trạng thái lạc quan của các tiểu đoàn trưởng và các chỉ huy trưởng binh đoàn, vốn không nắm được toàn bộ vấn đề, thì ông, Navarre, người có trong tay mọi thông tin về đối phương, kể cả những thông tin cho phép phán đoán là đối phương có pháo binh hạng nặng, ông không mong muốn trận đánh xảy ra. Đã quyết định giao chiến và chiến thắng, như ông đã viết nhiều lần, cũng không bắt buộc là ông mong muốn có trận đánh đó nữa. Cho đến lúc này, ông đã gạt bỏ mọi gợi ý là thúc ép tướng Giáp tấn công. Nhưng nếu như tương Giáp tấn công, ông sẽ đánh trả. Suy đi tính lại một chi tiết cuối cùng, Navarre, vốn hình như ngày càng lo ngại là mình đã để bị cuốn hút vào đây, cho rằng tổ chức của tập đoàn cứ điểm chưa đủ mạnh và đề nghị với Cogny và Castries bố trí một trung tâm phòng ngự nữa, nằm giữa các cứ điểm Claudine và Isabelle, bằng cách tăng cường thêm hai hay ba tiểu đoàn. Isabelle ở phía nam Claudine cách năm kilômét, hoả lực của Isabelle hầu như không yểm trợ được cho cứ điểm Gabrielle. Trên khoảng cách như vậy, những cuộc phản kích xuất phát từ Isabelle khó lòng mà đến được các điểm tựa khác. Để thảo luận được thoải mái vấn đề đó, không sợ rằng các ý kiến có thể bị lộ ra ngoài, Navarre ra khỏi hầm sở chỉ huy cùng với Cogny, Castries và đại tá Revol. Họ bước lên chiếc xe Jeep, Castries ngồi vào tay lái, và đánh xe ra xa. Quả thật, Navarre nhắc lại, hình như sẽ là thận trọng, nếu như không bố trí xen thêm lực lượng nào dưới cái hố sâu diện tích dài năm kilômét này, thì ít nhất cũng là đặt thêm những chướng ngại vật mới trên hướng đông bắc, chi viện cho đơn vị người Thái vốn là những người hành quân tốt nhưng lại là những chiến sĩ phòng ngự tồi, và yểm hộ cho cứ điểm Béatrice, cứ điểm sẽ chịu cuộc tấn công đầu tiên. Nếu như, cho đến lúc này tướng Cogny vẫn do dự trong việc xây dựng những điểm tựa mới để khỏi lãng phí quân số của ông trên xứ Bắc Kỳ, phải chăng thời điểm để giải quyết câu chuyện đó đã đến? Sự thật Cogny tin vào sức mạnh của các trận phản kích nhiều hơn là việc tăng thêm các cứ điểm phòng ngự. Đã có cả một hệ thống nhằng nhịt các hàng rào dây thép gai, chui vào đó mọi người sẽ vướng mắc hết. Trong những điều kiện như vậy, tìm đâu ra chỗ bố trí cho hai hay ba tiểu đoàn tăng thêm nữa đây? Chẳng phải là đứng đầu tập đoàn cứ điểm này đã có một tay kỵ binh nổi tiếng về những đòn đánh trả bất thình lình và con mắt tinh tường, chắc chắn hay sao? Theo ý kiến của Cogny, sức mạnh vô địch của Điện Biên Phủ nằm ở chỗ đó. Hơn nữa, không quân vận tải đã cam kết tiếp tế cho sáu tiểu đoàn, rồi chín, và mười hai. Không thể hơn được nữa, nếu không nó không gánh vác nổi, và mọi kế hoạch tiếp tế cho Điện Biên Phủ sẽ vì thế mà bị đảo lộn hoàn toàn. Dự tính bảy kilô cho một đầu người mỗi ngày, giờ đây định mức cung cấp đã tăng lên chín kilô. Người ta có thể tin tưởng ở Langlais, người chỉ huy hai tiểu đoàn quân dù thuộc lực lượng dự bị. cơ động và đi đến kết luận rằng một trung tâm phòng ngự mới sẽ chỉ làm nặng nề thêm tổng thể của pháo đài. Điều này không có nghĩa là người ta sống mà không có mối lo lắng nhỏ nhoi nào, nhưng mà khi quân Việt bước vào hàng rào dây thép gai, người ta sẽ nghiền nát họ. Đó chính là câu trả lời của chính bản thân Castries. Navarre vẫn giữ ý kiến: nếu như quân Việt thấy rằng ta bố trí một trung tâm phòng ngự mới, họ sẽ lùi cuộc tấn công, cốt để điều chỉnh kế hoạch của họ, và nếu như từ lùi hoãn này đến lùi hoãn khác, người ta sẽ bước vào mùa mưa, cuộc tấn công Điện Biên Phủ sẽ không diễn ra nữa. Castries vốn không tin là tướng Giáp lùi hoãn giờ mở màn, lúc đó bèn nói: - Có nguy cơ là họ không tới và cần phải thúc đẩy họ tấn công để kết thúc nhanh hơn. - Sẽ đứng vững chứ? Navarre hỏi. - Sẽ gay go đấy nhưng sẽ đứng vững nếu ngài có hai hay ba tiểu đoàn gửi cho tôi. Và Cogny nói thêm vào: Không nên làm cho quân Việt thay đổi quyết tâm của họ. Đối với tập đoàn cứ điểm, cuộc vật lộn này sẽ là viễn cảnh của một chiến thắng lớn trong phòng ngự. Sẽ là một thảm họa đối với tinh thần, tư tưởng của quân sĩ nếu như quân Việt không tấn công. Câu nói này, Cogny không bao giờ chối cãi. Nhưng, cam đoan rằng không vì bất cứ lí do gì ông lại muốn để lộ cho Castries thấy rằng ông có chút nghi ngờ gì đó về tính vững chắc của hệ thống phòng ngự và không cùng chia sẻ với Castries điều mong muốn nhìn thấy quân Việt tấn công, ông khẳng định sở dĩ nói câu đó chỉ vì Castries lắng nghe. Ông cũng vậy, ông những muốn đẩy lùi các kế hoạch của tướng Giáp bằng cách ra những đòn đánh vào các nơi đông đúc dân cư thuộc các hậu cứ của tướng Giáp, bằng việc cắt đút một hay nhiều động mạch chủ của hệ thống tiếp tế của ông ấy ở phía bắc Hà Nội, việc làm mà Navarre kiên quyết từ chối Cogny bởi vì Navarre không tin vào kết quả và bởi vì, chiến dịch Atlante đã làm đóng băng quá nhiều lực lượng dự bị, cho nên Navarre không còn trong tay đủ số tiểu đoàn dù và binh đoàn cơ động để mà mạo hiểm. Như vậy là Cogny đã nói câu đó. Ông còn khẳng định rằng Navarre không thể nào bị loá mắt trước trạng thái lạc quan tình cờ mà ông giả bộ. Theo Cogny, nếu như làm ra vẻ bắt Navarre cam kết về kế hoạch đó thì thật là một cử chỉ xúc phạm một trăm phần trăm. Liệu có phải sau này ông nhắc lại cuộc trao đổi ý kiến đó để xoá tan mọi mối nghi ngờ chăng? Liệu khi lại mặt đối mặt với nhau ngồi trên máy bay, ông có làm lành với Navarre chăng? Liệu ông có nói: “Lẽ dĩ nhiên, thưa tướng quân, những ý kiến của tôi lúc vừa rồi là để dành cho Castries. Ngài biết rằng tôi vẫn nghĩ cần phải làm mọi việc để cho tướng Giáp không tấn công?" Không. Ông đã im lặng bởi vì người ta đã không thể rút chân ra khỏi cái bẫy đó nữa rồi và rằng Cogny tin là người ta sẽ thắng cuộc. Giữa Navarre và Cogny, không phải là sự căm ghét. Còn xấu hơn thế? Lòng căm ghét hiện lên trên nét mặt và làm hỏng mọi việc. Người ta biết, khi người ta căm ghét lẫn nhau thì trò chơi của đối phương sẽ dẫn tới đâu. Vào thời điểm này trong mối quan hệ, Navarre và Cogny tìm cách huỷ hoại lẫn nhau mà không một ai trong hai người tự thú nhận với bản thân mình. Trên vẻ bề ngoài của Navarre, người tưởng như luôn luôn nghe thấy Cogny trách móc mình chỉ là cái bóng của De Lattre, người ta có thể nhận thấy những con sóng ngầm của sự đố kỵ, một thoáng khinh bỉ hạ cố, nỗi lo ngại những chuyện phản thùng. Ở Cogny, những tổn thương của lòng tự ái, và nỗi ngờ vực đối với một chỉ huy thiếu kinh nghiệm và luôn luôn có thái độ bí ẩn và lạnh lùng đã tạo ra giữa hai con người ấy cái mà ở những đôi vợ chồng người ta gọi là tính khí không phù hợp. Con bò tót Cogny ghét con báo Navarre. Sai lầm chủ yếu của Cogny là đã không rút lui cùng với Salan và kíp của De Lattre: ở cấp độ này, người ta không thay đổi ông chủ, khi người ta không biết nhau và nhanh chóng phát hiện ra rằng người ta không ưa thích nhau. Do dự, thu tròn những ý nghĩ u ám đằng sau vầng trán, không biết nên xử sự như thế nào, Cogny im lặng, nghiền ngẫm nỗi lo lắng của mình và khép mình trong một nỗi đối nghịch, bề ngoài giả bộ là thái độ tôn kính. Về phía mình, Navarre lẽ ra có thể hỏi Cogny xem liệu ông ta có giữ nguyên câu trả lời vừa rồi hoặc câu trả lời ấy là để dành cho Castries hơn là cho mình, nhưng ông cũng lại im lặng, quá sung sướng, nếu như ông cảm thấy có một sự hiểu lầm, để có thể sau này đổ lỗi đó cho Cogny. Giữa hai viên tướng là không khí im lặng nặng nề. Tuy rằng họ vẫn còn mời nhau dự bữa ăn tối nhân dịp chào mừng ngài bộ trưởng, nhưng kể từ lúc này họ chỉ còn trao đổi ý kiến với nhau bằng những bản công văn hoặc những bức điện, và tuyệt đối chỉ dùng các công thức theo trật tự trên dưới trong hành văn quân sự. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:32:10 pm Ngày 10 tháng ba 1954 Việc thu được qua sóng vô tuyến những thông báo của Việt Minh cho thấy một kế hoạch cung cấp gạo cho chín mươi nghìn người trên vùng thượng du, trong đó có bảy mươi nghìn người xung quanh Điện Biên Phủ. Một kênh thông tin khác cho Navarre biết rằng cuộc tấn công tập đoàn cứ điểm sẽ diễn ra trong đêm 13 rạng ngày 14: Quân số các đơn vị và những phương tiện của tướng Giáp đã được sơ kết: hai mươi bảy tiểu đoàn bộ binh, hai mươi khẩu pháo 105, mười tám khẩu75, mười sáu và nhanh chóng sau đó là tám mươi khẩu 37, một trăm khẩu đại liên cao xạ cỡ 12 li 7, chưa kể các súng cối. Con số đạn pháo chỉ biết được theo ước tính tối thiểu: 5.000 đạn pháo 75, 15.000 đạn 105, 44.000 đạn 37 cao xạ, 24.000 đạn súng cối trong đó 3.000 đạn cối 120 và người ta biết là hai trăm tấn đạn dược sẽ phải được chuyển tới trong khoảng giữa ngày 8 và 15 tháng ba. Còn về khối lượng tiếp tế, thì đạt tới bảy mươi tấn mỗi ngày. Cơ quan chỉ huy công tác tiếp vận gửi tới hai tấn dược phẩm và các cáng thương. Liệu Navarre có cảm thấy nghi ngờ về hiệu quả phản pháo của các khẩu 155 của Piroth, đã không phá huỷ được một khẩu pháo nào trong thời gian qua đã nhả đạn vào tập đoàn cứ điểm, và về không quân đã không phát hiện được bất cứ vị trí nào một cách chắc chắn hay không? Ông không hề để lộ ra chút gì về điều đó. Trong mọi trường hợp, tướng Giáp đã giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh hậu cần với số dân công này mà theo ước tính của các cơ quan tham mưu Pháp, trên dọc đường vận chuyển là ăn mất bốn phần năm số gạo vận tải, và hình như ông ta muốn tiêu diệt máy bay ngay tại các sân bay và trên bầu trời Điện Biên Phủ bằng những vũ khí ùn ùn kéo tới mà người ta không sao ngăn cản nổi. Nhưng có lẽ những khẩu pháo 105 của ông ta làm bằng gỗ, như lời nói của viên trung tá Gaucher. Ngày 11 tháng ba 1954 Đại úy Capeyron có mặt ở Hà Nội, để được chăm sóc điều trị về một mảnh kim khí nhỏ bắn vào mắt. Các bạn đồng ngũ hỏi anh nghĩ thế nào về pháo binh quân Việt. - Hẳn là họ có một hay hai khẩu pháo, anh trả lời, và phần lớn đạn pháo không nổ. Thật là chuyện nực cười! Anh lại lên máy bay quay về Điện Biên Phủ, ở đó hai tiểu đoàn dù tấn công mỏm đồi 555, cách cứ điểm Béatrice một kilômét về phía đông, vấp phải lực lượng mạnh và rút về. Đại úy Capeyron vừa về tới đại đội của mình ở cứ điểm Claudine 5 vào lúc năm giờ chiều, thì một trận hoả lực pháo binh róc xuống khu vực hạ cánh của máy bay. Đến loạt đạn thứ ba, một chiếc Packet, chắc hẳn đỗ ở đó từ mấy hôm trước do một động cơ bị cháy và người ta vừa sửa chữa xong, nằm hơi cách xa các máy bay khác, đã trúng đạn vỗ mặt, mũi máy bay đổ gục xuống, đuôi hai tầng của máy bay chĩa thẳng lên phía các ngọn đồi. Trúng đạn lần thứ hai, máy bay bốc cháy. Một khẩu đại bác duy nhất của khẩu đội trưởng Tư, chỉ với một cơ số đạn ba mươi viên mà không sử dụng hết, được chỉ định để phá huỷ chiếc máy bay. Một chiếc máy bay vận tải khác, một chiếc Curtiss Commando của Công ty Aigle Azur, bị hỏng hóc từ mười lăm ngày nay, không việc gì. Những chiếc khu trục cất cánh, bay về phía những dốc núi có khẩu pháo ẩn náu, nã súng đại liên một cách vu vơ, lượn tròn trên các khe sâu và các đỉnh núi, rồi quay về đỗ xuống, lăn bánh vào trong các ô tròn xung quanh có bao bọc các bao đất, chìm trong đám mây đen của đám cháy. Những chiếc Dakota đang đậu ở đó vội vã bay về Hà Nội. Trận địa cụm pháo trong đó có khẩu pháo của khẩu đội trưởng Tư được bố trí vững vàng trên đoạn đồi dốc mà quân Việt gọi là đồi Xanh, cách đường băng sân bay bốn kilômét. Các khẩu pháo nằm trong hầm, nóc hầm dày hơn hai mét đất; trước và sau khi bắn, lỗ châu mai của căn hầm được bịt kín bằng những bao đất và nguỵ trang kín đáo. Về việc này nếu như Castries chịu khó, ông ta có thể tra cứu trong tập hồ sơ nghiên cứu những kết luận của phái đoàn Mỹ đến từ Triều Tiên, hai tháng trước đó, đánh giá về vị trí Điện Biên Phủ. Ông ta có thể đọc được một câu lạc quan khiến ông ta thêm an tâm: “Tình hình cho phép xem xét một cách tin tưởng việc tiếp tục tiếp tế bằng đường không cho trung tâm này”. Giữa lúc những ngọn lửa của chiếc máy bay Packet soi sáng màn đêm của Điện Biên Phủ thì ở Paris, Uỷ ban Quốc phòng họp lại. Ngài Pléven kết thúc bản trình bày của mình bằng một giọng đơn điệu, và đề nghị giao cho tướng Ely, được đô đốc Radford mời, dẫn đầu một phái đoàn thông tin sang Mỹ. Đối với ngài Pléven, cuộc chiến tranh vẫn còn có thể thắng cuộc. Trả lời những tuyên bố tháng hai của ông Hồ Chí Minh, ngài Laniel đã đòi hỏi việc phân bố lại các khu dân cư mà Việt Minh coi như không thể chấp nhận được. Ngài Georges Bidault đề nghị tướng Ely yêu cầu Washington có một cuộc can thiệp của Mỹ chống lại mọi lực lượng không quân được sử dụng chống lại đạo quân viễn chinh. Liệu người ta có thể nghi ngờ rằng tướng Fay lại đã không nhắc lại lời khuyên mà ông đã nói với Navarre và đã không tóm tắt ý tưởng của mình hay không? Kể cả, nếu như cái câu: “Đối với tôi, ở Điện Biên Phủ, chúng ta rơi vào thảm họa" đã không có mặt trong bản báo cáo, thì chủ tịch hội đồng và các bộ trưởng không thể nào đã không nghe thấy câu nói ấy. Lạ lùng hơn nữa là không một ai nhớ tới câu nói ấy bởi lẽ một nhân chứng như tướng Fay bao giờ cũng cân nhắc câu nói và không hề trí trá. Ngài Pléven, gợi ý việc thành lập một uỷ ban chiến tranh thu hẹp chịu trách nhiệm chỉ đạo cuộc chiến tranh, dưới sự chủ trì của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Các kết luận được nhất trí thông qua. Lần đầu tiên kể từ khởi đầu cuộc chiến, một chính phủ, bị các biến cố thúc ép, đúng như vậy, đã quan tâm đến việc đánh giá những thuận lợi và hậu quả của các kế hoạch tác chiến của viên tổng chỉ huy và trực tiếp cùng với ông ta nghiên cứu các phương sách để thực hiện hoặc sửa đổi các kế hoạch, căn cứ vào đường lối tổng thể. Tính thận trọng của tướng Ely và thái độ mềm dẻo của ngài Pléven đã không thể nào bóp nghẹt được tiếng nói của tướng Fay. Người ta đã không còn có thể rút ra khỏi Điện Biên Phủ, đó là một thực tế. Khẳng định rằng đã không có một ai đề nghị, bất kể mọi chuyện, một giải pháp tuyệt vọng đến như vậy, sau này sẽ tạo ra việc bóp méo sự thật kỳ cục. Trong những gian hầm rộng rãi, nằm sâu trong lòng đất, trong những nhà ăn tập thể của các trạm xe bố trí dọc con đương tỉnh lộ 41 cũng như trong các ngôi làng ở đó những cư dân chờ cho máy bay bay đi để lao ra các đoạn đường bị đánh phá mang theo cuốc, xẻng, thúng mủng, ngay sau khi bom rơi xuống. Từ mấy ngày nay các chính trị viên đọc đi đọc lại, bản thông cáo của tổng tư lệnh quân đội nhân dân. Những người đàn ông và đàn bà, đứng thẳng lắng nghe và ánh sáng vàng vọt của một ngọn đèn dầu hoả đôi khi soi sáng những khuôn mặt bất động. Hỡi toàn thể cán bộ và chiến sĩ! Trận Điện Biên Phủ sắp bắt đầu... … Thời cơ đã điểm để chúng ta chuyển sang tấn công... Người đọc đọc các câu chữ bằng một giọng khoẻ khoắn, sau đó tính đến tác động đối với cử tọa, đột nhiên đọc một cách căng thẳng. Trận đánh này mà vì nó biết bao mồ hôi và máu đã phải đổ ra, trận đánh đó kia rồi, những quầng đỏ và những ngọn lửa trên bầu trời đang mở rộng trước trận đánh ấy. - Đánh thắng trận Điện Biên Phủ, sẽ tiêu diệt một bộ phận rất quan trọng các lực lượng ưu tú của quân địch, giải phóng vùng Tây Bắc của đất nước và củng cố hậu phương của chúng ta, việc đó sẽ đảm bảo thành công của cuộc cải cách ruộng đất. Đánh thắng trận Điện Biên Phủ sẽ là phá vỡ hoàn toàn kế hoạch của Navarre, cái kế hoạch đã phải gánh chịu những đòn thất bại nặng nề, giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu của bọn tư bản Pháp - Mỹ, những kẻ đang nuôi dưỡng cuộc chiến tranh. Chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ có những tác động hết sức to lớn trong đối nội và đối ngoại và tiếp sức cho phong trào đang kêu gọi trên khắp thế giới cho nền hoà bình ở Đông Dương, nhất là vào thời điểm, bị thất bại liên tiếp, chính phủ nước Pháp cuối cùng đang tìm cánh thương lượng để chấm dứt cuộc chiến. Đây là mệnh lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Chính phủ... Giọng nói của người đọc gằn rõ từng chữ và các âm tiết đôi khi kéo dài như tiếng đạn rít, đột nhiên run rẩy, rồi dừng lại nghỉ một lát trước khi đọc tiếp: - Trong lúc trên tất cả các mặt trận, các đơn vị chúng ta đang dũng cảm tấn công quân địch, phối hợp nhịp nhàng với nhau, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ chiến sĩ của tất cả các đơn vị thuộc mọi binh chủng trên khu vực Điện Biên Phủ! Các đồng chí nên biết rằng được tham gia trận đánh lịch sử này là một vinh dự vẻ vang. Quyết tâm tiêu diệt địch, các đồng chí cần luôn luôn nhớ tới khẩu hiệu hành động: tiến lên không ngừng, tiến lên mãi. Hãy chế ngự nỗi sợ hãi và nỗi đau đớn, hãy vượt qua mọi chướng ngại, kết hợp sức mạnh lại, chiến đấu đến cùng tiêu diệt quân địch ở Điện Biên Phủ, giành lấy chiến thắng lớn! Giờ phút vinh quang đã đến. Cán bộ và chiến sĩ của tất cả các đơn vị các binh chủng hãy tiến lên để xứng đáng với lá cờ quyết thắng của Bác Hồ! Giọng nói đột ngột dừng lại rồi người chính trị viên quyết định đi tới cùng. Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam - Ký tên: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. "Trước đêm ngày mai, các người sẽ biết hoặc nước Pháp hoặc Việt Minh sẽ mang lại quyền lợi cho dân tộc các người. Không còn là Điện Biên Phủ hay Hà Nội nữa, mà là toàn bộ nước Việt Nam sắp trở thành cái giá phải trả của trận đánh. Cùng một mối nguy hiểm cho người thua trận, cùng một phần thưởng cho kẻ thắng trận ''. Khi ta thay thế tên gọi của các thành phố và đất nước bằng những cái tên Rome, Carthage, Afrique hoặc Italie thì đây sẽ là bài diễn văn của tướng Annibal đọc ngày hôm trước của trận Zama, hai thế kỷ trước công nguyên đúng như lời thuật lại của Tite Live. Uỷ ban chiến tranh thu hẹp vừa mới thành lập ở Paris, nếu như được biết về những mối đe dọa tấn công ở Điện Biên Phủ, hẳn đã có thể hỏi tướng Navarre xem liệu ông ta có tính đến việc đặt sở chỉ huy của mình ở Hà Nội hay không. Nhưng mà không có câu hỏi đó. Bản báo cáo của ngài Pléven, về điểm này là đáng yên tâm: Navarre đang chỉ huy. Liệu có ai ngờ vực điều đó? Câu nói ghê gớm của tướng Fay không làm cho bất kỳ một ai mất ngủ. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2008, 07:37:44 pm Ngày 12 tháng ba 1954 Đó là một ngày thứ sáu giống như mọi ngày thứ sáu khác đối với trung sĩ Sammarco và đại úy Capeyron. Trời đẹp đến nỗi người ta tràn trề niềm hạnh phúc được sống. Trung sĩ Sammarco đợi những chiếc Dakota đầu tiên cùng với đội tù binh khổ sai. Những chiếc xe tải sẵn sàng chở các đồ tiếp tế về các khu kho. Ngay từ tám giờ, guồng máy bắt đầu; những chiếc dù đôi khi rơi vào hàng rào dây thép gai, bị rách và người ta tốn thì giờ để tháo dỡ các gói hàng. Sammarco đi tới đài kiểm tra không lưu của đường băng ở gần cái xác còn bốc khói của chiếc máy bay Packet và phàn nàn. Các phi công hiểu rằng họ cần tránh cho các đội thu gom phải thêm phần mệt nhọc như vậy, nhưng đôi khi chỉ cần thả dù hơi non hay có cơn gió giật là các chiếc dù buộc hàng đã bị tản mát. Ý thức được trách nhiệm, viên sĩ quan nắm lấy ống nói: - François Hector của Torri Rouge, anh ta nói, chú ý điểm thả dù. Anh vượt hơi quá đấy. Grauwin nhận được thuốc men, quần áo dã chiến và những đôi giày vải mới. Những chiếc Dakota hạ cánh, nhả ra những người hết phép và những người dưỡng bệnh mà không tắt động cơ và lại cất cánh. Một trong số đó đứng vào chỗ quy định, tắt máy. Cogny nặng nề từ trên đó bước xuống, đôi mắt ẩn sâu dưới hàng lông mày, chiếc áo và khuôn mặt nhàu nát, và ngồi lên chiếc xe Jeep của đại tá Castries phóng đi. Rạp xiếc tròn hoạt động hết công suất, gầm lên, thổi từng trận cát bụi, nhả đạn pháo, đạn liên thanh, mở những hộp cá trích và uống thứ vang ướp lạnh pha với nước của sông Nậm Rốm. Ở cứ điểm Isabelle, tiểu đoàn 8 xung kích và đội lê dương tiến hành cuộc trinh sát về phía nam khu lòng chảo mà không gặp sức kháng cự nào. Ngược lại, người ta phát hiện ra tám trăm mét giao thông hào đã được đào trong khu ruộng lúa, cách một kilômét về phía đông. Được yểm hộ bởi ba chiếc xe tăng của trung úy Préaud, các binh sĩ Algérie của tiểu đoàn bộ binh số 1 lấp kín đoạn hào ấy không gặp sự cố gì. Đại úy Capeyron không phải là một nhà chiến lược. Anh không tốt nghiệp Học viện Chiến tranh và tuyệt nhiên không muốn vào học ở đó: đội lê dương đối với anh là đủ. Những tin đồn lan truyền từ buổi sáng thì đã lan truyền trong suốt tháng giêng vừa qua, lúc đó hết báo động này đến báo động khác mà chẳng có chuyện gì: nếu tấn công, quân Việt hẳn là đã bị điên, và họ thì không phải như vậy. Việc bắn trúng và phá huỷ chiếc máy bay Packet mà bộ khung cháy đen nằm sừng sững ở đầu vào đường băng như một chiếc giá treo cổ, chỉ là một phát đạn ăn may. Làm thế nào mà quân Việc lại không bị hấp dẫn bởi một tấm bia khiêu khích đến như vậy? Họ vẫn còn trụ lại đó bởi vì chắc hẳn họ chỉ có hai hay ba nòng pháo 75. Cogny tới đây để có thể an tâm về việc sử dụng hai tiểu đoàn dù mà ông dựa vào để tiến hành các trận phản kích. Vấn đề này đã ám ảnh ông kể từ khi ông từ chối tăng cường thêm cho đội quân đồn trú: phản ứng của các lực lượng cơ động của De Castries chứng minh cho lập trường của ông. Nếu như cứ điểm Béatrice, mà người ta biết đang bị vây hãm, sẽ thất thủ thì trận phản kích để giành lại nó sẽ xuất phát từ đâu? Hỏa lực nào sẽ yểm trợ? Cogny trèo lên cứ điểm Béatrice, ở đó lúc 13 giờ, nhiều quả đạn súng cối rơi xuống dồn dập và ông yêu cầu báo cáo mọi chi tiết của đòn đánh trả được dự kiến. Tưởng tượng ra tình huống bất ngờ như vậy có nghĩa là tỏ ra cực kỳ bi quan nhưng mà Cogny muốn dự kiến tình huống xấu nhất. Ông biết rằng hai tiểu đoàn dành cho các trận phản kích, trong thời gian bình thường, Castries sử dụng để bảo vệ một vài hướng của cứ điểm Claudine, và khi cần hai đơn vị này không tập trung được ngay tức thì. Cần bao nhiêu thời gian để tập trung được và đưa hai đơn vị đó vào vị trí. Mấy tiếng đồng hồ - Bao nhiêu tiếng đồng hồ? Không biết. Cogny yêu cầu Castries đảm bảo vấn đề đó nhưng không thấy lo ngại: cuộc tấn công sẽ mở màn trong đêm và cần phải đợi trời sáng mới hành động được. Nếu câu chuyện xấu đi trong ban đêm, như vậy người ta sẽ có thời gian thay đổi kế hoạch hành động. Cogny yêu cầu chỉ cho ông thấy nơi bố trí lực lượng dự bị: lực lượng này có vẻ dễ dàng tập trung lại. Khi quay lại chiếc Dakota vội vã để trở về sở chỉ huy của mình ở Hà Nội, ông cảm thấy bình tâm. Vùng đồng bằng làm ông lo ngại bởi lẽ đó vẫn là chiến trường chủ yếu đối với ông, nguồn cung cấp vật lực và nhân lực cho tướng Giáp, người chỉ đạo các trận đánh theo nguyên tắc có đủ nguồn tiếp tế về mọi mặt. Trái ngược với vẻ bề ngoài, những chiến dịch mở ra trên vùng thượng du chỉ nhằm để thu hút đạo quân viễn chinh và làm hao mòn đạo quân ấy ở bên ngoài vùng đồng bằng. Mỗi đêm, tuyến đường sắt nối liền Hà Nội với Hải Phòng bị phá hoại bởi những quả mìn, chúng nổ tung khi có những đoàn tầu đi qua. Tướng Masson, phó tướng của Cogny có nhiệm vụ hàng ngày, bất chấp những vụ trượt bánh phải thông đường được sáu đoàn tàu trên tuyến đường rải rác những toa hàng bị lật đổ. Để cho đạn dược, étxăng và đồ tiếp tế đến được Điện Biên Phủ thì trước hết phải đưa được đến Hà Nội. Bigeard, người vừa tới thủ đô của xứ Bắc Kỳ, cùng với tiểu đoàn của mình, đã đi dọc theo các ngôi làng và các khu kho dự trữ bốc lửa. Sắp đến 15 giờ 30. Cogny nắm chặt hai bàn tay và trèo lên chiếc Dakota của mình, từ nãy đến giờ động cơ vẫn nổ. Từ khoang cửa sổ tròn, ông vừa giơ tay vẫy lần cuối cùng với Castries thì cũng vừa lúc các đạn pháo nổ tung trên bãi đỗ, ở đó mọi người đều nằm rạp xuống đất. Một chiếc Morane bốc cháy, một chiếc khác sườn bên trái bị vỡ. Viên phi công của Cogny tăng ga và cất cánh. Sau lưng anh ta, những chiếc khu trục bốc lên khỏi đường băng và xả súng đại liên vào các đỉnh núi một cách vô ích. Những phát đạn pháo 105 ấy ở đâu bắn đến vậy, lần đầu tiên nhằm vào một chiếc máy bay đang đứng đợi, dấu hiệu về sự có mặt của một nhân vật quan trọng? Trong căn hầm điều hành sân bay, một mảnh đạn pháo bổ sung thêm vào bộ sưu tập các mảnh đạn đính trên một tấm bảng gỗ. Kể từ ngày mồng một tháng hai đây là mảnh đạn thứ bảy. Lúc 17 giờ 30, một chiếc Bearcat bị trúng đạn pháo cao xạ. Trong cuộc họp buổi tối, tập hợp xung quanh mình thủ trưởng các cơ quan và chỉ huy trưởng các phân khu cùng các điểm tựa, Castries đọc bức điện do tướng Lauzin, tư lệnh không quân gửi cho các phân đội dưới quyền: "Tình thế của Điện Biên Phủ tuỳ thuộc vào hoạt động của không quân ngày hôm nay. Tôi chấp nhận những nguy cơ đặc biệt". Người ta bèn cười ồ lên, quay về phía viên chỉ huy căn cứ không quân của tập đoàn cứ điểm - "Những nguy cơ đặc biệt", các phi công đã gánh chịu những nguy cơ ấy từ lâu rồi... Castries kết thúc cuộc họp bằng câu sau đây: - Thưa các vị, việc đó sẽ là ngày mai, lúc 17 giờ. Đại uý Noël, trưởng phòng Nhì của tập đoàn cứ điểm vừa được tin là việc tản cư dân chúng trong các thôn bản được ấn định vào buổi sáng ngày kia, thứ bảy. Thông thường, những trận đánh quan trọng của quân Việt mở màn vào một chiều thứ bảy. Giờ giấc dự kiến có vẻ là thuận lợi nhất: trời hãy còn đủ sáng để hiệu chỉnh hoả lực và không quân sẽ không còn có thời gian để can thiệp nữa. Trăng non sẽ có trong tám ngày và phần lớn buổi đêm, trời sẽ tối đen. Lúc chia tay nhau, các sĩ quan trao đổi những suy nghĩ vỡ mộng. Phần lớn họ vẫn còn tin là chưa xảy ra cuộc tấn công. Rất nhiều người, vẻ mệt mỏi đã hiện rõ. Những tổn thất gánh chịu trong các trận đánh trinh sát đã gây ra những lỗ hổng trong các đơn vị, và tin báo về trận tấn công không còn mang tới niềm thích thú trong các đại đội như vào tháng giêng nữa. Đại úy Capeyron tự nhủ, muốn ra sao thì ra, nhưng nếu như quân Việt tiến xuống khu lòng chảo, thế thì... Khi triệu tập các trung đội trưởng đến gặp mình, Capeyron cảm thấy họ quyết tâm bắt đối phương phải trả giá đắt về hành động dại dột đó. Cuối cùng họ sắp tóm được cái đám người luôn luôn thoát khỏi tay họ lúc tảng sáng, sau khi đã nện nhừ đòn một đồn bốt nào đó và mang các tử sĩ cùng thương binh của họ đi theo? Bằng những loạt đạn dài của súng bộ binh. họ sắp bắt được các tiểu đoàn ấy nằm xuống như ngả rạ, những tiểu đoàn này trước đây, ngay khi trên các nẻo đường bốc lên lớp bụi đất của những chiếc xe GMC đều biến mất vào các ruộng lúa và các rặng núi. Lúc đó, họ sẽ không chỉ trả thù cho các đồng ngũ bị phục kích mà là cả cho những trận thất bại, những trận đánh vô ích trong những ngôi làng bốc cháy, ở đó không một ai có thể tóm giữ được những kẻ cắt đứt đường sắt, những tên đặt mìn và những kẻ siết cổ các thân hào, nhân sĩ. Kể từ ngày 20 tháng mười một, bảy sĩ quan, mười chín hạ sĩ quan và một trăm hai mươi nhăm người đã bị chết; hai sĩ quan, chín hạ sĩ quan và bảy mươi bảy người đã mất tích, hai mươi chín sĩ quan, gần một trăm hạ sĩ quan và sáu trăm bảy mươi lăm người bị thương. Vì cái gì và vì ai? Trực diện, người ta không đặt ra câu hỏi này. Trong bản nhật lệnh của mình, tướng Giáp thậm chí không nhắc đến cái chết đang chờ đợi rất nhiều những người đang chuẩn bị đương đầu với hoả lực đại bác, máy bay và những vũ khí tự động của tập đoàn cứ điểm: việc đó là tự nguyện. Ở trong quân đội nhân dân, mọi người đều sẵn sàng hi sinh thân mình vì Bác Hồ và vì tổ quốc. "Bác Hồ muôn năm!... ". Họ, họ là những hạt cát của bãi cát, những chiếc lá của cây rừng, những mẩu đất nhỏ của cánh đồng lúa của cả một dân tộc đang hồi sinh và cần đến xương máu của họ để tạo dựng số phận của mình. Họ chấp nhận chết đi và làm phân bón cho những vụ thu hoạch tương lai, những vụ thu hoạch không còn là tài sản của mấy viên quan lại nữa mà là của nhân dân. Chỉ riêng khu vực Thái Bình -Nam Định đã nằm trong tay mười ba đại địa chủ. Muôn năm Bác Hồ, người giải phóng dân tộc. Ở Sài Gòn, Navarre im lặng, chắc hẳn bởi vì ông ta không hiểu là số phận của Đông Dương tùy thuộc vào trận Điện Biên Phủ và bởi vì ông ta nghĩ rằng ông ta đã nói hết trong những lá thư của mình mà người ta đọc ở khách sạn Caravelle không một chút tin tưởng: ở đó, người ta thưởng thức tốt hơn những bức tranh phóng đãng dành cho việc thư giãn tâm hồn của người chiến binh. Ban đêm, một đội đặc công Việt Minh thâm nhập vào khu sân bay Điện Biên Phủ, phá hoại đường băng và cho nổ mấy quả bộc phá dưới các tấm ghi sắt và rải truyền đơn trong vùng lân cận. Trên một số truyền đơn, người ta đọc được câu sau đây bằng tiếng Pháp và tiếng Đức: "Điện Biên Phủ sẽ là nấm mồ chôn các người ". Trên một số truyền đơn khác, có bức phác họa thô thiển vẽ bàn tay của Navarre đang đẩy lưng các binh sĩ của đạo quân viễn chinh tiến về phía những mũi dao găm. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:24:18 pm IV TRẬN ĐẤU Dù cho đó là điều gì, dễ chịu hay kinh khủng, thì càng ít tính trước đến nó bao nhiêu, nó lại càng mang tới sự thích thú hay nỗi khiếp sợ nhiều hơn bấy nhiêu. Điều đó không ở đâu thấy rõ hơn là ở trong chiến tranh, nơi mọi nỗi bất ngờ khiến những người cứng cỏi nhất cũng phải khiếp đảm. Xénophon1 Có những người nói rằng một người cầm quyền không bao giờ được mạo hiểm bản thân mình và đặt vấn đề nếu như người đó chết, mọi việc sẽ hỏng hết. Tôi rất muốn là người đó không mạo hiểm bản thân trước mọi chuyện và mọi va chạm như một ngườỉ chỉ huy bình thường, nhưng mà bởi lẽ ở đây có câu chuyện mọi việc hỏng hết, vậy thì các vị cầm quyền và các sĩ quan tuỳ tùng của nhà vua, các vị sẽ ra sao, và rằng sẽ có biết bao tranh cãi về danh dự và tiếng tăm của các vị? Liệu các vị có vô can khi nói rằng: “Tôi không muốn mạo hiểm bản thân trong trận đánh vì lo sợ, rằng khi tôi chết, sẽ hỏng hết mọi việc, hoặc tôi không muốn liều mình để chi viện một pháo đài hay một thành luỹ bởi lẽ tôi phải bảo vệ thành phố”. Điều đó cũng sẽ không cứu được các vị. Vệc đánh chiếm một pháo đài dẫn tới một hậu quả to lớn đến mức tựa như kẻ địch đã đặt một chân chẹn lấy cổ họng của các vị. Cần phải chết thì đúng hơn hoặc là chiếm lại cái gì mà các vị đã mất giống như tôi đã làm, đã khép kín cánh cửa về phía tôi cốt để cắt đứt mọi hi vọng rút lui của chúng ta, với quyết tâm hoặc là chết hoặc là đẩy lùi được kẻ địch. Bởi lẽ, để mặc cho chúng đứng tại chỗ, thì chính tôi là kẻ thua cuộc... Tôi muốn cảnh báo các vị về một vấn đề, đó là khi mà đối thủ thúc ép các vị, tuyệt nhiên các vị không được nấp kín trong văn phòng của mình; mà các vị phải xuất hiện trước các sĩ quan và các binh sĩ; có nghĩa là trước quần chúng, với một khuôn mặt bình tĩnh: chỉ riêng sự có mặt của các vị đã nhân đôi tinh thần chiến đấu của họ. Hồi ức của Montluc2, cuốn III Ngày 13 tháng ba 1954 Ngay từ rạng sáng, pháo binh đối phương lại tiếp tục bắn phá. Bất chấp tấm màn khói mà người ta tìm cách mở rộng để che giấu địa hình trước mắt quân Việt, một chiếc Dakota bị phá huỷ trên đường băng chính và một chiếc khác trên đường băng phía nam, gần cứ điểm Isabelle. Phi hành đoàn do cơ trưởng, đại úy Maurel dẫn đầu đi bộ về Điện Biên Phủ, bị lạc đường và khó khăn lắm mới về được sở chỉ huy không quân. Lúc 8 giờ 30, chiếc Curtiss Commado của công ty Aigle Azur, vốn phải thay thế một động cơ và đã có một phi công tới để lái về Hà Nội, bị trúng đạn lúc người thợ máy cho khởi động và bốc cháy. Chính trên chiếc máy bay này, trước đây ngài Bidault đã chở quốc vương Maroc đi thăm đảo Corse. Các phóng viên Martinoff và André Lebon thuộc cơ quan thông tin đang chụp ảnh đám cháy thì bị một loạt đạn súng cối hạ gục. Martinoff bị chết - André Lebon một chân gần như bị đứt rời. Bác sĩ Grauwin cưa đứt hẳn chiếc chân đó và cho chuyển người bị thương về Hà Nội. 11 giờ, chiếc Dakota thứ ba bị hư hại nặng. Lúc 15 giờ, tiểu đoàn trưởng Phúc nhận được lệnh chuẩn bị cho đại liên 12 li 7 bắn vào các máy bay. 15 giờ 30 phút, anh bắn cháy chiếc Bearcat đầu tiên, chiếc này rơi xuống gần cứ điểm Béatrice. Pháo binh trong căn cứ phản kích vu vơ, bởi các đài quan sát không xác định được các hoả điểm của đối phương lúc nhả đạn. Mưa phùn giữ chân phần lớn các máy bay khu trục và máy bay ném bom ở vùng đồng bằng. Trên đường băng sân bay Điện Biên Phủ, năm chiếc Morane, một trực thăng và sáu chiếc khu trục không thể cất cánh được: étxăng trong bình dự trữ của chúng bị trộn lẫn nước mưa. Castries thường xuyên nhìn đồng hồ đeo tay. Trước 17 giờ, ông ngồi vào bàn làm việc trong sở chỉ huy, sẵn sàng gọi bộ đàm cho Cogny. Ông hút thuốc. Mọi việc yên ổn. Nếu bạo gan, ông đã có thể bắt đầu một ván bài bridge. Phóng viên nhiếp ảnh Daniel Camus đã trông thấy ông ăn mặc cầu kỳ và lịch sự chẳng khác gì vừa bước ra khỏi một cuộc họp mặt của giới thượng lưu. Đã đến giờ. Castries lắng tai nghe. Tiếng ì ầm của máy bay vọng tới, hoà trộn với giọng nói của cô thư ký riêng Paule Bourgeade, cùng những tiếng cười trong căn phòng bên cạnh. 17 giờ 5 phút - Không có gì! Trên dãy đồi, làn hơi nước của một màn sương mù dày đặc bay lơ lửng mà ánh mặt trời khó khăn mới xuyên qua nổi. Ông châm một điếu thuốc nữa. Cái đám quân Việt tệ hại vẫn không tấn công. 17 giờ 10 phút. Hay rồi? Bọn họ chắc đã hủy bỏ kế hoạch. Ông thấy muốn gọi đại úy Noël và bảo anh ta: "Láo toét, anh bạn. Các anh đã bị nhầm". Tiểu đoàn trưởng Phúc nhận được cú điện thoại khen khu anh đã bắn rơi chiếc Bearcat. Anh không tin vào đôi tai mình nữa: chính là tướng Giáp ở rất gần, đang nói với anh. Những quả đạn pháo rơi trúng chỗ các chiến sĩ tiếp đạn, ẩn nấp dưới những chiến hào sâu. Một tiểu đoàn cao xạ khác đã nổ súng từ bản Na Tân: khẩu đội trưởng Hoàng Đại Hưng, người nông dân có vầng trán cao và chiếc mũi tẹt, nhằm bắn máy bay bằng những khẩu pháo 37 Mỹ, chuyển từ Triều Tiên đến, nhưng không có kết quả. Langlais đang tắm dưới vòi hoa sen mà người ta bố trí trong đoạn hào nối liền các sở chỉ huy thì một tiếng sấm rền và một tia chớp xé rách bầu trời làm cho ông phải lao vội về hầm của mình. Ông mặc nhanh bộ trang phục dã chiến. Nền đất dưới chân ông rung lên, đất bụi trên trần hầm ào ào rơixuống. Đạn nổ làm rung chuyển các vách hầm và tiếng động giống như tiếng động của một con tàu thuỷ vỡ làm đôi gục xuống và chìm nghỉm. Đèn điện tắt ngấm. Langlais không còn nghi ngờ gì nữa: quân Việt đã nổ súng, và đó là tiếng nổ dữ dội của các loạt đạn pháo cỡ lớn. Các sĩ quan cấp phó của ông, theo bậc thang chui xuống hầm chỉ huy, tay cầm đèn pin. - Chuyện đó đến rồi ư? -Langlais hỏi. Các sĩ quan quay máy điện thoại. Các đường dây bị cắt đứt Không còn có thể liên lạc được với tiểu đoàn trưởng các đơn vị dự bị. - Vô tuyến, Langlais bảo. Một trong số sĩ quan đi tới đài thu phát, xoay một núm vặn. - Pierrot của chàng trai Pierre, Pierrot của chàng trai Pierre, các anh nghe thấy chúng tôi không? - Chàng trai Pierre của Pierrot đây, tôi nghe thấy các anh rõ và khoẻ. Chờ ý kiến của anh. Giọng nói của Tourret, chỉ huy đội xung kích số 8, bình tĩnh trả lời Langlais. Giọng của Giraud, tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 cũng thế. Anh em yên lành. Mọi việc tốt. Langlais tắt máy phát. Liệu có phải là máy bay bị nổ tung hay là bầu trời cùng với toàn bộ màn sao của nó đổ ụp xuống nóc hầm làm đứt ngang hơi thở của mọi người: không phải toàn bộ màn sao trời đổ xuống, bởi lẽ qua khe hở của những đoạn gỗ tròn trơ ra khỏi lớp đất, người ta nhìn thấy mấy ngôi sao giữa màn đêm vừa buông xuống. Một quả đạn 105 khác không nổ, rơi xuống vách hầm, phía trên vai của viên trung úy cấp phó, tựa như một nhát rìu ghê gớm, trong lúc đó vang lên tiếng chuông của một máy điện thoại được một tia sáng đèn pin rọi vào: đường dây trực tiếp với Castries. Ở một trong bốn căn phòng họp thành sở chỉ huy của trung tá Gaucher, trung úy De Veyes, trưởng phòng 3 của phân khu trung tâm, đang đeo ống nghe nhận thông tin từ cứ điểm Béatrice. Đứng gần bên anh là thầy tu Trinquand, linh mục giáo phận Meaux, đến phục vụ ở Đông Dương với chức trách cha tuyên úy của bán lữ đoàn lê dương số 13. Đó là một người cao to ba mươi tám tuổi, thông minh và tốt bụng, có khuôn mặt đẹp của người La Mã, mái tóc thưa và đôi môi mỏng. Cũng giống như quân Việt, anh có thói quen thích thống kê và đếm các quả đạn pháo mà anh nghe thấy tiếng rít và tiếng nổ: mười lăm đến mười tám quả trong một phút. Đột nhiên, một giọng nói rung lên trên một chiếc loa. Không nghe được thật rõ, nếu không phải là tiếng "chết". _____________________________________ 1. Xénophon: Sử gia, triết gia và vị tướng của thành Athènes (427 - 355 trước C N. Tác giả của nhiều tập thơ, văn. - N.D 2. Montluc: Thống chế Pháp (1494 - 1577). Tác giả cuốn. "Những lời bình luận" quý giá. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:29:44 pm Trung úy De Veys báo động với trung tá Gaucher. Đang cầm ống nói trong tay, Gaucher bèn quát hỏi người đối thoại với mình và yêu cầu người đó bình tĩnh lại và dùng cách nói theo quy ước thông dụng: Thiếu tá Pégaux, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn 13 cùng các sĩ quan tiểu đoàn phó vừa bị chết trong căn hầm của họ. Nói với những người của mình, Gaucher, giận dữ vừa bước đi vừa gầm lên: - Tôi vẫn luôn luôn nói là những căn hầm ấy quá mỏng mà? Một trong số các đại đội ở Béatrice không thấy trả lời nữa và toàn bộ điểm tựa chìm trong biển lửa. Sau một loạt đạn pháo 105 mới, làm rung chuyển nền đất, đèn điện tắt ngấm. Dưới vầng sáng của một chiếc đèn pin, một bóng ma trắng, tay vịn vào một cột chống, hiện ra trong khung cửa hầm: lờ mờ, nhợt nhạt, áo quần rách tướp, đầu óc bù xù và khuôn mặt đầy đất bụi, Vadot giống như người canh đền từ địa ngục bước ra. - Trung tá bị thương, Vadot nói. Cha tuyên úy Trinquand thử gọi điện thoại cho đại úy - bác sĩ Le Damany nhưng các đường dây bị cắt đứt. Ông bước ra khỏi hầm, tìm tới căn hầm của bác sĩ ở cách đó vài chục mét và thấy ông bác sĩ đang đọc sách. Trung tá Gaucher bị đứt cả hai cánh tay và mất hết máu. Gaucher bảo cậu cần vụ: - Lau hộ cho tôi cái mặt và cho tôi uống nước...! Langlais khạc đám đất bắn vào mồm, dứt mình ra khỏi vách hầm lúc nãy ông dựa vào, đeo ống nghe vào tai. - Langlais đấy phải không? - Phải. - Gaucher vừa bị chết. Cậu thay thế cậu ấy chỉ huy phân khu trung tâm ngay lập tức. Giao quyền chỉ huy lực lượng dự bị cho Pazzis. Một tiếng cạch nhỏ: Castries đã tắt máy. Langlais chui ra khỏi căn hầm đổ vỡ, lên được tới đoạn hào bị sập tới một nửa. Nhìn qua khe hở giữa các khúc gỗ tròn rách tướp, thấy bầu trời đêm run rẩy, ầm vang trong một trận búa máy khổng lồ nện xuống khu trung tâm tập đoàn cứ điểm, ở đó các sở chỉ huy và nhóm giải phẫu chen chúc bên nhau, chỉ cách nhau vài chục mét. Phía sau ngọn đồi tối sẫm của cứ điểm Dominique, những vầng sáng đột ngột cày xới vùng trời đỏ rực phía bên trên cứ điểm Béatrice. Quân Việt đưa ở đâu ra những khẩu pháo ấy vậy? Từ đâu vọt ra trận sấm rền tối mắt tối mũi và khối thép đang rít lên như búa bổ vậy? Phía đối diện, trong những đoạn chiến hào được đào dành cho giờ xung phong, hàng nghìn con người đang không biết nên nín thở lại hay cứ để cho niềm vui bung ra: cái giờ phút này, họ đã chờ đợi nhiều năm trời. Lúc này các khẩu pháo của Piroth trả lời nhưng không có cái uy lực mạnh mẽ đường hoàng và đáng sợ như đã có trong những ngày vừa qua. Từng chuỗi đạn dài đỏ lừ vạch đường ngược lên các ngọn núi. Phía đường băng sân bay, những cột lửa đột nhiên bốc cao, soi sáng cái bụng của khu lòng chảo giống như một miệng núi lửa. Ở đó, bất thình lình, kho xăng và kho napan nổ tung giữa những tia lửa vọt lên như những mạch nước ngầm. Trong màn đêm tối, các đơn vị xung kích tiến bước được soi đường bởi những vầng sáng chợp chờn. Tạm thời lúc này, Langlais thấy hình như chỉ riêng Béatrice bị tấn công, trong lúc đó quân Việt cô lập khu phòng ngự trung tâm bằng hoả lực. Langlais bình tĩnh phân tích tình hình, qua máy thông tin lần lượt gọi từng chỉ huy trưởng điểm tựa, hạ lệnh chỉnh đốn việc nổ súng bừa bãi lộn xộn do bị bất ngờ vì như vậy lãng phí đạn dược, lấy lại bình tĩnh; được biết là một cơ trưởng máy bay Dakota đã cất cánh giữa làn đạn pháo để thoát khỏi cuộc oanh tạc mà không ai ngờ tới. Trong khu giải phẫu, thương binh đột ngột ùn ùn kéo về gian phòng sơ cứu, đầy ứ nhà ăn tập thể và nhà ngủ; bác sĩ Grauwin cùng một lúc với cha tuyên úy Heinrich cúi xuống tấm thân gầy nát của Gaucher đang hấp hối, rồi đứng dậy phủ một tấm chăn lên người Gaucher và cho chuyển xuống nhà xác, ở đó những người chết đã dồn đống. Cuối cùng có những thông tin từ Béatrice: từng điểm tựa chiến đấu một cách đơn độc; sáu tiểu đoàn quân Việt tràn lên theo ba đường trục, từ tây bắc, bắc và đông bắc, đã đứng chân được trong những công sự đầu tiên. Langlais yêu cầu Piroth cho pháo bắn chặn vào giữa hệ thống hàng rào dây thép gai đã đứt tung vì hỏa lực đối phương, nhưng các trận địa của Piroth, nằm dưới hỏa lực của đối phương đã bị tổn thất kinh khủng. Để quét sạch các vật chướng ngại, những đội viên xung kích bộc phá quân Việt đi trước các đợt tấn công đầu tiên. Lần lượt từng người một, dưới sự yểm trợ của các loạt đạn đại liên, tiến vào đặt những ống tre dài chứa đầy thuốc nổ, và dùng bật lửa châm ngòi. Mỗi ống bộc phá mở một đột phá khẩu rộng bốn mét vuông. Tổn thất lớn đến mức phải yêu cầu sư đoàn cho công binh tăng viện. Mũi tấn công đến từ hướng tây bắc thất bại. Chính lúc đó người tiểu đội phó trẻ tuổi Phan Đình Giót, sau khi phá tung những mét rào thép gai cuối cùng đã bò tới chiếc lô cốt đang chống cự, nhảy lên lỗ châu mai và lấy thân mình bịt kín lỗ châu mai đó. Đơn vị lại tiếp tục tiến lên. Chỉ cách nhau có mười phút, hai ngọn đồi của Béatrice thất thủ, bị tràn ngập bởi các chiến sĩ bộ binh vây chặt cứ điểm lại và vừa la hét vừa băng qua các chiến hào. Thảm họa xuất hiện. Thảm họa giảm đi một nửa, khi người ta không muốn chấp nhận nó. Hai ngọn đồi của Béatrice không còn trả lời qua máy vô tuyến nữa nhưng chắc chắn vẫn còn kháng cự và ngọn đồi trung tâm còn đứng vững. Năm trăm lính lê dương của một bán lữ đoàn mà lá cờ mang tên Bir Hakeim1 không gục ngã nhanh đến thế. Một quãng ngừng chiến sắp cho phép họ lấy lại hơi thở. Tới khoảng 21 giờ, hoả lực thưa dần. Ngọn đồi trung tâm có lẽ đã chặn được cuộc tấn công. Nếu như hết đêm, hai tiểu đoàn của Giraud và Tourret vào lúc rạng sáng sẽ tiến xuống sườn dốc phía bắc của cứ điểm Dominique cùng với xe tăng và sẽ bước vào trận đánh giành lại trận địa đã mất. Thiếu tá De Séguins Pazzis, mà Castries giữ lại ở bên cạnh mình, nghiên cứu việc bố trí các đơn vị phản kích và hoả lực yểm trợ mà họ cần để tiến đánh. Lúc 23 giờ, đột nhiên, trận xung phong lại tiếp tục, và ngọn đồi trung tâm đến lượt nó thất thủ sau lúc nửa đêm mười lăm phút. Quân Việt sờ nắn cứ điểm Gabrielle và tiến tận sát dưới chân cứ điểm Dominique. Qua vầng sáng trắng của pháo sáng mà chiếc máy bay đom đóm thả trên vùng trời trận địa, người ta thấy họ đang đào hố chiến đấu. Để đánh bật họ ra khỏi nơi đó và tiến được tới cái nghĩa địa vốn là cứ điểm Béatrice trước đây, Castries biết ràng lúc này hai tiểu đoàn là không đủ. Hai mươi tám đại bác cũng thế. Ở khu trạm phẫu, Grauwin, mình cởi trần, xử lí các vết thương ở bụng, các chân tay bị gẫy, các lồng ngực và các hộp sọ. Một trăm năm mươi thương binh nằm vây quanh anh. Chính người chiến sĩ Nguyễn Hữu Oanh đã cắm lên cứ điểm Béatrice lá cờ chiến thắng mầu đỏ có ngôi sao vàng do Bác Hồ trao cho đơn vị của anh. - Anh không thấy ngạc nhiên hay sao, tôi đã hỏi tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Đức, khi thấy một đơn vị lê dương ngã gục nhanh đến như vậy? - Chúng tôi đã gặp nhiều đơn vị như thế, trước đơn vị này, anh đã trả lời tôi như vậy. Chúng tôi đã quan sát toàn bộ và nghiên cứu tỉ mỉ địa hình, qua nhiều đêm chuẩn bị tấn công và nghiên cứu trên sa bàn. Mỗi buổi tối, chúng tôi bò vào gần và lợi dụng thời cơ đó để cắt hàng rào dây thép gai và gỡ các quả mìn. Vị trí xuất phát của chúng tôi được đẩy lấn dần cách cứ điểm Béatrice có hai trăm mét và pháo binh của các ông không biết chúng tôi ở chỗ nào, điều này làm chúng tôi ngạc nhiên. Cuối cùng, số binh lính người Thái đào ngũ đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thông tin. Bàn tay trái của tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Đức chỉ còn lại một mẩu cụt, nhưng anh mỉm cười và môi trên của anh cong lên để hở cả răng và lợi. Một chòm tóc hoe vàng dựng đứng trên vầng trán cao làm cho anh có dáng vẻ một diễn viên hề bi kịch. Liệu có chuyện, như anh Đức khẳng định với tôi, một sĩ quan lê dương, rạng sáng hôm đó đã đến trình diện với một vọng gác tiền tiêu trên ngọn đồi phía bắc Béatrice và nói với một chính trị viên là mình ra hàng bởi vì đã chán ngấy đánh nhau? Tôi không tin chuyện đó chút nào: một lính lê dương có thể đào ngũ vì những câu chuyện đàn bà, nhưng một sĩ quan lê dương thì không đào ngũ. Có khả năng là một anh lính bị bắt trong một trận phục kích và muốn mạo nhận mình là sĩ quan và người ta tưởng là như vậy; anh ta hẳn sẽ khuyên quân Việt chớ nên tấn công để tránh khỏi thất bại. Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Đức hẳn sẽ trả lời anh ta: "Chúng tôi sẽ tấn công và sẽ bắt làm tù binh toàn bộ sĩ quan và binh lính trong cứ điểm Béatrice". Khi việc này đã kết thúc, người lính lê dương ấy đã phải kêu lên: - Nếu vậy, các ông sẽ nhổ được Điện Biên Phủ. _____________________________________ 1. Bir Hakeim: Địa danh của Libye 6/1942 quân Pháp đã chống cự trong 16 ngày đêm với quân của thống chế Đức Rommel và cuối cùng phá được vòng vây. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:35:23 pm Ngày 14 tháng ba 1954 Không có giây phút nghỉ ngơi giữa hai buổi ban ngày, không có giây phút yên ắng trong cái đêm đầy những tiếng la hét và tiếng nổ, với bó đuốc khổng lồ của khu kho xăng và napan bốc cháy và ném vầng lửa đỏ nhảy nhót lên tận các đỉnh núi. Hai chiếc máy bay Bearcat khác đã bị phá huỷ trong hầm chứa kiểu tổ ong của chúng. Tháp kiểm soát đường băng đổ nát, khung đo góc bị phá huỷ, các ăngten gục xuống, trạm cấp cứu của các tiểu đoàn chật ních người chết và bị thương. Ở khu trạm phẫu, nơi trung úy - bác sĩ Gindrey cưa cắt chân tay; gian phòng hồi sức tung toé những vết máu; phần lớn các căn hầm đã bị đổ sập và mọi người chen chúc nhau trong những chiếc hố lộ thiên. Grauwin điện khẩn yêu cầu mười lít máu, năm mươi nghìn đơn vị Pênixilin, năm trăm gam Stréptômixin. Khi tiến hành buổi lễ nguyện Reminiscere ngày chủ nhật, cha tuyên úy Trinquand bỗng nhiên nhớ đến đoạn sách của nhà tiên tri Daniel mà mình vừa đọc hôm qua, nói về ba thanh niên Hébreux1 ở trong lò thiêu, vẫn sống nguyên vẹn giữa những ngọn lửa. Những ngọn lửa, chúng đây rồi. Sáng sớm, người ta khiêng ra khỏi các căn hầm, những xác người rách nát vì đạn pháo được phủ bằng những tấm vải lều; ba phi công cố gắng bứt được những chiếc Bearcat mà đám thợ máy cố gắng sống chết phục hồi ra khỏi đường băng và bay về Hà Nội giữa màn mưa phùn dày đặc. Những người thoát nạn từ Béatrice kéo về, ngơ ngác, quần áo rách tướp. Một trung úy bị thương báo với Grauwin rằng quân Việt đã thả anh về với một lá thư quan trọng mà cần mang tới cho đại tá De Castries. Castries gọi cho viên tham mưu trưởng của Cogny lúc 7 giờ 45. - Quân Việt đề nghị dành cho tôi một thời gian ngưng chiến từ 8 giờ đến 12 giờ để thu gom những người chết và bị thương của tôi. Tôi có phải chấp nhận không? Điều tôi quan tâm trước hết đó là việc thả dù một tiểu đoàn tăng viện. Trong cuộc liên lạc ban đêm, Castries đã có vẻ suy sụp và chán nản. Cogny báo động với tướng Gambiez, ở Sài Gòn và được biết tổng chỉ huy đồng ý. - Thế còn trận phản kích của anh thì sao? Cogny hỏi. Qua tiếng động xung quanh và tiếng rít của sóng liên lạc giọng nói của Castries như có vẻ the thé hơn: -Đối phương chiếm được Béatrice từ lúc nửa đêm. Đã sử dụng hết cơ số đạn dược. Pháo binh của tôi đã bắn sáu nghìn phát 105. Giờ đây tôi còn chưa quá hai mươi nghìn viên và với thời hạn các anh có, các anh sẽ chuyển cho tôi bao nhiên viên, nếu như cũng gửi cả một tiểu đoàn tới? Các đơn vị dự bị đã bị đạn pháo bắn thẳng vào mặt suốt đêm, trở nên đờ đẫn. Các anh muốn tôi làm thế nào đây? - Tốt, Cogny nói. Chấp nhận ngưng chiến. Phần tôi, tôi đồng ý. Sau đó, anh sẽ tung trận phản kích với lực lượng được tăng viện. Ở Hà Nội, thời tiết xấu đến mức phải áp dụng khoảng cách xuất phát cho những chiếc Dakota, là ba mươi phút để tránh cho các phi công khỏi phải lượn vòng quá lâu trên các căn cứ, chờ đến lượt mình hạ cánh. Trong khu vực các sở chỉ huy, bao trùm một không khí rụng rời và căng thẳng cao độ. Castries không bước ra khỏi căn hầm của mình nữa. Viên tham mưu trưởng của ông, ngồi trong căn hầm làm việc cũng đội mũ sắt, đi tiểu vào những vỏ đồ hộp, việc này làm cho mấy người lính dù cười gằn. Langlais cho rỡ căn hầm của mình và lấp lại dưới hai mét đất dầy và các đoạn gỗ tròn. Các đội thông tin cố định trên vách các giao thông hào những sợi dây điện thoại mà người ta chưa chú ý bảo vệ. - Thu dọn ba lô của cô đi, Castries bảo Paule Bourgeade, người suốt đêm qua vừa mỉm cười vừa phân phát cà phê giữa khung cảnh lộn xộn và những tiếng quát tháo. Cô đi cùng với chiếc máy bay đầu tiên. Và do vì cô phản đối, ông nói thêm: - Đây là mệnh lệnh! Nhưng mà, làm thế nào một chiếc máy bay có thể hạ cánh giữa lửa đạn được? Đường băng bị đào xới, rải rác những hố sâu, lởm chởm những tấm ghi sắt bị xé rách và nhô lên như những mũi dao găm hoặc lưỡi răng cưa. Hệ thống cố định các mảng lớn như thế nào đó khiến người ta không thể thay thế riêng từng bộ phận mà phải sửa chữa chúng tại chỗ bằng cách dùng đèn xì cắt rời ra rồi hàn lại bằng điện. Ấy vậy mà nhu cầu đòi hỏi có một số máy bay tới để chuyển số thương binh đang ngắc ngoải và mang tới số máu mà người ta không thể thả dù xuống. Thiếu tá Claude Devoucoux, chỉ huy trưởng đội thông tin không quân số 53, xin tình nguyện thực hiện cái nhiệm vụ đòi hỏi tính táo bạo, dũng cảm và sức khỏe. Lúc tám giờ, anh hạ cánh xuống Điện Biên Phủ một chiếc máy bay hai động cơ Siébel cùng với sáu lít máu dành cho Grauwin; đưa lên máy bay bốn thương binh, cô Paule Bourgeade và lại cất cánh dưới làn đạn pháo. Chín năm sau, về phía Việt Minh, người ta không còn nhớ đến cuộc ngưng chiến này nữa. Phần lớn các sĩ quan trong cuộc tấn công cứ điểm Béatrice, mang tên ngôi làng ở kề bên là Him Lam, thậm chí phủ nhận, là đã không có cuộc ngưng chiến ấy. - Tại sao, lúc đó chúng tôi lại phải cho phép có một cuộc ngưng chiến? Chúng tôi đánh thắng ở Him Lam và chuẩn bị nhảy lên chiếm cứ điểm Độc Lập (Gabrielle) ngay trong đêm hôm đó. Đã tấn công là chúng tôi tấn công cho đến thắng lợi cuối cùng. Tác chiến và đề nghị ngưng chiến, đó không phải là cách tác chiến của chúng tôi. Tuy nhiên, đã có cuộc ngưng chiến này. Như vậy đây là sáng kiến của cơ quan chỉ huy khu vực. Ở Điện Biên Phủ và ở Hà Nội, người ta nghĩ tới mưu kế của Việt Minh mà mỗi giờ đồng hồ ngưng chiến là có mục đích: chấp nhận ngưng chiến thì việc đánh bật họ ra khỏi cứ điểm Béatrice sẽ trở nên bất khả thi. Về phía họ, liệu có hình dung ra sức mạnh tấn công của tập đoàn cứ điểm? Ngay từ rạng sáng, hai tiểu đoàn quân dù của Tourret và Giraud, bị hàng nghìn viên đạn pháo 105 từ các khẩu đội của tướng Giáp nện cho tối mắt tối mũi, thậm chí không thể vượt qua khoảng cách giữa họ với căn cứ xuất phát cũng như giữa họ với những chiếc xe tăng thọc ra ngoài hàng rào dây thép gai để yểm trợ họ. Chủ nhiệm pháo binh Piroth đã không còn có thể tạo ra và chỉ huy được một màn hoả lực; rồi thời tiết xấu đã ngăn cản máy bay xuyên qua mây. Phải chăng đã có một trận phản kích yếu ớt với hai đại đội mà sau này tiểu đoàn trưởng Đức đã nói với tôi rằng hai đại đội đó đã bị tiêu diệt ngay khi vừa ló đầu ra? Chuyện này hình như được công nhận. Cha tuyên úy Trinquand tới thăm viên trung úy bị thương, người đã mang về bức thư đề nghị cho ngưng chiến. Trong bộ dạng lúc đó, quân Việt đã nhầm cha tuyên úy như mọi quân lê dương khác. Do vì ở đó chỉ có mình viên trung úy nói tiếng Pháp, họ đã bảo anh ta: "Anh mang bức thư này về đơn vị các anh và anh có thể quay lại tìm kiếm thương binh của các anh mà người ta đã không thể mang đi theo". Theo sau có chiếc xe cứu thương trên đó cha tuyên úy Trinquand ngồi và một chiếc xe tải Dodge chở hai mươi lao công cáng thương, đại úy - bác sĩ Le Damany, đầu đội chiếc mũ kê pi vành mũ bằng vải nhung màu đỏ, ra đi trên một xe Jeep quân y, lá cờ hiệu chữ thập đỏ bay phấp phới trước kính chắn gió. Khoảng 11 giờ, đoàn xe nhỏ đi xuyên qua một quang cảnh hoang vắng đầy đe doạ và đến cứ điểm Béatrice không gặp trở ngại gì. Dưới chân mỏm đồi gần nhất hướng đông nam, cách không xa ngôi nhà gianh, được dùng làm nhà nguyện, lúc này vẫn còn nguyên vẹn, hai miệng phễu khổng lồ há rộng. Một đội tuần tra do một sĩ quan Việt Minh đi đôi ủng da chỉ huy tiếp đón đại úy - bác sĩ Le Damany và hộ tống ông ta đi tới mỏm đồi phía tây giữa một khung cảnh tan hoang bi thảm. Trong lúc đó cha tuyên úy Trinquand đi thăm đỉnh dốc cao, nơi có con đường mà đội quân đồn trú ở Béatrice dùng để đi ra sông Nậm Rốm lấy nước; ở đó cha tuyên úy cứu được một lính lê dương đang hôn mê, rồi ông đi tới mỏm đồi phía bắc. Từ một trong số các lô cốt vỡ nát thò ra đôi cẳng chân của một chiến binh phòng thủ. Qua đôi giày kiểu đặc biệt và qua màu sắc chiếc quần dài, cha tuyên úy nhận ra xác của trung úy Carrière, chỉ huy một đại đội. Rõ ràng là người ta đã chiến đấu nhưng cha tuyên úy ngạc nhiên khi nhìn thấy cái tư thế quá ư thảm hại mà ông không thể ngờ tới. Mười hai lính lê dương, phần lớn ở trong trạng thái tuyệt vọng, và ba người chết được chuyển lên xe. Phần còn lại của tiểu đoàn đã biến mất, không kể khoảng một trăm người đã trốn thoát, khi họ thấy là đã hoàn toàn thất bại và lúc rạng sáng trở về phòng tuyến cùng với viên thiếu uý Makowiak, họ đi qua cứ điểm Dominique, ở đó họ đã khai báo để được thừa nhận. Tổn thất của phía tấn công, không còn nhìn thấy dấu vết gì trong hàng rào dây thép gai, vừa lúc đó, ở đầu một đoạn giao thông hào mà Việt Minh đã đào lên tận đỉnh của chiếc khe sâu hẹp ngăn cách hai mỏm đồi, cha tuyên úy phát hiện được, lẫn lộn giữa một vài vũ khí hạng nhẹ bỏ lại có vài phần xác người mà đội thu gom tử sĩ bỏ sót. Một trong số lính lê dương trong đoàn xe, trung sĩ Kubiak, cho rằng quân Việt sẽ không quay lại sờ soạng vào tập đoàn cứ điểm sớm đến thế. Đầu giờ chiều. Navarre bay ra Hà Nội cùng với tướng Lauzin để nghiên cứu quy mô lực lượng tăng viện phải thả dù xuống. Trước khi rời Sài Gòn, đại tá Revol tuyên bố với các phóng viên báo chí rằng bộ chỉ huy đã đồng ý cho Việt Minh có một cuộc ngưng chiến, do họ yêu cầu. Đó chính là điều ngài Bidault sau này nhắc lại trên diễn đàn của quốc hội. __________________________________________ 1. Hébreux: Người Do Thái. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:37:19 pm Tôi đã hỏi tướng Giáp về chuyện này. Đây là một câu hỏi mà tướng Giáp né tránh, giống như rất nhiều câu hỏi khác, và trả lời tôi bằng một văn bản viết tay mơ hồ: “Nói cho đúng, đã không có cuộc ngưng chiến cục bộ ngày 14 tháng ba, sau khi Him Lam bị đánh chiếm. Với tinh thần nhân đạo, ngày hôm đó, chúng tôi đơn phương cho phép bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm, được thu gom thương binh của họ". Vậy thì ai nói dối đây? Tất cả? Ngoại trừ những nhân chứng đã đi lên cứ điểm Béatrice hôm ấy. Cũng trong buổi sáng hôm ấy, Grauwin gặp Piroth trong đoạn hào ở sở chỉ huy. - Anh còn nhớ Thái Bình không? Piroth vừa hỏi Grauwin vừa đưa bàn tay độc nhất ra bắt tay vị bác sĩ. - Tôi lúc nào cũng dính vào những vụ tồi tệ. Ở Thái Bình, vào lúc Castries chuyển lên Điện Biên Phủ, sở chỉ huy hành binh của sư đoàn đã bị một đội đặc công tiến đánh trong đêm 3 rạng ngày 4 tháng mười hai, trận ấy Grauwin, Paule Bourgeade và Piroth đã thoát ra được một cách thần kỳ. - Khoẻ chứ? Langlais lúc ấy cũng đi qua, hỏi. Piroth không đáp lời và quay người đi một cách đột ngột đến nỗi chiếc mũ ca lô rơi xuống để lộ ra cái đầu cạo trọc và cái cổ với những nếp da nhăn nheo như da rắn. Piroth cúi xuống nhặt mũ và Langlais nhận thấy dòng nước mắt chảy trên má viên chỉ huy trưởng pháo binh. Rồi đứng thẳng người dậy. Piroth giữ Langlais lại bằng cánh tay duy nhất: - Hỏng hết rồi. Piroth nói. Tôi đã báo với Castries là phải dừng tất cả lại. Người ta bước vào cuộc tàn sát, và đó là lỗi tại tôi. Và Piroth đột ngột bỏ đi, với những bước chân gấp gáp của một người máy. Một nỗi sửng sốt vô bờ bến đè nặng lên tập đoàn cứ điểm. Việc Béatrice thất thủ một cách tàn nhẫn, việc đại tá De Castries không có phản ứng gì và cái chết của Gaucher giáng một đòn kinh khủng vào tinh thần, tư tưởng của đội quân đồn trú. Trung sĩ Sammarco cùng với bốn lính lê dương mang súng đứng cạnh chiếc quan tài của viên trung tá chỉ huy đơn vị mình, ở phía sau bên trên chiếc hố nhà xác; dưới hố các xác chết đã bắt đầu xếp chồng chất lên nhau, đôi khi được gói buộc trong một tấm chăn hay một chiếc dù. Anh ta cũng nghĩ rằng Béatrice sở dĩ bị thất thủ là vì bị bất ngờ và rằng quân Việt sẽ phải trả giá đắt cho vụ này. Khi một loạt đạn pháo rót xuống khu vực các sở chỉ huy, Sammarco cùng đội gác nhảy xuống một đoạn hào. Rồi khi yên tĩnh trở lại, họ lại tiếp tục phiên trực canh ở bốn góc chiếc hố sâu, đứng trên mặt đất. Ngày hôm ấy, lần đầu tiên, trung sĩ Sammarco cất cao giọng tự hỏi mình cái câu hỏi ám ảnh anh từ lúc rạng sáng: "Liệu cuối cùng người ta không ăn trưa hay sao nhỉ?..." Anh vội vã đưa mắt nhìn xung quanh. Không có một ai nghe thấy anh nói. Ở Hà Nội, Brigitte Friang xin phép được nhảy dù cùng với tiểu đoàn đang đợi lệnh để lên máy bay. Một phụ nữ ở Điện Biên Phủ ư? Viên chánh văn phòng của Cogny, chỉ huy toà nhà đỏ, kêu to lên. Đây không phải là lúc. Người phụ nữ duy nhất ở đấy, Castries vừa trả về kia kìa. Ý kiến không chính xác. Vẫn luôn luôn có những cô gái nhà chứa của Lai Châu và của một nhà chứa khác từ Hà Nội đến để giải trí cho lính lê dương của khu trung tâm. Cha tuyên úy Trinquand thi thoảng vẫn còn nhìn thấy những khuôn mặt trát phấn hồng và những tà áo tím của họ. Không gập chiếc dù mà anh bỏ lại trong cả đám dù nằm rải rác trên bãi chiến trường, thiếu uý Jean Claude Thélot, người vừa cùng nhảy với cả tiểu đoàn lính dù Việt Nam, tập hợp trung đội của mình và tiến vọt nhiều bước về một điểm tựa. Một người của anh, lúc tiếp đất bị một quả đạn pháo nhấc bổng lên, chết, một chân bị đứt rời. Một người không thể đi nổi nữa. Thélot cõng người ấy trên lưng, thi thoảng dừng lại để thở, đưa người ấy tới tận một xe cứu thương. Không có người dẫn đường, vất vả vì số bị thương và số tụt lại phía sau, cuối cùng bằng chiếc xe Jeep anh tới được cứ điểm Dominique, ở đấy, anh gặp lại mọi người trong đơn vị giữa những binh lính Algérie đang phòng thủ ngọn đồi. Anh bố trí người của mình vào trong các hố chiến đấu, và không hề làm khách để ăn bữa ăn tối do viên tiểu đoàn trưởng chiêu đãi trong căn hầm của ông ta. Những cơn giông nổ ra và nhấn chìm tập đoàn cứ điểm trong lớp bùn. Lúc 16 giờ Navarre hạ cánh ở Hà Nội, Cogny tiếp đón ông. Hai viên tướng chỉ nói với nhau có vài tiếng ngắn ngủi. Cuối buổi chiều, báo động ở cứ điểm Gabrielle mà quân Việt gọi là Độc Lập, "Kẻ đơn độc"; quân Việt trèo lên những sườn dốc trước mặt. Lúc 17 giờ 30, đợt pháo hoả chuẩn bị của đối phương lại tiếp tục. Một chiếc Morane bốc cháy trong căn hầm tổ ong của nó và những ngọn lửa từ đó thoát ra, bay lên trong màn đêm vừa buông xuống. Dưới trận đại hồng thủy sắt thép nghiền nát mặt đất, những xạ thủ các loại vũ khí ở Gabrielle bị kìm giữ dưới hỏa lực của đại bác 75 không giật và những khẩu cối tiến vào rất gần, do vậy không gì có thể phản kích lại. Lúc 13 giờ 30, thiếu tá De Mecquenem, người mà tướng Ely không nghe trình bày nguyện vọng, báo tin là mình bị tấn công: do vì đã sắp hết nhiệm kỳ phục vụ, anh đã giao lại chức vụ cho thiếu tá Kah, người vừa mới tới Đông Dương. Trận xung phong đầu tiên diễn ra lúc 20 giờ và màn pháo hoả lại tiếp tục. Castries đã hạ lệnh cho Séguins Pazzis chuẩn bị ngay một trận phản kích. Cứ điểm Gabrielle, mà căn hầm sở chỉ huy, giống như căn hầm sở chỉ huy của Béatrice ngày hôm qua, giờ đây đến lượt nó đổ sập vì một phát đạn pháo 105, đột ngột im tiếng. Quân Việt trèo lên xung phong trên sườn dốc đứng lởm chởm dây thép gai do đại đội số 4 thuộc tiểu đoàn bộ binh người Algérie phòng thủ. Và lớp người bị các súng liên thanh bắn gục được thay thế bởi lớp người khác, tựa như lớp người vô hình đột nhiên xuất hiện. Qua ống nghe trên bước sóng dài của mạng thông tin nội bộ của tiểu đoàn, Castries nghe thấy tiếng gọi của các chỉ huy đại đội: "Quân Việt bám vào đỉnh đồi… Súng cối bắn vỡ mặt tôi nhưng tinh thần đơn vị là tinh thần của mãnh hổ. Bắn nhanh đi!". Vầng trăng, chiếc máy bay đom đóm và tia chớp của đạn nổ soi sáng khu vực phía bắc khu lòng chảo, ở đó cứ điểm Gabrielle canh giữ cửa sông Nậm Cố và con đường mòn Pavie. Tuy nhiên, lúc 22 giờ, trận tấn công có vẻ bị chặn lại. Cứ mỗi tiếng đồng hồ lại thay phiên, một chiếc B.26 xả đạn liên thanh và ném bom hú họa vào quân tấn công, kể từ lúc sẩm tối. Langlais, vốn nhớ lại những dòng nước mắt ông đã trông thấy, lúc buổi sáng, trong đôi mắt của Piroth, đã nhiều lần hỏi viên chỉ huy trưởng pháo binh. - Anh có nắm được các khẩu đại bác của quân Việt ở đâu không? - Có thể chúng ở đây, Piroth đáp lời, vừa đưa tay chỉ vào một khu vực trên bản đồ. Hoặc là đây... - Anh có thể bắt chúng câm miệng không? Piroth nhún vai. Chắc chắn, ông sắp bắt chúng im tiếng, không bao giờ có chuyện ngược lại. Trong cuộc họp ở đó Castries trách cứ Piroth là đã tự buộc tội cho mình mọi vấn đề và đã làm mất tinh thần mọi người, rồi bảo Piroth về đi nghỉ, Piroth vùng vằng bỏ ra ngoài. Trông bộ dạng của ông lúc này chẳng khác gì một tấm áo rách và ông bỏ ăn. Castries cho mang thức ăn đến căn hầm của Piroth và yêu cầu cha Heinrich chăm sóc ông. Cha tuyên úy đã đến báo cáo: Piroth có vẻ khá hơn. Kể từ hai mươi bốn tiếng đồng hồ nay, Piroth nhắc đi nhắc lại tất cả những câu mà ông đã nói: "Chúng ta nắm được số lượng pháo mà họ có, sát đến từng khẩu. Chúng ta sẽ thắng bởi vì chúng ta có những khẩu 155 bắn từ trên chúc xuống. Chúng ta sẽ bắn tới họ ở bên kia các đỉnh núi, ở đó họ buộc phải bố trí pháo thành từng cụm, bởi lẽ họ không thể bố trí pháo trên những sườn dốc...". Và với bộ trưởng Jacquet, người đã bảo Piroth nên xin thêm pháo, câu trả lời của Piroth là: "Tôi đã có thừa số pháo cần thiết". Thậm chí Piroth đã không muốn đưa pháo của mình vào hầm để có thể bảo vệ được các xạ thủ. Ai có thể chạm tới họ nào? Để có thể bắn được theo mọi góc phương vị, cần phải bố trí pháo lộ thiên. Vừa may là Piroth đã đồng ý bố trí các khẩu pháo của mình nằm vào trong các hầm tổ ong có tường vách hẹp bao bọc, gồm những túi đất để tránh được những mảnh đạn súng cối Piroth nhắc lại những cuộc tranh cãi đã qua với Bigeard, người cứ lặp đi lặp lại rằng quân Việt có khả năng làm được mọi chuyện và một hôm, Piroth đã hét thẳng vào mặt Bigeard, để cắt đút câu chuyện: "Bigeard này, những gì cậu nói thật đáng xấu hổ? Người ta không có quyền ca ngợi đối phương..." Piroth, người gần như đã không mảy may nắm được các trận địa của đối thủ và với các khẩu 155 của mình chưa bao giờ có thể phá hủy dù cho chỉ là một chiếc xe tải, giờ đây thừa nhận là Bigeard và Castries đã nói đúng và tự cảm thấy mình có trách nhiệm về việc Béatrice thất thủ, về cái chết của Gaucher và những người khác. Và ông, Piroth con người trung thực, người đã không muốn như những người khác, lấy lại tinh thần bằng những cốc rượu cô nhắc đầy. Thử hỏi ông còn có quyền được sống hay sao? Chui vào đáy căn hầm của mình, ông giật một trái lựu đạn đeo ở thắt lưng, dùng răng cắn chốt và áp chặt trái lựu đạn vào trước ngực, nơi gần quả tim của mình. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:44:49 pm Ngày 15 tháng ba 1954 Khi trăng sắp lặn, cuộc xung phong tiếp diễn vào lúc 3 giờ 30. Những người bảo vệ cứ điểm Gabrielle yêu cầu sở chỉ huy cho bắn pháo lên đầu mình. Sau khi tất cả các đội dự bị đã được tung ra hết, thiếu tá De Mecquenem bị thương và thiếu tá Kah, nằm bên cạnh, bị đứt lìa một chân. Một bộ phận lực lượng của cứ điểm rút về hướng nam: người ta đã biết là Séguins Pazzis tới cứu viện và ông ta đã không thể nào đánh bật được quân Việt, quá đông và quá mạnh. Tay cần vụ người Sénégal của Piroth xuất hiện như một người điên trong phòng làm việc của các sĩ quan phó tư lệnh và cầu cứu. Trong hang ổ của mình, Piroth nằm dài, đầu và ngực nát nhừ, bàn tay cuối cùng còn lại đứt rời. Hành động tự sát này sẽ có tác động ra sao? Castries quyết định che giấu chuyện này. Các cha tuyên úy và đại úy - bác sĩ Le Damany, tự tay đào một cái hố dưới gầm chiếc giường dã chiến của Piroth, rồi cùng với vài lời cầu nguyện lén lút, chôn cái xác mà người ta thấy hổ thẹn, và lấp kín căn hầm lại. Người ta sẽ nói rằng, cũng như Gaucher, Piroth là nạn nhân của một quả đạn pháo trúng đích. Một sĩ quan không tự sát hay sao? Khi mà anh ta tưởng rằng việc thất thủ một pháo đài là do lỗi của mình và rằng không thể nào sống được với nỗi ân hận lớn đến như vậy, hành động đó là cao cả. Những sai lầm của mình, Piroth không muốn trút lên đầu những người đã cho phép mình phạm phải những sai lầm ấy. Piroth đã trả giá các lỗi lầm ấy bằng mạng sống của mình, như một ông hoàng. Một bức điện được đánh về Hà Nội: "Đại tá Piroth ngã xuồng trên nền danh dự". Navarre gửi bức điện ấy về Paris, không một lời bình luận. 5 giờ 30, lúc tảng sáng, trận phản kích khởi động với hai đại đội của tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1, sáu xe tăng và tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5, đơn vị này dề dà, chậm chạp, không thật sự muốn xông lên. Séguins Pazzis phải vượt qua hơn bốn kilômét trong mạng lưới nhằng nhịt dây thép gai của hệ thống phòng ngự, đi theo một hành trình bị hai dòng suối chặn ngang. Khi anh tới được sườn dốc phía nam cứ điểm Gabrielle, trời đã sáng bạch. Người ta nghe thấy quân Việt hét to: "Đừng bắn, đừng bắn, hỡi quân Pháp, hàng đi". Ở cách những chiếc xe tăng năm mươi mét, họ nã đạn vào những phân đội định gia nhập trận phản kích. Bệnh xá của cứ điểm đã bị đánh chiếm. Tay bác sĩ hôm qua bị thương đã phải đưa về phía sau và thay thế bằng một trung sĩ người Áo của đội lê dương, nguyên là sinh viên y khoa. Thiếu tá Thélot đã mất hai tiếng đồng hồ rưỡi để vượt qua một nghìn năm trăm mét dưới làn đạn pháo. Những người lính lê dương đã ùn ùn quảy trở lại, bước đi chậm rãi, người nọ dìu đỡ người kia, trong tiếng rít của những quả đạn 105 khi nổ làm đất vọt lên tung toé. Một viên tiểu đoàn trưởng bước đi, bộ mặt rách nát, thái độ thất thần. Hai chiếc xe tăng gầm lên và mở hết tốc độ, quay về hướng khu trung tâm, lớp vỏ thép đỏ mầu máu của những người bám trên tháp pháo, bộ mặt rách nát, đôi chân không giày. Thélot cho các thương binh uống nước rồi nhảy xuống một đoạn hào, ở đó anh nghe thấy những tiếng rên hấp hối. Những chiếc xe cứu thương lăn bánh, tựa như vô hình. Mệnh lệnh trở về vị trí xuất phát đã chuyển tới. Một trăm bảy mươi lính người Algérie đã thoát về được Người ta điều họ lên cứ điểm Isabelle. Mecquenem bị bắt làm tù binh. Một trong số dàn ăngten lớn của sở chỉ huy bị bắn gẫy. Làm thế nào, Séguins Pazzis có thể chiếm lại được Gabrielle, khi mà hoả lực bắn quét giờ đây đã chặn đứng mọi bước phát triển và rằng đối phương, nhờ vào các lùm cây nhô cao, đã có thể tiến thêm thậm chí vài trăm mét để đối mặt với họ? Trận phản kích mà người ta không thể yểm trợ từ cứ điểm Anne Marie, ngay từ trước lúc khởi phát, có vẻ đã rơi vào tình trạng không có kết quả, bởi lẽ những sai lầm phạm phải trong quan niệm và trong công tác chuẩn bị đã mang trong mình chúng mầm mống của thất bại. Giống như đối với cứ điểm Béatrice, lực lượng tăng viện dành cho việc đánh trả và không được che chắn tốt, chỉ được sử dụng để bịt các lỗ hổng: một sai lầm chiến thuật không sửa chữa nổi. Không một ai, trong các cơ quan tham mưu, đã có thể sửa chữa được sai lầm đó bởi lẽ không một ai đã ngờ tới sự sụp đổ chỉ trong một đêm của những pháo đài nhìn bề ngoài vững mạnh đến như vậy, như Gabrielle hoặc Béatrice. Người ta bao giờ cũng chỉ nghĩ đến việc chi viện đối với các cứ điểm ấy mà không nghĩ đến việc giành lại trận địa mà quân Việt bám chắc vào sau mỗi khi đánh chiếm được. Các kỵ sĩ không phải sinh ra là để vật lộn với các chướng ngại vật mà là để phi thẳng về phía trước mặt họ. Khẩu hiệu của họ là khẩu hiệu của Murat1 nhảy lên lưng ngựa trước mặt các phân đội và hét to: "Thẳng tiến, bám theo sát tôi...". Tiến ra khỏi trận địa và mạng lưới rào thép gai của nó đã là một vấn đề. Trong tháng giêng, lần đầu tiên, lúc tảng sáng, Langlais khi thực tập việc tiến đến cứ điểm Isabelle đã làm cho hai tiểu đoàn của ông lúng ta lúng túng trong hệ thống phòng ngự. Lực lượng chi viện duy nhất mà thiếu tá De Mecquenem có thể trông mong, đó là pháo binh. Mà pháo binh thì lại đã suy yếu. Trên làn sóng máy thông tin của Việt Minh, người ta nghe thấy tiếng một trung đoàn trưởng nói bằng tiếng Pháp xin lệnh cấp trên cho phép tấn công cứ điểm Anne Marie. "Tôi chỉ ngoạm một miếng là xong! Ông ta nói - Mười lăm phút, tôi chỉ cần mười lăm phút...". Dưới hoả lực bắn phá liên tục, những dấu hiệu tan rã đầu tiên đã xuất hiện ở cứ điểm Anne Marie, do tiểu đoàn người Thái số 3 chiếm giữ; binh lính của đơn vị này đã lợi dụng đêm tối và tâm trạng nao núng chung để bỏ trốn vào trong núi hoặc chạy sang phía đối phương. Quá thông minh cho nên cũng chẳng thích gì đi đánh nhau với cương vị những người lính trơn, quá khôn khéo để đâu đến nỗi không có cách nào xử lý khi nhu cầu thúc ép quá mạnh, quá thông thạo địa hình để biết rằng có thể luồn lách, ẩn nấp được, nhưng binh lính người Thái, vốn không phải tất cả đều là những ông hoàng hay ông quan, nhưng gần như tất cả đều xứng đáng như vậy, đã không thể nào thích ứng được với một tình thế tất yếu dắt dẫn họ một cách tàn nhẫn đi đến cái chết hoặc nỗi bất hạnh. Họ không giống như cái khối hàng nghìn người khốn khổ, rút lui từ Lai Châu về, một bầy đàn sợ sệt và dao động mà Langlais nhanh chóng gọi bằng cái từ "nhóm vô lại ở Bordier"; đám người này được người ta sử dụng như những nô lệ, trong mọi công việc lao dịch, giống như những tù binh đưa từ Hà Nội lên mà mỗi buổi sáng, viên trung sĩ Sammarco đến để nhặt ra một mẻ. Thân hình nhỏ nhắn, khuôn mặt toát lên vẻ đẹp và sự lịch thiệp, sinh ra vì nền hoà bình, vì nghệ thuật và các thú vui, chỉ lao động khi nhu cầu thúc ép, những binh lính được sắp xếp vào tiểu đoàn số 3 có khả năng phục vụ cho những công việc to tát với điều kiện họ phải được bảo vệ chắc chắn. Trong một số vùng của người Thái, khi một người đàn ông chết đi, anh em của người đó chỉ cầy cấy một nửa diện tích thửa ruộng anh ta được thừa kế, còn nửa kia là để tưởng nhớ đến người đã mất và để cho cuộc sống êm đềm. Việc Béatrice thất thủ và sau đó, Gabrielle cũng thế, là một thử thách vượt quá sức chịu đựng của họ. Khi cứ điểm Anne Marie bị đánh chiếm, người ta thu nhặt được hàng nghìn người chết và bị thương, quân Việt ùa vào các kho thực phẩm, thu gom các khẩu phần ăn của ngành hậu cần, các hòm rượu vang ướp lạnh và rượu anis. Một tù binh sĩ quan đòi có một bác sĩ. - Không có. - Tại sao? - Anh ta hỏi. - Thưa ông, ông nên biết là ở chỗ chúng tôi, người ta không có thói quen đưa ra những câu hỏi. Ở Hà Nội, trước những cú điện thoại của đại tá Castries, từng giờ một báo về tin thảm họa, người ta thất kinh, chứng kiến sự tan rã của tập đoàn cứ điểm. Nhân tố đáng ngạc nhiên và đáng sợ nhất, đó là lực lượng pháo binh đã không đánh trả lại được và tự thân chịu cúi đầu với một trận phản pháo mà nó cũng tiến hành nhưng là vào khoảng trống không; lực lượng pháo binh có nguy cơ nhanh chóng rơi vào trạng thái bất lực hoàn toàn. Máy bay trinh sát bị phá huỷ hoặc bị bắn đuổi, khiến cho pháo binh như bị mù: hai chiếc Morane nữa là một chiếc Bearcat vừa mới bị phá huỷ trên bãi đỗ, và trong những khoảng thời gian hiếm hoi máy bay có thể thoát khỏi hỏa lực của súng phòng không để bay lượn trên các đỉnh núi thì màn sương mù khô khốc từ một tuần lễ nay bao trùm lên cả vùng thượng du khiến cho tầm quan sát rất kém. Đạn dược tiêu hao đến mức việc tiếp tế không còn kịp nữa. Ở bộ tham mưu, trong một văn phòng nằm trong khu thành cổ Hà Nội, nơi đó Navarre rất hiếm khi đến thăm bởi lẽ giống như ở Sài Gòn, ông làm việc tách biệt tại toà biệt thự riêng, cực kỳ đơn lẻ, các sĩ quan nhìn nhau và nói: "Thế là ván đã chơi và thế là đã thua". Trong căn phòng nhỏ, Navarre chỉ có một mình, rất bình thản, gần như câm lặng, ngồi trước bản sao một bức điện của Castries: "Tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể bị tan rã và trong trường hợp đó, tôi dự kiến hạ lệnh cho cứ điểm Isabelle rút chạy bằng những phương tiện riêng của nó ". Và điện trả lời của Cogny: “Có lý khi dự kiến những giả thiết thảm họa nhất, nhưng trước hết cần nghĩ đến việc đứng vững tại chỗ. Mặt khác tôi nghiên cứu việc rút đi một bộ phận của đội quân đồn trú tùy theo tình huống. Ngày mai, gửi cho anh một tiểu đoàn dù". Với một niềm thoả mãn cay đắng, Navarre nghĩ rằng mình đã có lí khi không mong muốn có cuộc tấn công của tướng Giáp, trái ngược với Cogny, Castries và mọi người trong tập đoàn cứ điểm. Điều mà ông không tha thứ cho mình, đó là đã để cho bọn họ đánh lừa. Thậm chí ông không dùng cái từ "bọn tồi tệ". Cái từ đó, ông cho là quá nhẹ. Từ “bất tài" ông thấy có vẻ đúng hơn. Việc đánh giá đối phương của bọn họ bao giờ cũng tỏ ra là sai lầm: hoặc là quá cao hoặc là quá thấp, so với thực tế. Sai lầm duy nhất mà Navarre tự thừa nhận là đã không chú ý đầy đủ đến ý kiến của bọn họ. Tay pháo thủ Cogny đã đánh lừa ông, viên chỉ huy trưởng pháo binh của Điện Biên Phủ đã tự đánh lừa mình, các phi công đã không sao cắt đứt được đường giao thông, phá huỷ được các kho dự trữ, thậm chí đã không phát hiện được vị trí của các cụm pháo. Thời gian ư? Các điều kiện khí hậu ư? Navarre nhún vai: những lí lẽ đó sẽ không bao giờ thuyết phục được ông. Khối lượng chi viện cho Việt Minh chảy ào ào như nước, không chút trở ngại, kể từ khi có thông báo về Hội nghị Genève. Salan, người đầu tiên, đã nhét vào dưới chân ông chiếc vỏ chuối khổng lồ Điện Biên Phủ và đã ru ngủ ông với những dự kiến, những suy diễn và kế hoạch của ông ấy. Phải, mọi người đã đánh lừa Navarre, kể cả những người Trung Quốc. Nếu như không có sự chi viện của Trung Quốc, Navarre tự nhủ rằng mình không thể nào bị đánh bại bởi tay cử nhân luật học Võ Nguyên Giáp. Ông không muốn chấp nhận là tướng Giáp đã quyết định tấn công Điện Biên Phủ ngay từ tháng mười hai vừa qua và rằng kinh nghiệm của trận Nà Sản đã giúp ích cho ông ta. Sự chi viện của Trung Quốc, và việc các chính khách đã không ủng hộ các kế hoạch của vị tổng chỉ huy, theo Navarre đó là những nguyên nhân dẫn tới thất bại tạm thời này. Ông không tự nhủ là người ta không mong chờ ở ông những cuộc phiêu lưu cũng như những lời cam kết mà là sự thận trọng. Ông mỉm cười khinh khỉnh trước cái thắng lợi quân sự mà "chú” giáo sư Giáp muốn có, cốt để cho chính phủ của ông ta đến Genève với hài bàn tay đầy. Những thông tin thu lượm được từ mạng lưới của Việt Minh đã cho thấy điều đó và giờ đây ông tự trách mình đã không nhấn mạnh đủ mức thực tế đó với phái đoàn Pléven. Nhưng thắng lợi quân sự, đối với ai mà không cần thiết? Có vị tướng nào mà không mong muốn cái đó? Đối với Navarre, sự chi viện của Mỹ không thiếu và nhiều nghìn tấn trọng lượng xe tăng và đại bác nằm gỉ sét trong các kho chứa. Với đại tá Fleurant, cục trưởng Cục Trinh sát, đến gặp ông, ông bảo: - Chúng ta không nên ảo tưởng: thế là hỏng. Tôi rất muốn là quân Việt không tiếp tục tấn công tối nay. Cần phải tìm kiếm biện pháp khác. Chắc chắn ông cũng đã nói chuyện điện thoại theo cùng một hướng đó với ngài Dejean, người được báo động một cách tệ hại, đã điện cho bộ trưởng của mình nói về những viễn cảnh u ám đang xuất hiện và quyết định bay ra Hà Nội. ____________________________________________ 1. Murat: Thống chế Pháp (1767 - 1815) là em rể Napoléon đệ nhất. Vua xứ Naples (1808 - 1815). - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:46:17 pm Làm thế nào Navarre lại bị tác động bởi những thất bại mà ông đã nhìn thấy trước trong lúc trình bày ý tưởng lớn trong hành động của chiến dịch mà ông đề ra? Đối với ông, việc tướng Giáp nhảy vào Điện Biên Phủ là một lời thú nhận yếu kém: tướng Giáp không thể nào tấn công bất kỳ mục tiêu nào khác trước mùa mưa đang đến gần. Và một thất bại cục bộ có nghĩa lí gì nếu như xứ Nam Kỳ vẫn được bảo vệ trước một cơn lũ tràn ngập của Việt Minh và nếu như vùng Trung phần loại bỏ được những kẻ quấy rối? Giai đoạn hai cuộc hành binh Atlante được mở màn ngày hôm đó: nó tung ra ba mươi ba tiểu đoàn của đạo quân viễn chinh chống lại với mười bảy tiểu đoàn Việt Minh, trong đó chỉ có chín tiểu đoàn quân chính quy. Không một điều gì có thể thuyết phục được Navarre rằng số phận của Đông Dương đang được thử thách ở Điện Biên Phủ và rằng đòn đe dọa ở Trung phần chỉ là một mưu mẹo. Ông sẽ không bao giờ thoảng qua nỗi ngờ vực và sẽ không hề tự hỏi liệu mình có bị sa chân vào một cái bẫy. Đứng trước những con người đang hoang mang lo sợ, ông tự khen mình đã nhận được những thông tin không quan trọng soi đường cho ông trên những cao nguyên hoang vắng vùng Boloven, ở đó đang diễn ra cuộc hành binh Atlante, nay đã trở thành chiếc la bàn cho chiến lược của ông. Ai dám nói với Navarre rằng ông đã phạm phải một sai lầm khổng lồ? Ai dám khuyên ông một lời khi mà mọi lời khuyên đã dẫn ông tới sai lầm đó? Sự thật, đối với Navarre, đó là việc kể từ lúc này chỉ có tin ý kiến của riêng mình. Không phải ông không biết là đối thủ sống còn của ông, tướng Giáp, hiện đang ở Điện Biên Phủ và ông ta đã trực tiếp chỉ huy các đơn vị tấn công, điều này hình như chứng tỏ là ông ta muốn ném vào trận đánh tất cả những gì có trong tay nhưng mà đúng là Navarre lại suy từ đó ra rằng tướng Giáp bị hạn chế trong hành động của ông ta. Trong lúc đó ông, Navarre, ông có thể tung ra những đòn ở nơi khác. Thống chế Joffre, năm 1916 đã không để cho mình bị che mắt bởi trận Verdun và tung ra một đòn tấn công trên vùng sông Somme, đòn này Verdun có lẽ phải chống giữ. Navarre không chịu lùi bước trước cảnh náo loạn đang lan ra trong các cơ quan tham mưu và hơn bao giờ hết kiên trì chiến dịch Atlante của mình, ngược lại với tất cả bọn họ. Ông không tha thứ cho bất kỳ một thiếu sót nào; ông sẽ bẻ gãy những ai tranh cãi với các mệnh lệnh của ông. Đối diện và chống lại tất cả những ai thúc ép Navarre giao chiến ở Điện Biên Phủ, chiến dịch Atlante sẽ diễn ra. Và trong lúc mà De Lattre, khi mọi chuyện đổ vỡ và rã rời, đã lao vào trận đánh, tự thân chỉ huy các binh đoàn cơ động, hò hét, thúc giục quân sĩ và bố trí sở chỉ huy của mình ở giữa trung tâm trận đánh thì Navarre vẫn ở lại Hà Nội và quay trở vào Sài Gòn trong vài ngày. Một công văn tham mưu của Cogny gửi Navarre chỉ rõ rằng cần thiết xem xét đến khả năng một thất bại ở Điện Biên Phủ và việc tổn thất số quân đã tung vào đó. Công văn ấy thử rút ra những hậu quả: nếu như Việt Minh khuếch trương kết quả, họ có thể, việc này sẽ làm thay đổi tương quan lực lượng hiện có, trong vòng mười hai ngày đưa một sư đoàn xuống vùng đồng bằng, ở đó, ngay trong buổi sớm hôm nay, họ đã có trận đánh trên trục đường Hà Nội - Hải Phòng. Lại một lần nữa Cogny yêu cầu tăng viện. Cogny gửi công văn cho Navarre, mặc dù Navarre lại đang ở Hà Nội. Muốn gặp nhau, chỉ cần người này hoặc người kia bước xuống một tầng gác hay đẩy một cánh cửa nhưng mà hai người đã không nói gì với nhau nữa hoặc là gần như vậy. Họ trao đổi với nhau bằng giấy tờ và thông qua các viên tham mưu trưởng. Khi Navarre cho gọi Cogny tới, những ý kiến trao đổi không chọc thủng được độ dày của mối ác cảm chia rẽ họ. Trận thua không dàn xếp được mảy may: họ sắp tìm cách, cả hai người, tự nhận lấy trách nhiệm về mình. Navarre buộc tội Cogny là đã giữ lại những đơn vị tốt nhất cho vùng đồng bằng, xây dựng tồi hệ thống phòng ngự với những đơn vị không có khả năng phản kích ban đêm và đã từ chối sự góp ý mà ngày 4 tháng ba Navarre đưa ra là thiếu những đơn vị thạo tác chiến. Thoáng nhìn qua, những lời trách cứ đó là đúng. Khi đem sàng lọc, phân tích kỹ lưỡng, người ta thừa nhận là Cogny đã không thể nào thay đổi được các công cụ đang cầm trong tay. Ở Đông Dương, không có lấy một tiểu đoàn duy nhất nào gồm toàn quân sĩ người Pháp trăm phần trăm: bản thân đội lê dương cũng đã bị "da vàng hoá". Ở Điện Biên Phủ, người Việt Nam chiếm tới một nửa quân số, với đại diện của mười bảy dân tộc. Và như vậy, ai làm người đã dần dần mang tới cho cuộc hành binh hạn chế tất cả những điều kiện dẫn tới sự đương đầu với khối chủ lực của đối phương? Ai mà không hiểu rằng trận Điện Biên Phủ đã vượt quá giới hạn một trận đánh địa phương để mang tính chất nghiêm trọng và kinh khủng của một hiệp đấu không thương tiếc, từ hiệp đấu ấy bắt buộc sẽ phải bước ra một võ sĩ thắng cuộc và một võ sĩ thua cuộc. Ai đã do dự không giao cho Cogny trách nhiệm chỉ đạo trận đánh theo ý của ông ta? Ai đã không hiểu rằng số phận của toàn bộ đạo quân viễn chinh được thử thách trong một khu lòng chảo? Ở Điện Biên Phủ, một chiếc Bearcat của không quân do trung sĩ Sahraoui lái đã bị bắn hạ và lúc 12 giờ 45, một chiếc Hellcat của không quân thuộc hải quân do trung úy hải quân Lespinas lái, đã gẫy tan tành ở phía bắc Gabrielle. Bị một phát đạn pháo trúng đích, đài kiểm soát không lưu đổ sập xuống như một toà lâu đài bằng giấy và chỉ còn hoạt động bằng những phương pháp ứng phó. Ngược lại, một chiếc trực thăng, hôm qua bị hư hại đã cố gắng cất cánh được. Năng suất thả dù bị hạn chế do thiếu những tấm dù cần thiết cho những khối hàng lớn. Một phần các bọc hàng thả dù đã rơi ra ngoài khu phòng ngự, rơi sang phía đối phương. Thương binh chen chúc giữa các chiến binh mà người ta không sao cứu chữa cho họ kịp. Tình trạng khủng hoảng thiếu đạn dược và thực phẩm đóng gói xuất hiện trong công việc tiếp tế của Hà Nội mà Cogny không dự tính trước được bởi vì các hạn ngạch của căn cứ tác chiến ở Bắc Kỳ tuỳ thuộc trực tiếp ở vị tổng chỉ huy. Buổi chiều, cuộc vây hãm cứ điểm Dominique bắt đầu. Những chiến hào từ Béatrice chạy ngoằn ngoèo xuống, toả rộng, chia tách ra để có thể bố trí các loại vũ khí tự động, luồn lách từ Gabrielle tới Anne Marie. Khắp nơi, xẻng và cuốc đào vào những khe sâu và sườn dốc dẫn tới khu lòng chảo. Một đêm nữa đang tới, hứa hẹn điều gì đây? Đại tá Castries triệu tập các tiểu đoàn trưởng ở gần mình. Liệu quân Việt có còn khả năng mở một trận xung phong đắt giá như vậy không? Chiến thắng làm cho người ta thêm táo bạo và tướng Giáp, ông ta có khả năng tận dụng đêm tối và thời tiết xấu để cho bộ đội nghỉ ngơi, trong lúc đó các đơn vị trong tập đoàn cứ điểm không có lấy một giây phút nào ngơi nghỉ. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 ngày kia sẽ nhảy xuống. Những khẩu pháo 105 đã được ném xuống để thay thế những khẩu bị phá huỷ. Tại cửa ra vào các trạm cấp cứu, chất đống những núi bông băng bốc mùi lộn mửa. Trang phục rải rác giữa những đôi giày đế đinh, những đôi giày đi rừng và những chiếc mũ sắt lộn ngửa, chẳng khác gì những con rùa nằm ngửa lưng. Một số bị thương lê lết về tận bệnh viện của khu phòng ngự trung tâm, ở đó người ta tưởng đâu tìm được sự giải thoát. Những người lính Algérie và Marốc vác trên vai những người lính Việt Nam nhỏ bé, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn. Lao công và chiến binh chen chúc nhau trong những đoạn hầm tiếp cận, xin xỏ lấy một chỗ ngồi trong những hầm mộ của nhóm phẫu thuật, ở đó người ta thấy ngạt thở. Người ta dẫm đạp lên những chiếc dù đáng giá một trăm nghìn France, người ta sử dụng dù làm chăn đắp, làm gối, làm vải khâm liệm. Những tiếng rên rỉ thoát ra từ những chiếc giường nằm đóng xộc xệch và chồng lên ba tầng bằng những ống kim khí. Huyết tương chảy từng giọt một vào các tĩnh mạch, râu ria xồm xoàm trên các khuôn mặt. Gần gian phòng thông tin đổ sập, nửa thân trên cởi trần được bảo vệ bởi một chiếc tạp dề bằng cao su, hai tay đi găng, không đeo khẩu trang, Grauwin và Gindrey mổ các ổ bụng, rạch các bắp đùi để gắp ra các mảnh đạn pháo, các viên đạn súng trường hoặc bó lại các đoạn xương gẫy. Mùi vị ngang ngang của máu chẹn ngang cổ họng. Các y tá hút thuốc để khỏi nôn mửa. Grauwin phải tiến hành năm mươi ca hồi sức và anh chỉ còn có hai lít máu; cần thiết ba trăm triệu đơn vị Pênixilin và anh chỉ còn có năm mươi. Những chiếc hàm gẫy nát, những con mắt bị thủng, những cẳng chân đứt lìa, những mảng vai há toác, những tiếng rên la và những cú điện thoại khiến cho anh xúc động. Đứng thẳng giữa đống đổ nát, con người khổng lồ này hầu như không chịu được nữa. Không còn là một trận đánh mà là một bước xuống địa ngục. Vốn là một tín đồ, Grauwin cầu xin Thượng Đế đến cứu giúp. Với những con người, anh đề nghị van xin một cuộc ngưng chiến. Xa hơn, chiếc hố nhà xác đã đầy tràn, ở đó trung sĩ Sammarco và bốn lính lê dương của anh vẫn còn đang canh giữ chiếc quan tài của Gaucher. Người ta chuyển thêm về đó những người chết, được gói buộc trong một tấm chăn như một gói đồ, một chiếc lọ nhỏ đựng lí lịch, cổ lọ được buộc chặt vào gói đồ. Đôi khi thậm chí người ta không còn có thời gian hay khả năng tiến hành một cuộc tắm rửa tang lễ và người ta đành lòng để người chết nằm dài, ngay trên mặt đất, nửa trần trụi, ở đó đạn pháo vẫn còn có thể nghiền nát họ. Một vài người trong số họ tựa như đang ngủ, một bàn tay vắt lên trán và lũ ruồi háu ăn đậu xuống các vết thương của họ. Phải chăng đây chỉ là những chuyện kinh khủng của chiến tranh hay là chuyện thảm họa? Vấn đề đó, Cogny cũng tự đặt ra với mình, lòng đầy lo ngại. Những tiểu đoàn mà Navarre cung cấp cho mình, làm thế nào mà mình lại nhét họ vào một trận địa ở đó, giờ đây người ta đã chết bẹp rồi? Cogny biết rằng sức mạnh quyết định của Điện Biên Phủ, không khác gì sức mạnh của một trận địa khác, không phải là chỉ nằm trong việc phòng ngự mà là trong việc phản kích. Ấy vậy mà, đây lại chính là vấn đề làm ông lo ngại: dưới đòn đánh bất ngờ, Castries tỏ ra đờ đẫn và tựa như không hiểu một tí gì về những điều mà Cogny đã trao đổi và nhắc lại ngày 4 tháng ba. Cái tay kỵ binh này vốn nắm trong tay những đòn đánh trả như sấm sét, giờ đây bị tê liệt, ông ta sử dụng các đơn vị dự bị của mình một cách dè dặt để bịt các lỗ thủng, vá víu, khâu mạng lại chứ không phải là ra đòn. Sự thực là Castries đã không thể tập trung các đơn vị dự bị bởi lẽ người ta đã không dự kiến có những căn hầm rộng cho các đơn vị đó và rằng hoả lực của pháo binh đối phương đã gây tổn thất cho các đơn vị đó ngay tại các vị trí mà họ chiếm giữ, đội xung kích số 8 trên mặt bắc, tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 trên mặt tây của khu trung tâm Điện Biên Phủ. Castries đã không có thời gian để huấn luyện họ tác chiến ban đêm, mặc dầu ông biết rằng Việt Minh chỉ hành động khi lợi dụng được đêm tối; trái ngược với những gì người ta tưởng, ở đó chưa bao giờ có những cuộc diễn tập phản kích, mà chỉ có những buổi thực tập của cán bộ chỉ huy. Những cuộc diễn tập ấy, làm thế nào người ta có thể tiến hành được bởi lẽ hàng ngày người ta đã sử dụng các tiểu đoàn dự bị vào những trận trinh sát, sau những trận đó, họ buộc phải băng bó các vết thương, lấp đầy các tổn thất và lấy lại hơi sức? Séguins Pazzis chỉ có thể đủ sức đến đầu các sườn dốc phía nam ngọn đồi của Gabrielle, ở đó số người trong đơn vị thoát nạn chạy ra gặp đơn vị chi viện để thoát chết hoặc là khỏi bị bắt làm tù binh. Nhận xét đáng ngạc nhiên: những bức không ảnh do một máy bay trinh sát chụp được ngay trong buổi sáng hôm đó, cho thấy phần lớn các công sự của Gabrielle còn nguyên vẹn, trong lúc các công sự của Béatrice đã bị đạn pháo cầy xới, điều đó có vẻ chứng minh rằng đội quân phòng ngự lẽ ra có thể chống cự được thời gian dài hơn nếu như pháo binh của tập đoàn cứ điểm yểm trợ cho họ tốt hơn. Trên cứ điểm Claudine 5, trong sở chỉ huy của mình bố trí ở giữa khu ruộng lúa, nơi đại đội đã xây dựng những căn hầm chắc chắn và đào các giao thông hào, đại úy Capeyron không thể nào hiểu nổi chút gì về việc thất thủ của Béatrice. Anh nghĩ rằng cần phải co cụm lại và chờ đợi lực lượng tăng viện sẽ tới ngay khi thời tiết khá lên. Ở chỗ anh, mọi chuyện ổn định. Anh tự hỏi tại sao quân dù chưa thấy xuất hiện và tại sao khoảng giữa Béatrice và các mỏm đồi của Dominique lại im lặng đến như vậy. Anh cũng tự hỏi làm thế nào mà các điểm tựa của Eliane có thể kháng cự được, các điểm tựa này nằm quá gần các ngọn đồi khác mà đối phương có thể biến thành các trận địa hoả lực. Tất cả những câu hỏi đều không tìm ra được lời giải đáp. Anh tự nhủ rằng anh chỉ là một sĩ quan cấp dưới và rằng trí thông minh để xử lý tình huống này phải để dành nhiều cho các cấp trên. Anh cũng không thể nghĩ được rằng người ta lại đã không tìm cách, ít nhất là đánh bật quân Việt ra khỏi những vị trí mà họ chiếm được. Anh không ngờ vực gì cả: chuyện phải đến sẽ đến. Chuyện đó không thể nào không xảy ra. Xung quanh anh, không một ai tự hỏi bất cứ điều gì. Cách chỗ đó tám trăm mét, ở đầu vào của đường băng hạ cánh có những bộ khung máy bay vẫn đang còn bốc cháy. Màn đêm vừa mới buông xuống thì cơn sấm sét của trận hoả lực tập trung đã đổ ập xuống cứ điểm Dominique. Cơn bão lửa trút xuống đó, ngọn núi giống như một miệng núi lửa đang hoạt động, từ các sườn núi những dòng nham thạch sôi sục chảy dài. Lúc 21 giờ, ngài Dejean đến Hà Nội. Navarre có vẻ ít đăm chiêu hơn buổi sáng và Cogny báo cáo tình hình với cao uỷ. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:47:37 pm Ngày 16 tháng ba 1954 Ở Điện Biên Phủ, lợi dụng một đêm tương đối yên tĩnh, những người Thái trong cứ điểm Anne Marie đã đi thành từng đám đông ồ ạt bỏ về nhà, xuyên qua phòng tuyến của đối phương, họ bỏ lại vũ khí, đạn dược và đồ tiếp tế. Trong số họ, những ai không dám bỏ đi vì khiếp sợ Việt Minh hơn là các khẩu đại bác, bèn kéo đến hầm chỉ huy để ấn nấp; cả một đại đội kéo nhau rút về cứ điểm Huguette. Do vì điểm tựa này không còn giữ được nữa, người ta điều số quân còn lại sang cứ điểm Isabelle. Đứng trước tình hình bi thảm của bệnh viện, theo yêu cầu bác sĩ Grauwin và theo lệnh dứt khoái của tổng chỉ huy, đại tá De Castries đưa ra một lời đề nghị ngưng chiến. Lo sợ rằng đối phương có thể đọc thấy ở đây một lời thú nhận yếu kém, ông ta trao trả cho Việt Minh những tù binh bị thương của họ. Một thông báo được phát đi nhiều lần trên sóng vô tuyến: "Gửi bộ chỉ huy quân đội nhân dân đang vây hãm. Chúng tôi báo cho các ông biết rằng hai mươi thương binh của các ông sẽ được khiêng trên cáng tới bản Ban, tối nay, lúc 22 giờ. Các nhân viên cáng thương sẽ không mang theo vũ khí. Sẽ không có bất kỳ hoạt động nào, bất kỳ hỏa lực nào trong khu vực này cho đến tận nửa đêm". Trên đài phát thanh của chính phủ, Việt Minh trách cứ viên tổng chỉ huy và Paris về cuộc ngưng chiến giả tạo ngày 14 tháng ba nhưng sẽ tới địa điểm đã hẹn và tiếp nhận số thương binh của mình. Đứng bên trên căm hầm sở chỉ huy, Castries nói với phóng viên nhiếp ảnh Daniel Camus: - Này chú bạn nhỏ của tôi, anh đến đúng lúc đấy. Nếu như họ lại tấn công đêm nay, tất cả sẽ đi tong. Daniel Camus, mới hai mươi tuổi đầu, hốt hoảng. Anh đã thổ lộ chuyện này với các đồng nghiệp, nhưng liệu ai có thể tin anh? Có lẽ Camus đã không hiểu hoặc đã nghe lầm một câu nói đùa gở của De Castries. Đại úy Noël, trưởng phòng Nhì của Castries nghĩ rằng quân Việt đã tiêu hao tất cả số đạn dược của họ và rằng vụ việc đang kết thúc. Đi tong, làm thế nào người ta có thể đi tong với tiểu đoàn dù số 6 mà bốn mươi hai chiếc Dakota thả xuống khu vực cứ điểm Isabelle cùng một lúc với lực lượng tăng viện cho tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 và đội xung kích số 8. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 tiếp đất giữa làn đạn súng cối, đó là Bigeard, cái tên này vang lên trên tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Bigeard có mặt, đội quân đồn trú ngẩng đầu lên. Tiểu đoàn của anh đã nhảy dù xuống lúc 15 giờ, tại cứ điểm Isabelle. Bước đi tập tễnh, bởi lẽ anh bị rách bắp chân trong trận Séno, tay cầm một cây gậy to tướng, anh bước vào cứ điểm Isabelle, xin một chiếc xe Jeep để chạy về Điện Biên Phủ. Vết thương tạm thời này làm anh tức tối. Đầu đội mũ sắt, theo sau có cơ quan tham mưu bé nhỏ của mình, anh tới trình diện với trung tá Lalande, người đội mũ sắt tiếp anh trong căn hầm. Một xe Jeep ư, vào lúc chẳng một ai thò đầu ra ngoài? Theo Bigeard, phóng xe sẽ tránh được đạn súng cối tốt hơn là đi bộ. Bằng cách đó, chạy ngoằn ngoèo từ đại đội này sang đại đội khác, anh tới khu trung tâm vào lúc 17 giờ để chào đại tá De Castries. - Chú Bruno của tôi, Castries bảo anh, tôi hài lòng được gặp chú. Bruno, đó là mật danh tác chiến của Bigeard lần đầu tiên anh sử dụng khi anh nhảy dù vào tháng tám năm 1944 ở vùng Ariège, và anh giữ cái mật danh đó kể từ lúc ấy. Ở trong Sở chỉ huy, Bigeard nhăn mặt. Ở đây, bao trùm một khung cảnh u ám, cau có, điệu bộ, mà anh không ưa. Cuộc gặp gỡ với Langlais lạnh nhạt: hai viên sĩ quan không quen biết nhau và ngay cái nhìn đầu tiên đã không thích nhau. Bigeard lại trèo lên xe Jeep của mình phóng tới tận chân ngọn đồi Eliane 4. Tin đồn nhanh chóng lan truyền là Bigeard có mặt; một vài người đã thoáng nhìn thấy khuôn mặt nhìn nghiêng sắc nhọn và đã nghe thấy những tiếng quát mắng và những câu nói thô tục của anh. Đại úy Capeyron và tất cả số sĩ quan cấp dưới, trung sĩ Sammarco và tất cả số hạ sĩ quan nhắc lại với nhau là công việc sắp đổi sang một chiều hướng khác. Đêm nay, nếu đối phương tấn công, Bigeard sẽ trả lời. Trên toàn xứ Đông Dương người ta biết Bigeard là ai. Người ta biết vầng trán cao, mái tóc hoe vàng cắt kiểu bàn chải, khuôn mặt nhìn nghiêng của con chim mồi, tính độc lập hay ngờ vực, đôi bàn tay thợ cứng cáp, bao giờ cũng có vết xước của anh. Người ta có thể ghét anh, nhưng mọi người đánh giá cao anh. Nóng nảy và sôi sục dưới một vẻ bề ngoài bình thản, anh không thể nào ngồi im một chỗ. Trong xứ sở của anh, ở đó người ta nói rằng mỗi người đều tự tin, anh trở thành một ông hoàng mà tâm hồn thép và tình cảm yêu thương được biết đến: ở con người còn giữ lại từ nguồn gốc của mình cách nói có phần dân dã, tính cao thượng đó là không bao giờ bỏ mặc các đồng ngũ. Trong mỗi câu chuyện huyền thoại, thật khó mà tách bạch được sự thật của chuyện hư cấu với tính xác thực của ảo ảnh; nhưng mà những huyền thoại chỉ gắn liền với những cuộc phiêu lưu lớn và những con người vĩ đại. Với dáng điệu của một con mãnh thú trong chiến trận, Bigeard là một huyền thoại. Có những lúc, Bigeard từng nói về mình với người thứ ba. Đó là vấn đề anh tồn tại và nhìn thấy anh là ai, không hề khiêm tốn một cách giả tạo. Tính khiêm tốn chưa bao giờ là vũ khí của những người chiến thắng cũng như của những quái vật linh thiêng. Để giúp ích được cho anh, cần phải trở thành con tốt mà anh dịch chuyển tuỳ thích và phục tùng anh mà không sợ bị anh dẫm đạp dưới chân, khi mà cơn giận giữ trong việc chỉ huy khiến cho anh bước qua những nấc thang trung gian. Nhưng mà sau thắng lợi, phần thưởng mới to lớn làm sao? Botella, chỉ huy tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5 đã lao vào tay Bigeard và lập tức đặt mình dưới quyền chỉ huy của anh. Anh bảo Botella ngồi xuống chiếc ghế đẩu làm bằng gỗ hòm đạn, tại đó Bigeard, chân phải tháo khỏi chiếc ủng nhảy dù, qua máy bộ đàm chỉ huy một cách công khai bước di chuyển của các đại đội trong tiểu đoàn. Botella mang tới cho anh một bát súp nóng và buồn bã kể lại trận phản kích vào Gabrielle ngày 15 tháng ba, trong trận này Botella đã phải dùng chân đá để lôi từ các hố lên hàng trăm lính Việt Nam đã không còn muốn chiến đấu và rúc đầu xuống những chiếc hố đó. Buổi chiều Botella đã triệu tập các sĩ quan của mình và chỉ định những người mà anh giữ lại. Anh cũng yêu cầu họ làm như vậy đối với cán bộ và binh lính trong các đại đội của họ. Rồi anh bảo những người khác: "Các anh cút đi đâu thì đi. Tôi không muốn nhìn thấy mặt các anh nữa... ". Lạnh lùng dưới làn đạn pháo, người ta không còn biết chính xác đó là sự chăm chú, nỗi lo ngại hay là vẻ diễu cợt đã kéo căng khuôn mặt dài của anh, Bigeard đăm chiêu: Những gì anh trông thấy làm anh vô cùng sửng sốt. Một cái khe khá rộng, hai bên là ruộng lúa, chạy vòng quanh mỗi mỏm đồi của cứ điểm Eliane, nhưng phần lớn tầm nhìn về hướng nguy hiểm, hướng đông và đông bắc, bị che khuất, với khoảng cách tương đối ngắn bởi những mỏm đồi tròn mà giờ đây người ta gọi là núi Trọc và núi Ảo: đội quân đồn trú không chiếm giữ những mỏm đồi đó và quân Việt đang biến chúng thành các ổ đại liên. Không một người lính bộ binh nào nắm vững nghề nghiệp của mình lại chấp nhận bố trí gần các vật chướng ngại đến như vậy, không thể dùng hỏa lực của mình kiểm soát các điểm tiếp cận. Giờ đây Bigeard hiểu được điều gì đã thúc đẩy bộ chỉ huy bỏ trống các đỉnh núi: người ta muốn thu hút đối phương vào đó, với niềm tin chắc rằng, nếu như đối phương dám bố trí ở đó, người ta sẽ nghiền nát họ dưới những trận mưa lớn trái phá. Trong tư tưởng của tướng Cogny và đại tá De Castries, đó là nấm mồ chung người ta dành cho đám quân Việt nào dám mạo hiểm đến đó. Trái ngược với những dự đoán, quân Việt đã kéo đến, đã xây dựng hầm hào và không thật tin là đã hủy diệt được họ ở đó, lãng phí chỉ trong một ngày toàn bộ số đạn dược dự trữ để mong đuổi được họ ra khỏi chỗ đó. Niềm tin mù quáng về những khả năng phổ biến của pháo binh đã tạo ra những khoảng không gian rộng lớn trống trải nằm giữa Béatrice, Gabrielle và khu phòng ngự trung tâm, những khoảng trống trải đó, đối phương ào ạt kéo tới như một dòng thác lũ mà không một ai ngăn chặn nổi, chủ quan khinh địch đã đưa bộ chỉ huy đến chỗ lựa chọn những quan điểm siêu hình hơn là những tư tưởng sáng suốt. Trên cứ điểm Eliane 4, mọi việc đều phải làm. Binh lính người Marốc đã không đào hầm hào. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 bắt đầu bằng việc đào hầm hào để chui xuống đó ở mặt tây của quả đồi, mặt này khống chế dòng sông và để lại sườn dốc phía đông cho Botella. May thay, đêm hôm đó yên tĩnh. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:51:28 pm Ngày 17 tháng ba 1954 Navarre ban bố một bản nhật lệnh cho không quân để động viên nhiệt tình của họ. Nhưng những bản nhật lệnh dứt khoát nhất cũng không làm êm dịu được những điều kiện khai thác, chẳng làm thay đổi được gì về cự li, các hoàn cảnh thời tiết và các đặc tính của máy bay. Không quân Mỹ, không quân mạnh nhất thế giới, sẽ không bao giờ chấp nhận lao mình vào một cuộc phiêu lưu tương tự với một hạ tầng cơ sở không có đủ khả năng dẫn đường cho các máy bay, từng chiếc một, để hướng họ tới các đường băng. Phía bên trên khu địa hình phức tạp của vùng đất ngăn cách Hà Nội với Điện Biên Phủ, thường xuyên bị các cơn giông phủ kín, không có bất kỳ phương tiện chỉ đường nào. Trên khoảng hai trăm kilômét, các phi công bắt buộc phải dựa vào những phán đoán của bản thân họ, thậm chí không có một đài ra đa hay một cọc tiêu vô tuyến nào để bám theo hay điều hành chúng. Nếu như Navarre không biết là cả một hạm đội không hoạt động như một con tàu riêng lẻ, điều dốt nát đó là có tội và nếu như ông biết vấn đề đó thì việc coi thường, không sử dụng không quân gần như là hành động điên rồ. Để tiếp tế cho một khu lòng chảo, ở đó mỗi phi công, quá thường xuyên, buộc phải nhắm mắt lao xuống thì việc vật lộn với những đám mây trong một khoảng không gian bão hoà, riêng nó đã đòi hỏi nhiều sức lực. Ấy vậy mà, không thấy có việc viên phó tướng của Navarre, mặc dầu là phi công, đã bao giờ nêu ra ý kiến nhận xét dù là nhỏ nhất đối với những ý tưởng vĩ đại của ông chủ cũng như việc viên tư lệnh không quân ở Đông Dương chưa bao giờ nghĩ tới việc phản đối một nhiệm vụ mà phương tiện của mình không thể nào hoàn thành. Khi đã dám, người ta chỉ đành lòng nêu ra ý kiến để đề phòng. Như vậy là biểu hiện yếu đuối của các cấp dưới và nỗi bận tâm của họ không làm mất lòng những con người vĩ đại mà họ phục vụ đôi khi dẫn đến những sai lầm không sao sửa chữa nổi. Nếu thế, thử hỏi Navarre có thể mong muốn động viên mức độ nhiệt tình nào đối với mạng lưới không quân nếu như ông không biết rằng máy bay, cũng giống như các đoàn xe lửa cần phải có đường ray để tiến lên. Ngày hôm đó, trên vùng đồng bằng. thời tiết khá lên và các máy bay ùn ùn kéo tới Điện Biên Phủ, ở đó một chiếc Morane cuối cùng, cho đến giờ đã thoát được cuộc tàn sát, bốc cháy. Trên những căn cứ hoả lực mới của quân Việt và trên những vị trí của Béatrice và Gabrielle, bom trút xuống như mưa và những cuộn mây đen của napan cuộn lên không trung. Nếu có tình huống một chuyến bay hạ cánh, nhân viên không quân giải tỏa đường băng và sửa lại các tấm ghi sắt bằng những phương tiện gặp chăng hay chớ. Một chiếc trực thăng, được sửa chữa để bay được, cất cánh. Từ rạng sáng những chiếc Dakota thả đạn dược và thực phẩm xuống. Những hình chữ thập đỏ to tướng sơn trên vỏ ngoài, được các thông báo nhắc đi nhắc lại trên mạng vô tuyến của Việt Minh, một phi công máy bay cứu thương thử tìm cách đỗ xuống, nhưng hoả lực súng cối dữ dội tiếp đón anh ta buộc anh ta lại phải tăng ga. Trong khu bệnh viện, đạn pháo nổ tung trước mặt các căn hầm, trong gian phòng sơ cứu và trên cái đống khổng lồ xác người của nhà xác. Những mẩu thịt thối rữa bắn vung khắp nới. Giữa hai loạt đạn, các thương binh lấy hết can đảm trèo lên các xe cộ tới thu gom họ. Chiếc Dakota quay lại, lăn được bánh trên đường băng và lúc người ta chưa dở hết những hòm huyết tương được chuyển tới, thì đạn pháo lại bắn. Ba mươi hai con người chen chúc trong khoang máy bay, nữ chủ nhân trên máy bay đã giúp họ leo lên. Một số khác tuyệt vọng bám vào cánh đuôi máy bay, và trong lúc máy bay lao lên, bị luồng gió cánh quạt gạt ngã và ném xuống mặt đất. Được đại úy Cornu, lúc này đã ngồi vào trước các cần điều khiển, giúp đỡ, trung úy De Ruffray cất cánh được bảy trăm mét thì một quả đạn pháo bắn trúng khu vực tập trung hàng hoá ở dưới đất. Quá nặng, khó vượt qua được các đỉnh núi, máy bay bèn bay tới Mường Sài, trút bớt lại một bộ phận đồ tiếp tế không đổ xuống được Điện Biên Phủ và lại cất cánh bay đi Hà Nội, nhưng các thương binh nặng nhất đã không được chuyển đi và chỉ những người gần như khoẻ mạnh là có thể dùng hành động vũ lực để trèo được lên máy bay. Ngay lúc tảng sáng, Castries đã cho chiếm đóng lại phần còn lại của Anne Marie. Những mỏm đồi phía bắc đã bị mất và thiếu tá Clémençon, chỉ huy tiểu đoàn ngoại quốc số 2 trên cứ điểm Huguette, nhận cả các trận địa phòng ngự phía nam và mở rộng về hướng tây đến tận cứ điểm Françoise. Trên cứ điểm Gabrielle, giám sát trục đường cất cánh, Việt Minh vội vã bố trí các cụm pháo cao xạ và ken đầy các khẩu pháo 37 và các khẩu đại liên vào các vị trí mà binh lính Thái bỏ lại. Người ta thừa nhận rằng các loại máy bay kể từ nay chỉ có thể hạ cánh và cất cánh ở Điện Biên Phủ vào ban đêm, với khả năng gặp nhiều nguy cơ trúng đạn. Ba ngày sau khi trận tấn công mở màn, và ngược với mọi dự kiến, Điện Biên Phủ bị tước mất cây cột chống đỡ tốt nhất. Từ 11 giờ 30 phút đến 12 giờ 10 phút, Cogny bay lượn trên tập đoàn cứ điểm bằng chiếc Dakota riêng, nhưng đạn pháo bắn phá đường băng và viên phi công của ông không chịu hạ cánh. Cogny không thấy mình có tư cách để bắt anh ta làm việc đó và quay về Hà Nội. Ông gạt bỏ ý nghĩ mượn một máy bay mang ký hiệu "Hồng thập tự”, mà đề nghị tướng Dechaux dành cho ông một máy bay có thể quay lại Điện Biên Phủ trong đêm và thông báo với Castries việc ông sắp tới đó. Buổi chiều, tướng Dechaux từ chối cung cấp máy bay cho Cogny, người đã có lúc nghĩ phải tìm con đường khác và đề nghị Navarre áp đặt cái lệnh đó. Nhưng mối lo ngại bị tắc nghẽn ở Điện Biên Phủ, cách xa vùng đồng bằng mà ông chịu trách nhiệm, đã nhanh chóng thúc đẩy Cogny từ bỏ dự định đó. Lòng dũng cảm của Cogny chưa có một ai nghi ngờ, người ta thường nhìn thấy ông có mặt ở nơi mà các viên tướng không có thói quen đi tới và ông hình dung ra điều mà sau này người ta có thể trách cứ ông. Ông phải tìm được cách đến với đội quân đồn trú bị vây hãm, để lên dây cót tinh thần cho nó, khắc phục những sai lầm phạm phải, và động viên Castries, có vẻ cũng bị hốt hoảng như viên tham mưu trưởng của mình. Nếu như Điện Biên Phủ, như người ta lo sợ, bị thất thủ trong vài tiếng đồng hồ, liệu có nên cung cấp cho đối phương cơ hội để bắt sống được viên tư lệnh các lực lượng ở Bắc Kỳ chăng? Ngày hôm đó, Cogny biết đến một hoàn cảnh tâm lý khiến cho ông đau xé lòng đến rơi nước mắt. Nhưng nước mắt làm cho người ta mù quáng và những hoàn cảnh tâm lý chỉ có giá trị khi chúng được giải quyết. Cogny giải quyết hoàn cảnh của mình: mọi người đều nhắc ông rằng vị trí của ông không phải là ở Điện Biên Phủ nên cuối cùng ông cũng tự thuyết phục về chuyện đó và như vậy, nghe theo điều có lí, ông đã bỏ lỡ cơ hội đẹp nhất trong cuộc đời binh nghiệp. Phải, rằng như thường lệ ông đã vi phạm kỉ luật và những lời nhắc nhở để nhảy dù ở Điện Biên Phủ cùng với người thay thế đại tá De Castries? Điều đã không thúc ép ông lao xuống Điện Biên Phủ đó là Điện Biên Phủ không phải là tác phẩm của ông, mà là của Navarre. Nếu là tác phẩm của ông thì ông đã bảo vệ nó một cách điên cuồng, trong lúc đó ông do dự mạo hiểm tính mạng vì Navarre và cứ mặc cho người ta giả định rằng có lẽ ông tự cho là mình phải chịu trách nhiệm. Về phía mình, Navarre còn đợi gì mà không nhảy lên một máy bay, bay lượn trên tập đoàn cứ điểm và trực tiếp ra các mệnh lệnh cho Castries và Langlais, giống như De Lattre đã từng làm? Số phận của Điện Biên Phủ đã không bị nguy khốn. Thất thủ do những sai lầm trong việc đánh giá phân tích của một viên tướng, Điện Biên Phủ có thể được cứu vãn bởi đòn đánh tài năng của viên tướng khác - Cogny trở thành người anh hùng và thủ trưởng duy nhất. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:53:22 pm Ngày 18 tháng ba 1954 Tách ra khỏi đội ngũ những chiếc Dakota đang lượn vòng từ lúc tảng sáng, trung úy Biswang bổ nhào xuống đường băng, tiếp nhận hai mươi ba thương binh và cất cánh dưới màn hoả lực, len lỏi giữa các hố đạn pháo. Phía sau anh, thiếu tá Drake thử làm tương tự; ông ta đã hạ cánh được thì vừa lúc cuộc bắn phá lại tiếp tục, bắt buộc các xe cứu thương phải lùi ra xa, và thiếu tá đành cất cánh chiếc máy bay trống rỗng, đạn súng cối bao bọc xung quanh. Viên bác sĩ đi theo nữ chủ nhân của máy bay bị thương nặng, và máy bay bị thủng lỗ chỗ đến hai mươi chỗ. Tuy nhiên trên những chiếc Dakota có sơn ký hiệu "Hồng thập tự” chỉ có phi hành đoàn, các nữ y tá hộ tống và các hộp huyết tương. Vả lại không chỉ có các thương binh tìm cách nhảy lên máy bay mà còn có cả một nhà báo quân sự, lạc lõng đến đây, các phi hành đoàn của những chiếc máy bay bị phá hủy và số sĩ quan mà Castries buộc phải cách chức vì bất lực. Cho đến lúc này, chỉ có Việt Minh là quen thạo với hoả lực. Trước mối đe dọa của thần chết, nỗi khiếp sợ làm người ta tê liệt,những khuôn mặt tái mét, những thân hình run rẩy, tinh thần và thể xác đều rã rời. Duy nhất, những ai có tinh thần cứng cỏi thì đề kháng được với sự hoảng loạn và không để lộ ra ngoài tâm trạng sợ hãi mà họ cũng cảm thấy như những người khác. Kể từ ngày 13 tháng ba, thời gian trôi qua ở Điện Biên Phủ là thời gian của sự thật: con người bộc lộ rõ thực chất của mình, chứ không phải là vẻ bề ngoài giả tạo và những cá tính đối chọi với nhau. Trên đồi Eliane 4, Bigeard gặp một sĩ quan của mình được Langlais gọi tới. Anh bảo người kia quay lại rồi tay cầm cây gậy chống, chân đi cà nhắc, Bigeard vất vả đi xuống chân đồi, về tới sở chỉ huy, mặt tái đi vì tức giận. Langlais can thiệp vào cái gì đây? Phải chăng ông ta không biết rằng chính Bigeard là người chỉ huy tiểu đoàn dù thuộc địa số 6? Hai viên sĩ quan va chạm với nhau dữ dội đến mức Langlais nắm tay đấm vào thanh xà ngang đỡ trần hầm và nói: - Hãy đập đầu chúng ta vào đây này. Rồi để xem trong hai chúng ta ai là người có hộp sọ rắn hơn! Lúc đó cả hai cười phá lên và bắt tay nhau. Gầy gò, xương xẩu, căng thẳng, khuôn mặt khô khan và như tạc bằng đá phiến, mái tóc cắt ngắn, đôi mắt dữ dằn, những đứa con trai của bà mẹ DŨNG CẢM, giống như rất nhiều những người đang đánh nhau ở đây, họ cảm thấy những vấn đề bạo lực và những tình cảm thương mến đột ngột của những con người sẵn sàng chết cho những lý tưởng cao cả. Langlais dẫn người bạn mới Bigeard đến bệnh viện, ở đó bác sĩ Grauwin tiêm cho Bigeard một liều thuốc tê mạnh vào động mạch đùi để giảm đau cho anh. Đứng vững, giờ đây không chỉ còn là chuyện có ý định hay là tuyên bố đứng vững, mà là trước các đòn đánh, không hề nao núng. Trung sĩ Sammarco được thay phiên canh gác chiếc quan tài của Gaucher, miệng không ngớt chửi thề trong lúc đi thu nhặt những hòm đạn pháo và hòm thực phẩm rơi lạc vào hàng rào dây thép gai. Sống bên cạnh những xác chết mùi hôi đã lan toả khắp trận địa, cuộc sống đột nhiên trở nên vô giá và để ngăn chặn việc chất đầy những tử thi trong một khu nhà xác mà người ta đã dự tính diện tích một cách đáng nực cười, cũng như mọi việc khác, Castries ký một công văn, ngắn gọn và tàn nhẫn: "Kể từ nay, những người chết trong chiến đấu sẽ được chôn tại chỗ". Những khu nghĩa địa, ở đó những bọc hàng được thả dù xuống như mưa, không còn có ý nghĩa gì nữa, những chiếc quan tài thậm chí giờ đây không chỉ còn dành riêng cho các sĩ quan và không có vấn đề hi vọng rằng các máy bay một lúc nào đó có thể chuyển những xác chết không còn cấp hàm về Hà Nội, khi mà những thương binh thiếu thốn đủ mọi thứ và rằng tình thương không còn đủ để cứu chữa cho họ nữa. Những quả đạn pháo 105 đã chôn vùi những thương binh nằm trong những căn hầm tạm bợ của gian phòng sơ cứu. Cha tuyên úy Heinrich vuốt mắt cho các tử thi và đọc những lời xá tội. Nếu không có cây thánh giá bằng bạc đeo trước ngực, người ta đến phải nhầm đức cha là một sĩ quan lê dương bởi vầng trán hẹp, mái tóc cắt ngắn kiểu cua, khuôn mặt có phần đầy đặn của một người sống khá giả. Grauwin muốn phát khóc. Khung cảnh đáng sợ của những thân hình gẫy nát và những đầu người đứt lìa làm cho anh vừa ghê sợ vừa tức giận. Để quay về căn hầm của mình nghỉ ngơi vài tiếng đồng hồ, anh phải bước qua từng đống tay chân đã cưa cắt. Không chịu chấp nhận cái số phận người đời, anh động viên các y tá của mình, rồi đề nghị và được các cơ quan công binh làm cho những căn hầm mới mà sở chỉ huy từ chối, anh yêu cầu có thêm máu và thuốc Pênixilin mà các máy bay thả dù xuống cho anh. Cùng với anh bạn Gindrey, Grauwin mổ xẻ, cưa cắt các đoạn xương, gỡ rối nhiều mét ruột, khâu kín các vết thương lồng ngực, cho sơ tán hàng trăm xác chết đã đầy ứ trong hố nhà xác và cho ngụy trang khu bãi đỗ của trực thăng, các mái nhà ăn và phòng ngủ. Những chuyến xe tải với những gói hàng rùng rợn, vo ve từng đàn nhặng xanh to tướng, mang các xác chết đó đi chôn trong những chiếc hố do xe ủi đào lấp. Việt Minh vô nhân đạo và dã man ư? Ai tôn trọng các luật lệ chiến tranh và ai vi phạm chúng đây? Thật dễ dàng để giữ bộ mặt thản nhiên, lạnh như đá khi các máy bay khu trục nã đại liên trong rừng, nhằm vào những đoàn dân công và y tá khiêng những chiếc cáng tre, trên có phủ những tấm nilông đang chuyển các thương binh của họ về các bệnh viện ở hậu cứ; nhưng trong con tim lại dâng lên nỗi ghê tởm các pháo thủ quân đội nhân dân mỗi khi có máy bay mang ký hiệu "Hồng thập tự” bị trúng đạn. Trước mặt tôi, tướng Giáp đã nói rằng không bao giờ hạ lệnh như vậy, nhưng ông cũng không nói là đã ban bố cái lệnh ngược lại. Ông tiến hành chiến tranh. Và Langlais, chính bản thân ông ta cũng thú nhận nếu như người ta cho ông lựa chọn giữa việc đưa một tiểu đoàn tăng viện tới với việc sơ tán thương binh thì ông cũng sẽ lựa chọn việc sơ tán. Những chuyện ghê tởm cộng vào đó là những việc làm bỉ ổi trong chiến tranh vốn cam đoan rằng quân Việt đã sai lầm khi giả định là chúng ta có thể xuyên tạc những công ước quốc tế nhằm vào những mục đích của chiến tranh? Tướng Cogny, vì danh dự bản thân, đã từ chối không trèo lên một máy bay cứu thương khi mà sân bay Điện Biên Phủ đã bị pháo binh đối phương phong toả. Điều đó chứng tỏ rằng cái phương sách này người ta đã nghĩ tới. Người ta ép buộc bác sĩ Grauwin phái chở lính lê dương và vũ khí trong những xe cứu thương của anh ấy. Nếu như quân Việt, những đài quan sát của họ vốn ghi chép mọi động thái bên trong tập đoàn cứ điểm, tự bản thân họ trông thấy là viên thiếu tá Keller, tham mưu trưởng của đại tá De Castries, được bốc đi khỏi Điện Biên Phủ trên một chiếc trực thăng có sơn ký hiệu "Hồng thập tự" và người kế nhiệm ông ta tới Điện Biên Phủ cũng bằng cách ấy, cũng giống y như trung tá Lemeunier, người đã tình nguyện đến thay thế Gaucher, thì chúng ta có thể nghi ngờ những lời viện dẫn ở trên. Không phải là từ phía Việt Minh mà là từ chính phía chúng ta. Tôi biết được những câu chuyện đó mà cương vị và nhân cách của những người cung cấp thông tin cho tôi không có gì phải bàn cãi, nếu không tôi đã không chú ý đến vấn đề này. Điều còn lại là quân Việt đã có những lý do để không dành cho chúng ta một lòng tin tuyệt đối bởi lẽ đánh lừa đối phương là quy luật đầu tiên của chiến tranh. Tại sao lại né tránh vấn đề những cuộc tấn công các máy bay cứu thương? Trong mọi cuộc chiến tranh, ở cả hai bên đều có những người quân tử và những kẻ tiểu nhân và việc cần thiết để cứu vãn người quân tử đó là tố giác những kẻ tiểu nhân. Bản thân Langlais thú nhận rằng trách nhiệm gây ra nỗi đau đớn của các thương binh, ít thuộc về một đối phương không chịu mềm lòng mà phần nhiều là thuộc về một bộ chỉ huy đã không biết tổ chức cơ quan quân y của mình cũng như không dự kiến những khó khăn mà cơ quan quân y ấy có thể gặp phải. Điều gì vẫn còn bị che giấu thì nó sẽ tố cáo sự thật và chính là để bào chữa mà cần phải nói cho hết. Tướng Giáp muốn gì đây? Phong toả đường băng sân bay để bóp nghẹt tập đoàn cứ điểm; ở Stalingrad cũng thế, quy tắc này cũng không bị ngoại trừ. Hoàn toàn không có tác dụng bảo vệ nào cả, khi quân Việt về phía họ, giương lá cờ Hồng thập tự lên, lá cờ ấy vẫn cứ bị bắn phá. Giáo sư Tôn Thất Tùng, người chỉ huy cơ quan phẫu thuật của Việt Minh kể lại với tôi rằng một thương binh cao lớn mà người ta không kịp sơ tán khỏi bệnh viện ở Thiện Hòa đã bị trung đội của Kergavérec ném xuống sông. Đối với tôi, tôi không lấy làm hổ thẹn về những điều người ta kết tội chúng ta nếu như ở Điện Biên Phủ đột nhiên không còn những sĩ quan dũng cảm không hề biết trách móc ai và những thầy thuốc anh hùng cùng với những con người khốn khổ, mà họ chẳng có gì trên đời ngoài cuộc sống và danh dự của một con người. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 03:58:10 pm Ngày 19 tháng ba 1954 Khắp nơi, cứ từng mét một, các giao thông hào của quân tấn công gậm nhấm dần tập đoàn cứ điểm, tràn qua Dominique 1 từ hướng tây bắc và Eliane từ hướng nam vươn tới Dominique 2, vẽ một đường lưỡi liềm bên trên Isabelle vây hãm Huguette và Claudine. Hàng ngày các bức không ảnh cho thấy nhiệt tình thể hiện trên các công trình: đối phương biết rằng chiến thắng nằm ở phía đầu mũi của những cái xẻng và những cái cuốc. Những người sử dụng số cuốc xẻng đó, thử hỏi họ lấy đâu ra được tính kiên nhẫn và sức lực của những người anh hùng để giúp cho họ xây dựng một trận địa chống lại xe tăng, đại bác và máy bay của phương Tây? Người ta không ngớt nhắc đi nhắc lại với họ rằng nếu như họ đánh đổ dược chế độ mà những "ông Tây" nuôi dưỡng, mọi việc sẽ theo đó xuất hiện. Những cánh đồng được cầy bừa và gieo hạt qua biết bao lần để làm giàu cho giai cấp đại địa chủ, sẽ thuộc về họ, họ sẽ loại bỏ được những người đã bóc lột họ, con cái của họ sẽ được tới trường chứ không phải chịu cảnh nghèo khổ, cái cảnh sống cho đến lúc này truyền từ đời cha đến đời con của họ. Không phải là không có lí do mà trong bản nhật lệnh trước ngày mở màn trận đánh, tướng Võ Nguyên Giáp đã nhắc lại với đội quân nông dân kháng chiến mà ông chỉ huy rằng chiến thắng sẽ mở đường cho thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất. Quân đội của Việt Minh là quân đội của những người nông dân quyết lâm giành lấy ruộng đất của họ và trong nhiều năm dài, nếu cần thiết, gắn chặt với ruộng đất như với máu thịt của họ, hoà trộn với ruộng đất lúc sống cũng như lúc chết, hoà làm một với cây cối, bùn lầy và phân bón trong các ruộng lúa. Làm thế nào mà phương Tây lại đi ngoan cố nuôi dưỡng một chế độ phong kiến và một chính quyền ăn hối lộ mà không nhìn thấy việc xây dựng quyền bá chủ của mình đã bị mọi người căm ghét. "Còn gì phản bội lại những truyền thống của chúng ta hơn nữa khi mà ở đây chúng ta không phải là những chiến sĩ giải phóng cho nhân dân, giảm nhẹ những gánh nặng cho nhân dân, nâng cao trình độ cho họ, ngược lại chúng ta lại là chỗ dựa cho những kẻ áp bức, chúng ta đã tăng gấp đôi gánh nặng và chia sẻ lợi nhuận với bọn đó, những lợi nhuận nhờ vậy càng to lớn gấp bội!...". Chính là bằng lời buộc tội này, được nhắc lại với viên chỉ huy đội quân tiễu phạt Lyautey, vừa mới đổ bộ tới cơ quan tham mưu của đạo quân chiếm đóng xứ Bắc Kỳ, vào tháng mười một năm 1894, mà vị đại diện chính phủ Pháp bên cạnh quốc vương An - Nam đã đệ đơn xin từ chức lên ngài toàn quyền Lanessan, con người quyết tâm ủng hộ đám quan lại chống lại các chính sách cải lương. Nửa thế kỷ sau đó, chẳng có gì thay đổi hoặc là gần như vậy, và nhân dân gọi là "Bảo Đại ", tờ giấy bạc một trăm đồng cần thiết để có được mỗi khi cần dù chỉ là một tờ thông hành. Ai đã có ý tưởng chấm dứt chuyện đó? Một vài nhà chức trách người Pháp được cơ quan cấp trên của mình khuyến khích một cách yếu ớt. Và Bác Hồ, mà tất cả những người nghèo khổ đều cầu mong sự nghiệp của Bác giành được thắng lợi, để cho các cô gái không còn phải đi làm tiền và những chàng trai không còn phải đi làm bồi nữa. - Ai nghĩ tới chiếc xe kéo tay đầu tiên nhỉ? - Người ngoại quốc giàu có, người ngoại quốc giàu có. - Ai nghĩ tới việc nhảy xuống hồ bơi nhỉ? - Người ngoại quốc giàu có, người ngoại quốc giàu có chăng? - Người Trung quốc khốn khổ, người Trung quốc khốn khổ? Bài hát dân gian của Thượng Hải đã vượt qua các đường biên giới. Chiến đấu ở Điện Biên Phủ, đó là muốn đứng chân trên mảnh đất của tổ quốc mình mà không bị lũ sen đầm, cảnh sát và binh lính của một đạo quân ngoại quốc làm nhục. Chết ở Điện Biên Phủ đó là hi sinh tính mạng của mình cho cái ông già láu lỉnh có học và biết làm thơ, giờ đây là Bác Hồ, trong lúc đó đức vua Bảo Đại đang đi săn hổ ở Đà Lạt cùng với các viên tướng Pháp. Dưới mái căn hầm bệnh viện ở đó bác sĩ Grauwin cưa cắt các cẳng chân, và mở các lồng ngực để cứu sống những con người, nỗi đau đớn mang cùng một mùi vị của máu và nước mắt như ở phía đối diện, nhưng không còn ai có thể ngăn cản các khẩu pháo của Việt Minh bắn vào các dấu hiệu Hồng thập tự, cũng như những thân hình rách nát của những binh sĩ thuộc đạo quân viễn chinh: cần phải thắng trong một trận đánh không khoan nhượng và đạo quân trong nhiều năm dài đã bị nghiền nát dưới những quả đạn pháo Mỹ và những trái bom napan, đạo quân ấy không thể nào nhẹ tay với đối thủ bởi vì số mệnh của vũ khí đã thay đổi phòng tuyến rồi. Ngày 22 tháng ba 1954 Ở Washington, thực hiện nhiệm vụ mà chính phủ Pháp giao phó, tướng Ely đã nhận được rất nhiều mối thiện cảm từ phía đô đốc Radford, tham mưu trưởng liên quân, và các sĩ quan cấp tướng của Mỹ. Chánh văn phòng của tướng Ely là đại tá không quân Brohon, người mà sau khi học qua trường Staff College, đã sống bốn năm ở Lầu Năm Góc thường trực trong phái đoàn Pháp. Ngoài quyền lực tự nhiên, viên đại tá chánh văn phòng còn có tư thế duyên dáng và tính chính xác, những ưu thế đó, ông sử dụng trong việc nói tiếng Anh. Được sự giúp đỡ tích cực của đại tá chánh văn phòng, tướng Ely tập trung vào việc xua tan câu chuyện truyền thuyết mà niềm phấn khởi của tướng O'daniel đã tô vẽ cho Điện Biên Phủ, và thận trọng tỏ ý rằng có thể cần tới một cuộc can thiệp để cứu lấy đội quân dồn trú. Ngày hôm đó, một bức điện dài của ngài Dejean gửi cho bộ trưởng của mình cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình hình và nhấn mạnh việc ưu tiên cho những tăng viện về không quân. Ngài Dejean chỉ biết được rằng không quân Pháp ở mẫu quốc không có máy bay ném bom hay máy bay khu trục là máy bay cánh quạt. Trái ngược với những gì mà ngài Bidault mong muốn, tướng Ely không hỏi xin một tí gì với Lầu Năm Góc và kết quả của hành động khôn khéo cao độ này vượt quá những mong đợi. Sẵn sàng đánh bại ở Bắc Kỳ những người cộng sản vốn đã không bị đè bẹp ở Triều Tiên và quét sạch quân Việt tệ hại ra khỏi Điện Biên Phủ, nơi một ngày nào đó có thể trở thành căn cứ Triều Tiên chống lại Trung Quốc, đô đốc Radford chỉ chờ có một mệnh lệnh. Một tia sáng vui mừng ác độc đã lóe lên trong đôi mắt một vài thành viên vây quanh đô đốc. Ở Nhà Trắng, tổng thống Eisenhower nồng nhiệt tiếp kiến tướng Ely và giao cho đô đốc Radford áp dụng mọi biện pháp để giúp đỡ Navarre. Radford yêu cầu nán lại vài ngày và đưa cho ông một bảng câu hỏi viết thành văn bản và yêu cầu tướng Ely trả lời. Lúc đó đô đốc sẽ có căn cứ để đề nghị với tướng Ely một sự giúp đỡ cụ thể. Đô đốc Radford là một con người rắn rỏi, bước đi thoải mái. Người ta đều phải nói là ông có nước da sáng sủa và mềm mại, mái tóc ngả mầu hung đỏ và đôi mắt xám, luôn luôn ướt át, đôi mắt làm giảm bớt nét cứng rắn của khuôn mặt giống như những nhân vật trong các bức tranh của một hoạ sĩ xứ Flandres. Viên tham mưu trưởng liên quân của quân đội Mỹ, vừa là một sĩ quan hải quân vừa là một sĩ quan không quân toàn năng. Mềm dẻo, không biết mệt mỏi, lạnh lùng, ông đã chỉ huy hạm đội mạnh nhất thế giới ở Thái Bình Dương. Cương vị hiện nay ông có được, không phải là do cái chất đảng viên Cộng hoà cũng như việc ông tình cờ dắt dẫn Ike1 sang Triều Tiên, vào năm 1952 và chơi ván bài bridge với nó, mà là ở cái uy lực toát ra từ con người ông cùng tính sáng suốt của các quyết định của ông. Ông áp đặt uy lực đó bằng trí tuệ cũng như bằng dáng điệu, tư thế: đó là một thủ trưởng lớn. Đối với ông, vùng Đông Nam Á giống như vùng Balkans trong cuộc Thế chiến thứ nhất và kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên, ông đâm ra say mê đối với cuộc tranh chấp ở Đông Dương. Tướng Ely thấy ngạc nhiên trước sức mạnh và tính đúng đắn trong những đánh giá của ông về cuộc tranh chấp và về con người của các viên tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh. "Các ông đã thua trong cuộc chiến tranh Đông Dương vào năm 1952, đô đốc Radford nói, khi mà tướng Salan đã không dám lấn chiếm lại Lào Kay". Ông đã xếp tướng Salan vào loại người chờ thời và nhút nhát và buộc tội Salan đã không biết cách đào luyện ra một quân đội của người Việt Nam. Radford tự nguyện coi mình là người chiến sĩ bảo vệ thế giới phương Tây. Trước tiên, đô đốc nêu ra việc cấm kị sử dụng các máy bay Packet để thả bom napan, việc này do Lầu Năm Góc quy định và dành cho Navarre toàn quyền sử dụng các máy bay được cung cấp trong khối viện trợ của Mỹ. Và bởi lẽ tổng thống đã đồng ý, tại sao người ta lại không xoá bỏ cái ổ mối ở Điện Biên Phủ nhỉ? _______________________________________ 1. Ike: Đội quân Mỹ tham gia chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1952. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 04:05:08 pm 23 tháng ba 1954 Trong một lá thư gửi Cogny, đại tá De Castries nêu ra một ý tưởng đúng về tình hình và về bản thân mình: ông gánh chịu trách nhiệm. Vào thời kỳ đó, liệu ai là người có khả năng vực dậy một tài sản đã tan nát đến mức ấy? Ducournau, có thể giống như trong đời thường, một võ sĩ trên võ đài, luôn luôn giữ thế thủ, nhảy loi choi xung quanh đối thủ và sẵn sàng tung ra các nắm đấm giống như ông ta đã làm ở Nà Sản. Cũng chẳng phải Ducournau, Vanuxem, hay Gilles là những người chỉ huy Điện Biên Phủ mà là người kỵ binh Christian de Castries, bị chốt chặt trong pháo đài và chôn sâu trong sở chỉ huy của mình. Ông không có sáng kiến tung ra các đòn đánh bằng việc tập trung hoả lực và phương tiện của mình. Ông để mặc cho người ta ra đòn. Đến phải nói là trong con người ông, sức bật của chiếc lò so đã gẫy. - Như vậy đại tá De Castries có ích gì đây? Một sĩ quan cấp tướng trong phái đoàn thanh tra hỏi như vậy khi được biết việc tổ chức phối hợp phòng ngự, việc sử dụng pháo binh và các đơn vị dự bị đều được giao cho các cấp dưới của Castries. - Ông ấy chuyển các thông báo của chúng tôi về Hà Nội, Langlais trả lời không một chút ngập ngừng và thoáng vẻ diễu cợt. Nếu như ông ta đã đọc tập hồi ký của hầu tước De Fluquière1, Langlais hẳn có thể tìm thấy ở đó tấm gương của ngài De Calvo2, bị hoàng tử xứ Orange vây hãm ở Maastricht”.3 “Viên sĩ quan này, bản thân ông là một con người rất dũng cảm, suốt đời phục vụ trong đội kỵ binh, không có một kiến thức nào về tấn công cũng như phòng thủ các trận địa, đã tập hợp những sĩ quan chủ chốt của đội quân đồn trú, tuyên bố với họ rằng không biết tí gì liên quan đến công việc tác chiến này: ông bảo họ thỏa thuận với nhau cách thức làm thế nào để trận địa được bảo vệ là bảo cho ông biên làm thế nào cho thích hợp; rằng ông đã van xin họ hãy khẩn trương góp sức phục vụ cho lợi ích của nhà vua bởi vì mục đích duy nhất của ông là bảo vệ được trận địa, nói gọn lại, ông sẽ không bao giờ trao nó vào trong tay những kẻ thù của hoàng tử". Thử hỏi có ai là người dám kết tội ngài De Calvo vì những ý định cao quý và việc tự đánh giá một cách đúng đắn đến như vậy? Chỉ những ai chưa hề nếm mùi đau khổ của một thất bại mới có thể trách cứ ông ấy: tôi thì không thể làm như vậy. Chỉ những ai đã từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ mới được quyền phán xử ông ấy: tôi cũng chẳng phải là người có cái quyền đó. Nhưng những cương vị mà ông đang nắm giữ kể cả nếu như ông không mong muốn gì nắm giữ những cương vị ấy, bắt buộc Castries phải sống như người anh hùng hoặc là phải từ chức. Thực tế buộc ta phải nói rằng cả hai việc đó, ông đều đã không làm. Một người anh hùng là như thế nào? Một con người thể hiện những phẩm chất phi thường trước những hoàn cảnh nguy hiểm phi thường. Đó là chất thép đã tôi trong chiến đấu; có nghĩa là trong hoàn cảnh ghê gớm. Ai có thể tin, ngoại trừ một thói quen, người ta có thể đặt mua được chủ nghĩa anh hùng giống như trong tờ tạp chí "Hai thế giới"? Ai là người không chấp nhận rằng một vài người anh hùng và có thể gục đổ giống như những ngôi sao bóng đá trong một trận đấu tồi? Người ta có thể mệt mỏi trong quá trình thể hiện là người anh hùng và có ý định trở lại đứng trong hàng ngũ cùng với mọi người bình thường. Như vậy có thể là, kể cả khi bản thân ông ta không biết, có chuyện gì đó đã gục ngã bên trong con người Castries, nhưng không một ai có thể bác bỏ rằng ông chưa từng là một Castries trước đây, cũng như không một ai có thể trách cứ rằng ông không còn là con người ấy nữa, và điều duy nhất có thể làm là thương hại ông ấy. Nói cho cùng, ông chưa bao giờ tự coi mình là Charles de Foucaud.4 Nếu như ông chiến đấu, đó không phải để tìm đến cái chết mà là tìm cách gặt hái được những cấp bậc và vinh dự, những cái trống lắc của vinh quang, theo kiểu nói của Vigny5, với những tiếng trống đó người ta đưa binh lính tiến lên và ngã xuống. Là con người thích mạo hiểm hơn là con người làm việc có phương pháp, và với tính cách tự do, huênh hoang tự đắc quá mức cần thiết, Castries đã không được đào luyện cho một thử thách như vậy. Nhưng mà nếu thế, nếu như ông đã không theo kịp diễn biến của các biến cố và nếu như ông không đủ khả năng chỉ huy trận phòng ngự thì người ta còn đợi gì mà không cách chức ông? Không một ai dám áp đặt cho ông một hình thức kỷ luật như vậy, mặc dầu người ta đã nghĩ đến. Tin đồn lan truyền trong một lúc nào đó rằng đại tá Sauvagnac, chỉ huy trưởng các đơn vị quân dù của xứ Bắc Kỳ đã đóng nắp các vali của mình để tới thay thế De Castries, rồi lại mở vali ra. Trong đạo quân này, chưa một ai đã đọc sách của Montluc. Lúc sẩm tối, Tourret đi tới bệnh viện. Đứng trước chiếc bàn mổ, bác sĩ Grauwin mỉm cười rồi đột nhiên tỏ vẻ lo lắng. Người ta tìm đến anh là khi có chuyện gì đó không ổn. Có lẽ, anh nghĩ, do vì khu bệnh viện nay trở thành trung tâm của các nỗi đau lớn, cho nên đã mang hình ảnh của Chúa Jêsu trên cây thánh giá. Anh không biết rằng chính là bởi vì anh, Grauwin, hiện thân của lòng khoan dung, độ lượng. Không cao lớn bằng Bigeard, và cũng để phanh ngực áo như Bigeard, Tourret không có dáng vẻ một tay phá phách. Trên khuôn mặt nở nang này, với hai bên má và gò má rộng phẳng, đôi mắt cháy bỏng, buồn bã hơn thường lệ và những vết nhăn mới in hằn trên vầng trán. Grauwin trao các dụng cụ cho người trợ lý, tháo đôi găng tay cao su, dẫn Tourret sang căn hầm của mình và hỏi han. Tourret kể lại rằng Langlais đã buộc tội mình do thiếu cẩn thận đã gây ra cái chết của một vài người trong đơn vị bị đạn pháo bắn trúng và đã bắt anh chịu một hình thức kỷ luật nghiêm khắc. - Lúc này, Grauwin nói chẳng có ai làm chủ được thần kinh của mình. Câu chuyện này sẽ không đứng vững được đâu. Cậu đừng nghĩ đến nó nữa. Lại đây uống một tí gì nào. - Có thể Langlais có lý, Tourret nói. Nếu như tôi phải chịu trách nhiệm về cái chết của những anh em trong đơn vị tôi thì tôi không thể nào sống được nữa. - Thôi nào! Grauwin nói, bụng nghĩ đến tấm gương của Piroth. Tôi không thuyết phục cậu nữa. Cậu có muốn gặp cha Heinrich không? - Có, Tourret nói. Grauwin cho đi gọi cha tuyên úy và đẩy Tourret vào căn hầm của cha tuyên úy. Anh vất một chiếc dù lên mặt bàn, thắp một chiếc đèn bão, để một cuốn Kinh thánh ở chỗ nhìn thấy thật rõ. - Cậu nói đúng, anh nói. Tớ cũng xưng tội khi mà tớ không tin ở mình nữa. Và anh bước ra đúng lúc cha Heinrich nặng nề bước xuống hầm. "Tôi đã rình đợi lúc Tourret đi ra với nỗi lo lắng mà anh có thể đoán ra, sau này bác sĩ Grauwin đã nói với tôi như vậy. Nhưng khi nhìn thấy cậu ấy ra đi, tôi thấy an tâm. Cậu ấy hoàn toàn khác hẳn. Khuôn mặt cậu ấy rạng rỡ một niềm vui lớn. Tâm hồn cậu ta thanh thản". ____________________________________ 1. Fluquière: nhà ngoại giao người Pháp (1590 - 1640). Là đại sứ ở Đức, đã củng cố khối liên minh giữa Pháp - Thụy Điển và các hoàng tử theo đạo tin lành. 2. Calvo: Chính trị gia Tây Ban Nha, thủ lĩnh đảng quân chủ (1890 - 1935). 3. Maastricht: Thành phố của Phần Lan, nằm trên sông Meuse. 4. Charles de Fourcaud: Nhà thám hiểm và truyền giáo người Pháp - (1858 - l916). Đã phát hiện ra Maroc và truyền giáo ở sa mạc Sahara. 5. Vigny: Nhà văn Pháp (1797 - 1863) Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2008, 04:10:12 pm Ngày 24 tháng ba 1954 Trước 16 giờ một lúc, trong số các đơn vị tăng viện cho những tiểu đoàn quân dù, rơi xuống dưới chân đồi và hơi lùi xuống phía nam các mỏm đồi Eliane, có đại úy Alain Bizard, được bổ nhiệm về với đại úy Botella và là tiểu đoàn phó tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5. Cái chàng trai khoẻ mạnh, vui tính, nhạy bén và có văn hoá này là một kỵ binh vừa mới rời bỏ vị tướng mà anh là sĩ quan tuỳ viên, rời bỏ vũ khí truyền thống của mình, để lần thứ ba đến với các đồng ngũ trong đạo quân viễn chinh. Luôn luôn sẵn sàng bốc lửa với những cuộc phiêu lưu mạo hiểm nhất, chính Điện Biên Phủ và các đơn vị quân dù là nơi anh lựa chọn. Botella đã rất nhanh chóng xin cho anh về với mình, nhưng căn bệnh quan liêu đã phản đối việc một sĩ quan chưa tốt nghiệp trường đào tạo quân dù được điều động nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Trong có bốn ngày, ở Hà Nội, Bizard đã thực tập sáu lần nhảy dù, việc này đã giúp cho anh thực hiện được ý nguyện. Anh tới được Eliane 4 và sở chỉ huy tiểu đoàn đúng lúc chiếc Dakota của đại úy Koenig, bị trúng đạn pháo cao xạ, bốc cháy trên không trung rồi rơi xuống một ruộng lúa, nổ tung. Gặp lại người bạn Botella, Bizard cười lớn và bảo với Botella: "Này, tôi đây. Người ta sắp đưa các bạn ra khỏi đống phân này". Cha tuyên úy của cứ điểm Isabelle tự nhắc lại với mình lời cầu nguyện theo trình tự của buổi lễ trong ngày: "Xin Thượng đế hãy thương đến con, bởi lẽ con không có sức mạnh; xin chữa lành cho con, bởi lẽ bộ xương của con đã rệu rã và tâm hồn con đang cực kỳ xáo trộn". Trong văn phòng của mình nằm ở vòng ngoài của Lầu Năm Góc, đô đốc Radford đề nghị với tướng Ely một cuộc can thiệp bằng không quân vào Điện Biên Phủ. Cởi mở đối với những ai mà ông quen biết, dưới nụ cười máy móc của cuộc tiếp đón, Radford giữ vẻ mặt và cái nhìn lạnh lùng. Mặc dầu những khung cửa sổ ở mặt trước căn phòng tiếp nhận ánh sáng của ban ngày, những tấm rèm vẫn được kéo kín và các bóng đèn nê-ông sáng lóa. Mặc dầu tấm thảm trải sàn mầu xám nhạt và những đồ đạc bằng gỗ gụ truyền thống, gian phòng rộng với nhiều mô hình tàu chiến và máy bay giống như một phòng tác chiến loại sang. Từ nơi đây, hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài, người đứng đầu các quân chủng quân đội Mỹ đánh giá các biến cố của thế giới. Đôi mắt ướt nước nhìn vào tướng Ely để đánh giá phản ứng của ông, Radford nói rõ món quà của mình: khoảng sáu chục máy bay ném bom hạng nặng B.29, được hộ tống bởi năm chục máy bay khu trục của Hạm đội 7 Mỹ sẽ có thể nghiền nát quân Việt ở Điện Biên Phủ. - Bắt đầu từ thời điểm nào? Tướng Ely hỏi, khuôn mặt của ông chỉ thoáng chút tươi tỉnh. - Tôi sẽ nghiên cứu vấn đề, Radford đáp lời với thái độ tự tin của con người một khi đã có được sự lựa chọn, sẽ bám vào đó bằng bất cứ giá nào. Tướng Ely trở về đại sứ quán Pháp và bằng một bức điện mật báo động với chủ tịch hội đồng bộ trưởng rồi chuẩn bị bay về Paris trong tiết trời mùa xuân lạnh giá và ẩm ướt. Trong những cánh rừng của hòn đảo nước Pháp, người ta nghe thấy những tiếng chim cúc cu đầu tiên. Đầu óc tướng Ely day dứt bởi những ý nghĩ càng làm cho ông thêm giống như cái bóng của Don Jean, người được thưởng Bắc đẩu bội tinh, và khiến cho nước da của ông mang cái mầu nhợt nhạt của những thảm họa đang đe dọa. Những chiếc B.29 mà đô đốc Radford vừa đề nghị với ông, đó chính là cách nói chính thức, che phủ một tấm màn trong trắng cho việc ném xuống vùng núi non Điện Biên Phủ quả bom A, quả bom mười năm về trước đã buộc nước Nhật phải quỳ gối đầu hàng. Chiến dịch này còn chưa có tên gọi và tướng Ely không biết rằng mình quay trở về Paris với một con chim kền kền đậu trên vai1 Ngày 25 tháng ba 1954 Trong chiếc hố chiến đấu của mình, viên thiếu uý Thélot viết xong bức thư gửi cho người em trai: "Đại bác nhả đạn ít đi rất nhiều và đã lùi vào trong dãy núi, nhưng quân Việt ở ngay gần bên, trong khu lòng chảo. Từng thời gian, anh phát hiện được mấy tên qua ống nhòm. Bọn họ còn chưa sờ đến điểm tựa của bọn anh nhưng đã đến rải truyền đơn trên hàng rào thép gai. Viết thư cho anh theo hòm thư S. P.54640. Thư sẽ đến tay anh bởi lẽ đường thư tín vẫn luôn luôn hoạt động ở mọi khu vực, người ta thả dù thư tín cho bọn anh cùng với thực phẩm. Em động viên bố mẹ. Tinh thần ở đây cao chưa từng thấy. Anh thân thiết ôm hôn mọi người ". Tờ báo New York Times, trên năm cột báo cho đăng ảnh chụp các chiến binh của Điện Biên Phủ và một bài viết về đại tá De Castries "Người anh hùng của Đông Dương, người chiến binh quý tộc và xông xáo”. Sẩm tối, Bigeard đến trình diện ở sở chỉ huy vì Castries cho gọi anh tới. Thái độ anh không vui vẻ và vẫn luôn luôn sử dụng chiếc gậy đáng sợ, anh chống gậy để bước đi. Trước khi vượt qua sông, anh nhanh chóng cởi bỏ quần áo, nhảy xuống nước dưới làn đạn pháo và tắm rửa để làm gương cho anh em trong đơn vị. ở đơn vị anh, người ta chết trong tư thế sạch sẽ, râu cạo nhẵn. Kể từ khi đứng chân ở Eliane 4, anh đã bắt buộc mọi người sử dụng chiếc xẻng và chiếc cuốc. Trước mặt Castries, Bigeard đập gót chân, giơ tay chào một cách hơi khô khan, chiếc lưỡi trai mũ cứng sụp xuống mắt. - Này chú Bruno, chú phải đi tìm pháo cao xạ quân Việt ở phía Tây cho tôi, Castries bảo. - Khi nào? - Ngày mai. Chọn lấy những gì mà chú cần, hãy chơi bản nhạc của chú đi. Chú được tự do hành động. Castries chỉ cho Bigeard thấy trên bản đồ, các ngôi làng bản Ban và bản Ong Pét, cách sở chỉ huy hai kilômét rưỡi. Tại sao lại từ chối việc này nhỉ? Castries làm cho Bigeard thấy mến phục. Cái nhà quý tộc ưa thích thiên nhiên này, xuất thân từ một dòng dõi các thống chế của nước Pháp có thể đòi hỏi mọi việc ở tay sĩ quan ăn may là Bigeard. Castries có một cách ứng xử khi tiếp đón, khi nói năng, khi phỉnh nịnh hay chửi mắng khiến cho người ta thấy mến phục. Bigeard biết rằng Castries không phải là một thủ trưởng trực tiếp đứng ra làm gương và thúc đẩy cuộc chiến giành thắng lợi; tuy nhiên anh vẫn không thể nào không mến phục người thủ trưởng ấy. Thái độ thân thiện và tình bạn của Castries dành cho đứa con trai của một viên chức nhỏ ngành đường sắt; mái tóc, thái độ kiêu kỳ, vẻ thanh lịch của Castries dứt khoát đã chinh phục được Bigeard. Về sau, khi ở trung tâm của cuộc đối đầu đen tối nhất, Bigeard đã ngăn chặn những tiếng la ó và bắt buộc các bạn đồng ngũ dành cho Castries một thái độ kính trọng mà họ không còn cảm thấy nữa. Castries có thể cho phép mình làm mọi việc: đối với Bigeard, Castries vẫn cứ là một ông hoàng do luật trời quy định, kể cả nếu như trong một thời gian nào đó, Castries đã đánh mất câu chuyện truyền thuyết và uy tín của mình. Trong con người Castries điều hấp dẫn Bigeard đó là tính sáng tạo mà Catries truyền lại cho anh. Nói cho cùng, Bigeard không đòi hỏi gì hơn trong câu chuyện này. Đối với những ai trao lại cho anh một phần quyền lực mà họ nắm giữ, anh sẽ hi sinh tận tụy cho đến chết. - Đồng ý, Bigeard nói. Sẽ thực hiện kế hoạch. Chỉ xin có hai ý kiến: phối hợp với những đơn vị tốt nhất để đánh một trận nghiêm chỉnh và xin cho tôi thêm thời gian để chuẩn bị trận đánh. - Về kết quả trận đánh, ta sẽ đợi xem. Còn về thời gian, chú bắt tay vào việc ngay lập tức. Để tôi bảo mang cho chú tách cà phê. Tôi đã trông thấy cái cối xay cà phê của sở chỉ huy. Đó là cỗ máy mà phần thân của nó hiếm thấy có và đoạn trục thì thẳng đứng, như loại cối xay xưa kia người ta chế tạo cho ngành hậu cần và các tổ chức tập thể mà hẳn phải nằm trong danh mục tài sản quy định trong các xe bếp lưu động của các đơn vị tiểu đoàn. Ngăn đựng hình cầu có thể chứa được một ki lô hạt cà phê. Chiếc cối xay cà phê ấy cũng được trưng bày cùng với chiếc bình đun cà phê bằng sắt của cơ quan tham mưu binh đoàn Gono, trong bảo tàng Điện Biên Phủ. ___________________________________ 1. Chiến dịch ném bom A mà Mỹ + Pháp dự kiến được đặt lên là "Vautour" có nghĩa là "Chim kền kền". - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 05:45:01 pm Ngày 26 tháng ba 1954 Kể từ ngày 19 tháng ba, một đợt không khí lạnh đã đột ngột làm cho thời tiết xấu đi trên vùng đồng bằng với việc mưa phùn suốt ngày và trên vùng thượng du là màn sương mù khô khốc. Ngày hôm đó, cơn gió đông nam cải thiện thời tiết trên các căn cứ vùng đồng bằng và mang tới hơi ấm và độ ẩm. Trên xứ sở người Thái, những cuộn mây tan đi vào lúc cuối buổi sáng nhưng vẫn còn che kín các đỉnh núi và gây ra những cơn giông trong đêm. Bất chấp những điều kiện khó khăn kể từ lúc mở màn trận đánh, hơn bảy trăm năm mươi lượt máy bay chiến đấu đã ném xuống khu lòng chảo và các ngọn núi xung quanh một nghìn một trăm tấn bom. Các máy bay trinh sát đã chụp mười nghìn bức ảnh. Những chiếc Dakota đom đóm vo ve suốt cả đêm trên vùng trời tập đoàn cứ điểm. Những chiếc dù rơi xuống như mưa suốt cả ngày trên nóc các căn hầm, trên các khu nghĩa trang và dãy hàng rào dây thép gai. Vào lúc hai giờ sáng, Bigeard triệu tập toàn bộ số sĩ quan chỉ huy trận đánh: người đồng đội trung thành của anh trong mọi lúc, mọi nơi và trong vụ việc nóng bỏng nhất, cuộc rút lui khỏi đồn Tú Lệ, đó là Tourret của đội xung kích số 8; Thomas, người sẽ thay thế Bigeard chỉ huy tiểu đoàn dù thuộc địa số 6; Giraud cán bộ dự trữ của tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 thân hình lực lưỡng với khuôn mặt dài cứng rắn của con người nhìn thấy trước chuyện xấu nhất và sẵn sàng đương đầu với nó; Clémençon thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn bộ binh ngoại quốc số 2, đơn vị được sát nhập lại; Hervouët, đại úy xe tăng, đến đây vì lễ Noel, hai cánh tay bó bột đến tận khuỷu; phi công Guérin trông gần như một xác chết do bị bệnh lị amíp, người gầy nhom trong chiếc áo khoác mầu xanh, Guérin vốn không được Langlais ưa; và cuối cùng là viên pháo thủ Vaillant. Bigeard xác định nhiệm vụ và giải thích kế hoạch mà anh dự tính. Trong ban đêm, các sĩ quan trở về vị trí của mình, ban bố các mệnh lệnh, báo động các đơn vị thuộc quyền bước vào tư thế chiến đấu và rời khỏi các căn hầm để tiến vào vị trí xuất phát. Rạng sáng, ba cụm pháo 105, hai khẩu đại bác 155 và ba cụm súng cối 120 lần lượt bắn phá các mục tiêu, trong lúc đó các đơn vị quân dù khom lưng tiến lên đằng sau các xe tăng. Tiếp cận đối phương lúc 6 giờ 15 phút. Một trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, trung úy Le Vigouroux, nhảy vào một khẩu đại liên cao xạ, đang được hạ thấp nòng bắn vào số quân dù. Anh ta kêu lên trong máy bộ đàm : "Tiếp cận mục tiêu !" và nhận được một viên đạn vào giữa trán. Lúc 6 giờ 30 phút, cùng với ánh sáng ban ngày, máy bay xuất hiện, nã liên thanh và ném bom. Pháo binh giã gạo vào các đợt phản kích của đối phương đang tìm cách cắt đứt đường rút lui của các đơn vị tấn công. Lần lượt từng chiếc một, những ổ đại bác 20 li và đại liên 12 li 7 bị đánh chiếm, số pháo thủ bị quét sạch và các khẩu súng bị phá huỷ bằng lựu đạn cháy. Lúc 15 giờ, lệnh rút lui được phát ra, dưới sự yểm trợ của pháo binh, máy bay và một tiểu đoàn lê dương, đúng lúc một đọt phản kích mới của đối phương được triển khai có sự yểm trợ của hỏa lực tập trung của súng cối 120 li. Năm khẩu đại bác 20 li và mười hai khẩu đại liên 12 li 7 đã bị phá hủy. Quân dù thu được hai khẩu Badôka, mười bốn trung liên, và một trăm súng trường, với cái giá phải trả là hai mươi người chết, trong đó có hai sĩ quan, xác hai sĩ quan này đượckhiêng về theo và bảy mươi thương binh trong đó có năm sĩ quan. Họ bắt được mười tù binh. Những lời khen ngợi tới tấp gửi đến Bigeard. Về phía đối phương, trận đánh đã gây ra tổn thất lớn khiến ba trăm năm mươi người chết. Bigeard không hề có ảo tưởng: để cho một thắng lợi như vậy không chỉ là một thắng lợi ngắn ngủi, cần phải có điều kiện để cho quân sĩ có thể lấy lại hơi sức, trận đánh chính là nhờ ở họ mà có. Ngày 29 tháng ba 1954 Mặc dầu trận bão đổ vào vùng đồng bằng từ ngày hôm qua, những chiếc Dakota vẫn cứ bay lên thả dù đạn dược và thực phẩm xuống bãi bùn của Điện Biên Phủ. Ở độ cao 6.000 pieds1 kết quả cũng kém như ở độ cao 8.000 pieds. Ở 4.000 pieds thì các gói hàng rơi được vào bên trong tập đoàn cứ điểm, nhưng các cụm pháo cao xạ gần như với tới mọi chiếc máy bay. Ngày hôm ấy, ba trong số các máy bay trở về căn cứ trong tình trạng thảm hại. Những hào giao thông gần như vây quanh các mỏm đồi Dominique 1 và 2, Eliane 1 và 2 cũng như Huguette 7. Rõ ràng đây là nơi trận tấn công sắp tới nhằm vào. Quân Việt tiến lên trong lòng đất, tháo gỡ hàng rào dây thép gai bằng cách đẩy đi phía trước họ những con cúi bằng chiếu bên trong nhét đầy đất dụng cụ này sẽ bảo vệ họ mỗi khi có một quả mìn nổ. Từ trên mỏm núi tròn có tên núi Ảo, được biến thành pháo đài chịu đựng được mọi đòn đánh, hoả lực của các khẩu trọng liên nhằm vào các máy bay Dakota và các khẩu Badôca kiểm soát mọi vật động đậy trên Eliane 2, ngăn cách với ngọn núi này bởi một đoạn khe. Khi trận tấn công nổ ra, Eliane và Huguette do quân dù và quân lê dương chiếm giữ có thể đứng vững. Nhưng còn Dominique, việc phòng thủ được giao phó cho binh sĩ người Algérie thì sao? Người ta đã bố trí ở bên cạnh họ tiểu đoàn 5 B.P.V.N2, nhưng Langlais biết rằng đây là một điểm yếu. Ông có ý định bố trí ở đây Tourret, người mà ông đã hoà giải, hoặc là Bigeard, nhưng còn đơn vị người Algérie thì giao phó cho ai đây? Làm thế nào thuyết phục được họ là họ phải đi chết cho nước Pháp, vốn đang mặc cả với họ về cái danh hiệu công dân nước Pháp. Ở Paris, nơi mùa xuân đột nhiên nở rộ, Uỷ ban Chiến tranh thu hẹp họp lại để nghiên cứu các khía cạnh quân sự và chính trị của chiến dịch, giờ đây được gọi là "Chiến dịch Chim kền kền". Việc can thiệp trực tiếp của các máy bay ném bom hạng nặng của Mỹ và đội hộ tống bằng các máy bay khu trục chắc chắn sẽ dẫn tới một trận đánh trả của không quân Trung Quốc nhằm vào các căn cứ của đạo quân viễn chinh. Liệu tướng Navarre có ở trong tư thế đương đầu với sự việc này và liệu cơ sở hạ tầng của xứ Bắc Kỳ có đảm bảo trợ giúp cho những cuộc tấn công của người Mỹ hay không? Đại tá Raymond Brohon, chánh văn phòng của tướng Ely được giao nhiệm vụ đi gặp vị tổng chỉ huy cốt để mang về một câu trả lời cho vấn đề này. Không một biên bản nào được ủy ban Chiến tranh thu hẹp này soạn thảo cũng như tất cả những ai sau này tham gia vào thành phần của ủy ban cũng không có tài liệu gì. Duy nhất tướng Crespin, thư ký của ủy ban được phép ghi chép. Từ những thư tín dính dáng đến cuộc can thiệp của người Mỹ, sẽ không còn lại một dấu vết nào trong các hồ sơ mà ngài Laniel chuyển giao; trong các hồ sơ đó chỉ có những bức điện trả lời về những tài liệu bị mất tích là được lưu giữ lại trong kho tư liệu. Tuy nhiên từ tuần báo U.S. News sau này đã đánh hơi thấy vụ việc và đem ra công bố. Tại sao lại lo sợ một cuộc can thiệp của Trung Quốc giáng trả cuộc can thiệp của Mỹ? Về mặt vật chất, mặc dầu người ta cho là như vậy, Trung Quốc giúp đỡ Việt Minh cũng chẳng hơn gì nước Mỹ chi viện cho đạo quân viễn chinh. Trung Quốc mở các trường huấn luyện cán bộ chỉ huy và nhân viên kỹ thuật cho quân đội nhân dân, huấn luyện các chiến sĩ thông tin và công binh và những người lái máy bay khu trục và máy bay ném bom ngay khi nào Trung Quốc quyết định cung cấp cho Việt Minh những căn cứ không quân. Các cụm pháo phòng không và đạn dược của Trung Quốc vượt qua đường biên giới với Việt Nam thành từng đoàn dài. Nhưng mà ngay tại chỗ, Trung Quốc không có bất kỳ một cố vấn quân sự nào có quyền quyết định, không có một pháo thủ hoặc một chuyên gia nào. Kể từ một năm nay, Trung Quốc đã làm nghiêng cán cân về phía Việt Minh duy nhất chỉ là bởi trọng lượng số vũ khí mà Trung Quốc cung cấp. Về vấn đề liên quan đến những nhân viên kỹ thuật Trung Quốc, những lời khẳng định của ngài Foster Dules và của tướng Navarre, hoàn toàn chỉ xuất phát từ ý muốn của họ muốn giải thích một cách hợp lý hơn những thất bại của họ bằng cách gán cho chúng những nguyên nhân khách quan: có thể có một người Trung Quốc, tướng Li Chen Hoụ ở trong Bộ tham mưu của tướng Giáp, nhưng không có người Trung Quốc ở trong sở chỉ huy các sư đoàn và các trung đoàn, ở đó lòng tự ái dân tộc của Ban chấp hành Trung ương và của Quân đội nhân dân khiến cho họ không được ưa thích. Việt Minh tiến hành cuộc chiến tranh theo ý mình và chỉ do một mình làm. Nếu như Navarre thua trận ở Điện Biên Phủ thì như vậy là ông ta thua tướng Giáp chứ không phải là do vì có những người Trung Quốc. Mỗi lần tôi đặt câu hỏi này ra với các sĩ quan của quân đội miền Bắc thì họ đều nhăn mặt tỏ vẻ bất bình: "Không thể nào chấp nhận được là đã có lúc nào đó chúng tôi lại có thể tiếp nhận những mệnh lệnh của các sĩ quan nước ngoài, dù cho đó là các sĩ quan Trung Quốc. Chúng tôi xem câu hỏi của ông là câu hỏi đáng tiếc. Không một ai ở trong quân đội nhân dân lại đã chuẩn bị nước tắm cho người Trung Quốc; không một ai lại đi bộ dắt ngựa cho họ". Về phía ông, tướng Giáp đã coi những ý kiến như vậy là câu chuyện tưởng tượng trăm phần trăm. Bởi lẽ đây không phải là câu chuyện, như người ta vẫn còn để lộ ra như vậy, ném năm trăm tấn bom xuống các vị trí phòng ngự vững chắc của Việt Minh mà là nhiều quả bom nguyên tử loại A, có mục đích tiêu diệt lực lượng vây hãm, cho nên người ta có thể lo sợ về một phản ứng quyết liệt của Trung Quốc. Ngài Dulles không phải là không biết như vậy khi mà, với giọng điệu của một mục sư cao cấp đạo Tin lành, ông đọc tại câu lạc bộ báo chí Hải Ngoại một bài diễn văn trong đó ông chuẩn bị cho dư luận nước Mỹ trước những nguy cơ nghiêm trọng. "Ít nghiêm trọng hơn những nguy cơ mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong vài năm tới, nếu như hôm nay chúng ta không dám tỏ rõ sự cương quyết của mình". Trở lại Sài Gòn, sau khi tham dự một trò hề trình diễn việc các sĩ quan Việt Nam3 tuyên thệ với Bảo Đại, tướng Navarre viết cho tướng Cogny một lá thư dài. Trên góc trái lá thư, ông tự tay thêm vào: "Thư riêng - tối mật ". Lá thư phải hạ gục được tay khổng lồ Cogny. Người ta đến phải nói rằng, do cảm thấy thất bại đến gần, Navarre không chịu một mình "chìm xuồng". Dù cho chỉ là kéo theo một người, ông vẫn muốn con người đó là Cogny. Ít nhất thì trong lá thư ấy, cái đáng khen là bởi cách nói rõ ràng. Navarre viết cho Cogny: "Đừng mong đợi bất kỳ phương tiện bổ sung nào do tôi cung cấp". Và cùng một lúc ông tìm cách tự bào chữa. Cái khả năng mà Việt Minh đã có được để đẩy Cogny vào tình thế khó khăn với những lực lượng tương đối yếu hơn so sánh với lực lượng mà Cogny lẽ ra đã có thể sử dụng, nếu như ông ta thực hiện kế hoạch ban đầu của mình. Khả năng đó của Việt Minh để lộ ra cho Navarre thấy vai trò chủ yếu của Điện Biên Phủ: khi cầm chân ở đó các tiểu đoàn của đối phương, Navarre đã tránh cho Cogny, nếu như Cogny đồng ý coi những mối lo ngại hiện nay của mình là có cơ sở, thoát khỏi cái mà ông ta gọi là một thảm họa đích thực. Sự thực, với một sự khôn khéo đáng sợ, Navarre đơn giản hóa và quên mất những lực lượng mà ông đã lấy đi của xứ Bắc Kỳ, nhưng nhất là ông giả bộ nhìn vụ việc trên bình diện số lượng và không chịu tính đến những thuận lợi, xét về mặt chiến thuật, của một trận đánh ở vùng đồng bằng được yểm trợ bởi không quân ở gần bên cạnh. Những lời trách cứ hợp lý và không hợp lý, những câu nói bóng gió ác độc, những lời buộc tội gay gắt, những ý kiến chỉ trích nhỏ nhặt mà người ta có thể trút lên đầu một viên tiểu đoàn trưởng kém cỏi, mọi thứ hoà trộn trong câu chuyện này. Những công thức hành văn quân sự chỉ có thể chấp nhận được nếu như chúng dồn dập nhiều hơn nữa. Navarre đột nhiên vút mạnh chiếc roi ngựa và quất vào mặt Cogny. Nhưng ông quất cú roi đó từ xa, sau khi đã lẳng lặng tích luỹ những luồng sấm sét của một cơn giông bão nỗi giận dữ, hiện chưa nổ ra ở Hà Nội. ____________________________________ 1. pied: Đơn vị đo độ dài cổ của Pháp, khoảng 0,33m. - N.D 2. B.P.V.N viết tắt có nghĩa tiểu đoàn dù người Việt Nam. - N.D 3. Trong quân đội ngụy theo Pháp. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 06:33:08 pm Ngày 30 tháng ba 1954 Suốt cả ngày; những trận mưa như trút nước nhấn chìm Điện Biên Phủ. Lúc 18 giờ 30 phút, trong lúc hai đại đội của B.E.P1 số 1, thay thế cho đơn vị lính Ma rốc ở đồi Eliane 2, thì một trận hỏa lực pháo binh dữ dội, đổ ập xuống các mỏm đồi của Eliane, Dominique và Huguette 7, cùng lúc đó các cụm pháo của trung tâm phòng ngự chủ yếu và cứ điểm Isabelle bị bắn phá. Vào thời kỳ này trong năm, lúc này trời còn sáng. Mười lăm phút sau, cuộc tấn công của các sư đoàn 312 và 316 nổ ra trên các hướng, ngay lập tức Botella báo cáo qua máy bộ đàm: "Lính Ma rốc của Eliane lùa về chỗ tôi". Lát sau, Bigeard gọi cho Langlais: "Chàng trai Pierre của Bruno, chàng trai Pierre của Bruno, đội quân đồn trú của Dominique 2 đồng loạt rút lui. Tôi trông thấy họ từ trên đồi chạy xuống bờ sông, tan tác... ”. Đó là đơn vị lính Algérie. Giận đến điên người, Bigeard bất lực chứng kiến cảnh tan vỡ. "Mọi người trong đơn vị tôi bình tĩnh, sau này anh nói vậy, và chán chường nhìn quang cảnh đó". Eliane 2 bị chọc thủng; thiếu tá Nicolas không hành động nhưng đã mất liên lạc với Langlais, mật danh là chàng trai Pierre. Langlais muốn cho pháo binh nện xuống mỏm đồi Eliane 2 nhưng Bigeard thì yêu cầu hãy nán đợi. Lúc 20 giờ, Nicolas, khẩu tiểu liên cầm trong tay, rút về phần phía sau của điểm tựa. Dominique không thấy trả lời nữa. Cứ điểm bị tràn ngập, đơn vị lính Marốc không chống cự nữa. Riêng đại đội của Đặng Võ đã bắt sống được bốn mươi bảy người nhưng máy bay B.26 thả bom, nã liên thanh gây thiệt hại nặng. Những con bò dành cho lò mổ, như cách nói của đại úy Hiền chăng? Nói đúng hơn là những con bò tót, húc đầu man rợ trong đêm tối, đêm hôm đó, mười chín con đã phóng những chùm bom napan xuống các mỏm đồi. Thấy rằng không thể phản kích trong ban đêm, Langlais quyết định sẽ tung ra đòn đánh trả lúc tảng sáng cùng với Bigeard và Tourret. Rồi sau đó, nhớ lại kinh nghiệm của Béatrice và Gabrielle, ông quyết định tung ra lần lượt năm đại đội thuộc B.E.P số 1 và bán lữ đoàn số 13 đang ở mặt phía tây lên đồi Eliane 2. Lúc 23 giờ, quân Pháp đến được cách đại đội Đặng Võ đang bị đạn pháo từ Isabelle cầm chân ở đó khoảng hai chục mét bắn tới, ba người trong đơn vị này đã tìm cách cắm lá cờ đỏ sao vàng lên đỉnh đồi nhưng vô hiệu. Thiếu uý Thélot bị trọng thương. Giống như tất cả những bức điện "Sức khoẻ tốt, tinh thần vững, gửi những cái hôn" mà các bạn đồng ngũ của anh ta chịu trách nhiệm đánh đi từ Hà Nội gửi cho gia đình các chiến binh hoặc còn sống hay đã chết, khi lá thư mà Thélot viết xong ngày 25 tháng ba đến tay người em trai, người ta có thể tưởng là anh còn sống. Hai hôm trước, đại đội của Thélot đã đến Dominique 2 thay thế đơn vị người Thái mà Langlais không còn tin tưởng nữa. Năm đại đội của Langlais đã chiếm lại được Eliane 2. Khi các đội viên lê dương tiến ra chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công, Bigeard đã nghe thấy họ hát những bài ca chiến đấu của người Đức, tiếng hát từ dưới khu lòng chảo, giữa màn đêm tối, vẳng lên tới chỗ anh ở trên cao. Bảy chiếc xe tăng của đại úy Hervouët đang tác chiến trên con đường tỉnh lộ 41, hạ gục những tốp quân đối phương từ trên núi tiến xuống khu trung tâm. Trong khu vực Dominique 3, nằm ở phía đông của một nhánh sông cụt, cụm pháo số 4 thuộc trung đoàn pháo binh thuộc địa số 4 do trung úy Brunbrouck chỉ huy, bị chế áp dưới hoả lực và có nguy cơ bị bao vây, buộc phải hạ nòng pháo bắn trực tiếp. Bất chấp tình thế nguy khốn và có một khẩu pháo bị loại khỏi vòng chiến đấu, trung úy Brunbrouck, vốn đã chuẩn bị phá hủy các khẩu pháo của mình nếu bị tràn qua, vẫn bám giữ lấy trận địa và các khẩu 105, anh kêu gọi sự chi viện của hỏa lực các điểm tựa ở bên cạnh và của hai khẩu 12 li 7 bốn nòng mà Langlais đã lấy từ sân bay ra để cho họ được tham chiến, bố trí trên phía tả ngạn dòng sông, bao quát toàn bộ mặt phía nam của Eliane 2. Những bức điện chấn động trên bàn của tướng Navarre ở Sài Gòn, báo tin về thảm họa mới. Navarre yêu cầu chuẩn bị máy bay cho ông ra Hà Nội. Những làn sóng của tình hình bi quan này truyền tới Paris vào lúc cuối buổi chiều. Để đáp ứng những yêu cầu của Langlais, Cogny đòi Navarre cung cấp thêm các phương tiện bổ sung: một trăm mười tám chiếc Dakota để hàng ngày trút khoảng 295 tấn hàng. Không quân đã đạt tới mức trần các khả năng của mình với 175 tấn. "Số phận của trận đánh tuỳ thuộc chủ yếu vào việc này". - Cogny nói thêm. Trả lời viên phó tướng phụ trách tác chiến hỏi ông quyết định theo hướng nào, Navarre bảo: - Tối nay, chúng ta sẽ xem xét chuyện này tại chỗ. ______________________________________ 1. B.E.P: Viết tắt có nghĩa tiểu đoàn dù ngoại quốc. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 06:41:15 pm Ngày 31 tháng ba 1954 Tướng Navarre đến Hà Nội lúc 1 giờ 15 phút sáng, trong lúc những chiếc Dakota đang tiếp tục thả dù các đơn vị tăng viện trên bầu trời tập đoàn cứ điểm. Viên bác sĩ của đội giải phẫu lưu động số 4 rơi xuống ngồi xoạc hai cẳng trên mũi một chiếc xe tải. Ở sân bay, đại tá Bastiani báo cáo rằng sếp của mình có lời xin lỗi vì rất mệt mỏi, Cogny đã buộc phải đi ngủ. Navarre về sở chỉ huy của mình, ở đó ông nhận được những báo cáo của đêm qua. Vào khoảng 4 giờ sáng, Navarre cho gọi Cogny. Sĩ quan tuỳ tùng trả lời là mình không có quyền đánh thức Cogny dậy. Cùng với Bastiani, Navarre soạn thảo một bản chỉ lệnh mới, trong đó ông đánh giá rằng cần phải xem xét đến tình huống nghiêm trọng nhất và xác định rõ cách ứng xử cần có của đại tá De Castries. Trung tâm phòng ngự chủ yếu và cứ điểm Isabelle sẽ phải được giữ vững đến cùng. Người ta động viên tinh thần của đội quân đồn trú bằng ý tưởng là họ bảo vệ danh dự của nước Pháp và nước Việt Nam và rằng họ đã cầm chân được khối chủ lực của đối phương. Toàn bộ số vũ khí và đồ tiếp tế sẽ được phá huỷ không để rơi vào trong tay đối phương. Một tiểu đoàn quân dù đã được chỉ định, tiểu đoàn II/ R.C.P số 1 và một cụm pháo 75 không giật sẽ là những đơn vị tăng viện duy nhất mà tập đoàn cứ điểm nhận được, nếu như có khả năng giành được trận thắng. Tảng sáng, lẫn lộn trong đám tử thi của quân lê dương và quân dù, hàng trăm xác chết của quân Việt nằm gục trên các sườn đồi dốc xuống dòng sông và trong các hố sâu có đặt mìn ven con đường dọc theo dòng sông. Trung úy Brunbrouck thọc hai bàn tay vào túi quần và mỉm cười; anh gầy hơn mọi ngày, những chiến thắng làm rạng rỡ bộ mặt dài của anh. Anh mới hai mươi bảy tuổi. Một trung đội thuộc đại đội của đại úy Capeyron đã được chỉ định thay thế đơn vị lính Marốc ở Eliane 2 để đơn vị này quay trở về Claudine, quân số chỉ còn lại mười hai người. Trên đồi Huguette 7, Bigeard không hề dao động. Quân Việt do không thể tổ chức xung phong vào sát vị trí của Bigeard vì đã bị các súng trung liên, súng cối và lựu đạn băm nát nhưng dù sao họ cũng đã thọc được vào điểm tựa và những đoạn chiến hào mới do họ đào đã tham gia vào hệ thống phòng ngự của họ. Do vì người ta từ chối tăng viện cho anh những gì mà anh yêu cầu, Bigeard thay đổi cách bố trí các trung đội và để giữ được vững hơn phần còn lại, anh cho đơn vị đặt mìn rồi rút ra khỏi đầu mỏm phía bắc của trận địa hình tam giác mà anh chiếm giữ. Lúc 7 giờ sáng Navarre gọi Cogny. 8 giờ kém 15 phút, Cogny có mặt. - Tình hình thế nào? - Navarre hỏi. Cogny trình bày với ông tình hình cho tới lúc nửa đêm qua. - "Thế nào, tướng Navarre kể lại với tôi như vậy, tôi đã nổi giận. Tôi mắng nhiếc ông ta. Và về phía ông ta, trước mặt tôi, ông ta nói hệt những gì mà ông ta đã nói với những người khác trong thời gian qua”. Trung tá Langlais bắt đầu bị khàn tiếng. Suốt đêm, ông đã gọi các tiểu đoàn trưởng của mình qua ông nói: Dédé, đó là Botella; Bruno là Bigeard; Pierrot là Tourret - người mà ông vẫn còn cảm thấy hối hận về cách đối xử của mình và ông là chàng trai Pierre. Đôi khi, để chính thức hóa các mệnh lệnh, ông hát đoạn điệp khúc của bài hát mà ông thường gào to trong những dịp lễ tết. Đừng giận, em Marie, em xinh đẹp Đừng giận, em Marie, anh sẽ lại tới... Ông cầu cứu đại úy Hervouët và các xe tăng: "Yvon của chàng trai Pierre, đang cưỡi trên những con bò rừng, hãy phi nước đại trên con đường của Him Lam, nhả đạn và nghiền nát tất cả thứ gì còn lại!". Căng thẳng, dễ dàng có những cơn giận dữ đột biến và những giây phút tình cảm bất thình lình, ông cảm thấy được xoa dịu bởi cuộc phản kích của Bigeard sắp khởi sự nhằm vào Eliane 1, của Tourret vào Dominique 2. Tiếng đạn pháo của xe tăng đã nổ đanh trong thung lũng nhưng những trận đánh trong đêm đã phải trả giá một nghìn năm trăm người và tiểu đoàn 3 của trung đoàn 3 ngoại quốc ở Isabelle nhận được lệnh bắt liên lạc với Eliane, mặc dầu có ba xe tăng yểm trợ đã không sao vượt qua được bản Noọng Nhai, ở đó trung đoàn 57 đã dựng lại các rào chắn. Tiểu đoàn 3 ấy trở lại phòng tuyến của mình với năm mươi thương binh và tất cả số xe tăng đều dính đạn; mười lăm quân lê dương mất tích. Langlais khẩn cấp yêu cầu Hà Nội thả xuống một binh đoàn quân dù, Hà Nội đã nói: “Nếu như các anh giữ vững trước cuộc tấn công lớn sắp tới, một binh đoàn gồm hai hay ba tiểu đoàn ngay lập tức sẽ đến tăng viện...". Khi Langlais đặt ống nói xuống, Séguins Pazzis dìu ông về giường nằm và ông ngã vật ra đó. - Anh nghỉ đi, Séguins Pazzis bảo. Thế là thắng rồi! Ngày hôm đó, giữa Navarre và Cogny, cây đuốc lửa công khai bốc cháy. Tin tức từ tập đoàn cứ điểm truyền về lại đặt các cơ quan tham mưu đứng trước một thực tế bi thảm. Thảm họa sẽ cần có những người chịu trách nhiệm. Người ta không còn nương tay nữa. Điều gì mà cho đến lúc này người ta không dám nói ra vì những lý do ngoại giao và phép lịch sự, giờ đây bùng nổ công khai. Tôn ti trật tự đổ vỡ. Navarre không ngủ và thể chất của ông chịu đựng những tin tức hôm trước khá hơn thể chất của Cogny. Nếu như ông bị thảm họa sắp diễn ra hạ gục thì đó là sự gục ngã trong niềm kiêu hãnh; với Cogny thì đó là vấn đề của máu thịt. Navarre, người ta hiểu ông rất ít và người ta không yêu quý ông cho lắm. Nếu như ông ra đi, ông sẽ chỉ đánh mất một khoản cược cho ván bài poker và sẽ quay về với bóng tối, nơi từ đó ông đã bước ra, quay về những căn phòng được bọc kín ấm áp và với những nhận xét siêu hình. Cogny sẽ không bao giờ còn có thể nhìn thẳng vào mặt những người đã buộc cho ông một thất bại mà ông tin chắc thủ phạm là Navarre, là sự không hiểu biết xứ sở này, là các cố vấn vây quanh ông ta, là chiến lược cao siêu và vô bổ của ông ta được nhào nặn trong các phòng thí nghiệm với các nhà lý thuyết chỉ giỏi hút thuốc. Dù cho câu chuyện được thua trong đêm hôm đó có quan trọng đến đâu, thì việc Navarre quở trách cấp dưới của mình là đã không nắm được rằng Bigeard gần như bị chôn vùi trên đồi Eliane 4 lúc tảng sáng và rằng trên đồi Huguette 7, phần trận địa bị quân Việt đánh chiếm trong đêm đã giành lại được hoàn toàn, đó là sai lầm. Cogny đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng mà ông tự thú nhận với mình chuyện đó. Ông đã không đánh hơi được những mối nguy hiểm của một cuộc phiêu lưu vào một vùng đất mà ông ít am hiểu bằng vùng đồng bằng, ông đã có ảo tưởng về những hoạt động của kỵ binh mà ông dự định, ông đã không đánh giá đúng mức những khả năng logíc của tướng Giáp và nhất là ông đã không tuyên bố rõ ràng để phản đối cuộc phiêu lưu Điện Biên Phủ ngay một khi cuộc phiêu lưu ấy để lộ ra những rủi ro chênh lệch quá nhiều so với những cơ may. Bị hoa mắt vì những thắng lợi mà ông giành được ở gần Hà Nội, ông đã không đề phòng những nguy hiểm của cuộc phiêu lưu đó. Bị phân tán giữa những mạo hiểm và những nét hấp dẫn của chiến dịch, ông đã không biết cách quyết định, dù cho chỉ là đối với chính bản thân, thái độ cần phải áp dụng. Bị rơi vào ván bài, ông đã không biết tháo gỡ chiếc bẫy đúng lúc và đã không đòi hỏi việc rút ra khỏi Điện Biên Phủ. Lầm lẫn duy nhất mà ông tự cảm thấy là thủ phạm, đó là đã tự lừa dối mình, giống như những người khác về pháo binh của đối phương và đã tin là đại tá De Castries là con người đáp ứng được yêu cầu tình thế. Sự nhu nhược duy nhất của ông là đã không cách chức De Castries và bản thân mình không quay trở lại Điện Biên Phủ. Còn về việc ông từ chối ngày 4 tháng 3, những tiểu đoàn mà Navarre giao cho ông trong lúc không quân đã cố gắng đến mức gẫy cánh, Navarre lại còn buộc tội ông không có khả năng hoàn thành các nhiệm vụ nếu như ông chấp nhận. Cogny sẽ hành động khác hẳn nếu như gánh nặng chỉ đạo trận đánh được đặt hoàn toàn lên hai vai ông. Điều đã chia rẽ dữ dội Cogny với Navarre, đó là Navarre vẫn còn tính đến Atlante để cứu vãn Điện Biên Phủ, trong khi Cogny đánh giá Atlante như một vực thẳm đã nuốt hết những lực lượng dự bị của chính ông. Vả lại, có bao giờ Cogny lại có chuyện quyết định? Quan điểm của ông về những hành động nghi binh cần tìm ra để ngăn chặn việc bao vây khu lòng chảo có lẽ là chậm trễ hoặc không có hiệu quả. Chúng xuất phát từ cảm giác cho rằng một cuộc tấn công vẫn cứ là nguy hiểm và rằng cần phải phá vỡ nó. Dù cho mới nhìn thoáng qua lúc đầu, luận đề của Cogny có phức tạp đến đâu thì nó cũng không đến nỗi phải gánh chịu những nét khinh khi mà Navarre giành cho nó. Thậm chí lúc này, cũng còn chưa mất một tí gì nếu như người ta ăn miếng trả miếng với tướng Giáp. Những ngọn đồi của Dominique 2 và Eliane sẽ được chiếm lại nếu như Langlais có thể ném ra những đơn vị sung sức tham chiến. Kể cả đối với việc này, Navarre cũng trả lời là "Không". Ông chỉ bằng lòng cho một tiểu đoàn sẽ đến quá muộn và giữ lại những tiểu đoàn khác cho chiến dịch Atlante, và dòng mực chảy ra từ chiếc bút máy của ông để động viên tinh thần của Castries vẫn cứ lạnh lùng. Buổi sáng hôm đó, lại vẫn là Cogny không biết hết mọi chuyện. Những kỷ niệm lẫn lộn cả. Phải chăng vào lúc rạng sáng hôm đó hay là ngày hôm sau nữa mà những từ gay gắt nhất được trao đổi giữa hai viên tướng? Cogny bị Navarre quát tháo ngay từ lúc vừa thức dậy chăng? Việc đó hẳn sẽ làm cho Cogny bị đau đớn. Buổi sáng hôm đó, dù cho có căng thẳng đến đâu, Navarre có vẻ như không đến nỗi quá lo lắng trước những tin xấu của tập đoàn cứ điểm, hết sức phật ý vì một việc không thành công có tính cục bộ, vốn chỉ có ý nghĩa tương đối của một biến cố, ông vẫn quyết tâm theo đuổi kế hoạch của mình, trong đó Điện Biên Phủ chỉ giữ một vị trí thứ yếu Hai viên tướng cùng nhau xem lại bản chỉ lệnh mà Navarre soạn thảo. Cogny đề nghị một hành động xuất phát từ vùng đồng bằng hay từ nước Lào. - Đồng bằng, không có việc gì phải làm, Navarre trả lời. - Đối với nước Lào, anh nghiên cứu đi và nói lại với tôi sau. Bất chấp những cơn giông bám lấy các ngọn núi và phủ kín các thung lũng, máy bay vẫn yểm trợ cho tập đoàn cứ điểm. Một chiếc Dakota bị bắn rơi và phi hành đoàn bị chết. Vào lúc 9 giờ 30 phút một chiếc Heldiver, để tới được Điện Biên Phủ, đã từng bay theo hành lang khép kín của con sông Nậm Cố và con sông Nậm Rốm, bay sát trên đầu cứ điểm Beatrice; tại đó một cụm pháo phòng không bắn vỗ mặt và hạ gục nó; viên phi công của chiếc máy bay đó là trung úy hải quân Andrieux, người nhỏ nhắn, gầy gò và hiền lành, có khuôn mặt dài như lưỡi dao và đôi mắt long lanh, người đã từng lái những máy bay khu trục của hạm đội Arromanches nhiều lần cho đến khi hạm đội bị giải thể. Giữa trưa, tiếng đạn pháo đánh thức Langlais dậy. Ông hỏi xem các máy bay thả những đơn vị tăng viện, được gọi là những chiếc Banjos có đến không? Người ta không thấy gì cả. Trên tất cả các ngọn đồi, quân dù chờ đợi những chiếc Dakota sắp thả các bạn đồng ngũ xuống. - Họ làm cái đ... gì ở Hà Nội vậy? Dần dần tiếng kêu ấy trở thành một tiếng chửi rủa cửa miệng. Các trận phản kích không thể phát triển được. Tourret chiếm lại được Dominique 2 lúc 14 giờ 30 phút, ở đó đại úy Pichelin bị giết chết và rồi đơn vị lại bị đẩy lùi. Trên đồi Eliane 1 , Bigeard giữ vững được đến tận đêm. Lúc đó, Langlais bèn quyết định hạ lệnh rút lui cho Dominique 5 và cho các đơn vị quân dù của mình, đã tổn thất quá nhiều, không thể chống cự được nữa. Trung úy Brunbrouck lần lượt cho cụm pháo và xe chở đạn dược của mình từng khẩu một vượt qua sông và bố trí trên cứ điểm Claudine. Eliane 1 và Dominique 1 và 2 đã bị mất. Dominique 2, đó là vị trí chủ yếu của hệ thống phòng ngự đã sụp đổ: kể từ khi Beatrice chìm tàu, cứ điểm ấy ngăn chặn hướng đông bắc. Từ lúc đó, quân Việt có thể tự do luồn vào khu lòng chảo, vượt qua sông Nậm Rốm, tấn công vỗ mặt các điểm tựa bảo vệ trận địa trung tâm và kẹp lấy chướng ngại vật núi đá cuối cùng của Eliane 4. Tính từ Dominique 2, vị trí khống chế toàn bộ khu lòng chảo, vào đến trái tim của tập đoàn cứ điểm chỉ cách có một nghìn hai trăm mét. Lúc 19 giờ, Langlais để cho Bigeard được quyết định tùy theo tình hình. - Nếu như không thể giữ được bờ phía đông con sông thì anh cho rút sang phía hữu ngạn. - Cho đến lúc nào tôi vẫn còn một người sống sót, thì tôi vẫn không rời bỏ Eliane 4, Bigeard trả lời, nếu không Điện Biên Phủ đi tong... Ở Washington, các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ đặt ra mấy câu hỏi cho đô đốc Radford. - Không quân Mỹ liệu có thể cứu vãn được Điện Biên Phủ không? Radford (R): - Đã quá muộn. - Một cuộc tập kích liệu có thể kéo theo việc tham chiến của toàn bộ các lực lượng Hoa Kỳ kể cả bộ binh không? R: - Có thể. - Các tham mưu trưởng quân chủng liệu có kiến nghị quốc hội ra quyết nghị khẩn cấp trao quyền cho tổng thống không? R: - Họ không xem xét vấn đề này. Lúc đó thủ lĩnh các nhóm nghị sĩ bèn đề nghị một hành động chung và ngài Foster Dulles tán thành đề nghị đó. Nhưng trước lời đề nghị có một quyết nghị của quốc hội cho phép tổng thống được sử dụng không quân, tất cả các thủ lĩnh có mặt đối với họ người ta không dám nhắc đến những quả bom A, đều trả lời bằng câu "không " phũ phàng. Hoảng sợ trước những ý kiến của ngài Foster Dulles và của đô đốc Radford. Các thủ lĩnh coi việc can thiệp sẽ là một hành động chiến tranh thực sự. Tổng thống Eisenhower tìm cách xoa dịu cảm giác đó bằng một bản tuyên bố mơ hồ và rối rắm. Ở Mátxcơva, ngài Alain Savary, mệt mỏi vì chờ đợi một dấu hiệu từ phía Chủ tịch Hồ Chí Minh để móc nối các cuộc thương lượng, đã tìm đường quay lại Paris. Tin tức lộ ra cho ngài Savary hiểu rằng nhiệm vụ của ông đã được bắt tay vào quá muộn và rằng mọi việc được quyết định ở Điện Biên Phủ. Trong những đường hầm tới khu bệnh viện, chen chúc bầy đàn đáng thương những binh lính Algérie và Marốc, những người đã không chịu nổi cú sốc ở Eliane và Dominique. Họ chờ đợi, lả đi trong vũng bùn. Grauwin mà người ta báo cho biết là đám người ấy tới, bước ra trong giây lát. - Ngài thiếu tá, một trong số họ nói, thiếu tá là bố đẻ của chúng tôi. Chúng tôi đến để phục vụ thiếu tá, xin thiếu tá lấy chúng tôi làm lao công hay y tá. Vì sao vậy? Vợ con chúng tôi cần có chúng tôi ở quê nhà. Grauwin lịch sự gửi trả họ về các đơn vị của họ. Nhưng mà lúc này các đơn vị của họ ở đâu? Phần lớn các sĩ quan của họ đã bị loại khỏi chiến đấu, những người lính Bắc Phi hẳn là sẽ tìm đến các nẻo bờ sông mấp mô những người lính Việt Nam mà Botella đã đuổi đi như những con chó sợ sệt và những người lính Thái bị tước vũ khí, tất cả số lính này đều chui rúc dưới những chiếc hố và ban đêm mò ra đi cướp bóc. Grauwin, quay trở lại với dụng cụ đồ nghề của mình, bước qua những thân hình người được người ta đẩy tới bàn mổ, đột nhiên anh nghe có tiếng khóc nức nở; đó làGeneviève de Galard, đứng tựa lưng vào vách hầm, đang khóc. Bị tắc nghẽn ở lại đây từ ba ngày hôm nay cùng với phi hành đoàn, cô tiếp viên hàng không này vốn đã dũng cảm quay trở lại Điện Biên Phủ, nay không còn biết làm thế nào để giúp đỡ các thày thuốc nữa. Các trạm phẫu lưu động đầy ứ thương binh và người chết; nỗi đau đớn đã trở thành món ăn hàng ngày, trở thành thứ nước bẩn mà người ta uống, bầu không khí nồng nặc mà người ta hít thở. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 06:45:20 pm Ngày 1 tháng tư 1954 Cogny sững sờ cầm lá thư nhục mạ do Navarre gửi đi từ Sài Gòn ngày 29 tháng 3 và chỉ đến với mình theo con đường công văn. Tức điên người, Cogny bỏ nhiều giờ liền để soạn thảo một bức thư trả lời mà ông sẽ cho mang đi, rồi sau đó đột nhiên yêu cầu có cuộc hội kiến mà Navarre đồng ý cho gặp vào ngày hôm sau. Điện Biên Phủ giờ đây ra sao, ở đó Bigeard bám lấy Eliane, ở đó Grauwin đặt các thương binh nằm trong vũng bùn, ở đó Langlais, đầu để trần, ngóng đợi những chiếc Banjos thả dù hai tiểu đoàn mà ông ta đã yêu cầu! Lúc 4 giờ sáng, người ta đã huỷ bỏ việc đánh chiếm lại Eliane 2, một phần đã bỏ mặc cho quân Việt. Lúc 9 giờ, Langlais tung ra một cách vô vọng trận phản kích thứ năm và hoả lực bắn thẳng của các vũ khí tự động đã ngăn chặn việc thu gom một phần lớn các bọc hàng được thả xuống. Một chiếc Dakota bị bắn hạ. Được thay thế bởi một đại đội của tiểu đoàn I/ R.E.I1 2, trên cứ điểm Huguette 7, đại úy Bizard bước xuống Huguette 1, ở đó đến lượt mình, anh thay thế cho một đại đội lính Thái mà Langlais đã cho tước vũ khí, bởi lẽ những lính Thái cuối cùng phải chống giữ điểm tựa FranÇoise đã bỏ chạy và điểm tựa đã bị mất mà không có giao chiến. Tuy nhiên, những người Thái ấy, nếu như có những con người vững vàng chỉ huy, họ sẽ đứng vững. Tiểu đoàn số 2 của họ, bảo vệ cây cầu và đoạn đường nối giữa Eliane và Dominique chưa bao giờ dao động bởi vì người chỉ huy và tất cả cán bộ khung của họ đều gương mẫu, trong cái đêm mà binh lính Algérie ở Dominique bỏ trốn, họ không hề nhúc nhích. Dưới những trận mưa nhấn chìm khu lòng chảo, họ tỏ ra kiên cường. Trong số các sĩ quan của họ, Điện Biên Phủ đã biến một tay kỵ binh thanh mảnh tóc vàng, xưa kia ăn mặc chải chuốt, thành một người dân đảo Corse có bộ râu hung đỏ, một băng vải dù quấn quanh trán, cánh tay buộc chéo qua vai, sẵn sàng quay nòng súng liên thanh bắn vào những ai dao động: đó là trung úy Guy de la Malène. Cogny chuyển một tờ trình để chứng minh với Navarre rằng việc thả dù và yểm trợ cho một cuộc hành binh xuất phát từ Lào là có khả năng, nếu như có 18 chiếc Dakota ở Lào và đủ những chiếc dù. Lúc 16 giờ 30, Cogny điện bằng sóng thông tin của riêng mình chuyển cho đại tá De Castries bản chỉ lệnh của tướng Navarre, trong đó Cogny đã sửa chữa đôi chỗ gay gắt. Castries và Langlais biết rằng kể từ lúc này họ không còn hi vọng gì to lớn từ Hà Nội nữa. Lúc 18 giờ, tuyến chiến đấu trên đồi Eliane 2, ở đó chiếc xe tăng Bazeilles bị phá huỷ, đã chuyển lên đỉnh đồi. Ban đêm, bắt đầu cuộc thả dù tiểu đoàn 2 thuộc R.C.P2 số 1. Cuộc thả dù kéo dài đến ngày 4 tháng tư, bởi vì bãi tiếp nhận thu hẹp vào phần phía nam đường băng, và khu vực bay của những chiếc Dakota buộc phải bay thấp để tránh đạn cao xạ cho nên hết sức chật chội. Mười hai chiếc Banjos, mỗi đêm, cố gắng lắm chỉ thả được quân số một đại đội. Một chiếc B.26, do trung úy Beglin lái không thấy quay về căn cứ. Ban đêm, Huguette 7 bị một trận xung phong của quân Việt tràn qua, bị nuốt chửng cùng với toàn bộ đơn vị chống giữ. Đến Sài Gòn ngày hôm ấy, đại tá Brohon ngay lập tức ngược ra Hà Nội trên chiếc máy bay của viên cao ủy Dejean, đang cùng đi với đại tá. Thời gian thúc ép. Mười lăm phút sau khi hạ cánh giữa cơn mưa phùn, một bữa ăn tối tại Tòa nhà nước Pháp, do ngài Dejean tổ chức tiếp khách, đã họp mặt các viên tướng Navarre, Bodet và Cogny. Sau bữa ăn, một cuộc họp bí mật diễn ra. Giống như các cuộc họp chiến tranh thu hẹp, người ta không có thư ký và Navarre đề nghị mọi người không ghi chép. Sẽ không có biên bản. Thậm chí người ta cũng không nhắc đến việc giữ lại các cuốn sổ của sĩ quan tùy viên. Đại tá Brohon báo cáo về đề nghị của đô đốc Radford và truyền đạt những câu hỏi mà ủy ban Chiến tranh thu hẹp đưa ra. Brohon nêu ra những mối nguy hiểm của việc ném nhiều quả bom A, mà người ta cần phải không chỉ bằng lòng ném vào những kho dự trữ mà là vào điểm gần nhất với trung tâm đề kháng: dù cho bán kính phá hủy có hạn hẹp đến đâu, những sóng xung kích nhiệt hạch tạo ra bởi hoàn cảnh địa lý của khu lòng chảo cũng có thể là một nguy hiểm nghiêm trọng đối với đội quân đồn trú. Ngoài ra, cần thiết phải hết sức chính xác và những điểm bom rơi phải được vật chất hoá trên mặt đất bằng những vật chuẩn có màu sắc, không thể nhầm lẫn với bất kỳ thứ gì khác. Ấy vậy mà ở Đông Dương chỉ có những vật chuẩn màu vàng nhìn không thật rõ ở độ cao các máy bay ném bom sẽ phải bay và vì màn khói hay màn sương mù thường hay che phủ bãi chiến trường. Những vật chuẩn nhìn thấy rõ hơn sẽ phải gửi từ mẫu quốc sang hoặc do những người Mỹ thả xuống. Ngoài ra, bom A sẽ có hiệu quả ra sao đối với một đối phương ẩn nấp sâu trong lòng đất? Liệu những rắc rối về ngoại giao diễn ra tiếp sau đó, có đáng để tiến hành một việc nhọc lòng như vậy? Navarre lắng nghe ý kiến của các cấp dưới và của ngài Dejean và hẹn sẽ có câu trả lời của mình vào ngày mai. ______________________________________ 1. R.E.I: Viết tắt có nghĩa trung đoàn bộ binh ngoại quốc. - N.D 2. R.C.P: Viết tắt có nghĩa trung đoàn dù thuộc địa. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 06:59:45 pm Ngày 2 tháng tư 1954 Sau một đêm Eliane 4 phải chịu trận hoả lực dữ dội của súng cối 120, viên chỉ huy các đội xung kích Séguins Pazzis, trong bộ tham mưu của De Castries lên thăm vị trí vào lúc rạng sáng. Lợi dụng một lúc ngừng bắn người ta dẫn anh đến sở chỉ huy, ở đó Bigeard uống một ca nước quả cùng với viên thư ký, viên sĩ quan cấp phó và các chiến sĩ thông tin. Dự đoán rằng một quả đạn pháo có thể xuyên thủng nóc hầm, Bigeard đã cho đào ở dưới đáy cái ổ chuột của mình những chiếc hàm ếch, ở đó giống như quân Việt, anh cùng với kíp của mình có thể ẩn nấp khi pháo đạn 105 bắn dồn dập. Trèo lên tận chỗ đó, Séguins Pazzis đã nhìn thấy những vị trí hỏa lực bị đổ sập xuống lớp bùn, những xác chết bị vùi đến một nửa thân hình trong đống đổ nát. Trong số các khuôn mặt nhợt nhạt, khuôn mặt của Bigeard lấm đầy bùn đất gây ấn tượng bởi vẻ cương quyết giữa khung cảnh thê thảm này. - Nhìn thấy anh khống chế được tình thế như thế này một cách hết sức bình tĩnh, người ta buộc phải nghĩ là anh sinh ra là để cho những hoàn cảnh này. Bigeard mỉm cười. Đối với Séguins Pazzis, anh không có nhiều cảm tình. Họ không cùng một dòng dõi. Séguins Pazzis không phải là một thủ lĩnh băng đảng như anh mà là một sĩ quan truyền thống, quý tộc cho đến tận xương tủy, có văn hóa, nhạy cảm, bản thân cũng xuất thân - với khuôn mặt nhỏ bé, vầng trán rộng và nỗi sầu muộn - từ hành lang của các nhà quân sự trong các bức tranh của Greco1. Lời khen của anh vì vậy càng có thêm sức nặng. Séguins Pazzis thực hành tác chiến với nét duyên dáng và một vẻ giễu cợt nào đó, tựa như anh thuộc về đạo quân của vua FranÇois đệ nhất2 ở Marignan3. Là kỵ binh, anh hoàn toàn không còn tin tưởng vào thứ vũ khí gốc gác của mình trong chiến tranh du kích nữa, anh đã xin được chuyển sang lực lượng bộ binh thuộc địa, đã theo học các lớp ngôn ngữ phương Đông và các vấn đề của đạo Hồi. Đối với anh cuộc tranh chấp ở Đông Dương sẽ không được giải quyết trên trận địa mà là trong tâm linh, nhưng anh thầm ghen tị với Bigeard người đã có những cách nhìn vấn đề hết sức đơn giản, cũng như anh thấy mến phục tinh thần quả cảm của Bigead. Bigead vênh mặt lên: Anh con trai của người viên chức nhỏ ngành đường sắt ở thành phố Toul, bao giờ cũng cảm thấy sẵn sàng đem mạng sống của mình ra để đền đáp những lời khen thốt ra từ cửa miệng các ông hoàng mà anh khâm phục. Ở Hà Nội, trong buổi sáng, một cuộc hội kiến mới diễn ra trong Tòa nhà nước Pháp. Sáu mươi chiếc B.29 được hộ tống bởi một trăm năm mươi chiếc khu trục của Hạm đội 7 có thể tạo ra một tiếng sấm rền mà chưa cần nổ ra tiếng sét. Khi ngài Dejean lại lên đường trở về Sài Gòn lúc 14 giờ 45 phút, đặc phái viên của chính phủ mang theo một câu trả lời "Không!" của tướng Navarre. Trong nỗi lo sợ rằng đến lượt họ, không quân Trung Quốc sẽ tấn công Điện Biên Phủ và các căn cứ không quân chăng? Đó là lí do được nêu ra cho đến tận bây giờ, cũng như người ta đã khẳng định là tướng Navarre vẫn không biết rằng các máy bay B.29 sẽ thả xuống những quả bom A. Lời nói dối con trẻ đã không đứng vững được trước thử thách của thực tế: tướng Navarre, chuyên gia về trinh sát, không thể nào không biết rằng - cuộc hành binh Vautour nhằm mục đích gì. Cũng chẳng phải là ông không biết rằng việc chỉ huy một tổ hợp như vậy sẽ thoát khỏi tay ông một cách tai hại và rằng một sĩ quan cấp tướng khác sẽ nắm lấy quyền lực của chính ông, lúc đó đùng một cái trở thành cấp dưới. Giữa Navarre và Cogny, cuộc va chạm diễn ra lúc buổi chiều , từ 16 giờ 10 đến 17 giờ 10 trong văn phòng của Navarre, ở tầng một toà biệt thự gần Hồ Tây, chìm trong màn mưa phùn. Cuộc va chạm nặng nề, đầy giông bão. - Chúng ta đã viết cho nhau những chuyện khó chịu, Navarre nói với một vẻ độ lượng giả bộ. Giờ đây cần bình tĩnh thảo luận những chuyện đó. Cogny tấn công và cất cao giọng. Ông giận dữ nói hết với Navarre nội dung câu trả lời của ông và tuyên bố là ông không còn sẵn sàng phục vụ các mệnh lệnh của Navarre nữa, ông để cho Navarre quyết định nếu như việc cách chức ông phải thực hiện ngay lập tức. Ông nhắc lại để Navarre nhớ rằng quyết tâm giao chiến ở Điện Biên Phủ hoàn toàn chỉ là của riêng tổng chỉ huy, rằng việc sử dụng những giải pháp cầu âu, theo logic học bao giờ cũng chỉ đưa tới thảm họa và rằng Cogny, ông bao giờ cũng chỉ là một người thực hiện, ông nghĩ rằng số phận của binh đoàn Gono, có thể, tuỳ thuộc ngay trong đêm nay, vào lực lượng tăng viện mà người ta có gửi tới hay là không? Còn về Navarre, ông thở phào nhẹ nhõm, với niềm tin đã có rằng Cogny đã phản thùng ông từ lâu khi tố giác với các nhà cầm quyền cao cấp đến thăm xứ Bắc Kỳ về những quan điểm sai lầm trong trận đánh đang diễn ra. Một hôm, ở Paris, trước mặt bà vợ tướng Catroux và bạn bè, bà Navarre đã rút trong túi xách ra một lá thư được chuyển vòng quanh các bộ ghế và trong lá thư đó, chồng bà đã viết: "Cái th.... Cogny ấy phản thùng tôi ngày này qua ngày khác". Navarre nhắc lại với Cogny câu này. - Nếu như anh không phải là tướng bốn sao, Cogny hét lên, thì tôi đã cho anh cái tát vào mặt rồi. Navarre tái mặt. Ở bên kia vách phòng, cô thư ký nghe thấy tiếng quát nhưng trong phòng chỉ có hai viên tướng với nhau. Cogny bình tĩnh lại và rút lui. - Tôi yêu cầu anh giữ kín chuyện này, Navarre bảo. - Tôi coi đó là nghĩa vụ đầu tiên trong các nghĩa vụ của tôi, Cogny đáp lời và dập hai gót chân. _________________________________ 1. Greco: Họa sĩ gốc Hi Lạp (1541 - 1614) trong tranh vẽ của ông có nét độc đáo và táo bạo. - N.D 2. FranÇois đệ nhất: vua nước Pháp (1494 - 1547) trị vì từ 1515 đến 1547. Là một nhà vua có tài năng, có nhiều công lao xây dựng đất nước và quân đội Pháp. 3. Marignan: Địa danh ở Ý, phía đông nam Milan, nơi vua FranÇois đệ nhất đánh thắng người Thuỵ Sĩ (1515). - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 07:06:05 pm Ngày 3 tháng tư 1954 Lợi dụng thời gian yên ắng, Langlais đi theo con đường mà ở đó người ta gọi là đường Mêtrô; cái mạng lưới đường hầm, giao thông hào và các đoạn hành lang tối om, trong đó người ta đi lại để tránh được pháo đạn và ở đó, kể từ ngày 13 tháng ba người ta chưa bao giờ thấy Castries mạo hiểm, có lẽ, như ông đã nói với tôi, bởi vì vị trí của ông là ở bên chiếc máy điện thoại của mình. Cũng có lẽ do vì người ta đã không trông thấy ông khi ông đi ra ngoài lúc ban đêm. Về vị trí của Castries cũng như của Cogny hay của Navarre, ý kiến rất khác nhau. Một thủ trưởng chỉ huy từ sở chỉ huy của mình, điều đó là chắc chắn. Nhưng ông ta phải tiến hành một vài động tác và những động tác ấy đã không được tiến hành. Con sói gầy gò có đôi mắt xanh, đôi tai to mà người ta ngạc nhiên khi thấy chúng không nhọn hoắt với chiếc hàm dài sẵn sàng cắn xé bằng đôi môi mỏng dính và sắc lẹm, Langlais một mình bước đi, đầu đội chiếc mũ nồi đỏ đã phai màu, một khẩu súng lục mắc vào sợi thắt lưng đã xiết chặt mà vẫn còn quá rộng đối với vòng bụng của ông. Một trí tuệ lớn ư? Langlais không có tham vọng ấy. Ông thừa nhận những sai lầm ông đã phạm phải về những con người và các tình thế, bởi lẽ ông có trái tim. Hôm qua, ông đã nhận được của cô em gái một lá thư, đóng dấu của Malestroit (Morhiban): “Trời đẹp, bọn trẻ con chơi trò xây dựng tập đoàn cứ điểm ở trong khu vườn. Em cầu mong ông trời ban cho chúng lòng dũng cảm cũng như cho các anh ...". Đột nhiên, nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt ông. Ông từ chối một cách ngây thơ những cử chỉ tôn kính người ta dành cho ông và mong muốn những tình bạn mà về phía mình ông ban phát rộng rãi cho những người xoàng xĩnh nhất trong số người mà ông gặp trong các giao thông hào, trước mặt các hố chiến đấu của họ. Ở giữa những tấm dù trải rộng, những hộp khẩu phần nằm lật ngửa, những trang phục bị vứt bỏ và những bọc hàng giờ đây không còn một ai có sức để mở ra nữa. Người ta chào ông và ông bắt tay. Ông bước vào các căn hầm, ngồi xuống các giường ngủ, truyền tay nhau một chai cô nhắc, lại quay trở lên khoảng không thoáng đãng, nhẩy từ mô đất này đến mô đất khác cho tới tận các vị trí mũi nhọn. Những viên đạn bắn thia lia vào các bờ hào và rít lên như tiếng mèo kêu, những quả đạn súng cối nổ tung. Ông không nao núng. Không còn chút ảo tưởng nào, ông nghĩ: "Họ nện đây", không hề dự tính là số mệnh có thể đưa mình đến đúng chỗ quả đạn rơi xuống. Khi đạn pháo không rơi trúng vào mình, ông giận dữ phủi bụi trên bộ quân phục dã chiến, nhưng giọng nói của ông trước micrô không thay đổi và hai đầu gối của ông không run rẩy. Ông đã coi một vài sĩ quan là hèn nhát. Giống như Bigeard, đây là con người của chiến trận và chiến trận là nguồn sống của ông. Không bao giờ ông nghĩ đó đến việc lùi bước, bởi lẽ ý nghĩ không bao giờ xuất hiện trong đầu óc ông. Đối với Bigeard lại là vấn đề khác: dù cho cái giá phải trả là bao nhiêu, không bao giờ Bigeard chấp nhận là mình bị đánh bại, nhưng anh biết rằng anh có thể bị như thế, một hôm nào đó do bị bất ngờ, dưới những đòn đánh của một đấu thủ trẻ tuổi. Như vậy là Langlais không dự tính chuyện xấu nhất. Ông tin chắc là mình sẽ thắng, sẽ nhận được lực lượng tăng viện, là sẽ chiếm lại những ngọn đồi đã mất, cũng như ông tin là mình sống. Trong lúc đó thì kể từ lúc trông thấy trung tá Gaucher chết, viên trung sĩ Sammarco bắt đầu tự hỏi làm thế nào để mọi chuyện kết thúc. Trong vòng mười lăm ngày, được chỉ định chiếm giữ những điểm tiền tiêu, cùng với ba người lính Thái, được chọn lấy một cách tình cờ, anh tiến ra bố trí ở bên ngoài hàng rào dây thép gai vào ban đêm để theo dõi tiến độ các công trình của đối phương. Khi nghe thấy đối phương đào cuốc đất, những người Thái báo cho anh biết và Sammarco nói thầm vào máy bộ đàm, báo về cho hệ thống phòng thủ. Lúc đó, họ nằm dán mình xuống đất để tránh những loạt đạn pháo rơi xuống trước mặt họ. Nhưng bất kỳ ai cũng như trung sĩ Sammarco, khi trông thấy Langlais đi qua đều lấy lại được niềm tin. Đây chỉ là một giây phút khó khăn phải trải qua: có chuyện gì đó sẽ xảy ra và đảo ngược tình thế! Ở Hà Nội, tướng Navarre cho người mang đến cho tướng Cogny lá thư trả lời cho bức thư của Cogny ngày 1 tháng tư: ông công nhận điều mong muốn của Cogny là tốt, cũng phù hợp với quan điểm của riêng ông là sẽ không kéo dài nhiệm vụ của Cogny ngay sau khi kết thúc chiến dịch đang diễn ra. Từ chối tiếp tục một cuộc tranh cãi vô bổ về những lực lượng mà Cogny đã sử dụng trong chiến dịch, Navarre khẳng định rằng việc duy trì những vị trí chủ chốt ở vùng đồng bằng vẫn là một mối bận tâm của mình. Buổi sáng, một cuộc họp diễn ra trong khu thành cổ Hà Nội giữa hai viên tướng và viên tư lệnh không quân thuộc đạo quân viễn chinh. Ban đêm, đại đội tăng viện cuối cùng được thả xuống theo trục đường băng sân bay, ở khoảng giữa cứ điểm Huguette và cứ điểm Epervier, bãi duy nhất còn lại có thể tiếp nhận được. Lúc 23 giờ, kíp nhân viên cắm cọc tiêu vừa kịp đến vị trí chuẩn bị tiếp đón những chiếc Banjos thì trận tấn công vào Huguette nổ ra. Langlais lệnh cho những chiếc máy bay đầu tiên chờ đợi, và đề phòng nguy cơ nhẩy dù vào vị trí của đối phương, ông quyết định cho nhẩy vào trung tâm tập đoàn cứ điểm. Ông hạ lệnh đốt cháy một thùng étxăng dưới lòng sông, đoạn ở phía hạ lưu chiếc cầu một chút, để làm vật chuẩn, cốt để cho đơn vị tăng viện được thả dù ở độ cao thấp, sẽ rơi xuống giữa đám hàng rào thép gai trong khu vực bệnh viện và trên sân đỗ của máy bay trực thăng. Khoảng nửa đêm, cuộc can thiệp tức thì của các phân đội dự bị và xe tăng đã giải thoát được cứ điểm Huguette. Ngày 4 tháng tư 1954 Bréchignac, mật danh là Brèche chỉ huy tiểu đoàn 2 thuộc R.C.P1 1 dành cho cứ điểm Epervier, ban đêm quần áo rách tướp, anh tới trình diện với sở chỉ huy của Langlais. Béo mập, khuôn mặt tươi tỉnh với đôi mắt sáng, Bréchignac là một trong số những người lính dù lâu năm nhất và một trong số sĩ quan hoàn hảo nhất của quân đội Pháp. Khi nhắc đến anh, người ta nói: "Đó là một người ghê gớm". Là đối thủ của Bigeard, vốn không yêu quý gì Bréchignac nhiều lắm. Khác với Bigeard , Bréchignac giản đi, khiêm tốn và vô tư. Những ý kiến đánh giá của anh rõ ràng, đôi khi tàn nhẫn, và không bao giờ anh thay đổi quyết định của mình, nhưng lòng độ lượng và tinh thần dũng cảm của anh đã trở thành huyền thoại. Không phải chỉ có quân dù nhẩy xuống. Kể từ khi người ta biết được tình thế của tập đoàn cứ điểm, hàng nghìn tình nguyện viên có mặt, đôi khi nguyên cả từng đơn vị. Qua máy bộ đàm, Langlais đã cãi cọ rất lâu với các cơ quan tham mưu ở Hà Nội, để cuối cùng giành phần thắng là người ta sẽ thả họ xuống mặc dù chưa được qua huấn luyện. Một lần nhẩy đầu tiên, mọi người đều có thể mạo hiểm mặc dù không biết công việc đó là như thế nào. Và lần thứ hai... Nhiều ngày trước khi xuất phát, nhiều giờ trước buổi tối được ấn định, những tình nguyện viên đã có thể đo đếm được mức độ điên rồ của ý định của họ, đã nhấm nháp đi nhấm nháp lại trong miệng cái thứ nước bọt đắng ngắt khi kề bên cái chết, hạn chế những cái ngáp dài do những cơn co giật của hệ thần kinh khi đứng trước tấm bản đồ bãi nhẩy nằm giữa những bãi mìn, những hàng rào dây thép gai và những chiến hào tiền duyên của đối phương. Một giờ rưỡi bay, ngồi trên hàng ghế của những chiếc Dakota kết thúc giai đoạn đó. Viên phi công hãm bớt động cơ, để cho máy bay trườn xuống theo đường xoắn ốc, mọi ánh đèn tắt ngấm, lao xuống khu lòng chảo đen tối, đôi khi lắc la lắc lư trong làn sóng xung kích của một loạt đạn pháo cao xạ. Qua khung cửa mở toang hoác, ánh lửa những đám cháy trôi đi, thi thoảng loé lên ánh lửa của đạn pháo lúc ra khỏi đầu nòng và nổ tung khi tới đích. Một dãy ghế, mười hai người đứng dậy, móc một chiếc vòng sắt vào sợi dây sẽ mở màn đợt nhẩy đầu tiên và chờ lệnh để lao ra. Nếu như họ biết, phải, nếu như họ biết rằng cho đến giây phút này họ vẫn còn có thể bỏ cuộc và không một ai sẽ có quyền khinh bỉ họ bởi lẽ những gì họ làm vượt quá sức mạnh của con người. "Anh đếm đến ba. Nếu như anh vẫn rơi xuống...". Đầu mũi dính sát vào lưng người đồng đội đi trước, họ sờ soạng tìm kiếm cái tay nắm bằng kim loại sẽ có thể là sự giải thoát, bởi lẽ, lúc này đã không còn kịp nữa rồi. Phải buông chân vào màn đêm tối, vừa tự nhủ rằng nếu như cánh dù không bung ra, thậm chí không một ai còn nhớ tới, đủ thấy là nỗi bất hạnh thật lớn lao, một hành động tự do đến thế, có vẻ như là lao mình xuống cái vực thẳm của sự rồ dại phổ biến, ngay trước mắt của chính những nhân vật tham gia vào vở diễn ấy. Giây phút ngắn ngủi hoang mang và tuyệt vọng mà đôi khi sự do dự của viên phi công kéo dài ra. Đoạn cuối cùng, phần lớn trong số họ không còn nhớ lại được nữa, bởi lẽ mọi chuyện diễn ra quá nhanh, và niềm hạnh phúc thấy mình còn sống mắc vào những mấu dây thép gai, bị hơi nổ của đạn pháo tạt vào mặt, đã làm cho họ quên đi cơn thở dốc thoát ra từ lồng ngực khi họ bị hẫng chân và rằng tiếng động cơ và mùi vị khó chịu của chiếc máy bay đột ngột được thay thế bởi khung cảnh im ắng và bầu không khí dễ thở. Làm thế nào thoát ra khỏi những sợi dây thép nhằng nhịt với những chiếc gai móc rách quần áo, làm xước làn da thịt và tiến về hướng nào để tìm thấy sự giúp đỡ đã hứa hẹn đây? Thật là những câu hỏi nhỏ nhặt, khi mà người ta đã đứng xuống được, con tim nở bung ra vì một chiến thắng với bản thân mình. Khoảng không gian của tập đoàn cứ điểm chìm đắm trong màn đêm, nhưng rồi cuối cùng, kể cả khi họ rơi xuống khu nhà xác, giữa đống thây người, mọi người đã nhấc được cánh liếp của một căn hầm và gặp được những khuôn mặt sống, nói cùng một thứ ngôn ngữ như họ và đưa dẫn họ tới nơi tập trung. Một đôi lần Langlais đã ngạc nhiên khi thấy có những sứ giả được giao nhiệm vụ mang tới cho ông những lá thư và những chai rượu vang trắng xứ Loire, những sứ giả này đã trúng đạn súng cối chết cách đó không xa. Lúc 4 giờ rưỡi, bình minh hửng lên vào ngày chủ nhật này của lễ Passion2. 5 giờ, ánh mặt trời soi sáng những đỉnh núi lởm chởm răng cưa, những sườn núi mầu xanh loang lổ vết cháy của napan, những mỏm đồi bị cạo trọc, hai khối tròn của Eliane 4 và 1 mà giờ đây người ta gọi là các đồi "Lo lo", cánh đồng đất sét màu vàng và xám, lởm chởm các thứ vũ khí và hàng rào thép gai, lốm đốm những chiếc dù mà giờ đây không một ai thu nhặt lại nữa, cánh đồng ấy phồng lên với những đoạn bờ ruộng, lỗ chỗ những hố đạn pháo, ứ đọng đầy nước mưa. Hành tinh kỳ lạ ở đó sinh sống những cái bóng đầu đội mũ sắt hay mũ lá cọ, phân chia thành hai khối được ngăn cách bởi những khúc sông, dưới một bầu trời ầm ầm tiếng máy bay, giữa đám máy bay những dải khói đen nở bung và bị cơn gió kéo dài ra. Gần sở chỉ huy của De Castries, vẫn còn sừng sững một thân cây trúng đạn bị xé rách, dòng nhựa cây chưa khô cạn vẫn từ từ chảy. Giống như nghi lễ phục sinh, cuộc đọ sức giữa cái sống và cái chết sắp diễn ra. Ngày hôm đó một niềm hi vọng đã truyền qua các dàn ăngten thông tin, ở đó Cogny bắt được điện cho biết lực lượng tăng viện do mẫu quốc gửi tới cho phép tăng thêm quân số tương đương một tiểu đoàn. Nhận được tin này, Langlais rú lên vì vui mừng. Nhưng mà tiếp nhận tiểu đoàn mới ấy ở đâu đây khi mà pháo đài tiền tiêu Huguette 6 không giữ vững được? Giờ đây, chỉ cần một cơn gió mạnh đủ để đẩy những chiếc dù sang phòng tuyến của đối phương. Trên bầu trời của Isabelle, đã cần tới năm tiếng đồng hồ để thả được bẩy mươi con người. Ban ngày trời xấu hết mức. Độ cao từ 3 đến 4000 mét duy nhất có thể cho phép các máy bay thoát khỏi bị tiêu diệt lại làm cho các bọc hàng vương vãi lung tung, bất chấp mọi hệ thống ngắm mà người ta nghĩ ra. Không có máy bay khu trục bảo vệ, những chiếc Packets ném khối hàng xuống ngay một lúc chẳng khác gì những chiếc xe ben, đôi khi đẩy khối hàng sáu tấn của nó ra cách xa nhiều kilômét. Người ta đã thử thả những chiếc côngtennơ, được cố định vào các thanh xà của máy bay B.26 và bay thật thấp thả xuống; hiệu xuất quá thấp đến nỗi người ta phải từ bỏ cách làm đó. Khi trời đẹp, mười tám chiếc Dakota hàng ngày có thể thả xong khối tải trọng của chúng, một nửa khối đó rơi vào phía quân Việt. Kể từ ngày 13 tháng 3, đạo quân viễn chinh đã tăng cường khối vật chất cho đội quân của đối phương bằng việc trút xuống các vị trí của họ một phần lớn đồ tiếp tế của mình. Trong chương trình phát thanh gần như tất cả các buổi tối, quân Việt nhắc đi nhắc lại: “Xin cảm ơn về những khẩu 105. Người ta sẽ gửi trả các bạn nhưng là bằng những quả đạn của chúng". Cộng thêm vào những chiếc xe ô tô Molotova và G.M.C, những chiến sĩ dân công nhân dân, những con thuyền và đàn ngựa, những chiếc xe đạp Peugeot, giờ đây lại có thêm những chiếc máy bay. Khi những chiếc Dakota đầu tiên trong buổi sáng bay tới, quân Việt cười reo: "Dân công trên trời- Đây là đám dân công trên trời". Đó là phần góp sức của cá nhân Navarre, do không biết cách sử dụng không quân, góp thêm vào sự chi viện của Trung Quốc. ________________________________________ 1. R.C.P: Viết tắt có nghĩa trung đoàn dù thuộc địa. - N.D 2. Passion: Lễ Sự thương khó của đấng Ki tô - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 07:10:37 pm Đêm 4 rạng ngày 5 và cả ngày 5 tháng tư 1954 Langlais đang định nằm dài ra giường ngủ thì cơn sấm rền đạn pháo 105 của tướng Giáp đổ ập xuống Huguette 6. ClémenÇon, chỉ huy điểm tựa kêu gọi lực lượng dự bị. Qua bộ đàm, Langlais báo cho biết ông gửi cho anh ta đại đội Clédic, thuộc tiểu đoàn của Bréchignac. Hai cụm pháo của trung tâm phòng ngự chủ yếu khạc ra màn hoả lực bắn chặn. Lúc 21 giờ, quân Việt đã đặt chân vào được các công sự. 21 giờ 30, bất chấp pháo hoả của đối phương, đại đội Clédic đã cố tiến được đến Huguette 6, gặp quân lê dương đang bám giữ ở đó nhưng đơn vị đó nhanh chóng xin cấp cứu. Mảnh trăng non đã lặn mất phía sau dãy núi và trong màn đêm đen, những chiếc Dakota tiếp tục thả dù lực lượng tăng viện vào giữa đám hàng rào dây thép gai. Langlais chuyển đại đội Bailly thuộc đội xung kích số 8 lên gần điểm nóng. Tourret đề nghị cho xe tăng yểm trợ đơn vị này. - Có bao nhiêu con bò rừng còn chạy được? Langlais hỏi Hervouët. - Hai con. - Lên đường! Bailly tiến lên theo đoạn rãnh đào chạy dọc phía đông sân bay. Đơn vị bị tổn thất nặng trước khi tiến đến được Huguette 6 và không thể tiếp cận được. Quân Việt đã bao vây cứ điểm và ngăn chặn mọi đường tiếp cận từ hướng nam và dùng súng Badoca bắn phá các xe tăng. Lúc 4 giờ sáng, Langlais gọi Bigeard, vốn từ trên chiếc chuồng chim của mình ở Eliane 4 đã theo dõi mọi diễn biến qua máy thông tin. - Cậu không ngủ đấy chứ? Có thể tôi sắp cần đến cậu. Trở về Paris trong buổi tối ngày chủ nhật ấy, đại tá Brohon tìm đến phố Puvis de Chavannes, ngôi biệt thự riêng của tướng Ely. Tướng Ely sống ở đó như một cái bóng thành kính của một nguyên soái, giữa những bộ áo giáp và những lá cờ Đại tá đang báo cáo tỉ mỉ với ông nhiệm vụ của mình được giao và những lý lẽ Navarre đã dùng để bác bỏ cuộc can thiệp của người Mỹ thì một sĩ quan của ủy ban Quốc phòng mang tới một thông báo tối khẩn, làm gián đoạn cuộc hội kiến. Thì ra sau khi đã suy nghĩ Navarre chấp nhận chiến dịch Vaulour và mong muốn chiến dịch đó sẽ diễn ra trong một thời hạn từ sáu đến tám ngày. Vì lí do gì mà Navarre đã thay đổi ý kiến như vậy? Vì cớ gì mà không quân Trung Quốc, vốn không nể nang gì mà không đánh trả bằng cách tấn công các căn cứ không quân của đạo quân viễn chinh, giờ đây lại không đáng ngại như vậy? Câu chuyện đầy kịch tính làm cho nét mặt đại tá Brohon tươi tỉnh và một nụ cười bí ẩn thoáng hiện trên khuôn mặt tái nhợt và lạnh lùng như chiếc mặt nạ tang lễ của tướng Ely; ông lập tức đề nghị triệu tập cuộc họp của Ủy ban Chiến tranh thu hẹp ở điện Matignon. Bầu không khí sôi sục. Cuối buổi chiều, chủ tịch hội đồng chính phủ và ngài Pléven bị những người biểu tình trong lễ kỷ niệm Ngọn lửa ở đài Chiến thắng, tấn công. Được báo động vì những tin tức về Điện Biên Phủ, hội những người ở Đông Dương cũ đã kêu gọi các hội viên của mình la ó các vị bộ trưởng. Bị đám đông vây kín trong mười phút, vất vả lắm ngài Pléven cũng như ngài Laniel mới ra được xe ôtô. Đại tá Brohon được mời phát biểu, ông nhắc lại những gì ông biết về Điện Biên Phủ và những ý kiến của Navarre. Một vài thành viên trong chính phủ cố gắng tự thuyết phục bản thân rằng tình hình chưa đến nỗi bi thảm đến như vậy và đặt ra những câu hỏi với hi vọng rằng đại tá Brohon sẽ ghi nhớ những suy nghĩ của họ - theo lời của một nhân chứng, những câu trả lời tung ra như một chiếc máy chém và huyền thoại "Crevecoeur" mà người ta đã nhắc đến, huyền thoại sẽ cứu vãn Điện Biên Phủ bằng những tiểu đoàn của nước Lào, đến lượt nó bị băm nát. Tướng Fay chiến thắng và Ely là nhân vật mang tâm tư nặng trĩu. Ngay từ lúc đó, Ủy ban Chiến tranh thu hẹp đồng ý nhìn thấy ở chiến dịch Vautour, phương sách duy nhất để cứu vãn Điện Biên Phủ, với điều kiện là, theo những câu chữ mà Navarre sử dụng trong bức điện của ông, “chiến dịch đó phải được tiến hành ồ ạt ngay lập tức". Thời gian thúc bách. Người ta quyết định hỏi ý kiến vị đại sứ Mỹ ở Paris. Có ai đó để lộ ra rằng việc này sẽ khó khăn vào một ngày chủ nhật và vào cái giờ này, bởi lẽ đã gần nửa đêm. Chưa đầy ba phút, ngài Douglas Dillon đã trả lời qua điện thoại. Ông ta đến. Hội nghị tạm nghỉ. Trước mặt vị bộ trưởng ngoại giao, ngài Laniel đề nghị vị đại sứ yêu cầu chính phủ Mỹ mở màn chiến dịch Vautour. Ngài Dillon hứa sẽ liên lạc ngay với chính phủ của mình. Tuy nhiên ông cho biết rằng trái ngược với những gì mà người ta nghĩ lúc ban đầu, Tổng thống Mỹ có thể bắt buộc phải xin ý kiến quốc hội. Nhờ có chênh lệch về giờ giấc cho nên không phải là không hi vọng có được câu trả lời cho ngày hôm sau. Theo một số người này thì hai tầu sân bay của hạm đội 7, tàu Boxer và tàu Phillipe Sea, theo một số người khác thì là tầu Essex, có mang bom A, đang đi lại trong vịnh Bắc bộ. Cùng lúc đó, đô đốc chỉ huy nhóm tàu này cùng bộ tham mưu của mình bay lượn trên bầu trời Điện Biên Phủ suốt đêm. Tiếng ì ầm của những chiếc Dakota thả pháo sáng và bom napan đã khiến cho Langlais không nghe thấy tiếng sấm rền của những chiếc máy bay phản lực. Trên những máy bay đó các sĩ quan Mỹ đã nhận biết được hành trình bay và mục tiêu oanh tạc. Sáu khẩu pháo thuộc các cụm pháo yểm trợ cho trận phản kích trên đồi Huguette 6 bị phá huỷ. Người ta thay thế chúng bằng các khẩu súng cối 120. Bigeard từ Eliane 4 xuống và cùng với Langlais ngồi xe Jeep đến Huguette 3, ở đó có mặt ClémenÇon. Đứng trước những tấm bản đồ và các bức không ảnh, Bigeard hoàn thành kịch bản của mình và đọc các mệnh lệnh cho viên chuẩn úy-văn thư đánh máy, anh yêu cầu không quân yểm trợ vào lúc tảng sáng và nắm lấy quyền chỉ huy toàn bộ trận đánh. Với đơn vị ở trên đồi Huguette 6, anh yêu cầu họ giữ vững; với đại đội Bailly thuộc đơn vị xung kích số 8, anh yêu cầu họ không để bị đánh bật ra khỏi các hố, nơi họ đang bố trí. Đôi mắt đỏ ngầu, uống hết một ca càphê do một lính lê dương phục vụ, quyết chí đánh thắng hiệp này, lúc 6 giờ Bigeard tung ra đại đội đi đầu cùng viên trung úy Le Page, đơn vị này tới được chỗ đại đội Bailly, vượt qua, cuốn theo sau những bộ phận trước đó bị chặn lại và chiếm lại được toàn bộ trận địa đã mất. Đối phương thoát ra, lùi lại bị pháo và súng cối băm nát. Nhiều đống xác chết nằm gục trên hàng rào dây thép gai. Máy bay xuất hiện và hoàn thành công việc. Langlais thú nhận chưa bao giờ nhìn thấy nhiều xác chết đến như vậy. Trong số bốn tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 308 và 312 bị tấn công, một tiểu đoàn bị áp chế, không ngẩng đầu lên được. Còn lại bốn mươi lính lê dương thuộc đại đội phòng ngự giữ Huguette 6, hai mươi người của đại đội Clédic, phần lớn các sĩ quan tham gia trận đánh đều chết hoặc bị thương. Một đại đội thuộc tiểu đoàn Bigeard đã tiến hành trận phản kích được sát nhập với đại đội Bailly, giờ chỉ còn là cái bóng của chính nó. Người ta vùi những xác chết xuống các giao thông hào. Đây là một chiến thắng mà Castries đã không biết cách tiến hành ở Béatrice và Gabrielle và rằng một viên tiểu đoàn trưởng bình thường lại đã giành được trận thắng như vậy với những phương tiện ít ỏi. Trận thắng phái trả giá đắt nhưng nó chứng minh rằng: thắng lợi ở Điện Biên Phủ tuỳ thuộc vào cá nhân những người chỉ huy cũng ngang với tình thế chiến thuật. Dù cho nó có vẻ lệch lạc đến đâu, việc bố trí trận địa phòng ngự có lẽ cũng không đến nỗi ngớ ngẩn. Với những con người quyết tâm, với những phản ứng tức thì và những hệ thần kinh vững vàng, có lẽ trận địa đó có thể đào mồ chôn quân của tướng Giáp. Có thể chưa có cái gì bị mất. Nỗi bất hạnh của Điện Biên Phủ, đó chính là vì Navarre đã tích tụ mọi nguy cơ của sự thất bại qua việc chấp nhận giao chiến trong một khu lòng chảo nằm cách Hà Nội ba trăm kilômét và vào một thời điểm mà chiến lược của đối phương đạt đến đỉnh điểm hoàn thiện, bản thân chiến lược đó mang trong mình nó nguyên nhân dẫn đến thảm họa của Navarre. Chọn lấy điều xấu nhất, Navarre thậm chí đã không biết cách bố trí những con người biết thắng cuộc. Xung quanh mình, người ta đến phải nói rằng ông chỉ toàn tập hợp những kẻ thua cuộc. Ở Washington, màn đêm chỉ vừa mới phủ lên những mái tròn của toà nhà quốc hội thì ngài Foster Dulles, tại cơ quan bộ, nhận được bức điện mật mã của vị đại sứ Mỹ ở Paris. Vấn đề không còn là thật đơn giản kể từ khi, để chuẩn bị dư luận đón nhận các biến cố, ngài đã đọc bài diễn văn ở câu lạc bộ báo chí Hải Ngoại, sau đó triệu tập thủ lĩnh các nhóm trong quốc hội để trình bày với họ tình hình ở Đông Dương và những ý định của đô đốc Radford. Câu "Không" dứt khoát vừa nhận được đã buộc ông phải quên đi mọi sáng kiến và núp mình vào trong cái mà một thượng nghị sĩ vừa mới đặt tên, không cách gọi gì khá hơn, là một hành động chung của các quốc gia tự do. Viên đại sứ Pháp ở Wasginhton hẳn đã không kịp thông báo chuyện này cho chính phủ của mình thì vừa lúc ngài Douglas Dillon, nửa đêm, được triệu tới Paris. Việc bảo vệ nước Lào mà tướng Navarre gánh lấy cho bản thân mình mặc dầu không nhận được lệnh bắt buộc và những sai lầm phạm phải để đảm bảo công việc đó có nguy cơ bắt nhân loại phải trả giá đắt. Màn đêm còn chưa cuốn hết bóng tối đen như mực của nó trên hành tinh, nhưng ở Điện Biên Phủ, hai đối thủ đã kiệt sức thu mình về góc vũ đài của riêng mình. Một vầng mặt trời rạng rỡ, chiếu thẳng vào gáy con người, chiếu thẳng xuống mặt đất, nơi đó những xác chết trong đêm và buổi sáng bắt đầu thối rữa. Viên tham mưu trưởng trung đoàn 57 cũng không còn đâu thời gian để hít thở hương thơm của cây cối đang nở hoa. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 07:13:53 pm Ngày 6 tháng tư 1954 Hội đồng Chiến tranh thu hẹp, một lần nữa họp lại ở Paris như từ trên trời rơi xuống đất khi nhận được bức điện mà ngài Forter Dulles vừa mới gửi cho viên đại sứ Mỹ ở Paris. Trăm con voi không được một bát nước sáo: hành động duy nhất có thể diễn ra ở Đông Dương, ngoài ba nước lớn của phương Tây, cần phải tập hợp được các nước Australie, Newzelande, Xiêm và Philippines. Những đề nghị ầm ĩ của đô đốc Radford, sẵn sàng huỷ diệt tất cả những gì không cùng chung ý nghĩ với ông ta, sẵn sàng tiêu diệt những người cộng sản mà ông ta từng giao chiến ở Triều Tiên, và tiến hành một cuộc thập tự chinh nguyên tử chống lại Trung Quốc bằng cách lợi dụng bàn tay của bộ đã vấp phải những mối lo sợ của quốc hội và bị chôn vùi trong những luật lệ quốc tế. Tổng thống Eisenhower đành lòng nhanh chóng nhấn chìm tất cả trong một mớ bòng bong những ý kiến khác nhau. Londres, được hỏi ý kiến, yêu cầu có thông tin bổ sung. Gần như đã chắc chắn là nếu chẳng may, cuộc can thiệp diễn ra thì những quả bom A cũng sẽ không được sử dụng. Không một ai dám thực hiện một sai lầm không sửa chữa nổi trước khi diễn ra cuộc hội nghị Genève khai mạc ngày 8 tháng 5 và trong mọi hoàn cảnh, một đa số lớn những con người thận trọng luôn luôn lựa chọn việc chứng kiến khối thương mại xuất khẩu của họ được mở rộng hơn là đi cứu vãn những kẻ điên rồ. Nước Anh đã bị mất đế chế của nó ở Ấn Độ. Tại sao người ta lại đi mạo hiểm một cuộc tranh chấp để ủng hộ những kẻ rồ dại đang cố bám lấy vùng Viễn Đông? Nếu như công việc ngoại giao có thể giúp ích được gì, thì đó là tận lực để nhốt vào chuồng con "Chim kền kền" mà đô đốc Radford đã tế nhị đặt lên trên đôi vai của tướng Ely. Liệu Navarre về phần mình có hi vọng là một cuộc can thiệp từ bên ngoài sẽ cứu vãn được Điện Biên Phủ chăng? Không có điều gì giúp đỡ cho ông ở nơi đó. Bức tượng nữ thánh Anne mà ông đã đặt đứng trên ngọn tháp cao nhất trong khu thành cổ Hà Nội không nhìn thấy có chuyện gì xảy tới. Ông quyết định, trong mọi trường hợp, tung ra trong thời hạn chừng mười ngày một cuộc hành binh yểm trợ với bốn tiểu đoàn ở bên Lào của Crèvecoeur và ba tiểu đoàn dù được thả xuống gần Điện Biên Phủ. Nói tóm lại đây là nhóm vệ tinh mà Cogny từng đề ra, nhưng thiếu tính cơ động mà người ta mơ ước, và rằng người ta sẽ tung ra vào giây phút cuối cùng. Đã từ lâu Navarre nghĩ tới một giải pháp quyết định. Cơn mưa nhân tạo. Một sĩ quan chuyên gia về các vấn đề khoa học từ Paris đến cùng với những túi đựng than gỗ có tẩm chất iốt bạc. Anh ta đã buộc vào đầu một cái dù những chiếc rổ, trong đó người ta đã đốt lửa, lớp than gỗ cháy xèo xèo và toả ra lớp khói hoà trộn vào những đám mây lớn chưa đông đặc lại ở một vài chỗ đã có những cơn mưa đá. Navarre đã mơ tưởng bằng cách làm tắc nghẽn những con đường gập ghềnh mà các đoàn xe của đối phương sử dụng và nhờ vậy ngăn chặn được việc tiếp tế đạn dược của tướng Giáp. Bất chấp những kinh nghiệm thực tiễn đáng thất vọng, Navarre vẫn cố bám lấy những kế hoạch đã dự định. Nhưng mà người ta không thể chỉ huy được mây được gió và đây nữa, kỹ thuật đã bị đánh bại bởi những con mối có một tâm hồn và một lòng tin. Để cứu vãn Điện Biên Phủ, lúc này Navarre biết rằng chỉ còn có những quả bom nguyên tử do các máy bay B29 của Mỹ ném xuống. Lực lượng không quân ở Philippinnes, từ sân bay Clark, thẳng ở hướng đông, đó là những con ngựa có đôi cánh, kéo dài theo sau đuôi chúng tia sáng và uy lực của vầng mặt trời. Khi chúng xuất hiện, bầu trời đột ngột biến thành một vầng lửa và sẽ nghiền thành tro bụi những người chiến binh mà không có bất kỳ thứ vũ khí kinh điển nào chống đỡ nổi. Những ngôi sao sẽ vẫn dính chặt trên vai Navarre nhưng còn Langlais thì sẽ trông thấy những ngôi sao khác rơi xuống trên dãy núi và bật trở lại cho đến tận nơi đâu? Liệu thế giới sẽ chấp nhận cho vụ Hiroshima mở rộng ra như thế nào? Nỗi ghê tởm như thế nào sẽ bám chặt vào cái quốc gia đã đốt cháy thành than một trăm nghìn con người đàn ông và đàn bà ngay trên mảnh đất của cha ông họ, với mục đích sửa chữa sai lầm trong việc đánh giá tình hình của một viên tướng. Phải chăng đó chính là điều đè nặng lên tâm trí của Navarre vì đầu tiên ông từ chối các máy bay B.29? Hay là Navarre cố bám giữ vào các chức vụ tổng chỉ huy, cái chức vụ sẽ tuột khỏi tay ông nếu như ông chấp nhận số máy bay đó. Navarre quay trở về Sài Gòn, ở đó ông theo dõi được bước tiến triển của tình hình chính trị rõ hơn là ở Hà Nội. Ngày 8 tháng tư 1954 Đại sứ Pháp ở Washington cho ngài Forter Dulles thấy rõ nỗi thất vọng của chính phủ Pháp. - Không có một sự chi viện trực tiếp, và hẳn là có tính quyết định, được dự kiến cho Điện Biên Phủ, ngài Bonnet nói, không có lợi ích gì khi xây dựng vội vàng một liên minh, dù thế nào cũng sẽ diễn ra sau khi kết thúc trận đánh. Liên minh này, trước con mắt của dư luận nước Pháp có thể tác động xấu đến những cơ may kí kết ở Genève một cuộc dàn xếp có thể chấp nhận được. - Không sao hình dung được, ngài Dulles trả lời, bởi lẽ họ không trực tiếp tham chiến và do không có một hành động khiêu khích công khai mới nào từ phía đối phương mà nước Mỹ lại có thể có sáng kiến về một hành động chiến tranh như vậy, vốn cần được sự cho phép tiên quyết của quốc hội. - Trong trường hợp này, ngài Bonnet đáp lời với một giọng nói ngoại giao mềm dẻo còn đáng sợ hơn là thái độ giận dữ, tôi xin bày tỏ với ngài niềm hối tiếc là giả thiết ấy đã được đưa ra xem xét và rằng mềm hy vọng này, giờ đây đã biến thành nỗi thất vọng. Ngày 9 tháng tư 1954. Những cơn giông vần vũ suốt đêm, hoà lẫn tiếng sấm rền với tiếng nổ của đạn pháo. Khẩu pháo có khẩu đội trưởng tên là Hoàng Vũ Hưng, mỗi loạt đạn cả bốn nòng pháo tung ra năm hay sáu viên đạn đã bắn trúng chiếc Helldiver của phi đội 3F, do một phi công hải quân lái, viên phi công này cao lớn, điềm tĩnh, hai mươi tư tuổi là trung uý hải quân Laugier, con trai của một công chứng viên thành phố Orléans. Vào lúc anh ta nhẩy dù, những sợi dây néo dù mở ra quá sớm đã quấn vào cánh đuôi máy bay và anh ta rơi xuống cùng với chiếc máy bay ở gần cứ điểm Claudine 5. Một trung đội thuộc đại đội 3 tiểu đoàn I/13 lao ra cứu anh ta, do đại úy Capeyron dẫn đầu và khiêng về cái xác đã rách nát của viên phi công. Trung uý hải quân Laugier là một trong số những người chết cuối cùng được chôn cất trong một chiếc quan tài. Suốt cả ngày, dưới những mái nhà gianh của trạm phẫu số 1 nằm trên núi cách Điện Biên Phủ chừng mười kilômét về hướng đông bắc, ở phía bên kia đỉnh núi Phu Phạ xanh rì, giáo sư Tôn Thất Tùng mổ xẻ cho các thương binh bị thương ở hộp sọ. Ngày 27 tháng 3, tại Trường đại học Y bố trí trong khu rừng ở Tuyên Quang, ở đó ông đang đào tạo khoảng một trăm bác sĩ ngoại khoa trẻ tuổi, giáo sư Tùng nhận được một mẩu giấy nhỏ, có chữ ký của tướng Võ Nguyên Giáp, lệnh cho ông khẩn cấp tới với đội quân TRẦN ĐÌNH với tư cách cố vấn quân y của tổng tư lệnh. Một chiếc xe cứu thương Molotova phải để ra ba đêm để tới được tổng hành dinh. Xe chạy trên những con đường rất dễ bị sa lầy khi lên dốc; bất chấp những trận bom nổ và bom napan, không một ai cảm thấy nguy hiểm. "Việc đó dễ dàng". giáo sư nói với tôi như vậy. “Chiến thắng động viên tất cả chúng tôi". Là bạn đồng học với tướng Giáp ở Đại học Hà Nội, giáo sư Tùng có khuôn mặt nở nang, tươi trẻ, đầy vẻ thông minh. Tình trạng sức khoẻ của quân đội nhân dân cũng nghiêm trọng. Sáu bác sĩ phụ việc không kịp có những chăm sóc đầu tiên cho bẩy trăm thương binh mà người ta cho các dân công khiêng cáng thành từng đoàn chuyển về các bệnh viện ở hậu phương, sau khi đã sơ cứu các vết thương và bó bột các chi. Nhung nhúc những ấu trùng của lũ ruồi vàng đã đẻ trứng vào các vết thương, thậm chí biến thành lũ giòi, là vấn đề nghiêm trọng nhất. Giáo sư Tùng bắt đầu tiến hành các thực nghiệm, với tất cả những dược phẩm có trong tay, ngoại trừ chất ête được phản chỉ định. Mặt khác phải thu gom các thương binh nhẹ để gửi họ trở lại chiến đấu, làm liền và lên sẹo các vết thương, dù cho chỉ là tạm thời. Cuối cùng là những vết thương sọ não do thiếu mũ sắt và do cuộc chiến trong các hầm hào rất nhiều và rất nghiêm trọng. Bản thân giáo sư Tùng tự tay mình mổ xẻ. Ông đã học cách loại bỏ các vật lạ bằng cách hút ra rồi khâu kín hộp sọ lại và trong vòng tám ngày đã đào tạo được một vài bác sĩ ngoại khoa trẻ tuổi. Do thiếu dụng cụ làm đông máu bằng điện, ông đành thay thế bằng một sợi dây bạch kim đốt nóng đến hết mức để động chạm vào các mạch máu. Tuy nhiên, có một tai họa mà không ai làm gì được cả: đó là thứ gió Lào. Khi thứ gió này thổi, nó làm cổ họng khô khốc đến mức gây ra chảy máu cam và tức thở khắp vùng ngực. Ngày hôm đó, đứng bên bàn mổ suốt từ sáng, mặt đeo khẩu trang bằng gạc, trán đẫm mồ hôi chảy ròng ròng, giáo sư Tùng cố gắng thở một cách bình thường, mặc kệ những mũi đốt đau điếng của lũ ruồi và lũ ve tấn công vào hai mắt cá chân. Cơn giông lại nổi lên lúc giữa trưa và nhấn chìm rặng núi trong những đám mây khiến cho họ không lo ngại bị máy bay đánh phá. Cũng như trong ban đêm, người ta khó khăn mới phân biệt được tiếng sấm mưa với tiếng đạn pháo. Giáo sư Tùng ít nói, và những lúc vội ông nói tiếng Pháp. Mối quan tâm vận dụng tiếng Việt vào nghệ thuật giải phẫu, kể từ khi ông tham gia cách mạng, đã làm ông gắn bó với việc tạo dựng một khối từ vựng khoa học, nhưng những từ nước ngoài tự phát bật ra khỏi miệng như vậy không làm cho ông thấy ngượng ngùng. Cũng là ngay trên lĩnh vực này mà ông muốn đánh bại nước Pháp, kể từ khi một đạo quân viễn chinh kéo tới thay thế các giáo sư và nền văn hoá mà nhờ có các giáo sư ấy trở nên sáng láng và vẫn còn toả sáng trong tâm trí mọi người. Giống như người bạn là tướng Giáp, giáo sư Tùng vẫn còn nhớ mãi những bài học của cuộc cách mạng Pháp, cuộc cách mạng vẫn chưa kết thúc việc reo rắc những mầm mống của tư tưởng tự do ra khắp thế giới, cuộc cách mạng mà đôi lúc cả hai người cảm thấy mình là những đứa con nhiều phần hơn là những viên tướng trong quân đội của mình và những đại diện cao cấp trong các chính phủ của mình. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:00:25 pm Ngày 10 tháng tư 1954 Vào khoảng nửa đêm, được thả dù cùng với đại đội thứ nhất của tiểu đoàn 2 B.E.D1 do Lisenfelot chỉ huy, viên hạ sĩ trưởng Antoine Hoinant, người gốc Bỉ vừa mới từ chiến dịch Atlante quay về, chiến dịch mà anh gọi là "giầu ý nghĩa", có mặt trên cứ điểm Claudine giữa những lính lê dương của bán lữ đoàn số 13. Anh cho rằng mình may mắn bởi lẽ rất nhiều bạn đồng ngũ của anh đã ngã xuống dưới dòng sông, trong hàng rào dây thép gai hay là trong các trận địa pháo. Trong lần nhẩy dù đầu tiên, anh đã thất bại, những viên đạn vạch đường vây xung quanh chiếc máy bay và khi người ta mở cánh cửa của chiếc Dakota, trung đội trưởng của anh, trung uý Pétré bảo: "Họ bắn vào mõm chúng ta..." gần như chỉ bao gồm toàn những lính Việt Nam, đại đội của anh đã cố gắng hết mức để tập họp nhau lại và cùng với đơn vị xung kích số 8 bố trí ở đọc bờ sông, tại cứ điểm Epervier. Vốn là một chàng trai hai mươi tám tuổi, bình tĩnh, có những đánh giá điềm đạm, điều làm cho viên hạ sĩ trưởng Hoinant ngạc nhiên, đó là cái vị trí mà anh đang có mặt hoàn toàn thiếu tổ chức. "Những giao thông hào thường chỉ được đào sâu ngang đầu gối, anh đã nói với tôi như vậy. Chẳng có hầm, chẳng có lô-cốt, chẳng có gì cả". Đã từ hai ngày nay, Bigeard quyết định đánh lừa quân Việt. Qua máy thông tin người ta điều động một số rất lớn các đơn vị tưởng tượng làm cho các ống nghe của đối phương bị lầm lẫn và người ta dùng cái từ “tiểu đoàn" để chỉ những đại đội ma. Trước lúc tảng sáng, quân sĩ của bốn đại đội thuộc tiểu đoàn 6 B.P.C, tim đập mạnh, chờ đợi hoả lực mở màn của 20 nòng pháo 105 và 12 khẩu súng cối 120 được phối hợp tỉ mỉ sẽ yểm trợ trận đánh. Lúc sáu giờ, trong vòng mười phút, 1.800 phát đạn pháo rót xuống đồi Eliane 1 trong lúc các điểm cao xung quanh bị bịt mắt bởi những quả đạn khói và các ngọn núi Ảo và núi Trọc bị vô hiệu hoá bởi 40 khẩu súng cối 81 của khu trung tâm, bởi hoả lực bộ binh của tiểu đoàn 1 B.E.P, đơn vị xung kích số 8 và tiểu đoàn 5 B.P.V.N; cùng những khẩu trọng liên 4 nòng. Mấy chiếc xe tăng nã pháo bắn thẳng vào Eliane 1. Ba mươi phút sau, dưới những viên đạn vạch đường của các khẩu trọng liên, những đợt sóng đầu tiên của đại đội Trapp lao lên sườn phía tây và bám được vào đó bất chấp phản ứng của các cụm pháo của Việt Minh dựng lên một hàng rào chắn hoả lực kinh khủng giữa hai mỏm đồi. Một đại đội thứ hai, đại đội của trung úy Le Page được tung ra cùng với một đội súng phun lửa, từ xa đã nhìn thấy ánh lửa của họ. Được báo động ở trên cứ điểm Eliane 10, nằm dưới chân các mỏm đổi, tiểu đoàn Bréchignac ở tư thế sẵn sàng can thiệp. Trong ống nghe của các đài thông tin, giọng nói gay gắt của Bigeard chỉ huy trận đánh, tám đài thông tin vây quanh anh, và đài quan sát của anh trên đồi Eliane 4 báo tin quân Việt Minh rút lui. Lúc 14 giờ, Le Page gọi Bigeard qua micrô "Đã tới mục tiêu”. Trung uý Le Page sung sướng. Đánh chiếm lại được toàn bộ Eliane. Về sau anh sẽ nói "Đã sở hữu”. Anh thú thật là, buổi sáng anh nghĩ tới vị trí ấy cũng như nghĩ tới tất cả những vị trí có những cái tên lãng mạn bao trùm giải thung lũng và các ngọn đồi, với một nỗi thèm khát mà người ta cảm thấy trước một cô gái đẹp nhìn thấy trên đường phố hay trên mảnh sân của một quán rượu nhỏ. Đối với Lilly mà đội lê dương đã bố trí gần vị trí ấy, giống như người ta đánh nhau bằng dao găm trong một nhà thổ. Khắp nơi máu chảy. Trong cái nóng nực mà màn sương mù càng làm tăng lên gấp bội, lơ lửng một mùi vị của dầu lửa của thịt cháy và của những xác chết với những vết thương bám đầy lũ nhặng xanh. Những loạt súng tự động quất mạnh. Đạn súng cầy đất, tung lên những đám bụi bay bổng được hiệu chỉnh chính xác, những quả đạn cối 120 nghiền nát mọi vật. Dưới bộ trang phục dã chiến, mồ hôi đầm đìa thân thể những người còn sống. Để gọi cho Langlais và báo với ông: "Chàng trai Pierre của Bruno đâu, nhiệm vụ đã hoàn thành", Bigeard đợi cho các đại đội đã hiệu chỉnh kế hoạch hỏa lực phía trước mặt họ, và tích trữ hàng ngàn trái lựu đạn trên vị trí để sẵn sàng bịt chặt các đoạn đường nguy hiểm. "Tôi đi đến suy nghĩ coi việc phản kích là một nhiệm vụ được ưu tiên", trung úy Le Page nghĩ như vậy khi tiếp đón các đại đội của tiểu đoàn II thuộc R.C.P số 1 đến thay thế trên cứ điểm Eliane 1 cũ nay đã biến thành một khu nghĩa trang há hoác: quân dù đã phải trả giá cho trận đánh một trăm người chết, quân Việt thì gấp hơn nhiều lần, viên chỉ huy trung đoàn chịu trách nhiệm đánh chiếm Eliane 1 (theo phiên hiệu của đối phương là đồi D3) bị kỷ luật cách chức. Đức vua Bảo Đại lên tầu đi sang Pháp, ở đó ông ta muốn chứng minh mình là hiện thân của toàn bộ sức mạnh của đất nước. Người ta có thể cười ồ lên, nếu như màn hài kịch chính trị không dẫn tới vở bi kịch và tới cái chết. Chỉ có vị cao ủy của một nước Pháp, chính phủ và bộ tham mưu của nhà vua cảm thấy hay làm ra bộ cảm thấy, coi trọng Bảo Đại. Kể từ khi có tin cuộc hội nghị Genève, quân đội Việt Nam2 đã bước vào trạng thái tan rã. Những lệnh gọi nhập ngũ không được chấp hành. Duy nhất gia nhập quân đội là những thanh niên không trốn chạy được hoặc những sinh viên vốn tin chắc sẽ trở thành sĩ quan, hi vọng có được một vị trí có lợi lộc sau này. Trong số 94.000 lệnh gọi nhập ngũ cá nhân tung ra chỉ trong một năm, với lời đe dọa phải đưa ra toà án binh đối với những kẻ chống lệnh, chỉ có hơn 5400 lệnh được chấp hành. Để lấp đầy các khoảng trống, người ta tổ chức các cuộc vây ráp khắp nông thôn và các thành thị, bị các toán lính sen đầm quây xung quanh, đám tân binh được các xe tải chở tới các trung tâm huấn luyện, binh sĩ và cán bộ khung không bao giờ có chung tiếng nói và không xuất thân từ những tầng lớp xã hội như nhau. Riêng trong tháng tư năm 1954, quân đội Việt Nam thú nhận có 3848 người đào ngũ. Trong các trận chiến đấu, tỷ lệ người mất tích gấp năm lần số người chết và bị thương. Mặc dù ở trong đạo quân viễn chinh số lính Việt Nam có 63.000 người mà tỉ lệ này chỉ chiếm có mười phần trăm. Sáu tháng sau khi xây dựng thành các tiểu đoàn, một phần tư quân số của các đơn vị này đã biến mất. Các đơn vị quân đội Việt Nam đi chết cho ai đây? Là viên sĩ quan nổi trội khi ông ta phục vụ trong không quân Pháp, trung tá Nguyễn Văn Hình, được ông bố Nguyễn Văn Tâm lúc đó là thủ tướng chính phủ, vội vã bố trí làm tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam, đã phủ kín trên người mình những ngôi sao, những tấm huy chương và mở ra bước đường tiến thủ của gia đình xứng đáng với ông. Các viên tướng Việt Nam ngồi trong những chiếc xe ô tô Mỹ và mở những bữa tiệc đứng mà không nghi ngờ rằng số phận tổ quốc của họ đang nghiêng ngả. Lòng hận thù của họ đối với chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ những lợi lộc mà chủ nghĩa tư bản mang tới cho họ: đồn điền chuối, đùi đàn bà, đồng bạc Đông Dương. Một trong số sĩ quan người Việt Nam hiếm hoi biết được vì sao phải chiến đấu, đó là đại tá Leroy, con trai một thôn nữ và một nông dân xứ Beauce đến đây chiến đấu chống lại giặc cờ đen. Thời thơ ấu, ông đã đi chăn trâu. Là người đứng đầu vương quốc công giáo nhỏ bé ở Bến Tre, vùng đất nằm ở phía nam Sài Gòn, giữa hai nhánh của con sông Mékong, vùng đất này ông đưa quan khách đi thăm bằng thuyền, vừa đi vừa nghe ca nhạc. Ông tổ chức những lễ hội tôn giáo lớn, theo tư tưởng đa thần giáo rộng rãi, đọc câu nói của Pascal3 và Montesquieu4 và binh lính của ông mang thanh kiếm có khắc dấu một chiếc thập tự. Là kẻ thù đã thề nguyền với ngài Tâm, ông thử nghiệm xây dựng một chính quyền liêm khiết, tố giác những viên tỉnh trưởng ăn hối lộ, những điền chủ lợi dụng đám dân binh bắt họ cầy cấy ruộng đất của mình, những viên sĩ quan ăn cắp của nhà nước, ông tố giác chính quyền đã chuyển đổi nhiều triệu đồng tiền, vốn dành để trả lương cho binh sĩ hoặc đã khai tăng con số nhân khẩu định mức để làm những dự án hậu cần giả tạo. Vị bộ trưởng duy nhất đã không xoay xở ngân sách của bộ mình để gửi vào tài khoản cá nhân ở nhà băng thú nhận với một sĩ quan cấp tướng người Pháp: “Tôi đã quá chán ngấy với cái việc mình là một người thật thà". Phải, ngoài các viên cao uỷ Pháp ủng hộ cái chính phủ do mình tạo dựng và muốn tự thuyết phục là mọi chuyện trôi chảy còn thì thử hỏi có ai dám tin là người ta có thể đi chết cho đức vua Bảo Đại? Có người lính nào của đội quân này có thể chiến đấu để làm giàu cho những đại điền chủ và những viên tỉnh trưởng, có sự quên mình nào đòi hỏi những viên trung sĩ, do nguồn gốc dòng dõi, trở thành đại tá trong vòng mười tám tháng? Và những người ưu tú, nếu như họ không có những tài sản phải giấu giếm ở châu Âu, tại sao họ lại tự làm hại thanh danh của mình để phục vụ những ông "Tây”, trong nỗi ngờ vực rằng những ông Tây sẽ chiến thắng. Khi Cogny viết rằng người ta phát hiện những dấu hiệu yếu kém nghiêm trọng trong số ba mươi tiểu đoàn lính Việt Nam ở Bắc kỳ, ông ta đã sử dụng một lối nói uyển chuyển: ông muốn nói đến những chuyện nổi loạn, những cuộc bỏ ngũ hoặc không chịu đi chiến đấu, trong lúc đó đạo quân viễn chinh đôi khi phải đổi mặt với những đội du kích của quân Việt Minh tuổi từ mười ba đến mười tám chiến đấu cho đến chết. Có một lúc, tin đồn lan truyền rằng người ta sắp tàn nhẫn quét sạch hết dân chúng ở vùng đồng bằng và di cư họ vào dưới vĩ tuyến 16. Lúc đó, kể từ khi tướng De Lattre chết, thử hỏi người ta còn tìm thấy niềm danh dự nào của nước Việt Nam trong các hàng ngũ của đức vua Bảo Đại, người đã được người Pháp dạy dỗ và được người Mỹ trả lương? Thử hỏi người ta gánh chịu những nỗi vất vả và đau đớn vì sự vĩ đại của tổ quốc nào đây? Ai là hiện thân của cái dân tộc bị áp bức từ nhiều thế kỷ nay bởi đám quan lại và những kẻ xâm lược và luôn luôn khao khát sự công bằng? Đức vua Bảo Đại hay là Bác Hồ, tướng Võ Nguyên Giáp hay là tướng Hình? Khi tới Paris, ngài Bảo Đại trơ trẽn tuyên bố rằng việc tập hợp dân chúng vừa được hoàn thành xung quanh ông ta chứng tỏ rằng thời điểm của sự thống nhất đang tới gần. Nó tới gần, chắc chắn như vậy. Nhưng không phải là cho ông ta. _____________________________________ 1. B.E.D: Viết tắt có nghĩa tiểu đoàn dù ngoại quốc - N.D 2. Chỉ nguỵ quân Việt Nam - N.D 3. Pascal: Nhà toán học, vật lý, triết học, văn học của Pháp (1623 - 1662) 4. Montesquieu: Nhà văn Pháp (1689 - 1755) nổi tiếng về cách nhìn phong phú, thực tiễn, chủ trương tam quyền phân lập, ảnh hưởng đến cải cách của Quốc hội 1789 Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:18:19 pm Ngày 11 tháng tư 1954 Đêm hôm đó, những trận phản kích dữ dội đã diễn ra trên đồi Eliane 1. Tảng sáng, như thói quen, Langlais tới thăm hai đại đội thuộc R.C.P1 số 1 đã chống giữ được. Cùng với tay vệ sĩ, ông bước qua những xác chết không thể chôn cất được. Một người hấp hối, đưa đôi mắt van xin ông, ngực người đó vỡ toác, phập phồng những bong bóng đỏ máu. Không thể khiêng người ấy đi được nữa và trong các căn phòng sơ cứu, các bác sĩ ngoại khoa đã không thể cấp cứu kịp cho mọi người. Đã có tình trạng là khi bác sĩ Grauwin phải mổ xẻ ba mươi cái bụng, anh chọn lấy mười cái còn có thể cứu được và bằng những mũi tiêm giúp cho số còn lại chết đi. Một vài người trong số đó, vốn biết tình thân mà bác sĩ dành cho viên chỉ huy đội xung kích số 8 đã bám vào chân anh van nài: “Đừng để tôi phải chết. Tôi thuộc về tiểu đoàn của Tourret..". Langlais khi biết chuyện này bèn quay đầu đi chỗ khác. Ông trèo ngược quả đồi, ở đó một bọc đạn cối 120 được thả dù xuống, nặng tới một tấn mà không một ai thu nhặt, đã nằm dài từ nhiều tuần nay, cùng với chiếc dù khổng lồ rách tướp và bẩn thỉu. Mỏm đồi Eliane 1 nơi con người sinh sống trong những chiếc hố, thành hố bị sụp đổ, giờ đây chỉ còn là một đống hỗn độn khổng lồ những đám bùn lầy và mảnh vụn. Langlais im lặng, siết chặt hai bàn tay. Từ một kho đạn vừa cháy hết, một cuộn khói bốc lên trong không trung yên tĩnh và nóng bỏng. Nét mặt rầu rĩ, gần như hổ thẹn vì cuộc sống tiện nghi người ta vẫn còn được hưởng thụ trong khu vực trung tâm các sở chỉ huy, Langlais biết rằng người ta không đứng vững lâu được nữa dưới hoả lực của pháo binh đối phương nó hạ gục mọi ý chí trước khi nghiền nát các thể xác. Do vì không có các đường hào nối liền các mỏm đồi của Huguette cho nên mỗi khi chuyển nước uống và thực phẩm tới đó là một trận đánh thực sự. Vì vậy Lang lai quyết định rút bỏ mỏm Huguette 6 để tập trung tốt hơn lực lượng của mình. Liệu ông có nghi ngờ không bao giờ còn có thể chiếm lại những gì mà lúc này ông đã không còn đủ sức để chống giữ? Mất Huguette 6, chuyện thả dù, may rủi càng tăng lên. Những người rơi xuống sông và dây thép gai thì có thể thoát ra được nhưng đồ tiếp tế thì sẽ bị mất. Buổi sáng của cái ngày chủ nhật cuối cùng trước lễ phục sinh, cha Guidon, cha tuyên úy của Isabelle, hái vài cành lá trong bụi rậm và đến làm lễ trong sở chỉ huy pháo binh. Buổi chiều, ông đợi mục sư Tissot, cha tuyên úy đạo tin lành duy nhất đã nhẩy dù xuống tập đoàn cứ điểm. “Đám trai trẻ, mục sư thường nói, họ không nhớ chủ nhật là ngày của Chúa. Cần phải nhắc nhở họ". Hai người cùng nhau đi thăm thương binh. Một trận pháo đạn dày đặc gầm lên trên đồi Isabelle. Từ trong gian hầm nhỏ mà hai người lính lê dương đã cho ông ẩn nấp để buộc ông rời bỏ cái hố có mái che dầy vài xăngtimét đất và xà tre của mình, cha Guidon nhìn những căn hầm bên cạnh bị pháo đạn lật nhào và tự nhủ là người bạn sẽ không tới, vừa lúc đó ông nghe thấy có tiếng chân người. Khuôn mặt hiền hậu và cái bóng hơi gù của mục sư hiện ra trong khung cửa hầm: - Ta đi chứ? - Tốt hơn nên xuống đây, cha Guidon bảo. Ít nhất ông cũng tránh được những mảnh đạn. Ông đã nếm trải cái này khá đủ rồi. Và cả hai người ngồi xuống chiếc giường dã chiến và hát những bài đồng ca của Bach2 trong lúc pháo đạn nổ tung, làm rung chuyển mặt đất. Chúng ta ngợi ca Thượng đế hùng mạnh ... Vị mục sư điềm đạm, phát âm hơi bị lỗi và đức cha có khuôn mặt khô khan này, đều có chung một cái nhìn chứa đựng niềm tin. - Ta đi chứ? Mục sư nhắc lại. - Đợi một chút, cha Guidon trả lời, vừa đưa bàn tay luồn vào chòm râu dài mầu đen lốm đốm bạc che phủ đôi má gầy gò của mình. - Thế còn nghĩa vụ của chúng ta là các cha chăn dắt linh hồn thì sao? - Tôi xin khâm phục ông, cha Guidon nói, cha đã đội lên đầu chiếc mũ sắt thay cho chiếc mũ nồi của đội xung kích: Ông có vẻ không sợ gì các trận bắn phá nhỉ? - Dù cho có xảy ra chuyện gì, mục sư Tissot trả lời, ông là người mà không có việc gì làm cho phải ngạc nhiên, lúc nào chúng ta cũng sống ở trong tay Chúa. Vậy thì lo sợ chuyện gì nào? Về phần mình, cha Guidon nghĩ rằng không có chuyện gì gấp gáp đến thế nhưng vẫn đi theo sau mục sư bước ra ngoài. "Có cần nói rõ là người ta đi khá nhanh? Cha Guidon đã nói với tôi như vậy. Nó rơi! Nó rơi! Khi tới đoạn hào dẫn tới bệnh xá chính, vị mục sư chui tọt vào đó, vừa lúc có một tiếng động điếc tai, tôi bị hất ngã xuống đất, bất tỉnh, hơi thở ngừng lại. Tôi tự nhủ: "Thật kỳ lạ, người ta chết mà không thấy đau đớn, chỉ đơn giản là mắt mờ đi". Khi tôi nhận ra là mình không chết thì nháy mắt tôi đã nằm trong cánh tay các y tá đến đón tôi. Tôi thấy khó thở. Người ta tiêm cho tôi một ống thuốc và đặt tôi nằm lên trên bàn mổ ở đó trung úy bác sĩ Résillot khám cho tôi". Trong số y tá, có một cậu da đen, từng bị bắt làm tù binh của quân Việt, biết nói vài tiếng Việt và khi mà đám tù binh đôi lúc than phiền về đồ ăn, anh ta bảo họ: "Thế các cậu tưởng ông Hồ Chí Minh cho các cậu ăn thịt gà hàng ngày sao?" Cuối buổi chiều, một trận pháo hoả tập trung dập xuống Eliane 1, Langlais cho điều lực lượng dự bị ít ỏi của tiểu đoàn B.P.C 6. Những con người trèo ngược lên mỏm đồi trọc, chìm ngập trong màn khói và những tia lửa nổ lép bép, biết rằng điều gì chờ đón họ, nhưng các sĩ quan làm cho họ thức tỉnh, lôi cuốn họ đi. Những đợt sóng đầu tiên hạ gục số quân Việt tiến sát theo màn hoả lực bắn chặn của họ, rồi nhẩy từ hố này sang hố khác, đã chiếm lại được vị trí. Khi một đại đội của tiểu đoàn B.E.P số 1 đến thay thế họ thì trung úy Fromont đã bị chết và trong trung đội của tiểu đoàn B.P.C 6 chỉ còn lại bẩy người, sau đó chỉ còn lại ba người khi họ dừng lại ở một bãi mìn và la hét, giữa ban đêm, gọi người đến cứu. Làn sóng thông tin nội bộ của những tiểu đoàn thực hành phản kích, rung lên những câu chửi rủa, những tiếng thét hi vọng và những lời kêu gào gọi cấp cứu. ____________________________________ 1. R.C.P: Viết tắt trung đoàn dù thuộc địa - N.D 2. Bach: Nhạc sĩ nổi tiếng người Đức (1685 - 1750) N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:22:51 pm Ngày 12 tháng tư 1954 Rạng sáng, lại một lần nữa phải tung ra tất cả những phân đội còn sử dụng được, lần lượt từng phân đội một để giành lại những vị trí bị mất. Xác chết chất đống trên mỏm đồi Eliane 1 thê thảm, bị pháo hỏa dần đi dần lại, ở đó những mảnh vụn sắt thép, những bộ trang phục trộn lẫn với lớp đất sét đỏ quạch. Trong những chiến hào đổ nát đến một nửa chôn vùi các xác chết, tiểu đoàn Bréchignac vẫn bám chặt. Thứ mùi lơ lửng ở đó không phải là mùi của hương thơm mà thánh Marie xức vào hai chân chúa Jésus ở Béthanie, vào cái ngày người ta tổ chức bữa ăn của ngày hội mừng vụ nổi loạn của Lazarre, mà là thứ mùi của người chết nằm trong nấm mồ và mùi của đống phân. Lực lượng tăng viện thả dù xuống mỗi đêm không còn bù đắp được tổn thất nữa. Trạm phẫu lưu động mới được thả xuống trong đêm cũng không đủ. Bigeard đã rời khỏi hang ổ của mình trên đồi Eliane 4 để tới chỉ huy các cuộc phản kích trong sở chỉ huy của Langlais theo ý kiến chung, Castries đã không còn nằm trong cuộc và bỏ mặc việc phòng ngự cho hai sĩ quan cấp trên của mình: ông không còn chủ trì các cuộc giao ban hàng ngày, trong đó người ta nghiên cứu tình hình để quyết định công việc cần làm. Thực tế, gánh nặng của trận đánh đặt lên vai một trung tá vốn chưa được đào tạo về công việc tham mưu và Cogny nay chỉ còn giữ vai trò một chỉ huy trưởng các hậu cứ. Trong căn hầm của mình, ở đó ông ăn uống một mình, Castries ít nhất cũng đáng khen là đã giữ được bình tĩnh, làm trọng tài cho những cuộc cãi lộn, và xoa dịu những cơn cáu giận do thái độ đồng bóng và những câu quát tháo của Langlais gây ra. Một hôm, Langlais đã thô lỗ chất vấn trung tá Voineau: "Thế nào, người ta không chào nhau nữa sao?" Và ném thẳng cốc rượu úytsky vào mặt Voineau: - Có muốn ta chơi nhau không? Voineau, tái mặt trước hành động nhục mạ mình, đã thách thức. Catries đã can thiệp kịp thời. Nhưng vì trước đây các sĩ quan và các hạ sĩ quan đã từng nhìn thấy quá nhiều cảnh Catries ngồi xe Jeep cùng cô thư ký đi dạo chơi cho nên họ không khỏi không nghĩ là ông ta chúi ở trong sở chỉ huy của mình cùng với cô ta. Còn về phần Catries, vì ông đã sống quá nhiều với binh lính Marốc cho nên ông không hề nghĩ là người chỉ huy phải tránh tỏ ra thân thiện gần gũi với cấp dưới. Ngày 14 tháng tư 1954 Cái tin đáng phấn khởi nhưng không đúng về việc mở màn cuộc hành binh Condor lan truyền trong toàn khu tập đoàn cứ điểm như một dải thuốc súng và theo bản năng, những đôi mắt quay về hướng tây. Người ta tưởng tượng ra các tiểu đoàn đang tiến lên theo bước chân hành quân cấp tốc, xuyên qua rừng rậm, hướng về tập đoàn cứ điểm và khi thời điểm đến, được sự chi viện của các đội quân dù thả xuống gần khu lòng chảo. Người ta trông thấy tình thế chao đảo và quân Việt bị kẹt giữa hai gọng kìm, bỏ chạy vào dãy núi. Nhưng một trận đánh trinh sát sang phía nước Lào thậm chí không tới được những ngôi làng nằm cách những cứ điểm phòng thủ ngoại vi một kilômét. Một bức điện của Catries, rõ ràng có sự gợi ý của Langlais, tóm tắt tình hình bằng một lời tiên đoán u ám: "Số phận của GONO sẽ được quyết định trước ngày 10 tháng 5". Trong bức điện này người ta đọc được lời bình luận cay đắng: "... dù cho những quy tắc về việc huấn luyện nhẩy dù có như thế nào đi nữa". Bởi lẽ, ở Hà Nội người ta vẫn còn tranh cãi về việc làm có phần thiếu chính quy, dẫn đến những mạo hiểm trong lần nhẩy dù đầu tiên với những tình nguyện viên. Như một lập luận cho lời tiên đoán này, Langlais và Bigeard nêu lên những lực lượng còn lại trong tay họ; về mặt phía tây, những bộ phận tan tác của ba tiểu đoàn lê dương: 814 người; một tiểu đoàn lính Marốc với hai đại đội trên hướng tây nam; những mặt khác do các tiểu đoàn dù chống giữ khoảng 2500 người. Số còn lại không đáng kể nữa. Vào thời điểm này như vậy cần phải ghi nhận là đội quân đồn trú của Điện Biên Phủ không quá 3000 người còn khả năng chiến đấu. Ngày 12 tháng 3 trước khi trận đánh nổ ra, con số đó là 11.000 người. Kể từ 13 tháng ba, bốn tiểu đoàn đã được thả dù xuống. Số người chết và bị thương không đến 12.000 người. Vậy thì số người kia đi đâu? Khi thống kê quân số, Langlais không muốn cộng vào đó những cái bóng ma vật vờ, là những con người. Ông gạt phắt số người của cứ điểm Isabelle, bị bao vây cô lập và tất cả những ai không có lý do gì để mạo hiểm tính mạng, có nghĩa là cái đa số to lớn của số quân được gọi là "của khối Liên hiệp Pháp". Đối với các sĩ quan, các cán bộ khung và binh lính người Âu hoặc người Việt Nam vẫn còn kháng cự được, vẫn còn một lý do để không lùi bước mà những người khác không có. Dù cho cái lý do đó, trước mắt những ai không thuộc trong bộ phận to lớn bị đau khổ trong quân đội, có vẻ yếu ớt đến đâu, nó vẫn giữ nguyên giá trị, và được gọi là danh dự của quân đội và lòng trung thành với lá quân kỳ. Phẩm chất của những người chỉ huy, ở đây cũng vậy, có thể cứu vãn cái mà người ta tưởng là đã đánh mất. Các vị trí của hai bên giờ đây thậm chí không còn ngăn cách với nhau bằng những hàng rào dây thép gai nữa, đã biến thành những đống xác chết; hai đối phương bám trong lòng đất cách nhau ba mươi mét, sẵn sàng nhẩy chồm lên nhau. ở cự ly này, người ta có thể gọi nhau. Một hôm, quân Việt đã kêu to: “Người ta mang thương binh đến cho các anh". Và cho một điểm hẹn. Cuối cùng, cuộc trao đổi đã không diễn ra. Một lần khác, một phái viên mang một lá cờ trắng tiến ra gần một điểm tựa và nói: "Chúng tôi có hai thương binh của các anh. Các anh đến nhận về đi". Trên đồi Huguette 6, nơi bố trí phòng thủ lúc này, đại úy kị binh Bizard nay trở thành sĩ quan dù vẫn giữ được thái độ tươi tỉnh như trước. Giống như anh bạn Bolella, chỉ huy tiểu đoàn của Bizard, Bizard chờ đợi biến cố quyết định cho chiến thắng. Nét ngây thơ kỳ lạ của một tâm hồn lúc nào cũng sẵn sàng cho những cuộc phiêu lưu lớn, kể từ hai tuần nay, các đại úy và trung úy chỉ còn biết ngủ ngồi trong hố chiến đấu, khi mà có khoảng thời gian im ắng, khoảng thời gian ấy tựa như đôi cánh một con chim vẫn còn dám bay tới gần dải thung lũng bi thảm. Ban đêm, họ đeo tai nghe, máy thông tin vẫn mở theo làn sóng có trách nhiệm báo động cho họ. Những xác chết mà người ta chất đống lại khi có thời gian, trên đống xác đó đôi khi người ta lấp đất lên và vì vậy lấp kín vài mét giao thông hào những xác chết ấy đã thối rữa ở khắp nơi và mùi hôi thối lan toả ra các căn hầm, trộn lẫn với một thứ mùi hôi thối khác còn gay gắt hơn, mùi hôi của các đống nôn mửa. Khi hỏa lực đối phương theo thường lệ buổi tối rót xuống, mỗi đại đội lại mất thêm ba hay bốn người. Người ta lợi dụng đêm tối để thu nhặt các gói hàng rơi xuống các vùng lân cận, đào phá một vài vật chướng ngại và cử lao công, khi họ có thể đi được, đến trạm lọc nước mang về vài can nước hai mươi lít, nhưng người ta vẫn cạo râu bằng một ca nước. Khi ánh sáng ban ngày quay trở lại, một niềm hi vọng mới lại nhen nhóm: không còn phải sợ những trận xung phong nữa. Trong các đội phẫu lưu động và những trạm cấp cứu của các tiểu đoàn, các bác sĩ thấy tuyệt vọng trong việc tiêu diệt lũ giòi bọ đông nhung nhúc. Trong cơn ác mộng của chúng, lũ giòi bọ thành từng đoàn dài bẩn thỉu leo lên các bức tường, phủ kín các giường nằm và những chiếc cáng, xung phong nhẩy vào các vết thương của những thương binh mệt lả đã gần như chết. Nước crêdin và vôi bột sống không đủ; cần phải chôn thật sâu các tử thi, tẩy uế các bờ hào, ngăn chặn dòng nước bùn trong đó lũ ruồi đẻ ấu trùng vào các đống phân, nước tiểu và các chất thải của thân thể con người. Ánh hào quang của Điện Biên Phủ mà các tờ báo của thế giới tự do tán dương đó là chiến đấu trên vùng hỗn tạp đẫm máu nhất của châu Á nhân danh phương Tây và vì tình yêu đối với những cô gái đẹp mà tên của họ được dùng để gọi các cứ điểm. Ở đó thiếu hẳn một tai họa cuối cùng, không hiểu vì sao đội quân đồn trú được miễn trừ: đàn muỗi đã biến mất. Giống như những ngày trước đó, vào lúc 22 giờ, những chiếc loa phóng thanh trên các phòng tuyến quân Pháp hét to những lời kêu gọi bằng tiếng Việt hướng về phía đối phương: “Hỡi những người anh em đối địch, chúng tôi thấy thương hại các bạn. Bộ binh của các bạn đã chết gần hết. Chỉ còn các bạn ở đây và sắp đến lượt các bạn. Tại sao các bạn không cùng chúng tôi lên máy bay bay về Hà Nội .... ". Súng liên thanh và súng cối đáp lời. Đại úy Hiền nguyên tham mưu trưởng trung đoàn 57, người ghi lại chuyện này trong sổ tay, đã hai lần nghe thấy câu này: "Các bạn đã chán ngấy chuyện này rồi. Đầu hàng đi. Cuộc sống của các bạn sẽ bớt phần gian khổ... ” - Cuộc sống của chúng tôi dù cho có gian khổ gấp mười lần, ông đã nói với tôi như vậy, thì chúng tôi cũng sẽ không đầu hàng. Tại sao vậy? Lúc đó, kể từ trận thắng ở Him Lam, chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ chiến thắng. Và kể cả nếu như người ta báo cho chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ phải hi sinh tất cả, chúng tôi cũng sẽ chấp nhận. Bản thân tôi cũng vậy, tôi sợ chết, nhưng khi mà lòng căm thù thúc giục, thì không còn bất kỳ điều gì ngăn cản được. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:27:32 pm Ngày 15 tháng tư 1954 Về việc đề bạt Castries, thời gian qua đã có rất nhiều chuyện. Một người anh hùng thực sự, tất yếu phải là cấp tướng và bản thân tổng thống Eisenhower khi gặp tướng Ely đã tỏ vẻ ngạc nhiên nói rằng tại sao Điện Biên Phủ lại chỉ do một đại tá chỉ huy. Bà Castries đã không ngồi im - Tin đồn về những đòi hỏi ấy đã lớn. Ngay đại úy Hiền, nguyên tham mưu trưởng trung đoàn 57 đã ghi trong sổ tay chuyện này chiều ngày 30 tháng ba, trong khu lòng chảo Điện Biên Phủ. Ở chỗ quân Việt, mọi sư đoàn trưởng hoặc trung đoàn trường, nếu thua trận dù là nhỏ cũng sẽ bị cách chức, không hề có báo trước. Còn một trong những vấn đề người ta đã dám tranh cãi ở chỗ chúng ta, khi đã đứng trước một mối thảm họa, đó là việc có trao tặng hay không những ngôi sao cho một viên chỉ huy trận địa bất hạnh. Quả thật là cá nhân con người của viên chỉ huy binh đoàn Gono, trong trường hợp này đã bị lôi cuốn theo huyền thoại mà vở bi kịch sinh ra. Tên của một vài sĩ quan trong tập đoàn cứ điểm bắt đầu sáng chói và ý tưởng về một đợt đề bạt đặc biệt, ngay giữa chiến trận, có vẻ như là phần thưởng xứng đáng cho thành tích của họ. Làm thế nào bỏ quên người chỉ huy cao nhất mà không phủ định ông ta? Lại một lần nữa, Castries đã làm chức năng của một viên trung tướng, do bởi vì người ta đã đánh giá là ông xứng đáng, với cương vị đó mà ông đã được lựa chọn và được chỉ định. Ở Nà Sản, Gilles đã được đề bạt thiếu tướng ở trong cái hang chuột của ông ta; đến lượt mình Castries phải được như vậy. Bằng một chuỗi các bức điện, Navarre đã đòi hỏi để có những ngôi sao ấy, coi như một cú hích mạnh vào tinh thần của đội quân đồn trú. Ông đã có được những ngôi sao. Tại cuộc họp hội đồng bộ trưởng, ngài Marc Jacquet kiên trì giữ ý kiến không nên đề bạt Castries lên thiếu tướng: "Nếu ông ta ra khỏi được trận này, ta sẽ xem xét, ông nói. Ta vẫn còn đủ thời gian". Đó cũng là ý kiến của quốc vụ khanh về chiến tranh, ngài Pierre de Chevigné, vốn lo sợ tập đoàn cứ điểm bị thất thủ: "Thắng lợi của quân Việt sẽ giảm bớt tiếng vang, ông nói, nếu như họ chỉ bắt được một đại tá". Các thành viên khác của chính phủ thuyết phục nên trao cho Castries những ngôi sao: "Việc này làm cho ông ta thêm hăng hái", họ cam đoan như vậy, cứ như là những ngôi sao có thể giúp cho trận đánh thắng lợi. Trên khắp toàn bộ tập đoàn cứ điểm, đạn pháo rót xuống như mưa; những khẩu pháo không giật, bố trí trên các mỏm đồi hẻo lánh nhằm bắn vào những người vẫn còn tìm cách thu nhặt các bọc hàng được thả dù xuống. Thung lũng Điện Biên Phủ mà một số du khách tưởng sẽ gặp lại ở đó vào tháng mười hai 1953 khung cảnh một phần nông thôn yên bình, đã trở thành thung lũng của nướcmắt và cái chết. Mọi việc đều đau khổ. nhưng niềm hy vọng vẫn chưa rời bỏ các sĩ quan hàng ngày vào cuối buổi chiều, gặp lại nhau ở cái hố tại đó Langlais và Bigeard kiểm điểm lại tình hình. Chính là niềm hi vọng ấy đã giúp cho người ta chịu đựng một vài thất bại nhỏ bé, cục bộ và tạm thời, bởi lẽ binh đoàn Godard đã lên đường, và rằng các máy bay ném bom Mỹ sắp cất cánh từ Manille1. Trong số những người từ xa nhìn thấy cảnh hấp hối của đội quân đồn trú, ai là người có can đảm, giảm thiểu niềm hy vọng ấy trở lại đúng mức độ đích thực của nó đây? Ai là người dám thuyết phục Langlaỉs, Bigeard, đại úy Capeyron hoặc trung sĩ Sammarco và tất cả những người khác rằng họ không nên trông mong ở một sự đảo ngược tình thế và rằng cuộc hành binh Condor vẫn còn chưa mở màn? Vụ việc lớn trong ngày, đó là cuộc nói chuyện vô tuyến song song hai chiều, trong đó Cogny báo với Castries tin Castries được đề bạt thiếu tướng, báo tin việc thăng cấp cho Langlais, Lalande và Bigeard, việc ghi tên vào danh sách tăng lương đặc biệt cho một vài sĩ quan và việc tuyên dương toàn quân đối với đội quân đồn trú và người chỉ huy của nó. Castries đưa cho Langlais đôi quân hàm cầu vai của mình, sau khi đã lấy mực Tầu bôi đen nền đỏ của quân hàm; Langlais đưa bộ quân hàm của mình cho Bigeard. Còn về những ngôi sao cấp thiếu tướng, theo như bà Castries cho biết, do vì không thể tìm thấy ở Hà Nội cho nên Cogny đã tặng cho Castries những ngôi sao ông đã đeo trên vai trước khi nhận quyền tổng chỉ huy các lực lượng của xứ Bắc Kỳ. - Tôi gửi cho anh những ngôi sao và rượu để ăn mừng, Cogny nói vậy. Cả thế giới đang nhìn chằm chằm về phía các anh. Năm mươi phóng viên báo chí quốc tế hiện có mặt ở Hà Nội để theo dõi việc làm của các anh. Người ta lục lọi tất cả các bọc hàng thả xuống rơi vào bên trong các vị trí. Không thấy gì cả. Theo như bà Castries, các ngôi sao do một lính dù nhảy xuống đêm hôm đó mang theo và chuyển cho chồng bà. Theo như Castries, những ngôi sao được rèn tại chỗ, trong một xưởng cơ khí của lính lê dương. Tuy nhiên, đài phát thanh Việt Minh báo tin những ngôi sao ấy được thả xuống cùng với những chai rượu cô-nhắc và những hộp đựng huy hiệu đội lê dương danh dự, những huân chương chữ thập chiến tranh, huân chương quân nhân, rơi vào trong phòng tuyến của họ. Thế là người ta chạm cốc bằng rượu vang ướp lạnh. Ngày 18 tháng tư 1954 Đêm hôm đó, sợ rằng mật mã đã bị lộ, thiếu tá Clémençon đã đùng tiếng Anh để báo cho đại úy Bizard biết rằng sắp rút bỏ Huguette 6. Ngày hôm ấy, Bizard vừa tròn hai mươi chín tuổi và đây là lúc bình minh của lễ Phục Sinh, vào cái giờ mà chị em phụ nữ kéo tới để xức nước thơm lên thi thể của chúa Jésus thì thấy ngôi mộ trống không: có biết bao lí do để người ta nhớ đến những chuyện trong quá khứ. Một trận phản kích không đến được mục tiêu. Lúc 8 giờ, Bigeard từ chối tung những phân đội khác vào trận đánh và báo tin hủy bỏ cuộc hành binh. Bizard trả lời rằng mình sẽ chọc thủng bằng những phương tiện của chính mình. Để đến được mục tiêu, Bizard phải lần lượt đánh chiếm tất cả số chiến hào ngăn cách giữa anh và đơn vị chi viện và vượt qua làn đạn súng liên thanh để tiến đến đường băng sân bay đầy máu lửa. Từ hai trăm người tìm cách tiến đến trung tâm khu đồi Huguette, nay chỉ có tám mươi người đến được nơi đó. Trong toàn bộ thế giới công giáo, ở nhà thờ Hà Nội cũng như các nhà thờ của châu Âu, những bài thánh ca đầu tiên đã vang lên. Ở Điện Biên Phủ, nơi mọi người cầu nguyện và làm lễ theo từng nhóm nhỏ, cha tuyên úy Trinquand làm lễ cầu nguyện trong một căn hầm gần khu bệnh viện; cha hét to một lời cầu nguyện của niềm vui tôn giáo từ một con tim tràn ngập sầu muộn: Không phải là chiến thắng đang tiến bước mà là cái chết. Các bác sĩ giải phẫu làm việc từ 5 giờ sáng. Trong màn sương mù đang tan dần, hơi sương bốc lên mạnh mẽ trong dải thung lũng, một trận hoả lực dữ dội của pháo binh và súng cối dập xuống khu phòng ngự trung tâm; đất vụn rơi như mưa xuống đầu các thương binh, xuống bàn thờ Chúa. Một loạt đạn pháo 105 chụp xuống đầu đại úy Capeyron, lúc này đang mang tới sở chỉ huy của tiểu đoàn bản danh sách đề nghị tuyên dương; người lính lê dương đi theo anh bị cụt một cánh tay và một lính Marốc tình cờ có mặt ở đó bị giết chết. Capeyron chỉ bị một mảnh đạn trúng vào cằm và da đầu bị một vết rách. Trên đường tới bệnh xá, trong lòng anh nửa vui vì đã thoát nạn, nửa buồn khi nghĩ rằng đã sắp tới lúc Claudine cùng chung một số phận của Huguette 6. Tới lúc đó, không biết anh sẽ rút về đâu? Sẽ là kết thúc? Đại uý Bizard tiếp nhận lực lượng tăng viện được nhặt ra từ các bộ phận tan rã của tiểu đoàn B.P.VN 5 và đơn vị xung kích số 8 . Anh tới nghỉ ngơi vài tiếng đồng hồ trên đồi Eliane 4. Điểm tựa Opéra được bố trí để bẻ gãy những cuộc xung phong ở khoảng giữa Huguette 1 và Épervier. Người ta không đặt cho nó một cái tên phụ nữ mà là tên của nhà ga xe điện ngầm, từ ga đó các du khách ùa ra để đi tới quán cà phê Hoà Bình, giữa đám gái điếm của nhà chứa Madeleine đang ngồi trước cốc cà phê kem của họ. Tin tức về Điện Biên Phủ trải rộng trên năm cột trang một các báo, nhưng những ngày nghỉ nhân lễ phục Sinh đã làm cho Paris là một thành phố chỉ biết có những thú vui của một mùa đẹp trời. Langlais tới xưng tội với cha Heinrich và bảo: - Chúng ta đang bước tới thảm hoạ. - Cần phải chấp nhận cái đó để xá tội cho những lỗi lầm của chúng ta, cha Trinquand đáp lời. - À, không, Langlais kêu lên. Đó không phải là lời an ủi mà tôi đòi hỏi ở cha. Xin cha cứ nói là tôi đã sai lầm, rằng chúng tôi vẫn còn hi vọng. Nếu cần xin cha làm ra vẻ có một chuyện thần kỳ. Chuyện thần kỳ sẽ là chiến dịch Vautour được mở màn, như Navarre hy vọng, ông đã cùng tướng Partridge, tư lệnh không quân Mỹ vùng Đông Nam Á, tới Hà Nội trong hai ngày. Ấy thế mà buổi sáng hôm đó, vị đại sứ nước Anh ở Washington gọi điện thoại tới nhà riêng của ngài Foster Dulles báo tin là chính phủ Anh sẽ không tham dự vào hội nghị đã được dự kiến vào ngày 20 tháng tư bàn về tình hình Đông Nam Á. Vị bộ trưởng Mỹ nổi cơn lôi đình. ___________________________________ 1. Manille: Thủ đô của Philippine. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:31:10 pm Ngày 23 tháng tư 1954 Đã kiệt sức đề kháng, cứ điểm Huguette 1 thất thủ trong đêm hôm đó. Hai đại đội tiến ra để chi viện cho Huguette 1 gần như bị xoá sổ. Lúc 7 giờ tướng Castries triệu tập Langlais và Bigeard tới. Cần phải chiếm lại Huguette 1, nếu không người ta không còn có thể thả được bất kỳ thứ gì xuống nữa. Bigeard lên kế hoạch trận đánh. Bigeard nhăn mặt. Tất cả các tiểu đoàn, quân số chỉ còn lại một phần tư, đều đã tan tác: một tiểu đoàn duy nhất. còn đứng vững, quân số gần 400 người nhưng lại đang trấn giữ khu đồi Eliane ở bên kia sông: đó là tiểu đoàn B.E.P1 số 2. Kể cả nếu như trận đánh thành công, tiểu đoàn đó cũng không thể giữ được và tập đoàn cứ điểm sẽ không còn một lực lượng dự bị nào nữa, dù là nhỏ nhất. Vì tất cả những lý do ấy, Bigeard hi vọng không phá tan những lực lượng cuối cùng của mình và cho trận phản kích này là nguy hiểm và vô ích. Langlais tán thành ý kiến đó. Khoảng một trăm người được thả dù xuống hàng ngày khó mà bù đắp nổi một nửa những tổn thất. Thường được tung vào trận đánh ngay khi vừa mới tiếp đất, phần lớn họ đã không còn sống khi bình minh hửng lên. Như vậy khi mà đến lượt nó, tiểu đoàn B.E.P số 2 cũng bị tiêu diệt, thì sẽ ra sao? Đơn vị nào sẽ đến thay thế nó ở tả ngạn dòng sông? Tướng Castries kiên trì: trận phản kích phải diễn ra. Tuy rất sợ trận đánh sẽ vô ích và những cố gắng đã cạn kiệt, Bigeard buộc phải phục tùng. Castries, trước con mắt của Bigeard vẫn cứ là một trong số các thủ trưởng hiếm hoi làm cho anh cảm phục. Các phân đội của đơn vị P.C.P 1 của tiểu đoàn B.P.C 6, và số lính lê dương của Claudine đến thay thế tiểu đoàn B.E.P. 2 trên khu đồi Eliane; tiểu đoàn này phải chiếm lĩnh vị trí xuất phát vào lúc 13 giờ 30: một đại đội gọn nhẹ bố trí trong chiến hào phía bắc Huguette 2, hai đại đội dưới đoạn rãnh thoát nước của đường băng sân bay, ngang với Huguette 1 và một đại đội dự bị ở thấp hơn, ngang với đồi Épervier. Trận xung phong phải mở màn thật chính xác, ngay khi pháo hoả tập trung chấm dứt: một vấn đề quen thuộc với những người đã được huấn luyện. Quyền chỉ huy trận đánh theo đúng luật thuộc về tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn B.E.P số 2, thiếu tá Lisenfeld. Lúc 13 giờ 45, mười hai máy bay khu trục và một chiếc B.26 lao xuống các vị trí đề kháng vẫn còn có thể chặn ngang bước tiến. "Chắc chắn là thành công?". Bigeard tuyên bố như vậy, anh giả bộ như là không hề lo lắng và rút lui. Trung uý hải quân Klotz, thuộc phi đội 11F, lái chiếc "Hellcat" lao xuống Huguette 1 rất thấp, tưởng như sát đất vào lúc thả bom. Sự thực, người ta trông thấy chiếc máy bay bốc cháy trước khi anh ta kịp thả bom. Phản xạ đầu tiên bảo anh ngóc lên và bay về hướng nam để hạ cánh xuống đường băng ở Isabelle, rồi sau đó, nhớ tới một trong số đồng đội từng thử hành động như mình đã nổ tung khi đang bay trước khi xà xuống sát đất, anh quyết định bỏ máy bay càng nhanh càng tốt. Biết rằng chiếc dù nhỏ không mở, anh tìm cách kéo cánh dù ra và thì đúng lúc, gió thổi tung dù và anh bị chệch khớp vai. Được viên phi công thứ hai Goizet yểm trợ, anh rơi xuống khu ruộng lúa cách phía nam Eliane 2 bốn trăm mét. Trước những viên đạn nổ ròn bên tai và cầy đất cách mình mấy bước chân, đột nhiên anh kinh hãi hiểu ra rằng người ta bắn vào mình. Giống như mọi phi công khác, anh không được chuẩn bị đối phó với thử thách này: nghề nghiệp của anh là đương đầu với những mối nguy hiểm khác. Nằm dán mình xuống đất, anh tự nhủ cần phải tìm cách tới được con suối ngăn cách anh với đồi Eliane 2 để ẩn nấp. Từ Eliane, đại đội của đại úy Capeyron đã từng xông ra cứu viên trung uý hải quân Laugier trong ngày 9 tháng tư và viên phi công thứ hai Goizet. Từ trong chiếc Hellcat của mình, cả hai bên nã súng vào núi Trọc để không cho đội xung kích của quân Việt cũng đang tranh thủ ra bắt sống phi công. Đột nhiên trung úy hải quân Klotz nhìn thấy ở cách chỗ mình nấp một trăm mét, một lính lê dương to con chạy về phía mình. "Đừng có đứng mãi ở đây, anh tự nhủ, trong lúc một người đang mạo hiểm mạng sống vì mình". Anh lao ra phía người đó. Người lính lê dương bị thương chảy máu ở má đưa cánh tay quàng lấy anh và xốc anh đi. - Tháo cái thứ kia ra, người lính lê dương vừa nói vừa chỉ vào cái áo phao cứu sinh mầu vàng tươi mà các thủy binh thường đeo dưới đai dù. Trung uý hải quân Klotz tháo bỏ chiếc áo phao và lại được dẫn chạy về tận điểm tựa Eliane, ở đó anh được sơ cứu. Tiểu đoàn B.E.P.2 đã không xuất phát được đúng giờ quy định vì thời gian tính toán quá chặt chẽ để di chuyển từ Eliane về và những sai lầm trong dự kiến hành trình. Bốn máy bay B.26 và pháo binh đảm bảo thay thế cho cái máy bay khu trục và phá vỡ Huguette 1. Ở đó chỉ còn chừng một chục quân Việt đã bị đờ đẫn vì bom và pháo đạn không thể chống cự lâu hơn nữa, trong lúc những màn khói che kín các điểm cao ở phía đông. Chậm mất ba mươi phút, khi các đại đội khởi động thì các khẩu đại liên đối phương bố trí thành từng cụm, dùng hoả lực kiểm soát đường băng sân bay mà người ta phải băng qua. Một trung đội duy nhất đến được một hố bom, ở gần bộ khung chiếc máy bay Curtiss, của công ty Aigle Azur bị bắn cháy ngày 13 tháng ba. Lúc 15 giờ, Castries gọi Bigeard, người đã nhiều đêm không ngủ và đang ngủ gục xuống giường ngủ. - Tôi có cảm tưởng là trận tấn công thiếu sức mạnh, ông ta bảo Bigeard. - Cậu lên xem sao. Ngồi trên xe Jeep, dưới làn đạn pháo, Bigeard phóng tới Huguette 2 nơi đặt sở chỉ huy của trận đánh. - Chắc có vướng mắc gì, Lisenfeld nói với anh như vậy. - Tôi không nhận được tin tức các đơn vị của tôi. Bigeard nhanh chóng nhận ra là các máy thông tin bị hư hỏng. Anh hét to, chửi rủa thúc giục mọi người, gọi cho các chỉ huy đại đội đang bị hoả lực chặn đứng, xác định rõ tình hình: tất cả các vũ khí của quân Việt quay trở lại Huguette 1, quật ngã những đơn vị mạo hiểm trèo lên bờ dốc của đường băng. Khi công việc không ổn, Bigeard không hề ngoan cố. Anh luôn chủ động, giống như quân Việt. Nếu thua trận, anh sẽ thoát ra. Anh sử dụng các máy bay B.26 cùng pháo binh để bịt mắt pháo binh đối phương và ra lệnh rút nhanh. Đại đội trong đó có viên hạ sĩ quan Hoinant, giờ đây chỉ còn lại sáu chục người, và bản thân Hoinant được đề bạt là trung đội trưởng. Viên đại đội phó, trung úy Guérin bị đạn pháo, hai chân gần như đứt lìa, đã tự bắn một viên đạn vào đầu để cho không một ai phải mạo hiểm cuộc sống để dìu anh về phía sau. Đại đội nằm chúi dưới đoạn rãnh thoát nước cho đến tận chiều, lúc đó được đội xung kích số 8 đến thay thế. Điều làm cho quân Việt ngày hôm đó thấy ngạc nhiên đó là sự nhút nhát của năm chiếc xe tăng đã không nã pháo ở cự li gần. Ở cách các vị trí của Isabelle chừng một trăm năm mươi mét, viên tham mưu trưởng của trung đoàn 57 thưởng thức rượu vang ướp lạnh. "Uống với đường, cũng không tồi", anh bảo tôi như vậy. Tướng Giáp đã chỉ thị cho đào giao thông hào vào sát trận địa của địch, cốt để thu gom được tối đa đồ tiếp tế được thả dù xuống. Ở phía tây Isabelle, đại úy Hiền nhận thấy rằng giao thông hào chỉ sâu có hai mét và yêu cầu đại đội trưởng cho đào sâu thêm năm mươi phân nữa. Các chiến sĩ tặng cho anh một chiếc mùi xoa cắt bằng vải dù được trang trí những đường thêu đẹp. Ngoài ra, người ta cho anh uống thứ cà phê Pháp, được hâm nóng trên một chiếc bếp lò nhỏ không có khói. Ban đêm, do vì không thể ra khỏi Eliane 2 ban ngày, trung úy hải quân Klotz được dẫn tới bệnh viện, ở đó bác sĩ Grauwin gây mê cho anh và nắn lại khớp vai. "Chắc chắn đây là có ưu tiên" Klotz nói. "Chuyện vặt như thế mà lại phải gây mê....". "Mừng cho anh", bác sĩ Grauwin mở chai sâm banh cuối cùng và dẫn anh tới gặp Langlais. Ở Điện Biên Phủ, người ta yêu quý các chiến sĩ hải quân. Họ chiến đấu không sợ nguy hiểm để giúp đỡ đội quân đồn trú; họ bổ nhào đến chết xuống các trận địa, trong khi đó thì không quân luôn luôn tuân thủ các quy tắc về an toàn. Một trong số chỉ huy phi đội, trung úy hải quân Andrieux đã bị hạ gục ngày 31 tháng ba; một người khác, Gérard de Castelbajac, nổi tiếng về nước da hồng hào, mái tóc hoe vàng và đôi mắt xanh khiến cho anh có biệt danh là "Bé Cadum"2; anh là người thích hội hè. Người ta yêu quý chàng kị sĩ xứ Gascogne này, người đã bước vào hải quân cùng với thanh kiếm dài và chiếc mũ gài lông chim của anh. Kết thúc chiến dịch, phi đội của anh, lúc nào cũng lao lên bám sát phía sau anh, đã mất sáu phi công trong tổng số mười lăm người. Mấy hôm trước đây Klotz đã đề nghị thả xuống Điện Biên Phủ một gói quà có bai chai rượu uýtski tặng cho Castries, Langlais và Bigeard, với lời đề tặng có chữ ký của các thành viên trong phi đội 11F. Để gửi được gói quà này, cần phải bay rất thấp trên đầu sở chỉ huy mà không có lí do chiến thuật cần thiết nào. Vì vậy Castebajac đã do dự trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ rồi sau đó quyết định đây là việc đáng làm. Cử chỉ quan tâm đó đã gây xúc động và tình thân thiết dành cho hải quân nhờ vậy càng tăng thêm. Klotz được nuông chiều. Castnes không từ bỏ thái độ lạnh lùng khi tiếp anh nhưng thiếu tá Séguins Pazzis đã nhận anh về ban tham mưu của mình và giao cho anh công việc liên lạc với sở chỉ huy không quân. Tiếp xúc với Langlais và Bigeard mà uy tín ngày một tăng thêm trong toàn bộ đạo quân viễn chinh, trung úy hải quân Klotz trước đó nghĩ là Điện Biên Phủ đã hỏng, nay đã thay đổi cách nhìn. Bởi vì, may mắn hơn trung úy hải quân Laugier bị bắn rơi trong cùng một hoàn cảnh như anh, ngày 9 tháng tư, như vậy là anh đã thoát chết chăng? Bởi vì, những người lê dương đã cướp được anh ra khỏi tay quân Việt chăng? Gần gũi với những con người ấy mang tới cho anh một mềm hy vọng to lớn. Nhất là, anh nghĩ tới đại úy hải quân Lespinas, cũng bị bắn rơi ngày 15 tháng ba, cái chết của Lespinas, thời kỳ đó đã làm cho anh xúc động. Một tình bạn sâu sắc gắn bó anh với chàng trai gầy gò, và cau có này. Con người sẵn sàng lao vào tình yêu và chiến tranh, con người mà anh mong muốn tỏ ra xứng đáng với sự quý mến của người ấy. Không, chưa có chuyện gì hỏng. Ở Điện Biên các diễn viên của vở bi kịch tưởng tượng rằng người ta còn có thể thắng cuộc. Klotz chỉ có một điều tiếc rẻ: đó là đã không mang theo mình những chiếc tẩu và một ít thuốc lá sợi dự trữ. Anh cảm thấy không có gì bị tổn thương. Anh tự nhủ rằng nếu như cuộc đời có một ý nghĩa thì thắng lợi hẳn phải giành được. Ở Paris, nơi dừng chân trước khi đi Genève, ngài Foster Dulles gặp ngài Georges Bidault, ngài Bidault báo với ngài ngoại trưởng Mỹ rằng nếu như không gấp rút mở màn chiến dịch Vautour thì tập đoàn cứ điểm sẽ sụp đổ, những thảm hoạ mới có nguy cơ dồn dập xảy ra tiếp theo. Mọi việc vẫn còn có thể cứu vãn nếu như chính phủ Hoa Kỳ quyết định cho các máy bay B.29 ở Manille tham chiến. Trong bữa tiệc tối, được tổ chức ở Ngoại giao, ngài Dulles mời ngài Eden gặp riêng để thông báo về kế hoạch của chiến dịch Vautour mà bộ tham mưu của tướng Ely đã cho Bộ Tham mưu quân đội Anh biết những nét chính. Hốt hoảng, ngài Eden được ngài Dulles thống nhất là không có chuyện gì xảy ra nếu không có sự tán thành từ phía chính phủ của ngài Wiston Churchill. __________________________________ 1. B.E.P. - Viết tắt tiểu đoàn dù ngoại quốc. N.D 2. "Bé Cadum": Bánh xà phòng thơm Cadum có hình một em bé mũm mĩm đáng yêu - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:37:59 pm Ngày 24 tháng tư 1954 Cogny nhận được câu trả lời cho bức điện của ông ngày hôm qua, trong đó ông gợi lại hình bóng của thống chế De Lattre để đè bẹp Navarre. Navarre nói với Cogny ngắn gọn rằng tình thế không có gì giống với tình thế năm 1951 và rằng ông biết chính phủ nhận được thông tin về các biến cố với một cách nhìn khoáng đạt hơn cách nhìn của Cogny. Quyết định thả dù một tiểu đoàn bổ sung cũng như quyết định tung ra kế hoạch Condor sắp diễn ra. Cogny nhấn mạnh và đòi hỏi việc xây dựng một khối hành binh ở Bắc Kỳ. Lúc 22 giờ 20 từ Sài Gòn, Navarre lại gửi cho Cogny một bức điện mật mã mới, trong đó Navarre đặt ra cho Cogny bốn câu hỏi về những khả năng kháng cự của Điện Biên Phủ. Liệu có đáng để tung ra cuộc hành binh Condor. Đó là vấn đề mà trong khi chờ đợi chiến dịch Vautour, Navarre không biết quyết định ra sao. Những ý kiến bàn cãi mà kế hoạch về hệ thống vệ tinh của Cogny gây ra lúc đó hình như đã mất giá trị. Ngày 16 tháng tư, Cogny đã không hề dấu diếm rằng hiệu quả của cuộc hành binh Condor vẫn đáng ngờ: ít nhất cần thiết phải mười lăm ngày để cho binh đoàn từ nước Lào có thể tiến đến gần Điện Biên Phủ và kể cả khi được yểm trợ bởi hai tiểu đoàn được thả dù xuống phía nam khu lòng chảo, đại tá Crèvecoeur cũng không đủ sức chọc thủng vòng vây. Giỏi lắm, ông ta chỉ có thể cắn vào bắp chân quân Việt và hạn chế họ trong thời gian tấn công tập đoàn cứ điểm. Ngược lại, nếu như cuộc hành binh thất bại, điều mà tướng Navarre xem như một thất bại chiến thuật, có nguy cơ biến thành một thảm bại ở tầm cỡ chiến lược. Nói cho cùng, nếu như việc Điện Biên Phủ thất thủ có tệ hại đến đâu, Navarre nghĩ rằng mình cũng sẽ chỉ mất mười ba tiểu đoàn và bốn cụm pháo binh; thậm chí chưa đến một phần mười quân cờ của ông; nếu như ông mạo hiểm, trong những hoàn cảnh thảm họa, một cố gắng tìm lối thoát cuộc hành binh đó có thể dẫn tới một bất hạnh vô bờ bến. Cogny biết điều đó cũng như Navarre, nhưng lại một lần nữa, chẳng thương hại gì Navarre, Cogny sẵn sàng mạo hiểm tất cả để giảm nhẹ gánh nặng cho Điện Biên Phủ. Ngay từ đầu, Navarre đã đòi hỏi quyền bảo trợ đối với Điện Biên Phủ. Lúc thắng lợi bề ngoài được đảm bảo, Cogny đã tung hô tầm rộng lớn của chiến thắng mà người ta tiên đoán; lúc thất bại đang đe doạ, Cogny làm người ta có cảm tưởng là ông ta gắng hết sức để đẩy vị tổng chỉ huy xuống vực thẳm và mình thì thoát khỏi con tầu đang chìm. Cũng như mọi người, Cogny đã mong muốn có cuộc đối chọi, mà không tính hết được giá trị các phương tiện của đối phương. Là pháo thủ gốc và được đào tạo, ông không lo ngại các cụm pháo của đối phương. Chuyện ngớ ngẩn: Cogny vốn biết khả năng mưu mẹo của quân Việt lại đã không cảnh giác đúng mức. Tính tự phụ đã gây hại cho ông cũng như cho những người khác. Sự bất đồng ý kiến giữa hai viên tướng đã bao trùm lên mọi việc. Người ta không thể không nghĩ rằng, một thế kỷ trước đây, trận thất bại ở Balaclava1 bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa hai vị tướng của đạo quân viễn chinh Pháp - Anh, ở Grimée, huân tước Lucan và huân tước Cardigan, thà chứng kiến mối thảm họa của đạo quân còn hơn là nói chuyện với nhau, trong niềm hy vọng thầm kín là một trong hai người sẽ tử nạn cùng với lữ đoàn kỵ binh mà họ đẩy vào chỗ chết. "Họ đã không còn có thể hiểu được nhau nữa", Woodhan - Smith, nhà sử học đã viết về mối hận thù ấy như vậy. Quả thực là về phía mình, Cogny không thể làm bất kỳ điều gì mà Navarre không đồng ý, Navarre thì đã từ chối Cogny mọi chuyện. Ở Paris, trong một lá thư nhằm để xoa dịu những oán trách của chính phủ Pháp, ngài Dulles cho rằng một cuộc tấn công trên không chắc chắn cũng không làm thay đổi số phận của Điện Biên Phủ, nhưng ông đảm bảo rằng dù cho việc tập đoàn cứ điểm thất thủ có xảy ra thì việc đó cũng không mảy may làm thay đổi vị trí quân sự của phương Tây ở Đông Dương cũng như sự chi viện về quân sự mà Hoa Kỳ sẵn sàng cung cấp cho quân đội Pháp. Các ngài Bidault và Laniel tưởng thấy trong lá thư ấy một lời hối tiếc chân thành của chính phủ Hoa Kỳ đã không thể giúp đỡ được nước Pháp bởi lẽ tình hình quân sự đã có vẻ tuyệt vọng. Ngài Bidault trả lời rằng dù cho có bi đát đến đâu, tình thế vẫn còn có thể đảo ngược hoàn toàn nếu như ông tin vào một bức điện của tướng Navarre và nếu như người ta khai thác những thông tin mà một chuyện gia quân sự vừa từ trận địa mang về: một cơ hội duy nhất để tiêu diệt toàn bộ đạo quân của đối phương, đó là nếu như chiến dịch Vautor được mở màn trong những giờ tiếp sau. Bức điện này, đó là tiếng thét kiểu Sếcxpia của vua Richard III2 trong trận đánh ở Borworth: "Một con ngựa, một con ngựa! Vương quốc của tôi là một con ngựa!". Để cứu vãn được vương quốc của Navarre, không chỉ còn là những chiếc máy bay, do việc sử dụng chúng kém cỏi mà ông đã thất bại, và không chỉ còn là những cái sọt nhỏ đựng than gỗ hoạt động mà người ta rải ra trong các đám mây để tìm cách tạo ra cơn lũ quét trùm lên đầu quân Việt. Lá thư của vị ngoại trưởng cũng không kém phần nước đôi. Chuyên gia quân sự mà cái tên không được tiết lộ chẳng phải ai khác ngoài tướng Ely: ông đã sang Điện Biên Phủ ngày 19 tháng hai và đã không quay về, như người ta để lộ ra như vậy. Trái ngược với điều mà ngài Bidault đưa ra một cách sỗ sàng, không có một yếu tố mới nào xuất hiện để có thể sửa đổi ý kiến của tướng Ely. Màn bí mật nặng nề bao phủ cách nói của Bộ Ngoại giao không phải cái gì khác ngoài thuật dối trá của công việc ngoại giao. Tất cả những cơ may của cuộc can thiệp bằng không quân hợp nhau lại thành một khối duy nhất. Thật là kịch tính, nếu như thành công của các loại vũ khí chuyển đổi từ trận tuyến này sang trận tuyến kia! Một niềm hy vọng như vậy nảy sinh trong buổi chiều thứ bảy ấy, vào thời điểm mà trong các đại sứ quán, chỉ có các nhân viên tiếp tân rỗi việc trả lời điện thoại, nhưng việc khai mạc sắp tới của Hội nghị Genève đã bao trùm một khung cảnh náo nhiệt khác thường lên các cơ quan bộ ngoại giao của các cường quốc phương Tây. Những bức điện mật mã nút kín các tuyến dây viễn thông xuyên đại dương trong màn đêm đang dần dần bao phủ châu Âu và trườn sang châu Mỹ. Trong lúc đó vầng mặt trời chuẩn bị nhô ra từ dãy núi phía trên cao một thung lũng nồng nặc mùi thất bại và cái chết. Thậm chí người ta không còn đủ sức lực để chôn cất các tử thi. Người ta đẩy các tử thi ra khỏi các giao thông hào, dồn xuống các hố đạn pháo hình chiếc phễu, ở đó chúng rữa nát ra. Để tiến lên trên một địa hình trống trải, các chiến sĩ quân Việt phải đeo khẩu trang bằng gạc mỏng không đủ sức ngăn cản được các mùi hôi thối, và những người bị vây hãm thì đưa mắt nhìn về hướng tây nam, từ hướng đó các tiểu đoàn của đại tá Crèvecoeur sẽ phải tiến đến. Ở Paris, nếu như ngài Bidault tiến bước dưới những mảng gỗ ốp tường mạ vàng của Bộ Ngoại giao, hướng về những khung cửa sổ cao nhìn ra sông Seine, thì tức là ông nhìn về hướng tây bắc để tìm kiếm trên bầu trời vầng sáng cuối cùng của một buổi hoàng hôn kéo dài. Lối thoát chỉ có thể đến từ phía Londres, nơi mà ngài Anthony Eden đang vội vã quay về. Sợ hãi trước quy mô phát triển của tình thế ngài Eden đã gửi về trước một bức điện khẩn. Ngài Bidault không cảm thấyngờ vực. Kể từ năm 1951, giữa câu: "Cần phải làm việc đó " của tướng De Lattre và câu: ''Người ta không thể" của viên tham mưu trưởng lục quân, ngài Bidault đã chọn câu: "Cần phải làm việc đó ". Nếu như Navarre tự coi mình là chàng hiệp sĩ của thế giới phương Tây thì ngài Bidault đã quyết định mình là người lính viễn chinh của thế giới ấy. Ngài sẽ không do dự để chặt đầu cũng như ấn vào các nút để đảm bảo thắng lợi cho học thuyết chính trị của mình và tiêu diệt những kẻ không chung thủy với học thuyết ấy. ____________________________________ 1. Balaclava: Một bến cảng của bán đảo Crimée (Nga) trông ra Biển Đen - Đã xảy ra trận đánh giữa quân Nga và quân Anh - Pháp năm 1954 2. Richard III: Nhân vật trong vở bi kịch lịch sử của Sếcxpia năm 1592 N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:40:32 pm Ngày 25 tháng tư 1954 Cuộc họp đặc biệt của hội đồng chính phủ Anh kết thúc, cuộc họp không chấp nhận một hành động liên hiệp trong trường hợp Hội nghị Genève thất bại. Ngài Anthony Eden không quan tâm lắm đến ý kiến của viên chuyên gia quân sự người Pháp cho rằng vẫn còn cơ may tìm ra lối thoát. Nhưng mọi việc thay đổi khi mà viên đại sứ Pháp thông báo với ngài Eden ý định mới của Washington, muốn rằng quốc hội Mỹ sẽ sẵn sàng phê chuẩn: chính phủ Mỹ, lo sợ chuyện đắm tầu của nước Pháp, đã không gạt bỏ cuộc can thiệp nữa. Hoàn toàn ngược lại, chưa bao giờ chính phủ Mỹ lại sẵn sàng tham chiến đến như vậy và những trái bom A sẽ được các máy bay của hải quân ném xuống ngày 28 tháng tư với điều kiện là nước Anh không phản đối. Ngài Eden lại một lần nữa triệu tập cuộc họp của chính phủ vào lúc 16 giờ để xác định lập trường của nước Anh. Các viên tham mưu trưởng quân đội Anh đều theo quan điểm bỏ phiếu trắng. Xét tới một cuộc phiêu lưu mà những hậu quả sẽ không sao lường hết được, ngài Eden đã tỏ lời thông cảm và lấy làm tiếc đối với ngài René Massiglin, người đã chạy đi chạy lại như con thoi giữa đại sứ quán Pháp và Bộ Ngoại giao Anh. Ngài Eden thậm chí khước từ việc soạn thảo một bản tuyên bố chung. Đối với Navarre và Cogny, câu hỏi duy nhất đặt ra là biết được Điện Biên Phủ cầm cự được bao nhiêu thời gian trên bờ vực thẳm, trong lúc chờ đợi phi đoàn các máy bay B.29. Ngay cả khi không có bom A, thì cơn bão sắt thép và lửa mà sáu mươi hoặc tám mươi máy bay ném bom hạng nặng tung ra thành nhiều đợt cũng sẽ đảo lộn mặt đất như một chiếc lưỡi cầy khổng lồ, nhất là nếu như các trái bom sẽ chỉ nổ tung sau khi xuyên sâu vào lòng đất để tiêu diệt những con người và số vũ khí đang ẩn nấp ở đó. Chắc hẳn pháo binh của Việt Minh bố trí trong núi đá sẽ không việc gì nhưng bộ binh thì sẽ bị nghiền nát gọn từng tiểu đoàn, trận địa đã mất có thể chiếm lại được và các khối tăng viện to lớn từ Hà Nội được thả dù xuống sẽ không phải vất vả chiếm lĩnh lại những khu vực chủ yếu của hệ thống phòng ngự. Tướng Caldera, chỉ huy số máy bay ném bom của lực lượng không quân Viễn Đông đã kết thúc công việc trinh sát và chia tay với chủ nhà để quay về Manille. Với ngài Maurice Dejean, ông ta tuyên bố là trận đánh có thể tiến hành trong mọi thời tiết mà không cần phải bố trí trên trận địa của đối phương những vật chuẩn thông tin điện tử. Ngoài ra, các sĩ quan phi công Pháp có thể phục vụ như những hoa tiêu trên các máy bay dẫn đầu các phi đoàn. Trong vòng ba đêm, tám mươi máy bay ném bom có bán kính hoạt động cho phép thoải mái chuyến bay khứ hồi sẽ có thể phá vỡ vòng vây xung quanh Điện Biên Phủ và làm đảo lộn các kho hậu cần ở Tuần Giáo. Chuyện lạ lùng, tướng Caldera có vẻ kém tự tin khi đứng trước tướng Lauzin. Phân vân, thiếu tự tin do nhớ lại những biến cố xưa cách đây đã mười năm ư? Viên nguyên tư lệnh không quân của đạo quân viễn chinh còn nhớ nhiều nhất đến những ý kiến tranh cãi nảy sinh từ việc thực hành trận tấn công này, đối với khối lớn máy bay sẽ không được phép phạm bất kỳ sai lầm nào trong kỹ thuật bay cũng như trong kỹ thuật ngắm ném bom và ông có cảm tưởng là việc này sẽ không diễn ra, bởi lẽ những người Mỹ muốn dải thảm khối bom của họ bằng cách nhắm vào ba trạm phát sóng mà ông không thể nào cung cấp cho họ được. Cho đến tận cuối tháng, trời vẫn tối đen và chỉ mãi đến ngày 10 tháng năm mới có thể tính đến ánh sáng trăng; sẽ dễ dàng soi sáng trận địa và chỉ định những mục tiêu phải oanh tạc, ngoại trừ nếu như quân Việt được báo động sẽ nhóm những đống lửa trên núi hoặc là nếu như cơn giông thường hình thành lúc cuối ngày với việc trở lại của những cơn gió nóng ẩm sẽ che khuất mọi tầm nhìn. Ở điểm này nữa, những người Mỹ không chấp nhận là không quân Pháp đánh dấu các mục tiêu của họ; họ chỉ có tin vào chính họ. Cogny đánh điện trả lời các câu hỏi của Navarre: theo anh đánh giá, Điện Biên Phủ kháng cự được trong bao nhiêu lâu và liệu chiến dịch Condor có đáng để phải tung ra? Cogny cho rằng tập đoàn cứ điểm có thể cầm cự được trong hai hay ba tuần lễ nữa, trừ phi có trận tổng tấn công của đối phương. Còn về chiến dịch Condor thì hiệu quả hạn chế nhưng có ích và cần phải mở màn không chậm trễ. Buổi chiều, đô đốc Radford thân chinh mang một thông báo riêng của tổng thống Eisenhower cho ngài Wiston Churchill. Liệu ngài Churchill, trước đó, có điện thoại cho tổng thống Eisenhower để nói với ông rằng: "Cần phải dừng tay" hay không? Dù sao, đã quá muộn; ván bài đã bắt đầu từ buổi sáng và ngài Eden đi sang Genève. Viên sĩ quan cao cấp của bộ tham mưu không quân ở Sài Gòn, lên đường đi Manille với những lời chỉ dẫn cuối cùng liên quan đến chiến dịch Voutour, đã đi một chuyến hết sức vô ích. Bảy mươi hai tiếng đồng hồ đủ để cho cất cánh ở Philippine không đoàn máy bay B.29 mỗi chiếc mang theo tám tấn bom nhằm nghiền nát các sư đoàn của tướng Giáp, nhưng lệnh mở màn chiến dịch đã không bao giờ được phát ra. Vị thủ tướng nước Anh đã thêu dệt trong tâm trí mình những vòng hoa thông cảm cao quý mà ông sẽ quấn xung quanh khuôn mặt giống như bò của ngài Laniel, vừa nhắc lại những ngày tháng đen tối ở Tobrouk1. Nước Anh không chấp nhận cái quyền phá hỏng những viễn cảnh mà việc nước Anh công nhận chế độ cộng sản ở Trung Quốc kể từ năm 1950 mang tới cho các thị trường của mình. Ngày hôm ấy, toàn bộ đường băng sân bay Điện Biên Phủ bị đánh chiếm. Ba trung đoàn quân Việt chiến đấu gần một tháng để chiếm lấy ba điểm tựa, mỗi điểm tựa do khoảng một trăm người chống giữ. Trận thắng này, Langlais đã bắt đối phương phải trả giá đắt. ______________________________________ 1. Tobrouk: Thành phố của Libye. Nơi diễn ra những trận đánh quan trọng của quân đội Anh và quân đội Đức - Ý vào năm 1941 - 1942. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:44:56 pm V BUỔI HOÀNG HÔN CỦA THẦN THÁNH Thử hỏi một đạo quân hai trăm nghìn người mà chỉ có một trăm nghìn người thực sự chiến đấu, còn một trăm nghìn người kia thì tìm cách ẩn nấp bằng đủ mọi cách, đạo quân ấy liệu có ích gì? Chẳng thà chỉ có một trăm nghìn người mà người ta có thể trông cậy được. Ardant du Picq D. B. P mà những chữ đầu chỉ được biết đến đối với số ít những người am hiểu, bởi những gì mà lúc ra đi, họ mang đầy quyết tâm, và từ nơi đó họ đi chân đất quay về; mở đầu trang viết này, D. B. P hẳn phải nhấn chìm tâm hồn tôi trong nỗi buồn và làm cho tâm hồn tôi cứng rắn trong một thời khắc có phần cay đắng. Nhưng mà tâm hồn tôi bị vặn vẹo và có những nút rối, trái tim tôi máu không tưới đủ chỉ còn thấy khó thở... Đại úy Jacques Allaire "Mũi nồi đỏ” , tháng năm 1962, số39 Ngày 26 tháng tư 1954 Đột nhiên, trong lúc ở Hà Nội mưa phùn và giá lạnh xen kẽ với một bầu trời đầy mây nặng nề thì ở Điện Biên Phủ, mùa hè xuất hiện. Navarre trả lời Cogny một cách dài dòng. Ông mở đầu bằng câu: “Nếu như tôi hiểu đúng ý anh... " và người ta có thể hình dung ra cái cử chỉ tức tối mà ông không kìm lại được khi đọc đoạn thứ năm trong bức điện mới đây của Cogny. Quả thật lại một lần nữa, những suy nghĩ của Cogny chìm vào trong đám mây mù hết sức khó hiểu. Để chọc thủng được màn mây mù ấy, cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần và lần lượt phát hiện những ẩn ý chứa đựng trong đó. Cái ý kiến trái ngược mà Cogny nói đến, chính xác đó là ý kiến gì? Phải hiểu ý nghĩa đích thực của câu sau đây như thế nào: "Tôi tuyệt đối bác bỏ giả thiết làm tăng thêm một cách đơn giản ý nghĩa tinh thần của sự hi sinh”. Trong khi vấn đề đã đặt ra thật rõ ràng bi thảm: "Liệt anh có đứng về phía những "người cho là cần tăng cường sức mạnh cho Điện Biên Phủ?". Với vấn đề này, Cogny, người vừa mới tròn năm mươi tuổi theo thường lệ không trả lời là có hay là không. Ông quanh co. Ông né tránh. Ông lựa chọn. Người ta hỏi để ông cho ý kiến rõ ràng thì ông lại nói đến giá trị tinh thần của sự hi sinh. Tình thế tuy nhiên lại không hề mập mờ. Nhiều lần trong ngày, ông nghe thấy tiếng nói của Castries, nói chuyện với Castries, tiếp nhận qua vô tuyến những thông báo của tập đoàn cứ điểm. Ông biết là đang đứng ở nấc thang nào. Không một ai khác nắm vững tình hình như ông. Liệu người ta có buộc phải tiếp tục thả dù các tiểu đoàn nữa hay không? Nếu như ông cho rằng mọi việc đã hỏng và những con người tiếp tục nhẩy xuống hàng rào thép gai có nguy cơ chết một cách vô ích, nếu như ông ta tin chắc là cần phải ngăn chặn dòng sông máu này lại và bảo tồn những lực lượng còn lại để bảo vệ vùng đồng bằng, thì chuyện đó qua là không có gì dễ nói hơn. Vậy là, người ta có thể nghĩ rằng, tuy không thật chắc chắn, ông từ chối gửi những đơn vị mới nhẩy vào chỗ chết, nhưng mà ở cuối đoạn văn này, ông lại nhắc đến việc kéo dài cuộc kháng cự và đòi hỏi có những quyết định để cứu vãn Điện Biên Phủ. Navarre, kể cả khi có sai lầm, theo dòng suy nghĩ liên tục đã có lý khi mở đầu thư trả lời của mình bằng câu: "Nếu như tôi hiểu đúng ý anh... ". Ở đây hình như Cogny bị một vố gậy ông đập lưng ông khi ông quyết tâm tỏ ý giả định rằng mọi việc sẽ được cứu vãn nếu như người ta nghe theo ông. Ông biết rằng nếu không có việc can thiệp của những chiếc máy bay B.29, chuyện đó đến lúc này có thể là ông vẫn còn tin là có nhưng niềm tin ấy mỗi lúc một mong manh hơn, thì mọi việc sẽ hỏng hết và chỉ có danh dự là cái duy nhất người ta phải bảo vệ. Liệu có ai lại để mình bị mắc lừa bởi những câu nói quá ư tế nhị như vậy? Liệu có ai lại không phát hiện ra được dưới cái mớ rối rắm những công thức, là mối bận tâm tách mình ra khỏi số phận của kẻ bại trận? Binh nghiệp vốn bao giờ cũng bác bỏ những lời ngụy biện và những câu nói lập lờ bởi vì những kiểu nói ấy không thuộc cùng một bản chất với nó; những lí lẽ của Navarre đã gẫy nát khi vấp phải thực tế của các lực lượng mà ông ta đã không tin tưởng; những lí lẽ của Cogny cũng không khá gì hơn khi đứng trước ánh sáng của những vấn đề được đặt ra. Ngày hôm ấy, ý nghĩ của Navarre sắc bén và đúng đắn như một nhát kiếm: ''Nếu như tôi hiểu đồng ý anh, thì anh cho rằng việc tăng viện cho Điện Biên Phủ chỉ có ý nghĩa nếu như việc kéo dài sự kháng cự chắc chắn dẫn tới một lối thoát thuận lợi. Tôi không chia sẻ quan điểm đó và tôi cho rằng danh dự quân đội cũng như niềm hi vọng, kể cả khi không tin chắc là có lối thoát thuận lợi, vẫn cứ chứng minh là cần có sự hi sinh thêm nữa. Vậy mà, lối thoát thuận lợi lại có thể hi vọng tìm thấy ở Hội nghị Genève, hội nghị này có thể dẫn tới hoặc là việc đình chiến hoặc là việc can thiệp của người Mỹ trong trường hợp hội nghị tan vỡ. Vì vậy tôi quyết định kéo dài tối đa cuộc kháng cự ở Điện Biên Phủ " Phần còn lại của bức điện dài chỉ là thứ yếu và người ta tự hỏi vì sao Navarre đã để mất nhiều thời gian đến thế để tìm được cái giọng nói và cách nhìn thẳng thắn ấy. Chính ông là người mang tới phần lớn nhất những đau khổ cho đội quân đồn trú và muốn nói gì thì nói, đã quá muộn để nghĩ tới việc cứu vãn một danh dự nào đó. Nhưng mà, trong cơn thử thách, tướng Navarre đột nhiên tự nâng mình lên một phẩm giá mẫu mực . Nhất là ông có ưu điểm đặc biệt là đòi hỏi gánh lấy những trách nhiệm về mình và áp đặt ý chí của bản thân. Rằng, giá như ông để ý vấn đề đó sớm hơn, tỉnh táo hơn và sớm có quyết định lẽ ra có thể tránh cho đạo quân viễn chinh một thất bại nhục nhã đến như vậy, và tránh cho nước Việt Nam có một nền độc lập mà nước Pháp phản đối. Lần này, không còn chuyện gì ổn thỏa nữa. Các vị ngoại trưởng Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, các đại diện của Bắc Triều Tiên, của các quốc gia Liên hiệp; vị Thủ tướng nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngồi sâu trong các công viên ở Genève, trong các tòa biệt thự được xây dựng dành cho dịp nghỉ ngơi của các vị đứng đầu quốc gia hoặc những đôi tình nhân khá giả, những tòa biệt thự sạch sẽ như những phòng tắm và hoàn toàn hợp pháp. Ngoài Laniel đã thúc dục viên đại sứ của mình ở Londres trình bày một lời thỉnh cầu cuối cùng với nhà quí tộc hút thuốc xì-gà1. Không một ai còn có thể làm gì được nữa để phá vỡ cảnh đẹp được tạo ra bởi những điệu múa của đàn thiên nga trên dải bờ hồ Léman, bất chấp là mùa xuân mờ sương. Âm vang của tiếng người nói không lọt được vào nơi đây. Kể cả tiếng bom nổ và tiếng đạn pháo của Điện Biên Phủ thông qua những bức điện mật mã và đường dây của các đặc phái viên báo chí quốc tế cũng không đến được. Phải là viên trung sĩ Sammarco, viên hạ sĩ trưởng Hoinant hoặc viên đại úy Capeyron, những người cùng có suy nghĩ ngây thơ như nhau khiến cho họ hi vọng ở một thắng lợi dễ dàng, tự coi bản thân họ là những "con lợn khốn khổ", bị lừa dối bởi đất nước mà họ phục vụ, bởi quân đội đã sử dụng họ, để mà còn tin rằng các tiểu đoàn của đại tá Crèvecoeur sắp chọc thủng vòng vây hoặc là những trận mưa sẽ ngăn cản những chiếc xe tải Molotova lăn bánh. Trong lòng chính phủ Pháp, một vị bộ trưởng đến gặp ngài Laniel: - Chúng ta ứng xử như những con người thô lỗ, ông nói. Lẽ ra chúng ta phải tỏ rõ với đội quân dồn trú ở Điện Biên Phủ là chúng ta ở bên họ. Tôi đề nghị ngài cho phép tôi đi sang Hà Nội và nhẩy dù xuống để cùng chia sẻ số phận của De Castries. - Ông điên rồi, vị chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đáp lời. - Tôi không tin là Việt Minh sẽ bắt một thành viên chính phủ làm tù binh Cái người điên ấy, đã có cử chỉ có ý nghĩa mà biết bao con người biết điều thường rất hà tiện. Là một phi công mặc dù có tuổi tác, vẫn còn giữ được một trái tim thanh xuân. Giầu có tài sản và trí tuệ, giống như một vương công thời phục hưng yêu thích đàn bà: cảnh sống sang trọng và thú mạo hiểm, coi khinh những kẻ mạnh và sẵn sàng giúp đỡ những người hèn yếu, căm ghét tính nhu nhược và những sự nhân nhượng, ông là một trong những người hào hiệp cuối cùng của thế kỷ, luôn luôn thực hiện những hành động cao cả trong tiếng cười ngạo nghễ. Thói yêng hùng ư? Chắc chắn là không. Ông sẽ nhẩy xuống Điện Biên Phủ giống như ông đã từng chiến đấu ở Tây Ban Nha, chống lại đội lê dương Condor. Đó là tướng Edouard Corniglion Molinier. Tiếc thay, ông làm gì được trong cái khoang thuyền mà mặt trước mũi thuyền là một cái đầu bò? __________________________________ 1. Ám chỉ thủ tướng nước Anh lúc đó, Wiston Churchill, miệng luôn luôn ngậm điếu xì gà to tướng. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:50:22 pm Ngày 27 tháng tư 1954 Những cơn giông ban đêm chưa tan tích tụ lại trên rặng núi và khu lòng chảo một khối mây khổng lồ đến mức không một máy bay nào chui qua được. Hai mươi chiếc Dakota quay trở về căn cứ sau khi không thả được khối hàng mang theo. Đại tá Lalande thử tìm cách nới rộng tầm với của mình ở cứ điểm Isabelle: tất cả các đội sục tạo của ông đều chạm trán đối phương và quay về cùng với số người chết và bị thương. Bằng một bức điện tiếp nối, Cogny trả lời việc xác định tình hình của tổng chỉ huy, và bộc lộ rõ hơn ý tưởng của trình. Đối với ông, mặc dầu danh dự quân sự là cái đáng quí hơn mọi thứ, nhưng mục tiêu nhằm đạt tới không thể chỉ duy nhất là giá trị tinh thần của sự hi sinh; những đơn vị tăng viện giờ đây người ta ném xuống Điện Biên Phủ chỉ giúp cho việc làm suy yếu vị trí sống còn của vùng đồng bằng trong tình thế tan rã tổng thể diễn ra tiếp sau việc thất thủ tập đoàn cứ điểm. Vì vậy Cogny nghĩ rằng việc thương lượng về một cuộc đình chiến là đáng để lựa chọn và ông yêu cầu những bức điện trước đây của ông được chuyển tới cho ngài Dejean đọc. Navarre tung ra cuộc hành binh Condor. Phải mất tám ngày, nếu như mọi việc trôi chảy, đại tá Crèvecoeur mới có thể tới được các đỉnh núi khống chế khu lòng chảo. Tại sao Navarre lại đã trì hoãn lâu đến thế, trong khi Cogny, ngày 14 tháng tư đã điện báo cho Castries rằng việc đó đã được quyết định và rằng kể từ lúc đó, viên trung sĩ Sammarco không ngừng đưa mắt nhìn về hướng tây? Đó là vì Navarre tin tưởng nhiều hơn ở cuộc can thiệp của người Mỹ mà lúc này, ông biết là sẽ không diễn ra. Ở Londres, sau khi đại tá Brébisson đã không thuyết phục được phía người Anh cử tới một vài chuyên viên kỹ thuật quân sự để rà soát lại những nhận định của họ, viên đại sứ Pháp - ngài Remé Massigli - nhân danh ngài Laniel xin có cuộc hội kiến với ngài Wiston Churchill. Trước sự bối rối cao độ của viên đại sứ, ngài Churchill chấm dứt dứt khoát cuộc nói chuyện và tuyên bố không muốn xem xét bất kỳ điều gì về mặt quân sự của vấn đề. Ngày 28 tháng tư 1954 Ở Genève, cuộc hội nghị về Đông Dương không thể khai mạc trước khi diễn ra những cuộc bàn bạc về vấn đề Triều Tiên, nơi mà chiến trận đã dừng lại từ cách đây chín tháng. Những vấn đề nhậy cảm, những vấn đề ngôi thứ và những câu chuyện tự ái đã đẩy lùi giờ khai mạc hội nghị tới tận ngày 10 tháng năm. Trở lại tòa dinh thự hoàng gia của mình ở Côte d'Azur từ hai ngày nay, ngài Bảo Đại đã bổ sung vào tình hình đó hành động phá rối của cá nhân mình cốt để tìm cách cứu vãn tòa lâu đài và những cuộc đi săn hổ ở Đà Lạt cũng như những bổng lộc có được từ những sòng bạc và nhà thổ ở Chợ Lớn. Phần còn lại trong số tài sản của ngài từ lâu đã được gửi vào nơi chắc chắn. Ván bài poker của mình đã bị thua, ngài Bidault không hiểu được rằng một cử chỉ nhún nhường về phía ngài sẽ cứu vãn được mạng sống của vài trăm con người vốn đã không tiếc gì xương máu vì tổ quốc của họ hay vì đất nước mà họ đại diện. Ba khóa sĩ quan tốt nghiệp đã bị hạ gục trong vòng hai năm trong một cuộc chiến tranh mà người ta biết là không thể giành thắng lợi, cuộc chiến tranh mà người ta đã không muốn dừng lại đúng lúc, cuộc chiến tranh ấy sắp nuốt chửng toàn bộ đế chế Pháp. Ở Điện Biên Phủ, giông tố vẫn đổ xuống khu lòng chảo và người ta lội bì bõm trong một vũng bùn nhớp nháp. Máy bay khu trục và máy bay ném bom không còn yểm trợ gì được nữa cho đội quân đồn trú và hai mươi hai chiếc Dakota quay trở về cùng với khối trọng tải mang theo. Đại tá Nicot báo động cho viên tướng tư lệnh không quân rằng tình trạng hao tổn nhân sự của đoàn không quân vận tải đã lớn đến mức ông không tin chắc là có thể thực hiện được kế hoạch thả hai tiểu đoàn quân dù cùng khối lượng tiếp tế cho các binh đoàn của cuộc hành binh Condor. Cuộc hành binh này theo ông đánh giá là không thể thực hiện được, xét về mặt kỹ thuật. Trong lúc này, binh đoàn Crèvecoeur đánh chiếm được đồn Mường Khoa, đồn này trong tháng hai đã bị trận tấn công của sư đoàn 308 nhổ bật. Mười phi hành đoàn của máy bay Dakota được tạm mượn từ các đội không quân vận tải để chuyển sang các máy bay Paket mà đội phi công Hổ Bay từ chối không chịu lái. Trên cứ điểm Isabelle, tám người cố gắng tiếp đất được trong đêm. Nếu thời tiết tiếp tục như hiện nay. thì việc kháng cự của đội quân đồn trú không thể tính từng tuần mà là từng ngày. Cách đó mười kilômét, trên đường đi tới trạm phẫu số 5, giáo sư Tùng và đội hộ tống ít ỏi của ông ngồi nghỉ một lát trong một xóm nhỏ bị bom napan, nay chỉ còn lại vài chiếc cột nhà cháy đen. Dân cư trong xóm đã đi hết. Chỉ còn hai con lợn nhỏ lông mầu đen, và một con dê lang thang giữa đống đổ nát. Giáo sư Tùng đã kiệt sức: suốt trong hai đêm, không ngừng nghỉ, ông đã mổ xẻ các hộp sọ. Ông chỉ đứng vững được bằng cách nhắc lại trong tâm trí câu nói mà Bác Hồ vừa mới bảo ông: "Cần phải chiến thắng". Giáo sư Tùng biết rằng người Mỹ đe dọa can thiệp bằng máy bay ném bom hạng nặng. Ông nhìn ra khoảng không xung quanh, nghĩ tới những vấn đề ông còn chưa giải quyết được, tuy nhiên ông tự nhủ: "Sau này, ở đây sẽ là cảnh đẹp" Ngồi trước vòng tay lái chiếc G.M.C chở đạn pháo 105, anh lái xe Tha nghiến chặt hai hàm răng. Bùn ngập quá nửa bánh xe và người ta chỉ có thể tiến lên bằng cách cho chạy hai cầu xe trong những rãnh ổ gà mút chặt lấy bánh xe, tựa như chạy trên những đường ray sâu. Để vá víu những chỗ lốp xe bị sỏi đá chọc thủng người ta dùng một chiếc bùloong nhét vào đó rồi dùng êcu vít chặt lại. Hôm qua, trên một đoạn chữ chi của đèo Pha Đen vừa mới bị máy bay oanh tạc, chiếc xe đi trước xe của Tha bị "pan” ngay bên cạnh một hố bom nổ chậm chắc chắn sắp nổ tung: bởi lẽ chốc chốc quả núi lại rung chuyển vì những tiếng bom nổ. Không thể nào lùi lại cũng như vượt lên và chiếc xe Molotova đi trước lại sa lầy trên đoạn dốc mỗi khi Tha định cho xe của mình móc nó kéo lên. Cuối cùng nhờ việc dùng chiếc bơm thổi thông các đường ống dẫn, hệ thống cung cấp xăng trong bộ chế hòa khí hoạt động trở lại. Khi quả bom nổ, đoàn xe chỉ vừa kịp ra khỏi nơi đó. Nghĩ đến chuyện đó, một nụ cười nhỏ nhăn nhó trên khuôn mặt trẻ con của anh lái xe Tha, nhưng mồ hôi chảy ròng ròng trên lưng anh. Ở Paris, nơi mà báo chí ngày càng dành nhiều trang cho những tin tức về Điện Biên Phủ, mùa xuân đã tràn ngập. Những cây dẻ nở đầy hoa, những cây liễu trên các bến tầu vươn dài những cành lá run rẩy và những hình ảnh đó hiện lên trong tâm trí những con người đang chiến đấu trong bùn lầy vì một đất nước có vẻ như đã bỏ rơi họ. Nếu như những đầu đề hay những bài viết của các số báo đến tay họ chứng tỏcho họ thấy là niềm xúc động và nỗi ngạc nhiên đã dần dần hâm nóng công luận, họ không thể nào quên được rằng mối quan tâm ít ỏi mà dân tộc dành cho họ đã đưa họ tới cái hố sâu này. Trước mặt họ, một dân tộc khác mang lại chiến thắng cho quân đội của mình. Ngày hôm đó, xuất hiện một bản tuyên bố thừa nhận nền độc lập hoàn toàn và chủ quyền toàn vẹn của cái nước Việt Nam của Bảo Đại. Bản tuyên bố đó có được là nhờ ở vị phó chủ tịch hội đồng phụ trách các vấn đề Đông Dương, một ông già nhỏ nhắn nhanh nhẹn, từ mười lăm năm nay đã nhìn thấy mọi mối thảm họa nhưng không thể nào có cách tránh né được và không bao giờ dám ra tay điều hành công việc. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:55:09 pm Ngày 29 tháng tư 1954 "Chẳng bao lâu nữa, quân Pháp sẽ không thể nào cầm cự được dưới thời tiết mùa mưa. Khi quân Pháp buộc phải rời bỏ các chiến hào và những khu hầm ngập nước, chiến thắng sẽ thuộc về chúng ta... " Câu nói này trong một bản nhật lệnh mà tướng Giáp thấy không cần phải giữ bí mật nữa, đài phát thanh của Việt Minh công bố rộng rãi. Đâu là niềm hi vọng mà Navarre gửi gắm một cách ngây thơ vào việc mùa mưa đang tới gần, mùa mưa mà ông đã thử tìm cách tạo ra và thúc đẩy nó mau tới sớm, tưởng đâu như quân Việt là những người duy nhất gặp bất lợi trước mùa mưa? Và điều này nữa, liệu ông có bất bình vì các chuyên viên kỹ thuật đã không làm tròn nhiệm vụ? Những cơn giông chụp xuống đầu đội quân đồn trú như thêm một tai ương nữa. Ngày hôm đó, may ra có vài chiếc máy bay cố gắng mạo hiểm chui qua khối mây tích tụ đang vẫn vũ trên không trung để thả xuống sáu mươi lính lê dương trong đêm, giữa những vách núi, trên cứ điểm Isabelle. Navarre và Cogny tiếp tục gửi cho nhau những bức điện hăm dọa. Navarre chua chát nhận xét với viên tướng cấp dưới là những cuộc tấn công được dự kiến để cắt đứt hậu tuyến của Việt Minh đã không hề được Cogny nêu ra, mà là được nghiên cứu theo lệnh của ông và rằng nếu như việc thực hiện các cuộc tấn công đó không được áp dụng đó chính là vì chính bản thân Cogny đã thừa nhận là việc đó không giúp ích tí gì. Về phía mình, Cogny nêu lên là vị tổng chỉ huy đã không có một quyết định nào về việc thay thế các phi công người Mỹ lái những chiếc Packet, trong lúc mà, kể từ bốn mươi tám tiếng đồng hồ nay, các kho đạn dược bộ binh trong tập đoàn cứ điểm gần như đã cạn kiệt, không nhận được mảy may tiếp tế bổ sung. Tối hôm ấy, Langlais đã mời cô tiếp viên hàng không, mà báo chí thế giới bắt đầu gọi là Thiên Thần của Điện Biên Phủ, đến ăn bữa tối tại nhà ăn tập thể của sở chỉ huy. Khi cô ta tới, thiếu tướng Castries bảo cô: - Geneviève này, tôi có chút quà mọn cho cô. Ông rút từ trong ngăn kéo ra chiếc thập tự Hiệp sĩ đội lê dương danh dự mượn của một sĩ quan dù và ghim lên ngực áo của cô De Gallard cùng với một huân chương Thập tự chiến tranh mà Langlais đã moi ra từ đáy tủ trong quán căng tin. Ngày 30 tháng tư 1954 Cuộc trao đổi ý kiến giữa Navarre và Cogny tiếp tục nút chặt các khối thư tín và các đài thông tin. Có biết bao thư ký đã dốc sức gõ lên máy chữ những câu chua chát và những lời tranh cãi đang nung nấu tâm trí hai người, ngăn cách với nhau bởi hàng nghìn kilômét và bởi một mối hằn thù không hề suy giảm? Navarre buộc tội Cogny phải chịu trách nhiệm về mọi chuyện không ổn nữa. Cogny đặt lên vai Navarre cả chi tiết lẫn tổng thể những thất bại gặp phải. Tức mình, chẳng bao lâu Navarre kết thúc các bản thông báo của mình bằng một công thức chấm dứt chuyện cãi cọ: "Đã nhận được điện của anh. Bức điện sẽ không được trả lời. Giữ nguyên toàn bộ lập trường". Bây giờ công việc thuộc về Cogny, đã quá muộn để xoay xở bằng các phương tiện của mình mà tái bổ sung cho các kho dự trữ lương thực và đạn dược; đã quá muộn để lựa chọn các máy bay vận tải và áp dụng các phương pháp thả dù. Navarre đứng trên mọi chuyện. Người ta tự hỏi nếu như tình cảm hai người đối xử với nhau không ổn, mà họ không hề hay biết, đến mức đặt việc thắng thua giữa hai đối thủ trước cả số phận của đội quân đồn trú thì giống như huân tước Lucan và huân tước Cardigan, các sĩ quan cấp dưới đã nói về hai người ấy như sau: "Bất hạnh cho ai đó đứng ở giữa hai gọng kìm ấy...". Ngày 2 tháng năm 1954 Cái nóng dữ dội đến mức các cơn giông lại nổ ra và nhấn chìm khu lòng chảo dưới những vòi rồng nước mưa. Người ta di chuyển một cách khó khăn: lớp bùn tràn ngập các căn hầm và bệnh viện. Đất bùn làm ô nhiễm các vết thương, tức là thêm một tai ương nữa giáng xuống các thương bỉnh của hai đạo quân mà các nhân viên cáng thương chật vật lắm mới chuyển tới được các trạm cấp cứu, nhưng mà một số này thì chui sâu xuống địa ngục trong khi đó niềm hi vọng chiến thắng giúp cho một số kia chịu đựng được đau đớn và không sợ chết. Còn về phần Langlais và Bigeard, ở đáy sâu vực thẳm đó vì sao không tìm thấy một niềm hi vọng tối cao? Nếu thời tiết tiếp tục như thế này, quân Việt sẽ không còn có thể sử dụng các giao thông hào nữa. Họ sẽ phải tiến bước lộ thiên và lúc đó súng đại liên và đại bác sẽ hạ gục họ. Trong hai đối thủ, chiến thắng thuộc về đối thủ nào không lùi bước. Đối với vị tổng chỉ huy, tình thế hiện ra khác hẳn. Tác động của ông đối với De Castries gần như con số không và trong mọi trường hợp bị ảnh hưởng của việc liên lạc khó khăn và do các nấc trung gian. Ông biết rằng lúc này đội quân đồn trú sống ngắc ngoải những giờ đồng hồ cuối cùng và rằng cơ may thoát nạn nằm ở Genève. Ra đến Hà Nội, thậm chí không báo cho Cogny biết, Navarre đánh giá là trận đánh ở Điện Biên Phủ không thể tiếp tục được nữa. Do vì chính phủ không muốn có chuyện đầu hàng và Navarre thì không chịu để cho đội quân đồn trú chịu tử nạn (người ta vẫn cứ gọi là binh đoàn Gono) "để Gono tử nạn ư?” Navarre đề nghị nghiên cứu cuộc hành binh Albatros, một biến dạng của Condor và một hậu duệ của trận Xenophon: một kế hoạch chọc thủng vòng vây tiến sang nước Lào, bỏ lại tại chỗ các thương binh và số cán bộ quân y. Trong cái đêm tương đối sáng, tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, mới từ nước Pháp đến được vài ngày, bắt đầu rơi như mưa xuống hàng ngũ các binh sĩ phòng ngự. - Người ta gửi chúng ta đến đây làm cái đ... gì? Đại úy Bazins, chỉ huy tiểu đoàn này hỏi một cách giận dữ như vậy. Người ta thừa biết là mọi chuyện đã hỏng cả. Chớ có hi vọng quá nhiều ở chúng tôi, người của tôi đều đã mệt mỏi. - Cầm mồm, Bigeard quát. - Mệt mỏi ư? Langlais kêu lên. Thế còn bọn tôi thì sao? Người ta không yêu cầu các anh cho biết ý kiến, mà là yêu cầu các anh cùng đánh nhau với chúng tôi. Trên phía bắc, theo trục bay mà các máy bay thường sử dụng để đảm bảo an toàn, ở những điểm cao gần nhất xưa kia là vị trí của Anne Marie, quân Việt đã bố trí một đèn chiếu phòng không cường độ mạnh có thể tóm bắt được những chiếc Dakota bằng những chùm tia sáng của chúng và cho phép các cụm pháo có thể hiệu chỉnh xạ kích chính xác hơn. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 10:57:33 pm Ngày 3 tháng năm 1954 Những sức mạnh của ảo tưởng và sự gương mẫu thật đáng khen ngợi! Ở Điện Biên Phủ đang hấp hối, không một ai, ngoại trừ Castries vẫn hàng ngày nói chuyện với Cogny, cùng viên tham mưu trưởng mới của ông, trung tá De Séguins Pazzis, lại có thể tin là giờ kết thúc đã tới gần. Dù cho sự thực kinh khủng đến mức nào, không một ai, trong số những người đang chiến đấu lại nghĩ rằng đạo quân viễn chinh có thể tụt xuống đáy của nỗi nhục nhã. Không còn lấy một chiếc xe tải nào có thể lăn bánh và chiếc xe Jeep cuối cùng của Bigeard và Langlais, biến thành cái chảo, nằm bẹp dí dưới một hố đạn pháo, bốn bánh xe chổng lên trời. Trong bệnh viện và các trạm phẫu lưu động, người ta đi hỏi xem những ai còn có thể quay lại chiến đấu. Những người bị què, chột mắt, cụt tay đã đứng dậy. - Không, không phải tất cả, Grauwin nói vậy. - Không phải tất cả. - Nếu như các đồng ngũ phải chết thì thà là cùng chết với họ. Họ đã quay trở lại các điểm tựa, gặp lại ở đó những con người không còn thời gian để cạo mặt và đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ. Lữ đoàn những bóng ma và những hiệp sĩ khiêm nhường từ trên trời rơi xuống cùng với các giám mã và binh lính của họ, những lính đánh thuê trung thành đến cùng bởi lẽ họ cảm thấy số phận của họ gắn chặt với số phận của những ông chủ dần dà trở thành bạn hữu của họ trong cái cộng đồng lớn buồn tẻ là quân đội. Trong số những tình nguyện viên đủ mọi cấp bậc đã đề nghị được nhẩy dù xuống Điện Biên Phủ mặc dầu không có điều gì bắt buộc họ làm như vậy, người ta có thể bắt gặp những lính lê dương, nhưng mà, tại sao những người Việt Nam và những người Bắc Phi mà sự gắn bó với nước Pháp và những người Pháp, mạnh hơn tất cả sự tuyên truyền mà họ là đối tượng, bị xô đẩy vào trong nỗi bất hạnh của một cuộc chiến tranh vốn không phải là của họ và có nguy cơ dẫn dắt họ tới ranh giới của nghèo đói, tới trung tâm của nỗi đau khổ và sự cô quạnh? Tại sao ở đây lại có những người công vụ, những viên thư ký, những binh sĩ đã sắp mãn hạn phục vụ và sắp được quay trở về châu Âu cùng với khoản tiền ít ỏi dành dụm được và viễn cảnh những cuộc dạo chơi trên bờ sông, khoác tay những cô gái đẹp? Tại sao cái đám nhân viên quèn vô tư ấy lại lao mình vào trong màn đêm, ở đó giờ đây lắc lư cột ánh sáng xanh của ngọn đèn chiếu đang tìm cánh soi rõ họ? Chẳng phải vì tính toán cũng chẳng phải vì tình yêu đối với vinh quang hay là lợi lộc. Đám nhân viên ấy không có sự nghiệp nào phải đảm bảo. Họ noi theo tấm gương của các sĩ quan trẻ vốn không thể sống được nữa với ý nghĩ là các đồng ngũ của họ đang chết. Liệu có phải là ông trời phù hộ cho họ hay không? Grauwin chăm sóc cho những người bị què qua mỗi đợt nhảy đã nhận thấy con số rất nhỏ các tai nạn mà đội quân tình nguyện này phải gánh chịu: hai ca gẫy xương đùi, hai ca gẫy chân, sáu ca bong gân. Không nhiều hơn gì so với quân dù chuyên nghiệp. Langlais, người ôm hôn bọn họ khi họ tới trình diện và gắn lên ngực họ một huy hiệu quân dù, đã có lí trong việc chống đối lại cơ quan tham mưu ở Hà Nội, khi ông phản đối việc người ta bắt buộc họ phải trải qua một kỳ huấn luyện. Không một ai trong số những người đã quyết định, chân đi những đôi giầy săng-đá nặng nề lắc lư thân hình trong màn đêm đen thòng qua khung cửa một chiếc Dakota, lại nghĩ đến cái số phận đang chờ đợi mình. Tất cả đều biết là họ rơi xuống gian tiền sảnh ngôi nhà của thần Chết. Paris say sưa với những đoàn vũ ba lê Nga vừa mới tới trình diễn và người ta bận tâm tới Genève để biết được rằng ở đó người ta ăn rất nhiều những chiếc bánh ngọt nhỏ. Những con người của Điện Biên Phủ có phần ngạc nhiên khi thấy biết bao con người đã điên rồ tìm đến với họ, và có phần nào, nếu như họ có thể, giống như chúng ta, buộc phải rơi nước mắt. - Ở Hà Nội, cậu biết chuyện gì xẩy ra ở đây chứ? - Phải, có biết đôi chút. Cần phải làm việc này vì tình đồng đội. Những binh sĩ chuyên nghiệp mà người ta thả xuống theo từng nhóm. Bởi vì đã đến lúc đại úy Bazins, ngày hôm qua đã bị một Bigeard xấu tính mắng nhiếc và ngay buổi sáng đã bị gẫy nát một bên đùi vì một quả đạn pháo, đó là một sĩ quan chuyên nghiệp. Có chuyện hay hơn. Tay sĩ quan tùy tùng của tướng Navarre, đại úy Pouget, vốn cũng là một kỵ binh, đã nhảy xuống cùng với tiểu đoàn B.P.C số 1. Khi trông thấy tấm thân cao lớn và chiếc đầu hiệp sĩ nông thôn của anh, một nửa vầng trán bị che khuất bởi mái tóc rối tung, mọi người cười phá lên. Sao, anh ta đã rời bỏ chức cần vụ cao cấp của anh ta ư? Anh ta không còn tư vấn cho thủ trưởng vĩ đại của anh ta nữa, có lẽ anh ta tưởng rằng có thể tìm thấy ở đây vinh quang? Được trang bị bởi những nguyên tắc của tôn ti trật tự và những đức tính quân sự, được dậy dỗ trong việc tôn trọng những truyền thống của trường sĩ quan Saint Cyr và vinh quang của quân đội, cái chàng trai với thân hình thô kệch này, con tim nặng trĩu khi đổ bộ xuống giữa đám dây thép gai. Qua đôi lông mày đen và rậm, anh ngắm nhìn mối thảm họa và im lặng. Cuộc tiếp đón bất công này không làm cho anh bị bất ngờ nhưng vì anh quá yêu quí con người mà anh đã phục vụ. Cho nên anh không muốn gánh lên đôi vai của chính mình cây thập tự mà số mệnh đã mang tới cho thủ trưởng của anh. Nếu như anh có mặt ở đây, đó là vì phẩm giá và cũng là vì ông chủ của anh đã không tới được nơi đây. Không hề biết đến chuyện này, Navarre đã xuất hiện trong bãi bùn ở Eliane 4 dưới hình hài con người của viên sĩ quan tùy viên của ông, Jean Pouget, người đã pha trò có phần cay đắng trước những lời mỉa mai châm chọc của các bạn đồng ngũ khi anh vừa xuống đây. Bản thân anh cũng là một kỵ binh, giống như Castries, Séguins Pazzis, Bigeard và viên trung úy De la Malène? Để chứng tỏ rằng các kỵ binh, kể cả khi họ thiếu tài năng cũng vẫn tỏ ra là duyên dáng. Những ảo ảnh xúc động của những ngày tươi đẹp, những bãi biển, và những tình yêu. Tất cả phải hi sinh cho mục đích tối cao của những con người chiến trận, mục đích đó là cùng chết với những người đồng ngũ mà ta đã cùng chia sẻ nhọc nhằn và nguy hiểm chỉ một lần thôi, đã gắn bó với nhau vĩnh viễn. Nếu thế, tại sao những lý tưởng của hai đối phương đang bì bõm trong vùng đất sét màu vàng, trên vai khoác một mảnh vải che mưa lại không thể xóa bỏ đi được? Tại sao vầng hào quang của những cuộc hòa giải vĩ đại giữa những con người lại không toả sáng để cho dải thung lũng của thần chết trở thành thung lũng tương lai của thế giới? Những ý nghĩ của De Castries không được cao thượng như vậy. Với vợ mình, ông nói qua điện thoại: "Em đừng lo. Anh đã bị bắt làm tù binh. Anh biết cách tự xoay xở...". Langlais vàBigeard thì im tiếng. Ở Hà Nội , từng thời gian, có những bạn đồng ngũ giúp đỡ họ gửi những bức điện cho gia đình họ cho đến tận lúc... Còn về phần tướng Giáp: ông đi tới cùng. Cách đối xử tồi tệ của cha và ông chúng ta đã khiến cho ông ta và những người của Việt Minh trước tiên trở thành những người nổi loạn, sau đó trở thành những người cộng sản; họ muốn trả thù cho biết bao nỗi bất công, biết bao cảnh tù đầy và cho biết bao người đã chết, họ sẽ không dừng lại và ở vào địa vị họ người ta cũng hành động như thế, với điều kiện là có dòng máu của những con người tự do chảy trong huyết quản. Nhưng mà giáo sư Tùng và bác sĩ Grauwin, à, tôi tin chắc là họ sẽ đồng ý với nhau để ở lại đó, chôn cất những người chết, chữa chạy cho các thương binh của họ và làm cho những người còn sống hiểu rằng trong tất cả những quy tắc lớn lao của việc thanh toán với nhau thì không có quy tắc nào ngớ ngẩn hơn là bãi chiến trường. Giống như Grauwin, giáo sư Tùng gắng sức chống lại căn bệnh hoại thư, do những mảnh đạn pháo dính bùn đất gây ra nơi những vết thương, chống lại những đàn ruồi vàng bám chặt vào các tử thi và đi tìm những người còn sống để đẻ lên người họ những ổ trứng kinh tởm, chống lại cái nóng nực ẩm ướt của những cơn giông, chống lại dòng nước đang dâng lên, ngập tràn mọi căn phòng trị liệu và những căn phòng ngủ - Grauwin cầu xin ông trời phù hộ. Nhưng mà ông trời ấy ở đâu trên cái cánh đồng của thần chết này, ở đó tình thương đã bỏ chạy ư? Ở trong nụ cười của cô Galard chăng? Đó là ở trong lời cầu nguyện thiêng liêng mà các cha tuyên úy không ngừng cầu nguyện cho họ, sẵn sàng ban phát lời cầu nguyện ấy cho những người hấp hối. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 11:00:42 pm Ngày 4 tháng năm 1954 Bức điện cá nhân cuối cùng từ Hà Nội gửi cho Điện Biên Phủ báo cho đại úy Désiré biết rằng vợ anh vừa sinh một cháu gái, được mang tên cái điểm tựa nơi anh có mặt khi mà số lính người Thái của anh đào ngũ: Anne Marie. Lúc 2 giờ sáng, trận tấn công tiếp diễn trên cứ điểm Huguette 4, đến lượt nó bị nuốt chửng trong lúc cứ điểm Eliane 2 bị băm vằm và hành hạ suốt đêm. Một trận phản kích tung ra lúc 6 giờ, bị hoả lực chặn đứng và sa lầy trong vũng bùn. Ở Isabelle, đại tá Lalande mở cuộc tấn công ở hướng tây. Hai sĩ quan và mục sư Tissot bị thương. Một chiếc B.26 bị bắn rơi trong khu vực của Việt Minh. Mặc dầu phần lớn các bọc hàng do máy bay vận tải thả xuống không còn được thu gom nữa, người ta vẫn tiếp tục thả dù đồ tiếp tế để đánh lừa đối phương về khả năng thực sự tiếp tục chiến đấu của đội quân đồn trú. Một bức điện dài của Cogny hướng dẫn Castries nghiên cứu kế hoạch Albatros. Langlais triệu tập số cán bộ cao cấp của trận địa phòng ngự tới họp trong căn hầm của thiếu tướng De Castries: Lemeunier, Bigeard, Vadot và Séguins Pazzis. Langlais không hề có ảo tưởng về những khả năng của binh đoàn Crèvecoeur do Godard chỉ huy: không phải là ông không đánh giá cao người chỉ huy mà là vì các tiểu đoàn của ông ta bao gồm những lính Bắc Phi, không quen tác chiến trong rừng rậm và những lính người Lào, không thể nào đương đầu được với Việt Minh. Ngược lại, Langlais sẵn sàng tin tưởng ở những lính biệt kích vùng núi nếu như họ có tồn tại ở trong vùng định đi qua khi rút lui và ở hệ thống vệ tinh của Cogny. Nhờ vào một kho bạc thỏi, đại tá Trinquier vừa mới tuyển mộ được một nghìn năm trăm người Mèo và cùng với họ vừa mới bắt đầu đi từ cánh đồng Chum về Mường Son, cách phía nam Điện Biên Phủ chừng một trăm kilômét theo đường chim bay. Muốn phá vỡ vòng vây các sư đoàn đối phương, đã quyết định tổ chức thành ba đoàn quân: quân dù cùng với Langlais và Bigeard, quân lê dương cùng với Lemeunier và Vadot, đội quân đồn trú của Isabelle cùng với Lalande, theo ba hành trình mà người ta sẽ bốc thăm để chọn: hành trình thứ nhất đi qua bản Kéo Lom, rơi vào Langlais; hành trình thứ hai đi theo thung lũng sông Nậm Nưa và hành trình cuối cùng theo con sông Nậm U. “Albatros" ư? Tên của loài chim vùng biển Nam Cực không nói lên điều gì trong trường hợp này. Ở Điện Biên Phủ người ta gọi cuộc hành binh này là "Cuộc mở đuờng máu ", để chứng tỏ rằng người ta ít có ảo tưởng đến mức nào: cứ mười người thì người ta dự tính phải bỏ lại ở đó chín người. Gần sở chỉ huy, trung sĩ Sammarco tìm thấy trong một đống giấy in bị lớp bùn dần dần phủ lên, một số báo Caravelle cũ mà anh ta lần giở với vẻ tò mò. Phía dưới những bức chân dung của ngài Pléven và ngài Bảo Đại, anh ta buồn bã đọc được những lời tuyên bố của ông bộ trưởng các lực lượng vũ trang khi ông ta tới Orly, sau kỳ đi thanh sát ở Đông Dương. Trung sĩ Sammarco tin vào mọi câu nói của các cấp chỉ huy nhưng lại mỉm cười trước những câu nói reo rắc trước tương lai một niềm lạc quan hợp lý. Anh ta không biết rằng nghệ thuật điều hành, giống như công việc ngoại giao là nghệ thuật để sắp xếp câu chữ và thường là để nói dối, nhưng anh bắt đầu thấy ngờ vực. Liệu binh đoàn Crèvecoeur có tới kịp hay không? Hội nghị Genève liệu đã sắp khai mạc hay chưa? "Nếu như họ biết được, Sammarco tự nhủ như vậy, rằng hai hôm trước đây, không một thương binh nào ngã xuống ở đồi Huguette đã có thể đưa được về trạm phẫu lưu động...". Phải, nếu như các nhà ngoại giao vừa mới mở vali của họ trong những căn hộ xinh đẹp của vùng ngoại ô Genève nhìn thấy dải thung lũng này, ở đó những người còn sống không còn đủ sức lực để chôn cất những người chết nữa thì những chiếc bánh nhỏ kẹp trứng cá hẳn là tắc nghẽn nơi cổ họng của họ và họ sẽ vội vã để thoả thuận với nhau. Trên những núi cao vùng lân cận, giáo sư Tùng, bị suy kiệt vì kiết lị, vừa mới phát hiện được là một dung dịch thuốc quinacrine tỷ lệ một phần trăm sẽ xua đuổi được lũ ruồi và diệt chết đám ròi bọ. Nhưng bệnh hoại thư vẫn còn là mối bận tâm lớn nhất của ông, cũng giống như Grauwin. Dưới những cơn mưa như trút nước, ông mở rộng các vết thương, băng bó các chỗ bị phù nề do dính bùn đất, cưa cắt các chi để cứu lấy toàn thân. “Dù cho có bão lũ, chúng ta vẫn đứng vững", những người được đưa tới chỗ ông nhắc lại với ông như vậy và tưởng đâu là ông có khả năng làm những chuyện thần kỳ, đã yêu cầu ông gửi họ quay trở lại chiến tuyến. Đôi lúc, kể cả ban đêm, tiếng pháo đạn làm rung chuyển cả vùng trời. Giáo sư Tùng tự nhủ có lẽ trong tất cả câu chuyện này không mảy may có nét gì phù hợp với những ý nghĩ mà người ta hình dung về những biến cố lớn: một chiến thắng, người ta hình dung ra nó trong cảnh vinh quang của một buổi sớm. Chiến thắng dưới trận mưa này, với một cái bụng đang sôi ùng ục, không giống như chiến thắng mà ông chờ đợi. Giống như Grauwin, ông gần như nghĩ rằng, những chiến thắng mà con người giành được trước những con người khác cũng chỉ là bằng ấy những thất bại nếu như có kẻ thù chung nào đó chưa bị tiêu diệt. Nếu như. một ngày nào đó, người ta có thể vượt qua những nỗi nhục nhã gây ra cho nhau, Điện Biên Phủ có lẽ sẽ mang một tầm vóc khác. Nhưng mà, ai là người sẽ hiểu được điều đó? Cần phải một thời gian dài để cho một quốc gia như nước Pháp, tuy là bà mẹ đẻ của mọi cuộc cách mạng, chấp nhận rằng người ta có thể nổi dậy chống lại một nước Pháp tưởng là còn cách mạng trong khi nước Pháp thực ra đã không còn là như vậy nữa. Đám quân dù của tiểu đoàn B.C.P số 1 vừa nhảy xuống Điện Biên Phủ cách đây mấy tiếng đồng hồ, tiến lên theo hàng một trong những đường hào và vọt tiến qua những đoạn trống trải để tới thay thế đơn vị lê dương trên đồi Eliane 2. Một quả đạn pháo giết chết viên đại úy chịu trách nhiệm đón tiếp họ. Một trung đội bố trí ở ngay bên trên chỗ mà quân Việt đào một đường hầm dài rồi đánh bộc phá để tiêu diệt vị trí. Suốt đêm, giữa những lúc pháo hoả chuẩn bị tạm dừng, viên trung sĩ Chabrier nghe ngóng những tiếng động nhỏ đáng tin cậy của công việc đào hầm, mỗi lúc im lặng làm cho anh ta cảnh giác; mỗi lúc có tiếng cuốc tiếp tục đào làm cho anh ta bớt căng thẳng. Khi bình minh ló ra, trung sĩ Chabrier viết vào trong sổ tay câu sau đây: “Tôi hài lòng nghe thấy tiếng đào đất và thấy trời sáng... ". Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 11:05:16 pm Ngày 5 tháng năm 1954 Mưa suốt cả đêm. Đại đội Pouget đến thay thế đại đội Edmé, trong đơn vị này có viên trung sĩ Chabrier. Trong một lúc khó chịu, viên trung sĩ Chabrier lại nghe thấy tiếng cuốc đào đất ám ảnh, gần bên xác chiếc xe tăng Bazeilles mà khẩu đại liên vẫn còn ở trong tư thế nhả đạn. Chín năm sau, tôi đã gặp lại chiếc xe tăng ấy, nằm dưới chiếc lán nhỏ lợp tôn, phơi mình ở ngay vị trí mà nó trúng đạn, gần bên ngôi mộ của hai chiến binh đã hạ gục nó ngày 1 tháng tư. Mưa nắng đã xóa mờ dòng tên của chiếc xe tăng, nhưng người ta vẫn còn đọc được dòng chữ số trên tấm bảng đăng ký I.C. 94151, và dòng chữ trên tháp pháo vỏ thép: C hay G. 76004. Đại uý Capeyron, cũng như tất cả những ai lúc đó đã lên tới đồi Eliane 2 đã từng nhìn thấy chiếc xe tăng ở đó, và cái tên "Bazeilles"1 vốn gợi lại một trận đánh không thương tiếc xưa kia, đã khiến cho Capeyron tự nhủ: "Chắc chắn, đây là điều đang đón đợi chúng ta...". Từ sở chỉ huy bán lữ đoàn số 13, nơi anh ta vượt qua trận mưa đạn pháo tới được để nhận số pin dùng cho các đài thông tin của tiểu đoàn mình, viên trung sĩ Kubiak mang về cái tin mà anh ta lan truyền khắp nơi là binh đoàn Crèvecoeur chỉ còn cách Điện Biên Phủ có năm mươi kilômét. Phát huy sáng tạo trong cuộc chiến tranh bằng mìn, quân Việt tìm cách phá nổ những đoạn hầm ngầm cho phép những người phòng thủ vị trí Eliane 2 có thể tiếp cận được đỉnh đồi mà không trúng đạn các loại. Lao động không ngưng nghỉ với những nhóm ít người, định hướng bằng la bàn, họ tiến bước như đám chuột chũi. Ngày hôm ấy đại úy Pouget tìm cách nhảy lên cửa hầm ngầm. Nhưng anh bị chặn lại ở đoạn hàng rào dây thép gai: người duy nhất vượt qua được đoạn hàng rào bị trúng đạn chết: đó là trung sĩ Clinel. Quân Việt dùng pháo phá huỷ công sự của các khẩu trung liên, nhấn chìm các khẩu súng xuống lớp bùn, rồi tìm cách đánh chiếm bằng lựu đạn. Cách đây mấy đêm, một chiến sĩ quyết tử đã treo một khối bộc phá ở thắt lưng. tiếp cận được một trong số các lô cốt. Những bức không ảnh chụp được hôm qua, mặc dầu thời tiết xấu, phát hiện được rằng khoảng trống cuối cùng còn lại giữa cứ điểm Isabelle và khu phòng ngự chủ yếu bị cắt ngang bởi ba tuyến chiến hào kế tiếp nhau. Đối với giáo sư Tùng, việc đi thăm các thương binh trên những dốc núi ở cách trạm giải phẫu của ông năm mươi mét, gần như là một vấn đề không vượt qua nổi, nhưng mà đám ruồi đã bỏ chạy trước dung dịch có hoà thuốc quiracrine. “Ở đây, sắt và thép đều tan chảy. Chỉ có những con người là chống chọi được...", giáo sư Tùng nhớ lại câu nói ấy ông đã đọc được trong một chuyện kể về trận chiến đấu ở Stalingrad và thầm nhắc lại suốt ngày. Ngày 6 tháng năm 1954 Khi nói đến cuộc hành binh Xénophon, Cogny đã từng mô tả kế hoạch này phải đối mặt với những bất ngờ cực kỳ to lớn và nếu muốn thành công đòi hỏi một binh đoàn gọn nhẹ vững mạnh và một khối lớn máy bay. Làm thế nào mà ba đội hình nhỏ của kế hoạch Albatros có thể vượt qua những chiến hào dày đặc các vũ khí tự động. Ở đó đối phương đã bố trí các đội dự bị theo chiều sâu và đã chuẩn bị cho các đơn vị đó xuất kích trên mọi hướng? Không một ai, trong số các sĩ quan mà Langlais triệu tập họp lúc 10 giờ lại có chút ảo tưởng nhỏ nhoi nào về vấn đề này, nếu như ý chí của con người không có khả năng làm ra những câu chuyện thần kỳ. Điều thần kỳ của buổi sáng hôm nay, đến từ trên trời: trời đẹp và việc các máy bay quay trở lại được đã giống như một chiến thắng. Viên trưởng phòng Nhì điểm lại những tổn thất của hai phía, và một lần nữa Langlais nhắc lại với kíp của mình: “Cần phải giữ vững - Cần có một trận đấu hoà. Đối phương, họ cũng kiệt sức như chúng ta". Bigeard quyết định có những trận phản kích để giải toả các điểm tựa hiện đang bị uy hiếp và pháo thủ Vaillant ghi chép kế hoạch hoả lực mà người ta yêu cầu. Còn lại hai ngày lương thực và thực phẩm và đại đội cuối cùng của tiểu đoàn B.P.C số 1 sẽ phải nhảy xuống lúc 23 giờ. Lúc cuộc họp kết thúc, một bức điện của Hà Nội báo tin một trận tấn công tổng lực chắc chắn sẽ diễn ra đêm nay, đây là hiệp đấu cuối cùng. Đại úy Hervouët đề nghị bác sĩ Grauwin tháo cho mình lớp bột bó hai cẳng tay bị gẫy để có thể tham chiến trên tháp pháo xe tăng trong những trận đánh cuối cùng. Do vì phải bay rất thấp để thả dù trên khoảng trời còn lại nhỏ như chiếc mùi xoa bỏ túi, hai chiếc Packet dính đạn cao xạ. Chiếc thứ nhất cố bay được về căn cứ, chiếc thứ hai, gẫy cánh và nổ tung ở cách Điện Biên Phủ 120 kilômét về phía đông nam, ở Mong Hét. Viên phi công, một trong số phi công nổi tiếng nhất của đoàn Hổ Bay, Earle Mac Godern, được mệnh danh là Mac Goon và Đất gầm cho giọng nói và cân nặng của anh ta, đã ba lần máy bay của anh ta lỗ chỗ vết đạn, lần này tử nạn. Đi xuyên qua khung cảnh hỗn độn, Langlais và Bigeard đi kiểm tra các trận địa phòng ngự phía đông. Những con người mà họ gặp trên đường giờ đây chỉ còn là những bóng ma mà đói khát, mệt mỏi và các vết thương đang hành hạ. Đứng sau các vũ khí tự động, là những người chột mắt, những người què tay, cụt chân. Một chai rượu cô nhắc Langlais nhận được từ Hà Nội được lần lượt truyền tay nhau trong hang ở Eliane 4, nơi Bréchignac đặt sở chỉ huy của mình. Sự hoà giải vĩ đại hiện rõ. Những con sói cùng một bầy khi nhìn thấy nhau không nhe răng ra nữa. Trong trận Azincourt2 cũng thế, các kỵ sĩ Pháp đã chửi mắng lẫn nhau và cởi bỏ áo giáp, từ bỏ lòng dũng cảm và ngọn lửa chiến đấu trên đầu nhọn của mũi giáo. Mọi chuyện xích mích nhỏ nhặt và mâu thuẫn đã được dẹp sang một bên trước mối nguy hiểm đang đe dọa. Hòa trộn với nhau trong một thử thách chung, lính dù và lính lê dương, mũ nồi đỏ, xanh lá cây hay xanh lơ cùng chiến đấu, không còn ghen tức gì với nhau nữa. Lúc 15 giờ, mệnh lệnh tấn công vào buổi tối được truyền đạt cho các trung đoàn của Việt Minh đã tạo ra một niềm phấn khởi đặc biệt. Từ các phòng tuyến của đạo quân viễn chinh, qua ống nhòm, người ta nhìn thấy những con người được các chính trị viên động viên giơ mũ lên trời và nhảy múa. Gần như nghe thấy tiếng họ ca hát. Phần lớn trong số họ, tuổi từ mười tám đến hai mươi, như anh lính Trần Ngọc Đuối có khuôn mặt choắt và cười cợt, lúc đó chỉ vừa mới biết đọc biết viết. Chịu trách nhiệm đánh chiếm mỏm đồi C2 (tức Eliane 4) mà quân Việt gọi là đồi Yên Ngựa do hình thù của nó. Trung đoàn của Đuối phải rời khỏi vị trí trú quân lúc 18 giờ và sau đó 15 phút chiếm lĩnh vị trí trú xuất phát tiến công: trên đoạn đường hai kilômét nằm giữa vị trí trú quân và vị trí xuất phát tiến công, như vậy là gần như phải chạy theo con hào chính dẫn tới đồi D3 (trước kia là vị trí Dominique 5). Đột nhiên, cuối buổi chiều, pháo hỏa bắn huỷ diệt của Việt Minh dồn dập. Những căn hầm cuối cùng và những lô-cốt còn đứng vững được qua những trận mưa bây giờ đổ sập xuống. Vội vã quay về đứng trước các tấm bản đồ và gần bên các đài thông tin, Langlais và Bigeard chờ đợi trận xung phong. Tình thế nhanh chóng được xác định: Bréchignac, chiếm giữ những điểm cao cuối cùng ở hướng đông cùng với những mảnh tan tác của mấy tiểu đoàn và hai đại đội của tiểu đoàn B.P.C số 1; Thomas giữ phía tả ngạn dòng sông; Tourret khu trung tâm, Giraud, Clémençon và Coutant phía tây và phía nam, cùng với viên phi công Charnot. Pháo binh sẽ chỉ can thiệp giúp cho các cao điểm; súng cối của các tiểu đoàn chịu trách nhiệm phần còn lại. Lúc 17 giờ 30, một đợt pháo hoả kinh khủng chuẩn bị đổ ập xuống toàn bộ trận địa phòng ngự. Ở Sài Gòn, ngài Maurice Dejean, sau hai ngày ở Hà Nội vừa về đến nơi, tuyên bố rằng tình hình quân sự cũng không có gì bất lợi hơn hay kém so với sáu tháng hay một năm trước đây và vùng đồng bằng nằm vững trong tay quân ta. Ở Paris các đầu đề bài báo liên quan đến tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chiếm tám cột trên trang nhất các tờ báo, nhưng nếu như hỏi những người qua đường, thì người ta không biết thật rõ Điện Biên Phủ là nơi nào và rằng người ta làm gì ở nơi đó. Không phải là cả dân tộc đang chiến đấu ở đó, mà là một đạo quân chuyên nghiệp. Thời tiết lạnh trở lại. Toàn bộ nước Pháp run rẩy dưới những cơn mưa rào và một đợt áp suất lớn đang từ phía tây kéo tới gần. _____________________________________ 1. Bazeilles: Vùng đất trên dãy núi Ardennes nổi tiếng về trận đánh của lính thuỷ đánh bộ chống lại những người Bavarois 1/9/1870. – N.D 2. Azincourt : ở trùng Pas de Calais, nơi này có trận quân Pháp bị quân Anh đánh bại 24/10/1415. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 11:17:39 pm Từ đêm ngày 6 sáng ngày 7 tháng năm 1954 Ở Isabelle tất cả các khẩu pháo 105 bị phá hủy, trừ có một khẩu. Trên đồi Eliane, nơi một trận bão lửa kinh khủng của đại bác vừa ập xuống, thiếu tá Botella nghe thấy Langlais gọi Bréchignac qua máy vô tuyến. - Brèche của chàng trai Pierre, Brèche của chàng trai Pierre, đòn tối mắt tối mũi vừa rồi rơi xuống đâu đấy? - Chàng trai Pierre của Brèche, đó là dành cho Elialle 2. Hỏa lực pháo binh chuyển sang Eliane 3 rồi đến Eliane 4 trong lúc những căn cứ hỏa lực trên cứ điểm Eliane 1 cũ và núi Ảo bắn phá dữ dội. Langlais điều động ba chiếc xe tăng còn di chuyển được sang bên tả ngạn dòng sông, phía dưới chân các ngọn đồi. Lúc 18 giờ 15, ngay sau loạt đạn pháo cuối cùng của họ, quân Việt miệng đeo khẩu trang bằng gạc mỏng, ào ạt xung phong vào Eliane 2. Lần đầu tiên, sử dụng mạng thông tin vô tuyến giữa các đại đội và sở chỉ huy các tiểu đoàn, trung đoàn 98 chiếm lĩnh vị trí ở trước các ngọn đồi Ehane 4. Botella phản kích bằng súng cối và đại bác không giật. Quân Việt tiến sát tới sở chỉ huy của Botella và đã bị những lính Việt Nam1 đẩy lùi, số lính Việt Nam này khi có cán bộ và được chỉ huy, chiến đấu cũng hung hăng như những người anh em của họ ở phía đối diện, cũng giống như người ta đã đánh nhau giữa những người Bắc Triều Tiên và những người Nam Triều Tiên. Một trong số sĩ quan của họ, đại úy Phan Văn Phú nhìn thấy đại đội của mình chỉ còn lại ba mươi người. Lúc 21 giờ, chiến sĩ thông tin Trần Ngọc Đuối của quân đội nhân dân xông lên xung phong cùng với đơn vị. Qua vầng sáng trắng của pháo sáng đã thay thế ánh trăng non thượng tuần, Đuối nhìn thấy các cuộc di chuyển của những trận phản kích. Mặc dầu bị một mảnh đạn pháo trúng vào đầu và chân phải, anh không chịu rút về phía sau, mà che chở cho một trung đội trưởng bị thương và tiếp tục vừa đi cà nhắc vừa truyền đạt các mệnh lệnh. Do vì một chiến sĩ bộc phá bị chết, anh thay thế nhiệm vụ, đặt bộc phá. giật nụ xòe và trở lại với công việc thông tin của mình. Bị súng cối băm nát, các chiến sĩ quân Việt ngã xuống nhưng những đợt người tiếp sau lập tức thay thế và vượt lên. Trên đồi Eliane 2, do hai đại đội của tiểu đoàn B.C.P số 1 dưới quyền chỉ huy của đại úy Pouget chiếm giữ, một chiến sĩ Việt nhẩy tới trước mặt trung sĩ Chabrier, chĩa thẳng nòng khẩu tiểu liên và hét to: "Hàng đi. Các anh đã thua... " rồi ngã ngửa ra chết. Lúc 23 giờ, đột nhiên một cảnh im lặng nặng nề bao trùm trên toàn bộ vị trí và Pouget tự nhủ: "Có lẽ bọn họ để cho chúng ta yên" thì vừa lúc, tựa như màn bọt nước của một con sóng đen khổng lồ lẳng lặng va đập vào con đê chắn sóng, lớp đất rung chuyển và nhấc bổng lên do sức công phá của quả bộc phá một tấn thuốc nổ của quân Việt, vọt lên rất cao ầm ầm đổ ập xuống các nóc hầm và tuyến giao thông hào. Chiếc hố miệng phễu mở ra dưới chân những người phòng thủ và đã chôn vùi họ, sau này vẫn còn tồn tại. Cây cỏ đã không mọc lên ở đó, nhưng giông bão mỗi mùa lại đã lấp đầy thêm một ít. Các mũi xung kích chờ đợi tín hiệu của tiếng nổ này để xông lên, cảm thấy lớp đất dưới chân gầm lên và họ vừa hét to vừa lao tới vị trí đã bị hủy diệt. Mũi trưởng Đặng Phi Thường trung đội phó trung đội 7, đại đội 3 của trung đoàn 98, giữa những loạt đạn của vũ khí tự động tiến rất nhanh tới các lô cốt bị phá hủy nhưng đã bị chặn lại bởi hỏa lực của trung đội trung sĩ Chabrier, bắn ra mỗi loạt cả một băng đạn, hạ gục những người tấn công trong cái miệng phễu đầy bùn mà quả bộc phá đã mở ra. Nhưng vũ khí cuối cùng rồi cũng hỏng hóc, đạn dược dự trữ rồi cũng cạn kiệt, và đám đông quân Việt rồi cũng tràn ngập vị trí. Khẩu đại liên 12 li 7 của chiếc xe tăng Bazeilles im tiếng sau cùng. Nửa đêm, năm chiếc Dakota có nhiệm vụ thả dù đại đội tăng viện cuối cùng, vì sự an toàn, họ đã yêu cầu thôi không thả pháo sáng nữa. Langlais và Bigeard do dự. Kể cả nếu như trời tối đen, làm thế nào các viên phi công giữa các ánh lửa của trận đánh có thể phân biệt được hệ thống cọc tiêu khốn khổ của bãi thả? Quân Việt lại chẳng lợi dụng đêm tối để lại mở trận xung phong hay sao? Đứng bên khung cửa chiếc Dakota của mình, cái túi của bộ quần áo dã chiến đầy những chai uýtski dành cho thiếu tướng Castries và rượu cô nhắc dành cho Langlais, trong lòng lo lắng làm sao không để vỡ các chai rượu khi tiếp đất, đại úy Faussurier chờ đợi ngọn đèn mầu xanh bật sáng. Cuối cùng Bigeard qua máy vô tuyến, hỏi ý kiến trung úy Le Page. - Ưu tiên cho máy bay thả pháo sáng, Le Page trả lời không chút ngập ngừng. Langlais hạ lệnh cho các máy bay quay mũi, và những con người của tiểu đoàn B.C.P số 1 quay về Hà Nội, chết đứng trong lòng. Trong căn hầm sở chỉ huy hệ thống phòng ngự, nơi cô Geneviève de Galard đang nằm ngủ trên một đống dù thay thế cho tấm đệm, dưới gầm một chiếc bàn, Bigeara cảm thấy có phần an tâm khi nghĩ rằng đại đội ấy đã tránh khỏi bị hi sinh, một trăm con người lúc này không còn có khả năng làm thay đổi bộ mặt của các biến cố. Những tiếng kêu cầu cứu nút chặt các tuyến liên lạc trực tiếp với pháo binh và với các điểm tựa. Còn trong những ống nghe của đối phương: những tiếng hò hét chiến thắng vang lên ròn rã. Một trong số lính thông tin của mình bị giết chết, người thứ hai bị trúng đạn vào bụng cho nên Pouget đã không còn có thể trả lời khu phòng ngự chủ yếu. Người ta tưởng là anh đã chết và thôi không gọi nữa. Lúc 4 giờ sáng, Pouget tự mình mở máy phát sóng và bắt được sóng của thiếu tá Vadot. - Tôi đã tái chiếm lại toàn bộ vị trí Ehane 2 nhưng tôi chỉ còn ba mươi lăm người. Để chống giữ được, các anh phải cử lực lượng tăng viện cho tôi như đã hứa. Nếu không thì sắp kết thúc rồi. - Anh muốn tôi lấy đâu ra quân tăng viện đây? Vadot bình tĩnh trả lời. Đừng đòi hỏi vô lý. Anh cũng nắm vững tình hình như tôi mà. Không còn lấy một người, một quả đạn, anh bạn ạ. Anh là lính dù? Anh có mặt ở đó để chiến đấu cho đến chết. Trên giải sóng dài của mạng thông tin chỉ huy của Eliane, quân Việt cho mở chiếc đĩa hát có bài "Du kích ca", và chốc chốc, những tiếng như mèo kêu của họ lại đồng thanh cất lên đoạn điệp khúc: … Bạn ơi, bạn có nghe thấy chăng tiếng vỗ cánh dầy đặc của đàn quạ đen trên cánh đồng ? .... - Khốn nạn, Pouget gầm lên, thật khối nạn? Trên vị trí Eliane 4, Botella chỉ còn năm mươi quả đạn cối và mấy hòm lựu đạn. Những chiếc loa của máy thu thanh của Bigeard rung lên: - Bruno của Dédé, đạn dược sắp thiếu. - Bruno của Brèche đây, sắp thôi rồi. Trên tất cả các ngọn đồi, các điểm tựa trong mấy tiếng đồng hồ, nhiều lần thay đổi chủ nhân. Đối phương trong một lúc ào ạt xông lên ở những khe hở rồi lại tán loạn rút lui. Người chết và bị thương đổ gục xuống. Ở mặt phía tây, Clandire 5 bị vây chặt, gần đó một chiếc xe tăng đã không còn nhả đạn được nữa. Ngồi gần chiếc đài thông tin của mình ở chỗ trống trải, Pouget trông thấy đạn súng cối 120 dồn dập rót xuống Eliane 4, nơi Botella đang chống cự. Mặt đất nứt toác ra. Trên mỏm đồi của Eliane 4 được pháo sáng của máy bay soi rõ, Pouget trông thấy số quân Việt đang chạy. Ở phía dưới, Điện Biên Phủ bốc cháy và những màn pháo lửa vọt lên từ những kho đạn pháo. Chốc chốc một vài ngôi sao hiện ra qua lớp mây dầy đặc làm cho màn đêm như phồng to ra. Lúc 4 giờ 10, trên tất cả trận địa Eliane 2, ở trước mặt Pouget, quân Việt đứng thẳng dậy không bắn. Pouget nghe thấy họ hét to: - Đi đi đi đi? Đi thẳng, đi thẳng! Những người sống sót của Eliane 2 chỉ còn một băng đạn tiểu liên và một quả lựu đạn. Đối với viên trung úy duy nhất còn sống và những người còn có thể đi được, Pouget hạ lệnh rút về phòng ngự chủ yếu, còn anh thì nhẩy lui từ hố này sang hố khác gặp lại họ ở dưới chân đồi, trong một giao thông hào ở đó các tử thi nằm gục, họ chồng chất các tử thi ấy lên nhau để ẩn nấp. Một cơn thủy triều gào thét khác vọt ra từ lòng đất, tràn vào tiểu đoàn B.P.V.N 5 vây chặt lấy đại úy Phú. Nhưng một nhúm lính lê dương và lính dù vẫn còn phản kích, giành lại được các đoạn hào bị mất, gạt các xác chết và những người ngắc ngoải sang một bên để bố trí các khẩu trung liên thành từng cụm và nhả đạn vào những bóng đen đội mũ cứng chỏm mũ phẳng dẹt. Các sĩ quan chưa đến hai mươi tuổi trở thành các đại đội trưởng hoặc là chết vào lúc họ yêu cầu súng cối bắn thẳng vào vị trí họ đang đứng giống như viên thiếu úy Phụng. Tiểu đoàn B.P.C số 6 còn lại hai chục người sống sót vây quanh thiếu lá Thomas. Các viên trung sĩ tập hợp số người thoát nạn và lại xông lên xung phong. Ai sẽ là người chiến thắng hay kẻ bại trận khi mà đêm nay kết thúc? Để chi viện cho số người còn bám giữ được những ngọn đồi cuối cùng, Langlais rút từ các tiểu đoàn của khu trung tâm ra các trung đội và ném lên các ngọn đồi phía đông đang bốc cháy. Khắp nơi, người ta vấp phải những xác người rách nát. Qua ánh lửa của những chiếc pháo sáng được gió thổi dạt lên phía rặng núi người ta nhìn thấy những khuôn mặt phủ kín một lớp bụi khói dầy và đen, mồ hôi chẩy ròng ròng. Trên vị trí Eliane 2, kể từ bốn giờ sáng đã không còn có ai trả lời những câu hỏi của Bréchignac nữa, tiếng rên rỉ của những người bị thương đầy ắp buổi bình mình. Đằng sau những đỉnh núi phía đông, bầu trời ửng vàng. ______________________________________ 1. Chỉ quân ngụy Việt Nam. - N. D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 11:22:17 pm Ngày 7 tháng năm 1954 Trên vị trí Eliane 10, dưới chân các ngọn đồi, bình minh hé rạng. Đối phương tràn vào khắp nơi, sục sạo các căn hầm. Bị vây hãm trong một lô-cốt, trung uý Le Page đã tìm cách thoát ra được cùng với hai người. Điều thần kỳ đó là Eliane 4 vẫn còn sống, rằng Botella và Bréchignac đang chỉ huy, cầu cứu chi viện. Trả lời họ bằng cái gì đây? Lemeunier bước vào hầm của Langlais, anh đã tập hợp quân lê dương và sẵn sàng lao về hướng tây. - Không phải là về hướng tây, Langlais bảo. - Về Eliane 4 đang còn giữ vững. Langlais bước ra khỏi căn hầm trong màn ánh sáng tàn nhẫn của mùa hè. Trên trời những chiếc Dakota thả dù đồ tiếp tế. Trong tất cả những đường hào dẫn tới bệnh viện, những đoàn người thiểu não dẫm chân lên các xác chết mà lớp bùn chôn vùi mỗi lúc một ít. Những thương binh không một ai còn có thể chăm sóc được nữa, bị bỏ mặc nằm tại chỗ. Quân Việt xua đuổi và đã nói với họ: "Quay về chỗ các anh đi và báo trước là chúng tôi sẽ đến...”. Những thầy thuốc của các tiểu đoàn vất vả về tới được chỗ bác sĩ Grauwin cùng với những thương binh trần trụi nửa người, họ vừa mới tham chiến được vài ngày. Phía bên kia dòng sông và khu kho dự trữ đạn dược đã bị cướp phá, chui ra từ những chiếc hang chuột khoét vào bờ đất, lúc nhúc mấy trăm con người ẩn nấp tại đây từ mấy tuần lễ nay để khỏi phải đánh nhau, những người mà Langlais ví như đám cua bể của vùng bờ biển nhiệt đới. Người ta biết rằng họ lợi dụng bóng tối để lấy trộm số thực phẩm được thả dù xuống, rằng họ đã tổ chức một cái chợ đen buôn bán các khẩu phần ăn và đánh cắp các công thức tuyên dương chính thống để buôn lậu ngay cả vinh dự của các trận đánh. "Đồ cặn bã của nhân loại", "Quân đào ngũ”, Langlais không tìm được những từ nào đủ mức khinh bỉ dành cho họ. Ông rất có thể quét gục họ bằng súng đại liên hoặc nghiền nát họ dưới vài loạt đạn pháo 105 rồi kinh tởm quay đầu đi chỗ khác. Giống như Bigeard, lúc này ông đã quá sức chịu đựng. Sau Béatrice, Gabrielle, Anne Marie, Huguette và Dominique, giờ đây Eliane cũng đã thay đổi tình nhân... Trước những loạt đạn súng tiểu liên, Pouget cảm thấy các xác chết mà mình xếp đống lên để ẩn nấp rung lên. Một quả lựu đạn nổ ngay gần chiếc mũ sắt anh đội quật ngã anh, giống như trong một cơn ác mộng, anh nghe thấy một giọng nói ngạt mũi: - Anh bị bắt làm tù binh của quân đội nhân dân nước Việt Nam. Anh đã bị thương, chúng tôi sẽ chăm sóc cho anh. Anh có đi được không? Anh ngước mắt nhìn người thắng trận mặt đeo khẩu trang. - Thế còn các đồng ngũ của tôi thì sao? - Chúng tôi sẽ chăm sóc họ. Người ta sắp băng bó cho họ. Các y tá đang tới. Pouget nhổm dậy một cách khó khăn - đối với anh, thế là kết thúc. Nửa thân trên của anh trần trụi, không vũ khí, không huy hiệu, đầu tóc bù xù, xanh xao hốc hác giống như Ferré vĩ đại1 (Ferré vĩ đại: Là một nông dân làng Rivecourt (Oise), nổi bật trong những trận chiến đấu với quân Anh với cương vị cấp dưới của đại úy Guillaume l'Aloue. Ông chết năm 1358. - N.D) sau trận đánh của ông ta. Người ta đỡ cho anh bước đi. Chiếc đài thu thanh treo bên vai anh. - Này anh bạn, anh có nghe thấy tiếng kêu thì thầm của xứ sở mà người ta đang trói buộc? Anh không còn đủ sức để lẩm bẩm cái giai điệu mà quân Việt tung lên các làn sóng suốt đêm qua. Thua trận, anh không chịu bó tay. Đã tới đỉnh điểm của những đau đớn và những nỗi nhục nhã vốn đón đợi anh và giờ đây đã bám sát bên anh, anh biết rằng anh sắp tìm được lời giải đáp và lối thoát. Đột nhiên, tiếng pháo gầm lại nổi lên ở hướng đông và các quả đạn lại rót xuống. Những tiếng nổ dài nổi lên giữa tiếng ầm vang. Hi vọng đột nhiên hòa trộn với nỗi sửng sốt. Đại uý Capeyron, trung sĩ Sanmarco, hạ sĩ trưởng Hoinant và rất nhiều người khác, bị bất ngờ vì những loạt đầu tiên của những khí cụ đó rơi vào giữa các vị trí, bèn quay đầu về phía tây. Những tiếng kêu to: “binh đoàn Crèvecoeur đấy!”. Những khuôn mặt ánh lên niềm vui vẫn còn chưa dám bộc lộ thoải mái. Nhưng sắp nổ bùng ra, biến thành dòng thác lũ sẵn sàng đảo ngược dòng chẩy của số mệnh và cuốn trôi tất cả. Phải, đó là binh đoàn Crèvecoeur mà các điện báo viên vô tuyến kể từ nhiều ngày nay, đảm bảo rằng họ đã liên lạc được với binh đoàn ấy và rằng nó đã tới gần, sẽ xuất hiện trên dãy núi và lao xuống dải thung lũng với những tiếng kêu inh ỏi của ngày tận thế như vậy. Những con người không còn biết là mình phải hét váng lên hay khóc lóc vì sung sướng. Thế là, họ chui ra khỏi các hố sâu thì vừa lúc màn hỏa lực vươn dài ra, chụp lấy các sở chỉ huy, nghiền nát những kẻ ngây thơ đang sẵn sàng chạy ra đón gặp những vị cứu tinh của họ. Người ta chờ đợi binh đoàn Crèvecoeur: đó lại là những dàn hoả tiễn của Staline! Ba người, thân hình dính đầy bùn, hốt hoảng, khuôn mặt râu ria xồm xoàm, khói đen phủ kín, loạng choạng bước tới và ngã vật ra nền đất. Bigeard cúi xuống một người trong bọn họ, nắm lấy bàn tay anh ta. Anh ta khóc chăng? Điều này không còn quan trọng nữa ở thời điểm mà mọi thứ đã vượt quá giới hạn, lúc mà tầm mức rộng lớn của thử thách giáng xuống khiến người ta phải chóng mặt, lúc mà từ ngữ chỉ có thể giúp ích cho những người từ đấng xa quan sát cơn hấp hối của Điện Biên Phủ. Bigeard, con người không bao giờ có một tiếng kêu trắc ẩn, chỉ nói đơn giản và nhắc đi nhắc lại: - Le Page khốn khổ của tôi. Đó là anh khóc cho cả một đoàn kỵ sĩ bị tàn sát một cách vô ích vì một viên tướng đã đẩy đạo quân của mình sa xuống chiếc bẫy của đối phương, giống như việc làm của hoàng tử đẹp trai Guy de Lessignan xưa kia, đã nhân nhượng trước những lời khoác lác của những kẻ đã xô đẩy, hoàng tử lao mình vào mõm chó sói. Trong số tất cả những ai sẽ được nêu tên trong danh sách những người tử nạn hay bị bắt làm tù binh có biết bao những cái tên là hiện thân của lòng quả cảm, là bông hoa đẹp của quân đội này, lần lượt bị sát hại, từ nhiều thế kỷ nay vì những sự hi sinh cao cả và những chuyện trịnh trọng hão huyền! Bigeard mơ hồ ngờ vực rằng mối thảm họa đang bước tới, lúc hoàn thành sẽ chỉ phục vụ cho một cuộc hành xác mà biết bao nhiêu vị cao uỷ đã hết nhiệm kỳ, các vị quốc vụ khanh hoặc chủ tịch hội đồng bộ trưởng đã phủi sạch hai bàn tay một cách tế nhị giả bộ. Trong nỗi ám ảnh của con lắc đặt trên vai, anh không thể hình dung được điều gì đang đón đợi mình. Biết đâu đấy? Các quý ông ngoại giao ấy đang họp ở Genève: mọi việc có thể dàn xếp vào phút cuối cùng. Anh không biết rằng những con người vì họ mà các trận đánh thất bại lại không phải là những người mà các trận đánh giết chết. Hoàn toàn ngoài ý muốn của anh, chính là tự bản thân mình mà Bigeard phát hiện thấy khuôn mặt các viên trung uý của mình qua chiếc mặt nạ vấy bùn và máu đang khô đi. "Đừng ra đòn nữa..." Bréchignac vừa mới yêu cầu Bigeard tránh cho Eliane 4 khỏi một trận oanh tạc sẽ giết nốt số thương binh thì nhận được báo cáo của Botella là không sao chống cự được nữa. Botella, lúc đó bèn gọi thẳng cho Bigeard. - Bruno của Dédé đâu, Bruno của Dédé đâu ... Cũng vẫn cái giọng nói lanh lảnh khi báo tin "Đã tiếp cận mục tiêu". Bigeard ấn nút máy phát. - Bruno nghe đây. - Bruno của Dédé! Thế là hết. Họ đã vào sở chỉ huy. Vĩnh biệt. Nói với chàng trai Pierre là người ta rất yêu quý ông ấy. Một tiếng “cạch". Một giọng nói khác khô khan: - Tôi cho nổ đài thông tin - Híp, híp, híp... Lúc này là chín giờ. Trên các điểm cao vây quanh vị trí Eliane 4, trong những ruộng lúa dưới khe sâu, túa ra một đám đông những người nhỏ nhắn mang theo vũ khí, mặc bộ trang phục vải xấu mầu xanh lá cây, chân đi những đôi dép lốp xe tô đầu đội mũ đan bằng nan tre lóng lánh một ngôi sao đỏ, mặt đeo khẩu trang. Từ những nơi ẩn náu trên núi và trong rừng, họ lên tới những đỉnh đồi Eliane trong tiếng la hét ầm ĩ lúc to lúc nhỏ tùy theo cơn gió thổi, nghe càng rõ hơn khi họ lên đến các đỉnh đồi. Tỏa ra các dải sườn và đoạn đồi bằng phẳng của vị trí Eliane, họ reo hò và giương cao cây súng mừng chiến thắng cũng là lúc họ nhìn thấy những khúc lượn vòng của dòng sông đầy nắng vàng và quang cảnh tập đoàn cứ điểm bị cầy xới. Trên hai mỏm đồi tròn của Eliane 4 người ta nhìn thấy họ nhẩy qua các đoạn hào sập lở, lách qua hệ thống dây thép gai lởm chởm, bước qua những đống tử thi nằm vắt lên nhau trong một tư thế hòa giải rùng rợn của thần chết, hoặc là nằm dài ngửa mặt lên trời, hai cánh tay giang rộng, mặt bị lũ ruồi bám đầy, miệng còn ngậm chặt tiếng rên rỉ cuối cùng, những người bị đóng đinh câu rút rớt khỏi cây thập tự của họ, bị cột chặt vào nền đất nát vụn giữa những thanh gỗ xà ngang khốn khổ của các căn hầm hoặc đằm mình trong lớp bùn quánh dính. Trước làn sóng người giống như những đám kiến túa ra từ khắp nơi, pháo binh của tập đoàn cứ điểm, vốn đã hết đạn và hết pháo thủ, đành câm tiếng. Còn lại ba trăm viên đạn pháo 105 và mười viên cối 120. Những chiếc máy bay khu trục bổ nhào từ trên trời, thả bom, nã súng đại liên, gây ra cảnh lộn xộn trong một lát. Nhưng cái khối người ấy lại tiếp tục hành tiến khi các máy bay bay đi sau mười phút mở trận đánh mà họ làm chủ. Botella quyết định ở lại sở chỉ huy nhưng hạ lệnh cho thiếu uý Makowiak rút về trung tâm phòng ngự chủ yếu cùng với vài người khỏe mạnh và mấy thương binh còn bước đi được. Chẳng bao lâu, quân Việt vây kín lấy Botella và giải anh về phòng tuyến của họ. Mũi trưởng Đặng Phi Thường, trung đội phó trung đội 7 thuộc trung đoàn 98 lại tiếp tục lên đường tham gia trận tấn công giáng đòn chí tử vào Eliane, đã trông thấy Botella đi qua, xung quanh là các chiến sĩ áp giải, đầu Botella không mũ, trán không khăn bịt, đi về điểm tập trung tù binh đầu tiên, ở đó Botella gặp lại Bréchignac và Pouget, cả hai câm lặng vì đau khổ. Tại vị trí Opéra, Bizard vẫn giữ vững và chuẩn bị để phản kích lên các mỏm đồi Eliane, nhưng Langlais bố trí đơn vị của Bizard như một thành phần bảo vệ cho trung tâm phòng ngự chủ yếu. Capeyron đi tìm kiếm người của đại đội mình xông lên trong đêm ở phía Eliane 2 thì bị trúng những mảnh của quả đạn súng phóng lựu phạt ngang cổ tay trái và vùng bẹn như một lưỡi dao cạo. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 11:36:57 pm Lúc 10 giờ, từ văn phòng của mình ở trong khu thành cổ Hà Nội, Cogny gọi Castries. Những cơn giông vần vũ trên khắp khu vực nổ lép bép trong các ống nghe. Cuộc đối thoại, có nguy cơ là phiên liên lạc cuối cùng với tập đoàn cứ điểm được ghi lại vào đĩa trong buồng thông tin. - Xin chào, anh bạn, Cogny nói. Trong tay anh hiện còn những phương tiện gì? Giọng nói của Đe Castries rõ ràng, chậm rãi, có cân nhắc, hơi cao giọng một chút như mọi ngày khi nói điện thoại. Đôi lúc Castries cân nhắc câu chữ, tiếp tục và nói lắp. Cogny nhấn mạnh thêm những câu đồng ý. - Tiểu đoàn B.P.C 6, tiểu đoàn II/1 R.C.P và bộ phận còn lại của R.T.A1. - Phải. - Trong mọi trường hợp, chỉ còn mỗi việc gạch chéo lên trên. - Phải. - Phải không nào?... Hiện thời còn đấy nhưng rất suy yếu, lẽ tự nhiên bởi vì người ta đã rút hết mọi thứ có được ở mặt phía tây để định gài sang phía đông ... - Phải. - … Còn lại gần hai đại đội của mỗi đơn vị, hai đại đội đội với các tiểu đoàn dù ngoại quốc sát nhập lại… - Phải - … Ba đại đội của R.T.M2 nhưng hoàn toàn vô giá trị, phải không nào, tuyệt đối vô giá trị, bọn họ đã mất hết tinh thần. - Phải - ... Ba đại đội của B.T.23, quân số bình thường vì bao giờ đơn vị R.T.M và đơn vị B.T.2 cũng là những đơn vị còn lại nhiều người nhất, bởi lẽ đó là số không muốn chiến đấu - Tất nhiên. - Phải không nào? Và ở đơn vị I/2, đơn vị I/2 của R.E.I4 còn lại gần hai đại đội, và gồm hai đại đội của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13. Đây là những đại đội khoảng từ bảy mươi đến tám mươi người. - Phải, tôi rất hiểu. - Thế đấy!. . . . Thế là chúng ta chống cự từng bước một. - Phải. - Chúng tôi chống cự từng bước một và tôi cho rằng, tôi cho rằng với mức tối đa mọi khả năng của chúng tôi... Đột nhiên những tiếng nhiễu cản trở việc liên lạc. - Alô... Alô. Cogny nhắc lại. - Alô... trung tướng, ngài nghe được tôi chứ? - … Rằng với mức tối đa mọi khả năng của các anh ư? - … Đó là chặn đứng đối phương ở con sông Nậm Rốm. Phải không nào? - Phải. - Còn nữa, liệu chúng tôi có phải giữ được bờ phía đông con sông hay không bởi vì nếu không, chúng tôi sẽ không còn nước để dùng. - Phải, tất nhiên. - Phải không nào? Nếu thế, sao nào, tôi đề nghị anh tìm cách, tôi sắp tình cách thực hiện việc này, phải không nào, tôi vừa mới tóm được, gặp được Langlais, chúng tôi đã thống nhất về việc này. Và rồi, lạy Trời, vậy là tôi sẽ thử, tôi sẽ thử, tùy theo tình huống thuận lợi, cho chuồn tối đa các phương tiện xuống phía nam! - Tốt, đồng ý. Việc đó chắc là vào ban đêm chứ? - Sao cơ? - Ban đêm à? - Phải, thưa trung tướng, ban đêm, tất nhiên. - Đúng đấy! Phải. - Và tôi… tôi cần có sự đồng ý của anh để tiến hành. - Đồng ý, anh bạn ạ. - Anh đồng ý cho tôi tiến hành chứ? - Tôi đồng ý. - Cuối cùng, tôi thì tôi đứng vững, tôi cố gắng giữ ở đây càng lâu càng hay, với những gì còn lại. Castries im ắng một lát rồi cho biết là mình không còn gì để nói nữa. - Thưa trung tướng?... - Phải, đồng ý với anh bạn. - Thế này... - Liệu có phải là vấn đề đạn dược, liệu có phải là anh... Có những thứ phải thu hồi à? Cogny hỏi rất nhanh. - Đạn dược ấy à? Vấn đề đó nghiêm trọng hơn, chúng tôi không có... - Không có những thứ mà... - Chúng tôi không có, phải không nào. Đúng là còn một ít đạn pháo 105, nhưng mà.... Một câu trong đoạn này không giải mã được. Có lẽ Castries nói đến đạn pháo 155 bởi lẽ tất cả số pháo cỡ này đã bị loại khỏi vòng chiến đấu. - … Chúng không giúp ích gì được ở đây. - Phải. - … Tạm thời lúc này. Thế còn đạn dược, đạn dược của cối 120... - Phải. - … Tôi có loại đạn đó, chắc là còn 100 đến 150 phát. - Phải. - Và rải rác ở khắp nơi, phải không nào? - Phải, tất nhiên. Castries lặp lại: - Rải rác ở khắp nơi. Không thể nào... thực tế không thể nào thu gom lại. Hiển nhiên càng gửi tới nhiều thứ đó càng tốt phải không nào? - Phải. - Vì vậy chúng tôi sẽ giữ vững, chúng tôi sẽ giữ vững lâu tới mức tối đa. - Tôi nghĩ là tốt nhất thì, Cogny nói vội, nuốt mất các từ, đó là việc không quân có cố gắng với chi viện bằng hoả lực ngày hôm nay để chặn đứng bước tiến của họ, để làm sao quân Việt dừng lại. - Phải, thưa trung tướng. Và rồi, nếu thế, không quân không nên dừng tay, phải không nào? Không dừng tay, không dừng tay. Phải, lúc đó quân Việt ấy, phải không nào, tôi sẽ cho trung tướng nhìn thấy mặt mũi của họ. - Phải. - Ở hướng đông, quân Việt đã tung ra toàn bộ những gì còn lại trong tay họ. - Phải. - Kể cả hai trung đoàn của sư 308. - À tốt. Phải. - Phải không nào? Trên phía tây chỉ có, hiện giờ hẳn là chỉ có.... - Phải. - … Mỗi một trung đoàn 36. - 36, tôi nghĩ là phải. - Phải không nào, chỉ có mỗi trung đoàn 36. Trung đoàn 102.... Đột nhiên sóng thông tin bị cắt đứt. - Alô.... Alô. Cogny giọng hổn hển nhắc lại, trong lúc các kỹ thuật viên tìm cách nối lại liên lạc. - Anh có nghe thấy tôi nói không? Castries tiếp tục nói. - Và đối với trung đoàn 102, anh nói sao nhỉ? - Phải thưa trung tướng. - Trung đoàn 102 thế nào? - Đó là họ đã tham chiến ở hướng đông. - Phải. - … Trung đoàn 102 và trung đoàn 88 - Đúng thế, - Phải không nào? Cộng thêm, cộng thêm sức mạnh của sư đoàn 312. - Đúng thế. Phải. - … Và hiện thời sư đoàn 316. - Phải. - Phải không nào? - Họ đã đặt trọn gói lên mặt phía đông. Cogny nói. - Nhưng mà anh thấy đấy, như tôi đã dự kiến, cái 308 đã luôn luôn tuột khỏi tay tôi, tôi nghĩ là đã từng nói như vậy. - Phải, đúng thế. - Tốt. Thế nào, việc rút xuống phía nam thì sao? Cogny hỏi. - Các anh định như thế nào? Rút về Isabelle hay là về nhiều hướng? - Thế này, thưa trung tướng, bằng mọi cách, bằng mọi cách… họ phải vượt qua Isabelle, tiến xuống phía nam, phải không nào? - Phải, đúng thế. - Nhưng mà, tôi sẽ hạ lệnh, tôi sẽ hạ lệnh cho Isabelle cũng tìm cách thoát ra, tìm cách thoát ra, nếu có thể... - Phải, đồng ý. Nếu thế, thường xuyên thông báo tình hình cho tôi để người ta có thể giúp đỡ các anh tối đa bằng không quân trong việc ấy - Ồ, những mà tất nhiên, thưa trung tướng. - Thế đấy, anh bạn. - Và rồi nếu thế , lạy Trời tôi sẽ giữ lại ở đây, xem nào.... những đơn vị không muốn ở lại... - Đúng thế, phải. - … Nhưng, nói thế nào nhỉ, hiển nhiên, những thương binh, nhưng mà... nhưng mà rất nhiều người đã nằm trong tay đối phương, vì tại các điểm tựa đều có thương binh nằm lại tại chỗ. Eliane 4 và ... Eliane 10 ... những thương binh. - Tất nhiên, phải. - Phải không nào? Và rồi tôi giữ lại tất cả số người đó dưới quyền chỉ huy của tôi. - Phải, anh bạn ạ. - Thế đấy. - Tạm biệt, anh bạn. - Tôi vẫn còn có thể lại điện thoại cho anh trước khi ... trước khi chấm dứt. - Thôi nào, tạm biệt anh bạn Castries. - Tạm biệt trung tướng. - Tạm biệt, anh bạn Castries đặt máy bộ đàm xuống. Ở cách ba trăm kilômét, Cogny không nhìn thấy được đám sĩ quan đang im lặng vây quanh Castries. Mồ hôi chảy ròng ròng trên trán Cogny. Cái nóng nực của cơn giông chưa nổ ra đè nặng lên bầu trời Hà Nội. ________________________________________ 1. Viết tắt có nghĩa trung đoàn bộ binh Algérie. - N.D 2. Viết tắt có nghĩa trung đoàn bộ binh Marôc. 3. Viết tắt là tiểu đoàn lính ngụy người Thái. 4. Viết tắt có nghĩa trung đoàn bộ binh ngoại quốc. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 11:42:15 pm Giữa trưa, Bigeard tới gặp thiếu tướng De Castries. - Thế là hết, Bigeard nói. Nếu anh đồng ý, sẩm tối tôi cùng với anh em trong đơn vị sẽ chuồn. Nhưng mà cần làm sao cho quân Việt tưởng là ta vẫn còn cầm cự; muốn thế cần phải cho họ tiếp tục nhận được các loạt đạn pháo, đạn súng cối và súng tự động. Anh nên để lại ở đây một tay khá. Trancart chẳng hạn. - Không. Castries trả lời. Tôi không trút nỗi khổ cực này lên đầu ai cả. Tôi sẽ là người ở lại, chú Bruno của tôi ạ. Chú đừng lo người ta sẽ bắn suốt đêm. Ban ngày, tôi sẽ cho dừng lại. Lúc 13 giờ, đại úy Capeyron cùng với năm mươi tư lính lê dương tới bố trí ở vị trí Junon. Viên trung sĩ Sammarco, một quả đạn pháo 75 rơi ngay dưới chân nhưng không nổ, đã nói với một đồng ngũ: “Nếu như thoát ra khỏi chuyện này, người ta đến phải say bí tỉ suốt nửa tháng... ". Chuẩn bị cho cuộc thoát vây, trung sĩ Kubiak đổ vào bi đông của mình những lọ rượu Rum trong các hòm khẩu phần "Pacific". Langlais, Bigeard và các cấp phó của họ vẫn còn ăn một bữa súp nóng. Hai người cùng nhau nghiên cứu tình hình và triệu tập các tiểu đoàn trưởng sẽ tham gia vào cuộc Mở đường máu. Tourret, Giraud và Clemençon đều thống nhất nhận thấy đó là kế hoạch bất khả thi. Những cơ may thành công hết sức mong manh bởi lẽ mọi đường thoát đã bị vít chặt, họ đã thử làm nhưng quân Việt đã chiếm giữ toàn bộ phía tả ngạn dòng sông, ngoại trừ chiếc cầu mà họ đang tìm cách đánh chiếm, và rằng giống như đàn ngựa mệt lử sắp gục ngã, quân dù và quân lê dương sẽ không thể mở được con đường máu ấy. Một trong hai võ sĩ đã bị nốc-ao. Lúc 15 giờ 30, theo sau có Bigeard, Lemeunier và Vadot, Langlais đi tới chỗ thiếu tướng Castries. Langlais không biết rằng đã có một bức điện đánh đi từ Điện Biên Phủ lúc 14 giờ, dự kiến việc ngừng chiến đấu vào ngày mai, lúc 7 giờ. Ở Isabelle, nơi còn lại 2000 quả đạn cho một khẩu pháo 105 duy nhất, đại tá Lalande được phép thử mở một cuộc phá vây. Castries được tự do quyết định số phận của Langlais, các sĩ quan và binh lính các đơn vị còn lại trong tay. Ông bảo Bigeard: - Bruno này, chú sẽ phải trả giá đắt đấy. Chú phải tìm cách chuồn đi cùng với một vài tay nào đấy. Cuộc thoát vây này, ai là người có thể dẫn dắt nó tới đích? Hoàn toàn bình tĩnh và tự chủ, Castries thừa nhận là trong phạm vi mười kilômét, tình trạng kiệt sức sẽ đánh gục tất cả. Castries cho các sĩ quan giải tán và ngồi lại đối mặt với Langlais. Những gì mà chính xác họ từng nói với nhau đã được cho qua. Giữa những ý kiến trao đổi với Bigeard hoặc qua vô tuyến với Cogny, mọi thứ rối tung. Vả lại, liệu họ có còn gì để bổ sung vào những cái đã diễn ra rồi? Các thầy tu, qua thử thách của cuộc sống chung, bản thân họ cũng xây ra chuyện ghét bỏ lẫn nhau kia mà. Hai con người có cá tính và phương pháp hoàn toàn trái ngược nhau này, không còn chuyện cãi cọ gì để mà trút ra cho hết nữa. Trách nhiệm về việc thất thủ Điện Biên Phủ đè nặng lên đôi vai của ai đây? Chẳng phải người này cũng chẳng phải người kia. Không theo kịp các biến cố, Castries đã không biết phản ứng vào lúc thuận lợi, nhưng mà ông không hề có tham vọng đối với cái cương vị mà số mệnh hoàn toàn không phải dành cho ông. Ông đã không hề lừa dối một ai, người ta đã nhầm lẫn về ông. Ông đã từng trung thực cảnh báo với Navarre rằng: "Nếu như anh muốn có một Nà Sản thứ hai thì xin anh chọn một người khác. Tôi tự cảm thấy không thạo với việc đó". Và để nhận thức được là người ta vẫn phải thay thế mình, ông đã thiếu sự hạ mình cần thiết. Trơ tráo, nhẹ dạ, liệu có phải là lỗi của ông nếu như ông không ưa Langlais và nếu như Langlais không ưa ông? Về phần mình, liệu Langlais có phải chịu trách nhiệm vì bị thu hút quá nhiều vào những trận đánh trinh sát người ta áp đặt cho ông hàng ngày cho nên đã không thể nào lặp lại các trận phản kích nhằm để chiếm lại các vị trí tiền tiêu mà không một ai nghĩ là sẽ bị thất thủ? Nghĩ rằng, lẽ ra Langlais phải đòi hỏi ở Castries và ở Gaucher thời gian và các phương tiện cần thiết chỉ là một ý nghĩ xa rời thực tế: cần phải lùi lại thời gian, hít thở bầu không khí lạc quan bao trùm trên trận địa, nghe thấy tiếng nổ ròn rã của các khẩu pháo của Piroth khi chúng nhả những loạt đạn vào dãy núi xung quanh mỗi khi có báo động bất kỳ nào. Lúc bấy giờ ai là người thoáng nhận ra mối thảm họa vừa mới đây ập xuống? Còn về mối ác cảm đối với Castries, đây chỉ là câu chuyện tự ái. Đã nhiều dịp, Langlais tỏ vẻ bất bình trước việc Castries rất ít khi bước ra khỏi hầm, nhưng mà nếu như mọi người đều ca ngợi tinh thần cứng cỏi của Langlais thử hỏi có ai lại chưa hề va vấp với ông và chưa hề bực bội vì những hành vi bạo lực và tính khí thất thường của ông? - Thế là hỏng, Castries nói. Không được để lại bất cứ thứ gì còn nguyên vẹn. Một nỗi xúc động ngắn ngủi đột nhiên làm cho đôi mắt của Castries ngấn nước và làm cho khuôn mặt lạnh giá của Langlais cứng đơ. Khi Langlais giơ tay chào, Castries bước tới, tay giơ ra và Langlais, không nói một tiếng nào, lao vào vòng tay của Castries. Vào khoảng 16 giờ, trong một cuộc nói chuyện qua bộ đàm, trung tá Seguins Pazzis dành cho đại tá Lalande sự lựa chọn giữa một trận đánh vì danh dự hoặc một cuộc thoát vây chạy xuống phía nam. Không một điều gì hé lộ cho Lalande biết rằng trung tâm phòng ngự chủ yếu không cầm cự nổi cho đến sáng ngày mai, Lalande chọn việc thoát vây vào lúc sẩm tối. Ông ban bố các mệnh lệnh đã chuẩn bị theo ý định này và cho tiến hành các cuộc trinh sát về hướng nam trên hai bờ sông Nậm Rốm để đánh giá sức đề kháng của đối phương. Do vì trục thoát vây đã được sửa đổi từ hướng tây nam sang hướng nam cho nên thiếu bản đồ và người dẫn đường. Ngoài ra chỉ duy nhất có một con đường có thể sử dụng được, đi qua Mường Nha, bản Tà Một và bản Pha Năng và Lalande buộc phải sửa đổi kế hoạch. Trở về sở chỉ huy của mình, Langlais truyền đạt lệnh phá huỷ vũ khí, khí cụ quan sát và máy thông tin. Bigeard không xen vào công việc này. Ngay lập tức tin đồn lan truyền rằng đây là chuyện đầu hàng. Trung sĩ Sammarco cho cắm nòng súng trường và súng trung liên xuống đất rồi bắn đến những viên đạn cuối cùng. Những quả lựu đạn cháy hàn chặt cơ bẩm của các khẩu 105 lại, hoặc làm tan chảy các nòng súng cối và súng Badoka. Đạn dược được ném xuống sông. Động cơ của những chiếc xe tăng còn quay được được bọc lại không có dầu mỡ. Các cha tuyên úy chuẩn bị cho mình những bình rượu và những lọ dầu thánh. Grauwin cho chôn xuống đất mấy chai Pênixilin, có đánh dấu cẩn thận. Những trận đánh tiếp diễn và các tiểu đoàn quân Việt tiến dần vào khu trung tâm, gặp các đơn vị quân dù, số đơn vị này tự buông súng, bị bao vây. Không còn chuyện tác chiến nữa. Trên phía tả ngạn dòng sông, những mảnh vải trắng đã phấp phới trong mảng sân của những chuyện thần kỳ và ở phía những người lính Marốc. Mặc quần áo mầu xanh lá cây, những mẩu vải dù loang lổ đính trên mũ cứng, chiếc quần vải xắn lên tận đầu gối, quân Việt xuất hiện ở khắp nơi, nhưng một cơn sóng lặng lẽ tràn ngập tất cả. Họ vượt qua sông lúc 17 giờ. Tiếng chửi thề của viên tiểu đoàn trưởng làm cho trung sĩ Kubiak quay đầu lại nhìn về phía sở chỉ huy của De Castries. Ở đó một lá cờ trắng lớn đã tung bay. Đại uý Capeyron chợt nhớ ra rằng mình phải đốt lá cờ mang phiên hiệu của đại đội 3. Cúi mình xuống đống lửa mà những người lính lê dương vừa vội vã nhóm lên, Capeyron vừa kịp nhìn thấy cháy nốt những dòng chữ cuối cùng "Trung thành " được thêu trên mảnh lụa thì quân Việt xuất hiện. Một cán bộ chỉ huy hạ lệnh. - Giơ tay lên! Capeyron không tuân theo. Quân Việt lại gần đá cho anh một cái vào mông. Những lính lê dương bước ra khỏi hàng ngũ và định can thiệp. Tái mặt đi vì nhục nhã, Capeyron ngăn họ lại. - Đừng động đậy! Đã quá muộn. Trong tất cả các đường hào trên khu đồi Eliane, quân Việt bắt đầu chất đống các tử thi của hai bên và lấp đất lên. Trên đỉnh mỏm Eliane 2, họ dùng tre dựng lên một thứ mộ giả, cao mười mét, được trang trí bằng những chiếc dù lụa trắng. Chui rúc xuống đất từ nhiều ngày, nhiều đêm, những lính Algérie và Marôc vút bỏ trang bị của họ, bước ra vừa đi vừa vẫy vẫy mảnh vải trắng và lẽ tự nhiên họ tìm thấy được cái từ luôn luôn có ý nghĩa trong tất cả các quân đội trên thế giới khi đã kết thúc chiến trận và tình thân thiện giữa những người hôm qua còn là đối thủ của nhau, họ hét to: "Các đồng chí”. Đại đội trưởng Thọ, chịu trách nhiệm thiết lập một bàn giấy phân loại, nhận thấy ở trong đám tù binh một thái độ ngoan ngoãn khác thường: phần lớn trong số họ vươn chân vươn tay tựa như vừa bước ra khỏi trạng thái gò bó dài ngày và làm những động tác hô hấp. Theo từng nhóm khoảng mười người, người ta gửi họ về phía sau bằng cách chỉ đường cho họ không có người áp giải, đi tới địa điểm tập trung đầu tiên. Chủ nhiệm trạm phẫu của đồi Him Lam, bác sĩ Nguyễn Dương Quang, học trò của giáo sư Tùng, cho dựng lên những chiếc lều mái lợp bằng vải dù để che cho thương binh và ông đi về phía bệnh viện. "Họ đến...". Đó là câu nói người ta nghe thấy khắp nơi. Trong căn hầm của mình. Langlais vội vã đốt cháy thư từ, cuốn sổ tay cá nhân: những bức ảnh của người phụ nữ yêu quí và ngay cả chiếc mũ nồi đỏ. Ông ôm hôn Geneviève de Galard, người mà ông nhờ báo tin cho mẹ ông, trong lúc đó các cấp phó của ông thiêu huỷ các hồ sơ lưu trữ của công tác chỉ huy và những chiếc máy chữ. Ông đội lại chiếc mũ đi rừng cũ làm cho ông trông giống như một thủy thủ buồn bã với chiếc mũ vải dầu trên đầu. Tại sao ông lại đốt chiếc mũ nồi đỏ của mình, trong khi Bigeard thì giữ lại? Đó là vì ông sợ rằng quân Việt sẽ sử dụng chiếc mũ đó như một thứ chiến lợi phẩm; cũng còn vì một cách vô thức, ông muốn tránh cho cái quí giá nhất trong kỷ luật quân sự mà ông có được, khỏi phải chịu nỗi nhục nhã của trận thua. Sinh ra để hành động, đột nhiên ông thấy mình bị tước hết mọi thứ và bây giờ không biết làm gì được, trong lúc đó, không quân hàm, không huân chương nhưng chiếc mũ nồi đỏ kéo sụp xuống trên đầu, Bigeard đã chuẩn bị cho cuộc trốn chạy: anh quấn xung quanh mắt cá chân một tấm bản đồ vùng thượng du bằng ni lông, nghĩ tới việc ẩn nấp trong một hố sâu, chui dưới một đống dù. Tại sao anh lại sẽ không thoát được nhỉ? Dần dà, trong khu trại từ đó những cuộn khói, những đám cháy bốc cao, bao trùm một khung cảnh vô cùng náo nhiệt, thi thoảng bị rung chuyển bởi tiếng nổ của các phương tiện vũ khí mà người ta cho phá huỷ. Mất tinh thần trước cảnh man rợ của các trận đánh và màn pháo hỏa liên tục không ngừng kể từ buổi chiều ngày 1 tháng năm, hàng nghìn con người xanh xao, hốc hác kể từ khi các trạm lọc nước bị phá hủy, đã uống thứ nước sông vàng vọt đựng trong những chiếc xô, lại tìm thấy niềm hi vọng còn sống sót. Tự nhiên, cứ như là từ trong thời gian vĩnh cửu, số phận đã định trước cho họ phải sống trong cảnh nô lệ, họ tụ tập nhau thành từng đoàn dài, buộc những mẩu vải trắng vào đầu những chiếc gậy, tự động kéo về hướng đông bắc, đi theo hai bên vệ con đường tỉnh lộ 41, trước con mắt khinh bỉ của đám lính lê dương và lính dù. Giờ phút ấy, số người đó là bao nhiêu, số người đã lựa chọn để bị bắt ngay lập tức còn hơn là sống trong cảnh lo sợ nháo nhác? Mười nghìn chăng? Và phải chăng người ta có quyền nghĩ là Điện Biên Phủ sẽ không bị thất thủ nếu như họ đã chiến đấu như hai nghìn con người khác lúc đó đang chuẩn bị phá vây? Những khẩu pháo bị phá huỷ, những bao đất nằm phơi bụng, những căn hầm sập lở, những chiếc xe tải bị đốt cháy nằm gục trong những vùng nước mầu vàng, tất cả chứng tỏ là việc thua trận đã được chấp nhận. Những chiếc dù với lớp vải bẩn thỉu che phủ các mỏm đồi và giải thung lũng, chúng treo lơ lửng trên bờ sông, mắc vào hàng lan can của cây cầu mắc vào các lớp rào thép gai giống như những mạng nhện bị rách bung. Giờ đây, không còn gì phải nghi ngờ nữa: đã thất bại. Một số người nói như viên trung sĩ Sammarco: "Việc gì mà phải vất vả chém giết biết bao con người như vậy…”. Phần đông thì im tiếng. Viên hạ sĩ trưởng Hoinant vốn không gặp ai khác ngoài thủ trưởng của mình, thiếu tá Giraud, không còn có thể hiểu nổi điều gì nữa. Người ta đã bảo với anh là phải chống giữ cho đến khi kết thúc hội nghị Genève, ấy thế mà người ta vừa mới buông xuôi. Còn như việc hi vọng, thì anh chẳng còn hi vọng gì nữa kể từ khi người ta đã lừa dối anh, lừa dối một cách chắc chắn rằng binh đoàn Crèvecoeur sẽ tới, câu nói ấy được lặp lại hàng ngày. - Ra đi! Giơ tay lên . . . Nếu như số phận của đôi bên đã bị đảo lộn, Hoinant và Sammarco cho rằng những trận thắng thời gian vừa qua của quân dù và quân lê dương sẽ đè nặng hơn nhiều lên tinh thần của những người thua trận. Cả hai người, không một ai đã chứng kiến việc trừng phạt được áp dụng với đại úy Capeyron, và thông qua anh ta như vậy là, với tất cả những người thua trận. Họ thừa nhận lòng căm thù của quân Việt đã được xóa bỏ hay giảm nhẹ khi quân Việt nói với đám người thua trận: "Chiến tranh đã chấm dứt". Có lẽ, những đội xung kích, hai lỗ mũi bịt kín đủ thấy mùi vị trong khu vực quá hôi thối, bước xuống các đường hào và soát xét các sở chỉ huy để tìm kiếm tài liệu. Một số khác quá phấn khởi, ném lựu đạn xuống sông, những trái lựu đạn nổ khẽ trong dòng nước. Bác sĩ Grauwin bảo các y tá chỉnh đốn trang phục và phân phát những chiếc băng đeo tay trên đó có hình một chiếc thập tự, được vẽ bằng thuốc đỏ. - Chú ý đừng rời xa tôi dù chỉ một bước, Grauwin nói với những người của mình như vậy. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tư, 2008, 11:51:43 pm Ở Hà Nội, nơi một lần nữa được nghe Castries báo cáo tình hình, Cogny cho chuyển thông tin xuống tầng gác phía dưới cho tướng Bodet, người mà Navarre để lại Hà Nội để thay mặt cho mình. Navarre muốn nói với Castries câu nói tình thế, xứng đáng với vai trò của tổng chỉ huy và của viên phó tư lệnh xuất sắc...
Bastiani, tham mưu trưởng của Cogny, xen vào: - Xin chú ý, Bastiani nói với Cogny. Trung tướng không hề nói đến chuyện lá cờ trắng. Đột nhiên bị tác động bởi một dự cảm kinh khủng, Cogny nhẩy vội xuống cầu thang, xuất hiện trong văn phòng của Bodet, vừa đúng lúc bằng giọng nói the thé, Bodet nói với Castries: - Tạm biệt, anh bạn . Mọi lời cầu mong của tôi gửi theo anh. Thôi thế là rất tốt. Cogny gạt Bodet sang một bên, giật lấy máy bộ đàm. Navarre chưa bao giờ xem xét đến giả thiết là lá cờ trắng sẽ được trương lên. Trong bản chỉ lệnh ngày 1 tháng tư, Navarre đã tuyên bố là trong mọi trường hợp không được nhắc đến ý nghĩ đầu hàng. - Alô, alô, Castries đâu?... Alô, Castries đâu? - Thưa trung tướng? - Này, anh bạn, cần phải kết thúc lúc này, tất nhiên rồi. Nhưng, có điều chắc chắn, đó là tất cả những gì các anh đã làm cho đến lúc này là tuyệt vời. Không được hủy hoại tất cả bằng việc giương lá cờ trắng. Các anh bị tràn qua, nhưng không có chuyện đầu hàng, không có lá cờ trắng. Liệu Castries có đột nhiên nhìn ra mức độ to lớn trong sai lầm của mình hay không? Chắc chắn rằng vĩnh viễn không một ai biết được điều đó và rằng thiếu tướng De Castries và Séguins Pazzis sẽ chết, mang theo với họ xuống mồ điều bí mật. Điều đáng ngạc nhiên trong đoạn băng ghi lại cuộc đối thoại này mà những bản sao tôi đã nghe lại đều đã bị cắt đúng ở chỗ này, đó là nỗi thất vọng mà Castries sau khi nghe được mệnh lệnh của Cogny, và lý lẽ mà Castries dùng để tự bào chữa. Tự bào chữa về chuyện gì, nếu không phải là chuyện giương cờ trắng? - A, được, thưa trung tướng, Castries trả lời sau một lát im lặng và bằng một giọng ngượng ngùng. Duy nhất tôi muốn bảo vệ số thương binh. - Phải, tôi hiểu rõ. Nếu thế, làm đi, cách tốt hơn, cứ để cho (…) của anh, tự họ làm (...). Những gì các anh đã làm thật quá đẹp để mà bây giờ lại đi làm việc đó. Anh hiểu chứ, anh bạn? - Rõ thưa trung tướng. - Thôi, tạm biệt, anh bạn, hẹn gặp lại. Không có câu: "Nước Pháp sống mãi" mà theo tin đồn người ta đã bảo viên tư lệnh tập đoàn cứ điểm phải nói. Nhân viên thông tin Mélien đảm bảo liên lạc trong một văn phòng ở bên cạnh văn phòng của De Castries đã kết luận với người đối thoại của mình ở Hà Nội: - Quân Việt ở cách đây vài mét. Bọn mình sắp cho nổ máy phát. Xin chào các bạn! Vội vã, lá cờ trắng mà viên trung sĩ Kubiak từng trông thấy bay phấp phới trên nóc hầm chỉ huy của Castries được mang tới trong lúc đó Bigeard và Langlais dưới các hố sâu của mình, chuẩn bị tiếp đón quân Việt. Cogny báo cho bà De Castries tin Điện Biên Phủ thất thủ và yêu cầu bà giữ kín tin đó. Ngoài tiền sảnh văn phòng của Cogny, Hedberg, phóng viên của tờ Expres đang đợi. Một loạt tiếng bước chân nện trên nóc căn hầm. Đội xung kích của trung đội trưởng Chu Bá Thệ chạy tới nóc hầm sở chỉ huy của Castries. Liệu có phải lúc đó, đội xung kích này đã cắm lá cờ đỏ sao vàng không hay là cảnh ấy sau này được dựng lại? Về phía quân Pháp, không một ai biết chuyện đó. Lá cờ duy nhất mà trung sĩ Kubiak trông thấy bay phấp phới trên sở chỉ huy của Castries là lá cờ trắng. Kubiak đã viết chuyện đó và tờ tạp chí chính thống của đội lê dương ngoại quốc đã công bố bài ký sự của anh trong số tháng tư 1963, mà không có ai phản bác. Khi quân Việt chạy vào sở chỉ huy, gạt các tấm rèm cửa sang một bên, Castries đứng thẳng chờ đợi họ, trong người không có súng, hai cánh tay áo xắn ngược lên. Ông đã thay áo sơmi và quần dài và như thường lệ, ngực đeo một mảng cuống huân chương. Trung sĩ dù Passerat de Silans, thuộc phòng 3 của Langlais cam đoan rằng, trước những nòng tiểu liên chĩa thẳng vào mình, Castries đã kêu lên: "Xin đừng bắn tôi". Câu nói này không phải cách nói của Castries, người có thể nói để xoa dịu thái độ đe dọa của chiến sĩ xung kích Việt Nam theo kiểu: "Này lũ ngốc, các anh không bắn, đúng không?". Grauwin liếc nhìn về đoạn hào giao thông, trông thấy Castries mặt tái mét dưới chiếc mũ nồi đỏ, miệng ngậm điếu thuốc lá, chói mắt vì ánh mát trời. Một chiếc xe Jeep, ngay lập tức, chở Castries về cơ quan chỉ huy của đối phương. Liệu có phải là Grauwin đã trông thấy, như sau này anh đã viết, Langlais với khuôn mặt cứng đơ lạnh lùng và Bigeard, với chiếc cằm nhọn dưới chiếc mũ nồi kéo sụp xuống, đã nhanh chóng bị làn sóng người cuốn đi? Langlais và Bigeard cùng nhau bước ra khỏi cửa hầm, không hề giơ tay lên cao, nhưng không cùng một lúc với Castries, người mà mười ngày sau họ mới gặp lại. Grauwin, tim đập mạnh, lại quay xuống hầm bệnh viện. Hai chân dính đầy bùn, thắt lưng đeo đầy lựu đạn, một người lính Việt vẫy tay bảo Grauwin: - Đi ra ngoài! Trong phòng giải phẫu, ở đó trung úy - bác sĩ Gindrey đang cúi xuống xem xét một thi thể rách nát, nhiều con người nằm trên cáng, rên rỉ chờ đến lượt mình. Theo sau có Geneviève de Galard và số y tá của mình, Grauwin bước ra khoảng đất trống, ở đó những thương binh mà người ta vừa mới chuyển về ở bên cạnh những xác chết đang thối rữa, nhìn Grauwin đi qua cứ tựa như là một bàn tay cứu độ đang rời xa dần. Ở gần sở chỉ huy, quân Việt gọi tên Langlais, ông tiến về phía họ. - Tôi đây Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:09:26 am Người ta vây lấy Langlais, Bigeard bước theo, hòa lẫn vào cơ quan tham mưu của ông. Người ta cũng gọi to:
- Bigeard! ... Bigeard đâu? Hai tay đút trong túi quần, Bigeard tiếp tục bước đi trong hàng người dài, vô danh, kín như bưng trong một nỗi im lặng mà nhiều ngày sau anh mới thoát ra được, sẵn sàng tận dụng mọi cơ hội dù là nhỏ nhoi để bỏ trốn. Con sói Bigeard ấy mà, cứ để cho bọn họ truy tìm? Anh không mang theo bất kỳ một thứ gì: không một bao thuốc lá, không một hộp khẩu phần, trong khi đó một số tù binh xách nặng những chiếc vali chật cứng đồ tiếp tế. Cậu Chevalier trung thành của anh, vốn hiểu tính anh đã đi "mổ" lấy một tút thuốc lá Lucky trong hầm chỉ huy của Castries để dành cho anh. Chắc hẳn, Bigeard cảm thấy mình đã bị đo ván, nhưng anh đã đứng dậy rồi. Trận chiến chưa kết thúc. Không có chuyện gì kết thúc khi mà sự sống vẫn còn chảy trong huyết quản. Vụ việc này, không chỉ là vấn đề giữa phương Tây và quân đối phương, giữa đạo quân viễn chinh Pháp và quân đội nhân dân Việt Nam, đây là một trận đấu giữa quân Việt và bản thân anh. Làm thế nào mà những con người nhỏ nhắn này trong số đó có những người trẻ nhất trông như chỉ mới mười lăm tuổi, vốn luôn luôn né tránh đánh giáp lá cà vì sợ phải đối chọi với những người to khỏe hơn mình, họ lại đã đánh thắng? Làm thế nào để tránh được những nỗi nhục nhã khác trong tương lai? Có những bài học cụ thể nào rút ra được từ cuộc phiêu lưu này và từ cái đạo quân mối này đã chiến đấu với các bụng trống rỗng nhưng đầu óc đầy ắp những ý tưởng và những niềm hi vọng mà người ta nhồi nhét cho họ? Đó là những câu hỏi luôn luôn ám ảnh anh. Bản thân anh cũng vậy, anh đã nghe bài Du kích ca suốt cả đêm trên mạng vô tuyến của quân Việt và có điều gì đó đổ vỡ trong tâm can anh. Tạm thời lúc này, khép mình lại trước mọi cảnh vật xung quanh, hai vai trùng xuống để không gây sự chú ý của bất kỳ ai, mắt hé mở, anh rình đợi một cơ hội lơi lỏng của việc canh gác để cùng với vài bạn đồng ngũ bỏ chạy vào trong núi, giống như thiếu uý Makowiak sau này sẽ làm và đã tới được một đồn quân ở Lào. Bigeard không chờ đợi bất kỳ điều gì ở chính sách khoan hồng của quân đội nhân dân. Bị đánh bại, anh sẽ gánh chịu điều luật của những kẻ bại trận nhưng không bao giờ chấp nhận nó. “Những con lợn đáng thương"! Câu chửi thề này, anh không ngừng nhắc lại để quất roi vào mình và vào những kẻ ngây thơ vốn đã tưởng ràng có thể thắng cuộc bởi vì trận địa của họ được nhồi nhét đại bác và súng trọng liên và hàng ngày nhận được đồ tiếp tế từ những chiếc máy bay đến từ Hà Nội. Anh nhớ lại có lẽ là ở trận Azincourt người ta cũng đã khinh thường đối phương và rằng cùng một thói ba hoa khoe mẽ đã bao trùm lên việc chuẩn bị cho trận đánh ấy. Nhất là không được khóc giống như một vài bạn đồng ngũ mà anh đã nhìn thấy. Muốn chiến thắng những đoàn quân mối của các chế độ chuyên chế, việc đó sẽ giành được bằng một cách khác; còn như chuyện đi diễu binh, có đội quân nhạc dẫn đầu, trên những đường phố của một thủ đô, chuyện này một vài sĩ quan đã từng thoáng mơ tưởng tới, một khi các sư đoàn quân Việt bị nằm gục trên các hàng rào dây thép gai, chuyện ấy khi nghĩ tới, Bigeard cười gằn. Thế đấy, cái thắng lợi được các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh chuẩn bị và được các chính phủ phê chuẩn là như thế đấy? Anh không biết rằng, vài tuần lễ sau, người ta đã tập trung số tù binh để cho họ diễu hành suốt cả một ngày, đầu cúi gằm, đi theo hàng tám, bị vây quanh bởi những con người nhỏ nhắn mang tiểu liên, trước ống kính máy quay của thế giới, nhưng mà khi người ta bảo anh tham gia vào việc dựng lại cảnh đánh chiếm sở chỉ huy, anh trả lời: “Thà chết còn hơn" và quân Việt đã không ép buộc. Nếu như quân Việt cho gọi Bigeard ở mọi hướng đó là vì họ muốn nhìn rõ con dã thú cuối cùng bị bắt cùng với đàn gia súc. Làm thế nào nhận ra được con dã thú ấy. Không có nét gì khác biệt với những con người đang trèo lên những điểm cao trên hướng đông bắc như những con sâu nối nhau thành đoàn dài? Dưới bầu trời đột nhiên trống vắng các loại máy bay, nhóm nhỏ các thầy thuốc đi qua cây cầu. Những khối hàng cuối cùng nặng 70 tấn mà hai mươi tám chiếc Dakota thả xuống buổi sáng nằm rải rác: đạn pháo 105, thực phẩm, đạn dược của bộ binh, dược phẩm, sữa hộp, từ nay tất cả thuộc về người chiến thắng. Ở bờ sông bên kia, người ta chặn nhóm thầy thuốc lại và hạ lệnh cho Grauwin quay lại chăm sóc các thương binh. Bác sĩ Nguyễn Dương Quang vừa mới đi thăm bệnh viện, ông nhận thấy bệnh viện được bố trí hơn hẳn so với bệnh viện của ông. Ông đã nhận thấy là các chiến binh Việt Minh được chăm sóc bình đẳng với những người khác. Do vì Grauwin bị xúc động bởi nỗi buồn, bác sĩ Quang bảo mang tới cho Grauwin một cốc cà phê. Lúc 17 giờ 55, một bức điện của Cogny yêu cầu đại tá Lalande ở cứ điểm Isabelle cho biết ý định của mình trong đêm nay. Lalande vẫn chưa biết là trung tâm phòng ngự chủ yếu đã thất thủ. Ông chỉ biết được việc này vào lúc 18 giờ 30 qua việc giải mã một bản thông báo và qua việc pháo hỏa đột nhiên mở màn để phá hủy các kho đạn dược, cắt đứt các đường dây điện thoại và đốt cháy trạm phẫu lưu động trên cứ điểm. Sau đó, đài phát sóng của Việt Minh phát lên làn sóng đài của chính ông: "Tiếp tục chống cự là vô ích. Phần còn lại của đội quân đồn trú đã bị bắt làm tù bình. Hãy đầu hàng đi!". Vào lúc 20 giờ, được dẫn đường bởi những lính Thái còn chưa dám đào ngũ và đang tìm cách phân tán khắp nơi, đại đội 12 của tiểu đoàn 3 ngoại quốc tìm cách tháo chạy theo bên bờ hữu ngạn, bám theo những khúc uốn quanh của dòng sông. Liên tục qua sóng vô tuyến kém và khó khăn để theo dõi bước hành tiến của họ. Qua tiếng súng nổ, người ta mơ hồ xác định những điểm họ chạm trán đối phương. Sau đó một lát, đại đội 11 tiến ra ở khoảng giữa con đường mòn và bờ sông phía tả ngạn. Khoảng 21 giờ, im lặng bao trùm chứng tỏ đại đội này đã thành công. Lần lượt từng đơn vị, trong màn đêm đen, bám theo nhau, thoát ra một cách chật vật khỏi các hệ thống hàng rào dây thép gai hoặc các đường hào ngập đầy bùn, ở đó bước chân bị sa lầy. Tiếng động của các trận đánh chuyển xuống phía nam, trung đoàn 57 bao vây, bố trí hai bên bờ sông Nậm Rốm mỗi bên một tiểu đoàn. Lúc 23 giờ đại úy Hiền cùng tiểu đoàn thứ ba nhận được lệnh rút về. Lúc đó anh cùng đơn vị này đang chốt chặn ở đoạn ngã ba giữa con sông Nậm Rốm và con sông Nậm Nưa, điểm cuối cùng con đường tỉnh lộ 41 nối với con đường mòn của nước Lào. Một trận tấn công gây ra cảnh náo loạn trong phần lớn các đơn vị, cô lập các đơn vị đó, chia cắt và tràn ngập chúng. Binh sĩ của quân đội nhân dân và của đạo quân viễn chinh lẫn lộn với nhau. Có những tiếng kêu: "Đừng bắn. Người ta sẽ đón tiếp các bạn tử tế... ". Lúc đó đại tá Lalande bèn tìm cách chống đỡ tại chỗ và hạ lệnh cho các đơn vị quay lại Isabelle nơi đã nằm trong cảnh hỗn loạn hoàn toàn. Ở Paris, do khác nhau về múi giờ, lúc đó gần 17 giờ, ngài Joseph Laniel, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bước lên diễn đàn của quốc hội, bằng một giọng nói mà ông cố trấn tĩnh báo tin Điện Biên Phủ thất thủ. Tất cả các nghị sĩ đứng dậy, ngoại trừ hàng ghế của các nghị sĩ cộng sản. Nỗi sửng sốt trước thất bại đột nhiên đè nặng lên thành phố, báo chí công bố những tin nhanh truyền về đến thành phố một cách lộn xộn, do bị cắt xén bởi cơ quan kiểm duyệt ở Sài Gòn. Một số đặc biệt của tờ báo “Nước Pháp buổi chiều'', trưng ra một dòng tít lớn chạy suốt tám cột báo: "Điện Biên Phủ đã thất thủ", Báo Thế giới đưa tin là chiếc máy bay của Bảo Đại đã thoát khỏi một tai nạn. Từ vài ngày nay, người ta buộc tội Bảo Đại do kéo dài kỳ nghỉ ở Côte d'Azur đã làm chậm trễ cuộc thương lượng về việc trao trả thương binh. Buổi chiều của cái ngày thứ sáu này, trời đẹp và rặng cây dẻ trong Rừng Lớn và trên các bến sông đều nở hoa. Như thường lệ các nhà hát và các rạp xinê đều hoạt động. Vào khoảng một giờ sáng ngày 8 tháng năm, một tốp nhỏ quân Việt nói được tiếng Pháp và vẫy vẫy một lá cờ trắng, tiến vào sở chỉ huy cứ điểm Isabelle. “Để chúng tôi vào, họ nói với những người ngăn họ lại. - Chúng tôi muốn gặp chỉ huy của các anh, đại tá Lalande". Đại tá Lalande chấp nhận gặp gỡ các sứ giả ấy. Họ bảo ông: “Mọi kháng cự đều vô ích. Ông đừng có ngoan cố". Lalande hạ lệnh ngừng chiến. Đối với Bigeard và đối với Langlais là bắt đầu những ngày tăm tối, trong lúc đó đối với đại úy Hiền hình như đây là kết thúc một đêm dài. Khắp nơi tin chiến thắng lan truyền từ làng này sang làng khác nhanh như tia chớp. Giáo sư Tùng, trên dọc đường quay về các bệnh viện ở hậu phương, nhận được tin đó lúc 20 giờ. Đã có những người hét to: "Được rồi - Biết rồi". Khu tập đoàn cứ điểm giống như một phiên chợ Giời lớn, ở đó những người thắng trận chia nhau chút ít chiến lợi phẩm gồm các bánh xà phòng, những chiếc đèn pin bỏ túi và những khẩu phần đồ hộp. Nhiều ánh lửa lấp lánh trong khu lòng chảo, nơi người ta không còn lo sợ bị máy bay oanh tạc nữa, những trận oanh tạc mà nạn nhân ở phía người Pháp cũng như ở phía người Việt không thua kém gì nhau. Tuy nhiên máy bay vẫn còn bay lượn trong vùng, sẵn sàng bắn pháo sáng hay trút bom xuống những đống lửa khốn khổ trong thung lũng. Viên sĩ quan tùy tùng trước đây của tướng Navarre, cùng với mười nghìn tù binh, tiến bước về các khu trại trên xứ Bắc Kỳ. Quân Việt đã trói hai tay của anh ta quặt ra sau lưng bởi anh ta không chịu trả lời những câu hỏi của họ. Trên khắp thế giới, nơi mà trận Waterloo1 ít gây ra chuyện ầm ĩ, việc thất thủ Điện Biên Phủ lại đã gây ra một nỗi sửng sốt ghê gớm. Đó là một trong những thất bại lớn của phương Tây nó báo hiệu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa và sự kết thúc của một nền cộng hòa. Tiếng sấm rền của biến cố vẫn còn kéo dài mãi. _____________________________________ 1. Waterloo: Địa danh diễn ra trận thất bại lớn của Napoléon I. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:15:07 am VI LỜI CẦU NGUYỆN CHO TRẬN CHIẾN ĐIỆN BIÊN PHỦ Giả thử chúng ta gửi cho họ những bữa ăn và những trang thiết bị mới? Giả thử chúng ta cung cấp lúa mạch cho đàn ngựa đói lả của họ trước khi tiến đánh họ? Shakespeare Henry V - Màn III Chính tinh thần là nhân tố dẫn đến các trận chiến thắng, bây giờ và sau này cũng mãi mãi như vậy, cũng như đã chiến thắng trong mọi thời đại của thế giới. Giá trị tinh thần, giá trị đạo đức của chiến tranh vẫn không hề thay đổi kể từ những thời đại ấy. Máy móc, các vũ khí chính xác, mọi cơn sấm sét mà con người và các môn khoa học do con người phát minh ra, không bao giờ có thể chiến thắng được cái điều lúc này bị coi thường, có tên gọi là tinh thần của con người. Barbey Daurevilly1. Trong chiến tranh, một thảm họa lớn bao giờ cũng chỉ ra một thủ phạm lớn. Napoléon Vào thời kỳ mối thảm họa Điện Biên Phủ diễn ra và mặc dù tôi là người đã loan tin về biến cố ấy, mối thảm họa vẫn cứ đè nặng lên tâm hồn tôi. Số phận bất công và đáng sợ của một vài bạn hữu, cùng lúc đó tác động mạnh đến tôi. Tôi mong muốn, không phải là để trả thù cho họ, mà là trả lại cho họ một vinh dự mà tạm thời lúc này họ tưởng đâu là đã đánh mất. Ấy thế mà cách đây hai năm, không có lí do gì rõ rệt, tấn bi kịch Điện Biên Phủ lại như một quả đấm giáng thẳng vào ngực tôi và tôi đã trải qua một đêm bước xuống bên dòng sông xưa kia chảy giữa bãi chiến trường, sục sôi giữa những đám cháy. Tôi nhớ lại rằng mười tháng trước, ở giữa lòng cuộc chiến tranh Algérie, cũng một quả đấm tương tự đã giáng vào tôi mà tôi không chút đề phòng. Tất cả những mối đe dọa của cuộc tranh chấp giữa quân đội và quốc gia đã bám rễ sâu vào trong vết thương cháy bỏng ấy, vết thương mà lại một lần nữa ta phải rạch rộng ra để trích bỏ nguyên nhân của tật bệnh: đó là cái trạng thái mập mờ về bản chất của những lí tưởng phải bảo vệ, cũng như về giá trị đạo đức của các phương tiện tiến hành, mà các cấp chỉ huy quân sự của chúng ta đã không nói ra. Dù rằng đã biết Điện Biên Phủ là chiến thắng dành cho một quân đội trang bị và vũ khí kém cỏi nhất, vấn đề này có những nguyên nhân cũng như việc sức mạnh và số lượng các phương tiện cơ giới không bao giờ có thể chiến thắng được nếu như các phương pháp thực hiện dựa vào một sai lầm cơ bản và sự chỉ đạo cuộc chiến tranh dựa vào con số không. Nguồn gốc của mọi chuyện đó là có lòng tin hay thiếu lòng tin, là ý chí hay sự sa sút ý chí của một dân tộc. Diễn đạt bằng một câu nói thô tục và rất phổ biến thì đồng bạc Đông Dương, vế đùi đàn bà, và những đồn điền trồng chuối, đó chính là ba động cơ cao cấp có giá trị nhất ở Đông Dương vào thời kì bấy giờ. Những kẻ láu tôm láu cá thì làm giầu và hưởng thụ những gì mà các thứ đó mang lại; những người lính thì bắn giết và bị bắn giết. Lương tâm thì sa đọa, những giá trị mà thời đại nào giới hiệp sĩ nước Pháp cũng có đã biến mất, sự hèn nhát của các vị đứng đầu chính phủ khi đứng trước một sự thật mà họ không muốn nhìn thấy, bởi lẽ sự thật ấy đòi hỏi những phẩm chất mà họ không có, tất cả đã đặt đất nước đứng trước một chuyện ghê tởm nhất của thế kỉ và đặt những con người trong sáng đã phục vụ cho câu chuyện xấu xa đó đứng trước nỗi nhục nhã là tô vẽ vinh quang cho câu chuyện ghê tởm. CÓ XẤU HỔ HAY KHÔNG? Tại sao lại thấy xấu hổ khi nhắc đến cái tên Điện Biên Phủ, giống như là người ta đã lo sợ rằng việc chôn cất biết bao tử thi không có quan tài làm dấy lên một cơn giận dữ mà người ta muốn dập tắt? Nếu như một viên tướng đã bị đánh bại ở Điện Biên Phủ thì chắc chắn đó là vì ông ta bất tài. Cũng có thể là bởi vì các chính khách đã không lấy làm vinh dự có cùng chung một ý tưởng với các viên tướng. Cuối cùng, người ta có thể nói về nước Pháp rằng nước Pháp đã nêu ra một hình mẫu về thái độ thờ ơ hoàn hảo nhất đối với quân đội của mình và rằng cái tội ác do sự lơ là ấy có tên gọi là sự thiếu trợ giúp cho những người đang gặp nguy hiểm. Bị trừng phạt bởi những điều luật dành cho những công dân bình thường, khì mà toàn bộ quốc gia đều là thủ phạm, tội ác đó dẫn đến những cuộc bãi nhiệm mà một dân tộc không thể gượng dậy được và rằng một ngày nào đó, dân tộc ấy sẽ trả giá bằng chính cái chết của mình. Một thế kỷ trước đây, khi mối thảm họa mà đạo quân viễn chinh ở Grimée phải gánh chịu trong trận Balaclava làm rung chuyển nước Anh, thì chính phủ Anh, không giống như chính phủ của chúng ta sau sự kiện Điện Biên Phủ, lại chỉ mong muốn dẹp bỏ vụ việc nếu như công luận không bị xúc động bởi những bài viết của ngài William Hovard Russel, phóng viên báo chí đầu tiên ở trong quân đội. Vị bộ trưởng đã bị lật đổ nhưng lại đã không có hình thức kỷ luật nào được áp dụng cho hai con người phải chịu trách nhiệm về việc lữ đoàn kỵ binh bị tiêu diệt và về cái chết của viên chủ nhiệm tổng cục hậu cần của quân đội. Một ủy ban được nhanh chóng sinh ra dưới cái tên Xí nghiệp tẩy sạch đã giúp cho các bị cáo thoát tội. Nếu không có thái độ bất bình của Florence Nightingale, người đã tận tụy phục vụ các thương binh và đã dọa công bố những ghi chép của cá nhân mình thì mọi việc sẽ dừng lại ở đó. Trở thành thần tượng của công chúng và nỗi khiếp sợ của nghị viện, Florence Nightingale đã khơi lên cơn giận dữ ở khắp nơi và dân chúng Anh đòi hỏi phải điều tra và xử lí. Họ đã không có được mọi đáp ứng. Vài tháng sau, cuộc nổi dậy của những người Cipayes đã hướng sự chú ý sang những mối nguy hiểm mà nền đế chế phải đương đầu ở Ấn Độ, cũng giống như cuộc nổi dậy ở Algérie đã làm quên lãng Điện Biên Phủ. Nếu như nhân dân Anh có thói quen muốn biết được nguyên nhân các thất bại của mình thì tại sao nhân dân Pháp lại không dũng cảm để nhìn thẳng vào một trong những bất ngờ có tính chiến lược lớn nhất trong lịch sử của mình? Tôikhông hiểu giờ đây nhắc lại mối thảm họa Điện Biên Phủ có đúng lúc hay không? Đối với tôi, chính mối thảm họa đó đã đến không đúng lúc. TRÁCH NHIỆM CỦA NHÂN DÂN PHÁP Nếu như những người bại trận ở Điện Biên Phủ phải đem ra xét xử, nhân danh nhân dân Pháp, thử hỏi người ta sẽ buộc họ vào tội gì đây? Tội đã không hiểu đầy đủ tình thế và đối phương ư? Nhưng thử hỏi, ai đã đặt tướng Navarre ngồi vào chiếc ghế của ông ấy? Ai đã xác định nhiệm vụ mà những người tiền nhiệm và ông ấy phải hoàn thành, nếu không phải là các chính phủ kế tiếp của nền Cộng hòa thứ tư? Cuối cùng ai cho phép các chính phủ ấy không kiểm tra theo dõi, bỏ mặc cho các viên tướng bị lây nhiễm cái căn bệnh tự phụ, tự kiêu? Việc thoái lui, đôi khi là đức tính cao quí nhất của các chính khách lại không phải là bài học được dạy dỗ trong các học viện quân sự. Sự thật, việc chỉ đạo cuộc phiêu lưu Điện Biên Phủ có nét nổi bật là tình trạng thiếu năng lực của bộ chỉ huy cao cấp cũng như sự thờ ơ quái đản của một dân tộc. Để bào chữa cho chuyện đó liệu người ta có thể nói rằng dân tộc đó, đã tưởng đâu, trong trường hợp này, đây là một cuộc chiến tranh do những binh lính đánh thuê tiến hành trong thời bình để duy trì các đồn điền cây cao su, những cánh đồng trồng bông, để bảo vệ những người công giáo và các trường đại học? Lâu dài về sau, mấy trăm nghìn con người mặc bộ đồng phục quân đội Pháp đã sống cuộc sống có vui có buồn của quân đội ở xứ sở ấy, mắc phải các bệnh tật, nhận lấy những vết thương và đôi khi là cái chết để rồi, nói cho cùng chỉ phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc tệ hại nhất thế giới. Đếquốc này đã ngụy trang việc nó không chịu để bị mất đi những cổ tức và các thị trường dưới chiêu bài một cuộc thập tự chinh chống lại chủ nghĩa cộng sản. Cuộc chiến tranh này vốn không thể nào giành được thắng lợi, lẽ ra những kẻ hung hăng đến cực đoan phải kết thúc nó bằng một cuộc thương lượng. Nếu như những người kém ngu xuẩn hơn trong số họ có nghĩ đến điều đó thì ý kiến đánh giá của họ cũng không chiếm ưu thế và đã vấp phải những lợi ích mà các cuộc chiến tranh thường khai thác. Không một ai đã nghĩ rằng các vị tổng thống trước đây và các vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng các nhiệm kỳ đã qua lại không hề bận tâm đến việc tránh cho đất nước của họ phải trải qua một thử thách ở tầm cỡ như vậy. Nỗi bất hạnh là họ đã không dám lên án việc đó, và các vị bộ trưởng của họ cho rằng đó là để bảo vệ thế giới phương Tây. Họ đã giải quyết điều bận tâm đó bằng nhiều cách khác nhau. Ngài Pléven thì tự đặt mình vào trong cái vòng vây những ảo tưởng cùng những con người ảo tưởng và rửa sạch hai bàn tay với một lương tâm của con người trung thực và một nỗi ngạc nhiên không bờ bến. Ngài Bidault thì định tìm cách cứu vãn đoàn quân thập tự chinh của mình bằng vụ nổ nguyên tử của cuộc hành binh Vautour. Ngài Letourneau thì cầu xin Thượng đế, còn viên cao ủy Dejean thì gửi những bức điện ngoại giao, ngài Jacquet thì chỉ biết rít tẩu thuốc của mình còn ngài Reynaud thì im lặng. Những kẻ hèn hạ thì không nhiều nhưng phần lớn là những người ngu ngốc hoặc viển vông, những kẻ yếu đuối hoặc láu cá, tất cả tụ tập lại trong cái sự dốt nát của những người bị điều hành, một nét đặc tính của các trung tâm cầm quyền. Thử hỏi có chứng cứ gì để chống lại họ nếu không phải là chứng cứ về việc họ đã ngồi một chỗ, và đã đồng ý dùng máu của những người khác để thanh toán cho tờ chứng từ về những sai lầm và những hành động hèn nhát của họ? Còn về phần các viên tướng chỉ huy, không một ai có thể nghi ngờ về nhiệt tình phục vụ tổ quốc của họ. Mù quáng, tai điếc và kém thông minh như người ta nói, bởi lẽ nó không đưa cho ta bất cứ điều gì nếu như ta không giành giật từ tay của nó, nhân dân Pháp cùng với những lá phiếu bầu cử, đã khẳng định vai trò tòng phạm của nó. Tội phạm, trước hết, đó là nhân dân Pháp. _______________________________ 1. Nhà văn pháp (1808 - 1889), theo chủ nghĩa lãng mạn. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:17:19 am NHỮNG TÌNH YÊU ĐÃ CHẾT Khối hành lí của tôi được xếp đặt trong gian phòng người ta dành cho tôi trông ra khoảng sân của khách sạn Métropole ở Hà Nội chưa đầy mười phút mà tôi đã cảm thấy khó thở. Tuy nhiên, chín năm sau cuộc phiêu lưu Điện Biên Phủ, tôi đã có mặt ở nơi mà tôi muốn có mặt để có thể hiểu rõ hơn trận thất bại của chúng ta. Dù cho đã chuẩn bị đầy đủ để hứng chịu nó, cú sốc về việc tôi quay trở lại nơi đây đã vượt quá những gì mà tôi dự kiến. Người ta nghĩ rằng người ta có con tim sắt đá chống lại những tình yêu đã chết, ấy thế mà chỉ cần bóng dáng một khuôn mặt quen thuộc thoáng qua là đủ để làm sống lại những tình yêu ấy trong toàn bộ sức mạnh của chúng. Khách sạn Métropole, đối với tôi, không phải là cái phòng đợi đáng sợ ở đó những viên đốc công Xô - Viết ngồi ngủ gà ngủ gật trong những chiếc ghế bành trước con mắt của một người thường trực gầy yếu, mà là nơi hẹn gặp của các hiệp sĩ. Cũng vẫn cánh cửa kính quay do các nhân viên nét mặt rầu rĩ đẩy, xưa kia va đập vào người các sĩ quan và những cần vụ của họ, những cô gái hiếu chiến phục vụ trong quân đội, những nhà báo quốc tế và những người địa phương thích phiêu lưu. Tiếng vù vù của những chiếc quạt trần quay hòa trộn với những tiếng reo mừng và những tiếng hát tràn ngập gian đại sảnh, lan xuống khu nhà ăn, ở đó người ta vui vẻ, í ới gọi nhau. Người ta nhận ra quả lựu đạn và những chiếc mũ lưỡi trai của lính lê dương, những cầu vai của các phi công, chiếc mỏ neo mạ vàng của các thủy binh của Hải Phòng, những bộ quần áo da báo của quân dù hoặc chiếc phù hiệu màu đỏ của các pháo thủ, ngôi sao năm cánh của những người lính Marốc. Đôi khi, người ta thoáng thấy ở giữa bọn họ, những "thống chế' cũ của tướng De Lattre trốn lên đây chơi một chuyến trước khi lên đường về các tỉnh của họ vào lúc tảng sáng: khuôn mặt lo âu của Vanuxem, với chiếc vòng đeo cổ có hình con linh miêu, vầng trán gây gổ của Gilles, cái mồm rộng của Clément uống cạn hết cốc rượu uytski này đến cốc uýtski khác, đôi môi trơ trẽn của Castries, chiếc kính một mắt của Blankaert. Ở bên ngoài, tấm kính chắn gió lật ngửa xuống mũi xe, những chiếc xe Jeep rồ máy phóng đi hoặc thả xuống một mẻ người mới trước cái trạm khách hạng sang, mà bầu không khí ồn ào những tiếng quát tháo, hẳn phải gợi lại những khẩu lệnh của cái vương quốc đích thực ở Jérusalem. Mùi xăng thoát ra từ các động cơ thay thế mùi mồ hôi của đàn ngựa, khẩu tiểu liên của các vệ sĩ thay thế những thanh kiếm và những ngọn giáo. Thị giác chứng khoán hiện lưu hành được trao đổi ở đây và người ta phát hiện ra dưới chiếc mũ nồi đỏ, khuôn mặt nhìn nghiêng như mặt con đại bàng của Bigeard đang tiến bước như một niềm vinh quang mới giữa những bộ mặt hốc hác của những con người đang chuẩn bị quay về châu Âu. Những tầng gác phía trên, ở đó người ta đi thăm nhau từ buồng này sang buồng khác, tiếng nước chảy rù rì của các vòi hoa sen và tiếng quạt trần quay hòa trộn vào tiếng ồn ào hỗn độn. Khi mà, đột nhiên, tiếng đại bác nổ làm rung chuyển bầu trời, không một ai cắt đứt cuộc trò chuyện: cũng giống như tiếng ầm ầm của máy bay khu trục bay lượn trên thành phố hoặc những đợt sóng các đoàn xe bóp còi inh ỏi trên các đại lộ, tiếng đại bác phá vỡ khung cảnh hòa bình của Hà Nội trong một lúc. Trên bờ hồ Hoàn Kiếm, những người lính lê dương áp chặt thân mình vào chiếc quần dài mầu tím của những cô gái làng chơi. Tôi bước ra ngoài. Đã qua mười năm, trong cái xứ sở đó tốc độ sinh đẻ phi nước đại đẩy lùi các thế hệ vào quá khứ, từ một chế độ bị đánh bại nay chỉ còn lại dòng chữ trên một tấm biển được vít chặt trên một lề hè phố, ở một ngã tư: "Cấm đỗ ". Các cảnh sát giao thông lẳng lặng điều khiển hệ thống đèn tín hiệu để chỉ huy dòng xe đạp và người đi bộ. Những quán cà phê trước đây, trở thành những phòng thông tin, những gian hàng cao cấp nay bán soong chảo, mầu sác óng ánh những chiếc áo khoác ngoài của phụ nữ nay đã biến vào trong mầu giản dị của bộ trang phục dân tộc. Người ta chỉ có thể nhầm tôi là một người Nga. Tôi gọi một chiếc xe kéo và ngồi lên đó. - Phái đoàn đại diện Pháp! Người lái xe nhìn tôi, đôi mắt buồn bã, gọi một đồng sự, rồi gọi những người qua đường. - Pháp - Pháp - Tòa nhà nước Pháp. HÌNH BÓNG CỦA CÁC ĐỒNG ĐỘI GIỜ ĐÂY CÁC BẠN Ở ĐÂU? Tôi chỉ biết nhắc lại cái tên ấy, giống như ngày xưa và không một ai hiểu được tôi. Một đám đông hình thành và một viên cảnh sát vẫy tay giải tán đám đông. Với viên cảnh sát tôi cũng bảo "Pháp ''. Anh ta có vẻ không nghe thấy, thậm chí không nhìn thấy tôi: anh ta xua đuổi một đàn ruồi mà không thèm nhìn cái thây ma còn sống đã thu hút đàn ruồi ấy. Sự so sánh đáng sợ không phải đã nẩy sinh trong đầu óc tôi ngay lập tức mà là nó hiện rõ trong tâm trí tôi, khi trở lại cái hầm mộ cổ, là khách sạn, không một ai trong bộ phận tiếp tân đoán ra được là tôi muốn nói tới điều gì. Được soạn thảo duy nhất bằng tiếng Việt, bản danh bạ điện thoại được đánh máy chữ không dành một chỗ nào cho các cơ quan ngoại giao. Tôi là tù binh giữa một đám đông, lọt thỏm giữa những con người, giờ đây không nghe tôi nói nữa, dưới một quả núi những phế tích và quên lãng mà người ta đến phải nói là đã tích tụ lại qua nhiều thế kỷ. Đã biến mất, những viên đại tá chém giết người Việt, những đội quân nhạc, những đoàn xe G.M.C chở đầy những con người thân mình phủ kín bụi đường, những giáo sư, những tên phố, những quán rượu ở đó thứ bia tươi chảy như suối, những cô gái lai Âu - Á với những tấm váy dài xẻ tà; đã biến mất những người chết vì đức vua Bảo Đại và vì những viên cao ủy bụng phệ, đầu đội những chiếc mũ vải xinh xắn. Hình bóng của biết bao những đồng đội béo tốt vào thời kỳ mà giông bão không nổ ra và lúc đó, mỗi ngày có mười binh sĩ chết vì cái nóng, những viên đại úy thắng trận đẹp trai, có đôi mắt xanh lơ, có tiếng nói ngắn gọn và con tim trong sáng, giờ đây các bạn ở đâu vậy? Họ đang ở đâu vậy, hỡi nữ thánh Đồng Trinh? Những tiểu đoàn lê dương, những người lính Marốc, những người lính Algérie và những quân dù được các xe cứu thương chuyển về trong tiếng còi rú rầm rì, với bộ ngực rách toang vì trúng mìn, khoang bụng thủng lỗ vì những loạt đạn tiểu liên hay những mảnh lựu đạn, máu chảy dầm dề từ mọi tĩnh mạch, hoàn toàn mất trí nhớ, giờ đây họ đang say sưa chiến đấu ở đâu vậy? Và tôi, giờ đây tôi không chỉ còn là một nhà báo Pháp nữa mà được tiếp đón như những người Bungari hoặc những người Sécbi - Crôattơ; cùng với một chương trình đi thăm các hợp tác xã nông nghiệp và các xưởng cơ khí, rồi được thả sức trước thực đơn của một cửa hàng ăn quốc doanh, ở đó những người Nga uống rượu Vodka từng cốc đầy, dùng tay xé thịt gà để ăn, bởi lẽ có một trận đánh đã thất bại, ở một nơi cách đây ba trăm kilômét, xung quanh một thị trấn mà cái tên đã làm lách cách những cỗ máy tê-lê-típ trên khắp thế giới. Chín hay mười năm cũng chưa phải là quãng thời gian đủ để quên đi những cụm khói đen của napan đột nhiên bốc lên từ những ngôi làng nằm phía dưới những chiếc máy bay, phía sau những chiếc xe tăng với những vành bánh xích làm rung chuyển mặt đất, để quên đi những đoàn người bám theo sau các bộ trưởng, những chiếc loa phát đi những bài hát điếc tai, những người nông dân nằm gục bên những con trâu của họ trong những ruộng lúa đang bốc cháy. Từ một nửa thế kỷ hiện diện, giờ đây chỉ còn lại những đại lộ thẳng tắp hai bên viền những hàng cây và những ngôi biệt thự kiểu thuộc địa, những nhà bảo tàng, những trường đại học, những sân vận động và các viện nghiên cứu, một toà lâu đài của chính phủ và một ngôi nhà thờ bằng cẩm thạch mà hầu như không một ai biết được là do những ai xây dựng nên. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:19:50 am NHỮNG NGƯỜI CHIẾN THẮNG VÀ NHỮNG KẺ CHIẾN BẠI Chiến bại ư? Nói thế chưa đủ. Kẻ chiến bại nếu như anh ta nhún nhường và ý thức được thất bại của mình, cuối cùng gặp lại những con người, thông qua anh ta nhìn thấy chiến thắng của họ, rồi tỏ lòng thương hại và tiếp đón anh ta. Di sản của Điện Biên Phủ đã che giấu cho tôi và tôi phải dùng phấn trắng viết lên mặt quầy của người thường trực để nhận được chìa khóa buồng của mình. Buổi tối đầu tiên ở Hà Nội, tôi cảm thấy như mình đang sống giữa những người chết ở Điện Biên Phủ, họ vây xung quanh tôi, và tôi không ngủ được. Đôi khi, bắt đầu thiu thiu ngủ, tôi tưởng như nghe thấy những tiếng cười ngày xưa, cảnh huyên náo sung sướng của những đêm chơi bời trở về sau một cuộc mua vui. Tôi bật sáng ngọn đèn đầu giường; tôi lắng tai nghe. Thành phố yên ngủ, mọi cánh cửa đóng kín, đầy những người đàn ông khôn ngoan, không vui vẻ gì để tạo ra những đứa con cùng với những người phụ nữ mệt mỏi vì cuộc vật lộn cho miếng ăn, gầy yếu, trong người có vi khuẩn amíp tàn phá ruột và gan họ, đầu óc ám ảnh nỗi lo phải phục tùng kỉ luật của nhà nước và những tiếng còi của các giáo viên thể dục sắp kéo họ ra khỏi giấc ngủ, trước khi tảng sáng. Bớt nghèo túng hơn ngày trước bởi lẽ chiến tranh không còn tàn phá đồng ruộng của họ nữa, vượt qua cảnh cùng quẫn mấp mé với nỗi đói khổ, phẩm giá được nâng cao lên do bởi niềm kiêu hãnh đã đánh thắng một quân đội của phương Tây bằng xương bằng thịt, có thừa thãi những xe tăng và máy bay. Còn về cái chế độ mà họ đã lựa chọn, chế độ duy nhất đã biết xóa bỏ bất công và nạn hối lộ mà chúng ta đã nuôi dưỡng cùng với bọn quan lại, thử hỏi là người bại trận, tôi có thể nhân danh cái gì mà lên án họ đây? Để hiểu được những nguyên nhân thất bại của chúng ta, vượt qua nỗi thất bại ấy và soi rọi vào các diễn viên của vở bi kịch ấy những vầng sáng cho phép ít nhiều tiến gần tới sự thật, trước hết tôi phải vận dụng một đức tính vốn không phải là đức tính của các viên tướng của chúng ta: sự nhún nhường. NHỮNG CHIẾC CHÌA KHÓA CỦA LỊCH SỬ Không có những lời giải thích vững chắc và dứt khoát cho những thất bại về quân sự nhiều hơn là cho những mối tình tan vỡ; cần phải phát hiện chuỗi dài những chuyện hiểu lầm và những nỗi thất vọng đã dẫn một đôi trai gái dần dần đi tới chỗ ghét bỏ nhau hoặc đưa một viên tướng bước vào chỗ sai lầm. Chắc chắn, thật khó khăn để biên soạn Lịch Sử khi ta là người cùng thời với những ai đã làm ra Lịch Sử đó, rằng ta từng có thể là bạn chiến đấu của họ, đã ăn uống cùng một bàn với họ. Để dựng lại tấm thảm kịch Điện Biên Phủ, người viết sử vốn sẽ chỉ có trong tay những tư liệu lưu trữ già nua đã nửa thế kỷ, sẽ không được trang bị tốt hơn tôi lúc này, bởi vì những tài liệu không bộc lộ những bí mật của chúng dễ dàng hơn những con người. Nhà viết sử sẽ thiếu vắng cái khả năng làm cho bản thân mình có ấn tượng, giống như một tấm phim chụp ảnh hay một cuộn băng ghi - âm có thể gây ấn tượng bằng những hình ảnh, những câu nói và những cung bậc âm thanh của các diễn viên trong vai diễn của họ. Khi mà tôi gặp gỡ họ, liệu bản thân họ có biết được vì sao họ đã là nhữngngười thắng trận hay những người bại trận hay không? Số người này thì cho rằng thất bại bắt nguồn từ đầu óc kém cỏi hoặc sự thiếu kinh nghiệm của một vị tổng chỉ huy cùng những cố vấn của ông ta, số người khác thì đổ lỗi cho một hệ thống, số khác nữa còn cho là vì những quyết định về chính trị mà họ không nắm được và số người cuối cùng thì cho đó là vì tinh thần dũng cảm và trí sáng tạo của đối phương. Không có chuyện gì đơn giản và tuyệt đối đến như vậy. Mọi chuyện đều có vị trí của nó, mỗi một từ ngữ, mỗi một thái độ và mỗi một sự kiện đều tác động đến những ai tiếp nối nhau, chồng chéo và nhằng nhịt với nhau. Không còn điều gì có thể cứu vãn được Điện Biên Phủ nữa, ở một thời điểm nào đó, trong khi đó một quyết định sáng suốt lẽ ra đã có thể tránh được mối thảm họa vào một thời điểm khác, hoặc như việc cách chức một cán bộ chỉ huy yếu kém, bất chấp mọi sai lầm đã phạm phải, lẽ ra có thể giúp cho việc giành được một chiến thắng. Điện Biên Phủ, một trận chiến đã thất bại ngay từ trước khi nổ ra ư? Tôi hoàn toàn không tin là như vậy. Kể cả nếu như nó được tung ra như đã làm, một vài con người thông minh cũng có thể vượt qua được khoảng cách xa, khắc phục được những chướng ngại, chiến thắng được đối phương và thúc đẩy nó đi tới trận thắng trước một đối thủ mà những khả năng không phải là vô tận. Có những con người như vậy: họ đã không được bố trí hoặc là đã được bố trí quá muộn mà lại không có những phương tiện để tỏ rõ tài năng. Kể cả khi số mệnh có vẻ như đã điều khiển họ, thì những biến cố cũng không lôi cuốn một cách mù quáng những con người nếu như những con người không chịu khuất phục. Đã nhiều lần, tôi tưởng như đã tới được trung tâm của vấn đề. Sự thực, đó là từ cả một chùm những chiếc chìa khóa và những chiếc nậy cửa mà tôi cần có để đi từ cửa này sang cửa khác, từ ngõ cụt này sang ngõ cụt khác, quay trở lại để rồi lại lạc đường và cuối cùng khám phá ra một căn phòng bí mật mà không tin chắc đó là căn phòng duy nhất. Một trong số các chìa khóa, đó là chuyến đi của tôi lên Điện Biên Phủ. Ngồi ở giữa một thư viện, và lục tìm trong những chiếc hòm đầy ứ tư liệu lưu trữ, người ta có thể làm sống lại trận Waterloo. Chuyện kể về các trận đánh, tài liệu mô tả các địa điểm và các nhân vật vẫn còn. Người ta có thể phục hồi lại vị trí các đạo quân trên các tấm bản đồ, theo từng ngày và từng giờ một. Tuy nhiên, không có gì giá trị bằng cái cảm tưởng mà nhà viết sử, dù cho anh ta có thiếu trí tưởng tượng đến đâu, tự mình rút ra được qua việc đối mặt với bãi chiến trường. Lúc đó, thực tế trước mắt tác động mạnh đến anh ta nhiều hơn là cuộc giao lưu thầm kín với cấu trúc của một phong cảnh đã dần dần xóa bỏ cú sốc gây ra đối với các diễn viên bởi những lần đầu tiên tiếp xúc, cũng giống như người ta dần dần làm quen với việc không nghe thấy tiếng những đoàn xe lửa đi qua làm rung chuyển ngôi nhà nơi ta đang sống nữa. Đi lên Điện Biên Phủ, việc đó tôi thấy có vẻ là cần thiết, dấu vết của một trận chiến đấu có thể dễ dàng gặp lại được trên thực địa nhiều hơn là trong các tâm hồn. Vì vậy không phải là không lo sợ, sau đêm đầu tiên ở Hà Nội, tôi đã thẳng đường theo hướng tây trên một chiếc xe Commăngca Xô-viết nhỏ bé mà người lái xe, ngay khi có một đoạn dốc nào đó lại đã tắt máy để tiết kiệm xăng, mặc cho xe tự do lăn bánh. Một sĩ quan trong bộ tham mưu của tướng Giáp cùng đi với tôi, vừa làm nhiệm vụ phiên dịch. Buổi tối đầu tiên, chúng tôi dừng lại ở một hợp tác xã nông nghiệp ở Mộc Châu. Giường ngủ được bố trí trong căn phòng nhỏ, cũng tại đó chúng tôi cùng dự bữa ăn tối với những người lãnh đạo. Người ta nhìn tôi với một vẻ tò mò xen lẫn lo ngại, chúng tôi nói về cuộc chiến tranh. Năm 1952, lần đầu tiên, tôi đã từ chối vinh dự được cầm vũ khí khi mà, sau mấy tuần lễ thu thập thông tin trên khắp nẻo đường ở Đông Dương, tôi hiểu ra rằng chúng tôi phục vụ cho một mục đích phi nghĩa hoặc, nếu như chúng tôi quyết định nhẩy vào một cuộc thập tự chinh đúng đắn chúng tôi sẽ tiến hành cuộc chiến đó mà thiếu nhiệt tình và sự vô tư là những đặc tính của những sự nghiệp lớn của tôn giáo. Có lẽ phải chiến đấu ở Đông Dương để duy trì các căn cứ chiến lược, chống lại cả một dân tộc đã chối bỏ chúng ta do vì chúng ta chiếm đoạt đất đai và chủ quyền của họ ư? Nếu thế thì mặc xác những căn cứ chiến lược của phương Tây. Tôi chỉ có thể chiến đấu cho phương Tây nếu như tôi không đồng thời phải gắn mình với sự kết hợp bẩn thỉu những lợi ích đã làm vấy bẩn lí tưởng của nó, bởi lẽ chiến đấu có nghĩa là có nguy cơ phải chết và người ta chỉ có thể chết vì cái gì mà người ta yêu quí. Trong mọi trường hợp, việc phủ nhận các đồng đội không phải là một món hàng xuất khẩu vì vậy tôi không việc gì phải thổ lộ những cuộc tranh cãi về lương tâm trước mặt những con người vốn đã là chiến sĩ quân đội nhân dân hay là du kích quân. Tôi là đối thủ trước đây của họ cũng như họ từng là đối thủ của tôi, tuy nhiên bây giờ chúng tôi nhìn nhau không chút ngượng ngùng và không chút hằn thù. DÂN TỘC CỦA NIỀM TIN Phiền lòng khi thấy tôi ăn quá ít, họ hỏi xem tôi thích ăn thứ gì, nhưng tôi không thể trả lời họ bởi lẽ họ không thể nào cung cấp cho tôi những thứ mà tôi thích. Vả lại. tôi không thấy đói không phải do vì những món ăn bỏ lại bên châu Âu, mà do vì những gì tôi nghe được từ miệng của họ, nghe được về cái niềm tin có thể rời non lấp biển, niềm tin mà chúng ta đã coi thường, gọi đó là sự cuồng tín, các cấp chỉ huy quân sự của chúng ta đã không tin là có niềm tin đó, niềm tin đã đánh bại các cơ quan tham mưu của chúng ta, đã hạ gục xe tăng và máy bay của chúng ta. Những bạn đồng hành của tôi tất cả đều là những con người bình dị, tôn trọng quân đội, và họ chuyển nỗi sợ hãi mà đạo quân viễn chinh của chúng ta xưa kia reo rắc cho họ lên con người tôi. Họ đều thuộc về cái dân tộc này, một trong những dân tộc chịu đau khổ nhất trên trái đất, chắc chắn như vậy, và là một trong những dân tộc đáng coi trọng nhất; dân tộc đó, dòng người này chúng ta đã gặp hoặc đi ngược lại ngay từ vùng ngoại ô của Hà Nội, dòng người của cái thế giới vô tận và đông đảo những nông dân, những thợ thủ công, những người đàn ông và những phụ nữ, gập người dưới sức nặng của chiếc đòn gánh hay còng lưng trong những vụ cầy cấy hay gặt hái. Buổi sáng hôm đó, tôi đã trông thấy họ cắt lúa bằng chiếc liềm, cắt từng nắm tay một, dưới những thửa ruộng mà cơn giông bão đã làm cho lúa đổ rạp xuống; họ bó lúa thành từng bó nhỏ để không để mất đi một hạt nào hoặc cấy từng khóm mạ và xa hơn nữa, bừa nhỏ đất, làm cuộn lên lớp bùn, đi theo sau những con trâu lội nước đến ngang bụng, đôi sừng trâu to tướng vểnh lên như những mảnh trăng lưỡi liềm. Những người đàn ông gầy gò ấy, những người phụ nữ héo quắt sau khi có đứa con đầu lòng ấy thử hỏi họ có còn điều gì phải sợ tôi nữa? Cái dân tộc ấy hối hả, mệt mỏi, náo động chẳng khác gì đàn kiến, chuyên chở những gánh nặng khổng lồ, vất vả vì thời tiết bắt buộc phải khai thác nguồn sống từ những rặng núi và những thung lũng cằn cỗi của họ. Họ dùng vồ đập vỡ từng cục đất hoặc tưới ruộng bằng từng xô nước một, họ làm mầu mỡ từng thước đất ngay tận trong sân nhà để có rau ăn, họ buộc phải lao động để xoa dịu cái đói đến mức chỉ còn trông chờ được nghỉ ngơi sau khi chết, đó cũng chính là dân tộc đã chiến thắng ở Điện Biên Phủ. Cũng giống như lúc này, họ đi bộ hàng trăm kilômét, tự nuôi sống mình bằng cơm và cá khô. Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:22:48 am ĐIỆN BIÊN PHỦ, ĐÓ LÀ VALMY1 Tối hôm ấy, trong cái thị tứ nơi chúng tôi dừng chân, chiếc máy nổ phát điện bị pan và tất cả khung cảnh tựa như lùi lại một nửa thế kỷ. Dưới ánh sáng những ngọn đèn dầu hỏa, chúng tôi nói về những gì đã chia rẽ chúng tôi, những gì có thể đoàn kết chúng tôi lại. Người ta hỏi tôi về nước Pháp và về châu Âu, người ta chất vấn tôi vì sao những con cháu thừa kế cuộc Cách mạng 1789 lại đã có thể chống lại một phong trào thấm đẫm những lí tưởng mà cuộc cách mạng ấy đã tung hô. Chúng tôi uống nước chè chát đắng, và các bạn đồng hành của tôi gần như không dám nhấp môi vào những cốc nước mà tôi đã rót vào đó chút ít rượu cô nhắc. Liệu có ai tin được là người ta đã ném họ vào trận xung phong trong trạng thái say rượu trong khi thứ nước uống duy nhất làm cho họ chếnh choáng là rượu bia nhẹ mà họ thường chạm cốc trong những dịp lễ tết. Niềm say mê duy nhất đã cho họ sức mạnh vừa hô vang vừa xông lên trước những nòng súng đại liên và lớp lớp hàng rào thép gai, đó chính là ý tưởng về chế độ tự do phải giành lấy và niềm vinh dự được là anh bộ đội của Bác Hồ. Tiếng đàn dế rúc rích dưới đất làm lay động những ngôi sao qua khung cửa sổ: một âm thanh chói tai, và đáp lại, tựa như một tiếng vang, là một âm trầm mà tôi tưởng là tiếng kêu của ễnh ương và có lẽ chỉ riêng đôi tai tôi nghe thấy. Vầng trăng sắp mọc muộn khiến tất cả những con gà trống, tưởng là trời đã sáng bèn cất tiếng gáy cho tới lúc bình minh. Tôi biết là mình không ngủ được, đôi khi rên rỉ để có thể ngủ thiếp đi, trong lòng tự hỏi vì sao mình lại có mặt ở điểm đối cực với tổ quốc mình, ở giữa những người xa lạ đã từng đánh bại chúng ta, nằm bên cạnh một viên đại úy mà đồng lương chưa bằng tiền lương của một thợ mỏ ở chỗ chúng ta, viên đại úy ấy về phía mình cũng tự hỏi về những lý do của chuyến đi của tôi. Những lý do đó tuy nhiên thật rõ ràng nhưng tôi đã bao lần nói dối rằng tôi mang theo trên mình những tội lỗi của các viên cao ủy trước kia và của các nhà cầm quyền đã trở về cõi hư vô, từ nơi đó họ bước ra sau khi đã góp sức vào việc lừa dối đất nước chúng ta và lôi cuốn những đứa con trai của đất nước đi vào chiếc cối xay thịt khổng lồ. "Nếu như các bạn đã bị đánh bại thì việc đó là do tự chính các bạn, Điện Biên Phủ, đó là Valmy". Cái câu này tướng Giáp bảo tôi vào hôm trước khi tôi lên đường, một nụ cười làm rạng rỡ khuôn mặt con sư tử già, giờ đây, tôi không thể không sử dụng để làm sáng tỏ tấn thảm kịch. Sau một chặng nghỉ nữa ở Sơn La, ở đó ban đêm bị khuấy động bởi tiếng động ầm ầm và tiếng nổ của một cuộc thực tập tác chiến trên đường phố, chúng tôi tới Điện Biên Phủ, người và xe phủ đầy bụi đường và mệt nhoài vì đường sá mấp mô, gập ghềnh. Từ xa, tôi đã nhận ra đường nét nhấp nhô trên rặng núi của Điện Biên Phủ và tưởng rằng con đường tỉnh lộ 41 kia sẽ mở ra những đoạn chữ chi, từ đó có thể nhìn bao quát được khu lòng chảo; tôi chuẩn bị cho mình một sự suy sụp thần kinh, rồi một đêm nữa đầy những cơn ác mộng, ầm ầm tiếng sấm của đạn pháo và những tiếng kêu thét. Thực tế, cây cối che khuất tầm nhìn và con đường, ở đó chúng tôi đã làm cho một con chim gáy thấy động giật mình bay lên, trườn mình qua những quả đồi. Tới khoảng không gian rộng rãi, tiếp nối đột ngột với những đoạn đường hẻm mà chúng tôi lượn ngoằn ngoèo từ nhiều tiếng đồng hồ nay, đột nhiên tôi nhận ra là đã tới nơi. Những đàn gia súc quay về chuồng trong tiếng mõ đeo cổ lục cục kia, dải thung lũng tràn trề ánh nắng kia, những ngọn đồi xanh rì kia, những người nông dân kia kết thúc một ngày lao động, hòa vào với đám chiến sĩ ở trước mặt những mái nhà gianh của một ngôi làng, đó là cái khung cảnh mà phương Tây đã gánh chịu một trong những thảm họa lớn nhất trong Lịch Sử. Hoạt động kỳ lạ của cỗ máy tinh thần? Tôi không mảy may cảm thấy những gì mà tôi dự cảm; một trạng thái thanh thản khác thường khiến tôi gần như thấy xấu hổ, làm cho con người tôi được thư giãn. Tôi đã đạt tới cái đích của tôi, và khi mà từ trên gác tòa nhà khách, trong mầu vàng óng của buổi hoàng hôn, chính xác là sau chín năm kể từ ngày khởi đầu trận đánh, tôi ngắm nhìn cái khung cảnh, nơi mà ba tiểu đoàn quân dù của tướng Gilles được thả xuống ở hai bên dòng sông, tôi thấy hình như mọi điều bí ẩn đều đã tiêu tan. BÃI CHIẾN TRƯỜNG Những bụi cây dày và lởm chởm của thứ hoa nở thành từng tán mầu trắng và xanh lơ phủ kín khoảng không gian của những ngọn đồi và dải thung lũng, nơi đã từng diễn ra những trận đánh ác hệt nhất. Để tới được những điểm chủ chốt của hệ thống phòng ngự, cần phải đi theo những con đường nhỏ mà người ta không thể bước chệch ra ngoài nếu không muốn vấp phải mìn, nhưng đám trẻ con đã mạo hiểm lần theo những dấu vết còn nhìn thấy được của những giao thông hào để tha về những cuộn dây thép gai, giờ đây được dùng để làm hàng rào quanh nhà. Những doanh trại quân sự đã mọc lên trong ngôi làng, một phần được xây lại lùi xuống phía nam. Ở hai bên con đường giờ đây mang tên đường số 42. Khi một chiếc xe tải chạy qua, lớp bụi mà nó làm tung lên, đổ xuống các cửa hàng và những mái nhà gianh, đổ dọc theo mặt đường, chật đầy những chú lợn con mầu đen, đàn gà vịt mà người ta tránh không làm cho chúng hoảng sợ. Đây chính là nơi, buổi sớm ngày chủ nhật, ngay từ lúc bình minh, người ta tụ tập lại để họp chợ. Ngay từ tối hôm trước, đến đây từ các thôn bản lân cận, những cô gái Thái trẻ, che khuất mái tóc và khuôn mặt xinh đẹp dưới những chiếc nón đan bằng nan tre, được quang dầu và trang trí. Mặc những chiếc váy satanh mầu đen và những chiếc áo ngắn đủ mầu, hai nẹp áo trước ngực là những mảng thêu đẹp, những chùm chìa khóa treo lủng lẳng nơi thắt lưng bằng những sợi dây xích bằng bạc. Họ trợ giúp cho các bà mẹ bán các mặt hàng: giầu, vỏ, hạt bông vải, những cuộn song mây, những con cá khô bó chặt trong những chiếc giỏ xinh xắn, hoa quả thu hái từ vườn nhà, bánh ngọt và những khúc mía, những lồng gia cầm, chim cảnh, những con lợn bị trói chặt bốn chân và những đồ đan lát. Trong phiên chợ này người ta cũng thấy những lá thuốc lá, những chùm quả đậu, những mẩu vải dù và cuộn dây dù, những bình đựng nước của binh lính và những can hai mươi lít từ thời đánh nhau. Nặng trĩu trên cổ là những chiếc vòng có đính những đồng bạc hoa xòe cũ, hai tai bị kéo rách bởi sức nặng của những chiếc vòng bạc, những người phụ nữ dân tộc Xá trú ngụ ở lưng chừng núi hay những người Mèo từ trên núi cao xuống, đem những nải chuối, những bó rau để đổi lấy những quả ớt, các loại hạt, trong lúc đó những người đàn ông nước da nâu, khuôn mặt nhăn nheo với chiếc khăn quấn trên đầu, trước ngực đeo một con dao quắm, mời chào bán những con khỉ bị sa bẫy hoặc những chú lợn gầy do họ chăn nuôi. Lúc chín giờ, đám đông tản mát và theo những con đường trở về các thôn bản. Ngày hôm sau cuộc sống lại bắt đầu. Những người phụ nữ giã gạo, những người đàn ông ra đồng,. đám trẻ con, ngồi trên lưng trâu, dẫn đàn gia súc đi gặm cỏ. Ngay sau khi các nhóm thợ gặt làm xong công việc của họ, những chiếc máy cầy Trung Quốc có năm lưỡi cầy của một nông trường quốc doanh, cầy xới lớp đất thịt trộn lẫn xương người. Dưới các thửa ruộng, dấu hằn bánh xích của những máy cầy ấy đã thay thế dấu hằn bánh xích những chiếc xe tăng của đại úy Hervouët; gần như bị chôn vùi dưới lớp cây cỏ, bộ khung của những chiếc xe tăng ấy gẫy nát, chứa đầy đất, nằm hoen rỉ trong vùng lân cận sở chỉ huy, ở trên một ngọn đồi Eliane và giữa những lùm cây của cứ điểm Isabelle, nơi cây ngô đã mọc lên tại vị trí của những cụm pháo ngày trước. Trên những quả đồi xưa kia đã không diễn ra các trận đánh, hàng nghìn héc ta cây cà phê đã được trồng và người ta khai phá khu rừng rậm chạy dọc con sông Nậm Nưa. Trong các thôn bản, những vỏ đạn pháo 105 và 75 được dùng để bó vỉa các hè đường và người ta đun nước trong những chiếc biđông cũ của ngành hậu cần quân sự. Những tấm ghi sắt đường băng sân bay được dùng làm các bếp lò ở trước mặt các ngôi nhà. Buổi sáng, vào mùa này, mây tụ lại trên các đỉnh núi và bầu trời như sà xuống các thành vách khu lòng chảo, chẳng khác gì một chiếc vung nồi. Người ta nghe thấy tiếng gà gáy rất xa. "Đừng bao giờ chiến đấu trên một mảnh đất giống như một con rùa nằm ngửa bụng. Chỉ nên trú quân ở đó trong thời gian ngắn". Cái nguyên lý này của một học thuyết quân sự kinh điển của Trung Quốc, tướng Navarre không hề hay biết. Những dấu vết của trận đánh đã không còn hiện ra rõ ràng nữa. Sức mạnh của các cơn giông tố đã dần dần lấp đầy những đường hào; cây cỏ làm liền sẹo những vết thương trên mặt đất, những mầm non đã nhô ra từ những mỏm cụt của những thân cây gẫy nát. Trên những ngọn đồi của Béatrice và Eliane, người ta gặp lại dấu vết của trận hỗn chiến, mặt đất nút nẻ, những vết tàn phá của các quả đạn pháo. Người ta thu nhặt được những mẩu sắt thép, những mẩu tôn bị lớp rỉ ăn mòn như răng cưa, những vỏ đạn đại bác, đạn thường, giống như người ta có thể làm việc đó ở Verdun2, mười lăm năm sau trận chiến. Lớp đất tựa như còn đỏ màu máu đã chẩy và ống kính hiển vi chắc chắn sẽ phát hiện được rằng những bộ phận của cơ thể con người lẫn lộn trong lớp đất ấy, cuối cùng đã hòa làm một trong mối tình hữu nghị của những đối thủ nay đã hòa giải với nhau trong cõi hư vô. Lúc đó người ta hình dung ra cái quang cảnh đúng như trận đánh đang diễn ra, mảnh đất thê thảm, bóng láng dưới màn mưa, lởm chởm những bộ khung của những chiếc máy bay và xe tăng bị phá huỷ, những mảnh cánh quạt và những cụm rào thép gai nhô lên từ lớp bùn, ngổn ngang những bọc hàng còn mắc vào những chiếc dù nằm rải rác có đến hàng chục nghìn chiếc, những tử thi mà không một ai còn có thể chôn cất được nữa và những con người sống sót, nét mặt thất thần. _________________________________ 1. Valmy: một làng trên bờ sông Marne. Năm 1792 các tướng Dumouriez và Kellerman đã đánh thắng quân Phổ. - N.D 2. Verdun: Thủ phủ quận Meuse, từ tháng 2 đến tháng 11/1916 quân Pháp đã đẩy lùi những trận tấn công dữ dội của quân Đức trong Đại chiến Thế giới I. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:24:56 am NHỮNG NGÔI MỘ Trong cái khu rộng lớn tập hợp các di vật này, một nghĩa trang duy nhất của năm trăm chiến binh Việt Minh đã được xây dựng, hơi cách xa con đường, ở dưới chân những ngọn đồi của cứ điểm Eliane cũ, khu đồi còn giữ lại dấu vết của sắt thép và máu lửa. Khu nghĩa trang sừng sững một khối kiến trúc mặt tiền theo kiểu một ngôi chùa, phía trước mặt ngôi chùa đó bốn anh hùng dân tộc nằm yên nghỉ. Năm trăm thi thể xác định được tên tuổi, sau những trận chiến đấu cuối cùng giờ đây yên nghỉ giữa rặng cây nở hoa, trong số mười nghìn tử sĩ của quân đội nhân dân hay sao? Thật là một trò đùa bi thảm. Hai tượng đài, một chiếc được dựng lên ở đồi Béatrice để tuyên dương chiến binh Phan Đình Giót người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai của một lô cốt, mở đường cho một đợt sóng xung phong. Tượng đài thứ hai, đồ sộ hơn, nằm trên đồi Eliane 2 ở trước mặt một thân cây lỗ chỗ những mảnh đạn pháo nhưng vẫn bướng bỉnh mọc ra những cành lá, về mùa xuân nở đầy những bông hoa trắng, cánh hoa to tròn. Đó là một cây hoa ban, biểu tượng của tình yêu trong trắng và ngây thơ, ăn sâu trong tấm lòng chung thủy của Tristan và Iseut1, như người ta tưởng tượng ở Việt Nam. Đó là tất cả những gì dành cho những người đã chết trong cuộc chém giết rộng lớn này. Những nghĩa địa của quân Pháp trước đây ở đồi Isabelle và đồi Claudine giờ đây bị phủ kín bởi những ruộng ngô và những rừng cây. Từ thi thể của những người lính được vùi lấp gặp đâu vùi đấy, trong các đường hào, bị đạn pháo nghiền nát cùng với lớp đất, được chôn vùi dưới dòng nước hay được tìm thấy sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, chỉ còn lại một lăng tẩm ngang tầm với trận thắng hay là mối thảm họa: đó là khu lòng chảo Điện Biên Phủ được nhào trộn thịt người, những mẩu thịt nhặt ra được trên những đỉnh núi bao bọc lấy khu lòng chảo như những bức thành luỹ. Ở khắp nơi, tôi hỏi đâu là những nấm mồ của những người lính lê dương, người ta không trả lời tôi. Để dành cho những người này tôi đã mang từ nước Pháp tới một bông hoa hồng đã bị héo khô qua chặng đường dài. Tôi bóp nát bông hồng ấy bằng đầu ngón tay lúc tôi đứng cạnh số phụ nữ đang quạt thóc. Bằng những động tác của những tiên nữ nhẩy múa và bằng những cú quạt mạnh, họ quạt sạch rơm rạ ra khỏi hạt thóc vừa mới gặt về. Và tôi đã tung cao những mảnh vụn của bông hoa hồng, coi như gieo những mầm giống lên trời, xuống cánh đồng và gửi vào hồi ức về hai nghìn binh sĩ, về hai viên đại tá, và hàng trăm sĩ quan của đạo quân viễn chinh đã trở thành cát bụi trong màn bụi cát lúc này. Vào cuối kỳ lưu trú của tôi, người ta báo với tôi rằng các vị đại diện chính quyền sắp tổ chức một buổi tiếp khách để chia tay với tôi trước ngày tôi lên đường, tôi đã yêu cầu người phiên dịch nói với viên đại úy cùng đi với tôi rằng tôi thấy bất tiện nếu tham dự bữa tiệc đó bởi lẽ tôi cho là tổ quốc của tôi đã bị lăng mạ khi mà kỷ niệm về những người con của tổ quốc tôi đã chết nay đã bị xoá hết. Tôi nói thêm rằng, lúc này dù chưa biết được phản ứng của mọi người ở đất nước chúng tôi nơi không thiếu những nghĩa trang của các kẻ thù trước kia. sẽ tới mức nào khi nhận được tin này, bản thân tôi, với tư cách một cựu sĩ quan Pháp, tôi cũng không thể tha thứ cho cử chỉ nhục mạ này đối với quân đội của tôi. Tôi còn nói thêm là việc này tuyệt nhiên không mảy may làm thay đổi những tình cảm mà tôi đã có được đối với dân tộc Việt Nam và quân đội Việt Nam, cũng như đối với những biến cố mà tôi đang nghiên cứu. Tuy nhiên một người chiến thắng, trong một trận chiến như trận chiến Điện Biên Phủ, cần phải tôn trọng kẻ chiến bại. Vinh quanh cho một số người này ư? Có thể. Thiên đường không phải chỉ dành riêng cho những người chiến thắng. Với tất cả những nạn nhân do sự rồ dại của con người, cần phải có lòng khoan dung. Để có thể đáp lại lời mời đã dành cho tôi, tôi yêu cầu ít nhất là phải dựng lên một tấm bia đá để tưởng nhớ những binh sĩ Pháp đã chết ở Điện Biên Phủ. Bản thân chúng ta, thử hỏi chúng ta sẽ làm gì đối với các tử thi Việt Minh nếu như chúng ta là những người thắng trận? Đó là câu hỏi mà ngay lập tức viên đại úy hỏi tôi, và tôi đã không muốn trả lời. Người ta sẽ vùi lấp tất cả số tử thi đó trong một cái hố chung rộng lớn và tướng De Castries chắc chắn sẽ không nghĩ tới hạ lệnh có một nghi lễ bồng súng tưởng niệm họ, biểu dương những vinh quang mà họ xứng đáng được tuyên dương. Dù sao, tôi cũng không thể không có phản ứng trước cử chỉ lăng mạ dành cho những người của tôi, không chỉ vì tôi thấy là việc đó không đẹp đẽ mà tôi còn nói rằng đó là việc làm không đúng đắn bởi lẽ một người chiến thắng sẽ càng làm vẻ vang cho chính mình khi tôn vinh kẻ chiến bại. Hai hôm sau, viên chỉ huy trưởng quân sự ở Điện Biên Phủ cùng với tôi tham dự buổi trình chiếu buồn tẻ một bộ phim tuyên truyền. Kết thúc chiếu phim, ông ta muốn nói chuyện với tôi. Tôi tới gặp ông ấy trong phòng họp của nhà khách, ở đó những tách nước chè hâm lại luôn luôn chờ đợi một nghi thức tiếp đón khắc khổ. Viên đại úy dẫn đường cho chúng tôi ở Điện Biên Phủ cùng với viên đại úy đi cùng tôi từ Hà Nội lên cũng có mặt. Do vì đã gần mười giờ đêm và máy nổ phát điện sắp ngừng chạy một ngọn đèn nhỏ được thắp lên đặt trên chiếc bàn dài ở giữa căn phòng. Lần này, chúng tôi đứng nói chuyện với nhau. Viên chỉ huy trưởng quân sự có khuôn mặt buồn bã, lạnh như đá. Nhỏ nhắn, bất động, ông nói bằng một giọng dịu dàng và cân nhắc từng câu chữ. Lời mở đầu, phải ngắt từng đoạn để dịch cho nên kéo dài và trịnh trọng như thói quen của xứ sở này. Ông bắt đầu bằng việc nhắc lại rằng trong một lần gặp gỡ trước đây, tôi đã có nói rằng nếu như những chiến binh Việt Minh có thể vẫn còn giữ mối hận thù đối với những người còn sống, trước đây đã đánh nhau với họ, thì không những họ không được có một chút hận thù nào đối với những người đã chết, mà ngược lại phải biểu lộ lòng thương cảm khi nghĩ rằng cái mục đích đã làm cho số người đó phải chết, theo cách nhìn của chính họ, cũng là phi nghĩa. - Đây không phải là lỗi của chúng tôi, viên chỉ huy nói, nếu như thi thể các binh sĩ Pháp không được thu gom lại và tưởng niệm. Các tù binh Pháp đã phát hiện với chúng tôi rằng các nghĩa địa đã bị đặt mìn, cốt để, nếu như chúng tôi có muốn khai quật các hố chôn để tính đếm số lượng thì chúng tôi sẽ là nạn nhân của trí tò mò của bản thân mình. Vì vậy chúng tôi đã tránh không tìm kiếm các nghĩa địa của lính Pháp và thậm chí không đến gần những chỗ đó. Hoàn toàn bất động hai cánh tay buông thõng không hề có một cử động nào, nhìn chăm chú vào người phiên dịch,người này do xúc động đôi lúc ấp úng và lắp bắp, viên chỉ huy trưởng quân sự phát biểu với một thái độ tự chủ gây ấn tượng, chỉ thỉnh thoảng ngước mắt lên nhìn tôi trong chớp nhoáng, lúc ông ngừng nói để chờ phiên dịch. Cũng như các sĩ quan khác, ông ta nghe được tiếng Pháp đến mức đôi khi sửa câu chữ cho người dịch, nhưng nói thì khó khăn. - Chúng tôi đã thường xuyên biểu thị sự tôn trọng đối với những người chết của các ông, bất kỳ lúc nào có thể, viên chỉ huy trưởng nói tiếp, mặc dù về phía các ông người ta không hề bận tâm giống như chúng tôi. Về phần tôi, tôi nhớ lại là đã xây dựng một phần mộ tưởng niệm những binh sĩ ở chỗ các ông. Lần ấy chúng tôi tấn công một đồn binh và trận đó chúng tôi không thành công, trên đường rút lui, phải thu nhặt các tử sĩ của chúng tôi, đêm hôm sau khi quay trở lại, chúng tôi gặp phải thi thể của họ đã bị gài mìn hoặc đã biến mất không còn dấu vết. Chúng tôi đã nghĩ đến ý tưởng của ông để dựng lên một tấm bia đá để tưởng niệm những binh sĩ Pháp, nhưng mà tấm bia đá hay cây thập tự ấy sẽ ra sao nếu như ở phía dưới không có một xác người nào? Dù sao, chúng tôi cũng sẽ cố gắng làm thoả lòng các ông và chứng tỏ với các ông là chúng tôi không hề cố chấp, không hề lưu giữ niềm cay đắng hay ý muốn trả thù nào. Nói đến đây, ông ngừng lại. Tôi đã lắng nghe ông ấy, tâm trạng rất căng thẳng, nhìn chăm chú qua đôi vai của cả bốn người, có ấn tượng về không khí nghiêm trang của buổi trò chuyện. - Tôi không biết các ông có được những thông tin như vậy từ số tù binh nào, nhưng tôi nghĩ đó là những thông tin sai lầm, tôi trả lời viên chi huy trưởng quân sự. Những sĩ quan có thể cung cấp cho các ông những thông tin đáng tin cậy nhất đó là những thầy thuốc đã ở lại tại chỗ một thời gian sau trận đánh. Tôi không nghĩ là họ có thể nói với các ông như vậy, cũng như việc bộ chỉ huy quân Pháp lúc đó còn có những mối bận tâm khác, không thể nào lại có thể cho áp dụng một kế hoạch như vậy. Dù sao. tôi sẽ quan tâm đến chuyện này. Kể cả nếu như chuyện đó là có thực, bởi lẽ cuộc chiến này ác liệt đến nỗi không thể loại trừ bất cứ điều gì, tôi cũng tha thiết đề nghị các ông bỏ qua mối hận thù mà có thể các ông đã nuôi dưỡng và dựng lên một tượng đài, dù là rất khiêm tốn, dành cho những binh sĩ Pháp đã chết. Chắc chắn, các ông có quyền phán xử cái mục đích mà những con người đó phục vụ là xấu xa, nhưng các ông cũng có nghĩa vụ nghĩ tới những bà mẹ của họ. Đối với một bà mẹ, không có vấn đề mục đích tốt đẹp hay mục đích xấu xa, mà chỉ có vấn đề đứa con trai đã chết. Việc mà tôi yêu cầu các ông làm, đó là nhân danh tất cả các bà mẹ trên thế giới. Sau câu nói cuối cùng của tôi, ngọn đèn điện tối lại rồi tắt ngấm, và những bóng đen của chúng tôi bắt đầu nhẩy nhót trong cảnh tranh tối tranh sáng trước ánh lửa lập loè của chiếc đèn dầu hỏa. Một trong mấy viên đại úy cúi xuống, khơi to ngọn bấc. Lúc đó tôi nhìn thấy khuôn mặt tái nhợt của người phiên dịch khi dịch câu nói cuối cùng của tôi, đôi mắt ông ta trợn tròn, tựa như ông ta hoảng hốt. Viên chỉ huy trưởng quân sự ngẩng mặt lên, và qua hàm răng gần như rít chặt, trả lời bằng một giọng nói mà tôi nghe không thật rõ, đủ hiểu giọng nói rất nhỏ: - Ông yêu cầu việc đó với chúng tôi nhân danh tất cả các bà mẹ trên thế giới. Lẽ ra ông cũng phải, đôi lúc, nghĩ tới những bà mẹ của Việt Nam. Như vậy họ sẽ bớt đau khổ hơn. Nhưng mà gợi ý của ông sẽ được nghiên cứu; tướng Giáp sẽ được báo cáo về gợi ý này và tôi hi vọng là quyết định của tướng Giáp sẽ phù hợp với nguyện vọng của ông. Điều đó sẽ chứng minh là chúng tôi biết chia sẻ những nỗi đau khổ mà chính phủ của các ông đã bắt nhân dân Pháp phải gánh chịu và rằng chúng tôi chỉ mong muốn có được tình hữu nghị với nhân dân Pháp. Tôi chìa tay ra với ông ấy và chúng tôi chia tay nhau. Theo sau có viên đại úy của mình, viên chỉ huy trưởng quân sự bước xuống đoạn cầu thang nối từ nhà khách ra đường cái Những bóng đen lờ mờ, hòa lẫn vào màn đêm trời đầy sao và trong một lúc lâu, tôi nhìn thấy mảnh mầu sáng của bộ trang phục của họ bằng vải thô trườn xuống thung lũng và dần dần biến mất. Viên đại úy thứ hai và người phiên dịch cũng chia tay với tôi, để lại cho tôi ngọn đèn nhỏ, dưới vầng sáng của ngọn đèn đó, tôi ghi chép một vài dòng trước khi chui vào trong chiếc màn mắc sẵn trên giường ngủ. Tôi thấy hình như lớp đất hẳn phải bớt đè nặng lên những người chết của Điện Biên Phủ, cũng như bầu trời trên đầu tôi thấy thông thoáng hơn. Vài ngày sau, tôi thấy không cần thiết phải nói chuyện đó với tướng Giáp. Chính ông là người nói với tôi trước: - Về vấn đề liên quan đến những người Pháp chết ở Điện Biên Phủ, sẽ được giải quyết như nguyện vọng của ông. Số tử thi nếu như chúng tôi gặp được, sẽ được thu gom và một tượng đài có thể được xây dựng để tưởng niệm họ. Bác sĩ Grauwin, mà tôi gặp lại khi đi qua Nôngpênh, khẳng định với tôi rằng những nghĩa địa có gài mìn ở tập đoàn cứ điểm chỉ là một câu chuyện truyền thuyết. Tôi sẵn sàng tin vào lời của bác sĩ. Vì Điện Biên Phủ. ______________________________________ 1. Hai nhân vật của chuyện truyền thuyết thời Trung Cổ. Là hình tượng của tình yêu say đắm: vĩnh cửu, không có gì chia rẽ nổi. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:30:08 am VIÊN TƯỚNG BẠI TRẬN Nỗi xấu hổ, người ta cảm thấy không phải là ở trên các ngọn đồi mà là ở dưới dải thung lũng. Trên mảng lan can bằng sắt của cây cầu, do đội công binh Pháp bắc qua con sông, một người hành hương đã viết bằng phấn trắng hai câu thơ của thi sĩ Tố Hữu, người đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến của đất nước ông. Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Hoa ban lại trắng, vườn cam lại vàng. "Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam1, mùa xuân lại nở rộ khắp nơi, những cây cam trĩu nặng hoa...". Những vườn rau mọc lên trên hai bờ sông đã thấm đẫm biết bao là máu, bên cạnh dòng nước xám nhạt lóng lánh những tia phản xạ màu xanh, nơi hàng chục nghìn con người đã tắm rửa và uống thứ nước ấy để đỡ khát trước cơn gió Lào. Một con đường nhỏ dẫn từ bờ sông tới vị trí sở chỉ huy trung tâm trước đây, ở đó những thanh thép hình vòm xưa kia chống đỡ cấu trúc hầm chỉ huy nay nằm han rỉ. Trên một tấm biển cố định trên một chiếc cọc đứng, người ta có thể đọc được một dòng chữ mà tôi đã nhờ dịch sang tiếng Pháp: “Tại đây, ngày 7 tháng năm 1954, quân đội nhân dân đã bắt sống tướng bại trận De Castries cùng toàn thể bộ tham mưu của ông ta”. Tại sao lại thêm vào cái từ “bại trận"? Nếu như chiếc ghế bành làm việc của De Castries được trưng bầy ở Hà Nội với hai tay vịn mầu xanh đã lỗ chỗ thủng vì độ ẩm thì người ta đã để lại ở Bảo tàng Điện Biên Phủ chiếc bàn vuông bằng sắt của ông ấy, một trong số các đài thông tin và chiếc máy chữ có ru lô lớn, đã từng đánh những bản mệnh lệnh và những bảng thống kê quân số. Hơn bất cứ nơi nào, đứng ở đây người ta cảm thấy bị đè bẹp bởi cái đám đông những con người, thân hình nhỏ nhắn nhưng lòng dũng cảm thì to lớn, đã từng đẩy những khẩu pháo lên những đỉnh núi cao nhất, từng bắt rơi những chiếc máy bay và đè bẹp các tiểu đoàn của chúng ta. Gần đấy, nằm chỏng chơ những chiếc xe tăng lớp vỏ tôn lỗ chỗ vết thủng, những vòng bánh xích ngập sâu xuống đất tới một nửa, những tháp pháo vẫn còn quay tròn trên hệ thống điều khiển của chúng mang những vết sẹo sâu của những phát đạn đã xuyên thủng và thiêu cháy vỏ thép như thiêu cháy một tảng thịt. Trên một trong số xe tăng đó còn đọc được một cái tên "Ettlingen ". Những con ong vò vẽ to tướng làm tổ trong đoạn đầu nòng những khẩu pháo 75 của nó. Những chiếc xe tăng ấy giống như những chiến hạm bị đánh đắm trên một bãi biển đầy những phế tích, những quả đạn pháo nằm rải rác, những chiếc xe tải gẫy nát, những chiếc cánh quạt máy bay nhô ra từ lòng đất như những thanh kiếm, và những khẩu pháo bị phá hủy nằm giữa những đống vỏ đạn cao ngất. Là người bại trận đơn độc và câm lặng đi giữa những người chiến thắng ân cần, tôi đã đi suốt bãi chiến trường như vậy, tôi đã ghi chép, đã ngồi trên miệng chiếc hố sâu nay đã gần bị lấp đầy, nơi De Castries đã chơi bài bridge cùng với các sĩ quan cấp phó để đánh lừa những giây phút chờ đợi dài dằng dặc trước lúc các trận tấn công nổ ra. Thảm thực vật dày đã phủ kín các đường hào; dây thép gai và những quả mìn đã không cho phép tôi tới được khu bệnh viện, nơi mà Grauwin cùng các nhà giải phẫu của anh đã mở rộng các khoang bụng, băng bó các đoạn xương gẫy và cưa cắt những cẳng chân trong suốt hai tháng trời; cũng không tới được khu nhà xác nơi mà hàng trăm xác chết đã chờ đợi để được chuyển tới chiếc hố lộ thiên do xe ủi đào. Đối với tôi, mọi chuyện đều là đau buồn. Đối với các bạn đồng hành của tôi, đó là chiến thắng, ánh nắng đè nặng lên vùng gáy của tôi, họ không cảm thấy như vậy và họ hít thở mộl cách thích thú hương vị ngọt ngào của mùa gặt, hương vị ấy lại làm cho tôi thấy nôn nao. Lỗi tại ai, trận thất bại này? LỖI TẠI AI ? Trước hết, xét đến những phẩm chất của những con người từng đối mặt với chúng ta. Những con mối hung dữ, những người học trò tốt, và những quân nhân hăng hái ư? Có thể. Những viên tướng trong quân đội của họ, không có gì phân biệt những viên tướng ấy với những người lính thường, nếu không phải là tuổi tác và mầu sắc ngôi sao mà họ đính trên ve áo. Bộ quân phục bằng vải của họ được cắt cùng một thứ vải khốn khổ, họ đi những đôi giầy thô kệch như nhau, chiếc mũ cứng bằng lie không phân biệt gì người này với người khác và các viên đại tá cũng hành quân bộ như đám lính trơn. Người ta sống bằng thứ gạo mà người ta mang vác đi theo, bằng những thứ củ mà người ta nhổ được trong rừng, những con cá mà người ta câu lấy và uống nước sông suối. Không có những nữ thư ký xinh đẹp, không có những khẩu phần ăn đặc biệt, không có xe ô tô cũng như chẳng có những lá cờ hiệu bay phần phật trước gió, không có những bản dạo đầu của những bản nhạc và những bài noubas2, không có những dải băng vải bịt trên trán, nhưng mà lạy trời, đó là những con người chiến thắng! Tôi tự cho phép mình nói với những vị chỉ huy lớn của các đạo quân chịu trách nhiệm bảo vệ phương Tây rằng: “Nếu như một ngày nào đó, các ngài phải chiến đấu với họ để bảo vệ mình thì xin đừng tính đến những nguyên tắc chiến lược và những quả tên lửa của các ngài nữa, cũng như Navarre đã quá trông cậy vào pháo binh của ông ta. Cái ngày những quả bom nguyên tử của Trung Quốc mà các ngài chưa từng thấy được đưa vào vị trí sẽ mạnh hơn và được điều khiển chính xác hơn những quả bom của các ngài, các ngài sẽ bị bất ngờ". Chúng ta cũng vậy, than ôi! Những chiến binh gầy gò ấy, những người thấy rung động với những bông hoa trước khi đi ra trận xông vào chỗ chết, điều đó làm cho tôi thấy ớn lạnh. Tiếp đến, xem xét sự kém cỏi của các vị chỉ huy lớn của chúng ta, những người đã muốn lặp lại bài học dang dở ở Nà Sản với một khoảng cách xa gấp đôi từ điểm nóng đến các căn cứ của họ. Xét về đầu óc đơn giản của họ đã khiến cho họ coi đối phương là một kẻ ngu ngốc, xét về lòng ghen tị đã chia rẽ họ, về sự yếu kém của một quân đội, ở đó vấn đề thâm niên luôn luôn quyết định ai là những người chỉ huy. Xét đến sự tự mãn của họ, đến việc họ hoàn toàn không hiểu được đối phương, về sự đánh giá quá ư chủ quan về bộ đội cùng những phương tiện của chính họ cái đó được gọi là thói giương giương tự đắc. Ôi, những viên tướng của nền cộng hòa đã ngã gục trước đối phương khi mới hai mươi chín tuổi đời! Ôi cái đám tướng lĩnh cao cấp gồm những ông già có đôi má nhăn nheo, ngay từ sáng sớm đã nhổ vặt vì cơn sổ mũi, và đứng dậy một cách vất vả sau những bữa ăn trưa phè phỡn cùng với các viên cao ủy. Được chỉ huy ở Đông Dương, có nghĩa là được sở hữu những biệt thự xa hoa, những chiếc xe ôtô, những người đàn bà, được thu lợi lộc và tính toán. Chiến tranh kéo theo sau nó cái sân khấu của những văn phòng, những mái lều dã chiến, những chiếc tủ lạnh, máy điều hòa không khí. những cơ quan tham mưu và những cơ cấu cho phép các cơ quan tham mưu ấy có thể di động, được ngồi, được ăn uống và ngủ nghê thoải mái. Thử hỏi có bao nhiêu các cán bộ chỉ huy sư đoàn, lữ đoàn, và trung đoàn đã biết chịu đựng gian khổ cùng với binh sĩ của họ, biết cùng sống cuộc sống của họ, biết đi bộ, lai vô ảnh khứ vô hình, lặng lẽ và đáng sợ giống như đối phương đang vây xung quanh họ? Có bao nhiêu tiểu đoàn trưởng quân lê dương đi chiến đấu đã lôi theo sau mình một lao công vác một thùng rượu vang để uống cho đến căng bụng? Bất chấp nhiều tấn bom ném xuống các tuyến đường giao thông, con đường cho phép quân đội nhân dân tiếp nhận vũ khí đạn dược đã không bao giờ bị cắt đứt và đây không phải là sự chi viện của Trung Quốc đã đánh bại tướng Navarre mà là những chiếc xe đạp peugeot thồ nặng từ hai đến ba trăm ki lô, được điều khiển bởi những con người ăn không đủ no và nằm ngủ trên những mảnh nilông rải trên nền đất. Tướng Navarre không phải là bị đánh bại bởi các phương tiện mà là bởi trí thông minh và ý chí quyết thắng của đối phương. Thật là sự ngây thơ đáng sợ của các vị chỉ huy lớn! Làm thế nào ông Navarre lại có thể quên được rằng chính ông ta là người ngày 3 tháng mười hai đã quyết định tham chiến ở Điện Biên Phủ trước sự ngạc nhiên của mọi người. Làm thế nào ông ta có thể đổ lỗi mối thảm họa ấy là do một hành động bất ngờ của tướng Giáp, người đã mở trận tấn công của mình sớm hơn dự kiến tám tháng? Nào có ai đã bắt buộc Navarre phải sử dụng giả thuyết rằng đối phương không hề thay đổi phương pháp và phương tiện tác chiến để làm căn cứ cho những lập luận của mình? Và rằng tướng Giáp sẽ không thể liều lĩnh đẩy lùi những kế hoạch của một sĩ quan cấp tướng đã tốt nghiệp từ Học viện Quân sự cao cấp? Nào có ai đã bắt buộc Navarre phải chui rúc vào khu tập đoàn cứ điểm này, ở đó chính những gian nhà tiêu cũng không được che chắn? Thêm nữa, ai là người đã có thể làm cho ông ta tưởng đâu có khả năng ngăn cản các sư đoàn của đối phương tràn sang nước Lào trong khi chỉ một sư đoàn duy nhất trong số đó đã quét sạch những gì mà ông bố trí chốt chặn trên con đường dẫn tới Luang Prabang? Người ta hiểu rằng Navarre đã không kết tội mình vì đã có những đánh giá sai lầm. Những sai lầm đó quá rõ ràng cho nên cũng không cần thiết để đòi hỏi Navarre phải thú tội một cách công khai: không phải là thông báo về Hội nghị Genève đã làm cho tướng Giáp quyết định tấn công Điện Biên Phủ mà là cái mệnh lệnh tổng động viên được ông ấy tung ra ngày 6 tháng mười hai 1953 đã chứng minh tướng Giáp có quyết định tấn công Điện Biên Phủ từ trước đó. Đổ lỗi rằng những hậu quả của một thảm họa tuỳ thuộc vào cách thức mà nước Pháp sẽ hứng chịu lấy thảm họa ấy là việc quá dễ dàng. Navarre đúng là người duy nhất cùng với đại tá Berteil, cố vấn chiến lược của ông, đã mù quáng. Không một ai ôm lấy những nguy cơ như vậy mà trong kế hoạch của chính ông, tự ông đã cam đoan là sẽ né tránh. Không một ai đã áp đặt cho ông việc bắt buộc phải bảo vệ nước Lào. Mọi người đã cảnh báo ông về trạng thái xộc xệch, lỏng lẻo của đạo quân viễn chinh bao gồm những binh sĩ thuộc thành phần mười bẩy dân tộc, cơ cấu đó đã huỷ hoại tính thống nhất của nó. Liệu ông có thể làm cho ai tin rằng một đòn rất mạnh vẫn còn có thể giáng cho Việt Minh khi mà cuộc hành binh Atlante đã phung phí lực lượng dự bị trong tay ông, và rằng Điện Biên Phủ thất thủ trước những con mắt kinh hoàng của phương Tây? Liệu có ai còn có thể gửi gắm lòng tin vào thái độ lạc quan của ông và cung cấp cho ông những phương tiện mà ông yêu cầu để đẩy mạnh một cuộc chiến tranh mà ông đã không biết cách điều hành? Về tất cả những vấn đề đó, Navarre đã không ý thức được hay giả bộ không nhận thức được. Đối với Navarre, một tiểu đoàn bao giờ cũng có giá trị là một tiểu đoàn. Ông đã chơi ván cờ với những ý tưởng đúng và những quân cờ sai. Dựa vào những nguyên tắc hợp lí, nhưng ông chỉ toàn phạm phải sai lầm. Muốn tiến hành một trận đánh mở, ông đã để cho mình bị vây chặt; từ chối việc tham chiến với đại bộ phận các lực lượng đối phương, ông lại đã khiêu khích khối lực lượng đó và không hiểu rằng bằng một lần gieo súc sắc ông đã mạo hiểm số phận của toàn bộ cuộc chiến tranh. Là con người của phòng kín và những cơ quan mật vụ, ông luôn luôn ngờ vực những thông tin mà ông có được; đứng trước thất bại của mình, ông đã phủ nhận tầm quan trọng của thất bại đó, và đã gán ghép trận thua đó với những nguyên nhân khách quan chứ không phải là với những sai lầm của mình; cuối cùng không có khả năng dắt dẫn những con người, ông đã sử dụng kém cỏi những con người mà ông có trong tay. Nhưng mà ai là người đã chỉ định ông, chọn trong số tất cả những sĩ quan cấp tướng? Một vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng và một tổng thống nước cộng hòa. Ai là người đã không bao giờ thừa nhận ông? Một đại lá không quân và cấp dưới trực tiếp của ông, con bò tót Cogny bốn móng gót giận dữ cào đất trên dải đồng bằng của nó. Trong các cơ quan chính phủ, không một ai dám làm việc đó. Trong nội bộ đạo quân viễn chinh, không một ai nói sự thật với ai cả. Navarre đã mắng nhiếc Cogny, Cogny đã trả thù Navarre, Castries đã nói dối các nhà báo, ngài Dejean nói dối các bộ trưởng, các nghị sĩ quốc hội, và chủ tịch hội đồng bộ trưởng của họ. Máu đã chảy và nhân dân Pháp đã im tiếng. Ở Azincourt3 vào năm 1415, việc lây nhiễm thói tự đắc cũng như vậy: người ta sắp tiêu diệt quân Anh nếu như chúng dám xuất hiện, người ta dự định gửi cho chúng những con gà mái để nuôi sống chúng và những con ngựa để chúng chiến đấu. Vào thời điểm của sự thật, xác chết của đội kị binh Pháp vốn đã từ chối đóng vai trò những con người chuyên nghiệp, chất đống từng chỗ cao tới sáu pieds4. Ít nhất thì ở thời điểm đó quân đội Pháp có một lời bào chữa: nhà vua của họ bị điên. Năm 1954, Grauwin, sau khi ở trại tù binh trở về được Navarre hỏi chuyện và đột nhiên trước mặt Grauwin, Navarre đã giận dữ hét to: "Có lẽ tôi đã bị tất cả mọi người phản bội!" Cogny, ngược lại, đã khóc. Salan cũng thế, ông là cha đẻ đầu tiên của căn cứ Điện Biên Phủ. ____________________________________ 1. Những tên của các địa danh ở Điện Biên Phủ, đó là những cứ điểm Isabelle và Béatrice. 2. Noubas: Nhạc của binh lính Bắc Phi. - N.D 3. Azincourt: Địa danh phía Bắc nước Pháp, nơi quân Pháp bị quân Anh đánh bại 24/10/1415. 4. pieds: đơn vị đo lường cũ của Pháp, khoảng O,33m. - N.D Tiêu đề: Re: Trận chiến Điện Biên Phủ Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2008, 12:34:26 am NGƯỜI TA XOÁ SẠCH ĐỂ LẠI BẮT ĐẦU
Xóa sạch tất cả những chuyện đó, ai là người không buộc phải làm việc ấy? Người ta đã che giấu các sĩ quan bị bắt làm tù binh trở về, bóp nghẹt những tiếng la hét của họ, những tiếng la hét có thể làm náo động công luận. Người ta đã tỏ ý rằng, sống qua ít ngày với quân Việt, họ đã bị lây nhiễm. Họ bị như thế thật: họ thấy xấu hổ vì mình còn sống sót. Một vài người còn tự hỏi, nếu như họ không phải chịu trách nhiệm về Điện Biên Phủ đó là vì họ đã không chống đỡ thêm một đêm nữa. Nhất là họ đã nhìn thấy người ta giành được một trận thắng như thế nào và họ có thể đòi hỏi những phẩm chất gì ở những người chỉ huy của họ. Bigeard cũng như Bréchignac, cả hai đều không bị một ủy ban điều tra nào thẩm vấn, và nếu có ủy ban này cũng chẳng buộc tội một ai. Những con sư tử bị những con lừa dắt mũi ư? Để tỏ ra tôn kính, cần phải nói những con sư tử được dắt dẫn bởi những con sư tử khác mà chiếc bờm đã bị nhậy cắn và hàng ngày thấy cần thiết phải gọi điện thoại cho "bà xã" để làm yên lòng bà ấy. Nếu như rất nhiều trong số các viên tiểu đoàn trưởng ưu tú, những sĩ quan cấp dưới và những viên trung sĩ từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ, giờ đây sống trong trại giam để đến một lúc nào đó đã định, đứng lên chống lại quốc gia thì họ làm việc đó chính là do Điện Biên Phủ, do nỗi ngờ vực họ đã tích tụ lại tại đó về năng lực của các vị chỉ huy và do thái độ thờ ơ của dân tộc đã để mặc cho họ lao mình vào những mục đích mà dân tộc đó không ấp ủ. Một cử chỉ, ít nhất, lẽ ra có thể an ủi họ: đã chẳng có một cử chỉ nào. Khoản tiền cược bị mất, đó chỉ là một lần mua cái không có kết quả. Navarre thậm chí đã không cưỡi máy bay bay lượn trên vùng trời Điện Biên Phủ, ở đó viên sĩ quan tùy tùng của ông chiến đấu trong bãi bùn. Người ta có nói rằng Navarre đã thay đổi rất nhiều sau trận thất bại. Sau mối thảm họa ở Crimée, huân tước Raglan chỉ huy đạo quân viễn chinh đã chết vì đau khổ trong cái mùa đông kinh khủng vì phải chứng kiến sự tan rã của đạo quân của ông. Người ta đã hé lộ cho biết rằng Navarre đã có ý nghĩ tự tử. Tin đồn lan truyền rằng các sĩ quan đã gửi cho ông một khẩu súng ổ quay đựng trong một chiếc hộp nhỏ. Ấy thế mà ông vẫn cứ sống, chấp nhận rằng mình đã vừa gặp phải một thất bại chiến thuật và giành được một thành công chiến lược. Berteil, con người mà linh hồn bị nguyền rủa, nếu như Navarre nghi ngờ điều đó, thì ông ta sẽ có mặt để nhắc cho Navarre nhớ lại câu chuyện. Và câu nói đầu tiên của De Castries sau khi từ trại giam trở về đó là câu hỏi xem liệu bà vợ ông ta có làm quá nhiều chuyện chó má hay không. Ông ta cũng thế, con người đã từng coi quân Việt là những kẻ hèn nhát, ông ta cũng không chết vì đau khổ: truyền thuyết đã đưa ông lên vị trí người anh hùng của Điện Biên Phủ và chắc chắn là trong một thời điểm, ông ta đã trương lá cờ trắng lên trên nóc hầm sở chỉ huy của mình "để cứu lấy các thương binh ". Ở thời đại chúng ta, nỗi nhục về quân sự, miễn là người ta có thể biến đổi nó thành vinh quang nhờ sự trợ giúp của báo chí, thì vẫn có thể nuốt trôi không đến nỗi ngượng ngùng và không hề ngăn cản việc mỗi buổi sáng phi ngựa vào trong khu Rừng Lớn. Và khi một người như viên đại tá chỉ huy trưởng lực lượng pháo binh của tập đoàn cứ điểm đã tự tử bởi vì những đánh giá sai lầm của ông ta là nguyên nhân của một thảm họa thì người ta cất dấu tử thi của ông ta và gán ghép cử chỉ tuyệt vọng của ông ta cho một cơn khủng hoảng thần kinh. Đại tá Piroth có thể là một con người bình thường nhưng ông ta đã có ý nghĩ về danh dự quân nhân đúng đắn hơn là Castries và Navarre. Ông ta biết là mình có trách nhiệm. Quyết định của người chỉ huy không phải là làm khởi động những chiếc máy đánh chữ mà là khởi động những cỗ máy chém giết. Tôi đã tự nhủ điều đó ở Điện Biên Phủ, trong tháng mười hai vừa qua, vài ngày trước khi bị căn bệnh lị a-míp, trong một thời gian đã biến tôi trở thành như một tấm áo rách. Mỗi buổi chiều, khi mà vầng mặt trời lặn mất, trong lúc đó những đống lửa được nhóm lên trong thôn bản nằm giữa khu ruộng lúa, trải dài những dải khói xanh lơ hướng lên các đỉnh núi thì một đội quân những con qụa đen, lúc bình minh hay theo hướng ngược lại, hướng về những cánh đồng ngô của nông trường quốc doanh, giờ đây tung cánh bay xuyên qua khu lòng chảo. Trong một lúc lâu, tiếng quạ kêu văng vẳng trên những ngọn đồi gần ngôi nhà tôi ở và trong những khu rừng nơi lũ quạ lượn tròn trên cao trước khi đỗ xuống. Những con đi sau cùng để bảo vệ cả đàn, đôi khi đỗ xuống vào lúc sẩm tối. Phải chăng chúng luyến tiếc cuộc chém giết đã làm cho chúng béo tốt, chín năm về trước? Liệu chúng có hi vọng, trong khi bay lượn trên dải thung lũng, rằng những con người lại chém giết lẫn nhau một lần nữa? Tiếng kêu và tiếng vỗ cánh của chúng cào xé buổi hoàng hôn và mang tới trong lòng tôi một nỗi buồn sâu sắc. Và dù cho tôi biết rõ không nên nhầm lẫn tiếng quạ kêu với những tiếng thét đòi hỏi sự công bằng, tôi vẫn cứ thoáng thấy hình như linh hồn những người chết đã nhập vào những đàn chim thê thảm ấy? Một thất bại, điều đó phải gánh chịu, ngoại trừ đối với những ai đã bỏ mạng ở đó, và điều này có thể hiểu được. Một dân tộc có quyền, trong mọi trường hợp, đòi hỏi sự giải thích cho thất bại đó. Để từ đó rút ra được niềm vinh quang... Để từ đó đặt cái tên Điện Biên Phủ cho một khóa sĩ quan trường Saint Cyr... Tại sao lại không phải là Azincourt, Waterloo hoặc Sedan? Tại sao không phải là Dunkerque1? Hoặc là cái tên Piroth. Niềm vinh quang duy nhất ở Điện Biên Phủ thuộc về những người chiến thắng và một vài người chiến bại như Bréchignac, Bigeard, Langlais và Botella, Tourret cùng rất nhiều các đại úy, trung úy đã không trông thấy lá cờ trắng mà họ không hề hay biết đã được trương lên phía trên đầu họ. Khi nhắc đến cái tên đáng sợ Điện Biên Phủ, chính tướng Navarre và ngài Pléven là những người mà người ta nghĩ đến. Không có điều gì để có thể tự hào. GIEO MẦM CHO VĨNH CỬU Để trốn chạy khỏi vùng Viễn Đông, có những chiếc Boeing của Hãng hàng không Pháp. Qua bốn chặng dừng, không ra khỏi màn đêm đang bao phủ trái đất, người ta vượt qua những khoảng bóng tối đang nuốt chửng lấy phần lục địa, ở đó những con người lao động chỉ để không bị chết đói và giành giật từ lòng đất một vài hạt gạo. Rạng sáng, người ta bay tới rìa ngoài châu Âu, nơi mà những con người khác có thể uống thứ nước sạch không bị nôn mửa, ăn những thức ăn mà họ ưa thích và suy nghĩ về không gian vũ trụ. Ý tưởng tốt đẹp để viết cuốn sách này, đã đưa tôi từ phía Bắc Việt Nam đến thủ đô nước Lào, ở đó trước cái ý nghĩ là tôi sắp bỏ mạng trong cái vương quốc của bùn lầy này, tôi gắng sức cầm cự và trở về để thoát khỏi lũ a-míp, thoát khỏi Điện Biên Phủ đang cắn xé tâm can tôi. Ở Nôngpênh, bằng một giọng thều thào, vất vả lắm tôi mới kể lại được cho Grauwin nghe về chuyến đi của tôi. Anh nhồi nhét cho tôi các thứ thuốc và những viên nhỏ thuốc phiện và lôi tôi ra sân bay. Tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi khuôn mặt những người tù binh từ các trại giam trở về, đó là những bộ xương người còn động đậy bên trong những bộ quần áo, với những đôi mắt cháy bỏng. Thậm chí chưa hề tham gia chiến đấu, chưa hề biết đến những thử thách mà họ đã trải qua, tôi trở về với một mẩu vải dù của cuộc hành binh Castor và một chiếc túi nhỏ đựng thứ đất sét mầu vàng cùng với một ít mẩu sắt thép. Tôi tưởng như cũng mang theo trong hành lí của mình tấm da lông của một con hổ. Thật là một ảo ảnh ngây thơ! Không hề biết đến việc đó, như vậy là tôi thấy mình đang ngồi trên lưng con hổ đó. Từ trên lưng con hổ đó, tôi không thể nào bước xuống một cách dễ dàng. Nói lên sự thật không bao giờ là một việc dễ dàng. Lại càng khó khăn hơn, khi đó là sự thật mà bằng những nhát xúc nặng trĩu người ta lật xới lên ở trong đó nỗi hổ thẹn và sự ngu xuẩn, lòng dũng cảm và sự hèn nhát. Khi tôi bắt đầu thu thập hồ sơ cho cuốn sách này, tôi thừa biết là tấn bi kịch này đã kết thúc như thế nào, tôi tưởng đâu là mình sẽ kể lại một trận đánh, tôi những hi vọng đó là một chiến thắng hoặc một trận thua trong danh dự nhưng đó lại là một thảm họa, một thảm họa đã được nghiên cứu một cách sáng suốt và nung nấu trong các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh và được tung hô một cách om sòm. Tôi hi vọng ít nhất lúc mở đầu có thể có đôi chút tự do trong việc xử lí các sự kiện và các nhân vật và trong khi không làm biến dạng, sai lệch các sự kiện và nhân vật, sẽ nhào nặn chúng theo ý đồ của mình đúng như hình ảnh mà tôi muốn chúng sẽ như thế hoặc đúng như những gì tôi hình dung ra lúc ban đầu. Mối bận tâm tôn trọng sự thật cùng với thực tế là, dù cho nếu như người ta tưởng là họ đã chết, những diễn viên chủ chốt hiện vẫn còn sống, đã buộc tôi phải giữ nguyên toàn bộ chi tiết các tuyến ngang dọc của tấn bi kịch. Tôi phải tự bằng lòng với những hành động đã được thực hiện và những lời nói đã nói ra, đôi khi những nhân chứng tin cậy hơn đã buộc tôi phải sửa đổi những cảnh tượng hùng vĩ. Chẳng hạn, không như người ta đã nói với tôi lúc đầu, Navarre đã không bay lượn trên bầu trời khu tập đoàn cứ điểm trong đêm 6 rạng ngày 7 tháng năm 1954, cũng như chẳng hề rơi lệ ở trên không trung của tập đoàn cứ điểm đang hấp hối: ông ta đã rời Hà Nội đi Sài Gòn ngày 5 tháng năm lúc 11 giờ 15 phút và đã không hề cho đổi hướng máy bay. Tuy nhiên việc đó cũng không hề làm suy giảm tư thế của cái viên tướng đã khóc cho đội hiệp sĩ của mình bị tiêu diệt. Ngày 26 tháng tám năm 1346, trong buổi tối ở Crécy2, Philippe VI ít nhất cũng đã thét lên tiếng thét đau khổ, nói với những chiến binh bảo vệ lâu đài De Broye: "Mở cửa đi, đây là nhà vua bất hạnh của nước Pháp... ". Đối với Navarre và Điện Biên Phủ, tôi phải bỏ qua chuyện này. Hư cấu dù cho là bất kỳ điều gì, hoặc dựa vào câu chuyện truyền thuyết, đó sẽ là dối trá. Một chiếc mũ nồi dỏ không thể cắt nghĩa được mọi chuyện. Tôi viết ra những gì mà tôi được chứng kiến, dù cho đôi khi tôi thấy đau xé lòng trước những cái đó. Ý định nói ra tất cả chắc chắn cũng đáng khen; để dứt khoát làm được việc đó, cần phải bám theo một cách không thích thú, những gì toát ra từ những con người bắt đầu từ thời điểm mà tựa như những nhân vật ảo, họ lại sống lại trong các tài liệu và dưới ngòi bút có vẻ như sáng tạo ra họ, không phải như người ta muốn họ như thế, mà là đúng như họ đã sống trong sự thật của các sự kiện. Có những phán xét mà người ta không thể đặt lên vai những người đương thời. Điều gì mà tôi không dám nói, bạn đọc sẽ tự hình dung ra. Thực tế những ai trở về một cách vẻ vang từ cuộc phiêu lưu vẫn còn mang trên mình nỗi ân hận đau khổ của một công việc dở dang, của cách làm cẩu thả và của thất bại, thực tế đó cũng thật dễ hiểu. Bị lừa dối, họ đã bị như thế rồi, giống như những ông chồng; lẽ ra họ phải biết là người ta không yêu quí họ, lẽ ra ít nhất họ phải đoán ra được là những kẻ đánh thuê mà họ được quyền chỉ huy không thể nào đủ sức chiến đấu chống lại những con người chiến đấu vì tổ quốc của họ, và rằng nỗi cay đắng sẽ là kết quả của những sự hi sinh vô ích của những người chỉ huy ấy. Vô ích ư? Đã lâu lắm rồi, tôi không còn tin vào câu chữ ấy nữa. Trong trật tự những giá trị của loài người, mọi cái đều góp sức để chứng minh là những cá tính, hoàn toàn giống như các số phận đều tan biến trong các nỗi thất bại, ngang bằng nếu không phải là nhiều hơn trong các chiến thắng. Một con người chỉ là một tổng thể những cách ứng xử và sự thành đạt, dù cho là để truy tặng, luôn luôn ở trong tầm tay khi mà người ta biết đương đầu với số phận đối nghịch. Thắng lợi chỉ ngây ngất nếu như thắng lợi đó xóa bỏ được trạng thái đối địch. Chỉ có những hi sinh vô ích trong các bài diễn văn trên diễn đàn nghị viện. Phần còn lại đó là đau khổ, máu và cái chết, những điều gieo mầm sống của chúng vào trong vĩnh cửu. ______________________________________ 1. Dunkerque: Hải cảng ở phía bắc nước Pháp. Năm 1940 diễn ra trận chiến ác liệt để rút các lực lượng đồng minh ở Bỉ sang nước Anh. - N.D 2. Crécy: Thủ phủ tỉnh Albeville, nơi Philippe VI, vua Pháp bị Edouard III vua Anh đánh bại 1346. (Philippe VI: vua nước Pháp kể từ năm 1328). - N.D Het |