Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 06 Tháng Ba, 2010, 11:35:12 pm



Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Ba, 2010, 11:35:12 pm

Tên sách: Nguyễn Trường Tộ-Con người và di thảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Nhà xuất bản: TP. Hồ Chí Minh
Năm xuất bản: 2002
Số hoá: ptlinh, chuongxedap




LỜI TỰA

600 trang đánh máy, khổ pelure dài, lối 300.000 chữ, trong đó 4/5 là di thảo của một con người sinh cách chúng ta 158 năm và mất cách chúng ta 117 năm1.

Tôi được vinh hạnh - có lẽ - là một trong những độc giả đầu tiên của công trình nghiên cứu lịch sử đồ sộ này của Trương Bá Cần, với tôi, một bè bạn, dù anh và tôi có một khác biệt, trên một nghĩa nào đó, khá lớn: anh là một linh mục, tất nhiên tin ở Chúa, còn tôi, một đảng viên Cộng sản, tất nhiên vô thần. Và, linh mục Trương Bá Cần muốn tôi viết tựa cho quyển sách của anh.

Chắc chắn tôi không viết nổi bài tựa cho một thành quả lao động tốn nhiều năm tháng của một Tiến sĩ sử học mà, hơn một mặt, tôi hiểu thái độ nghiêm túc của anh - không chỉ trong trường hợp đặt Nguyễn Trường Tộ dưới ánh sáng của hiện thực lịch sử.

Vả lại khi tôi đọc bản thảo, vụ “phong thánh” ít nhiều quấy rối tâm tư tôi. Theo ý riêng - hoàn toàn ý riêng của tôi - Nguyễn Trường Tộ đáng được hiển thánh theo cái nghĩa cả thế tục lẫn tôn giáo. Nếu quả con người có linh hồn và linh hồn vẫn tồn tại khi trái tim con người ngừng đập, thì Nguyễn Trường Tộ hiện đang ở cạnh Chúa, với vị trí cao, rất cao.

Tôi biết tiếng anh Trương Bá Cần trước lúc gặp anh - tôi chỉ gặp anh sau ngày 30-4-1975. Trong hoạt động bí luật, tôi đọc anh và khâm phục, nhưng tôi khâm phục các anh Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Nguyễn Hồng Giáo, Phan Khắc Từ, Nguyễn Nghị... Bài nghiên cứu của anh - tôi hoàn toàn thông cảm những hạn chế mà anh bắt buộc phải chấp nhận do điều kiện tồn tại của anh - về sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau 1954
2, gieo trong chúng tôi sự tôn trọng tính dũng cảm của một linh mục giữa muôn trùng hiểm nguy mà chiếc áo chùng thâm và cây thập giá không phải lúc nào cũng giữ vai trò hộ mệnh tuyệt đối.

Bây giờ, tôi đọc Nguyễn Trường Tộ của anh. Điều anh mang lại cho tôi là: Cần đánh giá công bằng cống hiến của mọi con người Việt Nam, dù theo tín ngưỡng nào, trong những bối cảnh vô cùng phức tạp.

Tôi thường nghĩ: thật dễ dàng nói về điều không hay của Giáo hội đạo Thiên Chúa ở Việt Nam suốt mấy trăm năm mà đạo Thiên Chúa “đổ bộ” lên miền đất này, nhưng điều đáng quý là tìm trong mớ hỗn độn ấy - có cái thuộc quy luật quá trình phát triển của thế giới, có cái do kẻ ngoài lợi dụng đạo Chúa, có cái từ trình độ ấu trĩ của vua quan ta… những tia sáng, nhỏ và lớn, để hiểu thêm chiều sâu của phẩm giá dân tộc Việt Nam.

Nếu Nguyễn Trường Tộ là một người lương, các “điều trần” của ông vẫn đặc biệt như Nguyễn Lộ Trạch, nhưng Nguyễn Trường Tộ là một tín đồ đạo Thiên Chúa, các “điều trần” của ông càng tôn vinh ông. Tôi không đi vào khía cạnh “đổi mới tư duy” mà ông kiên trì, tôi chỉ muốn nhấn mạnh những kiến nghị vì lợi ích của đất nước, mà với tư cách một tín đồ đạo Thiên Chúa đang bị Triều đình ngược đãi, dân chúng nghi kỵ, ông không ngần ngại trình bày, hy vọng nhà vua đảo ngược thế cờ, chuyển nguy thành an, chuyển yếu thành mạnh, chuyển lạc hậu thành tiên tiến cho cả quốc gia, bấy giờ, đứng trước khả năng sụp đổ không phải khó thấy.

Nguyễn Trường Tộ là một trí thức - theo nghĩa gần với hiện đại. Phân tích kỹ các “điều trần”, chúng ta dễ dàng phát hiện tính “không tưởng” ở một số chủ trương của Nguyễn Trường Tộ - Ông nóng vội và nhất là ông không biết cơ chế của triều Tự Đức không bao giờ cho phép suy nghĩ của ông trở thành hiện thực bởi chúng đụng đến bức tường lạc hậu kinh khủng về học vấn, về khoa học, sự mụ mẫm trong đầu các quan lại cao cấp, kể cả đấng chí tôn - nhưng ông vẫn không mệt mỏi. Tấm lòng yêu nước thúc đẩy ông. Ta quý Nguyễn Trường Tộ ở chỗ đó.

Nguyễn Trường Tộ được giới học giả Việt Nam nghiên cứu trước anh Trương Bá Cần khá lâu. Do những hạn chế về tư liệu, cũng không loại trừ hạn chế về quan điểm khi đem một tín đồ đạo Thiên Chúa ra phán xét, những công trình chỉ mới tiếp cận Nguyễn Trường Tộ. Anh Trương Bá Cần làm nốt phần dở dang cũ, với thái độ của một nhà khoa học. Anh cố gắng để Nguyễn Trường Tộ tự nói, tự giới thiệu, tự “điều trần”. Sẽ quá sớm nếu chúng ta cho rằng anh Trương Bá Cần đã hoàn thành ý định. Tư liệu tuy dồi dào song không thể coi như đầy đủ. Các nhà khoa học khác - hoặc chính anh Trương Bá Cần - sẽ bổ sung, để chúng ta có một gương mặt Nguyễn Trường Tộ, theo thời gian, hoàn chỉnh hơn.

Nguyễn Trường Tộ, qua Trương Bá Cần, “điều trần”. Thật may cho danh sĩ đất Nghệ Tĩnh, đọc “điều trần” của ông là chúng ta, những người đang sống cuối thế kỷ 20 và không phải là vua Tự Đức cùng các triều thần chẳng chấp nhận cái gì cả ngoài Tứ thư, Ngũ kinh...

Bây giờ, hãy để tác giả phụ - linh mục Trương Bá Cần - và tác giả chính - Nguyễn Trường Tộ - nói với người đọc.


Cuối tháng 6-1988
TRẦN BẠCH ĐẰNG

_________________________________________
1. Lời tựa viết năm 1988.
2. Bài “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” của Linh mục Trương Bá Cần đăng trên ĐỐI DIỆN tháng 9, 10, 11-1970.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:24:07 pm

LỜI NÓI ĐẦU

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ là một nhân vật lịch sử được nói đến tương đối nhiều trên các sách báo trong lấy chục năm gần đây, cụ thể là từ năm 1925 là năm mà Tạp chí NAM PHONG (số tháng 11-1925), lần đầu tiên, công bố một bài viết của Nguyễn Trường Tộ gởi lên Triều đình vua Tự Đức.

Thực ra, trước đó từ lâu, trong nhân dân, nhất là ở quê hương Nghệ Tĩnh, đã có truyền tụng về một ông “TRẠNG TỘ” học rộng, tài cao, chí lớn, trước vận nước nguy nan, đã hết lòng cung hiến nhiều ý kiến mới mẻ, nhiều kế sách cứu cấp. Ngày 14-6-1925, người ta đã lấy tên của Nguyễn Trường Tộ đặt cho lnột trường học ở Vinh...

Tuy nhiên, trước NAM PHONG chưa hề thấy sách báo nào ở Việt Nam nhắc đến tên Nguyễn Trường Tộ. Ngay “ĐẠI NAM THỰC LỤC” là bộ chính sử của nhà Nguyễn cũng chỉ nói đến Nguyễn Trường Tộ ở ba chỗ1 một cách rất sơ sài. Phan Bội Châu, trong “VIỆT NAM QUỐC SỬ KHẢO”, có nhắc đến tên Nguyễn Trường Tộ; nhưng cuốn sách này được viết bằng chữ Hán và xuất bản năm 1908 ở Nhật Bản và năm 1962 mới được dịch ra tiếng Việt ở Hà Nội2. Phải nói là từ năm 1925 trở đi, người ta mới chú ý sưu tầm và tìm hiểu rộng rãi về Nguyễn Trường Tộ.

Trước khi đi vào các phần chính của sách này, có một số điểm xin lần lượt giới thiệu như sau:


SÁCH BÁO VIẾT VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ TỪ NĂM 1925 ĐẾN NĂM 1945

Trong hai năm 1925 và 1926, NAM PHONG chí đăng hai bài về Nguyễn Trường Tộ như để thăm dò: số 100, tháng 11-1925, đăng bài “Nguyễn Trường Tộ điều trần thiên hạ đại thế luận nguyên tập”. Số 102, tháng 1-1926 đăng bài “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử” của Lê Thước. Rồi trong 6 tháng liên tiếp (từ tháng 5 tới tháng 10-1927, tức từ số 117 cho đến 122) NAM PHONG giới thiệu bảy văn bản của Nguyễn Trường Tộ. Nếu cứ theo đà đó chỉ trong vài năm, NAM PHONG sẽ có thể giới thiệu toàn bộ tư liệu về Nguyễn Trường Tộ. Được vậy thì quý báu biết bao cho những người làm công tác nghiên cứu sau này!

Nhưng chủ đích của NAM PHONG, như chúng ta điều biết, là cổ vũ cho việc âu hóa, cho việc hợp tác với Pháp, chấp nhận ảnh hưởng của Pháp, chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. Chính vì thế là tất cả những bài viết của Nguyễn Trường Tộ được đăng tải trong NAM PHONG cho tới tháng 10-1927 đều chỉ gồm những bài nội dung có chiều hướng chủ trương hợp tác với Pháp, canh tân đổi mới theo Tây phương. Các bài viết về Nguyễn Trường Tộ và các bài viết của Nguyễn Trường Tộ trong NAM PHONG cho tới tháng 10-1927 đều bằng chữ Hán, không có gì về Nguyễn Trường Tộ trong phần tiếng Việt (mỗi số NAM PHONG đều gồm một phần chữ Hán và một phần chữ Việt). Rõ ràng là NAM PHONG chỉ muốn nhằm vào tầng lớp nho sĩ còn chống Pháp, chống ảnh hưởng của Pháp.

Nhưng Nguyễn Trường Tộ, trong các bài viết của mình, chủ trương hòa hoãn với Pháp, chủ trương cải cách theo Tây phương là để làm cho dân giàu nước mạnh, rồi tìm cách thoát khỏi vòng kềm tỏa của Pháp. Chính vì thế mà NAM PHONG phải dừng lại ở số 122, tháng 10-1927. Ngay trong nhiều bài của các số trước, NAM PHONG đã tự ý cắt bỏ những đoạn bất lợi cho Pháp. Tháng 1-1933, trong số 180, NAM PHONG còn cho đăng một bài bằng tiếng Việt của Nguyễn Trọng Thuật, nhan đề “Nguyễn Trường Tộ trên lịch sử Việt Nam”. Đó là bài cuối cùng về Nguyễn Trường Tộ trong NAM PHONG.

Từ năm 1937 - 1938 trở đi, sau khi Mặt trận Bình dân ở Pháp tan rã, những nới rộng về tự do dân chủ ở Đông Dương cũng chấm dứt. Không còn đấu tranh công khai được cho tinh thần dân tộc, cho lòng yêu nước, nhằm giành lại độc lập cho xứ sở, nhiều nhà báo, nhà văn bắt đầu nói đến Nguyễn Trường Tộ như một niềm tự hào của dân tộc, như một tấm gương yêu nước của một con người đã dành cả cuộc đời vì nước vì dân. Và đỉnh cao của thời kỳ này là cuốn sách của ông Từ Ngọc Nguyễn Lân, nhan đề “Nguyễn Trường Tộ” do Viễn Đệ, Huế xuất bản năm 1941 và Mai Lĩnh, Hà Nội tái bản năm 1942. Sách khổ nhỏ, chỉ dày 145 trang. Đây là lần đầu tiên có một cuốn sách, tuy sơ lược nhưng trình bày tương đối đầy đủ, về con người và tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ. Tác giả đã nói rõ ý đồ của mình ngay trong “Mấy lời ngỏ trước” rằng: “Một người có cái kiến thức sâu rộng như tiên sinh, có lòng yêu nước trên hết như tiên sinh, ta có bổn phận phải luôn luôn nhắc nhở đến tên tuổi, để treo một gương sáng giữa các anh em thiếu niên ngày nay, và nhất là để bày trước mặt các bạn du học sinh tấm hoài bão thiết tha của nhà Tây học sớm nhất của đất nước”.

Một điều đáng chú ý nữa của thời kỳ này là Dương Quảng Hàm đã đem Nguyễn Trường Tộ và sự nghiệp của ông vào trong một quyển sách giáo khoa dạy văn dành cho chương trình Trung học Pháp - Việt thời bấy giờ, “VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU”. Tất cả các tác giả thuộc thời kỳ này đều có ít nhiều tham khảo các bài viết của Nguyễn Trường Tộ, ít nữa là những bài đã được đăng tải trên NAM PHONG.
______________________________________________
1. “Đại Nam Thực Lục, bản dịch của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội:
    Tập 31, trang 33: 3 dòng.
    Tập 31, trang 57: 3 dòng.
    Tập 31, trang 59 - 70: 21 dòng.
2. “Việt Nam Quốc sử khảo” bản dịch tiếng Việt của Trương Thâu, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1962: “Những năm cuối thời Tự Đức (...) đã có người xin cử người xuất dương học binh pháp của người Tây Âu (...) Thừa Thiên có Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ; Quảng Ngãi có Nguyễn Đức Thuấn (có lẽ là linh mục Đặng Đức Tuấn?); Nghệ An có Nguyễn Trường Tộ. Họ chính là những người đã giồng cái mầm khai hóa trước tiên” (trang 68-69).



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:29:51 pm

SÁCH BÁO VIẾT VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
TRONG VÙNG “QUỐC GIA” TỪ 1946 ĐẾN 1975

Tháng 9-1945, Thực dân Pháp trở lại Việt Nam, núp dưới bóng quân đội Anh tới giải giáp quân đội Nhật. Từ đó, một vùng “quốc gia” dần dần được hình thành, bao gồm phần lớn các đô thị trên cả nước và sau Hiệp định Genève (21-7-1954) thu gọn lại ở Nam vĩ tuyến 17.

Trong vùng “quốc gia” này, luôn luôn có sự hiện diện của quân đội Pháp, rồi quân đội Mỹ. Nhưng thực dân Pháp, sau này, không hoàn toàn giống như thực dân Pháp trước Cách mạng tháng 8 (1945) và người Mỹ thì vốn khác với người Pháp vì theo chủ nghĩa thực dân mới. Chính vì vậy mà trong thời kỳ này, chủ trương canh tân để tự lực tự cường nhằm thoát nanh vuốt của ngoại bang, một chủ trương bàng bạc trong tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ, không còn đáng quản ngại. Người ta lại bắt đầu viết về Nguyễn Trường Tộ như một người yêu nước “sáng suốt” nhất của thế kỷ 19. Dĩ nhiên nội dung những bài viết về Nguyễn Trường Tộ trong thời kỳ này cũng như trong thời kỳ trước, phần lớn đều có chủ đích chính trị.

Chúng ta thấy trong suốt thời kỳ dưới chiêu bài của Bảo Đại (1946 - 1954), chỉ có một vài bài báo nói đến Nguyễn Trường Tộ. Nhưng từ khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền (1954 - 1963), Nguyễn Trường Tộ được nói đến nhiều và ông được trình bày như một chí sĩ, đàn anh của “chí sĩ” Ngô Đình Diệm.

Chắc chắc không phải vì mục đích thuần túy văn hóa mà Tạp chí VĂN HÓA Á CHÂU, do cơ quan Văn hóa Á châu (Asia Foundation) tài trợ, đã cho dịch đăng lại những bản văn bằng chữ Hán của Nguyễn Trường Tộ đã đăng trên NAM PHONG trước đây.

Tích cực hơn cả trong thời kỳ này là nhóm nhà văn nhà báo, những người thân tín của chế độ Ngô Đình Diệm, những người chủ trương tờ VĂN ĐÀN và TINH VIỆT văn đoàn.

Tháng 11-1961, nhân kỷ niệm 90 năm ngày mất của Nguyễn Trường Tộ, VĂN ĐÀN có một số đặc biệt về Nguyễn Trường Tộ. Số báo đặc biệt này của VĂN ĐÀN có nêu lên được một vài điểm mới trong việc nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ so với trước đó. Nhưng chủ đích của VĂN ĐÀN cũng là để cổ vũ cho một tinh thần “Quốc gia”. Trong bài “Người yêu nước sáng suốt”, Chủ bút tuần san VĂN ĐÀN đã nói rất rõ rằng: “Nguyễn Trường Tộ quả thực là sự hy sinh hiến dâng cho Tổ quốc! Giữa lúc “Tổ quốc lâm nguy” hiện nay, hơn bao giờ hết, tấm gương yêu nước sáng suốt của ông phải được treo cao cho toàn thể soi chung”.

Hoài bão của VĂN ĐÀN, được nói đến trong số đặc biệt này, là thành lập một “Ủy ban Nguyễn Trường Tộ”.

Ngày 22-11-1971, nhân kỷ niệm 100 năm ngày từ trần của Nguyễn Trường Tộ, TINH VIỆT văn đoàn lại tổ chức “Bách chu niên Nguyễn Trường Tộ”, để ra mặt “Ủy ban quốc gia Nguyễn Trường Tộ”, do một thượng nghị sĩ Công giáo, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của chế độ Sài Gòn lúc bấy giờ, làm chủ tịch, gồm các mục đích sau:

- Dựng tượng hay đài kỷ niệm Nguyễn Trường Tộ tại Sài Gòn và các tỉnh.

- Sưu tầm, phiên dịch, nghiên cứu và phổ biến các văn bản của Nguyễn Trường Tộ cùng các sách báo nói về Nguyễn Trường Tộ.

- Lập giải thưởng đặt tên “Giải thưởng Nguyễn Trường Tộ” để tưởng thưởng cá nhân, đoàn thể, tổ chức, tác phẩm hay công cuộc của người trong nước hay nước ngoài “có thể đóng góp vào cuộc phát triển quốc gia Việt Nam mà Nguyễn tiên sinh đã tiêu biểu một cách phong phú”.

Ít lâu sau, “Ủy ban quốc gia Nguyễn Trường Tộ” được đổi thành “Hội phát triển tinh thần Nguyễn Trường Tộ”.

Ngày 17-12-1972, “Giải thưởng Nguyễn Trường Tộ” đầu tiên được tặng cho Hội Văn hóa Bình dân, gồm một huy chương, một bản tuyên dương và một tấm ngân phiếu 100.000 đồng.

Trong suốt thời kỳ này, chỉ có thêm được một số bản dịch các bài viết của Nguyễn Trường Tộ. Ngoài ra, phần đông các tác giả chỉ lặp lại hoặc suy diễn trên những gì đã được viết về Nguyễn Trường Tộ trước đó mà thôi.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:31:15 pm

 
SÁCH BÁO VIẾT VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
DƯỚI CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ NĂM 1954 CHO ĐẾN NAY

Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trong những năm 1960-1961, trên tạp chí NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ, người ta thấy có chiến dịch đánh giá lại những nhân vật lịch sử. Hồ Quý Ly, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ lần lượt cũng được đưa ra mổ xẻ...

Nói chung ai cũng nhìn nhận Nguyễn Trường Tộ là người có tài và có tâm huyết. Nhưng về các chủ trương và chính sách của ông, thì có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên phần đông các tác giả chỉ dựa trên những gì đã được viết về Nguyễn Trường Tộ để đánh giá Nguyễn Trường Tộ theo những tiêu chuẩn của xã hội mình.

Ngoài những bài viết có tính cách phong trào này, ở miền Bắc đã có một nỗ lực nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ rất nghiêm túc. Các văn bản bằng chữ Hán của Nguyễn Trường Tộ được thu thập, được dịch và được công bố một phần trong cuốn “NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA ÔNG”, do Chương Thâu và Đặng Huy Vận soạn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1961, 242 trang, khổ 13 × 19.

Đây lâ một cuốn sách cung cấp nhiều tư liệu nhất về Nguyễn Trường Tộ từ trước cho tới nay. Tuy nhiên các tài liệu chưa được sắp xếp và đối chiếu, vì thế giá trị sử dụng còn rất hạn chế.

Từ đó cho tới nay, thỉnh thoảng trên các chuyên san của miền Bắc như Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Triết học cũng thấy xuất hiện một vài bài viết về Nguyễn Trường Tộ của những tác giả quen thuộc, nhưng không có gì mới.

Nói tóm lại, qua các sách báo viết về Nguyễn Trường Tộ, từ trước cho tới nay, chúng ta thấy: Nguyễn Trường Tộ là người có trí thông minh, nhìn xa thấy rộng, có tài ứng dụng, nhưng không gặp thời, nên những đề nghị cải cách của ông không được đem ra sử dụng. Do đó, ông đã thực sự không đóng một vai trò nào trong lịch sử, ngoài vai trò làm chứng về tấm lòng của một con người, về vận hội của một đất nước.

Ngày nay, nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ, chúng ta không nhằm mục đích đánh giá Nguyễn Trường Tộ để đề cao hay hạ thấp, mà chỉ tìm hiểu một con người, một thời đại.

Con người của Nguyễn Trường Tộ sống cách xa chúng ta hàng trăm năm, nhưng vẫn là con người Việt Nam với dòng máu anh hùng được truyền từ Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh...

Thời đại của Nguyễn Trường Tộ là thời đại phong kiến, nhưng cũng là một thời đại bao gồm những con người, về quan điểm giai cấp và về kiến thức khoa học, có khác với chúng ta ngày nay, nhưng về bản chất vẫn là những con người Việt Nam với những ưu điểm và nhược điểm như đã ăn sâu vào trong máu thịt.

Đọc thẳng vào các bài viết của Nguyễn Trường Tộ, hiểu được cuộc đời và tư tưởng của ông, chúng ta sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho hiện tại cũng như tương lai.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:34:35 pm

SỰ HÌNH THÀNH CỦA MỘT ƯỚC VỌNC MỚI VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

Những năm 1942-1950, lúc còn học ở Tiểu Chủng viện Xã Đoài (thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay), tôi đã được nghe nói về Nguyễn Trường Tộ. Bởi vì, đối diện với Tiểu Chủng viện Xã Đoài, ở bên kia bờ Kênh Gai, là làng Bùi Chu, quê quán của Nguyễn Trường Tộ. Ở đó, tôi đã có lần được tham quan ngôi nhà tương đối khang trang của gia đình Nguyễn Trường Tộ và ngôi mộ mới xây của ông do Từ Ngọc Nguyễn Lân và một số nhân sĩ ở Nghệ Tĩnh đóng góp; tôi lại được đọc cuốn “NGUYỄN TRƯỜNG TỘ” của Từ Ngọc Nguyễn Lân do Viễn Đệ - Huế xuất bản năm 1941. Đó là cuốn sách được coi như đầy đủ nhất về Nguyễn Trường Tộ lúc bấy giờ.

Năm 1960-1963, khi viết luận án về những cuộc thương thuyết giữa Pháp và triều đình vua Tự Đức trong thời kỳ 1862-1874, tôi đã phải nói về Nguyễn Trường Tộ. Để tìm tư liệu cho đề tài, tôi đã tìm đọc trong các thư viện và các kho lưu trữ ở Paris, nhưng cũng chỉ thấy những quyển sách và những bài báo viết về Nguyễn Trường Tộ trước đó mà thôi.

Kho lưu trữ của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris (Missions Etrangères de Paris = M.E.P) là nơi, do những liên hệ giữa Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier, một thành viên của Hội, có thể có những dấu vết về Nguyễn Trường Tộ. Nhưng thời đó, kho lưu trữ của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris, ở 128 rue du Bac, không mở cửa cho các nhà nghiên cứu; tôi chỉ được đọc qua ông Georges Taboulet, một nhà nghiên cứu về Đông Dương, đã chép được hầu như toàn bộ thư của các thừa sai của Hội ở Việt Nam thời đó và tôi cũng không thấy có tư liệu gì nhiều về Nguyễn Trường Tộ: Trong các thư của mình, Giám mục Gauthier thỉnh thoảng có nói đến Nguyễn Trường Tộ, nhưng không nêu tên, mà chỉ nêu biệt hiệu “Kiến trúc sư”. Sau này, người quản thủ kho lưu trữ của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris, trong một văn thư đề ngày 1-12-1971, trả lời cho một người hỏi về Nguyễn Trường Tộ rằng: “Tôi không thấy có tên này trong kho lưu trữ của Hội. Tôi hoàn toàn biết rõ như vậy bởi vì tôi đã tìm khắp các giấy tờ có liên quan đến ông mà không thấy đâu cả”.1

Tôi đã có nhờ tìm trong thư viện của Triều đình Huế, lúc bấy giờ vừa mới được chuyển về Đà Lạt, nhưng cũng không thấy có văn bản nào của Nguyễn Trường Tộ.

Qua cuốn “NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ” do Đặng Huy Vận và Chương Thâu xuất bản ở Hà Nội năm 1961, tôi biết là ở miền Bắc có nhiều tư liệu mới về Nguyễn Trường Tộ và tôi đã tìm cách liên lạc xin sao chụp, nhưng do tình hình đất nước bị chia cắt lúc bấy giờ, nên đã không có kết quả.

Sau này đất nước được thống nhất, tôi đã xin chụp được tất cả các bản văn bằng chữ Hán của Nguyễn Trường Tộ trong thư viện của Viện Sử học và Viện Hán Nôm ở Hà Nội.

Anh Chương Thâu, là người đã cùng với Kiều Hữu Hỹ và Trần Lê Hữu dịch các bản văn của Nguyễn Trường Tộ, có nhã ý chuyển cho tôi toàn bộ các bản dịch, trong đó phần lớn chưa được xuất bản. Anh Trần Văn Quyền, cán bộ của Viện Hán Nôm, với sự đồng ý của Viện, cũng đã vui lòng giao cho tôi các bản dịch của anh về Nguyễn Trường Tộ.

Với bốn tập của bộ HV 189 và bốn tập của bộ HV 634, hiện đang được lưu giữ tại thư viện Viện Sử học ở Hà Nội, chúng ta có gần như toàn bộ các văn bản của Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta có thể có được. Dĩ nhiên đây chỉ là những bản sao chép lại. Bản gốc, gồm các văn bản chính thức được gởi cho Triều đình Huế và những bản thảo, bản sao được giữ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ, theo ông Đào Duy Anh, thì đã bị chính ông làm thất lạc, không biết là có ai đó còn giữ được hay đã trở thành bùn đất2.

Sau khi nhận thấy là, trước mắt, không thể chờ đợi thêm ở một ngnồn tư liệu nào nữa, chúng tôi xin sơ khởi giới thiệu “Con người và Di thảo” của Nguyễn Trường Tộ, với nội dung gồm ba phần như sau:

I. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - CON NGƯỜI

II. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - DI THẢO

III. PHỤ LỤC

Để viết về “Con người của Nguyễn Trường Tộ” tôi đã dựa chủ yếu vào các bài viết của Nguyễn Trường Tộ và cũng đã sử dụng các tư liệu và các bài viết về Nguyễn Trường Tộ đã được đối chiếu và phối kiểm, nhằm khẳng định những gì có thể khẳng định được và những gì chưa khẳng định được thì cũng cố gắng vạch rõ ranh giới của vấn đề đang được đặt ra.

Để hoàn thiện các bản dịch, “Di thảo của Nguyễn Trường Tộ”, Tiến sĩ Lý Kim Hoa, cộng tác viên của Phòng tư liệu Tuần báo Công giáo và Dân tộc, đã đối chiếu các bản chép tay hiện có và đã tham khảo tất cả các bản dịch để đề nghị một bản dịch tiếng Việt, theo chủ qnan, là phù hợp hơn cả.

Những bản văn có liên quan tới Nguyễn Trường Tộ mà không phải là của Nguyễn Trường Tộ, được xếp vào phần “Phụ lục”.
 
Cuốn sách này muốn được xem như một bước phát triển mới trong việc nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ. Rất mong sự đóng góp và tiếp tục của các nhà nghiên cứu.
 
TRƯƠNG BÁ CẦN

_________________________________________
1. Xem C.V.P, Giáo phận Vinh, Nghệ-Tĩnh-Bình, tài liệu đánh máy, trang 259. Trong những năm 1996 và 1999, kho lưu trữ của Hội Truyền giáo Nước ngoài Paris đã được cho tham khảo, tôi đã đọc rất kỹ các thư từ và tài liệu thuộc giai đoạn này nhưng cũng đã không tìm thấy gì hơn.
2. Xin xem bài “Tôi đã mang tội để mất những tài liệu quý về Nguyễn Trường Tộ như thế nào?”. Tuần báo CÔNG GIÁO VÀ DÂN TộC số đề ngày 12-7.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 08:35:20 am

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
con người



Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, trong một gia đình theo Công giáo từ nhiều đời ở làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) và mất ngày 22 tháng 11 năm 1871 tại Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An).

- Về năm sinh của Nguyễn Trường Tộ, thì theo Lê Thước, trong bài Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử, đăng trên NAM PHONG số 102, và hầu hết các tác giả, tiếp sau đó, đều nói: Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, Minh Mạng năm thứ 9. Riêng Nguyễn Trường Cửu con trai của Nguyễn Trường Tộ, trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, không nói năm sinh, nhưng nói: “mất ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức 24... thọ 41 tuổi”. Thực ra Lê Thước, ở cuối bài cũng nói “thọ 41 tuổi”1.

Hiện nay, chúng ta không có đủ tài liệu để xác định một cách chắc chắn về năm sinh của Nguyễn Trường Tộ. Nhưng nếu ông mất năm Tự Đức 24, tức năm 1871 và thọ 41 tuổi, thì năm sinh phải là 1830, chứ không thể 1828. Ngày mất và tuổi thọ của một con người thường được gia đình truyền đạt một cách chuẩn xác.

- Về quê quán của Nguyễn Trường Tộ, cũng có nhiều chỗ khác nhau: Lê Thước2 nói: Làng Bùi Chu (Bùi Chu thôn); Đinh Văn Chấp3 nói: người Bùi Ngõa (Bùi Ngõa nhân); Nguyễn Trường Cửu nói “Ông Tộ là người Đoài Giáp, người ta quen gọi là Xã Đoài”4. Bùi Chu và Bùi Ngõa là hai làng kế cạnh nhau, nay cùng thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên. Còn Đoài Giáp là một địa danh nay không còn thấy ở đâu cả. Tuy nhiên, Hoàng Tá Viêm, trong thư mời Nguyễn Trường Tộ giúp đào Thiết cảng, ngày 19-6-1866, có nói là thư gởi “Nguyễn Trường Tộ ở Đoài Giáp, huyện Hưng Nguyên”. Riêng Xã Đoài, nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, là tên của một đơn vị Công giáo: Xứ và hạt Xã Đoài, và cũng là tên của trụ sở giáo phận Vinh: Nhà chung Xã Đoài.

Như thế Đoài Giáp hay Giáp Đoài là một địa danh của bên đạo hay bên đời nằm phía Tây kênh Sắt, thuộc huyện Hưng Nguyên, xưa kia bao trùm cả họ đạo Bùi Chu, ngày nay không còn nữa. Ở xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, phía Đông kênh Sắt, ngoài họ đạo Xã Đoài còn có một họ đạo nhỏ tên là Giáp Đông. Nguyễn Trường Cửu có thể dựa vào bức thư của Hoàng Tá Viêm (là tài liệu được cất giữ trong gia đình và được Lê Thước trích dẫn) để nói: “Ông Tộ là người Đoài Giáp” và dựa vào thực tế là Nguyễn Trường Tộ đã mất trong căn nhà ở Xã Đoài để cho rằng Đoài Giáp và Xã Đoài là một.
______________________________________
1, 2. Xem Lê Thước “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử”, trong Nam Phong số 102 (Phụ lục II)
3. Đinh Văn Chấp, Phụ lục bị khảo (Phụ lục III).
4. Xem phụ lục I.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 08:38:37 am

I. NHỮNG NĂM HỌC TẬP
(cho tới cuối năm 1860)


Nguyễn Trường Tộ học vỡ lòng về Hán học trong gia đình, với thân sinh là Nguyễn Quốc Thư làm nghề thầy thuốc, sau theo học với tú tài Giai ở Bùi Ngõa, Cống Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở Tân Lộc.

Nguyễn Trường Tộ lúc nhỏ có tiếng là thông minh phi thường: Học tới đâu là nhớ tới đó, ít khi làm bài. Theo Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ của Nguyễn Trường Cửu thì có một lần thi kiểm tra, quan huyện Địa Linh bắt buộc lắm, Nguyễn Trường Tộ mới chịu làm bài. Sau khi thầy cho đề thi, Nguyễn Trường Tộ làm bài và nộp trước tiên: Được chấm ưu và được thầy khen hết lời. Có lẽ vì thế mà được truyền tụng là “Trạng Tộ”1.

Nguyễn Trường Tộ không thích lối học từ chương, mà thích cái học thực tiễn. Cứ xem các đề nghị cải cách về học thuật của Nguyễn Trường Tộ, sau này, cũng đủ thấy. Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ có thuật rằng: “Lần kia, thầy và các học trò đi dạo trên Tú Lò, các học trò thì nhẹ gót khắp mọi nơi, ông Tộ đứng trông xem, rồi hỏi người bạn có đạo (là Cả Thuần, người Tân Lộc) rằng anh ước từ Tú Lò cho đến Thuần Ngư xa nhau mấy tầm, Tú Lò cao mấy trượng, Thuần Ngư cao mấy tầm”2.

Chúng ta không biết chắc là Nguyễn Trường Tộ học trong gia đình cho tới tuổi nào và học với mỗi thầy được mấy năm3. Nhưng chúng ta thấy rõ là ông có một vốn liếng về Hán học rất lớn, không thua các vị khoa bảng của Triều đình Huế lúc bấy giờ. Văn chương, cú pháp cũng như kiến thức về lịch sử và luật lệ Đông phương cũ, qua các bài viết của Nguyễn Trường Tộ gửi lên Triều đình vua Tự Đức, không ai chê vào chỗ nào được. Tuy nhiên Nguyễn Trường Tộ không đậu đạt gì, một phần có lẽ vì ông là người Công giáo nên không được đi thi, một phần có lẽ vì ông không muốn đi theo con đường khoa cử.

Sau khi thôi học, Nguyễn Trường Tộ đã có mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong Nhà chung Xã Đoài4 và được Giám mục người Pháp tên là Gauthier (Ngô Gia Hậu), dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các khoa học thường thức của Tây phương.

Trong một bài viết tháng 5 năm Tự Đức thứ 17 (tức khoảng tháng 6-1864), Nguyễn Trường Tộ nói: “Từ 15 năm nay, tôi đã biết rõ tất phải có mối lo như ngày nay, nên tôi đã ra sức tìm tòi học hỏi trí khôn của mọi người để thêm sự hiểu biết cho mình, chứ không phải chỉ mới một ngày”5. Rồi trong một bài viết ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức 21 (tức 9-3-1867), ông lại nói: “Mấy chục năm nay, tôi bôn tẩu trong thiên hạ, thu thập những tình thế biến thiên xưa nay, đem những điều đã đọc trong sách nghiệm ra việc đời. Đã trao đổi với ai một lời nói, một câu chuyện, thâm tâm tôi cũng có ý muốn thu lấy sự hiểu biết của người làm của mình...”6.

Như thế có nghĩa là Nguyễn Trường Tộ đã bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Tây phương từ những năm 1848-1849 (theo như bài viết tháng 6-1864) và có thể đã đi ra nước ngoài từ những năm 1848-1849 hay chỉ từ 1859-1861.

Ông Đào Duy Anh, một trong những người được tiếp xúc nhiều với các tài liệu đầu tay về Nguyễn Trường Tộ, quả quyết rằng: “Mặc dầu là người Công giáo từ lúc sinh ra, tâm hồn tiên sinh đã bị lay động mạnh bởi tiếng bom nổ ở Đà Nẵng năm 1848 và, từ lúc đó, người thanh niên 20 tuổi (?) ấy quyết từ bỏ lối học cổ truyền để đi theo lối học thực dụng. Tiên sinh đã được Giám mục Gauthier, giáo phận Xã Đoài dạy cho tiếng Pháp, cung cấp cho các bản dịch chữ Hán của các sách Tây phương và cho đi du lịch ở Hong Kong và Singapore”7.

Thực ra vào thời kỳ này, các giáo sĩ người nước ngoài ở Việt Nam thường dùng thuyền buồm để đi lại hoặc cho người qua lại Hong Kong, Singapore, Mã Lai (chủ yếu là Poulo Pinang, nơi có Chủng viện miền Đông Nam Á). Do đó việc Nguyễn Trường Tộ được các giáo sĩ người Pháp, đặc biệt là Giám mục Gauthier (về Xã Đoài nhận nhiệm vụ từ năm 1846), tạo điều kiện cho qua Hong Kong, Singapore, Poulo Pinang... là điều có thể có.

Điều chắc chắn là cuối năm 1858, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân tháp”8 rồi đầu năm 1859, sang Hong Kong...
______________________________________
1. Đinh Văn Chấp, tlđd, nói: “Lúc nhỏ Tộ cũng giỏi về lối học khoa cử, thời bấy giờ có tên là Trạng Tộ (tục danh Thầy Lân)”. Về tên Thầy Lân, một tên gọi khác của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta có thấy nói tới trong các thư của các thừa sai người Pháp thời Nguyễn Trường Tộ. Trong tờ tấu của Cơ mật viện đề ngày 14-5-1867, thấy nói: “Nguyễn Trường Tộ, tức tên Thầy Lân” (Xem phụ lục V).
2. Xem phụ lục I.
3. Lê Thước, tlđd, có nói cụ thể năm nào học thầy nào, nhưng không có cơ sở.
4. Lê Thước, tlđd, có nói là năm 1858, nhưng chỉ là ước đoán, không có cơ sở.
5. Di thảo số 5.
6. Di thảo số 30.
7. Xem Bulletin des Amis du Vieux Hue số 2 tháng 4-6 năm 1944 trang 135 và xem TRI TÂN số 7 ngày 18-7-1941 bài “Nguyễn Trường Tộ học ở đâu”.
8. Ngày 1-9-1858, quân Pháp bắt đầu đánh chiếm cảng Đà Nẵng. Để kiểm soát và ngăn chặn người Công giáo có thể tiếp tay với giặc, Triều đình vua Tự Đức cho bắt giam các giáo sĩ và trùm trưởng, đồng thời ra lệnh “phân tháp” giáo hữu, nghĩa là phân tán người Công giáo và tháp nhập hai ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung. “Phân tháp” là một biện pháp gây nhiều thiệt hại và đau khổ nhất cho đồng bào Công giáo lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 08:40:06 am

Hầu hết các tác giả, kể cả Nguyễn Trường Cửu, đều nói là từ Hong Kong, Giám mục Gauthier đã đem Nguyễn Trường Tộ sang Pháp, sang Roma vào chầu Đức Giáo chủ Pio IX. Nhưng nay thì chúng ta biết rõ rằng trong những năm 1859-1860, Giám mục Gauthier không về Pháp1. Ông Đào Duy Anh nói là “Giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Hong Kong rồi để cho Nguyễn Trường Tộ một mình đi Pháp”2.

Sự thực là với tài liệu hiện có, chúng ta không biết chắc được là trước năm 1861, Nguyễn Trường Tộ có đi sang các nước Tâu Âu để tìm tòi học hỏi hay chỉ quanh quẩn ở các nước Đông Nam Á như Hong Kong, Mã Lai... là những nơi có cơ sở hậu cần lớn của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris...

Có lẽ như ông Đào Duy Anh nói, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi châu Âu những năm 1859-1860, thì cũng do sự gởi gắm của Giám mục Gauthier và chủ yếu là với Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris. Thế nhưng trong thư từ của Giám mục Gauthier viết trong thời kỳ này được lưu trữ tương đối nhiều ở kho lưu trữ của Hội không thấy nói gì tới vấn đề này và cũng không có dấu vết gì về Nguyễn Trường Tộ tại đó. Hơn nữa, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi Pháp thì sớm nhất là giữa năm 18593 mới tới nơi và khó có thể có mặt ở Hong Kong đầu năm 1861 để cùng Giám mục Gauthier trở về Sài Gòn, theo yêu cầu của Đô đốc Charner, viên chỉ huy được giao trách nhiệm gom quân để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài Gòn. Một điều đáng lưu ý nữa là trong các văn bản gởi Triều đình Huế trước năm 1867, tức trước chuyến đi công cán châu Âu với Giám mục Gauthier, Nguyễn Trường Tộ thường nói về nước Pháp và châu Âu một cách rất chung chung, không thấy có kỷ niệm hay nhận xét nào cụ thể. Trái lại, trong các văn bản được viết từ năm 1867, ông nói đến những người cụ thể ông đã gặp hay những nơi cụ thể ông đã tới.

Nói tóm lại là ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Trường Tộ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Tây phương, trước tiên có thể là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp, chủ yếu là Giám mục Gauthier. Nguyễn Trường Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tâu Âu, thì cũng qua các nước Đông Nam Á, nơi đây ông đã được đọc các sách báo của Tây phương, bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và nhất là đọc các sách báo Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc. Theo ông Đào Duy Anh và những người đã tới tham khảo các tài liệu tại nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, thì trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều quyển sách chữ Hán thuộc loại Tân thư. Nhờ đó mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội của Tây phương.

Trong bài Trần tình (7-5-1863), Nguyễn Trường Tộ nói là về việc học, thì không môn nào là không để ý, từ thiên văn, địa lý, luật lịch, binh quyền, tôn giáo, bách nghệ... cho tới thuật số; ông đặc biệt chú ý nghiên cứu về chính trị và ngoại giao4. Qua các văn bản gửi Triều đình Huế từ năm 1861 cho tới 1871, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ có một hiểu biết về tình hình thế giới và các khoa học kỹ thuật của Tây phương tương đối rộng lớn và chuẩn xác. Về chính trị, thì năm 1868, ông đã biết trước là chiến tranh giữa Pháp và Đức chỉ trong mấy năm nữa là thế nào cũng xảy ra và quả đã xảy ra tháng 7-1870. Riêng về cơ khí, thì trong một bài viết về mua và sửa chữa, chế tạo thuyền máy, năm 1865 ông dám nói: “Người Nam biết qua các loại máy tàu, không ai hơn tôi”5. Về kiến trúc xây dựng, trong một bài viết ngày 19 tháng 6 năm 18716, ông nói là kỹ sư Pháp đã phải tham khảo ông và nhà cầm quyền Pháp ở Sài Gòn lúc bấy giờ muốn giao cho ông phụ trách về công chánh cho họ, mà ông không nhận.
______________________________________
1. Trong thư của người quản thủ Kho lưu trữ của M.E.P đề ngày 1-12-1971, có quả quyết là trong những năm 1859-1860, Giám mục Gauthier không về Pháp. (Xem C.V.P, tlđd, trang 259).
2. Đào Duy Anh, Bulletin des Amis du Vieux Hue số tháng 4-6 năm 1944 trang 135.
3. Theo lời khai của một lang y (người thôn Thuận An, tổng Thanh Vân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) tên Trần Vinh, bị tàu Pháp bắt đem đi rồi sau trốn thoát được, kể lại thì ngày 10 tháng 9 (tức 16-10-1858), tàu Pháp (trên đó có Trần Vinh) đến đảo Nhãn Sơn, trước cửa Mành Sơn, để đón “Đức thầy Huy và Cố Lý” (tức Giám mục Gauthier và Linh mục Robert, cũng có tên là Hậu và Thuận) nhưng “hôm qua hai vị đã lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi”. Khi tàu Pháp trở về Trà Sơn, Đà Nẵng, thì thấy thuyền Nhà Chung đã ở đó rồi. (Xem Châu bản Triều Nguyễn CBR 22/47). Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn. Do đó, trước khi đem quân vào Sài Gòn, Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859.
4. Xem di thảo số 3.
5. Xem di thảo số 6.
6. Xem di thảo số 50.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2010, 04:34:29 pm

II. NHỮNG NĂM THÁNG CHỜ ĐỢI
(1861-1865)


Đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Sài Gòn với một hoài bão lớn là đem những hiểu biết thu thập được của mình để giúp đất nước canh tân, tự cường, tự lực ngõ hầu tránh được họa mất nước.

Thực dân Pháp bắt đầu chiếm đóng Sài Gòn từ đầu tháng 2 năm 1859. Nhưng quân đội Pháp bị kẹt với chiến tranh ở Ý, rồi ở Trung Quốc, nên chỉ để lại Sài Gòn một nhóm nhỏ, khoảng 300 - 400 người. Do lực lượng của Pháp mỏng và sức kháng cự của quân lính Triều đình Huế còn tương đối mạnh, nên vùng chiếm đóng của Pháp ở Sài Gòn hết sức thu hẹp, binh lính Pháp hầu như bị bao vây trong các doanh trại.

Đầu tháng 2-1861, sau khi chiến tranh ở Ý và ở Trung Quốc kết thúc, Đô đốc Charner mới được lệnh gom quân ở Trung Quốc đem về Sài Gòn mở rộng vùng chiếm đóng. Với quyết tâm này, Charner đã thuyết phục được một số giáo sĩ Pháp đang lánh nạn ở Hong Hong, trong số đó có Giám mục Gauthier, cùng về Sài Gòn cộng tác với quân đội Pháp.


1. LÀM PHIÊN DỊCH CHO PHÁP

Nguyễn Trường Tộ đã cùng về Sài Gòn theo Giám mục Gauthier nhưng chắc chắn không phải với ý định làm tay sai cho Pháp. Bởi vì với hoài bão lớn là đem hết tâm lực ra giúp nước, làm sao Nguyễn Trường Tộ có thể nghĩ tới việc tiếp tay với giặc được? Trong bài Trần tình (7-5-1863), Nguyễn Trường Tộ phân trần rằng: lúc Pháp bắt đầu khởi hấn (đầu năm 1859), có được mời cộng tác, nhưng ông một mực từ chối; sau khi đại đồn Chí Hòa, tuyến phòng thủ được coi như là kỳ công nhất của quân đội Triều đình Huế, thất thủ (23-24 tháng 2 năm 1861), ông thấy rằng phải tạm hòa, theo đề nghị của Pháp, để dưỡng quân và củng cố lực lượng. Chính vì thế mà Nguyễn Trường Tộ đã nhận làm từ dịch (phiên dịch các tài liệu chữ Hán) cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm. Ông đã kể ra nhiều trường hợp cụ thể mà mình đã làm để cứu nguy tình thế cho người của Triều đình, với tên người và sự việc rõ ràng, mà lúc bấy giờ Triều đình có thể phối kiểm được. Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho Triều đình Huế, giữa năm 1861, qua Nguyễn Bá Nghi, người được Triều đình phái vào mở các cuộc thương thuyết với Pháp, một văn bản mà tác giả gọi là “hòa từ”, nội dung gần giống như bài “Thiên hạ đại thế luận phân hợp”, đề nghị với Triều đình Huế là nên tạm hòa với Pháp để “dưỡng uy súc nhuệ”1. Nhưng trong năm 1861, Triều đình Huế không quyết định được, mặc dầu các điều kiện của Charner còn tương đối nhẹ, chỉ đòi cho các giáo sĩ được tự do giảng đạo; kiều dân Pháp được tự do ra vào buôn bán; nước Pháp có một điểm tựa cho tàu bè qua lại.

Ngày 29-11-1861, Đô đốc Charner bàn giao quyền lài cho Đô đốc Bonard. Bonard mở rộng cuộc chiến: Ngày 16-12-1861, đánh chiếm tỉnh Biên Hòa; ngày 7-1-1862, đánh chiếm Bà Rịa... Trước thái độ hung hãn của Bonard, Nguyễn Trường Tộ không trông mong gì ở hòa cuộc nên xin thôi không làm từ dịch cho Pháp nữa, mặc dầu nhà cầm quyền Pháp dụ dỗ, nài nỉ. Thực sự một người vừa thông chữ Hán, vừa biết tiếng Pháp như Nguyễn Trường Tộ, thời đó là rất hiếm.
_____________________________________
1. Xem di thảo số 1.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2010, 04:42:36 pm

2. NHỮNG VĂN BẢN ĐẦU TIÊN GỞI CHO TRIỀU ĐÌNH HUẾ

Thôi không làm việc cho Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã dồn tâm trí vào việc thảo kế hoạch giúp nước. Cho tới đầu tháng 5 năm 1863, ông đã thảo sẵn xong ba văn bản, làm thành một kế hoạch hoàn chỉnh gởi lên Triều đình Huế là: Tế cấp luận, Giáo môn luận, và Thiên hạ phân hợp đại thế luận.

Bản văn quan trọng hơn cả và Nguyễn Trường Tộ chắc chắn đã dành nhiều thời giờ hơn cả để soạn thảo, nhất định là bài Tế cấp luận. Tế cấp luận, như đầu đề của nó, là bàn về các việc cần làm ngay để canh tân, tự lực, tự cường, phát triển đất nước. Đây là một bản văn mà trong các bài viết sau này Nguyễn Trường Tộ thường nhắc đến như là một tài liệu cơ bản nhất, đầy đủ nhất. Trong bài Lục lợi từ (tháng 5-1864), ông nói: “Tế cấp luận là thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay, đâu có phải chuyện một ngày mà có thể làm hết được”1. Trong một bài viết tháng 8 năm Tự Đức 24, ông lại nói: “Bài Tế cấp luận của tôi, nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết”2. Bản văn này cũng phải là rất dài, bởi vì ngay Tế cấp bát điều dài mấy chục ngàn chữ mà cũng chỉ mới là tóm lược một phần của Tế cấp luận3. Nhưng có điều đáng tiếc là bản văn này, cho tới nay, chưa tìm thấy ở đâu cả và chưa có ai được đọc cả4.

Để có thể phát triển đất nước, cần phải hòa hảo với bên ngoài và hòa hợp ở bên trong.

Về nội trị, Nguyễn Trường Tộ viết Giáo môn luận, dùng lý lẽ của trời đất và vạn vật cũng như những chứng cứ của lịch sử để kêu gọi Triều đình có chính sách bao dung đối với người Công giáo. Sau này, ông còn viết những văn bản đề nghị cải cách hành chính, cải cách học thuật, cải cách phong tục... Nhưng trước mắt, việc bách hại người Công giáo là một sai lầm cần chấm dứt ngay, bởi vì không nên tạo thêm thù trong, đương lúc đang có giặc ngoài.

Đối với giặc ngoài, Triều đình Huế đã ký Hòa ước 5-6-1862, nhưng không muốn thi hành hoặc muốn tìm cách sửa đổi. Nguyễn Trường Tộ không thấy có cách nào hơn là tạm hòa với Pháp, để rảnh tay mà chấn hưng xứ sở. Vì thế, ông đã viết Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Bản văn này, hình như chỉ là bài “Bàn về việc hòa” (hòa từ) gởi Nguyễn Bá Nghi năm 1861 được sửa chữa và bổ sung mà thôi. Bởi vì để thuyết phục triều đình chấp nhận hòa hoãn với Pháp, những lý lẽ đưa ra năm 1861 vẫn còn nguyên giá trị. Tuy nhiên có điều đáng chú ý là vào thời điểm mà bài Thiên hạ phân hợp đại thế luận được viết ra, Triều đình Huế đã ký với Pháp và Tây Ban Nha Hòa ước 5-6-1862, thế mà trong văn bản này không nói gì tới Hòa ước đó cả. Có lẽ là Nguyễn Trường Tộ thừa biết rằng Triều đình Vua Tự Đức đặt bút ký vào bản Hòa ước này chẳng qua chỉ vì bị ép buộc mà thôi. Bằng chứng là sau khi làm lễ trao đổi văn kiện đã được phê chuẩn, tháng 4-1863, liền sau đó Vua Tự Đức đã cử ngay một phái bộ sang Pháp để xin chuộc lại phần đất đã nhượng. Thực ra trong văn bản này, Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh nhiều đến việc người Pháp đã đến là sẽ không đi, việc tạm nhượng cho họ một phần đất là điều không thể tránh.

Sau khi thảo xong ba văn bản quan trọng này, Nguyễn Trường Tộ còn thảo thêm bài Trần tình để phân trần về tâm tư và hoàn cảnh riêng của mình, sợ triều đình nghi ngờ vì mình đã từng đi với các giáo sĩ Pháp và đã làm việc cho người Pháp.

Bài Trần tình viết xong ngày 7-5-1863 và ở cuối bài nói: “Tôi kính dâng ba tập: Thiên hạ phân hợp đại thế luận, Tế cấp luận, Giáo môn luận”. Đinh Văn Chấp, trong Phụ lục bị khảo, có nói là “nhân dịp Phạm Phú Thứ vào Gia Định, Tộ dâng ba bản điều trần...”5. Còn ông Đào Duy Anh lại nói là bản Trần tình và ba bản đính kèm được gởi cho Trần Tiễn Thành, lúc đó là Thượng Thư Bộ Binh và cũng là vị quan lại cao nhất ở Huế.
_______________________________________
1. Xem di thảo số 5.
2. Xem di thảo số 52.
3. Xem Tê cấp bát điều, di thảo số 27.
4. Cho tới nay chưa thấy tác giả nào trích dẫn Tế cấp luận. Riêng ồng Đào Duy Anh trong B.A.V.H, tlđd, trang 136, nói: “tập này không tìm thấy”.
5. Phụ lục III.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2010, 04:45:33 pm

Chúng ta biết là Phạm Phú Thứ đến Sài Gòn vào giữa tháng 3-1863 để thảo luận về việc Bonard và Palanca tới Huế để trao đổi các văn kiện phê chuẩn Hòa ước 5-6-1862 và, sau đó, đã trở lại Sài Gòn ngày 1-6-1863 để cùng với phái bộ Phan Thanh Giản chờ tàu đi Pháp. Vậy có thể là Nguyễn Trường Tộ đã trao các văn bản nói trên cho Phạm Phú Thứ lúc ông này vào Sài Gòn theo phái bộ Phan Thanh Giản, để nhờ Phạm Phú Thứ chuyển cho Trần Tiễn Thành. Sở dĩ như thế có lẽ là vì Nguyễn Trường Tộ đã có quen với Phạm Phú Thứ lúc Phạm Phú Thứ tới Sài Gòn ký Hòa ước 5-6-1862, cũng như lúc Phạm Phú Thứ tới Sài Gòn để bàn bạc về lễ nghi trao đổi các văn kiện của Hòa ước đã được phê chuẩn, chứ Nguyễn Trường Tộ chưa hề biết Trần Tiễn Thành. Trong thời gian Phạm Phú Thứ ở Sài Gòn chờ tàu đi Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã có đi lại với Phạm Phú Thứ và đã nhờ linh mục Croc (cố Hòa) viết thư cho những người quen biết của mình ở Pháp giúp thông tin cho Phạm Phú Thứ1. Hơn nữa đầu bản Thiên hạ đại thế luận (trong Hv 189/1 tờ 1) có ghi: “Bản này được gởi cho thần Phạm Phú Thứ” (Giá tập ký dữ thần Phạm Phú Thứ).

Những văn bản này được gởi đi mà không nhận được hồi âm. Đầu năm 1864, Nguyễn Trường Tộ lại gởi cho Trần Tiễn Thành một văn bản nữa để thuyết phục Triều đình Huế là phải tạm hòa với Pháp và mở rộng bang giao. Văn bản này hiện không tìm thấy ở đâu cả, chúng ta chỉ biết là Nguyễn Trường Tộ nhắc tới văn bản này trong thư gởi cho Phan Thanh Giản tháng 3-18642.

Trong thời gian phái bộ Phan Thanh Giản ở Pháp về Sài Gòn chờ tàu để đi Huế (từ 18 đến 24 tháng 3-1864), Nguyễn Trường Tộ đã có nhiều cuộc tiếp xúc với Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản là phó sứ và bồi sứ, cũng như với chính Phan Thanh Giản là chánh sứ, thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong di thảo số 4, Nguyễn Trường Tộ đã hầu như tóm lược lại các vấn đề được mọi người quan tâm. Sau đó, ông đã triển khai vấn đề một cách rộng rãi hơn trong một văn bản gọi là “Dụ tài tế cấp bẩm từ” hay “Lục lợi từ” (tháng 6-1864).

Theo ông Đào Duy Anh là người sử dụng nhiều tư liệu của gia đình Trần Tiễn Thành, thì “trong mùa đông năm 1865, Nguyễn Trường Tộ lại gởi cho Trần Tiễn Thành ba văn thư và cho Phạm Phú Thứ hai văn thư. Trong các văn thư gởi Thượng thư Bộ Binh, văn thư thứ nhất nói về việc mua vũ khí, văn thư thứ hai nói về việc gởi học sinh ra nước ngoài, và văn thứ ba, văn thư quan trọng hơn cả, lập lại các vấn đề đã được đề cập trong các văn bản của năm 1863, như việc khai thác các tiềm năng của đất nước và việc giao thiệp với các nước châu Âu…”3.

Hai văn bản gởi cho Phạm Phú Thứ, thì hiện nay chúng ta không biết là nội dung như thế nào. Còn ba văn bản gởi cho Trần Tiễn Thành, thì có thể là bài góp ý về việc mua và đóng thuyền máy (Di thảo số 6), bài góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy (Di thảo số 7) và văn bản mà ông Đào Duy Anh nói rất quan trọng, có lẽ là bài Khai hoang từ, tháng 2 năm Tự Đức 18 - 18654.

Như thế là từ đầu năm 1861 cho tới đầu năm 1866, Nguyễn Trường Tộ, từ Sài Gòn, đã gởi cho Triều đình Huế 11 văn bản:

- Bàn về việc hòa (Hòa từ), gởi Nguyễn Bá Nghi thượng bán 1861 (có thể là bài đăng trong NAM PHONG số 100).

- Thiên hạ phân hợp đại thế luận (Bài Hòa từ được sửa chữa lại) Di thảo số 1.

- Tế cấp luận, tháng 3-4 năm 1863 (hiện chưa tìm thấy đâu cả).

- Giáo môn luận, 26-3-1863. Di thảo số 2.

- Trần tình, 7-5-1863. Di thảo số 3.

- Thư gởi Trần Tiễn Thành, đầu năm 1864 (hiện chưa tìm thấy ở đâu cả).

- Kế hoạch duy trì hòa ước mới, tháng 3-1864. Di thảo số 4.

- Dụ tài tế cấp bẩm từ hay Lục lợi từ, tháng 6-1864. Di thảo số 5.

- Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy, cuối 1864. Di thảo số 6.

- Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy. Tháng 2-1865, di thảo số 7.

- Khai hoang từ, tháng 2-1866, di thảo số 8.

Tất cả những văn bản này gởi đi mà không được phúc đáp. Nguyễn Trường Tộ vẫn chờ đợi một cách nhẫn nhục.
_______________________________________
1. Xem di thảo số 51.
2. Xem di thảo số 4.
3. Xem Đào Duy Anh, tlđd.
4. Xem di thảo số 8.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2010, 04:47:56 pm

3. XÂY CẤT TU VIỆN DÒNG THÁNH PHAOLÔ Ở SÀI GÒN

Trong lúc chờ đợi, ở Sài Gòn, sau khi thôi làm phiên dịch cho Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã giúp xây cất tu viện Dòng thánh Phaolô, số 4 Tôn Đức Thắng hiện nay1.

Công cuộc xây dựng được bắt đầu tháng 9-1862 và hoàn tất ngày 18-7-1864.

Theo ký sự của Nữ tu Benjamin, người phụ trách tu viện Thánh Phaolô ở Sài Gòn lúc bấy giờ, cũng như một bức thư của linh mục Le Mée, thừa sai người Pháp viết ngày 10-5-1876, thì công việc xây cất được giao cho “Thầy học” tên là Lân và nhờ các thư từ của Giám mục Gauthier, chúng ta biết chắc chắn rằng: “Thầy học” tên Lân, nói trên đây, chính là Nguyễn Trường Tộ2.

Ký sự của Dòng thánh Phaolô Sài Gòn viết: “Nữ tu phụ trách bàn tính công việc xây cất với Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc, các vị này đồng ý là khi trở về Bắc Kỳ sẽ để Thầy học ở lại điều khiển các công tác. Nhà dòng liền trao đồ án tu viện và nhà nguyện cho Kiến trúc sư trẻ tuổi, nhưng ông hăng hái quá độ, cứ làm theo nghệ thuật của mình chứ không chịu xem túi tiền của chúng tôi: ở nhà nguyện thay vì làm một cái vòm đơn sơ như vẽ trong đồ án, ông lại làm thêm cột; các trang trí, các bức họa đều do ông làm; cái tháp chuông cũng vậy, mặc dầu chúng tôi định hoãn việc làm tháp chuông, vì chi phí đã lên cao khá nhiều.

“Bên tu viện, ông lại trang trí thêm cho đẹp mắt và, dầu nói thế nào, ông cũng không chịu làm một cái kiểu đơn sơ như vẽ trong đồ án.

“Ông là một giáo hữu Bắc kỳ, không kể cái tính kiên quyết theo ý tưởng của mình, ông lại rất thông minh, linh hoạt và vô vị lợi đến mức tuyệt đối, vì ông không nhận một đồng lương nào, chỉ ăn cơm không và tiêu vặt chút đỉnh. Không có ông, chúng tôi không bao giờ có thể xây dựng được nào tu viện, nào nguyện đường, bởi vì thợ đã không quen việc, lại không có ai chỉ huy, đến nỗi chính phủ cũng không xây cất được tòa nhà nào. Chúng tôi sẽ đời đời ghi ơn người chủng sinh (sic) tận tụy ấy, cũng như Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc, những vị đại ân nhân của chúng tôi ở xứ Nam kỳ, sau Chúa quan phòng.

“Nhà nguyện được đổ nền vào tròng 9-1862, mấy tuần sau đến lượt tu viện và nhà mồ côi. Nhờ Thầy học, công tác tiến hành rất mau chóng, đến ngày 18 tháng 7 năm 1864, chúng tôi đã có thể đến ở nhà đó với 150 em mồ côi.


“Ngày 10 tháng 8 tiếp đó, Đức Giám mục Lefebvre chủ tọa lễ làm phép nhà nguyện. Du khách ngược dòng sông đến Sài Gòn, từ đàng xa, đã phải chú ý đến ngọn tháp nhọn với đường nét thanh tú nổi lên trên nhà nguyện của tu viện”3.

Linh mục Le Mée, thừa sai Paris, trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques 1876, nói về công việc của Dòng Thánh Phaolô ở Sài Gòn và việc xây cất cơ sở của dòng như sau:

“Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc kỳ, tên là Lân, với trí thông minh hiếm có. Được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của giám mục mình, nho sĩ Bắc kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Thời đó ở Sài Gòn, chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do Nữ tu Benjamin (Bề trên) cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt Nam. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận; chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu (...).

“Hiện nay, Kiến trúc sư Lân của chúng ta đã từ trần mấy năm nay ở Bắc kỳ, tên của ông sẽ tồn tại mãi mãi ở viện mồ côi này của Sài Gòn và kỷ niệm của ông sẽ mãi mãi kết hợp với kỷ niệm của Giám mục Gauthier và linh mục Croc, là những ân nhân của cơ sở này.

“Ở đây không có gì sánh được với ngọn tháp duyên dáng và vươn cao này, tựa hồ như đem tới tận các tầng mây dấu hiệu cao cả của ơn Cứu rỗi của chúng ta. Đây là điều mà người ta trông thấy trước tiên sau khi rời Vũng Tàu để ngược dòng sông vô tận này...”.


Về công trình xây cất của Nguyễn Trường Tộ ở Sài Gòn, một chứng nhân của thời kỳ đó, trung úy hải quân Richard, trong bài viết về “Sài Gòn và phụ cận đầu năm 1866”, có nói như sau:

“Chúng ta hãy rời đan viện này4 và thích thú đi thăm tu viện xinh xắn của Dòng Thánh Phaolô, với một ngôi nhà nguyện nhỏ, nhưng tuyệt diệu, trên cao là một ngọn tháp duyên dáng nổi bật giữa tất cả vùng này, như báo tin cho chúng ta biết thủ đô của nước Pháp ở Á Đông. Một thánh giá trên chóp đỉnh của công trình này, và bên cạnh là lá cờ của nước Pháp như là bảo trợ cho dấu hiệu linh thiêng này của văn minh. Tu viện giống lối kiến trúc của nước Ý, pha lẫn những trang trí tự tiện của người Việt Nam.

“Nhà nguyện được xây theo kiểu Gô-tíc và được trang trí bằng những bức vẽ với một sự thẩm mỹ đáng nghi ngờ, mà mưa gió và thời gian sẽ xóa nhòa đi? Tất cả là do công của một linh mục (?) Việt Nam, người Bắc Kỳ, là kiến trúc sư bất đắc dĩ, không học hành gì, nhưng đã phác thảo và thực hiện đồ án của công trình này...”
5.

Như thế, cơ sở của Dòng Thánh Phaolô do Nguyễn Trường Tộ xây cất nổi lên giữa Sài Gòn năm 1864 như một công trình kiên cố có tầm cỡ. Ngoại trừ ngôi nhà hai tầng của Hãng hàng hải dân dụng6, ở chỗ Bến Nhà Rồng hiện nay, tất cả, ở Sài Gòn vào thời điểm đó, đều là bằng gỗ, tạm bợ: Dinh Toàn quyền Pháp chỉ được đặt viên đá đầu tiên tháng 3-1888 và nhà thờ Đức Bà chỉ được hoàn tất vào năm 1880.

Công trình xây cất của Nguyễn Trường Tộ, ở số 4 Tôn Đức Thắng hiện nay, trong quá trình lịch sử, nhất là sau trận bom của Đồng Minh năm 1945 làm sập hầu như hoàn toàn ngôi nhà nguyện cổ kính, đã được sửa chữa và trùng tu nhiều lần. Nhưng nhìn từ bên ngoài nếu so sánh giữa bức ảnh chụp năm 1876 trên Missions Catholiques năm 1876 trang 493, với hiện trạng của hôm nay, chúng ta thấy là, tuy có thay đổi, nhưng quy mô cũ vẫn còn y nguyên và công trình xây cất này tương đối đồ sộ, chứng tỏ tài nghệ kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ.
_______________________________________
1. Đường này thời Pháp gọi là Rue de la Citadelle, sau đổi thành Luro; sau năm 1955, đổi là Cường Đề.
2. Giám mục Gauthier, trong các thư gởi về Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris, luôn luôn gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “Kiến trúc sư”.
Thư tháng 8-1866: Tôi đã đến Huế ngày 17-8 cùng với một linh mục bản xứ và một giáo hữu (Kiến trúc sư của tu viện Dòng Thánh Phaolô ở Sài Còn).
Thư 1-1-1870: “Người giáo hữu Việt Nam mà tôi đã đem theo tôi năm 1867 và người ta quen gọi là “Kiến trúc sư” vì ông ta đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật...”.
3. Có thể xem Văn Đàn, 30-11-1961, trang 15.
4. Đan viện Carmel, ở số 33 Tôn Đức Thắng hiện nay, đối diện với Dòng Thánh Phaolô 4 Tôn Đức Thắng.
5. Boudet, Documents pour servir à L’Histoire de Saigon de 1859 à 1865. Saigon 1927 trang 109-110.
6. Messageries Impériales sau đổi thành Messageries Maritimes.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:17:00 pm

4. NHỮNG NGÀY THÊ LƯƠNG

Sau khi xây cất xong cơ sở của Dòng Thánh Phaolô, Nguyễn Trường Tộ tưởng là sẽ có một chuyến đi sang Anh để tham dự một Hội nghị khoa học do một người Anh có tới Sài Gòn tiếp xúc với tiên sinh và mời tiên sinh tham dự Hội nghị. Chuyến đi này coi như đã chắc chắn. Trong một văn thư gửi cho Phan Thanh Giản, cuối tháng 3-1864, Nguyễn Trường Tộ nói: “Hiện nay tôi muốn qua kinh đô nước Anh. Nhân nước Anh có mở đại hội cách trí, họ thường sai người đi khắp các nước, đến các đầu phố phỏng vấn về tình hình người phương Tây giao tế với các nước khác như thế nào (Việc này có tương quan đến đại thế tung hoành, phân hợp của các nước). Người này đến Gia Định, phỏng vấn người Pháp gần đây thế nào, Đại Nam thế nào, nhưng quan Pháp không chịu nói sự thật, y nghe tiếng tôi, tự đến hỏi thăm. Thực tình có bụng muốn gặp nhau nên nhân y muốn mời tôi cùng đi, tôi mừng thầm cho đó là cơ hội tốt khiến tôi có thể đến tận nước Anh, để nói lên những sự thật ngay trong nước Anh, như trong tờ mật bẩm ngày trước tôi đã nói lý do cần đi nước ngoài là vì thế (...). Nếu có việc gì ở nước ngoài, cần dùng đến tôi, thì xin cho biết gấp, tôi xin đợi ở Gia Định, không thì tôi đi trước. Hoặc đi hoặc ở lại, xin theo ý định của đại nhân”1.

Nhưng rồi chuyến đi này không thực hiện được, có lẽ là do ai đó trong đám người Việt Nam giúp việc cho Pháp báo cáo nên người Pháp ngăn cản, không muốn cho Nguyễn Trường Tộ liên lạc với người Anh. Trong văn thư gởi cho Trần Tiễn Thành 19 tháng 3 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ nói: “Tôi cũng định đi xa, một là để thỏa mãn điều nguyện ước trước kia, hai là mong được bình phục sức khỏe để sau này báo đáp ơn trên. Nhưng thời thế còn có điều trở ngại, do người đời còn ghen ghét kẻ có tài mà chặn tay lại...”2.

Ở Sài Gòn, trong thời gian này có lẽ Nguyễn Trường Tộ đã sống những ngày buồn tẻ, vì bệnh hoạn. Trong thư của Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm, ngày 19 tháng 6 năm 1866, mời Nguyễn Trường Tộ giúp đào Thiết Cảng có nói là “Vì chân của người chưa bình thường”, kèm theo một lời chú giải trong ngoặc đơn rằng: Khi ở Sài Gòn tiên sinh té lầu chân bị thương nhẹ3. Trong thư gởi Trần Tiễn Thành 19-3-1866, Nguyễn Trường Tộ nói: “Tôi trước đây bị ốm ở Gia Định, điều dưỡng đã gần hai năm, nay 10 phần đã giảm 5, 6”4.

Ngoài ra, Nguyễn Trường Tộ còn bị bệnh tê thấp, một căn bệnh theo đuổi ông cho tới khi chết và đã hạn chế rất nhiều hoạt động của ông. Trong một văn thư gởi cho Trần Tiễn Thành cuối năm 1864 đầu năm 1865, ở cuối, Nguyễn Trường Tộ có nói: “Nhân vì chân tôi bị tê bại sắp thành kẻ phế nhân, nằm ngửa ra mà viết, tinh thần buồn bã rối loạn, tự biết nói năng không thứ tự”5. Rồi trong một bài viết, ít lâu sau đó, vào khoảng tháng 2-1865, ông lại nói: “Tôi hiện nay bị tê thấp chưa khỏi”.

Trong thời gian từ đầu năm 1861 cho đến đầu năm 1866, Nguyễn Trường Tộ, chủ yếu ở Sài Gòn, không về Nghệ An, ít đi Huế. Chúng ta biết là ngày 9-6-1863, từ Sài Gòn Giám mục Gauthier lên tàu Grenada đi Huế, để trở về giáo phận của mình, cùng với 8 người Việt Nam6. Nhưng chắc chắn trong số 8 người Việt Nam này, không có Nguyễn Trường Tộ, bởi vì vào giữa năm 1863, công việc xây cất của Dòng Thánh Phaolô ở Sài Gòn đang ở cao điểm, không cho phép ông vắng mặt. Hơn nữa, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi theo Giám mục Gauthier, trong chuyến đi này, thì cũng không về Nghệ An được, bởi vì Giám mục Gauthier phải dừng lại Bố Chính, bên kia bờ sông Gianh, cho tới giữa năm 1866 mới về được tới Xã Đoài.

Trong những ngày chờ đợi ở Sài Gòn, ngoài những liên hệ thư từ và tài liệu như đã nói ở trên, Nguyễn Trường Tộ chắc cũng đã tạo được một sự thân tình nào đó với Trần Tiễn Thành là ông quan đầu triều trong giai đoạn này, ở cuối văn thư đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ có nói tới cái thiên hạ thời vụ biểu không chạy: “Nếu tiện xin gởi đến, tôi sẽ đích thân chỉnh lại sẽ tốt. Nếu tôi bệnh chưa khỏi, thì sẽ thuê thợ Tây chỉnh lại cũng tốt. Vì thợ Tây biết tôi cũng chỉnh được nên không dám làm cẩu thả”7.

Cái Thiên hạ thời vụ biểu này là do Trần Tiễn Thành mua hay do Nguyễn Trường Tộ biếu cho ông hoặc cho Triều đình, thì chúng ta không rõ. Nhưng điều này cho thấy là đã có một sự trao đổi, qua lại cụ thể. Rõ ràng hơn nữa, là cuối văn thư tháng 2-1865, Nguyễn Trường Tộ lại nói: “Tôi xin gởi kèm theo đây một cái hộp gỗ thô kính tặng quý công tử dùng đựng thuốc hút, mong đại nhân nhận cho. Tôi hiện nay bị bệnh tê thấp chưa khỏi. Xin quý công tử thương tình cho tôi 5 đồng cân quế Quỳ, sau này lành bệnh, tấm lòng khuyển mã chẳng dám quên ơn8.

Để tạo nên được sự thân thiện đó, chắc Nguyễn Trường Tộ đã có lần tới Huế, gặp gỡ Trần Tiễn Thành. Với các tài liệu hiện có, trong thời kỳ này, chúng ta chỉ thấy Nguyễn Trường Tộ ở Huế, một lần, vào tháng 2-1865, có lẽ theo thuyền Pháp, cùng Nguyễn Hoằng đến để giúp Triều đình trong việc thương thuyết với phái viên của Tây soái là Chevalier và góp ý với Triều đình về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy. Trong một văn bản đề tháng 8- 1866, Nguyễn Trường Tộ có nói là “Ngày trước tôi có bệnh trở về chỉ vì ý đó” (Văn bản số 17). Trong một văn bản tháng 2-1865, Nguyễn Trường Tộ viết: “Hiện nay thuyền Tây đã đến Kinh, tôi đã ngầm hẹn với ông Hoằng cùng đi với tôi là có thâm ý riêng”9.

Chuyến đi Huế lần này hình như không đem lại kết quả cụ thể nào.
_______________________________________
1. Xem di thảo số 4.
2. Xem di thảo số 11.
3. Xem Lê Thước, tlđd.
4. Xem di thảo số 8.
5. Xem di thảo số 6.
6. Xem thư của Giám mục Gauthier (Kho lưu trữ M.E.P).
7, 9. Xem di thảo số 7.
8. “Công tử” đây, chắc bà con của Trần Tiễn Thành. Trần Tiễn Thành sinh ngày 14-12-1813, đậu tiến sĩ năm 1838: lấy vợ thứ nhất năm 1835, vợ thứ hai năm 1844; vợ thứ ba năm 1849; và có rất nhiều con: 8 trai và 15 gái, nhưng 6 trai và 10 gái đã chết lúc còn nhỏ. Hiện nay chúng ta cũng không thể biết được “công tử” này là con thứ mấy, tên gì. Theo ông Đào Duy Anh (Bulletin des Amis du Vieux Huế tháng 4 và 6 năm 1944), thì Trần Tiễn Thành có hai người con trai sống tới khôn lớn và một trong hai người con trai đó là Trần Tiễn Hối, tổng đốc Nghệ An sau này. Nếu “công tử” mà Nguyễn Trường Tộ gởi biếu hộp đựng thuốc và xin quế là Trần Tiễn Hối, thì vào thời điểm này Trần Tiễn Hối cũng chỉ mới 15-16 tuổi. “Công tử” này càng chắc chắn không phải là Nguyễn Lộ Trạch, bởi vì Trần Tiễn Thành chỉ gả con gái của mình là Nguyễn Thị Nhạn cho Nguyễn Lộ Trạch một hai năm sau khi Nguyễn Trường Tộ mất, lúc Nguyễn Lộ Trạch mới khoảng 20 tuổi.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Tư, 2010, 10:35:23 pm

III. NHỮNG NĂM THÁNG ĐẦY TRIỂN VỌNG
(1866-1868)


Đầu năm 1866, Nguyễn Trường Tộ được mời về Huế. Trong văn thư đề ngày 19-3-1866, gởi Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trường Tộ nói: “Nay tôi nhân việc công về đây, chả mấy tháng bệnh cũ đã tăng lên, tuy được đại nhân chiếu cố cho thuyền đi lại mà cũng khó bề bôn tẩu vâng mệnh”1.

1. VỀ VỤ TÀU LONDON

“Việc công” đây chắc chắn là việc tàu London.

Về việc này, ĐẠI NAM THỰC LỤC chính biên (Bản dịch của Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1974, trang 35-36) có nói là Hoàng Văn Xưởng sang Hương Cảng mua tàu Mẫn Thỏa, có quen chủ hãng tàu là Phô Na (Bonan) và đặt mua chiếc tàu Long Đôn (London) của hãng ông: “Mùa thu trước (tức mùa thu năm Tự Đức 18), người nước Hồng Mao, chủ hãng Phô Na cũng cho Ô Xích Tôn2 theo Vĩ Sĩ Thao đi chiếc tàu Long Đôn tới cửa Thuận An để bán... trị giá bạc hơn 13 vạn đồng. Hỏi thì họ nói là sử dụng được 20 năm nữa, mới cần phải sửa chữa lại. Nhân sai bọn Hoàng Văn Xưởng đi chiếc tàu tới Hương Cảng, do lãnh sự Pháp lập tờ biên làm bằng, rồi đưa về Thuận An trả tiền. Không ngờ bị Phô Na lừa dối, tàu đã cũ nát, chưa đi tới Hương Cảng, nhân bị gió gãy nát tổn hại, bọn Thao và Tôn bèn chở về Gia Định sửa chữa, rồi đưa đến Thuận An bắt phải mua”.

Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã tới Huế khoảng cuối tháng 1 đầu tháng 2-1866 và ở lại Huế cho tới 10-4-1866. Trong thời gian này ông đã có một văn bản về cách giải quyết tàu London nhưng không được sử dụng vào việc tàu London nên Nguyễn Trường Tộ có lẽ chán nản, viết thư cho Trần Tiễn Thành nói lên nỗi thất vọng của mình và xin về Nghệ An (Di thảo số 11).

Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã được vua Tự Đức chú ý đến, lần đầu tiên, do bản Khai hoang từ, là một bản trình bày kế hoạch phát triển đất nước một cách tương đối rõ ràng và dễ thực hiện, làm cho nhà vua phải lưu tâm. Có lẽ vì thế mà, theo lệnh nhà vua, Nguyễn Trường Tộ đã được triệu về kinh để giúp giải quyết vấn đề tàu London. Theo phụ lục bị khảo3, trên một di thảo của Nguyễn Trường Tộ vua Tự Đức có châu phê: “Nguyễn Trường Tộ có thể dùng được Hay là cho quan chức để lấy lòng và dùng sau”. Nhưng theo tấu của Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ, thì Nguyễn Trường Tộ lấy lẽ đau yếu không nhận quan chức. Vua Tự Đức lại đã truyền lệnh thu thập các văn bản của Nguyễn Trường Tộ4 và Trần Tiễn Thành đã được lệnh gặp gỡ và hỏi han Nguyễn Trường Tộ nhiều lần5.

Qua hai tờ tấu của Trần Tiễn Thành (ngày 29-3 và 11 tháng 5 năm 1866), chúng ta thấy là vào lúc này vua Tự Đức nửa muốn sử dụng Nguyễn Trường Tộ, nửa muốn không.

Trước hết Nguyễn Trường Tộ được mời về Huế để giúp giải quyết vụ tàu London, chắc chắn là do lệnh vua Tự Đức chứ không phải do sáng kiến của Trần Tiễn Thành. Thế nhưng Triều đình không sử dụng Nguyễn Trường Tộ, vua Tự Đức cũng y theo6.

Thứ đến là vua Tự Đức đã ra lệnh thu thập các văn bản của Nguyễn Trường Tộ, nhưng vẫn dè dặt trong việc sử dụng. Nhà vua châu phê về các tờ bẩm của Nguyễn Trường Tộ như sau: “Hãy duyệt xét các khoản, nếu rõ ràng không có gì nghi vấn mới có thể toan tính được”7.

Cuối cùng Nguyễn Trường Tộ thấy mình ở Huế cũng không có việc gì để làm nên đã xin đi ra Quảng Bình để về Nghệ An, vua Tự Đức lại khiển trách Trần Tiễn Thành tại sao để cho Nguyễn Trường Tộ bỏ đi8.
______________________________________
1. Xem di thảo số 11.
2. Ô Xích Tôn tức Byrnes, người Anh và Vĩ Sĩ Thao tức Lèques, người Pháp.
3. Phụ lục III.
4. Lệnh này được sao lại ở đầu Hv 189/1 tờ 1, như sau:
    Vâng châu phê:
    “Hợp với Pháp, nước ngoài, âm mưu làm một việc phải không? Việc gì vậy? Khanh hãy sai thuộc hạ thân tín bí mật sao chép lại tất cả những tờ trình, bẩm của tên Tộ gửi cho khanh từ trước đến nay kể cả những thư từ phúc đáp, danh thích qua lại các khoản. Ghi rõ theo thứ tự năm tháng, đóng thành tập trình lên xem để rõ nguyên ủy, để thẩm tra căn cứ, không được sót lược. Nguyên bản các từ, phiến, đều phải giữ cẩn thận tra cứu đầy đủ.
    Tờ phiến của Lê Đình Đức giao Viện Cơ mật và Đoàn Thọ duyệt rồi nạp luôn với các bản”.

    Lệnh này được truyền cho Trần Tiễn Thành. Trong tờ tấu năm Tự Đức 19, ngày 12 tháng 2 (28-3-1866) có nói: “Còn các tờ bẩm của tên này sẽ đệ trình sau”. Trong lời châu phê của vua Tự Đức trên tờ tấu của Trần Tiễn Thành ngày 19-4 năm Tự Đức 19 (1-6-1866) có nói: “Hãy đệ nạp các bản, trong đó các khoản nên chăng như thế nào, khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại, nhất nhất phải nói rõ. Phải phúc trình riêng cho biết có bao nhiêu nguyên bản xét kiểm sơ qua các khoản đệ trình xem”.
    Trong lệnh sưu tập, có nói đến:
    - Việc hợp tác với người Pháp và người nước ngoài để khai thác tài nguyên của đất nước như đã nói trong Khai hoang từ (Di thảo số 8 ).
    - Tờ phiến của Lê Đình Đức, người của Bộ Công, đứng đầu việc dàn xếp tàu London.
5. Nguyễn Trường Tộ đã trả lời bằng miệng và cũng đã có trả lời bằng viết. Nhưng bản viết trả lời hiện nay chúng ta không tìm thấy ở đâu cả. Chúng ta chỉ thấy ở đầu bản Hv 189/1 tờ 1, mấy lời sau đây của Nguyễn Trường Tộ:
    “Bệnh tê của tôi chưa khỏi, tinh thần mệt mỏi, xin miễn cưỡng trả lời. Trong lời lẽ có chỗ nào bất cẩn, không kiêng húy kỵ, hoặc dùng ngôn ngữ không thích hợp, hoặc chữ viết không ngay ngắn, xin chỗ nào đáng bỏ cứ bỏ, cho tôi khỏi phải tội lỡ lầm. Còn về văn tự, chỗ nào không được hài lòng là tại vì cứ theo sự thật mà trình bày, khó liên lạc nhau, không phải như văn chương có thể lấy ý mà uốn nắn, nhưng về đại ý cũng không đến nỗi gián đoạn lắm.
    “Xin thưa,
    “Ngày trước Nguyễn Hoằng lên kinh và có thuật lại đầy đủ những điều triều đình hỏi. Tôi rất lấy làm sung sướng vì nghĩ rằng triều đình đã có ý tự cường, như vậy sẽ dần dần có cơ sáng sủa và phát triển ngày sau cả nước đều được nhờ ơn. Như thế không những sẽ có ngày khôi phục, mà thanh danh nước ta nhờ đó cũng được tỏ rạng trong thiên hạ, thế lực nước ta nhờ đó mà cùng nhau đua đuổi với các nước lớn. Tôi xin theo những điều hỏi mà trình bày, nhưng trong đó có chỗ nói rõ có chỗ chỉ nói sơ lược. Không phải tôi không muốn nói hết, chỉ vì ngại thời thế mà thôi.
    Nguyễn Trường Tộ ký”.

    (Hv 189/1 tờ 1).
6, 7. Xem phụ lục IV. 1
8. Xem phụ lục IV. 2



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Tư, 2010, 10:54:01 pm

2. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ Ở NGHỆ AN

Nguyễn Trường Tộ đã cùng với linh mục Croc và Nguyễn Hoằng rời Huế ngày 10-4-1866 để đi Bố Chính, bên kia bờ sông Gianh, là nơi Giám mục Gauthier lưu lại từ tháng 8-1863 và có lẽ ở lại đó cho tới khoảng 9 hay 10 tháng 5 năm 1866, rồi cùng với Giám mục Gauthier đi về xã Đoài, Nghệ An1. Nguyễn Trường Tộ, lần này, chỉ ở lại quê khoảng ba tháng, bởi vì ngày 17-8-1866, ông đã cùng Giám mục Gauthier có mặt ở Huế để chuẩn bị lên đường đi Pháp2.

Sau mấy tháng ở Huế, Nguyễn Trường Tộ càng thấy bức xúc hơn việc canh tân, tự lực, tự cường của đất nước, nhưng ông cũng thấy rõ hơn những khó khăn trước mắt: Vua thì còn nghi ngờ Nguyễn Trường Tộ vì là người Công giáo; các quan trong triều thì cổ hủ, ít hiểu về cục diện của thế giới, lại tranh giành ganh tỵ với nhau, mưu đồ phế lập; các quan ở các địa phương thì hống hách... Trong lúc giặc Pháp thì có ý đồ thôn tính Việt Nam một cách rất cương quyết... Tất cả tâm sự nặng nề này, Nguyễn Trường Tộ đã bộc lộ trong một bức thư gởi Trần Tiễn Thành viết từ Nghệ An, đề ngày 15-6-1866 (Di thảo số 15).

Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ vẫn không nản chí. Về tới Nghệ An, việc đầu tiên ông làm là viết thư cho Triều đình để báo tin về việc Giám mục Gauthier có thể nhận giúp đi Pháp thuê thợ thầy và mua máy móc để mở trường huấn luyện về nghề nghiệp (Di thảo số 12).

Sau đó, ông lại viết một văn bản dài nói về “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”, tháng 4 năm Tự Đức 19, tức khoảng từ 14-5 đến 12-6 năm 1866. (Di thảo số 13)

Ngày 4 tháng 6 năm 1866, ông lại viết một bản nữa để nói về tình hình xung đột giữa lương và giáo ở Nghệ An (Di thảo số 14).

Trần Tiễn Thành trong một bài tấu đề ngày 19-4 năm Tự Đức 19 (tức 1-6-1866) có nói là: “Tới đây thần có nhận được ba bức thư của Nguyễn Trường Tộ gởi cho thần, do từ Quảng Bình Nghệ An phát giao, cùng với một quyển Hàng Hải Kim Châm của dân đạo đệ nạp”3.

Thế nhưng xét về ngày tháng, thì chỉ có hai văn bản số 12 và 13 là có thể được viết trước 1-6-1866, còn hai văn bản số 14 và 15 thì được viết sau. Vậy văn bản thứ ba được nói trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành có thể là một văn bản mà ngày nay thất lạc không tìm thấy. Trong tờ tấu của Viện Cơ mật đề ngày 30 tháng 4 năm Tự Đức 19 (tức 12 tháng 6 năm 1866) có nói về việc duyệt xét một văn bản của Nguyễn Trường Tộ, liên quan đến việc Tây Ban Nha xin thiết lập lãnh sự quán ở Đà Nẵng, ta nên lập lãnh sự quán tại Sài Gòn... cũng như việc Nguyễn Trường Tộ đề nghị cho đo đạc đất đai ở các vùng cảng Đà Nẵng, Ba Lạt... và khai thác mỏ than ở Quỳnh Lưu giáp Thanh Hóa... Những nội dung này không thấy có trong các văn bản của Nguyễn Trường Tộ từ trước cho tới nay như chúng ta biết. Đây có phải là văn bản thứ ba được nói trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành ngày 1-7-1866 mà chúng ta không tìm thấy ở chỗ nào cả hay không?

Theo ĐẠI NAM THỰC LỤC thì “tháng năm Bính Dần, Tự Đức 19 (tức từ khoảng 12-6 đến 11-7 năm 1866), sai Lang Trung Hồ Văn Long cùng với dân đi đạo là Nguyễn Trường Tộ đi từ Quảng Bình trở ra Bắc đến địa phận núi Hải Dương tìm mỏ than”4. Nhưng Nguyễn Trường Tộ có lẽ chưa kịp đi, thì ngày 27 tháng 7 năm 1866 đã có văn thư của Bộ Lễ triệu tập Nguyễn Trường Tộ về Huế cùng với Giám mục Gauthier đi Pháp, “về khoản dò tìm mỏ than... thì có tên Lâu, tên Hoằng làm thay”5.
____________________________________
1. Theo tờ tấu của Trần Tiễn Thành (Xem phụ lục IV. 2), thì ngày 16-3 năm Tự Đức 19 (tức 30-4-1866), Giám mục Gauthier đã lên đường đi Nghệ An, nhưng có lẽ là Giám mục Gauthier chỉ đi thăm một xứ đạo (Bàn Thạch) ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Bởi vì trong báo cáo của linh mục Le Grand de la Lyraie ngày 18-5-1866, khi tàu Cosmao tới cửa sông Gianh ngày 6-5-1866, thì Giám mục Gauthier đang đi thăm một xứ đạo ở mạn Bắc có nhà thờ bị văn thân đốt phá; sáng ngày 8-5-1866, Giám mục Gauthier mới về tới Bố Chính, chiêu đãi chỉ huy tàu Cosmao buổi trưa và dự chiêu đãi trên tàu Cosmao buổi tối.
2. Theo thư của Giám mục Gauthier viết cho Hội Truyền giáo (Kho lưu trữ M. E. P).
3. Phụ lục IV. 3
4. Xem bản dịch của Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội 1974 tập 31, trang 33.
5. “Thự Tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tá Viêm làm tờ chiếu hội như sau: Nay tiếp được tư văn của bộ Lễ nói rằng: (...) về khoản dò tìm mỏ của quý chức và của Nguyễn Trường Tộ thì đã có tên Lâu, tên Hoằng làm thay (...) Ngày nào quý chức lên đường xin tư cho biết trước. Nay hợp làm tờ Chiếu hội mong hãy tuân chiếu các sự lý của Bộ tư về mà sớm thi hành, vậy làm tờ chiếu hội này cho Giám mục Ngô (Ngô Gia Hậu = Gauthier) và quý chức tuân hành. Ngày 16 tháng 6 năm Tự Đức 19”.
    (Xem nguyên văn chữ Hán trong Nam Phong số 102).



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Tư, 2010, 10:56:37 pm

Trong thời gian gần ba tháng ở Nghệ An, Nguyễn Trường Tộ hình như chỉ làm được một việc duy nhất là giúp hoàn thành được việc đào Thiết Cảng.

Sự tích ông Nguyễn Trướng Tộ viết: “Năm Tự Đức 19, Bính Dần, ngũ nguyệt, Bộ sai quan Tổng đốc Nghệ An là Hoàng Tá Viêm ra đào Kênh Sắt. Người được chỉ ra trọ nơi xã Kim Khê, thì người viết thư cậy ông Tộ đi khám xem hình đất, thế đất, chỉ lối cho mà đào. Vì trước ông Cao Biền là quan vua Đường bên Tàu sang làm quan Bộ Hộ úy nước Nam, lại vua Quý Ly nhà Hồ đã đào không xong, vì mắc nhiều đá cuội dưới đất. Ông Tộ đi xem nói rằng: Có một khúc vì có nhiều đá lớn, như bên Tây có cốt mìn thì phá đi, ta không có nên phải tránh, ông cắm nêu một hồi buổi sớm vừa xong, dân phu cứ thế mà đào thì kênh hoàn thành. Ông Tộ có làm bài thơ mừng Kênh Sắt”1.

Kênh Sắt, nay gọi là Kênh Gai, nối liền sông Cấm cũng gọi là sông Cửa Lò với sông Vinh, một phụ lưu của sông Lam, theo tục truyền là được bắt đầu từ thời Cao Biền hay thời nhà Trần. Nhưng nói đến Cao Biền là nói đến cảng Thiên Uy hay Thiên Lôi bên Tàu. Nguyễn Trường Tộ, trong bài bạt mừng đào xong Thiết Cảng có nhắc đến sự tích Cao Biền để nói rằng cảng Thiên Uy là một phần do Trời, còn Thiết Cảng thì hoàn toàn do công người2.

Cũng trong bài “Hạ Thiết Cảng thành bạt”, Nguyễn Trường Tộ, sau khi nói về vai trò của con người trong việc bổ túc cho sự tạo thành, trong vũ trụ cũng như tại Việt Nam, đã có nói: “Đối với những kênh nào có thể đào vét được thì tiền nhân đã đào vét và hoàn thành cả rồi. Duy có một Thiết Cảng này Triều đình trước (tiên triều) đã tốn bao nhiêu tâm lực vẫn không làm xong. Đó cũng vì tiền bạc thì ít mà công việc thì quá khó, lại không lượng sức muốn cưỡng làm cái công việc mà tạo hóa có ý lưu chậm lại đến ngày nay, cho nên không thể xong việc được”3.

Như thế có nghĩa là con Kênh Gai đã được khơi từ Diễn Châu vào và từ sông Vinh ra, rồi gặp phải một chỗ sắt đá không đào tiếp cho thông thương được; thuyền bè từ Diễn Châu vào và từ sông Vinh ra phải dừng lại bến cảng đó và bến cảng ấy gọi là Thiết Cảng.

Theo ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ, Thiết Cảng ở cách huyện lỵ Hưng Nguyên 15 dặm về phía Đông Bắc và cách sông Cấm khoảng 30 dặm ở phía Nam...

Theo ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, thì “tháng 5 (năm Tự Đức 19) đào sâu con đường cảng (...) ở tỉnh Nghệ từ chỗ nước trũng đến cái đập ngăn nước, trong đó có chỗ từ xã La Hoàng đến xã Thạch Dương, đều cong vòng và sỏi, đá, phải đổi khơi ở bên cạnh”4.

Trong thư của Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm viết ngày 7 tháng 5 năm Tự Đức 19 (tức 19-6-1866) để mời Nguyễn Trường Tộ giúp cho việc đào kênh có nói: “Nhân được phê chuẩn rằng việc đào Thiết Cảng thật là tiện lợi công tư, nhưng tốn nhiều công của, làm việc này phải hết sức công phu mới được. Tôi ngày đêm suy nghĩ rằng phải có bực hiểu biết hơn người mới có thể giảm bớt tốn phí và thành công được. Hôm qua nghe hai vị Ngụy, Phan5 khen, thì tài năng của ngài chắc chắn có thể giúp cho công việc này được. Và đó cũng là thiện nguyện của ngài muốn tạo một phúc lợi lớn cho nhân dân tỉnh hạt. Nhưng vì chân của ngài chưa được bình thường6 khiến gần đây tôi không nhận được bản góp ý nào của ngài cả. Nay tay thợ đã sẵn sàng, như ngài có lòng vì dân vì nước, xin hãy đến nơi khám xét địa hình, chỉ vẽ những điều tiện lợi, khả dĩ bớt công, giảm phí giúp cho nhân dân đỡ được phần nào, mà cũng không phụ lòng mong mỏi của nhân dân vậy (...) Thư của Thự Tổng đốc An Tĩnh họ Hoàng quán sở Kim Khê kính gởi Nguyễn Trường Tộ ở Đoài Giáp, huyện Hưng Nguyên tri chiếu”7.

Cũng theo Lê Thước, thì sau khi nhận được thư của Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Trường Tộ liền ngồi lên cáng đến nơi khám xét, chỉ rõ tình thế, lấy tre cắm tiêu vài mươi dặm theo đường thẳng, chỉ có một đoạn hơi cong để tránh những tảng đá lớn... chỉ một tháng đào xong8.

Tuy nhiên ĐẠI NAM THỰC LỤC lại nói: “Tháng hai (Tự Đức 20), lại đào Thiết Cảng ở tỉnh Nghệ An (Năm ngoái khơi chưa xong, hoãn đến nay lại đào), phái biện lý bộ Công là Phạm Ý đi khám”9.

Qua các văn bản trích dẫn trên đây, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ đã khai thông được con đường thủy từ Sông Cấm cho tới sông Vinh, xóa bỏ được Thiết Cảng (Cửa Sắt), để làm thành Kênh Sắt10, mà ngày nay chúng ta gọi là Kênh Gai hay kênh Nguyễn Trường Tộ. Công việc này đã có thể hoàn thành trong những ngày Nguyễn Trường Tộ còn ở Nghệ An giữa năm 1866 và ông làm bài bạt “mừng đào xong Thiết Cảng”. Đầu năm 1867, theo ĐẠI NAM THỰC LỤC, công việc còn được tiếp tục, nhưng có lẽ chỉ là nạo vét, đắp bờ cho hoàn chỉnh. Nguyễn Trường Tộ quả thực đã có công lớn là hoàn thành một công trình dở dang từ nhiều thế hệ trước, thế mà sử sách của nhà Nguyễn đã không nói gì tới sự nghiệp này của ông.
____________________________________
1. Xem phụ lục I.
2. Xem chú thích bài bạt mừng đào xong Thiết Cảng (Di thảo số 16).
3. Xem di thảo số 16.
4. Xem bản dịch của Nhà Xuất bản KHXH, năm 1974 tập 31 trang 31.
5. Ngụy Khắc Đản; Phan Huy Vịnh (?).
6. Có câu trong ngoặc đơn sau đây, có lẽ là chú thích của Lê Thước, người sao lại bản văn trong Nam Phong số 102: “Khi tiên sinh ở Sài Gòn té lầu chân bị thương nhẹ, người thường nói đùa rằng: Một lần sẩy chân, ngàn đời ôm hận.
7, 8. Xem Lê Thước, tlđd. Phụ lục II.
9. Bản dịch của Nhà Xuất bản KHXH tập 31 trang 110.
10. Theo một ghi nhận ở mục Diễn Đàn trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 10 - 2001, thì vị trí của Kênh Sắt là ở Cầu Cấm ra Diễn Châu thông với sông Bùng.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2010, 05:09:17 pm

3. VỀ HUẾ ĐỂ CHUẨN BỊ ĐI PHÁP

Nhưng ở Huế, uy tín của Nguyễn Trường Tộ vào lúc này hình như đang ở mức cao.

Số là sau khi Nguyễn 'Trường Tộ rời Huế đi Quảng Bình vào đầu tháng 4-1866, mà vua Tự Đức không hay biết, Trần Tiễn Thành đã bị khiển trách là tại sao không giữ Nguyễn Trường Tộ được ở lại Kinh1. Rồi khi Trần Tiễn Thành, trong tờ tấu ngày 1-6-1866 tỏ ra hối hận là đã nhận được ba văn bản của Nguyễn Trường Tộ từ Nghệ An gởi vào, vua Tự Đức lại khiển trách thái độ giận dỗi của Trần Tiễn Thành: ở cuối tờ tấu, vua Tự Đức châu phê: “Đọc tờ trần tình thật không thể hiểu được... Than ôi, việc nước ta biết cùng ai mưu tính mà cùng chia sẻ nỗi gian truân này: Trường Tộ việc gì cũng đã nghi ngờ triều đình, mày cũng theo mà tạo nghi ngờ nữa, thì mọi việc mỗi ngày một hỏng không trông mong gì thành công được...”. Rồi vua dạy: “Nay hãy đệ nạp các bản, trong đó các khoản nên chăng như thế nào, khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại, nhất nhất phải nói rõ (Phải phúc trình riêng cho biết có bao nguyên bản, sát kiểm sơ qua các khoản để tiện xem). Lại phải tiến trình các bản chưa đóng hãy đóng chung lại kẻo mất...”2.
 
Theo đề xuất của Viện Cơ mật, ở cuối tờ tấu đề ngày 30-4 năm Tự Đức 19, nhà vua đã cử Nguyễn Trường Tộ cùng với Hồ Văn Long đi tìm mỏ từ Nghệ An ra Bắc... Nhưng sau, có lẽ do đọc kỹ các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi từ Nghệ An, vua Tự Đức lại đổi ý, và cho triệu tập Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier vào Huế để giao trách nhiệm đi Pháp thuê mướn thầy thợ và mua sắm máy móc, thiết bị.

Ngày 17 tháng 8 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier và linh mục Nguyễn Điều tới Huế theo hệ thống “trạm dịch”, nghĩa là có ngựa, có cáng, có lọng đưa đón như các quan lớn của triều đình. Tới Huế, Giám mục Gauthier đã được cấp phát 3 thoi bạc, 60 quan tiền và 20 đấu gạo trắng. Giám mục Gauthier đã được hội kiến ba lần với các quan lớn trong Cơ Mật viện3. Riêng Nguyễn Trường Tộ thì được vua Tự Đức cho tiếp kiến ở nhà Tả Vu và được hỏi han nhiều điều4.

Việc đầu tiên của Nguyễn Trường Tộ, lúc vừa tới Huế, là làm bản đề xuất về việc sử dụng Giám mục Gauthier và các linh mục Việt Nam trong chuyến đi sắp tới để triều đình có cơ sở bàn bạc với giám mục hầu tránh những sơ hở trong lúc trao đổi (Di thảo số 17).

Trước hết, Triều đình Huế muốn nhờ Giám mục Gauthier giúp lấy ba tỉnh đã nhượng cho Pháp theo Hòa ước 5-6-1862. Nhưng về việc này, thì trong văn thư gởi từ Nghệ An ngày 17 tháng 5 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ đã nói là giám mục không thể làm được. Lần này Nguyễn Trường Tộ nhắc lại là Triều đình không nên đặt vấn đề đó với giám mục, mà một mực chỉ nói về tinh thần hòa hảo của Triều đình, muốn hợp tác lâu dài với Pháp, để vô hình trung, giám mục tuyên truyền cho lập trường của Việt Nam ở bên chính quốc. Còn việc vận động chống lại mưu đồ lấn chiếm của Tây Soái ở Sài Gòn, thì xin để Nguyễn Trường Tộ cùng Nguyễn Hoằng cùng làm, không nên để lộ cho giám mục biết.

Thứ đến là việc thuê thầy và thợ về mở trường, thì theo đề nghị của giám mục, nên cho một số giáo sĩ đã có biết ngoại ngữ sang Pháp học một năm để giúp dạy ứng dụng, Nguyễn Trường Tộ cũng cho là phải, nên giới thiệu Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều, Nguyễn Lâu...

Tất cả các đề xuất của Nguyễn Trường Tộ lần này, đều được Triều đình nghe theo.

Nguyễn Trường Tộ còn có một văn bản đề ngày 1-9-1866, về việc cải tổ học thuật và tổ chức học tập thực dụng trong nhân dân (Di thảo số 18 ).

Nhưng bản văn làm cho vua Tự Đức chú ý hơn cả và gây được tình cảm nơi nhà vua đối với Nguyễn Trường Tộ vào lúc này có lẽ là bài “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”, viết tại Nghệ An tháng 6 (5-6 năm 1866). Trong bản văn này, Nguyễn Trường Tộ đã dùng tất cả mọi lý lẽ của trời đất, của Đông Tây để chống lại mọi âm mưu phế lập. Phải chăng vì nghĩ rằng muốn canh tân, xây dựng đất nước cần phải có ổn định chính trị, mà Nguyễn Trường Tộ chủ trương phải duy trì trật tự xã hội hiện hữu.

Chúng ta biết vua Tự Đức là Hồng Nhậm, con thứ của vua Thiệu Trị được lập lên làm vua thay vì người anh cả là Hồng Bảo. Hồng Bảo đã nhiều lần tìm cách lật đổ vua em và cuối cùng bị bắt giam và thắt cổ chết trong ngục năm 1854. Từ đó vua Tự Đức sống trong một sự lo sợ triền miên. Trong đêm mồng 8 rạng mồng 9 tháng 8 năm Tự Đức 19, tức trong đêm 16 rạng 17 tháng 9-1866, quân nổi dậy của Đoàn Trưng và Đoàn Trực, những người ủng hộ con của Hồng Bảo là Đinh Đạo, đã vào cận nhà ở của vua Tự Đức, chỉ trong gang tấc là nhà vua đã bị hạ sát...

Nguyễn Trường Tộ chắc chắn là cũng đã từng biết rõ tình hình này5.

Đô đốc De Lagrandière, trong một bản báo cáo đề ngày 29-10-18666 có nói rằng: “Từ khi tôi trở lại Nam kỳ, tôi luôn luôn chú ý tới tình hình chính trị của vương quốc An Nam, thường bị xáo trộn bởi những cuộc tranh giành phe phái và về tình trạng an toàn ít có của quyền hành vua Tự Đức. Khi tôi vừa về tới Sài Gòn, thì những phái viên bí mật từ Huế vào hỏi là tôi sẽ xử trí như thế nào nếu có xảy ra một cuộc đảo chính ở Huế để thay thế vua Tự Đức bằng một người trong họ hàng nhà vua: Những người đi theo người anh của nhà vua rất đông và đang nghĩ tới việc đem dòng dõi ông lên làm vua. Tôi chỉ trả lời qua loa cố ý cho họ hiểu rằng các biến cố sẽ quyết định thái độ của tôi và không thể nói trước là tôi ủng hộ phe phái nào.

“Ít lâu sau người ta còn thăm dò tôi nhiều lần nữa và người ta còn hỏi tôi cụ thể nhân danh những người ủng hộ người cháu của vua để xem thái độ của chính phủ Pháp như thế nào nếu Tự Đức được thay thế bởi Long Hoàng Tôn...”.


De Lagrandière muốn lợi dụng tình hình rối ren và yếu kém của Triều đình Huế nên đã đề nghị với vua Tự Đức là ký kết với Pháp một hòa ước mới thay cho Hòa ước 5-6-1862, nhượng thêm cho Pháp ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên để được sự bảo hộ và bảo trợ của Pháp, giữ vững ngai vàng của mình.

Nguyễn Trường Tộ hiểu rất rõ âm mưu của Pháp và hoàn cảnh khó khăn của Triều đình vua Tự Đức, nên điều trước tiên, theo ông, là phải tìm cách ngăn chặn ý đồ thôn tính của Tây soái, điều mà ông sẽ tích cực làm khi tới Sài Gòn và tới Pháp. Nhưng trước mắt, theo một văn thư gởi cho Lục bộ đại thần, ngày 3-9-1866, ông vẫn khuyên Triều đình là phải khôn khéo hòa hoãn với Pháp, tìm cách dựa vào Pháp mới mong tránh khỏi họa thù trong giặc ngoài (Di thảo số 19).
________________________________________
1. Xem phụ lục IV. 2 (Trích lời châu phê ở đầu bài).
2. Xem phụ lục IV. 3.
3. Theo một bức thư của Giám mục Gauthier viết cho Hội Truyền giáo Paris (Kho lưu trữ M.E.P).
4. Xem Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, phụ lục I.
5. Theo cuốn tiểu thuyết lịch sử “BIẾN ĐỘNG” của Thái Vũ do Nhà xuất bản Thuận Hóa năm 1985, thì Đoàn Trưng, người cầm đầu cuộc nổi dậy mùa hè năm 1866, có gặp Nguyễn Trường Tộ. Điều này hiện không dựa trên một tài liệu lịch sử nào, có thể chỉ là do suy diễn hư cấu của người viết tiểu thuyết, nhưng không hẳn là hoàn toàn không thể xảy ra trong lịch sử.
6. Kho lưu trữ Bộ Hải quân Indochine BB 4, 876.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2010, 05:12:33 pm

4. TRONG NHỮNG NGÀY CHỜ TÀU Ở SÀI GÒN 17-9-1866 - 10-1-1867

Ngày 15 tháng 9 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier và đoàn tùy tùng đi tàu của nhà vua vào Sài Gòn và ở Sài Gòn chờ tàu cho tới ngày 10-1-1867 mới lên đường đi Pháp.

Trong thời gian ở Sài Gòn, Giám mục Gauthier đã có những cuộc tiếp xúc với đô đốc Lagrandière và lãnh sự Tây Ban Nha. Nguyễn Trường Tộ cũng đã có nhiều cuộc gặp gỡ để nắm tình hình theo yêu cầu của Triều đình.

Trong thời gian này, Nguyễn Trường Tộ đã có 6 bản báo cáo gởi về Huế:

- Văn bản ngày 27-10-1866 (Di thảo số 20)

- Văn bản ngày 27-10-1866 (Di thảo số 21)

- Văn bản ngày 3-11-1866 (Di thảo số 22)

- Văn bản ngày 3-11-1866 (Di thảo số 23)

- Văn bản ngày 24-12-1866 (Di thảo số 24)

- Văn bản (không đề ngày tháng) về các hội nước ngoài (Di thảo số 25)

Qua các văn bản này, Nguyễn Trường Tộ trình bày cho Triều đình thấy là có một cự ly giữa ý đồ của của Tây soái ở Sài Gòn và chính sách của chính phủ ở Pháp.

Tây soái, Đô đốc Lagrandière, thì muốn bằng mọi cách thôn tính hoàn toàn sáu tỉnh Nam kỳ và áp đặt trên phần đất còn lại của Việt Nam một hiệp ước bảo hộ. Cuối tháng 4-1866, Lagrandière đã phái chỉ huy tàu Cosmao, cùng với linh mục Legrand de la Lyraie làm thông dịch viên, tới Huế đặt thẳng vấn đề với Triều đình vua Tự Đức; tháng 9-1866, Paulin Vial cùng với linh mục Legrand de la Lyraie lại đi tàu Cosmao tới Huế. Nhưng ở đây vừa xảy ra cuộc nổi dậy của Đoàn Trưng và Đoàn Trực, nên không tổ chức được các cuộc thương thuyết. Tuy nhiên, Laglandière vẫn tỏ ra lạc quan trong báo cáo gởi về Bộ Hàng hải và Thuộc địa ngày 29-10-1866. Lagrandière viện dẫn các lời lẽ của Giám mục Gauthier để biện hộ cho sự lạc quan của mình. Ông viết:

“Tôi đã trao đổi với giám mục về tình hình chính trị ở Kinh đô Huế. Giám mục Gauthier làm cho tôi tin tưởng hơn ở những nhận định và những nỗ lực kiên trì của tôi trong hơn một năm qua để đi tới đích. Theo giám mục thì những đề nghị trực tiếp, do tàu Cosmao đưa đến, đã làm cho Triều đình Huế phải suy nghĩ. Người ta có thể dễ dàng đi tới việc nhượng đất, nếu tôi có thể bảo đảm cho quyền bính và sự kế nghiệp của vua Tự Đức không bị vi phạm, nếu tôi hứa giúp tiễu trừ giặc biển.

“Giám mục Gauthier cũng nói rõ là ngài không có sứ mạng để nói về những vấn đề ấy, nhưng nếu ngài nói ra thì người ta cũng hoan nghênh thôi. Ngài cũng không giấu giếm tôi là vẫn có những khó khăn do một vài vị quan lại trong Triều đình. Phải có một sự phô trương lực lượng mới làm cho những người này chùn bước. Nhưng ngài xác tín là cứ tiến tới và hy vọng sẽ có một giải pháp tốt đẹp.

“Đã đến lúc phải hành động một cách có hiệu quả và tôi đã một lần nữa gởi tàu Cosmao đi Huế, tôi đã giao cho giám đốc Nội vụ cùng với linh mục Legrand de la Lyraie làm thông ngôn, đem hai bức thư của tôi gởi cho vua Tự Đức và Bộ trưởng Ngoại giao. Tôi đề nghị với Đức vua là nhượng cho chúng ta ba tỉnh và, ngược lại, chúng ta sẽ xóa một nửa số nợ bồi thường chiến tranh còn lại (nửa kia là phần phải trả cho Tây Ban Nha); tôi cũng cam kết là nước Pháp sẽ hỗ trợ cho nhà vua để đẩy lui tất cả mọi âm mưu tiếm vị và bảo đảm quyền uy cho người kế vị mà Đức vua lựa chọn; tôi cũng sẽ giúp tiễu trừ giặc biển và hứa là sẽ đón tiếp và khuyến khích các tàu buôn của nhà vua.

“Nhưng tiếc thay là các biến cố xảy ra đã không cho phép các giải pháp của tôi được đem ra thi hành, vì đã bùng nổ một cuộc nổi loạn, khi tàu Cosmao vừa tới Huế. Lần này cuộc nổi loạn là do âm mưu của các nhà sư, đứng đầu có nhiều vị quan và nhiều người trong hoàng tộc muốn đưa cháu của vua là Long Hoàng Tôn lên ngôi, như tôi đã nói trước đây...”
1.

Sự thực là, vào thời điểm này, Triều đình vua Tự Đức vẫn nuôi ảo tưởng chuộc lại ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường đã nhượng cho Pháp theo Hòa ước 5-6-1862 và lo sợ việc mất ba tỉnh còn lại của Nam Kỳ là Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên.

Nguyễn Trường Tộ, trong hai văn thư đề ngày 27-10-1866 (Di thảo số 20 và 21), cho rằng đây chỉ là do Laglandière cường điệu. Chứ tình hình không thuận lợi như vị Tây soái này tâu trình: ở Cao Mên, quân đội Pháp gặp rất nhiều khó khăn; ở Gia Định, thì các kiều dân Pháp than phiền bị thua lỗ; ở chính quốc, thì có nhiều dư luận chống đối các cuộc phiêu lưu quân sự ở các vùng đất xa xôi...

Nguyễn Trường Tộ đề nghị là phải vận động sự giúp đỡ của Tây Ban Nha, thông qua lãnh sự quán của nước ấy ở Sài Gòn, thông qua các giám mục Tây Ban Nha ở Bắc Kỳ và bằng cách gởi quốc thư và cử phái bộ sang Tây Ban Nha2.

Nguyễn Trường Tộ đặc biệt chú ý tới việc vận động dư luận và các chính khách của lưỡng viện tại Pháp. Ông đề nghị viết sẵn quốc thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp để giám mục Gauthier chuyển; tìm cách liên lạc với Aubaret và nhiều chính khách.

Nguyễn Trường Tộ cũng bàn đến kế hoạch gây khó khăn cho Tây soái bằng cách liên kết với anh vua Cao Mên đang chống Pháp; liên kết với Thái Lan và Anh làm cho Tây soái sợ rắc rối lớn phải thoái chí. Trong một văn bản đề ngày 24-12-1866, Nguyễn Trường Tộ viết:

“Khoảng tháng ba, tháng tư năm nay có một quan khâm sai người Tây đến thám sát Gia Định trở về tâu với vua Tây rằng: Sự thế ba tỉnh không có gì khả quan. Nay lại có người anh vua Cao Mên gây loạn, cậy có chỗ hiểm yếu chống lại Pháp, quân Pháp phải chạy tháo thân, nhuệ khí sút kém. Mọi người đều nói rằng Tây soái tất sẽ bị tội phải triệu về thôi”3.

Đặc biệt trong dịp này Nguyễn Trường Tộ liên lạc được với một người Pháp tên là Di Minh (Sic): “Nguyên xuất thân võ biền, năm trước anh ta đã học được tiếng ta, mười phần biết được sáu bảy, anh ta lại hơi biết tiếng quan thoại Trung Quốc nữa, xem được mặt chữ, gần đây khi thì anh ta làm thông ngôn, hoặc làm kinh doanh; anh ta sống chung với dân ta cũng rất được cảm tình. Trong cuộc sống, anh ta tuy không thật phải là người tốt, nhưng anh ta cũng không có ý gì tranh chấp thù hằn với người mình. Năm nay ở Tây Ninh anh ta hay ngấm ngầm qua lại với các quản đội đến nỗi Tây soái nghi và bắt giam lỏng anh ta ba tháng. Hiện nay anh ta sống chung một nhà với mấy người học tiếng Tây của ta. Anh ta nghe tin tôi từ kinh về, đã lén đến chỗ tôi bí mật trình bày mọi việc”4.

Di Minh xin về Pháp vận động dư luận ở đó chống lại Tây soái, ủng hộ Việt Nam hoặc xin giả dạng về Anh chiêu mộ người Anh giúp Việt Nam. Di Minh xin được bí mật tới Huế trình bày kế hoạch.

Ngày 25-12-1866, Thương Bạc đã trả lời Nguyễn Trường Tộ là Di Minh lên Kinh chưa tiện, phải có người đem đi. Nhưng trước khi nhận được chiếu hội của Thương Bạc và trước lúc lên tàu đi Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã viết thư giới thiệu cho Di Minh cầm đi Đà Nẵng. Các quan lại ở Quảng Nam tâu lên, ngày 14-5-1867, Viện Cơ mật xét và trình tâu là không nên sử dụng Di Minh, sợ Tây soái sinh nghi làm rắc rối, rồi giao cho quan lại ở Quảng Nam đem 20 lạng bạc, với gà vịt, đường gạo... tặng và phủ dụ Di Minh là nên về Gia Định chờ Nguyễn Trường Tộ đi Pháp về5.
________________________________________
1. Kho lưu trữ Bộ Hải quân Indochine BB 4, 876.
2. Di thảo số 22.
3. Di thảo số 24.
4. Di thảo số 23.
5. Phụ lục V. 1 (Châu bản triều Nguyễn)
    Cho tới nay, chúng ta vẫn chưa xác định được Di Minh là ai. Chúng ta biết là có một người Pháp, tên là Duval, đã tham gia đoàn quân viễn chinh ở Nam kỳ, với cấp bậc trung sĩ; một kẻ phiêu lưu, đầy tham vọng và giả dối: Đầu năm 1862 xin nghỉ phép sang Hong Kong, Ma Cao để tìm liên lạc xin chiến đấu dưới cờ của Lê Duy Phụng; công việc không thành, cuối năm 1863 trở về Pháp, được thăng cấp bậc thiếu úy, tham gia phái bộ của Aubaret tới Huế để thương thuyết về hòa ước mới thay thế Hòa ước 1862, trong hồi ký “Souvenirs militaires ét financiers”, Paris 1891, khoe khoang là chống Aubaret, nhưng theo các thư từ của Duval trong kho lưu trữ của Bộ quốc phòng Pháp, thì rất thất vọng vì hiệp ước Aubaret không được phê chuẩn... theo lý lịch, thì từ ngày 4-5-1864 đến 12-4-1967 ở Mêhicô và từ 4-5-1867 tới 8-6-1870 ở Phi châu; trong thực tế bị bóc lon nhiều lần; nhưng tháng 6-7-1867 vẫn ở Paris không việc làm, xin được làm lãnh sự của Pháp ở Ba Lạt hay Đà Nẵng mà không được. Cũng khó mà có khả năng Di Minh là Duval...



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2010, 05:15:07 pm

5. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ Ở PHÁP

Ngày 10-1-1867, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier, linh mục Nguyễn Điều, phó tế Nguyễn Hoằng và Joannes Vị với hai vị quan của Triều đình là Nguyễn Tăng Doãn (văn) và Trần Hiếu Đạo (võ), đáp tàu L’ORNE đi Pháp1.

Hiện chúng tôi không có tài liệu cho thấy là trong chuyến đi châu Âu lần này Giám mục Gauthier có ghé qua Rôma hay không. Chúng ta chỉ biết là trong một bức thư gởi cho Hội Truyền giáo Paris2, Giám mục Gauthier có cho biết là mình sẽ ghé qua Rôma trước khi tới Paris. Điều này xem ra cũng dễ hiểu. Bởi vì trước khi nhận một nhiệm vụ như nhiệm vụ của Triều đình vua Tự Đức giao phó, Giám mục Gauthier đáng lẽ đã phải xin ý kiến của Bộ Truyền giáo ở Rômaa. Trong hai văn thư gởi Triều đình Huế ngày 17-5-1866 và ngày 18-8-1866 (Di thảo số 14 và 17), Nguyễn Trường Tộ (có thể là theo yêu cầu của Giám mục Gauthier) có đề nghị với Triều đình là nên viết thư cho Giáo hoàng ở Rôma về việc Triều đình muốn nhờ Giám mục Gauthier giúp trong công cuộc canh tân đất nước. Nhưng Triều đình Huế đã không để ý tới yêu cầu này và đã triệu tập Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ về Huế rồi cử đi Pháp ngay. Do đó mà việc trước tiên giám mục phải làm khi tới châu Âu là qua Rôma để trình bày công việc sắp làm của mình với các bộ ở Rôma cũng như để xin sự giúp đỡ. Sau này chúng ta biết là Bộ Truyền giáo có trích quỹ 20.000 francs để giúp cho Giám mục Gauthier mở trường ở Huế3.

Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã đi theo Giám mục Gauthier sang Rôma. Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ có viết:

“Khi sang phương Tây qua biển Trung vào nước Ý Đại Lợi, có vào thành Rôma, được vào chầu Đức Giáo hoàng Piô IX. Ông Tộ được hôn đầu gối Người và Người ban cho một chữ tiền lớn hơn đồng bạc, một bên đúc chính hình tượng và tên Đức Giáo Hoàng, một bên đúc một tòa nhà sang trọng, chữ tiền ấy hãy còn”4.

Chúng ta hiện có rất ít tài liệu về hoạt động của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier ở châu Âu trong chuyến đi này.

Chúng ta biết là cuối tháng 3-1867, Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier đã có mặt ở Paris5 và ngày 25-11-1867 Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier đã rời Pháp để lên đường trở về Việt Nam6.

Ở Pháp, Giám mục Gauthier đã tới Bộ Ngoại giao, Bộ Hàng hải và Thuộc địa để xin tài trợ cho các chương trình của mình. Giám mục cũng đã tiếp xúc với các thương gia và kỹ nghệ gia.
________________________________________
1. Báo cáo của La Grandière ngày 10-1-1867, Kho lưu trữ Bộ Hải quân BB 4-876.
2. Kho lưu trữ Hội truyền giáo M. E. P.
3. Thư của Giám mục Sohier (Bình) ở Huế gởi Hội Truyền giáo Paris 29-11-1869 tại kho lưu trữ M.E.P ở Paris.
4. Xem phụ lục I.
    Ở đây Nguyễn Trường Cửu muốn nói đến chuyến đi châu Âu của thân sinh mình năm 1859-1860. Nhưng theo chúng tôi, thì những năm 1859-1860, Nguyễn Trường Tộ không đi tới châu Âu. Do đó sự kiện được nói trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ ở đây là vào thời điểm này.
5. Trong Kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp ASIE 29 bis có một phúc trình ngày 29-3-1867 nói là: “Giám mục Gauthier, đặc trách sự vụ của Triều đình Huế, xin gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao”.
6. Tạp chí Missions Catholiques 1868 trang 59 - 60 nói: “Giám mục Gauthier rời nước Pháp ngày 25-11-1867”.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2010, 05:22:44 pm

Đầu tháng 5-1867, giám mục hình như đã đi tới thỏa thuận với một hội khai thác mỏ nào đó. Nguyễn Trường Tộ, ngày 17-5-1867, từ Pháp, đã gởi về cho Triều đình Huế một bản báo cáo nhận xét về sự hơn thiệt giữa các khoản cần phải thỏa thuận với các Hội khai thác mỏ1.

Giám mục Gauthier đã đặt mua một số sách và một số dụng cụ cần thiết cho các phòng thí nghiệm và việc giảng dạy trong trường chuyên nghiệp dự định thiết lập tại Huế2.

Bộ Hàng hải và Thuộc địa cũng cung cấp cho Triều đình Huế, theo yêu cầu của Giám mục Gauthier, một số dụng cụ xuất quỹ mua trị giá 3.950 francs và một số dụng cụ xuất kho, tất cả trị giá khoảng 10.000 francs (trích từ ngân sách địa phương của Nam kỳ về khoản các quà tặng)3.

Chuyên san “SEMAINE RELIGIEUSE DE PARIS” (Tuần tôn giáo địa phận Paris) ngày 27-7-1867, viết:

“Giám mục Gauthier ở Paris. Trong lúc lưu lại Paris, giám mục cần thu thập các điều cần thiết cho việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp của vương quốc An Nam và người ta quả quyết là giám mục đã đặt mua ở Hội chợ hơn 100.000 francs hàng hóa vào mục đích này... Trong số những người phương Đông đi theo giám mục có một Kiến trúc sư công giáo với một trí nhớ phi thường. Chính con người có tài năng xuất chúng này đã xây dựng nhà thờ Chính tòa của chúng ta ở Sài Gòn”4.

Nguyễn Trường Tộ, trong thời gian ở Pháp, ngoài văn bản (số 26) nói trên đây, còn thảo Tế cấp bát điều, đề ngày 20-10 năm Tự Đức 20 (tức 15-11-1867). Trong văn bản này, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ hết sức xông xáo, gặp gỡ nhiều người, tham quan nhiều chỗ. Từ đó ông càng thấy rõ hơn những việc cần phải làm để đem đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu.

Nhưng tiếc thay, tháng 6-1867, người Pháp, ở Nam kỳ, phản bội Hòa ước 5-6-1862, ngang nhiên đem quân thôn tính ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Triều đình Huế chỉ nghĩ tới việc tìm cách thu hồi lại đất đai bằng cách điều đình, thương thuyết, chứ không muốn nghĩ gì đến việc canh tân đất nước.

Sở Thương Bạc (làm công việc của Bộ Ngoại giao lúc bấy giờ), trong tháng 10-1867, liên tiếp gởi hai văn thư triệu phái bộ về: Không để các linh mục Việt Nam ở lại học, giảm bớt tối đa việc mua máy móc, việc thuê thầy, thuê thợ.

Chiếu hội của Sở Thương Bạc ngày 22 tháng 6 năm Tự Đức 20 (17-7-1867) viết:

“Nay căn cứ hai bản tư văn của giám mục và một bản phúc trình của phái viên, một tập bẩm văn của giáo sĩ, bản chức và các vị chính khanh trong các bộ đồng duyệt đã rõ biết đầy đủ. Hơn nữa việc giám mục và giáo sĩ tự xin đi Pháp là vốn muốn ra sức giúp Triều đình chứ không phải chỉ để tìm người, tìm khí cụ dùng được cho việc công mà thôi, các vị còn muốn làm sao cho hai nước qua lại với nhau, hai bên cùng có lợi, đem tình hòa mục mà đối đãi với nhau. Như thế thực là ý tốt. Nhưng mới đây nguyên soái Gia Định đem binh ép lấy ba tỉnh Long, Giang, Hà, bản chức đem thành tín ra đối xử chứ không chống. Soái phủ nay đã không theo lời giao ước, như vậy là cái tình đối với nhau đã khác trước rồi. Lại nghĩ rằng giám mục và giáo sĩ đã phải đi xa cực nhọc mà nếu cái lòng tốt muốn giúp đỡ lúc ban đầu không được toại ý, thì thật lấy làm tiếc. Nay nói rõ hết.

“Còn việc mướn người khai hoang, nếu thấy có ai quả thật vì đời hiếu danh, dạy vẽ cho các phương pháp khai thác mỏ và chế tạo dụng cụ mà tiền thuê vừa phải, không yêu sách thái quá, thì liệu thuê một vài người thôi, không nên mang nhân công về cho tốn phí nhiều. Đồng thời người ấy phải là người đáng tin cậy, chắc chắn không có tình riêng tráo trở. Tương lai hoặc có mướn hay thôi không mướn nữa là do bản quốc lượng xét được hay không được, chứ không nên ồn ào gây rắc rối. Nay giám mục và giáo sĩ hãy xét liệu thuê mướn và phải bảo đảm sẽ không có gì trở ngại về sau mới được. Bằng không thì khoản này hãy đình chỉ.

“Còn về bàn máy in ảnh thì không cần thiết lắm, để thong thả sẽ sắm sau. Ngoài ra tất cả các máy móc, thứ nào có thực dụng mà cần thiết và giá rẻ như máy điện báo bảy, tám chục quan chẳng hạn, giám mục với giáo sĩ và phái viên xem xét chọn mua một hai cái. Các bộ sách Pháp nên giao giáo sĩ kiểm xem rõ ràng, sách nào thiết dụng mà chưa mua, nên lựa mua ít nhiều. Về giá thuê mướn, giá hàng hóa v.v... cũng nên lựa ra mà ghi rõ để tiện mua sau này. Như thế mới khỏi đi không rồi lại về không. Còn các thứ mua được nên tùy tiện thuê chở về để tiện thanh toán một lần luôn. Linh mục Điều cũng phải về cùng một thể. Không nên lưu lại chờ đợi làm gì. Về phần giáo sĩ khi về nước đi đường bộ để quan sát, thì đến Bình Thuận sẽ được cấp ngựa. Ngoài ra giám mục và các phái viên muốn đi đường thủy hay đường bộ tùy ý...”
5.

Ngày 20-9 năm Tự Đức 20 (17-10-1867), Thương Bạc lại gởi văn thư như sau:

“Nay tiếp được một tờ phúc văn của giám mục, một tờ hóa đơn và bản sao hai tờ phúc văn lần trước, bản chức đã cùng các vị chính khanh trong các Bộ đã duyệt xong và đã rõ. Nhưng theo phúc văn nói là đã gởi hai lần phúc văn mà đã 5 tháng chưa được hồi âm, hơn nữa hai lần phúc văn đó: Một nói về khoản đã chọn được người làm việc mong trên quyết định, một nói về việc đã lựa mua các thứ máy móc. Bản chức đã xét rồi và theo thứ tự chiếu phúc gởi qua soái phủ Gia Định để chuyển lại. Nay chiếu theo hai bản sao phúc văn này, thì sự lý cũng như nhau thôi, không cần phải nói lại rườm rà. Duy trong đó có một tờ nói đã chọn được hai linh mục giỏi về hóa học, vật lý và các môn thiên văn, địa lý. Họ đều là thuộc hạ của giám mục đang chờ để cùng về kinh đô. Hơn nữa hai linh mục này đều là người trong đạo giáo rất đồng tâm đồng chí với giám mục, chứ không phải như người trong các hội khác. Nếu thế thì cứ giao cho họ theo nghề mà dạy tưởng cũng có ích cho thực dụng. Khi giám mục về nên đem hai linh mục cùng về thì tốt. Còn ba người về nghề binh bị, tơ sợi, đốt đèn, thì chưa cần thiết lắm, xin đừng mướn. Về khoản các sách vở, đồ vật đã mua xong, cứ như đơn mua nói cũng khá đủ dùng, thì hãy thuê chở về. Ngoài ra, không nên mua thứ gì thêm. Sau này nếu cần gì, thì nhờ giám mục gởi mua cũng được. Lại nữa trong phúc văn lần này, nói hai phái viên là Trần Văn Đạo v.v... không chịu được lạnh mùa đông nên bệnh. Giám mục nên thu xếp cho họ sớm về trước để khỏi bị lạnh gắt vào giữa mùa đông năm nay. Giám mục và giáo sĩ cũng nên sắp đặt xong mà về cho khỏe...”6.

Qua hai văn bản trên đây, chúng ta thấy là Triều đình Huế đã hạn chế mục tiêu chuyến công tác của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier, một phần vì sợ tốn kém, một phần vì sợ phiêu lưu rắc rối.
________________________________________
1. Xem di thảo số 26.
2. Xem phụ lục VI: Bản kê khai các sách và dụng cụ do Giám mục Gauthier mua.
3. Theo báo cáo của Giám đốc các thuộc địa ngày 14-6-1867: Để giúp Triều đình Huế thiết lập một đài khí tượng tại Huế, ngoài những khí cụ và dụng cụ có trong Kho bản đồ và sơ đồ của Bộ, còn đề nghị mua thêm:
    Machine électrique 250 frs
    Machine pneumatrique grande avec accessoire 1000 frs
    Télégraphe autographe LeNoir 1000 frs
    Appareil à gaz éclairant 1000 frs
    Microscope solaire 300 frs
    Deux microscopres Composés 400 frs
                                               3950 frs.
4. Kiến trúc sư Công giáo nói đây chính là Nguyễn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ xây nhà nguyện Dòng Thánh Phaolô ở số 4 Tôn Đức Thắng ngày nay. Nhà thờ Chính tòa, tức Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, được đặt viên đá đâu tiên tháng 10 năm 1877.
5, 6. Xem Lê Thước, tlđd. Phụ lục II.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 12:11:08 am

6. KẾT QUẢ CHUYẾN ĐI PHÁP

Ngày 29-2-1868, Nguyễn Trường Tộ và phái đoàn Giám mục Gauthier về tới Huế. Trong một bức thư gởi về Pháp cho Hội Truyền bá Đức tin đề ngày 31-1-1868, Giám mục Gauthier viết:

“Tôi hân hạnh báo tin cho các bạn biết là dự án thiết lập một trường học ở Huế, để dạy các khoa học, tiến triển tốt đẹp. Mấy ngày sau khi chúng tôi tới kinh đô vương quốc An Nam, ngày 29-2, nhà vua hỏi về chương trình của chúng tôi cũng như danh sách liệt kê các dụng cụ và máy móc đem về cho trường học. Trước hết nhà vua thích thú xem xét các thứ mà chúng tôi mua ở Pháp cho Triều đình; sau đó nhà vua muốn xem tận mắt các thứ mà Bộ Hàng hải tặng. Đồng thời nhà vua cũng quan tâm tới lương bổng của các giáo sư. Lương bổng thì cũng khiêm tốn thôi, nhưng tạm đủ. Sau hết nhà vua sẵn sàng chấp thuận cho phép Giám mục Sohier xây trường trên mảnh đất mà giám mục đề nghị, nằm giữa nhà thờ và tòa giám mục...

“Về phần tôi và những người đi theo tôi, chúng tôi chỉ có thể ca ngợi cách xử sự của nhà vua. Nhiều lần nhà vua hỏi thăm về sức khỏe của chúng tôi; nhà vua đã gởi cho chúng tôi các quà tặng và huy chương cao cấp cho các tân giáo sư”
1.

Theo một tờ tấu của Viện Cơ mật, ngày 4-3-1868, thì đề nghị tặng thưởng như sau:

* Cho Giám mục Gauthier được:

    - Một tấm “Ngũ phúc kim tiền”, nặng 5 đồng cân (có tua).

    - Một tấm “ngân tiền” (hạng Song long: đại, tiểu, mỗi thứ một tấm; hạng ngũ phúc, tam thọ, mỗi thứ một tấm), cộng lại nặng 3 lượng, 5 đồng cân, 5 phân.

    - Một số đoạn bằng 5 loại tơ màu đen để may áo dài chật tay (có một đoạn lụa bằng màu lục để lót tay).

    - Một xấp lương sa “Bửu lam nam hoa”.

    - Một xấp sa có vân “Nam tố tuyết bạch”.

    - Một xấp lụa “Tuyết bạch”.

* Nguyễn Trường Tộ được:

    - Một tấm “Tứ mỹ kim tiền” nặng 4 đồng cân (có tua).

    - Năm tấm “Ngân tiền” (Hạng sứ dân: Đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, tam thọ, mỗi thứ một tấm). Cộng lại một lượng, 5 đồng cân, 5 phân.

    - Một xấp lụa lương sa “Bửu lam nam hoa”.

    - Một cuộn tơ lông màu lam để may áo dài chật tay (có một đoạn lụa màu xanh để lót trong).

    - Một xấp lương sa “Bửu lam nam tố”.

    - Một xấp trừu “Tuyết bạch nam hoa”.

    - Một xấp lụa “Tuyết bạch”.

* Nguyễn Điều, Nguyễn Hoằng, Vị được mỗi người:

    - “Nhị thắng kim tiền”, mỗi người một tấm, nặng hai đồng cân (có tua).

    - “Ngân tiền” mỗi người bốn tấm (Hạng sứ dân: đại, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng ngũ phúc, hạng tam thọ mỗi thứ một tấm) mỗi phần công lại một lượng, ba đồng cân, năm phân.

    - “Nam tố lương sa” màu đen, mỗi người một xấp.

    - Tơ lông màu lam (Châu phê: hoặc màu đen huyền cũng được) mỗi người một đoạn (làm một cái áo tay chật, có một đoạn lụa xanh lót trong).

    - Lụa “Bạch tuyết” mỗi người một xấp.

    - Một xấp vải dày mịn “Bạch tuyết” hạng nhì (chia làm ba mỗi người một đoạn).

* Hai linh mục và giáo sĩ (người Pháp):

    - “Tam thọ kim tiền” mỗi người một tấm (Châu phê: Cấp cho Ca xanh ba tấm ngân tiền này; cấp cho ba người ngân tiền hạng sứ dân: đại trung, tiểu mỗi thứ một tấm), mỗi tấm nặng ba đồng cân (có tua).

    - “Long vân ngân tiền” hạng nhỏ, mỗi tấm nặng một đồng cân, cấp cho bốn người, mỗi người một tấm.
____________________________________
1. Tạp chí Missions Catholiques 1868 trang 59-60.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 12:13:40 am

7. VỀ DỰ ÁN MỞ TRƯỜNG

Các sách và dụng cụ mà Giám mục Gauthier đem về, được kê khai trong một danh sách đệ nạp1, thì cũng chỉ dùng để mở trường dạy học mà thôi. Giám mục cũng đem về hai linh mục, một giáo sĩ và một người thợ máy, tất cả đều là người Pháp.

Theo một tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức 21 (23-2-1868 ):

- “Linh mục Thông, (tức Montrouzies)2 biết phép toán, bản đồ các nước thiên hạ, in bóng (quang học), điện khí, phân ngũ kim; biết nói có thứ đất thứ đá ấy thì có những giống chi”. Nhưng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris3, thì linh mục Montrouzies trước khi gia nhập Hội Truyền giáo Paris ngày 1-5-1867, đã đậu cử nhân văn chương.

- “Linh mục Đồng (tức Renauld) biết phép toán, thiên văn, đo độ số mặt trời mà họa đồ bản, đo thiên xích cho được đi biển, biết phép cầu cao cầu viễn, biết đo đất cho biết nơi nào cao nơi nào thấp, biết bản đồ các nước thiên hạ, biết dùng truyền tin thẳng, biết làm thu lôi trụ”4. Nhưng cũng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris, thì sau khi học xong chủng viện, linh mục Renauld gia nhập Hội Truyền giáo Paris 14-10-1866 và theo học một khóa đặc biệt về kiến trúc và họa đồ một năm trước lúc lên đường sang Việt Nam.

- “Giáo sĩ (tức bác sĩ Hemaiz5 không phải là linh mục hay tu sĩ mà chỉ là một nhân sĩ tôn giáo nên gọi là giáo sĩ, như Nguyễn Trường Tộ cũng được gọi là giáo sĩ), thì không dạy học trò được vì nặng tai, nhưng cũng giúp linh mục Thông mà phân tích các tính ngũ kim ngũ hành. Lại biết làm thuốc”. Nhưng tới Việt Nam chưa được mấy ngày, “giáo sĩ” này do bệnh cũ tái phát đã xin về Pháp trở lại”6.

- Còn Ca xanh (nguyên tên là Ca sa nhi) là một người thợ máy, trước đã giúp việc tàu Thuận Thiệp, có lẽ do giám mục gặp ở Sài Gòn đem về giới thiệu với Triều đình, nhưng Ca xanh đòi lương quá cao (320 đồng/tháng, tính ra tiền là một ngàn, bảy trăm sáu chục quan) và đòi hỏi nhiều điều kiện, nên không dùng7.

Triều đình dự tính lấy sứ quán làm cơ sở của trường học, nhưng Giám mục Gauthier và Giám mục Sohier cho rằng sứ quán quá ẩm thấp, không bảo quản được dụng cụ máy móc và cũng không tiện cho việc học tập nên đề nghị xây dựng cơ sở mới trên một khu đất rộng chừng hai mẫu ở xã Vạn Xuân, nằm giữa nhà thờ Kim Long và Tòa Giám mục Huế8. Theo như thư của Giám mục Gauthier viết ngày 31-3-1868, thì vua Tự Đức đã chấp thuận dự án này.
____________________________________
1. Xem phụ lục VI, 10.
2÷4. Mémorial de la Société des Missions Étrangères de Paris, mục: MONTROUZIES và RENAULD.
5. Xem thư của Giám mục Gauthier 30/11/1870 Annales de la Propagation de la Foi tập 43 trang 242 (chú thích).
6. Xem tờ trình của Giám mục Gauthier 25/3/1868 (Phụ lục VI. 11).
7. Xem phụ lục VI, 7.
8. Xem tờ trình của Giám mục Gauthier và Sohier, Phụ lục VI, 9.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 12:18:01 am

8. HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

Việc mở trường, như được chuẩn bị trên đây, thực ra còn rất là khiêm tốn: Các giáo sư cũng chỉ mới hai, ba người và cũng không có ai là thực chuyên môn kinh tế, khoa học, kỹ thuật; sách thì cũng chỉ mấy quyển và cũng còn phải dịch ra tiếng Việt Nam, tiếng Hán cho người mình tiếp thu; cơ sở vật chất thì coi như chưa có.

Nguyễn Trường Tộ cũng thấy mặt hạn chế này của việc mở trường. Tuy nhiên ông vẫn tán thành, vẫn ủng hộ và đem hết sức mình để giúp đỡ. Trong văn bản đầu tiên, khi về tới Huế, đề ngày 12 tháng 12 năm Tự Đức 21 (5-3-1868 ), ông nói:

“Còn như các khoản học tập, như đã nói trong tờ bẩm của giám mục, chẳng qua mới mở bước đầu, để khiến cho người nước ta sinh lòng ham muốn, cầu tiến dần vào thực dụng, mở dần con đường từ nhỏ đến lớn về sau, làm kế ném gạch ra để được ngọc mà thôi (...) Nếu học sinh gia tâm học tập, thì cũng phải một số năm mới biết được như chúng tôi ngày nay. Bây giờ nếu giáo sư mở lớp giảng dạy mà không có chúng tôi thay giáo sư giảng lại cho học sinh những chỗ khúc mắc chưa hiểu, thì cũng khó bề tiến ích”1.

Điều mà Nguyễn Trường Tộ thấy cấp bách hơn cả, có thể làm để có lợi ngay hơn cả, nhất là sau chuyến đi vừa rồi, là tìm cách khai thác các tài nguyên của quốc gia, để làm giàu cho dân cho nước. Về điểm này, thì chuyến đi lần này không đem lại được gì cụ thể cả. Vì thế, ông xin đi lần nữa, cùng với một phái viên và Nguyễn Hoằng làm thông ngôn, để tìm người, thuê thợ; nếu không tìm được người, không thuê được thợ, thì mình mua máy móc rồi tự làm lấy...

Nhưng Triều đình vua Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam kỳ đã mất vào tay Pháp. Sau những cuộc thương thuyết không thành công giữa Trần Tiễn Thành và Lagrandière tại Sài Gòn cuối tháng 1-1868, Triều đình vua Tự Đức nhất định cử một phái bộ sang Pháp để điều đình với chính phủ Pháp.

Nguyễn Trường Tộ sau khi đi Pháp về, trong thời gian từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4-1868, đã gởi cho Triều đình, ít nhất là 9 văn bản:

Di thảo số 28 (Đầu tháng 3-1868 )

Di thảo số 29 (5-3-1868 )

Di thảo số 30 (9-3-1868 )

Di thảo số 31 (12-3-1868 )

Di thảo số 32 (12-3-1868 )

Di thảo số 33 (13-3-1868 )

Di thảo số 34 (15-3-1868 )

Di thảo số 35 (15-3-1868 )

Di thảo số 36 (7-4-1868 )

Ngoài văn bản số 28, là văn bản đầu tiên, sau khi về tới Huế, còn nói về việc mở trường và phát triển đất nước, hầu hết các văn bản khác đều xoay chung quanh vấn đề sứ bộ đi Pháp. Quan điểm, trước sau như một, của Nguyễn Trường Tộ là phải tự lực tự cường để lấy lại phần đất đã mất, chứ không thể van xin nài nỉ. Nhưng có thể nói là cho tới 12-3-1868, Nguyễn Trường Tộ tỏ ra sẵn sàng đi theo sứ bộ và đã có những kiến nghị rất cụ thể và chi tiết để chuẩn bị cho sứ bộ lần này.

Khoảng giữa tháng 3-1868, Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Hoằng được cấp phát ngựa và chi phí về Nghệ Tĩnh thăm mẹ già trước lúc lên đường đi theo sứ bộ2.

Sau khi về thăm quê, trở lại Huế, Nguyễn Trường Tộ đổi ý, kiến nghị với Triều đình là không nên sai sứ bộ sang Pháp điều đình (Di thảo số 35) và chỉ nên gởi sứ bộ vào Sài Gòn thương thuyết (Di thảo số 36).

Việc đi Pháp được đình hoãn không thời hạn. Ngày 18 tháng 4-1868, Bộ Lễ lại cấp bằng cho Nguyễn Trường Tộ trở về Nghệ An3.

Trước đó, ngày 7-4-1868, Giám mục Gauthier, khi thấy việc mở trường không được nói tới, cũng đã lên đường trở về Xã Đoài4.
____________________________________
1. Di thảo số 29.
2. Ngày 19-2 năm Tự Đức 21 (tức 12-3-1868 ) Bộ Lễ lập bằng cấp như sau:
    “Nay căn cứ theo lời bẩm của giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ và thông ngôn Nguyễn Hoằng nói thì bọn họ phụng phải đi Pháp nhưng đều còn mẹ già xin cấp cho con ngựa và mỗi người một cái cáng, ngày mai về quê thăm một tuần nhật xong sẽ trở lại kinh đô hầu phái bộ. Bộ đã tâu và đã được phê chuẩn. Lại được châu phê: “ban cho mỗi người 10 lạng bạc để phụng dưỡng. Khâm thử.” Vậy khi được cấp bằng này và tiền của Bộ Ty đệ cấp mỗi người 10 lạng thì phải tuân phụng chiếu nhận. Lần này về thăm chỉ một tuần nhật vô kinh không được kéo dài. Nay lập bằng cấp trên đây cho Nguyễn Trường Tộ để chấp chiếu”. (Xem phụ lục II).
3. “Bộ Lễ làm bằng cấp về việc như sau: Nay giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ về kinh bệnh cũ tái phát. Khâm phụng cấp phí và ngựa trạm cho về Nghệ An điều trị. Cùng với bằng cấp này cho nhận lệ phí 5 lạng bạc về quê dưỡng bệnh. Nay lập bằng cấp cho Nguyễn Trường Tộ chấp chiếu. Ngày 26 tháng 3 năm Tự Đức 21”. (Xem phụ lục II)
4. Thư Giám mục Gauthier gởi cho Đô đốc Ohier ngày 20-6-1868. Xem Kho lưu trữ Bộ Pháp quốc hải ngoại Indochine A 20 (9) Carton 4.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 12:19:32 am

9. TẠI SAO VIỆC MỞ TRƯỜNG Ở HUẾ BỊ BỎ DỞ?

Theo các thư từ của Giám mục Gauthier viết về Pháp, thì sở dĩ việc thực hiện dự án mở trường tại Huế không thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị quan có thế lực trong Triều đình. Trong một bức thư gởi Hội Truyền giáo Paris, đề ngày 31-3-1868, Giám mục Gauthier viết: “Công việc sẽ tiến triển nhanh hơn nếu không có việc cử sứ bộ đi Pháp và những sự chậm chạp của xứ này... Trong các quan thượng thư, có hai vị cựu trào tìm cách cản trở quyết tâm của nhà vua”1.

Nhưng có lẽ không phải chỉ có Nguyễn Tri Phương hay Võ Trọng Bình, mà có cả một luồng dư luận khá rộng rãi, trong Triều đình cũng như ở các tỉnh, tỏ ra dè dặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ người Pháp: Một trường đào tạo nhân tài đầu tiên hoàn toàn do giáo sư người Pháp, đặt ngay bên cạnh Tòa Giám mục, dưới sự giám sát của Giám mục.

Chúng ta biết là trong những ngày từ tháng 4-1868, có một sự phản ứng rất dữ dội của các nho sĩ ở khắp nơi đối với người công giáo: Nhiều nhà thờ bị đốt phá - Giám mục Gauthier rời Huế đầu tháng 4-1868, nhưng cũng phải dừng lại ở Đan Sa, bên kia bờ sông Gianh, không về Nghệ Tĩnh được.

Linh mục Montrouzies, một trong những giáo sư do Giám mục Gauthier đem về để thiết lập trường Kỹ thuật tại Huế đã viết cho Hội Truyền Bá Đức Tin trong một thư đề ngày 16-6-1868 như sau:

“Ở đây các biến cố xảy ra và diễn tiến một cách hết sức mau lẹ. (Giám mục Charbonnier - ở Bình Định - bị bắt; 30 làng ở Nam Định bị đốt phá). Chắc các bạn đã biết về những lời vu khống xấu xa và buồn cười, truyền đi khắp nước, chống lại người Công giáo và các thừa sai. Người ta nói khắp nơi rằng người Công giáo là những kẻ đi bỏ thuốc độc; Giám mục Sohier đã đem từ Pháp sang 400 cân độc dược để giết các quan lại và các nho sĩ... Người ta còn viết và gởi lên nhà vua một bức thư nặc danh, trong đó người ta tố cáo Giám mục Sohier muốn lên ngôi. Tự Đức chế diễu bức thư đó và chế diễu cả ông hoàng dâng lên vua bức thư đó. Nhưng nhà vua cũng càng ngày càng nghi ngại đối với người Công giáo. Từ khắp nơi người ta gây áp lực để nhà vua ra lệnh cấm đạo một lần nữa. Nhà vua thì tốt, nhưng nhu nhược và bị bao vây bởi những kẻ xấu. Họ dọa giết nhà vua, nếu nhà vua không nhượng bộ họ. Trong lúc chờ đợi một cuộc bách hại công khai, người ta cướp của, đốt nhà, bắt giam và hành hạ các giáo hữu khốn khổ của chúng ta.

“Các kẻ thù của chúng ta lại đang chĩa mũi dùi vào Kim Long, nơi ở của Giám mục Sohier. Linh mục Renauld và tôi cũng đến ở đó từ khi Giám mục Gauthier trở về Bắc kỳ. Các nho sĩ dự định tấn công nơi ở chúng tôi và giết chết tất cả những ai ở trong đó. Chính một sứ giả của nhà vua tới nói cho giám mục biết như vậy. Trong hai ngày và một đêm, lính gác các ngả đường dẫn tới Tòa Giám mục. Mấy ngày sau, nhiều người hiếu kỳ qua lại rất đông trước nhà thờ và trước Tòa Giám mục, tưởng là các cơ sở đó đã bị phá hủy. Nhưng cám ơn Chúa, nhà thờ và Tòa Giám mục vẫn đứng vững và chúng tôi vẫn an toàn.

“Sau những ngày náo động đó, bỗng nhiên yên tĩnh đã trở lại: Đe dọa, vu khống, bắt bớ, tất cả đều ngưng. Chỉ vì một tàu chiến Pháp đến Huế đem đến cho nhà vua huy chương do Triển lãm cấp và một vài tặng vật...”
2.
____________________________________
1. Kho lưu trữ MEP. Tonkin méridional. Trong một thư gởi Hội Truyền giáo Paris 30-11-1870, Giám mục Gauthier lại viết: “Chính phủ đã nói với một trong những linh mục của tôi là tôi sẽ góp ích cho xứ sở này, nếu tôi tìm được người có khả năng khai thác mỏ than và thiết lập các lò luyện thép như ở châu Âu. Điều mà tôi đã làm năm 1867, nhưng những người tôi đem từ Pháp về theo yêu cầu của nhà vua đã bị Võ Trọng Bình lúc đó đuổi về...” Annales de la Propngation de la Foi, tập 43, trang 242-243.
2. Missions Catholiques 1868.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 10:54:28 pm

IV. NHỮNG NĂM THÁNG CUỐI ĐỜI
(20-4-1868 – 22-11-1871)


Nguyễn Trường Tộ về Nghệ An lần này, ở có tới hơn ba năm rồi từ trần.

1. XÂY CẤT CƠ SỞ NHÀ CHUNG XÃ ĐOÀI

Chính trong khoảng thời gian này, Nguyễn Trường Tộ đã giúp xây dựng các cơ sở của Nhà Chung Xã Đoài.

Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ viết:

“Khi nghe lắng sáp rồi, thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về Nhà Chung Xã Đoài, ngoài dân sự, tan tành tả tơi, chẳng còn gì nữa, thì ông Tộ ra mẫu và coi sóc làm nhà phòng cho Đức cha Hậu ở (...) Lại làm nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở, và làm nhà tràng Latinh ba tầng, hình chữ thập, gọi là nhà Tây, cho học trò Latinh ở và học, hãy còn đến rày, cùng làm Nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra ở thành Lộ Đức, đẹp lắm và ở ngoài xây tường cài hoa lộng, giống các sắc hoa Tây, Nam rực rỡ xanh tươi vui mắt lắm, rầy hư rồi...”1. Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, trong đoạn trích dẫn trên đây, có chỗ không chính xác. Như nói: “Khi nghe lắng sáp” tức sau khi được tha cấm đạo, vào khoảng năm 1862-1863, “Đức cha Hậu lại đem ông Tộ... về Nhà Chung Xã Đoài” là không đúng. Chúng ta biết chắc là Giám mục Gauthier tháng 6 năm 1863 đã về Huế, để tìm cách về Xã Đoài, nhưng chỉ tới được ở bên kia bờ sông Gianh, ở giáp ranh giới phía Nam của Giáo phận Vinh và ở lại đó cho tới đầu tháng 5 năm 1866 mới cùng Nguyễn Trường Tộ về tới Nghệ An. Hơn nữa, lần này Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier chỉ ở lại Nghệ An khoảng ba tháng, rồi phải trở về Huế để chuẩn bị đi Pháp, nên Nguyễn Trường Tộ có lẽ không đủ thời gian để làm bất cứ một công việc gì, ngoài việc giúp Hoàng Tá Viêm đào Thiết Cảng như chúng ta đã thấy trên đây.

Nhà Chung Xã Đoài, tức cơ sở của giáo phận Vinh, cho tới đầu năm 1868, còn ở tại Tràng Nứa hay Bùi Ngõa thuộc huyện Hưng Nguyên ngày nay, bên phía Tây bờ Kênh Gai, đối diện với Xã Đoài ở phía Đông Kênh Gai, thuộc huyện Nghi Lộc ngày nay.

Theo phúc trình của Giám mục Retord ngày 23-7-1839, thì ở Nghệ An (cũ) có 7 xứ đạo lớn: mỗi xứ đạo bao gồm nhiều họ đạo nhỏ trong một hay nhiều huyện. Trong 7 xứ đạo này có một xứ đạo tên là Làng hay Xã (Pagus) Đoài với 4.974 giáo hữu. Làng Đoài hay Xã Đoài bao gồm các họ đạo trong huyện Hưng Nguyên. Trong phúc trình của Giám mục Gauthier năm 1852, thì không nói xứ đạo Xã Đoài mà nói xứ đạo Hưng Nguyên với 5.197 giáo hữu và ba linh mục2.

Năm 1868, sau khi làm xong sứ mạng mà Triều đình Huế giao phó là đi Pháp mua máy móc và thuê thầy thợ trở về, với hào quang của một người được huy chương, được tặng thưởng của Triều đình, Giám mục Gauthier đã không những đấu tranh quyết liệt với những quan lại và nho sĩ bách hại công giáo3, mà còn tin tưởng ở tương lai, dám khởi công xây dựng những cơ sở nhà chung một cách kiên cố. Trước đây, trong thời kỳ đạo bị cấm, các cơ sở như nhà thờ, nhà ở của các giám mục, các thừa sai chỉ được xây dựng một cách lén lút, tạm bợ. Giám mục Gauthier đã đem cơ sở của nhà chung từ bên kia phía Tây bờ Kênh Gai thuộc huyện Hưng Nguyên, là nơi đông dân cư sang phía bên Đông bờ Kênh Gai thuộc huyện Chân Lộc, tức huyện Nghi Lộc ngày nay, ở vị trí của Xã Đoài hiện tại là vùng đất mới. Cái tên Làng Đoài hay Xã Đoài là tên của cơ sở nhà chung được đem từ bên Tràng Nứa, Bùi Ngõa, thuộc huyện Hưng Nguyên, sang bên này cho các cơ sở mới thuộc huyện Chân Lộc, ngày nay là Nghi Lộc4.

Theo Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do Nguyễn Trường Cửu viết, thì Nguyễn Trường Tộ là người đứng ra điều khiển các công trình xây cất này. Giám mục Gauthier, trong một thư gởi cho Hội Truyền giáo Paris, có nói tới các xây cất nhưng không nói đến tên người xây cất, tuy nhiên không thể có ai khác để điều khiển các công việc xây cất này ngoài Nguyễn Trường Tộ là người mà Giám mục Gauthier luôn luôn gọi là “Kiến trúc sư”. Giám mục Gauthier viết trong thư đề ngày 7-12-1869:

“Để cho cộng đoàn chúng tôi và cơ sở của Giáo hội không bị đe dọa bởi một luồng gió bất ngờ nào hay bởi những kẻ phá hoại nào, tôi đã cho xây một nhà bằng gạch, lợp ngói, gồm có một phòng cho giám mục và hai phòng cho các thừa sai, với một phòng chứa đồ. Đây có thể nói là Tòa Giám mục. Người ta cũng đang xây một nhà nguyện để có thể giữ Mình Thánh Chúa một cách trang trọng và an toàn.

“Thấy phần đông học sinh của chúng tôi hầu như luôn luôn bị bệnh hoạn, tôi cũng đã cho xây một nhà tầng, hy vọng là sức khỏe của học sinh không còn là cản trở như vẫn xảy ra cho tới nay cho những sự học tập nghiêm túc và liên tục, và cũng là làm cho người ta tin tưởng hơn ở tương lai tức là tin tưởng ở Chúa quan phòng: Chúng ta làm lên tinh thần cho những người giáo hữu khốn khổ đã bị ngã lòng mỗi khi nghĩ rằng luôn luôn có một tai họa sắp xảy đến (...).

“Chi phí xây dựng một nhà trường, một nhà nguyện và một Tòa Giám mục là 19.545 quan Pháp...”
5.

Trong số các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn “nhà tràng Latinh ba tầng, hình chữ thập gọi là nhà Tây”, chứ nhà giám mục và các nhà phụ thuộc bị bom Mỹ đánh sập; nhà Cố giữ việc, toàn bằng gỗ, bị mối mọt, nên đã được tháo gỡ.

Nhà tràng Latinh, tức tiểu chủng viện, lúc bấy giờ được xây cất trong khu vực Nhà Chung, hình như cho dễ bảo vệ, sợ bị đánh phá. Sau này, khi Pháp đã chiếm trọn Bắc kỳ và Trung kỳ, thì Tiểu Chủng viện được xây cách khu Tòa Giám mục khoảng hai cây số... Ngôi nhà ba tầng hình chữ thập gọi là nhà Tây, có thể là vì xây cất theo lối Tây, có được sửa chữa ít nhiều, nhưng toàn bộ kết cấu sườn, mái còn nguyên kích thước, kiểu mẫu của người thiết kế.

Riêng ngôi nhà nguyện được Nguyễn Trường Tộ xây có thế khang trang, chứ không phải là đồ sộ, do kinh phí được cấp phát trong một hai năm không đủ cho ngần ấy xây cất Nhà thờ Chính tòa đồ sộ ở Xã Đoài được xây cất dưới thời Giám mục Croc (1877-1885).

Lê Thước, trong “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử”, NAM PHONG số 102 có lẽ dựa trên truyền khẩu có nói rằng: “Sau tiên sinh dời đến ở phía ngoài cổng trước nhà thờ Xóm Mới (Tân ấp)..., Năm 1863 (Tự Đức thứ 16) vì làng Xuân Mỹ (Xuân Mỹ thôn) đất xấu, nhiều khí độc khiến dân ở đây hao mòn, tiên sinh mới đi tìm một nơi đất tốt khác đưa dân chúng di cư đến ở. Nơi dân dời đến rộng khoảng 40 mẫu, bốn mặt bên ngoài có mở đường lớn, bên trong có nhiều đường nhỏ nối liền ngang dọc thẳng như bàn cờ...”.

Chúng ta biết chắc chắn là Nguyễn Trường Tộ bỏ Nghệ An cuối năm 1858 và giữa năm 1866 mới lần đầu tiên trở về lại quê hương nhưng chỉ ở nhà khoảng ba tháng, nên có lẽ cũng chưa tính toán được gì. Do đó, việc Nguyễn Trường Tộ dời nhà tới ở trước Nhà chung Xã Đoài và việc Nguyễn Trường Tộ giúp thôn Xuân Mỹ dời dân có thể là vào khoảng 1868-1871.

Theo những người hiểu chuyện ở xứ đạo Xuân Mỹ, thuộc xã Nghi Đồng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh ngày nay, thì mẹ của Nguyễn Trường Tộ là người Xuân Mỹ, thuộc cánh họ Vũ là một dòng họ tương đối lớn ở đây. Trước kia dân Xuân Mỹ ở vùng dưới chân đồi thấp, đất ruộng, cách chỗ ở hiện nay khoảng 400 thước về phía Tây. Nơi ấy gần khe suối, tới mùa mưa lụt thì lầy lội, bẩn thỉu. Nguyễn Trường Tộ đã khuyên dân dời cư lên triền đồi (chỗ ở hiện nay). Ông vẽ đường, chia ô cho các hộ. Dấu vết của một số đường sá còn thấy ngày nay.
__________________________________
1. Xem phụ lục I.
2. Xem C.V.P. tlđd. Trang 367.
3. Giám mục Gauthier đã trực tiếp tới gặp các quan đầu tỉnh Nghệ An, gặp khâm sai đại thần, gởi thư cho Triều đình khiếu nại và đòi bồi thường cho các nạn nhân. Trong một thư gởi về Hội Truyền giáo ở Paris, Giám mục Croc viết: “Đức Giám mục Gauthier quyết tâm trực chiến với các nho sĩ, chắc chắn là trong tất cả các giám mục thì ngài là người mà Triều đình sợ hơn cả và đánh giá cao hơn cả” (Kho lưu trữ M. E. P).
4. Trong một bị vong lục gởi cho Triều đình ngày 10-12-1874, Giám mục Gauthier có nói đến huyện Chân Lộc là nơi có trụ sở chính của Giáo hội chúng tôi. (Kho lưu trữ Bộ Pháp quốc hải ngoại Indochine A 30 (25) Carton 13)
5. Trong một thư đề ngày 4-1-1870, giám mục Gauthier nói: “Người ta đã xây một chủng viện ba tầng, kể cả tầng trệt” (Kho lưu trữ M.E.P Tonkin Méridional).
    Theo một bức thư của Giám mục Gauthier ngày 30-11-1870, thì trường học với hai tầng lầu và một tầng trệt đã được đưa vào sử dụng cho học sinh và làm cho mọi người phải tấm tắc khen ngợi “Annales de la Propagation de la Foi” tập 43 trang 245.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 11:00:04 pm

2. NHỮNG LIÊN LẠC VỚI TRIỀU ĐÌNH HUẾ

Trong khoảng thời gian từ 18-4-1868, là ngày được cấp bằng để về quê, cho tới 22-11-1871, là ngày từ trần, Nguyễn Trường Tộ đã gởi lên Triều đình Huế gần 20 văn bản, trong số đó có ba bản hiện chưa tìm thấy ở đâu cả1.

- Tháng 8, năm Tự Đức 21 về việc bày trừ giặc bể (Di thảo số 38 ).

- Ngày 12 tháng 12, năm Tự Đức 23, về kế hoạch nội công ngoại kích để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ (Di thảo số 39).

- Ngày 20 tháng 12, năm Tự Đức 23, bổ sung kế hoạch sai sứ đi Tây và đánh úp Gia Định (Di thảo số 40).

- Ngày 10 tháng 2, năm Tự Đức 24, cho Pháp thông thương để đổi lấy 6 tỉnh (Di thảo số 41).

- Ngày 16 tháng 2, năm Tự Đức 24, về việc giao tiếp với người nước ngoài (Di thảo số 42).

- Ngày 18 tháng 2, năm Tự đức 24, kế hoạch thương nghị với Pháp và vận động giúp đỡ của các nước khác (Di thảo số 43).

- Ngày 21 tháng 2, năm Tự Đức 24, kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh (Di thảo số 44).

- Ngày 25 tháng 2, năm Tự Đức 24, về việc gởi học sinh sang Singapore học sinh ngữ (Di thảo số 46).

- Ngày 10 tháng 3, năm Tự Đức 24, về việc dịch các văn bản ngoại giao (Di thảo số 46).

- Ngày 10 tháng 3, năm Tự Đức 24, về việc nhờ Giám mục Hòa giúp lấy lại 6 tỉnh (Di thảo số 47).

- 22 tháng 5, năm Tự Đức 24, về tình hình chính trị nước Pháp (Di thảo số 48 ).

- Cuối tháng 3, năm Tự Đức 24, về việc cần nắm tình hình chính trị ở Pháp (Di thảo số 49).

- Ngày 2 tháng 5, năm Tự Đức 24, về tu chỉnh võ bị (Di thảo số 50).

- Cuối tháng 4 năm Tự Đức 24, về việc cần hiểu rõ tình hình chính trị của Pháp (Di thảo số 51).

- Đầu tháng 8, năm Tự Đức 24, về việc cần canh tân, quảng giao để giữ nước (Di thảo số 52).

- Ngày 20 tháng 8, năm Tự Đức 24, về nông chính (Di thảo số 53).

- Tháng 9, năm Tự Đức 24, về việc cần phải gấp rút tiến hành các kế hoạch (Di thảo số 54).

- Tháng 9, năm Tự Đức 24, nên giao thiệp chứ không nên nghi ngờ (Di thảo số 55).

Chuyến đi Pháp của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier không đưa đến kết quả cụ thể nào cả: Các sách vở và máy móc, tốn mấy chục ngàn quan Pháp, vẫn nằm trong kho.

Tuy nhiên, vua Tự Đức, vẫn có một cảm tình và quan tâm nào đó đối với Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier.

Chúng ta thấy là nhà vua vẫn ra lệnh điều tra và xử phạt các quan lại và nho sĩ bách hại người công giáo.

Nguyễn Hoằng, người đi theo Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ đi Pháp năm 1867, được trao chức linh mục ngày 2 tháng 8 năm 1868, rồi được cử vào Huế dạy tiếng Pháp, theo yêu cầu của nhà vua...2.

Tháng 1 năm Tự Đức 23 (tức tháng 2 năm 1870), nhà vua truyền hỏi các giới chức Nghệ An “Sao không nhân lúc bình thường hỏi bọn Tộ, Điều xem đạo của chúng có chỗ nào hay mà cố theo, có học thức mà cũng mê là vì sao vậy? Và sao không nhân lúc nhàn rỗi hỏi xem để tìm hiểu vấn đề Nam Kỳ như thế nào?”3.

Trong một bức thư gởi cho Hội Truyền giáo Paris, đề ngày 30-11-1870, giám mục Gauthier viết như sau:

“Quan Tổng đốc của chúng tôi đã mời tôi đến nhận một cách long trọng tại tòa tỉnh, năm đồng Kim khánh mà nhà vua sai ông trao tặng tôi vì đã phục vụ Triều đình và vì những gì tôi đã làm để giữ mối hòa hảo giữa lương và giáo. Tôi đã viết thư cám ơn nhà vua và nói là tôi sẽ dâng một thánh lễ cầu an cho ngọc thể.

“Triều đình cũng đã nói với.một linh mục của tôi là tôi sẽ giúp ích nhiều cho Nhà nước, nếu tôi tìm được người giúp khai thác các mỏ than và thiết lập các xưởng máy luyện kim như ở châu Âu. Điều mà tôi đã làm năm 1867, nhưng Võ Trọng Bình, lúc đó ở Triều đình, đã cho đuổi những người mà theo yêu cầu của nhà vua tôi đã đem từ Pháp sang...”
4.

Về phần Nguyễn Trường Tộ, thì không biết là trong khoảng thời gian, từ khi trở về Nghệ An cho tới lúc từ trần, có giúp gì được cụ thể cho Triều đình và còn lui tới Huế nhiều hay ít. Nhưng có điều chắc chắn là Nguyễn Trường Tộ luôn luôn canh cánh bên lòng hoài bão muốn làm một cái gì đó để giúp nước.
__________________________________
1. Trong văn bản số 50 ngày 2-5 năm Tự Đức 24 có nói là: “Trước đây, khoảng năm Tự Đức 22 tôi có bẩm một tập về TÁI TU CHÍNH VÕ BỊ...”, nhưng bản này không thấy ở đâu cả.
    - Trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành, ngày 9-11 năm Tự Đức 23 (Xem phụ lục VII, 4) có nó: “Ngày 6 tháng trước có tiếp trát... chuyển giao Cơ Mật viện một phong thư MẬT BẨM CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ... Nội dung xin đề nghị lập lãnh sự đại sứ tại kinh đô nước họ...” Văn bản này cũng không tìm thấy ở đâu cả.
    - Trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành, ngày 30 tháng 11 năm Tự Đức 23, (Xem phụ lục VII 5) có nói: “Ngày 9 tháng này có tiếp một phong thư mật bẩm của Nguyễn Trường Tộ” về việc thám thính để đánh úp ở Gia Định và sai sứ đi Tây. Nhưng bản này cũng không tìm thấy ở đâu cả.
2. Xem C.V.P sđd trang 313, trích tự thuật của Nguyễn Hoằng đăng trên tạp chí Sacerdos tháng 1-1936 trang 453-455 và tháng 2 trang 498-500.
3. Xem tấu của Cơ mật viện ngày 28-2 năm 1870 (Phụ lục VII, 2) và tấu của các quan chức tỉnh Nghệ An ngày 26-4-1870 (Phụ lục VII, 3).
4. Annales de la Propagation de la Foi tập 43 trang 242.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 11:04:08 pm

Sau khi gởi cho Triều đình hai văn bản với những đề nghị rất cụ thể về việc “tái tu võ bị” (năm 1869) và về việc “Tiễu trừ giặc bể” (tháng 9 năm 1868 ) mà không có hồi âm, Nguyễn Trường Tộ hình như im lặng đi một thời gian. Nhưng cuối năm 1870 đầu năm 1871, khi được tin là Pháp thất trận trong cuộc chiến tranh với Đức và vua Napoléon III đã bị truất phế (4-9-1870), Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi thư cho Triều đình đề nghị là nên lập lãnh sự ở Gia Định và sứ quán ở Pháp để nắm tình hình (Tờ bẩm đầu tháng 10 năm Tự Đức 23) và xin được vào Gia Định tổ chức đánh úp thu hồi lại 6 tỉnh Nam Kỳ (đầu tháng 11 năm Tự đức 23).

Trần Tiễn Thành, khi nhận tờ bẩm thứ nhất, thì cho rằng: “Cái khoản này năm trước y cũng đã trình bày chưa tiện thực hành, nay lại đề cập, viện dẫn lý thế hiện tại và điển cố biện thuyết, chẳng qua chỉ là muốn tỏ ra có lòng vì mình mà thôi. Nhưng bác đi vì thời sự khó thực hành, đó là ý kiến đã được thương nghị cùng thần Nguyễn Tri Phương, thần Phạm Phú Thứ, tất cả đều đồng ý như vậy”1. Nhưng khi nhận được tờ bẩm thứ hai, Trần Tiễn Thành tâu rằng: “Thần thấy nước Pháp có cơ hội này thật là khó được mà dễ mất, tuy phái y đi có thành công được việc gì hay không còn chưa biết được, nhưng bỏ qua thì thật không yên lòng, cho nên không dám vì sự ngu dốt thiển cận của mình mà làm thinh không nói. Vậy dám có lời phúc tâu hầu thánh thượng trù định”. Vua Tự Đức châu phê trên tờ tấu của Trần Tiễn Thành rằng: “Truyền Cơ Mật viện, Thương Bạc, với khanh cùng nhau bàn luận kỹ nên phải làm như thế nào cho chu đáo, phúc tâu đầy đủ đừng để mất thời cơ. Nếu có đường lối nào hay hơn càng tốt”2.
 
Ngày 28-12-1870 Viện Cơ mật tâu: “Bọn thần tuân phụng xét duyệt các khoản mật trần của Nguyễn Trường Tộ thấy y cũng có lòng với ta và chính lúc này là lúc có thể thừa cơ hội được. Ý kiến của bọn thần cũng đồng với các lý lẽ của thần Trần Tiễn Thành tâu xin. Nhưng xét vì đây là việc quân quốc trọng sự cần phải bàn thảo kín đáo kỹ lưỡng mới bảo đảm không nguy hiểm trở ngại sau này. Nay bọn thần chưa giáp mặt y bàn tính mà đã nội giao cho y qua các nước thám sát những việc cần phải làm, lỡ ra có chỗ nào chưa được chu đáo, sợ sẽ sinh trở ngại. Vậy xin cho Bộ Lễ lấy lý do phái đem người qua Tây học tập, khẩn tư cho tỉnh thần Nghệ An lập tức cấp ngựa, sức y lên kinh ngay để bọn thần ở Viện Cơ mật và Thương Bạc đối diện hỏi bọn y xem suy tính cơ nghi như thế nào cho được chu thỏa. Bọn thần sẽ suy nghĩ chín chắn đôi ba lần và phúc tâu đầy đủ. Vậy dám xin có lời tâu bày, đợi chỉ tuân hành”3.

Ngày 3 tháng 1 năm 1871, Tổng đốc Nghệ An, được lệnh hỏa tốc của Bộ Lễ, đã làm chiếu hội để Nguyễn Trường Tộ đi Huế, dĩ nhiên cũng nói là để đem học sinh đi du học4. Có lẽ chính vì vậy mà mọi người, kể cả Giám mục Gauthier và những người trong gia đình cũng như những người viết tiểu sử Nguyễn Trường Tộ sau này, đều nói là Nguyễn Trường Tộ được gọi về Huế lần này là để đem học sinh đi Pháp. Nhưng qua tờ tấu của Viện Cơ mật được trích dẫn trên đây, chúng ta thấy là mục đích của Nguyễn Trường Tộ về Huế là để bàn tính phương thức thực hiện kế hoạch quân sự và ngoại giao mà ông đã trình bày trong các văn bản gởi cho Triều đình cuối năm 1870.

Trong những ngày ở Huế, Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã gặp gỡ và trao đổi nhiều với các quan chức của Triều đình và ông cũng đã để lại nhiều bản văn với nội dung thôi thúc Triều đình mở rộng bang giao, canh tân đất nước. Ông đã đề xuất các kế hoạch một cách rất cụ thể. Như nếu gởi sứ bộ đi châu Âu, thì nên đến nước nào trước, nước nào sau; ở mỗi nước nên đặt những vấn đề gì; nếu cho người vào Nam kỳ, tổ chức phản gián, tổ chức đánh úp, thì Nguyễn Trường Tộ xin đứng ra làm trong những điều kiện và theo phương thức nào; nếu gởi người đi học, thì nên tới nước nào...

Nhưng Triều đình Huế bàn đi tính lại mà không đi đến được một quyết định nào: Sứ bộ không được cử đi; kế hoạch đánh úp để thu hồi 6 tỉnh ở Nam Kỳ không được thực hiện...

Sau mấy tháng ở Huế, có thể là không thấy còn có việc gì để làm hoặc có thể vì bệnh cũ tái phát, Nguyễn Trường Tộ đã trở về Nghệ An. Chúng ta không biết chắc Nguyễn Trường Tộ rời Huế từ ngày nào. Nhưng trong một văn bản viết từ Nghệ An, đầu tháng 8 năm Tự Đức 24, Nguyễn Trường Tộ nói rằng: “Đúng như hồi tháng 5, khi ở kinh tôi đã bẩm... Tôi hiện đang đau, chưa khỏi. Hiện còn ba bốn tập trình bày sự việc, xin đợi tháng 6 sẽ gởi lên” (Di thảo số 51).

Như thế là Nguyễn Trường Tộ còn viết thêm ba văn bản nữa, văn bản 55 đang dở dang... và từ trần ngày 22-11-1871.
__________________________________
1. Tấu của Trần Tiễn Thành (2-12-1870). Xem phụ lục VII, 4.
2. Tấu của Trần Tiễn Thành (23-12-1870). Xem phụ lục VII. 5.
3. Xem phụ lục VII, 6.
4. Tờ chiếu của Tống đốc An Tĩnh như sau:
“Hôm nay vừa mới tiếp được tờ tư hỏa tốc của Bộ Lễ nói: Từ dịch quân ở kinh đô cần người thông dịch, xét nên phái người qua trước các nước phương Tây để học ngôn ngữ của họ. Xét giáo sĩ này là người mẫn cân, đã từng đi Tây quen thuộc phong tục các nước. Vậy hãy cấp ngựa trạm, sức gọi về kinh đô gấp hầu Bộ để sảa soạn dẫn học sinh qua Tây học tập. Đồng thời bảo sửa sang hành lý gấp vô tỉnh lãnh bằng để lên đường. Nhưng trước hết ngày nào có thể đi được phải biên giao cho người cầm trát này đem về phúc cho biết. Nay làm tờ sức hỏa tốc cho giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ chiếu thi hành. Giờ Ngọ ngày 11 tháng 12 năm Tự Đức 23” (Xem N.P. số 102)



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2010, 11:07:28 pm

3. VỀ CÁI CHẾT CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

Nguyễn Trường Cửu, trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ chỉ nói ngắn gọn rằng: “Qua năm sau, Tự Đức 24 (1871), ngày 10 tháng 10, ông Tộ làm một câu thơ rằng: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận, tái hồi đầu thị bách niên cơ”1 đoạn thì qua đời. Thọ 41 tuổi”.

Lê Thước, có lẽ cũng chỉ dựa trên lời kể của Nguyễn Trường Cửu và những người trong gia đình, nói: “Bệnh của tiên sinh, có người bảo là ung thư ruột, có người bảo là chứng tụ máu: trong bụng có một cục gì nho nhỏ chạy qua chạy lại. Sau khi tiên sinh mất, các bạn bè đến khóc, có người hiểu tâm sự của tiên sinh nhất đã than rằng: “Học thức như thế, hoài bão như thế mà chẳng thi thố được điều gì, để rồi cuối cùng mang bệnh mà chết, thương thay!” Rồi người nhà thấy trên chăn đắp có dấu máu rướm, mở ra xem thì đó là cái cục trong bụng đã vỡ phun ra máu”2.

Đinh Văn Chấp, cũng là người Nghệ An, có lẽ có dịp gần gũi với gia đình Nguyễn Trường Tộ, thì nói: “Nguyễn Trường Tộ khi chết thổ ra một cục máu”3.

Riêng Giám mục Gauthier, trong một thư đề ngày 1-11-1871, viết:

“Người Giáo hữu Việt Nam mà tôi đem theo năm 1867 và người ta gọi là Kiến trúc sư (...) đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc”4.

Do đó chúng ta không biết chắc Nguyễn Trường Tộ chết vì nguyên nhân nào, nhưng theo nhiều chứng từ, thì có triệu chứng xuất huyết bao tử.

Đối với chúng ta ngày nay, Nguyễn Trường Tộ là một người yêu nước. Nhưng trước con mắt của những người đương thời, những người không hiểu được nỗi lòng của một con người thiết tha với dân với nước, được bộc lộ qua các văn bản gởi lên Triều đình Huế, - nhất là trước con mắt của nhân dân Nghệ Tĩnh, quê hương của phong trào “bình Tây sát Tả”, - Nguyễn Trường Tộ chỉ là một người công giáo đi lại gần gũi với các thừa sai Pháp, được coi như tay chân của thực dân cướp nước. Chúng ta biết là vào những năm 1862 - 1863, sau khi Triều đình vua Tự Đức ký hòa ước nhượng đất cho Pháp và ban hành sắc lệnh thôi cấm đạo Công giáo, các nho sĩ ở Nghệ Tĩnh đã phản ứng mãnh liệt. Từ giữa năm 1863, Giám mục Gauthier không thể vượt qua được biên giới đất Nghệ Tĩnh, mà phải lưu lại trên đất Quảng Bình, phía Bắc bờ sông Gianh, không phải vì Triều đình Huế không cho phép mà chính là vì tình hình lương giáo sôi sục ở Nghệ Tĩnh. Giữa năm 1866, Giám mục Gauthier, dựa vào tàu chiến Cosmao của Pháp, đậu trước cửa Hội, bắn những phát súng đại bác chào mừng, thị uy, mới về được Nghệ An. Nguyễn Trường Tộ cũng đã trở về quê hương trong bối cảnh đó. Rồi Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier, được Triều đình Huế tin dùng, trọng dụng, sai đi Pháp... Năm 1868, Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier, lại đã từ Pháp về với uy tín lớn, các nho sĩ lại phản ứng, phong trào Văn Thân ở Nghệ Tĩnh năm 1868, cũng như những năm sau đó quyết liệt hơn bất cứ nơi nào khác. Việc Giám mục Gauthier cho xây cất những ngôi nhà to lớn theo kiểu Tây phương tại Xã Đoài, một vùng nông thôn ở huyện Nghi Lộc, quả là một sự thách thức đối với các nho sĩ. Vì sự trấn áp của Triều đình, phong trào Văn Thân 1868 đã phải tạm ngừng hoạt động, nhưng vẫn âm ỉ.

Đối với Nguyễn Trường Tộ, việc xây cất cơ sở của Nhà chung Xã Đoài những năm 1868 - 1870 cũng như việc xây cất cơ sở của dòng Thánh Phaolô là ở Sài Gòn, một vùng đất bị tạm chiếm thì không sao: còn cơ sở Nhà chung Xã Đoài ở ngay một vùng đất mà sự nghi kỵ đối với Công giáo đang ở cao độ, thì quả là một sự khó có thể được tha thứ.

Chúng ta cũng không biết chắc Nguyễn Trường Tộ đã lập gia đình lúc nào. Có thể là sau tháng 4-1868, trong thời gian ông trở về Nghệ An, khi các dự án canh tân của ông gởi vua Tự Đức bị chống đối quyết liệt, bị bỏ dở. Trong bài Trần tình (Di thảo số 3, 13-5-1868 ), ông nói là “trong gia đình không hệ lụy vợ con”. Trong một văn bản đề ngày 15-3-1868 (Di thảo số 34) để biện bạch cho thực tâm gắn bó với đất nước của mình, ông lại nói: “Nếu tôi không có bụng ấy, thì chỉ có một bà mẹ già, khó gì chẳng cùng đem mẹ đi trốn được mà phải trở về”.

Theo lời kể của những người trong gia đình, Nguyễn Trường Tộ khi mất, có để lại một người con gái và một người con trai. Người con gái lấy chồng ở một làng kế cận, có nhiều con và nhiều cháu nhưng không có thành tích đáng chú ý. Người con trai là Nguyễn Trường Cửu. Nguyễn Trường Cửu, lúc thân sinh mất mới được 18 tháng, có tư chất thông minh, được học hành, thường được gọi là “Đồ Cửu”. Ông mất vào khoảng năm 1942 và có ba người con trai là Nguyễn Trường Võ, Nguyễn Trường Văn và Nguyễn Trường Triều.

Nguyễn Trường Võ cũng đã chết và chỉ còn hai người con gái, một người con trai chết lúc thiếu thời. Nguyễn Trường Văn, sau đổi tên là Nguyễn Trường Tín hiện là linh mục phụ trách xứ đạo Kẻ Gai, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Trường Triều cũng là linh mục, hiện ở châu Âu.

Nguyễn Trường Tộ sinh quán ở thôn Bùi Chu, thuộc huyện Hưng Nguyên. Nhưng năm 1868, khi Giám mục Gauthier dời trụ sở Nhà chung về Tân ấp (Xóm mới) tức Xã Đoài thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc ngày nay, Nguyễn Trường Tộ cũng đã làm nhà trước cổng Nhà chung để đốc suất công trình xây cất Nhà chung cho thuận tiện. Nguyễn Trường Tộ đã mất trong ngôi nhà này và được đem về chôn tại thôn Bùi Chu.

Không ai còn nhớ là ngôi nhà của Nguyễn Trường Tộ làm trước cổng Nhà chung Xã Đoài được dời về làng Bùi Chu, bên kia bờ Kênh Gai từ hồi nào và ngôi nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở Bùi Chu, năm 1950, đã được xây cất lại, nhưng năm 1953, lúc cải cách ruộng đất, ngôi nhà này được phân cho một người khác dỡ đi, gia đình Nguyễn Trường Võ đã làm lại một căn nhà tranh vách đất trên nền cũ, ngày nay bà quả phụ Nguyễn Trường Võ đang ở.

Trước mặt căn nhà tranh vách đất xơ xác này, cách khoảng 50 thước là ngôi mộ của Nguyễn Trường Tộ. Ngôi mộ này xưa kia là một nấm mộ đất lè tè. Năm 1943, với sự đóng góp của ông Từ Ngọc Nguyễn Lân và một số thân sĩ ở Nghệ Tĩnh, một ngôi mộ bằng đá cẩm thạch đã được dựng lên, hiện đang nằm chơ vơ, trên một gò đất cao, giữa đồng không mông quạnh, trâu bò hay người đều qua lại được…5.
__________________________________
1. Đào Duy Anh và nhiều tác giả nói: “thân”. Trên mộ của Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, cũng ghi câu thơ này và cũng nói: “bách niên cơ”.
2. Phụ lục II.
3. Phụ lục III.
4. Kho lưu trữ MEP.
5. Xem “Ngôi mộ Nguyễn Trường Tộ”, bài và ảnh của Thọ Mai trên CÔNG GIÁO VÀ DÂN TỘC số 365-366 ngày 11-7-1982.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:46:20 pm

V. NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

Nguyễn Trường Tộ có một cuộc đời tương đối ngắn ngủi: Ông sống chưa đầy 42 năm. Nhưng cả cuộc đời của ông là một nỗ lực học hỏi và tìm tòi.

Về nho học, như chúng ta đã thấy, ông được học khá bài bản. Còn về Tây học, thì ông quả có được các linh mục thừa sai và, đặc biệt, Giám mục Gauthier dạy cho tiếng Pháp và truyền đạt cho một số kiến thức khoa học, chỉ có thể là, rất phổ thông. Bởi vì các thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris (M.E.P) tuyệt đại bộ phận chỉ học xong chương trình phổ thông, rồi vào các đại chủng viện học làm linh mục để được gởi đến các nước truyền đạo. Để có các kiến thức chuyên môn, Nguyễn Trường Tộ đã phải tự học, nghĩa là phải đọc sách đọc báo, phải biết quan sát để tiếp thu và vận dụng.

Đọc bài tựa sách Đàm Thiên (Di thảo số 58 ) chẳng hạn, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ có những hiểu biết sâu sắc về thiên văn, là một môn học mà không phải ai cũng chuyên. Đọc tất cả các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi cho Triều đình Huế từ 1861 đến 1871, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ quả là uyên bác. Đúng như ông nói trong bài Trần tình (Di thảo số 3), rằng: “Về việc học thì không môn nào không để ý tới, cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là, để ý nghiên cứu về sự thế dọc ngang tan hợp trong thiên hạ”.

Nguyễn Trường Tộ cũng là người của thực tiễn: Từ việc xây dựng nhà cửa, thành quách cũng như sửa chữa máy móc, và thăm dò mỏ quặng cho tới việc vẽ bản đồ, hướng dẫn học sinh thực tập về bách nghệ... ông nói là đều có biết. Những nhận định của ông về thế giới cũng như về Việt Nam, đất nước và con người, đều rất chuẩn xác.

Với một nhiệt tình và một tài năng như thế, Nguyễn Trường Tộ đã kiên trì gởi lên Triều đình vua Tự Đức nhiều đề nghị cải cách, canh tân và hiện đại hóa đất nước. Những đề nghị này có thể đã được trình bày một cách quy mô và đầy đủ trong bài Tế cấp luận, được gởi lên Triều đình Huế đầu năm 1863. Nhưng có lẽ những đề nghị đó quy mô quá, rộng lớn quá, nên vua Tự Đức có thể cho là viễn vông mà không quan tâm tới. Điều đáng tiếc, đối với chúng ta hiện nay, là bài Tế cấp luận không còn để có thể thấy những đề nghị của Nguyễn Trường Tộ, ngay buổi đầu, cụ thể như thế nào. Tuy nhiên với các kế hoạch chi tiết được trình bày trong các bản văn kế tiếp chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ có trong đầu óc cả một chương trình cải cách có hệ thống và toàn diện. Nghĩa là tất cả những gì cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa đất nước, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao... đều đã được lần lượt đề cập tới như một đòi hỏi của quy luật phát triển hay như một yêu cầu bức thiết của thời cuộc.

1. VỀ CÔNG NGHIỆP

Đối với Nguyễn Trường Tộ, cũng như đối với quy luật của lịch sử và của xã hội, kinh tế là vấn đề hàng đầu. Ông nói: “Tôi thiết nghĩ trong ngũ phúc, phú đứng đầu, triệu dân trước tiên lo ăn” (Di thảo số 53). “Nếu bị cái nghèo đói thúc bách thì lo kế sống cũng không xong, còn hơi đâu mà bàn lễ nghĩa” (Di thảo số 18 ). Do đó, Nguyễn Trường Tộ luôn luôn quan tâm trước tiên đến việc làm cho dân giàu nước mạnh. Bởi vì dân có giàu, nước có mạnh mới cứu được nước và giữ được nước.

Trong bài Dụ tài tế cấp bẩm từ (Di thảo số 5), ông nói: “Cách làm cho nước mạnh là ở chỗ tạo được nhiều của. Của cải nhiều thì lương thực đủ, khí giới tinh, thành trì vững, quốc phí đầy, các việc lợi ích do đó mà ra, các việc tai hại do đấy mà giảm bớt. Một khi có biến cố lớn xảy ra, chỉ cần lấy của cải trong kho Nhà nước, khỏi phải phiền lụy đến dân. Sự lợi ích đó không thể kể xiết. Nay nước ta của công chỉ nhờ vào thuế, mà thuế đánh thì có hạn, chứ không có cách gì để làm cho của cải nhiều như phương Tây. Cái tôi gọi là làm cho có nhiều của cải ở đây không có nghĩa là nói bòn rút của dân để làm cho nước giàu, mà nhân nguồn lợi tự nhiên của trời đất để sinh ra của. Do đó nước giàu mà dân cũng giàu”.

Chúng ta không biết là Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị những gì về kế hoạch phát triển kinh tế - tài chính trong bài Tế cấp luận (đầu năm 1863). Nhưng trong bài Dụ tài tế cấp bẩm từ (được viết vào giữa năm 1864), sau khi trình bày về phương pháp làm súng đạn và khai thác mỏ than là những điều Triều đình hỏi, Nguyễn Trường Tộ đề nghị một kế sách rất đơn giản, không cần nhiều trang thiết bị và không đòi hỏi kỹ thuật cao, điều mà chúng ta đang làm ngày nay, đó là tổ chức xuất khẩu nông, lâm, hải và khoáng sản. Và nông, lâm, hải sản là những nguồn hàng dồi dào và dễ khai thác nhất, nên Nguyễn Trường Tộ đề nghị Nhà nước mua và đóng tàu cũng như khuyến khích nhân dân mua tàu chở các hàng nông, lâm, hải sản đến cảng các nước bán, rồi mua các thứ hàng hóa trong nước cần dùng đem về.

Theo Nguyễn Trường Tộ, thì: “Đấy là một điều lợi lớn. Vì rằng những hàng hóa mình có, trừ số cần dùng ra, còn thì đem chở bán cho họ, họ lại bán cho nước khác, như thế thì họ không cần phải đến nước mình làm gì. Nếu như họ muốn đưa hàng hóa sản vật của họ sang, thì đã có tàu của nước mình chở về để trao đổi với người cùng quê hương xứ sở, chẳng dễ hơn là mua ở bên nước họ hay sao? Như thế thì tự nhiên họ không cần phải tìm đến nước mình nữa. Sở dĩ họ tìm đến cầu thông thương với mình là vì người mình không thể đi xa mà thôi” (Di thảo số 5).

Về tổ chức hàng hải, thì Nguyễn Trường Tộ có hai văn bản (Di thảo số 6 và số 7, vào cuối 1864 - đầu 1865), trong đó ông đề nghị với Triều đình là nên gởi người sang Anh, sang Pháp học về cách điều khiển và sửa chữa thuyền máy, trước khi mua tàu, bởi vì như thế mình mới chủ động và đỡ tốn kém hơn là thuê người nước ngoài: nếu có mua thuyền máy thì cũng chỉ mua một hai chiếc làm mẫu, rồi mình tự tổ chức đóng lấy.

Trong bài Khai hoang từ (Di thảo số 8, tháng 2-3 năm 1866), Nguyễn Trường Tộ đề nghị mở cửa cho các nước vào thông thương buôn bán và đầu tư khai thác tiềm năng của đất nước. Bởi vì, theo ông, người Tây phương, nhất là người Pháp đã thấy được là Việt Nam có nhiều tiềm năng: “Hiện nay các hội buôn của họ sang nước ta, có hội thì muốn xin mở đường xe lửa suốt cả Nam Bắc; có hội muốn xin khai mỏ dọc theo các núi; có hội muốn xin cho thuyền đi dọc theo biển để tiễu phỉ; có hội muốn thông đường buôn bán. Các người này một mặt xúi giục các quan của họ sớm làm cho thành chuyện, một mặt đánh tiếng xin dần để dò xem như thế nào. Vả lại vua quan của họ cũng có thâm ý riêng. Từ quan đến dân, không ai là không chú mục vào nước ta”.

Do đó Nguyễn Trường Tộ đề nghị là Triều đình nên chủ động chuẩn bị các điều kiện để khi họ xin thì mở cửa đón họ vào, để mình làm chủ, họ làm khách, chứ nếu không họ sẽ lập mưu chiếm hết, rồi họ làm chủ, mình là đầy tớ. Hơn nữa, thuyền bè họ qua lại, mình thu được thuế cho ngân sách và loại trừ được giặc biển là tai nạn lớn của thuyền bè nước ta. Về khoản khai thác các tiềm năng của đất nước, chúng ta lại thiếu vốn, thiếu chuyên viên kỹ thuật. Ông nói: “Ngày nay cái mà ta thiếu nhất là tiền của. Vì không có tiền của cho nên trăm việc gì cũng không làm được. Hơn nữa đồ khí dụng của ta chưa đủ, tài trí chưa vươn tới, lại chưa có tiền của để mua máy móc kỹ thuật. Nay nếu đem một nửa số nhân tài cả nước và một nửa của cải ra thực hành thì cũng phải đợi vài chục năm sau mới có hiệu quả. Huống chi trước khi chưa được lợi, sợ có một biến cố gì khác xảy ra thì tài lực của ta có khi lại bị họ dùng. Vả chăng dân tình yêu ghét chưa giống nhau, ý kiến còn chưa thống nhất, thì vị tất đã hiểu rõ được ý nghĩa tạm thời tổn phí để được yên ổn mãi mãi”. Ông lại nói cho Triều đình thấy rằng: “Nếu để cho người nước ngoài vào đầu tư khai thác, thì không những Nhà nước được thu lợi, mà nhân dân có việc làm, lại được học tập, làm quen với khoa học kỹ thuật Tây phương; dân là dân của ta, đất là đất của ta, họ có đem đi đâu được mà ta sợ?”.

Cuối cùng, nếu Triều đình còn nghi ngại chưa quyết định ngay được thì ông đề nghị: “Xin gấp rút mời vài người Tây có thể tin cậy được hậu đãi họ, tức tốc cùng vài người của ta thông hiểu sự việc, trước hết dọc theo ven núi ven biển tìm kiếm, chỉ định rồi sau chọn lấy những mỏ tốt nhất mà dễ lấy, dành lại về sau để tự khai thác. Trừ những mỏ nào mà ta đã khai thác, còn những mỏ nào mới tìm được mà khó lấy thì ta giao cho họ lấy, ta hưởng nửa phần lợi”.

Sau chuyến công cán ở Pháp năm 1867-1868 cùng với Giám mục Gauthier, Nguyễn Trường Tộ càng thấy rõ là có thể bắt tay ngay vào việc khai thác mỏ và thiết lập các nhà máy dệt vải, nấu đường, dập đinh và sản xuất các hàng tiêu dùng. Trong văn bản đề ngày 5-3-1868 (Di thảo số 29), viết sau khi đi Pháp về, Nguyễn Trường Tộ nhắc lại ba phương thức mà ông đã đề nghị (Di thảo số 8, số 25 và 26) là: Cho các công ty nước ngoài tự khai thác rồi ta thu lợi một phần; ta với họ liên doanh; ta tự làm lấy. Rồi ông đề nghị là, nếu Triều đình còn chưa muốn cho các công ty nước ngoài đầu tư, ta tự làm lấy. Ông nói: “Một mặt dần dần phân biệt đất mỏ. Một mặt có người đi Tây chọn mua một ít khí cụ, như những đồ đào mỏ, đúc sắt, luyện kim, dệt vải, nấu đường, đúc súng lớn, súng nhỏ, dập đinh, đúc hỏa mai theo lối Tây… và các đồ dùng thường ngày dễ làm và có thể dùng làm mẫu (...) đem về để dùng ngay vào việc khai thác nguồn lợi. Một mặt, nên đi thuê thợ để tìm công dụng lớn. Ba mặt ấy, hiện nay, đáng lẽ phải khởi hành ngay trong một lúc. Nếu không làm, thì một ngày lại một ngày, một năm lại một năm, người ta tiến mà mình lùi, quyết không thể đứng yên được”.

Thế nhưng Triều đình Huế hầu như không làm gì cả, ngoài việc mua được hai chiếc thuyền máy cũ kỹ chỉ dùng tạm được mấy năm. Trong một bài viết, hai tháng trước khi lìa trần (Di thảo số 52), Nguyễn Trường Tộ đã phải than phiền rằng: “Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành, trăm năm cũng chưa hết. Thế mà bảy tám năm nay chưa thấy thực hành tý nào, chả lẽ đợi tới trăm năm sau mới thực hành được sao?”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Năm, 2010, 07:21:46 pm

2. VỀ NÔNG NGHIỆP

Nông nghiệp, đối với một nước lúc bấy giờ 99% dân chúng sống bằng nghề nông, là một vấn đề quan trọng. Chính Nguyễn Trường Tộ cũng nhìn nhận rằng: “Nông nghiệp là gốc, ăn mặc và hàng trăm nhu cầu khác cho đời sống đều nhờ vào nông nghiệp” (Di thảo số 27).

Cuối bài Về nông chính (Di thảo số 53), Nguyễn Trường Tộ nói: “Những trang này là một điều trong bài Tế cấp luận”. Chúng ta không biết là Tế cấp luận còn nói gì thêm về nông nghiệp nữa chứ trong ba văn bản mà chúng ta hiện có nói về nông nghiệp (Di thảo số 18, 27 và 53), thì chủ yếu chỉ nói về cải tiến kỹ thuật mà thôi.

Trong văn bản viết ngày 1-9-1866 (Di thảo số 18 ), như đề xuất việc thu thập kinh nghiệm và phát huy sáng kiến về mọi mặt thuộc đời sống của nhân dân, Nguyễn Trường Tộ có xin:

1. Đặt ra khoa hải lợi, để xét và khen thưởng cho những ai có sáng kiến mới trong nghề làm muối, đánh cá, ướp cá, nuôi cá...

2. Đặt ra khoa sơn lợi, để xét khen thưởng cho những ai tìm ra cách phát hiện và khai thác mỏ, tìm ra phương pháp luyện kim, săn bắt thú quý, lấy được gỗ quý...

3. Đặt ra khoa địa lợi, để khen thưởng cho ai khai khẩn được đất hoang hóa, đầm lầy hoặc biết trồng trọt có năng suất cao...

4. Đặt ra khoa thủy lợi, để khen thưởng những ai biết đào kênh, đắp đập, tưới tiêu chống hạn, chống úng...

Trong Tế cấp bát điều, viết ngày 15-11-1867 (Di thảo số 27), khi nói về cải cách học thuật, môn học đầu tiên được đưa vào chương trình là khoa nông chính. Khoa nông chính này cũng chỉ là thu thập kinh nghiệm của nông dân khắp nơi để soạn ra sách “nông chính toàn thư” cho nhân dân học tập. Trong đoạn văn ngắn ngủi về nông nghiệp của Tế cấp bát điều, Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị lập Bộ canh nông như ở các nước Tây phương. Bởi vì, ông nói: “Ngành trồng trọt chăn nuôi của nước ta đều phó mặc tự nhiên, không có quan viên bày vẽ, giáo dục, đốc suất...”. Nhất là trong nhân dân có nhiều tập tục mê tín dị đoan cản trở việc khai hoang phục hóa, tưới tiêu mà không có ai dám chủ xướng cải cách.

Trong văn bản “Về nông chính” (Di thảo số 53, viết ngày 4-10-1871) Nguyễn Trường Tộ đề nghị đặt nông quan để phụ trách vấn đề nông nghiệp ở mỗi huyện. Ở các nước Tây phương thì các nông quan đều xuất thân từ các trường lớp và qua sát hạch về các kiến thức cần thiết cho nghề nông. Còn ở nước ta, để bắt đầu, Nguyễn Trường Tộ xin chọn trong số các cử nhân, tú tài mỗi huyện một người, cho học “Nông chính toàn thư”, rồi vừa học vừa làm. “Tất cả mọi việc về nông chính là khai hoang, (nông quan) đều phải nắm chắc trong tay. Tất cả vườn ao, trang trại, núi đồi, gò nõng dần dần vẽ thành bản đồ. Dần dần từ bỏ các tệ đoan tồn tại trong dân từ trước, mỗi ngày đi tuần chỉ vẽ cho dân làm, y như mình là người chủ nông vậy. Nhưng chủ nông là người chỉ biết làm giàu cho gia đình mình, còn quan nông chính là người lo cho sự giàu có của toàn huyện”.

Quan nông chính không những phụ trách về nông nghiệp, mà còn phụ trách cả về thủy lâm. Trong Tế cấp bát điều (Di thảo số 27) và trong bài Về nông chính (Di thảo số 53) Nguyễn Trường Tộ có nhiều ý kiến về ích lợi của việc trồng cây gây rừng và việc bảo vệ muông thú...

Trong bài Về nông chính (4-10-1871) ông nói: “Đối với vườn tược trang trại, đất núi, đất rừng cũng vậy, phàm trồng cây gì dùng để lấy gỗ hay cây gì ăn được, đều nhất định phải theo phép quan mà làm. Quan nông chính sẽ thân hành cắm tiêu làm dấu phạm vi trồng, thích hợp trồng cây gì và chỉ vẽ các cách ươm trồng vun xới. Đến khi cây mọc tốt thì hằng năm vào mùa thu quan nông chính lại đi tuần xem chỉ vẽ cây nào nên cắt bỏ nhành nào, hướng nào. Khi cây đã đến kỳ dùng được hoặc cây nào bị trùng đục, cần phải chặt bỏ thì cho hạ xuống mà dùng rồi lại trồng một cây con bên cạnh. Nghiệp chủ tuyệt đối không dám cắt bỏ một nhánh con theo ý mình. Hãy xem phương Tây, ở đồng bằng mà người ta cũng đều trồng cây nơi bờ ruộng ngay hàng thẳng lối xanh mắt đẹp đẽ chứ không riêng gì ở núi rừng mà thôi. Làm như thế không phải chỉ đặc biệt để có của cải sử dụng mà còn quan hệ rất lớn (...) Hãy xem tỉnh Nghệ An về mùa hạ miền trên mưa nhiều, còn miền dưới núi thấp đồng trống, ví dụ như hai huyện Hưng Nguyên và Chân Lộc mưa rất ít. Nếu có mưa nhiều thì phần lớn đó là mưa từ miền trên di chuyển xuống, hoặc tự Hồng Lĩnh tản ra bốn phía. Đó là một chứng minh. Xem thế mới biết cái gì trời sinh ra là có lý rất nhiệm mầu. Không có đất đai nào không có cây cối đó là để tiếp hòa khí đất, thích hợp cho vật cho người, công dụng của nó rất lớn. Thế mà con người chẳng biết quí trọng, muốn chặt phá là chặt phá, bò dê ăn phá dẫm đạp. Thậm chí mùa khô, một đóm lửa cũng đủ cháy lan một dải núi lớn, tấc cỏ chẳng còn, nói gì đến cây cối nữa...”

Cũng trong bài Về nông chính, Nguyễn Trường Tộ nói: “Trước thì phải tuân theo thời tiết, sau thì khuyến khích sức dân, sau nữa thì khai thác hết nguồn lợi đất đai. Như thế để dạy dỗ dân tất cả phải hết sức mình cho sinh kế. Những nơi đồi núi cheo leo, không trồng được lúa đậu, thì trồng cây, trồng tre (...) Theo phép ấy thì săn thú không săn thú bầy; không bắt thú con; bắt cá không tát cạn ao đầm; không đốt rừng để săn thú; sói chưa tế thú không được săn, rái chưa tế cá không được thả lưới; chim cắt chưa báo tin thì bẫy lưới không được chăng gài nơi khe suối, cây cỏ chưa rụng lá thợ rừng không được vào núi rừng chặt hái, côn trùng chưa đến kỳ sinh nở, không được đốt ruộng nương; không giết vật có thai, không phá tổ hốt trứng, không bắt cá chưa đủ thước tấc, không giết heo chưa đúng kỳ...”

Vấn đề chủ yếu trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là phải phổ biến rộng rãi các kiến thức trong nhân dân. Thời Nguyễn Trường Tộ “nước ta đối với vấn đề nông nghiệp từ lâu đã phế bỏ không giảng dạy. Nay bỗng nhiên muốn thi hành, thì trên quan chẳng biết dạy cái gì, còn dưới dân thì nghĩ rằng cứ mặt trời mọc thì đi làm, mưa xuống thì vác cày ra cày, đợi gì phải dạy!”. (Di thảo số 53).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Năm, 2010, 07:23:18 pm

3. VỀ THƯƠNG NGHIỆP

Đối với thương nghiệp, Nguyễn Trường Tộ chỉ chủ trương giao lưu hàng hóa bằng ngoại thương cũng như nội thương.

Về ngoại thương, thì Hòa ước ngày 5-6-1862 ký kết giữa Triều đình vua Tự Đức với Pháp và Tây Ban Nha thì thương lái và thương thuyền của công dân hai nước này được tự do ra vào buôn bán ở cửa Hàn, cửa Ba Lạt và cửa Quảng Yên. Tuy nhiên có thể do nhà nước Việt Nam chưa muốn mở cửa cho người nước ngoài ra vào dòm ngó, nên đã không tổ chức ngoại thương, vì thế các hãng buôn của Pháp và Tây Ban Nha không thấy có gì để mua và không biết đem gì đến bán. Nguyễn Trường Tộ, trong nhiều văn bản gởi lên Triều đình Huế, luôn luôn nhấn mạnh đến nhu cầu mở rộng cửa biển cho tàu bè các nước vào buôn bán. Đó là một xu thế chung, một mình Việt Nam không thể cưỡng lại được.

Trong bài Dụ tài tế cấp bẩm từ (Di thảo số 5), ông nói: “Bọn hủ nho sao không biết thời thế biến chuyển; cứ câu nệ vào nghĩa lý sách vở, nói bừa bãi rằng: Triều đình mở cửa đón kẻ cướp vào? Sao không biết rằng lúc thời thế đã đến, thì không thể ngăn được, lúc thời thế đã lui thì không thể chặn được? (...) Cửa bể khắp các nước phương Đông… đã khai thông cả, thì tại sao một mình nước ta lại có thể đóng kín được?”

Trong bài Khai hoang từ (Di thảo số 8 ), ông nói: “Ngày nay, nếu ta nhân có họ xin mà mở các cảng khẩu để thuyền bè các nước ra vào, ta ngồi mà thu thuế để tăng quốc dụng, như ở Trung Quốc. Có thuyền máy qua lại trên mặt biển thì bọn cướp biển dần dần sẽ tiêu”.

Trong một bản văn, có thể là bản văn cuối cùng trước khi từ trần, Nguyễn Trường Tộ sau khi điểm qua kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan... đã phải chua chát nhìn nhận rằng: “Chỉ riêng một mình nước ta thi hành đường lối khác, cho nên thiên hạ cho ta là một nước kỳ dị đệ nhất. Triều đình ta trong khoảng từ Gia Long, đến thời Minh Mạng hợp tác với người phương Tây, thường phái thuyền du hành các nước trở về dần dần được hưng thịnh. Nếu không có lệnh đóng cửa đuổi khách bạn ra, mà theo đường lối ấy cho tới ngày nay thì ta cũng có thể sánh vai dong duỗi cùng thiên hạ và người Pháp cũng không thể tác oai tác quái với chúng ta được”. (Di thảo số 55).

Về nội thương thì mối băn khoăn lớn của Nguyễn Trường Tộ là đường giao thông, vận chuyển hàng hóa. Bởi vì nước ta là một nước có chiều dài và lúc bấy giờ vận chuyển từ Bắc - Trung - Nam chủ yếu bằng đường biển. Mà vận chuyển bằng đường biển thì có hai đe dọa lớn là gió bão và cướp biển. Đó là chưa nói đến, khi xảy ra biến cố, thì tàu địch có thể phong tỏa như Pháp đã làm năm 1862. Việc giao lưu hàng hóa từ Bắc vào Nam bị tắc nghẽn. Nguyễn Trường Tộ đã thấy rất rõ điều đó.

Trong cuốn Tế cấp bát điều (Di thảo số 27, 15-11-1867) ông đã nói rằng: “Như về việc vận chuyển lương thực, Triều đình đã hết sức lo liệu mà vẫn chưa ổn. Phần nhiều một thạch lương thực đến được kinh đô đã phải hao hụt dọc đường mất năm sáu đấu. Đó là chưa nói đến nhiều vụ chìm ghe, bị đánh cướp. Các sản vật khác cũng vậy. Còn ghe thuyền của dân chìm mỗi năm không biết bao nhiêu mà kể. Dân nghèo thì nước cũng nghèo. Cái hại lớn đó đều do đường biển gây ra”.

Cũng trong cuốn Tế cấp bát điều, Nguyễn Trường Tộ đề nghị đào một con kênh từ Hải Dương đến Huế để tránh tai nạn của đường biển. Ông hứa là sẽ đảm nhận những chỗ khó đào. Ông nói: “Còn những chỗ trở ngại và cát đá khó đào xin cứ giao cho tôi. Tận dụng đủ cách thì núi cũng xuyên qua được, huống gì những nơi ứ tắc. Lúc trước tôi đã xem qua chỗ Nhà Hồ ở Quảng Trị thấy cũng có thể xuyên qua được. Chỉ có Hoành Sơn là tôi chưa xem kỹ. Nếu quan sát nghiên cứu kỹ hai nơi này mà thấy có thể đào được thì đào liền”.

Khoảng tháng 10 năm 1868, sau khi thấy triều đình không xét gì tới kế hoạch đào kênh của mình, Nguyễn Trường Tộ lại gởi lên Triều đình một văn bản nữa về việc “Tiễu trừ giặc biển” (Di thảo số 38 ). Ông lại nhận định rằng: “Sự tổn thất của công và của tư, kể có số vạn rồi, đường thương mại không thông, hóa vật ủng trệ, thật là một cái hại lớn cho sinh dân, năm này qua năm khác lại chẳng đã thiệt hại hàng ức triệu đó sao? Dân ven biển, những nhà buôn bán giàu sang là cửa bọng của cư dân thượng bạn hạ bạn thế mà mấy năm nay bị chúng cướp phá giết chóc không biết bao nhiêu nay đã trở thành nghèo túng...”

Trong văn bản này, Nguyễn Trường Tộ vẫn cho rằng kế đào kênh là “Kế hay nhất”. Tuy nhiên để tiễu trừ giặc biển, ông đề nghị bốn biện pháp:

1. Thương lượng với người Pháp ở Sài Gòn để họ cho tàu tuần tiễu giúp dẹp dọn bọn cướp biển.

2. Đóng tiền cho hội bảo hiểm ở Sài Gòn để họ tiễu trừ giặc biển.

3. Mỗi tỉnh mua một hai thuyền máy để tự mình tiễu trừ giặc biển.

4. Bắt buộc các thuyền buôn của người Trung Quốc phải có giấy thông hành, để tránh nạn thuyền buôn thuyền giặc lẫn lộn.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Năm, 2010, 07:24:26 pm

4. VỀ TÀI CHÁNH

Tài chánh của Nhà nước phong kiến, thời Nguyễn Trường Tộ, chủ yếu nhờ vào thuế (thuế đinh và thuế điền).

Đối với Nguyễn Trường Tộ, thuế là nghĩa vụ của nhân dân đối với công việc chung của đất nước. Nhưng thuế phải công bằng và hợp lý.

Trong Tế cấp bát điều (Di thảo số 27, ngày 15-11-1867), ông nói: “Nước sở dĩ đứng vững được là nhờ binh lương. Binh để giữ nước, lương để nuôi binh. Thế mà trong dân gian còn nhiều người chưa hiểu lý lẽ ấy. Nếu có của cải mà không có quan binh bảo vệ thì quân giặc, kẻ trộm hoành hành, thân còn không giữ được, giữ sao được của cải. Dân đã không thể một mình bảo vệ được thân mạng, nhà cửa, của cải, thì bỏ ra một ít lương thuế nhờ lực lượng quốc gia bảo vệ sự nghiệp to lớn lâu dài của mình cho”.

Vì thế mà Nguyễn Trường Tộ, đề nghị đo đạc ruộng đất, kê khai dân số hàng năm để tránh thất thu và gian lận. Thất thu và gian lận đây không phải là do dân chúng mà chính là do lý hào.

Giải thích lý do tại sao phải đo đạc lại điền thổ, Nguyễn Trường Tộ nói: “Có nhiều nơi ruộng cao có thuế lại mất mùa không thu được gì cả, còn ruộng thấp không có thuế thì lại được mùa, thế mà chẳng bù sớt cho nhau tý nào (...) Lại có những bọn lý dịch lấy ruộng của dân tráo chỗ nọ đổi chỗ kia, để thu thuế của dân thì nhiều mà nộp lên quan thì ít (...) Như cậy là quá nửa số thuế lọt vào túi bọn lý dịch chẳng khác nào chúng có đất phong hầu để ăn lộc vậy. Lại có làng ở ven sông đất bị sông xói lở không cày cấy được, hoặc có nơi vốn đất bỏ hoang không khai khẩn được, thế mà vẫn bị bọn lý dịch chiếu lệ tăng thuế. Lại có nhiều ruộng lậu thuế không khám phá ra được bởi tài đắp vá quỷ quyệt của bọn lý dịch. Như vậy trong dân gian, kẻ giàu thì giàu thêm, người nghèo càng nghèo mạt...”.

Sở dĩ Nguyễn Trường Tộ đề nghị phải kê khai nhân khẩu hằng năm, một phần, là để tránh sự gian lận của bọn lý dịch kê khai thấp số dân trong xã để nộp lên cho Nhà nước ít, nhưng vẫn thu đủ của dân. Ông nói: “Bọn hương hào lý dịch ác ôn nhờ đó mà ăn cho no béo nên chúng mới gian dối đủ cách, chịu đánh đòn để mưu lợi riêng tư. Đến khi có người bất bình phát đơn kiện, bấy giờ quan mới trừng trị”.

Mỗi lần nêu chủ trương sửa sang lại biên cương, nắm rõ dân số, Nguyễn Trường Tộ đều nói rằng: “mục đích không phải để tăng thuế”.

Trong Tế cấp bát điều, điều thứ ba, Nguyễn Trường Tộ có đề nghị tăng thuế và đánh thuế thật nặng trên các sòng bạc, trên rượu, thuốc lá, các cuộc du ký vô bổ mang tính chất mê tín dị đoan, mục đích là để bài trừ các tệ nạn xã hội.

Ông cũng đề nghị đánh thuế nặng trên các hàng xa xỉ ngoại nhập, như trà tàu, tơ lụa nhập để bảo vệ hàng nội địa. Ông nói: “Nếu có thuyền Trung Quốc vào cảng thì phải đánh thuế trà riêng, còn các thứ tạp hóa khác đều theo thể lệ cũ, tuy vậy cũng phải tăng lên. Đối với các nước phương Tây, phàm hàng hóa nước ngoài, bất luận thứ hàng hóa gì đều phải phân biệt loại hàng qúy và hàng thường để thu thuế và phải thu cao hơn hàng trong nước. Còn những thứ không cần thiết cho đời sống, như đồ trang sức, xa xỉ thì phải đánh thuế gấp bội hơn nữa. Vậy xin ở các chợ tiệm nào có biển quan cho phép mới được bán trà. Như giá trà một quan phải nộp thuế một quan. Đã lấy thuế khi thuyền Trung Quốc vào cảng, lại còn lấy thuế khi bày bán ở chợ. Như thế cũng không quá đáng. Bởi vì uống trà tàu chỉ có hạng giàu có phong lưu mà thôi. Nước ta cũng có trà, uống cũng giải khát thanh tỳ được. Thế mà họ còn thừa tiền hoang phí thói phong lưu (…) Nước ta vốn có nhiều tơ lụa, thế mà nhiều người cho là không đẹp cứ tìm kiếm hàng Tàu, khiến dân ta không ra sức trồng dâu nuôi tằm, làm cho hàng tơ ngày một đắt giá (...) Tại sao hàng ta dù có tốt cũng xem thường, còn hàng Tàu dù có xấu cũng đua nhau khen đẹp? Tại sao lại khinh mình mà trọng người đến thế? (...) Nay xin cho các thứ vải vóc hàng may mặc trong nước đều xử lý theo lệ cũ. Còn tất cả các loại hàng Tàu hễ giá 10 quan thì đánh thuế 5 quan. Họ đã có tiền mua hàng đẹp thì cũng có tiền nạp 5 quan để dùng vào việc lợi ích quốc gia. Điều đó cũng không phải quá đáng”.

Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị là phải đánh thuế trên nhà giàu. Bởi vì nhà giàu chịu ơn Nhà nước hơn người nghèo, bởi vì “cướp cũng muốn cướp của nhà giàu, trộm cũng muốn trộm của nhà giàu”. Thế mà “trong sổ bộ trên quan một cùng đinh phải đóng thuế bao nhiêu, thì trong làng một tay đại phú cũng đóng từng đó thuế”. Về biện pháp, thì Nguyễn Trường Tộ “xin chia những người giàu làm ba hạng, nhà hạng nhất đóng thuế mỗi năm 100 quan, hạng nhì 50 quan, hạng ba 20 quan”.

Như thế đối với Nguyễn Trường Tộ, thuế cần được chấn chỉnh, nhưng đó chỉ là một nguồn thu có giới hạn nhất định mà thôi. Điều cần nhất là phải làm cho của cải thêm nhiều. Ông nói: “Có nhiều lối làm giàu, nếu đem ra thực hành trăm năm cũng chưa hết. Nhưng tôi chỉ đưa ra bốn cách cấp thiết trước tiên để cấp cứu trong nhất thời. Tạo vật để cho nước ta một địa lợi tốt để mà làm, thì Triều đình phải có người đứng ra xướng xuất cho dân theo”. Bốn cách làm giàu nói đây chính là cách khai thác bốn nguồn lợi nói trong Dụ tài tế cấp bẩm từ: Nguồn lợi về biển, nguồn lợi về rừng, nguồn lợi về đất đai, nguồn lợi về mỏ quặng.

Nhưng Triều đình đã không làm gì cả cho có của cải để chi dùng vào các chương trình phát triển đất nước. Có lúc Nguyễn Trường Tộ đề nghị là Triều đình vay tiền của nhân dân (như hình thức công trái của chúng ta ngày nay).

Để có tiền đào các con kênh cho thuyền bè qua lại, khỏi đi lòng vòng tốn kém, ông đề nghị: “Truyền rao cho các nhà giàu xuất tiền cho Nhà nước vay. Trước tiên tùy số tiền cho vay nhiều ít sẽ được ban khen. Sau đó tiền lời sẽ được trả khi kênh đào xong và lập trạm thuế. Mỗi năm, quan sở tại trả tiền lời cứ một vạn là một trăm quan. Khi nào số tiền lời được gấp đôi số tiền đã vay thì chấm dứt và không hoàn vốn lại” (Di thảo số 27).

Ông cũng đề nghị Triều đình vay tiền của các công ty nước ngoài để mua sắm khí giới, lập các nhà máy chế tạo súng đạn và hàng tiêu dùng. Ông nói: “Nước ta thời gian gần đây phải đánh Nam dẹp Bắc, của cải tích lũy đã cạn. Dân gian bị lụt lội, hạn hán, sâu rầy, làng xóm hư hao. Bên ngoài cướp biển hoành hành, đường buôn bán không thông. Bên trong sự cung đốn cho Nhà nước ngày một gia tăng, lòng dân rời rạc. Tất cả đều do nghèo thiếu của cải gây nên. Tôi thấy các nước phương Tây, nhiều nước vay tiền của các nhà buôn lớn để giải quyết các vấn đề cần gấp, sau đó sẽ từ từ hoàn lại. Nước càng lớn, nợ càng nhiều. Thế nhưng chưa ai bảo như vậy là yếu hèn hay sai lầm kế sách. Tôi xin có ý kiến là hãy sai người đến các đại thương gia ở Hương Cảng vay độ 8, 9 triệu quan (Tôi bảo đảm chắc chắn có thể vay được), mỗi năm ta sẽ trả tiền lời cho họ, hoặc giao ước ta sẽ trả hàng hóa cho họ rồi tính giá khấu trừ, hoặc cho họ lấy gỗ ở một hai khu rừng (Về lợi ích lâu dài của việc này, trước đây tôi đã bẩm ở trong bài “Khai hoang từ”), rồi hạn định mỗi năm trừ vào số tiền vốn là bao nhiêu. Khế ước sẽ được lập theo luật phương Tây, sau đó xin qua Anh ký chứng để bảo đảm vĩnh viễn khỏi lo ngại. Khi ta đã được một món tiền lớn đem về sẽ nhất tề bắt tay làm việc. Có vốn lớn chắc chắn sẽ có lợi lớn” (Di thảo số 44, ngày 10-4-1871).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Bảy, 2010, 12:33:19 pm

5. VỀ CHÍNH TRỊ    

Nguyễn Trường Tộ không phải là một nhà chính trị, hiểu theo nghĩa là người có một dự án chính trị cần được thực hiện bằng con đường chính quyền. Đọc các di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta thấy là ông chủ trương không nhận bất cứ một chức vụ nào trong chính quyền. Nguyễn Trường Tộ chỉ là một nhà cải cách, nói đúng hơn là một người có những tư tường cải cách và muốn thực hiện những cải cách đó thông qua những người có chức có quyền. Chính vì thế mà ông đã gởi những đề nghị cải cách của ông lên Triều đình Huế và chỉ gởi cho những người có chức có quyền trong Triều đình Huế.

Với một hướng đi như thế, Nguyễn Trường Tộ chủ trương tôn trọng chế độ vua quan hiện hữu. Đối với các cuộc nổi dậy chống chế độ như vụ Lê Văn Phụng là một người công giáo, được các thừa sai Pháp và Tây Ban Nha ủng hộ. Nguyễn Trường Tộ không những không theo, mà còn chống đối, coi đó là phản nghịch, là Thắng Quảng (Xem di thảo số 3 ).

Nguyễn Trường Tộ đã nói rõ hơn lập trường của mình trong bài “Vua là quý, quan là trọng” (Di thảo số 13, tháng 5-1866). Ông đã viện dẫn tất cả lý lẽ của Đông, Tây để cổ vũ cho việc duy trì và củng cố trật tự xã hội hiện hữu.

Có lúc ông có vẻ hơi cường điệu khi nói rằng: “Người xưa có nói dân là gốc của nước. Nói như vậy cũng chưa đúng. Tôi cho rằng vua quan là gốc của nước. Vì không có vua quan thì chẳng bao lâu dân sẽ loạn, tranh nhau làm trưởng, giành giật lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, oán thù lẫn nhau. Cho nên nước dù có vua bạo ngược còn hơn không vua”.

Tuy nhiên cần đặt văn bản này trong bối cảnh lịch sử của nó. Nguyễn Trường Tộ là người biết tương đối rõ tình hình bất ổn của Triều đình. Trong bài Thiên hạ đại thế luận (Di thảo số 1, tháng 4-1863), ông đã nói: “Hiện nay tình hình trong nước rối loạn, Trời thì sanh tai biến để cảnh cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chận những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá, tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thảo dã, chính là lúc Thắng Quảng thừa cơ nổi dậy”. Vua Tự Đức lại là thứ lập, nên sau những âm mưu lật đổ của Hồng Bảo (1854) và Hồng Tập (1864), luôn luôn sống trong một tâm trạng sợ sệt; trong đêm 16 rạng 17 tháng 9-1866, quân nổi dậy của Đoàn Trưng và Đoàn Trực đã vào tới tận cửa Hoàng gia... Nguyễn Trường Tộ thấy rõ ràng chính tình trạng rối ren lo sợ đó đã làm tê liệt mọi sáng kiến của Triều đình. Theo ông thì: “Bậc làm vua biết rõ cái thế trường cửu đã có, không có bụng nghi ngờ bề tôi ở dưới: kẻ làm dân biết cái lợi hại của việc trị việc loạn nên không có cái chí phạm thượng. Trên dưới tự mình không nghi cũng không ngờ lẫn nhau. Mọi việc gì đều có phó thác rõ ràng, người nhận lãnh vui lòng, không có điều gì tối tăm, lo lắng, cho nên dễ đi đến chỗ đúng đắn, dễ bày tỏ, dễ cởi mở, dễ phân giải, tất cả đều do thật lòng tin tưởng nhau, cho nên dù có sự bất bình cũng tin nhau, không nỡ trách cứ hà khắc. Được như vậy là đều do không nghi kỵ gì nhau mà ra. Nếu đã nghi thì hại đến lòng tin. Không tin tưởng thì đa kỵ, đa kỵ thì lụy hại đến trí khôn; trí bị tổn hại thì dễ bị hỏng việc; việc hỏng thì sinh hại, hại sinh thì có lắm chuyện lo buồn; lo buồn nhiều thì tâm loạn rồi sinh ra lắm sự sợ hãi; sợ hãi nhiều thì khí chất kém đi mà sinh ra nhu nhược; nhu nhược thì mọi việc chần chừ do dự không dám quyết đoán...” (Di thảo số 13).

Do đó mà Nguyễn Trường Tộ mong có một sự ổn định về chính trị. Có lẽ Nguyễn Trường Tộ không đặt vấn đề lựa chọn chế độ chính trị, quân chủ hay dân chủ, dân chủ tư sản hay dân chủ nhân dân, như chúng ta quen nói ngày nay. Ông chỉ thấy là cần có một người nắm giềng mối quốc gia. Và người đứng đầu quốc gia đó phải phục vụ lợi ích của toàn dân: “Vua có bổn phận của vua, quan có bổn phận của quan, dân có bổn phận của dân. Người quý kẻ tiện không cướp đoạt của nhau (...) Nếu biết dựa vào nhau và nhờ vào thế của nhiều người, sao cho mọi người đều coi trọng việc công và lòng người đều tôn kính bề trên, như Giả Nghị nói: Gieo vào lòng người sự tôn kính, thì thiên hạ không có loạn. Vì rằng danh đã định, vị đã lập, lý đã chính, thế đã đồng, các nước đều như vậy cả, lẽ nào một nước ta lại có thể trái với các nước, đứng riêng một mình được sao?”

Nói tóm lại là, về chính trị, Nguyễn Trường Tộ không đề nghị thay đổi gì cả. Ông chỉ muốn củng cố trật tự xã hội hiện hữu. Trong Tế cấp bát điều (Di thảo số 27, 15-11-1867), ông có đề nghị sát nhập một số tỉnh huyện để tinh giản biên chế và tăng lương cho các viên chức, như chúng ta nói ngày nay. Ông nói: “Hãy xem tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có thể lớn bằng một lần rưỡi nước ta. Hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây hợp lại có thể gấp đôi nước ta. Một huyện của Trung Quốc có thể tương đương một tỉnh nước ta. Trên thế giới có nhiều nước phân chia tỉnh huyện còn lớn hơn của Trung Quốc nữa (...) vậy xin gấp rút xét xem địa thế, hợp hai ba tỉnh làm một tỉnh, hoặc ba bốn huyện làm một huyện, lấy số lương dư ra cấp thêm cho các quan hiện chức. Họ đã được cấp lương tiền đầy đủ để giúp họ giữ được thanh liêm, bấy giờ nếu họ không thanh liêm mới có thể trách. Tôi tính lương tri huyện mỗi ngày không quá ba, bốn thạch (mỗi thạch khoảng 60 - 70 đồng tiền), như vậy nuôi một người còn không đủ huống chi nuôi một gia đình nhà quan. Đã biết rõ thiếu hụt mà cứ đem lời suông khuyên người ta thanh liêm, như thế là ngầm để cho người ta tham nhũng (...) Tôi thấy lương bổng một năm, tính hết tất cả các khoản của một Lục bộ đại thần nước ta không bằng hai ngày rưỡi lương của một nguyên soái nước Pháp. Một ngày lương của một Tổng đốc nước Anh tương đương một năm lương của một quan đại thần nước ta. Vì vậy người phương Tây có nói: “Các quan lại nước Nam, trừ những người quá tham ô không nói, còn bao nhiêu những người khác thường thường sau khi xong công việc họ nhận lãnh của biếu xén, tạ ơn, điều đó cũng không đáng trách” (...) Các nước ngoài nghe quan lại nước ta lương bổng ít ỏi như vậy họ rất chê cười và tựa hồ họ không thể hiểu nổi tại sao lại có thể như thế được. Vì vậy tôi xin đề nghị lấy những của cải phù phiếm xa hoa trong dân gian để thêm lương cho các quan binh. Đó là lý do hết sức chính đáng (các nước phương Tây cũng tăng thu bằng cách đó để cấp thêm cho quan binh). Nếu vậy mà họ còn tham ô, mới có thể trách được”.

Để quản lý quốc gia, Nguyễn Trường Tộ, trong Tế cấp bát điều, điều thứ 5 và 7, đề nghị vẽ bản đồ cương giới cũng như điều tra dân số và làm thống kê về tất cả mọi mặt sinh hoạt của đất nước. Ông nói: “Nay xin vẽ bản đồ tất cả các xứ trong nước. Về địa phận mỗi tỉnh, huyện, xã, thôn, phường, sách, động, trang phải đo đạc lại hết cho phù hợp bốn bên, xa gần, rộng hẹp, đồng thời mô tả tình thế mặt đất, như tôi đã nói ở trên, rồi ghi chú rõ ràng vào bản đồ cả nước. Trong bản đồ phải có thuyết minh để thấy rõ các mối liên lạc. Vẽ bản đồ phải thực hiện nhiều loại, có loại vẽ phân tích ra từng phần, có loại vẽ tổng hợp chung tất cả các phần vào một (như lối vẽ của Tây phương), nhưng nói chung các bản đồ đều phải lấy độ số bằng dặm vuông để dễ suy đoán (khoản nay tôi có biết ít nhiều).

(…)

“Nay xin lập sổ bộ thống kê lại đầy đủ không luận trai gái, già trẻ. Việc này giao trách nhiệm cho tri huyện và tổng lý phải ghi rõ ràng trình lên. Như chính quán bao nhiêu, ngụ cư bao nhiêu, người học chữ bao nhiêu, làm thợ bao nhiêu, buôn bán bao nhiêu, bao nhiêu người không có nghề nhất định, bao nhiêu người mồ côi cha mẹ, góa vợ góa chồng, bao nhiêu người tàn tật, bao nhiêu quan, binh, chức, sắc bao nhiêu người làm thầy thuốc, thầy bói số. Mỗi năm đều ghi rõ ở dưới là còn tiếp tục hành nghề cũ hay đã đổi nghề thác. Cũng phải ghi rõ mỗi nhà sinh được bao nhiêu trai gái, chết vì lý do gì
”.

Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị lập thêm bộ Nông nghiệp, bộ Ngoại giao (trước chỉ có 6 bộ: Bộ Binh, Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Công, Bộ Hình, Bộ Hộ). Ông cũng đề nghị là Tòa án phải được độc lập: Nhà vua chỉ có quyền ân xá, chứ không có quyền kết án.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Bảy, 2010, 12:36:23 pm

6. CẢI CÁCH GIÁO DỤC

Ở ngay đầu bài “Học tập thực dụng trong nhân dân” (Di thảo số 18, 1-9-1866), Nguyễn Trường Tộ nói: “Học tập bồi dưỡng nhân tài tức là con đường đưa đến giàu mạnh”.

Nhưng về lối học cũ, lối học từ chương, ông đã thấy ngay hồi còn nhỏ, là vô bổ, nên ông cũng đã sớm đi tìm lối học thực dụng.

Tuy nhiên trong bản văn đầu tiên mà chúng ta hiện có về việc học tập (Di thảo số 18), Nguyễn Trường Tộ chỉ đề cao lối học thực dụng, lối học lấy thiên nhiên làm đối tượng, chứ không trực tiếp đả phá lối học cũ. Ông nói: “Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng, học những cái vụn vặt thì chỉ được cái vụn vặt, trồng đậu, được đậu, đó là lẽ tự nhiên”.

Do đó trong bản văn này, ông đề nghị chủ yếu là phát động học tập kinh nghiệm phát huy sáng kiến trong nhân dân. Còn đối với các trường lớp và khoa cử đang hiện hành, ông chỉ đề nghị đem thêm vào một số môn học thực dụng.

Trước hết ông nói: “Xin cho các trường Quốc học, tỉnh học, các trường tư và các bài thi Hương thi Hội đều chú trọng vào tình hình hiện tại, như luật lịch, binh quyền, các chính sự về công hình lại lễ, tất cả đều được nói thẳng, không giấu giếm, có cái gì tệ hại, có cái gì hay ho, các gì nên để lại, cài gì cần thay đi, những cái cần thiết trước mắt, những cái có thể phân tích tỉ mỉ, xác đáng, hợp thời, thì được coi là trúng cách, còn những chuyện cũ chỉ là thứ yếu”.

Sau đó, ông mới đề nghị đem các đề tài về hải lợi, sơn lợi, địa lợi, thủy lợi, cách thức sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, dược phẩm, cách thức tổ chức xuất nhập khẩu, xây cất nhà ở, xây cất cơ sở xã hội, tổ chức học ngoại ngữ... để cho nhân dân đóng góp kinh nghiệm, sáng kiến... nhằm phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

Trong Tế cấp bát điều, điều thứ tư, nói về sửa đổi học thuật, Nguyễn Trường Tộ phê phán lối học cũ một cách gay gắt và đề nghị đem vào chương trình học những khoa học hiện đại. Bởi vì học, theo ông, “là học những gì chưa biết để biết mà đem ra thực hành. Thực hành những gì? Thực hành ở đâu? Đó là thực hành những gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa”.

Nhìn vào sự học của ta lúc bấy giờ, ông nói: “Ngày nay chúng ta lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ, phú; lớn lên ra làm thì lại luật, lịch, binh, hình. Lúc nhỏ học nào Sơn Đông, Sơn Tây mắt chưa từng thấy; lớn lên ra làm thì đến Nam kỳ, Bắc kỳ. Lúc nhỏ học nào thiên văn, địa lý, chính trị, phong tục tận bên Tàu (mà nay họ đã sửa đổi khác hết rồi) lớn lên ra làm thì lại dùng đến địa lý, thiên văn, chính trị, phong tục của nước Nam, hoàn toàn khác hẳn. Lúc nhỏ học những lễ nhạc, cách ăn uống, cư xử chiến đấu, doanh trại từ xa xưa của Tàu, lớn lên ra làm thì phải dùng đến lễ nhạc, cách chiến đấu, phép ăn ở theo quan dân nước ta ngày nay. Còn biết bao nhiêu những việc tương tự như thế, mòn bút khô môi cũng không kể xiết. Xưa nay các nước trên thế giới chưa từng có nước nào có nền học thuật như vậy. Quả thật lạ đời! Tuy Nhật Bản, Cao Ly cũng đọc sách Tàu nhưng chỉ để làm vui (phải đọc sách của họ mới biết sự thật. Nếu xem sách Nho thì bao giờ cũng thấy nói khắp thiên hạ đều học theo phép Nho của mình cả. Đó chỉ là nói để khoe tốt, không đủ tin), còn ra làm thì đều theo sách của nước họ, công việc của nước họ, chưa bao giờ thấy họ học và dùng những gì mà mắt không trông thấy, chân không đặt đến như lối học của nước ta”.

(…)

“Nước ta ngày nay bốn bề bị ép, người ngoài sắp chiếm làm hang ổ, đó là cái mà chúng ta phải hiến dâng trí khôn, sức khỏe ra chống giữ để bảo vệ nước nhà. Nước ta có những vị danh thần trong các triều vua trước còn để lại danh thơm tiếng tốt, cũng như các danh thần và các quan chức trong Triều đình hiện nay mà việc làm của họ có thể làm khuôn phép cho đời, tại sao không đem ra truyền tụng cho mọi người được hứng khởi... mà cứ ngày đêm luôn miệng kêu réo những người từ bên Tàu, chết đã mấy ngàn năm, như Tiêu Hà, Hàn Tín! Phải chăng chúng ta ngày nay còn mang ơn họ? Phải chăng người thời nay không bì kịp người thời xưa? Hay muốn kêu cho họ sống lại? Như vậy mà cứ học cho đến bạc tóc, thật là quái gở không thể nào hiểu nổi!
”

Ông đề nghị đem vào chương trình học và thi cử các môn nông nghiệp, thiên văn, địa lý, bách khoa, luật học. Trước hết phải sưu tầm trong các sách cũ những gì trong các cuốn đó còn thích hợp, đem đối chiếu với các sách phương Tây mà ông đã mua ở từ bên Pháp về, để soạn ra những bộ sách cho học sinh dùng. Ông cũng đề nghị gởi học sinh sang các nước học ngoại ngữ, học các khoa học hiện đại (Xem di thảo số 7, số 45).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Bảy, 2010, 12:38:47 pm

7. DÙNG QUỐC ÂM

Để cho nền giáo dục được phổ biến dễ dàng và rộng rãi trong nhân dân, Nguyễn Trường Tộ chủ trương phải có quốc âm, tức là chữ viết mà đọc lên ai cũng hiểu, dẫu không biết đọc cũng hiểu. Chứ chữ viết chính thức của nước ta lúc bấy giờ là chữ Nho, chữ Hán, mà “về phát âm đã không theo đúng giọng Trung Quốc, cũng không phải tiếng phổ thông của nước ta. Âm vận của chữ này chỉ có ai học mới biết, không học thì nghe cũng như vịt nghe sấm mà thôi”. Tuy nhiên để có chữ viết theo chữ quốc âm, ông đề nghị “cứ lấy chữ Hán chuyển đọc ra quốc âm, không cần học nghĩa... Thí dụ như chữ “thực phạn” thì đọc là “ăn cơm”...

Ông nói: “Nay lấy chữ Hán đọc ra quốc âm, thì khi đọc lên ai nghe cũng hiểu, có phải vừa dễ dàng vừa bớt được bao nhiêu phiền phức không? Tôi tính quốc âm ta ước chừng hơn một vạn tiếng, trong đó chỉ có lối ba ngàn tiếng không thể viết như chữ Hán. Trường hợp đó ta dùng những chữ Hán tương tự rồi thêm hiệp vần vào một bên mà thôi. Còn sáu, bảy ngàn tiếng đã viết được như chữ Hán thì cứ viết, chỉ đọc như quốc âm thôi. Đó gọi là “chữ Hán quốc âm” (…) Như vậy người học sau này chỉ học mặt chữ thôi, không phải tốn nhiều công phu học cái tiếng chẳng phải Hán, chẳng phải ta, có phải giải quyết được dễ dàng những việc khẩn cấp mà thu được lợi ích rất lớn không? Bởi vì sự học có công dụng lớn cho quốc dân. Khi sự học tập phải khó khăn rắc rối thì cả nước phải chịu sự khó khăn ấy đời nọ đến đời kia chứ đâu phải chuyện nhỏ”.

Ông cũng đề nghị là “gộp hết tiếng ta lại chia thành môn loại, làm tự điển, trước tiên ban hành trong các cơ quan chính quyền và trường học cho người học dễ dàng sử dụng. Khi nào chữ Hán đã được đọc thành âm tiếng ta rồi thì bất cứ ai biên chép việc công việc tư đều phải dùng thứ chữ đã ban hành, không được thay đổi. Còn các nhà văn, ai muốn dùng chữ Hán theo âm Nho tùy ý, nhưng trong công việc làm thì phải dùng thứ chữ Triều đình đã ban hành”.

Nguyễn Trường Tộ là người công giáo. Ông thừa biết rằng chữ quốc ngữ, theo mẫu tự La tinh, được sử dụng phổ biến trong giới công giáo từ thế kỷ 17-18, là một mẫu tự đơn giản và dễ học hơn “chữ Hán quốc âm” nhiều. Nhưng ông đã không đề nghị lấy chữ Quốc ngữ làm chữ viết cho cả nước. Có lẽ ông đã giải thích điều đó khi ông nói: “Chả lẽ nước ta không có ai giỏi có thể lập ra một thứ chữ viết tiếng ta hay sao? Vì ta dùng chữ Nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả, sợ làm cho người ta lạ tai lạ mắt”.

Nguyễn Trường Tộ cũng đã không nói gì đến chữ Nôm là một thứ Quốc âm được hình thành từ thời Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) thế kỷ thứ 8, và phát triển với Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu... Chữ Nôm cũng được sử dụng rộng rãi trong giới công giáo từ thế kỷ 17-18.... Chữ Nôm nói đúng ra cũng còn phức tạp. Bởi vì một chữ Nôm thường được cấu tạo bằng hai chữ Hán, một chữ lấy âm để chỉ cách đọc và một chữ lấy nghĩa. Thí dụ muốn đọc hay viết chữ Đá nghĩa là hòn đá phải biết chữ Đa (nghĩa là nhiều) và chữ Thạch (nghĩa là hòn đá). Chữ Nôm viết chữ Đá là hòn đá gồm hai phần: Một bên chữ Đa để chỉ cách phát âm, một bên chữ Thạch để nói nghĩa.

Trong việc sử dụng “chữ Hán quốc âm”, Nguyễn Trường Tộ đã tách biệt giữa âm và ngữ trong cách ghi nhận tiếng nói và Nguyễn Trường Tộ đã chọn cách ghi âm. Theo ông, hệ thống chữ viết không gì khác hơn là những ký hiệu ghi nhận âm thanh của tiếng nói, không cần mang dấu hiệu của ý nghĩa trong các ký hiệu đó. Ký hiệu chỉ cần giản dị và chỉ là phương tiện để ghi nhớ tiếng nói mà thôi.

Như chúng ta biết tiếng Trung Quốc cũng như tiếng ta trên cơ bản là tiếng đơn âm. Đơn âm đòi hỏi có dấu giọng. Trong khi tiếng Trung Quốc chỉ có 4 thanh: Bình, Thượng, Khứ, Nhập thì tiếng ta có lợi điểm đến 6 giọng: 0, \, /,.,?, ~, Nguyễn Trường Tộ đã biết lợi dụng thế mạnh đó của tiếng Việt để chủ trương dùng chữ viết theo lối ký âm mà không sợ trùng âm như trường hợp tiếng Trung Quốc. Chính vì thế mà Nguyễn Trường Tộ đã gọi là chữ Quốc âm. Chữ Quốc âm là thứ chữ ghi âm thanh tiếng nói của nước mình. Cũng do đủ âm mà chúng ta đã sử dụng được mẫu tự Latinh làm chữ quốc ngữ của nước ta, trong lúc Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Quốc do thiếu âm mà qua nhiều thử nghiệm vẫn là ước mơ chưa thực hiện được.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Bảy, 2010, 12:40:38 pm

8. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

Nguyễn Trường Tộ đề nghị lập nhà in, xuất bản sách báo, để nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, nhưng đồng thời cũng phải kiểm soát, hạn chế, cấm đoán các loại sách nọc độc. Ông nói: “Xin đem các tập Ngự chế và các sách của Hàn Lâm, sách nào hợp với thời vụ ra ban hành. Còn kinh, sử, tử, truyện chỉ dùng để khảo nghiệm một vài việc mà thôi. Và cũng xin đặt lệ cho các hiệu sách trong nước, nếu muốn khắc bản in, phải theo qui định của Triều đình cho sách nào in trước, sách nào in sau. Ngoài ra cần ấn hành một tờ nhật báo đăng tải các chiếu, chỉ, sớ, dụ, những việc làm của những bậc có tiếng tăm, những công vụ quốc gia hiện thời, cho học sinh đọc để biết công việc trong nước. Đó cũng là một ích lợi lớn, (ích lợi ấy rộng rãi như mưa móc thấm nhuần, không thể chỉ ra từng cái được, làm sẽ thấy ngay).

“Còn như những tiểu thuyết, truyện hoang đường, bùa chú, sấm vĩ, những chuyện ngông láo không kiêng dè và những chuyện truyền miệng về đoán định cơ trời khí số, lưu truyền trong dân gian của Trạng Trình, Trạng Lượng, làm hư hỏng lòng người rất nhiều, gây dao động bất an trong dân chúng (tôi rất đau lòng nhức óc đụng chạm với người ta và phải vất vả với nhiều người về những chuyện này lắm). Những chuyện đó không được truyền thuật, đàm luận hoặc in ra xuất bản.

“Tôi thấy bên Trung Quốc có nhiều người thấy chuyện đó là bậy, bèn quyên tiền mua những sách ấy đốt đi. Ý nghĩ của họ tốt, nhưng việc làm của họ chỉ đáng một chén nước dập tắt sao nổi một xe củi, nào có bổ ích gì? Chỉ cấm ngặt họa may mới diệt được gốc mà khiến cho lòng người chú trọng vào cái học thiết thực cho những công việc hiện tại. Như thế mới có thể dần dần tiến tới chỗ tốt đẹp và ích lợi
” (Di thảo số 27).

Nguyễn Trường Tộ là một người có một óc quan sát rất sắc bén. Không có chuyện bất công, sai, trái, dầu nhỏ dầu lớn nào mà ông có thể bỏ qua. Có nhiều việc được coi như thông thường, đương nhiên nhưng ông đã vạch ra yêu cầu sửa đổi.

Như về “nhiêu sinh” là những người hễ đi học là được miễn thuế đinh, miễn xâu, miễn lính. Ông nói: “Chính tôi trông thấy có nhiều người khuyên nhau rằng: Hãy ráng học chữ nghĩa, dù không đỗ đạt làm quan cũng được miễn lính tráng, miễn xâu thuế, thong thả suốt đời như đàn bà (…). Theo thống kê tỉnh Nghệ An, số khóa sinh đến vài ba nghìn người mà số nhiêu sinh trong dân chúng còn gấp bội hơn nữa. Trong số đó những người sau này ra làm việc nước nhiều lắm vài ba trăm người là cùng, còn lại là khóa sinh, nhiêu sinh cho đến già. Một tỉnh mà đã có lắm người nhàn như thế, hợp cả nước con số sẽ đến một tỉnh nhỏ”. (Di thảo số 27).

Trong văn bản Về cải cách phong tục (Di thảo số 47, ngày 29- 4-1871) Nguyễn Trường Tộ đã lưu ý Triều đình về những việc rất nhỏ nhưng là những việc quan trọng đối với một dân tộc muốn có nếp sống văn hóa mới: Như vệ sinh chung quanh nhà quan cũng như nhà dân ở nơi đô thị, vệ sinh dọc đường sá, không đổ rác, không phóng uế bừa bãi. Ông cũng chống lại luật lệ không cho dân đi xe, đi giày.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tám, 2010, 02:53:38 pm

9. CÔNG TÁC XÃ HỘI

Dưới triều phong kiến nhà Nguyễn, việc chăm lo cho những người bất hạnh trong xã hội, như nuôi trẻ mồ côi, giúp đỡ người tàn tật già yếu neo đơn, nghèo đói, nếu có cũng không có hiệu quả và không thành hệ thống. Nguyễn Trường Tộ nhận xét: “Tôi thấy hiện nay Triều đình có xuất công quỹ lập viện tế bần để nuôi người nghèo khổ. Nhưng vì người thừa hành không làm hết nhiệm vụ, nên chỉ có danh nghĩa mà thực tế những người nghèo khổ được hưởng sự cứu giúp chẳng bao nhiêu”. (Di thảo số 27).

Ở các nước phương Tây, cho tới cuối thế kỷ 19, các công tác xã hội thường do các giáo hội đảm trách. Người Pháp, ngay sau khi vừa mới thiết lập cơ sở ở Sài Gòn, đã xin mời các nữ tu dòng Thánh Phaolô tới lo lập viện mồ côi. Chính Nguyễn Trường Tộ đã góp phần xây dựng cơ sở của dòng Thánh Phaolô vào những năm 1862-1864, nên ông luôn luôn nghĩ tới việc nhờ Giáo hội Công giáo góp phần vào các công cuộc xã hội ở nước ta.

Trong cuối bài về Học tập thực dụng trong nhân dân (Di thảo số 18; 1-9-1866), ông đề nghị ở mỗi tỉnh lập một viện dục anh giao cho giám mục quản lý. Ông xin đứng ra thu xếp việc này. Ông nói: “Nước ta hiện nay đang bận nhiều việc lớn chưa thể thực hiện hết và cũng khó chọn được người đứng ra làm việc này. Nhưng thiết nghĩ bỏ phí mất một người tức phí mất một phần của đất nước”.

Trong Tế cấp bát điều, điều thứ 8, Nguyễn Trường Tộ lại đề nghị:

“Nếu Triều đình cho rằng việc này nên làm thì sẽ nhờ các giám mục mời người đến, ở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ, không bao lâu sẽ thấy kết quả ngay. Giả như các giám mục có giao ước trước một cách rõ ràng rằng: “Nếu các trẻ mồ côi lớn khôn sẽ được mang về Tây làm dân bên ấy , tôi nghĩ những trẻ mồ côi của ta không người nuôi nấng sớm muộn cũng chết thì để họ nuôi lấy cũng được. Huống chi nhà nuôi trẻ dù lập ở đâu, bọn trẻ con khi lớn khôn sẽ phân tán tại các nơi đó. Dân là dân của ta, có người bỏ tiền công ra nuôi dạy, xưa chúng là người bỏ rơi mà sau được nên người. Những người làm mẹ nuôi chúng nhiều người ở mãi đến già chết trên xứ ta. Như thế đủ chứng tỏ tấm lòng từ thiện của họ như thế nào!”.

Cũng trong Tế cấp bát điều, điều thứ 7, khi nói về điều tra dân số, kê khai hộ khẩu, Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị lọc ra những kẻ bất lương, để đem đi lao động cải tạo, bảo vệ trật tự an ninh xã hội. Ông nói:

“Những bọn tù tội ăn của Nhà nước, thì phải làm việc, không nên để chúng ở không. Vì ăn ở không là gốc của mọi tội lỗi. Cứ xem những người thường phạm thì biết chúng đều là những kẻ ăn chơi biếng nhác, không muốn làm việc, hoặc đam mê hát xướng, hoặc không có chuyện gì cần thiết mà cứ bôn tẩu ngược xuôi, cho đến những bọn côn đồ đàn đúm nhau bài bạc rượu chè rồi sinh sự điêu ngoa bày mưu kiện tụng, cho đến những bọn bói khoa, xem phong thủy, bùa chú. Lại có những kẻ mượn cớ dạy học kiếm ăn thế mà lặn lội không sót một chỗ nào, lời nói và hành động của họ gây nhiều tai hại và rối loạn trong dân chúng.

“Vậy sau khi đã kiểm tra nhân số một cách rõ ràng chắc chắn rồi, hãy tầm nã rộng rãi những bọn này tập trung lại quản thúc gắt gao, tổ chức thành đội ngũ, cấp phát áo cơm, rồi sung vào làm việc binh dịch. Phải bắt chúng cực nhọc thể xác, khốn đốn tinh thần, chúng mới hồi đầu tỉnh ngộ. Hoặc dời cả gia đình chúng đến những bìa rừng xa xôi để khai phá đất đai, phá núi mở đường. Nếu làm được sẽ cho chúng được quyền hưởng dụng vĩnh viễn (...)

“Những chỗ sát biên giới phía Tây nước ta cũng nên dần dần chỉnh đốn lại. Những làng nào, xã nào có dân nghèo không kế sinh nhai thường bỏ đi làng khác và những bọn vô lại đầu gành xó chợ đều phải lùa đi hết ra khỏi làng. Tôi thấy trong dân có những hạng người làng xóm không ưa, do từ mặc cảm đó họ gây nhiều tội lỗi. Nếu những người này chết hoặc đi đâu cho khuất mắt thì ai cũng mừng. Lại có nhiều bọn ăn cắp móc túi. Phố chợ nào cũng có bọn này, bọn nào có địa phận ấy. Có bọn còn câu kết ăn chia với hương hào làm cho dân chợ khổ mà dân những chỗ buôn bán lại còn khổ hơn. Bọn người bất nhân này đã là giặc dã man đối với dân chúng, sao không dẹp yên đi, đưa hết bọn chúng ra ngoài biên giới cho hợp với ý muốn của dân! Hãy chọn trong bọn chúng những tay quá quắt nhất mà không nhà không cửa, tập trung quản thúc bắt đi làm các dịch vụ công cộng như đào kênh, vỡ đất, trồng cây, v.v... Đó là phương pháp hay nhất. Đối với bản thân chúng được lợi ích vì cải tạo tư tưởng hành động, dân chúng thì được yên ổn và quốc gia thì được lợi ích không thể kể hết”.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tám, 2010, 02:54:46 pm

10. QUỐC PHÒNG

Nguyễn Trường Tộ có lẽ là người thấy rõ sự yếu kém của quân đội nước ta và sức mạnh về vũ khí của Pháp thời đó. Trong bài Bàn về việc hòa gởi Nguyễn Bá Nghi năm 1861 cũng như trong bài Thiên hạ đại thế luận gởi Triều đình năm 1863, Nguyễn Trường Tộ đã nhận định rằng:

“Quân lính của ta chuyên dùng gươm đao gậy gộc, không thạo súng ống, dù phục binh gài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho tình thế không khẩn cấp, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa. Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm giáo đã tan tành” (Di thảo số 1).

Sở dĩ ông luôn luôn đề nghị tạm hòa với Pháp, tạm nhượng bộ Pháp, là để củng cố lại lực lượng, xiết chặt lại hàng ngũ. Vì thế mà ông luôn luôn quan tâm đến việc tu chỉnh võ bị.

Chúng ta hiện không biết trong bài Tế cấp luận (1863) vấn đề binh bị chiếm vị trí như thế nào. Chứ trong bài Tế cấp bát điều (1867), có tám điều, thì điều thứ nhất là “xin gấp rút sửa đổi việc võ bị”.

Trong bài này, trước tiên Nguyễn Trường Tộ chứng minh cho Triều đình hiểu là học về võ khó hơn học về văn. Làm việc binh ra trận khó hơn làm quan trong văn phòng. Ông đả kích việc trọng văn khinh võ. Ông nói:

“Điều làm cho bọn giặc loạn sợ là uy vũ. Người xưa có nói: Kinh Xuân Thu san định xong làm cho bọn tôi loàn con nghịch khiếp sợ. Nay thử đem Kinh Xuân Thu treo trước cửa bọn ấy xem chúng có khiếp sợ không? (...) Người xưa bảo: Một lời nói hơn cả mười vạn quân. Nhưng nếu chúng ta không có uy danh làm cho địch nể sợ trước, mà chỉ ngâm một bài thơ, nói một câu chữ có thể đuổi được giặc ư? Cho nên khi quốc gia hữu sự, mà không có vũ công trấn áp thì cả quốc gia, quan quyền, sĩ dân, chính trị, pháp luật phải dâng hết vào tay địch. Chừng đó liệu bên văn có cai trị được không?”

Nên Nguyễn Trường Tộ đề nghị:

1. Soạn binh thư mới, dựa trên các sách binh thư cũ, xem có chỗ nào còn dùng được, chỗ nào cần bỏ đi, và cũng phải mua các sách binh pháp thủy bộ của phương Tây dịch ra để tham khảo học tập.

2. Mời những người phương Tây giỏi về quân sự phối hợp với sĩ quan ta huấn luyện binh sĩ mỗi ngày.

3. Bắt các quan võ từ cấp bực ngũ trưởng trở lên phải học chữ để đọc binh thư.

4. Gởi bài về cách đánh thành, giữ thành, vẽ địa đồ trận địa, cách lập đồn dựng trại... gởi về các trường võ bị cấp tỉnh, mỗi tháng một bài, để sát hạch.

5. Cử người giỏi về địa lý binh pháp đi khắp trong nước vẽ bản đồ quân sự từng nơi một, rõ ràng, chi tiết chứ không mơ hồ như trước đây.

6. Có chính sách và chế độ hợp lý đối với sĩ quan và binh lính; lương bổng đủ sống, có trợ cấp cho thương binh, có trợ cấp tử tuất cho vợ con, có lương hưu khi mãn hạn, binh lính phải có thời giờ tập luyện.

7. Phải bớt số binh lính già cho về làng sản xuất và làm dân quân, khi hữu sự thì đem ra sử dụng. Tuyển chọn binh lính trẻ, chưa có gia đình.

8. Giảm bớt sĩ quan: Sĩ quan cần giỏi chứ không cần đông. Nếu những sĩ quan không có khả năng, dù họ là con cháu công thần, con nhà tập ấm, hoặc do gặp may mà có công chứ không phải do thực tài, thì chỉ nên cho họ tước lộc ngồi không mà hưởng thôi, đừng để lạm quyền hành sự, di hại sẽ không ít.

9. Phải lần lượt xem xét các địa hình, chuẩn bị xây đồn đắp lũy để khống chế những chỗ quan yếu.

10 Phải chế tạo các loại vũ khí mới lạ, có thể đối phó được với giặc.

11. Phải chỉnh đốn lại nhà cửa ở Kinh thành và các đô thị, trồng cây nhiều để dễ phòng thủ...

12. Phải xây một thành lớn để phòng giữ ở phía Bắc, vùng Tứ Tuyên.

Nguyễn Trường Tộ kết luận:

“Con người ta mặc dầu đã có tài trí tâm lực để đem thi thố mà hưởng dụng nhưng cũng phải có những khí cụ bên ngoài để bảo vệ, mới có thể an định tâm thần mà thi thố kỹ xảo được. Như bài nghị hòa năm trước tôi có nói: “Phải có kỹ xảo cao mới sinh dũng cảm”. Nếu tay không đánh cọp mà thắng, đó chỉ là điều may chứ không phải đường lối vẹn toàn. May rủi là điều không thể đem bất cứ việc gì phó thác được, huống nữa là việc quân sự hết sức quan trọng, huống nữa là kinh thành, sách lược vô cùng quan trọng”.

Trong bài về “Tiễu trừ giặc biển” (Di thảo số 38, 15-10-1868), Nguyễn Trường Tộ đề ra kế hoạch đào kênh, xây cảng, trang bị thuyền máy, một mặt là để đối phó với họa cướp biển, nhưng một mặt cũng là nhằm phòng thủ chống ngoại xâm và manh nha lập binh chủng hải quân.

Trong một văn bản đề ngày 10-4-1871 (Di thảo số 44), ông đề nghị.Triều đình đứng ra vay của các đại thương gia ở Hương Cảng 8, 9 triệu quan để mua súng ống và mua vài trăm con ngựa ở Manila và thuê người Manila đến lập và huấn luyện kỵ binh.

Trong một văn bản gọi là “Tái tu chỉnh võ bị”, năm Tự Đức 22 (tức 1869), mà hiện nay chúng ta chưa tìm thấy, Nguyễn Trường Tộ hình như cũng chỉ triển khai những đề nghị trong Tế cấp bát điều.

Ngày 19-6-1871, Nguyễn Trường Tộ lại có bài “Tu chỉnh võ bị” (Di thảo số 50). Nhưng trong bản văn này, Nguyễn Trường Tộ chỉ nhắc lại và nhấn mạnh một vài điều trong điều thứ nhất của Tế cấp bát điều.

Trong tập này, điều mà Nguyễn Trường Tộ tỏ ra buồn phiền là Triều đình vẫn theo binh pháp cũ. Ông nói: “Trước đây trong điều nói về “Tu võ bị” trong Tế cấp bát điều và sau này trong tập “Tái tu võ bị” cũng có những điều có thể áp dụng được nhưng vẫn chưa được đem ra thực hành”.

Nguyễn Trường Tộ là người đọc nhiều sách về binh pháp Đông và Tây. Ông rất để ý tới những gì liên quan đến quân sự. Năm 1866, khi vào Sài Gòn thấy có loại súng mới, một phút bắn được 100 phát, ông liền biên thư hỏi xem Triều đình có muốn mua một khẩu làm mẫu không. (Xem di thảo số 23): khi tới Pháp năm 1867, việc trước tiên của ông là đi tìm chỗ đúc súng để xin cho phái viên học (Xem cuối di thảo số 27). Khi ở Pháp ông đã đi xem các viện bảo tàng về quân sự, đi tham quan các thành lũy xưa hiện còn di tích... Cũng trong Tế cấp bát điều, ông nói: “Bởi vì tôi cũng đã có nghiên cứu binh pháp, nên phàm thấy cái gì tôi đều nhận xét kỹ lưỡng về hình thế bài trí của nó. Nhờ thế tôi thấy được cái mà người thác không trông thấy, chứ không như những người du lịch chỉ biết thưởng ngoạn”.

Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều hiểu biết về quân sự. Trong các đề nghị của ông về tu chỉnh võ bị trong Tế cấp bát điều, hầu như điều gì ông cũng đều nói là có biết, có thể giúp làm được. Nhưng Triều đình Huế đã không mấy quan tâm về những đề nghị cải cách binh bị của ông. Trong bài “Tu chỉnh võ bị” (Di thảo số 50, ngày 19-6-1871), ông nói rằng:

“Về khoản xin lập đồn ở ngoại thành, tuy có xuất phát từ phương pháp phương Tây, nhưng phép bố trí của tôi còn hay hơn một bậc. Điểm này quả thực tôi không dám nói phóng đại. Năm xưa khi ở Gia Định có người Tây đã từng khen rằng người như tôi việc gì chẳng làm được (người này đã từng xây dựng lớn và đã đến hỏi tôi một vài lần bởi biết tôi có tài này. Có điều là tôi cũng không để cho họ dùng cái tài ấy của tôi). Còn đối với ta, Triều đình chưa biết tài tôi bởi vì người ta xem thường mà cũng có chút ít nghi ngờ nên chưa dùng. Cho nên nếu y theo binh pháp của tôi rồi lại xem hết binh pháp phương Tây ngày nay, hơn nữa phải là người giỏi về địa lý binh pháp mới thấy được chỗ hay hơn trong binh pháp của tôi (...) Chỉ vì người ta khinh dể cho là lời nói làm bẩn tai, cho nên Triều đình chẳng thèm để ý. Nếu như Khổng Minh sống lại mà chép tập này, dù có một hai điều không đúng, người ta cũng không dám bàn. Bởi vì tên tuổi có thể bịt được miệng người. Cũng như các trạng nguyên, bảng nhãn, văn chương của họ đâu phải chữ nào chữ nấy đều là châu ngọc. Nếu có một hai câu không thông suốt lắm, bọn học hành thấp kém lại cho rằng mình chưa đủ trình độ để phê phán. Suy ra mọi việc ở đời cũng thế thôi. Điều mà tôi nói là phương pháp của tôi vượt trội hơn đó, nếu Triều đình đã biết sơ qua phương pháp của phương Tây, hoặc có một quan lớn nào đó cùng đi với tôi, tôi sẽ chỉ cho thấy phương pháp của phương Tây như thế này, như thế kia, đến khi về xem lại những điều tôi nói trong tập bẩm trước, mới thấy chỗ đặc biệt của phương pháp của tôi. Còn những chỗ khéo léo trong việc áp dụng thi hành thì nhiều lắm, một tập, một quyển không thể trình bày được. Nếu ngày nào tình thế có thể thi hành được, tôi sẽ đến ngay tại mỗi địa thế, trù liệu tính toán, chỉ rõ phương pháp xây cất, đồng thời chỉ rõ phương pháp ứng dụng phù hợp với địa thế trong trường hợp địch công ta thủ như thế nào, sau đó mới biết được cái hay của nó. Còn nếu cứ nói suông trên giấy, chẳng khác nào vẽ trăng, vẽ khéo đến đâu cũng không phải mặt trăng”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tám, 2010, 10:28:03 pm

11. NGOẠI GIAO

Vấn đề ngoại giao, chủ yếu là vấn đề đối phó với cuộc xâm lược của Pháp, vốn là mối bận tâm lớn và liên lỉ của Nguyễn Trường Tộ: Hầu như trong bản văn nào của ông gởi lên Triều đình Huế, từ 1861 cho đến năm 1871, cũng đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến vấn đề này. Bởi vì nếu thế ngoại giao không ổn và việc thu xếp với Pháp không xong, thì không thể nào tiến hành canh tân, phát triển đất nước được.

Đối với Nguyễn Trường Tộ vấn đề canh tân phát triển đất nước là vấn đề hàng đầu. Do đó Nguyễn Trường Tộ chủ trương mở rộng giao thương với các nước và tạm hòa với Pháp, tạm nhượng bộ Pháp.

TẠM NHƯỢNG BỘ PHÁP

Chủ trương này của Nguyễn Trường Tộ (tạm hòa với Pháp, tạm nhượng bộ Pháp), từ năm 1861 cho đến năm 1871 là nhất quán: Khi Pháp chỉ đòi nhượng cho chúng một cửa khẩu để tàu bè qua lại (năm 1861), ông khuyên Triều đình nên nhượng; khi Pháp đã chiếm ba tỉnh miền Đông với Hòa ước 5-6-1862, ông cũng khuyên Triều đình chấp nhận; sau khi Pháp chiếm trọn 6 tỉnh Nam kỳ (1863), ông cũng đề nghị với Triều đình Huế phải tạm chịu vậy.

Ngay trong văn bản đầu tiên, bài Nghị hòa (Hòa từ), gởi cho Nguyễn Bá Nghi năm 1861 cũng như trong bài Thiên hạ đại thế luận (Di thảo số 1) gởi Triều đình Huế năm 1863, Nguyễn Trường Tộ đã nói:

“Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin mình một miếng đất mà thôi. Nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp hết, từ khách quay lại làm chủ, như thế là tiếc một mảnh đất mà đem cả nước trao cho họ. Nếu biết rõ, họ đã đến là không đi, họ ỷ thế vào những nước khác, thì đánh với họ tức là mất cái lớn không đáng mất mà còn tỏ ra mất đó là vì bất lực, không hợp tình, không kêu nài gì được, chi bằng hòa mà mất cái nhỏ không thể không mất mà còn tỏ ra mình ngoại giao biết điều và là việc hợp tình hợp lý có hơn không?

(…)

“Nhượng một tấc đất mà nhân dân được lợi vô cùng. Như thế chẳng phải là làm việc chung cho thiên hạ đó sao? Người xưa cũng làm như thế thôi. Không thể bỏ cách đó mà theo khác được. Thế là xoay chuyển một cái mà kẻ sống người chết đều chịu ơn, thật là sáng rõ, rõ như ánh sáng lửa rọi, chẳng còn hình tích gì đáng nghi nữa cả. Dân đã yên, sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy súc nhuệ, đợi thời hành động, mất ở phía Đông thì lấy ở phía Tây cũng chưa muộn gì”
. (Xem di thảo số 1).

Trong một văn bản viết giữa tháng 9-1871 (Di thảo số 52), ông lại nói:

“Nay việc khẩn cấp nhất của ta là trước hết phải giữ cho được cái gì chưa mất, còn việc mưu thu hồi 6 tỉnh là việc sau. Muốn giữ cái chưa mất, thì phải gấp rút thừa cơ, mà canh tân chính là căn bản để mưu thu hồi và giữ gìn. Nếu không canh tân để tiến bộ, thì dù có tạm thu hồi được, vá hôm nay mai lại rách, rốt cuộc cũng không thể không có chuyện xảy ra. Nếu nhất luật canh tân để tiến bộ thì việc giữ không khó, mà việc mưu thu hồi không chóng thì chày cũng có thể hy vọng được”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tám, 2010, 10:38:50 pm

NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH HÌNH THẾ GIỚI, ĐỊCH VÀ TA

Khi đánh giá Nguyễn Trường Tộ, có người cho rằng chủ trương hòa với Pháp, nhượng bộ Pháp là sai lầm. Bởi vì thực dân Pháp chiếm nước ta là muốn biến thành thuộc địa của chúng. Âm mưu xâm lược của chúng đã có từ rất lâu, vì vậy chỉ có thể trên cơ sở đánh mạnh, khiến chúng phải khốn đốn, thì chúng mới chịu hòa, và trong điều kiện ấy, ta mới có thể hòa một cách có lợi.

Ngày nay, đọc toàn bộ các di thảo của Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta hiện có, trong bối cảnh lịch sử của thế giới, của nước Pháp và nước ta trong những năm 50, 60 của thế kỷ 19, chúng ta có thế nói được rằng chủ trương đối ngoại của Nguyễn Trường Tộ là dựa trên một sự đánh giá rất đúng đắn về tình hình thế giới, về tình hình của địch và của ta.

Về tình hình thế giới thì đã rõ: Các nước phương Tây đổ xô nhau đi tìm thị trường và đã có mặt khắp các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, đúng như Nguyễn Trường Tộ nói:

“Ngày nay các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho tới Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương (Ả Rập), Thiên Trúc (Ấn Độ), Miến Điện, Xiêm La, Xu Ma Tra, Gia Va, Luyxông, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển kể cả Tây Châu, không đâu là không bị họ chẹn họng bám lưng (...) Đến như địa thế Trung Hoa chiếm một phần ba Đông Phương, nhân số đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả. Thế mà từ thời Minh về sau, người Tây phương vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau, thây chết thành đống, sau phải giảng hòa không biết bao nhiêu lần. Còn như ta là một xứ nóng, gần kề Quế Hải, là trạm nghỉ chân của người Tây phương, trên đường sang Đông. Con giao long khi thấy đầm vực thì nghĩ cách đầm mình chứ không thế nào chịu bỏ mà đi” (Di thảo số 1).

Nguyễn Trường Tộ, trong nhiều văn bản, thường nói đến “hoãn và gấp” của các nước thực dân. Nghĩa là mục đích của các nước thực dân là chiếm thị trường, làm chủ thị trường và nếu cần, làm chủ cả đất nước người ta. Nhưng nước nào cũng muốn “hoãn”, chứ không muốn “gấp”. “Hoãn” là thi hành chính sách từ từ, từng bước một, bằng thương lượng, bằng trao đổi, như thế ít hao tốn, ít phiêu lưu. “Gấp” là dùng vũ lực, áp đặt, yêu sách: nhân dân các nước Tây phương, thường ngán ngẩm những cuộc chiến tranh thuộc địa, kéo dài, phiêu lưu ở những miền xa xôi, do đó mà các chính phủ thực dân thường muốn “hoãn” chứ không muốn “gấp”.

Nhân dân Pháp và Chính phủ Pháp thời Nguyễn Trường Tộ cũng thế thôi. Qua các di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta thấy là ông không hề mơ hồ về ý đồ của thực dân Pháp đối với đất nước ta.

Trong văn bản đã được trích dẫn trên đây, Nguyễn Trường Tộ nói rằng: “Người Pháp đến đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao ta không chịu giao thiệp, ba là xin cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các nước thường làm. Lúc đầu họ không có ý đi cướp nước người. Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn như đã ước định chứ đâu đến nỗi dây dưa lan rộng như thế...”.

Ngày nay, nếu đọc những chỉ thị của Chính phủ Pháp gởi cho đô đốc Rigault de Genouilly, người được giao trách nhiệm chỉ huy đội quân viễn chinh chiếm đóng Việt Nam ngày 25-11-1857, thì chúng ta thấy là tham vọng của Pháp là thiết lập nền bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam hoặc ký kết một hiệp ước cho Pháp được tự do thông thương buôn bán và cho các giáo sĩ Pháp được tự do giảng đạo.

Sau này qua nhiều văn bản, Nguyễn Trường Tộ cho thấy ý đồ của Pháp là chiếm trọn 6 tỉnh của Nam kỳ (Di thảo số 41).

Tuy nhiên, một mục tiêu tối thiểu là ký hiệp ước cho công dân Pháp được tự giao thông buôn bán và các giáo sĩ Pháp được tự do giảng đạo, Rigault de Genouilly đã không đạt được. Sau này đô đốc Charner, sau khi chọc thủng phòng tuyến Chí Hòa (tháng 2-1861), mở rộng vùng chiếm đóng tới Tây Ninh và Mỹ Tho, đặt thêm điều kiện: Không những đòi cho thuyền bè được giao thông buôn bán và các giáo sĩ người Pháp và Tây Ban Nha được tự do giảng đạo, mà còn đòi nhượng trọn tỉnh Gia Định, thị trấn Mỹ Tho và thị trấn Thủ Dầu Một cùng với 4 triệu đồng bồi thường chiến tranh. Dĩ nhiên là Triều đình Huế đã không chấp nhận. Nhưng đô đốc Bonard đã ép buộc Triều đình Huế ký hòa ước 5-6-1862 nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và Côn Đảo. Tháng 6-1867, đô đốc Lagrandière chiếm luôn ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Tháng 11-1873, đô đốc Dupré cho đánh chiếm Bắc kỳ nhưng buộc phải trả lại và vào những năm 1883-1885, Pháp mới chiếm trọn được Bắc kỳ và Trung kỳ.

Như thế có nghĩa là nếu Triều đình vua Tự Đức nghe theo lời Nguyễn Trường Tộ mà tạm nhượng bộ cho Pháp một phần đất ở Nam kỳ, thì Việt Nam cũng có một khoảng thời gian trên dưới 20 năm để canh tân và phát triển đất nước. Nguyễn Trường Tộ hiểu rõ ý đồ của Pháp là chẳng những không chịu bỏ Việt Nam mà còn muốn chiếm trọn Việt Nam, nhưng tình hình nhân dân Pháp ở chính quốc rất sợ phiêu lưu quân sự ở nước ngoài. Năm 1863-1864, nước Pháp đã có ý định trả lại cho Việt Nam ba tỉnh miền Đông mà chỉ giữ lại một vài thị trấn làm cơ sở buôn bán. Năm 1867, khi chiếm ba tỉnh miền Tây, đô đốc Lagrandière đã tự ý đặt chính phủ Pháp trước một sự việc đã rồi. Năm 1873, đô đốc Dupré đã cho quân tiến chiếm Bắc kỳ, nhưng khi thấy rắc rối đã phải cho lệnh rút quân ngay khỏi Bắc kỳ.

Biết rõ ý đồ của Pháp, biết rõ tình hình của nước Pháp, Nguyễn Trường Tộ thấy không có con đường nào khác là phải tạm thời thỏa hiệp với Pháp và tìm kế dài lâu để ngăn chặn Pháp và đánh đuổi Pháp. Chứ vào thời điểm những năm 60 của thế kỷ 19, thể theo nhận định của Nguyễn Trường Tộ, thì Việt Nam không đối đầu được với Pháp.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tám, 2010, 10:41:42 pm

Trong bài Hòa từ năm 1861, ông đã nói:

“Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư Gia Định và các phủ huyện, họ đào kinh đắp lũy trù kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước biển. Không hòa mà chiến, khác nào cứu lửa đổ thêm dầu, không những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.

(…)

“Nước ta tựa núi kề biển, địa thế như một con rắn dài. Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận chuyển đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chặn đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu, gấp rút truyền hịch khắp Nam Bắc, chiêu mộ bọn giặc cướp ẩn náu dùng làm bọn dẫn đường, thì thủy binh của ta sẽ thành vô dụng. Bộ binh thì đài lộ không thông. Chỉ còn đường Vạn Tượng, Ai Lao, Trấn Ninh và đất Cao Miên thì lại hiểm trở khó đi, mất nhiều ngày tháng, đầu đuôi không liên lạc được với nhau. Nếu họ đánh một trận thì ta đã bị cái thế chia năm xẻ bảy. Dù cho có trí dũng cũng không kịp ra mưu. Đại thế đã mất, lòng quân sĩ đã lìa thì còn ai đánh giặc nữa? Địa lợi như thế thì không thể trông cậy vào đâu được”
. (Xem di thảo số 1).

Qua một bức thư tâm sự gởi cho Trần Tiễn Thành, viết từ Nghệ An, ngày 15-6-1866 (Di thảo số 15), chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ đánh giá rất đúng về tình hình nước ta lúc bấy giờ. Ông than phiền rằng: “Những tình thế đất nước như vậy ở các nước khác người ta đã lo liệu hàng trăm năm rồi, mà nước ta mới thấy một ngày. Các nước làm thực sự mà ta thì chỉ nói suông”.

Trong một bản văn viết trước lúc lên đường vào Sài Gòn, đi công cán ở Pháp (Di thảo số 19, ngày 3-9-1866), Nguyễn Trường Tộ nói: “Ngày nay, nước ta đang bị ở vào cái thế xung đột Đông Tây tranh đoạt lẫn nhau nên có hai cái lợi là ở Nam thì Gia Định, ở Bắc thì Tứ Tuyên; nhưng lại có ba cái hại là Bắc thì Vân Nam, Nam thì nước địch, Trung thì có bọn bất mãn chạy Đông chạy Tây rồi lại tụ tập về một chỗ là như thế. Hiện nay ta chưa vội dùng thuật tung hoành để lập cái thế con rết trăm chân được, nên phải tùy thời giao thiệp thân mật với người Tây để tạm mượn thế lực của họ, để chống lại ba cái hại trên, để thu cái lợi bên phía Tây để dần dần lo kế sau này hoặc là khi gặp việc gì thì có thể cứu độ”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tám, 2010, 10:44:04 pm

THIẾT LẬP BANG GIAO VỚI CÁC NƯỚC

Nguyễn Trường Tộ chủ trương tạm hòa với Pháp, tạm nhượng bộ Pháp, nhưng đồng thời cũng chủ trương phải mở rộng bang giao để không chỉ một mình đối đầu với Pháp.

Trong bài Trần tình (Di thảo số 3), Nguyễn Trường Tộ đã nói: “Tôi nghĩ rằng thời kỳ khôi phục nước nhà đã có xác chứng ở bốn bể dự tính được ở tương lai. Đi theo con đường nào mới được? Con đường phải theo không thể tìm ở trong nước, mà phải tìm ở trong thiên hạ. Như trong tờ bàn về việc hòa năm xưa, tôi đã mật trình với Nguyễn đại nhân rằng: Một là mình phải khéo léo ngăn chặn đừng để họ tìm cớ sinh sự làm lan rộng ra; hai là hãy thong thả sắp đặt đợi lúc họ sơ hở; ba là để dân thư thái củng cố sức lực”.

Đầu năm 1864, khi phái bộ Phan Thanh Giản đi sứ ở Pháp về mang theo dự thảo Hòa ước mới. Trong bản dự thảo này cũng như trong bản Hòa ước cũ (5-6-1862) có khoản nói rằng: “Nếu nước Việt Nam có ký kết một hiệp ước với một nước ngoài và trong hiệp ước đó có bao gồm việc nhượng đất đai, thì vua nước Pháp có đồng ý cho làm mới được làm (doãn hành tắc hành)”. Trong một bức thư gởi cho Phan Thanh Giản, tháng 3-1864 (Di thảo số 4), Nguyễn Trường Tộ cho đây là một điều khoản trói buộc Việt Nam, không khác gì áp đặt một hình thức bảo hộ. Sau này khi nói về thương thuyết một hòa ước mới với Pháp, ông đề nghị là phải xóa bỏ cho bằng được điều khoản này (Xem di thảo số 35, 36). Trong văn thư gởi cho Phan Thanh Giản nêu trên, ông đề nghị là “cần phải tìm người giúp, bủa lưới bốn mặt, để họ không được hoành hành, thì bản minh ước mới được lâu dài (...) Cứ bủa vây bốn mặt rồi chờ khi có tệ (tệ này tôi đã dự đoán không sai, 10 năm sau sẽ thấy) mới có thể mưu đồ được”. Trong văn bản này cũng như trong bài Lục lợi từ, một hai tháng sau đó, Nguyễn Trường Tộ đề nghị tìm cách khai thác mâu thuẫn giữa người Anh và người  Pháp để tìm cách giao dịch với người Anh, trông nhờ vào sự giúp đỡ của người Anh. Trong lúc vào Sài Gòn chờ tàu đi Pháp (cuối 1866), Nguyễn Trường Tộ đã tìm cách liên lạc với lãnh sự Tây Ban Nha và báo cáo với Triều đình là nên tìm cách mở quan hệ ngoại giao với Tây Ban Nha (Xem di thảo số 22). Sau này trong những lần Triều đình dự định cử sứ bộ sang Pháp (đầu năm 1868 và đầu năm 1871) để xin chuộc lại 6 tỉnh Nam kỳ, Nguyễn Trường Tộ đều đề nghị là phải tìm cách mở rộng bang giao với Anh, với Tây Ban Nha, với Nga... để rồi làm áp lực với Pháp, chứ không xin xỏ với Pháp. Đối với Nguyễn Trường Tộ, mở rộng bang giao với các nước quan trọng hơn việc đòi lại đất đai. Bởi vì không dễ gì mà Pháp trả lại đất đai cho mình, mà phải tạo thế bắt buộc chúng phải trả mà thôi (Xem di thảo số 36).

Nhưng Triều đình vua Tự Đức không quyết định được gì cả. Nguyễn Trường Tộ đã phải đau xót nhìn các nước chung quanh mà thương cho nước mình. Trong một văn bản có lẽ là một trong những văn bản cuối đời của mình, Nguyễn Trường Tộ nói:

“Xem Nhật Ban xưa là một lũ người lùn, từ Trung Diệp nhà Minh mới bắt đầu giao hảo với Hà Lan, làm bạn với Bồ Đào Nha, kế đến mời Hợp Chủng Quốc giúp vào việc nước, mở mắt nhìn rộng ra thiên hạ mới có được chí hướng lớn như vậy. Từ đó, họ đóng tàu bè, luyện tập võ bị, ưu tiên phát triển thương nghiệp, công nghiệp đất nước mỗi ngày một mạnh, được khen với mỹ danh là Tiểu Tây và Trung Quốc khó bắt được Nhật Bản phải thần phục. Tuy gần đây, Anh, Pháp thường hay quấy nhiễu nhưng nhờ có nền nội trị ngoại giao vững vàng mà họ không chịu hạ mình. Như trước đây ba năm, Anh, Pháp đem binh thuyền đến toan đàn áp, nhưng nhờ có Hợp Chủng Quốc, Hà Lan phân giải mà việc đã không xảy ra. Đó không phải là công dụng của sự giúp đỡ của các nước hay sao? Còn như ngày nay nước ấy có những kế hoạch giao thiệp rộng rãi, những mưu cơ tân tiến thì đâu đâu người ta cũng đã nghe thấy rõ ràng, gương ấy không xa, không cần phải nêu ra nữa.

“Còn như đối diện với nước ta là Xiêm La. Nước ấy trước đây chẳng có thế lực hùng mạnh gì. Nhưng từ khi người phương Tây quấy động khiến họ chợt tỉnh thức, bèn lấy Anh, Pháp làm bạn, lấy Ý, Bồ làm khách, mời hết tất cả các nước trên thế giới tới buôn bán, du lịch, còn nước ấy thì nghiễm nhiên thành một ông chủ nhà lớn đàng hoàng (...) Hiện nay nước ấy nhờ ngoại giao mà được lợi ích, ngày một nhanh chóng trở nên giàu mạnh, nội loạn không sinh, kẻ địch bên ngoài không đến, thuyền buôn qua lại trên mặt biển như mắc cửi, quan chức phân bố khắp các nước, dần dần đã lập được cái thế con rết trăm chân. Họ giàu có thịnh vượng thì họ hưởng, hà tất phải bàn bạc làm gì? Nhưng nước ta có một nước mạnh như vậy ở bên cạnh cũng rất đáng lo!”
(Di thảo số 55).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tám, 2010, 10:48:08 pm

NHỮNG KẾ HOẠCH CỤ THỂ

Chủ trương tạm hòa với Pháp, tạm nhượng bộ Pháp, nhưng Nguyễn Trường Tộ luôn luôn nghĩ đến cánh đánh đuổi Pháp.

Trong cuối bài Tế cấp bát điều và sau này trong di thảo số 52, Nguyễn Trường Tộ đã nhắc lại: “Khổng Minh trong những lúc nằm mơ chưa bao giờ không lập kế đánh địch. Tôi tuy thiếu tài ấy, nhưng thừa tâm huyết, không có bổn phận ấy, nhưng có chí ấy”.

Trong các kế hoạch như đào kinh, xây cảng nói là để giao thông, để trừ giặc biển, nhưng trong thâm ý của Nguyễn Trường Tộ vẫn là tổ chức phòng thủ để ngăn ngừa sự lấn chiếm của Pháp.

Trong các văn bản của mình, Nguyễn Trường Tộ thường nói đến thời thế, thời cơ. Ông biết chắc thế nào nước Pháp cũng có loạn, cũng sẽ gặp sự cố. Vì thế mà ông luôn luôn nghĩ tới việc chuẩn bị để chờ thời cơ.

Ở đoạn cuối về tu chỉnh võ bị trong Tế cấp bát điều, Nguyễn Trường Tộ đề nghị: “Giờ đây trong số các quan viên văn võ, có vị nào quê ở Lục tỉnh Nam kỳ, Triều đình phải đặc biệt ưu ái họ. Cho họ thường xuyên về thăm anh em họ hàng. Phải đãi ngộ họ thân mật nồng nàn hơn trước, khuyên bà con họ hàng của họ không nên dời nhà cửa đi nơi khác, đừng lánh đi xa (...) Đoạn chót thứ bảy này rất quan hệ đến đại thế lâu dài của quốc gia. Trong đó còn có chỗ phải kiêng dè chưa tiện nói hết. Đợi khi nào có thể nói được hoặc tình thế có thể tiến hành được, tôi sẽ trình bày rõ”.

Ngày nay, chúng ta biết là Nguyễn Trường Tộ muốn nói gì trong sự việc còn kiêng dè nêu trên. Bởi vì khi biết là Pháp đã bị bại trận trong cuộc chiến tranh Pháp - Đức tháng 9-1870 và vua nước Pháp bị truất phế, Nguyễn Trường Tộ cho là thời cơ đã đến. Ông liền gởi lên Triều đình nhiều kế hoạch cụ thể thu hồi chủ quyền trên phần đất đã bị chiếm đóng.

1. Nguyễn Trường Tộ đề nghị thương lượng và làm áp lực với Pháp để họ gom quân đội lại một vài điểm để làm nơi qua lại buôn bán và trao trả phần đất còn lại cho Việt Nam.

2. Nguyễn Trường Tộ xin đứng ra tổ chức đánh úp để đánh đuổi Pháp ra khỏi Nam kỳ.

3. Nguyễn Trường Tộ đề nghị lập phái bộ sang Pháp và sang các nước châu Âu như Anh, Đức, Áo, Tây Ban Nha... để mở rộng quan hệ ngoại giao.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tám, 2010, 10:49:57 pm

Trong mỗi kế hoạch, ông đều thảo ra những điểm rất cụ thể để Triều đình sử dụng. Sau đây là kế hoạch đánh úp được trình bày trong di thảo số 40, ngày 9-2-1871:

“Nay xin Triều đình dùng kế đi Tây trước, nếu việc không xong; xin tạm giả vờ bổ tôi làm một chức quan lớn trong Bộ Công, nói rằng: Nay nước ta muốn thực hành canh tân, mà tôi là người đủ sức cáng đáng công việc đầu tiên. Nếu không đề bạt cho vượt bực thì không khuyến khích được người sau. Sau khi nhận chức, tôi liền xin về làng một hai tháng để yên ủi mẹ già rồi mới đi nhận việc. Khi tôi trở về, những người đồng đạo sẽ đến hỏi tôi sao lập trường trước sau bất nhất, sao lại ra làm quan? Tôi sẽ trả lời rằng tôi vốn không có lòng cầu đi làm quan, nhưng vì có làm quan thì mới dễ bề tâu thưa để giúp cho đạo giáo. Sau khi lên kinh làm việc, tôi sẽ tâu trình nhiều khoản về đạo giáo. Như thế những người đồng đạo của tôi chắc vui mừng mà khen ngợi ý tốt của tôi.

“Sau khi lên kinh, tôi sẽ tâu bày một tập, cố ý nói những điều không nên nói, mà còn can phạm đến phép nước nữa. Bấy giờ Bộ sẽ nghị bàn buộc cho tôi là mới nhận chức quan, chưa làm được gì đã nói càn trái phép, đáng lẽ phải nghiêm trị, nhưng nghĩ đến tình trước, nên cho đày đi Bình Thuận để trị tội. Lúc bấy giờ tôi mới ngầm viết thư cho Giám mục Hậu nói rằng: “Tôi vốn có lòng vì nước vì đạo, mới trình xin như thế, không ngờ lại bị trách phạt, tâm sự không làm sao bày tỏ được. Khi đến Bình Thuận, tôi sẽ đút tiền hối lộ cho quan coi tù rồi trốn vào Gia Định giúp Tây, để lo trả thù, mong giám mục bí mật viết thư ngay cho nguyên soái Gia Định biết thâm ý ấy. Trong thư nói rằng: “Nếu trọng dụng hắn, nước Tây sẽ được một tay giúp việc đắc lực vì hắn đã hiểu rõ tình thế nước Nam. Nguyên soái trước đã từng tìm hắn, nay may lại được Nam triều đuổi đến cho, giờ đây hắn mới dứt tình đất cũ, mà hết lòng giúp việc v.v...”

“Tây soái, được thư, thấy tôi đã là quan lớn của Triều đình, đã có danh vọng, có thể thu phục được lòng dân 6 tỉnh. Vả lại vì đạo mà bị tội mới đến đây thì một là y sẽ đem lòng thương xót, hai là sẽ trọng tư cách làm người của tôi mà tin lắm không nghi ngờ gì mà lại trọng dụng thêm. Tôi liền nói: “Nếu vội nhận chức quan to, sợ Triều đình ghét mà bắt tội anh em. Tôi hãy xin tạm ở ngoài giúp việc, đợi khi nào bí mật đem được người nhà vào Nam, sẽ nhận chức. Nay chỉ xin tạm nhận chức quan suông mà thôi, còn bổng lộc thì quyết chưa dám nhận (Nếu nhận bổng lộc của họ mà lại ôm kế độc đối với họ thì hại nghĩa tôi không yên lòng). Lúc bấy giờ tôi sẽ giúp việc cho họ đôi chút. Chẳng bao lâu, tôi sẽ mật báo với họ rằng: “Nghe nói nước Nam, việc ngoài Bắc đã yên, rất giận việc nước Tây không trả đất đai lại, muốn ngấm ngầm xúi dân làm loạn để phá rối ta, chưa biết có quả như thế không? Nhưng tình hình này không thể không có. Tôi xin đi khắp sáu tỉnh để bí mật thăm dò. Nếu có quan Nam triều ẩn núp, tôi tất biết và mật báo về. Tôi còn xin đi lại những nhà có thế lực và các lương dân chịu chức sắc của Tây, dò xem tình ý như thế nào để chuẩn bị. Tôi lại đem đạo giáo dụ họ, xem ý họ thế nào. Tôi lại lấy mưu làm loạn thử họ, mới biết được đích xác. Như nói rằng: Ta tuy bị Triều đình trách phạt, nhưng mối tình đất cũ khó quên. Vả lại với người Tây chỉ có thể chung hoạn nạn, chớ không thể chung hưởng yêu vui. Như các nước trên thế giới đã bị người Tây v.v... Nay tôi nghĩ, nếu được sáu tỉnh phản Tây, thì chẳng những ta chuộc được tội mà còn có công lớn. Các người cũng vậy, nếu quả không quên lòng trung nghĩa thì có thể cùng tôi mật định làm việc nghĩa. Nếu việc thành được Triều đình sẽ thưởng công to. Dụ dỗ như thế, nếu người nào quả có lòng tất đồng ý với tôi. Lúc đó tôi bí mật ghi hết, bẩm lên đại soái biết để phòng bị. Rồi kiếm cớ khác mà buộc tội chúng.

“Ở trước mặt Tây soái tôi đã mật mưu như thế, thì ngày sau tôi đi dụ dỗ khắp nơi, nếu có người biết mà mách lại sẽ bị Tây soái cười thầm. Như thế những người đồng lòng với tôi sẽ giữ được vô sự. Tôi đã họp được nhiều người, ở đâu chuẩn bị ở đó như các khoản đã nói trong các tờ bẩm trước. Lúc bấy giờ tôi lại nói với Tây soái rằng: “Tôi rất oán ghét nước Nam, ý muốn nhóm họp nhiều người đợi ngày nào nước Tây gây việc với nước Nam, sẽ xin ra giúp sức để hả cơn giận. Tôi đã dò được những người giỏi trong 6 tỉnh, phần nhiều có lòng bất bình với nước Nam, nhưng chỉ vì quan Tây nghi ngờ quá chừng mà không dùng họ giúp việc. Họ đã yên cư lạc nghiệp ở đây, cũng muốn có một phen bày tỏ tâm tình, để cởi mở lòng nghi mà chưa có cơ hội. Nay nghe tôi có sự bất bình với nước Nam, muốn đi chiêu tập báo thù, cho nên bọn họ cũng muốn hợp sức làm với tôi, để tỏ rõ là đã dứt tình với nước Nam rồi. Vả nếu tôi nhóm họp được bọn họ tại chỗ, bọn họ lại nhóm họp được thủ hạ tại chỗ rồi ghép thành đội ngũ, mượn lãnh khí giới, để tùy lúc mà luyện tập, còn tôi thì đi lại các nơi để đốc thúc công việc. Đến ngày ra đánh Bắc, có thể dùng họ làm quân tiên phong cho người Tây. Việc thành chẳng những tôi hả được cơn giận, mà bọn họ cũng tỏ ra được tâm tình. Lúc đó đại soái tùy theo tài năng cất dùng họ để trả công lao, như vậy người sáu tỉnh mới yêu mến quý soái.

“Như thế chúng tôi tập hợp người tại chỗ dể chuẩn bị mà người Tây không thể nghi ngờ gì cả. Tôi lại nói với Tây soái rằng: “Lúc trước tôi ở Bắc kỳ, tất cả những người có thầm ôm chí khác từ Quảng Nam trở ra Bắc, đều đi lại với tôi, những người có tài năng dùng được, ước chừng bốn, năm trăm người, trong đó có chừng 100 người rất là kiệt hiệu, đã từng nói với tôi là muốn vào Gia Định, nhờ thanh thế người Tây, để lo mưu Bắc tiến, nhưng chỉ ngại không người giới thiệu, sợ Tây không tin. Nay nghe tôi vào Gia Định làm việc giúp Tây, đầu đảng của họ có bí mật gửi thư vào, nhờ tôi giới thiệu để được cùng vào trong này làm việc với Tây, số này hơn người sáu tỉnh nhiều lắm. Đến khi lông cánh đã thành, sẽ xin ra Bắc gây việc. Nếu được họ xin hứa vĩnh viễn trung thành với quan Tây v.v... Nay xin đại soái viết cho một số mật hiệu, mỗi miếng giấy cắt vuông một tấc, có ám hiệu bằng chữ Tây, chừng 400 cái giao cho tôi, để tôi gởi ra cho đầu đảng, hễ ai lén vào Gia Định, trình xét mật hiệu, rồi tôi mới tùy chỗ, giao cho ở chung với những người đồng lòng với tôi ở sáu tỉnh.

“Còn các phủ huyện, nếu quan Tây muốn dùng chúng để sai khiến, thì cũng tùy theo đó mà phân bố. Cách sắp xếp đều y như lời đã nói trong tờ bẩm trước. Như thế chắc chắn người Tây không làm sao biết được, mà còn dễ cử sự hơn là cách đưa người Bắc vào, như tôi đã nói trong tờ bẩm trước.

“Còn mật hiệu của Tây tôi sẽ xin gởi ra, để cất giữ tại Bộ. Bấy giờ Triều đình, sẽ phái vào nhiều người dòng Tôn Thất, các quan võ và những người tình nguyện vào ngũ như tôi đã nói trong tờ bẩm trước, và sẽ trao mật hiệu của Tây cho họ.

“Ngoài ra lại xin sai một viên quan thân tín, giả làm đầu đảng vào trước, để trông coi việc ấy. Còn ngoài ra, có quan nào vào, tôi chỉ nói với nguyên soái rằng đấy là hạng kiệt hiệu. Còn những người tình nguyện vào ngũ có lén vào, tôi sẽ bảo đều là hạng thủ hạ của đảng ấy, có thể sai khiến được. Rồi sau mỗi phủ huyện dùng kế, cho năm sáu người được thân cận với họ, kết hợp với người sở tại Nam kỳ, như thế cũng đủ đánh úp được.

“Và trước gần ngày cử sự, tôi sẽ tìm một nhà người có đạo (phải người có đạo Pháp mới không nghi) ở huyện Tân Hòa, một nhà ở Gia Định, chuẩn bị thật chu đáo bí mật. Rồi quan Tổng binh đại thần giả làm người buôn đến ở huyện Tân Hòa, quan phó đại thần đến trú ở Gia Định để chỉ thị phương lược, bố trí vòng lưới. Còn tôi thì qua lại truyền báo cách bài trí.

“Đến đêm khởi sự, một mặt tôi dùng kế (khoản này các tờ bẩm trước chưa nói đến) phá đê ngăn nước thì các thuyền Tây ở mặt dưới, không kể lớn nhỏ, đều bị chìm hoặc bị vùi xuống dưới bùn, hoặc trôi xuống ngã ba mà tan rã hết. Còn việc bố trí trên đường bộ, cũng giống như các tờ bẩm trước đã nói, nay không bẩm lại nữa.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tám, 2010, 10:50:41 pm

“Trong khi việc đã tạm định, Triều đình giả sai quan viên thường thường qua lại vấn an Tây soái, mà lại dùng lời nói ngọt khiến hắn thích ý hả lòng, rồi giả vờ đem tin đồn nghe được những việc hiện tại ra mà trách hắn chắc chắn sẽ đem việc đó báo với các quan mưu sự của ta.

“Lúc bấy giờ quan nào đã định phái cử sự ở Gia Định đều đến Gia Định, giả bí mật bàn tính với hắn kiếm cách che giấu Nam triều. Vả lại nói rằng cơ mưu đã tiết lộ, chúng ta cần phải gấp rút soạn sửa biến động, sợ để lâu ngày Nam triều sẽ chuẩn bị đầy đủ, những người cộng sự đều đã gọi về Gia Định cả rồi, xin nguyên soái nghiên cứu việc binh để quyết định xem có dùng được không? Nhân đấy để tiện khởi sự.

“Vả lại khi việc đã gần được phân nửa, tôi sẽ nói với hắn rằng: “Tất cả những người tiềm phục ở Bắc kỳ, một nửa đã vào Nam giúp việc cho Tây, như cọp mọc cánh. Nếu ngày sau Tây triều muốn hoành hành nước Nam, theo đà ấy cũng không khó, chỉ thiếu một điều là các quan võ nước Tây không khéo trị dân, vì thế mà ân đức chưa thấm vào lòng dân. Nếu được quan văn đến cai trị dân, như nước Tây thì rất tốt”. Như thế Tây soái tất sẽ đổi hết quan võ, rút hết lính chiến đấu về để làm công trạng cho mình, mà xin quan văn sang ngồi một chỗ mà cai trị, thì thế lực họ lại bị cô lập thêm.

“Tôi lại nói rằng (khoản này cũng ở lúc công việc đã làm được phân nửa): “Tất cả những người ở miền Bắc vào, đều mong chờ nước Nam có biến cố. Vả lại đợi thu thập được một nửa người Bắc kỳ để làm nội ứng, mới hành động. Nếu chưa có cơ hội, thì còn làm việc với Tây. Bọn họ đều đã mang tiếng bỏ nước, quyết không dám trở về làng xóm. Chỉ khi nào thành sự mới dám về. Nếu không thì chết già ở sáu tỉnh mà thôi”. Bọn họ lại giả xây dựng gia đình, để vững lòng Tây soái.

“Tôi lại nói rằng: “Bắc kỳ đất xấu dân nghèo, nếu quan Tây có lòng chiêu mộ, tôi xin viết thư mật gởi về cho những người quen, mời vào ăn ở, như thế thì phàm những người chuộng lạ đều không quản xa xôi mà vào. Đấy là: Trong cửa có người tốt thì ngoài cửa người tốt sẽ đến vậy. Lúc đó đại soái tùy nghi xếp đặt, khiến cho bọn họ yên ở hòa hợp với người miền Nam, thì tiến lên có thể lấy, lui về có thể giữ, không phiền phải phái nhiều lính Tây để tốn nhiều của công”.

“Như thế Tây soái mừng lắm, lại tin là tôi có lòng vì hắn, có thể tin dùng được như thế tôi mới thi hành được kế hoạch. Còn các kế hoạch khác bồi bổ cho kế này, tôi đã nói rõ trong các tờ bẩm trước.

“Làm được như thế, mới là mười phần ổn định và Tây soái phải tin phục, không mảy may nghi ngờ nữa.

“Còn tôi sau khi đã trốn vào được, Triều đình cũng nên sai một viên quan thân tín vào theo để cùng bàn bạc phải chăng với tôi, làm chỗ trông ngóng trước cho những người đồng lòng. Nhưng ở trước mặt quan Tây, tôi nhận làm người thân trong khi đi chơi nói chuyện với mọi người; tôi lại nói kín với quan Tây xin đem người ấy giả làm quan triều mang đủ ấn tín, khiến các nhà quyền quý được thấy, thì địa phương mới tin là thật. Như thế mà họ không theo, cự tuyệt không nhận, thì mới tin là thật lòng theo Tây. Như thế quan Tây sẽ cho là mưu kế tuyệt diệu, mà vị quan to ấy cũng được công nhiên không quan ngại gì nữa.

“Tôi lấy các sự lý trình bày trong tờ bẩm trước, mà suy ra kế trong tờ này, mới biết thật là vạn toàn. Nhưng kế này phải đòi hỏi khoảng hai năm mới thành. Phải đến dần dần Tây soái mới không nghi. Nếu đến một cách gấp rút đột ngột, không khỏi khiến họ ngạc nhiên, suy nghĩ. Vì thế mà phải hai năm. Nhưng cũng phải tìm người giúp ngoài thi hành song song với kế này, để ngăn chặn việc họ sẽ báo thù thì mới được hoàn toàn tốt đẹp. Mà tìm người giúp tay cũng phải nhân lúc họ có việc, mới dễ giao thiệp rộng rãi. Kế này dù khi việc nước họ bình yên rồi, dùng cũng vẫn được. Cho nên không cần vội vàng. Nếu Triều đình dùng kế đi Tây trước mà thành công được, thì đấy là ở ngay nơi miếu đường mà đánh được giặc. Nếu không xong thì làm kế này, mới hả lòng. Đến lúc đó, các quan lớn Triều đình sai đi cũng biết là lúc núi cùng sông hết rồi.

“Chỉ có một kế ấy mà thôi (kế ấy chỉ thi hành được một lần, không thể thi hành thêm lần thứ hai. Nếu sai trật quyết không thể làm lại lần nữa. Xin suy nghĩ cho kỹ), đều phải nuốt giận mà vào, thừa lúc họ đương buông lỏng không phòng bị mới có thể đuổi giết họ được.

“Nếu tôi có thể phục vụ được gì, nhất nhất tôi xin theo sự sai khiến của Triều đình, quyết không có sự gì ân hận về sau. Vì vốn đã sẵn có bụng ấy mới dám nói ra, chứ hối hận thì có ai ép buộc tôi phải nói ra đâu!

“Nhưng có một việc chưa an tâm, là sau khi tôi bị đày, mẹ già tôi tất là đau thương, khiến tôi trái với đạo hiếu. Việc đó thật không có kế gì gỡ ra được. Nhưng tôi đã nhận quan chức Triều đình, thì phải làm việc công mà quên việc riêng, không thể vẹn toàn cả hai được.

“Tôi lại có việc tâm sự xin trần tình một lời lên rằng: Nếu được Triều đình tin dùng thì trên đội đức Hoàng đế, uy quyền Triều đình, giữa nhờ các quan tổng binh chỉ vẽ phương lược, dưới nhờ tướng sĩ đồng lòng, may mà quét sạch quân thù, khi trở về, tôi xin từ chức về vườn ngay để phụng dưỡng mẹ già mà thôi. Khi nào Triều đình có việc cần đến, tôi lại vâng lệnh, việc xong lại xin về như trước, còn tước lộc quyết không dám nhận.

“Đấy là tâm sự của tôi, muốn trông Triều đình hứa trước cho, tôi mới dám nhận chức. Nếu không thì tôi xin mình trần cam chịu sai phái mà thôi. Tấc lòng mọn mạy, kính xin bày tỏ”.


Tất cả những kế hoạch cụ thể và khẩn cấp mà Nguyễn Trường Tộ trình bày trong các văn bản từ cuối năm 1870 cho tới tháng 9-10 năm 1871, đã được Triều đình vua Tự Đức bàn đi tính lại, nhưng cuối cùng vẫn không đem đến một quyết định nào cả. Trong một văn bản cũng có thể là một trong những văn bản cuối cùng của đời mình, Nguyễn Trường Tộ còn nói là mọi sự như chưa có gì được bắt đầu:

“Nay xin gấp rút đi giao thông các nơi để tìm kế chống lại họ, một mặt hãy sang gấp nước họ ở lâu bên ấy dùng tình dùng lý để vãn hồi sáu tỉnh (nếu cơ hội có thế tiến hành đánh úp được, tôi quyết không phụ những lời tôi đã nói); một mặt làm rõ vật gì cũng đều có chủ và giữ đúng lễ chủ khách để ngăn chặn lòng tham của họ; một mặt gấp rút tìm người mở rộng việc khai thác nguồn lợi để giúp giải quyết các cấp bách lúc mới đầu; một mặt đem những nguồn lợi dư bán cho bọn họ để giúp giải quyết những tình trạng khẩn cấp, một mặt chấn chỉnh học thuật khiến dân chúng xu hướng theo đường thực dụng, dứt bỏ thói phù hu vô dụng. Đó là căn bản lớn, muôn sự từ đó mà thành. Một mặt chia nhau đi chấn chỉnh công việc trong nước trừ bỏ các tệ đoan làm hại dân để làm lợi cho nước; một mặt mở rộng đường thương mãi để giàu có của cải; một mặt cần người giúp đỡ để dẹp sạch những cái xấu nhỏ cho dân được yên vui để thi hành đường lối chính trị mới; một mặt tu chỉnh các hình thế trong nước cho phù hợp với địa lý binh pháp mà trước đây chưa chuẩn bị được để tạo thế thành trì vững chắc; một mặt chiêu dụ các dân tộc man mọi phía sau núi, khai phá các vùng đất hoang để mở rộng lợi ích trong nước để thu nguồn lợi phía Tây; một mặt gấp rút lưu tâm việc tơ tằm dệt vải cho dân đủ dùng; một mặt gấp rút mở hội chợ trưng bày đấu xảo cho dân hứng thú chuộng những việc làm cơ bản để cho đời sống phong phú; một mặt gấp rút mở thêm một Bộ Tân pháp quan chức và dùng một vị đại thần thông hiểu tình hình thế giới đứng đầu để trách nhiệm việc thành lập Bộ ấy; một mặt tháo gỡ những sự hạn chế để cho những người thừa hành nền chính trị mới triển khai thi thố ý kiến của mình, thì mới hy vọng thành tựu được; một mặt hãy làm tiêu tan hết những gì trước đây đã làm cho người ta nghi ngờ mình hẹp hòi không rộng rãi, để cho người ta thấy mình đã quyết định thay đổi đường lối, đua đuổi cùng thiên hạ, khó lòng dùng quỷ thuật gì gây rối ta được, như vậy lòng khinh khi của họ mới dần dần tiêu tan, ta mới được vô sự.

“Các khoản lớn trình bày trên đây hiện nay hết sức khẩn cấp, hãy đứng dậy nhảy xổ ra bắt tay thực hiện ngay. Thời đã đến rồi. Thời khó được mà dễ mất, chớ nên nói hãy để sang năm”
(Di thảo số 54).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Chín, 2010, 10:54:16 pm

VI. TẠI SAO NGUYỄN TRƯỜNG TỘ THẤT BẠI?


Nguyễn Trường Tộ là một người muốn hiến trọn cả cuộc đời cho đất nước. Ông đã nói lên tất cả tâm tư và ý nguyện của mình trong bài Trần tình (Di thảo số 3). Sau này trong những lần tâm sự với Trần Tiễn Thành (Di thảo số 11 và 15), ông cũng nói lên ý chí của ông là không màng công danh, chỉ mong làm được việc gì để giúp nước. Đối với ông, việc nước là trên hết.

Ông thường nói trong các văn bản là phải coi việc nước như việc nhà (Xem di thảo số 27); nhưng riêng bản thân ông thì luôn luôn coi việc nước trọng hơn việc nhà (Xem cuối di thảo 40).

Là người công giáo, dĩ nhiên ông không đồng tình với việc cấm đạo bởi vì như vậy là vơ đũa cả nắm: Coi mọi người công giáo đều là theo Tây, như vậy là xô đẩy người công giáo vào chân tường, bắt buộc họ phải trông chờ người ngoài cứu giúp (Xem đi thảo số 2). Nhưng ông hiểu được biện pháp “Phân tháp” là một biện pháp gây đau thương và mất mát nhất cho đồng bào công giáo lúc bấy giờ. Trong di thảo số 14 (4-6-1866), ông nói: “Trước đây, nhân chuyện người Tây đột nhiên đến, Triều đình chưa rõ vì ý gì, nên tiến hành việc phân tháp để tạm thời giải tỏa sự nghi ngờ. Nhưng việc làm của Triều đình là do ý muốn yên dân, chứ không như việc làm của bọn ngoại gian, lửa đổ thêm dầu, làm điều ác độc ngoài pháp luật”.

Có nhiều sự việc quan trọng, Nguyễn Trường Tộ báo cáo với Triều đình và xin là không nói cho Giám mục Gauthier biết (Xem di thảo số 17). Trong số các linh mục Việt Nam mà Nguyễn Trường Tộ tiến cử với Triều đình, ông chỉ tin một mình linh mục Nguyễn Hoằng trong nhưng sự việc cẩn mật.

Nguyễn Trường Tộ là một người nhìn xa thấy rộng, nhưng đồng thời cũng là người rất thực tế. Những đề nghị cải cách của ông trong mọi lãnh vực, không có gì là quá cao xa, đòi hỏi những điều kiện quá mức, mà trái lại tất cả đều có thể đem ra từng bước thực hiện, phần nhiều với những phương tiện trong tầm tay của chúng ta thời đó.

Thế nhưng tại sao nhiệt tình và tài năng của Nguyễn Trường Tộ đã không được sử dụng?

LÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐÃ CỘNG TÁC VỚI PHÁP?

Nguyễn Trường Tộ rất ý thức về vấn đề này. Ông đã phân giải dài dòng trong bài Trần tình (Di thảo số 3), là sở dĩ ông nhận làm phiên dịch các tài liệu cho Pháp là để giúp vào việc hòa đàm. Chứ khi thấy việc hòa đàm giữa Charner và Nguyễn Bá Nghi không thành, ông liền xin thôi không làm cho Pháp nữa. Trước kia và sau này Pháp đã muốn mời ông hợp tác mà ông nhất định không nhận. Đọc tất cả các văn bản của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta cũng thấy được điều đó. Tuy nhiên, đối với Nguyễn Trường Tộ, việc làm phiên dịch cho Pháp, mặc dầu với dụng ý tốt, là một sai lầm lớn. Ông đã nói lên điều này rất nhiều lần trong các văn bản của ông.

Ông đã tìm đủ mọi cách để đánh tan sự nghi ngờ của nhà vua và Triều đình. Ở đầu bài “Vua là quý, quan là trọng” (Di thảo số 13), ông nói: “Tôi sở dĩ khinh bỏ danh lợi cốt để Triều đình tin nghe, vì thâm ý của tôi là đi sang các nước xin nắm tình hình, không những nôn nóng để chửng tỏ mình là người không có hại, có thể làm được những việc chính nghĩa cho vua, mà còn để trở thành một kẻ mưu trí gấp lo chống đỡ hoạn nạn cho nước nhà nữa”.

Theo “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” của Nguyễn Trường Cửu thì trước khi chết, Nguyễn Trường Tộ có làm một câu thơ rằng: “Nhất thất túc thành thiên cố hận” (một lần sa chân làm cho suốt đời phải ân hận), dĩ nhiên là để nói về sự cố đó.

Tuy nhiên, sự nghi ngờ của vua Tự Đức và một số quan đầu triều, đối với Nguyễn Trường Tộ là người công giáo, là người đã cộng tác với Pháp, nếu có thì cũng chỉ là trong những năm đầu. Chứ từ giữa năm 1866 trở đi, tức là từ lúc vua và Triều đình quyết định cử Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier đi Pháp để thuê thầy và mua dụng cụ máy móc về để mở trường bách nghệ tại Huế, thì sự nghi ngờ đó không còn là một trở ngại đáng kể nữa. Hơn nữa thái độ của vua Tự Đức, đối với người công giáo nói chung, từ những năm 1867-1868 trở đi cũng đã có khác. Chẳng vì thế mà Giám mục Sohier, giáo phận Huế, và Giám mục Gauthier, giáo phận Vinh đã long trọng cử hành thánh lễ trong nhà thờ để cầu nguyện cho sức khỏe của vua Tự Đức năm 1870, nhân lễ tứ tuần của nhà vua1.
_______________________________________
1. Xem thư của Giám thục Gauthier gởi Hội Truyền giáo, Annales de la Propagation de la Foi tập 43 trang 259.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Chín, 2010, 11:01:23 pm

THIẾU TÍNH GIAI CẤP?

Có người nói rằng những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ thiếu tính giai cấp, nghĩa là không đặt những vấn đề như: chia ruộng đất cho nông dân, giảm tô cho tá điền, miễn thuế cho người nghèo... nên không được nhân dân ủng hộ.

Sự thực thì Nguyễn Trường Tộ chỉ có một chủ trương là làm cho dân giàu, nước mạnh, bằng cách canh tân, hiện đại hóa đất nước. Dĩ nhiên là ông cũng mong muốn cho tất cả mọi người dân đều được giàu có và được ấm no hạnh phúc; ông cũng chống việc người giàu cứ giàu thêm và người nghèo cứ nghèo mạt. Trong vấn đề xã hội, ông cũng nghĩ tới những người xấu số trong nhân dân. Nhưng chắc chắn là ông đã không phân tích cấu trúc của xã hội và nguồn gốc của sự giàu nghèo. Ông chỉ là một nhà cải cách, chứ không phải là một nhà cách mạng. Tuy nhiên những đề nghị cải cách của ông có thể làm cho dân giàu nước mạnh, có thể được nhiều người đồng tình ủng hộ.

Nhưng có một điều chắc chắn là những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ chỉ được gởi lên Triều đình vua Tự Đức và chỉ có nhà vua với một số rất ít quan lại cao cấp mới được đọc. Chứ tuyệt đối nhân dân không ai được biết. Thời đó hình như chỉ có một người là Nguyễn Lộ Trạch, con rể của Trần Tiễn Thành, đã đọc được một số văn bản của Nguyễn Trường Tộ và đã hưởng ứng bằng cách cũng viết những đề nghị tiếp theo gởi lên Triều đình Huế, dẫu rằng kiến thức và quy mô cải cách của Nguyễn Lộ Trạch không sao so sánh được với kiến thức và quy mô cải cách của Nguyễn Trường Tộ.

Sau này, khi những di thảo của Nguyễn Trường Tộ được đóng tập và trưng bày ở Thư viện Bảo Đại trước năm 1945, thì những ai đã có dịp đọc, đều tiếc cho Tổ quốc Việt Nam là đã bỏ mất một cơ hội canh tân và hiện đại hóa như nước Nhật.



TRƯỜNG HỢP CỦA NHẬT BẢN

Có người muốn so sánh nước ta thời Tự Đức với nước Nhật thời Minh Trị. Nhưng Nhật Bản trước lúc cải cách canh tân có một chế độ chính trị hoàn toàn khác.

Thực vậy, từ thời lập quốc Tây lịch, nước Nhật chỉ có một dòng họ làm Thiên Hoàng (Mikađo). Từ thế kỷ 17, Thiên Hoàng vẫn đứng đầu quốc gia, nhưng chỉ làm vì; thực quyền nằm trong tay Mạc Phủ (Bakufu), đứng đầu là Tướng quân (Shogun). Tướng quân cai trị thông qua các lãnh chúa và các lãnh chúa có toàn quyền về sinh mạng và tài sản của dân chúng trong lãnh địa của mình.

Cũng từ đầu thế kỷ 17, do muốn tránh họa ngoại xâm, Mạc Phủ đã chủ trương bế quan tỏa cảng. Nhưng vào những năm 50, 60 của thế kỷ 19, do áp lực của các nước thực dân phương Tây muốn dòm ngó Nhật Bản, Mạc Phủ đã phải nhượng bộ, ký các hiệp ước bất bình đẳng - Một phong trào bài ngoại và đòi Mạc Phủ trả lại quyền hành cho Thiên Hoàng nổi lên rầm rộ. Cuối cùng Tướng quân Khánh Hỷ (Keiki) ngày 3-11-1867 đã viết biểu xin trả lại quyền hành cho Thiên Hoàng. Thiên Hoàng lúc đó là Mục Nhân (Mutsuhito), lên ngôi ngày 3-2-1867 lấy hiệu là Minh Trị (Meiji) mới 15 tuổi. Ngày 6-4-1868, Thiên Hoàng cùng với quần thần văn võ làm lễ tuyên thệ duy tân mở rộng dân chủ, (lập chế độ đại nghị, ban hành quyền bình đẳng trong nhân dân); mở rộng cửa bang giao; canh tân và phát triển đất nước.

Ngày 6-4-1868 quả đã mở ra cho Nhật Bản một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Minh Trị, duy tân, đem đất nước lên ngang tầm với các cường quốc trên thế giới.

Công cuộc duy tân của nước Nhật rõ ràng không phải là sáng kiến của Minh trị Thiên Hoàng, một ông vua mới 15, 16 tuổi. Cũng không do một Nguyễn Trường Tộ mà do rất nhiều Nguyễn Trường Tộ. Bởi vì người Nhật tiếp xúc với người Tây phương rất sớm, từ thế kỷ 15, 16. Nhưng do sợ ảnh hưởng của người nước ngoài nhất là các giáo sĩ châu Âu, đầu thế kỷ 17, Mạc Phủ cho lệnh đóng cửa, không giao thiệp với bên ngoài. Tuy nhiên chính trong thời gian đóng cửa đó sách vở Tây phương vẫn được lén lút đưa vào và dịch ra tiếng Nhật; nhiều người Nhật vẫn tìm cách học tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức; chính Tướng quân và các lãnh chúa vẫn âm thầm cho sinh viên “trốn” sang châu Âu học tập; chính Tướng quân và các lãnh chúa vẫn có những cơ sở làm ăn với người nước ngoài. Từ những năm 1850, Tướng quân và các lãnh chúa đã có xưởng đúc súng bằng sắt thay cho những khẩu thần công lỗi thời; từ năm 1852, Tướng quân và các lãnh chúa đã có xưởng đóng tàu. Vào lúc Minh Trị tuyên thệ duy tân, ở Nhật đã có tất cả 138 tàu theo kiểu Tây phương, hoặc tự đóng lấy hoặc mua bên ngoài đem về; từ năm 1857, Tướng quân đã có nhà máy luyện kim do người Hà Lan điều khiển...

Nguyễn Trường Tộ vẫn quan tâm theo dõi Nhật Bản. Ông đã nói nhiều lần đến nước Nhật trong các văn bản của ông. Có người nói là đã có một cuộc gặp gỡ và bút đàm1 giữa Nguyễn Trường Tộ và Y Đằng Bác Văn (Ito Hirobumi). Nhưng đó có lẽ chỉ là một giả thuyết, chưa thấy có cơ sở nào cả. Bởi vì Nguyễn Trường Tộ, theo chỗ chúng tôi biết, chỉ đi ra nước ngoài hai lần vào những năm 1859-1860 và 1867-1868. Riêng Ito Hirobumi (1841-1909) thì được lãnh chúa Choshu gởi sang Anh học năm 1863 và cuối năm 1864 chúng ta đã thấy có mặt ông ở Nhật Bản để làm thông dịch cho Tướng quân thương thuyết với các nước đồng minh. Trong Tế cấp bát điều (Di thảo số 27, 15-11-1867), Nguyễn Trường Tộ nói là “hiện có 1 hoàng tử và 35 người cùng đi với một linh mục mới đến Ba Lê và đã thiết lập ở đó một đại học xá để phái người sang học”. Trong số những người Nhật mà Nguyễn Trường Tộ nói trên đây, có Ito Hirobumi hay không, thì chúng ta chưa xác minh được. Nhưng từ khoảng tháng 10-1871, Nguyễn Trường Tộ đã thấy rõ tương lai xán lạn của nước Nhật và cũng tỏ ra buồn cho nước ta (Xem di thảo số 55).


VIỆT NAM THỜI NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

Nước ta, thời Nguyễn Trường Tộ cũng có vua, có quan lại, có Triều đình. Nhưng tất cả quyền hành là ở trong tay vua, các quan lại chỉ là bầy tôi, hiểu theo đúng nghĩa đen của từ đó. Bởi vì vua muốn thăng ai, giáng ai thì đều trọn quyền và lắm lúc rất tự tiện. Đọc chính sử nhà Nguyễn, khi thấy những quan đại thần, đầu triều như Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành... mỗi lần đi thương thuyết xin đòi lại ba tỉnh, sáu tỉnh Nam kỳ không được đều bị giáng ba bốn cấp, ai mà chẳng buồn cười.

Trong một chế độ chính trị tập trung quyền hành như thế, nếu vua không quyết định làm, thì chẳng ai dám quyết định cả.

Vua Tự Đức, theo như nhiều tác giả bình luận, cũng là một con người thông minh, có thể hiểu được nhiều việc, mặc dầu bị đóng khung trong nội cấm. Từ đầu năm 1866, hình như nhà vua bắt đầu để ý đến Nguyễn Trường Tộ, giao cho Nguyễn Trường Tộ đi tìm mỏ than, rồi lại sai Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier đi Pháp thuê thầy và mua sắm dụng cụ mở trường kỹ thuật theo phương pháp Tây phương ở Huế. Đầu năm 1868, khi phái đoàn Nguyễn Trường Tộ và giám mục đem các dụng cụ máy móc và sách kỹ thuật về, nhà vua rất vui mừng và săn đón, việc mở trường coi như đã sắp hình thành. Nhưng do phản ứng của sĩ phu khắp nơi, sợ ảnh hưởng của Tây phương, sợ ảnh hưởng của công giáo, nhà vua lại chùn bước, việc mở trường bị bỏ dở, các sách vở và máy móc dụng cụ, tốn hàng chục ngàn quan Pháp mua về chỉ để chất đống trong kho cho tới hư hỏng. Vua Tự Đức là ông vua nhu nhược, sợ sự chống đối của sĩ phu, không bao giờ dám quyết định một điều gì nữa, chỉ để cho thời cuộc trôi qua, dẫn đưa đất nước từ thảm họa này tới thảm họa khác.

Sĩ phu nước ta lúc bấy giờ là những nhà nho chỉ biết nho học, chỉ biết Trung Quốc cũ, chứ không biết gì về thế giới bên ngoài, không biết gì về khoa học kỹ thuật Tây phương.

“Các nhà nho ta đời bấy giờ, theo nhận định của cụ Cao Xuân Huy, nhìn cái hiện thực tư bản chủ nghĩa mới xuất hiện bằng những cái khung cố định, tức là những phạm trù phong kiến đã có hơn hai ngàn năm sinh mệnh... Do đó họ thấy trong cái hiện thực mới những hiện trạng phi chính thường và quái gở, nhất là họ có những nhận định rất sai lầm về văn minh khoa học kỹ thuật của Tây chương. Đó chính là môi trường tư tưởng trong đó sản sinh ra tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ. Trong khi chung quanh người ta nhìn hiện thực mới bằng những cái khung cũ kỹ, do đó nhìn sai, nhìn lệch, thì chỉ có Nguyễn Trường Tộ có đủ nhãn lực để nhìn đúng hiện thực ấy”2.

Điều không may cho Nguyễn Trường Tộ chính là đã ở vào một thời đại với một ông vua nhu nhược, với những quan lại vô trách nhiệm, với một tầng lớp sĩ phu lỗi thời, lạc hậu.

TRƯƠNG BÁ CẦN

______________________________________
1. Xem Đào Đăng Vỹ: “Nguyễn Trường Tộ và Y Đằng Bác Văn”. Văn Đàn số 30-11-1961 trang 11.
2. Cao Xuân Huy: “Tình hình xã hội và tư tưởng Việt Nam thời Tự Đức”, tài liệu giảng dạy ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, chưa in.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Chín, 2010, 11:15:16 pm

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
di thảo



DI THẢO của Nguyễn Trường Tộ, chủ yếu, là những văn bản, quen gọi là các điều trần, được gởi lên Triều đình vua Tự Đức từ 1861 đến 1871.

Hai chữ điều trần, để nói về các văn bản của Nguyễn Trường Tộ, có lẽ đã được sử dụng lần đầu tiên trong Tạp chí NAM PHONG số 100, số đăng tải văn bản đầu tiên của Nguyễn Trường Tộ với đầu đề: “Nguyễn Trường Tộ điều trần, thiên hạ đại thế nguyên tập”. Còn trong chính các văn bản của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta không bao giờ thấy có hai chữ điều trần.

Có thể là, theo thông lệ, khi viết các văn bản gởi lên Triều đình, Nguyễn Trường Tộ không đặt đầu đề cho chúng. Nhưng khi nhắc lại các văn bản cũ của mình, Nguyễn Trường Tộ dùng chữ luận cho ba văn bản đầu tiên của mình là: Thiên hạ phân hợp đến thế luận, Tế cấp luận, Giáo môn luận. Còn khi nói vc các văn bản này, Nguyễn Trường Tộ thường dùng chữ từ, như: Lục lợi từ, Khai hoang từ, hoặc nói chung “bẩm từ”, “trần từ”…

Hai chữ điều trần thực ra, theo đúng nghĩa của chúng, chỉ là: Trình bày rõ ràng theo từng điểm, từng việc. Nhưng hai chữ điều trần, do được sử dụng để nói về các văn bản của Nguyễn Trường Tộ, đã được thông dụng đến độ trở thành một thuật ngữ để chỉ các văn bản gởi lên nhà cầm quyền. Trong TỰ ĐIỂN TIẾNG VIỆT của Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1967, điều trần có hai nghĩa. Một nghĩa thông thường và một nghĩa chuyên dùng. Theo nghĩa thứ hai này, thì điều trần là “Bản trình bày ý kiến đưa lên nhà cầm quyền (cũ): “Điều trần của Nguyễn Trường Tộ” (trang 374, cột 1).

Tuy nhiên, theo chúng tôi, điều trần như thế phải là một văn bản trình bày vấn đề một cách quy mô và có độ dày của nó. Còn như các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi cho Triều đình Huế, thì có những bản là cả một bài luận văn dài như Thiên hạ đại thế luận, Dụ tài tế cấp bẩm từ, Khai hoang từ, Tế cấp bát điều... ; có bài vỏn vẹn chỉ một hai trang, trả lời hay góp ý cho một vấn đề nào đó, như mua thuyền máy, các vật dụng sứ bộ phải mang theo...

*

Tất cả các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi lên Triều đình vua Tự Đức đều bằng chữ Hán: Có những văn bản chính thức được lưu giữ trong thư viện của Triều đình, có bản với lời châu phê (ghi bằng chữ đỏ) của nhà vua; có những văn bản chỉ là bản sao hoặc bản thảo được cất giữ trong gia đình của tiên sinh ở Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ Tĩnh.

Những văn bản lưu giữ ở Thư viện của Triều đình Huế trước đây đã được đóng thành tập và trước Cách mạng Tháng 8-1945, có nhiều người đã tới Thư viện Bảo Đại để tham khảo hoặc sao chép các văn bản đó.  

Theo ông Dào Duy Anh, trong một bài viết trên CÔNG GIÁO VÀ DÂN TỘC số đề ngày 12-7-1983 (Xem phụ lục số XI), thì vào khoảng năm 1938, ông có tới gia đình ông Nguyễn Trường Cửu là con trai Nguyễn Trường Tộ ở Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ Tĩnh và xin được các bản văn, bút tích của Nguyễn Trường Tộ, cùng với một quyển sổ tay của Nguyễn Trường Tộ ghi chép trong chuyến đi Pháp với Giám mục Gauthier năm 1867 – 1868 (sau ông Đào Duy Anh có cho chép lại các văn bản này để gởi lại cho gia đình ông Nguyễn Trường Cửu). Ông Đào Duy Anh cũng thuê người vào Thư viện Bảo Đại sao chép các văn bản chính thức của Nguyễn Trường Tộ, rồi đem đối chiếu với các bản sao hoặc bản thảo lưu giữ trong gia đình ông Nguyễn Trường Cửu, để làm thành bốn quyển; bốn quyển này, ông Đào Duy Anh đã đề tặng cho ông Tôn Quang Phiệt một bản và ông Lê Thọ Xuân, ở Sài Gòn một bản. Sau Cách mạng Tháng 8-1945, do việc di chuyển các tài liệu từ Thư viện Bảo Đại sang một nơi khác, một số tài liệu bằng chữ Hán đã bị mất cắp và đem bán ở chợ Đông Ba làm giấy cuốn thuốc lá, trong số đó có các bản văn chính thức của Nguyễn Trường Tộ, do ông Thân Trọng Bính mua được và đem tặng cho ông Đào Duy Anh: tất cả các sách vở và tài liệu của ông Đào Duy Anh, trong đó có những tài liệu quý về Nguyễn Trường Tộ, đều bị mất và có thể bị hủy hoại trên chuyến xe lửa cuối cùng từ ga Hàng Cỏ Hà Nội đi Vinh trước lúc cuộc toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngày 19-12-1946; sau này ông Đào Duy Anh đã xin lại được 4 tập đã tặng cho ông Tôn Quang Phiệt để đem ra chiến khu Việt Bắc, cho Ban Sư Địa, sau này là Viện Sử học.

Như thế là, theo ông Đào Duy Anh, những văn bản chính thức của Nguyễn Trường Tộ gởi lên Triều đình vua Tự Đức, với châu phê của nhà vua, đã bị mất trên đường hỏa xa từ Hà Nội đi Vinh. Những tài liệu quý này, hoặc đã bị hư mất hoặc đã được cất giữ một nơi nào đó mà chúng ta chưa biết. Nhưng khả năng trở thành hư vô là rất lớn. Có một điều chắc chắn là tại kho Lưu trữ Khu vực II, ở thành phố Hồ Chí Minh, trong CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN, không thấy có một văn bản nào của Nguyễn Trường Tộ.

Những văn bản của Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta có hiện nay đều là những bản đã được sao chép lại.

1. Ở Thư viện Viện Sử học, 38 phố Hàng Chuối, Hà Nội hiện có:

- Bốn quyển ký hiệu Hv 189 từ 1 đến 4, có thể là 4 quyển do ông Đào Duy Anh sao chép tổng hợp từ các văn bản lưu giữ ở Thư Viện Bảo Đại và trong gia đình ông Nguyễn Trường Cửu ở Bùi Chu, Nghệ Tĩnh. Bốn quyển này ông Đào Duy Anh sao tặng ông Tôn Quang Phiệt, sau giao lại cho Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, tiền thân của Viện Sử học.

- Bốn quyển ký hiệu Hv 634 từ 1 đến 4, do Mặc Si Nguyễn Huy Nhu sao lại từ các bản chép tay mượn của ông Đào Đăng Vỹ.

- Một quyển mang ký hiệu Hv 135, gồm 9 văn bản. Trong số 9 văn bản này, có 8 văn bản đã được đăng tải trên tạp chí NAM PHONG. Tất cả 9 văn bản này đều có trong Hv 189 và Hv 634.

2. Ở Thư viện Hán Nôm, đường Lý Thường Kiệt, Hà Nội, hầu hết các văn bản về Nguyễn Trường Tộ mang ký hiệu VHv đều là sao chép lại từ các văn bản của Thư viện Viện Sử học, như:

VHv 2620/1-4 chép lại Hv 189/1-4
VHv 2620/5 chép lại Hv 135
VHv 1153 chép lại Hv 189/3
VHv 1431 chép lại Hv 189/2

Chỉ riêng VHv 170 gồm 5 văn bản không phải là sao chép y nguyên từ một bản nào của Viện Sử học, nhưng các văn bản này đều có cả trong Hv 189 và Hv 634. Nói tóm lại, là hầu như toàn bộ di thảo của Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta hiện có được đều nằm trong hai bản Hv 189/1-4 và Hv 634/1-4. Duy chỉ có văn bản về “Cải cách phong tục” (Di thảo số 47), do XTT dịch, đăng trên báo TIẾNG DÂN từ số tháng 1-1940 là không có trong Hv 189 và Hv 634. Bản dịch này cũng như một số bản dịch của VĂN ĐÀN - Di thảo số 18, 44, 46 - chứng tỏ là còn có những bản sao chép về di thảo của Nguyễn Trường Tộ mà chúng tôi hiện chưa biết đang nằm ở đâu, khác với các bản sao chép mà Thư viện Viện Sử học và Thư viện Hán Nôm ở Hà Nội đang lưu giữ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2010, 10:58:22 pm

DI THẢO SỐ 1


Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ*

(Thiên hạ đại thế luận)

(Tháng 2-3 năm Tự Đức 16 tức tháng 3-4 năm 1863)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam đã từng trốn ra nước ngoài xin đem những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự thế trong thiên hạ, mạo tội kính bẩm.

Trộm nghĩ việc trong thiên hạ chỉ có “thế” mà thôi. Chữ “thế” là nói bao gồm cả thiên thời nhân sự. Cho nên người biết rõ “thế” thì không trái trời, không mất thời, không hại người, không hỏng việc.

Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất là từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo Hà đồ1 thì thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy.

Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị họ chẹn họng bám lưng. Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở phía Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó. Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Như thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người Tây phương? Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được?

Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1 phần 3 Đông phương2 nhân số đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả, thế mà từ thời Minh về sau, người Tây phương vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau, thây chất thành đống, sau phải giảng hòa không biết bao nhiêu lần. Còn như ta là một xứ nóng, gần kề Quế Hải3, là trạm nghỉ chân của người Tây phương trên đường sang Đông. Con giao long khi thấy đầm vực thì nghĩ cách đầm mình chứ không thể chịu bỏ mà đi.
______________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 34 - 45; Hv 634/1 tờ 40 - 58; Hv 135 tờ 38 - 50; NAM PHONG (N.P) số 100 trang 47 - 58.
    - Về nội dung, bản NAM PHONG, trong chi tiết, có những lời lẽ dài dòng và không chính xác bằng ba bản kia.
    - Về ngày tháng năm, thì chỉ có Hv 189/1 là ghi “Tự Đức thập lục niên, nguyệt..., nhật...); còn ba bản kia thì không ghi ngày tháng. Từ Ngọc Nguyễn Lân, sđd, có trích nhiều đoạn của Thiên hạ đại thế và nói: Không rõ ngày tháng.
    - Về đầu đề thì NAM PHONG ghi: “Nguyễn Trường Tộ điều trần thiên hạ đại thế nguyên tập (nguyên danh quốc tế thượng giao thông chi chính sách)”. Hv 634/1 ghi: “Điều trần thỉnh hứa đại Pháp quốc khai phụ thông thương”, còn Hv 189/1 và Hv 135 không có đầu đề. Chính Nguyễn Trường Tộ, trong Trần tình, nói: “Thiên hạ phân hợp đại thế luận” và trong các bài viết sau này, nhiều lần nói đến “Luận phân hợp”. Ông Nguyễn Lân nói: “Thiên hạ đại thế”; ông Đào Duy Anh nói: “Thiên hạ đại thế luận”.
    Từ những dữ kiện nêu trên, chúng ta có thể tạm kết luận là Nguyễn Trường Tộ đã viết, để thuyết phục Triều đình Huế phải hòa với Pháp, vào hai thời điểm khác nhau:
        a. Theo bài Trần tình, thì năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có gởi cho Nguyễn Bá Nghi một bài Bàn về việc hòa (Hòa từ) và trong Trần tình có trích một đoạn của Hòa từ, lời lẽ hoàn toàn giống như trong bản N.P và các bản Hv. Bản văn đăng trong N. P có thể là bài Bàn về việc hòa của năm 1861. Bởi vì bản N. P so với các bản Hv, lời lẽ không chỉnh và không khúc chiết bằng. Hơn nữa bài Bàn về việc hòa hình như được viết để cho nhà vua đọc, nên tác giả nói: “Phục vọng chuẩn thần sở kiến”: kính mong các ý kiến của thần được chấp thuận, trong lúc các bản Hv nói: “đại nhân cụ đề chuyển tấu”: kính xin đại nhân tâu lại đầy đủ. Bản N.P lại có phụ đề: “Nguyên danh: Quốc tế thượng giao thông chi chính sách”.
        b. Cũng theo bài Trần tình, thì năm 1863, Nguyễn Trường Tộ còn có bài Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Để viết bài này, Nguyễn Trường Tộ chỉ lấy bài Hòa từ sửa chữa lại cho chỉnh và gọn gàng. Lúc đầu, hình như Nguyễn Trường Tộ định viết như một thư văn có mào đầu, có niên hiệu; nhưng sau có thể đã sửa chữa để gởi kèm theo bài Trần tình như một bài nghị luận, nên không có mào đề, không có niên hiệu. Đây là bản đã được sao chép lại trong Hv 135 và Hv 634/1 mà các tác giả như Nguyễn Lân, Đào Đăng Vĩ đều đã tham khảo và nói là “không rõ ngày tháng”. Bản được sao chép trong Hv 189/1 có lẽ là bản thảo ban đầu được sao chép lại gởi cho Phạm Phú Thứ. Ở đầu bài có ghi: “Giá tập ký dữ thần Phạm Phú Thứ (Bản này gởi thần Phạm Phú Thứ”). Đây có thể là lời của Nội Các hay Viện Cơ Mật.
1. Hà đồ: Thời ông Phục Hy làm vua thiên hạ, có con Long mã đội bức “đồ” (tức là bức vẽ) hiện ra ở sông Hà, ông Phục Hy theo cái văn bản ở trong bức đồ ấy vạch ra 8 quẻ ứng với 5 điều thủy, hỏa, kim, mộc và thổ là ở giữa bức đồ.
2. NAM PHONG nói: 2/3 Á Đông, Nguyễn Lân sđd trang 129 cũng nói: “một phần ba Á đông”.
3. Nam Hải.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2010, 11:08:11 pm

Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ. Khi ấy giả sử ta có 10 vạn quân, cũng không đánh nhau được với họ. Phàm việc binh cốt ở thần tốc, họ đã biết rõ rằng quân ta mới nghe thanh thế họ đã phách lạc hồn xiêu rồi, hơn nữa cảng Đà Nẵng cách các doanh trại1 ta chẳng bao xa thế tại sao họ không thừa thế chẻ tre, xua quân tinh nhuệ tiến tới mà lại thôi? Sao cứ thong dong nhàn hạ không cần lợi dụng thế tốc chiến? Hay vì họ nghĩ rằng ta phòng bị chưa kiên cố. Bởi lẽ ta càng phòng bị kiên cố chừng nào thì càng tỏ rõ được cái năng lực công phá của họ chừng ấy. Họ không cần thừa chỗ sơ hở mà đánh xuất kỳ bất ý như đối với nước địch có thế lực ngang ngửa với họ. Hơn nữa, người Pháp đến đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các nước thường làm. Lúc đầu họ không có ý đi cướp nước người. Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn như đã ước định chứ đâu đến nỗi dây dưa lan rộng như thế. Cũng ví như nước lụt, người hiểu biết thì thuận theo thế nước mà cho chảy xuôi, để nước chảy về sông về biển thì hết, nếu ngăn đọng lại thì úng núi ngập gò, tắc lại thì trôi nhà trôi cửa. Cho nên người khéo trị lụt, thì việc làm hết sức đơn giản.

Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy trù kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước biển. Không hòa mà chiến, khác nào cứu lửa đổ thêm dầu, không những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.

Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với Pháp là thượng sách. Hơn nữa ở châu Âu việc võ bị chỉ có nước Pháp là đứng hạng nhất, hùng mạnh nhất không thua ai cả. Họ lại có tính khẳng khái, hiếu chiến, với uy phong của một quân đội có xe sắt. Tuy dụng binh nhưng cũng biết trọng nghĩa giữ lời, không như các nước chỉ chuyên thủ lợi. Khi kéo quân đi đánh thì khí thế hiên ngang, thái độ hân hoan. Khi lâm trận thì xông pha tới trước, không chịu tụt lùi. Khi thắng trận thì cả nước hoan hô, dù tổn thất nghìn muôn người cũng chẳng tiếc, chỉ sao cho uy danh hùng tráng, quốc thể được bảo toàn làm trọng. Các tướng thì gan dạ, nhiều mưu trí, thạo binh pháp, thủy chiến, lục chiến đều rất giỏi. Thật đúng như sách DOANH HOÀN CHÍ LƯỢC đã chép vậy.

Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ. Nước ta tựa núi kề biển, địa thế như một con rắn dài. Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chặn đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu, gấp rút truyền hịch khắp Nam Bắc, chiêu mộ bọn giặc cướp ẩn náu dùng làm bọn dẫn đường, thì thủy binh của ta sẽ trở thành vô dụng. Bộ binh thì đại lộ không thông. Chỉ còn đường Vạn Tượng, Ai Lao, Trấn Ninh, và đất Cao Miên thì lại hiểm trở khó đi mất nhiều ngày tháng đầu đuôi không liên lạc được với nhau. Nếu họ đánh một trận thì ta đã bị cái thế chia năm xẻ bảy2. Dù cho có trí dũng cũng không kịp ra mưu. Đại thế đã mất, lòng quân sĩ đã lìa thì còn ai đánh giặc nữa? Địa lợi như thế thì không thể trông cậy vào đâu được.

Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng ống, dù phục binh cài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa. Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm giáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước sông chảy xiết. Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi.

Hơn nữa, họ đã lão luyện chiến trận những phương pháp của Đông phương như dụ địch, kiêu binh, địa lôi, hỏa công, sập hầm, thuốc độc họ đều biết cả, dù có người trí xảo đến mấy cũng không nhử được họ. Huống chi việc thắng bại lại do ở nhuệ khí. Họ từ xa đến, dấn thân vào chỗ chết với khí thế một ra đi là không trở về3. Còn quân lính ta xưa nay vốn nhát gan, lại chưa quen đánh trận với nước khác, một ngày kia gặp phải quân địch mạnh mẽ, tuy có lòng dũng cảm nhưng khí thế đã suy lại đánh đâu thua đó, vừa mới nghe bóng nghe gió đã mất hết hồn vía, tham sống sợ chết là lẽ thường tình. Chỉ trước khi ra trận mà có lòng quyết thắng địch thì mới khỏi chết. Nay đã biết họ có thể tất thắng, ta có cơ dễ thua, lại không biết phép ra quân của họ biến hóa như thế nào mà đem quân nhút nhát của mình ra đánh lại quân vô địch của họ thật chẳng khác nào như bắt muỗi đội núi, đem dê đấu hổ, rõ ràng là lối tấn công như vậy không dùng được nữa.
_____________________________________
1. NAM PHONG nói: “Đà Nẵng đi kinh đô” (Đà Nẵng khứ Kinh). Nhưng nói như vậy là lúc Nguyễn Trường Tộ đánh giá chưa đúng lý do tại sao quân Pháp đầu năm 1858 không tiến đánh Huế mà lại hướng vào Nam bộ.
2. Những chữ xiên không có trong Nam Phong.
3. Nguyên văn là Phá phủ trầm chu chi thế. Do tích: Ngày xưa Hạng Vũ đem quân đi đánh Tần, lúc đã đến gần chiến trường ông bắt đập vỡ hết cả nồi chảo nấu cơm, đánh đắm thuyền, chỉ mang lương thực vừa đủ ăn trong ba ngày, để tỏ ý cho quân sĩ biết rằng nhất định phải quyết chiến, nên ai nấy phải liều chết.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2010, 11:15:28 pm

Theo binh pháp, muốn cố thủ phải có hai điều kiện: một là thành trì, hai là nhân tâm. Lúc địch mới đến thì phải gấp rút chặn những chỗ xung yếu mà đuổi nó đi. Nếu kẻ địch đã thọc sâu vào cứ điểm, thì phải có thành cao hào sâu để hãm kẻ dịch mệt mỏi. Đó là thượng sách. Ngày nay quân Pháp có hỏa thuyền để vận tải thì việc vượt muôn dặm cũng bằng chèo một mái chèo mà thôi. Nếu ta muốn ngăn bể để tuyệt lương của họ cũng không thể được. Họ muốn tăng thêm quân sang ta thì theo đường Biển Đỏ chỉ độ bốn, năm tuần là đến nơi. Nếu cần lắm thì gởi giấy xin quân Anh đóng ở Ấn Độ, Tức Lực, Hương Cảng, Thượng Hải... thì sớm chiều là có thể đến nơi để giúp. Lại có quân của Y Pha Nho ở Lữ Tống, đến dồn sức tấn công.

Quân Pháp đánh thành không cần dùng những phương pháp bắc thang đường hầm, xe kiếm, bao đất1, mà đại pháo bắn ra thì núi lở gò sập, thành đã vỡ, thì ta tuy có lương tiền nhiều, gươm giáo sắc và có phương pháp giữ thành cũng trở nên vô dụng. Hơn nữa, người Pháp đánh ta, trèo thành như lên đệm gối, sở dĩ lâu nay họ chưa dùng đến là vì cắt cổ gà cần gì phải dùng dao mổ trâu. Nếu gặp đối thủ thì như trận đánh ở Biển Đen năm trước, Tây Ba Sĩ Đa Bốc Lỗ là một thành kiên cố nhất thiên hạ, Nga là một nước cường địch bậc nhất trong thiên hạ có trăm vạn quân, đã giữ vững trong hai năm, thế mà rồi cũng bị hãm. Lấy ta so sánh với Nga cũng như lấy Đằng, Tiết mà so sánh với Tần, Sở2. Nga như thế mà chống không được còn bị đánh tan tành, ta đâu có đủ sự hiểm yếu nào có thể mong cậy được!

Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sanh tai biến để cảnh cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thảo dã, chính là lúc Thắng, Quảng3 sẽ thừa cơ nổi dậy. Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để động đến một mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình, giận cá chém thớt, khiến cho dân bị cái hại “cháy nhà vạ lây”. Thật đúng như câu nói: “đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho giặc”. Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu đục; nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy.

Than ôi! Dân chúng phụng sự quan trên, đóng thuế nạp tô, để mong được sống yên thân, thế mà bây giờ lại lấy những thứ nuôi sống người đó để làm hại người, nỡ khiến dân chúng vấp phải họa binh đao, nỡ tranh giành cái nhỏ mà bỏ cái lớn, cũng như muốn bảo tồn cành lá mà lại đem đẵn cả cội gốc. Cho nên mới nói: không sợ thế giặc ngang tàng mà sợ lòng người rời rạc. Lòng người đã rời rạc, đã muốn chóng mất, thì dù có thành trì bằng kim loại, có ao nước sôi cũng phải bỏ mà chạy, ai ở đó chịu chết mà giữ cho!
_______________________________________
1. Xe kiếm: Là một loại xe đằng trước có mũi nhọn bằng sắt để húc cho thủng thành, bao đất; dịch chữ “thổ nang” tức là bao đựng đất để sắp đống mà trèo thành.
2. Đằng, Tiết là hai nước rất nhỏ. Tần, Sở là hai nước rất lớn thời Xuân Thu (Trung Quốc).
3. Thắng, Quảng: Trần Thắng, Ngô Quảng đã từng tụ tập nông dân, chống lại Tần Thủy Hoàng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười, 2010, 11:54:45 pm

Sự thế hiện nay chỉ có hòa. Hòa thì trên không cưỡng lại ý trời, dưới có thể làm cho dân khỏi khổ, chấm dứt được sự dòm ngó của bọn gian nghịch, ngăn chặn được sự tranh giành của nước ngoài, thật là hay không thể kể xiết. Còn việc binh đao thì thật là tai họa nó làm cho vợ góa con côi, tổn thương hòa khí của trời đất, sinh ra hạn hán lụt lội. Thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dụng binh dẹp loạn. Nếu không đánh mà khuất phục được binh lính người mới là đánh giỏi. Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin mình miếng đất mà thôi, nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp hết, từ khách quay lại làm chủ. Như thế là tiếc một hai mảnh đất mà đem cả nước trao cho họ. Nếu biết rõ, họ đã đến là không đi, họ ỷ thế vào những nước khác, thì đánh với họ tức là mất cái lớn không đáng mất mà còn tỏ ra mất đó là vì bất lực, không hợp tình, không kêu nài gì được; chi bằng hòa mà chịu mất cái nhỏ không thể không mất mà còn tỏ ra mình ngoại giao biết điều và là việc hợp tình hợp lý có hơn không? Nếu bảo quân ta mạnh, lúa gạo ta nhiều, chưa chi đã vội hòa sợ thiên hạ cười chê chăng? Nói như thế tức là không nhịn nhục việc nhỏ để hỏng việc lớn vậy1. Không thấy một nước Trung Hoa to lớn là thế mà còn phải cắt đất cầu hòa. Lại nữa, như Thái vương bỏ đất Mân2, Câu Tiễn thờ vua Ngô, việc hòa thân của Hán3, việc cống nạp của Tống4, tất cả đều lấy việc không đánh là hơn, mà còn trọng sinh mệnh nữa. Luận việc này có ai cho là thất sách đâu?

Hoặc giả có người nói đất đai tổ tiên để lại không được đưa gang tấc nào cho kẻ khác. Như vậy là quá câu chấp mà để hỏng việc nước. Sao không xem xưa nay có ai là chủ giang sơn mãi đâu. Nhà Tấn bị Hồ5 gây loạn, Tống mất vào tay Nguyên, Minh mất vào tay Thanh, họ này thay thế họ kia chẳng phải do số trời sắp đặt đó sao? (... ) Từ xưa, các bậc đế vương, mỗi khi thay họ đổi ngôi thì con cháu không có đất cắm dùi, đều do tiếc cái ít để mất cái nhiều.

Hơn nữa, thiên hạ là của chung của thiên hạ, các bậc đế vương dĩ nhiên không thể đem thiên hạ mà cho ai, chỉ có điều là biết không thể cho được rồi sau mới có thể cho được. Nếu không tùy thời liệu định, cho để mà giữ, chẳng may thế sự chuyển dần thì rõ ràng là phải đưa hết tất cả cho người ta. Thế nên, Câu Tiễn chịu nhẫn nhục để được còn nước Việt, vua Văn Hoàng mượn binh để lập cơ nghiệp, đều là muốn bảo toàn thiên hạ cả. Xưa nay, chưa có ai không ẩn nhẫn việc nhỏ mà làm nên việc lớn bao giờ.

Theo cách ngày nay thì nên để quân lính nghỉ ngơi, rồi làm theo chước Hán Cao Tổ cắt Quang Trung cho Hạng Võ ngày xưa để họ giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới. Thế nhượng một tấc đất mà nhân dân lợi vô cùng. Như thế chẳng phải là làm việc chung cho thiên hạ đó sao? Người xưa cũng làm như thế thôi, không thể bỏ cách đó mà theo mưu khác được. Thế là xoay chuyển một cái mà kẻ sống người chết đều chịu ơn, thật là sáng rõ, rõ như ánh lửa rọi chẳng còn hình tích gì đáng nghi nữa cả. Dân đã yên sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển, sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy súc nhuệ, đợi thời hành động, mất ở phía Đông thì lấy lại ở phía Tây, cũng chưa muộn gì6.

Vả lại, những điều mà nước Pháp xin, chẳng qua là để mở bến tàu; lập phố xá, thông cửa bể để buôn bán, lập nhà thờ để giảng đạo mà thôi. Lẽ thường những nơi có buôn bán, thế tất không thể mở thương trường, lập cơ xưởng. Như người Trung Hoa ở nước ta cũng vậy. Lấy có đổi không, khiến Nam Bắc hòa hợp, của cải hàng hóa lưu thông, tiêu dùng tiện lợi, cuộc sống đầy đủ đều nhờ ở đó cả. Xưa nay chưa có ai buôn bán mà âm mưu chiếm nước người ta bao giờ. Còn như giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống lại gian tà, làm trách nhiệm, chẳng liên quan gì đến những việc tranh thành tranh đất cả. Sở dĩ họ xin bỏ việc cấm đạo chẳng qua là để cho sự truyền đạo được dễ dàng mà thôi. Nếu nói họ có âm mưu gì khác thì Đức Thế Tổ Cao hoàng đế7 đã ở với giáo sĩ lâu ngày tưởng cũng đã biết ít nhiều hành động của họ. Nếu quả như người ta nói, tại sao không đề phòng ngăn cấm trước để chi đến nay mới cấm, khiến người Pháp mượn cớ trách ta? Nếu nói họ dụ dỗ giáo dân trước rồi mới gây hấn với ta, thì sao họ không thừa cơ khi ta mới bắt đầu dựng cơ nghiệp mà đem quân cả nước đánh lấy cả Nam Bắc phải đợi đến hàng chục năm dài về sau mới tính mưu? Phải chăng vì họ chưa được thông thương cho nên chưa lập mưu lấy nước ta, thế thì ngày nay họ đã thông thương được với nước ta đâu mà có thể thắng được ta? Nếu họ quyết ý chiến thắng thì dễ như lấy vật trong túi đời nào lại chịu giảng hòa với ta. Những việc đó đã quá rõ, không đợi phải nói mới biết được. Còn ta nếu không chịu hòa, thì họ xưa nay vốn hiếu thắng, đời nào lại chịu thôi. Cho nên tôi nói hòa với họ là tiện lợi, là một việc rất tốt phù hợp với lẽ trời đất. Trời đất hòa mới có mưa móc tưới nhuần. Bốn mùa hòa vạn vật mới sinh nở. Hai nước hòa bờ cõi mới an ninh. Triều đình hòa trăm việc mới chỉnh đốn. Xưa nay chưa có khi nào bất hòa mà làm xong việc được.

Vậy kính xin đại nhân tâu lại đầy đủ8. Cho họ một miếng đất thì chẳng những các sĩ phu trong thiên hạ muốn làm quan ở Triều đình mình, người buôn trong thiên hạ đua nhau đến buôn bán trong nước mình, mà nước nhà sẽ được vững như bàn thạch, là dân sẽ tránh được khổ lầm than, để giữ vững cơ nghiệp.

Tôi ở nước ngoài đã lâu biết rõ sức của họ, tinh tường tình hình của họ. Xưa Hàn Dũ có nói: “Biết mà không nói là bất nhân; nói mà không nói hết là bất nghĩa”. Vì vậy, tôi tuy thân giang hồ mà lòng vẫn ở nơi đế khuyết. Thật không nỡ lòng thấy đất nước bị chia cắt, trăm họ bị lìa tan, cho nên không nghĩ mình ở địa vị thấp hèn, dám cả gan nói ra. Nếu như lời tôi nói là gian trá, hoặc có ai xui khiến tôi nói thì tôi xin nạp mình trước cửa đế đô, để làm chứng sau này9.

Tôi xin gởi kèm theo đây một bản đồ để chú giải rõ những điều nói trên đây.

Kính xin soi xét. Sau này nếu được yên, tôi xin đích thân đến để trình bày rõ nỗi lòng riêng bấy lâu ấp ủ của tôi.

Nay bái bẩm
Ngày tháng năm Tự Đức 16
Nguyễn Trường Tộ ký

_______________________________________
1. Ở đây bản NAM PHONG có một đoạn như sau: “Tôi trước đây ở Đại Thanh thấy nước Pháp ký hòa ước với Đại Thanh chỉ có 5 cửa biển mà thôi. Sau sự biến ở Quảng Đông, Pháp bèn cùng Anh chiếm Quảng Châu. Đại Thanh lại phải cho Pháp được tự ý từ Kinh Châu, Hán Khẩu xuống cửa sông Dương Tử chọn lấy một nơi tốt nhất. Đến năm Hàm Phong thứ 2, Tăng Vương hủy bỏ hòa ước và gây sự, Pháp liền bỏ Đà Nẵng hợp cùng với Anh đánh Thiên Tân, Tăng Vương thua chạy lên phía Bắc. Pháp tiến lên Thông Châu đánh thẳng vào Hậu Uyển. Hàm Phong chạy sang Nhiệt Hà sai Cung Thân Vương giảng hòa, chịu bồi thường 800 vạn lạng bạc, lại phải nhượng thêm Thiên Tân, cửa sông Đại Cô và Lai Châu thuộc tỉnh Sơn Đông, Quỳnh Châu, Đài Loan thuộc tỉnh Quảng Đông. Chuyện Trung Quốc thật đúng như câu nói: “Giống lừa không chở nặng không chịu đi” thật là thất sách”.
2. Mân: Tên cũ của một nước ở Trung Quốc, địa vực hoạt động đầu tiên của thời Chu nay là giáp tỉnh Thiểm Tây.
3. Hán hòa thân với Hung nô.
4. Nạp tiền và hàng hóa cho nước Liêu và nước Kim.
5. Loạn Ngũ Hồ.
6. Ở đây bản NAM PHONG có một đoạn như sau: “Việc ấy hiện có căn cứ sự thật. Tôi đã xét qua nhân tài các nước phương Đông thấy ít nước nào hơn nước mình. Người Pháp cũng phục người Nam có nhiều trí xảo. Tôi đã từng ở các nước xa về phía Tây nghe họ đều nói các môn Thiên văn, Địa lý, Cách vật, trí xảo, hỏa xa, hỏa thuyền, đồng hồ… người Nam học rất thông minh linh lợi. Nhưng cái bệnh của người mình là câu nệ thủ cựu, chuộng văn chương, không ra khỏi nước nên thấy, nghe chưa rộng, khiến họ chê cười. Nếu các danh nho cao sĩ của ta được qua lại giao thiệp với các nước thì không đầy 10 năm sẽ như Đỗ Mục nói:
    Giang Đông còn lắm người tài giỏi,
    Cuốn đất tràn về lại có phen!
”
7. Vua Gia Long.
8. NAM PHONG nói: Xin chấp nhận cho ý kiến của thần. (Chuẩn thần sở kiến).
9. Bản NAM PHONG chấm dứt ở đây.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 08:55:04 pm

DI THẢO SỐ 2

Bàn về tự do tôn giáo*

(Giáo môn luận)

(Ngày 11 tháng 2 năm Tự Đức 16 tức 29 tháng 3 năm 1863)

Trộm nghĩ rằng cái đức lớn của trời đất là sự sống. Sống là gì? Là làm cho muôn vật đều được bảo toàn thiên tính của nó. Vì vậy mà trên trời có sao sáng mây đẹp thì cũng có gió lớn mưa to; dưới đất có lúa tươi thóc tốt thì cũng có cỏ xấu sâu độc. Tuy tốt xấu khác nhau nhưng đều được sinh nở không cái nào bị hại. Như vậy mới sáng tỏ cái đại toàn của trời đất. Chứ cái gì đẹp thì tô bồi, cái gì xấu thì dẹp bỏ, cái gì hay thì che chở, cái gì dở thì hủy hoại thì không làm sao thấy được cái vĩ đại, cái kỳ diệu của tạo vật. Vì sao lại nói như vậy? Bởi vì nếu trên đời này có ngọt mà không có đắng, người ta sẽ không biết vị ngọt là đáng yêu; có ấm mà không có lạnh, người ta sẽ không biết được cái thích thú của sự ấm áp; có trắng mà không có đen, trắng không thể tự một mình phô bày cái đẹp được; có hoa mà không có gai, hoa cũng không thể một mình tốt tươi được. Cho nên trời đất không vì tốt xấu mà phân biệt mưa sương, không vì văn minh dã man mà phân biệt sự che chở. Muôn vật sống chung đụng với nhau nhưng mỗi vật đều thuận theo tính của nó, hợp với cái dụng của nó, theo đường hướng của nó, đều tự thích nghi, thành hoại thông với nhau, tán mạn đặc thù đều qui về một mối, không bỏ một vật nào cũng không riêng tác thành cho một vật nào cả. Sở dĩ trời đất vĩ đại là vì thế. Tại sao riêng loài người lại không như thế?

Vua đối với dân, xem bề ngoài tuy có tôn ty khác nhau, nhưng bề trong cũng cùng một lẽ sinh thành của tạo vật mà thôi. Tạo vật đối với muôn loài, các việc ăn nghỉ ham muốn đều được theo xu hướng của nó, không cưỡng ép phải làm khác đi cái điều nó yêu thích hay hòa đồng với cái điều nó không ưa. Vì vậy cho nên tuy sống chung lộn với nhau mà vẫn thành đại quan của vũ trụ, không có gì khác. Nếu như muôn loài phản lại cái đức hiếu sinh không chịu theo thiên tính tự nhiên mà đi tàn hại lẫn nhau, lấy lớn ngược đãi nhỏ, họp nhỏ chống lại lớn thì chẳng bao lâu sẽ bị tiêu diệt. Đó chẳng phải là điều tối kỵ của tạo vật hay sao?

Vua đối với dân, là người thay trời mà chăn dắt, theo ý trời mà hành động. Dân sinh ở trên đời, tuy tiếng nói khác nhau, sự yêu chuộng khác nhau, kẻ xứ lạnh người xứ nóng khác nhau, đến hay đi, nghịch hay thuận, miễn sao biết trung hiếu là được cần gì phải câu nệ hình tích bên ngoài mà không xét đến cái gốc ở trong tâm, cưỡng ép phải giống nhau để gây ra rối loạn? Vì thế các bậc thánh vương sửa đổi luật pháp mà không thay đổi tập tục, sắp đặt việc chính trị mà không thay đổi cái gì vốn đã thích nghi cuộc sống. Tuy chương Vương chế trong KINH LỄ có nói bắt tả đạo, sách LUẬN NGỮ có nói chống dị đoan. Thế mà thiên hạ không biết bao nhiêu người đã bỏ Phật theo Lão, thánh vương cũng không nỡ cự tuyệt. Bởi vì ghét người ta cho lắm chỉ gây thêm mối loạn mà thôi, vả lại thánh vương cũng không dám làm tổn thương đến cái to tát bao dung của trời đất.
_____________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 45-53; Hv 634/1 tờ 109-111; Hv 135 tờ 105-117; NAM PHONG số 118 trang 65-70.
Nội dung của cả 4 bản đều gần hoàn toàn giống nhau, chỉ trừ một vài chỗ do chép sai, chép sót. Bản Hv 189/1 có tiêu đề, có ngày tháng (11-2 năm Tự Đức 16) có thể là bản thảo ban đầu, được lưu giữ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ.
Các bản Hv 634/1, Hv 135 và NAM PHONG số 118 có thể được sao chép từ một bản chính thức gởi kèm theo bài Trần tình, vì thế mà không có tiêu đề, không có ngày tháng năm. Từ Ngọc Nguyễn Lân, sđd tr. 123, có trích một đoạn của bài này, nhưng không nói xuất xứ, cũng không nói ngày tháng.
NAM PHONG số 117, ở cuối bài có ghi 23 tháng 7 năm Tự Đức 19, nhưng chắc là chép lầm, bởi vì vào thời điểm này, vua Tự Đức đã có dụ tha đạo, người công giáo có gặp khó khăn phải chăng là do địa phương.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 08:56:16 pm

Phàm con người sinh ra trong trời đất, trung hiếu vốn là bản tính chứ không phải cái gì giả tạo từ bên ngoài gán vào. Ví cũng như nước lửa thuận theo thế của nó thì nước chảy vào chỗ trũng, lửa cháy nơi khô. Nếu có cái thế khác làm rối loạn không cho lửa bốc lên, nước chảy xuống, thì đó chỉ là tạm thời mất sự bình thường mà thôi, còn bản tính của nó vẫn không bao giờ mất. Dữu dân1 cũng là người, ai lại không có lòng trung hiếu? Sở dĩ phải tránh đi xa mà mong nhờ cứu giúp, gọi người khác bằng cha, gọi người khác bằng mẹ là vì thời cùng thế bức, cực chẳng đã phải tạm trốn tránh chứ đâu phải trong lòng muốn như vậy! Không thấy như con đối với cha mẹ đó sao? Hễ bị đòn nhỏ thì chịu, đòn lớn thì bỏ chạy là vì lợi hại thiết thân, không thế không được. Vì vậy sự thuận mệnh cũng có khi không thể làm được.

Xét ra đạo Công giáo2 vào nước ta từ thời Lê. Trước tiên các giáo sĩ Bồ Đào Nha đến giảng đạo ở tỉnh Hưng Yên, tiếp đến có các giáo sĩ người Pháp, người Y Pha Nho đến, được nhiều người tin theo. Lúc bấy giờ giáo dân và những người trong ba đạo (Phật, Lão, Khổng) tuy tín ngưỡng khác nhau nhưng vẫn ân ái tiếp đón nhau, lễ nghĩa đối đãi nhau, năng lui tới với nhau không có gì hiềm nghi, đều là con dân của nước nhà mà thôi. Từ khi ban hành lệnh nghiêm cấm thì mới sinh ra ghen ghét kỳ thị nhau, do ghen ghét kỳ thị nhau mới sinh ra tội lệ. Từ đấy giáo dân bị phiền nhiễu đến nỗi phải lưu ly thất sở mà mắc vào vòng hình phạt. Nước vốn trong, có quấy lên mới bị đục, nếu ngừng thì chốc lát sẽ trong trở lại.

Giáo dân cũng là người trong nước, đều là người cả, cũng là dân của trời, sự ăn ở có liên quan nhau, vui buồn liên quan nhau. Lẽ nào bên này động mà bên kia lại yên được sao? Một nước ví như một thân thể. Một chỗ bị đau thì toàn thân cũng không yên. Một cục thịt thừa, một ngón tay đeo thật hết sức vô dụng thế mà cắt bỏ đi thì đau, huống chi là tay chân hữu dụng! Trời đất đối với các hành tinh, một nước đối với dân chúng, sự liên quan lệ thuộc duy trì cũng một lẽ như nhau. Nếu trên trời có một hành tinh bị động, các hành tinh khác cũng nhân đó mà có chút biến đổi, huống chi dân là gốc của một nước, dân bị tao động lẽ nào nước không sinh họa loạn? Không thấy thượng đế là chúa tể cai trị các nước cũng như vua là chúa tể trị vì một nước đó sao? Các nước khác nhau rất xa về ngôn ngữ, phong tục và sự ưa chuộng, nhưng thượng đế cũng lấy một lẽ mà đối chung cả vạn vật khiến tất cả đều thuận theo trật tự, đều thỏa ý nguyện, không bắt tất cả phải giống hệt nhau. Có thế mới sáng tỏ cái tài năng lớn, cái uy quyền trọng và cái độ lượng rộng rãi. Trong một nước, tuy nhân dân có phân chia nhà cửa khác nhau, nhưng vua cũng chỉ lấy một quyền mà thống trị dân chúng, lấy một trí mà liên kết muôn dân, khiến dân tình đều được yên ổn, hành động tuy khác nhau nhưng đều lương thiện, chí hướng khác nhau nhưng đều đáng quý cả. Như thế thì chẳng những không tổn hại về mặt chính trị mà còn cho thấy cái tài khéo trong việc trị nước nữa.
_______________________________________
1. Dữu là cỏ xấu phá hại cây lúa. Thời Công giáo bị ngược đãi, trong khoảng từ Minh Mạng đến gần cuối Tự Đức, người công giáo bị gọi là Dữu dân để phân biệt với lương dân.
2. Trong nguyên bản bằng Hán văn, Nguyễn Trường Tộ dùng từ “đạo giáo”, nhưng “đạo giáo” đây là tác giả muốn nói “Công giáo”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 08:57:20 pm

Phàm có vạn thứ không giống nhau thì gọi là giàu, không cái gì không chứa đựng được hết gọi là lớn, chồng chất thành đống nhiều lớp mà không chống chọi nhau gọi là khéo, nhiều thế lực khác nhau, nhiều tính tình khác nhau mà hợp được làm một để sử dụng gọi là giỏi. Cho nên tạo vật nặn đúc ra không đồng một hình dạng, một khuôn khổ, một ngôi vị, một xứ sở mà sinh ra vô số hình thái khác nhau, phương hướng khác nhau để nhiếp trị. Thế mới thấy được cái giàu lớn khéo giỏi của tạo vật. Sở dĩ thượng đế chế trị đại địa cũng như con người ta lập các tôn giáo riêng, không bắt ép cái này phải nhập vào cái kia là vì có thâm ý trong đó.

Vua đảm đang công việc giúp thượng đế không phải là vua có thể biệt lập một trời đất mà một mình cầm quyền được, chẳng qua chỉ là nhân các dân vật đã được thượng đế tạo thành an bài đó mà thương yêu làm cho an ổn, để thông suốt cái chí của thiên hạ, để soi thấu cái tình của muôn vật mà thôi. Như thế sao lại muốn chấn hưng hay tiêu diệt được để trái lại trời hay sao?

Từ xưa đến nay trên mặt đất lớn lao này có nhiều đạo khác nhau đã được thành lập ở nhiều nơi. Đạo Công giáo khởi từ Tiểu Tây, Hồi giáo khởi từ Thiên Phương (Ả Rập), Phật giáo khởi từ Thiên Trúc (Ấn Độ), Tây Tạng có Lạt Ma tọa sàng, Trung Quốc có Nho, Mặc, Trang, Lão. Phàm nơi nào có dấu chân người đặt đến thì các tôn giáo cũng theo người mà truyền vào. Hễ nước nào có thanh danh văn vật, xứ nào có giao thông trù mật thì người theo đạo đông đúc. Nước càng thịnh vượng thì tôn giáo càng nhiều. Nước dã man thì tôn giáo ít. Lấy tôn giáo nhiều hay ít mà xem nước ấy có hưng thịnh hay không thì thấy tôn giáo nhiều, nước càng hưng thịnh.

Tuy vua các nước tùy theo mỗi đời có sự ưa thích khác nhau, nhưng đầu tiên đạo giáo do một người truyền bá ra, kế tiếp theo có hàng nghìn vạn ức người phụ họa theo, và cũng có vạn ức người bài bác lại. Nhưng chưa từng thấy đạo nào vì được phụ họa mà chấn hưng được hết cả, hay bị bài bác mà bị tiêu diệt hết cả. Ngoài ra còn có các ngoại đạo ở các nước nhỏ, và các xứ ven biên không kể hết được, nhưng cũng chưa nghe nước nào vì đạo giáo nhiều mà phải mất nước. Quay ngược về xưa mà xem thì giặc Khăn Vàng (Hoàng Cân) vốn vì theo Lão Tử, loạn Hồ vốn bởi theo Mâu Ni. Ngoài ra như Hoàng giáo, Bạch giáo và các đồ đảng Đại Thành, Từ Đoàn tụ tập quần chúng xướng loạn, mà cũng chưa từng nghe các triều đại ấy dùng hình pháp nghiêm khắc để tiêu diệt các tôn giáo ấy. Thực ra những tệ hại đó là do người làm ra mà thôi. Lý thuyết và lễ văn của các tôn giáo tuy có khác nhau, nhưng đem hết sách của các tôn giáo mà xem thì không tôn giáo nào không lấy trung hiếu làm gốc. Nếu không như thế thì người có lương tâm ai chịu tin theo.

Xưa nay, những loạn thần tặc tử ai là người không đọc sách, ai là người không phục lời của Khổng Mạnh. Cớ sao lại trộm lấy cái trí năng của thánh hiền mà làm thân đạo tặc? Như thế là lỗi tại ai? Tại người hay tại tôn giáo? Nếu cứ ai đồng với mình thì dù tệ cũng bỏ qua, còn ai khác với mình thì chỉ trích khắt khe mà đổ cho giáo pháp ấy không tốt, thứ hỏi công lý ở đâu?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 08:58:21 pm

Từ xưa đạo Công giáo đã phát hưng ở miền Tây phương Đông, miền Nam phương Bắc, miền Đông phương Tây, nhất thống toàn thịnh như Đại Tần (tức La Mã), tung hoành cát cứ như nước Mông Cổ và những nước rộng đến 5, 6 nghìn dặm la liệt như sao trên trời, bày bố khắp như quân cờ, vua tướng ở các nước ấy quyền quý, thông minh, hùng hổ đều nổi dậy mưu hại giáo đồ. Hơn 300 năm nay, số giáo dân bị giết hại, thống kê số người có tên họ bị chôn ở nhà đá có đến trên mười triệu người; còn những người vô danh khác bị vùi lấp như kiểu giáo dân ở Biên Hòa (của ta) thời không kể xiết. Lúc bấy giờ như ở hai nước Pháp, Y Pha Nho, số giáo dân bị độc hại cũng hằng hà sa số. Nhưng giết một người thì có nghìn người theo, giết mười người thì có vạn người theo thêm. Vua tướng các nước đã không tiêu diệt nổi đạo, mà trái lại được đạo cảm hóa. Vì sao vậy? Vì phàm vật gì có sức lớn mà lại có gốc nguồn thì càng bị quấy rối di động càng xuất hiện mãi mãi không cùng. Như nước và lửa, có ai có thể múc hết nước, dập tắt hết lửa?

Đạo Công giáo đã thịnh hành từ Đại Tây, Tiểu Tây rồi dần dần chuyên qua Đông Nam. Và đã 300 năm nay cũng bị các nước ở đấy ngăn trở sát hại như ở phương Tây trước kia. Thế mà người theo đạo ngày càng đông. Theo thống kê ở Trung Quốc thời Minh đạo đã có hơn 60 vạn. Còn như người nước ta, Nhật Bản, Cao Ly, Miến Điện, Thiên Trúc, Ba Tư, Tây Tạng, Hung Nô, Lữ Tống và các đảo ở ngoài bể thì không kể trong số này. Càng cấm mà người theo càng đông là vì sao vậy? Vì rằng tạo vật quý trọng sự sống vô cùng, thường hay phù trợ những người bị mưu hại. Nếu không phù trợ mà còn giúp kẻ có thế lực được thỏa lòng sát nhân thì thiên hạ sẽ bị kẻ lớn mạnh nuốt hết, mà kẻ nhỏ bé sẽ không còn nòi giống nữa. Huống chi các vua thường nghiêm cấm đạo mà người truyền đạo thì vẫn tiếp nối nhau đời này sang đời khác không thôi. Tuy hoặc có lúc hơi bị áp chế nên tạm ngừng, nhưng lúc ấy, chính là lúc củng cố vun bồi để sẽ phát sinh thêm nữa. Ví như suối ở trên núi, nguồn suối càng sâu càng dài, thì nước tuôn ra càng xa càng mạnh. Như thế là những cái gì mà trời dung thì người không thể tiêu diệt hết. Nếu như quả là trời dung mà người diệt thì lẽ nào tạo vật không có quyền lực để xử việc đó?

Giáo dân cũng do tạo vật sinh dưỡng và đạo giáo cũng do tạo vật bảo dưỡng, huống chi giáo dân cũng là một thành phần của nhân dân trong nước? Trong số đó nếu có kẻ bội nghịch chẳng qua cũng chỉ một phần nghìn phần trăm mà thôi, tại sao không minh xét mà cứ đổ riết cho tất cả là nghịch? Do đó mới coi những người theo đạo vô luận lớn bé trẻ già, trung nịnh trí ngu đều đáng xua đuổi sát hại như chim non chuột thối. Nếu làm như thế mà hợp với lòng của tạo vật, thì tạo vật vốn là bậc cha mẹ của muôn loài sao không sớm tiêu diệt đạo ấy đi còn để truyền lan làm gì cho khắp thế giới phải sa hầm mắc bẫy? Chắc chắn không phải như vậy...

Nói tóm lại, bất kỳ trong đạo giáo nào, hễ ai phản nghịch loạn thường đều là người đắc tội trong tôn giáo, cứ áp dụng hình pháp không tha để cho đạo giáo được trong sạch. Còn ai yên phận tuân theo pháp luật thì để cho họ tự nhiên có hại gì đâu? Đồng hành mà không nghịch nhau là được, cần gì bắt phải nhất tề những cái mà tạo vật không thể nhất tề, cũng không cần thiết phải nhất tề, để làm tổn thương hòa khí? Kính mong đại nhân ra sức hồi thiên1 đem lòng hiếu sinh bắc cầu cho kiến qua2 để được cùng với trời đất góp phần ích dụng. Nói một tiếng khiến giáo dân được mang ơn một phần. Đó cũng là hợp với câu “đại đức viết sinh”3 vậy. Xin dâng lời thô ngu, kính mong cao minh lượng xét.

Nguyễn Trường Tộ ký.

___________________________________________
1. Hồi thiên: Làm cho vua hồi tâm nghĩ lại. Tích Trương Huyền khuyên can Đường Thái Tôn bỏ việc tu bổ cung Lạc Dương. Người ta gọi Trương Huyền có sức hồi thiên. Đây có ý nói khuyên vua bỏ việc cấm đạo.
2. Bắc cầu cho kiến qua (biên kiều độ nghị) do tích Vương Tăng đời Tống bên Trung Quốc là một người đã từng đậu trạng nguyên làm Tể Tướng. Thuở nhỏ có hôm nhân đi qua một chỗ có nhiều tổ kiến bị nước ngập, ông bèn lấy cành tre bắt ngang làm cầu cho kiến bò qua khỏi chỗ nước chảy, khỏi bị ngập chết trôi. Tác giả dẫn tích này cốt nói trẻ nhỏ mà có lòng nhân đức biết quý trọng sự sống. Vì vậy mà về sau trở thành một vị danh thần. Ý nói cứu được nhiều sinh linh.
3. Câu “Thiên địa chi đại đức viết sinh” nghĩa là đức lớn của trời đất là sự sống.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:20:16 pm

DI THẢO SỐ 3

Bài trần tình*

(Ngày 26 tháng 3 năm Tự Đức 16, tức 13 tháng 5 năm 1863)

Tôi thuở bé không được dạy bảo, lớn lên lưu lạc nhiều nơi, nhưng những hoài bão và việc làm của tôi có chỗ khác hơn người.

Từ bé tôi đã thận trọng trong việc giao du, thích yên tĩnh, đối với tất cả những sự cầu danh, lấn lướt, giành công, tham lợi tôi đều coi như mây bay nước chảy. Vả lại, tôi không ham thích kinh doanh, không thích chuyện vợ con, đoạn tuyệt với hai cạm bẫy tài sắc. Người ta ở đời sở dĩ không được thanh thản tự do mà phải chìm đắm trong lưới trần tục, lạc theo phường phản nghịch, đều do hai cạm bẫy này mà ra cả. Tôi thoát khỏi vòng đó, cho nên việc làm của tôi có khác người, như những điều sau đây là những bằng chứng xác thực. Đấy là điều khác thứ nhất.
_____________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 53-64
    Hv 135 tờ 129-145
    Hv 634/1 tờ 85-103
    N.P số 117 trang 54-59.
    Bản Hv 189/1, so với ba bản sau, có nhiều câu, nhiều chữ chỉnh hơn. Đây có lẽ là bản mà Nguyễn Trường Tộ, khi sao chép lại để gởi cho một vị đại thần nào đó, có chấp bút thêm; ở đầu bài ghi: Tự Đức năm 17, trong lúc thực sự bài Trần Tình này, theo như ba bản kia và các tác giả khác như ông Nguyễn Lân và ông Đào Duy Anh nói: 26 tháng 3 năm Tự Đức 16.
    Bản chính thức gởi cho Trần Tiễn Thành được lưu giữ tại thư viện Bảo Đại; trước năm 1945 các ông Trần Mạnh Đàn, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Lân đều đã tham khảo. Điều đáng chú ý là ông Nguyễn Lân, trong sách đã dẫn ở trang 57 có trích một đoạn nằm trong số khoảng 428 chữ mà ba bản văn Hv 135, Hv 634/1 và N.P không có. Đoạn này liên quan đến thái độ lật lọng của Pháp có thể do N.P tự ý đục bỏ. Các bản văn Hv 135 và Hv 634/1 có lẽ đã được sao chép từ một bản gốc giống như bản được sao chép cho N.P. Còn bản chính thức lưu giữ lại Thư viện Bảo Đại cũng như bản Hv 189/1 lưu giữ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ thì có đủ.
    Về đầu đề thì Hv 135 và N. P nói: Trần tình khải; Hv 634/1 Trần tình - Riêng Hv 189/1 thì không có đầu đề, nhưng có mào đầu: “Ti Nguyễn Trường Tộ trần tình khấu bẩm: Tôi Nguyễn Trường Tộ cúi đầu bày tỏ nỗi lòng”.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:21:23 pm

Đến lúc lớn lên tôi chu du các nước, những điều mắt thấy tai nghe góp lại thành một sự ích dụng lớn. Về việc học, không môn nào tôi không để ý tới: cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là để ý nghiên cứu về sự thế dọc ngang, tan hợp trong thiên hạ. Thường những người học được như vậy hay dùng đó làm phương tiện để cầu vinh, để tiến thân, còn tôi thì dùng để đền đáp lại cái mà trời đã cho tôi học được, chứ không mong kiếm chác một đồng tiền nào. Đấy là điều khác thứ hai.

Đến lúc đạo sắp bị diệt, tôi qua sông vượt biển để giữ lấy cái chân lý. Tuy nhiên đến các nước ngoài, trước mặt những người quyền quý lời nói việc làm của tôi đều giữ thể diện cho nước mình. Nếu ai làm nhục đến các bậc công khanh nước ta, tôi đều biện bác ngay không chút sợ sệt. Như người khác ở địa vị tôi lúc ấy, tất hạ mình tôn xưng người, cúi đầu luồn lụy để được yên thân. Còn tôi thì tôi biện bác ngang nhiên, tỏ rõ tài năng của mình, tán dương rất mực những điều sở trường của nước mình và che đỡ những điều sở đoản. Tôi không có chức phận của người sứ giả ngoài bốn phương, mà làm được như thế. Đấy là điều khác thứ ba.

Kịp đến lúc người Pháp gây hấn với ta, tôi đã cực lực chối từ lời mời của họ. Nhưng sau nghĩ rằng tình thế nước ta hiện nay tạm hòa là thượng sách. Vì chưa đủ sức chống chọi được với họ, cho nên, phải uốn nắn mà theo họ. Như thế may ra góp được một phần nhỏ đối với việc bàn hòa. Nỗi khổ tâm của tôi phải uyển chuyển để được chu toàn thật không bút mực nào tả được. Nhưng ở lâu với nước Tề đâu phải là chí nguyện1. Tôi đã dự định trong lòng từ lâu, nếu như việc đó được thành công thì tôi lại bay bổng cao xa ngao du khắp bốn bể. Như trước kia tôi có đưa cho người bạn Trung Quốc câu thơ rằng: “Thành công tôi sẽ ngao du” (Công thành ngã diệc tầm hãn mạn). Đấy là nguyện vọng của cả đời tôi. Như thế thì tuy sống cảnh giang hồ mà lòng vẫn lo tưởng đến nơi lăng miếu Triều đình. Đấy là điều khác thứ tư.

Sau đó rồi đại đồn2 thất thủ, người Pháp giao cho tôi giữ việc giấy tờ. Tôi thật như mũi tên nằm trên lòng cung. Thế nhưng lời lẽ trong các giấy tờ, một bên tôi gọi là “quan binh”, một bên tôi gọi là “triều binh”. Hễ có những lời thô bỉ nhục mạ, tôi đều sửa lại cho được trang nhã nghiêm chỉnh, không khi nào dựa thế mà quên đại nghĩa. Người xưa ở trong hàng trận mà không thất lễ vua tôi. Chỉ chừng đó cũng đã được bề trên yêu quý. Còn tôi đang ở trong lòng địch, không quyền không thế, chúng tác uy tác phúc trên đầu mà giữ được lễ nghĩa như thế lẽ nào lại không hơn những người xưa đó hay sao? Hơn nữa tôi còn làm trung gian điều hòa hai bên, để giảm bớt sự hà khắc gay gắt của kẻ địch, để cứu giúp nhân dân khỏi vòng nước lửa. Đối với những người chịu sự giúp đỡ kín đáo đó, tôi cũng không lấy đó làm điều ơn đức. Mỗi khi thấy các quan của Triều đình bị nhục, tôi coi họ như cha mẹ mình mà âm thầm tỏ lòng cung kính, an ủi, tìm cách sắp xếp cách cư xử, để tránh sự ngược đãi của kẻ địch. Nhưng tôi cũng phải khéo léo không để lộ dấu tích, sợ kẻ địch sinh nghi. Việc này xin hỏi quan lãnh binh thì biết rõ. Nếu như người khác ở địa vị ấy sẽ hoạnh họe cầu lập công, thêm dầu thêm lửa, xui địch giết hại, để thỏa mãn thù hằn. Còn tôi, tôi vẫn nghĩ tới luân thường đạo lý, không dám ôm lòng phẫn nộ, để tổn thương danh phận. Đấy là điều khác thứ năm.
_____________________________________
1. Nguyên văn: Cửu Tề phi chí: trích lời của Mạnh Tử, có ý nói: ở lâu với nước Tề không phải là bản chí của Mạnh Tử, và ở lâu với nước Pháp không phải là bản chí của tác giả.
2. Tức là đồn Kỳ Hòa bị tràn ngập ngày 23-24 tháng 2-1861.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:23:07 pm

Sau đó khâm sai Nguyễn đại nhân1 đến bàn việc hòa hiếu. Tôi vui sướng không biết bao nhiêu mà kể. Thường khi gặp phái viên ở trên tàu, tôi giả vờ chỉ trời chỉ đất như nói những chuyện không đâu, mà thực ra ở trong có vô số những mật thuyết cơ mưu, mong phái viên nghe được mà đem về chuyển đạt. Tức như đảng giặc Quảng Yên lúc ấy tuy chưa phát lộ, mà tôi đã nói rõ với quan Phan2 để bẩm lên Triều đình biết mà đề phòng trước (Việc ấy là vào khoảng tháng ba năm Tự Đức 14). Đến lúc bọn giặc đó nổi lên, tôi lại hết sức nói với mọi người rằng: Bọn chúng không làm gì được. Ai mà theo chúng tất sẽ làm quỷ không đầu. Cũng có nhiều người nghe đến thế lực của chúng to lớn đã phụ họa theo, tôi lại cực lực ngăn cản và nói rằng: Nếu trời không có mắt, chúng nó mới hoành hành được. Tôi nói tôi sẽ lẻn về, họp những người oán ghét chúng, chết cũng quyết đánh, thề không chịu làm dân của chúng nó3. Những lời nói đó của tôi hiện những tín đồ trong bản đạo và người ngoài ai cũng biết. Ngày trước tôi cũng có đưa cho Phan đại nhân một câu thơ:

“Quảng Yên cá chậu sống bao lâu,
Gia Định lừa
4 kêu kế đã cùng”.

Xin xem câu ấy thì biết ý tôi. Bấy giờ đường vận chuyển lương thực cho quân thứ ở Biên Hòa gặp khó khăn. Có một lần tàu Pháp tuần hành nhặt được một bó công văn. Quan Pháp dùng những chữ số 1, 2, 3, 4... viết lên trên mỗi trang rồi đưa về tàu giao tôi phiên dịch. Trong đó tôi đã chọn lấy một hai điều không liên quan đến việc quân sự đem dịch ra, số còn lại thì tôi dịch tráo trở lời văn làm cho họ không hiểu được. Trong đó có một khoản nói về kế hoạch bí mật vận chuyển lương thực. Tôi bèn lấy một tờ giấy khác đánh số rồi đem tráo vào đó, bí mật lấy tờ giấy kia giao cho tri phủ Phan Văn Khả mang về.
_____________________________________
1. Tức Nguyễn Bá Nghi được phái đến thương thuyết với Charner tháng 3 và 4-1861.
2. Nguyên văn là “Phan quý viên” tức một viên chức họ Phan, chứ không phải Phan Thanh Giản bởi vì trong đoạn sau khi nói tới Phan Thanh Giản, thì tác giả nói “Phan đại nhân”. Vả chăng Phan Thanh Giản chỉ tới Sài Gòn để ký hòa ước 5-6-1862 (Tự Đức 15). Quan Phan nói ở đây là Phan Văn Khả ở đoạn sau?
3. Đảng giặc “Quảng Yên” mà tác giả nói đến đây là đảng Lê Duy Minh, cũng có nơi gọi là Lê Duy Phụng hay Tạ Văn Phụng, tự xưng là dòng dõi họ Lê đứng lên chống lại nhà Nguyễn. Theo linh mục Le Grand de La Lyraie, thông dịch viên của quân đội Pháp (1858-1873), người có quen biết Lê Duy Minh là thầy giảng của linh mục Castex, thì Lê Duy Minh theo Ba Khuất hoạt động tại vùng Quảng Yên từ năm 1851 nhưng thất bại sang ở với các thừa sai Pháp tại Hồng Kông (đổi tên là Phụng), và năm 1858 theo Le Grand de la Lyraie về Đà Nẵng làm thông dịch cho Pháp, tìm cách làm áp lực để Tướng Pháp đánh thẳng lên Huế, nên bị trả về Hồng Kông, đầu năm 1861, được Charner đem về Sài Gòn để manh nha lập đồ đảng quấy phá ở Bắc bộ (điều mà Nguyễn Trường Tộ đã phát hiện và phản ánh với “Phan quý viên”) năm 1862 là lúc Lê Duy Phụng được Pháp hỗ trợ mạnh để làm áp lực bắt Triều đình Huế phải ký hòa ước 1862. Lúc này là lúc Nguyễn Trường Tộ trao cho Phan Thanh Giản câu thơ “Giặc ở Quảng Yên như cá ở trong chậu” tức không sống được lâu, sang năm Tự Đức 19 (1866) thì đảng của Lê Duy Phụng bị tiêu diệt hoàn toàn và Lê Duy Phụng bị bắt và xử tử.
4. “Lừa kêu”: Trích truyện của Liễu Tông Nguyên, nhà văn thời Đường, có kể là ở đất Kiếm vốn không có lừa, nhưng một người đã đem một con lừa từ nơi khác đến thả trong rừng. Hổ thấy lừa to lớn, thì tưởng là vị thần, nghe lừa hí thì sợ, nhưng rồi dần dần nghe quen, nên lại gần, lừa tức giận tung vó đá hổ. Hổ sấn tới nhảy lên cắn cổ lừa ăn thịt. Do đó câu thơ “Gia Định lừa kêu kế đã cùng” có nghĩa là bọn Pháp ở Gia Định cũng giống như con lừa ở đất Kiếm đã hí lên rồi thì tài năng cũng đã để lộ ra hết rồi, không có gì đáng sợ nữa.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:24:23 pm

Lại có một lần nữa, người Pháp bắt được bản ghi tên các nhà bá hộ ở Phước Lộc, Tân Hòa bấy lâu lén lút chở lúa gạo lương thực đến Phước Tuy như Phạm Cự Chung v.v... Tôi cũng đưa thay đổi cất giấu, nếu không thì mấy người này cũng không có đất mà ẩn náu nữa!

Còn như các hòa ước của hai bên trao đổi hàng chục lần thì trong chữ Pháp có chỗ nào nhục mạ không khiêm tốn, tôi đều bỏ hết không dám viết ra. Còn những công văn có lý thẳng lời hay có ích cho việc nước tôi đều dịch rất rõ ràng đầy đủ. Lúc ấy hòa ước tuy chưa thành nhưng tướng Charner cũng đã dần dần có thái độ hòa dịu, đã chịu bớt cho số bạc bồi thường và giảm số đất phải nhượng. Chẳng may, có một bận tôi có việc phải đi xa, quan Pháp vớ được một đạo công văn giao cho viên giám đốc người Pháp nhờ một người Hoa phiên dịch, trong có mấy khoản nói về việc treo giải thưởng cho những người chém được quân và quan Pháp. Tướng Pháp thấy thế, liền cho là Triều đình giả hòa. Tôi tuy đã nhiều lần giải thích, nhưng trong giấy lại có ghi ngày tháng làm căn cứ nên không thể làm sao được, trong lòng lấy làm lo ngại. Do đấy tướng Charner chán nản thất vọng thu xếp về nước.

Tôi lại gởi cho Nguyễn đại nhân một bức thư. Khi ấy tôi đã dò biết tướng Bonard sắp sang. Ba tỉnh sắp mất. Phía trong phong bì bức thư đó, tôi lấy bút chì mật viết mấy hàng: “Xin đại nhân phái gấp một người lanh lợi có trí nhớ tốt, đến chỗ ở của tôi, tôi có vài điều bí mật cần nói để người đó về trình lại, xin điều đình ngay để kịp cứu vãn tình thế”. Ở phía ngoài, mặt sau phong bì tôi có viết mấy chữ “Xin xem bên trong phong bì”. Nếu phong bì ấy còn đến ngày nay, thì hiện dấu chữ của tôi đủ làm bằng chứng. Không biết vì sao không thấy Nguyễn đại nhân phái người đến hỏi. Tôi mong đợi đến mấy ngày. Rồi tướng Charner xuống tàu về nước, để lỡ mất cơ hội ấy. Tôi đành ngậm ngùi than thở mà tự nghĩ rằng: Phải chăng ý Trời khiến thế? Người dẫu có cao mưu tài trí cũng không thể cưỡng được1. Đứng trước tình thế khó khăn ấy, nếu quả tôi là kẻ có lòng phản bội Tổ quốc thì sao tôi lại có thể cẩn thận suy nghĩ, bí mật lo liệu được như vậy? Kế đó tướng Bonard sang. Tôi thấy ông ta có những hành động nghịch lại việc bàn hòa. Tình thế đã khó lại khó thêm, tôi mới quyết ý xin thôi không làm việc nữa. Họ không chịu xét2. Tôi nhất định từ, không nhận bổng lộc. Ai cũng chê cười tôi là ngu. Mặc dầu họ có sai người đến cố nài ép trao cho tôi, tôi cũng bỏ đi lánh mặt. Thấy lòng tôi quyết định, chí tôi vững chắc họ lại đem quan chức ra dụ tôi. Tôi nói: Nhận quan chức thì được bổng lộc, không nhận thì dù bần cùng đến phải làm đứa ăn xin cũng thà làm đứa ăn xin chứ không chịu theo mà phụng sự cho họ. Câu nói này hiện có cố Hòa3 và những người lúc bấy giờ cùng nghe. Xem thế thì thấy tôi đã cương trực đến như thế nào. Hơn nữa, mỗi khi nói chuyện với những bậc trí thức, tôi đều nói đến những hành vi và chính sách hà khắc của họ. Tuy nhiên cũng còn giữ lễ của kẻ trượng phu nên chịu dám nặng lời, và ngay đối với hạng ngu phu nô dịch tôi cũng dùng lời lẽ nhẹ nhàng. Nhưng về sau đến lúc quá quắt không chịu được nữa (ở đây tôi đã dùng rất nhiều lời lẽ để nói), đã ví họ như người đàn bà mới về làm dâu, thói xấu tật hư chưa manh nha lộ dạng. Đối với hạng ưa chuộng quyền thế lợi lộc thì tôi bảo như thế là vì “miếng ăn mà không nghĩ gì đến tư cách của mình”. Đối với hạng người cho chúng là lớn mạnh mà sợ thì tôi giận ra mặt vào bảo như thế là “làm tăng trưởng nhuệ khí người ta, mà tự diệt uy phong của mình”. Đối với hạng người cho chúng là giàu có thì tôi mắng nhiếc rằng: “thứ ăn mày đến cửa nhà ai cũng chúc tụng”. Đối với hạng người cho rằng chúng có thế lực vững, có nhiều lợi thế hơn có thể chịu đựng lâu dài thì tôi bảo rằng “chuyện hưng thịnh suy vong là điều vô thường”. Tôi lại đem những lợi hại của phương Tây xa xôi ra so sánh để thấy rằng chúng mạnh chỉ là tạm thời mà dễ yếu, còn ta tuy yếu mà dễ mạnh được lâu dài. Đó là điều tôi thường đem ra tranh luận mãi không thôi. Xin hỏi những người chung quanh sẽ biết tôi nói có đúng không. Vì vậy, ngày trước tôi có đưa cho Phan đại nhân một câu thơ rằng:

“Khói lửa trời Nam rồi sẽ dứt,
Phương Tây binh giáp tạm hùng thôi”
4
_____________________________________
1. Đoạn chữ xiên “Đứng trước tình thế khó khăn... Xin hỏi những người chung quanh sẽ biết tôi nói có đúng không. Vì vậy” không có trong NAM PHONG và Hv 135.
2. Đoạn chữ xiên “Tôi nhất định từ... mà phụng sự cho họ” lại có trong Từ Ngọc Nguyễn Lân sđd trang 27.
3. Tức linh mục Croc, có tên Việt là cố Hòa, sau này là Giám mục giáo phận Vinh.
4. Nguyên văn hai câu thơ có chữ Ly hỏa và Đoài kim.
Ly hỏa: Ly ở phương Nam thuộc hỏa, ám chỉ việc binh đao ở nước ta có ngày sẽ khắc phục được; Đoài kim: Đoài phương Tây thuộc kim, ám chỉ nước Pháp tạm thời xưng hùng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:25:24 pm

Tôi nghĩ rằng thời kỳ khôi phục nước nhà đã có xác chứng ở bốn bể, dự tính được ở tương lai. Đi theo con đường nào mới được? Con đường phải theo không thể tìm ở trong nước mà phải tìm ở trong thiên hạ. Như trong tờ bàn về việc nên hòa năm xưa1, tôi đã mật trình với Nguyễn đại nhân rằng: một là mình phải khéo léo ngăn chặn đừng để họ tìm cớ sinh sự làm lan rộng ra; hai là hãy thong thả sắp đặt đợi lúc họ sơ hở; ba là để dân thư thái củng cố sức lực. Như đoạn cuối trong bài có nói: Dân đã yên rồi thì sau sẽ đưa những người tài hiền đi ra bốn bể để học tập các nước lớn những phương pháp tấn công, phòng thủ, phân tán, tập hợp. Ở chung với họ lâu ngày thì mới đo lường các đức tính, các lực lượng mà biết tình trạng của họ. Học được tinh thông rồi mới có kỹ xảo. Kỹ xảo giỏi thì mới mạnh, dưỡng uy súc nhuệ đợi thời mà hành động. Như thế thì tuy mất miền Đông mà lấy được miền Tây2 cũng chưa lấy gì làm muộn.

Còn như những điều mà Triều đình thâm mưu mật nghị cố nhiên không phải là những điều mà kẻ thảo dã này dám bàn luận ước lượng đến. Nhưng tình thế lớn trong thiên hạ biến đổi vô cùng, thường thường có những cái mà con người không tính trước được. Dù là thánh nhân cũng không thể không học mà hay. Huống chi ta với họ phương Đông và phương Tây, đường đất xa nhau, mắt chưa thấy tai chưa nghe, tình cảm chưa thông hiểu, sự cơ chưa rõ hình. Chưa ra khỏi nhà nửa bước, thì làm sao biết được họ? Cho nên, Mục công3 đời Tần tuy có Bách Lý Hề, Thúc Kiến, Mạnh Minh là những người hiền nhưng xảy đến sự thế Tây Nhung cũng phải đợi Dư Do báo tin rồi mới biết. Lẽ nào ở trong triều có ba hiền lương như bọn Lý Hề, Thúc Kiến, Mạnh Minh mà lại không bằng một Dư Do sao? Rõ thực con người dầu là trí tuệ cũng có chỗ không đủ, dù là thông minh cũng có chỗ không biết. Đến như Hán Cao Tổ không phải không thông minh, thế mà việc để tang Nghĩa Đế phải đợi Đổng Công nói rồi mới phát tang. Khổng Tử không phải là không có trí tuệ cao vượt, thế mà bị người dân quê bắt mất ngựa cũng phải đợi người giữ ngựa nói hộ rồi mới được trả lại. Đó là vì việc lớn trong thiên hạ không phải một mình có thể biết hết. Tính tình con người mỗi nơi mỗi khác, nếu không phải cùng nòi giống, không thể hiểu rõ được. Tôi tuy phận thấp hèn nhưng tình thế lớn dọc ngang trong thiên hạ, tình trạng lợi hại của những nước ngoài cũng đều biết sơ qua một vài điều. Từ lâu ôm ấp trong lòng chưa được nói ra! Cho nên trước kia tôi có đưa cho Phan đại nhân một bài thơ rằng:

“Dệt mướn thôn Tây chẳng phải nghèo
Khung cửi nhà người sẵn đấy theo
Gấm vóc cung Đông như hỏi đến
Kim vàng trân trọng nắn đường thêu”
4.
_____________________________________
1. Lời bàn về việc nên hòa (Hòa từ) là một bản văn của Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho Nguyễn Bá Nghi tháng 3-4/1861. Đây có thể là bản “Thiên hạ đại thế nguyên tập” đăng trên NAM PHONG số 100 tháng 11-1925.
2. Nguyên văn: “Thất chi Đông ngung, thu chi tang du” câu trong HẬU HÁN THƯ, Phùng Dị truyện. Ý nói mất miền Đông (mặt trời mọc) mà lấy lại miền Tây (mặt trời lặn).
3. Mục Công, vua nước Tần đời Xuân Thu.
4. Bài thơ này ngụ ý nói rằng: Cũng như những cô gái đi dệt thuê ở thôn Tây không phải vì nghèo mà vì muốn học nghề để có thể dạy cho đồng hương nếu cần, Nguyễn Trường Tộ đi với Tây cũng không phải vì nghèo mà vì muốn học hỏi để giúp Triều đình nếu Triều đình cần đến.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:26:19 pm

Tôi lại đưa cho Phan đại nhân mấy câu:

“Mặt trời cho dẫu không soi đến
Hướng Dương xin vẫn nếp hoa quỳ”
1

Xem đấy cũng đủ thấy tấm lòng nhiệt huyết của tôi.

Trước kia cũng có một lần Hiệp lãnh Phạm đại nhân2 đến chỗ ở của Giám mục Hậu3 tôi thấy đại nhân có lòng lo cho việc nước bảo vệ công lý, hỏi han ân cần chu đáo. Thấy vậy tôi mừng thầm và xin hẹn với ngài hôm nào cải trang ăn mặc thường đến chỗ tôi ở để tiện việc mật trình. Nhưng lúc bấy giờ vì quan Pháp nghi ngại Phạm đại nhân quá lắm, đề phòng rất kỹ càng. Tôi sợ việc lộ ra sẽ lụy đến đại nhân nên phải có thái độ giấu đầu che đuôi. Rồi không biết Phạm đại nhân nghi ngờ làm sao đã không đến chỗ tôi ở. Tôi thất vọng vô cùng.
_____________________________________
1. Có ý nói rằng: Tuy Triều đình không dùng, nhưng lòng tác giả vẫn luôn hướng về Triều đình, lo toan đến quốc sự.
2. Tức Phạm Phú Thứ.
3. Tức Giám mục Gauthier, có tên Việt là Hậu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:27:54 pm

Xem mấy việc trên đủ biết dụng tâm sâu kín của tôi như thế nào. Nay ở Gia Định, những người ở trong tình cảnh đáng lo sợ, trừ các thuộc quan nhỏ của Triều đình ra, chỉ có mình tôi mà thôi. Vì lúc trước tôi có đi với người Pháp, bất đắc dĩ phải làm cái việc thân ở Hán tâm ở Hàn. Về tình tuy không thẹn, nhưng ai thấu rõ nguồn cơn? Xưa nay những người sa chân lỡ bước lưu lạc tha hương cũng nhiều. Tuy sống ở đất khách nhưng người nào chả có gốc, ai lại vong tình cố quốc được. Về sau cũng có người nhân đấy lập công, cũng có người suốt đời sống lưu lạc, nhưng cả hai đều không tránh được công luận để án lại nghìn thu. Tôi mỗi lần đọc thư trả lời của Lý Lăng1 gởi Tô Vũ không lúc nào không rơi lệ rởn tóc. Thật là một lần sa chân lỡ bước mà nuốt hận suốt đời. Những lúc gặp phải cảnh trái ngược như thế thật là khó xử trí. Bởi vì trong danh giáo hạng người biết xét rõ nguồn cơn để rộng lượng khoan hồng, biết đặt pháp luật ra ngoài mà xét theo tình để không hà khắc, biết viện những lý lẽ trong pháp luật ra mà bênh vực kẻ cùng đường lỡ bước, chẳng qua chỉ được một hai người. Còn những kẻ chỉ biết nhìn và coi trọng việc trước mắt thì có đến hàng nghìn hàng vạn. Cho nên, hễ hợp nhau thì tuy nói là sơ nhưng lại càng thân, còn việc đã nghịch nhau rồi thì dù nói thật cũng nghi. Thế thường nhân tình là vậy. Bởi thế những kẻ sĩ khi gặp cảnh trái ngang, thường thường thân bại danh liệt, lưu lạc không về, luống đem khí uất ức lâm ly mà vùi chôn nơi cát vàng cỏ úa mà thôi. Đấy chính là sự thế của tôi ngày nay. Cảnh ngộ tuy có khác nhưng bản lĩnh của tôi không vì hoàn cảnh mà đổi dời. Nương thân nơi cửa người nhưng thề quyết không bày mưu cho họ. Như năm trước tôi có gởi cho người bạn Trung Quốc một câu thơ rằng:

“Ngụy Tào sống gởi: Từ Nguyên Trực
Tần Lã không thờ: Lỗ Trọng Liên”
2.

Cũng có lúc nghĩa khí ở trong lòng vì sự tức giận mà bộc lộ ra. Anh em bạn của tôi cho rằng, đã có cái chí khí như vậy sao không bí mật làm nội ứng? Ý ấy trước kia tri phủ họ Phan cũng đã nói đến. Tôi đã lấy câu hỏi của Dự Nhượng3 rằng: “Không muốn làm việc dễ mà làm việc khó” để trả lời và xin đợi đến ngày sau sẽ biết. Xem thế đủ thấy thâm ý của tôi là giữ lấy cái chính không dám làm điều sai lầm. Nhưng điều dụng tâm kín đáo khó khăn của tôi bị nhùng nhằng trở ngại, lại càng gay go hơn thế nữa.
_____________________________________
1. Lý Lăng, một viên tướng thời Vũ đế nhà Hán, cầm quân đánh nhau với Hung Nô, nhưng vì thế yếu lại không nhận được viện binh nên buộc phải tạm đầu hàng. Vũ đế được tin Lý Lăng đầu hàng đã giết vợ con họ hàng Lý Lăng. Sau Tô Vũ đi sứ sang Hung Nô, Lý Lăng viết thư cho Tô Vũ kể hết nỗi lòng.
2. Nguyên văn:
    Ký thân Tào thị, Từ Nguyên Trực
    Bất đế Dinh Tần, Lỗ Trọng Liên.

    Đời Tam Quốc, Từ Nguyên Trực theo Lưu Bị, bị Tào Tháo bắt mất mẹ, nên phải về theo họ Tào, nhưng nhất định không bày mưu cho họ Tào.
    Đời Chiến Quốc, Lỗ Trọng Liên cho nước Tần là man rợ, nên không chịu tôn Tần Thuỷ Hoàng làm Hoàng đế. Ông nói: Thà nhảy xuống sông mà chết chứ không chịu làm dân nhà Tần.
3. Dự Nhượng, người nước Tần, thời Chiến Quốc, đồ đệ của Trí Bá, Trí Bá bị Triệu Trong Tử gỉết, Dự Nhượng làm đủ cánh để cải trang nhằm giết cho được Triệu Trương Tử.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 07:28:56 pm

Từ lúc tôi lớn lên, bước chân ra xứ khác, chẳng được Triều đình biết đến, thế mà không sợ phạm tội, quên mình là kẻ hèn mọn dám nói đến việc cao xa, chẳng tránh hiềm nghi dám trình bày lợi hại. Như thế thật là ngạo mạn. Đó là tội thứ nhất.

Ở Triều đình tôi không có địa vị, yến tiệc tôi không dự. Những việc trọng đại tôi không có liên quan gì, thế mà không biết giữ mình sống bấp bênh theo chúng là hơn. Huống chi ở trong vòng của quân địch mà lại ôm chí khác. May ra dẫu thành công cũng không tránh khỏi sự chê bai. Như trường hợp vợ cũ của Mãi Thần quay đầu trở về xin chịu tội1. Cho dù lượng bể bao dung cũng chưa chắc không khỏi có điều lo ngại về sau. Lỡ ra lòng người khó chắc, sa cơ bại lộ thì thân chịu một mình, nào ai biết đến. Thế thì tội gì mà làm như vậy? Đó là tội thứ hai.

Xưa nay những kẻ trung thần nghĩa sĩ, ai chẳng muốn đem tài ra giúp nước. Nhưng một mai việc không thành bị dèm chê thì thân danh bại hoại sự nghiệp tiêu tan. Huống gì tôi ở vào hoàn cảnh khó biện bạch, dễ bị nghi kỵ, mà lại làm việc vượt ngoài phạm vi của mình, không biết giấu tên che dạng để cầu toàn thân lại còn đem thân hèn mọn hiến dâng ý kiến. Một giọt nước bổ ích gì cho núi sông? Sao mà ngu vậy. Đó là tội thứ ba.

Vì tôi là kẻ tự biết rõ mình, thấy mình một cách chính xác, bao nhiêu những việc thế tình nham hiểm, hoạn hải ba đào không việc gì không biết, nên mới cam tâm chịu ba tội ấy. Chuốc lấy mối lo không phải thuộc phận sự của mình, ôm lấy những việc khó làm, chí đó mới có thể giữ được. Người xưa xét người không xét ở thành bại mà xét ở chỗ có hay không có tấm lòng. Có lòng mà gặp thời đắc dụng là điều may. Có lòng mà gặp phải trắc trở luân lạc, là điều không may. Có lòng mà gặp thời không tốt, đến phải cô quạnh không chốn nương thân lại còn mắc tội, là điều rất không may. Nhưng nếu lấy điều khoan dung nhân hậu mà xét, thì nhìn vào lầm lỗi của một người có thể biết được lòng nhân hậu của người đó. Huống chi tôi nay như con cá voi ở giữa bể, trong gia đình không hệ lụy vợ con, ngoài xã hội không lo bị kìm chế, thế mà biết nhớ về cố đô, căm giận quân thù. Cho dầu một ngày kia may mà thành sự, tôi vẫn biết khó tránh khỏi lời dị nghị mà yên thân được. Hơn nữa tôi cũng biết rõ rằng tội trước khó chuộc và kẻ có tài thì dễ rước lấy tai ương. Tôi vốn là người hiểu sâu đạo giáo. Việc đời được mất vinh nhục tôi đều xem như ngoại vật, chỉ cần bảo toàn lấy cái điều rất quý ở nơi mình là đủ rồi, nhưng thấy người có việc bất bình cũng phải tuốt gươm cứu giúp, mà bản tâm không mong người đó báo ơn. Chỉ khi nào không mong người báo đáp người ta mới làm được những việc phi thường, khẳng khái. Hơn nữa, tôi còn thấy một cái gì cao thượng hơn sự so đo đền ơn trả nghĩa theo cách thường tình ở đời. Như trước kia tôi đã thiêu hủy cả một tập văn thư có ghi tên Phạm Cự Chung đó là một chứng cứ. Ngoài ra những việc làm như minh oan cứu người, nói những lời lợi cho nước thì không thể kể hết. Tôi vốn không có trách nhiệm về việc công, không mong khen thưởng, không mong báo đáp sau này, mà làm được như thế, không phải là khác hơn người đó sao?

Xưa, Đông Phương Sóc dâng thư tự tiến cử mình, toàn khoe khoang những tài năng bản lĩnh của mình không hề giấu giếm tý nào. Tôi tuy khôi hài hoạt kê không bằng Phương Sóc nhưng thâm hiểu nhân tình thế thái, biết rõ điều lợi hại, những đạo lý cao xa, những điều bí ẩn tinh vi, so với Phương Sóc còn có phần hơn, cho nên không sợ ghen ghét nghi ngờ cứ nói ra hết thảy, để thấy rằng kẻ sĩ trong thiên hạ không bị ràng buộc thì cách cư xử của họ thường vượt ra ngoài khuôn sáo. Thế thì không nên lấy cái luận đoán thường tình mà câu thúc họ, để rồi khiến cho họ cũng sẽ chết già trên mặt biển, cũng buồn thảm như những người xưa mà thôi.

Cúi xin đại nhân lấy quan niệm cao cả rộng lượng mà vượt ra ngoài những xét đoán hẹp hòi, thương kẻ vong thân bất hạnh này, bỏ qua những hình tích bề ngoài mà xét thấu tấm lòng thành của tôi. Nếu như đại nhân vui lòng nhận những lời lẽ vụn vặt này, tôi kính xin dâng mấy bài Thiên hạ phân hợp đại thế luận, Tế cấp luận, Giáo môn luận,... để cho ngụm nước nơi vũng chân trâu nhờ sông ngòi có thể chảy thấu ra biển cả. Được thế thì nước đó qua trăm dặm may ra có thể giúp được ít nhiều. Như thế, tôi dẫu chết vùi nơi chốn mường mọi cũng tỏ được tấm lòng không quên nguồn gốc.                                                                         

Muôn nhờ ơn. Kính bái.
_____________________________________
1. Chu Mãi Thần, đời Hán, nghèo bị vợ bỏ. Sau ông được làm quan, vợ xưa trở lại, ông lấy bát nước đầy đổ xuống đất và bảo vợ nếu múc lại đổ đầy được, ông chịu tái hợp.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 11:30:55 am

DI THẢO SỐ 4

Kế hoạch duy trì hòa ước mới *

(Khoảng 11-17 tháng 2 năm Tự Đức 17 tức khoảng 18-24 tháng 3 năm 1864)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin kính bẩm,

Sự thế hiện nay rất khó xử, cần phải tìm người giúp, bủa lưới bốn mặt, để họ không được hoành hành, thì bản minh ước1 mới lâu dài được, phải lấy kinh nghiệm các nước khác đã bị trúng ám kế của họ để làm gương, và bắt chước những mưu mô mà các nước khác đã chế ngự được họ. Hai lối ấy là việc rất gấp cho tình thế hiện nay. Tôi đã trình bày sơ lược với hai vị phó sứ và bồi sứ2 rằng việc ấy mười phần chắc chắn không nghi ngờ gì nữa. Vì họ nghĩ rằng nước ta từ trước chưa bao giờ giao thiệp với nước ngoài, chưa hiểu rõ các mánh khóe nên họ mới dùng những kế đã thi thố ở các nước khác ra thi thố với ta. Nếu đại nhân3 đã có mưu kế riêng rồi, thì tôi không dám bàn nữa. Còn nếu muốn mưu tính việc thiên hạ, khiến những bọn ghét nhau tự xâu xé lẫn nhau, để ta được nhân đó mà hưởng lợi, như xưa kia Anh mất Hợp Chủng Quốc là vì có nước Pháp xen vào; Khang Hy được chia bờ cõi với người Nga vì bị Hà Lan dụ dỗ; Nhã Điển khỏi bị thần phục Thổ Nhĩ Kỳ vì có Anh, Pháp giúp đỡ. Các nước Nhật Nhĩ Man4 khỏi bị thôn tính là nhờ có các nước lớn giữ cho. Lý do vì sao được như thế, trong tờ trình bày tháng trước tôi đã bẩm qua rồi. Cúi xin đại nhân soi xét tấm lòng thành đem việc chuyển tâu lên. Nếu ngày kia có việc5, tôi xin được phụ giúp, tôi cũng có thể trình bày một vài ý kiến để chuộc tội trước.
______________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/13 tờ 63-71 và Hv 634/3 tờ 34-46.
    Hai bản hoàn toàn giống nhau, chỉ khác một vài chỗ sai sót của người chép.
    Về niên hiệu thì chỉ có Hv 634/3 ghi “Tự Đức 23 với đầu đề “Điều trần hiện tình” Nhưng qua nội dung, chúng ta có thể đoán chắc rằng bài này được viết gởi Phan Thanh Giản vào khoảng giữa tháng 2 năm Tự Đức 17 tức hạ tuần tháng 3-1864.
    Thực vậy, chúng ta biết là Phan Thanh Giản, cùng với hai phó sứ và bồi sứ, Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản, đi sứ ở Pháp về, mang theo một bản dự thảo Hòa ước, thay thế cho Hòa ước 5-6-1862. Theo dự thảo Hòa ước mới: Pháp trả lại cho Việt Nam ba tỉnh phía Đông và chỉ giữ lại một vài địa điểm làm nơi buôn bán. Ngược lại, Triều đình Huế phải trả cho Pháp một khoán tiền bồi thường rất lớn hằng năm. Phái bộ Phan Thanh Giản, phải lưu lại Sài Gòn từ 11 đến 17 tháng 2 năm Tự Đức 17 tức từ 18 đến 24 tháng 3 năm 1864, trong lúc chờ tàu trở về Huế.
1. Bản minh ước: Tức bản dự thảo Hòa ước mới được thương thuyết tại Paris giữa phái bộ Phan Thanh Giản và Aubaret cuối năm 1863.
2. Phó sứ và bồi sứ: Tức Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản.
3. Đại nhân: Tức Phan Thanh Giản, Chánh sứ.
4. Nhật Nhĩ Man: Tức liên minh các nước Đức (Confédération du Rhin).
5. Việc: Đây là việc đi giao thiệp, thương thuyết hay đi ra nước ngoài theo như kế hoạch được trình bày trong bài văn này.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 11:33:49 am

Hiện nay tôi muốn đi qua kinh đô nước Anh. Nhân nước Anh có mở đại hội cách trí, họ thường sai người đi khắp các nước đến các đầu phố phỏng vấn về tình hình người phương Tây giao tế với các nước khác như thế nào (Việc này có tương quan đến đại thế tung hoành, phân hợp của các nước). Người này đến Gia Định, phỏng vấn người Pháp gần đây thế nào, Đại Nam thế nào, nhưng người Pháp không chịu nói sự thật. Y nghe tiếng tôi, tự đến hỏi thăm. Thật tình có bụng muốn gặp nhau nên nhân y muốn mời tôi cùng đi, tôi mừng thầm cho đó là cơ hội tốt khiến tôi có thể đến tận nước Anh, như trong tờ mật bẩm ngày trước tôi đã nói lý do cần đi nước ngoài là vì thế.

Vậy cúi xin đại nhân cho tôi mượn bộ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ (tại sao lại cần dùng bộ sánh ấy, tôi đã nhờ hai vị phó sứ, bồi sứ chuyển trình rồi). Nếu được đại nhân cho mượn, thì xin giao cho người thông ngôn của hỏa thuyền (Ngoài bì nhớ đề: cố Hòa1 ở nhà Phước nhận) cầm về cho tôi. Khi nào xong việc, xin trả lại tử tế. Muôn đội ơn đại nhân.

Nếu có việc gì ở nước ngoài, cần dùng đến tôi, thì xin cho biết gấp, tôi xin đợi ở Gia Định. Không thì tôi xin đi trước. Hoặc đi hoặc ở lại, xin theo ý định của đại nhân.

Tháng trước, tôi đã bẩm lên quan Thượng thư bộ Binh biết rằng: Họ muốn làm kế bưng tai ăn trộm chuông, cho nên gấp rút phái thuyền đến Kinh xin hoàn thành công việc2. Đấy là mưu kế độc ác. Có hai lẽ (Hai lẽ ấy tôi đã bẩm rõ rồi). Vả lại trong tờ hòa ước họ có buộc một điều kiện là: “Có thuận cho thi hành mới được thi hành” 3, chính là mưu ngăn chặn người khác chia lợi với mình sau này vậy. Vì gần đây các nước ký hòa ước chung với phương Tây, phần nhiều đều có các nước cùng chứng vào, nên khó bề tự ý muốn làm gì thì làm. Chỉ có lần này họ đem kế ấy thi hành ở nước ta. Họ biết chắc chắn thế nào ta cũng sẽ vi phạm trước. Ý họ muốn mượn cớ đấy để phía Nam lấy Cao Miên, phía Bắc thông lên Vân Nam (Họ nghe nói tơ Vân Nam tốt nhất thiên hạ, lại nghe Hải Dương có mỏ than) chứ không phải chỉ vì ba tỉnh mà thôi.
______________________________________
1. Cố Hòa: Tức linh mục Croc, lúc đó làm thông ngôn cho Pháp và linh hướng cho các bà dòng Thánh Phaolô (Nhà phước, phúc gia).
2. Xin hoàn thành công việc: (Cầu thành giả) Tức việc phái bộ Bonard đến Huế tháng 4-1863 để làm lễ trao đổi bản Hòa ước đã được vua nước Pháp và vua Tự Đức phê chuẩn.
3. Thuận cho thi hành mới được thi hành: (Doãn hành tắc hành): Đây là điều 4 của Hòa ước 5-6-1862, trong đó có quy định rằng: Khi vua nước Nam có ký hòa ước, trong đó có vấn đề xét nhượng đất cho một nước khác, thì vua nước Pháp có đồng ý mời được ký kết, không cho ký kết thì không được ký kết. (Đại Phú Lăng Sa Hoàng thượng doãn hành tắc hành, bất doãn hành tắt bất hành).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 11:34:48 am

May phen này (Người Anh nghe họ thông thương với Cao Miên rất giận) Triều đình ta cương quyết sai sứ sang Tây, họ tưởng là ta đã khám phá được âm mưu của họ rồi (Vì nước họ có hai đảng: Một là Viện Công Hầu, một là Viện Thứ Dân; Viện Công Hầu thì hay bợ đỡ ý vua, còn Viện Thứ Dân thì cho việc ấy là bức hiếp người ta, vì nước ta chưa có sai lỗi gì lớn, mà làm như thế là chưa hợp nghĩa; vả lại Viện này nhiều người có thiện cảm với đạo giáo, cho là nếu gây sự càn bậy, sợ thiên hạ chê cười, cho nên dư luận xôn xao không thuận. Nay ta muốn mưu việc cũng phải ngầm thông với Viện này mới được; nếu cần ngầm thông, cũng phải tốn nhiều công sức, biết nhiều ngõ ngách, nay chưa bàn đến kịp). Cho nên họ làm kế tạm cho lại (Kế này 200 năm trước, người Anh đã thi hành ở 5 xứ Ấn Độ, người Anh thấy lòng dân chưa phục, nếu hiếp chế phải tốn kém nhiều sức binh lính, cho nên giả vờ không tham mà trả lại, chỉ dùng thổ quan thay họ cai trị. Sau đó họ hết sức dụ dỗ, và lấy của tốt mua lòng. Lúc đầu, thấy thổ quan còn có lòng vì nước, họ cũng giả làm không nghe biết. Rồi lâu ngày sinh tệ, vì tính con người ta chưa thoát khỏi niềm tục, ít người không bị của cải mua chuộc; vả lại dần dần đút lót đưa vào cũng vì nể nang, mà dễ xiêu người; lâu ngày về sau, phân nửa bọn thổ quan, đã bị họ lợi dụng. Huống hồ họ lại đã am hiểu phong thổ, nên sau chỉ cần đánh một trận là tiêu diệt; trong đó cũng có bọn muốn làm Hoàng Sào1 chống lại, nhưng khi sức họ đã đủ bao trùm hết, thì dù có Hoàng Sào cũng nuốt luôn).

Họ trả lại cho ta một là vì danh nghĩa ép buộc (Điều này ngày trước tôi cũng đã bẩm lên quan bộ Binh biết rõ. Xin đợi đến khi về Kinh xem lại kỹ càng).

Hai là để lấy lòng (Điều này chưa dám nói rõ).

Ba là tạm mua hư danh, rồi sẽ thong thả thực hiện ý đồ (Tôi đã từng dò biết được chắc chắn không sai, họ cũng bàn bạc với nhau rằng: Sứ bộ nước Nam đã sang, mà ta cứ giữ khư khư không cho, sợ sinh sự không tốt đẹp, như mấy việc tôi đã nói ở trên. Vả lại họ giữ chưa được vững, sợ người khác giúp ta, âm thầm chẹn họng họ. Chi bằng bề ngoài giả tiếng là cho chuộc mà nâng cao giá lên. Nếu ta chịu hết điều kiện, thì hiện nay họ được lợi. Ngày sau ta không khỏi trái ước. Lúc ấy hai mối lợi họ đều được, mà ta thì không có lời lẽ gì để bộc bạch với thiên hạ, họ mới có thể giữ được bền vững lâu dài, như việc người nước Anh trước kia. Hoặc là muốn ta cho sự thề ước quá nặng, lại tưởng ta không biết đường lối, khó tìm được người giúp đỡ, chỉ cứ lúng túng lấy nặng nhẹ làm điều, kéo dài ngày tháng. Hoặc ta nghi ngờ mà không chịu, hay chịu mà không theo đúng lời họ yêu cầu thì họ sẽ có lời lẽ với thiên hạ, mà cái cớ để lấy lại càng thêm vững chắc. Điều ấy trong ý họ tính được bảy phần. Trước đây, những điều ta chịu hết, trong ý họ chỉ có ba phần. Hai điều ấy, ta rất khó xử trí. Các nước đã từng bị kế độc ác ấy của phương Tây. Nếu nói rằng họ đã mệt mỏi mà trả đất lại cho ta, thì hiện nay chưa có khả năng như thế).

Nhưng mà muốn nên việc lớn, phải tranh giành hàng trăm năm, chứ không phải chỉ tranh giành một lúc mà được. Họ dòm ngó đất ta, cầu thành công sau vài mươi năm, thì ta muốn trấn áp được họ, cũng phải cầu hiệu quả sau vài mươi năm, chứ không thể một lúc mà được. Họ đã lấy được Gia Định, tự cho là nơi thiên nhiên hiểm trở, có thể đua đuổi với người Anh. Có điều là ta phải biết xử khéo đừng để cho lan rộng ra.

Vậy một là phải tìm được ngoại viện để phá mưu của họ (Điều này có nhiều chỗ cơ yếu, khó nói vắn tắt được).

Hai là phải tìm những tụi du côn của nước nào có giao hiếu với họ, âm thầm đến nước ta (Tuy bọn chúng cũng có nhiều người muốn theo ta nhưng ta chưa biết tìm đường đấy thôi. Còn như bọn vô lại các nước, ở tản mác khắp nơi, cũng có nhiều người rất là mạnh khỏe gan dạ. Nếu ta biết khéo dùng thường thường được chúng ra sức liều chết. Tôi đã biết hạng người ấy mang tội phiêu lưu, không cần gì ở trên đời này cả. Chỉ cần được no ấm khoái lạc thì dù có chết cũng không từ. Nếu ta dùng được thì có lợi rất lớn) để gieo lòng nghi hoặc cho họ.

Ba là phải học hết các món khôn khéo của họ, mà trong khi qua lại giao tế, phải nhượng cho họ ba phần. Đại phàm đem chuyện phi lý mà buộc cho người, tất nhiên phải có dựa vào một lý lẽ nào đó. Nếu ta không có điều gì để họ có thể chấp lý được thì chắc chắn họ phải im không dám hành động gì. Cứ bủa vây bốn mặt rồi chờ khi có tệ (Tệ này tôi đã dự đoán không sai, 10 năm sau sẽ thấy) mới có thể mưu đồ được.
______________________________________
1. Hoàng sào: Người đất Oan Cú, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc nổi lên đánh đuổi vua Hy Tây, nhà Đường (862-877) lên làm vua.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 11:35:43 am

Tôi xem qua các nước từ 500 năm lại đây, sở dĩ chế ngự được họ, không ngoài ba điều trên và ít nhất cũng phải dùng đến hai điều. Nếu không có ba điều ấy, từ trước đến nay, tôi chưa thấy có mưu chước gì được cả. Nhưng thời khác, thế khác. Hiện nay bí quyết chống giặc của Triều đình đã có những bậc tài trí như thánh nghĩ ra, đâu phải hạng hèn mọn như tôi có thể suy đoán được. Nhưng đại nhân có lòng hạ cố, nên tôi tự nghĩ, nói mà được việc, thì dù có tội cũng cam lòng. Mong sao những dòng nước nhỏ được chảy xuống bể, dầu không bổ ích gì, nhưng cũng được có chỗ để hướng về.

Tôi xin đem hiệu quả có thể thu được ở điều thứ nhất mà tính để mừng trước. Còn như đi đường ngõ nào, thì trên Triều đình đã có sẵn kế hoạch, tôi đâu dám vượt phận mà nói càn.

Xưa vua Đạo Quang nhà Thanh đã từng nói: Chước chống rợ giặc, hay nhất chỉ có một đường là “dùng rợ đánh lại rợ”. Nhưng vì họ lại lấy việc tự hạ mình làm xấu, cho nên chưa thấy công hiệu lớn của chước ấy. Có điều thấy rõ là người Nga sở dĩ không dám ở yên đất Mông Cổ, vì nhờ nước Hà Lan; Nhật Bản bị đuổi ra ngoài bể cũng bởi Bồ Đào Nha. Còn các nước khác đã được hiệu quả như vậy, không thể kể hết.

Tôi xét thấy sự thế hiện nay chỉ người Anh có thể cộng tác được với ta. Vì Anh và Pháp có mối thù truyền kiếp. Nay người bác của vua Pháp bị người Anh đày ở ngoài một đảo xa xôi, người Pháp lấy làm xấu hổ.

Người Anh mất Hợp Chủng Quốc do Pháp hất cẳng; người Pháp sở dĩ tạm thời hợp tác với người Anh vì người Anh giỏi về đường biển. Nay nếu có đánh nhau thì người Pháp chỉ giỏi về đường bộ, không thể biến hóa được (Khoản này có nhiều điều lợi hại, nhưng không quan thiết đến ta, nên không nói kỹ làm gì). Vả lại, người Anh hiện đã làm chủ được tình thế phương Đông, hơn gấp 10 Pháp, cho nên Pháp phải miễn cưỡng hòa thuận với Anh. Nhưng tính người Pháp hay kiêu điệu, lại hay nghe dèm pha, nên càng dễ ly gián. Người Anh tuy giữ được nhiều nơi, nhưng chưa chỗ nào hiểm trở bằng Gia Định. Nay nếu Pháp lấy được Gia Định thì sẽ bất lợi cho mình. Nên nếu có cơ hội thuận tiện, lẽ nào người Anh bỏ qua. Nay nếu ta tỏ ý cầu viện người Anh, thì cũng dễ nói. Đấy là một điều lợi.

Vả lại nước Pháp vài năm sau tất sẽ có nội loạn, mà thuộc địa Anh lại nhiều chỗ gần thuộc địa Pháp. Gia Định đã là nơi thiên nhiên hiểm trở, mà từ lâu người Anh hận người Pháp đã chiếm được, thì sự muốn cướp giật lại càng sâu sắc. Sợ một ngày kia, Pháp bị nội loạn, không quan cố được nơi xa, rồi đem chỗ này đổi lấy chỗ kia, thì liệu ta có khỏi cái nạn đuổi hùm cửa trước, rước sói cửa sau không? Cho nên người quân tử lo mưu phải nghĩ lâu dài đến con cháu về sau. Nay nếu ta thông hiếu với người Anh, thì ngày trước họ đã mưu với thiên hạ để ngăn trở người Pháp, để tỏ việc họ làm là giúp người hoạn nạn, gỡ việc rối ren, mai sau chẳng may sự thế đổi thay, thì họ làm sao bưng được hết mắt thiên hạ, ngồi ỳ ra mà thuận chịu đổi chác với người Pháp? Thiên hạ lẽ nào lại không có người như người Anh đứng chực đằng sau hay sao? Ngăn trước, phòng xa, đấy là hai điều lợi.

Hiện nay người Pháp muốn làm giúp ta với ý đồ mờ ám (điều này không cần nói rõ cũng hiểu) như năm trước họ đã thi kế ấy với nước Rôma1. Nếu xong việc thì được hưởng nửa phần lợi. Nếu việc không thành thì vạ có người khác chịu. Nay nếu ta ngầm nhờ người Anh dò xét, chẳng may việc có bại lộ ra, thì người Anh với ta đã có lý lẽ để nói với thiên hạ. Rồi sau lấy việc đó mà trách người Pháp, sự trái đã có nơi chịu. Nhờ người giúp ta, đó là việc ngay thẳng mà dễ nói (Điều này sẽ dẫn đến nhiều việc quan trọng, nhưng chưa thể trình bày). Được thế thì chẳng những miền Bắc yên, mà miền Nam cũng có thể khơi dậy được. Đấy là ba điều lợi.
______________________________________
1. Với nước Rôma: Tức việc Napôlêông (Napoleon) III đem quân sang giúp Giáo hoàng giữ đất Rôma của Tòa Thánh.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 11:36:51 am

Người Pháp với ta, sự việc chưa biết đến đâu là cùng. Gần đây, nhiều khi người Pháp cũng mời người Anh cùng đi đôi với họ. Nếu nay ta không gấp rút thông hiếu với người Anh trước, vạn nhất ngày sau lại sinh chuyện, mà Pháp với Anh đã đi đôi với nhau rồi, thì ta chịu sao nổi? Nay nếu ta biết liệu trước sẽ có thể giao hảo được với người Anh, thế thì dù sau này có xảy ra việc gì ắt họ sẽ một là sợ danh nghĩa, hai là vì cảm tình mà hòa hoãn. Đấy là bốn điều lợi.

Người Pháp tuy tự khoe khoang giàu mạnh, nhưng so lực lượng cũng đã chịu nhường người Anh. Nay nghe ta thân thiện với người Anh, ắt biết ta sẽ lập mưu ngăn cản họ. Nay nếu người Pháp đem nhiều lời ly gián, thì lại sợ người Anh thấy rõ tâm địa mà chê cười. Tuy người Anh chưa công khai giúp ta, nhưng người Pháp cũng đã biết, nếu có hành động gì, chắc người Anh cũng sẽ ngầm báo tin cho ta. Và mối thù ngày trước, to như núi; lúc nào người Pháp cũng lo ngay ngáy sợ người Anh kết hợp với ta. Lần trước Pháp giao kết với Nga toan để ngầm chống Anh, nhưng nay đã sinh hiềm khích và tự biết bị cô lập. Lúc bấy giờ nếu muốn được họ chuyển nặng sang nhẹ cho ta, thì cơ hội cũng dễ. Đấy là năm điều lợi.

Trước đây vào khoảng năm Gia Khánh nhà Thanh, bác vua Pháp bấy giờ gọi là Napôlêông, xuất thân từ trong binh lính nổi lên, giam Y Pha Nho, hãm Áo Đại Lợi, đốt Nga La Tư, phá Hà Lan, hiếp Ý Đại Lợi, đánh Ách Nhật Đa, cướp Nhật Nhĩ Man, xâm lăng Anh Cát Lợi. Các nước phương Tây không nước nào không bị độc hại. Đến nay các nước vẫn còn tức giận. Vả lại, người Anh tuy nói cộng tác với Pháp, nhưng chỉ vì lợi ích mà hợp tác thì làm sao lâu dài được? Gần đây, nước Anh lại sắm sửa binh thuyền, gấp ba người Pháp trong ý luôn luôn muốn trả mối thù mất Hợp Chủng Quốc. Giả sử thời cơ đã đến mà có ta ở trong đó nói ra nói vào, khéo điều đình khêu gợi, vạn nhất nổ chuyện ra thì Anh Cát Lợi chận đường thủy, Mặc Địa Lợi áp đảo đường bộ, Y Pha Nho bọc phía Nam, để trả cái giận làm chung mà chiếm lợi riêng một mình. Hà Lan, Bỉ Lợi Thì đón phía Bắc, Nga La Tư theo sau tiếp ứng. Ở phương Đông người Anh đem binh lính Ấn Độ chẹn đường về, còn ta thì ngồi mà hưởng lợi. Đấy là một mối lợi rất to.

Sáu món lợi1 kể trên là tôi hãy tạm lấy cái dễ thấy, cái công dụng lớn mà nói, còn như nhân việc mà xoay dần, tùy cơ mà chuyển bắt, thường thường nhân nhỏ mà được lớn, như các việc đã qua ở các nước Tân Thế Giới, khó có thể kể hết. Còn như sự sắp đặt của Triều đình, vốn không phải người ngoài thấy được.

Nhưng làm được sáu điều lợi trên, dĩ nhiên còn có nhiều đường lối tùy sự thế mà xoay chuyển, không thể bàn nhất định trước được, sợ vướng vào gàn dở, không dám dài dòng.

Nay kính bẩm.


______________________________________
1. Sáu điều lợi: Trong bài Lục lợi từ (Di thảo số 5), sau này Nguyễn Trường Tộ sẽ triển khai rộng hơn 6 điều lợi này.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:34:24 am

DI THẢO SỐ 5

Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh

(Dụ tài tế cấp bẩm từ = Lục lợi từ) *

(Tháng 5 Tự Đức 17 khoảng 20-6 - 18-7 năm 1864)

Trộm nghĩ, trong nước có nhiều việc, dân chúng phải lo gấp việc sinh sống mà ý trời giúp người lại ngoài ý muốn của người. Cho nên Mạnh Tử có thuyết: “Địch quốc ngoại hoạn” 1; tiên nho có câu: “Thiên tâm nhân ái” 2. Do từ việc người mà xem, các nước trong bầu trời, chưa nước nào không do có nhiều biến cố mà vượt lên xa được; từ đạo trời mà xem, lại càng kỳ diệu hơn. Tạo vật ban phúc cho con người, cái phúc đó cũng chỉ được dần dần, lớn dần dần, phải lâu ngày mới thấy. Người biết rõ lẽ trời sẽ không vì những điều lo buồn trước mắt mà oán trách trời. Vì rằng, tạo vật sinh ra muôn vật để cho con người sử dụng mà không tiếc một thứ gì. Chỉ vì con người phần đông chỉ thích nhàn không chịu ra sức sưu tầm phát hiện những của cải ẩn giấu, nên những thứ quý giá của rừng núi, biển cả, dưới đất, trên trời chưa được sử dụng hết.

Kể từ khi có loài người, loài vật đến nay đã gần 7.000 năm, thống kê số lợi hưởng trên mặt đất của cả thiên hạ chưa đầy 4/10. Vả lại, tạo vật sinh ra loài người đều do cùng một nguồn gốc như nhau cả. Thế mà ngày nay trên địa cầu, người văn minh thì ít người dã man thì nhiều, chẳng lẽ tạo vật lại có hậu đãi, bạc đãi khác nhau? Đó chẳng qua chưa đến thời mà thôi. Ví dụ như cha mẹ đối với con cái, đứa lớn thì bảo lập nghiệp làm ăn sinh sống, đứa bé thì phải dạy cho biết số mục, ứng đối... cứ tuần tự như vậy. Do đó suy ngược lại thì mọi ý định sắp xếp của tạo vật không có cái gì là không để tâm đến. Đấy chính vì muốn cho con người được mở rộng thêm trí thức, làm sáng tỏ thêm cái tinh anh của trời đất, tức là phú cho loài người một nguyện vọng không cùng, khiến loài người phải tìm kiếm những điều mới lạ hay ho. Tạo vật lại sợ con người yên phận thủ thường không chịu qua lại với nhau, nên về đất đai mới sinh ra có thổ nghi khác nhau, tốt xấu khác nhau để nhân đó giao thông qua lại với nhau, để người biết trước bày kẻ biết sau, để dã man biến thành văn minh, để giúp vào những việc mà tạo hóa chưa kịp làm, để nêu rõ cái công dụng kỳ diệu của linh tính loài người.

Nếu để cái thấy, nghe, ăn, nghỉ của con người, chỉ biết tuân theo tự nhiên như loài vật không có linh tri linh giác mà không giao cho con người quyền điều khiển vận hành thì làm sao phân biệt được con người linh hơn muôn vật? Vì vậy ở trên lục địa năm châu lại có biển lớn bao bọc bốn phía, có các sông lớn thông suốt trong các châu, nối liền các đồng bằng để xe thuyền đi lại, nhưng cũng có những hang núi cản đường, đèo ải chắn lối, khiến con người phải tự khai đường để thông đến những chỗ đất đai có của báu. Ở trên mặt đất, sự sắp xếp kỳ diệu của tạo vật như vậy rất nhiều không thể kể xiết.
____________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 2-23.
    Hv 634/4 tờ 78-127
    Hv 135 tờ 75-103.
    N. P số 119 trang 3-11
    Nếu so sánh các bản văn, chúng ta thấy:
    - Hv 189/1 và Hv 634/4 giống nhau hầu như hoàn toàn: Cả hai cùng chép sót một đoạn khoảng 237 chữ; cả hai cùng có đầu đề Dụ tài tế cấp bẩm từ, cả hai ghi ở đầu bài “11 tháng 2 năm Tự Đức 16”
    Có lẽ người chép Hv 189/1 và 634/4 tưởng lầm bản văn này là Tế cấp luận, là bản văn được gởi cùng với Giáo môn luận (11 tháng 2 Tự Đức 16). Nhưng bản văn này không phải là Tế cấp luận, bởi vì có trích dẫn Tế cấp luận. Nói “11 tháng 2 - Tự Đức 16” là quá sớm, bởi vì trong bài có nhắc đến bài Trần tình năm trước.
    - Hv 135 và N. P cũng rất giống nhau, chỉ có vài chỗ do chép sót, sắp chữ sai hoặc do nhà báo tự ý sửa chữa hay cắt bỏ: Cả hai cùng có đầu đề Lục lợi từ, nhưng lại không có phần cuối nói về sáu điều lợi; cả hai cùng ghi ở cuối bài: “Ngày 23 tháng 7 năm Tự Đức 19”, có thể là do người sao lục chép lầm, bởi vì nói 23 tháng 7 năm Tự đức 19 là quá muộn, bởi vì trong Khai hoang từ (tháng 1 năm Tự Đức 19) đã có nhắc tới Lục lợi từ năm trước.
    Ông Từ Ngọc Nguyễn Lân, sđd, có nhiều trích đoạn của “Lục lợi từ tháng 5 năm Tự Đức 17” ông Đào Duy Anh và Đào Đăng Vỹ cũng có nói tới “Lục lợi từ năm Tự Đức 17”.
    Nguyễn Trường Tộ, trong nhiều bản văn sau này, có nói nhiều đến Lục lợi từ, mà không hề nói tới Dụ tài tế cấp bẩm từ. Tuy nhiên bản văn mà chúng ta có trong Hv 189/1 và Hv 634/4 là một bản văn rất hoàn chỉnh gồm một lời mở đầu triển khai một phần bài Phân hợp đại thế luận nói về lẽ mất còn và hưng thịnh của một quốc gia, cùng với ba phần rõ rệt:
    - Phần một: Trả lời những điều các vị trong Triều đình hỏi về đúc súng và chất nổ.
    - Phần hai: Nói về những kế hoạch làm cho đất nước giàu mạnh (Dụ tài).
    - Phần ba: Nói về sáu điều lợi (Lục lợi) trong kế hoạch ngoại giao chống Pháp.
    Bài này có thể triển khai rộng những điều đã nói trong di thảo số 4. Trong bản văn này có nói: “Hôm trước tôi đã có bẩm với hai đại nhân Phạm, Ngụy” (Xem chú thích văn bản số 4).
1. Địch quốc ngoại hoạn: Nước thù địch, hoạn nạn từ bên ngoài. Mạnh Tử nói: Nước ta không có địch quốc ngoại hoạn thì thường dễ bị mất.
2. Đổng Trọng Thư nói rằng: Lòng trời thương yêu người nên sinh ra nhiều chuyện bắt người phải suy nghĩ, tính toán.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:35:28 am

Nói tóm lại, loài người chúng ta có chung một trời che, chung một đất chở, chung một mặt trời chiếu, chung một mặt trăng soi, một không khí đầy tràn, một hơi nóng ấm áp, một thứ nước thấm nhuần, một ngọn gió mát mẻ, do một lý chi phối tất cả, do một tính chất đồng như nhau tất cả... buổi đầu do một mà sinh ra, cuối cùng lại hợp lại làm một mới thành tựu cái công dụng to lớn của cả trời đất. Xem đấy thì chúa tạo vật không nỡ để cái lý lẽ lớn lao của trời đất cuối cùng phải đến chỗ bế tắc, cũng không nỡ để cho cái dùng hằng ngày của loài người cuối cùng không phát triển được, nên đã bày ra nhiều cách để mở mang trí tuệ, dìu dắt nhau tiến lên con đường đại đồng... Trước đây 3.500 năm, phương Đông là nơi đầu tiên đã khai phá được cái phong khí thô sơ thuần phác, mà làm được hàng trăm công việc, cho đến thời trung cổ thì càng ngày càng thịnh. Lúc bấy giờ, phương Tây đang còn ở trong giai đoạn mông muội dã man, cho nên các rợ miền Tây Bắc phương Đông thường hay đến xâm chiếm các nước phương Tây. Do đó phương Tây đã tiêm nhiễm được văn hóa phương Đông. Rồi nhân nạn binh đao xảy ra mà hai bên có sự qua lại, do thám tình hình của nhau. Những cái gì bên này chưa có thì nghĩ cách trèo non vượt biển để cướp về, còn bên kia bị kém thua thì cũng lo học cái phương pháp mà họ đã dùng để thắng mình để đối địch lại.

Xem như nước ta xưa bị Trung Quốc xâm chiếm tàn phá. Việc đó tưởng như tạo vật gieo họa nhưng chính cũng là làm phúc. Vì nhân đó mà nước ta trở thành một nước văn hiến. Ở miền Nam Hải có ba nước: nước ta, Miến Điện và Xiêm La. Nhưng hai nước kia còn trong tình trạng kém cỏi, còn lâu mới đuổi kịp nước ta. Thế chẳng phải do những cớ đã nói trên đó sao? Thời nhà Chu, nho sĩ nước Phất Lâm đã qua Trung Quốc, đến thời Vũ Đế nhà Hán đã từ nước Thân Độc thông sang Đại Hạ, thời Nam Bắc triều, rợ Bắc đã chiếm sang cả phương Tây. Đến thời Thế Tổ nhà Nguyên trong lúc chưa cướp đoạt xong nước Kim Nguyên mà đã lo khai thông miền Tây Bắc, miền Tây Nam của phương Đông, miền Đông Bắc của phương Tây và miền Bắc của phương Nam. Hễ nơi nào có hình thế đẹp đẽ đất đai màu mỡ, là không khỏi bị chúng tiến chiếm, làm sao cho đường bộ hai bên Đông Tây thông làm một với nhau. Đến cuối đời Nguyên, có vị phò mã Tát Mã Nhi Tứ Thiên của nước Cáp Liệt uy danh lan khắp Tây Vực, có người phương Tây đầu quân vào hàng ngũ của ông ta, nhân đấy họ đã đem theo về thuốc súng và các thứ đồ vật kỳ lạ khác. Người Tây vì loạn lạc đã lâu nay muốn trị yên nên đã bắt chước phương pháp đó chế súng điểu thương, để chống lại, và những thứ kỳ xảo khác đều lấy phương Đông làm kiểu mẫu. Về sau, việc học thuật, việc chế tạo những khí cụ ngày càng được tinh vi. Học thuật được tinh vi thì sinh ra kỹ xảo. Kỹ xảo đến cực điểm thì trở nên mạnh và đã làm thay đổi hẳn cái hèn kém mông muội trước kia. Cho đến thời Minh bước tiến Âu Tây ngày một lên cao vùn vụt, đến nỗi không có chỗ để thử cái tài dũng của họ nữa. Do đó, họ chuyển dần về phía Tây, và bỗng nhiên tìm được Tây Châu (tức Tân Thế Giới) và chiếm lấy làm đất của mình, khai thác vùng đất đai mấy ngàn năm hoang vu, cải tiến phong tục tập quán mấy ngàn năm hủ lậu. Lúc đầu người dân bản xứ còn xem họ như thù địch, dần dần đã chịu gần gũi và ngày càng trở nên thân thiết, những người dân ở đây đã học được hết những cái kỹ xảo của người phương Tây, cho nên không đầy 100 năm sau đã đuổi được người phương Tây ra khỏi đất mình. Những nước phụ thuộc phương Tây xưa kia, nay trở thành những nước thân phương Tây. Các nước ấy đã nhờ phương Tây mà thay đổi những tập quán cũ để trở thành giàu mạnh, người phương Tây cũng nhờ vào nguồn lợi ở đó để chu cấp cho mình. Xưa thì nghiến răng căm thù, nay đã thành tình nghĩa anh em tốt đẹp bền bỉ.

Từ khi quyền lợi của người phương Tây ở các nước này giảm bớt, nhưng vì lòng tham không chấm dứt, họ bèn quay tàu trở súng hướng về các nước phương Đông. Các nước phương Đông tuy là ông tổ của trăm nghề, nhưng bản tính lại mải mê sự an nhàn vui thú không thích đổi mới. Vả lại ngày xưa đã từng xưng hùng xưng bá trong thiên hạ, tự mãn tự túc, nghĩ rằng thiên hạ không ai hơn mình. Cho nên chuyên chuộng hư văn phù phiếm, học lối xu phụ nịnh bợ để được cái phú quý mỏng manh trước mắt. Việc này đến buổi mạt vận thì lại càng quá lắm (đây là chỉ chung các nước). Khi có kẻ địch bên ngoài thoạt đến, thì coi họ như là đồ kỳ dị, trí xảo lạ đời, mà không biết rằng những cái khôn khéo của người phương Tây ngày nay chính là lượm lặt được cái dư thừa của phương Đông mình ngày xưa đó. Chúa tạo vật trước kia đã giúp ta cho ta thứ đó, mà ta chưa dùng hết cái hay thì tạo vật đem cái ta gây họa cho họ để giúp họ. Họ được cái dư thừa của ta thì họ rất trân trọng mỗi ngày mỗi trau chuốt ngày một đẹp thêm rồi lại đem bán cho ta để thu lợi lớn. (Nhưng muôn vật hễ đến cùng cực thì sẽ ngược trở lại, xưa kia không có cái thuật gì là không bị phá mà dù có cái thuật riêng đi nữa thì cũng có ngày phải hết. Không ngoài mấy trăm năm rồi các nước phương Đông cũng sẽ nhờ đấy mà đánh bại phương Tây. Hiện nay năm miền Ấn Độ đã gần có dấu hiệu bắt đầu rồi đấy. Cho nên tôi nói rằng người phương Tây là kẻ bán cái trí cái dũng, nếu ai biết khéo mua thì chẳng bao lâu các thứ họ có sẽ trở thành của mình. Lấy cái lợi vô cùng chưa dùng của sông núi chúng ta mà đổi lấy cái trí của họ, thì họ là kẻ vỡ hoang mà ta thì hưởng cái thành quả như các nước ở Tây Châu vậy. Vì rằng, ta đã học hết cái thuật của họ, như Bàng Mông 1 ngày xưa, rồi sau lấy cái trí tuệ vốn có sẵn của chúng ta thêm vào cái trí tuệ ta mua được của họ. Đất là đất của ta, mượn cái trí xảo của họ càng ngày càng già nua còn cái trí xảo của ta thì mới mẻ trẻ trung, đem hai trí mà địch lại một trí, lẽ nào không thắng được? Như trường hợp Tây Châu là một chứng cớ vậy) 2.
____________________________________
1. Một nhân vật truyền thuyết, một người giỏi nghề bắn.
2. Đoạn giữa hai ngoặc đơn chữ xiên (“Nhưng muôn vật...chứng cớ vậy”) không có trong NAM PHONG, có thể do nhà báo cắt.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:36:44 am

Thiết nghĩ, tạo vật sinh ra đất đai là cốt để cho cả loài người hưởng dụng chứ không phải để cho một người chiếm lấy làm của riêng. Cho nên lúc đầu cây cỏ bụi bờ chưa khai phá thì cho loài người phân tán cư trú rải rác khắp địa cầu, ở đâu thì khai thác phát triển mà hùng cứ ở đấy. Đến lúc núi sông đã thông, hiểm trở đã hết thì lại khiến có trao đổi buôn bán, nơi có đổi cho nơi không, để việc sử dụng được thuận lợi, việc sinh sống được đầy đủ, để suy xét lai lịch mà dần dần nhận ra rằng nguyên xưa vốn là anh em, cùng chung một gốc mà biết thương yêu nhau, lấy chỗ dư thừa mà bù vào chỗ chưa đủ, thông công đổi việc, giúp đỡ lẫn nhau, rồi sau hợp cả thiên hạ làm một nhà để hưởng hết cái diệu dụng của trời đất. Nếu không như vậy thì người miền núi thiếu cá, thiếu muối, người miền biển thiếu thú, thiếu gỗ, nước ta thiếu thuốc, Trung Quốc thiếu gạo. Tạo vật là đấng nhân ái công bằng, coi mọi người như con, tại sao không để cho nước nào tự túc lấy đồ dùng của nước ấy không cần đến nước khác, người nào tự túc lấy đồ dùng của người ấy, không cần nhờ người khác giúp đỡ để khỏi qua lại cho thêm phiền phức?

Nhưng nhân tình trước trái sau hợp, thì sự hợp ấy mới càng thân. Việc đời trước gặp khó khăn mà sau thành công, thì sự thành công đó mới bền vững. Cho nên lúc sắp hợp sắp thành tất nhiên phải có cái hại của sự nghi hoặc và khốn đốn, rồi mới có cái lợi của sự yên ổn lâu dài. Vì đã có sự nghi hoặc thì cần phải được sáng tỏ, có khốn đốn vất vả mới nghĩ đến sự nghỉ ngơi. Cho nên lúc hiểu ra được thì mới biết đó là do sự sắp xếp cất đặt của tạo vật không được làm trái khác đi. Cho nên, theo lý lẽ ở phần trên mà nói ở phần dưới thì các vật đều giúp đỡ lẫn nhau để làm đồng đều những điều mong muốn cho nhau. Nếu không như thế, thì loài người là con của tạo vật, nếu cứ để cho người lớn mạnh chuyên được phần lợi mãi, mà không giúp cho người nhỏ yếu trong đó được sống còn mãi mãi, được hưởng lợi ích to lớn lâu dài để bù vào sự thiệt hại trước, thì sao gọi là chí công được?

Những điều nghị luận trên đây là một điều trong bài Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Đó là những sự thật, lý thực của trời đất. Từ thuở khai thiên lập địa đến lúc cáo chung cũng chỉ có thế mà thôi. Dù có người giỏi biện bác đến đâu cũng chỉ bài bác được tạm thời, chứ không thể bài bác mãi mãi được.

Nay tôi trích ra trình bày như trên, là vì các học giả nước ta ngày nay phần nhiều cứ viện xưa chống nay, nói quấy quá làm rối loạn việc chính trị, đàm luận xì xào, để chia bè lập đảng mà bài báng Triều đình. Họ có biết đâu thời thế đổi thay, có nhiều cái của đời xưa không thể áp dụng cho đời nay được1. * Cho nên bậc tiên hiền đã từng nói: Người tuấn kiệt là người biết việc đời nay, chứ không phải là người biết việc đời xưa. Bởi vì việc còn, mất, yên, loạn nếu không trí tuệ không thể nào biết được. Còn như việc ngợi khen người xưa thì dù ngu cũng biết thừa. Cho nên kẻ trí bàn việc đời cần phải thể hiện ở việc làm, cân nhắc sự việc mà lập ra mưu trí, tùy thời thay đổi để cho lòng người hợp với ý trời. Như ngày nay các vị đại nhân đem các điều ra hỏi kẻ thảo dã mà không câu nệ thường tình chính là vì vậy.

Nay tôi xin đem những điều các vị hỏi nói sơ qua vài nét trước và cuối cùng xin phụ thêm một đoạn của bài Tế cấp luận, sau đó sẽ nói rõ sự lý của năm sáu điều lợi lớn. Đó là những điều cấp thiết hiện nay, mong rằng không nên xem qua rồi thôi2.
____________________________________
1. Đoạn giữa hai dấu * từ “Cho nên bậc tiên hiền”... cho tới “chỉ biết lý thuyết” bản Hv 189/1 chép sót.
2. Từ đây trở xuống, tác giả sẽ nói đến ba phần như trong câu này tác giả đã giới thiệu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:38:31 am

I- XIN KÊ RA CÁC PHƯƠNG PHÁP LÀM HỘT NỔ VÀ ĐÚC SÚNG, ĐÚC KIM LOẠI CÙNG CÁC MÔN QUANG HỌC, CƠ HỌC, HÓA HỌC, KHAI THÁC MỎ THAN1:

Điều cốt yếu để thực hiện các phương pháp trên, trước hết phải có khí cụ. Các môn ấy phải được thi hành thực sự. Việc học lý thuyết thực ra không khó, mà thực hành thì khó, hơn nữa phí tổn rất nhiều, nhưng thu lợi cũng rất lớn.

Việc học tập và sắm khí cụ phải thực hiện đồng thời, không thể thiếu một. Nếu đã được học qua loa như tôi mà không có khí cụ khi gặp khó khăn lại không có người chỉ vẽ thì cũng chỉ biết lý thuyết* 2 và công dụng mà thôi, và cũng còn khó đem ra thực hành được. Nếu đem ra thực hành cũng phải qua nhiều lần dùng thử, để loại bỏ những cái trở ngại mới tận dụng được chỗ tinh diệu. Vả chăng việc sáng tác dùng thử cũng có cái dễ thành, có cái khó thành, mà cái khó thành nhiều lúc lại xảy ra tai hại bất trắc. Nếu hiểu được lý thuyết sẽ làm được công dụng lớn, nhưng nếu bất cẩn sơ ý, máy móc nổ vỡ thì nghìn vàng dễ được chứ người giỏi khó tìm, trăm thanh gươm báu không bằng một người thợ đúc giỏi. Những điều lợi hại là như thế đấy. Việc trong thiên hạ có cái lợi lớn, tất có cái hại lớn, nếu không tuân theo thứ tự của nó, thì chẳng những lợi bất cập hại mà còn làm hỏng cả công việc nữa.

Nay trước hết tôi xin hãy làm cho nước nhà giàu có (như trình bày ở đoạn cuối này) để chi dụng chi phí cho việc học tập và mua sắm khí cụ. Khi mua sắm được khí cụ rồi sẽ cùng thực hành với việc học tập lý thuyết. Như thế thì sự sử dụng máy móc lẽ nào lại không thành công, tài khéo lẽ nào lại không tiến lên được?

Nói tổng quát thì phương pháp đúc súng đạn và chế hột nổ cần nhất ở cơ học, và có cả quang học giúp vào. Còn phép đúc kim loại và khai thác mỏ than thì cần nhất về cơ học và có hóa học giúp vào. Về phép lái tàu thì cốt ở quang học và có trắc lượng học, toán học giúp vào.

Cơ học là nghiên cứu tất cả những gì dùng sức gia thêm vào thể chất để sinh ra động lực, mà không làm biến đổi bản chất. Đó gọi là cơ học. Cơ học có hai loại khí cụ chính: khí cụ đơn giản và khí cụ phức tạp. Hai loại đó lại chia làm ba: nặng, sức và điểm tựa. Tất cả những khí cụ đều là phép tinh xảo để tạo nên trợ lực. Có khi dùng phương pháp khiến các khí cụ phát ra sức kỹ xảo, tựa hồ như chính tự nó có một sức sống.

Khí cụ của trợ lực có ba thứ: đòn bẩy, trục quay và mặt nghiêng. Đó là những vật dụng cơ bản. Ngoài ra lại có ba thứ nữa: bánh xe, máy cắt, đinh ốc. Đó là những vật dụng thứ yếu. Tất cả mọi công dụng thực sự của cơ học đều quy về mấy điều kể trên. Nhưng việc học cũng phức tạp khó khăn, nếu không tinh thông vật lý không thể xem xét phân biệt được mà không xem xét phân biệt được thì khi sử dụng các loại máy móc đó thường gặp tai nạn nguy hiểm. Tất cả mặt trăng, mặt trời, các hành tinh, sự động đất và những chất lưu động nhẹ, những chất lưu động nặng, những chất cố định cùng với những việc do sức người làm ra với tất cả những sức năng động, sức nặng đều thuộc về môn học này, cho nên phân biệt cho rõ ràng là điều rất khó.

Còn quang học thì dùng để quan sát những chỗ cao chỗ sâu. Phàm tất cả những vật ở trên đời, trên mặt đất, dưới mặt đất, những quang sai, thị sai, phân vi và các động vật, thực vật mắt thấy được hoặc không thấy được và cả những bản đồ, địa mạch, sản vật, cái thật cái giả lẫn lộn... đều phân biệt được, đó là nhờ quang học.

Hóa học thì có thể làm cho các thể chất biến hóa. Khác với cơ học, hóa học được dùng để quan sát kim loại và chất nặng, chất nhẹ, chất cố định, điện khí, nam châm.... để phân biệt những tính khác nhau của chúng, để thích hợp với công dụng của chúng, khiến cho các chất rắn, mềm, giúp nhau để làm thăng bằng sự vận động. Các ngành khai thác mỏ, thuyền máy, máy hơi nước đều thuộc về môn này.
____________________________________
1. Phần I, tác giả trình bày sơ lược các phương pháp làm hột nổ v.v... để trả lời những điều được hỏi đến.
2. Đoạn giữa hai dấu * từ “Cho nên bậc tiên hiền”... cho tới “chỉ biết lý thuyết” bản Hv 189/1 chép sót.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:39:03 am

Còn phép làm hột nổ thì cũng như phép đúc súng, tuy có phần dễ hơn, nhưng điều cốt yếu là ở khí cụ để đúc. Vì rằng người thợ muốn cho công việc làm được tốt trước hết phải có khí cụ tốt, nếu không có khí cụ thì lấy gì mà làm?

Nói tóm lại, những điều trên đây, những lý thuyết của nó đều không ngoài sức tự nhiên. Nếu trước hết không biết rõ cái sức đó là cơ sở thì dù học suốt đời, cũng vẫn mù mờ không lần ra mối. Tuy cũng có thể dùng được một đôi cái nhưng chẳng qua là làm theo khuôn có sẵn mà thôi, chứ không biết biến hóa để nhân cái này biết cái kia, để làm được tinh xảo hơn. Cho nên sức tự nhiên là điểm đầu tiên phải học, không thể không hiểu trước hết. Các điều nói trên đã có sách chuyên môn chép rõ. Việc đó không thể chép trong một lúc hết được, hơn nữa, mắt chưa nhìn thấy công dụng của nó, lại không có người đứng bên cạnh để ví dụ, giảng giải, thời cũng khó hiểu hết được nghĩa chữ, câu văn. Cho nên ở đây tôi chỉ đưa ra những điều đại cương mà thôi.

Còn phương pháp khai thác mỏ than, trước hết phải biết rõ địa mạch, biết rõ các loại kim khoáng và các cách chuyển động của vỏ quả đất. Nếu bây giờ cho vài người như tôi đi khắp nước sưu tầm thám nghiệm khoảng 3, 4 năm mới có thể biết. Đó là vì mỏ than ở sâu hơn các mỏ khác, mà phần nhiều lại hay có ở miền đồng bằng, ít có ở nơi núi hang và nơi nước chảy. Nếu mỏ than lộ thiên thì than không tốt mà lấy cũng chóng hết. Vả lại mỏ than thường có ở xứ lạnh, ít có ở xứ nóng. Nhưng ngày nay ở xứ nóng cũng đã tìm thấy một vài chỗ có mỏ than thì tôi tưởng rằng ở nước ta cũng có. Mỏ than lại hay có nhiều ở chỗ gần mỏ sắt. Đó là do cái cách sắp xếp vận dụng rất hay của tạo hóa. Lại có những nơi đất bùn, nơi rừng núi xưa kia hình như cũng có mỏ than, nhưng than ở đây chỉ dùng để đun bếp, chứ chạy máy tàu thì không đủ sức nóng. Nghe người ta đồn ở tỉnh Hải Dương có mỏ than, tôi nghĩ đấy cũng là rừng núi xưa kia mà thôi. Tôi tuy chưa đến đó, không dám nói quả quyết, nhưng miền Hải Dương quá nửa là chỗ có tầng nước chảy. Đấy cũng là một chứng cớ để nói rằng không có mỏ than. Phương pháp tìm mỏ than có nhiều cái ẩn tích không thể nói hết được. Nhưng việc tìm mỏ không khó, chỉ có việc khai thác than mới khó, lúc đầu đang còn cạn thì dùng sức người cũng có thể lấy được, đến lúc xuống sâu mà lại phải đào xiên một hai nghìn thước nếu không dùng máy móc rút hết nước thì không thể lấy được than. Lại nữa, trong đất thường xông lên các khí độc nếu gặp lửa đèn sẽ nổ bùng làm người chết ngay. Vì vậy, phải có phương pháp khéo léo và phương pháp làm thông gió như của người Tây Âu mới tránh khỏi tai nạn. Vả lại đào xiên vào rất sâu hay dễ bị sập, nên phải làm sàn bắc ngang để đề phòng.

Phương pháp lấy than đá nói trên đây phải dụng công rất khó, nhưng lợi lớn gấp mười mỏ bạc, mỏ vàng, cho nên phải nghĩ hết mọi cách để lấy.

Cách làm cho nước mạnh là ở chỗ tạo được nhiều của. Của cải nhiều thì lương thực đủ, khí giới tinh, thành trì vững, công quỹ dồi dào, các việc lợi ích do đấy sinh ra, các việc tai hại do đấy giảm bớt. Một khi có biến cố lớn xảy ra, chỉ cần lấy của cải trong kho nhà nước, khỏi phải phiền lụy đến dân. Lợi ích đó không thể kể xiết.

Nay nước ta, của công chỉ nhờ vào thuế, mà thuế đánh có hạn, chứ không có cách gì để làm cho của cải được nhiều như phương Tây. Cái tôi gọi là làm cho có nhiều của ở đây không có nghĩa là nói bòn rút của dân để làm cho nước giàu, mà là nhân nguồn lợi tự nhiên của trời đất để sinh ra của. Do đó nước giàu mà dân cũng giàu.

Nước ta một bề giáp bể, một bề tựa vào núi, giữa là một giải đồng bằng, lại có nhiều sông chảy ngang qua, từ bờ biển đến tận cùng rừng núi mất 5, 6 ngày mà thôi, không như các nước khác xa biển xa núi, hoặc biển ít núi nhiều, hoặc núi nhiều sông ít, hoặc nhiều cồn cát sa mạc, hoặc nhiều đất khô cằn, thật là một nơi địa thế tốt nhất trên quả địa cầu. Người các nước đã từng ngợi khen, chính cũng vì núi sông gần nhau, cận nhau, mối lợi của nó rất lớn. Hơn nữa, người nước ta tầm vóc vừa phải, đã nhiều tài trí, lại khéo bắt chước tài kỹ xảo của người khác. Người nước ta có cái tính biết học tập cái hay cái tốt của người khác, không tự kiêu tự mãn như người Trung Quốc. Cho nên các nhà thông thái các nước khi bàn về đại thế trong thiên hạ đều cho rằng nước ta đã có địa thế tốt lại có nhân tính tốt ngày sau ắt sẽ phồn vinh vô cùng. Nhưng chỉ tiếc là người mình còn chấp nê tập tục cũ, bị lối học từ chương bó buộc, nên chưa thể tung hoành nơi bốn biển (Tôi sẽ viết dâng lên một bài về địa thế nước ta vài mươi trang. Xem sẽ thấy phấn khởi).

Ngày nay nếu ta biết dần dần chỉnh đốn những thói cũ, nghĩ cách làm lợi cho công, làm lợi cho tư để ta có được phương pháp hay của mình lại có được cả những phương pháp hay trên thế giới mới sáng tạo ra nữa, hai cái cùng thực hành song song với nhau không trái ngược nhau (Những phương pháp hay này chưa kịp trình bày được). Như thế thì những cái thiên hạ mới có, ta cũng đồng thời có. Còn những cái ta vốn có thì thiên hạ không có. Như thế ai còn dám khinh nước mình nữa?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:40:15 am

II- SAU ĐÂY TÔI XIN ĐƯA RA MỘT KHOẢN VỀ VIỆC LÀM SAO CHO NUỚC NHÀ GIÀU CÓ ĐỂ CỨU GIÚP LÚC KHẨN CẤP:

Một là nguồn lợi về biển. Về biển thì không có nguồn lợi nào lớn bằng cá với muối.

Hai là nguồn lợi về rừng. Rừng thì không có gì lớn bằng gỗ.

Ba là nguồi lợi về đất đai. Đất đai thì không có gì lớn bằng tơ gai.

Bốn là nguồn lợi về mỏ. Về mỏ thì không có gì lớn bằng đồng và thiếc.

Bốn nguồn lợi ấy, ngoài việc tùy theo thổ nghi mà thu thuế ra, còn phải nghĩ những phương pháp hay như của Tây Âu để thu nhiều sản vật. Sau đó cho tàu bè nhà nước chở ra bán cho các nước, rồi lại chở về nước mình những hàng cần dùng mà nước mình không có. Cái lợi bán mua qua lại như thế thường được gấp ba. Trừ than đá ra, như đồng, thiếc giá ở Bắc kỳ một quan nếu đem ra nước ngoài bán có thể được tới tám quan. Ngoài ra các thứ tơ, gai, cá, muối cũng thế. Vả lại, Bắc kỳ nối liền Vân Nam, mà tơ của Vân Nam là tốt nhất thế giới. Người Pháp sở dĩ muốn từ Bắc kỳ thông thương Lương Giang, từ Nam kỳ thông đường Tiền Giang là vì thế. Việc ấy trước đây tôi đã nói rõ, nay xin thôi không nói nữa.

Phàm thế vận càng suy thì thiên hạ không ai là không đuổi theo của cải mà tranh giành. Người đã giành lợi của ta, lẽ nào ta lại không biết lấy lợi của người? Đó là luật vay trả tự nhiên không thể tránh được. Hoặc có kẻ nói rằng bậc vua chúa cứ việc thi hành nhân nghĩa thì tự nhiên có lợi, cần gì phải khơi cái lòng ham lợi để cạnh tranh với dân! Sao không biết rằng nói như vậy là rất sai lầm về chính trị? Bậc tiên hiền có nói câu ấy thực, cốt ý để cứu vãn cái tệ hại thời bấy giờ, vì sợ rằng chỉ biết lo làm lợi mà không nghĩ đến nhân nghĩa. Những nho gia sau này vì không suy nguyên cái ý ấy nên bày đặt ra bàn luận những điều thể diện quá cao. Nhưng xem việc làm của họ thì thường thường lại vì điều lợi hại mà không giữ được tiết tháo trong sạch. Cho nên người ta đã bảo những kẻ ấy là lời nói đã đê tiện mà việc làm lại hèn hạ. Hãy xem Yến Vương nước Từ vì nghĩa mà bị diệt, Tử Khoái nước Yên học bắt chước vua Nghiêu mà bị mất, Ai Công nước Lỗ ham đạo Nho mà bị suy nhược, vua nước Đại ham theo đạo Mặc mà bị tàn tạ! Học theo xưa không phải là luôn luôn không hay, nhưng chỉ có bốn ông ấy bị quốc phá thân vong là vì gặp lúc thời thế đã khác xưa rồi. Ăn trộm thì không gì lớn bằng trộm nước. Thế mà thành công thì làm vua, bao nhiêu nghĩa sĩ chen chân nơi cửa chư hầu. Cho nên dùng gặp thời tức là nhân nghĩa, thất thời tức là bạo ngược. Những nhà nho câu nệ không khéo biến hóa, thường hay uốn lưỡi múa mồm, sau khi sự thành bại đã rõ như gương chiếu rồi mới bàn luận anh hùng. Giả thử bản thân họ ở vào cảnh ngộ bấy giờ thì chẳng những mơ màng không biết tính toán ra sao mà điều nhân nghĩa, việc phải chăng cũng không phân biệt được. Vì sao vậy? Chẳng qua vì họ chưa làm đến địa vị ấy, mà luận bàn đến những điều cao xa ngoài sự tưởng tượng của người ta để tự tán dương lẫn nhau, để cốt cho những người có quyền lực đương thời để ý đến mà thôi. Như thế chẳng khác gì người thích vẽ ma quỷ mà ghét vẽ chó ngựa1.

Đại phàm sự tình trong thiên hạ mượn tiếng tốt để làm việc xấu là người ngu; chịu tiếng xấu để làm việc tốt là người khôn. Trong thiên hạ khéo biết dùng thì được tiếng hay, không khéo dùng thì mang tiếng dở. Khéo dùng hay không khéo dùng đó là gì? Chính là cái tài lợi. Về tài lợi nếu như biết khéo thu nhập thì được nhiều mà không ai trách oán, đã thu nhập được mà không ai oán trách lại biết khéo sử dụng của thu nhập ấy, đó là nền tảng của nhân nghĩa. Cho nên tạo vật khi chưa sinh ra người đã sinh ra muôn vật trong thiên hạ trước để làm nguồn của cải. Như Kinh Dịch nói: “Có trời đất muôn vật sau mới sinh ra trai gái”. Chứng cớ về việc đó rất rõ ràng.
____________________________________
1. Nguyên văn: “Háo họa ly mỵ nhi tắng họa cẩu mã”, câu của Hàn Phi Tử. Nghĩa là thích vẽ ma quỷ vì ma quỷ không có chân dung, không có thực hình, muốn vẽ thế nào cũng được, ai biết đúng sai đâu mà nói. Còn ghét vẽ chó ngựa vì có hình dung cụ thể, nếu vẽ sai là người ta biết ngay.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:41:00 am

Thời thượng cổ khi loài người bắt đầu phồn thịnh thì buổi trưa đã có họp chợ để tiện việc trao đổi những thức cần dùng, rồi sau việc giáo hóa mới dần dần hưng thịnh lên. Bởi vì tạo vật yêu người nên thầm dạy những việc cấp thiết trước, việc chưa cấp thiết thì dạy sau.

Tất cả những cái cần thường dùng thường làm hàng ngày của con người từ thượng cổ, trung cổ đến tận thế không có cái gì là không do tạo vật bày ra. Những cái mà tạo vật bày ra đó đều khiến vua nắm quyền để mở mang sắp đặt. Vua đã thay quyền tạo vật để chăn dân, làm lợi cho dân, thì những việc lợi ích nên làm trong dân gian lẽ nào vua không tự mình ra gánh vác lấy, tự mình xướng xuất ra? Thời trung cổ người ta chưa hiểu được lý ấy nên mới bậy bạ cho như thế là tranh lợi với nhân dân, nên mới có chuyện xưa kia đã làm đến quan đại phu thì không cho vợ dệt cửi nữa. Như thế là không biết rằng, có nước mà cứ để mặc cho của công tư bị thiếu hụt, đến phải yếu nhược không chấn hưng lên được, chính là vì cớ đó. Sao không suy xét xem vua muốn làm giàu có phải để cho riêng một mình không? Nếu không thế thì một mình tiêu xài cũng có hạn, dù xa hoa phung phí cùng cực cũng không hết được. Vậy của đó để làm gì nếu không phải để cho dân cho nước? Ví như cha mẹ làm ăn khó nhọc để có của cải, là muốn để lại cho con cháu. Người không biết thì cười chê cha mẹ, cho rằng làm những việc vất vả khó nhọc ấy là đê tiện, thế chẳng phải là trái với lòng thương của cha mẹ lắm sao?

Nay nói về việc nước, khi đã có đủ của cải rồi thì lệnh trưng thu của cải trong dân chúng để cung ứng cho việc nước sẽ ngày càng giảm bớt mà sự nghiệp củng cố cho nước mạnh sẽ ngày càng tăng. Một khi nếu xảy ra giặc giã cần phải đánh dẹp để yên bờ cõi an ninh xóm làng, quân đi đánh dẹp mỗi ngày tiêu phí hàng ngàn vàng thì lấy của công mà dùng để bảo vệ tài sản của dân chúng. Như vậy là không có nhân nghĩa ơn huệ nào lớn hơn thế nữa. Chỉ nói một việc này các việc cũng như thế thôi. Như thế mà còn có người đưa ra thuyết cùng dân tranh lợi để ngăn trở phá hoại việc nước, để cho bậc quân phụ mang tiếng này nọ, thế có phải là trung không? Thuở xưa Thái Công được phong làm vua nước Tề, chọn kẻ tài năng chuộng người có công và giết cao sĩ Đông Hải1 là vì thế.

Nay tôi xin hãy làm cho của cải nhiều thêm. Có nhiều lối làm giàu, nếu đem ra thực hành trăm năm cũng chưa hết. Nhưng tôi chỉ đưa ra 4 cách cấp thiết trước tiên để cấp cứu trong nhất thời. Tạo vật đã cho nước ta một địa lợi tốt để mà làm thì Triều đình phải có người đứng ra xướng xuất cho dân theo. Còn như những phương pháp nào hay ho thì Triều đình đã có ý định sắp đặt rồi tôi không dám bàn đến nữa. Nếu làm được như thế thì thật là vì chấn hưng lợi ích cho dân chứ không phải lấy của nhân dân. Ngày nay các nước trong thiên hạ đều theo phương pháp đó để làm giàu mạnh. Thiên hạ làm trước, mình làm theo sau, ai dám chê trách?

Lại xin để cho những nhà giàu ở gần cửa bể có thể mua tàu lớn vượt bể để chở những đồ vật nước mình dư không dùng đến đem bán ở các nước, rồi lại chở về những thứ thiết dụng cho nước mình và đánh thuế xuất nhập để tăng thêm những thứ cần dùng trong nước. Nếu người nào mua về được nhiều thứ có lợi cho nước thì cân nhắc mà ban thưởng để khuyến khích họ cố gắng thêm. Đấy là một điều lợi lớn. Vì rằng, những hàng hóa mình có, trừ số cần dùng ra, còn thừa đem chở bán cho họ, họ lại bán cho nước khác, như thế họ không cần phải đến nước mình làm gì. Nếu họ muốn đưa hàng hóa sản vật của họ sang thì đã có tàu của nước mình đem về để mua bán trao đổi với người cùng quê hương xứ sở, chẳng dễ làm hơn mua ở bên nước họ hay sao? Như thế tự nhiên họ không cần phải tìm đến mình nữa. Sở dĩ họ tìm đến cầu thông thương với mình là vì người mình không thể đi xa mà thôi.
____________________________________
1. Đông Hải cao sĩ: Người có học có danh tiếng ẩn cư ở Đông Hái, không chịu làm việc mà chỉ nói suông, thường bày ra những luận điệu cao kỳ làm trở ngại việc nước. Thái Công nghĩ rằng để ông ta không có gì lợi mà có hại, nên đem giết đi.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:42:18 am
Có người nước ngoài nói rằng kế ấy rất độc. Nếu làm được thì không ngoài vài năm người Tây tự nhiên bỏ đất mà đi không cần phải đánh chác gì nữa. Vả lại họ đã dựa vào việc ta không ra khỏi cửa, nên dùng thế lực cướp lợi của ta, nay ta theo công lý để ngăn lòng tham của họ, lấy lợi của họ thì chắc rằng trong khoảng u u minh minh ấy trời sẽ thầm lặng giúp ta vậy1. Vì rằng, tạo vật quí trọng sự sống vô cùng, đã cho ta địa lợi tốt, lại cho ta nhân vật tốt, ắt sẽ giúp ta thịnh vượng để hợp thành ra sự đẹp tốt lớn trong vũ trụ. Vậy ta nên thuận theo chúa tạo vật đã mở đường chỉ lối mà biết lo lắng để chuyển tai họa thành phúc, chuyển thất bại thành thành công, đem hết cái trí khôn trời cho để khai thông mọi cái bí mật trên trời dưới đất. Kẻ hủ nho sao không biết thời thế biến chuyển, cứ câu nệ vào nghĩa lý sách vở, nói bừa bãi rằng: Triều đình mở cửa ngõ đón kẻ cướp vào. Sao không biết rằng: Lúc thời thế đã đến, không thể ngăn được, lúc thời thế đã đi, không thể chặn được. Tạo vật đã sắp đặt như vậy sao ta không biết liệu cách tạm thời lưu thông với họ, để tự phấn đấu cho hợp với ý của tạo vật? Cửa bể của khắp các nước phương Đông tạo vật đã khai thông cả thì tại sao một mình nước ta lại có thể đóng kín được? Huống chi, việc lợi ích của một nước, quyền lực hành vi do vua nắm, và cùng với quốc dân chia sẻ mọi sự vui buồn. Mà trên đã có tạo vật thầm sai khiến, vua chỉ cần theo ý trời để làm mọi việc. Những việc lớn như lấy đi hay là cấp cho, biết đâu chẳng phải do tạo vật ngấm ngầm sắp đặt. Tạo vật đã nhân ái đối với vua để từ đó mở rộng đến muôn dân. Thế mà trước mắt, hơi thấy việc bất bình thì kẻ hủ nho biết gì mà dám chê bai trách cứ? Tôi nói như vậy không phải để hùa với địch mà chính vì sợ bọn hủ nho không biết ý trời việc người. Trước đây bọn họ đã có những ý nghĩ sai trái, làm hỏng công việc, nay thời thế đã đến thế lại còn không biết giúp đỡ Triều đình, hợp lực đồng tâm để lo việc nước khiến Triều đình đã lo ở ngoài lại phải lo cả bên trong, thử hỏi như thế thì còn lòng dạ nào? Thử xem 5 xứ Ấn Độ năm Càn Long thứ 17 vì không chịu cho nước Anh một thành mà sau phải mất trọn cả nước, Miến Điện năm Đạo Quang thứ 4 vì không chịu cho Anh một mảnh mà sau phải mất nửa nước. Tất cả đều vì không biết người biết mình nên đến nỗi hỏng việc nước như thế. Sở dĩ, năm xưa tôi đã không sợ tội mà dâng lời bàn hòa, chính là vì cớ ấy.


III- Hiện nay cục diện chưa biết sẽ diễn biến đến đâu, tôi xin kính dâng điều khẩn cấp nhất trong bài Tế cấp luận, là tìm sự trợ giúp, có sự trợ giúp sẽ được sáu điều lợi lớn. Tôn Tử nói: Dư sức đánh thì giữ, dư sức đánh mà lại có người giúp thì đã có sức mạnh. Huống chi nước ta nay đã không đủ sức đánh lẽ nào lại không cần sự giúp đỡ sao?2.
____________________________________
1. Đoạn chữ xiên “Có người nước ngoài” đến “giúp ta vậy” không có trong NAM PHONG, có thế do nhà báo cắt.
2. Bản NAM PHONG chấm dứt ở đây với câu: Ngày 23 tháng 7 năm Tự Đức 19. Đây là phần III tác giả nói về sự lý của sáu điều lợi lớn. Đó là điều khẩn cấp nhất trong bài Tế cấp luận của tác giả.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:44:25 am

Trong tờ bẩm năm ngoái, tôi đã trình bày rõ ràng tình hình các nước phương Tây hiện nay giống như thời Chiến Quốc. Đó là một điều trong bài Phân hợp luận. Vua Đạo Quang nhà Thanh có nói: “Cái kế hay nhất để đánh địch không gì bằng lấy địch đánh địch”. Theo tôi, nhìn chung các nước trong thiên hạ từ ba trăm năm trở lại đây tuy có nhiều cách có thể làm cho kẻ địch lâm nguy, nhưng cái cách bắn một phát trúng ngay, thì phải là lấy địch đuổi địch. Đó là lý do mà trong tờ Trần tình năm trước tôi nói việc khôi phục không phải tìm ở trong nước mà phải tìm ở ngoài thiên hạ. Bởi vì từ 15 năm nay tôi đã biết rõ chắc chắn phải có mối lo như ngày hôm nay, nên tôi đã ra sức tìm tòi học hỏi trí khôn của mọi người để thêm sự hiểu biết cho mình, chứ không phải chỉ mới một ngày.

Tóm lại, nói gộp trong một lời mà đủ ý tức là: Chỉ có lấy cái việc thiên hạ đã bị trúng quỷ kế của địch làm điều răn, để phòng địch, rồi lại lấy cái phương pháp mà địch đã bị trúng quỷ kế của thiên hạ để mà đuổi địch, thì không thể không thắng lợi. Vì rằng kẻ địch đã từng đi khắp thiên hạ, đã đem cái kế đó thi hành ở nước này mà trúng, thì lại đưa ứng dụng sang nước khác nữa. Nhưng thường thường cái kế của địch rốt cuộc rồi cũng làm hại địch. Người hay lặn dưới nước tất phải có ngày chết chìm, đó là lý đương nhiên. Tạo vật là cha mẹ của tất cả các nước, thì không nỡ để một đứa con nào đến phải chịu khốn khó1. Nay tôi xin đem sáu điều lợi lớn trình bày như sau:

Thứ nhất là nhờ kẻ khác để ngăn chặn họ. Anh và Pháp xưa nay vốn thù hằn nhau. Trước đây hai bên đã đánh nhau hàng trăm năm mãi không thôi. Cho đến nay hai bên vẫn chê cười khích bác nhau, cả nước đều như thế cả. Hiện nay vua Pháp đang ngấm ngầm tìm kế độc để báo thù việc vua Anh trước đây đã bắt đày vua bác của họ ra tận đảo xa xôi2. Người Anh lẽ nào không biết việc đó? Nhưng họ vẫn ẩn nhẫn cộng sự với người Pháp, vì họ còn e ngại nước Nga chực sẵn sàng sau đó. Hai con trâu không húc nhau ở bên cạnh con hổ, vì cái thế còn ngại hổ. Lại vào cuối đời Càn Long, nước Anh đánh nhau với Hợp Chủng Quốc, người Pháp đã dồn cả binh lực vượt biển sang giúp Hợp Chủng Quốc. Do đó người Anh đã không giữ được phải bỏ. Mối thù đó đã khắc thấu xương chưa tiêu. Vì vậy năm trước khi Pháp lẻn vào Quảng Nam, Anh hay tin, cả nước xôn xao kêu ầm rằng Pháp uy hiếp ta, cho như vậy là không đúng. Hơn nữa, ta từ xưa đã từng đi lại ân nghĩa với người Anh, sao không nhân đấy thông tin tức cho họ, rồi nhờ họ thông báo đến nước Nga, nước Áo nhờ các nước giải quyết giúp ta? Tuy nhất thời chưa chắc các nước làm ngay được, nhưng cũng nhân đó có thể ngấm ngầm tìm cách giúp ta hại Pháp. Pháp hại thì ta lợi. Đó là điều lợi thứ nhất.

Thứ hai là xui kẻ khác gây sự với họ. Ở phương Tây thế lực hai nước Anh Pháp đại khái tương đương nhau. Pháp lợi về đường bộ, Anh lợi về đường thủy, không bên nào chịu nhường bên nào. Anh từ khi mất vùng đất Hợp Chủng Quốc, thì lại may mắn được nguồn lợi ở Ấn Độ. Nhân đó chiếm được 5 cảng của Trung Quốc, nửa nước Miến Điện và các thương cảng lớn ở biển Đông3, tự nghĩ có thể dùng thế lực đó trấn áp được Pháp. Duy có nước ta là hòa mục với Anh. Anh không có cớ để cướp nước ta. Pháp hận vì những miếng béo bở đã bị Anh phỗng trước nên nhân lúc Ấn Độ chưa hoàn toàn thuộc Anh, người bỏ thì mình lấy, cũng đã kiếm chác được 5 thương cảng nhỏ. Nhưng những nơi đó không phải là hang rồng ngách hổ nên cũng khó đứng vững. Một mai có việc gì xảy ra ở phương Đông thì cũng khó thắng nổi Anh. Do đó, Pháp đã bất chấp danh nghĩa, đột nhiên chiếm Gia Định và tự cho là tìm con rồng mà được ngọc. Hơn nữa, Gia Định vốn là nơi thiên nhiên hiểm trở, suốt một dải bờ biển đều là bưng biền rậm rạp, hiểm trở hơn nhiều so với các chỗ khác ở phương Đông, chiếm được chỗ này là đủ sức khống chế thiên hạ. Tóm lại, nguồn lợi ở phương Đông, đều đã nằm trong tay người Anh, chỉ vì đi sai một nước cờ mà thế lực bị phân tán. Điều đó chưa bao giờ người Anh quên được!

Nước ta phải dùng lời lẽ thật từ tốn và tiền bạc thật hậu sang nước Anh, nói hết những điều sai trái của Pháp, như trong bài bẩm trước đây tôi đã nói rõ. Lại phải dùng những lời ngọt ngào viện dẫn các lý lẽ cứu nhược phù suy để tán dương thế lớn mạnh của Anh xem ý hướng họ thế nào. Nếu những lời nói đó được họ nghe thì sẽ nói tiếp rằng: Người Pháp không nói lời lẽ gì minh bạch trước mà tự nhiên đột nhập lén đánh chúng tôi một cách bất ngờ. Nay người Anh đến giúp chúng tôi một tay khôi phục lại, chúng tôi sẽ vui lòng nhường quý quốc một thương cảng lớn, ký thác vĩnh viễn và sống như anh em với nhau, như Trung Quốc với Bồ Đào Nha trước đây vậy. May mà trời cho gặp cơ hội, Anh sẽ nhân lúc Pháp chân đứng chưa vững, đem những lý lẽ phải trái tuyên truyền sâu rộng khắp các nước làm chứng cớ, thì sẽ mau chóng ép buộc được Pháp. Thế của Anh thì mạnh, mà thế của Pháp thì yếu. May ra việc thành ta và Anh đều có lợi, còn không thành thì họa đã có chỗ chịu. Nếu bảo rằng cái kế đó cũng chỉ là cách rước sói vào cửa sau mà thôi, như thế tức không biết rằng ở đời nếu phải tai họa thì hãy chọn cái họa nhỏ. Mất dê mà được trâu thì ai không thích cái mất ấy? Người Anh tuy thích vùng vẫy xâm lược phương xa, nhưng cũng thường giữ lễ nghĩa, chứ không hay phản phúc bất thường như người Pháp. Vả lại khi họ đuổi được Pháp rồi họ cũng khỏi lo bị chèn ép nữa. Dù không được thương cảng nào họ cũng vui lòng, huống chi ta cam kết giữ lời hứa, lẽ nào họ lại được thế hại ta? Mà giả sử điều đó xảy ra thì biết đâu pháp sẽ chẳng tụ họp các nước để đánh lại Anh? Như thế, Anh sẽ phải theo lời giao ước mà dừng lại, chẳng phải chỉ vì lý mà còn vì cả chính họ nữa. Hơn nữa tâm địa người Anh rộng rãi, không biết chừng còn trả lại cho ta mà không cần lấy đất nhượng, để được tiếng thơm trong thiên hạ. Như năm xưa họ đã từng làm 5, 6 việc giống như vậy. Tuy đến nay họ còn hết sức bảo hộ là vì không bỏ người ta nửa đường. Anh đã đối xử với các nước như vậy, lẽ nào lại không đối xử được với nước ta? Nhưng điều đó cũng còn tùy thái độ nước ta đối với họ như thế nào trước đã. Nếu việc này thành công, đó là điều lợi thứ hai.
____________________________________
1. Bản Hv 135 chấm dứt với câu ghi: Ngày 23 tháng 7 năm Tự Đức 19.
2. Napoléon I bị Anh đày ra đảo Elbe rồi lại đày ra đảo Saint Helène.
3. Tức Thái Bình Dương, chứ không phải là Đông Dương, Nam Dương ngày nay. Nguyên văn nói: “Đông Dương”, nhưng Đông Dương là biển đông, “Nam Dương”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:45:21 am

Thứ ba là nhờ người khác để ly gián họ. Anh và Pháp xưa nay vẫn ghen ghét nghi ngờ nhau, tuy tạm thời cộng tác với nhau, nhưng Anh vẫn giành phần hơn: về các phép dùng binh, trị dân và bất kỳ các việc lớn nhỏ hai nước đều xung khắc nhau. Hễ vì lợi mà hợp nhau thì khi lợi hết ắt phải lìa nhau. Cứ mỗi khi Pháp có mưu đồ gì khác thì Anh tìm cách ly gián (Có nhiều việc không thể kể hết). Anh lại khéo giao thiệp, còn Pháp thì ít chơi thân với ai. Ít chơi thân thì đa nghi, đó là lý tất nhiên. Nay nếu ta năng đi lại với người Anh hoặc thăm viếng, hoặc mua bán, hoặc học tập những văn hóa lễ nghi với người Anh một cách nhiệt tình thân thiết hơn đối với người Pháp thì người Anh cũng sẽ đối xử với ta một cách xứng đáng. Cái kế của ta đó chưa chắc người Anh đã nhất nhất giúp ta hoàn thành, vì còn tùy cơ hội khó hay dễ. Nhưng dù sao người Pháp thấy ắt sinh nghi, cho rằng người Anh đã đem hết những mưu mô quỷ quyệt, những việc làm ác độc của họ nói cho ta biết rồi và còn bày vẽ cho ta những kế thâm độc (Có hai kế phương Tây đã lập minh ước với nhau là không bày vẽ cho người khác) để làm hại họ, để hả lòng căm thù. Họ còn lo sợ người Anh sẽ nhân đó dụ ta đem mối lợi của họ chia cho người Anh vì họ biết rõ người Anh khéo thu phục nhân tình họ khó bì kịp. Đó chính là lý do khiến trong tờ hòa ước năm trước có một điều nói rằng: Có bằng lòng cho cắt đất mới được cắt đất1. Nhưng cái kế ấy của người Pháp là quá tham lam và có chỗ không thể thi hành được. Bởi vì ở phương Tây không có cái luật ấy, không có lý gì chưa lấy hết được đất mà đã có quyền như vậy. Nay nếu ta đem điều ấy nói với người Anh chắc người Anh sẽ giúp ta phân giải. Như thế, người Pháp lại tưởng rằng ta đã đem những việc làm sai trái của họ nói hết với người Anh, như việc năm trước họ đã lái tàu vượt biên giới bắt Quản Tiến đày ra ngoài đảo xa. Quan của họ đã từng nói đó là việc làm rất sai trái, nếu nước Nam đem chuyện này nói với người Anh, người Anh sẽ không tha thứ đâu. Như nay ta đã giao thiệp mật thiết với người Anh, tuy người Anh chưa hẳn đã táo bạo gây khó cho Pháp, nhưng cái thế rồi dần dần cũng sẽ đến. Như vậy người Pháp biết ta đã có người giúp tay, lại có trinh thám dò xét mọi động tĩnh của họ; lại bị ta dùng kế bủa lưới bao vây bốn phía (Có nhiều điều, nay chưa kịp nói); lại biết lực lượng của ta dần dần đủ để chống lại họ; lại biết ta đã phá vỡ mưu kế của họ; lại biết ta phải mà họ trái thì phải sợ mà chùn không dám hành động nữa. Sau đó sẽ nhân cái tệ của họ mà ta thực hiện mưu kế thì cũng dễ dàng thôi. Nếu không thì như bài bẩm năm trước tôi đã nói đến hai con đường phía Nam thông Cao Miên, phía Bắc thông Vân Nam. Hiện nay ba tỉnh ngoài họ đã không trả 2 ba tỉnh trong lại lăm le muốn lấy, rồi tương lai sẽ gây biến động gì nữa, cứ suy việc trước ắt biết. Nay nếu thực hành cái kế đó người Pháp sẽ nghi ngờ mà xa lìa người Anh. Ta sẽ lợi dụng tình trạng đó mà xoay trở công việc. Đó là điều lợi thứ ba.

Thứ tư là nhờ nước khác lấy danh nghĩa mà áp chế họ. Cái kế mưu sinh lớn của các nước phương Tây quá nửa là do lấy từ nước ngoài. Bồ Đào Nha là nước khởi đầu việc đó, rồi các nước khác tiếp theo sau. Phàm trên thế giới, tất cả những chỗ nào có nhiều lợi lộc chúng đều trố mắt vén tay chực mưu tính cả. Mối lợi nào chưa vào tay thì sợ người khác phỗng, khi đã lọt vào tay rồi thì sợ người đến sau giật lấy. Mình có thì không muốn người khác cũng có như mình. Mình không có thì không muốn người khác có. Vì sợ rằng bên này lợi thì bên kia hại, bên này thịnh thì bên kia suy, cho nên cái mưu kế tung hoành không hẹn mà gặp. Phàm nước nào hiếp ức người vô lý thì các nước sẽ hiệp lực với nhau để đánh lại. Trước hết lấy danh nghĩa ra mà trách, nếu biết trái mà dẹp thì thôi. Hiện nay các nước nhỏ ở phương Tây và các nước khác trên thế giới đã từng bị phương Tây xâm lăng ngược đãi, không nước nào không dùng kế này để cầu an. Thường thường các nước lớn hay đánh lẫn nhau mà các nước nhỏ thì ngồi xem thành bại, không hề mất một mũi tên. Những chứng cớ như thế rất nhiều không thể kể hết. Ngày nay, nếu ta biết qua lại giao thiệp với các nước lớn phương Tây, gây được mối tình cảm, rồi dùng cái xảo kế để ly nước này, hợp với nước kia. Người Pháp dù muốn thừa cơ hội nhưng nếu các nước chịu tuyên bố giúp ta một lời thì người Pháp cũng sẽ lo sợ không dám làm càn, sợ động đến sự phẫn nộ của các nước, họ còn sợ các nước sẽ nghĩ đến việc báo thù vua bác của họ trước đây đã tiến binh chinh phạt (Ông vua này đã diệt Hà Lan, phế Y Pha Nho, lấy Bồ Đào Nha, thôn tính Ý Đại Lợi, Thụy Sĩ, các nước Nhật Nhĩ Man (Germanie), quá nửa Phổ Lỗ Sĩ, lấy các nước Áo Đại Lợi, Ách Nhật Đa (?), Đan Mạch và xâm nhập thủ đô của người Nga. Những việc này xảy ra năm Gia Khánh thứ 10). Nếu người Pháp vì quá tham mà không nhả thì các nước sẽ dồn lực để thực hiện lời tuyên bố trên. Tiếng là làm việc nghĩa nhưng thực ra là để báo oán đấy. Rồi ta lại qua nước La Mã thông hiếu với Giáo hoàng. Giáo hoàng tuy không dùng binh quyền nhưng thực ra là người chiết trung mọi việc tranh chấp của các nước và vốn được các nước khâm phục chiêm ngưỡng. Nếu Giáo hoàng cũng cho việc giúp ta là phải, thì mọi người đều vui lòng thực hiện, ta không lo người Pháp không nghe. Nếu kế đó thi hành được, thì sớm muộn ta cũng thoát khỏi sự ràng buộc của người Pháp như các nước vậy. Đó là điều lợi thứ tư.
____________________________________
1. Hòa ước 5-5-1862 điều 4.
2. Khoảng tháng 6, 7-1864, tuy Aubaret tới Huế thương lượng về hòa ước mới thay cho hòa ước 5-6-1862, nhưng trong lúc Aubaret trên đường về Sài Gòn, thì Chính phủ Pháp đã điện cho Lagrandière không trả lại ba tỉnh. Ba tỉnh trong (nội tam tỉnh) tức ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và ba tỉnh ngoài (ngoại tam tỉnh) tức ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:46:06 am

Thứ năm là nhờ các nước để đề phòng các nước. Kế này rất là lâu dài, cũng rất thượng sách. Không đầy 10 năm sau ta lại có mối lo khác, cho nên nếu ngày nay sớm biết đề phòng, thì ngày sau mới có công việc. Bởi vì người phương Tây thường hay nhân lúc người ta có nội loạn mà cướp đoạt mối lợi ở ngoài của người ta. Cũng có khi vì xa không trông coi được mà dùng cách lấy xa đổi gần. Nhưng quyền lợi ở phương Đông hiện nay 10 phần đã thuộc về nước Anh đến 6, 7 rồi. Duy có Y Pha Nho chỉ còn Lữ Tống, Hà Lan chỉ còn Trảo Oa và linh tinh một số nhỏ nữa mà thôi. Còn người Nga thì đã bao chiếm tất cả miền Bắc của phương Đông. Nhưng sự thông thương sang phương Đông của người Nga phải theo đường bộ, nên chậm, còn người Anh thì theo đường biển nên nhanh. Hiện nay Đại Thanh đã cho người Nga phân nửa đất đai phía Bắc Cát Lâm. Các vùng thuộc Hồi giáo ở Tây Vực cũng đã nhập vào bản đồ nước Nga hết cả rồi. Ý đồ của người Nga sẽ còn muốn dòm ngó cả Ấn Độ nữa. Nói về lực lượng thì người Anh không bằng người Nga, nhưng nói về kỹ thuật thì người Nga không bằng người Anh, mà sau người Anh là đến người Pháp. Việc chiếm đoạt phương Đông, Anh Nga đến trước, Pháp đến sau. Hơn nữa, hiện nay vua Pháp đang âm mưu làm một việc mà cả phương Tây rất ghét và tạo vật cũng rất kỵ. Ở phương Tây từ trước đến nay chưa nước nào phạm việc đó, mà không bị bại loạn cả. Vì vậy hôm trước tôi đã bẩm với Phạm, Ngụy 1. hai đại nhân nên lấy kỳ hạn 10 năm để khôi phục chính là vì lẽ đó. Nhưng ta với Pháp thì xa mà Anh với Pháp thì gần, nếu xảy ra việc gì chỉ trong một ngày có thể biết ngay. Đem binh lính hùng cường của phương Đông dồn hết lực lượng ra tranh hùng với người Pháp để bù lại sự thua thiệt trước kia, đó vốn là cái ngón thường dùng của người Anh. Tất cả những nước Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Y Pha Nho, Đại Ni Á (?) có những thương cảng ở phương Đông và phương Nam xưa kia, nay đã thuộc về Anh đến 8, 9 phần 10 rồi. Ấy là do lấy cái này đổi cái kia, hoặc nhân lúc suy yếu mà nhường đất cho Anh để mong ngày sau sẽ chuộc lại, hoặc thấy người Anh có ý vậy nên không đánh nữa mà tự rút lui để giữ nhân tình. Ba trăm năm nay giữa các nước những chuyện trao cái nọ đổi cái kia, cướp đi giật lại, có khi một thị trường nhỏ mà thay đi đổi lại như thế đến mấy chục lần. Người Anh tuy thường giữ lễ nghĩa nhưng trong bụng vẫn thèm muốn cái thiên nhiên hiểm yếu Gia Định của ta, ý đó chẳng phải mới một ngày đâu. Một mai, nếu người Pháp có việc gì người Anh sẽ lấy một thương cảng nào đó ở Tây Châu gần thuộc địa của Pháp để đổi cho Pháp. Nếu không, xem ra cái thế có thể cướp được thì cướp đoạt luôn để bao chiếm hết cả những chỗ quan trọng của phương Đông. Thế nghĩa là cả miền đất đai ấy không người này chiếm thì người kia chiếm. Nếu ngày nay ta biết giao hảo với người Anh trước để đề phòng đường biển, sau sẽ thông thương với nước Nga để đề phòng đường bộ. Cho dẫu sau này thời thế biến đổi thì trước kia người Anh đã lấy cái việc người Pháp tìm cớ cướp nước ta cho là trái lẽ, mà nay lại thủ tiêu tình bạn bè để cướp nước ta mà cho là phải hay sao? Vả lại, trước kia người Anh đã có cảm tình nồng hậu đối với ta mà hết lời tán dương chính nghĩa của ta để giải thoát cho ta. Việc đó cả thiên hạ đều nghe thấy. Thế mà nay lại thấy lợi quên nghĩa. Thế thì trước kia người Nga cũng đã từng có cảm tình với ta, nay thấy việc bất bình như vậy biết đâu chẳng vì ta mà từ Tây Vực choàng ngay vào sào huyệt của Anh? Nếu sớm dùng kế này thì không những tính trước được lâu dài mà cũng do đây đạt được cái lợi gần như nói trong 4 điều trên. Nếu không, cứ sợ đuổi Tần này lại sinh một Tần khác2, cứ nghĩ rằng một lần ngã còn được, ngã lần nữa thì bị thương. Đó mới thật là mối hại lớn. Mưu trí của người quân tử để lại chẳng riêng cho bản thân mình mà cốt để cho con cháu. Huống chi đây là việc nước vô cùng trọng đại lẽ nào không sớm lo liệu hay sao? Đó là điều lợi thứ năm.
____________________________________
1. Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản trong thời gian phái bộ Phan Thanh Giản ở Sài Gòn chờ tàu đi Huế (từ 18 đến 24-3-1864).
2. Mất Tần Thủy Hoàng thì lại vấp phải Hạng Võ. Câu trên ý nói Hạng Võ thì cũng ác không kém Tần Thủy Hoàng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2010, 11:46:59 am

Thứ sáu là dùng người khác để đánh họ. Ta đã thực hành năm cách trên đây để cầu giúp từ bên ngoài, như con rết một trăm chân không ngã là do có nhiều chân vậy. Sau đó mới nhờ người ngoài để giúp đỡ bên trong. Nay nhìn sang phương Tây thì dù đứa bé con cũng hiểu được cái tâm lý là hai nước mạnh không chịu thua nhau, chứ không phải chỉ riêng Pháp mới như thế. Nếu ta đi lại với Anh, biết rõ tính tình của họ rồi chiêu mộ những người Anh sống lưu vong ở hải ngoại, cho họ tiền của, cư xử tốt để được lòng họ, rồi nhờ họ huấn luyện binh lính quân ngũ cho ta (Binh pháp của người Anh rất giỏi). Những người này không suy nghĩ gì viển vông cả, hễ được thỏa thích là họ xông lên, không như quân ta sợ trước ngó sau. Huống chi đây lại đối đầu với kẻ mà họ ghét, xuống tay với kẻ tương tranh. Cho nên trước đây khi Pháp nghe đồn nước ta thu nuôi người Anh, họ rất lo ngại. Vì họ vốn có bụng sợ quân Bắc kỳ một vài phần, nếu có người Anh đốc suất điều khiển nữa thì họ càng thêm nao núng. Bởi vì họ đã biết rõ những người này có thể liều chết vì người khác, lại giỏi dụng binh, giữ thành. Các nước sở dĩ chống được với phương Tây cũng đều dùng kế đó. Như trong thời Càn Long, người Anh đã lấn dần như tằm ăn cả 4 miền Đông, Trung, Tây, Nam của Ấn Độ, duy chỉ có miền Shikhs bắc Ấn Độ dùng người Pháp làm tướng, cho nên người Anh thu giáo về bàn chuyện hòa hiếu, chưa dám manh tâm. Đợi đến khi viên tướng Pháp kia chết người Anh mới đem quân xâm nhập cắt chiếm hơn nửa phần đất. Lại như các nước Tây Châu giải thoát được bàn tay độc của phương Tây phần nhiều cũng dùng kế đó. Vả lại ngày nay ta dùng kế đó là cốt để tự cường bên trong. Con mãnh hổ có mặt trên núi thì bầy cáo không dám ngấp nghé. Nhờ đó việc dẹp giặc loạn bên trong không khó mà đề phòng hoạn nạn bên ngoài cũng dễ. Vì rằng người Pháp biết ta đủ sức phục thù tất sẽ tụ hợp các nước khác để ứng viện. Nhưng ta đã được sự đồng tình của các nước rồi, thế tất các nước cũng nhân đó mà ngăn chặn lại. Nếu người Pháp thấy phải mà không chịu nghe cứ muốn cướp nước ta, thì sẽ bị cô thế không ai chi viện, còn lực lượng của ta thì đã được củng cố, như thế cũng chẳng đáng sợ. Huống hồ người Anh đã ở với ta thì chính phủ Anh tất phải theo giúp, nếu để thua sẽ tổn hại uy danh. Hiện nay Pháp đem thêm quân lính sang và tương lai những binh thuyền sở thuộc ở phương Đông cũng sẽ dần dần tập trung về Gia Định để làm cái thế chiếm đóng chỗ trọng yếu. Thêm vào đó Y Pha Nho ngày nay đã mất hết quyền ở các nước thuộc địa Tây Châu, chỉ còn đảo Lữ Tống ở phương Đông mà thôi, đảo này lại ở gần Bắc kỳ ta. Y pha Nho là một nước rất sùng mộ đạo giáo1, gần đây nghe tin ở miền Bắc việc giết giáo dân chưa yên, cũng sẽ nhân cớ đó mà trách ta không giữ đúng lời hứa, để rồi sẽ giúp nghịch đảng chống ta. Còn người Pháp nhân nay nghe tin quân Bắc vào Bình Thuận, mai nghe quân Bắc vào Gia Định (Tin đồn này do các thương thuyền phía Nam Quảng Nam vào Gia Định tung ra) thì tất cả những ông quan muốn lập công ở hải ngoại sẽ tâu lên loạn xạ để chứng minh cho lập trường của họ. Ngoài ra còn có bọn giặc ở phía Bắc luôn luôn qua lại hai nước, dùng lời xảo quyệt để thực hiện mưu đồ của chúng. Vậy nay ta phải xử sự cho khéo, bình tĩnh đề phòng đừng để hai nước tìm được chỗ hở nào của ta cả. Lại phải thông hiếu gấp đừng để chúng kết hợp lại với nhau, phải gấp rút chiêu mộ những tay vong mệnh để áp đảo khí thế của họ, trước hãy làm cách không thể thắng để chuẩn bị thắng địch. Đó là điều lợi thứ sáu.

Đã thực hiện được sáu điều lợi rồi, dần dần có cơ hội, tôi xin đem các điều ngấm ngầm làm tổn hại địch trong bài Tế cấp luận ra thực hiện dần dần thì sẽ như lấy trăm kim mà chích làm cho họ nằm ngồi không yên. Sau đó bồi luôn cho một nhát dao thì thế nào cũng chết. Huống chi Tế cấp luận là thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay, đâu phải chuyện một ngày có thể làm được hết. Một nước dùng kế trong một nước cũng đủ chả cần phải mượn tài ở nước ngoài. Nhưng muốn chế ngự thiên hạ thì cũng phải dùng mưu trí của thiên hạ mới được việc. Bởi vì đại thế trong thiên hạ thường cứ 6, 7 trăm năm có một lần biến đổi lớn, thì cái trí thuật cũng theo thời thế mà tăng, việc làm cũng phải tùy theo thời mà định liệu. Nếu lợi cho dân thì không cứ phải theo xưa, nếu thích hợp thì không cứ phải chạy theo cũ, nếu học điều khôn thì không cứ là của địch hay của ta. Kinh Dịch có nói: Khi con rồng đang nằm ẩn náu thì không nên dùng nó. Câu ấy có nghĩa là không nên trái thời.

Những điều trên đây là trình bày đại thể, nói chung là trước thuận theo sự đặt định của tạo vật, sau ra sức thực hiện để cứu vãn tình thế. Vậy muốn áp dụng kế này phải gấp rút khai thác các nguồn lợi và phải nhờ người khác giúp sức. Các mưu kế đó nếu được gấp rút ứng dụng thì dần dần sẽ thấy kết quả. Nếu chậm ứng dụng thì dù chậm đến đâu cũng không thể nào bỏ qua không dùng những kế đó, mà có thể chống lại được với địch. Còn như tự Triều đình thấy mưu kế chước thuật gì hay hơn, điều đó tôi không dám biết. Nhưng theo kiến thức của tôi thu thập được trong thiên hạ, thì nếu bỏ kế đó sẽ không có kế sách nào khác nữa. Hơn nữa dùng kế này không những chống được Pháp, mà còn đề phòng được thiên hạ. Nếu cho rằng kế này quá phiền phức mà chậm, tức không biết rằng muốn thành việc lớn phải đấu tranh hàng trăm năm, chứ đâu phải một hơi mà được. Nhà Đường mất Lưỡng Hoài2 phải đến hàng ba chục năm mới khôi phục được huống chi đây là một kẻ địch hùng mạnh. Cho nên bắt chim, đâu phải chỉ có một mắt lưới mà được. Nay dùng một mắt lưới mà muốn bắt được chim thì làm sao được? Bờ đê có hàng vạn lỗ hang chỉ chận một lỗ mà muốn bắt được cá thì làm sao được? Trên thế giới có nhiều nước nhỏ đã thực hiện được, sao ta lại không làm được?

Trong bài có nói về các khoản khai thác nguồn lợi dù kẻ địch có biết cũng không hại gì. Còn như các điều khoản nói về người giúp đỡ, nếu tiết lộ ra khiến họ tìm cách ngăn chặn ta sẽ khó thực hiện được ý muốn, cho nên phải hết sức cẩn thận. Còn như sẽ làm theo đường lối nào và sử dụng ngôn ngữ gì thì tôi sẽ cùng với ông Nguyễn Hoằng xin hết sức làm để giúp muôn một.

Nay kính bẩm.


____________________________________
1. Chỉ cho đạo Công giáo.
2. Tức Hoài Bắc và Hoài Nam. Đời Đường gọi các miền đất phía Bắc và phía Nam sông Hoài là đạo Hoài Bắc, đạo Hoài Nam.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2010, 08:17:11 pm

DI THẢO SỐ 6

Về việc mua và đóng thuyền máy*

(Cuối năm 1864 - Đầu năm 1865)

Tôi nghe Triều đình muốn mua hỏa thuyền. Điều này rất tốt và cũng chẳng cần xin phép họ, chỉ thông báo cho họ biết mà thôi. Nước Pháp xưa nay không dám có hành động cấm cản người ta tu chỉnh việc võ bị. Nhưng họ cũng có bụng hẹp hòi. Nếu ta đến họ yêu cầu chỉ vẽ đường lối, chưa chắc họ đã tận tâm giúp ta. Chỉ người Anh là có tâm lượng rộng rãi, giúp việc cho ai cũng đều có ân có hậu. Hơn nữa việc mua máy móc cũng có nhiều chỗ khó khăn đáng quan ngại. Tôi xin trình bày sơ lược một hai điều xem liệu có dùng được điều nào chăng.

Về máy móc, nó vốn chỉ là vật cố định, nhờ khéo léo điều khiển mà thành vật chuyển động, khi thành vật chuyển động mà gặp trở ngại nếu không có người giỏi, cứ chỉnh sửa bậy bạ thì sẽ thành đồ bỏ. Cũng như thân thể con người khi gặp bệnh nếu người không giỏi mạch lạc mà cứ châm cắt bừa bãi thì sẽ thành phế nhân. Hiện nay nước ta chưa có tay lành nghề, nếu vội mua về không khỏi phải mướn thủy thủ của họ. Tốn phí rất lớn mà cũng có nhiều chỗ đáng ngại. Còn không mướn họ, để hỏa thuyền một tháng không sử dụng cho máy chạy, máy sẽ bị cáu rỉ sau khó chỉnh lại cho tốt. Xưa nước Lạc Mã muốn đối địch với nước Phi Ni Tây ngầm sai những tay thợ khéo nước mình lẻn sang nước địch làm công rồi ngầm học cách lái tàu hơn một năm, khi lái giỏi mới có thể đối trận lập công được. Hiện nay Nga La Tư cũng sai người sang Anh Cát Lợi làm công, học các thao tác. Cách thao tác rất khó. Họ đã tích lũy nhiều năm mới giỏi dược như vậy. Hiện nay ở phương Tây về cách thao tác thuyền bè không có ai là đối thủ của người Anh cả. Cho nên nhiều người đến đó học. Nay ta chưa thao tác điều khiển được mà muốn sửa chữa thì làm sao khỏi bị hư hỏng. Tôi thiết nghĩ hiện nay ta chưa có nhiều người thông thạo tiếng nước họ, đó là một điều khó. Nếu muốn sang học người Anh, họ cũng chẳng hẹp hòi, nhưng một là phải chọn được nhiều người thật tâm vì nước không ngại đi xa mới được, hai là phải dùng nhiều thông ngôn, gấp rút như thế khó tìm được, đó là hai điều khó. Còn một bên sang học một bên thuê mướn thì so ra việc sang học tốn phí còn gấp đôi việc thuê mướn (Lý do vì sao, việc này tôi chưa kịp trình bày rõ).

Về máy móc có loại máy cao và máy thấp khác nhau. Máy cao thì dụng công giản dị nhưng dễ bị hư hại. Máy thấp thì dụng công phiền phức nhưng tiện. Phải có người hiểu rõ lý thuyết mới khỏi mua lầm. Ngoài ra có loại 200 sức ngựa, 300 sức ngựa cho đến 1000 sức ngựa khác nhau. Nếu không biết công suất áp lực, không tính được sức ngựa nhiều ít. Giá rẻ thì dễ mua lầm. Nói chung, máy cao sức ngựa ít, giá rẻ, máy thấp sức ngựa nhiều, giá đắt. Đó là điều phải phân biệt cho rõ.

Về khoản thứ ba nói về định vật như máy móc chẳng hạn thì theo nguyên lý từ mới đến cũ, không phải như sinh vật từ nhỏ rồi đến lớn. Cho nên tất cả các định vật do người vận chuyển dần dần sẽ hao mòn hư hoại, dù có tu bổ cũng không thể đổi cũ thành mới lại được. Do đó thuyền chở khách hoặc thuyền buôn bị hư họ muốn đem bán thì họ sửa chữa lại. Cũng như đồng hồ vậy, nếu người mua không biết cách sử dụng, không quan sát cho tinh vi thì vào tay không bao lâu sẽ hỏng ngay. Phàm thuyền cũ hoặc thuyền sử dụng đã lâu rất khó quan sát nhận xét. Tốt hơn chi bằng đến thẳng xưởng đóng thuyền chọn mua cái mới. Nhưng như thế cũng gặp phải một nhược điểm là thuyền chưa chạy thử. Vì vậy nên mua thuyền nào đã chạy một vài lần mới tốt. Thống kê về hỏa thuyền trên thế giới thì thuyền tốt nhất mà giá rẻ nhất chỉ có Hoa Kỳ, nhiều xưởng đóng thuyền nhất chỉ có Anh Cát Lợi. Quá nửa hỏa thuyền của Pháp đều mua từ nước Anh và các nước phương Tây phần nhiều cũng đều mua thuyền của Anh. Bởi vì cách đóng thuyền của các nước đều theo phương pháp của Anh Cát Lợi. Nay đi mua thuyền phải theo đường lối như vậy, lại phải chọn được người mình có biết qua các loại máy móc để biết lựa chọn cái xấu cái tốt mới được. Nếu cứ theo lời họ nói thì thế nào họ cũng che giấu cái xấu cái tệ. Theo tôi thiết nghĩ hiện nay người Nam ta biết qua các loại máy tàu và các lý thuyết điều chỉnh tu sửa, không ai hơn được tôi, từ nay về sau thế nào thì không dám nói. Nhưng giao dịch với nước ngoài, phần nhiều có lệ phải đóng khoản tiền đầu (Điều này có nhiều chi tiết chưa kịp trình bày rõ), phải đến trước mặt quan họ xin dùng công ấn đóng vào mới khỏi tệ này.

Khoản thứ tư, nếu đã mua được mấy chiếc thì phải mua máy điều chỉnh, các máy móc có hư tổn thì lượng thế tu chỉnh, sức ít công nhiều. Nếu không, thuê thợ của họ tiền công rất cao. Hơn nữa cứ mỗi lần hư cái gì lại phải mời họ điều chỉnh cũng phiền phức.

Khoản thứ năm thuyền nước họ giá mua và tiền công rất đắt, khi bán sang cho ta lại phải giá lợi gấp 3, 4 lần mới chịu bán. Nếu mua được vài mươi chiếc thì phí tổn đã không ít mà sử dụng cũng có hạn. Tôi thiết nghĩ trước tiên nên mua vài chiếc để đáp ứng những việc cần dùng khẩn thiết. Sau đó mua một bộ các loại máy nấu đúc và các máy vận dụng tạo tác (Danh mục các loại máy này rất nhiều chưa kịp trình bày đầy đủ. Tuy nói trong danh mục nhưng mắt chưa trông thấy cũng khó hiểu rõ). Những loại máy này, có thứ thợ mình có thể làm được thì không cần mua, còn những thứ thợ mình không làm được (Có máy nặng đến một vạn cân không thể vận chuyển bằng tay được, phải nhờ máy nấu đúc hoặc các loại máy công cụ mới làm thành được) thì mua hết đem về thiết lập một xưởng để thực hiện việc nấu đúc. Ban đầu tuy chưa tinh xảo, nhưng từ vụng rồi sẽ đến khéo, từ thô sơ rồi mới đến tinh xảo, lâu ngày tự mình có thể thông hiểu nguyên lý của nó. Họ là người gì? Mới đầu bất quá cũng vậy thôi. Khi đã có máy làm khuôn rồi, từ đó chế biến ra bao nhiêu loại kỹ thuật khác như bánh xe nước, máy cày, máy dệt, đồ dùng hằng ngày, binh khí, v.v... cũng đều ứng dụng từ một nguyên lý mà ra (Đó là sức tự nhiên). Mỗi ngày một canh tân, canh tân thêm nữa, cũng chẳng phải là việc khó. Nhưng trong các loại cơ khí, duy công lực của hỏa thuyền là phiền phức hơn cả. Nếu mình không hiểu sâu đại số, hóa học, trọng lực học v.v… thì cũng khó thành tựu. Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa là mình không thể làm được. Chỉ có điều là bề trên phải có tâm sức, làm mà không hạn chế, làm lâu mới thấy hiệu quả. Nếu cho rằng tạo tác không đúng pháp, quyết không thành công, tôi xin làm một so sánh như sau. Vật liệu và giá nhân công của ta rất rẻ. Nếu đem số tiền mua được mười chiếc của họ mà ta tự chế tạo thì sẽ được 30 chiếc. Cho dầu sơ khởi tạo 2, 3 chiếc chưa được tinh xảo, nhưng đến lần thứ tư thứ năm sẽ tinh xảo. Như vậy dù trước có mua của họ 2, 3 lần nhưng số tiền đó cũng chưa đầy một phần ba số tiền hoàn toàn mua của họ. Nhưng ta chế tạo thì dần dần mỗi ngày một tinh xảo sẽ được lợi vô cùng, đó là một, thành tựu được nhân tài là hai, cho họ biết nước ta cũng có người là ba.

Năm khoản trên đây tôi chỉ mới nói đại lược, còn các chi tiết chưa kịp trình bày rõ. Nhân vì chân tôi bị tê bại sắp thành kẻ phế nhân, nằm ngửa ra mà viết, tinh thần buồn bực rối loạn, tự biết nói năng không thứ tự. Nhưng tất cả đó là sự thật, muôn trông ba vị đại nhân thương tấm lòng nhiệt thành của tôi mà lượng thứ cho.

Nay kính bẩm.


(Tôi nghe cái đồng hồ không chạy. Nếu tiện xin gởi đến, tôi sẽ đích thân chỉnh lại sẽ tốt. Nếu tôi bệnh chưa khỏi, tôi sẽ thuê thợ Tây chỉnh lại cũng tốt. Vì thợ Tây biết tôi cũng chỉnh được nên không dám làm cẩu thả. Còn các loại đồng hồ chuông tôi đều hiểu rõ hết, không những chỉnh được, dù loại mới cũng được. Có điều là tôi chưa mua được máy chỉnh).
____________________________________
* Nguyên văn chữ Hán chỉ có trong Hv 634/4 tờ 185-192
    Bản văn này không có ghi ngày tháng năm. Nhưng nội dung bản văn chưa cho thấy là trước đó đã có việc mua bán gì cụ thể, mua cụ thể thì tháng 8 năm Tự Đức 18 (tức tháng 9-1865), Triều đình mới mua thuyền máy đầu tiên là thuyền Mẫn Thỏa (Xem ĐẠI NAM THỰC LỤC, bản dịch Nxb Khoa học Xã hội, tập 30 trang 168). Hơn nữa di thảo số 7 (khoảng tháng 2-1865) đã có nhắc tới tờ bẩm trước về việc mua thuyền máy. Do đó văn bản này có thể được viết từ Sài Gòn (Nguyễn Trường Tộ nói là mình đang bị tê bại, nằm ngửa mà viết) vào khoảng cuối 1864 - đầu 1865.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 05:32:52 pm

DI THẢO SỐ 7

Về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy*

(Tháng 2 năm 1865)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin dâng lên đại nhân soi xét.

Hiện nay thuyền của Tây đã đến Kinh, tôi đã ngầm hẹn với ông Hoằng cùng đi với tôi là có thâm ý riêng:

Một là, lần này thuyền Tây đến trả lời thẳng là không trả 3 tỉnh, mà còn tin cho biết sẽ đòi tiền bồi thường hằng năm. Tôi nghĩ có lẽ Triều đình đã có lời bàn riêng với họ, nhưng viên thông ngôn đã bị họ sai khiến, nên hễ có lời nói nào không hợp với họ, thì hắn ta bênh che không dám nói hết lời. Như thế thì thật hỏng việc. Như việc phiên dịch của Trung Quốc đối với các nước ngoài trước kia, vì do những sự thêm bớt sự việc mà đến hỏng việc nước. Cho nên tôi đã thầm hẹn với ông Hoằng cùng nhau đến đấy. Nếu Triều đình có những việc gì cần nói cứng hoặc cần đấu dịu cứ việc nói thẳng không ngại gì.

Hai là, trước đây phái viên tung tin ra rằng Phan đại nhân và Phạm đại nhân có sai người đến hỏi ông Hoằng về việc hỏa thuyền. Lúc bấy giờ chưa thể trình bày rõ, nay nếu cần hỏi tỉ mỉ rõ ràng thì có ông Hoằng ở đây. Nếu có điều gì ông chưa hiểu thấu thì tôi sẽ cùng ông ta bàn bạc rồi sẽ bẩm rõ. Vả chăng vì việc đại thuyền và cơ khí thì trước đây tôi đã trình bày sơ lược rồi. Nếu muốn mua những thứ đã có sẵn thì phải theo cách đó mới được (trước đây đã trình bày rõ). Hoặc muốn sang nước họ học tập chế tạo những thứ đó, theo tôi phải có những người khéo tay chọn lấy khoảng ba bốn mươi người từ ba mươi tuổi trở lên, đi học chế tạo, lại cần có những người thông minh chọn lấy mười người từ hai mươi lăm tuổi trở lên, đi học đại số, vi phân cùng các môn trọng lực học, hóa học, quang học, v.v... Hai khoản này nếu thiếu một không thể thành việc. Lại phải sang kinh thành nước Pháp hoặc kinh đô nước Anh học khoảng 8, 9 năm mới biết được đại khái. Vì rằng sang học tại nơi đô thị của họ, thì một là kiến văn rộng rãi việc học dễ thành đạt; hai là ở lâu với người nước họ, thông hiểu được ngôn ngữ, phong tục của họ, sau này có việc gì sai phái đi về cũng dễ. Còn như ở Sài Gòn, các loại máy móc hiện có chế tạo từ bên Pháp chở qua đây chẳng qua là những loại xấu, hư hỏng mà thôi, không có gì đáng học.

Nếu Triều đình muốn thực hiện hai thứ vừa kể trên tôi và ông Hoằng xin tình nguyện ra sức cùng sang Tây với hai lớp người nói trên, thông dịch ngôn ngữ, giải thuyết những điều họ chưa hiểu rõ, phụ giúp cho những chỗ họ không theo kịp thì không ngoài mười năm, việc học sẽ thành đạt. Bởi vì đối với lý thuyết của hai khoản này tôi đã biết được những điều quan yếu. Lại thêm ông Hoằng là người rất giỏi tiếng Pháp, giải thích, phiên dịch được rõ ràng, nếu cùng đi với những người này thì sẽ trực tiếp và dễ dàng hơn. Hiện nay Nhật Bản, Miến Điện cũng đã phái người đến kinh đô nước Pháp học kỹ nghệ. Đến như nước Nga ở phương Tây mà cũng cho người đến nước Anh nước Pháp học tập. Tuy phải dụng công lâu dài, chi phí rất lớn, nhưng cũng thu hoạch được nhiều. Vì rằng muốn thành đại sự phải mất hàng trăm năm chứ đâu phải một ngày là được. Cho nên người quân tử lo toan mọi việc chẳng những ở đời mình mà còn cho con cháu nữa. Như nước Nga 100 năm nay vẫn thường cử người đến Bắc Kinh học tập Hán văn, cứ 10 năm lại đổi một loạt người khác, lại cho người đến Thiên Trúc học tập âm ngữ1. Ý của họ là xin lửa thì chi bằng lấy cái gỗ kéo lửa, xin nước thì chi bằng đào giếng uống. Hiện nay cuộc diện chưa biết sẽ đến đâu. Họ đã không trả cho ta ba tỉnh ngoài, mà ba tỉnh trong cũng đã nằm trong ý định của họ rồi (Trong tờ trình trước đã nói tới). Mà Y Pha Nho cũng đến miền Bắc, nếu không đến nhờ người giúp để khiến cho họ yên đi không dám động (Trước đây khi ở Sài Gòn tôi đã có tờ trình rõ với hai vị phó sứ bồi sứ, nay không nói tới nữa), lấy cái mưu mà các nước bị mắc với họ để đánh lại họ, lại lấy cái họ đã từng thi hành ở các nước để đè bẹp họ. Vì hiện nay ở thế tung hoành nếu không như vậy thì chưa thấy kế hoạch gì khác có thể trấn áp được họ (Trong tờ trình năm ngoái tôi cũng đã nói tới). Đại nhân mang trọng trách của Nhà nước xin sớm liệu định, e rằng nếu để chậm thì đã khó lại càng thêm khó. Tôi ở xa nhưng vẫn là dưới quyền của đại nhân, không có cái gì biết mà tôi không nói, nếu có gì không hợp với sự kiêng kỵ về thời sự, xin đại nhân tha thứ cho. Lại xin đại nhân nếu có bản chép về quốc sử từ Lê đến Tây Sơn nếu có thể cho xem xin gửi cho một bản, nhờ đó tôi có nhiều giải thuyết để chống lại những phù thuyết của giặc. Tôi lại xin gởi kèm theo đây một cái hộp gỗ thô kính tặng quí công tử dùng đựng thuốc hút, mong đại nhân nhận cho. (Tôi hiện nay bị bịnh tê thấp chưa khỏi. Xin quí công tử thương tình cho tôi 5 đồng cân quế quỳ. Sau này lành bệnh tấm lòng khuyển mã chẳng dám quên ơn).

Đêm khuya bối rối nhiều việc thời sự chưa kịp trình bày tường tận. Một lần nữa kính chúc hai phó bồi sứ đại nhân vạn phúc.

Nay kính bẩm.
_____________________________________
* Nguyên văn chữ hán: Hv 189/1 tờ 65-66 và Hv 634/4 tờ 73-77.
    Bản văn này cũng không có ghi ngày tháng năm, nhưng chắc chắn là được viết vào khoảng giữa tháng 2-1865 tại Huế. Bởi vì trong bản văn có nói tới việc tàu Pháp đã đến kinh. Đây là tàu đo trung úy hải quân Chavalier tới Huế (Từ 10 đến 17 tháng 2-1865) để chính thức báo tin là chính phủ Pháp vẫn giữ nguyên hòa ước 5-6-1862 và đòi Triều đình Tự Đức trả tiền bồi thường chiến tranh hàng năm như đã quy định.
1. Tiếng Phạn


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 05:39:32 pm

DI THẢO SỐ 8

Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước

(Khai hoang từ)*

Ngày tháng giêng năm Tự Đức 19 (15-2 - 17-3-1866)

Kính dâng mấy lời trình bày những điều mắt thấy tai nghe về đường lối cố hữu trong việc khai hoang của người phương Tây. Nước ta phải gấp rút tính liệu mưu kế trước để chiếm ưu thế, để mưu đồ lợi ích vĩnh viễn, để giảm bớt những bức thiết hiện nay.

Nguyên phương Tây 500 năm nay, tất cả những nơi nào họ đã vững chân và không có gì trở ngại thì trước hết họ dùng lời mềm dẻo cầu xin. Những sự tình trong lời xin của họ tôi đã nói rõ trong tờ bẩm trước. Nếu việc xin của họ gặp khó khăn trở ngại họ cũng không cưỡng ép mà cứ dần dần thi hành các âm mưu quỷ quyệt để mưu chiếm lấy hết. Nhiều nước đã bị như vậy rồi.

Hiện nay họ đã sai người đi theo Tiền Giang dọc thẳng lên các đường đến tận Vân Nam. Những nước nhỏ ở phía Tây ven sông thuộc Xiêm La thường bị họ dùng kế ly gián để dễ bề sai khiến. Họ còn lên tiếng xin nước ta cho họ sai người dọc theo đường núi từ Bình Thuận ra Bắc đến Tuyên Quang để dò đường trước, rồi sẽ sai binh thuyền dọc theo ven biển từ Bình Thuận đến Quảng Yên qua các cảng khẩu và mặt biển, để dò nông sâu, vẽ vào bản đồ. Sở dĩ họ cần làm như thế là không những chỉ mưu lợi mà còn dụng ý rất thâm, tôi đã mật bẩm rồi, nay không dám nói rõ nữa.

Nhìn chung các nước trong thiên hạ phàm nước nào chiếm được ưu thế thì một là do có người giúp hai là do phân rõ chủ khách. Nếu ta tính toán trước công việc để trấn áp họ thì không những hiện tại có thể được hưởng lợi 7, 8 phần 10 mà về sau có thể được cái lợi vĩnh viễn vô cùng như Hợp Chủng Quốc ở Tây Châu. Cho nên gần đây các bậc có trí trong thiên hạ bàn về lý và thế nói rằng: Thà làm khách làm chủ chớ không làm tôi làm tớ. Câu nói đó thật là đúng. Thường tình con người ta khi làm khách làm chủ với nhau thì mạo diện tất phải cung kính, ý tình phải nồng hậu. Giả sử có lời lẽ phân trần cảnh cáo để lấy việc trước cảnh giác việc sau thì chẳng qua là lấy tình bè bạn giúp nhau mà thôi, chứ không phải như phận học trò phải bỏ sức ra phục dịch thầy. Nếu trong khi giao thiệp có điều gì xích mích trái ý thì vì thể diện hai bên sẽ dần dần tìm cách giải quyết. Còn như thầy trò thì có nhiều điều bị xử ức phi lý lắm chứ không phải một mà thôi đâu. Hiện nay các hội buôn của họ sang nước ta có hội muốn xin mở đường xe lửa suốt cả Nam Bắc; có hội muốn xin khai thác mở dọc theo các núi, có hội muốn xin cho thuyền đi dọc theo biển để tiễu phỉ, có hội muốn thông đường buôn bán. Các người này một mặt xúi giục các quan của họ, sớm làm cho thành chuyện, một mặt đánh tiếng xin dần để dò xem như thế nào. Vả lại vua quan của họ cũng có thâm ý riêng. Từ quan đến dân không ai không có chú mục vào nước ta. Tôi đã biết rõ tình hình này, cho nên trong các tờ trình trước tôi đã nhiều lần đề cập một cách tế nhị, nhưng vì là những việc hiềm nghi húy kị nên chưa nói rõ hết được mà thôi. Năm trước tôi đã nói với họ rằng những phần đất phía Đông từ Tiền Giang thẳng đến Vân Nam xưa nay đã thuộc về ta, dân ở đây hoặc nạp cống, hoặc nạp thuế. Bản ý của tôi là muốn ngầm cho họ biết trước để sau này không thể không để cho ta cùng hưởng lợi. Rồi sau dần dần dùng kế dụ dỗ dân ở đây theo về ta theo lối nước Nga đã dùng kế lấy các bộ ở Tây Bá Lợi Á.
_____________________________________
* Bài này chỉ có ở Hv 189/1 trang 67 - 79
    Nguyễn Trường Tộ, trong nhiều bài điều trần sau này, thường nhắc đến bài này dưới tiêu đề “Khai hoang từ” và ngay ở câu đầu của bài này có nói tới hai chữ “Khai hoang” (Cẩn thượng ngôn vi tương chân tri chước kiến Tây phương tuân hành khai hoang cựu lệ).
    Nhưng khai hoang đây không có nghĩa hẹp là khai phá đất hoang, mà là có một kế hoạch khai thác tiềm năng của quốc gia bằng cách thu hút sự đầu tư của người nước ngoài.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 05:40:39 pm

Tuy chưa thực hiện, nhưng thâm tâm mật kế tôi đã dự định đường đi nước bước như thế rồi. Cho nên tờ bàn hòa năm trước tôi có nói: “Mất bên Đông thu lại bên Tây” là đã ngầm phục sẵn sự việc ngày nay vậy. Nay nếu biết đề phòng trước có thể được lợi lớn sau này. Vậy xin trình bày mấy điểm sau đây:

1. Nước ta có một dải núi chạy dài từ Bắc xuống Nam lại thoải dần về phía Đông. Đó là một thế núi tốt nhất trên địa cầu. Nền của nó rất cổ, do đó chứa nhiều kim loại đá quặng cùng các ngọc báu, các vật hiếm lạ. Những nhà địa lý các nước đã từng khen ngợi. Nhưng ta chưa hề khai quật, nỡ để điều mà tạo vật ban phúc cho ta thành ra vô dụng. Nay ta chưa tài khai khẩn, lại chưa có đủ phí tổn nhu dụng thế là ôm của báu mà chịu nghèo mãi, lẽ nào không biết thẹn mà còn đem cái lợi bày đường mách nước cho người ta? Nếu không biết khởi phát trước để chế ngự họ, không để cho họ thừa thế, thì sẽ cam chịu cho họ sai khiến để được một phần lợi, như trường hợp một vài nước nhỏ ở Tây Châu. Hơn nữa, ven núi phía Tây theo họa đồ của họ đều thuộc về ta. Như tôi đã lấy những người mình từng đi lại nhiều biết rõ phong tục tình lý ngôn ngữ của thổ dân ra làm chứng. Ngày nay nếu ta đưa ra những chứng cớ có thực đó bảo họ trở lại cầu ta giúp đỡ, nếu ta thành thực giúp họ để chia nhau nguồn lợi phía Tây, nhờ uy để chiêu dụ những dân man mọi thì họ càng sung sướng vì hợp với thâm ý của họ.Ta cũng để lộ cho họ biết nếu họ bị lộ chuyện gì ta sẽ ngầm giúp họ một tay. Như thế họ sẽ vui thích và hết sức giúp ta, để mong ta giúp họ sau này. Nếu thực hiện kế đó thì từ ven núi ra phía Đông, họ nỡ nào chiếm đoạt? Còn từ ven núi phía Tây ta với họ cùng có lợi tuy có mất mát phần ít cũng chẳng qua là lấy của ngoài đường để mua cái tình người đấy thôi, ta có tổn hại gì đâu? Vả lại, họ lấy kế để cần ta thì ta cũng tựu kế mà chọi lại họ không được sao? Nhưng kế đó rất khó, phải khéo điều đình mới được, hãy đợi tôi từ từ dò xem họ, biết rõ chân tướng sự cơ của họ rồi mới làm.

2. Người Pháp xưa nay từng coi ngôi vua là quý, chức quan là trọng, và việc làm của họ thì cốt lợi cho dân. Nếu thấy nước nào còn theo tập tục cũ, đem lòng nghi kỵ đối với người khác không chịu thông hiếu với nhau, thì họ sẽ lấy câu “lợi mình là để lợi người” mà suy diễn ra cho rằng tạo vật sinh ra đất đai vốn để cho cả nhân loại hưởng dụng, chứ đâu phải để cho một nước, một vua nào chiếm lấy làm của riêng? Lẽ đó ở đoạn đầu trong bài Lục lợi từ tôi đã nói rõ. Nếu hai bên không lưu thông trao đổi để cùng có điều hay, chung điều lợi thì ta bỏ người lấy không được sao? Nay nếu biết mở cửa buôn bán với nhau, họ không ngăn cản ta qua, ta không ngăn cản họ lại hòa hợp với nhau, đúng như thánh thượng đã minh dụ rằng: “Các nước bốn phương hiện nay đã liên kết giao thông với nhau”. Như vậy là để liệu trước sự việc sẽ xảy ra, đón kịp thời thế khiến họ phải là khách mà ta là chủ. Như thế họ sẽ cho rằng ta biết rõ thời thế, nên đến đâu cũng sẽ yên phận giữ lời ước, giữ danh nghĩa, không dám có ý đồ khác mà cũng không cần có ý đồ khác làm gì nữa. Thường tình con người ta, cầu lợi mà không được lợi mới không kể gì nghĩa lý mà liều với tiếng xấu. Nhưng người ta cũng có nhiều cách che đậy để mong tránh tiếng tham ô xấu xa. Nay đã được cái lợi như ý, lại tránh được tiếng xấu nữa, mà còn mưu cái lợi khác để liều chịu tiếng nhơ, lẽ nào có tình đời như vậy? Tôi đã xem xét hết các nước hễ ở đâu có người của họ cư trú mà nước đó ăn ở tận tình với họ, thì không những tránh được họa bên ngoài mà mối lo bên trong cũng hết dần. Vì rằng mối họa khốc liệt thảm hại nhất không gì bằng họa binh đao. Nếu họ đã ăn ở cùng ta thì khi có họa bên ngoài xảy tới họ cũng sợ bị vạ lây, buôn bán không thông, khi có hoạn nạn bên trong họ cũng sợ lụy đến thân gia đình khó bảo toàn. Vì vậy, hai trường hợp đó ta không cần giúp tự nhiên họ cũng sẽ giúp. Nhìn ra các nước ở phương Tây và Tây Châu, vua các nước thường giao việc nước cho các đại thần mà chu du các nước để mở rộng kiến văn, không phải lo việc bên trong nữa, vì đã có nhiều người lo giữ cho rồi. Sỡ dĩ được thế vì danh nghĩa đã lập, ngôi vị đã định, lý chính, thế đồng, phải trái thiên hạ đều biết, xử sự hợp với công luận, tung hoành liên kết nước lớn nước nhỏ, hòa hiếu hợp với các nước, một người làm trái thì cả đám gỡ cho. Ngày nay việc cai trị được lâu dài yên ổn đều do ở sự biết kết hợp, khác với thời xưa lấy bùn mà trát kín cửa để tự bảo vệ là thế.

3. Ngày nay cái mà ta thiếu thốn nhất là tiền của. Vì không có tiền của cho nên trăm việc, việc gì cũng không làm được. Hơn nữa, đồ dùng khí cụ của ta chưa đủ, tài trí chưa vươn tới, lại chưa có tiền của để mua máy móc kỹ thuật. Nay nếu đem một nửa số nhân tài cả nước và một nửa của cải ra thực hành cũng phải đợi vài chục năm sau mới có hiệu quả. Huống khi trước khi chưa được lợi đã sợ có một biến cố gì khác xảy ra thì tài lực của ta có khi lại bị người khác dùng. Hơn nữa dân tình yêu ghét chưa giống nhau, ý kiến còn chưa thống nhất, thì vị tất đã hiểu rõ được ý nghĩa tạm thời tổn phí để được yên ổn mãi mãi. Phàm việc gì chỉ tính đến cái lợi nhỏ trước mặt, thì vị tất đã tính toán kịp được cái lợi lớn đến con cháu. Cho nên, ai lo phận nấy, nhà ai biết nấy, thì vị tất đã hợp được công tư với nhau như dân các nước phương Tây. Tục ngữ có câu: “Muôn việc khó ở bước đầu”. Hễ thấy việc lớn mà không có lợi ngay thì tâm thần ý chí mệt mỏi rã rời không chịu làm xong việc. Đại để trong một nước phàm việc dân như việc hưng lợi, tuy do người trên xướng lên, có khuyến khích hướng đạo rõ ràng, nhưng do cả nước ở dưới làm. Nếu như ở trên việc gì cũng cứ tự làm lấy cả thì sự phiền phức thật không kể xiết. Việc làm đó ban đầu thì lợi quy về dân mà cuối cùng là quy về nước như các hội ở phương Tây. Nhưng dù trước hay sau cũng đều có lợi chung giữa công và tư. Vấn đề này có nhiều chi tiết chưa kể hết ra đây. Nay ta nếu biết cân nhắc sự cấp thiết đó mà mời họ khai nguồn lợi cho, thì dân thấy việc làm của họ có lợi, sẽ hùa nhau mà theo. Đó là lẽ thứ nhất.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 05:43:38 pm

Phàm việc thuê mướn nhân công, trước hết họ phải thuê dân ta, những người nghèo khó không có kế sinh nhai thấy được lợi nhiều sẽ rủ nhau ra làm, như thế sẽ tránh được cái thói du thủ du thực trộm cướp, như người Tàu đổ xô đến Cựu Kim Sơn và Tân Kim Sơn1 trước kia vậy. Đó là lẽ thứ hai.

Phàm những điều lợi mà họ được tất phải qua dân ta trước, rồi mới đến nước khác. Phàm những đồ cần dùng mà họ xuất ra như các loại đồ uống, thức ăn, khí cụ tất từ nước khác chuyên chở tới. Họ có những đồ cần dùng mà ta thiếu và cần thiết, thì cũng nhân họ có mà ta có. Đó là lẽ thứ ba.

Trừ các điều lợi đã giao ước, ngoài mấy phần thuộc về nước ta, còn họ được mấy phần thì dân ta cũng được nhờ, như nào là việc buôn bán các đồ tạp dụng cho đến mọi sự kinh doanh nhỏ khác linh tinh rất nhiều không thể kể hết. Rồi lại có công nhân các nước kéo đến đông đảo thế tất phải mướn đất ta dựng nhà, người thuê nhà đông thì thuế nhà cũng nhiều, ta lại được cái lợi như người Anh ở Hạ Châu2, không đánh thuế thuyền buôn mà chỉ thu thuế nhà mà thôi, ấy là cốt ở chỗ người đông. Cho nên nước nào khai mỏ thì dân cư ở đấy giàu có đông đảo, như Tây Châu là chứng cớ rõ nhất. Đó là lẽ thứ tư.

Phàm chỗ nào họ đi đến thì họ đều dùng đủ mọi cách gây tình cảm để được lòng vua và tôi, để dễ bề thuê mướn nhân công và để được các sự bảo hộ trong khi ăn ở, sự phí tổn không thể kể xiết. Như thế không những ta được cái lợi thường tình để làm ích cho nước, mà dân chúng cũng được của cải lưu thông để tự cấp. Đó là lẽ thứ năm.

Nhân sự cần mẫn của họ làm phấn chấn sự ủy mị của dân ta; nhân cái sức lực đã thành thuộc của họ giúp cho cái sức lực đang nuôi dưỡng của ta; nhân cái lợi đã hiện có của họ giúp cho cái mới bắt đầu của ta; nhân sự qua lại các nước của họ mà mở mang các đường giao thông của ta. Đó là lẽ thứ sáu.

Phàm chỗ nào có họ đến, hơi yên dằm là họ đã lập các hội như nhà thương, viện dục anh, viện tế bần, viện bố thí, trường học miễn phí, dân ta sẽ được nhờ. Đó là lẽ thứ bảy.

Bảy điều trên đây đều có thể giúp ta bước đầu giải quyết nạn thiếu tiền của.

4. Hiện nay cái ta thiếu là sự học tập tài nghệ. Nay ta mời họ đến, phàm chỗ nào có khai quật, thì có quan quân của ta ngồi thu thuế. Do sự đi lại nói năng và mắt thấy những điều có thể dùng được ta đều học lấy. Dân ta với họ cùng nhau làm việc, nơi ở gần nhau, ăn mặc giống nhau, trong khoảng mười năm thì tài nghệ trong dân gian chẳng gì khác họ nữa. Như thế nhà nước không mất một đồng tiền nào mà việc học của nhân dân vẫn thành đạt. Ta lại có nhiều cách để khen ngợi nhân dân, thì dân sẽ đua nhau theo học những cái thực dụng ấy. Trong khi học tập lại có tiền công của họ để tự nuôi mình. Sau khi học thành tài sẽ nghĩ đến kinh doanh việc khác để góp công với nước nhà. Như thế ai không hết sức, không tận tình? Vả chăng việc mà họ giúp được cho dân ta cũng chỉ là lúc mới đầu công việc chưa biết, kỹ xảo chưa tường, nói năng đối đáp chưa lanh, tính tình chưa hợp mà thôi. Đến khi mọi việc đã thông hiểu, đủ để tự lập rồi, thì ta sẽ rời bỏ họ mà trở về với ta, tất sẽ nghĩ đến chuyện cũ Bàng Mông3. Dân là dân ta, họ không thể cưỡng ép đi theo họ được. Thế là lúc đầu họ dạy ta, chỉ vẽ cho ta những cái khó, mà cuối cùng là ta được hưởng cái thành tựu, ta tự điều khiển dễ dàng. Tôi thấy khắp các nước cũng như tình người đâu cũng vậy, khi thiếu thì phải dựa vào người, khi đủ rồi thì trở về với mình. Đó là lý thế đương nhiên, không đợi bày dặt mới biết. Cho nên nói rằng ngồi mà hưởng lợi là vậy.
_____________________________________
1. Cựu Kim Sơn: San Francisco. Tân Kim Sơn: Melbourne.
2. Hạ Châu: Singapore.
3. Bàng Mông học được chước hay của Hậu Nghệ rồi thì giết chết Hậu Nghệ luôn.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 05:44:39 pm

5. Ngày nay cái khó của ta là ở chỗ bắt đầu. Nếu chần chừ không biết nắm lấy cơ hội trước, thì việc họ thèm thuồng nhỏ dãi không phải chỉ một ngày, thế tất họ sẽ dùng trăm cách cố làm sao nắm lấy cho được. Ví như trong nhà có một chỗ bí mật không hề mở cho ai thấy ắt sẽ khiến người ta sinh nghi. Bọn cướp không phải trên trời xuống, tất cũng là người trên đất này, chúng sẽ lấy kỳ được những thứ cất giấu đó mới thôi. Nay nếu ta mở toang các cửa, để cho họ thấy rõ mọi vật đều có chủ, thì không thể thừa cơ gây hấn, chỉ có dùng lối mềm dẻo để xin mà thôi. Khi đó quyền định đoạt thuộc về ta. Ngày nay nếu ta nhân có họ xin mà mở các cảng khẩu để thuyền bè các nước ra vào, ta ngồi mà thu thuế để tăng quốc dụng, như ở Trung Quốc. Có thuyền máy qua lại trên mặt biển thì bọn cướp biển dần dần sẽ tiêu. Sự sinh sống của dân ta sẽ dần dần thịnh vượng. Hai con đường đó sẽ giúp ta chi phí một vài chỗ trong lúc đầu. Phàm họ đi tới đâu, mọi việc làm tất phải tự xuất tiền để mà lập nơi cư trú đồn trại và cầu cống đường sá, v.v... hoặc đào mương, hoặc xẻ núi để vận chuyển hàng hóa, lại còn phải thiết lập các thứ khí cụ dể làm việc. Tất cả những xây cất tạo dựng đó đều ở trên đất của ta. Đến khi họ vừa lòng mãn ý rồi thì chán, hoặc vứt bỏ mà về, hoặc bán rẻ. Như thế là ta không khó nhọc gì mà được hưởng chiếm, không ra khỏi nhà mà mua được. Thật là nhất cử lưỡng tiện. Hơn nữa, họ xây dựng nhà cửa ở nước ta, thì những nơi trù mật đông đúc, hưng vượng thịnh lợi đâu phải chỉ riêng họ có? Kìa, nguồn lợi vô cùng của núi biển chưa dùng hết, và các loại cây cỏ lúa má trên mặt đất sinh sản mãi mãi, hễ chỗ nào có dấu chân họ đến là họ khai thông đường sá cho mãn hạn rồi thì vật sẽ trở về với chủ, họ không thể cuốn hết núi, biển, đất đai của ta mà mang đi. Thế tức là họ vỡ hoang mà ta hưởng thành quả, như các nước Tây Châu là một chứng cớ. Chứng cớ đó rất mới, cả thiên hạ cũng không thể bài bác. Đó là vì lý mà cũng ví cái thế nữa. Vì rằng tạo vật đã định sẵn mà nguyên tổ loài người cũng đã sắp xếp trước. Tuy họ tạm thời được hưởng nửa phần lợi, nhưng cuối cùng cũng không thể nào đổi khách thành chủ được. Chẳng qua là tạo vật dùng họ để chấn hưng các nước. Xét đến cùng cũng không khác gì làm thuê cho người khác mà thôi. Ngày nay nếu ta biết đề phòng trước các ngõ ngách, lời nói phải nghiêm nghĩa lý phải chỉnh, để đợi họ đến xin, như thế rõ ràng là ta làm chủ. Đợi khi họ xin, thì ta ưng thuận ngay để chặn mối hiềm khích. Dần dần ta cho họ một vài chỗ; lúc bấy giờ sẽ có nhiều thương nghị giao ước, nay chưa nói đến. Nay xin gấp rút mời vài người Tây có thể tin cậy được, hậu đãi họ, tức tốc cùng vài người của ta thông hiểu sự việc trước hết dọc theo ven núi biển tìm kiếm, chỉ định rồi sau chọn lấy những mỏ tốt nhất mà dễ lấy, dành lại về sau để tự khai thác. Trừ những mỏ nào mà ta đã khai thác, còn những mỏ nào mới tìm được mà khó lấy thì ta giao cho họ lấy, ta hưởng nửa phần lợi. Một mặt cầu ngoại bang giúp đỡ để trấn thủ 3 tỉnh, bên trong thì khai nguồn lợi để chặn sự gây hấn, đề phòng họ lấy ngầm, để phòng giúp khi loạn, để chặn đường bọn người rình mò xúi bẫy, để tương lai thu lại các lợi khác. Mặt khác, đặt lãnh sự để củng cố hòa nghị, thông thương thuyền bè để khỏi tranh chấp. Một mặt phải gấp rút chấn hưng những món lợi gần để giải cứu những bức thiết nhất thời; mặt khác phải gấp rút nói rõ cho các nước biết cái đại thế kiên cố để tiêu trừ những ý nghĩ của bọn Thắng, Quảng1, để thuận theo bụng muốn lập công của tướng Tây, mà cái ý muốn lấy ba tỉnh trong cũng nguôi dần. Vì tạo được sự thông hiếu với ta cũng đã là một công lớn rồi, mà còn không thể gây hiềm khích gì được nữa. Như trong tờ trình trước tôi đã nói: “Bốn phía vây bủa khiến cho họ không dám động tĩnh” là như thế.

Nay xem Triều đình của họ đã có mật nghị, muốn lấy trọn sáu tỉnh hợp với toàn xứ Cao Miên để làm cửa ngõ lấy vùng đất hai bên sông Cửu Long dọc lên tận Vân Nam làm nhà chính, phía trên lấy Vân Nam làm vườn sau, và lấy nước ta làm bờ giậu phía Đông, để chống giữ mặt biển. Những ý đồ đó đều nằm trong dự định của Triều đình họ như con thỏ đào ba lỗ hang là như thế. Các tướng Tây gần đây dự định trong vòng ba năm hoặc sẽ lấy toàn bộ sáu tỉnh hoặc chiếm cả Cao Miên, hoặc khai phá đường phía sau để thông Vân Nam; hoặc sẽ thông thương chung lợi với ta để mở mang rào phía Đông. Ba việc đó thế nào cũng phải thực hiện được một. Nay nếu ta khéo đắp đê để nước róc về phía Tây, lấy Cao Miên và phía Tây làm chỗ trũng để họ chuyên ý vào đó. Ta lại làm cái cách đứng bên cạnh bồi vào, như ở đoạn trên tôi đã nói thì mới có thể làm dãn được tình trạng căng thẳng của ta. Còn ở ba tỉnh trong cứ để họ qua lại tự nhiên đừng đề phòng hạn chế gì cả xem như mình cùng với họ sống chung. Thế là tuy họ không lấy ba tỉnh trong, mà vẫn được thuận lợi cũng như lấy rồi. Có như vậy mới duy trì được ba tỉnh trong để làm kế sau này. Điều đó trong binh pháp nói: Tạo được tình hình thì địch phải theo.

Nếu Triều đình không nghi ngại gì mà thực hiện dần dần các kế đó thì đại sự sẽ không xảy ra. Nhưng điều tôi nói có thể có một vài cái không nghiệm, nhưng nếu không gấp rút lo liệu thì chẳng những tờ trình này mà các tờ trình khác trước đây cũng đủ chứng rằng lời tôi nói không sai. Điều mong muốn thiết tha của tôi là lời nói của tôi không nghiệm chứ không muốn để thấy rằng lời nói của tôi là không sai. Bởi vì biết đề phòng trước khi sự việc xảy ra, thì lời nói của tôi dù có chỗ không nghiệm cũng là điều phúc cho nước nhà, mà còn phúc cho cả anh em tôi. Còn bảo đó là vì công hay vì tư thì sau này sẽ có ngày hiểu rõ, không cần phải biện bạch.

Vậy kính dâng.

Ngày tháng giêng năm Tự Đức 19.
_____________________________________
1. Trần Thắng, Ngô Quảng là những lãnh tụ nông dân nổi lên chống lại Tần Thủy Hoàng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:41:28 pm

DI THẢO SỐ 9

Về việc mua tàu London*

(Khoảng tháng 2 hoặc 3 năm 1866)

Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Cái hỏa thuyền này nếu quả không có giấy tờ của phái viên thì cũng không quan ngại gì, nhưng trước hết xin hãy nói rõ nguyên do và đệ trình gấp cho Tây soái biết, thì dù họ không chịu rút lui mà lái về Hương Cảng để cầu viện quan họ, Tây soái cũng sẽ dàn xếp cho ta. Vì theo hòa ước thì nước nào muốn sinh sự với nước ta cũng phải có quan Tây tham dự để xem xét phải trái. Một mặt ta phải tư cho Hiệp biện đại nhân đem đầu đuôi sự việc nhờ Nguyễn Đức Hậu viết rõ ra bằng chữ Tây và kèm theo bản dịch ra chữ Hán một bên.

Hôm trước Hiệp biện đại nhân đã giao giấy cho ông ta làm gấp gửi hỏa thuyền nhật trình đệ về Hương Cảng giao cho viên lãnh sự Pháp biết rõ để viên lãnh sự phân giải với quân Anh cho ta. Hơn nữa, hôm trước ở Gia Định đã có nhật trình nói rõ rằng: “Thuyền này là thuyền của người Anh, nước Nam chưa mua xong”, đó cũng là một chứng cớ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ thì dù họ không thể bắt ép ta mua nhưng trước đây ta đã giao hẹn và lần này họ đến Gia Định ta lại không kịp nói gấp với họ để họ tiện việc khiến đến nay họ phải qua lại tốn kém, thì khoản tổn phí đó ta phải bù cho họ mới tránh cái tiếng xử sự không phải với thiên hạ. Hoặc là nói với họ rằng mua thì cần mua nhưng phải đổi cho chiếc khác mà phải đúng là binh thuyền mới được. Rồi theo lẽ công bằng ta nhờ người xem xét và định giá cho. Khi đó, nếu họ đòi giá cao mà ta trả giá hạ, nếu họ bán thì ta mua được cái tốt, thế cũng chằng sao. Nếu họ không bán, thì họ tự chịu lấy và khó bắt ta trả tiền phí tổn. Như thế mới khỏi mang tiếng không tốt. Tuy nhiên cũng phải tốn nhiều vận động lắm mới xong được việc. Một đằng là không mua mà phải trả phí tổn, một đằng là đổi rồi mới mua để tránh tiếng. Tóm lại chỉ có hai con đường đó mà thôi xin đại nhân tham khảo.
_____________________________________
* Nguyên văn chữ hán: Hv 189/4 tờ 3.
Không ghi ngày tháng năm, nhưng chắc vào khoảng tháng 2 hoặc 3 năm 1866, bởi vì trong văn bản Nguyễn Trường Tộ có đề nghị là nên tư cho Phan Thanh Giản ở Vĩnh Long tới Sài Gòn xin Tây soái can thiệp và theo báo cáo của La Grandière ngày 30-1-1866 (Kho lưu trữ Bộ Pháp Quốc hải ngoại Indochine A 30 (9) Centre II), thì hôm 22-1-1866, Phan Thanh Giản trên đường từ Huế đi Vĩnh Long có ghé Sài Gòn mà không nói gì tới việc này. Hơn nữa chúng ta được biết là theo báo cáo của Trần Tiễn Thành, (xem phụ lục số IV, I) thì ngày 25-3-1866, Nguyễn Trường Tộ đã rời Huế đi Quảng Bình. Trong thư gửi Trần Tiên Thành ngày 19-3-1866 (Văn bản số 10), Nguyễn Trường Tộ có nói rằng: “Tôi nhân công việc về đây, chẳng mấy tháng mà bệnh cũ đã tăng lên”. Như thế là Nguyễn Trường Tộ phải có mặt ở Huế từ cuối tháng 1-1866 cho tới 1-4-1866. Di thảo này phải được viết trong thời gian Nguyễn Trường Tộ ở Huế.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:46:21 pm
DI THẢO SỐ 10

Thảo thư gửi Tây soái*

(Nguyễn Trường Tộ soạn)

Trước đây chỉ vì bản triều chưa hiểu rõ sự thế phương Tây, mà quý soái trước kia (khi ở Đà Nẵng) lại đến đột ngột, không nói rõ ràng làm cho bản triều không hiểu, đến nỗi bất đắc dĩ phải đem binh tồi ra chống đỡ. Đó cũng là do tình thế bắt buộc. Mong quý quốc cũng không vì thế mà trách giận lâu dài. Kế đến khi gác giáo bàn việc giảng hòa quý quốc đòi phải tạm cắt đất bồi thường chiến phí, bản triều đã lập tức nghe theo, chính vì muốn giương cao uy danh của quý quốc mà cũng vì tin tưởng sau này quý quốc cũng sẽ hiểu rõ tình hình giao hảo của bản triều mà cho thương thuyết châm chước trở lại. Xưa kia, vua Anh Cát Lợi có nói: “Ta chưa lên giường ngủ thì chưa dám cởi áo” Chúng tôi nghĩ rằng quý quốc vì thấy bản triều hiện tại chưa rõ sự thế, nên tạm thời bắt phải cắt đất bồi thường để đợi khi nào bản triều hiểu rõ đại thế quý quốc, cùng nhau liên hợp lâu dài, cho nhân dân hai nước chung hưởng hạnh phúc hòa bình, thì quý quốc khi đó sẽ lấy tình mà cư xử, để bản triều và các nước thấy rõ tấm lòng quý quốc là đợi lúc “có thể cởi áo thì cởi” chứ vị tất đã có thâm ý mặc mãi chiếc áo đó. Nếu không, lẽ nào quý quốc chưa bao giờ mới đến xứ nào đã đối xử nghiêm khắc ngay với xứ ấy mà lại riêng đối xử với bản triều sao? Có lẽ tình không phải vậy mà thế phải làm như vậy. Hiện nay tình giao hảo của bản triều đối với quý quốc thật giả ra sao, dân sự nhân cái cớ đó mà bất an như thế nào, quốc kế chắp vá hao hụt như thế nào quý soái cũng đã rõ. Ba tỉnh thuộc quý hạt, dân chúng chưa đồng lòng, khó bề sai khiến. Tuy với thế lực của quý quốc, kinh doanh tốn kém lâu rồi mà còn như thế, thì tình hình ba tỉnh trong như thế nào cũng có thể suy ra mà biết được. Dân thuộc quý hạt đã am hiểu phong tục luật lệ bản triều nay bỗng chốc thay cũ đổi mới tất sẽ cho là chướng tai gai mắt. Hơn nữa lại có những kẻ dựa thế hại người, nay thì phao tin nói quý quốc sắp thi hành những chính sách tàn bạo hại dân, mai lại nói bản triều sắp tiến hành khôi phục để giết dân, khiến đến nỗi dân tình Nam Bắc nghi ngờ sợ hãi. Phàm những chuyện đồn đại như thế không phải ít gì, tưởng quý soái cũng đã biết rõ. Như thế thì chẳng những quý quốc khó bề quản trị, mà bản triều cũng bị hại lây. Dân ở quý hạt và bốn phía xung quanh đã từng được quý quốc dạy dỗ dẫn dắt lâu mà còn như thế thì những nơi xa xôi và những miền man mọi sẽ như thế nào. Roi dài vẫn không vươn tới được, đó là việc dĩ nhiên. Tuy quý quốc gấp rút việc đua đuổi nơi xa ngự trị lâu dài để cầu đạt sự mong muốn lớn, tuy bản triều gấp rút xóa bỏ những lời gièm pha, mở lòng thành thật với quý quốc để cùng chung hưởng điều lợi, nhưng hai bên vần còn một đường ngăn cách. Không có cách giải quyết khéo léo để xóa bỏ đường ngăn cách ấy thì làm sao liên hợp với nhau được? Bản triều thiết nghĩ quý quốc phàm đến nước nào cũng trước dùng uy rồi sau thi ân, trước nắm lý rồi sau cư xử bằng tình. Uy và lý là tạm thời, ân và tình là trường cửu. Uy và lý là để mở cửa cho ân và tình. Khi đã vào khỏi cửa rồi thì như một nhà sum hợp vui vẻ cùng nhau, thế là lấy cái ân tình trường cửu mà bù lại cái uy lý bất đắc dĩ trước kia. Đâu có chuyện vì những lời đồn đại vu vơ mà nỡ bỏ cái lòng chân thành thiện đạo vốn có của quý quốc? Bản triều thật đã thấy rõ như vậy, nên ngày đêm suy nghĩ mong sao mối quan hệ với quý quốc đã thân lại càng thêm thân, để chặt đứt đường ngăn cách ấy đi, và trong bụng cũng thành thật tin tưởng quý soái sẽ rộng lượng không vì những lời phao đồn mà mất tình hữu nghị. Thật như thế thì từ nay về sau, hai bên có thể lấy quyền lực của vua mà điều hòa sắp đặt hóa khó thành dễ, biến dị thành đồng, nơi có bù nơi không, nhân dân tương trợ lẫn nhau, bản triều với quý quốc tuy hai mà như một. Thế lực của bản triều là thế lực của quý quốc. Sự cường thịnh của quý quốc tức là sự cường thịnh của bản triều. Con rết trăm chân thì không ngã. Như thế thì có nước nào dám khinh miệt được? Vì rằng người bình thường muốn giao đính với nhau phải dựa vào tình bạn mới thành. Nếu cứ thù nhau mãn đời thì người ta phải tìm người bạn khác để làm kẻ thân thiết để giúp đỡ lẫn nhau, chứ có ai sống cô lập không cần sự giúp đỡ mà thành được việc đâu. Bản triều thiết nghĩ hiện nay các nước phương Tây đại loại đều như thế, cho nên thiết tha muốn được ít nhiều “gần đèn thì sáng” ngõ hầu mãi mãi nhờ thanh thế của quý quốc mà mở mày mở mặt trong thiên hạ, và quý quốc cũng có thể nương cậy lâu dài vào bản triều như là phên giậu che chở cho quý quốc, để gây ảnh hưởng rộng lớn ở phương Đông. Hai nước liên hợp với nhau lâu dài, chung nhau điều hay, món lợi, thì những điều sở cầu của quý quốc mới hợp với lương tâm, và giữ gìn được bụng ăn ở tốt với bản triều, để cho thiên hạ biết rõ quý quốc không phải lấy thế lực đàn áp người như các nước khác. Như thế thì bản triều sẽ tránh được cái tiếng xử sự hẹp hòi, khỏi phải chờ đợi gì nữa. Việc đó cũng do tự ý quý quốc thi hành ra trước đã. Bản triều lại thấy rõ người phương Tây phàm đến xứ nào thì trước hết dù có dựa vào thế lực của mình để chiếm cứ thị trường, nhưng cuối cùng cũng phải dựa vào quyền lực của xứ đó để kinh doanh khai thác, chứ chưa hề thấy dồn người cả nước mình đến đấy, bỏ cái gốc mà lo cái ngọn bao giờ. Giả sử vua xứ ấy không hiểu lẽ tương thông cứ dấy binh chống mãi thì cuộc tương tranh cũng không chấm dứt được. Cái thay vì để nuôi người giờ trở thành cái làm hại người. Cho dẫu có quyết đánh lấy người ta cho được thì cũng chỉ tạm một thời mà thôi và cái được cũng bù vào cái mất, người bị hại nhưng đâu phải ta chỉ có lợi mà không có hại? Cuối cùng vật gì quá cực độ của nó thì nó sẽ phản ngược trở lại. Đâu có thể nào an nhiên tọa hưởng mãi trên đất xứ người ta? Như các nước ở Tây Châu là những bằng chứng cho điều này vậy. Bản triều đã hiểu rõ lý lẽ ấy cho nên không chịu để mất cả hai, bản triều chẳng những muốn mình vẹn toàn mà còn muốn cho người vẹn toàn nữa, vì thế cho nên có đoạn tâm tình trên đây. Mong quý soái hiểu cho lòng thành thật của bản triều. Vì rằng những sự thế này không thể đem miệng lưỡi giả dối ra mà nói được. Cách ngôn nói: “Biết trước đã rồi sau mới muốn”. Bản triều đã biết rồi, nên mới muốn như vậy. Thiết tha mong quý soái đừng vì việc đã qua mà nghi ngờ việc sau này, để tăng thêm sự điều đình hơn nữa để bản triều giữ được vẹn toàn nghĩa liên hợp lâu dài, và quý quốc cũng mãi mãi tránh được cái tiếng lấy thế lực chèn ép người. Như thế thì hai triều đình sẽ cố kết thông đồng, và đại hoàng đế quý quốc với đại hoàng đế bản triều mãi mãi giữ được tiếng thơm trong thiên hạ, nhân dân hai nước lấy tình thân ái lễ nghĩa đối đãi với nhau, chung nhau mối lợi cũng như sự vui buồn, như người trong một nhà. Như thế là tốt đẹp, quý soái có nghĩ như vậy chăng?

Nay kính


Ngày tháng 2 năm Tự Đức 19.

(17-3 - 14-4-1866)

Châu phê: Bài này lý lẽ rất mềm dẻo, không chống, không theo, cũng rất nghiêm chỉnh và trang nhã khiến cho họ biết rõ có thế cũng không ỷ thế được, thật là không thèm dạy mà dạy cho họ vậy.
_____________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/4 tờ 17-20.
    Cuối bài đề tháng 2 năm Tự Đức 19 tức khoảng từ 17-3 đến 26-3-1866 là ngày Nguyễn Trường Tộ rời Huế đi Quảng Bình. Nguyễn Trường Tộ đã thảo thư này trong lúc ở Huế vào đầu năm 1866, để trả lời một văn thư nào đó của Tây soái phiền trách việc quấy phá của nghĩa quân trong ba tỉnh đã nhường cho Pháp.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:50:28 pm

DI THẢO SỐ 11

Tâm sự với Trần Tiễn Thành*

(Ngày mùng 3 tháng 2 năm Tự Đức 19, tức 19-3-1866)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin kính bẩm.

Tôi trước đây bị ốm nằm ở Gia Định điều dưỡng đã gần hai năm nay mười phần đã giảm 5, 6. Tôi cũng định đi xa, một là để thỏa điều nguyện ước trước kia, hai là mong được bình phục sức khỏe để sau này báo đáp ơn trên. Nhưng thời thế còn có điều trở ngại, do người đời còn ghét kẻ có tài mà chặn tay lại, ngay đến người có quyền lực như đại nhân mà còn gặp khó khăn, huống chi tôi là người thân hèn tài mọn mong dựa vào đại nhân để hành sự thì cũng chưa thể được. Không có cớ gì mà việc lớn cứ ngấm ngầm nảy sinh ra nên tôi không thể không trở về để tâu bẩm rõ ràng, ngõ hầu có thể đề phòng được sự việc trước lúc phát sinh. Tôi nghĩ rằng lòng của tôi đã không muốn vào tay người khác để họ sai khiến, mà lại có cách để tránh được tai họa, tưởng mọi người cũng có cái lòng như tôi, cho nên không dám tiếc tấm thân hèn sắp chết này mà không trở về Kinh để nói rõ cái ý chí của thiên hạ như vậy. Sở dĩ tôi trở về tâu bẩm chính là ý đó.

Những điều trình bày trong các tờ bẩm trước không phải là những điều thấy nghe nhất thời mà tôi viết ra. Đó là những điều tôi đã ôm ấp hàng năm, cho nên muốn thổ lộ chân tình, trút hết tâm huyết, mục đích không phải cầu cho lời nói của một mình tôi là thực mà chỉ muốn khắp thiên hạ chứng minh cho sự thực. Hơn nữa, tôi đang ở trong hoàn cảnh bị hiềm khích, chưa chắc ai đã tin ngay lời tôi nói, nên phải kiên nhẫn đợi chờ, không dám đuổi theo tài lợi, đành cam chịu cuộc sống nghèo khó đạm bạc, để cốt chứng minh cho lời nói của tôi là không vì một cái gì, không mong được một cái gì, không bị ai sai khiến, không có một ý đồ gì khác mà thật là vượt ra ngoài lẽ thường tình. Theo lẽ thường mà nói, thì những việc làm của tôi như vậy thật là khó hiểu, bấy lâu nay vì tôi không gánh vác gia đình không thiết tha tài lợi, cả Tây Nam cũng đều thấy, như thế cốt để gạn lọc ý chí, đào luyện tính tình mà bảo dưỡng việc học tập của mình. Tất cả những điều đó vốn là để đợi thời hành sự, để mong làm được một vài điều lòng hằng ôm ấp, để trọn ơn trên, để tròn thế sự, chứ đâu phải cam chịu chôn mình trong cảnh tối tăm tịch mịch? Trung và hiếu vốn là hai điều khó giữ vẹn. Nhưng nếu chỉ nói suông không ngồi vào, không dự vào chỉ biết thân mình, nhà mình, theo thường tình, còn việc an nguy của quốc gia thì coi như chuyện của nước Sở nước Việt; không hết lòng báo đáp ơn nước nhà, một mai bốn phương xảy ra nhiều việc thì thân thích của mình cũng sẽ cùng số phận với việc mất còn của đất nước. Trung không thành thì hiếu chưa hẳn đã giữ được. Tôi đã thấy rõ ràng như vậy nên muốn vun đắp báo bổ cho tương lai, chớ không muốn làm gượng ép một cách tạm thời để đến lúc phải than thở ôm tài mà chết. Xin đại nhân xét lại những hành trạng của tôi xem tại sao tôi không chịu làm điều danh lợi cho mình trong lúc còn tuổi trẻ và trong những ngày có nhiều thuận lợi ấy, mà lại còn có cái ý khác trong lúc bệnh hoạn trói buộc, muộn màng gian nan? Nếu thấy được những lý do đó thì biết được lập tâm của tôi như thế nào. Nay tôi nhân việc công về đây, chả mấy tháng bệnh cũ đã tăng lên, tuy được đại nhân chiếu cố cho thuyền đi lại mà cũng khó bề bôn tẩu vâng mệnh. Nhưng lòng tôi yên sao được mà dám yên nhiên như thế? Cái tình ấy thật khó nói. Cúi xin đại nhân gia công tài bồi cho chậm lại ít lâu để tôi được khỏe lại mới có thể ứng mệnh. Ngày báo đáp của tôi với Triều đình và đại nhân còn nhiều, trừ phi tôi chết mới thôi, chứ quyết không dám thay đổi chí hướng để mất đi cái kiên nhẫn của mấy năm trước kia là không cận nhân tình không mưu danh lợi. Kính mong đại nhân xét cho tấm lòng của tôi. Sau khi tôi trở về, nếu bệnh khỏi không đợi gọi tôi cũng đến, nhưng nếu chưa bớt thì dù có lệnh gọi tôi cũng xin đại nhân lượng thứ cho. Nếu có việc gì có thể sai phái như mua sách, hoặc trình bày việc này việc khác với họ, giúp đỡ lãnh sự để lấp mối hiềm nghi. v.v... Những việc như thế tôi có thể giúp trong muôn một. Còn những việc có tác dụng lớn khác thì thế chưa thể làm được, sợ bệnh tái phát thì khó xong việc. Nếu đại nhân truyền gọi điều gì, xin hỏi nơi Giám mục Hậu, và xin nói cho biết rõ việc gì, đi đâu, đi lâu hay đi chóng hoặc tạm về rồi đi nữa, hoặc đi xa, hoặc ở Kinh để tôi dự bị mang theo những đồ dùng cần thiết phòng bệnh và ít nhiều tiền chi dụng khỏi phiền lụy đến người khác.

Rất mong

Nay kính bẩm.

_____________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 80-82.
    Bài này được viết lúc Nguyễn Trường Tộ đang ở Huế, để giúp vào việc tàu London. Lần này Nguyễn Trường Tộ tuy có được hỏi han, nhưng không được sử dụng trong cuộc thương thuyết về tàu London, nên có vẻ ê chề, chán nản nên mới xin về Nghệ An.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:53:21 pm

DI THẢO SỐ 12

Những việc Giám mục Gauthier có thể giúp*

(4 tháng 4 năm Tự Đức 19, tức 17 tháng 5 năm 1865)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin bẩm rõ những điều Giám mục Hậu muốn giúp Triều đình mà xét thấy có thể làm được:

Năm trước châu phê: “Liệu có giúp được việc gì không” 1.

Về việc Triều đình muốn xin trả lại ba tỉnh thì theo tôi đó là việc quân việc nước vô cùng quan trọng một giáo sĩ không thể làm được. Về lý và thế đều còn có chỗ trở ngại, thiết tưởng Triều đình cũng đã rõ không cần phải nói nữa.

Nay Triều đình muốn nhờ giám mục mời các kỹ sư đến để học tập, đó là điều cấp thiết hiện nay. Nhưng các kỹ sư này đều là những người có tài lực trí xảo họ không muốn xa quê hương. Hơn nữa thấy Triều dình chưa mở hết cửa để thỏa nguyện kẻ ở xa muốn đến giúp Triều đình, khiến họ chùn bước không tiến tới được. Nếu là bọn lạc phách du dân việc gì cũng lấy tài lợi làm trọng, tâm địa không ra gì, thì không thế nào so sánh được với những người chỉ có lòng muốn làm hay làm tốt cho ta. Nay muốn thay đổi tình thế mà không cẩn thận trong việc tìm người hợp tác thì thường sẽ bị người xúc xiểm, bòn rút. Mới đầu khởi sự, chưa thấy lợi mà đã thấy hại, tất sẽ như tình trạng vì nghẹn họng mà bỏ ăn, rút lui không tiến, thế thì làm sao thành việc được? Xe đã đổ2, tôi rất lấy làm lo buồn. Năm trước linh mục Hòa ở Gia Định đã có tờ trình bày3. Lần ấy tôi cũng có hai tờ trình bày về việc mua bán và học tập4. Giám mục cũng đồng ý trước với tôi như vậy. Bởi vì điều khẩn thiết nhất trong đạo giáo là yêu người như yêu mình. Cho nên giáo sĩ đến đâu cũng quan tâm đến việc vui buồn của nước ấy. Hễ nước nào có nền chính trị tốt không làm trở ngại đạo giáo người đều ra sức giúp đỡ. Chỉ có điều chưa thấy bề trên suy lòng để dạ như thế nào mà thôi. Còn cái tình ngay thật trong lòng này, sau nhất định sẽ có ngày Triều đình hiểu rõ. Thế mới biết chỗ kỳ diệu của đạo giáo, không như thường tình thù hằn đến chín đời là vậy. Trước kia khi ở Kinh, nhân lúc đại nhân căn dặn linh mục Hòa5 tôi đã mấy lần thấy việc giám mục giúp cho một tay là cần thiết. Khi trở về tôi trình bày lại kỹ càng, giám mục vô cùng hân hạnh cho rằng Triều đình đã muốn yên trị tự cường thế tất sau này cả nước và giáo dân đều được ban ơn như các nước trên thế giới vậy. Do đó giám mục tuy ở xa nhưng hiểu được ý tốt của Triều đình. Vậy xin đem những điều có thể giúp được mà không trở ngại gì về mặt giáo lý của đạo giáo trình bày sơ lược vài điều sau đây.

Nếu muốn sang thông hiếu hoặc chọn người sang phương Tây học tập quan sát các cơ xưởng kỹ xảo như thế nào, các phép thiên văn, địa lý, lái thuyền hàng hải như thế nào, những cách phân biệt các thứ kim loại đá quặng và thảo mộc như thế nào, các phép tìm kiếm khai quật các mỏ như thế nào, cách làm các khí cụ thường dùng hằng ngày như thế nào, các binh cơ khí giới như thế nào, các mưu lược tung hoành như thế nào cùng là các lễ pháp ngoại giao như thế nào, mua các máy móc to nhỏ hoặc xem cách sử dụng hoặc lấy mẫu như thế nào, cách chọn những người dạy kỹ xảo như thế nào, tìm người trung tín có thể nhờ vả để tìm những nguồn lợi trong nước ta như thế nào, các phương pháp mới để phát triển kinh tế, chọn ra cái nào nên làm trước cái nào nên làm sau và ứng dụng ở nước ta như thế nào, nhất nhất phải nhận cho rõ ràng mà làm, lợi hại hoãn gấp ra sao... đều phải đồng lòng hợp sức để mọi sự được thỏa đáng. Trừ những cái bất ngờ ngoài sự trù tính của mình ra, còn thì sau này mọi người cứ thế mà làm.

Các việc trên đây, trừ những khoản phí tổn về việc đi lại của Triều đình ra, còn các khoản phí tổn do giám mục sai phái các linh mục hoặc giáo đồ qua lại để giúp đỡ công việc đều do giám mục tự đài thọ, không phiền Triều đình phải lo, mà các việc đó giám mục đều giao cho Nguyễn Trường Tộ tham dự từ đầu đến cuối. Những dự định giúp đỡ ấy là lời thật tình thật của giám mục chứ không phải nói quá sự thực đâu. Về thứ tự làm cái nào trước cái nào sau sẽ do Triều đình quyết định. Khi bắt tay vào việc sẽ có nhiều điều phải bàn chung nữa, giấy bút không thể kể hết được. Nếu như có việc gì lớn lao rắc rối mà người của giám mục không làm được thì giám mục sẽ thân hành ra làm, không nề khó nhọc, như trước kia Bá Đa Lộc đã đi cùng tiên hoàng vậy. Nhưng khi nào bắt đầu thì Triều đình phải gửi thư đến Giáo hoàng trước để thỉnh mệnh mới được.

Mấy điều trên đây, dám xin bày tỏ nỗi lòng dù Triều đình có nghi hay không nghi cũng vậy. Vì rằng sự thế rồi tất có ngày thấy lợi hại của sự nghi ngờ hay không nghi ngờ. Đại nhân là kẻ liên quan đến sự khinh trọng của nước nhà, xin đem tấm lòng thành này của tôi tâu giúp lên cho hoàng thượng rõ thấu, tôi thật vô cùng cảm kích.

Kính bẩm.


Các điều trong tờ trình bày đều đúng với lời của giám mục nên giám mục đóng dấu vào đây để làm bằng.

______________________________________
* Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 95-98
    Hv 634/4 tờ 9-14.
    Bài này được viết từ Nghệ An.
1. Châu phê trên Văn thư của linh mục Hòa như nói trong bài này. (Xem chú thích về tờ trình của linh mục Hòa dưới đây)
2. Xe trước đã đổ (Tiền xa ký phúc): Phải chăng là Nguyễn Trường Tộ muốn nói đến chuyện lường gạt về chiếc tàu London?
3. Tờ trình của linh mục Hòa năm trước: Văn bản này hiện không tìm thấy ở đâu có.
4. Tức văn bản số 6 và 7 của Nguyễn Trường Tộ trước đây.
5. Linh mục Hòa cũng đã được mời về giúp giải quyết vụ tàu London cùng với Nguyễn Hoằng oà Nguyễn Trường Tộ. (Xem phụ lục 4.2)


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:40:13 pm

DI THẢO SỐ 13

Ngôi vua là quí; chức quan là trọng*

(Tháng 4 năm Tự Đức 19, tức cuối tháng 5 năm 1866)

Kính thưa,

Trong bài Khai hoang từ trước đây, ở điều thứ hai tôi có nói: Người Pháp xưa nay lấy ngôi vua làm quí, chức quan làm trọng. Trong phần cuối điều đó cũng nói: Vua các nước thường giao việc nước cho các quan đại thần để chu du các nước, mở rộng kiến văn, mà không phải bận tâm việc trong nước nữa. Vì việc yên trị lâu dài là do liên kết giao thiệp với các nước, khác với thời xưa chỉ biết lấy bùn trét cửa để tự giữ là thế... Trong bài ấy, có 5 điều, nhưng điều này là căn bản. Các việc phúc lợi trong nước đều do đó mà ra.

Tôi sở dĩ khinh bỏ danh lợi cốt để Triều đình tin nghe, vì thâm ý của tôi là sang các nước xem nắm tình hình, không những nôn nóng chứng tỏ mình là người không có hại, có thể làm được những việc chính nghĩa cho vua mà còn để trở thành một kẻ mưu trí gấp lo chống đỡ hoạn nạn cho nước nhà nữa. Cho nên bây giờ lại bộc bạch tâm huyết một lần nữa cho hết từ đầu đến cuối. Sau này dù có ngàn vạn lần nữa cũng không có gì thêm.

Người xưa có nói: “Dân là gốc của nước”. Nói như vậy cũng chưa đúng. Tôi cho rằng vua quan là gốc của nước. Vì không có vua quan thì chẳng bao lâu dân sẽ loạn, tranh nhau làm trưởng, giành giật lẫn nhau, án sát lẫn nhau, oán thù lẫn nhau. Cho nên nước dù có vua bạo ngược còn hơn không vua. Trong kinh thánh xưa của đạo giáo có nói: Tuy vua bạo ngược dân cũng không thể hai lòng. Vì nếu dân dấy loạn thì chưa tổn hại đến vua mà trước hết là hại dân.

Ngũ luân thì vua quan đứng đầu. Đạo giáo coi vua hơn cha, cho nên gọi trung phụ là để cho đạo vua được tôn nghiêm hơn. Vì nếu không có đạo vua thì không thành thế gian. Phương Tây gần đây không có ai phạm tội giết vua, không có hành vi khinh thị quý tộc. Tuy những xứ man mọi như Trâu, Cử1 cũng không khinh lờn, vì đã hiểu rõ ý chỉ của kinh thánh. Trong kinh xưa còn nói: Tạo vật đã từng vì tội của vua quan mà trừng phạt dân ở đời này. Lại nói: Vua tuy vô đạo cũng không được gọi bằng thằng, và sát hại bừa bãi. Bởi vì phạt dân thì trong nước chỉ hại nhỏ, còn phạt vua trong nước thì sẽ bị hại lớn; mà thường khi hại dân có tội, Chúa cũng đặc biệt mượn vua quan làm roi vọt để thay Chúa mà trách phạt. Cho nên giết vua chẳng khác gì giết Chúa. Vua được coi trọng đến như vậy. Cái lý này xưa nay các sách Nho chưa từng nói rõ.

Như Mạnh Tử có nói: “Dân là quý, rồi mới đến vua”. Câu nói này đã từng mở đường cho vô số bọn hủ nho sau này lấy cớ mượn việc công để làm điều tư. Thành Thang giết Kiệt. Võ Vương giết Trụ. Thang, Võ đã từng là bề tôi của Kiệt, Trụ thế mà lại giết Kiệt, Trụ. Nếu để cho người khác giết rồi sau cướp lấy thiên hạ trong tay người đó thì mới không hại danh nghĩa. Nếu bảo đó là nguyện vọng của nhân dân thì giả sử dân bảo làm điều bất nghĩa cũng làm hay sao? Phàm nhân thì phải thuần hậu, nghĩa thì phải cho trọn vẹn. Trong lúc giao phong phải cứu người vô tội. Như thế là giết người mà cứu người. Nếu mạo danh giết vua để được cái nghĩa cứu dân thì cái nghĩa đó càng chưa trọn vẹn. Thế mà xưa nay các bậc thánh hiền đều ngợi khen Thang Võ là hết sức nhân nghĩa.

Đến như Khổng Phu Tử mà cũng không chỉ rõ điều sai đó để làm sáng tỏ cái nghĩa vua tôi, để cho Thang Võ không có chỗ trốn tránh trong khoảng trời đất này nữa. Nay Thang Võ đã có chỗ trốn tránh rồi. Mối ấy một khi đã khơi ra khiến thiên hạ đời sau dòm ngó ngôi vua, rồi thêm nhiều tiếng ác cho bậc quân phụ để che giấu cái xấu của mình. Cho nên trong bài Lục lợi từ, tôi có nói: Mọi quyền lợi hành vi trong một nước phải do vua nắm, và cùng với quốc dân chia sẻ nỗi vui buồn. Ngoài quy luật này ra đều là tội cả. Tôi xem khắp các nước trong thiên hạ, hễ nước nào có một họ được bề tôi đời đời giúp rập thì tuy có đôi khi suy vi nhưng trong nước cũng không đến nỗi có loạn lớn. Như Nhật Bản đã mấy nghìn năm, Thổ Nhĩ Kỳ đã nghìn năm, các nước phương Tây đều như thế cả, ở Nam Tây Châu cũng vậy. Sở dĩ dân ở đấy phần nhiều chỉ có loạn nhỏ mà không có loạn lớn là vì danh nghĩa đã xác lập ngôi vị ổn định, nghe thấy đã quen ít xảy ra việc thoán đoạt làm loạn. Bởi vì nếu tục lệ dễ dãi lơi lỏng, thì nhân dân một khi thấy có điều không như ý, không biết tự hối lại nói bừa là vua quan không xứng đáng, rồi chê trách lung tung, bàn chuyện thị phi, mưu đồ họ khác lên thay, hoặc hy vọng có một sự thay đổi nào đó, đứng núi này cho núi kia là cao hơn,... nhân tình đại để như vậy. Từ đó bịa ra đủ thứ những câu sấm, bảo là có điềm ứng hiện để gây phiến động trong dân chúng. Do đó dễ sinh ra họa loạn. Các nước phương Tây đã hiểu rõ cái lý đó.
______________________________________
*. Bản Hán văn: 189/1 tờ 83-94.
Ở đầu bài ghi là “Tháng 4 năm Tự Đức 19” tức từ 14-5 đến 12-6 năm 1866. Nhưng theo bài tấu của Trần Tiễn Thành ngày 19-4 năm Tự Đức 19 tức 1-6-1866, thì có nhận của Nguyễn Trường Tộ gởi từ Nghệ An ba bản, chắc trong đó có bản “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”, nên bài chắc phải được viết trước 1-6-1866 tức vào cuối tháng 5-1865.
1. Trâu, Cử: Những nước nhỏ đời Xuân Thu (Trung Quốc).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:41:46 pm

Kẻ làm vua biết rõ cái điều trời phó thác cho mình là nặng nề, mọi phúc họa điều do trách nhiệm ở vua, cho nên tự hạ mình ghép vào vòng pháp luật. Người làm dân biết rõ ngôi tôn quý đã định rồi, quyền hành đã có người nắm rồi, phận sự đã được đặt để rồi, cái thế đã có người giữ, cho nên quy tiếng đẹp lên trên. Mỗi người tự lo lấy danh nghĩa của mình không dám manh tâm gây chuyện họa loạn. Họ biết rõ mình có nhiều tội ác, Chúa dùng nhiều tai biến để răn đe, nên mới có những sự chênh lệch không đồng đều, chứ không phải do vua quan gây ra nên không dám oán giận bề trên. Những điều hay đẹp này là do tình vua với dân hợp nhau hoặc xuất phát từ tình cảm đó mà ra.

Kẻ làm dân chỉ cố một điều giúp đỡ vua, kính trọng quan mà thôi. Vua quan nếu có điều sai thất, thì cả nước đều đau đớn khổ sở. Vì thế mà thành thói quen, họ đều lấy việc giương cao uy tín của nước, bảo vệ thế lực của nước làm trọng, chạy ngược chạy xuôi chống giặc như sợ không kịp, lăn vào những nơi nước sôi lửa bỏng như đi vào nơi bình thường, cả nước có một tiếng xấu thì coi như do tự mình mà ra. (Những điều tốt đẹp trên đây là nói về toàn thể, là chỉ về đại dụng, tuy nhiên trong đó cũng có vài điều nhỏ nhặt không phải vậy).

Đối với những điều này, là sĩ phu bé phải học, lớn phải làm. Là người thôn dã, trong nhà ngoài xóm phải bàn luận khuyên bảo nhau. Nhờ đó dần dần trở thành truyền thống, thuần phong mỹ tục được lưu truyền. Ví dầu ai có lòng dạ nào khác, cũng không thể không theo đại thế, không thể không theo cái chung. Bởi vì trí xảo con người ta do tập tành mà được, thiện ác bắt nguồn từ học thuật và phong hóa cũng do từ học thuật sinh ra. Trong sách dạy như thế nào, thầy giáo chỉ vẽ như thế nào thì người học phải làm sao cho hơn những gì sách đã dạy thầy đã chỉ. Trong nước ai ai cũng phải có thái độ học tập như thế, và hành vi như thế. Bất kỳ Đông Tây, đó là cái lý lẽ chân xác không bao giờ thay đổi. Bởi vì:

1. Các nước đã có thuần phong mỹ tục rồi mà các vua quan lại biết khéo nhân thời lập thế, biết rõ phép tung hoành để kiềm chế lấy nhau, để dựa vào nhau, các nước đều liên hợp với nhau, mở toang các lớp cửa thì ta và người đều biết rõ mọi vật đều có chủ.

2. Đi lại giao hảo thân tình với nhau, tính kế ăn ở lâu dài với nhau, không chịu giúp họ khác lên thay ngôi vua mà mình chưa biết tình ý họ ấy như thế nào.

3. Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùng người hiền, đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không ai dị nghị, sự nghiệp không suy đốn.

4. Kẻ làm dân thấy thiên hạ ca tụng vua mình, so sánh người và ta, thì hết lòng làm sao cho thiên hạ kính trọng vua mình hơn.

5. Các bè đảng biết rõ danh phận của vua quan đã định, thì vị tất trong một lúc mà các nước đều giúp cho mình làm bậy.

6. Các nước Tần Tấn Tề Sở sức lực đều mạnh ngang nhau không chịu để cho ai lợi mà mình hại.

7. Người ở thế lực trọng yếu biết rõ nhân tâm đã có chỗ chuyên hướng, những người đồng liêu đã liên kết ngoại giao, thì làm sao có thể thuyết phục hết người này đến người khác, cần gì phải ngấm ngầm kết bè phái đảng riêng nữa, bởi vì chỉ sự tổn hại cho mình mà không được lợi gì cả.

8. Nếu lập một họ khác thay ngôi thì phải có một sự thay đổi lớn, may mà được người khác giúp cho toại ý riêng, thì như thế là làm hại cho những người an phận thủ nghiệp, lợi riêng thì ít mà hại người thì nhiều, e rằng mọi người sẽ oán giận khó mà làm được.

9. Các nước đều bắt chước nhau, tranh mạnh lẫn nhau, tự phấn đấu cho tài xảo ngày càng thịnh.

10. Chỗ có và chỗ không giao thông trao đổi với nhau, chung nhau cái hay, đồng nhau cái lợi, bắt chước lẫn nhau để cho đạo đức phong tục được đồng nhất.

11. Điều thẳng lẽ cong đều công bố ra cho thiên hạ, việc sai đúng phải cho mọi người bàn luận, không dám tự mình che giấu bào chữa cho cái xấu.

12. Vua có bổn phận của vua, quan có bổn phận của quan, dân có bổn phận của dân. Danh phận mỗi người đều có cái quý trọng riêng. Người quý kẻ tiện không cướp đoạt ngôi thứ nhau. Cho nên người nối nghiệp, từ nhỏ đã không dám làm sai bổn phận của mình, lớn lên thi hành phận sự tất phải tinh thuần, cũng không dám vượt qua phận sự mà cải đổi sự nghiệp, vì e rằng trong bụng không có cái chí báo phục, thì một khi có việc gì cấp thiết sẽ khó bề chống đỡ. Hơn nữa, mỗi bổn phận có một cái cao quý riêng, không được có ý tưởng được voi đòi tiên.

13. Mỗi người đều được đặt để một vị trí. Khả năng nào thì vào nghề ấy. Trách nhiệm nhỏ thì dễ đền bù. Chức vụ nhỏ thì dễ giữ. Nghề tinh thì không sai. Dùng chuyên thì không bị xâm lấn. Việc bình thường thì không đến nỗi bỏ phế.

14. Mỗi người tinh một nghề. Mỗi nghề có cái kỳ diệu đáng quý của nó, đều có tiếng hay tiếng tốt đáng khen của nó, không có sự so bì bên khinh bên trọng. Như cái áo, có cái rộng cái hẹp, cái dài cái ngắn khác nhau để thích dụng cho hình vóc từng người. Người thấp thì không ghét áo dài, người nhỏ thì không chê đai rộng. Mọi việc có cái quý trọng riêng của nó, khi thành công thì đều giá trị như nhau. Như tay chân trong thân thể người ta, tuy có cao hạ quý tiện khác nhau nhưng cũng không vì thế mà ghét bỏ làm tổn thương lẫn nhau. Cho nên một người có cái kỹ xảo thì mọi người đều thêm vinh, một người có tài thì cả nước được tăng phần kính trọng. Mọi người tài giỏi đều cảm thông nhau thì không có cái hận ta hơn người thua, không có tình trạng ta mạnh người yếu. Cho nên trên dưới đều hết lòng với việc làm của mình, không có cái bệnh ghen ghét kẻ tài hiền.

Trên đây là mười mấy điều đại cương rút trong cái thuật tung hoành mà ra. Ngoài ra trong nhân dân còn có những sự liên kết với nhau để phụ giúp lẫn nhau như là kẻ đứng bên cạnh giúp vào, để giúp thêm vào mười mấy điều kia thì không thể nào kể hết được. (Còn như có những đường lối chính trị như thế nào đúng với tình cảm và lý lẽ này mà hợp với chính trị nước ta thì càng không thể kể hết, không cần phải nói rõ ở đây).

Đó là những điều mà sách kinh đời xưa đã ghi chép như vậy, các bậc hiền triết đã làm khuôn phép như vậy, những người khai sáng đã tạo lập quy mô như vậy, phong tục đã kết thành như vậy, các nước đã noi theo trật tự như vậy, mà một mai có người muốn lập lại một cái gì khác, thật cũng khó có thể làm được. Cho nên, bậc làm vua biết rõ cái thế trường cửu đã có, không có bụng nghi ngờ bề tôi ở dưới, kẻ làm dân biết rõ cái lợi hại của việc trị việc loạn nên không có cái chí phạm thượng. Trên dưới tự mình không nghi cũng không ngờ lẫn nhau. Mọi việc gì đều có sự phó thác rõ ràng, người nhận lãnh vui lòng, không có điều gì tối tăm, lo lắng, cho nên dễ đi đến chỗ đúng đắn, dễ bày tỏ, dễ cởi mở, dễ phân giải, tất cả đều là do thật lòng tin tưởng nhau, cho nên dù có sự bất bình cũng tin nhau, không nỡ trách cứ hà khắc. Được như vậy là đều do không nghi kỵ gì nhau mà ra. Nếu đã nghi thì hại đến lòng tin. Không tin tưởng thì đa kỵ, đa kỵ thì hại đến trí khôn, trí bị tổn hại thì dễ bị hỏng việc, việc hỏng thì sinh hại, hại sinh thì có lắm điều lo buồn, lo buồn nhiều thì tâm loạn rồi sinh ra lắm sự sợ hãi, sợ hãi nhiều thì khí chất kém đi mà sinh ra nhu nhược, nhu nhược thì mọi việc chần chừ do dự không dám quyết đoán. Nếu trong bụng không có định kiến chủ trì thì khi có ngoại hoạn nổi lên tấn công ta, ta sẽ không có cái gì đối phó lại, tất sẽ tán loạn tan tành, đại thế sẽ ngày càng giảm. Những cái đó đều do chỗ ta với người nghi ngờ nhau mà sinh ra cả.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:42:21 pm

Tôi nhìn chung thấy cái thế các nước trong thiên hạ xưa nay, các nước phương Đông phần nhiều cái hoạn ấy do tích tụ lâu ngày thành thói quen. Nhưng về học thuật thì cũng có cái giống nhau cái khác nhau. Nhưng hùng biện hay mà làm cho rối rắm điều phải trái khiến người ta có cái ý bỏ đây theo kia. Đó là do cái tệ quá đề cao hoặc quá hạ thấp mà ra. Có phú quý rồi mới thấy có tật; vinh nhục đã định rồi mới thấy điều tranh chấp, nhân tình là như thế đấy. Nghệ Tổ có nói rằng: “Ở địa vị như thế thì ai mà chả muốn làm”. Cho nên khi được gia ân lớn thì chiếm giữ lấy chỗ quan trọng để rồi họa hoạn sinh ra từ trong tay áo. Đã có trị tất có loạn, đó là lẽ thường tình. Người hay sinh chuyện thì lại mượn cớ người ta nói vua thất đức, trời sinh tai biến làm thực chứng, để ôm lấy cái ước vọng sai lầm của mình. Làm quan khi có điều gì sai thất, thì người ta sẽ nhân lúc bề trên nghi ngờ mà dèm pha vu khống, khiến người ta bắt chước làm con trượng mã, sợ nó hý lên một tiếng thì có người bị đuổi. Người nào cũng lo giữ lấy mình, không dám có phát minh sáng kiến gì. Người thợ không tinh kỹ xảo, người học trò không lo học để mãi sau ra làm quan. Hễ có nhiều những chuyện trục xuất, giáng chức, đổi chức, điều dộng, thì những mối lo được lo mất luôn luôn hiện ra trước mắt. Những tuồng đẩy người ta để tiến mình lên, rình mò sau lưng, đương chức mà như là ngồi trên đệm có kim chích, làm việc thì lo như là bị gai đâm, không được thung dung để phát triển điều hay.

Kẻ đắc thời biết có con đường có thể tiến thân, có thể thừa cơ được cho nên cứ muốn vượt người ta mà ngoi lên. Như người xưa nói: “Thà làm đứa chăn trâu đầu đàn, chứ không làm ông quan lớn hạng nhì trong triều”. Biết có chỗ phục thù, bọn người đắc chí, cứ hớn hở mà đi để quyết hả cái hận “được làm vua thua làm giặc”, như người xưa nói: “ Không lưu tiếng thơm muôn thuở, thì để tiếng xấu vạn năm”. Lại có một loại người, động một tý là mượn thánh hiền, hễ có việc bất bình thì vội đòi phế lập.

Có cái chí như Y Doãn cũng nên. Sao không biết rằng người đâu phải ai cũng là Nghiêu Thuấn cả mà việc gì cũng làm được hay được tất cả. Theo lẽ thường tình mà nói, thì vua quan đều có phận sự riêng, ai chẳng muốn ở cho yên hưởng cho lâu. Cho nên ra làm điều gì thì muốn việc cho được, công cho thành, đó là bản chí của mọi người. Nếu có làm điều gì sai lầm ngoài ý muốn, hoặc cơ hội lầm lẫn thì lo thay đổi gấp để cho người ta không sửa đổi kịp. Như thế là giáo dưỡng người rất khó mà vứt bỏ người thì quá dễ. Đường tài đức xét ra không cùng dẫu muốn đoạt lấy hết tài đức trong thiên hạ cũng không lấy hết được. Như uống nước sông, tùy lượng chứa của mình rộng hẹp, nhưng tất cả đều được no đủ, không cần phải đoạt lấy của người để làm dồi dào cho mình.

Hơn nữa, hiền tài là sinh lực của quốc gia, sinh lực con người ta mà mạnh thì mọi gân cốt trong người đều mạnh. Thế thì tại sao không nghĩ đến lợi ích chung, không lo đến hạnh phúc chung? Mình đã không tốt lại còn muốn người khác xấu để chia cái xấu với mình. Như ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Kéo người ta xuống vũng nước dơ mong cùng lấm như mình”. Mình đã không có tài thì không muốn cho người có tài để khỏi lộ cái dở mả của mình ra, rồi làm đủ cách để chôn vùi người ta đi. Như người ta thường nói: Tài là hay đi với cái hoạ, thật là cái họa của sự có tài vậy. Kẻ sĩ bất kỳ có tài giỏi hay không, cứ vào triều là sinh tệ cả. Thế thì nước nhà còn mong gì mà dành tài được? Sĩ phu tội gì mà ôm tài hại thân? Lại có một loại tệ hơn, tiếng là đào tạo tài, nhưng thực ra vứt bỏ tài. Sở dĩ được thành tài phần nhiều là do tích lũy thuận đạo, như người ta thường nói: Con nhà tướng ra cửa nhà tướng.

Nay hễ nghe khen thì mời về, nghe chê thì đuổi đi. Việc chứa giữ tài nguồn gốc của nó thật sâu xa, mà việc dùng hay bỏ tài thì lại bỗng chốc tạm bợ. Như vậy chẳng những cô phụ việc cầu tài của trên mà kẻ có tài cũng vô dụng; khiến đến nỗi kẻ có tài sau này bế tắc không đường thăng tiến; khiến kẻ có tài mà không gặp hội phải vất bỏ hết bao công lao trước kia mà thay đổi nghề nghiệp như Hứa Hành, thật là chua cay, khiến đến nỗi sau này có cái hận làm điều thiện mà không được báo đáp, như người xưa có câu than thở “giận mình đã lầm lỡ làm kiếp nhà Nho”. Cho nên nhiều người tức tối thất vọng, thất chí không có nơi nương tựa để phải mắc vào nhiều tội ác. Người ta đâu phải gỗ đá trơ trơ, ai không muốn sửa chữa tội lỗi trở thành người hiền lành. Dù có kẻ ngu ngốc không đổi nết thì cũng nên nghĩ đến công lao trước kia của người ta, để khuyến khích kẻ hậu tiến, để bù đắp cho hậu đạo, ai lại nỡ để mình làm quan đại thần mà con cái đi ăn xin. Đến nỗi khiến người xưa có câu: “Có thể làm quan thanh liêm được, nhưng không thể làm”. Con cháu của Thang Võ cũng không có đất cắm dùi.

Như thế thì hiện nay ai chịu bỏ sự hưởng dụng cả một đời để đổi lấy cái cơ cầu ngày sau chưa chắc chắn ấy? Cho nên người xưa có câu: “Cười chê chửi mắng mặc thây, Quan to lộc hậu thì đây cứ làm”. Những cái đó đều do biết rõ cái thế không được lâu dài, hưng vong chưa ổn định, thịnh suy không biết lúc nào, phải trái không đích xác, được mất bất thường, thực hư không phân biệt, thưởng phạt không lâu dài, ra làm quan hay ở nhà không định trước, tiến thoái không tính liệu, như nước trong ống xe đạp nước, như sóng nơi trường giang, như tiếng sáo diều, như hình mây cầu vồng. Kẻ thất phu lên làm vua thì không kể gì thế hệ. Vua xuống làm dân quê thì tính chi đến chuyện cao thấp. Từ trên xuống dưới không ai là không ôm cái quái thai ấy. Cho nên phải giải quyết cái căn bản là phải thấy được cái gì làm cho lòng người dao động.

Các nước lớn ở phương Đông, xưa nay lên xuống đại loại đều như thế cả. Là vì không tinh thuần đạo học, không đồng nhất tâm thuật, không có cái thế liên hợp, không coi trọng danh vị mà gây ra cả.

Còn như các nước Đại Tây, Tiểu Tây cùng các nước Nam Tây Châu thì trái lại, đúng như đầu mỗi bài kinh đã ghi, tuy có sớm muộn khác nhau, nhưng đến nay đều đã dần dần biến đổi cả rồi. Khi chưa biến đổi, các nước ấy còn tệ hơn ở phương Đông, điều đó sử cũ đều có ghi chép, chỉ nhìn qua cũng thấy rõ. Nhưng những việc đó đã thuộc về dĩ vãng không nói làm gì, bây giờ chỉ nhìn vào sự tân tiến của họ cũng đủ chứng tỏ sự xưa và nay khác nhau rất xa. Người ta ai cũng lo gấp phòng bị hoạn nạn, mà không biết cách làm sao cho hoạn nạn đừng sinh ra, không biết làm sao cho hết hoạn nạn, mà chỉ lo sắm những cộng cụ phòng bị hoạn nạn. Như thế thì dù có xua hết thiên hạ ra làm cũng không đủ. Nếu biết dựa vào sức và nhờ vào thế của nhiều người, sao cho mọi người đều quan trọng việc công và lòng người đều tôn kính bề trên, như Giả Nghị nói: “Gieo vào lòng người sự tôn kính” thì thiên hạ không có loạn. Vì rằng danh đã định, vị đã lập, lý đã chính, thế đã đồng, các nước đều như vậy cả; lẽ nào một nước lại có thể trái với các nước mà đứng riêng một mình một cõi được sao?

Tôi đã hiểu rõ cái chính lý của đạo trung ái trong kinh, biết rõ danh vị là lợi ích cho nhân dân, thấy thiên hạ có sự yên trị lâu dài, lợi ích to lớn là do chỗ một họ cầm quyền, do chỗ đời đời truyền nối. Mà chế ngự được nhân tâm là do trị lý về kinh tế, và duy trì được đời đời dài lâu là nhờ ngoại giao. Cho nên tôi thiết tha muốn cho nước nhà cũng được hạnh phúc tốt lành như thế.

Kính bẩm


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:33:11 am

DI THẢO SỐ 14

Tình hình lương giáo ở Nghệ An*

(22 tháng 4 năm Tự Đức 19 tức 4 tháng 6 năm 1866)

Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Tôi sau khi từ Kinh về đến Xã Đoài tỉnh Nghệ An, những điều mắt thấy quả đúng với những gì đã nghe được mà còn hơn thế nữa là khác. Cứ theo cái đà này thì sự việc sẽ lan ra mãi chưa biết khi nào dứt. Đầu mối của sự việc là do sĩ phu, nhưng cái gốc của nó cũng do những người có quyền lực xướng xuất ra nữa. Cho nên tôi cứ nói ra không sợ oán trách; dù sau này có vì nói những điều này ra mà phải chết tôi cũng không quản. Đấy là nguyện vọng thiết tha của tâm tình, vì hai vị đại nhân mà nói. Bởi vì đã dùng quyền lực mà sinh sự thì muốn yên việc cũng phải dùng đến quyền lực mới được.

Trước đây, nhân chuyện người Tây đột nhiên đến, Triều đình chưa rõ vì ý gì, nên tiến hành việc phân tháp1 để tạm thời giải tỏa sự nghi ngờ. Nhưng việc làm của Triều đình là do ý muốn yên dân, chứ không như việc làm của bọn ngoại gian, lửa đổ thêm dầu, làm điều ác độc ngoài pháp luật, rắp tâm muốn giết cho hết mới thôi! Ôi người xưa khóc kẻ có tội, làm tỉnh ngộ người trong ngục, tội nghi thì xử nhẹ, ăn ở có tình người ai lại không vui? Thậm chí, có người còn không muốn làm quan ở miếu đường, mà xin làm viên quản ngục, chính vì để được thương người đồng loại.

Cái đức lớn là quý trọng sự sống. Điều đáng ghét là tội ác, điều đáng yêu là tình người. Tuy dưới dân phạm luật đáng giết, nhưng đối với quan trên, phải chém người cũng là điều đáng khóc thương. Nhờ thế mà hòa khí tích tụ ở dưới, điều tốt lành ứng ở trên; lúc bình thường bao nhiêu việc tốt lành liên tiếp đến, khi có biến những việc quái dị cũng sẽ tiêu tan. Như thế cũng khéo tránh được, khiến người phạm tội tự nhận tội, mà không làm điều gì hại đến hòa khí. Bởi vì khi con người ta đã mang tội với pháp luật dương gian, mà mình còn đổ cho người ta bao nhiêu tiếng ác nữa, thì mình cũng có tội nơi u đồ2, cả hai đều có tội như nhau.
____________________________________
*. Bản Hán văn Hv 189/1 tờ 98 - 103.
    Bài này được viết từ Xã Đoài, Nghệ An, đề ngày 22-4 năm Tự Đức 19 (tức 4-6-1866).
1. Phân tháp: Phân là chia tách ra; tháp là cấy vào. Chính sách thời Tự Đức chia tách các cộng đồng giáo dân rồi cưỡng bức đưa đi ở rải rác những vùng xa xôi không có đạo để cô lập và quản thúc họ.
2. U đồ hoặc minh đồ đều chỉ địa ngục, nơi tối tăm u ám mà người có tội phải chịu hình phạt sau khi chết.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:35:39 am

Những người có lòng nhân ái đời xưa không những lấy điều thiện của người khác coi như điều thiện của mình, hơn nữa còn nhân điều ác của người khác mà đem lòng thương xót, để sâu dày đạo đức. Bởi vì người có tội, có khi đáng tội, nhưng cũng có khi lầm đường, chưa thể biết được. Tuy đã phải chịu luật pháp của vua, nhưng cuối cùng phải do sự phán quyết của đạo trời, hoặc có khi còn được cải án là đàng khác. Nếu mình ghen ghét đố kỵ người ta, tuy bề ngoài đã hoặc chưa giở những thủ đoạn ác độc, nhưng trong lòng cái ác ấy đã kết thành, do đó trong thầm kín đã có thần linh tru phạt, vĩnh viễn không bao giờ cải cái án ấy được. Không những thế mà thôi, phàm các loài đã được sinh ra trong thế gian, không loài nào tạo vật không muốn cho nó sinh trưởng nhiều thêm. Tuy có lúc ngửa nghiêng, có khi bị dịch lệ mà tiêu hao ít nhiều, nhưng không trở ngại gì đến việc sinh sống. Thế sao có người lại muốn cắt đứt thiên căn, lập bằng địa đạo1, không chịu ở chung với nhau, cùng sinh cùng dưỡng.

Hiện nay ở tỉnh Nghệ hai bên lương giáo lòng đang sôi sục. Một bên nói không thể nào chung sống, phải giết cho hết tiệt mới thôi. Một bên nói con thú mà bị khốn quẫn còn cắn càn huống chi là con người? Nếu bên kia không để cho cùng sinh cùng dưỡng, thì bên này cũng không để bó tay chịu trói... Nhà nào ngõ nào cũng xôn xao bàn tán chuyện đó. Tôi lấy làm lo ngại mà không có cách nào giải quyết. Bởi vì sĩ phu trong tỉnh hạt có nhiều ý kiến khác nhau. Đã nói ra khó với lại được. Hơn nữa sự thù hằn này đã sâu sắc, việc làm ác độc này đã kéo dài, lòng không sao yên được. Cho nên không ai chịu tự giải thích cho mình, cũng không chịu giải thích cho người khác.

Đúng như đạo dụ của Thánh thượng trước đây có nói “Giáo dân tỉnh Nghệ hơn tám vạn, trong đó có nhiều tay không vừa, trừ phi có chiếu chỉ rõ ràng của Triều đình mới không dám kháng cự. Còn giữa dân với dân thì như nhau cả, nếu bức bách họ làm sao họ chịu yên được?”

Ở phương Tây trước kia đã có lần đại loạn gọi là chiến tranh tôn giáo. Đó là cái gương cho chúng ta soi. Vả lại, hai chữ “ lương, dữu” chẳng có quan hệ gì đến sự thế quốc gia cả. Thế mà khắp cả tỉnh người người đều luôn mồm lấy hai chữ đó nhục mạ nhau. Một lời nói mà không chịu là xách dao đến chém nhau. Đó là điều tệ mà Triều đình đã cấm. Nhưng trong làng xóm người ta còn cậy thế lực hào lý áp chế nhau, còn dựa vào tục lệ mà tích oán thành họa. Lại còn một tệ đoan nữa là trong bình dân2 có nhiều người quyền quý và những người có thế lực quan trọng liên kết với nhau nên dễ bề bày đặt khiến mọi người nghe theo. Ngay như trước đây khi Triều đình phân tháp họ đã làm những điều ác độc phi pháp, khắp nước chưa có đâu như tỉnh Nghệ. Ý họ muốn giết cho hết không sót một ai, như thế họ ăn nuốt mới trôi! Bởi vậy khi nghe có ân chiếu của vua, họ liền nói: “Triều đình hành sự như trẻ con”. Thủ đoạn ác độc đó thật quá lắm vậy. Nay sợ giáo dân kiện quan, bắt bồi thường những của cải mà trước kia họ đã lấy càn của giáo dân, nên họ nói đủ những lời đe dọa. Nay thì nói Triều đình sắp phá hòa ước sẽ giết chúng bay. Mai lại nói chúng tao sắp cùng nhau giết chúng mày. Triều đình có chiếu lệnh điều hòa lương giáo thì các phủ huyện giữ kín không chịu thông tri ra. Giáo dân chỉ nghe phong thanh mà thôi. Như việc lần trước Triều đình miễn thuế cho những người giáo dân sau khi bị phân tháp mới trở về, thế mà dân chẳng ai biết. Vì vậy nhiều làng bị lý dịch vẫn cứ trưng thu đủ số. Tuy có đại ân mà cùng dân chẳng được hưởng tí gì. Việc lớn còn vậy thì biết việc nhỏ như thế nào.

Lại có một loại người bịa ra rằng ta đây vốn biết thâm ý của Triều đình: Ngoài thì hòa nhưng trong thì sợ. Như trước kia có lần đã bắt kê khai hết giáo dân nạp lên quan, có lần truy hỏi mỗi xứ có mấy linh mục. Hai việc ấy họ giải thích xuyên tạc rằng: Quan lớn này nói: “Dần dần sẽ tính”, quan lớn kia nói: “Phải ngấm ngầm đề phòng bọn đạo”, quan lớn khác lại nói: “Bọn đạo không biết dao kề sau cổ, như chim én ở trong nhà, chẳng lâu lắc gì nữa đâu!” Vị quyền quý này nói: “ Triều đình đã ngấm ngầm cầu viện, đã định ngày nổi lên giết Tây. Lúc đó bọn chúng tao sẽ đồng thời giết chúng mày. Không tin cứ xem trong bình dân nhiều người đã rèn khí giới rồi đó. Nếu chẳng phải Triều đình ngầm cho như thế hỏi người ta dám làm hay sao?”. Những lời bày đặt dọa nạt như vậy đi đâu cũng nghe nói. Cho nên, giáo dân một mặt thì sợ, một mặt thì hiểu lầm, người nọ bảo người kia, sự sợ hãi ngày một gia tăng. Thậm chí có người không thiết làm ăn, sợ thân như cá trong chậu. Thậm chí có người không làm việc gì nữa, chỉ lo trối trăn vĩnh quyết. Thậm chí có người chạy chọt đến những người bình dân ở xa, mua chuộc cảm tình để lo trước chỗ ẩn thân.

Dân tình thế đấy hỏi làm sao yên ổn lâu dài được? Xét cho cùng cũng bởi một là do ơn trên chưa được rộng khắp, hai là do sai lầm trước chưa giải thích được, ba là do bọn ăn không ngồi rồi bịa đặt mà gây liên lụy, bốn là do bọn cường hào tác uy tác phúc ngoài pháp luật, năm là do bọn quyền quý mượn uy thế dọa nạt người, sáu là do dân đạo không yên tâm phải luôn luôn ngó trước nhìn sau. Những điều ẩn khuất như vậy, ở đây mười điều tôi chỉ mới nói một mà thôi. Bởi vì chuyện đời thường ở trong thì nhỏ mà ngoài xé ra to. Huống chi những việc bình dân dọa nạt đâu phải mới một ngày một bữa, lâu rồi phải khiến người ta tin mà sợ3.

Đại nhân là người quan hệ đến việc khinh trọng của nước nhà, nên tôi dám đem trình bày rõ việc trên. Nguyên trước đại nhân đã xá cho tôi cái tội biết mà không thể không nói. Riêng tôi cũng tự tin rằng tôi không nói dối. Đại nhân ở chốn xa xôi ngàn dặm, nếu như tôi kiêng dè không nói ra, thì những điều ẩn khuất làm sao thấu đến đại nhân được?

Nay kính bẩm.

____________________________________
1. Thiên căn: Cái gốc của trời. Địa đạo: Đạo đức của đất.
    Ý nói trời che đất chở, đức lớn bao dung.
2. Chỉ bên lương.
3. Nguyên văn: “Đầu trữ nhi khởi” nghĩa là ném con thoi mà đứng dậy. Tích mẹ Tăng Sâm đang dệt cửi, có người đến bảo cho bà biết “Tăng Sâm giết người” Bà cũng không tin, vì con bà là người hiền, nên cứ tiếp tục ngồi dệt vải. Lại có người đến nói “Tăng sâm giết người”. Bà cũng không tin. Sau nhiều người đến nói như vậy quá, cuối cùng bà ném con thoi đứng dậy mà xem. Thì ra đó là Tăng Sâm trùng tên chứ không phải con bà. Chuyện không đúng mà nói nhiều quá, khiến người ta cũng phải tin.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:37:39 am

DI THẢO SỐ 15

Lại tâm sự với Trần Tiễn Thành*

(Ngày 3 tháng 5 năm Tự Đức 19, tức ngày 15 tháng 6 năm 1866)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin kính bẩm.

Trước đây khi ở Kinh đô tôi đã thấy được nỗi lo âu về việc nước của các vị đại thần, lòng nhiệt huyết của các vị phải nghĩ đến nhiều việc một lúc mà chồng chất trước mắt rất nhiều. Tôi đã thấy rõ đại thế trong thiên hạ có cái cơ có thể thịnh có thể suy, thấy rõ tình hình nước ta gặp lúc cả nghi ngờ, khó khăn lớn, thấy rõ cái ẩn ý chứa chất trong lòng dân các tỉnh trong nước, thấy rõ các quan địa phương làm việc công, việc tư như thế nào; thấy rõ bọn Thắng, Quảng gốc rễ chưa dứt, còn nhiều thế lực ngầm giúp, còn nhiều cớ gây sự; biết rõ bình dân và giáo dân còn nhiều mâu thuẫn tất sẽ có một bên bị tổn thương, mà khó bề xử trí; biết rõ giáo dân có nhiều ngách ngõ, có nhiều tài trí, đủ sức làm việc chung, cũng đủ sức tự vệ; biết rõ bình dân trước kia ỷ thế chất chứa thù hằn, làm những điều phi pháp hại người, để đến nỗi làm cho lòng người không yên; biết rõ người Tây còn như hổ rình mồi, sức ta chưa đủ, nếu không khéo điều đình sẽ ngã theo bánh xe trước; biết rõ nước ta có nhiều khiếm khuyết, những phương pháp cũ đã hoàn toàn vô dụng mà còn câu nệ ngăn trở công việc, còn nhiều chỗ nghi nan chưa tiêu tan, ý kiến chưa đồng nhất, chứng bệnh tích tụ lại chưa tiêu trừ, những yếu nhược tích tụ lại chưa phấn chấn, đường hiền tài còn bế tắc, trí học chưa mở mang, những tệ hại đó còn chất đầy, những tai họa còn dồn đến chưa chỉnh đốn hết được; biết rõ những phương pháp mới nên làm, tập tục cũ nên đổi, ôm của báu mà chịu nghèo đói sợ người khác cười chê, chỉ cho người món lợi sợ họ tranh phân, của cải hao hụt khó bề khởi sự, thành trì tổn hại khó bề chống đỡ, nguồn lợi đầy đất mà khó khai thác, tung hoành chưa được, chưa ai giúp đỡ, không làm thì không xong việc, mà làm thì lại không có người. Những tình thế đất nước như vậy ở các nước khác người ta lo liệu hàng trăm năm rồi, mà nước ta mới thấy một ngày. Các nước làm thực sự mà ta thì chỉ nói suông. Cho nên Triều đình sớm chiều nhọc mệt, xoay xở không kịp, chưa biết tính sao, nghĩ tình cảnh cũng khó lắm vậy.

Những điều ấy trước đây khi ở Kinh, tôi đã mắt thấy tai nghe. Thế nhưng ở nước ta vẫn có nhiều người chưa hiểu thấu tình cảnh ấy của Triều đình và cũng chưa biết làm cách nào. Tôi biết rõ đại nhân cũng cùng nỗi khổ ấy, mà tri âm thì chẳng mấy ai. Tôi là người đã trải biết nhiều người nhưng thật khó mà có được một người để bày tỏ lòng những chứa chất khó chịu, cho nên dám đem những điều này nói với đại nhân. Vì đại nhân là người tài lực như vậy, cũng đủ chia sẻ mối lo với Triều đình mà giúp cho việc lựa chọn người, biết đâu sẽ chẳng như trường hợp theo Khổng Tử thì có trọng Do, môn hạ Mạnh Thường Quân chỉ có Phùng Hoan là người sau cùng giữ được khí tiết. Kính mong đại nhân xét kỹ, không nên vì hiện tại chưa rõ sự thế, không nên vì mới một ngày chưa để lộ tài năng1 mà nghi ngờ kẻ sĩ trong thiên hạ.
 
____________________________________
*. Bản Hán văn 189/1 tờ 103-104.
    Bài này được viết từ Nghệ An, không biết có được gởi đi hay không được gởi và được cất giữ trong gia đình Trần Tiễn Thành, chứ không thấy được lưu trữ trong Thư viện của Triều đình, bởi vì hầu như không ai được đọc bản văn này. Bản văn chúng ta hiện có trong Hv 189/1 có lẽ là bản thảo được cất giữ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ, do ông Đào Duy Anh sao lại được.
1. Nguyên văn: “Vị đắc thoát chùy” nghĩa là: “Mũi kim chưa được ló đầu ra”, lấy câu nói của Mao Toại thời Chiến quốc. Mao Toại là môn khách của Bình Nguyên Quân. Khi nước Tần đánh nước Triệu, vua Triệu sai Bình Nguyên Quân chọn 20 môn khách gồm đủ văn võ đi theo, nhưng chỉ chọn được 19 người. Toại xin đi theo cho đủ số. Bình Nguyên Quân có ý ngờ tài năng của Toại, Toại nói: “Tôi bây giờ mới như cây kim còn cất trong bọc, được dùng mới lòi mũi ra”. Quả vậy, sang nước Sở, Toại đã dùng ba tấc lưỡi thuyết phục được vua Sở cho quân đi cứu nước Triệu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:39:42 am

DI THẢO SỐ 16

Bài bạt mừng đào xong thiết cảng*

Từng nghe:

Đấng tạo vật lập nên trời đất, mở sông ngòi để làm mạch lạc, dựng núi non để làm xương cốt. Hai cái này giúp nhau mà làm việc. Nếu xương cốt có chỗ gẫy gập thì mạch lạc cũng đứt không thể thông thấu nhau được. Đó cũng là cái bệnh ứ tắc của đất. Khôn khéo như tạo vật mà còn để lại khuyết điểm này cho đất phải có điều đáng tiếc. Đó không phải do vụng về mà ý tạo hóa muốn vậy!

Thợ tạo còn sinh ra muôn vật trên mặt đất để làm cái công cụ to lớn đẹp đẽ của đất, mà tất cả đều nhờ vào những giòng nước để lưu thông hòa hợp. Nếu có chỗ nào giòng nước không đạt đến thì muôn vật trên mặt đất cũng bị chia lìa cách trở không thể tô điểm cho mặt đất hoàn toàn đẹp đẽ được. Đó cũng là cái bệnh bất túc của đất. Như ở biển thiếu gỗ, ở núi thiếu cá. Khéo sắp xếp để nên việc như tạo vật mà còn thiếu sót cho đất, không được đồng đều nhau. Đó không phải do vụng về mà ý tạo hóa muốn vậy!

Ý muốn như thế nào? Giả như trời đất chỉ có một vật không có linh giác mà không có con người thông minh trí tuệ sống ở trong đó để nuôi nấng điều động, giúp cho tạo hóa những chỗ thiếu sót thì cái công dụng tạo thành trời đất tạo thành vật loại cũng chưa hoàn toàn và cũng chưa làm tỏ rõ được chỗ kỳ diệu của tạo vật. Giả như sự bài trí trên mặt đất này mà không có chỗ cách trở thì con người chúng ta cứ tự nhiên hưởng dụng chẳng góp phần gì vào việc đó, chỉ làm theo tự nhiên mà chẳng tự biết gì cả, thế có khác gì loài vật không linh giác, mà loài người cũng chả có gì là đáng quý.

Trong tam tài1 con người ở vào giữa có thể sai khiến mọi vật, phàm ở trên đất có cái gì không đồng đều, đều có thể thông đồng hòa hợp, hình thế trên mặt đất có chỗ nào chưa được hoàn toàn, đều có thể chữa trị bổ khuyết để phụ vào cái kỳ diệu của tạo hóa đã sinh ra con người chúng ta. Như thế là tạo hóa cố làm ra những chỗ chưa hoàn toàn này để dành cho chúng ta bổ túc, mà do đó mới có con người sinh ra ở giữa trời đất này. Có thể bổ túc được công việc của tạo hóa thì cũng đồng với tạo hóa. Cho nên phải có con người siêu việt mới có thể có cái linh giác to lớn mở được nguồn mạch mà chữa cái bệnh bế tắc của địa hình.

Nay xin kể sự thực của nước ta để chứng minh. Từ khi có trời đất đến nay, sông núi nước ta vẫn y như cũ. Phàm có chỗ nào đường nước chưa thông thì trời sinh người thế hệ nào đủ giải quyết công việc thế hệ đó. Đối với những kênh nào có thể đào vét được thì tiền nhân đã đào vét và hoàn thành cả rồi. Duy có một Thiết Cảng này Triều đình trước đã tốn không biết bao nhiêu tâm lực vẫn không làm xong. Đó cũng vì tiền bạc thì ít mà công việc thì quá khó, lại không lượng sức muốn cưỡng làm cái công việc mà tạo hóa có ý lưu chậm lại đến ngày nay, cho nên không thể xong việc được. Nếu có thợ trời thầm giúp như Cao Biền với kênh Thiên Lôi chẳng hạn thì đã trợ giúp cho Triều đình trước rồi. Kênh kia tuy hoàn thành nhưng trời đã chia công một nửa khiến con người không được làm trọn vẹn cái đẹp của riêng mình. Và như thế cũng chưa đủ làm tỏ rõ cái kỳ diệu của đạo trời vậy2.

Phàm việc gì nhiều đời muốn, nhiều người cầu mà không được, cái đó mới vĩ đại mới quý báu, thế mà một sớm đã được rồi để hoàn thành cái chỗ thiếu sót của đất. Việc đó bậc chí nhân đâu có kể công, mà bút mực lời lẽ cũng không thể nào kể hết được.

Nay đại nhân vừa gặp đúng lúc trên làm tỏ rõ cái bí mật của trời mà lại thừa kế tiền nhân hoàn thành được cái sở dục sở cầu, thế là không những người sống chịu ơn mà kẻ chết cũng ôm lòng cảm kích, hơn nữa đã không phụ cái ý trời đã lưu chậm lại để đợi ngày nay vậy. Đại nhân quả thật đã bổ túc được chỗ thiếu sót của trời đất và trọn vẹn được cái địa vị mà ý trời dành cho con người xuất chúng.

Còn nói về cái lợi vô cùng đối với đất nước mà riêng tỉnh Nghệ được thừa hưởng nhiều hơn thì từ nay về sau con người sinh mãi sinh mãi không cùng, công nghiệp ấy cũng dài lâu không hết. Đã có bia miệng ngàn đời không mòn không mất không đổ không hư, khiến tên của đại nhân cùng lưu truyền với con kênh này cũng đã đủ, cần gì phải bắt chước người xưa uổng công xây dựng bia đá khắc văn chương cho mưa dập gió vùi rêu phong cỏ lấp ư? Nếu muốn nói sự lợi ích rộng lớn của con kênh này thì chỉ có hai chữ “vô cùng” mới nói hết được và đã có những người chịu ơn vô cùng thuật lại cho, đâu phải kẻ tiểu tử này trong một lúc nói mấy lời trên một trang giấy mà thuật hết được. Vậy xin dừng bút chẳng dám nhiều lời.

Nay kính dâng lời bạt này để chúc mừng.
____________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/4 tờ 21-24.
1. Tam tài là trời, đất và người.
2. Ở đây Nguyễn Trường Tộ nhắc đến sự tích về cảng Thiên Uy mà Nguyễn Trường Tộ gọi là cảng Thiên Lôi, theo Nguyên sử chép rằng: Cao Biền đi tuần dương ở Dương Châu, thấy lòng sông lắm đá, thuyền bè đi lại không tiện, bèn sai Lâm Phùng và Dư Tồn Cổ đưa quân đi khơi vét, gặp một chỗ có hòn đá lớn lắm, đứng trơ trơ giữa dòng, quân lính không làm thế nào mà phá tan được. Một hôm trời mưa to gió lớn có chừng hai trăm tiếng sét đánh luôn vào, làm cho hòn đá ấy vỡ tan ra, từ đó dòng sông mới thông. Vì có uy của trời sấm sét, cái kênh ấy mới thành, cho nên đặt tên là “Thiên Uy Cảng” (Xem bài của Nguyễn Đức Tánh: “Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh”, Nam Phong số 138, tháng 5 năm 1929, trang 247.)


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 08:51:46 pm

DI THẢO SỐ 17

Dùng giám mục linh mục vào việc canh tân* 

(Khoảng 17-18 tháng 8 năm 1866)

Kính bẩm,

Nay giám mục lên Kinh đô, những điều trước đây tôi đã bẩm điều gì hoãn điều gì gấp giám mục có thể trình bày rõ được. Còn việc sắp đặt và sai phái như thế nào sẽ do Triều đình quyết định.

Trước đây giám mục đã từng bàn bạc với tôi rằng nếu Triều đình muốn lần lượt canh cải để làm theo phương pháp mới thì người rất vui mừng ủng hộ. Chỉ vì nay ta chưa có người. Nếu thật tâm tin nhau khẩn khoản yêu cầu, giám mục sẽ đưa các linh mục và đạo đồ, một số có khả năng am hiểu tiếng Tây, học qua một vài phương pháp của phương Tây như Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều, Nguyễn Lâu1 chẳng hạn sang Tây trước, học gấp các kỹ thuật mới mỗi thứ một năm rồi về sớm giúp vào việc áp dụng thi hành. Bởi vì bọn họ học sơ qua gấp rút trong một năm vẫn còn kết quả hơn là Triều đình mở trường mời người Tây đến dạy học trong mười năm. Đó là những điều giám mục nói riêng với tôi như vậy. Về phần tôi, tôi chỉ dùng lời khéo léo dẫn dụ giám mục và các người ấy để họ vui vẻ cầu tiến mà thôi, chứ tôi không có quyền sai sử. Nếu Triều đình muốn gấp rút thực hành để tạm thời ứng dụng thì chỉ nên bắt đầu một hai người và trong khi thương nghị cùng giám mục nên nêu rõ tên những người Triều đình muốn khẩn phái sang Tây học tập. Giám mục sẽ không từ chối được. Nhưng không nên nói cho giám mục biết đó là những điều tôi đã góp ý trước với Triều đình.

Còn như việc ba tỉnh trong, hiện nay đó là vấn đề khẩn cấp. Trước đây ở Kinh đô tôi đã có bài bẩm nói rõ các cách đối phó để chống lại sự lập công của Tây soái. Các cách tuy có hoãn gấp khác nhau, nếu sớm áp dụng mới có thể chống được. Bằng không, một khi đã rơi vào tay họ, chắc chắn khó móc ra được. Nay trong khi hội kiến cùng giám mục, nhất thiết chớ nên cho vấn đề này là khẩn yếu mà xin giám mục giúp đỡ. Chắc chắn giám mục sẽ không dám nhận lời. Chỉ cần yêu cầu giám mục vào Gia Định sớm, độ mấy hôm thì đi Tây ngay. Trong khi tiếp xúc nói chuyện cùng các quan Tây cần phải trưng dẫn giải thích khúc chiết và dụng ý khéo léo.

Thí dụ như nói rõ rằng hiện nay ta thật tình muốn hòa hiếu và giữ lễ hết sức cẩn thận. Mặc dầu có tiếng đồn đại qua lại, đó chẳng qua do bọn chất chứa oán thù muốn mượn việc bịa ra chứ chẳng liên quan gì đến đại thế quốc gia cả. Nói rõ rằng Triều đình rất tin tưởng giám mục, phó thác cho giám mục sang Tây tìm kiếm các phương pháp mới. Nói rõ rằng Triều đình muốn giám mục đến La Mã đạo đạt lên Giáo hoàng về ý muốn giao hảo. Nói rõ rằng Triều đình rnuốn sai người sang Tây học tập và mời người Tây sang nước ta mở trường dạy dỗ. Nói rõ rằng Triều đình muốn cùng chia sẻ điều hay điều lợi với người Tây. Nói rõ rằng những việc làm của bọn quân đội thất nghiệp ở Nam kỳ không phải do Triều đình ngầm ủng hộ. Nói rõ rằng tất cả những thỉnh cầu của người Tây mà không quan ngại đến thể diện nước Nam đều được Triều đình vui vẻ đáp ứng.

Cứ thong thả đem các sự tình ấy truyền rộng ra để cho nguyên soái và các đại học sĩ, các nhà quyền quý, các giám mục bên nước ấy đều biết rằng Triều đình hiện đang làm như vậy không phải muốn hợp nhất với Tây là gì? Đó là cách ta xen vào bên trong mà tuyên truyền rỉ tai vậy. Tôi thiết tưởng giám mục chỉ có thể giúp đỡ được như thế. Còn nếu cứ yêu cầu đích thân giám mục trực tiếp chỉ việc nói rõ với Tây soái, chắc chắn giám mục sẽ không dám nhận lời. Hơn nữa làm thế sẽ có nhiều quan ngại. Bởi vì nếu Tây soái biết giám mục làm thuyết khách thì lời giám mục sẽ khó lọt vào tai. Ngày sau nếu có chuyện gì khác, sẽ không có ai dọ tin tức cho. Phàm sự đời lời nói chính thức không hiệu quả bằng lời giải thích phụ, đánh gấp không bằng đánh lén.

Vả lại việc dùng người cũng tùy sở năng, cây gỗ lớn có thể dùng để đánh thành nhưng không thể dùng để đào hang chuột. Nếu sai sẩy thì bao công lao cũng trở thành không. Còn về phần tôi cũng nhất trí dùng cái lý lẽ từ ngoài nói phụ vào, như thế cũng có thể ngầm giúp được một đôi điều. Hơn nữa nếu tôi đến Gia Định tìm kiếm các quan Tây ngày trước chống đối Tây soái ngầm hỏi họ xem theo tình hình nước Tây như vậy có cách nào để cứu vãn tình thế của ta không, việc này xin cho Nguyễn Hoằng cùng đi với tôi mới được. Bởi vì trước đây khi ở Gia Định tôi có quen bốn, năm quan Tây chống lại việc lập công của nguyên soái. Những người này muốn hợp với tôi gây trở ngại bên trong. Nay nếu tôi gặp họ cũng có thể đem vấn đề quan trọng báo cáo cho họ biết, nhờ họ viết thư gửi cho các đại học sĩ ở Tây triều xin dư luận ủng hộ, cương quyết không can thiệp vào nước ta.

Hơn nữa tôi rất am tường việc này, tôi sẽ có lý lẽ xác đáng thương lượng với họ đúng với kế hoạch của mình. Đồng thời cũng nói với họ rằng nếu họ gây trở ngại được đối với các Tây soái, ngày sau Nam triều cũng sẽ có gì đền đáp họ. Mặc dầu họ chẳng trông đợi gì ở chuyện đó, nhưng họ được hài lòng là làm cho nguyên soái hỏng mất ý đồ, thế họ cũng sung sướng lắm rồi. Nếu Triều đình dùng kế này, xin sớm gọi Nguyễn Hoằng về kinh gấp để cùng tôi gấp rút đi trước.

Xin chớ nói cho giám mục biết rằng tôi và Nguyễn Hoằng đang thực hiện một công việc riêng như vậy. Giám mục sẽ sợ nếu sự việc bất thành để lộ dấu vết sẽ bị nguyên soái trách. Riêng tôi chỉ muốn giúp đỡ cho công việc đôi chút, dù bị trách cũng chẳng hề gì. Việc này rất nghịch chống Tây soái, xin hết sức giữ bí mật. Đó là kế sách tôi dự bị trong lòng như vậy, nên xin bẩm rõ trước. Sự tình ba tỉnh hết sức khẩn trương như vậy. Ngày trước tôi cớ bệnh trở về chỉ vì ý đó thôi. Nếu không sớm thực hiện kế bủa lưới bốn mặt như tôi đã nói trong bài Lục lợi từ để thực nghiệm lời nói của tôi thì không biết sự thế sẽ ra như thế nào. Còn như khi đi Tây, Triều đình nếu muốn mua các thứ máy móc, lựa thứ giá rẻ mà dùng được thì tôi sẽ làm tên mọi Ba Tư đi theo chủ là phái viên, như vậy cũng nhất cử lưỡng tiện. Một lần nữa xin trong lúc thương nghị bàn bạc cùng giám mục, nhất thiết chớ cho các dạo đồ cùng đến dự nghe, sợ có những trở ngại khác.

Nay kính bẩm.
____________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 634/4 tờ 14-20.
    Bản văn chỉ ghi Tự Đức năm thứ 19, nhưng chắc là được viết lúc Nguyễn Trường Tộ mới cùng giám mục tới Huế (17-8-1866).
1. Theo Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, thì năm 1858. Giám mục Gauthier có đem theo vào Đà Nẵng “cụ Khang, cụ Điền (người An Phú), cụ Huấn (người Trung Hậu) khi ấy cả ba ông chưa chịu chức thầy cả”.
    Sau này chúng ta chỉ thấy Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Joannes Vị cùng đi Pháp với giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ (1867-1868). Còn Nguyễn Lâu thì có thấy nói tới trong chiếu hội sai đi tìm mỏ với Hồ Văn Long thay Nguyễn Trường Tộ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 09:13:08 pm

DI THẢO SỐ 18

Về việc học thực dụng*

(23 tháng 7 năm Tự Đức 19, tức 1 tháng 9-1866).

Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Tôi trộm thấy mấy lâu nay Triều đình lo gấp về việc tự cường, mở rộng đường ngôn luận, đặt ra đề mục mới, khiến cho trong nước, tài nghệ gì cũng không bỏ, một điều hay gì cũng không để sót. Dụng tâm đó của Triều đình chẳng những là cần yếu mà còn thiết thực nữa. Tuy nhiên ngoài việc khoa cử thường lệ chưa thấy có ngành nào khác hưởng ứng để đáp lại lòng mong muốn của Triều đình. Chính là vì việc bồi dưỡng nhân tài chưa được liệu trước.

Tháng trước, tôi đã có một tập trình bày về “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”. Đó là những cái rất căn bản. Những điều phúc lợi trong nước đều do đó mà ra. Thực là một cái mấu chốt quan trọng của sự thăng trầm xưa nay, của sự thịnh suy giữa ta và người. Bản lĩnh học thuật của tôi là nắm cho được cái đó.

Nay tôi xin đệ thêm một tập nói rõ về việc học tập bồi dưỡng nhân tài tức con đường rộng lớn để đi đến giàu mạnh. Những điều tôi nói trong đây tựa hồ như bỏ cũ theo mới, tôn người hạ mình. Nhưng “Mắng Phật tức yêu Phật”, vậy xin thấu cho nỗi khổ tâm của tôi ở đây mà rộng lòng tha thứ.

Trộm nghĩ, nhân nghĩa đạo đức là bản tính của con người, dù người dã man cũng không thể bỏ những tính đó mà giữ được nước, dù giặc cướp cũng không thể bỏ ngoài trí hiểu biết sáng suốt ấy mà khuất phục được đồng bọn. Thế nhưng bàn về nhân nghĩa thường thường thấy rằng người ta hay bị cái lợi làm cho trí não hôn mê, đó là vì không có tài nghệ để tự bồi dưỡng cái sở học. Cho nên mới thấy lợi quên nghĩa. Lòng ham muốn mà thắng thì bỏ mất đạo lý. Người xưa nói: “Kho lẫm đầy rồi mới biết lễ tiết. Cơm áo đủ rồi mới biết vinh nhục”. Nếu bị cái nghèo đói thúc bách thì lo kế sống cũng không xong, còn hơi đâu mà bàn lễ nghĩa. Cho nên Mạnh Tử nói: Nhân là phải dựa vào của cải. Khổng Tử nói: Tín thì trước hết phải đủ ăn. Xét thâm ý ấy thì trước hết phải giàu có rồi mới nói đến giáo dục. Có tài nghệ mới thành công. Vì rằng có giỏi tài nghệ mới hiểu thấu lý lẽ của người và vật để bồi dưỡng cái căn bản đạo đức. Cho nên chính cái “thành chính tu tề” 1 chỉ thành tựu được sau khi đã cách vật trí tri2 mà công phu cách trí ấy là do học tập.
______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 108-111
    Hv 634/1 tờ 171 - 190
    Hv 135 tờ 55- 74
    N.P 122 trang 45-50
    Về niên hiệu, thì Hv 634/1 chỉ ghi “Tự Đức 19, trong lúc Hv 189/1 ghi rõ hơn: 23 tháng 7 năm Tự Đức 19. Còn Hv 135 và N.P 122 ghi “Tháng 9 năm Tự Đức 24”.
    Theo chúng tôi, bản văn này được viết ngày 23 tháng 7 năm Tự Đức 19 (Tức 1-9-1866) như vậy Hv 189/1 ghi nhận là phù hợp với thực tế. Bởi vì ở đầu bài có nói: “Tháng trước (tiền nguyệt) tôi đã có một tập về Ngôi vua là quý”, và bài “ Ngôi vua là quý” đề tháng 4 năm Tự Đức 19.
    Bản Hv 135 và Nam Phong 122 có thể đã được chép từ một bản được sao lại tháng 9 năm Tự Đức 24. Ở đầu bài này, thay vì nói “tháng trước” (tiền nguyệt), thì đã nói “ngày trước” (tiền nhật).
1. “Thành chính tu tề”: thành: thành ý, ý phải thành thực; chính: chính tâm, lòng phải ngay thẳng; tu: tu thân, sửa mình cho tốt; tề: tề gia, sắp xếp việc nhà cho tốt.
2. Cách vật trí tri: Cũng nói là cách trí, tức là nghiên cứu suy cho đến cùng, hiểu thấu mọi lý lẽ của sự vật.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 09:17:33 pm

Người xưa nói: Một “vật” gì mà không biết thì nho sĩ lấy làm xấu hổ, chứ không nói một “chữ” mà không biết. Là vì thực ra trời đất người và ta đều là vật cả. Người xưa biết rõ phép cầu đạo thì nói: Gần thì cầu lấy ở bản thân, xa thì cầu lấy ở vật. Như vậy học tập ở bản thân, học ở vạn vật, học cái tài nghệ tức có thể sáng tỏ đạo lý.

Người ta sinh ra ở đời, nền móng của đức nghiệp phải xây dựng từ khi còn ít tuổi. Vì vậy, đời xưa khi mới bắt đầu dạy học thì dạy cho sáu nghề1. Tức là khi đã có đức có nhân để làm chỗ y cứ rồi mới dạy cho học. Cũng gọi là “du nghệ” bởi vì nói nghề tức là có thủy có chung. Đời xưa sở dĩ gọi là đại thánh, là vì người đó biết mở mang các vật để phục vụ nhân sinh. Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế sáng chế dụng cụ, đến Nghiêu Thuấn thì biết sắp đặt các nghề thợ, sửa sang nhà cửa, Đại Vũ trị thủy phân chia nước vào ruộng, Thang Vũ đánh dẹp mở mang cơ nghiệp, Chu Công2 thu góp những cái hay của đời trước đặt ra điển lễ, Thái Công3 biết đặt ra chín phủ4. Thời ấy chưa ai nói đến chữ “văn chương” cả. Từ Tam Đại5 về sau làm vua thì như Ngũ Bá6 và đến Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh những nhà sáng nghiệp mở mang cũng chưa từng thấy dùng kẻ văn học ra làm quan làm tướng. Còn như Quản Trọng7 giỏi nội chính, Tiên Chẩn8 có tài dùng binh. Tô, Trương9 thông thạo thuật tung hoành. Tiêu, Tào10 ít chữ nghĩa, cho đến Trương Lương, Đặng Vũ11, Khổng Minh12, Phòng, Đỗ, Quánh Tử Nghi13 v.v... cũng chưa có ai nhờ câu văn chương chữ nghĩa mà nên danh cả. Đời Chu có Hiểm Doãn, Hán có Hung Nô, Đường có Đột Quyết đều là những Bắc dịch14, Tây nhung15 cả. Lúc bấy giờ những nước đó cường thịnh mà ở sát Trung Quốc nhưng vẫn không thể xâm lấn chia cắt lâu được. Bởi vì lúc bấy giờ có nhiều người tài giỏi nghề hay để sử dụng.
______________________________________
1. Sáu nghề (lục nghệ): lễ: lễ nghi; nhạc: âm nhạc; xạ: bắn cung; ngự: tập cỡi ngựa; thư: tập học đọc, viết sách, bài; số: toán học.
2. Chu Công: Chu Công Đán.
3. Thái Công tức Thái Công Vọng tên là Khương Thượng đời Chu.
4. Cửu phủ: Chín kho của cải tiền tệ của nhà nước do chín chức quan coi, là những Thái phủ, Ngọc phủ, Nội phủ, Ngoại phủ, Tuyền phủ, Thiên phủ, Chức nội, Chức kim, Chức tề.
5. Tam đại: Hạ, Thương, Chu.
6. Ngũ bá: Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Tương Công nước Tống, Trang Công nước Sở, Mục Công nước Tần.
7. Quản Trọng (Tề).
8. Tiên Chẩn (Xuân Thu).
9. Tô: Tô Tần (đời Chiến Quốc). Trương: Trương Nghi (đời Chiến Quốc).
10. Tiêu: Tiêu Hà (Hán). Tào: Tào Tham (Hán).
11. Trương Lương (Hán). Đặng Vũ (Hán).
12. Khổng Minh (Tam Quốc).
13. Phòng Huyền Linh (Đường). Đỗ Như Hối (Đường). Quách Tử Nghi (Đường).
14. Bắc địch: Bắc chỉ giống người man rợ ở phía Bắc Trung Quốc, theo quan niệm của phong kiến Trung Quốc.
15. Tây nhung: chỉ giống người chưa khai hóa ở phía Tây Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 09:29:53 pm

Nay xem các sách binh thư, luật dịch, phương dược khí nghệ1 đều từ trước đời Đường và sau Ngũ Đế2 truyền lại thì đủ biết chuyên môn thời ấy như thế nào. Về sau, Tống, Minh lại chuyên về ăn học làm thế nước yếu kém để đến phải mất cho Nguyên, Thanh. Tuy có thể do vận hội xui nên nhưng cũng do thiếu người tài giỏi giúp đỡ. Ở phương Tây cũng vậy, đồng thời với Đường, Hán, Tống thì La Mã là một triều thất thống, vũ công vang lừng bốn bể, uy linh rung chuyển ba phương, họ có nhiều chế tác kỳ dị lưu truyền mãi đến nay. Nhưng từ trung thế kỷ về sau vì những người cầm vận mệnh chỉ lo yến hội mua vui làm trọng, kẻ làm quan thì lấy văn từ làm bậc thang tiến thân. Đã một thời bao nhiêu quân tử ra đời đều chuyên chuộng chữ nghĩa văn chương, viết sách làm luận để tự cao lập dị dần dần bỏ mất cái học thực dụng, đến nỗi nước Tây Bắc tràn qua đánh phá mà tan thành từng nước nhỏ. Đến nay người phương Tây vẫn lấy đó làm răn. Cho nên khi chọn quan họ không hề đặt ra một khoa văn chương nào cả. Trừ Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly và nước ta ra, không có nước nào lấy văn chương để chọn nhân tài. Đó cũng vì thơ phú không đuổi được giặc, nghìn lời không được một kế sách, cho nên thay đổi đi mà lấy những điều tạo hóa hành sự làm cái học thực dụng, vì tạo vật là bậc thầy vĩ đại của muôn dân. Phàm những việc làm của tạo vật đều là thực dụng, như bốn mùa thay đổi muôn vật hóa sinh, khí bốc lên, nước rơi xuống, mặt trời, mặt trăng, sao ở trên trời, gió, mây, mưa, mù ở trong khoảng không, loài chim, loài cá, động vật, thực vật ở trên mặt đất, sự vận động, sự kinh doanh của loài người... tất cả mọi cái sinh sinh hóa hóa mà ta thấy đều là sự vật thực tế cả. Chúng ta là những người của tạo vật, mà lại không theo những hiện tượng tự nhiên đã dạy bày, không tập những hình dạng cụ thể đó, không học những quyền lực kỹ xảo đó, không nghiên cứu độ số vận động của hành tinh, không biết khai thác kho tàng quý báu trên núi, dưới biển, không dùng những đức tính quý báu dồi dào mà trời đã ban cho. Tất cả những khí lực tài chất của tạo vật sinh ra, những cơ nghiệp lâu dài tạo vật để lại, lại đem gởi cả vào những văn từ suông rỗng vô dụng mà không nghĩ đến cách tác thành những gì tạo vật đã để lại, không biết khéo dùng những gì tạo vật đã ban cho. Đến khi sự thế cấp bách xảy đến thì lại than trời rằng: Sao trời làm cho ta bần cùng khốn khổ. Thế chẳng hóa ra làm nhục tạo vật đó sao! Vì vậy cho nên học tập tài nghệ là bắt chước theo các cách thức của tạo vật, như người đời xưa thấy hoa bòng bong xoay tròn mà bắt chước chế ra xe, thấy mặt trăng khuyết mà bắt chước chế ra cung, lấy hình dạng của các vật nà chế ra chữ viết, nghe gió thổi mà đặt ra âm nhạc, bắt chước hình ngôi sao mà chế ra đồ dùng, xét địa thế xây dựng nhà cửa, mọi khuôn mẫu chế tác đều như thế cả. Hiện nay các nước phương Tây tất cả những khí cụ kỳ lạ, không có một cái gì là không dựa vào sức tự nhiên của trời đất để làm. Do đó nhà cơ học có nói rằng: Sự tinh xảo của những máy móc lớn nhất cũng giống như người dã man lấy que gỗ dùi đất gieo hạt. Có điều người ta không xét thì không biết đó thôi. Cho nên phàm những việc học tập đều là học những cái mà tạo hóa dạy cho, phàm những tri thức đều là sức hiểu biết những cái mà tạo hóa hình thành, phàm những công việc làm đều là nhân những cái mà tạo vật đã tạo ra, phàm những cái có được đều là hưởng những cái tạo hóa đã để lại. Thế mới gọi là con người hoàn thành công việc của trời vậy. Từ xưa đến nay mọi việc trong thiên hạ không có cái gì không suy nghĩ mà biết, không học mà hay cả, dù thánh nhân cũng học không biết chán, huống hồ người thường. Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng, học những cái vụn vặt thì chỉ được cái vụn vặt, trồng đậu được đậu, đó là lẽ tự nhiên, không ai có thể làm trái với đạo lý đó được. Cho nên nếu chúng ta muốn lấy cái học tự kỷ3 mà cho là vẻ vang thì cũng chỉ được những sự vẻ vang như lễ nhượng đầu môi chót lưỡi mà cũng cho là đẹp. Còn những cái ăn mặc, thú vui tiêu khiển là tất cả chữ nghĩa văn chương thì làm sao chúng ta có thể tận dụng được cái kỳ diệu của trời đất?
______________________________________
1. Binh thư: sách quân sự; luật lịch: sách thiên văn; phương dược: sách thuốc; khí nghệ: khí cụ, kỹ nghệ.
2. Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn.
3. Cái học tự kỷ là cái học cục bộ, chủ quan xoay quanh bản thân con người, lấy con người làm trung tâm mà đo lường vũ trụ. Người xưa nói: “Nhân thân tiểu thiên địa”. Nghĩa là con người là một vũ trụ nhỏ, cứ suy từ con người thì biết hết.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 09:31:00 pm

Người phương Tây cũng là người, họ đâu có thể vượt ra ngoài trời đất mà học, thế sao cái học của họ được công hiệu. Như tôi đã bẩm trong bài nói về: “Ngôi vua, chức quan” là do họ biết lấy những thực tế của tạo vật ra mà học. Cho nên trong âm thầm họ được mặc khải để làm nên cái diệu dụng của trời đất, để giúp tạo hóa những cái mà tạo hóa chưa kịp làm. Người nước ta không phải con dân của tạo vật đó sao, thế mà bây giờ lại thấp hèn làm vậy! Những điều tôi trình bày ở đây không phải là muốn bỏ hết cái cũ mà mưu cầu cái mới. Nhưng phải lấy cái hay của mình có sẵn, còn phải gồm cả những cái hay của thiên hạ mới sáng tạo ra. Như thế những cái mới thiên hạ có mình cũng có và những cái mình sẵn có thì thiên hạ không có. Lấy hai điều biết mà địch lại một điều biết như ở đoạn giữa của bài Lục lợi từ tôi đã trình bày. Như thế ai dám khinh rẻ nước mình?

Nay xin Triều đình đặt ra nhiều đề mục giao về cho các quan địa phương truyền hỏi bất kỳ người nào, bất luận lương hay giáo, ai tìm được thực lý, thực sự thì theo đầu đề viết thành bài nạp lên. Hàng tháng các quyển ấy được đưa về Kinh một lần để khảo duyệt. Bất kỳ quyển nào giúp ích cho việc cần gấp thì được ban thưởng và khuyến khích, rồi sức cho người ấy y theo quyển mà thi hành. Nếu việc làm phù hợp với lời nói và có ích cho việc công của nước nhà thì chiếu theo khoa mà bổ dụng. Nếu như có ích cho việc tư trong dân gian thì được cấp bằng để tự chế tạo ra mà phát hành. Nếu như quan địa phương có ý kỳ thị người nào mà giấu bài đi thi thì người ấy được phép lên tận Kinh tố cáo. Những đề mục đó xin kê ra như sau.

1. Xin cho các trường quốc học, tỉnh học, các trường tư và các bài thi Hương thi Hội đều chú trọng vào tình hình hiện tại, như luật lịch1, binh quyền, các chính sự về công hình lại lễ2 tất cả đều được nói thẳng, không giấu giếm, có cái gì tệ hại, có cái gì hay ho, cái gì nên để lại, cái gì cần thay đi, những cái cần thiết trước mắt, những cái có thể phân tích tỉ mỉ xác đúng hợp thời, thì được coi là trúng cách3, còn những chuyện cũ thì chỉ là thứ yếu.

2. Xin đặt các khoa hải lợi. Những người biết làm muối theo cách thức mới, tìm ra các phương pháp chài lưới ghe thuyền đăng đó đánh cá, nuôi cá, ướp cá, v.v...hay hơn các phương pháp cũ thì sẽ xét mà ban thưởng.


3. Xin đặt ra khoa sơn lợi. Ai tìm được khoáng sản mới như những mỏ kim loại và ai nghĩ ra phương pháp dò tìm như thế nào, phương pháp luyện kim như thế nào, phương pháp khai quật như thế nào, lại nghĩ ra những cách hay để săn bắt tê giác, voi, để tìm của quý, để lấy gỗ rừng và các nguồn lợi của núi rừng hoặc căn cứ vào địa phương gần chỗ mình ở vẽ được đầy đủ hình thế những hang sâu rừng thẳm cao nguyên... đo đạc được xa gần, rộng, hẹp, cao, sâu hiểm yếu ghi chú rõ ràng từng khoản một, rồi đệ nạp lên trên, trên sẽ tùy mức độ xét lợi ích lớn nhỏ để ban thưởng.

4. Xin đặt ra khoa địa lợi. Phàm những nơi có đất hoang, không kỳ ở rừng núi, hoặc ở bãi biển, hoặc ở doi sông cát bồi, hoặc ở ao hồ lầy lội một mặt có ai nghĩ ra phương pháp hay để khai phá bồi đắp đề phòng được hậu hoạn, một mặt có ai xét thổ nghi ở đấy trồng thử các giống cây như dâu, đay, lúa, đậu mà được tốt tươi khác thường thì cũng tùy theo lợi ích mà ban thưởng.

5. Xin đặt ra khoa thủy lợi. Khoa này ích lợi rất lớn. Có ai nghĩ được phương pháp mới như về đào kênh, đắp đập, hoặc giữ nước để phòng hạn, hoặc tiêu nước để chống úng, hoặc dẫn nước từ xa về tưới ruộng, hoặc tìm được mạch nước sâu để lấy nước uống, nếu dùng thử thấy kết quả, phương pháp đó có thể truyền bá thì ban thưởng nhiều để đền bù công lao (như ở Tứ Tuyên4 thường bị thủy tai. Nếu ai nghĩ cách trừ diệt được mối họa đó, thì nên dùng gấp để làm lợi cho dân).

6. Xin cho làm những đồ khí mãnh thường dùng hàng ngày xem có ai nghĩ ra cách chế tạo, dựa theo cái cũ mà chế ra cái mới, vừa tiện lợi mà giá không cao hơn vật phẩm thường.

7. Xin nghĩ đến các thức ăn uống xem có ai với vật thường dùng nghĩ ra cách làm cho nhiều thêm hoặc để lâu không hư hỏng mà mùi vị lại thơm ngon hơn trước, hoặc là tìm được những vật nào xưa nay chưa từng dùng để ăn mà lại có thể ăn được như các loại thức ăn cứu đói,
______________________________________
1. Luật lịch: thuộc về thiên văn, khí tượng, lịch.
2. Công hình đại lễ: thuộc về bộ máy thống trị bộ Công, bộ Hình, bộ Lại, bộ Lễ của Triều đình phong kiến người ngày xưa.
3. Trúng cách: thi đỗ.
4. Tứ Tuyên: 4 thừa tuyên ở miền Bắc. Thừa tuyên tương đương một tỉnh.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2010, 09:32:16 pm

8. Xin nghĩ đến các vị thuốc có nhiều ở nước ta. Hơn nữa khí chất của nó thích hợp với tính chất của người nước ta. Nếu ai lấy được vị thuốc nào giống như của Trung Quốc, nghĩ cách tinh chế ra giống như vị thuốc Bắc, và nếu ai lấy được các vị thuốc tục truyền cũng như các vị thuốc mà các dân tộc thiểu số thường dùng, tìm cách trồng và bào chế được thì không kỳ nhiều ít đưa ra xét nghiệm thấy xác đúng sẽ cho biên vào bản thảo để ban hành.

Ba khoản nói trên là đồ khí mãnh, thức ăn uống và vị thuốc đều nên phân biệt thưởng cấp, cho phép người tìm chế ra được hưởng lợi để thù lao cho họ.

9. Xin cho những ai đi ra nước ngoài mà lấy được các thứ thổ sản, chọn những thứ thích hợp thổ nghi nước ta, đưa về trồng trọt xét thấy quả thực có sinh lợi thì cũng thưởng như người tìm ra vị thuốc.

10. Xin cho những nhà buôn trong dân gian biết góp vốn lập hãng buôn mà tiền vốn đến 100 vạn, hiện có xác thực thì ban thưởng cho họ. Do góp vốn hay là vốn riêng của một nhà đóng được thuyền lớn hay là mua được thuyền thì bất luận kiểu loại gì mà có thể đi sang Đại Thanh1 hoặc ra nước ngoài buôn bán cũng ban thưởng cho họ.

11. Xin cho trong dân gian những ai lập các hội cứu tế như các loại hội cứu hỏa, hội bảo hiểm thuyền buôn, hội khơi cảng thu thuế, hội thay nhà nước sửa chữa xây dựng cầu cống đường sá nhà cửa, hoặc xuất tiền cho nhà nước vay để hàng năm lấy lợi, hoặc quyên tiền cho nhà nước để lập ra các nhà nuôi trẻ mồ côi, nuôi người nghèo khổ bệnh tật, và tự nguyện đứng ra quản lý những việc ấy, hoặc khi nhà nước có việc khẩn cấp có thể cho vay tiền từ một vạn trở lên, đều xét theo công lao sự việc lớn nhỏ mà phân biệt ban tước phẩm, hoặc tặng cờ biển để khen ngợi.

12. Xin không kể người nào hễ biết tiếng nước ngoài như Y Pha Nho, Anh Cát Lợi thì xếp vào hạng 2, tiếng Trảo Oa, Trung Quốc thì xếp vào hạng 3, tiếng những nước gần biên giới phía Tây nước ta như nước Miên, Lào, thì xếp vào hạng 4, biết tiếng Pháp thì xếp vào hạng nhất. Nếu qua khảo hạch được đúng thì lấy danh hiệu là Hành nhân2, Tú tài mà châm chước miễn nhiêu dịch cho họ hoặc vài năm hoặc trọn đời. Nếu ai tinh thông các sách về máy móc kỹ thuật của phương Tây có ích cho việc thực dụng thì dịch ra, theo bản đồ vẽ lại hoặc một bộ, hai bộ, ba bộ không hạn chế, những sách dịch ra lấy 1.000 trang làm tiêu chuẩn, đệ nạp lên Bộ rồi cùng với Tây soái duyệt xét không sai thì ban cho là Cử nhân tại gia.

13. Xin cho các chỗ đất công ở trong ngoài Kinh thành nếu có nhà giàu nào xuất tiền nhà ra xây nhà ngói cho thuê, còn nhà tranh thì dỡ hết đi, thì sẽ tùy theo nhiều hay ít mà ban thưởng. Còn tiền cho thuê thì trích 2/10 cho vào công ích. Khoản này có nhiều trở ngại lớn, có nhiều lợi hại, Triều đình cũng đã hiểu rõ, tôi không dám nói thêm.

14. Xin cho lập viện dục anh, viện dạy trẻ, đây là một ngành hoạt động trong đạo giáo, các nước phương Tây chỗ nào cũng có. Nay nếu nước ta thiết lập được thì viết thư cho nước Tây cho phép các hội bên ấy được đến làm công tác cứu tế. Xưa, chính sách nhân hậu của Văn Vương3 lấy việc này làm đầu. Nước ta hiện nay đang bận nhiều việc lớn chưa thể thực hiện hết, và cũng khó chọn được những người chịu ra làm việc này. Nhưng thiết nghĩ, nếu bỏ phí mất một người tức phí mất một phần của đất nước. Nay nếu có chỗ nuôi dạy khiến chúng được sống còn và nên đức tính tốt, còn hơn xây mấy đợt phù đồ4. Như vậy viện dục anh vừa dạy chữ Tây nghề Tây, vừa dạy chữ Nam, nghề Nam, song song cả hai, nam nữ đều học cho đến tuổi trưởng thành. Các hội khác cũng làm như thế. Triều đình là cha mẹ của muôn dân. Đã là cha mẹ thì thấy cái gì có ích cho con cái, mà thế có thể làm được thì không kỳ xa gần đây kia đều phải nghĩ cách lấy về nhà. Như vậy, nếu được chuẩn y thì mỗi tỉnh lập một viện và lấy các giám mục làm quản lý. Việc đó tôi xin lo liệu. Viện dục anh có ích cho trẻ con rất nhiều.

Các điều kể trên là tôi chỉ chọn những điều tầm thường dễ làm để dẫn tới nhiều tác dụng to lớn sau này. Đó chỉ là toát yếu mấy đề cương lớn mà thôi. Còn các đề mục nhỏ trong đó không thể nói hết từng cái một (Dùng năm sáu trăm trang giấy cũng chưa thể viết hết). Nếu Triều đình muốn đưa ra vấn đề nào, tôi xin lần lượt trình bày rõ từng điều một. Ngay như khoản tình hình chính sự hiện tại cũng đã rất nhiều, mà cũng có thể thay đổi dần dần. Điều này thật là cần gấp, thật là trọng yếu. Còn như các công trình to lớn, các máy móc tinh xảo, sau này cũng sẽ dần dần làm một vài cái để xướng suất cho dân. Đại phàm sự yêu hay ghét, theo hay bỏ của kẻ dưới đều do sự khuyến khích thưởng phạt của bề trên chứ không phải vì Đông Tây mà khác tính nhau. Hễ bề trên quý trọng chỗ nào thì dưới dân tranh nhau hướng đến chỗ đó. Ngày nay, cái mà nước mình quý trọng đó là Nho. Mà Nho thì quý trọng ở chỗ nhiều văn chương chữ nghĩa. Nếu như lấy cái công phu bền bỉ dùi mài chữ nghĩa văn chương mà học cả cái phong phú vô vàn của tạo vật thì sẽ được biết bao nhiêu điều quý báu. Bởi vì, vạn vật chia ra nhiều môn loại, môn loại nào cũng có cái kỳ diệu đáng quý của nó. Cho nên người ta bảo rằng mỗi vật đều có một thái cực. Nếu chia ra từng môn, từng loại mà học thì trong một nước có nhiều cái đáng quý, như thế chẳng hơn là chỉ quý có một cái độc nhất sao? Vả lại tính tình người ta không giống nhau, mỗi người có một sở trường để thích ứng với sự vật. Nay ta chỉ dùng một loại sở trường thì những người có những sở trường khác còn hy vọng gì nữa mà đem hết sức ra làm?

Nhìn chung lại người phương Tây họ tùy theo tính chất của con người mà bắt chước nhiều sự thực của tạo hóa, lấy chỗ sở đắc để di dưỡng tính tình, mà quy về đạo đức. Cho nên người dân cũng được nhiều thành tựu để đáp ứng trăm công việc. Nước ta thì chỉ quý trọng Nho sĩ, cho nên dân cũng chỉ biết theo con đường học Nho mà thôi. Nay nếu cho dân biết rõ rằng Triều đình cũng quý cả nhiều nghề khác, thì sẽ không mấy năm, dân chúng cũng sẽ cống hiến được nhiều nghề cho Triều đình.

Nay kính bẩm.

Lục bộ thượng thư, liệt vị đại nhân soi xét.
 ______________________________________
1. Trung Quốc đời nhà Thanh.
2. Hành nhân: người biết tiếng nước ngoài và phiên dịch được cho các đoàn sứ bộ.
3. Văn Vương: Tức là Chu Văn Vương thời Tam Đại Trung Quốc.
4. Phù đồ: tháp thờ Phật. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Dầu xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:32:39 pm

DI THẢO SỐ 19

Phải tạm thời dựa vào Pháp*

(25 tháng 7 năm Tự Đức 19, tức 3 tháng 9 năm 1866)

Kính bẩm.

Trộm nghĩ người mà khéo lo toan biết được thời cơ sẽ đến mà không thể dừng được, thì thuận theo thế mà khai thông, để tránh cái hại xảy ra, như việc Hán Cao Tổ chịu phong ở Ba Thục vậy. Biết cái thế không thể giữ được cả thì đành bỏ chỗ tầm thường để giữ lấy chỗ quan trọng, như việc Lâm Hồi bỏ số vải đáng giá nghìn vàng vậy. Thấy nước không thể giữ vẹn được thì bỏ nơi biên cương mà giữ nơi cơ bản, như Thạch Tấn bỏ Lư Long, Bình Vương bỏ Kỳ Phong vậy. Cũng có cái phải để đó mà không vội tranh, nhờ vào đó mà chống loạn, như Tống nhờ để lại nước Liêu mà dẹp yên được các nước vậy. Cho nên người hiểu biết thấy thời cơ sắp đến, biết sự thế sắp thành thì đoán trước từ ngoài xa vạn dặm không cho nó vào trong phạm vi nước mình, đẩy lùi nó đến tận mấy đời sau để nó khỏi ngăn trở mưu cơ của mình. Chia tách ra bắt nó phải thuận đi theo bên trái để ta được chuyên tâm mưu tính theo đường phải, dẫn dắt khiến nó vướng mắc kẻ địch ở ngoài để ta được thung dung lo tính việc bên trong.

Cho nên nói rằng người hiểu biết là phải biết xoay chuyển, chứ không cố định một chỗ. Bởi vậy người hiểu biết là phải xem việc đời xưa mà mưu việc đời nay, không dùng những mưu đã dùng mà dùng những gì có thể lập ra mưu, không theo những khuôn phép đã thành mà theo những gì mình có thể lập ra khuôn phép. Cho nên gặp được nhiều cơ hội, đổi chỗ mà thành công chứ không chấp chặt ở một chỗ. Xưa Khổng Minh không tranh đất Kinh Châu chuyên hòa với nước Ngô để lo đánh Bắc Ngụy. Nếu như đánh được Hán thì không chỉ riêng gì Kinh Châu là của mình mà thôi. Nam Tống nếu không hòa với Kim thì nghiệp vua cũng khó mà yên được. Nếu như chịu bồi dưỡng sức lực cho lính và cho dân, biết như thế là đủ rồi để tự bảo vệ, không cần phải đánh dẹp để đến nỗi suy nhược thì giòng Trường Giang hiểm trở kia cũng đủ để hòa với Nguyên rồi. Người bình luận trách Khổng Minh không báo thù chủ trước, Nam Tống không rửa thẹn cho tiền nhân. Như thế là chưa biết hết nỗi khổ tâm của người đương thời. Võ Đế mở đường cho Tây Nam đi là để chặt đứt cánh tay Hung Nô ý cho rằng nếu Bắc Địch không chết thì Hán triều không yên, lo xa đến thế.

Thế mà người bình luận lại đi trách Võ Đế, thật cũng đáng cười vậy thay! Bình Vương bỏ Kỳ Phong cho Tần, để Tần phải đương đầu với Tây Nhung, như thế mới có thể kéo dài triều Đông Chu đến 400 năm. Anh Cát Lợi bỏ Hợp Chủng Quốc cho Tây phương cùng được lợi ở Tây Châu, như thế mới thoát khỏi sự vướng mắc để một mình báo chiếm Ấn Độ. Nếu Bình Vương cứ tranh mãi cố dô thì cương vực nhà Chu chưa chắc đã giữ được; người Anh nếu không chịu bỏ hầm vàng đó để dụ người khác vào tranh nhau lấy thì Ấn Độ là nơi ngọc lụa khó một mình chiếm trọn được. Xưa Y Pha Nho (tức là nước Tây Ban Nha) bị Hồi Hồi chiếm đóng 180 năm, tộc này cường thịnh có đến vài mươi vạn người, đến khi Y Pha Nho vùng dậy phục quốc, đuổi người Hồi về tận duyên hải miền Nam, nay ở đấy thành sào huyệt của bọn trộm cướp mà Y Pha Nho cũng nhân đó suy yếu một cách nhanh chóng. Nước Áo Đại Lợi xưa bị nước Hung Gia Lợi chiếm cứ một nửa, dân Áo cùng sống chung lẫn với dân Hung, cho nên sau này Hung biến thành Áo và hợp thành một, nước Áo nhân đó ngày càng lớn mạnh.

Hai đằng lợi hại đều có chứng cớ ở sự đuổi hay không đuổi. Sự thế trong thiên hạ thay đổi không ngừng, được mất bất thường, nhưng nhìn chung lại chỉ ở hai chỗ: Một là, nếu mình đủ sức rồi thì hãy tự củng cố, không gây sự với người khác để tổn thất lực lượng; hai là sức mình chưa đủ tự vệ thì nên khéo mượn sức của người khác để dùng cho mình. Cho nên, thuyền lớn thì phải dùng mái chèo 7 thước mới có thể qua được hồ vượt được biển, lấy nước làm chỗ dựa. Thánh vương sở dĩ có tài là biết dựa vào cái thế thiên hạ để làm thế. Ngày nay nước ta đang bị ở vào cái thế xung đột, Đông Tây tranh đoạt lẫn nhau, nên có hai cái lợi1 là ở Nam thì Gia Định, ở Bắc thì Tứ Tuyên; nhưng lại có ba cái hại2 là Bắc thì Vân Nam, Nam thì nước địch, Trung thì có bọn bất mãn chạy Đông chạy Tây rồi lại tụ tập về lại một chỗ là như thế. Hiện nay ta chưa vội dùng thuật tung hoành để lập cái thế con rết trăm chân được nên phải tùy thời giao thiệp thân mật với người Tây để tạm mượn thế lực của họ, để chống lại ba cái hại trên, để thu cái lợi bên phía Tây để dần dần lo kế sau này hoặc là khi gặp việc gì thì có thể cứu đỡ.
______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 119-121.
Bài này được viết lúc Nguyễn Trường Tộ đang ở Huế.
1. Hai cái lợi: Nam thì Gia Định, Bắc thì Tứ Tuyên. Gia Định và bốn tỉnh phía Bắc là vùng đất giàu có.
2. Ba cái hại: ở Bắc Vân Nam (Trung Quốc, Tàu phỉ), ở Nam địch quốc (Pháp xâm lược); ở Trung, những kẻ mưu phế lập.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:39:40 pm

DI THẢO SỐ 20

Về việc lấy lại ba tỉnh miền Đông*

(19 tháng 9 năm Tự Đức 19, tức 27 tháng 10 năm 1866)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ kính bẩm:

Hôm trước ở Kinh nhân Hiệp biện đại nhân1 và Hộ bộ đại nhân2 nhiều lần bí mật hỏi tôi rằng ba tỉnh ngoài3 có thể còn có cơ hội nào khác nữa không? Tôi đã đến Gia Định dò thám kỹ sự thế hiện tại, thì thấy cũng có phân nửa giống như những ý kiến đêm hôm ấy tôi đã bẩm. Hiện nay, người Tây có một người tên là Di Minh nguyên xuất thân võ biền, năm trước anh ta đã học được tiếng ta, mười phần biết được sáu bảy; anh ta lại hơi biết tiếng quan thoại Trung Quốc nữa, xem được mặt chữ, gần đây khi thì anh ta làm thông ngôn, hoặc làm kinh doanh. Anh ta sống với dân mình cũng rất được cảm tình. Trong cuộc sống, anh ta tuy không thật phải là người tốt, nhưng anh ta cũng không có ý gì tranh chấp thù hằn với người mình. Năm nay ở Tây Ninh anh ta hay ngấm ngầm qua lại với các quản đội đến nỗi Tây soái sinh nghi và bắt giam lỏng anh ta ba tháng. Hiện nay anh ta ở chung một nhà với mấy người học trò học tiếng Tây của ta. Anh ta nghe tin tôi từ Kinh về, đã lén đến chỗ tôi bí mật trình bày mọi việc.

Theo anh ta nói thì hiện nay Tây soái tuy rất để ý mặt phía Nam nhưng thế cũng còn trở ngại.

Một là năm trước Tây soái đã ký với vua Miên tờ ước bảo hộ, nhưng nay thì người anh của vua Miên4 rất hận người Tây không chịu dâng nước cho y, đã ngầm theo cái kế của Dị Nhân đời Tần bỏ chạy ra ngoài rồi tụ binh đem về đánh nhau với Tây giết quan quân Tây hơn ba bốn chục người. Hơn nữa, dân Miên cũng nổi lên theo ông ta, vua Miên và lính Tây đánh nhau với quân của anh vua Miên ở thượng du Nam Vang bị thua phải bỏ chạy. Hiện nay Tây soái dần dần đưa quân lên Nam Vang, chưa biết sự thế sau này sẽ ra thế nào. Nhưng nếu phía Miên mà họ đồng mưu với nhau thì phía bảo hộ cũng không lẽ bỏ người giữa đường. Làm cái việc như Thành Hình đời Xuân Thu, người Tây sẽ không khỏi tốn thời gian, còn rảnh đâu mà mưu đồ việc khác? Thêm vào đó người Tây sang đây buôn bán không được, mắc nợ phải bỏ về, những người này sẽ đem những điều đó báo cáo với vua nước họ rằng: ở Gia Định mọi việc đều bế tắc, quan Tây chỉ lo lập công ở nước ngoài, trăm phương nghìn kế để làm sao tâng công cho được mà thôi đến nỗi khiến dân Tây bên này phải thất nghiệp không biết dựa vào đâu. Còn dân Nam thì bị bức bách mà sinh loạn. Nay xin vua Tây một là theo y lời của Hà Ba Lý5 trước đây hoặc có thể đổi hoặc miễn. Nếu không thì xin trả lại cho người Tây số tiền mà họ đã mua tậu đất vườn ở Gia Định. Tất cả dân Tây ở đây đều có viết thư về Tây nói giống nhau cả. Và các quan lính Tây chống với Tây soái cũng đều cho lời nói của dân Tây là đúng.
______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán bài này: Hv 189/1 tờ 122-127
Hv 634/4 tờ 1-9.
1. Hiệp biện đại nhân tức Trần Tiễn Thành.
2. Hộ bộ đại nhân tức Phạm Phú Thứ.
3. Ngoại tam tỉnh, tức 3 tỉnh Miền Đồng, gồm Gia Định, Định Tường và Biên Hòa.
4. Anh vua Cao Miên Cầm Bô (Poulo Kombo).
5. Hà Ba Lý tức Aubaret.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:41:02 pm

Hiện nay Tây triều lại có thuyết rằng: Nguyên trước tiên hoàng làm tờ giao ước vừa gặp lúc nước Tây đại loạn không có vua nên không đủ làm căn cứ. Thế thì việc vịn theo lời giao ước đó mà lấy ba tỉnh vốn không phải bản ý của vua họ. Chỉ vì sự thế đã lỡ rồi, không thể không theo, nhưng xét theo lẽ công bằng thì cũng hơi hối hận vì sự không đủ căn cứ ấy. Bức thư này do một thân nhân của anh ta làm quan ở Tây gởi cho anh ta. Hiện bức thư còn trong cặp của anh ta. Vả lại theo sự bàn luận của mọi người thì cũng phù hợp như vậy. Ở đây khó nói cặn kẽ tóc tơ được. Nay Triều đình nếu muốn nhân cơ hội này thì cho anh ta lên Kinh bẩm rõ đầu đuôi xem cái gì có thể làm được thì làm. Nhưng khi đến Kinh, anh ta chỉ nói là nghe Triều đình nhờ giám mục về Tây thuê người, anh ta nhân đây lên Kinh để xin công ăn việc làm. Đến đây mới có thể trình bày hết sự cơ phải trái. Nếu Triều đình ưng chuẩn, anh ta sẽ trở về Gia Định ngay, nói giả vờ rằng chưa có việc làm nào vừa ý. Bấy giờ hoặc anh ta sẽ trở về Tây. Hoặc sẽ viết thư cho bạn hữu, đợi đến lúc việc đã mười phần thỏa đáng, anh ta sẽ lên lại Kinh đô cùng với sứ giả của Triều đình sang Tây làm thông ngôn. Tiếng là nói về thăm, thực ra là đến đấy để xem mọi việc cho rõ ràng chân xác, nếu phù hợp như lời nói của anh ta, thì sẽ đem việc đó mà xin vua họ. Khi sự việc đã nhất định rồi thì Tây soái cũng không làm gì được nữa. Đó là anh ta theo điều sở nguyện của những người đồng hương của anh ta là làm phúc cho nước khác, chứ không phải chỉ nhằm chống Tây soái. Sau khi xong việc, dù có thù lao ít ỏi anh ta cũng vui lòng. Nhưng khi chưa xong việc thì không dám xin gì cả chỉ cấp cho anh ta ăn uống mà thôi. Từ dầu đến cuối, khi làm việc phải giữ hết sức bí mật.

Trên đây là những điều anh ta nói ra, tôi chỉ trình bày sơ qua mà thôi. Theo thiển kiến của tôi thì tất cả những lời dài dòng đó cũng đồng một đường lối như đêm trước tôi đã bẩm với đại nhân.

Tôi lại có hỏi Nguyễn Hoằng về tình thế những điều nghe thấy bên ngoài thì ông ta nói cũng gần giống như vậy. Tuy Tây soái có ý khác nhưng dân buôn bán ở Gia Định thì xôn xao không ngớt. Hơn nữa việc quan Tây và Tây soái ghen công lẫn nhau cũng đã thấu tận Tây triều và phát thành dư luận, khiến anh ta nghe biết được. Hơn nữa anh ta đã từng ngấm ngầm trái chống với Tây soái. Cho nên nếu anh ta lên Kinh thì dù Triều đình ưng hay không ưng cũng cần giữ cho anh ta khỏi bị nghi ngờ. Anh ta cũng khá thông hiểu binh pháp súng đạn và một vài nghề vặt. Nếu như dùng được việc gì thì cũng dễ sai khiến. Chắc chắn anh ta không dám phản nghịch lại ta vì sợ lộ ẩn tình của anh ta. Hơn nữa anh ta lại thông thạo tiếng ta thì việc gì cũng dễ hiểu khỏi cần thông ngôn nữa. Như thế rất dễ dùng hơn người khác.

Tôi thiết nghĩ, hiện nay ba tỉnh đã như ngọc chìm vực thẳm không có cách gì mò lên được, mà lại có người tự mình xin làm việc ấy, ta chẳng phải tốn kém nhiều thì hãy thử một lần nữa xem sao. Đó cũng là chuyện thường tình vậy. Việc này tôi chưa dám bảo đảm sẽ thành, nhưng biết mà không lẽ không nói. Chỉ mong Triều đình tự chọn, tôi đâu dám vì thấy việc khó làm mà không bẩm lên trên. Vì tâm lý con người ta, đối với việc muốn làm tuy còn ngại chưa chắc thành công hay không, nhưng thấy có mối manh có thể lần ra được thì cũng mừng thầm không nỡ bỏ qua. Huống chi đây là việc vì nước vì dân? Nếu như ưng chuẩn cho anh ta lên Kinh, nếu khi ấy tôi đã đi Tây rồi thì xin tư sức cho quan tỉnh Vĩnh Long ngầm sai hai học sinh biết nói tiếng Tây đến mật báo cho anh ta biết và nếu tiện thì đến ngay Vĩnh Long xuống tàu, khỏi cần phải qua Bình Thuận lãnh bằng đi đường bộ cũng được. Nhưng phải báo trước cho các quan ở Vĩnh Long, Bình Thuận biết. Anh ta còn nói rằng nếu như tư cho anh ta ra Bắc thì xin trong tờ tư hãy nói việc khác, nhất thiết không được nói rõ cho các quan khác biết được sự thực. Lại nữa những điều anh ta nói với tôi đầu đuôi mọi việc đều thấy có thể tin được cả. Khi mới đầu anh ta giả vờ như vô tình mà nói, tôi cũng làm như vô tình mà tiếp chuyện, nhưng dần dần vào tròng rồi, tôi mới nói: “Anh có thể làm việc ấy để thành người tốt, làm phúc cho anh em tôi được không?” Anh ta nói: “Cơ hội và đường lối là như thế”. Nếu Triều đình cho phép anh ta được gặp mặt bẩm rõ, xem có thể làm thì làm, không thì thôi. Còn như nghi là có ai xúc xiểm để thử bụng ta như thế nào thì tôi dám chắc là không có điều đó.

Lại như Nguyễn Đức Hậu bẩm thì hiện nay ông ta đã tìm được hai người Tây cũng khá, một người coi việc lái tàu bè thì mỗi tháng phải 300 bạc, một người coi về máy nổ thì mỗi tháng 200 bạc, họ tình nguyện hết lòng chỉ bảo. Nếu việc thuê mướn người của tàu Mẫn Thỏa đã mãn hạn, mà thấy có thể đáp ứng yêu cầu của anh ta thì nhân lúc có tàu cập bến Vĩnh Long hãy báo cho anh ta biết để anh ta cho người đến làm giao kèo, rồi lấy giấy chứng của Tây soái. Như thế không biết có được hay không cũng xin bẩm luôn.

Nay kính bẩm.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:50:59 pm

DI THẢO SỐ 21

Kế hoạch vận động ở Pháp để giữ ba tỉnh miền Tây*

(19 tháng 9 năm Tự Đức 19, tức 27 tháng 10 năm 1866)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Sau khi thuyền Tây từ Kinh về nghe Tây soái trình bày với giám mục rằng: “Triều đình trả lời như vậy. Tuy chưa giải quyết được nhưng sự việc đã có manh mối, cũng nên đợi xem như thế nào”. Còn các quan Tây muốn cầu công thì cho rằng: “Ý của Triều đình hình như chưa dứt khoát, bởi vì nếu rõ ràng thuận theo thỉnh nguyện thì sợ người trong nước bàn tán xôn xao. Nếu ta nhân cơ hội đó mà lấy quách thì rồi Triều đình cũng thuận theo ta thôi và có thể che mắt bịt tai thiên hạ không can ngại gì”. Bọn họ lại nói rằng: “Theo hòa ước Triều đình phải triệt thoái hết các quan viên tiềm tàng trong ba tỉnh ngoài thì ta mới giao trả Vĩnh Long lại. Nay Tây soái đã bắt được bằng chứng rằng các quan viên ở ba tỉnh trong1 đã ngấm ngầm thông đồng với các quản đội, hiện có chứng từ chính xác, rõ ràng là ngấm ngầm vi phạm hòa ước, như thế thì ta lấy lại Vĩnh Long cũng là lẽ đương nhiên vậy!”. Không biết họ nắm được bằng chứng ở đâu mà nói như vậy?

Theo thiển kiến của tôi nhận xét thì ba tỉnh trong vốn nằm trong ý đồ của họ rồi, nhưng hiện tình trước mắt thì cũng chưa chắc đã nhanh chóng rơi vào tay họ được. Vì rằng:

- Một là Cao Miên vốn là một nước nhỏ yếu, khắp nơi có rừng rậm chướng khí, mà quân của anh vua Miên lại xuất nhập bất thường, nếu quân Pháp không ra chống đỡ thì không giữ trọn lời ước bảo hộ để tổn uy vũ đối với thiên hạ. Ví dầu muốn đuổi thú đến cùng rừng thì chẳng khác nào dùng đạn quý bắn chim sẻ, dao mổ trâu cắt cổ gà kể cũng trái lẽ. Nhưng cái thế khó nửa chừng bỏ dở, mà muốn cày quét cho bằng những chỗ gồ ghề thì việc tốn kém không thể kể xiết. Một tên giặc quèn ấy khó mà bù được chỗ đó, một tên giặc bé nhỏ ấy mà khạc chẳng ra nuốt chẳng vào. Nếu như Triều đình họ biết được sự việc đó thì tất cả những lời nói của quan dân lính trước đây đã quay mặt phản đối sẽ có chứng cớ thêm. Như thế chẳng những việc cầu công không thành mà bị lại lộ những điều tâng công trước đây. Có chỗ dùng dằng không xuôi như vậy cho nên tuy trong bụng có ý đồ riêng, cũng phải giật mình vì phải cái sai lầm là vốn lời đều mất.


- Hai là, Triều đình họ đã muốn y theo lời nói của Hà Ba Lý trước đây, lại có tiếng kêu bất bình của dân họ, lại có cái tình của Triều đình ta là phàm việc gì cũng nhường họ một bước, rõ ràng ai cũng nghe thấy, lại có số nửa các quan của họ không muốn nhọc sức làm thân một con chó lập công, lại có giám mục trình bày cái ý muốn hòa của Triều đình ta. Những việc đó Tây soái đều nghe thấy hết cả, trong lòng cũng lấy làm lo ngại đấy, nhưng nếu làm càn tất sẽ có ngày cùng đường mà bỏ bễ cũng nên. Tôi còn thấy lúc giám mục mới đến Tây soái đối đãi rất thân thiết nhiệt tình. Nay thì dần dần lạnh nhạt, có lẽ vì Tây soái nghe được những điều các quan nói, giám mục nói, về sự giao hảo thành thật của Triều đình ta, tựa hồ có căn cứ. Tuy là nói vô tình nhưng trong bụng vẫn mang ẩn ý, chưa chắc sẽ không đang tâm gây chuyện. Thế nhưng cũng khó mở miệng nói với ai, đành ngậm đắng nuốt cay mà thôi. Cho nên xem có vẻ không ưa gì giám mục và tôi. Nhưng cũng bắt buộc phải theo hai đường (một là hòa, hai là lấy) làm việc phiêu lưu cầu may để hãm vua vào cái thế “sự đã rồi tất phải theo” để được công đầu, sau sẽ trút cái gánh khó giữ cho người mới đến để về nhàn du nơi thôn dã. Dầu một ngày kia có vì danh nghĩa ép buộc, mà vua họ đã có lệnh “cho họ về nhà” họ cũng chẳng kể gì. Chuyện đó cũng chưa biết. Đây những ý kiến đoán chừng của tôi không biết có đúng hay không.

Nay tôi muốn nhân lúc giám mục đi Tây xin Triều đình nên viết một bức thư cho Đại học sĩ của Triều đình bên ấy nói rõ ràng tất cả sự lý và duyên do chuyến đi Tây lần này của giám mục để tỏ rõ lòng chân thành của Triều đình ta. Trong thư còn viết thêm một hai điều về những tình trạng khó khăn nan giải như dân tình ba tỉnh ngoài, sự thế ba tỉnh trong và Triều đình ta cũng đã trừng trị những quan đi theo quản đội, để lấy lòng họ. Lại thêm một hai đoạn để tỏ ý như ta muốn thông đồng với họ nhưng vì trong nước còn nhiều chuyện, chưa kịp sắp xếp được. Bức thư này không nên dịch trước ra tiếng Tây, chỉ nhờ giám mục đề bì bằng chữ Tây gửi cho Tây triều mà thôi. Đợi đến bên ấy, tất họ sẽ nhờ giám mục dịch ra, thì thế nào những chỗ mập mờ họ sẽ sinh nghi mà hỏi kỹ, hỏi nhiều thì giám mục cũng trả lời nhiều, như thế ta mới nói hết sự tình được.

Lại xin viết một bức thư nữa giao cho tôi để bí mật gởi cho Hà Ba Lý, trong đó nhắc lại cái tình cảm nồng hậu mà ta đã đối đãi với ông ngày trước, và nói cái tình cảm tốt đối với nhau ấy vẫn còn cho đến mai sau. Như nói trước đây ông thật có lòng muốn trả ba tỉnh, tuy việc không thành là do tình thế, nhưng tấm lòng tất đó vẫn còn mãi. Lại nói, ông là người vốn am hiểu sự thế Nam triều, nay Nam triều như vậy như vậy... nếu ông có cách gì hay giúp cho Tây Nam vĩnh viễn hòa hảo thì xin ông chỉ giáo cho. Đồng thời gởi biếu ông ta một ít món đồ chơi để tỏ tình thân ái. Nhận được thư ấy ông ta sẽ nghĩ lại rằng: “Lòng tốt của Triều đình nước Nam thủy chung như vậy, không vì việc trước kia không xong mà bất bình; trước đây ta có nói qua thế mà được Triều đình ấy hậu đãi, chỉ vì lý do riêng nên việc không thành khiến ta cũng mất mặt. Nay lại nghe lời bàn bạc của Tây triều cũng giống như những ý kiến của ta trước đây, sao ta không nhân cơ hội này mà phụ hoạ vào để thực hiện lời nói của ta trước đây để hả cái hận đã bị khuynh loát trước kia”.

Tôi cũng lấy cái tình thân thiện bí mật viết cho ông ta một bức thư nói sơ cho ông ta biết nỗi khổ tâm của Triều đình ta và hình như có ý muốn đem việc quan trọng nhờ ông ta, nhưng còn sợ trở ngại nên giấu kín không nói ra. Ông ta vốn đã hận Tây soái lại đọc thư tôi nghe kể sự thế hiện nay ở Gia Định như vậy tất sẽ bất bình nghĩ cách đối phó với Tây soái và sẽ không làm lộ chuyện của ta mà ta thì ngấm ngầm được lợi.

Trên đây là ý kiến thô thiển của tôi, không biết có nên hay không. Nếu thấy dùng được xin trả lời gấp, để sớm lo liệu.

Nay kính bẩm.


Hai tập này không dám đưa cho Tây soái sợ chuyện tiết lộ. Vì vậy xin phái quý viên thân hành mang đến Vĩnh Long để gởi gấp.

Nguyễn Trường Tộ ký


________________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 127-131
    Hv 534/4 tờ 20-27
    Bài này được viết tại Sài Gòn và gởi cùng lúc với văn bản số 20.
1. Nội tam tỉnh, tức 3 tỉnh Miền Tây, gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:52:22 pm

DI THẢO SỐ 22

Báo cáo về việc gặp viên lãnh sự Tây Ban Nha*

(26 tháng 9 năm Tự Đức 19, tức 3 tháng 11 năm 1866).

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Tôi và Nguyễn Hoằng được Hiệp biện đại nhân bí mật dặn dò đã cùng phái viên lẻn đến gặp viên lãnh sự Y Pha Nho. Lúc đầu, chúng tôi chỉ nói chuyện tình thế hiện nay. Thấy ông tỏ ra bất bình về việc người Tây mượn cớ phá điều ước cũ, chúng tôi khi ấy mới đem những mật ý của đại nhân nói rõ với ông ta. Chúng tôi nói: “Triều đình chúng tôi trước đây có chỗ thiếu sót đối với quý quốc, đó chẳng qua là do tình thế khác gây nên, chứ không phải bản ý của Triều đình chúng tôi. Hiện nay Triều đình chúng tôi vô cớ bị quan Tây đòi hỏi quá đáng, không biết lấy gì đáp ứng nổi. Lại nghĩ đến hòa ước trước kia vốn do nước Tây và quý triều lập nên, nhưng đại tướng của quý Triều đình đã không đòi chia đất, mà còn có thư nói “Được đất thì mất anh em”, mới thấy ý kiến của quý triều và người Tây ngược nhau như thế nào. Nay quan Tây lại muốn sinh sự nữa rõ ràng là khinh nhờn quý triều, tựa như coi điều ước của đồng minh trước đây là không đủ căn cứ. Vì thế Triều đình chúng tôi lấy làm lạ dám đem việc bí mật này đến thưa hỏi chứ không như thói thường là có chuyện mới đến cầu cứu, xong chuyện thì thôi1”.

Ông ta liền nói: “Tây soái việc gì cũng tự ý chuyên quyền, mà Tây triều thì chỉ bằng vào một phía ý kiến của Tây soái mà thôi chứ không đối chất gì, không có ai bên cạnh để giúp Nam triều cả. Đại phàm con người ta giữa đường thấy sự bất bình lòng còn căm tức rút gươm thay. Nay bản chức tuy hèn mọn chưa đủ quyền sức để giúp đỡ Nam triều, mà bản triều với Tây triều thì sức lực ngang nhau lại là nước thông gia với nhau, nếu Nam triều tin tưởng thì hãy viết một bức mật thư giao cho bản chức, bản chức sẽ chuyển đệ về bản triều nhờ tìm giải pháp. Bản chức cũng sẽ viết một bức thư riêng nói rõ Nam triều khiêm cẩn như thế nào, ba tỉnh ngoài sinh loạn như thế nào, cũng những lý lẽ mà Tây soái vin vào đều chưa chân xác. Ta đồng minh với Nam triều, mà nay có thư đến trình bày sự việc như vậy lẽ nào ngồi nhìn mà không nói một lời? Dù có nói mà Tây triều nghe hay không nghe mặc họ ta cũng tránh được tiếng xấu. Nhưng nếu Nam triều không nói một lời để làm chứng thì tựa hồ đặt bản triều ra ngoài cuộc, mà bản triều lại vội lắm lời đến việc không liên can gì mình thế cũng không hay. Nay nếu Nam triều thấy có thể nói được điều đó với bản chức thì nên bí mật gửi gấp cho bản chức một bức thư. Một mặt bản chức lấy bức thư của quý triều kèm theo bức thư của bản chức nữa đệ về, một mặt tin cho lãnh sự ở Tích Lan (ở Đông Nam Ấn Độ, nay đã có đường dây điện tín đặt tới nước Anh) nhờ đánh điện tín cho bản triều biết trước. Vả lại năm ngoái có một số người ngoài Tây triều cũng tỏ ý muốn theo lời Hà Ba Lý, nay tuy đã muộn rồi, nhưng nếu có bản triều bàn vào tưởng họ cũng sẽ hồi tâm. Như thế không những có thể duy trì ba tỉnh trong mà còn thuận tiện cho việc đề cập đến ba tỉnh ngoài”.

Đó là lời nói của viên lãnh sự. Xem sắc mặt và khẩu khí của ông ta thấy tỏ ra thành thật chứ không có gì xảo trá. Ông ta lại nói: “Những việc làm của người Tây thấy cũng đáng hoan nghênh, chỉ vì Triều đình không biết đường lối nên Tây soái mới có những manh tâm khác lạ”. Ông ta cũng đã từng nói chuyện với giám mục. Xem lời nói của ông ta thì quả thật là nghĩ sao nói vậy chứ không có ẩn ý muốn thử lòng ta. Tôi thiết nghĩ, hiện nay tình hình ba tỉnh rất khẩn cấp mà các lý lẽ viên lãnh sự trình bày cũng rất đúng. Vậy chi bằng nhân đây khéo đãi ngộ hắn để mượn hắn dùng vào việc của ta. Xét sự thế trước sau, thì việc ấy kể cũng nên làm, chẳng can ngại gì. Bởi vì: Một là vì trước kia nước Y Pha Nho cũng dự vào việc ký điều ước. Nay người Tây tự ý một mình bội ước, nếu Y triều không có một lời với thiên hạ thì rõ ràng là họ cũng đồng lòng. Hai là, theo cái thế tung hoành của họ, như trong Lục lợi từ trước kia tôi đã nói, thì nước Y với nước Tây vốn ở gần sát nhau, mà nước này dần dần lớn mạnh lên thì cũng chẳng lời gì cho nước kia. Nếu một khi xảy ra việc đánh chác với ai thì nước Y là nước đầu tiên bị họ kéo quân qua. Nay đã có cơ hội có thể dùng để chế ngự nhau thì dù được hay chưa được cũng phải làm để khỏi hối hận đã bỏ mất cơ hội. Ba là, viên lãnh sự này có chỗ không ưng Tây soái mà lại muốn thông tình với ta để được tiếng với Triều đình rằng ông ta là một người khéo ngoại giao. Nếu việc thành thì cũng đủ rạng danh là người có sức làm được việc khó. Với ba lý lẽ đó, nếu nay ta đem ra làm thì đó cũng chính là điều mong muốn thiết tha của ông ta.

Nay ba tỉnh trong của ta đã bức bách như thế, mà muốn tìm đường giải tỏa thì phải nói cho nước Y biết. Đó cũng là lý đương nhiên mà còn hợp với thế tung hoành nữa. Dù sau này Tây soái biết được cũng khó tranh chấp với ta. Nếu lấy việc đó mà trách ta, thì rõ ràng là giận cá chém thớt, khinh miệt nước Y Pha Nho, ngăn cản không muốn họ thân thiết giao hảo với ta. Nước Y tuy hơi yếu nhưng là một nước lớn ở phương Tây, vốn có cái thế tung hoành liên hợp mà lại không biện bác nổi với một quan Tây thì còn gì là quốc thể nữa? Nay nếu ta dùng lời khéo léo gởi đến họ, đợi đến khi sự việc đã tỏ rõ thì dùng cách khích họ để mời họ. Đó là cái kế của Triệu xu Ngày, không biết như thế có được không?

Lại có một kế nữa là, nước Y rất trọng đạo giáo. Giám mục của họ cũng có quyền lớn. Năm trước họ hưởng ứng chính sách của người Tây là vì ta giết hại giáo sĩ của họ. Nay nếu một mặt viết thư cho các giám mục người Y ở miền Bắc nói rõ nước Y với ta có tình giao hảo với nhau. Nay người Tây khinh thị nước Y, đem lòng bội ước. Trước đây nước Y đã giao hẹn với bản quốc là chuyên lấy đạo giáo làm trọng, không làm điều chia cắt chiếm cứ. Đó chính là điều nước Y mong muốn. Còn người Tây thì lại muốn ngấm ngầm phản bội. Nay Triều đình nghe được các giám mục cùng với nước họ có thể đương đầu được. Vậy nếu được thì gửi thư cho tổng đốc Lữ Tống nói rõ lý do tại sao lại như thế để xem có cách gì có thể giúp đỡ cho một vài phần không, như thế thì đạo giáo lại được cái lợi lớn mà sau này tấm tình kiêm ái của Triều đình cũng tăng thêm. Nay theo cái kế ấy một mặt thì dọa dẫm họ, một mặt câu nhử họ tưởng cũng có thể giúp được ít nhiều.
_________________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 139-144
    Hv 634/4 tờ 37-51
    Tờ này được viết lúc Nguyễn Trường Tộ ở Sài Gòn chờ tàu đi Pháp.
1. Nguyên văn dùng câu tục ngữ “Cấp lai bão Phật”, nghĩa là khi có việc gấp rút ngặt nghèo không biết làm sao thì đến ôm Phật mà cầu cứu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:53:18 pm

Lại có một kế nữa, nguyên trước đây Tây soái thâm tâm muốn lấy miền Nam lắm, nhưng chưa có chứng cứ rõ ràng. Nay họ đã cho thuyền lên Kinh dùng các lý lẽ yêu sách như vậy là có chứng thực rõ ràng rồi. Nay hoặc Triều đình nhân lúc bên Tây có lệ đấu xảo, sai một viên sứ mang nhiều mặt hàng hiếm lạ sang giả nói rằng: Nay Tây Nam đã hòa hảo rồi thì Nam triều có gì Tây triều cũng thơm lây, do đó sai sứ sang Tây dự đấu xảo và vấn an Tây triều luôn, để tỏ tình tương hợp với nhau. Lại viết một bức quốc thư giấu kỹ, đợi sang bên đó dò được rõ ràng ý lừng chừng của Triều đình họ như trước đây tôi đã bẩm, cũng như Di Minh đã nói và Hà Ba Lý nói, cũng như những nghị luận của quan Tây dân Tây, cùng là những lời bàn của giám mục, lại thêm sự biện giải của Y triều, khi ấy mới đem thư ra trình bày như thế, như thế. Viên sứ của ta một mặt lại đem thư cho Y triều, và cũng nhân trên đường đi mà thăm hỏi Y triều luôn. Lại cũng nên đi qua nước Anh, nước Nga du lịch để mở rộng kiến văn. Triều đình họ thấy ta biết được cái kế của họ như thế và những việc làm của họ đều là vô cớ hiếp đáp khinh thị ta thì tất cả sẽ hồi tâm suy nghĩ. Hơn nữa, năm trước Triều đình họ tuy có bí mật bàn việc muốn thông con đường phía sau sông Cửu Long, nhưng họ đã sai người sang thám hiểm hai lần thì thấy ở đấy hiểm trở khó thông mà dân Cao Miên thì lại mọi rợ ngu đần khó chiêu mộ sai khiến. Cho nên họ muốn lấy sáu tỉnh của ta để làm cửa trước mở “ba hang” như tôi đã bẩm ở đoạn cuối bài Khai hoang từ. Tôi nghĩ rằng Triều đình họ ngày nay cũng đã chán nản phần nào, lại thêm hiện nay họ đứng chưa vững, nếu cứ tham đi theo con đường khó đi, để nửa đường hỏng mất cái công sắp thành, hoặc giả sau này Nam triều thấy được nhân tâm mà dùng cái thuật tung hoành thì sẽ xử trí như thế nào? Hơn nữa, mấy lâu họ đã lo sợ thế lực lớn mạnh của người Anh ở phương Đông, khó mà giữ được người Anh không tìm cách mưu lật mình, tất họ phải sợ già néo thì đứt dây mà xảy đến những việc không ngờ. Đại phàm càng lão luyện trong chiến trận thì càng rõ cái lý thế đó. Đừng bảo Triều đình họ không có người nghĩ đến điều đó. Hơn nữa con đường Vân Nam Tây Tạng họ vẫn chưa quên, nay vì đường phía Tây hiểm trở khó qua, nên cũng có thể họ sẽ thuận tình với Nam triều để mong có thể thực hiện cái kế mượn đường phía Đông. Dù họ chưa cam tâm, nhưng ta chỉ cần được thư giãn phen này để mưu đồ kế sau. Vậy thì nhân lúc hiện nay họ còn ở tâm trạng do dự chưa dứt khoát nhất định, mà làm cái kế hoãn binh chắc cũng dễ. Tuy Tây soái nghi ta sang dự đấu xảo không thể không có ý đồ gì khác, nhưng làm sao ngăn cản được việc ta đi vấn an nước bạn? Tự hắn sẽ nghĩ bụng: “Nếu không thong thả chờ xem nên chăng thế nào vạn nhất Triều đình ta có ý kiến gì mới hoặc Nam Triều tìm được một thế lực nào khác, thì khó mà chạy chối cái tội giả dối để cầu công và ngăn cản những ý kiến chính đáng, khiến bao nhiêu công lao của ta ngày trước chẳng hóa ra công dã tràng sao?”.

Lại có một kế nữa là, nay những sự việc họ yêu sách đã rõ ràng rồi, nên ta có thể gửi trát cho các gia đình có danh vọng cùng lập một tờ ký tên tất cả vào nói rằng: “Nghe tin Tây soái tìm cớ bức hiếp bắt nhường ba tỉnh trong, tuy Triều đình bị đại thế bức bách không dám nói ra, nhưng dân tình không thể nào chịu được. Năm trước nhân dân ba tỉnh ngoài đã có ý góp tiền xin chuộc lại, không phải vì họ không ưa đường lối chính trị nhân đức của Tây, nhưng vì bị Tây soái ỷ thế làm điều phi pháp như thế. Cho nên nhân dân thất nghiệp không biết nương náu vào đâu, phải tụ tập mà sinh ra trộm đạo. Thế mà Tây soái đã không biết lỗi mình lại đổ điều oán cho Triều đình để bắt ép lấy ba tỉnh. Nếu quả như thế thì dù Triều đình không có cách gì chống đỡ nhưng chúng tôi sẽ tìm cách cầu cứu. Chẳng nghe chuyện Hòa Tri Lan người Hà Lan đã trục xuất người Y Pha Nho đó sao? Nhân dân chẳng ai phục thì làm sao có thể giết hết tất cả được? Nếu không được thì chúng tôi thà nhảy xuống biển Đông làm thần sóng cho rồi chứ không nỡ nhìn thấy cảnh lũ chuột hại người như vậy”.

Một mặt viết thư cho Đại học sĩ Triều đình họ nói rõ việc sáu tỉnh của Triều đình ta là chỗ nương tựa của Bắc kỳ. Từ khi thuận nhượng, dân ở Bắc mất chỗ nương tựa oán trách Triều đình. Cho nên mấy lâu dân tình sôi sục không yên. Họ muốn quyết một phen thắng phụ với quý quốc (nhân họ có bụng sợ dân Bắc kỳ một vài phần) dầu họ không biết lượng sức cũng cứ đưa tay không ra mà chống xe. Bốn năm năm nay bản triều đã tốn nhiều công sức vẫn chưa giải dụ xong, xếp đặt chưa ổn. Đó là do lòng oán giận của mọi người mà gây tai họa cả, chứ bản triều rất tha thiết ở sự thành thật giao thiệp, sợ mất tình thân đối với quý quốc. Thế mà người ta cứ trách móc thật lấy làm khổ tâm lắm! Nay quý soái lại có ý định khác, dân miền Bắc nghe tin ai nấy đều xôn xao bàn tán. Nếu họ lại trái mệnh làm nghịch như quản đội trong Nam sẽ tổn thương đến thể diện quý quốc. Nếu quý soái không soi xét rõ ràng thì bản triều đã khổ lại càng khổ thêm. Vả lại, bản ý của quý quốc là muốn thông thương giao hảo với bản quốc. Nếu cứ để kéo dài sự xôn xao như thế, chẳng những khó xử cho bản triều mà cũng chẳng có lợi gì cho quý quốc cả.

Thư này kèm với thư của dân tỉnh trong gửi sang Tây triều. Có chừng ấy cách may ra có thể cứu vãn được sự thế.

Tóm lại, hiện nay sự thế ba tỉnh trong đã khá bức bách. Sự thế ba tỉnh ngoài cũng gần có cơ rồi, mà Tây triều thì còn đang ở cái thế lưỡng lự. Nay Triều đình ta phải nhanh chóng kiếm kế duy trì, nếu đem hết sức người ra mà yên được ít nhiều cũng là phúc cho sinh linh, nhưng nếu hết sức rồi mà không được là do trời thôi. Như thế cũng có thể đem tấm tình này mà tạ cùng thiên hạ và lưu lại ngày sau lòng luyến nhớ việc cũ, để ngõ hầu thu phục giang sơn sau này. Nếu nói sợ việc không thành mà vội hiềm nghi, thì ta nay có điều gì đáng hiềm nghi mà chịu để cho họ yêu sách ta sao? Chẳng qua là do lòng tham xui khiến họ mà thôi. Nếu cứ theo cái lòng tham ấy thì dù có cớ hay không có cớ, chỉ cần có cái thế có thể lấy được nước ta là kiếm cớ trách ta thôi. Như thế việc gì ta cũng làm vui lòng họ được sao?

Nay ta đã đem hết sức làm để thực hiện kế duy trì thì không kể gì tốn kém, tất cả là vì lòng yêu dân mà thôi. Nhưng họ lại lấy cái việc ta mưu tính vì dân, cho đó là cái cớ để gây sự thì đạo trời lẽ đâu không có ngày soi sáng cho cái án này? Thế thì nếu vì tỵ hiềm mà cuối cùng để cho mất thì chi bằng cứ mặc cho hiềm nghi mà làm được việc có hơn không? Vì rằng nếu không có một lần làm cho minh bạch thì cái kế tâng công của Tây soái sẽ ngày càng sâu đến nỗi ta không hơi sức đâu mà đối phó nhiều rắc rối nữa chứ không chỉ có thế mà thôi đâu.

Tôi có mấy ý kiến thô thiển như vậy, không biết có được haykhông. Nếu cần thương thuyết với lãnh sự thì xin tin cho biết gấp (khoảng trong vòng 20 ngày) sợ chậm sẽ không kịp.

Xin kính bẩm.


Lục bộ liệt vị đại nhân soi xét.

Nguyễn Trường Tộ ký.

Châu phê:    

Bài này sự lý uẩn khúc rắc rối, nếu không hiểu sâu những sự lý từ trước đến nay giữa hai bên Tây và Nam thì không thể hiểu được mạch lạc.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:56:30 pm

DI THẢO SỐ 23

Báo cáo về một số việc cần làm*

(25 tháng 9 năm Tự Đức 19, tức 3 tháng 11 năm 1866)

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Hiện nay người Tây mới chế ra loại súng điểu thương mỗi phút (một giờ 60 phút) bắn được 100 phát. Không biết Triều đình có ưng mua một khẩu về làm mẫu chăng?

Lại có di Minh bẩm rằng, nếu thuận lời xin của anh ta, anh ta đã có nhiều anh em về Tây làm kế phản gián. Anh ta xin tự cải thành người Anh, trở về nước Anh phao tin khắp nơi để làm xao động Tây triều. Sau khi xong việc anh ta sẽ về nước ta trở lại cư trú và lấy vợ người mình (Người Tây vốn có cái lệ đó, cho nên anh ta làm được không trở ngại gì).

Trước đây có hai vị quan Tây, một là quan hai lục quân, một nữa là quan ba thủy quân đều đã từng nói với Nguyễn Hoằng, muốn Nguyễn Hoằng xin cho họ được lên Kinh làm người giúp việc. Đó là tình thật. Vì tính tình của người Tây thường thường như thế, tôi đã biết rõ, chứ không phải có ai khác xui khiến mà làm như vậy đâu. Xem thế thì điều “Tìm người để giúp bên trong” mà tôi đã bẩm trong Lục lợi từ trước đây đã có cơ hội rồi đấy.

Lại xin Triều đình đề phòng ở biên giới phía Bắc. Hiện nay nghịch đảng đã tụ tập ở Hương Cảng, cũng đã có người qua lại Gia Định để chiêu mộ người theo.

Lại bẩm nếu như Triều đình sai sứ đi Tây thì xin cho tôi được đi cùng để có thể cùng với phái bộ biện bác với Tây triều, vì nếu không có tên thì họ sẽ không coi ra gì. Việc xin này là vì công hay tư ngày sau Triều đình sẽ biết rõ. Về thông ngôn thì dùng Nguyễn Hoằng suốt từ đầu chí cuối mới được. Còn giám mục thì nhờ nói giúp cho một hai lời, như thế mới được việc. Nếu muốn thi hành kế gấp này thì xin khởi hành ngay mới được.

Tôi hễ biết thì nói, nếu không hợp sự lý xin Triều đình lượng thứ cho cái tội ngu muội không phải ấy.

Kính bẩm.
_______________________________________
*. Bản chữ Hán: Hv 189/1 tờ 122-123. Viết tại Sài Gòn trong lúc chờ tàu đi Pháp.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:58:14 pm

DI THẢO SỐ 24

Kế ly gián giữa Anh và Pháp*

(18 tháng 11 năm Tự Đức 19 tức 24 tháng 12 năm 1866).

Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Năm trước trong bài Lục lợi từ ở đoạn thứ năm tôi có nói: Nếu vạn nhất xảy ra việc gì, thì thế lực của người Anh ở phương Đông mạnh mẽ sẽ tranh hùng với người Pháp để bù lại chỗ thua thiệt trước kia. Việc đó sẽ xảy ra khi nào nước Pháp có nội loạn, bấy giờ họ sẽ cướp lấy mối lợi bên ngoài của Pháp. Hiện nay nước Pháp chia làm ba đảng.

Một đảng nói: Ba, bốn năm nay, vô cớ đi đánh nhau với quân Mặc Tây Ca1 ở Tây Châu tiêu phí vô kể mà chẳng được cái gì cả để đến nỗi phí công vô ích. Đó là do lòng tham hay gây chuyện đánh nhau mà ra cả. Nay lại đóng thuyền hạm2 toan muốn đi theo vết chân cũ vua bác3 trước, khiến nước nào cũng rất ghét. Nếu cứ theo cái đà này thì nhà vua ắt sẽ bị mối họa đại loạn không thể lường được.

Một đảng khác cho rằng nhà vua làm nhiều việc độc đoán, không công bố các lẽ phải trái cho mọi người trong nước được biết, hơn nữa còn dần dần làm cho người trong nước mất tự do, bị nhiều điều bó buộc, không hợp với thể lệ của các nước phương Tây. Chi bằng phế bỏ mà đi theo phép lập Tổng thống như ở Hợp Chủng Quốc. Vì nước Pháp trước kia cũng đã có lệ ấy rồi.

Một đảng nữa cho rằng Giáo hoàng La Mã là cha chung của các nước. Đối với các nước phương Tây, nước Pháp được coi như là con cả của Giáo hoàng. Trong các công việc của Giáo hội, nước Pháp xưa nay vẫn đứng đầu. Năm trước ở La Mã có loạn, vua Pháp đã đem quân sang đánh giữ, nay không biết vì cớ gì lại rút về làm cho nước Pháp mất mặt với thiên hạ, không xứng với danh hiệu con cả.

Cả ba đảng này đều mưu việc phế lập, nhưng ý kiến bất đồng tất sinh mối loạn.

Lại 50 năm trước đây dòng nhà vua có người chạy sang nước Anh, hiện nay đang còn bên ấy. Người Anh cũng theo giúp đỡ để lấy tiếng là nước rộng rãi biết thu nạp người ngoài, điều đó cũng chưa biết được.
_______________________________________
*. Bản văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 133a-138
    Hv 634/4 tờ 27-37.
    Viết tại Sài Gòn trước lúc lên tàu đi Pháp.
1. Mặc Tây Ca tức Mêhicô, ý muốn nói đến cuộc chiến tranh tốn kém và vô ích do Napoléon III chủ trương ở Mêhicô (từ tháng 1-1862 đến tháng 3-1867).
2. Thuyền hạm: Năm 1859, Napoléon III cho đóng chiến hạm thiết giáp đầu tiên, trước cả Anh nữa, làm cho hải quân Pháp trở nên hùng mạnh.
3. Vua bác: tức Napoléon Bonaparte, ý nói chủ trương bành trướng gây chiến tranh khắp nơi như Napoléon Bonaparte. Napoléon III là con cả của Louis Bonaparte, em ruột của Napoléon I.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 08:00:10 pm

Mới đây Phổ Lỗ Sĩ đánh nhau với nước Áo Đại Lợi1 mà người Nga lại đem quân đến đóng ở biên cảnh phía Bắc Thổ Nhĩ Kỳ toan muốn đánh hùa. Người Pháp thì lại muốn lập một người phương Tây làm vua Mặc Tây Ca2, nếu việc không thành bị mọi người cười chê. Theo tình hình hiện nay như thế thì sự việc sau này chưa biết sẽ kết cuộc ra sao.

Tôi cho rằng nước họ tất có một phen đại loạn, mới phù hợp với lời bẩm trước kia của tôi rằng 10 năm có một kỳ khôi phục. Nếu có loạn thì không tránh khỏi việc họ lấy Gia Định đổi cho người Anh, bằng không người Anh cũng sẽ chiếm chỗ của Pháp, đúng như trong Lục lợi từ đã nói, mất Tần này thì lại sinh Tần khác. Vậy mong Triều đình sớm phòng trước để đợi sự biến xảy ra.

Khoảng tháng ba, tháng tư năm nay có một quan khâm sai người Tây đến thám sát ở Gia Định trở về tâu với vua Tây rằng: Sự thế ba tỉnh không có gì khả quan. Nay lại có người anh của vua Miên3 gây loạn, cậy có chỗ hiểm yếu chống lại Pháp, quân Pháp phải chạy tháo thân, nhuệ khí sút kém. Mọi người đều nói rằng Tây soái tất sẽ bị tội phải triệu về thôi!

Nay có một kế rất hợp với sự thế nhưng phải có người khéo ứng đối mới làm được. Năm trước Tây soái có viết thư nói với vua Xiêm La rằng tất cả những thuộc quốc của Xiêm La ở miền thượng du sông Khung4 không được bắt họ cống nạp nữa, hãy để họ tự trị. Cũng như năm trước họ đã bắt ta không được nhận Cao Miên làm nước thuộc hạ. Người Xiêm đã biết cái kế môi hở răng lạnh. Nay tuy người Pháp và người Anh cùng ở trên đất Xiêm, nhưng người Xiêm có cảm tình nồng hậu với người Anh hơn. Nay nếu ta cho người đi đường tắt đến nói với vua Xiêm rằng: Ta và họ vốn là đồng bệnh. Nay người anh của vua Miên đang làm cho Pháp khốn đốn. Sao ta không ngầm giúp vào để cho người Pháp nguy khốn thêm? Thế mới có lợi cho cả họ và ta. Lại khéo dùng lời lẽ bảo vua Xiêm nói với quan người Anh rằng, nước Miên vốn là nước thuộc hạ của ta, lại có lợi lớn của biển hồ. Từ khi người Pháp chiếm cứ đến nay, họ đã làm cho nước Miên hao tốn rất nhiều. Ta vì nghĩa mà muốn cứu, nhưng thế lực người Pháp to lớn, nếu không có người Anh giúp sức thì Miên không thể chi trì nổi mà cuối cùng sẽ rơi vào tay người Pháp mất. Người Pháp đã có thiên nhiên hiểm yếu của Gia Định, nếu đề họ chiếm trọn cả Cao Miên nữa thì chẳng lợi gì cho Anh. Nay nếu Anh nhân lúc người anh vua Miên đang thắng mà ngầm cùng ta giúp Miên, sau khi thành sự lợi sẽ chia đôi. Vả lại, người Anh đã có quân lính người Đồ Bà cùng một chủng tộc với người Miên, nếu cho lẫn trộn với lính Miên người Pháp cũng không thể phân biệt được. Như thế không có gì trở ngại. Lại nói: Người Pháp tham lam vô độ, sau này sẽ sinh bụng này khác. Nay nếu vua Xiêm làm cho Anh Pháp tách ra khỏi nhau thì đó cũng là một lợi lớn cho Xiêm. Nếu kế này được thi hành thì người Anh một là sẽ cùng người Xiêm chia nhau phần đất; hai là đóng căn cứ ở miền thượng du đợi lúc nào sơ hở thì tràn xuống phía Đông đánh chiếm sào huyệt Gia Định để bù lại chỗ thua thiệt ngày trước. Như vậy ắt người Anh sẽ nghe theo. Rồi sau đó ta cho người đến mật báo với người anh vua Miên (Phải dùng lời lẽ khéo léo xúi người anh vua Miên) rằng Anh Pháp vốn có thù với nhau lâu đời. Nếu mượn kế làm cho Anh Pháp hiềm khích nhau thì mới hả cái hận người Pháp đã bảo hộ vua Miên. (...). Người Pháp bấy lâu đã có bụng nghi, không biết người nào ngầm giúp anh vua Miên mà dám hung hăng như vậy. Nay nghe tin này họ chắc chắn sẽ gây chuyện với người Anh. Hơn nữa người Pháp được biết người anh vua Miên muốn lấy lại sáu tỉnh thì sẽ không nghi ta ngầm giúp cho người anh vua Miên. Vì rằng người Pháp đã từng bị người anh vua Miên làm khốn đốn, bị tốn uy vũ rất nhiều, không biết tìm lối nào để lấp liếm cái sở đoản và chữa thẹn cho mình. Nay nghe có người Anh giúp sức, tuy có vài ba phần chưa tin nhưng họ cũng vội vàng ra đương đầu để biểu dương với thiên hạ bảo vệ tiếng tăm cho mình. Nếu người Anh có đồng mưu thì sẽ nhận không chối và người Pháp sẽ gây hấn lớn với người Anh. Còn nếu người Anh không có đồng mưu thì sẽ mạnh bạo biện bác với Pháp. Người Pháp đã lỡ nói cũng sẽ không chịu nhận sai, thế tất sẽ có sinh sự xảy ra.

Hoặc là nói với người anh vua Miên rằng: “Người Pháp rất sợ người Anh, nay nếu nghe nói là người Anh ngầm giúp, một mặt thì mua khí giới của người Anh và bí mật mượn một người giỏi Anh văn làm các loại nhật ký hành sự và sắm các thức ăn dùng của người Anh. Có dấu chữ của người Anh rồi giả cách làm như thua chạy vứt bỏ vương vãi ra để cho người Pháp lượm được, hoặc thả cho trôi từ các thượng lưu sông về để Pháp lượm được thì tất họ sẽ nghi trong lính Miên có người Anh, họ sẽ không dám hành quân đi sâu. Nếu không sớm dùng kế này thì dù có nhờ vào sự kiên cố mà thắng được thì cũng chỉ tạm thời thôi, vì người Pháp quá xấu hổ thành ra giận mà nuôi chí phục thù không thôi, sau này khó giữ được khỏi hoạn nạn”. Nếu người anh vua Miên dùng kế sách này làm cho Anh Pháp tách rời nhau thì ở đây công của Tây soái không thành tất sẽ phải về triều chịu tội. Và cái kế “Con thỏ có ba hang” trước đây cũng không thi thố được. Vả lại ở phương Tây, thì người Anh hoặc sẽ nhân lúc nước Pháp có biến cố mà ra tay khống chế trước. Đó là cái lý thế tung hoành phải làm như vậy. Nhưng ta phải khéo biết cách ly hợp mới được. Ở nước Xiêm đã có nhiều người dân ta bên đó. Ở đấy họ rất được vua Xiêm tin dùng. Tôi cũng có quen biết, nếu muốn sang họ thì phải cải trang mà đi, giả làm người buôn bán, trước là thông ngõ ngách, dò xem ý họ thế nào, sau mới bí mật thổ lộ với vua Xiêm như thế, như thế thì Xiêm cũng như ta cùng một mối hận, tất sẽ cùng chung rửa hận. Nếu thấy khó thừa cơ hội được thì lặng lẽ trở về chỉ để một mình người anh vua Miên làm kế đó cũng được. Như việc đó mà không được thì cũng nên cùng với người Pháp đắp đê trút nước về bên Miên, để tránh hoạn nạn cho ta để trả thù vua Miên trước đây phụ ơn mà bỏ ta. Và nhân đó mượn uy chiêu dụ các dân ở thượng du sông Khung, như trong bài Khai hoang từ tôi đã bẩm để đợi khi nước Pháp có biến thì thừa thế mà lấy toàn bộ Cao Miên để làm sào huyệt phía Nam, vì khi ta hợp tác với người Pháp thì ta cũng đã có căn bản ở bên Miên rồi. Hai con đường như vậy không biết có được không?

Kính xin lục bộ đại thần soi xét.
_____________________________________
1. Chiến tranh Phổ - Áo xảy ra khoảng tháng 7-1866. Nga ủng hộ Phổ, Pháp thì lo ngại Phổ lớn mạnh bao trùm tất cả các dân tộc Đức, không muốn cho Phổ thắng Áo, nhưng Phổ đã đè bẹp Áo ngay trong trận đầu, Pháp muốn ra tay giúp Áo, nhưng bận ở Mêhicô.
2. Vua Mặc Tây Ca: Pháp đã giúp cho Đại Quận Công (Gard duc) Maximilien, người Áo lên làm vua ở Mêhicô từ 12-6-1864. Maximilien chỉ giữ được ngai vàng là nhờ sự hiện diện của quân đội Pháp. Tháng 3-1867, Pháp rút hết quân đội khỏi Mêhicô, Maximilien bị bắt và bị hành quyết tháng 5-1867.
3. Anh vua Cao Miên là Poukombo bắt đầu khởi nghĩa từ tháng 5-1866 và đánh cho Pháp thua nhiều trận liểng xiểng. Tháng 7-1867, Pháp xua đại quân và đẩy lùi được Poukombo. Tháng 12-1867 Poukombo bị bắt và bị hành quyết.
4. Sông Khung: Khung giang tức sông Cửu Long.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 08:01:30 pm

DI THẢO SỐ 25

Về hội nước ngoài*

(cuối năm 1866)

Kính bẩm.

Hội này, gọi là hội nước ngoài. Hội có hai công việc là cử người du hành và cử người quan sát các nơi làm các công việc như sau:

1. Dạy người tập làm các thứ có lợi cho việc sinh sống mà hay hơn các phương pháp cũ, như đào kênh dẫn nước tưới ruộng, hoặc đem các vật từ nước này đến trồng, hoặc các cách trồng dâu nuôi tằm làm cho phát triển, sinh sôi nảy nở thu hoạch được nhiều, thu lợi gấp bội.

2. Buôn bán. Hội này sai người đi khắp các khu buôn bán thăm dò giá hàng để hoặc bán đồ vật của mình, hoặc mua hàng hóa của người cho có lợi. Nếu nước nào có người tự quản lý được thì hội sẽ nhận hàng hóa tự đem đi bán, sau khi trừ các khoản tổn phí ra số tiền lời sẽ được tính lấy một phần mười bỏ vào hội.

3. Hội này sai những người giỏi nghề đi tìm khắp nước ta những chỗ nào có mỏ than, cùng các thứ kim loại khoáng chất. Nếu tìm được sẽ tìm cách khai thác cho có hiệu quả. (Nhưng khi mới tìm, mọi khoản tốn phí đều do hội này tự chi. Trong tờ giao ước nói rõ, nếu tìm được phải chia như thế nào, sau đó mới bắt đầu đi tìm. Khi đã tìm được rồi, hai bên cứ theo đúng tờ giao ước không được thay đổi ý kiến.)

Còn như nước nào cần hội giúp những phương pháp kỹ thuật mới như đào kênh, đắp đường, chữa thành chữa đồn, đắp cửa biển, lập công xưởng, đóng thuyền bè... và tất cả những công trình lớn thì phải cùng hội ước định giá cả trước rồi mới bắt tay vào làm. Hội cũng có thể thuê mướn người khác làm thế, cái đó tùy ở hội, mình chỉ ngồi chờ kết quả mà thôi. Còn mình muốn mua hàng hóa gì, vật liệu gì thì hội sẽ thân hành báo về cơ xưởng chính để mua đem sang, giá cả công bố rõ ràng không phải như việc mua đi bán lại của hiệu buôn.

Hiện nay tôi đã chọn được một hội tên gọi là Hội nước ngoài. Đây là một hội gồm những người có cơ sở giàu có. Hơn nữa người trong hội đều có cấp bằng chuyên môn về nghề nghiệp, chắc chắn có thực dụng đắc lực, không phải như loại người khoác lác phóng đại nói một đàng làm một nẻo.

Về việc này có hai cách tiến hành như sau: Một là, nếu mọi việc đều do nước ta đứng ra làm cho đến khi tìm được và bắt tay khai thác, hội chỉ cho một vài kỹ sư giúp việc thôi. Như thế, kể từ khi bắt đầu khai thác trở về sau trừ các khoản phí tổn về khí cụ vật dụng ăn uống và tiền công trả cho người Tây giúp việc ra, so lợi thu được thì mười phần ta được chín, hội được một. Hai là, nếu mọi việc đều do hội tự lo liệu thì cũng trừ những khoản chi phí như trên ra, số lợi thu được mười phần ta được một, hội được chín. Cả hai cách trên, dù do ta tự làm hay do hội tự liệu, từ lúc mới bắt đầu cho đến khi tìm được mỏ, mọi chi phí trong khoảng thời gian ấy đều do hội chịu cả. Chỉ kể từ khi bắt tay khai thác về sau thì hoặc do ta liệu hoặc do hội chịu, rồi số lợi còn được bao nhiêu cứ theo tờ giao ước mà chia nhau. Hai thể thức trên do ta tự chọn, hoặc muốn lập giao kèo rõ ràng trước khi khởi sự tìm hoặc để tìm được rồi mới lập giao kèo cũng được. Chỉ có điều là trong khi ký giao kèo mà ta thấy có chỗ trở ngại không ưng thuận khiến hội phải ra về hoặc người của hội đã tới Kinh mà ta không ưng thuận tự ý rút lui, thì hai trường hợp ấy ta phải trả tất cả các phí tổn cho hội. Còn như khi hội đã tìm khắp rồi mà không được gì mới thì chi phí ấy do hội chịu, ta không tốn gì cả. Ngoài ra, nếu ta cần thuê thợ chuyên môn hội cũng có thể cử người cho, nhưng tiền công mỗi tháng mỗi người cũng phải trên dưới 2.500 quan và phải trả phí tổn đi về cho họ nữa.

Các khoản trên đây, từ sau khi lập giao ước, nếu như người nào làm điều gì không đúng thì cứ hỏi tội. Tờ này dịch từ bản chính của hội ấy, nguyên bản tôi còn giữ.

Các khoản trên đây là những điểm chính do hội đã bàn định như vậy.

Kính mong Triều đình xem xét thế nào và sớm trả lời cho biết.

_______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 105-107. Không ghi ngày, tháng, năm nhưng chắc chắn là được viết tại Sài Gòn cuối năm 1866, trước lúc Nguyễn Trường Tộ đi Pháp.
    Trong bài viết từ Pháp, Ngày 12 tháng 5 năm 1869 (Di thảo số 27), và trong một tờ viết tại Huế ngày 12 tháng 2 năm Tự Đức 21 (Di thảo số 29), Nguyễn Trường Tộ đều có nói tới “tờ bẩm về việc khai mỏ ở Gia Định”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:08:35 pm

DI THẢO SỐ 26

Tờ trình về việc ký hợp đồng với hội nước ngoài*

(Ngày 9 tháng 4 năm Tự Đức thứ 20 tức ngày 12 tháng 5-1867)

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Hiện nay giám mục đã tìm được hội khai hoang, đã từng đi lại bàn bạc. Xem ăn nói ý tứ và hành trạng lâu nay của họ thì khoản này cũng có thể thực hành lâu dài được, như tờ bẩm trước của giám mục đã tóm tắt đại lược. Nhưng lấy ý kiến riêng của tôi nghiên cứu sự thể trước sau, và những chi tiết lợi hại sẽ sinh ra sau khi thi hành như thế nào mà so sánh, thì những lời nói của họ ở trong thư từ cũng còn nhiều chỗ mập mờ chưa rõ ràng. Sở dĩ tôi xin Triều đình bàn bạc lại các lẽ, là để cho kỹ càng thêm. Hễ có chỗ nào còn nghi ngờ theo từng khoản thì hỏi lại cho rõ, đợi họ trả lời ra sao, rồi lại bàn định lại một lần nữa. Lúc đó sẽ mời họ đến mới ổn thỏa hơn.

Vả việc này quan hệ lâu dài, mới bắt đầu khó quyết định sự lợi hại một cách vội vàng, ắt phải thong thả xem thời cơ mới khỏi ân hận về sau. Nhưng cũng xin Triều đình trả lời sớm, để giám mục báo tin với họ cho họ yên tâm. Sợ những tụi Tày buôn ở Gia Định biết được chúng dèm pha mà sinh khó khăn.

Nay tôi xin lấy kiến thức nông cạn chia ra từng khoản trình bày như sau:

Thứ nhất: Theo trong lời bẩm của họ, thì hoặc là họ tự kinh lý hết rồi ta lấy một phần. Hoặc Triều đình ta liệu lý hết rồi ta lấy chín phần. Xem hai đường ấy, dường như đều chưa ổn. Xin phân biệt như sau:

Một là: Ta đã sẵn có đất đai, ta ở gần còn họ ở xa, cho nên trước lúc họ tìm được mỏ để khai thác phải có nhiều việc đưa đón tốn kém, ta không thể thoái thác được, mà cũng có nhiều việc lặt vặt khó tính toán. Tuy nói là do họ tự làm lấy, ta chỉ thỉnh thoảng giúp đỡ họ việc lớn, rồi tính việc lấy tiền công. Nhưng đến những việc nhỏ nhen, thì cũng khó bề mở miệng. Lại như được mỏ bình thường thì chẳng nói làm gì, nếu may mà gặp được mỏ lớn, lúc đó ta cũng khó bề nói lại, mà có thể nói nữa thì sợ xảy ra biến cố khác. Như thế thì in tuồng như lấy đất ta, của ta mà nuôi người nước ngoài, e không khỏi hối tiếc về sau ư?

Hai là: Các đồ khí nghệ trong tờ hợp đồng họ cũng không nói rõ đến lúc tính toán lãi lỗ có khấu trừ tiền hay không. Nếu họ tự xuất các đồ khí nghệ ấy làm vốn, mà không chiết trừ vào tiền lời, đến khi đủ hạn, do họ tự liệu, thì chả nói làm gì. Nếu cứ mỗi lần chiết tính mà khấu trừ, lấy riêng ra để mua thêm đồ mới và tu bổ đồ hỏng thì những đồ ấy giống như những đồ dùng chung cho cả hai bên. Hoặc mọi việc do ta tự biện lấy cũng thế. Nên tính toán cách nào cũng chưa nói rõ.

Ba là: Lâu nay họ làm với các nước khác, kỳ hạn có khi lâu đến 6, 7, 8 mươi năm, như thế sợ là quá lâu. Nếu ta tự liệu lấy, thì không cần kỳ hạn, nhưng nếu họ ăn chín phần hay là ăn một phần thì cũng phải ngắn hạn mới ổn. Nếu không thì lúc đầu ta cần làm chung với họ là cực chẳng đã, đến sau khi ta đã đủ sức tự lập rồi mà họ vẫn cứ ngồi dai ăn bám, thì sẽ tính sao? Cái khoản hợp đồng dài hạn này thật là khó xử. Không biết bây giờ họ có chịu đổi lại làm ngắn hạn hay không?

Bốn là: Nước ta còn nhiều đất cấm, mà những mạch quý cũng có khi dài đến hai ba ngày đường. Vả lại hướng của các mạch ấy chưa thể định trước, khó bề kiêng tránh. Nếu khi đã tìm được mỏ rồi mà gặp phải nơi đất cấm, không thể xuyên qua mà họ không chịu thôi thì liệu thế nào?

Năm là: Họ vốn là người Pháp lại có quyền thế vật lực. Nếu trong tờ hợp đồng không có quan to của họ ký chứng, đến sau hoặc có sự xích mích thì ta cũng khó tranh chấp với họ. Lúc đó quan họ cũng sẽ nói rằng: Lúc đầu tôi cũng không được biết đến nên nay cũng khó phân xử. Đấy là lấy trường hợp ta bị thua thiệt mà nói. Còn nếu họ bị thua thiệt thì tuy quan họ không ký chứng, nhưng thế nào cũng sẽ bênh vực dân họ mà làm khó dễ với ta. Đó cũng là chuyện tình đời không thể tránh được. Vậy trong tờ giao ước, có cần phải quan họ ký chứng hay không, tôi chưa biết thế nào là đúng. Trước đây Gia Định có bẩm hai người khai hoang, không biết vì ý gì khi chúng tôi bàn bạc với họ, họ có dặn rằng: “ Trước khi công việc chưa nhất định không nên lộ cho nguyên soái biết”. Xem ý họ dường như có ý che giấu, không biết trong đó có mưu mô ngoắt ngoéo gì không? Có lẽ việc này có quan hệ đến việc xin làm chứng hay không nên làm chứng cũng chưa biết chừng.

Sáu là: Tôi đã dò hỏi thì họ nói các đồ dùng khi mới bắt đầu, ước chừng 5 vạn quan. Còn sau khi khai mỏ thì họ chưa nói. Nhưng tôi tưởng các đồ dùng trong khi khai mỏ, cũng không quá 7, 8 mươi vạn quan. Các khí cụ đó đều làm bằng đồng bằng sắt. Nếu dùng đúng phương pháp cũng chưa hẳn đã hư hỏng hết trong khoảng 8, 9 năm. Vả lại một khí cụ ấy cũng có thể thay đổi để dùng, đưa chỗ này qua chỗ khác, không phải khai một mỏ mà đã hết ngần ấy phí tổn được. Vì thế cho nên phí tổn lần đầu không thể ngoài một trăm vạn quan. Đến sau thời có thể lấy ít tiền lời mà chia cấp. Lại cũng có thể dần dần theo thể thức mà tự làm cái khác để dùng, không phải cứ mỗi năm mỗi xuất tiền vốn ra nữa. Như thế thì tiền tổn phí di chuyển cũng không nhiều lắm. Vả lại, các mỏ cũng có chỗ nhiều ít, khó dễ khác nhau, nếu gặp chỗ nhiều mà dễ như mỏ bạc ở núi A Nhĩ Thái (phía Bắc nước Hung) mỗi năm sản xuất ước chừng được hơn hai trăm vạn đồng. Chỗ khác cũng có nhiều mỏ, đào lấy đã 200 năm, nay còn chưa hết. Mỏ sắt nước Anh mỗi năm sản xuất ước chừng được 30 triệu thạch. Than đá ở đó mỗi năm sản xuất ước chừng 80.000.000 thạch, còn càng ngày càng ra không hết. Đến như kim cương, phần nhiều sản xuất ở vùng cát sỏi xứ Đại A. Một khối nặng chừng ba cân rưỡi, giá đến 10.000.000 lạng bạc. Còn như vàng bạc, đến chỗ cửa hang, nhiều khi có khối lớn sáng choang hoặc có khối nặng đến 7 nghìn cân, đến 100 cân trở xuống chẳng hạn. Nếu trời cho đất cát của ta mà có hạng ngọc quý, ngũ kim ấy, thì khí dụng và chi phí chẳng qua hết một hai phần trong ức vạn, không nghĩa lý gì mà ta chỉ được một phần họ được những chín phần. Vả lại lâu đến một hai kỷ1, chẳng hóa ra quá nặng ư? Vì thế cho nên, trong bài Khai hoang từ trước đây, tôi đã tính toán trước và xin mời gấp một vài người phương Tây, phân biệt các loài mỏ trước (dù mời người Tây cũng chớ nên lộ ý ra) rồi sau mới định là ta khai hay họ khai. Như vậy mới khỏi ân hận về sau. Về khoản khai hoang này, một mặt muốn hưởng lợi gấp, một mặt muốn cho họ biết vật đều có chủ thời không làm cũng không được. Nhưng nếu muốn được lợi gấp, mà không chậm đợi ba bốn năm để phân biệt lợi hại, thì có khi họ đã được ăn mà còn cười ta là dại thì làm thế nào? Các khoản quyền lợi tôi bẩm trong bài Khai hoang từ trước đã nói những cái được lâu dài về sau là như thế đó, chứ không phải nói những cái được lúc ban đầu mà thôi.

Bảy là: Nếu có bàn cãi nên thêm bớt như thế nào thì phải nói trước khi lập tờ giao ước, chưa bắt đầu vào việc, chứ nếu để sau mà nói đi nói lại, thì sinh nhiều khó khăn lớn. Chứng cớ rất nhiều, không thể kể hết. Nay tôi xin tạm kể một việc để xem.
______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/3 tờ 1 - 73
    Hv 634/4 tờ 51 - 72
    Bài này được viết trong lúc Nguyễn Trường Tộ đang ở Pháp với Giám mục Hậu (Gauthier). Giám mục Hậu đã thỏa thuận được với một Công ty khai mỏ để giới thiệu với Triều đình Huế. Nguyễn Trường Tộ phân tách lợi hại về các khoản trong hợp đồng để Triều đình lựa chọn.
1. Mỗi kỷ 12 năm.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:10:58 pm

Nước họ có một hội khai cảng ở Biển Đỏ. Năm trước vua nước Ai Cập cho không hội ấy một khoảnh đất cát hoang mà không nói rõ sau phải trả lại. Đến nay nước Ai Cập thấy họ kiếm được nhiều lời, muốn đòi đất lại. Vua Pháp liền nói: Nếu muốn lấy lại thì phải bồi phí tổn 9.000.000 quan. Đây là cái hại do lúc đầu thương lượng không nói rõ.

Nay hội ấy xin lấy chín phần, có vẻ quá nặng. Tôi đã nhiều cách tìm hỏi các hội, về việc mấy lâu nay chia lợi như thế nào, thì không kể người trong hội hay ngoài hội, đều không chịu nói rõ. Tôi thiết nghĩ rằng tuy là người ngoài hội, nhưng đã từng làm việc cho nước ngoài nhiều như hiện nay người nước Nhật Bản cũng mời họ đến mở xưởng đóng thuyền, theo những phương pháp mới. Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện cũng vậy. Nay một khi ta hỏi đến họ, ắt họ dự đoán sau này sẽ có đường lối như các nước kia, nên không chỉ đường, để nhân chỗ lầm của ta mà thi kế bí mật kiếm lợi. Sở dĩ tất cả mọi người của họ đều không chịu nói rõ, có lẽ là vì thế. Nếu không thế, thì phương Tây ba bốn trăm năm lại đây đã từng cùng các nước khai rnỏ, rất là nhiều, chả lẽ không có một hội nào lập điều lệ phân minh, chỉ đợi đến khi có vàng bạc rồi mới tha hồ xâu xé như bọn quỷ giành thức ăn dưới hội Vu Lan1 ư? Mới đây có một người trong hội ấy, khi mới gặp giám mục, liền nói hội chúng hiện có bản in điều lệ cũ, hôm sau sẽ đưa cho xem. Hôm sau có hai người đến, đưa một miếng giấy viết; giám mục không nhận. Chúng lại trở về. Vài ngày sau lại đem đến một bản giấy viết, giám mục theo trong giấy dịch ra như thế. Giám mục không dám hỏi kỹ, sợ sinh điều quan ngại gì khác. Xem qua bọn chúng thì hình như có điều gì muốn giấu giếm. Tôi không biết rõ điều lệ của chúng. Mà nay tranh luận khinh trọng với hội chúng, đã không có quyền, lại nói mồm, không bằng cứ sợ chúng hiểu được ý tò mò của tôi, rồi sau này có cùng đi với chúng, chúng sẽ để ý che giấu, thì trong chỗ vô tình, khó mà dò được lòng kín của chúng. Tôi sở dĩ không dám hỏi kỹ chúng, chính vì lẽ đó. Cho nên phải đợi Triều đình cứ theo từng điều khoản mà hỏi chúng mới được.

Nhưng có một điều có thể ổn thỏa được là hội chúng đã nói rõ trước rằng: Đến khi tìm được mỏ rồi thì do ta tự liệu lý lấy cũng được. Nếu tìm không được thì họ về không, ta không tốn kém gì, lại như tìm được mỏ, thì không kỳ ta khai hay họ khai, cũng không trừ công phí ban đầu, chỉ tính từ khi khai quật về sau mà thôi. Như thế thì trước khi chưa tìm được, phải lập rõ hai bản giao ước. Như tìm được mà hội ấy tự liệu biện lấy thì cứ theo giao ước này. Nếu Triều đình ta tự biện thì theo giao ước kia, như thế mới phải. Vì trong lúc dò tìm cũng phải hai ba năm mới xong việc. Lúc bấy giờ nếu ta có người để tâm kín đáo cùng đi với họ cũng có thể xem xét dần dần mà phân biệt chọn lấy, tưởng cũng không đến hỏng việc. Nếu tìm không được mà về không thì ta chỉ mất công giúp đỡ mà thôi, dầu có tổn phí ít nhiều cũng vui lòng. Nhưng không tìm thì thôi chứ đã tìm thì tìm kỹ, tìm khắp, như thế thường thường tìm mỏ này lại gặp mỏ khác, như ở phương Tây phần nhiều người ta tìm mỏ than mà được bạc, tìm đồng lại được vàng. Vì mạch lạc các mỏ thường liên lạc với nhau, gần gũi nhau, cho nên chưa bao giờ có chuyện tìm mà không được cái gì cả. Như thế thì dù họ không vừa lòng, nhưng ta cũng nhân đó mà biết hết mạch đất để tìm vật dùng khác, món lợi khác.

Tám điều trên đây là theo trong tờ của hội ấy trình bày ra. Cách thứ nhất là mọi công việc đều do họ liệu lý, ta lấy một phần, cách này suy ra có những trở ngại về sau như thế đấy.

Nếu mọi việc đều do Triều đình trù liệu lấy, họ ăn một phần, trừ những chi phí công lao khó nhọc của người mình ra, thì các tờ bẩm trước đã nói rõ. Nay không nói lại nữa. Chỉ nói ta chịu thiệt với họ thì có ba điều:
_______________________________________
1. Tức là hội rằm tháng bảy, cũng gọi là Tết Trung Nguyên.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:19:53 pm

Một là công tác phục dịch và chi phí của người nước ta đều theo lối tiết kiệm, còn họ thì tiêu dùng quá xa phí, ta cũng khó ngăn cản. Tục ngữ nói rằng: “Giữ núi ăn núi” đấy là thường tình không tránh khỏi được. Nay ta trừ tiền công cho họ rồi mới chia lời. Nếu họ có bụng hiểm, chỗ không cần dùng nhiều công nhân Tây, họ cũng phái đến nhiều người, ngồi mà chia lời, hoặc chỉ phái một hai người sành nghề rồi xen vào nhiều người thợ vụng rẻ công thì ta biết đâu mà xét hỏi, e không khỏi như tệ thổi sáo gian ư1? Đấy là một điều khoản khó xử. Vì thế cho nên phải hỏi họ trước, mỗi mỏ chỉ cần dùng một người sành nghề, còn mấy người làm phụ, phải chia thứ bậc mà trả lương. Đến sau người mình đã tự làm lấy được không cần bày vẽ thì nên đem những người công nhân Tây đi khai mỏ khác mới ổn.

Hai là: Mọi việc do ta tự liệu biện, họ chỉ bày vẽ mà thôi. Tất cả đồ dùng và tiền công đều lấy ở tiền lời hết. Cứ như khoản họ tự liệu biện mà lấy 9 phần thì công phu, sức lực của người mình giúp đỡ, giá cả không bằng họ, vậy trong số tiền lời, phần tiền công của người mình thì được ít. Khoản này mà ta lấy chín phần thì họ ăn tiền công trong số tiền lời lại nhiều, làm sao mà công bình được. Hay là chỉ trong hai khoản này, một bên thì chỉ vẽ phương pháp, một bên thì đốc suất công việc, bên ta thì thêm vào, bên họ thì bớt đi, sao cho tiền công hai bên bằng nhau, để ngấm ngầm đề phòng họ. Đến ngày sau ta tự liệu biện lấy thì dù họ có ăn tiền công nhiều, cũng không đến nỗi quá sai lệch.

Ba là: Họ chỉ nhọc mệt bảo ban buổi đầu vài năm mà thôi, tuy có khó nhọc nhưng cũng đã hưởng được nhiều rồi, đến sau ta dần dần có thể phụ việc hoặc tự làm lấy được, không phiền đến họ chỉ bảo, họ cũng ngồi không lấy tiền công. Hoặc gặp được mỏ lớn, họ cũng không dự vào công việc, mà họ cứ lấy một phần, mà lại lấy lâu dài e không khỏi nghiêng lệch ư? Khoản ấy bình tĩnh mà nói, thì họ tuy sau được thong thả nhưng trước phải vất vả, lại có tổn phí đi tìm lúc đầu. Tổn phí bỏ ra đi tìm đó cũng vừa đủ tiền vốn, thì về sau họ được hưởng lợi lâu dài cũng hợp lý. Chỉ có bên nặng bên nhẹ chưa ổn mà thôi. Trong điều ước thì ở khoản này nên chỉ rõ ba đoạn: đầu, giữa và cuối, lần lượt giảm bớt đi bao nhiêu phần, tưởng cũng hợp lý. Nhưng ở đoạn giữa khi đã được lợi lớn rồi, thì tổn phí lúc đầu đi tìm hết bao nhiêu, nên tính trả lại cho họ mới hợp tình lý.

Ba điều trên đây là chỉ chỗ thiên lệch trong ấy. Lấy hai đường so sánh mà xem, để tìm chỗ đúng thì hoặc giả bên họ đem người có tài ra chỉ vẽ, họ tự xuất tiền ra chi dùng, bên ta có người trước sau đốc suất, ta tự cấp phát lấy. Còn đồ khí dụng tốn bao nhiêu, hai bên chịu chung đến khi tính lời thì trong 10 phần ta lấy trước một phần thuê đất, còn lại 9 phần, lại chiết lấy trả tiền công cho những người làm lao động. Còn dư nữa thì chia cho đều, những người thầy thợ của họ thì ăn phần lời bên họ, quan viên ta thì có triều đình định liệu. Như thế thì dù tiền công họ cao, họ ăn dùng xa xỉ, ta cũng không thiệt hại gì, mà hai bên cũng khỏi hiềm về nhiều ít. Hay là mọi việc do ta tự liệu lấy họ chỉ có người làm thợ thầy. Trong 10 phần, họ chỉ ăn một phần mà thôi, không được ăn tiền công riêng nữa. Như thế có lẽ hợp lý hơn. Hai điều khoản ấy, chưa biết ý họ thế nào. Còn khoản thứ ba, cứ tháng cấp tiền lương thì kể cũng ổn, họ chẳng qua là người làm mướn mà thôi, không có quyền gì, muốn làm muốn thôi đều quyền ở ta. Khoản này, trong tờ bẩm trước ở Gia định, tôi đã nói rõ. Cũng như đoạn cuối trong bài Khai hoang từ đã bẩm dò thám trước để phân biệt lợi hại thì cũng một đường lối như vậy. Nguyên trước chúng tôi dò biết được rằng khai hoang cũng có lệ chia lời. Đấy là bọn Tây buôn ở Gia Định nói ra, mà không phải thiên lệch như kiểu ăn một phần hay ăn chín phần. Cho nên khi ở Kinh tôi bẩm về việc thuê thợ có 13 khoản khó, là muốn khỏi bị họ chiếm phần hơn. Nay ta ăn chín phần, thì mọi phí tổn về ta và cứ tháng cấp lương, tuy lúc đầu có nhiều điều khó như thế cũng còn hơn là ta chỉ ăn một phần. Nếu nay họ có thể thương thuyết lại được như thế nào, mà hai bên đều được phải chăng, thì lúc đầu họ chịu khó nhọc vỡ hoang, ta lấy cái dễ, hưởng cái kết quả, thì cũng được. Vì nếu không có họ dẫn đường chỉ lối ta càng khó thành công. Cho nên phải mượn tài trí nước ngoài. Họ đem trí tuệ nghiên cứu hàng trăm năm mà đổi lấy tiền bạc vứt bỏ của ta thì tưởng cũng đã rẻ rồi. Như thế thì ta lấy cái lợi tự nhiên không hết của ta mà đổi lấy cái khôn khéo tích lũy của họ, thì sao mà chả được? Nếu nay quả họ chịu thương lượng lại, để cho hai bên được quân bình, thì ta nên mở rộng hết cửa ngõ, để mau có lợi.

Ý kiến chúng tôi như thế, không biết phải chăng thế nào. Hoặc giả Triều đình còn có chỗ nào quan ngại, thì nên chia ra từng khoản hỏi họ, để họ thương lượng lại, nên hay không nên, hợp hay không hợp đều trình bày rõ, gửi đến, lúc đó ta lại xét liệu và quyết định, rồi báo tin cho họ lên Kinh thì mới thỏa đáng.

Lại xin thưa thêm, hiện nay tôi đã biết được giá cả của nhiều thứ, lúc về sẽ xin bẩm rõ để Triều đình biết. Chỉ mua một vài hạng giá rẻ, từ hai ba nghìn quan trở xuống đem về, còn nữa đợi khi nào có dùng vào khai mỏ, theo số gửi mua cũng được. Ứớc chừng vào khoảng thượng hạ tuần tháng bảy mới về. Khi về tới Gia Định, chưa biết phương tiện của giám mục đi đường thủy đường bộ như thế nào. Còn tôi thì xin đi đường bộ về Kinh bẩm qua. Lại khi đi ven dọc núi sông, hễ chỗ nào tình thế có mạch lạc, tôi sẽ ghi nhớ kỹ, đợi sau đến thẳng chỗ đó tìm kiếm, khỏi phải trông ngóng thêm phí thì giờ.

Đấy là tôi có ý nhất cử lưỡng tiện, không biết được chăng? Nếu cho là phải thì xin tư trước cho quan kinh lược ba tỉnh trong, bảo tôi về Triều lĩnh bằng đi trước. Lại xin tư sức trước cho khắp cả nước biết, hễ ai tìm được mỏ mới, báo lên thì thưởng cho trước, đến sau khai khẩn được nhiều, lại thưởng thêm nữa. Nếu tìm được thì cắm tiêu trước, đợi khi hội chúng đến nơi thuê họ phân biệt thử đã, rồi thương lượng với chúng để chia ít nhiều phần lợi. Còn chỗ nào không có hình tích gì rõ ràng, thì cứ để mặc cho chúng đi tìm.

Lại xin tư cho các mỏ ở Tuyên Quang, Hưng Hóa, chọn lấy mỗi nơi một bao đất, hoặc có đá vôi, cũng nên đệ về, để đợi ngày sau thí nghiệm. Lại như các sự thế riêng, giám mục cũng đã nói với các quan to của họ, xem ngụ ý họ còn úp mở không nhất định, hình như họ cũng chưa chịu. Xin Triều đình xét kỹ và giao dịch cẩn thận đề phòng biến cố khác. Hơn nữa ta với họ đều có một bộ tim ruột riêng, khó bề giúp đỡ nhau, chỉ có thể tung hoành mới xong việc được.

Kính bẩm lục bộ đường đại thần đại nhân soi xét.
_______________________________________
1. Do tích đời xưa ở Trung Quốc có một ông vua thích nghe thổi sáo thuê 300 người thổi sáo cùng một lúc. Do đó khi thổi có nhiều người thổi hay nhưng cũng có một số người thổi dở thậm chí có người không biết thổi cũng trà trộn vào kiếm ăn, không thể phân biệt được.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:23:32 pm

DI THẢO SỐ 27

Tám việc cần làm gấp

(Tế cấp bát điều) *

(Ngày 20 tháng 10 năm Tự Đức 20, tức ngày 15 tháng 11 năm 1867)    

Tôi Nguyễn Trường Tộ xin đem những điều tạm thời cần phải làm để giải quyết những việc khẩn cấp thưa rõ như sau:

Trộm nghĩ đến cái thế lớn trong thiên hạ cũng giống như con người ta vậy. Con người từ thuở nhỏ rồi đến tuổi thiếu niên, tráng niên đến già lão kể là một đời. Phàm những việc làm lúc nhỏ, đến lúc thiếu niên mới biết những việc làm ấy là đáng buồn cười. Những việc làm trong lúc thiếu niên, đến tuổi tráng niên mới biết đã có nhiều lầm lạc. Duy những việc làm trong thời tráng niên mới là những việc làm định đoạt sự được mất. Nếu những việc làm ấy thành đạt được, mới có thể xóa bỏ những lỗi lầm trong thời thơ ấu và để lại hiệu dụng cho lúc tuổi già. Như thế mới làm tròn bổn phận con người.

Vận hội trong thiên hạ cũng thế. Những việc làm thời xưa chỉ đủ đem lại những nhu cầu cần thiết cho nhân loại, nhưng chưa đủ tập họp để làm nên công dụng hay ho gì. Những việc sửa sang giúp đời trị thế, cũng chẳng qua thời thế lúc bấy giờ phải làm như vậy, mới đủ dùng được như vậy mà thôi. Nhưng đến đời sau xem lại, những việc làm ấy không khác nào trò nghịch đất khi còn bé.

Người thời nay phần nhiều không hiểu được sự thế xưa nay dời đổi ra sao, cứ ca tụng thời xưa, cho rằng đời sau không thể nào bằng được. Làm việc gì họ cũng đều muốn đi ngược lại theo xưa. Bọn Tống Nho sỡ dĩ làm hại đất nước, làm đất nước hèn yếu không phát đạt đều do tư tưởng này mà ra cả.

Đem thế hệ ra mà bàn, chắc con cháu không được chê bai ông cha mà phải đem những việc làm của tiền nhân ra ca ngợi. Điều đó về lý thì cũng đúng. Nhưng nếu bàn về việc phải làm thức thời, mà bảo rằng tổ tiên xưa nghèo nay ta cũng phải nghèo không được bắt chước kinh doanh làm ăn, tổ tiên xưa là thường dân, nay ta cũng phải làm người dân thường, không được học hành để mưu cầu quan chức. Thế chẳng đáng buồn cười lắm sao? Người xưa làm cung tên để chống giặc, sử dụng giỏi có thể thắng. Nhưng nếu nay đem ra đối địch với đại pháo thì cung tên cũng chỉ là trò chơi con nít mà thôi. Cho dẫu có tài bắn hay cũng khó tránh khỏi thua bại. Suy một việc này, bao nhiêu việc khác cũng thế. Tại sao người thời nay cứ rảnh rang giảng giải luận bàn, bắt chước cái trò chơi trẻ con đó? Như thế có được gì chăng cũng chỉ là dùng tạm, ích gì cho tuổi trưởng thành và tuổi già được? Nước ta từ triều Lê trở về trước cũng như con người ở tuổi đồng niên vậy, từ Trần trở về trước như tuổi thiếu niên vậy, đến nay mới là tuổi cường tráng sức lực dồi dào, có cơ hội làm được nhiều việc. Thời đại nào có chế độ ấy. Con người sinh vào thời đại nào cũng chỉ đủ làm công việc của thời đại ấy mà thôi. Vậy thì người sinh vào thời xưa làm xong công việc của thời xưa. Rồi dần dần thời thế đổi dời, làm sao có thể mỗi mỗi ôm giữ phép xưa mãi được?

Con người ta ở tuổi ấu thơ suy nghĩ không quá khỏi cái sân nhà, dạo chơi không ra khỏi vườn nhà, chưa tính kế gì lâu dài, chưa mong cầu cái gì sâu sắc chưa ra khỏi xóm làng để dong ruổi bốn phương, đến lúc trưởng thành mới nghĩ đến chuyện rời nhà cửa mà dấn bước tang bồng. Thành hay bại là ở thời kỳ này vậy.
___________________________________
*. Bản Hán văn: Hv 189/2.
    Hv 634/2
    VHv 170
    Bản chụp của Tuần sau VĂN ĐÀN, do ông Phạm Đình Khiêm cung cấp cho chúng tôi.
    Tế cấp bát điều được viết trong lúc Nguyễn Trường Tộ đang ở Pháp.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:25:52 pm

Xét ra phong khí và vận hội trong thiên hạ, từ khi bắt đầu đến hồi kết cuộc, khác nào một đời người. Một nước ví với thiên hạ, cũng giống như một người. Từ xưa đến nay các nước không nước nào không như thế. Nói chung các nước nổi tiếng ở phương Đông như Trung Quốc, Mông Cổ, Ả Rập, Ba Tư tuy đã có lần quấy động xâm lấn các nước chung quanh nhưng cũng tựa hồ như những anh láng giềng đánh đấm lẫn nhau thôi chứ chưa có khả năng dọc ngang bốn bể như người phương Tây ngày nay. Châu Mỹ cũng thế, trước đây ba bốn trăm năm các bộ lạc sống rời rạc chưa thống thuộc nhau lại, đến khi bị người phương Tây đánh phá mới thức tỉnh, ngược xuôi chống trả, từ đó quen thạo chiến đấu, hăng hái khai thác, dần dần đến ngày nay thành lập quốc gia, kiến thiết đô thị, tất cả đều tự lập được. Họ đã đến lúc trưởng thành. Xem thế thì thời thế vận hội trong thiên hạ đã đến lúc tiến dần đến thời tráng thịnh, tung hoành bốn phương. Giả như có một nước nào ngày nay muốn đóng cửa không tiếp khách để hưởng yên vui một mình cũng không thể được. Bởi vì ta không đến người, người cũng sẽ đến ta. Nếu ta không thể chận bước người tiến tới thì chính ta cũng phải cất bước tiến lên để làm cân bằng cái lễ qua lại với nhau. Không thế, người đến ta ắt sẽ yêu sách một số lễ vật đem về, mà ta thì không thể đến người để uống một chén rượu đáp lễ. Thế chẳng phải là bị khách lấn áp chủ sao? Ví như những bọn cướp nếu bọn này không thể kêu gọi bè đảng đến đánh bọn kia, thì chắc chắn bọn kia sẽ dẫn đồng bọn đến đánh bọn này. Đó là thế tất nhiên. Chỉ khi nào bọn này có thể sang đánh được bọn kia, thì mới khỏi bị bọn kia đến đánh mình. Chỉ vì nay ta không thể phát huy vũ lực ra các nước chung quanh, nên mới bị các nước mang binh đến ta. Dù ta không chủ tâm đánh ai, nhưng cũng phải sửa sang biên thùy, siết chặt hàng ngũ trong nước, để có một lực lượng có thể đánh được người ta, nhưng chỉ chờ ai đến thì đánh mà thôi. Như vậy mới khỏi hoạn nạn.

Hiện nay chúng kết bè nhau sang đây, mở đường mà đến ngày một thêm nhiều. Người Anh đã xin nhà Thanh cho lập một quân cảng ở Quỳnh Châu là ý muốn gì? Y Pha Nho còn hậm hực chuyện cũ, chưa thôi dòm ngó. Tướng Pháp thì thường hỏi những người đi thuyền từ Bắc vào Gia Định xem động tĩnh của vua ta ra sao? Đã lập người kế vị chưa? Câu hỏi ấy có thâm ý chớ không phải không lý do, cũng chẳng phải cảm tình chân thật tốt đẹp gì cả. Nay họ lại thấy người Anh áp sát đường phía Bắc nước ta. Như vậy nước ta chẳng khác nào mảnh đất Kinh Châu đang nằm trong cái thế tương tranh. Cho nên họ không khỏi có âm mưu như Khổng Minh đối với Tam Quận xưa kia vậy. Dù tạm thời có hòa ước cũng không thể trông cậy lâu dài được. Hơn nữa họ chưa một ngày nào bỏ quên con đường Vân Nam - Tây Tạng. Còn các binh thuyền của họ ở phương Đông thì lần lượt kéo về Gia Định để chiếm giữ thế trọng yếu. Họ sẽ làm gì đây? Điều đó cũng có thể đoán biết trước được, như tôi đã từng trình bày trong bài Lục lợi từ năm trước. Lại như trong nước ta, từ Quảng Nam trở ra phần nhiều có những bọn bất mãn lần lượt trốn vào Nam có ý muốn được giúp binh mã để âm mưu phế lập như Thạch Kính Đường đời Hậu Tấn. Ta đã có những chỗ sơ hở có thể xen vào, còn người Pháp thì từ lâu lo sợ cái thế lực lớn mạnh của người Anh ở phương Đông. Nay lại thấy người Anh sắp ra tay, họ sợ bị người Anh đoạt mất. Âm mưu của họ, như tôi đã nói trong tờ trình trước, là sẽ thi hành 5 kế độc (1. Giúp bọn làm loạn chia cắt nước ta. 2. Giả hòa ước rồi đánh ta bất thình lình. 3. Lập ngôi soán vị rồi chuyên quyền. 4. Mượn đường diệt giặc. 5. Lấy êm bằng cách hối lộ). Ta phải gấp rút đối phó. Ngày xưa người Anh lấy Ấn Độ và Hạ Châu (bán đảo Mã Lai) như thế nào thì ngày nay đối với ta, người Pháp cũng bắt chước như thế. Hãy thử xem mới trong vòng 6 năm, chân đứng chưa vững mà họ đã lấy được 6 tỉnh mau lẹ như vậy, thì sau mười năm dồn lại sẽ như thế nào đây? Đó là nói về chuyện cấp bách ở nước ta, nếu đem tình hình phương Đông ra mà bàn thì người phương Tây đều cho rằng bất quá 50 năm nữa chắc chắn phải thay cũ đổi mới. Giả sử có một vài nước ngoan cố cứ muốn nằm dài ngủ mãi chắc chắn cũng sẽ bị họ quất roi cho thức dậy để sai bảo. Như năm xứ Ấn Độ là một bằng chứng.

Trong tờ nghị hòa năm trước tôi đã nói rằng người Nga từ Đông Bắc tiến về Đông Nam, Anh Pháp thì do Tây Nam tiến về Đông Bắc chúng đã bao trọn phương Đông rồi, giờ đây sẽ cùng nhau tóm lấy. Nay kênh đào Xu Ách của Ai Cập hoàn thành, các nước phương Tây vừa mới hưng thịnh chắc chắn sẽ sửa soạn tay chân, nối gót đàn anh, mà quấy động can qua. Như thế liệu phương Đông có thể an nhiên vô sự được không? Nay bọn họ lại muốn họp nhau làm con đường phía Đông, từ phương Tây thẳng đến Quảng Đông. Người Pháp nay muốn đặt đường dây điện tín dưới biển từ Quảng Đông đến Cần Giờ, rồi từ đó qua Hạ Châu đến Tích Lan rồi tiếp tục nối liền đến phương Tây (Hiện đã có đường điện tín từ Tích Lan sang Tây). Người Nga đã có đường điện tín từ thủ đô vượt Trường thành ở phía Đông vào Bắc Kinh. Như vậy phương Đông có cử động gì không đầy một ngày người phương Tây đều biết hết để bàn tính với nhau. Lại như các đảo lớn thuộc phía Bắc nước Nhật và Mông Cổ, Ngoại Minh giáp với Triều Tiên đều đã nhập hết vào bản đồ nước Nga. Người Nga còn toan mở xa lộ bọc ra ngoài phía Đông Bắc sông Hắc Long, đóng thuyền duyệt binh tính muốn cùng Anh Pháp thả câu đánh lưới các nước trong vùng biển Đông để chia nhau vơ vét hết lợi lộc. Người Pháp còn đang tính ngược sông Cửu Long chiếm Tây Tạng rồi sau đó phía Đông sẽ xuôi dòng sông Kim Sa xuống Tứ Xuyên vào giữa lòng Trung Quốc, phía Bắc sẽ dùng kỵ binh vượt Thanh Hải men theo phía Bắc Âm Sơn chiếm vùng thượng lưu sông Hoàng, từ phía Tây sẽ theo dòng Sở Hà vượt Nộ Giang đổ xuống, cướp lấy chặn đường phía trên của Miến Điện, rồi sang sông Tạng dòm ngó Mạnh Lạp Gia. Bởi vì con đường Tây Tạng bao gồm các vùng thượng du của phương Đông, nơi phát nguyên của những núi to sông lớn. Chiếm được nơi đây thì phía Đông có thể nắm đầu Trung Quốc, phía Tây thúc lưng năm xứ Ấn Độ, phía bắc trói tay các rợ Hung Nô, còn mặt Nam thì Miến Điện, Xiêm La và nước ta đều là cửa ngõ ra vào. Như vậy liệu có thể cự tuyệt không cho họ mượn đường ra vào được chăng?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:27:43 pm

Về đường thủy, người Pháp tuy không giỏi bằng người Anh, nhưng đường bộ họ chẳng thua gì người Y Pha Nho đối với các nước Nam Mỹ. Cho nên họ đã biết rõ con đường mặt sau nước ta có hai dải núi lớn, từ núi Côn Luân chạy xuống, bao hai mặt Đông và Tây của dòng Cửu Long. Nước ta trở thành bình phong phía Đông, Xiêm La là thành lũy phía Tây. Cả hai đều có thể mượn để sử dụng làm căn cứ sào huyệt. Bởi hình thế hiểm yếu trong thiên hạ, chưa có nơi nào hơn đây. Hơn nữa hai dãy núi chạy từ Bắc thấp dần về phía Nam (Phàm các dãy núi nào chạy dài về Nam phần nhiều đều có khoáng sản) có nhiều nguồn lợi lâm sản và khoáng sản nhất phương Đông, đủ cung ứng kinh phí cho họ hưởng dụng. Cho nên vừa mới đến Gia Định, ngồi chưa yên chỗ, họ đã mưu tính ngay. Thực ra họ đã ôm ấp trong lòng từ trước khi đến đây, nên mới hành động mau lẹ như vậy. Còn nước Xiêm tuy đã hòa hiếu với Anh Pháp, nhưng vốn là nước giàu có mà kém trí lực, nên hai nước vẫn luôn luôn rình cơ hội phỗng tay trên. Người Anh thì muốn chiếm trọn phía Tây để cho năm xứ Ấn Độ ở phương Đông được mạnh thêm nên mới đào kênh Ma Lục Giáp để thông qua Vọng Các. Người Pháp muốn thu trọn phía Đông, hợp với nước ta làm cửa ngõ, để củng cố căn cứ ở Tây Tạng, Vân Nam. Vì vậy mà họ hết sức bảo hộ vua Miên, để có thể thông với biên thùy phía Đông của Xiêm. Thế mà người Xiêm có mắt như mù chẳng rõ mối manh, tự cho là yên ổn có thể phó thác trọn đời cho hai nước. Mặc dầu chúng cũng có chút ít lo lắng, như cho người sang du học phương Tây, và mở các lãnh sự quán ở các thương cảng lớn (như Hương Cảng, Thượng Hải, Ba Lê Tư, Lông Đôn). Nhưng người Tây cho người Xiêm thiếu thông minh, chắc chắn không thể tiến bộ lâu dài được. Chẳng qua cũng chỉ là bắt chước học đòi như Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ mà thôi. Nước Xiêm nay tuy muốn bỏ cũ theo mới, nhưng chính việc đó cho thấy cái quê mùa ngu ngốc của chúng. Chúng vốn muốn học cái thuật tung hoành để củng cố thế lực, nhưng chúng có biết đâu rằng hai tên chúa cướp kia mừng thầm, vì tài chủ của bọn họ đóng cửa cài then, là giữ của giùm cho bọn họ. Cho nên hai nước ấy vui mừng thấy nước Xiêm như món đồ trong túi, không sớm thì muộn cũng lấy được thôi. Nếu không ai ôm trọn vào một tay mình thì lấy dải Mê Nam cắt chia đôi cho nhau. Ý nghĩ của bọn họ đã định như vậy. Còn bốn nước lớn thuộc vùng Tây Vực như Ba Tư, A Phú Hãn, Ti Lộ Chi, Ả Rập thì Ả Rập tuy là con đường qua lại, nhưng đất xấu dân nghèo, lại quen tính cướp bóc khó thuần dưỡng, hơn nữa nghe đến đạo Hồi là người ta không dám gần gũi. Cho nên từ lâu người phương Tây chán bỏ, chẳng qua chỉ dùng nó làm con đường tiếp viện cho đường phía Đông mà thôi.

Còn ba nước kia như Ba Tư v.v... xưa nay vốn là bãi chiến trường, nay đã kề sát phía Nam nước Nga. Người Nga mới từ Lý Hải (biển Caspienne) đóng thuyền tập binh để thọc vào phía Bắc Ba Tư, lại từ sông A Mẫu (Amou-Daria) đào đường ăn thông với phía Tây núi Thông Lĩnh (Himalaya), phía Tây thì cướp lấy mặt Đông của biển Đỏ dùng làm cái ao của phía Nam. Như vậy ba nước này chẳng khác nào Tam Xuyên của Tần ngày xưa, nó như cái bờ ao của nước Nga vậy. Anh Pháp cũng khó đóng vai như Tề Sở mà tranh lấy đất Trung Sơn của Tấn. Đó là do ở địa thế xa gần mà ra.

Ấn Độ đã thuộc Anh không phải bàn nữa. Miến Điện và Xiêm La là thân cá chậu. Còn lại nước ta và Nhật Bản coi như đô thị lớn của vùng Biển Đông, Triều Tiên bên cạnh như một cái phố nhỏ chỉ đủ cho bọn chúng điểm tâm buổi sáng, chẳng quan trọng gì. Nhật Bản tuy cứng mạnh hung hãn, nhưng các tiểu hầu phân chiếm từng mảnh ý chí sức lực không đều nhau, trở ngại cho việc tiếp ứng. Hơn nữa nước này bốn mặt bể bao bọc, chẳng có hàng xóm láng giềng với ai, rốt cuộc cũng khó tranh hơn với ba bốn địch thủ lớn, chuyên vẫy vùng trên biển. Mới đây Hợp Chủng Quốc lại mở đường xe lửa qua phía Tây Kim Sơn (San Francisco), thuyền bè của họ phần nhiều tụ tập về đây. Họ còn tính đào một con kênh tại eo đất nước Mễ Tây Cơ để thông ra Thái Bình Dương. Vì nước này giàu có nhất thiên hạ mà trong 80 năm trở lại đây các nước Nga Anh Pháp không dám xem thường. Sức mạnh của nước này chưa nước nào hơn được. Nay người Nga lại bán cho họ một phần đất phía Bắc. Mễ Tây Cơ lại phụ họa theo ở phía Nam thì nghiễm nhiên đã trở thành một địch thủ to lớn. Hợp Chủng Quốc xưa nay đối với thế giới có tiếng là “Ông già hòa bình” nhưng nay họ đã bỏ đường lối ấy. Họ lại thấy Nga và Pháp sắp rửa áo giáp ở Thái Bình Dương thì lý nào họ lại ngồi yên để xem miếng mồi ấy lọt vào tay ai. Chắc chắn họ cũng sẽ hươi gươm vác súng vào cái chợ lớn Trung Quốc mà đánh chén với các nước phương Tây. Còn nước ta và Nhật Bản như là hai con đường lớn của hai đầu chợ ấy, chắc chắn sẽ là nơi bọn chúng buông gánh nghỉ vai. Điều đó sớm muộn sẽ xảy ra không sao tránh khỏi.

Nhật Bản và Trung Quốc dần dần đã rõ cơ hội đó, nên Nhật Bản đã cho nhiều người sang các nước phương Tây du học, đồng thời để dò xét tình hình. Hiện có một hoàng tử và 35 người cùng đi với một linh mục mới đến Ba Lê và đã thiết lập ở đó một Đại học xá để phái người sang học. Nhà Thanh Trung Quốc trước đây có mời hai người Pháp ở Gia Định sang làm việc tại Thượng Hải (trong lúc chúng tôi đi Pháp). Nay họ lại đặt một viên quan tại thành Ba Lê (Giám mục Hậu có tiếp chuyện với viên quan này) để trông coi việc mua và chuyên chở máy móc về nước. Viên quan này được Triều đình nhà Thanh cấp lương mỗi năm 15 vạn quan (Viên quan này nay đã về Bắc Kinh). Họ còn mời người phương Tây đến thiết lập một xưởng máy lớn tại tỉnh Giang Tô. Thanh triều xuất cho những người này 25 triệu quan tự do sử dụng, lại mời các học giả phương Tây đến Bắc Kinh, như việc Khang Hy ngày xưa dạy các môn thiên văn, địa lý, cách trí v.v... và cho tranh luận so tài với các văn thân Trung Quốc. Vua Thanh hiện có ra một đạo dụ rằng: “Nhiều văn nho cho việc học người nước ngoài là sỉ nhục. Còn theo trẫm thì không bằng người ta mới là nhục. Nếu học người mà bằng được người mới tỏ ra mình cũng có tài không thua gì người, khiến người không dám xem khinh mình, như thế có gì là nhục? Nếu không học kẻ dưới để cho người ta mãi mãi đem tài trí kiêu ngạo mình, thử hỏi đàng nào xấu hổ hơn!”. Trong đạo dụ ấy có dẫn rất nhiều sự lý để khuyên răn, chỉ tóm tắt đại yếu như vậy.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:31:47 pm

Vừa mới sắp sửa mở trường dạy học, các văn thân đã nhất tề dâng sớ lên nói: “Đường đường một nước Trung Quốc mà không có nhân tài làm thầy được hay sao phải đi rước người Tây dương về làm thầy mình, không sợ thiên hạ chê cười?” Triều đình trả lời: “Đã nói thế tức cũng có tâm huyết. Vậy một mặt cho những người trong liên danh dâng sớ ấy cứ mở trường quy tụ học sinh, dạy dỗ theo lối cũ của Trung Quốc. Thầy trò được cấp bổng y như trường kiểu phương Tây. Nhất thiết phải tiến hành không được rút lui. Một mặt mời các học giả phương Tây mở trường dạy theo phương pháp mới. Mỗi năm họp học sinh hai bên lại để khảo sát sự hơn kém”.

Ngoài ra nhà Thanh còn mời các kỹ sư phương Tây đóng thuyền máy lớn, cho người Hoa đi theo để học tập. Đó là những công cuộc chấn hưng của nhà Thanh hiện nay như vậy. Có thế mới hợp với cái lẽ tùy thời thay đổi cho đúng đường lối vậy.

Xưa nay phương Đông chưa nước nào ngạo mạn tự túc, chê khắp thiên hạ là mọi rợ như nước Trung Quốc đã ngạo mạn. Thế mà nay họ đã bác bỏ luận điệu của các nhà Nho xưa, chẳng đếm xỉa lời nói của người thời bấy giờ, hăng hái tu chỉnh được như thế, là vì hiểu rằng đối với dân chúng chỉ có thể cùng vui hưởng khi thành công, chứ không thể cùng mưu tính lúc mới bắt đầu được. Hơn nữa tình thế đã đến lúc không thể không làm. Nếu biết sẽ phải lệ thuộc người, bị người sai khiến, thì chi bằng hãy đãi họ như khách. Nếu không chịu coi nhau như chủ khách, chắc chắn sẽ bị người sai khiến. Chỉ có một trong hai trường hợp ấy thôi.

Phàm kẻ có trí trong thiên hạ là người không phải không có lầm lạc ban đầu, mà là người biết thay đổi hành động, không phải không có sai lạc, nhưng biết sửa điều sai thành đúng đắn, không xấu hổ vì phải sửa đổi cái cũ, mà xấu hổ vì không làm được điều gì mới, không nhìn lui dĩ vãng, mà chuyên mưu việc tương lai, không nghĩ đến bảo toàn tên tuổi riêng mình, mà lo ích lợi chung cho đất nước. Thế mới gọi là trí. Nếu sợ rằng trước kia chủ trương sai lầm mà nay phải sửa đổi công việc thì sẽ bị người chê cười nên xấu hổ không làm, thế là không biết chính vì không chịu thay đổi chủ trương mới phải mãi mãi cam chịu sai lầm. Như vậy có đáng hổ thẹn hơn không? Chính vì vậy mà nhà Thanh đã tỉnh ngộ, mạnh mẽ, gấp rút tiến hành theo đường lối mới.

Những điều trình bày trong nửa đầu của đoạn trên là những điều cuối trong bài “Phân hợp luận” của tôi. Nay xin nói thêm về tình thế cấp bách hiện thời để thấy những bọn âm mưu dòm ngó nước ta đã từ bốn phía kéo đến rồi. Thật là nguy cấp! Tuy nhiên, nếu ta đón trước thời cơ làm hết sức mình cũng có thể cứu vãn được.

Vì vậy tôi xin kính cẩn đem một vài điều trong bài Tế cấp luận trình bày sơ lược như sau:

Điều thứ nhất: Xin gấp rút sửa đổi việc võ bị.

(Mười khoản dưới đây so sánh sự khó và dễ giữa văn và võ. Đó là nói chung các nước chuộng võ chứ không phải chỉ riêng nước ta)

Việc võ thực là rất khó! Học khó, hành khó so với văn gấp mấy lần. Xin phân biệt như sau:

1. Cái khó của môn học này là người học võ học các sách binh thư đồ trận. Học sách xong phải thể nghiệm tập tành. Học cái gì tập luyện cái nấy. Óc phải sáng suốt, cái nhìn phải nhanh như thần mới nắm vững được cốt cách mau lẹ. Không như phép làm văn, câu nào chữ nào thấy không xếp đặt được thì tìm chữ khác câu khác điền vào.

2. Kẻ học võ học các phép động tĩnh đánh đâm đúng chân truyền mới không sai khi ứng dụng. Không như kẻ tập văn chương trau chuốt lời suông chuyện cũ, du di chữ nọ xọ chữ kia.

3. Kẻ học võ đối với những nơi hiểm yếu có tính cách sinh tử, những hình thế có tính cách quyết định thắng bại, phải giả tạo hiện địa, lập trận đồ, đích thân luyện tập (binh pháp phương Tây như thế) mới thể nhận được rõ ràng. Không như kẻ học văn chỉ nghiên cứu sách vở trên mặt giấy mà thôi, không thể nào xuất thần trở lại cái thế giới thượng cổ để khảo sát việc xưa.

4. Kẻ học võ quan sát thành lũy đồn bót xem mặt nào có thể đánh được giữ được, hướng nào có thể ra được vào được, phải chính mắt xem xét rõ ràng hình thế địa lý và ghi nhớ trong lòng (võ quan phương Tây như thế). Không như kẻ học văn làm thơ phú ca điệu, có thể thả tâm hồn vào cái thế giới mông lung hoảng hốt.

5. Những ai học võ đều phải sử dụng khí giới, biết nghệ thuật chế tạo, ý chí sức lực hết sức nhọc nhằn (Người phương Tây cho điều này là quan trọng), phải suy lường tính toán mới quen thạo được. Không như văn chương, một cây bút, một tờ giấy, nằm ngửa trên giường cũng làm được.

6. Những ai học võ là theo cái nghiệp xung phong hãm trận, vào sinh ra tử. Cho dù chưa xảy đến cho mình nhưng trước sau không sao tránh khỏi. Tinh thần của họ dũng cảm thay, nhưng về tình cảm họ không khỏi lo buồn. Còn kẻ theo nghiệp văn tiến thủ được thì tốt, không cũng vô hại, chẳng gặp một sự hiểm nguy nào. Đó là chỗ khác nhau về tâm tình buồn vui của hai bên.

Sáu điểm trên mới nói về thời kỳ học tập, nếu luận về thực hành lại càng khó hơn nữa.

1. Phàm ở trong hàng ngũ, khi đi hành quân ai cũng phải vai đeo vác những vật nặng nề. Lại phải đi tuần canh gác, ngày có việc ngày, đêm có việc đêm, không lúc nào rảnh, người nào việc nấy rất mệt sức nhọc lòng. Không như văn, có việc thì làm, không việc thì thôi. Có việc nhưng tạm gác lại cũng được, hay chước giảm mà hóa ra không phải làm cũng được. Chỉ vận dụng miệng lưỡi, trí óc, cho dẫu có nhọc cũng chỉ nhọc tâm suy nghĩ mà thôi.

2. Con nhà võ khi ra trận tên đạn trước mặt, gươm giáo sau lưng, tiến lên thì chết vào tay giặc, thoái lui thì luật nước không cho. Lệnh xuất quân đã ban thì quên nhà, trống thúc quân đã giục thì quên mình. Tranh tính mạng trong tích tắc, định thành bại trong từng giờ. Không như con nhà văn: Hoa rụng nơi tụng đình, đàn cầm treo ngang án sách, cứ theo giờ giấc mà giải quyết công việc, theo hoàn cảnh mà xử lý, trưa ăn, tối nghỉ, hết rày còn mai, việc được thua thì quyết định không đầy một khắc, còn việc thăng giáng thì kéo dài đến vài ba năm, dễ bề chạy vạy.

3. Con nhà võ bắc cầu đắp đường, dựng đồn lập lũy. Công việc của họ làm thiên biến vạn hóa. Nương theo địch mà tìm cách thắng địch, tùy theo địa thế mà lập cách phục binh, xuất quỷ nhập thần không theo một phương thức sẵn có hay một khuôn khổ nhất định. Cho nên cái kỳ diệu của nhà binh không thể báo trước được. Còn con nhà văn có thuế thì thu, có việc thì xử; có lệnh vua thì thừa hành, có lệnh quan thì tra cứu. Phàm làm việc gì cứ theo luật quyết định là xong cả.

4. Kẻ theo nghiệp võ khi lâm trận, bốn bề đều là người tranh giành với ta, là cừu địch của ta, nghịch lại ta, muốn giết ta. Nếu vì việc công mà sai sẩy thì cái chết đến sẵn trước mặt, bao nhiêu công lao đều bỏ hết, cả đến tính mạng cũng hoàn không, nói gì đến đất nước. Chính vì thế người xưa đã bảo rằng “Kẻ làm tướng xem tấm thân thật chẳng khác một cơn say” vậy. Đó là những gian nan quan hệ biết chừng nào? Kẻ theo nghiệp văn đi đâu đến đâu cũng thấy toàn là con dân của mình, chính quyền của mình, thường tình thuận cảnh, nhất hô bách ứng, sai bảo dễ dàng. Có ra lệnh cho cấp dưới thì đó cũng là bổn phận cấp dưới phải làm, mà làm cũng dễ. Ban ngày đi đâu cũng chẳng e ngại, tối ngủ yên giấc suốt đêm. Dù có vì công việc mà mắc tội phần nhiều cũng được khoan hồng chưa đến nỗi tan thân mất nhà.

Mười khoản trên đây, mới nói đại khái cũng đủ thấy cái học và hành của đôi bên khác xa nhau như thế nào. Nếu nói về công lại còn quan trọng hơn nữa.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:32:48 pm

Điều làm cho bọn giặc loạn sợ là uy vũ. Người xưa có nói: “Kinh Xuân Thu san định xong làm cho bọn tôi loàn con nghịch phải khiếp sợ”. Nay thử đem Kinh Xuân Thu treo trước cửa bọn ấy xem chúng có khiếp sợ không? Nước ngoài sở dĩ không dám xâm phạm ta là vì ta có vũ lực mạnh. Người xưa bảo: “Một lời nói hơn cả mười vạn quân”. Nhưng nếu ta không có uy danh làm cho địch nể sợ trước, mà chỉ ngâm một bài thơ, nói một câu chữ có thể đuổi được giặc ư? Cho nên khi quốc gia hữu sự, mà không có vũ công trấn áp thì cả quốc gia, quan quyền, sĩ dân, chính trị, pháp luật phải dâng hết vào tay địch. Chừng đó liệu bên văn có cai trị được không? Thử xem Gia Định ngày nay thì rõ. Bọn chúng tham khảo áp dụng luật lệ sẵn có của ta mà cai trị sai khiến dân ta. Thế thì chính trị luật lệ của ta có hay ho cũng chỉ để giúp cho giặc mà thôi. Phải có vũ lực như thần mới đuổi được chúng. Như Tín Địa ở Tây dương dùng chiến thuật tập kích thắng giặc, Mã Thần ở Đông dương dùng thuốc độc giết giặc, Tô Lộc (Sulu, quần đảo giữa Phi Luật Tân và Bornéo) ở Đông dương liều sống chết với giặc mới bảo tồn con cháu, thi hành nền chính trị của ta được.

Bao nhiêu đó đủ thấy rằng cái lễ nhạc của bên văn phải chờ có vũ lực trước rồi sau mới thi thố được. Văn ví như chiếc áo đẹp, vũ ví như khí huyết cường tráng. Người không có khí huyết thì chết, có áo tốt cũng vô dụng. Cho nên theo chế độ làm quan ở phương Tây, bên văn ngày nào cai trị dân thì ngày ấy là quan. Một đàng quan là do dân lựa chọn người đức hạnh cử lên, một đàng do những người ở các khoa ra ứng cử. Bất luận ở cấp bậc nào, khi Triều đình cho về hưu thì cũng trở lại làm dân mà thôi. Là vì việc hành chính chính trị đã có quy tắc định sẵn cứ theo đó mà thi hành, không có gì gọi là lập công cả. Nếu có làm được gì lợi ích, sửa chữa tệ hại, thì cũng là việc bình thường, như những người không làm quan ở nhà kinh doanh sự nghiệp mà thôi, không phải do mạo hiểm lập được công lao gì cả. Còn bên võ nếu lập được một công với quốc gia thì được định thăng một cấp, hưởng mãi số lương cấp bậc đó. Giả sử sau có tội cũng chỉ phạt tội đó và không cho thăng cấp mà thôi. Còn lương bổng cấp bậc cũ không bị nhà nước tước bỏ. Bởi vì ngày trước đã đổi sinh mệnh mà lập nên công.

Các nước phương Tây quý trọng võ công như thế mới có thể giong ruổi khắp nơi, ngang dọc bốn biển. Công lao nặng thì báo đáp được nhiều.

Nay nước ta nếu không gấp rút sửa đổi theo mới, khiến việc giáo dục võ bị ngày một suy, lòng người ngày một yếu thì lấy gì chống giặc bảo vệ nhân dân?

Nay tôi xin hãy đem các sách binh thư xưa nay (tôi có chút am hiểu việc này) ra xét lại. Phàm sách nào, chỗ nào nghĩa lý không xác đáng, khí giới lỗi thời, kỹ thuật không hiệu nghiệm, địa thế không cho phép, khí hậu không hợp và tất cả những gì thi hành sẽ không kết quả phải bỏ hết, chỉ lựa lấy những gì hợp với ngày nay, liên quan đến tình thế nước ta, mỗi mỗi đưa ra thực nghiệm rồi soạn thành sách đưa ra học tập. Tôi đã đọc nhiều binh thư và các sách linh tinh khác nói về việc binh, mới biết phép chiến đấu xưa nay khác nhau xa lắm. Chỉ có một điểm về mưu trí trong sách xưa là còn có thể đem ra biến hóa mà dùng cho ngày nay mà thôi. Vì vậy phải gấp rút soạn lại để khỏi rối trí người học. Thêm vào đó hãy mời những bậc có tên tuổi, những người có tài hay chước lạ, có kỹ xảo, biết quyền biến, cùng nhau khảo cứu viết phụ thêm vào sách ấy. Ngoài ra cũng phải mua các sách binh pháp thủy bộ của phương Tây dịch ra để tham khảo học tập. Đồng thời rước những người phương Tây giỏi về quân sự (việc này khi về sẽ trình sau) phối hợp với võ quan ta huấn luyện binh sĩ mỗi ngày. Còn binh pháp của ta thì sẽ thong thả dạy riêng ở một nơi khác. Đối với quan võ từ cấp bậc ngũ trưởng trở lên bắt buộc phải biết chữ để đọc binh thư. Mỗi tháng ra một đề bài câu hỏi gởi đến các trường võ bị hàng tỉnh để sát hạch. Ví dụ như:

1. Giả sử địch đánh thành, ta giữ hoặc địch giữ thành, ta đánh. Nếu địch dùng phương pháp này, ta phải dùng phương pháp nào để phá? Địch dùng phương pháp kia, ta phải đối phó bằng phương pháp nào? Về phương diện đánh thành giữ thành có rất nhiều phương pháp và kỹ thuật nay chưa đề cập được (Chờ sau khi thi hành, tôi sẽ lần lượt soạn gởi).

2. Vẽ bản đồ trận thế khi lâm trận (Phải hiểu rõ địa lý của binh pháp mới ra đề này được). Giả sử ta và địch đang ở những điểm cao thấp, xa gần, trước sau, tả hữu, núi đồi hoặc thung lũng, đồng trống hoặc sông hồ ra sao và như thế thì phải bố trí tính toán như thế nào?

3. Về chiến lũy đồn bót: Chỗ nào có thể lập đồn trữ lương, dựng trại lính, chỗ nào có thể phục binh, chỗ nào đặt ổ súng, chỗ nào có thể tiến lùi, ra, vào? Địa hình như thế nào thì lập đồn hình tròn, hình ngôi sao, hình mũi nhọn, hình chữ khẩu, đồn gài bẫy, đồn tạm, đồn di chuyển, đồn dài, đồn có góc, đồn nghiêng, đồn hai tầng, đồn ba mặt, đồn để phóng hỏa đốt địch, đồn để địch sập hầm, đồn ở biển, đồn trên núi, đồn ở hồ, đồn ở sông, đồn ở ao, đồn ngoài thành, đồn hình cái hoa, đồn có hai lối đi, đồn có đặt máy nơi vách (Các loại đồn trên đây tôi dùng theo binh pháp mới). Ngoài ra các loại đồn vẽ trong sách cổ, hãy nhận xét xem cái nào ngày nay còn thích hợp, mỗi mỗi phải hỏi rõ ràng để xem trình độ học thuật của họ đến đâu.

4 Về tình hình địch và thế lực binh lính: Hai điều này biến hóa đổi thay luôn không nhất định và do người làm tướng vận dụng trí tự xét đoán. Tuy nhiên cũng nên hỏi qua để đoán xem ai có tài năng làm tướng sau này.

5 Nên gấp rút phái người giỏi về địa lý binh pháp đi khắp trong nước để vẽ rõ bản đồ từng nơi một. Cũng phải lựa ra trong các sách viết về hình thế nước ta từ trước đến nay, trong đó có mô tả về núi sông hồ biển suối nguồn thung lũng đồng nội, những hình thế lồi lõm cao thấp, những địa thế có tính cách sống chết, những chỗ hiểm nghèo, nơi quay mặt, chỗ dựa lưng (Tôi thấy lối vẽ bản đồ của ta thật quá sơ sài xem bản đồ ấy không bằng đích thân đến nơi thấy tận mắt), đồng thời mô tả sự thay đổi về khí hậu, thời tiết ráo hay ẩm, đó cũng là những yếu tố quan trọng đối với việc hành quân. Phải vẽ và chú thích rõ ràng rồi căn cứ từng khoản mà khảo sát kỹ lưỡng.

6 Phải đem những sách về binh mưu kỹ thuật lựa lấy những cái thích hợp với binh pháp đem ra biến hóa mà áp dụng thử. Bởi vì tướng giỏi xưa nay không ai không tinh thông mặt này, nên phải đem ra khảo hạch để mở rộng thêm mưu trí.

Sáu khoản trên đây là những điều huấn luyện quân sự lúc bình thường. Còn khi ra trận, binh sĩ có vui vẻ hăng hái hay không là do lúc bình thường ta có tạo được tình cảm gắn bó ân nghĩa với nhau hay không. Nếu binh sĩ không có tinh thần chiến đấu thì dù có những phương pháp hay như trên cũng trở thành bánh vẽ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:33:43 pm

Tôi thấy các binh sĩ phương Tây đã giỏi về quân sự mà trước khi hành quân ai nấy nhảy nhót reo hò như sắp được đến nơi vui sướng. Tinh thần binh sĩ như vậy làm gì không chiến thắng? Bởi binh lính của họ đều trẻ tuổi, chưa có gia đình, tính tình hiếu động không quyến luyến vợ con. Nếu bị thương hay tàn phế sẽ có những ngôi nhà xinh xắn cho họ ở. Như tại thành phố Ba Lê có một ngôi nhà đồ sộ rất đẹp ở đó có một cái tháp cao hơn tất cả các tháp trong thành phố, cả tháp đều mạ vàng. Ở các thành phố khác cũng có những ngôi nhà như vậy. Các tráng binh tại ngũ đều ở trong những cơ sở kiến trúc đẹp đẽ chắc chắn không khác nào dinh thự của các đại thần trong sáu Bộ. Ngoài ra còn có vườn hoa để họ vui chơi giải trí. Ở các nước phương Tây mỗi thành phố đều có những vườn hoa như vậy. Các thương phế binh còn được cấp dưỡng ăn uống đầy đủ và được hưởng lương suốt đời y như lúc còn tại ngũ chưa bị tàn tật vậy. Có thừa thì đem chu cấp cho cha mẹ anh em của họ. Nếu ai có gia đình mà tình nguyện nhập ngũ thì lương cao hơn để có thừa mà phụ cấp cho vợ con họ. Tôi thấy binh sĩ của họ lương cao nhất là 15 đồng, thấp nhất là 4 đồng một tháng. Đó là không kể hàng ngày, theo tiêu chuẩn, được cấp phát nào rượu, thịt, bánh, đường, trà, càphê, muối, dầu, dấm, rau quả, mỡ. Nếu vì nước hy sinh, vợ sẽ được lãnh lương chồng suốt đời. Về cư xử ngoài kỷ luật nhà binh nếu tướng tá sĩ quan nào lạm dụng quyền hành sỉ nhục hà hiếp ngược đãi binh sĩ, binh sĩ có quyền giết chết. Xem thế đủ biết binh sĩ được ưu đãi là dường nào? Tướng quan khi hành quân ra trận thì đi trước binh sĩ. Có ai đau ốm thì họ chia ngọt sẻ bùi, tình đối xử gắn bó hơn sơn keo. Chỗ ở của sĩ quan cũng như chỗ ở binh lính. Sĩ quan còn nhường chỗ tốt cho lính, chăm nom chăm săn sóc lính còn hơn bản thân họ. Đó là những điều chính mắt tôi trông thấy. Ngoài ra còn nhiều ưu điểm không thể kể hết.

Đối với binh lính còn như thế thì đối với cấp tướng tá sĩ quan ân tình đối xử của quốc gia còn gấp bội hơn nữa. Chuyện đó không cần phải nói. Như lần này hai phái viên trông thấy có một viên quan ba từ Gia Định về Pháp. Thuyền thiếu một buồng khiến viên sĩ quan nằm ngồi không được thong thả. Chủ thuyền thấy vậy cấp thêm cho viên quan nọ mỗi tháng 60 quan, họ giữ lễ mà đối xử như vậy đó.

Quan võ mãn hạn về hưu cũng được ăn lương như còn tại chức. Nếu vì nước hy sinh cũng vậy. Quan văn quan võ mãn hạn về hưu đều y theo lệ này. Ý cho rằng họ sẽ sống nhờ đồng lương không phải cấy cày vất vả. Các quan trong lúc còn khỏe mạnh chấp hành mệnh lệnh của quốc gia, nay đi xứ này mai đổi sang xứ khác, không kể đến thân mình nói gì đến việc mưu sinh để nuôi vợ con. Tất cả chỉ nhờ vào đồng lương mà thôi. Dầu là kẻ làm thuê đi nữa đã có cơm ăn còn phải có tiền mướn huống chi là quan. Nếu mãn hạn về hưu, là lúc tuổi già sức yếu, mà quốc gia ruồng bỏ họ như thứ ngựa già trâu yếu, thì còn khuyến khích được ai ra làm việc nữa?

Phàm các quan văn cũng như võ ai có tội gì thì phạt tội đó, chứ không trừng phạt bằng lương bổng. Đại phu không bao giờ bị ghép tội hình, không làm khổ nhục thân họ. Quan chức phần nhiều được thăng hơn phạt giáng. Nếu có lầm lẫn thì cho đái công chuộc tội, trung tín và trọng lộc như vậy đó.

Quan chế nước ta phần nhiều ngược hẳn lại, đối với binh lính lại còn tệ hơn. Cấp dưỡng cho người ta không đủ sống một cuộc đời bần hàn, thế mà đòi hỏi người ta phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng để báo đền! Đối xử với người ta như tù đày nô lệ mà muốn người ta xả thân xem nhẹ cái chết! Tục ngữ có câu: “Nhất tử nhị binh” (Một là chết hai là làm lính). Câu nói đó đủ cho thấy công luận trong dân gian như thế nào, không cần phải chỉ ra từng việc.

Nay xin Triều đình hãy sửa đổi dần dần, chọn lấy tráng binh tuổi từ 20 trở lên chưa có gia đình. Ngoài ra phải thải bớt binh lính già yếu. Bớt đi một nửa số lính, lấy số lương cấp gấp đôi cho số tráng binh còn lại.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:39:18 pm

Cứ xem năm trước Anh Pháp đánh Bắc Kinh chỉ có hai vạn năm nghìn quân, thì đủ biết binh cần tinh nhuệ chứ không cần nhiều. Người xưa nói: “Đông một ngàn người mà không thiếu lương, muôn người tụ lại mà không ai không có việc”. Vậy hà tất phải cho đông? Phàm binh lính hãy để cho họ chuyên luyện tập, mà không sai làm những việc tạp dịch khác, như binh lính các nước phương Tây vậy. Nếu nhà nước có công việc gì cần thực hiện, phải dự trù trước một phần ngân khoản, rồi bắt các dân binh và bọn tù làm. Ví dụ như trước đây xã thôn có 60 lính thì nay đã giảm đi một nửa số cho về làm dân binh. Những người này ngày thường ở nhà chuyên lo việc làm ăn, tuy nhiên cũng được chia thành đội ngũ có tên trong sổ bộ. Các đội trường, ngũ trường chỉ đặt tên chứ không có quyền không hưởng lương. Ngày nào có việc công thì các đội ngũ dân binh được gọi ra lãnh lương làm việc, xong việc lại hoàn dân. Nếu có nhu cầu quân sự thì gọi ra làm công việc vận tải khiêng vác. Còn binh lính chính quy thì hàng ngày chỉ chuyên lo luyện tập quân sự để ra trận tác chiến mà thôi.

Về lương thực cũ xin đổi dần bán ra cho dân, đến mùa lúa mới thì mua vào. Nếu để binh lính ăn gạo cũ sẽ thiếu bổ dưỡng mà còn sinh bệnh. Việc bán mua như thế này có lợi lớn. Vì nhân lúc giá gạo cao mà bán ra nhà nước sẽ có lợi, lúc gạo rẻ mua vào lính sẽ được ăn gạo ngon. Hơn nữa khi gạo cao bán ra mà giảm giá chút ít cho dân thì dân cũng được lợi.

Về sĩ quan điều khiển cũng phải giảm bớt nửa số. Bởi vì điều cần yếu là binh lính phải một lòng tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, chứ không cần phải nhiều sĩ quan kìm chế họ. Như binh lính Nhật Bản, binh lính tự dàn trận tác chiến mà không đợi phải có người sắp đặt cho. Quan võ cần giỏi chứ không cần nhiều người dở. Nay một vệ sửa đổi lại còn một ngàn người, một đội còn một trăm người và chỉ cần một chánh một phó quản vệ cũng đủ điều khiển. Bởi vì quan võ có tài dù nhiều việc cũng thừa thì giờ giải quyết, còn bất tài thì chính bản thân cũng không sắp xếp được, nói gì đến việc quản lý điều khiển người khác. Cho nên phải thận trọng lựa chọn quan giỏi và thải bớt quan dở, để lấy số lương của hạng này cấp thêm cho các quan giỏi như thế mới thỏa đáng. Nếu những quan không có khả năng, dù họ là con cháu công thần, con nhà tập ấm, hoặc do gặp may mà có công chứ không phải do thực tài, thì chỉ nên cho họ tước lộc ngồi không mà hưởng thôi, đừng để lạm quyền hành sự, di hại sẽ không ít.

Đến như người tướng điều khiển quân binh là hạng người rất khó kiếm. Bởi vì đó là hạng người có trí thuật vượt hơn người thường, không thể chỉ khảo hạch một lần mà phải hết sức phân biệt nghiệm xét mới được. Đúng như người Nhật nói: “Những nghị luận trong thời bình không đủ để đánh giá người anh hùng trong thời chiến”.

Những điều kể trên là những điều cần yếu, phải học tập theo cách đó mới đủ sức điều khiển quan binh, và Triều đình cũng phải hậu đãi quan binh như thế để sử dụng họ khi hữu sự. Còn về việc chỉnh đốn uy thế quốc gia, xin có mấy khoản sau đây:

1. Phải lần lượt xem xét các địa hình, chuẩn bị xây đồn đắp lũy để khống chế những chỗ quan yếu (khoản này tôi cũng khá hiểu). Trước tiên từ Kinh thành trở ra Bắc đến các cửa biển Quảng Yên, phải xem xét thật rõ địa hình theo lối mới, xây cất đồn lũy theo kiểu mới. Lại phải chở đá về xây hai bên cửa biển theo hình quanh co và chất đá cho nhiều, để dành dùng khi hữu sự. Về mặt Bắc giáp với nội địa Trung Quốc tại những nơi có cửa ải, có các nhánh sông từ nội địa Trung Quốc chảy vào nước ta phải cất thêm đồn lũy để ngừa loạn đảng trở về. Những đồn lũy mới cất phải có lính ngày đêm canh gác cẩn mật như là có giặc đến vậy. Bởi vì cẩn thận là phải dè dặt trước, chứ khi hoảng hốt thì không còn cẩn thận được nữa. Nếu không phải quan quân giữ đồn tuyệt đối không ai được ra vào. Các quan quân ở trong đồn khi có việc cần tiếp xúc người ngoài, dù bà con bạn bè cũng chỉ được tiếp nơi nhà tạm ở ngoài đồn mà thôi. Mọi sự giao dịch khác cũng vậy. Còn bên trong đồn phải trồng cây cho nhiều theo phương hướng hình trạng của binh pháp, chỗ nào đọt cây nhô lên thì chặt cho bằng ngang với mặt tường của đồn... Tại những nơi gần cửa biển, mặt sau các đồn bên trong và đồn bên ngoài, mặt quay ra biển phải trồng chuối cây thành hàng thật nhiều thật dày mới được, lại phải trồng lau xen kẽ vào hoặc có thể cắm cây để cho những loại dây leo bò lên mới tốt.

2. Phải chế tạo các loại vũ khí mới lạ có thể đối phó được với giặc, cất vào kho vũ khí để sử dụng khi hữu sự. Xưởng chế tạo phải giữ nghiêm mật. Nếu có những người trí thức chuyên môn vẽ kiểu các loại đồn thành hay khí giới, phải đem thí nghiệm ở nơi bí mật. Còn về quân sự thông thường thì cứ diễn tập công khai, dân chúng có thể được học tập để tuyển dụng sau này.

3. phải tích trừ vật liệu. Đồng thời trong tỉnh thành nơi nào có đất trống thì trồng nhiều loại cây danh mộc để lấy gỗ. Trồng khắp hết trong thành càng tốt. Ở Kinh thành phải trồng cây hai bên đường cái; mỗi cây cách nhau một trượng. Trong vườn các dinh vệ thì cứ một trượng rưỡi vuông, bốn góc trồng bốn cây như hình bàn cờ, chọn trồng loại cây nào vừa ăn được quả, vừa dùng được gỗ. Còn các thứ cây tạp nhạp lau lách chặt bỏ hết. Bởi vì Kinh thành là nơi dân cư đông đúc, do đó có nhiều thán khí uế độc, dễ sinh bệnh tật. Cây cối có tính hút thán khí mà nhả ra dưỡng khí, nhờ đó mới có sự điều hòa khiến tử khí trở thành sinh khí, bổ túc cho nhau. Hơn nữa một khi có nạn nước lửa pháo đạn, cây cối còn che chở được, có tác dụng lớn về mặt quân sự không thể nói hết. Vì vậy phải gấp rút trồng cây để mười năm sau mà dùng.

4. Nhà cửa trong Kinh thành bất luận là của quan hay dân đều phải xây gạch lợp ngói. Vả lại còn phải sắp xếp lại phương hướng cho hợp với binh pháp (khoản này tôi có biết qua). Như vậy mới có ích lợi lớn. Như các nước phương Tây dùng nhà cửa làm thành. Đường sá qua lại chằng chịt. Ở những chỗ quan yếu có pháo đài nhỏ. Quan dân nhờ đó dễ phòng thủ. Một khi có biến, dân chúng đều rút vào nhà hết. Có ai chạy lộn xộn ngoài đường thì đó là quan binh hoặc quân loạn nghịch mà thôi nên dễ kiểm soát tầm nã. Chứ không như thành phố của ta, nhà cửa cất lộn xộn chẳng theo hình thế trật tự gì cả. Lại còn đường mòn ngõ tắt cây cối bụi bờ, bốn phương tám mặt đâu cũng có thể ẩn núp được. Ngoài ra trong thành ngoài thành nào tường nhỏ tường lớn, bờ đất, gò đống chỉ với tay cũng có thể trèo qua được. Xem thế tuy trông có vẻ nghiêm ngặt mà kỳ thật sơ hở vô cùng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:42:21 pm

Tôi thấy các nước phương Tây, ở các cửa biển và tỉnh thành, Kinh thành chỗ nào cần có tường hào đều xây đào ngay thẳng chỉnh tề. Đường sá cũng thế. Mới trông qua tường không có thứ tự nhưng xét kỹ thì có hình thế rất quan trọng, dẫu không người mà cũng như có người vậy. Tất cả những nơi như cung vua, dinh quan, kho quân sự, cổng thành, đường sá và những chỗ quan yếu trong thành phố cũng như ngoài thành cần phải phòng thủ thì không kể mưa gió ngày đêm canh gác nghiêm nhặt như là đang có giặc bao vây tấn công vậy. Còn những nơi qua lại tự do tuy thật giản dị, nhưng khi có động tĩnh thì chỗ nào cũng có lính, nghiễm nhiên nắm thế chủ động một cách vững vàng. Thế là đơn giản mà rất nghiêm, nghiêm mà thật đơn giản. Đó là những gì tôi đã trông thấy, đã tâm đắc và muốn học hỏi. Bởi vì tôi cũng có nghiên cứu binh pháp nên phàm thấy cái gì tôi đều nhận xét kỹ lưỡng về hình thế bài trí của nó. Nhờ thế tôi thấy được cái mà người khác không trông thấy, chứ bằng như những người du lịch chỉ biết thường ngoạn.

Tôi còn thấy cung vua dinh quan của họ có lối phân bố hình thế rất khéo. Dẫu có kẻ thừa sơ hở mà vào cũng chưa dễ vào ngay bên trong được. Còn ở trong nhà ra sức chống cự thì dẫu có súng đạn cũng chẳng làm gì được. Không như dinh phủ trong thành của ta, lên cao mà trông thì rõ không khác trong lòng bàn tay. Kinh thành mà còn như thế nói chi đến những nơi khác.

Con người ta mặc dầu đã có tài trí tâm lực để đem ra thi thố mà hưởng dụng nhưng cũng phải có những khí cụ bên ngoài để bảo vệ, mới có thể an định tâm thần mà thi thố kỹ xảo được. Như bài nghị hòa năm trước tôi có nói: “Phải có kỹ xảo cao mới sinh dũng cảm”. Nếu tay không đánh cọp mà thắng, đó chỉ là điều may chứ không phải là đường lối vạn toàn. May rủi là điều không thể đem bất cứ việc gì phó thác được, huống nữa là việc quân sự hết sức quan trọng, huống nữa là Kinh thành, sách lược vô cùng quan trọng.

Vậy xin chỉnh đốn dần dần bằng cách vận động các nhà giàu bỏ tiền ra cất nhà tại những nơi cần xây cất trong Kinh thành. Cách xây cất như thế nào phải do sở quan vẽ kiểu. Ai cất được 50 gian trở lên sẽ được thưởng. Nếu góp vốn cất được nhiều nhà, sẽ xét theo số lượng nhiều ít mà được thưởng. Chủ nhà được quyền cho người thuê ở. Thể lệ thuê mướn nhà cửa sẽ do Bộ ấn định như mỗi gian nhà mỗi năm giá tiền thuê bao nhiêu, phải nạp thuế bao nhiêu (Các nước phương Tây lấy thuế này để chi phí cho các chương trình kiến thiết trong thành phố) tùy theo 3 hạng nhà: Hạng nhất, hạng nhì, hạng ba. Còn tất cả nhà tranh, dầu của ai, đều phải dỡ bỏ hết.

Đường sá, cầu cống, chợ búa bên trong và bên ngoài Kinh thành, tất cả phải chỉnh trang lại. Bởi vì những cảnh tượng u ám bốn chung quanh làm ô nhiễm khí hậu ảnh hưởng đến tính tình con người, khiến sinh ra lười biếng bê tha. (Lý lẽ này rất sâu xa mà chân xác. Nay chưa tiện trình bày). Phàm những chỗ nào cần phải dời đổi, nơi nào cần phải cao, thấp, rộng, hẹp, lớn, nhỏ, xa, gần, tất cả đều phải vẽ thành bản đồ rồi từ từ xét theo đó tu chỉnh để tạo cho Kinh thành một khí thế hùng mạnh. Tất cả những dân nghèo không có nghề sinh sống, cùng những khách trọ từ các tỉnh bên ngoài vào, bất luận sĩ nông công thương, nếu không có cơ sở làm ăn lâu dài đều không được ở trong thành (việc này không phải không có lý do). Xin xem các điều khoản sau, tự nhiên sẽ rõ. Còn những người buôn bán nhỏ như thuốc lá, bánh kẹo, những thứ lặt vặt linh tinh bày bán hai bên vệ đường thì chỉ cho phép vào thành sau khi trời sáng một tiếng đồng hồ và trước khi trời lặn một tiếng đồng hồ phải ra khỏi thành. Ngoài ra trong thành phải xẻ nhiều kênh rạch dọc ngang để dẫn các vật ô uế ra ngoài và còn đề phòng những việc khác sau này. Việc này cũng hợp với lý thế quân sự, có tác dụng rất lớn.

5. Phải quan sát rõ trên dưới vùng Tứ Tuyên chọn một nơi hiểm trở cất thêm một thành lớn giao một đại thần trấn giữ, rồi mở một con đường lớn theo mé núi gần phía bên trên ăn thông thẳng đến thành này.

6. Tất cả những đường thủy từ Hà Tĩnh đến Kinh đô đoạn nào chưa lưu thông được phải đào vét cho thông.

7. Khoản này có một việc quan trọng để dịp khác sẽ trình bày rõ. Giờ đây trong số các quan viên văn võ có những vị nào quê ở Lục tỉnh Nam kỳ, Triều đình phải đặc biệt ưu ái họ. Cho họ thường xuyên về quê thăm anh em họ hàng. Phải đãi ngộ họ thật thân mật nồng nàn hơn trước, khuyên bà con họ hàng của họ không nên dời nhà cửa đi nơi khác, đừng lánh đi xa.

Các khoản trên đây, ở đoạn chót khoản thứ bảy rất quan hệ đến đại thế lâu dài của quốc gia. Trong đó còn có chỗ phải kiêng dè chưa tiện nói hết. Đợi khi nào có thể nói được hoặc tình thế có thể tiến hành được, tôi sẽ trình bày rõ. Nay chỉ đặc biệt trình bày những điều tai nghe mắt thấy và phải làm như thế nào thôi. Còn như việc đo đạc hình thế, vẽ bản đồ, vẽ kiểu tôi đã trình bày trong các khoản trên, xin Triều đình cứ đưa các khoản mục ra thi hành rộng rãi chắc chắn sẽ có người hưởng ứng tham gia, đừng nghĩ rằng trong nước không có người. Việc sửa sang võ bị là như vậy.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:43:31 pm

Điều thứ hai: Xin hợp tỉnh, huyện để giảm bớt số quan lại và khóa sinh.

Phàm làm quan, cần phải thanh liêm, có tài cán và siêng năng sáng suốt mới làm tròn chức phận, lại phải khéo điều đình phân xử mới giảm bớt những phiền nhiễu cho dân. Người giỏi hành chính thì một tỉnh đối với họ cũng chỉ như một huyện, một huyện cũng như một tổng mà thôi. Còn người không khéo xử trí công việc thì dù cai quản việc nhà cũng không làm nổi, huống gì một tỉnh một huyện. Đem công việc một tỉnh lớn ra mà nói thì cũng binh, lương, thuế khóa, các ban công vụ có khác nào một tỉnh nhỏ đâu, không thêm bớt một việc gì cả. Một tờ công văn cũng có thể đi châu lưu khắp nước, kể gì một tỉnh. Hãy xem tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có thể lớn bằng một lần rưỡi nước ta. Hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây hợp lại có thể gấp đôi nước ta. Một huyện của Trung Quốc có thể tương đương một tỉnh của ta. Trên thế giới có nhiều nước phân chia tỉnh huyện còn lớn hơn cả Trung Quốc nữa. Trung Quốc có nhiều vị quan xin giảm bớt số viên chức, hợp tỉnh huyện lại, ý cho rằng nhiều quan thì Triều đình tốn nhiều lương bổng, dân gian bận rộn đón đưa, yêu sách. Lại có nhiều viên chức hiếu sự ưa moi móc chuyện nọ chuyện kia để được tiếng siêng năng, khiến sinh nhiều tệ đoan không thể kể xiết. Vì vậy mà người xưa có câu chuyện mười con dê chín người chăn, một con ngựa hai người giữ. Phủ huyện Trung Quốc lớn thế mà còn đòi cắt giảm quan lại, huống hồ là ta.

Tôi thấy các quan ở kinh thành bận rộn công việc không kể ngày đêm. Thế mà các quan ở phủ huyện thì nhàn rỗi đàn ca xướng vịnh. Hễ đi đâu thì tờ trát đi trước bắt dân chầu chực nghinh đón. Như thế thì làm sao đi vào trong dân gian tìm hiểu những u uẩn của họ được? Làm quan có đức độ biết khéo léo giáo hóa dân chúng là phải đi tuần hành trong dân gian nhưng giản dị dễ dàng cho dân. Đây mới là điều phải bắt chước người xưa vậy. Còn quan viên ta ngày nay ngồi giữa công đường ngoài cái án thư bàn độc ra không còn biết việc gì khác. Những công việc trong hạt như phong tục dân gian tốt xấu thế nào, đất đai hoang phế ra sao, lúa thóc phải tính trừ như thế nào, rừng rú ao đầm cần phải giới hạn đến đâu tất cả đều phó mặc cho mây trôi nước chảy không cần biết đến. Xưa Khổng Tử làm chức tư không, trước hết phân biệt tính chất năm thứ đất rồi lo chỉnh đốn những thói hư tật xấu trong dân gian. Ba lần khen ấp Bồ người đều khen rau ráng nhiều, ruộng nương biết sửa sang, nhà cửa chắc chắn, cây cối tốt tươi. Người làm quan thời nay ngoài các công vụ tầm thường chỉ thấy bọn văn nho ra vào tâng bốc lẫn nhau, bọn phú hào chầu chực để mượn uy cậy thế mà thôi. Có ai thanh liêm siêng năng thì họ chế nhạo rằng: “Đồ làm bộ để được tiếng tốt để cầu địa vị cao. Ta thì ba lần làm quan ba lần bị truất cũng chẳng nghĩa lý gì!” Đó là nói những phường quan lại xấu xa kém cỏi. Quan trên cách xa muôn dặm làm sao biết được sự tình. Như vậy mà phần đông cứ bảo là chính lệnh trong sáng dân chúng yên hòa. Cho nên bọn giặc cướp lén lút hoành hành, qua lại thông báo cho nhau còn nhanh chóng hơn là việc nước mà Triều đình không hề hay biết cũng phải!

Nếu Triều đình tìm được người nào có lòng ngay thực vượt hơn thường tình xin phái họ ra Bắc kỳ và vào Gia Định giả làm dân thường thăm dò dân chúng mới thấy những lời nói của tôi không phải là vu cáo mà còn thấy rõ ở phủ huyện còn trăm phần tệ độc tôn chưa dám nói ra.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:45:49 pm

Nhưng những tệ đoan trên đây nay đã thành tập quán kiên cố sâu dày khó một sớm một chiều sửa đổi ngay được. Vậy xin gấp rút xét xem địa thế, hợp hai ba tỉnh thành một tỉnh, hoặc ba bốn huyện làm một huyện, lấy số lương dư ra cấp thêm cho các quan hiện chức. Họ đã được cấp lương tiền đầy đủ, để giúp họ giữ được thanh liêm, bấy giờ nếu họ không thanh liêm thì mới có thể trách. Tôi tính lương tri huyện mỗi ngày không quá ba, bốn mạch1 như vậy nuôi một người còn không đủ huống chi nuôi một gia đình nhà quan. Đã biết rõ thiếu hụt mà cứ đem lời nói suông khuyên người ta thanh liêm, như thế là ngầm để cho người ta tham nhũng. Chẳng nghe dân gian có câu: “Chê cười mắng nhiếc mặc họ, quan ta tốt thế đấy” hay sao? Trừ những vị có đức hạnh khác thường thì không kể gì đến chức tước bổng lộc. Còn thường tình mà nói bất cứ ai tự hỏi lòng mình rồi cũng sẽ tha thứ đối với bạn đồng liêu cùng cảnh ngộ. Tôi thấy lương bổng một năm, tính hết tất cả các khoản của một Lục bộ đại thần nước ta không bằng hai ngày rưỡi lương của một nguyên soái nước Pháp. Một ngày lương của một Tổng đốc nước Anh tương đương một năm lương của một quan đại thần nước ta. Vì vậy người phương Tây có nói: “Các quan lại nước Nam trừ những người quá tham ô không nói còn bao nhiêu những người khác thường thường sau khi xong công việc họ nhận lãnh của biếu xén, tạ ơn, điều đó cũng không đáng trách”. Bởi vì có đủ cơm ăn áo mặc rồi mới nói đến chuyện vinh hay nhục, mà muôn việc ở đời cơ bản là sự nuôi sống. Nếu không đủ nuôi sống, bản thân còn không bảo tồn được nói gì đến chuyện khác ngoài bản thân. Các nước ngoài nghe quan lại nước ta lương bổng ít ỏi như vậy họ rất chê cười và tựa hồ họ không thể hiểu nổi tại sao lại có thể như thế được. Vì vậy tôi xin đề nghị lấy những của cải phù phiếm xa hoa trong dân gian để thêm lương cho các quan binh. Đó là lý do hết sức chính đáng (Các nước phương Tây cũng tăng thu bằng cách đó để cấp thêm cho quan binh). Nếu vậy mà họ còn tham ô mới có thể trách được. Còn như các thành lớn có tổng đốc trấn giữ, phải dùng phương pháp mới tu bổ lại chắc chắn để tạo sức mạnh cho cái thế chế ngự (Khoản này tôi có biết qua). Ngoài ra các thành cũ ở các tỉnh đã được sát nhập, chỉ cần đặt một võ quan đồn trú huấn luyện binh sĩ mà thôi không dự việc dân sự. Các viên chức thừa hành công vụ thuộc các tỉnh hoặc thuộc sáu bộ, phần nhiều nên lấy những người tú tài cử nhân sung vào, thải bớt người cũ cho về dân làm công dịch. Nếu còn thiếu mới tuyển lựa những thừa lại có khả năng bổ sung vào. Bởi vì cử nhân tú tài là những người được ân huệ quốc gia hơn những dân thường mà chữ nghĩa của họ cũng đủ dùng. Cho ra làm việc để họ thực hành cái sở học của họ. Nếu thật sự có tài có đức họ cũng có thể tuần tự thăng trật. Như thế một là họ có dịp tập sự việc quan, hai là họ có cơ hội đền ơn nước, được cả đôi bên. Nếu bảo họ chưa đủ thời vụ, cần phải học thêm, thế tại sao chấm họ đậu? Hay là cho rằng họ học “cổ” chưa khá, phải học “cổ” thêm nữa? Nói thế lại càng không hợp lý và làm hỏng công việc hiện tại. Tôi đã thấy nhiều quan lại nói năng hoạt bát, chuyện trên trời dưới đất thì thao thao bất tuyệt, thế mà đặt bút thảo một công văn giấy tờ gì thì phải nhờ thư lại. Thật đáng buồn cười? Phàm những gì ngày mai đem ra ứng dụng, chính là những gì ngày nay tìm tòi học hỏi. Xưa cũng thế. Còn đối với hạng người mà cái học ngày nay không đem ứng dụng được ở ngày mai là do học và hành trái ngược nhau. Vì lẽ đó phương Tây người ta chuyên học luật lệ, chính trị, thời vụ mà không dùng sách cổ.

Về án từ ở các nha sở, xin chỉ lựa những gì đáng làm án mới làm, như trộm cướp giặc giã chẳng hạn thì lập án. Còn những vụ kiện thưa thông thường chỉ cần phân xử trước mặt. Đơn từ thì viết bằng quốc âm để các thầy kiện khỏi dùng mánh khóe xảo quyệt, quan dễ thấu được chân tình. Về những tay chuyên dùng để viết văn thư tại các phòng ở tỉnh cũng như ở kinh thành, chỉ nên dùng một ít để viết các tấu sớ mà thôi. Ngoài ra các loại giấy tờ khác ai viết cũng được miễn rõ ràng đọc được thì thôi, không cần phải viết chân phương. Như thế sẽ giảm được nửa số nha lại, bớt phí tổn cho Triều đình.

Đối với các quan trong các Bộ ở Kinh thành từ chức Viên ngoại lang trở lên cần phải tăng thêm một nửa số để làm thay các công việc của Bộ. Còn các đại thần của sáu Bộ thì chỉ nắm lấy đại cương điều khiển tổng quát mà thôi. Nay các đại thần trong các Bộ cũng phải thân hành làm những việc lặt vặt không kể ngày đêm như các thuộc viên ấy. Thế thì còn đâu thì giờ rảnh rang đầu óc trong sáng để suy nghĩ sắp đặt những việc lớn. Tôi thấy các quan phương Tây, chẳng hạn như Đại học sĩ thì mỗi công việc đã có các viên chức từ tham tri trở xuống làm hết, chỉ có việc gì khó giải quyết mới trình bẩm mà thôi. Còn các quan đại thần thì chỉ hội họp bàn bạc các công việc lợi hại của quốc gia, giải quyết những việc khó khăn trọng đại nhất và quyết định các việc như ký liên minh hay tuyên chiến mà thôi.

Thể thống Triều đình của họ như thế, có đâu như các đại thần nước ta ngày nay cũng làm những việc lặt vặt ngày đêm không khác nào các viên chức nhỏ. Đây là chính thể thống của Triều đình đáng lẽ tôi không nên nói, nhưng thấy thế giới như vậy nên đã vượt phạm vi mà mạo muội trình bày sơ lược thôi. Còn nói về thể thống thì vài mươi trang giấy cũng không trình bày hết được. Nếu Triều đình cho phép, tôi sẽ xin trình bày tường tận.
_________________________________________
1. Mạch cũng đọc là Bách. Một bách ăn 60 hay 70 đồng tiền.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:51:55 pm

Về khoản “nhiêu học” 1, tôi thấy chỉ có nước ta, trên thế giới chưa từng có nước nào làm như vậy. Thế tại sao nước ta không thấy có nhiều nhân tài, còn các nước nhân tài vẫn đủ dùng? Như thế có phải là ta có thi ơn mà không được đền ơn chăng? Có lẽ các nước trên thế giới người ta cho rằng con người ai cũng tìm cầu giàu sang lợi nhuận nhưng mượn hai chữ “công danh”để che đậy cá nhân mình mà thôi. Về mặt nhà nước cũng muốn cho đẹp lời là nói “tìm nhân tài”nhưng kỳ thật là mướn người làm. Như vậy người đi học ra làm quan cũng như người ở nhà làm ăn sinh sống. Chỉ có điều là đi làm mướn thì nghe nó hèn mà không tình không nghĩa, còn làm quan thì sang quý lại được danh nghĩa đem thân giúp nước. Cho nên dù có sống chết vì nước đi nữa, suy cho cùng cũng chỉ là hành động cho bản thân mà thôi. Như Đạc Thư nói: “Đọc sách là lẽ sống của bọn học trò nho”. Đó là danh nghĩa hợp với thực tế vậy. Nếu có những người tài giỏi, ngay thẳng hiền lành, quyết tâm quyết chí hết lòng lo việc nước, đó là số rất ít. Thời Tây Hán có nhiều quan lại không xuất thân từ khoa bảng, đó là một bằng chứng.

Người đã ra làm quan thì làm việc nước, ăn lương nhà nước, lại được khỏi đi lính, khỏi làm xâu, là lẽ tự nhiên. Nhưng nếu còn đang ở nhà học tập thì chưa chắc sau này sẽ làm quan hay làm thầy thuốc, thầy bói, thầy kiện hoặc những nghề lặt vặt khác. Chính mắt tôi trông thấy (dưới đây tôi chỉ nói những hạng người học không đến nơi đến chốn chứ không nói chung tất cả nho lâm) có nhiều người khuyên nhau rằng: Hãy ráng học chữ nghĩa, dù không đỗ đạt làm quan cũng được miễn lính tráng, miễn xâu thuế, thong thả suốt đời như đàn bà! Cũng có nhiều người học mới kha khá, đã truy hoan, ngày nào cũng mài miệt trong cuộc đỏ đen, thường lui tới các chủ nợ hứa với người ta rằng: Đợi tôi dạ một tiếng trước cổng trường thi thì mọi việc giữa chúng ta sẽ tốt đẹp cả! Rắp tâm hành động như thế, rõ ràng là quân trộm cắp của công chớ còn gì? Huống chi Triều đình trọng vọng người văn học, điều này đã trở thành tập tục trong làng xóm. Do đó có nhiều xã theo sổ khóa sinh tại tỉnh chỉ một hai khóa sinh mà tại xã thì đến sáu bảy nhiêu sinh. Nhiêu dịch phải đổ thêm vào cho các dân đinh khác gánh chịu. Cho nên tiếng là trọng nho mà thật sự rất trái lẽ công bằng. Theo thống kê tỉnh Nghệ An, số khóa sinh đến vài ba nghìn người mà số nhiêu sinh trong dân chúng còn gấp bội hơn nữa. Trong số đó những người sau này có thể ra làm việc nước nhiều lắm vài ba trăm người là cùng, còn lại là khóa sinh nhiêu sinh cho đến già. Một tỉnh mà có lắm người nhàn như thế, hợp cả nước, con số sẽ đến một tỉnh nhỏ. Nếu quả có lòng theo đuổi việc học, lập chí công danh, không kể công lao phí tổn, thì sau khi thi đỗ làm quan, con được tập ấm, vợ được phong, trước làm rạng rỡ gia đình, sau lại có người kế nghiệp. Triều đình ban cho ân huệ như thế, tưởng cũng đủ đền đáp công lao hạc hành ngày trước, cần gì phải ra ơn trước khi biết họ sẽ làm việc công việc nước hay làm việc riêng tư. Nếu nói không như thế họ sẽ không thể tiến bước trên con đường học vấn, thì tại sao từ Hán, Đường về trước kể lên đến đời Tam Đại chưa hề có chế độ ưu đãi này mà vẫn có nhiều nhân tài? Các nước phương Tây cũng thế, sao họ lại hùng mạnh?

Phàm trọng thì sinh kiêu, nhàn thì sinh sự. Đó là lẽ tự nhiên. Gần đây nhân dân nước ta mỗi ngày mỗi sinh lắm chuyện mà Triều đình cũng nhận là khó sửa trị. Đó cũng là những người biết chút ít chữ nghĩa xúi giục gây nên. Tôi nghe có đảng nghịch tên Phụng đem dân lậu kéo vào Gia Định, trong số đó những người từ Hoành Sơn trở ra hưởng ứng rất đông và số người biết chữ có đến bảy tám phần mười. Do đó có thể biết rằng những người biết chữ đọc được sách, thấy trong đó nói nhiều đến những lợi lộc vinh hiển mà thèm thuồng chưa đạt được sự ước muốn. Trong khi mỗi khóa thi của ta hiện nay, trăm ngàn người thi không quá một hai người đỗ. Số còn lại bất mãn đi tìm con đường khác, chứ không như dân thường dốt nát chỉ biết thủ phận mà thôi.
_________________________________________
1. Xưa người đi học được khỏi đóng thuế thân, gọi là miễn nhiêu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:54:06 pm

Hiện nay nước ta có nhiều việc, bọn này đã không góp sức thì cũng phải đóng góp tiền của để cấp cho những người ra làm việc nước, thế mới hợp tình hợp lý. Nếu thế mà oán trách thì hai chữ “trung nghĩa” họ đã học cũng trở thành vô dụng.

Mọi vật sinh ra trên đời, vật gì cũng có phần thụ hưởng và phần cống hiến của nó. Chưa từng có một vật nào tồn tại một mình không quan hệ dính dáng vào đâu cả. Lý lẽ này rất nhiều không thể kể rõ hết được. Con người cũng vậy, vua, quan, binh, dân, nam, nữ ai có phận sự nấy. Tuy việc làm có cao thấp, lớn nhỏ khác nhau, nhưng không ai là trống trơn chẳng làm gì cả. Nếu có ai hoàn toàn nhàn hạ không quan hệ với bất cứ ai bất cứ cái gì trong khoảng trời đất này, như thế là ngoài luật tạo hóa và không thể mệnh danh được là người gì. Ngay như những người ngu ngốc, tham lam, điếc, đui mà nhà binh còn dùng được thay huống hồ những người khác. Đã được sinh làm người đứng trong trời đất, ở trong xã hội có pháp luật có tổ chức mà không hề dính dự gì, không mảy may giúp ích gì cho việc làng nước thì làm người thế nào được? Tuy nói ơn nước nhưng đoái nhìn bản thân xem có cái gì gọi là đền trả cái ơn lớn này không?

Lại có một hạng người không trên không dưới, kiêu ngạo tự cao, bảo rằng: “Lấy đức làm trọng, người giàu đức thì vua cũng không bắt làm tôi được, chư hầu không kết làm bè bạn được”. Như thế là một cái vật gì ở ngoài vòng trời đất rồi, sao gọi là đức được? Đó là câu nói của hạng người coi trọng mình mà khinh rẻ tất cả mọi người. Thế mà người ta tôn thờ như là kinh điển gì hay ho lắm? Từ đó cứ cho sĩ là quý rồi chê bai kẻ khác, chống báng bề trên, tuy trước mặt có sợ sệt quyền thế đôi chút không dám phóng ngôn bừa bãi nhưng trong bụng chẳng coi ai ra gì, ai cũng thua mình cả. Hễ có chút gì không vừa ý hoặc bất đắc chí thì quấy động luật pháp quốc gia, chê bai hủy báng. Phóng túng đến thế mà còn gọi là học sinh được sao? Còn đáng được ưu đãi chăng?

Ngoài ra họ lại còn dẫn nhiều sấm vĩ tiên tri kiểu Trạng Trình, Trạng Lượng1 nói điềm này triệu kia, vận số cơ trời, gây hoang mang trong dân chúng. Chính tôi đã nghe và nhiều lần bác bỏ. Đó cũng là do những bọn ăn không ngồi rồi gây ra cả.

Vậy xin Triều đình phân biệt sửa trị cho họ thấy rõ bổn phận của họ được chăng?
_________________________________________
1. Trạng Trình tức Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tương truyền có nhiều câu sấm báo trước những chuyện sắp xảy ra trong tương lai. Trạng Lượng hay Trạng Lợn? Tất cả các bản văn đều chép “Lượng”. Nhưng Trạng Lượng là ai thì chưa rõ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:07 pm

Điều thứ ba: Xin gây tài chính bằng cách đánh thuế xa xỉ.

Điều này nhằm trừ bỏ những xa xỉ vô ích mà ngấm ngầm gây tệ hại lớn. Đây không phải kế hoạch gây tài chánh thực hành theo phương pháp mới như tôi đã trình bày ở Kinh đô năm trước. Điều này có hai cái lợi, một là sửa đổi dần dần những tiêu phí không cần thiết của dân chúng để họ được giàu có thuần hậu, hai là dần dần bổ sung tài chánh cần dùng cho quốc gia mà không tổn hại gì đến thường dân cả. Có bảy khoản xin trình bày như sau:

1. Xin đánh nặng vào thuế cờ bạc.

Trong dân chúng có nhiều người nộp một quan tiền thuế mà tựa hồ bị cắt mất một miếng thịt, rên siết than van như bị cưỡng ép lấy mất tiền một cách phi lý. Thế mà đến sòng bạc thì cầm nhà bán của cải không tiếc. Có những hạng giàu có phong lưu, ăn mày chầu chực trước cửa cả ngày không xin được một đồng điếu, người làng thiếu thuế chẳng vay mượn được một quan. Thế mà đến chốn ăn chơi thì ngàn vàng mua một trận cười, trong cơn sát phạt trăm vạn chỉ đặt một tiếng. Sao lại có hạng người lòng sắt dạ thú đến như vậy? Hai hạng người này nhiều lắm, không xe nào chở hết được. Nói về tội của họ như không biết trung, nghĩa, nhân, ái, lễ, tiết v.v... thì không bút mực nào kể hết được. Dẫu bọn chúng có lọt lưới dương gian cũng không sao tránh khỏi bản án nơi âm phủ. Dùng pháp luật ghép chúng vào tội “dân gian ác” cũng chưa xứng đáng huống chi chỉ lấy một ít tiền để tạm thời chuộc bớt tội lỗi của họ mà thôi.

Vậy nay tất cả các sòng bạc bất kể đầu năm ngày Tết, bất luận thành thị thôn quê, xét địa điểm mà thiết lập, mỗi sòng bạc một năm phải nạp thuế từ một ngàn quan đến hai ba ngàn quan. Còn ai trốn thuế lén lút cờ bạc thì cho phép chủ sòng hoặc người ngoài bắt nộp lãnh thưởng. Người trốn thuế lén lút cờ bạc sẽ bị tịch biên một nửa gia tài bỏ vào công quỹ. Bởi vì bọn này chẳng kể gì cha mẹ vợ con mà chỉ nghĩ đến chuyện cờ bạc. Vậy là đem gia tài dâng cho bợm bạc. Đã muốn đem dâng gia tài thì thôi hãy gởi vào kho nhà nước, để còn giúp ích cho anh em bà con xóm làng, hơn là đem cho không những bọn côn đồ du thủ du thực!

Vì vậy các nước phương Tây đánh thuế cờ bạc rất gắt. Ai cờ bạc trái phép sẽ bị phạt tiền rất nặng. Nếu không tiền nộp phạt phải bị tù mấy năm. Họ phạt nặng như vậy là để không cấm mà cũng như cấm vậy.

2. Xin đánh thuế rượu.

Rượu làm hại biết dường nào! Sách có răn, luật có cấm, nhưng hoàn toàn không thấy nói đến chuyện phạt. Do đó ngày một sinh tệ, chán chường đã lâu không ai không biết. Hơn nữa rượu không uống đỡ đói được mà lại hao tổn lúa gạo rất nhiều. Đó là cái hại rất lớn. Cho nên các nước phương Tây có lệ cấm rượu rất gắt mà cũng không tuyệt được, chỉ còn một cách đánh thuế nặng mới có thể chừa bớt được thôi. Nay xin bất luận nơi nào, ở thôn quê mỗi nhà nấu rượu mỗi năm phải nạp thuế một trăm quan, ở thành thị mỗi năm từ ba đến bốn, năm trăm quan. Như vậy nhà bán rượu phải bán giá cao, người uống sẽ giảm bớt.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:46 pm

3. Xin đánh thuế thuốc lá.

Hút thuốc vốn không lợi ích gì cho sự sống mà dần dần thành ra tốn kém. Chẳng qua là làm ra vẻ phong lưu mà thôi. Vậy xin ở mỗi chợ cho mở một tiệm bán sỉ. Những nơi khác đều do tiệm này phân phối ra bán. Mỗi tiệm bán sỉ mỗi năm phải nộp một trăm hoặc năm mươi quan. Về thuế thuốc phiện xin đánh gấp năm, sáu lần thuế thuốc lá. Nếu không sẽ lan rộng trong nhân dân gây tai hại lớn. Làm quan mà hút thuốc phiện phải cai hẳn nếu không sẽ bị thải hồi.

4. Xin đánh thuế trà.

Nếu có thuyền Trung Quốc vào cảng thì phải đánh thuế trà riêng, còn các thứ tạp hóa khác đều theo lệ cũ, tuy vậy cũng phải tăng lên. Đối với các nước phương Tây, phàm hàng hóa nước ngoài bất luận thứ hàng hóa gì đều phải phân biệt loại hàng quý và hàng thường để thu thuế và phải thu cao hơn hàng trong nước. Còn những thứ không cần thiết cho đời sống như đồ trang sức, xa xỉ thì phải đánh thuế gấp bội hơn nữa. Vậy xin ở các chợ tiệm nào có biển quan cho phép mới được bán trà. Như giá trà một quan, phải nạp thuế một quan. Đã lấy thuế khi thuyền Trung Quốc vào cảng lại còn lấy thuế sau khi bày bán ở chợ. Như thế cũng không quá đáng. Bởi vì uống trà Tàu chỉ có hạng giàu có phong lưu mà thôi. Nước ta cũng có trà, uống cũng giải khát thanh tỳ được. Thế mà họ còn thừa tiền hoang phí thói phong lưu, đã mất thì giờ còn bỏ bê công việc, đó là một cái hại lớn. Đã tốn kém nhiều vô ích hao tốn tinh thần còn làm giàu thêm cho người Tàu, chi bằng lấy đem dùng vào việc nước để giữ yên gia nghiệp! Họ đã thiếu tinh thần nghĩa vụ thì nhà nước cưỡng bách lấy để làm nghĩa vụ cho họ. Đó cũng là lẽ nên làm.

5. Xin đánh thuế hàng tơ lụa hoa mỹ.

Nước ta vốn có nhiều tơ lụa, thế mà nhiều người cho là không đẹp cứ tìm kiếm hàng Tàu, khiến dân ta không ra sức trồng dâu nuôi tằm, làm cho hàng tơ ngày một đắt giá. Tệ trạng này đều do đó mà ra cả. Những nhà giàu có không cần hàng Tàu chỉ dùng hàng ta cũng được. Tại sao hàng ta dù có tốt cũng xem thường, còn hàng Tàu dù có xấu cũng đua nhau khen đẹp? Tại sao lại khinh mình mà trọng người đến thế? Không trọng hàng mình mà trọng hàng Tàu, rõ ràng là chỉ khoe khoang thói xa xỉ. Tại sao họ không biết chuyển đổi cái tâm tính ấy để quyên tiền làm lợi ích quốc gia như những nhà giàu các nước phương Tây vậy? (Ở phương Tây khi quốc gia hữu sự, các nhà giàu đua nhau quyên tiền để giúp, thường thường số tiền quyên góp quá dư nhà nước phải trả lại). Thứ hỏi họ ở đâu mà an hưởng sự giàu sang ấy. Nếu họ là người sống ngoài vòng trời đất thì mặc họ làm gì tự ý. Nhưng họ ở trong đất của vua, làm dân của vua mà chỉ biết đua nhau xa xỉ, làm giàu cho con buôn nước ngoài là điều không thể được.

Nay xin cho các thứ vải vóc hàng may mặc trong nước đều xử lý theo lệ cũ. Còn tất cả các loại hàng Tàu hễ giá mười quan thì đánh thuế năm quan. Họ đã có tiền mua hàng đẹp thì cũng có tiền nạp năm quan để dùng vào việc lợi ích quốc gia, điều đó cũng không phải là quá đáng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:56:29 pm

6. Xin đánh thuế du hí.

Trong dân gian có nhiều người bỏ ra hàng chục hàng trăm quan tiền để xem hát, nhất là dân thành thị. Vì vậy những phường vô lại du đãng không chịu chăm lo làm ăn chuyên dựa vào nghề này để kiếm tiền, ế ẩm thì sinh trộm cướp vì không có nghề nào nuôi sống. Lại có những kẻ lén lút ban ngày giả danh luyện tập múa hát, đêm thì làm những chuyện ác độc. Xưa này những vụ biến loạn bất ngờ xảy ra phần nhiều được che đậy bằng những cuộc hội hè vui chơi hoặc đình đám tế lễ. Như trường hợp Vô Vi Giáo, Bạch Liên Giáo v v… ở Trung Quốc.

Còn như chuyện hát múa để tạ thần lại càng vô lý. Do người đời sau thiếu đức nên người ta đem thần linh ra hù nhát, đem chuyện yêu quái ra gạt gẫm, tạo ra bao nhiêu điều huyền hoặc dị đoan. Như trong sách Học Thống đã dùng những lý lẽ chính đáng rõ ràng bác bẻ những dị đoan, tà thuyết hết đường trốn tránh. Riêng một việc múa hát còn hại dân rất nhiều.

Nếu thần là linh thiêng sáng suốt thì chỉ một nén hương thành tâm bái lễ cũng đủ hà tất phải đòi hỏi cái nghề hèn mọn ấy để mua vui. Bản tâm thần không cho là vui, không hưởng của phi lễ thì thần phải chứng minh cho người ta biết đó là sai. Nếu không thì đó chỉ là những hình tượng giả, bịa đặt bày ra đó và không khỏi mang tiếng hối lộ. Huống chi dân còn thần mới còn. Thần đã không cần cái thú vui hèn mọn ấy thì phải nói rõ dạy dỗ dân ngu bảo đem cái số tiền thuê hát ấy chuyển vào công quỹ, thế mới là bảo hộ quốc gia đại sự.

Tôi thấy trong dân gian phần nhiều hễ có công sai đến thúc giục thuế khóa thì nào cả hương hào lý dịch cũng lánh mặt. Thế mà ngày cúng thần thì không thiếu mặt nào cả. Như vậy là rõ ràng coi trọng việc thần hơn việc nước. Trong dân gian có nhiều làng có lệ dân chúng luân phiên nhau cúng thần. Một nhà cúng, cả làng no nê. Có những gia đình không được khá giả, qua một kỳ cúng thần phải mang nợ suốt đời. Có người còn phải bỏ xứ đi phiêu lưu. Thế mà họ không hề oán trách chuyện thần thánh phiền phức cúng tế nặng nề lại đi oán trách sưu cao thuế nặng. Thậm chí có câu nói: thà thiếu thuế nhà nước chứ không thiếu lệ làng. Chuyện đó đã thành tập tục mà không chịu sửa đổi, thật là coi trọng việc làng xem nhẹ việc nước. Nếu quả thần có linh thì cũng phải biết rõ ràng dân vì cúng tế mà đến nỗi phải nghèo, khánh tận gia sản, bị cướp mất cái phần dành để nuôi cha mẹ vợ con họ. Mượn danh nghĩa thần mà kỳ thật để dân làng no bụng mà thôi.

Cũng có nhiều nơi thần hiện lên trách dân sao không theo lệ cúng tế đúng kỳ, không chịu sửa sang đền miếu mà không đề cập gì đến việc nước việc dân cả. Như thế là thần cũng chỉ nghĩ lo cho thần được yên thân no bụng mà thôi. Tang Văn Trọng ở đất Sái còn bị chê là bất trí thì những ai không từ chối sự xu mị cũng không khỏi bị người ta chê cười. Tôi nói thế có vẻ như mẹ ghẻ cạo đầu con chồng vậy. Chỉ vì tôi quá ghét những tệ đoan ấy.

Nay xin những ai lập gánh, bất luận ở đâu, trừ việc nước ra, gánh lớn mỗi ngày phải đóng thuế 50 quan, những gánh nhỏ thì đóng thuế ít hơn. Các con hát phải có giấy phép quan cấp mới được hành nghề suốt đời. Nếu không con hát lẫn chủ gánh đều bị phạt. Mỗi con hát còn phải đóng thuế mỗi năm 50 quan.

Ngoài ra xin điều tra trong dân gian xem nơi nào có lệ luân phiên cúng thần quả thật đưa đến tình trạng có người khuynh gia bại sản thì ra lệnh bãi bỏ. Còn chuyện làm pháo tre cũng thật vô ích. Nếu giá bán 10 quan, xin đánh thuế 20 quan.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:56:59 pm

7. Xin đánh thuế nhà những người giàu.

Trong dân gian có nhiều tục lệ xấu. Như trong sổ bộ trên quan một cùng đinh phải đóng thuế bao nhiêu, thì trong làng một tay đại phú cũng đóng chừng đó thuế, không bù sớt ít nhiều gì cho nhau cả. Như vậy là đã trái cái nghĩa xóm làng giúp đỡ lẫn nhau rồi. Thậm chí có khi quan trên giục gấp mà lý dịch chưa kịp thúc giục dân nghèo thì mượn đỡ các nhà giàu để tạm nộp cho nhà nước, vậy mà cũng có nhiều người không cho mượn, có kẻ lại ăn tiền lời. Có kẻ thấy làng có việc thì xuất tiền ra mua nhiêu dịch suốt đời. Có kẻ bỏ tiền ra chứa cờ bạc mưu chiếm ruộng tốt của người khác. Cũng có kẻ bỏ ra có một quan cho vay mà dần dà lấy hết gia sản của người ta. Những việc làm nhẫn tâm trái lẽ của bọn nhà giàu rất nhiều, không biết bao giờ mới dứt được những tệ hại ấy cho dân nghèo. Vấn đề này xin tạm gác lại. Nay chỉ nói một khoản về nhà cao cửa rộng cần phải đánh thuế trước.

Phàm những người giàu có là người chịu ơn đất nước rất lớn, hơn cả những dân nghèo. Cướp cũng muốn cướp của nhà giàu, trộm cũng muốn trộm của nhà giàu, thù cũng thù người giàu, oán cũng oán nhà giàu, hăm dọa cũng hăm dọa nhà giàu. Trong khi đó cho vay nặng lãi, làm những việc bất nghĩa khiến dân ngày một nghèo, đó là bọn nhà giàu. Có nhiều ruộng màu mỡ, ít bị bỏ hoang mà lại mong cho mất mùa để được miễn giảm thuế khóa, cũng là nhà giàu. Nhà giàu sở dĩ giàu được, một phần do vơ vét của làng xóm và láng giềng chung quanh, một phần do quốc gia bồi đắp cho họ. Họ sở dĩ yên hưởng được sự giàu sang là còn nhờ ở hành chánh và an ninh của quốc gia. Nếu không, cái nhà họ ở để bảo vệ gia sản đó, bất cứ ai cũng có thể đốt được thử hỏi họ có yên ổn ca vịnh được không? Tô điểm nhà mình cho đẹp đẽ chi bằng bỏ ra chút ít để tô đắp thành trì của đất nước được vững chắc. Thành có vững chắc nhà mới vững chắc. Chưng dọn khí mãnh trong nhà cho khéo cho tinh chi bằng bỏ ra chút ít để làm cho khí giới của nước nhà tinh nhuệ. Khí giới tinh nhuệ giữ được nước thì nhà nhờ đó mới còn. Vì vậy các nước phương Tây lấy thuế nặng nhà cửa những người giàu, thế mới hợp lẽ công bằng.

Nay xin chia những người giàu làm ba hạng, nhà hạng nhất đóng thuế mỗi năm một trăm quan, hạng nhì 50 quan, hạng ba 20 quan.

Bảy khoản trên đây (Còn nhiều khoản nữa, đợi khi nào thi hành được tôi sẽ trình bày thêm) là đánh thuế vào những tập tục lãng phí không cần thiết để tăng lương bổng cho quan binh. Vả lại tài sản của dân là do huyết mạch của quốc gia mà ra, nay dân lại đem cái của cải hữu dụng mà tiêu hao vào những chuyện vô ích, hơn nữa còn gây ra vô số tội ác thì Triều đình là bậc cha mẹ dân thấy dân ngu làm nhiều việc sai lầm lẽ tất nhiên phải gấp rút sửa đổi lại cho tốt. Bởi vì dân xài tiền mà sinh tội cũng như con nít múa kiếm làm đứt họng thì ta phải giật kiếm đi, khi nào biết múa mới được dùng. Các nước phương Tây sở dĩ đủ dùng cho việc nước là nhờ đánh thuế nhà những người giàu có và các cơ sở thương mại, thế mà dân không oán than vì đó là thứ thuế chính đáng. Nếu dân nghèo thì chỉ bắt đóng góp một ít công tác thôi. Đối với dân họ tùy theo giàu nghèo mà đóng thuế nhiều hay ít, làm sao cho công việc nước được phân phối thích hợp với mọi người. Ngoài ra, tùy theo tục lệ và dân tình, mỗi làng mỗi xã có thể tùy nghi uyển chuyển áp dụng theo mỗi địa phương, miễn sao hợp pháp không được thiên lệch, để cho ai nấy đều tuân hành như luật pháp quốc gia vậy.

Pháp luật nước ta hiện nay còn sơ sót, huống nữa là tục lệ dân gian. Cho nên nước với dân tựa hồ mỗi đàng đi một nẻo. Tôi không phải hạng người chỉ biết góp nhặt lợi nhuận, đưa ra bảy khoản trên là vì thấy nó hợp lý và chính đáng, muốn sửa đổi những điều không tốt cho được tốt mà thôi. Dân gian phần nhiều có những sai lầm tội lỗi là vì do sử dụng tiền bạc không hợp lý mà ra cả. Cũng như phường trộm cướp, càng có nhiều khí cụ đồ nghề càng giúp chúng làm nhiều chuyện bạo ngược thêm. Nay dùng biện pháp đánh thuế để sung vào những công việc cần thiết, mà còn sửa chữa được tệ hại cho dân. Như thế công tư đều lợi.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:12:24 pm

Điều thứ tư: Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng.

Không có một nền học thuật sáng suốt thì phong tục sẽ ngày một bại hoại, lòng người sẽ ngày một giả dối, phù phiếm trống rỗng. Tập tục sẽ làm thay đổi con người, dù người tốt cũng không tránh khỏi ảnh hưởng, huống gì những hạng dưới. Lòng người đã hư hỏng thì khó tìm được người chuộng nghĩa thực tâm sốt sắng việc công.

Năm trước, trong một tập trình bày về Ngôi vua là quý, chức quan là trọng tôi có nói: “Chỉ vì không biết đúng đắn cái nội dung của sự quý trọng nên mới sinh lòng dạ nọ kia”. Đó là nói chung phân biệt tất cả lý lẽ phải trái được mất của các học thuật Đông Tây kim cổ. Nay chỉ nói riêng nước ta, nhưng cũng xin viện dẫn một vài trường hợp nước ngoài để sáng tỏ thêm.

- Vậy học là gì?

- Là học những gì chưa biết để biết mà đem ra thực hành. (Nhưng thực hành cái gì? Thực hành ở đâu?) Đó là thực hành những gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa.

Nhìn lại sự học của ta ngày nay, những điều thầy dạy, những cái học trò học, đều toàn những chuyện xa xưa. Tuy trong sách đôi chỗ có nói đến những việc thực tế nhưng chẳng truyền dạy được, vì người xưa đã khuất không thể dựng mồ lên hỏi. Bởi vậy người xưa có nói: “Có thể học biết phép trị nước của thời Đường Ngu, nhưng cái cách làm thế nào trị nước thì không thể học được”. Lại nói: “Việc làm cũng giống như gảy đàn cầm đàn sắt, mỗi người có một cách cải điệu riêng”. Chính là thế. Giả sử có một vài người từ hai ba ngàn năm trước còn sống đến nay, ta đem chuyện cũ trong sách tìm đến hỏi họ và được họ truyền dạy. Nhưng muốn đem những điều được truyền dạy đó ra thực hành thì cũng phải trở ngược lại với nhân dân thời thượng cổ mà chấn chỉnh lại phong tục tập quán thời thượng cổ cho hợp với họ thôi. Không thế thì thôi chứ ngày nay cũng chẳng ai theo nữa.

Ngày nay chúng ta, lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ, phú, lớn lên ra làm thì lại luật, lịch, binh, hình. Lúc nhỏ học nào Sơn Đông, Sơn Tây mắt chưa từng thấy, lớn lên ra làm thì đến Nam kỳ, Bắc kỳ. Lúc nhỏ học nào thiên văn, địa lý, chính trị, phong tục tận bên Tàu (mà nay họ đã sửa đổi khác hết rồi), lớn lên ra làm thì lại dùng đến địa lý, thiên văn, chính sự, phong tục của nước Nam, hoàn toàn khác hẳn. Lúc nhỏ học những lễ nhạc, cách ăn uống, cư xử chiến đấu, doanh trại từ xa xưa của Tàu, lớn lên ra làm thì phải dùng đến lễ nhạc, cách chiến đấu, phép ăn ở theo quan dân nước ta ngày nay. Còn biết bao nhiêu những việc tương tự như thế, mòn bút khô môi cũng không kể hết. Xưa nay các nước trên thế giới chưa từng có nước nào có nền học thuật như vậy. Quả thật lạ đời! Tuy Nhật Bản, Cao Ly cũng đọc sách Tàu nhưng chỉ để làm vui (Phải đọc sách của nước họ mới biết sự thật. Nếu xem sách Nho thì bao giờ cũng thấy nói khắp thiên hạ đều học theo phép Nho của mình cả. Đó chỉ là nói để khoe tốt, không đủ tin). Còn ra làm thì đều làm theo sách của nước họ, công việc của nước họ, chưa bao giờ thấy họ học và dùng những gì mà mắt không trông thấy, chân không đặt đến như lối học của nước ta.

Nước ta trên cũng có trời che, tức thiên văn, dưới cũng có đất chở, tức địa lý. Trong khoảng trời đất, nước ta cũng là một đất nước tốt lành hẳn hoi, đâu phải một miền phụ dung của Tàu. Trong đó cũng có việc của con người, luân thường đạo lý của con người, tức là những gì ta phải xây dựng cho hiện tại cũng như cho con cháu ta mai sau. Nước ta cũng có tổ tiên. Các vua quan đời trước, các sự tích lưu truyền, có thể cho ta tìm hiểu nguyên nhân của sự được mất, khảo sát lý do của sự trị loạn. Đó là những gốc gác lai lịch ta cần phải biết.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:13:11 pm

Liệt tổ của Hoàng triều ta từ sáng nghiệp đến nay đã có cái đức phủ dụ trị dân như thế nào, đó là cái mà quan và dân ta phải biết rõ để cảm đội và ra sức giữ gìn. Những non sông bờ cõi hình thế biển hồ đồn thành và đất đai trong nước ta thay đổi như thế nào, đó là cái mà ta phải biết rõ để khi ra làm việc tránh khỏi lầm lẫn. Luật nước, lệ làng, cho đến những ưu điểm, nhược điểm, những lề lối dạy dỗ, những tục hay tục dở trong nhân dân nước ta, là những cái ta cần phải học hỏi tìm tòi để hiểu rõ, để sửa đổi và bổ cứu, nếu không thực hiện được trong một tỉnh một phủ thì cũng phải thí nghiệm được trong một làng. Như thế mới là cái học trị nước giúp đời. Nước ta dưới đất có những mỏ kim loại, đá quý, ngoài ra có những loại thú nuôi, cây trồng, là những cái ta cần phải phân biệt khai thác phát triển để tự cấp tự túc. Nước ta hiện nay bốn bề bị ép, người ngoài sắp chiếm làm hang ổ, đó là cái mà chúng ta phải hiến dâng trí khôn sức khỏe ra chống giữ để bảo vệ nước nhà. Nước ta có những vị danh thần trong các triều vua trước còn để lại danh thơm tiếng tốt, cũng như các danh thần và các quan chức trong Triều đình hiện nay mà việc làm của họ có thể làm khuôn phép cho đời, tại sao không đem ra truyền tụng cho mọi người được hứng khởi (Các nước phương Tây thường làm như thế để cho người ta biết mà bắt chước), mà cứ ngày đêm luôn miệng kêu réo những người từ bên Tàu, chết đã mấy ngàn năm, như Tiêu Hà, Hàn Tín! Phải chăng chúng ta ngày nay còn mang ơn họ? Phải chăng người thời nay không bì kịp người thờ xưa? Hay muốn kêu cho họ sống lại? Như vậy mà cứ học cho đến bạc tóc, thật là quái gở không thể nào hiểu nổi!

Nước ta hiện nay trong dân gian có lắm người không cày ruộng mà muốn có cơm ăn, không dệt vải mà muốn có áo mặc, không có tài mà muốn có địa vị, không học mà muốn làm quan, cho đến những bọn lòng dạ hẹp hòi, tính khí kiêu căng, không lo bổn phận, chẳng rõ luân lý, chúng ẩn náu lén lút phỉnh dụ khiến những người học vấn không có căn bản đâm ra hoang mang, một dạ hai lòng, rồi chúng ngấm ngầm kết nghĩa, uống máu ăn thề. Có bọn đã lẻn vào Gia Định xem xét địa thế. Bọn này âm mưu thông đồng Nam Bắc, hành động nham hiểm muốn tiêu diệt dân ta. Tại sao không lôi chúng ra mà gạn hỏi, dạy dỗ, đàn áp để chúng biết rõ rằng hành động như chúng thì trong trời đất này không còn chỗ nào dung thân được nữa. Đó là việc sửa kẻ tà đưa về đường chính, một việc trọng đại như vậy còn cái học nào hơn? Việc đó kẻ sĩ phu, người dân thường ai cũng làm được, tại sao không làm?

Những việc trên đây, dân ta hiện nay còn ít người để ý, mà từ trẻ đến già, từ trường công đến trường tư đua nhau trau chuốt từng câu hay từng chữ khéo. Sao mà tệ mạt đến thế! Nếu đem cái công phu đã bỏ tâm trí một đời ra trau chuốt chữ nghĩa mà học những việc hiện tại như trận đồ, binh pháp, đắp thành giữ nước, sử dụng súng ống thì cũng có thể chống được giặc. Nếu đem cái công lao nửa đời người đã dùng để học thuộc lòng những tên người tên xứ, rập khuôn việc chính trị, nhai lại những nghĩa lý cặn bã xa xưa của Ngu, Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống, Nguyên mà học những việc hiện tại như binh, hình, luật lệ, tài chánh, thương mại, xây dựng, canh nông, dệt và những cái mới khác thì dần dần cũng có thể làm cho nước mạnh dân giàu. Tại sao đến nay vẫn chưa nghe dân chúng khuyên nhau học những cái thực dụng ấy, mà chỉ ưa những chuyện kỳ dị xa xưa, bàn bạc những chuyện từ họ Hi Hoàng? Còn việc nước, dân tình được mất đều phó mặc cho Triều đình. Vậy phải chăng họ tự xem họ như con nít? Không phải lỗi ở họ mà chính ở học thuật. Sở dĩ học thuật chưa thuần là do không nhận rõ “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng” cũng như mối quan hệ giữa dân với nước ra sao. Cho nên bất cứ cái gì cũng đặt cái vị tư vị kỷ là trước, không thật tâm làm việc vì công ích. Chính đó là lý do mình đã lầm lỗi lại làm lầm lỗi cho người khác.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:13:40 pm

Nói về học thuật mà không có đường lối sáng suốt rõ ràng, một phần do ở sách vở và một phần tại Triều đình. Tuy nhiên tôi chưa dám nói rõ, sợ có điều quan ngại (Nếu đừng bắt tội mà cho phép nói tôi sẽ nói rõ). Bởi vì phong tục dân tình ngày nay ra sao Triều đình đã biết rõ hết rồi. Nay nếu muốn nhất thời sửa đổi hết tất cả tệ đoan ấy, sợ sinh nhiều mối nghi ngờ, hoang mang, chống báng lẫn nhau làm cho lòng người không yên. Vì vậy cần phải tìm học cái học thực dụng, phân chia ra các khoa, các môn, ban thưởng nhiều cho những người dự thi vào các khoa, môn này để khuyến khích dần dần đưa đến kết quả lợi ích thì các tệ đoan dần dần sẽ mất đi.

Nay xin lập các khoa sau đây.

1. Khoa nông chính.

Hàng năm dân chúng mang các công cụ mới chế tác dùng tiện lợi hơn các thứ cũ, những hoa màu thổ sản thu hoạch được cùng những phương thức trồng trọt đem lên tỉnh dự thi và lãnh thưởng. Các nước phương Tây giàu mạnh được cũng nhờ chuyên về khoa nông nghiệp. Còn về nguồn lợi khoáng sản thì cần phải đặc biệt chăm sóc. Nay trước hết xin tiến hành xuất bản một bộ sách NÔNG CHÍNH TOÀN THƯ. Rồi sức khắp trong nước từ trước đến nay ở đâu có phương pháp nông nghiệp gì thích hợp với đất đai, thời tiết sớm muộn ra sao, trồng loại lúa thóc gì, chăn nuôi giống gì, thu hoạch nhiều ít ra sao, báo cáo tất cả về tỉnh, tỉnh đệ về Bộ để phối hợp vào sách Nông chính. Nếu thấy những gì có thể phát minh được sẽ soạn thành sách học. Còn những sách nông nghiệp cũ không thích hợp khí hậu đất đai nước ta thì loại bỏ hết. Ngoài ra xin lập một Bộ Canh nông như các nước phương Tây. Bởi nông nghiệp là gốc, ăn mặc và hàng trăm nhu cầu khác cần cho đời sống đều nhờ nông nghiệp. Người xưa nói: “Người ta không có cái ăn cái mặc thì không còn đạo vua tôi”. Nếu con đường này không phát triển dồi dào thì dân lo kiếm ăn cho khỏi chết đói còn chưa kịp, rảnh đâu mà nghĩ đến lễ nghĩa. Nay ngành trồng trọt chăn nuôi của nước ta đều phó mặc tự nhiên, không có quan viên bày vẽ, giáo dục, đốc suất, dân chúng cứ theo lề lối cũ mà làm không có gì mới mẻ cả thì làm sao có thể hy vọng mỗi ngày một giàu thịnh để đóng góp thêm thuế khóa cho nhà nước?

Chính mắt tôi trông thấy có nhiều nơi nếu chịu bỏ ra đôi ba trăm quan để bồi đắp thì hoa lợi mỗi năm có thể thu được gấp trăm lần. Cũng có nhiều nơi ao đầm hồ vũng, nếu cho rút đi chừng một thước nước thì đều có thể cấy lúa được, thế mà cũng không biết cách ngăn đắp để cho nước chảy ra bể tống hết các bùn cát cùng những vật ô uế đi. Có nhiều nơi nếu đắp đập cũng chẳng tốn bao nhiêu công, vậy mà người ta cứ bỏ không để làm chỗ cho le cò hàu hến. Các đất hoang trong sổ bộ của quan cho là không thể cày cấy, hầu hết là những loại mà tôi đã kể. Tôi có hỏi dân những nơi ấy thì kẻ bảo không tiền, người bảo không sức. Có người bảo thầy địa lý nói không nên cho nước tụ lại, hoặc đắp đê sẽ làm động địa mạch khiến hương hào hương lão trong làng ốm đau. Có người bảo nếu đắp đê làm ứ nước các xã thôn bên trên sẽ làm đơn kiện. Có người bảo không dám đắp vì sợ động đất đai trong xã hoặc động mồ mả nhà quan ở xã gần bên. Những chuyện tương tự như thế nhiều không thể kể xiết.

Tôi rất lấy làm tiếc nhưng không biết làm cách nào cho dân hết những tệ trạng này. Chỉ có cách nhờ phép quan mà thôi. Xưa nay trong sách có chép nhiều về việc nhắc nhở dạy bảo dân về nông trang, nhưng đó chỉ là nói suông không thấy thực hành. Còn đối với các nước phương Tây, khoản này tốn rất nhiều công phu. Nếu không giỏi độ làm sao cho đúng với thế đất tự nhiên, nếu không có tài mở chỗ nọ đắp chỗ kia sao cho hợp thì không thể làm công việc này được. Còn học văn chương, dù có giỏi khai, thừa, chuyển, hợp, rành các thanh bình, thượng, khứ, nhập, một mai sa cơ lỡ vận, cầu ấm no cho một thân mình còn chưa được nói gì đến chuyện làm cho dân no ấm? (Làm được nông chính như các nước phương Tây, không phải chuyện dễ, chỉ khi nào thấy tận mắt mới nói được). Vậy xin mở gấp khoa này cho dân học tập rồi dần dần mới thông thạo được.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:14:15 pm

2. Khoa thiên văn và khoa địa lý.

Hai khoa này là gốc của mọi việc. Trí xảo con người mỗi ngày một tăng, tính tình con người mỗi ngày một ngay thẳng đều nhờ ở hai khoa này (Hai câu này có nhiều sự lý, dịp khác tôi sẽ nói rõ) nhưng nó thấm nhập dần dần, từ từ mà tiến chứ không thể lấy năm tháng mà tính được. Nay xin gấp rút duyệt lại các sách Thiên văn Địa lý từ trước đến nay, chọn lấy những gì hợp với thiên thời địa thế nước ta, chắc chắn có thật lý thật sự, có thể thấy như vật trong bàn tay mà không xem đến chuyện thuật số phong thủy, những chuyện phù phiếm quàng xiên, soạn thành sách ban hành. Lại phải tham khảo các sách Thiên văn Địa lý của phương Tây. Những sách tôi đã chọn mua trong chuyến đi Tây vừa qua, đã trình nạp rồi mướn người dịch ra, tóm tắt những chỗ quan trọng, hữu dụng để tham khảo ứng dụng để cho mọi người biết rõ rằng chúng ta ở trong trời đất phàm tất cả những an nguy, hưng phế, phú quý, họa phúc đều từ trong đó mà ra cả. Nay ta không biết rõ đầu ta đội gì, chân ta đạp gì, nhờ cái gì mà ta sống, ta bắt đầu từ đâu, cuối cùng ta sẽ về đâu, hiện tại ta được tốt lành là do đâu, sở dĩ ta được sinh ra, được nên người là ý gì? Sự tình mập mờ như thế, đạo lý thiếu sót như thế, vậy mà không chịu học để thấy rõ, cứ bằng lòng với cái dốt nát của mình. Như người chỉ biết nói toàn chuyện hoang đường thì làm sao có thể tận dụng được cái kỳ diệu của trời đất?

Về lịch, cần phải thuê người thông thạo, khảo sát độ số khí tiết nước ta soạn thành một quyển. Lấy chu kỳ là 100 năm. Sau đó, mỗi năm cứ y bản mà in ra không phải mỗi năm mỗi tính nữa. Công việc này các giáo sĩ có thể làm được. Khi lịch pháp đã thành nhất định rồi thì những vất vả của các quan ở đài thiên văn cũng bớt đi rất nhiều. Như lịch Tây, ai cũng biết không phải tính toán gì cả. Ở các nước phương Tây không có ai ở đài thiên văn làm sai. Bởi vì phương pháp giản dị dễ làm, cũng chẳng có gì quan trọng nên không cần bình nghị khả năng. Còn một người làm về thiên văn nước ta thì sao mà ưu đãi thái quá mà lại sai lầm quá nhiều. Dịp khác tôi sẽ nói rõ, sai lầm đó là bởi chưa nắm được cái hiệu dụng lớn của thiên văn mà thôi.

Các nước phương Tây thiết lập chiêm tinh còn có nhiều cách tính toán theo phương pháp mới nhằm đem lại lợi ích lớn cho việc dân việc nước chứ không phải chỉ chuyên để làm lịch. Bởi vì trong trời đất có biết bao nhiêu việc không phải chỉ một chuyện coi lịch coi ngày đủ bao quát tất cả. Vì vậy cần phải học gấp khoa này mới biết được sự thật của trời đất.

3. Khoa công kỹ nghệ.

Hãy tìm trong các sách Nho từ trước đến nay xem có chỗ nào nói đến cơ xảo dù một vài câu cũng nhặt hết ra, thu thập sửa lại cho đúng. Ngoài ra, lựa lấy trong các sách Tây, chỗ nào nói về những cần thiết hàng ngày, thí dụ như các sách viết về nguồn lợi khoáng sản cũng như tất cả các sách Tây viết về máy móc, (Tôi có mua hai quyển lớn đã trình nạp rồi, trong đó nói đủ cả) rồi xin các giám mục địa phương mỗi nơi cho hai linh mục rành tiếng Nam về kinh để cùng dịch thuật với các nhà biên soạn. Cũng xin mua một máy in để in ra xuất bản. Tuy nhiên trước tiên phải lập khoa này, đặt thể lệ hẳn hoi để cho dân thấy rõ rằng Triều đình xem việc này là trọng, ai học sẽ được thành danh lập nghiệp. Nếu không, họ vẫn cứ đua nhau miệt mài văn tự theo cái học khoa cử mà thôi.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:14:49 pm

4. Khoa luật học.

Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nước và những luật mới bổ sung thêm từ Gia Long đến nay. Ai giỏi luật sẽ được làm quan. Vì luật bao gồm cả kỷ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia, trong đó tam cương ngũ thường cho đến việc hành chánh của 6 Bộ đều đầy đủ. Quan dùng luật để trị, dân theo luật mà giữ gìn. Bất cứ một hình phạt nào trong nước đều không vượt ra ngoài luật. Bởi vậy ở các nước phương Tây, phàm những ai đã nhập ngạch Bộ hình xử đoán các vụ kiện tụng thì chỉ có thăng trật chứ không bao bị biếm truất. Dù vua, Triều đình cũng không giáng chức họ được một bậc. Như vậy là để giúp cho các vị này được thong dong trong việc chấp hành luật pháp không bị một bó buộc nào cả. Phàm những tội ngũ hình đều do các vị này xử. Vua cũng không được đoán phạt một người nào theo ý mình mà không có chữ ký của các quan trong Bộ ấy. Làm thế là để cho dân chúng thấy rõ đạo công bằng. Vả lại vua không dự vào những việc ngũ hình để tỏ đạo nhân ái. Như chế độ xưa, vua có “tam hào” (3 lần tha). Bởi vì nếu có tội phải giết thì đó là quốc dân giết.

Biết rằng đạo làm người là không gì lớn bằng trung hiếu, không gì cần thiết bằng lễ nghĩa. Nhưng các sách Nho chỉ nói suông trên giấy, không làm cũng chẳng bị ai phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng. Bởi vậy xưa nay học đã nhiều mà mấy ai đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm? Cho nên Khổng Tử có nói: “Ta chưa hề thấy ai thấy được lỗi mình mà biết tự trách phạt”.

Từ xưa đến nay các vua chúa nắm quyền thống trị cứu nước giúp đời đều nhờ hiểu luật, còn các sách vở khác cũng chỉ là phụ thuộc. Nếu trong nước không có luật, thì dù có vạn quyển sách cũng không thể trị được dân. Điều này quá rõ. Bởi vì sách vở chỉ chép nào là sự tích chính sự thời xưa của cổ nhân, nào là những bài luận hay ho của người xưa để lại, nào những áng văn chương trau chuốt của chư tử, nào những tiểu thuyết dã sử của những người hiếu sự đặt bày. Trong đó hay có, dở có, kẻ nói này, người nói khác, xét kỹ thứ sách vở đó chỉ làm rối trí thêm chẳng được tích sự gì. Cho nên Khổng Tử nói: “Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc”. Thử xem có những nhà Nho suốt đời đọc sách, đáng lẽ cử chỉ của họ phải làm khuôn thước cho đời, vậy mà tại sao có nhiều người cuộc đời của họ và sự ứng xử của họ còn tệ hơn những người quê mùa chất phác? Nếu bảo luật lệ chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi, thế là không biết rằng trái luật là tội, giữ đúng luật là đức. Nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức. Có cái đức nào lớn hơn chí công vô tư không? Chí công vô tư là đức trời. Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời, như vậy mà không đáng gọi là đạo đức tinh vi sao? Chỉ sợ con người không tận dụng luật mà thôi. Nếu tận dụng cũng đủ trọn vẹn đạo làm người rồi, bất tất phải đi tìm cái gì khác.

Vậy xin cho tất cả những người dự thi trước tiên phải thi khoa luật và các khoa khác thiết thực cho hiện tại. Còn thơ phú chỉ để ngâm hoa vịnh nguyệt, chứ đói có thể đem ra nấu ăn cho no bụng được đâu? Kinh nghĩa đã có các nhà nho tiền bối chú giải rõ ràng rồi cần gì phải vẽ vời thêm. Đọc kinh sách chỉ cốt hiểu rõ nghĩa lý, không cần phải hao tốn tinh thần, tiêu ma ngày tháng vào cái thứ văn chương bát cổ vô dụng ấy. Còn văn sách thì cứ nói mãi những chuyện Hán trị tạp bá, Đường trị vị thuần. Tạp bá, vị thuần của người ta mặc kệ người ta. Mình hãy nói chuyện trị nước của mình ngày nay ra sao thôi. Nước chưa giàu, sao không đặt kế hoạch để giàu? Binh chưa mạnh sao không chăm lo võ bị cho mạnh? Dân chưa khôn sao không đem đạo lý ra giáo dục? Nhân dân đói khổ sao không lập kế sinh mưu để cứu? Kẻ địch bên ngoài sắp muốn nô dịch dân ta, cướp bóc của cải của ta, tại sao không hỏi han nhắc nhở nhau tìm mưu lập kế để ngăn ngừa? Dân gian không biết luật lệ phạm nhiều sai lầm, sao không chỉ dạy rõ ràng để biết mà tránh? Tại sao không đem tâm lực ra mà lo những việc cần kíp trước mắt, lại đem dùng vào những chuyện xa xôi không thiết thực? Tôi sợ kẻ địch xung quanh đang bức bách ta ngày kia sẽ đem cái giáo hóa luật lệ của chúng đến sai khiến chúng ta. Chừng đó ăn năn sao kịp!


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:16:03 pm

5. Dùng quốc âm.

Phàm con người ta muốn giải bày cái gì ở trong lòng phải nhờ tiếng nói. Mà nói thì cốt phải rõ ràng khiến ai nghe cũng hiểu, như vậy mới hợp với ngôn ngữ tự nhiên. Không thế thì chỉ là giọng nói không trong trẻo rõ ràng của những người già cả hoặc có tật chứ không phải do tự nhiên trời sinh ra như vậy. Ngày nay có những người mỗi lần mở miệng ra nói lại phải nhờ người khác dịch giải, chẳng khác nào người nước ngoài. Ta một nước sao lại có hai thứ ngôn ngữ? Hai thứ chữ viết? Hai lần học? Thế có phải nước thì một mà người thì chia hai không?

Nói về chữ viết thì đó chỉ là những ký hiệu đặc biệt thay lời nói để ghi chép công việc mà thôi. Nước nào cũng thế. Hồi mới có loài người chưa có chữ viết nhưng cũng vẫn là người không mất mát sai lầm gì. Về sau công việc mỗi ngày một nhiều mới có sai lầm thiếu sót. Do đó những người có trí tuệ tìm ra một thứ hình vẽ để ghi lại. Cũng như lối làm ra bàn tính vậy, ban đầu lấy hàng một làm hàng đơn vị rồi lên đến hàng chục rồi lên trên nữa là hàng ngàn. Dần dần trải qua nhiều thế hệ, công việc càng tăng nhiều thêm, số hình vẽ do đó cũng phải tăng lên. Chữ viết tăng theo tiếng nói. Nếu bảo chữ xưa không thể thay đổi tăng thêm, thế là sai. Thử xem chữ viết của Trung Quốc từ xưa đến nay đã tăng thêm và thay đổi bao nhiêu cách rồi. Các nước cũng vậy. Nước nào có chữ viết riêng của nước ấy, đọc lên ai nghe cũng hiểu. Học là chỉ học cách viết ra chữ mà thôi. Vả lại trời sinh ra một nước thì cũng có một thứ chữ, một thứ tiếng của nước ấy. Nước ta là một nước có tên tuổi vào hàng nhì của phương Đông vậy mà chỉ một mình nước ta không có chữ viết. Có phải tại trời không thương ta chăng? Không, đó là lỗi tại ta học chữ nước ngoài lại tôn sùng thái quá, cho nên dù có kẻ tài trí xuất chúng cũng không dám sáng tạo ra cái khác, sợ người dị nghị!

Khi quốc gia ban hành chính sách hay mệnh lệnh gì, chắc chắn là muốn cho tất cả mọi người có mắt đều được thấy, có tai đều được nghe chứ đâu phải chỉ muốn một nửa số người được biết thôi, còn một nửa phải tìm người thông dịch mới biết. Nay ta không có chữ viết riêng mà chỉ dùng chữ nho để viết thay. Về phát âm đã không theo đúng giọng Trung Quốc cũng không phải tiếng phổ thông của nước ta. Người mới học phải thuộc mặt chữ bằng mắt lại phải vận dụng trí nhớ để nhớ những phát âm lạ tai. Âm vận của thứ chữ này chỉ có ai học mới biết, không học thì nghe cũng như vịt nghe sấm mà thôi. Thế có phải phí hơn một nửa công phu trí óc không? Nay nếu học sách quốc âm, học sinh ở nhà đọc đàn bà con nít nghe cũng hiểu, như vậy tuy không đi học mà cũng học được. Hơn nữa nếu dùng quốc âm thì lúc nhỏ đã có cha mẹ dạy, lớn lên đi học chỉ học nét viết mà thôi. Thế có phải giảm bớt được một nửa công phu không? Đem một nửa công phu học tiếng lạ đó mà học những việc thiết thực cho đời sống có phải ích lợi lớn hơn không? Phàm học tiếng học chữ là học lúc còn bé, còn lớn lên thì phải đem những điều hiểu biết trong sách ra mà làm. Trừ phi có giao thiệp với nước ngoài mới học tiếng nước ngoài, chớ tội gì đã lớn mà còn học như con nít nước ngoài học vậy?

Ngày nay nước ta những kẻ thông minh lanh lợi đều đua nhau học chữ, không lập công dựng nghiệp nhân lúc thanh niên cường tráng, mà chỉ vùi đầu đèn sách hết năm này sang năm khác. Phải chăng họ muốn trở thành người Trung Quốc? Thế mà đem nói với người Tàu, người Tàu chẳng nghe, nói với dân ngu, dân ngu chẳng hiểu. Một tờ trát đưa xuống, kẻ hiểu thế này, người hiểu thế khác. Một chữ trong luật, kẻ nói tội nhẹ, người nói tội nặng. Đơn từ án lịnh thì bọn thầy kiện và quan tòa quỷ quyệt lật ngược lật xuôi. Sự tình khai báo trong dân gian thì tráo trở thiên biến vạn hóa. Công việc chất chồng phần nhiều bị bóp tròn bóp méo không tả rõ được sự thật. Thông cáo yết thị của nhà nước truyền xuống phải qua người biết chữ đọc và dịch lại cho dân, nhưng phần nhiều viện dẫn thất thiệt, giảng nghĩa không rõ khiến dân thường không hiểu hết, ý chí của Triều đình bị xuyên tạc. Thậm chí có người viết cái gì cho ai bằng quốc âm thì bị khinh thường. Làm thầy thuốc mà xem quốc ngữ thì bị cho là tầm thường. Nói tiếng mẹ đẻ mà không xen chữ nho vào thì bị cho là quê mùa. Ngoài ra lại còn có một thứ văn từ chuyên dùng những chữ hiểm hóc cầu kỳ cốt để cho người đọc không hiểu, nghe không ra. Thế mới cho là kỳ diệu tuyệt vời. Phải làm sao cho nhiều tay cao kiến hay chữ, giảng giải bắt bẻ đến nỗi một chữ ra hàng trăm nghĩa, ý tưởng lập lờ nước đôi không tài nào quyết định được, thế mới là tay cự phách trong làng văn!

Xin hỏi: chữ viết là để thay thế lời nói. Nói là để cho người nghe hiểu. Nay mở miệng nói mà không ai nghe hiểu cả thì đó không phải tiếng người nữa rồi. Lạ lùng chưa? Hèn gì người ta bảo là một thứ chữ kỳ cục cũng phải. Những chuyện đại loại như thế rất nhiều không sao kể xiết.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:16:42 pm

Ở bên Tây, mười người đàn ông có một người mù chữ, mười người đàn bà có bốn người không học chữ. Mặc dầu không biết chữ nhưng chiếu, chỉ, từ, trát cho đến báo chí sách vở, có người đọc cho nghe thì đều hiểu hết. Là vì chữ của họ đều viết bằng quốc âm. Con nít họ đi học ba năm thì không chữ nào không đọc hiểu được. Không phải như chữ nho học cho đến chết cũng chưa nhớ nổi một phần ba. Tôi thống kê chữ nho có 4 vạn 4 ngàn chữ. Trong đó, người học rộng sử dụng không tới một vạn chữ, người trung bình chừng 4, 5 ngàn còn người thường chừng đôi ba ngàn mà thôi.

Chả lẽ ở nước ta không có ai giỏi có thể lập ra một thứ chữ để viết tiếng ta hay sao? Vì ta dùng chữ nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả sợ làm cho người ta lạ tai lạ mắt. Vậy xin dùng chữ Hán làm mẫu, lựa âm của chữ nào hợp với âm tiếng ta, nhất định không thay đổi thì đọc như tiếng ta không cần giải nghĩa. Chữ nào có âm gần giống tiếng ta thì thêm nét phụ vào rồi đọc ra tiếng ta. Ngoài ra gộp hết tiếng ta lại chia thành môn loại, làm tự điển, trước tiên ban hành trong các cơ quan chính quyền và trường học cho người học dễ dàng sử dụng. Khi nào chữ Hán đã được đọc thành âm tiếng ta rồi thì bất cứ ai biên chép việc công việc tư đều phải dùng thứ chữ đã ban hành, không được thay đổi. Còn các nhà văn ai muốn dùng chữ Hán theo âm nho tùy ý nhưng trong công việc làm thì phải dùng thứ chữ Triều đình đã ban hành.

Ta đã học chữ Hán mà không đọc được như người Hán lại thêm một lần phát âm khác, thêm một lần giải thích nghĩa, khiến người có tài trí phải mất đi tinh lực nửa đời người dùi mài vào cái học ấy, không còn thì giờ tâm trí để học những cái khác. Bây giờ ta cứ lấy chữ Hán chuyển đọc ra quốc âm, không cần học nghĩa, thế cũng vẫn dùng chữ Hán có gì mà không được? Thí dụ như chữ “Thực phạn” thì đọc là “Ăn cơm”, hoặc viết chữ “Ăn cơm” thay chữ “Thực phạn”. Như vậy mà còn ai cho chữ “Thực phạn” là quý trọng, chữ “Ăn cơn” là khinh thường, nhất định cố chấp chữ nho là quý trọng, là dễ, còn chữ ta là tiện, là khinh, là khó thì dẫu trời là giỏi phân biệt muôn loài khinh trọng quý tiện cũng không cãi lại bọn này.

Nay lấy chữ Hán đọc ra quốc âm thì khi đọc lên ai nghe cũng hiểu có phải vừa dễ dàng vừa bớt được bao nhiêu phiền phức không?

Tôi tính quốc âm ta ước chừng hơn một vạn tiếng, trong đó chỉ có lối ba ngàn tiếng không thể viết như chữ Hán. Trường hợp đó ta dùng những chữ Hán tương tự rồi thêm hiệp vần vào một bên mà thôi. Còn sáu, bảy ngàn tiếng đã viết được như chữ Hán thì cứ viết, chỉ đọc như quốc âm thôi. Đó gọi là “chữ Hán quốc âm”. Từ nay hễ có dịch các sách mới hoặc có người giỏi trước tác những sách về thời vụ thì bắt buộc dùng chữ Hán quốc âm. Như vậy người học sau này chỉ học mặt chữ thôi, không phải tốn nhiều công phu học cái tiếng chẳng phải Hán chẳng phải ta. Có phải giải quyết được dễ dàng những việc khẩn cấp mà thu được lợi ích rất lớn không?

Bởi vì sự học có công dụng lớn cho quốc dân. Khi sự học gặp phải khó khăn rắc rối thì cả nước phải chịu sự khó khăn ấy đời nọ đến đời kia chứ đâu phải chuyện nhỏ.

Lập luận của tôi không khác như người học Phật trở lại mắng Phật, nhưng vì xấu hổ bởi các nước trên thế giới đều chê cười nước ta không có chữ. Hơn nữa thời thế bắt buộc phải làm như vậy chứ không phải tôi dám lập dị theo ý kiến riêng của mình.

Thường tình, ai lại không yêu quý những cái vốn có của mình, dù nó không đáng giá? Ai lại chẳng muốn lánh nặng tìm nhẹ, làm ít được nhiều? Dù cho cái vốn có của ta không tiện dụng, có hại, phí sức và khó làm, bất đắc dĩ phải bỏ cái của mình và theo người, nhưng trong lòng không khỏi hổ thẹn. Nay nước ta đã coi khinh cái vốn có của mình mà quý trọng cái hiếm lạ của nước ngoài, nghĩa là bỏ cái quốc âm của ta mà đem một nửa công phu tìm cầu cái ngoắt ngoéo, thật mỉa mai thay!


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:18:28 pm

Tôi thấy nhiều người soạn thảo một bài từ mà vò đầu bóp trán chưa viết nên lời, suy đi nghĩ lại, nín thở ngưng thần như gặp việc gì to tát lắm, như phải quyết định một việc gì khó khăn lắm, thế mà văn ý cũng chẳng dồi dào rực rỡ hấp dẫn gì cho cam! Đó có phải là tại khinh rẻ cái của mình mà đi bắt chước cái khó làm của người ta hay không?

Nếu Triều đình chấp nhận đó là kế sách lớn lâu dài giản tiện thì xin cho làm thử xem sao. Cũng xin đem sử ký, phong thổ ký nước Việt ta và các sách dạy nghề cùng với năm khoản tôi trình bày về học thuật trên đây cho học tập.

Ngoài ra xin đem các tập Ngự chế và các sách của Hàn lâm sách nào hợp với thời vụ ra ban hành. Còn kinh sử tử truyện chỉ dùng để khảo nghiệm một vài việc mà thôi. Và cũng xin đặt lệ cho các hiệu sách trong nước nếu muốn khắc bản in phải theo quy định của Triều đình cho sách nào in trước, sách nào in sau. Ngoài ra cần phải ấn hành một tờ nhật báo đăng tải các chiếu, chỉ, sớ, dụ, những việc làm của các bậc có tiếng tăm, những công vụ quốc gia hiện thời cho học sinh đọc để biết công việc trong nước. Đó cũng là một ích lợi lớn (Ích lợi ấy rộng rãi như mưa móc thấm nhuần, không thể chỉ ra từng cái được, làm sẽ thấy ngay).

Còn như những tiểu thuyết, chuyện hoang đường, bùa chú, sấm vĩ, những chuyện ngông láo không kiêng dè và những chuyện truyền miệng về đoán định cơ trời khí số, lưu truyền trong dân gian của Trạng Trình, Trạng Lượng, làm hư hỏng lòng người rất nhiều, gây dao động bất an trong dân chúng (Tôi rất đau lòng nhức óc đụng chạm với người ta và phải vất vả với nhiều người về những chuyện này lắm). Những chuyện đó không được truyền thuật, đàm luận hoặc in ra xuất bản.

Tôi thấy bên Trung Quốc có nhiều người thấy chuyện đó là bậy bèn quyên tiền mua những sách ấy đốt đi. Ý nghĩ của họ tốt, nhưng việc làm của họ chỉ đáng một chén nước dập tắt sao nổi một đống củi nào có bổ ích gì? Chỉ cấm ngặt họa may mới dứt được gốc mà khiến cho lòng người chú trọng vào cái học thiết thực cho những công việc hiện tại. Như thế mới có thể dần dần tiến tới chỗ tốt đẹp và ích lợi.

Tôi thấy bên Tây người ta học những cái của quốc vương, danh thần, danh sĩ đương thời làm ra viết ra. Còn cổ văn chỉ dùng để khảo đính. Và ai cũng cho rằng lời nói việc làm của vua tôi quốc gia hiện nay là đúng và cho rằng những việc đúng đắn của ngày xưa thua hẳn ngày nay. Như người xưa khoe thái bình, thịnh trị, tài trí, phú cường v.v… chẳng qua chỉ là nêu lên một cái tốt mà bỏ qua hàng trăm cái tồi tệ không nói đến. Nếu tìm tòi học hỏi, thâm hiểu cái lẽ thời thế đổi thay mới thấy lời tôi nói không ngoa.

Tại sao người thời nay cứ nói không thịnh trị bằng thời xưa? Hễ có một tý tai biến gì làm không vừa ý thì đem xưa chống báng nay, chê bai oán trách, những hạng người như thế sao không tự đi tìm thời thượng cổ mà sống để hưởng thịnh trị? Tại sao không chịu suy nghĩ rằng thân ta, đời ta ngày nay hiện đang ở đâu. Phải biết sống theo hoàn cảnh mới là người sáng suốt hiểu đúng đạo lý. Sao lại miệt thị sự thật, mơ tưởng chuyện đã qua đến thế! Tất cả những sự việc như thế do lỗi ở học thuật không có đường lối sáng suốt gây ra cả.

Nói tóm lại, học xưa thì lòng người hướng về đường lối xưa muốn được như xưa, học nay thì lòng người hướng về thời nay mà muốn thành đạt một sự nghiệp gì. Học xưa học nay có thể đổi khác lòng người như thế. Vậy dám xin hãy sửa đổi học thuật dần dần để cứu vãn lòng người trở lại.

Năm khoản trình bày trên đây tôi chỉ nói sơ qua những tệ hại thông thường, cạn cợt, dễ thấy để sửa sang lại học thuật mà mong những điều tôi nói ra đó sẽ không bị buộc tội. Còn nói đến nho phong ngày nay đã gây ra tệ hại lớn cho Trung Quốc cũng như nước ta như thế nào, chỉ rõ ra phải đến mấy trăm khoản cũng chưa hết. Nhưng mà nếu nói ra, chắc tôi không dám về nước! Triều đình có muốn nghe không?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:20:53 pm

Điều thứ năm: Điều chỉnh thuế ruộng đất.

Xưa lấy thuế một phần mười. Ngoài ra cũng có các khoản khác, như “cống”, “trợ”, “triệt” tùy lúc chứ không nhất định. Thuế có nặng có nhẹ tùy việc chứ không phải theo ý riêng hay tình cảm thiên vị gì cả. Như Hán Vũ Đế tính thuế thuyền, xe, muối, sắt. Tống thu tiền miễn dịch1, tiền lúa non2, rồi xuống đến Minh, Thanh còn thêm nhiều thứ phức tạp khác. Những cái đó cũng chỉ tạm thời đặt ra tùy tình thế, để giải quyết công việc trong tình thế đó. Có gì mà không hợp? Chính bọn nho sĩ đời sau, bản thân không có khả năng đảm đương công việc như vậy, hoặc vì mất địa vị mà oán hận, mới làm kẻ ngoại cuộc, đứng ngoài phê bình chỉ trích. Như thế đã không có lý lẽ chính đáng lại còn mở đường cho những bọn ăn không ngồi rồi, những phường thất chí bất mãn, tụ năm họp ba xì xào bàn tán làm dân chúng hoang mang, chê bai oán trách bề trên. Họ thường ví vua như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế; ví tôi của vua như Trương Thang, An Thạch. Mặc dầu họ nói lén lút vu vơ không biết đâu buộc tội được, nhưng sự khinh chê chống báng của họ có thể làm rối loạn chính trị, tội ấy rất lớn, chắc chắn chúng không thể nào lọt lưới âm phủ được. Lòng dân đã ôm ấp bất bình thì thế nước ắt sinh tai họa. Việc đó chắc chắn do bởi những bàn tán xôn xao phê bình vô trách nhiệm của đám hậu nho xử sĩ gây ra cả.

Điều tôi xin đề nghị đây không phải xin tăng thuế nhiều thêm mà xin cân bằng lại chỗ thừa chỗ thiếu. Vì trong dân gian có nhiều bộ điền thổ lúc trước chỉ lập bộ những chỗ cao ráo còn những nơi thấp chỗ sâu thì không ghi vào sổ bộ. Về sau hoặc vì có khúc sông bồi cát hoặc vì phân rác lấp đầy, hoặc vì biển ngưng tụ bùn, hoặc vì đầm nước cạn, những nơi này đáng lẽ phải được ghi lại là ruộng thượng hạng. Thế mà dân y theo cũ nạp thuế. Còn những ruộng ấy thì hoặc bị bọn phú hào chiếm hữu, hoặc lấy làm ruộng tư của làng để tiêu phí vào các khoản lặt vặt như cúng tế, hát xướng, sửa đình sửa miếu, mà trong đó bọn hương hào lý dịch ăn bớt đến phân nửa. Nếu có ai vạch ra thì chúng bảo đó là ruộng cúng tế. Lại có nhiều nơi ruộng có mười phần mà sổ bộ chỉ ghi ba bốn phần. Lại có một vài nơi làm nghề đánh cá, cứ một năm làng thu trọn một ngày cá trên tất cả các ghe lấy tiền sung vào quỹ làng, số tiền đó có khi đến ba bốn nghìn quan đều dùng vào những việc linh tinh không cần thiết. Vậy mà dân chẳng ai phàn nàn gì cả, chứ đánh thuế thì họ sẽ kêu ca rên xiết rằng dân nghèo kiết xác. Cũng có làng không tiền công quỹ mà muốn làm rình rang khoe tốt với làng bên thì ai nấy vui lòng xuất tiền túi ra cho bọn hương lý làm những chuyện vô ích. Còn việc công thì chưa bao giờ thấy họ đóng góp một cách sốt sắng như vậy. Lại có nhiều nơi ruộng cao có thuế lại mất mùa không thu được gì cả, còn ruộng thấp không có thuế thì lại được mùa, thế mà chẳng bù sớt cho nhau tí nào. Lại có ruộng vốn làm lúa mùa hè mà ngạch thuế cũ ghi là lúa mùa đông. Số thu hoạch trong mùa hè tiêu dùng hết đến đông phải vay nợ để đóng thuế, làm cho dân ngày một nghèo khổ. Lại có những bọn lý dịch lấy ruộng của dân tráo chỗ nọ đổi chỗ kia, để thu thuế của dân thì nhiều mà nộp lên quan thì ít. Lại có những làng vốn gần rừng núi đất rất rộng, những người chung quanh thiếu ruộng vỡ ra cày cấy. Sau bọn lý dịch dời trọn vẹn ngạch thuế qua chỗ mới khai phá bắt phải gánh chịu. Như vậy là quá nửa số thuế lọt vào túi bọn lý dịch chẳng khác nào chúng có đất phong hầu để ăn lộc vậy. Lại có làng ở ven sông đất bị sông xói lở không cày cấy được, hoặc có nơi vốn đất bỏ hoang không khai khẩn được thế mà vẫn bị bọn lý dịch chiếu lệ tăng thuế. Lại có nhiều nơi có nhiều ruộng lậu thuế không khám phá ra được bởi tài đắp vá quỷ quyệt của bọn lý dịch. Như vậy trong dân gian kẻ giàu thì giàu thêm, người nghèo càng nghèo mạt, phân nửa là do lỗi này gây ra, mà quan trên cũng phải nhọc nhằn phân xử mãi không dứt. Tệ đoan đó gây ra bởi sự gian lận của dân. Trong dân có những bọn lý dịch lỳ lợm ngoan cố, thà chịu tra khảo chứ không chịu khai thật (Quan canh nông bên Tây đích thân đi đo đạc rõ ràng chứ không theo sự khai báo trên giấy tờ) thế mà dân khen là dũng cảm làm được việc ích lợi cho dân. Nếu có lý dịch nào nhút nhát không làm được thế thì rất lấy làm xấu hổ. Vì vậy họ bắt chước nhau cho những người không chịu thú thật với quan là lý dịch tốt. Nếu làng nào giấu được nhiều ruộng đất để nhẹ thuế thì người chung quanh cho là có phước. Họ biết đâu đó chính là đại vô phước và mắc tội rất lớn với trời vậy. Luận về việc làm của họ làm mờ ám thiên lý, mất lương tâm không thể kể hết được.

Nước sở dĩ đứng vững được là nhờ binh lương. Binh để giữ nước. Lương để nuôi binh. Thế mà trong dân gian còn nhiều người chưa hiểu lý lẽ ấy. Nếu có của cải mà không có quan binh bảo vệ thì quân giặc kẻ trộm hoành hành, thân còn không giữ được, giữ sao được của cải? Dân đã không thể một mình mình bảo vệ được thân mạng, nhà cửa, của cải thì bỏ ra một ít lương thuế nhờ lực lượng quốc gia bảo vệ sự nghiệp to lớn lâu dài của mình cho. Đó là bỏ ra thì ít thu vào thì nhiều, chẳng qua cũng là một lối trao đổi vậy thôi. Có lẽ nào chỉ muốn ngồi không mà hưởng, không muốn trao của cải của mình để đổi lấy sức mạnh quốc gia? Đối với sự sản của mình thì muốn được bình an thịnh lợi, mà đối với công việc bảo vệ cho mình đó thì cố sức gian lận trốn tránh. Như vậy rõ ràng là muốn không có việc nước, cả đến không có bản thân nữa.

Nói về dân với nước bề ngoài dĩ nhiên có sai khác nhưng suy đến cái nghĩa sinh tồn tự nhiên thì hai bên có sự tác thành cho nhau, liên kết nhau hết sức chặt chẽ mật thiết, chứ không phải như bạn bè, thân thích muốn hợp muốn lìa muốn nương tựa nhau không nương tựa nhau tùy ý. Bởi vì không có quốc gia thì không thành dân sự. Không có đạo vua thì không thành quốc gia. Đó là mối liên lạc tương quan hết sức mật thiết mà tạo vật đã sắp đặt (Tuy nho sĩ tự gọi có đạo học cũng không thể nhận rõ lý này). Không một ai có thể vượt ra ngoài được. Vì vậy mà người ta bảo một quốc gia cũng như một thân thể, cùng vui cùng khổ với nhau. Có lẽ nào những chi tiết trong một cơ thể lại lừa dối gian lận nhau? Đó là chuyện xưa nay chưa từng có. Nay đã gian lận lừa dối tức là muốn vượt ra ngoài cái luật tương quan nhất định của tạo vật, là muốn cắt đứt chân tay ra khỏi thân thể. Thế thì còn đâu là nhân tính? Đã phản nhân tính mà còn bảo vô tội ư? Cho nên tôi nói đại vô phúc và mắc tội lớn là vì vậy. Tại sao dân gian sĩ thứ không hiểu cái thế kết hợp này, lấy tội làm phúc, coi chuyện quốc gia là của quốc gia, chuyện mình là của mình, chẳng dính líu gì nhau, tựa hồ như sống ở một cõi trời đất nào khác. Thế sao gọi là trọn đạo làm người được?

Nay Triều đình nếu biết dân gian phần nhiều phạm tội này mà lầm tưởng cho là phúc sao không sửa chữa lại một phen cho minh bạch công bình để cứu dân khỏi cái xấu xa mờ ám. Dân khác nào trẻ con, bánh ngọt có thuốc độc cũng đòi cho được, vì nó ngon ngọt. Làm cha mẹ thấy thế phải giật bỏ đi. Vậy mới là thương con. Nếu để ăn vào sẽ cháy ruột không sao cứu được.

Tôi nói điều này thật không có ý gì khác. Đó là lẽ tự nhiên của trời đất, chỉ bởi người không hiểu mà thôi. Nay xin trước hết hãy chọn người thực tâm giúp việc, tuyệt đối không nhận lời nhắn nhe gởi gắm của ai. Những người này sẽ đi khắp nước vẽ rõ ranh giới ruộng đất. Thí dụ như địa phận trong một xã bất luận ruộng lớn nhỏ xa gần đều phải mô tả hình dáng, đo đúng thước tấc vẽ vào bản đồ (Cách này rất tốt, không sót một tấc đất) rồi phân chia phương hướng, ranh giới, đánh số rõ ràng vào bản đồ. Một xã có mấy trăm mấy ngàn sở ruộng phải đóng dấu xác nhận vào bản đồ. Xem xét đất đai tốt xấu để phân chia thứ hạng. Nếu ruộng xấu, thu hoạch chẳng bao nhiêu thì giảm thuế. Những ruộng bỏ hoang xét thấy không có cách nào cày cấy được thì loại ra. Phàm các tệ đoan tôi đã vạch ra ở trên đều chỉnh đốn lại hết. Như thế thì những sự gian dối, lậu thuế, thiên vị sẽ lòi ra hết. Nhà nước nhờ đó sẽ thu được đúng mức thuế, có lợi rất lớn, hợp công bằng, dân không so bì than oán. Các quan canh nông bên Tây thường đi thanh tra ruộng đất xem dư thiếu, tốt xấu ra sao (Họ có nhiều công việc khác nhau nhưng không có việc nào thiên vị lệch lạc). Từ chóp núi đến lòng sông họ không để sót lọt một tấc đất nào mà dân vẫn vui lòng không than oán. Đó là nhờ đường lối chính trị công bằng của quốc gia. Nay hãy cứ hết sức làm sẽ trừ được gian lận, được công bằng không còn lệch lạc.
_______________________________________
1. Những người yếu đau không đi làm xâu dịch được thì phải đóng một khoản tiền để thuê người khác làm gọi là Miễn dịch tiền.
2. Lệ thu tiền lúa non có từ nhà Đường. Đến nhà Tống lập kế hoạch để thu là nếu dân không có tiền đóng thì quan xuất tiền quỹ ra cho hay để đóng, khi lúa chín gặt hái thì trả tiền lời 2 phân, gọi là Thanh miêu tiền.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:43:01 pm

Điều thứ sáu: Sửa sang lại cương giới.

(Điều này liên quan với điều thứ năm. Nếu điều này được thi hành một cách tường tận thì điều thứ năm được rõ ràng thêm. Quốc dân sẽ được lợi lớn như các nước phương Tây).

Cảnh vực của một nước rộng hẹp bao nhiêu cũng như một nhà có bao nhiêu vườn ruộng. Chủ nhà mà không biết hết gia sản của mình có bao nhiêu vườn ruộng, tọa lạc ở đâu, như thế là thiếu sót đối với gia đạo. Đối với đất nước cũng vậy, nếu không nắm vững cương giới một cách chính xác (Để nắm vững một cách chính xác tình hình cương giới phải dùng phương pháp mới của người phương Tây ngày nay chứ không thể theo phép tỉnh điền ngày xưa. Như vậy sẽ được lợi vô kể) thì sẽ không biết rõ tình thế trong nước ra sao, chỗ nào núi rừng, chỗ nào sông rạch, chỗ nào hồ biển, chỗ nào ruộng nương, chỗ nào nước nghẽn, chỗ nào đất hoang, chỗ nào đất tốt, chỗ nào sỏi đá, chỗ nào sa mạc, chỗ nào thung lũng, chỗ nào thành thị, chỗ nào thôn quê, chỗ nào đất bằng, chỗ nào hiểm yếu, chỗ nào đồn ải, chỗ nào cao khô chướng độc, chỗ nào có thổ sản gì thích hợp những giống gì, chỗ nào có nguồn lợi đất đai khoáng sản quý, chỗ nào mạch núi lên cao xuống thấp, chỗ nào ra vào qua lại được, chỗ nào có thể đào lấp, khai quang, chỗ nào đẹp linh, chỗ nào kỳ quan thắng cảnh, chỗ nào cổ tích, chỗ nào có quy cách ra sao, chỗ nào hợp với địa lý binh pháp (Đây là điểm quan trọng về chiến lược quân sự của quốc gia), chỗ nào xưa nay từng thay đổi, chỗ nào ở sẽ có lợi hại ra sao. Tất cả nếu không đo, vẽ trình bày ra cho thấy thì không những không rõ được cơ nghiệp quốc gia mà còn phạm nhiều thiếu sót đối với bao nhiêu việc lớn việc nhỏ. (Đem nước ta so với thế giới mà xem mới thấy mình có nhiều thiếu sót. Tự xem mình sẽ thấy rõ ràng đầy đủ. Bởi vì cái gì mắt chưa thấy thì tâm suy nghĩ chưa đến. Nếu sau khi quan sát thế giới rồi chịu nghiên cứu cho sâu, học cho hết; sau đó nhìn lại nước mình mới thấy lời nói của tôi là thiết thực xác đáng). Bởi thế xưa Kinh Thư có thiên Vũ cống, nhà Chu có chức quan chức phương đi khắp bốn phương, nắm địa đồ trong thiên hạ, Trương Khiên dạo hết sông hồ đồng ruộng của Hung Nô, cho đến những điều sách địa dư chép, binh thư ghi, không sách nào không người nào là không chú trọng đến hình thế cương vực. Các vua hiền tướng giỏi đều ân cần vấn đề này. Thật vậy, đại thế của quốc gia đều xuất phát từ đó. Cho nên xưa nay ai cũng lo khảo sát phân biệt vấn đề cương giới. Đến nay trên thế giới có nhiều nước đã hoàn bị rồi còn làm hoàn bị thêm. (Tôi thấy bản đồ cương giới của Trung Quốc ngày nay rõ ràng hơn của ta gấp bội nhưng so với các nước phương Tây, Trung Quốc chỉ đáng một phần mười).

Đối với các nước phương Tây đây là một ngành khoa học quan trọng có đề tài nghiên cứu rộng lớn. Nhờ đó họ mới tu chỉnh hoàn bị được nội bộ, mà còn bành trướng thế lực ra ngoài, tìm kiếm nguồn lợi ở các xứ khác để bù đắp vào chỗ thiếu của họ. Như người Pháp vừa mới đến Gia Định đã vội vã lo việc khẩn hoang cho đó là kế sách quốc gia hết sức quan trọng. Trái lại nước ta chính sách lớn về cương giới chưa rõ ràng gì cả (Theo tôi thấy thì còn sơ sài lắm). Bởi vậy kế sách quốc gia thường thất bại, trong dân gian xảy ra nhiều vụ tranh chấp, ngày một tốn hao một phần là do đó mà ra. Cho nên có người đã nói: Nền chính trị có nhân đức chắc chắn trước tiên phải lo tu chỉnh cương giới.

Nay xin vẽ bản đồ tất cả các xứ trong nước. Về địa phận mỗi tỉnh, huyện, xã, thôn, phường, sách, động, trang phải đo đạc lại hết cho phù hợp bốn bên, xa gần, rộng hẹp, đồng thời mô tả hình thế mặt đất như tôi đã nói ở trên, rồi ghi chú rõ ràng vào bản đồ cả nước. Trong bản đồ phải có thuyết minh để thấy rõ các mối liên lạc. Vẽ bản đồ phải thực hiện nhiều loại, có loại vẽ phân tích ra từng phần, có loại vẽ tổng hợp chung tất cả các phần vào một (Như lối vẽ của phương Tây), nhưng nói chung các bản đồ đều phải lấy độ số bằng dặm vuông để dễ suy toán (Khoản này tôi có biết ít nhiều).

Nước ta xưa nay vẫn xem thường việc này, hình như cho là chưa cần thiết, nhưng thật sự nó có ích cho ta rất nhiều không thể kể hết. Sau đó ta xem rõ địa thế đào nhiều kênh cho ghe thuyền đi lại giúp nhân dân đỡ tốn kém, rồi lại lập nhiều bến quan thuế để thâu thuế (Khoản này làm lợi cho dân cho nước nhiều lắm, sau sẽ thấy). Hơn nữa kênh còn dẫn nước tưới ruộng phòng hạn, ta nên đặt chức quan chuyên trách về việc này để thu tiền phí tổn đào vét như bên Tây có lập ra một bộ trông coi về việc thủy lợi như đào kênh để chứa nước hoặc vét kênh để tiêu nước v.v... (Khoản này tôi cũng hiểu đôi chút).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:43:52 pm

Tôi thấy nước ta có nhiều nơi ghe thuyền phải đi vòng mất hơn tháng nhưng nếu đi tắt chỉ mất chừng năm, sáu ngày. Hoặc có nơi nước chảy mạnh không thể ngược lên được như đoạn sông từ Nam Định lên Hà Nội. Trường hợp này không những mất nhiều thì giờ tốn hao tiền bạc mà còn nhiều lúc nguy hiểm đến tính mạng. Nếu đào kênh đi tắt, hàng hóa lưu thông nhanh chóng, mọi việc công tư đi lại dễ dàng, lợi biết bao nhiêu. Giả sử đi vòng đi chậm phí tổn mất 30 quan còn đi tắt đi thẳng chỉ tốn 5, 6 quan. Thế thì quan có thu thêm 7, 8 quan nữa cũng chẳng nhiều nhõi gì. Cái lợi của việc đào kênh ai cũng thấy. Chỉ có một khoản nước đổ xuống trong mùa bão lụt thường gây nhiều thiệt hại cho ta. Tuy nhiên không phải không có cách đối phó. Trừ khi nước biển dâng lên thì không cách nào ngăn nổi, chứ nước mưa thì khác. Nước ta nhiều núi ít đồng bằng, khi mưa nhiều nước mưa bị núi cản không thông nên dân bị thiệt hại. Nay nếu ta xẻ nhiều kênh dẫn nước chảy (Khoản này tôi có biết qua) thế nước sẽ yếu không lan tràn ngập lụt được. Ở đâu bị cũng vậy phải xẻ kênh chia ra nhiều đường dẫn nước đi. Đó là thượng sách.

Tiên triều đắp đê Đính Nhĩ thất bại là vì không rõ địa thế đi bắt chước đê Hoàng Hà của Trung Quốc. Đó chính là “ăn lại cái cận bã của ngày xưa mà không tiêu hóa”! Cho nên trăm ngàn năm nay đê cứ vỡ hoài, dân bị thiệt hại vô cùng, quốc gia trù tính tốn kém biết bao nhiêu, cạn hết tâm trí sức lực mà không chống nổi. Vậy mà không chịu thay đổi, rốt cuộc đành chịu bó tay.

Nay tôi xin phân biệt chỗ thành công của đê Trung Quốc và chỗ thất bại của ta để cởi mở cái sai lầm từ ngàn xưa để lại.

Địa thế Trung Quốc phía Nam gặp sông Hoàng Hà, phía Bắc có hai cụm núi lớn. Trong khoảng đó tuyệt nhiên không có một con sông nào xuyên qua. Xét bản đồ thì địa thế ở đó cao đến ngang mày. Hơn nữa hai cụm núi này, một chạy từ Lũng Hữu qua Hán Trung, Hà Nam đến Hồ Bắc. Tất cả các sông Vị, Lạc, Chương, Hoài đều phát nguyên từ đó mà đổ xuống Hoàng Hà; một cụm nữa chạy từ Thượng Cốc, Giáng Châu đến thẳng các quận ở Hà Bắc. Tất cả các con sông ở Hà Bắc đều phát nguyên ở núi này mà đổ vào Hoàng Hà. Từ Đại Hồ ra đến biển chỉ có một con sông này không thể phân nhánh ra được. Dòng nước ở thượng lưu chảy xiết do gần biển có vài trăm dặm. Vùng này toàn núi và đồi cát. Sức nước mạnh như thế mà còn không phá nổi làm nhiều nhánh huống là sức người? Nay dù muốn đào nhiều kênh để phân con nước ra nhiều nhánh từ mạn thượng du, không những không đào thế nào được một con kênh dài ngàn dặm, lại càng không thể đào thủng hai mạch núi lớn để cho nước rót vào mạn Bắc các tỉnh Sơn Tây, Trực Lệ và mạn Nam các tỉnh Hồ Bắc, An Huy.

Cũng như sông Lam ở Nghệ An, nhánh Bắc của nó chảy qua Tương Dương xuôi xuống, cách Hoàng Mai không xa, cũng không xuyên thủng được núi để chảy xuống Quỳnh Lưu mà phải quanh về phía Nam đến huyện La Sơn là vì bị thế núi chặn đường.

Còn các nhánh nhỏ hai bên Hoàng Hà đều bắt nguồn từ hai cụm núi kia mà chảy ra sông. Địa thế hai bên bờ sông như thế là càng xa về phía Nam, Bắc càng cao dần, cho nên các nhánh sông ấy không thể chảy ngược mà đổ vào chỗ khác được. Đó là một chứng cớ rất rõ. Nay nếu đào kênh dọc theo hai bên sông sẽ làm tắc cửa khẩu của hàng trăm nhánh sông không đổ nước ra Hoàng Hà. Đó là điều rõ ràng không thể được. Đời Lương đắp đập sông Hoài không thành công là một bằng chứng.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:44:42 pm

Trước kia Trung Quốc có nhiều người bàn về việc phòng chống nước sông Hoàng thấy bất tiện muốn xẻ kênh vùng phía Đông của sông cho chảy về phía Bắc đổ vào sông Cô, nhưng núi non trùng điệp không thực hiện được. Đề nghị đó rồi cũng bỏ qua. Giả Nhượng thì cho rằng phải dời dân ở Ký Châu đi, rồi phóng một con kênh cho nước chảy về phía Bắc đổ ra biển, đó là thượng sách. Do đó ta có thể thấy rằng không phải người Trung Quốc không biết việc mở các con kênh để chia thế nước, nhưng không thể nào thực hiện được cho nên buộc lòng họ phải đắp đê như cũ.

Còn địa thế nước ta thì khác. Một giải sông Lô từ Sơn Tây đổ xuống, tuy có chia ra một ít sông nhánh nhưng phía Tây sông Lô như vùng Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Hưng, Hà Nội, Nam Định đều đất đồng bằng, có nhiều chỗ trũng lại cách biển không xa, suốt bờ biển là bùn, có một vài chỗ cao cũng dễ đào. Không như Hoàng Hà, Đông, Tây trở ngại vì đồi cát, Nam Bắc bị mạch núi chặn đường. Nay nếu ta đào nhiều kênh trong các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình v.v... để phân tán thế nước thì nước sẽ yếu không chảy mạnh như trước. Dù có ngập tràn chút ít cũng chỉ ở những chỗ đất thấp mà thôi không đến nỗi cuốn trôi nhà cửa.

Vả lại các nhánh sông Phú Lương bắt nguồn từ Vân Nam, một nửa lượng nước chảy vào nước ta. Lại thêm nước vùng thượng bạn các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Yên, Sơn Tây tất cả đổ dồn về Hà Nội. Nay đê dọc hai bên bờ sông chỗ rộng nhất không quá hai dặm, đê dài từ trên xuống dưới không quá một trăm dặm. Với một khối lượng đất chừng đó mà chịu đựng sức nước của mấy chục tỉnh to. Tức là đê mỏng hẹp mà sức chứa lớn làm sao khỏi phá vỡ được?

Về phía Tây Bắc Vân Nam núi cao chót vót, mùa Đông mùa Xuân tuyết đóng chưa tan, sang các tháng Hạ, Thu mặt trời chiếu tan đổ xuống. Đã vậy, mùa này có nhiều trận mưa to. Hai thứ hợp lại đổ xuống rất dữ dội. Lại nữa từ Sơn Tây lên đến Vân Nam mặt đất dần dần cao hơn mặt bể đến sáu bảy trăm trượng. Mỗi một giọt nước đều đổ xô xuống đồng bằng. Nếu nay ngăn lại cho chảy vào một con sông thôi thì khi nước lớn mặt nước sẽ cao hơn đồng bằng đôi ba trượng. Lúc bấy giờ các huyện gần đê, nếu bị vỡ, sẽ bị hại rất khốc liệt. Còn cách đê càng xa, thế nước càng yếu sẽ ít thiệt hại hơn. Đó là bằng chứng cho thấy rằng nước nên khai thông không nên ngăn chặn.

Lúc nhỏ tôi có đi dọc theo đê hai ba ngày, thấy mặt đê cao hơn mặt ruộng đến ba trượng. Bên trong đê dọc hai bên sông có nhiều đống cát bồi cao hơn ruộng ngoài đê một hai trượng. Thế là khi nước tràn những đụn cát bồi này không khác những quả núi chặn nước lại. Như vậy dẫu đê bằng đá cũng không chịu đựng nổi huống hồ đê bằng đất! Tôi lại trông ra xa bốn phía dọc theo sông thấy có nhiều rạch, kênh, ao, vũng. Và từ Hà Nội ra đến biển đi lối bốn năm ngày, không phải như Hoàng Hà, từ Châu Phong, Từ Châu ra đến biển phải đến mấy nghìn dặm đường.

Nay không cần phải phá đê mà xem địa thế đào thêm vài chục con kênh lớn tiếp giáp với cửa đê. Rồi lấy đất đó đắp hai bên bờ kênh làm thành đê nhỏ tiếp giáp với đê lớn thoai thoải xa dần. Ngoài ra xem địa thế, đào thêm nhiều đường nước nhỏ để khi nước tràn thì chảy vào không hại ruộng, tiện đi lại cày cấy gặt hái, bắt tôm cá và dùng nó như những cái hồ nhỏ để chứa nước khi có nước lớn (Hai bên sông có nhiều ao hồ thì ít khi bị ngập lụt, như sông Trường Giang ở Trung Quốc).

Những con kênh lớn này phía Bắc đổ ra Hải Dương, phía Narn đổ ra Ninh Bình thì khỏi lo nước chảy ngược trở lại vào sông như trường hợp ở Hoàng Hà.

Vả nước từ trên cao đổ xuống, không có nước triều lên xuống, sẽ tống hết rác rến bùn lầy thì không đầy vài ba năm kênh sẽ rộng sâu thêm khỏi phải vét đi vét lại.

Nếu thực hiện thì chờ khi nước lớn tính xem mực nước đi đến bên trong đê là mấy thước. Sau đó tính diện tích đê từ Nam chí Bắc sẽ biết số nước chứa là bao nhiêu vạn thước khối. Trừ số nước dưới lòng sông ra, chỉ tính số nước dâng từ bờ sông trở lên mà thôi, thì sẽ biết phải khai bao nhiêu con kênh, sâu mấy rộng mấy, mới có thể chứa hết số nước đó. Nước đã có đường thấp để chảy thì làm gì có nạn ngập lụt?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:45:04 pm

Các nước phần nhiều có nạn lụt người ta đều lựa thế xẻ kênh tháo nước đi. Đó là dùng sức người để thắng thiên nhiên. Còn ta cứ phó mặc tự nhiên. Đã vậy còn ngăn đắp cái không nên ngăn đắp.

Hãy xem sông Cứu Long lượng nước của nó nhiều hơn bốn năm lần lượng nước của sông Lô mà Vĩnh Long không bao giờ ngập lụt vì nhờ có nhiều nhánh sông lớn. Đó là một bằng chứng rất rõ.

Dòng sông dời đổi bất thường thì đê cũng phải sửa đổi theo, tốn công mãi mãi. Chi bằng thuận theo thế nước mà dẫn nó đi thì dễ dàng tiện lợi.

Nếu Triều đình cho là phải thì trong hai năm đầu hãy cho người cắm tiêu theo khúc sông hẹp từ Diên Vương lên đến Hà Nội, cứ cách bốn năm dặm cắm một cây. Khi có nước sẽ sai người đến chờ ở đó xem nước lên đến mức nào, nước cạn đến mức nào phải ghi chép thật rõ ràng.

Ngoài ra truyền rao cho các nhà giàu xuất tiền cho nhà nước vay. Trước tiên tùy số tiền cho vay nhiều ít sẽ được ban khen. Sau đó tiền lời sẽ được trả khi kênh đào xong và lập trạm thuế. Mỗi năm, quan sở tại trả tiền lời cứ một vạn là một trăm quan. Khi nào tiền lời được gấp đôi số tiền đã cho vay thì chấm dứt và không hoàn vốn lại.

Trước khi khởi công độ ba bốn năm phải phái người thạo về đo đạc địa thế tính toán thật rõ xem tổn phí nhân công, tiền bạc bao nhiêu cũng như chuẩn bị trước thật đầy đủ các thứ dụng cụ cần thiết.

Còn trong nước những chỗ nào xa cách đường nước cũng phải tìm cách đào kênh để đem nước vào ruộng và tiện giao thông.

Phía Tây nước ta, núi lớn cao hơn mặt biển, đất mạn trên gần chân núi cao hơn đất mạn dưới. Nay nếu đào mương ở mạn trên sẽ đưa được nước ngọt về đồng bằng. Nếu có hạn hán cũng đủ nước tưới còn mưa thì có chỗ tháo (Trên thế giới nước nào có nhiều núi cao, nước đó được nhiều nguồn lợi vô kể.)

Ngoài ra bên bờ kênh xem chỗ nào có thể dẫn nước được thì làm một cái cửa đóng mở để thu lệ phí, công tư đều có lợi (Những việc trên đây tôi có thể làm được).

Phần đông các nước trên thế giới đã làm việc này rồi, chỉ có nước ta chưa làm thôi. Nay xin cử gấp người đi học tập khoa này. Chỉ sáu bảy năm cũng có thể dùng được rồi. Điều này rất quan trọng đối với chính sự quốc gia, không nên cho là cao xa khó làm mà không chịu hết lòng hết sức. Nước giàu mạnh không phải ở chỗ đất rộng dân đông mà ở chỗ biết sử dụng đất ấy dân ấy như thế nào. Nếu cương giới đã rõ ràng, khai thác hết địa lợi, của cải dồi dào thì kiến thiết cũng dễ. Điều khiển công việc nước cũng như điều khiển công việc nhà, không phải chỉ lo mở rộng đạo lý của tổ tiên mà thôi đâu!


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:49:20 pm

Điều thứ bảy: Nắm rõ nhân số.

Nước với dân như cha mẹ đối với con cái. Cha mẹ mà khỏng biết mình có bao nhiêu con, giàu hay nghèo, nghề nghiệp ra sao, sống hay chết, ốm đau hay lành mạnh, vui hay buồn thì chưa trọn đạo làm cha mẹ. Một nước cũng như một nhà. Cha mẹ quý con, Triều đình quý dân.

Bởi vì nói trị tức là trị người. Nếu sót một người là một người bất trị, lọt mất cái gì là thiếu uy quyền cái đó. Công việc cũng vậy. Một việc làm sai, tức lệch ra ngoài đường lối.

Nếu Triều đình không biết trong nước mỗi năm dân sinh được bao nhiêu trai gái, người già yếu bao nhiêu, cường tráng bao nhiêu, bệnh chết bao nhiêu, giàu nghèo bao nhiêu, dân chúng làm ăn sinh sống ra sao thì rất thiếu sót trong đạo trị nước.

Vì vậy phương Tây người ta giao cho lý dịch ghi rõ tất cả số người sống, chết, thọ, yếu, giàu, nghèo, trí, ngu, quan, dân, binh lính không sót một người nào. Mỗi năm người ta còn biên chép số hàng hóa xuất nhập khẩu, tàu bè ra vào tại các cảng thương mại, số khách trọ, số người ngụ cư, người chính quán, người di chuyển đi chỗ khác tại các phố thị. Đồng thời còn đánh giá tình hình vật giá như lúa thóc, súc vật, lâm sản, hải sản, khoáng sản, sản xuất lên xuống như thế nào, gia sản giàu nghèo của dân chúng ra sao, tất cả đều ghi rõ không sót một việc gì và gởi lên Triều đình. Như thế Triều đình mới biết hết được sự thịnh suy lợi hại ra sao để điều tiết việc thu chi. Về chính sự bất luận lớn nhỏ đều phải tiêm tất không được sai sót một việc gì. Vấn đề này khó nêu hết được. Về thuế khóa nên đánh nhiều vào các nhà giàu và những nơi phồn hoa thương mại. Bởi vì họ thọ ân nhiều thì phải báo đáp nhiều, như trước tôi đã nói rõ.

Nước Pháp, thuế mỗi năm thu vào hơn hai nghìn triệu quan (Thuế thuốc lá trên một trăm triệu, thuế đường trên hai trăm triệu, thuế rượu trên ba trăm triệu, và rất nhiều thứ thuế khác) mà dân không than oán gì cả vì việc làm phân minh, trên dưới thông suốt. Cho nên dân biết rõ cái lẽ, cái thế, cái đạo, cái bổn phận phải làm như vậy.

Thử xem nước Bồ Đào Nha, dân số có hơn một triệu. Còn nước ta dân số ước đến hai mươi triệu (Nói chung tất cả mọi người). Vậy mà mỗi năm số thuế người ta thu vào gấp mười lần của ta. Dân chúng lại chẳng cho là thuế khóa hà khắc. Vì sao vậy? (Chừng nào nền học thuật nước ta rõ ràng, lúc đó mới thu được nhiều thuế như phương Tây mà dân không kêu ca).

Nay nước ta, đối với các việc kể trên đều coi như không. Đó là tại ta không làm chứ không phải không làm được (Chừng nào có thể làm các điều trên, tôi sẽ đem các phương pháp hay ho của phương Tây đối chiếu với những ưu khuyết điểm của dân ta, lần lượt trình bày rõ).

Những điều trên sẽ đem lại lợi ích không thể kể xiết. Chỉ có làm mới dần dần thấy hiệu quả, mới dần dần phát sinh nhiều phương pháp hay. Giờ đây không thể nói hết ra mà hình dung được.

Phàm quốc gia đối với nhân dân muôn việc chẳng khác nào huyết mạch trong thân thể. Nếu lưu thông trở ngại, nhất định sẽ sinh ốm đau. Đó là sự thật tự nhiên (Lẽ này khó thấy rõ, nhưng xét kỹ trên đời không có sự thật nào hơn).

Ngày nay chính quyền quốc gia hãy còn xa cách với dân chúng. Dân chúng có điều gì thì gian dối che đậy chính quyền. Trên dưới không thông suốt nhau, rõ ràng khiến sự gian dối của dân chúng ngày một nhiều thêm, quyền lực quốc gia ngày một giảm sút. Do đó nước càng ngày càng yếu, dân chúng càng ngày càng phân tán (Việc này tản mạn lộn xộn khó nói rõ nhưng rất quan hệ). Rồi trên dưới lòng dạ khác nhau, đàng nào lo mưu lợi riêng cho đàng ấy thì làm sao thành một thể thống nhất được?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:50:07 pm

Tôi xin điều tra dân số không phải muốn để tăng thêm thuế ngay. Nhưng trước tiên là chấm dứt mọi gian dối xấu xa trong dân chúng, còn việc mưu những lợi lớn cho quốc gia thì sẽ tính sau (Hiện nay tôi thấy dân chúng lý dịch hễ đến cửa quan, bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, mở miệng ra là dối. Đó là một thói rất xấu mà không biết tìm cách sửa đổi)

Trong trời đất bất cứ ở đâu, làm một việc gian dối đều có tội. Gian dối nhỏ tội nhỏ, gian dối lớn tội lớn. Gian dối ở Triều đình là gian dối lớn, tội đó càng lớn hơn nữa. Bởi vì chuyện đó làm được thì còn chuyện gì không làm được? Đã gian dối được thì cũng có thể làm phản được. Nếu cùng đường không gian dối được thì đâm ra oán trách muốn phủ nhận đạo nghĩa sinh thành. Thế chưa chống lại được nên miễn cưỡng phục tùng, kỳ thật trong lòng đã phản bội. Cái đó do đâu? Dĩ nhiên do lòng dân không có một đạo lý hay lành nào hướng dẫn nhưng cũng tại Triều đình không rõ mọi việc mới gây ra tệ đoan này.

Phàm quốc gia không sợ thiếu chỉ sợ không công bình, nếu có bên trọng bên khinh tức không còn công bằng vô tư nữa. Từ đó sinh ra nhiều tệ đoan không thể kể xiết.

Theo luật nước đã có điều khoản trừng trị về việc ẩn giấu nhân khẩu. Vậy mà không trừ được tệ ấy là vì không thấy rõ tệ ấy như thế nào? Chính các quan cũng ngầm biết dân gian có giấu giếm nhân khẩu nhưng cứ làm lơ như không biết để được cái đức khoan dung dễ dãi, kiếm chút phước về sau. Thật không biết đó chẳng là phước đức gì cả. Phước là phải thi hành đường lối chính sách công bằng, làm cho dân hết gian dối. Cũng có kẻ khoan nhu bảo rằng nếu không thế dân sẽ không chịu nổi. Cho nên đã không điều tra cho đúng sự thật. Nếu làm rõ ràng đúng luật lệ hành chính của Triều đình mà dân không kham nổi thì đó là luật không được hoàn thiện. Nếu luật hoàn hảo, mà người thừa hành lại hợp lý thế sự tình thì có gì gọi là không kham nổi? Nếu nay còn có người có ý nghĩ như thế rõ ràng là luật chưa hoàn hảo. Lại có người nói: “Tuy có sót lọt ở trên quan nhưng trong dân thì chia ra mà chịu”. Chia như thế đâu phải Triều đình chia mà do bọn thổ hào chia. Bọn hương hào lý dịch ác ôn nhờ đó mà ăn cho no béo nên chúng mới gian dối đủ cách, chịu đánh đòn để mưu lợi riêng tư. Đến khi có người bất bình phát đơn kiện, bấy giờ quan mới trừng trị. Nếu thế sao trước lại âm thầm lờ đi để cho sinh tệ rồi sau lại dùng hình phạt bảo là gian dối? Như vậy có phải là gạt gẫm dân không? Tại sao trước không làm cho sáng tỏ rõ ràng để sau khỏi sai quấy? Nguồn nước đã khơi không thể nào chận dòng nước chảy được. Vì vậy mà trong dân gian có xã thôn nào mặc dầu vốn trù mật nhưng bị tật dịch chết một vài người thì tìm cách chạy chọt hối lộ quan lại nói là tổn thất nặng nề, số đinh giảm khá nhiều. Bọn này nói rằng: “Mất vài trăm quan tiền chẳng bao nhiêu mà giảm số đinh được năm sáu người, lợi ấy mới lâu dài”. Thế mà bảo là lợi, thật hết chỗ nói! (Những tệ đoan do bọn lý dịch và quan lại này gây ra nhiều không kể xiết). Còn dân các làng nghèo không tiền đút lót thì chỉ được một hai người. Tuy có kêu nài hai ba lượt, tốn của tốn công cũng không được xét gì vì quan nghi là cố ý vu khống. Do đó ngày một hư hao phải trôi giạt bốn phương là vì vậy. Sở dĩ ơn nước không thể chia sớt đồng đều, việc sắp đặt không được công bằng, mò mẫm không phân biệt thật giả là do không nắm rõ số sinh số tử trong dân chúng. Thêm vào đó lúc bình thường cứ bao che để cho kẻ điêu ngoa xảo quyệt nhân đó thủ lợi, mánh khóe gian xảo ngày một tinh vi. Còn kẻ ngay thật đã chẳng được gội ơn lại cứ phải cong lưng chịu thuế. Chi bằng hãy điều tra rõ ràng xác thực như phương Tây; suy, thịnh, tình trạng nào thích hợp tình trạng nấy; nhiều, ít, mạnh, yếu, không thiên vị bên nào cả. Như thế mới có thể chấm dứt cái tội lừa dối quan trên.

Do nảy ra ý kiến muốn tăng số đinh, nước ta đã đặt lệ duyệt lại. Nhưng người ta chỉ dựa vào số lão nhiêu, lão hạng, tuyển lựa lại điền vào cho đủ số. Làm thế là cứ theo lý mà bắt dân. Do đó dân cũng phải theo lý mà tìm cách đối phó. Kết quả chẳng rạch ròi phân minh gì cả, khác nào người bói cầu may, được tốt hay tốt được xấu hay xấu, có công bằng gì đâu?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:50:42 pm

Phàm con người sinh ra, nhiều, ít, nên, hư đều theo một trật tự do tạo vật xếp đặt chủ trì. Xem trong một nhà, một làng thấy có đầy, vơi, hư, thực, không bằng nhau. Nhưng tính chung trong toàn tỉnh hoặc cả nước thì thấy cứ một thế kỷ số người lại tăng lên gấp đôi. Đó là lý nhất định. Phương Tây người ta tính rõ rằng mỗi nước cứ trong khoảng ba mươi năm, đối chiếu số sinh số tử thì thấy số chết một mà số sinh gấp đôi. Tức là chết một sinh hai, và số con trai nhiều hơn số con gái là một phần mười một. Đó là con số chắc chắn.

Nhưng trên địa cầu, có giống tốt phước, có giống vô phước. Đó là lẽ tiền định của tạo vật, nếu không xét kỹ nguồn gốc trời, đất, người, vật không thể nào hiểu thấu và tin tưởng lẽ ấy được. Tuy nhiên cứ xem các nước xưa nay cũng có thể biết rõ chuyện ấy có thật. Giống tốt phước ở Đông Châu (Đông bán cầu của quả đất là Đông Châu, Tây bán cầu là Tây Châu) như người phương Tây, người Ấn Độ, người Mông Cổ, người Trung Quốc, người Nhật Bản, người nước ta. Những giống dân này mỗi ngày một thịnh, mỗi thế kỷ tăng lên hai lần rưỡi. Cứ xem dân ta từ khi vào đất Biên Hòa đến nay gần một trăm sáu mươi năm mà đã nảy nở rất phồn thịnh. Đó là một bằng chứng. Còn giống vô phước như các dân da đen ở phương Nam, dân Thổ Nhĩ Kỳ, dân Mã Lai (ở các đảo ngoài biển) dân Miến Điện, Xiêm La, Cao Miên, Chiêm Thành và các nước Tây Vực. Giống dân này ngày một điêu tàn, nay đã đứng lại không phát triển nữa. Còn như Lâm Ấp, Phù Nam gần nước ta, nay không biết biến mất tiêu đi đâu. Đó là ruột bằng chứng.

Phàm loài người hễ giống có phước thì mỗi ngày một thịnh. Nước ta là một trong những giống có phước trên quả đất này. Nay tuy có bị thử thách đôi chút, nhưng lâu dài về sau, chắc chắn sẽ được mở rộng cõi bờ, làm sáng tỏ cái bí tàng của trời đất. Núi sông hai bên bờ dòng Cửu Long, nơi để về già hưởng nhàn của nước ta, đang sẵn sàng chờ đón. Nước ta đã được đặt để là đất phước lâu dài trong trời đất. Tại sao không phấn khởi thừa hưởng. Tại sao cho sự mở mang là sai? Như thế là lười nhác, hàm hồ! Tạo vật đã muốn cho dân ta tăng nhiều, thế mà lại giấu giếm giảm bớt đi. Trên dùng lý lẽ để ràng buộc dưới, dưới dùng lý lẽ cách này cách nọ để che giấu trốn tránh trên. Như thế thì làm sao được?

Phàm dùng lý chỉ dùng trong việc xử đoán hình phạt, mà khi nào không dùng tình được thì mới dùng đến lý. Lý là mệnh lệnh gắt gao. Tình là cái đôn hậu hòa dịu. Nếu trên dưới không đối xử với nhau bằng sự hòa dịu để cùng hưởng phước mà bằng sự sát phạt gắt gao thì mỗi ngày sẽ suy tàn mà thôi. Tạo vật sở dĩ muốn dùng giống tốt rải khắp trời đất và cho quyền lực sai khiến sắp đặt giống loài là để hoàn thành cái ý của tạo vật, để phân chia cho tộc loại mình những phần đất mà các giống vô phước không đáng hưởng!

Hãy xem liệt tổ Triều đình ta khai thác đất miền Nam, chăm lo dời dân mở đất. Đến nay từ Ải Vân vào Nam, giống ta ngày càng đông đúc, man mọi ngày một tiêu dần, để lại cho quốc gia không biết bao nhiêu ơn nhuần thấm. Đó là mở rộng đất đai xây dựng giống nòi (Đoạn sau của điều này tôi xin dời bọn tù tội và lưu manh vào miền Tây cũng do ý đó). Như thế không đáng phấn khởi sao?

Sĩ thứ muôn dân sao không nghĩ rằng của cải của quốc gia nên giao hết cho Triều đình giữ để quyền nghi phân bổ đồng đều, ai cũng được hưởng cái phần đáng hưởng của mình, không tranh giành lấn áp, phải người phải ta, cùng hưởng yên vui lâu dài. Triều đình chẳng qua là đại diện làm công việc thu phát còn hưởng là dân hưởng.

Nếu dân biết bày rõ chân tình, quan thuận theo đó mà điều tiết thì tự nhiên cao thấp, lớn nhỏ đều được công bằng thỏa nguyện. Như người thấp chẳng tranh lấy áo dài làm chi, mọi người đều giúp đỡ nhau xây dựng sự sống còn, không ai thái quá, không ai bất cập, cũng không còn tâm địa xấu xa phân biệt chia rẽ nữa (Đây là chuyện chắc chắn có thể làm và tất hữu trong đạo làm người chứ không phải như thuyết Tề vật hoang đường). Đây là một chân lý rất kỳ diệu, khẩn thiết đối với nhân loại. Chỉ vì không rõ chân lý ấy mới có cảnh quân tử phạm lễ nghĩa, tiểu nhân phạm hình luật mà chẳng ai lấy làm lạ thản nhiên như không để đến nỗi cả nước mạnh hiếp yếu, thù nghịch mâu thuẫn nhau mà suốt đời chỉ tìm cách che đậy, dối trá chống lại bề trên. Dầu có người cao thượng, thấu đáo cũng bị vướng mắc tục làng mà không khỏi rơi vào tệ lậu ấy. Làm quan trên mà không nắm vững số hộ khẩu nhiều ít, điều hợp để thành một khối, thế lực quốc gia do đó sẽ ngày một hao mòn. Như thế là tuy muốn lợi mình mà thành hại mình.

Nếu nước nhà không yên, thử hỏi những làng xã giàu có, đông dân, những bọn trốn xâu lậu thuế có trốn lên tiên ở được không? Có cày cấy làm ăn được không? Trường hợp này cũng giống như hai người khiêng một vật mà bên nặng bên nhẹ không đều. Như thế làm sao khiêng lên được? Nếu cưỡng bách khiêng lên, trật chân một cái không những bên nặng nát mà bên nhẹ cũng tan. Đó chính vì lòng riêng tư mà hại đến việc chung cả nước.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:51:22 pm

Phàm việc đời nếu đã không đem tình ra cư xử với nhau thì đạo làm người không điều hòa, ơn huệ và uy quyền không thỏa đáng. Từ đó những bọn ngang tàng trái lẽ mới quấy rối gây chia rẽ, cách ly trên dưới. Có oan khổ khó giải bày. Muốn thưởng phạt không sao định được. Lúng túng ngập ngừng như đưa tay vướng lưới, cất bước sập hầm. Trên không còn cách nào trị dân cho khéo, dưới không có cách nào yên ổn làm ăn (Đại khái chuyện đời là thế, nhưng thật khó mà phân biệt, nếu không sâu sắc tình đời không thể thấy rõ được). Đó là do những bọn thiếu tình người gây tai hại. Thật rõ ràng như vậy.

Do đó mới thấy rằng lý vốn do tình mà ra. Người trị nước quý hồ ở chỗ thấu suốt tình dân. Có tình thì mới có dân.

Việc nhân sự không gì quan trọng bằng nhân số. Trị nước mà không nắm rõ nhân số để cho giấu giếm sót lọt thì còn chuyện gì không sót lọt?

Các nước phương Tây lập pháp rất chặt chẽ thế mà lại rộng rãi. Bởi vì tất cả đều có luật pháp không thể gian dối được, cho nên người ta không gian dối, cũng không có ý nghĩ muốn gian dối. Họ sống yên ổn trong luật pháp, không cảm thấy bị luật pháp ràng buộc, nên tựa hồ như luật pháp ấy rộng rãi.

Còn ta cũng lập pháp mà không ngăn chặn nổi tệ đoan là vì luật pháp nước ta chưa chặt chẽ, còn sơ hở để tệ đoan sinh ra. Họ cũng người, cũng nước, cũng dân, sao luật pháp thi hành được còn ta thì không?

Các nước phương Tây chưa bao giờ có chuyện bãi tô giảm thuế mà tình gắn bó giữa dân với nước thân thiết khác hẳn tình trạng nước ta biết mấy (Điều này tôi đã trình bày trong tập “Ngôi vua là quý chức quan là trọng”). Bởi vì họ có thể theo đạo trời làm đúng lẽ tài bồi chở che, xử sự hợp lý. Cho nên luật pháp tuy nặng nề tựa hồ vô tình mà lại rất có tình. Chính vì lẽ ấy Khổng Minh nói: “Trị đời bằng đức lớn chứ không bằng ơn mọn”.

Nay nếu Triều đình không chỉnh đốn lại thì kẻ sống trong pháp luật ít, kẻ ngoài pháp luật nhiều. Quan trên quý hồ nắm lý lại có nhiều tư vị nên không thể hết lý. Dưới dân quý hồ ở tình lại có nhiều gian dối không thể hết tình. Tình lý không thông làm sao xây dựng đất nước tốt đẹp được?

Nay xin lập sổ bộ thống kê lại đầy đủ không luận gái trai già trẻ. Việc này giao trách nhiệm cho tri huyện và tổng lý phải ghi rõ ràng trình lên. Như chính quán bao nhiêu, ngụ cư bao nhiêu, nghề nông nghề dệt bao nhiêu, người học chữ bao nhiêu, làm thợ bao nhiêu, buôn bán bao nhiêu, bao nhiêu người không có nghề nhất định, bao nhiêu người mồ côi cha mẹ, góa vợ góa chồng, bao nhiêu người tàn tật, bao nhiêu quan, binh, chức sắc, bao nhiêu người làm thầy thuốc, thầy bói số. Mỗi năm đều ghi rõ ở dưới là còn tiếp tục hành nghề cũ hay đã đổi nghề khác. Cũng phải ghi rõ mỗi nhà sinh được bao nhiêu trai gái, chết vì lý do gì. Nếu lý dịch và nhân dân ai cố ý khai dối sẽ bị trừng trị nặng. Nhưng trước hết Triều đình phải cáo thị cho dân chúng rõ là nhà nước sẽ thi hành nhất luật như vậy và làm thế không phải để tăng sưu thuế mà muốn đem lại sự thật, chận đứng mọi gian dối. Hơn nữa dần dần nhân đó bớt chỗ nhiều thêm chỗ ít cho hợp lý, tương trợ lẫn nhau để cho ngày càng thắt chặt mối liên lạc trong nhân dân. Ai trước đây đã giấu giếm số đinh, lần này phải khai thật sẽ không bị tội.

Để chuẩn bị việc điều chỉnh, trước hết trong những năm đầu mỗi năm phải soát lại số đinh xem tăng giảm ra sao, sau mới phân loại xếp hạng, chỉnh đốn toàn bộ lại hết. Có như vậy sưu thuế mới công bằng thích hợp, tình trên dưới mới không còn ngăn cách.

Việc chính trị trong nước không gì quan trọng bằng số đinh. Số đinh đã ổn định rồi, bấy giờ mới có thể từ từ tính toán sắp đặt mọi việc trong dân gian, như đã nói ở đoạn trước.

Ngoài ra còn những bọn tù tội, ăn của nhà nước thì phải làm việc, không nên để chúng ở không. Vì ăn ở không là gốc của mọi tội lỗi. Cứ xem những tù thường phạm thì biết chúng đều là những kẻ ăn chơi biếng nhác không muốn làm việc, hoặc đam mê hát xướng, hoặc không có chuyện gì cần thiết mà cứ bôn tẩu ngược xuôi, cho đến những bọn côn đồ đàn đúm nhau bài bạc rượu chè rồi sinh sự điêu ngoa bày mưu kiện tụng, cho đến những bọn bói khoa, xem phong thủy, bùa chú. Lại có những kẻ mượn cớ dạy học kiếm ăn thế mà lặn lội không sót một chỗ nào, lời nói và hành động của họ gây nhiều tai hại và rối loạn trong dân chúng.

Vậy sau khi đã kiểm tra nhân số một cách rõ ràng chắc chắn rồi, hãy tầm nã rộng rãi những bọn này tập trung lại quản thúc gắt gao, tổ chức thành đội ngũ, cấp phát áo cơm, rồi bổ sung vào làm việc binh dịch. Phải bắt chúng cực nhọc thể xác, khốn đốn tinh thần, chúng mới hồi đầu tỉnh ngộ. Hoặc dời cả gia đình chúng đến những bìa rừng xa xôi để khai khẩn đất đai, phá núi mở đường. Nếu làm được sẽ cho chúng được quyền hưởng dụng vĩnh viễn.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:51:50 pm

Xưa từ đất Ngũ Linh trở vào Nam vốn là vùng đồng hoang nước đọng. Tần Hoàng, Hán Vũ đưa tù tội đến đó khai khẩn, nay trở thành miền đất phì nhiêu thu lợi vô kể.

Các nước phương Tây cũng dùng cách này mà làm cho Tây Châu ngày nay trở thành giàu có sung sướng. Những việc đó là đày đọa tù mà cũng là làm phước cho tù vậy. Hiện nay người Anh vẫn còn di cư những đám dân nghèo đến các vùng hoang vu cho khai khẩn, nhằm thu lợi trăm năm sau.

Những chỗ sát biên giới phía Tây nước ta cũng nên dần dần chỉnh đốn lại. Những làng xã nào có dân nghèo không kế sinh nhai thường bỏ đi làng khác và những bọn vô lại đầu gành xó chợ đều phải lùa đi hết ra khỏi làng. Tôi thấy trong dân có những hạng người làng xóm không ưa, do từ mặc cảm đó họ gây nhiều tội lỗi. Nếu những người này chết hoặc đi đâu cho khuất mắt thì ai cũng mừng. Lại có nhiều bọn ăn cắp móc túi. Phố chợ nào cũng có bọn này, bọn nào có địa phận ấy. Có bọn còn cấu kết ăn chia với hương hào làm cho dân chợ khổ mà dân những chỗ buôn bán càng khổ hơn. Những bọn người bất nhân này đã là giặc dã man đối với dân chúng, sao không dẹp yên đi, đưa hết bọn chúng ra ngoài biên giới cho hợp với ý muốn của dân? Hãy lựa trong chúng những tay quá quắt nhất mà không nhà cửa, tập trung quản thúc bắt đi làm các dịch vụ công cộng như đào kênh, vỡ đất, trồng cây... Đó là phương pháp hay nhất. Đối với bản thân chúng, được lợi ích vì cải tạo tư tưởng hành động, dân chúng thì được yên ổn và quốc gia thì được lợi ích không thể kể hết. Nay xin nêu một số dễ thấy nhất như sau: Một là dân khỏi bị hao tổn ám hại, hai là khỏi nạn trộm cắp, ba là khỏi kết bè đảng làm tội ác giữa bọn này bọn kia, bốn là khỏi bị cướp giật giữa đường giữa chợ, năm là khỏi tụ tập chuyện nhỏ làm ra to, sáu là khỏi lây xấu sang người khác, bảy là tránh cho dân khỏi tội vì tức giận chửi rủa chúng, tám là tránh cho dân khỏi bị bọn chúng vu oan giá họa, chín là bọn nhà giàu ác độc không còn bọn này để mướn chúng đi hành hung con nợ để đòi nợ như quan nha quyền thế, mười là bọn giặc không còn đâu để giả dạng thông tin tức cho nhau, mười một là giúp chúng có cách làm ăn sinh sống, mười hai là có thể làm cho chúng tuyệt đường hung ác, mười ba là có thể qua thử thách đó chúng tỉnh ngộ hối lỗi trở về nẻo lành, mười bốn là bị bắt buộc làm việc mỗi ngày sẽ bỏ được tật lười biếng, mười lăm là do bị bắt buộc làm việc mãi mà quen nghề, mười sáu là đã có bọn này làm các tạp dịch khỏi cần bắt dân, mười bảy là từ Kinh đô đến tỉnh có bọn này quét đường, trồng cây tưới nước, đổ rác, đường sá sạch sẽ không khí trong lành dân ít bệnh, mười tám là cỏ rác gạch ngói xà bần có bọn này đem đi lấp những chỗ sình lầy biến thành ruộng tốt, mười chín là có khai mỏ đã có bọn này khiêng vác chuyên chở khỏi mướn nhân công, hai mươi là những nơi rừng sâu hoang vu đã có bọn này khai phá dần dần trở thành khang trang. Vài mươi điều kể trên đem lại lợi ích lớn cho quốc dân và cả cho chúng nữa. Tuy nhiên trong đó cũng không khỏi có điều tệ Nếu khéo dùng chúng thì tệ ít mà lợi nhiều. Bọn chúng được đưa đến đâu thì quan quyền ở đó quản thúc chúng lại để đề phòng những chuyện không hay xảy ra. Sau đó cho phép các linh mục và đạo đồ đến các điểm tập trung, như ở các vùng biên giới các châu, sách xa xôi, để giảng đạo giúp đỡ giáo dục chúng. Bởi vì các giáo sĩ có nhiều phương pháp hay giàu thiện chí, nhẫn nại và chịu cực giỏi mới có thể ở với chúng được.

Phương Tây xưa có nhiều giống dân hung dữ chưa khai hóa, như dân Bồn Man, Vạn Tượng ngày nay, phần nhiều đều nhờ các giáo sĩ chịu khó mở mang giáo hóa mà về sau dần dần trở nên thịnh lợi. Chuyện ấy sử sách các nước phương Tây còn ghi và sách Doanh hoàn chí lược của Trung Quốc cũng nói đến chứ không phải tôi dám bịa ra hùa theo nói tốt cho họ đâu.

Phàm những người chỉ mới gây những tội ác nhỏ chưa đến nỗi nào, nhưng nếu không sớm xử trí, dần dần sẽ trở thành tội ác lớn. Tội ác nhỏ mà chất chứa suốt đời cũng bằng một tội ác lớn. Ví như nước làm đắm thuyền vậy. Nước vào thuyền bằng lỗ lớn hay rịn vào khe nhỏ cũng thế. Nếu không nhét sẽ làm đắm thuyền như nhau. Xưa nay những vụ loạn nghịch khởi đầu tuy chỉ do những bọn ham giàu sang xướng xuất lên, sau mới tụ tập những bọn lưu manh mà xúi giục chúng. Thế mà bảo những cái xấu ác nhỏ không có hại sao? Hơn nữa, những người này vốn cũng là dân làng, cùng nhau chung sống, lẽ nào không có tình tương thân tương ái. Thế mà nay chúng đã làm cho mọi người không chịu nổi chúng, thì sao gọi là không có tội được? Phạt chúng là hợp lẽ công bằng. Nay tách chúng riêng ra là phải. Như thế tuy nói là phạt mà thực ra là để giáo dục chúng. Có gì mà phải tội nghiệp? Diệt cỏ xấu để khỏi làm hại lúa. Bọn lưu manh du đãng trong làng giống như ôn dịch phải sớm dùng thuốc chữa trị, không sẽ truyền nhiễm lan tràn, không thể trì hoãn được. Nếu bảo rằng gom chúng lại một chỗ chúng lại càng gây nhiều tội ác hơn. Thế là chưa hiểu. Sở dĩ chúng dám ngang tàng là vì đám người bình dân lương thiện không muốn hơn thua những chuyện nhỏ mọn với chúng. Hoặc giả có người nghĩ rằng nhổ cỏ không nhổ hết rễ sẽ bị bọn chúng trả thù. Có người nghĩ rằng giải nộp một tên trộm phải mất công chờ chực hầu tòa khai báo phiền phức, không bao lâu chúng lại được tha về làng trở lại. Vì vậy mà người ta bỏ qua nên chúng không kiêng sợ gì cả. Có chỗ dung túng để làm điều ác, càng lúc chúng càng lộng hành. Nếu giữa bọn chúng với nhau thì đứa nào như đứa nấy sẽ kìm chế lẫn nhau không thể trổ ngón ngang tàng với ai được. Không làm ác được, tức tự nó đã có cái thiện trong đó rồi. Còn đứa nào hung dữ quá thì xiềng lại, bắt làm khổ sai, như con ngựa chứng đã có dây cương hàm thiếc, không cắn đá vào đâu được (Ở phương Tây những người tội nặng không bị xử trảm hay xử giảo mà chỉ xử khổ sai chung thân, trừ trường hợp phạm tội ác nhiều lần đáng chết mới xử giảo). Đây là điều quan trọng đối với việc trừ tệ làm phước. Trong đó có nhiều chi tiết rất quan hệ với nhau. Xin quan sát dân gian ngày nay và suy nghĩ kỹ mới thấy bọn này là mối tai hại lớn của nhân dân. Ở phương Tây người ta đày những bọn này qua Tây Châu và qua các đảo xa xôi cho chúng khai hoang. Nhờ vậy trong nước ít trộm cướp, nhân dân yên ổn làm ăn. Nay ta cũng nên phân loại ra thi hành dần dần, sẽ thấy có kết quả.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:51:22 pm

Điều thứ tám: Lập Viện Dục Anh và Trại Tế Bần.

Vua Văn Vương thi hành chính sách nhân đức trước hết là đối với hạng người cô độc. Vua Nghiêu vua Thuấn thương người trước hết là hạng nghèo khổ. Đó là thể theo cái đức lớn của trời đất mà bù đắp chỗ thiếu sót của loài người. Bởi vì trong thế gian có người nghèo khổ mới tỏ rõ được cái đức bố thí, có kẻ mồ côi mới có cái ơn dạy dỗ. Đó là tạo vật chữa chỗ thiếu sót cho loài người tạo ơn đức. Nếu không, Nghiêu, Thuấn, Văn Vương không làm sao sáng tỏ cái đạo đức của mình được.

Con người ta mang ơn nặng của cha mẹ là ở chỗ nuôi nấng dạy dỗ, che chở, xây dựng nên người. Nếu chỉ có công sinh ra mà thôi, thì chẳng khác nào loài vật. Vì đó là tính tự nhiên. Bởi vậy loài vật không có đạo hiếu thảo. Loài vật thành được loài vật hoàn toàn do sức tự nhiên của tạo hóa, không quan hệ mảy may gì đến ơn dạy dỗ xây dựng. Cho nên đối với loài vật cái ơn ấy thuộc về tạo hóa. Chúng được sinh sống trong điều kiện tự nhiên mà không hề biết đến. Chúng không thể làm sáng tỏ cái chủ trương có tính linh sáng suốt như con người. Vì thế tạo hóa mới dùng con người để hoàn thành cái đức dạy dỗ nuôi nấng của trời.

Nay thử bắt một đứa nhỏ rời vú mẹ đem bỏ ở chỗ hẻo lánh không người. Không cha mẹ nuôi nấng che chở chắc phải chết, làm sao khôn lớn nên người được? Vậy thì cái ơn sinh ra đó cũng như không sinh. Nếu sinh ra mà để cho khổ não đến chết là không làm hết cái đạo làm người, thế chi bằng đừng sinh còn hơn. Nói về công sinh đẻ, dĩ nhiên không thể phủ nhận ơn, nhưng kỳ thật đó vốn là lẽ tự nhiên của tạo hóa, không sinh không được. Vậy cái quyền sinh ra không thuộc về cha mẹ. Cho nên chỉ nói “sinh” mà chưa nói đến “thành”. Đến lúc sinh ra rồi, muốn nuôi hay muốn bỏ là quyền của cha mẹ. Như Trung Quốc sinh con gái thì bỏ, như man rợ ăn con. Những đứa trẻ ấy nếu biết, chúng sẽ oán hận vô cùng kẻ đã sinh ra chúng, còn nói gì đến ơn nghĩa? Vậy cái công bảo toàn đó không thuộc về tạo hóa mà thuộc quyền chủ trương của cha mẹ, nên mới gọi là sinh thành. Tôi nói như thế không có ý khinh bạc cái công sinh đẻ, nhưng bàn về cái công nuôi dạy so với sinh đẻ thấy nặng hơn nhiều. Nếu vậy thì những kẻ mồ côi không nơi nương tựa bị vứt ngoài bụi ngoài bờ mà được người nuôi dạy lớn khôn nên người, thử hỏi công ấy có hơn công cha mẹ đã sinh ra không?

Phàm con người có lập ra vua, nước, luân thường, uy quyền, chính sự, luật lệ, công thủ, trừng phạt, v.v... Tóm lại mọi sự cũng chỉ để hoàn thành con người, sao cho sống chết không có điều ân hận mà thôi. Cho nên cái đức của trời đất là bảo toàn nuôi dưỡng muôn vật còn bổn phận của loài vật là tự bảo vệ gìn giữ lấy mình. Chính vì vậy tạo hóa sinh ra muôn vật đều ban cho cái bản năng bảo vệ. Riêng loài người hình như còn thiếu. Không phải tạo hóa cố ý làm thiếu, kỳ thật là để cho ta có cái đức giúp đỡ nhau, hoàn thành cho nhau đó thôi. Như trong sách đạo có nói: Trong con người gồm đủ tất cả những cái tốt xấu của muôn vật.

Hiện nay trong nước có một hạng người không khôn lớn nên người được, không sống trọn đời được. Làm kẻ bề trên có quyền hành trong tay, nếu không giúp đỡ chăm nom họ tức thiếu sót cái đức hoàn thành cho nhau. Cho nên bên phương Tây, nhà nước đặc biệt ủng hộ khuyến khích việc nuôi trẻ mồ côi và giúp đỡ người nghèo khổ. Ở Anh có đạo luật nói rằng nếu trong làng có người nào nghèo khổ không thể tự nuôi sống được thì giao cho những người giàu có trong làng nuôi. Cả nước những người có tiền của, hàng năm đều xuất tiền giúp người nghèo trong làng, ít nhất cũng năm trăm quan. Đó là luật nước bắt buộc, ai cũng phải làm, trừ những người có lòng tốt thường đứng ra xuất tiền phát chẩn. Ngoài ra còn có những trường dạy trẻ miễn phí, nhà trọ, nhà dưỡng lão, nơi phục hồi nhân phẩm cho gái mãi dâm, nhà thương, nhà nuôi trẻ mồ côi, nơi nuôi chữa người tàn tật. Những cơ sở từ thiện này ở đâu cũng có, không những do nhân dân vì lòng thương xót tiết giảm lãng phí quyên góp làm ra, mà cũng do nhà nước khéo biểu dương khuyến khích nữa. Cũng bởi vì đạo nhân ái, việc cần kíp trước hết là nuôi trẻ mồ côi, thứ đến là cứu giúp kẻ nghèo. Còn đối với những người đã trưởng thành, những gia đình sung túc, tự họ đã gần chu toàn rồi đâu cần cứu giúp nữa? Viện dục anh tế bần là làm cho những kẻ sắp chết được sống lại. Công đức ấy thật vô lượng!


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:52:11 pm

Người ta thường nói: Người chết không thể sống lại, vật hư không thể lành lại. Đó là luật thành hoại của tạo vật. Nhưng đối với con người, điều đó chưa làm thỏa mãn. Nay có người chưa đến nỗi phải chết mà sắp chết, người ta có thể làm cho sống, vật chưa đến lúc hư mà hư, người ta có thể làm cho nguyên lành được. Như thế không hơn luật nhất định của tạo vật hay sao? Cho nên trong sách có câu: “Ca ngợi sự giáo hóa nuôi nấng của trời đất thì cũng có thể tham dự được với trời đất”. Ai là người để ý đến cái đức của trời không thể không để ý sâu vào câu nói này.

Về công việc cứu tế, bất luận nước nào, đạo nào, đã là người không ai không cho đó là việc đạo đức tốt đẹp. Biết vậy nhưng ít ai làm. Tại sao vậy? Nếu nói khó với dễ thì tế bần còn dễ hơn dục anh. Dễ còn không làm huống gì chuyện khó. Như Trung Quốc xưa nay xưng là nước lễ nghĩa thế mà chưa hề nghe việc này được nói đến trong chính sách nhà nước! Thỉnh thoảng tuy có nhắc đến, nhưng đó chỉ là một sự xúc động lương tâm nhất thời mà thôi, chưa có một chính sách thi hành nhất định như luật pháp phương Tây. Đó là chưa nói đến những kẻ thừa hành ở dưới chẳng xem những lời nhắc nhở ấy có giá trị. Nói chung, tuy ở trên không thể làm hết mọi việc, nhưng trong dân gian chưa nghe có ai họp nhau lại, đem lòng nhân ái ra mà bàn luận việc lập hội từ thiện cứu tế như ở phương Tây. Tôi thấy hiện nay ở Trung Quốc cũng như nước ta, người ta thường dán nhiều tờ kêu gọi ở ngoài đường. Đứng đầu phần nhiều là những người danh vọng nho nhã. Nhưng nội dung thì kêu gọi lập đàn cúng tế, hoặc hát tạ thần, hoặc đúc tượng Phật, hoặc lập bài vị thần, hoặc đúc chuông, sửa chùa, hoặc hội họp văn chương, hoặc làm đình làm mộ, dùng văn chương lời lẽ hay ho để vui lòng đẹp mắt, hy vọng lôi cuốn được nhiều người. Những người này ai quyên góp được nhiều thì bảo là háo thiện! Chẳng biết những việc ấy có thiện gì mà gọi là háo? Chỉ có háo danh mà thôi! Ngoài đường có người đói xin miếng cơm thừa canh cặn mà còn nhẫn tâm không cho. Gần nhà có trẻ mồ côi ngồi khóc bên vách còn nỡ nhắm mắt bỏ đi. Vậy mà bảo là háo thiện? Tôi đã mục kích không biết bao nhiêu những chuyện giả đạo đức để cầu danh, còn cái đạo đức chân thật hợp với tạo hóa thì bỏ nó đi như đồ ô uế. Thế thì đừng lấy làm lạ tại sao tai ương hoạn nạn lan tràn khắp xứ. Đó là vì uổng dùng của đời mà không biết khéo dùng cái phúc ở đời tạo vật đã ban cho ta, chia sớt cho người bất hạnh.

Tôi thấy hiện nay Triều đình có xuất công quỹ lập viện tế bần để nuôi người nghèo khổ. Nhưng vì người thừa hành không làm hết nhiệm vụ, nên chỉ có danh nghĩa mà thực tế những người nghèo khổ không được hưởng sự cứu giúp bao nhiêu.

Không bằng phương Tây người ta tự mở đồn điền, cất nhà lớn, nhiều người hảo tâm bỏ tiền ra giúp. Ở các nhà thờ, trường học tư, nhà chung v.v... đều có đặt hòm cứu tế. Ai muốn giúp đỡ bao nhiêu thì cứ bỏ tiền vào hòm. Mỗi ngày mở hòm lấy tiền chia ra các nơi. Hội thánh thâu hết những người nghèo về nuôi, chữa bệnh. Người nào khỏe mạnh thì dạy cho làm ruộng và các nghề vặt. Người tàn tật thì có công việc tàn tật, không ai ở không. Ngoài ra còn dạy họ làm các nghề thủ công để bán lấy tiền phụ thêm vào việc chi phí sửa sang trong viện. Nếu còn dư thì mua ruộng vườn chăn nuôi sinh lợi thêm nữa. Còn rất nhiều cách làm hay khác không thể kể hết.

Về mặt nhà nước thì cấm tuyệt không cho kẻ đi ăn xin. Nếu ai vô cớ đi ăn xin dọc đường, đó rõ ràng là kẻ gian trá hình, bất cứ ở đâu hễ gặp là bắt ngay đem về tra xét rồi xiềng lại sung vào công dịch. Làm được thế người nghèo có nơi nương tựa mà bọn côn đồ bất lương khó đường trốn tránh. Việc ấy có lẽ chúng ta cũng làm được chứ?

Còn việc nuôi trẻ rất khó kiếm người. Chắc chắn phải như những phụ nữ phương Tây tình nguyện vào ở trong viện với trẻ mới làm được việc và chắc chắn có hiệu quả tốt. Ví dụ như ở Gia Định, người ta sẵn tiền lại có người thực tâm làm việc mới có thể làm mẹ đám trẻ mồ côi được. Bất cứ trẻ nào người ta đều nuôi dạy. Trai học theo trai, gái học theo gái. Đến tuổi trưởng thành người ta đứng ra dựng vợ gả chồng và chia cho của cải. Tôi thấy họ thương yêu nuôi nấng các trẻ mồ côi như con đẻ của họ vậy. Các trẻ mồ côi lúc còn nhỏ, trai gái đều có phòng riêng. Chỗ nghỉ ngơi cũng phân biệt. Từ mười tuổi trở lên, con trai con gái đều có nhà riêng và chỗ ở riêng biệt. Những phụ nữ phương Tây này đều độc thân không lập gia đình, nên nhờ bản tính làm mẹ họ chịu đựng được mọi sự ô uế. Nếu ai cho con nít mới sinh, họ sẽ thuê vú nuôi trong một năm rưỡi. Ngoài ra họ còn chữa bệnh phát thuốc không lấy tiền.

Nếu Triều đình cho rằng việc này nên làm thì sẽ nhờ các giám mục mời người đến, mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ, không bao lâu sẽ thấy kết quả ngay. Giả như các giám mục có giao ước trước một cách rõ ràng rằng: “Nếu các trẻ mồ côi lớn khôn sẽ được mang về Tây làm dân bên ấy”. Tôi nghĩ những trẻ mồ côi của ta không người nuôi nấng sớm muộn cũng chết thì để họ nuôi lấy cũng được. Huống chi nhà nuôi trẻ dù lập ở đâu, bọn trẻ con khi lớn khôn cũng sẽ phân tán tại các nơi đó. Dân là dân của ta, có người bỏ tiền bỏ công ra xin nuôi dạy. Xưa chúng là người bỏ rơi mà sau được nên người. Những người làm mẹ nuôi chúng nhiều người ở mãi đến già chết trên xứ ta. Như thế đủ chứng tỏ tấm lòng từ thiện của họ như thế nào.

Phàm đã là việc từ thiện thì bất cứ Đông Tây Nam Bắc đều xuất phát từ cái đức của trời mà ra cả. Vì vậy cái gì bắt chước được cứ bắt chước, cái gì làm theo được cứ làm, không ngại gì cả. Đừng cho rằng hợp tác làm như vậy sợ người ta dị nghị. Làm công việc từ thiện như thế mà còn có người chê bai chống báng, tôi không hiểu những hạng người ấy lòng dạ như thế nào?

Ở phương Tây, tiền nuôi trẻ mồ côi phần nhiều là của trẻ con cho. Vì khi vào trường học, thầy giáo cắt nghĩa cho các em hiểu rằng trên đời còn có nhiều trẻ em nghèo khổ không nơi ăn học. Chúng cũng là anh em của các em. Ngày nay các em nhờ cha mẹ được cho ăn no mặc ấm lại có tiền dư mua bánh trái, đồ chơi, tiêu phí vô ích, chi bằng các em chia sớt chút ít cho các anh em của các em đang đói rét sắp chết đó có hơn không?

Nhờ lời giảng giải của thầy giáo, các em đua nhau bỏ tiền vào hòm cứu tế. Mỗi trường mỗi tháng thu được hai ba trăm quan. Cách dạy người làm việc thiện của họ thật là khéo! Ta không phải không có người hảo tâm chỉ tại chưa có ai đề xướng đó thôi.

Đối với các kế sách, điều này hình như chưa cần kíp lắm, nhưng đứng trên đạo làm người và về phương diện cải thiện quốc gia, thật cũng vô cùng khẩn cấp, nếu không bắt tay vào việc ngay, không biết đến bao giờ mới làm được?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:53:58 pm

*

Tám điều trên đây, trích trong bài Tế cấp luận, đều là những việc cần phải làm trước hết đối với tình thế nước ta. Còn về thế tung hoành sẽ có một tập khác suy diễn rộng rãi hơn, ở đây không thể nói rõ hết được. Trong tập này cũng có một vài điều khoản nhỏ mới thêm vào. Cho nên tám điều này tên tuy cũ nhưng các việc điều mới, phát sinh từ tình thế nước ta hiện nay. Nếu làm đúng như thế sẽ bằng được như người ta hoặc hơn người ta. Nếu không làm, nhất định phải thua sút thiên hạ. Trước kia ta làm các việc trị nước đều có tính cách làm qua loa cho xong chuyện. Giờ đây mới là lúc những việc làm của ta không những chỉ nhằm thi hành trong nước mà còn phải đối phó với thiên hạ. Tình thế nay đã khác xưa lắm rồi.

Trong đoạn đầu, tôi có trình bày tình hình cấp bách uy hiếp chung quanh ta, mặc dầu cơ hội có thay đổi bất thường, trước sau, sớm muộn có khác, nhưng đại thể nhất định sẽ không thay đổi. Nếu việc làm của ta không theo việc người, chắc chắn sự hệ trọng sẽ không nhỏ.

Xưa Câu Tiễn, vua nước Việt, bị nhục ở Cối Kê mới gắng sức trỗi dậy mà làm bá chủ được thiên hạ. Thế Tổ Cao Hoàng Đế nước ta mắc nạn lưu vong mới ẩn nhẫn nuôi chí lớn thống nhất đất nước. Câu Tiễn bị giữ làm con tin, không còn thế lực nương tựa, chỉ một niềm quyết tâm mà gây dựng được cơ nghiệp, huống chi nước ta ngày nay đã sẵn ba nghìn dặm đất với hai chục triệu dân!

Tôi thấy nước ta từ lâu dân thì mỗi người một ý không hợp nhất với nhau, Triều đình thì bận rộn đối phó không chút rảnh rang để mưu đồ việc khác. Còn chúng thì thôn tính thêm phần đất lớn của ta để củng cố thế lực mạnh thêm, âm thầm mưu tính, thong thả sắp đặt. Tương lai nước ta sẽ ra sao, cứ nhìn việc đã qua cũng có thể tưởng tượng được.

Tôi đã biết chắc điều đó, suy tính kỹ và thấy rõ ràng, nên trước đây trong đoạn cuối bài Lục Lợi từ tôi có thưa rằng cứ thực hành, dần dần sẽ thấy hiệu quả. Nếu trì hoãn thì dù trì hoãn đến bao giờ cũng không thể bỏ những kế sách ấy mà có thể chống lại chúng được. Nếu không làm để cho càng lúc càng suy yếu khác nào bệnh đau lâu không gấp tìm phương chữa trị, bệnh tình sẽ mỗi ngày một trầm trọng. Nếu làm dù có khi được khi hỏng không vẹn toàn, nhưng hết sức mình thì sau sẽ không ân hận.

Xưa Khổng Minh lo tính kế hoạch đánh Ngụy suốt ngày lẫn đêm ngay cả trong giấc ngủ mơ màng (Câu này tôi ghi sâu trong lòng và thường nhắc luôn miệng). Tôi tuy tài kém nhưng lòng dạ có thừa, không có phận nhưng có chí, cho nên mắt thấy tai nghe được gì, lo nghĩ suy tính được gì, thì cứ tưởng như là mình có thể làm được việc lớn vậy. Tôi quyết không vì thời thế mà thay đổi chí hướng hay dám để cho lòng nguội lạnh. Cho nên lâu nay tôi đã trình bày dông dài mà không ngờ rằng những chuyện đó ngoài phận sự của mình!

Những điều trên đây, khẩn cấp nhất là việc “Chấn chỉnh vũ bị”. Bổ sung vào đó là việc “Dẹp trừ tệ đoan, gây tài chánh”. Việc “Chỉnh đốn học thuật” là cái gốc lớn của quốc gia. Còn “Kiểm tra số đinh”, “Kiểm tra điền thổ”, “Sửa sang cương giới” là những việc cần gấp để làm cho nước mạnh. Tôi chỉ nêu lên lý lẽ và đề ra những nét đại cương mà thôi. Còn việc thực thi phải châm chước như thế nào cho thỏa đáng là quyền của Triều đình. Nhưng nếu muốn thi hành triệt để thì phải tính toán liệu lý tỉ mỉ. Việc đó tôi cũng có thể đóng góp một ít tài hèn.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:54:54 pm

Xin trình bày thêm về khoản sử dụng sắt.

Tôi với Giám mục Hậu, linh mục Điều có đi thăm một xưởng đúc sắt lớn ở Ba Lê. Đường xa bằng từ Kinh đô đến Nghệ An. Chúng tôi ở đó hơn một tuần xem hết tất cả cái cách đúc sắt mới biết cái lối làm cho nước giàu mạnh của họ khác ta nhiều. Xưởng có khoảng hai vạn công nhân (Xưởng này của hội tư không phải của nhà nước) và hơn một ngàn giàn máy khác nhau để đúc máy tàu thủy, tàu hỏa và nhiều dụng cụ khác (mỗi giàn lớn bằng một chiếc tàu thủy). Mỗi giàn máy trị giá vào khoảng năm mươi vạn quan. Xưởng có mười lăm lò nấu lớn. Mỗi lò một ngày một đêm nấu được chừng ba vạn cân sắt (Bảy năm mới xây lại một lần). Các nước đều đến đây mua máy móc, sắt tấm và những loại khí cụ bằng sắt. Sắt tấm sau khi đúc xong, mỗi tấm dài từ hai mươi thước trở xuống (Muốn dài một trăm thước cũng được) Miếng hình vuông mỗi bên từ nửa phân đến năm tấc. Miếng mỏng từ nửa phân đến một tấc. Có ba loại có góc: Loại hình như T, loại hình như L, và loại hình như U. Có đủ kiểu vuông, tròn, khía, góc. Lại có những lá sắt mỏng như tờ giấy, dày từ một đến hai ba phân rộng từ một thước đến ba bốn thước, dầy, ngắn, rộng hẹp đủ thứ, thứ nào có giá nấy. Bất luận kiểu nào, giá tiền căn cứ vào chất sắt tốt xấu. Giá thấp nhất, một trăm kí lô (hơn 166 cân ta) là mười tám quan. Thứ tốt nhất một trăm kí lô ba mươi lăm quan. Nếu mua chủ hãng sẽ chở đến cửa biển Mã Sa giao hàng. Còn muốn gởi đến Gia Định thì mỗi trăm kí lô phải trả cước phí từ bốn quan trở xuống. Ngoài ra còn đóng tiền bảo hiểm (Như đã đóng tiền bảo hiểm cho hãng rồi mà mất hàng, họ sẽ bồi thường) mỗi một trăm quan là ba quan.

Theo tôi sắt là một vật cần dụng nhất cho quốc gia và nhân dân. Nước ta tuy có nhiều mỏ sắt nhưng chưa biết cách đúc sắt như họ và cũng chưa có máy móc để chế tạo ra các dạng hợp với nhu cầu sử dựng. Như các xã phải nộp sắt, thường họ không mua đủ sắt được để nộp. Nếu có nộp đủ số thì sắt cũng chẳng ra hình dạng gì lại phải thuê thợ rèn đánh ra tổn phí thật nhiều. Như việc làm đinh chẳng hạn, nếu dùng sắt của họ, một sợi dài hoặc vuông hoặc tròn một ngày làm được một ngàn cái đinh thì sắt ta làm không tới một trăm cái mà đinh cũng chẳng tốt (Có máy dập đinh giá vào khoảng bốn ngàn năm trăm quan, một tiếng đồng hồ dập ra sáu ngàn cây đinh thật đẹp). Như vậy thì dùng sắt của họ đỡ tốn công gấp bội. Và như loại sắt âm dương để xỏ bánh lái trên những thuyền lớn của ta giá đến cả trăm quan vì to và khó rèn. Còn như những sắt tấm bề mặt ba bốn thước dài ba bốn chục thước, thợ ta không có cách nào làm được. Tôi xem kỹ các loại sắt của họ rất tiện dụng. Bất luận kiểu nào đều có làm sẵn khỏi mất công rèn lại đỡ tốn biết bao nhiêu. Vả lại các loại sắt ấy còn dùng để chế tạo các loại vũ khí, làm những đồ máy móc to nặng hoặc dùng vào những việc khác cho binh pháp cũng tiện mà thợ ta không tài nào làm được. Đã không được các kiểu sắt ấy thì không thể nào kiến thiết được theo các phương pháp mới. Nay ta dù muốn nấu sắt đúc sắt như xưởng của họ (Tôi có mua một bộ sách dạy cách nấu sắt đúc sắt rất đầy đủ đã đệ nạp rồi) cũng chưa đủ tiền đủ sức để làm. Chờ sau sẽ thong thả làm dần. Nay xin sức các xã từ trước nộp sắt được nộp bằng tiền. Như vậy rất tiện cho dân. Rồi mỗi năm quốc gia dùng bao nhiêu sắt cứ viết thư đặt hàng cho chủ hãng bên ấy, người ta sẽ lo liệu tất cả. Khi nào sắt về đến Gia Định, ta đến đó nhận hàng và trả tiền, không có gì đáng ngại cả. Như vậy tiện cho nhà nước mà cũng tiện cho dân nữa. Hơn nữa so giá tiền mua với giá của ta còn lợi hơn nhiều vì sắt đã làm thành đồ vật cả rồi. Vả lại giá tiền như thế nào lâu nay người ta cũng biết cả rồi. Nếu mua dùng sau sẽ thấy rõ. Họ có phát đơn đặt hàng tại các nước, trong đó ghi rõ sắt tên gì, kiểu loại nào, giá bao nhiêu, có thể so sánh biết được (Hiện nay các nước Xiêm La, Nhật Bản mua sắt của xưởng đó rất nhiều). Sắt Tây hiện đã có bán ở Gia Định giá một trăm cân Tàu là tám đồng. Như thế mua sắt chở đến bán ở Gia Định cũng đã lời nhiều rồi.

Nếu triều đình cho là phải, hãy mua thử một lần, mỗi thứ một ít đem về dùng thử rồi so sánh. Nếu quả thấy tiện lợi mới đặt mua nhiều cũng được.

Còn về việc lập xưởng sắt đợi khi nào tôi về Kinh trình bày rồi sẽ tính sau.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 05:55:55 pm

Xin trình bày thêm về khoản làm súng hỏa mai.

Ngày trước, khi chúng tôi mới đến Ba Lê, linh mục Điều đã đi dò hỏi các nơi về việc này. Ông biết được có một gia đình chế tạo súng hỏa mai ở ngoại ô xa thành phố và đã điều đình với họ về việc học làm súng. Chờ khi nào hai phái viên đến, linh mục Điều sẽ giới thiệu cho hai bên giao ước với nhau. Hôm nay, hai phái viên với Nguyễn Hoằng đáp tàu hỏa đến xưởng này để quan sát xem liệu có học được không. Chủ xưởng nói nếu chịu mua súng của họ năm sáu chục vạn đồng (Thứ đắt nhất giá mỗi cây một trăm lẻ một quan, hai bách) họ sẽ cho ở tại xưởng ba tháng tận tâm chỉ dạy cho học mà không lấy tiền công dạy, cũng không tính tiền ăn. Nếu không mua mà chỉ học không thì học phí đôi ba trăm quan đối với họ chẳng nhằm nhỏ gì họ chẳng thèm dạy đâu, mà lấy đôi ba ngàn quan thì hai phái viên không chịu. Xem lời lẽ của chủ xưởng thì học phí hai ba nghìn quan có vẻ họ chịu dạy. Hai phái viên muốn học lắm nhưng vì học phí quá nặng nên chần chừ không quyết định.

Họ còn hướng dẫn cho xem các cách làm súng, các giàn máy. Công trình rất là đồ sộ. Mỗi ngày xưởng có thể sản xuất mười vạn cây súng. Công nhân trên ba trăm (Người Nhật hiện đến mua của xưởng một trăm vạn cây súng, mua các giàn máy và thuê hai công nhân về Nhật Bản lập xưởng). Họ còn cho hai phái viên biết nếu muốn học làm súng phải học hóa học trước cho giỏi, sau chỉ học ba tháng là rành nghề. Do đó hai phái viên không thể quyết định được, phải trở về. Hơn nữa khi ra đi, hai phái viên chưa được Triều đình dặn dò rõ ràng việc này, còn chúng tôi cũng không có tiền để có thể giải quyết được. Nên phải đợi về trình lại rõ ràng. Nếu quyết định làm cũng có cách khác có thể làm được.

Xin trình bày thêm về việc đào kênh.

Đào kênh là một việc làm quan trọng đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước. Nước ta là một trong ba nơi trên địa cầu bị bão thổi qua (Một ở biển Đông Nam, hai ở biển Ấn Độ bên phía Tây Châu). Hơn nữa bờ biển nước ta kéo dài từ Tây Bắc xiên xuống Đông Nam mà luồng bão thường nổi lên ở Đông Bắc tạt ngay vào bờ biển làm người lái tàu khó tránh được. Thật đúng như lời người xưa nói: Tàu biển không sợ gió chỉ sợ mắc cạn. Và đối diện ngoài biển xa có đảo Hải Nam và Bà La Châu đều là những ổ của bọn cướp biển. Thuyền quan thuyền dân qua lại nơi đây không bị cướp cũng bị bão. Thoát khỏi hai nạn này là điều may mắn lắm. Đó là đường biển thiếu an toàn. Nước ta Kinh đô như cái bụng, Bắc kỳ như cái đầu. Mọi cái gì cũng do từ miệng vào bụng. Nếu qua cổ bị nghẽn thì thật là một bệnh nặng. Còn về lâu về dài, một khi có sự cố xảy ra thì bọn chúa cướp các nước phương Tây sẽ lợi dụng cơ hội bắt chẹt ta. Chuyện đó không thể không đề phòng trước (Câu này có một ý nghĩa đặc biệt. Đợi khi tôi về Kinh sẽ làm một tờ trình riêng trình bày rõ ràng). Như về việc vận chuyển lương thực, Triều đình đã hết sức lo liệu mà vẫn chưa ổn. Phần nhiều một thạch lương thực đến được Kinh đô đã phải hao hụt dọc đường mất năm sáu đấu. Đó là chưa nói đến nhiều vụ bị chìm ghe, bị đánh cướp. Các sản vật khác cũng vậy. Còn ghe buôn của dân mỗi năm chìm không biết bao nhiêu mà kể. Dân nghèo thì nước cũng nghèo. Cái hại lớn ấy đều do đường biển gây ra. Nay xin xem xét kỹ địa thế từ Hải Dương đến Kinh đô, đào một con kênh lớn có thể lưu thông được tất cả các ghe lớn ghe nhỏ thuyền quan thuyền dân, rồi cất trạm thu thuế. Xong đóng thuyền chuyên chở theo kiểu phương Tây (Tôi biết việc này) thuyền nhỏ mà chuyên chở được rất nhiều. Hai bên bờ kênh nơi nào có thể đắp đường được thì đắp đường cho trâu ngựa kéo, đỡ nhọc sức người. Ngoài ra còn sử dụng dân binh (Như điều trước tôi đã trình bày về vấn đề dân binh) ở vùng nào tiếp cận vùng ấy. Làm thế thì ít tốn kém, an toàn và tiện lợi. Có chỗ nào kênh đi quanh (Tôi biết cách chia dẫn thế nước) cứ việc đào thẳng. Như vậy không những quốc gia và các tỉnh được lợi lớn và lâu dài mà dân gian buôn bán làm ăn, đi Nam về Bắc, dầu ít vốn cũng làm được. Lợi ích rất lớn. Hễ ghe thuyền nhiều thì thuế nhiều, nhà nước có lợi.

Còn những chỗ trở ngại và cát đá khó đào xin cứ giao cho tôi. Tận dụng đủ cách thì núi cũng xuyên qua được huống gì những nơi bế tắc. Lúc trước tôi có xem qua chỗ Nhà Hồ ở Quảng Trị thấy cũng có thể xuyên qua được. Chỉ có hoành Sơn là tôi chưa xem kỹ. Nếu quan sát nghiên cứu kỹ hai nơi này mà thấy có thể đào được là đào liền. Sau khi đào kênh xong đã khỏi lo bão và cướp biển gì nữa mà còn có một kế hay. Số là chúng muốn dòm ngó Bắc kỳ vì ở đó có nhiều nguồn lợi. Nhưng chúng cũng sợ biển nhiều bão. Bờ biển từ Kinh đô ra Bắc ít vịnh nào thuyền lớn có thể vào đậu được, cửa biển lại cạn. Nếu thuyền của chúng chiếm lấy cửa biển làm căn cứ, chúng mới dám đi sâu vào nội địa của ta. Nếu nay trong nội địa ta đào được con kênh sâu rộng thì mọi dịch vụ về thuyền bè ít cần đến đường biển nữa. Lúc bấy giờ ở các cửa biển sâu từ bảy trăm thước trở xuống, dùng đá xây cho chắc và xây quanh co khó cho thuyền lạ đột nhập thình lình. Ngoài ra ta còn xây đồn lũy kiên cố như các nước phương Tây để phòng ngự. Chúng sẽ thấy lúc bình thường ra vào còn khó khăn thay, huống chi một khi chuyện gì xảy ra. Trên đồn lại có quân ta chống giữ, đã khó còn khó hơn. Còn như sợ ta khó vào ra thì quan và dân ta đã có những thuyền con qua lại, không dùng đường biển cũng chẳng hại gì. Nếu thuyền đồng lớn của quan muốn lui tới nước ngoài thì từ Kinh đô vào Nam có nhiều vũng sâu và cửa Quảng Yên, Thái Bình có thể neo đậu được. Thuyền quan các nước phương Tây không phải cửa nào cũng vô ra được đâu. Một nước có chừng năm sáu cửa biển cho thuyền quan ghé đậu là đủ rồi.

Nếu thuyền lớn của dân muốn đi buôn bán nước ngoài thì ra vào đều có hạn định, mỗi năm chỉ vài ba chuyến thôi, đâu phải như ghe nhỏ ra vào thường xuyên mà sợ rằng khó. Còn ghe đánh cá thì lại không có gì trở ngại.

Khi chưa đi sâu vào nội địa của ta thì chúng cậy có đường biển. Nay đã có thiên thời gây bất trắc, lại có sức người kiên cố nữa thì chúng cũng khó thỏa mãn ý đồ trong một sớm một chiều được.

Nếu Triều đình muốn thực hiện lợi ích lâu dài này, trước hết phải cho người đi xem xét kỹ địa thế về trình bày đầy đủ và trù tính xem như thế nào. Nếu thấy được, nên hết sức thực hiện. Còn thấy không thể làm được thì tôi xin trình bày một kế hoạch khác sao lợi cho dân, chống giặc giữ nước. Tuy nhiên việc đào kênh này dễ làm hơn. Hãy làm thử xem sao!

Kính trình quý quan Lục bộ đại thần suy xét.

Nguyễn Trường Tộ ký



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 09:54:23 pm

DI THẢO SỐ 28

Biểu tạ ơn vua*

(Đầu tháng 3-1868).

Chúng tôi1 kính cẩn làm bài biểu tạ ơn trời2.

Thiết tha xin các đại thần Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Lại đệ đạt lên cho chúng tôi biểu văn lạy tạ ơn trời.

Phục dĩ3. Vẻ trời rực rỡ, chiếu khắp nơi ngõ hẻm hang cùng. Lượng bể bao hàm, không bỏ sót phương kia cõi nọ. Lòng quỳ hướng mãi, niềm bộc khôn đền.
_____________________________________
*. Bản văn chữ Hán của bài này: Hv 189/4 tờ 1-2.
Không ghi rõ ngày tháng, nhưng chắc được viết vào giữa tháng 3-1868, lúc Nguyễn Trường Tộ và phái đoàn Giám mục Gauthier đi Pháp về được vua ân thưởng. Sự tích ông Tộ có nói là: “Đức Cha, ông Tộ có làm sớ dâng lên tạ ơn vua” (Xem phụ lục 1)
1. Chúng tôi: Đây là Nguyễn Trường Tộ và Ngô Gia Hậu.
2. Đây nghĩa là tạ ơn vua.
3. Hai chữ mở đầu của văn khấn vái trình thưa điều gì với trời thần thánh thiêng liêng. Ở đây ám xưng vua là trời nên dùng hai chữ này.
    Phục nghĩa là nép, nằm rạp xuống, tượng trưng cho ý nghĩa quá sợ sệt kính trọng. Dĩ nghĩa là đem ra, đưa ra, đưa lên.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 09:58:36 pm

Chúng tôi trộm nghĩ:

Núi Thái Sơn chẳng tự vì cao mà bỏ tấc đất. Bậc thánh nhân chưa từng tự mãn mà bỏ tài hèn. Gốc tình người thì ba đạo1 chín dòng2 lưu hành không trái. Rộng đường hiền thì tấc nhánh phân chồi nhặt nhạnh không rơi. Xưa nay đãi ngộ hơn thường, thì gặp việc muốn từ không thể được. Nếu đã không xem kẻ bỏ, thì mây bay vô định cũng là vinh. Dùng khách dịch lời, Khang Hy chẳng nề giáo sĩ3. Tài nhung phục bá, Mục Công cũng lấy Dư Do4. Một lối từ xưa, ngày nay lại thấy.

Kính cẩn nghĩ rằng:

Hoàng đế bệ hạ: Thông minh quyết đoán. Thao túng theo thời. Năm xưa phạt nhẹ5 ra uy, thử lòng vàng đá. Lần này lòng nhân cũng vậy, đón khách mở đường. Giúp nước nhà đã sẵn nhu hoài6 mà đạo giáo cũng hưởng đồng lợi lạc. Ơn đồng tái tạo. Đức cả ba không7.

Chúng tôi đây: Một dân thừa phương ngoại8. Một tiện sĩ Tây bang9. Ngưu Sửu10 chất tồi, khôn sánh Sâm Linh11 nơi cõi thọ. Tài hèn vá dép, hổ dám đâu tay thước giúp đời. Khách du may mắn, thuyền bè đã có nam châm12. Phụng phái cùng đi, vượt biển sẵn chờ chén gỗ13. Mới mong nối chí cả đàn anh, xẻ sóng cỡi gió. Để ngứa đáp mưu sâu Triều đình, theo đuổi dài lâu. Tự thấy chưa tròn, làm sao xứng được!
______________________________________
1. Ba đạo do chữ Tam giáo: Nho, Phật, Lão.
2. Chín dòng do chữ Cửu lưu. Theo Hán thư nghệ văn chí thì xã hội được phân chia, phân loại làm 9 dòng phái: Nho gia, Đạo gia, Âm dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Tạp gia và Nông gia.
3. Khang Hy nhà Thanh dùng giáo sĩ thông dịch cho những cuộc triều kiến với người phương Tây.
4. Dư Do vốn không phải người đồng tộc với Mục Công, Mục Công dùng vì Do có tài giúp việc xây dựng được nghiệp bá.
5. Ám chỉ việc cấm đạo.
6. Lòng nhu hòa dịu dàng mềm dẻo.
7. Do chữ Tam vô. Kinh Lễ, Khổng Tử nói: “Vô thanh chi nhạc, vô thể chi lễ, vô phục chi tang. Thử chi vị tam vô”, nghĩa là cái âm nhạc không có tiếng, cái lễ không có hình thức, cái tang mà không để chế. Đó là 3 cái lớn không có gì bằng.
8. Trường Tộ tự ám chỉ mình, so với Kinh đô thì ông là người xứ miền ngoài.
9. Chỉ Ngô Gia Hậu, người Pháp.
10. Ngưu tất và Sửu lưu một thứ thuộc loại cỏ và một thứ thuộc loại cây hoang dại. Cả hai đều là vị thuốc Bắc.
11. Thuốc Bắc có nhiều loại sâm đều là vị thuốc quý cả. Phục linh cũng là vị thuốc Bắc quý.
12. Ý nói đã có sự chỉ đạo của vua và Triều đình.
13. Sách Truyền đăng lục có nói sự tích một nhà sư thường dùng cái chén bằng gỗ thả xuống mặt nước mà qua sông. Không biết tên gì, người đời gọi ông là Bôi Độ thiền sư. Bôi nghĩa là chén, Độ nghĩa là qua sông. Đây ý nói thuận đường đi một lèo không trở ngại.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:02:34 pm

Không ngờ ơn vua rộng khắp, không sót tên đánh cờ bên vệ đường nước Tống. Ai hay tù trưởng khốn cùng cũng được lạm xen vào hàng quan trật triều Đường. Ban cho áo mão. Ngân hà bảy lượt đổi ngôi1. Nuôi tặng bạc vàng. Lệ thủy trăm lần đi lại2. Nghĩ mình hổ thẹn, chẳng biết tính sao. Trước đây hai hốt3 xa ban, Hiệp biện đại thần thay tạ. Nay lại bách bằng4 ân tứ, Bộ đường quý chức mang sang. Lạy nhận tự thấy kinh hoàng, nhờ đức xiết bao vui sướng.

Trộm nghĩ hãy nhường là tốt, dẫu không theo Tử Cống thói kiêu xa5. Nhưng nghĩ nên từ là phải, lòng như thể Đồ Dương không nhận tước6. Kính xin gởi lại nghìn vàng, nộp về chín phủ7. Tuy ơn trên cho chẳng dám từ, lòng mong thổ lộ. Duy chỉ nguyện mặc sắc phục rõ ràng, để mưa móc trời Tây không thấm đượm. Ngửa mong sao trên uy linh bủa xuống, cho hai bên biển cả lặng ba đào. Cúi vâng tơ tóc đinh ninh, lòng đã quyết sân Tần không khuất phục8. Ghi khắc mưu mô trù trướng, chí những toan thu ngọc Triệu đem về9. Đấy thiệt ba sinh10 may mắn. Dẫu cho chín chết11 không từ. Nay được ơn sâu nhờ biển đượm, giọt nước tý teo sao đặng báo đền. Ngày nào dấu sóng đuổi mây bay, non nước mênh mông ai không cảm kích. Ngày này đời này, chỉ trời chỉ thánh.
______________________________________
1. Do chữ Thất tương trong Kinh Thi, là nói bảy lần đổi ngôi của sao Chức Nữ.
2. Theo sách Hàn Phi Tử thì sông Lệ Thủy sinh ra vàng, người đến đó lấy cắp đem ra chợ bán rất nhiều, sau ngăn nước lại đắp cạn sông mà người đến đó tìm vàng vẫn nườm nượp.
3. Nhà vua ban cho hai cái hốt.
4. Chữ trong Kinh Thi nghĩa là rất nhiều lộc.
5. Tử Cống, người nước Vệ thời Xuân Thu học trò Khổng Tử giỏi khoa ngôn ngữ có tài kinh doanh, giàu có nhất trong số 70 đệ tử của Khổng Tử, kết giao hậu tình, đến nước nào vua xuống sân mà đón.
6. Đồ Dương một họ kép. Sách Trang Tử nói: Sở Chiêu Vương thất quốc có người Đồ Dương nguyện theo vua. Sau Chiêu Vương phục quốc gọi thưởng tước lộc. Đồ Dương từ chối rằng vua mất nước Đồ Dương cũng mất, vua được nước Đồ Dương cũng được, có gì mà thưởng.
7. Do chữ Cửu phủ là 9 kho chứa của cải của Triều đình. Nhà Chu lập 9 phủ cử chức quan để bảo quản của cải của Triều đình theo 9 loại riêng.
8. Đã vâng lệnh vua dù gặp bạo lực như Tần cũng không khuất phục để khỏi nhục mệnh vua.
9. Nước Triệu có sản xuất thứ ngọc bích rất tốt. Đây ý nói thu hồi sáu tỉnh về cho đất nước.
10. Do chữ Tam sinh nghĩa là chuyển sinh đến ba đời. Sách Truyền đăng lục kể chuyện có một người nằm mơ thấy đến một hang động có vị thiền sư bên trước có cây nhang còn đang cháy. Thiền sư chỉ vào cây nhang bảo rằng cây nhang này do người thắp cúng, nhang cháy chưa hết mà người đã chuyển sinh ba lần rồi.
11. Do chữ Cửu Tử. Có hai nghĩa. Theo Sở Từ là 9 lần chết, đó là một lối nói quá thuyết. Nghĩa thứ hai, theo Hán Thư, là trong 10 phần hết chín phần chết chỉ có một phần sống, ý nói cực kỳ nguy hiểm.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:05:03 pm
DI THẢO SỐ 29

Tổ chức gấp việc khai mỏ và đào tạo chuyên viên*

(Ngày 12 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 5-3 năm 1868).

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Đối với nước ta hiện nay nguồn lợi là điều rất cấp bách không thể không tiến hành khai thác. Trong đó có hai đường lối: Một là bán thời hạn cho họ, mặc họ tự làm lấy như kiểu Tây Châu. Hai là hai bên cùng làm. Về phân biệt hai đường lối ấy, năm trước tôi đã bẩm rõ. Nhưng về khoản bán thời hạn cho họ, thì Triều đình còn nghi ngại, chưa thi hành được, hãy xin đình chỉ. Còn khoản hai bên làm chung và khoản thuê mướn nhân công, nếu thương lượng ổn thỏa, thì làm cũng không có gì đáng ngại lắm.

Tôi lâu nay cũng hết lòng trù tính kỹ đường lối, nên cũng có thể phân tích rõ sự lý, như trong các tờ bẩm trước đã nói. Chuyến đi lần này, tuy chưa thành công, nhưng cũng không phải vô ích. Tôi đã suy nghĩ, dò biết sự lý tâm tính của họ, thì thấy cũng có thể tạm khởi sự được. Có điều Triều đình sở dĩ chần chừ chưa quyết là sợ họ sinh lôi thôi, nhưng tôi cho rằng nếu làm được lợi, họ cũng có một phần. Vả đã buộc vào văn pháp, thì không thể sinh sự được, chắc họ cũng không sinh sự.

Nếu sau khi thương thuyết đã thành rồi, Triều đình cứ theo phương pháp phương Tây, làm tờ giao kèo, rồi trình Tây soái ký chứng, sau đó mới bắt đầu làm. Thế thì về sau dù có muốn sinh sự, cũng chẳng qua lặt vặt mà thôi, không đến việc gì to lớn lắm.

Cho nên đối với hai khoản sau, tôi chưa bao giờ nản. Nếu tiện xin sai một phái viên và một người thông ngôn (như Nguyễn Hoằng mới được) cùng đi với tôi lần nữa. Một lần chưa trúng, làm lần nữa có sao đâu. Nếu lần thứ hai mà vẫn chưa trúng, bất đắc dĩ sẽ nghĩ cách khác. Lúc đó mới phái người đi học tập gấp. Một mặt chọn hàng mỏ nào dễ làm, rồi mua dần đồ nghề về khai quật lấy, làm dần từ dễ đến khó, như tôi đã bẩm trong tờ trước (lúc ở Gia Định). Tuy như thế khó thu được lợi lớn ngay, nhưng có điều hay là người mình tự làm lấy, khỏi sinh nghi ngại. Nếu cần đồ dùng gì để giúp sức ứng dụng lúc lâm thời ta sẽ gởi mua dần. Còn phải dùng đồ gì, thì tôi đã biết rõ hết, khi cần gởi mua cũng chẳng khó gì (Gửi mua sẽ có nhiều cái không vừa ý, vì không thể tự mình phân biệt được đồ xấu, đồ tốt)

Còn về khoản dạy học, hiện nay tuy đã có người phân biệt được kim loại nhưng chưa có ai thuyết minh được công dụng rộng lớn của nó. Phải có nhiều phương pháp như các nước phương Tây, mới giúp nhau mà thành được. Đây chẳng qua mới tạm phân biệt được nhiều ít, khó dễ mà thôi.

Đến như việc khai quật, ắt phải có nhiều người chỉ vẽ, nhiều dụng cụ đúc luyện, nhiều công nhiều của, mới được lợi lớn. Việc ấy phải có các quan to đi qua Tây, đến xem chỗ khai mỏ, mới thấy tác dụng của nó, không phải nói miệng mà đủ được.

Còn như các khoản học tập, như đã nói trong tờ bẩm của giám mục, chẳng qua mới mở bước đầu, để khiến cho người nước ta sinh lòng ham muốn, cầu tiến dần vào thực dụng, mở dần con đường từ nhỏ đến lớn về sau, làm kế ném gạch ra để được ngọc mà thôi. Nếu buộc phải có hiệu quả mau chóng như phương Tây, thì chúng tôi quyết không dám làm.

Thế nhưng đã học tất phải có ích. Như chúng tôi lâu nay học các môn học mới, cũng có sở đắc ít nhiều, tuy chưa thi thố được gì, nhưng đã có căn bản. Nếu gặp việc có thể làm được, từ thô đến tinh, tuy trong đó cũng còn có một hai chỗ chưa hiểu rõ hết, nhưng theo chỗ đã hiểu mà suy rộng cũng sẽ biết được, chẳng hơn không học hay sao?

Nếu nay học sinh gia tâm học tập, cũng phải mất một số năm mới biết được như chúng tôi ngày nay. Bây giờ nếu giáo sư mở lớp giảng dạy mà không có chúng tôi thay giáo sư giảng lại cho học sinh những chỗ khúc mắc chưa hiểu, thì cũng khó bề tiến ích.

Đấy là đại lược đường lối dạy dỗ phải như thế.

Nay xin: Một mặt dần dần phân biệt đất mỏ, một mặt có người đi Tây nên chọn mua một ít khí cụ, như những đồ đào mỏ, đúc sắt, luyện kim, dệt vải, nấu đường, đúc súng lớn, súng nhỏ, dập đinh, đúc hỏa mai theo lối Tây v.v... và các đồ dùng thường ngày, dễ làm và có thề dùng làm mẫu (Các đồ đó, tôi đã mua sách bẩm nạp rồi, và đã xem xét ở các phố bên Tây. Những đồ dùng ấy, bất luận đồ gì trông qua tôi có thể phân biệt được cái tốt cái xấu, nguyên lý và công dụng của chúng. Tuy có cái chưa từng trông thấy, nhưng chỉ hỏi họ một vài lần, cũng có thể thông hiểu. Lần các phái viên đi với tôi cũng đã biết tôi có thể phân biệt được các đồ cơ khí) đem về để dùng ngay vào việc khai thác nguồn lợi.

Một mặt, nên đi thuê thợ, để tìm công dụng lớn.

Ba mặt ấy, hiện nay đáng lẽ phải khởi hành ngay trong một lúc. Nếu không làm, thì một ngày lại một ngày, một năm lại một năm, người ta tiến thì mình lùi, quyết không thể đứng yên được.

Kính bẩm Lục bộ đại thần quý liệt vị soi xét.
_____________________________________
*. Bản văn chữ Hán của bài này: Hv 189/3 trang 19 - 21.
Hv 634/4 trang 127 - 132.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:03:53 pm

DI THẢO SỐ 30

Mục đích của sứ bộ đi Pháp*


(Ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức ngày 9 tháng 3 năm 1868).

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Trong các tờ bẩm các năm trước cũng có phân nửa nói đến kế bủa lưới bốn mặt. Một là duy trì ba tỉnh trong; một là khiến họ không dám dòm ngó Bắc kỳ. Nhưng mà sự thế ngày càng sa đà, để đến ba tỉnh trong cũng bị họ bức lấy. Tâm sự trước đây của tôi, đối với cục diện, đã trôi theo thời gian, còn nói lại làm gì? Nay chỉ theo sau sự đã rồi mà gắng gỏi tìm cầu, thật cũng khó vậy!

Mấy chục năm nay, tôi bôn tẩu trong thiên hạ, thu thập những tình thế biến thiên xưa nay đem những điều đã đọc trong sách nghiệm ra việc đời. Dù trao đổi với ai một lời nói, một câu chuyện, thâm tâm tôi cũng có ý muốn thu lấy sự hiểu biết của người làm của mình, cho nên không kể là phải uốn nắn để cầu học hỏi, cũng rất khổ tâm lắm1. Ôi lòng dạ mưu mô của họ, chưa tóm thâu hết được thiên hạ là chưa thôi huống chi đối với nước ta. Nhưng cái kế họ đem ra thi hành, có khi hoãn khi gấp, không giống nhau đó thôi. Gấp như người Pháp lấy A Nhĩ Cập, hoãn như người Anh lấy Ấn Độ. Nhưng theo tâm lý của họ thì hoãn là thượng sách mà gấp là hạ sách. Vì lấy gấp sẽ tốn nhiều tâm lực mà hoàn toàn thất nhân tâm, hoãn thì rỗi rãi như tằm ăn dâu, mà đắc nhân tâm một phần. Cho nên bốn trăm năm trở lại đây, họ đến nước nào, cũng thăm dò kỹ lưỡng tình hình nước đó trước để ứng dụng kế hoãn hay gấp.

Đem cái thế mạnh và binh lực nước họ mà đối với ta thì không phải họ không lấy gấp được, nhưng vì họ đã biết rõ tình thế nước ta. Lâu nay những cái thuật ta dùng để chống lại họ, họ đã tính toán cả rồi (Xin xem lại năm kế độc mà tôi đã bẩm trước). Họ tạm theo tình thế, khéo lợi dụng sức của ta mà thi thố từ từ cũng đủ rồi cần gì phải gấp? Phàm những quân cướp, có khi nhờ vào sự quy thuận của người ta, mà cũng có khi nhờ vào sự chống lại của người ta. Thuận hoặc chống thế nào họ cũng lợi dụng được một phía.

Năm Tự Đức thứ 15, thứ 16 trước đây2, sở dĩ họ vội vã phát thuyền lên Kinh cầu hòa, vì họ đã biết rõ cuộc hòa của ta chưa ổn, cho nên muốn đem cuộc này câu ta, để lấy ba tỉnh trong ngày nay vậy.

Chính ta, ta cho là giữ bền hòa ước, mà chính họ, họ cho là ta âm thầm phá hòa ước. Họ có “thế” mà ta không, thì lời nói của người có”thế” bao giờ cũng đúng, còn kẻ không có “thế” thì không làm sao biện minh được. Nay họ đã lấy xong sáu tỉnh, rồi lại đến nói chuyện hòa với ta, là đã xem thấy sau lưng ta rồi vậy (Sự lý đoạn này rất dài, nếu nói ra có nhiều điều trở ngại). Không thế thì xưa nay làm gì có chuyện nước mạnh đi đến nói hòa với nước yếu? Ý họ là chỉ sợ ta hòa thật, chứ không sợ ta hòa giả. Họ muốn mượn sự hòa giả của ta, để làm bước đường tiến ra Bắc kỳ. Nếu ta hòa thật mà lại khéo xử sự với họ hợp tình thế làm cho họ không có cách nào để thắng ta nữa thì họ được có sáu tỉnh mà thôi, còn trông mong gì hơn?

Nếu sức ta đủ để chống lại họ, thì không cần hòa. Nay đã không thể chống được mà còn xin trả đất lại. Thử hỏi họ đưa nhân dân vượt trùng dương đến đây, ý họ muốn làm gì? Vì thế mà tôi bảo việc ấy là khó. Thế nhưng tình đời gặp bất bình thì kêu, mà kêu cũng phải dùng lời lẽ khéo léo mới khỏi nhục quốc thể.

Nay ta đến giảng thuyết với nguyên soái của họ thì sự việc còn nhỏ, chứ qua giảng thuyết với Triều đình nước Tây, thì sự việc sẽ lan khắp phương Tây. Nếu không thành, thì sự nhục quốc thể lại càng nặng, mà lại thêm bay tiếng không hiểu thời thế ra khắp thiên hạ. Sau ta dù có muốn giao thông với các nước khác, để đợi thời thế (Châu phê: Như thế thì rất khó) thì người ta cũng khinh mình cho là khó cộng sự mà không chịu thâm giao với mình (Điều này tuy nay chưa làm kịp nhưng không thể không làm). Như thế chẳng hóa ra ta bị cô lập ư? Đã cô lập rồi, thì sau này thời thế đổi thay dù có đuổi được một Tần này lại sinh ra một Tần khác, như năm trước trong bài Lục lợi từ, tôi đã bẩm ở điều thứ năm.
_______________________________________
*. Bản vã chữ Hán: Hv 189/3 tờ 22 - 27.
Hv 634/1 tờ 163 - 171.
VHv 170 tờ 47b - 50b.
1. Ý nói đi theo các thừa sai nước ngoài, đi ra nước ngoài để học hỏi, là cần thiết, nhưng đã làm cho Triều đình dị nghị, nghi ngờ.
2. Tháng 3-1862 (Tự Đức 15) tàu Pháp Fabin đến Cửa Thuận yêu cầu Triều đình Huế cử người vào Sài Gòn thương thuyết và ký Hòa ước 5-6-1862.
    Tháng 4-1863 (Tự Đức 16) phái bộ Pháp và Tây Ban Nha đến Huế để làm lễ trao đổi các văn kiện phê chuẩn Hòa ước 5-6-1862.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:05:29 pm

Nay xin: (Châu phê: Từ đây trở xuống mới là thật) khi đến Gia Định, nên nói rõ trước với nguyên soái rằng: Sứ bộ ta đi lần này, không phải chỉ vì xin trả lại ba tỉnh, mà còn muốn mời người khai hoang (Có cả hai khoản như vậy mới không nhục quốc thể) và mua sắm máy móc, để tỏ ý làm cho hai nước cùng chung thịnh lợi. Chỉ vì dân chúng Bắc kỳ xôn xao bất bình, nên Triều đình bất đắc dĩ mới đem nguyện vọng của họ đề bạt lên Tây triều. Nếu có thể thương thuyết để hai nước tốt với nhau thì quý hóa; còn nếu có chỗ quan ngại, cũng xin nguyên soái giúp đỡ cho một phen, châm chước cho nhiều khoản khác, để bản triều được tránh trách nhiệm với quốc dân. Nguyên soái thấy ta không có bụng cưỡng trách sinh sự, mà có ý phó thác chắc chắn, thì y sẽ yên tâm mà không tìm cách để ngăn trở ta. Đợi khi sứ bộ ta đến Tây triều rồi, ngầm tìm đường lối, xem chừng có thể xen vào được (Việc ngầm tìm này thì lấy hai khoản mượn người và mua máy móc mà che đậy để qua lại tránh tiếng tăm) thì cương quyết xin. Còn thế không thể được thì làm thinh (Châu phê: Đoạn này chưa đúng), nhưng vẫn dựa vào nguyên soái. Y thấy ta không có tình tiết gì khác, thì cũng hồi tâm phần nào, và đề bạt lên Triều đình cho ta, ắt sẽ được việc ít nhiều.

Một mặt, sau khi nguyên soái đã về Tây, mà ta còn đợi ngày đi, thì nên đến nguyên soái mới, dò tình ý xem thế nào. Nếu ý có hơi lộ ra là nguyên soái trước sai, thì ta lại giao kết thân mật với y, mà xin kế hoạch của y (Châu phê: Có ý).

Một mặt, khi đến Tây triều rồi, nên ngầm tìm Hà Ba Lý1, xem ý hướng y thế nào mà nhờ y ngầm giúp cho. Vì y trước có hiềm khích với nguyên soái.

Một mặt, không nên nói lại với y về khoản Lăng Xu Bi2 trước đây (Châu phê: Phải), cũng không nên nhờ nó viết thư sợ lộ manh mối. Đợi khi đến Tây triều, sẽ ngầm tìm chú nó, cũng chưa muộn gì.

Một mặt, khi đến Tây triều rồi thì nên ngấm ngầm tìm các tay có thế lực trong viện Thứ dân, để thi hành kế hoạch.

Một mặt, nếu muốn dùng thuật tung hoành thì khi đến Tây triều, sau khi bày tỏ qua loa sự tình rồi, thì liền xin với quan Tây rằng: “Có một hai người trong sứ bộ muốn đi hết các nước, để rộng đường nghe thấy, không biết nên đi nước nào trước”, xem họ đối đáp như thế nào rồi sau sẽ đi.

Trong tờ bẩm năm trước, tôi có nói nên dùng chước tung hoành, là muốn thi hành trong tình thế thơi thả, chớ không thể tung ra thi hành trong lúc cấp bách. Nhưng khi đã đến nước họ rồi, thì hãy xem cơ hội có thể làm được thì làm, không thì thôi. Khoản này rất khó, tất phải có người kín đáo khéo nói, thuộc hết sự thế thiên hạ, mới nhân điều họ nói ra, mà biết những điều họ chưa nói. Hoặc là đề khởi những việc họ đã làm mà thăm dò ý hướng họ. Nếu cứ thật thà ngay thẳng mà nói ra, thì lại gây thêm chuyện.

Kế này phải thi hành thong thả mới được, chớ không thể một lúc một lần thành công ngay. Xin hợp hết tình hình ngoại giao trên thế giới trong 500 năm lại đây mà xem, thì mới rõ mối manh, chớ không phải một tờ một trang có thể nói hết được.

Các khoản trên này trừ khoản tung hoành ra còn tất cả đều là muốn cứu vãn sự cơ hiện nay trong muôn một. Nếu không khéo xử thì chẳng những không cứu vãn được, mà còn sinh ra nhiều việc nữa.

Các sự lý nói rõ ở đoạn trên, thật là nghìn khó muôn khó. Khi sang đến nước họ, mới biết sự thật. Ai cho là dễ thì thật không biết họ vậy. Thế nhưng, nếu trời có ý thầm giúp ta, mà xui ta đến vào lúc nước họ xảy ra biến cố (Châu phê: Ắt là có biến cố) thì phái bộ hãy nên ở lâu bên đó, gắng tìm đường lối (Châu phê: Đường lối nào) chắc sẽ được việc. Như vậy những điều tôi bảo là khó đó là bàn về tình thế bình thường bên ấy mà nói. Nếu gặp tình thế có biến cố xảy ra thì điều tôi bảo là khó ấy lại trở thành dễ. Đó là điều mà trong lòng tôi hết sức mong mỏi như vậy chứ không phải tôi nói vu vơ.

Các khoản nên làm kể trên tôi mới chỉ nói tiết mục đại khái mà thôi. Còn đến lúc ra làm phải tùy cơ ứng biến. Điều này đòi hỏi phải biết rõ lý thế bên ta bên họ (Châu phê: Hỏi y - tức Nguyễn Trường Tộ - có muốn đi theo mà giúp để thực hiện lời nói của mình không?) mà tùy theo đó ứng dụng đường lối cứng rắn hay mềm dẻo, bút mực không thể nói hết được.

Đấy là những mưu kế lặt vặt, tạm dùng trong lúc cấp bách mà thôi. Nếu muốn có kế sách lớn, thì phải đem cái tính tình của toàn thể nước ta ra mà kêu gọi tính tình nước nào đã chống chế được họ, thì mới có thể nói đến đâu làm đến đó được (Châu phê: Như thế thì thông với nước Anh? Hay là tính tình nước Anh chưa chắc). Nếu không thế, biết mà ngờ vực chểnh mảng không làm, sau hối hận càng thêm nặng, chẳng thà không biết còn hơn.

Nay kính bẩm lên đại thần sáu Bộ soi xét.

Nguyễn Trường Tộ - ký.


_________________________________________
1. Hà Ba Lý: Aubaret.
2. Langxubi?



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:07:25 pm

DI THẢO SỐ 31

Về việc lập sứ quán và cử phái bộ*

(Ngày 19 tháng 2 Tự Đức 21, tức 12 tháng 3 năm 1868).

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin đem các công việc ngoại giao bẩm rõ sau đây:

Một là, các nước đều có công sứ nước mình lưu trú ở Kinh thành các nước khác. Điều này rất có ích. Năm Tự Đức thứ 19 trước đây, trong một tờ bẩm, tôi đã bẩm sơ qua về khoản đó. Phàm nước nào có việc lớn, thì gửi thư ngay cho công sứ nước mình trú ở Kinh đô nước đó, công sứ có quyền đối kháng thương lượng với Triều đình nước ấy. Nếu hòa hảo tử tế được thì thôi. Nếu Triều đình nước ấy không chịu, thì công sứ nước mình cuốn cờ mà về, rồi mới gây việc binh đao.

Các công sứ các nước cùng đóng ở Kinh thành nước khác lâu ngày, kết giao với nhau, càng ngày càng thân. Cho nên một khi xảy ra việc gì, sẽ có nhiều tay góp phần gỡ rối, nhiều người góp ý giúp đỡ, nên thường thường việc lớn hóa ra việc nhỏ. Bằng chứng như thế rất nhiều, không thể nói hết.

Vả công sứ quyền năng hơn nguyên soái, bất luận việc gì, trước hết phải thông qua tay công sứ, vạn bất đắc dĩ mới giao cho nguyên soái liệu định.

Năm trước, lúc họ mới bàn hòa với ta, cứ theo thể lệ phương Tây, thì ta với họ đều phải đặt công sứ. Sau họ thấy ta một mực từ chối, họ biết ngay sự từ chối đó là hại cho ta, mà lợi cho họ, nên họ cố giả bộ yêu cầu hai ba lần để cho ta càng sinh nghi mà càng từ chối. Do đó họ mới được tha hồ muốn làm gì thì làm. Nay nếu muốn giao thiệp với các nước thì ta qua họ, họ qua ta, sau lâu rồi cũng phải đặt lãnh sự công sứ ở nước của nhau, mà khoản này ta chưa làm được, vì ta chưa biết rõ lý thế giao kết tung hoành phải như thế. Khó là vì vậy.

Hai là, nếu mở rộng cửa ngõ giao thông với nhau sẽ có lợi ích lớn, như trong bài Lục lợi từ đã nói và bài Ngôi vua là quý, chức quan là trọng đã trình bày 14 khoản cùng các lý lẽ đã nói rõ trong bài Khai hoang từ. Như thế thì họ với mình cùng nhau qua lại ăn ở mọi việc rõ ràng, dễ điều đình. Nhưng hiện nay ta còn nhiều trở ngại, chưa làm được. Khó là vì vậy.

Hai khoản này, trong các tờ bẩm trước, tôi đã nói qua. Nay có sứ bộ đi Tây, nên tôi xin nhắc lại để rõ sự nên hoãn, nên gấp trong việc ngoại giao. Nếu thế chưa làm được thì không nên đi chu du các nước, để thêm phí tổn. Hai khoản này là bước đầu khởi sự, có nhiều trở ngại khó khăn. Nếu còn nghi ngại thì hãy nán lại sẽ cứ đi sau cũng chưa muộn.

Còn như đại thế phân hợp tôi nói rõ ở đoạn đầu trong bài Tế cấp bát điều, thì sau này dù ta không muốn làm, người khác cũng sẽ làm thay ta, rồi bắt buộc ta cũng phải theo đuôi. Đấy là sự thế nhất định không thay đổi.

Nếu thế sứ bộ đi Tây lần này, cũng nên đi giao thiệp cho rộng, hết sức thăm dò một phen, để về quyết định xem nên làm hay không.

Còn như chuyến đi của sứ bộ lần này với những sự thế trong ý định của Triều đình, chúng tôi nghĩ kỹ, tính kỹ tình thế của họ, thì mọi việc cũng chưa chắc muôn phần đều được như ý muốn. Nhưng được một điều lớn, như những lời tôi đã nói ở đoạn cuối trong bài trình bày về việc duy trì ba tỉnh là “Nay ta hết sức làm cái kế có thể duy trì thật là hết lòng hết dạ thương dân. Nếu việc thành công thì phúc cho nhân dân, còn nói đến phải núi cùng sông hết mà phải giao cho trời định đoạt, thì cũng có thể đem tâm tình này mà tạ cùng thiên hạ và còn lưu lại cho ngày sau lòng nhớ sáu tỉnh cũ mà khôi phục mai sau”. Đấy là một điều lớn sẽ đạt được trong chuyến đi này.

Sau nữa nếu thế không thể vãn hồi được mảy may thì trong khi lập điều ước tôi sẽ bẩm rõ tất cả trong đó nên giao ước như thế nào, để có thể bảo đảm sau này, họ không dám tràn lan ra chỗ khác (Nhưng ta phải đừng phạm lỗi trước thì mới có thể giao kết lâu dài được) để có thể kéo dài ngày tháng, khiến cho ta có thể tự cường, mà dần dần mưu việc báo phục. Đấy cũng là đạt được một điều lớn.

Sau nữa, phải hết sức dò xét thế tung hoành, để phân biệt việc gì nhất định làm được, việc gì chưa thể làm được. Việc gì có thể làm được thì hết sức làm ngay. Về sau nhất định được ích lợi lớn, như Tây Châu. Nếu muốn trái với mọi người mà đứng riêng ra một mình, thì lúc về tôi sẽ bẩm rõ sách lược thứ hai, mà hết sức thi hành trong vài năm, cũng đủ sức tự củng cố, thề không chung sống với họ. Còn như việc thành hay bại, đều phó cho trời. Vả lại lần đi này quan hệ đến đại thế, cho nên đem kiến thức thô thiển mà nói hết ra, nếu có sự gì mạo phạm, đấy là do một tấm chân tình, vì không am hiểu sự thế mà ra. Muôn lần mong Triều đình rộng lượng tha thứ, để mở đường ăn nói.

Xin bẩm thêm: Nếu sứ bộ cần tiêu dùng chi phí, xin nói rõ với Tây soái trước đến nước họ mượn tiền mà tiêu, rồi trả ở Gia Định. Nếu mang tiền Gia Định sang Tây, mỗi đồng chỉ đổi được 4 quan 9 tiền hoặc 5 quan mà thôi, mà ở các phố lại không thông dụng. Ngày trước chúng tôi đem tiền Gia Định mua bên ấy, đã không lợi mà lại khó tiêu dùng. Về đồ đạc của công nên bỏ vào hòm to chắc chắn (Mỗi hòm nặng chừng bốn năm người khiêng) mới bớt phí tổn. Nếu dùng hòm nhỏ, thì bao bì nặng mà đựng chẳng được mấy. Lại nên dùng ván nhẹ đóng đinh vào cho chắc chắn (Xin phái thợ đến sứ quán, mượn một cái hòm không về làm mẫu). Nếu không, đi chưa đến nửa đường mà đồ đạc của cải đã hư hỏng.

Nay kính bẩm.

_______________________________________
*. Bản văn chữ Hán: Hv 189/3 trang 28 - 32.
    Hv 634/1 trang 155 - 161.
    Hv 135 trang 117 - 123.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:08:51 pm

DI THẢO SỐ 32

Về việc tổ chức cho sứ bộ đi Pháp*

(Ngày 19 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 12 tháng 3 năm 1868).

Tôi Nguyễn Trường Tộ xin đem những việc phải chuẩn bị để phái bộ đi Tây bẩm rõ như sau:

Tôi trộm nghĩ: Xưa nay bất luận nước nào, hễ có sứ bộ đi ra nước ngoài, điều quan trọng là làm sao biểu dương uy thế, bảo toàn thể diện cho nước mình và không nhục mệnh vua. Vì sứ thần thay mặt cho nước, một người tức là một nước vậy. Nếu có việc gì không hợp thể thống, sẽ khiến người ngoài để tâm dòm ngó khinh nhờn. Huống chi hiện nay các nước trên thế giới đều giao thông liên lạc với nhau, nước nào cũng đem tài sức quyền thế tranh hơn với nước khác. Nếu có việc làm gì không cẩn thận thì báo chí sẽ loan tin khắp thế giới, mọi người đều nghe thấy, quan hệ không phải là nhỏ. Vả lại thói đời giống với mình thì vui mừng, khác với mình thì chế giễu. Cho nên vua Hạ Vũ ngày xưa, vào trong nước của những người trần truồng, thì cởi áo mà đi. Sở dĩ bỏ tập quán cũ của mình là muốn thuận tình người khác, để mong cho được việc. Năm trước người Xiêm La đi sứ sang Pháp, lúc đến đất Pháp, thấy nước họ rất mực phồn hoa, bèn đem hết đồ triều phục mặc vào mà đi. Khi vào sứ quán rồi, trước ngày yết kiến vua Pháp, họ giả bộ trong phòng hỏa hoạn rồi kêu rằng đồ triều phục bị cháy hết. Người Tây phải sắm lại triều phục cho họ. Khi họ về nước rồi, người Pháp biết là giả dối, nhưng chả làm gì được. Trí lực của người Xiêm là như vậy.

Sứ bộ ta đi Tây lần này, cách ăn ở, hễ đến đâu, phải làm như thế nào, tôi sẽ nói trước với quan chính sứ, bàn bạc phải chăng, tạm theo tục họ, để tránh sự chê cười. Còn như áo quần, đồ dùng, cần phải tề chỉnh sạch sẽ. Vì người Tây ghét nhất là ăn mặc bẩn thỉu. Trừ lễ phục ra, áo lót mình mỗi người ít nhất cũng phải 40 bộ, mỗi ngày mỗi thay đổi. Khăn mặt phải dùng vải Tây trắng, ít nhất mỗi người cũng phải có 30 chiếc. Những hòm rương mang theo cũng phải bóng nhoáng. Nếu chưa có thứ tốt thì khi đến Gia Định mua cũng được. Nếu dùng những thứ ta thường dùng như tráp đựng trầu chẳng hạn, thì thật trông không được mắt tý nào.

Còn những đồ tặng vật kỷ niệm, xin chớ đem nhiều đồ sành sứ. Vì những thứ ấy của nước ta rất thô sơ. Nên mua nhiều trà ngon và các thứ hàng Tàu, chuyên chở đã dễ, lại cũng dễ giả. Còn một vài đồ sành sứ, xin mua thứ rất tốt, không nên đem những thứ thô kệch như lần trước, đã lòi sự vụng về, lại tốn tiền chở. Và các loại vật dụng của công, nên chọn những loại rất nhẹ mới tốt. Vì không kể đi tàu thủy hay hỏa xa, mỗi người cũng chỉ được mang theo 60 cân mà thôi, còn ngoài ra đều phải trả tiền cước. Nếu chở nhiều đồ nặng thì phí tổn rất nhiều, mà cũng không ích gì.

Về những người hầu hạ cũng không nên đem theo nhiều. Vì từ Gia Định trở đi, không kể ở nhà trọ hay ở thuyền, đều có người Tây phục địch. Ta chỉ cần một số rất ít để sai bảo mà thôi. Nếu một thuộc viên lại có một người hầu riêng, thì ở xe, ở thuyền, hay ở nhà trọ, người ấy cũng phải trả tiền như thuộc viên. Tiền phí tổn đi về của một người ít nhất cũng phải một vạn quan. Nhưng nếu người đi theo hầu hạ quá ít, mà bị họ chê cười, mất thể diện, không đi không được thì dù tốn bao nhiêu cũng không nên tiếc, để giữ thể diện. Nay trái lại nếu đem nhiều người, thì lại mất thể diện, và bị họ chê cười vì phương Tây không có tục ấy. Cho nên cần phải giảm bớt.

Lại nữa, các người trong sứ bộ phải xét chọn người nào thật cần phải đi, mới phái đi. Nếu không cần lắm, hoặc giảm đi cũng không trở ngại gì thì nên giảm. Năm trước sứ bộ ta đi Tây, trừ tiền mình phải chịu, còn ra quan Tây khoản đãi sứ bộ tốn hết gần 45.000 đồng. Nay đi lần này, đều do mình tự liệu lấy cả, trừ khi đến nước Tây hoặc được khoản đãi ra, còn dọc đường ta đều phải chịu hết. Vì thế nên ít người là tốt, càng ít càng tốt. Vả lại sứ bộ chỉ dùng để đối đáp chớ không phải để đánh chác gì. Lần trước các nước nghe sứ bộ ta đi đến hơn 60 người, đều lấy làm quái lạ, không thể hiểu nổi. Lần này định đi bao nhiêu người, những người nào nên kể rõ họ tên chức phẩm, viết thư vào Gia Định đệ trước qua Tây, để cho họ biết trước mới được.

Lại còn tục đi chân đất, người Tây cũng cho là rất xấu. Xin đều phải đi giày, giày Tàu, giày Tây, thứ gì cũng được, miễn đừng để chân không là tốt. Ngoài ra còn phải dùng bít tất trắng để bao chân. Mỗi người ít nhất phải có 4, 5 đôi giày, còn bít tất phải hai, ba mươi đôi để thay đổi luôn mới được.

Lại như lần này khứ hồi phàm những chỗ trên đường đi qua như thuộc địa nước Anh, đã qua thăm lãnh sự Pháp, thì cũng phải qua thăm các quan sở tại người Anh. Đấy là lý phải như thế.

Lại như năm trước sứ bộ ta đi Tây, đã được vua nước Ai Cập qua khoản đãi 4, 5 ngày. Vua Ai Cập với ta xưa nay vốn không quen biết, sở dĩ làm thế là muốn vui lòng vua Pháp mà thôi. Nay nếu sứ bộ ta có đi ngang qua đó, cũng nên có phẩm vật gì biếu tặng mới hợp lẽ. Còn như việc ăn ở đi lại, tất cả tập quán các nước như thế nào, tôi cũng đã bẩm rõ và xin nén lòng chịu khó tạm theo tục lệ người ta, mới khỏi chướng tai chướng mắt người, như thế mới bảo trọng được thể diện nước mình. Còn sự thành công là ở trời. Tuy nhiên bảo toàn thể diện, khéo được lòng người, thì cũng là một cách để thành công.

Khoản này hoàn toàn do ở mình, chớ không thể đổ lỗi cho người khác. Vì thế nên tôi chẳng trốn tránh mà nói ra, nghe ra như có phần vị kỷ nhưng chính là sự thế phải như vậy. Nếu người ta chê cười một người, cũng như chê cười một bộ phận của cả nước, huống hồ chê cười sứ bộ thì sự nhục quốc thể lại chẳng lớn hơn sao?

Vì thế tôi kính bẩm lên quan bộ Lễ soi xét.

Nguyễn Trường Tộ ký

__________________________________
*. Bản văn chữ Hán: Hv 189/3 trang 32 - 36
    Hv 634/1 trang 148 - 155
    Hv 135 trang 123 - 129
    N.P 120 trang 17 – 18.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:10:19 pm

DI THẢO SỐ 33

Về việc gởi người sang Pháp học*

(Ngày 20 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức ngày 13 tháng 3 năm 1868)

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Nay vâng lời hỏi của quan bộ Lễ về việc phái người đi Tây học, tôi xin trình bày rõ các ý kiến đó như sau:

Điều này rất nên làm. Có một điều hay lớn là khiến thiên hạ biết rõ nước ta ngày nay sắp sửa vươn lên để cùng nhau đua chen với các nước. Việc tuy nhỏ, nhưng danh nghĩa lớn có thể khiến các nước biết rằng ta dần dần rồi cũng qua lại giao thông với họ, có thể tỏ cho thiên hạ biết rằng nước ta hòa hảo và giữ vững lời ước với nước Pháp. Đó là việc làm không cần rêu rao mà chính đã cáo tri cho khắp thế giới biết. Việc cử người đi Tây học còn khiến cho nước Pháp dần dần tin ta thật bụng hòa hiếu. Với các lẽ trên, thì việc này làm một mà được mười. Tuy nhiên tài chánh nước ta hiện đang khốn đốn, cũng phải khéo tiết kiệm để bớt tốn. Nay xin tư cho Tây soái xin cho đi theo thuyền nhà nước. Nếu đi thuyền buôn phí tổn sẽ gấp năm lần. Việc học là công trình hàng năm nọ tháng kia không phải chuyện gấp rút.

Nếu sứ bộ đi trước, đến Kinh thành nước Pháp, hỏi trước chỗ ăn ở xong xuôi, tìm người gởi gắm, thì sau này học sinh sang học không đến nỗi phải lúng túng, sứ bộ không trở ngại gì. Sự đi lại thì nhờ quan Tây, sự dạy bảo thì nhờ học hội (Sứ bộ sang Tây đến cả nhà học hội xem sẽ thấy rõ mối manh). Vì học sinh phải tìm chỗ có quy củ mà ăn ở, mới khỏi lêu lổng mà tiến ích được. Vả bản lĩnh có chính, thì thi hành mới tốt. Nếu bản lĩnh không chính, dù có tài cũng thành người vô dụng. Thử xem nước Ai Cập năm trước phái 15 người qua thành Ba Lê học tập. Đến lúc học xong về nước, chỉ giỏi những nghề chơi bời phóng đãng, ăn mặc phong lưu mà thôi. Vì Ba Lê là nơi rất phồn hoa. Nếu bỏ lơi khuôn phép thì dù người lão thành kiên nhẫn, cũng dễ bị hoa nguyệt rủ rê, huống là bọn học sinh trẻ tuổi.

Vả lại mới đầu, nên tìm trường nhỏ mà học. Tiền học, tiền ăn đều rẻ, rồi dần dà học lên, mới khỏi mù mờ như trông ra bể khơi. Nếu đột ngột vào ngay trường lớn, thì tổn phí đã nặng mà giáo sư cũng khó tự hạ thấp mình xuống để dạy riêng cho. Như thế tốn kém nhiều mà kết quả ít. Vả lại khi vào trường rồi, tất những sự ăn, ở, mặc đều do nhà trường lo. Hàng năm tính chung lại mới trả. Tiền phí tổn ấy hoặc do sứ bộ cùng với Viện Truyền Giáo làm giấy vay, mỗi năm tính ra bao nhiêu rồi giao số tiền ấy cho giám mục địa phận nước ta cũng được, hoặc do quan Tây cấp rồi số tiền ấy trả lại tại Gia Định cũng được.

Những học sinh học máy móc thì tuổi phải 20 trở lên, học chữ Anh, chữ Pháp thì phải 12, 13 trở lên.

Những công việc đi học bên Tây là như thế.

Nay kính bẩm.
__________________________________
*. Bản văn chữ Hán: Hv 189/3 trang 40 - 42.
    Hv 634/4 trang 132 - 135.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:11:39 pm

DI THẢO SỐ 34

Trả lời các câu hỏi của triều đình*

(Bổ túc văn bản số 29)

(22 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 15 tháng 3 - 1868).

Nguyễn Trường Tộ xin đem các điều được hỏi bẩm rõ từng điều một như sau:

- Thứ nhất về câu “Họ đã tính toán cả rồi”:

Họ đã biết rõ thế nước ta yếu, không bằng một phần mười của họ. Họ lại biết rõ mấy lâu nay Triều đình ta bàn bạc những việc qua lại với họ, có nhiều ý kiến bất đồng. Phàm những việc có lợi cho ta, ta đều chần chừ mà bỏ mất hết. Họ còn biết rõ những việc làm của quan dân ta đều có chỗ có thể vịn lấy để bắt bẻ. Họ còn biết rõ là ta còn cô lập không có viện trợ. Họ còn biết rõ ta có chỗ hở dễ thừa cơ xen vào sau này có thể giúp cho tụi phiến loạn để chia cắt. Họ còn biết rõ ta còn câu chấp, chưa biết tùy thời biến thông để nhờ những cái của người khác đã sẵn có. Họ còn biết rõ ta không lo tự cường gấp như các nước mà chỉ tranh giành từng tấc đất, thước đất.

Những điều kể trên là tôi tình cờ nghe được các quan Tây nói chuyện với nhau và chê ta không khéo xử trí. Tháng giêng năm nay tôi nghe các quan Tây nói rằng: Sau khi sứ bộ ta đi Tây về họ đánh lấy Bình Thuận, để cho ta lại đi Tây nữa, rồi sau khi về họ đánh lấy Bắc kỳ, xem ta còn đi đâu, để cho thiên hạ cười chê! Họ biết rõ mưu mô của ta mà chế nhạo ta như thế. Thật là họ không xem ta ra gì cả. Đấy là những lời tôi nghe được, mà lý thế cũng là như thế. Vì kiêng kỵ tôi không dám nói hết, xin xem trong Tế cấp bát điều.

- Câu “Đã lập thái tử chưa?:

Tôi nghĩ Triều đình cũng đã ngầm hiểu nên không dám nói nữa

- Còn câu “Họ đã xem thấu sau lưng ta”: cũng giống như câu trước không phải nói lại.

- Câu “Giao thông với thiên hạ”:

Tuy rất khó, nhưng việc lớn không gì bằng giữ nước, cũng không gì khó bằng giữ nước. Như trong bài Trần tình năm trước tôi có nói “Thời kỳ khôi phục tìm ở thiên hạ, chớ không phải tìm ở trong nước mình”. Lại đoạn cuối trong bài Lục lợi từ có nói “Bỏ kế ấy quyết không chống được họ”. Đâu có chuyện giữ nước mà lại sợ khó ư?

- Câu “Đến nước Tây ngầm tìm đường lối”:

Đấy là nói tìm người giúp đỡ ta, nhưng người Pháp đâu phải không có tình yêu nước? Như thế nghĩa là có thể họ vì mình mà cũng là vì họ. Việc này phải đến nước họ, tùy thời cơ mà làm. Vì nhiều sự việc sẽ diễn tiến không thể lấy lời lẽ mà bảo trước được. Có điều là họ cũng biết rõ ta nói không nhất định, không như nước khác, nói một lời là nhất định. Vì sao thế? Vì ta chưa hiểu rõ tính tình người phương Tây vậy. Nếu ta tìm được đường lối, mà thế có thể địch được với Tây soái thì mới nên thi hành.

- Đến như câu “Nước họ sinh ra biến cố”:

Đó là hiện nay nước họ đã chia rẽ với nước Nga lại có hiềm khích với nước Phổ Lỗ Sĩ; Viện Thứ Dân cũng muốn gây rối, trong khi con cháu vua trước cũng muốn lấy lại nước. Khi tôi ở Ba Lê, dò hỏi được chắc chắn như thế. Không biết bây giờ có thay đổi gì không? Nếu cứ đà ấy thì chắc sẽ có biến cố lớn. Ngày trước Viện Thứ Dân có nói rằng: Vua Pháp từ ngày sinh sự với ta đến nay và ngầm xích mích với Giáo hoàng La Mã thế nước ngày càng chóng giảm sút. Tuy trong Viện Công Hầu cũng có một vài nịnh thần ton hót vua để giữ tước vị, chỉ muốn sinh việc với các nước ngoài. Nhưng không biết Viện Thứ Dân đã chất chứa nhiều bất bình. Từ 10 năm lại đây, tổn phí không biết bao nhiêu. Những việc đã làm, phần nhiều sai hỏng, cho nên họ đều viết thư muốn làm loạn. Ngày trước hiện đã bắt được 4, 5 người. Sự thế của họ là như thế. Dầu cho có loạn, nhưng có một nguyên soái giữ chặt Gia Định, thì mình cũng chẳng làm gì được họ; vì thế ta phải giao thông gấp, để đợi cơ hội.

- Câu “Gắng tìm đường lối”:

Nghĩa là nếu gặp được cơ hội của họ hiện như thế, biết rõ nay họ chưa thể sinh sự được với ta, thì ta công khai đem sự việc mưu với nước Anh, nước Nga, một mặt đem hết tình tiết ngầm bày tỏ rõ ràng với Viện Thứ Dân, để xin trả lại đất đai của nhân dân cho ta. Ta chỉ lập hòa ước mở các cửa bể, để cùng nhau ăn ở buôn bán mà thôi. Nếu cơ hội nổi loạn ấy gần phát ra, mà lần này chưa thể xong việc được thì phải làm gấp sáu điều lợi, để đợi biến cố.

- Còn câu “Biết rõ lý thế của ta của họ, để tùy cơ ứng dụng đường lối cứng rắn hay mềm dẻo”:

Cái đó là quyền của các quan đại thần lo việc nước tôi không dám dự biết. Nhưng nếu có hỏi thì tôi xin trả lời, có nghi thì tôi xin giải đáp, muốn biết điển cố, muốn biết tình thế hiện nay tôi đều có thể bẩm rõ. Hoặc cùng với thông ngôn đi trước để dò xem tình hình được hay chưa, hoặc ngầm tìm người quen để dò hỏi tình thế, những việc đó tôi đều có thể làm được.

- Nhưng câu “Tình nguyện đi theo giúp”:

Tôi cũng khó nói rõ được. Chỉ vì việc ấy rất là khó khăn, tuy có một vài cơ hội, nhưng khó quyết định nên việc. Vì lâu nay ta chưa đi lại giao thiệp tạo sự quen biết để được tình cảm với người ta trước. Còn như tình nguyện giúp đỡ mọi việc, thì đấy là điều mà tôi rất muốn. Nếu tôi không có bụng ấy, thì chỉ có một bà mẹ già, khó gì chẳng cùng đem mẹ đi trốn được, mà phải trở về? Cũng không phải vì tình thế bức bách mà phải trở về. Như thế, tấm lòng muốn giúp đỡ của tôi đã rõ ràng rồi. Nhưng nếu Triều đình có muốn sai phái việc gì thì xin cứ nói thẳng. Tôi xin hết lòng mà thôi. Nếu có bổ ích được phần nào, thì đó là do oai linh của Triều đình, bằng không có bổ ích gì, thì đó là do sự thế xui nên đừng bắt tội thì tôi mới dám vâng mệnh. Lần này mà bắt tôi nói “tùy nguyện” thì thật cũng không dám. Vì nếu được việc thì chẳng nói làm gì, không được việc thì lại sinh nghi nan. Một phen không trúng mà đổ hại về sau, như thế là cái sở học của tôi muốn đem ra giúp đỡ, không phải ở chỗ chuyên ứng đối, tôi sẽ không khỏi ôm hận mà chết ư?

- Còn như câu “Đem cái tính tình ta mà kêu gọi được...”

Nghĩa là trong thiên hạ cũng có một vài nước đã biết rõ sự thế của Tây, như các nước Ai Cập, Tây Châu v.v..., mới có thể dùng kế sách lớn, để được giàu mạnh. Nghĩa là qua lại giao thông với phương Tây mở hết cửa ngõ, như trong Khai hoang từ tôi đã bẩm trước. Phải như cái kế mà các nước dùng để chống lại phương Tây thì mới gọi là kế sách lớn. Nước ta nếu có kiến thức như họ, tính tình như họ, mới làm được kế ấy. Kế ấy tôi đã nói qua trong các tờ bẩm trước. Nay không phải nói lại nữa.

Nay kính bẩm
__________________________________
*. Bản Hán văn: Hv 189
    Hv 634.
    Không ghi ngày tháng. Nhưng có lẽ là 22 tháng 2 năm Tự Đức 21. Vì trong tờ tấu ngày 21 tháng 2 của Viện Cơ Mật, vua Tự Đức có châu phê nghi vấn: Trong tờ tấu ngày 23 tháng 2, Viện Cơ Mật trả lời về phúc đáp của Nguyễn Trường Tộ.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:13:15 pm

DI THẢO SỐ 35

Nói rõ thêm về văn bản ngày 16-2 Tự Đức 21*

(Ngày 22 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 15-3 năm 1868)

Tôi Nguyễn Trường Tộ vâng sức hỏi các sự lý nói chưa được rõ ràng trong hai tờ bẩm trước của tôi, xin theo từng khoản mà bẩm rõ lại như sau:

Khoản một, câu “Sứ bộ ta đi Tây lần này không phải chỉ chuyên một việc xin trả ba tỉnh mà thôi, v.v...”

Tôi nghĩ rằng: Trong ý vua tôi nước họ, vốn trước muốn lấy 6 tỉnh của ta, hợp với nước Cao Miên làm một, rồi sau mới lập mưu kế mà mượn nước ta làm hàng rào phía Đông để củng cố vùng đất chính ở hai bên sông Cửu Long. Đấy là một mưu kế trăm năm mà họ nhằm lập sào huyệt ở phương Đông cho họ. Nếu nay ta nói thẳng là đòi lại ba tỉnh trong, thật là như thúc một cái vào tim họ, sợ họ cho ta không hiểu sự thế nên cứ nhất quyết làm rầy rà, rồi họ sẽ phát cáu không chịu nhân nhượng chút nào để cho ta tuyệt đừng bao giờ có ý nghĩ ấy nữa. Nếu quả như thế, thì không nhục quốc thể lắm sao?

Vả lại họ thấy ta nay xin trả mai xin trả, họ biết ta chưa cam lòng chịu họ, thế là cái mưu đồ 100 năm của họ còn bị cản trở chưa ổn chưa tiện. Thế tất họ phải lấy gấp Bắc kỳ của ta, để ta không còn thì giờ đâu mà lo liệu, họ mới có thể ngồi yên mà tính toán sách lược được. Cho nên các quan họ (Các quan đây là các quan thuộc hạ, chứ nguyên soái thì kín đáo, không nói lộ ra, sợ ta biết mà phòng bị) nghe ta đòi lại ba tỉnh trong, liền nổi giận mà nói rằng: Sẽ lấy nốt Bắc kỳ, xem ta còn đi đâu! Đấy là ý muốn vốn có từ trong thâm tâm của họ, cho nên ngẫu nhiên vô ý mà lộ ra lời nói vậy.

Trong bài Tế cấp bát điều trước đây đầu tiên về điều “Chỉnh đốn vũ bị”, có một khoản nói rằng: Xin đắp một thành lớn ở Tứ Tuyên vùng thượng du, mà dùng một vị đại thần thân tín giữ đó, chính là vì cớ đấy. Vì tôi đã liệu trước, cứ như địa lý về binh pháp thì từ Hà Nội trở xuống, cũng khó cầm cự lâu dài được với họ, cho nên tôi xin nói kín như thế, vì là việc kiêng kỵ, không dám nói rõ. Nay nếu chỉ nói việc đòi trả lại ba tỉnh, thì sợ ngại tâm sự họ, cho nên muốn kèm thêm vào việc mượn người khai mỏ và mua máy móc để ngăn bụng ngờ vực của họ. Vì hai khoản này là thật lòng muốn chung điều hay điều lợi với họ, cho nên họ ngầm tưởng là ta có lòng như thế, thì họ cũng dễ hợp tác với ta mà có thể hoãn việc thi hành của họ (Như trong bài bẩm tôi đã nói họ đi xâm chiếm các nước cũng chỉ dùng hai đường lối hoãn hay gấp này mà thôi). Như thế ta có thể thư thả mà lo tự cường, không còn cấp bách nữa.

Lại họ lầm tưởng ta đã có bụng ấy, mà nếu không tạm châm chước cho ta một vài khoản để thuận tình phần nào, thì cũng có phần sợ ta xấu hổ quá hóa liều, mà đánh bừa một trận, lại vừa gặp lúc trong nước họ đang có việc, thì họ ngồi ở Gia Định cũng khó yên ổn.

Tuy họ đã biết rõ ta không đủ sức chống lại họ, nhưng nếu họ chết một ta chết trăm người, họ cũng bị thiệt hại, không phải là kế sách hoàn toàn tốt, chi bằng thuận tình ta chút ít mà dùng kế hoãn, thì không phí sức. Cho nên tôi muốn thêm vào hai khoản ấy, để dùng kế lấy thuốc ôn trị bệnh hàn vậy.

Khoản hai, câu “Cũng nhờ nguyên soái giúp đỡ một phen”.

Nguyên soái sở dĩ gấp rút bàn hòa với nước ta là muốn cuộc hòa tạm xong để lấy tiếng hòa mà về phục mệnh với quốc vương. Như thế là việc của y đã bế tắc mà thoát ra được, trút gánh cho người khác để về hưởng thú vui ở thôn quê, như tôi đã nói trong một tờ bẩm trước lúc ở Gia Định. Khi đã tạm hòa với ta thì sau này ta sẽ đem tờ hòa ấy sang Pháp mà xin thêm với quốc vương điều gì, nếu được tức là do Triều đình Pháp vì tình mà cho, chứ không quan hệ gì đến việc ngoài mặt trận của nguyên soái.

Lúc ấy, nếu Triều đình Pháp có hỏi nguyên soái lý lẽ gì, thì y đã biết tình hình ta trước đây sở dĩ tạm hòa với y là để thành danh cho y, nên y cũng biết ơn ta, mà ta lại cố xin giúp y, thì y cũng nghĩ đến tình lễ của ta mà nói với Triều đình Pháp rằng: “Những điều Nam Triều xin đó, cũng nên châm chước”. Có điều khi ở Gia Định y không dám thuận theo tất cả những lời ta xin, là muốn lưu cái việc ban ơn nặng đó cho Triều đình Pháp. Và trong ý y cũng sợ rằng nếu trái ý nước ta quá, vạn nhất xảy ra việc gì thì điều nói hòa với ta trước đã tâu về Triều đình Pháp cũng chưa xong gì. Như thế thì nay y cố xin với Triều đình Pháp một vài điều gì cho ta cũng là vì y nữa. Tình thế ấy cũng là chuyện tất hữu ở đời vậy.

Còn câu “Làm thinh nhưng vẫn cứ chờ nguyên soái”.

Câu này cũng cùng một ý, không phải lại nói nữa.

Khoản ba, câu “Đến nguyên soái sau mà dò ý tứ”.

Đấy là bất đắc dĩ mới tìm kế thứ hai. Nếu ta không hoàn thành việc tạm hòa với nguyên soái trước, thì vấn đề ba tỉnh trong chưa xong, mà nguyên soái mới vừa nhậm chức thấy công việc rối ren như thế ắt cho là nguyên soái trước thoát nợ trút gánh nặng cho y, y dại gì gánh lấy cái khó để thành công cho nguyên soái trước? Hoặc giả y nghĩ kiếm cách ăn ở tốt với nước Nam, để nước Nam thương mến mình để mình mưu đồ lập công sau này. Vậy nay mình lập một vài mưu cho nước Nam để giải quyết cuộc diện chưa xong này, để lưu tình nghĩa với nước Nam để mình được thung dung sắp xếp công việc. Đấy cũng là cách cầu công mà nhân tình tất phải có. Nhưng ta phải đến Gia Định thăm dò thêm nguyên soái mới với nguyên soái cũ thân sơ ra sao rồi nói chuyện, bàn bạc với nguyên soái mới, xem y ăn nói ra sao, khám phá được tình chân thật của y rồi mới có thể câu kết với y được.
__________________________________
*. Bản văn chữ Hán của bài này: Hv 189/3 trang 42 - 50.
    Hv 634/3 trang 01 - 13
    Hv 170 trang 53 – 59


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:14:29 pm

Khoản bốn, câu “Ngầm tìm Hà Ba Lý v.v...”

Người này vốn có thâm thù với nguyên soái. Năm trước ông ta đã nói giúp với Triều đình Pháp nên trả lại ba tỉnh ngoài cho ta, như thế tức là trước Triều đình Pháp chắc ông cũng đã dùng nhiều lý lẽ để nói rõ việc làm nên trả lại khiến vua Pháp đã sai ông lên Kinh để nói về chuyện trả lại. Vả khi ông lên Kinh, Triều đình ta tiếp ông rất hậu, và ông ta cũng ghi nhận được cảm tình ấy. Nhưng chỉ vì nguyên soái cầu công lại tâu về Pháp bác hết các lẽ của ông, như thế rõ ràng là nguyên soái đã đạp đổ lòng tự ái của ông rồi. Và năm trước khi tôi ở thành Ba Lê lúc ông đã trở về; tôi cũng được nghe ông nói rằng chuyện sinh sự của nguyên soái là sai. Nếu sứ bộ đi Tây, ngầm tìm được ông ta, dùng lời lẽ khéo léo mà cầu kế với ông cũng được.

Khoản năm, “âm thầm tìm người chú”

Hai chữ “người chú” tôi chép nhầm, chính là “người cậu” chớ không phải người chú. Nhân năm trước khi chúng tôi qua Tây có mang thư của Lăng Xu Bi gởi cho cậu ông ta, nhưng sau cậu ông ta không biết chúng tôi ở đâu nên việc phải bỏ dở.

Trước đây Nguyễn Hoằng đã đem thư của người cậu gửi cho ông ta dịch ra tiếng ta và đệ nạp, sự lý trong thư chắc Triều đình cũng đã rõ. Vả người cậu ấy hiện là một quan lớn trong Viện Thứ Dân.

Nay sứ bộ ta đi Tây, cũng nên ngầm tìm đến người cậu ông ta mà nhắc lại chuyện trước, nhờ ông ấy bày kế cho ta như thế nào, rồi nhắc lại khoản Lăng Xu Bi trước kia ở Gia Định muốn xin, nói cho ông biết. Ông ấy nếu đem sự việc nghĩ kỹ, thấy chắc chắn yên ổn có thể làm được thì sẽ bày kế cho ta mà còn giao kết bá cáo với đồng liêu (ở Viện Thứ Dân) để đối nghịch với Viện Công Hầu. Nếu thấy thế không làm được thì ông là một quan lớn, đã có tình nghĩa với ta, đã hứa với ta một lời thì chắc chắn không tiết lộ ra, để làm hỏng việc của ta. Nhưng khi đến đấy cũng phải ăn nói khôn khéo mới được. Còn sự thế nước Pháp, thì Viện Công Hầu và Viện Thứ Dân thế lực ngang nhau. Trong khi đó Viện Công Hầu thì mong có chuyện để lập công, còn Viện Thứ Dân thì lấy việc dàn xếp cho yên nước để làm công. Cho nên hai bên đi đến khiên chế nhau để đi đến chỗ phải giải quyết thỏa đáng.

Năm trước khi tôi ở nước Tây, đã cùng giám mục đến chỗ đào mỏ đúc sắt. Những sự tai nghe mắt thấy, tôi đã nói rõ ở đoạn cuối trong bài Tế cấp bát điều năm ngoái.

Ở đấy có một vị công tử đứng đầu hội, y là con một ông quan lớn nhất trong Viện Thứ Dân (ông này là Viện trưởng Viện Thứ Dân, như tể tướng). Chúng tôi đã ở nhà công tử ấy một tuần và có nói chuyện nhiều với công tử rằng nước ta vốn muốn cộng tác với nước Pháp để được thịnh lợi chung, y rất thích. Tôi cũng nói với y rằng khi về nước sẽ đem hết những gì cơ xưởng của y có bẩm lên Triều đình biết để sau này có mua sắm gì sẽ nhờ y liệu biện cho, như Nhật Bản, Xiêm La vậy. Nếu tiện dần dần sẽ xin cho một vài người sang nước ta để xây dựng lò đúc sắt cho ta giống như của y. Nhưng việc đó sẽ chờ Triều đình liệu dần, sớm hay muộn tôi không thể nói trước được, chỉ đem công việc bẩm lên mà thôi. Y nói, nếu được như thế, y xin đảm nhận.

Nay đi lần này, có thể trở lại chỗ của y, mua một vài thứ máy móc cần dùng, rồi thong thả đem việc bày tỏ với y, nhờ y nói giùm với cha y. Nếu cha y bằng lòng giúp ta, thì may ra được việc. Sự thể như thế, nếu có trở ngại gì, thì lần này ta với y đã có cảm tình, sau có việc gì cũng dễ nói chuyện. Ta nếu nhân có công tử mà được gặp cha y, đem tất cả đầu đuôi sự việc nói với cha y, biết đâu cha y sẽ hồi tâm nghĩ lại mà chống cãi với Viện Công Hầu để bàn bạc châm chước cho ta. Nếu lần này chưa được như nguyện thì một vài thứ máy móc ta mua của y cũng chả thiệt hại gì. Vả lại, nếu muốn tìm các thứ máy móc theo kiểu mới thì khắp nước Pháp, không đâu hơn ở đây. Nếu các quan ta đến đấy đính ước sự mua bán về sau như Nhật Bản, có gì mà không được? Vì thế cho nên chỉ dùng kế ở chỗ ấy cũng tốt.

Còn câu “ám thông mọi việc với Viện Thứ Dân” với câu “ngầm tìm các quan lớn ở Viện Thứ Dân để làm kế ấy” v.v... thì sự thế cũng giống nhau, không phải nói lại nữa.

Khoản sáu, câu “thì xin với quan Tây...”

Đấy là nếu nay ta vội vàng qua lại giao thiệp với các nước thù nghịch với Pháp, thì quan Pháp tất biết ta ngầm dùng thuật tung hoành, để tìm người giúp. Chắc chắn sẽ nhân lúc ta chưa thâm giao được với các nước giúp ta, mà đánh gấp ta, thì quân cứu viện chưa đến mà giặc đã đến trước, ta lo sao kịp? Phàm những nước giúp nước khác, tất trước phải xem nước mình giúp đó có thể đứng vững được không, rồi mới chịu giúp. Nếu xem thế giúp không kịp nữa, thì chả dại gì mà rước lấy tiếng giúp không nên công. Nay sứ bộ ta đi Tây, mà muốn âm thầm giao thiệp, thì tất phải từ nước Pháp trước, mới khỏi bị nghi. Nếu làm vội vàng, thì họ sẽ biết kế, mà tìm cách ngăn chặn và đánh lấy gấp nước ta. Như thế thì ta xử trí thế nào được?

Khoản bảy, câu “Qua lại với các nước phương Tây, mở rộng các đường lối cửa ngõ” v.v...

Phàm việc đời không kể lớn nhỏ, chưa có việc gì hoàn toàn tốt đẹp mười phần mà không hư hỏng chút nào, cũng chưa có việc gì hoàn toàn hư hỏng mười phần mà không có ích lợi chút nào. Có điều là phải cân nhắc lợi hại lớn nhỏ để nếu lợi thì được lợi lớn mà nếu hại thì chỉ hại nhỏ thôi. Khoản mở tất cả các cửa ngõ này nếu làm gấp thì có lợi sớm, chậm thì lợi chậm. Nay tuy ta không muốn làm, thiên hạ cũng chẳng cần biết ta có muốn làm hay không mà sẽ cương quyết thay ta làm. Đấy là sự thế nhất định như thế, không thể trái được. Để cho người ta làm sao bằng tự mình làm. Vì nếu người làm lợi sẽ về người, mình làm lợi sẽ về mình. Nếu ta không chịu mở cửa giao thiệp với thiên hạ, thì ắt bị người Pháp mở. Để bị kẻ địch của mình mở cửa, sao bằng ta mở cửa cho kẻ đến xin mình. Hai việc ấy lợi hại thế nào đã quá rõ ràng!

Vì thế cho nên trong Hòa ước trước có điều khoản: “Có cho làm mới được làm”. Đó là họ muốn một mình họ mở lấy để tóm hết mối lợi. Như thế thì ta còn trông mong gì nữa? Lợi đã không có, thì hơi đâu mà phòng hại. Nay nếu ta mở cửa gấp thì sẽ xoay chuyển được sự thế mà dần dần ngăn chận các tệ hại; tuy rất tốn công lao nhưng cũng có lợi. Còn hơn là đợi đến khi trông thấy tệ hại mà không đủ sức để ngăn chặn hay sao?

Thử xem nước Ai Cập, nơi mà sứ bộ ta đã đi qua. Nếu không có nhiều tay giúp đỡ, thì người Anh đã nuốt chửng đi rồi, có đâu ngồi yên hưởng được như ngày nay!

Sự thế ấy rõ ràng, nên lấy đó làm gương.
 
Nay kính bẩm.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:20:07 pm

DI THẢO SỐ 36

Bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp*

(Ngày 15 tháng 3 năm Tự Đức 21, tức ngày 7 tháng 4 năm 1868)

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Khoản sứ bộ đi Tây này, tôi nghĩ kỹ, thấy có nhiều điều trở ngại chưa thỏa đáng. Nếu tìm phương pháp khác để cho có ích, thì sự thế sẽ có nhiều chỗ không hợp với sự chỉ định của Triều đình, cho nên tôi chần chừ không dám nói. Nhưng không nói thì không hết lòng, nên tôi đem ý kiến riêng trình bày trước tất cả. Nếu có chỗ không hợp, cúi xin Triều đình rộng lượng tha thứ, để mở đường ăn nói.

Trong tờ trước tôi đã nói, họ thường dùng hai kế hoãn và gấp để lấy thuộc địa. Nhưng ở nước ta, họ chỉ mới thí nghiệm ở Đà Nẵng. Cuộc hòa không thành, họ đã biết là nên dùng kế hoãn, thì không tốn sức. Ý họ muốn khéo mượn sức ta mà dùng. Như trong tờ bàn hòa năm trước, tôi đã có bẩm “họ chỉ sợ ta phòng thủ thành trì không kiên cố”. Nhưng đến nay, dần dần đã thấy họ muốn dùng kế gấp. Cũng bởi nước ta sự thế ngày càng sinh ra, và có cơ xui họ không thể không dùng kế gấp. Lòng tôi rất khó chịu, không thể không nói ra. Kìa khắp Đông Châu, Tây Châu hai bể, không chỗ nào họ không đặt chân đến, riêng nước ta họ đến sau, đây là trời thương ta vậy!

Nếu ta biết khéo xem phương pháp hoặc đánh hoặc hòa của các nước mà chiết trung để khéo xử sự với họ, thì họa đó sẽ là phúc, như năm trước tôi đã bẩm ở đoạn giữa trong bài Lục lợi từ. Năm trước khi họ mới lấy ba tỉnh ngoài, tôi đã biết rõ, chẳng chóng thì chày, ba tỉnh trong cũng sẽ không còn là của Triều đình ta nữa. Cho nên mấy năm gần đây, tôi đã hết lòng trình bày những kiến thức ngu hèn của tôi, để làm kế duy trì. Cũng muốn tạm dùng thuật tương kế tựu kế; lấy cái kế hoãn của họ mà làm thư giãn tình hình cấp bách ba tỉnh trong của ta (có rất nhiều lý do nhưng việc đã qua không cần nói lại nữa).

Nhưng sự thế ngày càng sa đà, tất cả những kế hoạch Triều đình dùng để qua lại với họ, đều bị họ khám phá cả. Cho nên ba tỉnh ngoài đã không lấy về được, mà ba tỉnh trong cũng kế tiếp mất luôn. Các sự thế thời cơ từ trước, mặc cho trôi xuôi, mà Triều đình cũng rất nhọc lòng mệt sức.

Nay họ vừa lấy trọn được sáu tỉnh, ý họ cho là tạm yên để lo kinh lý đất Cao Miên và đường phía Tây. Chỉ vì trước đây ta không hiểu rõ thế lực của họ, cứ tìm cách giằng co ba tỉnh ngoài, khiến họ phải lấy gấp ba tỉnh trong để trừ tuyệt cho xong. Họ nghĩ rằng ta tự hiểu ngầm là trêu họ vô ích mà lại bị họ cắn, từ rày hãy dập tắt ý định đi, mà ăn ở tốt với nhau, để hai bên đều có lợi thì mới khá được.

Nay họ biết rõ chẳng những việc mới ta chưa chịu mà việc cũ ta cũng chưa chịu, như vậy đường kinh lý của họ sau này cũng chưa ổn định. Thế tất họ phải làm cho ta một phen kinh hồn liểng xiểng mà không dám ngó đến Tây Nam nữa mới khỏi trái nguyên tắc của nhà binh. Cũng như con cọp mới vồ được miếng mồi ngon chưa kịp ăn mà ta cứ lại quấy rối luôn, như muốn giật lấy của nó, thế tất nó phải nổi giận mà cắn càn, đấy là lẽ thường. Nay ta đã có chỗ để thừa cơ hội được như tôi đã nói ở đoạn đầu trong bài Tế cấp bát điều là: “Tụi bất mãn với Triều đình ngấm ngầm vào Gia Định v.v...” Huống chi những việc ta làm, lại đương nhằm làm lụy cho họ, thế họ tất phải nghĩ cách thoát điều lụy mà trút trách nhiệm nặng cho ta. Đấy là lẽ thường tình của con người.

Làm lụy cho họ là thế nào? Nghĩa là họ đã bị các quản đội nghĩa quân đánh phá, mà họ cho là do ta xúi giục, cho nên họ lấy gấp ba tỉnh trong, để tuyệt đường đi lại. Họ tự cho như thế là đắc sách. Nay ta lại luôn luôn đòi trả lại, mà không được, thì họ biết là ta ôm hận trong lòng, sẽ tìm cách để phá họ. Đấy là một điều làm lụy cho họ.

Đại thế của ta còn vững. Tuy đã mất hẳn sáu tỉnh, nhưng cũng còn trông mong lấy lại. Cho nên họ phải gấp rút kiếm cớ, để làm yếu hèn thế lực của ta, thì mới cắt đứt được lòng người của ta, để lợi cho họ. Nếu không cứ để kéo dài ngày tháng thế lực của ta ngày càng mạnh lên, một mai bên nước họ có việc, hơn thua chưa biết ra sao. Đấy là hai điều làm lụy cho họ.

Nếu ở Gia Định mà cuộc giảng hòa không thành được với ta, thì ắt gây sự nghi ngờ cho mọi người. Người ta sẽ cho là do họ không khéo xử trí, nên cuộc hòa không xong. Vì xưa nay giảng hòa đều ở dưới thành, chớ không ở Kinh đô. Kinh đô không phải chỗ giảng hòa. Đấy là ba điều lụy cho họ.

Nếu đến Tây triều thì họ cũng phải khoản đãi hạng khách không mời mà đến, tổn phí đã nhiều, mà không được lợi gì cả. Tuy trước mặt, họ phải giữ thể diện, nên phải thế, nhưng sau lưng thì không khỏi cau mày cho là ta không biết thể tất nhân tình, mà làm việc vô ích như thế. Năm trước sở dĩ họ hết sức tiếp đãi sứ bộ ta, phô bày hết những cái hay khéo của họ ra cho ta xem là muốn cho ta thấy rõ thế lực hùng mạnh của họ, để ta nén lòng im hơi, cho họ được thong dong mưu đồ kế hoãn vậy.

Nay họ dò biết, sứ bộ ta đi về đều bị mọi người chỉ trích. Nếu nói thật, thì bị mọi người thóa mạ. Nói Tây nhỏ yếu thì ai nấy hân hoan. Thậm chí còn nghi là ăn hối lộ của Tây, nên tán tụng oai phong của Tây. Vì thế mà mọi người đều cắn răng ngậm miệng không dám nói thật. Do đó ta không hiểu thấu tình thế thiên hạ, không biết rõ thời cơ của ta của địch hư thực thế nào, thành kiến thật kiên cố, không thể phá được.

Trước đây, sở dĩ họ ân cần tiếp đãi sứ bộ ta, là muốn cho ta hiểu rõ đôi chút phải chăng để hai bên được tạm yên thì họ mới dần dần lo kế hoãn được. Nay tất cả đã thất vọng, mà còn nghe ồn ào hơn trước. Tuy họ không tổn hại gì lớn, nhưng cũng có những trở ngại và cập lụy nhỏ. Một lần như thế là đã quá rồi. Nay lại sang để quấy rầy phá rối lần nữa, lại còn muốn làm hòa ước buôn bán, thì họ không thể nào chịu được. Nếu điều đình với ta cũng phiền, mà không điều đình với ta cũng phiền. Cho nên nguyên soái đã nói: Nếu sứ bộ ta đi Tây thì y không chịu đi cùng một thuyền. Nói như thế thì ta còn ra thể thống gì nữa? Xưa nay hai nước giao tế với nhau, chưa bao giờ có lễ độ như thế. Nhưng lòng y cũng đã cố gắng hết sức, bất đắc dĩ mà phải nói ra.

Ôi! Họ một Triều đình, ta cũng một Triều đình, mà không chịu nhường nhau đến thế, thì sau đây đến Kinh đô họ, là chỗ tụ họp công sứ các nước thiên hạ, nếu có một sự gì không nhã nhặn, thì sự nhục nhã sẽ truyền khắp hoàn cầu, như tôi đã nói trong tờ bẩm trước. Vì rằng, họ đã biết bị ta quấy rầy mà không trông mong gì nữa, thì không thể chịu phiền mãi mà phải nghĩ cách ngăn chặn, mà muốn ngăn chặn thì phải nói nhất định không thương thuyết nữa, để dập tắt ý nghĩ của ta để khỏi đi lại thêm phiền, mà còn nghĩ cách làm cho ta một phen khốn đốn, không còn ngo ngoe cựa quậy để làm rầy họ nữa mới dừng tay. Như thế ta làm sao khỏi chóng sinh thêm nhiều chuyện?

Họ đã lão luyện trong việc chiến trận, hơi thấy một tý là họ đã hiểu rồi. Tất cả những việc họ thương lượng với ta bất luận việc gì đều có lợi cho họ cả. Tuy hoặc ta có lợi, nhưng cũng như họ thôi. Nếu không, thì lẽ nào họ vừa mới ra tay mà lại nhường cho ta chiếm thế thượng phong ư? Cho nên trong bài Khai hoang từ trước đây tôi đã có câu: “dùng kế trái lại để đâm họ”, như thế mới về tay mình được. Nay nếu muốn họ trả đất đai của nhân dân lại cho ta, ắt phải đợi lúc nào họ biết chắc chắn họ có thể chung điều lợi điều hay với ta mới trả lại cho ta, mà vẫn có thể mượn để sử dụng được, như kiểu nước Anh với một nước nhỏ ở Ấn Độ, thì họ mới chịu trả. Hoặc là vì một thế lực nào khác bức bách, không trả không được thì họ mới trả. Nhưng việc đó không phải thường có.
__________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán:    
    Hv 189/3 trang 50 - 61
    Hv 635/3 trang 14 - 33


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:23:44 pm

Tôi xem khắp thiên hạ từ 500 năm lại đây, những nước bị người phương Tây xâm chiếm, chưa hề có trường hợp tự dưng vô cớ đem đất đã chiếm được mà trả lại cả (Năm nước sứ bộ qua Pháp, vua Pháp vì bị dư luận của Viện Thứ Dân thúc bách nên nói trả. Nhưng biết đâu đó chẳng phải là kế thái tử nước Sở, đi làm con tin nước Tề? Cho nên khi sứ bộ về đến Gia Định, tôi đã bẩm rõ với hai quan Phạm, Ngụy rằng: Việc này rốt cuộc rồi cũng bị trở tay thôi, vì nguyên soái có quyền to và nhất định cản trở, tất có thể bác bỏ lời bàn. Về sau việc quả như thế)1. Huống chi họ đã biết rõ là trả lại thì sau ắt sinh chuyện, mà không trả ta cũng chả làm gì được họ? Như các quan Triều đình Pháp nói với Giám mục Ngô rằng: “An Nam chân thành hay không chân thành, ta cũng không thiệt hại gì, chẳng qua họ tự làm hại họ mà thôi”. Xem họ ngang ngược như thế, mà nay chỉ vì một lời nói của ta, đã vội vàng trả lại cho ta, tôi tưởng không có việc như thế được.

Cứ như đoạn đầu tôi đã bẩm trong bài Tế cấp bát điều thì dù trả lại hay không trả lại, sau này cũng không khỏi sinh ra biến cố khác. Nay Triều đình chỉ lo phòng bị những việc sau khi hoạn nạn, mà không ngăn ngừa những nguyên do sinh ra hoạn nạn, chỉ hết tâm lực hết của cải để làm cái việc mò kim đáy biển, mà không chịu để tâm lực nghỉ ngơi, nuôi dưỡng khí thế, hầu giữ lấy hòn ngọc trong tay, biết nói làm sao bây giờ!

Ôi! Người khéo lo việc biết cái cơ sẽ đến mà không làm được, thì phải thuận theo chiều mà mở đường cho xuôi, để tránh đổ vỡ như Hán Cao Tổ chịu nhẫn nhục đi đến đất Phong là thế đấy. Biết sự thế không thể được cả hai, thì bỏ cái khinh để giữ lấy cái trọng, như Lâm Hồi bỏ viên ngọc bích đáng giá nghìn vàng là vậy. Khi đất nước không thể giữ được hoàn toàn, thì phải bỏ biên bỉ để giữ lấy căn bản, như Thạch Tấn cho đất Lư, Long; Bình Vương bỏ đất Kỳ Phong là vậy. Cũng có khi để đó mà không vội giành, nhờ đó mà ngăn hoạn nạn (Ý này cũng cùng ý với câu “có hồ ở trong núi thì chồn cáo không dám ngấp nghé” mà tôi đã nói trong tờ bàn hòa. Chừng 6, 7 năm sau, mới thấy rõ ràng), như nhà Tống để yên nước Liêu để bình định các nước khác vậy.

Xưa Khổng Minh không giành Kinh Châu, chỉ chuyên việc hòa với Ngô để lo đánh Ngụy, ý cho rằng nếu diệt được giặc Hán thì chẳng những một Kinh Châu là của mình mà thôi. Có người bảo Khổng Minh không báo thù cho chủ cũ, nói thế mà không sợ người ta cười cho sao?

Nếu Nam Tống không hòa với Kim, thì cơ nghiệp cũng khó yên ở một phía được. Giả sử cứ việc chủ hòa, để nuôi dưỡng sức quân cho hùng hậu, thì dòng Trường Giang, nơi hiểm trở thiên nhiên kia sau này cũng đủ để chia đôi thiên hạ với Nguyên. Không biết làm kế ấy, mà cứ khi đánh khi hòa, để đến nỗi Tống, Kim đều lụn bại, cuối cùng nhà Nguyên là ngư ông đắc lợi. Đó cũng do cuộc hòa không nhất định gây nên. Sự thế các nước phương Tây cũng vậy, không cần phải nói hết.

Cho nên người khôn, thấy trước được cơ sắp xảy ra, sự việc gần hình thành, mà đón trước từ ngoài muôn dặm, không để cho vào nhà mình, đẩy lui đến mấy đời không để cho phá quấy mưu mình, tách ra bắt đi đường trái, để mình theo đường phải ngăn lấy bắt ở yên bên ngoài, để mình lo bên trong. Sức mình đã đủ để tự củng cố, thì cũng không nên chọc người, để tổn sức mình. Sức mình chưa đủ, thì lại phải khéo ăn ở, để mượn sức người mà dùng cho mình. Thế giặc đang hăng, thì thuận tình để cho nó kiêu căng, dùng mồi tốt để nhử cho nó yên, để mình được nghỉ vai, mà lo việc khác. Địch muốn làm thân với mình, thì cũng nên nghe theo để vui lòng nhưng mà không gấp rút đánh mình. Kể sự tình thì tuy có biến hóa, nhưng lấy kinh nghiệm chỗ này, ứng dụng việc chỗ khác cũng có thể thành công được. Cho nên nói rằng người khôn như chiếc vòng quay tròn không thể lấy một cái gì cứng nhắc nhất định mà biện bàn được.

Thế nước ta ngày nay, cái đã mất thì khó bề lấy lại, cái chưa mất hãy còn có thể bảo toàn được. Hai sự kiện ấy, cái nào gấp, cái nào hoãn, không đợi bàn cũng đã rõ rồi.

Nay sứ bộ đi Tây, việc muốn làm chưa chắc đã xong, mà lại gây ra nhiều chuyện thị phi giữa ta với họ. Làm một việc chưa chắc, mà phải tổn phí mất mấy chục vạn, thật chẳng khác nào người ta nói mang con trèo tường, một người sẩy chân, cả hai đều bị thương.

Hay là nay, một mặt mình lo cấp tốc chỉnh đốn những việc mình có thể làm được như tôi đã bẩm trong các tờ trước, để đợi khi họ có sự sơ hở gì có thể thừa cơ được. Một mặt chỉ đi đến Gia Định mà bàn việc. Tuy bàn với nguyên soái sau, nhưng cũng như với nguyên soái trước, ta chỉ tạm nói một hai câu về việc xin trả lại. Nếu họ không chịu thì lại nói: Lâu nay sở dĩ bản triều xin trả là hết tình vì nhân dân mà thôi. Nay nếu tình thế không thể được, thì quý quốc quản lý thay, chúng tôi cũng vui lòng, mà xét ra sự thế cũng nên như vậy. Chỉ xin quý soái châm chước cho một vài khoản khác, để tỏ tình giao hảo mà thôi.

Lại trong khi lập điều ước mới, phải tìm lý lẽ để bỏ cho được khoản: “Có cho làm mới được làm” để ta còn có thể giao thiệp với các nước khác sau này.

Từ sau khi đã lập hòa ước rồi, trong những khi qua lại giao thiệp, tuyệt nhiên đừng nhắc nhở đến hai chữ “Xin trả” nữa, và hễ làm việc gì cũng đều tỏ ý công khai cho họ thấy rõ, cốt làm sao cho họ biết đích thực là ta giữ vững hòa ước, không nghĩ gì đến sáu tỉnh nữa, để họ ung dung kinh lý miền Tây, mà không lo mưu tính ta gấp. Sau khi đã lập hòa ước, hãy đợi hơn một năm sau mới cử sứ bộ qua Tây thăm viếng và đem tờ giao ước cho Triều đình họ ký áp vào. Lúc bấy giờ họ đã không nghi ngờ ta chuyện gì, ta mới có thể đến Tây triều mà ngầm tìm đường lối như tôi đã nói trong các tờ bẩm trước. Nếu có cơ hội có thể được thì mới thương thuyết lại, bằng không thì nhân lúc họ không nghi ngờ ta chuyện gì đi lại các nước để ngầm dùng kế giao thông tung hoành, mới bảo đảm không trở ngại. Khoản này tương đối ổn thỏa hơn. Nếu lần này đi ngay sẽ gặp phải những điều họ kỵ và những rắc rối khó khăn của họ, sợ họ quật lại; đã tốn công tốn của vô ích mà còn buộc họ phải chế ngự ta gấp, e sau này sẽ hối hận là mình đã thất sách.

Còn lần đi sau, cũng nên phái người đi học một thể, đồng thời bọn mua máy móc đem về dùng, để biểu lộ ý ta giao thông với họ. Một mặt lại đem sự hòa hiếu bền vững làm rõ cho cả nước đều biết, để người trong nước ta biết cuộc hòa hảo giữa ta và Pháp đã bền vững nhất định, để làm tiêu tan những bọn Thắng Quảng đã lẻn vào Gia Định. Vì nếu bọn này biết ta đã thật hòa với Pháp rồi, thì khó bề gièm pha. Đấy là một điều cần yếu lớn để dẹp loạn, ngừa hại.

Các lẽ nói trên là do sự hiểu biết nông cạn của tôi mà trình bày ra như vậy. Bản ý là muốn cho họ tạm yên mà không gấp rút nghĩ đến việc ta, và phàm những việc họ muốn làm lợi cho họ ở nước ta, thì ta cũng nên quyền nghi xem thấy việc gì có thể thuận được thì nên thuận để yên lòng họ khỏi nghi để ta tạm thời có lợi, nhân đó mà tính kế lâu dài, dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp, để đợi khi nước họ có loạn thì mới có thể gây khó cho họ, mà khiến họ không dám muốn làm gì ta thì làm. Tóm lại, nghìn mưu muôn kế, cũng cốt làm sao cho họ bỏ lòng ngờ vực, rồi sau ta mới thi hành kế hoạch được.

Tôi có ý kiến như thế, không biết nên chăng.

Nay kính bẩm.

Lục bộ đường đại thần, đại nhân soi xét.

Nguyễn Trường Tộ ký.

 
__________________________________________
1. Xem di thảo số 4.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:25:28 pm

DI THẢO SỐ 37

Về việc thương thuyết với Pháp tại Gia Định*
 
Ngày 20 tháng 3 năm Tự Đức 21, tức ngày 12 tháng 4 năm 1868)

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Ngày trước lúc tôi ở Tây được nghe nguyên soái tâu về vua Pháp rằng: “Ba tỉnh trong đã lấy xong, hễ quân Tây đi đến đâu thì dân Nam đón tiếp như người nhà. Nay xin được toàn quyền quyết định việc hòa ước với người An Nam v.v...”

Lúc đó y tưởng cuộc hòa ước đã xong, không ngờ mấy lâu nay hết sức bàn bạc mãi với ta, mà vẫn chưa xong, đến nỗi phải ôm hận mà về nước. Thế nào y cũng trình bày với Triều đình Pháp là vì ta dùng dằng không quyết, và cũng vẽ vời nói thêm sự thế ích lợi của sáu tỉnh và trước đó vì người mình âm thầm phá rối, làm cho y không được ngồi yên. Chỉ từ nay về sau, y mới mong yên ổn thịnh lợi để mà kinh lý xứ Cao Miên. Kể lể bấy nhiêu sự tình đó là để khoe khoang công việc mở cương vực của y.

Xem khẩu khí trong thư trả lời của y, đã không chịu thương thuyết khoản gì, mà lại không chịu nhận số bạc 40 vạn đồng, thì cái tâm địa y dự tính đi hai mặt cũng đã rõ ràng rồi.

Ngày trước ở Gia Định, y đã từng nói với Giảm mục Ngô rằng: Y đã rất mực chịu nhún nhường để bàn bạc với Khâm sai Trần đại nhân thích đáng như thế, nếu quá hơn nữa, thì thế quyết không thể được. Xem lại lời nói ấy, cũng thấy hợp với ý trong thư ngày nay lại nói nếu ta đến Triều đình Tây, y cũng sẽ có ở đấy. Thế rõ ràng là nói ta đến Tây cũng không sao thoát khỏi tay y.

Nay nếu sứ bộ nhất định đi Tây, cũng nên liệu gấp, để kịp kỳ này. Nếu có bàn bạc gì riêng cũng nên làm gấp trong kỳ hạn chuyến đi này. Vậy nên viết gấp một bức thư gửi qua Tây triều cho nguyên soái cũ nói rõ rằng ta muốn thực hiện như lời y nói trước kia là chỉ giảng hòa ở Gia Định. Trong thư ấy cũng nói đến những khoản gì ta xin thêm đều cảm phiền nguyên soái đề đạt lên Tây triều liệu gấp cho và phúc thư sẽ gởi qua nguyên soái mới làm thay, cũng như nguyên soái cũ vậy. Trong thư cũng nói thêm rằng: Ngày trước nguyên soái cũng có nói về Tây rồi sẽ trở lại. Nếu quả như thế thì nhờ nguyên soái đem các sự lý của chúng tôi đề đạt lên Triều đình giùm để bàn định, như sứ bộ chúng tôi qua Tây vậy. Nếu nhờ ơn nguyên soái mà thanh thỏa được mọi việc, rồi trở lại Gia Định hoàn thành công cuộc bàn hòa ngày trước với chúng tôi, thì mới thấy rõ tình giao hảo thủy chung. Hơn nữa Triều đình chúng tôi cũng nghĩ rằng nguyên soái sẽ không trái lời đã nói, cho nên bây giờ mọi việc chúng tôi đều xin nghe theo nguyên soái hết. Vì thế Triều đình chúng tôi rất vui mừng về việc nguyên soái trở về Tây trước, và coi như là chính Triều đình chúng tôi đi Tây vậy. Cho nên Triều đình chúng tôi còn nấn ná đợi thư trả lời của nguyên soái rồi mới quyết định việc đi hay không. Đây là một mối chân tình ủy khúc của Triều đình chúng tôi, tưởng nguyên soái cũng không nỡ phụ tấm tình này vậy.

Đồng thời ta cũng viết thư cho nguyên soái mới, nói rõ duyên cớ để gây tình cảm với y. Rồi sai một viên quan lớn đi Gia Định, bàn bạc mọi việc về sau, để vui lòng y, và xem ý hướng y như thế nào; liệu có thể giúp ta được một tay không.

Còn thư gởi cho nguyên soái cũ, nếu nói được chân tình, mười phần rõ ràng thì chắc y sẽ trở lại để làm xong cuộc bàn hòa ngày trước. Nếu y được trở lại thì trong khoảng một vài năm, nước ta cũng có thể không có gì xảy ra, vì y với ta đi lại đã có ân tình, chắc không nỡ lại quá vị kỷ một lần nữa. Nếu y không chịu trở lại, thì cũng có thư trả lời của Tây triều (Vì trong thư ta cũng đã nói nếu bàn hòa ở Gia Định hay phải về Tây xin trả lời rõ ràng cho biết). Ta được xem rõ ý hướng thì có đủ thời giờ thong thả đi lại với nguyên soái mới. Nếu việc xong được thì nhường cái công hoàn thành hòa cuộc này cho nguyên soái sau, để gọi là ơn của ta, cũng được vậy chứ!

Tôi có một số ý kiến thô thiển như vậy không biết có được chăng?

Nay kính bẩm.
Lục bộ đại thần, đại nhân soi xét.
Nguyễn Trường Tộ ký.

__________________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/3 trang 3.
    Hv 634/3 trang 30.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:27:07 pm

DI THẢO SỐ 38

Tiễu trừ giặc biển*

(Tháng 8 năm Tự Đức 21, tức từ 6-9 đến 15-10-1868)

Giặc biển là mối hại chung cho cả nước ta, nạn giặc này đã lâu lắm rồi chẳng phải một sớm một chiều nữa mà tương lai cũng không biết đến lúc nào thì hết, nghiễm nhiên là một giặc dai dẳng. Những thứ giặc khác cũng có lúc bại vong, chứ bọn giặc biển này thì cha truyền con nối. Nước ta bị chúng nhiễu hại, nếu chỉ một vài năm còn có thể dần dà mong khỏi, nếu chỉ có một vài lần còn có thể tìm cách bắt. Nhưng đến nay chúng tới lui chẳng phải chỉ một hai năm, cướp bóc giết hại chẳng phải chỉ một hai lần nữa. Sự tổn thất của công và của tư mỗi năm kể có số vạn, đường thương mại không thông, hàng hóa ứ đọng, thật là một cái hại lớn cho sinh dân. Năm này qua năm khác chẳng đã thiệt hại hằng ức triệu đó sao? Dân ven biển, những nhà buôn bán giàu sang là cửa họng của cư dân thượng bạn hạ bạn, thế mà mấy năm nay bị chúng cướp phá giết chóc không biết bao nhiêu nay đã trở thành nghèo cùng. Thử xem nội tình hình Ba Trang hiện nay đã không nói hết được, thì suy ra cả nước cũng có thể biết như thế nào. Có hằng sản mới có hằng tâm, dân nếu đói khổ thì tuy có bụng thích việc nghĩa việc công cũng chẳng làm được gì. Sở dĩ nước Anh cường thịnh cũng chỉ do trước hết thi hành cái kế sách làm cho của cải dồi dào, và sửa sang binh bị cũng lấy việc nuôi dân làm trước hết. Như thế có thể nói họ biết được cái căn bản. Nước ta một mặt là bờ biển, đất hẹp mà dài, đường bộ khó đi lại, không như hình thế nước khác hoặc tròn hoặc vuông đi lại không xa. Cho nên cái mà ta nhờ vào đó để lấy xa làm gần thì duy chỉ có đường biển mà thôi.

Nhưng đường biển lại có ba cái hại lớn: Một là gió bão, hai là giặc biển, ba là người Tây. Muốn trừ được ba cái hại đó thì chỉ có kế khai cảng. Ở đoạn cuối trong bài Tế cấp bát điều tôi đã nói kỹ. Đó là kế hay nhất. Thứ đến, tuy cũng có những mưu kế khác nhưng đều thiếu sót không được trọn vẹn, trong cái lợi có cái hại, tôi xin phân tích như sau:

Đường duyên hải nước ta từ Quảng Yên trở vào từ Bình Định trở ra là một trong ba đường gió bão trong địa cầu này. (Ba đường gió bão ấy là: Một ở biển ta, một ở vịnh Mạnh Gia Ấn Độ và một ở vịnh Mạch Tây Ca ngoài ra không đâu có gió bão nữa). Biển thì ba mặt Đông Nam Bắc có rất nhiều đảo đếm không hết. Người Thanh ở trên các đảo này tụ nhau làm giặc. Đây là số giặc biển nhiều nhất trên địa cầu. (Trên địa cầu có hai chỗ có giặc biển, một ở Địa Trung Hải nay đã dẹp yên, duy chỉ có hình thế Nam Dương - tức Thái Bình Dương thì khác. Người Thanh quá đông không có cách gì để trừ hết được). Gió bão thì phạm vào thiên thời, giặc biển thì phạm vào địa lợi, cả hai thứ đó làm hại rất ghê gớm, mãi mãi không thôi, rất khó xử trí. Còn người Tây thì giỏi về thủy lộ, nước ta khó chống đỡ được. Chỉ có cách bình tĩnh mà đối phó, giữ hòa để bao vây, khéo bề xử sự thì họ cũng chưa vội nhiễu hại ta, mà trái lại còn giúp ta nữa. Trong các bài từ trước tôi đã bẩm rõ. Nói về việc khai cảng thì rất cần thiết đối với việc trừ hai cái hại gió bão và giặc biển nói trên (Trước đã bẩm rõ sự lý, nay không nói nữa), còn đối với người Tây thì tựa hồ như chưa cần thiết. Nhưng cứ theo như bài tôi đã nói trước đây là sau này khi ta đã đủ sức gây khó khăn cho họ thì cái khoản đó (khai cảng) thật là thượng kế. Cái lợi hại của nó gió bão giặc biển không sao so sánh được. Cho nên khai cảng là một kế lớn có lợi dài lâu cho nước ta, thế mà nhiều người không hiểu rõ cái quan hệ lợi hại đối với quốc dân sau này, chỉ thấy cái cực nhọc tạm thời trước mắt mà bàn chuyện cản trở, đó là điều do chưa suy kỹ mà thôi. Bởi vì thói thường người ta chỉ lo cứu hoạn mà không biết lo làm sao cho mối hoạn không sinh ra. Đợi cho hoạn nạn sinh ra rồi thì ngày nào cũng lo cứu không xong còn nói gì đến lợi được nữa? Nếu khiến cho hoạn không sinh thay vì cứu hoạn thì có thể nói rằng khai cảng là khiến cho hoạn không sinh ra vậy. Cho nên mới bảo đó là kế rất hay. Nếu ta biết cư xử thỏa đáng với người Tây thì sẽ cùng nhau sống yên ổn vô sự, mà lại có thể tăng cường tiễu trừ giặc biển khiến chúng không dám lui tới. Hai việc đó còn có thể làm được, còn đối với gió bão mà không mở cảng thì không thể làm được. Nếu đường cảng làm thành rồi, thì ba cái nạn kia không thể làm hại ta được nữa, như thế mới là kế vạn toàn. Trong bài từ trước tôi đã nói rất rõ nay chỉ nói sơ qua lý lẽ của nó mà thôi. Đấy là kế sách lâu dài không phải là việc có thể làm trong một lúc. Nay trong những việc cấp bách tuần tự có bốn điều kế sách sau đây tưởng cũng có thể làm được:

1. Nhờ vào thế lực của Tây.

Vì bấy lâu ta bị bọn giặc bể cướp phá giết chóc, đến quan lính cũng không thể phòng chế được, huống nữa thường dân trong tay không có một tấc sắt. Việc đó từ lâu mọi người đã tai nghe mắt thấy, thiên hạ không ai không biết, không thể che giấu được. Nước ta sở dĩ bị người ta xem là yếu hèn vì có nhiều lẽ mà đấy là lẽ thứ nhất. Giặc biển so với binh thuyền người Tây thì cũng như chuột so với hổ mà thôi. Đến bọn phỉ hèn mọn như thế mà ta còn không thể tiễu trừ được huống chi là kẻ địch lớn. Cho nên bảo rằng ta yếu là vì thế. Nay nếu không mượn binh lực của họ thì hèn yếu mà vẫn không được lợi gì, vẫn hoàn hèn yếu. Nếu họ thay ta tiễu trừ thì tuy mang tiếng hèn yếu nhưng được lợi lớn, cái tiếng hèn yếu tuy không khác, nhưng lợi hại thì có khác, những cái đó đều do ta cả. Xưa kia Thân Hậu nhờ Nhung binh trừ nội loạn, Đường Thái Tôn nhờ Đột Quyết lấy thiên hạ, cho nên nói chịu nhẫn nhục để được việc lớn thì có gì xấu hổ đâu? Nay nếu ta thành thật đi lại với họ, coi như anh em, đem việc đó nói rằng: Bọn giặc biển lấy biển làm vườn, lấy nước làm nhà, ẩn hiện bất thường, nước tôi có lắm việc không thể phòng tiễu được hết, nay Tây Nam đã hòa hiếu mà đường đi lại Nam Bắc không thông như thế cũng chẳng lợi ích gì cho quý quốc, quý soái trước đã có lời như vậy nay nếu thỉnh thoảng tuần hành trên mặt biển bắt hết thuyền phỉ giao cho nước chúng tôi xử trị thì chẳng những thông được đường buôn bán mà còn làm tăng thêm tình giao hảo giữa hai nước. Như thế họ sẽ vui lòng giúp ta, ta có thể ngồi hưởng lợi. Nếu bảo để họ đi lại đường biển, ra vào cửa cảng như thế, lâu ngày sẽ có bụng này khác, như người xưa nói: Dẫn lang binh để trừ nội khấu, nhưng sự thế bây giờ khác không thể cứ nói mãi một cách như vậy được. Nếu có thời cơ có thể quấy nhiễu ta thì dù không tiễu phỉ họ cũng đột nhập đất ta. Dù không qua lại mà nước ta không có chỗ nào họ không biết, che giấu cũng chẳng được nào! Tôi thấy trong thiên hạ cũng có nhiều nước chưa từng có một người dân đạo, một vị giáo sĩ, một Tây thương ra vào thế mà họ chỉ đến một lần đã chiếm trọn được cả nước. Thế thì bảo sao?

Năm trước có một quan Tây tên là Vĩ An (Vial), lên Kinh đến sứ quán ba ngày rồi trở về Gia Định. Tôi giả hỏi ông ta hình thế Phú Xuân, để xem tầm mắt nhận xét của ông ta như thế nào. Ông nói: “Chỗ ấy rất có hình thế, nhưng sự bố trí còn nhiều chỗ thất thế không hợp với địa lý binh pháp. Nếu người Tây mà ở đấy thì dù lực lượng nào cũng không thể xâm nhập được. Tôi nói: “Nếu người Nam mà bố trí đúng phương pháp như người Tây thì thế nào?” Ông ta cười nói: “Tuy có công cụ nhưng không có người biết sử dụng điều khiển thì cũng bị vây hãm mà thôi”. Tầm mắt của ông ta thật là tinh vi, thấy một góc mà có thể biết được bốn mặt, cho nên mới nói như thế. Còn chỗ nào có thể ngăn trở được họ đâu? Nếu ta đối xử khéo với họ thì mối hoạn sau này chưa chắc đã sinh ra ngay mà hiện tại có thể trừ được hại lớn. Thế thì ta nhân lợi ích đó để làm con đường đi đến giàu mạnh không được sao? Họ sở dĩ có bụng giúp ta đánh phỉ cũng là muốn thông đường buôn bán với nhau, cũng là vì lợi cho họ mà cũng nhân đây dò xem ta có thành thật hòa hảo với họ hay không. Nay ta nên nhân đấy mà thuận với họ để có lợi cho ta để phá cái thâm kế đó của họ, để họ không gấp rút mưu tính được ta (Trong các bài trước tôi đã bẩm rõ). Như thế thì ta mới được thung dung để tìm kế khác. Đó là giả cách thuận với họ, trọng vọng họ để được lợi. Cách này trong binh pháp gọi là ty mà kiêu là thế. Nếu bảo rằng chịu ơn của họ thì sau này hoặc có yêu sách gì cũng sẽ khó bề thoái thác. Theo tình thế hiện nay mà nói thì ta tuy không chịu ơn họ, mà vạn nhất họ cứ nhất định đưa yêu sách liệu ta có thể có sức chống lại được không? Ta cũng không thể chống được thì bất kỳ chịu ơn hay không chịu ơn cũng bị sự phiền nhiễu đó. Chi bằng chịu ơn mà được lợi rồi cam chịu sự phiền đó còn hơn. Nhưng yêu sách là việc chưa chắc đã xảy ra mà ta có thể thư giãn được tình thế cấp bách hiện thời, nhân cái việc chưa chắc đã có đó để mà được cái lợi nhất định, chẳng còn hơn là đợi đến lúc không thể chối từ mà chẳng được lợi gì cả hay sao? Vả lại, ta đã từng chịu lụy họ mà chưa được đền bù, nay họ bỗng nhiên muốn thi ân cho ta phải chăng ý trời lấy đó làm sự đền bù cho ta cũng chưa biết chừng, như thế sao lại không chịu? Xưa kia, quan nhà Thanh cũng đã từng nhờ người Anh hợp lực tiễu trừ giặc biển mà cũng chưa hề thấy người Anh nói gì đến ân với huệ. Trung Quốc còn nhún mình để được lợi huống hồ ta? Đem khí khái ra mà nói thì cũng khó nhún mình thực đấy, nhưng cái câu “Tuy bại mà vinh” của người xưa thật đã tạo sai lầm cho không biết bao nhiêu người. Đó là chỉ nghĩ đến cái danh riêng mà không biết vụ cái lợi ích chung. Binh pháp có nói: “Tiến không cầu danh, chỉ làm sao bảo vệ được dân mà thôi”. Nói về cái dũng có ý nghĩa thì những việc làm vì nước vì dân ai có thể bảo đó là sai trái? Cho nên cái kế nhờ vào sức người Tây hiện nay có thể thực hành được.
__________________________________________
*. Bản Hán văn: Hv 189/4 tờ 4 - 16. Bài này được viết từ Nghệ An, nơi mà Nguyễn Trường Tộ đã trở về từ cuối tháng 4 - 1868.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:27:45 pm

2. Nhờ cái kế lập hội buôn của các nước.

Trước đây khi ở Gia Định tôi thấy có nhiều nhà buôn người Tây muốn đệ đơn về Kinh xin được thuê họ trừ giặc cướp. Tất cả mọi việc trên mặt biển đều xin giao mặc họ cả, bất luận thuyền nhà buôn, thuyền của dân nếu bị nạn họ sẽ bồi thường. Tất cả các thuyền lớn nhỏ mỗi năm sẽ nạp cho họ một số thuế. Tất cả cảng khẩu nào thuyền họ có thể vào xin cho họ được ra vào buôn bán. Cách này cũng có nhiều nước đã làm. Lần này họ bàn bạc với nhau như vậy nhưng vì thấy nước ta còn nghi kỵ, nên phải bỏ dở. Nay nếu muốn theo cách này thì nên vào Gia Định thương lượng với họ, nếu thấy hai bên không có gì trở ngại thì mới thực hành. Nguyên năm trước số thương nhân từ Bình Thuận trở ra đã bị khổ nhiều vì giặc cướp đã đem việc ấy nói với họ, cho nên mới có sự bàn bạc như vậy; việc này với việc thuê người Thanh bắt phỉ tuy cách làm giống nhau nhưng sự thể thì khác. Bởi vì thuyền người Thanh và thuyền bọn phỉ giống nhau khó phân biệt, vào cảng thì buôn, ra cảng thì cướp, làm sao xét hỏi rõ ràng được. Hoặc có thể họ giả vờ hộ tống thuyền nhà nước, rồi sau đó lại thông đồng với bọn phỉ khác để đánh cướp chia lợi với nhau. Hoặc có thể ở các tỉnh, các cảng buôn có người Thanh ở biết đâu trong đó không có người chực rình mò thuyền buôn ra vào rồi thông báo cho bọn phỉ biết. Hoặc có thể quan lại ta đã dò xét tuy biết qua tình hình nhưng sự việc còn uẩn khúc, chưa làm gì được, thế cũng khó xác minh. Hoặc có thể họ giả vờ không biết để cho xong chuyện hoặc cố ý để cho phỉ đào thoát để chia lợi, hoặc biết chắc là thuyền bọn phỉ đã bắt giải rồi, nhưng lại được bọn phỉ đút lót cho để kiện lại khiến người khác thấy chúng là co vòi không dám lôi thôi nữa. Những tệ hại như vậy đâu đâu cũng nghe. Cho nên tiếng là phòng giặc mà thực ra là làm nhiều giặc thêm. Như hồi tháng tám, tháng chín năm nay còn có cướp mà năm trước không có. Đó mới chính lả dẫn lang binh để trừ giặc vậy. Còn như người Tây lập hội thì đã có quan Tây coi sóc. Một là nếu có ai làm điều phi lý thì tư cho quai Tây sửa trị. Hai là, họ và ta ngôn ngữ bất đồng, nên cũng khó trà trộn trong ta để làm bậy. Ba là, thuyền của họ qua lại ra vào hình dạng khác nhau, khó bề khi vào cảng thì buôn, khi ra cảng thì làm giặc cướp. Bốn là, nếu thuyền của ta bị mất cướp thì sẽ được bồi thường. Năm là, họ với người Thanh không phải là một tộc loại nên khó vì tình mà bao che. Đó là năm sự thể khác với việc mượn thuyền người Thanh, nên có thể thi hành được.

3. Ta tự mua sắm hỏa thuyền.

Mỗi tỉnh lớn nếu có thể mua được vài ba chiếc binh thuyền chắc chắn, cỡ vừa vừa, vào được cảng của ta, trong thuyền có đầy đủ khí giới như là thuyền của người Tây, thì gởi thư cho Tây soái nhờ họ thuê cho một người cầm máy; mỗi tháng trả lương nhiều nhất là 150 đồng bạc, lại nhờ thuê cho mỗi thuyền 12 tên thủy binh pháo thủ và do người cầm máy chỉ huy, lương mỗi thủy thủ mỗi tháng nhiều nhất là 30 đồng bạc. Lính Tây cùng với thủy binh ta coi việc điều khiển đại bác, nhưng có khoảng hai chiếc mới có thể vây hợp được. Về than đá thì chỉ khi nào hợp chiến truy đuổi mới cho vào lò, còn bình thường khi vận tải đi lại chỉ dùng than củi cũng được. Tổng cộng số tiền lương của người cầm máy và 12 tên lính Tây mỗi năm là 6.120 đồng. Số tiền đó chia cho các thương thuyền hàng năm phải đóng góp. Nhưng thuyền lớn lúc bình thường thì vận tải khi có phỉ thì đuổi bắt, bắt được thuyền thì lấy của cải trong thuyền bắt được đó cho hết quan lính trong thuyền. Còn bọn phỉ thì đày chúng ra các vùng ven núi, bắt chúng làm khổ dịch khai khẩn đất đai như trong bài Tế cấp bát điều trước đây tôi đã có một đoạn trình bày rõ. Nhưng mua  thuyền thì phải đến tận xưởng đóng thuyền bên Tây mới mua được thuyền tốt. Nếu ở Hạ Châu, Hương Cảng mà có thuyền tốt thì người ta để dùng không bán, chỉ bán cái hư mà thôi, hơn nữa giá lại cao, khó chọn mua được. Cho nên phải đến Tây mới được. Nếu ta mua được mỗi tỉnh lớn một vài thuyền thì chẳng những có thể tiễu trừ được bọn giặc mà người của ta lâu nay quen thuộc đường biển sẽ có lợi ích rất lớn, đối với việc nhà binh cũng được ích dụng to, thế nước sẽ thêm mạnh, mối lợi thật không thể nào kể hết. Bờ biển của nước ta dài mà thuyền của bọn chúng thì tới lui vô định, đến bất thình lình thì không những cướp trên mặt biển mà còn có thể đột nhập vào cảng để cướp nữa. Thuyền của ta nặng nề khó có thể trong chốc lát mà đi cấp cứu được, tức tốc phi báo được. Đó là sự bất tiện của địa thế. Nay nếu có hỏa thuyền đi từ Bắc vào Nam chỉ mất vài ba ngày, như thế bao vây đuổi bắt không khó, biển xa thành gần. Nếu ở các tỉnh có thông tin bằng điện thì một khi bọn phỉ vào tỉnh này, các tỉnh hai bên tức thời sẽ được báo tin. Hỏa thuyền sẽ chia làm hai cánh từ ngoài biển xa dần dần tiến vào, khi đó trong cảng cũng xuất binh hợp chiến. Như thế bọn chúng trong ngoài đều bị chận đánh không thể nào thoát được. Vả lại, bọn phỉ thấy ta có hỏa thuyền tuần hành như vậy, không đánh chúng cũng tự tan rã vì sợ chưa cướp mà đã bị bắt. Lâu quá chẳng làm ăn gì được trên mặt biển nước ta, ắt chúng phải tìm đường đi chỗ khác. Thế là dần dần ta sẽ hết mối loạn này. Nếu chỉ dùng mấy cách cũ bấy lâu, chẳng những không trừ tiệt mà ngược lại dần dần còn tăng thêm. Bọn chúng ngày càng đông, mà mặt biển thì không đủ cho chúng vẫy vùng. Giả sử dân ta có người như Trần Nghĩa Long dẫn chúng lên bờ thì mối họa lại còn ghê gớm hơn thế nữa.

4. Phân biệt thật giả.

Thuyền của người Thanh xưa nay ra vào các cảng khẩu đã thành thói quen, trong đó có cái đã biến thành thuyền ăn cướp, có cái đã trở thành thuyền buôn bán, có cái khi vào thì buôn khi ra thì ăn cướp, có cái năm trước đi buôn năm sau đi cướp, có cái đi buôn lỗ vốn trở lại ăn cướp. Chỉ vì bảng hiệu lộn xộn khó kiểm tra rõ ràng nên bọn phỉ này mới có thể che giấu chui rúc trốn thoát như chuột. Xét kỹ số thuyền người Thanh đến nước ta, chỉ có địa phận duyên hải Quảng Đông giáp Quảng Yên nước ta là nhiều nhất, thứ đến là thuyền của người Quảng Châu, Quỳnh Châu, Triều Châu, Phúc Kiến v.v… Nếu thuyền ở những nơi này muốn đi Hạ Châu thì đi ngoài biển khơi không gần đất ta. Thỉnh thoảng có một vài chiếc vào thẳng biển Bình Định, Phú Yên, nhưng phần nhiều đều không phải của người lương thiện. Nếu là lương thiện cũng phải biết tránh né không đi thẳng huống nữa lại đi lọt vào trong. Theo luật thế là gian không thể chối cãi được. Nay xin tư cho các quan nhà Thanh vùng duyên hải Quảng Đông, Phúc Kiến rằng: Phàm những thuyền nào của người Thanh muốn đến nước ta phải lĩnh tờ chấp chiếu của địa phương ấy, viết rõ năm tháng và vào cảng khẩu nào. Lại ghi rõ kích thước hình dạng của thuyền. Phải nhất luật đi thẳng. Ghi rõ ngày rời bến của họ. Đến cảng nước ta ước độ trong vòng một tháng, thì mới thật đến Quảng Yên. Chỗ giáp cận với ta thì ước độ trong một tuần. Đã vào cảng ta thả neo rồi, bất luận bao nhiêu ngày tháng, khi trở về phải lấy tờ chấp chiếu của quan ta, có ghi rõ năm tháng, lại ghi rõ cả hình dạng thuyền như thế nào nữa, đồng thời đóng dấu vào tờ chấp chiếu, rồi ra khỏi cảng mà đi thẳng về. Nếu muốn ghé cảng khác của ta thì phải lĩnh bằng của cảng gốc có ghi rõ chỉ vào cảng ấy mà thôi, không được vào cảng khác. Nếu muốn đi Hạ Châu hoặc Gia Định thì không được ghé hải phận của ta, trừ khi có bão. Nếu đến hải phận nước ta mà không giấy chấp chiếu ghi ngày tháng gần đây, hình dạng thuyền không phù hợp với hình dạng ghi trong chấp chiếu thì đều coi là thuyền gian. không kể có thấy cướp hay không, có tang vật hay không có tang vật đều nhất luật bắt trị tội. Lại viết thư cho các nơi Hương Cảng, Quảng Đông, Mã Súc, Hạ Châu... đem việc này yết lên các phố để các thương nhân chuyền cho nhau biết rõ rằng phàm có thuyền vào cảng của ta mà ngày tháng ghi đã lâu rồi tức là đi ăn cướp, đã ra khỏi cảng của ta rồi mà không về thẳng, hoặc ghé vào cảng khác mà không ghi chép rõ ràng thì đều coi là ăn cướp, hoặc không có bão mà cũng ghé vào cảng, hoặc không phải lúc mà đến (Như ở Nhật Bản một năm chỉ được mấy ngày ghé vào cảng thôi, ngoài những ngày quy định đều bị đuổi ra hết) hoặc đậu lâu không chịu về, hoặc không có việc gì mà đến, hoặc lui tới trên mặt biển và đến các đảo thuộc nước ta, đều nhất thiết bắt trị trọng tội không được viện lý gì hết. Báo cho họ biết trước như thế. Phàm vào nước người ta mà không hỏi rõ tục lệ nước người ta thì bị bắt, không phàn nàn gì cả. Trong vòng một năm đã cáo thị rõ ràng rồi mà còn gặp thuyền như vậy trên biển thì đều có quyền tóm bắt hết. Quan nhà Thanh và bọn phỉ cũng không thể biện bạch gì được mà các nước cũng không thể cho ta là hà khắc. Bởi vì nước ta bị nạn giặc biển quá nguy kịch, nên không thể không đóng cửa tạ khách như thế. Địa thế nước ta Bắc kỳ là đầu, Trung kỳ là bụng, Nam kỳ là chân. Nay Nam Kỳ đã bị hãm rồi, thì Kinh sư phải dựa vào Bắc Kỳ thôi. Nay đường đi gian nan như vậy mà việc tương lai chưa phải đến đây là hết, nếu không ra sức nghĩ cách khai thông thì mạch máu bị ngẽn tắc, thân thể làm sao yên được?

Bốn điều trên đây đều nhằm thực thi trong tình hình cấp thiết có thể tạm ứng dụng được. Tôi chỉ nói đến cái lợi mà không nói đến cái hại. Cũng có chỗ khuyết điểm chứ không phải hoàn toàn, trong cái lợi còn có cái hại, không bằng việc đào kênh là vạn toàn hơn cả. Ngoài ra tuy cũng có một vài kế sách nhỏ nhưng tôi không muốn nói ở đây. Nếu đào cảng mà gặp phải một vài đoạn vì núi ghềnh cách trở thì mở đường bộ, cũng không phải là chuyện khó. Muốn qua núi cao phải theo cách cho đi vòng quanh có thể đỡ chân, làm không khó mà cũng chẳng tốn kém là bao. Đợi đến lúc đào kênh mở đường tôi sẽ nghĩ cách làm sau.

Tôi có một vài ý kiến thô thiển như vậy, không biết có được hay không?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 08:55:13 pm

DI THẢO SỐ 39

Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh*

(Ngày 12 tháng 12 năm Tự Đức 23, tức ngày 1 tháng 2 năm 1871)

Tôi giáo sĩ1 Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Đại phàm việc thiên hạ, để thời cơ trôi qua mà hối tiếc, với thời cơ chưa đến mà cưỡng làm, đều sai lầm như nhau cả. Cho nên người khôn tùy thời mà giải quyết công việc, tùy việc mà ra mưu, gặp thời làm được thì gấp rút ra tay, không bỏ qua cơ hội.

Hiện nay người Pháp đang gặp vận hội thay đổi lớn. Chính là lúc ta nên gấp rút đặt kế hoạch. Năm trước tôi đã nói “kỳ hạn khôi phục trong mười năm”, là cũng đã liệu trước sẽ có cơ hội này, chứ không phải nói quàng nói hão. Những lời trình bày của tôi trong những năm gần đây, tất cả đều quy vào việc tạm hòa để nghỉ sức, canh tân để mạnh thế của ta, cầu viện để giúp thêm cho ta. Còn dùng binh lực để quyết liệt một phen thì chưa nói đến. Vì muốn khôi phục lại được, tất phải đổi mới tiến lên và giao thiệp rộng. Có hai cái ấy làm cơ sở, binh lực mới từ đó mà ra. Nhưng làm hai điều này phải khá lâu chớ không phải kể năm kể tháng mà được. Nếu không lo làm nhanh, đã muộn lại muộn thêm, khi thời cơ đến mà phương tiện chưa đủ, hóa chẳng đáng tiếc lắm ru?

Nhưng việc đã qua rồi. Xử trí tình thế cấp bách hiện nay, cũng còn có một kế, đấy là gấp rút đi Tây, để xin trả lại sáu tỉnh.

Hồi mùa xuân năm Tự Đức 21, nguyên soái Gia Định có nói về việc hòa. Nếu lần ấy đi Tây, thì dù được hay mất, việc cũng đã ngã ngũ rồi, nay cũng khó mà thương lượng lại. Nhưng Triều đình đã chưa vội đi Tây, nên nay việc vẫn còn là mới, đấy là một điều may.

Nay nguyên soái Gia Định đã chết, và các viên chức lớn hay sinh sự với ta, quá nửa cũng đã tiêu điều rơi rụng, không còn ai ngăn trở ta, đấy là hai điều may.

Tất cả nhưng việc ngày trước, vua họ ưng chuẩn cho nguyên soái Gia Định làm, thì nay vua họ đã bị cầm tù rồi, không có quyền cố chấp ý kiến trước, đó là ba điều may.

Đến cuối mùa thu năm Tự Đức 22, vua họ viết thư thôi thúc việc hòa ước, mà Triều đình lại chần chừ, chưa chịu hoàn thành việc hòa đó với vua họ, đấy là bốn điều may.

Hiện nay tuy nước họ tạm lập quốc trưởng, nhưng quyền bính còn lâu vẫn chưa ổn định, chính sự trong nước còn bàn nói lung tung khắp nơi, đấy là năm điều may.

Có năm điều may lớn ấy là có thời thế cho ta vậy.

Nay xin cho một đại thần vào Gia Định, đem việc ấy bàn kín với nguyên soái mới, nếu liệu thế y có thể dồn quân về giữ một nơi, còn các nơi khác trả lại cho ta hết, như trong tờ bẩm trước tôi đã bày tỏ, đấy là kế hay nhất. Nếu không được như thế, thì hãy trở về chờ đợi ít lâu.

Một mặt mật sai người đi khắp sáu tỉnh, xúi dân đâu đâu cũng dự bị làm loạn, và tung tin khắp nơi, khiến cho y biết được việc ấy. Nếu y muốn tìm mối manh để bắt giết, sẽ không tìm ra chứng cớ rõ ràng. Lại sợ sáu tỉnh nhân khi bên nước y có việc, mà Triều đình ta còn nội công ngoại kích nữa, lỡ bùng nổ ra, chưa biết hơn thua thế nào. Như thế chắc y phải trông ngóng chờ đợi, chưa dám thi hành ngay thủ đoạn độc ác để hại dân.

Một mặt sai người đi Hương Cảng bảo các khách buôn giàu, hứa ngày sau sẽ cho buôn bán ở một hai cửa biển lớn và cho bán nha phiến cả nước mà không đánh thuế, nhưng trước hết xin họ xuất tiền cho mượn mua một số đại pháo, và nhờ thuê cho một số người Anh lưu vong. Lại ở các cửa Thuận An, Nghệ An, Đà Nẵng, sông Gianh xây một số pháo đài theo kiểu Tây, nói là để phòng bị tụi giặc cướp khác. Như nói rằng: Ngày trước sứ thần Y Pha Nho tức giận mà bỏ đi, nay y đã đối lập với nước Pháp, thời hòa ước trước, do hai nước đồng ý nay không có giá trị nữa, như thế sợ sẽ lây vạ đến ta. Vả lại miền Bắc có loạn, cần phải đề phòng. Như thế y cũng khó kiếm cớ tranh chấp ngăn cản không cho người Anh làm. Trong mỗi đồn, xen vào vài chục người Anh, canh giữ luyện tập với quân đội ta, tiếp đãi tử tế để lấy lòng họ. Phòng bị được như thế thì y dù muốn đem quân lính Gia Định ra gây sự, thấy ta đã phòng bị, cũng không dám bức hiếp ta.

Một mặt từ Nghệ An trở vào Nam, giả vờ thôi thúc quân lính, ban rõ hiệu lệnh. Tất cả dân xã đâu đâu cũng đều phao tin là dâng sức dâng mưu, khắp mọi nơi nổi lên đánh giặc, thì chắc y cũng sẽ nghe biết.

Một mặt mật sai người đi Cao Miên, tìm Cầm Bô lấy lời khôn khéo xúc sử y trên ấy nổi dậy trước, dưới này ta sẽ đánh thúc lên, thì y một là còn căm mối thù trước, hai là muốn đuổi người Pháp để giành ngôi vua Miên, nên dù chưa làm được gì to, nhưng cũng đủ chặn tay người Pháp.

Một mặt cho đi phao truyền rộng rãi rằng: Phàm những người Nam được Pháp huấn luyện làm lính tập, mã tà, tuy nói là làm việc cho Pháp, nhưng trong đó số nhiều có bà con bị Pháp hãm hại. Trong số đó còn có nhiều người nghĩa khí, được quan to ngầm sai, giả đi lính cho Pháp để dò xét tình hình người Pháp, đợi có cơ hội làm được là sẽ làm nội công cho Nam triều. Hiện nay nước Pháp đã có loạn lớn, thế tất không giữ được sáu tỉnh. Vì vậy mà giả đưa thêm lính muốn dương oai diễn võ, để yên lòng người đó thôi. Chúng ta ai là người còn có lòng người, còn nhớ đến Tổ quốc, hãy tất cả đâu đó sẵn sàng.

Còn những người Trung Quốc, từ trước đến nay đã cùng ăn ở với người Nam, mọi việc đều được tự do, mà người Trung Quốc lại được người Nam biệt đãi, vẻ vang biết bao. Từ lúc người Tây đến đây, không kể mới cũ, người Trung Quốc đều phải có giấy tùy thân, lại phải có giấy phép. Mọi việc đều bị bó buộc ngược đãi, chẳng khác gì tôi tớ, chỉ rộng rãi với người giàu mà thôi. Vả các người tuy là khách, nhưng ở nước Nam đã lâu, cha truyền con nối, còn hơn là đất nước quê hương, nay bị thế Tây ức hiếp như thế, không gì bằng nhân lúc loạn ly, ngầm tiếp tay với người Nam, để đuổi chúng ra khỏi nước thì các người chẳng những được tiện lợi lâu dài, mà lại có công lớn với chính nghĩa, ngày sau còn được nhiều đối xử tốt hơn nữa.

Lại nói hết với các quan phủ huyện và những người đã nhận chức vị của Tây rằng: “Chúng ta trước thấy thế Tây mạnh, bất đắc dĩ phải theo họ, để kiếm kế nuôi thân, nuôi gia đình, chớ không phải bản tâm muốn theo Tây. Lâu nay thấy người Tây chiếm ở, Triều đình cũng không can thiệp gì, tưởng chúng ta cũng có thể tạm yên, dựa Tây làm núi Thái Sơn. Không ngờ vận trời có khi xoay vần, khiến cho bọn ỷ vào cái thuật xảo trá cũng có ngày cùng, mà kẻ có thế cũng khó ỷ thế mãi được. Nay gặp lúc nước họ có loạn lớn, nếu Triều đình ra sức đấu tranh thì họ cũng khó đứng vững”. Dẫu chúng không sớm thấy thời cơ mà đi đôi với Triều đình thì nếu binh quan đánh không thắng, cũng không nỡ bại lộ cơ mưu ta ra. Còn nếu thắng được, thì chúng ta đã thông tình trước, cũng có chỗ để lập công chuộc tội.
__________________________________________
*. Bản văn chữ Hán: Hv 189/3 tờ 71 - 90 và Hv 634/3 tờ 46 - 76.
1. Ở đây, cũng như trong một số văn bản kế tiếp, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ tự xưng là giáo sĩ. Thực ra trong các văn bản của Triều đình, trước đó đã gọi Nguyễn Trường Tộ là giáo sĩ. Nhưng từ giáo sĩ ở đây không có ý nói là chức sắc trong đạo giáo như linh mục, chẳng hạn, mà chỉ là nhân sĩ tôn giáo.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 08:56:15 pm

Từ khoản: “Luyện tập làm lính” trở xuống ba khoản, ta bí mật cho người giả đưa thư từ qua lại với những người này, cố ý làm rơi, hoặc chọn người khôn khéo luồn vào, hoặc cố ý giả đưa nhầm thư cho người Nam, chân tay của người Tây, làm cho chúng nó nghi ngờ lẫn nhau, dò xét lẫn nhau, đùn đẩy lẫn nhau, thì ắt cho rằng quả thực có việc ấy. Nhiều người thì sẽ lộ, quan Tây chắc chắn càng sinh nghi. Tuy bọn chúng càng nói thuận phục chừng nào, người Tây lại càng thêm nghi chừng ấy, mà lạnh nhạt ngược đãi chúng. Lúc ấy ta mới có thể dụ dỗ chúng về với ta, thời sự tích phải lộ dần, người Tây càng thêm nghi, mà sau không dám tin dùng người mình nữa. Tuy bọn thông ngôn có thật sự tâng công, nhưng người Tây cũng không dám tin lắm nữa, như thế có thể làm rối loạn sự nghe ngóng của họ, lấy không làm có, lấy có làm không, ta mới có thể thực thi được kế lật đổ họ, mà còn có thể cô lập những bọn tai mắt vây cánh cửa họ. Không chụp ngay thời cơ này, thi hành gấp kế này để nước họ sau khi mọi việc yên bình, thêm ơn thu dùng người mình thì sẽ như Vial đã nói năm trước: “Tập luyện được 7, 8 nghìn lính người Nam, mình có thể hoành hành được nước Nam, như người Anh dùng lính Ấn Độ không cần dùng nhiều lính Tây vậy”.

Nếu muốn thi hành kế này, để phòng về sau, phải làm lúc này mới có cơ hội, vì dễ làm cho người Tây nghe nhầm.

Một mặt mật sai các nhà đại gia thế tộc trong sáu tỉnh họp nhau làm tờ thỉnh nguyện gửi lên quan Tây sở tại rằng: “Hiện nay chúng tôi bí mật được biết Triều đình chúng tôi sắp có hành động, chúng tôi sợ sau này không biết lợi hại thế nào. Nếu Tây triều liệu không thể chiếu cố được cho chúng tôi, thì xin cho chúng tôi phương tiện. Thí dụ như hoặc có thể chiếu theo khoản hòa ước của tướng Charner đã nói trước, mà trả đất đai lại, chỉ cư trú và buôn bán với chúng tôi thì Triều đình chúng tôi sẽ y theo hòa ước mà chấm dứt mọi hành động, mới tiện lợi cho cả hai bên. Nếu không, chúng tôi ai cũng có tình quyến cố gia đình, cũng sẽ phải lựa chọn nên theo bên nào bỏ bên nào”.

Họ đương lúc đã không dám hạ độc thủ đối với sáu tỉnh, sợ phạm lòng căm phẫn của dân chúng, mà trong tờ thỉnh nguyện của dân chúng thì nói lớt phớt có bên nào ra bên nào đâu cũng khó vin lấy mà làm tội. Còn nếu họ muốn xử phân như thế nào, thì những người này lại nói rõ rằng: Chúng tôi thương tiếc mạng sống hèn mọn của chúng tôi vì nghe như vậy, nên sợ hãi mà nói ra như thế, đề phòng ngày sau; hoặc giả có xảy ra như vụ nghịch Khôi, thì cũng có thể nhờ đó mà làm kế thoát thân mà thôi. Nếu quan Tây có thể bảo hộ được là không có việc gì, thì chúng tôi cũng đều vui lòng sống dưới sự chở che như trước; có gì đáng nghi.

Những người này nói lại như thế, chắc chắn họ sẽ lấy lời dịu dàng an ủi, nhưng trong lòng cũng đã biết rõ là dân tình không phục, còn yên lặng chờ thời đấy thôi.

Hoặc có thể những người này còn sợ sệt, không dám nói, thì ta sẽ mật đem sự lợi hại mà khích động rằng: Bây giờ đương lúc người Pháp gặp hồi nguy bức, như cây gỗ đã mục mà ta lại có cơ hội “nhân thế là ném đá xuống” thời tuy những người này còn ngại ngùng nhưng sợ ta hơn thì cũng phải nói.

Nếu ta làm được mấy khoản như đã kể trên, nguyên soái của họ ắt phải đem sự việc bẩm về Tây triều. Hoặc y có tư giấy sang hỏi ta, ta chỉ nói đây chẳng qua là lời bịa đặt nói bậy. Y tuy trong lòng thẩm đoán là việc ấy không thể không có, nhưng cũng không dám rầy rà gì ta.

Liệu xong các khoản ấy rồi, sai sứ sang Pháp, trước hết đến Kinh đô nước Anh, tùy cơ giao kết, làm cho người Pháp sinh nghi, sau đến quốc trưởng nước Pháp, trước nói là quý quốc có việc, sứ bộ đến viếng thăm, để tỏ tình thân mật, kế đó tản ra, đi tìm đường lối, đem việc bàn bạc. Nếu họ hỏi: Sao đến nơi này mới nói thì nói Triều đình chúng tôi nghĩ quý quốc vừa có việc binh qua, nếu trước đem việc nghị hòa ra bàn bạc, sợ làm phiền nên chần chừ, chưa dám nói thẳng, nhưng đến đây chẳng lẽ về không, mà nếu nói hòa thì xin thực hiện y như đã bàn định trước kia với tướng Charner, mới dám thương thuyết. Và phải nói thêm rằng: Triều đình chúng tôi không phải dám nhân lúc quý quốc có việc, mà đột ngột đến làm phiền. Nhưng vì cuộc hòa đã bốn năm rồi mà chưa thương thuyết xong, nay nhân thấy quý quốc đang có việc, mà bản triều lặng lẽ không nói gì đến, thì hình như cho quý quốc đương có việc bối rối không đủ sức làm xong cuộc. Như thế hóa ra lấy bụng không tốt mà đãi người, đối với tình giao hiếu, có chỗ chưa thỏa. Vả lại, việc của bản triều đối với quý triều chẳng qua chỉ bàn bạc một ngày là xong, không phiền phải tốn nhiều thì giờ tính toán. Huống chi gặp lúc này bản triều không nỡ thừa cơ để đòi lập cái khác, mà chỉ lấy tình nghĩa xin thuận như thế thì mới rõ tình giao hiếu. Nếu đợi khi quý quốc bình yên mới xin bàn lại cuộc hòa hiếu, đấy lại vì tình thế bắt buộc bản triều phải làm như thế. Nếu thế thì giả sử cuộc hòa có thành chăng nữa, cả hai Triều đình đều có chỗ khó coi, khó có thể giữ được sự yên ổn lâu dài không xảy ra việc gì.

Trước đem các lý lẽ ấy nói ra, để đề cao thể diện cho họ, mà che giấu được cái dụng tâm của ta là thừa thế bắt ép họ, khiến họ không đến nỗi tức khí nổi giận mới có thể dịu lòng mà chịu nghe ta.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 08:57:37 pm

Lại nói: Trước đây vua trước có nói cho trả lại ba tỉnh ngoài. Chỉ vì nguyên soái Gia Định cầu công quá đáng, khiến công việc phải trở ngại mà bỏ dở. Bản triều cũng muốn đến quý quốc một lần nữa để bàn định lại hòa ước cũ, nhưng chưa kịp đi thì nguyên soái Gia Định đã ức hiếp mà lấy nốt ba tỉnh trong, viện cớ rằng vì đấy là ổ giặc cướp và vì cớ kinh lược đại thần bản triều ngầm giúp cho Cầm Bô để chiếm lấy, chứ không chịu biện bạch phải trái.

Lại bịa ra nhiều tình trạng nên lấy, tâu về vua trước cho ăn khớp với lời xin, để dự tính làm chỗ đất để thành công sau này. Quý quốc ở xa muôn dặm, lại chỉ nghe lời nói một phía nên khó đích xác được. Bản triều biết rõ duyên cớ, muốn đến quý triều đem sự việc ra biện bạch, nhưng vua trước quá tin nguyên soái Gia Định, giao cho toàn quyền việc biên cương, mà bản triều là người sơ đâu có thể nói nghe lọt tai được bằng người thân.

Nếu không thể biện bạch được rõ ràng, lại làm trò cười cho thiên hạ, như việc lần trước xin trả lại ba tỉnh ngoài, vì thế mà chần chừ chưa dám. Nhưng trong lòng không chịu nổi, nghĩ đi nghĩ lại, cho rằng quý triều còn nhiều quý quan, thế lực có thể áp đảo được nguyên soái Gia Định. Nếu những vị ấy rõ hết được sự tình phải trái ắt bênh vực cho bản triều để đi đến lẽ phải. Cho nên cũng toan hăm hở mà đến, để kiếm cách đối đáp. Cho nên năm trước nguyên soái Gia Định qua lại với bản triều bàn hòa đã ngót một năm, hai bên còn đủ giấy tờ làm chứng. Lúc ấy bản triều chỉ chuyên nói về việc xin trả lại và còn dây dưa không dám hoàn thành việc giao kết, là muốn đợi ngày tự thân hành đến quý triều, để giãi bày cho rõ ràng mà thôi.

Nguyên soái Gia Định rất giận bản triều vì không chịu làm xong cái “công hòa hiếu” của y, mà lại nhất định xin đi Tây cho được. Sợ lộ chuyện thị phi nên nguyên soái Gia Định tìm nhiều cách bưng bít ngăn cản, lại còn nói thẳng vào mặt với quan đại thần bản triều rằng: Nếu sứ bộ nước Nam đi Tây, thì y không chịu đi cùng. Chỉ một lời nói ấy, cũng đã làm nhục bản triều quá lắm rồi. Đến lúc bản triều thấy nguyên soái Gia Định về Tây trước, thì biết rõ, nếu mình quay gót sang ngay, cũng khó đối đáp với y. Cho nên lại chậm thêm hai năm, để đợi thư trả lời của vua trước. Khi thấy các lẽ trong thư trả lời cũng y như những lời thương thuyết của nguyên soái Gia Định, bản triều ngạc nhiên, không biết thế nào. Cho nên lại nhất định phải có lần đi này nữa. Nếu quả bản triều có lỗi còn nguyên soái Gia Định là phải, là đúng thì cứ minh chính quở phạt, rồi công nhiên đem quân đánh lấy, sao lại sai Vial lên kinh nói miệng trước, ép bản triều nếu lấy tình nhường giao ba tỉnh trong thì sẽ xóa hết tiền bồi thường binh phí, và thuyền bè người Nam đi lại buôn bán ở Gia Định đều được miễn thuế, lại hứa tặng cho thuyền lớn, lại phái thuyền đi dẹp giặc cướp để yên mặt bể? Đồng thời còn hứa về sau, nếu trong nước có giặc giã gì, cũng sẽ hết sức đến giúp.

Bao nhiêu những hứa hẹn như thế để đổi lấy ba tỉnh, nay tuy không có giấy tờ gì làm bằng, nhưng Vial vẫn còn đó, lẽ nào lại nuốt lời? Nếu bản triều trái hòa nghị trước, mà nguyên soái Gia Định có thể bắt lý được, thì cần gì phải hứa hẹn như thế? Vả lại nếu bản triều thật có bằng chứng trái hòa ước, mà động đến binh oai của quý triều thì chẳng những bị mất đất, mà còn phải bồi thường binh phí nữa. Cứ xem như ba tỉnh ngoài, do quý triều gây sự ra trước, cho nên bản triều phải đem quân tồi ra hầu, thế mà khi bàn hòa, Bonard còn bắt chịu bồi phí, huống hồ ba tỉnh trong. Nếu quả bản triều có lỗi trước, mà nguyên soái Gia Định đã không bắt bồi thường binh phí, lại xóa cho nợ cũ, và phàm những người, của đã bắt được thu được cũng đều trả lại hết. Như thế thì phúc cho bản triều biết bao nhiêu. Thế mà bản triều lại không thuận nhượng ba tỉnh trong, vốn đã lọt vào tay nguyên soái Gia Định rồi, để kích thêm lòng giận của quý triều. Bản triều có đâu lại hỏng đến thế? Thế lực như quý quốc, bản triều lẽ nào không biết, mà trước sau vẫn chỉ một mực xin trả, cũng đủ thấy tình lý có chỗ chưa được cam lòng thỏa dạ.

Vả lại lúc bấy giờ, các quan đại thần ở ba tỉnh trong và các quân lính thấy nguyên soái Gia Định đến thình lình, đều một loạt mở cửa rước vào, không dám bắn một mũi tên, để tỏ ra là triệt để tuân theo hòa ước. Trong ý đều nghĩ rằng sự phải trái sẽ có ngày tự được phân hiểu, cho nên hãy tạm tránh uy quyền của quý soái, để mong được chiếu cố thương hại về sau. Nếu không thì dù thế lực không đương nổi, cũng bắn liều một mũi tên, mở đường chạy để hết bổn phận của người giữ đất, chớ sao lại để cho quân quan quý quốc được yên nhiên tọa hưởng như đi dự tiệc mừng vậy? Chắc chắn không phải như vậy. Vả lại lúc ấy quan quân bản triều nếu không có định kiến trước, mà ra đối đầu với quý quan binh, thì tuy nguyên soái Gia Định tự gây sự trước, nhưng bản triều cũng không tránh khỏi cái lỗi là tại sao không tránh đi. Cách xử trí của chúng tôi rõ ràng như thế, đủ thấy sự cung thuận và giữ hòa ước biết dường nào!

Đương lúc thảng thốt mà cũng không làm điều gì hấp tấp trái nghĩa, huống chi đương lúc thung dung qua lại với quý soái, mà lại có mảy may trái ước, có thể chỉ trích được sao? Xin quý triều tìm tòi hết những việc qua lại giao tế mấy lâu nay, nếu có một khoản nào có thể bắt lý khiến bản triều hết lời đối đáp được thì bản triều mới phục. Không thế, mà quý triều không chịu thương thuyết lại, thì rõ là quý trều lấy thế lực đè người, mà không có công lý vậy. Ôi! Các việc bất bình trước đây đều do vua trước và soái trước gây ra, mà bản triều chưa có một lần trình bày ra, thì chưa hết lý chưa thỏa tình. Nay quý quốc đã cải miễn, bản triều thiết tưởng quý quốc trưởng ắt có cách xử trí khác. Đối đãi với bản triều theo một lối mới để tiêu những oán hờn xưa cũ mà tạo sự vui vẻ lâu dài, thông thương rộng rãi với bản triều, mà trả lại đất đai thì mới có thể yên vui mãi mãi với nhau được v.v...

Những việc như lấy thông thương để đổi lại đất đai, mà tôi đã trình bày trong các tờ bẩm trước, đều phải đưa ra trình bày lại một lần cho rõ ràng. Lại dùng những khoản như: thông nhiều ngõ ngách, tìm nhiều đường lối cùng với các quan nước họ mà cầu giúp ta v.v... ra mà nói với quốc trưởng họ, và các quan lớn cầm quyền của họ. Chính lúc này là lúc để nói hơn bao giờ hết.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 08:58:45 pm

Xét sự thế của nước họ hiện nay, tuy đã lập quốc trưởng, nhưng chưa bao quát được tất cả mọi quyền lớn trong nước. Thế tất phải có một vị lớn có quyền thế nào đó có thể khiên chế được quốc trươtng. Mà quốc trưởng cũng đương cần thu phục lòng người để dựa mà làm việc chắc sẽ không trái lòng người lắm. Nếu ta tìm được vị quan lớn nào mà quốc trưởng đang dựa vào nhiều nhất rồi câu kết với vị ấy, thì tất nên việc. Vả lại việc nước ta đều do vua trước hiếu chiến, muốn theo vết cũ của vua bác, mà chủ trương ở bên trong, dưới thì có một nửa số đại thần xu phụ theo để cầu tiến. Cho nên nguyên soái Gia Định mới nhằm vào cái sở thích của nhà vua, mà làm cho nước ta trở thêm nhiều việc.

Nay may mắn vua trước mất quyền, nguyên soái Gia Định đã chết, còn những người xu phụ ngày trước nay cũng đều tìm chỗ nương tựa khác, nên chắc chắn không dám đem những việc vua trước đã thất bại ra nịnh hót người sau, mà chuốc oán thù với Viện Thứ Dân. Như thế là vây cánh bè đảng đều tan rã.

Vả lại lúc trước, khi tôi ở Tây, đã nghe phao tin rằng: Từ vua trước gây sự với Nam triều tới nay, phàm những việc đã làm, đều bị thiên hạ chê cười tức tối (trong đó có nhiều điều, không cần kể lại). Vì thế mà những người có lòng mưu việc nước, đều tức giận mà đưa ra câu nói ấy để xui dân ở hai lòng. Nay nếu có người vì ta, ra sức giải thuyết, ắt phải vin vào lời nói trước để chứng thực việc ấy.

Huống chi hiện nay những người cùng lo việc với quốc trưởng, ắt trước hết phải lo chỉnh đốn mọi việc trong nước làm trọng, mà quốc trưởng cũng lo lập đảng để gây thế lực của mình, vậy hai hạng người đó đều chắc không để ý lắm đến việc lo chiếm nước ngoài. Sở dĩ còn bám lấy Gia Định là để tỏ rằng còn dính líu với mình mà thôi. Nếu thấy ta cố xin, mà lời lẽ nửa cứng nửa mềm bọn họ ắt phải thầm nghĩ rằng: Hiện nay nước ta mới suy, chưa biết sẽ ra sao.

Nếu ôm đồm quá mà sơ sót, là không khéo xử sự trong khi mình có biến. Sao bằng tạm trả đất lại, mở đường buôn bán để đợi lo tính về sau mới là hợp thế. Vả lại theo các lời lẽ của sứ nước Nam trình bày thì những điều sai trái đều quy về mình. Nếu không biết nhân thời thế mà biến đổi cuộc diện, chẳng may Nam triều nhân lúc mình đương nguy mà sinh sự và nước mình trông được chỗ này thì lại mất chỗ kia, đã mệt về phía Tây lại lo về phía Đông, hai đường đều hỏng cả. Vả lại nghe các quan gần Gia Định mật tư thuyết phục được dân sáu tỉnh chuẩn bị sẽ gây biến động, mà Nam triều thì đã phòng giữ vững vàng, chưa biết họ sẽ làm gì đây. Lại nghe các nhà buôn Anh giúp binh khí cho họ; hoặc giả là nước Anh giúp ngầm ở trong để hất cẳng mình chăng? Thấy sứ nước Nam qua Kinh đô nước Anh trước, không biết mưu tính việc gì. Tình hình đã rõ.

Vả người Anh chưa công khai gây việc, cho nên việc mướn tụi vong mạng đến giúp nước Nam, tưởng đó cũng là thế tất hữu. Vả lại như nước Y Pha Nho và nước Phổ Lỗ Sĩ hiện nay thù địch với ta, mà hòa ước năm trước Y Pha Nho muốn lấy Đồ Sơn, nguyên soái ta sợ rằng ta đã lấy hoàn toàn ba tỉnh rồi mà Nam triều lại còn bị Y Pha Nho cưỡng ép nữa, thế tất hòa ước sẽ không thành, cho nên ta luôn luôn tìm cách cản trở để xong việc mình, làm cho nước Y không thỏa ý muốn, tất phải căm hờn. Mà trong thư Ba Lăng Ca gửi cho Nam triều có câu: “Được ruộng đất, mất lòng anh em”; lại tiếp đãi sứ nước Nam rất trọng thể, không phải là không lộ vẻ khiêu khích đối với ta, để mua chuộc lòng Nam triều. Nay nếu Nam triều lại đem Đồ Sơn cho họ, thì họ đã có giận trước, lại thêm thù nay mà đem hết quân Lữ Tống hợp với Nam triều, lại có nước Phổ ở xa giúp đỡ thanh thế, như kiểu ngày xưa nước ta giúp Hợp Chủng Quốc đuổi người Anh. Nếu xảy ra công việc như thế, ta cũng khó bề xoay trở.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 08:59:49 pm

Thấy sứ nước Nam cũng sang Y Pha Nho, không biết ý gì. Tuy ngày trước, Nam triều có thất lễ với sứ nước Y, nhưng đã lấy lời khiêm tốn tạ lỗi, cũng đủ hết hiềm khích rồi. Vả lại hất cẳng ta là việc lớn, được Đồ Sơn cũng không phải là món lợi nhỏ, mà lại có nam triều ở trong xui giục, chắc họ sẽ nghe theo. Các mưu lược kể trên, ai dám bảo Nam triều không có người tính toán đến được như thế? Thử xem ba bốn năm lại đây, cố ý dây dưa đương lúc thế lực ta mạnh như thế, mà còn không chịu giảng hòa thì ngang ngạnh xiên xỏ đã quá lắm, chắc là biết được nước ta hiện có cuộc nguy nan, nên cố tình dây dưa chờ đợi. Ngày nay đến thương lượng, lời lẽ lại mềm mỏng, không khích bác, không theo hẳn, còn cách lo liệu lại đâu trúng đó, rất hợp với thế tung hoành. Chắc là người Anh đã bí mật bày vẽ. Nếu không thì sao lại hiểu rõ sự thế phương Tây mà nói được vanh vách như thế. Nay nếu y theo lời xin của sứ bộ nước Nam, để lưu nhân tình, thì mới chiếm được địa vị sau này. Không thì Nam triều bị bức bách thế không chịu được, dần dần đi theo nước Anh mời người Anh đến chia lợi với ta, ta cũng khó bề lung lạc được lâu dài. Nếu ta tạm nới tay ra, Nam triều không gấp rút bí mật giao thiệp với người Anh, lúc đó ta được thong thả đợi thời, để chiếm lợi một mình. Nếu người Anh nhân lúc ta chưa thể một mình tự tung tự tác mà xen vào ngắm nghía nước Nam, ắt sẽ tranh chỗ với ta. Thế chẳng phải ta tính toán sai lầm sao?

Tây Triều nếu nghĩ lại như thế (Ta nếu tìm được viên quan lớn, thấy y có tình vì ta, thì bảo y phải xướng lên đề nghị ý kiến như thế) thì ta mới thỏa được yêu cầu. Đấy là thượng sách.

Còn như khoản thông thương, đó là quyền ở ta, lúc bấy giờ ta sẽ dùng kế (Các mưu kế về đường lối này rất nhiều, tôi đã tính toán sẵn rồi) khiến cho họ không được lợi lớn, mình không đánh, họ cũng tự tan rã. Nếu họ lại muốn gây hiềm khích, ta chuẩn bị đã chặt chẽ, giao du đã nồng hậu, người giúp đã có nhất định, cũng không sợ gì nữa.

Một mặt, trong lúc đi Tây, trước hãy đến Gia Định ghé lãnh sự Y Pha Nho gợi tình giao hiếu cũ, tạ lỗi xích mích xưa. Rồi sau mật đem tình thế hiện tại thương lượng với y, nhờ y viết thư thông báo về nước trước, bấy giờ ta mới thuận đường đến Triều đình Y Pha Nho trước tìm Ba Lăng Ca nhờ giới thiệu, đến tỏ ý trước với Triều đình nước Y, rồi đi mật hỏi kết cục hiện thời giữa nước Y, nước Phổ và nước Pháp như thế nào? Hướng đi tới của nước Nga nước Anh như thế nào? Nếu thuận tiện có thể thừa cơ được, xin nhờ họ đề đạt ngay qua nước Anh. Nếu họ muốn hợp tác với ta để đuổi người Pháp thì bí mật định mưu với họ. Sau đó mới đến xin Triều đình Pháp (Ở trước mặt nước Y, chỉ nói đến Pháp, thăm hỏi mà thôi, chớ lộ bản ý ra). Nếu không bằng lòng là tại lỗi họ. Lúc đó ta thì giận, Y thì thù, lại có nước Phổ hưởng ứng từ xa, lấy thế để đè nước Pháp lúc đương suy yếu thì cũng đủ đạt chí nguyện.

Còn như nước Y, tuy ta có hứa cho họ thông thương, và tạm cho một miếng đất, nhưng thế lực họ không mạnh, mà nước Phổ cũng không ham việc đua đuổi cao xa, ắt là không trắng trợn như người Pháp mà lo sợ họ lan rộng ra. Vả ở chung với kẻ yếu, còn hơn ở chung với kẻ mạnh. Xét ra thế sự ngày nay, thì khoản nước Y cũng dễ rơi vào thuật của ta, vì họ đã xích mích lớn với người Pháp.

Vì rằng lấy lợi mà hợp, thì khi lợi hết ắt phải ly. Lúc trước người Y hùa với người Pháp, cũng muốn chia lợi, đến khi thành công người Pháp lại học thói Tề Mẫn Vương1 ngày xưa, chiếm lấy phần nhiều. Tuy nguyên soái nước Y đã có nhiều lần muốn gặp mặt sứ bộ ta để nói nhưng người Pháp cứ kiếm cách thoái thác ngăn trở. Y soái rất bất bình. Tình hình ấy tôi biết rõ, nhưng nay nói ngắn không thể hết được, thôi chẳng đưa ra làm gì. Đã có một lần quan quân nước Y đã vung tay lên, muốn loạn sát quan quân Pháp may được giải cứu mới thôi. Về sau Y soái muốn nhờ Cố Trường viết thư đáp lại Triều đình ta. Tuy đã có nói, nhưng Y soái lại nghi, sợ Cố Trường thêm bớt lời lẽ. Cuối cùng khi hòa ước đã xong, Y soái bất đắc dĩ mới gấp nhờ tôi dịch bài: “Được ruộng đất, mất lòng anh em” đưa lên Triều đình. Một là để mua cảm tình, hai là để che xấu hổ. Đấy là thói “mềm nắn rắn buông” mà thôi. Đương lúc ấy, ta dù muốn dùng kế để ly gián họ, nhưng cơ hội rất khó.

Nay mai Phổ với Y đều đứng lên đối địch với Pháp mà ta lại lấy lợi đến nhử, ắt họ sẽ vui mừng giúp ta. Nước Y tuy gặp lúc suy đốn, nhưng cũng là một nước lớn xưa nay từng công phạt. Nay lại có nước Phổ kết thân, như cọp có thêm cánh, thì thế lực lại dần lớn mạnh. Nếu ta sớm đến tạ lỗi, tử tế với họ, thì chẳng những trấn áp được Pháp, mà cũng có thể tiêu được mối lo về sau.

Nếu sau khi việc xong, Phổ đã hợp nhau với Y, nếu có hành động gì như tôi đã bẩm: “Nước Y chưa nguôi dòm ngó Bắc kỳ”, thì ta sẽ liệu làm sao?

Nay nếu ta khéo dùng kế mà lại nhân nước Y để thông với nước Anh, thì cũng để tỏ tình, mà ta sẽ được Anh giúp đỡ. Sự thế ấy, chỉ nên gấp rút dùng vào lúc này, mới có thể tìm ra manh mối. Nếu để cơ hội đi qua sau này cũng khó bảo đảm nước Y sẽ không phụ tình với ta.

Nếu quả làm được những kế hoạch kể trên, thì chính là ngay giữa miếu đường đuổi được giặc, thắng trận ở ngay nơi bàn tiệc vậy.

Tôi thành thật có mấy ý kiến như thế. Tuy biết rõ trên Triều đình không phải không nghĩ đến, mà đợi tôi phải nói ra, nhưng trong ý tình của tôi, cũng như trẻ em chạy chơi, học được mấy tiếng bi bô, liền về kêu ầm lên trước mặt cha mẹ. Đấy là xuất từ tình thật hồn nhiên, mà không biết rằng cha mẹ dạy cho mình học ăn học nói, còn hơn những cái mình nghe lỏm được rất nhiều.

Nhưng ý rằng vì được cha mẹ yêu, nên tuy biết cha mẹ phiền hà, mà vì tình thương con, cũng vui lòng nghe mà không nỡ đánh mắng. Tấc thành mọn mạy, muôn trông tha thứ.

Nay kính bẩm quan Binh bộ đại thần soi xét.

Nguyễn Trường Tộ ký
__________________________________________
1. Tề Mẫn Vương đời Chiến Quốc, khi cùng đồng minh đánh thắng giặc thì tranh lấy phần nhiều.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:01:16 pm

DI THẢO SỐ 40

Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định*

(Ngày 20 tháng 12 năm Tự Đức 23, tức ngày 9 tháng 2 năm 1871).

Tôi Nguyễn Trường Tộ kính bẩm,

Ngày trước tôi có bẩm ba tập, nghĩ đi nghĩ lại mới thấy có nhiều đường lối có thể làm được. Có điều là muốn suy nghĩ kỹ càng để cầu ổn thỏa. Tóm lại chỉ có hai kế mà thôi:

Một là gấp rút đi Tây, để lấy lại đất đai và gây cảm tình với Y Pha Nho, để tránh hiềm khích. Khoản này không kể việc họ đã yên hay chưa yên, cũng cứ nên làm. Vì nếu việc họ chưa yên, thì ta lại phải đến nước Y dùng kế, cầu Y giúp ta để đuổi Pháp, như tờ trước tôi đã bẩm. Tuy họ còn ngại sức chưa đủ để đánh Pháp, nhưng cũng muốn gấp tranh lợi báo thù, lại có ta là bạn chung một kẻ thù, thì chẳng những họ dựa vào ta, mà quân ta cũng thêm hăng hái, thì mới mong đắc chí được.

Người Pháp ở phương Đông chưa có thế lớn để quyết định, mà người Anh lại ngấm ngầm ghét Pháp, không giúp Pháp, ở phương Tây, đã có nước Phổ khiên chế nước Pháp thì Y mới có thể đưa hết lực lượng phương Đông hợp nhất với ta mà thành công được. Vả lại ta có giao ước với Y rằng: “Sau xong việc rồi, chẳng những cho họ thông thương, mà bản triều lại xin với Giáo hoàng rút hết giáo sĩ Pháp về Tây, mà sai giáo sĩ Y sang thay lĩnh việc đạo giáo, để tiện quy vào một mối, như thế nước Y ắt mừng, mà lại có giáo sĩ khuyến dụ lòng dân nước Y giúp thêm vào nữa.

Nhân nước Y rất trọng đạo giáo, mà giáo sĩ lại có quyền, nên cũng đủ giúp việc cho ta. Tôi xin lấy đại thế lâu dài của phương Tây mà bàn. Nước Pháp âm thầm làm việc ác, nên đạo trời giáng phạt, thì họ cũng đã trả rồi. Họ tuy gặp biến loạn như thế nhưng cơ hưng thịnh vẫn còn, thì không ngoài mười năm sẽ trở lại như cũ, như người Nga vậy.

Vùng ven núi về phía Tây sau lưng nước ta, đất đai rất tốt, họ để ý đã lâu nếu không nhân lúc họ suy đốn này mà tìm cách phong tỏa, thì không thể nguôi được lòng họ. Nếu nay không đuổi họ hoặc trấn áp họ (Thông thương với họ để đòi lại đất, rồi sau dùng kế mà phân tán như các lời tôi đã bẩm trước) để cô lập thế họ, đến khi nước họ đã phục hưng, rồi nhân cơ sở sẵn có cứ thêm chi tiết vào dần dần, thì ta khó mà yên được. Vả lại giáo sĩ tuy vốn vô tâm với thế sự, mà suốt đời họ chỉ lo một điều là có hành đạo được hay không. Nhưng trong đó cũng có một hai người không yên phận lo việc đạo giáo. Trong khi người Pháp chỉnh cư những vùng mới lấy của ta, cũng muốn mượn thanh thế của họ để mưu đồ lợi riêng. Cho nên năm trước tôi đã bẩm miệng với quan Thượng thư bộ Binh và bộ Hộ muốn nhân lúc đi Tây mà xin với Giáo hoàng rút giáo sĩ Pháp về, và chỉ cho giáo sĩ nước ta trông nom hoàn toàn việc đạo giáo. Chính là vì thế. Tôi nói như thế, không phải là phản đạo, mà chính là để bảo vệ đạo.

Còn nước Y nay giúp ta tuy có cất đầu chút ít, nhưng chẳng qua cũng như lửa đóm, không sáng được mấy hồi, mà các giáo sĩ mềm yếu quá hơn người Pháp, nên cũng không ngại gì. Cho nên trong tờ bẩm trước, tôi đã nói: “Ở với kẻ yếu còn hơn ở với kẻ mạnh”.

Nay nếu ta biết nhân lúc Y, Pháp đương chia rẽ, mà dụ Y vào lưới ta, thì tuy chưa thể đuổi hết được người Pháp, nhưng việc đã vỡ lở, Pháp tất phải chùn tay mà bàn hòa. Chỉ cần thông thương với họ ta cũng có thể nhân đấy dần dần dùng kế mà trấn phục được Pháp.

Vả lại nước Y đã hợp tác với ta, thì khó mà bỏ dở nửa chừng. Lúc đó ta lại dùng kế xúi họ, khiến họ không chịu nghỉ tay. Họ tuy suy vi, nhưng có thể tung hoành với phương Tây, thì cũng dễ tìm người giúp, mà ta cũng nhân họ để giao thông với phương Tây, mới có thể trấn áp lâu dài được Pháp. Họ đã hợp tác với ta, mà đã thỏa được một chút yêu cầu lúc ấy ta đã hơi mạnh, thì họ cũng ngó lại thế lực của họ như thế nào, lo cách để giữ được hòa mục lâu dài, không dám hành động càn, sợ mất mối lợi, như thế mới có thể gìn giữ được sự yên ổn lâu dài. Ta nếu không sớm lo hợp tác với họ, mà họ đã có người giúp, nhân lúc người Pháp đương lo tự bảo vệ mình, chưa kịp tranh lấn phương xa, không dám rắc rối với họ, để mặc họ tự do, họ sẽ lấy thế lực nước Phổ, mà mượn cớ sinh sự thì Quảng Yên, Hải Dương cũng khó ngồi yên được. Hơn nữa, từ vùng ngoài Tứ Tuyên, lòng người cũng đã dao động, một khi biên cương có xảy ra việc, sẽ nhân đó mà tiếp ứng, thì lại thêm mối lo.

Nay nếu muốn đề phòng mối lo xa, nên nhân lúc này đi Tây, trước chúc mừng quốc trưởng mới, và lấy lời vấn an Triều đình họ. Khi đến bên ấy rồi, liền đi tìm người giúp giải quyết công việc cho ta, như tôi đã trình bày trong các tờ bẩm trước. Nếu họ chịu theo lời thương thuyết, mà trả lại đất đai, thì đấy là kế hay nhất rồi.

Nếu việc còn dây dưa thì nhân lúc họ chưa kịp mưu tính việc nước ta, ta lấy cớ qua Y Pha Nho để tính toán món nợ trước, khi đã đến nước Y, bố trí được kế hoạch xong xuôi như các lời tôi đã bẩm trước, thì liền định mưu với họ, hoặc nên đi giao du cách nào, để tìm người giúp, cũng phải bí mật mưu tính với họ, chắc chắn họ sẽ hết lòng chỉ bảo hướng dẫn ta, để giúp ta đuổi Pháp, làm cho Pháp suy yếu, để hả giận. Như thế ta ắt có lợi, và cũng nhân đó gỡ được mối hiềm trước, khiến họ ngày sau khó kiếm cớ sinh sự.

Nếu Triều đình cho là phải, xin hãy làm gấp. Còn như sự thế nước Pháp đã bình yên, ta cũng nên nhân lúc chúc mừng đó bàn hòa luôn. Nếu Triều đình hoặc muốn thăm dò ý Tây soái trước hoặc nên gởi thư rồi về, như tôi đã trình bày trong các tờ bẩm trước, thì xin biên cho tôi một phong thư làm bằng, trong thư nói rằng: “Ý Triều đình muốn thế nào, đã có miệng tôi nói thay” (Nhưng khi đến Gia Định, biết rõ thế họ dần tăng thì mới nói thẳng vào việc mà đệ thư luôn). Đó là vì chưa biết ý nguyên soái như thế nào, cho nên chưa dám công nhiên viết thư thương lượng mà chỉ bí mật sai tôi đến, đem việc mật này nói riêng với nguyên soái mà thôi. Nếu thấy có thể làm được thì xin truyền miệng cho tôi để về phúc lại. Vả lại tôi quen biết nguyên soái, giả vờ lấy việc khác đến thăm, để tránh tai mắt mọi người. Như vậy nguyên soái mới yên tâm, bộc lộ ý hướng. Nếu Triều đình cho quan triều đi, mọi người đều biết, nếu việc ấy không đáp ứng được thì nguyên soái đã không vui, mà Triều đình cũng mang tiếng là nói không trúng chỗ. Nếu nguyên soái không bằng lòng, ta cũng có thể nhân lúc trò chuyện dò xem ý hướng để lo liệu việc ta, và cũng nhân đó thăm dò xem sự thế đảng phái vây cánh của nước họ ra sao để quyết định việc đi Tây. Đấy cũng là nhất cử lưỡng tiện.
__________________________________________
*. Bản văn chữ Hán Hv 189/3 tờ 90-105 và Hv 634/3 tờ 76-100.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:02:11 pm

Còn đường thứ hai tức là “kế đánh úp” như trong tờ bẩm trước tôi đã trình bày. Nhưng sự thế trong tờ bẩm trước, tôi nghĩ lại kỹ càng, còn có một vài chỗ chưa ổn, hoặc có thể dễ bị lòi mối ra được. Đối với bản thân tôi, dù sao cũng cam chịu, nhưng về Triều đình hoặc giả nhân thế mà sinh chuyện chăng? Còn như các khoản ở đoạn sau trong tờ bẩm mới đây, mới bảo đảm khỏi sợ lộ. Dù cho việc nước họ đã yên, giặc miền Bắc đã dẹp, ta cũng có thể dùng kế ấy mà chắc chắn họ không thể khám phá ra được.

Nay tôi xin nói những chỗ có thể nghi ngờ được ở trong tờ bẩm trước. Vì tôi đi lần này, tuy trong bộ văn nói là đi lo việc học sinh, mà mọi người cũng có kẻ bảo là sứ bộ đi Tây, không phải chỉ chuyên một việc học sinh mà thôi. Đến sau thấy một mình tôi đi thẳng vào Gia Định ở lại lâu trong ấy, tuy không biết để làm gì nhưng cũng sinh nghi. Đấy là một điều.

Tôi đi vào Gia Định, liền đi giảng đạo thì giám mục nơi đó rất mừng, nếu tiện sẽ báo tin ngay với Giám mục Hậu, khiến người ta sinh nghi. Đấy là hai điều.

Tuy nguyên soái Gia Định biết tôi không có ý can dự việc đời, nhưng vẫn biết tôi có tài ứng dụng với đời, chắc chắn nguyên soái Gia Định sẽ đem việc ấy ra hỏi Giám mục Hậu xem có thật tôi bị người khác bức bách mà không dám về không? Nhân đó giám mục sẽ bảo tôi ra làm việc cho y. Như lần trước, lúc tôi ở Gia Định, nguyên soái Gia Định đã nhiều lần muốn đem công việc bộ Công giao hết cho tôi. Còn nếu Giám mục Hậu đem hết lai lịch của tôi nói với y, thì y không khỏi sinh nghi. Đấy là ba điều.

Phàm đánh úp người, phải thừa lúc xuất kỳ bất ý mới thành công. Vả lại phải có nhiều người Bắc kỳ cùng làm việc đó, mới dương được khí thế của người Nam và người ta càng tin là đúng. Nhưng nhiều người Bắc sợ lộ việc, chắc nguyên soái Gia Định sẽ bí mật đề phòng. Như thế việc không thành, sẽ nhọc mệt uổng công, mà lại gây khó khăn cho việc dùng lại cái kế muốn ngấm ngầm làm tổn hại họ sau này. Như trong bài Lục lợi từ trước đây, tôi đã bẩm rằng các kế ám tổn ám hại phải thi hành từ từ. Nhưng khi ấy tôi chưa nói rõ kế hoạch vì chưa đến lúc, nói ra sợ sẽ làm tắc nghẽn cái thâm kế của tôi muốn dùng để đánh lừa họ sau này (Kế ấy nếu về sau khi thế lực họ đã bền vững, ta sẽ dùng đủ mọi kế mà không xong việc, tôi mới dám trình bày).

Nay xin Triều đình dùng kế đi Tây trước, nếu việc không xong, xin tạm giả vờ bổ tôi làm một chức quan lớn trong Bộ Công, nói rằng: Nay nước ta muốn thực hành canh tân, mà tôi là người đủ sức cáng đáng công việc đầu tiên. Nếu không đề bạt cho vượt bực thì không khuyến khích được người sau. Sau khi nhận chức, tôi liền xin về làng một hai tháng để yên ủi mẹ già rồi mới đi nhận việc. Khi tôi trở về, những người đồng đạo sẽ đến hỏi tôi sao lập trường trước sau bất nhất, sao lại ra làm quan? Tôi sẽ trả lời rằng tôi vốn không có lòng cầu đi làm quan, nhưng vì có làm quan thì mới dễ bề tâu thưa để giúp cho đạo giáo. Sau khi lên Kinh làm việc, tôi sẽ tâu trình nhiều khoản về đạo giáo. Như thế những người đồng đạo của tôi rất vui mừng mà khen ngợi ý tốt của tôi.

Sau khi lên Kinh tôi sẽ tâu bày một tập, cố ý nói những điều không nên nói, mà còn can phạm đến phép nước nữa. Bấy giờ Bộ sẽ nghị bàn buộc cho tôi là mới nhận chức quan, chưa làm được gì đã nói càn trái phép, đáng lẽ phải nghiêm trị, nhưng nghĩ đến tình trước, nên cho đày đi Bình Thuận để trị tội. Lúc bấy giờ tôi mới ngầm viết thư cho Giám mục Hậu nói rằng: Tôi vốn có lòng vì nước vì đạo, mới trình xin như thế, không ngờ lại bị trách phạt, tâm sự không làm sao bày tỏ được. Khi đến Bình Thuận, tôi đã đút tiền hối lộ cho quan coi tù rồi trốn vào Gia Định giúp Tây, để lo trả thù, mong giám mục bí mật viết thư ngay cho nguyên soái Gia Định biết thâm ý ấy. Trong thư nói rằng: “Nếu trọng dụng hắn, nước Tây sẽ được một tay giúp việc đắc lực vì hắn đã hiểu rõ tình thế nước Nam. Nguyên soái trước đã từng tìm hắn, nay may lại được Nam triều đuổi đến cho, giờ đây hắn mới dứt tình đất cũ, mà hết lòng giúp việc...”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:02:41 pm

Tây soái được thư, thấy tôi đã là quan lớn của Triều đình, đã có danh vọng, có thể thu phục được lòng dân sáu tỉnh. Vả lại vì đạo mà bị tội mới đến đây thì một là y sẽ đem lòng thương xót, hai là sẽ trọng tư cách làm người của tôi mà tin lắm, không nghi ngờ gì mà lại trọng dụng thêm. Tôi liền nói: “Nếu vội nhận chức quan to, sợ Triều đình ghét mà bắt tội anh em. Tôi hãy xin tạm ở ngoài giúp việc, đợi khi nào bí mật đem được người nhà vào Nam, sẽ nhận chức. Nay chỉ xin tạm nhận chức quan suông mà thôi, còn bổng lộc thì quyết chưa dám nhận” (nếu nhận bổng lộc của họ mà lại ôm kế độc đối với họ thì hại nghĩa tôi không yên lòng). Lúc bấy giờ tôi sẽ giúp việc cho họ đôi chút. Chẳng bao lâu, tôi sẽ mật báo với họ rằng: “Nghe nói nước Nam, việc ngoài Bắc đã yên, rất giận việc nước Tây không trả đất đai lại, muốn ngấm ngầm xúi dân làm loạn để phá rối ta, chưa biết có quả như thế không? Nhưng tình hình này không thể không có. Tôi xin đi khắp sáu tỉnh để bí mật thăm dò. Nếu có quan Nam triều ẩn núp, tôi sẽ biết và mật báo về. Tôi còn xin đi lại những nhà có thế lực, và các lương dân chịu chức của Tây, dò xem tình ý như thế nào để chuẩn bị. Tôi lại đem đạo giáo dụ họ, xem ý họ thế nào. Tôi lại lấy mưu làm loạn thử họ, mới biết được đích xác. Như nói rằng: Ta tuy bị Triều đình trách phạt, nhưng mối tình đất cũ khó quên. Vả lại với người Tây chỉ có thể chung hoạn nạn, chứ không thể chung hưởng yên vui. Như các nước trên thế giới đã bị người Tây v.v... Nay tôi nghĩ, nếu được sáu tỉnh phản Tây, thì chẳng những ta chuộc được tội mà còn có công lớn. Các người cũng vậy, nếu quả không quên lòng trung nghĩa thì có thể cùng tôi mật định làm việc nghĩa. Nếu việc thành được, Triều đình sẽ thưởng công to. Dụ dỗ như thế, nếu người nào quả có lòng tất đồng ý với tôi. Lúc đó tôi bí mật ghi hết, bẩm lên đại soái biết để phòng bị. Rồi kiếm cớ khác mà buộc tội chúng.

Ở trước mặt Tây soái tôi đã mật mưu như thế, thì ngày sau tôi đi dụ dỗ khắp nơi, nếu có người biết mà mách lại sẽ bị Tây soái cười thầm. Như thế những người đồng lòng với tôi sẽ giữ được vô sự. Tôi đã họp được nhiều người, ở đâu chuẩn bị ở đó, như các khoản đã nói trong các tờ bẩm trước. Lúc bấy giờ tôi lại nói với Tây soái rằng: “Tôi rất oán ghét nước Nam, ý muốn nhóm họp nhiều người đợi ngày nào nước Tây gây việc với nước Nam, sẽ xin ra giúp sức để hả cơn giận. Tôi đã dò được những người giỏi trong sáu tỉnh, phần nhiều có lòng bất bình với nước Nam, nhưng chỉ vì quan Tây nghi ngờ quá chừng mà không dùng họ giúp việc. Họ đã yên cư lạc nghiệp ở đây, cũng muốn có một phen bày tỏ tâm tình, để cởi mở lòng nghi mà chưa có cơ hội. Nay nghe tôi có sự bất bình với nước Nam, muốn đi chiêu tập báo thù, cho nên bọn họ cũng muốn hợp sức làm với tôi, để tỏ rõ là đã dứt tình với nước Nam rồi. Vả nếu tôi nhóm họp được bọn họ tại chỗ, bọn họ lại nhóm họp được thủ hạ tại chỗ rồi ghép thành đội ngũ, mượn lãnh khí giới, để tùy lúc mà luyện tập, còn tôi thì đi lại các nơi để đốc thúc công việc. Đến ngày ra đánh Bắc, có thể dùng họ làm quân tiên phong cho người Tây. Việc thành chẳng những tôi hả được cơn giận, mà bọn họ cũng tỏ rõ được tâm tình. Lúc đó đại soái tùy theo tài năng cất dùng họ để trả công lao, như vậy người sáu tỉnh mới yêu mến quý soái”.

Như thế chúng tôi tập hợp người tại chỗ để chuẩn bị mà người Tây không thể nghi ngờ gì cả. Tôi lại nói với Tây soái rằng: “Lúc trước tôi ở Bắc kỳ, tất cả những người có thầm ôm chí khác từ Quảng Nam trở ra Bắc, đều đi lại với tôi, những người có tài năng dùng được ước chừng bốn, năm trăm người, trong đó có chừng 100 người rất là kiệt hiệt, đã từng nói với tôi là muốn vào Gia Định, nhờ thanh thế người Tây, để lo mưu Bắc tiến, nhưng chỉ ngại không người giới thiệu, sợ Tây không tin. Nay nghe tôi vào Gia Định làm việc giúp Tây, đầu đảng của họ có bí mật gửi thư vào, nhờ tôi giới thiệu để được cùng vào trong này làm việc với Tây, số này hơn người sáu tỉnh nhiều lắm. Đến khi lông cánh đã thành, sẽ xin ra Bắc gây việc. Nếu được họ xin hứa vĩnh viễn trung thành với quan Tây v.v... Nay xin đại soái viết cho một số mật hiệu mỗi miếng giấy cắt vuông một tấc, có ám hiệu bằng chữ Tây, chừng 400 cái giao cho tôi, để tôi gửi ra cho đầu đảng, hễ ai lén vào Gia Định, trình xét mật hiệu, rồi tôi mới tùy chỗ, giao cho ở chung với những người đồng lòng với tôi ở sáu tỉnh”.

Còn các phủ huyện, nếu quan Tây muốn dùng chúng để sai khiến, thì cũng tùy theo đó mà phân bố. Cách sắp đặt đều y như lời đã nói trong tờ bẩm trước. Như thế chắc chắn người Tây không làm sao biết được, mà còn dễ cử sự hơn là cách đưa người Bắc vào, như tôi đã nói trong tờ bẩm trước.

Còn mật hiệu của Tây tôi sẽ xin gửi ra, để cất giữ tại Bộ. Bấy giờ Triều đình sẽ phái vào nhiều người dòng Tôn Thất, các quan võ và những người tình nguyện vào ngũ như tôi đã nói trong tờ bẩn trước, và sẽ trao mật hiệu của Tây cho họ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:03:26 pm

Ngoài ra lại xin một viên quan thân tín, giả làm đầu đảng vào trước, để trông coi việc ấy. Còn ngoài ra, có quan nào vào, tôi chỉ nói với nguyên soái đấy là hạng kiệt thiệt. Còn những người tình nguyện vào ngũ có lén vào, tôi sẽ bảo đều là hạng thủ hạ của đảng ấy, có thể sai khiến được. Rồi sau mỗi phủ huyện dùng kế, cho năm sáu người được thân cận với họ, kết hợp với người sở tại Nam kỳ, như thế cũng đủ đánh úp được.

Và gần trước ngày cử sự, tôi đã tìm một nhà người có đạo (Phải người có đạo, Pháp mới không nghi) ở huyện Tân Hòa, một nhà ở Gia Định, chuẩn bị thật chu đáo bí mật. Rồi quan tổng binh đại thần giả làm người buôn đến ở huyện Tân Hòa, quan phó đại thần đến trú ở Gia Định để chỉ thị phương lược, bố trí vòng lưới. Còn tôi thì qua lại truyền báo cách bài trí.

Đến đêm khởi sự, một mặt tôi dùng kế (Khoản này các câu bẩm trước chưa nói đến) phá đê ngăn nước thì các thuyền Tây ở mặt dưới, không kể lớn nhỏ, đều bị chìm hoặc bị vùi xuống dưới bùn, hoặc trôi xuống ngã ba mà tan rã hết. Còn việc bố trí trên đường bộ, cũng giống như các tờ bẩm trước đã nói, nay không bẩm lại nữa.

Trong khi việc đã tạm định, Triều đình giả sai quan viên thường thường qua lại vấn an Tây soái, mà lại dùng lời nói ngọt khiến hắn thích ý hả lòng, rồi giả vờ đem tin đồn nghe được những việc hiện tại ra mà trách hắn chắc chắn hắn sẽ đem việc đó báo với các quan mưu sự của ta. Lúc bấy giờ quan nào đã được phái cử sự ở Gia Định đều đến Gia Định, giả bí mật bàn tính với hắn kiếm cách che giấu Nam triều. Vả lại nói rằng cơ mưu đã tiết lộ, chúng ta cần phải gấp rút soạn sửa biến động, sợ để lâu ngày Nam triều sẽ chuẩn bị đầy đủ, những người cộng sự đều đã gọi về Gia Định cả rồi, xin nguyên soái nghiên cứu việc binh để quyết định xem có dùng được không? Nhân đấy để tiện khởi sự.

Vả lại khi việc đã gần được phân nửa, tôi sẽ nói với hắn rằng: “Tất cả những người tiềm phục ở Bắc kỳ, một nửa đã vào Nam giúp việc cho Tây, như cọp mọc cánh. Nếu ngày sau Tây triều muốn hoành hành nước Nam, theo đà ấy cũng không khó. Chỉ thiếu một điều là các quan võ nước Tây không khéo trị dân, vì thế mà ân đức chưa thấm vào lòng dân. Nếu được quan văn đến cai trị dân, như nước Tây thì rất tốt”. Như thế Tây soái tất sẽ đổi hết quan võ, rút hết lính chiến đấu về để làm công trạng cho mình, mà xin quan văn sang ngồi một chỗ mà cai trị, thì thế lực họ lại bị cô lập thêm.

Tôi lại nói rằng (Khoản này cũng ở lúc công việc đã làm được phân nửa): “Tất cả những người ở miền Bắc vào, đều mong chờ nước Nam có biến cố. Vả lại đợi thu thập được một nửa người Bắc kỳ để làm nội ứng, mới hành động. Nếu chưa có cơ hội, thì còn làm việc với Tây. Bọn họ đều đã mang tiếng bỏ nước, quyết không dám trở về làng xóm. Chỉ khi nào thành sự mới dám về. Nếu không thì chết già ở sáu tỉnh mà thôi. Bọn họ lại giả xây dựng gia đình, để vững lòng Tây soái.

Tôi lại nói rằng: “Bắc kỳ đất xấu dân nghèo, nếu quan Tây có lòng chiêu mộ, tôi xin viết thư mật gởi về cho những người quen, mời vào ăn ở, như thế thì phàm những người chuộng lạ đều không quản xa xôi mà vào. Đấy là: Trong cửa có người tốt thì ngoài cửa người tốt sẽ đến vậy. Lúc đó đại soái tùy nghi xếp đặt, khiến cho bọn họ yên ở hòa hợp với người miền Nam, thì tiến lên có thể lấy, lui về có thể giữ, không phiền phải phái nhiều lính Tây để tốn nhiều của công”.

Như thế Tây soái chắc mừng lắm, lại tin là tôi có lòng vì hắn, có thể tin dùng được như thế tôi mới thi hành được kế hoạch. Còn các kế hoạch khác bồi bổ cho kế này, tôi đã nói rõ trong các tờ bẩm trước.

Làm được như thế, mới là mươi phần thỏa đáng và Tây soái phải tin phục không mảy may nghi ngờ gì nữa.

Còn tôi sau khi đã trốn vào được, Triều đình cũng nên sai một viên quan thân tín vào theo để cùng bàn bạc phải chăng với tôi, làm chỗ trông ngóng trước cho những người đồng lòng. Nhưng ở trước mặt quan Tây, tôi nhận làm người thân trong khi đi chơi nói chuyện với mọi người, tôi lại nói kín với quan Tây xin đem người ấy giả làm quan triều mang đủ ấn tín, khiến các nhà quyền quý được thấy, thì địa phương mới tin là thật. Như thế mà họ không theo, cự tuyệt không nhận, thì mới tin là thật lòng theo Tây. Như thế quan Tây sẽ cho là mưu kế tuyệt diệu, mà vị quan to ấy cũng được công nhiên không quan ngại gì nữa.

Tôi lấy các sự lý trình bày trong các tờ bẩm trước, mà suy ra kế trong tờ này, mới biết thật là vạn toàn. Nhưng kế này phải đòi hỏi khoảng hai năm mới thành. Phải đến dần dần Tây soái mới không nghi. Nếu đến một cách gấp rút đột ngột, không khỏi khiến họ ngạc nhiên, suy nghĩ. Vì thế mà phải hai năm. Nhưng cũng phải tìm người giúp ngoài thi hành song song với kế này, để ngăn chặn việc họ sẽ báo thù thì mới được hoàn toàn tốt đẹp. Mà tìm người giúp tay cũng phải nhân lúc họ có việc, mới dễ giao thiệp rộng rãi. Kế này dù khi việc nước họ bình yên rồi, dùng cũng vẫn được. Cho nên không cần vội vàng. Nếu Triều đình dùng kế đi Tây trước mà thành công được, thì đây là ở ngay nơi miếu đường mà đánh được giặc. Nếu không xong thì làm kế này, mới hả lòng. Đến lúc đó, các quan lớn Triều đình sai đi cũng biết là lúc núi cùng sông hết rồi.

Chỉ có một kế ấy mà thôi (Kế ấy chỉ thi hành được một lần, không thể thi hành thêm lần thứ hai. Nếu sai trật quyết không thể làm lại lần nữa. Xin suy cho kỹ), phải nuốt giận mà vào, thừa lúc họ đương buông lỏng không phòng bị mới có thể đuổi giết họ được.

Nếu tôi có thể phục vụ được gì, nhất nhất tôi xin theo sự sai khiến của Triều đình, quyết không có sự gì ân hận về sau. Vì vốn đã sẵn có bụng ấy mới dám nói ra, chứ hối hận thì có ai ép buộc tôi phải nói ra đâu!

Nhưng có một việc chưa yên tâm, là sau khi tôi bị đày, mẹ già tôi tất là đau thương, khiến tôi trái với đạo hiếu. Việc đó thật không có kế gì gỡ ra được. Nhưng tôi đã nhận quan chức Triều đình, thì phải làm việc công mà quên việc riêng, không thể vẹn toàn cả hai được.

Tôi lại có việc tâm sự xin trần tình một lời lên rằng: Nếu được Triều đình tin dùng thì trên đội đức Hoàng đế, uy quyền Triều đình, giữa nhờ các quan tổng binh chỉ vẽ phương lược, dưới nhờ tướng sĩ đồng lòng, may mà quét sạch quân thù, khi trở về, tôi xin từ chức về vườn ngay để phụng dưỡng mẹ già mà thôi. Khi nào Triều đình có việc cần đến, tôi lại vâng mệnh, việc xong lại xin về như trước, còn tước lộc quyết không dám nhận.

Đấy là tâm sự của tôi, muôn trông Triều đình hứa trước cho, tôi mới dám nhận chức. Nếu không thì tôi xin mình trần cam chịu sai phái mà thôi. Tấc đòng mọn mạy, kính xin bày tỏ.

(Ở đảo Tín Địa xứ Tân Châu, người da đen trong một đêm giết hết người Pháp, không phân già trẻ, hơn một vạn người. Cũng là đồng lòng đánh úp, nhưng họ bỗng chốc nổi lên, vả lại địa thế cách nhau không xa, lại ở quây quần tập trung, việc tập họp dễ dàng, không phải có định mưu trước).

Tôi Giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ ký.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:05:43 pm

DI THẢO SỐ 41

Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lại sáu tỉnh*

(Ngày 10 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức ngày 30 tháng 3 năm 1871)

Kính bẩm.

Trước đây trong bài Lục lợi từ tôi đã bẩm rằng cái kế mưu sinh của phương Tây, quá nửa do đoạt lấy từ nước ngoài... Phương pháp họ dùng để đoạt lấy, chủ yếu là ở xen lộn và thông thương buôn bán. Nếu sơ đầu mà không đạt được yêu cầu, họ sẽ cưỡng chiếm đất đai để làm chỗ bảo vệ việc thông thương buôn bán của họ. Nếu được ngay không có gì trở ngại, có thể cư ngụ yên ổn, họ không cần cưỡng bức chiếm cắt (Không phải bản tâm họ không muốn chiếm cắt, nhưng mới đầu, thế buộc phải làm như vậy). Trước tiên họ chỉ tiến hành thiết lập các phố buôn để tiện cư trú buôn bán mà thôi, như gần đây bọn chúng đã làm ở Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm La vậy. Ý họ cho rằng nếu tranh chấp sớm kết oán càng sâu1.

Theo phép liên hoành và cân bằng thế lực trên thế giới mà cái gương thành công thất bại gần ta nhất như nguyên do Ấn Độ mất toàn lãnh thổ, Miến Điện bỏ một nửa đất đai, Xiêm La, Nhật Bản, Trung Quốc được lợi lớn, có thể thấy được đại khái là do không biết thời thế. Không biết thời thế thì tri thức câu chấp, tâm tính hẹp hòi.

Nếu như vậy sẽ khó mau chóng quyết định thông thương với họ để đôi bên cùng có lợi, khiến họ không thể bắt đầu làm việc dễ trước, họ phải quyết chiếm lấy sáu tỉnh để làm hang quỷ, rồi sau đó từ từ khai thông. Tuy họ chưa được lợi lớn ngay, nhưng thế buộc không thể không làm việc khó. Đó cũng tại ta tạo cho họ thi hành mưu kế.

Trước đây trong bài Khai hoang từ tôi đã trình bày kế duy trì ba tỉnh trong. Trong kế đó cũng có một điều khẩn cấp là phải mở rộng đường buôn bán, để cho nguyên soái Gia Định được có công, để làm nguôi cái ý đồ chúng muốn lấy gấp ba tỉnh trong. Cũng vì tại ta trong tờ hòa ước đã cho họ được thông thương ba cảng lớn. Mặc dầu không nói thông thương toàn cả nước nhưng thuyền buôn của dân ta đều chở hàng hóa đến bán tại các khẩu. Như thế khác nào cho thông thương toàn cả nước? Vậy chi bằng mở rộng cho thông thương để duy trì ba tỉnh trong.

Hơn nữa, năm ngoái khi họ mang quốc thư đến, chỉ khư khư đòi cho họ được khoản “Doãn hành” 2 mà không đề cập gì đến việc thông thương. Tôi đã bảo đó là mưu kế quỷ quyệt. Bởi vì họ đã biết rõ nước ta đa nghi, nay nói rõ xin thông thương tức chọc cho ta ghét. Cho nên chỉ lấy cái gì ta dễ đáp ứng thôi. Một khi đã đạt được điều khoản “Doãn hành” rồi tức đã nắm được đầu tóc mà kéo, vĩnh viễn không thể nào vùng vẫy thoát ra được. Bấy giờ thuyền buôn của họ cứ từ cạn vào sâu, từ gần đến xa, lộng giả thành chân, chẳng những họ thông thương buôn bán khắp nước ta coi như việc nội bộ của họ mà các nước khác trên thế giới muốn thông thương với ta cũng phải xin phép họ trước. Như vậy là quyền lợi nước ta họ đã nhúm lấy trên đầu ngón tay họ rồi. Cho nên về khoản thông thương là điều sớm muộn không thể tránh khỏi. Có điều là họ biết chưa thể mưu đồ một cách gấp rút được, trước tiên chỉ cần đạt cho được điều khoản “Doãn hành”, bủa thành lưới giăng khắp trời để đề phòng không cho người khác xen vào, để có thể thong thả kinh lý phía Nam mà ổn định hang ổ. Như vậy một khi họ mở cửa ra thì đường bộ họ bọc sau lưng ta, đường thủy họ bao trước mặt ta, bấy giờ quyền lung lạc nằm trọn trong tay họ. Tất cả những mưu kế trường cửu thâm độc, họ đã trù liệu kỹ rồi.
__________________________________________
*. Bản chữ Hán: Hv 634/3 tờ 101 - 134, Hv 634 chỉ ghi Tự Đức 24. Nhưng Đào Đăng Vĩ, trong La Patrie Annamite số 243 ngày 26-3-1937 có trích dịch một đoạn của bản văn này và nói là “Ngày 10 tháng 2 năm Tự Đức 24”.
1. Người chép bản Hán văn 634/3 nói ở trang 101 là: “Bản chép bị rách mất một trang”.
    Đoạn bị mất trong bản dịch của Đào Đăng Vĩ (La Patrie Annamite số 243, ngày 26-3-1937) có phần như sau: “Và, sớm hay muộn, người ta cũng tìm cách lấy lại. Vì thế người ta không chắc rằng những mất mát do chiến tranh có thể được bù đắp bằng thương mãi. Do thế, theo họ, không có gì quý hơn là giao thương một cách hoàn hảo. Như thế, đối với một người nước ngoài các nước phương Tây buổi đầu giao tiếp, không có một thái độ nhất định. Thái độ này tùy thuộc ở cách người ta đối xử với họ. Họ có thể rất hung bạo, nhưng cũng có thể rất dịu dàng. Có lúc họ chiếm một vùng đất vĩnh viễn, họ có lúc chỉ chiếm tạm thời, rồi sau trả lại.
    “Người Pháp, khi vừa tới đất nước chúng ta, đã thấy ngay là chúng ta mù tịt về ngoại giao. Họ biết là chúng ta mù tịt về những gì xẩy ra chung quanh chúng ta: Mất Ấn Độ và Mã Lai, những tiến bộ của Nhật Bản và Thái Lan... Họ thấy là không thể dựa trên sự mù tịt của chúng ta để thiết lập các quan hệ hòa bình với chúng ta và điều đó đã đem họ tới chỗ phải chiếm đóng Nam kỳ và lập cư ở đó. Tất cá tình trạng đó là do thái độ của chúng ta với người nước ngoài.
2. Doãn hành, tức “Doãn hành tắc hành”, “có cho làm mới được làm”, một khoản trong Hòa ước 5-6-1862 mà Lagrandière muốn nới rộng ra thành hiệp ước bảo hộ. Nước nào muốn giao thiệp với Việt Nam hay Việt Nam muốn giao thông với nước nào phải được Pháp cho phép.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:07:31 pm

Lại nữa xét về hành động của họ thì tuy cầu lợi nhưng họ cũng biết rằng làm cái điều lợi không hợp lòng người (tức tranh chiếm) thì khó, mà làm các điều lợi thuận lòng người (như trước tiên thông thương buôn bán) thì dễ. Tạm thời phương tiện cân nhắc cái dễ cái khó cho đúng thì ai chẳng muốn làm cái dễ trước làm cái khó sau. Nay họ ra tay trong lúc cuộc diện đang còn khó khăn, tuy họ cũng thèm Bắc kỳ đến nhỏ nước dãi, nhưng biên cương hai nơi thật khó xử trí. Cho nên đường phía Bắc xa xôi chưa sớm dong ruổi được.

Nay chẳng may nước họ đang gặp loạn ly, cho đến khi quyết định được chắc cũng phải mất vài năm. Như thế là đã khó lại gặp khó thêm. Nay ta muốn lật ngược cái thế của họ mà chợt đem trình cái dễ ra trước mắt họ, lẽ nào họ không nghĩ lại mà đổi ý. Nay muốn xin lấy lại sáu tỉnh đang trong tay họ, chắc chắn trước hết phải để cho họ khinh mình rồi lật lại cuộc diện mà khinh lại họ, mới là kế hay. Biết rằng nay họ đang gặp cơn biến loạn này, nhưng cũng phải biết rằng nếu không có một nước phương Tây nào thừa cơ chân tay họ thì chỉ riêng một góc trời không cần đến sự tiếp tế viện trợ của nước họ, thế lực của ta cũng chưa làm gì được họ.

Nếu chỉ bằng vào lời nói suông của ta thừa lúc đang nguy khốn mà trao trả hết cho ta, thì chẳng những bị thiên hạ chê cười mà còn tỏ cho Triều đình ta thấy sự yếu hèn của họ. Giả như thế của họ không giữ được thì họ cũng sẽ đem đổi cho người Anh hoặc Hà Lan để mong một ngày kia cùng với bọn chúng họ còn có đường trở lại. Như trong bài bẩm trước tôi có nói: Họ thà chịu lép vế với phương Tây còn hơn chịu lép vế với ta. Nếu nay ta cho họ thông thương hết các cảng trong nước ta để xin đổi lại đất đai, chắc chắn họ sẽ nghĩ rằng được lợi lớn trong việc thông thương thì có trả lại đất đai cũng che đậy được sự xấu hổ, mà mai kia do con đường này lần hồi cũng có thể đắc chí được ở nước Nam. Xét ra thì Nam triều tính tình chuộng sự hòa hiếu, chắc chắn chưa có cái thế nhảy vọt. Nếu mai kia công việc trong nước được yên bình, mượn sự thông thương mà gây hiềm khích để mưu đồ lấy lại đất thì ngọc lụa ngoại phủ hãy còn đó, ai vào đây tranh được với mình? Nếu mình không thừa cơ liệu biến, để Nam triều thừa loạn sinh tâm cầu viện nước khác, mình cũng khó đến cùng. Thế chẳng phải thất sách sao?

Nếu họ có âm thầm hành động gì thì cũng như các tờ bẩm trước tôi đã nói. Cho nên ta phải thi hành các mưu kế trước để cho họ nghe biết thì họ mới có thể trả lại cho ta. Chính đó là điều mà tôi đã nói chịu để cho họ khinh mình trước. Sau khi ta đã thu hồi sáu tỉnh và lập điều ước thông thương, lập tức phải đi giao thiệp rộng rãi các nước để cầu giúp đỡ. Thông thương để khai thác nguồn lợi. Đối nội thì gấp rút canh tân tự cường cho thế lực ta mạnh. Bấy giờ dù họ sinh sự thì ta đã có nhiều tay kình địch khiên chế họ. Phòng ngự đã kiên cố, thế lực đã đầy đủ, họ cũng phải sợ mà co rút lại thôi.

Nếu nay không dùng kế như thế, chắc chắn sáu tỉnh khó thu hồi được. Hiện nay nếu không lấy lại được thì sau khi nước họ phục hưng, nhân sáu tỉnh đã lập xong hang ổ, họ ra ơn thâu dụng người mình, như tờ bẩm trước tôi đã nói, ta làm sao ngồi yên được? Nay nếu ta đi Tây nên đem việc này biện báo với Triều đình họ rằng: Triều đình chúng tôi xem khắp các nước phương Tây từ trước đến nay qua lại cùng các nước trên thế giới, nói chung về kế sách lớn đều là làm cho mình và người cả hai đều được lợi. Khởi đầu công cuộc mậu dịch với phương Đông là Bồ Đào Nha rồi sau mới đến Anh Cát Lợi và quý quốc. Tuy nhiều lần xin thông thương với Triều đình nhà Thanh nhưng cũng nhiều lần không được như ý.

Nhưng người Anh cũng chưa từng vì không toại điều yêu cầu mà vội khởi hấn. Đến niên hiệu Đạo Quang bắt đầu mới có đụng chạm chút ít, sau đó liền lập điều ước giao thông buôn bán, không muốn giết chóc nhiều hay cắt chiếm đất đai. Xem đó thì thấy nước Anh đối với người cũng chưa có hành vi vị kỷ quá lắm. Bởi vì đã trải 200 năm qua lại xin xỏ mấy chục lần, sau mới dùng binh lực ra mà nói chuyện chứ đâu phải mới đầu đã dùng đến vũ lực ngay. Nay quý quốc đối với Triều đình chúng tôi từ xưa chưa hề có hiềm khích và việc thương thuyết cũng đã hơn mười lần. Tự nhiên vào năm Tự Đức thứ 9 quý thuyền đột ngột đến không cần nói năng gì cả, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ đã bắn đại pháo, như thế có khác nào đánh úp chúng tôi? Phương Tây từ trước chưa từng nghe có cử chỉ hành động như vậy. Huống chi ngày nay văn hóa giáo dục đã phổ biến rộng rãi, cái thói đánh lén của phương Tây đã tuyệt không còn nữa.

Nếu không có bản văn tuyên chiến rõ ràng thì mọi người đều biết lỗi phải tại ai. Lúc bấy giờ Triều đình chúng tôi có ý nghĩ là quý quốc đem chính sách đã thi hành ở A Nhĩ Cập (Người Pháp chiếm lấy toàn cả nước ấy) ra thi hành ở nước chúng tôi. Cho nên bất đắc dĩ phải đem lính tồi ra chịu đòn. Tuy quý nguyên soái có một hai lần đưa văn thư đến nói chuyện hòa.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:08:32 pm

Nhưng xét những việc làm của quý nguyên soái thì thấy thuyền quý quốc từng ưu đãi bọn Lê Phụng, nói năng có ý phò Lê. Nhưng sự việc như thế hiện còn có linh mục Trường biết, có thể làm chứng. Do đó người trong nước càng thêm nghi ngờ sợ sệt, càng thêm có thái độ không thuận, mà nghĩ cách tự vệ khiến quý quốc sinh giận. Mới buổi đầu sơ giao mà giữ lẽ với nhau bằng cách tranh thành tranh đất, giúp bọn phản loạn. Tình người có như vậy được chăng? Thế là tình lý đều không hợp, đó là điều thứ nhất. Kế đến là vào Gia Định mà không báo cho nước chúng tôi biết trước. Như vậy thật không hợp với đường lối chinh phạt của phương Tây.

Lần ấy Sa soái bàn hòa, tuy mới đầu cũng đòi điều kiện lấy lại đất bồi thường tiền nhưng rốt cuộc lại tước bỏ hết. Chẳng may rồi Sa soái vội quay thuyền về nước và Triều đình chúng tôi cũng mới gặp việc giặc loạn ngoài Bắc nên chưa kịp hoàn thành việc bàn hòa. Chứ không phải chúng tôi cố ý không muốn hòa. Khi Bô soái mới đến Biên Hòa chủ trương việc giảng hòa thì lại giữ chặt sáu tỉnh và bốn trăm vạn đồng. (Khi mới bắt đầu vào thương thuyết cứ tưởng sẽ y như điều ước cũ của Sa soái, không ngờ Bô soái bắt buộc đến như thế). Không đầy hai tháng mà nguyên soái cũ, nguyên soái mới đã chia làm hai, Triều đình chúng tôi không hiểu vì sao.

Nhưng bất đắc dĩ phải hoàn thành cho xong, tạm thuận theo ý của nguyên soái ấy, hy vọng khi quý quốc bình tâm sẽ xin thương lượng lại cho được công bằng. Cho nên mới sai sứ bộ lặn lội vượt trùng dương đem việc này khẩn khoản xin với quý triều để tỏ rõ cái lượng khoan hồng xử sự của quý triều. Được quý triều ra ơn nói cho trả lại, trên đường về sứ bộ ca ngợi truyền dương, mọi người đều thấy nghe hay biết. Bấy giờ nhân dân ba tỉnh ngược xuôi thông báo vỗ tay reo mừng, cả nước không ai không ca tụng tấm lòng đại lượng của quý quốc. Đến khi Hà Ba Lý phụng mệnh trở qua để hoàn thành việc thương nghị, Triều đình chúng tôi đã một phen thiết lễ long trọng khoản đãi để làm rạng rỡ mệnh lệnh của quý triều. Sửa đổi chưa xong đã vội sinh ý khác khiến Triều đình chúng tôi sao khỏi cái nhục đi không rồi lại về không, bị thiên hạ chê cười? Đứa thất phu còn nói chẳng nuốt lời huống chi là tình giao tế giữa hai nước?

Xưa người Anh nhân khi vua nước Hà Lan bị quý quốc đuổi chạy mà đoạt lấy thương phố Trảo Oa. Sau khi Hà Lan phục quốc đem lễ xin lại, người Anh liền trả lại. Thương phố Trảo Oa kia cũng chỉ là một vật trên đường cái, Hà Lan được trước, người Anh đoạt lấy sau. Một ấp ngoài biên cương, người này lấy người kia lấy, trả hay không trả cũng chẳng hại gì. Nhưng vì cái tình khẩn khoản nài xin mà quyết định trả lại, đến nay chưa từng nói ngược trở lại bao giờ. Thể diện chính là ở chỗ tín với nhau.

Triều đình chúng tôi nghĩ rằng hòa ước lần đầu phát xuất từ chỗ bị ép buộc mà phải ký kết. Chỉ vì nguyên soái của quý quốc phái thuyền đến thôi thúc nên phải vâng mệnh nghe theo ngay. Nhưng khi đã vào đến bến Gia Định rối quý quan liền phân chia binh thuyền theo ven các sông canh giữ 4 mặt, không cho một người nào người nước chúng tôi đi thuyền được lên bờ, cũng không cho một người Nam nào trên bờ được xuống thuyền. Đã đến hòa hảo với nhau mà phòng chống như thế, xưa nay có lý nào như vậy không? Bấy giờ viên đại thần nước chúng tôi thiết nghĩ có lẽ quý quốc sẽ làm cái điều như người Anh đã làm đối với Tổng đốc Diệp ở Quảng Đông. Nếu thế thì nước chúng tôi không chịu hòa. Nhưng liều sống mái một trận thì hại đến sinh linh nên bất đắc dĩ phải ký. Thế chẳng phải bức bách ép buộc là gì?

Hòa ước đã được hình thành. Tuy việc ấy không phát xuất từ chỉ lệnh của vua nước chúng tôi nhưng vì lòng muốn kết liễu công việc nghĩ đến sinh linh nên không thể không chấp nhận việc đã rồi để thuận theo ý của quý triều, nhưng trong lòng cũng nghĩ là tạm giao nhượng đất đai để tỏ uy danh của quý quốc đối với thiên hạ. Rồi sau đó sẽ đem lễ đến xin lại để một lần nữa làm rõ cái đại lượng của quý quốc đối với người trong nước của chúng tôi, để cho nhân dân cảm mến quý quốc cùng nhau giao hảo vui vầy vĩnh viễn có lợi cho cả đôi bên. Cho nên mới thân hành đến Triều đình nước Pháp, xin y theo cuộc bàn hòa của Sa soái trước đây, mà không dám khinh suất nói chuyện xin lại tại Gia Định. Như vậy để tỏ rõ cái uy danh rất trọng vọng của quý quốc. Quý triều không xét rõ cho tấm lòng này, mới đầu thì bức lấy, kế đến thì khinh khi áp chế, hứa trả lại đó rồi lại hủy bỏ lời hứa. Xử phân như vậy Triều đình chúng tôi biết theo thế nào cho vừa? Đó là hai điều không hợp tình hợp lý.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:09:07 pm

Sau đó chúng tôi lại muốn sang Triều đình nước Pháp để đem sự việc thưa nói rõ ràng một lần nữa. Cho nên nhờ Giám mục Hậu sang trước để cho hai bên tin nhau chẳng may Cầm Bô ở Cao Miên làm loạn, thượng du ba tỉnh giặc cướp nhân đó nhúng tay vào. Đối với thế lực của quý quốc thì những chuyện quấy rối lặt vặt như vậy chỉ búng ngón tay một cái là dẹp xong ngay nào có hề hấn gì đến đại thế. Thế mà quý nguyên soái nhẹ dạ tin lời đồn đại, dựa vào thư người ta dèm pha vu vơ cho rằng Phan đại nhân đem binh ngầm giúp người Miên, không chịu hợp cùng Triều đình chúng tôi tra xét rõ là người nào, thư gì, có ai chứng kiến không, lại vội cố chấp lời nói một bên để làm cái cớ lấy ba tỉnh trong rồi đem binh bức lấy. Bấy giờ Phan đại nhân vì trọng sinh linh, vì lòng giữ hòa ước mà tập hợp quan binh, tay không mở cửa ra đón. Trong lòng mọi người đều nghĩ rằng phải quấy sẽ có ngày tỏ rõ, chứ trong lúc binh của quý quốc đang hăng mà tiếp đón như quân cách tức cố ý đối địch. Cho nên tạm thời tránh oai của quý soái hy vọng sau này quý soái sẽ nghĩ lại, đem sự công bằng ra nghị xử để bảo toàn tình giao hảo. Khi hai nước vì quyền lợi mà đánh nhau, công luận cũng đã biết quy lỗi phải về ai rồi. Huống chi nay một bên tiến quân bức bách cố tình khiêu khích, còn một bên lui nhượng không đáp lại một mũi tên.

Theo thường tình thì nước lớn có binh đội của nước lớn, nước nhỏ có sự phòng bị của nước nhỏ. Cho dẫu hai nước tiếp giáp nhau hòa bình không việc gì xảy ra cũng không thể triệt bỏ binh đội, phá hủy thành lũy. Có đất nước phải có như vậy. Nếu không sửa sang võ bị tức là thất kế. Nay Triều đình chúng tôi, ở ba tỉnh trong không dám đào một cái hào, đắp một cái thành, cam chịu mang tiếng thất kế, chính vì muốn xóa tan lòng nghi ngờ của quý quốc để bảo toàn tình hữu nghị dài lâu. Cũng không dám sai đại thần ngoài Bắc vào nắm giữ đất, sợ không am tường lễ nghi mà sơ suất điều gì làm cho quý quan sinh nghi ngờ chăng. Do đó miễn cưỡng bỏ lễ lệ của quan Triều đình chúng tôi, chuyên phái Phan đại thần là người địa phương lưu trú làm công việc kinh lược, để tỏ rõ sự tin nhau, để củng cố tình hòa hiếu. Còn ba tỉnh trong bất luận nơi đâu, quý quan binh đều được tự do qua lại không ngại, không lập giới hạn gì cả như người Trung Quốc, người Nhật Bản. Tất cả thường dân của quý quốc đến buôn bán và các linh mục Tây cũng đều được ưu tiên đối xử như quý quan vậy. Tuy quý triều không lấy mà đã nghiễm nhiên như là đất chung dân chung. Như ngoài Bình Thuận cũng vậy, tất cả những việc làm như thế đều để làm tỏ rõ cái nhân tình hòa mục, để cùng nhau yên ổn dài lâu. Quý triều hãy thử xem trên thế giới còn có nước nào được đón đãi đến như vậy không? Và cái tình giao hảo của chúng tôi tôn trọng tùy thuận đến thế nào?

Biết rằng tay hung hăng không đánh mặt tươi cười. Lòng người cố nhiên như vậy. Chim cắt không đánh con chim đã nằm rạp. Sư tử không vồ con thú đã tránh chạy. Loài vật còn thế, huống chi thể diện một nước bạn mà chỉ vì lòng thương sinh linh, đã phải cuốn cờ mở cửa thành ra tiếp ư? Theo phép giao tế giữa các nước, nếu nước này có những hành động gì khiến nước kia sinh nghi cũng có thể dùng quyền tự vệ mà hỏi cho ra lẽ, nghị luận cho thỏa mãn tốt đẹp mới thôi, chưa nghe cứ một tý gì là đem binh ra nói chuyện. Hơn nữa luận về giao hảo ở đời, nếu ta tận tình đem hết lễ ra báo đáp mà người thốt nhiên quay mặt đi, nếu là việc đại sự thì thường đến phẫn uất mà chết, vì lẽ mình thi thố mà không được báo đáp lại. Không hiểu tại sao quý soái không chịu biện cho rõ mà tiến hành bức lấy, khiến Phan đại thần hàm oan nhịn ăn mà chết. Đường lối nhân hậu thường tình có như vậy được chăng? Đó là ba điều không hợp tình hợp lý.

Lại nữa xét ra hòa ước lần đầu là do sự bắt buộc, thế mà Triều đình chúng tôi vẫn thủ tín không biện minh gì cả. Đến năm Tự Đức thứ 20, nguyên soái Gia Định lấy ba tỉnh trong thì hòa ước trước đã trở thành tờ giấy lộn. Xét về phép minh ước của các nước trên thế giới, nếu một nước trong đồng minh vi phạm một điều nào trong minh ước thì toàn bản minh ước đã có khả năng có thể hủy bỏ. Nếu như trên bản minh ước có nói rõ nếu phạm một điều nhưng các điều khác vẫn phải tuân thủ, hoặc chỉ rõ trong bản minh ước có một hai điều nào đó vĩnh viễn không được hủy bỏ, sau này dù có xảy ra việc gì phải lập minh ước khác cũng không được thay đổi điều này. Nay quý quốc vạch định tờ hòa ước trước không có nói rõ. Như vậy xét ra sau này không những quý triều lại sửa đổi hòa ước mà còn thủ tiêu hòa ước để lấy ba tỉnh trong. Thế mà lập hòa ước xé hòa ước đều tự quý triều bắt đầu trước. Gần đây thúc giục hòa ước tức là nơi bản hòa ước trước đã hủy bỏ lại trích lấy một điều khoản “Doãn hành”. Lấy bỏ như vậy có được công bằng không? Phải biết rằng một nước tự chủ vốn có quyền tự lập, nước khác không được biết đến việc nội chính của nước ấy. Tuy như gần đây các nước trên thế giới thiết lập đại sứ với nhau chỉ là để tham dự vào các công việc giao thông giữa hai nước chứ không thể chế tài đối với quyền nội bộ của nước bạn. Nay Triều đình chúng tôi đối với việc nội bộ trong nước từ xưa đến nay, nước là nước của chúng tôi, thế mà quý triều bỗng nhiên thêm vào một điều khoản “Doãn hành”, thì nước ấy quyền ấy như là của quý triều vậy.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:09:58 pm

Xưa kia Na Bất Lặc Tư có việc mà Phổ Nga Áo bàn nhau muốn dự vào nội chính nước ấy, rồi Nga Phổ Áo cũng muốn bàn nhau vào nội chính của Tây Ban Nha nhưng đều bị Anh Cát Lợi bác cả. Huống chi đối với vấn đề muốn cắt đất hay không muốn cắt đất đều là vấn đề nội chính của Triều đình chúng tôi mà sao quý triều đình lại muốn chế tài? Thử xem các nước trên thế giới từ xưa đến nay hội họp minh ước nhau cũng chưa bao giờ đề cập đến khoản này. Nếu quý triều có rộng lượng, có theo công lý thì việc đó chớ nên để cho xuất hiện trên giấy tờ cũng chớ nên thốt ra lời nói, huống nữa là lập trên hòa ước và đem báo cáo ra thiên hạ ư? Giả sử Triều đình chúng tôi có vì lý do riêng mà muốn như vậy, tưởng quý triều cũng phải từ khước để bảo toàn thể diện cho hai nước. Sao lại công nhiên đòi hỏi, khiến Triều đình chúng tôi không còn mặt mũi nào với thiên hạ thì còn gì là tình nữa? Như nước Anh, trên thế giới cũng từng bảo hộ rất nhiều nước nhỏ nhưng cũng không nói đến “Doãn hành”, chính vì muốn cùng nhau giao hảo thì phải lấy tình nghĩa công bằng làm đầu. Còn nếu như chỉ dựa trên thế lực mà nói chuyện, làm sỉ nhục nhau thì tình lý đều mất cả, còn mặt mũi nào qua lại với nhau để minh ước? Không hiểu sao quý quốc nói đi nói lại vẫn không quên khoản này! Định nêu nên để làm nhục chăng? Nếu thế thì đứa thất phu còn không chịu nổi huống hồ Triều đình chúng tôi. Hơn nữa đã gọi là hòa tức cơ bản là muốn đem hai địch thủ ra thực hành lễ pháp với nhau, hai bên cam lòng chấp nhận lý của nhau, thế mới gọi là hòa. Còn nếu đem thế lực ra mà nói tức là gần như hiếp chế, sao gọi là hòa được? Giả sử ngày nay ba tỉnh trong hãy còn, hòa ước trước vẫn còn hiệu lực, Triều đình chúng tôi cũng yêu cầu cắt bỏ khoản ấy, huống chi hòa ước trước đã hủy bỏ mà lập hòa ước sau? Đó là bốn điều không hợp tình hợp lý.

Mấy năm trở lại đây có bốn điều rất bất bình không hợp tình hợp lý ấy đều do vua trước, nguyên soái trước gây ra. Xét ra năm trước quý triều đã có nói đến sửa đổi hòa ước trả lại ba tỉnh ngoài. Vậy lần này ba tỉnh ngoài đã có sự lý phải trả lại. Chỉ vì nguyên soái Gia Định muốn lập công thái quá, ra sức cản trở, rồi lại bức lấy ba tỉnh trong mà không có chứng minh rõ rệt. Tức như dẫn chứng nói rằng cuối năm Tự Đức thứ 20 ở Gia Định có phao đồn rằng quan đại thần Điện Võ Hiền của Triều đình chúng tôi lẻn đến Tân Hòa lại còn dẫn theo những người Gia Định đã từng phục sự nhiều năm cho vị đại thần ấy. Trong khi Giám mục Hậu từ Gia Định lên Kinh hiện thấy rõ ràng vị đại thần đang ở tại Bộ. Xem thế thì tất cả những chứng cớ mà nguyên soái Gia Định vịn vào như xúi giục quản đội làm loạn, nhằm giúp vua Miên v.v... cũng đều như vậy cả. Quý triều ở xa xôi muôn dặm, chỉ dựa vào lời nói thiên lệch của nguyên soái Gia Định mà quy lỗi cho Triều đình chúng tôi thì thật không chính đáng. Như quả lỗi ở Triều đình chúng tôi mà nguyên soái Gia Định có thể bắt lỗi một cách xác đáng thì phải họp nhau đối chiếu để biết mà giải quyết. Hoặc không thì cứ bắt lý một cách rõ ràng chính đáng rồi công nhiên đánh lấy. Sao lại sai Vial lên Kinh miệng thì nói yêu cầu Triều đình chúng tôi thuận giao ba tỉnh thì không những hủy bỏ hoàn toàn số tiền hai trăm vạn đồng không phải trả mà muốn gởi cho thêm cũng được, còn cho hỏa thuyền, còn cho miễn thuế tất cả thuyền người Nam đến Gia Định buôn bán, còn sai binh thuyền dẹp sạch cướp biển v.v... Những điều nói đó tuy không có giấy tờ làm bằng chứng, nhưng nay Vial hãy còn, có thể chối được sao? Nếu Triều đình chúng tôi có lỗi và nguyên soái Gia Định bắt lý xác đáng thì cần gì phải hứa như vậy? Xin quý triều hãy đem tất cả việc xưa tích cũ hiện còn qua bao năm hai bên giao tế với nhau cùng với những người ấy, việc ấy suy tìm kỹ lưỡng, nếu có một khoản nào làm sứt mẻ khiến Triều đình chúng tôi không thể trả lời được chúng tôi mới chịu lý. Tất cả những sự bất bình trước đây mà Triều đình chúng tôi không được một lần giảng giải rõ ràng hoặc không được nhờ một nước bạn chiết trung cho thì việc ấy chưa tỏ, lý ấy chưa yên, tình ấy chưa cam, giao hảo chưa được hoàn toàn.

Nay quý triều đã thay đổi quan niệm, xin hãy vì Triều đình chúng tôi phân xử lại. Có thể mời một nước bạn hoặc một vị đại thần Viện Tư pháp của quý quốc đứng làm trung gian để quý quốc khỏi mang tiếng dùng thế lực lấn lướt người và để cho Triều đình chúng tôi thỏa mãn, biết rõ phần nào là phần mình có thể được để vĩnh viễn không dám bàn trở lại nữa. Đã biết rõ những chỗ không hợp trước đây tức có thể xóa tan hận cũ, vĩnh viễn thắt chặt niềm vui mới, tạm quyền giao lại sáu tỉnh như trước đã bàn và chỉ chọn ở một hai nơi. Triều đình chúng tôi sẽ tình nguyện lập minh ước mở rộng các khẩu để cho quý quốc lưu trú thông thương, và tất cả các nước phương Tây muốn đến lập minh ước chúng tôi sẽ thỉnh giáo ý kiến rồi Triều đình chúng tôi sẽ chước lượng, để mở rộng lợi ích vĩnh viễn cho cả hai nước.

Nếu quả đường lối chính sách thay đổi được như thế thì hai nước sẽ cùng nhau yên ổn, lễ giáo văn hóa giao tiếp nhau, nhân dân hai nước ngày một thêm gắn bó, hàng hóa vận chuyển ngày một thêm nhiều, hai bên sự hiểu biết, chữ nghĩa, ngôn ngữ ngày một học tập nhau nhiều hơn, lợi càng thêm lợi, thân càng thêm thân, yên hưởng vui vầy như một gia đình vậy. Như thế thì quý quốc y như chung quyền lợi chung đất nước cùng chúng tôi. Thế còn hơn cưỡng bức chiếm lấy để cho hai bên cứ nghi ngờ sợ sệt bất bình nhau ư? Ngày nay các nước ven biển khắp thế giới đều đã giao thông với nhau, người qua kẻ lại như dệt cửi, thuyền buôn ra vào như rừng, cái có cái không trao đổi cho nhau, chỗ dư đủ chỗ thiếu thốn bồi bổ cho nhau, cùng điều hay chung điều lợi, đồng nhất đạo đức hài hòa phong tục, ăn ở chung đụng, tiếp thu trao đổi nhau, đó là do vận hội thời thế xui nên như vậy, sức con người không thể đổi dời được.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:10:44 pm

Tùy theo thời thế mà tạo nên cuộc diện để cùng đem lại sự tốt đẹp mãi mãi là khách là chủ của nhau chẳng cần phải cạnh tranh thì đây kia mới yên để tiếp lấy cái công dụng kỳ diệu của đạo trời, mới làm tròn cái bổn phận to tát của nhân loại. Nếu chỉ sử dụng cái lòng tham của mình, đem oai ra bức hiếp nhau, đem sức ra chống chọi nhau, lấy sự giết chóc nhiều cho là hơn, lấy sự mở rộng đất đai làm thích thú, thì làm người ai chẳng có khí huyết, một bên tham được cứ tham hoài, một bên sợ mất cứ lo cố thủ bảo vệ, bên nào trong lòng cũng đầy chật gươm đao, làm sao có thể vô sự được lâu dài mà làm việc lợi ích? Phải biết rằng việc đời không việc gì không chế ngự được oai không nên lạm dụng, oán thù không nên kết sâu, xảo thuật cũng có lúc cùng, thế lực cũng khó ỷ hết, là vì gà què cũng mổ được mắt cọp, nổi cơn thịnh nộ thì chẳng cần lượng sức.

Trước đây quý nguyên soái bảo hộ em của vua Miên mà người anh đã dám đối địch lại quý quốc là do giận nổi lên chẳng nghĩ đến thân. Bọn da đen Di Ni Á ở đảo Tây Châu, một đêm đã giết sạch quan binh của quý quốc là do sức mạnh của lòng căm thù chẳng kể mình yếu thế. Hoa Nha dùng chính sách bạo ngược thi hành ở Hà Lan mà A Tri Lan (Cô Xa) nổi dậy quyết liệt, cái lợi cai trị mấy mươi năm không đủ bù lại cái hại của một lúc tranh chiến. Xét ra chẳng được việc gì cả mà nào phải chỉ một việc này thôi. Xưa Y Pha Nho đối với các nước miền Nam Tây Châu, quyền thế biết bao mà nay đâu còn? Không nước nào bằng Hợp Chủng Quốc, đối với thế giới không cần chinh phạt, cho nên người và mình không chống đối nhau, thượng lợi lâu dài. Tưởng quý quốc đã từng lịch duyệt khắp thế giới thì những sự được mất như thế này cũng đã tính kỹ rồi. Triều đình chúng tôi gần đây cũng biết được ít nhiều về đại thế trong thiên hạ, đem nghiệm với đạo trời, suy ra việc người, xét đến tình nghĩa, phối hợp với thời thế nên không nỡ có hành động liều lĩnh sợ thương tổn hòa khí và hại đến con dân của Triều đình hai nước.

Vì vậy mà một lòng nương tựa vào thượng quốc để cầu cho mình và người đều được bảo toàn, để chờ cơ hội mà bày tỏ tấm lòng thành giải tỏa nỗi hậm hực, dẹp bỏ những sự nhỏ nhen cho đại nghĩa được vĩnh viễn hoàn toàn. Chính nay là lúc thời cơ đã đến, quý triều có nghĩ như vậy không? Tưởng quý triều sáng suốt đối với những mưu kế lớn về sự được mất thì chắc chắn cũng phải lấy con đường thông đồng thương mãi làm kết cuộc, cho nên dám trình bày một đoạn tình hình để xin được mong ơn quý triều.

Trên đây là những lý sự biện luận với họ. Nếu đại khái có thể dùng được một hai điều, xin sẽ sửa đổi bổ sung và dịch sang tiếng Tây phụ nạp một bản để Triều đình họ hiểu hết những tình thế ẩn khúc này mới có thể quyền tạm thủ xả mà đính ước cùng ta.

Theo thiển kiến đôi ba lần suy nghĩ thì sáu tỉnh là một địa thế rất tốt. Sáu tỉnh hợp với Cao Miên và vùng phía sau núi nước ta có thể thành một nước lớn. Dùng thế lực của họ mà kinh doanh khai thác, không ngoài 10 năm sẽ giàu có thịnh vượng không thua gì năm xứ Ấn Độ. Và Cao Miên và các bộ lạc dân tộc ở rải rác hai bên sông Cửu Long có thể quất roi sai sử, như người Nga đối với các bộ Bá Lợi, không phải nhọc sức dùng binh cũng thu phục được, không những đã dễ cai trị mà Đông Tây lại có hai dãy núi lớn tạo nên thế hiểm yếu. Chiếm cứ được vùng này có thể đủ sức chống chọi với người Nga, người Anh ở phương Đông. Cái lý thế ấy trong các bài bẩm trước tôi đã trình bày rõ. Nay mà giao trả lại sáu tỉnh thì trong ý họ thật muôn vàn khó khăn. Cho nên nước ta nói hòa trước xin lại sáu tỉnh thì họ chắc chắn sẽ không chịu nói hòa là vì lý do đó. Nếu nay ta có thể mở rộng thông thương, chịu để cho họ khinh, nhưng lại ngầm tỏ dấu hiệu cho họ biết rằng nếu không tạm trả lại thì rốt cuộc cũng không thể nào giữ được. Nếu sáu tỉnh ấy mà mất vào tay các nước phương Tây, sau này sẽ không còn trông mong gì được nữa. Cho nên chi bằng nay hãy trả để còn có hy vọng mà lấy lại. Như thế mới có thể trả hết được sáu tỉnh cho ta.

Lại nữa nếu đi Tây lần này, Triều đình thấy còn nghi ngại chưa quyết định, tính toán chưa được kỹ, sợ nhọc sức mà vô công, tốn kém mà không bổ ích bao nhiêu thì hãy nán đợi vài tháng để xem động tĩnh của họ ra sao cũng được. Nếu không thế thì cứ đi gấp, dùng hết mưu kế, tìm hết mọi cách để chuộc về. Nếu không đạt được yêu cầu mà còn có cách phải dùng sức mạnh lấy lại thì qua Y thông Anh cầu giúp đỡ; như các kế tôi đã bẩm trong ba tập trước, chọn lấy cái nào dùng được thì dùng để cho người trong nước biết rõ Triều đình đã hết lòng hết sức vì nước vì dân. Như thế không những có thể đem tấm lòng này gửi vào sử xanh mà còn có thể giải thích cho người trong nước rằng đây thật là điều trời làm như vậy, ta biết nói sao? Rồi từ đây về sau những sự việc trước gác qua một bên chẳng cần để dạ, chỉ sao mau mau hợp ý đồng lòng chọn lấy những nước mưu trí trên thế giới, làm theo những kinh nghiệm mà các nước ấy đã làm để được giàu mạnh. Như vậy mới có thể mưu đồ báo phục.

Vả tôi cũng có suy nghĩ một cách khác rằng hay là ta bí mật nhờ Y nói giùm với Nga và Phổ để Nga ngầm giúp nước Phổ chia lực lượng sang nước ta. Bên trong, ta sẽ có người tiếp ứng dẫn đường. Sau khi công việc thành rồi ta sẽ bồi phó phần nào cho nước ấy. Tôi thiết nghĩ Pháp Phổ chống nhau đã lâu, nếu ta dùng kế này thì người Nga vốn đã từng hận người Pháp chắc chắn sẽ giúp Phổ lật Pháp, đã khiến cho Pháp không còn tự tung tự tác ở phương Đông được nữa mà họ còn được cái lợi thông thương với ta, nên họ thấy cái thế cũng nên làm. Có điều là nếu thế thì trước hết phải lập minh ước định hạn với họ mới có thể dẫn họ đến. Nếu không thì sẽ như Ngô Tam Quế dẫn Thuận Trị qua sông, lại thất kế nữa. Nhưng khi người Pháp thấy Nga Phổ sắp hành động thì sợ vật của mình sẽ rơi vào tay kẻ thù, chi bằng nhường lại cho nước bạn để cầu giúp đỡ còn hơn. Bấy giờ người Anh ở phía Tây sẽ hợp với Pháp để khiên chế hai nước này, ở phía Đông sẽ đem binh lực ở Ấn Độ cùng nguyên soái Pháp để giữ Gia Định. Nga Phổ chưa sở trường về đường thủy cũng khó thành công được. Người Anh giúp Pháp giữ Gia Định cũng không phải bản tâm họ muốn như thế, nhưng vì môi hở răng lạnh, và nếu bỏ Gia Định để cho Nga Phổ vào hợp với Nam Triều để được mạnh thêm, điều đó chẳng có lợi cho mình. Hoặc có thể người Pháp vì thế buộc mà phải nhường lại cho Anh để nhờ cậy về mặt quân sự thì chắc chắn người Anh sẽ đưa lực lượng phương Đông đến đóng nơi hiểm yếu này, Nga Phổ cũng khó thành công được. Chính vì thế tôi muốn dùng kế này trước hết phải giao thiệp chắc chắn với người Anh mới bảo đảm không có hậu loạn. Nếu quả thật người Anh hợp nhau với Pháp thì chẳng những không thi hành kế này được mà ta hợp với nước Y cũng không thể địch lại với Anh Pháp (Đoạn này cho thấy rằng bất luận thi hành đường lối nào cũng đều lấy Anh làm trọng. Theo tình thế hiện nay, Anh ngã về bên nào thì bên ấy thắng. Như trong bài bẩm trước tôi đã nói: Nếu rốt cuộc Anh Pháp không ở vào thế chia rẽ nhau thì ta cũng khó thoát khỏi tay người Pháp). Cho nên ta muốn đem lực lượng ra chống chọi, chắc chắn trước hết phải giao thiệp rất hậu với người Anh, cho họ thông thương để họ thủy chung với ta mà hoàn toàn đứng ra ngoài cuộc thì ta mới thi hành được mưu kế.

Tôi đem sự thế của chúng mà tính toán tương lai như thế xin Triều đình thấy cái nào được thì tự chọn. Như binh gia nói: Thắng trước, sau mới đánh. Xem cái lý thế như trên thì tận lực thu hồi được sáu tỉnh mới là kế sách hay nhất. Ngoài ra thì lợi hại không định trước được, biến hóa vô thường, phải khéo cơ quyền mới dám làm. Nếu không thì cũng nên thừa lúc người Pháp chưa rảnh tay dòm ngó đến ta mà giao thiệp rộng rãi để giữ lấy những gì chưa mất (Kế này không thể làm là được ngay, phải gấp rút nhân khi người Pháp đang suy loạn mới có thể làm được. Nếu thành công được cái kế liên hoành mà lại thoát được cái điều “Doãn hành” thì nay tuy chưa được lại sáu tỉnh, sau này cũng có thể nhân kế này mà cầu được). Nếu kế này được thành công thì ta mới có thể an hưởng được những gì của ta. Nhưng cái kế ngừa hoạn này mà chưa đúng thì dù có được cũng chưa gọi là trí, chưa gọi là dũng mà sau khi ở lâu với các nước cũng khó bảo đảm không xảy ra phiền nhiễu. Bấy giờ không khỏi bị chê cười là mở cửa đón kẻ cướp và người ta còn có thể dị nghị về sau nữa. Phải biết rằng chỉ lo phòng bị sau khi đã hoạn nạn sao bằng chặn đứng các nguyên do phát sinh hoạn nạn. Ngồi xem và chờ cho hoạn nạn đến rồi mới đứng dậy kiệt lực làm để khỏi hoạn nạn, chi bằng sao không biết làm cho hoạn nạn không sinh ra để được yên ư? Hãy xem khi ở Đà Nẵng, nếu sớm hòa và cùng họ thông thương thì sáu tỉnh đã không mất mà kỳ thật sớm hòa để bảo vệ sáu tỉnh. Cái công lớn ấy có ai nhìn thấy mà quy công người đã chủ trương sớm hòa? Nhưng người xướng nghị chẳng những không có công gì, mà sau khi thông có một đôi điều rắc rối nhỏ xảy ra thì lại quy lỗi cho người trước tiên chủ hòa cho rằng dẫn giặc vào nhà để di hoạn ngày nay! Hiện nay cái lợi ích lớn của việc giao thông cũng giống như cuộc diện này. Nghĩa là cũng xem thiên hạ chúng trí vì sao thực hành giao thông mà không bỏ đường lối ấy cả. Nhân việc đã qua mà biết việc sắp đến. Cũng có thể biết lợi hại của nó như thế nào. Nếu có thể theo chúng mà tính toán rõ cái lợi của sự giao thông buôn bán thì có thể đề phòng được những cái hoạn nạn lớn lâu dài về sau, mà còn mở ra vô số lợi lớn lâu dài (Nếu muốn trình bày rõ xin sẽ trình bày ở tập tiếp theo). Như thế thì phải làm gấp.

Nay tôi có một số ý kiến như thế không biết có được chăng?

Kính bẩm.
Cơ mật viện đại thần đại nhân soi xét.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:13:15 pm

DI THẢO SỐ 42

Bàn về quan hệ với người nước ngoài*

(Ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức ngày 5 tháng 4 năm 1871).

Tôi giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ xin kính cẩn bẩm rõ về vấn đề giao thiệp với nước ngoài cần phải như thế nào.

Tôi trộm nghe rằng: Có thông hiểu tình hình thiên hạ, mới làm thành việc trong thiên hạ. Thông hiểu là thế nào? Nghĩa là đem tính tình của mình mà suy ra tính tình của người tức là biết được thiên hạ. Trong thiên hạ tuy ngôn ngữ phong tục khác nhau nhưng ai cũng đều có tính chất như nhau. Như vậy chỉ cần suy bụng ta ra bụng người thì có thể biết Đông Tây bốn biển đều như thế cả. Thế giới năm châu đều có tính chất như nhau. Thánh nhân chỉ dùng một trí hiểu biết mà thấu khắp muôn vật, do đó công dụng của nó mới không cùng. Vì vậy cho nên có muôn thứ bất đồng mới gọi là phong phú, không gì không thâu chứa hết mới gọi là vĩ đại, quy tụ chất chứa nhiều thứ mà không trái chống nhau mới gọi là tinh xảo, nhiều thế lực khác nhau mà tập hợp được thành một công dụng mới gọi là kỳ diệu. Trời đất sinh ra muôn vật không chỉ sinh một khuôn mẫu nào, không thiên một bên nào, một chức phận nào hay một vật nào mà sinh ra vô số hình thù khác nhau, xu hướng khác nhau để thu phục thống trị chúng, do đó mới thấy được cái phong phú vĩ đại tinh xảo kỳ diệu của trời đất.

Con người cũng vậy. Hãy xem các nước lớn hùng mạnh trên thế giới, không nước nào không thu phục được thiên hạ về mình, nhưng chỉ đem cái lẽ là điều gì mình không muốn thì không đem điều ấy ra thi hành ở người khác mà đối xử. Cho nên được mọi người đều đem công dụng của mình ra cống hiến. Bởi vì chỉ có người đại lượng mới có thể kết thân được những hạng người cao quý trong một nước. Một quốc gia có một chính sách đại lượng mới có thể kết tình hữu nghị với khắp các nước trên thế giới. Cho nên tất cả các nước không nước nào giao thiệp qua lại liên lạc chặt chẽ với các nước khác mà không được cường thịnh. Sách Nghiêu Điển nói: Hòa hợp với muôn nước thì dân được thay cũ đổi mới. Sách Cửu Kinh nói: Mềm mỏng với người phương xa đến thì bốn phương quy phục. Vì quốc gia đương nhiên phải cần người quy phục, mà muốn được người quy phục chắc chắn phải lấy sự mềm mỏng hòa dịu ra đối đãi với họ. Có được người thì có của cải có công dụng. Nay có được một bậc đại quân như thế thì khắp kẻ sĩ thiên hạ đều nguyện làm tôi Triều đình, người bán buôn sẽ tình nguyện xuất vốn trên đường thương mãi, nước lớn thì triều yết, nước nhỏ thì bái phục, uy danh trọng vọng biết chừng nào? Con đường ngoại giao là lôi kéo thiên hạ về mình. Ta muốn đến người tức có việc cần đến người. Người muốn đến ta tức cũng có việc cần đến ta. Như thế là quân bình về mặt tính tình. Đem tính tình của ta thế nào mà không hiểu tính tình của người cũng thế ấy, rồi chỉ đem cái bụng suy kỷ cập nhân ra mà ứng dụng thì thâu thái được nhiều vô cùng và khắp thiên hạ, thâu thái cái gì là đắc dụng cái ấy. Chứ việc gì phải quá sợ sệt để đến nỗi cho người ta thấy mình là hèn yếu? Xưa Lưu Đạo Quy trấn giữ đất Kinh Châu, một hôm Hoàn Xung trở lại, nhiều môn sinh và quan lại cũ có bụng muốn theo về chủ cũ. Biết vậy Đạo Quy đương đêm mở cửa thành để cho tự do ai muốn theo cứ đi, thế mà người ta không nỡ bỏ đi là vì lòng đã phục. Không nghi ngờ thì tình mới thỏa thiếp, hoài nghi thì tình người cách ngăn. Tình cách ngăn thì dù ở trước mặt nhau cũng chẳng qua lại, huống chi thiên hạ hết sức rộng lớn, lòng người muôn mặt mà có thể thông cảm cho nhau được sao?

Nước ta từ xưa chưa từng giao thiệp với các nước trên thế giới. Duy chỉ tiên hoàng khi thống nhất nước Việt một lần giao thiệp với nước Pháp mà được cơ nghiệp trung hưng. Khoảng thời gian giữa vì có cách trở với Pháp mà gây thành mối lo buồn của sáu tỉnh. Vậy cái lợi hại của việc giao thiệp cùng không giao thiệp, bất tất phải xem gương khắp thiên hạ mà chỉ nội trong nước mình cũng đã sáng tỏ như đuốc rồi.

Có điều là tôi đã quan sát tính tình của thiên hạ thì thấy rằng họ dễ giao thiệp với người, còn tính tình của ta thì quá khác người, cho dẫu muốn chọn lựa để giao thiệp cũng sợ việc khó thành. Phàm bình thường trong khi giao tế với người, một khi mở bày tấm lòng là đã thấy thành thực, thế còn sợ chưa thỏa lòng thay. Huống chi ngồi nói chuyện với người ta mà coi bộ bồi hồi láo liêng, như người xây xẩm, mắt cứ ngó chừng bốn phía như sợ để quên vật gì người sẽ lấy cắp đi? Như thế là mình đem cái tâm không tốt ra đối đãi với người ta mà người ta không ân hận là việc chưa từng có, đó là một cái khó. Giả sử nếu tuyệt giao thì cứ tuyệt giao đi, còn đã không thể tuyệt giao được mà giọng điệu cứ như muốn cự người ta thì chẳng những không ích gì lại còn bị người làm nhục nữa là khác. Thí dụ như năm trước việc linh mục Trường lên kinh về ghé thăm nhà quan hiệp lãnh Trung mà quan hiệp lãnh liền bị cách chức. Thế có khác nào cách biếm người pháp? Khiến đến nỗi họ reo ầm lên rằng: “Không cho vào nhà thì ta vào nước vậy”. Như thế mà sau này giao thiệp với thiên hạ, hoặc giả có quý quan của nước họ đến triều bái, chắc chắn thế nào họ cũng đến viếng thăm nhà quan ta, vì theo lễ ngoại giao họ rất trọng sự thăm viếng qua lại như vậy. Ta sang nước họ, họ đến nước ta mà rồi quan ta lại bị tội liên lạc với nước ngoài. Như thế thì ai dám ứng xử chuyện trò để mắc phải cái tai họa không ai mong muốn ấy làm gì? Nghe biết chuyện này thiên hạ đều bảo rằng quan chức nước Nam phần nhiều đều hai lòng cho nên luật pháp nước ấy cấm không cho giao thiệp nước ngoài để đề phòng khỏi sinh biến. Xem thế để thấy rõ ràng làm sao có thể cùng nhau chia sẻ gánh vác việc nước được?
__________________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 634/1/31-40.
    Hv 135/30-38.
    VHv 170/59-64.
    NP 120/18-21.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Giêng, 2011, 09:14:09 pm

Xưa kia dưới thời Gia Long, các bậc khai quốc đại thần phần nhiều đều có bạn bè mật thiết với người Pháp. Từ thời trung diệp nhà Minh đến niên hiệu Đồng Trị ngày nay, tất cả các quan đại thần của Trung Quốc trấn giữ các vùng đất duyên hải đã từng ứng thù cư xử lâu với người phương Tây nhưng chưa thấy có câu chuyện nào, sách nào ghi lại chỉ rõ một viên quan nào vì giao thiệp mà mưu phản. Hình tích của họ ngày nay đều còn đó. Nước ta ngày nay tất cả những người phải ra làm việc tiếp xúc với người Pháp, bất luận việc lớn hay việc nhỏ đều cảm thấy như thăm dò miệng cọp, chỉ sợ thân danh sụp đổ bởi vì dễ gặp cảnh nguy hiểm gian nan. Như thế ai còn dám nói chuyện giao thiệp với họ? Đó là hai điều khó.

Thường tình con người ta khi đến một xứ lạ nào, ai cũng muốn đi dạo xem cho thỏa thích. Ta đến nước người, bất luận chỗ nào đều có thể đi qua được hết. Còn người đến nước ta, trừ thành nội là vùng đất cấm thì phải cấm, ngoài ra các làng xóm nho nhỏ vùng phụ cận thì không ở trong luật cấm, thế mà có một người nào muốn xin đến đó thì bắt phải trì hoãn ngày giờ mới có thể cất bước được, tựa hồ như phải để có thì giờ trai giới tắm gội mới được! Lại còn phải nhắm mắt bịt tai tựa hồ như đeo gươm lên điện. Phía ta thì quan nha chạy xuôi chạy ngược như bay, giấy tờ chạy đi chạy về như cánh bướm chẳng khác nào như đang bị đại địch bao vây, khiến họ trông thấy phải bật cười! Họ về nước sẽ rao truyền rằng người nước Nam mỗi khi trông thấy người Pháp thì cuống cuồng như đang lâm đại trận! Ta tình cờ mà đi thế mà khiến người ta phải vất vả sợ sệt, chẳng bằng không đi còn hơn. Làm như thế tức tỏ cho họ thấy mình là không biết giao thiệp rộng. Vậy còn ai muốn giao hảo với mình giúp đỡ mình làm gì? Đó là ba điều khó.

Làm người ai cũng có tai mắt tâm trí. Chỉ thấy bề ngoài tức có thể suy biết trong lòng thế nào. Mỗi khi thuyền của họ đến, thuyền dân bơi đi trốn tứ tản. Một người lên bờ, dân cả làng đóng cửa ẩn nấp. Phải như khi có giặc mà sợ hãi phòng bị như thế cũng còn được, huống chi đây là lúc giao tế giữa chủ và khách. Họ cũng là người có tâm địa, cũng biết lễ nghĩa, đâu phải giống sài lang hễ gặp người là cắn đâu mà không dám gần? Thế mà người mình lánh xa còn hơn giặc thù, tránh họ còn hơn tránh hủi. Vì sao vậy? Chỉ vì sợ pháp luật của ta mà thôi.

Xưa Tiêu phu nhân lên đài chỉ một tiếng cười mà bị bốn nước gây họa. Nay họ thấy ta đối đãi với họ như thế chẳng khác nào xem họ chẳng ra cái giống người vậy. Nếu ta đến người mà thiên hạ đối đãi với ta như thế ta sẽ hận đến đâu? Thường tình con người ta, nếu bị người miệt thị khinh chê mà thế không trả thù được thì thôi, nếu trả thù được lẽ nào lại chịu im? Nay họ thấy ta sợ họ đến thế, ắt biết rõ vì sao người sợ mình. Chỉ nội một điểm này thôi đủ cho bọn mưu lợi nảy sinh ra bao nhiêu chuyện phi lý thêm thắt vào cho ta, mà ta cũng vì đó bị không biết bao nhiêu chuyện phiền nhiễu. Cho nên ai ai cũng muốn nhổ đi cái đinh trước mắt cho rồi, đâu dám ân cần giao hảo với họ? Đó là bốn điều khó.

Phàm cái lẽ giao hảo với nhau thì người và ta phải coi nhau như bè bạn. Bạn bè phải kết hợp nhau bằng tình nghĩa. Nếu mỗi bên không được đối xử đúng đắn, không được theo sở thích của mình mà cố làm phật lòng người thì bắt đầu là bạn kết thúc sẽ là thù, sinh nhiều tai hại, thà không giao hảo nhau còn hơn.

Ôi trong khoảng trời đất này, cái nghĩa vua tôi là điều không thể tránh được. Thế mà thánh hiền còn răn dè chớ đối đãi như nô lệ, chớ báo đáp như giặc thù. Huống chi đối với nước bạn, bình đẳng với nhau mà lại chơi ngang được sao?

Nay nếu Triều đình muốn thực thi đường lối ngoại giao rộng rãi mà không công nhiên cho thiên hạ thấy lòng mến chuộng của mình thì còn trở ngại khó thi hành được. Bởi vì từ trước nước ta đối đãi hẹp hòi với người, trước đó bia miệng đã loan truyền khắp nơi. Nếu cứ kéo dài như thế mãi e người ta sẽ đem cái điều mình đã đối xử với người ta mà đối xử lại mình cho đồng đều cái lẽ vay trả. Như thế lại càng nhiều chuyện nữa.

Xin hãy đắn đo suy nghĩ kỹ mà làm mới có thể cải thiện được cho mai hậu1.

Kính bẩm Cơ Mật Viện đại thần, liệt vị đại nhân soi xét.
___________________________________________ 
1. Trước câu cuối cùng, bản VHv 170 có chú thích một đoạn như sau: “Bài này tôi chỉ nói ra những điều bình thường mà thôi, không dám nói hết những gì mắt thấy. Trong đó nếu nói hết những chuyện phật lòng người sợ có điều trở ngại mà còn bị coi là hạ thấp mình để đãi người. Còn đối với họ thì những chuyện họ khinh bỉ chê bai ta, đã bẩn lỗ tai rồi, không thể nghe được nữa”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:25:37 pm

DI THẢO SỐ 43

Mở rộng quan hệ với Pháp và các nước khác*

(Ngày 18 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức 7 tháng 4 năm 1871).

Kính bẩm.

Xưa Cam La có nói: Phép thương thuyết là tùy cơ lựa lời như sóng theo gió nổi không thể định trước được. Do đó trong việc phân giải để tránh khỏi hoạn nạn cần phải biết rõ cái lợi hại trăm năm của phía ta để biện luận giao ước với người mới khỏi bị thiên lệch. Ở đời nếu phải thiệt hại thì cố chọn cái hại nhỏ nhất. Nếu ở vào thế bất đắc dĩ thì phải tạm nhận lấy cái nhẹ còn hơn không chịu để sau này phải gánh lấy cái nặng nề. Ta đã dùng họ tranh chấp và xử phân tất nhiên ta và họ bên nào cũng đều có tâm lý vị kỷ cả, bên nào cũng so đo cái tốt xấu lợi hại, ta không thể nào chiếm riêng phần lợi được. Huống chi ta lại thương thuyết với kẻ mà thế lực ta không định nổi thì làm sao có thể thoát tránh hết mọi cái hại được? Khi gặp những tình thế như vậy mà quân bình được lợi hại, mới thật là người khéo xử trí.

Còn như vấn đề giao thông thì người và ta hai bên đều có lợi. Vấn đề này thuộc về sự thỏa thuận giao dịch giữa hai bên chứ không phải như thứ hòa ước thua trận. Hơn nữa về khoản giảng hòa này ta phải biết rõ cái âm mưu quỷ quyệt của họ, giả vờ thuận theo cái kế họ dùng để lung lạc ta mà đâm lại họ, hoặc xem trong tình thế hiện tại của họ sẽ nảy sinh điều gì, tạm thời theo ý họ để suy ra xem địch và ta cái nào lợi cái nào hại, tùy cơ mà suy nghĩ, tùy tình thế mà giải quyết.

Điểm này thuộc về kỹ thuật của binh gia. Tự mình phải hiểu rõ thế mạnh của ta và người, nắm cho được cơ hội giao thiệp qua lại để tính toán đúng những sự thắng bại trong tương lai, từ đó, để quyết định cho phù hợp tất cả ngay tại bàn thương nghị. Đó là việc khó nhất trong cái việc khó. Thí dụ như tình thế của ta đang phải nhượng bộ, nhưng trong điều kiện nhượng bộ đó phải tính toán sao cho mai sau có thể thắng họ, hoặc làm sao cho chiến tranh không xảy ra, hoặc nhượng ở điểm này mà thắng ở điểm khác. Như thế tuy nhượng bộ nhưng có thể tiến lên, còn họ tuy đang lấn lướt nhưng rồi cũng phải nhượng bộ. Điểm này nếu không phải là người hiểu biết cái mấu chốt của binh gia, quyết không thể thực hiện được.

Cho nên nói điểm này rất khó là như vậy. Còn như cách phụ giúp vào việc gỡ cái khó khăn này thì trước hết phải tìm được bạn tốt ngay trong Triều đình họ giúp đỡ cho mình, thì mình mới có cái thế đối địch với họ và họ mới kính nể mình. Còn về quốc thể thì xưa nay hai bên giao ước qua lại với nhau không có tính cách giả dối. Thử xem thời Chiến quốc nhiều nước trao đổi con tin, trao đổi tướng để thực hiện kế liên hoành. Các nước phương Tây ngày nay cũng đặt lãnh sự ở các thành phố và đặt đại sứ ở Kinh đô để duy trì sự thế và giải quyết khi có việc gì xảy ra. Nay đối với các kế lớn mà Đông Tây xưa nay đều thi hành, ta chưa thi hành kế nào cả. Đến khi bức bách mới vội vã đi cầu kế, bấy giờ lại thấy khó thi hành.

Từ khi người Tây gây sự với ta đến nay, tất cả thư từ qua lại với họ thương lượng xin xỏ châm chước việc nọ việc kia ta đều đích thân đến nước địch mà cầu xử việc chiến trường. Như thế quan của họ ví như kẻ nguyên cáo mà ta là kẻ bị cáo, không ai là người nguyên cáo và bị cáo cả, mà bị cáo lại đến nguyên cáo xin phán xét. Như vậy việc ấy rốt cuộc không thể nào phân minh. Đó là lý thông thường.
_________________________________________
*. Bản văn chữ Hán Hv 634/3 tờ 138-172.
    Không ghi ngày tháng. Nhưng Từ Ngọc Nguyễn Lân, sdd nơi trang 32 có trích một đoạn của bài này và nói là ngày 18-2 năm Tự Đức 24.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:27:00 pm

Sở dĩ từ trước đến nay tất cả mọi việc, việc gì họ cũng chiếm ưu thế mà không tương nhượng cho ta chút nào là vì thứ nhất họ biết thế lực ta không địch nổi họ, thứ hai biết không có một nước lớn nào giúp ta, không có sự viện trợ của nước láng giềng, thứ ba biết ta không thể thâm hiểu tình hình nước họ mà cân nhắc lợi hại tạm nhận lấy một điều, thứ tư biết ta việc gì cũng không thể phán đoán đúng, chỉ thấy lợi mà không thấy con đường tiến tới, thế có thể làm được mà không làm, việc đáng làm mà không làm, chỉ muốn ngồi yên mà làm cao để cho họ tha hồ tự tung tự tác không chút e ngại, chẳng phải xử sự theo công lý gì cả. Nay nếu Triều đình nhân cơ hội này quyết định đi Tây, đó cũng là việc nên làm theo thời thế, nhân thời thế mà liệu định công việc, nhân công việc mà thi hành mưu kế. Dù không được mười phần như ý muốn nhưng cũng không phải là không biết thời thế. Nếu thành công thì đó là do trời. Đâu có thể đem cái vinh hiển hay tối tăm mà luận việc thành bại được sao? Bài Lục lợi từ trước đây tôi đã nói: Họ đã rảo khắp thiên hạ đem kế này mà thi hành được ở nước này thì lại đem thi hành ở nước khác. Nếu muốn chống lại họ thì phải coi cái gương nước nào đã trúng kế của họ, hoặc theo đường lối mà nước nào đã dùng để thoát khỏi cái kế của họ. Như thế thì xảo thuật của họ cũng phải hết thôi.

Lần này ta đi Tây, thứ nhất là để hoàn thành công việc chưa xong trước đây, thứ hai là để lập mưu khéo léo ngăn chặn họ sau này. Chuyến đi này quan hệ khinh trọng đối với nước ta không phải nhỏ. Ta phải có bốn đường lối sau: Một là ở tại nước họ ta dùng kế lấy lại một cách nhẹ nhàng, hai là tìm các nước giúp đỡ để dùng sức giành lại, ba là tìm nước bạn để làm trung gian dàn xếp, bốn là cầu giao thông để giữ cái chưa mất. Lập mưu kế bằng bốn đường lối này thì thật trọng đại, thật trường cửu. Không nên chậm trễ để mất cơ hội. Bởi vì trước đây thế lực của họ mạnh mẽ, nếu ta cứ nằng nặc xin tức phạm vào điều tối kỵ của họ khiến họ ghét. Còn nếu muốn thực hiện ngoại giao tức muốn ngăn chặn mưu kế quỷ quyệt của họ thì sợ lỡ ra việc ngoại giao không thành mà bị họ ra tay khống chế trước. Nay thì không phải như vậy nữa. Cho nên nói rằng thời thế đã đem cơ hội lại cho ta là như vậy.

Nay tôi xin nêu lên các nước trước đã từng giao kết với họ, chắc chắn họ sẽ dùng đó để yêu sách ta, vậy trong bốn đường lối nói trên tôi xin trình bày đại lược cách đối phó. Việc lựa chọn là ở Triều đình, được hay chăng do Triều đình quyết định trước để dễ tiến hành công việc. Nếu ngoài những điểm căn bản có nảy sinh một vài chi tiết nhỏ nhặt không hại đến đại cuộc lâu dài thì vì đại sự cứ việc tiến lên, những gì nhỏ nhặt có thể lùi bước mà chấp nhận, không nên đảo ngược những gì đã trù tính sắp đặt mà khó khăn ra.

Đường lối thứ nhất là áp dụng mưu kế ngay tại nước họ. Đối với đường lối này tôi không dám nghĩ Triều đình sẽ đánh giá như thế nào. Có điều tôi chỉ xin là trong thư không nên nói rõ là Triều đình đặc biệt cho toàn quyền được tiện nghi châm chước quyết định ký kết các điều khoản. Như vậy nếu có khoản nào ra ngoài ý định của Triều đình, hoặc thiên lệch quá nặng thì phải đợi tâu về cho Triều đình định đoạt. Nếu thương nghị mà vượt quyền hạn thì dù đã ký, hiệp ước vẫn coi là bất thành v.v...

Đó là cái kế ta mở ra hai lối để có thể thoát thân. Bởi vì trong khi nghị ước sợ có những điều khoản quan trọng mà họ chiếm phần ưu tiên, họ cho là đắc kế rồi thôi thúc ta sớm hoàn thành việc ký kết để hy vọng có thể vin vào đó mà khơi mối manh. Nhưng ta thấy cái cơ như thế ta sẽ không hoàn thành việc ký kết ngay mà sẽ để lại để tính sau. Trường hợp ấy ta sẽ nhờ câu này để mở lối thoát mà họ thì không có lý lẽ gì bắt bẻ ta được. Về khoản thứ hai trong tờ công bố phải kê khai hết các khoản y như trong quốc thư. Nhưng xét tùy theo khoản mà lập thí dụ. Như nói: Nếu được như vậy thì tốt rồi, bằng không thì giảm một hai phần cũng được. Giả sử như họ chỉ trả cho không ba tỉnh trong, còn ba tỉnh ngoài phải trả tiền bồi thường mỗi năm 50 vạn đồng cho đến 50 năm mới chấm dứt. Phía ta thì đã có chỉ lệnh là mỗi năm chỉ phải bồi thường 2 vạn đồng đến 20 năm mà thôi.

Nếu họ không chịu thì thêm một hai phần v.v... Bất luận khoản nào ta đều cố dùng lời lẽ nhẹ nhàng. Đoạn cuối nói: Đặc biệt cho trọn quyền tiện nghi mà làm. Như trong các khoản hoặc phải thêm một vài phần mười cũng phải trình tờ công bố với Triều đình họ xin lấy tờ công bố này làm căn bản để tiện hoàn tất, Triều đình chúng tôi xin tuân y theo tất cả v.v... Đó là cái kế ta mở ra hai lối mà lối nào cũng xong việc. Bởi vì họ tưởng rằng việc hòa nghị tuy đã xong nhưng trong đó họ cũng có thể trông ngóng được. Họ cho rằng nếu thành sự họ cũng chẳng được lợi gì. Họ muốn viện cớ câu nói rằng: Đợi quốc thư tâu về định đoạt, là cố ý trì hoãn công việc để dò xem tình thế của họ ngày sau ra sao mà lật ngược thế cuộc. Còn đối với ta thì ta biết rõ ý họ là như vậy. Nếu nay không sớm hoàn thành ngày sau sẽ còn khó hơn nữa. Bấy giờ sẽ đem tờ công bố chung trình ngay để thi hành. Nếu tình thế bắt buộc phải có thêm bốn, năm phần mười cũng còn lợi cho ta. Như vậy thì ta sẽ viện câu nói trong chứng thư rằng: Tuy có gia thêm nhưng Triều đình chúng tôi đều tuân y theo tất cả, để nhất định hoàn thành giao ước, họ cũng khó có thể nào quanh co tránh né được.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:27:42 pm

Về khoản thứ ba Triều đình dựa vào nghị định này mà thành giao ước. Cứ xét theo khoản mà lượng định sao cho phải người phải ta (Đây là việc khó nhất), kê khai các khoản ấy vào tờ công bố chung, cố dùng lời lẽ nhẹ nhàng, nhưng Triều đình thì đã định trước rồi, tức là dù phải thêm 4, 5 phần mười cũng được. Việc nghị định này của Triều đình xin chép thành một bản lưu chiếu, một bản giao sứ thần mang theo để dựa vào đó mà quyết định công việc. Về khoản thứ tư đối với bốn đường lối trên đây nếu phải thực hành cùng một lúc và đã định đi đến nước nào thì trong công thư xin biên rõ viên quan nào, chức gì, chuyên trách công việc gì, trừ chánh sứ có quyền quyết đoán, trong hội nghị hoặc trong khi triều yết, dưới chánh sứ có viên quan nào được cùng ngồi để đối đáp thay một vài điều. Những vị ấy phải mời trước cho rõ ràng thì khi vào việc mới có thể giúp đỡ nhau được. Nếu không thì những người dưới sẽ bị họ xem khinh lời nói yếu ớt chẳng ăn nhằm gì với sự thể. Như thế dù có đi theo cũng chỉ cho đủ số chẳng bổ ích được tý gì mà còn thêm tốn kém. Nói như thế không phải là xin cho những người dưới được đương nhiên tranh biện đối đáp như chánh sứ. Nhưng để khi chánh sứ có điều gì nghi ngại chưa quyết định có thể quay lại trao đổi thảo luận, hoặc giả làm ra vẻ mệt mỏi rồi nhờ thay lời, hoặc chánh sứ giả vờ nói: Xin quý quan thử hỏi ý kiến phó viên xem thế nào để chiết trung. Những điều đó đều giả vờ làm trước mặt họ như vậy để tiện thương nghị với nhau mà thôi. Còn như tôi ở ngoài thì có thể nhờ cách che chở của Tạ Đạo Uẩn để giải vây nếu bị mai phục.

Khi đã đến bên ấy rồi cố làm ra vẻ mệt mỏi mấy ngày để cho tôi ngầm tìm đường lối thông tin tức hoặc tìm được bạn tốt, trước hết đem mật ý của mình (Nếu muốn người ta chịu giúp cho thì tuyệt đối không được tiết lộ ra ngoài) cầu mưu xem tình thế được chăng, hoặc cầu được viên quan lớn nào ngầm giúp thông báo tình hình cho ta, hoặc viên ấy có chức vị và ngầm bảo cho ta biết rằng: Nếu Triều đình họ có bàn riêng việc của ta, y sẽ làm như vô tình mà cản trở bên trong, hoặc trước tiên ngầm đến quan Pháp viện đem lý lẽ của ta cầu xin y nếu thấy là phải thì nhờ y đến chiết trung, hoặc đến vị công tử con quan tể tướng ở Viện Thứ Dân (Năm xưa tôi đã ở nhà y tám ngày) và một hai vị quan lớn mà ngày xưa tôi có quen cầu họ giúp đỡ, hoặc chánh sứ sai tôi trước hết đến viên đại thần đương sự bên ấy trình bày hết tình ý xem y nói ra sao, cứng hay dịu, có giọng khinh người không, hoặc trợn mắt xẵng lời mà nói năng không nhất định, hoặc nói năng thuần hậu, hoặc khi nói dụng ý khi nói vô ý để thăm dò ý ta, hoặc làm bộ bày vẽ kế sách cho ta xem ta có sa vào bẫy của họ không. Tất cả tôi sẽ về bẩm lại với chánh sứ trước để khi vào việc mà đối đáp với họ khỏi sai lầm sơ hở và không nhầm chỗ, hay muốn làm kế phản gián cũng được.

Những việc này chỉ một mình tôi có thể làm được và chắc chắn không làm nhục đến mệnh vua. Sức học của tôi có thể đem ra ứng dụng với đời, mà nói về tạm dùng quyệt kế thì tôi cũng có thể làm được cho nên dám bạo dạn tự thử để báo đền trong muôn một. Khoản thứ ba này nói chung gồm cả bốn đường lối chứ không phải chỉ riêng một đường lối vận động tại nước họ mà thôi.

Về khoản thứ tư như nếu có đi chu du nước khác thì trong quốc thư chỉ nói hồn hàm sơ lược một hai việc mà lời lẽ đều hàm hai ý song quan. Đoạn cuối nói: Tuy có toàn quyền nghị bàn công việc và ký kết, song vì việc có tính cách dài lâu, cần phải về tâu lại rõ ràng mới được. Còn trong chứng thư thì lại nói rõ rằng: Trừ các khoản cần phải tâu rõ ở trên, nếu có việc gì quan hệ binh cơ thì đặc biệt cho toàn quyền quyết định, tức tốc thi hành. Vì việc binh quý ở thần tốc không thể trì hoãn. Cũng cần thêm một hai quốc thư, trong thư chừa trống tên nước gởi đến và không dán phong bì, để phòng khi đến nước này mà công việc có quan hệ đến nước kia cũng cần phải thương nghị thì sứ thần sẽ điền tên nước ấy vào gởi cho tiện. Trong thư chỉ nói việc thông hiếu mà không nói rõ những khoản gì. Cuối thư nói: Nếu có việc gì cần phải làm thì cho phép toàn quyền thương nghị nhưng phải chờ quyết định v.v...


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:28:35 pm

Về khoản thứ năm phải có một chứng thư riêng trong đó nói: Nếu tiện có thể đi các nơi tìm hỏi các hội và các thợ công nghiệp tham khảo xem có thể đem về nước ta làm việc được chăng, hoặc có thể hỏi thăm các cơ xưởng tìm mua khí cụ cần thiết cho nước ta dùng, hoặc có thể mua một vài thứ, hoặc có thể lấy giá đem về để sau này sẽ gởi mua, hoặc có thể tìm người nào có thể làm việc cho ta để dạy tập các nghề, hoặc có thể thay làm đại sứ, hoặc tìm hỏi các cư xá học nghề thương lượng việc thuê mướn, khi về sẽ phái người qua ở học, hoặc tìm hỏi thầy kiện hoặc Viện Luật Pháp để hỏi thăm về sự thể để khi về bắt chước.

Tất cả những việc ấy đều để che mắt việc thi hành kế ngầm tìm đường lối. Nếu không thế thì khi mới đến nước người, chưa nói công việc chính mà đã chạy rảo khắp nơi sẽ khiến người sinh nghi. Hơn nữa thăm hỏi chúng như vậy (Kể chung cả các nước), chúng sẽ vui mừng qua lại với ta do đó mới có thể thăm dò được tình hình của chúng để thi hành kế của ta, và chúng cũng biết ta có ý muốn thông đồng với chúng, cho nên trong lòng chúng cũng mong tưởng mai sau cũng có thể hợp tác với ta. Khi đã đồng lòng với ta rồi thì chúng càng thêm thân tín ta. Còn các khoản ấy sau khi về rồi muốn làm hay không muốn làm đó là quyền của ta, đâu đã làm tờ giao kèo định ước gì mà sợ ngại. Khoản này trước hết nên giao cho tôi, về mặt ngôn ngữ tôi đã có cách xoay chuyển. Nếu sau này có nảy sinh điều gì thị phi, cập lụy đến quốc gia tý gì, tôi sẽ xin chịu tất cả. Nhưng về sau Triều đình muốn dùng khoản nào sẽ do phái viên tự thân hành mua sắm, tôi không dám dính dự vào.

Về khoản thứ sáu, nếu nước họ trả lại sáu tỉnh mà đòi bồi hoàn các chi phí kinh doanh tạo lập trong lúc họ đang thiếu tiền, không chịu trả dần chỉ đòi phải trả đủ trong một năm, hoặc họ khai rõ sở phí quá nhiều, hoặc họ muốn chiếm cứ lâu dài các thành phố sáu tỉnh, hoặc họ muốn sang sông Tiền Giang, hoặc Tân Bình Giang, vũng Đà, họ và ta đều có quyền lợi chung, dân buôn của họ lui tới không được đánh thuế, trừ các nước khác thì không kể, hoặc họ muốn ven sông những nơi nào xung yếu họ được lập đồn bót, hoặc họ buộc ta không được đặt đại binh trong sáu tỉnh, chỉ cần một ít lính để tiện khi đuổi bắt trộm cướp mà thôi, nếu có giặc cướp lớn họ sẽ giúp đuổi bắt, hoặc họ muốn ở Gia Định thì họ đóng căn cứ từ xã Hạnh Thông thẳng đến Chợ Lớn; Đông Nam Bắc ba mặt bao sông và một dãy bãi đậu thuyền ở Thủ Thiêm, hoặc từ Rạch Ông đến đồn Hữu Bình, hoặc họ muốn cửa khẩu nhỏ ở biển Cần Giờ sẽ thuộc quyền xét hỏi của đồn binh quản hạt, còn thuyền buôn ra vào thì đòi ta đặt quan thu thuế, hoặc họ đòi bồi thường đủ số tiền còn thiếu một trăm vạn đồng trước đây, hoặc họ chỉ trả lại ba tỉnh trong còn ba tỉnh ngoài thì không chịu trả... các yêu sách liệt kê trên đây thì giảm đi một nửa.

Hoặc họ đòi được hợp tác chặt cây khai thác rừng, hoặc họ yêu cầu đối xử nhân đạo không được đưa ra pháp luật trả thù các chức sắc trong sáu tỉnh đã cộng tác làm việc cho họ trong thời gian trước đây, hoặc họ đòi mỗi năm phải cấp cho họ bao nhiêu dân phu để làm việc mà trị giá cấp bằng tiền, hoặc họ muốn lấy mỏ vàng bạc trong sáu tỉnh hoặc họ không cần thông thương buôn bán trên cả nước mà chỉ đòi tiền chuộc mấy mươi triệu đồng, hoặc họ nói nay tạm giao quyền quản hạt lại cho ta, sau mười năm sẽ thương nghị quyết định lại, hoặc họ đòi sáu tỉnh từ Bắc chí Nam nửa trên thuộc về ta, nửa dưới cho đến biển thuộc về họ, hoặc trong tờ giao ước họ nói rõ là giao trả sáu tỉnh lại cho ta nhưng nếu ngày sau ta làm việc gì bạo loạn nơi họ cư trú thì ta cam chịu mất sáu tỉnh mà họ còn lấy thêm một hai phần đất ở Bắc kỳ nữa, ta không được cố chấp... Tất cả những điều kiện như thế xin phải xử phân như thế nào. Còn những chi tiết nhỏ nhặt trong vấn đề ở chung với họ cũng dễ giải quyết không cần phải nêu.

Về khoản thứ bảy, nếu họ đã biết cái thế của ta mà không chịu đem vấn đề thông thương ra trao đổi để chờ ngày sau thi hành quyệt kế thì việc thông thương cũng còn ở trong tay.

Nếu ba tỉnh ngoài khó bề thương thảo xin lại được còn ba tỉnh trong thì họ đòi bồi thường quá nặng mới cho chuộc thì liệu có chuộc được chăng? Hay ta trở về tay không mà không chịu hoàn thành việc hòa ước, hoặc sẽ cầu viện binh khác trợ giúp? Hoặc họ đòi lại những sở đất ở sáu tỉnh mà trước đây họ đã sung công và đem bán cho người mua ta phải bồi thường lại cho người mua, hoặc dân của họ đã đem các phương tiện sản xuất kinh doanh ở hành nghề các nơi hay họ đòi chuyên quản các nơi ấy để cho dân họ làm ăn sinh sống hoặc nếu dân họ rút về thì đòi ta bồi thường các chi phí cho họ.

Còn về thông thương buôn bán thì họ yêu cầu bất luận cửa khẩu nào thuyền họ có thể vào hoặc vịnh vũng nào thuyền họ có thể đậu thì mỗi nơi ấy phải hoàn toàn nhượng hẳn cho họ một khoảnh đủ để người của họ cư trú cho tiện, hoặc muốn người của họ đều được tự do đặt hàng hóa buôn bán trong nội địa nước ta, hoặc họ muốn lập đại sứ ở Kinh đô để tiện giải quyết các việc thông thương giữa ta và họ, hoặc họ muốn giảm một nửa số tiền thuế hàng hóa xuất nhập khẩu của thuyền họ, hoặc họ đòi ở nơi lãnh sự của họ cư trú đều được lập một pháo đài có binh lính phòng thủ...

Các khoản trên đây khó có thể thỏa mãn cho họ được nhưng phải giải quyết thế nào? Còn ngoài ra những quy tắc về thông thương các nước đều có cả, đều quan hệ làm lợi cho đôi bên, lâm thời có thế châm chước tăng giảm không làm hại gì đến đại sự, không cần phải quyết định trước, đã có sẵn điều lệ của các nước có thể tham khảo mà quyết định.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:29:21 pm

Về khoản thứ tám, nếu trong khi thương nghị giữa ta và họ có sự lý gì cần thiết khó giải quyết mà họ cứ đòi ta làm qua loa cho xong, còn ta thì trong lòng dùng dằng không quyết định muốn nhờ một nước bạn đứng giữa dàn xếp, hoặc nhờ Viện Pháp Luật bên ấy giải đoán (Hai người này cũng khó mời đến). Như vậy tất cả mọi chi phí cung đốn đều giao ta tự đài thọ. Vậy sở phí bao nhiêu thì chấp nhận được? Giả sử họ thông hiểu công lý trên thế giới sâu hơn ta, sự châm chước của họ lần này là phát xuất từ sự công bình chứ không thiên lệch bảo vệ cho riêng họ thì tất cả những lần sau có phải dàn xếp cũng theo như lần này, theo công lý mà thảo luận không thiên lệch bên nọ bên kia. Bởi họ sợ nước bạn chê cười là họ bảo vệ nhược điểm tự vị rồi sẽ chẳng cần mất thì giờ bàn đến sự công bằng nữa.

Nếu được vậy thì những điều thảo nghị với nhau cũng hợp công lý không sai lệch lắm. Nhưng vì ta quá bảo vệ nhược điểm của mình không thấy rõ lý, nghi họ lấy nhiều nên cố chấp không chịu nhận nên mới mời người dàn xếp uổng phí vô ích. Nếu gặp những tình trạng sự việc như vậy Triều đình nên tính liệu như thế nào?

Về khoản thứ chín, trong khi bí mật tìm đường lối, nếu gặp người háo lợi, chưa chi đã đòi hỏi lễ mễ trước như Lăng Xu Bi năm xưa vậy. Có điều là hắn ta đã hứa chắc chắn xong việc nhưng đòi sở phí quá nặng; nếu thành sự thì hắn lấy đủ số còn bất thành hắn cũng xin một hai phần mười công hắn ngược xuôi bôn tẩu giao dịch khoản đãi, nhưng hắn đòi hỏi phải giao trước cho hắn một số là bao nhiêu hắn mới chịu bắt tay làm việc. Nếu như thế thì làm sao? Nếu nhờ nước bạn như nước Anh chẳng hạn và hứa nếu sự việc thành công. Nhưng họ và ta bên nào cũng có nửa lợi nửa hại mới xong việc được. Nếu không thì người Anh cũng không thể lấy quyền gì cưỡng ép họ được. Hơn nữa chịu hay không chịu do ở họ, người Anh chỉ đem lý ra phân giải chứ không dám sử dụng thế lực mà can thiệp điều gì. Sau khi thành công, người Anh muốn lập ước thông thương để gọi là được trả công mà trong sự lập ước họ cũng chiếm một hai điều lợi. Như thế thì làm sao?

Về khoan thứ mười, họ đã muốn đổi đất để được thông thương, hai bên theo công lý nghị định đều đã nhượng quyền phục lý. Có điều là số tiền bồi thường họ đòi trả đủ một lần để giải quyết tình trạng cấp bách của họ, hoặc họ cố ý nâng giá cao như vậy, bởi họ nghĩ rằng có thể ta không thanh toán nổi mà xin rút lui điều ước thì cũng là may cho họ. Ta đoán chắc rằng họ có ý đi nước đôi như vậy, nhưng tạm thời cân nhắc sự lợi hại thì chịu bồi thường đủ số mới có lợi cho ta. Nếu thế thì ta phải quyết định ký trước để cho họ khỏi đổi ý. Lần sau đó ta có thể vay tiền trong hội buôn của họ hoặc trong hội buôn của người Anh mà bồi thường đủ số, trừ số tiền lời tiền vốn trả hàng năm và kỳ hạn trả, các hội buôn của họ nếu muốn thông thương hoặc muốn mua khoáng sản, cây gỗ, hoặc muốn lập đường xe lửa, máy điện, những việc đó ta và người đều có lợi, trong đó ta sẽ dùng tiền lời hàng năm khấu trừ dần cho họ. Nếu vay nợ như vậy thì cần phải tính toán làm sao?

Mười khoản trên đây sự lý phần nhiều đều quy về đường lối thứ nhất nhưng cũng có rải rác trong các đường lối thứ hai, thứ ba, thứ tư. Tất cả các khoản trên đây bọn họ đã từng đem thi hành ở các nước và hiện tại tưởng họ cũng mang sang thi thố ở nước ta. Các khoản này nếu thấu rõ việc đã qua trong thiên hạ mà đoán định từng khoản một, giảm cao cho được thấp khiến họ và ta đều được cân bằng, mà sau này có thương nghị lại cũng không ra ngoài khuôn khổ đó, như thế là ngàn lần khó vạn lần khó. Sở dĩ khó là vì sự thể ấy đều có hai mặt không sợ hở tý nào mà quan hệ rất lớn, không phải như việc làm của người phán đoán việc tù tội mà cứ theo luật định tội danh. Vì thế mà các thầy kiện phương Tây cho là việc khó nhất trong các việc khó trong thiên hạ. Nếu chỉ theo cái sở kiến có một góc của mình mà không dùng cái cơ mà khắp thiên hạ ngày nay đều đem trí thuật ra giá ngự, cái lý mạnh yếu co duỗi thì chỉ được người ta định sao mình chịu vậy. Thế nhưng nếu chỉ là mình với mình bàn bạc việc phải quấy để đính chính cái công tội thì còn có thể được. Còn nếu hợp cả thiên hạ lại với mình thì e rằng chỉ biết người ta nói sao nghe vậy mà thôi. Theo ý kiến của tôi suy nghĩ một cách cạn cợt về sự nặng nhẹ hoãn gấp thì việc thông thương là nhẹ mà sáu tỉnh là nặng, đem một điều “Doãn hành” là nặng mà sáu tỉnh là nhẹ. Còn như việc phải làm gấp là giao thông để tìm người giúp để lập kế liên hoành, còn việc nghị hòa là hoãn. Bởi vì sáu tỉnh đã ở trong ý họ là sẽ gồm cả toàn lãnh thổ Cao Miên và các vùng đất khác phía sau núi. Nếu mất sáu tỉnh là mất tất cả cho nên là nặng, trả lại rất khó. Nếu thông thương thì đối với ta về lâu về dài có thể ngồi mà tính kế. Đó là cái thế nhất định như vậy.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:29:57 pm

Nay ta nếu thấy rốt cuộc cũng không tránh khỏi mà đem đổi lấy cái khó được thì có thể thấy đại khái nặng, nhẹ là thế nào. Còn như sáu tỉnh, nếu đem chủ quyền cả nước mà so sánh với sáu tỉnh thì sự nặng nhẹ không phải bàn nữa. Người xưa có nói: Nếu pháp luật còn thì một họ Tả cũng có thể cai trị được. Nếu bỏ luật pháp thì mười họ Tả cũng chẳng làm gì được. Nếu thế không thể đối lấy mà đem về cho mình được thì phải chờ ngày sau cũng có thể dùng sức mà tranh lại, còn sáu tỉnh thì đất đai nhân dân vẫn còn đó, họ không thể nào thu lấy mà mang về Tây được.

Nếu ta không thể thoát khỏi điều khoản “Doãn hành” thì tựa hồ họ nắm quyền bính nước ta. Như vậy là chận hết rất nhiều ngõ ngách đường lối của ta sau này. Giả sử sau này ta có xảy ra biến cố gì mà muốn làm cái kế như Phùng Đình nhượng Thượng Đảng cho Triệu để bảo tồn những gì còn lại cũng hết đường có thể thi thố được, mà giao thông để tìm người giúp cũng trở ngại khó làm, muốn lập minh ước với các nước để cầu bảo hộ cho đất nước được yên vững như Bồ Đào Nha với nước Anh thì cũng khó mà vượt qua khỏi họ để thương nghị với nước khác. Nếu có thể thoát khỏi điều này mà không giảm mất quyền tự chủ thong thả giao thiệp rộng rãi mà lập thế liên hoành thì đường thịnh lợi sẽ tiến xa. Sáu tỉnh này cũng giống như ngọc ngựa của người nước Tấn, mà rồi cái lợi của phía Tây cũng sẽ đến cho ta. Trong bài Lục lợi từ trước đây tôi đã nói: Họ khai thác cái hoang vu, ta được hưởng cái thành tựu, họ làm việc khó, ta sử dụng cái dễ, cũng như các nước ở Tây Châu, cuối cùng vật sẽ về với chủ, chắc chắn họ không thể nào làm chủ mãi được.

Còn sự giàu mạnh của nước ta thì nhất định lấy sự giao thông làm cơ sở mà tất cả các quyền lợi lâu dài cũng từ trên đó mà ra và đều phải thoát khỏi điều “Doãn hành” mới được. Cho nên tôi nói sáu tỉnh nhẹ là vậy. Nếu phá bỏ được điều “Doãn hành” thì mọi việc sau đều dễ giải quyết không mất công trù liệu kế hoạch nhiều. Nhưng muốn làm việc giao thông thì phải nhân lúc họ mới suy vi mới có thể thong dong kết bạn khắp thiên hạ để lập thành thế chân vạc thì ta mới ngồi yên để tính việc giàu mạnh cho đất nước. Vậy chuyến đi này nếu thế không thể thu hồi sáu tỉnh thì hãy cố hết sức thoát cho được điều khoản “Doãn hành” thì cũng không đến nỗi đi không lại cũng về không. Nếu được điều này rồi sau nếu muốn ra sức lấy lại gấp (Nếu ta chắc chắn đủ sức lấy thì hãy hoãn việc ký kết hòa ước) mà còn có thể tìm người hợp tác. Còn như sợ sự việc bất thành lại sinh ra nhiều trở ngại thì hãy ẩn nhẫn để chờ mưu tính sau mà phải sớm nhân chuyến đi này giao thông rộng rãi các nước. Nếu thành công được việc này thì cũng có thể che lấp được lỗi lầm trước đây mà mở ra mối lợi lâu dài về sau. Thiên hạ thấy thế biết ta có dấu hiệu sắp hưng thịnh như thế nào. Vấn đề này cũng rất trọng đại và khẩn cấp không thể bỏ qua.

Đường lối thứ hai là tìm người giúp đỡ để dùng sức tranh lại. Như đến nước họ rồi nhưng biết chắc công việc của họ còn kéo dài mà lòng tham của họ đối với sáu tỉnh không thể rút ra được nên không đếm xỉa gì đến lý lẽ cả thì ta cũng chẳng kèo nài gì được với họ. Bấy giờ hãy lấy cớ xin đi thăm nước Y và đến xem phong cảnh nước Anh. Đến nước Y rồi cũng phải thăm dò đường lối. Như tôi đã trình bày đầy đủ ở điều trên. Nghĩa là nếu thấy có ngõ ngách thì vào ngay bí mật bày tỏ ý mình cho đằng ấy. Nếu đằng ấy cho là được hoặc đằng ấy tự túc lo liệu công việc hoặc đằng ấy bí mật thông đồng với Nga Phổ để cầu giúp (Nhưng phải hỏi đằng ấy xem sau khi thành công phải trả ơn như thế nào, phải minh ước trước), dựa vào đằng ấy mà tính mưu kế. Nếu đằng ấy có tình cảm với người Anh thì cố cầu đằng ấy ngỏ lời giùm ta với người Anh mà đằng ấy với ta cùng yêu cầu người Anh đối với vấn đề này xin hãy đứng ngoài cuộc. Tuy Anh và Pháp chưa rời bỏ nhau nhưng khoản này thì Anh tự nói không giúp Pháp để nói lên cái lý vì sao Anh không làm, để tỏ rằng Anh không dám dính líu vào việc ấy, mà Pháp cũng khó trách được Anh. Nếu rốt cuộc sáu tỉnh thuộc về tay người Pháp thì đó cũng không phải là điều người Anh mong, mà thuộc về Nga Phổ thì người Anh cũng chẳng thích. Nếu tình thế có thể đem về lại cho nước ta mà Pháp, Phổ, Nga, Y đều không nhúng tay được vào chỗ nào thì sau này Anh dùng cái ưu thế ở phương Đông cũng dễ nhờ ta mà được lợi. Như vậy mới hợp với cái thế của binh gia. Cho nên nếu ta dùng kế được đến thế thì người Anh sẽ đứng ngoài, bấy giờ ta mới dám dùng sức mà tranh. Nếu được như vậy mà nước Anh định mưu cùng với ta, hoặc yêu cầu ta hãy lập minh ước trước, hoặc xin ta một vài chỗ ở Đồ Sơn, hoặc yêu cầu đặt đại sứ tại Kinh, hoặc yêu cầu chiếu tính chi phí chiến tranh bởi vì khi người phương Tây đánh nhau tử thương sẽ nhiều chi phí cũng nặng, cho nên ta chiếu tính bồi hoàn chi phí ấy cũng không phải việc dễ, hoặc yêu cầu trả đủ tiền nợ trước một trăm vạn đồng...

Tất cả những điều như vậy ta phải nghị bàn thế nào cho thỏa đáng? Còn về điều ước thông thương thì người Ý không thể đòi hỏi nhiều như người Pháp. Bấy giờ ta cứ chiếu theo quy ước thông thường trên thế giới cũng chẳng ngại gì, cũng không có gì rắc rối. Mà tôi đã suy nghĩ kỹ sự thế ấy rồi thì thế lực người Y không lớn, dầu cho có đuổi được người Pháp thì cũng sợ sau khi việc nước họ yên xong họ sẽ đem quân tinh nhuệ đến giành lại, ta cũng khó ngồi yên được, mà người Y cũng rất có thể nửa chừng rụt tay lại thì làm sao? Cho nên phải có người Anh giao thiệp hậu với ta mới được. Bấy giờ người Anh cũng kỵ việc Pháp trở lại sáu tỉnh cho nên mượn cái tình giao hảo với ta mà cản trở bên trong chỉ khiến người Pháp nhẫn nhịn chịu thông thương, sợ người Anh giận mà trở mặt giúp ta, như thế thì chiến tranh không xảy ra ở phương Tây mà tai họa lại đến ngay trong nước họ, ung nhọt đã mọc lên trong ruột thì khó lòng đem sức ra kình chống với người Anh được. Như vậy họ sẽ rụt tay mà ta có thể bảo đảm không việc gì. Nếu như ta sang nước Y thì không chỉ riêng kế ấy bất thành mà trái lại Ý còn đòi ta bồi hoàn thanh toán khoản trước. Nếu ta không thanh toán Ý sẽ lấy cớ sinh sự thì ta sẽ tính sao? Điều này không thể lo trước thế nhưng sự xử phân đó đối với Ý khi chưa có hiềm khích nhất định thì cũng dễ giải tiêu. Nếu không thế lẽ nào Ý lại chịu thôi, sớm muộn Ý cũng sẽ trở lại cố ý gây sự thì lại sinh nhiều chuyện. Như trong tờ bẩm trước tôi tôi đã nói rằng ta rồi sẽ không khỏi bị thất kế ngồi đó mà chờ cho sự việc xảy ra.

Đường lối thứ ba cầu người Anh làm chiết trung. Đường lối thứ tư cầu giao thông để giữ cái gì chưa mất. Ý nghĩa của hai đường lối này cũng phù hợp với hai điều trên và cũng thấy rải rác trong các tờ bẩm trước, nay không phải thuật lại nữa. Duy có điều là đường lối giao thông thì ta và người đều phải thuận tình để làm sao cho đôi bên cùng có lợi chứ không phải vì một bên đang thời cùng thế bức mà ép người ta. Cho nên ta và người đều không làm hại nhau, dễ dàng trong việc quyền nghi giao kết, nếu có một khoản nào ta không thích nghi thì người cũng không thể đem ép nhau. Nhưng nay nếu người Anh muốn chiết trung cho ta và hứa chắc sẽ thành công nhưng yêu cầu ta bí mật cho họ một chỗ đất ở Bắc kỳ, sau khi xong việc lâu họ mới đến lấy. Bấy giờ ta lấy cớ là tình đối với nước bạn mà nhượng hẳn cho họ, như xưa kia Bồ Đào Nha cầu Anh bảo hộ cũng dùng kế này. Vậy nếu nay người Anh nêu lên yêu cầu ta thì phải như thế nào? Nếu Triều đình cho rằng việc giao thiệp hậu với người Anh là phải thì tôi xin có ý kiến như sau: Viên tổng đốc người Anh ở Ấn Độ chỉ huy tất cả lực lượng Anh ở phương Đông, nếu được y điều đình với ta mà thành công được thì đó cũng là ý muốn tha thiết của y. Nếu y và ta thương lượng với nhau, những điều gì nên làm y sẽ tâu trước về Triều đình của y thì chắc chắn Triều đình của y sẽ chấp nhận việc thỉnh cầu đó. Nay nếu ta không thể đi thuyền của người Pháp mà phải đi thuyền nhật trình thì ta có thể khi đến Mạnh Gia Lập mượn cớ tham quan phong cảnh đến gặp viên ấy đem hết đầu đuôi việc ta muốn giao thông với Anh nói rõ, chắc chắn y sẽ vui mừng lắm. Lại nói với y rằng: Chuyến này sang Pháp xử phân công việc như vậy, xem y nói sao.

Nếu y nói nước Anh có thể làm trung gian cho, hoặc nói có thể đuổi được người Pháp thì bí mật nhờ y vạch định kế hoạch xem y tính kế như thế nào. Nếu y nói việc này phải giao thiệp với nước y mà thế chắc chắn tiến hành được thì xin y một mật thư giấu kín. Bấy giờ bên trong ta đã có bạn tốt ngầm giúp thì cứ vững tâm vững chí biện bác với người Pháp không chịu khuất phục, không chịu nhường bước mới dễ kết cuộc. Nếu việc không xong ta lại nhờ người Anh chủ trương cho thì cũng sẽ được toại ý. Tôi đã nghiên cứu tất cả sự thế và suy nghĩ hết sức như vậy, nếu người Pháp không chịu thu xếp, mà ta không có cách nào đối với họ nữa thì ta phải mời người Anh đến ăn chung với họ mới hả lòng ta, để người Anh trấn áp sự thao túng của người Pháp, không thế không được, không thể để cho người Pháp thủ lợi riêng trên đất nước ta. Lại nữa như khi ta định đi Tây thì cần phải có hai người thông ngôn để phòng lỡ khi trên đường đi có một người bị bệnh thì còn người kia thay thế. Nếu không sẽ lỡ việc của ta. Nếu Triều đình cho như vậy là phải thì xin định liệu trước để chuẩn bị công việc cho được hoàn chỉnh, như vậy mới yên tâm với công việc.

Tôi có mấy ý kiến như thế không biết có nên chăng, kính bẩm Cơ Mật Viện đại thần liệt vị đại nhân soi xét.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:32:19 pm

DI THẢO SỐ 44

Kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh*

(21 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức 10-4-1871)

Kính bẩm,

Ngô Khởi nói: Đạo dùng binh trước phải làm cho dồi dào của cải, sau mới dùng sức. Triệu Thố nói: lúa thóc nhiều, của cải dư, đủ sức công thì thủ, đủ sức thủ thì làm cho kiên cố thêm. Sách Luận Ngữ nói: Dân có đủ ăn mới giữ được chữ tín. Lại nói: Phải làm cho giàu có rồi mới giáo dục được. Như thế đủ thấy người làm việc nước trước phải làm cho nước giàu, sau nước mới mạnh. Nước ta thời gian gần đây phải đánh Nam dẹp Bắc, của cải tích lũy đã cạn. Dân gian bị lụt lội hạn hán sâu rầy, làng xóm hư hao. Bên ngoài cướp biển hoành hành, đường buôn bán không thông. Bên trong sự cung đốn cho nhà nước ngày một gia tăng, lòng dân rời rạc. Tất cả đều do nghèo thiếu của cải gây nên. Tôi thấy các nước phương Tây, nhiều nước vay tiền các nhà buôn lớn để giải quyết việc cần gấp, sau đó sẽ từ từ hoàn lại. Nước càng lớn nợ càng nhiều. Thế nhưng chưa ai bảo như vậy là yếu hèn hay sai lầm kế sách. Tôi xin có ý kiến là hãy sai người đến các đại thương gia ở Hương Cảng vay tạm 8, 9 triệu quan (Tôi bảo đảm chắc chắn có thể vay được). Mỗi năm ta sẽ trả tiền lời cho họ, hoặc giao ước ta sẽ trả hàng hóa cho họ rồi tính giá khấu trừ (Họ đến nhận hay ta đem giao cũng được), hoặc cho họ thông thương một hai cửa khẩu lấy thuế khấu trừ, hoặc cho họ lấy gỗ một hai khu rừng (Về lợi ích lâu dài của việc này, trước đây tôi đã bẩm rõ trong bài Khai hoang từ) rồi hạn định mỗi năm trừ vào số tiền vốn là bao nhiêu hòa ước sẽ được lập theo luật phương Tây, sau đó xin quan Anh ký chứng để bảo đảm vĩnh viễn khỏi lo ngại.

Khi ta đã được một món tiền lớn đem về sẽ nhất tề bắt tay làm việc. Có vốn lớn chắc chắn sẽ có lợi lớn. Đó là lẽ thường. Một mặt, trước hết sang Ma Ni Lai mua độ 4, 5 trăm con ngựa đã được luyện tập xong và mướn độ 100 người Ma Ni về tập luyện cho ta. Phong thổ khí hậu của họ cũng giống như ở nước ta. Vả lại giá ngựa ở đó cũng không đắt lắm. Những người giữ ngựa bên ấy nổi tiếng là những tay kỵ mã có tài. Dùng họ tập luyện cho ta chắc chắn ta sẽ tài giỏi. Việc ăn ở của họ cũng giống như ta nên việc nuôi dưỡng luyện tập không khó. Phải biết ngựa trận đối với nhà binh đắc lực vào bậc nhất. Hãy xem binh đội phương Tây bất luận đến đâu cũng đều kéo xe đem ngựa theo vì hết sức cần dùng đến nó. Ta đã tập được ngựa trận xong (Ngựa trận của họ rất giỏi và binh sĩ của họ rất thành thạo), tức cũng nhân chuyến đi này ta lại mua độ năm, sáu trăm súng mã pháo kiểu mới, độ 20 khẩu mẫu tử đại đồng pháo gồm đầy đủ thuốc súng và xe chở pháo. Bấy giờ ta dùng bộ binh và đại pháo đi giữa còn ngựa trận chia làm hai cánh hai bên. Từ đại lộ bằng phẳng cứ một mặt bắn vào đồn giặc. Đồn vỡ, giặc tan, bấy giờ dùng kỵ binh chia đường đuổi theo giết thì mới quét sạch được giặc. Ngựa trận có nhiều công dụng và cũng dễ thi thố, nhiều người biết không cần phải nói dông dài. Phàm việc binh chỉ nghe nói vụng mà nhanh chứ chưa nghe nói khéo mà chậm bao giờ. Nếu đánh chiếm nhanh, dù có tổn thất lớn nhưng cũng được lợi lớn còn hơn là kéo dài thời gian chiêu dụ để phải lo nuôi giặc, đề phòng giặc hay sao? Huống chi việc dùng ngựa trận không đến nỗi tốn kém nhiều. Hiện tại ta tạm dùng nó trong những việc cần gấp, mai sau dùng vào việc giao thông bằng ngựa, có công dụng cho quốc gia vô cùng. Thế có phải nhất cứ lưỡng lợi không? Một mặt dùng số tiền này mở thêm các quân khu, cấp bổng lộc cho sĩ quan binh lính để khuyên dụ lòng người. Khoản này tôi đã bẩm rõ ở điều nói về tu chỉnh võ bị trong bài Tế Cấp trước đây. Nay không phải nói nữa.

Một mặt dùng số tiền này mua sắm những thứ nhu cầu khẩn thiết lúc đầu để chế tạo và sửa chữa các thứ đồ dùng như sửa chữa cơ khí, đúc súng, đúc đạn, chế thuốc nổ và các thứ binh khí. Các thứ khí cụ này ta đều mua đem về rồi tạo riêng một xưởng cơ khí, mướn người Anh người Pháp mỗi nghề một người dạy tập cho thợ ta chế tạo các đồ ứng dụng. Đã có người phương Tây hợp tác cùng ta thì không chỉ hiện thời ta có thể chế tạo được đồ dùng mà không ngoài năm, sáu năm sau thợ ta sẽ dần dần khéo tay.

Đó cũng là nhất cử lưỡng tiện. Mấy năm trở lại đây, sở dĩ nước ta mỗi ngày một thêm nhiều nạn cướp biển là vì ở Trung Quốc hiện nay ngành mậu dịch mỗi ngày một thịnh. Họ đã tạo được nhiều tàu tuần dương chạy bằng máy và các tàu buôn, tàu nhà binh của phương Tây qua lại đường biển như mắc cửi. Người Pháp cũng tuần hành nghiêm ngặt suốt từ Bình Thuận đến Hà Tiên. Do đó thuyền phỉ khó bề phóng túng hoành hành ở hai mặt biển ấy được mà phải trốn sang tá túc nơi hải phận nước ta. Nay nếu ta mua được năm, sáu chiếc thuyền máy chắc chắn, mỗi thuyền có độ mười khẩu đại pháo lớn nhỏ. Rồi lại thuê người Anh người Pháp mỗi thuyền một người trông nom máy móc và bốn người tập bắn, hợp cùng lính của ta vừa đi tuần vừa tập luyện dàn thành chữ nhất đi từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam, gặp thuyền phỉ đều bắt hết đưa về xử trí còn thuyền thì sung công. Nếu giặc biển dồn tụ thành sào huyệt thì thuyền máy của ta hợp lại tiêu diệt, giặc sẽ tan vỡ, mất chỗ tụ tập khó có thể xâm nhập nội địa được. Giặc phía Bắc nước ta đã bị ngựa trâu phá diệt rồi, dân chúng được yên ổn làm ăn. Dân được nghỉ ngơi, quốc gia giảm bớt chi phí. Trên mặt biển giặc cướp đã biệt tích, đường thương mãi lưu thông, Nam Bắc đều lợi dụng. Tại Kinh thành việc chế tạo sửa chữa cơ khí được rèn luyện thành thạo, đồ dùng ngày một tinh xảo. Sau đó lại sai các tay thợ đã thành thạo phân chia đi dạy tập ở các tỉnh, một dạy thành mười.

Thực hiện đầy đủ ba việc lớn nói trên tức bắt đầu mở ra con đường tân tiến tự cường rồi vậy. Mà muốn nhất tề cử hành ba việc lớn ấy chắc chắn phải có một số tiền lớn mới làm được. Nếu cứ dựa vào thuế khóa trong nước thì sự chi xuất có hạn, chỉ đủ cung ứng các chi dùng hàng ngày, làm sao nổi việc lớn? Nếu tạo được khí cụ để dùng, học tập được cái nghề công nghệ thì sẽ dùng nó mà khai thác các nguồn lợi trong nước, làm ra của cải vật dụng. Lúc bấy giờ quốc gia vô sự, sản xuất nhiều, ăn tiêu ít, không những đủ trả nợ mà còn thừa nữa. Nếu không thực hành gấp đường lối mà thiên hạ thường làm để cứu vãn tình hình khó khăn khẩn cấp thì dù cho Khổng Minh sống lại, Lưu Án tái sanh cũng phải bó tay mà thôi. Tôn Tử nói: Sức kém, tiền thiếu người ta sẽ thừa cái tệ ấy mà nổi dậy, lúc bấy giờ dù là người có trí cũng không thể cứu vãn được. Tôi thành thật thấy ta có thể làm được, nên mới đem cái đường lối mà người có trí trong thiên hạ đã làm ra bẩm rõ. Chỉ vì nó hợp với sự thế nước ta, nhưng chưa biết có được hay chăng.

Xin kính bẩm.
_____________________________________
*. Bản văn chữ Hán 634/1 tờ 59-65.
    Không ghi ngày tháng, nhưng bản dịch của Trần Hữu Huyên, trên Văn Đàn 30-11-1961 trang 12-13, ghi “21 tháng 2 năm Tự Đức 24”



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:36:57 pm

DI THẢO SỐ 45

Về việc gởi học sinh sang Singapore học sinh ngữ*

(Ngày 25 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức ngày 14 tháng 4 năm 1871).

Kính bẩm,

Tôi thiết nghĩ ngôn ngữ các nước trên thế giới đều khác nhau, nhưng sở dĩ có thể hợp nhau trao đổi làm việc, đều do con đường thông dịch làm cơ sở. Phàm chiến tranh hay minh ước, cho đến những sự giao tế bình thường, đều dựa vào lời người thông ngôn. Nếu dịch sai lầm, thì sai một ly đi xa ngàn dặm. Cho nên các nước trên thế giới đều xem ngành học ngôn ngữ này là quan trọng và cấp thiết. Nước ta hiện nay, việc học tiếng Anh tiếng Pháp rất là khẩn cấp. Còn như muốn khai thác vùng ven núi về phía Tây để thu về nguồn lợi ở phía Tây ấy, kế tiếp công nghiệp mở rộng khai thác miền Nam của liệt thánh Triều đình ta, thì cũng không thể không gấp rút học các thổ âm các dân tộc vùng phía sau núi.

Nay theo thiển kiến của tôi, xin nên đưa tất cả học sinh của ta sang Hạ Châu (Hoặc trích để lại tại Bộ một vài người kha khá để dành sai phái công việc) tìm nơi có trường học tốt thuê nhà trọ thì việc học được nhiều tiện lợi. Bởi vì một là ở đó gạo cá thực phẩm rất rẻ, ít tốn kém. Hai là nước trong trẻo không khí trong sạch, ít bệnh tật nên mọi người đều khen đó là đất lành. Ba là nếu đột xuất Triều đình gởi thư gấp gọi về một số nào đó để sai phái công việc, chỉ vài ba tháng có thể về kịp. Bốn là nếu có người nào bị bệnh không khỏi, không thể tiếp tục học được nữa, hoặc có người nào có tư ý việc riêng buộc phải rút về thì có tàu là đi được ngay không phải chờ đợi mà hao tổn công quỹ. Năm là nơi đó gần nước ta, thư từ tin tức qua lại ăn ở thuận tiện, không đến nỗi buồn phiền mà sinh biếng trễ, việc học có thể thành công. Sáu là một nửa học sinh cho học tiếng Pháp, một nửa nữa học tiếng Anh, bình thường giao du thì nói tiếng Trảo Oa, tiếng Tàu, như vậy là học một mà biết được hai. Bảy là nếu người nào thông minh, ngôn ngữ chính của mình là học tiếng Pháp nhưng khi rảnh rang học thêm được tiếng Anh càng tốt. Đến khi mãn khóa có thể thi riêng môn Anh ngữ, nếu khá Triều đình sẽ có phần thưởng riêng, như thế ai nấy đều biết cố gắng, không uổng phí thì giờ học tập. Tám là nhiều người cùng học một trường, khi tật bệnh giúp nhau, phải quấy khuyên bảo nhau, để giúp ích cho nhau. Chín là trừ các chi phí về trường học và nhà trọ, tiền phí tổn đi về còn rẻ hơn đi Tây gấp mấy lần. Những tiện lợi ấy nếu đem so sánh với đi Tây thì trái hẳn. Nếu Triều đình thấy việc này có thể làm được, xin nói rõ cho học sinh biết trước mấy ngày để chuẩn bị. Trừ số tiền ăn do Triều đình cấp, còn tiền tiêu vặt linh tinh (Tôi biết chắc nhất định phải có khoản này) học sinh có thể xin cha mẹ, anh em để xài riêng. Những tiêu phí như vậy vụn vặt lắm, làm người không ai tránh khỏi, mà cũng không thể dự liệu trước là bao nhiêu, nhưng gom lại cũng thành một số tiền lớn, không thể không có được. Tất cả học sinh đi học nước ngoài dù học ở đâu cũng phải như vậy cả. Sự chi phí này không phải chỉ tiêu dùng khi đi đường mà kể cả những chi tiêu lặt vặt trong cuộc sống hằng ngày.

Tôi có mấy ý kiến như thế, không biết có nên chăng.

Nay kính bẩm.

___________________________________
*. Bản văn chữ Hán Hv 634/3 tờ 135-138.
    Không ghi ngày tháng, nhưng Nguyễn Lân sđd trang 43, có nói về việc học tiếng Anh, Pháp, tiếng Mường như ở đầu bài này và nói là bài viết ngày 25 tháng 2 năm Tự Đức 24.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:39:41 pm

DI THẢO SỐ 46

Việc dịch các văn kiện ngoại giao*

(Ngày 10 tháng 3 năm Tự Đức 24, tức ngày 29 tháng 4 năm 1871)

Kính bẩm,

Người lo việc cốt nhất phải chu đáo, thi hành mưu kế cũng phải sao cho được vạn toàn. Nếu lo việc hay lập mưu mà trong lòng còn một điểm nào bỏ cũng không xong làm cũng chẳng được, thế là tính toán chưa sạch nước. Nếu lần này đi Tây, tôi đã thưa bẩm rằng tất cả những gì có thể cải chính những chỗ thiếu sót trước đây và khai thông con đường lợi hại cho mai sau đều quan hệ ở chuyến đi này cả.

Nay tôi thiết nghĩ trong lời văn như quốc thư, văn bằng hoặc dự liệu đến bên ấy tìm được đường lối gì mà phải chép trước thành văn bản để đề đạt ý kiến của ta, những văn kiện ấy đều phải dịch ra tiếng Tây nghĩa lý đầy đủ, lời văn khéo léo, có thể cảm động được người đọc người nghe, đó là điều rất khó. Như Lục Chí đời Đường viết bài chiếu mà làm cho người xem cảm kích phấn khởi vậy. Cho nên sự lý chỉ có một, thế mà có người viết thì ý tứ nhạt nhẽo đọc lên phát chán. Nhưng nếu có người giỏi viết văn viết ra thì tinh thần bay bổng văn lý tuyệt vời, khiến người thưởng thức chẳng rời tay mà có thể lãnh hội đại khái cái ý vị thâm trầm. Dù cho sự lý cứng cỏi thẳng thắn mà lời văn uyển chuyển khéo léo cũng có thể che đậy được không làm cho người giận, có nói cũng không có tội. Những loại văn từ tuyệt diệu như vậy Đông Tây không nước nào không chuyên chuộng. Phương Tây người ta còn thiết lập một ngành học chuyên về loại này. Nay Nguyễn Hoằng nói: Nếu dịch đúng sự thật lời ý không sai thì dám vâng mệnh làm được. Còn muốn văn từ hay ho thì thật không dám. Tuy như người Tây trong trăm ngàn người còn khó có được một hai người huống chi y là người Nam mà học tiếng Tây. Các linh mục Tây đã ở phương Đông chỉ có một người (Tên là Đường tuổi đã già) hiện ở nhà dục anh ở Gia Định cũng khá giỏi.

Ngoài ra như Giám mục Hòa cũng có thể gọi là giỏi. Huống chi y mà dám làm văn chương từ lịnh sao? Nếu chỉ cần cho đúng sự thật thì được. Tôi thiết nghĩ văn tự nước ta chỉ dùng cổ văn. Lời văn ý văn cũng đã biến đổi một ít, so với lời văn của người Tàu hiện nay cũng đã khác đi. Như năm trước, khi tôi ở Quảng Đông ba tháng1 đã khám phá ra điều này. Cho nên năm trước Nguyễn Bá Nghi gởi văn kiện cho Tây soái, trong đó có một tập, Hà Ba Lý nhờ một thầy Tàu (Thầy này dạy Hà Ba Lý học chữ Hán) dịch ra. Ông ta chia một câu dài cắt ra làm đôi. Sau tôi đọc thấy mới bảo rằng: Theo ngữ ý của người Nam thì đây là một câu. Nếu chia làm hai thì đó là theo ngữ pháp hiện thời của người Tàu, không đúng với nghĩa lý cổ văn. Ông ta mới phục lời tôi nói.

Ngày nay tại Kinh đô nước Pháp có bốn người Tàu (đều là người Bắc Kinh). Đó là những người được người Pháp mời về để dịch sách Tàu. Tôi gặp họ thấy họ là những người rất tầm thường. Người Pháp có một nhân viên rất thâm nho nay đã chết. Nếu các văn kiện bằng quốc âm của ta gởi đến thì sẽ do bọn người này dịch. Nếu không rõ ngữ ý nước ta mà có một hai câu nghĩa lý không rõ ràng thì không khỏi họ đổ lỗi cho ta. Còn như việc tìm được đường lối, có viên chức nào trợ giúp cho ta thì họ cũng phải hiểu rõ hết sự tình lai lịch của nước ta mấy năm nay với họ như thế nào, rồi sau mới liều lượng sự phải trái để tìm lý lẽ mà giúp ta. Việc này đâu phải trong một lúc đàm luận mà rõ hết được. Bởi vì họ cũng có công việc của họ khó có thể cùng ta đi hết những chỗ ngoắt ngoéo lâu dài được. Nếu ta cứ qua lại chàng ràng hoài không những làm phiền họ mà còn khiến người ta sinh nghi. Cho nên muốn họ hiểu hết sự thế dài lâu của ta, chắc chắn phải viết ra văn tự rõ ràng, (Viết ra một bản quốc ngữ rồi sai dịch ra chép thành hai bản giống nhau như một để đại sứ của ta tự tay dán một bản lưu chiếu còn một bản cho vào phong bì cẩn thận ngay trước mặt mà gởi đi. Nếu có nghi ngờ điều gì thì đem bản này về đối chiếu với bản quốc ngữ của ta sẽ thấy ngay) gởi cho họ thong thả thì giờ đọc đi đọc lại. Nếu họ có nghi ngờ điều gì thì sẽ hỏi lại ta. Như vậy mới rõ ràng không sai. Còn như các đại học sĩ của họ thương nghị những việc quan trọng cũng vậy. Nếu có việc gì khó nói, hoặc nói chưa hết, hoặc ý tứ hàm súc, hoặc muốn biện minh cho rõ những điều mình đã nói tại cuộc họp thì cũng phải viết ra văn bản, dịch gởi cho họ để họ tự hiểu, có hiệu lực hơn so với việc gặp mặt nói miệng.

Những văn từ qua lại như vậy hết sức quan trọng mà rất quan hệ đến sự thế, không thể xem thường được. Người xưa một lời nói còn hơn mười vạn quân, một trang giấy còn hơn công việc của mười Bộ. Lối văn từ lịnh như vậy không thể truyền bằng miệng được, phải có một người Tây giúp việc cho mới có thể chu đáo ổn thỏa được. Tôi đối với việc nước đã lo lắng đến như thế, tức là đã coi công việc nước như chính công việc của mình, cho nên tất cả những điều bẩm thỉnh của tôi đều muốn sao cho được thành công. Nếu biết rõ có một chút gì có thể gây sai lầm thì không những không dám bẩm thỉnh mà nếu thế chẳng đặng đừng thì tôi cũng phải hết sức dùng kế thoát cho được. Nếu không thì tôi tội gì mà dẫn người để làm lầm lỡ cho mình?

Nay việc đi Tây hãy còn nhiều ngày, xin Triều đình hoặc có thể cho Giám mục Hòa lên kinh nghiên cứu tình thế để bàn bạc trù tính thêm kế hoạch, may ra giám mục có đường lối riêng nào có thể giúp cho chuyến đi này chăng, hoặc giám mục có viên quan lớn nào là bạn tốt xin giúp cho ta trước, và giao trách nhiệm cho giám mục dịch giúp các văn thư. Tất cả những tư liệu gì liên quan về tình thế trong nước Pháp, xin tiến hành dịch trước (Dịch ra thành hai bản chép giống như một, sứ bộ lấy một bản đem đi, còn một bản lưu chiếu). Nếu giám mục thấy chuyến đi này quả thật có thể thừa cơ hội mà làm được việc và trình bày mối manh rõ ràng có thể nghe được thì xin Triều đình yêu cầy ngay giám mục cùng đi luôn để giúp đỡ (Nếu vậy có thể thay được một thông ngôn, đã bớt chi phí mà giúp đỡ được rất nhiều) cũng được.

Nếu có nghi ngờ điều gì thì yêu cầu giám mục hãy hứa trước mặt rằng thủy chung công việc đều theo như ý của Bộ. Nếu giám mục hứa rõ thì không phải nghi ngờ gì nữa. Mà nếu khả nghi thì chính tôi phải nghi trước không phải đợi đến Triều đình. Nếu quả thật Triều đình hiểu cho rằng tôi tuy ở chung nhưng chí chẳng đồng thì Triều đình không còn nghi ngại gì nữa. Mà tôi cũng còn phải theo sát giám mục để thi hành kế phản gián nữa. Như binh pháp đã nói cái kế xen vào để lung lạc bên trong, chính ứng dụng vào lúc này. Hãy thử xem trong tờ bẩm năm ngoái tôi cũng đã nói rõ. Kế hoạch này nay không phải bẩm lại nữa. Hơn nữa đối với giám mục từ trước tới nay, tất cả những cuộc gặp gỡ với quan bố chánh Nghệ An, nhiều lần có đem vấn đề sáu tỉnh ra nói chuyện mà giám mục đều chỉ nói không có chỗ sơ hở nào có thể thừa cơ được. Thế mà nay lại xin viết thư cầu giúp thì trong lòng giám mục cũng đã cân nhắc như thế nào rồi. Về Giám mục Hậu cũng vậy. Trước đây giám mục đã bẩm với quan tỉnh rằng nếu Triều đình muốn làm việc lợi ích thì giám mục sẽ xin hết sức cầu giúp, còn vấn đề sáu tỉnh thì không dám. Thế mà nay giám mục lại đồng quan điểm với Giám mục Hòa như thế là có thể tìm ra đường lối giải quyết cho vấn đề sáu tỉnh. Có điều là cần phải giáp mặt bàn hỏi giám mục thì mới rõ hết được (Giám mục đã ở bên nước hai năm mới về và giao du rất rộng, có thể giám mục thấy được cơ hội tốt để hành động, không phải như Giám mục Bình chỉ biết việc đạo giáo ngoài ra chẳng biết việc gì khác). Hoặc nếu Triều đình không muốn giám mục đến, và việc đi Tây hãy còn thư thả thì xin cho tôi trở về gấp. Về một tháng cũng đủ để giáp mặt thương lượng với giám mục. Và nếu thấy có mối manh thì xin quan tỉnh giáp mặt thương lượng rồi cùng với giám mục về Kinh cũng tốt. Tôi có mấy ý kiến như thế, không biết có nên chăng.

Kính bẩm.


(Nếu cho giám mục về Kinh thì khi đi xin cho tôi gởi một bức thư cho giám mục, kèm theo với công văn, để khuyên giám mục nên quyết định đi).
 
___________________________________
*. Bản văn chữ Hán Hv 634/4 tờ 143-150.
    Không ghi ngày tháng. Nhưng bản dịch của Trần Hữu Huyên, trên Văn Đàn ngày 17-1-1963, trang 46-47, có ghi là “10 tháng 3 năm Tự Đức 24”.
1. Bản dịch của Văn Đàn ngày 17-1-1963, dựa vào bản văn chữ Hán khác nói “ba năm” (tam niên).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:42:16 pm

DI THẢO SỐ 47

Về việc cải cách phong tục*

(Ngày 10 tháng 3 năm Tự Đức 24, tức 29-4-1871)

NƯỚC NHÀ KHÔNG NÊN KHINH SUẤT ĐIỀU NHỎ

Bẩm, tôi trộm nghe: Triều đình làm việc tươm tất đầy đủ. Lại nói “muôn điều mục đều trưng lên”. Nói “mục” tức là chỉ điều nhỏ (như là lưới, “cương” là cái diềng, mục là từng khoảng trong mặt lưới). Quan chánh đời Đường, Ngu nói đến thuật muông chim. Thầy Mạnh Tử nói đến Vương đạo mà trù đến việc nuôi heo, gà; Quản Trọng làm tướng nước Tề, có đặt nữ thương. Bính Cát tướng nhà Hán mà hỏi đến trâu, thỏ; Châu Lễ, vườn nào không trồng cây thì bị phạt; Nhà Tần, ai bỏ tro ngoài đường thì bị tội... Xem đó thì biết rằng làm việc quốc gia không nên khinh suất những việc nhỏ.

Việc Trung Quốc kể trên, còn là sơ lược. Đến như phương Tây thì càng tương tế hơn, như: tập lội có trường, lấy phân có phép, đổ rác có xe, quét đường có phu; phàm việc thường hành trong dân gian, không có việc gì là không đặt chức để coi sóc việc ấy. Thành muôn việc đều theo thứ lớp tiến hành. Vì công việc dầu nhỏ mà khắp nơi đều có, chứa lại thành việc lớn.

VIỆC NHỎ MÀ CẦN THIẾT VỚI NHÂN SINH

Tạo hóa sinh vật từ cái lớn không có bờ bến, cho đến cái nhỏ không nhìn thấy được trời vẫn sinh thành và chiếu cố đến cả. Tức như các đảo san hô ngoài biển, hợp lại rộng đến đôi ba ngàn dặm, có người và vật sống trên đảo ấy, mà nguyên chất đảo ấy là do xác trùng san hô tý tý chất chứa keo dính lại mà thành. Trên mặt đất về tính phì nhiêu ở trên, đều do cứt trùn cùng lá mục... chứa chất lâu đời, động trong núi, do xác cá, xác trùng nhưng kết lại mà thành (nhà địa học đã xét nghiệm, đó là việc thiệt, không phải nói lý), thành món đại hữu dụng cho đời (như xác nghêu, hến, chế ra vôi cùng các vị thuốc kim thạch v.v...) đều từ những cái nhỏ đó cả, mà lại có cơ màu nhiệm sinh hóa mãi mãi không đời nào dứt. Tuy là vật nhỏ mà loài giống không tiêu diệt thành vật đại quan trên đời. Đấy là toàn đức của trời của tạo vật...

Trong vật trời sinh, loài người khác hơn muôn vật, vì biết học theo đạo trời. Nếu chỉ có tánh tri giác vận động mà không có năng lực kinh dinh bố trí, thì sao gọi được là thiêng hơn loài vật? Bởi vậy đã có loài người, đầu tóc không thể để bùm xùm như đống cỏ, thì bịt khăn đội mũ; thân thể không lẽ để trần truồng, thì bận áo quần. Không thể sống trần trụi giữa đất trống không, thì làm ra nhà cửa; không thể ngồi nằm dưới đất được, thì sắm ra giường ghế; chân không đi trần được, thì sắm ra giày dép... Phàm những vật dụng người đời sắp đặt ra để hưởng dụng, khác với loài vật là tại chỗ ấy.
______________________________________
*. Bản dịch của X.T.T. đăng trong TIẾNG DÂN từ tháng 1-1940. Không thấy bản Hán văn ở đâu cả.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:44:00 pm

Nay nhân dân nước ta tuy đã biết dùng những cơ xảo để giúp sức người. Cơ xảo xứ ta còn nhiều khuyết điểm cái đó chưa nói, chỉ nói những điều nhỏ và dễ làm mà khuyết điểm còn chan chan. Xin lược kể như dưới:

NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM VỀ VIỆC NHỎ (QUANH ĐÔ THÀNH HUẾ ) CÓ THỂ CẢI CÁCH ĐƯỢC

Kinh thành là một nơi tụ hội cả thanh danh văn vật và oai nghi lễ phép từ đó mà ra. Vậy mà trừ các nơi cung phủ ra, có lắm điều thô lỗ quê mùa không sao nói xiết. Thánh như Khổng Tử, từ cư xử, ăn uống, cử động, tới lui, việc nhỏ mọn ấy, học trò đều ghi chép để làm gương cho người sau. Vì xem người, xem điều nhỏ mà có thể biết được điều lớn.

Nói riêng về một sự ở. Nhà cách trí có nói: Người đời sinh bệnh nhưng bệnh đó từ lỗ mũi mà vào; những nơi uế độc, nhân khí nặng nề mà chưng lên, lẫn trong không khí, theo gió bay ra khắp nơi, nếu người nào hớp vào phổi thì khí độc ấy theo mạch máu mà đặt vào phủ tạng và chi thể mà sinh ra bệnh tật, đến huyết trong thân người hư hỏng mà chết. Đó là lý rất đích xác. Xem mùa nắng nhiều người cảm bệnh mà nhiễm bệnh ôn dịch thì rõ.

Nay trong Kinh thành, con đường lục bộ cho đến đường các nha thự chợ quán tường hào, vườn hoa và các bến sông chỗ nào cũng có uế khí, thậm chí có kẻ trước mặt công chúng mà đi tiểu đại không biết xấu hổ; các cầu dọc theo sông, không luận ngày đêm đàn ông, đàn bà cứ ra nơi ấy mà phóng uế, quen lấy làm thường. Người lo sửa mình đối với bóng đèn nệm gối, còn lấy làm hổ thẹn, xây lưng với người gọi là vô lễ, trần mình đối khách gọi là khinh mạn. Huống Kinh đó là nơi tôn nghiêm, trên các đường quan quân qua lại, sĩ thứ tới lui mà còn để có những chuyện “bất nhã” như trên sao? Ở phương Tây phàm những người nào bỏ rác làm nhơ đường đều bị phạt cả vì việc ấy bất nhã mà có mối hại chung. Ta cũng là người như họ, lại không biết xấu hổ sao?

Đến như gạch vỡ ngói hư, cây nhành khô lá rụng đổ rác và tro than các nhà loại ra người nước khác thu nhặt làm đồ vật hữu dụng, tăng tấn nguồn giàu cho nước... mà người mình thì vứt ra cùng đường, ném xuống ao vũng, hoặc đổ ra ngoài hào quanh thành, chất đầy cả bến sông, có nơi đến chất đống, người ta nhân đó có thể vượt hào sang bến được. Tôi từng thấy nhà người ta cứ mang đồ ra tới nơi lan can các hào cửa thành mà đổ xuống thường lắm.

Người Tây phàm đường sông quanh thành và thông vào thành nếu như có người nào bỏ vật gì xuống thì bắt phạt là phòng lâu ngày đường sông ấy bị chất chứa mà thành cạn. Nay hào sông quanh thành ta nước cạn không lút đầu gối, hai cảng Đông Ba, Bạch Hổ cát bồi gần lấp bờ. Lúc đầu tiên đào những hào và sông ấy là đặt nơi hiểm yếu, mà nay gần như đất bằng là vì sao? Hiện dọc hai bờ hào quanh thành bờ đã có những nơi gần đổ sụp những vôi cát đã hủng hỉu, thấy người ta thường vịn theo nơi hang bờ đá, ở dưới hào mà leo lên bờ, dưới hào lại cỏ tốt, sen lên dễ ẩn núp được... Những điều đó đều phạm đến kiêng kỵ của nhà binh.

QUAN THỰ

Dinh thự các quan, tường vách xiêu đổ; đến các quan giải, trống dưới dột trên, ngoài đường thì bùn lầy, vườn tược thì rác bẩn; trước sân quan nha thì cỏ mọc; trước cửa dinh quan nơi tụ ngõ mà đổ rác thành đống; ngoài hào thì nơi lồi nơi hủng, các nhà trong thành, hai bên đường gần nhà cứ quét dọn ra giữa đường như chia giới hạn vậy. Những đường bên vách tường đó, mùi hơi hôi thối, người đi qua phải che mũi đi mau... Cửa thành gọi là “quốc môn” lại gọi là “tượng khuyết” đời xưa phàm có truyền hiệu thì lệnh đều treo yết nơi cửa đô thành, người đi qua phải nghiêng lọng xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính, mà nay lại công nhiên làm nhơ bẩn, như thế thì lòng tu ố ở đâu. Không phải là tiết mạn hay sao? Sao gọi là người nước biết giữ lễ nghĩa?

NHƠ BẨN CÓ HẠI ĐƯỜNG VỆ SINH

Những mối tệ như trên không sao kể xiết. Phàm những khí uế độc đều ở xứ này mà theo luồng gió lại bay sang xứ khác; huống chi là ở trong một đô thành. Tuy có một vài quan thự dọn dẹp sắp đặt cũng sạch sẽ chỉnh đốn; song nước gáo không thể cứu được lửa xe, cả đời đều đục mà trong riêng một mình thành ra nhiều người sinh bệnh, quân lính hay sinh lở chân... đã hại thân thể người và kém phần nhân đạo, như thế không cho là việc nhỏ được.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:45:46 pm

VIỆC ĂN Ở

Các dinh quan như sáu bộ đường, bốn phía thềm ủm thủm, chỗ lủng, chỗ sứt, trông nó so le, xiêu quẹo như hình rắn đi. Trong nhà mò tối cửa vách đen mò, khói bay mờ mắt, giường chõng mục rệu, cánh cửa lung gãy, có lẽ giống nhà ông Nguyễn Hiến thời xưa1. Đến đồ dùng trong nhà đều khí cụ thô vụng cũ rích đời nào, tưởng đâu các quan ta có tính ham đồ xưa. Ván kê sát đất không thông khí gió, trải qua ba mươi, bốn mươi năm loài rệp mối tụ họp thành ổ cắn người thành ghẻ, thán khí chất chứa không tan, cảm xúc là sinh bệnh. Thường nhà người trong buồng sâu phòng kín, không khí không thông, hễ một lần quét là thán khí bung ra, người vào đấy phải nhức đầu nghẹt mũi. Đó là thực chứng; huống rắn rết chuột muỗi dùng những nơi dưới hầm thấp buồng kín làm hang làm ổ truyền đời này sang đời kia, những đồ nhơ bẩn chung quanh đều dồn chứa vào đấy, cái khí độc thật không nói hết!

Tôi thường thấy quan viên ở dãy hai bên, và gia thuộc sai lính đi tìm thầy thuốc mà những quan và gia thuộc đó trông hình vóc ốm yếu như người ở trong rừng sâu, trọn ngày làm việc khó nhọc khí uất trí ngăn, thì làm sao cho mình được thanh sảng, chí khí được khỏe khoắn mà làm việc cho tinh tường được?

Thầy Mạnh Tử nói: “Sự ở thay đổi được chí khí, sự nuôi thay đổi được thân thể”. Thật thế, người không có ăn mặc thì đạo vua tôi cũng dứt. Đó là điều đích xác và nhân đạo. Tôi thấy phần nhiều quan viên ăn uống sơ sài không bằng nhà trung sản trong dân gian. Họ thì trả lời rằng không phải không biết đồ tư dưỡng nên phong hậu, chỉ khổ không có tiền chu cấp nên phải thế... Chính dưới nhà bếp không mấy khi có thịt thừa, cơm thừa. Đó là mắt tôi từng thấy mà không khi nào quên. Như thế là cố làm cái giả dối để câu cái dạng sao?

Năm trước sứ bộ ta sang Tây, người Tây thấy sự ăn uống của sứ bộ quá đơn giản, họ nói: “ăn uống như thế mà có sức để bổ vào phần trí dũng thật không sao hiểu được”. Đến trước mặt người nước ngoài mà không dám dọn bữa ăn cho sang không rõ là ý gì? Tôi rất lấy làm đau lòng, nên không thể không nói, sợ làm trò cười cho người ngoài không phải là việc không quan hệ.

Bộ đường là nơi nguồn gốc chính trị, nền tảng cường thịnh trong nước, quan hệ đến phong hóa và quốc thể, nhân dân chiêm ngưỡng, người nước ngoài trông vào mà sự ăn như đã thuật trên không những không biểu thị khí tượng hùng tráng của nước nhà, mà ở trong không khí ẩm thấp thì người càng mê mỏi, tâm trí còn có lúc nào khỏe khoắn mà làm việc gắng sức chịu nhọc với phận sự? Tôi ở nơi chái tây quan Hiệp biện đại thần mà sinh bệnh lười biếng mệt nhọc, không có việc gì mà còn thế, huống chi các đại nhân công việc nhiều thì sao?

Hiện nay có lệnh cấm “người nước ngoài không được vào trong thành” vẫn là theo thời thế. Song ngày sau cùng các nước giao thông mà bỏ lệ cấm trên, người nước ngoài vào thành bước chân vào các bộ đường mà so sánh với cách cư xử của họ thật không khác gì một trời một vực, nhục đến quốc thể biết bao! Mà đã nhục đến quốc thể tức là bày chỗ hèn yếu cho thế giới cùng nhìn thấy, không xem như là việc nhỏ được.

KHOẢN TIÊU DÙNG CỦA QUAN VIÊN

Về các khoản ăn dùng chi tiêu của các quan viên không bằng sự tiêu dùng của một nhà khá giả trong dân gian. Tôi hỏi vì sao, thì họ trả lời: “ăn tiêu như thế mà người ta gọi là quá xa xỉ rồi đó”. Có viên hàm Hàn lâm trước tác, ra chợ mua một xâu cá một xấp thuốc, mang về tự nấu lấy, hỏi thì họ nói: “Không có tiền thuê đứa nấu bếp” (!).

Chức phận dầu nhỏ cũng là quan của Triều đình, mà khổ nhục đến thế, thì dân bảo thế nào? (Đoạn này kể nhiều đến điều mắt thấy vào thời ấy, như nhà quan chức lớn mà ăn uống thô hèn, công tử mà bận áo rách v.v... xin lược).

Thường thấy nhiều vị quan viên tiêu dùng một quan tiền như nhà buôn giàu xài một trăm quan...

Những cách hiểu đó, chính là con ma nghèo đeo đuổi trìu mến mà không rời vậy. Sao không làm văn mà trục nó đi? (Quan há bấy giờ không tiền mà lương ít thì lấy đâu mà xài? Tiên sinh chỉ nói đến hiện tượng mà không xét đến nguyên nhân, nên lúc ấy dư luận không phục ).

Ở phương Tây một vị quan nhà nước, nếu làm không đúng cái thể quan, mà có đê hèn đôi chút đã bị cách chức vì đã làm vết xấu trên danh dự quan trường. Cho đến hạng dân nghèo không được đi đến nơi đó hội phồn hoa đều là để tôn trọng quốc thể vậy.

Còn như quan ta, nếu bảo rằng che giấu sự giàu mà biểu thị cái nghèo ra, thì cũng vô lý hết sức. Vì ăn dùng như vậy có người làm quan trọn đời mà cũng như vậy. Lại có ông quan thăng trật cải lỵ mà dân dám đón đường đòi nợ như đám dân nguyện lưu. Vậy để tiền làm gì? Giả dối đến thế là cùng. Phải chăng để dành tiền đặng dùng sau lúc mình chết? Tôi chính mắt thấy có ông quan già về hưu mà còn sống nhờ vay nợ, phải chăng để dành tiền bạc di chúc cho con cháu trả nợ cho mình được sạch tiếng chăng?
__________________________________________
1. Nguyễn Hiến: Bậc cao đệ của Khổng Tử có cảnh nhà trên dột, dưới thì ướt.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:48:39 pm

SAO GỌI LÀ LIÊM?

Gọi rằng “liêm” vẫn tiếng tốt, song tại lương tâm mình chứ không phải dùng vật. Nay có người giữ theo tính riêng của mình khác với mọi người, như người xưa có anh say mê người con gái một mắt, xem người đời đều thừa một con mắt, mà cho là người đời không có người hoàn toàn; hay thấy người nào dùng một vật gì tốt mà xúm tay chỉ trỏ, làm cho người kia mang tiếng này nọ. Lấy cái tính quyến giới trái thường của mình mà đạc chừng sự tham mạo của kẻ khác xem người đời như ruồi hút máu, mà đem cái nết con trùn để buộc vào tính người (loài giun ăn đất) để so sánh chỗ mình khác người, đó há phải người bình tình nên làm sao?

Tôi thấy quan viên phương Tây gặp có vị quan nào cùng túng thì bạn đồng nghiệp, đồng liêu quyên giúp đặng mua đồ khí dụng tinh hoa, trần thiết cho có vẻ đẹp. Nhà nước đối với quan viên ngoài bổng lộc lại có tiền phụ cấp, cho xứng với chức quan và thể diện quan. Vì một người có điều xấu hổ như lá đổ xuống nước mương rãnh và dạy quan học thói tham vậy.

Nhà nước vẫn cầu cho quan được giàu sang và ghét quan tham ô. Làm quan tham ô nhục đến thể diện, ăn của đút lót, hình luật có phạt. Song có bổng dưỡng liêm mà sau tránh phạt kẻ không liêm, mới mong tránh khỏi mối tệ nói trên. Nếu ngăn phòng sự tham ô mà lại ghét ganh kẻ giàu sang, nào có khác gì nhân nghẹn mà bỏ ăn?

Vậy, trừ việc “hiếp người trái phép mà lấy của” đáng bắt tội ra, ngoài ra, theo việc thông thường mà làm nên giàu không hại cho ai mà dân được nhờ, cũng lại là đáng khoan, lại giúp thêm việc thịnh lợi cho nước. Tức như thầy Mạnh đã nói: “Trị người thì được người nuôi”.

Vả chăng tài hóa cần phải lưu thông, có tụ lại thì có tan ra, là lẽ tự nhiên, không lấy gì làm phương hại, Tiên Triết có nói: “Quan tham mà có phần trung hậu, hại dân chưa lắm. Quan liêm mà quá ư thâm khắc, dân chịu cái hại ngấm ngầm không ít, mà hao tốn đến quốc mạch”. Vì đã cần cho được tiếng “liêm” thì việc gì cũng thẳng tay, không chịu xét theo nhân tình. Đạo trời cũng thế, nên chỉ thi hành cái lệnh “túc sái” mùa thu, tội gì cũng tuyệt trừ đi, thì người và vật có lẽ đến ngày nay không còn.

Đời Đường, ông Hàn Dũ làm việc tể tướng, thấy có ai bới lông tìm vết, chỉ vạch điều lỗi của kẻ khác, ông bảo: “Trên đời, vua thánh như trời mùa xuân, sanh trưởng muôn vật; thứ tốt loài xấu đều bao dung cả. Sao lại tìm móc điều lỗi nhỏ của kẻ khác để giam cầm người ta giữa đời thịnh trị?”

Trương Tuấn, tôi đời Tống, một ngày nọ bắt được một đảng ngụy chở ba mươi vạn quan tiền, muốn kết án tử hình. Triệu Khai xin lấy cái ấn “Tuyên vũ sứ” đóng lên trên số tiền ấy, kêu tội “kềnh” (chạm chữ vào trán) bắt bọn chúng làm công việc đúc tiền... chỉ xoay một cái đã được ba chục vạn tiền, lại thoát tội tử hình cho năm mươi người, đời sau khen Triệu Khai là tay “đại thủ đoạn kinh tế”.

Tào Tham, danh tướng đời Hán, ủy thác cho người thay chức mình nói không nên làm rối chợ ngục. Quản Trọng, danh tướng nước Tề nói Bảo Thúc Nha không thể làm chính trị vì thấy người nào có lỗi thì trọn đời không quên (Không có độ lượng làm tướng quốc v.v... )

Trên, nói “liêm cũng có hại” là vì thế. Bằng như nói kẻ giàu sang lại tham ô, thì sao không trị tội một cách minh bạch công nhiên, mà chỉ lấy lời nói làm phòng hại người cùng cách bó buộc ăn ở để phòng hại đến quốc thể?

(Bài này cốt châm mối tệ đời Tự Đức, nên cực lực bác cái đức “liêm” giả dối đó. Đời nay thì dầu người liêm giả dối cũng đỡ cho dân).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:49:30 pm

KHÔNG DÙNG ĐỒ TỐT ĐẸP KHÔNG PHẢI LÀ LIÊM

Âu Tây thì khác thế: Không luận là quan hay dân, đều cần cho được giàu thịnh, vì quan dân trong nước mà có được nhiều cái tốt đẹp đều có quan hệ với quốc gia Triều đình. Nghiệm ở Triều và ở thôn quê mà biết nhà vua tôn quý là thế nào. Vào một nhà nào mà thấy bọn đầy tớ ăn mặc chỉnh tề, thì biết chủ nhà là giàu sang; làm con cái mà lập được cơ nghiệp tốt đẹp, đó là lẽ đương nhiên. Nay ở nước ta lại cố ý làm cho thô vụng xấu xa và có tục ngăn cấm sự ham đồ tốt đẹp, như có nhà nào dùng một vài đồ ngoại quốc thì nghi là tư giao, ngấm ngầm kiếm cách để làm hại, cho đến người đời lấy sự “tốt đẹp” làm kỵ húy. Từ quan đến dân, đua nhau làm những nghề tinh xảo ngày một tiêu mòn, dùng những đồ vụng rồi thể thống càng hèn, người giàu cũng như người nghèo, kẻ sang cũng như kẻ hèn, có cái thế đáng ham muốn mà không có sự đáng kính, không có cái vinh hoa phô với người. Văn vật ngày càng suy, áo xiêm càng xấu, không có vẻ tốt đẹp. Như nói lấy lễ mà tiết chế kẻo sợ người nước tập thói xa xỉ thì trên thế giới các nước đều lấy sự giàu mạnh mà khoe với nhau là ngu dại cả hay sao?

Trời sinh ra những vật tốt đẹp cho người sử dụng, mà nay lại ném bỏ đi, ấy là bạo khí của trời. Như thế thì việc thông thương mại, khuyên trăm thợ, không cần nói đến, giàu nước đủ dân cũng là sự đáng chê, lợi dụng hậu sinh, không có nghĩa gì, mà đặt ra trường học và xưởng công nghệ, cũng là việc không cần cả. Đồ khí dụng tốt đẹp, tạo ra mà không được dùng, lại kiêng sự dùng, khinh rẻ kẻ dùng, ai dùng lại bị chê cười nữa, thì dùng đồ tốt đẹp đó trở thành làm nhơ kẻ hiền đạt, nhục đến thân danh, rước lấy điều ghen ghét lại bị dòm xét này nọ, thì có khác gì làm cái hầm trong nước cho người nước xỉa chân vào hay sao?

Thánh nhân đời xưa không quý chuộng vật lạ là những thứ vô ích vô dụng mà khêu lòng dâm đãng kia. Nay như cái đồng hồ, cây đèn cùng cả đồ tinh xảo thường dùng trong nhà, cần thiết với nhân sinh thì dùng lại càng tốt. Vậy mà tôi đã hỏi nhiều vị quan sao không mua đồ ấy mà dùng cho tiện lợi, thì thảy cả đều trả lời “chết! chết!”. Không rõ có cái gì cảm hóa mà ngấm ngầm khiến cho người ta làm theo, như là luật hình nghiêm khắc đối với giặc bí mật.

Theo thông tánh loài người, ai cũng có tính ưa thích cái đẹp; nếu trái với cái tính ấy thì trăm việc không việc gì nên, mà trái với tính trời đã phú cho người. Duy dùng có tiết độ, vừa phải, ấy tức là lễ chớ đâu phải buộc cả mỗi người đều trốn đời tu hành mới gọi là “liêm” hay sao? Liêm như ông Trần Trọng Tử ở Ô Lăng (không ăn của anh, ở riêng một mình) mà thấy Mạnh Tử mạt sát, Tề Oai Hậu cho là đem dân vào đường vô dụng mà đòi giết đi.

TRỊ ĐỜI PHẢI XÉT TÍNH NGƯỜI

Thánh nhân trị thiên hạ, phàm việc gì bất cận nhân tình như kẻ trốn đời, tuy có kính trọng, mà không thể đem khuôn kiểu ấy ra dạy người đời. Sáng mắt như Lý Lâu, thấy cây kim trong buồng tối, nhưng cũng phải dùng thước, cân, lượng mà chuẩn, vì không lấy cái “sáng” đó mà buộc cho người thường được.

Vua Hoàn Công nước Tề háo sắc, mà Quản Trọng cho là không hại gì nghiệp bá. Vua Tuyên Vương nước Tề háo hóa mà thầy Mạnh cho là nên suy ra thành vương chánh... Từ xưa những vị vua anh hùng khai cơ dựng nghiệp, đều lấy sự “bảo trợ giàu sang, chung cùng lợi lộc” thề với những truy tùy với mình. Nếu mỗi người đều thành như Bá Di, tín như Hiếu Kỷ thì cùng ai mà tóm thâu thiên hạ làm nên nghiệp vương được? Và như các vị công thần, bỏ nhà cửa, lìa bà con, trông ngày sau được phong tước hưởng lộc đó, đều cho là hạng người bất trung và tham tâm cả sao? Như chỉ hứa bằng miệng suông mà không có thực lợi giàu sang đi theo sau thì mục “cửu kinh” trong sách Trung dung, có hai chữ “trọng lộc” cũng nên cạo bỏ đi cả.

Phải biết hai chữ “danh lợi” cùng đi đôi với nhau. Nay đã gánh phần lo cho thiên hạ mà không được hưởng niềm vui trong thiên hạ, thì ai còn khổ gì mà phải làm quan? Xưa vợ Trần Trọng Tử can chồng nếu chịu lãnh tước lộc thì phải gánh việc nước, e có điều nguy đến tánh mạng... người đời cho là hiền, vì trọng tính mạng mà xem nhẹ tước lộc. Nay đã bắt lo toan việc nước là việc nặng mà lại không được hưởng cái nhẹ kia, thì làm sao mà bảo trọng được?

Đời xưa vua đãi với tôi, như vua Nghiêu sắm đủ kho đụn để phụng vua Thuấn, vua Chiêu Công định phong Thơ xã cho Khổng Tử, có phải là đem cái mồi giàu sang mà dụ người đâu?... (lược) Đã là quốc gia phàm việc gì cũng gốc theo nhân tình và thông tính trời phú cho người, dầu thánh hiền cũng không khỏi. Nay lại mất cả người trong thiên hạ mà làm cùng khốn quê hèn, không phải là trái với tính người sao? Như vậy thì trông mong cho nhà nước giàu mạnh thịnh lợi để dùng làm việc gì mà lo toan cho mệt nhọc?


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:51:20 pm

VẬT CHẤT CÓ QUAN HỆ VỚI TINH THẦN

Người xưa đến một nước nào, vào trong nước mà trông thấy đô thành tráng lệ, lâu đài phố xá chỉnh tề sạch sẽ, đô thị có ngăn nắp, nhà cửa có hàng ngũ, đồ mặc đồ dùng có vẻ chỉnh sức, không khí trong sạch... thì biết là nước ấy có cái cảnh tượng hùng thịnh tấn tới, trái lại nếu trông thấy nhân vật quê mùa hèn hạ, phong cảnh u sầu, ăn ở tệ lậu, trông phong sắc có dạng buồn rầu cực khổ thì tương lai của cái vận nước ấy không đợi nói mà ai cũng hiểu được; điều quan hệ đó, đâu phải là việc quan hệ nhỏ (Thuyết này rất đúng, không rõ Triều Tự Đức có quan cảm thế nào?)

Nói riêng ở chỗ Kinh thành đây, cái ao trong ngoài thành để cỏ mọc um tùm, chung quanh thì làm nơi chứa những rác rến dơ bẩn chất thành từng đống, có nhiều hơi độc. Nhà cách trí có nói: Phàm những nơi ẩm thấp đồ dơ bẩn của người và vật, chấm ngấm trong bùn đất, đến mùa nắng khí độc xông lên, người ta gặp phải sinh tật bệnh cảm nhiễm đến chết. Xem hôm nào trời động trên mặt nước có cái sắc khác với ngày thường, đó là chứng thực rõ ràng. Bằng như nói sợ động đất không nên đụng chạm đến các ao đó, thì trước kia đào những ao đó làm gì? Mà đã vô dụng thì lấp bằng đi, sao lại để cao không cao, thấp không thấp, ao không phải ao, ruộng không thành ruộng, làm những khoảng đất trống vô dụng làm mối hại lâu dài ngấm ngầm cho người đời? Nay như nhận những cái cũ sẵn có đó mà chỉnh đốn cho thành mới, nuôi cá phải phép thì mỗi ao trong một năm có thể lợi được hai ba ngàn quan tiền, lại được những điều ích hơn là phong cảnh vui đẹp, có lợi dùng nước để tưới vào hoa quả và tuyệt khí độc sinh bệnh hoạn. Như thế vì cớ gì mà không làm được?

Tôi lại thấy các nước trên thế giới, phàm những dấu tích của các vị đế vương đời trước còn lưu lại, bất kỳ thứ gì có mồ hôi tay và miệng của tiên triều, không luận cái lớn hay nhỏ, đều bảo tồn một cách rất cẩn thận, cho đến lâu đài quan phủ cũ đều chăm sóc chỉnh đốn cho mới thêm, khiến cho người sau trông thấy huân nghiệp hùng vĩ, biết là cội gốc sâu xa mà sinh lòng yêu mến sùng bái cũng lâu dài. Điều quan hệ không phải nhỏ, chỉ xét về mặt trái thì biết. Song đó là điều kỵ húy không dám nói rõ.

ĐI XE VÀ ĐI GIẦY

Xa chính (trong nước dùng xe để đi và vận tải) có lẽ nước ta bỏ đã lâu mà không tu chỉnh lại. Trên thế giới từ nước hạng nhất đến nước hạng ba không nước nào không lấy xa chính làm việc trọng đại, vì giúp cho sức người rất nhiều công việc. Xưa nay trên sử sách nói về xa chính đều có minh chứng không đợi nói nhiều.

Trời sinh vật để giúp cho người dùng và thay sự khó nhọc cho người nữa, dùng trâu ngựa kéo xe chở đồ nặng, trên đời thường dùng ít mà thu công nhiều. Nếu dùng sức một, hai người mà mang gánh không phải phụ cái ý “trời sinh vật cho người dùng” hay sao? Đến xe cộ dùng vào việc binh, công dụng rất lớn, không nói hết được. Đã có xa chánh (có xe phải nuôi ngựa), mà nghề mục súc cần phải mở mang, không phải là việc lớn trong quốc chính sao?

Tôi thấy những người phu kéo xe và đẩy xe chở vật hạng trên đường cái quan, nếu có người nào quá nhọc mệt mà ngồi lên trên xe thì kẻ hạch hỏi và bắt phạt tội, không rõ có điều nghiêm cấm ấy không mà họ làm như thế? Nếu như nhận thứ xe làm đồ phẩm dụng quan dụng thì phân biệt bằng quy chế để chỉ rõ từng đẳng cấp (xe quan dùng, xe dân dùng, có dấu hiệu v..v...) không tiện sao? Sao lại không chỉ rõ đẳng cấp, mà cứ để mù mờ để hẳn một việc dùng lớn trong nước? (Trong dân không có xe). Có tiện lợi cho việc dùng mà sau dân được phong hậu, tức là ích cho nước. Các nước thế giới đều nhận việc xe cộ vận tải làm mối lợi giàu mạnh trong nước, quan hệ cả công tư, không phải là việc nhỏ. Việc dùng thế nào không đợi nói nhiều.

Thứ giày là việc hèn không đáng nói. Người sở dĩ khác với loài vật là biết ăn thịt nó, dùng da nó để giữ thân mình cho tròn vẹn, cha mẹ sinh thế nào thì bảo tồn thế ấy, không làm hại đến có vết tích, ấy gọi là hiếu. Nay người mình đem cái chân cha mẹ sinh thành mà không từ gai góc, không tránh sạn sỏi, nhơ bẩn và trùng độc, cứ đạp bừa mà đi. Vì thế người mình thường sinh bệnh lở chân, lở cẳng (ghẻ chùm bao và dạn v.v...) nhiều hơn nước ngoài.

Trời sinh loài thú ban cho nào nanh, nào móng, lại có da dày rất bền, đâm không thủng gai không đâm được. Nên loài vật không cần đi giày cũng có đồ tự vệ. Đến loài người da chân rất mỏng, có cái gì chạm là lủng, đã không có da dày như loài thú để giữ cái chân, lại không dám mang giày, người không giống người, vật không giống vật không phải một điều khổ sao?

Các nước thế giới không nước nào dùng thứ giày làm vật phẩm quan dụng (Quan dân có tiền thì sắm mà mang), vì nó là vật hèn. Như nước ta nhận lầm là vật phẩm dụng (Dùng để phân biệt với người có quan phẩm) thì trên đôi giầy mang một dấu hoa hay vẽ gì đó để phân biệt quan dân cũng được, cần chi phải cấm thứ “giày” hèn đó khiến cho dân gian không ai dám đi giầy để cho người ngoài cười mình là dân dã man? Chưa nói người mình cần giầy thì thêm được một nghề cho người có việc làm, đó là điều ích. Chứ như không mang giầy mà chân bị thương thì toàn thân đều không dung. Người xưa lúc ra trận bị đâm nhằm vật nhọn, bị té ngã mà toàn quân bị thua, chứng rằng “giày”, vật tuy hèn mà công dụng rất lớn vậy.

(Dân gian đi giày không có minh văn lệnh cấm đời nào. Song xem đời Nguyễn Trường Tộ tiên sinh thì đời Tự Đức có lẽ theo tục lệ, quan thấy dân đi giày thì quở phạt. Hiện nay một vài nơi phủ huyện học trò và dân đi giày, guốc có nơi bị quở đánh, thì tục lệ vẫn chưa dứt hẳn. Một điều lạ là phương Đông như nước Tàu mà mắng người thường dùng tiếng “lão không giầy” (vô lũ chi lão). Còn người Nhật toàn đi guốc cả nên có tiếng là nước guốc gỗ. Duy có nước ta dân gian không đi giầy, đến ngày nay dân quê còn thế, đó là cái chứng nghèo chăng?)

Trời sinh loài người khiến biết tạo các vật dụng để phân biệt với loài vật, để toàn đạo làm người, là vì lẽ gì? Nói nhường riêng một thứ giày đó để quan dùng cho trọng sự tôn kính, thì giày ở dưới chân vẫn là đồ khinh, còn áo mặc mới là trọng, sao không cấm thứ trọng để quan được mặc áo, hưởng sự quan trọng đó? Mà bắt dân gian làm “nước ở trần trụi” không được mặc áo, không cần trồng dâu để nuôi tằm, không dễ dàng hơn sao?

Thánh nhân chế lễ, gồm cả việc nghi văn để bày tỏ là có lễ có văn mới gọi là lễ; nếu như trần vai truồng mình thì gọi là khinh mạn. Nay ở trường ca xướng hát bội thì bọn hát được đội mũ đi giày, thì ra lấy trường hát bội làm trọng, mà khinh rẻ nhà công đường sao? Tôi không rõ từ đâu mà sinh ra cái tục đó, rất trái với bản ý lễ của thánh nhân.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:52:14 pm

MỘT VÀI TỤC XẤU CỦA PHỤ NỮ

Đến như phụ nữ ta, lại có lắm điều vô lễ; tôi thấy trên thế giới người đàn bà đã 50 tuổi mà không khi nào lộ nửa thân thể ở trần bao giờ. Tuy dân Mã Lai là dân bậc chót, đàn ông nửa mình trên đều ở trần, mà con gái thì bận kín. Đến người nước Tiểu Tây (Thổ Nhĩ Kỳ) thì con gái, đàn bà chỉ để lộ hai con mắt, mặt mũi đều che kín cả. Người ta làm thế là để phòng nhàn sự phi lễ.

Nay đàn bà xứ ta, thường thấy nửa thân trên ở trần (ở Kinh thành cũng có thế) mà trước mặt công chúng đông người xắn quần đến trên đầu gối, như đàn ông bận khố, trông như vị hòa thượng không mang một sợi tơ... Đời xưa nói “mẹ chín con” nay hẳn thấy thế, quê xấu biết bao? Sao không biết hổ đến thế. (Đoạn này nói ở trần đi tắm và giỡn cợt nhau... Xin lược).

CHỬI RỦA

Đến trong ngôn ngữ giao tế với nhau lại lắm điều không thể đặt tên được:

Nước ta những nơi thành phố chợ búa không luận đàn bà trẻ con ngu dốt không biết gì đến người có học có biết chữ mà mở miệng là nói tiếng mắng chửi và lời thô bỉ nói luôn đầu môi. Tập thành thói quen, những tiếng “mắng cha chửi mẹ” cùng tục tĩu, người nghe đến nhơ cả lỗ tai mà tự người nói lại lấy làm khoái, cho đến dạy câu mắng, học bài chửi, đọc ra có cung, có điều, nếu như người nào mắng chửi cả ngày mà không trùng lặp, thì người ta xem như Tô Tần, Trương Nghi trong khoa mắng chửi, chiếm giải quán quân vì miệng chửi như nước chảy không khi nào cản vậy!

Đến lúc diễn ra cái bộ dạng mắng chửi, tiếng như mõ rao, chân như múa hát, lên tay, xuống ngón, mặt như sơn đổ, tóc như tơ vò, nước miếng như bọt giải, tay cầm đất lia, chân đi cà xiểng không khác gì người điên... Những thói xấu đó thật là ba phần giống người bảy phần giống ma quỷ. Trước đây lúc người Tây mới đến Gia Định (Nam kỳ) một lần thấy hai người Nam đang mắng chửi nhau, lên tay xuống ngón, múa men v.v... họ xúm lại xem cho người Nam làm trò. Sau họ biết rõ hễ thấy đám mắng chửi nhau, thì dùng “ba toong” giải tán ngay.

Lại còn một điều xấu nữa, hễ có điều bất bình với ai thì phát thệ và nguyện rủa chúc dữ rất nặng. Thường ngày cùng giao du với nhau mà đến ghét bỏ nhau, chất chứa điều bất bình lâu thì khi yêu nhân đó mà sinh ra. Như cho là vô hại thì trong luật có điều “cấm nguyền rủa” làm gì? Đời Hán, Giả Nghị lấy gương nhà Tần làm răn, không phải là vô cớ. Vì đối với đồng bạn mà nguyền rủa minh bạch thì đối với người trên, há không nguyền rủa âm thầm hay sao?

(Có dẫn vài chuyện “rủa” làm chứng, xin lược).

“Không nên nói điều phi lễ” thánh nhân có dạy: “Mắng chửi bị án xuy mười roi”, luật có điều ấy rõ ràng. Nay thói ấy đầy cả thành thị mà cứ để như vậy thì còn dùng sách và vật làm gì? Việc nhỏ như thế mà không lấy lễ phép chỉnh tề sửa đổi lại, huống chi việc lớn. Ngoài ra như “đầy miệng điều láo, một ngày bán được ba gánh giả, đến đâu cũng dối, ba ngày không mua được một điều thiệt”. Thật là không còn chút lễ nghĩa liêm sỉ nào. Cái phong tục khiêu bạc đến thế là cùng! Thế giới chưa có nước nào như xứ mình. Phép nước mà không làm cho người nước đổi ngoài mặt thì còn nói đến chuyện hóa thành tục mỹ được?

Trên mấy khoản là tựa chỗ gần mà thường thấy, nên chỉ trực tự như thế mà không nói đến phương cải cách. Vì việc cải cách đó rất dễ...


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:55:49 pm

DI THẢO SỐ 48

Thương lượng với Giám mục Croc*

(22 tháng 5 năm Tự Đức 24, tức ngày 11-5-1871)

Kính bẩm,

Từ khi giám mục Hòa đến, tôi hằng đêm suy nghĩ kỹ tình thế hiện tại, biết rõ rằng hiện nay tình thế bên nước họ cũng chưa ổn định. Tuy muốn giao hảo trở lại với Phổ mà chấm dứt xung đột nhưng Phổ đòi giá quá cao nên họ không gánh nổi, một nửa cũng muốn sống mái một phen, một nửa lại muốn chịu nhục nộp tiền bồi thường. Cả hai đều chưa dứt khoát. Lại nữa nước họ một nửa những người có quyền muốn lập Cộng hòa chấp chính để giúp cho phe nhóm của mình. Còn những người mưu việc chính trị ở Viện Thứ Dân thì muốn lập dòng dõi của vua trước lên (là người chính thống từ xưa nay) để đổi mới nền chính trị. Những người đương cầm quyền thì hết 8, 9 phần 10 đều là người kiêu căng khoe khoang chuyên chế tính khí bất thường. Cho nên họ bàn việc thì phát ngôn bừa bãi chăng nghĩ gì đến việc lợi hại. Vì vậy giám mục có nói riêng với tôi rằng: Việc mà Triều đình muốn, nếu thương thuyết với đảng của họ thì có thể được một cách thình lình hoặc cũng có thể sinh sự một cách bất chợt, chưa thể nào chắc chắn. Bởi vì họ vui giận bất thường. Bọn họ là những người đem nghĩa lý cất kỹ trên gác cao. Những người chính nhân quân tử đều chán ghét họ lắm. Cho nên giám mục suy nghĩ kỹ việc này thấy không có manh mối gì cả thành thử không dám nói chắc (Đó là những ý mà giám mục bàn định riêng với tôi về việc được hay thất bại chứ không phải nói ở chỗ công sở). Nay đảng của họ lại muốn thu lấy nhiều của cải ở sáu tỉnh cho nên việc thông thương lợi ích họ còn rất trì hoãn không để ý.

Như tờ bẩm trước tôi đã nói thay đổi thời cuộc còn khó là vì vậy. Nay người con cháu nhà vua thật là người tốt, mà những người đứng đầu ủng hộ việc lập con cháu nhà vua cũng có nhiều hảo tâm. Còn người con cháu nhà vua, giám mục cũng có biết qua, những người đứng đầu chủ trương việc suy tôn nhiều người ở gần làng với giám mục và giám mục có quen biết một hai người. Nếu may ra người con cháu nhà vua được lập lên và sứ bộ đi Tây mà Triều đình chẳng chê bỏ kẻ hèn mọn thì giám mục vui lòng gắng sức làm công việc sai bảo này. Như vậy giám mục mới bằng lòng. Có điều là những người ấy phần nhiều là những người lương thiện, họ không theo bọn loạn nghịch nhưng mà cứng mạnh đối địch lại bọn kia thì cũng khó ra tay. Do đó việc rước người con cháu nhà vua để suy tôn cũng chưa rõ ràng. Ngày trước giám mục gặp vị nguyên soái trước (Vị này đã về Tây, nguyên soái nay đến thay, y không phải thuộc dòng dõi nhà vua, trước đây vì nghe lầm mà nói) nói rằng: Triều đình có gửi thư cho giám mục ý nói sơ lược về việc ký thác việc đất đai mà về. Nhưng phương lược chưa được sử dụng hết, cho nên giám mục chưa vội thương thuyết. Giám mục nói: Nếu như trong khoảng tháng 7 tháng 8 tháng 9 năm ngoái mà Triều đình tìm ra đường lối thì việc đổi đất gởi đất tưởng cũng dễ có cách. Nhưng nay thì khó nói rồi. Lại có một lần giám mục ngẫu nhiên nói với tôi (Đó là thốt nhiên lộ ra với tôi một câu thôi, nhưng ở trước mặt đại nhân thì chắc chắn không dám lộ ra) rằng: “Hai con cọp giành ăn, đó là cái kế thiên hạ cũng đã dùng nhiều. Có điều là nếu không giỏi về thuật tung hoành thì không thể làm được. Nước Nam cũng đang có cái thế ấy”. Giám mục nói đến đây chợt khựng lại. Thấy vậy tôi bèn nói lảng sang chuyện khác, không dám hỏi lại, coi như lời nói vô ý vậy thôi. Còn về khoản đổi đất, giám mục nói rằng: Quan bố chánh Ngụy đại nhân cũng có lộ cho biết, Giám mục cho rằng thế cũng tốt. Nhưng nghĩ rằng đảng của họ không cho là quan trọng vì không đem lại lợi ích cấp thiết cho dân họ.

Chung quy giám mục nói rằng: Việc đời biến hóa vô thường. Bủa lưới bắt chim hồng chẳng phải vì khó bắt được mà không làm. Tùy thời mưu sự, cùng đường thì kêu trời, đó cũng là thế gian thường tình, chẳng nên vì thành bại mà thở than. Giám mục bàn chuyện với tôi tựa hồ thật chẳng giấu giếm tránh né gì cả, nhưng trước mặt liệt vị đại nhân thì lời lẽ phần nhiều úp mở dè dặt vì sợ thêm nặng nề mà không cất nên nổi. Có điều là giám mục đối với nước ta cũng có được sáu, bảy phần tình cảm tốt đẹp chứ không thiên lệch bênh vực cho nước của người như những người khác. Còn tôi trong khi nói năng thì dùng lời lẽ khéo léo tách bạch ra, thăm dò những chỗ khúc mắc xem như thế nào chứ không dám lộ bày sự thật, mục đích để thử xem đối với thời cuộc như vậy thì giám mục tính toán ra làm sao. Cho nên sự thế ấy cũng chưa nói hết. Trước đấy khi giám mục ở tại Bộ Hình có nói câu “Dùng sức dùng mưu”. Khi về, tôi trách rằng: Triều đình muốn đem tình nghĩa thủy chung ra đối đãi nhau chứ nào có ý dùng sức dùng mưu chi đâu? Giám mục nói: Câu nói gởi đất mà về, tuy không rõ ràng là dùng sức, nhưng tận dụng mưu kế ấy tức là trong âm thầm dùng sức mà bức lấy. Điều đó thiên hạ đã làm nhiều rồi. Có điều là Triều đình thi hành muộn đấy thôi. Nói dùng sức không có nghĩa là nói Triều đình đem binh lực ra chống chọi lại.

Kính bẩm.


(Giám mục nói: “Nghe nói Triều đình muốn sang nước Y. Tôi cũng không hỏi giám mục xem giám mục đã nghe ai nói thế. Tôi chỉ hỏi rằng: Nếu đi có ngại gì không? Giám mục nói: Nước Y xưa nay chỉ vì nước Pháp mà duy trì không dám vội gây sự gì khó khăn. Nay nước Pháp có việc, phải tự lo liệu không được rảnh rang. Nếu người Y tự gây hiềm khích mà đem binh ở Lữ Tống đến quấy nhiễu thì nước Nam lại sinh thêm một kẻ địch nữa. Nếu đi Tây mà yêu cầu nước Y nói khéo giùm cho, mới là khéo xử sự tình thế hiện tại. Những lời giám mục nói, đại lược cũng một vài điều tương tự với tờ bẩm trước của tôi).
______________________________________
*. Bản Hán văn Hv 634/4 tờ 155-160.
    Không ghi ngày tháng. Nhưng di thảo số 48 nói tờ bẩm “22 tháng này”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:57:12 pm

DI THẢO SỐ 49

Tình hình chính trị nước Pháp với công xã Paris*

(Giữa tháng 5-1871)

Kính bẩm,

Nay vâng Cơ Mật Viện đại thần liệt vị đại nhân mật hỏi về việc những điều trước đây tôi đã trình bày về sự thế với những điều giám mục nói hôm nay có chỗ trái nghịch nhau là vì lý do gì? Tôi xin trả lời như sau.

Theo các tờ bẩm trước tôi đã trình bày là nên thừa cơ hội trong lúc việc chấp chính bên nước họ đang bấp bênh mà liệu định công việc của mình (Từ tháng mười năm ngoái trở về sau việc chấp chính hãy còn hợp nhất. Nếu tình hình còn kéo dài như thế thì cũng dễ liệu tính công việc. Đến tháng hai năm nay thì những người nắm quyền chấp chính có thể nhập vào đảng tôn vương, hoặc về vườn, hoặc hợp nhập với loạn đảng). Đó là tôi nghe được tình hình lúc mới khởi loạn mà tiên liệu tình thế như vậy. Nếu cuộc diện quả đúng như các tờ bẩm trước mà không xảy ra biến cố gì thì có thể tìm được mối manh (Như tờ bẩm trước tôi đã nói: Quốc trưởng bên nước họ mới tính việc lập đảng để củng cố nội bộ, như thế thì mười phần họ không để ý đến việc xâm lược phương xa). Nhưng sự thế thay đổi bất thường. Nay theo chỗ giám mục thấy thì đảng ấy quá rời rạc không có hệ thống gì cả khó đề đạt được gì. Đó là trên đường về giám mục nghe thấy thêm như vậy (Khi giám mục về Kinh đến Bình Chánh được nghe tình thế lại xảy có biến cố. Khi giám mục ở tại Bộ Hình, những điều giám mục nói là tình hình nghe được từ tháng giêng đến hạ tuần tháng ba năm nay, mà nói chung như vậy). Cũng như những sự lý tôi trình bày trong tờ bẩm ngày 22 tháng này cùng với các tờ bẩm trước hơi có chỗ bất đồng đó là căn cứ theo chỗ bí mật thương nghị giữa giám mục với tôi mà nói. Những điều nói ra không có gì tránh né ẩn giấu cả. Nếu trước mặt liệt vị đại nhân giám mục nói có vẻ sơ lược và không đi sâu. Đó là thể thống cách nói năng phải như vậy chứ không phải có ý thoái thác gì đâu. So với những gì tôi mới trình bày thì cũng thống nhất, chỉ hơi khác là nói cạn và nói sâu mà thôi.

Ngày nay tờ bẩm của tôi có nói: May mà nước họ chấm dứt kẻ địch bên ngoài thì nội loạn sẽ lại khởi lên. Bởi vì nước họ xưa nay truyền nhau theo hệ thống chứ không có phong tục thừa hưởng lâu dài theo lối tập nhượng như các nước. Cho nên khó tạm lập thủ lãnh và như thế chưa chắc sẽ không có sự gì xảy ra. Như năm trước, khi đông cung thái tử ở bên Tây, nước ấy sau đó có loạn lớn mấy năm cũng giống như tình hình hiện nay. Nay mới được tin báo chí nói rằng (Tin này từ Gia Định gởi đến Bộ Lễ trao cho giám mục mở xem. Sự thế bên nước họ từ trung tuần tháng ba trở lại do tin điện truyền đến Gia Định in vào báo tiếng Tây cho người Tây xem chứ không phải nói sơ lược như tờ Gia Định báo. Còn các tin tức do thuyền nhật trình thì chưa đến. Tin tức theo tin điện nói như sau): Hiện nay Phổ Pháp đã tạm nói chuyện hòa nhưng yêu sách chín khoản quá nặng nên chưa ký kết, trong khi dân Pháp phần đông xôn xao như muốn quyết một phen sống mái (Loạn đảng của họ cũng chủ trương không hòa với Phổ để mượn kế lôi kéo dân tâm về với họ mà chống lại các quan quân chủ hòa) như vậy hòa hay chiến tưởng cũng chưa quyết định. Lại nữa hiện nay trong nội thành Ba Lê Tư loạn đảng chiếm cứ, thành Mã Sai, thành Lê Ông và các thành khác phần nhiều có loạn đảng tiếp ứng nhau hoặc lén đến thành Ba Lê Tư hợp với loạn đảng, hoặc tiếp ứng ở ngoài quấy phá bốn mặt. Đảng quan quân hãy còn chống nhau với loạn chúng thắng hay bại chưa chắc. Tháng trước quan binh đã đánh một trận lớn với bọn loạn ở thành Ba Lê Tư, bọn loạn chết đến một vạn rưỡi, nhưng thế lực của chúng còn mạnh, chưa thể một sớm tiêu diệt sạch được. Vì thế tuy việc bàn lập vua đã thành nhưng chưa cử hành được là do loạn quân.

Nay quan quân có nhiều người tốt, trong đó có đại tướng Mạch Mã Hàn. Cho nên giám mục hy vọng việc lập vua có thể thành tựu được. Cứ theo sự cuộc này thì đúng thật không sai. Nếu quả vậy thì sứ bộ ta chắc chắn không thể đi được vì đường sá bế tắc mà loạn đảng thì muốn nắm quyền. Nếu ta chí cầu quan binh nhưng lỡ gặp loạn đảng thì chắc chắn sẽ bị nhục thêm là vì ta không đến cầu họ mà lại đến cầu quan binh. Tháng trước (Khi giám mục chưa đến) tôi cũng đã bẩm miệng với Phan đại nhân rằng: Nếu chỉ đến bàn với nước họ thôi thì nán lại một ít đợi nước họ lập vua xong hãy đi. Đó cũng là một kế sách. Bởi vì việc đi đứng như vậy rất quang minh chính đại và việc đi đứng của ta sẽ được nguyên soái của họ bảo hộ đưa tiễn trọng vọng. Bấy giờ ta đã khỏi tốn sở phí mà công việc cũng dễ nói. Nếu chờ sau một vài tháng có tin mới chắc sẽ biết rõ cuộc diện nước họ ra sao (Dù chưa bình định xong nhưng cũng đã biết đàng nào ra sao). Nếu quan binh thua nhiều thì chắc chắn nước họ sẽ loạn lâu, như 40 năm về trước. Bấy giờ Triều đình muốn quyết định lựa chọn như thế nào (Tức là đến nước họ dùng kế nhỏ nhẹ đấu dịu để thảo luận xin sáu tỉnh) mới có thể quyết định được. Còn nếu muốn đi khắp thiên hạ để thi hành mưu kế của ta thì đã có các tờ bẩm trước nói rõ rồi. Đó là tình hình mới nắm được từ sau hạ tuần tháng này như vậy. Tôi ngày nay tinh thần phiền loạn chưa dám nói nhiều sợ có điều lầm lẫn. Nhưng việc ấy hãy còn nhiều ngọn ngành, xin để trình bẩm sau.

Nay kính bẩm.
______________________________________
*. Bản hán văn 634/4 tờ 154-155.
    Không ghi ngày tháng, có lẽ viết liền sau bản 22 tháng 3 năm Tự Đức 24, tức khoảng giữa tháng 5 năm 1871.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:58:29 pm

DI THẢO SỐ 50

Về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng*

(Tu võ bị)

(Ngày 2 tháng 5 năm Tự Đức 24, tức ngày 19 tháng 6 năm 1871)

Kính bẩm rõ về việc tu chỉnh võ bị.

Tôi xem phép chinh chiến xưa và nay thấy có chỗ bất đồng rất lớn. Việc khó nhất, quan trọng nhất không gì hơn việc binh. Đâu có thể nào cứ giữ như tình thế lúc bình thường mà đối phó được sự biến bất thường. Những vật dụng thời xưa, nay xem lại đã thấy thô sơ xấu xí không dùng được, huống chi là việc binh, ngày nay có thể áp dụng theo phép xưa được sao? Tôi đã xem nhiều nước phương Đông từ xưa đến nay, những điều mà tất cả những nhà binh pháp thi hành ứng dụng và các danh tướng bài binh bố trận, từ mưu lược cho đến trận pháp, thành đồn, khí giới, binh lính ra sao, tướng lãnh thế nào, làm sao mà thắng, vì sao phải bại, nhất nhất tôi đều lãnh hội vận dụng khéo léo, mới biết rằng binh thế biến đổi tùy theo mỗi thời, và đến nay hầu như đã thay đổi hẳn. Tôi cũng quan sát các nước phương Tây từ xưa đến nay, vấn đề phải biến đổi tùy theo thời cuộc, cũng giống như ta mà thôi. Tôi có xem viện bảo tàng ở phương Tây, trong đó trưng bày la liệt đủ thứ binh khí cổ, tôi cũng đi xem các thành lũy xưa hiện còn di tích, rồi đem so sánh với ngày nay, thì thật cách xa nhau như trời với vực. Các nước phương Đông, giỏi dùng binh nhất là Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản (Tôi đã đọc nhiều sách Nhật Bản). Các nước Trung Quốc, Mông Cổ, Ấn Độ, Ba Tư đều chỉ theo chính sách tự vệ. Còn các nước hạng ba như nước ta, Cao Ly, Xiêm La, Miến Điện v.v… chỉ được xếp vào loại ngoài ngõ ngoài hè mà thôi. Nói về tài mưu lược, người thời nay cũng khá hơn so với thời xưa. Bởi vì vận đời càng sa sút thì mưu trí con người càng tăng, lòng dối trá cũng ngày một tinh xảo. Mọi việc đều như thế cả, không riêng gì một việc binh.

Người xưa chế tạo vật dụng để thích ứng với công việc. Họ tạo ra mô dạng như vậy là ứng dụng đúng vào thời thế lúc ấy. Làm sao lại có thể cứ giữ mãi một thứ khí cụ chế tạo từ thời thượng cổ đến nay mà không cải biến? Binh gia cũng vậy. Tất cả khí giới trận pháp, thành đồn, nếu sống ở thời buổi này mà cứ trở lại theo xưa, thì rõ ràng không ứng dụng hợp thời được. Như thế những gì tiền nhân chế tạo để lại, nay tùy thời canh cải, rõ không phải phản bội người xưa, mà để ứng dụng cho hợp thời thế mà thôi. Đâu có thể cứ dùng mãi một phương pháp nhất định đến hàng trăm năm được sao? Sở dĩ năm trước trong bài Tu võ bị tôi xin cho soạn lại binh thư và chế tạo lại những thứ khí giới không còn hiệu nghiệm, chính vì lý do đó. Hãy xem Kim thang tá trợ, cũng là sách mới đây, trong đó Đột môn là phương pháp hay nhất, thế mà nay cũng không dùng được, huống nữa là những thứ khác. Nước ta hiện nay, các phương pháp binh gia đều theo lối cổ, thế mà sự cư xử giữa tướng đối với binh, binh đối với tướng thì lại theo mới hết. Điều đáng dẹp bỏ lại để, điều đáng giữ lại dẹp bỏ. Như thế đâu phải là thay đổi trong binh gia? Phép dùng binh của phương Tây ngày nay, về trận pháp, thành đồn, khí giới đã hoàn toàn lột xác. Riêng về đạo làm tướng như các đức tính nhân, tín, dũng, nghiêm, cho đến yêu lính như con, thận trọng khi gặp việc, họ còn gìn giữ tốt hơn xưa. Như vậy mới thật là khéo biến hóa.
______________________________________
*. Bản văn chữ Hán 634/1 tờ 66 - 85
    Không ghi ngày tháng, nhưng Trần Hữu Huyên trong bản dịch trên VĂN ĐÀN số 35, tháng 7-1962, nói: “Ngày 2 tháng 5 năm Tự Đức 24”


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:58:59 pm

Trước đây, khoảng năm Tự Đức thứ 22, tôi có bẩm một tập về Tái tu võ bị trong đó tôi có nói đến trường hợp tỉnh Nghệ, từ thành nội đến thành ngoại, cho đến doanh trại đồn lũy chợ búa bốn chung quanh, phần nhiều phạm vào điểm kiêng kỵ của binh gia. Nói thế không phải dám chê người xưa là vì thời xưa bố trí được như thế đã khéo lắm rồi. Lấy hình thế binh pháp ngày nay mà quan sát, hơn nữa là người đã học cả pháp xưa lẫn pháp nay như tôi, mới biết như thế không còn thích nghi vớii binh pháp thời nay nữa. Trong tập, trừ các khoản đã đề cập, nay không bàn đến, còn như trồng cây, lập các đồn nhỏ ngoài thành là những khoản có công dụng rất lớn mà binh pháp xưa cũng đã nói nhiều. Về khoản xin lập đồn ở ngoại thành, tuy xuất phát từ phương pháp phương Tây nhưng phép bố trí của tôi còn hay hơn một bậc. Điểm này quả thật tôi không dám nói phóng đại. Năm xưa khi ở Gia Định có người Tây đã từng khen rằng người như tôi việc gì chẳng làm được (Người này đã từng xây dựng doanh trại lớn và đã đến hỏi tôi một vài lần bởi biết rõ tôi có tài này. Có điều là tôi cũng không để cho họ dùng cái tài của tôi ). Còn đối với ta, Triều đình chưa biết tài tôi, bởi người ta xem thường mà cũng có chút ít nghi ngờ nên chưa dùng. Cho nên nếu y theo binh pháp của tôi rồi lại xem hết các binh pháp phương Tây ngày nay, hơn nữa phải là người giỏi về địa lý binh pháp, mới thất được chỗ hay hơn của binh pháp của tôi.

Hãy xem trận chiến giữa Phổ Pháp, cũng có thể nghiệm được lời tôi nói. Có một lần quân Pháp đóng ở đồng bằng, quân Phổ đóng ở rừng cây, quân Pháp thua một trận lớn, tử vong rất nhiều là vì chỗ đóng quân của Pháp không có cây cối che đỡ. Sau có vị đại tướng Pháp xin chặt hết cây nhưng vua Pháp không nỡ cho chặt. Lại có một lần vua Pháp muốn tiến vào một thành nhỏ nhưng vị tướng Pháp cho rằng bốn bên chung quanh thành không có đồn để làm thế ỷ dốc, không thể cố thủ được, do đó không dám tiến đóng. Lại có một lần vua pháp bị hãm trong thành, tuy ngoài thành bốn mặt đều có đồi cao, đồn lũy, nhưng đã bị quân Phổ chiếm hết. Quân Phổ từ trên cao đổ xuống vững như tường dựng. Quân Phổ thắng nhờ chiếm được các đồn trên cao ở ngoài thành. Quân Pháp thua vì mất địa lợi. Binh như Tây binh mà một khi mất địa lợi còn không thể giữ được, đủ biết địa lợi đối với binh gia quan trọng đến bậc nào. Xem thế thì thấy lời nói của tôi nghiệm đúng. Chỉ vì người ta khinh rẻ cho là lời nói làm bẩn tai, cho nên triều đình chẳng thèm để ý.

Giá như Khổng Minh sống lại mà chép tập này, dù có một hai điều không đúng người ta cũng không dám bàn. Bởi vì tên tuổi có thể bịt được miệng người. Cũng như các trạng nguyên, bảng nhãn, văn chương của họ đâu phải chữ nào chữ nấy đều là châu ngọc? Nếu có một hai câu không thông suốt lắm bọn học hành thấp kém lại cho rằng mình chưa đủ trình độ để phê phán. Suy ra mọi việc ở đời cũng thế thôi. Điều mà tôi nói phương pháp của tôi vượt trội hơn đó, nếu Triều đình đã biết sơ qua phương pháp của phương Tây, hoặc có một quan lớn nào đó cùng đi với tôi tôi sẽ chỉ cho thấy phương pháp phương Tây như thế này, như thế kia, đến khi về xem lại những điều tôi nói trong tập bẩm trước, mới thấy chỗ đặc biệt của phương pháp của tôi. Còn những chỗ khéo léo trong việc áp dụng thi hành thì nhiều lắm, một tập một quyển không thể trình bày được. Nếu ngày nào tình thế có thể thi hành được, tôi sẽ đến ngay tại mỗi địa thế trù liệu tính toán, chỉ rõ phương pháp xây cất, đồng thời chỉ rõ phương pháp ứng dụng phù hợp với địa thế trong trường hợp địch công ta thủ như thế nào, sau đó mới biết được cái hay của nó. Còn nếu cứ nói suông trên giấy chẳng khác nào vẽ trăng, vẽ khéo đến đâu cũng không phải mặt trăng thật.

Lại như Kinh thành sự đặt định hợp với địa thế ra sao, đó là điều húy kỵ tôi không dám nói. Còn như đối với các tỉnh, tất cả những nơi nào tôi đã thấy đều đáng nói hết cả. Lẽ nào ngàn lời suy nghĩ không đúng được một hay sao? Trước đây trong điều nói về Tu võ bị tôi đã bẩm rằng con người đã có tài trí để giúp cho người vận dụng, lại còn phải có khí cụ tinh xảo để giúp cho con người bảo vệ lấy mình. Như vậy mới yên tâm vững chí thi hành kỹ năng của mình được. Nếu tay không đánh cọp, dầu thắng cũng chỉ là gặp may mà thôi. Huống chi địa hình giúp cho nhà binh, thành lũy là nơi lòng dân tin cậy, là chỗ hết sức hiểm yếu của quốc gia, là điểm mà kẻ địch cố đánh, là tính mạng của binh lính ta vậy. Quan trọng như thế mà cứ an nhiên dùng mãi phương pháp cũ kỹ hàng trăm năm, không chịu tùy thời học hỏi nghiên cứu được sao? Dựa vào chỗ hiểm yếu cố nhiên phải kiếm được người tài sức, mà lập được chỗ hiểm yếu thì phải biết dự liệu. Trong thiên hạ chưa bao giờ bởi vô tài hoặc vội vã mà được. Hơn nữa thành đồn lại không thể vội vã mà làm được.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:59:28 pm

Xưa Lý Doãn trồng nhiều loại cây gai góc, nhờ đó châu Thương thêm phần hiểm trở. Dư Giới lập thành Ngư Sơn, nhờ đó cửa khẩu đất Thục được liên lạc. Ngoài ra những việc tương tự như thế không thể kể xiết. Cho nên người làm việc nước, đối với việc binh phải dự bị ngay lúc bình thời, chắc chắn không thể đợi đến lúc binh đao gần kề và sự thắng bại đã thấy rõ ràng trước mắt. Trước đây trong điều nói về Tu võ bị trong tập Tế cấp bát điều và sau này trong tập Tái tu võ bị cũng có nhiều điều có thể áp dụng được, nhưng vẫn chưa thấy được đem ra thực hành. Người xưa nói: Việc sửa trị không phải nhiều lời, mà phải cố sức làm. Quả thật phương Tây đã học được ý nghĩa câu nói này. Cái sở học về binh gia của tôi không phải chỉ có chừng ấy, nhưng trước tiên tôi chỉ nêu những điều cấp bách mà thôi.

Nay tôi lại xin bàn đến khoản làm sao nâng cao tinh thần binh sĩ. Bởi vì nếu ngày nay không chịu cải cách thì không làm sao khơi dậy được tinh thần binh sĩ vốn đã lâu hèn yếu. Thường thường sau lúc binh thời thì quan và binh phân cách (Binh lính phương Tây không có sự phân cách này) không có sự thống thuộc lâu dài. Cho nên lúc bình thời quan chẳng làm được một cái ơn gì cho lính, thì khi lâm sự sẽ không có cái oai để điều khiển họ (Trừ khi xáp trận, quan không có quyền giết một tên lính). Làm quan không có ân dày đối với lính mà vội sử dụng oai quyền thì lính sẽ không thân, không quy phục. Không quen thân nhau lâu mà còn cách điệu thì khó được cảm tình. Hơn nữa quản đội, suất đội, phần nhiều xưa cũng là người cùng trong đội ngũ với lính. Con nhà tướng ra cửa nhà tướng mà thôi chứ không có biệt tài gì đáng trọng vọng để cho binh lính tâm phục. Sống lâu ra lão làng được chức lớn thì tâm lý binh lính sẽ nghĩ rằng sĩ quan cũng chỉ là người như bọn họ. Họ kính sợ chăng là kính sợ quyền chức, chứ đâu phải nhân phẩm người ấy. Đã từng có một hai lãnh binh, đề đốc chỉ biết viết hai chữ “tuân phụng” thế mà ở trên người ta, thì làm sao có thể chỉ huy điều khiển được ai? Tôi thấy người Tây chưa có ai không thông sách vở mà có thể cai quản một trăm người trở lên, huống chi làm đến chức quản lãnh. Vì vậy trong bài nói về Tu võ bị trước đây tôi đã đề nghị các võ quan cần phải biết chữ, phải thông thuộc các sách binh thư. (Các nước người ta đều lo tu chính biên soạn binh thư, còn nước ta chỉ biết lo dùi mài văn chương. Việc đáng làm gấp lại trễ nải). Nay sao ta không khiến các cử nhân, tú tài có sức lực hãy bỏ văn theo võ, đọc thuộc các sách binh thư, rồi cho làm các chức quản, đội trở xuống, cho học tập bổ túc về quân sự ba năm, sau đó đem ứng dụng, như thế còn tốt hơn là lính ở lâu năm được thăng lên quan. Sao lại cứ để họ rỗi rảnh ở nhà, xen vào việc dân cho thêm rắc rối. Xưa nay trong hàng danh tướng có phân nửa là người ít học, đó là do người ta không chuộng thứ hủ nho, chứ đâu đến nỗi như ngày nay, quản đội mà chỉ biết được có hai chữ. Đại phàm bản tính con người ta, nếu đem so sánh một con người chỉ dựa vào tư chất tốt của mình mà không có học thức, với một người bình thường mà học nhiều, thì sự hiểu biết của người sau hơn người trước rất xa. Huống chi làm tướng mà không học được sao? Binh lính quý ở dũng cảm, sĩ quan quý ở mưu cơ. Sĩ quan như mắt, binh lính như tay chân. Chưa có chuyện mắt mù mà sai khiến được tay chân bao giờ. Nay trong việc binh của ta phần nhiều giống như thế, cho nên binh lính bất bình, đó là một điều tối kỵ.

Binh lính có thể cả năm không dùng đến, nhưng không thể một ngày không tập luyện. Các quốc gia có tinh thần thượng võ lúc bình thời vẫn tuyển binh tập trận. Còn nước ta lúc bình thời tuyển binh để sai vặt. Công việc hàng ngày của một người lính ở nơi quan, không khác gì những việc hàng ngày ở nơi nhà. Thế thì nên gọi là người phục dịch không nên gọi là lính (Lính phục dịch nhà quan như kẻ qua đường với nhau, khi có việc, quan sẽ không có người tay chân giúp đỡ, vì không có tình cảm sâu nặng lâu ngày khiến họ có thể đồng sinh đồng tử với nhau được. Ngàn vàng dễ được, một tướng khó tìm. Làm quan mà không có người tâm phúc giúp đỡ là quốc gia đành mất kẻ có tài. Nếu đem số lượng của binh lính tạp dịch, xét phần mỗi quan cần được bao nhiêu lính hầu, rồi giao số lượng ấy cho quan được tự do tuyển chọn thủ hạ hoặc gia nhân, để giúp việc lúc bình thường cũng như khi khẩn cấp. Thường thường các phủ huyện viên, mỗi khi có việc gì bất trắc xảy ra, những thủ hạ tạp dịch của họ đã lo chạy trước, chỉ còn một mình quan mà thôi, cũng vì lý do đó). Lẽ nào có chuyện không biết nghề binh mà dám mạo nhận là binh, cũng như không biết bút nghiên mà gọi là kẻ sĩ được sao? Đại phàm con người ta có tập tành nghề gì mới có thể nuôi dưỡng tinh thần nghề nghiệp đó. Nay binh lính mà thường chẳng tập luyện thì làm sao nuôi dưỡng được dũng khí, đó là hai điều tối kỵ.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:59:56 pm

Ngô Khởi nói: Đạo dùng binh trước hết phải làm cho giàu có của cải sau mới dùng đến sức lực. Các nước dùng quan để nuôi dưỡng binh lính, còn ta thì dùng binh lính nuôi dưỡng quan. Quan cũng như ruột rà, binh lính như tay chân. Tay chân khỏe mạnh mới bảo vệ được ruột rà. Nay cắt tay chặt chân để nuôi dưỡng ruột rà thì liệu ruột rà có thể tự đi đứng được không? Lúc bình thường ăn ở với nhau thì ban ơn bằng roi vọt, nuôi dưỡng bằng khổ nhục, đến khi lâm trận thì bảo nhảy vào nước lửa để bảo vệ che chở cho mình. Thử hỏi có tên lính nào không phải là người hay sao mà phản tính tự nhiên chịu làm như vậy được? Do đó cho nên trên sổ bộ có đến trăm vạn mà chẳng có được một người hy sinh, hoặc có chăng cũng chỉ vì thất cơ mà chết chứ chẳng phải hy sinh vì việc nghĩa. Tinh thần binh sĩ đã từng sa sút như vậy, đó là ba điều tối kỵ.

Là binh lính, ngày thường không có lòng yêu mến sĩ quan, trong quân ngũ sĩ quan không có mệnh lệnh cứng rắn, không có quyền chuyên sát, đến khi ra trận tên nào quay đầu mới có quyền giết. Lúc bấy giờ binh lính chạy sĩ quan cũng chạy thôi có rảnh đâu mà ngoảnh lại thực thi quyền chuyên sát để giữ luật lệnh? Một mệnh lệnh cứng rắn, hơn ba ngàn tinh binh. Xưa Dương Tố mỗi khi ra trận trước tiên cho hai trăm quân lâm trận, nếu thoái lui thì giết sạch, rồi sai một đội sau, nếu thoái lui cũng giết sạch như cánh quân trước, làm thế sau không còn một tên quân nào dám rút lui bỏ chạy. Làm được như thế là chỉ khi nào có ơn nặng đối với binh sĩ trước, sau mới có thể ra oai một cách nhất luật được để tạo nên khí thế như vậy. Cũng là binh Tống mà khi Đồng Quán làm tướng thì yếu như gái góa, Nhạc Phi làm tướng thì đứng vững như núi Thái Sơn. Đó là mệnh lệnh cứng rắn mới quyết định được khí thế binh sĩ. Khí thế binh sĩ đâu phải lúc nào cũng như lúc nào, mà do ở chỗ có chiếu cố vận dụng được hay không mà thôi. Hiền từ thì không thể cầm quân, lời xưa đã nói như vậy. Lúc bình thường phải biết dưỡng quân bằng ơn huệ, khi lâm trận phải biết ra oai, phải như hai con người hoàn toàn khác hẳn nhau vậy. Binh lính mà không có lòng quyết tử thì làm sao đối chọi được với quân địch? Xưa nay người làm tướng có khả năng điều khiển binh, không phải là người cứ giết nhiều quân sĩ để thực hành nghiêm lệnh, mà chỉ làm cho tất cả quân sĩ đều biết rằng mình có cái oai dám giết. Sở dĩ quân sĩ biết rõ cái oai như thế, là vì rõ ràng họ đã thấy một người khó giết mà chủ tướng đã giết, thì biết rằng đối với bọn họ đứa nào chẳng có sẵn một bản án tử hình nếu trái lệnh. Người làm tướng thời nay có ai đã dám giết một người khó giết như xưa kia Lê Văn Duyệt đã từng làm để thi hành quân lệnh không? Hiền từ và nhu nhược là hai điều làm sa sút dũng khí của ba quân. Có ai đã làm được như Khuông Thừa Nghiệp bái nhận chức tể tướng mà chém quan tể tướng, như Sài Khắc Khoan làm chức khu mật mà chém quan khu mật? Nếu không được như vậy mà cứ để binh sĩ nhân lúc bình thời, ngày một trở nên hèn yếu, thì chưa bao giờ thấy binh tướng như thế có thể thắng được địch. Chính vì thế mà xưa nay trải qua thời gian thái bình lâu ngày, một khi có giặc nổi lên thường thường lúc đầu không thắng được giặc, phải đợi đến khi quá loạn binh lính dần dần mạnh lên mới dẹp được, đó là bốn điều tối kỵ.

Binh lính đối với quản đội, quản đội đối với tướng soái khác nào như cánh tay với ngón tay, cánh tay với thân thể, hợp làm một mới vận động được. Tay chân lười biếng thân thể làm sao linh hoạt được? Cho nên nói rằng quân đội có kỷ luật dù tướng không có tài năng, cũng không thể đánh bại được. Như binh lính Nhật, cá nhân đều có thể tự tác chiến, không phải đợi kết thành trận thế mới giết được địch. Tại sao họ được như thế? Còn ta thì ai đốc thúc được binh sĩ xông pha trước trận mạc, thế nhưng đến quan luận công thì tướng tá có công trước, bọn võ biền ở sau. Như thế ai chịu đem thân xông vào địch để lập công cho người khác? Nếu khéo nịnh bợ cấp trên, hành quân lâu ngày cũng được kể công, hà tất phải đem thân nhảy vào trận tuyến để khi về lại phải mất nhiều cách cầu cạnh nịnh bợ mới được kể công. Như thế kẻ hào kiệt lấy làm sỉ nhục.

Xưa Địch Thanh nói: Có tiền ngồi đó mua được một thủ cấp cũng được thưởng rồi. Thế thì sắm tiền mua công còn hơn xông pha nguy hiểm để giết địch. Thời Địch khu mật cũng đã có tệ này huống gì ngày nay. Lý Uyên nói: Nơi đầu tên mũi đạn, cái chết nào có phân biệt là quan hay lính. Thế thì khi phong thưởng sao lại phân chia kẻ quý người hèn? Nay thấy người ta đồn rằng có nhiều quan viên, trên giấy tờ nói là do có tài nên được chức vị, nhưng kỳ thật là do gặp may mà được công. Cho nên ngày nay người ta hay nói có phước tướng. Bởi vì nơi quân thứ cũng như chốn trường văn, phần nhiều do gặp may hay không gặp may mà thôi. Làm quản binh đã không do liều chết mà được công, còn kẻ làm lính thì phải hết lòng hết sức bảo vệ quản binh để mong được nhẹ nhàng quân lệnh. Như thế kẻ làm tướng chỉ có một tay không, có làm được gì đâu, không chạy cũng chết uổng mạng mà chẳng ích gì cho việc nước, đó là năm điều tối kỵ.

Hiện nay chính sách binh bị nước ta còn nhiều tồi tệ, nhưng cái làm cho binh lực ta suy yếu lâu ngày phần nhiều do bởi năm điều tối kỵ này. Trừ bốn điều kiện lớn như đạo làm tướng, trận pháp, thành đồn và khí giới. Nếu ta chấn chỉnh được năm điều tối kỵ trên thì khí thế binh sĩ ngày một cường tráng, biết được khả năng chiến đấu, mới gọi là thắng được một nửa, còn như làm sao cho lòng người chuộng việc nghĩa, được như Phổ, Pháp, nhà nào cũng có một khoản tiền đóng góp vào quân nhu, khi cất binh thì cả nước hân hoan nhảy nhót như điên, điều đó tùy thuộc vào việc học thuật và giáo hóa chứ không thể đem uy lực ra bắt buộc được. Như binh thư đã nói: Đường lối đúng đắn là làm sao cho trên quan dưới dân đều cùng một lòng. Vậy mới có thể cùng sống cùng chết chẳng sợ hiểm nguy. Lại nói: Trăm họ đều là dân của vua ta, nào phải dân nước làng giềng. Thử xem ngày nay khắp thiên hạ chỉ một số nước phương Tây có được binh pháp này mà thôi. Còn Trung Quốc, Hung Nô và các nước Hồi giáo làm gì nắm được binh pháp này. Có đánh nhau chẳng qua chỉ lấy số đông hay ít mà cho là mạnh hay yếu. Đâu có thể đề huề mọi người như một, binh sĩ thân nhau như tình cha con? Cho nên hết sức to lớn như cả thế giới mà không địch nổi hai nước Pháp, Anh, để cho họ đến đâu cứ như vào chỗ không người! Nay ta có muốn thực hành chính sách binh bị như vậy ư, xin hãy chiếu cố đến những điều tôi đã nói (Tôi thầm nghĩ rằng nếu đem sự hậu đãi đối với nhà quan mà đối đãi với tướng sĩ ta, lấy sở phí cung phụng cho nhà quan ấy mà nuôi dưỡng quân lính ta, được thế cũng đã khá rồi. Lẽ nào ta chẳng có được một dũng sĩ nào? Tại sao nước ta đông như vậy mà không được một người như họ Đào họ Lỗ? Mặt mũi họ như thế nào? Hay phải chăng vì uất ức như người chết đuối trên cạn mà chẳng chịu thử xuất đầu lộ diện cũng nên?) Tôi có một số ý kiến như thế chẳng biết nên hay không, kính bẩm Cơ Mật Viện đại thần cùng liệt vị đại nhân soi xét.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:02:12 pm

DI THẢO SỐ 51

Cần nắm vững tình hình chính trị ở Pháp*

(Khoảng nửa cuối tháng 5 năm 1871)

Kính bẩm,

Nước ta hiện nay cần gấp phải đi Tây, một là để làm những việc trước nay chưa làm xong, hai là để sắp đặt cách thế làm sao sau này công hay thủ được tốt. Hai việc này đều phát sinh từ thời cơ hôm nay, như vậy không thể không nhanh chóng ra tay, thật đã đến lúc không thể đứng im được nữa. Tuy nhiên điều cốt yếu phải biết rõ tình trạng trị loạn của nước họ là tạm bợ hay lâu dài, rồi từ đó nghĩ đến việc nên dùng sức hay dùng mưu. Hai việc này quan hệ rất lớn, cần phải xem cho thật đích xác mới có thể buông cung bắn một phát trúng ngay, không thể bắn được phát thứ hai. Nếu cho rằng thời cuộc hiện nay đã thay đổi, Triều đình nên nán đợi một vài tháng cũng được. Bởi vì nhân trước đây vua nước họ bị cầm giữ, tứ phía bao vây cho nên các bậc công khanh đại phu nước họ đều oán hận. Còn đảng nghịch thì đang ngấp nghé, chưa dám công nhiên hành động. Nay quân Phổ đã sợ việc bình đao muốn tạm nghỉ vai, trong khi nước Pháp lở loét khắp nơi hết sức mong muốn nghỉ ngơi điều dưỡng. Vì vậy, đảng nghịch mới dám ló đầu ra.

Nếu không may quan binh nước họ thế bại, đảng nghịch được tạm nắm quyền, thì ta cũng có thể có chỗ lợi dụng vào mà được việc. Còn nếu hai bên thắng bại bất phân, vương bá chưa rõ sẽ thuộc bên nào thì sự phân loạn hãy còn kéo dài không thể lấy năm tháng mà chờ đợi được. Điều thứ nhất, nếu muốn tìm người giúp đỡ, dùng sức mà tranh thủ, thì cơ hội này cũng có thể tạo được. Điều thứ hai, giả sử đảng nghịch tiêu tan, việc lập vua có thể thành tựu thì ta chỉ đến thẳng với họ dùng mưu kế thu hồi. Việc này cũng phải chụp ngay lấy thời cơ không thể chậm trễ. Điều thứ ba, ta chỉ sợ việc nội chính họ đã yên mà chuyên vào việc xâm lược phương xa mà thôi (Giám mục Hòa chỉ chú ý đến vấn đề làm sao dùng cho được cơ hội. Giám mục cũng nghĩ rằng việc tìm đường lối để cầu giúp đỡ là đúng. Nhân năm trước, khi sứ bộ đi Tây xin trả ba tỉnh, tôi cũng đã nhờ Giám mục viết thư yêu cầu linh mục Định ngóng xem họ bàn mật với nhau như thể nào báo trước cho vị bồi sứ biết. Điều này tưởng khi Hộ bộ Phạm đại nhân ở Tây cũng có biết. Cho nên giám mục cũng nói phải hết sức tìm kiếm đường lối mới là đúng).

Những sự lý này độ trong vòng vài ba tháng mới có thể phân biệt được. Bấy giờ Triều đình phải bàn định gấp, trong khi bên nước họ hai bên chưa quyết định được bên nào sự thế hãy còn kéo dài, hoặc trong lúc đảng nghịch nắm được quyền, hai bên phải có một bên thắng. Nếu nay đang lúc đảng nghịch chiếm cứ, Triều đình họ còn lo toan chưa rảnh, thanh giáo và uy quyền Triều đình còn đang cách trở mà ta vội vã sang bên ấy thì trong khi sứ bộ ta còn đang trên đường đi ở bên nước họ, Triều đình họ khó bảo vệ cho sứ bộ ta được, lỡ gặp đảng nghịch, chúng giận cá chém thớt thì ta biết làm sao? Trước đây khi Phổ Pháp xung đột nhau, nếu sứ bộ ta sang Pháp đường đi ngang qua nước Phổ mà nếu Phổ minh bạch cho phép ta qua thì bảo đảm không có gì trở ngại còn nếu họ không nói cho phép một cách rõ ràng thì cũng chỉ coi ta như người đi đường thôi, không bắt lý làm nhục ta. Đó là thông lệ của phương Tây. Còn nếu là đảng nghịch thì chẳng kể gì luật lệ thông thường cả.
______________________________________
*. Bản chữ Hán: Hv 634/4 tờ 160 - 167.
    Không ghi rõ ngày tháng, nhưng có lẽ nào cuối tháng 5 năm Tự Đức 24, lúc Giám mục Hòa sắp về trở lại Quảng Bình.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:02:41 pm

Sở dĩ tôi nói hay là hãy hoãn chờ một vài tháng là vì vậy. Nếu như ta muốn gấp thực hành kế liên hoành mà muốn đi sang nước khác thì lấy danh nghĩa đi thăm viếng phong cảnh các nước trước rồi thong thả chờ xem. Nếu thấy tình thế nước họ rơi vào một trong ba điều tôi đã nói ở trên thì có thể đến ngay nước họ mà mưu bàn công việc. Nếu thấy đích xác việc phân loạn bên nước họ còn kéo dài và ta định tìm người giúp đỡ thì sứ bộ của ta hiện đang ở phương Tây cũng dễ làm công việc ấy. Như nay ta hoặc có thể ở trong nước chờ đợi vài ba tháng, hoặc có thể khởi hành đi chu du các nước để chờ đợi tình thế bên ấy. Hai lối ấy nên dùng lối nào xin do Triều đình xét định (Nếu chưa được tin tức gì về cuộc nội loạn bên ấy mà sứ thần còn đang trên đường đi thì tư cho quan họ biết sứ bộ sẽ chuyển sang nước Y trước rồi sẽ đến nước họ sau cũng được. Đến nước Y nếu thấy có thể thừa cơ hội được thì như tờ bẩm trước tôi đã nói cũng phải làm gấp. Nếu Y không đủ sức thì chỉ làm việc với Y thôi. Xong việc ở nước Y mà loạn ở Pháp chưa yên thì lại tư cho quan họ biết sứ bộ ta hãy chuyển sang nước Anh hoặc các nước thăm viếng phong cảnh, đợi nước họ công việc bình yên mới đến chúc mừng cũng được. Việc phải làm như vậy là vì sứ bộ của ta đã đi khó trở về. Cho nên trước đến các nước rồi sau mới đến nước họ, điều đó cũng chẳng ngại gì. Nay ta chưa đi nhưng nếu được tin tức nội loạn thì nên chậm lại chờ đợi một tí, khi sự thế phân biệt rõ ràng thì tùy theo đó mà dùng mưu hay dùng sức cũng được. Nếu lấy cớ đi sang nước Y trước để giải quyết một vài sự bất bình, thì trên đường đi nghe ngóng tình hình tâu về đầy đủ. Nếu đến các nước mà thấy loạn bên ấy còn kéo dài, tìm được người giúp đỡ chắc chắn có thể dùng sức được thì tâu rõ gấp về Triều đình xin quyết định được hay không rồi cứ ở phương Tây chờ làm công việc cũng được. Nếu tình thế khó tiến hành việc dùng sức thì quyết định dùng kế sách giao thông cũng được. Khi thấy nước họ vừa tạm yên thì liền đến chúc mừng ngay cũng được. Những điều nói trên đều là những sự cơ có thể làm được cách này hay cách khác). Còn nếu đợi cho vua bên ấy được lập lên rồi lấy danh nghĩa sang chúc mừng mà đến, thì việc đi của ta chính đại quang minh, nguyên soái của họ chắc chắn phái hộ tống đi về, ta lại khỏi tiền phí tổn dọc đường.

Khoảng tháng 10 năm ngoái tôi có bẩm một tập về vấn đề biết trước tình hình địch để thi hành mưu kế thì chỉ ở nơi lãnh sự của họ mới có thể biết trước được. Nếu nay muốn biết tình thế của họ ra sao thì chỉ có cách là viện cớ khác sai Nguyễn Hoằng đi trước (Nguyên trước đây Giám mục Hậu có mua cho ta các hàng hóa, một nửa hãy còn gởi lại Gia Định chưa đưa về. Nay nghe tin các hàng hóa ấy thất lạc nên Nguyễn Hoằng tự đi vào gom lại nếu tiện sẽ đưa về). Khi vào Nguyễn Hoằng sẽ ở tại Viện Truyền Giáo, người Tây sẽ không nghi. Sau đó sẽ tìm người tâm phúc ngầm thăm dò việc bí mật. Nếu có tin điện từ phương Tây đến, y sẽ viết giấy báo về cho biết. Nếu có báo tin điện hoặc báo của thuyền nhật trình, y liền xin Tây soái cho phát về xem sẽ biết sự tình ngay. Nếu y không ở đó thì có khi ở Gia Định đã có tin mà đến khi nước ta hay thì đã trải qua ba, bốn tháng, tình thế thay đổi mất rồi. Nguyễn Hoằng đi chỉ lấy lý do là để làm việc đạo giáo. Nếu được tin mật thì bí mật viết ra bằng quốc ngữ cho vào phong bì đề gởi tên Giám mục Hậu. Nhưng tại Bộ thì định trước một ám hiệu là tất cả những phong bì nào trên chữ giám mục có một dấu hiệu nhỏ tức trong thư đó là tờ mật bẩm. Bộ cứ việc mở ra xem. Nếu phong bì nào không có ám hiệu, đó là thư riêng của giám mục, Bộ sẽ chuyển thư ấy cho giám mục. Chỉ có như vậy nguyên soái của họ mới chịu phát đi mà không nghi ngờ. Nếu sự thế ngoắt nghéo lắm nhưng cũng có thể phân biệt được, y sẽ về gấp bẩm rõ cũng được. Vả lại trong lúc nhàn rỗi, y sẽ đi khắp các xứ đạo mượn tiếng là viếng thăm các linh mục để bí mật nghe ngóng tình hình dân chúng sáu tỉnh ra sao hoặc có thể tình cờ nghe được gì hoặc đồn đãi như thế nào để có thể biết được dân tình, do đó có thể thi hành được mưu kế phản gián khiến Tây Nam nghi ngờ nhau, như tôi đã nói trong tờ bẩm trước. Về kế phản gián chắc chắn Nguyễn Hoằng không có khả năng làm điều đó, chỉ có thể biết qua dân tình như thế nào thôi. Dù y có hỏi han hay nói năng như thế nào Tây cũng không nghi. Nếu loạn của họ còn kéo dài thì bí mật xem quan của họ có mật nghị gì không. Những điều như thế báo chí không thể đăng tải mà tin điện cũng không báo, chỉ khéo thám thính mới biết mà thôi. Hơn nữa chỉ có thân với họ mới có thể biết được một hai điều mà thôi.

Theo những ý trên đây, nếu tôi cùng đi với y thì rất tốt. Có điều là hiện nay tôi còn đang điều dưỡng khó bề bôn tẩu trọ ngụ nơi này nơi khác, vậy chỉ sai y đi một mình cũng được (Điều này rất khẩn cấp) đến ở lâu tại Gia Định mới có thể thám thính được chính xác. Về phần Giám mục Hòa thì giám mục biết rõ ràng là Triều đình muốn lập vua (Thâm tâm giám mục cũng rất mong như vậy) để tiến hành gấp. Hơn nữa giám mục cũng muốn Nguyễn Hoằng đi. Còn ngoài ra có ý riêng gì không thì không biết, ngay Nguyễn Hoằng cũng không biết được. Nếu muốn thực hành điều này thì nên quyết định sai Nguyễn Hoằng vào Nam ngay khi giám mục chưa về để rõ không có ý gì riêng khác. Về việc học sinh nên nhờ gấp người khác dạy dỗ không nên gián đoạn (Nếu gián đoạn một hai tháng học lực sẽ sút rất nhiều. Tình trạng này tôi biết rõ chứ không phải như lối học Nho). Nhân vì tinh thần muốn học gấp rút để dùng làm thông ngôn mới khỏi bị người ta bàn xen kia nọ.

Tôi có một số ý kiến như thế không biết có nên chăng. Xin kính bẩm. (Từ chỗ biết dân tình như thế nào tức cũng có thể biết được ít nhiều những điều tôi đã bẩm trong hai tập trước. Tình thế bất đắc dĩ nên phải làm điều bất đắc dĩ. Nếu như đánh úp để mong vãn hồi cơ nghi thì chỉ có một chuyến đi Tây này mới có thể thấy rõ định cuộc được hay mất. Triều đình lao khổ mưu nghị cũng chỉ có một cơ hội này nữa mà thôi).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:06:54 pm

DI THẢO SỐ 52

Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao*

(Đầu tháng 8 năm Tự Đức 24, tức 15 - 20-9-1871)

Kính bẩm,

Cuối tháng 5 năm nay nước Pháp có tin truyền qua, trong đó nói rằng nước họ hãy còn chia làm hai đảng, đúng như hồi tháng 5 trước khi tôi ở Kinh đã bẩm. Lại còn nghe Nga La Tư mật nghị cùng Phổ Lỗ Sĩ chưa biết sẽ thi thố điều gì đây. Nhưng tôi đem sự thế phương Tây và binh gia cơ quyền mà suy nghiệm thì nhiều khi cũng đúng. Người Nga từ chiến cuộc ở Ngô Hải đến nay đã mười lăm năm dưỡng uy súc nhuệ, trong lòng họ chưa một ngày nào quên đất trung nguyên. Chỉ vì từ trước đến nay thế lực của Pháp còn mạnh, nước Anh thì hòa hiếu, Áo Phổ ở chen vào giữa, hai bên chưa hợp thì con đường của Nga hãy còn chưa suôn sẻ. Nay Pháp đã bại hoại, Áo mất minh chủ mà có cơ bị Phổ thôn tính dần dần, Anh thì bơ vơ, việc ngoại giao của Áo chưa thành. Nước lớn còn chưa dám làm gì trước, nói gì đến nước nhỏ. Ý Đại Lợi, Thổ Nhĩ Ký sắp có loạn, Y Hoa Nho, Liên Quốc1 thì chỉ lo tự vệ ngồi chờ xem. Như thế thì cái phép liên hoành để cân bằng thế lực sắp thay đổi. Người Nga nếu không lo thu vén binh pháp để bôn tẩu về phía Tây thì còn đợi lúc nào nữa? Tưởng họ cũng phải hợp sức với Phổ giúp Phổ phóng tay phía Tây Bắc còn bản thân thì dẫm vào mặt Tây Nam. Đến khi thế lực người Pháp đã phục hồi, hợp cùng với người Anh thì con đường khai thác lợi nhuận của họ đã khai thông rồi, Anh Pháp cũng chẳng làm gì được. Nếu quả như vậy thì nên thừa lúc tình thế Pháp đang bối rối mà mưu tính việc của ta, gấp rút sang các nước phương Tây tùy cơ tìm bạn để trấn phục.

Vả lại người Pháp một nửa cũng muốn lập vua mới, một nửa muốn lập Cộng hòa. Nếu đảng nào đang nắm quyền thì nguyên soái Gia Định cũng do đảng ấy chỉ lệnh. Nếu vậy mà ta biết khéo dùng lời lẽ thương lượng cùng y, xin y đổi đất mà về thì dù cuộc diện sau này có thay đổi họ muốn sửa đổi lại minh ước của đảng trước thì ta cứ thong thả qua lại viện dẫn những lý lẽ trước cũng dễ điều đình kéo dài để cầu người giúp. Nếu vậy thì việc đi Tây không nên chậm trễ trước khi tình thế bên ấy ổn định. Tôi vì tình thế khẩn cấp của quốc gia từ nay về sau mà hết sức suy nghĩ kỹ thì thấy cũng còn cơ may có thể lo liệu được. Bởi vì hiện nay thiên hạ bôn tẩu như điên chỉ gấp rút tranh thế mạnh yếu và lợi nhuận, đường lối xưa vĩnh viễn không còn thấy lại nữa. Khắp thế giới chỗ nào sinh sống được, chỗ nào canh tác được người Tây đã tìm kiếm hết rồi. Khắp các duyên hải đều có sở thuộc, có ranh giới giới hạn, có nơi tự giữ được, có nơi phải dựa vào người, có nơi bị lệ thuộc, hoặc không có lợi lớn, hoặc có nơi còn cộng tác khai thác, người Tây đều đã thấy rõ và đều đã chia nhau. Nếu người ta đã mưu đồ trước sau thì ta cũng khó lật lại được. Cho nên người Pháp người Y đều chuyên tâm nhắm vào ta mà thôi. Bởi chúng cho rằng ta chưa thể canh tân chưa thể giao thiệp rộng rãi thì chúng dễ gây sự mà vồ lấy. Đó là cái lý cái thế chắc chắn phải xảy đến như vậy.

Nay việc khẩn cấp nhất của ta là trước hết phải giữ cho được cái gì chưa mất còn việc mưu thu hồi sáu tỉnh là việc sau. Muốn giữ cái chưa mất thì phải gấp rút giao thiệp rộng, muốn mưu thu hồi sáu tỉnh thì phải gấp rút thừa cơ, mà canh tân chính là căn bản để mưu thu hồi và gìn giữ. Nếu không canh tân để tiến bộ thì dù có tạm thu hồi được, vá hôm nay ngày mai lại rách, rốt cuộc cũng không thể không có chuyện xảy ra. Nếu nhất luật canh tân để tiến bộ thì việc giữ không khó mà việc mưu thu hồi không chóng thì chầy cũng có thể hy vọng được. Cho nên về khoản đi Tây, phải làm như các nước Nhật Bản, Xiêm La vậy. Không nên chỉ chăm chăm vào một việc, cũng không nên lấy năm tháng làm kỳ hạn. Không được cái này thì được cái khác, bất luận việc trong ý định hay ngoài ý định hễ thấy có lợi thì cứ tiến tới. Muốn gìn giữ được thì một mặt phải dập tắt cái hy vọng của người Pháp người Y. Mà như thế thì chỉ có giao thiệp rộng mới dập tắt được. Muốn mưu đồ thu hồi nhưng nay hãy còn dài dòng chưa làm được việc thì phải chuyên lo cái phần căn bản, gấp rút vào việc canh tân tiến bộ còn sáu tỉnh thì hãy cứ gởi đó. Đó là cơ hội quyết định sự mạnh yếu tiến thoái. Nay là lúc gặp cơ hội có thể ra sức làm được, lẽ nào lại cứ an nhàn buông trôi theo ngày tháng mà xong việc được sao? Hãy xem vua Xiêm gởi nước mà đi châu du các nơi thông thương buôn bán ở vùng Đông Nam là ý muốn làm gì? Trung Quốc thì cộng tác với người phương Tây để hưởng lợi chung, nhờ đó mà tài nguyên khoáng sản phát đạt thịnh vượng, nơi nào cũng nổi như bông. Họ là người gì, ta là người gì? Cũng là nhân dân vùng đất đai này thôi mà ngày nay cái thuật làm cho giàu mạnh thấy rõ ràng như xem lòng bàn tay. Đó không phải do nói nhiều, do cố sức làm mà thôi.

Nếu cứ nói suông không làm thì ngày lại ngày qua, năm này sang năm khác, ta ngồi một chỗ còn người thì tiến nhanh, mọi người đều canh tân chỉ ta thủ cựu thì biết làm sao? Từ năm Tự Đức thứ 19 đến nay tôi tưởng đã một lần canh tân chứ không còn thủ cựu. Hãy xem phương Tây bất luận nước nào tuy gặp tao loạn hư hại lớn, nhưng không đầy mười năm sau giàu mạnh còn hơn xưa. Còn ta đất có đấy, dân có đấy mà y nhiên xưa sao nay vậy. Xưa Mạnh Tứ sở dĩ khuyên Tề Tuyên Vương thi hành việc chính trị vì nhà vua không thể chế ngự được. Còn ngày nay Triều đình ta cũng chẳng phải hiếu sắc ham chơi như Tề Tuyên thế mà lại hôn mê không tiến được? Theo tôi tính toán thì từ nay về sau trong khoảng hai mươi năm, nước ta chắc chắn có một kỳ thái bình thịnh trị (Đó là lý thế vận hội sinh ra như vậy. Lý do rất dài dòng khó có thể nói rõ. Không phải như thầy bói, trong bụng chẳng biết gì, chỉ cầu xu nịnh trước mặt mà nói láo chuyện họa phước). Cho nên tôi cực lực cầu làm thử để được một lần trông thấy đó là cái mưu kế suốt đời tôi, để đáp tạ những nỗi khổ phong trần của thời niên thiếu. Vì thế mà trong đoạn cuối bài Tế cấp bát điều trước đây tôi có nói: Khổng Minh trong những lúc nằm mơ chưa bao giờ không lập kế đánh Ngụy. Tôi tuy thiếu tài ấy nhưng thừa tâm huyết, không có bổn phận ấy nhưng có chí ấy.

Tất cả những điều mắt thấy đều còn có thể làm được. Cho nên không biết rằng những việc đó không phải phận sự của mình mà cứ liều lĩnh nói dài dòng. Chỉ vì từ trước đến nay chỉ thấy Triều đình cứ yên phận theo lối cũ nên tấm lòng của tôi cuối cùng phải mai một mà trước đây trong bài Lục lợi từ tôi có nói: Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành trăm năm cũng chưa hết. Thế mà bảy tám năm nay chưa thấy thực hành tý nào, chả lẽ đợi đến trăm năm sau mới thực hành được sao? Nay có thể làm được rồi, thời đã đến, thế đã có, mở rộng giao thông để đem của cải thiên hạ đến, chấn hưng phương pháp mới để làm hưng thịnh nguồn lợi trong nước. Tiến hành cả hai thì mọi cái hỗ trợ cho nhau, lợi ích sẽ ùn ùn đưa đến. Tôi tính toán cái thời hạn hai mươi năm chỉ một ngày có thể hy vọng được. Nay kính bẩm.

(Tôi hiện đang bệnh chưa khỏi, hãy còn ba bốn tập xin đợi tháng sau sẽ bẩm lên).
______________________________________
*. Bản văn chữ Hán 634/4 tờ 167-174
    Không ghi rõ ngày tháng, nhưng trong tờ tấu của Viện Cơ Mật ngày 10 tháng 8 năm Tự Đức 24 có nói là “Ngày 6 tháng này có tiếp được một tờ tấu của Nguyễn Trường Tộ, trong đó có nói: “Cuối tháng 5 có tin truyền qua...” (Xem phụ lục VIII)
1. Liên Quốc tức Đan Mạch.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:09:01 pm

DI THẢO SỐ 53

Về chính sách nông nghiệp*

(Ngày 20 tháng 8 năm Tự Đức 24, tức ngày 4 tháng 10 năm 1871)

Tôi giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Tôi thiết nghĩ trong ngũ phúc, phú đứng đầu, triệu dân trước tiên lo ăn. Sách Luận Ngữ nói: Làm cho giàu có rồi mới giáo dục. Kinh Thi nói: Làm cho giàu thóc lúa. Sách Đại Học bàn về việc làm cho sinh ra của cải. Cửu Kinh có nói đến việc làm cho sung túc của cải. Sách Mạnh Tử khi trình bày về đường lối chân chính có nói đến hằng sản hằng tâm. Sách Vương Chế nói về nước phải chứa của cải đủ dùng trong ba năm, chín năm. Trong chín sự dự trù thì sự dự trù lương thực hàng hóa đứng đầu. Chín phủ kho hàng vải đầy la liệt trong đó. Ngô Khởi nói về việc dùng binh bào trước phải làm cho dồi dào của cải rồi sau mới dùng sức. Triều Thố khi bàn về việc phòng bị biên cương nói rằng: Nhiều lúa thóc dư của cải thì làm việc gì chẳng thành. Đủ thấy những người nắm đường lối chính trị, không ai không sớm lo giàu có.

Trời sinh ra con người không phải chỉ sinh con người trơ trụi mà trước tiên sinh vạn vật để đủ cho con người sinh sống. Mở đầu sách Cựu ước của Đạo (Công) giáo có nói đến đoạn này. Như Kinh Dịch cũng nói: Có muôn vật rồi sau mới có nam nữ. Đó chính là điều khẩn thiết trước nhất đối với con người.

Trời còn sinh ra mặt trời để ấm áp, gió để mát mẻ, mưa để thấm ướt, đất để nuôi dưỡng, nước để tưới nhuần. Biết bao nhiêu đức tính trời đã sinh ra trùng trùng lớp lớp, tác động qua lại mà thành ra nguồn gốc ấm no cho thế gian. Đủ thấy rằng đạo trời cũng rất nhiều cách cốt làm ra của cải vật dụng cho con người.

Nhân dân đối với đất nước như con cái đối với cha mẹ. Mối tương quan hết sức gắn bó. Như trước đây, trong Tế cấp bát điều tôi đã nói: Một nước ví như một thân thể. Đó là cái lý thế liên lạc tương quan hết sức mật thiết mà đạo trời đã định ra như vậy, tuyệt không có một người nào đó có thể ở ngoài lý thế ấy (Người nào thấu hiểu sâu xa lý lẽ này thì sẽ thấy rằng tất cả những ai không trung với nước tức là không trung với chính mình. Muốn trình bày rõ lý lẽ này cũng phải viết đến một tập dày.)

Cha mẹ đối với con cái, trước tiên là sinh ra, nuôi lớn lên, tiếp đến là dạy dỗ nghề nghiệp để sinh sống, nên người, thì mới có thể trông mong lúc tuổi già. Đất nước là cha mẹ của muôn dân. Nếu không thể dạy tập cho dân giàu có mà chỉ lo thu thuế, không lo được cho dân ăn học mà chỉ thôi thúc cung đốn các khoản thì sao gọi là cha mẹ được?
_____________________________________
*. Bản Hán văn:    
    N.P số 121 trang 31-39
    Hv 135 trang 1-29
    Hv 634/1 trang 117-148



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:11:43 pm

Mọi việc trên đời hễ việc gì có công dụng lớn thì rất khó làm. Công việc của con người không gì lớn hơn là làm cho ra của cải để nuôi sống. Vậy thì làm được việc ấy đâu phải dễ. Tây Môn Báo có nói: Vua cốt làm cho dân giàu. Sách Gia Ngữ nói: Làm chính trị phải gấp rút làm cho dân giàu. Những lời nói ấy đâu phải nói suông. Xưa Phục Hy làm vua mà dạy dân cày ruộng đánh lưới cá để mở mang mọi việc. Hậu Tắc dạy dân cày cấy lấy việc nông làm cho nước giàu. Thế mà bảo là nghề hèn mọn được sao? Kinh Thư nói về công tu phủ trị. Sách Chu Lễ nói thưởng nghệ phạt hoang. Vậy tu trị như Kinh Thư nói nghĩa là gì? Tức là trước thì tuân theo thời tiết, sau thì khuyến khích sức dân, sau nữa thì khai thác hết nguồn lợi đất đai. Như thế để dạy dỗ dân tất cả phải hết sức mình cho sinh kế. Những nơi đồi núi cheo leo không trồng được lúa đậu thì trồng cây trồng tre. Mùa xuân chặt tỉa cây khô mục, mùa hạ hái quả, mùa thu trồng rau ráng, mùa đông hái củi để điều tiết dân sinh. Theo phép ấy thì săn thú không săn thú bầy, không bắt thú con, bắt cá không tát cạn đầm ao, không đốt rừng để săn thú, sói chưa tế thú1 không được săn, rái chưa tế cá2 không được thả lưới, chim cắt chưa báo tin thì bẫy lưới không được chăng gài nơi khe suối, cây cỏ chưa rụng lá, thợ rừng không được vào núi rừng chặt hái, côn trùng chưa đến kỳ sinh nở không được đốt ruộng nương, không giết vật có thai, không phá tổ hốt trứng, không bắt cá chưa đủ thước tấc, không giết heo chưa đúng kỳ. Mây bốn bề kéo tới thì chỉnh đốn biên cương. Ếch kêu én liệng thì sửa sang đường sá. Nước đổ xuống suối thì lo sửa cầu cống. Còn rất nhiều việc nữa, phải theo thời tiết mà tu bổ sửa chữa, cốt tự người trên phải thân hành đốc suất. Như chủ nhà đối với người giúp việc. Sáng có công việc buổi sáng, chiều có công việc buổi chiều. Có việc thì có công, do đó người thời cố sống được nuôi dưỡng đầy đủ, chết chôn không có gì oán hận. Được như vậy rồi sau mới biết thế nào là lễ tiết vinh nhục mà sinh tấm lòng yêu chuộng việc nghĩa, sốt sắng việc chung. Còn nếu như cứ bị cái nghèo đeo đuổi thì đến cha con cũng không bao bọc nhau được còn hơi đâu nghĩ đến lễ nghĩa phong tục.

Phàm tình đời có dư mới nhượng, không đủ thì tranh. Nhượng là nền móng của sự thịnh trị. Tranh là đầu mối của loạn ly. Vì thế có đủ ăn mới giữ được chữ tín, cùng thì sinh gian dối. Xưa nay chưa từng nghe dân nghèo mà nước thịnh bao giờ cả.

Nay chẳng cần nhìn sự việc xa xôi của đời thượng cổ mấy ngàn năm làm gì, chỉ dẫn những việc trước mắt thời nay cũng thấy được là thiên hạ sở dĩ giàu mạnh là do chuyên về nghề thực dụng, với một phương thức đầy đủ hơn xưa bội phần. Hãy xem phương Tây và hai nước châu Mỹ, tất cả vua chúa đều đốc suất việc làm lợi làm giàu trước hết, còn sách vở luật lệ xử lý công việc thì để sau. Bởi vì Hình là để trừng trị dân sau khi đã có tội. Binh là để đối phó với dân sau khi đã sinh bạo loạn mới giết. Lễ là để lập ra các nghi tiết để trang sức cái vẻ mỹ quan trong thời bình. Công là để sửa sang vật dụng dụng cụ. Hộ là để kê tra tiền bạc của cải xuất nhập, nhân số nhiều ít mà thôi. Tất cả những công việc trên đây trước hết phải có sự thật vật thật, sau mới tùy theo đó mà gìn giữ sửa trị để làm cân bằng cái công dụng của nó. Tất cả đều xảy ra sau khi đã có sự vật mà khéo trù liệu xử trí để hưởng dụng chứ thực tế tất cả đó không thể sinh được lợi lộc gì cả. Nói trị nghĩa là dùng luật pháp duy trì trật tự. Và như vậy thì trước tiên phải có cái gì đó đã rồi mới có pháp luật. Như nấu canh thì phải có muối, mỡ, cá, thịt thì mới nấu được. Vì thế đối với các nước ấy, những người làm quan bất luận quan bộ nào, chức vụ gì, trong lúc ở công đường cũng như lúc tiệc tùng yến hội, bốn chữ làm lợi trừ hại không ngớt miệng nói, không dám buông lời nói chuyện gì khác sợ bạn đồng liêu chê là vô tâm đối với dân. Còn như phân xử những chuyện bất bình lặt vặt, mỗi ngày không quá bốn tiếng đồng hồ, chẳng cần thâm qua đêm, coi đó như thừa sức mà học văn chương vậy thôi. Tất cả trong dân hễ có nghề nghiệp gì làm ra của cải được thì đều đặt chức quan để huấn luyện dạy dỗ. Pháp lệnh được thi hành đều khắp từ thành thị đến rừng sâu. Hãy xem các đầu nguồn ở Gia Định, tất cả nơi nào có rừng ở mỗi công trường làm gỗ nếu chặt hạ bao nhiêu cây thì phải trồng một cây con bên cạnh, và dân chúng thi hành một cách tự nhiên như thành thói quen. Nước ta hai bên đường cái quan có trồng cây mà phần nhiều bị chặt phá (Đó là điều chính mắt tôi trông thấy). Trải từ thời Minh Mạng đến nay cứ ngã cây này trồng cây khác mà vẫn không thành công là vì sao? Chỉ một việc rất nhỏ nhặt, rất dễ dàng mà còn thế, huống gì là việc lớn?
_____________________________________
1. Sói chưa tế thú: Thiên Nguyệt Lệnh trang Kinh Lễ nói tháng cuối thu giống sói bắt được thú vật bày ra la liệt như cúng tế gọi là “tế thú “ - Ý nói khi chưa cuối thu, thú vật chưa sinh sôi nảy nở nhiều thì chưa cho phép săn bắt.
2. Rái chưa tế cá: Cũng Thiên Nguyệt Lệnh trong Kinh Lễ nói vào tháng đầu xuân giống rái bắt cá bày la liệt như cúng tế gọi là “tế ngư” - Ý nói chưa sang xuân ấm áp cá chưa sinh sản nhiều thì chưa cho phép đánh bắt.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:12:30 pm

Các nước người ta dạy dỗ dân thì như thiên văn, địa, lý, nông chính, hầm mỏ, khai thác nguồn lợi biển, nguồn lợi núi, nguồn lợi sông hồ, thủy cục, đường sá, cầu cống, thương mại, giao thông, toán pháp, y tế, cây trồng, cắt may, thực phẩm, nhà cửa, phố xá, cho đến nuôi dạy trẻ, không ngành nghề nào không có thức quan quản thủ, mà tất cả việc gì cũng đều hợp lòng người, không trái nguyện vọng của dân. Nếu muốn trình bày hết những cái hay đẹp phải đến một tập sách lớn cũng chưa thể nói hết được.

Nay hãy nêu một vấn đề căn bản hết sức trọng đại khẩn thiết đó là vấn đề nông chính mà nói để thấy rằng mọi vấn đề cũng đều như thế cả. Chỉ thưởng thức một miếng cũng đủ biết toàn thể mùi vị.

Đối với vấn đề nông nghiệp các nước chú trọng mở khoa thi để chọn người. Muốn thi đậu để ra làm quan nông chính, thí sinh trước hết phải học sơ qua về thiên văn để biết các lớp khí quyển khô ẩm của mặt đất. Đại khái có chín mục như sau:

1 - Khí nóng mặt trời tác động vào gió

2 - Khí nóng ở trong đất

3 - Độ cao thấp giữa mặt đất và mặt biển.

4 - Hình thái mặt đất.

5 - Hướng xiên của đất gò.

6 - Bề mặt bề lưng cách biển gần xa.

7 - Tính chất các lớp đất.

8 - Ruộng canh tác, ruộng hoang và mật độ dân số. (Vấn đề này cơ bản ở điểm đất có sinh khí hay không. Lý lẽ này rất sâu chứ không phải chỉ thống kê ít hay nhiều).

9 - Gió thường xuyên của bốn mùa.

Biết các hướng của các khí thì biết được sự thích nghi của động vật thực vật.

Tiếp đến phải học địa lý để phân biệt tính chất đất đai (Địa lý này khác với ngành địa lý tương đối với thiên văn mà nói, cũng không phải địa lý áp dụng trong ngành khoáng chất). Tất cả các loại ngũ cốc rau cỏ đều có thích nghi riêng đối với chất vị của đất, nếu hợp thì được nuôi dưỡng (Ngành học này rất phiền toái, tất cả đều quy về khoa thực vật học nhưng tách riêng ra một phân ngành để cho những người về ngành nông chính học sơ qua mà thôi) nếu không hợp thì không được tốt tươi. Điểm này do ở chỗ mặt đất cao thấp không đồng nhau mà ra. Như núi gò hồ ao đồng bằng, cao thấp một thước một tấc là có sự khác nhau rồi. Đất đai lại toàn có một sắc hoặc nhiều sắc xen lộn. Như sách Vũ Cống có nói đến năm loại đất, Quản Tứ cũng nói năm lớp đất, tức là lấy sắc đất mà phân biệt đất ấy tốt xấu chất vị khác nhau thế nào để biết thích nghi với loại cây trồng nào.

Tiếp đến phải học về tích chất của loại thực vật và cách gieo cấy trồng tỉa bảo quản chúng. Tất cả các loài ngũ cốc, hoa quả, rau khoai, cỏ cây, tự bên trong cũng như đối với môi trường bên ngoài, mỗi thứ đều có bản tính riêng có thể chia ra loại cay ngọt, đắng, chát, ôn hay mát, hàn hay nhiệt.

Sau đó phải học các loại điền thổ trong nước, cho đến ao vườn trang trại trong dân, năm được mùa thế nào năm mất mùa thế nào, để quyết định sự tăng giảm số thuế. Lại phải học về địa văn, thời tiết gió sấm, mây mưa sương móc băng tuyết, cho đến sự chênh lệch lạnh nóng giữa ngày đêm, gặp gió mưa nóng lạnh nơi nào nên cày nơi nào nên bừa, nơi nào nên gieo để phù hợp với khí trời đang phủ xuống, khí đất đang bốc lên. Về ruộng đất có loại mặt đất nào phù hợp với thời tiết gì đều sưu tập thành sách. Vấn đề khó nhất là gió mưa nhiều ít và sự vận khí mỗi năm đều có thay đổi chút ít. Dĩ nhiên đó là do ở trời, nhưng cũng phải biết tùy theo thời tiết mà đoán định. Rồi mau tham chiếu phối hợp với lịch pháp trong năm và theo dõi những trường hợp bất đồng trong mỗi lúc mà gia giảm để quyết định thời điểm canh tác sớm hoặc muộn.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:13:01 pm

Các khoản trên đây mới chỉ nêu sơ lược các tổng mục mà thôi. Về quan hệ thứ tự đối với người học còn rất nhiều phiền phức gấp bội sách vở kinh sử của học trò thi nước ta. Tôi thường nói với người ta rằng học nghề nông khó lắm và bị mọi người cho là nói khoác. Họ đâu biết rằng học nông như thế đâu phải dễ. Những người thi đậu sẽ được phân bổ mỗi huyện một người. Công việc của họ là đi xem xét ruộng nương còn quá hơn là người nông phu đi thăm ruộng. Lấy một xã ra mà nói thì thí dụ như một xã nào đó có bao nhiêu ruộng đất, ranh giới như thế nào cùng các nghiệp chủ có ruộng tọa lạc tại đâu nông quan sẽ căn cứ vào khí hậu thời tiết đám ruộng nào, tên gì, gởi trát đến cho lý trưởng truyền cho biết nghiệp chủ tên gì có ruộng tại đâu ngày nào vỡ đất, ngày nào xuống giống, dùng giống lúa gì, hàng gieo cấy cách nhau bao nhiêu, mấy lần cày, mấy lần bừa, bao giờ bừa cỏ, tưới tiêu như thế nào, nhất nhất phải làm đúng theo pháp tắc quan nông chính đã định. Nếu ai làm sai ngày giờ sẽ phạt không tha, như người bị tử tội vậy. Đã đi tuần lúc xuống gieo để quan sát cách canh tác lại còn căn cứ theo mỗi thời kỳ đi tuần xem từ khi lúa mọc đến vàng gié rồi biên rõ vào trong sách. Khi lúa chín phải đợi quan nông chính biên nghiệm xong mới được gặt. Đối với ruộng hạ đẳng, vốn lời tương đương nhau thì được trừ thuế. Ruộng trung đẳng và thượng đẳng cũng làm theo cách như vậy. Ví dụ như trừ ngoại mười quan tiền xuất vốn canh tác, rồi mới chiếu cứ mười quan lợi bao nhiêu thì phải nộp thuế bao nhiêu. Mỗi nghiệp chủ có bao nhiêu ruộng loại nào, tính chung số lợi thu đắc thuộc vào hạng nào, liệt kê trên là ruộng dưới là thuế, cộng chung phải nạp bao nhiêu quan. Đến khi mở điểm thu thuế trước hết gởi trát đến bộ thuế nơi lý trưởng hẹn ngày giờ nào quan viên sẽ thân hành đến cho lý trưởng ngồi thâu. Nếu chủ ruộng không đem nạp đúng thời hạn đã định, đến khi quan về nhà rồi mà cũng không đem đến nộp thì sẽ gởi trát lần thứ hai hối thúc một lần nữa, sau lần này sẽ phát mãi tài sản để trừ đủ số thuế, nhất định không sai như mặt trăng thay ánh sáng mặt trời vậy. Họ làm thế cho nên chưa bao giờ thuế bị trì hoãn hay thất thu như ở nước ta. Vì nhà nước chỉ thu thuế trên số lợi mà không hề xâm phạm đến số tiền vốn mà dân bỏ ra canh tác, nên không có nạn khai gian trốn thuế, tiền thuế phù hợp với lợi tức thu đắc, đúng đạo công bình tuyệt đối không tư vị, nhờ đó tránh dược cái tệ thủ lợi riêng, dân ai nấy đều được công bình. Đối với vườn tược trang trại đất núi đất rừng cũng vậy. Phàm trồng cây gì có thể dùng để lấy gỗ hay cây gì ăn được đều phải nhất định theo phép quan mà làm. Quan nông chính sẽ thân hành cắm tiêu làm dấu phạm vi trồng, thích hợp trồng cây gì và chỉ vẽ các cách ươm trồng vun xới. Đến khi cây mọc tốt thì hằng năm vào mùa thu quan nông chính lại đi tuần xem chỉ vẽ cây nào nên cắt bỏ nhánh nào hướng nào. Khi cây đã đúng kỳ dùng được hoặc cây nào bị trùng đục cần phải chặt bỏ thì cho hạ xuống mà dùng rồi lại trồng một cây con bên cạnh. Nghiệp chủ tuyệt đối không dám cắt bỏ một nhánh con theo ý mình. Hãy xem phương Tây, ở đồng bằng mà người ta cũng đều trồng cây nơi bờ ruộng ngay hàng thẳng lối xanh mát đẹp đẽ chứ không chỉ ở núi rừng mà thôi.

Làm như thế không phải chỉ đặc biệt để có của cải sử dụng mà còn quan hệ rất lớn.

Châu Mỹ ngày xưa hoang vu chưa khai thác, sầm uất cũng như Gia Định ta thời cổ: Sau đó người Anh, Pháp, Y Pha Nho, Hà Lan v.v… những người không nghề nghiệp đổ xô tới tha hồ khai phá chặt chém đạp hết xuống mà làm đồn điền nông trại. Khi họ mới đến, mưa gió thuận thời tiết. Nhưng sau khi bụi bờ gai góc đã chặt, đường sá đã nối liền, đồng ruộng bạt ngàn, lúa mè xanh tốt, thì lượng mưa giảm dần. Cho đến lúc đất đai được khai thác gần hết thì mưa ít hạn hán nhiều, chẳng biết vì sao. Mãi gần một trăm năm có một người giỏi về thời tiết khí hậu mới suy ra rằng cây cối hút khí ẩm trong đất khi mặt trời hun đốt thì nhả khí ấy ra tản mạn rồi bốc lên thành mây mưa xuống. Hãy xem ở núi cao nơi cây mọc rậm rạp, ở đó mưa nhiều gấp bội những nơi đồng trống. Đó là chứng minh. Từ đó người ta mới trồng cây khắp các bờ ruộng ở đồng bằng và các cồn cát, mới nhìn tưởng như rừng. Mười năm sau, gió mưa mới phục hồi lại như thời cổ. Cho nên đến nay người phương Tây quan tâm trồng cây ở đồng bằng cũng vì thế.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:13:39 pm

Hãy xem tỉnh Nghệ về mùa hạ miền trên mưa nhiều, còn miền dưới thì núi thấp đồng trống ví dụ như hai huyện Hưng Nguyên và Châu Lộc mưa rất ít. Nếu có mưa nhiều thì phần lớn đó là mưa từ trên di chuyển xuống, hoặc từ Hồng Lĩnh tản ra bốn phía. Đó là một chứng minh. Xem thế mới biết cái gì trời sinh ra là có lý rất nhiệm màu. Không có đất đai nào mà chẳng có cây cối, đó là để tiếp hòa khí đất, thích hợp cho vật cho người. Công dụng của nó rất lớn. Thế mà con người chẳng biết quý trọng, muốn chặt phá là chặt phá, bò dê phá dẫm đạp. Thậm chí mùa khô nắng, một đóm lửa cũng đủ cháy lan một giải núi lớn, tấc cỏ chẳng còn, nói gì đến cây cối nữa. Như miền dưới, núi Đại Quắc giáp giới Đông Thành, Hưng Nguyên, Lương Sơn, núi Đại Huệ ở Nam Đàn, núi Thiên Nhận ở Thanh Chương đã trơ trọc mất hẳn tính núi. Tôi đã từng hỏi dân chúng ở gần đó vì sao mà đốt phá tổn hại quá lớn như vậy? Người ta lấy làm quái lạ cho câu hỏi của tôi. Vì luật pháp có cấm đâu! Xem đấy, đối với dân không thể để cùng nhau tự lo như lúc sơ khai là thế. Bởi vì thiên hạ chỉ biết sợ pháp luật nhà nước chế tài họ. Có pháp luật mới răm rắp làm theo mà giữ gìn. Còn để tự nhiên thì ai cũng vậy, tội gì một mình mình giữ gìn cho thiên hạ xài? Do đó ở phương Tây hai bên ven rừng ven núi đều được phân giới hạn chia cho dân địa phương ở đó nhận phần làm nghiệp chủ mà giữ gìn. Nếu người ở đó không đủ sức thì cho dân nơi khác đến chiếu nhận giữ gìn hưởng hoa lợi, không để một nơi nào vô chủ mà phải trả về cho Triều đình. Vì vậy người ta nói giang sơn có chủ là vì thế.

Không như nước ta, bỏ mặc không hỏi đến. Trừ các núi lớn vùng thượng bạn không đủ sức kiểm soát không nói làm gì, còn các núi vùng hạ bạn như núi đệ nhị đẳng, núi đệ tam đẳng ở các huyện tuy giới cận hai bên phù hợp tiện lợi, thế mà ngàn đời vẫn bỏ hoang, muốn đốt phá lúc nào thì đốt phá nỡ làm cho tuyệt diệt. Đạo trời là cái đức lớn sinh thành vậy mà chặt chém đi làm mất cái nguồn nước mưa tưới nhuận cho đồng bằng, làm mất cái nguồn cung cấp củi than cây gỗ, làm mất nguồn nuôi sống. Lý do không có gì khác hơn là vì không có pháp luật để giữ gìn mà thôi. Xưa cấm vào rừng. Tại sao nay lại không làm được như thế? Trời sinh ra rừng rú có công dụng rất lớn, thế mà người khinh bỏ không biết coi trọng cho nên không đạt được cái dụng của nó cũng phải. Nếu biết rõ được nhiệm ý của tạo vật làm cho đất đội lên thành núi để tạo ra cái công dụng lớn cho loài người thì mới biết quý trọng, biết chăm sóc, không đến nỗi để cho anh linh núi rừng phải bị giễu cợt mỉa mai. Kìa, trời sinh thời tiết, đất sinh nguồn lợi, các nước phương Tây tuân theo thời tiết, khai thác nguồn lợi, chia ra xướng xuất để khuyên dân ra sức làm việc để khỏi cái thói biếng nhác ăn chơi, giúp cho việc tạo thành phong tục thuần phác.

Sở dĩ nhân dân các nước phương Tây được giàu có phần nhiều do nhờ ở nghề nông. Cho nên có đặt ra một Bộ do một vị đại quan cầm đầu coi sóc. Còn để giúp thêm vào việc khích lệ thì mở các cuộc hội chợ đấu xảo, từ đó dân mới biết trách nhiệm chú trọng đến điều căn bản. Cho nên ai cũng hết sức đeo đuổi. Vì lẽ nghề nông chẳng phải là nghề sang cả gì mà được ơn Triều đình khen thưởng hậu đãi. Tâm lý con người ta đã được lợi ích thiết thực cho mình, lại được Triều đình ban thưởng, khiến trong nước đều biết tên mình, vậy ai chẳng gắng sức. Bởi vì thí dụ như có một người nào đó suy nghĩ ra được một phương pháp mới rất hay, thí dụ như trồng được mía tốt hơn bình thường, nấu ra đường cũng nhiều hơn các mía khác. Quan nông chính liền thân hành đến nơi xét nghiệm và khen thưởng. Rồi sau đó khiến khai rõ phương pháp tài bồi như thế nào, đem phổ biến cho tất cả mọi người khiến mọi người bắt chước theo phương pháp đó, chẳng bao lâu mà tiếng tăm lan tràn khắp nước. Tất cả việc gì cũng thế. Hãy xem ở Gia Định mỗi năm đều có đấu xảo. Đó là họ mới thí nghiệm chính sách lúc đầu của họ. Thế mà biết đâu dưới dân đã có ít nhiều người trổi khá. Nước ta vấn đề ranh giới ruộng đất chưa được đúng, còn nhiều sơ sót, dân gian sinh nhiều tệ đoan, đất nước chưa được lợi một cách rõ ràng. Nguyên do của nó rối như tơ, giờ đây ra làm gặp muôn điều khó nói hết được. Trước đây trong điều “Tế cấp chính kinh giới” tôi đã nói đại lược các tệ hại, nhưng chưa nói đến những phương pháp bổ cứu làm cho tốt, bởi vì Triều đình lúc bấy giờ chưa để ý đến. Núi, sông, đồng ruộng, biên ải của một nước cũng giống như ruộng đất vườn ao của một gia đình. Nếu là chủ nhà mà không biết hết gia nghiệp của mình có những gì, bao nhiêu, thế là rất thiếu sót đối với gia đạo. Triều đình đối với nhà dân, quy mô còn tuyệt vời hơn nữa, thế thì sự sắp đặt càng phải rõ ràng sáng suốt hơn mới hợp thể thống.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:14:09 pm

Nay không biết hết được các điều khoản về địa diện địa chất trong nước, chỉ biết sơ sài đại lược, còn các điều cần phải biết gấp như tôi đã kê rõ trong “Tế cấp kinh giới điều” trước đây mà bỏ ngoài tai thì đối với quốc thể rất là thiếu sót. Bởi vì một khoản về nông quan chính là chính sách lớn trong công việc chính kinh giới đó. Xưa nay các nước đều tận lực thi hành khoản này. Xem Trung Quốc càng thấy rõ hơn. Thế giới ngày nay đều lưu tâm để ý còn gấp bội thời cổ, lẽ nào nước ta có một vũ trụ riêng khác với mọi người, không làm nông chính mà vẫn có thể làm giàu được sao? Nay một lần nữa tôi xin nêu ra một tệ đoan lớn. Tức như về khoản khai khẩn. Vì lập ra phép giác khẩn mà trong dân gian xảy ra vô số vụ kiện cáo khiến nhiều nơi bỏ đất hoang không ai dám báo khẩn, như ở xã Hải Thanh ở Hưng Nguyên có một khoảnh đất ước chừng hai trăm mẫu làm nhà cửa cho hàu hến ở. Năm trước có người hợp tác cùng bạn bè nâng đất bồi đắp, tổn phí hai ngàn quan tiền. Khi xuống gieo rất tốt chỉ vì báo khẩn thế nào chưa đầy đủ, bị dân phát giác tranh chiếm. Nguyên chủ rất giận bỏ đi để đất trở lại hoang phế như cũ.

Tôi đã qua đó trông thấy lấy làm tiếc lắm. Tất cả trong dân gian có chỗ địa lợi chưa khai khẩn hết, chính là vì lý do đó.

Xưa vùng Giang Nam có nhiều đồng lầy đất hoang mà dân không dám canh tác bởi vì nếu cày cấy sẽ bị kiện tụng liên miên không gỡ ra được, chỉ vì tranh nhau một miếng đất cắm dùi mà đến nỗi phải khuynh gia bại sản. Vua Thế tổ nhà Minh là người xuất thân từ con nhà nông, đã rõ thấu tệ này cho nên đã ra lệnh trừ đất nào đã chính thức thành ruộng rồi, nếu có đất hoang mà ai khai phá được thì giúp cho họ mở mang bất luận người ấy là dân địa phương hay dân ngoại tịch, bất luận có báo khẩn hay không báo khẩn, vật phải có chủ, ai chiếm trước người ấy được. Lệnh ban xuống chưa được mấy năm mà suốt từ vùng Giang Nam xuống phía Nam tất cả mặt đất đã trở thành ruộng lúa phì nhiêu. Sau đó mới sai quan sát nghiệm rõ ràng, chiếu trừ số tiền dân xuất vốn khai thác là bao nhiêu rồi lượng cấp số lượng cho dân. Dân chúng không ai nói không kham chịu, là nhờ sự tính toán thích hợp. Hiện tại đất đai của ta những chỗ để canh tác đã hết, còn đất hoang và những nơi khó bồi đắp hãy còn nhiều mà sức dân không thể làm một mình được; ắt phải có người có của cải hợp tác mới có thể khai khẩn được một khoảnh, sở phí về bồi đắp, báo khẩn, khám xét, đo đạc rất nhiều. Mặc dầu trong đó cũng còn sót lọt nhiều nhưng giả sử trong dân sót lọt bốn, năm mươi mẫu chỉ khởi canh được mười mẫu vẫn còn hơn chẳng được mẫu nào. Dân có ruộng để làm ăn chẳng hơn là bỏ hoang phế đất đai quý báu hay sao? Nay tốn công tốn của bốn, năm năm một mai bị người nhiều tiền đem kêu lên quan, được thưởng, còn mình thì bị tội, làm người ai mà chịu được như vậy?

Cho nên trong dân gian đã tương truyền với nhau rằng khai khẩn là một tội lớn. Mặc dầu trong lệ định thưởng mỗi mẫu ba quan tiền cho người phát giác, còn ruộng thì trả về cho nguyên chủ, thế mà trong dân gian cũng có một vài nơi người phát giác lại được ruộng còn người trước tiên khai khẩn lại bị mất ruộng. Cho nên người ta đã bảo nhau phải rất dè chừng chớ nên khai khẩn đất. Đã tốn công tốn của để khai khẩn thành ruộng rồi lại tốn của chịu khổ để xin ruộng, như thế chi bằng đem tiền tạo mãi ruộng có sẵn mà tọa hưởng có hơn là đa sự mà khổ thân không? Đến như hạng dân nghèo không ruộng không đất hoặc có khai khẩn được một sào nửa thước miếng đất rẻo thừa chẳng nên hình nên dáng gì mà còn bị người ta tố cáo là ruộng lậu rồi yêu sách điều nọ điều kia. Chỉ vì một chút đất cắm dùi mà phải cung phụng bọn hào lý đủ thứ thì chi bằng không nhà không của, đi làm mướn ăn có hơn không? Nếu làm như Thế Tổ nhà Minh, trừ những dân có ngạch thuế ra còn bao nhiêu những người khác đều cho họ được tự do khai khẩn, không ai được sinh sự. Đợi sau khi đất đai khai thác đã hết, bấy giờ mới sắp đặt châm chước lại cho được công bình. Như vậy thì trong mấy năm dân được hưởng quyền lợi lúc mới khai khẩn, dần dần được giàu có, điều đó có thiệt hại gì cho quốc gia đâu? Trái lại trước đây trong dân có ai khai khẩn chút đất hoang nào thì rắc rối nhiều chuyện mà đâu là phần công đâu là phần tư đều không rõ ràng, tệ lậu như tơ vò tóc rối không thể nêu hết được (Nếu ngày nào Triều đình muốn diệt trừ tệ đoan, tôi xin trình bày hết). Còn như những nét đại cương về việc điều chỉnh thì tôi đã đề cập sơ lược trong điều “Tế cấp kinh giới” trước đây rồi.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:14:41 pm

Nay tôi xin nói một khoản về thiết lập quan nông chính. Tất cả các cử nhân tú tài tại gia hãy chọn lựa cho học Nông chính toàn thư, đồng thời soạn thảo những gì thích nghi với phong tục thổ sản biên thành một bộ cho họ thực tập bổ túc, vừa học vừa làm. Tuy chưa được hoàn toàn như thiên hạ một cách nhanh chóng, nhưng cũng có thể lựa những người ưu tú lần lượt cử ra làm việc trước, mỗi huyện cử một người. Tất cả mọi việc về nông chính và khai hoang đều phải nắm chắc trong tay. Tất cả vườn ao trang trại núi đồi gò nông dần dần vẽ thành bản đồ. Dần dần trừ bỏ các tệ đoan tồn tại trong dân từ trước, mỗi ngày đi tuần chỉ vẽ cho dân làm, y như mình là người chủ nông vậy. Nhưng chủ nông là người chỉ biết lo làm giàu cho gia đình mình, còn quan nông chính là người lo cho sự giàu có của toàn huyện. Do đó quan nông chính phải có tâm sốt sắng và tháo vát mới làm tròn công việc được. Về cách cư xử đối với dân thì vừa phải theo như đạo xưa, đồng thời lại phải theo phong cách làm việc như các quan ở phương Tây thời nay. Không thế không thể làm việc được. Hãy xem ở Gia Định quan án giải quyết những việc kiện tụng lặt vặt, họ không nỡ câu lưu người ta để xét hỏi, sợ tổn hại công việc làm ăn của dân mà thường hẹn giờ rồi thân hành đến nhà dân. Một ngày như thế họ có thể giải quyết mấy chục vụ. Chỉ một người cỡi một con ngựa cặp một cái cặp sách mà thôi. Thanh liêm mà giỏi việc hành chính, ai bảo người thời nay không làm được? Còn nếu theo cách quan liêu hiện nay thì chẳng khác gì trường hợp như Liễu Tử Hậu, không những không làm lợi dân mà trái lại còn bị dân hại. Xưa Điền Tuấn rất vui, Toàn Nghĩa thấy lúa mạch thì cười, cho đến nuôi tằm trồng dâu mà được trừ tội. Để tâm săn sóc lo cho dân đến thế mà dân không phấn khởi được sao? Nếu Triều đình muốn thực hành thì trước hết nên định ra điều lệ, áp dụng làm thử một tỉnh trong vòng bốn năm năm, thấy có hiệu nghiệm rồi sau sẽ thi hành phổ biến. Còn nếu không hiệu nghiệm thì bỏ cũng chằng muộn gì (Nếu như tôi được đi theo đại phu thực hành thử một nơi nào mà không hiệu nghiệm, tôi xin cam chịu tội nói láo). Ngày trước Ngụy đại nhân cũng đã cùng tôi bàn luận việc này và muốn áp dụng thử ở tỉnh Nghệ trước, chỉ tiếc hồi đó chưa đủ người thừa hành công việc.

Xưa thánh Khổng làm chức Tư không ở nước Lỗ trước tiên phân biệt năm loại chất đất khắp núi rừng sông hồ gò nông đồng lầy... Do đó mà các loại thực vật đều được thích nghi. Tưởng thời xưa cũng có chuyên môn và sách vở, đến khi gặp nạn Tần mới bị đốt bỏ. Tử Lộ cai trị đất Bồ thay đổi lại hết chế độ ruộng nương, phá bỏ bụi bờ gai góc, đào ao vét mương, trồng cây cối sum sê, được thánh Khổng khen là bậc cung kính trung tín. Thời bấy giờ lời nói và việc làm của các môn đệ của Khổng đều chú trọng điều căn bản. Người xưa coi trọng hiếu đễ và sự lao động sản xuất giống nhau. Lưu Án cho rằng làm vua thương yêu người không phải ban cho người vật này vật nọ mà phải dạy người cày ruộng dệt vải. Thoát Thoát nhà Nguyên mộ dân phương Nam cày ruộng phương Bắc, mỗi năm thu hoạch thóc lúa hơn trăm vạn thạch, lại mộ dân đắp đê ngăn đập, cứ ngàn người làm một nông sự, làm giáp một năm mà được mùa to. Trương Như cai trị đất Bá, cứ một xóm lập một sổ bộ thống kê hết sổ hộ khẩu nam nữ lớn nhỏ, dụng cụ trồng lúa, trồng dâu, dệt cửi, số lượng heo gà, mỗi mỗi đều kiểm tra xem xét, khi rảnh thì xuống làng kiểm điểm thưởng phạt, chưa đầy hai năm dân chúng đã có của cải dồi dào, cuộc sống ngày một sung túc. Chuyện đó xưa người ta đã làm cả rồi. Ai bảo là khó như vượt biển? Lý do vì sao?

Nếu nhất định thi hành nông chính trở lại mà có người thực tâm làm việc, theo đúng pháp luật mà làm thì từ đó sẽ sinh ra nhiều lợi ích không thể kể xiết. Thứ nhất là vấn đề kinh giới nhờ đó được chính xác, chấm dứt mối tranh giành, dân chúng được yên ổn lâu dài. Thứ hai là khai thác hết địa lợi, thì dân được giàu có. Thứ ba là trong nước nơi nào trồng trọt được nơi nào người ở được có thể thấy rõ ràng như trong bàn tay, như gia chủ quản lý công việc nhà vậy. Thứ tư là các phép ngăn nước tháo nước, mở đường sá càng thêm khang trang càng thêm kiên cố (Đây là địa lý về binh pháp). Thứ năm là trồng cây xanh rộng rãi khắp nơi từ đồng bằng đến gò nông, lá khô rụng xuống đất hư mục, thấm khí thấm vào ruộng đất mỗi ngày một tốt, hơn nữa đồng trống thành rừng nhờ đó gió mưa điều hòa, đem sức người phục hồi tạo hóa. Thứ sáu là thuế thu ngày một tăng nhiều, không ai nợ không ai thiếu, chẳng nhọc quan phiền dân. Thứ bảy là chỗ dồi dào chỗ yếu kém bồi bổ cho nhau, lập kho lúa của xã, kho lúa tương trợ công ích, tùy lượng nhập tùy lượng xuất, phòng bị trường hợp mất mùa, lúa thóc quân bình đủ ăn. Thứ tám là có tổ chức hội chợ đấu xảo nên dân chúng đua nhau học các nghề thực dụng và các phương pháp trồng trọt khiến ngày một khéo léo làm lợi về mặt kinh tế. Thứ chín là quan dân thường gặp gỡ nhau ngày một thêm thân cận, quan bình dị gần gũi dân thì dân sẽ quy phục. Thứ mười là hình thế đất đai đều hiểu rõ thì từ đó nắm vững được địa lý về binh pháp.

Có được mười lợi ích to lớn này thì quốc thể càng thêm hùng hậu. Vậy không nên gấp rút thi hành sao? Quan viên ngày đêm thân hành vào thôn xóm dạy dỗ tập rèn dân mình như thầy trò cha con. Nhờ đó thay đổi được hết tình hình dưới dân khiến tất cả những gì u ẩn bí hiểm của muôn dặm đất nước thấy được rõ ràng như trong một gia đình, trên hô hào dưới hưởng ứng chẳng dễ dàng trong việc cai trị hay sao? Đấy chính là sự lợi ích vô cùng lớn lao. Nước ta đối với vấn đề nông nghiệp từ lâu đã phế bỏ không giảng dạy. Nay bỗng nhiên muốn thi hành thì trên quan chẳng biết dạy cái gì, còn dưới dân thì cứ nghĩ rằng mặt trời mọc thì đi làm, mưa xuống thì vác cày ra cày, đợi gì phải dạy. Nếu muốn được những lợi ích như đã nói trên, khắp thiên hạ ngày nay thi hành thì không thể nào không có thầy chỉ dạy. Hơn nữa nhà Nguyên mộ một ngàn nông sư đó do đâu mà có? Ngày nay trong thiên hạ sách vở ấy, người chuyên môn ấy hãy còn, mà sách Nho viết về nông nghiệp cũng nhiều, tại sao không sưu tầm rộng rãi mà chỉ lo mài dũa văn chương, thử hỏi khi đói có thể đem ba cái chữ nghĩa văn chương ấy ra nấu ăn được không? Có chính sách nào hay ho trong việc cứu đói không? Tôi từng để ý hỏi những người lão luyện về nghề làm nông làm vườn thì thấy họ cũng có được một vài phương pháp hay độc đáo, tiếc là không thể truyền bá rộng rãi. Nếu hiểu thị cho dân chúng khiến dân sở tại ai có ngành nghề gì hay thì trình bày dâng lên sẽ được ban thưởng, chắc không bao lâu những phương pháp dạy nghề sẽ được tập trung gởi dâng lên Triều đình. Sau đó tham chiếu với địa thế, khí hậu, thời tiết rồi phối hợp với các phương pháp mới trong thiên hạ soạn lại thành sách. Như vậy là có phương pháp có tư liệu để dạy dỗ rồi. Trên biết quý trọng thì dưới chắc chắn càng chăm hơn. Chẳng qua chỉ độ vài năm có thể sẽ từ thô sơ tiến tới tinh xảo mà tạo lập được cái căn bản lớn cho thiên hạ.

Những trang này là một điều trong bài Tế cấp luận của tôi trên đã được nghe rồi. Nay nếu Triều đình cho là việc đáng làm thì tôi cũng có thể đóng góp kiến thức hẹp hòi vào việc vạch định thể thức tiến hành cùng khảo hiệu thư tịch cho được phần nào kết quả.

Nay kính bẩm.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2011, 08:50:31 pm

DI THẢO SỐ 54

Phải gấp rút thực hiện các kế hoạch*

(Khoảng tháng 9, tháng 10 năm Tự Đức 24, tức tháng 10, tháng 11-1871)

Kính bẩm,

Tháng 10 năm ngoái tôi có một bài nói rằng: Nếu bệnh họ thuyên giảm rồi, họ sẽ gấp rút kiếm ăn để bổ dưỡng chỗ thiếu hụt, mà đất của ta có nhiều thứ có thể ăn được, lẽ nào họ chịu để bụng đói ngồi trông ư? Từ năm trăm năm trở về trước khi cái thói cướp đoạt của phương Tây chưa thành thạo thì cũng có thể do loạn mà dần dần được thịnh trị. Như các nước phương Đông thời xưa còn đóng kín cửa vậy. Nhưng từ khi chúng đã thành thuộc đường đi rồi thì lo thu vét của cải lợi lộc của thiên hạ. Cho nên tuy trong nước dẫu bị tàn phá nhưng hễ vừa được rảnh tay thì túa ra bốn phương như ong, không chỗ chằm vá nào chẳng xé ra, không chỗ sơ hở nào chẳng xen vào, coi tài lợi của thiên hạ như của mình. Ví như người đã quen thuộc phương xa, nếu ở mình cùng khốn thì chuyển đi nơi khác, chụp bên Đông giật bên Tây chứ chẳng để đến nỗi tay không. Nếu đem so sánh với kẻ ôm cây đợi thỏ, không ra khỏi nhà nửa bước xem ai thư thả ai quẫn bách? Hơn nữa không phải chúng chỉ giỏi thu lấy của cải nơi người mà còn giỏi khai thác kinh doanh nơi mình nữa. Đem cái vốn sẵn có của mình mà thuê mướn đất đai của người, lẽ nào không giàu có sung túc nhanh chóng được? Nay sáu tỉnh là nguồn vốn căn bản của họ. Đất đai sau núi là ruộng đất của họ. Nước ta là nguồn tài trợ của họ. Trung Quốc là nơi họ thuê mướn. Còn nguồn lợi bốn phía phương Đông thì Đông ngã ăn heo Tây ngã ăn dê mà họ thì ăn đủ thứ. Chưa nói chi những chỗ khác, chỉ nội một Gia Định cũng đủ quấy rối ta không yên. May mà trời cho ngày nay họ còn bối rối, tuy ta có hơi thong thả, nhưng dần dần cũng không khỏi sinh nhiều chuyện. Đó là điều tôi đã lo xa như vậy. Nên trong lúc họ còn đang phân vân đứng giữa mà ta thì có thể cực lực bôn tẩu tiến mạnh. Họ dừng lại chờ xem còn ta thì đi tới tiến lên. Do đó cũng có thể hy vọng làm được việc lớn. Nếu không thì đó là nguyên do các nước bị trùng ăn cá nuốt là như vậy.

Cơ hội hưng suy thiên hạ xưa nay không giống nhau. Nhân việc đã qua suy việc sắp tới cũng có thể đoán biết được bọn chúng sở dĩ chuyên chú vào các nước là vì đối với họ đó là việc quan hệ tính mạng, còn đối với người thì có đường lối có thể xen vào được. Sở dĩ các nước không thể cự lại được họ là vì câu chấp chỗ hiểu biết của mình mà không chịu gấp rút theo thời thế. Nay hãy lấy một vài bằng chứng gần ta xem. Xưa năm xứ Ấn Độ với Bồ Đào Nha là trường hợp chuyện nhỏ để xảy ra to. Bấy giờ Bồ Đào Nha đã biết người Anh đã thôn tính Tây Châu như thế nào rồi. Người Bồ đại ghét người Anh muốn chận tay người Anh ở Ấn Độ, đã đem mách cho Ấn Độ biết cái ý của người Anh, thế mà Ấn Độ chỉ cười bỏ qua. Đến khi sự việc ở Mạnh Gia Lạp xảy ra thì tiếp đến các thành phố lớn lần lượt bị sụp đổ. Năm xứ Ấn Độ là nước đứng vào hàng nhì trên thế giới đâu có thể bảo là không người. Chỉ vì tâm lực không đồng mà buông mình chịu làm kẻ dưới. Miến Điện ngồi xem Ấn Độ, không nghĩ đến cái thế môi hở răng lạnh, tự cho rằng mình trong có núi ngoài có sông có thể cố thủ được mà không chịu sửa sang nền chính trị và bang giao với các nước láng giềng, thỏa mãn với cái điểm ưu thắng nhỏ nhoi ấy mà tự cao tự đại không nghĩ đến việc Anh sẽ gây trở ngại. Đến khi họ cuốn lấy hết nửa nước bấy giờ mới chậc lưỡi, tự hận thì không kịp nữa. Tấm gương không xa đó, người Xiêm đã thấy rõ. Nhưng nỗi giận khó nuốt mà muốn gắng gượng ra tay thì biết phận mình như chân bọ ngựa khó duỗi. Cho nên đã gấp rút mở toang cửa ngõ mời thiên hạ đến giúp. Nhờ thế mà đến nay phận chủ khách còn rõ ràng, còn hơn là trông thấy người ta xử sự với mình.

Nước ta hiện nay đối với cái kế thâm độc của họ và sự được mất trong thiên hạ, việc đã sáng tỏ như gương. Tại sao cứ chăm vào một việc đàm phán thương thuyết với họ? Tôi thấy liệt vị đại thần không ai chẳng lo xa nghĩ sâu thế mà bảy tám năm nay chưa thấy thi thố được một cái thuật nào khả dĩ cự lại họ. Ngày xưa, binh gia thường dùng kế hoãn binh để chỉnh đốn việc phòng thủ. Nay tình thế giữa họ và ta, dùng một kế hoãn binh là cơ hội tốt. Nếu không gấp rút chấn chỉnh để thời kỳ bối rối của họ đi qua thì còn làm chi được nữa? Tôi đã từng nói cái xấu dở nhỏ trong nước ta chẳng qua chỉ là một thứ mụt ghẻ ngoài da, tuy có đau ngứa nhưng chẳng hại gì lớn lắm. Còn tình thế của nước họ mới là bệnh trong ruột trong tim, mới thật đáng lo. Họ trước đây khi mới đến Gia Định, ngôn ngữ chưa thông, tính tình chưa thục, bị thông ngôn phá hoại khiến dân thất nghiệp không nơi nương tựa, nhân quẫn bách mà sinh loạn cho nên họ chưa dám mưu đồ gấp rút, chỉ chuyên chú kinh doanh nơi đây, tạo thành một vũ trụ riêng để nắm cái quyền cư trọng ngự khinh. Do đó họ đã gấp rút phái người đi Tây học tiếng Tây để chuẩn bị sau này dùng vào việc đua đuổi. Trước đây nguyên soái Gia Định phái được hơn ba mươi người đi Tây học tiếng đã thành thạo trở về Gia Định, còn quan Tây thì chuyên học tập phong tục luật lệ nước ta. Dụng tâm của họ như thế còn dụng tâm của ta như thế nào sao chẳng lo sợ?

May thay nước họ đang suy loạn còn phải ngồi xổm mà chờ, chưa kịp quan tâm đến ta, có thể nói là lúc ta đắc ý. Ta làm gì đây, hay cũng như người mà thôi? Thiên hạ bốn trăm năm nay đã có nhiều thuật bổ cứu giằng co với bọn chúng, đã có đủ phương pháp công chiến đường lối báo phục. Ngã xuống lại tiến lên, ngọn thương đâm trước mặt, mũi tên bắn ngầm sau lưng cũng là gian lao. Hòa rồi chiến, chiến rồi hòa đâu phải một lần. Thù giết không thôi, người thì ngày một manh mún, chúng thì ngày một tụ họp. Người lui một bước, chúng tiến một thước, đời đời kế tiếp, triền miên không thôi cũng đã lâu rồi. Cùng khắp thiên hạ cự lại một phương Tây nhỏ bé. Có phải của cải sức lực mưu trí không nhiều đâu. Thế mà càng chống cự chúng càng tiến tới, càng chiến đấu càng thua bại. Việc đã trở thành lớn rồi. Đến như Trung Quốc, hai trăm năm nay chưa bao giờ quên bọn chúng mà nay việc cũng đã xong rồi. Họ là người ta là quỷ, con đường lợi hại được mất đã thấy hết rồi. Nhưng rốt cuộc cũng không khỏi hai con đường là canh tân tiến bộ và mở rộng giao thiệp mới có thể bảo đảm không bị chúng vồ lấy. Như thế đó không phải là cái kế độc nhất vô nhị, đến chỗ tuyệt vọng mà được sống sao?

Tôi đã từng nói: Sau cùng còn một mình ta lâm vào tay họ, đó là phúc của ta. Khi họ mới phát, thiên hạ đã đem cái sở kiến cũ kỹ của riêng mình ra nghị luận để đối đãi với bọn họ, cũng giống như ta trước đây một thứ thôi. Có điều là người ta thì chưa được thấy vết xe trước đã đổ cho nên cực lực đánh lâu với bọn chúng cho đến khi kiệt sức không dậy nổi mới thôi. Do đó tổn thất rất lớn. Còn ta thì vì sao thiên hạ trúng phải kế quỷ quyệt của chúng và vì sao thiên hạ có thể quân bình lợi hại với chúng được, điều đã thấy rõ ràng. Thế mà còn không chịu làm là vì cớ gì? Lẽ nào suy nghĩ mà không rõ được lý do hay sao? Đã suy nghĩ ra lý do mà chỉ vì lý do đó nên đến nỗi không thể cất mình bay bổng lên được thì tại sao không một lần nêu rõ lý do ấy ra để trừ khử nó đi?

Xưa nay trong những thời suy chưa có thời nào không có người thấy biết, nhưng có người thấy thời vận không thể làm được nên giữ mình trong sạch mà bỏ đi, cũng có người không thể vong tình nên đem cái chết mà tạ đất nước, cũng có người ẩn dật trông đợi thời thế sáng sủa, cũng có kẻ biết mà không thể nói được phải dằn lòng nuốt hận hoặc nói mà không thấy áp dụng đến nỗi phải than dài như điên, hoặc ôm hận mà chết, tự hại không bổ ích gì cho đời, hoặc phát chí mạnh mẽ gan góc chống chọi để mưu đồ năm tháng. Có những người có tài như thế mà rốt cuộc không ích gì cho quốc gia là do ở cái thế không thể làm được chứ không phải họ không biết. Nước ta hiện nay cái thế đã rõ mà thế rất có thể làm được. Đó là hiện tượng của thái bình. Tôi biết chắc chắn rằng nước ta tuy nay gặp nhiều biến cố như thế nhưng căn bản đã vững chắc, càng nhiều việc thì càng khó lay chuyển. Sau vài năm hết khổ đến sướng mới thấy lời tôi nói không sai. Đó là chỗ tôi thấy chắc chắn như vậy chứ không phải như hạng thầy bói nói láo. Tuy nhiên có làm mới thấy thái bình. Trên thế gian lẽ nào có chuyện không làm mà tự trên trời rơi xuống cho đâu?

Đức thánh Khổng nói: Còn mất, họa phúc đều ở mình mà thôi, thiên tai địa yêu nhưng chẳng làm gì được. Nếu thế thì chỉ có một chữ cương quyết làm mà thôi. Nay xin gấp rút đi giao thông các nơi để tìm kế chống lại họ, một mặt hãy sang gấp nước họ ở lâu bên ấy dùng tình dùng lý để vãn hồi sáu tỉnh (Nếu thấy cơ hội có thể tiến hành đánh úp được, tôi quyết không phụ những lời tôi đã nói), một mặt làm rõ vật gì cũng đều có chủ và giữ đúng lễ chủ khách để ngăn chặn lòng tham của họ, một mặt gấp rút tìm người mở rộng việc khai thác nguồn lợi để giúp giải quyết các cấp bách lúc mới đầu, một mặt đem những lợi dư bán cho bọn họ để giúp giải quyết những tình trạng khẩn cấp, một mặt chấn chỉnh học thuật khiến dân chúng xu hướng theo đường thực dụng, dứt bỏ thói phù hư vô dụng. Đó là căn bản lớn, muôn sự từ đó mà thành, một mặt chia nhau đi chấn chỉnh công việc trong nước, trừ bỏ các tệ đoan làm hại dân để làm lợi cho nước, một mặt mở rộng đường thương mãi để giàu có của cải, một mặt cầu người giúp đỡ để dẹp sạch những cái xấu nhỏ cho dân được yên vui để thi hành đường lối chính trị mới, một mặt tiến hành tu chỉnh các tình thế trong nước cho hợp với địa lý binh pháp mà trước đây chưa chuẩn bị được để tạo thế thành trì vững chắc, một mặt chiêu dụ các dân tộc man mọi phía sau núi, khai phá các vùng đất hoang để mở rộng lợi ích trong nước, để thu nguồn lợi phía Tây, một mặt gấp rút lưu tâm việc tơ tằm dệt vải cho dân đủ dùng, một mặt gấp rút mở hội chợ trưng bày đấu xảo cho dân hứng thú chuộng những việc làm cơ bản để có đời sống phong phú, một mặt gấp rút mở thêm một bộ Tân pháp quan chức và dùng một vị đại thần nào thâm hiểu tình hình thế giới đứng đầu để trách nhiệm việc thành lập bộ ấy, một mặt hãy mở những sự hạn chế để cho những người thừa hành nền chính trị mới triển khai thi thố ý kiến của mình thì mới hy vọng thành tựu được, một mặt gấp rút hãy làm tiêu tan hết những gì trước đây đã làm cho người ta nghi ngờ mình hẹp hòi không rộng rãi, để cho người ta thấy mình đã quyết định thay đổi đường lối, đua đuổi cùng thiên hạ, khó lòng dùng quỷ thuật gì quấy rối ta được, như vậy lòng khinh khi của họ mới dần dần tiêu tan, ta mới được vô sự.

Các khoản lớn trình bày trên đây hiện nay hết sức khẩn cấp, hãy đứng dậy nhảy xổ ra bắt tay thực hiện ngay. Thời đã đến rồi. Thời khó được mà dễ mất, chớ nên nói hãy để sang năm.

Nay kính bẩm.

_______________________________________
*. Bản văn chữ Hán: Hv 634 /4 tờ 174-185
    Không ghi rõ ngày tháng, nhưng có lẽ là một trong những bài viết cuối cùng của Nguyễn Trường Tộ, vào khoảng tháng 9 tháng 10 năm Tự Đức 24, Nguyễn Trường Tộ chỉ thôi thúc Triều đình thi hành các kế sách đã trình bày trước đây, chứ không có gì để nói thêm nữa.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2011, 08:52:30 pm

DI THẢO SỐ 55

Nên mở cửa chứ không nên khép kín*

(Tháng 9, tháng 10 năm Tự Đức 24)

Kính bẩm,

Tôi xem khắp thiên hạ từ xưa đến nay, các nước sở dĩ bảo tồn được dài lâu, không nước nào không do hai điều kiện là giàu và mạnh. Mà sở dĩ được giàu mạnh thì không thể không bắt đầu bằng việc mở rộng đất đai làm đông dân chúng, thông thương qua lại và giao du với các nước. Sau đó lấy nhân nghĩa công bằng mà qua lại với các nước làm cho mình và người cả hai đều được lợi, thì mới đạt được sở nguyện. Đó là đường lối thông thường mà tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều tiến hành như thế, tập tành ham chuộng đường lối ấy, tìm cách thực hành đường lối ấy, mấy trăm năm càng ra làm càng có lợi mà không ai nghỉ tay, cũng vì bỏ đường lối này không còn phương sách nào khác.

Tôi xin nêu ra một vài nước trên thế giới đã thực hành đường lối này để thử luận xem. Trung Quốc xưa kia khai thác chưa rộng, đến đời Đường mới bắt đầu mở mang các nguồn lợi về chợ búa và thuyền bè, đến triều nhà Thanh trước hết mở mang việc giao thông bằng đường bộ. Kế đó vơ vét vùng Tây vực đem bán cho các nước Hồ, rồi phía Bắc mở thị trường chung với người Nga để nắm lấy nguồn lợi về trà tàu và da thú. Kế đó lại mở các cửa biển cho các quốc gia hải đảo khu vực Đông Nam dương đến buôn bán, ném một viên gạch mà dẫn đường cho phương Tây đến, sau đó các nước phương Đông phương Tây đều quy tụ về, nhờ thế mà quyền lợi thiên hạ, một nửa đã nắm được trong tay. Tuy có lúc nước Anh vì bất bình mà tranh nhưng nhờ có Nga Mỹ ở giữa nên không bị hại lớn. Tuy có bị nội loạn (Như loạn Thái Bình vương) chia cắt nhưng cũng nhờ người phương Tây ứng viện, cuối cùng dẹp tan được. Đến nay họ lại thuê mướn nhiều người phương Tây lập xưởng chế tạo khí cụ, đóng tàu. Họ còn thuê người Tây phương làm quan để đại diện họ mua khí cụ và làm đại sứ. Họ còn sai nhiều sứ thần giao thông với các nước lớn để bủa kế liên hoành. Tất cả những việc họ làm, người phương Tây trông thấy đều đã nguội lòng. Thử xem từ triều Minh trở về trước nước ấy hãy còn bế quan tỏa cảng mà nay được khí thế như vậy là đều nhờ lợi ích của việc ngoại giao cả. Chẳng biết do đâu mà triều đình nhà Thanh lại hết lòng tin dùng người phương Tây như thế. Sự thật không thể hiểu được. Nước ta xưa nay, mọi việc đều bắt chước Trung Quốc, mà chỉ có một kế hoạch lớn là giao thông với cường quốc là ta không nghe theo, có phải toan lập được một mưu kế kỳ diệu riêng hơn hẳn Trung Quốc một bậc chăng?

Lại xem Nhật Bản xưa vốn là lũ người lùn, từ trung diệp nhà Minh mới bắt đầu giao hảo với Hà Lan, làm bạn với Bồ Đào Nha, kế đến mời Hợp Chủng Quốc vào việc nước, mở mắt nhìn rộng rãi thiên hạ mới có được chí hướng lớn như vậy. Từ đó họ đóng tàu bè, luyện tập võ bị, ưu tiên phát triển thương nghiệp, công nghiệp, đất nước mỗi ngày một mạnh, được khen với mỹ danh là Tiểu Tây và Trung Quốc khó bắt được Nhật Bản phải thần phục. Tuy gần đây Anh Pháp thường hay quấy nhiễu nhưng nhờ có nền nội trị ngoại giao vững vàng mà họ không chịu hạ mình. Như trước đây ba năm Anh Pháp đem binh thuyền đến toan đàn áp, nhưng nhờ có Hợp Chủng Quốc, Hà Lan phân giải mà việc đã không xảy ra. Đó không phải là công dụng của sự giúp đỡ của các nước hay sao? Còn như ngày nay nước ấy có những kế hoạch giao thiệp rộng rãi, những mưu cơ tân tiến thì đâu đâu người ta cũng nghe thấy rõ ràng, gương ấy không xa, không cần phải nêu ra nữa.

Còn như đối diện với nước ta là Xiêm La. Nước ấy trước đây vốn chẳng có thế lực to lớn hùng mạnh gì. Nhưng từ khi người phương Tây quấy động khiến họ chợt thức tỉnh, bèn lấy Anh Pháp làm bạn, lấy Y, Bồ làm khách, mời hết các nước trên thế giới đến buôn bán, du lịch, còn nước ấy thì nghiễm nhiên làm một ông chủ nhà lớn đàng hoàng, khiến nước lớn thì làm khách nước nhỏ thì làm bạn, thiên hạ quây quần gọi là ông Đông, nói cười, giải vây, ứng đáp không ngại, chẳng cần đua đuổi cao xa mà cũng chia quyền lợi được với thiên hạ. Mặc dầu Anh Pháp muốn phân chia quyền lợi ở đó nhưng cũng không thể làm sao ỷ mạnh mà đánh kẻ tươi cười với mình, nên cũng phải phó mặc chẳng biết làm sao. Hiện nay nước ấy nhờ ngoại giao mà được lợi ích, ngày một nhanh chóng trở nên giàu mạnh, nội loạn không sinh, kẻ địch bên ngoài không đến, thuyền buôn qua lại trên mặt biển như mắc cửi, quan chức phân bố khắp các nước, dần dần đã lập được cái thế con rết trăm chân. Họ giàu có thịnh vượng thì họ hưởng, hà tất phải bàn bạc làm gì.

Nhưng nước ta có một nước mạnh như vậy ở bên cạnh cũng rất đáng lo. Còn các nước ở xa ta như Nga La Tư, Anh Cát Lợi, Phú Lãng Sa, Áo Đại Lợi, Phổ Lỗ Sĩ, cho đến các nước bao vây phía Nam phía Bắc Địa Trung Hải, ven phía Đông Xích Hải, cho đến các nước hẹp nhỏ thuộc Ấn Độ Dương, cho đến hai mươi nước thuộc Nam Mỹ, các nước ấy thủy chung sở dĩ được giàu mạnh không nước nào không do mềm dẻo mượn tài người, mời gọi khách du lịch người bán buôn, khuyến khích công nghiệp, siêng năng nông nghiệp, khai hoang khai mỏ tiếp xúc giao thiệp các nước, cùng điều hay chung điều lợi, trao đổi công việc.

Trước tiên do Bồ Đào Nha mở đầu rồi đến các phương Tây bắt chước làm theo, rồi đến các nước trên thế giới làm theo và đều được hiệu quả, ngày nay đều đã rực rỡ như sao trên trời mà chưa từng thấy có bậc kỳ tài nào nổi lên chống lại việc làm như thế cả. Tuy như các nước hải đảo nho nhỏ ở biển Đông biển Tây cũng đều nhờ đường lối ấy mà mở mang được phong khí đã mấy ngàn năm ngu muội, thay đổi được phong tục đã mấy ngàn năm quê mùa và dần dần xây dựng được bản chất làm người là nhờ thấm nhuận cái ảnh hưởng ngoại giao vậy. Như thế thì qua con đường ngoại giao, thế giới có thể hòa hợp nhau không phân biệt văn minh hay dã man, tất cả đều được thịnh lợi. Thế chẳng phải vận trời đã mở ra như vậy sao? Thế giới rất rộng lớn, chỉ con người rất phức tạp nhưng không nước nào không theo đường lối này. Như vậy kế sách này đã bao trùm khắp thế giới, vua tôi đều yên ổn ở trong đó, nào ai có kế sách gì khác có thể hơn được ư? Tôi xem khắp Đông Châu Tây Châu tất cả các nước ven biển từ nước hạng nhất đến nước hạng ba, không nước nào không tuân hành theo đường lối này.

Chỉ riêng một mình nước ta thi hành đường lối khác. Cho nên thiên hạ cho ta là một nước ly kỳ đệ nhất. Triều đình ta trong khoảng từ thời Gia Long đến thời Minh Mạng hợp tác với người phương Tây, thường phái du hành các nước trở về dần dần được hưng thịnh. Nếu không có lệnh đóng cửa đuổi khách bạn ra, mà theo đường lối ấy cho đến ngày nay thì ta cũng có thể sánh vai dong ruổi cùng thiên hạ, và người Pháp cũng không thể tha hồ tác oai tác phúc đối với ta được. Trong tờ bẩm trước tôi có nói: Đã không thể tân tiến và do quảng giao mà ra, nhưng nếu việc ngoại giao đã thành công, người vui lòng giúp ta thì chẳng những ngày nay có thể vãn hồi lục tỉnh mà tương lai còn được mối lợi phía Tây (Tức như các tờ bẩm trước tôi đã nói đến vùng đất ven núi về phía Tây và vùng đất hai bên sông Cửu Long) ngồi đó mà dần dần vẫn thu được.
_______________________________________
*. Bản Hán văn 634/3 tờ 173
    Không ghi ngày tháng, nhưng có lẽ vào những ngày cuối đời của Nguyễn Trường Tộ vì Nguyễn Trường Tộ không nói gì thêm mà chỉ muốn Triều đình thi hành kế sách của mình, sở dĩ chưa thi hành là vì còn nghi ngờ, e ngại.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2011, 08:53:03 pm

Hiện nay may mắn nước họ bị biến loạn lớn. Đó là ý trời khiến họ suy cho ta mạnh tiến để tạo nên cuộc diện cân bằng thế lực. Nếu không biết thừa lúc họ chưa kịp mưu đồ nước ta mà thi hành nhiều cải cách cho kịp thời cơ, đến khi họ ổn định được việc nước và toan muốn phóng tay, liệu ta có tránh khỏi không bị họ đánh tràn một trận hay không? Cơ hội ngày nay của ta là, đối nội thì xin đòi lại sáu tỉnh, đối ngoại thì phải gấp rút thi hành đường lối ngoại giao để tìm người giúp. Nếu tìm được người giúp rồi thì không những có thể bảo tồn cái chưa mất mà cái đã mất rồi cũng có thể hy vọng thu hồi về được. Còn như đường lối giao thiệp rộng để mở mang việc giao thông buôn bán thì tất cả những lợi ích lớn tôi bẩm rõ trong bài Khai hoang từ rồi. Nay không nói trở lại các lợi ích mà đặc biệt chỉ nêu các bằng chứng trên thế giới để giải tỏa sự nghi ngờ. Bởi vì lợi ích của sự quảng giao thông thương đã rõ như mặt trời giữa ban ngày cần chi phải nói. Sở dĩ Triều đình chậm chạp không tiến hành, có thể chỉ vì một chữ nghi mà thôi. Trong tập nói về ngôi vua chức quan tôi đã bẩm nói: “Đa nghi thì không tin ai cả. Không tin thì sinh ngờ vực không ưa. Không ưa thì sinh ra thiên lệch tổn hại trí xét đoán. Trí hại thì sinh ám muội, công việc dễ bị sai lầm. Việc sai lầm thì sinh tai hại. Tai hại thì sinh gây nhiều lo âu. Nhiều lo âu thì tâm loạn mà sinh nhiều sợ hãi. Nhiều sợ hãi thì không còn nhuệ khí mà sinh nhu nhược. Nhu nhược sinh thì mọi việc gặp việc gì cũng trông trước ngó sau do dự không quyết đoán”. Trong lòng không có ý kiến quyết định thì không phân biệt lợi hại, không biết nên lấy cái nào bỏ cái nào cho đúng. Như vậy thì khi bị hoạn nạn bên ngoài đến tấn công, ý kiến sẽ bất đồng, mình và người rời rạc, thế lực mỗi ngày một giảm sút, tất cả đều do căn bản từ sự nghi ngờ mà phát sinh ra cả.

Phải biết rằng hai khoản này nếu quả có chỗ khả nghi thì tại sao thiên hạ cũng đồng là người, tất cả đều thực hành mà không nghi ngờ gì cả, chỉ riêng một mình ta khám phá được chỗ khả nghi ấy hay sao? Lẽ nào trí tuệ khắp thiên hạ lại thua ta ư? Nay phải chăng thiên hạ sinh ra không có bẩm tính ấy mà chỉ riêng ta có thôi? Vả lại việc làm của đông đảo các nước đều rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, kế sách lớn ấy chắc chắn dần dần sẽ đạt, tuần tự mà tiến tới, nhân việc này biết được việc kia, nhân việc đã qua suy ra việc sắp đến, dù trăm năm cũng có thể biết được, cần gì phải nghi ngờ. Nếu ta không biết cái thế của họ thì ta không thấy được âm mưu của họ, mà nếu cứ mỗi việc mỗi nghi ngờ, mỗi việc mỗi phòng bị thì như binh thư nói: Cái gì cũng phòng bị thì không cái gì phòng bị được chu đáo. Không chu đáo tức đem mình mà phòng bị cho người mà thôi. Nếu biết rõ họ chắc chắn do một con đường này mà tiến, và chỉ có một kế hoạch này có thể chống cự họ được thì phải quả quyết thi hành, cần gì phải nghi ngờ lúng túng cho tán loạn tâm trí? Phải biết rằng nghi là vì không định được sự thế, không tỏ tường sự lợi hại, cho nên trong lòng phải tính toán kế này kế khác, có thể do đó mà làm nhiều việc đề phòng.

Nay việc làm của bọn họ, cốt yếu đều quy về hai kế hoặc hoãn hoặc gấp (Trong các bài bẩm trước tôi đã nói rõ) mà đường lối chắc chắn có thể chống cự lại họ đều quy vào con đường cải cách canh tân và quảng giao các nước. Ngoài con đường này ra là ngoài sự hiểu biết của tôi. Nếu thực hành sớm sẽ phá tan được sự nghi ngờ. Nếu không thực hành thì họ càng nghi càng tiến. Cho đến khi mà họ tiến đến cũng như trường hợp năm xứ Ấn Độ, bấy giờ mới vẹt hết nghi ngờ như mây tạnh trời quang. Như vậy thì những gì nghi ngờ phòng bị xưa kia nay cũng tiêu, mà xét cho cùng cũng tại nghi ngờ cố chấp, để ngồi đợi cho đến lúc thấy tận mắt mới tin? Phải biết rằng ta một mực nghi ngờ người mà tìm cách chế ngự người thì người sợ bị ta chế ngự nên nghĩ cách chế ngự ta. Nếu đã xảy ra đề phòng chế ngự nhau thì phải xem thế lực ai mạnh ai yếu mà nghĩ đến thất bại một mất một còn, quyết không thể song song tồn tại thì chỉ có cách là chủ khách phân minh, khiến cho người biết rằng mỗi vật đều có chủ, khó vồ lấy được, họ mới dịu lời nguôi giận và không dám ỷ mạnh. Về việc thực hiện ra làm thì chỉ một bộ đại học thủy chung chuyên trách công việc như các nước trên thế giới thường làm, thực hành lâu mới biết rõ cái lợi cái hại của mình và người. Đã thấy rõ sự lợi hại thì thản nhiên không sợ sệt, không làm chúng giận thì mới không gì xảy ra cho mình.

Đối với người Tây bất luận quan dân tôi chẳng thấy ai đáng sợ cả. Không phải tôi có sức mạnh gì hơn họ, nhưng mà đã biết rõ tính tình mưu kế của họ, chỉ có bình tĩnh hiểu rõ lý lẽ, hai điều ấy có thể đối ứng với họ không cùng, chẳng có gì phải sợ cả. Hàn Dũ nói: Sợ dĩ người ta sợ ma quỷ là vì không ai thấy nó. Nếu người người đều thấy thì quỷ cũng chẳng có gì đáng sợ. Cũng như thiên hạ ngày nay đều ở chung lộn với người Tây. Nếu ai ai cũng thấy họ có cái gì đáng sợ và mỗi ngày một hoài nghi sợ sệt thì làm sao có thể giao tiếp lâu dài cùng nhau làm việc lợi được? Hơn nữa đối với vấn đề này có khi người kia áp dụng có lợi mà người này áp dụng lại sinh hại. Ví dụ thịt ngon thì rất tốt nhưng đối với người ăn không tiêu mà dùng vào sẽ có hại là vì sao? Bởi không tiêu hóa được. Có người ứng dụng thì bị bế tắc có người ứng dụng thì thông suốt cũng do khéo hay không khéo sử dụng mà thôi.

Sự lý trong thiên hạ có phải ai lúc nào cũng thắng mãi được đâu. Cho nên binh thư nói: Thắng có thể biết được nhưng không thể làm được. Khổng Minh nói: Khôn lanh hay đần độn không phải do thấy không đúng mà cũng còn do ở thời thế và ý trời như thế nào nữa. Khắp mọi nơi người làm điều có lợi lớn mà đến ta thử ra làm có thể không được như ý muốn, chính đó là điều mà nhà hiền triết Mạnh Tử bảo thế nào là làm, thế nào là nên làm, thế nào là thôi không làm, thế nào khuyên không nên làm. Hơn nữa việc đời thường thường chưa có việc gì hoàn toàn lợi mà không có hại, chỉ do con người biết tùy cơ ứng biến mà thôi. Trí lự không bao giờ cùng, trong lợi có hại, biết tùy theo đó mà cải chính nó mới là người khéo vận dụng tài trí. Nếu chỉ biết tính toán (...bài chưa hết)


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2011, 08:54:32 pm

DI THẢO SỐ 56

Bài khải quyên tiền sửa cầu*

Từng nghe:

Có phép đè sóng đó là cái cầu. Xói đất thành sông, trời vốn lấy để lưu thông nước đọng. Lấp sông làm đường, người lấy đó để nối đoạn đường cùng. Hóa đôi bờ thành phố xá, thay đất trời chắp vá chỗ hư hao. Suốt một đường Nam Bắc lưu thông, cho người vật lại qua không trở ngại. Muốn dân không lặn lội nước nôi, ắt phải có thời cơ thuận lợi.

Làng ta đây: Giáp thông hai huyện, đất chiếm trung khu. Tây xuống mấy từng non, trăm việc ngược xuôi, dấu sương tiếng gà tiếp nối. Đông ôm ba mặt biển, tứ dân lên xuống, bụi xe chân ngựa liên miên. Cọc tre chụm lại, gầy dựng buổi đầu. Dây lạt buộc vào, sửa sang lúc tạm. Mấy độ gió mưa xiêu vẹo đội gánh đi qua, hằng lo nỗi sẩy chân xuống vực. Bao phen ngập tràn lụt lội, vén xăn không khỏi, luống hao hơi cánh bến gọi đò. Đã không ô thước bắc cầu, lại thiếu rùa linh đỡ bước.

Thiết nghĩ: Góp của thế gian giúp người thiên hạ, sáng chói thay hiếu nghĩa đồng bào. Có nhà hằng sản, có kẻ hằng tâm, chả lẽ vô tình không giúp đỡ. Muốn bắc cầu vồng qua bên ấy, một cây làm chẳng nên công. Nên phải nhờ chung sức góp tay, nhiều người mới xong được việc.

Cúi mong những người tài chủ lạc thiện hảo tâm: Vén tay núi ngọc, cùng nhau hợp sức giúp đời. Mở nắp hang vàng, nhiều ít đáp lời kêu gọi. Ngõ hầu tích thiểu thành đa, khỏe lâu mệt tạm. Rồi đây: Cột cầu san sát dựng qua, sông trong trẻo ngàn thu vững chãi. Treo lên vòng cầu bán nguyệt, đường ruổi dong muôn dặm yên hàn. Người người qua bến, kẻ kẻ nhớ ơn. Khách khách sang sông, lời lời khen ngợi. Có đâu chỉ đêm trăng thổi sáo chơi với khách tiên, hay bên cột đề thơ gửi lòng tài tử, để làm tăng thắng cảnh làng ta phong quang bản xứ mà thôi ư! Bộc bạch lời quê kính mong nghe tỏ.

Nay khải
_______________________________________
*. Bản chữ Hán: Hv 189/4 tờ 25
    Không có ghi ngày tháng năm. Nhưng đây có lẽ là bài kêu gọi góp tiền làm cầu bắc qua kênh Gai, nối liền xã Nghi Diêm, huyện Nghi Lộc với xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An ngày nay. Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã khởi xướng tu sửa chiếc cầu này trong khoảng thời gian từ 1868 đến 1871.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2011, 08:56:21 pm

DI THẢO SỐ 57

Phong vũ biểu*

Ngày xưa người ta thường dùng phong vũ biểu để tiên đoán sự hạn hán lụt lội, phân biệt khí hậu, là những công việc cần yếu của nhà nông. Ngày nay các nhà khoa học còn dùng để khảo sát thiên văn địa lý, đo đạc hình thế cao sâu, có công cụ lớn trong khoa học mà nhà binh cũng cần dùng để xem thời tiết khí hậu. Binh pháp nói: “Biết trời thì thắng tất cả”. Trông khí hậu tức biết trời, cho nên đó là điều khẩn thiết đối với việc hành binh. Nguyên lý của phong vũ biểu rất phức tạp mà cách sử dụng cũng rất khó, biến đổi tùy theo độ số của mặt đất.

Nay xin phân biệt trình bày về nguyên do phát minh, cách chế tác và sử dụng như sau:

Vào thời nhà Chu có nhà văn nước Hy Lạp suy rằng khí trời có sức nặng. Nhà văn này chỉ suy ra biết thế thôi chứ chưa có gì làm chứng cứ xác thực. Đến cuối nhà Minh năm Vạn Lịch 19 người La Mã là Già Li Lược1 mới bắt đầu nói rõ rằng trên mặt đất có một lớp không khí xanh mờ bao bọc. Khí ấy có hình, có thể trông thấy và có chất có thể cân được nặng nhẹ. Tất cả những gì sinh ra trên quả đất bất luận sinh chất2 hay định chất3 đều nhờ khí trời để sinh ra và nuôi lớn. Nguyên lý này rất phiền toái không cho phép nói chi tiết tỉ mỉ được. Vậy xin chỉ nói một điểm về không khí có sức nặng mà thôi.

Người ta đã dùng nước trong, thủy ngân, so sánh với không khí mà biết được sức nặng ép xuống, nơi đường tiếp giáp của mặt biển với khí trời. Giả thiết lấy một cột nước trong, hình vuông mỗi bề một tấc cao 34m thì sức nặng của cột nước ấy được chừng 12 cân, lấy một cột thủy ngân hình vuông mỗi bề một tấc, cao 30 tấc thì sức nặng của cột thủy ngân này cũng nặng 12 cân. Sức nặng của hai cột này cũng bằng sức nặng của một cột không khí vuông mỗi bề mặt một tấc, cao từ mặt đất đến chỗ tận cùng của lớp không khí bao bọc quả đất. Vì vậy người ta làm ra một khí cụ để đo lường sự nặng nhẹ của không khí. Khí cụ đó là phong vũ biểu.

Lúc mới đầu người ta làm một ống pha lê dài ba mươi hai tấc tây, một đầu kín một đầu trống, đựng đẩy thủy ngân tinh chất, lại dùng một cái chậu làm đáy, đựng thủy ngân đến lưng chừng chậu, rồi đem ống thủy ngân kia úp đầu trống xuống chậu. Thủy ngân trong ống tụt xuống, để lại phần trên của ống một khoảng chân không. Thủy ngân tụt xuống khi thấp nhất là hai mươi tám tấc và khi lên cao nhất là ba mươi mốt tấc. Ngoài ống người ta khắc chia độ để quan sát mức thủy ngân lên xuống. Khi trời u ám, khí trời ép xuống mặt chậu rất nặng, đẩy thủy ngân trong ống lên khoảng chân không nơi đầu ống. Khi trời có mưa, sức ép của khí trời xuống mặt chậu nhẹ, thủy ngân trong ống tụt xuống tràn ra ngoài chậu. Xem thủy ngân lên xuống thì biết trời sắp nắng hay mưa. Nếu nắng mưa thay đổi, không khí thác loạn không nhất định, thủy ngân cũng lên xuống không nhất định, nhưng mức lên xuống tương đối ngắn chứ không rất cao rất thấp như trường hợp nắng mưa. Nếu muốn biết không khí có sức ép nặng như thế nào, hãy thử xem phong vũ biểu đặt vào một cái ống, có thể hút không khí ra hay bơm không khí vào, xong dùng máy rút không khí ra thì thấy mực thủy ngân trong ống pha lê xuống thấp dần, sau đó bơm không khí vào thì thấy mực thủy ngân lên cao dần. Căn cứ vào đó thì biết không khí có sức ép đè nặng.

Ngày xưa người ta dùng phong vũ biểu như thế, nhưng thường lo ngại thủy ngân trong chậu bị nghiêng đổ, khó an toàn mỗi khi di chuyển mang xách đi đâu. Ngày nay người chế ra phong vũ biểu bằng kim loại. Cách làm là dùng một miếng đồng mỏng loại thật tốt làm một cái hộp hình tròn dẹp trong rỗng, mặt ngoài bằng phẳng, dùng máy rút hết không khí trong hộp ra rồi dùng thiếc hàn kín miệng hộp lại. Trên hộp đồng làm một kim chỉ độ dẫn ra ngoài mặt số có chia độ. Khi có sức ép nặng xuống mặt đồng thì hộp đồng xẹp vào liên động đến kim chỉ độ, kim sẽ theo đó xoay sang phía bên phải có những chữ nắng, hạn v.v... Nếu không khí nhẹ thì mặt hộp đồng phình ra lại, xoay kim sang phía bên trái có những chữ gió mạnh, mưa v.v... Xem kim chỉ bên trái bên phải cũng có thể đoán trước nắng mưa, hệt như sự lên xuống của phong vũ biểu thủy ngân như vậy, nhưng cách sử dụng thì dễ dàng tiện lợi hơn.

Tuy nhiên không khí trên khắp địa cầu không phải chỗ nào cũng giống nhau, cho nên sự lên xuống có khác nhau. Người quan sát giỏi phải nhân đó mà suy lường, mới có thể chuẩn xác được. Bởi vì trên mặt đất gần xích đạo thì khí nhẹ, do sức ly tâm của quả đất lớn mà thành ra nhẹ, gần hai cực thì khí nặng vì sức ly tâm ít nên nặng.

Nay các nước phương Tây ở từ vùng ôn đới trở về phía Bắc, không khí ở đó nặng cho nên người ta chế phong vũ biểu cũng dựa vào điều kiện không khí ở đó. Nay đem dùng ở ta, địa phương gần xích đạo, thì mức độ lên xuống không bằng ở các nước phương Tây. Cho nên hạn độ thay đổi lên xuống theo nắng mưa không được nhiều cần phải hết sức chú ý theo dõi ghi nhận mỗi ngày, để nghiệm sự thay đổi thời tiết, trong khoảng ba năm như vậy mới không sai. Còn như dùng để đoán định nắng hạn lâu, gió bão, mưa lụt thì đúng chắc chắn không sai. Nếu chỉ dùng có thế thì có thể đắc dụng lớn, nhưng sơ sót những công dụng nhỏ nhặt khác.

Ở những địa phương gần xích đạo, sự loạn động của không khí có nhiều nguyên do, khó kể hết được. Nay chỉ nói đến nguyên do lớn. Căn bản của nguyên do lớn là cái không khí nóng nung đốt bởi mặt trời trong mười hai tiếng đồng hồ đưa đến làm cảm động không khí ở mặt quả đất mỗi lúc một thay đổi, khiến từng lớp không khí bị dồn đuổi, trong khi đó khí lạnh khí nóng trôi nổi không nhất định làm cho sức dãn nở của không khí thoạt lớn thoạt nhỏ, mặt hộp đồng của phong vũ biểu bị sức ép tác động liên miên không kịp, cho nên kim chỉ một chỗ nhất định. Về nguyên nhân nhỏ thì vì mặt đất có cao thấp lồi lõm rừng đồng có sầm uất hoang trọc, bờ biển có vịnh đầm xiên lệch, núi non có chạy vòng hang hốc, cho nên không khí qua lại phần nhiều bị ngăn trở. Có khi cách nhau một dặm mà khí hậu hai nơi khác nhau rất xa. Cho nên xét nghiệm phong vũ biểu có khi cũng có chút ít sai khác. Người sử dụng giỏi phải thuộc hết những sự lưu hành của không khí, nhân sự khác nhau của không khí trên trời dưới đất, suy từ cái này ra cái kia, sáng suốt nhận định thì có thể tận dụng cái kỳ diệu của nó.

Gần đây người các nước sử dụng phong vũ biểu rất nhiều. Ở phương Tây gần như mỗi gia đình đều có vì rất cần đến nó. Còn phong vũ biểu mà các nhà trắc lượng học dùng để đo đạc cao sâu thì phức tạp hơn và nguyên lý của nó rất sâu, lại không quan hệ đến công dụng hàng ngày nên không nói đến.
 _______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/4 trang 36-41.
1. Galileo, người Ý.
2. Chất hữu cơ.
3. Chất vô cơ.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2011, 07:06:07 pm

DI THẢO SỐ 58

Bài tựa sách ĐÀM THIÊN LUẬN*

(Đây cũng là bài tựa viết vào quyển đầu của Bộ sách Đàm Thiên dâng lên)

Phàm nhà khoa học thì phải bụng bao hết những việc xưa nay, mắt trông khắp trời đất, tinh thần chu du tận cõi xa xăm, tâm hồn thấu đến chỗ u huyền. Như vậy mới sáng suốt mà tâm đắc được những gì sách vở không thể truyền hết, ý hội được những gì người xưa không thể nói hết, mắt trông thấy hiện tượng mà tâm trí bao trùm sự hiểu biết ngoài hiện tượng đó nữa. Bởi vì trời tuy cao, đất tuy xa nhưng đều có sự thực chứ không chìm vào hư vô, không như khách văn chương chỉ dựa vào tưởng tượng. Tuy nói là sự thực nhưng nó cao dày thâm thúy vô cùng, thấy như gần nhưng thực là xa, thấy như nhỏ mà thực là lớn, thấy như tĩnh mà thực sự là động, thấy như nghịch mà thực sự là thuận, thấy như không có nguyên tắc mà thực sự là có nguyên tắc, thấy như là trừu tượng mà thực sự là cụ thể, không phải những chuyện tầm thường làm hằng ngày có thể đem so sách được.

Bởi vì nếu đem sự vật trước mắt ra mà cân đo, cứ cân từng lạng một thì đến thạch là sai rồi, cứ đo từng tấc một thì đến trượng là sai ngay. Huống chi to lớn như trời đất, bé nhỏ như muôn vật, nếu không phải là bậc thông minh khác thường trí tuệ sáng suốt chắc chắn không thể làm được.

Kẻ sĩ cao minh muốn nghiên cứu khoa học, trước hết phải hiểu rõ địa lý thiên văn để mở mối, thứ đến dùng quang học, cơ học, hóa học, thực vật học, đại số học, hình học cho được đầy đủ ứng dụng vào việc nghiên cứu. Rồi sau đem những sách của các nước xưa nghiên cứu về trời ra rỗng lòng khảo cứu, dẹp bỏ hết những thành kiến tập quán cũ, không phân biệt giới vực, chỉ tập trung vào đó, vận dụng hết thần trí, ôm vũ trụ vào lòng, nhắm mắt lại mà như thấy rõ ràng trước mắt. Được đến như vậy mới có thể nói về trời. Nếu cứ giữ theo nề nếp cũ, không thông phương pháp mới, hiểu biết nông cạn làm sao nói đến việc này được. Đây là bài tựa.

Mùa Xuân năm Tự Đức 16.


_______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/4 trang 26-35.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 01:13:21 pm

Bài tiếp bài tựa sách ĐÀM THIÊN LUẬN

(Bài tựa này chép vào quyển đầu bộ sách Đàm Thiên dâng vua xem)

(Nguyễn Trường Tộ mới soạn)

Môn học thiên văn từ xưa Đông Tây đều đã có. Nhưng người xưa chuyên dùng số mà suy đoán ra đại thể, nên cái gần còn sai nhiều, nói gì đến những cái xa mắt chưa hề trông thấy? Gần đây người ta chuyên dùng các hiện tượng rồi lấy số tính toán cho nên có thể phù hợp chặt chẽ với những sự vận hành kỳ diệu của trời, có thể đưa con người lìa khỏi địa cầu mà ra tận ngoài không gian rất xa, có thể khiến thần trí con người bay bổng đến tận những chỗ không thể tưởng tượng được, có thể khiến con người phát minh được cái năng lực vô cùng cái kỳ diệu vô cùng của tạo vật.

Tất cả những gì trên thế gian thấy là thiếu sót, bất bình, khó hiểu người xưa đều đổ lỗi cho trời. Nhưng theo khoa học ngày nay mà quan sát thì đều có chỗ chí lý trong đó, có thể khiến người ta sực tỉnh những lầm lạc to lớn lưu truyền tự ngàn xưa, có thể khiến người ta biết rõ mọi vật trên quả đất, phương Bắc trời cho nhỏ bé chẳng khác một hạt bụi bay mà những thí dụ buồn cười trong thiên Thu thủy1 chẳng có gì kỳ lạ. Những việc này đều do học về trời mà biết được, mà căn bản là hoàn toàn dựa vào sự quan sát hiện tượng. Bởi vì trời đất đều là vật thực, ở trên trời là tượng, ở dưới đất là hình, nhưng tất cả đều là vật thực có thể trông thấy. Nếu nói số tức chẳng qua dùng để thí dụ. Đó là đại khái chỗ được thua hơn kém của môn học về trời xưa và nay vậy.

Phương Đông nói về trời đều lấy Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập làm đầu, nhưng tất cả đều có chỗ sai lầm. Vì thế vua Khang Hy triều nhà Thanh đã đặc biệt dùng các giáo sĩ La Mã để sửa đổi phép làm lịch như Quang Lộc Đại Phu Thang Vọng2, Thái Thường Tự Khanh Nam Hoài Nhân3 v.v... khảo cứu sự sai lệch của năm tháng mà định lại thời tiết và nhất luật ban hành trong tất cả các xứ thuộc quyền thống trị của nhà Thanh. Những sách biên khảo trong thời kỳ này có Hồn thiên thuyết, Cổ kim giao thực viễn kính thuyết, Tinh đồ đại trắc, Giao thực lịch chỉ, Hằng tinh lịch chỉ, Bát tuyến biểu học lược tiểu biện, Trắc thiên ước thuyết, Tân lịch bổ chú giải hoặc, Vĩnh niên lịch pháp, Bất đắc dĩ biện binh giản nghi tổng tinh đồ v.v... đến mấy trăm bộ không thể hết. Tuy nhiên lúc bấy giờ những phương pháp mới hãy còn ít không cần nói chuyện. Nay lược thuật một vài phương pháp mới để thấy cái lớn trước còn những cái nhỏ nhặt xin miễn kể.

Ca Bạch Ni4 sinh ở nước Phổ, đọc sách đạo, làm linh mục. Ông có nhiều kiến thức độc đáo. Có thể nói khoa học phương Tây đạt đến chỗ tinh vi là do ông mở đầu mà ra. Ông viết sách nói về sự xoay quay quanh của các thiên thể, hoàn thành vào năm Gia Tĩnh thứ 9, ông lý luận lập ra phương pháp mới cho rằng quả đất là một hành tinh xoay quanh mặt trời, giáp một vòng thành một năm, và mỗi ngày nó tự xoay quanh, giáp một vòng chung quanh nó thành một ngày đêm, quỹ đạo của nó ở khoảng giữa sao Kim và sao Hỏa. Phàm những chòm sao mà ta thấy như đi chậm lại, đứng yên, đi ngược lại, biến mất, nhấp nháy đó là sự chuyển động của bản thân sao ấy và sự chuyển động của quả đất hai cái hợp lại mà sinh ra. Như trong một hình vẽ Thân là mặt trời, Giáp Ất Bính Đinh là quỹ đạo quả đất, Giáp Đinh Bính Ất là quỹ đạo các hành tinh ngoài, Dần Mẹo là bầu trời, quả đất tựa hồ như đi ngược lại theo chiều từ Mậu đến Kỷ. Những hành tinh khác cũng tương tự vậy. Quả đất và các hành tinh đều đi trong quỹ đạo của nó, cho nên thấy các ngôi sao như đứng yên rồi đi thuận, đi thuận rồi đi nghịch. Hiện tượng này cổ nhân đã nhiều đời suy nghĩ mà không giải thích được. Ca Bạch Ni bảo là do sự phối hội của hai chuyển động mà sinh ra. Chỉ nói một câu là đủ, không phải bàn luận phiền phức gì nữa. Nhưng lúc bấy giờ chưa chứng minh được. Sau độ Bạch Lạp Lý (?) đo được sự sai lệch về ánh sáng của các ngôi sao, Luật Đức (?) đo được sức hút ở xích đạo nhỏ hơn ở hai cực, Nại Đoan5 suy được nguyên lý vật rơi và chứng minh được sức hút, Khắc Bạch Nhĩ6 thì suy ra được ba nguyên tắc. Nhiên hậu cái thuyết quả đất xoay mới được rõ ràng như ban ngày không còn nghi ngờ gì nữa.

Nay đem một vài chứng minh nói sơ lược như sau:

Bạch Lạp Lý bảo rằng quả đất và ánh sáng đều đi thì sinh ra thị sai (Sự trông thấy sai lệch). Ý cho rằng quỹ đạo quả đất hết sức lớn khi ở hai điểm đối nhau mà nhìn một ngôi sao thì chắc chắn có góc sai. Nhân đó ông cùng với người bạn là Ma Lợi Ngưu (?) lấy ngôi sao thứ hai của sao Thiên Bổng cùng đo. Khởi sự đo vào năm Ung Chính thứ ba thì thường thấy sao Bắc có cái khuynh hướng nghiêng về phía Nam. Như trong hình vẽ quả đất ở tại Giáp thấy sao Ất như ở tại Bính. Giả như có góc sai thì quả đất tại Đinh phải thấy sao tại Mậu mà trái lại thì thấy tại Kỷ, tương phản với lý luận về góc sai. Do đó các ông mới nghi ngờ những dụng cụ dùng để đo đạc là không được chính xác, bèn kiểm tra chỉnh lại các dụng cụ rồi tiếp tục đo dạc, kết quả vẫn như trước. Từ tháng 11 đến tháng 3 sao sai về Tây Nam, từ tháng 3 đến tháng 11 sao lại sai về phía Bắc. Nếu đi vòng quanh một Tiểu Tùy Phụ, như hình vẽ Giáp là Bắc Cực, Ất là Thiên Tý tìm mãi không ra lý do. Một hôm tình cờ dạo thuyền đi chơi, cứ mỗi lần trở mái chèo gió nghiêng thì thấy lá cờ trên cột buồm lại hơi đổi phương hướng, đấy không phải là gió đổi phương hướng mà chính là thuyền đổi phương hướng, ông mới chợt hiểu rằng sự sai lệch Nam Bắc của ngôi sao là do sự biến đổi đường đi của quả đất hợp với sự chuyển động của ánh sáng mà sinh ra. Căn cứ lý lẽ này mà suy ra sự sai lệch của ngôi sao thì đều phù hợp với hình vẽ. Đường đi từ Giáp đến Ất trong khi đó ánh sáng đi từ Bính đến Ất. Hợp hai chuyển động lại cho nên ánh sáng từ Đinh đến Ất khi vào mắt ta thấy ngôi sao tại Bính như ở tại Đinh vậy. Cái phương hướng ánh sáng vào mắt ta tức là cái phương hướng mắt ta trông thấy ngôi sao. Cho nên trông thấy sao đều có góc sai vậy. Điều này chứng minh rõ ràng quả đất xoay quanh mặt trời. Đó là một vấn đề hết sức trọng yếu trong thiên văn học.

Vả lại sự truyền đi của ánh sáng do Lặc Mặc Nhĩ (?) đo sự chuyển đi của sao Mộc về phía mặt trăng lâu lắm mới biết được. Bởi vì sao Mộc khi nguyệt thực mới khuyết rồi sáng trở lại, với khi thực hiện đo đạc, thường hai kết quả không phù hợp nhau, có khi chậm vài phút, có khi sớm vài phút. Tìm nguyên nhân thì thấy rằng đó là do khoảng cách giữa quả đất và sao Mộc xa hay gần mà ra. Khi khoảng cách xa thấy chậm, khi khoảng cách gần thì sớm. Nhân đó hiểu ra lý truyền đi của ánh sáng. Như trong hình vẽ, Bính là quỹ đạo sao Mộc, Giáp Ất là quỹ đạo của quả đất. Khoảng cách hai bên ước chừng năm ức năm ngàn dặm. Khi quả đất đi đến điểm Giáp thì sẽ cách sao Mộc xa hơn khi nó ở điểm Ất. So sánh thì hơn ước chừng năm ức năm ngàn vạn dặm. Nếu giả thuyết ánh sáng không truyền đi thì quả đất dù ở Giáp hay ở Ất trông nguyệt thực đều như nhau không có thời sai (Sự sai lệch nhau về thời gian), thế mà thời sai đo được là 16 phút 1/4. Theo đó thì biết ánh sáng truyền đi rất nhanh, một truyền đi ước chừng ba ngàn ba trăm tám mươi lăm vạn dặm, một giây truyền đi được hơn năm mươi sáu vạn bốn ngàn dặm, 1/8 giây có thể đi giáp một vòng quả đất. Xem thế thì biết rằng ánh sáng cũng là một vật chất trong vũ trụ (Các sách có nói rõ).
____________________________________
1. Thiên Thu thủy trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử dùng nhiều hình ảnh thí dụ rất ngộ nghĩnh để nói về cái lẽ tương đối của vũ trụ xem trời đất nhỏ bé như hạt tấm hạt gạo, hạt bụi mảy lông.
2. Tức Joannes Adam Schall von Bell, giáo sĩ người Đức, được Khang Hy phong tước Quang Lộc Đại Phu.
3. Tức Ferdinandus Verbiest, giáo sĩ người Bỉ, được phong tước Thái Thường Tự Khanh.
4. Ca Bạch Ni tức Copernic.
5. Nại Đoan tức Isaac Newton.
6. Khắc Bạch Nhĩ tức Johanrn Kepler.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 01:14:43 pm

Năm Khang Hy thứ 5, Nại Đoan ngẫu nhiên ở trong vườn thấy một trái cây rơi xuống. Nhân đó ông suy nghĩ rằng mặt trăng chắc cũng vì sức hút của quả đất nên mới xoay quanh quả đất mà không đi thẳng vào không gian. Nếu quả mặt trăng như vậy thì các hành tinh xoay quanh mặt trời cũng theo lý lẽ như vậy. Từ đó về sau ông hằng suy nghĩ suốt mười sáu năm, trước hết ông tìm sức hút trên mặt quả đất, thứ đến ông tìm tỷ lệ xem cách mặt đất bao nhiêu thì sức hút nhỏ đi bao nhiêu. Được tỷ lệ này rồi, ông đem ra ứng dụng đo lường sự chuyển động của mặt trăng. Nhân đó biết rằng sức hút của quả đất tại một điểm tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ điểm đó đến trung tâm quả đất. Vì vậy sức hút của quả đất đối với mặt trăng nhỏ hơn 1/3.600 sức hút đối với mặt đất. Giả thiết mặt trăng đi từ Giáp đến Ất, có một vật rơi từ Giáp đến Mậu, cả hai ắt sẽ đến cùng một lúc. Đo đoạn thẳng cung Giáp Ất, nếu Mậu Giáp nhỏ hơn mặt đất sức hút của đoạn thẳng cung phải được 1/3.600, như thế là chứng minh được sức hút. Theo đó thì biết rằng đoạn thẳng của một vật trên đường đi vòng cung của mặt trăng trong thời gian một phút, tương đương với khoảng cách của một vật rơi đến mặt đất trong thời gian một giây. Do đó ông đã tìm được định luật về sức hút xa gần. Đây là định luật chung đối với các thiên thể vận hành, đem áp dụng với các hành tinh Sao Chổi đều phù hợp cả. Nguyên lý nói rằng: Nếu một vật gì từ quả đất ném ra không gian, không bị sức cản sẽ mãi mãi đi thẳng và giữ nguyên tốc độ. Nếu có một sức khác tác động vào thì sẽ đi lệch. Như hình vẽ giả thiết quả đất chỉ có một sức đẩy duy nhất làm cho nó chuyển động thì nó phải đi thẳng Giáp Ất. Nếu không có sức đẩy này mà chỉ có sức hút của mặt trời thì quả đất sẽ đi thẳng vào mặt trời.

Nhưng sức đẩy và sức hút của mặt trời cả hai đều tác động vào mãi không thôi cho nên cứ luôn luôn đi theo hình vòng cung không thay đổi, do đó mà thành ra quỹ đạo của quả đất. Quỹ đạo của các hành tinh cũng đều như thế, thường vẫn có tỷ lệ với sức hút lớn hay nhỏ, thể tích lớn hay nhỏ và khoảng cách xa hay gần đối với mặt trời. Sức hút cũng giống như ánh sáng, hễ phân tán thì nhỏ, tụ họp lại thì lớn. Cường lực của nó lớn hay nhỏ tỷ lệ nghịch với bình phương của khoảng cách xa hay gần. Giả thiết có một hành tinh cách mặt trời gấp đôi khoảng cách của quả đất đối với mặt trời thì sức hút của nó bằng bình phương 1/4 sức hút của quả đất. Vậy sức hút có hai nguyên lý: Một là tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách xa hay gần, hai là tỷ lệ thuận với thể tích lớn hay nhỏ. Nếu dùng sợi dây dài cột vào chân rồi múa, mặt trời là tay cho nên những hành tinh rất xa cũng đều thống thuộc vào mặt trời, mà các tinh cầu cũng đều có nguyên lý hút lẫn nhau. Sức hút ấy mạnh hay yếu do sự khác nhau bởi khoảng cách xa gần và thể tích lớn nhỏ. Nhưng khoảng cách giữa chúng với nhau không đồng đều nên sinh ra sự sai lệch không bằng nhau. Mặc dầu sự sai lệch ấy rất bé, tích lũy lâu cũng có thể suy ra con số được. Nhưng mà cái sai lệch sau lại bổ vào cái sai lệch trước, cái trước cái sau bổ đắp cho nhau thành ra có biến đổi mà vẫn không thấy biến đổi. Đó là chứng minh xác thực về sức hút. Thế nhưng nếu quả có một ngày nào đó các hành tinh tiêu diệt, điều đó chắc không phải vì sự vận hành của chúng sai lệnh ra ngoài quỹ đạo mà gây nên sự tan vỡ mà chỉ có tạo vật là làm chủ cái vận mệnh ấy mà thôi.

Lại nữa phàm một vật gì rơi xuống thì lúc bấy giờ có hai chuyển động: Một là rơi sinh ra bởi chuyển động hướng về tâm quả đất, hai là rơi theo vòng quanh tâm quả đất mà chuyển động đó vốn đã có trước khi vật chưa rơi. Thí dụ như thuyền đang đi, từ đỉnh cột buồm thả xuống một hòn đá chắc đá sẽ rơi xuống chân cột buồm nhưng hòn đá không cùng đi với chiếc thuyền nên không rơi kịp đến chân cột buồm. Phàm khi một vật gì rơi xuống thì sự chuyển động theo vòng quanh tâm quả đất làm cho vật ấy khi đạt đến mặt đất thì tự lăn vào. Như trong hình vẽ Tuất Tỵ là vòng xích đạo của mặt đất, Dậu là tháp đo, Bính là đường thẳng đứng của tháp với tâm quả đất, Dần là chót tháp, Thân tự xoay quanh một vòng theo quả đất do Mậu làm quỹ đạo. Giả thiết chân tháp là Ất đi đến Bính thì chót tháp phải đến Đinh. Vòng ở chót tháp lớn hơn vòng ở mặt đất cho nên đá đo chuyển động vòng quanh quả đất thành nhanh hơn. Vì quả đất xoay, mặt đất và tháp đều đi về phía Đông, đá từ chót tháp rơi xuống có tốc suất ở chót tháp nhanh hơn ở chân tháp, cho nên đá đến đất phải rơi tại phía Đông của Bính. Nại Đoan khi mới rõ nguyên lý này bèn đem thí nghiệm tại một hầm mỏ than sâu hai mươi sáu trượng, qua nhiều lần đều thấy lệch về phía Đông năm phân. Đó là chứng minh rất xác đáng về sự chuyển động của quả đất.

Ban đầu người xưa cho rằng các ngôi sao đều đi theo đường vòng tròn, trong đó quỹ đạo của sao Hỏa có hai tâm sai nhau rất lớn. Khắc Bạch Nhĩ, trong lúc sao Hỏa tiến thẳng về phía mặt trời thấy độ số đi của sao khác lạ mới nghĩ rằng phải chăng sao Hỏa đi theo đường bầu dục mà mặt trời là một trong hai tâm của đường bầu dục đó. Bèn đo đạc kỹ lưỡng thì thấy rõ ràng là các hành tinh đều đi theo hình bầu dục. Như hình vẽ, Giáp Bính Canh là quỹ đạo bầu dục của hành tinh Thân là tâm của mặt trời, vẽ hai đường Giáp Thân Ất Thân thì Ất Thân là một phần của diện tích hình bầu dục. Hành tinh đi từ Giáp đến Ất, thời gian và diện tích có tỉ lệ với nhau. Giả thiết thời gian đi qua là một tháng, rồi từ các điểm Bính Đinh Mậu Kỷ Canh của quỹ đạo hành tinh làm tâm vạch các đường thì thấy các diện tích giữa hai đường đều bằng nhau và hành tinh đi qua đều mất một tháng như nhau. Đó là một cách khám phá mới thứ nhất của Khắc Bạch Nhĩ. Quan sát từ đó mà biết được giao điểm về ngày giờ của Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, Đông chí không đồng đều nhau là do quả đất đi theo hình bầu dục vậy. Nếu diện tích bằng nhau mà tốc độ của hành tinh chậm nhanh không bằng nhau thì một đoạn từ Giáp đến Ất là nhanh, các đoạn sau chậm dần. Cho nên hành tinh không phải luôn luôn đi với tốc độ bình thường. Đó là khám phá mới thứ hai của Khắc Bạch Nhĩ.

Người xưa đo thiên văn cũng biết rằng hành tinh không đi theo tốc độ bình thường nhưng không giải thích được. Đến Khắc Bạch Nhĩ mới có thể khảo cứu xác định dùng cách nào để phù hợp với tốc suất này. Có thể nói ông là người đã sửa đổi cách làm không nguyên tắc thành ra có nguyên tắc. Ông còn suy ra được các hành tinh cách mặt trời xa gần vì biết các hành tinh đều thống thuộc vào mặt trời. Bởi vì khi có hai hành tinh cùng vận hành thì tỷ lệ bình phương vận tốc của chúng có tỷ lệ với lập phương khoảng cách giữa chúng với mặt trời. Đây thực là một nguyên lý trọng yếu mở ra cho ngành thiên văn học. Lấy bốn suất tỷ lệ mà suy, đã biết khoảng cách của hai ngôi sao với mặt trời và thời gian một ngôi sao đi giáp một vòng thì sẽ biết được thời gian ngôi sao kia đi giáp một vòng là bao nhiêu. Xem thế thì biết rằng một hành tinh không phải thốt nhiên hiện ra, đi một cách vu vơ mà tất cả đều theo một nguyên lý hết sức chính xác. Lấy thí dụ như sao Hỏa cách mặt trời gấp bốn lần khoảng cách sao Thủy với mặt trời. Lập phương của bốn thành ra sáu mươi bốn, lấy khai phương của số này thì được tám, như thế vận tốc của sao Thủy gấp tám lần vận tốc sao Hỏa. Đường đi của ánh sáng ở quả đất cũng theo một nguyên lý này. Đấy là nguyên lý thứ ba của Khắc Bạch Nhĩ.

Những điều dẫn ra trên đây là để chứng minh cái thuyết quả đất chuyển động. Bộ sách Đàm Thiên này đều chủ trương nói về thuyết quả đất chuyển động và chuyển động theo hình bầu dục. Những điều trong bài tựa và trong sách này nói đến đều là những trưng dẫn chứ không phải do sáng kiến phát ra. Vì vậy trước tiên đưa các chứng minh ra để làm sáng tỏ. Nhưng nếu chỉ đọc lướt qua một cách sơ sài những chứng minh này, chắc chắn khó thông hiểu được. Trước hết phải đọc hết các bộ sách thiên văn từ trước đến nay, phân biệt chỗ hay dở đúng sai, rỗng lòng lý hội, như có đủ một thế giới mới riêng ở trong lòng, mài miệt nghiên cứu rõ ràng khúc chiết những thứ tự thuận nghịch của kinh vỹ thì mới có thể thấu triệt một cách minh bạch được. Những chứng minh này tuy chưa có chỗ sáng tỏ nhưng cần gì phải đợi có người vạch ra chỉ cho mới trông thấy. Nếu không thì xem mấy lời này nhiều người sẽ cho là viển vông bịa đặt.

Những ai có chí với dân tộc hãy nên tìm tòi nghiên cứu trong môn học này, do đó cũng có thể hiểu được đại cương những bí mật của trời đất. Nay nối thêm mấy điều để cống hiến những ai hâm mộ.

Mùa xuân năm Tự Đức 16.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 01:36:54 pm

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ1

NGUYỄN TRƯỜNG CỬU

Ông Tộ là người Đoài Giáp, người ta gọi là Xã Đoài2, sinh ra bởi cha mẹ đạo cũ, chịu phép Rửa tội, đặt tên thánh Bảo Lộc. Khi lớn lên học vỡ lòng trong gia đình, rồi học với thầy Tú Giai là người Bùi Ngõa3. Sau lại học với thầy Cống Sinh tên là Hựu, ở xã Kim Khê4, song chỉ tìm những điều thực học mà thôi, hỏi thầy một đôi điều, thầy cắt nghĩa không xuôi, rồi xuống học với quan huyện Địa Linh5 ở làng Tân Lộc6. Khi ở những tràng học ấy, không vào nhà trong bao giờ, khát nước thì gọi người ta múc cho, không mấy khi làm bài. Khi nghe sách rồi, chỉ dọn riêng một quyển sách mà xem. Một kỳ kia hạch bài chung, thầy ra một bài phú “Xa Giá Tây Đô Tràng An”. Ông Tộ làm liền, rồi cậy người đem nộp, thầy chấm phê ưu. Sau thầy nói với các học trò rằng: Người này đáng tài Khôi Thám. Lần kia thầy và các học trò đi dạo trên Tú Lò7, các học trò thì nhẹ gót khắp mọi nơi. Ông Tộ đứng trông xem, rồi hỏi người bạn có đạo (là cả Thuần, người Tân Lộc) rằng anh ước từ Tú Lò cho đến Thuần Ngư8 xa nhau mấy tầm, Tú Lò cao mấy trượng, Thuần Ngư cao mấy tầm. Hỏi vậy mà thôi, đoạn thầy trò về. Đến sau hỏi thầy hai điều, thầy giải không được rồi thì thôi học, có thiết trường dạy học ở nhà, rồi ngồi dạy học chữ Hán ở trong Nhà chung Xã Đoài9.
________________________________________
1. Nguyễn Trường Cửu viết tiểu sử của thân sinh mình sau những năm 1925-1926, nghĩa là sau “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử” của Lê Thước, đăng trên Nam Phong số 102, tháng 1-1926: Lê Thước đã được Nguyễn Trường Cửu cung cấp cho nhiều tư liệu truyền khẩu cũng như tư liệu viết, nhưng Lê Thước đã không tỏ ra dấu gì là đã trực tiếp sử dụng “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” trong bài viết của mình. “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” được viết bằng chữ Nôm và chưa được công bố ở đâu cả. Ông Phạm Đình Khiêm, trong Văn Đàn, bộ III, số 4, 30-11-1961, nói là đầu năm 1946 “Được ông Nguyễn Trường Võ lấy cho xem tập “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” bằng chữ Nôm, viết tay trên giấy bản, do thân phụ ông là Nguyễn Trường Cửu biên soạn. Ông có nhã ý cho chúng tôi mượn đem về Nam Định sao chép lại để có tài liệu tham khảo. Sau đó, chúng tôi đã gởi trả lại bản chính và hiện nay chúng tôi còn giữ lại được bản sao nguyên văn”.
    Bản chính hiện nay không biết ở đâu, chứ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ ở Bùi Chu Hưng Nguyên, Nghệ An không còn cất giữ một tư liệu nào cả về Nguyễn Trường Tộ. Bản Việt ngữ của chúng tôi do ông Phạm Đình Khiêm cung cấp.
    Để viết “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ”, Nguyễn Trường Cửu đã dựa trên một số chứng từ truyền khẩu và một số tư liệu viết được cất giữ trong gia đình; nhưng tất cả các tư liệu không được phối kiểm, nên có nhiều chỗ không chính xác. Nhưng phải nhìn nhận rằng đây là một tài liệu quý về Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta hiện có được.
2. Về quê quán của Nguyễn Trường Tộ xin xem phần I.
3. Bùi Ngõa là làng bên cạnh Bùi Chu, nay cùng thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
4. Cống Hữu ở xã Kim Khê. Đinh Văn Chấp (Xem phụ lục III) nói. “Học với Đinh Trọng Thư (tức Cống Hữu)”.
    Xã Kim Khê thuộc huyện Châu Lộc, tức huyện Nghi Lộc ngày nay.
5. Quan huyện Địa Linh: Lê Thước (Xem phụ lục II) và Đinh Văn Chấp nói rõ: Quan huyện Địa Linh về hưu (nguyên Địa Linh huyện; Địa Linh huyện do doãn hưu trí mỗ). Tuy nhiên, trong “Các tổng trấn xã bị lãm”, không thấy có tên huyện Địa Linh mà chỉ có tổng hay xã Địa Linh ở Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, hoặc xứ Lạng Sơn mà thôi.
6. Làng Tân Lộc: Trong “Các tổng trấn xã bị lãm” không thấy có thôn (làng) hay xã Tân Lộc. Tân Lộc ở đây có lẽ là tên của một họ đạo thuộc hạt Cửa Lò, huyện Châu Lộc, tức huyện Nghi Lộc ngày nay.
7. Tú Lò: Lê Thước và Đinh Văn Chấp nói: Núi Lô (Lô Sơn); Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 14, tỉnh Nghệ An, tập thượng, nói: Núi Lô ở xã Vạn Lộc, huyện Nghi Lộc.
8. Thuần Ngư: Lê Thước và Đinh Văn Chấp nói: đảo Song Ngư (Song Ngư đảo); Đại Nam nhất thống chí (tlđd) nói: Đảo Song Ngư ở ngoài biển cửa Hội, huyện Nghi Lộc.
9. Lê Thước nói: năm 1858 (?) Nhà thờ Xóm Mới (Tân ấp đạo đường) mời tiên sinh làm giáo sư dạy chữ Hán - Xem Phụ lục II.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 01:40:11 pm

Đức cha Ngô Gia Hậu (Gauthier, 6 februaio 1842, Phó giám mục, 27 Martio 1846, Chánh giám mục, 3 décembre 1877 qua đời) thấy ông thông minh thì người dạy cho chữ Pháp, tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, cùng các khoa kỹ nghệ. Ông dạy học và học được ít lâu, vừa bị cơn trích sáp1, nên Đức cha Hậu đưa ông Tộ, cụ Khang, cụ Điều (người An Phú, đang gọi là Sài Diên) cụ Huấn (người Trung Hậu, khi ấy ba ông chưa chịu chức Thầy Cả) sang Tây lánh sáp2. Đến tỉnh Quảng Đông có ở lại chờ tàu, thì đi chơi với người Ngô trên núi Quảng Đông làm bài thơ đăng sơn, rồi vào miếu Hạng Vũ làm câu đối đề vào tường rằng:

Tung hoành3 dụng vũ phi vô địa,
Chiến thủ thành công cái hữu thiên.

Bút tích hãy còn. Rồi vượt qua cửa biển hẹp, gọi là Tốn Tha Hải Hiệp (Cửa biển này tàu phương Tây sang phương Đông mà vào nước Xiêm La, nước Cao Miên, nước Việt Nam, nước Tàu, Nhật Bản, Cao Ly, tàu phương Đông sang phương Tây cũng qua đây) tức Détroit de la Sonde, có vào gò Gia Vải, vào chơi nhà Đông gia ông Vít Vồ đạo rối4 (Nhà Đông gia là nhà khi mùa Đông rét thì sang ở đó mà tránh rét cho được ấm). Ông Vít Vồ vợ chồng chào mừng, và thết đãi, nói chuyện rằng: Tôi sinh được con giai thì được thưởng nhiều hơn, vì được nối tôi mà làm Vít Vồ. Sinh con gái cũng được thưởng. Phô ông truyền dùng đí gì, hoặc vàng ngọc châu báu, sách vở, đồ vật gì, nơi đây không có thì tôi viết giấy đi các nơi mà liệu như ý phô ông, rồi thì xin gửi tới nơi, gọi là phô ông đã có lòng quá cố đến tôi. Song các ông chỉ xin mấy pho sách cần dùng thôi, thì ông Vít Vồ liệu giao cho đủ hết, đoạn thì giã nhau ra đi.

Khi vượt ra khơi bị quân cướp bể lấy hết.

Khi sang phương Tây qua biển Trung vào nước Y Đại Lợi Á (Italia) có vào thành Rôm (Rome) được vào chầu Đức Giáo Hoàng Pio IX5. Ông Tộ được hôn đầu gối Người, và Người ban cho một chữ tiền lớn hơn đồng bạc, một bên đúc chính hình tượng và tên Đức Giáo Hoàng, một bên đúc một tòa nhà sang trọng, chữ tiền ấy hãy còn6. Rồi sang nước Đại Pháp ở thành Balê (là kinh đô nước Đại Pháp - Paris), khi cùng đi du lịch xem chính trị học hành kỹ nghệ phong tục nước Đại Pháp.
________________________________________
1. Tức việc vua Tự Đức ra lệnh phân chia người Công giáo tháp nhập vào các làng không Công giáo, không cho sống tập trung, để dễ bề kiểm soát. Việc phân tháp có thể bắt đầu sau khi quân đội Pháp tấn công Đà Nẵng (tháng 9 - 1858). Có thể để tránh cho các thừa sai khỏi bị trả thù vì hành động xâm lược của Pháp và cũng có thể để thu nhập tin tức, Đô đốc Rigault de Genouilly, viên chỉ huy quân đội Pháp – Y đã cho tàu đi đón các thừa sai tới Đà Nẵng. Có thể là Giám mục Gauthier đã tới Đã Nẵng vào khoảng tháng 9-10-1858. (Xem phần I).
2. Sự thực là Giám mục Gauthier chỉ sang Hồng Kông và ở đó cho tới ngày trở lại Sài Gòn đầu năm 1861, chứ không về Pháp như nhiều tác giả xưa nay vẫn quả quyết (Xem phần I).
3. Nhiều bản chép là “anh hùng” thay vì “tung hoành”. Dịch nghĩa là:
        Tung hoành không phải không có đất dụng võ
        Thành công chiến thắng ắt do trời định đoạt.

4. Giám mục Anh giáo.
5. Vì Giám mục Gauthier không về Pháp, nên có thể là Nguyễn Trường Tộ cũng không sang châu Âu vào dịp này. Có thể là vào chuyến đi công vụ năm 1867, Nguyễn Trường Tộ mới cùng Giám mục Gauthier được Đức Pio IX tiếp kiến. Nếu Nguyễn Trường Tộ đi một mình thì không dễ gì được vào triều yết kiến (xem phần I).
6. Đầu năm 1946, tới thăm gia đình ông Nguyễn Trường Cửu, ông Phạm Đình Khiêm cũng đã thấy đồng tiền này (xem Văn Đàn, tldđ).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 01:42:03 pm

Khi nghe lặng sáp, rồi thì Đức Cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về Nhà chung Xã Đoài mà ở1. Bấy giờ trong Nhà chung, ngoài dân sự, tan tành tả tơi, chẳng còn gì nữa, thì ông Tộ ra mẫu và coi sóc làm nhà phòng cho Đức Cha Hậu ở2, có làm cái vọng lầu đề câu đối rằng:

Tây quốc cơ đồ... ( thiếu ba chữ )
Nam thiên vũ lộ túc niêm nhu.

Lại làm nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở, và làm nhà tràng Latinh ba tầng, hình chữ thập gọi là nhà Tây, cho học trò Latinh ở và học, hãy còn đến rày, cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra ở thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm, và ở ngoài xây tường cài hoa lộng, giống các sắc hoa Tây, Nam rặc rỡ xanh tươi vui mắt lắm, rầy hư rồi3.

Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía Bắc Nhà chung, làm tờ để lại, cúng cả nhà và vườn cho Nhà chung. Rồi vào Gia Định làm sở nhà Bà Phước cho các người nhà mụ Tây ở đến khi nước Pháp đã lấy Gia Định4, rồi thì ông Tộ ở trong ấy, mà rò xem việc hòa ra thế nào, song xem ra không thành, ông thư đi từ lại, vì bộ thì ưng hòa ước, song xin giả ba tỉnh Giang, Long, Hà5 lại cho Việt Nam, mà nước pháp thì hòa và giữ ba tỉnh ấy nữa.

Ông thấy sự thế ngán ngay, thì về Kinh mà dâng sớ, tâu xin vua Tự Đức đổi bỏ sự học hành cũ, mà làm sự học hành mới như bên phương Tây, việc Đạo, việc Thiên văn, Địa lý, việc đồn điền khai hoang, việc trên rừng, việc dưới biển, việc khai các mỏ, việc các nghề nghiệp, việc cơ khí, việc võ phương Đông, việc võ phương Tây, cùng vẽ hình thành quách hào lũy, việc tình thế nước Việt Nam bấy giờ, việc thông thương buôn bán cùng khắp hoàn cầu, việc vào Hội với Vạn Quốc, việc cho các nước vào thông thương vào nước mình, việc giao thiệp, việc hòa ước, việc mua tàu bè, sách vở đồ đệ cùng hết mọi việc v.v… các sớ ấy nhiều lắm, hãy còn để trong dinh Cổ học Viện ở Huế6.
________________________________________
1. Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ về Sài Gòn đầu năm 1861. Giám mục Gauthier sau Hòa ước 5-6-1862, dự tính về Xã Đoài, nhưng giữa năm 1863 cũng chỉ về được tới bên kia bờ sông Gianh và ở đó cho tới giữa năm 1866 mới về Xã Đoài được.
2. Nguyễn Trường Tộ xây dựng các cơ sở cho Nhà chung Xã Đoài từ giữa năm 1868 trở đi, sau chuyến đi công cán tại Pháp với Giám mục Gauthier và việc mở trường ở Huế thất bại.
3. Nguyễn Trường Tộ xây cất cơ sở cho dòng Saint Paul, số 4 đường Cường Để, tức đường Tôn Đức Thắng hiện nay, vào khoảng năm 1862-1864.
4. Nguyễn Trường Tộ ở Gia Định từ đầu năm 1861 cho tới đầu năm 1866. Ông còn vào Gia Định để chờ tàu đi Pháp từ khoảng tháng 9-1866 cho tới 10-1-1867. Sau đó hình như không lúc nào ông vào Gia Định, hay ít nữa có vào cũng không ở lâu.
5. Pháp chiếm ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên, tháng 6-1867.
6. Đại ý nội dung các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi lên Triều đình Huế.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 01:44:04 pm

Khi vua Tự Đức và Triều đình xem sớ đoạn thì vua Tự Đức vời ông Tộ vào nhà Tả Vu (Trong sân rồng có nhà Tả Vu là nhà các quan văn thần chầu vua, nhà Hữu Vu là nhà các vũ thần chầu vua) cho được bệ kiến (là để vua thấy mặt) và hỏi các điều các bậc, thì vua lấy làm ưng1. Đến năm Tự Đức 19 tháng 6, ngày 16, có chiếu hội quan Hoàng Tá Viêm, tiếp được từ trong Lễ bộ tư ra cho Đức cha Hậu, về việc ông Tộ đi thăm mỏ than2, thì đã cấp phái cho Nguyễn Long3, danh Lâu danh Hoằng, và phái tỉnh cùng đi nữa. Thì ông đã đi cùng phái viên thăm các hạng mỏ, và chỉ cho các phái viên làm máng sơn đen, để xúc cát và nước khe cùng vàng vào, để đãi cát đi mà lấy vàng cách lấy bạc và các bảo điểm, ông có đưa than mỏ về, cùng trong năm Tự Đức 19, tháng 10 ngày 124 thì ở trong Bộ có chiếu hội quan quản lý thương thuyền sự vụ đại thần Phan, phát ra cho ông Tộ về sự xin đi thăm mỏ các sơn phận Bắc Kỳ, vàng, bạc, đồng, v.v.. thì đi. Về sau nhưng đã lấy được than tỉnh Nghệ An và than tỉnh Hải Dương đều một cân, thì phong lại đem vào mà dâng xem, ông Tộ được chiếu hội thì đã đưa vào hai hạng than ấy và vàng lẫn với các đá tâu dâng.

Đoạn vua Tự Đức cho Đức cha Hậu và ông Tộ, cụ Nguyễn Hoằng cùng hai ông phái viên là ông Trần Văn Đạo, Nguyễn Tăng Doãn đi sứ bên nước Đại Pháp, và thuê người mua sách vở, tàu bè, vật liệu, v.v... Khi sang bên ấy, ông Tộ cũng đi các nước chung quanh đó hỏi han cho được biết việc, như qua sang nước Tây Ban Nha là nước Y Pha Nho (Espagne). Vào hỏi chính phủ, thì chính phủ giả nhời rằng sang cho được đòi nợ thôi.

Nguyên khi vua Gia Long phục quốc, thì Đức cha Phêrô5 coi sóc địa phận Gia Định giúp vua Gia Long khai quốc nên vua cậy Đức cha Phêrô đưa ông Đông cung Cảnh và các quan sang nước Đại Pháp sang đánh quân Tây Sơn cho được lấy nước lại, song việc không thành thì Đức cha Phêrô lại vay nước Y Pha Nho năm vạn bạc6 mua hai chiếc tàu hiệu là tàu Long và tàu Phượng, cùng mua súng ống thuốc đạn lương thực, và mọi người Tây có lòng giúp vua vào hai tàu ấy vượt sang nước Việt Nam. Bấy giờ vua, cùng Đức cha Phêrô và các người ấy đánh được Tây Sơn, giết được Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc7, lên làm vua cả nước Việt Nam là năm 1802, năm Nhâm Tuất, là Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế. Cho nên nước Y Pha Nho đòi năm vạn bạc ấy v.v...
________________________________________
1. Việc này xảy ra vào khoảng tháng 8-1866, trước lúc Nguyễn Trường Tộ cùng Giám mục Gauthier vào Sài Còn đi Pháp.
2. Theo Đại Nam Thực Lục thì tháng 5 Tự Đức 19 (tức tháng 6-1866) Triều đình có phái Hồ Văn Long cùng Nguyễn Trường Tộ đi tìm mỏ, nhưng có lẽ Nguyễn Trường Tộ chưa kịp đi, thì đã có chiếu gọi vào kinh để đi Pháp.
3. Hồ Văn Long chứ không phải là Nguyễn Long. Hồ Văn Long, người đã có mặt trong phái bộ Phan Thanh Giản đi Pháp năm 1863-1854.
4. Việc này chắc chắn không được thực hiện vào thời điểm này mà có thể ở vào khoảng sau tháng 4-1868, Nguyễn Trường Cửu có thể lẫn lộn, bởi vì vào lúc này Nguyễn Trường Tộ đang ở Sài Gòn chờ tàu đi Pháp.
5. Tức Giám mục Pierre (Phêrô) Pigneau de Béhaine, giám mục hiệu Tòa Adran, quen gọi là Giám mục Adran (Bá Đa Lộc).
6. Giám mục Bá Đa Lộc vay tiền của các thương gia người Pháp và người Anh(?)
7. Điều này cũng không đúng, Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc chết bệnh, trước khi quân của Nguyễn Ánh phản công.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 01:45:40 pm

Lại ông Tộ đã giao hỏi Hội Khai mỏ Ngoại quốc, mà hội ấy cốt yếu ban điều này: 1

- Một là sai người liệu làm giúp việc cho người ta, dạy tập nghề nghiệp làm ăn, khai cống, đào sông, đắp đường, xây thành đồn, hàn cửa bể, làm cơ xưởng, đóng thuyền tàu, các việc lớn lao.

- Hai là đưa sản vật nước này sang nước khác mà giồng, tơ tằm v.v…

- Ba là buôn bán, sai người đi khắp các cửa biển, các phụ đầu, thăm hỏi giá hàng cao hạ, hoặc bán của mình hoặc mua của kẻ khác, hay là bán hộ, hay là nhận lấy hóa vật đưa đi mà bán, trừ phí tổn rồi, được lợi chia nhau, lại cho người đi thăm hỏi tìm các thứ mỏ trong nước ta như ngũ kim bát thạch, giúp cho làm nên việc mỏ. Nhưng mà giao hai điều này:

- Một là mình có mỏ, lại mình chịu công của đồ đệ hết mọi sự, hội cho một vài người Công sư xem hộ, khi làm nên mỏ rồi, trừ tổn được lợi, thì lo phần kẻ có mỏ được chín phần, Hội được một.

- Hai là mình có mỏ mà hội chịu công của đồ đệ hết mọi sự khi làm thành mỏ rồi, trừ tổn được lợi thì mười phần hội được chín phần, kẻ có mỏ một phần. Còn sự phí tổn tìm mỏ được hay là không thì hội không bắt chịu.

Bằng không ưng thuận điều nào thì hội cũng ưng người giúp cho, song phải chịu mỗi tháng mỗi người là 2.500 phật lăng là quan tiền Tây (Franc) trong ngoài và phí tổn đi lại nữa. Nếu lỡ việc tại ai thì kẻ ấy phải bồi tổn lại.

Ấy là dịch chính trong tờ đã giao ước. Nay xin gởi về tâu mau xin Triều đình hồi phú.

Vừa năm Tự Đức 20 tháng 6 ngày 222, thì quan Phan Thanh Giản gởi tờ chiếu hội cho Đức cha và ông Tộ, liệu thuê một vài người có lòng công liêm, vị thế hiển danh, đừng có yêu sách thái quá, để khi Triều đình hoặc dùng hoặc không cũng được, không tiếng tăm gì.

Khi được chiếu hội này thì Đức cha và ông Tộ xin được hai vị Tây linh mục là Cố Thông, Cố Đồng3.

Khi Triều đình thấy sớ tâu về, đã xin được hai ông linh mục thông minh lắm, để mà giúp nước Nam, thì cũng trong năm ấy tháng 9 ngày 20, quan Phan Thanh Giản lại gởi chiếu hội sang, tư cho Đức cha và ông Tộ đem hai cố về và phái viên cùng đồ đệ về nữa.

Khi được tin ấy thì Đức cha đem mọi người cùng đồ đệ đều về, liền vào Kinh tâu lại mọi việc, và Đức cha đem hai Cố vào chầu vua nữa. Thì vua ban cho Đức cha cùng ông Tộ tiền vàng long văn và mấy chữ tiền bạc, hiệu nhất nguyên, hiệu nhị nguyên cùng ban thưởng mọi người4.

Đức cha, ông Tộ có làm sớ dâng lên tạ ơn vua. Song sau không dùng, thì Cố Đồng địa phận Huế xin đi, Đức cha đem cố Thông về Xã Đoài, người sói đầu, thông thiên văn địa lý, kỹ nghệ, mọi khoa học hành, cùng đem nhiều đồ đệ về, như nước khí sinh, vàng cường thủy (vàng cường thủy, siêu cường thủy, diêm cường thủy, ba thứ nước họp làm một gọi là Vương thủy) các đồ nấu khí, thử khí, như dưỡng khí, thán khí, khinh khí, đạm khí, nhiệt khí, điện khí v.v... La kinh, ống dòm, trắc ảnh, thước thiên nghi, quả địa cầu, các bản đồ, các thứ đo lường v.v... để đầy hai gian nhà Tây.

Người đi xem rừng rú sông biển đồn điền nhiều nơi, đem về các thứ sắt mỏ, biên chữ vào kể mấy rương, và vẽ một cái địa đồ từ Biện Sơn Thanh Hóa cho đến tỉnh Đông Hải Quảng Bình, gọi là bản đồ Cố Thông. Người chết và táng ở Xã Đoài.

Khi đi sứ sắp về thì Bộ tư cho ông Tộ được đi dịch, mà thăm tìm mỏ mọi nơi, đến năm Tự Đức 19 Bính Dần ngũ nguyệt, Bộ sai quan Tổng đốc Nghệ An là ông Hoàng Tá Viêm ra đào Kênh Sắt. Người được chỉ ra trọ nơi xã Kim Khê, thì người viết thơ cậy ông Tộ đi khám xem hình đất thế đất, chỉ lối cho mà đào. Vì trước ông Cao Biền là quan vua Đường bên Tàu, sang làm quan Đô hộ ủy nước Nam, lại vua Quý Ly nhà Hồ, đã đào không xong, vì mắc nhiều đá cuội dưới đất. Ông Tộ đi xem nói rằng: Có một khúc vì nhiều đá nhớn, như bên Tây có cốt mìn thì phá đi, ta không có nên phải tránh. Ông cắm nêu một hồi buổi sớm vừa xong, dân phu cứ thế mà đào thì kênh hoàn thành. Ông Tộ có làm bài thơ mừng Kênh Sắt5. Đoạn sang lấy đất ở cho làng Xuân Mỹ (ở huyện Nghi Lộc, tổng Vân Trình) 6. Vì làng ấy khi ở nơi thì độc khí độc nước ở không được, ông Tộ lấy đất nên vườn, bảo làng lên ở nơi đang ở bây giờ, thì khỏe mạnh đông đúc giàu có...

Đến năm Tự Đức 21 tháng 2, ngày 19, có bằng cấp Lễ Bộ đòi ông Tộ, cụ Hoằng đi Tây, và ban cho 10 lạng bạc, 10 cổ sâm cao ly, cho mẹ già dưỡng lão.

Trong năm ấy, tháng 3 ngày 25, ông Tộ bị đau bệnh ở Kinh, thì Lễ Bộ phát bằng cấp cho về nhà uống thuốc, và ban cho năm lạng bạc ăn đường.

Năm ấy, tháng 3 ngày 26, Binh Bộ phát bằng cấp cho đi dịch về uống thuốc. Khi bệnh vừa giảm, đến năm Tự Đức 23 tháng 12 ngày 11, truyền trát quan Hộ Lý An Tĩnh Tổng đốc quan phòng Tôn Thất vâng lời Bộ tư ra, đòi ông Tộ vào Kinh để đem học sinh Việt Nam sang Tây mà học tập. Ông vào đến Kinh thì bệnh phát lại, xin về uống thuốc không lành, một lâu một thêm nặng, qua năm sau là năm Tự Đức 24 (1871) tháng 10 ngày mồng 10, ông Tộ làm một câu thơ rằng:

Nhất thất túc thành thiên cổ hận,

Tái hồi đầu thị bách niên cơ7.

Đoạn thì qua đời. Thọ 41 tuổi, táng ở địa phận Bùi Chu.

Tới nay, ở tỉnh Nghệ An, trong thành phố, có làm hai sở nhà tràng, gọi là Kiêm bị tiểu học tràng, Groupe I, Groupe II, để cho học trò Pháp Việt học. Quan Đốc học là ông Lê Thước (người tỉnh Hà Tĩnh, Xã Lạc Thiện), quan Kiểm giáo là ông Nguyễn Hiệt Chi, bẩm xin quan thượng Nghệ An, là ông Tôn Thất Đàn, lấy tên ông Tộ mà đặt tên cho trường ấy. Bộ y cho, nên ngày 14 tháng Juin 1925 thì lính tráng cờ trống rước quan Công sứ, quan Thượng, quan đốc học Tây và các quan, cùng các sở công nghệ, quan Cẩm, lính tập, con cháu ông Tộ, các học trò nam nữ, cùng mọi người đông lắm, hội trong tràng ấy mà đặt tên trường. Có hai cái biển một biển đề Nguyễn Trường Tộ Kiêm Bị Tiểu Học Tràng. Quan Đốc Thước mặc áo sấc rộng đứng đọc một bài chúc mừng, đọc rồi vỗ tay reo mừng, pháo nổ hương xông, trống đánh, bát âm thổi, các sắc cờ bay bướm, rất là vui vẻ, rồi ban phần thưởng cho học trò, cùng đi xem sở Thủ Công học trò làm, rất được lời khen, rồi thì giải tán.

Vừa nhân tứ tuần vua Khải Định trong Bộ ban đệ ra tỉnh Nghệ An một đạo Cáo văn ban và truy thụ cho ông Tộ được chức Gia Nghị Đại Phu Hàn Lâm Viện Trực Học Sĩ. Quan Bố quyền Tổng đốc đã gọi con ông Tộ vào lĩnh về nhà rồi vậy.
________________________________________
1. Xem di thảo số 25, về Hội nước ngoài.
2. Lúc này Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier đang ở Pháp.
3. Cố Thông: Montrouzies. Cố Đồng: Renauld.
4. Xem phụ lục số VI.
5. Xem di thảo.
6. Làng Xuân Mỹ, tổng Văn Trình, huyện Nghi Lộc. Ngày nay thuộc xã Nghi Đồng, huyện Nghi Lộc (xem phần I).
7. Theo ông Phạm Đình Khiêm, thì vì chép không rõ, nên có người đọc Cơ, có người đọc Thân. Bản khắc trên mộ của Nguyễn Trường Tộ là bách niên Cơ, trong lúc ông Đào Duy Anh đọc trong một cuốn sổ tay của Nguyễn Trường Tộ là bách niên Thân.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 09:37:14 pm
PHỤ LỤC II

Tiểu sử Nguyễn Trường Tộ tiên sinh*

NGHỆ AN - LÊ THƯỚC

Cách đây 98 năm nước Việt Nam ta xuất hiện một nhân vật đặc biệt tuyệt vời, người ấy ôm một học vấn lớn, kiến thức lớn, tư tưởng lớn, nghị luận lớn, thế mà đến đâu cũng không hợp, rốt cuộc phải uất ức mang theo chí hướng mà thác, đáng đau đáng giận biết chừng nào! Ôi người ấy là ai? Chính là tiên sinh Nguyễn Trường Tộ.

Tiên sinh sinh năm 1828 Tây lịch (tức năm Minh Mạng thứ 9) tại làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, còn bé đã thông minh dĩnh ngộ. Thân phụ là cụ Nguyễn Quốc Thư làm nghề thầy thuốc có tiếng. Mỗi khi thân phụ dạy đọc chữ gì, tiên sinh liền nhớ thuộc ngay. Làng Bùi Chu phía Đông có sông, phía Tây dựa lưng vào núi. Núi có mỏ sắt (Theo lệ xưa mỗi năm phải nộp 80 cân sắt ròng). Đây chính là trường học thiên nhiên khảo nghiệm khoáng học của tiên sinh thuở thiếu thời. Sau tiên sinh dời đến ở phía ngoài cổng trước nhà thờ Tân Ấp.

Đến năm 1846 (tức năm Thiệu Trị thứ 7) tiên sinh mới bắt đầu thụ nghiệp với một vị đỗ tú tài 5 khoa liền tên là Giai (không nhớ họ) ở làng Bùi Ngõa. Mỗi khi đọc một quyển sách nào, tiên sinh cũng suy cứu cùng cực, nghi điều gì là hỏi ngay, có nhiều chỗ thầy tú cũng không giải đáp được.

Năm 1852 (tức năm Tự Đức thứ 5), tiên sinh học với vị cống sinh tên Hựu (không nhớ họ) ở làng Kim Khê, ba năm rất khổ công chăm chỉ. Mỗi khi đi học về, tiên sinh thường ngồi yên một chỗ nghiền ngẫm nghĩa sách không đi đâu một bước. Thầy cống biết tiên sinh có tài lớn chí lớn nên khuyên đến thụ giáo với cựu tri huyện huyện Địa Linh (không nhớ họ tên).

Năm 1855 (tức năm Tự Đức thứ 8 ) quan huyện mở trường tại xã Tân Lộc. Tiên sinh đến học, mặc dầu bấy giờ tiên sinh đã chán lối học từ chương, muốn tìm chân lý. Lúc nào tiên sinh cũng có một quyển sách nhỏ bên mình mỗi khi suy tư điều gì, trông thấy điều gì đều ghi chép vào đó.

Một hôm quan huyện dắt học trò lên chơi núi Lô Sơn. Các học trò kẻ ngâm thơ người vịnh cảnh. Riêng một mình tiên sinh ngước nhìn lên cao, trầm ngâm nghĩ ngợi, chợt hỏi bạn rằng: “Núi này cao mấy thước, diện tích mấy tầm, cách Song Ngư mấy trượng?” Bạn không đáp được. Thụ học ba năm chỉ khảo thí một lần. Đề thi là làm bài phú nói về việc xe giá nhà vua đi Trường An, Tây Đô (Xa giá Tây Đô Trường An phú). Quan huyện bắt buộc lắm tiên sinh mới chịu làm. Đặt bút là thành bài ngay. Khi duyệt quyển, riêng bài của tiên sinh chiếm ưu hạng. Quan huyện khen lắm. Nhưng tiên sinh đã biết quá rõ cái học khoa cử không bổ ích gì cho thực dụng, nên tiên sinh chẳng bao giờ lưu tâm đến. Bấy giờ tiên sinh được 27 tuổi.

Năm 1858 (tức năm Tự Đức thứ 11) nhà thờ Tân Ấp mời tiên sinh làm giáo sư dạy chữ Hán. Giám mục Ngô Gia Hậu phục tiên sinh là người thông minh lanh lợi bèn dạy tiên sinh học tiếng Pháp, chữ Pháp và một vài môn khoa học phổ thông. Trong hai năm sức học tiến bộ rất nhiều.

Năm 1860 (tức năm Tự Đức thứ 13) vì có lệnh cấm dân theo đạo, Ngô Gia Hậu bèn đem tiên sinh đi Pháp, khi đi ngang qua Ý có đến yết kiến Giáo Hoàng La Mã, rồi đến Ba Lê lưu học. Trong vòng mấy năm, tiên sinh thu hoạch được rất nhiều, ngoài ra còn dùng thì giờ rảnh rỗi khảo cứu thêm chính trị, học thuật và kỹ nghệ nước Pháp. Sau đó tiên sinh lại về nước. Thuyền đến Hương Cảng, tiên sinh được gặp một giám mục người Anh. Hai bên ý tình khá hợp. Giám mục lưu tiên sinh ở lại mấy tháng. Lúc chia tay, giám mục tặng tiên sinh mấy trăm bộ sách nhưng trên đường về bị cướp biển cướp mất chỉ còn lại một vài quyển sách chữ Hán. Bấy giờ tiên sinh đã 33 tuổi.

Thời gian ở Hương Cảng tiên sinh có đề hai câu đối ở miếu thờ Hạng Võ như sau:

Anh hùng dụng võ phi vô địa,
Chiến thắng thành công tất hữu thiên.


Tạm dịch:

Anh hùng dụng võ hiềm không đất.
Chiến thắng thành công hẳn có trời.


Lại nhân cùng một người bạn, người Quảng Đông, lên núi dạo chơi, tiên sinh có làm một bài thơ nối vần như sau:

Thừa nhàn tỉ lý trực đăng sơn,
Túc hạ phong sinh chuyển giác hàn.
Hãn mạn dĩ cùng thương mãng ngoại,
Bồi hồi như tại bích vân đoan.
Tam hoàn thành thị phân minh khán,
Lưỡng Quảng giang sơn chỉ chưởng gian.
Vạn lý phù dao như khả tá,
Lăng không hồi quốc bất ưng nan.


Tạm dịch:

Nhân nhàn cất bước dạo non chơi,
Gió chuyển quanh chân lạnh toát người.
Đi khắp vùng xanh chừng thấm mệt,
Bàng hoàng như giữa đám mây trôi.
Ba vòng thành thị nào xa mấy,
Lưỡng Quảng trong bàn tay đấy thôi.
Muôn dạm mây trời như mượn được,
Ta về cố quốc khó gì đâu.

______________________________________________
*. Nguyên bản Hán văn trong Nam Phong số 102 trang 4-12.
    Bản văn này đã được sao chép lại trong Hv 189/4 tờ 81-98 và 634/4 tờ 15-29, với nhiều sai sót và tự ý sửa chữa và sắp xếp lại.
    Bản Nam Phong bắt đầu với mấy lời giới thiệu của Sở Cuồng (Lê Dư).



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 09:40:36 pm

Năm 1863 (tức năm Tự Đức 16) vì làng Xuân Mỹ đất xấu, nhiều khí độc khiến dân ở đây hao mòn, tiên sinh bèn đi tìm một nơi đất tốt khác đưa dân chúng di cư đến ở. Xóm mới dời đến rộng chừng mấy mươi mẫu, bốn mặt ngoài có đường lớn, trong có nhiều đường nhỏ nối liền ngang dọc trông như bàn cờ, đặc biệt có tổ chức hàng quán theo phép tỉnh điền. Sau nhà thờ Tân Ấp mời tiên sinh làm đốc công cất nhà làm lễ, nhà ở cho giám mục và trường dạy tiếng Latinh gồm ba sở, tất cả đều xây cất theo phương Tây. Bởi vì ngoài các môn khoa học, tiên sinh còn chú tâm nghiên cứu rất nhiều về khoa học kiến trúc. Công trình xây cất ba sở này rất lớn, phải mất 18 tháng mới xong.

Năm 1864 (tức năm Tự Đức thứ 17), tiên sinh lại nhận lời mời của nhà thờ ở Sài Gòn. Vì sau khi xây dựng xong 3 sở ở Tân Ấp, tài năng và học thức của tiên sinh đã được các nhà truyền giáo biết đến. Khi Giáo hội trù tính xây cất một cơ sở làm nhà tu cho các nữ tu, họa đồ làm xong kỹ sư dự tính phải chi đến ba mươi vạn. Tiên sinh hoàn thành chỉ tốn có mười vạn (nay hãy còn), tục gọi là Nhà Trắng.

Năm 1866 (tức năm Tự Đức thứ 19), tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tá Viêm viết thư nhờ tiên sinh về việc đào Thiết Cảng. Thư viết như sau:

“Nhân được phê chuẩn rằng: “Việc đào Thiết Cảng thật là công tư đều tiện lợi nhưng phải tốn nhiều công của. Người đảm đương việc này không thể nào không hết sức lưu tâm chú ý”.

“Tôi ngày đêm suy nghĩ rằng phải có kẻ trí thức hơn người mới có thể thành công mà giảm bớt phí tổn được. Trước đây theo hai vị Ngụy, Phan khen ngợi thì tài năng của ngài chắc chắn có thể giúp được việc. Vả đó cũng là ý nguyện tốt của ngài muốn tạo một phúc lợi cho nhân dân tỉnh hạt. Có điều chân ngài chưa được bình thường1 khiến gần đây tôi không được một bản góp ý nào của ngài cả. Nay tay thợ đã sẵn sàng, nếu ngài có lòng vì dân vì nước, xin hãy đến ngay tận nơi khám xét địa hình, chỉ bày những điều tiện lợi, để khả dĩ bớt công giảm phí, giúp nhân dân đỡ được phần nào và đồng thời cũng không phụ lòng mong mỏi của nhân dân.

“Niên hiệu Tự Đức, ngày 7 tháng 5 năm Bính Dần.

“Thư của Thự tổng đốc An Tĩnh họ Hoàng kính gởi Nguyễn Trường Tộ, quán sở Kim Khê, xã Đoài Giáp, huyện Hưng Nguyên.”

Được thư, tiên sinh liền ngồi cáng đến nơi khám xét, chỉ vẽ hình thế, dùng tre cắm tiêu vài mươi dặm đều theo đường thẳng. Chỉ có một đoạn hơi cong, tiên sinh nói: “Ở dưới có tảng đá lớn vài trăm thước. Gặp trường hợp này người Pháp sẽ dùng mìn phá. Ta không có máy móc thì tránh đi, cong cũng chẳng sao”. Tương truyền khi kênh này đào đến khoảng giữa Thiên Uy và Tây Yên thì gặp nhiều đá tảng lớn chắn lối khó đào vét vô cùng. Khi tiên sinh sửa tiêu cắm lại, đoạn đường này không đầy một tháng đã đào xong. Đó là vì khi đã giỏi về mỏ hẳn phải giỏi về địa chất.

Tháng 6 năm ấy, quan tỉnh cấp trạm dịch cho tiên sinh về Kinh và phái Nguyễn Long cùng tên Lâu tên Hoằng thay tiên sinh về việc tìm mỏ. Nguyên văn tờ chiếu hội của quan tỉnh như sau:

“Thự tổng đốc An Tĩnh họ Hoàng làm tờ chiếu hội.

“Nay tiếp văn thư của Bộ Lễ nói vâng phiến của Đình Thần đem phúc tư của tỉnh và kèm theo bẩm văn của quý chức và Nguyễn Trường Tộ về các khoản như sau:

“Về quý chức và Nguyễn Trường Tộ đã được phê chuẩn cho bản tỉnh cấp mười lượng bạc và trạm dịch về Kinh chờ ở Bộ Lễ.

“Trong phiến còn nói thêm rằng về khoản thăm dò mỏ than của Nguyễn Trường Tộ đã có tên Lâu tên Hoằng làm thay. Chỗ này có châu phê bên cạnh rằng: “Khoản này có Nguyễn Long chuyên trách cùng với hai tên do tỉnh phái người của tỉnh và chỉ sức thăm dò trong hạt mình mà thôi. Sự việc tiến hành ra sao phúc tâu rõ ràng. Khâm thử”. Nay trích tư cho biết để căn cứ theo đó mà thi hành. Ngày nào quý chức lên đường xin tư cho biết trước.

“Nay làm tờ chiếu hội chung, mong chiếu theo khoản Bộ tư mà thi hành sớm. Vậy làm tờ chiếu hội này cấp cho.

Quý chức Giám mục Ngô tuân hành.

Ngày 16 tháng 6 năm Tự Đức 19.”

Bấy giờ tiên sinh trên đường về Kinh qua Đèo Ngang có cảm đề bài thơ như sau:

Thử địa tích tằng Nam Bắc hận,
Hân kim nhất thống Bắc Nam bình.
Nguy quan túc tráng sơn hà sắc,
Tuyệt lãnh trung phân vũ trụ hình.
Chiến lũy dĩ tàn lưu cổ tích,
Ngự bi trường tại tác sơn linh.
Hành nhân mạc thán đăng lâm khổ,
Quá thử ưng tri cận đế thành.


Tạm dịch:

Này đất từng ghi Nam Bắc hận,
Mừng nay thống nhất cảnh thanh bình.
Nguy nga tráng lệ màu sông núi,
Tuyệt đỉnh chia đôi vũ trụ hình.
Chiến lũy đã tàn lưu cổ tích,
Ngự bia còn đó dấu uy linh.
Người đi xin chớ nề gian khổ,
Qua khỏi đây rồi thấy đế Kinh.

_______________________________________
1. Chú thích của Lê Thước.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 09:42:34 pm

Tương truyền vua Dực Tôn triệu tiên sinh vào hội kiến ở nhà Tả Vu, những điều tiên sinh trình bày vua rất đẹp ý và ban cho khánh vàng, tiền vàng (Trừ các sớ văn đã dâng lên vua, tiên sinh còn nhiều điều trần, đối đáp hiện còn lưu lại một tập dày tại Viện Cổ học ở Huế, hẹn sẽ tiếp tục biên chép vào).

Đến tháng 8, vua đặc biệt sai tiên sinh cùng Giám mục Ngô Gia Hậu và đạo trưởng Nguyễn Điều đi Pháp thuê chuyên viên, mua máy móc. Khi đi, vua đặc ân ban cho 10 lạng bạc, 10 nhánh sâm Cao Ly để tiên sinh nuôi dưỡng mẹ già.

Ngày 25 tháng 7 tiên sinh đã điều trần thời sự như sau:

Thiết nghĩ: Kẻ khéo lo toan, biết thời cơ sắp xảy đến không thể đừng được thì sẽ thuận theo tình thế mà khai mở để tránh xảy ra tai hại. Ví như Hán Cao Tổ đến chịu phong ở Ba Thục. Nếu thế nước không thể bảo toàn trọn vẹn được thì bỏ cái viền cái rẻo để giữ nơi căn bản. Ví như Thạch Tấn bỏ Lự Long, Bình Vương bỏ Kỳ Phong vậy… Cũng có khi cứ để vậy chẳng nên tranh giành vội, dùng nó để ngăn chận mối hoạn nạn. Ví như Tống cứ để nước Liêu tồn tại mà chiếm cứ và bình định được các nước khác.

Cho nên người có trí thấy cơ sắp xảy đến, thấy việc sắp hình thành thì đón chận được nó từ ngoài muôn dậm, không để nó vào cửa ngõ nước mình, đuổi nó đi xa, không cho làm rối loạn mưu tính của mình, chia rẽ nó khiến nó đi theo đường trái, để ta chuyên ý lo toan việc phải, lôi kéo nó khiến nó vướng mắc kẻ địch ở bên ngoài, để ta được thung dung mưu tính việc bên trong. Cho nên người xưa có nói: Người có trí như cái vòng xoay tròn, không thể lấy một cái gì làm cố định để mà luận việc cả.

Vì vậy, người có trí xem việc xưa mưu việc nay, không dùng một mưu chước đã định sẵn mà chỉ mưu tính những gì có thể mưu tính được. Không theo một phương pháp đã đặt để sẵn mà theo phương pháp nào có thể thiết lập được. Từ đó có thể biến đổi tùy thời, thay đổi vị trí mà thành công, không thể cứ bám trụ một chỗ.

Xưa Khổng Minh không cần giành Kinh Châu, chủ trương hòa với Ngô là cốt để chủ tâm vào việc đánh phía Bắc. Bởi vì nếu đẩy lùi được giặc của Hán thì đất đai sẽ vào tay đâu phải chỉ có một Kinh Châu mà thôi? Nếu Nam Tống không hòa với Kim thì vương nghiệp cũng khó giữ yên được. Giả sử cứ nuôi dưỡng sức lực binh dân cho hùng hậu, biết tri túc để tự bảo vệ, không cần đánh chác làm gì cho suy yếu thì dòng Trường Giang hiểm trở kia cũng đủ hòa được với Nguyên rồi.

Ấy thế mà có người bình luận trách Khổng Minh không báo thù chủ cũ, trách Nam Tống không rửa nhục người xưa. Những hạng người đó chưa đủ trí khôn để hiểu được nỗi khổ tâm của người đương thời. Vũ Đế mở đường cho bọn man di phía Tây Nam mới chặt được cánh tay phải của Hung Nô. Sở dĩ thế là vì nghĩ rằng nếu không diệt rợ phương Bắc thì Triều đình nhà Hán không thể nào yên được. Vũ Đế lo xa thế ấy mà còn bình luận chê bai, thứ hỏi có đáng chê cười hay không? Bình Vương bỏ đất Kỳ Phong cho Tần, khiến Tần một mặt phải đương đầu với Tây Nhung, nhờ thế mà nhà Đông Chu mới duy trì được thiên hạ đến bốn trăm năm. Anh Cát Lợi bỏ Hợp Chủng Quốc để cho các nước phương Tây đều có quyền lợi ở Tây Châu, do đó mới khỏi bị chúng thọc tay vào mà một mình ôm trọn được Ấn Độ. Nếu Bình Vương kéo dài cuộc tranh giành cố đô thì chưa chắc giềng mối nhà Chu đã giữ được. Nếu người Anh không chịu từ bỏ cái hầm vàng kia để dụ người vào đó giành giật thì ngọc lụa Ấn Độ làm sao một mình có thể hưởng trọn làm của riêng?

Xưa Y Pha Nho bị Hồi Hồi cắt đất chiếm cứ 180 năm. Đây là một dân tộc giàu có thịnh vượng, dân số đến mấy mươi vạn. Khi Y Pha Nho quật khởi phục quốc đuổi hết bọn chúng ra miệt duyên hải phương Nam, nay là hang ổ bị người chà đạp, thì Y Pha Nho cũng vì thế mà trở nên yếu hèn một cách nhanh chóng.

Xưa Áo bị Hung Nô chiếm cứ một nửa nước. Dân Áo cứ để mặc chúng sống chung lộn. Sau Hung Nô dần dần thành Áo mà hợp lại làm một nước. Nhờ đó Áo lớn mạnh. Hai trường hợp trên chứng minh cho thấy cái lợi hại của sự đuổi hay không đuổi.

Ôi, tình hình thế giới thay đổi chứ không nhất định, được mất vô thường. Nhưng nói chung cái điều ta có thể dùng được là ở trong hai điều kiện sau đây. Một là nếu mình đã đủ sức tự củng cố thì không nên khiêu khích người để tổn thương sức mình. Hai là nếu mình chưa đủ sức tự vệ thì phải khéo léo mượn sức người làm sức mình. Cho nên thuyền lớn phải dùng mái chèo 7 thước mới có thể vượt qua hồ qua biển. Đó là nhờ cây gỗ giúp sức. Thánh Vương đem cái tài của một mình cá nhân mình mà gánh vác được cả thiên hạ. Đó là nhờ cái thế của dân chúng. Nay nước ta đang ở vào giữa con đường tranh giành của Đông Tây. Điều đó có hai cái lợi là Gia Định trong Nam và Tứ Xuyên ngoài Bắc. Nhưng cũng có ba cái hại là Vân Nam ở phía Bắc, nước địch ở trong Nam, còn ở giữa thì có những bọn sống ngoài vòng pháp luật chạy ra Bắc chạy lên Tây ẩn nấp chốn bụi bờ. Nay ta chưa thể dùng ngay thuật tung hoành để tạo lập cái thế rít trăm chân thì tưởng cũng nên tạm thời giao ước ngầm với người Pháp, tạm mượn sức họ để ngăn chặn ba cái hại, thu lấy cái lợi phía Tây, để rồi thong thả mưu đồ những kế sách về sau. Như thế họa may giúp ích cho thời cuộc được chăng?

Tiên sinh còn xin bãi bỏ khoa cử để rộng đường thu dụng nhân tài nhưng những ý kiến của tiên sinh đều không thấy được đưa ra thực hành.

Tiên sinh đi Pháp, dọc đường có đề vịnh khá nhiều. Như ngày mùng 9 tháng 8 dạo chơi chùa núi Ngũ Hành có đề thơ như sau:

Mộc lan nhất trạo phiến phàm khai,
Trực thượng Tu Di tả khoáng hoài.
Thảo thụ kí kinh xuân đại tạ,
Phong loan nhưng thị cổ ai hoài
Môn đương hỏa thụ thừa loan hạnh,
Hải nhiễu kim viên tống thủy hồi.
Vị báo Thích Ca như luyến thổ,
Tùy ngô Tây khứ hựu trùng lai.


Tạm dịch:

Chèo lan một mái nhẹ ra khơi,
Lên thẳng Tu Di rộng mấy trời.
Cây cỏ bao lần thay sắc lá,
Non sông còn đó bụi trần ai!
Cửa chiền nghiêng bóng mừng xa giá,
Biển bọc quanh sân gởi nước về.
Nhắn bảo Thích Ca như luyến nước
Cùng ta đi Pháp lại về thôi.



và

Ngật nhĩ xanh Nam cực,
Vọng chi đắc thiên nhiên.
Thạch kỳ nghi thị Phật
Nhân tĩnh tức vi tiên.
Tự ngoại gian vô địa,
Hồ trung biệt hữu thiên.
Ngự bi minh lãnh thượng,
Trường dữ thử sơn truyền.


Tạm dịch:

Vòi vọi ngất trời Nam.
Ơ kìa cảnh thiên nhiên.
Đá trông chừng tượng phật.
Người lặng lẽ như tiên.
Ngoài chùa còn chi nữa,
Trong hồ có trời riêng.
Ngự bia trên đỉnh núi,
Mãi mãi vẫn lưu truyền.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 09:43:53 pm

*

ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở ĐÀ NẴNG

Vạn đại thiên trì thử phong cảnh,
Tây triều hà sự động binh đao.
Nhất triêu sát khí không lưu thủy,
Thiên cổ oan thanh thượng nộ đào
Giang tự Tây Nam song lệ hạ,
Môn khai Đông Bắc lưỡng sơn cao.
Như kim dĩ khánh kình ba tĩnh,
Phá lãng thừa phong khí tự hào.


Tạm dịch:

Thắng cảnh ao trời muôn thuở lưu,
Tây triều vô cớ động binh đao.
Một mai sát khí tràn sông nước,
Vạn đại hồn oan dậy sóng gào.
Hai nhánh Tây Nam sông đổ xuống,
Cửa nhìn Đông Bắc dựng non cao.
Mừng thay nếu thấy ba đào lặng,
Cỡi gió đè mây mới tự hào.




*

ĐÊM MƯA ĐI THUYỀN TRÊN BIỂN

Cửu long hà sự dạ tương tranh,
Giá vũ bài phong nhất trận hoành.
Thôn hợp hải thiên đô thị thủy,
Đích xao đào lãng bất phân thanh.
Thuyền khinh tự giác trào tam trượng.
Vân ám trường già nguyệt ngũ canh.
Hải diện cổ lai đa thị trứu,
Hiểu khan trang đắc lãng ngân bình.


Tạm dịch:

Chín rồng chi đến phải tương tranh,
Mưa gió đêm hôm nỗi bất bình,
Trời biển tiệp màu chung sắc nước,
Mưa rơi sóng vỗ khó phân minh.
Nhẹ thuyền sóng biếc cao ba trượng,
Mây ám vầng trăng suốt mấy canh.
Mặt biển xưa nay thường cau có,
Rạng ngày tươi đẹp một màu xanh.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 09:47:27 pm

*

NHÂN CHUYẾN ĐI THUYỀN,
TIỄN QUAN VIÊN NGOẠI BỘ LỄ VỀ DƯỠNG BỆNH

Ngẫu nhân công cán nhất phùng quân,
Ngã khứ quân hồi trịnh trọng phân.
Mạc đạo hải trình phong khí thậm,
Cố giao vi dạng đại đồng nhân


Tạm dịch:

Tình cờ công cán gặp người đây,
Người về quê cũ tiễn tôi đi.
Chớ bảo trùng dương nhiều gió chướng,
Se mình những tưởng đỡ người thay.



*

NGẪU ĐỀ NÚI ĐÁ BIA

Phong bất năng dao vũ bất tồi,
Bi truyền vạn cổ tự thôi ngôi.
Cô viên như tước bài sơn lãnh,
Trác lập vô song trấn thủy ôi.
Tưởng thị bổ thiên tằng luyện quá,
Phi quan điền hải bị khu lai.
Nhược di chích trợ thành song trợ,
Địa tác bàn xan hải tác bôi.


Tạm dịch:

Gió chẳng lung lay mưa chẳng rơi,
Nguy nga bia đá tự muôn đời.
Đỉnh tròn trơ chóp đầu như trọc,
Sừng sững oai hùng trấn một nơi.
Đội đá vá trời xưa đã luyện,
Dời non lấp biển há còn ai?
Giá thêm một chiếc thành đôi đũa,
Hải vị sơn hào đánh chén thôi




*

ĐI THUYỀN GẶP TIẾT TRUNG THU

Hải trung vọng nguyệt sử nhân bi
Vọng đáo Song Ngư lệ ám thùy.
Gia lý khứ thu song đối ảnh,
Chu trung thử dạ độc tương tùy.
Dinh khuy thiên thượng nguyên vô dị,
Bi hỉ nhân gian tự hữu kỳ
Ký ngữ Hằng nga như giải muộn,
Bất ưng kim dạ nguyệt hành trì.


Tạm dịch:

Trung thu trên biển chạnh lòng ai,
Mờ lệ Song Ngư dạ cảm hoài.
Thu trước nhà xưa cùng đối bóng,
Thu nay trăng nước một mình tôi.
Khuyết tròn cung quảng không chi khác,
Nhân thế buồn vui có mấy khi.
Người hỡi Hằng Nga như muốn tỏ.
Đêm nay vàng lụa hãy lên ngôi.




*

Đi thuyền cùng viên biện lý, làm theo lối thơ cổ:

TẠI CỬA BIỂN CẦN GIỜ

Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền,
Bất kham hồi thủ tịch dương tiền.
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Hựu cách giang sơn lộ kỷ thiên.


Tạm dịch:

Ghé bến Đông Ngô vạn dặm trường,
Quay đầu chẳng nỡ bóng tà dương.
Người ơi ly nữa cùng ta cạn,
Còn cách non sông mấy đoạn đường.




*

PHONG CẢNH CẦN GIỜ

Nhân gia lao lạc tạp Tây triền,
Nhất vọng bình lâm trấn hiểu yên.
Sơn khởi tam phong hồi hải ngạn,
Đăng cao nhất trụ dẫn dương thuyền.
Quan hà điện định nhưng y cựu,
Cảnh sắc thương mang dĩ bất tiền.
Như thử giang sơn thùy thị chủ?
Yếu tương tình sự vấn chi thiên.


Tạm dịch:

Nhà dân lác đác phía trời Tây,
Rừng thấp bạt ngàn tỏa khói mây.
Núi dựng ba tòa quanh bãi biển,
Đèn cao một ngọn dẫn tàu đi.
Nước non như cũ hồn sông núi,
Cảnh sắc rõ ràng đã đổi thay.
Đất nước sơn hà ai đấy chủ?
Biết đem tâm sự hỏi trời thôi!



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 09:49:09 pm

*

Năm 1867 (Tức năm Tự Đức thứ 20), tháng 6, tiên sinh nhận được bản văn chiếu hội của Thương Bạc như sau:

Đại Nam quản lý Thương Bạc sự vụ đại thần Phan làm tờ chiếu hội như sau:

Nay tiếp hai bản tư văn của giám mục, một bản phúc trình của phái viên, một tập bẩm văn của giáo sĩ, bản chức và các vị chính khanh trong các Bộ đồng duyệt đã rõ biết đầy đủ.

Việc giám mục và các giáo sĩ tự xin đi Pháp là vốn muốn ra sức giúp Triều đình, chứ không phải để chỉ tìm người, tìm dụng cụ dùng cho việc công mà thôi. Các vị còn muốn làm sao cho hai nước qua lại với nhau, hai bên cùng có lợi, đem tình hòa mục đối đãi nhau. Như thế thật là ý tốt.

Nhưng mới đây nguyên soái Gia Định đem binh ép lấy ba tỉnh Long, Giang, Hà. Bản quốc đem thành tín ra đối xử chứ không tương tranh. Thế mà soái phủ nay đã không giữ lời giao ước. Như vậy là cái tình chiếu cố đã khác trước rồi.

Lại nghĩ chuyến đi này giám mục giáo sĩ đã cực nhọc mà nếu tấm lòng tốt ban đầu trở thành không toại nguyện thì thật lấy làm tiếc. Vì vậy nay vội thông đạt đầy đủ mong quý vị rõ và nên như thế nào xin quý vị tùy nghi trù liệu ngõ hầu mọi sự đều tốt đẹp. Bản chức rất mong mỏi.

Còn việc mướn người khai hoang, nếu thấy có người quả thật vì đời hiển danh, dạy vẽ cho các phương pháp khai thác mỏ và chế tạo dụng cụ mà tiền thuê vừa phải, không yêu sách thái quá, nên lượng thuê một vài người thôi, không nên mang nhân công theo về cho tổn phí nhiều. Đồng thời người ấy cũng phải là người đáng tin cậy, chắc chắn không có ý riêng tráo trở. Về sau hoặc mướn hoặc thôi không mướn nữa là do bản quốc quyết định có được chăng, không được sinh chuyện lôi thôi. Nay giám mục giáo sĩ nên tự liệu thuê mướn, bảo đảm không có gì đáng ngại mới được. Nếu không được như vậy, xin hãy đình hoãn khoản này.

Về bàn máy in ảnh thì không cần thiết lắm, để thong thả sẽ mua sau. Ngoài ra tất cả máy móc, thứ nào có thực dụng cần thiết mà giá rẻ như máy điện báo trị giá bảy, tám trăm quan chẳng hạn, giám mục giáo sĩ nên cùng phái viên xem xét chọn mua một hai cái. Các bộ sách Pháp nên giao giáo sĩ kiểm xem rõ ràng, sách nào thích dụng mà chưa mua, nên lựa mua ít nhiều.

Về giá thuê mướn, giá hàng hóa v.v... cũng nên đăng ký sơ lược để tiện cho những lần sau. Như vậy mới khỏi đi không rồi lại về không. Còn vật hạng mua được, nên tùy tiện thuê chở về để mau tiện thanh toán một lần luôn. Linh mục Điều cũng phải về cùng một thể, không nên lưu lại chờ đợi làm gì.

Về phần giáo sĩ, khi về nước đi đường bộ để quan sát các mạch núi thì đợi đến Bình Thuận sẽ cấp trạm dịch. Ngoài ra giám mục và các phái viên muốn đi đường thủy hay đường bộ tùy tiện.

Nay làm chiếu hội này cho giám mục Ngô, giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ, phái viên Trần Văn Đạo, Nguyễn Tăng Doãn đồng chiếu.

Ngày 22 tháng 6 năm Tự Đức thứ 20.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 09:50:04 pm

Tháng 9 năm ấy lại tiếp chiếu hội của Thương Bạc như sau:

Đại Nam quản lý Thương Bạc sự vụ đại thần làm tờ chiếu hội như sau:

Nay tiếp được một tờ phúc văn, một tờ hóa đơn và bản sao hai phúc văn kỳ trước, bản chức đã cùng các vị chính khanh trong các Bộ duyệt xong đã rõ.

Theo phúc văn nói đã gởi phúc văn hai lần và được gần năm tháng rồi chưa thấy hồi âm. Hai phúc văn đó, một nói về việc đã tìm được người làm việc mong trên quyết định, một nói về việc đã chọn mua các loại máy móc. Bản chức đã duyệt xét xong và theo thứ tự gởi phúc văn trả lời, gởi qua soái phủ Gia Định nhờ chuyển lại. Nay theo bản sao hai phúc văn này thì sự việc cũng giống nhau, nên không phải nói lại nữa. Duy trong đó có một tờ nói về việc đã chọn được hai linh mục giỏi về hóa học, vật lý và các môn thiên văn địa lý. Các vị này đều là người dưới quyền của giám mục đang chờ để cùng về Kinh đô. Hai linh mục này đều là người trong Giáo hội, rất đồng tâm đồng chí với giám mục, không phải như người trong các hội hè khác. Vậy cứ giao cho các vị ấy tùy theo nghề mà dạy, tưởng cũng có ích cho thực dụng. Khi giám mục về nên đem hai vị linh mục cùng về thì tốt. Còn ba người về binh bị, tơ sợi, đốt đèn, tưởng chưa cần thiết lắm, xin đừng mướn. Về khoản sách vở, dụng cụ đã mua xong, theo đơn mua nói cũng khá đủ dùng, vậy hãy thuê chở về, ngoài ra không nên mua thêm gì khác. Sau này nếu cần gì sẽ nhờ riêng giám mục gởi mua cũng tiện.

Lại nữa phúc văn lần này có nói hai phái viên là bọn Trần Văn Đạo không chịu được lạnh mùa đông nên bệnh. Giám mục nên thu xếp cho họ về trước để khỏi bị lạnh gắt vào giữa mùa đông năm nay. Về phần giám mục và giáo sĩ cũng nên sắp đặt xong mà về cho khỏe.

Nay làm tờ chiếu hội này gởi kèm cùng hai bản sao phúc đáp kỳ trước để được rõ và thi hành.

Chiếu hội này kính gởi Giám mục Ngô, giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ và phái viên Trần Văn Đạo, Nguyễn Tăng Doãn chiếu thi hành.

Ngày 20 tháng 9 năm Tự Đức thứ 20.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2011, 10:03:40 pm

Năm 1868 (tức năm Tự Đức thứ 21), tháng 2, tiên sinh lại được phái đi Pháp công cán cùng với Nguyễn Hoằng. Mỗi người được đặc biệt cấp mười lạng bạc để về Nghệ An thăm nhà. Bộ Lễ làm bằng cấp như sau:

Nay làm bằng cấp:

Nay căn cứ theo lời bẩm của giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ và thông ngôn Nguyễn Hoằng nói lần này vâng phái đi Tây nhưng đều còn có mẹ già kính xin cấp cho trạm dịch và mỗi người một cái cáng, ngày mai cùng về quê thăm một tuần nhật xong sẽ trở lại Kinh đô chờ phái đi. Bộ đã tâu và được phê chuẩn. Lại được châu phê như sau: “Ban cho mỗi người mười lạng bạc để phụng dưỡng. Khâm thử”.

Vậy khi được cấp bằng này cùng với tiền do ty của Bộ đệ cấp mỗi người mười lạng thì phải tuân phụng chiếu nhận. Lần này về thăm chỉ một tuần nhật phải về Kinh ngay không được kéo dài.

Nay lập bằng cấp này cấp cho Nguyễn Trường Tộ để căn cứ.

Ngày 19 tháng 2 năm Tự Đức thứ 21.



Sau vì bệnh cũ tái phát, tiên sinh phải ở lại quê nhà điều trị. Bộ Lễ làm bằng cấp như sau:

Nay làm bằng cấp:

Nay giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ về Kinh đô, bệnh cũ lại tái phát. Khâm phụng cho cấp phí và trạm dịch về Nghệ An điều trị. Vậy nay làm bằng cấp này hãy nhận năm lạng bạc làm tiền lộ phí về quê dưỡng bệnh.

Nay lập bằng cấp này cấp cho Nguyễn Trường Tộ để căn cứ.

Ngày 26 tháng 3 năm Tự Đức thứ 21.



Năm 1870 (tức năm Tự Đức 23), quan tỉnh vâng lệnh Bộ Lễ sức tiên sinh về Kinh đô để dẫn học sinh qua Tây lưu học. Hộ lý tổng đốc quan phòng An Tĩnh Tôn Thất sao lục tờ sức như sau:

Nay sức hỏa tốc.

Hôm nay vừa tiếp được tư văn hỏa tốc của Bộ Lễ nói Tứ Dịch Quán ở Kinh đô cần người thông dịch, vậy nên phái người qua các nước phương Tây học ngôn ngữ. Xét giáo sĩ là người mẫn cán đã từng đi Tây, quen thuộc phong tục các nước, hãy cấp trạm dịch sức gọi về Kinh đô gấp chờ ở Bộ để chuẩn bị dẫn học sinh qua Tây lưu học. Đồng thời sức bảo sửa sang hành lý gấp về tỉnh lãnh bằng rồi lên đường. Nhưng ngày nào có thể đi được hãy biên giao cho người đưa trát này đem về phúc cho biết trước,

Nay làm tờ sức hỏa tốc này cấp báo cho Nguyễn Trường Tộ để căn cứ.

Giờ Ngọ ngày 11 tháng 12 năm Tự Đức thứ 23.



Sau vì bệnh cũ mỗi ngày một nặng, tiên sinh cố sức khước từ, Nguyễn Điều mới được phái đi thay.

Năm 1871 (tức năm Tự Đức thứ 24), bệnh của tiên sinh ngày một tăng đến ngày 10 tháng 10 âm lịch thì mất. Bấy giờ tiên sinh được 41 tuổi.

Tương truyền tiên sinh rất thích thịt dê. Trước đó bốn, năm ngày có người tặng tiên sinh một con dê non, liền sai làm thịt. Trước khi ăn, tiên sinh hỏi đã dọn dâng mẹ già chưa? Rồi nhân đó căn dặn học trò rằng: “Sự nghiệp con người ta trước hết phải có hiếu đễ. Tuy chuyện ăn uống nhỏ nhen cũng không được coi thường”.

Bệnh của tiên sinh có người bảo là ung thư ruột, có người bảo là chứng tụ máu. Trong bụng có một cục gì nho nhỏ chạy qua chạy lại. Sau khi tiên sinh mất, các bạn bè đến viếng, có người hiểu tâm sự của tiên sinh nhất đã than rằng: “Học thức như thế, hoài bão như thế, mà chẳng thi thố được một điều gì để rồi cuối cùng mang bệnh mà chết. Thương thay!” Rồi người nhà thấy trên tấm đắp có dấu máu rướm, mở ra xem, đó là khối trong bụng đã vỡ phun máu ra. Mộ tiên sinh được lập ở xứ Đá Mài làng Bùi Chu, tục gọi là mộ ông Tộ.

Than ôi! Tiên sinh là một nhà văn học, một nhà chính trị và cũng là một nhà tân học của nước ta thời cũ. Tư tưởng của người, học thức của người vượt quá xa người đương thời mấy vạn lần. Trong khi người cả nước say sưa lối học khoa cử, chỉ độc một mình tiên sinh xin bãi bỏ. Trong khi người cả nước như ngây như dại, đóng cửa tự hào, độc một mình tiên sinh lớn tiếng kêu gào, vạch trần tình hình thế giới. Tiên sinh còn điều trần bao nhiêu vấn đề về nội chính, ngoại giao, không thiếu mưu sâu chước giỏi, không phải không bằng mà còn hơn cả Fukuzawa và Gamayama của Nhật Bản nữa.

Tiếc thay lúc bấy giờ trong Triều đình vua thì mờ ám không biết dùng người, tôi thì ganh ghét những ai khác mình, khiến lời nói của tiên sinh không được nghe, kế sách của tiên sinh không được dùng đến. Tiên sinh đành phải ôm chí mà chết. Để rồi ngày nay cõi trần mịt mịt, nước cũ mờ mờ. Non sông vẫn vậy mà bờ cõi khác xưa. Khách có lòng mỗi khi đi ngang qua nhà cũ của tiên sinh, trông thấy bóng cau già ngày trước, cúi đầu trông đất, ngẩng mặt nhìn trời, mấy ai không trầm ngâm gạt lệ mà sinh lòng cảm khái.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2011, 08:15:08 pm

PHỤ LỤC III

Biên khảo bổ túc vào tiểu sử của Nguyễn Trường Tộ1



ĐINH VĂN CHẤP

Nguyễn Trường Tộ người Bùi Ngõa, Nghệ An, sinh năm 1828 (Minh Mạng thứ 9) dòng dõi nho phong thanh bạch. Thân phụ là Nguyễn Quốc Thư làm nghề thầy thuốc theo đạo Da Tô.

Tộ lúc nhỏ theo học với tú tài Giai người trong xã, đọc sách biện luận nổi tiếng thần đồng. Khi lớn, Tộ theo học ba năm với Đinh Trọng Thư (Tức thầy Cống Hữu) ở Kim Khê, đọc sách gì cũng nghiền ngẫm nghĩa lý phân tích rõ ràng, rồi sau theo học quan huyện Địa Linh, mỗi khi làm văn đặt bút là xong bài ngay.

Một ngày nọ thầy trò đưa nhau lên núi Lô Sơn cùng nhau xướng họa. Tộ ngồi một mình điềm nhiên rồi chợt hỏi: “Núi này cao mấy thước, diện tích mấy thước, cách đảo Song Ngư mấy thước?” Mọi người đều im lặng không ai trả lời được. Tộ cười nói: “Đi chơi núi mà không biết núi cao bao nhiêu thì học cái gì?” Quan huyện rất nể trọng Tộ. Giám mục Ngô Gia Hậu nghe tiếng thông minh đem về nhà thờ dạy Tộ các môn khoa học. Lúc nhỏ, Tộ cũng giỏi về lối học khoa cử, thời bấy giờ có tên là trạng Tộ (tục danh thầy Lân) nhưng vì là giáo sĩ nên không được đi thi.

Năm Tự Đức thứ 13 (1860) lệnh cấm đạo quá nghiêm ngặt, Giám mục Hậu đưa Tộ sang Pháp, vào yết kiến hoàng đế Ý Đại Lợi là Phi Ô thứ 9 được vua tặng một trăm bộ sách. Sau Tộ đến Pháp lưu học ở thành Ba Lê mấy năm, khảo cứu chính trị, văn học, kỹ thuật nước Pháp thu nhập được rất nhiều. Tộ về nước gặp lúc Pháp Nam khai hấn, nguyên soái Pháp muốn dùng nhưng Tộ hết sức từ chối. Sau nghĩ vì tình thế nước ta hiện nay tạm hòa là hơn, vì thế Tộ đã uyển chuyển hợp tác với họ hy vọng có thể giúp cho hòa cuộc được thành.

Khi đại đồn thất thủ, soái Pháp giao cho Tộ lo việc văn thư giấy tờ. Tình thế chẳng khác nào mũi tên đã đặt lên cây cung rồi. Vậy mà lời lẽ của Tộ vẫn một điều xưng là triều quan, hai điều xưng là triều binh. Thấy quan lại Triều đình ta bị nhục thì xem như chính cha mẹ mình bị nhục vậy, âm thầm an ủi thu xếp. Lần ấy giấy tờ bàn hòa hai bên trao đổi qua lại đến vài mươi lần. Hễ thấy trong nguyên văn tiếng Pháp chỗ nào thiếu nhã nhặn, Tộ tước bỏ hết, còn chỗ nào có lý lẽ gì lợi ích cho nước thì dịch rõ ràng đầy đủ. Đến khi thấy hòa cuộc khó thành được, Tộ quyết định thôi việc, không nhận bổng lộc. Soái Pháp đem quan chức ra dụ thì lánh mặt bỏ đi, vì chí của Tộ đâu phải muốn làm việc lâu cho Pháp.

Nhân dịp phạm Phú Thứ vào Gia Định, Tộ dâng ba bản điều trần: Thiên hạ đại thế luận, Tế cấp luận và Giáo môn luận.

Từ năm Tự Đức thứ 15 trở về sau, Tộ làm rất nhiều bản điều trần có đến ngàn vạn câu, đại ý xin Triều đình giao thiệp với các nước châu Âu, lựa chọn học sinh cho đi các nước phương Tây học tập, mở trường dạy kỹ nghệ tại các tỉnh thay thế lối học từ chương khoa cử, lập ra chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán, xây cất lại Kinh thành và thành trì để phòng bị khi thường khi biến, khai mỏ than, mỏ kim loại, lập nhà nuôi trẻ, mở hội chợ, lập sổ bộ sinh tử giá thú, mở trường võ bị và cả đến nhiều điều khoản về chính sách đê điều, nông chính, tài chính, chính sách về muối, kiểm lâm, thuế xa xỉ, chính sách về thay đổi làng xã, trấn áp bọn cường hào, cấm các thuyết phong thủy, các sách sấm vĩ mà bút tích ngày nay hãy còn tàng trữ tại Quốc sử quán và Nội các ở Kinh đô.

Tháng 2 năm Tự Đức thứ 19, Tộ có dâng một tờ bẩm do quan tỉnh Nghệ An đệ lên. Vua phê: “Nguyễn Trường Tộ có thể dùng được. Hay là cho quan chức để lấy lòng và dùng sức”.

Tháng 8 năm ấy, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ tâu vua rằng đã đến thăm Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Hoằng xem lời lẽ ý tứ họ thì thấy họ không phải là người vong bản. Nhưng theo Nguyễn Trường Tộ nói thì y thể chất yếu đuối khó kham nổi việc công không dám nhận liều quan chức, xin ở ngoài vậy. Nhưng nếu Triều đình cần sai biểu điều gì sẽ không dám sợ khó mà chối từ.

Tháng 5 vua chuẩn cho Tộ theo lang trung Hồ Văn Long đến Quảng Bình để dò tìm mỏ than.

Tháng 4, Thương Bạc thảo thư gởi Tây soái. Vua phê: “Giao Tộ nghiên cứu thảo dịch được không? Họa chăng có đề nghị nào khác”.

Tháng 8 năm ấy, Tộ được phái cùng Ngô Gia Hậu, Nguyễn Điều v v… đi Pháp mua sách và máy móc, gồm có một quyển sách nói về các lớp địa chất, một quyển hình vẽ về thiên văn, một quyển về mỏ than và châu ngọc đá quý, một quyển tự vựng địa đồ, sách hàng hải, điện báo, sách trắc lượng và một bộ bàn sách, một bộ máy ảnh và các bình hóa chất, hai bàn máy điện báo và các sách ngoài các khoản Ngô Gia Hậu đã mua. Khi về được vua ban cho năm lạng bạc, một tấm kim tiền, năm tấm ngân tiền, một xấp hàng tơ lông màu lam đủ may một cái áo dài chật tay, một xấp lương sa Bửu Lam Nam Tố, một xấp trừu Tuyết Bạch Nam Hoa. Sau đó Tộ còn được giao cho làm thử các phương pháp dò tìm mỏ than và đúc kim loại.

Tháng 2 năm Tự Đức 21, đình thần dâng phiến về việc cứ sứ bộ 17 người đi Pháp, vua lại chuẩn cho Nguyễn Trường Tộ cùng đi. Khi về Cơ Mật Viện tâu rằng: “Theo kê trình của Nguyễn Trường Tộ thì nói có đem theo về giáo sư kỹ nghệ và tên Ca Xanh để chế tạo máy móc kỹ nghệ hoặc để xem thiên văn hoặc để dò tìm nguồn lợi dưới đất. Vua phê: “Đã đem về thì phải tiến hành làm, khỏi phụ lòng người ta. Nay nên cất trường đại học bên cạnh sứ quán. Lại đem về mấy giáo sĩ biết nghề gì, mỗi tháng cấp phí bao nhiêu, cùng Tộ về nhất nhất phải hỏi cho rõ rồi mới làm, đừng để họ chờ đợi lâu mà cười chê người mình”. Nhưng khoản này Triều đình bàn rằng giáo sư hưởng mỗi tháng ba trăm đồng quá nhiều, không thể dùng được.

Tháng 10 năm Tự Đức thứ 23, nhân một phong thư mật của quan tỉnh Nghệ An Ngụy Khắc Đản, Tộ nói đại khái về việc xin mở Lãnh sự tại Kinh thành Pháp. Triều đình bàn rằng nếu làm vậy thì Pháp cũng xin lập lãnh sự tại nước ta, thế tất không thể từ chối được e không khỏi sẽ sinh chuyện. Tộ nhờ Thự tổng đốc Nghệ An là Tôn Thất Triệt mật bẩm xin đi sứ sang Pháp và qua các nước Áo, Phổ, Nga v.v... quan sát tình hình và đến các Viện Công Hầu, Viện Thứ Dân thương thuyết các lẽ. Vua truyền: “Phái đi như thế nào cho chu đáo phúc tâu đầy đủ chớ để mất thời cơ”. Cơ Mật Viện và Thương Bạc phúc tâu nói rằng việc nước việc quân là quan trọng, cần phải thương nghị chu đáo và bí mật. Nay vội giao phó cho y sang các nước phương Tây thám sát, lỡ có điều gì chưa được chu đáo, sợ sẽ xảy ra những điều đáng ngại khác. Rồi Tổng đốc Bình Định Thân Văn Tiếp, Tổng đốc Thuận Hóa Nguyễn Uy, Tổng đốc Nghệ An Hoàng Kế Viêm đều dâng mật phiến đưa nhiều ý kiến dị đồng, rồi việc ấy bị bỏ qua.

Tháng giêng năm thứ 24, Nghệ An cấp ngựa trạm sức Tộ về Kinh đô sai dẫn học sinh đi Pháp. Tộ đến Kinh đô bị bệnh xin về tĩnh dưỡng. Tháng 3 Tộ lại mật trần một bản. Vua phê: “Luận thuyết có nhiều chỗ có thể áp dụng được nhưng cũng có nhiều chỗ khả nghi”. Tháng 5, Tộ lại điều trần. Vua phê: “Tộ sợ Triều đình không dùng nên đưa ra nhiều phương sách khác”. Ngày sau Tộ lại mật bẩm lên Hộ đốc An Tĩnh trong đó sửa đổi các khoản, viết rất nhiều trang giấy. Vua phê: “Tộ cũng là người tự phụ đáo để, thay đổi phương pháp mà làm ắt cũng lần lượt làm được. Giữ các phương pháp ấy lại cũng đủ để sửa trị công việc, cần gì phải quấy động làm gì. Khâm thử”.

Tháng 11 năm ấy Trường Tộ mất, hưởng dương 43 tuổi, khi chết thổ ra một cục máu lớn. Con là Nguyễn Trường Cửu, cháu là Nguyễn Trường Văn, Nguyễn Trường Võ đều thông minh dĩnh ngộ, thông hiểu tiếng Latinh, tiếng Anh và nhiều tiếng các nước, trong đó sở trường nhất là chữ Hán và tiếng Pháp.

Tộ từ thuở bé đã thận trọng việc giao du, tuyệt đường tài sắc, không cần ai biết mình. Khi lớn chu du ra nước ngoài, khảo cứu các môn cách trí, Tộ lưu tâm nhất về sự thế tung hoành phân hợp trên thế giới, thường ngày kết nạp các chính khách Âu Mỹ mưu tính để dùng cho nước mình. Tộ thường dâng sớ tự tiến cử, nói rõ sức có thể chỉ huy muôn binh. Tộ sở trường làm thơ. Như bài gởi Phan Thanh Giản có câu (dịch nghĩa như sau):

Thứ cá chậu ở Quảng Yên nào có sống được bao lâu. (Câu này ám chỉ sự kiện năm Tự Đức thứ 14, Tộ nói với Phan Thanh Giản về đảng giặc ở Quảng Yên).

Lừa kêu ở Gia Định thế đã cùng rồi (Câu này ám chỉ vụ Trương Định ).

Tộ còn có bài thơ như sau (dịch nghĩa):

Đi dệt mướn ở thôn Tây không phải vì nghèo,
Vì muốn nhận thấy rõ cái cơ yếu bí quyết của nhà người.
Để sau này xóm Đông nếu muốn học hỏi nghề dệt lụa cho vua
Thì sẽ đem hết đường kim mũi chỉ tỏ bày rạch ròi tử tế.


Lại có bài thơ rằng: (dịch nghĩa)

Mặt trời tuy ngự trên cao cũng có chỗ không chiếu soi tới.
Tấm lòng hoa quỳ bao giờ cũng thầm hướng về mặt trời.


Người bạn là tri phủ họ Phan đã từng có ý khuyên làm nội ứng, Tộ lấy câu sau đây trả lời: “Tôi không chịu làm việc dễ mà chịu làm việc khó”. Tộ đọc thư của Lý Lăng trả lời Tô Vũ đã từng sởn tóc nhỏ lệ cho rằng chỉ một lần sa chân lỡ bước mà nuốt hận ngàn đời. “Kẻ sĩ kỳ tài mà không gặp thời, mãi mãi thân danh đều bại liệt, luống ôm cái khí uất ức lâm ly chôn vùi nơi cát vàng cỏ úa mà thôi”. Đó chính là lời của Tộ trong bản điều trần ngày 20 tháng 3 năm Tự Đức thứ 16. Tất cả các bản điều trần đều mong Dực Tôn Anh hoàng đế áp dụng, Tộ cũng chưa cho là không gặp. Chỉ vì thời đã khác, thế đã trái, lòng người nhiều nghi kỵ không làm sao thực hành những điều sở học được, tiếc thay.

Nay mỏ than Quảng Yên, Thiết Cảng Bùi Ngõa (Nghệ An) (Thiết Cảng đã lâu năm chưa đào được, nhiều lần nhờ chỉ vẽ điều khiển, Tổng đốc Hoàng Tá Viêm tự tay viết thư mời Tộ đến xem xét. Tộ nói: Khoảng giữa Thiên Uy và Tây Yên dưới có nhiều đá bàn lớn đến vài chục thước, phải tránh quanh đi. Nhân đó cải tiêu phóng lại không đầy tháng đã xong), nhà thờ xã Đoài (Nghệ An) (làm theo quy chế Tây Âu sau 18 tháng hoàn thành), Ni cô viện Sài Gòn (Kỹ sư dự trù ba mươi vạn đồng, Tộ đốc công chỉ tốn mười vạn làm xong, tục gọi nhà trắng), nền cột cờ thành Gia Định (Soái Pháp ở Gia Định khi kiến trúc thành này mời Tộ vẽ bản đồ, làm xong, nguyên soái muốn thu dụng, Tộ từ chối. Khi Tộ ở Sài Gòn té lầu bị tật ở chân) đều là di tích của Tộ còn để lại.

Tháng 2 năm Khải Định thứ 9, vua chuẩn y lời xin của trú sứ Nghệ An lấy tên Nguyễn Trường Tộ đặt tên trường học ở đó. Tháng 8 năm thứ 10 lại chuẩn đặc cách truy tặng Tộ là Hàn lâm viện Trực học sĩ để bày tỏ cái ý trọng hậu ghi nhớ chí khí của người vậy.
____________________________________
1. Bản Hán văn: Hv 189/4 tờ 98-104.
    Chỉ là bản sao chép lại, bản chính không biết ở đâu, không ghi tác giả. Chương Thâu và Đặng Huy Vận (sđd trang 239) nói là của Đinh Văn Chấp.
    Đinh Văn Chấp người xã Kim Khê, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Sinh năm Quý Tỵ (1893). đậu cử nhân khoa Nhâm Tý (1912).
    Tác giả đã chủ yếu dựa vào Lê Thước, nhưng có sử dụng nhiều tài liệu khác như bài Trần tình và các bài tấu của triều thần (Phụ lục IV, V, VI...) Tác giả đã bổ túc vào tiểu sử Nguyễn Trường Tộ nhiều chi tiết, nhờ quen biết ở địa phương cũng như nhờ các tài liệu được nêu trên.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2011, 08:25:24 pm

PHỤ LỤC IV

Những bài tấu, tờ trình năm 1866


IV. 1. TẤU CỦA TRẦN TIỄN THÀNH1

(Ngày 12 tháng 2 năm Tự Đức 19, tức 28-3-1866)

Thần Trần Tiễn Thành tâu:

Gần đây thần vâng mệnh hỏi Nguyễn Trường Tộ các khoản trong tờ bẩm của y. Nhân đó thần thử hỏi những điều ấy y nghe thấy được, hay do ước đoán.

Theo y nói, hiện nay ở Gia Định có linh mục Du Cơ Đăng rất được tướng Pháp quan Pháp tin trọng, thường đem việc nọ việc kia thảo luận với linh mục này, linh mục này lại rất yêu mến y, do đó y nghe được đại khái các sự việc. Lại nữa y vốn không làm việc cho Pháp, mà tướng Pháp quan Pháp cũng xem y là người của nước ta, biết ít nhiều sự lý, nên có lúc cùng y trò chuyện. Y thấy người Pháp lập tâm kiên nhẫn mưu tính sâu xa. Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên là ba tỉnh có nguồn lợi về đất đai dồi dào họ thường ham thích và cố tâm chiếm đoạt. Như họ đã từng bí mật dò hỏi, muốn tung tiền bạc ra mua chuộc những tên xã tổng trong ba tỉnh, khoảng hơn một ngàn người, khiến bọn này lập tờ xin thuận theo Pháp. Để khỏi trở ngại, mỗi tờ bọn này đều ký tên và lăn dấu tay. Đó là cái kế để tóm lấy ba tỉnh này. Biết có làm được chăng? Người Pháp lại thường bảo rằng việc ta hòa với họ chẳng qua là giả dối, như có thể thấy đại khái việc làm lén lút của Thiên Hộ Dương và các khoản giặc cướp đều do Triều đình xúi giục. Mỗi mỗi y đều đem lý lẽ biện chiết với người Pháp.

Lại nữa Nguyễn Trường Tộ trước đây đã vâng mệnh đến dinh của thần để theo phái bộ, việc này đã báo cáo đầy đủ cho thần Nguyễn Chính biết. Chỉ vì thuyền này đã có người thông ngôn quen biết của thần Lê Đình Đức tên là A Hòe rồi, (Châu phê: Là ai? Có thực không?), tên này cũng có thể thông dịch được, cho nên thần Nguyễn Chính không đòi y đến. Thần và thần Phạm Phú Thứ chuyển sức Nguyễn Trường Tộ hãy trở về nhà trọ chờ quyết định. Nay vâng phê chuẩn: “Tên Tộ không cần đến. Các lẽ. Khâm thử”. Còn tên này trước có xin theo tên Hòa trở về Bình Chính, vậy xin cho hắn đi trước. Kính xin tâu luôn. Còn các tờ bẩm của tên này sẽ xin đệ trình sau. (Châu phê: Hãy duyệt xét các khoản, nếu rõ ràng không có gì nghi vấn mới có thể toan tính được. Các khoản này khanh có thể giải quyết được khỏi để lộ ra ngoài càng tốt. Bằng không, thì gọi thần Phạm Phú Thứ, cùng nhau thảo luận mới thành được!).

Thần Trần Tiễn Thành phụng thảo.



IV. 2. TẤU CỦA TRẦN TIỄN THÀNH2.

(Ngày 27 tháng 3 năm Tự Đức 19, tức 11-5-1866)

Trần Tiễn Thành tâu:

Nay vâng châu phê trong đó có một khoản “Trần Tiễn Thành không sai bảo được chúng, đó là tội to. Sự việc đã xảy ra như thế đâu phải đổ lỗi cho chúng được? Biết đâu là thấy không có gì đáng ngại nên để cho chúng đi? Khâm thử”.

Thần đọc xong khôn xiết run sợ toát mồ hôi. Vả tên Hậu gặp thần một lần tại cửa Thuận An, một lần tại sứ quán Đông Gia, mỗi lần chỉ vài ba khắc mà thôi. Theo thần quan sát thì tên này bên trong có chỗ cậy thế, bên ngoài có vẻ oán hận, nên thần cũng không dám đem nhân tình ra nói với hắn. Mà tên Tộ cũng nhiều lần dặn chớ để lộ cho tên Hậu biết những điều bàn bạc. Vì thế thần không gần gũi hắn. Từ khi hắn ở Quảng Bình đến nay đã ba năm cũng không có đồ đệ của hắn đi lại nói gì. Gần đây tên Hòa đến Kinh, nhân có tàu (London) Long Đông mới sai đồ đệ của y tên Hoằng làm thông ngôn. Thần và Thần Phạm Phú Thứ cũng lưu họ ở lại. Đến ngày 20 tháng trước tên Hòa phải về Quảng Bình. Thần đã cặn kẽ bảo hãy ở lại chờ giải quyết việc chiếc thuyền xong rồi đi cũng không muộn. Đến sáng ngày 28 thần cho gọi tên thông ngôn Hoằng đến, mới biết tên Hòa, tên Tộ và tên Hoằng đã đi từ hôm 25 rồi. Chiều ngày ấy thấy đồ đệ của tên Hòa là Lưu đến nơi tên Hòa gởi lời nói rằng ở lâu tốn kém. Mới đây tên Hậu có sai người ra gọi về nên không dám ở lâu, sai y đến báo cho biết. Hơn nữa thần cùng tên Hậu vốn không thân nhau. Đi Nghệ An lần này, có lẽ vì hắn ở Quảng Bình lâu đã ba bốn năm khiến trong lòng bứt rứt, nay vin vào Hòa ước quyết ý đi đến đó giảng đạo, hoặc cũng có lẽ vì sĩ phu Nghệ An đốt nhà thờ, đánh đập giáo dân, tình thế cấp bách phải mạo hiểm mà đi, không thể biết được. Trước đây thần Phan Thanh Giản lúc ra đi nói với thần rằng: Tướng Pháp hỏi về việc đi giảng đạo của tên Hậu, không biết lấy gì mà trả lời, ý muốn thần đem sự việc ấy tâu lên. Thần Phạm Phú Thứ, thần Nguyễn Văn Tường, thần Trần Thiện Chính cùng nhau bàn tính việc này đã lâu ngày, sợ hắn mượn cớ lôi thôi nên thường bảo thần hãy tâu xin cho hắn đi, thần đều không dám. Lại nữa theo luật của đạo giáo ấy, các linh mục chỉ theo mệnh lệnh của giám mục, không dám sai trái. Nhiều lần tên Hòa đến Kinh, thường đem chuyện không được đi giảng đạo ra nói. Thần đã an ủi rằng hãy ẩn nhẫn chờ xử trí xong rồi sẽ tiếp tục đi giảng đạo mới tiện. Nay chiếu theo tờ trình thì ngày 15 tên Hòa có đến chỗ tên Hậu, ngày 16 tên Hậu liền ra đi. Như thế là tên Hậu cố ý đi Nghệ An, tên Hòa không thể nào dám ngăn cản. Huống chi trước đây tên Hòa tưởng lầm rằng có thể giúp cho y được, tựa hồ y có vẻ tin như vậy. Đến sau nhiều lần đi giảng đạo không được thì lại nghi cho thần gây trở ngại. Gần đây thần có hỏi việc gì thì y cũng chỉ nói qua loa cho xong chuyện. Như thế làm sao tên Hậu lại được thư trả lời của thần? Lâu nay những giấy tờ lời lẽ giao thiệp nào có liên quan đến bọn họ, thần rất lấy làm lo lắng, mỗi mỗi đều trình lên, không dám giấu diếm chút nào. Nay việc tên Hậu đi Nghệ An, thực tình thần không biết, đâu dám thả lỏng cho hắn đi. Chỉ vì thần ngu muội nông cạn, không nghĩ tính trước được công việc, để tâu xin ngăn chặn hắn lại. Xin cam chịu tội. Vậy dám mạo muội phúc trình đầy đủ. Ngửa mong soi xét.

(Châu phê: Trẫm khoan nhân nhưng vì luật pháp không thể khoan nhân. Lời người ta nói, còn có thể bàn luận, cũng không phải sợ).

(Châu phê:

Trong tất cả những người được trẫm cất nhắc không theo thứ tự, chỉ có mày và Đoàn Thọ là hơn ai hết. Mày lại được ưu tiên nhất, bởi vì dùng được ghi chép được, nên mới ban cho danh vọng và quyền hành trọng yếu, mong cho mày gặp Trương Thái Bảo vậy. Tâm tính Trương Thái Bảo như thế nào chắc mày đã biết rõ. Tuy tài không bằng nhưng lòng dạ thuần hậu, nhờ đó bảo toàn được thủy chung. Nay mong mày bắt chước tâm tính nó mà gia công học tập, phát triển tài năng, để người trước không có độc quyền cái hay cái tốt. Miệt mài chăm chú đến thế thì lo gì mà không đủ? Những cái nhỏ nhặt tầm thường để cho người ta lấy hoặc cho người ta mà không ngăn cấm, đó cũng là tội lỗi không tha thứ được. Nói chi đến tất cả những việc thương liêm hại nghĩa, dối lòng lừa trí, dù cho không ai hay biết cũng không được làm. Không được làm là để giúp cho mày trở nên bề tôi lương thiện, còn trẫm thì không mất cái tiếng biết người, dùng kẻ hiền. Ngõ hầu cả hai đều được trọn vẹn. Phải luôn luôn ghi nhớ rằng: Quan càng cao tâm địa càng thấp hèn đó!)
________________________________________
1. Bản Hán Văn Hv 189/4 tờ 42-43.
2. Bản Hán Văn Hv 189/4 tờ 43-45.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2011, 08:27:33 pm

IV. 3. TẤU CỦA TRẦN TIỄN THÀNH1

(Ngày 19 tháng 4 năm Tự Đức 19, tức 1-6-1866)

Trần Tiễn Thành tâu:

Mới đây thần có nhận được ba bức thư của Nguyễn Trường Tộ gởi cho thần, do từ Quảng Bình Nghệ An phát giao, cùng với một quyển Hàng hải kim châm của dân đạo đệ nạp. Sau khi tiếp nhận, thần vô cùng lo sợ. Nghĩ vì thần bẩm chất ngu muội hẹp hòi, không có kiến thức sâu xa, mới gây nên chuyện tình đời nghi kỵ. Vậy thì những nghi kỵ chê bai xảy ra đều do ở chỗ ngu muội hẹp hòi của thần mà gây nên cả. Gần đây hằng đêm thần nuốt lệ thương thân, ăn năn không kịp. Lúc ấy chúng đến Kinh, thần thấy cái thế không cự tuyệt được nên cũng nói một đôi lời để an lòng chúng, không ngờ lại có thư từ. Thần chỉ biết cúi đầu xin tội, vội dám mạo muội tâu trình kính mong soi xét.

Về sách Hàng hải kim châm có nên giao cho Bộ Lễ sức cục in sách lĩnh in ra mười quyển để đủ cấp phát, còn nguyên bản chờ in xong sẽ trả lại hay không? Kính xin tâu luôn, chờ chỉ vâng làm.

Thần Trần Tiễn Thành phụng thảo.

(Châu phê: In ngay hai quyển bằng giấy kỳ lân hoặc giấy tinh bạch dâng lên xem. Còn giấy thị hoặc giấy mệnh thì in mười quyển đủ cấp pháp. Làm xong gấp gửi trả nguyên bản).

(Châu phê: Đọc tờ trần tình thật không thể hiểu được, không biết ý gì mà lủng củng như vậy. Hay là bảo trẫm chưa hết sức tin dùng? Thế là tình cảm trên dưới chưa thỏa mãn, làm sao cáng đáng được công việc? Đó là do tư tâm của mày suy đoán, không yêu vua yêu nước nên mới nhạt nhẽo như thế. Không thế thì xưa nay đã ủy thác cho mày như thế nào? Và mày ủy thác bọn chúng ra làm sao, mà nay lại có những lời lẽ như vậy? Hèn chi bấy lâu nay mày chẳng xong được một việc gì cả, khiến trẫm sớm chiều trông ngóng bồn chồn không yên mà không hiểu vì lý do gì. Hơn nữa mày đã được ơn vua ưu đãi nồng hậu đến thế mà chưa chịu nghĩ báo đền, huống hồ những kẻ xa lạ thì còn sai bảo gì được? Than ôi việc nước ta biết cùng ai mưu tính mà cùng chia sẻ nỗi gian truân này ư? Trường Tộ việc gì cũng đã nghi ngờ Triều đình, mày lại còn theo mà tạo nghi ngờ nữa, thì mọi việc mỗi ngày một hỏng không trông mong gì thành công được. Vả lại việc làm của mày xưa nay trẫm đã rõ hết rồi. Lại ngày thường trong Triều đình trẫm đã hỏi rõ, bảo rõ, mọi người đều biết sự ủy thác tin dùng của trẫm đối với mày là công bằng chí thiết, không một mảy may thiếu sót. Mày cũng đã thấy rành rành ra đó là chưa có một việc gì thành công cả. Nay muốn nửa chừng bỏ dở hòng trút cho ai? Trẫm sợ rồi đây mày không khỏi phụ ơn, cũng không tránh khỏi điều chê trách. Thế thì những hạng như mày đều vô ích. Nay phải rửa sạch hiềm nghi quyết lòng lo báo, làm sao cho nước nhà được tôn, rợ Tây phải phục. Đó là mày báo đáp ơn dày nuôi dạy của tổ khảo ta chứ không phải chỉ rửa nhục cho một mình ta mà thôi. Sự tình lý thế chắc chắn còn dây dưa chưa dứt, không phải nói đi nói lại làm gì. Nếu xét thấy dùng bọn này rốt cục vẫn vô ích thì cứ chiếu sự thật mà trách phạt, rồi tìm kế sách hay khác mưu tính tự cường, không thể dung dưỡng được nữa. Nếu còn bê trễ không thành việc ắt cứ pháp giáng truất, chớ để trẫm phải nhắc lại. Nếu không thì phải dâng nhiều lên xem để cùng lo liệu, bình tâm xử sự, mở lòng thành, bày lẽ công, ta với mọi người không xa cách nhau thì ai dám chống báng, việc gì chẳng thành. Nay hãy đệ nạp các bản, trong đó các khoản nên chăng như thế nào, khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại, nhất nhất phải nói rõ (phải phúc trình riêng cho biết có bao nhiêu văn bản, xét kiểm sơ qua các khoản để tiện xem). Lại phải tiến trình các bản chưa đóng hãy đóng chung lại kẻo mất. Còn như các tờ trần tình của lương và giáo xem xong so với tờ tâu của Nghệ An thấy hai bên bên nào cũng có lý lẽ riêng, trẫm thực chưa biết thật giả như thế nào. Nhưng những việc nhỏ nhặt cũng không để ý hết được. Mới làm tờ tâu lần đầu nên lời lẽ không rõ ràng đấy thôi, sau nhiều lần chúng sẽ ổn, không nên phiền nhiễu lắm).
___________________________________
1. Bản Hán Văn Hv 189/4 tờ 47-49.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2011, 08:29:25 pm

IV. 4. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN1

(Ngày 30 tháng 4 năm Tự Đức 19, tức ngày 12 tháng 6 năm 1866).

Bày tôi ở Cơ Mật Viện tâu:

Bầy tôi vâng mệnh (Châu phê: Như vậy là không được rõ ràng ai bảo rằng không được? Hà tất phải sợ tránh không đi?... ) giao các bản thư từ của Nguyễn Trường Tộ cho thần Trần Tiễn Thành hỏi tiến trình (Châu phê: Không thể hiểu làm sao cả, nay miễn... xin thêm làm sao chuẩn cho... đều không nên chuyển...) Vâng phê chỉ bày các lẽ, bầy tôi kính tuân hội đồng xét duyệt xong trình tiến, chờ vâng thi hành.

Một khoản nói từ tháng 10 năm ngoái, việc lãnh sự Y Pha Nho, y nói rằng Triều đình không chịu cho họ đặt lãnh sự tại Đà Nẵng, lại chỉ phúc thư cho tướng Pháp. Việc ấy rõ ràng là không theo hòa ước, không để ý đến thể diện nước bạn. Hiện y đã phúc thư cho viên Tổng đốc Lữ Tống biết. Chẳng bao lâu có tin lại nói rằng: Viên ấy rất tức tối muốn đem binh thuyền đến đánh ta. Người Pháp nghe tin này rất mừng cứ ngồi yên mà đợi cái thế “ngư ông đắc lợi”. Nhưng rồi Tổng đốc Lữ Tống cũng nguôi giận mà thương nghị, họ nghĩ rằng nước họ mới vừa có chuyện (tại nước Chi Lê ở Tây Châu), nếu binh thuyền đến mà nước Nam không nghe, ắt phải động chạm gươm súng. Hơn nữa lại có người Pháp ngồi đó xem thành bại, biết đâu họ lại chẳng dùng kế Khổng Minh đánh úp lấy Nam quận. Vả đây là việc quan trọng to lớn, ắt phải được Triều đình họ thuận cho mới dám. Việc này chắc chắn đúng như vậy không còn nghi ngờ gì cả, không biết Triều đình liệu trước thế nào để người Pháp khỏi vui mừng. Các lẽ...

Đã vâng được châu phê: Nghĩ xem sao? Khâm thử. Bầy tôi vâng mệnh xét rằng năm Tự Đức thứ 16 (Trong điều ước có nói đến việc lập lãnh sự không? Nếu không thì bác đi. Chờ khi nào có buôn bán nhiều mới được) nước Y Pha Nho từng cùng với nước Pháp gởi sứ bộ và một bản dự thảo định đến bàn bạc với nước ta về việc buôn bán. Sau đó Hà Ba Lý đến bàn việc buôn bán không xong, lúc ấy nước Y Pha Nho không cùng đến. Việc đã bỏ qua. Nay chính lãnh sự Y Pha Nho hiện trú tại Gia Định là Phê Đê Cô Ta Kê gửi thư xin đặt phó lãnh sự tại Đà Nẵng, qua trung gian do tướng Pháp chuyển đệ. Cho nên vâng mệnh chấp lý, trả lời cho tướng Pháp là đúng rồi. Chỉ có điều là việc thiên hạ tuy có lý cũng phải có thế mới được. Ngạn ngữ có câu: Thế yếu thì lý cũng khó mạnh. Đó cũng là một lẽ. Xét trong hòa ước có nói rằng: “Những dân buôn của hai nước Pháp và Y Pha Nho đến buôn bán làm ăn ở ba cửa khẩu Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên đều được yên ổn tùy tiện”. Nếu họ có đến ba cảng khẩu này, xin chiếu điều ước cho họ tùy tiện lập phố buôn bán. Tưởng hòa ước cũng đã định như thế rồi, chỉ tại thế ta khó cự tuyệt mà thôi. Khoản này xin tùy cơ ứng phó. Còn như lời tên Tộ chưa biết có đúng hay không. Duy cửa Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam thường có tàu bè ngoại quốc đến đậu, tưởng nên đặt ở đó một viên Tuần phủ hay Tổng đốc có tài thao lược (Nên theo cách lập viên Tuần phủ Nam Nghĩa trước đây nhưng lập Bố Chính, Lê Đình Đức hình như có khả năng làm được, hay Nguyễn Uy có được không?), trao cho quyền lớn để tiện giải quyết thỏa đáng khi có việc. Lại xin mật thư cho thần Kinh lược sứ Phan Thanh Giản biết nếu có lãnh sự Y Pha Nho trú tại Gia Định thì nên lui tới đem thư trả lời cho tướng Pháp trước đây nói lại cho rõ ràng, xem tình ý họ thế nào để tiện lo trước cách đối phó.

Một khoản xin lập Lãnh sự Gia Định. Kính vâng châu phê: “Ta lập Lãnh sự ở họ là tiện, thì việc họ lập lãnh sự ở nước ta khó ngăn được. Khâm thử”. Bầy tôi trộm nghĩ rằng người Pháp ở buôn bán tại nước nào đều có lập lãnh sự cả. Đó là thông lệ của phương Tây. Nếu ta lập lãnh sự ở Gia Định trước thì dù cho người tầm thường cũng đều nghi rằng ta mượn đó để âm thầm liên kết lòng dân, mà sau này khi người Pháp thi hành hòa ước đến ở nước ta buôn bán cũng sẽ xin lập lãnh sự, sĩ phu không khỏi mượn cớ đó để nói, thật là bất tiện. Duy Gia Định hiện nay người Pháp cho nhóm họp các nước ở buôn bán, mà từ Kinh đến ba tỉnh Long Giang các quan viên qua lại đều phải do đường này. Gặp khi có quan viên ở Kinh đến Gia Định công cán, hoặc sai người đến học tập đều không có chỗ trú ngụ, cho nên cũng cần phải tính trước có một chỗ. Xét rằng việc này nên do Cơ Mật Viện tư cho thần Kinh lược sứ Phan Thanh Giản để đem đầu đuôi sự tình trình bày với tướng Pháp xin cho lập một cửa hàng ở Chợ Lội, Bến Thành tại Sài Gòn, nhưng người quản lý điều hành cửa hàng này sẽ do tỉnh Vĩnh Long cắt cử phái đến. Hàng năm sản vật của các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và Bình Thuận và các hàng hóa của thuyền nhà nước ở Kinh chở đến đều chứa vào cửa hàng này để tiện mà cùng nhau buôn bán, cùng đều có lợi. Nếu người Pháp thấy lợi hứa cho thì không những được thông tình ý, được thông các hàng hóa ứ đọng, những người sai phái có chỗ cư trú, dò biết được tình hình người Pháp, tình hình dân ta, tưởng cũng không phải vô ích. Còn như việc nên dùng người có đạo làm thông ngôn và nên lập cửa hàng, phái người điều hành, cho đến các chi tiết về buôn bán và chờ cho Pháp và ta hai bên quen thuộc nhau, nên cử người từ Kinh vào ở chung như thế nào v.v... xin chờ tướng Pháp trả lời ra sao, sẽ xin tùy nghi xét biện.

Một khoản xin gởi gấp công văn đi các tỉnh, hễ có đất hoang hai bên bờ các cảng khẩu sâu rộng, đều phải đo đạc lại hết, phân biệt giới hạn, sai những người có danh vọng trong dân xã lập văn khế viết lại niên hiệu, ghi chú rõ là đất tư, đề phòng khi người Pháp đến xin ở buôn bán, thì trừ phần chịu thuế buôn bán ra, họ phải mua giá cao, ta có thể được lợi lớn. Các lẽ.

Bầy tôi thiết nghĩ rằng với tâm mưu lợi của người Pháp, thế tất rồi họ cũng đến. Những điều trình bày của Nguyễn Trường Tộ tưởng cũng thi hành được không ngại gì. Nay xin tùy tình thế, kinh lý trước các nơi như: Cửa bể Đà Nẵng ở Quảng Nam, bãi biển và vùng núi Trà Sơn, cửa Ba Lạt ở Nam Định, các cửa khẩu thuộc huyện Nghiêu Phong tỉnh Quảng Yên. Nhưng phải do Cơ Mật Viện mật tư cho Bố, Án Quảng Nam là Lê Hữu Tá, Lê Điều, Lãnh đốc Nam Định Đào Trí, Quân thứ Hải An thần Nguyễn Tri Phương, Tuần phủ Quảng Yên thần Lê Hữu Thường, phải thân hành quan sát các cửa bể thuộc hạt của mình, xem nơi nào có thể lập phố buôn được, dùng lời lẽ khéo léo chuyển sức các dân xã sở tại, hoặc xã khác, hoặc xã kế cận, chia nhau làm đơn trưng khẩn, ra sức khai thác dần dần, giúp cho họ đều có phần, để nối đời thừa hưởng và chịu nộp thuế. Cuối đơn, nên viết lùi lại mười năm, để làm mất tăm tích. Quan các tỉnh ấy phải làm hết sức cẩn mật, khiến dân trong hạt chỉ nghe mà làm theo, chứ không biết y gì cả, như vậy mới là khéo léo.

Một khoản nói về ngọn núi cao ở sông Linh, tục gọi là xứ Tróc, quan sát kỹ mạch đất thì thấy có tầng lớp, sắt đá khá đen, tưởng chừng dưới ấy chắc có mỏ than. Lại nghe người ta đồn rằng, tại huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, nơi giáp ranh với Thanh Hóa, có hai quả núi có than đá, mà dân trong làng còn giấu chưa nói ra. Các lẽ…

Bầy tôi thiết nghĩ rằng than đá dầu mỏ là những thứ ta rất cần. Trước đây bọn thần đã từng đem phương pháp khai thác ra hỏi bọn Nguyễn Trường Tộ, xem có được trong sách Pháp, hoặc nghe người Pháp nói, chứ không phải phương pháp quen thuộc, mà người Pháp từng thân hành khai thác để so sánh. Bọn Nguyễn Trường Tộ đã có nói, vậy xin hãy áp dụng, để nghiệm xem sự thực như thế nào. Bọn thần đã cùng các thần ở Bộ Công làm tờ tâu riêng. Còn những nơi mà tên Tộ nói là có mỏ than, xin để bọn thần nói cùng phái viên Nguyễn Văn Long được biết.

Thần Trần Tiễn Thành
Thần Phạm Phú Thứ
phụng thảo.

___________________________________
1. Bản Hán Văn Hv 189/4 tờ 49-54.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2011, 08:31:09 pm

IV. 5. TẤU CỦA TRẦN TIỄN THÀNH VÀ PHẠM PHÚ THỨ1

(Ngày 17 tháng 5 năm Tự Đức 19, tức 29-6-1866)

Thần Trần Tiễn Thành,

Thần Phạm Phú Thứ tâu:

Mới đây vâng phê bảo: Nhân thông hiếu với Anh để mở nguồn lợi và trả lời các giáo sĩ của họ để lấy lòng v.v... Khâm thử!

Bầy tôi vâng mệnh xét tình hình, trộm nghĩ rằng người Anh và người Pháp thế lực cân nhau, kết thân nhau chặt chẽ, chưa dễ khiến họ tạm thời chia rẽ được. Nếu chỉ thông hiếu với Anh thì thế đáng ngại mà sinh hiềm khích. Lâu nay người Pháp sở dĩ đề phòng ta chỉ vì việc ấy mà thôi. Trước đây bọn thần đã có tâu xin rằng, nếu muốn thông hiếu với Anh, thì phải thông hiếu với Pháp trước, qua lại nhiều lần, tình ý hợp nhau, sau mới biết rõ tình hình, hoặc đợi có cơ hội đã. Nay Bônan ở cảng buôn của Anh, được Anh dùng. Người Pháp từng nghi ta nhận những điều khoản yêu cầu của Anh, cho là hòa kết với người Anh. Như lời tên Trường thuật lại lời nói của vị tướng ấy thì biết. Lần này Bônan sai tên Kê Sinh đến có điều thỉnh cầu, mượn hắn để mở nguồn lợi. Nếu có ích thì cũng nên. Chỉ có điều chưa hiểu rõ lai lịch tính tình của hắn thì rất khó dùng: Đó là chưa nói ngày sau hắn muốn điều gì sợ ta khó đáp ứng, ta thì không nghĩ đề phòng trường hợp vì lợi mà thay lòng đổi dạ, rợ ngoài được cơ hội dòm ngó, sĩ phu phiền trách nhiều lời lại sinh lòng nghi kỵ, rồi tướng Pháp thấy ta có chỗ nghi kỵ nhau, mượn đó để tranh lợi, thật là đáng ngại. Hiện nay tự mình phàm việc gì cũng đều mới lần đầu tiên. Việc khai thác than đá đã ủy thác cho bọn Nguyễn Trường Tộ. Cái nghề khai thác than, đúc kim loại, gần đây lại có Tạ Quan Lan tự xin giúp việc. Tính tình thị hiếu của bọn chúng cũng dễ sai khiến. Xin hãy cho chúng làm thử, hậu đãi phủ dụ chúng để xem kết quả. Hoặc nhân vì chúng có thể dùng được, mà có thể rút tỉa những hiểu biết của chúng, ta rõ lai lịch chúng, chúng không nghi ngờ ta, sự việc mới thành được, thế là được cả đôi bên. Còn như Nguyễn Trường Tộ bảo thầy y là Ngô Gia Hậu muốn giúp các khoản, thì lâu nay giáo sĩ ấy vốn có lòng muốn giúp, chỉ vì sự xử trí chưa được ổn thỏa. Hiện nay sự tình rắc rối, ta mới nghĩ cách khuất phục hắn thì hắn lòng nào lại giúp ta. Cho dẫu có thư từ qua lại, thì cũng chỉ là lời nói suông, khó khiến hắn hài lòng. Không vui lòng mà mong sẵn sàng giúp, tình lý ấy xét thật khó thành. Trước đây Bộ Lễ có tư ủy cho giáo đồ của hắn là bọn Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Hoằng theo phái viên cùng đi, xin hãy cho làm thử mấy khoản trên. Chờ công việc xong xuôi, rồi có nên nhờ chúng mướn những người Pháp rành nghề đến giúp như thế nào, sẽ xin tư hỏi phúc tâu sau. Tưởng làm như thế mới khéo léo. Bọn thần có thiển nghĩ như vậy, kính phúc tâu đầy đủ, chờ chỉ.

Thần Trần Tiễn Thành
Thần Phạm Phú Thứ
phụng thảo.


Châu phê:

Đã như thế thì cũng nên trả lời sơ lược như thế nào để giao hảo kết tâm. Nếu bảo được, trình bày rõ ràng, rất mừng. Nhân đó hỏi: Nếu ta sẽ dùng thì người thừa hành và trù biện thứ tự như thế nào? Hãy xét kỹ mới dám tâu lên. Nên thì học, đến dạy. Nhưng sợ có điều nghi ngờ thì đã nói thường để tâm vào thứ tự mà làm cẩn thận, để xứng đáng với sự ủy thác, làm sao cho thế nước mạnh, gốc nước vững, ngõ hầu vui lòng trẫm.
___________________________________
1. Bản Hán Văn Hv 189/4 tờ 55-57.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Ba, 2011, 09:00:28 pm

PHỤ LỤC V

Tấu của Cơ mật viện năm 18671


(Ngày 11 tháng 4 năm Tự Đức 20, tức 14 tháng 5-1867)

Cơ Mật Viện Thương Bạc thần tâu:

Nay bọn thần đem tiến trình bản mật tư của tỉnh thần Quảng Nam Lê Hữu Tá và phái viên Trần Nhượng. Vâng phê thị, bọn thần tuân phụng xét duyệt điều ra lai lịch Di Minh.

Ngày 19 tháng 9 năm ngoái Nguyễn Trường Tộ đã có mật thư xin cho Di Minh lên Kinh mật bẩm tình hình Tây dương mà họp trình ký của bọn phái viên Nguyễn Tăng Doãn tháng đó cũng có nói rằng Di Minh có ý tình nguyện giúp đỡ v.v...

Nhưng y là người bị Tây soái nghi ngờ, nếu dùng y thì cũng phải có lời lẽ minh bạch. Kế đó ngày 19 tháng 11 (25/12/1866) Thương Bạc đã vâng làm chiếu hộ cho bọn họ đều có nói rõ rằng nếu Di Minh lên Kinh mà không có người giới thiệu thì tình ý khó thông vậy nên đợi sau sẽ tính. Thượng tuần tháng 12, một hai ngày trước khi lên thuyền bọn Ngô Gia Hậu đã tiếp được chiếu hội này rồi. Nay xét ra Nguyễn Trường Tộ giao cho Di Minh bản sao bẩm văn trong đó nói tưởng rằng ngày 15 tháng 11 (21/12/1866) bọn họ gần ngày đi Tây nên mới biên gởi, thế mà sau đó tiếp được chiếu hội lại không nói cho y biết, thật không hiểu vì sao. Nay theo Trần Nhượng nói thì Nguyễn Trường Tộ (tức tên thầy Lân) có viết hai phong thư, một tư về Bộ hiện nay không thấy đâu. Đối với khoản này vì trước sau tiếp nhận so le nên quên không dặn dò chu đáo, bọn thần xin cam chịu tội. Vả Di Minh trước đây theo phái viên nói thì y giữ chức quan thứ ba của Tam tòa mà theo Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Tăng Doãn trong tờ bẩm trước thì nói hoặc là xuất thân vũ biền hoặc nói là lính mãn hạn, hành tích vốn bị Tây soái nghi ngờ. Phong cương lãnh thổ là việc trọng đại, hai nước đã hòa hiếu thì việc gì cũng phải rõ ràng sau mới khỏi gặp rắc rối. Nay theo những điều y nói thì tuy tục lệ xứ y chẳng cấm đoán họ đến, dân họ cũng chẳng ưa thích đến ở buôn bán. Vậy mà nước họ đến chiếm cứ thế là không phải bản ý của dân họ. Nhân đó mà y có ý muốn giúp ta mưu đồ công việc, tưởng cũng là có cơ hội để làm. Tuy nhiên việc ra làm không khỏi có phần may rủi tưởng cũng khó thành. Huống chi tháng trước đã gửi thư Tây soái nói rằng giữ vững hòa ước cũ và sẽ xin chuộc lại ba tỉnh. Tây soái hiện có vẻ bằng lòng chưa thấy nói gì, mà phái viên đi Tây chuyến này cũng là để thăm dò ý hướng người Pháp đối với sáu tỉnh Nam kỳ ra sao để tùy cơ thong thả sắp đặt công việc sau này. Nay vội vã đưa Di Minh đến kinh, chưa nói đến chuyện thuyết của y có được thi hành hay chưa, một lọt tin ra ngoài cũng đủ làm trở ngại công việc hiện tại; làm Tây soái nghi kỵ thật là không tiện. Nhưng nếu y đã không từ khổ nhục mà đến thì sau này cũng có thể có cơ hội dùng được, cũng nên khéo phủ dụ để dùng sau này.

Nay xin giao cho Lê Hữu Tá và Trần Nhượng đến nói với y rằng: Những điều người nói hôm trước bản chức chúng tôi đã bẩm trình đầy đủ lên Thương Bạc đại thần để thẩm chiếu. Nay tiếp đại thần sức nói rằng Di Minh xưa nay vốn đã cho thấy một tấm thân tâm hậu tình; bản quốc tự nhường ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa cho Pháp cư trú ít năm, từ đó sĩ dân sẽ ôm lòng nhớ đất cũ luôn nghĩ rằng Triều đình sẽ tìm cách thu hồi, các nước phương Tây cũng biết rõ. Nhưng hai nước đã hòa hiếu với nhau thì việc gì cũng phải rõ ràng minh bạch mới khỏi có chuyện nói đi nói lại về sau. Gần đây chính ta cũng muốn sai sứ sang thăm viếng vấn an, nhân đó mà nói chuyện xin chuộc lại, ngặt vì không có người cáng đáng công việc nên cứ trì hoãn mãi. Nay gặp Di Minh chính là người làm được việc này lại có thư đáng tin cậy. Sau này nếu có đi Tây chắc sẽ giúp ích được thêm một phần. Tháng trước Tây soái có gửi thư hỏi về chuyện ba tỉnh, bản đại thần đã đáp là xin tình nguyện chuộc lại. Hiện soái ấy chưa cho biết ý kiến thế nào, mà hai sứ và thầy Lân là những người quen biết cũ của Di Minh, hiện nay đang ở Tây và còn đang đợi hồi âm chưa biết tin tức thế nào. Nếu nay cứ theo lý nói suông sợ ngày sau sự việc khác đi thì sẽ thất sách. Khoản gặp mặt thương thuyết lần này chưa biết ra sao tốt hơn nên chờ đợi một tý. Lại nữa gần đây đối với một chuyện mộ nghĩa, tất cả những ai qua lại Tây soái đều nghi cho bản đại thần. Nay Di Minh âm thầm đến mặc dầu đối với luật pháp Tây không ngại gì cả, nhưng một khi lên Kinh tin tức khó giữ kín, Tây soái không khỏi đem cái ý nghi ngờ sự qua lại giữa Tây Nam ngày trước nghi cho Di Minh, sợ cái lòng tốt mà Di Minh muốn đem thực thi lại vì thế mà bị trở ngại. Như năm trước chuyện Hà Ba Lý phụng sứ làm việc công, vậy mà soái ấy còn có thể dựng lời ly gián quấy rối sự thành công. Cơ mà không kín thì hại thành, xin hãy suy nghĩ kỹ. Vả lại như Di Minh đã từng nói: không còn lâu nữa đâu, khoảng tháng 4 tháng 5 năm nay hai sứ và thầy Lân sẽ về. Vậy nay tưởng Di Minh hãy nên tạm về Định Tường nghỉ ngơi một lúc đợi các phái viên đi Tây về, nếu có cơ hội như thế nào và Di Minh thấy nên trở lại giúp đỡ, lúc bấy giờ lấy cớ để tìm thợ, soái ấy dầu có nghi cũng chẳng nói vào đâu được, mà phái viên đi Tây về sự tình rõ ràng khúc chiết, nên thỏa liệu như thế nào sẽ thương lượng cùng Di Minh, tùy tình thế mà đầu cơ thì mới được việc. Việc này bản đại thần đôi ba lần suy nghĩ đã kỹ mong Di Minh tin cho. Như thế thì một là để giúp cho công việc của bản quốc và hai là chắc chắn Di Minh được thành danh, khiến việc làm có hiệu nghiệm không đến nỗi để lo về sau. Bản đại thần quả quyết không có lòng nghi ngờ mà làm cản trở gì cả, mong thẩm xét cho. Nay có một vài vật mọn gồm có hai mươi lượng bạch kim và gà vịt đường gạo các thứ thực dụng (Những món trên đều do tỉnh sắm) giao cho quan tỉnh phái người đặc tặng mong Di Minh thu nhận v.v... Đại khái những ý như vậy liệu từ từ giải thích khiến hắn không mất lòng hoan hỷ trong lòng lãnh về để dùng về sau, tưởng có thể dứt bặt tiếng tăm mà cũng không đến nỗi để mất người.

Còn những khoản bắt giặc phỉ, thần binh bộ sẽ phụng cứu phúc tâu sau. Bọn thần có những suy nghĩ thô thiển như vậy kính phúc hầu chỉ.

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Vũ Trọng Bình, thần Trần Tiễn Thành, thần Phan Huy Vịnh, thần Phạm Phú Thứ phụng thảo duyệt.
__________________________________
1. Bản Hán văn: Châu bản Triều Tự Dực, quyển 164 tờ 13a-18b. Kho lưu trữ 2.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 10:53:08 pm

PHỤ LỤC VI

Những tờ tấu, tờ trình năm 1868


VI. 1. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN1

(Ngày 11 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 4-3-1868).

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Đoàn Thọ, thần Vũ Trọng Bình, thần Trần Tiễn Thành, thần Nguyễn Văn Phong, thần Phan Huy Vịnh, thần Phạm Phú Thứ tâu:

(Châu phê: Nay lại cấp trước cho năm mươi quan để chi dụng).

Ngày 8 tháng này, Bộ Lễ có dâng một tờ trình tấu, về việc bọn Ngô Gia Hậu, thừa phái sang Pháp đã về đến Gia Định, lại có mang tên Ca Xanh theo về. Kính vâng châu phê: Các đại thần hãy hỏi xem nó làm được việc gì để tiện xét, và thù lao như thế nào. Khâm thử! Bọn thần đã thương lượng giao trách nhiệm cho hai viên Lang trung, thuộc Bộ Lại và Bộ Lễ, đến sứ quán hiện trú, an ủi hỏi han trước. Bọn chúng đều vui mừng cảm tạ. Sự việc đã phúc tâu xong. Còn việc có mang theo về ba vị linh mục giáo sĩ, có biết nghề nghiệp gì không, thì Nguyễn Trường Tộ xin hẹn cho ba ngày, sẽ kê khai trình bày đầy đủ. Về tên Ca Xanh, thì nói biết làm cơ khí kỹ nghệ, xin chờ xem sự thực, nên dùng nên thưởng như thế nào, xin cho xét xong sẽ phúc tâu luôn.

Còn về khoản phân hạng cấp thù lao, bọn thần vâng lệnh phân biệt xét định các hạng phẩm vật số lượng, liệt kê rõ ràng, rồi sai biện lý Chu Đình Kế, sang truyền báo trước cho bọn giám mục Ngô Gia Hậu biết. Đại ý nói lần này vâng phái công du trở về, lại vượt trùng dương mang theo về ba vị linh mục giáo sĩ rất là khó nhọc. Kính vâng hoàng đế rất khen thưởng, đặc cách chuẩn cho Bộ Lễ soạn các vật hạng, ban cấp để an ủi. Vậy kính tâu lên, cùng với nguyên tờ phiếu liệt kê các hạng cấp thưởng, chờ chỉ tuân hành.

Kê khai:

* Xin xét cấp cho Ngô Gia Hậu các vật hạng như sau:

Một tấm “Ngũ phúc kim tiền”, nặng 5 đồng cân (có tua).

Mười tấm “Ngân tiền” (Hạng Song Long: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Triệu dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, Tam thọ mỗi thứ một tấm), cộng lại nặng ba lượng, năm đồng cân, năm phân.

Một cuộn tố đoạn bằng năm loại tơ màu đen để may áo dài chật tay (Có một đoạn lụa bóng màu lục để lót trong).

Một xấp huyền lương sa “Bửu lam nam hoa”.

Một xấp sa có vân “Nam tố tuyết bạch”.

Một xấp lụa “Tuyết bạch”.


* Xin xét cấp cho Nguyễn Trường Tộ các vật hạng như sau:

Một tấm “Tứ mỹ kim tiền”, nặng bốn đồng cân (có tua).

Năm tấm “Ngân tiền” (Hạng Sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, hạng Tam thọ mỗi thứ một tấm), cộng lại nặng một lượng năm đồng cân năm phân.

Một cuộn tơ lông màu lam để may áo dài chật tay (Có một đoạn lụa màu xanh để lót trong).

Một xấp lương sa “Bửu lam nam tố”

Một xấp trừu “Tuyết bạch nam hoa”.

Một xấp lụa “Tuyết bạch”.


* Xin xét cấp cho ba tên: Đạo trường tên Điều, đạo đồ tên Hoằng và tên Vị như sau:

“Nhị thắng kim tiền”, mỗi tên một tấm, mỗi tấm nặng hai đồng cân (có tua).

“Ngân tiền” mỗi tên một tấm (hạng Sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm, hạng Ngũ phúc, hạng Tam thọ mỗi thứ một tấm) mỗi phần cộng lại nặng một lượng ba đồng cân năm phân.

“Nam tố lương sa” màu đen, mỗi tên một xấp.

Tơ lông màu lam (Châu phê: Hoặc màu đen huyền cũng được) mỗi tên một đoạn (thành một cái áo chật, có một đoạn lụa xanh lót trong).

Lụa “Bạch tuyết” mỗi tên một xấp.

Một xấp vải tây dày mịn “Bạch tuyết” hạng nhì (chia làm ba mỗi tên một đoạn).


* Xin xét cấp cho ba tên linh mục giáo sĩ:

“Tam thọ kim tiền” mỗi tên một tấm (Châu phê: Cấp cho tên Ca Xanh ba tấm ngân tiền này. Châu phê: Cấp cho ba người ngân tiền hạng Sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm) mỗi tấm nặng ba đồng cân (có tua).


* Xin xét cấp cho bọn tùy tùng Ngô Gia Hậu bốn tên, mỗi tên một tấm “Long văn ngân tiền” hạng nhỏ (mỗi tấm nặng ba đồng cân).

__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 57-59.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 10:54:36 pm

VI. 2. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN1

(Ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 9-3-1868)

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Vũ Trọng Bình, thần Nguyễn Văn Phong, thần Phan Huy Vịnh, thần Phạm Phú Thứ, thần Trần Tiễn Thành tâu:

Hôm qua có viên ty thuộc của Bộ Lễ ở sứ quán đệ nạp một bức thư của Nguyễn Trường Tộ gởi bẩm bầy tôi trong sáu Bộ. Kính xin mở thư tiến trình. Xin xét cho thần Nguyễn Văn Phong đến dinh Bộ Lễ, đòi tên này đến, hỏi những điều y muốn nói, ghi chép rõ ràng rồi phúc tâu. Vậy xin tâu trình chờ chỉ.



VI. 3. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN2

(Ngày 21 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 13-3-1868)

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Đoàn Thọ, thần Vũ Trọng Bình, thần Nguyễn Văn Phong, thần Phan Huy Vịnh, thần Phạm Phú Thứ, thần Trần Tiễn Thành tâu:

Lần này Nguyễn Trường Tộ trình bày các khoản, đã vâng xét các khoản được châu phê chỉ bày các lẽ. Khâm thử! Vâng mệnh hỏi rõ từng điều khoản của tên này và bầy tôi đã chép lại rõ ràng tiến trình. Lại vâng châu phê: Các khanh hãy xét kỹ xem sao, nên hỏi cặn kẽ và trù liệu, không để mất cơ hội. Khâm thử!

Thần Vũ Trọng Bình và thần Nguyễn Văn Phong đã hỏi lại tên này kỹ lưỡng. Theo y nói thì y có biết qua hiện tình giữa Pháp và ta. Thiết nghĩ hiện nay việc đi Pháp, tưởng nên làm như thế may ra có ít nhiều lợi ích. Còn nói việc ấy có thành hay không, thật không dám chắc v.v... Bọn thần cùng bàn với nhau thiết nghĩ rằng sự thế hiện nay giữa ta và Pháp, chưa thể nào dứt bỏ việc hòa hiếu một cách vội vàng được. Thế của ta lại còn yếu nên họ hay đòi hỏi chuyện này chuyện khác. Cho nên phải giao thiệp rộng để tìm sự trợ giúp đó là thế đương nhiên vậy. Những điều y nói quả thật đã khám phá ra được sự tình. Nhưng y vốn không phải người của ta, bấy lâu nay y với ta tình ý chưa tin nhau, nếu thi hành vội sợ chưa tiện. Nay đợi khi nào phụng sứ cùng phái viên đến cảng hãy bảo bọn sứ phái này đến nơi bí mật tìm đường lối, như tình thế có thể đầu cơ thì mưu tính từ từ đừng để lộ tiếng tăm ra ngoài mà hỏng việc. Vả lại nước ta và nước Pháp hai bên qua lại thăm hỏi nhau đã lâu, giữ tình giữ lễ đúng đắn mà viên tướng này thì có quyền chuyên chế lại ở gần ta, lòng dạ tham lam không thể đem nghĩa lý thuyết phục hắn được. Nếu lời lẽ  có chỗ sơ hở thì hắn lại được dịp mượn cớ gây hấn. Về văn thư qua lại thì không khiêu khích hắn cũng không theo ý hắn, công việc gì cũng phải mềm dẻo thẳng thắn sao cho được ổn thỏa khiến hắn không bắt bẻ vào đâu được, tiện cho ta từ từ mưu đồ tự trị, tưởng cũng đã đắc sách. Vậy dám kính tâu đầy đủ chờ chỉ.

Châu phê: Hai bản này có những chỗ xóa, có thể lấy ra được không? Sao không nói rõ lại nói phớt qua, theo đâu mà thực hành?



*

VI. 4. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN3

(Ngày 23 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 16-3-1868)

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Đoàn Thọ, thần Vũ Trọng Bình, thần Nguyễn Văn Phong, thần Phan Huy Vịnh, thần Phạm Phú Thứ, thần Trần Tiễn Thành tâu:

Hôm trước bọn thần vâng đem hai bản nguyên bẩm của Nguyễn Trường Tộ trình lên. Kính vâng châu phê: Hai bản này có những chỗ xóa, có thể lấy ra được không? Sao không nói rõ lại nói phớt qua, theo đâu mà thực hành. Khâm thử. Thần Vũ Trọng Bình đã vâng mệnh đem những chỗ xóa xét từng khoản mà chất vấn. Nay tên này đã tuân phụng làm một bản phúc bẩm, đã sức viết lại tử tế trình lên. (Châu phê: Nói cũng hợp lý, nên làm tốt).

Nhưng xét sự lý trong tờ bẩm đều liên hệ về những việc phải làm cho thích hợp khi sứ bộ đến Gia Định và Kinh đô nước Pháp. Xin cho viện của thần mật chép lại chuyển cho các viên của sứ bộ mật xem để tùy cơ liệu làm. Dám xin phúc tâu, chờ chỉ.
__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 60.
2. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 60-61.
3. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 62.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 10:56:03 pm

*

VI 5. TẤU CỦA BỘ LỄ1

(Ngày 22 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 15-3-1868)

Bộ Lễ tâu:

Hôm qua căn cứ tờ bẩm ba trang của Nguyễn Trường Tộ thì một nói về việc phái người sang thành Ba Lê học tập, hai nói về những việc cần phải làm khi đi Pháp. Bộ đã cho chép lại rõ ràng, tử tế trình lên, xin giao cho các đại thần duyệt xét rồi phúc tâu đầy đủ, chờ chỉ tuân làm.

Châu phê: Từ nay về sau các tờ bẩm đều do đại thần thu nhận, đem nguyên bản giao cho viện chuyên trách, không được chia giao nhiều người, không mật.


*

VI. 6. TẤU CỦA BỘ LỄ2

(Ngày 23 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 16-3-1868)

Bộ Lễ tâu:

Ngày 12 tháng này có tiếp được một tờ bẩm của Nguyễn Trường Tộ nói bọn y đi Pháp về lần này các phí khoản ăn uống, chuyên chở xe thuyền đều do chính giám mục và nước Pháp chi cấp và bọn y tự liệu, không có sổ sách, không dám kê khai. Xin thôi. Ngày 19 có tờ bẩm của Ngô Gia Hậu nói chi phí khứ hồi đi Pháp của y do y tự đài thọ, xin miễn kê khai v.v... Các khoản này xin giao các đại thần xét duyệt rõ ràng phúc tâu đầy đủ.

Châu phê: Đều phải xét hết, không thể làm ngơ được.

Lại Ngô Gia Hậu có kê biên các vật hạng mua về, nay đem nạp vào đâu? Nguyễn Trường Tộ nói có chọn mua các lớp đất quặng và các thứ kim loại các loại ngọc quý các màu v.v... Vả bọn chúng đi Pháp phải mua những sách gì, những vật hạng gì, bao nhiêu, đã có tờ bẩm đầy đủ tại Cơ Mật Viện. Khoản này xin để cho viện này cứu xét. Vậy đem các tờ bẩm, biên bản của chúng, sai chép lại rõ ràng rồi trình lên luôn. Còn nguyên bản xin để viện này thu trữ. Vậy dám tâu lên chờ chỉ.

Châu phê: Các vật hạng hiện nay đã mang về đều nạp ở Bộ Lễ. Viện của Bộ kiểm tra kỹ, giao qua thị vệ dâng lên xem, giao ra cho viện duyệt, hãy xét giao cho nha hào giữ cho ổn. Sau này còn tiếp tục đệ nạp nữa cũng làm như vậy, không phải chỉ bấy nhiêu. Còn những tên do tên ấy mang về, nay nên làm công việc gì, trả tiền công như thế nào, sao không hỏi rõ để tiện công việc làm và họ có thể ở lâu được. Trong số đó nghe có một tên đã bị đuổi về nay sao lại trở qua để làm gì?
__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 62.
2. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 63.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 10:57:14 pm

*

VI. 7. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN1

(Ngày 26 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 14-3-1868)

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Đoàn Thọ, thần Vũ Trọng Bình, thần Nguyễn Văn Phong, thần Phan Huy Vịnh, thần Phạm Phú Thứ, thần Trần Tiễn Thành tâu:

Ngày 11 tháng này bọn thần đã dâng phiến xét cấp thưởng công lao cho bọn Ngô Gia Hậu. Lại trình bày về việc có mang theo về ba vị linh mục giáo sĩ có biết nghề chuyên môn thì Nguyễn Trường Tộ xin hẹn ba ngày sẽ trình đầy đủ, việc tên Ca Xanh xin chế tạo cơ khí kỹ nghệ, xin chờ xét thật nên dùng nên thưởng ngoài ra xin phúc tâu luôn khoản các linh mục giáo sĩ vừa mới mang về. Kính vâng châu phê: “Xét luôn. Khâm thử!”. Nay căn cứ Ngô Gia Hậu biên khai về khoản Thiên văn, Địa lý thì hiện đã mua được các sách và địa cầu đem về. Còn những khí cụ về Hóa học chưa đến. Y đã tự xuất tiền riêng ra mua hết hai ngàn quan để dùng vào việc dạy Hóa học lúc mới bắt đầu. Nếu dùng rộng rãi hơn phải mua khá nhiều dụng cụ nữa mới được. Về trí học cần học gấp ngành Điện tín. Về Cơ xảo chỉ cần những loại cơ khí tầm thường cũng có thể thiết trí được. Giáo sĩ tên Lý thông thạo về Hóa học, Địa lý, còn Y khoa thì chưa ứng dụng được mấy. Về các khoản khác nếu quả quyết muốn thực hiện thì nên mở trường học. Tùy theo sự tiến bộ của học sinh triển khai dần ra mà dạy. Nếu kết quả tốt thì mướn thêm người giỏi tay nghề dạy thực tập thay mới có hiệu dụng lớn. Còn như đặt điều kiện về thời gian phải hoàn thành trách nhiệm thì y không dám nhận v.v...

Tờ bẩm của Nguyễn Trường Tộ nói về nguồn lợi, có ba đường lối như sau: Một là xin đình chỉ kỳ hạn bán đồ vật, còn hai khoản về việc hai bên hợp tác làm việc và việc thuê mướn nhân công thì nên thương lượng mà tiến hành; hai là xin phân biệt các loại đất quặng, sang Pháp lựa mua dụng cụ và thuê thợ để sử dụng được rộng rãi; ba là việc trường học và nơi cư trú cho giáo sư xin tạm dùng sứ quán làm trường học v.v... Bọn thần phụng chiếu các khoản kê biên của Ngô Gia Hậu và Nguyễn Trường Tộ thấy liên hệ đến việc có thể xem thiên văn, hoặc có thể dò tìm nguồn lợi dưới đất hoặc có giúp vào việc sử dụng các khí cụ, đều không phải là không có lợi ích. Chỉ có điều học theo phương pháp ấy tất phải nhiều năm tháng, phải lựa chọn sinh viên thầy thợ, phải có lính tráng canh gác, lại phải đặt chuyên viên chuyên trách công việc mới có thể đạt được kết quả. Nhu phí tưởng không phải là ít. Còn như Ngô Gia Hậu bẩm nói các thứ khí cụ trị giá khoảng một vạn quan hoặc có thứ do y xuất tiền riêng ra mua hoặc có thứ do Triều đình Pháp tặng để dạy học. Nếu không dạy học, y cũng không dùng những thứ này làm gì. Nay có nên chiếu thu lấy hay trả lại. Kính xin tâu luôn chờ chỉ.

Còn việc tên Ca Xanh biết làm cơ khí, kính vâng giao Bộ Công xét kỹ. Thần Nguyễn Chính và thần Nguyễn Hữu Lập đã đến sứ quán xét hỏi trước. Cứ theo một tờ khai do y biên ra, mang về giao thông ngôn Huyên phiên dịch lại thì y biết về máy nổ, biết nấu sắt, nấu đồng, biết luyện thép làm lưỡi cưa để cưa cây xẻ ván. Nếu có các đồ nghề này, lại được những người đến học hiệp tâm hiệp ý, thì trong ba năm dạy được năm mươi người biết nghề máy, mỗi năm đóng được một chiếc thuyền máy cỡ nhỏ. Y còn làm được khá nhiều máy móc, như để lấy nước cứu hạn, sửa chữa máy thuyền. Những thứ máy móc nói chung, sẽ do y và những người học tập cùng làm, nhưng phải do y chỉ bảo sai khiến, phải cho y có quyền, có kỷ luật nghiêm, mới được. Nếu dùng y, y sẽ làm tờ giao kèo, rồi về Pháp lại để mua dụng cụ đồ nghề. Lại theo tờ biên kê tiếp theo, thì phải mua đao búa luyện thép và các thứ trục máy giá năm vạn quan, mua máy cưa một vạn quan, mua máy nhỏ để trau luyện các khí cụ sắt thép hai vạn năm ngàn quan, mua các thứ khí cụ khác để thợ thầy dùng bảy ngàn quan, mua các mẫu sắt, đồng, thép, một vạn năm ngàn quan, tiền thuê chở từ Đại Pháp đến Đà Nẵng một vạn hai ngàn quan. Tổng cộng mười một vạn chín ngàn quan. Lại theo tên Ca Xanh nói miệng rằng, nếu dùng hắn, xin trả công mỗi tháng ba trăm hai mươi đồng v.v...

Bọn thần trộm nghĩ, công phu kỹ nghệ của người Tây dương đều rắc rối khó khăn, nay cứ theo y, tiền mua sắm khí cụ và chuyên chở đến mười một vạn chín ngàn quan. Lại nói miệng rằng xin trả tiền công mỗi tháng 320 đồng (tính ra tiền là một ngàn bảy trăm sáu chục quan), đòi giá quá tham không thể tin dùng được. Huống nữa y lại phải về nước trước, mua sắm các thứ cần kíp, như thế chưa biết ngày nào trở qua. Nếu nay vội bảo y làm tờ giao kèo dạy tập kỹ nghệ, thì chi phí trả công quá nhiều, và sau này sẽ còn yêu sách đòi tăng tiền thuê, hoặc đòi hỏi chuyện này chuyện khác mãi. Vậy xin xét đình chỉ khoản mướn tên Ca Xanh dạy tập kỹ nghệ. Duy có điều, nay Ngô Gia Hậu đã mang về đây, thì cũng nên xét cấp đầy đủ cho Ngô Gia Hậu, để chi cho y các khoản ăn uống cần dùng. Ngày nào tên này trở về, xin cấp cho y ba tấm ngân tiền hạng Sứ dân và Phú Thọ (Đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm), một trăm quan tiền kẽm để làm tiền phí tổn, và an ủi nói rõ cho y biết. Còn y muốn chờ đáp hỏa thuyền hay xin đi theo thuyền buôn trở về Gia Định đều cho tùy tiện.

Vậy dám tâu lên, luôn thể tiến trình bốn bản biên khai của Ngô Gia Hậu, Nguyễn Trường Tộ, một tờ nguyên văn bằng chữ Tây của tên Ca Xanh biên, với một bản dịch của thông ngôn Huyên chờ chỉ tuân làm.

Lại trong tờ phiến của Bộ Lễ phụng châu phê một khoản: “Trong này có nghe một tên đã bị đuổi về nguyên quán, nay sao lại trở qua để làm gì? Khâm thử!” Vâng xét tên Ca Xanh (nguyên tên là Ca Sa Nhi) vốn được thuê làm thợ máy cho thuyền Thuận Tiệp đã hết hạn, trở về Gia Định. Lần này thần Trần Tiễn Thành nghe Ngô Gia Hậu nói rằng các linh mục giáo sĩ do y mang về chỉ biết chỉ vẽ phương pháp chế tạo mà thôi, còn công việc thực hiện chế tạo, thì tên Ca Xanh thông thạo hơn. Nay đã mang về đến nơi, nếu thuê mướn thì lưu lại xét, bằng không thì tên này tình nguyện trở về Gia Định, không có gì trở ngại. Xin kính tâu luôn.

Châu phê: Đã đem về há tổn phí vô ích. Như hắn đã khai tổn phí lớn, cũng chưa chắc. Có điều hắn thạo giỏi cơ khí, nên để hắn ở lại dạy tập các nghề cùng với các giáo sĩ. Trước hết cho làm các thứ dễ, xem kết quả ra sao, rồi sau đó mới bàn cho thích đáng, dạy tập nghề gì, chế tác thứ gì, tiền thuê bao nhiêu, mỗi người phải khai rõ để tiên liệu. Còn việc về Pháp mua nhiều khí vật quá tốn kém, chưa chắc. Hãy thong thả xem sao.

Hiện các công việc làm, cần dùng những khí cụ gì, tên ấy cũng phải theo đó mà chỉ vẽ, chế tác mà dùng mới được.
__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 64-68.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 10:59:18 pm

*

VI. 8. TỜ TRÌNH CỦA GIÁM MỤC GAUTHIER1

(Ngày 30 tháng 2 Tự Đức 21, tức 23-3-1868)

Giám Mục Ngô Gia Hậu nêu các lý do về việc mở trường, theo từng điều khoản kê khai như sau:

Một khoản về việc: Lấy sứ quán tạm làm trường học được chăng?

- Hai linh mục và giáo sĩ nghĩ rằng ở sứ quán không tiện vì nơi này thấp khí ẩm. Các đồ nhất là cơ khí mau hư hỏng, lại không có ai thông ngôn cho. Vậy xin ở trên Kim Long mới tiện các lẽ, như đã có trong tờ đính hậu2

Một khoản về việc: Ba người giáo sĩ ai dạy nghề gì?

- Linh mục Thông biết phép toán, bản đồ các nước thiên hạ, in bóng (quang học), điện khí, phân ngũ kim cho biết nó có thứ đất thứ đá ấy thì có những giống chi. Linh mục Đồng biết phép toán, thiên văn, đo độ số mặt trời mà họa đồ bản, đo thiên xích cho được đi biển, biết phép cầu cao cầu viễn, biết đo đất cho biết nơi nào cao nơi nào thấp, biết bản đồ các nước thiên hạ, biết dùng truyền tin thẳng3, biết làm thu lôi trụ4. Giáo sĩ thì không dạy học trò được vì nặng tai, song cũng giúp linh mục Thông mà phân các tính ngũ kim ngũ hành. Lại biết làm thuốc và xin Triều đình chỉ cho một nơi để lập một vườn, rồi đi các nơi kiếm có giống thảo mộc chi làm thuốc được thì đưa về trồng trong vườn ấy cho người ta biết mà dùng.

Một khoản về việc: Một tháng cấp phí mỗi người bao nhiêu?

- Các người ấy có ý giúp nhà nước mà thôi không có ý nào khác. Song xin nhà nước cấp cho vừa đủ thầy trò ăn mặc và tiêu dùng trong nhà. Vậy một tháng đầu hết thì xin mỗi người hai trăm quan, cho được sắm sửa các điều lệ tiêu dùng trong nhà. Còn sau thì xin mỗi tháng mỗi người một trăm quan để ăn mặc và thuê thày tớ. Nhà nước không phải cấp thêm chi nữa.

Một khoản về việc: Mỗi người dạy bao nhiêu học sinh?

- Khi học sinh đã hiểu biết ít nhiều thì cũng dạy được nhiều người một lần. Còn khi đầu thì khó dạy hơn, cho nên một thầy dạy mười người thì vừa.

Một khoản về việc: Học sinh phải lấy bao nhiêu tuổi?

- Học sinh muốn học tiếng Phú Lãng Sa thì phải chọn tự thập nhị chí nhị thập tuế5. Bằng học nghề khác thì tự nhị thập chí tam thập tuế6.

Một khoản về việc: Phí dụng của học sinh mỗi tháng tốn bao nhiêu?

- Việc ấy mặc lượng Triều đình. Song tôi nghĩ rằng nhà nước rộng cho người ta bao nhiêu thì người ta gắng ra sức học bấy nhiêu. Còn khi dạy về điện khí và phân ngũ kim thì tốn than củi lắm. Cho nên lúc ấy thầy dạy học sẽ xin dần dần.

Một khoản về việc: Dùng ai, bao nhiêu người để tiện thông ngôn?

- Khi lập trường học trên Kim Long thì ông Giám mục Bình sẽ cho một người là linh mục Thư thông ngôn cho. Còn danh Ca Xanh dù nhà nước có dùng nó cũng xin về Tây mà mua khí nghệ7 cho nhà nước, mà giá khí nghệ thì nhiều như tờ nó đã nói trước. Lại trong lúc nó về Tây mua đồ khí nghệ thì xin nhà nước phát cho mỗi tháng là nhất bách nguyên8 để mà chịu lộ phí tính từ khi nó ở Gia Định mà về Tây cho đến khi trở về đến Gia Định. Bao giờ về đến Gia Định mà ra Huế về sau thì mỗi tháng tam bách nguyên9. Lại xin đem qua thêm hai người nữa cho được giúp nó mà làm những điều đã nói trong tờ nó viết trước. Song hai người ấy thì mặc nó chịu, nhà nước không phải giúp chi hết. Nhà nước có ưng dùng nó thì xin giao cho xong. Bằng không dùng thì xin phát bằng cấp cho nó cho mau để nó tháp tùng hỏa thuyền mà về kẻo ở lại cũng vô ích. Ấy là lời nó xin.

Ngày nào tôi gần về Nghệ thì hai linh mục và giáo sĩ sẽ xin lên tạm trú trên Kim Long. Vì khi tôi đi rồi thì các người ấy ở lại để nhiều điều bất tiện.

Nay kính bẩm các đại nhân sáu Bộ xét.
__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 68-71.
2. Giám mục nói tiếng Việt và nguyên văn chép bằng chữ Nôm, do đó ở đây phiên đúng theo ngôn từ của Giám mục. Những đoạn sau cũng vậy.
3. Dây truyền tin.
4. Thu lôi trụ.
5. Từ 12 đến 20 tuổi.
6. Từ 20 đến 30 tuổi.
7. Dụng cụ; đồ nghề.
8. Một trăm đồng.
9. Ba trăm đồng.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 11:01:58 pm

*

VI. 9. TỜ TRÌNH CỦA GIÁM GAUTHIER VÀ SOHIER1

(Ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 23-3-1868)

Giám mục Bình, Giám mục Hậu kính bẩm xin xét. Nay cứ theo linh mục Đồng, linh mục Thông và các giáo sĩ nói về khoản mở trường học thì công việc rất bề bộn, máy móc rất nhiều, nếu không có nhà cao ráo rộng rãi không thể mở trường dạy học được. Thiết tưởng ở xã Vạn Xuân tiếp liền nhà chúng tôi về phía Đông Nam có một khoảng đất trống ước chừng hai mẫu sáng sủa khả quan, địa thế có thể mở trường được, xin xuất công quỹ cất một ngôi trường làm trường quốc học lâu dài. Các người ấy tình nguyện chỉ vẽ cách thức xây dựng y như trường học bên nước Pháp, mới có thể mở dạy được. Họ lại xin được ở tạm nơi nhà chúng tôi để tiện làm thử. Khỏi mất thì giờ v.v...

Chúng tôi thiết tưởng các người ấy xin như vậy cũng có lý, nếu được chấp thuận không những họ được toại nguyện, mà tôi qua lại phiên dịch cũng rất tiện lợi. Nhưng việc này quan hệ đến quốc thể. Vậy dám trình bày đầy đủ. Cúi mong các quan lớn Bộ Công soi xét tâu trình lên, may được phê chuẩn, muôn đội ơn. Nay kính bẩm.

Trên đây chúng tôi chép lại lời Giám mục Bình nói.

Đồng ký tên: Giám mục Bình
Giám mục Hậu.



*

VI. 10. TỜ TRÌNH CỦA GIÁM MỤC GAUTHIER2

(Không ngày tháng - Nhưng chắc cuối tháng 3-1868)

Giám mục Ngô Gia Hậu xin kê khai các thứ đã mua và giao nạp như sau:

(Châu phê: Còn thiếu, lấy bản nào kiểm?)

- Sách nói về quặng sắt (Châu phê: Cái này đã mua, nên dùng thì nhận) (trong có các phép phân biệt quặng tốt quặng xấu) và đúc luyện thành sắt (trong có hình vẽ) (trong có các khuôn, các đồ dùng máy móc để nấu sắt chảy đúc thành các hình dạng): năm quyển lớn giá bảy mươi lăm quan.

- Sách nói về các tầng địa chất: một bộ hai quyển (có hình vẽ) giá hai mươi quan.

- Thước tam giác: một cái giá bốn quan.

- Sách nói về mỏ than (có hình vẽ) và cách lấy các thứ kim loại cùng các ngọc báu đá quý (trong có phân biệt các phương pháp khai thác): một quyển lớn, giá ba mươi quan.

- Sách nói về bách nghệ cơ xảo (Do tập hợp tất cả những nghề cơ xảo) của các nước phương Tây hiện có (Trong đó có hơn 3.500 hình vẽ): hai quyển lớn, giá năm mươi hai quan.

- Sách nói về quặng đồng: một quyển, sách nói về nồi tinh luyện kim loại: một quyển, sách nói về quặng chì: một quyển, giá chín quan.

- Bản đồ địa lý, dịa chất (6 trang) (do tôi đã trích ra một trang xét các tầng viết ra bằng chữ Hán rõ ràng đóng vào quyển sách địa lý quyển đầu); bản vẽ các dụng cụ máy móc (20 trang), giá bốn mươi bảy quan.

- Hai bộ thủy thủ (Trong có chân có thước), giá năm mươi quan.

- Một bộ kỷ hạn nghi (dùng để lấy kinh độ vĩ độ và làm địa đồ), giá hai trăm sáu mươi lăm quan.

- Thức bì, một trang, giá một quan.

- Một thước tích phân bằng đồng, giá bốn quan.

- Sách Chính sự nước Pháp: Hai quyển, giá 7,02 quan.

- Sách Thiên văn: một quyển, giá 3,02 quan.

- Đồ đóng sách (còn thêm năm lần nữa), giá 16,04 quan.

- Thước đo nhiệt độ: bốn cái, giá 17,02 quan.

- Bàn xoay đinh ốc: Ba cái, giá 31 quan.

- Các bàn dập đinh ốc (có cái lớn cái nhỏ và đồ cưa sắt, giá ba trăm chín mươi bảy quan).

- Tự điển tiếng Pháp thứ lớn: hai quyển, giá mười lăm quan.

- Tự điển tiếng Pháp thứ nhỏ: hai quyển giá năm quan.

- Sách Văn phạm tiếng Pháp: mười chín quyển, giá mười tám quan.

- Sách học tiếng Pháp: sáu quyển giá mười một quan.

- Các mẫu đất đá nung thành gạch để làm lò nấu sắt: giá năm quan.

- Các lớp đất quặng và các thứ kim loại, ngọc thạch (mua về làm mẫu): giá một trăm quan.
__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 71-72.
2. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 72-79.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 11:03:12 pm

Nguyễn Trường Tộ lại mua thêm:

- Sách nói về các tầng địa chất: một bộ hai quyển, giá hai mươi quan.

- Sách Thiên văn: một quyển lớn (có nhiều hình vẽ), giá hai mươi hai quan.

- Sách nói về mỏ than và lấy kim loại cùng các thứ châu ngọc, ngọc thạch: một quyển lớn (Trong có phụ đính tám quyển, một bản đồ viết ra chữ Hán), giá ba mươi quan.

- Địa đồ tự vựng: một quyển, giá sáu quan.

(Tất cả các thứ trên đều đã mang về để tại sứ quán).

Tổng cộng: 1.266 quan

Còn các thứ đã mua xong, chưa kịp chở về, khi nào về đến sẽ xin bẩm nạp.

Các thứ ấy xin kê như sau:

- Bàn sắt có bánh xe: một bộ, giá một trăm bốn mươi quan.

- Điện khí thông tiêu: hai bàn, giá một trăm sáu mươi quan.

- Quang học tả chân: một bộ và các thứ bình đựng, giá bảy trăm hai mươi quan.

- Sách Trắc lượng: hai quyển, giá bốn quan.

- Sách Hàng hải: hai quyển, giá mười một quan.

- Sách điện khí thông tiêu: hai quyển, giá hai mươi quan.

Các thứ trên cộng lại là 1.055quan.

- Tiền thuê đóng thùng và chuyên chở bằng tàu lửa: bảy mươi tám quan.

Các khoản chi phí của hai phái viên lấy tiền nơi linh mục, kê như sau:

- Chuyến về, ba người ăn tại khách sạn Tu Long cộng chung là 473,518 quan (Mỗi người ở hai mươi ba ngày, thầy trò đều như nhau, nhờ người quen tìm khách sạn rẻ nhất).

- Tiền ăn ở tại nhà giảng đạo thành A Lịch Sơn nước Ai Cập một tháng bốn ngày, hai phái viên mỗi người 99,345 quan, tên Phú sáu mươi tám quan. Cộng ba người là 266,730 quan.

- Tiền ăn ở tại Viện Truyền Giáo thành Ba Lê Tư, mỗi người một trăm hai mươi lăm ngày. Phái viên mỗi người hết ba trăm bảy mươi lăm quan, tên Phú hai trăm năm mươi quan. Cộng chung ba người là một ngàn quan.

- Hai phái viên mượn tạm ở thành Ba Lê Tư một số tiền là 449,730 quan.

- Chuyến đi, ba người ăn ở tại khách sạn Tu Long, cộng chung là 19,20 (do nhờ người quen tìm ở khách sạn rẻ nhất).

- Khi đi, tại Tu Long thuê người khuân vác và đánh điện tín cho giám mục, ba người hết 14,10 quan.

- Tiền tàu lửa (hạng nhì) khứ hồi (từ Tu Long đi Ba Lê Tư, từ Ba Lê Tư về Tu Long) ba người hết 468,60 (còn các khoản tiền tàu lửa đi về ở nước Ai Cập, quan Pháp chưa tính).

- Chuyến về từ Tu Long đến Gia Định, tiền thuê bốc vác 99,230 quan (trong đó tiền bốc dỡ 17,230 quan, tiền khuân vác 12 quan). Còn các khoản đáp thuyền nhà nước đi về ăn uống, quan Pháp chưa tính.

Trên đây ba phái viên cộng chung hết 2.721,148. Lại thêm tiền đóng thùng tiền tàu lửa hết bảy mươi tám quan. Hai khoản cộng chung lại là 2.799,148 quan.

Tất cả các thứ đã mua về hiện để tại sứ quán, thưa phải nộp vào đâu xin chỉ rõ cho biết. Lại Nguyễn Trường Tộ bẩm rằng: “Các lớp đất quặng cùng các thứ kim loại ngọc quý, đó chính là do tự tay tôi chọn mua. Nếu như mua đủ các loại, mỗi loại một khối, số tiền sẽ lên đến một vạn quan, cho nên chỉ chọn mua ít thứ rất cần yếu mà thôi. Xem đó mới biết rằng trong đất đá có nhiều chất trông tựa hồ vàng bạc ngọc báu mà thực ra không phải. Nếu tìm được những đất đá có dạng khác lạ ở đâu mang lại so sánh tức phân biệt được thật giả. Số này nguyên mua được một trăm ba mươi lăm khối, trong đó tôi đã xét theo mỗi tầng lớp viết ra chữ Hán được năm mươi khối, số còn lại chưa có chữ Hán để viết. Tôi lại thân hành đến thành Kỳ Sơ Tô, nơi hầm khai quật mỏ than, nhặt được 20 khối đá, thuộc tầng trên của mỏ than; cũng xin phụ vào để làm mẫu. Kính bẩm nạp luôn”.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 11:04:37 pm

*

VI. 11. TỜ TRÌNH CỦA GIÁM MỤC GAUTHIER1

(Ngày 2 tháng 3 năm Tự Đức 21, tức 25-3-1868)

Giám mục Ngô Gia Hậu bẩm về việc xin đi theo thuyền nhà nước.

Bởi vì chuyến đi Pháp tôi có mang theo về hai linh mục và một giáo sĩ, trong đó, giáo sĩ này là người thông minh học rộng. Nhưng ông ta có bệnh cũ, trước nay ở phương Tây khí hậu lạnh lẽo chưa phát. Từ khi sang quý quốc, khí trời quá nóng, chứng bệnh phát dần, sợ lâu ngày lại sinh nhiều bất tiện. Ông ta xin tôi liệu biện làm sao giúp cho ông ta được trở về quê cũ là yên v.v...

Vậy khi nào sứ bộ lên đường, xin cho ông ta đi theo sứ thuyền hoặc đến Gia Định, hoặc đi Hương Cảng. Sau khi đến đó thì đã có đạo đồ Nguyễn Hoằng lo liệu cho ông ta về nước, không dám làm phiền Triều đình. Nay kính bẩm liệt vị đại nhân sáu Bộ soi xét.


*

VI. 12. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN2

(Ngày 20 tháng 3 năm Tự Đức 21, tức 12-4-1868)

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Vũ Trọng Bình, thần Phan Huy Vịnh, thần Trần Tiễn Thành tâu:

Nay cứ một tờ bẩm của Nguyễn Trường Tộ xin chép lại tiến trình.

Châu phê: Hãy giao cùng duyệt luôn.

Châu phê: Sứ ta đến đó? Cho dù tướng ấy muốn gây trở ngại cũng còn có nhiều người nước họ đem công lý ra chống lại. Hoặc cùng tướng cũ kết ân tình hay có thể tìm đường lối khác, không phải là không được, còn hơn ngồi nói suông.
__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 79-80.
2. Bán Hán văn Hv 189/4 tờ 80.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 11:06:25 pm
*

VI. 13. VIẾT THAY GIÁM MỤC GAUTHIER1

(Ngày 11 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 4-3-1868)

Giám mục Ngô Gia Hậu xin đem các khoản học tập kê ra sau này:

1. Thiên văn. Như sự vận hành của mặt trời mặt trăng, sự thuận nghịch của năm hành tinh, độ số giằng kéo của tinh vân, sự tính toán sai lệch của các hành tinh và thời tiết để làm lịch, tất cả những hiện tượng trên trời dưới đất, đã được học đều đem ra dạy. Trong đó có nhiều phương pháp mới, chép đủ cả trong sách, hiện đã mua về, khó lòng kể hết trong một lúc. Còn trong thiên văn, đã có trí học ở trong đó đợi đến khi giảng dạy, sẽ dần dần phân biệt sau.

2. Địa lý. Địa văn như bốn mùa, tám tiết, đêm, ngày, độ nóng lạnh, cho đến các hiện tượng khác như động đất. Trong đó có nhiều phương pháp, đủ cả trong các sách Tây đã mua về, bẩm nạp. Còn địa toán như mạch lạc sông núi và hình tích các địa tầng, có kim loại có ngọc và đá quý ra sao, các mỏ chìm nổi như thế nào cũng tạm phân biệt được, nhưng cần phải có nhiều công phu nghiên cứu mới được. Hiện đã có mua về đủ các sách để dạy (còn trong khoản thiên văn, địa lý, lại có một khoản toán học, cũng nên học tập trước).

Một khoản địa lý gọi là địa chính, trong đó có các phép đo đạc độ số để vẽ địa đồ trong nước, và còn dạy cho biết tất cả những núi, sông, hồ, bể, thành trì, thổ sản, thổ nghi, phong tục, chính sự hình thể lớn nhỏ mạnh yếu nhân dân, quan quân, những thứ có ở trên mặt đất của các nước trên địa cầu, cùng những phép hàng hải...

3. Hóa học. Trong có các phương pháp phân biệt các thứ vàng, bạc, đồng, thiếc, kẽm, sắt v.v... và các phép luyện kim để biết có lợi hay mất vốn. Ngoài ra còn nấu được các thứ thuốc để phân biệt các vật như nước tiêu cường, nước khoáng cường, các loại hỏa mai của phương Tây. Nhưng các đồ khí cụ hóa học hiện nay chưa về. Tôi đã bỏ tiền riêng ra mua sắm hơn hai ngàn quan để làm đồ dùng lúc đầu, khi dạy hóa học, và một trăm cân tiểu cường, cũng đều đã gởi đi, nhưng vì đường đi sóng gió núi bể xa xôi nên chưa về đến. Những món mua riêng đó là để cho giáo sư dùng chút đỉnh trong việc dạy mà thôi. Nếu muốn ứng dụng nhiều thì phải mua nhiều khí cụ mới được.

4. Trí học. Như phân biệt những khí loại, cần nhất là điện khí thông tiêu, cũng nên lấy khoản điện khí thông tiêu ra dạy học, còn nữa chưa cần lắm.

5. Cơ xảo. Đã có chữ nghĩa bản đồ đủ ở trong sách, chỉ chọn người biết rõ lý thuyết và công dụng, là có thể giảng dạy được những cơ khí hiện có. Trừ máy tàu thủy, không thể chỉnh lý được, còn các máy móc tầm thường khác có thể sắp xếp, như tháo từng bộ phận hoặc ghép tiếp vào được. Có một giáo sĩ tên là Lý (Nguyên người Y Pha Nho) giỏi về hóa học, cũng biết địa lý, đã từng học qua các môn nội, ngoại khoa về thuốc, nhưng chưa đem ra ứng dụng bao nhiêu. Lại như Ca Xanh, y có thể làm được máy tàu thủy đi đường sông, lại biết xây lò đúc sắt, có thể đúc thép gang. Có thể xây được lò lớn, chứa đựng hàng vạn cân quặng. Còn các máy móc khác nếu có bản vẽ và có người chỉ, y cũng làm được.

Các khoản trên đây, trừ Ca Xanh ra không kể, còn trong các môn giảng dạy như: thiên văn, địa văn hiện nay đã có sách, có dụng cụ rồi, bất kỳ lúc nào, cũng có thể bắt đầu dạy được. Các môn địa chính, địa toán cũng vậy. Nhưng môn địa toán cần phải dựa vào môn hóa học. Hiện nay các khí cụ dạy hóa học chưa về đến, chỉ có một ít do giáo sư mang về có thể làm được một vài thí nghiệm mà thôi.

Lần này tôi đã hết lòng liệu lý mọi việc, trông cho nước Nam có lợi mà ít tốn.

Nếu Triều đình quyết ý thực hiện, thì một mặt mở trường dạy học, một mặt xem học sinh tiến bộ như thế nào, mà mua thêm đồ dùng. Lúc đầu do nhỏ mà đến lớn, do nông mà vào sâu. Lúc đó quả có đắc lực thì lại thuê thêm những người giỏi, mở rộng việc dạy dỗ, như ở phương Tây, mới được công dụng lớn.

Còn như lần này, chỉ mới mở đầu khơi ngòi, cho người Nam tiêm nhiễm dần dần với phương Tây mà thôi. Nhưng cũng phải xem học sinh siêng nhác và tính tình ham thích như thế nào đã. Cho nên chúng tôi chưa dám quyết định thế nào. Ở phương Tây, một người học một nghề, học lâu mới thông thạo. Vả lại bên ấy đã thành nề nếp rồi, từ nhỏ mắt thấy tai nghe, gặp đâu cũng là học cho nên tự nhiên dễ tiếp thu, dễ học hơn người Nam nhiều.

Nay nếu Triều đình bắt buộc phải ấn định thời gian, thì tôi không dám phụng mệnh. Vả nước Tây đã có nhiều cách khuyến khích, mới khiến cho người ta phấn khởi học hành như lối khoa cử ở nước Nam vậy. Xin Triều đình nghĩ kỹ các duyên cớ, thế có thể làm được thì làm, mới ổn.

Nay kính bẩm
Nguyễn Trường Tộ ký

__________________________________
1. Bản Hán Văn Hv 189/3 tờ 13-15.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 11:09:52 pm

*

VI. 14. VIẾT THAY GIÁM MỤC GAUTHIER1.

(Ngày 12 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 5-3-1868)

Nay vâng Bộ đường đại nhân truyền bảo giám mục và chúng tôi đi về tổn phí bao nhiêu phải kê khai rõ ràng các khoản.

Tôi xin kê như sau này: Đi về lần này, tổn phí ăn uống của giám mục gấp đôi chúng tôi. Khoản tổn phí ăn uống của chúng tôi ở thành Á Lịch Sơn và ở thành Ba Lê cũng như tiền hỏa xa ở nước Pháp (trừ tiền hỏa xa ở Ai Cập đã có sứ quán Tây chi cấp), mỗi người chi phí cũng như các phái viên. Hai món tiền này, do Tổng Giám mục tự xuất tiền của giáo viện ra chi cấp. Còn Giám mục Hậu và chúng tôi đi thuyền quan và tiền hỏa xa ở nước Ai Cập đã có nước Tây chi cấp, chúng tôi không phải chịu gì hết. Còn như chúng tôi tiêu phí riêng như: áo quần, xe pháo, và quà bánh lặt vặt, đều do chúng tôi tự liệu, gặp đâu tiêu đấy, không có sổ sách gì. Vả lại trước đây chúng tôi đã được Triều đình cấp phát cho một số tiền túi để chi dụng, chúng tôi rất lấy làm xấu hổ và sợ hãi nhưng khó từ chối được, nếu nay lại cứ theo luật mà khai ra, thì ra điều nhỏ nhen quá, không đành lòng. Vì vậy không dám kê khai nữa, xin miễn cho điều đó.

Nay kính bẩm.


*

VI. 15. VIẾT THAY GIÁM MỤC GAUTHIER2.

(Ngày 12 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 5-3-1868)

Về khoản trường học này, nếu học sinh ăn ở chung với giáo sư luôn, thì khi có quên, hoặc không hiểu điều gì có thể hỏi ngay, rất có lợi như thế thì phải có nhà cư trú cho học sinh. Nếu cứ theo thời khắc biểu mà đi về, thì không cần phải có nhà.

Còn như giáo sư, thì phải có nhà lớn, như nhà sứ quán. Trong có nhiều phòng để trữ riêng các khí cụ. Cũng phải có một vài chỗ để dạy riêng, nhưng dạy chung cũng nhiều, vì có nhiều lý sự quán xuyến nhau. Nếu dạy riêng mỗi nghề một nơi, thì thiếu thông ngôn. Vì các nghề ấy, lý sự nhiều khi sâu kín, nếu thông ngôn không hiểu chữ, hiểu nghĩa, thì nói ra có khi sai một ly đi một dặm. Cho nên thông ngôn cũng phải hiểu biết như các giáo sư thì thông dịch mới không sai.

Vả lại thông ngôn cũng đã hiểu qua sự lý các nghề, mới có thể nhân cái này biết cái kia, mà lấy những sự vật trước mắt mình thí dụ giải thích, thay cho giáo sư một phần, thì học sinh mới thông suốt dễ dàng. Những hạng thông ngôn được như thế rất khó kiếm, cho nên dạy riêng rất khó, mà phải có một ngôi nhà lớn. Tuy cũng có khi dạy riêng, nhưng phải ở gần nhau, qua lại xem xét, mới được dễ dàng tiện lợi. Lại như khoản thông ngôn, hiện nay rất là cần gấp, ắt phải phái người hết sức học tập, để dùng vào các việc qua lại thương thuyết sau này. Nếu muốn học tiếng Y Pha Nho, cũng có giáo sĩ dạy cho. Về các khoản dạy học này, chúng tôi cũng đều có dạy rồi cả. Nay học sinh đến học, thì phần nhiều học với chúng tôi, chứ không phải chuyên học với các giáo sư. Có điều là chúng tôi tuy giảng nói nhưng giáo sư thì có khí cụ. Có lời nói để giải thích, có khí cụ để chứng minh, thì sự hiểu biết mới trọn vẹn được. Nếu học sinh học hết những điều sở học của tôi, thì cũng đã tốn hết nhiều công phu rồi. Rồi từ đấy tiến lên, cũng không khó nữa.

Ngày nào bàn việc làm nhà, thì nên bàn với các giáo sư về cách sắp xếp các phòng trong nhà như thế nào mới được hoặc là kiểu nhà, có nhà lớn, hai bên có hai nhà nhỏ, để tiện cho học sinh ăn ở như kiểu nhà sứ quán cũng được. Hoặc tạm lấy sứ quán làm nhà học cũng có thể bớt phí tổn. Đợi sau thí nghiệm xem có thể mở rộng sự dạy dỗ, thì sẽ dựng một tòa nhà dạy học lớn, và mời thêm nhiều giáo sư nữa mới được.

Nay kính bẩm.
__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/3 tờ 16.
2. Bản Hán văn Hv 189/3 tờ 17.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Ba, 2011, 11:13:34 pm

*

VI. 16. VIẾT THAY GIÁM MỤC GAUTHIER1

(Ngày 19 tháng 2 năm Tự Đức 21, tức 12-3-1868 )

Giám mục Ngô Gia Hậu xin đem tình thật bẩm rõ như sau:

Nguyên năm trước ở Nghệ An, chúng tôi đã có tờ bẩm lên Bộ nói rằng: Nếu chúng tôi được phái đi Tây, thì tổn phí đi về, đều do chúng tôi tự chịu lấy.

Đến ngày lên Kinh, thầy trò chúng tôi lại được cấp cho một khoản tiền mang theo người, thế khó từ chối, chúng tôi thật vô cùng áy náy.

Nay Bộ lại truyền báo khai thật cho rõ ràng. Chúng tôi nghĩ lại lời nói trước đây thật khó mở miệng, vì thế mà chần chừ chưa quyết.

Xin cho đình chỉ việc bắt kê khai các khoản, chúng tôi rất cám ơn.

Nay kính bẩm lên Lễ Bộ đường đại nhân soi xét.


*

VI. 17. VIẾT THAY GIÁM MỤC GAUTHIER2

Giám mục Ngô Gia Hậu xin đem các dụng cụ, do Bộ trưởng Ngoại giao của Triều đình Pháp tặng cho trường học, liệt kê như sau:

(Châu phê: Hỏi xem những thứ này đã đem về sứ quán chưa? Nếu đem về rồi, khá trình xem để biết).

- Chính kỷ hạn nghi, một cái.

- Kính thiên văn, hai cái (Một cái lớn bề mặt ước năm tấc và một cái nhỏ), đều dùng để xem thiên văn.

- Quang học tả chân, một cái.

- Đồng hồ, hai cái thật tốt, dùng để đi biển.

- Phong vũ biểu, ba cái.

- Hàn thử xích, năm cái.

- Máy điện tín, một bộ, đầy đủ các dụng cụ bên trong. Giám mục còn xuất tiền riêng ra mua một số dụng cụ rời thêm vào (hai trăm năm mươi quan).

- Lượng thiên xích, một cái.

- Kính hiển vi, một cái.

- Ống rút khí, một cái.

- Máy phát điện, một cái.

- Tá địa chủ, một cái.

- Bản đồ đi biển, một cuộn lớn.

- Các dụng cụ trên đây đều do Triều đình Pháp tặng cho tôi để dùng vào việc dạy học. Nay giao tất cả cho các giáo sư để giúp cho học sinh tập sử dụng, nên làm tờ kê khai này. Về giá tiền các dụng cụ đó ước vào khoảng một vạn quan. Nếu không dạy học, tôi cũng không dùng nó làm gì.

Nay bẩm.
Nguyễn Trường Tộ ký.

(Châu phê: Nguyên tên Hậu đã nói rõ như thế, có nên bảo bọn tên Hương nạp tất cả chăng? Giá tiền hoàn lại bao nhiêu do Bộ hỏi tên Hậu rồi phúc trình ).

__________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/3 tờ 18.
2. Bản Hán văn Hv 189/3 tờ 19.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:06:30 pm

PHỤ LỤC VII

Các tờ tấu tờ trình năm 1870


VII. 1. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN1

(Ngày 29 tháng 1 năm Tự Đức 23, tức 28-2-1870)
 
Cơ Mật Viện thần tâu:

Ngày 16 tháng này Viện thần tuân phụng phê thị đã tư cho Nghệ An mật hỏi tâm tích của Hậu, Tộ.

Nay đốc thần tỉnh này là Hoàng Tá Viêm đã gởi về một bản mật phúc xin tiến trình hầu được rõ thấu.

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Trần Tiễn Thành, thần Phạm Phú Thứ phụng thảo duyệt.

Châu phê: Mật tư ba viên tỉnh này sao không nhân lúc bình thường hỏi thử bọn Tộ, Điền đạo của chúng có chỗ nào hay mà cố theo, có học thức mà cũng mê là vì sao vậy? Và sao không lưu ý nhân lúc nhàn đàm hỏi xem để tìm hiểu lý do vì sao mà ở Nam kỳ.
_______________________________________
1. Bản Hán văn: Châu bản Triều Tự Đức, quyển 212 tờ 59a (Kho lưu trữ 2).
[/color]


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:07:58 pm

*

VII. 2. TỜ TRÌNH CỦA TỈNH THẦN NGHỆ AN1

(Ngày 26 tháng 3 năm Tự Đức 23, tức 26-4-1870)

Thần Hoàng Tá Viêm, thần Ngụy Khắc Đản, thần Trần Nhượng tâu:

Ngày mồng 4 tháng trước tiếp Cơ Mật Viện thần mật lục, phụng châu phê: Mật tư ba viên tỉnh này sao không nhân lúc bình thường hỏi thử bọn Tộ, Điền đạo của chúng có chỗ nào hay mà cố theo, có học thức mà cũng mê là vì sao vậy? Vì sao không lưu ý nhân lúc nhàn đàm hỏi xem để tìm hiểu vấn đề Nam kỳ như thế nào? Khâm thử.

Thiết chiếu việc tả đạo mê hoặc người bọn thần đã nhiều lần xét hỏi. Nhưng đạo đồ chỉ nói: ông cha theo, con cháu không dám trái. Còn đạo trưởng và những người biết chữ đọc sách như bọn Nguyễn Trường Tộ thì đều tự cho là đạo của họ chỉ có cái khác là tế tự không dùng rượu thịt, không dùng vật tế mới sạch sẽ. Giám mục linh mục không lấy vợ vì cho rằng có vợ con sẽ yêu vợ con không thể giúp đỡ đạo đồ đến dốc hết lòng làm việc thiện để đưa mọi người về với đạo. Lại bảo tất cả các giám mục đều từ xa đến mà sống chung cùng đạo dân, ân ý còn hơn cha con. Đạo của họ tự hồ có chỗ thiết thực. Còn như chuyện mê lầm như thế bọn thần thường tìm hiểu, lấy lý suy xét cũng không rõ được. Vả lại ở trong hạt của thần các thân sĩ có ý chống ghét tả đạo gần đây còn chưa nguôi. Bọn họ ở trong tả dân, không khí hãy còn nặng nề, còn xem nhau ngăn cách không muốn tỏ ra hòa hiệp, lại ngại không tốt. Cho nên ngày thường bọn họ ít đến, nếu có chuyện đến chẳng qua một khắc vài câu không liên quan gì đến tả đạo. Hỏi họ họ cũng không thể trả lời được.

Về tình hình biên cương cơ mật thì trừ Nguyễn Trường Tộ ra thần chưa dám đem hỏi ai. Chỉ có thần Ngụy Khắc Đản nghĩ rằng bọn họ cũng là người đồng hạt gặp thì thăm hỏi hoặc cũng có khi họ nói đại để rằng đạo trưởng phần nhiều là những người chân thật ăn nói có ý tứ, cũng tìm hiểu ít nhiều sự lý và cũng có vẻ biết trọng cái gốc. Duy có Nguyễn Điều là hơn cả, xét lời lẽ ý khí của y tuy so ra không bằng đạo trưởng Lê Văn Trung tỉnh hạt Quảng Nam. Đạo đồ của y nghe y cũng không bằng đạo dân Quảng Nam đối với đạo trường của họ (Ngày cựu ước chưa định xong, thần nhân thay quyền Niết ty Quảng Nam, nghe Nguyễn Văn Vân nói: Sao không tính xin hết số tráng đinh dân đạo ra tòng chinh hoặc thay binh lực của dân lương. Sức hỏi dân ấy thì đều nói là rất muốn. Và cùng với lời của Văn Trung thì tự hồ thật có phấn khích. Gần đây nghe đạo dân hạt ấy chưa có đạo trường Tây. Nhưng năm thứ 21 Giám mục tên Trí có đến một lần, một tuần nhật rồi về lại Bình Định là nơi nguyên ngụ. Hỏi việc này thì đại khái Nguyễn Điều cũng nghe như vậy, hơn nữa còn nói rằng đó là vì do Văn Trung cho rằng hạt này đạo dân ít lại nghèo nên từ khước đó). Nhưng y thì đối với sự tình người Tây y nghe được điều gì đều không giấu, hơn nữa y còn lấy làm ngại việc nhượng giao và lập tân ước. Còn như phải xử trí ra làm sao thì y chưa nghĩ đến. Sau khi tiếp được mật lục, bọn thần nhiều lần bàn để cho thần Ngụy Khắc Đản mượn việc khác mời đến, nhân đó mật hỏi.

Những điều Nguyễn Trường Tộ nói đều đã có mật văn bẩm lên Binh bộ thần rồi. Nguyễn Điều nói: Năm ngoái nghe Ngô Gia Hậu thuật lại chuyện Tây soái gởi di văn cho Bình Thuận, khẩn cấp truy nã những nghĩa dân trốn tránh ở đó. Phủ thần Thuận Khánh liền lấy cớ trước đây bọn đào phạm trốn ở Gia Định Tây soái có bao giờ truy nã giao cho Triều đình đâu, rồi phúc thư từ khước, Tây soái phải chịu, các quan Tây đều khen (Nói lại theo thư báo Gia Định) rằng chấp lý như vậy rất đúng tự nhiên. Nhân đó mà suy, tân ước nếu không thể thay đổi được thì phải tìm lý lẽ tự nhiên công cộng mà nói, hoặc có thể quy cho công luận sĩ dân không thỏa mãn. Các nước phương Tây, tất cả những việc gì quan trọng mà chưa có định lệ họ đều đưa ra Thứ dân hội nghị quyết định. Đem tục lệ của người Tây đối phó lại với người Tây cũng có thể có lý khuất phục họ được.

Gần đây Gia Hậu hỏi y rằng việc Tây soái xin cải ước, công nghị ra sao đã được biết chưa? Y nói việc trọng đại y không được biết mà y cũng chưa nghe, nhưng xem nhân tình bề ngoài thì tựa hồ chưa được. Gia Hậu hỏi lý do. Y nói ước đã định rồi người Tây tự bội ước ép lấy ba tỉnh Long Giang Hà rồi lại đòi cải ước nhượng giao, chỉ biết lợi mình không biết gì đến tín nghĩa. Như thế là ỷ thuyền bè kiên cố súng ống hùng mạnh mà thôi. Còn trông cậy gì được vào hòa ước. Mỗi lần y gặp các thân hào, mọi người đều nói rằng thỏa ước không thể trông cậy gì được mà cũng sửa đổi. Lòng người đã nghi, làm sao có thể giải thích. Giả sử có vài bọn bất sính không theo khuôn phép, mượn cớ đó xướng lên rằng người Tây tham lam vô độ, rồi mượn tiếng là phải bảo vệ xúi giục nổi lên, thì hòa ước chưa chắc đã hòa được bọn này, nhọc công vô ích. Lúc đó người Tây có thể giúp gì được chăng? Như giúp được mà thuyền Tây không thể đến, súng Tây không thể tới thì khác nào người Tây chẳng làm gì được. Thế thì không theo cái đòi hỏi của Tây soái mối lo còn nhẹ, nếu theo mối lo còn nặng hơn. Cho nên y còn nghi là chưa thể được. Gia Hậu im lặng một lát rồi nói: Tính chuyện giảng hòa với Tây là tự nhiên, nói theo công cộng sự lý tức là không chống cũng không hạ thấp. Hơn nữa y trộm nghe chuyện ép lấy Long Giang Hà, các quan Tây phần nhiều đều chỉ trích cái quấy của soái trước.

Như vậy thì khoản này chưa chắc đã do bên nước ấy sai khiến và chuyện đòi nhượng giao biết đâu không phải là do soái này ham lập công đưa ý kiến ra. Nếu đến dự hội nghị cần phải chọn lựa kỹ người thông ngôn. Nếu không chọn được người xứng đáng, không những không xong việc mà còn tiết lộ công chuyện nữa.

Nếu chọn được người cứ việc thong thả họp bàn, nói ý cho anh ta biết rồi cung cấp tiền bạc khiến anh ta ngầm qua lại giao thiệp với các quan Tây, trong số đó thấy người nào có thể nói được thì tặng biếu giao kết với họ nhân đó đem chuyện dân tình xôn xao bên ngoài nói vào trong hội nghị, các quan Tây nghe được ắt sẽ báo lại soái của họ hoặc tin về bên nước họ, như thế cũng có ích phần nào. Thần hỏi: Ai là người làm được việc này? Y nói: Ở hạt khác y chưa biết còn trong hạt của thần thì có Lê Văn Điều (Tức trước đây viết lầm là Nguyễn Điều) là người thông hiểu tiếng Tây (Nguyễn Điều chỉ biết tiếng Latinh mà thôi) và biết chút ít về tình hình của Tây. Thần hỏi: Tình trạng các đạo dân Bắc kỳ gần đây thế nào? Đáp: Không có tin tức gì lạ. Nhưng mạn bên phải của sông Nhị (là vùng phân chia cho người Pháp giảng đạo) đã có năm linh mục người Pháp nhiều lần đến đòi chia ở nhưng đạo dân các nơi không chịu (Nói rằng có đạo trưởng bản xứ của Bắc kỳ cũng đủ rồi), hiện họ đang tụ lại ở đằng chỗ của giám mục (Giám mục rước tên Đông đã qua đời, tên Phúc thay thế, đều là người Pháp). Mạn bên trái của sông (Thuộc vùng phân chia giảng đạo của Y Pha Nho) thì có giám mục tên Hi (người Y Pha Nho) biết chữ Hán, đạo hạnh rất được đạo dân tin tưởng, lương dân cũng không giận ghét. Từ khi Tây soái bội ước thường nghe các đạo đồ Bắc kỳ nói tên Hi mắng nhiếc Pháp chuyện này lắm. Vả lại nói: Nếu như chuyện đòi nhượng giao là chẳng đặng đừng, thì cũng nên châm chước để được sự tương trợ của người Pháp có thể được lợi ích lớn, lấy danh nghĩa bổ định một vài điều để mà trao đổi còn hơn. Nhưng không nghe nói những lợi ích đó là lợi ích gì.

Sau khi về, Nguyễn Điều có hai lần gởi mật thư cho thần. Thư trước nói có nghe sứ Y Pha Nho muốn đến yêu cầu bồi thường tiền và lập phế, nhưng đó cũng là do soái Pháp xúc sử.

Thư sau nói có một hôm Gia Hậu hỏi y rằng thần gọi đến hỏi việc gì vậy? Y nói sắp đến kỳ lễ của đạo (ngày 17 tháng này) nên sức cho y việc tụ họp đạo đồ giảng đạo hành lễ phải giữ pháp luật, đừng làm bất hòa với dân lương. Gia Hậu nói: Chỉ đem chuyện hòa ra trách dân đạo mà không trách dân lương thì làm sao hòa được? Cũng chẳng khác nào nước Tây cầu hòa mà ta chưa chịu thì cũng chưa được thôi. Y nói: Đó là hiểu dụ người đạo, còn hiểu dụ người lương thì nói với người lương. Còn như việc hòa nghị giữa hai nước hình như còn có chỗ khó khăn là vì người Tây tráo trở đa đoan, nước tôi cần phải cân nhắc lợi hại. Hòa ước cũ mới định xong nay lại đòi sửa đổi. Hòa ước cũ do ba nước họp định, từ trước đến nay không nghe người Y Pha Nho đề cập gì đến chuyện bồi ngân lập phố cả. Soái trước cũng đã từng bảo đình chuyện bồi ngân, nói nếu người Y Pha Nho có hỏi sẽ tự chịu bồi hoàn. Nay soái mới vừa đến đã vội lật lọng. Vả lại chuyện nghe người Y Pha Nho xin đem việc này ra Triều đình họp nghị thì không được biết, nhưng xem tình hình bên ngoài thì mọi người đều nghi rằng người Tây muốn gấp rút cho xong việc này vì sợ không dễ lấy cớ lương đạo hiềm khích bất hòa mà cũng vì người ta đã nghi ngờ người Tây và nghi ngờ cả đạo của họ nữa nhiều lắm rồi. Gia Hậu cười nói: Chưa bàn đến chuyện hòa ước thành hay không thành, hội định tại Nam kỳ hay tại nước Pháp, vấn đề là ta phải lấy được lòng Tây soái. Không được lòng thì dẫu có hòa cũng chưa chắc sẽ không sinh sự. Bởi vì Tây soái thống trị sáu tỉnh này, có quyền hành giải quyết mọi công việc. Lại nói: Tên Trường biết khá nhiều tình thế nước ta, nay làm đệ nhất thông ngôn cho giám đốc Tây, chỉ vẽ mọi việc thông dịch sự lý trong các giấy tờ qua lại đều do cả. Hôm qua Nguyễn Điều lại đến (Trước đã có hẹn sau khi giáo lễ xong thỏa thiếp mọi sự không có gì trở ngại thì sẽ đến báo). Trong lúc nói chuyện thần lại hỏi về tin tức Gia Định nhân đó đề cập việc cải ước. Y nói: Gần đây chưa nghe tin tức gì còn việc cải ước thì theo ý kiến của y, cứ nên đổ riệt cho là sĩ dân không thuận để thong thả xem họ thế nào. Bởi vì các đạo trưởng Tây chia nhau giảng đạo nhiều nơi, tuy họ không dự vào việc công của Tây nhưng thường có thư từ qua lại với Tây soái, trong đó làm sao khỏi đem sự thế dân tình ra hỏi nhau (Nay chính Gia Hậu vừa mới thư cho Tây soái nhưng bọn y không được xem). Cải ước chưa định xong thì có cựu ước chẳng ngại gì cả. Cứ từ từ để cho cái tình trạng không được thỏa thiếp ngày một truyền bá ra khắp cả Nam kỳ cũng như phương Tây như là điều không hợp đạo lý công bình thì họ sẽ nghĩ lại. Thần hỏi: Gia Hậu đề cập tên Trường là người thế nào vậy? Đáp: Tên Trường trước là linh mục. Từ khi thuyền Tây đến Gia Định thì phần nhiều kém đạo hạnh, lệch lạch ra ngoài phạm vi đạo trưởng, năng lui tới Tây soái tìm vui. Gia Hậu nhân y nói người Tây tráo trở nên lấy câu này mà gọi người đa đoan đó là tên Trường. Lại nói: Y vốn đã theo tả đạo làm đạo trưởng, chẳng hiểu biết gì mà nghị bàn lếu láo đến việc công thật là không phải. Huống nữa chuyện của giám mục nói riêng mà y lại truyền bá ra nếu lọt tai trinh thám, thầy y là giám mục hay được không những đem đạo hạnh ra quở trách mà còn không khỏi nghi kỵ nữa nên xin thần hãy giữ kín, nếu có nghe gì nữa sẽ tư báo sau.

Bọn thần xét những lời lẽ ý tứ mà Ngô Gia Hậu nhiều lần nói với Nguyễn Điều thì thấy những hành động của Tây soái phần nhiều xuất phát nơi tự chuyên tự quyền mà ra và việc tân ước không nên vội nghe theo, hãy lấy cớ ân tình chưa thỏa thiếp mà từ chối, điều đó có vẻ có lý. Vậy dám xin phụng phiến mật trần hầu thánh thượng quyết định.

Thần Hoàng Tá Viêm ký.
Thần Ngụy Khắc Đản ký.
Thần Trần Nhượng ký.

_______________________________________
1. Bản Hán văn: Châu bản Triều Tự Đức, quyển 212 tờ 274a-281b (Kho lưu trữ 2).


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:09:39 pm
*

VII. 3. TẤU CỦA TRẦN TIỄN THÀNH1

(Ngày 9 tháng 11 năm Tự Đức 23, tức 2-12-1870)

Thần Trần Tiễn Thành tâu:

Ngày 6 tháng trước có tiếp được trát của tỉnh thần Nghệ An Ngụy Khắc Đản gởi qua Binh Bộ để chuyển giao Cơ Mật Viện một phong thư mật bẩm của Nguyễn Trường Tộ, trong đó đề do Lễ Bộ chuyển giao Cơ Mật Viện duyệt. Nội dung xin đề nghị lập lãnh sự đại sứ tại Kinh đô nước họ để rộng đường giao thiệp và liên kết với người Tây để giúp ta sau này đồng thời đề nghị phái người tâm huyết giả có việc vào Gia Định để tìm người Tây kết thân, thăm dò tình hình mà thừa cơ hội v.v...

Xét các khoản này năm trước y cũng đã trình bày nhưng chưa tiện thực hành, nay lại đề cập viện dẫn lý thế hiện tại và điển cố biện thuyết, chẳng qua chỉ là muốn tỏ ra có lòng vì mình mà thôi. Nhưng bác đi là vì thời sự khó thực hành. Đó là ý kiến đã được thương nghị cùng thần Nguyễn Tri Phương, thần Phạm Phú Thứ, tất cả đều đồng như vậy. Vậy dám tâu bày và đem nguyên bản tiến trình hầu thánh thượng thấu suốt.

Thần Trần Tiễn Thành phụng thảo duyệt.




*

VII. 4. TẤU CỦA TRẦN TIỄN THÀNH2

(Ngày 30 tháng 11 năm Tự Đức 23, tức 23-12-1870)

Thần Trần Tiễn Thành tâu:

Ngày 9 tháng này có tiếp một phong thư mật bẩm của Nguyễn Trường Tộ do Thự đốc thần Nghệ An Tôn Thất Triệt phát giao, trong đó đề là do Lễ Bộ chuyển giao Cơ Mật Viện thần khán duyệt.

Nội dung mật bẩm trần thỉnh hai kế, đại khái một là xin sớm sai người vào Gia Định thám thính, dùng kế với soái Pháp khiến trả lại sáu tỉnh cho ta mà kéo toàn quân về nước để bình nội loạn, công việc xong yên rồi qua ở buôn bán như kiểu người Anh đối với Trung Quốc vậy. Hai là phải gấp rút giao thiệp chặt chẽ với người Anh. Người Pháp có thấy ta tìm người Anh mới dễ hạ lòng thương chước với ta. Đồng thời sai người sớm qua Kinh đô nước Anh thám sát tùy nghi thi kế và dùng sức đánh thành, sự lý có thêm bớt đôi chút so với các khoản y đã trình bày năm trước về sáu điều lợi. Nhưng khoản trước thì mới rồi phụng phê thị các lẽ đã có nghĩ đến và Cơ Mật Viện Thương Bạc đã vâng rõ, đình thần duyệt sửa mật thư của Thương Bạc hỏi han và nhân đó đề cập đến khoản trả lại đất bồi hoàn tiền để mong muốn điều đình, nhưng soái ấy phúc thư dùng lời lẽ tránh né, hoàn toàn không mảy may đề cập đến khoản này. Rồi vâng chuẩn giao hỏi ý kiến các hoàng thân hoàng tử ở Tôn nhân phủ và đình thần. Tất cả phúc tâu đều cho rằng hiện nay việc miền Bắc như thế thì việc Tây chưa tiện hành động được, nói nữa sợ gợi sự nghi ngờ của họ. Còn khoản sau thì thật là khó phái người làm công việc này. Thần thiết nghĩ việc đời phải tùy thời mà làm. Thời chưa đến không thể nào cưỡng làm trước được. Còn thời đã đến có thể thừa cơ hội được thì càng không nên chậm trễ để lỡ mất cơ hội. Nước ta bảy tám năm trở lại đây, cương giới phía Nam vùi dập, thần dân không ai không đau giận. Nhưng phía ta không luận hữu sự hay vô sự, đều chưa tiện dùng biện pháp cứng rắn, cho nên từ trước đến nay ẩn nhẫn mà dùng biện pháp mềm dẻo, lấy hòa hiếu để chờ cơ hội. Cho dẫu chưa thi hành được ý chí nhưng không đến nỗi vì thế mà gây sự thêm ra, và ý chí ấy vẫn ôm ấp trong lòng không một ngày dám quên. Nay nghe vua nước họ bị Phổ bắt, nhân dân trong nước chia rẽ làm loạn. Đây có vẻ đã đến lúc có thể thừa cơ hội được. Nếu không nhân lúc này mà hành động sợ không khỏi hối tiếc đã đánh mất thời cơ. Có điều hiện người Pháp vừa mới nghi ngờ phòng bị, nếu phái quan ta đi thăm dò sẽ khiến chúng nghi, mà quan ta đều không thông ngôn ngữ, không quen biết nếu có phái đi tưởng cũng tốn kém vô ích mà thôi. Nhưng xét ra các khoản Nguyễn Trường Tộ đề nghị phái người đi thám thính tình hình, tùy nghi thi hành kế hoạch, nếu lấy lý mà bác, tuy chưa chắc đã đúng cả nhưng cũng không phải hoàn toàn sai, trong đó không phải không có một vài điều có thể áp dụng được. Hơn nữa muốn giải quyết việc đi ắt phải hiểu rõ tình hình đi như thế nào. Vì vậy nên ngay thời Minh Mạng là lúc quốc gia cường thịnh mà còn không kể tốn kém phái người đi thám sát rộng các nơi (Như việc nguyên Lại bộ thần là cố Tôn Thất Thường qua Đại Tây) để hiểu thấu tình hình những nơi xa. Huống chi nay ta đã cùng họ giao thiệp thì chuyện sai đi sứ qua lại hỏi han sai người làm gián điệp đâu có thể nào thiếu được?

Nguyễn Trường Tộ từ bé đến lớn ở với Tây có một kiến thức khá tự phụ, nhiều lần trần tình thuật tung hoành, thế liên hiệp và những phương sách giúp ta chống lại chúng có đến hơn mấy ngàn lời. Dĩ nhiên trong đó có ẩn giấu điều gì không, không thể nào biết được, nhưng xem rõ lời lẽ khẩu khí thì thấy có lúc khẳng khái và có lúc muốn đích thân xin ra làm việc, tựa hồ muốn biểu lộ tấm lòng ngoái lại cái gốc của mình để báo chút lòng trung trong muôn một. Như vậy tưởng cũng không nên vì con người mà bỏ lời nói của người ấy đi. Xưa Tần dùng Do Dư, Hán dùng Nhật Thiền đâu phải vì Tần, Hán không có người, nhưng vì họ là người am hiểu sự tình bên kia vậy. Huống chi y tuy theo tả đạo nhưng cũng là tôi con của Triều đình. Giả sử nói y là thuộc dân tả đạo tâm tính khả nghi, vậy nếu y quả có tha tâm ngầm thông tin tức thì trong khi y theo các đạo trưởng qua lại phương Tây y không làm được sao, cần gì phải đợi ủy giao công việc mới làm được? Thần lại thường được nghe tục lệ phương Tây trọng đạo giáo và mọi việc đều dựa vào Công hầu, Thứ dân hai viện. Đạo trưởng tuy không quan hệ việc nước, nhưng lời nói việc làm của họ được nhân dân trong nước tin tưởng. Như vậy tưởng cũng có thể tùy cơ ngấm ngầm mưu đồ được. Nay khâm chuẩn cho Nguyễn Hoằng qua Pháp trước gởi gắm người học tập, nhân đó sai tên này đi theo vào Gia Định trần thuyết lợi hại cùng các đạo trưởng Tây, nhờ họ nói với soái Pháp, rồi qua Pháp và qua lại các nước Anh, Nga, Áo, Phổ thăm dò tình hình, rồi lại đến hai Viện Công hầu, Thứ Dân ngầm nói thông đồng với họ, có sự thế gì, cơ hội như thế nào cần nắm cho chân xác lần lượt gởi về để tiện khi ta thương chước cùng họ không phải là vô ích, mà những người này qua lại học đạo đối với ta không có chứng tích gì thì đâu có hại. Đó là thần thấy nước Pháp có cơ hội này thật là khó được, mà dễ mất, tuy phái y đi có thành công được việc gì hay không còn chưa biết được, nhưng bỏ qua thì thật không yên lòng, cho nên không dám vì sự ngu dốt thiển cận của mình mà làm thinh không nói. Vậy dám có lời phúc tâu hầu thánh thượng tài định.

Thần Trần Tiễn Thành phụng thảo duyệt.

Châu phê: Đất nước có trông cậy việc gì là trông cậy có bề tôi có thể hiệp tâm đồng mưu để giúp việc lớn. Các khanh không nghĩ, không nói thì lấy ai nghĩ nói cho? Chỉ vì lòng trẫm và lòng của khanh cũng đều vì việc công. Việc quan trọng không mưu tính với số đông thì không thể làm được, nhưng không kín đáo lại hại cho sự thành công, chưa thể dự tính nhiều được. Truyền cho Cơ Mật Viện, Thương Bạc với khanh cùng nhau bàn luận kỹ nên phải làm như thế nào cho chu đáo, phúc tâu đầy đủ, đừng để mất thời cơ. Nếu có đường lối nào hay hơn càng tốt.




VII. 5. TẤU CỦA CƠ MẬT VIỆN3

(Ngày 5 tháng 12 năm Tự Đức 23, tức 28-12-1870)

Cơ Mật Viện Thương Bạc thần phúc,

Ngày 30 tháng trước vâng được trao một tờ phiếu của Trần Tiễn Thành trong đó nói Nguyễn Trường Tộ mật trần hai kế. Một là mau sai người đến Gia Định thám thính dùng kế với soái Pháp khiến y trả lại sáu tỉnh cho ta rồi rút toàn quân về nước Pháp để bình nội nạn, công việc xong trở sang ở buôn bán. Hai là gấp rút giao thiệp chặt chẽ với người Anh. Pháp thấy ta tìm người Anh thì mới dễ xuống lòng thương chước cùng ta. Đồng thời phái người sớm qua Kinh đô nước Anh thám sát, tùy nghi lập kế cho đến chuyện dùng sức đánh thành v.v... Thần Trần Tiễn Thành xin khâm chuẩn cho Nguyễn Hoằng qua nước Pháp trước để gởi gắm người học tập, nhân đó sai Trường Tộ theo vào Gia Định trình bày các lẽ lợi hại với các đạo trưởng Tây nhờ họ nói cho soái Pháp biết, rồi qua nước Pháp và qua lại các nước Anh, Nga, Áo, Phổ thám thính tình hình, rồi đến hai Viện Công Hầu, Thứ Dân ngầm thông đồng với họ, có sự thế gì, cơ hội thế nào nắm cho chính xác lần lượt gởi về để tiện khi cùng họ thương thuyết v.v... Khâm phụng châu phê: “Đất nước có trông cậy việc gì là trông cậy bề tôi có thể hiệp tâm đồng mưu để giúp cho việc lớn. Các khanh không nghĩ không nói thì lấy ai nghĩ nói cho? Chỉ vì lòng trẫm với lòng của khanh cùng đều vì việc công. Việc quan trọng không mưu tính với số đông thì không thể làm được nhưng không kín đáo lại có hại đến sự thành công, chưa thể dự tính nhiều được. Truyền cho Cơ Mật Viện, Thương Bạc cùng khanh cùng nhau bàn luận kỹ xem nên làm như thế nào cho được chu đáo, phúc tâu đầy đủ, chớ để mất thời cơ. Nếu có đường lối nào khác hay hơn càng tốt. Khâm thử.” Bọn thần tuân phụng xét duyệt các khoản mật trần của Nguyễn Trường Tộ thấy y cũng có lòng với ta mà chính nay là lúc có thể thừa cơ hội được. Ý kiến của bọn thần cũng đồng với các lý lẽ mà thần Trần Tiễn Thành đã tâu xin. Nhưng xét vì đây là việc quân quốc trọng sự cần phải bàn thảo kín đáo kỹ lưỡng mới bảo đảm không nguy hiểm trở ngại sau này. Nay bọn thần chưa giáp mặt y bàn tính mà đã vội xin giao cho y qua các nước thám sát những việc cần phải làm, lỡ ra có chỗ nào chưa được chu đáo sợ sẽ sinh trở ngại. Vậy xin do bộ Lễ lấy lý do phái người đem học sinh qua Tây học tập khẩn tư cho tỉnh thần Nghệ An lập tức cấp trạm dịch sức y lên Kinh ngay để bọn thần ở Cơ Mật Viện vô Thương Bạc đối diện hỏi bọn y xem suy tính cơ nghi như thế nào cho được chu thỏa. Bọn thần sẽ suy nghĩ chín chắn đôi ba lần và phúc tâu đầy đủ. Vậy dám xin có lời tâu bày đợi chỉ tuân hành.

Thần Nguyễn Tri Phương, thần Trần Tiễn Thành, thần Phạm Phú Thứ, thần Lê Tuấn phụng thảo duyệt.
_______________________________________
1. Bản Hán văn: Châu bản Triều Tự Đức, quyển 229 tờ 252a, b (Kho lưu trữ 2).
2, 3. Bản Hán văn: Châu bản Triều Tự Đức, quyển 233 (Kho lưu trữ 2).



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:12:12 pm

PHỤ LỤC VIII

Tấu của Cơ Mật Viện1

(Ngày 10 tháng 8 năm Tự Đức 24, tức 24-9-1871)

Bọn thần Cơ Mật Viện tâu:

Ngày mùng 6 tháng này có tiếp được một bản mật bẩm của Nguyễn Trường Tộ do Ty Thông Chính đệ giao. Trong đó nói rằng cuối tháng 5 nước Pháp có tin truyền qua nói nước ấy hãy còn chia làm hai đảng. Lại nghe Nga La Tư đang cùng Phổ Lỗ Sĩ mật nghị chưa biết sẽ thi thố ra sao. Y còn đoán xa sự thế phương Tây và thời cơ nước ta mật bẩm đầy đủ.

Bọn thần đã sức thuộc viên chép lại rõ ràng, kính xin tiến trình.

Châu phê:

Cũng như trước. Khanh liệu lấy

_______________________________________
1. Bản Hán văn Hv 189/4 tờ 80.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:13:30 pm

PHỤ LỤC IX

Tôi đã mang tội để mất những tư liệu quý
về Nguyễn Trường Tộ như thế nào?

Đào Duy Anh

Tôi đã có ý định nghiên cứu đề tài Nguyễn Trường Tộ những năm loài người đang sửa soạn bước vào cuộc đại chiến thế giới thứ hai bao khủng khiếp. Bấy giờ tôi đã soạn xong và cho xuất bản bộ Pháp Việt tự điển nên có thể chuyên tâm về các đề tài lịch sử. Thường mỗi năm đến những tháng nghỉ hè tôi hay rủ những bạn thân mà tôi có ở mối tỉnh khắp ba kỳ, nhất là Trung kỳ, làm người giúp đỡ và hướng dẫn trong công cuộc sưu tầm tài liệu trong mỗi địa phương. Mùa hè năm 1938, tôi đã để cả ba tháng hè (Ngày thường tôi phải dạy học ở trường tư: Trường Thuận Hóa và trường Phú Xuân), để đi sưu tầm tài liệu ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, ở đây tôi có được sự giúp đỡ và hướng dẫn của anh Hoàng Đức Thi là đồng chí cũ của tôi trong đảng Tân Việt bấy giờ cũng đương dạy học tư để kiếm sống tại trường Lễ Văn. Chúng tôi đã đi đến những địa điểm có ý nghĩa quan hệ với các đề tài nghiên cứu khá tham lam của tôi: Làng Tiên Điền và làng Uy Viễn thuộc huyện Nghi Xuân để tìm tài liệu về Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, một làng gần đó mà hiện tôi quên tên để tìm tài liệu về Ngụy Khắc Đản, làng Quỳnh Lôi huyện Quỳnh Lưu để tìm tài liệu về họ Nguyễn Huy (Nguyễn Huy Oanh, Nguyễn Huy Tự), miền Xã Đoài để tìm tài liệu về Nguyễn Trường Tộ. Chúng tôi đã đến tận nhà ông Nguyễn Trường Cửu tại làng Bùi Chu ở gần giáo khu Xã Đoài. Do lòng tin cậy đối với tôi bấy giờ đã nổi tiếng trong dân gian khắp Trung kỳ là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, ông Nguyễn Trường Cửu là cháu đích hệ của Nguyễn Trường Tộ đã cho phép tôi trèo lên gian gác nhỏ ngày trước đã từng làm chỗ nghỉ ngơi và làm việc của ông tổ mình, tha hồ tùy ý lục soạn các giấy tờ cũ một phần đã bị chuột gặm, gián nhấm. Tôi soạn được cả tập bản nháp các bài điều trần nổi tiếng của Nguyễn Trường Tộ với bút tích chân xác của Người cùng với cả quyển sổ tay của Người dùng để ghi chép trong thời gian đi theo Giám mục Hậu (Mgr Gauthier) sang Paris. Tôi đã được ông Nguyễn Trường Cửu cho xem tất cả giấy tờ ấy và được phép giữ luôn và chỉ cần trả lại cho ông để giữ làm kỷ niệm trong gia đình một tập sao chép mới của bản nháp điều trần, còn các bản mang tự tích của Người thì tôi được giữ làm tài liệu của mình. Về Vinh tôi đã thuê tạo lập một tập sao chép cẩn thận và nhờ anh Hoàng Đức Thi trở lại trao cho ông Nguyễn Trường Cửu. Những bản nháp và quyển sổ tay của Nguyễn Trường Tộ tôi được đem về nhà ở Huế, sau đó khoảng năm 1946 tôi đã từng cho viên Giám đốc Sở Lưu trữ Văn thư ở Huế lúc đó là Ngô Đình Nhu mượn để dùng trong một cuộc triển lãm văn thư cổ do viện ấy tổ chức sau Cách mạng tháng Tám tại Thư viện Bảo Đại, những tài liệu do tôi cho mượn đó đã được trả lại đầy đủ sau triển lãm. Sau đó ít lâu, Ngô Đình Nhu đã được chính phủ cách mạng ta triệu ra Hà Nội giao cho phụ trách Nha Thư viện và Lưu trữ Văn thư Trung ương. Tại Huế, Ủy viên kinh tế của Ủy ban hành chánh Trung bộ (bấy giờ là ông Đoàn Trọng Truyến) cần chỗ để đặt văn phòng cho mình bèn sai chở tất cả sách vở tài liệu của Sở Lưu trữ Văn thư trước đó sang xếp bỏ bừa bãi (vì không chuẩn bị được trường sở thích đáng) tại các phòng phụ thuộc của Thư viện Bảo Đại. Do sự kiện này tôi lại có cơ hội ngẫu nhiên thu thập được một tập tài liệu vô cùng quý giá về Nguyễn Trường Tộ. Tôi phải nhắc lại chuyện trước đó một thời gian:

Trong khoảng 1923-1926 tôi làm giáo học dạy học ở Đồng Hới. Nhân trong số học trò của tôi có anh Trần Trọng Diên là con ông Trần Mạnh Đàn quê ở làng Thuận Bài phủ Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình, đó là cơ hội khiến tôi được làm quen với ông Trần Mạnh Đàn bấy giờ đang làm một chức quan nhỏ tại Triều đình Huế, thỉnh thoảng về thăm quê ông có ghé lại Đồng Hới để gặp tôi và hỏi về tình hình học tập của cậu con. Ông Trần vốn là một người Nho học nhưng lại có nhiều thích thú đối với môn toán học Tây phương mà ông tự học qua các sách dịch của Trung Quốc. Ông được sự hướng dẫn thêm của người con trai cả làm cán sự công chính, nên đã nắm được khá vững những kiến thức về môn đại số học, ứng dụng những kiến thức mới ấy để nghiên cứu lịch pháp của ta, ông đã viết một bài nghiên cứu bằng chữ Hán để giải thích những sai biệt giữa phép tính năm nhuận tháng nhuận của dương lịch và âm lịch (đầu đề ông dùng là Tuế sai), tôi được đọc bài ấy trong phần chữ Hán của Tạp chí Nam Phong, do đó đã nảy sinh mối tình giao hữu vong niên giữa ông và tôi. Sau khi tôi đã từ chức giáo học để bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi ở Huế thì ông Trần Mạnh Đàn đã được chuyển về làm việc ở Thư Viện Bảo Đại bấy giờ do Phạm Quỳnh kiêm quản. Thuở ấy, thỉnh thoảng tôi vẫn vào Thư viện Bảo Đại để tra khảo các sách xưa đã được chuyển cả từ Tụ Khê thư viện của Nội các đời Minh Mệnh ra đây. Sau khi đã chú ý đến một bản sao chép gồm bốn tập những bài điều trần của Nguyễn Trường Tộ tôi đã được ông Trần Mạnh Đàn cho biết rằng ông đã dịch xong cả bốn tập điều trần của Nguyễn Trường Tộ ấy và cho đánh máy các bản dịch mà đóng làm một cuốn riêng. Tôi được biết rằng sau đó ông Nguyễn Lân đã dùng những bản dịch của ông Trần Mạnh Đàn để viết một quyển sách nhỏ về Nguyễn Trường Tộ đã được xuất bản và ông Đào Đăng Vỹ cũng đã dựa vào những bản dịch của ông Trần Mạnh Đàn để viết một loạt bài bằng chữ Pháp để đăng dần trong bộ La Patrie Annamite thời bấy giờ. Phần tôi, vì đã có ý định biên soạn một tác phẩm quan trọng về đề tài Nguyễn Trường Tộ, nên đã nhờ một ông đồ Nho hàng ngày vào làm việc ở Thư viện Bảo Đại để sao chép cả bốn tập điều trần Nguyễn Trường Tộ mà ông Trần Mạnh Đàn đã phiên dịch đó để đem đối chiếu với những bản nháp của Nguyễn Trường Tộ mà tôi đã xin được của ông Nguyễn Trường Cửu tại làng Bùi Chu như kể trên kia. Sau đấy, tôi còn nhờ ông đồ Nho nọ sao chép thêm vài ba bản nữa các bài điều trần, một bản cho người bạn đồng chí cũ hiện là bạn đồng nghiệp của tôi tại trường Thuận Hóa là ông Tôn Quang Phiệt, các bản khác cho mấy người bạn nghiên cứu sử học ở tại Sài Gòn là ông Lê Thọ Xuân và nhóm Phan Thanh Giản. Do lệnh di chuyển tài liệu của ông Đoàn Trọng Truyến như trên đã nhắc, những người phụ trách Thư viện Bảo Đại để cho kẻ gian ăn cắp lung tung nhất là những tập sách chữ Hán viết hoặc in trên giấy bản và giấy quyến, đem ra bày bán ở chợ Đông Ba cho người ta mua về làm giấy cuốn thuốc lá bấy giờ rất hiếm (Có người bà con của vợ tôi đem bán một Bội văn Vận phủ bằng giấy quyến cho người ta làm giấy hút thuốc mà được số tiền xấp năm lần số tiền tôi đã mua cả bộ sách ấy và bản sách dẫn do Thương vụ ấn thư quán tại Thượng Hải ấn hành). Một hôm lên làng Nguyệt Biều thăm bạn tôi là bác sĩ Thân Trọng Phước tôi gặp bác ruột anh Phước là ông Thân Trọng Bính đem khoe với tôi một tập sách chữ Hán mà ông nói đã mua được ở chợ Đông Ba trong khi tìm mua giấy thuốc lá, ông biết là sách quý định giữ để khoe với tôi (ông vốn biết tôi là người ham sách cũ). Tôi thấy đó chính là tập nguyên bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ có mang chính chữ phê bằng son của vua Tự Đức. Tôi đoán đó là bản “ngự lãm” mới được Phạm Quỳnh cho chuyển từ Nội các ra Thư viện Bảo Đại và mới bị đánh cắp trong những trường hợp tôi đã nhắc trên kia. Tôi mừng quá và lấy bản sao chép điều trần tôi đã thuê chép cho riêng mình đổi cho ông Thân Trọng Bính giữ đọc chơi để cho tôi giữ bản “ngự lãm” làm của quý. Không ngờ lọt vào tay tôi, của quý ấy lại đã gặp cái nghiệp chướng tiêu hủy biết bao nhiêu tài liệu quý khác của tôi trong cái tai họa chung cho cả đất nước bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào tháng 12 năm 1946. Thế là những tài liệu quý có tính chất nguyên bản mà tôi tưởng có hạnh phúc kỳ diệu nắm được đã vì chính nghiệp chướng của tôi mà biến vào hư không. Vì có tham vọng quá lớn về đề tài Nguyễn Trường Tộ, tôi đã định đọc cả phần Đại Nam Thực Lục chính biên về triều Tự Đức để gắng đặt sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ vào bối cảnh lịch sử đương thời. Ngoài ra tôi còn nhờ một người bạn người Pháp là một kỹ sư điện học sau khi nước Pháp bị quân Quốc Xã Đức chiếm đóng được triệu về nước để bí mật hoạt động kháng chiến, người Pháp ấy đã sẵn sàng nhờ người quen của mình tại trụ sở Rue du Bac của Hội ở nước ngoài truyền giáo của Giáo Hội Thiên Chúa Pháp ghi chép bằng bản đánh máy cho tôi tất cả những bài báo cáo và những bài nhật báo và tạp chí có liên quan đến hoạt động của Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ trong năm 1867. Tập tư liệu ấy hiện nay tôi cũng không còn giữ được, song những bản duplicata chắc tại Thư viện của Hội Truyền giáo ở nước ngoài hãy còn, nếu có cách liên lạc được với họ sẽ có thể tìm lại được ngay.

Sau khi tôi được triệu ra Hà Nội để tham gia Ban Vận động triệu tập Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất cử hành vội vàng trước ngày toàn quốc kháng chiến, tôi đã quyết định di chuyển cả gia đình (vợ con) cùng với phần lớn tủ sách của tôi xếp vào hai chục thùng lớn nặng hơn một tấn, thuê cả một toa xe lửa chở hàng để chở ra Hà Nội cùng với nhiều dụng cụ gia đình.

Đến khi có lệnh toàn quốc kháng chiến, tôi vội vàng đem vợ con sơ tán vào sở đồn điền Lộc Yên của người quen tại miền Thượng du tỉnh Hà Tĩnh rồi một mình trở lại ngay Hà Nội để lo cứu tủ sách ra vùng an toàn. Tôi nhờ được vài người bạn thân còn ở lại Hà Nội để tham gia kháng chiến tại nội thành giúp tôi thu xếp sách vở và tài liệu vào trong các thùng đựng cũ, rồi một mình tôi thuê xe chở cả hai chục thùng dán nhãn hiệu Tài liệu của Đại hội Văn hóa toàn quốc (Mong làm thế thì được Sở xe lửa cho vận chuyển ưu tiên) đến nhà ga xe lửa Hàng Cỏ để gởi vào Vinh, rồi tôi cũng lên xe lửa vào Vinh nằm chờ. Chờ mãi chẳng thấy tin tức gì, tôi nhờ đánh điện tín hỏi khắp nơi cần thiết, cuối cùng được tin chắc chắn rằng các thùng sách của tôi đã được chở trên chuyến xe lửa cuối cùng rời ga Hà Nội vào Vinh, nhưng lại được biết rằng chuyến xe lửa ấy đi đến khoảng ga Cần Giuộc đã bị chận lại và xô đổ để làm chướng ngại vật không cho giặc Pháp có thể dùng đường xe lửa mà đánh vào vùng Thanh Nghệ. Khi đã biết chắc tin ấy, tôi liền nhân đường xe lửa chưa bị bóc hết một mình trở về Huế để mong cứu vớt số sách tôi còn để lại Huế tại nhà tôi ở đường Hương Mỹ bấy giờ đã lọt vào vòng bị quân giặc bao vây. Tôi đi xe lửa vào đến ga An Hòa rồi tìm cách liên lạc với Bộ Tư Lệnh của quân đội kháng chiến của ta còn đóng tại nội thành Huế, được phép nhờ các đồng chí du kích của khu quanh nhà tôi giúp đỡ cho trở về nhà và thu thập mọi sách vở và tài liệu còn lại nhưng bị quân giặc và bọn lưu manh lục ném bừa bãi, thuê thuyền chở cả về Minh Hương là làng quê của vợ tôi. Nhưng lúc ấy đường xe lửa đã bị bóc thêm từ Huế đến ga Tiên An và Sa Lung ở bờ Bắc sông Bến Hải. Sau khi bỏ tất cả vào bao bố lớn, tôi đã thuê chở tất cả về làng Đại Lược huyện Phong Điền để tạm trú tại nhà ông Trần Đình Cáo (cháu ông Hồ Tá Bang) là người mấy năm về trước đã giúp cho tôi phụ tiếp cả mấy thùng sách “tân thư” của ông Trần Lệ Chất là một sáng lập viên của công ty Liên Thành và của trường Dục Thanh ở thị xã Phan Thiết. Sau khi soạn xếp và bỏ lại những sách, đại khái là sách văn học bằng tiếng Pháp và tiếng Việt không cần thiết lắm cho việc nghiên cứu sử học của tôi, tôi lại thuê đò để “đuổi theo” xe lửa đến ga Tiên An, bốc được toàn bộ các bao sách lên xe lửa để chở về đồn điền Lộc Yên là nơi tạm trú của gia đình tôi. Ít lâu tôi quyết định cùng với gia đình trở ra Thanh Hóa là vùng tự do để tham gia hoạt động của Đoàn Văn Nghệ kháng chiến tập hợp toàn bộ các văn nghệ sĩ kháng chiến chưa có điều kiện rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc, hãy tạm hoạt động ở Thanh Hóa bên cạnh Ủy ban Hành chánh kháng chiến và quân khu của liên khu IV. Lại một lần nữa phải vất vả chở bao nhiêu thùng sách còn lại lên miền Di Linh Lạc Lâm trong ấy có những thẻ ghi chép của sách Đại Nam Thực Lục chính biên và những thẻ ghi chép của một số sách của người Pháp liên quan đến thời gian mà Nguyễn Trường Tộ sau khi từ Pháp trở về Sài Gòn vào mùa xuân năm 1861, nhận giúp việc cho chính quyền Pháp theo tư cách là ký lục với dụng ý, như ông đã khẳng định, tìm cách giúp ngầm Triều đình trong việc thương lượng hòa bình với chính quyền Pháp thời bấy giờ. Khoảng năm 1949, tôi được điều động ra chiến khu Việt Bắc để làm Trưởng ban Sử Địa của Vụ Văn học nghệ thuật tạm thời đặt dưới sự quản cố của Bộ quốc gia Giáo dục. Để xây dựng tủ sách cần thiết cho sự nghiên cứu của mình, tôi đã được sự ủy nhiệm của cơ quan để trở về liên khu IV qua đường rừng, vào Thanh Hóa lựa chọn những thứ cần thiết trong số sách riêng của tôi gởi cất tại mấy nhà quen thân ở Di Linh và Lạc Lâm và vào Nghệ An để đến làng Thịnh Mỹ phủ Diễn Châu lựa chọn mượn những sách cần thiết trong tủ sách nổi tiếng của cụ Cao Xuân Dục mà người chủ quản bấy giờ là bà quả phụ Cao Xuân Tảo mà tôi từng quen biết nhiều từ ngày tôi còn ở Huế hay đến mượn sách tại tủ sách của cụ Thân thần Tôn Thất Hân mà bà Tảo là con gái. Khi trở ra Thanh Hóa để chuẩn bị thuê người gánh sách ra Việt Bắc, tôi đến thăm bà Tôn Quang Phiệt bấy giờ tản cư tại làng Yên Lộ huyện Thiệu Hóa sau khi ông Tôn Quang Phiệt đã ra nhận công tác trong Quốc hội tại chiến khu nhận thấy bốn tập điều trần của Nguyễn Trường Tộ mà trước kia tôi đã thuê sao chép giùm cho ông Phiệt bấy giờ vẫn để ở nhà, tôi đã xin bà Phiệt cho tôi mượn đem ra Việt Bắc phòng có khi cần dùng đến. Thế rồi trong khi bị ốm thập tử nhất sinh ở Tuyên Quang trong năm, tôi đã đem cả tủ sách xây dựng cho Ban Sử Địa do tôi phụ trách biếu Ban Tuyên Huấn Trung ương, đến khi Ban Sử Địa được thành lập ở chiến khu Việt Bắc thì toàn bộ tủ sách của tôi biếu được chuyển làm tủ sách đầu tiên của Ban ấy, rồi sau khi kháng chiến thành công chúng ta trở về Hà Nội, Ban Sử Địa được chuyển làm Viện Sử học thì trong tủ sách của Viện Sử học, bốn tập điều trần Nguyễn Trường Tộ hiện còn ở đấy có lẽ là những bản duy nhất còn sót lại trên đời mà đó chính là bản trước kia tôi đã thuê sao chép giùm cho ông bạn Tôn Quang Phiệt và do chính tôi đã cứu vớt được khi đem nó ra Việt Bắc.

Đến như những văn thư của gia tộc nhà vợ tôi như gia phả, thi văn của Trần Tiễn Thành và của người con trai thứ ba là nhạc phụ của tôi, tôi đã dùng làm tư liệu để viết về quan hệ giữa Trần Tiễn Thành và Nguyễn Trường Tộ thì sau khi viết xong bài tiểu sử Trần Tiễn Thành đăng trong tập San Thân Cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Huế) năm 31 số 2 tháng 4 và 6 năm 1944 tôi đã trả lại cả cho cậu em trai của vợ tôi là ông Trần Tiễn Hỷ, hiện là một lương y có tiếng hiện ở thôn Minh Thanh thuộc ngoại thành Huế.

Theo yêu cầu của một số bạn bè, tôi xin nhắc lại vắn tắt những điều tôi còn thoáng nhớ được trên đây, để làm cơ sở cho những ai muốn nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ.

Hà Nội 20-5-1981


(Bài đăng trên tuần báo Công giáo và Dân tộc số 313-315 ngày 12-7-1981)


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:15:14 pm
Lời bạt

Cách đây ba mươi năm, khi mới về công tác tại khoa Sử học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi được các giáo sư Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy hướng vào nghiên cứu Nguyễn Trường Tộ - Nhà yêu nước, nhà cải cách lớn của lịch sử cận đại Việt Nam.

Bắt tay vào việc: sưu tầm, đọc, dịch văn bản, tìm hiểu con người và cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ, tôi ngày càng bị hấp dẫn bởi hệ thống những tư tưởng cải cách tiến bộ, và trên hết cả là tấm lòng thiết tha vì nước vì dân của ông. Sau đó, để đánh dấu cho bước đầu nghiên cứu Nguyễn Trường Tộ, vào năm 1961, tôi và anh Đặng Huy Vận (nay đã qua đời) đã cộng tác với nhau viết chuyên luận “NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ CUỐI THẾ KỶ XIX” 1 nhằm bổ sung cho giáo trình lịch sử cận đại Việt Nam. Đề tài Nguyễn Trường Tộ cũng được đặt ra cho một số sinh viên khoa Sử làm “Khóa luận tốt nghiệp” trong một số năm học. Nhưng khi chiến tranh chống Mỹ xảy ra thì đề tài này bị gác lại, vì phải tinh giản chương trình.

Tuy vậy, vì tâm đắc với nhân vật này, tôi vẫn tiếp tục theo đuổi nghiên cứu Nguyễn Trường Tộ. Tôi một mình mày mò, tìm kiếm thêm tư liệu về ông, kiên trì như một con ong thợ tìm hút nhụy hoa để gây mật. Thỉnh thoảng, nhân dịp kỷ niệm năm sinh, năm mất của Nguyễn Trường Tộ, tôi lại cho công bố một số luận văn viết về ông trên tạp chí Văn, Sử hay Triết học. Tôi mong đợi có một ngày nào đó trong những văn bản tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ được công bố và những vấn đề về Nguyễn Trường Tộ sẽ được đặt lại để mọi người cùng xem xét.


*

Sau ngày giải phóng miền Nam (30-4-1975) thống nhất nước nhà, trong niềm vui chung của nhân dân đất nước, tôi có thêm một nguồn vui riêng: Vấn đề Nguyễn Trường Tộ có cơ may sẽ được nghiên cứu trên nhiều chiều kích chung hơn, rộng hơn.

Rồi một ngày đầu xuân năm 1976, tôi gặp anh Trương Bá Cần. Thật đúng là do cái “duyên kỳ ngộ”. Thuở còn đi học ở Pháp, năm 1962, anh đã gửi thư cho tôi theo địa chỉ của tác giả cuốn sách “NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ CUỐI THẾ KỶ XIX” được lọt sang Paris hồi đó. Thư của anh hỏi tôi nhiều vấn đề tiên quan đến Nguyễn Trường Tộ. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, tôi đã không đáp ứng được yêu cầu của anh.

Gặp anh Trương Bá Cần giữa thành phố Sài Gòn đã giải phóng, vui mừng khôn xiết. Tôi có thêm một người bạn là nhà Sử học để chia sẻ những nỗi niềm, những suy nghĩ về đề tài Nguyễn Trường Tộ mấy lâu nay hằng ôm ấp, nhưng ở hoàn cảnh tôi thật khó có thể tiếp tục triển khai. Theo tôi, chỉ có anh là người có đủ điều kiện nhất để hoàn thành “sứ mệnh” khoa học này.

Anh Trương Bá Cần là người từng theo dõi, tìm hiểu Nguyễn Trường Tộ trước tôi nhiều năm (từ năm 1942, khi anh còn học ở Chủng viện Xã Đoài, gần quê hương của Nguyễn Trường Tộ). Anh lại có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn tài liệu. Anh vừa là một nhà khoa học, vừa là một linh mục đầy lòng ngưỡng mộ đối với người công giáo yêu nước Nguyễn Trường Tộ, nên về nhiều mặt, anh thuận lợi hơn so với tất cả những người nghiên cứu khác.

Thực tế đã chứng tỏ đúng như vậy. Những tài liệu về Nguyễn Trường Tộ và liên quan đến Nguyễn Trường Tộ mà anh tập hợp được từ nhiều nguồn, trong nhiều chục năm nay là hết sức phong phú: Từ các văn bản Hán Nôm của các Thư viện ở miền Bắc và ở miền Nam, - Từ các sách báo, tạp chí tiếng Việt và tiếng Pháp ở trong nước và ở nước ngoài, - Từ các tài liệu của các tủ sách và Thư viện các gia đình mà anh biết được... Anh đã bỏ ra không ít công phu để tra cứu, đối chiếu, phối kiểm để giới thiệu và chú thích một cách rất cẩn thận... Tóm lại anh đã giám định, khảo chứng và xử lý các văn bản một cách khoa học. Với tất cả công sức lao động bền bỉ và nghiêm túc trong nhiều năm tháng, cho đến nay anh đã cho ra mắt công chúng công trình khoa học:

“NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - CON NGƯỜI VÀ DI THẢO”.

Đây là một “tập đại thành” về Nguyễn Trường Tộ của ba thế hệ nghiên cứu từ những năm 20 đến nay.

Từ nay chúng ta đã có thể yên tâm đi vào khai thác các “di thảo” của Nguyễn Trường Tộ như những tài liệu có “thẩm quyền” về khoa học. Công trình này chứa đựng trong đó những “di thảo” có sở cứ nhất, có thể được coi như là một “kho của báu” về Nguyễn Trường Tộ.


*

Như vậy là sau gần ba phần tư thế kỷ, kể từ năm 1925, khi vấn đề Nguyễn Trường Tộ bắt đầu được chú ý nhiều hơn, đến nay chúng ta mới có được một “chân dung” Nguyễn Trường Tộ tương đối trọn vẹn. Cái quý nhất là những “di thảo”, những “tư liệu thành văn” về ông đã được tập hợp tượng đối đầy đủ. Toàn tập “di thảo” này cũng tức là toàn bộ cuộc đời và tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ được lưu giữ lại cho chúng ta và cho con cháu mai sau.

Trước đây, trong những công trình nghiên cứu, giới thiệu về Nguyễn Trường Tộ, do nhiều lý do, trong đó có lý do là thiếu những văn bản chuẩn xác, nên chưa thể trình bày toàn diện về con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông. Cũng do vậy, mọi người chưa thể hiểu biết Nguyễn Trường Tộ đầy đủ, đặng nhận định, đánh giá đúng đắn về ông. Qua toàn bộ văn bản “di thảo” lần này, đọc kỹ nó, chúng ta sẽ còn chưa hết ngạc nhiên về nhân vật lịch sử đặc biệt này. Mọi người sẽ tự hỏi: Tại sao ở thời đại đó, sống trong xã hội đó, lại có thể có được một con người kỳ tài như thế, có những tư tưởng tân tiến như thế và có một tấm lòng vì nước vì dân sâu nặng đến như thế?

Qua toàn bộ “di thảo” của Nguyễn Trường Tộ được công bố lần này, những người làm công tác nghiên cứu khoa học, nhất là các ngành khoa học xã hội như lịch sử, triết học, kinh tế học, xã hội học... sẽ có thể khai thác, lấy ra rất nhiều vấn đề để nghiên cứu. Bởi vì, có thể nói Nguyễn Trường Tộ đã đề cập đến hầu hết mọi vấn đề về xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao... như là một hệ thống các vấn đề cần phải cải cách đổi mới ở xã hội đương thời. Đặc biệt về đường lối xây dựng phát triển kinh tế, làm cho dân giàu nước mạnh, đối với Nguyễn Trường Tộ, luôn luôn được coi là một vấn đề cốt tử nhất. Về đường lối chiến lược là khá toàn diện và sâu sắc. Về sách lược biện pháp thực hiện là cụ thể và rõ ràng, và về thái độ và tấm lòng thành của ông là vô cùng chân thành và cảm động. Ông đã kiên trì đề đạt những kiến nghị cải cách đó trong hơn mười năm ròng rã, đến mức độ khi bị bệnh phải nằm ngửa để viết tiếp các bản kiến nghị, ông vẫn không chán, không chùn. Vì như ông vẫn tự xác định: “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”.

Những vấn đề Nguyễn Trường Tộ đặt ra cách đây trên một trăm hai chục năm, đối với chúng ta ngày nay, trong thời điểm lịch sử của những ngày tháng sôi động trước phong trào đòi phải “đối mới tư duy” hiện nay, vẫn còn có một ý nghĩa thời sự, vẫn có những giá trị tham khảo nhất định.

Cách đây không lâu, tôi, có một anh bạn lớn tuổi, từng là cán bộ khoa học, có trình độ lý luận cao và đã có một quá trình công tác cách mạng lâu dài, sau khi tôi đưa cho mượn đọc một số “di thảo” của Nguyễn Trường Tộ, đọc xong, anh đã xúc động nói rằng:

- Quả tình càng đọc Nguyễn Trường Tộ, tôi càng thấy xót xa thương cảm ông, càng giận vua quan Triều đình nhà Nguyễn.

Và anh bạn này nói thêm:

- Giá như những “di thảo” của Nguyễn Trưởng Tộ, nhất là tập Tế cấp bát điều được công bố sớm hơn, trước Đại hội VI của Đảng ta chẳng hạn, thì nhân dân ta, các cán bộ lãnh đạo Đảng ta cũng tham khảo được một số ý kiến rất xác đáng của một nhà yêu nước sớm có tư duy đổi mới, sớm có một hệ thống những vấn đề cải cách xã hội và kinh tế xuất sắc, thật đáng cho mọi người kính phục,

Công trình nghiên cứu “NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - CON NGUỜI VÀ DI THẢO” ra đời có thể là hơi muộn so với đòi hỏi của công chúng, nhưng giá trị khoa học của nó vẫn y nguyên. Tấm lòng của Nguyễn Trường Tộ đối với sự nghiệp canh tân đất nước, vẫn là như “hoa quỳ luôn hướng về mặt trời”. Chính vì vậy mà cách đây đúng 80 năm nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, khi viết cuốn “VIỆT NAM QUỐC SỬ KHẢO”, xuất bản tại Nhật Bản năm 1908 đã nhận định đáng giá rằng: “ông chính là người đã giồng cái mầm khai hóa trước tiên2 ở nước ta”. Và có lẽ cũng do có sự chỉ dẫn đó, nên người viết những dòng này sớm có duyên nợ với Nguyễn Trường Tộ, luôn dõi theo công trình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ và hôm nay niềm vui của tôi thật sự được nâng lên với công trình nghiên cứu mới này.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7-1988
CHƯƠNG THÂU
Phó tiến sĩ Sử học

_______________________________________
1. Chương Thâu - Đặng Huy Vận: Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Hà Nội -1961-242 trang 13X19.
2. Phan Bội Châu – Việt Nam quốc sử khảo. Chương Thâu dịch và chú thích, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Hội - 1962.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:26:17 pm

NGÔI MỘ CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ


Ngôi mộ của Nguyễn Trường Tộ hiện ở thôn Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, được xây xong năm 1943, do sự đóng góp của ông Từ Ngọc Nguyễn Lân và một số nhân sĩ Nghệ Tĩnh.

Ngôi mộ được làm bằng những tảng đá thanh, nằm giữa một cánh đồng trống trải, không cây cối, không hàng rào bao quanh, gồm hai phần: MỘ và BIA.

Hàng ngang trên đầu (từ phải sang trái): VIỆT NAM

Hàng dọc bên phải ở phía trên (từ trên xuống): BÀO LỖ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ TIÊN SINH1

Hàng dọc bên trái ở phía trên (từ trên xuống): GIA NGHỊ ĐẠI PHU HÀN LÂM VIỆN TRỰC HỌC SĨ2

Hàng dọc giữa ở phía dưới (từ trên xuống): VĨNH ĐẠI AN CHI3

Hàng dọc bên phải ở phía dưới (từ trên xuống): NHẤT THẤT TÚC THÀNH THIÊN CỔ HẬN4

Hàng dọc bên trái ở phía dưới (từ trên xuống): TÁI HỒI ĐẦU THỊ BẠCH NIÊN CƠ5.
 


Bản văn bằng chữ Quốc ngữ ở chính giữa.

Phao Lô Nguyễn Trường Tộ

Quán thôn Bùi Chu, phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Sinh năm Minh Mệnh thứ X. Ly trần năm Tự Đức thứ XXIV.

Tư chất thông minh, tài ba lỗi lạc, giỏi chữ Tàu thông tiếng Pháp.

Năm Tự Đức thứ XIII cùng Đức Giám mục Ngô Gia Hậu sang Tây. Ở Đại Pháp mấy năm, những lưu tâm quan sát về tất cả các khoa học hầu đem về giúp cho nước thịnh dân cường. Lúc về nước giúp Chung đường, giúp Chính phủ. Thiết tha mến nước yêu nòi; thảo nhiều phiến tấu xin Triều đình cải cựu canh tân về mọi phương diện; vui lòng hiến thân giúp việc khai hóa.

Tiếc thay! Quốc dân thì muộn nẩy lộc; tiên sinh lại sớm ly trần lúc mới 43 tuổi.

Được ân tứ:

Kim tiền Tòa Thánh (1860)

Kim tiền Đại Nam (1868)

Truy phong Gia Nghị Đại phu Hàn Lâm viện trực học sĩ (1924).

Để tỏ lòng kính kẻ sĩ hiền, những bậc vị vọng trong nước đã cộng tác xây lăng, dựng bia làm kỷ niệm. MCMXLIII




- Hai câu đối bằng chữ Nôm ở hai bên mặt bia. (từ trên xuống)

(1) KÍNH CHÚA YÊU NGƯỜI HẰNG TẠC DẠ
(2) TRUNG VUA MẾN NƯỚC VỐN GHI LÒNG


- Hai câu đối bằng chữ Hán ở hai bên thành bia.

(3) TRUNG QUÂN CHÍNH SÁCH QUANG TIỀN SỬ
(4) ÁI QUỐC TINH THẦN KHỞI HẬU NHÂN


Dịch nghĩa:   

(3) Chính sách trung quân làm rạng rỡ trang sử trước.
(4) Tinh thần yêu nước khơi dậy cho người sau.
______________________________________
1. Đọc âm chữ Phaolô
2. Gia nghị Đại phu Hàn Lân Viện Trực học sĩ: Hàm vua Khải Định truy tặng Nguyễn Trường Tộ năm 1924.
3. Dịch nghĩa: An nghỉ đời đời.
4. Dịch nghĩa: Một lần sảy chân ngàn đời ôm hận.
5. Dịch nghĩa: Quay đầu trở lại là trăm năm cơ đồ.



Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:31:13 pm

BẢNG LIỆT KÊ SÁCH, BÁO VIẾT VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ1

1. ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN. Năm xuất bản: 1889
 Bản chữ Việt NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1974-1975. Tập 31 trang 33 và 57. Tập 32 trang 59-60.

2. VIỆT NAM QUỐC SỬ KHẢO. Năm xuất bản: 1906
Bản chữ Hán xuất bản tại Tokyo - Nhật Bản 1906. Bản chữ Việt của Chương Thâu. NXB Giáo dục Hà Nội 1962. NXB Khoa học Xã hội tái bản năm 1982 trang 68 - 69.
Tác giả: Phan Bội Châu

3. Tạp chí NAM PHONG. Năm xuất bản: 1925
Số 100 (tháng 1-1925). Phần chữ Hán: “Nguyễn Trường Tộ điều trần thiên hạ đại thế nguyên tập” trang 47 - 58.

4. Tạp chí NAM PHONG.
Số 102 (tháng l-1926). Phần chữ Hán: “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử” trang 4 - 12.
Tác giả: Lê Thước

5. Tạp chí NAM PHONG.
Số 117 (tháng 5-1927). Phần chữ Hán: “Trần tình khải” trang 54-59.
Số 118 (tháng 6-1927). Phần chữ Hán: “Giáo môn luận” trang 65-70.
Số 119 (tháng 7-1927). Phần chữ Hán: “Lục lợi từ” trang 3-11.
Số 120 (tháng 8-1927). Phần chữ Hán, hai nội dung:
- Tổ chức cho sứ bộ đi Pháp. (Di thảo số 32) trang 17-18
- Quan hệ với người nước ngoài. (Di thảo số 42) trang 18-21.
Số 121 (tháng 9-1927). Phần chữ Hán, nội dung về Chính sách nông nghiệp (Di thảo số 53) trang 31-39.
Số 122 (tháng 10-1927). Phần chữ Hán: “Học tập trữ tài” (Di thảo Số 18) trang 45-50.

6. Tạp chí NAM PHONG.
Số 180 (tháng l-1933). Phần chữ Việt: “Nguyễn Trường Tộ trên lịch sử Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Trọng Thuật

7. LA PATRIE ANNAMITE.
Từ số 221 (16-10-1937) cho tới số 282 (24-12-1938): “Nguyễn Trường Tộ et son temps”.
Tác giả: Đào Đăng Vỹ

8. HÀ THÀNH THỜI BÁO.
Tập mới số 1 (29-8-1938)? “Một danh nhân trong cuộc vận động duy tân Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ”.
Tác giả: Hải Vân

9. Tuần báo TÂN VIỆT NAM.
Số 79 (3-9-1938): “Nguyễn Trường Tộ thành thực hợp tác với Pháp.
Tác giả: Phan Trần Chúc
Số 80 (10-9-1938): “Một nhà nho đã vượt ra ngoài khuôn khổ của Khổng Mạnh”.
Tác giả: Phan Trần Chúc
Số 81 (17-9-1938): “Trên tàu về Việt Nam Nguyễn Trường Tộ đã gặp Y Đằng Bác Văn”.
Tác giả: Phan Trần Chúc
Số 83 (1-10-1938): “Hoàng Cao Khải phê bình Nguyễn Trường Tộ”.
Tác giả: Phan Trần Chúc
Số 96 (7-1-1938): “Nguyễn Trường Tộ thi sĩ”
Tác giả: Lục Y Lang

10. Báo TIẾNG DÂN (21 tháng 12-1939).
“Đồng thời với Trương Vĩnh Ký, một nhà Tây học cũng sớm nhất, mà có cái đặc sắc nhất ở nước ta: bài trần tình của Nguyễn Trường Tộ”.
Tác giả: Sỹ Tử Bình

11. Báo TIẾNG DÂN (tháng l-1940).
“Về cải cách phong tục”.
Tác giả: X.X.T.

12. Báo TRI TÂN.
Số 7 (18-7-1941): “Nguyễn Trường Tộ học ở đâu?”
Tác giả: Đào Duy Anh

13. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ.
Viễn Đệ Huế 1941, 149 trang.
Tác giả: Từ Ngọc Nguyễn Lân

14. VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU. Năm xuất bản: 1941
Chương thứ 14: “Việc mưu đồ canh tân, Nguyễn Trường Tộ và chương trình cải cách của ông”.
Tác giả: Dương Quảng Hàm

15. BULLETIN DES AMIS DU VIEUX HUẾ.
Số 2 (tháng 4-6-1944) “Les grandes familles d’Annam: S. Exc Trần Tiễn Thành-Partian des réformes. Les rapports avec Nguyễn Trường Tộ et Nguyễn Lộ Trạch” trang 134-143.
Tác giả: Đào Duy Anh

16. Nhật báo TIẾNG DỘI Sài Gòn.
(19 tháng 1-1950): Nguyễn Trường Tộ, Lương Khải Siêu Việt Nam”.
Tác giả: Phan Quân
______________________________________
1. BẢNG LIỆT KÊ sách báo này chắc có nhiều thiếu sót. Bởi vì sách báo xuất bản ở nước ta trước ngày đất nước thống nhất rất khó tìm và khó tra cứu.


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:32:12 pm

17. Nhật báo THẦN CHUNG Sài Gòn. (19-4-1951).
“Đại chí sĩ Nguyễn Trường Tộ”.
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh

18. Bán Nguyệt san SINH LỰC Sài Gòn (1-11-1956).
“Cụ Nguyễn Trường Tộ, nhà thơ bất đắc chí trước hiểm họa mất nước, vua yếu, quan hèn”.
Tác giả: Lê Công Tâm

19. NIÊN LỊCH KINH TẾ Sài Gòn 1957. “Danh nhân kinh tế nguyễn Trường Tộ với việc mưu đồ canh tân”.

20. VĂN HÓA Nguyệt san Sài Gòn.
Số 19 (tháng 2 và 3-1957): “Nguyễn Trường Tộ với vấn đề kinh tế. Tác giả: Đào Văn Hội
Số 26 (tháng 11-1957): “Nguyễn Trường Tộ”. Tác giả: Từ Nguyên

21. BIỂU NHẤT LÃM VĂN HỌC CẬN ĐẠI. Sài Gòn - 1958 chương II: “Nguyễn Trường Tộ “ trang 59 - 66. Tác giả: Thanh Lãng

22. BÁCH KHOA Sài Gòn. Số 71 (15-12-1959): “Những người Việt Nam có tinh thần cải cách duy tân: Nguyễn Trường Tộ” trang 23-25. Tác giả: Phan Khoang

23. PHỔ THÔNG Sài Gòn Số 11 (15-5-1959): “Nước Nhật cũng có một 1 Nguyễn Trường Tộ” trang 53-57. Tác giả: Tế Xương

24. LỊCH SỬ CẬN ĐẠI VIỆT NAM. Hà nội 1959. Tập I, trong tiểu mục “Cuộc đấu tranh tư tưởng thủ cựu và duy tân”, có trình bày về Tiểu sử và tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ. Tác giả: Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự

25. VĂN HÓA Á CHÂU - Sài Gòn.
Số 1 (tháng 4-1960) “Những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ” trang 72-77. Tác giả: Nông Sơn dịch
Số 2 (tháng 5-1960) “Bài Trần tình khải” trang 185-191. Tác giả: Nông Sơn dịch
Số 3 (tháng 6-1960) “Bàn về vấn đề tín ngưỡng” trang 279-283. Tác giả: Nông Sơn dịch
Số 4 (tháng 7-1960) “Điều trần về kinh tế quốc gia” trang 382-393. Tác giả: Nông Sơn dịch

26. PHỔ THÔNG Sài Gòn.
Số 31 (1 tháng 4-1960): “Chí sĩ Nguyễn Trường Tộ cảo đề: núi Thạch Bi và chính trị” trang 56-57. Tác giả: Nguyễn Bá Thế
Số 34 (1 tháng 5-1960) “Nguyễn Trường Tộ” trang 19-24. Tác giả: Võ Bá Hải

27. “HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ”. Tài liệu giảng dạy tại Đại học Tổng hợp Hà Nội 1960 (Bản thảo). Tác giả: Cao Xuân Huy

28. VĂN HỌC Á CHÂU - Sài Gòn. Số 1 (tháng 1-1961): “Tập điều trần xin cho học tập để gây nhân tài” trang 29-45. Tác giả: Nông Sơn dịch

29. NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ Hà Nội.
Số 23 (tháng 2-1961 ): “Nguyễn Trường Tộ và những đề nghị cải cách của ông” trang 19-33. Tác giả: Văn Tân
Số 25 (tháng 4-1961): “Vài ý kiến nhỏ bàn góp thêm về những đề nghị cải cách của “Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX) Ý kiến trao đổi với ông Văn Tân” trang 57-70. Tác giả: Đặng Huy Vận – Chương Thâu
Số 29 (tháng 8-1961): “Đánh giá vai trò Nguyễn Trường Tộ trong lịch sử cận đại Việt Nam” trang 34-40. Tác giả: Hoàng Nam
Số 31 (tháng 10-1961): “Góp thêm ý kiến về việc đánh giá Nguyễn Trường Tộ” trang 60- 62. Tác giả: Hồ Hữu Phước – Phạm Thị Minh Lệ
Số 33 (tháng 12-1961): “Sơ kết cuộc thảo luận về hai nhân vật Hồ Quý Ly và Nguyễn Trường Tộ”.

30. “NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ CUỐI THẾ KỶ XIX” NXB Giáo dục Hà Nội 1961, 242 trang. Tác giả: Chương Thâu

31. Tuần san VĂN ĐÀN - Sài Gòn Bộ III.
Số 4 (23-30 tháng 11-1961) “Người ta đã viết gì về Nguyễn Trường Tộ”, trang 7. Tác giả: Hưng Bình
“Vịnh ông Nguyễn Trường Tộ” (thơ), trang 10. Tác giả: Á Nam Trần Tuấn Khải
Nhớ người yêu nước (thơ). Tác giả: Minh Đạo, Ngô Cảnh
“Tiểu sử chí sĩ Nguyễn Trường Tộ” trang 5-6. Tác giả: Nguyễn Bá Thế
“Tôi viếng mộ và gia đình Nguyễn Trường Tộ”, trang 8. Tác giả: Phạm Đình Khiêm
“Học tập đểdành gây nhân tài”, trang 18-19. “Kế hoạch vay tiền Hương Cảng”, trang 12-13. Tác giả: Trần Hữu Huyên dịch
Nguyễn Trường Tộ và Y Đằng Bác Văn, trang 11. Tác giả: Đào Đăng Vỹ
Mấy vần thơ của Nguyễn Trường Tộ trang 21. Tác giả: Thái Bạch dịch
Vài cảm tưởng về nghệ thuật kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ trang 16-17. Tác giả: Ngô Viết Thụ
Nguyễn Trường Tộ kiến trúc sư tiên khởi của ngành kiến trúc mới Việt Nam. Tác giả: Phạm Đình Khiêm
Người yêu nước sáng suốt, Nguyễn Trường Tộ. Tác giả: Phạm ĐÌnh Tâm

32. Tuần san VĂN ĐÀN Sài Gòn Bộ III, Số 35 (tháng 4-1862). Điều trần về tu chỉnh võ bị trang 12-13. Tác giả: Trần Hữu Huyên dịch

33. HỢP TUYỂN THƠ VĂN VIỆT NAM. NXB Văn học Hà Nội 1962, tái bản năm 1984. Tập IV ( 1858-1930) có trích in của Nguyễn Trường Tộ, các bài:
- Đà Nẵng quá bạc
- Cần Giờ phong cảnh
- Quá Hoành Sơn quan hữu cảm
- Thiên hạ phân hợp đại thế luận
- Tế cấp bát điều.

34. Tuần san VĂN ĐÀN - Sài Gòn Bộ IV. Số 11-12 (ngày 17-1-1963). “Vấn đề dịch các văn bản ngoại giao”. Tác giả: Trần Hữu Huyên dịch


Tiêu đề: Re: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2011, 10:33:03 pm

35. LƯỢC KHẢO CÁC TÊN PHỐ HÀ NỘI. NXB Sở Văn hóa Hà Nội 1964. “Nguyễn Trường Tộ”. Tác giả: Lê Thước – Vũ Tuấn San

36. LỊCH SỬ VIỆT NAM. Năm xuất bản: 1965
NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1985 trong tập II “Đề nghị cải cách đặc biệt là những điều trần của Nguyễn Trường Tộ” trang 61-63. Tác giả: Nguyễn Công Bình-Văn Tạo-Phạm Xuân Nam-Bùi ĐÌnh Thanh

37. NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ Hà Nội. Số 94 (tháng 1-1967): Tìm hiểu thêm về cuộc đấu tranh giữa phái chủ chiến những người phái chủ hòa trong cuộc kháng chiến nhằm chống Pháp ở thế kỷ XIX trang 29-40. Tác giả: Đặng Huy Vận

38. NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ Hà Nội.
Số 120 (tháng 3-1969): “Tìm hiểu thiên đạo quan của Triều đình và của các nhà nho trong thời Nguyễn” trang 3-22. Tác giả: Trần Văn Giàu
Số 125 (tháng 7-1969): Lịch sử quan của Triều đình và nho gia thời Nguyễn. Tác giả: Trần Văn Giàu

39. THỰC TRẠNG XÃ HỘI VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU TỰ ĐỨC 1847-1883. Tiểu luận Cao học sử học trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1970 (Roneo 262 trang) chương  VI đoạn 3: “Những đề nghị cải cách quốc gia của Nguyễn Trường Tộ” trang 164-222. Tác giả: Trần Khôi Nguyên

40. THƠ VĂN YÊU NƯỚC NỬA SAU THẾ KỶ XIX (1858-1900). Năm xuất bản: 1971. NXB Văn học, tái bản 1976. Trích in hai văn bản của Nguyễn Trường Tộ “Bàn về cái thế lớn khi phân hợp trong thiên  hạn”,  “Tám điều cứu vớt”. Tác giả: Chu Thuận, Đặng Huy Vận, Nguyễn Bỉnh Khôi

41. Tạp chí TRÌNH BÀY Sài Gòn. Năm xuất bản: 1971. Số 33-35: “Nội dung các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ”. Tác giả: Nguyễn Khắc Ngữ

42. Tạp chí BÁCH KHOA Sài Gòn. Số 359 (15-12-1971): Bài học lịch sử nhân kỷ  niệm 100 năm Nguyễn Trường Tộ... trang 39-46. Tác giả: Đào Đăng Vỹ

43. Nhật báo LÀM DÂN Sài Gòn  Từ số 1 (15-9-1971): “Nguyễn Trường Tộ hay thân phận người trí thức giữa thế kỷ XIX”. Tác giả: Nguyễn Khắc Ngữ

44. BÁCH CHU NIÊN CỦA NGUYỂN TRƯỜNG TỘ 187-1971-Sài Gòn 32 trang khổ 13×19. Tác giả: Tinh Việt, Văn Đoàn

45. BULLETIN DES ETUDES INDOCHINOISES. Số 3, tam cá nguyệt 3-1972: “Nguyễn Trường Tộ, Patriote réformiste, poète et homme  d’action” trang 489-502. Tác giả: Thái Văn Kiểm

46. TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX. Năm xuất bản: 1973. Tài liệu Ronéo, trích bốn văn bản của Nguyễn Trường Tộ:
- Thiên hạ đại thế luận.
- Ngôi vua là quý, chức quan là trọng.
- Giáo môn luận.
- Tế cấp bát điều.
Tác giả: Chương Thâu biên tập

47. SONG MỸ KHAI NGUYÊN ĐẶC SAN. Sài Gòn 1973 “Chí sĩ Nguyễn Trường Tộ và quốc vận Việt Nam” trang 67-72. Tác giả: Nguyễn Quang Trứ

48. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ THỜI ĐẠI CHÚNG TA, Sài Gòn Văn Đàn 1973.
- Nguyễn Trường Tộ và những điều kiến thiết cần kíp. Tác giả: Trần Văn Lắm
- Nguyễn Trường Tộ và vấn đề văn hóa. Tác giả: Mai Thọ Truyền
- Nguyễn Trường Tộ, một sinh lực sáng tạo tuyệt vời. Tác giả: Phạm Đình Tân
- Nguyễn Trường Tộ nhà ái quốc cô đơn (thơ). Tác giả: Trúc Sơn, Nguyễn Quý An
- Tế cấp bát điều. Tác giả: Nguyễn Nam Ninh dịch

49. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG Ở VIỆT NAM (Từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám) NXB KHXH Hà Nội 1973. Tập I trang 381- 405. “Những đề nghị cách của Nguyễn Trường Tộ”. Tác giả: Trần Văn Giàu

50. ETUDES INTERDISCIPLINAIRES SUR LE VIỆT NAM. Sài Gòn 1974 Volume I: “Point de vue sur Nguyễn Trường Tộ et le réformisme Vietnamien au milieu du XIXe Siècle” trang 179-197. Tác giả: Philippe Langlet.

51. THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI. Tập III-1977. “Ý kiến của Nguyễn Trường Tộ về vấn đề nông nghiệp của nước ta cuối thế kỷ XIX” trang 11- 15. Tác giả: Chương Thâu

52. NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ. Số 3 (180 tháng 5 và 6-1978). “Điều trần của Nguyễn Trường Tộ về nông nghiệp” trang 73-78. Tác giả: Chương Thâu

53. Tạp chí TRIẾT HỌC. Số 3 (32) tháng 9-1978.  “Cuộc đấu tranh giữa tư tưởng bảo thủ và tư tưởng duy tân ở nước ta vào cuối thế kỷ  19”. trang 29-40. Tác giả: Chương Thâu

54. ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI. NXB Hà Nội 1979. “Phố Nguyên Trường Tộ” . Tác giả: Nguyễn Vinh Phúc - Trần Huy Bá

55. NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG THỜI CẬN ĐẠI. Có bài: Nguyễn Trường Tộ với những đề nghị cải cách nông thôn cuối thế kỷ XIX (Bản thảo). Tác giả: Chương Thâu

56. DANH NHÂN NGHỆ TĨNH. NXB Nghệ Tĩnh-Vinh 1984. “Nguyễn Trường Tộ”: trang 130-137. Tác giả: Đậu Xuân Mai

57. NGHÌN NĂM VĂN HIẾN. NXB Kim Đồng, Hà Nội 1984 tập IV: “Nguyễn Trường Tộ” trang 360-362. Tác giả: Trần Quang Vượng-Giang Hà Vị

58. Báo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN số 13-2-1987.  Trích Nguyễn Trường Tộ: “Việc võ là rất khó”. Tác giả: Thanh Đạm

59. Báo LAO ĐỘNG số 17-3-1987. “Tìm trong vốn cũ: Nguyễn Trường Tộ bàn về đời sống và lương bổng của quan lại và viên chức”. Tác giả: Thanh Đạm

60. Báo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN số 7-6-1987. “Ý kiến của Nguyễn Trường Tộ về chỉ huy và binh sĩ”. Tác giả: Thanh Đạm

61. Báo TỔ QUỐC số 5-1987. “Trong bài “Đổi mới tư duy trong lịch sử: “Giữa thế kỷ 19, lịch sử Việt Nam ghi nhận một điển hình về đổi mới tư duy độc đáo: tư duy kiểu Nguyễn Trường Tộ” trang 43-44.

62. LỊCH SỬ DANH NHÂN THỜI CẬN ĐẠI. Có bài về: “Nguyễn Trường Tộ” (Bản thảo). Tác giả: Chương Thâu





Hết!