|
Tiêu đề: Cách mạng văn hoá liệt truyện - Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:07:11 pm Tên sách: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2
Tác giả: Thiên Đảo Hồ Người dịch: Nguyễn Duy Chiếm Nhà xuất bản: Mũi Cà Mau Năm xuất bản: 2003 Số hoá: ptlinh, chuongxedap Chương I OAN HỒN CỦA CÔNG THẦN 1 Tiếng súng đầu tiên của cách mạng văn hóa vừa nổ Bành Đại tướng quân cũng gục đổ theo ngay 1. Án của người khác có thể sửa lại, còn án của Bành Đức Hoài thì không thể sửa được Trong Hội nghị Lưu Sơn, vì một bức “Vạn ngôn thư” đã làm Bành Đức Hoài thua sạch. Bị giam lỏng ở vườn hoa Ngô Gia. Sau này khi Mao Trạch Đông đã nhận ra sai lầm của đại nhảy vọt, thái độ đối với Bành Đức Hoài có phần thay đổi. Nhưng vở kịch Hải Thụy mở màn cách mạng văn hóa lại đẩy Bành Đức Hoài vào vực sâu tai họa, một Bành Đại tướng quân dọc ngang yên ngựa năm xưa bị tiếng pháo đầu tiên của cách mạng văn hóa bắn gục. Ngô Hàm viết kịch Hải Thụy, Mao Trạch Đông biết, Hồ Kiều Mộc đã nói với ông, ông còn bảo Hồ Kiều Mộc cố gắng động viên Ngô Hàm, để Ngô Hàm nói cho được tinh thần cùng dân đồng cam cộng khổ của Hải Thụy. Nhưng hôm nay, sau khi xem xong “Hải Thụy bãi quan”, Mao Trạch Đông lại có chút không vui. Cái chữ “bãi quan” quá nhức mắt, ngoài ra sao lại viết vào kịch bản sự việc “về vườn”, ở đây có chút mùi vị của “tam tự nhất bao” (câu nói tắt của “Tự chịu lỗ lãi, thị trường tự do, đất phần trăm và khoán sản phẩm đến hộ - Tự phụ doanh khuynh, tự do thị trường, tự lưu địa hòa bao sản đáo hộ - N.D). Cái án của Bành Đức Hoài do có vở kịch “Hải Thụy bãi quan” nên tính chất càng nghiêm trọng. Trong thời gian Hội nghị Bắc Đới Hà họp, vì phải chủ trì viết bài luận chiến giữa hai đảng Trung Xô nên Khang Sinh đã mấy lần đến gặp Mao Trạch Đông, trong khi trò chuyện cũng đã nhắc đến “Hải Thụy bãi quan”, Khang Sinh đề nghị tổ chức viết bài phê phán vở kịch này, Mao Trạch Đông lắc đầu một cách sâu xa khó hiểu. Khang Sinh lo lắng hỏi: “Tôi thấy có tình hình là một số người không bằng lòng với việc chống phái hữu ở Hội nghị Lư Sơn, muốn xử lại án Lư Sơn, hiện nay cơn gió xử lại án, cơn gió làm ăn riêng lẻ thổi rất gấp. Trước khi Đặng Tử Khôi đến Bắc Đới Hà, đã đến Trường Đảng Trung ương giảng một hồi, rõ ràng là đã chửi Đảng không có một chỗ nào đúng, cơn gió này có quan hệ với Bành Đức Hoài”. Mao Trạch Đông gật gật đầu nói: “Án của Bành Đức Hoài không thể sửa lại được, chống phái hữu không thể như cơn gió thoảng qua, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh ở Trung Quốc cứ đổi cái tên mà hay, gọi là Chủ nghĩa xét lại Trung Quốc”. Mao Trạch Đông nói, án của người khác có thể sửa lại, nhưng án của Bành Đức Hoài thì không được. Trên thực tế Bành Đức Hoài đã trở thành tù nhân, liên tục bị “phái tạo phản” đánh đập, đày đọa, bức cung, phê phán đấu tố, đồng thời bị giam trong nhà lao, ngăn cách hẳn với bên ngoài. Mao Trạch Đông đã từng nói vấn đề của Bành Đức Hoài “hãy để cho lịch sử kết luận”. Cuối năm 1965, Bành Đức Hoài đã kết thúc, cuộc sống bị giam lỏng 6 năm ở công viên Ngô Gia đến Tứ Xuyên chủ trì công việc xây dựng ba tuyến, ông muốn làm một chút công việc cho nhân dân trong những năm còn lại của cuộc đời. Nhưng không lâu sau, cơn sóng dữ “đại cách mạng văn hóa” phút chốc đã nhấn chìm ông vào vực sâu tai họa. 3 giờ sáng ngày 24 tháng 12 năm 1966, cơn gió lạnh buốt xương ào ào thổi trên đường phố Thành Đô, một đám khách không mời mà đến ngồi trên chiếc xe gíp bỗng phanh két, dừng trước cổng số nhà 7 ngõ Vĩnh Hưng. Đám khách không mời mà đến này từ Bắc Kinh tới. Chúng cãi nhau với vệ binh ở cổng, khăng khăng đòi xông vào cổng. Thư ký Kỳ Khôi Anh nghe tiếng, khoác áo đi ra, nhưng không ngăn nổi đám hồng vệ binh ngang ngược vô lý, trái lại còn bị đấm đá túi bụi. Một ông lão gày gò từ trong nhà đi ra, vẫn còn chưa hỏi rõ có chuyện gì, thì đã bị đám hồng vệ binh Bắc Kinh vây kín. Chúng từ ngàn dặm xa xôi kéo đến Thành Đô chính là để bắt ông già này - Bành Đức Hoài! Từ sau Hội nghị Lư Sơn năm 1959, Bành Đức Hoài mai danh ẩn tích, gần như bị mọi người quên bẵng. Bài viết dài “Bình “Hải Thụy bãi quan”” của Diêu Văn Nguyên nói: “Bành Đức Hoài chính là Hải Thụy”, phút chốc đẩy Bành Đức Hoài vào dòng xoáy của cuộc đấu tranh! Giang Thanh không những muốn phê “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm, mà còn muốn đấu “Hải Thụy” sống - Bành Đức Hoài tả tơi tan tác! Ngày 28 tháng 12 năm 1966, tại doanh trại của một đơn vị ở Ngũ Khỏa Tùng thuộc ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Xe hơi chạy đến cửa một gian phòng trong doanh trại. Từ trên xe bước xuống một người mặc áo khoác dài màu xanh xám, ông đi vào trong phòng cởi áo khoác ôm đầu ngủ ngay. Chợt từ trong túi áo khoác rơi ra một cuốn “sách quý màu đỏ”, chiến sĩ cảnh vệ rón rén nhặt quyển sách, mở ra xem, trên trang bìa giả ghi ba chữ quen thuộc hiện rõ trước mắt - Bành Đức Hoài. Chiến sĩ cảnh vệ mỗi lần lấy cơm cho ông, nếu cơm có độn ngô khoai thì ông chỉ ăn ngô, khoai, sắn còn để lại cơm. Ăn còn thừa, ông đều đổ vào chiếc ca sắt tráng men đã bị sứt mẻ, bữa sau đun nóng lại để ăn. Chiếc ca sắt vừa dùng để múc nước súc miệng, uống nước, vừa dùng để làm nồi cơm. Ông thường cầm nó và nói với các chiến sĩ: “Bữa nay tôi có cơm rồi, không phải lấy nữa”. Một chậu nước nóng, ông thường dùng mấy lần, trước tiên là rửa mặt, sau đó rửa chân, rồi giặt vạt chiếc áo vừa cởi ra. Các chiến sĩ hỏi ông: “Vì sao ông chỉ ăn phần độn ngô, khoai?”. “Tôi không làm việc gì, ăn chỗ độn ngô khoai là tốt lắm rồi”, ông đáp. Một hôm, một chiến sĩ cắt tóc cho ông, đã hỏi: “Này ông già (họ gọi Bành Đức Hoài như vậy), nghe nói trước đây ông to như Lâm Phó Chủ tịch, phải không?” Ông đáp: “Ồ, không không, tôi không so được với ông ấy. Ông ấy giỏi hơn tôi nhiều”. “Ông vẫn rất khiêm tốn, nói thì nói chứ làm sao ông ấy giỏi bằng ông được?” “Ông ấy hơn tôi vì biết hô muôn năm!” Mùa hè năm 1967, Bành Đức Hoài viết cho Lôi Văn, kế toán của Văn phòng xây dựng ba tuyến ở Tứ Xuyên, nơi ông đã từng công tác: “Đồng chí kế toán, mỗi tháng 18 đồng sinh hoạt phí vừa đủ nộp tiền ăn. Số độ kính mắt của tôi không đủ nữa, đọc sách không được, cần phải thay mắt kính khác, tôi cũng cần một chút xà phòng thuốc đánh răng, liệu có thể được tăng cho tôi mỗi tháng mấy đồng?” Lôi Văn chợt thấy cay cay ở sống mũi. Nhưng chị lại không thể giúp gì được ông. Chị chỉ là một kế toán, không có cách gì thay đổi được những quy định có liên quan từ cấp trên. Cho đến bây giờ chị vẫn thấy áy náy và đau khổ vì điều này. Bành Đức Hoài đành phải đi nhờ người khác giúp đỡ ông xin người cảnh vệ cũ của mình là Cành Hy Trân gửi sách cho ông. Cảnh Hy Trân đã gửi sách, nhưng sách lại không đến tay Bành Đức Hoài. Cháu gái của Bành Đức Hoài là Bành Mai Khôi cũng nhận được thư nhờ giúp đỡ của ông. Chị đã gửi cho ông một bó sách to và một chiếc máy thu thanh nhưng những thứ ấy có đi mà không có đến, bặt vô âm tín. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:09:34 pm 2. “Ngày mai phải lên bàn mổ. Hôm nay tôi muốn đi gặp Mao Chủ tịch!” Mùa hè năm 1967, đại biểu cách mạng văn hóa Trung ương muốn đến thẩm vấn Bành Đức Hoài. Bành Đức Hoài nghe tin, vô cùng phấn khởi, ông sửa sang lại quần áo của mình ngay ngắn, rồi ngồi nghiêm chỉnh đợi đại biểu Trung ương đến. “Đại biểu” Trung ương mà ông mong trên thực tế là Vương Đại Tân tên cầm đầu phái tạo phản (một trong năm lãnh tụ lớn của Hồng vệ binh Bắc Kinh). Đại biểu được Trung ương cử tới ào ào kéo đến, đẩy ngã Bành Đức Hoài vào góc tường đấm đá túi bụi. Sau khi đánh một trận, lại ra lệnh buộc ông trong một thời hạn phái thú nhận những vấn đề sau: 1. Quan hệ với Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Hạ Long. 2. Ở chiến trường Triều Tiên đã phản đối phương châm chiến lược của Mao Chủ tịch. 3. Mao Ngạn Anh rốt cuộc đã chết như thế nào?... Bành Đức Hoài bị Hồng vệ binh “bắt” đưa từ vùng Tây Nam về Bắc Kinh, bị nhốt trong một doanh trại quân đội ở ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Chẳng có ai bầu bạn, ông là một tù nhân, có bệnh không được chữa, khắp người vừa bẩn vừa hôi, một chiếc quần lót mặc đến gần 3 tháng. Sau khi tết Dương lịch năm 1972 qua đi, đột nhiên Bành Đức Hoài lặng lẽ, không nói không cười, cũng chẳng mắng chửi ai. Sắc mặt ông xanh vàng, mỗi ngày đi ngoài bốn năm lần, trước khi đi ngoài ông luôn lặp lại một câu: “Bụng không tốt phải nhanh”. Về sau chuyển đến Trường Cán bộ Hành chính pháp luật, theo chỉ thị của Chu Ân Lai, ngày 16 tháng 3 năm 1972, các bác sĩ từ các bệnh viện lớn đã đến khám kiểm tra toàn diện cho “án phạm”, Bành Đức Hoài từ chối không khám, ông nói: “Tôi không khám, bây giờ tôi không còn làm việc nữa, là phản cách mạng, là giai cấp tư sản, là phần tử xét lại, khám bệnh làm gì!”. Càng nói càng xúc động. Ngày hôm sau, bác sĩ đến phòng số 5, thuyết phục ông cho lấy máu, xét nghiệm máu kết quả bình thường. Trên thực tế tế bào ung thư đã và đang gặm nhấm dần sinh mạng của ông. Ít lâu sau, tay phải ông bị đau dữ dội, mọc lên một cái u nhỏ; ông đi ngoài phân nhão, mất ngủ ngày càng nặng, hằng ngày một hai giờ sáng đã tỉnh và cứ mở mắt thức cho đến sáng ngày hôm sau. Sau đó ông thường xuyên đi ngoài ra máu, bị ngất hai lần. 16 gờ ngày 10 tháng 4 năm 1973, Bành Đức Hoài đi ngoài một lần ra khoảng từ 800 đến 1000 cc máu, qua bác sĩ giám hộ kiểm tra, phát hiện ông bị bệnh trĩ ngoại, sau đó được xử lý cầm máu. Tổ chuyên án nghĩ đến chỉ thị của Chu Ân Lai về việc án phạm có bệnh có thể được nằm viện chữa trị, đã báo cáo lên trên về bệnh tình của Bành Đức Hoài, đề nghị đưa Bành Đức Hoài đến bệnh viện khám. Tối hôm ấy, Bành Đức Hoài lại đi ngoài ra máu. Giám hộ liên hệ với bệnh viện Phụ Ngoại, bệnh viện không nhận. Liên hệ với bệnh viện Nhất Sư khu Vệ Thú lại bị từ chối. Cho mãi đến tối ngày thứ bảy khi ra nhiều máu, Bành Đức Hoài mới được đưa đến khám tại phòng khám số 9 của Bệnh viện Giải phóng quân tức Bệnh viện 301. Qua khám ở khoa nội và khoa ngoại xác định là ông bị ung thư trực tràng, đã ở giai đoạn cuối. Con đường vật lộn với khổ đau đang sắp kết thúc, người tù vĩ đại sắp hạ tấm màn của cuộc đời! Trong giờ phút ấy, ai dám đến để quan tâm tới số phận của ông, đem đến cho ông niềm an ủi cuối cùng? 6 năm trước, tháng 6 năm 1967, người cháu gái gọi Bành Đức Hoài bằng bác, Bành Mai Khôi đã từng được phép đưa quần áo thức ăn cho Bành Đức Hoài, nhưng ít lâu sau, lại bắt đầu cuộc đại phê phán Bành Đức Hoài trong cả nước. Bành Mai Khôi và các em trai em gái của chị trong những bài hồi ký đã viết, lúc ấy “anh chị em chúng tôi hầu như ai cũng bị thẩm tra, bị phê phán đấu tố”, “chúng tôi tiếp tục gửi đồ đạc cho ông, một lần, lại một lần... 3 năm, 5 năm đã qua rồi, mà chúng tôi vẫn không nhận được một tin tức gì của ông”, “Trong tình cảnh không còn cách nào nữa, chúng tôi đã nghĩ đến Thủ tướng Chu Ân Lai”. Cuối năm 1972, Bành Mai Khôi lấy hết dũng khí và can đảm viết cho Chu Ân Lai một bức thư, hỏi thăm tung tích của bác. Thư rơi vào tay ban chuyên án. Tổ chuyên án báo cáo lên trên: Bành Đức Hoài “qua nhiều năm được Đảng giáo dục” nhưng đến nay vẫn không nhận tội,... tạm thời chưa cho gặp người thân. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:10:07 pm Ngày 17 tháng 4 năm 1973, Bành Đức Hoài được xác nhận là bị bệnh ung thư trực tràng ở giai đoạn cuối. Ngay tối hôm ấy, tổ chuyên án trong báo cáo gửi Trung ương về tình hình bệnh tật của Bành Đức Hoài mới nói: “Theo giấy chẩn đoán bệnh tình của Bành Đức Hoài thì nguyên nhân của đi ngoài ra máu là do khối u ung thư bị vỡ, khối u ở vách sau bên trái trực tràng, cách hậu môn 6-7 cm, khối u khoảng 5 cm, ở trung tâm có một vết loét, khối u khá lớn, đã ở vào giai đoạn cuối”. Đêm ấy, trăng sắp lặn, mờ mờ ảo ảo, sắc mặt Bành Đức Hoài bạc phếch, ông nói với người chiến sĩ ngày đêm giám sát ông: “Tạm biệt”. Từ đó, ông kết thúc cuộc sống tù tội dài tới 6 năm 3 tháng lẻ 23 ngày, ra khỏi nơi tường cao song sắt, bước vào đoạn đường cuối cùng của cuộc đời. Ngày hôm sau, Bành Đức Hoài nằm trên chiếc giường số 5, bệnh phòng 14, Bệnh viện 301. Đây là bệnh phòng một người. Tường vôi màu trắng, ga giường màu trắng, chỉ có cửa sổ từ trên xuống dưới đều dán giấy báo kín mít, u ám, sầu não. Cửa bệnh phòng trong và ngoài đều có lính gác. Theo chỉ thị của Chu Ân Lai thì đối với Bành Đức Hoài chỉ “bảo vệ ở ngoài để ở trong chữa bệnh”, nhưng không được tuân theo. Sáng sớm ngày 21, y tá đến quét dọn, mở cánh cửa sổ, bệnh phòng chợt bừng sáng. Bành Đức Hoài nói với y tá: “Giúp tôi bóc hết giấy dán trên cửa sổ đi”. Y tá đáp: “Ông nói với chiến sĩ cảnh vệ”. Bành Đức Hoài bỗng nổi nóng đập bàn: “Tôi không phải là “145” (để giữ bí mật trong bệnh viện, không gọi tên là Bành Đức Hoài mà dùng số bệnh phòng và số giường, giống như đối với phạm nhân vậy), mà là Bành Đức Hoài ở Lư Sơn ấy! Đã vào nằm viện rồi, các người vẫn không yên tâm sao!? Tôi không ở cái phòng nguyệt bà này (ý chỉ phòng sản phụ che kín không để gió và ánh sáng)! Tôi muốn về ở nhà tù!”. Người lính gác nói, sau này có việc gì thì nói với tổ chuyên án. Bành Đức Hoài tức giận đập bàn càng mạnh hơn. Ông nhận ra, ông vẫn là kẻ tù tội, đã vào ở một phòng giam mới. Tối ngày 22, Bệnh viện thông báo cho ông biết, theo bệnh tình thì cần phải mổ. Bành Đức Hoài đề xuất là muốn cấp trên cử người đến nói chuyện với ông và gặp mặt người cháu gái là Bành Mai Khôi. Chiều hôm sau, hai người trong tổ chuyên án dẫn Bành Mai Khôi vào bệnh phòng. Bành Mai Khôi nhìn thấy bác chia ly đã 7 năm, và phải sống 6 năm ở trong tù bị đày đọa đau ốm nằm trên giường bệnh, trong lòng dâng trào nỗi chua sót, miệng há ra mà không sao nói được một tiếng nào. Bành Đức Hoài chìa tay run rẩy, nắm chặt lấy Bành Mai Khôi. Vì người của tổ chuyên án đứng ngay bên cạnh, Bành Mai Khôi không thể hỏi nhiều nói nhiều. Một lúc sau, với sự thúc giục của nhân viên tổ chuyên án, Bành Mai Khôi gạt lệ từ biệt bác. Bành Đức Hoài dặn: “Cháu về đi, sau này đừng đến thăm bác nữa, kẻo lại cản trở công tác”. Bành Mai Khôi đến thăm người bệnh mà như đến thăm người tù, Bành Đức Hoài sợ liên lụy đến cháu gái. Chu Ân Lai được biết Bành Đức Hoài bị ung thư trực tràng ở giai đoạn cuối, vô cùng sốt ruột, đã chỉ thị cho Biện Tự Cường Chủ nhiệm phòng khám ở Trung Nam Hải đem chỉ thị của ông đến Bệnh viện 301 tìm hiểu bệnh tình của Bành Đức Hoài, hỏi xem: Vì sao đi ngoài ra máu đã hơn một năm mà không phát hiện ra? Trong thời gian hơn một năm đã khám bệnh bao nhiêu lần? Bác sĩ nào khám? Đồng thời hỏi Bành Đức Hoài có đồng ý mổ không? Ngày 24, Bệnh viện họp trước khi mổ quyết định ngày 26 sẽ mổ. Buổi tối, Bành Đức Hoài từ chối mổ. Ngày 25, người của tổ chuyên án vội vàng đi tìm BànhMai Khôi, bảo chị đến động viên Bành Đức Hoài phẫu thuật. Bành Mai Khôi vừa hay bệnh tình trầm trọng của bác, nội tạng đều suy yếu. Đến bệnh phòng, thì thấy bác đang ngồi trên giường bệnh, hai môi mím chặt nhìn chăm chú vào tường nhà. Bành Mai Khôi nức nở: “Bác ơi!” Bành Đức Hoài lúc đầu nín thinh, chầm chậm nhìn quanh một lượt mới nói: “Bác không mổ đâu”. Bành Mai Khôi vừa định khuyên, Bành Đức Hoài quay đầu nói to với người của tổ chuyên án: “Trước khi mổ tôi yêu cầu được đi gặp Mao Chủ tịch! Tôi có việc muốn gặp Mao Chủ tịch! Ngày mai mổ, hôm nay tôi muốn đi gặp Mao Chủ tịch! Tôi muốn nói rõ ý kiến của tôi đối với các vấn đề...” càng nói càng xúc động, từ giường bước xuống xỏ giày đi ra cửa. Bác sĩ khuyên: “Không nên nóng nảy, chúng ta sẽ bàn dần dần”. Bành Đức Hoài phẩy tay: “Tôi sẽ đi, đi ngay bây giờ!” “Vấn đề làm rõ rồi sẽ mổ!” “Một đời cõng chảo đen, chịu cái tội không đâu, chết cũng không cam lòng!”. Bành Đức Hoài đề xuất muốn gặp lãnh đạo bệnh viện, Phó Giám đốc bệnh viện và Phó Chính ủy Bệnh viện 301 cùng đến. Bành Đức Hoài trịnh trọng đề xuất: “1) Lùi ngày mổ, tôi có một tài liệu cần viết về xây dựng ba tuyến và vấn đề phương châm phòng ngự chiến lược, tôi muốn nhân lúc đầu óc còn tỉnh táo trước khi mổ để viết; 2) Tối nay các anh gọi điện thoại liên hệ để Chủ tịch và Thủ tướng tiếp kiến tôi”. Những người lãnh đạo bệnh viện đồng ý thay ông phản ánh yêu cầu và kiên trì việc mổ, sau đó cùng nhân viên chuyên án cố ý ra ngoài, để lại một mình Bành Mai Khôi. Bành Mai Khôi dắt bác ngồi vào ghế tựa, Bành Đức Hoài hỏi cô cháu gái làm bác sĩ: “Mai Khôi, bệnh của bác chỉ có thể mổ thôi ư?” “Vâng, mổ là biện pháp tốt nhất”. Bành Mai Khôi lại nói ý kiến của mình: “Bác có thể đi gặp Mao Chủ tịch được không? Bây giờ bác phải cùng với các bác sĩ, tranh thủ sống thêm ít năm nữa, chẳng có một chút gì xấu cả, bác cứ làm như vậy đi”. Bành Đức Hoài nín lặng, nghe Bành Mai Khôi nói: “Bác ạ, bác bình tĩnh lại một chút, việc gì cũng không thể giải quyết ngay trong một lúc, bệnh của bác không thể để lâu, mổ sớm sẽ có lợi!”. Bành Đức Hoài im lặng, một lúc sau ông nhìn Bành Mai Khôi: “Vậy thì bác sẽ mổ”. 7 giờ 15 phút ngày 26, ca mổ bắt đầu. Bác sĩ Lục Duy Thiện Chủ nhiệm khoa ngoại bệnh viện 301 mổ chính. Chụp cắt lớp xác định là u ác phải cắt bỏ hoàn toàn, đồng thời kết tràng tạo lỗ sông. 1 giờ 40 chiều, ca mổ hoàn tất. Bành Đức Hoài tỉnh dậy trên giường bệnh, câu nói đầu tiên thật thê thảm: “Tôi thành một người tàn phế rồi!”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:12:13 pm 3. Kết thúc cuộc đời trong tiếng gào Do suy nhược sau khi mổ, tâm trọng tồi tệ, cố gắng của các bác sĩ không ngăn được tế bào ung thư nhanh chóng lan rộng. Tổ chuyên án nói Bành Đức Hoài “thường phóng độc”, nên không cho cháu gái thăm nom thường xuyên. Sự chăm sóc của y tá đối với Bành Đức Hoài không thể bằng các bệnh nhân khác. Bành Đức Hoài nằm trên giường bệnh đọc sách, để chống lại sự giày vò về tinh thần và thể xác. Từ năm 1973, dọn đến Trường Cán bộ Hành chính pháp luật, “án phạm” được phép nhờ giám hộ mua giúp một chút thực phẩm, sách báo và đồ dùng. Trong số 25 người bị tù, ông là người mua đồ ăn ít nhất và mua sách báo nhiều nhất. Ông nói nếu có sách mới thì mua cho tôi. Ông đọc “Mác - Ăng-ghen tuyển tập”, đọc “Sử ký”, đọc hết “Sử ký”, lại muốn đọc “Tùy thư”, “Đường thư”, muốn mua cả Nhị Thập tứ sử về để đọc. Đọc sách cũng không thể làm dịu yên được sự phẫn nộ trong lòng. Một lần, mua về một cuốn sách nhỏ “Chúng ta đang tiến lên”. Trong sách đã gọi tên chỉ họ mắng Bành Đức Hoài. Bành Đức Hoài lật giở xem, rồi gấp lại, bực tức nói: “Bất chấp sự thật, không điều tra viết bừa”. Nửa năm trôi qua, vết thương của ông vẫn tấy đỏ. Ngày 24 tháng 10, chụp phim kiểm tra tế bào ung thư đã lan rộng đến phổi. Ngày 19 tháng 11, bắt đầu trị liệu bằng hóa học. Trị liệu hóa học được hơn một tháng, phản ứng ngày càng nghiêm trọng, nôn mửa, ra mồ hôi, đi ngoài từ nhão thành nước, Bành Đức Hoài đứng ngồi không yên, tâm trạng rối loạn. Bác sĩ quyết định ngừng truyền dịch, Bành Đức Hoài bảo: “Cứ truyền đi, có thể rút ra bài học kinh nghiệm”. Tết Dương lịch năm 1974, Bành Đức Hoài nằm trên giường bệnh. Không một người đến thăm, ông lẩm bẩm một mình: “Lại một năm nữa trôi qua”. “Đây là năm cuối cùng rồi!” Ông dự cảm rằng năm nay sẽ là điểm cuối cùng của cuộc đời ông. “Nhân dân nhật báo” số tết đưa đến tay ông, ông cầm đọc, lời chúc tết Dương lịch lại là “đại phê phán”, lại chỉ đích danh Bành Đức Hoài. Ông vứt tờ báo, tức giận thở gấp. Tế bào ung thư nhanh chóng lan rộng ra khắp người, nên phải trị liệu hóa học lần thứ hai, Bành Đức Hoài liệt nửa người, sinh hoạt không thể tự làm được nữa. Tổ chuyên án cho phép các cháu trai cháu gái của Bành Đức Hoài được đến thăm vào ngày chủ nhật. Bành Mai Khôi, Bành Chính Tường, Bành Khang Bạch và Bành Cương, trong bài “Hồi ức đẫm nước mắt” đã viết: khi chúng tôi đến thăm ông, ông dùng hết sức lực mà cũng không ngồi dậy được, ông nằm trên giường kêu lên một cách đau đớn: “Làm sao đây? Tôi bị liệt rồi, tự mình không lo liệu được cho mình nữa rồi, nhưng án của tôi vẫn chưa được làm rõ ràng!” Bành Đức Hoài dặn dò các cháu: “Sau khi bác chết, hãy chôn tro xương của bác xuống đất, bên trên trồng một cây ăn quả, tro xương có thể làm phân bón”. Ông mãi mãi không bao giờ quên nhân dân, những người đã nuôi dưỡng ông. Theo yêu cầu của bác sĩ, giấy dán trên cửa sổ bệnh phòng được bóc đi một nửa, Bành Đức Hoài có thể nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Theo yêu cầu của bác sĩ, họ cho phép ông ra phơi nắng, nhưng phải trong thời gian chỉ định, đến ngồi ban công nào cũng được chỉ định, ra vào vẫn phải tránh gặp mặt những bệnh nhân khác. Tóm lại, buộc ông phải cách biệt với thế gian. Bệnh phòng 14 là bệnh phòng cán bộ cao cấp của Bệnh viện 301. Mấy vị tướng cũ nằm viện ở đây phát hiện thấy anh Bành nằm trong bệnh phòng số 5 bị canh gác phong tỏa nghiêm ngặt, trong lòng họ thấy xúc động vô cùng: Anh Bành ở đây! Anh ấy ra sao? Có đến thăm anh ấy được không? Có người từ dưới lầu lén nhìn khi ông ra ban công phơi nắng; Thượng tướng Lý Tụ Khuê đã từng cùng ông tham gia cuộc khởi nghĩa Bình Giang đã giả vờ đi nhầm chỗ xông vào phòng để được nhìn thấy ông, để được an ủi và chào ông bằng ánh mắt. Tháng 2 năm 1974, ngón tay bên phải của Bành Đức Hoài lại bắt đầu đau nhức, tiếp đó là vết mổ bị đau rồi vai phải cũng đau, sự đau đớn dữ dội giày vò, ông lăn lộn trên giường mồ hôi vã ra như tắm. Bị đau đớn dữ dội giày vò, đến tháng 6 năm 1974, ông gầy tọp hẳn đi, bắt đầu mê sảng. “Buổi tối không hửng sáng, ban ngày không sẩm tối”, người lính gác ghi lại, ông nói câu ấy hết lần này đến làn khác. Ông muốn bắt tay y tá, nhưng y tá không chìa tay, ông muốn bắt tay chiến sĩ, nhưng chiến sĩ cũng không chìa tay, ông nói: “Xin từ biệt!”. Ông không còn bất cứ một ràng buộc nào nữa, trên giường bệnh ông lấy tất cả sức lực toàn thân bật ra tiếng kêu: “Tôi không thông đồng với nước ngoài!” “Hãy đem bức thư của tôi viết ra mà xem, rốt cuộc có phải là công kích hay không?” Tháng 10 năm 1974, Bành Đức Hoài ở trong tình trạng thường xuyên bị hôn mê, chỉ dựa vào truyền dịch để duy trì sự sống. Một hôm, ông tỉnh lại, ông nói rành rọt với Bành Mai Khôi: “Sau khi bác chết, đưa tro xương của bác về quê, đừng nói với người ta, đừng làm phiền người ta, các cháu đem chôn nó đi, trên mặt trồng một cây táo, để bác báo đáp mảnh đất quê hương lần cuối cùng, báo đáp bà con thân thuộc”. Ông chỉ vào cửa sổ bị dán kín bằng giấy đen, huơ huơ cánh tay khẳng khiu như cành củi khô gào lên: “Xé đi! Xé đi!” Nhân viên chuyên án không thèm để ý đến yêu cầu cuối cùng ấy của ông, ông thét lên giận dữ: “TM... TM...”. Ông không giãy nổi nữa, vì toàn thân ông đã bị liệt, ông đành phải dùng hàm răng của ông cắn chặt vào góc chăn, dùng bàn tay vẫn còn hoạt động được xé chiếc chăn cho đến nát, xé đến khi hàm răng ông tóe máu, đôi môi rách toạc, xé cho đến khi tinh lực trong ông khô kiệt mới thôi. 8 năm trời, ông đơn thương độc mã chiến đấu trên một chiến trường đặc biệt, giữ vững chân lý, giữ vững diện mạo vốn có của lịch sử, với tinh thần dũng cảm không sợ hãi dám nói, dám tức giận, dám chửi, chính khí lẫm liệt, xem cái chết như không. Cá tính rõ rệt của ông đã để lại một sắc màu nồng đậm trên tấn bi kịch chính trị trong lịch sử hiện đại Trung Quốc, lịch sử sẽ mãi mãi còn vang vọng tiếng thét cuối cùng của ông! Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:13:57 pm 2 Vì nhờ vả Lâm Bưu, Mao Trạch Đông nhẫn tâm biến La cao thành thấp Bịa ra cuộc “Binh biến Tháng Hai”, Khang Sinh từ phía sau đâm chết “Thần Long” 1. Lâm Bưu gãi vào chỗ đau của Mao Trạch Đông Từ trước khi “đại cách mạng văn hóa” bùng nổ, Lâm Bưu đã không bằng lòng với La Thụy Khanh: ông không hành sự theo màu mắt của Lâm Bưu, nhưng lại thường được Mao Trạch Đông khen ngợi. Từ cuối năm 1965, Lâm Bưu đã bí mật mưu tính với Diệp Quần và Ngô Pháp Hiến, tạo ra các loại tài liệu giả, muốn đưa La Thụy Khanh vào chỗ chết. Bây giờ Mao Trạch Đông đã bắt đầu phát động “cuộc đại cách mạng văn hóa” nói theo lời của ông ta: “Chính trị trong giờ phút then chốt, phải dựa vào thực lực quân sự để nói chuyện”. Chính “giờ phút then chốt” ấy, Mao Trạch Đông phải nhờ vả Lâm Bưu, ngoài việc tỏ rõ lòng trung thành và quyết tâm ra, Lâm Bưu không để lỡ thời cơ nêu ra “khó khăn”. “La Thụy Khanh, con người này...” Lâm Bưu đã suy nghĩ trù tính từ lâu, mưu kế đã vạch sẵn, nhưng lại vẫn làm ra vẻ do dự, ấm ức, “không thể bảo đảm con người này nghe lời”. Ông ta luôn muốn cướp quyền của tôi, trong quân đội làm riêng một kiểu, người mà tôi không yên tâm nhất là ông ta”. “Ờ?” Mao Trạch Đông sau sự ngạc nhiên không tỏ thái độ ngay... Mao Trạch Đông lim dim cặp mắt, ánh mắt mơ màng dần dần đọng lại thành một điểm, lướt qua những chữ nhỏ phía sau bài viết, đó là bài bình “Phu xe” của Phùng Mộng Long: Từ xưa đến nay các nước cát cứ, như Lý Trì, Vương Kiến, Mạnh Tri Tường đều thừa dịp nó không làm gì được, lấy trộm miệng thịt mà ăn. Lâm Bưu không phải là không muốn lấy trộm miếng thịt sao? Ông ta nói rất có mức độ và giới hạn, không nói La Thụy Khanh muốn cướp quyền của Mao Trạch Đông cũng không nói là Mao Trạch Đông không yên tâm về La Thụy Khanh, ông ta chỉ nói La Thụy Khanh muốn cướp quyền của ông ta, đã làm cho ông ta không yên tâm nhất. Điều này có nghĩa là hỏi Mao Trạch Đông: Có thể vì tôi mà chịu đau cắt bỏ hay không? Đối với Mao Trạch Đông mà nói, nếu nói ông không tin La Thụy Khanh, thì trong toàn Đảng sẽ chẳng còn một ai đáng tin nữa. Nói về quan hệ cá nhân, ông tin sự trung thành của La Thụy Khanh hơn tin Lâm Bưu, thậm chí hơn cả tin Giang Thanh; nhưng là lực lượng chính trị và quân sự đảm bảo cho “đại cách mạng văn hóa” giành thắng lợi thì ông tin Lâm Bưu hơn tin La Thụy Khanh. “Sói tự cắn mông”. Lâm Bưu ghê gớm hơn, cái mà ông ta muốn là thịt ở trong lòng. Phút chốc, Mao Trạch Đông đã nghĩ ngay đến “Hàn Tín”, đôi chân trần lộ ra khỏi chăn nhẹ nhàng cựa quậy, rồi như bị ai đá một cái vội rút vào trong chăn. Lưu Bang liên tục thua trận và bị vây hãm, Hàn Tín không động binh, bảo đất Tề chưa yên bình, muốn giả danh hiệu của Tề vương để thu phục nhân tâm. Lưu Bang chửi bới, bị Trương Lương đá vào chân, phút chốc hiểu ra, nhân đó đổi giọng: Đã làm thì làm Tề vương thật, làm Tề vương giả làm gì? Để đánh bại Hạng Vũ, Lưu Bang đã thực phong cho Hàn Tín làm Tề vương. Ba mươi lăm năm trước Lâm Bưu đã từng được là “Hàn Tín”, lúc ấy vì mưu lược của ông ta hơn người, đánh trận rất hay, nay thực sự thành “Hàn Tín”, ông ta không giống như La Thụy Khanh ở chỗ sự cố gắng và trung thành của La Thụy Khanh không kể tiền bạc, còn sự trung thành và cố gắng của ông ta đều cần có thù lao. Nửa đời “trên lưng ngựa giành thiên hạ”, Mao Trạch Đông là thống soái thưởng phạt nghiêm minh. Lâm Bưu có công lao rất lớn, Mao Trạch Đông thưởng cho ông ta cũng khác thường. Lâm Bưu bị thương nặng ở trận Bình Hình Quan, Mao Trạch Đông cưỡi ngựa đi hơn ba mươi dặm đến thăm; Lâm Bưu từ Liên Xô chữa bệnh trở về, Mao Trạch Đông đi xa mười dặm để đón, lại tổ chức mít tinh long trọng chào đón ở lễ đường Trung ương, cho Lâm Bưu được nhận “sự đón tiếp của nhiều người đứng ở hai bên đường”. Thời Tam Quốc, Ngô vương Tôn quyền đã từng cởi áo bào trên người khoác lên người Chu Thái vì có công bảo vệ xa giá, đây là sự khen thưởng cao nhất của quân vương đối với thần tử từ xưa tới nay. Mao Trạch Đông trong Đại hội Đảng khóa 8, đã bỏ phiếu bầu chủ tịch Đảng vốn thuộc về mình cho Lâm Bưu, cử chỉ này còn hơn cả Tôn Quyền cởi long bào. Sau khi Lâm Bưu chủ trì công tác của Quân uỷ Trung ương, Mao Trạch Đông đã viết thư riêng cho Hạ Long chỉ rõ: “Công tác chính trị tư tưởng và công tác quân sự của quân giải phóng, sau khi thông qua việc đồng chí Lâm Bưu đề xuất bốn nhất, tác phong Tam Bát (ba kỷ luật lớn và tám điều chú ý - N.D), so với trước đây đã có tiến bộ rất lớn, cụ thể hóa hơn và lý luận hóa hơn. “Không còn nghi ngờ gì nữa chính là bảo với Hạ Long rằng: Lâm Bưu có mặt hay vắng mặt, công tác của Quân ủy đều không thể xa rời khuôn mẫu của Lâm Bưu. Cùng lúc viết thư cho Hạ Long, Mao Trạch Đông cũng viết thư cho Lâm Bưu, quan tâm tới ông ta, nhắc ông ta cần “có hướng dưỡng bệnh”, đồng thời viết tặng “Quy Tuy Thọ” của Tào Tháo: “Con ngựa hay tuy đã già nằm bên máng cỏ nhưng chí vẫn ở ngoài ngàn dặm, tráng sĩ về già chí khí vẫn không một chút phôi phai...” Những niềm vinh dự đặc biệt như vậy, còn chưa nói tới việc mời Lâm Bưu tham gia Bộ Chính trị, đích thân nêu tên chọn ông ta làm Phó Chủ tịch Đảng, Phó Chủ tịch thứ nhất Quân ủy Trung ương, bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng... Nhưng, Lâm Bưu vẫn chưa thỏa mãn, còn muốn “cắn mông của nó”. Không, ông ta muốn Mao Trạch Đông phải cắt khúc ruột mình! Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:15:12 pm 2. Vì muốn trừ ma phải mượn uy Chung Quỳ Trên thực tế, chính vào năm 1965, khi Lâm Bưu bắt đầu nhanh chóng leo lên đến đỉnh cao nhất của quyền lực chính trị Trung Quốc, ông ta đã để lại trong lòng Mao Trạch Đông một bóng đen dài khiến người ta không rét mà run. Lâm Bưu lên càng cao, thì bóng đen ấy càng dài càng đậm. Năm 1966, sau khi xem bài nói chuyện ngày 16 tháng 5 xong, Mao Trạch Đông đã viết thư cho Giang Thanh gọi Lâm Bưu là “vì muốn trừ ma, phải mượn Chung Quỳ”, bày tỏ sự “bất an, bất ổn” ẩn kín trong lòng. Năm 1967, Mao Trạch Đông lại đi thị sát ở vùng Nam Bắc Trường Giang, ông đã chỉ vào “Bốn cái vĩ đại” hỏi: “Ai phong cho tôi bốn cái chức quan này?”. Còn nói với Dương Thành Vũ quyền Tổng Tham mưu trưởng và một số người rằng: “Khỏe mạnh mãi mãi cái gì, lẽ nào lại có người không chết?” Còn “khoẻ mạnh mãi mãi” chính là món hàng chuyên dụng của Lâm Bưu. Có rất nhiều sự thực chứng tỏ Mao Trạch Đông không vừa lòng, lo ngại và cảnh giác đề phòng đối với Lâm Bưu chính là bắt đầu từ việc Lâm Bưu yêu cầu hạ bệ La Thụy Khanh, mà không phải là Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 khóa 9 họp ở Lư Sơn, Lâm Bưu muốn làm Chủ tịch Nhà nước. Nhưng, trong vấn đề La Thụy Khanh, Mao Trạch Đông giống như Lưu Bang phải đối mặt với việc Hàn Tín xin phong làm Tề vương, không thể không làm trái với lòng mình để Lâm Bưu được vừa ý. Những người chịu khó đọc sách sử có thể phát hiện. Sức mạnh có thể buộc Mao Trạch Đông phải làm trái với lòng mình hết lần này đến lần khác không nhiều, một là “tình thế”, hai là Lâm Bưu. Hồi ấy, giây phút mà người vệ sĩ nhìn thấy mắt Mao Trạch Đông nhắm lại giận dữ vứt cuốn “Liêu trai chí dị”, làm anh ta sợ giật nảy mình. Do tâm trạng hoang mang, Mao Trạch Đông đã dùng lực rất mạnh, cuốn sách nảy lên rồi rơi xuống giường. Vệ sĩ vội nhảy một bước tới đỡ được. Chính giờ phút ấy, số phận của La Thụy Khanh, rồi sau này đến số phận của Hạ Long đã được quyết định mà không sao cứu văn nổi... Sự vu cáo, bịa đặt và gièm pha nghiêm trọng như những chậu nước bẩn đổ vào vị tướng quân đã từng thập tử nhất sinh, thương tích đầy người trong vô số cuộc chiến đấu để sáng lập nên nước Cộng hòa. Có miệng mà khó cãi, sự oan khuất và đau đớn vì bị hãm hại ngầm mà không có cách gì đánh trả đã làm cho tướng quân khó tự kiềm chế. Trong Hội nghị Thượng Hải, Lâm Bưu đã đánh đổ được La Thụy Khanh, trong lòng rất đắc ý. Mưu kế của Ngô Pháp Hiến là đẩy La Thụy Khanh vào cái xã hội mà đấu tố bắt bớ đã thành nếp muốn lợi dụng nếp xấu này để đầy đọa hành hạ La Thụy Khanh cho đến chết. Cứ như vậy phê đấu luân phiên, xỉ nhục về nhân cách, đày đọa về thể xác, một sự đối xử mà con người không thể nào chịu nổi. Mưa to gió lớn, càng làm cho La Thụy Khanh kiên định lòng tin đấu tranh dẻo dai với kẻ thù mang những cuốn sổ đỏ. “Phải sống” mới có thể làm cho nhân dân “hiểu được lòng ta”, mới có thể nhìn thấy mặt trời sau khi xua tan những “đám mây che phủ bầu trời”. Đã có kẻ chờ mong ông chết nhanh, La Thụy Khanh càng phát hiện ra rằng sinh mệnh của ông có ý nghĩa. Vì mục đích này, tháng 6 năm 1968, La Thụy Khanh yêu cầu mổ đùi. Ngày 3 tháng 8, tổ chuyên án La Thụy Khanh đã báo cáo yêu cầu này lên 5 người. Giang Thanh, Diệp Quần, Trần Bá Đạt, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến. Từng cái vòng tròn được khuyên lại, nhưng đến Diệp Quần thì tình hình đột biến. Buổi sáng ngày 4 tháng 8, Diệp Quần gọi điện thoại cho Ngô Pháp Hiến, truyền đạt bằng giọng nói hung ác: “Vấn đề mổ của La Thụy Khanh, Lâm Bưu không đồng ý, phải trì hoãn việc tiến hành. Lâm Bưu bảo, hiện nay chưa tìm ra tài liệu gì ở La Thụy Khanh nên phải nắm chắc việc thẩm vấn và đấu tranh, tìm cho ra tài liệu... Nếu sau khi phẫu thuật không tốt thì tài liệu gì cũng không thể viết ra được. Lúc nào phẫu thuật sẽ tính sau”. Sự kêu gào của vợ chồng Lâm Bưu, Diệp Quần chứng minh La Thụy Khanh không chịu nhượng bộ bọn gian tặc một chút nào. “Chưa tìm ra tài liệu gì” trở thành nỗi lo âu của chúng. Diệp Quần đã chuyển tới Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến tâm trạng bức bách của Lâm Bưu, Lâm Bưu nói là: “Phải nắm chắc tội trạng chủ yếu của phần tử phản cách mạng với tội ác tày trời La Thụy Khanh, muốn tổ chuyên án La Thụy Khanh nắm chắc tội trạng này để tiến hành đấu tranh thẩm vấn La Thụy Khanh. Phải chú ý La Thụy Khanh là một phần tử vô cùng xảo quyệt mấy năm qua vẫn không nhận sai, không bộc lộ tài liệu gì, cực kỳ hiểm ác. Vấn đề La Thụy Khanh yêu cầu phẫu thuật, không thể phê chuẩn, phải trì hoãn, sau này sẽ tính”. Lâm Bưu đã nghiến răng nói những lời ấy. Không đánh đổ La Thụy Khanh thì ngôi báu của Lâm Bưu không thể không bị uy hiếp nghiêm trọng. Thật đáng quý! Xương sát hồn trung! Trước mặt Lâm Bưu và đồng bọn, La Thụy Khanh “vẫn không nhận sai”. Tướng quân là một khúc xương cứng, chúng không gặm nổi. Chủ nghĩa phát xít nắm chính quyền, chủ nghĩa nhân đạo không còn gì. Trì hoãn mổ là một sự đày đọa, cũng là một sự uy hiếp. Vết thương bên chân trái của ông mưng mủ không khỏi: “Mi nói đi, mi tiếm đoạt quân đội, chống Đảng, mi tổ chức tập đoàn chống Đảng, mi câu kết với đặc vụ, nói rồi, sẽ cho ngươi chữa chân, sẽ cho ngươi dễ chịu”. La Thụy Khanh dùng im lặng thay cho trả lời. Một ngày 24 tiếng, lôi ông ra, kéo ông vào luân xa chiến (nhiều người thay nhau đánh - N.D), tinh thần chiến (đánh bằng tinh thần - ND) đều dùng cả. Sức khỏe ngày càng suy giảm, sốt cao, nửa đêm ông kéo lê đôi chân lần theo tường vách đi đại tiện, người trông coi bực mình vì động tác chậm chạp lại đẩy ông ngã lăn trên đống bùn làm xương đùi bị gãy. Không thể không mổ, trên bàn mổ, xương đùi vốn có thể nối được nhưng lại bị cắt đi, thế là chân trái của La Thụy Khanh mất đi khả năng lắp chân giả. Lũ ma qủy sợ hãi ông đứng lên với tư thế của người khổng lồ biết dường nào! Cuối năm 1973, Mao Trạch Đông đã nói một câu ngụ ý sâu xa rằng, vấn đề La Thụy Khanh, tôi đã nghe một phía ở Lâm Bưu, đã làm sai, phải xử lại án này. Về sau, án đã được xử lại, vì lịch sử luôn công bằng. Nhưng từ đó La Thụy Khanh không đứng lên được nữa. La Thụy Khanh mãi mãi chỉ có thể ngồi trên chiếc xe lăn để hoạt động. Ngày 9 tháng 9 năm 1976, khi tin Mao Trạch Đông qua đời truyền đi, La Thụy Khanh đã khóc nức nở. Ông bất chấp mọi ngăn cản và trở ngại, vội vàng về Bắc Kinh, dùng đôi chân gãy đang còn chảy máu chảy mủ đỡ tấm thân bệnh tật, đứng nghiêm hơn một tiếng đồng hồ trước di thể của Mao Trạch Đông, khóc nức nở như đứa trẻ, khiến ma quỷ cũng phải đau buồn... Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:16:01 pm 3. Nhìn chòng chọc vào miếng “thịt rồng” Từ cuối năm 1965 đến tháng 5 năm 1966, Mao Trạch Đông đặc biệt chú ý đến việc phòng ngừa chính biến phản cách mạng, đã dùng rất nhiều biện pháp. Sau khi vấn đề La Thụy Khanh xảy ra, Mao Trạch Đông đã nói đến vấn đề này, rồi sau khi Bành Chân đưa ra đề cương báo cáo tháng hai, Mao Trạch Đông lại tìm người để bàn vấn đề điều binh khiển tướng, phòng ngừa chính biến phản cách mạng, tiến hành bố trí lực lượng ở các trạm điện đài đài phát thanh, hệ thống quân đội, công an. Mao Trạch Đông đã tìm ai để bàn vấn đề phòng ngừa chính biến, Lâm Bưu không nói. Nhưng muốn điều binh khiển tướng, thì không thể thiếu Lâm Bưu, Lâm Bưu cũng vui mừng nhân cơ hội này, cài nhưng thân tín của mình vào các ngành quan trọng. Để tạo nên nỗi hoảng sợ về một cuộc chính biến đang đến gần, nhằm tiến đến việc cướp quyền trong lúc loạn lạc, trong bài nói chuyện lần này, Lâm Bưu đã lần lượt điểm lại một số cuộc chính biến, nào là “Chính biến ở cửa Huyền Vũ”, “Loạn bát vương”, “Chính biến ở cầu Ngự Hà”, “Ung Chính mưu đoạt ngôi vua” v.v... và v.v…, giống hệt một kẻ theo chủ nghĩa chính biến, ý của Lâm Bưu chẳng qua là dùng chính biến để dọa Mao Trạch Đông, để ông giao nhiều quyền hơn về quân sự cho mình, đánh đổ sáu nguyên soái: Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Hạ Long, Diệp Kiếm Anh. Quỷ kế của Lâm Bưu không đến nỗi mất công không. La Thụy Khanh, Dương Thượng Côn, Lục Định Nhất, Bành Chân vì chia nắm quyền lớn ở bốn ngành quan trọng Bộ Tổng tham mưu. Văn phòng Trung ương, Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng và Thủ đô đã bị đánh đổ. Quỷ kế của Lâm Bưu bước đầu đạt mục đích, tiếp sau đó liền thò tay vào chỗ sáu vị nguyên soái trong Quân ủy. Nhưng sáu người này đều là khai quốc công thần, chức cao công lắm, Lâm Bưu khó có thể ra tay. Nhưng ngày ấy, cuối cùng đã đến, đó là do Lâm Bưu sắp đặt, Diệp Quần vận dụng cụ thể những thủ đoạn độc ác, có thể nói là đã tạo nên một chương sử đặc biệt hãm hại kẻ trung thần. Trung tuần tháng 8 năm 1966, Lâm Bưu ngồi ở phòng Chiết Giang trong Đại lễ đường Nhân dân. Buổi sáng hôm ấy, ông ta gọi Ngô Pháp Hiến đến nói chuyện về tình hình Hội nghị toàn thể Đảng ủy Không quân, mở đầu ông ta đã chấn chỉnh: “Hội nghị này của các anh, Hạ Long đã nhúng tay rồi. Chỗ nào Hạ Long cũng nhúng tay, Bộ Tổng Tham mưu, Hải Quân, Không quân, Học viện Chính trị đều nhúng tay”. Còn nói: “Không quân là một miếng thịt béo bở, ai cũng muốn ăn. Hạ Long cử người đến muốn đoạt quyền của anh, anh phải cảnh giác và đề phòng”. Từ 1966 đến 1969, Lâm Bưu, Diệp Quần, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng phối hợp với nhau, chụp cho Hạ Long vô số mũ, còn tội danh thì kể không hết. “Đại thổ phỉ”, “Đại quân phiệt”, “Đầu hàng địch”, “Tay trong của những hoạt động cướp quyền quân sự”, “không biết đã giết trao nhiêu người”, “sợi chỉ đen do Hạ Long cầm đầu”, “bom hẹn giờ”, “thông đồng với nước ngoài”, “làm chính biến phản cách mạng”, “theo dõi Mao Chủ tịch ở Thượng Hải” v.v... và v.v... Quả là đã tìm hết cách. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:17:54 pm 4. Mượn dao giết người Diệp Quần núp trong góc gối chờ đợi thời cơ và phương pháp đánh đổ Hạ Long. Bà ta quyết định dùng “kế mượn dao giết người”. Một hôm, Diệp Quần ra khỏi phòng thư ký, mắt chợt sáng lên. Bà ta nhìn thấy một người cao lớn từ sau tấm bình phong vẽ hình “chim công khai bình” đi ra. “Anh Tống, vẫn chưa về à?” Diệp Quần niềm nở bước tới: “Anh vất vả quá, Anh làm việc như vậy rất có trách nhiệm, đồng chí Lâm Bưu và tôi rất cảm ơn anh...”. Người đến là Trưởng phòng Cảnh vệ Văn phòng Quân ủy Tống Trị Quốc. Anh ta với tư cách là Trưởng phòng cảnh vệ, có trách nhiệm trực tiếp về sự an toàn của các thủ trưởng, đặc biệt là đối với Lâm Bưu, cho nên thường đến nơi ở của các thủ trưởng thuộc Quân ủy để xem xét, kiểm tra công tác cảnh vệ, cũng thường đến Đại lễ đường Nhân dân (Hội trường Quốc hội - N.D.) và đến trò chuyện với các cảnh vệ ở các phòng phía Tây. Diệp Quần quả là có tài, có thể làm cho người ta sợ, cũng có thể làm cho người ta yêu, đặc biệt là cùng với những người không có quan hệ lợi hại, nhưng lại thường có sự qua lại. Bà ta có thể niềm nở sởi lởi, làm cho anh cảm động, cam lòng tận lực vì bà ta. Ví dụ như Tống Trị Quốc, mỗi lần gặp, bà ta đều niềm nở chào hỏi, có lúc còn “quan tâm” vồn vã hỏi han, làm Trưởng phòng Tống Trị Quốc rất cảm động. Diệp Quần hiểu, “kẻ sĩ sẽ chết vì người tri kỷ”. Trong lịch sử chính trị ở Trung Quốc, ví dụ nhiều không kể xiết. Rất nhiều người là thủ trưởng nhưng rất “keo kiệt”, ngay vẻ mặt tươi cười, mấy tiếng chào hỏi cũng không chịu ban cho người dưới. Sau sự quan tâm hỏi han ân cần, nét cười biến mất, thay vào đó là sắc mặt nghiêm nghị. Theo khuôn mẫu trò chuyện ở thời đại ấy, là nói về tình hình đấu tranh giai cấp, trước tiên là quốc tế sau đến trong nước rồi liên hệ thực tế, chuyển sang chuyện trước mắt, gợi ý Tống Trị Quốc là phải xóa bỏ sự sùng bái, nắm chắc chiều hướng mới trong đấu tranh giai cấp. “Tư tưởng Mao Trạch Đông là kính hiển vi, chỉ cần dùng quan điểm giai cấp để quan sát xã hội, quan sát thế giới, quan sát chung quanh chúng ta thì sẽ thấy được cặn kẽ, thông qua hiện tượng bên ngoài để nắm bản chất của sự vật”. Diệp Quần nghiêm nghị nói: “Anh Tống Trị Quốc ạ, hiện nay đấu tranh giai cấp ở Thượng tầng rất gay gắt và rất phức tạp, hằng ngày anh hay đến nơi ở của các vị nguyên soái, anh có phát hiện thấy chiều hướng nào không?”. Tống Trị Quốc nghiêm trang, thậm chí có chút căng thẳng, anh ta ngẫm nghĩ nghiêm túc rồi hỏi một cách không chắc chắn: “Chủ nhiệm nói nhà ai?”. “Nhà Hạ Long”. Diệp Quần nhìn chằm chằm vào mặt Tống Trị Quốc thốt ra ba tiếng. Tống Trị Quốc rùng mình một chút nhưng không ai nhận ra, tất nhiên anh ta đã hiểu được tầm quan trọng của cuộc nói chuyện hôm nay. Phút chốc ngập ngừng đáp: “Không có chuyện gì...”. “Anh cứ nghĩ kỹ đi”, Diệp Quần dùng khẩu khí không cho phép nghi ngờ, “Không có chuyện gì thì tôi đã không hỏi anh. Hạ Long hoạt động khắp nơi, ở Bộ Tổng Tham mưu lôi kéo Vương Thượng Vinh, nổ súng vào lãnh đạo Tổng Tham mưu, đó là muốn xử lại án La Thụy Khanh, muốn cướp quyền của thủ trưởng, cũng có nghĩa là thò tay tới Mao Chủ tịch”... “Ồ, nhớ ra rồi”. Tống Trị Quốc có lẽ đã tin sự phức tạp và quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp thật, cũng có thể là có sự tính toán cá nhân trong sự lợi hại được mất, với vẻ mặt có chút thay đổi: “Nhà Hạ Long, người vào người ra quả thật là rất nhiều, chủ yếu là người thuộc Phương diện quân thứ 2. Mấy hôm trước Hoàng Lập Thanh và Phó Truyền Tác ở Không quân còn đến nhà ông ấy, mang cả trà, còn co co kéo kéo...”. “Vậy sao anh không báo cáo? Bây giờ là tình hình gì, là giờ phút then chốt của cuộc đại cách mạng văn hóa, phải cảnh giác với kẻ địch của giai cấp, những kẻ có dã tâm của giai cấp tư sản, chó cùng dứt giậu, giãy giụa trước khi chết”. Tống Trị Quốc gật đầu với vẻ sợ sệt: “Đúng rồi Hạ Long có một khẩu súng lục nhỏ của nước ngoài, buổi tối đi ngủ thường để dưới gối, ra ngoài thì đem theo bên mình, đặc biệt là gần đây, mỗi lần đi đâu đều đem theo...”. Diệp Quần run lẩy bẩy một cách vô thức, tình hình quan trọng này quả là lúc đầu không nghĩ tới. Bà ta vốn chỉ dọa Tống Trị Quốc để cung cấp những chứng cớ về Hạ Long, khuôn mặt sinh ra đã trắng giờ trắng bệch hơn, hốt hoảng trong chốc lát mới nói: “Tình hình mà anh cung cấp rất quan trọng, viết ngay thành tài liệu, nhanh chóng đưa cho tôi”. Tống Trị Quốc mất hai đêm bận rộn, nhét hai bản tài liệu vào hai phong bì rồi dán kín, trực tiếp giao cho Diệp Quần. Ngày 28 tháng 8 năm 1966, không khí nóng bức lui dần, buổi sáng ở Bắc Kinh đã có phần mát dịu. Lâm Bưu còn chưa về Mao Gia Loan, vẫn ở Đại lễ đường Nhân dân, dọn về ở phòng Chiết Giang còn hoạt động thì ở đại sảnh phía tây. Ông ta bước những bước không thay đổi đi vòng quanh hai tấm bình phong lớn của đại sảnh phía tây, hết vòng này đến vòng khác, chính trong những bước đi chậm rãi đó, một ý nghĩ dần dần chín muồi trong đầu sắp sửa bật ra. Đã đến lúc rồi, cần giải quyết cái tên “Long Râu” này... thư vu cáo hãm hại mà Diệp Quần mượn tay Tống Trị Quốc viết nay đã được thu giữ. Ngày nay đọc những bức thư này, có một số thư thuần túy là bịa đặt, có một số thư rất hoang đường đến mức buồn cười, để dùng làm đối chứng sau này, xin ghi lại đây mấy điều, để cùng tham khảo: 1. “Trên bàn làm việc tại nhà của La Thụy Khanh, dưới tấm kính bàn có ép một tấm ảnh chụp chung 4 người, trong đó có Hạ (Long), Tiết Minh, La (Thụy Khanh), Hách Trị Bình, ngày nào cũng xem. Nhưng không đặt ảnh của Chủ tịch”. 2. “Tôi cảm thấy Hạ (Long) và La (Thụy Khanh), Bành (Chân), Dương Thượng Côn, những phần tử chống Đảng qua lại rất mật thiết. Họ thường xuyên bí mật trò chuyện”, “thái độ của những người thường đến nhà ông ta (Hạ Long) không bình thường”. 3. “Trong phòng riêng của bản thân Hạ Long, ông ta đích thân giữ một khẩu súng ngắn rất tinh xảo, loại súng nhập khẩu, đêm đi ngủ thường để dưới gối, khi ra ngoài thì mang theo, không hiểu vì sao?”. 4. “Việc giáo dục của ông ta đối với cảnh vệ và nhân viên phục vụ không phải là chính trị hàng đầu, mà là nghiệp vụ hàng đầu. Như dạy mọi người phải luyện tay súng giỏi như thế nào, đồng thời yêu cầu mỗi cảnh vệ phải luyện tập sao cho trăm phát trăm trúng”. 5. “Nghe nói Ủy ban Thể dục đã tự động tiêu hủy 120 bộ điện đài, việc này rất khả nghi”. 6. “Nghe nói trong nhà Hạ Long đã từng gắn một máy nghe trộm điện thoại”. v.v... và v.v... Đã mượn dao giết người lại không muốn để lại dấu vết, Diệp Quần còn dày công đạo diễn một chuyện. Tống Trị Quốc theo lời của Diệp Quần, sau khi viết xong lá thư vu cáo, liền đến chỗ Diệp Quần. Trước mắt ba thư ký trong văn phòng của Lâm Bưu, Diệp Quần giả vờ hỏi Tống Trị quốc: “Những tài liệu mà anh viết đây có phải đều là sự thật hay không? Phải thì tôi đưa mà không phải thì tôi không đưa”. Tống Trị Quốc đáp: “Hoàn toàn là sự thực. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Hai bè đã hát xong, Diệp Quần thấy chưa đủ lại bảo ba thư ký của “Văn phòng Lâm Bưu” viết một tờ giấy “xác nhận về tình hình Tống Trị Quốc viết tài liệu”, chẳng qua chỉ là chứng minh việc này không có liên quan đến Diệp Quần, là do Tống Trị Quốc chủ động tố giác. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:35:12 pm 5. Mao Trạch Đông đích thân thẩm vấn Thư được đưa đến tay Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông gọi Hạ Long đến. “Ngồi xuống”. Mao Trạch Đông không rời chỗ, phẩy tay ra hiệu, rồi ngồi xuống trước. Thấy Hạ Long ngồi xuống, thong thả nói: “Chẳng có chuyện gì lớn, chỉ có một bức thư, anh xem đi”. Mao Trạch Đông cầm một bức thư, đưa cho Hạ Long: “Thư của Ngô Pháp Hiến, anh xem đi”. Hạ Long cầm lấy thư, nheo mắt, rồi đặt thư xuống thò tay vào túi lấy kính, nói khẽ: “Ôi trời, tôi quên đem kính”. Hạ Long mặc quần áo rất ngay ngắn, trong những năm chiến tranh ông vẫn mặc rất nghiêm chỉnh lịch sự, vừa khít, khỏe khoắn. Bình thường đến chỗ nào, mặc cái gì đều có quy luật. Quần áo ông mặc nói chung có sáu túi, áo có hai túi trên hai túi dưới, quần có hai túi mỗi túi đựng cái gì đều cố định chủ yếu là đựng xì gà, diêm, giấy tay, mùi xoa và kính. Lần này nhận được điện thoại vội vã đi ngay nên quên mất kính. “Đừng sốt ruột”, Mao Trạch Đông thuận tay cầm kính của mình nhưng lại đặt xuống: “Kính của tôi anh đeo không hợp...”. “Không sao”, Hạ Long đã cầm bức thư, ông hỏi sốt ruột, muốn biết ngay Ngô Pháp Hiến tố cáo “âm mưu” gì. Ông vừa nheo mắt vừa nói: “Tôi xem chầm chậm, có thể xem được”. Trong chốc lát im lặng, Mao Trạch Đông hút hai hơi thuốc, uống một hợp nước trà, thấy Hạ Long đọc một cách khó khăn, liền nói với một giọng thoải mái: “Thôi, cũng chẳng có chuyện gì lớn, ngày mai tôi sẽ đưa cho anh một bản sao, anh sẽ xem sau”. Hạ Long vẫn cầm bức thư, sắc mặt có một chút khó chịu, bức thư bịa đặt. “Chủ yếu là Hoàng Lập Thanh và Phó Truyền Tác đến nhà anh, về đơn vị Không quân gây chuyện, Ngô Pháp Hiến có ý kiến...” Mao Trạch Đông nói nội dung trong thư. “Hai người đi họp ở trại một chiêu đãi sở gần nhà tôi. Tôi cũng chỉ gặp họ một lần. Trước đó cũng không biết, họ đi dạo chơi vào buổi tối, thuận đường rẽ vào thăm tôi, cũng chẳng nói chuyện gì, chỉ nói là Hội nghị hoãn chưa họp, nên không yên tâm đối với bộ đội ở đơn vị”. Hạ Long chau mày giải thích. “Tôi có cần đến nói chuyện với Ngô Pháp Hiến không?”. “Có cái gì mà nói?” Mao Trạch Đông chậm rãi phẩy tay, “Thôi, chẳng có chuyện gì lớn cả”. “Nhưng những chuyện này từ đâu tới? Tôi chưa bao giờ mang súng theo người, đây chẳng phải là bịa đặt hay sao?”. Mặt Hạ Long có vẻ giận, thò tày vào túi áo lấy xì-gà, diêm, rồi cầm bao diêm giơ lên, “Tay tôi không còn linh hoạt nữa, đến máy lửa còn không dùng nổi, chỉ có thể dùng diêm. Hằng ngày mặc quần, buộc dây giày cũng phải nhờ cảnh vệ giúp. Cậu ấy biết rõ nhất có thể hỏi cậu ấy, lúc nào trên người tôi có mang súng?” “Anh đừng sợ, tôi làm phái bảo hoàng của anh”. Mao Trạch Đông cười an ủi, vốn dĩ đối với việc mang theo súng ông cũng nửa tin nửa ngờ, nhưng sau khi gặp mặt, ông nhanh chóng nhận ra là chuyện không đâu. Huống hồ, trong thời gian không đến 10 ngày, phút chốc ấy đã nhận được mười mấy bức thư tố cáo Hạ Long, trong lòng đã hiểu rõ đôi phần. Đằng sau nếu không có người bố trí và chỉ huy thì không thể trong phút chốc tập trung nhiều thư như vậy, hơn nữa lại là hành động thống nhất từ mười mấy đơn vị. Nghĩ đến đây, ông an ủi: “Con người anh trước đây rất không dễ dàng, từ nhỏ đã giết kẻ giàu giúp người nghèo khổ, bảo vệ đất nước bảo vệ pháp luật. Danh tướng thời kỳ Bắc phạt, với hai con dao đứng lên làm cách mạng, phát triển thành một quân đoàn, dễ dàng sao? Đến cuộc khởi nghĩa Vũ Xương “Ngày 1 tháng 8”, khi cách mạng ở vào lúc thoái trào thì vào Đảng Cộng sản, không dễ dàng. Một người làrn việc tốt, nhân dân không thể quên; làm việc xấu, nhân dân cũng không thể tha. Thôi không xem nữa, không có chuyện gì đâu, ngày mai tôi sẽ gửi cho anh một bản sao”. “Chủ tịch, Chủ tịch là người hiểu Hạ Long tôi...” “Tôi hiểu anh”, Mao Trạch Đông gật gật đầu. “Tôi đối với anh vẫn là ba điều trước đây: Trung thành với Đảng, trung thành với nhân dân, đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, có liên hệ với quần chúng”. Tiếp đó, hai người đã nói chuyện Tôn Trung Sơn làm cách mạng, cùng một số chuyện đấu tranh bảo vệ đất nước, bảo vệ pháp luật, cho đến gần trưa mới thôi. “Chủ tịch đã có thái độ rõ ràng”, Diệp Quần nói với Lâm Bưu, khẩu khí có phần chán nản, “đối với Hạ Long vẫn phải bảo vệ, có sai lầm có thể phê bình, một là phê bình hai là bảo vệ, vẫn phải bảo vệ, Chủ tịch đã nói với Thủ tướng và Đào Chú như vậy”. “Đã báo cho tôi biết”, Lăm Bưu gật đầu. “Làm thế nào, oán đã kết lại rồi...” “Làm theo như Chủ tịch nói”. Lâm Bưu không chần chừ nói ngay. Có hai triển vọng, một là giữ được, một là không giữ được. Thiên hạ đại loạn, loạn là loạn kẻ địch, nhất định bọn này sẽ nhảy ra. Vương Thượng Vinh ở Bộ Tổng Tham mưu, Hoàng Lập Thanh, Phó Truyền Tác ở Không quân, chẳng phải là đã nhảy ra rồi hay sao? Đàm Hữu Lâm ở Bộ đội công trình, Hoàng Tân Đình ở Tứ Xuyên, sẽ liên tục có người nhảy ra. Chơi cờ vây có “đánh cướp”, “cướp” của ai nhiều, so hơi, hơi của ai dài thì người ấy sống, hơi không đủ thì tất cả đều chết, cho nên có hai tiền đồ là vậy”. “Còn Ủy ban Thể dục”. Diệp Quần đã hiểu ra. “Quần chúng ở đó sẽ tự đứng lên. Hiện nay còn xa mới loạn đủ, đại loạn sẽ đạt tới đại trị, vấn đề sớm muộn cũng sẽ bộc lộ ra, phải hướng dẫn xu hướng phát triển”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:36:16 pm 6. “Binh biến tháng Hai”, một nhát dao chí mạng Ngày 8 tháng 9 năm 1966, ngày thứ 3 sau khi Mao Trạch Đông nói chuyện với Hạ Long.. Chính hôm ấy, sau khi Lâm Bưu và Diệp Quần gặp nhau, tiếp đó lại mở một cuộc họp thông báo nhỏ. Trong cuộc họp, Lâm Bưu bắt đầu nói từ Vương Thượng Vinh ở Bộ Tổng Tham mưu, nhắc đến mấy đơn vị quân sự, sau đó nói: “Tôi tuân theo chỉ thị của Chủ tịch, báo cho mọi người biết, có chứng cứ chứng tỏ Hạ Long có dã tâm, muốn thò tay cướp quyền quân sự. Bài đại tự báo của Vương Thượng Vinh đã nói rõ vấn đề này, một loạt sự kiện “nổ súng” xảy ra ở một số cơ quan quân sự, đều có liên quan đến Hạ Long. Đối với vấn đề này, mọi người đều phải cánh giác...”. Trong cuộc họp thông báo này, các ủy viên Thường vụ Quân ủy đều tham gia, chỉ duy có Hạ Long là không được gọi đến họp, kinh nghiệm bảo cho họ về cách làm “hỏi tội vắng mặt” này sẽ đi kèm ngay theo đó là một tai nạn... Một kế không thành, lại nảy ra kế khác. Diệp Quần lại mời tay trong chuyên môn làm những trò vu cáo hãm hại là Khang Sinh đến. Khang Sinh vắt óc suy nghĩ, đã tạo ra một sự kiện “Binh biến tháng Hai”, một dạo đã làm Bắc Kinh chìm trong giông bão, đâm một nhát dao vào lưng Hạ Long. Thiên hạ vốn vô sự, ở đâu ra cái chuyện binh biến. Cái gọi là “Binh biến tháng Hai”, nguồn gốc từ một bài đại tự báo ở Trường Đại học Bắc Kinh. Tháng 2 năm 1966, một trung đoàn mới được thành lập ở khu Vệ Thú Bắc Kinh không có doanh trại, nghe Phòng Vũ trang khu Hải Điện giới thiệu, có một số sinh viên đại học xuống nông thôn thực hiện tứ thanh, cho nên có nhiều phòng bỏ trống, do đó họ đã đến Đại học Bắc Kinh và Đại học Nhân Dân liên hệ mượn phòng, về sau Tư lệnh khu Vệ Thú Bắc Kinh là Phó Sùng Bích cho rằng quân đội đóng quân trong trường là không thích hợp, nên đã không ở trong trường, mà đóng tại sân tập bắn ở khu ngoại ô Nam Uyển. Một việc rất bình thường, nhưng đã bị những học sinh có thần kinh quá mẫn cảm dùng kính phóng đại đấu tranh giai cấp chiếu vào, và đã tìm ra ngay “cuộc binh biến tháng Hai, trông thấy mà sợ”. Đại tự báo tuyên bố khu Vệ Thú Bắc Kinh muốn đóng một bộ phận quân đội ở Đại học Bắc Kinh và Đại học Nhân Dân là sự chuẩn bị mưu đồ làm binh biến của Bành Chân và Lưu Nhân. Khang Sinh căn cứ vào tờ đại tự báo này, ngay lập tức tuyên bố trong một hội nghị quần chúng: “Vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm nay, Bành Chân và đồng bọn mưu tính làm chính biến mưu tính lật đổ chuyên chính vô sản, biến thành chuyên chính tư sản của họ... Một trong những kế hoạch của họ là đóng quân ở Đại học Bắc Kinh và Đại học Nhân Dân, mỗi trường một tiểu đoàn: Lục Bình (Hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh - N.D.) và Quách Ảnh Thu (Hiệu trưởng Đại học Nhân Dân – N.D.) giúp họ xây nhà, việc này chứa đựng một âm mưu cực lớn, sự việc này là hoàn toàn có thật!”. Thế là, “Binh biến tháng Hai” đã trở thành cái gọi là sự thực. Phát triển đến cuối năm, “Binh biến tháng Hai” dần dần được móc vào Hạ Long,... Khang Sinh lập tức nắm lấy một bài đại tự báo vồ bóng bắt gió, không qua bất cứ một sự điều tra nào, phao tin nhảm trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương rằng: “Hạ Long tự điều động quân đội để làm “Binh biến tháng Hai”, xây lô cốt ở ngoại ô Bắc Kinh”. Đây là chuyện nói xằng nói bậy của Khang Sinh vào mùa hè năm 1966. Đến ngày 27 tháng 4 năm 1968, nhà bịa chuyện đang giữ chức vụ quan trọng còn nói với tổ chuyên án: “Ủy ban Thể dục là địa điểm quan trọng của Hạ Long trong hoạt động phản cách mạng hiện hành. Ông ta đã phát súng, đại bác cho Ủy ban Thể dục, pháo đặt ở Thập Sa Hải, miệng súng nhằm đúng Trung Nam Hải”. Cái gọi là “nhằm đúng Trung Nam Hải”, chính là để hãm hại Mao Trạch Đông. Khang Sinh ngậm máu phun người, như vậy là đã dựng đứng tội danh tiến hành “binh biến” “mưu hại Mao Chủ tịch” để gán cho Hạ Long. Phái tạo phản bao vây trước cổng, tay cầm loa chĩa vào nhà quát tháo kêu gào, cãi cọ lộn xộn. Hạ Long dùng chăn bịt kín tai như quyết tranh hơn kém với phái tạo phản để tiếp tục ngủ. Chu Ân Lai biết Lâm Bưu, Khang Sinh có mưu đồ xấu xa, đề phòng bất trắc, đã dứt khoát đón Hạ Long đến ở phòng Tây Hoa. Vợ chồng Hạ Long đang ăn cơm, thì Chu Ân Lai vào, hai người đứng dậy, Chu Ân Lai vội bảo họ ngồi xuống, quan tâm thăm hỏi: “Ở đây thế nào?” Hạ Long lo lắng nói: “Tốt thì tốt, nhưng chỉ sợ liên lụy đến anh”. Chu Ân Lai lắc đầu: “Ôi anh Long Râu (cách gọi thân mật vì Hạ Long để râu - N.D.), sao anh lại khách sáo với tôi như vậy”. Hai người đang trò chuyện thì thư ký đẩy cửa vội vàng vào báo cáo: “Thưa Thủ tướng, tình hình xấu rồi, việc đồng chí Hạ Long ở đây không hiểu sao bọn họ đã biết, văn phòng của Lâm Bưu gọi điện đến truy hỏi”. Hạ Long vừa nghe thấy vậy liền đứng phắt dậy: “Thủ tướng, tôi không thể ở đây với Thủ tướng, Hạ Long tôi dù có hy sinh cũng không sao, Thủ tướng, anh không thể ngã xuống được. Chỉ cần anh vẫn làm Thủ tướng thì Trung Quốc sẽ còn có hy vọng!” Chu Ân Lai, nghiêm giọng ra lệnh cho Hạ Long ngồi xuống: “Hốt hoảng cái gì, anh cứ ở đây đã. Tôi sẽ sắp xếp cho anh. Sắp xếp xong rồi đi”. Hạ Long nghe xong ngoan ngoãn ngồi xuống ghế. Việc Hạ Long chuyển nhà, ngay lập tức Lâm Bưu đã biết, ông ta hạ lệnh bắt ngay Hạ Long và lập tổ chuyên án điều tra. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:38:59 pm 7. Giữ lại cái đầu người để nói chuyện Ở phòng Phúc Kiến trong Đại lễ đường Nhân dân, Chu Ân Lai liên tục đi đi lại lại. Ông là người giỏi xử lý các mâu thuẫn phức tạp được cả thế giới công nhận, nhưng giờ phút này, ông lại cảm nhận một cách sâu sắc rằng mình đã rơi vào sự lúng túng khó xử. Lâm Bưu đã hai lần nói chuyện với ông về vấn đề Hạ Long. Giang Thanh và Khang Sinh cùng một số người trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cũng nhiều lần lấy vấn đề Hạ Long để vặn hỏi trong các cuộc hội ý. Trong tình hình hiện nay mà nói, suy đi xét lại, ông cảm thấy trước mắt vẫn chưa thể ngả ván bài cuối cùng với Lâm Bưu và Tổ cách mạng văn hóa Trung ương trong vấn đề Hạ Long, càng không thể công khai đối lập gây chuyện rắc rối. Hạ Long và tình hình của Trần Nghị không hoàn toàn giống nhau. Trong Quốc vụ viện (Chính phủ - N.D) quan hệ giữa Chu Ân Lai với hai Phó Thủ tướng Trần Nghị và Hạ Long có gần gũi mật thiết hơn, đã từng lặng lẽ ra cửa hàng ngoài phố ăn cơm, đã từng đi dạo phố, bình thường qua lại cũng thân thiết. Đối với Trần Nghị ông có thể kiên quyết bày tỏ thái độ. Các anh muốn bắt Trần Nghị chỉ có bước lên người tôi mà đi. Nhưng đối với Hạ Long, ông đã suy đi xét lại mà không có thái độ ấy. Đối với Hạ Long, Lâm Bưu thấy phải trừ cho được mới yên lòng. Ông ta muốn đánh đổ Hạ Long, hơn nữa đã tổ chức được một lực lượng tương đối, đã đưa ra rất nhiều “tội chứng”, trong tình trạng hỗn loạn, trong chốc lát khó có thể điều tra làm rõ cũng không dễ phản bác. Còn Lâm Bưu lại là Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản, là người nối nghiệp Mao, từ quan niệm tổ chức mà xét thì Chu Ân Lai không thể không nghe theo ý kiến của ông ta. Công khai bảo vệ Trần Nghị sẽ không phải chơi ván bài ngửa với Lâm Bưu; nhưng nếu công khai bảo vệ Hạ Long thì phải chơi ván bài ngửa với Lâm Bưu. Sự hăng hái muốn đánh đổ Hạ Long của những người trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương như Giang Thanh, Trương Xuân Kiều cũng mạnh hơn rất nhiều sự hăng hái đánh đổ Trần Nghị. Huống hồ, Mao Trạch Đông và Trần Nghị còn qua lại làm thơ làm từ, sự trao đổi thơ và từ giữa các văn nhân có thể phát triển đến độ vượt qua tình thân mật riêng tư của quan hệ đồng chí. Những người lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản đều biết, trong Đảng, Mao Trạch Đông rất ít có tình thân mật riêng và quan hệ bạn bè, ông chỉ giữ và phát triển quan hệ bạn bè và tình thân mật riêng với các nhân sĩ dân chủ ngoài Đảng. Trong Đảng Cộng sản, có thể coi quan hệ với Trần Nghị gần như là một ngoại lệ duy nhất. Tất nhiên, điều đó cũng không phải là không có quan hệ với tính cách của Trần Nghị. Chính vì nguyên nhân này mà những người muốn đánh đổ Trần Nghị cũng chỉ có thể một vừa hai phải. Tình hình của Hạ Long thì không như thế. Chu Ân Lai quan sát, đắn đo nhiều lần thậm chí còn trực tiếp thỉnh thị xin ý kiến, ông có cảm giác là Mao Trạch Đông bảo vệ Hạ Long. Về căn bản mà xét, không nên đánh đổ Hạ Long, nguyên nhân ấy trước tiên là chính trị chứ không phải tình cảm. Xem xét ảnh hưởng của Hạ Long, công lao của Hạ Long, Hạ Long với tư cách là một ngọn cờ của Phương diện quân thứ 2, có vị trí rất quan trọng trong lịch sử... Nhưng sự xem xét về mặt chính trị, mãi mãi tồn tại một sự “cân bằng” và “lấy hay bỏ”. Khi mâu thuẫn giữa Lâm Bưu và Hạ Long không thể điều hòa một cách đơn giản thì vấn đề sẽ rắc rối ngay. Huống hồ, Lâm Bưu lại đưa ra nhiều “tội chứng” như thế. Trong tình hình khó có thể điều tra làm rõ ràng, Mao Trạch Đông cũng không tránh khỏi có sự nghi ngờ, đã nghi ngờ thì sẽ đồng ý để thẩm tra. Trong thời kỳ bất thường, tình thế bất thường, thẩm tra là một việc làm nguy hiểm. Sự lựa chọn tốt nhất là “che chở”, gọi là “giữ lại cái đầu người để dễ nói chuyện”. Tạm thời chưa làm rõ, thì trước tiên là hạ bệ, gạt ra một bên để bảo vệ, khi thời cơ chín muồi sẽ tính sau. Cái sự “bảo vệ” ấy, không phải là ở chỗ nói mấy lời đồng tình, hoặc rơi mấy giọt nước mắt thông cảm, hoặc công khai hô hào một cách khảng khái hùng hồn. Quan trọng chỉ có một điều: giữ lại cái đầu. Có thể làm tổn thương đến thân thể, quá lắm cũng chỉ là mượn tay quần chúng, nhưng hễ “giao cho quần chúng” “phê phán đấu tố” thì chẳng còn chút an toàn nào đáng nói nữa. Đó là điều gốc trong mọi suy nghĩ của Chu Ân Lai. Để bảo đảm cho điều này thì không thể bộc lộ “cái nhân từ của người đàn bà”, cần phải cứng rắn thì phải cứng rắn, không thể sợ người ngoài bàn luận, người đời sau hiểu lầm và người thân đau xót… Đang chìm đắm trong suy nghĩ thì có tiếng gõ cửa, nhân viên công tác đưa quyền Tổng Tham mưu trưởng Dương Thành Vũ vào. “Chào Thủ tướng”, Dương Thành Vũ chào, “Tôi đã đến”. Chu Ân Lai gật gật đầu, lấy tay ra hiệu rồi ngồi xuống cách Dương Thành Vũ mấy chiếc ghế. “Có một việc muốn bàn với đồng chí một chút”, Chu Ân Lai hoàn toàn nói với khẩu khí bàn công việc, đồng chí Hạ Long hiện này đang ở nhà tôi, ở đây đã được ba bốn ngày. Tiếp tục ở đây không phải là cách hay. Ở lâu người ta sẽ nói. Trở về thì không được, số quần chúng ấy làm ghê gớm lắm. Mời đồng chí đến suy nghĩ giúp tôi, tìm một nơi, vừa kín đáo lại vừa an toàn, sắp xếp cho Hạ Long, bảo vệ cho đồng chí ấy”. Dương Thành Vũ trầm ngâm một chút, nêu ý kiến “Tây Sơn có được không ạ? Là cơ quan Quân ủy, không ai có thể truy đuổi”. Chu Ân Lai ngẫm nghĩ, hỏi: “Bây giờ ai ở đấy?” “Nguyên soái Diệp (Kiếm Anh), Nguyên soái Nhiếp (Vinh Trăn), Nguyên soái Từ (Hướng Tiền)”. “Thế thì không được”. Chu Ân Lai lắc đầu, “mấy vị nguyên soái ở một nơi, với tình hình Hạ Long hiện nay, người ta sẽ bàn tán, cuối cùng vẫn không bảo vệ được”. “Núi Ngọc Tuyền thì sao ạ?” Dương Thành Vũ lại đề nghị. “Càng không được” Chu Ân Lai lại lắc đầu, “Núi Ngọc Tuyền là nơi ở của Thường vụ Trung ương, sẽ càng phiền phức hơn”. Dương Thành Vũ bóp cằm rất lâu không nói. “Tôi không nghĩ ra nơi nào cả”. Dương Thành Vũ ngẫm nghĩ rồi nói: “Chỉ có Tượng Tỵ Tử Câu (Khe vòi voi - N.D), đó là nơi chuẩn bị chiến tranh của Quốc vụ viện. Nơi này và Tây Sơn đều là nơi tôi phụ trách làm hồi trước chỗ Quân ủy ở Tây Sơn thì dùng số lẻ còn Tượng Tỵ Tử Câu thì dùng số chẵn, chỉ có hai nơi này là tôi thuộc một chút”. Chu Ân Lai hỏi: “Tượng Tỵ Tử Câu có ai ở đó?” “Không có ai ở”. Dương Thành Vũ đáp. “Được, Chu Ân Lai quyết định. “Vậy thì ở Tượng Tỵ Tử Câu. Anh chọn một phòng ở gần hầm trú ẩn nhất, dù thế nào cũng không được để rơi vào tay Hồng vệ binh hoặc một tổ chức quần chúng nào đó”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:40:06 pm 8. Con rồng sống bị hãm chết trên bãi cát Trong ánh sáng ban mai lóe lên một ngôi sao, đang nhấp nháy trước chiếc xe gíp, dần dần nhìn rõ một ngọn đèn, lẻ loi treo trên nóc một ngôi nhà có diện tích rất lớn. Tiếng phanh xe rít lên, chiếc xe đột ngột dừng lại, lái xe ném ra một câu chẳng vui vẻ gì: “Đến rồi, xuống xe!”. Hạ Long và Tiết Minh nhổm người về phía trước theo quán tính, chưa đợi ngồi yên chỗ, cửa xe đã bật mở. Tiết Minh vội xuống xe, để Hạ Long vịn vai chui ra khỏi xe, trước sau họ đã có hai viên sĩ quan đứng đó không có quân hàm, qua dáng điệu phỏng đoán là cán bộ cấp tiểu đoàn hoặc trung đoàn. “Thủ trưởng đến chỗ chúng tôi nghỉ, chúng tôi hoan nghênh”. Một viên sĩ quan lạnh nhạt nói. Không bắt tay, quay người đi trước vào cửa ngôi nhà lớn. Hạ Long và Tiết Minh theo sau anh ta, từng bậc từng bậc đi lên một thềm rộng. Thềm rộng cao cách mặt đất khoảng 3 mét, đi qua thềm đến trước cửa nhà. Cửa mở hai bên, gồm bốn cánh cửa kính, viên sĩ quan chỉ biết đi vào một mình. Tiết Minh đi liền phía sau phải đẩy cửa, nhưng lò so rất chặt, Tiết Minh phải dùng hết sức mới đẩy được, sau đó đỡ Hạ Long đi vào. Một mùi ẩm mốc bốc lên xộc vào mũi, Tiết Minh hít mấy hơi theo tiềm thức, không thấy một chút hơi người. Rõ ràng là nhiều năm nay không có ai ở đây, lớp xi măng láng trên mặt đã phủ một lớp bụi dày, bước chân đi qua để lại từng vết rất rõ ràng. Hạ Long hơi nhíu lông mày, đi dọc theo hành lang rộng, vừa nhìn những cửa ra vào có hai cánh, vừa hồi tưởng lại cái gì đó. Hai viên sĩ quan người trước người sau dẫn họ qua một phòng khách lớn, đi vào một phòng tiêu chuẩn, trong phòng chỗ nào cũng bụi, góc phòng chăng đầy mạng nhện, mùi mốc nồng nặc xộc lên mũi làm Tiết Minh liên tục hắt hơi. Hạ Long cũng dùng mùi xoa xì mũi. Không chờ họ thích ứng với mùi vị trong phòng, viên sĩ quan lạnh nhạt tuyên bố: “Các vị nghỉ ở đây”. Trong nháy mắt, hai viên sĩ quan đã mất hút. Hạ Long và Tiết Minh đứng ngây giữa phòng, bốn mắt nhìn nhau. Họ đã “hoan nghênh” thu trưởng đến “nghỉ” như thế hay sao? Trong phòng trơ trọi một chiếc bàn viết rộng, bụi phủ kín mặt bàn, làm cho nó không còn nguyên màu nữa; bốn chung quanh trống không, không có bất cứ đồ gia dụng nào, bình nước, cốc chén cũng chẳng thấy. Rồng bị vây khốn ở bãi cát, hổ lạc giữa đồng bằng, Hạ Long than thở về lời gièm pha ám hại, họa của Đảng khởi tự gian thần; Lâm Bưu bảo: Mọi sự việc trên thế giới chẳng ai nói rõ được. Hút thuốc nhiều, nói chuyện ít, Hạ Long đi đi lại lại trong phòng giam ở Tượng Tỵ Tử Câu, chiếc gậy khua làm tường kêu, đất kêu cả núi cũng kêu. Viết thư không người đưa, điện thoại không gọi được, những ngày lẻ loi như nung như nấu ấy lại dành cho “con rồng sống” có tính tình nóng như lửa và thói quen nói to, làm sao có thể trôi qua được đây? Sẩm tối, Hạ Long vẫn nhìn bầu trời ngoài cửa sổ trầm ngâm không nói. Tiết Minh nằm then giường lặng im. Người phụ nữ Trung Quốc được trời phú cho một đức hạnh tốt là sự kiên nhẫn như bàn thạch. Họ có thể lặng lẽ nhẫn chịu nỗi cực khổ mà ngươi đàn ông không sao chịu đựng nổi. Để giữ cho Hạ Long lượng nước uống tối thiểu, có khi bà phải mím môi lặng im suốt ngày, vì nói nhiều một câu cũng sẽ mất đi một lượng nước. Nhìn thấy sức khỏe và hình dáng của Hạ Long ngày một suy yếu, tiềm năng trong người Tiết Minh càng dồi dào lạ thường, có khi cả ngày chỉ uống nửa ca nước, nhưng lại có thể làm mọi công việc để chăm sóc Hạ Long. Sự đau khổ vì bị mất nước nghiêm trọng đã làm cho bà suốt ngày thiêm thiếp nhưng lại không sao ngủ được đang lúc phải chịu đựng trong sự nung nấu, thì bên tài bỗng vang lên tiếng nói của Hạ Long. “Này, còn nước không?” “Còn một chút”. “Rót hết ra, chúng mình sẽ uống cho đã”. “Không được”. Tiết Minh nói rất kiên quyết. Bà vất vả trở dậy lấy bình nước và ca men, chín mười giờ ngày mai mới có nước, phải để lại một ít. Tôi rót cho ông một ít, ông chịu khó nhịn, uống ít thôi. Tôi không uống”. Tiết Minh chỉ rót một hớp đưa cho Hạ Long, Hạ Long không cầm, chỉ vào chiếc phích. Rót ra, rót hết ra, tôi bảo bà rót thì cứ rót...”. Tiết Minh nhìn Hạ Long, đôi mắt Hạ Long lấp lánh, trong đôi mắt lộ ra một tình cảm thật là phức tạp, vừa êm dịu, vừa buồn thương lại vừa vững vàng không chút nghi ngờ. Tiết Minh cảm thấy có một sức mạnh không thể chống lại đang cổ vũ mình, bà thở dài rồi rót tất cả nước ra ca, được nửa ca nước. Đối với người bệnh tiểu đường đã 71 tuổi, trong một ngày nóng bức chỉ cho một bình nước. Không rửa mặt, không súc miệng thật khó mà chịu nổi. Hạ Long phải hứng nước mưa để cứu cấp. Một lần mưa to, ông đã ngã ở ngoài ban công, bị đau lưng, 18 ngày phải nằm không động đậy. Thức ăn mà Hạ Long thường xuyên ăn là rau cải thìa luộc, củ cải luộc. Có một lần, người đưa cơm đã đổ tất cả xuống đất. Tiết Minh nhìn khuôn mặt xanh gầy của Hạ Long, hỏi ông: “Ông đói rồi phải không?”. Vị nguyên soái đau buồn nhếch mép cười: “Phải, coi như bà nói đúng”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:42:03 pm 9. “Chủ nghĩa nhân đạo” của thời đại điên rồ Một bác sĩ được cử đến chữa bệnh, đã được tổ chuyên án “thẩm tra chính trị” tới 6 lần, quả thật là đã dày công lựa chọn. Anh ta tịch thu hết mọi thứ thuốc cần dùng mà Hạ Long đã chuẩn bị cho mình, nên bệnh tình của Hạ Long ngày càng xấu đi. Ngày 27 tháng 3 năm 1968, đột nhiên Hạ Long không nói ra tiếng, mồm bị méo, đau đầu dữ dội, nên được đưa đến bệnh viện. Theo chỉ thị “Điều trị để phục vụ chuyên án” của Khâu Hội Tác, trên giấy chẩn đoán đã viết: “Vờ ốm”, biện pháp trị liệu là “Mời các vị chúa tể của quân y có liên quan”. Đường đường là một Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung quốc, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Nguyên soái Hạ Long, mà trên bệnh án họ tên lại viết thành: Vương Ngọc. Hạ Long phát hiện thấy sự quỷ quyệt của họ, nói với vợ: “Họ nhất quyết muốn kéo dài cái chết của tôi, giết người không thấy máu đây!”. Sáng sớm ngày 8 tháng 6 năm 1969, Hạ Long nghiêng đầu nhắm mắt, thẳng lưng ngồi trên chiếc ghế nghe xong buổi phát thanh thời sự có các đài phát thanh địa phương tiếp âm. Tiết Minh vừa tắt máy thu thanh bán dẫn, Hạ Long bỗng há miệng, đầu vươn ra rồi “oẹ” một tiếng, nôn ra một bãi nước vàng, chưa kịp thở đã lại liên tục nôn oẹ, như trong dạ dày đột ngột trào nước ra, kéo dài mấy phút, rồi mới dịu dần. Tiết Minh vừa dùng hộp nhựa hứng nước nôn, vừa lấy tay vuốt lưng cho Hạ Long, cho đến khi ngớt đi mới giúp ông lau miệng, rót nước để ông súc miệng. Vừa súc miệng xong, lại như thủy triều lúc lên lúc xuống, Hạ Long lại “oẹ”, nôn ra nước vàng. Ông nôn oẹ rất ghê, cổ bạnh ra căng cứng, không thở được, như muốn nôn ra mọi thứ dịch trong dạ dày, cứ như là nôn ra cả lục phủ ngũ tạng vậy. Kéo dài mãi đến 12 giờ trưa, bác sĩ Vương do “cấp trên cử đến” mới trở về, nghe Tiết Minh kể xong bệnh tình, không có ý kiến gì, chỉ nói: “Biết rồi, biết rồi”. 3 giờ chiều, Hạ Long vẫn nôn oẹ không dứt, bác sĩ Vương tiêm cho ông một mũi “giảm nôn”. Đây là một “biện pháp điều trị” duy nhất sau 8 tiếng đồng hồ Hạ Long bị trúng độc nặng. Sau khi tiêm thuốc giảm nôn, thì bệnh viện đưa đến một bát canh dưa chuột, trên bát canh vẫn nổi lều bều những hạt dưa như những bữa trước, đưa đũa khoắng chỉ có vải miếng vỏ dưa. Hạ Long vừa nói một câu: “Bà xem canh này...” thì một cơn nôn dữ dội lại ập đến. 5 giờ chiều, huyết áp Hạ Long tụt xuống, bụng trên đau thắt dữ dội. Vì phải đợi “chỉ thị của cấp trên”, nên vẫn chưa có bác sĩ thật sự đến, cũng chẳng thực hiện bất cứ một biện pháp chữa trị nào. Lại qua 4 tiếng đồng hồ, cuối cùng có hai bác sĩ ở Bệnh viện 267 đến, cầm giá tiếp nước và bình nước đến phòng của Hạ Long. Chẳng thèm nghe kể bệnh tình cũng chẳng có bất cứ sự kiểm tra nào, cứ thẳng thừng tiếp nước cho Hạ Long. Trong phòng ánh sáng điện mờ mờ, Tiết Minh lo lắng hỏi: “Bệnh gì, các bác sĩ cũng không khám ư?” Bác sĩ lạnh lùng đáp: “Dù là bệnh gì, thì cứ tiếp nước đã rồi tính sau”. Tiết Minh nhìn nhãn của hai bình nước, một bình là dung dịch Gơ-lu-cô, một bình là nước muối đẳng trương. Tiết Minh biết người bị bệnh tiểu đường không thể tùy tiện dùng huyết thanh có nồng độ cao, như vậy sẽ tăng thêm ngộ độc a-xít của bệnh tiểu đường, vội vàng nói: “Bác sĩ, các anh nên nhanh chóng kiểm tra xem bệnh gì đã, nếu không sẽ làm bệnh nặng thêm. Ông ấy bị bệnh tiểu đường đã lâu, nếu bị ngộ độc a-xít của bệnh tiểu đường thì các anh nên dùng thuốc đặc hiệu In-su-lin của bệnh tiểu đường. Nếu các anh cho là xét nghiệm máu chậm, thì xét nghiệm nước tiểu trước”. Hai bác sĩ phớt lờ đáp: “Bà ngồi đây trông nom ông ấy, để chúng tôi đi nghiên cứu cái đã”. Nói đoạn, hai bác sĩ ra khỏi phòng. Bên ngoài phòng có rất nhiều người, bao gồm cả nhân viên tổ chuyên án, họ không hề nghiên cứu bệnh tình, mà lại nghiên cứu “xu thế mới của đấu tranh giai cấp”, muốn thẩm tra rõ có phải vì Hạ Long sợ tội mà tự sát “hay không?”. Đó chính là nét đặc sắc căn bản của thời đại điên rồ ấy. Một lát sau, hai bác sĩ vào phòng, Tiết Minh vội chạy lại cầu khẩn: “Bác sĩ, trị bệnh cứu người là chức trách của các anh, kéo dài đã hơn 13 tiếng đồng hồ rồi, xin các anh nhanh nhanh kiểm tra lại, xét nghiệm nước tiểu trước”. “Được, được, được” bác sĩ trả lời rất sảng khoái. “Xét nghiệm nước tiểu nhưng phải xem ông ta có tiểu tiện được hay không?”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Ba, 2010, 10:42:30 pm Hạ Long đã nôn một ngày, muốn có nước tiểu rất khó, Tiết Minh đã tìm được một cái ca, mãi lâu sau mới được một vài giọt nước tiểu. Bác sĩ Vương do “cấp trên cử tới” đứng bên đợi cầm lấy ca rồi chạy biến mất. Tiết Minh thở phào, bà cho là anh ta cầm đi kiểm tra tiểu đường, nào ngờ, bác sĩ Vương đem ca nước tiểu đến sở xét nghiệm thuốc ở Bình Đài, để xem có phải Hạ Long “vì sợ tội mà uống thuốc độc tự sát” hay không. Khi các nhân viên chuyên án đang bện cho Hạ Long chiếc mũ “sợ tội mà tự sát” thì từng giọt từng giọt nước đường Gơ-lu-cô nồng độ cao mà đối với người bị tiểu đường không thể dùng tùy tiện đang chảy vào huyết quản của Hạ Long. Bệnh tình của Hạ Long xấu đi nhanh chóng. Tiết Minh sốt ruột ngồi túc trực bên ông, chờ kết quả xét nghiệm. Bà thấy môi Hạ Long trắng bệch, vội cúi người hỏi: “Có khát không?”. “Khát”. Tâm trí Hạ Long vẫn tinh táo. Tiết Minh tìm bác sĩ: “Ông ấy muốn uống nước có được không?” “Chúng tôi không biết”. Bác sĩ lạnh lùng đáp, uống rồi nôn, bà chịu trách nhiệm”. Tiết Minh cầm ca nước đến đỡ Hạ Long ngồi nghiêng uống nước, nước uống không vào, rớt ra ngoài. Hạ Long “ầy” một tiếng, Tiết Minh vội nâng đầu Hạ Long cao hơn. Hạ Long uống ừng ực mấy ngụm liền. “Còn khát không?” “Nghỉ một tí rồi lại uống”. Hạ Long hổn hển nói. Một lúc sau, Tiết Minh lại cho Hạ Long uống nửa ca nước. “Được”, Hạ Long hít thở mấy hơi: “Dễ chịu một chút rồi”. Trong lòng Tiết Minh cũng thấy “dễ chịu một chút”. Bà lại gặp mấy bác sĩ lạnh lùng: “Bác sĩ, các anh đo giúp cho huyết áp đi?” Bác sĩ ngồi yên. Sau khi đến, từ đầu đến cuối, họ không làm một chút công việc kiểm tra thông thường đơn giản nhất nào cả. “Tôi tự đo lấy”. Tiết Minh cố nén nỗi tức giận trong lòng, đo huyết áp cho Hạ Long: “170/100”. “Bà chớ có lạc quan”. Bác sĩ cười một cách độc ác: “Lúc nữa thôi huyết áp của ông ta sẽ tụt, thở một lúc là xong”. Tiết Minh giận đến run người: “Các anh có phải là thầy thuốc không? Việc các anh nên làm là cứu người sắp chết, giúp người bị thương, vậy mà bây giờ các anh làm cái gì? Sớm muộn gì các anh cũng sẽ có ngày cảm thấy xấu hổ về những việc làm của mình...” “Những điều chúng tôi nói là thật”. Bác sĩ vẫn lạnh lùng: “Không tin, bà cứ chờ một lúc mà xem”. Cho mãi đến 5 giờ sáng ngày 9 tháng 6 năm 1969, bác sĩ của Bệnh viện 301 mới đến Tây Sơn, đặt Hạ Long lên cáng rồi khiêng đi. Hạ Long bỗng mở mắt: “Tôi không ở, đấy không phải là bệnh viện, thật như nhà tù!”. 8 giờ 55 phút vào nằm Bệnh viện 301, do người phụ trách bệnh viện làm việc theo mệnh lệnh của Khâu Hội Tác, không có bất cứ một sự chuẩn bị cấp cứu nào, cho nên kéo dài đến 10 giờ 25 phút mới bắt đầu điều trị. Khi hội chẩn, không có bất cứ một bác sĩ nào nhìn thấy Hạ Long, họ chỉ có thể căn cứ vào “báo cáo tình hình” của bác sĩ điều trị để tiến hành “hội chẩn”. Hội chẩn kết thúc không lâu, vị Nguyên soái của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một trong những người sáng lập ra Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, vị nguyên huân khai quốc đã khiến tất cả mọi kẻ thù nghe tiếng phải sợ đã ngậm hờn từ giã thế gian. Đó là lúc 15 giờ lẻ 4 phút ngày 9 tháng 6 năm 1969 Công nguyên. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:05:25 pm 3 Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa án oan số một Lưu Thiếu Kỳ chết thảm trên đất phủ Khai Phong 1. Lưu Thiếu Kỳ gây thù hằn với Mao Trạch Đông Từ lâu Mao Trạch Đông đã không bằng lòng với Lưu Thiếu Kỳ. Ngày 6 tháng 8 năm 1962, hội nghị Bắc Đới Hà của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được triệu tập, Mao Trạch Đông phát biểu đầu tiên trong Hội nghị: “Tôi chuẩn bị nói ba vấn đề, một là, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa có tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp hay không; hai là, vấn đề tình hình quốc tế và trong nước; ba là, vấn đề mâu thuẫn trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Nhà nước Xã hội chủ nghĩa có mâu thuẫn hay không, theo tôi sự tồn tại giai cấp trong nước sẽ lâu dài, không phải là mấy chục năm mà là mấy trăm năm. Có tồn tại giai cấp thì sẽ tồn tại mâu thuẫn giai cấp. Trong Đảng, cuộc đấu tranh này biểu hiện ở sự đấu tranh giữa chúng ta với chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh cũng là chủ nghĩa xét lại. Hiện nay xu hướng làm ăn riêng lẻ, xu hướng đòi xử lại án, xu hướng đen tối đang ào đến rất gấp…” Mao Trạch Đông nói về đấu tranh rất hấp dẫn mọi người, luận cổ bàn kim, rõ ràng mạch lạc. Rất nhiều người tham gia Hội nghị lại thấy căng thẳng, vừa có thể được ăn bữa cơm no thì lại dấy lên phong trào, không biết lần này sẽ là ai gặp xúi quẩy đây. Mao Trạch Đông đang nói say sưa thì không ngờ Lưu Thiếu Kỳ lại nói xen vào, bỗng chốc cắt ngang câu chuyện của ông. Trước đây trong cuộc họp, chỉ có Mao Trạch Đông mới nói xen vào lời phát biểu của người khác, còn chẳng có ai dám nói xen vào lời phát biểu của Mao Trạch Đông. Lần này Lưu Thiếu Kỳ không những nói xen vào, hơn nữa lại nói rất lâu, rõ ràng là giọng khách át giọng chủ. Trong đó có một câu đã làm Mao Trạch Đông tức giận, là trong lời nói xen của Lưu Thiếu Kỳ đã nhấn mạnh: “Phải phòng ngừa vấn đề gì cũng liên hệ với đấu tranh giai cấp”. Mao Trạch Đông đã nhạy bén phát hiện ra rằng, đây là việc Lưu Thiếu Kỳ lấy danh nghĩa nói xen để phê phán lời phát biểu của mình vừa rồi. Sau khi tan họp hôm ấy, Mao Trạch Đông rất cáu, liên tục hút thuốc lá, uống nước trà. Giang Thanh đến bên nói như đổ thêm dầu vào lửa: “Chủ tịch, xem Lưu Thiếu Kỳ viết những gì ở đây”, Mao Trạch Đông cầm lấy cuốn tạp chí mà Giang Thanh đưa, hóa ra là cuốn tạp chí “Hồng kỳ” xuất bản ngày 1 tháng 8. Tạp chí số này đã đăng toàn văn tác phẩm của Lưu Thiếu Kỳ “Bàn về sự tu dưỡng của người đảng viên cộng sản”. Cuốn sách này là bài nói chuyện của Lưu Thiếu Kỳ lúc còn ở Diên An, sau này được Trung ương in thành sách riêng lưu hành trong nội bộ Đảng. Lần in này coi như là tái bản. Mao Trạch Đông giở đến những chỗ mà Giang Thanh gấp trang để đánh dấu, một đoạn văn đập ngay vào mắt: “Những người này căn bản không hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà chỉ là nhắm mắt nói bừa một số thuật ngữ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tự cho là Mác, Lê-nin của Trung Quốc, làm ra vẻ Mác, Lê-nin xuất hiện trong Đảng... Hơn nữa không một chút hổ thẹn yêu cầu đảng viên chúng ta tôn trọng anh ta như tôn trọng Mác Lê-nin, ủng hộ anh ta làm “lãnh tụ”, lấy sự trung thành và nhiệt tình để báo đáp anh ta”. Mao Trạch Đông biết, đoạn văn này của Lưu Thiếu Kỳ là phê bình Vương Minh (người theo đường lối “tả” khuynh sau Lý Lập Tam - N.D), nhưng Vương Minh đã bị sụp đổ từ lâu, đã đến cư trú ở Liên Xô. Vậy bây giờ công bố lại đoạn văn này là nhằm vào ai đây?” Ai là lãnh tụ của Đảng Cộng sản? Nghe nói trước khi in “Bàn về sự tu dưỡng của người đảng viên cộng sản”, Lưu Thiếu Kỳ đã sửa chữa rất nhiều, nếu như ông ta vẫn còn trung thành với mình như thời kỳ ở Diên An, thì trước khi tái bản ông ta còn có thể để nguyên xi đoạn văn này hay không? Xem ra đây không phải là sự sơ suất nhất thời, Mao Trạch Đông nghĩ đến đây, tức giận vứt cuốn tạp chí xuống đất. Giang Thanh nhặt cuốn tạp chí lên, cười nhạt: “Chuyện đã rõ rồi, họ đối với Chủ tịch là kính nhi viễn chi, coi Chủ tịch như một vị Bồ Tát để lễ, cúi đầu lễ xong, coi như hoàn thành nhiệm vụ. Tôi đi một số nơi, bây giờ các chư hầu chẳng ai nghe lời của Chủ tịch nữa, tôi nói cái gì họ càng chẳng thèm để ý, nhưng đối với những lời của Lưu Thiếu Kỳ thì họ coi như thánh chỉ?” Mao Trạch Đông đột nhiên nổi khùng quát lớn: “Cô cút đi, cút đi”. Giang Thanh khóc gào lên: “Chẳng phải là tôi chỉ muốn điều tốt cho ông hay sao?” Rồi chạy ra ngoài. Sau khi Giang Thanh đi, Mao Trạch Đông chìm trong sự trầm tư, xem ra bây giờ phải chuẩn bị phản kích. Ông gọi điện thoại cho Lâm Bưu, bảo ông ta đến. Từ sau khi Lâm Bưu được bầu vào Thường vụ Bộ Chính trị, Văn phòng Trung ương Đảng theo yêu cầu của ông ta, đã xây riêng cho ông ta một ngôi nhà ở Bắc Đới Hà, đánh số là 96. Nhà này không giống các nhà khác, cửa sổ tầng trên và tầng dưới đều dùng ván gỗ sơn dầu trầu đóng kín, để Lâm Bưu, người hay sợ ánh sáng, sợ nước, sợ gió ở. Sau khi nhận được điện thoại của Mao Trạch Đông, Lâm Bưu liền đến ngay chỗ ở của Mao Trạch Đông, và rất muộn mới ra về. Tiếp đó, Mao Trạch Đông lại đề nghị trong Hội nghị Thường vụ, đưa Khang Sinh từ ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị lên ủy viên Bộ Chính trị, đồng thời là Bí thư Ban bí thư, tháng sau, trong Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ 10 khóa 8 họp tại Bắc Kinh sẽ thông qua. Trong bụng Khang Sinh rất vui, nhưng bề ngoài không để lộ chút gì. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:05:47 pm Tháng 12 năm 1964, Hội nghị lần thứ nhất Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc khóa 3 họp tại Bắc Kinh, cùng lúc đó Hội nghị công tác của Bộ Chính trị cũng họp tại Bắc Kinh. Nhiệm vụ chủ yếu của Hội nghị công tác lần này là giải quyết những vấn đề xuất hiện trong phong trào “tứ thanh” ở giai đoạn trước. Hội nghị thảo luận trước tiên mấy vấn đề của phong trào “tứ thanh” đang tiến hành ở nông thôn và phong trào “ngũ phản” (sau này cũng được sửa gọi là “tứ thanh”) đang tiến hành ở thành thị do Lưu Thiếu Kỳ nêu ra ngày 15 tháng 12, sau đó khởi thảo văn kiện được gọi là “Mười bảy điều”. Trong Hội nghị này giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ đã xảy ra bất đồng và tranh luận nghiêm trọng về tính chất của phong trào “tứ thanh”. Trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ngày 20 tháng 12 Lưu Thiếu Kỳ đã tranh luận với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ hỏi Mao Trạch Đông: Đồng chí Đào Chú nêu rằng, mâu thuẫn chủ yếu ở nông thôn hiện nay là mâu thuẫn giữa giai tầng nông dân sung túc với đông đảo quần chúng bần nông và trung nông lớp dưới, nêu như vậy hay là nêu mâu thuẫn giữa bọn địa chủ, phú nông, phản động, bọn xấu vốn có, kết hợp cùng những cán bộ xấu thoái hóa biến chất và có sai lầm nghiêm trọng với quần chúng? Mao Trạch Đông trả lời: Địa chủ, phú nông, phản động, bọn xấu là bọn chủ đứng sau, những cán bộ có bốn điểm không rõ ràng là phái cầm quyền. Bọn địa chủ phú nông phản động và bọn xấu đã bị đánh tan tác một lần rồi, cho nên không cần quản hạ tầng, mà là phải phát động quần chúng chỉnh đốn đảng của chúng ta, đánh bọn sài lang trước, đánh lũ chồn cáo sau, đó là vấn đề phải nắm chắc. Lưu Thiếu Kỳ tranh luận lại: Mâu thuẫn chủ yếu chính là mâu thuẫn giữa bốn điều rõ và bốn điều không rõ. Mao Trạch Đông nhấn mạnh: Đó là điều không thay đổi theo ý muốn của con người, thơ của Đỗ Phủ viết rất hay: “Kéo dây cung phải kéo thật mạnh, dùng mũi tên phải là tên dài, bắn người, trước tiên phải bắn ngựa, bắt giặc phải bắt kẻ cầm đầu”. Điều đó nói lên rằng phải đánh kẻ lớn, kẻ lớn đã đổ thì lũ chồn cáo sẽ dần dần biến sạch, quần chúng sợ không đánh được kẻ lớn. Lưu Thiếu Kỳ vẫn kiên trì quan điểm của mình như cũ: Mâu thuẫn giữa bốn điều rõ và bốn điều không rõ là mâu thuẫn chủ yếu, tính chất của phong trào là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân và mâu thuẫn địch ta đan xen với nhau. Mao Trạch Đông nghe xong hỏi lại Lưu Thiếu Kỳ: Tính chất gì? Chống chủ nghĩa xã hội là được rồi, còn có tính chất gì? Sau khi cuộc tranh luận này qua đi, thì đến ngày 26 tháng 12, Mao Trạch Đông mời Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Đào Chú, Lý Tỉnh Tuyền, Lý Tuyết Phong, Lưu Lan Đào, Tống Nhậm Cùng, Hồ Diệu Bang, Tiền Học Sâm, Trần Vĩnh Quý, Đổng Gia Canh, cùng những người lãnh đạo Trung ương khác và bí thư các khu, anh hùng lao động đến Đại lễ đường Nhân dân ăn cơm, mừng sinh nhật. Không khí bữa cơm này căng thẳng lạ thường, từ đầu đến cuối đều chỉ một mình Mao Trạch Đông nói: “Hôm nay là sinh nhật của tôi, sang năm là 71 tuổi, tôi đã già rồi, có lẽ không lâu nữa sẽ đi gặp Mác, cho nên hôm nay mời mọi người đến ăn bữa cơm” Ai cũng có thể thấy được, trong khẩu khí của Mao Trạch Đông có những cảm xúc tức giận. Lúc này Mao Trạch Đông cao giọng: “Hôm nay Lý Mẫn không đến, cháu nó không xuống nông thôn, nhưng nó không có tư cách đến đây, Lý Nạp(*) vẫn chưa về, xuống nông thôn rồi”. Ông giễu cợt và bực tức nói: “Từ chối xuống nông thôn, ở thành phố sống dễ chịu mà không có xét lại mới lạ. Nếu gả con gái cho một cán bộ thì muốn có cái gì sẽ có cái nấy. Những người này chính là bọn xét lại, tôi còn lo Trung ương Đảng có xét lại”. Nói đến đây, Mao Trạch Đông lớn tiếng hỏi Lý Phú Xuân một cách không khách sáo: “Phú Xuân này, có chuyện gì các anh cũng không cho tôi biết? Chẳng nói với tôi. Bây giờ chuyện gì tôi cũng không biết, các anh định lập một vương quốc độc lập à!” Lý Phú Xuân biết, vì quan hệ giữa mình với Mao Trạch Đông rất sâu sắc, nên khi phê bình một người nào đó, Mao Trạch Đông thường lấy ông ra làm đối tượng của câu chuyện, người mà Mao Trạch Đông nói là mình, nhưng người bị phê bình lại là người khác. Mao Trạch Đông nói mình một cách không kiêng nể gì cả càng thể hiện rõ tình nghĩa giữa hai người khác thường. Cho nên khi nghe Mao Trạch Đông nói, Lý Phú Xuân chỉ cười cười mà không nói gì. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình lại thấy tâm trạng nặng nề, họ biết, Mao Trạch Đông đã nói “các anh” thì đó không phải là một mình Lý Phú Xuân, vậy còn ai nữa? Ngày 28 tháng 12, Mao Trạch Đông cầm trong tay “Điều lệ Đảng” và “Hiến pháp” tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng, ông huơ huơ hai bản văn kiện, nói một cách tức giận: “Xin mời các anh về tìm “Điều lệ Đảng” và “Hiến pháp” mà đọc, ở đây có nói tới tự do dân chủ. Không nên phạm pháp, bản thân mình đã thông qua nhưng lại không tuân thủ. Mọi người chúng ta ở đây có còn là công dân của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nữa hay không? Nếu còn, thì có tự do ngôn luận nữa hay không? Có cho phép chúng tôi nói với các anh mấy câu không?” Lại một từ “các anh” nữa. Trần Bá Đạt thấy Mao Trạch Đông không bằng lòng với Lưu Thiếu Kỳ, liền đổ thêm dầu vào lửa, làm cho sự bất đồng giữa hai người tăng thêm. Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng lần này đã họp qua Tết Dương lịch năm 1965. Tối ngày 3 tháng 1, trong một cuộc họp nhỏ Mao Trạch Đông đã phê bình nhưng không chỉ đích danh Lưu Thiếu Kỳ. “Mười bảy điều” bị đình chỉ không chuyển xuống cấp dưới. Hội nghị đã định lại một văn bản mới: “Một số vấn đề được nêu ra hiện nay trong phong trào giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” (tức: “Hai mươi ba điều”). Một phần của văn kiện này đã sửa chữa một số cách làm quá tải xảy ra ở các nơi do ảnh hưởng của công tác trong phong trào “tứ thanh” mà Lưu Thiếu Kỳ chủ trì hồi nửa cuối năm 1964, nhưng lại chữa mũi nhọn đấu tranh vào những người lãnh đạo các cấp của Đảng, từ đó làm cho đường lối “tả” mở rộng đấu tranh giai cấp ngóc đầu dậy. Hai vị Chủ tịch công khai tranh cãi trong hội nghị, làm những người dự họp sợ rợn tóc gáy. Kha Khánh Thi, Khang Sinh tranh nhau bảy tỏ thái độ: ý kiến của Chủ tịch phù hợp với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trọng điểm của giáo dục xã hội chủ nghĩa phải là phái cầm quyền đi con đường tư bản chủ nghĩa. Chu Ân Lai cũng cảm thấy tiếp tục gây chuyện thế này sẽ không hay, liền đề nghị: “Nói Trung ương có người đứng sau thì vấn đề sẽ nghiêm trọng quá. Nhưng có thể ở một số ngành thuộc Trung ương có người đứng sau họ, liệu có thể sửa thành “thậm chí có một số người chống việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở tỉnh và ngành thuộc Trung ương” không?” Những người khác cũng cho rằng sửa như thế sẽ hay hơn. Sau khi Hội nghị giải tán, Mao Trạch Đông lại gọi thư ký đến viết thêm một đoạn vào phần trên phê phán một cách mạnh mẽ quan điểm về tính chất của phong trào mà Lưu Thiếu Kỳ nói là mâu thuẫn giữa bốn điều rõ và bốn điều không rõ, sự đan xen giữa mâu thuẫn trong và ngoài Đảng hoặc sự đan xen giữa mâu thuẫn địch ta và mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, chỉ ra rằng những quan điểm này đều không phải là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. “Hai mươi ba điều” đã được thông qua, nhưng Mao Trạch Đông rất không thích thú, phải uống thêm một viên thuốc ngủ mới dần dần ngủ được. Kha Khánh Thi nghĩ tới cuộc tranh cãi giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ trong Hội nghị công tác lần ấy, liền quan tâm hỏi: “Hội nghị lần ấy, Lưu Thiếu Kỳ đã làm Chủ tịch bực mình, gần đây Chủ tịch có khỏe không ạ?” Giang Thanh nhìn chung quanh, vờ như không biết nói nhỏ với Kha Khánh Thi: “Chủ tịch rất hối hận, nói là mình rút vào tuyến hai, để Lưu Thiếu Kỳ chủ trì công việc ở tuyến một là đã nhìn lầm người, bây giờ cần phải quay trở lại tuyến một để chủ trì công việc”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:08:35 pm 2. Cử tổ công tác, oán cũ thêm thù mới Sáng ngày 1 tháng 6 năm 1966, mọi người mở tờ “Nhân dân nhật báo” mới đưa tới, chợt thấy một bài xã luận với đầu đề chói mắt: “Quét sạch tất cả bọn đầu trâu mặt ngựa”. Xã luận kêu gọi: “Quét sạch bọn đầu trâu mặt ngựa đang chiếm cứ trên trận địa tư tưởng văn hóa”, “đánh cho tan tác cái gọi là “chuyên gia”, “học giả”, “quyền uy”, “tổ sư” của giai cấp tư sản, làm cho chúng mất hết uy phong”. Chẳng đợi mọi người suy nghĩ về ý nghĩa của bài xã luận thì buổi tối đúng vào thời gian vàng, trong tiết mục chuyển tiếp cả nước của Đài truyền hình Trung ương, lại được nghe bài đại tự báo do bảy người là Nhiếp Nguyên Tử v.v... ở Đại học Bắc Kinh viết có tựa đề: “Tống Thạc, Lục Bình, Bành Bội Vân rốt cuộc đã làm gì trong cách mạng văn hóa?”. Bài đại tự báo với giọng điệu hùng hùng hổ hổ: “Khi quần chúng ầm ầm nổi dậy hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch kiên quyết đập lại tổ chức phản động chống đảng chống chủ nghĩa xã hội thì các người hò hét: “Tăng cường lãnh đạo, giữ vững cương vị”. Cái cương vị mà các người muốn giữ vững là “cương vị” gì, giữ vững “cương vị” cho ai, các người là bọn người nào, định làm trò gì, chẳng phải là rất rõ ràng hay sao? Cho đến hôm nay các người vẫn muốn ngoan cố chống lại, các người vẫn muốn “giữ vững cương vị” để phá hoại cách mạng văn hóa. Bảo cho các người biết, bọ ngựa không thể ngăn nổi bánh xe, kiến càng không thể lay nổi cây to. Đấy là nằm mơ giữa ban ngày!” “Đập tan mọi sự khống chế và mọi âm mưu quỷ kế của bọn xét lại, tiêu diệt một cách kiên quyết, triệt để, sạch gọn, toàn bộ bọn đầu trâu mặt ngựa, tất cả bọn xét lại phản cách mạng kiểu Khơ-rút-sốp, tiến hành đến cùng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Hai bài viết này đột ngột được đưa ra trong một ngày, không những làm cho hàng trăm triệu người dân Trung Quốc ngạc nhiên mà còn khiến Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình v.v... những Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đang chủ trì công tác ở tuyến một cũng cảm thấy bất ngờ. Xã luận của “Nhân dân nhật báo” là do Trần Bá Đạt sau khi dẫn tổ công tác vào đóng trong tòa soạn Nhân dân nhật báo ngày 31 tháng 5, viết suốt đêm để in, hơn nữa không thông qua sự thẩm tra của Trung ương Đảng mà in ngay. Bài đại tự báo của Nhiếp Nguyên Tử và một số người là do Khang Sinh tự đưa đến cho Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông quyết định phát thanh ra khắp cả nước, trước đó cũng không bàn bạc với các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khác. Sự việc vừa mới bắt đầu. Ngày 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8,... những bài xã luận bài viết cổ động cho đại cách mạng văn hóa hết bài này đến bài khác được đăng trên trang nhất “Nhân dân nhật báo”, tất cả bộ máy tuyên truyền đều khởi động. Các báo chí, đài phát thành trong cả nước, dây cà dây muống công bố những khẩu hiệu, xã luận và tin tức có tính chất kích động. Ngày 3 tháng 6, Lưu Thiếu Kỳ triệu tập khân cấp Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng, nghiện cứu những vấn đề xuất hiện trong phong trào. Lưu Thiếu Kỳ nói: “Cách mạng văn hóa xã hội chủ nghĩa đã trở thành cao trào, phải làm cho các thường đại học và trung học ở Bắc Kinh có trật tự tốt, phải nhanh chóng tổ chức học sinh, đi vào quỹ đạo”. Tinh thần Hội nghị nhanh chóng được quán triệt, Thành ủy Bắc Kinh bắt đầu cử các tổ công tác đến một số trường đại học và trung học. Thành viên của tổ công tác ở các trường đại học do Ban Tổ chức Trung ương điều động, thành viên của tổ công tác ở các trường trung học do Trung ương Đoàn điều động, sau đó do Thành ủy Bắc Kinh thống nhất giới thiệu đến các trường. Tổ công tác đầu tiên trong đại cách mạng văn hóa là tổ công tác đóng ở tòa soạn Nhân dân nhật báo do Trần Bá Đạt cầm đầu, ngày 3 tháng 5 đến tòa soạn Nhân dân nhật báo. Tổ công tác thứ hai là tổ công tác đến Đại học Bắc Kinh do Trương Thừa Tiên làm tổ trưởng, tối ngày 1 tháng 5 đến Đại học Bắc Kinh. Trương Thừa Tiên là Bí thư Ban Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc, đã chuẩn bị giữ chức thứ trưởng Bộ Cao đẳng Giáo dục thuộc Quốc vụ viện, vẫn chưa nhậm chức thì được cử đến Đại học Bắc Kinh. Hai tổ công tác được cử đi sớm nhất này do Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình là ba vị trong Thường vụ Bộ Chính trị bàn bạc với các đồng chí phụ trách hữu quan quyết định, đồng thời được Mao Trạch Đông đồng ý. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Ba, 2010, 12:18:43 pm Từ sau khi tin tức về việc cử tổ công tác đến Đại học Bắc Kinh được công bố trên báo, thầy trò của rất nhiều trường đại học và trung học ở Bắc Kinh tổ chức thành lập từng đoàn đổ về các cơ quan Trung ương Đảng, Quốc vụ viện, Thành ủy Bắc Kinh, kiên quyết yêu cầu cử các đội công tác đến trường. Đại đa số những người lãnh đạo đảng và chính quyền ở các trường bị thanh niên học sinh tấn công rất dữ, thực sự cũng không thể nào thực hiện được chức năng lãnh đạo. Để làm cho tình hình không đi tới chỗ không khống chế nổi, Thành ủy Bắc Kinh sau khi thỉnh thị và được Trung ương đồng ý, từ ngày 5 tháng 6 đã đẩy nhanh việc cử các tổ công tác, Đại bộ phận các tỉnh thành trong cả nước và một số bộ, ủy ban ở Trung ương cũng sôi nổi học theo cách làm của Thành ủy Bắc Kinh, lần lượt cử các tổ công tác đến một số đơn vị trong địa phương và hệ thống của mình. Tiêu Vọng Đông (nguyên là Chính ủy thứ hai quân khu Nam Kinh) mới được điều đến, nhậm chức Thứ trưởng thường trực Bộ Văn hóa, vẫn chủ trì một tổ công tác do cán bộ quân đội tổ chức thành, đến các đơn vị thuộc hệ thống văn hóa của Quốc vụ viện, Lâm Bưu đã đích thân phê chuẩn 300 cán bộ được điều từ Tổng cục Chính trị quân giải phóng tham gia các tổ công tác này. Ngày 9 tháng 6, ba ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị và những người từ Bắc Kinh đi họp, đáp máy bay đi Thượng Hải, rồi lại từ Thượng Hải đáp xe hơi đi Hàng Châu báo cáo xin ý kiến Mao Trạch Đông. Vấn đề tổ công tác được đề cập đến, nhưng không hình thành ý kiến rõ ràng. Mao Trạch Đông chỉ tiện thể nói một câu: “Cử tổ công tác nhanh quá thì không hay, không có chuẩn bị. Chi bàng cứ để cho loạn một thời gian, hỗn chiến một trận, tình hình rõ ràng rồi hãy cử đi”. Các ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị về đến Bắc Kinh, bắt đầu quán triệt tinh thần Hội nghị Hàng Châu. Vì ngày 15 tháng 6, Chu Ân Lai sẽ đi thăm Ru-ma-ni, An-ba-ni, trách nhiệm chỉ đạo phong trào hiện tại rơi vào hai người là Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Ngày hôm sau, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình triệu tập Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng, truyền đạt tinh thần của Hội nghị Hàng Châu. Để tăng thêm nhận thức cảm tính, lợi dụng đêm khuya vắng người, Lưu Thiếu Kỳ đã đến sân trường Đại học Bắc Kinh xem những bài đại tự báo đã được dán. Cách một ngày sau lại đến Đại học Thanh Hoa xem. Đại tự báo của hai trường quả xứng đáng là phủ kín trời đất, không những dán đầy trên các tấm chiếu cói được dựng lên để chuyên dán các bài đại tự báo mà ngay đến những bức tường nhà có vị trí thích hợp cũng được dán kín ngang dọc những biểu ngữ lớn. Dưới ánh đèn trắng bệch, các bài đại tự báo đỏ có, vàng có, trắng có, bài viết có, tranh biếm họa có dán liền thành từng mảng lớn, bị gió thổi phành phạch, tạo nên một cảnh quan kỳ lạ. Hơn nữa, xu thế phê phán bừa, đấu bừa tăng lên không ngớt. Rất nhiều giáo sư, chuyên gia bị coi là kẻ xấu bị bắt bêu ra trước công chúng. Người xuất thân không tốt bị gọi là “chó con”, bị kỳ thị một cách độc ác, bị làm nhục. Khám nhà, đánh người, phê phán, đấu tố xảy ra như cơm bữa. Tình hình đánh chết người, tự sát có lúc đã xảy ra. Số ít học sinh đã đối lập với tổ công tác, hơn nữa ngày càng có xu hướng nghiêm trọng. Hôm ấy, con gái Lưu Thiếu Kỳ là Bình Bình về nhà, nói với bố, ở trường trung học thuộc Trường Đại học sư phạm Bắc Kinh mà cô học đã có người chống lại tổ công tác, đang viết đại tự báo. Mọi hiện tượng chứng tỏ, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương ủng hộ số ít học sinh chống lại tổ công tác. Số học sinh này lại đi khắp nơi xâu chuỗi, chuẩn bị hành động dữ dội hơn. Lưu Thiếu Kỳ cảm thấy tình thế nghiêm trọng. Ông nói với mọi người trong nhà: “Đây là sự bắt đầu của cuộc chia rẽ lớn trong cả nước, không thể coi thường. Đằng sau có thể có cán bộ cao cấp”. Nếu để mặc cho việc mới chớm nở này tiếp tục phát triển, thì tình hình sẽ không thể sửa chữa được, nên Lưu Thiếu Kỳ đã quyết định dùng biện pháp. Ngày hôm sau, 21 tháng 6, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình lại triệu tập Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng, để sắp xếp sự lãnh đạo đối với phong trào. Nhưng cuộc tranh luận chung quanh tổ công tác càng ngày càng lớn. Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình mặc dù đại biểu cho ý kiến của đại đa số đồng chí, nhưng những biện pháp nhằm ổn định tình hình mà họ sử dụng lại khác xa một trời một vực với sự tưởng tượng “Thiên hạ đại loạn sẽ đạt tới Thiên hạ đại trị” của Mao Trạch Đông. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:43:03 pm 3. Quả bom hạng nặng Cuối cùng Mao Trạch Đông đã tỏ thái độ. Ngày 24, 25 tháng 7, ông đã liên tục hai lần triệu tập các ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, những người phụ trách Tổ cách mạng văn hóa Trung ương và các Bí thư Trung ương cục của các đại khu đang họp ở Bắc Kinh đến để nói chuyện. Tổ công tác một là không biết đấu tố, hai là không biết cải tạo, chỉ có tác dụng gây cản trở phong trào. Rất nhiều tổ công tác, bao gồm cả tổ công tác của Trương Thừa Tiên đều cản trở phong trào, đều phải xóa bỏ đi. Tổ công tác bị xóa bỏ, nhưng Mao Trạch Đông vẫn chưa bằng lòng với tình hình của phong trào. Ông cho rằng giai đoạn trước của phong trào đã đi vòng, cuộc đại cách mạng văn hóa vừa mới dấy lên đã bị đè xuống, để gạt bỏ trở ngại, cần phải phát động lại một lần nữa. Ngày 1 tháng 8, Mao Trạch Đông triệu tập Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ 11 khóa 8. Chiều ngày 4 tháng 8, trong cuộc Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng lần này, Mao Trạch Đông chỉ trích gay gắt việc cử tổ công tác là “trấn áp phong trào học sinh”, là “sai lầm về đường lối”. Lưu Thiếu Kỳ chủ động đứng ra nhận trách nhiệm: “Thời gian này, chủ tịch không ở nhà, tôi ở Bắc Kinh chủ trì công việc, tôi chịu trách nhiệm chủ yếu”. Mao Trạch đông tiếp lời ngay: “Đồng chí ở Bắc Kinh để chuyên chính mà, chuyên khá lắm!”. Khi Diệp Kiếm Anh nói đến việc chúng ta có mấy triệu quân đội, không sợ gì bọn đầu trâu mặt ngựa, tiếng nói của Mao Trạch Đông đầy vẻ gay gắt: “Đầu trâu mặt ngựa có ở trong số người ngồi ở đây”. Ngày hôm sau, Mao Trạch Đông đã dùng biện pháp gay gắt hơn, viết một bài khác thường. NÃ PHÁO VÀO BỘ TƯ LỆNH - MỘT BÀI ĐẠI TỰ BÁO CỦA TÔI Bài đại tự báo mác-xít – lê-nin-nít đầu tiên trong cả nước và bài bình luận của bình luận viên Nhân dân nhật báo, viết hay biết chừng nào! Xin mời các đồng chí hãy đọc lại lần nữa bài đại tự báo và bài bình luận này. Nhưng trong hơn 50 ngày, một số đồng chí lãnh đạo nào đó từ Trung ương đến địa phương lại đi ngược lại con đường đó, đứng trên lập trường tư sản phản động, dập tắt phong trào đại cách mạng văn hóa đang sôi động của giai cấp vô sản, đảo lộn phải trái, đánh lận trắng đen, vây quét phái cách mạng, áp chế những ý kiến bất đồng, thực hiện khủng bố trắng, tự cho là đắc ý, khuyến khích uy phong của giai cấp tư sản, diệt chí khí của giai cấp vô sản, độc ác biết chừng nào! Liên hé đến những khuynh hướng sai lầm hữu khuynh năm 1962 và bề ngoài là “tả” nhưng thực chất là hữu năm 1964, lại không thể làm cho người ta tỉnh ra hay sao? Giống như hòn đá khổng lồ ném xuống mặt nước nó trào lên từng lớp từng lớp sóng. Hội nghị Toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 khóa 8, vốn định họp trong 5 ngày bây giờ dù thế nào cũng không thể kết thúc như dự kiến. Bắt đầu từ chiều ngày 8 tháng 8, Hội nghị chuyển sang thảo luận bài “đại tự báo” của Mao Trạch Đông, phê bình Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Cùng lúc Hội nghị chia tổ thảo luận, Bộ Chính trị đã mấy lần sinh hoạt phê bình Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Giang Thanh không phải là Ủy viên Bộ Chính trị, nhưng lại trở thành vai diễn sôi nổi trong cuộc sinh hoạt. Bà ta kích động một số người đi đầu “nổ súng” vào Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Nhưng không hoàn toàn như ý, Đào Chú là người đầu tiên từ chối bà ta. Kết quả, Tạ Phú Trị là người “nổ súng” đầu tiên. Bầu cử lại 11 ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, có hai thay đổi lớn nhất: Một là, Lâm Bưu nguyên ở vị trí thứ 6 trước đây nhảy lên vị trí thứ 2; hai là Lưu Thiếu Kỳ từ vị trí thứ 2 trước đây tụt xuống vị trí thứ 8. Sau khi Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ 11 khóa 8, kết thúc, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình vì phạm “sai lầm về đường lối” trong vấn đề tổ công tác, nên bây giờ phải đóng cửa để suy nghĩ, không còn tham gia công tác hằng ngày của Trung ương nữa. Tháng 9, triệu tập Hội nghị các cán bộ lãnh đạo tổ công tác ở Bắc Kinh đã yêu cầu Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình phải kiểm điểm trong Hội nghị. Ngày 23 tháng 10, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình lần lượt đọc bản kiểm thảo của mình trong Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương. Khoảng 2 giờ chiều ngày 18 tháng 12, trong phòng Thường trực ở cửa phía tây Trung Nam Hải, có hai người đeo kính đang đóng chặt cửa bàn chuyện bí mật. Đây là hai nhân vật khét tiếng từ khi đại cách mạng văn hóa nổ ra: một người là Tổ phó Tổ cách mạng Văn hóa Trung ương Trương Xuân Kiều, một người khác là Khoái Đại Phú người cầm đầu phái tạo phản ở Đại học Thanh Hoa, người ta thường gọi là “Tư lệnh Khoái”. Từ đó các động tác lớn động tác nhỏ muôn hình vạn trạng chĩa vào Lưu Thiếu Kỳ như những cơn gió buốt xương thổi từ Si-bia tới hết trận này đến trận khác. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:43:30 pm Ngày 24 tháng 12, Thích Bản Vũ tổ viên Tổ cách mạng văn hóa Trung ương đã công khai tuyên bố tại Học viện Công nghiệp Khoáng sản Bắc Kinh rằng: “Lưu, Đặng là phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa lớn nhất trong Đảng”. Ngày 25 tháng 12, Khoái Đại Phú dựa trên những gợi ý trong cuộc bàn bí mật với Trương Xuân Kiều ngày 18 tháng 12, đã phát động đợt hành động đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Anh ta dẫn hơn 5000 người đến Quảng trường Thiên An Môn, tổ chức một cuộc “mít tinh đánh đổ triệt để đường lối phản động tư sản mà Lưu, Đặng là đại biểu” ầm ĩ rùm beng. Sau khi mít tinh đám người này chia làm 5 ngả từ Thiên An Môn tỏa ra các phố sầm uất Vương Phủ Tỉnh, Tây Đơn, Ga xe lửa Bắc Kinh, Thái Thị Khẩu v.v.. trên đường đi họ hô khẩu hiệu, diễn thuyết, dán biểu ngữ, rải truyền đơn. “Cuộc Đại hành động” này có khẩu hiệu chủ yếu là “Đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ”, “Đánh đổ Đặng Tiểu Bình”, “Triệt để đập tan sự phục hồi điên cuồng của đường lối phản động tư sản Lưu Đặng”. Hô suốt dọc đường, còn viết biểu ngữ lớn nổi bật treo trên tường thành Thiên An Môn. Hoạt động này đã kéo dài nhiều ngày. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1967, phái tạo phản ở Trung Nam Hai bắt đầu thường xuyên đến nơi ở của Lưu Hiếu Kỳ quấy nhiễu, ngày 3 tháng 1, lần đầu tiên mặt đối mặt bao vây tấn công phê phán đấu tố Lưu Thiếu Kỳ và Vương Quang Mỹ. Đêm khuya ngày 13 tháng 1, một chiếc xe con nhãn hiệu Vác-sa-va xuyên qua giá lạnh tiến vào trước sân Phúc Lộc Cư. Từ trên xe bước xuống là Từ Nghiệp Phu, thư ký của Mao Trạch Đông. Anh ta theo lệnh của Mao Trạch Đông đón Lưu Thiếu Kỳ đến Đại lễ đường Nhân dân nói chuyện. Mao Trạch Đông nhiệt tình thân mật tiếp đãi Lưu Thiếu Kỳ, hai người bạn chiến đấu cũ đã cùng hợp tác mấy chục năm trời gặp mặt, nhưng lần này họ không hề bàn đến chuyện công việc. Lưu Thiếu Kỳ nói là mình đã phạm sai lầm, tiếp đó ông trịnh trọng đề xuất yêu cầu đã được suy xét cân nhắc kỹ càng của mình với Mao Trạch Đông: “1) Trách nhiệm trong sai lầm về đường lối lần này là ở tôi, đông đảo cán bộ là tốt đặc biệt là rất nhiều cán bộ cũ là tài sản quý báu của Đảng, trách nhiệm chủ yếu do tôi gánh vác, nhanh chóng giải phóng số đông cán bộ ấy, để cho Đảng bớt bị tổn thất. 2) Từ chức Chủ tịch nước, ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị và Chủ nhiệm ủy ban biên tập “Mao Trạch Đông tuyển tập” cùng vợ và các con đi Diên An hoặc về quê làm ruộng, nhằm nhanh chóng kết thúc cuộc đại cách mạng văn hóa, để đất nước đỡ bị tổn thất”. Mao Trạch Đông trầm ngâm không nói, chỉ hút thuốc liên tục. Cuộc nói chuyện kết thúc, Mao Trạch Đông đứng dậy đưa tiễn Lưu Thiếu Kỳ ra đến tận cửa phòng Bắc Kinh (Đại lễ đường Nhân dân - Nhà Quốc hội của Trung Quốc có thiết kế các phòng cho các đoàn Quốc hội các tỉnh, thành nên đặt tên phòng theo tên tỉnh ví dụ phòng Phúc Kiến, phòng Bắc Kinh - N.D). Lúc chia tay, Mao Trạch Đông nói một cách thân ái: “Sau khi về cố gắng đọc sách học tập, giữ gìn sức khỏe”. Lưu Thiếu Kỳ bình tĩnh lên đường trở về. Về đến nhà, ông nói với mọi người đang sốt ruột chờ ông. “Chủ tịch không phê bình sai lầm của tôi mà rất khách sáo, dặn dò tối chăm chỉ học tập, giữ gìn sức khỏe”. Nhưng tình hình thực tế lại không cho phép lạc quan. Đến tháng 3 năm 1967, theo đà phát triển nguy hiểm của đại cách mạng văn hóa, vấn đề Lưu Thiếu Kỳ leo thang rõ rệt, hình như Mao Trạch Đông cũng đã thay đổi thái độ vốn có. Ngày 9 tháng 4 năm 1967, Lưu Thiếu Kỳ được tin, phái tạo phản của Đại học Thanh Hoa, hôm sau sẽ tổ chức một cuộc mít tinh gồm 30 vạn người tham dự, phê phán đấu tố Vương Quang Mỹ, còn có 300 người cùng bị đấu như Bành Chân, Bạc Nhất Ba, Lục Định Nhất, Tưởng Nam Tường v.v... Ông hiểu ra đây là một bước đi nghiêm trọng chĩa mũi nhọn vào ông, trong lòng hết sức ấm ức, nên không thể không tính đến nước xấu nhất. Ngày 10 tháng 4 năm 1967, tại Đại học Thanh Hoa quả nhiên đã có cuộc mít tinh 30 vạn người để phê phán đấu tố. Dưới sự thao túng của Giang Thanh và Trần Bá Đạt, một bọn xông vào đánh đá cưỡng bức Vương Quang Mỹ phải mặc áo dài của phụ nữ Trung Quốc, đeo chuỗi hạt xâu bằng những quả bóng bàn. Vương Quang Mỹ giữ vững nguyên tắc, không khuất phục trước uy lực. Năm 1967, xuân qua hè tới mặt trời nóng như lửa, Mao Trạch Đông rời Bắc Kinh đi thị sát vùng Nam Bắc sông Trường Giang. Chính lúc này Giang Thanh, Lâm Bưu và đồng bọn đã thò bàn tay độc ác ra. Họ lừa gạt và kích động những Hồng vệ binh ngây thơ đơn giản “bao vây tấn công Trung Nam Hải, bắt Lưu Thiếu Kỳ”. Phút chốc, ngoài tường Trung Nam Hải, lều bạt mọc lên như nấm, xe cộ như nước, vây chặt đến mức nước cũng không lọt ra được, xem ra thì quả là mâu thuẫn: Họ nắm quyền lớn, có thể chẳng cần phí một tý hơi sức nào đã có thể đưa Lưu Thiếu Kỳ vào chỗ chết, nhưng họ lại muốn lừa đời để lấy tiếng, lừa dối quần chúng, lấy danh nghĩa “phong trào quần chúng” để trừng trị kẻ ác cứu dân lành, mượn dao giết người, làm cho đôi tay của mình không dính một chút máu. Sự thật rất rõ ràng, họ vây chặt Trung Nam Hải, là để đạt mục tiêu một mũi tên trúng hai đích: Đuổi Chu Ân Lai đi và bắt Lưu Thiếu Kỳ. Họ càng đi càng xa. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:44:29 pm 4. Bắt Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi Trung Nam Hải Lưu Thiếu Kỳ ở trong Trung Nam Hải, vẫn như thường lệ, kiên trì hằng ngày xem đại tự báo. Lưu Bình Bình, Lưu Nguyên Nguyên kể lại tình hình mà các cô nhìn thấy khi đi xâu chuỗi ở các tỉnh Vân Nam, Hồ Nam, Hồ Bắc, Thiểm Tây, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Thanh Hải, Thiên Tân cho Lưu Thiếu Kỳ và Vương Quang Mỹ nghe. Khi thấy các con nói đến những cuộc đẩu tố bằng bạo lực trên quy mô lớn bắt đầu xảy ra ở các nơi như Trường Sa, Vũ Hán, Thành Đô, Thiên Tân v.v... Lưu Thiếu Kỳ chăm chú lắng nghe và trở nên lặng lẽ trầm tư, ông rất ít nói chuyện. Thực ra, chỉ trong bài “Thủ trưởng nói chuyện” đăng trên một tờ báo nhỏ, Lưu Thiếu Kỳ đã biết cả nước đã rơi vào tình cảnh như thế nào, Đảng đã bị phá hoại đến mức như thế nào, Đảng bị phá tan, đất nước bị nạn, quần chúng bị tai ương, mà tất cả vẫn chưa nhìn thấy đâu là điểm cuối cùng. Đang lúc ông lo lắng như lửa đốt, ăn không ngon ngủ không yên, thì một tổ chức quần chúng của Học viện Kiến trúc Công trình đột ngột yêu cầu Lưu Thiếu Kỳ viết kiểm thảo. Lưu Thiếu Kỳ đã mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần, không làm sao mà viết được, đành phải nhờ Vương Quang Mỹ viết hộ. Sau khi đưa đi, Lưu Thiếu Kỳ lại lấy lại, viết thêm một câu: “Đây là do Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch giao cho tôi chủ trì công tác của Trung ương”. Chính vì thêm mấy chữ ấy mà mấy trăm chiếc loa mở hết cỡ chĩa vào Trung Nam Hải hò hét như điên cả ngày lẫn đêm. Hách Miêu, người đầu bếp đã làm việc bên cạnh Lưu Thiếu Kỳ 18 năm, đột ngột bị bọn Lâm Bưu, Giang Thanh vu cho là “gián điệp” nên bị bắt, điều đó đã gây áp lực rất lớn cho những nhân viên làm việc bên cạnh Lưu Thiếu Kỳ, họ càng không dám gần gũi với Lưu Thiếu Kỳ nữa. Những cuộc đả kích liên tiếp làm cho tinh thần và sức khỏe của Lưu Thiếu Kỳ ngày càng sụt giảm. Ngày 4 tháng 7, Văn phòng Trung ương Đảng thông báo cho Lưu Thiếu Kỳ rằng, ý kiến của Trung ương là yêu cầu Lưu Thiếu Kỳ viết một bản kiểm điểm gửi cho “Trung đoàn chiến đấu Bát Nhất mới” của Học viện Kiến trúc Công trình Bắc Kinh. Quả thực là Lưu Thiếu Kỳ không thể viết ra được điều gì mới, đành phải dựa vào nội dung của bản kiểm thảo mà ông đã đọc trong Hội nghị công tác của Trung ương để sửa chữa và viết lại. Nhất là bản kiểm điểm lại thêm câu này, nên đã bị phái tạo phản chỉ trích là “bằng chứng thép và bản tuyên ngôn nhận tội giả, quay lại phản công thật”. Do sự kích động của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, hàng ngàn phái tạo phản ở Bắc Kinh và các nơi khác tổ chức thành lập “mặt trận bắt Lưu”, tụ tập hàng vạn người đóng trại ở bốn chung quanh, bao vây Trung Nam Hải, rêu rao đòi lôi Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi Trung Nam Hải. Buổi sáng ngày 18 tháng 7, Lưu Thiếu Kỳ và Vương Quang Mỹ nhận được tin tối hôm đó sẽ mở cuộc mít tinh phê phán đấu tố họ. Lưu Thiếu Kỳ dự cảm thấy hôm nay có lẽ sẽ là ngày sinh ly tử biệt. Lưu Thiếu Kỳ nói với Vương Quang Mỹ: “Cái hay là ở chỗ lịch sử do nhân dân viết”. Sáng sớm các con của Lưu Thiếu Kỳ đến nhà ăn của cán bộ công nhân viên trong Trung Nam Hải ăn cơm, bên cạnh bàn ăn mà họ vẫn thường ngồi treo một tờ đại tự báo, trên đó nói: Theo “Chỉ thị” của Giang Thanh và Thích Bản Vũ, tối nay sẽ tổ chức cuộc mít tinh để phê phán và đấu tố Lưu Thiếu Kỳ. Về đến nhà, họ nói lại cho Lưu Thiếu Kỳ biết. Lưu Thiếu Kỳ ý thức được rằng cuộc vật lộn sống chết đã cấp bách lắm rồi. Buổi trưa, ông lấy hai bản văn kiện từ trong túi áo ra đưa cho các con xem, một bản là toàn văn lời bình của Mao Trạch Đông khẳng định bản kiểm điểm của Lưu Thiếu Kỳ, một bản là toàn văn lời phê duyệt của Mao Trạch Đông ca ngợi và mở rộng “kinh nghiệm Đào Viên”. Đây là lần đầu tiên Lưu Thiếu Kỳ cho các con xem văn kiện của Trung ương và cũng là một lần duy nhất. Trước đây, ngay đến bàn làm việc của mình ông cũng không cho con cái bén mảng tới. Bây giờ đã đến bước cuối cùng, ông cho rằng không thể để cho trong lòng con cái lưu lại một bóng mờ nào, Lưu Thiếu Kỳ nhìn các con với ánh mắt mong đợi: “Các con đều đã xem cả rồi, điều đó chứng tỏ cha mẹ chưa bao giờ lừa dối các con”. Buổi tối, một đám tạo phản xông vào sân trước nhà Phúc Lộc Cư, tay năm tay mười bắt Lưu Thiếu Kỳ lần lượt áp giải đến hai nơi Nhà ăn đại táo phía tây TrungNam Hải và phòng lớn ở Tây Lâu. Cuộc phê phán và đấu tố kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ, không cho Lưu Thiếu Kỳ nói một câu, nhưng lại cưỡng ép buộc ông phải đứng cúi đầu suốt từ đầu đến cuối. Ông định rút khăn lau mồ hôi, thì bị phái tạo phản dùng tay đập rơi xuống đất. Lưu Thiếu Kỳ hiểu rằng, ông đã rơi vào tay của bọn người xấu, tất cả mọi sự tranh luận đều vô ích. Từ đó ông không bao giờ viết thư hoặc trình bày nữa, nói chuyện cũng ngày càng ít, cuối cùng đến một câu cũng dứt khoát không nói, dùng im lặng để biểu thị sự kháng cự không lời. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Ba, 2010, 03:45:53 pm 5. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Án oan số một Để có thể thu được những “tài liệu tội chứng” của Lưu Thiếu Kỳ, Giang Thanh, Khang Sinh, Tạ Phú Trị v.v… thực sự đã không tiếc mọi sự trả giá, không từ một thủ đoạn nào, đem hết sức lực trong người ra để thực hiện. Họ lập ra một “tổ chuyên án Lưu Thiếu Kỳ” khổng lồ, dùng khối lượng lớn nhân lực vật lực để sục sạo tài liệu trong phạm vi cả nước. Tháng 9 năm 1968, do sự thúc ép liên tục của Giang Thanh và Khang Sinh, “tổ chuyên án Lưu Thiếu Kỳ” do Tạ Phú Trị chỉ huy đã ngày đêm hăng hái chiến đấu, cuối cùng đã chỉnh lý được ba tập của cái gọi là “tài liệu tội chứng” lần lượt đưa đến tay Giang Thanh ở lầu 11 Điếu Ngư Đài. Sau khi đọc duyệt, Giang Thanh đã dùng thứ ngôn ngữ cực đoan để xác định tính chất của vấn đề Lưu Thiếu Kỳ. Ngày 16 tháng 9, bà ta phê duyệt với giọng khoa trương thanh thế: “Tôi phẫn nộ! Tôi căm giận! Nhất định phải tiến hành cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản đến cùng! Lưu Thiếu Kỳ là tên đại phản bội, đại nội gian, đại công tặc, đại đặc vụ, đại phản cách mạng, có thể nói là kẻ thù giai cấp nham hiểm nhất, hung ác nhất, xảo quyệt nhất, độc ác nhất với đủ năm cái độc”. Lâm Bưu, Khang Sinh, Trần Bá Đạt cũng đều ghi ý kiến, Lâm Bưu còn đặc biệt ghi rõ: “Xin gửi lời chào tới đồng chí Giang Thanh, người đã chỉ đạo một cách xuất sắc tổ chuyên án và đã đạt được những thành tựu to lớn!”. Từ ngày 13 đến ngày 31 tháng 10 năm 1968, Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương mở rộng lần thứ 12 khóa 8 đã được triệu tập trong cao trào đại cách mạng Văn hóa. Cuộc hội nghị này rất không bình thường. Trong 195 ủy viên trung ương đảng, ủy viên dự khuyết trung ương đảng có 52,7% số người bị quy là “phản bội”, “đặc vụ”, “thông đồng với nước ngoài”, “phần tử chống đảng”, đã tước mất quyền tham dự Hội nghị của họ. Trong số 97 ủy viên trung ương, ngoài 10 người qua đời từ hội nghị toàn thể lần trước đến nay ra, cho phép tham dự hội nghị này chỉ có 40 người. Khi họp, phải bầu bổ sung 10 người từ ủy viên dự khuyết trung ương thành ủy viên trung ương, mới miễn cưỡng đạt số quá bán. Cho phép ủy viên dự khuyết trung ương tham gia hội nghị chỉ có 9 người. Còn mở rộng cho các nhân viên của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, tổ làm việc của Quân ủy Trung ương và những người mới được đề bạt từ đại cách mạng văn hóa đến nay có tới 74 người, quá nửa tổng số người tham gia. Giang Thanh, Khang Sinh, Tạ Phú Trị ngồi lì trong Điếu Ngư Đài khẩn trương xếp đặt, tổng hợp 3 “tài liệu tội chứng” do bức cung mà có được để viết lại thành “Báo cáo thẩm tra về tội lỗi của tên phản bội, nội gian, công tặc Lưu Thiếu Kỳ”, sau khi được Trương Xuân Kiều sửa chữa đã giao cho Hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 12 khóa 8. Trong báo cáo đã đề xuất “Xóa bỏ tất cả mọi chức vụ trong và ngoài đảng của Lưu Thiếu Kỳ, khai trừ đảng tịch vĩnh viễn, đồng thời tiếp tục thanh toán tội lỗi phản bội Đảng, phản bội đất nước của Lưu Thiếu Kỳ và đồng bọn”. Dưới áp lực chính trị mạnh mẽ và tình hình rất không bình thường, Hội nghị toàn thể đã phê chuẩn “Báo cáo thẩm tra” được viết nên bởi những chứng cứ giả vào ngày cuối cùng, từ đó đã dựng lên một cái án oan lớn nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng chính trong cái không khí căng thẳng đến nghẹt thở này, ủy viên Trung ương Đảng Trần Thiếu Mẫn vẫn không sợ sức ép mạnh mẽ, khi thảo luận “Báo cáo thẩm tra” đã từ chối không biểu thị đồng ý, khi Hội nghị Toàn thể biểu quyết thông qua đã kiên quyết không giơ tay. Lúc này tại Phúc Lộc Cư trong Trung Nam Hải, Lưu Thiếu Kỳ đã ốm nặng, ông không hề hay biết về Hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 12 khóa 8 và mọi tình hình về chuyên án. Trong toàn bộ quá trình lập án, thẩm tra, định án đối với ông, không có ai để lộ cho ông biết tin tức có liên quan đến chuyên án, càng không có ai đến nghe ông trình bày bất cứ điều gì. Để bảo vệ sinh mệnh chính trị của mình. Ông đã từng năm lần bảy lượt tranh luận bằng lời, viết trên giấy, nhưng tất cả chỉ như hòn đá ném xuống ao bèo, bặt vô âm tín. Người nhà Lưu Thiếu Kỳ đã không thể đến thăm ông, chăm sóc ông. Lúc này, vợ ông là Vương Quang Mỹ đang bị giam ở một phòng giam tối tăm ẩm mốc ở nhà tù Tân Thành; con trai cả Lưu Doãn Bân làm Phó Tổng công trình sư tại một công xưởng quốc phòng nọ ở Bao Đầu, đã lao vào đường tàu tự vẫn sau khi bị đấu tố vào cuối năm 1967; con gái lớn Lưu Ửi Cầm công tác ở Ủy ban Kế hoạch Khu tự trị Nội Mông, đang bị giam trong “chuồng bò”, không được về nhà; con trai thứ là Lưu Doãn Nhược làm kỹ thuật viên ở Viện 1 thuộc Bộ Cơ khí số 7, năm 1967, sau khi bị Giang Thanh chỉ tên đã bị bắt giam. Bốn người con vị thành niên vốn vẫn sống cùng với Lưu Thiếu Kỳ và Vương Quang Mỹ cũng đã bị đuổi ra khỏi nhà từ lâu, phiêu bạt khắp nơi; Bình Bình 19 tuổi bị giam trong phòng giam một người; Nguyên Nguyên 17 tuổi chạy trốn khắp nơi, tháng 12 năm 1968 lại bị bắt vào trại tạm giam; Đình Đình 15 tuổi sống một mình ở trong trường, luôn luôn bị kiểm tra; Tiểu Tiểu mới chỉ 7 tuổi, cũng phải chịu ức hiếp, kỳ thị. Sự đả kích nặng nề về tinh thần và mức sống giảm sút quá mức đã làm cho sức khoẻ của Lưu Thiếu Kỳ suy sụp nhanh chóng. Sau tháng 3 năm 1968, bệnh tình của ông nặng lên rõ rệt. Ngày 12 tháng 4, trong báo cáo “Phản ánh tình hình của Lưu Thiếu Kỳ” do Cục Cảnh vệ Trung ương chỉnh lý đã viết: “Theo bác sĩ kiểm tra: tinh thần và trí tuệ của Lưu không minh mẫn, biểu hiện định hướng phân biệt không rõ ràng, biểu hiện tình cảm không hoạt bát, hai chân di chuyển khó nhọc, đi bộ không bước chân được. Khi mặc áo, lắp răng giả, mấy lần phát hiện thấy mặc ngược và lắp ngược, khi người khác nói cho biết chỗ sai, vẫn không biết sửa”. Ngày 9 tháng 7, khí quản nhánh của ông bị viêm cấp tính, chuyển thành khí quản nhánh phế quản viêm, sinh mạng vô cùng nguy cấp. Từ đó về sau, Lưu Thiếu Kỳ chỉ có thể nằm trên giường suốt ngày, đau khổ vì bị bệnh nặng giày vò. Ông đã mất khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình, nhưng không có được sự chăm sóc đáng có. Bên cạnh ông không có ai là người thân, ông không biết vợ con mình hiện nay đang ở nơi nào, cảnh ngộ ra sao? Chỉ có giám thị nghiêm ngặt vẫn như cái bóng theo ông từ sáng đến tối. Sau ngày 11 tháng 10 năm 1968, ông không thể ăn bằng mồm được nữa, nhân viên bác sĩ y tá đành cho ông ăn bằng ống xông qua mũi. Phương thức duy trì cuộc sống này, kéo dài mãi cho đến khi ông qua đời. Tối ngày 17 tháng 10, một chiếc máy bay kiểu IL-14, đã đỗ từ rất sớm để đợi lệnh tại sân bay quân sự Tây Giao. 19 giờ 23 phút, Lưu Thiếu Kỳ nằm trên chiếc cáng, được đưa lên máy bay một cách vội vã, dưới sự giám sát của hai nhân viên tổ chuyên án. Lúc máy bay hạ cánh xuống sân bay Khai Phong tỉnh Hà Nam đã là 21 giờ 30 phút. Lưu Thiếu Kỳ bị khiêng xuống máy bay và đưa thẳng tới địa điểm giám hộ, một thiên tỉnh nhỏ của nhà số 1, cơ quan ủy ban Cách mạng thành phố Khai Phong. Đến Khai Phong chưa được vài ngày, bệnh tình của Lưu Thiếu Kỳ đã ba lần phát nặng. Lần thứ ba là vào ngày 10 tháng 11, Lưu Thiếu Kỳ bị sốt cao mà không giảm. 6 giờ 45 phút ngày 12 tháng 11 năm 1969, vị Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoá đã chết một cách thảm thương trong ngục Khai Phong. Đêm khuya hôm ấy, di thể của ông được khiêng lên một chiếc xe gíp, đưa đến nơi thiêu xác, chân ông thò cả ra ngoài xe! Nhân viên chuyên án đã điền vào tờ giấy thiêu xác như sau: “Họ tên: Lưu Vệ Hoàng; nghề nghiệp: Vô nghề nghiệp, nguyên nhân chết: Chết bệnh...” Thế là, di thể của Lưu Thiếu Kỳ được đưa vào lò hỏa thiêu một cách im hơi lặng tiếng. Đông đảo người dân Trung Quốc không hề hay biết gì về cái chết của Lưu Thiếu Kỳ! Cuộc đại cách mạng văn hóa chưa từng có trong lịch sử vẫn tiến hành bừng bừng như lửa. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:22:59 am 4 Thâm nhập vào địa ngục, Chu Ân Lai trộn bùn nhão Để bảo vệ Lưu Đặng, nhân vật thứ tư chết mắt vẫn mở trừng trừng 1. Cuộc điều đình gian nan ở Hoài Nhân Đường Bắt đầu từ năm 1967, Chu Ân Lai đã dốc sức cho việc ổn định tình hình. Thượng tuần tháng 1, sau khi Thượng Hải cướp quyền, tổ chức tạo phản ở các tỉnh, thành phố, khu, cũng sôi nổi cướp quyền, cơ cấu Đảng, chính quyền ở các nơi đã tê liệt, dẫn đến tình hình ngày càng hỗn loạn hơn. Cơ cấu Đảng và chính quyền đã bị tê liệt, lại không thừa nhận “phái tạo phản” đã cướp quyền, vậy Chu Ân Lai phải dựa vào lực lượng nào đây? Được Mao Trạch Đông đồng ý, ông cùng Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, kiêm Tổng thư ký Diệp Kiếm Anh phối hợp chặt chẽ, dùng biện pháp quân quản. Tiếp đó lại xảy ra cái gọi là “dòng nước ngược tháng Hai”, do rất nhiều nhà cách mạng cũ trong tầng lớp lãnh đạo của đảng đã chống lại Lâm Bưu, Giang Thanh và đồng bọn. Tiêu điểm của cuộc chống đối này là có cần ổn định quân đội hay không, có cần đảng lãnh đạo hay không, trên thực tế là sự phê bình mạnh mẽ đối với cách làm sai lầm của “đại cách mạng văn hóa”. Ngày 13 tháng 2, Chu Ân Lai triệu tập và chủ trì một cuộc hội ý của Bộ Chính trị (có Trương Xuân Kiều, Vương Lực, Diêu Văn Nguyên tham dự) tại Hoài Nhân Đường, trong cuộc họp này lại triển khai tranh luận. Ngày 16 lại họp, đấu tranh đi tới mức quyết liệt. Chiều hôm ấy, phòng họp Hoài Nhân Đường trong Trung Nam Hải, một trận kịch chiến đã bắt đầu. Đây chính là cái gọi là sự kiện “đại náo Hoài Nhân Đường” mà sau này vẫn lưu truyền rộng rãi. Trong phòng hợp, trận tuyến hai bên rõ ràng. Chu Ân Lai ngồi giữa bàn hội nghị, bên phải là Trần Nghị, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Đàm Chấn Lâm. Đây là những người tượng trưng cho “phái hữu”, còn có Dư Thu Lý và Cốc Mục. Ngồi bên trái có: Khang Sinh, Trần Bá Đạt, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Tạ Phí Trị. Giang Thanh bận việc vắng mặt, Vương Lực đến tham dự, những người này tượng trưng cho “phái tả”. Hai bên trợn mắt nhìn nhau, đám mây chiến tranh bao phủ, chỉ chạm vào là bùng nổ, hai bên đều đang suy tính làm sao để đánh trúng điểm yếu của đối phương. Đồng chí Trần Phi Hiển đã tham gia cách mạng từ nhỏ, là “chú nhóc đỏ” rốt cuộc đồng chí ấy có vấn đề gì mà các anh bắt giữ không thả? Đàm Chấn Lâm một con người có tính cách thẳng thắn, trong lòng không một chút tà tâm nịnh bợ, đã nổ phát súng đầu tiên, ông dùng đôi mắt sắc lạnh tức giận nhìn thẳng vào mặt Trương Xuân Kiều, lớn tiếng chất vấn: “Bí thư của mấy đại khu, rất nhiều Bí thư tỉnh ủy có vấn đề gì? Vì sao không để họ đến Bắc Kinh?” Đàm Chấn Lâm nêu ra vấn đề lãnh đạo các đại khu và tỉnh đến Bắc Kinh, là vì sau khi một số Bí thư Tỉnh ủy, Thành uỷ bị đấu tố diễu đi ngoài đường, nên Mao Trạch Đông đã ba lần liên tục trong các trường hợp khác nhau đã chỉ thị rằng phải đưa các Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy lên Bắc Kinh để bảo vệ họ. Chu Ân Lai đã gạt bỏ mọi ngăn trở trên nhiều phương diện đưa một bộ phận Bí thư Tỉnh ủy đến Bắc Kinh, nhưng có một bộ phận vẫn bị giam giữ ở địa phương, Trần Phi Hiển là một người trong số đó. Trước khi vào phòng họp, Đàm Chấn Lâm đã gặp Trương Xuân Kiều, kẻ đã thao túng cơn gió đen “cướp quyền tháng Hai” ở Thượng Hải. Đàm Chấn Lâm hỏi ông ta: “Đồng chí Trần Phi Hiển đến chưa?” Trương Xuân Kiều đáp một cách xảo quyệt: “Quần chúng không bằng lòng!” Lúc này, Trương Xuân Kiều thấy Đàm Chấn Lâm lại đưa ra chất vấn, để chọc tức ông, Trương Xuân Kiều cố ý nói mát: “Những việc này đều phải bàn với quần chúng, chúng ta đều phải tôn trọng ý kiến của quần chúng mà!” Nói rồi liền dùng ánh mắt khiêu khích liếc nhìn Đàm Chấn Lâm. “Quần chúng cái gì?” Đàm Chấn Lâm nổi giận đùng đùng, cắt ngang lời ngụy biện vô trách nhiệm của Trương Xuân Kiều, hỏi vặn một cách thẳng thắn không sợ hãi gì: “Lúc nào cũng quần chúng, quần chúng, có cần Đảng lãnh đạo nữa không?” Tay ông chỉ vào mấy người trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương: “Mục đích của các người chính là muốn đánh đổ tất cả các cán bộ cũ. Những cán bộ cũ 40 năm trước bây giờ rơi vào cảnh nhà tan cửa nát, vợ con chia lìa!” Ông càng nói càng tức, đập tay xuống bàn, quát lớn: “Khoái Đại Phú là cái gì? Chẳng phải là tay chân ác ôn của các người hay sao! Hắn là một tên phản cách mạng! Đã tạo ra bức tranh một trăm thằng xấu. Lần này là lần tàn khốc nhất trong lịch sử, vượt qua bất cứ lần nào trong lịch sử”. Ông tức giận từ trong lòng, căm ghét từ trong gan, đâm lao thì phải theo lao, chẳng cần gì cả, cái gì cũng đưa ra hết! “Cứ như thế này, thì các anh làm, tôi không làm nữa, không theo nữa! Chặt đầu, ngồi nhà lao, khai trừ đảng tịch, tôi cũng phải đấu với các anh đến cùng!” Giọng ông tăng cao đến tám độ: “Đời tôi đã phạm ba cái sai, thứ nhất, tôi không nên sống đến hôm nay; thứ hai, không nên cùng Mao Trạch Đông làm cách mạng; thứ ba, không nên gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Nói xong, ông cầm áo, cắp cặp đi ra ngoài. “Không được đi, phải ở lại đây để đấu với họ!” Trần Nghị đầy tức giận quát lên. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:23:25 am Đàm Chấn Lâm giận quá mất khôn, như đang mê tỉnh lại, đi làm gì? là lùi bước, là tháo chạy khi lâm trận, phải ở lại đây đấu với họ, đấu đến cùng. Ông lại quay về chỗ cũ ngồi xuống ghế. Trần Nghị tiếp tục phát biểu. Ông chĩa thẳng mũi dùi vào Lâm Bưu và đồng bọn đang núp dưới lá cờ của Mao Trạch Đông, để tiến hành hoạt động hai mặt phản cách mạng, lên án: “Trong phong trào chỉnh phong ở Diên An, chỉnh cán bộ cũ rất dữ, phong trào cấp cứu ở Diên An đã xử sai bao nhiêu người! Bây giờ có người còn phải mang gánh nặng, đến Thủ tướng Chu cũng bị chỉnh”. Ông trừng mắt nhìn lướt qua Khang Sinh đang cố ra vẻ bình tĩnh ngồi chếch ở phía đối diện, có ý như chỉ ông ta nói: “Ngoài chỉnh người, còn có thể làm gì? Chính nhờ dựa vào chỉnh người để dựng cơ đồ!”. Phút chốc, mặt Khang Sinh trắng bệch, nhưng ông ta đã từng được Trần Nghị dạy cho bài học, quả thật nếu đánh trực diện một chọi một, thì vị tất đã là đối thủ của Trần Nghị, ông ta lại nhìn mấy vị nguyên soái và Phó Thủ tướng ngồi đối diện, ai cũng trừng mắt nhìn, không, ông ta ngầm quyết định chủ kiến, lúc này mà ra đấu, nếu không hợp lực thì không thể nào phản công được; ông ta lại nhìn thế trận phía mình, Trần Bá Đạt thì ầm à ầm ừ, ba người không chọi nổi một. Trước tiên phải nuốt cơn giận này, cái nhỏ mà không nhẫn chịu thì mưu lớn sẽ hỏng, nhưng lời của Trần Nghị lại đâm trúng vào chỗ đau của ông ta. Ông ta xen vào một câu đánh trống lấp với khẩu khí là lạ: “Chính tôi là kẻ chỉnh người mà!”. “Bài học lịch sử này không thể quên”. Trần Nghị lại nhìn Khang Sinh, nói một cách xúc động. “Lịch sử chẳng phải đã chứng minh, rốt cuộc ai là người đã chống lại Mao Chủ tịch hay sao? Sau này còn phải xét, còn phải chứng minh”. “Cán bộ cũ là tài sản của Đảng và Nhà nước”, Diệp Kiếm Anh phối hợp, “đối với cán bộ phạm sai lầm vì sao lại phủ định tất cả? Phải trị bệnh cứu người chứ, không thể động một tí là đánh đổ! Cứ tiếp tục như thế này, thì sự an toàn về thân thể làm sao còn có thể đảm bảo? Làm sao còn có thể làm việc?”. “Rất nhiều cán bộ bị lôi ra để đấu tố”. Dư Thu Lý người đã từng chịu đau khổ, tức run cả người phẫn nộ đập bàn nói: “Đối xử tàn bạo với cán bộ như thế, cứ tiếp tục như thế, lần sau còn bắt nữa tôi sẽ không đi, các anh làm thế nào thì làm!”. Lý Tiên Niệm nói tiếp: “Xã luận của tạp chí “Hồng kỳ” số 13, kêu gọi tấn công mạnh mẽ vào đường lối phản động tư sản, cả nước sẽ loạn”. “Xã luận của tạp chí “Hồng kỳ” số 13, đồng chí đã xem chưa?” Chu Ân Lai đưa ánh mắt nghiêm khắc nhìn Khang Sinh hỏi. Khang Sinh với bộ mặt quen nói dối không bao giờ đỏ, lắc đầu. “Tôi chưa xem”. “Một việc lớn như vậy”, Chu Ân Lai tức giận “Vì sao không đưa cho chúng tôi xem?” “Dùng biện pháp giam cầm đối với con em cán bộ không phải là giáo dục mà là trừng phạt”, Nhiếp Vinh Trăn tiếp lời. “Mao chủ tịch đã đặc biệt thêm một điều vào trong mệnh lệnh 8 điều của Quân ủy, cán bộ các cấp đặc biệt là cán bộ cao cấp đều phải nghiêm khắc giáo dục quản lý con cái. Nếu cha mẹ không giáo dục, thì trách nhiệm thuộc về bố mẹ. Không thể vì đánh đổ cán bộ cũ mà lôi con cái ra đấu tố, liên lụy đến gia đình thân thích, bây giờ bức hại cán bộ cũ như vậy, chính là người rơi xuống giếng kẻ ném đá theo, không yên lòng được!”. Nghĩ đến rất nhiều cán bộ cũ bị đấu tố lăng nhục một cách tàn nhẫn, Đàm Chấn Lâm nói: “Tôi chưa bao giờ khóc, hiện nay tôi đã khóc ba lần, khóc nhưng không có chỗ để mà khóc, phía sau phía trước là thư ký, là con cái, chỉ còn có cách khóc vụng!”. “Không nên xuất phát từ tình cảm cá nhân!” Tạ Phú Trị, người phụ trách công tác kiểm tra, sau này được chứng minh là đã ngả theo Lâm Bưu và “bọn bốn tên” từ lâu, đối đáp lại, “Phải nhìn toàn cục chứ!”. “Tôi khóc không phải là vì cá nhân, mà là vì toàn Đảng!” Đàm Chấn Lâm chọi lại Tạ Phú Trị. Hội nghị giải tán trong không khí buồn tẻ. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:24:15 am 2. Mao Trạch Đông tức giận: “Ai chống lại Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, tôi sẽ kiên quyết chống lại người ấy!” Tối ngày 18 tháng 2, Mao Trạch Đông đã triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị. Lý Phú Xuân, Đàm Chấn Lâm, Lý Tiên Niệm, Trần Nghị, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, vốn được gọi là “tam lão tứ soái” (ba vị lão thành bốn ông nguyên soái - N.D), vừa vào cửa đã được Mao Trạch Đông tiếp đón bằng vẻ mặt không vui. Những vị nguyên soái đã cùng chung hoạn nạn với Mao Trạch Đông mấy chục năm, không ai không ngẩn người vì thái độ lạnh nhạt như vậy của Mao Trạch Đông hôm nay, trong lòng họ đều hiểu rõ, nhất định có kẻ xấu đã kể tội của họ trước, hẳn là Giang Thanh đã tâu trước với Mao Trạch Đông rồi. Hội nghị do Chu Ân Lai chủ trì. Chu Ân Lai đã sớm có dự kiến trước, vừa thấy thái độ tức giận của Mao Trạch Đông lộ ra trên nét mặt, ông đã biết là Mao Trạch Đông sẽ đích thân ra tay. Ông đã sớm suy xét, hội nghị hôm nay, sẽ gay gắt kịch liệt hơn Hội nghị bài ngửa ở Hoài Nhân Đường lần trước. Quan điểm của “tam lão tứ soái” hoàn toàn giống như mình. Việc phát biểu của họ trong Hội nghị bài ngửa ở Hoài Nhân Đường mình đã ủng hộ họ. Nhưng, hôm nay lại để mình chủ trì hội nghị phê phán “tam lão tứ soái”, đây không phải là đã đặt mình vào thế khó xử hay sao? Hơn nữa, “tam lão tứ soái” cũng là chịu tội thay mình! Mình chủ trì hội nghị, giương mắt nhìn chiến hữu của mình bị phê phán, đây là thứ mùi vị gì, cảnh ngộ gì? Mình đang diễn vai gì, điều này còn đau đớn hơn là bản thân mình bị phê bình. Cuối cùng ông quyết định cho mình một biện pháp, phải cố gắng với tất cả sức lực của mình để gỡ tội, giải vây phụ họa, dù thế nào cũng không thể để cho họ trúng tên ngã ngựa tất cả, nếu quả đúng là “tam lão tứ soái” đều bị đánh đổ, thì đây không còn là vấn đề bất hạnh của mấy người mà là sự bất hạnh của nhân dân cả nước, sự bất hạnh của toàn Đảng. Mình có trách nhiệm và cũng có nghĩa vụ phải ngầm ủng hộ họ, không chỉ có thế, ngay trong hội nghị cũng phải khéo léo tiếp ứng cho họ. Đây là một cuộc đọ sức giữa chính nghĩa và gian tà, giữa ánh sáng và bóng tối, không thể vì bảo vệ mình mà hy sinh chiến hữu, họ vì Đảng, vì nhân dân, cũng là vì mình mà chiến đấu xông pha! Bây giờ họ đang rơi vào vòng vây, mình có thể khoanh tay ngồi nhìn hay sao? Mặc dù tâm trạng nặng nề, nhưng Chu Ân Lai vẫn phải làm ra vẻ thản nhiên để chủ trì hội nghị. Ông diễn vai này quá khó khăn, vừa phải bảo vệ chiến hữu lại vừa phải theo Mao Trạch Đông, có lúc còn phải thay cho đối thủ của mình là Tổ cách mạng văn hóa, phụ họa theo vài câu. Người nổ phát súng đầu tiên là Mao Trạch Đông. Nếu là lúc bình thường, thì thái độ của Mao Trạch Đông luôn luôn điềm đạm nhã nhặn, thậm chí nói nói cười cười, nhưng hôm nay lại rất khác thường, vừa vào họp, đã cho “tam lão tứ soái” biết tay ngay, ông muốn dùng thủ đoạn uy hiếp để trấn áp mấy người muốn ngăn cản đại cách mạng văn hóa, ông nói với vẻ mặt tức giận giọng điệu gay gắt: “Các anh đã liên kết với nhau trong hội nghị Hoài Nhân Đường làm cái chuyện tập kích bất ngờ, chống lại Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, chống lại Trung ương, rốt cuộc thì các anh muốn làm gì? Đây chẳng qua chỉ là muốn làm cuộc chính biến cung đình, muốn để Lưu Thiếu Kỳ nắm lại chính quyền. Hội nghị Toàn thể Trung ương lần thứ 11 các anh đều đã giơ tay. Vì sao mới chỉ có mấy ngày, các anh lại phản đối quyết định của Hội nghị Trung ương lần thứ 11? Vì sao trước mặt phục tùng, sau lưng chống lại, vì sao nay thế này mai thế khác? Khi thảo luận quyết định tiến hành đại cách mạng văn hóa, các anh cũng tán thành, tôi không thấy có ai trong các anh bỏ phiếu phản đối, nhưng vì sao sau khi cuộc đại cách mạng văn hóa phát động lên thật thì các anh lại phản đối nó? Mấy vị nguyên soái và mấy vị phó thủ tướng đều ngạc nhiên nhìn Mao Trạch Đông trong vẻ mặt đầy giận dữ. Đàm Chấn Lâm trong lòng không một chút tà tâm nịnh bợ, không khiếp sợ, không chùn bước trước cơn thịnh nộ của Mao Trạch Đông, ông không còn nín nhịn được nữa nói xen vào: “Tôi cho rằng những lời phát biểu của tôi trong hội nghị không sai gì cả, nó phù hợp với tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8. Lẽ nào lại nói đại cách mạng văn hóa có thể không cần sự lãnh đạo của Đảng? Có thể không cần ổn định quân đội? Có thể đánh đổ tất cả cán bộ cũ?” Trần Nghị cũng ngay thẳng thật thà từ một khía cạnh phối hợp với Đàm Chấn Lâm, ông nói: “Tôi có ý kiến đối với Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, rất nhiều cách làm của họ là sai lầm. Thiên hạ đã bị họ làm cho rối loạn, công nhân không làm việc, học sinh không đi học, cán bộ cơ quan không đi làm, tương lai...”. “Tổ cách mạng văn hóa chấp hành tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 11”. Mao Trạch Đông giật nảy người, các phó thủ tướng và các vị nguyên soái xưa nay vẫn ngoan ngoãn nghe theo lời của mình, sao bây giờ lại khác thường như vậy, đối chọi quyết liệt như vậy đây là sự thách thức đối với quyền uy của mình! Ông không còn nhẫn nại được nữa, liền cắt ngang lời của họ một cách thô bạo: “Tổ cách mạng văn hóa chấp hành tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 11. Sai lầm chỉ một, hai, ba phần trăm, còn chín mươi bảy phần trăm là đúng đắn. Ai chống lại Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, tôi sẽ kiên quyết chống lại người ấy!” Mao Trạch Đông dùng đôi mắt căm phẫn, dữ tợn nhìn lướt qua “tam lão tứ soái”. Đàm Chấn Lâm vẫn một lòng, vừa thấy Mao Trạch Đông nói như vậy, ông đã đâm lao thì phải theo lao, không đếm xỉa gì hết, tức giận cãi lại: “Tôi không nên sớm vào Đảng 40 năm, không nên theo đồng chí làm cách mạng, cũng không nên sống đến 65 tuổi!”. Bao nhiêu năm nay, Mao Trạch Đông được tâng bốc như những đám sao làm tôn lên cho vầng trăng thêm tỏ, quyền uy tuyệt đối chí cao vô thượng với “muôn năm, muôn muôn năm, vạn thọ vô cương!” mà ông đã nghe quen, đến hôm nay, lại có người công khai trực diện cãi lại ông, làm ông bị bẽ mặt, làm sao ông có thể chịu được! Cuộc giao chiến này hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của Chu Ân Lai. Mao Trạch Đông nổi giận, điều này nằm trong dự đoán của ông nhưng Đàm Chấn Lâm dám đụng chạm, đối chọi quyết liệt mỉa mai lại như vậy đã vượt quá xa sự tưởng tượng của ông. Vừa bắt đầu, cuộc họp đã găng, hơn nữa còn leo thang. Mặc dù trước đó ông đã nói với từng người trong”tam lão tứ soái” là phải nhường nhịn, phải nhận sai, phải kiểm thảo. Đây là kế sách hay duy nhất để bảo toàn thực lực. Trận ác chiến ở Hoài Nhân Đường, qua việc gây chia rẽ, kích động, đổ thêm dầu vào lửa, đã làm Mao Trạch Đông tức giận, lại thêm việc mặt đối mặt đấu khẩu với ông ta, đấy chẳng phải là con thiêu thân lao vào lửa tìm lấy cái chết hay sao? Cách làm này đúng với ý muốn của Giang Thanh và đồng bọn. Không thể tiếp tục phát triển như vậy! Chu Ân Lai vội vàng can khéo, nói một cách thành thật: “Trong Hội nghị Hoài Nhân Đường, mấy đồng chí cũ, chưa hiểu rõ đại cách mạng văn hóa, nên đã nổi cáu. Trách nhiệm chủ yếu là ở tôi. Sau Hội nghị họ cũng đã nhận thấy làm như vậy là không đúng, đã có gặp tôi để kiểm điểm, họ cũng cảm thấy đã nói một số điều không phải với Chủ tịch, cũng muốn tìm cơ hội, để kiểm điểm trước Chủ tịch”. Trong bụng Mao Trạch Đông rất rõ, kẻ ủng hộ sau lưng của mấy vị nguyên soái và phó thủ tướng này chính là anh, Chu Ân Lai đấy, ngoài mặt thì anh phụ họa với tôi, trên thực tế anh đã gỡ tội, giải vây cho họ. Nhưng Mao Trạch Đông xưa nay vẫn giỏi lợi dụng mâu thuẫn, để tiêu diệt từng bộ phận, ông không xuất kích cả bốn mặt. Đánh đổ Lưu, Đặng, Đào đã làm cho thiên hạ đại loạn, nếu động đến Chu Ân Lai, thì cùng không thể giải quyết. Thế là, ông dùng thái độ khoan dung đối với Chu Ân Lai. Nhưng đối với “tam lão tứ soái” lại không một chút nhượng bộ, ông nổi giận đùng đùng: “Họ hoàn toàn không nhận là sai! Đồng chí Ân Lai, tôi đề nghị vấn đề này phải họp để thảo luận nghiêm chỉnh, một lần không được thì hai lần, một tháng không được thì hai tháng, Bộ Chính trị giải quyết không được, thì phát động toàn thể đảng viên giải quyết”. Nói xong, ông tức giận đứng dậy đi ra khỏi phòng họp! Đêm đã về khuya, trong sân Tây Hoa Sảnh, bóng cây đung đưa, gió lạnh thấu xương. Từ xa vọng đến tiếng gào thét như đâm vào thần kinh con người trong chiếc loa mở hết cỡ: “Kiên quyết đập tan dòng nước ngược tháng Hai!”, “Thà chết bảo vệ Tổ cách mạng văn hóa Trung ương!” “Đả đảo Đàm Chấn Lâm kẻ ủng hộ đắc lực của “dòng nước ngược tháng Hai”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:24:53 am 3. Nhẫn nhục gánh trọng trách vì mai sau Hai tay bắt chéo ôm lấy ngực, Chu Ân Lai ngẩng nhìn bầu trời đen nặng chĩu thần bí. Ông đang suy nghĩ về cuộc đọ sức khủng khiếp trong hội nghị. Kế sách hay duy nhất để bảo tồn thực lực, chính là rút lui khỏi quan trường khi còn thuận lợi, vì Mao Trạch Đông đã trực tiếp “tham chiến”, không nhận rõ tình thế đã thay đổi này cứ cố sức mà xông lên, thì không chỉ giao chiến với Giang Thanh và đồng bọn mà còn đánh giáp lá cà với Mao Trạch Đông, như vậy cũng trúng kế của đối thủ. Không thể đi nước cờ mạo hiểm lành ít dữ nhiều này. Làm không tốt sẽ rơi vào một kết cục toàn quân bị tiêu diệt. Nếu muốn phản công thì cũng không còn khả năng nữa. Một nhà chiến lược đích thực thì trong giờ phút then chốt phải có giải pháp tình thế, có kế hoãn binh, chỉ cần có thể biến nguy hiểm thành vô sự, có lợi đối với chiến cục thì đều phải dùng. Chu Ân Lai xem xong, lại thong thả đi đi lại lại, trầm ngâm suy nghĩ một lúc, rồi về phòng làm việc, cầm lấy máy điện thoạt: “Cần Tây Sơn,... Đồng chí là Kiếm Anh phải không? Tôi là Chu Ân Lai, tôi biết là các đồng chí đang ở đó, cùng bàn bạc một chút về hội nghị cũng hay?... Tôi chẳng có việc gì, chỉ có ba đề nghị với các đồng chí. Thứ nhất, phải bình tâm lại, ăn tốt ngủ tốt, không nên nằm bệnh viện, sẽ phối hợp với các đồng chí đến cùng; Thứ hai, phải kiên quyết giữ vững vị trí của mình, nhất thiết phải nắm chắc công việc, trận địa của mình quyết không thể rời bỏ. Rời bỏ trận địa là lùi bước, là đào ngũ; Thứ ba, cái cần kiểm điểm thì kiểm điểm, phải chú ý đến sách lược và nghệ thuật đấu tranh, các đồng chí đều là những nhà quân sự trải qua nhiều thử thách, chiến lược chiến thuật hiểu hơn tôi, không thể bộc lộ cái dũng cảm của kẻ thất phu. Làm như vậy, không phải là sợ ai. Trước đây khi giành thiên hạ, vì nhân dân, không để ý đến chuyện sống chết, bây giờ để nắm chắc quyền lực mà nhân dân giao cho, chịu đựng một chút nhục, phê phán có là cái gì đâu!”. Diệp Kiếm Anh đặt điện thoại xuống, lại đem mấy điều Chu Ân Lai nhắc nhở nói lại nguyên xi với mấy chiến hữu cùng có mặt. Mấy người không ai bảo ai mà cùng ngẫm nghĩ về hàm ý của những lời Chu Ân Lai nói trong điện thoại. “Thủ tướng nghĩ sâu hơn nhìn xa hơn chúng ta!”. Diệp Kiếm Anh nói một cách ý vị sâu xa, “đây là một cuộc đọ sức mà lực lượng hai bên chênh lệch rất lớn. Đối với chúng ta mà nói, mới đầu chúng ta bị Giang Thanh và đồng bọn làm cho tức rối cả lên, hạ quyết tâm tiến hành đến cùng quyết một trận sống mái, kết quả là Mao Chủ tịch đã ra tay, chiến cuộc đã thay đổi, đã xuất hiện cục diện bất lợi cho chúng ta. Như vậy là, bày ra trước mặt chúng ta có hai cách lựa chọn: Một là bất chấp tất cả, quyết không rút quân giữa chừng, đối kháng đến cùng”. Ông lắc đầu, “Nếu không có Chủ tịch tham chiến thì Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt hoàn toàn không phải là đối thủ của chúng ta, nhưng hễ Chủ tịch tham chiến thì sẽ phức tạp. Từ phía Giang Thanh mà xét, họ hy vọng chúng ta mất lý trí, không tính đến hậu quả, trực tiếp giao chiến với Chủ tịch, họ muốn mượn tay Chủ tịch để khiến toàn quân của chúng ta bị tiêu diệt, họ không tốn một chút hơi sức mà có thể trừ bỏ được một đối thủ mạnh, tôi cân nhắc thấy Thủ tướng đã hiểu thấu nước cờ hiểm này và nhắc nhở chúng ta không nên trúng kế, không nên làm việc theo tình cảm riêng, phải lý trí phải bình tĩnh”. Ông trầm ngâm suy nghĩ một lúc, “vậy sự lựa chọn thứ hai sẽ là rút lui, sự nhắc nhở của Thủ tướng chính là muốn chúng ta chỉ hạn chế sự bất bình ở Giang Thanh, ở Tổ cách mạngvăn hóa Trung ương, không phải là bất bình với Chủ tịch, lùi là để mà tiến!” Ông dừng lại một chút, rồi nói tiếp: “Thủ tướng còn dặn chúng ta, phải nghĩ xa một chút, phải có nhãn quang chiến lược, không nên dựa vào sự nông nổi tình cảm nhất thời. Đấu tranh phải chú trọng đến sách lược và nghệ thuật...”. “Chúng ta không nên phụ ý đồ tốt đẹp của Thủ tướng”. Diệp Kiếm Anh như đã có suy nghĩ nói tiếp: “Xuất phát từ chiến lược lâu dài, chúng ta phải làm kiểm điểm, Thủ tướng đã nói đỡ cho chúng ta, làm như vậy, sẽ có lợi cho đất nước cho nhân dân. Đánh trận cũng còn phải chú trọng đến chiến thuật vu hồi đấy! Cuộc đọ sức trên vũ đài chính trị cũng giống như cuộc đọ sức trên vũ đài quân sự, có lúc cần phải có tinh thần dũng cảm tiến tới mạnh như Trương Phi, có lúc cũng phải có mưu kế như Gia Cát Lượng, đó gọi là trí dũng song toàn”. “Tôi đã hiểu ý của Thủ tướng”. Trần Nghị mau mồm mau miệng cười ha hả nói, “Vì Đảng vì nhân dân cũng phải kiểm điểm, đây không phải là kiểm điểm với Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, bọn chúng có là cái gì, chẳng qua cũng chỉ là mấy kẻ mới phất bởi âm sai dương trái, ma xui quỷ khiến, gặp vận may thôi! Thắng lợi trong một lúc, ở một nơi, không có nghĩa là chúng sẽ giành thắng lợi cuối cùng. Xem ai sẽ là người cười sau cùng!”. Mấy người đều đồng thanh bàn luận về Chu Ân Lai. Vì không muốn để quyền lực rơi vào tay những kẻ có dã tâm, những kẻ có âm mưu, ông đã nhẫn nhục gánh vác trọng trách, ngày đêm vất vả đắn đo cân nhắc, mấy người chúng ta cũng nên chia vui sẻ buồn với ông, gánh vác bớt công việc cho ông, không thể để một mình ông gánh cái gánh nặng ngàn cân này. Vì trong lòng Chu Ân Lai hiểu rõ muốn đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, Mao Trạch Đông cần có sự giúp đỡ của Lâm Bưu. Nhưng thế lực của Lâm Bưu cứ như quả cầu tuyết càng lăn càng lớn nên Mao Trạch Đông rất không yên tâm về Lâm Bưu. Giang Thanh và Khang Sinh sao có thể đối chọi với Lâm Bưu rốt cuộc họ cũng chỉ là một bọn văn nhân, không có ảnh hưởng trong quân đội, ông cần có một lực lượng thứ ba, mà bản thân ông và “tam lão tứ soái” thuộc lực lượng thứ ba này. Hiện nay ông chỉ có thể lợi dụng mâu thuẫn để tồn tại và phát triển. Luôn luôn giải vây cho “tam lão tứ soái”, nâng đỡ họ, lợi dụng mọi cơ hội làm cho tinh thần của “tam lão tứ soái” phấn chấn lên nhằm hạ bớt uy phong của Lâm Bưu và Giang Thanh. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:25:48 am 4. Đào Chú vào Kinh Khi “tam lão tứ soái” càng ngày càng khó sống, Đào Chú được điều về Bắc Kinh. Mặc dù ông có một chỗ dựa vững chắc, nhưng vẫn bị những làn sóng hung dữ của cách mạng văn hóa nhấn chìm. Cuối tháng 5 năm 1966, Trung ương thông báo cho Bí thư Thứ nhất cục Trung Nam là Đào Chú đến Bắc Kinh và điều động Đào Chú lên Trung ương công tác, giữ chức Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, còn đảm nhiệm chức Bí thư thường trực của Ban Bí thư, kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Việc Đào Chú đến đã làm cho Quốc Tân Quán lúc ấy không một chút yên tĩnh lại cuộn lên một dòng u ám, các thành viên trong Tổ cách mạng văn hóa, triển khai một loạt thủ đoạn lôi kéo gạ gẫm. Ngay buổi tối hôm Đào Chú đến Bắc Kinh, trên con đường rợp bóng cây yên tĩnh ở Điếu Ngư Đài, xuất hiện hai bóng người một caơ một thấp. Nhân viên cảnh vệ thấy bóng người có thể biết ngay đấy là Khang Sinh ở nhà số 18 và Trần Bá Đạt ở nhà số 15. Từ sau khi Văn phòng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương chuyển đến Điếu Ngư Đài, thì hai bóng người ấy luôn luôn xuất hiện, lúc ẩn lúc hiện, giống như hai âm hồn vậy. Lúc này, họ đang kết bạn để đi thăm người hàng xóm mới của họ. Suốt dọc đường tất nhiên không thể thiếu việc “hà hơi” cho nhau biết “kiểu bạn đồng minh”. “Đào Chú người ở Ngũ Kỳ, Hoàng Phố, có thể coi là bạn học của Lâm Bưu. Khi khởi nghĩa Vũ Xương cùng làm việc với Tiêu Khắc, là đại đội trưởng. Có điều, được trọng dụng thật sự vẫn là ở Đông Bắc, Lâm Bưu rất coi trọng ông, có thể coi ông ta là người của “Dã chiến quân thứ 4”. Khang Sinh rất nhấn mạnh vào mấy chữ “Dã chiến quân thứ 4”, với cái vẻ vênh vang của kẻ có uy quyền thở dài. Ông ta còn chìa ra một bàn tay để nhìn, giống như nắm trong bàn tay ấy đều là người, đều là những nhân vật quan trọng, không có gì không rõ như trong lòng bàn tay. Ngừng một chút, ông ta bổ sung một câu với ý nghĩa sâu xa: “Giống như quan hệ cán bộ ở Đông Bắc do Cục Phương Bắc cử đến”. Trần Bá Đạt chỉ hơi gật đầu, không nói gì. Hôm nay ông ta chỉ chuyên xem tài liệu về Đào Chú, việc tìm hiểu về một người mới của Trung ương vừa được điều đến, tất nhiên không chỉ có thế. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:26:33 am 5. Nỗi đau đớn của việc “tiếp tục cách mạng” Đào Chú nhậm chức được 4 ngày, thì ngày 8 tháng 6, đáp máy bay đi Hàng Châu tham gia một hội nghị do Mao Trạch Đông triệu tập. Hội nghị chú trọng thảo luận vấn đề đại cách mạng văn hóa có cử tổ công tác hay không. Khi máy bay rời khỏi đường băng, Đào Chú tin tưởng chắc chắn không một chút nghi ngờ là lần này sẽ có được một bản “chân kinh”. Mao Trạch Đông triệu tập hội nghị lần này ở Hàng Châu, đa số những người tham dự đều mang một tâm trạng mơ hồ không yên. Đặc biệt là Lưu Thiếu Kỳ người chủ trì công việc, khi ông báo cáo về tình hình Bắc Kinh bất cứ ai cũng đều dễ dàng nhận thấy tâm trạng mơ hồ không yên ấy, mặc dù ông là người nổi tiếng điềm đạm, bình tĩnh. Lưu Thiếu Kỳ báo cáo một cách nặng nề về những người lãnh đạo trong Đảng ủy ở các trường cao đẳng, đại học, chuyên nghiệp bị bắt, bị đấu tố, Đảng ủy ở vào tình trạng tê liệt hoặc nửa tê liệt. Để ổn định trật tự của trường học, đã học theo cách làm của Trung ương đưa tổ công tác xuống Đại học Bắc Kinh, từ ngày 4 tháng 6, bắt đầu cử một số ít tổ công tác thí điểm ở các trường cao đẳng, đại học và trung học chuyên nghiệp. Hiện nay học sinh ở rất nhiều trường dồn dập kéo tới trụ sở của Trung ương Đảng, Quốc vụ viện và Thành ủy Bắc Kinh yêu cầu đưa tổ công tác vào ở trong trường... Đối với chuyện “Thiên hạ đại loạn”, Mao Trạch Đông chưa bao giờ chau mày, nhẹ nhàng phẩy tay, không một chút lo lắng: “Có thể không cử, loạn thì cứ để cho nó loạn một trận”. Trần Bá Đạt đứng phắt ngay dậy như bật lò xo: “Tôi đã đề nghị không cử tổ công tác, tin tưởng quần chúng, đó là chủ nghĩa Mác, vẫn không nên cử đi”. Đào Chú đỏ bừng mặt. Trước mặt Mao Trạch Đông ông không “xông xáo một cách lỗ mãng”, nhưng cũng đã phát biểu ý kiến: “Tôi là người tích cực chủ trương cử tổ công tác. Những người làm công tác thực tế chúng ta đều hiểu rằng cử tổ công tác là một trong những kinh nghiệm thành công của Đảng ta trong mấy chục năm nay. Từ thời kỳ cách mạng ruộng đất đến cải cách ruộng đất trong cả nước, đến “tứ thanh”, đó là điều đã được thực tiễn chứng minh”. Mao Trạch Đông chỉ nghe hai loại ý kiến tranh luận, không tỏ thái độ rõ ràng, trên nét mặt lộ vẻ uy nghiêm như đang suy nghĩ. Ông đang nghĩ gì? Trong lòng những người dự họp đều không biết. Sau khi Đào Chú được điều lên Trung ương, liền can thiệp vào hoạt động của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Trước đó không lâu, ngày 8 tháng 7, Mao Trạch Đông từ miền Nam về Bắc Kinh, nghe báo cáo suốt một đêm, ngày hôm sau mới gặp Lưu Thiếu Kỳ đang chờ đợi. Mao Trạch Đông nói một cách rất nghiêm túc: “Sau khi về tới Bắc Kinh, cảm thấy rất buồn, quạnh quẽ vắng vẻ. Có một số trường đã đóng chặt cổng rồi. Thậm chí có một số trường đã trấn áp phong trào học sinh. Ai trấn áp phong trào học sinh? Chỉ có bọn quân phiệt Bắc Dương. Phàm những kẻ trấn áp phong trào học sinh đều không có kết cục tốt! Phong trào đã phạm sai lầm về phương hướng và đường lối”, Mao Trạch Đóng trả lời vừa ngừng lại, liền với giọng ra lệnh: “Nhanh chóng xoay chuyển ngay, đánh cho nát nhừ mọi khuôn sáo!”. Mao Trạch Đông khi nói đến từ “nát nhừ” thì thái độ phẫn nộ đã không gì rõ ràng hơn. Toàn bộ mâu thuẫn và đau khổ của Đào Chú là ở chỗ: Về tư tưởng ông thống nhất với Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình; nhưng quá trình mấy chục năm cách mạng lại quyết định ông chỉ có thể theo Mao Trạch Đông “tiếp tục cách mạng”. Ông đã nhìn thấy rõ ràng cuộc “đại cách mạng văn hóa” mà Mao Trạch Đóng phát động càng ngày càng dựa vào Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, nhưng ông vẫn để cho mình tin tưởng một cách ngoan cường rằng: Tôi chỉ theo Mao Trạch Đông làm cách mạng không pha trộn với bọn người trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương các anh. Từ ngày 1 đến ngày 12 tháng 8 năm 1966, Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 11 khóa 8 được triệu tập. Ngày 5 tháng 8, Mao Trạch Đông công bố bài đại tự báo “Nã pháo vào Bộ Tư lệnh”. Tuy không chỉ đích danh nhưng không gì rõ ràng hơn là chĩa vào Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Bài đại tự báo đã công khai nêu ra rằng ở Trung ương tồn tại quan điểm của hai Bộ Tư lệnh, hơn nữa còn liên hệ đến khuynh hướng sai lầm hữu khuynh năm 1962 và sai lầm hình thức thì “tả” nhưng thực chất là hữu năm 1964, bày tỏ quyết tâm là phải thanh toán cả món nợ mới và món nợ cũ. Mao Trạch Đông đã đích thân “nã pháo”, Đào Chú với tư cách là một “nòng pháo” đã từng nổi tiếng trong Đảng, đã từng kiên định đứng về đường lối cách mạng của Mao Trạch Đông trong nhiều cuộc đấu tranh chính trị quan trọng, đã rơi vào tình cảnh khó khăn, rơi vào nỗi đau đớn cực lớn. Ông uống nước trà nhiều thì ra mồ hôi nhiều, tư tưởng ông cũng quay cuồng dữ dội. Đúng, trong lịch sử, ta đã từng ba lần nã pháo vào đồng chí Thiếu Kỳ, đó là vì có ý kiến trong công tác. Nhưng chẳng phải là đồng chí Thiếu Kỳ đã chủ động tâm sự với ta hay sao. Phê bình lẫn nhau và tự phê bình để tăng thêm hiểu biết cũng là để tăng thêm đoàn kết. Sau khi trò chuyện, ta đã tỏ thái độ. Sự băn khoăn đã được giải tỏa, không còn ý kiến gì nữa. Như vậy, nếu bây giờ lại nêu ra những vấn đề đã được giải quyết này để tham gia bao vây tấn công, ta sẽ là loại người gì? Huống hồ, ba lần nổ súng vào Thiếu Kỳ, Thiếu Kỳ chưa bao giờ để bụng vẫn đối xử tốt với ta, cũng rất coi trọng và ủng hộ công tác ở Cục Trung Nam. Nay ông gặp nạn, nếu ta... Ôi, Đào Chú, ta làm người có một nguyên tắc: không làm cái chuyện ném đá theo người đã ngã xuống giếng. Đây là vấn đề nhân phẩm. Trước đây chưa làm, bây giờ không thể làm, tương lai cũng sẽ không làm... Đối với đồng chí Lưu Thiếu Kỳ ta có ý kiến gì mới không? Tự hỏi lương tâm, không có! Phải nói việc cử tổ công tác cũng như tổ công tác đã chấp hành một đường lối tư sản thì ta cũng có một phần. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:29:33 am 6. “Nhân vật thứ tư” không đi theo Lâm Bưu Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8 kết thúc vào ngày 12 tháng 8, đã có thông báo. Đào Chú được bầu làm ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng, lại được bầu làm cố vấn cho Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Tâm trạng của Đào Chú lúc ấy quả thực khó mà nói ra được. Trong danh sách của Thường vụ Bộ Chính trị, mới đầu Đào Chú được xếp ở gần cuối. Danh sách được đưa đến chỗ Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông cẩn thận xem lại rồi cầm lấy chiếc bút chì xanh đỏ lớn, dùng đầu chỉ đỏ khoanh tròn tên “Đào Chú” ngoặc đưa lên sau “Chu Ân Lai”, trước “Trần Bá Đạt”. Thế là Đào Chú trở thành “nhân vật thứ tư” của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vì việc này mà Đào Chú vừa xúc động, vừa cảm kích lại vừa bất an. Ông xin gặp Mao Trạch Đông, mang trong lòng một tâm trạng phức tạp nói: “Chủ tịch, tôi mới lên, xếp hàng trên sẽ không hay, tôi cho rằng, nên xếp tôi ở sau Phú Xuân”. Mao Trạch Đông dùng ánh mắt thân tình nhưng lại thấu hiểu nhìn Đào Chú, mỉm cười: “Chính là vì mới lên đấy!”. Đào Chú hơi cúi đầu, thiết tha đề nghị: “Xếp đồng chí Trần Bá Đạt vào vị trí thứ tư là tương đối thích hợp, đồng chí ấy làm việc bên Chủ tịch đã lâu, lĩnh hội tư tưởng của Chủ tịch nhanh hơn tôi...” Những lời Đào Chú nói là thành thực, mặc dù ông và Trần Bá Đạt có mắc mớ. Nhưng bất kể là vấn đề cử tổ công tác hay nã pháo vào Bộ Tư lệnh xem ra đều là Trần Bá Đạt đúng. Mao Trạch Đông tỏ ra hiểu rõ, gật gật đầu rồi đưa cánh tay từ trong ra ngoài hất nhẹ: “Đã định rồi, không thay đổi nữa. Tôi sẽ gặp Bá Đạt nói chuyện”. Đào Chú ngước mắt nhìn Mao Trạch Đông, đôi mắt bỗng đỏ lên, ngấn lệ. Ông đã xúc động, ông là một người rất hay xúc động. Mao Trạch Đông lại hơi chau mày. Mao Trạch Đông cũng là một người hay xúc động, nhưng trong vấn đề chính trị nghiêm túc, ông không thích xen vào tình cảm riêng tư. Cũng có nghĩa là, Mao Trạch Đông không thích trong chính trị có hơi hướng của tình cảm riêng. Việc triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8 đánh dấu cuộc đại cách mạng văn hóa bắt đầu bước vào cao trào. Tối hôm sau, sau khi kết thúc Hội nghị, Đào Chú cùng Chu Ân Lai đến thăm Lâm Bưu. Thời tiết giữa mùa hè nóng nực, để tránh nóng, Lâm Bưu đã chuyển tới Đại lễ đường Nhân dân một ngôi nhà cao hơn 40m, thể tích to rộng, ở phòng Chiết Giang. Khi Đào Chú ngồi trên chiếc xe chạy như bay theo chiếc xe dẫn đường trên đường Trường An, nghe tiếng vo vo của bánh xe quay tít, khuôn mặt gầy xanh của thủ trưởng cũ luôn luôn hiện ra trước mắt. Đó là một khuôn mặt với sắc mặt mãi mãi không thay đổi. Bất luận là ở Mân Tây (miền Tây Phúc Kiến - N.D), Cán Nam (miền Nam Giang Tây) hay ở Diên An, bất luận là ở Đông Bắc, hay ở Bắc Kinh, ở Quảng Châu, khuôn mặt mà Đào Chú nhìn thấy một sắc mặt như đá không thay đổi. Khi đôi mắt của ông ta sâu đến khó lường thì nói chung đều là lúc ông ta đi lại không bao giờ dừng. Khi ánh mắt của ông ta sắc nhọn hoặc thâm hiểm thì luôn nghiến răng dứt khoát. Ông ta nổi tiếng bởi “không đánh trận khi không chắc thắng”, cũng nổi tiếng bởi “dám mạo hiểm”. Suốt đời ông ta làm bạn với câu thành ngữ “Thần tiên ma quỷ khôn lường”. Đánh trận thần tiên ma quỷ khôn lường, “chính trị” thần tiên ma quỷ khôn lường, vẻ mặt thần tiên ma quỷ khôn lường, tâm linh thần tiên ma quỷ khôn lường. Trong Đại hội Đảng khóa 9, ông ta là “thần”, đến Đại hội Đảng khóa 10 đã biến thành “quỷ”, và từ đó được đậy nắp quan tài. Có điều là trong mùa hè như thiêu như đốt năm 1966, khi Đào Chú đến thăm Lâm Bưu ở Đại lễ đường Nhân dân, nói một cách thực lòng ông vẫn mang một tình cảm tôn kính. Lúc ấy, những người có thể nhìn thấy Lâm Bưu cuối cùng sẽ là quỷ chỉ lác đác có vài người. Cái quá trình mà mọi người dễ dàng nhìn thấy ông ta là một học sinh trường quân sự Hoàng Phố, rồi đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, sư đoàn trưởng... cho đến bộ trưởng quốc phòng và “phó thống soái”. Đối với Đào Chú mà nói, còn có thể tự mình cảm nhận được cuộc sống gần giống một tín đồ Thanh giáo ở Lâm Bưu: Uống nước lọc, nhai đậu nành, thậm chí không uống một hớp chè. Đại khái là vẫn quyến luyến với cuộc đời chinh chiến đã qua chăng? Ngoài đi dạo, sự vận động của ông ta là ngồi xe cho xe chạy lắc lư, để có sự lắc lư này, khi Lâm Bưu đến Quảng Châu, người đón tiếp ông ta còn phải kiếm một chiếc xe mô-tô, lắp cố định trong phòng, lắp ống xả ra ngoài phòng, để hằng ngày ông ta được lắc lư một lần. Đối với những sự quái gở này của Lâm Bưu, Đào Chú cũng như rất nhiều người, lúc ấy đều lý giải từ “mặt tích cực”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:29:58 am Đèn ở đại sảnh phía Tây bỗng bật sáng. Các phòng ở Đại lễ đường Nhân dân đều danh xứng với thực; là thành quả của thời kỳ “đại nhảy vọt” mười kiến trúc lớn ở Bắc Kinh quả là có sự suy xét và giá trị của “sự nghiệp trăm năm”. Đại sảnh phía Tây dài gần 50 mét rộng hơn 20 mét, hai đầu đặt hai tấm bình phong cao lớn có hai cánh, ngăn ở cửa, một tấm vẽ hình chim công, một cánh khác là bài từ “Mãn Giang hồng” bút tích của Mao Trạch Đông được phóng to, trần rất cao, làm cho người đi vào có cảm giác cao rộng; so với sự nóng bức của thế giới bên ngoài thì không khí ở đây mát rười rượi, thấm vào gan vào ruột. Trên đỉnh trần treo mấy chùm đèn lớn, nhưng chỉ thắp một chùm, những bóng đèn nhỏ trên đèn treo hợp thành một đồ án ánh đèn rất đẹp. Nền nhà phủ kín thảm len, đi lên trên không một tiếng động; vòng quanh bày mấy chục chiếc xa-lông lớn nhỏ, vết tích của con người như có như không, càng gây nên cái cảm giác trống trải buồn tẻ. Đào Chú cùng Chu Ân Lai đi qua đại sảnh phía Tây, theo sự hướng dẫn của nhân viên phục vụ bên trong đi vào phòng Chiết Giang, Lâm Bưu đi ra cửa bắt tay chào hỏi. Theo một số vệ sĩ, Lâm Bưu dù có gặp Mao Trạch Đông, nếu không phải nói chuyện phiếm thì trên mặt cũng rất ít có những nụ cười, ngồi ngay ngắn, mắt nhìn thẳng, với một dáng vẻ làm công việc chung nghiêm túc. Hôm nay, gặp Chu Ân Lai và Đào Chú, ông ta lại để lộ những nụ cười nhăn nhúm. Cái cười ấy, vừa nhiệt tình, lại hàm chứa đôi nét ngượng nghịu, ở danh sách trong Đảng ông ta đã thăng lên vị trí thứ hai, chỉ kém Mao Trạch Đông, mà ông ta đã từng trong một thời gian dài là một trong số rất nhiều người phải chấp hành những quyết sách sau khi Chu Ân Lai quyết định. Chủ yếu là Chu Ân Lai nói chuyện với Lâm Bưu, phần lớn thời gian Đào Chú chỉ ngồi chăm chú nghe, muốn cố gắng tìm ra được một điều gì trong đó. Vì nhận thức của Đào Chú đối với “đại cách mạng văn hóa” trước sau là “trừu tượng thì rõ, cụ thể thì lại mơ hồ”, “nghe thì cả thế giới đều như có việc ấy, nhưng khi làm thì lại không có chuyện như thế”. Hạ Quang Huy, thư ký của Lý Phú Xuân, từng nhớ lại: “Lúc ấy, “đại cách mạng văn hóa” nổ ra, quả là thiên hạ đại loạn. Đào Chú và Lý Tiên Niệm thường xuyên đến nhà Lý Phú Xuân. Mấy người cùng suy nghĩ về những lời của Mao Chủ tịch có ý nghĩa gì? Cụ thể làm thế nào, đạt đến kết quả gì? Chẳng ai đoán ra cả. Họ còn giữ được dấu ấn sâu sắc của thời đại Diên An, không có cách gì, cũng không thể nào lý giải được cái gọi là “đại cách mạng văn hóa” ấy? Theo cách nói lúc bấy giờ, Lâm Bưu là “chiến hữu thân thiết nhất” của Mao Trạch Đông. Đào Chú mang rất nhiều hy vọng có thể có được một số “Chân kinh” từ nơi Lâm Bưu. Nhưng đã nghe hồi lâu mà không thu được những điều cần thiết. Lâm Bưu chỉ nói những câu nguyên tắc, không có những câu trả lời cụ thể hoặc biểu lộ thái độ đối với bất cứ vấn đề cụ thể nào. Đào Chú nhìn vị thủ trưởng cũ của mình, lần đầu tiên trong lòng hiện lên một cảm giác thần bí bất an. Gian phòng Chiết Giang hình vuông rộng bằng phòng đánh cầu lông, thảm nền màu xanh nhạt, xa-lông màu xanh nhạt, rèm treo bốn chung quanh cũng màu xanh nhạt, chỉ có mấy bóng đèn sáng, ánh sáng mờ tối cũng biến thành màu xanh mờ tối như ánh sáng sao, cho đến sắc mặt trắng bệch của Lâm Bưu nay cũng biến thành màu xanh nhạt. Nhìn thấy màu xanh có thể làm cho người ta mát mẻ dễ chịu, nhưng chìm ngập trong màu xanh sẽ sinh ra cảm giác nghẹt thở. Việc gì cũng sợ đi tới cực đoan, nhưng với sự quái gở của Lâm Bưu thì ngay đến màu sắc trong phòng cũng đi đến cực đoan. “Anh Lâm”, cuối cùng vì không chịu nổi Đào Chú đã xen vào một câu hỏi, ông vẫn giữ cách xưng hô đã quen trước đây, “Hiện nay trong xã hội rất loạn, quần chúng phút chốc nổi lên, đã thành lập các tổ chức, rất sôi sục. Vậy tổ chức các cấp của Đảng Cộng sản chúng ta sẽ có tác dụng gì, mọi người chẳng hiểu căn nguyên”. Lâm Bưu nhìn Đào Chú, vẫn khuôn mật thản nhiên không hề biến sắc. Tất nhiên, trong lòng Lâm Bưu vẫn luôn đặt “nhân vật thứ tư” này về phía mình. Khi khảo sát cán bộ ông ta rất coi trọng nguồn gốc lịch sử. Việc “lấy người để phân tuyến” của ông ta bây giờ cả thiên hạ đều biết, nhưng lấy người để phân tuyến quyết không chỉ là xem anh có đi theo ông ta hay không, vì có người muốn theo ông ta mà ông ta lại không cho theo đấy. Vì không tin được. Trước tiên ông ta lựa chọn những người đã “trải qua thử thách lịch sử”, đã từng được lịch sử chứng minh là người “đi theo ông ta”. Ở Đông Bắc, Đào Chú đã đi theo Lâm Bưu. Hồi ấy, chiến tranh giải phóng Đông Bắc đang trong những ngày khó khăn nhất, Lâm Bưu đã từng nói: “Hiện nay ở Đông Bắc chúng ta chưa có căn cứ địa, vẫn chưa có nhà... Nếu chúng ta không có nhà, không có phòng ở thì chẳng khác gì những kẻ lang thang, kẻ lông bông trôi dạt chỗ này chỗ kia, gặp bão táp mưa giông thì không có nhà để trở về, không có phòng để mà ở, và sẽ bị giông bão thổi bay, bị mưa rào nhấn chìm, gặp mùa đông rét buốt sẽ bị chết đói chết rét... chết không có đất để chôn”. Đào Chú đã từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Liêu Ninh, Bí thư Tỉnh ủy Liêu Tây, Bí thư Tỉnh ủy Liêu Cát, Bí thư Tỉnh ủy Liêu Bắc, không còn nghi ngờ gì nữa, Đào Chú đã có những đóng góp quan trọng, đã lập công lớn trong việc xây dựng căn cứ địa, xây dựng cái “nhà” này. Về sau được điều về làm Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị Dã chiến quân thứ 4, từ Đông Bắc đến Kinh Tân (Bắc Kinh - Thiên Tân) rồi đến Trường Giang... Vì Đào Chú ở Đông Bắc đã đi theo Lâm Bưu, cho nên Lâm Bưu cho rằng Đào Chú đang “đi theo ông ta”, thực ra ai cũng có thể thấy được là Đào Chú đang đi theo Đảng. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:30:35 am 7. Thuật thay đầu chôn mầm tai họa Ngày Quốc khánh, lần thứ tư Mao Trạch Đông duyệt hàng triệu đại quân Hồng vệ binh là thầy giáo và học sinh cách mạng cùng đại biểu công nông binh. Sau ngày hội lớn, các đồng chí phụ trách hữu quan của Tân Hoa xã đến chỗ Đào Chú để thỉnh thị: “Ảnh báo chí ngày quốc khánh năm nay sẽ đăng báo như thế nào?”. Theo thường lệ, sau lễ quốc khánh hằng năm, Tân Hoa xã đều phải phát một bộ ảnh tin tức. Trước đây Trung ương có quy định. Trong đó cần phải có một bức ảnh chụp chung giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Đào Chú hơi trầm ngâm suy nghĩ và đi đến quyết định: “Làm theo quy định trước đây!”. Đăng báo là một việc lớn. Đào Chú đã tiến hành thẩm tra cẩn thận tập ảnh đăng báo và đã phát hiện ra vấn đề: “Sao không có ảnh của đồng chí Tiểu Bình?” Đào chú hỏi. Các đồng chí ở Tân Hoa xã nhìn nhau. ngập ngừng nói: “Không có ảnh thích hợp”. “Có chuyện gì vậy?” Đào Chú lập tức chỉ thị: “Nhất định phải có ảnh của đồng chí Tiểu Bình”. “Có biện pháp gì để bổ cứu được không?” Đào Chú hỏi. Đồng chí ở Tân Hoa xã đáp: “Có thể xử lý kỹ thuật”. Đào Chú lại quyết định một lần nữa “Có thể làm như thế” Thế là, đồng chí ở Tân Hoa xã đã xóa hình Trần Nghị trên một bức ảnh rồi thay vào đó là hình đồng chí Tiểu Bình và tấm ảnh được đăng báo. Đây chính là sự kiện “thuật thay đầu”, mà Giang Thanh đã ra sức rêu rao, làm ầm ĩ sau này. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:31:40 am 8. Tiếng pháo mở đầu nhằm vào Giang Thanh Giang Thanh rất tán thưởng hai người: Lư Chính Nghĩa viết bài đại tự báo đầu tiên ở Bộ Giáo dục và Ngô Truyền Khởi viết bài đại tự báo đầu tiên ở Học bộ, nên nhiều lần thúc giục Đào Chú đến Bộ Giáo dục và Học bộ, phong hai người này là “Phái tả cách mạng”. Đào Chú nắm được rất nhiều sự thực và tài liệu đích xác, chứng minh rằng hai người này đều là những người lòng dạ khó lường có vấn đề lịch sử lớn. Vì chuyện này ông đã nhiều lần nói rõ sự thực cho Giang Thanh biết, rằng không thể phong họ là “Phái tả cách mạng”. Nhưng Giang Thanh nào có chịu nghe? Cứ ra sức thúc giục. “Còn vấn đề lịch sử ư, có gì ghê gớm lắm đâu!”. Đôi môi Giang Thanh dẩu ra tròn như chiếc loa, hai bên cánh mũi in hằn vết chế giễu: “Anh cũng chẳng phải là Quốc dân Đảng hay sao?”. Đào chú trừng mắt đỏ ngầu, như miệng núi lửa đã được mở. Giọng ông vốn rất lớn tiếng lúc này càng như tiếng núi lửa phun ầm ầm inh tai: “Chị biết tôi là đảng viên Quốc dân Đảng lúc nào không? Tôi là đảng viên Quốc dân Đảng thời kỳ Quốc Cộng hợp tác lần thứ nhất, là tập thể tham gia Quốc dân Đảng trong quân đội Quốc dân đảng! Lúc ấy Mao Chủ tịch cũng là Quốc dân đảng! Thủ tướng Chu cũng là Quốc dân Đảng! Còn Chủ nhiệm Cục Chính trị Trường Quân sự Hoàng Phố, đại biểu Đảng trong Quân đoàn 1 Quốc dân Đảng! Họ đều là cấp trên trực tiếp của tôi, tôi chỉ là một lính quèn của Quốc dân Đảng. Còn muốn thế nào! Chị hãy về mà học lịch sử đã! Còn Ngô Truyền Khởi là đảng viên Quốc dân Đảng với tính chất gì? Đảng viên Quốc dân Đảng của anh ta có thể lẫn lộn làm một với đảng viên quốc dân Đảng của chúng tôi chăng?” Đào Chú gầm lên rung động đất trời, rồi nhổ một bãi nước bọt. Trong thời kỳ cách mạng văn hóa, Hội nghị Bộ Chính trị, họp hội ý Tổ cách mạng văn hóa, cũng như những cuộc tiếp kiến của Trung ương trong việc xử lý các vấn đề của các tỉnh, thành phố và khu tự trị đã xảy ra không ít cuộc tranh cãi, thậm chí là những cuộc “cãi vã ầm ĩ” khủng khiếp. Ví dụ sau này xảy ra cái gọi là “dòng nước ngược tháng Hai”, hoặc như việc xử lý vấn đề Thanh Hải, Vân Nam và một số tỉnh. Nhưng mặt đối mặt quát tháo ầm ĩ thật sự với Giang Thanh, theo rất nhiều nhân viên cùng công tác nói lại thì Đào Chú là người đầu tiên. Ông không nổ phát súng đầu tiên vào Lưu, Đặng nhưng lại nổ phát súng đầu tiên vào Giang Thanh. Mới đầu bị quát, Giang Thanh chẳng hiểu gì, mặt trắng bệch, cơ mặt ở hai má xệ xuống, đôi môi mấp máy run rẩy. Sau khi bà ta trở thành “đệ nhất phu nhân”, đâu có đảng viên cộng sản nào dám “hỗn xược” quát bà ta như vậy? Trong phút chốc, môi bà ta mím chặt, một luồng máu bốc lên đầu, khuôn mặt thậm chí cả chân tóc đều căng lên bầm tím. Mắt bà ta bốc lửa, đó là ngọn lửa oán giận thường bốc ra từ người đàn bà nhỏ nhen độc ác; hai mép bà ta hằn lên hai rãnh sâu chúc xuống với một vẻ hung hãn, nếu bạn nghe những nhân viên cùng làm việc với bà ta hình dung lại thì lập tức có thể nghĩ đến một tấm ảnh sau này khi Giang Thanh bị xét xử, chính là hình tượng của bức ảnh ấy. Chỉ khác lúc đó bà ta không dựa vào hàng rào của ghế bị cáo, mà là ngồi trên xa-lông ở phòng Hà Bắc trong Đại lễ đường Nhân dân, hơn nữa còn đập mạnh xuống thành ghế xa-lông, gào lên với cái giọng sắc lạnh: “Anh đi ngay, đi ngay đến Học bộ, đi giúp Ngô Truyền Khởi, anh không đi không được!”. “Tôi không đi!” Tay của Giang Thanh vẫn còn để trên tay vịn xa-lông chưa kịp rút về, thì bàn tay to lớn của Đào Chú đã tiếp theo ngay đập mạnh xuống bàn trà, hơn nữa còn bật đứng dậy. Suốt một đời anh hùng, ông chưa từng gặp một người nào dám gào thét ra lệnh cho ông như thế. Thế là đầu như bị một viên đạn khoan, ông đứng thẳng một cách vững chãi: “Chị đã can thiệp quá nhiều, quản quá rộng rồi...”. Ông cảm thấy có người kéo ông, nhưng trong cơn thịnh nộ, sao có thể nhịn được? Mắt trợn tròn tiếp tục quát: “Đây là tổ chức của Đảng Cộng sản, chuyện gì chị cũng muốn can thiệp!...” Đào Chú bị kéo ngồi xuống, Giang Thanh ở phía bên kia thì ngây dại mở mắt thao láo nhìn, lúng túng không biết làm thế nào, há hốc mồm hồi lâu vẫn không mím lại được. Sự việc đã ầm ĩ đến nước này, Chu Ân Lai đã sáng suốt tuyên bố giải tán. Đào Chú đứng dậy đi ra, đằng sau còn vang lên tiếng kêu khóc của Giang Thanh. Ôi, trốn được hôm nay nhưng làm sao trốn được ngày mai. Ông biết, Giang Thanh là một con người hay thù vặt tất sẽ trả đũa. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:33:09 am 9. Mánh khóe hạ lưu của Giang Thanh Đại lễ đường Nhân dân ở phía Tây quảng trường Thiên An Môn, là nơi họp của Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc, cũng là nơi hoạt động chính trị của Nhà nước và quần chúng nhân dân. Mái hiên lợp bằng ngói lưu ly vàng lẫn xanh, trên đỉnh cửa chính treo quốc huy, trước mặt là 12 cột đá cao 25m làm bằng đá cẩm thạch màu xám nhạt, làm cho bất cứ ai khi đi qua bên cạnh cũng đều không thể không cảm thấy trang nghiêm, hoành tráng. Huống hồ, phía sau lưng chính là bia kỷ niệm anh hùng nhân dân được ốp bằng một vạn bảy ngàn tấm đá hoa cương và đá cẩm thạch trắng, trên tu di toạ có phù điêu trên tám khối đá lớn lấy chủ đề từ Hổ Môn Tiêu Yên đến trăm vạn hùng binh vượt Giang Nam. Lúc này, bạn sải bước lên phía trước làm sao trong lòng lại không xao động trong những giai điệu hào hùng: Chân bước trên mảnh đất của tổ quốc, mang trên vai niềm kỳ vọng của nhân dân... Mỗi khi bước vào Đại lễ đường Nhân dân, Đào Chú đều có những tình cảm như vậy. Nhưng, khi bước gần đến phòng Hà Bắc trong Đại lễ đường Nhân dân, ông lại nghĩ đến những bộ mặt không bao giờ muốn nhìn thấy trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, nghĩ đến những cuộc tranh cãi không tránh được và cũng không thể tránh trong các cuộc họp hội ý, lại nghe thấy cái giọng vênh váo sai khiến người khác của Giang Thanh lọt từ khe cửa ra, bước chân cùng với nhịp đập của tim ông càng ngày càng nặng nề. Ông dừng lại ở trước cửa, thở sâu hai lần, lấy lại bình tĩnh, cũng là để chuẩn bị cho nín thở, sau đó ông đẩy cửa. Sao mà xúi quẩy thế, người đầu tiên mà ông nhìn thấy lại là Giang Thanh. Trong đầu ông bỗng vang lên một tiếng: mụ phù thủy. Giang Thanh lại không giống Đào Chú, mặt tươi cười rạng rỡ, cứ như là chưa từng có chuyện gì xảy ra vậy, hình như cái điều không vui đã bị quên khuấy từ lâu, đến nỗi làm cho Đào Chú cũng phải sinh nghi, phải chăng mình quá hẹp hòi, bụng dạ nhỏ nhen? Ông mỉm cười gật đầu chào Giang Thanh với vẻ không được tự nhiên cho lắm. Trong phút chốc tiếng nói the thé của Giang Thanh vang lên: “Ồ, Đào Chú, anh bây giờ rất hăng hái phải không?”. Đào Chú đứng đó phút chốc không hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Nhưng tim ông bắt đầu co bóp, giọng nói của Giang Thanh có một chút gì đó không hay, mắt bà ta liếc đi liếc lại trên người Đào Chú, nhìn Vương Lực và Thích Bản Vũ dẩu môi, làm cho ông thấy khó chịu: “Tôi thấy, anh không phải là giải phóng quân, vậy anh có tư cách gì để mặc quân phục?” Giang Thanh cười chế nhạo giống như một diễn viên: “A, anh mặc quân phục của cửa hàng nào vậy?”. Đào Chú sầm mặt, khó chịu nói: “Sao tôi lại không phải? Tôi là Chính ủy thứ nhất của Quân khu Quảng Châu! Sao lại không đủ tư cách mặc?”. Ánh mắt ông sắc bén nhìn một lượt những thành viên trong Tổ cách mạng văn hóa đang ngồi trên xa-lông: “Các anh cũng mặc quân phục, các anh là giải phóng quân gì?”. Diêu Văn Nguyên đỏ mặt, nói một cách gay gắt: “Giải phóng quân là do Mao Chủ tịch sáng lập ra, đứng về phía đường lối cách mạng của Mao Chủ tịch mới có tư cách mặc quân phục”. Một tiếng hừ từ trong mũi Đào Chú bật ra, ông đáp lại ngay: “Khi tôi tham gia khởi nghĩa Nam Xương, cùng Mao Chủ tịch làm cách mạng, không biết anh còn ở chỗ nào để làm “nhân chi sơ” đấy!”. Câu trả lời thật tuyệt vời, Diêu Văn Nguyên phút chốc câm bặt, ông ta hối hận rằng mình làm sao lại quên Đào Chú cũng là trang võ giỏi mà văn thì càng hay( * ). “Báo cáo điều tra “Thí điểm đại dân chủ” tôi đã phê duyệt. “Tài liệu này rất hay. Vì sao anh giữ lại?” Giang Thanh bắt đầu chất vấn. “Văn bản “Mười sáu điều” quy định rõ ràng, xí nghiệp ở nông thôn và thành thị không thực hiện tự do lên tiếng, tự do phát biểu, viết đại tự báo và tranh luận, không tiến hành xâu chuỗi, những cái đi ngược với “Mười sáu điều” làm sao có thể đưa ra để kháng nghị?”. “Cách mạng là phải không ngừng phá bỏ các quy định cứng nhắc!”. “Mao Chủ tịch nói, chính sách và sách lược là sinh mệnh của Đảng. “Mười sáu điều” là văn kiện có tính chính sách về “đại cách mạng văn hóa” do Thủ tướng chủ trì định ra, các anh định không cần chính sách?” Đào Chú nói thật lòng một cách gay gắt: “Nếu sản xuất bị phá hoại, khiến lương thực trong kho không còn một hạt nào thì cách mạng văn hoá sẽ làm thế nào?”. “Người áp chế quần chúng, không để cho quần chúng làm cách mạng là anh, người ra sức thực hiện chủ nghĩa kinh tế cũng là anh!” Giang Thanh quát lên một cách gay gắt: “Mục đích của anh chỉ có một, dẹp cuộc đại cách mạng văn hoá đang rầm rầm rộ rộ!” Đào Chú hiểu nội dung mà Giang Thanh định nói, liền nói một cách thẳng thắn: “Các anh động viên các giáo viên trung học và các nhân viên văn nghệ hí kịch ở các nơi đến Bắc Kinh thăm viếng kể tội, Trung ương năm lần bảy lượt thông báo cho họ không nên đến, nhưng các anh nói đó là hành động cách mạng, nên họ vẫn cứ kéo đến hàng loạt hàng loạt, hễ đến là họ đòi tôi phải cho họ ăn họ ở, cấp sinh hoạt phí cho họ. Tôi là người làm những công việc cụ thể, tôi có phải giải quyết hay không? Không giải quyết là áp chế quần chúng, mà giải quyết thì các anh lại quay ngoắt lại chỉ trích tôi là thực hiện chủ nghĩa kinh tế, rõ là muốn đổ vấy thêm tội, đàng nào thì các anh cũng nói được!”. “Bất kể là người nào, bất kể trước đây có công lao lớn đến đâu, nếu kiên trì đường lối sai lầm, thì tính chất mâu thuẫn giữa họ với Đảng và nhân dân sẽ thay đổi!” Trần Bá Đạt gạt bỏ vấn đề cụ thể, dùng khẩu khí tựa như là uy hiếp, cảnh cáo: “Mâu thuẫn phi đối kháng có thể biến thành mâu thuẫn có tính chất đối kháng, lúc ấy các anh sẽ trượt trên con đường chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội!”. Đào Chú lạnh lùng liếc nhìn, từ trong lỗ mũi bật ra một tiếng hừ: “Mao Chủ tịch vẫn còn sống đấy!”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:33:34 am Đào Chú hiểu, những người này xét cho cùng là muốn ông đứng về phía Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, đứng về phía đó thì mọi phiền phức sẽ không còn nữa. Nhưng ông hoàn toàn không thể nào đứng về phía đó. Niềm tin, đó là cái không thể gượng ép, người bình thường gượng ép không được, dưới áp lực mạnh cũng chỉ có thể khẩu phục nhưng tâm bất phục. Như Đào Chú người đã quá nửa đời phấn đấu, ngay đến “khẩu phục” cũng khó miễn cưỡng. Đào Chú cũng có một phần tự tin. Cứ cách ba bốn ngày lại đi cùng Chu Ân Lai đến chỗ Mao Trạch Đông một lần để báo cáo tình hình. Ông không hề biết rằng báo cáo mà Mao Trạch Đông nghe còn có một đường khác là Tổ cách mạng ván hóa, ông chỉ tin những lời ông nói, Mao Trạch Đông đều lắng nghe, ông cho rằng mình rất được sự tín nhiệm và bảo vệ của Mao Trạch Đông, nên ông không coi Tổ cách mạng văn hóa Trung ương ra gì. Tất nhiên, ông cũng không thể cãi nhau một cách triệt để với bọn họ, bất cứ ai hiểu chút ít về chính trị đều dễ dàng nhận thấy điều này. Bọn người ấy luôn mỉa mai châm chọc, kiếm chuyện, gây khó khăn cho ông. Đào Chú đã không thể gắng hết sức để chịu đựng, cuộc sống đầy uất ức đau khổ, ngột ngạt, gian nan. Ngày 18 tháng 10, ông theo Mao Trạch Đông tiếp kiến đại quân Hồng vệ binh lần thứ 5, khi tiếp kiến, theo lệ phải giữ sự nhất trí tuyệt đại đa số, do đó cần mặc quân phục. Sau khi tiếp kiến, đúng hôm đi hội ý với Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, để giảm bớt những việc không vui xảy ra, ông liền cởi bộ quân phục, mặc thường phục. Nhưng khi ông mặc thường phục đi vào phòng Hà Bắc thì lại gặp phải cảnh tượng rất khó chịu đựng. Bọn người trong Tổ cách mạng văn hóa cố ý ngắm nhìn Đào Chú từ trên xuống dưới, hơn nữa còn liếc mắt như kẻ bị lác, chụm đầu ghé tai, còn ánh mắt chỉ lướt nhanh qua người anh lại còn tủm tỉm cười, làm cho anh không dò được nông sâu, làm cho anh cảm thấy cô lập, làm cho anh biết rằng đằng sau anh là trung tâm để mọi người bàn luận, làm cho anh khó chịu như bị rận bò khắp người. Đây là thủ đoạn độc ác nhằm giày vò về tinh thần. Đây là mánh khoé hạ lưu hèn mạt mà bọn tiểu nhân thâm độc thích đùa giỡn. Nhưng mánh khoé này đã được đưa vào Đại lễ đường Nhân dân, đưa vào vũ đài chính trị nghiêm túc, hơn nữa đã không do dự khi sử dụng trên con người Đào Chú. “Ai chà, Đào Chú sao lại không làm giải phóng quân nữa?”. “Này, Đào Chú, anh đã thành dân thường từ lúc nào vậy?” Sự châm chọc bình phẩm từ đầu đến chân đã bắt đầu như thế. Đây chính là lời giáo đầu trong cuộc hội ý của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Điều này e rằng ngay đến “phái tạo phản” đang ồn ào ầm ĩ cũng không ngờ tới. Một năm sau, Đào Chú đã kể hết tâm sự với vợ mình là Tằng Chí: “Ôi, ai mà có thể tin Đào Chú ta phải chịu sự lăng nhục như thế? Lúc ấy tôi không thể không chú ý đến toàn cục, nếu như trước đây, nói gì thì cũng không thể dung tha sự ngông cuồng như thế của họ!”. Cái “trước đây” mà Đào Chú nói, tất nhiên là trước cách mạng văn hóa. Lúc ấy nếu gặp phải tình hình này, với tính nóng của ông, để bảo vệ sự tôn nghiêm sẽ không ngại dùng đến nắm đấm. Bây giờ, Đào Chú không những phải nhẫn chịu, hơn nũa còn phải nghe lời trách hỏi: “Vì sao anh lại trấn áp hành động cách mạng của quần chúng trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương?”. “Trong Hội nghị công tác Trung ương, đồng chí Lâm Bưu đã chỉ tên Lưu, Đặng, đường lối sai lầm của phong trào đại cách mạng văn hóa lần này chủ yếu là do Lưu, Đặng gây ra. Vì sao anh trấn áp quần chúng, không cho họ hô khẩu hiệu, không cho họ viết đại tự báo tố cáo Lưu, Đặng?”... Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 07:34:20 am 10. Sự lo lắng tụt hậu. Mâu thuẫn căng thẳng Ngày 9 tháng 10 năm 1966, Mao Trạch Đông chủ trì Hội nghị công tác Trung ương triệu tập ở Bắc Kinh, chủ yếu là để gạt bỏ những “trở lực” đối với cách mạng văn hóa. Hội nghị đã họp hơn 10 ngày đến hôm nay vẫn chưa kết thúc. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị, Mao Trạch Đông đã chỉ rõ, phong trào đến rất mạnh, có sự chống đối là điều có thể hiểu được. Ông chủ trương “để cho nó loạn mấy tháng” “Đại tự báo phải ra phố”, “Công nông binh không nên can thiệp vào đại cách mạng văn hóa của học sinh”. Lâm Bưu cũng đã phát biểu, chỉ đích danh Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đã thi hành đường lối phản cách mạng, trấn áp quần chúng: “Đường lối sai lầm của phong trào đại cách mạng văn hoá lần này chủ yếu là do Lưu, Đặng gây ra”. Trần Bá Đạt đã đọc báo cáo “Hai đường lối của cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản”. Mũi nhọn cũng chỉ thẳng vào Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Trong báo cáo, ông ta tung ra một chiếc mũ “Phái chữ sợ” rất rõ ràng là muốn những người còn nghi ngại hãy “vứt bỏ chữ sợ”, tấn công vào Lưu, Đặng. Tình hình Hội nghị bị Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cố ý tiết lộ ra ngoài, hơn 300 quần chúng của Ban Tổ chức Trung ương biết được nội tình, liền đòi được đến Trung Nam Hải để đưa quyết tâm thư cho Mao Trạch Đông và Trung ương Đảng, bày tỏ quyết tâm triệt để tố cáo phê phán và đấu tố Lưu Thiếu Kỳ cùng Đặng Tiểu Bình. Sau khi Đào Chú biết tin, đã ngăn chặn ngay, tỏ thái độ một cách rõ ràng: “Mấy trăm người của Ban Tổ chức Trung ương đến Trung Nam Hải, hô đả đảo Lưu Thiếu Kỳ, dán đại tự báo phê phán đồng chí ấy, cách làm này tôi không tán thành”. Rõ ràng, thái độ này đã bị các thành viên của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương biết được. “Đồng chí Lưu Thiếu Kỳ phạm sai lầm chứ không phải là địch, không thể hô đả đảo”. Đối mặt với những chất vấn của nhóm người trong Tổ cách mạng văn hóa, Đào Chú không một chút giấu giếm nói rõ quan điểm: “Tôi không tán thành việc viết đại tự báo đả đảo Lưu Thiếu Kỳ. Ông là Chủ tịch nước, ủy viên Bộ Chính trị, phạm sai lầm nên là vấn đề đoàn kết - phê bình – đoàn kết, là vấn đề mâu thuẫn nội bộ nhân dân...”. “Là vấn đề đấu tranh giữa hai giai cấp hai con đường hai đường lối!” Thích Bản Vũ nói một cách gay gắt. “Học sinh viết đại tự báo đả đảo Lưu Thiếu Kỳ, nếu hỏi tôi thì tôi không đồng ý”. Trái lại Đào Chú đã bình tĩnh trở lại. Đó là vì quan điểm đã được nói rõ, ông thấy yên lòng. “Hội nghị công tác Trung ương vẫn chưa kết thúc”. Trần Bá Đạt nhắc nhở một cách nặng nề. Câu này rất có trọng lượng. Hội nghị chưa kết thúc. Vấn đề mới bộc lộ ra trong lúc này tất nhiên có thể thuộc vấn đề đợi giải quyết. Nếu Hội nghị, cuối cùng đưa ra kết luận trái với quan điểm của Đào Chú thì Đào Chú rất có thể sẽ không cần đánh mà tự đổ. Vì trên thực tế ông đã tự gắn mình với Lưu, Đặng. Vì trong cuộc mít tinh quần chúng tiếp kiến Hồng Vệ binh lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 8, Lâm Bưu đã sớm nói rằng: “Chúng ta cần phải đánh đổ phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, phải đánh đổ tất cả phái bảo hoàng tư sản, phải đánh đổ tất cả bọn đầu trâu mặt ngựa!”. Như vậy, ai là “phái bảo hoàng thì kẻ ấy là tư sản, kẻ ấy thuộc vào loại bị đánh đổ như phái cầm quyền đi con đường tư bản chủ nghĩa” và “đầu trâu mặt ngựa”. Đào Chú về nhà với tâm trạng nặng nề, lại không ngừng đi lại trong phòng. Đối với đại cách mạng văn hóa, ông đồng cảm với Chu Ân Lai, nhận thức cũng gần gũi. Bài phát biểu của Chu Ân Lai trong Hội nghị đã dùng “trên đà đang lên, muốn dừng không được” để khái quát tình hình, hơn nữa với nỗi ngổn ngang trăm mối: “Nằm mơ cũng không nghĩ đến cục diện nó lớn đến như thế”. “Nghĩ mà run”. Trong sự ràng buộc của điều kiện lúc ấy, trong tình hình bản chất của hiện tượng và quá trình lịch sử của cuộc đại cách mạng văn hóa vẫn chưa bộc lộ đầy đủ, thái độ của Đào Chú đối với cách mạng văn hóa cũng gần gũi với Chu Ân Lai, cũng gần gũi với đại đa số cán bộ và nhân dân, cố gắng lý giải đại cách mạng văn hoá từ tiền đồ tốt đẹp của nó, hy vọng thông qua phong trào này, có thể thật sự khắc phục và xoá bỏ những thói hư tục xấu và những mặt đen tối nào đó thực sự tồn tại trên cơ thể Đảng và Nhà nước, để bảo đảm cho Đảng và Nhà nước không đổi màu. Cho nên, Đào Chú phát biểu trong Hội nghị cũng bày tỏ rất rõ ràng: “Tiến hành đấu tranh giai cấp tôi kiên quyết, tiến hành đại cách mạng văn hoá tôi cũng kiên quyết”. Nhưng, Đào Chú kiên trì cho rằng, trong điều kiện giai cấp vô sản đã nắm chính quyền thì một cuộc cách mạng như vậy chỉ có dưới sự lãnh đạo của đội tiền phong của giai cấp vô sản - Đảng Cộng sản, dùng phương thức có tổ chức có bước đi, với tiền đề cố gắng không ảnh hưởng đến trật tự cuộc sống bình thường, phát triển theo quỹ đạo lành mạnh, mới có thể đạt được mục đích nêu trên. Sự thực về sau đã chứng minh, suy nghĩ của Đào Chú và suy nghĩ của Mao Trạch Đông thông qua “thiên hạ đại loạn để đạt tới thiên hạ đại trị” cách nhau quá xa. Sự chênh lệch là mâu thuẫn. Đào Chú đã rơi vào mâu thuẫn ấy, vừa muốn theo sát Mao Trạch Đông nhưng lại luôn luôn cảm thấy “lo lắng vì tụt hậu”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2010, 08:21:50 am 11. Đào Chú nhìn Chu Ân Lai với ánh mắt cảm kích Tết Dương lịch đã tới gần, nhưng lại không có một chút không khí ngày tết, có chăng chỉ là những làn sóng dữ dội của tạo phản và những luồng không khí lạnh buốt từ Si-bia tràn tới. Thành Bắc Kinh buổi sớm khoác lên chiếc áo màu xám ảm đạm, ngoài bức tường đỏ của Thiên An Môn và Trung Nam Hải, những mái nhà vô tận xa tít đến tận chân trời lộ ra một màu xám cổ xưa, những cành cây đã rụng hết lá, bụi đất và đại tự báo bay lả tả những biểu ngữ màu đen dán kín tường, càng tăng thêm cái tình điệu u ám. Gió lạnh lướt qua đường Trường An và Quảng trường trống trải như đem tới nỗi ưu tư buồn lạnh triền miên không dứt. Bước chân của Đào Chú lúc nặng nề, lúc nhẹ bỗng. Khi ông bước lên bậc thềm, cúi đầu đi vào phòng họp, ông mang một tâm trạng phức tạp của một sự chờ đợi nào đó nhưng lại buồn lo không yên! Lại có thể gặp Mao Chủ tịch, lại có cơ hội được phát biểu ý kiến! Nhưng, Chủ tịch sẽ đối xử thế nào với những sai lầm mà mình phạm phải đây? Ôi, bản thân ta cũng không rõ rốt cuộc ta sai ở chỗ nào! Che chở Lưu, Đặng ư? Chính Chủ tịch cũng đã che chở đấy thôi. Che chở Vương Nhậm Trọng ư? Chủ tịch cũng không có ý đánh đổ đồng chí ấy cơ mà. Nhân viên công tác đã mở cửa. Đào Chú hơi cúi đầu đi vào, ánh mắt ngước lên nhìn lướt, bỗng ông ngẩng mặt, tinh thần bỗng phấn chấn, đó là một sự xúc động không sao kìm nén được. Ông đã nhìn thấy Mao Trạch Đông! Giây phút ấy, trong lòng ông ngổn ngang trăm mối, đôi môi mấp máy, trăm ngàn lời phút chốc tắc nghẹn trong cổ. Mao Trạch Đông mỉm cười nhìn ông gật đầu, nói lớn: “Đào Chú, vì sao anh không nói anh đã phạm vào một sai lầm rất khó lý giải nhỉ?” Bờ mi Đào Chú bỗng ướt. Một lời của Mao Trạch Đông như vậy có nghĩa là che chở ông. Ánh mắt của Mao Trạch Đông từ từ lướt qua khuôn mặt của những người dự họp, nói tiếp: “Đào Chú sau khi lên Trung ương, công tác tích cực có tinh thần trách nhiệm, rất bận rộn, đã làm được rất nhiều việc”. Lúc này ánh mắt Mao Trạch Đông vừa lướt đến người Giang Thanh, đôi lông mày nhíu lại, ánh mắt nhanh chóng nhảy sang chỗ khác, nói tiếp: “Giang Thanh quá tùy hứng, thích làm tổn hại tới người khác. Đào Chú là ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, chưa qua Trung ương chính thức thảo luận đã nói đồng chí ấy phạm sai lầm phương hướng đường lối, tuỳ tiện phê phán trong hội nghị, đó là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng!”. Các thành viên của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cúi đầu không có một biểu cảm gì. Đào Chú liếc nhìn Chu Ân Lai với một ánh mắt cảm kích, ông tin rằng có chuyện này là do Chu Ân Lai báo cáo với Mao Trạch Đông. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2010, 04:46:03 pm 12. Mao Trạch Đông trở mặt bảo Đào Chú không thật thà Ngày 30 tháng 12 năm 1966, ngày thứ hai sau khi Mao Trạch Đông che chở Đào Chú. Ăn qua loa mấy miếng cơm, Đào Chú lại bắt đầu đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ còn có những công việc nào cần sắp xếp, bàn giao. Mười giờ đêm, chuông điện thoại reo rất gấp, hốt hoảng như chuông báo cảnh sát. Đào Chú cầm lấy ống nghe: “Tôi là Đào Chú”. Mới nghe được mấy câu đôi lông mày rậm nhíu lại thành một góc nhọn, phút chốc, ông thốt ra năm tiếng như ánh chớp: “Đêm nay tôi sẽ đến”. Tiếng quát như nghênh đón sự khiêu chiến. Chẳng trách sau khi sự việc xảy ra, ông đã than thở: “Ôi, cũng biết cái tính như chất đốt hễ châm lửa là bùng cháy, còn có điều chưa được cân nhắc...” Đội tạo phản cất công từ Vũ Hán đến Quảng Châu để bắt Vương Nhậm Trọng, đã bắt Lý Nhất Thanh một bí thư của Cục Trung Nam làm con tin, đưa đến Bắc Kinh, đòi Đào Chú phải tiếp kiến. Những người này không thể “lôi” Vương Nhậm Trọng ra được (ông được sắp xếp nghỉ chữa bệnh ở một nơi) nên họ đến Bắc Kinh. Ngay hôm đến Bắc Kinh, họ lập tức thông qua Quan Phong và Lâm Kiệt ở tòa soạn tạp chí “Hồng kỳ” liên hệ chặt chẽ với Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Tổ cách mạng văn hóa Trung ương phê phán Đào Chú là “khăng khăng che chở Vương Nhậm Trọng”, “đội tạo phản” này liền liên hợp với một bộ phận Hồng vệ binh ở Hồ Nam yêu cầu Đào Chú phải tiếp kiến, đồng thời yêu cầu Đào Chú phải giao nộp Vương Nhậm Trọng. Sau khi Mao Trạch Đông che chở Đào Chú, phía Điếu Ngư Đài liền hạ quyết tâm, thế là, bọn “đội tạo phản” và Hồng vệ binh cũng thay đổi khẩu khí chuyển sang cứng rắn, quyết liệt, vội vã. Mới đầu định là ngày hôm sau Đào Chú sẽ tiếp kiến đồng thời nói chuyện với họ, bây giờ bọn này lại điên cuồng ngang ngược “ra lệnh bắt buộc” Đào Chú phải tiếp kiến ngay. Nếu ngay đêm nay không tiếp kiến thì toàn thể sẽ tuyệt thực! Nói chung những học sinh trẻ bị một thế lực chính trị nào đó điều khiển, thì thường bị lợi dụng để “tuyệt thực”. Đào Chú hay tin liền đi ngay, cố nhiên tính nóng không cho ông né tránh sự khiêu chiến hùng hổ doạ người; một nguyên nhân khác, ông cũng không nỡ nhẫn tâm để cho sức khỏe của bọn học sinh ngây thơ khờ dại bị tổn hại vì tuyệt thực. Đào Chú vội vã quyết định tiếp kiến, các nhân viên công tác gấp rút hành động. Thư ký Trương Hán Thanh vội vàng thông báo cho cảnh vệ Tăng Vân: “Tối nay sẽ tiếp kiến Hồng vệ binh ở Hội trường nhỏ tại Quốc vụ viện đồng chí sắp xếp ngay, Bí thư Đào sắp đi rồi”. Tăng Vân nhanh chóng điều xe, đồng thời thông báo cho Cục Cảnh vệ. Như một quân nhân, năm phút sau, Đào Chú đã đến Hội trường nhỏ của Quốc vụ viện. Vừa vào hội trường, Đào Chú lập tức phát hiện thấy không khí khác thường liền có chút cảnh giác: “Đội tạo phản”, “Hồng vệ binh” xưa nay vẫn coi Tổ cách mạng văn hóa Trung ương là “một nước”, “người một nhà”, hoặc “hậu thuẫn kiên cường”. Cho nên, phàm khi những nhân vật hàng đầu của Tổ cách mạng văn hoá Trung ương tiếp kiến, tiếng vỗ tay và lời chào không ngớt, ít ra thì cũng mang tâm trạng sôi nổi chờ đợi và khát khao được ủng hộ. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2010, 04:46:33 pm Hôm nay Đào Chú lấy danh nghĩa của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương mà không phải là lấy danh nghĩa của Quốc vụ viện để tiếp kiến “đội tạo phản” và Hồng vệ binh này, nhưng Hội trường có một bầu không khí thô bạo, điên cuồng quyết liệt mà chỉ trong các cuộc phê phán đấu tố “phái cầm quyền đi con đường tư bản chủ nghĩa” mới xuất hiện. Đám người náo loạn. Run rẩy, sôi sục, giống như những con vật say máu trong vườn bách thú đang nhìn những vật hy sinh do con người ném vào, giống như biển lớn sắp nghiêng ngả trước khi cơn giông tố ập đến... Nhưng Đào Chú không lùi bước, với vẻ mặt bình thản và bước đi ung dung, ông xuyên qua giữa đám “đội tạo phản” và “Hồng vệ binh” đang mồ hôi nhễ nhại mắt đỏ ngầu, không để ý đến những nắm đấm ánh mắt và những tiếng gào hét thù hằn. Ông không bước lên bục, mà ngồi ngay dưới bục, nơi chỉ cách gang tấc đối mặt với đám Hông vệ binh, khắp nơi bốc lên mùi tanh chua bởi chườm ướp mồ hôi và nước tiểu ở trên toa tàu hoả, mỉm cười gật đầu. Lập tức đám người rộ lên tiếng phản đối, hướng về Đào Chú hô các khẩu hiệu: “Lôi ra kẻ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa lớn nhất ở tỉnh Hồ Bắc, Vương Nhậm Trọng!” “Đấu đổ đấu thối Vương Nhậm Trọng!” “Đả đảo Vương Nhậm Trọng!” “Đào Chú phải đứng về phía đường lối cách mạng của Mao Chủ tịch!” “Đào Chú không cách mạng thì để cho ông ta diệt vong!” “Đào Chú làm phái bảo hoàng thì quyết không có kết cục tốt”. Với nét mặt không chút biểu cảm, Đào Chú ngồi như một khối đá bất động. Tổ cách mạng văn hóa Trung ương liên tiếp đưa những bản “tội trạng” của Đào Chú, từ việc kiên trì cử tổ công tác đến cái gọi là “thuật thay đầu”… 8 ngày sau, Mao Trạch Đông cân nhắc lợi hại, cuối cùng đã hạ quyết tâm. Trên tài liệu “Bão táp tháng Giêng” cướp quyền ở Thượng Hải đã phê mấy chữ: Cướp quyền là một việc tốt. Trong Hội nghị thảo luận về “Bão táp tháng Giêng”, ông đã tỏ thái độ: Đào Chú là người do Đặng Tiểu Bình giới thiệu. Đào Chú một con người không thực thà, mà Đặng Tiểu Bình lại nói là có thể. Tăng Chí (vợ Đào Chú) nghe thấy những lời của Mao Trạch Đông. Bà không tin là Mao Trạch Đông sẽ đánh giá Đào Chú như thế, nên đã viết cho Mao Trạch Đông một bức thư, hỏi rằng có phải đồng chí chỉnh lý tài liệu đã viết sai hay không? Đào Chú là “bất lão thực” (không thật thà) hay là “bất lão thành” (chưa từng trải). Hai ngày sau, Mao Trạch Đông đã trả lời. Nhưng không viết một câu nào, chỉ gạch một nét ngang dưới ba chữ “bất lão thực”, trên nét ngang viết một dấu hỏi “?”. Đào Chú nhìn rất lâu, rất lâu cái dấu hỏi ấy. Đôi môi ông mấp máy, nước mắt ông từng giọt từng giọt dâng đầy bờ mi, run rẩy, lấp lánh cuối cùng trào ra khóe mắt. Ông đã khóc, khóc không thành tiếng. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2010, 04:47:30 pm 13. Ông già bị bọn nhãi ranh đánh Từ sau khi Mao Trạch Đông tỏ thái độ, tên của Đào Chú liền được kết hợp một cách lịch sử với Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Sau đó, khẩu hiệu “đả đảo Lưu, Đặng, Đào” đã trở thành mốt vang dội nhất. Lúc ấy ở Trung Quốc không ai không biết không ai không hiểu. Vào buổi chiều một ngày tháng 8 năm 1967, đội nhiên có mười mấy người thuộc “phái tạo phản” ở Trung Nam Hải xông vào nhà, chẳng cần trình bày, bẻ quặp hai tay Đào Chú về phía sau, ấn đầu xuống rồi tiến hành phê phán đấu tố! Mấy lần Đào Chú giãy giụa để ngẩng đầu lên, lập tức bị những cánh tay tàn bạo ấn xuống, mồ hôi từ hai thái dương, từ mũi, từ trán, từ hai má, từ mỗi lỗ chân lông trên người ông túa ra ướt đẫm, rồi nhỏ từng giọt xuống chân. Tiếng của ông vẫn rất cao rất cứng, cự tuyệt tất cả mọi sự chỉ trích, chửi rủa. Một tên lính chuyển ngành mặc quân phục không quân, thấy Đào Chú, không nhận một tội nào, liền vung nắm đấm, nghiến răng nghiến lợi đánh từ phía sau. Đào Chú giãy mạnh để thoát ra bàn tay đang đè đầu ông, ông quay đầu lại quát: “Sao chúng mày lại dám đánh tao?”. Tăng Vân người cảnh vệ cũ không nhịn được bước lên trước nói thẳng: “Phê phán thì phê phán, các anh không được đánh người!” “Người già, các anh có thể phê phán, nhưng không được đánh!” “Phái tạo phản” hơi sững lại nhưng lại ấn đầu Đào Chú xuống. Tên lính chuyển ngành mặc quân phục không quân, giương hai mắt đỏ ngầu vừa giơ tay đấm uỳnh uỵch vào đầu vào trán mà chửi: “Đánh đồ chó mày thì đã sao? Đồ phản bội, đồ đặc vụ!”. “Xì!” Đào Chú lại giãy ra một lần nữa nhổ bãi nước bọt lẫn máu vào người tên lính chuyển ngành: “Mày có tư cách gì để chửi tao? Khi tao làm cách mạng thì mày còn chưa đẻ!” “Mẹ mày thằng đặc vụ!” Tên lính chuyển ngành lại đấm vào đuôi mắt Đào Chú. “Mẹ mày mới là đặc vụ!” Đào Chú nheo mắt bị đấm nổ đom đóm quát lên một tiếng long trời lở đất. “Mẹ mày đồ quốc dân đảng!” Lại một quả đấm. “Mẹ mày!” Tên lính không quân chuyển ngành thẹn quá hóa khùng, liên tục giơ tay đấm: “Xem mồm mày cứng hay nắm đấm của ông cứng...” Đào Chú không giãy ra để phản kháng được, liên tục bị đấm, không nén nổi ông gầm lên: “Mẹ kiếp, nếu không tin chủ nghĩa cộng sản thì ông sẽ liều với mày? Chúng mày dám bỏ tay ra, ông sẽ liều với mày!”. Trong những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc bị phê phán đấu tố, dám lấy cứng chọi cứng như Đào Chú, xả thân để phản kháng quả thực là rất hiếm. Tên lính không quân chuyển ngành đã khiếp sợ, đối mặt với một ông già cứng đầu đã gần 60 tuổi bị giữ chặt, mồm vẫn lèm bèm chửi, nhưng nắm tay lại không giơ lên được, lùi dần ra phía sau, cuối cùng hắn đã lủi mất. Hắn ta vừa lỉnh thì bọn trong “phái tạo phản” khác hoang mang cũng không phê phán tiếp nữa, hô vài khẩu hiệu rồi tan tác như lũ chim muông vỡ tổ. Tháng 3 năm 1968, việc canh giữ Đào Chú đã leo thang ba lần. Nhân viên “cảnh vệ” tăng lên hai tiểu đội trong phòng có ba chốt gác. Một chốt ở cửa ra vào, một chốt ở cửa sau, cái chốt thứ ba như hình với bóng theo sát bên cạnh Đào Chú, lúc đi thì theo sát gót, lúc viết thì ngồi sát sau lưng, lúc ngủ thì ngồi sát đầu giường, lúc ăn cơm ngồi sát bàn ăn, đến nỗi lúc đi ngoài cũng ngồi sát ngay trước mặt. Giang Thanh hạ lệnh: 24 giờ không cho phép không có người bên cạnh. Nhưng Đào Chú có Tăng Chí. Sự tồn tại của người vợ làm cho thế giới bên ngoài như một bức tường thành được mở ra một ô cửa sổ để cho một làn gió xuân ùa vào. Bà bầu bạn với ông không rời một phút, với sự ôn tồn dịu dàng ung dung vốn có của người đàn bà, đã chống lại những cái nhìn lạnh ngắt, an ủi trái tim của Đào Chú. Cuộc vật lộn không ngừng từng giây từng phút giữa cái thiện và cái ác cứ như vậy kéo dài hai năm. Tăng Chí mài mực, Đào Chú cầm bút, dưới con mắt của những người giám thị, ông viết đầy một trang giấy: “Tự sát, có nghĩa là có chuyện xấu xa hèn hạ, không muốn làm sáng tỏ vấn đề của mình. Tất nhiên cũng có khả năng như thế này, anh sẽ đi gặp Mác, vấn đề vẫn là không được làm rõ. Điều đó cũng chẳng sao, sự thật cuối cùng vẫn là sự thật, cuối cùng vẫn có thể làm rõ. Tôi tin vào bốn câu nói của tôi: “Cái tính” thẳng đã định, Còn moi cả tim gan, Máu Trường Hoằng hóa ngọc, Đau thương rồi sẽ tan”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2010, 04:49:58 pm 14. Máu Trường Hoẵng hóa ngọc Đào Chú đâu biết rằng khi ông đang viết bài bày tỏ chí hướng này thì Mác đã vẫy gọi ông. Tháng 8 năm 1968, tại Thiên An Môn đã có cuộc “mít tinh phê phán đấu tố Lưu, Đặng, Đào” có hàng triệu người tham gia. Để cùng phối hợp, tại và nơi ở Trung Nam Hải cùng tiến hành đấu Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Đào Chú. Có 300 người đấu Đào Chú, Tăng Chí cũng bị lôi ra để đấu phối hợp, bà đã tận mắt thấy sự phản kháng quyết liệt của Đào Chú, Đào Chú bị đấm đá, trên đầu bị sưng tím ba chỗ to bằng quả trứng gà, mà vẫn gầm lên phản kháng, gắng gượng hơn ba tiếng đồng hồ. Sau đó không lâu, Đào Chú thấy chóng mặt, mắt hoa, nôn ọe. Nhưng chẳng có ai chạy chữa, kéo dài đến nửa năm sau mới được khám, bệnh viện phát hiện ông bị ung thư. Chu Ân Lai phải đích thân can dự, mới được mổ và điều trị. Nhưng đã muộn rồi, 5 tháng sau khi mổ, đó là vào tháng 9 năm 1969, Đào Chú lại cảm thấy đau từng cơn ở vùng bụng, sốt nhẹ. Bác sĩ chẩn đoán là bệnh ung thư đang... lan ra cơ thể. Điều mà ông nhận được không phải là sự tích cực chữa trị, mà là một mệnh lệnh: “Cấp tốc sơ tán”, “Ngày mai rời Bắc Kinh”... Ngày 18 tháng 8 năm 1969, một chiếc chuyên cơ rít lên thảm thiết hạ xuống đường băng một sân bay. Chẳng mấy chốc, một chiếc xe con màu đen chạy từ sân bay đến dừng lại trước một “bệnh phòng bí mật”. Cửa xe mở, một người mặt đeo khẩu trang, trên khoác chiếc áo dạ dài, tay chống một chiếc gậy, chậm rãi ra khỏi xe, ông đứng yên trong gió đêm lạnh buốt, rồi từ từ nhìn bốn chung quanh. Đến lúc này, những người giám sát mới phát hiện ra ông có đôi mắt rực sáng lấp lánh, đấy không phải là đôi mắt của bệnh nhân mà là đôi mắt tràn đầy nhuệ khí riêng có của người chiến sĩ khi xung phong vào đồn giặc. Đào Chú được “chăm sóc riêng” rất đặc biệt, thành lập một tổ canh giữ, có một tổ trưởng và hai tổ phó, bệnh phòng mỗi ngày 24 giờ đều có người giám sát hoạt động của bệnh nhân. Điều trị chỉ là “Căn cứ vào bệnh tình và điều kiện ở đây để điều trị thuốc thang”, nhưng lại không ngại viết “nhật ký động thái” của bệnh nhân. Cho nên tất cả nhân viên giám sát đều phải “giữ bí mật suốt đời” tất cả mọi sự việc đã xảy ra ở đây. “Tên các anh đều được lưu trong kho lưu trữ Trung ương, ai tiết lộ người ấy phải chịu trách nhiệm hoàn toàn!” “Biện pháp giám sát có 10 điều...”, “là để bảo tồn tội chứng”, “Nhất thiết phải quản lý nghiêm ngặt đối với ông ta!”. Thế là Đào Chú bắt đầu cuộc sống “được chăm sóc đặc biệt” trong hoàn cảnh khép kín đến ngạt thở. Ở đây không ánh sáng mặt trời, không mây không gió, không màu xanh, nhưng có một trái tim ngoan cường đang đập, có một sinh mạng không cam chịu chết. Ông mang máng nhớ đến năm ngoái, tháng 8 năm 1968, ông bị đánh đau trong cuộc mít tinh phê phán đấu tố Lưu, Đặng, Đào. Ít lâu sau thì bắt đầu chóng mặt, mắt hoa, buồn nôn. Ông đã kể rõ tình hình, yêu cầu được kiểm tra và điều trị, nhưng mãi đến tháng 3 năm 1969, mới được phép đi bệnh viện khám. Ông phải làm một cuộc đại phẫu thuật. Người thân và bác sĩ đều nói là phải mổ cắt gan, ông cũng nói với tất cả mọi người là phải mổ cắt gan. Nhưng, khi ông đau đớn quằn quại trên giường mồ hôi vã ra như tắm, ông còn kêu lên: “Không ngờ bệnh ung thư lại đau như thế này!...” Ông biết mình đã là người gần kề cái chết, nhưng lại phải đơn độc “sơ tán” đến Hợp Phì (thủ phủ tỉnh An Huy - N.D). Ông nghĩ đến lời ông nói với vợ: “Tôi không thể chết, đặc biệt là vào lúc này, không nên chết!...” Thế là Đào Chú phấn chấn lên, lau mồ hôi lạnh trên trán tiếp tục những bước đi khó khăn của ông. Bước được vài bước, ông liền cảm thấy không còn đủ sức, chống tay vào tường thở hổn hển. Ông nhìn thấy một chiến sĩ nhỏ canh giữ ông. Dưới chiếc mũ bộ đội, là một khuôn mặt búp bê đường nét rõ ràng, đang dùng ánh mắt cảnh giác và hiếu kỳ không hợp với tuổi tác chăm chú nhìn người bệnh “được bảo vệ đặc biệt” này. Một tình cảm yêu thương bỗng cháy lên trong lòng, Đào Chú quên “thân phận” của mình, hỏi một cách thân thiết như khi đi thị sát bộ đội năm xlra: “Đồng chí nhỏ, năm nay bao nhiêu tuổi...”. Chưa dứt lời, cái khuôn mặt ngây thơ non nớt ấy bỗng thoáng một nét căng thẳng phấn khích, tiếp đó là những tiếng quát mắng gay gắt bật ra: “Ai đồng chí với mi! Mi chống Đảng, chống Mao Chủ tịch, mi là phản cách mạng!...” Trong tiếng gào, người chiến sĩ nhỏ ấy lùi về phía sau hai bước như sợ bị nhiễm ôn dịch vậy. Đào Chú trừng trừng nhìn người chiến sĩ, sắc mặt bỗng trở nên xanh tái, tiếp đó là một cơn đau quặn trong tim, mặt ông co giật dữ dội mấy lần, khi cơn co giật qua đi, trên khóe miệng ông còn lưu lại một nét cười mỉm thê thảm. Ông lặng lẽ bò về giường, nhẹ nhàng nằm xuống với ánh mắt thờ ơ luôn luôn chăm chú nhìn vào một điểm nào đó trên trần nhà. Ông ngâm nga lặp đi lặp lại cái gì đó, khi y tá đưa cơm đến, mới nghe rõ đó là một bài thơ. “Cái tính thẳng đã định; Còn moi cả tim gan; Máu Trường Hoằng hóa ngọc; Đau thương rồi sẽ tan”. Y tá đứng đợi rất lâu, nhưng ông không ăn cơm, chỉ khe khẽ ngâm bài thơ này, y tá đi rồi nửa tiếng sau quay lại, ông vẫn không ăn. Bữa ăn chiều cũng như vậy. Nhưng khi y tá chuẩn bị mang cơm đi thì mới nghe thấy tiếng lẩm bẩm yếu ớt: “Để, để đấy... tôi ăn”. Đào Chú vừa bưng bát cơm lên thì bắt đầu buồn nôn. Nhưng ông vẫn ngoan cường gắp mì sợi đưa vào mồm. Vừa nhai được mấy cái thì lại nôn ọe, không những nôn hết miếng mì sợi vừa ăn mà còn nôn cả nước vàng trong dạ dày. Nôn ọe dừng, ông thở hổn hển, nhìn bát mì như đối mặt với một thử thách của tính đảng. Ông lại gắp mì sợi đưa vào miệng, vừa nhai được mấy cái thì lại một cơn nôn ọe khác ghê gớm hơn, nôn đến tối tăm mặt mũi, mồ hôi vã ra như tắm... Hôm ấy, chỗ bị ung thư đau tới cực điểm, thân thể Đào Chú co rúm dữ dội như bị điện giật, mỗi một thớ thịt, mỗi một đường gân, mỗi dây thần kinh, mỗi một tế bào đều đang run rẩy, cả ngôi nhà đều có nhịp điệu gấp gáp, đấy là tiếng gào thét không thành tiếng của Đào Chú! Khuôn mặt ông cuồn cuộn như giông bão, đôi mắt ông loé sáng như những tia chớp, tia sáng dọi vào người, nhưng vừa lóe lên đã tắt và trở nên sâu thẳm mờ ảo, tối đen nặng nề; trong chốc lát, lại bừng lên ngọn lửa màu xanh thép; khuôn mặt thôi co rúm, giống như có một ý chí cực mạnh chặn đứng luồng gió. Đức tin thiêng liêng và phẩm giá cao thượng vốn đã thấm sâu vào linh hồn, giờ đây đã làm cho toàn thân ông đầy ắp và nở to. Trong phút chốc ông giơ một tay lên, vung mạnh ra như một cơn lốc, hình như ông muốn quét sạch tất cả sự bàng hoàng không yên, đập tan mọi nỗi đau khổ và buồn thương... Một tiếng “bộp”, bàn tay Đào Chú đập mạnh vào tường, như tiếng sét nổ giữa đồng không. Người giám sát cũng kinh ngạc: trên tường vôi trắng, mồ hôi tay bết dính một mảng tường, để lại vết một bàn tay rõ rành rành. Từ đó, Đào Chú lặng im. Rất im, rất im. 22 giờ 15 phút ngày 30 tháng 11 năm 1969, ngọn lửa sống của Đào Chú nguội tắt, nhưng đôi mắt ông vẫn mở to, trong vẫn lóe sáng một ngọn lửa. Một y tá nhìn thấy, trong lòng cảm thấy đau xót, bước lên dùng tay vuốt nhẹ để đôi mắt ấy khép lại. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2010, 04:53:30 pm 5 Chu Ân Lai bảo Hồng vệ binh hãy giẫm lên thân xác mình Tướng quân thi sĩ buồn đau u uất xuống tuyền đài 1. Viết thư cho Mao Trạch Đông Lời của Trần Nghị trong cách mạng văn hóa: “Tôi tán thành cử tổ công tác. Trách nhiệm cử tổ công tác tôi gánh chịu. Anh hỏi tôi, tôi cũng không hiểu được sự việc ra làm sao! Nói thế nào thì làm thế nấy, quyết định do Chủ tịch nêu ra, có cách gì bây giờ! Còn lòng dạ đâu mà chơi cờ đây! Cứ tiếp tục loạn thế này, rồi sẽ như thế nào! Tạo phản cũng phải chú ý đến chính sách, cuồng loạn quá kết cục sẽ không ra gì. Tôi sẽ phải nói chuyện”. Từ tháng 3 năm 1967, Lâm Bưu và Giang Thanh xúi giục phái tạo phản công kích Trần Nghị, hàng loạt hàng loạt đại tự báo vu cáo, nói xấu Trần Nghị dán khắp đường phố. Chỗ nào cũng có thể thấy những tấm biểu ngữ lớn “Thiêu cháy Trần Nghị”, “Đả đảo Trần Nghị”. Cách mạng văn hóa vừa mới bắt đầu, khoảng từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1966, Trần Nghị đã nhiều lần nói chuyện đã phê bình thẳng thắn những hiện tượng không lành mạnh xuất hiện trong phong trào, dội mấy gáo nước lạnh lên đầu những người đang chìm đắm trong sự cuồng nhiệt của cách mạng văn hóa, điều đó không tránh khỏi làm phật lòng những người trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Họ hận đến tận xương tủy đối với những bài nói chuyện của Trần Nghị, họ ngấm ngầm xúi bẩy phái tạo phản công kích Trần Nghị. Vì thế, sau mỗi lần Trần Nghị nói chuyện đều xuất hiện rất nhiều đại tự báo, đại tự báo ra hết đợt này đến đợt khác, giọng điệu công kích không ngừng nâng cao, công kích trong lịch sử của Trần Nghị luôn luôn chống Mao Chủ tịch, chống đại cách mạng văn hóa của giai cấp vô sản, chấp hành đường lối phản động của giai cấp tư sản, bao che cho tổ công tác, trấn áp quần chúng cách mạng, đối chọi lại với Mao Chủ tịch v.v..., tội danh có thể nói là rất lớn! Vợ Trần Nghị và hai thư ký của ông luôn luôn nhắc nhở khuyên ông nói ít sẽ tốt. Rất nhiều người có lòng tốt cũng đã từng khuyên Thủ trưởng Trần Nghị không nên phát biểu nhiều nữa, để tránh... bị công kích nhiều hơn. Một hôm, sau khi triệu tập hội nghị những người phụ trách các đơn vị ngoại vụ xuất nhập khẩu, đồng chí Phương Nghị, Chủ nhiệm ủy ban liên lạc Kinh tế với nước ngoài nói với một thư ký của Trần Nghị: “Nhờ đồng chí nói lại với anh Trần, không nên phát biểu nhiều nữa. Anh Trần không thể đổ, anh Trần mà đổ, thì các đơn vị ngoại vụ xuất nhập khẩu sẽ như lưỡi dao sắc phạt bụi hành bụi hẹ, sẽ đổ rạp hết. Buổi sáng ngày 3 tháng 11 năm 1966, Mao Trạch Đông tiếp kiến Hồng vệ binh ở Quảng trường Thiên An Môn. Trần Nghị đứng trên lễ đài Thiên An Môn, chỉ vào tấm biểu ngữ “Đả đảo...” đảo ngược trong nước sông Ngọc Đới nói với Thứ trưởng Bộ Văn hóa Tiêu Vọng: “Anh xem, đấy chính là “đại cách mạng văn hóa!” Tiếng của Trần Nghị khi nói chuyện không to, nhưng ngưng kết lại trong lòng đầy sự phẫn nộ. Ông lại nói thêm: “Anh đã thấy rồi chứ, “Đại cách mạng văn hóa”, nói gọn lại một câu chính là đánh đổ cán bộ cũ!” Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2010, 04:54:22 pm Giữa tháng 12, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, dấy lên cao trào phê phán đấu tố cán bộ cũ, Bành Chân, La Thụy Khanh, Dương Thượng Côn cùng các đồng chí cũ bị phê phán, Bành Đức Hoài, Hạ Long bị bức hại. Đến ngày 4 tháng 1 năm 1967, đột nhiên Đào Chú cũng bị đánh đổ. Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh v.v... khi tiếp kiến “đội tạo phản chuyên bắt Vương Nhậm Trọng” của tỉnh Hồ Bắc đã nói rằng, Đào Chú đến Trung ương nhưng không chấp hành đường lối cách mạng vô sản do Mao Chủ tịch là đại biểu, là người chấp hành trung thực đường lối của Lưu, Đặng, còn nói Đào Chú độc đoán hống hách, rất nhiều vấn đề không những đi ngược lại Tổ cách mạng văn hóa Trung ương mà còn đi ngược lại với Trung ương, chỉ trích Đào Chú là “Phái bảo hoàng lớn nhất của Trung Quốc”. Tăng Chí phu nhân của Đào Chú sau khi nghe phong thanh đã đến nhà Trần Nghị, sau khi kể lại những tin tức nghe được, hỏi: “Anh Trần, việc này là thế nào?” Trần Nghị không biết âm mưu của bọn trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, khuyên Tăng Chí: “Ôi chị, chị yên tâm, cách làm như vậy của họ, không thể đánh đổ được anh Đào đâu, mấy hôm trước Chủ tịch còn che chở cho anh ấy mà!”. Trần Nghị sau một lúc trầm tư lại nói: “Trừ phi Chủ tịch thay đổi ý định!”. Chiều hôm ấy, Trần Nghị chuẩn bị thăm Đào Chú, khi qua phòng thư ký, thư ký nói với ông. Ngoài cửa Tây Trung Nam Hải có một phái tạo phản đang kêu gào đánh đổ Đào Chú, đã dán rất nhiều biểu ngữ lớn: “Đả đảo Đào Chú”, “Lôi Đào Chú ra”, họ nói Đào Chú là “Phái bảo hoàng lớn nhất Trung Quốc” là “người chấp hành trung thực đường lối của Lưu, Đặng”. Trần Nghị thấy thư ký nói như vậy chợt lo lắng, hoài nghi: “Chắc không phải! Mấy hôm trước tôi còn cùng anh ấy tiếp kiến phái tạo phản, tuy phái tạo phản làm khó dễ cho anh ấy, nhưng Đào Chú vẫn kiên trì nguyên tắc. Hôm qua tôi còn cùng họp với anh ấy cơ mà!” Lúc này, ngoài cửa Tây, tiếng gào thét: “Đả đảo Đào Chú” vẫn ầm ầm không ngớt, Trần Nghị ở Tứ viện Khánh Vân Đường, cách cửa Tây chỉ xa bằng tầm bắn của mũi tên, trong sân có thể nghe rõ mồn một tiếng hô khẩu hiệu ở bên ngoài. Trần Nghị đứng trong sân lắng nghe, quả nhiên là đang hô “Đả đảo Đào Chú”. Thế là ông lập tức gọi điện thoại hỏi Lý Phú Xuân: “Đả đảo Đào Chú” có phải là quyết định của Thường vụ Bộ Chính trị hay không?” Lý Phú Xuân đáp: “Thường vụ Bộ Chính trị chưa thảo luận, tôi cũng không biết là có chuyện gì?”. Trần Nghị gác máy, cảm thấy bối rối, phẫn nộ và khó hiểu. Ông nhíu mày, lồng ngực thở phập phồng, đứng như khúc gỗ trước cửa sổ, không nói một lời. Trương Xuyến đi tới thấy ông đứng ngây không nói năng gì, không kìm nổi hỏi: “Chẳng phải là ông muốn đi thăm đồng chí Đào Chú ư? Làm sao vẫn còn đứng ở đây?” Hình như Trần Nghị không nghe thấy, nên không có một phản ứng gì. Trương Xuyến không thể không đi tới kéo áo ông nói to: “Ông bảo là ông đi chơi, sao vẫn còn đứng ngây ra ở đây?” Trần Nghị như được đánh thức, quay đầu lại, với giọng buồn bực: “Đào Chú bị đánh đổ rồi! Bà nghe đi, ngoài cửa Tây vẫn đang hô khẩu hiệu đấy!” Trương Xuyến lắng nghe, bà ngẩn người, rồi hỏi: “Do Bộ Chính trị thảo luận quyết định phải không?”. Trần Nghị đáp: “Bộ Chính trị chưa thảo luận vấn đề phải đánh đổ ai. Vừa rồi tôi gọi điện thoại hỏi Lý Phú Xuân, Thường vụ Bộ Chính trị cũng chưa thảo luận, rõ ràng đây là do bọn trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương làm!”. “Sau khi Đào Chú về Trung ương làm việc, có thể thấy được sự bất đồng về quan điểm giữa anh ấy và bọn Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Trong mấy cuộc hội nghị, anh ấy không tán thành công khai phê phán Lưu, Đặng, trong một hội nghị gần đây, anh ấy cũng không chủ trương phê phán triệt để đường lối phản động tư sản, còn che chở cho một số đồng chí cũ. Mấy hôm trước, cũng tức là ngày 30 tháng 12, một bọn tạo phản từ Vũ Hán đến đòi bắt Vương Nhậm Trọng, Đào Chú đã tiếp kiến họ ở Hội trường nhỏ tại Quốc vụ viện, tỏ thái độ không đồng ý bắt, đã va chạm với nhau, phái tạo phản đã bao vây công kích Đào Chú, ngay tại chỗ có kẻ hô: “Đả đảo Đào Chú”. “Đào Chú là phái bảo hoàng lớn nhất Trung Quốc”, có kẻ bố trí định bắt Đào Chú đi. Lúc ấy tôi và Phú Xuân, Tiên Niệm, đang tiếp kiến một phái tạo phản ở một phòng họp khác, nghe thấy hội trường ở chỗ Đào Chú lộn xộn, sợ xảy ra chuyện gì, nên sau khi tiếp kiến xong không về mà ở lại để chuẩn bị bảo vệ Đào Chú. Thủ tướng cũng đặc biệt cử người báo cho mọi người biết là không nên về, cùng ở lại đợi Đào Chú. Phái tạo phản vây Đào Chú lâu đến 6 tiếng đồng hồ, mấy người bọn tôi vẫn đợi, cho đến 4 giờ 30 sáng mới về. Mấy hôm nay tôi biết tình cảnh của Đào Chú không hay nên nghĩ cách đến thăm anh ấy. Ai ngờ anh ấy đã bị đánh đổ rồi!”. Nói xong, tay phải ông đập mạnh xuống bàn, phẫn nộ: “Người thứ 4 trong Đảng, ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, lại là cố vấn của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, không thông qua tập thể Trung ương thảo luận tùy tiện nêu tên phê phán, rồi hô đánh đổ là đánh đổ, còn cái gì là kỷ luật của Đảng, luật pháp của nhà nước nữa?! Họ chỉ trích Đào Chú là chấp hành đường lối của Lưu, Đặng, thật là hoang đường. Đào Chú được điều lên làm việc sau khi Thường vụ Bộ Chính trị bầu lại, sau khi bầu lại, trên thực tế Lưu, Đặng, đã đứng ở bên lề, không có vấn đề đưa ra đường lối gì đó nữa, làm sao lại có thể nói anh ấy chấp hành đường lối của Lưu, Đặng được? Họ muốn phê phán Lưu, Đặng, Đào Chú không tán thành, liền bảo anh ấy là phái bảo hoàng, ngang nhiên gán tội, đánh đổ anh ấy. Bọn người này đang giở trò: kẻ thuận với ta thì sống, ngược với ta thì chết. Ôi,... Đảng của chúng ta! Để cho bọn mày thao túng rồi sẽ như thế nào đây!”. Trần Nghị cư xử lòng ngay dạ thẳng, những vẫn đề xuất hiện trong phong trào, phản đối hay xây dựng chưa bao giờ giấu giếm quan điểm, luôn luôn nói rõ ràng ý kiến của mình. Ông nói trong cuộc họp của Đảng và cũng nói trong các cuộc mít tinh của quần chúng. Đối với những hành động bỉ ổi làm điều ngang trái, gây chuyện rắc rối, tăng thêm rối loạn v.v... Trần Nghị dám đấu tranh một cách vô tư dũng cảm mặt đối mặt với bọn chúng trong Hội nghị Trung ương. Sự kiện nổi tiếng nhất chính là sự đối chọi tháng Hai và “đại náo Hòa Nhân Đường”. Cuộc đối chọi này đã làm cho Trần Nghị một con người thẳng thắn cương trực bẩm sinh, kiên trì chân lý rơi vào trong cái vận đen khó thoát ra được. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2010, 04:54:41 pm Ngày 6 tháng 2 năm 1967, Đại sứ Trung Quốc tại Pa-kit-xtan Chương Văn Tấn bị điều về nước, vừa xuống máy bay tại sân bay Bắc Kinh đã bị bắt đi đấu tố treo biển, làm kiểu phản lực, các phóng viên nước ngoài đã đưa tin gây ảnh hưởng rất xấu. Trần Nghị nghe được tin này rất tức giận, nắm chặt tay đấm xuống bàn: “Thật là liều lĩnh, làm như vậy không còn ra thể thống gì cả! Điều các đại sứ về nước tham gia đại cách mạng văn hóa, làm sao lại có thể vừa xuống máy bay đã bắt để đấu tố? Để cho phóng viên nước ngoài đưa tin, sau này bảo họ ra nước ngoài làm việc như thế nào?” Trần Nghị suy nghĩ một lúc rồi nói: “Không thể được, họ gây ra, phải đi gặp họ”. Cuộc đối chọi tháng Hai, là chỉ vào khoảng trước sau tháng 2 năm 1967, Trần Nghị và một loạt nhà cách mạng vô sản lão thành biểu thỉ sự không đồng tình mạnh mẽ đồng thời tiến hành đấu tranh gay gắt với những cách làm sai lầm của đại cách mạng văn hóa. Mao Trạch Đông nhẹ dạ tin theo cái gọi là báo cáo của Trương Xuân Kiều v.v..., phê bình một cách gay gắt các đồng chí cũ. Việc này không phải là chuyện nhỏ, 10 giờ 30 phút ngày 19 tháng 2, Lý Tiên Niệm đến nhà Trần Nghị, đồng thời cũng hẹn Đàm Chấn Lâm cùng đến. Lý Tiên Niệm với tâm trạng rất nặng nề kể lại bài phát biểu của Mao Trạch Đông tại Hội nghị Bộ Chính trị cho Trần Nghị và Đàm Chấn Lâm nghe. Mọi người đều cảm thấy sự việc xảy ra rất đột ngột, khẳng định là có kẻ bên trong gây chia rẽ, nhưng tình hình không rõ ràng, chẳng ai nói gì nhiều, Lý, Đàm lần lượt cáo từ ra về. Trần Nghị sau khi nghe tin Mao Trạch Đông phê bình gay gắt trong Hội nghị Bộ Chính trị cảm thấy vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Ông nghĩ, bài phát biểu trong Hội nghị ngày 16 tháng 2, ông chỉ nói mấy lời về những cán bộ cũ bị chỉnh, hoàn toàn không phủ định ý nghĩa của cuộc chỉnh phong ở Diên An. Bây giờ lại quy kết thành vấn đề đấu tranh về đường lối chính trị, thành vấn đề nguyên tắc, nếu không sớm nghĩ cách làm rõ chuyện thì sẽ gay go. 11 giờ 30 phút ngày 19, Trần Nghị gặp Chu Ân Lai nói rõ tình hình. Ngày 20 lại đi gặp Lý Phú Xuân để trao đổi ý kiến. Ngày 19, Trần Nghị viết cho Mao Trạch Đông một bức thư khẩn thiết yêu cầu được gặp mặt nói chuyện, hy vọng được nói rõ tình hình một cách trực tiếp. Từ năm 1927, Trần Nghị quen Mao Trạch Đông đến nay, tuy đã từng có hiểu lầm trong thời kỳ đầu nhưng sau sửa chữa, đã kiên định cùng Mao Trạch Đông làm cách mạng, bao nhiêu năm nay luôn luôn đối xử chân thành với nhau, sống chết không thay đổi với một tình nghĩa cách mạng sâu sắc. Trước đây, Trần Nghị có mấy lần gặp khó khăn, viết thư nhờ Mao Trạch Đông giúp, đều được Mao Trạch Đông ủng hộ. Trần Nghị và Mao Trạch Đông còn là bạn thơ, có sự thân mật riêng khá sâu, khi gặp thì trước tiên thường hay nói đến thơ và từ, rồi mới nói đến việc chính. Lần này, giống như lần trước, Trần Nghị cố lấy dũng khí viết cho Mao Trạch Đông một bức thư, yêu cầu được gặp mặt nói chuyện, hy vọng trực tiếp làm rõ sự thực. Sau khi gửi thư đi, ông dặn hai thư ký: “Nếu có thư trả lời, thì đưa ngay cho tôi, nếu có điện thoại thì bất kỳ lúc nào lập tức gọi tôi”. Đủ thấy Trần Nghị rất khẩn thiết mong chờ có cơ hội nói chuyện trực tiếp với Mao Trạch Đông. Nhưng đợi hai ba hôm liền mà không thấy trả lời. Trần Nghị với tâm trạng sốt ruột không thể chờ đợi được, nên đã viết bức thư thứ hai. Ước chừng hai ngày sau, Mao Trạch Đông gửi lại một bức thư, Trần Nghị nhìn thấy thư trả lời của Mao Trạch Đông, rất mừng, cho rằng có khả năng được nói chuyện trực tiếp, để nói rõ tình hình. Ông mở thư ra đọc, chỉ thấy mở đầu thư là một đoạn dài nói sự khó khăn trong việc sửa chữa những sai lầm đã mắc xưa nay, cuối cùng viết 8 chữ: “Gặp mặt có hẹn, yên tâm đừng vội”. Về sau, cho đến sau khi Lâm Bưu phản bội chạy trốn rơi máy bay chết trong “sự kiện 13 - 9” năm 1971, trong một cuộc hội nghị họp ngày 14 tháng 11 năm ấy, khi nói đến “dòng nước ngược tháng Hai”, Mao Trạch Đông đã nói: “Các vị tướng soái có tức giận, có kêu ca phàn nàn... cãi cọ một chút cũng có thể, cứ nói chuyện với tôi là được…” Nhưng sự thực là: Trần Nghị đã từng hai lần viết thư cho Mao Trạch Đông yêu cầu được nói chuyện trực tiếp, nhưng đều bị từ chối, Mao Trạch Đông không để cho ông có cơ hội nói chuyện trực tiếp! Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2010, 05:25:20 pm 2. Nhờ thư ký giúp đỡ Sau khi Mao Trạch Đông gửi thư từ chối gặp mặt nói chuyện, Trần Nghị biết là trong thời gian sắp tới muốn gặp mặt nói rõ tình hình là vô vọng, thế là ông đành chuẩn bị để chịu phê phán. Từ ngày 26 tháng 2 năm 1966, mấy ngày liền ông vùi đầu trong phòng làm việc viết kiểm điểm. Do tâm trạng không tốt, bản kiểm điểm viết rồi sửa, sửa rồi lại viết, mấy lần viết lại. Thư ký mỗi lần đưa trình công văn đều nhìn thấy trên bàn làm việc có không ít những bản thảo đã được sửa chữa. Một buổi sáng, Trần Nghị đến phòng thư ký gặp thư ký Đỗ Dị: “Anh Đỗ này, anh đến phòng làm việc của tôi một lát!”. Đúng lúc Trương Xuyến cũng vào. Trần Nghị huơ tay bảo Trương Xuyến đi. Ông nói: “Bà đi đi bây giờ không có việc cho bà!” Trương Xuyến đáp: “Ông tin anh Đỗ, không tin tôi hử?” “Tin với không tin cái gì, bây giờ không có việc cho bà, bà đi đi, bà đi đi”. Trương Xuyến không biết làm thế nào đành về phòng mình. Có thể nhận ra rằng, Trần Nghị tạm thời không muốn để Trương Xuyến biết việc này, để bà khỏi lo cho ông. Sau khi Trương Xuyến đi, Trần Nghị nói với Đỗ Dị: “Tôi làm hỏng việc nên phải viết kiểm điểm. Bản kiểm điểm này viết khó lắm! Viết mấy lần mà vẫn không rõ, sửa đi sửa lại, mà bản viết vẫn rất lộn xộn, anh giúp tôi chép lại, tranh thủ sớm gửi đi”. Ông nói tiếp: “Ôi, thật không ngờ, trong cuộc hội ý hôm ấy, tôi đã nói mấy câu vì những cán bộ cũ bị chỉnh, không biết họ báo cáo với Chủ tịch thế nào mà Chủ tịch bảo tôi là muốn xử lại án chỉnh phong ở Diên An, làm Chủ tịch nổi nóng, phê bình tôi gay gắt. Khi chỉnh phong ở Diên An, Khang Sinh và một số người đã chỉnh những cán bộ cũ là điều ai cũng thấy, tôi thuận miệng đưa ra mấy ví dụ, ai ngờ lại chạm vào dây thần kinh mẫn cảm của ông ta, đã gây ra chuyện tày đình như thế. Vì sao Trần Nghị tôi lại muốn xử lại án chỉnh phong ở Diên An cơ chứ? Quả thực là có mồm mà không cãi được, bịa đặt ra tội danh, khó nhất là viết kiểm điểm”. Đỗ Dị mấy ngày liền giúp ông chép lại bản kiểm điểm, Đỗ Dị chép rõ ràng, ông sửa, Đỗ Dị lại chép lại, ông lại sửa, chữa rồi chép lại, chép lại rồi sửa, làm đi làm lại mấy lần mới gửi lên Trung ương Đảng và Mao Trạch Đông. Sau khi bản kiểm điểm đưa lên, không thấy Trung ương có phản ứng gì. Tại cuộc họp phê bình sinh hoạt chính trị của Trung ương, Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt, Tạ Phú Trị v.v... xé cờ làm da hổ, bao vây công kích, phê phán đấu tố Trần Nghị cùng mấy vị phó thủ tướng và nguyên soái. Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt v.v... đã bóp méo sự thật, đảo ngược phải trái, thêu dệt tội danh, đẩy vấn đề lên đấu tranh về đường lối chính trị đến tột cùng, nói đây là sự kiện chống Đảng nghiêm trọng nhất từ Hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 11 đến nay; bảo họ rằng bảo vệ cán bộ cũ là bảo vệ một nhóm nhỏ phản bội, đặc vụ, phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, là muốn xử lại án cho những người đã bị đánh đổ, bảo họ là chống “đại cách mạng văn hóa” của giai cấp vô sản, nã pháo vào Bộ tư lệnh của giai cấp vô sản do Mao Chủ tịch đứng đầu, muốn khôi phục chủ nghĩa tư bản từ trên xuống dưới, muốn lật đổ nền chuyên chính vô sản... Ngày 14 tháng 3 năm 1967, khi cuộc họp phê bình sinh hoạt chính trị của Trung ương vẫn đang tiến hành, trên đường phố Bắc Kinh, 10 vạn người đã tổ chức diễu hành thị uy hô lớn khẩu hiệu phản kích lại “dòng nước ngược tháng Hai”. Sau đó, tổ chức tạo phản được Tổ cách mạng văn hóa Trung ương giật dây dán đầy đại tự báo, biểu ngữ lớn trong thành Bắc Kinh, “Nã pháo”, “đánh đổ”, “đập nát”, “rán mỡ”, “thiêu cháy”... tên của Trần Nghị bị gạch chéo, thậm chí viết ngược. Ngày 20 tháng 3, khi Tổ cách mạng văn hóa Trung ương duyệt phim “Mao Chủ tịch là mặt trời đỏ trong trái tim chúng ta” đã cắt bỏ cảnh có Trần Nghị, ngầm ra hiệu cho phái tạo phản đánh đổ Trần Nghị. Ngày 1 tháng 4, một số tổ chức tạo phản hô khẩu hiệu “Đả đảo Trần Nghị, giải phóng Ngoại vụ xuất nhập khẩu”. Ngày 13 tháng 4, Hội nghị Đại biểu Hồng vệ binh các trường Đại học chuyên nghiệp ở thủ đô, thành lập “Trạm liên lạc phê Trần”, ra tuyên ngôn, tuyên bố, phải phê phán triệt để Trần Nghị, không đạt mục đích quyết không thôi. Trung tuần tháng 4, một bộ phận phái tạo phản của Bộ Ngoại giao cũng hô khẩu hiệu “Đả đảo Trần Nghị”. Được sự ủng hộ của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, khẩu hiệu mà các phái tạo phản của Ngoại vụ và xuất nhập khẩu hô ngày càng leo thang, từ “phê phán”, “thiêu cháy” vốn có phát triển thành “nã pháo”, “đánh đổ”, sau này lại phát triển thành “Thề cùng Trần Nghị huyết chiến đến cùng”, “Trần Nghị không đầu hàng thì bắt hắn phải diệt vong” v.v... gồm toàn những khẩu hiệu cực đoan như thế. Phái tạo phản ở Bộ Ngoại giao, tìm trong lưu trữ, chép tư liệu, cắt xén lời văn, trích dẫn một số lời phát biểu, biên soạn thành “Tập tài liệu đen” gồm 70 vạn chữ, viết thành: “100 ví dụ về những lời đen tối của Trần Nghị”, “Tập ngôn luận “Ba hàng một diệt” của Trần Nghị”, “Giản lược lịch sử đen của Trần Nghị”, “Lịch sử tội ác của Trần Nghị”... Những cuốn sách bịa đặt vu cáo, bôi xấu công kích Trần Nghị, phát tán rùm beng trong xã hội, đại tự báo, biểu ngữ lớn công kích Trần Nghị, tranh biếm hoạ bôi xấu Trần Nghị được dán khắp các đơn vị trong hệ thống ngoại vụ và còn trương lên ở các đường phố Bắc Kinh. Thậm chí còn có người giả mạo làm con trai con gái của Trần Nghị rêu rao lừa bịp khắp cả nước. Một người tự nhận là Trần Tiểu Hổ mạo xưng là con trai Trần Nghị, một người tự xưng là Trần Tiểu Anh, mạo xưng là con gái Trần Nghị, đi nhiều nơi để lừa bịp, gây ra những chuyện thị phi rắc rối. Tháng 11 năm 1966, Trương Xuyến dẫn đầu đoàn đại biểu Hội hữu nghị Trung Quốc - Căm-pu-chia sang thăm Căm-pu-chia, có người đặt chuyện Trương Xuyến chạy sang Căm-pu-chia. Tóm lại họ không từ một thủ đoạn nào để bôi đen Trần Nghị. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2010, 05:26:10 pm 3. Mao Trạch Đông nói riêng với Trần Nghị: “Tôi che chở cho anh!” Sau cuộc chống đối tháng Hai bị phê bình không lâu Trần Nghị bị tước đoạt quyền lãnh đạo phong trào, nhưng do Chu Ân Lai sắp xếp, vẫn tham gia các hoạt động ngoại vụ và các hội nghị hữu quan của Trung ương, nhưng vẫn chưa có dịp nhìn thấy Mao Trạch Đông. Từ 3 giờ đến 5 giờ ngày 29 tháng 4 trăm 1967, Mao Trạch Đông mời Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Trần Nghị, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Đàm Chấn Lâm, Lý Tiên Niệm, Dư Thu Lý, Cốc Mục v.v... úên chỗ ở của ông để gặp mặt. Đây là lần gặp mặt đầu tiên giữa Mao Trạch Đông và Tràn Nghị từ tháng 2 sau khi Mao Trạch đông trả lời thư của Trần Nghị có câu “Gặp nhau có hẹn, yên tâm đừng vội” đến nay. Lần gặp mặt này ở nhà Mao Trạch Đông. Chu Ân Lai khéo léo lợi dụng cơ hội hiếm có này, thảo ra danh sách tham gia hoạt động chào mừng Quốc tế Lao động 1 tháng 5 ở Thủ đô bao gồm các đồng chí cũ bị phê phán như Trần Nghị, Đàm Chấn Lâm v.v... đưa trình Mao Trạch Đông phê chuẩn. Lúc ấy, một số cán bộ lãnh đạo cao cấp có tham gia các hoạt động quan trọng hay không, tên tuổi có được đăng báo hay không đều có nghĩa là có vấn đề bị “đánh đổ” hay không. Mao Trạch Đông đã phê chuẩn danh sách này, để các đồng chí cũ lên Thiên An Môn cùng nhân dân thủ đô vui ngày lễ, từ đó có thể thấy được là Mao Trạch Đông tuy đã phê bình những đồng chí cũ, nhưng không phải là muốn đánh đổ tất cả bọn họ. Sau hơn một tháng, tức là ngày 24 tháng 6, Trần Nghị cùng Mao Trạch Đông tiếp kiến lưu học sinh Công-gô (Lê-ô-pôn-vin), trở về ông nói với Đỗ Dị: “Hôm nay sau khi tiếp kiến, Mao Chủ tịch lại kéo tôi đến cùng chụp ảnh và nói với tôi: “Tôi che chở cho anh”. Đây là lần thứ hai Mao Chủ tịch nói những lời như thế”. Đỗ Dị nói: “Chủ tịch nói với thủ trưởng người khác lại không nghe tiếng, liệu có tác dụng không?” Trần Nghị lắc đầu: “Vậy thì phải xem Chủ tịch hành động thế nào”. Trong đại cách mạng văn hóa, đối với số lớn cán bộ cũ, Mao Trạch Đông vừa chỉnh vừa che chở, thường phải xem tình hình phát triển mà định. Tháng 10 năm 1980, Đặng Tiểu Bình trong bài khởi thảo “Về Nghị quyết một số vấn đề lịch sử từ khi dựng nước đến nay”, có một đoạn rất sâu sắc: “Trong đại cách mạng văn hóa, đồng chí Mao Trạch Đông cũng không phải là muốn chỉnh đổ hết những cán bộ cũ. Như đối với đồng chí Hạ Long, ngay lúc mới bắt đầu Lâm Bưu đã muốn chỉnh, đồng chí Mao Trạch Đông thực sự là muốn che chở. Tuy ai không nghe lời ông, thì ông muốn chỉnh cho một trận, nhưng chỉnh đến mức độ nào, thì ông vẫn có suy nghĩ. Còn về sau càng chỉnh càng ghê gớm thì không thể nói là ông không có trách nhiệm, có điều cũng không thể do một mình cá nhân ông chịu trách nhiệm. Có một số là do Lâm Bưu “bọn bốn tên” đã tạo ra thành việc đã rồi, có một số đã làm lén lút sau lưng ông. Nhưng dù thế nào, hàng loạt cán bộ bị đánh đổ, không thể không coi đó là một bi kịch lớn nhất của đồng chí Mao Trạch Đông lúc cuối đời”. Hai lần Mao Trạch Đông nói riêng với Trần Nghị, “Tôi che chở cho anh”. Điều đó chứng tỏ sự lượng thứ của Mao Trạch Đông đối với các đồng chí cũ như Trần Nghị... Mao Trạch Đông vốn hy vọng Trần Nghị ủng hộ đại cách mạng văn hóa do ông phát động, nhưng khi Trần Nghị không hoàn toàn ủng hộ đối với phong trào thậm chí còn phê bình thì Mao Trạch Đông cho rằng Trần Nghị đã cản trở cho việc bố trí chiến lược của ông, nên không nhịn được phải chỉnh cho ông một trận, nhưng lại không tán thành chỉnh đổ ông hoàn toàn. Mao Trạch Đông bảo muốn che chở Trần Nghị, nhưng trong tình hình phong trào cần tăng nhiệt, lại không muốn công khai nói là muốn che chở, như thế sẽ làm cho tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, Giang Thanh có dịp để lợi dụng, họ liền chỉnh Trần Nghị một cách trắng trợn. Họ đánh đổ Trần Nghị một cách ầm ĩ, mục đích là ở chỗ cướp toàn bộ quyền ngoại giao. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2010, 05:26:30 pm Sau lễ 1 tháng 5, tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, Giang Thanh dấy lên cơn gió “bắt Trần”, phái tạo phản tuần hành thị uy trước Thiên An Môn, xông vào Bộ Ngoại giao, gây sức ép với Thủ tướng Chu Ân Lai, yêu cầu giao nộp Trần Nghị. Đối mặt với sự tấn công của phái tạo phản, Chu Ân Lai chẳng quản đến bản thân bị công kích và bị trách móc, đã đứng ra chặn lại làn sóng điên cuồng mưu đồ đòi bắt Trần Nghị của phái tạo phản. Chu Ân Lai và Trần Nghị từ lâu trong thời kỳ vừa học vừa làm khi lưu học tại Pháp đã là bạn tốt cùng sát cánh chiến đấu. Tháng 6 năm 1921, để phản đối việc bí mật vay tiền của chính phủ Bắc Dương bản quyền xây dựng đường sá cho nước Pháp, các ông đã cùng nhau phát động và lãnh đạo phong trào yêu nước của học sinh du học tại Pháp. Sau này trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, các ông đã xây dựng nên tình bạn sâu nặng. Trong phong trào đại cách mạng văn hóa vô sản, mỗi khi Trần Nghị bị tấn công, để duy trì công tác ngoại giao và bảo vệ Trần Nghị, Chu Ân Lai luôn luôn đứng ra kiên trì làm công tác với phái tạo phản. Chu Ân Lai đã không chỉ một lần nói với phái tạo phản: “Tôi và đồng chí Trần Nghị đã sống với nhau mấy chục năm, cùng làm ngoại giao, luôn luôn cùng báo cáo công tác với Chủ tịch, tôi hiểu đồng chí ấy, đồng chí ấy không giấu giếm quan điểm của mình, cũng không biết nói những lời dối trá. Đồng chí ấy đã nói rất nhiều với các anh, muốn các anh rút ra bài học, cũng hoàn toàn xuất phát từ ý tốt, cũng là vì muốn giúp các anh. Nhưng vì thời gian, địa điểm không thích hợp, những điều mà các anh muốn nghe không phải là những điều ấy, nên đã coi một số điều mà đồng chí ấy nói là “lời đen tối””. Ngày 11 tháng 5, sau khi xảy ra sự kiện tuần hành “bắt Trần” ở trước Thiên An Môn, ngay tối ngày 11 rạng ngày 12, Chu Ân Lai đã tiếp kiến đại biểu của các tổ chức phái tạo phản “Trạm liên lạc phê phán Trần Nghị”, “Đoàn tạo phản cờ đỏ” của Học viện Ngoại ngữ, “16 tháng 6” và “Tỉnh Cương Sơn” v.v... phê bình gay gắt một loạt hành vi cực đoan của họ, chỉ rõ việc phái tạo phản ở Bộ Ngoại giao dẫn đầu tuần hành thị uy, muốn bắt đồng chí Trần Nghị, việc này đối với Đảng và Nhà nước đều bất lợi, tôi kiên quyết không thể đồng ý. Ông nói rõ với phái tạo phản: “Trung ương không đồng ý, khẩu hiệu “đánh đổ Trần Nghị” không thể áp đặt cho Trung ương, cũng không thể áp đặt cho tôi. Đồng chí Trần Nghị là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, đồng chí ấy vẫn chưa bị bãi quan, vẫn đang tham gia hoạt động ngoại vụ, không thể dùng biện pháp bắt người. Có sai lầm có thể phê phán nhưng bắt người thì không được”. Đối với việc phái tạo phản chỉ trích Trần Nghị là “phần tử ba chống” (chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống tư tưởng Mao Trạch Đông), Chu Ân Lai kiên quyết phản đối cách chụp mũ bừa này, khuyên họ không nên có thiên kiến đối với Trần Nghị, chuyên moi móc những chỗ sơ hở. Phái tạo phản yêu cầu giao Trần Nghị cho “Trạm liên lạc phê Trần”, Chu Ân Lai nghiêm khắc bác bỏ, còn về việc tổ chức mít tinh “Phê phán Trần Nghị”, Chu Ân Lai nhiều lần nói rõ điều kiện để tổ chức phê phán lúc ấy còn chưa chín muồi, còn phải chờ có thêm điều kiện, rồi sẽ sắp xếp cụ thể. Trải qua cuộc tranh luận lâu dài, Chu Ân Lai và phái tạo phản đã đi đến một thoả thuận: Thứ nhất, Hội nghị phê phán Trần Nghị phải chờ sắp xếp xong rồi sẽ tổ chức; Thứ hai, Họp hội nghị nhỏ ở Bộ Ngoại giao trước, sau đó sẽ đến Học viện Ngoại ngữ và các đơn vị khác để tiếp thu phê bình. Năm ấy, một số phái tạo phản có sự ủng hộ của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, “kẻ giật dây” đằng sau nên không sợ ai, muốn làm gì thì làm. Thủ tướng Chu Ân Lai cùng với phái tạo phản đã bàn bạc đi đến thỏa thuận, nhưng họ phớt lờ. Sau hai ngày, lại có phái tạo phản xông vào Bộ Ngoại giao bắt Trần Nghị. Sáng sớm ngày 15 tháng 5, Chu Ân Lai lại khẩn cấp tiếp đại biểu phái tạo phản của Bộ Ngoại giao và hệ thống ngoại vụ, cảnh cáo họ xông vào Bộ Ngoại giao là sai lầm nghiêm trọng, đồng thời tuyên bố: Sẽ đưa bộ đội đến bảo vệ an toàn của Bộ Ngoại giao từ nay về sau, không ai được xông vào nữa, bất kể là phái nào, ai xông vào sẽ bắt giữ người đó! Do thái độ kiên quyết của Chu Ân Lai, kiên trì ý kiến phải đợi sắp xếp xong rồi mới họp mít tinh phê phán, làn sóng điên cuồng bắt đầu Trần Nghị mới được ngăn chặn lại. Mùa hè năm ấy Lâm Bưu, Trần Bá Đạt, Giang Thanh và đồng bọn thò bàn tay đen đến hệ thống ngoại giao và ngoại vụ, đưa ra kế hoạch hành động “Tháng 7 dao động, tháng 8 đại loạn, tháng 9 cướp quyền”, chĩa mũi nhọn vào Trần Nghị, cơn gió yêu quái đánh đổ Trần Nghị thổi ngày càng dữ. Các phái tạo phản của hệ thống ngoại giao và ngoại vụ dựa vào ý đồ của một bọn trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, cao giọng đòi “phê Trần”, “bắt Trần”, “đánh đổ Trần Nghị”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2010, 05:27:14 pm 4. Các anh hãy giẫm lên người tôi mà đi Với sự xúi giục và cổ vũ của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, làn sóng hung dữ phê phán Trần Nghị không ngừng leo thang, đến đầu tháng 4 năm 1967, quyền lãnh đạo của Trần Nghị đối với phong trào đại cách mạng văn hóa ở hệ thống Ngoại giao và ngoại vụ đã bị tước đoạt, không để ông can dự vào phong trào của hệ thống Ngoại giao và ngoại vụ nữa. Trần nghị không thể can dự vào những công việc của phong trào, tất nhiên cũng sẽ không có quyền phát biểu công khai. Sau khi bị phê phán trong Hội nghị sinh hoạt chính trị Trung ương, sân nhà ông vắng vẻ, xe cộ ra vào thưa thớt, chẳng có ai đến thăm nhà, mà cũng chẳng dễ dàng đi thăm ai. Trần Nghị có suy nghĩ riêng của mình về rất nhiều vấn đề xuất hiện trong phong trào, nhưng không có chỗ nào để mà nói, cho nên tâm trạng bị dồn nén. May sao được Thủ tướng Chu Ân Lai bố trí sắp xếp, ông vẫn có thể tham gia một số hoạt động của Quốc vụ viện và một số hoạt động đối ngoại, còn có dịp gặp Thủ tướng Chu Ân Lai nói ý kiến của mình. Nhưng tình cảnh của Thủ tướng Chu Ân Lai lúc ấy cũng vô cùng khó khăn, cơ hội gặp mặt nói chuyện cũng không nhiều. Trần Nghị cảm thấy rất khó chịu vì phải nín nhịn, có lúc đến phòng trực ban của thư ký nói dăm ba câu chuyện. Những năm tháng ấy, sự sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông đã đạt tới đỉnh cao nhất. Trước ngực mọi người đều đeo huy hiệu Mao Chủ tịch, mọi nơi mọi lúc phải đọc thuộc những lời trích của Mao Chủ tịch, thậm chí gọi điện thoại, đi mua đồ ở cửa hàng trước tiên cũng phải đọc thuộc một câu trích lời Mao Chủ tịch, còn buổi sáng xin ý kiến, buổi chiều báo cáo, ngày nào cũng đọc và nhảy điệu chữ trung (gồm chữ trung ở trên chữ tâm ở dưới, nghĩa là trung thành và hết lòng - N. D ) v. v... và v. v... Trên đầu các tờ báo hằng ngày, cũng đều phải chọn đăng lời trích của Mao Chủ tịch. Viết bài, nói chuyện đều phải dẫn lời trích. Nhất là những cuộc mít tinh phê phán, với tư cách là người bị phê phán thường bị bức phải đọc thuộc lời trích, có lúc còn bị bức phải đọc thuộc “ba bài cũ” (tức “Lão tam thiên” gồm “Vì nhân dân phục vụ”, “Kỷ niệm Bê-tun” và “Ngu Công dời núi” - N.D). Trần Nghị trước sau chủ trương học tập tác phẩm của Mao Trạch Đông chủ yếu là lĩnh hội thực chất tinh thần, không chủ trương học thuộc như vẹt. Lúc này, để ứng phó với cuộc phê phán, tránh lúng túng khó xử ngay tại chỗ, ở nhà ông cũng thử đọc thuộc lời trích, đọc thuộc “Lão tam thiên”. Nhưng người đã gần cổ lai hy nên không nhớ được, tuy đã đọc đi đọc lại, cũng chỉ có thể nhớ một số ít đoạn lời trích, toàn văn của “Lão tam thiên” không sao thuộc được. Trần Nghị nói với mấy nhân viên làm việc bên cạnh: “Bảo tôi nói tinh thần của bài văn thì tôi có thể nói, còn có thể phát huy nó, nếu bảo tôi đọc thuộc từng câu quả thực là không sao nhớ được, khi phê phán e rằng lại mắc thêm một tội nữa”. Có thể dễ dàng nhận thấy, trong tình hình như vậy, tâm trạng của Trần Nghị vô cùng nặng nề, do đó thường xuyên cảm thấy chóng mặt khó chịu, đã nhiều lần phải đi đến bệnh viện kiểm tra chạy chữa, theo lời dặn của bác sĩ ông phải ở nhà nghỉ ngơi. Chiều ngày 7 tháng 8, cuộc phê phán quy mô nhỏ được tổ chức, người tham gia chỉ hạn chế trong phái tạo phản của Bộ Ngoại giao, trong Hội trường có khoảng hơn một trăm người. Họ để cho Trần Nghị ngồi nghe phê phán, cũng rót cho Trần Nghị một cốc nước trà. Chiều ngày 11 tháng 8, tổ chức một cuộc phê phán lớn tại Đại lễ đường Nhân dân. Sau khi phát biểu phê phán, tiếng hô khẩu hiệu “Đả đảo Trần Nghị” vang lên không ngớt, không khí vô cùng căng thẳng. Cuộc phê phán bắt đầu không lâu, mấy phần tử cực tả của “tổ chức 16 tháng 6” Học viện Ngoại ngữ ngồi ở mấy hàng đầu tầng 1, mấy lần định xông lên bục chủ tịch bắt Trần Nghị, nhưng bị các chiến sĩ cảnh vệ tay nắm tay ngồi ở hai hàng đầu ngăn lại. Một lúc sau, mấy phần tử của tổ chức 16 tháng 6 nhân lúc các chiến sĩ cảnh vệ không đề phòng, đột ngột xông lên bục túm chặt lấy cổ áo của Trần Nghị, định đánh ông. Thư ký và các chiến sĩ cảnh vệ của ông lập tức chạy lên phía trước, kéo tay bọn tạo phản, vây quanh Trần Nghị, khi các chiến sĩ bảo vệ đưa ông vào hậu trường thì phát hiện thấy một vết xước rớm máu ở cổ khi bị túm áo. Chiều ngày 26 tháng 8, tổ chức một cuộc phê phán nhỏ đối với Trần Nghị ở Bộ Ngoại giao, Hội nghị vừa bắt đầu được mấy chục phút, nhóm tạo phản của Học viện Ngoại ngữ gồm mấy trăm người đã xông vào Bộ Ngoại giao, định bắt người. Sau khi biết tin, Chu Ân Lai lập tức thông báo cho khu Vệ Thú Bắc Kinh cử người đến bảo vệ. Đồng thời phái vệ sĩ trưởng của ông là Thành Nguyên Công đến hiện trường trợ giúp, Chu Ân Lai gọi điện thoại yêu cầu Trần Bá Đạt đứng ra ngăn chặn cuộc tấn công. Trần Bá Đạt là kẻ đầu têu, tuy bằng lòng gọi điện thoại, nhưng thực tế không muốn ngăn chặn cuộc tấn công. Chu Ân Lai đành đích thân gọi điện cho mấy người cầm đầu phái tạo phản ở Bộ Ngoại giao đòi anh ta phải chịu tránh nhiệm bảo vệ sự an toàn cho Trần Nghị và chịu trách nhiệm đưa Trần Nghị an toàn trở về Trung Nam Hải. Trần Nghị và thư ký Thạch Quốc Bảo, cảnh vệ Cung Hằng Chinh được sự yểm hộ của nhân viên công tác bảo vệ của Bộ Ngoại giao, phải trốn vào một phòng rửa mặt ở tầng 1, bị vây trong năm sáu tiếng đồng hồ. Cuối cùng được sự yểm hộ của các chiến sĩ cảnh vệ, từ cửa sau của Bộ Ngoại giao lên xe hơi của khu Vệ Thú rời Bộ Ngoại giao an toàn, 8 giờ tối mới về đến Trung Nam Hải. Phái tạo phản tìm người ở tất cả các phòng làm việc của Bộ Ngoại giao, họ tìm không thấy người nên đã đâm thủng bánh xe hơi của Trần Nghị đang đỗ trước nhà làm việc. Phái tạo phản xông bừa vào các phòng trong lầu Bộ Ngoại giao, gào thét ầm ĩ cho đến sẩm tối mới bỏ đi. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2010, 05:27:38 pm Ngay tối ngày 26, Chu Ân Lai gặp ngay đại biểu của phái tạo phản để nói chuyện, phê bình gay gắt hành động sai lầm xông vào Bộ Ngoại giao để bắt người của họ. Đại biểu của phái tạo phản Học viện Ngoại ngữ và “Trạm liên lạc tạo phản” của Bộ Ngoại giao, nêu ra những yêu cầu vô lý, yêu cầu mở lại hội nghị phê phán, phải mở rộng phạm vi phê phán. Họ dùng chiến thuật làm mệt mỏi, bao vây công kích tàn nhẫn độc ác đối với Chu Ân Lai. Sự gây rối vô lý rất lâu của phái tạo phản quấy rầy nhiều lần, đã làm cho Chu Ân Lai cảm thấy tim bị ngầm ngầm đau, sau khi bác sĩ đã cho ông uống thuốc hai lần vẫn không thấy thuyên giảm. Bác sĩ bảo vệ sức khỏe của Chu Ân Lai đã từng viết thư cho tên cầm đầu phái tạo phản về tình hình bệnh tim của Chu Ân Lai, nhưng họ phớt lờ! Làm cho Chu Ân Lai liên tục trong 18 tiếng đồng hồ không được nghỉ ngơi. Cuối cùng, Chu Ân Lai rất tức giận nói với phái tạo phản. “Các anh dùng chiến thuật luân phiên đã 18 tiếng đồng hồ làm tôi không được nghỉ ngơi một phút nào. Sức khỏe của tôi không thể chịu đựng được nữa”. Bác sĩ bảo vệ sức khỏe của Chu Ân Lai cũng không thể nhịn được, lớn tiếng cảnh cáo tên cầm đầu phái tạo phản: “Nếu hôm nay Thủ tướng xảy ra chuyện bất trắc thì các anh sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn!” Nói xong, anh ta dìu Chu Ân Lai rời khỏi hội trường. Lúc này, phái tạo phản còn rêu rao là phải chặn xe của Trần Nghị và phải xông vào Đại lễ đường Nhân dân để bắt Trần Nghị. Chu Ân Lai vô cùng phản nộ cảnh cáo: “Ai chặn đồng chí Trần Nghị trên đường, thì tôi sẽ đứng ở cửa Đại lễ đường Nhân dân, để các anh giẫm lên người tôi mà đi”. Ngày 27 tháng 8, tổ chức cuộc phê phán lớn lần thứ hai, đây là việc được xác định sau cuộc nói chuyện trong một thời gian dài giữa Chu Ân Lại và phái tạo phản vào tối ngày 26. Khi kết thúc cuộc nói chuyện thì đã là rạng sáng ngày 27, Chu Ân Lai tính đến sự an toàn của Trần Nghị, để tránh gặp rắc rối trên đường, sau khi kết thúc cuộc nói chuyện, lập tức ông gọi điện báo cho Trần Nghị là 4 giờ 30 phút sáng ngày 27 phải đến Đại lễ đường Nhân dân để đợi họp. Suốt cả một ngày Trần Nghị sống ở Đại lễ đường Nhân dân, cho đến 11 giờ đêm mới họp. Vì hôm trước liên tục mười mấy tiếng nói chuyện với phái tạo phản căng thẳng mệt mỏi quá mức nên bệnh tim của Chu Ân Lai tái phát, không thể tham gia cuộc phê phán này. Để phòng ngừa xảy ra vấn đề, ông đặc biệt giao cho ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Lý Phú Xuân thay ông tham gia. Cuộc phê phán kéo dài ba tiếng, đến 2 giờ sáng ngày 28 mới kết thúc. Ngày 3 tháng 9, tại Đại lễ đường Nhân dân có cuộc phê phán quy mô vừa. Ngày 7 tháng 9, lại có cuộc phê phán nhỏ ở Bộ Ngoại giao. Ngày 18 tháng 9, lại có cuộc phê phán quy mô vừa ở Đại lễ đường Nhân dân. Trong hơn 40 ngày của hai tháng 8 và 9, đã có 8 cuộc phê phán, trong đó có một lần bị xua tan. Do sự sắp xếp và bảo vệ chu đáo của Chu Ân Lai, Trần Nghị tuy đã từng gặp phải “nguy hiểm” bị tấn công, bắt bớ nhưng vẫn đảm bảo được an toàn về thân thể. Trần Nghị là người bị phê phán nhiều lần nhất trong các Phó Thủ tướng. Trong mấy cuộc phê phán lớn và vừa, Trần Nghị đều đứng nghe phê phán, mỗi lần đứng là mấy tiếng đồng hồ. Không chỉ có thế, trong hội trường tiếng hô khẩu hiệu đinh tai nhức óc hết đợt này đến đợt khác của phái tạo phản, lại luôn luôn có người hét toáng lên những lời thô lỗ, “Hãy dỏng tai của mi lên mà nghe đây”, “cúi đầu nhận tội”, sỉ nhục nhân cách đối với Trần Nghị. Ai có thể tin, xưa kia vị nguyên soái của nước Cộng hòa đã từng thống lĩnh hàng trăm vạn đại quân, xông tới chiến trường uy danh làm kẻ địch phải run sợ, vị Bộ trưởng Ngoại giao của nước Trung Hoa mới hét ra lửa, đàng hoàng chững chạc nổi tiếng trong ngoài trên vũ đài ngoại giao, đã bị lăng nhục như vậy trong cuộc đại cách mạng văn hóa, chuyện chưa từng có tiền lệ trong lịch sử này. Trần Nghị chỉ vì chiếu cố đến toàn cục, mới tuân theo sự sắp xếp của Chu Ân Lai, lấy tinh thần “làm trâu ngựa cho đứa trẻ thơ”, nhẫn nại đứng nghe sự phê phán như thế. Mỗi một cuộc phê phán, đều làm cho Trần Nghị kiệt sức, mệt mỏi vô cùng. Trong thời gian có những cuộc phê phán, Trần Nghị bị giày vò, chà đạp đến cực độ cả về tinh thần lẫn thể xác. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khoá 8, cuộc đời ngoại giao của Trần Nghị bị buộc phải kết thúc. Chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao tuy không bị bãi miễn, nhưng ông đã không còn quyền tham gia hoạt động đối ngoại. Tháng 2 năm 1969, theo đề nghị của Chu Ân Lai được Trung ương phê chuẩn, Trần Nghị được đưa đến “nằm vùng” ở xưởng Cơ giới Đầu máy toa xe Nam Khẩu. Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 9 họp từ ngày 23 tháng 8 đến ngày 6 tháng 9 năm 1970, tại Lư Sơn, Trần Nghị đã tham gia. Trong hội nghị lần này, Trần Nghị được phân vào tổ Hoa Bắc, vốn cho rằng không chia vào tổ Hoa Đông là để tránh bọn Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên bới móc lỗi lầm, công kích, không ngờ rằng mây gió khôn lường, vận đen khó tránh, trong hội nghị này Trần Nghị vẫn bị phê phán. Trong hội nghị toàn thể lần thứ 2 khóa 9, bọn Lâm Bưu, Trần Bá Đạt dùng thủ đoạn tập kích bất ngờ, dấy lên cơn bão táp với thế “Nổ tan núi Lư Sơn, làm trái đất ngừng quay”, Trần Nghị lại bị cuốn vào mà không hay biết gì, tự nhiên vô cớ bị gắn vào một tội danh “Hai người họ Trần ăn cánh”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2010, 05:28:23 pm 5. Từ không cho chữa trị đến không có cách gì chữa được Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khoá 9, Trần Nghị về Thạch Gia Trang, vì vùng bụng ngày càng tăng những cơn đau âm ỉ, huyết áp cũng tăng, được Chu Ân Lai phê chuẩn cho về Bắc Kinh, nằm viện kiểm tra điều trị, nhưng vì một lý do nào đó nên không thể sắp xếp kịp thời vào nằm viện. Oan khuất còn khó chịu hơn là bị đánh. Trong Hội nghị Lư Sơn ông chịu nỗi oan lớn, sự đả kích về tinh thần đối với ông là khá trầm trọng, mà sự đả kích trầm trọng về tinh thần lại làm cho bệnh tình thêm nặng. Mục đích của “bọn bốn tên” đã đạt, cuối cùng Trần Nghị bị ức chế mà thành bệnh. Bệnh được phát hiện từ sớm, vì phải đi họp Hội nghị Lư Sơn, lại bị Hoàng Vĩnh Thắng ngăn cản một cách vô lý kéo dài mãi đến ngày 20 tháng 10 năm 1970, ông mới được đưa về Bắc Kinh khám bệnh. Nhiều lần bị làm khó dễ, bị thoái thác hết lần này đến lần khác. Những năm cuối đời của Trần Nghị quả là chông gai khắp lối, số phận đầy trắc trở! Ông viết báo cáo gửi Trung ương và Thủ tướng yêu cầu được về Bắc Kinh chữa bệnh, được Thủ tướng phê chuẩn, đồng ý cho Trần Nghị về Bắc Kinh nằm viện. Nhưng Bệnh viện 301 tạm thời không còn giường trống, nên khó có thể sắp xếp vào viện, cần phải đợi mấy ngày nữa mới vào viện được. Lúc ấy không ai rõ vì sao không để Trần Nghị sớm nằm viện. Về sau mới biết, ở nhà phía Nam có 5 giường không có bệnh nhân, nhưng vì Hoàng Vĩnh Thắng đang nằm viện không muốn Trần Nghị vào viện nên Bệnh viện không dám nhận vào điều trị. Sau khi vào viện, Trần Nghị nói với bác sĩ, gần đây bụng bị đau, chóng mặt, huyết áp cao, sút cân nhanh v.v… yêu cầu được kiểm tra toàn diện. Nhưng người phụ trách bệnh viện lại nói với bác sĩ rằng: Đối với Trần Nghị chỉ điều trị huyết áp và khám thông thường. Ngoài ra còn gây sức ép với bác sĩ, y tá, nhân viên, nhắc đi nhắc lại rằng Trần Nghị là tay tướng đen của “dòng nước ngược tháng hai”, là “hai người họ Trần ăn cánh” trong Hội nghị Lư Sơn, phải phân rõ ranh giới tư tưởng với ông ta, nhấn mạnh đó là vấn đề lập trường giai cấp. Những năm tháng lấy “đấu tranh giai cấp” làm giềng mối ấy, cứ nhắc đến vấn đề lập trường giai cấp, là làm cho người ta sợ run, bác sĩ, y tá sợ đến mức không dám tiếp xúc nhiều với Trần Nghị. Thử hỏi, bệnh nhân vào bệnh viện kiểm tra, bác sĩ không thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân thì làm sao có thể phát hiện bệnh trạng của bệnh nhân? Trong thời gian Trần Nghị nằm viện, theo lệ thường tiến hành kiểm tra sức khỏe, tuy cũng có chiếu chụp, nhưng không có hội chẩn của các chuyên gia, kết quả là không tìm ra bệnh gì, nằm viện 56 ngày, bác sĩ nói với Trương Xuyến, kiểm tra sức khỏe của Trần Nghị không có vấn đề gì lớn, có thể ra viện. Ngày 22 tháng 12, Trần Nghị ra viện. Sau khi về nhà Trần Nghị vẫn thấy đau âm ỉ ở vùng bụng, bụng trướng lên, nóng ran, đi ngoài nhiều lần nhưng phân ít. Vì thế lại phải nhiều lần đến Bệnh viện 301 khám, ông cũng đã từng đến khám tại phòng khám Trung Nam Hải, các bác sĩ đều chẩn đoán là Trần Nghị bị bệnh đường ruột, chỉ cấp một số thuốc đường ruột. Thời gian kéo dài mà bệnh không thuyên giảm. Trương Xuyến và thư ký đề nghị được hội chẩn ở Bệnh viện 301. Sau khi được Trần Nghị đồng ý, lịch hội chẩn được xác định vào sáng ngày 16 nháng 1 năm 1971. Sáng ngày 16, Trần Nghị đến bệnh viện, ông không ngờ bệnh tình của mình lại nặng đến mức phải mổ nhưng ông vẫn lạc quan nói với các thư ký: “Các cậu chuẩn bị ăn một bữa thịt cừu”. Ngay chiều hôm ấy, Trần Nghị được đưa vào phòng mổ, vốn cho rằng chỉ mổ ruột thừa, một phẫu thuật nhỏ, nhưng khi mổ ổ bụng mới phát hiện là bị ung thư kết tràng. Khối u kẹp chặt ruột làm chất thải không ra được tạo nên một bọc phân lớn. Viện trưởng Ngô được sự ủy thác của Chu Ân Lai, chữa trị cho Trần Nghị cảm thấy vinh dự nhưng cũng cảm thấy trách nhiệm nặng nề, đã quyết tâm chữa cho Trần Nghị. Trước tiên ông kiểm tra bệnh án của Trần Nghị ở Bệnh viện 301, phát hiện thấy trang đầu ghi “Hai năm thể trạng giảm 20 kg”, đây là triệu chứng quan trọng về bệnh ung thư, nhưng không tìm thấy một trang nào ghi chép về các cuộc hội chẩn của chuyên gia, Viện trưởng Ngô vô cùng kinh ngạc, phẫn nộ thở dài: Bệnh của Trần Nghị đã bị chậm mất rồi! Ông nhẩm tính, chậm 81 ngày! Viện trưởng Ngô nhẩm tính “chậm 81 ngày” là chỉ tính từ ngày 26 tháng 10, Trần Nghị vào Bệnh viện 301, nằm viện 56 ngày cộng với 26 ngày về nhà. Thực ra, việc chậm chữa trị đâu chỉ có 81 ngày. Lúc ấy tế bào ung thư đã ăn lan rất nghiêm trọng, ngoài những nốt phồng trên da, nội tạng đã bị tổn thương nghiêm trọng, đau đớn vô cùng, nhưng ông vẫn dùng nghị lực khiến người ta không thể tưởng tượng nổi để chịu đau không một tiếng rên. Sau khi ông qua đời phẫu thuật tử thi mới biết trong ổ bụng của ông đã rữa nát và bốc lên mùi thối. Những nhân viên bệnh viện đã tham gia chăm sóc ông vô cùng xúc động, bệnh ung thư giai đoạn cuối thường có những cơn đau khủng khiếp khó mà chịu nổi, nhưng Trần Nghị có thể chịu đựng những cơn đau, chưa bao giờ kêu đau, chưa bao giờ rên rỉ, một nghị lực kiên cường như thế quả thực là hiếm. Ngày 19 tháng 12, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh sau khi vào Bệnh viện thăm, trở về ông viết bài thơ: “Anh Nghị bị ốm, có mấy vần thơ an ủi anh” trong đó có hai câu: … “Vẫn tin có thể xoay trời đất, Mà đường phía trước lắm gian nan”. Đáng tiếc chưa xoay chuyển được trời đất thì Trần Nghị đã ra đi. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 12:55:33 am Chương II ÔN THẦN QUỶ DỮ 1 Trần Bá Đạt theo Lâm Bưu, đầm đìa nước mắt Đặt cọc hai thứ quý Khang Sinh là rắn hổ mang 1. Nhà lý luận hàng đầu của Trung Quốc Lúc mới về Bắc Kinh, ngoài rất nhiều nhân viên làm việc ở bên cạnh ra, Mao Trạch Đông còn có 4 thư ký chính thức, mọi người gọi là “bốn đại thư ký”, tức Trần Bá Đạt, Hồ Kiều Mộc, Điền Gia Anh và Diệp Tử Long. Vì Học viện Mác - Lênin (sau đổi thành Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc) đặt ở phía Di Hòa Viên ngoại ô phía tây Bắc Kinh, Trần Bá Đạt là Phó Viện trưởng nên cũng ở đấy. Di Hòa Viên và Trung Nam Hải cách nhau rất xa, mỗi lần Mao Trạch Đông gọi điện cho Trần Bá Đạt đến thì phải nửa tiếng sau xe hơi của Trần Bá Đạt mới tới được Trung Nam Hải. “Đồng chí dọn đến Trung Nam Hải mà ở!” Mao Trạch Đông bảo Trần Bá Đạt. Thế là, Trần Bá Đạt dọn đến trung tâm chính trị của Trung Quốc. Trần Bá Đạt vốn có tên là Trần Thượng Hữu, sinh năm 1905 ở huyện Huệ An, tỉnh Phúc Kiến. Từ đời cụ ông ta đến đời ông ta là bốn đời môn đệ thư hương. Trần Bá Đạt văn luôn phủ nhận sự xuất thân như vậy. Ông ta tự nhận là bần nông, gia đình phá sản. Vào khoảng năm 17 tuổi, Trần Bá Đạt giống như những người làm công bình thường hiện nay, kiếm ăn ở Huệ An, Tấn Giang, Hạ Môn và Thượng Hải. Phải nói rằng, từ thời niên thiếu ông ta đã là người có chí hướng và có dã tâm, nhưng trở thành nhân vật quan trọng trong chính trường Trung Quốc thì e rằng lúc đầu ông ta không nghĩ đến. Từ năm 1922 đến năm 1924, Trần Bá Đạt làm biên tập tại tòa báo Giáo dục đại chúng (Thông tục giáo dục xã) ở Hạ Môn, bước đầu tỏ rõ “năng lực viết lách” của mình. Trong một dịp ngẫu nhiên, ông ta kết nghĩa anh em với Trần Văn Tổng sau này là kẻ phản cách mạng và Lâm Thiệu Bình kẻ buôn bán phát tài lớn. Mùa xuân năm 1925, gia nhập Quốc dân Đảng, cùng năm ấy đến Hạ Môn tham gia tổ chức Hội học thuật chủ nghĩa Tôn Văn. Sau đó đến học tại trường Đại học Lao Động Thượng Hải, có hứng thú với Đảng Cộng sản, xin theo học thầy Đặng Trung Hạ và Cù Thu Bạch. Từ năm 1926 đến tháng 4 năm 1927, ông ta giữ chức vụ Thư ký Đảng bộ ở thành phố Sán Đầu của Quốc dân Đảng Trung Quốc, sau theo bọn quân phiệt Trương Trinh, làm thiếu tá thư ký. Năm 1927, ông ta giấu lý lịch gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, mùa đông năm ấy, ông ta học ở Đại học Trung Sơn Mạc Tư Khoa. Trong thời gian học ở Mạc Tư Khoa, vì tham gia vào cái gọi là tổ chức của phe cánh tơ-rốt-kít, nên đến năm 1930 bị đưa về nước. Năm 1931, Trần Bá Đạt làm giáo sư trường Đại học Trung Quốc ở Bắc Bình (Bắc Kinh - N.D), giảng về triết học của Chư tử thời Tiên Tân. Ít lâu sau bị bắt ở Thiên Tân. Năm 1932, tự thú nên được ra tù. Năm sau lại tham gia cánh tơ-rốt-kít và cũng tham gia hoạt động của ủy ban hỏa tuyến của quân đồng minh chống Nhật ở Sát Tuy và trở thành một người chống Nhật. Năm 1937, Trần Bá Đạt đến đất thánh cách mạng Diên An. Vì ông ta đã học đại học, nên trong đội ngũ cách mạng mà lực lượng chủ chốt là nông dân lúc bấy giờ, được coi là một “tú tài” thật, do đó ông ta trở thành thư ký chính trị của Mao Trạch Đông, ông ta có dịp gần gũi Mao Trạch Đông và cũng có dịp để ông ta thi thố tài năng viết lách của mình, nó cũng đặt cơ sở tốt cho việc thăng tiến của ông ta sau này. Năm 1945, trong Đại hội Đảng toàn quốc khóa 7, ông ta được bầu làm ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng. Trong những năm 50, công việc chủ yếu của Trần Bá Đạt là khởi thảo văn kiện cho Mao Trạch Đông, làm công việc viết văn. Tháng 5 năm 1950, ủy ban Xuất bản Tuyển tập Mao Trạch Đông của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập, Trần Bá Đạt, Điền Gia Anh, Hồ Kiều Mộc tham gia biên tập, với tư cách là thành viên chủ yếu biên tập “Tuyển tập Mao Trạch Đông”, làm cho Trần Bá Đạt có dịp đọc một cách hệ thống những trước tác của Mao Trạch Đông. Ông ta đã nắm chắc cơ hội này, nắm trong tay ngọn cờ tuyên truyền tư tưởng Mao Trạch Đông. Nước Trung Hoa mới ra đời, Mao Trạch Đông trở thành lãnh tụ của nhân dân Trung Quốc được cả thế giới công nhận. Đối với Trần Bá Đạt mà nói, việc nắm chắc ngọn cờ tuyên truyền tư tưởng Mao Trạch Đông đã khiến ông ta trở thành “nhà lý luận” có thể đếm trên đầu ngón tay của Trung Quốc. Tháng 7 năm 1951, Nhà xuất bản Nhân dân đã xuất bản cuốn sách “Bàn về tư tưởng Mao Trạch Đông - Sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và cách mạng Trung Quốc”. Sau đó, Trần Bá Đạt lại công bố một số cuốn sách tuyên truyền tư tưởng Mao Trạch Đông. Việc xuất bản những tác phẩm này đã khiến cho Trần Bá Đạt nghiễm nhiên trở thành nhà lý luận hàng đầu của Trung Quốc trong ấn tượng của dân chúng cả nước. Tháng 9 năm 1956, trong Đại hội Đảng khoá 8, Trần Bá Đạt được bầu làm ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị, trong thứ tự xếp hàng từ vị trí thứ 47 ở khoá 7 “tiến lên” vị trí thứ 21. Nhưng công việc chủ yếu của ông ta vẫn là đảm nhiệm thư ký chính trị của Mao Trạch Đông. Ngày 25 tháng 5 năng 1958, Trần Bá Đạt, người vẫn đảm nhiệm chức “phó” cuối cùng đã được bổ nhiệm một chức vụ chính thức: Tổng biên tập tạp chí “Hồng kỳ”, cơ quan báo chí của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tạp chí “Hồng kỳ” lúc mới thành lập ảnh hưởng không lớn lắm. Nhưng trong cuộc đại luận chiến giữa hai đảng Trung Quốc và Liên Xô tiếp sau đó, rất nhiều luận văn lấy danh nghĩa Ban biên tập “Nhân dân nhật báo” và Ban biên tập tạp chí “Hồng kỳ” được phát biểu, đã làm cho Tạp chí “Hồng kỳ” được trong và ngoài nước chú ý. Bước vào Cách mạng văn hóa, tạp chí “Hồng kỳ” càng trở thành người phát ngôn của Trung ương, gánh vác sứ mệnh quan trọng truyền đạt chỉ thị mới tối cao của Mao Trạch Đông, ánh hưởng sâu sắc hơn đến hai tờ báo “Nhân dân nhật báo” và “Giải phóng quân báo”. Năm 1958 là năm tháng của “công xã nhân dân”, “đại nhảy vọt”, “đường lối chung”, “ba ngọn cờ hồng” bay lượn trên khắp đất nước Trung Quốc rộng lớn, cuộn dâng lên trào lưu dữ dội “tả”. Trần Bá Đạt luôn là người giỏi xét đoán tâm trạng của Mao Trạch Đông cũng lộ ra cái mặt “tả” của mình. Nhưng, lần này lại bị Mao Trạch Đông phê phán thậm tệ. Trong Hội nghị Trịnh Châu tháng 11 năm 1958, Mao Trạch Đông với thái độ nghiêm khắc, đã phê phán một cách sắc bén: “Đồng chí Trần Bá Đạt đã viết một bản kiến nghị, nội dung kiến nghị của đồng chí ấy là gì?” Mao Trạch Đông quen với khẩu khí vừa hỏi vừa tự trả lời: “Đồng chí ấy kiến nghị với tôi xoá bỏ sản xuất hàng hoá, xoá bỏ thương nghiệp, phủ định tác dụng của tiền tệ, xoá bỏ tiền tệ, đó là phủ định quy luật giá trị”. Lời nói của Mao Trạch Đông làm cả Hội trường xôn xao. Trần Bá Đạt vốn muốn dùng “cao kiến” của mình để giành danh vọng, kết quả bị quật lấm lưng. Lúc ấy, công cuộc xây dựng của Trung Quốc đang ở trong giai đoạn dò dẫm, những ý kiến có tính chất xây dựng không bị ai chỉ trích. Đây vốn là điều làm cho Trần Bá Đạt có thể rút ra bài học, nhưng ông ta hồ như không từ bỏ tính toán lợi dụng lý luận mà ông ta có trong tay để giành quyền lực, ông ta không muốn làm một “nhà lý luận” thuần túy. Nguyên là, số nhà lý luận trong Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc ấy không nhiều, nếu Trần Bá Đạt chuyên tâm nghiên cứu lý luận, có lẽ sẽ có được thành tựu. Nhưng con người có dã tâm điển hình này, không quên được “Hoàng kim ốc” và “Nhan như ngọc” (Nhà bằng vàng và Mặt như ngọc) trong sách. Mục đích cuối cùng của ông ta vẫn là trông chờ vào việc mượn sách vở để tìm đường làm quan, ông ta nhiệt tâm với sự tranh giành ở chốn quan trường, từ lâu đã vượt quá hứng thú của ông ta đối với sách vở. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 12:56:17 am 2. Bản lĩnh giữ nhà của một tiểu dân Xưa nay Trần Bá Đạt luôn tỏ ra là người khiêm tốn, luôn mồm nói là “học trò nhỏ”, là “giáo viên”, không phải là “thủ trưởng”. Nhất là trước mặt Mao Trạch Đông thì thái độ cực kỳ khiêm tốn. Đối với cấp dưới, ông ta cũng không nhe nanh múa vuốt. Nhưng ông ta như một thầy phù thủy kỳ quái, làm cho anh không biết đằng nào mà lần. Chỉ có những người làm việc lâu năm bên cạnh mới có thể dần dần nhìn ra được sự xảo quyệt trong cư xử của ông ta. Ví dụ, điều mà ông ta quan tâm nhất là nắm cho được động thái của Mao Trạch Đông, một câu nói, một ý kiến, một động tác, ông ta đều rất chú ý, ông ta luôn suy đoán tâm tư của Mao Trạch Đông, tìm mọi cách đón ý hùa theo Mao Trạch Đông. Nhìn hướng gió, dò khí hậu là bàn lĩnh của ông ta. Điền Gia Anh không ưa những thói ấy của ông ta, quan hệ với ông ta căng thẳng. Diêu Lạc có qua lại với Điền Gia Anh, Trần Bá Đạt ngay lập tức rất mẫn cảm, hoài nghi Điền Gia Anh có phải là đang lén lút giở trò với ông ta hay không. Ông ta nói với Diêu Lạc: “Có người phản ánh anh đang lén lút giở trò với “Ông chủ” của anh!” Những văn kiện mà ông ta khởi thảo cho Mao Trạch Đông, sau khi đã được quyết định, ông ta thường xé bỏ những bản có bút tích của mình. Diêu Lạc lấy làm lạ, vì những bản thảo này phải được lưu giữ, nhưng ông ta chỉ xé bỏ mà không có bất cứ giải thích gì (theo người khác giải thích, đó là do Trần Bá Đạt sợ sau này Mao Trạch Đông nhìn thấy những bản thảo này sẽ có những điều bất tiện. Vì sau giải phóng, Mao Trạch Đông bận, có một số bài viết được công bố dưới danh nghĩa của Mao Trạch Đông nhưng là do Trần Bá Đạt khởi thảo. Tâm địa của Trần Bá Đạt nhiều, chỗ nào cũng đề phòng, tránh những chuyện rắc rối thị phi). Những người ở bên cạnh Khang Sinh, người nào cũng được Khang Sinh đề bạt, giữ các chức vụ quan trọng. Trần Bá Đạt lại không làm thế, đấy không phải là nói ông ta không nhiệt tình gây dựng thế lực của mình. Ông ta có quan điểm riêng, sợ những người ở bên cạnh mình ai cũng kéo lên địa vị cao rất dễ đập vào mắt và dễ liên lụy đến ông ta, sẽ gây phiền phức cho ông ta, điều này nhất trí với việc ông ta luôn nói mình là “giáo viên”, trong cách mạng văn hóa thì luôn rêu rao mình là “tiểu dân”. Đằng sau sự “khiêm tốn”, ông ta đã bỏ ra nhiều công sức và thời gian. Ông ta và Khang Sinh mỗi người có “bài võ” riêng. Đại đa số người miền Bắc đều cho rằng người miền Nam giỏi và cũng thích chơi “nội tâm”. Núi sông linh hoạt kỳ ảo của miền Nam, thực sự đã nuôi dưỡng nên sự tháo vát của Trần Bá Đạt, cái lịch sử sống lâu trên “giang hồ” đã nuôi dưỡng nên cái bản lĩnh giỏi nắm vững bản thân của ông ta. Đêm trước của cuộc đại cách mạng văn hóa, Trần Bá Đạt giống như một tên thương nhân thận trọng trong từng vụ buôn bán để giữ vốn. Năm 1962, Trần Bá Đạt từ đứng ra tiến cử mình như Mao Toại (thời Chiến Quốc - N.D) chủ động giúp Lưu Thiếu Kỳ sửa chữa “Bàn về sự tu dưỡng của người đảng viên cộng sản”, sau đó trên tạp chí “Hồng kỳ” do ông ta làm chủ biên đã đăng toàn văn, đồng thời lại xuất bản thành sách, nhưng ít lâu sau, lại là ông ta đứng ra phê phán lên án cuốn sách này sai lầm về tính chất nguyên tắc chính trị. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 12:57:11 am 3. Thầy đồ đưa mắt nịnh Giang Thanh Mặc dù Trần Bá Đạt chuyển hướng nhanh, nhưng số phận của Lưu Thiếu Kỳ v.v... hết sức nguy ngập. Trần Bá Đạt lại ở vào tình cảnh rất bất lợi. Xét cho cùng ông ta là người giỏi nhìn thời cuộc và lựa theo thời cuộc. Lúc này thế lực của Giang Thanh lớn mạnh lại đem đến cho ông ta thời cơ. Ngày 10 tháng 11 năm 1965, “Văn hối báo” ở Thượng Hải đăng bài “Hải Thuỵ bãi quan” của Diêu Văn Nguyên nhưng Bắc Kinh lại im hơi lặng tiếng, điều này đã làm cho Trần Bá Đạt thấy hứng thú. Ông ta đi đi lại lại trong căn phòng đóng kín cửa, cùng với hai văn nhân mà ông ta thích là Quan Phong và Thích Bản Vũ phân tích tình hình lúc ấy. Ít lâu sau, Vương Lực một tú tài trong nhóm viết bài của Bành Chân và Đặng Thác, người viết tiểu thuyết “Trời hửng” trong thời kỳ chống Nhật cũng gia nhập hàng ngũ này. Vương Lực sang tai cho Trần Bá Đạt và một số người tin tức gần đây Bành Chân gặp Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình nghiên cứu vấn đề học thuật hiện nay. Từ đó Trần Bá Đạt đã mẫn cảm nhận thấy một cuộc đấu tranh chính trị sẽ được phát động dưới danh nghĩa học thuật sắp nổ ra. Lần này ông ta đã rút ra bài học, cân nhắc chu đáo. Sau khi nhận định chính xác không sai lầm, đã đem tình hình mà Vương Lực nói, kể lại nguyên xi với Giang Thanh. “Hay lắm! Ông đồ! Tình hình mà ông nói quan trọng lắm... tiếp tục tìm hiểu tình hình, cho tôi biết vào bất kỳ lúc nào”, Giang Thanh đắc ý nói. Giang Thanh đang cần những cây bút lão luyện như vậy; những người này lại không có chủ kiến gì, chỉ là bọn bồi bút. Giang Thanh cùng Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên sắp xếp, Trần Bá Đạt vui vẻ lĩnh mệnh nhập bọn. Ngày 2 tháng 4 năm 1966, bài “Thực chất phản động của Hải Thụy chửi Hoàng đế và Hải Thụy bãi quan” do Thích Bản Vũ viết được đồng thời đăng trên hai tờ “Nhân dân nhật báo” và “Quang Minh nhật báo”, Đây là bài viết gào thét ủng hộ bài “Bình vở kịch lịch sử mới viết Hải Thuỷ bãi quan”. Trong bài viết này Trần Bá Đạt cũng tham gia sửa chữa, ông ta đã dùng khẩu khí của một bức chiến thư, sát khí đằng đằng tuyên bố: Bài viết của Diêu Văn Nguyên đã vén lên bức màn của một cuộc đại luận chiến không thể tránh khỏi. Từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 4 năm 1966, theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị, trong hội nghị này, Mao Trạch Đông đề nghị Trần Bá Đạt và Khang Sinh phụ trách khởi thảo một “thông báo”, đó là “Thông báo của ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc” – “Thông báo ngày 16 tháng 5” được chính thức thông qua tại Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ngày 16 tháng 5. Cũng chính trong Hội nghị này. Trần Bá Đạt và Khang Sinh cùng tố cáo và phê phán cái gọi là “một loạt sai lầm” về mặt đường lối chính trị mà Bành Chân mắc phải trong thời kỳ từ cách mạng dân chủ đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào các đồng chí lãnh đạo trong Bộ Chính trị kiên trì nguyên tắc cách mạng. Trần Bá Đạt đã đạt được mục đích của mình. Trong Hội nghị này đã chính thức bãi bỏ về mặt tổ chức đối với “Tổ đại cách mạng văn hóa 5 người” do Bành Chân đứng đầu cùng cơ cấu làm việc của nó, xác định việc lập lại Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, trực thuộc Thường vụ Bộ Chính trị do Trần Bá Đạt làm tổ trưởng, cố vấn là Khang Sinh, tổ phó thứ nhất là Giang Thanh và tổ phó Trương Xuân Kiều v.v... Nếu nói rằng trước đó Trần Bá Đạt chỉ chuẩn bị lý luận cho đại cách mạng văn hóa, thì bây giờ ông ta đã tham gia vào thực tiễn này. Ngày 2 tháng 6 năm 1966, “Nhân dân nhật báo” do Trần Bá Đạt nắm đã đăng bài đại tự báo của Nhiếp Nguyên Tử, đồng thời cũng đăng bài của người bình luận “Hoan hô một bài đại tự báo của Bắc Đại” do ông ta nặn ra. Tuyên bố Ban lãnh đạo của Trường Đại học Bắc Kinh kiên trì sự lãnh đạo đúng đắn lúc bấy giờ là “Tập đoàn chống Đảng”, kích động giáo viên và học sinh kiên quyết đấu tranh với họ. Trần Bá Đạt còn lợi dụng công cụ dư luận mà ông ta nắm nêu ra khẩu hiệu “Quét sạch tất cả bọn đầu trâu mặt ngựa” v.v... Kích động đông đảo cán bộ và quần chúng tiến hành bức hại và trấn áp đối với những người lãnh đạo và quần chúng kiên trì nguyên tắc cách mạng. Cả nước bắt đầu náo loạn. Tháng 7, Trần Bá Đạt cử người đến thăm tên cầm đầu Khoái Đại Phú đang bị giam ở Đại học Thanh Hoa, bày tỏ sự ủng hộ đối với việc chống lại tổ công tác của anh ta. Sau đó lại cùng Giang Thanh lấy danh nghĩa là điều tra tình hình phong trào đại cách mạng văn hóa nhiều lần đến Đại học Bắc Kinh, Đại học Sư phạm Bắc Kinh v.v... để tổ chức các cuộc phê phán, bãi bỏ tổ công tác kêu gọi học sinh “bỏ mặc các “Bà bảo mẫu” tự mình giải phóng mình, đá bật Đảng ủy để làm cách mạng”. Ngày 18 tháng 8, Trần Bá Đạt chủ trì “Cuộc mít tinh chào mừng đại cách mạng văn hóa” có quy mô lớn ở Quảng trường Thiên An Môn. Trong lời khai mạc, ông ta đã đội cho Mao Trạch Đông ba hàm tước “Lãnh tụ vĩ đại, người thày vĩ đại, người cầm lái vĩ đại”. Tiếp đó là phát biểu của Lâm Bưu: “Cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản này có vị tư lệnh tối cao là Mao Chủ tịch của chúng ta, Mao Chủ tịch là thống soái”. Từ đó về sau, mọi người khi nói đến Mao Trạch Đông, cần phải thêm 4 phó từ “Lãnh tụ vĩ đại, người thầy vĩ đại, thống soái vĩ đại, người cầm lái vĩ đại”. Một xu thế xấu của phong trào tạo dựng thần tượng và sùng bái cá nhân dâng cao. Trần Bá Đạt và Lâm Bưu đều có dụng tâm xấu, có thể nói là đã phối hợp ăn ý với nhau, họ có một điểm chung là đầy ắp dã tâm, sau này họ trở thành một bọn cũng không có gì là lạ. Ngày 26 tháng 11 năm 1966, lần thứ 8 cũng là lần cuối cùng tiếp kiến Hồng vệ binh từ khắp cả nước đến. Từ cuộc tiếp kiến Hồng vệ binh tại quảng trường Thiên An Môn lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 8 năm 1966 đến nay, trong hơn 3 tháng, Mao Trạch Đông đã tiếp kiến 11 triệu Hồng vệ binh. Giang Thanh đã đứng vững trên vũ đài chính trị Trung Quốc nhưng cũng muốn công khai làm nổi bật mình. Bà ta có thể “tiếp kiến” ai đây? Bà ta tự khoe là người cầm cờ dũng cảm của giới văn nghệ vô sản, muốn “tiếp kiến” “đại quân văn nghệ” của bà ta. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 12:57:47 am Ngày 28 tháng 11 năm 1966, giới văn nghệ thủ đô đã tổ chức một cuộc mít tinh long trọng. Giang Thanh bước lên lễ đài, Trần Bá Đạt cũng dẫn các tú tài của “Tổ cách mạng văn hóa Trung ương” tới dự. Trong cuộc mít tinh, Giang Thanh đã phát biểu một bài diễn văn dài. Bài phát biểu này là bài thứ hai sau bài “Kỷ yếu cuộc toạ đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”. Bài phát biểu này được công khai đăng trên “Nhân dân nhật báo” và tạp chí “Hồng kỳ” và trở thành “văn kiện học tập”, hơn nữa còn được thu thập vào cuốn “Tuyển những bài phát biểu của đồng chí Giang Thanh” do Nhà xuất bản Nhân dân xuất bản vào tháng 2 năm 1968. Đây là lần đầu tiên Giang Thanh đăng đàn công khai làm nổi bật mình (những bài phát biểu cao hứng trước quần chúng trước đây của bà ta chỉ được in rô-nê-ô rồi phát theo kiểu phát truyền đơn mà thôi), bài phát biểu của bà ta được công bố trong nước và ngoài nước, cho nên sau khi “gửi lời chào cách mạng của giai cấp vô sản tới các đồng chí trong giới văn nghệ, các bạn bè, và các tiểu tướng Hồng vệ binh, bà ta liền: “Xin được nói về quá trình nhận thức của mình đối với cuộc đại cách mạng văn hoá vô sản”. Giang Thanh kể lể từ “do bị ốm, bác sĩ kiến nghị yêu cầu tôi sống cuộc sống văn hóa”, đến việc phát hiện những vở kịch có khuynh hướng chính trị phản động nghiêm trọng trong “Hải Thụy bãi quan”, “Lý Tuệ Nương” v.v... đến giành được “quyền phê bình”. Sau khi nói lòng vòng về “quá trình nhận thức”, Giang Thanh nói đến “cách mạng văn hóa”. Bà ta nhắc đến Trần Bá Đạt: “Ngày 1 tháng 6, sau khi bài đại tự báo mác-xít - lê-nin-nít đầu tiên của Đại học Bắc Kinh được công bố, tôi để ra một tháng để quan sát tình hình, phân tích tình thế. Tôi cảm thấy đã xuất hiện những hiện tượng không bình thường. Một tháng nay, tôi chú ý nhiều đến trường học... Ngày 18 tháng 7, Mao Chủ tịch về đến Bắc Kinh, tôi về Bắc Kinh vào ngày 20 tháng 7. Đáng lẽ phải nghỉ mấy ngày, nhưng nghe ý kiến của đồng chí Trần Bá Đạt, đồng chí Khang Sinh và của các đồng chí trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương ở Bắc Kinh, nên tôi đã báo cáo với Mao Chủ tịch, cảm thấy cần phải lập tức cùng đồng chí Trần Bá Đạt và đồng chí Khang Sinh đi xem đại tự báo, lắng nghe ý kiến của các thầy giáo và học sinh cách mạng. Sự thực hoàn toàn trái ngược với những người kiên trì đường lối phản động tư sản, kiên trì cử tổ công tác đã nói, đông đảo quần chúng nhiệt liệt chào đón chúng tôi, chúng tôi mới biết được rằng cái gọi là sự kiện “ngày 18 tháng 6” ở Đại học Bắc Kinh hoàn toàn là một sự kiện cách mạng!... Tiếp đó, Giang Thanh khoác lác mà không biết ngượng về những “thành tích vĩ đại” của “cuộc cách mạng Kinh kịch”. Bà ta nói, Mao Chủ tịch và đồng chí Lâm Bưu người bạn chiến đấu thân thiết của Người cùng đồng chí Trần Bá Đạt, đồng chí Khang Sinh và rất nhiều đồng chí khác “đều khẳng định thành tích của chúng ta, đã ủng hộ và cổ vũ to lớn cho chúng ta!”. Trong cuộc mít tinh này, Trần Bá Đạt lại một lần nữa ủng hộ và cổ vũ mạnh mẽ cho Giang Thanh. Trong phát biểu của mình, Trần Bá Đạt đã ca ngợi Giang Thanh là đã có những “cống hiến đặc biệt”. Nguyên lời phát biểu như sau: Cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản ở nước ta, lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam. Đồng chí Mao Trạch Đông đã phát triển một cách sáng tạo lý luận văn nghệ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, dùng vũ trụ quan của giai cấp vô sản, để giải quyết một cách hệ thống và triệt để các vấn đề trên mặt trận văn nghệ của chúng ta, đồng thời, mở ra cho chúng ta một con đường hoàn toàn mới của cuộc cách mạng văn hóa vô sản. Năm 1962, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8, Mao Chủ tịch đã đề xuất phải nắm chắc cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực hình thái ý thức. Với lời kêu gọi vĩ đại này của Mao Chủ tịch, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tư tưởng Mao Trạch Đông, đã dấy lên cao trào cách mạng cải cách Kinh kịch, cải cách múa ba-lê, cải cách nhạc giao hưởng v.v... với mục đích lấy xưa phục vụ nay, lấy của nước ngoài phục vụ cho Trung Quốc, bỏ cái cũ tạo ra cái mới. Dùng hình thức Kinh kịch v.v... để biểu đạt sử thi đấu tranh anh dũng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản Trung Quốc. Sự sáng tạo mới này đã đem lại sức sống mới cho Kinh kịch, múa ba-lê, nhạc giao hưởng v.v... Không những nội dung hoàn toàn mới, mà về hình thức cũng có những sự đổi mới rất lớn, diện mạo đã thay đổi. Kịch hiện đại cách mạng, xuất hiện trên khắp các sân khấu của chúng ta. Nền văn nghệ mới của giai cấp vô sản này đã thu hút đông đảo quần chúng. Nhưng, bọn phản động, những phần tử xét lại phản cách mạng chửi bới, căm ghét nó. Không vì cái gì khác, mà chính là vì tác dụng của nền văn nghệ mới này, sẽ tăng cường rất nhiều sự giác ngộ chính trị của quần chúng nhân dân nước ta, sẽ tăng cường hơn nữa nền chuyên chính vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Phát biểu của Trần Bá Đạt, đã làm rộ lên tiếng hô khẩu hiệu “Học tập đồng chí Giang Thanh”, “Xin chào đồng chí Giang Thanh” trong một thời gian dài. Sự “tán tụng” của “nhà lý luận” đã làm rạng rỡ hình ảnh của Giang Thanh. Sau đó, Trần Bá Đạt vẫn thỉnh thoảng tâng bốc Giang Thanh. Ngày 23 tháng 5 năm 1967, trong cuộc mít tinh kỷ niệm 25 ngày công bố “Bài nói chuyện trong cuộc tọa đàm văn nghệ ở Diên An” của Mao Trạch Đông tại Thủ đô Bắc Kinh, Trần Bá Đạt đã tâng bốc Giang Thanh là người “đánh trận đầu”. Đồng chí Giang Thanh luôn luôn kiên trì và bảo vệ đường lối cách mạng trong văn nghệ của Mao Chủ tịch. Đồng chí là người đánh trận đầu. Mấy năm nay, đồng chí đã cố gắng rất nhiều, đã tạo nên một loạt mẫu cách mạng trên các phương diện kịch, âm nhạc, múa, đã đuổi được bọn đầu trâu mặt ngựa ra khỏi vũ đài, đã dựng nên được những hình tượng anh hùng của quần chúng công nông binh. Rất nhiều người làm công tác văn nghệ, dưới sự dẫn dắt của tư tưởng Mao Trạch Đông, cùng với đồng chí Giang Thanh, trở thành những người vượt mọi chông gai trong cuộc cách mạng văn nghệ. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 12:58:37 am 4. Giang Thanh và “Lưu Bồn Tử” không thành thật Trần Bá Đạt “sốt sắng” dựng Giang Thanh, bợ đỡ Giang Thanh, lấy lòng Giang Thanh như thế, thực ra cũng chỉ là để giữ cái ghế Tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương của ông ta. Giang Thanh đã nắm thực quyền, nói một là một nói hai là hai trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Tất nhiên là Giang Thanh rất cảm ơn “lý luận gia” đã tán dương mình, có điều là trong con mắt của người đàn bà kiêu ngạo và ngang ngược thì “thầy đồ già” Trần Bá Đạt chỉ là một lão “hủ nho” mà thôi. Khang Sinh khinh thường Trần Bá Đạt, mắng ông ta là “Viện trưởng” “Viện Ô Long”, còn Giang Thanh cũng chẳng coi ai ra gì, gọi ông ta là “Lưu Bồn Tử”. “Lưu Bồn Tử” là ai vậy? Đó là cuộc khởi nghĩa nông dân Xích My thời Đông Hán, muốn lập vua mới, nên đã chọn Lưu Bồn Tử. Lưu Bồn Tử là hoàng tộc thuộc chi xa nhà Tây Hán, là hậu duệ của Lưu Bang, mới đầu chăn bò trong quân khởi nghĩa, được gọi là “ngưu lại” (quan chăn bò - N.D). Lưu Bồn Tử do thuộc dòng dõi hoàng tộc, nên được lập làm vua vào đầu năm 25 Công nguyên, niên hiệu là Kiến Thế. Giang Thanh mắng Trần Bá Đạt là “Lưu Bồn Tử” chính là chế giễu việc Trần Bá Đạt làm tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương như Lưu Bồn Tử làm vua. Giang Thanh còn giễu Trần Bá Đạt là “Lê Nguyên Hồng”. Lê Nguyên Hồng nguyên là thống lĩnh của lữ đoàn hỗn hợp thứ 21 thuộc Tân quân Hồ Bắc. Khi khởi nghĩa Vũ Xương năm 1911 nổ ra, Lê Nguyên Hồng sợ hãi chui xuống gậm giường, nhưng quân cách mạng lại lôi ông ta từ gậm giường ra để đảm nhiệm chức đại đô đốc quân Hồ Bắc thuộc phủ Quân chính. Giữa Giang Thanh và Trần Bá Đạt là vừa nịnh nọt vừa nói xấu, trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương thì tranh giành nhau. Trần Bá Đạt thường không tranh nổi vị “đệ nhất phu nhân” này. Lúc tức giận, Trần Bá Đạt cũng đã phải nói: “Ta đã trở thành L ưu Bồn Tử!”. Theo Trần Bá Đạt, Lưu Bồn Tử chẳng qua chỉ là tên bù nhìn và ông ta cũng đã trở thành bù nhìn. Mặc dù “lý luận gia” và “đệ nhất phu nhân” hục hặc với nhau trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, nhưng xét cho cùng thì họ vẫn là một bọn, họ hoàn toàn nhất trí trong thực hiện đại cách mạng văn hóa vô sản. Trong Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khoá 8, Trần Bá Đạt một bước nhảy lên ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị. Trần Bá Đạt được xếp vị trí thứ 5 trong Thường vụ Bộ Chính trị gồm 11 người, xếp trước Đặng Tiểu Bình, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, cũng đẩy Khang Sinh ra phía sau. Ở tuổi 60, Trần Bá Đạt đã theo kịp thời thế, khiến ông ta đã bước vào thời kỳ cực thịnh của cuộc đời chính trị. Tuổi tác tuy cao, nhưng do được “thăng quan”, nên Trần Bá Đạt thấy phơi phới tuổi thanh xuân, làm việc năng nổ. Trong vấn đề đối phó với Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn, ông ta đã bắt được mạch của Giang Thanh, nên sôi nổi khác thường. Trong lúc hí hửng đắc ý, Trần Bá Đạt hình như đã quên mất ông ta đang cùng làm việc với một người đàn bà cực kỳ khó tính. Và chính là sự hất hàm sai bảo của vị “đệ nhất phu nhân” này khiến ông ta rơi vào tình cảnh khốn đốn. Trong một lần họp vào cuối năm 1966, tổng hợp tình hình cả nước, đã nói đến sự hỗn loạn trong trật tự xã hội, khắp nơi trong cả nước đâu cũng là đánh đập, phá phách, cướp bóc, khám xét lục soát, giết chóc, tổ chức Đảng đã tan rã, chính quyền sắp sụp đổ. Trường học không có người cai quản, nhà máy rơi vào tình trạng tê liệt. Với tư cách là lãnh tụ tối cao của Trung Quốc, Mao Trạch Đông vô cùng áy náy, ông nhíu lông mày nói: “Học sinh cứ xông xáo bừa bãi, chẳng nghe lời ai vậy phải cử cán bộ quân đội đi tập luyện cho học sinh, thực hiện huấn luyện quân sự, để tăng cường kỷ luật”. Mao Trạch Đông đang nói thì bỗng nghe thấy tiếng nói to của một người đàn bà: “Tôi có ý kiến, họ luôn luôn không để cho tôi có dân chủ không để cho tôi nói”. Giang Thanh xông vào, nói gay gắt: “Vì sao không lôi Hạ Long ra?”. Mao Trạch Đông nói bây giờ không thảo luận việc này. Giang Thanh đâu có chịu lui, nghe nói là sẽ quản lý những học sinh mà bà ta đã phát động, nửa như phát điên nửa như làm nũng, bà ta lớn tiếng nói với Mao Trạch Đông: “Thưa Mao Chủ tịch, nếu Chủ tịch không để cho quần chúng nổi dậy thì tôi sẽ làm phản Chủ tịch!” Mao Trạch Đông cúi đầu xem văn kiện, nhưng trong những người ngồi dự, Đàm Chấn Lâm thẳng thắn không a dua đã đứng lên, ông bực tức nhìn Giang Thanh: “Bà làm cái gì vậy? Mao Chủ tịch là Chủ tịch của toàn Đảng chúng ta, Chủ tịch của nhân dân cả nước, hôm nay là Chủ tịch của Hội nghị Trung ương. Trong Hội nghị trang trọng thảo luận những việc lớn của đất nước, bà có quyền gì mà gây rối”. Đàm Chấn Lâm nổi giận đùng đùng. Lúc ngồi xuống miệng còn lẩm bẩm một câu: “Cái quái gì?”. Suốt đời Đàm Chấn Lâm rất nghiêm chỉnh, trong “Dòng nước ngược tháng Hai” vì nghiêm chỉnh mà ông bị phê phán. Lúc này, lời của ông đã đem đến cho hội nghị bầu không khí bất an cực độ. Tiếng khóc thút thít của Giang Thanh vang lên trong hội trường. Mao Trạch Đông tuyên bố giải tán, Giang Thanh khóc ầm lên. Đại đa số nhanh chóng rời khỏi hội trường, như muốn chạy trốn khỏi chốn thị phi. Nhưng hôm nay không hiểu vì tâm lý phức tạp gì đã khiến Trần Bá Đạt chen lên phía trên: “Buồn rầu quá, sẽ tổn thương đến thân thể. Kiềm chế tức giận, kiềm chế tức giận”. Ông ta đi đến trước mặt Giang Thanh, kéo dài giọng: “Hôm nay chị cũng hơi quá. Tôi cảm thấy xấu hổ thay cho chị. Đây là Hội nghị, không phải ở nhà...” Trần Bá Đạt vừa như dạy bảo khuyên răn vừa như tự nói với mình, ông ta cứ lẩm bẩm nói, mắt nhìn thẳng, mồm như treo lơ lửng ở không trung, còn Giang Thanh thì như một con dã thú điên cuồng, thể diện ư, ảnh hưởng ư chẳng kể gì hết, nhảy bổ vào túm lấy cổ áo Trần Bá Đạt ra sức kéo lại, làm cho phù hiệu trên ve cổ áo của Trần Bá Đạt đứt ra, hành động của Giang Thanh làm Trần Bá Đạt thực sự không ngờ tới. Ông ta không ngờ được rằng “đệ nhất phu nhân”, giữa hội trường rộng lớn đông người lại có thể làm như vậy. Thực ra Giang Thanh là người rất sĩ diện, Đàm Chấn Lâm là một trong những đồng chí trong Đảng đã phê bình bà ta, bà ta không dám nổi nóng trước mặt, nhưng không biết giấu mặt đi đâu. Bây giờ Trần Bá Đạt “mi dám coi trời bằng vung ra vẻ dạy dỗ bà đây. Mi là cái quái gì? Mi có ngày hôm nay, chẳng phải là do bà dắt mi đi hay sao? Mi là đồ thối tha, ta khinh mi!” Giang Thanh vừa túm cổ áo vừa chửi, rồi quay gót bỏ đi. Trần Bá Đạt lúc này mới từ cơn ác mộng tỉnh lại, chẳng còn sĩ diện, ông ta cũng chẳng chú ý gì nữa, lớn tiếng nói với theo: “Mụ cũng là cái quái gì? Đồ quạ cái!” Sau khi chửi xong, ông ta phát hiện trong hội trường trống không, chỉ còn lại một mình ông ta, ông ta đột ngột cảm thấy khí lạnh từ bốn phía ùa tới. Trong cuộc sống sau này, Trần Bá Đạt luôn cảm thấy nỗi đau buồn lạnh lẽo không tan. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 12:59:37 am 5. Chó cắn chó Trần Bá Đạt bị buộc phải theo Lâm Bưu Ông ta đang suy nghĩ Mao Trạch Đông đã ở vào tuổi cổ lai hy, quy luật tự nhiên không thay đổi theo ý muốn của con người sau khi ông trăm tuổi, thì thiên hạ của Trung Quốc sẽ rơi vào tay ai? Lâm Bưu! Đúng! Nay Giang Thanh đã bỏ rơi mình thì phải móc nối với Lâm Bưu. Ông ta biết, Đảng Cộng sản Trung Quốc phản đối nhất là “bè phái”, “tập đoàn”, chính là vì có “bè phái” và “tập đoàn” tồn tại. Chính khi các “tú tài” dưới tay của Giang Thanh và các “võ tướng” dưới tay của Lâm Bưu hình thành hai thế lực trong Bộ Chính trị, “đại tú tài” Trần Bá Đạt đã từ “chiến hữu” của Giang Thanh ngả về Lâm Bưu, làm cho Lâm Bưu “có văn có võ”, tăng thêm sức mạnh. Trần Bá Đạt đã từng nói với người khác, ông ta đã nhiều năm làm thư ký chính trị cho Mao Trạch Đông nên ông rất hiểu tính nết của Giang Thanh, một con người chí lớn nhưng tài mọn, ngoan cố tự phụ, thủ đoạn độc ác lòng dạ hẹp hòi. Chính vì vậy, mới đầu mọi người muốn ông ta làm tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, ông ta đã từng nhiều lần từ chối. Trần Bá Đạt nói, ông ta không muốn làm tổ trưởng, không phải là ở bản thân Tổ cách mạng văn hóa Trung ương mà là ở việc Giang Thanh làm tổ phó. Ông ta hiểu sâu sắc rằng, ông ta “lãnh đạo” không nổi Giang Thanh, không có cách gì làm tổ trưởng được. Nhưng Mao Trạch Đông đã chỉ đích danh ông ta làm tổ trưởng, ông ta không thể không tuân lệnh. Đêm ngày 9 tháng 7 năm 1966, Chu Ân Lai gọi điện thoại cho ông ta. Chu Ân Lai nói có hai tin điện của Tân Hoa xã sẽ được đăng báo, muốn ghi chức vụ Tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương của ông ta - Đây sẽ là chức vụ của ông ta lần đâu tiên được đăng báo công khai. Ngày 9 tháng 7, Lưu Thiếu Kỳ đã tiếp kiến các đại biểu tham gia Hội nghị khẩn cấp của các nhà văn Á Phi. Đêm ấy, Chu Ân Lai, Khang Sinh, Trần Bá Đạt, Đào Chú tổ chức tiệc lớn chúc mừng Hội nghị khẩn cấp của các nhà văn Á Phi bế mạc. Tân Hoa xã đã đăng hai tin điện và cho đăng báo về việc này, trong đó nhắc tới Trần Bá Đạt: “Trần Bá Đạt, ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương”. Trong điện thoại, Trần Bá Đạt, đã nhờ Chu Ân Lai nói lại với Tân Hoa xã là trong tin điện không nên viết chức vụ Tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương của ông ta, vì ông ta muốn trong một dịp thích hợp ông ta sẽ xin từ bỏ chức vụ này. Chu Ân Lai không đồng ý. Ngày hôm sau, “Nhân dân nhật báo” và báo chí trong cả nước đã đăng hai tin điện này của Tân Hoa xã - Đây là chức vụ Tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương mà Trần Bá Đạt đảm nhiệm lần đầu tiên công khai trên báo. Vào thời kỳ đầu của cuộc cách mạng văn hóa Trần Bá Đạt đã từng hợp tác với Giang Thanh, ông ta cũng đã từng thổi kèn, khiêng kiệu cho Giang Thanh xuất lộ trên vũ đài chính trị Trung Quốc. Nhưng từ khi ông ta bị một trận ốm và Trung ương Đảng đăng “Thông báo về việc đồng chí Giang Thanh giữ chức quyền tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương” vào ngày 30 tháng 8 năm 1966 đến nay. Thực quyền của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương nằm trong tay Giang Thanh. Tuy vậy, xuất phát từ nhu cầu về chính trị, ông ta và Giang Thanh vẫn giữ sự “liên minh” để cùng chống lại Đào Chú, cùng đánh đổ Lưu, Đặng, nhưng mâu thuẫn giữa ông ta và Giang Thanh ngày càng sâu sắc. Đặc biệt là “dòng đích” của Giang Thanh là Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên lên nhanh như diều gặp gió trong cách mạng văn hóa, và những người này cũng không coi ông ta ra gì. Cuối cùng, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương chỉ còn lại 5 người Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Trần Bá Đạt hoàn toàn ở vào địa vị bị cô lập, bốn người này đã liên kết chống lại ông ta. Trần Bá Đạt đã dọn khỏi Điếu Ngư Đài, về ở nhà tại ngõ Mễ Lương, Bắc Kinh. Sự xung đột trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cuối cùng đã bùng nổ. Trong bản thảo viết ngày 26 tháng 9 năm 1980, Trần Bá Đạt đã nhớ lại như sau: Trước Đại hội Đảng khóa 9, Giang Thanh và Khang Sinh đã bay mưu tính kế, lấy cớ của cái gọi là tôi “phong tỏa tiếng nói của mao Chủ tịch”, đã tổ chức một cuộc mít tinh ở phòng họp phía Đông, những người đến dự gần như đã ngồi kín trong phòng. Giang Thanh tự tuyên bố: Bà ta là chủ tịch Hội nghị, “Trần Bá Đạt kiểm điểm”. Bà ta cùng Khang Sinh “anh xướng tôi họa”. Tôi chỉ nói một câu đã bị cắt ngang. Giang Thanh nói: Trần Bá Đạt không kiểm điểm, không cho ông ta nói. Bà ta cũng không cho những người khác tham gia hội nghị phát biểu. Lúc ấy nhân viên công tác nói chung đều mặc quân phục, trong hội nghị tôi cũng mặc như thế, Giang Thanh đề xuất là phải lột bỏ quân hiệu và phù hiệu trên mũ và trên ve cổ áo của tôi. Tôi thấy, cuộc họp này mở ra là để đánh đổ tôi, chẳng có gì để biện luận, đã hô lên một tiếng: “Đại tự báo ra phố” (tức là đại tự báo tán thành đánh đổ tôi thì ra phố). Diệp Quần tham gia hội nghị đã hô lớn: “ủng hộ đồng chí Giang Thanh!” Mâu thuẫn giữa Trần Bá Đạt với Giang Thanh và Khang Sinh gay gắt và sâu sắc như thế chứng tỏ Tổ cách mạng văn hóa Trung ương từ lâu đã có sự chia rẽ nghiêm trọng, “Tổ trưởng” chỉ còn trên danh nghĩa. Giang Thanh gán cho Trần Bá Đạt tội danh “phong toa tiếng nói của Mao Chủ tịch”, thực ra là do sự tranh giành quyền khởi thảo Báo cáo Chính trị của Trung ương Đảng tại Đại hội khóa 9 dẫn đến. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:00:02 am Báo cáo chính trị của Trung ương Đảng tại Đại hội khóa 9 do Lâm Bưu đọc, được công bố dưới danh nghĩa của Lâm Bưu, nhưng báo cáo chính trị lại do các “tú tài” viết nên. Mao Trạch Đông chỉ định ba người là Trần Bá Đạt, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên khởi thảo. Trần Bá Đạt từ lâu đã bất đồng với Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên, nên không muốn hợp tác với họ. Thế là Trần Bá Đạt gạt Trương và Diêu, một mình khởi thảo. Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên cũng không chịu kém, liên kết với Khang Sinh để khởi thảo một bản riêng. Trần Bá Đạt đi trước một bước, viết xong bản thảo đầu tiên, đưa trình Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông xem xong, trao đổi ý kiến với Trần Bá Đạt, trong đó có một số ý kiến rất quan trọng. Ví dụ, Mao Trạch Đông không đồng ý với câu “Đường lối Lưu, Đặng” trong bản thảo của Trần Bá Đạt, ông nêu rõ: “Đặng Tiểu Bình đã từng đánh trận, khác với Lưu Thiếu Kỳ, trong báo cáo không nên nhắc tên đồng chí ấy”. Những ý kiến này Trần Bá Đạt chỉ nói với Chu Ân Lai. Sau này, qua Mao Trạch Đông, Giang Thanh được biết là Mao Trạch Đông đã từng trao đổi một số ý kiến về việc khởi thảo báo cáo chính trị với Trần Bá Đạt, nhưng Trần Bá Đạt không truyền đạt lại cho Khang Sinh, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên, bà ta tức điên. Thế là, Giang Thanh liền gán cho Trần Bá Đạt cái tội “phong toả tiếng nói của Mao Chủ tịch” và triệu tập cuộc họp để đấu tranh - Nên biết là lúc ấy Trần Bá Đạt là nhân vật thứ tư chỉ đứng sau Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai. Trần Bá Đạt đấu không nổi với Giang Thanh. Giang Thanh hậu thuẫn cho Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, để Mao Trạch Đông nói chuyện nhiều lần với họ, gạt Trần Bá Đạt ra, bởi Trần Bá Đạt đã “phong toả tiếng nói của Mao Chủ tịch”. Vậy là, Mao Trạch Đông đã dùng bản báo cáo chính trị do Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên khởi thảo. Trần Bá Đạt viết xong báo cáo chính trị, cho vào túi làm bằng giấy xi-măng dán kín, viết mấy chữ: “Trình Mao Chủ tịch”. Nhưng, túi này nhanh chóng được chuyển từ chỗ Mao Trạch Đông trả lại Trần Bá Đạt, trên có hàng chữ do Mao Trạch Đông viết: “Gửi lại đồng chí Bá Đạt. Mao Trạch Đông”. Trần Bá Đạt nhìn kỹ lại, chiếc túi giấy ấy chưa được bóc ra! Trần Bá Đạt khóc ầm lên, vì Mao Trạch Đông đã không hề xem bản thảo của ông ta, mà gửi trả lại nguyên xi chiếc túi tài liệu chưa bóc. Mao Trạch Đông đã dùng báo cáo chính trị do Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên viết. Thế là phút chốc, Trần Bá Đạt với tư cách là vị “đại tú tài”, với tư cách là “lý luận gia mác-xít - lê-nin-nít” mất hết uy tín! Trần Bá Đạt với bộ mặt lầm lũi bước vào Hội trường dự Đại hội khóa 9 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông ta cho rằng lần này thì sẽ sụp đổ hoàn toàn. Không ngờ, Mao Trạch Đông vẫn giữ “sĩ diện” cho ông ta, ông ta vẫn được bầu vào Bộ Chính trị, vẫn ngồi trên cái ghế thứ 4. Có điều, qua cuộc đấu tranh ở hội nghị năm 1966, lại thêm một trận đấu xoay quanh quyền khởi thảo báo cáo chính trị trước Đại hội Đảng 9, Trần Bá Đạt đã cãi nhau với Giang Thanh, Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, quan hệ căng thẳng. Thế là ông ta đi theo “Phó Thống soái” Lâm Bưu. Trần Bá Đạt đã tỏ sự quyết tâm với Diệp Quần: “Sau này tôi sẽ làm việc theo chỉ thị của Lâm Phó Chủ tịch, từng bước tiến lên theo sát sự sắp đặt chiến lược của Lâm Phó Chủ tịch, sẽ cống hiến tất cả cuộc sống của mình cho Lâm Phó Chủ tịch!”. Từ đó về sau, ngày nào cũng có những cuộc điện thoại nóng giữa Trần Bá Đạt và Diệp Quần, có lúc điện thoại còn gọi đến phòng vệ sinh, còn bàn những chuyện bí mật tuyệt đối, cho đến trước Hội nghị Trung ương 2 khóa 9, mọi người mới biết rõ Trần Bá Đạt là “một tớ hai chủ”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:00:38 am 6. Thi thố tài nghệ điên cuồng bức hại Trần Bá Đạt vẫn luôn tự xưng là “tiểu dân”. Thực ra ông ta là một tên hung thủ điên cuồng bức hại những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước của “một thời quyền trong tay muốn làm gì thì làm”. Ngày 1 tháng 6 hằng năm, từ khi có ngày lễ Nhi đồng Quốc tế đến nay, ngày lễ tuổi thơ ngây của nhân loại. Nhưng ngày lễ này năm 1966 ở Trung Quốc, lại là cái ngày mà tất cả những người ngây thơ không thể tưởng tượng nổi là đã xảy ra chuyện gì. Bài viết của Người bình luận “Nhân dân nhật báo” có tựa đề “Hoan hô một bài đại tự báo của Đại học Bắc Kinh”, như một trận cuồng phong dữ dội quét trên lãnh thổ Trung quốc rộng đến 9 triệu 600 ngàn Kilômét vuông, tất cả những nơi nó tràn đến, cây trốc gốc, nhà sập đổ, xà gãy cột xiêu, tạo nên một tấn bi kịch hiếm thấy trên thế gian. Với sự “hoan hô “ của nó, những rường cột của đất nước, chỉ sau một đêm đã biến thành “phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Rất nhiều người có công dựng nước bị tống vào tù ngục, đông đảo trí thức và các học giả chuyên gia, biến thành “lũ thối tha”, có người bị nhốt vào chuồng bò, có người bị lưu đày tha hương, các vị nguyên soái tướng lĩnh đã vào sinh ra tử trên chiến trường để dựng nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng bị đày đọa giày vò tàn khốc, với sự “hoan hô” của nó, các cán bộ các cấp của Đảng và Nhà nước ta cùng vô số quần chúng vô tội phải chịu những tai nạn mà không bút mực nào ghi hết! Người viết ra bài văn này không ai khác, chính là Trần Bá Đạt “Hoan hô” đã không kể gì đến sự thực chính quyền của nền chuyên chính vô sản đã tồn tại 17 năm, cố sức thổi phồng: “Có chính quyền là có tất cả, không có chính quyền thì sẽ mất tất cả”. Muốn cướp chính quyền, Trần Bá Đạt và đồng bọn phải đánh đổ cán bộ lãnh đạo các cấp đã ngăn cản họ cướp quyền. Thế là, “Hoan hô” dựng đứng lên để công kích: “Những nhân vật đại biểu cho giai cấp tư sản, những kẻ “quyền uy học thuật” của giai cấp tư sản ở Trung Quốc hiện nay, họ đang nằm mơ để khôi phục lại giai cấp tư sản”. Nó kích động “quét sạch bọn đầu trâu mặt ngựa đang chiếm cứ trên trận địa văn hóa tư tưởng... đánh cho tan nát cái gọi là “chuyên gia”, “học giả”, “quyền uy”, “tổ sư” của giai cấp tư sản, làm cho uy phong của chúng sụp đổ”. Trần Bá Đạt không chỉ dừng ở việc “quét sạch” trên lý luận. Ngày 26 tháng 12 năm 1967, Trần Bá Đạt đã phát biểu vu cáo hãm hại tổ chức Đảng ở Ký Đông (Miền Đông tỉnh Hà Bắc - N.D) tại Đường Sơn, rằng: “Có thể là đảng của Quốc Cộng hợp tác, trên thực tế có thể là Quốc dân Đảng đang phát huy tác dụng ở đây, bọn phản bội đang phát huy tác dụng ở đây...”. Bài phát biểu này của Trần Bá Đạt đã làm cho cán bộ và quần chúng bị vu cáo, bức hại lên tới 84 ngàn người, bị bức hại tới chết 2955 người, bị tàn phế 763 người. Năm 1968, trong cái gọi là kẻ đứng sau vụ án truyền đơn “ủy ban bất thường Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc”, Trần Bá Đạt đã cùng Tạ Phú Trị, Ngô Pháp Hiến lại nêu ra một cách vô căn cứ về cái gốc căn bản là người ở Bộ tư lệnh đen Lưu, Đặng, chỉ trích danh vu cáo một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước là kẻ giật dây gây vụ án truyền đơn này. Trên thực tế, vụ án truyền đơn ủy ban bất thường Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, xảy ra ngày 8 tháng 10 một năm trước, hôm ấy, một công nhân ở Thành phố Thiên Tân đến phố Bộ Ngoại giao ở Bắc Kinh đem hơn 80 tờ truyền đơn in rô-nê-ô, do bản thân tự viết và khắc in lần lượt bỏ vào các hòm thư quanh đó, truyền đơn ký tên “ủy ban bất thường Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Tháng 11 cùng năm, vụ án này đã được phá ở Thiên Tân, người gây án cung khai: “Từ đầu đến cuối, từ trước đến sau đều chỉ có một người, không có bất cứ ai tham gia”. Qua sự giám định về bút tích của bản gốc và công cụ gây án do Bộ Công an tiến hành, đã hoàn toàn chứng thực điều này. Nhưng, Trần Bá Đạt lại cho rằng đây là một vụ án phản cách mạng hiện hành lớn phải tìm ra kẻ giật dây. Tháng 4 năm 1968, trong phòng đón tiếp ở Đại Lễ đường Nhân dân, Trần Bá Đạt vừa bước tới trước, chỉ vào tấm biểu ngữ “Nên đem sức còn dư đuổi kẻ giặc cùng đường” nói với các nhân viên trong tổ chuyên án đang ngồi ở bên dưới: “Các anh nên học tập, bắt được người khắc bản ấy là điểm bắt đầu không phải là điểm cuối, điểm cuối là kẻ giật dây đứng đằng sau, kẻ giật dây không phải là người bình thường, người bình thường không làm được việc đó, không phải chỉ vẻn vẹn có một người làm mà có thể là một tổ chức”. Trong một lần tiếp những người trong tổ chuyên án khác, ông ta hùng hổ nói: “Chính là phải truy lên trên, nói tóm lại, bất kể người đó là ai, tìm thấy ai thì chính là người đó”. Trần Bá Đạt và đồng bọn “khẳng định là có rồi mới thẩm vấn”, dùng một loạt các thủ đoạn phi pháp, mớm cung, dụ dỗ nhận tội đến tiến hành bức cung, dùng cách chửi rủa, trách mắng thậm chí tra tấn cho ngồi “kiểu phản lực” để truy bức cái gọi là “kẻ giật dây”. Cuối năm ấy truy tìm ra cái án giả “Đảng Cộng sản (mác-xít - lê-nin-nít) Trung Quốc” ly kỳ khủng khiếp. Vu cáo Chu Đức là Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản (mác-xít - lê-nin-nít) Trung Quốc, Trần Nghị là Phó Bí thư kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, Lý Phú Xuân là Thủ tướng, những người tham gia còn có Đổng Tất Vũ, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Hạ Long, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Đàm Chấn Lâm, Dư Thu Lý... Vu cáo các đồng chí này là “thông đồng với nước ngoài, chuẩn bị vũ trang nổi loạn”. Đây đều là những việc do tên “tiểu dân” này làm. Nếu nói trong vụ án “Tổ chức Đảng ở Ký Đông, Đảng Cộng sản Trung Quốc”, vụ án “Ban chấp hành bất thường Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc” và vụ án “Đảng Cộng sản (mác-xít - lê-nin-nít) Trung Quốc”, Trần Bá Đạt chỉ là người ra “chỉ thị” thì việc bức hại Lục Định Nhất là do đích thân ông ta nhúng tay làm. Ông ta lợi dụng cơ hội chủ quản “Chuyên án Lục Định Nhất”. Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1966, bình quân 10 ngày Trần Bá Đạt lại ra một “chỉ thị” có lúc gọi điện thoại, có lúc đích thân đến tổ chuyên án, ra lệnh xích tay Lục Định Nhất, hoặc giao cho Hồng vệ binh xét xử. Đày đọa bức hại Lục Định Nhất trên nhiều mặt từ chính trị đến đời sống, từ xác thịt đến tinh thần, về sau lại đích thân ra lệnh giam Lục Định Nhất vào nhà tù. Đối với bản lĩnh chỉnh người của Trần Bá Đạt, Lâm Bưu kẻ đang mơ tưởng “thay đổi triều đại” và đồng bọn Giang Thanh đánh giá rất cao. Giang Thanh ca ngợi ông ta là có nhiều biện pháp, Lâm Bưu và Diệp Quần lại phong ông ta làm “quân sư”. Đồng thời bản thân ông ta cũng đã đạt đến đỉnh cao chính trị. Trong Hội nghị Trung ương lần thứ 1 khóa 9, họp vào năm 1969, ông ta được xếp thứ 3 trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị gồm 5 người, chỉ đứng sau Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, đã đứng trước Chu Ân Lai. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:01:10 am 7. Con cáo rốt cuộc đã bị đánh gục Có núi cao ắt có vực thẳm. Đuôi cáo cuối cùng đã lòi ra. Trong Hội nghị Lư Sơn năm 1970, Mao Trạch Đông đã thật sự nhìn thấy “cái đuôi” của Trần Bá Đạt, đồng thời ông đã nắm chặt không buông. Hội nghị lần này chủ yếu là thảo luận sửa đổi “Hiến pháp”, tức là có lập chủ tịch nước hay không. Trần Bá Đạt tham gia tổ khởi thảo “Hiến pháp”, lại hợp tác với Lâm Bưu làm việc lớn. Ông ta tích cực ủng hộ Lâm Bưu lập chủ tịch nước và quan điểm “Thiên tài luận”, những lý thuyết về “thiên tài” này lại là kiệt tác của Trần Bá Đạt, từ đây đã bộc lộ triệt để quan hệ không chính đáng của ông ta và Lâm Bưu. Lúc này, Mao Trạch Đông tỉnh táo lạ thường! Mao Trạch Đông nói: “Trần Ba Đạt dẫn đầu, một là kiên trì việc lập chủ tịch nước, hai là “Thiên tài luận”, cổ động một số người, lừa dối một số người gây rối, có xu thế san phẳng Lư Sơn, làm ngừng sự chuyển động của trái đất”. Lúc này Mao Trạch Đông đã hiểu ra, Trần Bá Đạt là phần tử khả nghi có mưu đồ xấu, là phần tử chống Đảng trà trộn vào Đảng. Mao Trạch Đông đã phát biểu “Một ý kiến của tôi”. Từ sự bất hợp tác trên những vấn đề lớn trong hơn 30 năm qua của Trần Bá Đạt, vạch trần việc trích lời bàn về “Thiên tài luận” mà Trần Bá Đạt làm, hồ như chẳng có mấy điều là chủ nghĩa Mác. Trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, những lời của Mao Trạch Đông có tác dụng then chốt, trong Hội nghị Lư Sơn, Trần Bá Đạt đã bị phê phán gay gắt. Trần Bá Đạt là một người có dã tâm nhưng lại vô nguyên tắc. Trên vũ đài chính trị Trung Quốc, chưa bao giờ ông ta có được một lực lượng độc lập, ông ta luôn dựa vào người khác. Sở trường của ông ta là cây bút trong tay, nhưng lại thiếu năng lực tổ chức. Tổ cách mạng văn hóa Trung ương đã cãi cọ nhau, đã tan đám, ông ta không thể không tìm người bạn mới. Lâm Bưu đang đầy dẫy dã tâm, hùng cứ trên diễn đàn chính trị Trung Quốc, ông ta đã đổi sân và đã chọn Lâm Bưu, còn Lâm Bưu, thì dưới tay toàn là “võ tướng” đang thiếu “đại tú tài”. Lợi ích chính trị của đôi bên đã quyết định việc Trần Bá Đạt ngả về Lâm Bưu - Tuy trong lịch sử, Trần Bá Đạt và Lâm Bưu không có quan hệ nguồn gốc gì. Hai thế lực Lâm Bưu, Giang Thanh đã lợi dụng lẫn nhau và đấu tranh với nhau như thế. Cuối cùng, Trần Bá Đạt đã từ ngôi vị thứ tư ngã nhào. Ngày ấy cuối cùng đã đến: ngày 18 tháng 10 năm 1970. Hôm ấy, cảnh vệ trước kia của Trần Bá Đạt bị điều đi, Bộ đội 8341 mới đến không còn là người “bảo vệ an toàn của các thủ trưởng Trung ương nữa”, mà là thực hiện việc giam giữ tại chỗ. Sau này, thời gian thụ hình của ông ta được tính từ ngày này, ông ta đã bị phạt tù 18 năm. Ngày 18 tháng 10 năm 1970, hai thư ký của ông ta là Vương Văn Dược và Vương Bảo Xuân đã bị mất tự do. Họ đã bị giải về Học viện Hành chính Pháp luật Bắc Kinh giam cách ly. Ngay đến người giúp việc và bảo mẫu, vốn là nữ công nhân xí nghiệp sản xuất thuốc ở Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến Trần Thuận Ý, cũng bị bắt hôm ấy. Trong hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8 họp tháng 8 năm 1966, ông ta được bầu làm ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Lúc ấy ông ta được xếp ở vị trí thứ 5. Đầu năm 1967, sau khi Đào Chú bị đánh đổ, ông ta trở thành “nhân vật thứ 4”, còn nay, nhân vật thứ 4 này bị xóa bỏ hoàn toàn. Trên vũ đài chính trị Trung Quốc, gian dối xảo trá lại gục đổ một nhân vật chính. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:02:02 am 8. “Đại danh nhân” đậy nắp quan tài mà chưa bàn được điều hay lẽ dở Khi Trần Bá Đạt một tôi hai chủ bị tan vỡ, thì Khang Sinh vẫn ngồi vững ở Điếu Ngư Đài, ông ta không hổ với danh mưu cao chước giỏi. Trong các cuộc đấu tranh chính trị trước đây, Khang Sinh đều dựa vào sự gian giảo điêu toa của mình lựa gió chống thuyền, liệu dòng bẻ lái, đã bảo đảm cho ông ta sống lâu dài trong cuộc đời quan trường. Một thời gian dài trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, Khang Sinh đã đầu cơ gây án, gây nên sự hủy hoại sâu ảnh hưởng rộng đối với sự nghiệp cách mạng, một điều rất hiếm thấy trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế. Một đại gian thần và tội nhân thiên cổ với tội ác tày trời, cho đến khi đậy nắp quan tài vẫn vẽ cho mình bộ mặt chính nhân quân tử. Lúc sống, ông ta đã làm cố vấn cho Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, thăng đến ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, rồi Phó Chủ tịch Trung ương Đảng, trở thành “đại danh nhân” có thể hô phong hoán vũ, hiển hách một thời. Có lý khi nói là “lịch sử vô tình”. Cái giả dối rồi sẽ lộ chân tướng. Thời gian trôi đi, cho đến năm 1980 Công nguyên, cái bộ mặt giả dối của Khang Sinh mới bị vạch trần. Ông ta tự cho là sẽ để tiếng thơm muôn đời, nhưng giờ đây lại là ô danh ngàn thuở. Mọi người không kìm được phải hỏi rằng, ông ta một kẻ đầy mưu mô đã leo lên địa vị quyền thế khuynh đảo trong ngoài đã phát tích như thế nào? Khang Sinh (1898 – 1975), ở Huyện Giao, tỉnh Sơn Đông (nay là Giao Nam), vốn có tên là Trương Tông Khả, tự Thiếu Khanh. Từ sớm đã vào học Trường Đại học Thượng Hải, năm 1925 gia nhập Đảng Cộng sản Trung quốc. Đã từng giữ chức Bí thư Khu ủy Hộ Đông (phía Đông Thượng Hải), Trưởng Ban tổ chức và Tổng thư ký Tỉnh ủy tỉnh Giang Tô, ủy viên Ban Kiểm tra Trung ương, Trưởng ban tổ chức trung ương v.v... Năm 1933, đi Liên Xô, về sau đã từng tích cực thi hành đường lối “tả” khuynh của Vương Minh. Năm 1937, trở về Diên An, giữ chức Trưởng ban Xã hội Trung ương Đảng, Bí thư ban bí thư Trung ương, thời gian chỉnh phong ở Diên An đã từng gây ra không ít vụ án oan. Sau giữ chức Bí thư Phân cục Sơn Đông thuộc Trung ương, Chính ủy Quân khu Sơn Đông, Chủ tịch ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn Đông. Sau khi dựng nước, giữ chức Bí thư Ban bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội nghị Chính trị hiệp thương toàn quốc, Phó ủy viên trưởng ủy ban Thường vụ Đại biểu nhân dân toàn quốc, ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá 8. Trong đại cách mạng văn hóa giữ chức cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Trung ương Đảng. Đã từng hãm hại hàng loạt cán bộ và quần chúng. Ngày 16 tháng 12 năm 1975, chết bệnh tại Bắc Kinh. Ngày 16 tháng 10 năm 1980, bị Trung ương Đảng Cộng sản trung Quốc khai trừ khỏi Đảng, huỷ bỏ điếu văn. Năm 1927, sau khi gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc không lâu, Khang Sinh đã khoác lên chiếc áo ngoài quyền uy lý luận của chủ nghĩa Mác, đã đầu cơ luồn lọt trong Đảng tới 50 năm, mặc cho mưa gió đổi thay sắc mặt vẫn như thường, ông ta thường xuất hiện với bộ mặt cực tả cách mạng nhất, hô phong hoán vũ, hoành hành ngang ngược. Phàm là chỉnh người ông ta không bao giờ bỏ qua. Chỉnh Bành Đức Hoài năm 1959, có phần của ông ta. Năm 1959, ông ta được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm ủy ban biên tập “Mao Trạch Đông tuyển tập”. Thời gian Mao Trạch Đông lập tổ lý luận dưới quyền Tổ Văn giáo Trung ương, do Khang Sinh kiêm tổ trưởng, sau đó lại nâng tổ lý luận lên thành Tổ lý luận Trung ương do ông ta kiêm nhiệm Tổ trưởng, đã kiếm được thực quyền. Trung ương quyết định Khang Sinh kiêm quản công việc của Trường Đảng. Điều này cũng làm cho Khang Sinh vui mừng khôn xiết, ông ta có thể ở trên vị trí này rêu rao lừa bịp dưới chiêu bài “quyền uy lý luận” của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đúng như nguyện vọng mà không bị ngăn trở. Trước “cuộc đại cách mạng văn hóa”, Khang Sinh đã cảm thấy được một cuộc bão táp lớn sắp tới gần, thế là ông ta liền nhanh chân chạy trước, xui nguyên giục bị gây hỗn loạn trên vũ đài chính trị. Ngay từ năm 1964, Khang Sinh đã nhiều lần nói với Mao Trạch Đông: “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm có liên quan đến Hội nghị Lư Sơn, là thay Bành Đức Hoài xử lại án”. Ông ta bất chấp sự thực lịch sử, đã “phát minh” ra “chỗ hiểm” của “Hải Thụy bãi quan”, là “bãi quan”. Khang Sinh xứng đáng là tham mưu cao cấp am hiểu sự gian giảo quỷ quyệt và là cao thủ giở thủ đoạn âm mưu. Sau khi Giang Thanh báo cáo gặp thất bại, ông ta đích thân góp ý kiến với Mao Trạch Đông nói là ông ta đã suy nghĩ hai ba năm, nhìn thấy vở kịch “Hải” (nói tắt “Hải Thụy bãi quan” - N.D) là kêu oan cho Bành Đức Hoài, muốn xử lại án cho Bành Đức Hoài. Sự miêu tả của Khang Sinh đã làm cho Mao Trạch Đông chú ý, vì ông ta có công đầu nên càng được sủng ái. Sau này trong việc bố trí toàn bộ “Bình vở kịch lịch sử mới viết “Hải Thụy bãi quan”” ông ta đã có công làm nổi bật nét chính. Sự công bố bài viết này, hoàn toàn là một âm mưu, do Giang Thanh gợi ý cho Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên nặn ra. Từ Thường vụ Bộ Chính trị, Bộ Chính trị đến Ban Bí thư, ngoài Khang Sinh ra những người khác đều bị bịt hết, không biết nguồn gốc của bài viết. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:02:25 am Năm 1965, Trung ương quyết định thành lập Tổ lãnh đạo Cách mạng văn hóa 5 người, Bành Chân được ủy nhiệm làm tổ trưởng, Khang Sinh giữ chức phó. Ông ta vẫn bí mật câu kết với Giang Thanh v.v..., bày mưu tính kế cho họ, đồng thời lại đem tình hình của Tổ lãnh đạo cách mạng văn hóa tiết lộ đầu đuôi ngọn ngành cho Giang Thanh biết. Điều đó đã giúp rất nhiều cho Giang Thanh gây đại loan trong thiên hạ. Vì sao trong đại cách mạng văn hóa, Khang Sinh lại bán sức cho Giang Thanh như thế? Người có chút thường thức chính trị sẽ thấy ngay, đây là một cuộc đầu tư nhất bản vạn lợi. Khang Sinh ra sức phục vụ Giang Thanh vì Giang Thanh có chỗ có thể lợi dụng, với tư cách là phu nhân của Chủ tịch xét cho cùng thì có thể: “Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt” (Sân trời gần nước sẽ thấy trăng trước). Có lúc thông qua Giang Thanh có thể có được thanh “thượng phương bảo kiếm” trừ tà ở nơi Mao Trạch Đông, ít nhất thì cũng có thể nghe ngóng được một số tình hình của cuộc đấu tranh chính trị. Sự tích lũy kinh nghiệm sinh hoạt chính trị nhiều năm làm cho Khang Sinh học được cách xu phụ kẻ có quyền thế, lựa gió dong thuyền. Ông ta giỏi lợi dụng, luồn cúi, giương chiêu bài của người khác để bán món hàng giả, thực hiện những hành vi đen tối của mình. Ông ta đã tạo cho mình quyền phát minh về vụ án “Hải Thụy bãi quan”, với sự kích động của Giang Thanh cùng Trần Bá Đạt và được sự đồng ý của Mao Trạch Đông. Về sau, Khang Sinh lại biến nó thành cái của Mao Trạch Đông, rồi ra sức truyền bá khắp nơi, lập công lớn trong việc tạo ra cuộc “đại loạn thiên hạ”. Ngày 8 tháng 2 năm 1966, khi Mao Trạch Đông nghe báo cáo của Bành Chân và Khang Sinh, đã từng hỏi: “Hải Thụy bãi quan” có liên hệ gì với việc xét lại án Bành Đức Hoài hay không? Bành Chân lập tức dựa trên thực tế trả lời phủ định. Thế là Mao Trạch Đông nói toạc ra hết: “Chỗ hiểm trong bài viết của Ngô Hàm là bãi quan, đó là do Khang Sinh nói với tôi, là quyền phát minh của Khang Sinh”. Khang Sinh vội vàng nói xen vào: “Không, không phải là quyên phát minh của tôi, là quyền phát minh của Mao Chủ tịch”. Khang Sinh, là một tên bịp bợm chính trị giỏi giở âm mưu, từ đó về sau lại nhiều lần tuyên bố công khai rằng đồng chí Mao Trạch Đông đã khẳng định là “phát minh” của ông ta. Khang Sinh cổ động Giang Thanh tố cáo sau lưng, tiến hành phủ định “Đề cương tháng Hai”. Sau khi Mao Trạch Đông tỏ thái độ rằng “Đề cương này là sai lầm”, Khang Sinh lại nói rõ “Đề cương tháng Hai” là một cây cỏ độc chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội”. Trong Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng, ông ta đã tuyên bố rằng bản đề cương này là do Bành Chân làm giấu giếm sau lưng ông ta, là một sản phẩm của những âm mưu. Sự “tố giác” và phê phán của Khang Sinh, khiến Trung ương quyết định giải tán Tổ cách mạng văn hóa 5 người. Hành vi cực kỳ bỉ ổi này của Khang Sinh, khiến sau này ông ta nhảy một bước tới trời, giành được chức cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Trung ương rất lừng lẫy lúc bấy giờ, cao hơn cả Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ đó quyền của Bộ Chính trị rơi vào tay người khác. Bộ Chính trị chỉ còn là cái bóng. Sinh hoạt chính trị ở Trung Quốc bắt đầu không bình thường. Còn Khang Sinh trở thành một “danh nhân” đỏ rực một thời. Tất nhiên vị “danh nhân” này từ khi bắt đầu “cách mạng văn hóa” ông ta đã từ lâu không còn là một tên vô danh tiểu tốt, “tiếng tăm” của ông ta ngày càng lớn, có thể nói là đất nước Trung Hoa không ai không biết. Sau khi “Đề cương tháng Hai” bị phê phán, được Mao Trạch Đông nêu tên, Khang Sinh và Trần Bá Đạt được chỉ định khởi thảo “Thông báo 16 tháng 5”. Trong quá trình khởi thảo thông báo, Khang Sinh hoạt động khắp nơi, xui nguyên giục bị. Đầu tiên ông ta khuyến khích một người làm công tác Khoa học xã hội họ Ngô, viết đại tự báo về Thành ủy Bắc Kinh, để mở đột phá khẩu tấn công Bành Chân và một số người, gây nên sự rối loạn trong phạm vi cả nước. Sau đó, Khang Sinh lại bí mật cử vợ ông ta là Tào Dật Âu cùng bảy người giương chiêu bài “điều tra” vào Đại học Bắc Kinh xúi giục và đích thân gặp “bạn cũ” của Tào Dật Âu là Bí thư chi bộ khoa Triết Đại học Bắc Kinh Nhiếp Nguyên Tử, trực tiếp trao quyền tùy cơ ứng biến cho bà ta. Dưới sự bố trí và chỉ huy của đích thân Khang Sinh, bài đại tự báo sặc mùi thuốc súng “Trong cách mạng văn hóa, Tống Thạc, Lục Bình, Bành Bội Vân rốt cuộc đã làm những gì?” được nặn ra, ngày 25 tháng 5, bài báo vừa dán, đã như tiếng sét dẫn đến một chuỗi nổ dây chuyền, giáo viên và sinh viên Đại học Bắc Kinh rất bất mãn. Ngay tối hôm ấy, Chu Ân Lai đang chú ý theo dõi chặt chẽ sự phát triển tình hình ở các nơi, lập tức cử người đến Đại học Bắc Kinh nghiêm khắc phê bình Nhiếp Nguyên Tử và những người khác. Khang Sinh phát hiện bài đại tự báo đầu tiên do ông ta chỉ huy nặn ra sắp bị chết yểu, vô cùng hốt hoảng, liền lén lút sau lưng Lưu Thiếu Kỳ, người chủ trì công tác của Trung ương ở Bắc Kinh lúc đó, liều chết đem bản thảo của bài đại tự báo đưa cho Mao Trạch Đông đang ở ngoài Bắc Kinh, cầu mong hú họa có được sự ủng hộ. Có thể nói đây là canh bạc mà Khang Sinh đã mang sinh mệnh của mình ra đặt cọc. Đây là nước cờ mạo hiểm mà ông ta đã đi trong giờ phút then chốt. Nếu Mao Trạch Đông tỏ thái độ phản đối bài đại tự báo này thì ông ta sẽ bị trừng trị vì là người thao túng giật dây sự kiện này. Nhưng ngày 1 tháng 6, âm mưu của Khang Sinh đã được thực hiện. Mao Trạch Đông đồng ý đưa bài đại tự báo phát thanh khắp cả nước. Khang Sinh vui như mở cờ trong bụng, về sau ông ta thổi bài đại tự báo này lên tận mây xanh, rằng đây là tuyên ngôn của Công xã Bắc Kinh trong những năm 60 của thế kỷ 20. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:03:20 am 9. Nhằm trúng thời cơ giáng đòn chí mạng Từ khi đại cách mạng văn hóa bắt đầu đến nay, sự ham muốn khủng bố ở Khang Sinh ngày càng lớn. Ông ta hoài nghi tất cả, cũng muốn đánh đổ tất cả, việc này cần phải làm từng bước một, phải lựa chọn đối tượng, nhằm trúng thời cơ, còn phải không từ một thủ đoạn nào giáng cho họ đòn chí mạng. Từ lâu trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng vào tháng 5 năm 1966, Khang Sinh đã một mình nắm việc phát biểu trong toàn bộ hội nghị. Lúc thì chửi Bành Chân, La Thụy Khanh, lúc thì chỉ trích Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn. Ngay đến như Chu Đức người có đức cao vọng trọng, thực thà trung hậu, ông ta cũng không tha. Ông ta đã từng đến tổ có Chu Đức để tham gia thảo luận, công kích gay gắt Chu Đức: “Anh là Tổng tư lệnh cái quái gì? Từ lâu anh đã hai lòng. Về tổ chức thì anh vào Đảng, nhưng về tư tưởng thì vẫn chưa vào Đảng, anh còn là đảng viên cộng sản à, theo tôi anh là nhân sĩ ngoài đảng, là người nhất quán thực hiện chủ nghĩa tư bản, là người chống tư tưởng Mao Trạch Đông”. Ngày 5 tháng 8 năm 1966, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8, Mao Trạch Đông dán bài “Nã pháo vào Bộ Tư lệnh - Một bài đại tự báo của tôi”. Các đại biểu tham gia hội nghị đều hốt hoảng lo sợ vì hành động đột ngột này. Đây là sự tỏ rõ thái độ cuối cùng thật quyết liệt. Tâm trạng của mọi người vô cùng nặng nề, tình hình quả thực rất nghiêm trọng. Nhân vật thứ nhất của Trung ương Đảng đã đích thân xuất đầu lộ diện, đã dán đại tự báo công kích nhân vật thứ hai, đây là hiện tượng hiếm thấy từ xưa đến nay trên toàn thế giới. Mặc dù trong bài đại tự báo chưa chỉ đích danh, nhưng hướng mũi nhọn thì đã rất rõ ràng. Một khi Đảng bị chia rẽ thì tiếp theo đó sẽ là vấn đề đứng về phía nào. Hoặc là đi theo Mao Trạch Đông, hoặc là đi theo Lưu Thiếu Kỳ, hai con đường tất phải chọn một. Khang Sinh đứng trước tờ đại tự báo, thản nhiên nhưng trong lòng ông ta vô cùng đắc ý, của báu đặt cọc của ông ta đã đúng. Ông ta đã nắm được mạch của Mao Trạch Đông, việc ngả ván bài cuối cùng với Lưu Thiếu Kỳ chỉ còn là vấn đề thời gian sớm hay muộn. Đại cách mạng văn hóa là hai lực lượng đối chọi nhau, một mất một còn, có tôi thì không có anh, có anh thì không có tôi. Rốt cuộc thì ra tay với ai, ra tay như thế nào, ra tay vào lúc nào, Khang Sinh có bí quyết riêng của mình mà không thể nói với ai. Ông ta chú ý đến tầng thứ, phân chia đẳng cấp, định ra biện pháp thích hợp cho từng người, từng việc, từng lúc. Đây không chỉ là một môn nghệ thuật, mà cũng là một môn chiến lược học và sách lược học. Ví dụ, đối với bọn phàm phu tục tử nói chung, chỉ cần ngăn cản ông ta cái gì thì ông ta sẵn sàng trở mặt vô tình bất cứ lúc nào, gạt phăng ngay không một chút do dự; đối với những người có địa vị tương đương với ông ta, ông ta sẽ hơi thận trọng một chút, ông ta phải đắn đo lợi hại được mất, khi nắm trong tay đến tám mươi phần trăm thắng lợi thì ông ta mới xuất trận, cho dù có đánh hòa thì đối phương cũng chẳng làm gì được ông ta. Nhưng đối với người có địa vị cao, quyền lực lớn hơn ông ta, thì ông ta rất thận trọng. Có xuất kích hay không, xuất kích lúc nào, xuất kích bằng cách gì, ông ta đều cân nhắc kỹ lưỡng. Khi thắng bại còn khó phân định thì ông ta thường thường ẩn nấp bên trong không tùy tiện lộ mặt, nhằm để lại cho mình con đường phía sau có thể tiến có thể lùi. Sách lược của ông ta là: Trước tiên cổ động người khác xuất trận, đẩy người khác lên tuyến đầu, thông qua việc trinh sát hỏa lực hoặc khéo léo thả một quả khinh khí cầu, thăm dò hướng gió, đợi đến khi đã nắm chắc mười mươi, lúc đó ông ta sẽ xông lên một cách không do dự, mở nước rút, đến trước hái đào! Cuộc đấu tranh giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ là điều hiếm thấy trong lịch sử của Đảng. Trước mắt nhân vật thứ nhất đã chủ động xuất kích, xung phong hãm trận, đã đến mức một trận bối thủy (trận đánh không có đường lui). Mặc dù Lưu Thiếu Kỳ có tư cách từng trải, có danh vọng, có thực lực, nhưng xét cho cùng ông không chiếm ưu thế. Trong tình thế nắm chắc phần thắng tuyệt đối, Khang Sinh cảm thấy chẳng cần phải do dự, mà phải dũng cảm tiến tới, xông lên trước giành công đầu. Ông ta đọc đại tự báo của Mao Trạch Đông, như một con nghiện, hút cho đã vậy, tinh thần phấn chấn, ông ta liền bắn viên đạn của mình: “Đây không chỉ là do Bộ Tư lệnh đã nảy sinh vấn đề trong cuộc đại cách mạng văn hóa này, mà còn là do trong một thời gian khá dài có một đường lối tư sản”. “Từ lâu tôi đã nhận thấy, lúc còn ở công tác ở khu trắng, Lưu Thiếu Kỳ không chủ trương tiến hành đấu tranh vũ trang, không chủ trương thực hiện chiến lược lấy nông thôn bao vây thành thị, mà là đắm đuối với thành thị, trên thực tế là chấp hành chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa kinh tế, từ bỏ nền chính trị của giai cấp vô sản, từ bỏ việc đề cao chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ bỏ vũ trang. Ông ta hoàn toàn không phải là đại biểu của đường lối đúng đắn ở khu trắng”. “Trong chiến tranh chống Nhật, đúng lúc Mao Chủ tịch kêu gọi quần chúng đánh bại đế quốc, phong kiến xây dựng nước Trung Hoa mới, thì tháng 7 năm 1939, nhằm chống lại tư tưởng cách mạng và đường lối Cách mạng của Mao Chủ tịch, Lưu Thiếu Kỳ đã tung ra “Bàn về sự tu dưỡng của người đảng viên cộng sản” bàn đến triết học phong kiến tu dưỡng ý thức tư tưởng và ăn ở xử thế, muốn cho mọi người xa rời cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gay gắt trước mắt, mà đi tu thân dưỡng tính theo chủ nghĩa cá nhân tư sản”. “Sau chiến tranh chống Nhật thắng lợi, Lưu Thiếu Kỳ sợ chiến tranh, sợ cách mạng, ảo tưởng hòa bình, nên đã đưa ra một giai đoạn mới hoà bình dân chủ”. “Sau khi giành được chính quyền thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, để chống lại đường lối cách mạng vô sản của Mao Chủ tịch, để chống nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, Lưu Thiếu Kỳ đã phát biểu một loạt bài, ra sức đề cao bóc lột, cổ vũ phát triển chủ nghĩa tư bản đi con đường tư bản chủ nghĩa”. “Trong thời gian ba năm khó khăn, Lưu Thiếu Kỳ đã phối hợp với cuộc tiến công của kẻ thù giai cấp trong và ngoài nước, ra sức công kích đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân, dấy lên xu hướng xử lại án, xu hướng làm ăn riêng lẻ”. “Năm 1964, trong phong trào tiến hành giáo dục xã hội chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn, Lưu Thiếu Kỳ đã đề ra đường lối cơ hội bề ngoài là “tả” thực chất là hữu, đối lập với đường lối đúng đắn của Mao Chủ tịch”. “Trong đại cách mạng văn hóa, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình lại trấn áp cách mạng, thực hiện khủng bố trắng, đối lập với đường lối đại cách mạng văn hoá vô sản của Mao Chủ tịch”. Khang Sinh nói lia lịa, giọng điệu gay gắt, biến Lưu Thiếu Kỳ thành kẻ thù vô cùng nguy hiểm và đáng sợ, hình như không đánh đổ ông thì giang sơn xã hội chủ nghĩa đó sẽ bị hủy diệt trong chốc lát, hàng trăm triệu nhân dân lại rơi vào vòng nước sôi lửa bỏng. Sau khi hội nghị Trung ương kết thúc, với sự cổ vũ của Khang Sinh, tất cả các công cụ tuyên truyền được mở máy, tiến hành một cuộc tuyên truyền tập thể, kịch đầu phố, kịch nói, báo bảng, tranh châm biếm, phát thanh, báo chí, tất cả ra trận. Lưu Thiếu Kỳ đã không phải là người nữa mà là một con ma mặt xanh nanh nhọn đang há miệng uống chậu máu. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:03:55 am 10. Cấp “giấy chứng nhận đặc biệt” cho đội chiến đấu bắt phản bội Ngày 18 tháng 8 năm 1966, nhiệt độ ở Bắc Kinh lên tới 34oC, làn sóng nóng của đại cách mạng văn hóa cũng lớp sau cao hơn lớp trước. Lại một kỳ tích làm chấn động thế giới xảy ra. Hàng trăm triệu Hồng vệ binh từ Nam Bắc Trường Giang, hai bờ Hoàng Hà, trong ngoài Trường Thành của Tổ quốc phút chốc đổ về Bắc Kinh. Nhà trọ, khách sạn, chiêu đãi sở, các phòng học của các trường đại học, trung học, tiểu học, cơ quan, cung thể dục, kho tàng... đều chật ních, đó là các vị khách do Mao Trạch Đông mời đến, chuẩn bị một cuộc duyệt lực lượng chưa từng có trong lịch sử. Sáng sớm hôm ấy, Hồng vệ binh từ khắp các nơi đổ về đại lộ Trường An Đông và Trường An Tây. Quảng trường Thiên An Môn cờ đỏ bay phấp phới, núi người biển người, Mao Trạch Đông đeo băng Hồng vệ binh, mặc bộ quân phục màu cỏ úa, bước lên lễ đài Thiên an Môn. Lúc này, Khang Sinh cũng đứng trên lầu thành Thiên An Môn. Ông ta từ trên cao nhìn xuống, một biển người mênh mông, cảm khái muôn phần. Ông ta hình như đang đứng giữa trung tâm của Trung Quốc rộng mênh mông, mấy triệu con người đang uốn lượn thét gào dưới chân ông ta. Giữa trời đất, ông ta thực sự cảm thấy mình là một vĩ nhân của thế giới. Vô tình ông ta nhìn thấy Lưu Thiếu Kỳ đang đứng cách ông ta không xa. Lập tức, nỗi tức giận từ trong lòng trào lên. Mi có tư cách gì để bước lên Thiên An Môn? Mi phải đóng cửa mà ngẫm nghĩ tội lỗi. Mi bệ vệ bước lên Thiên An Môn, đây là sự ra oai, để cho những người không rõ chân tướng biết rằng Lưu Thiếu Kỳ chưa bị đổ, vẫn là người lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Sự hành xử quyền lực như thế của mi chính là để tỏ rõ quyền lực, tỏ rõ quyền lực chính là củng cố quyền lực. Mi còn muốn giãy giụa đến cùng. Nghĩ đến đây, ông ta không kìm nổi mình nữa: Không cho mi biết mặt thì mi sẽ không biết sự lợi hại của Khang Sinh ta. Phải đổ dầu vào lửa, bắn cho hắn ta một phát nữa. Ra tay thế nào đây? Tiếng hô khẩu hiệu trên Quảng trường không ngắt nổi dòng suy nghĩ của ông ta. Ông ta nhíu mày, nghĩ kế. Chợt ông ta nhìn thấy đại biểu Hồng vệ binh của Đại học Nam Khai, cũng đứng trên lễ đài tham gia duyệt, ông ta nhanh trí: hay lắm, lực lượng này có thể lợi dụng được. Ông ta đi vào phòng nghỉ phía sau lưng, lấy bút máy, viết vào một mảnh giấy: Các đồng chí cần nhanh chóng rà soát lại những kẻ “phản bội” ở các đơn vị, các ngành. Những tên cầm đầu Hồng vệ binh ở Đại học Nam Khai vô cùng sung sướng. Họ nhảy chân sáo. Được trực tiếp nhận chỉ thị của cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Trung ương Khang Sinh quả là vinh hạnh vô cùng, coi như lên trời. Họ coi như thánh chỉ, lập tức triệu tập hội nghị khẩn cấp, nghiên cứu việc thực hiện chỉ thị của Khang Sinh như thế nào. Họ tranh thủ từng phút từng giây, ngày đêm phấn đấu, rất nhanh chóng tổ chức được một “đội chiến đấu bắt phản bội” khoảng bảy tám chục người. Nhưng khẩu thiệt vô bằng, lại sợ các đơn vị khác không chịu phục tùng, thế là họ lập tức đem chỉ thị của Khang Sinh in hàng loạt, phát cho mỗi thành viên trong đội. Các đội viên của “đội chiến đấu bắt phản bội” này như cáo mượn oai hổ tay cầm chỉ thị của Khang Sinh làm “Giấy chứng nhận đặc biệt” xông bừa đến các đơn vị lục soát, đọc và sao chép hồ sơ lưu trữ, tuyên bố xóa bỏ chế độ bảo mật mà Nhà nước quy định trước đây. Quả nhiên, Hồng vệ binh đã kiếm được tài liệu của Tập đoàn phản bội gồm 61 người đem trình tận tay Khang Sinh. Ông ta vui mừng khôn xiết, cẩm nang diệu kế do mình đặt ra đã được các tiểu tướng Hồng vệ binh thực hiện từng việc một. Chiều hôm ấy, ông ta tiếp các tiểu tướng đã xung phong hãm trận tại Phòng họp nhỏ trong Đại lễ đường Nhân dân. “Các đồng chí đã lập công lớn”. Khang Sinh giống như một người anh cả được mọi người tôn trọng vỗ vai các tiểu tướng, cười khà khà: “Đây là một tập đoàn phản bội lớn, đều là những quả bom hẹn giờ chôn giấu trong Đảng. Lôi họ ra, mới chỉ là bắt đầu, còn phải tiếp tục cố gắng”. Các tiểu tướng Hồng vệ binh nhìn nét mặt thần bí khó lường của Khang Sinh với vẻ chưa hiểu rõ lắm: “Còn ai chưa lôi ra?” Có tài liệu này, Khang Sinh vẫn thấy chưa đủ. Bọn ở Thành ủy Bắc Kinh cũ, vẫn chưa đào sâu, chỉ vẻn vẹn ở sai lầm đường lối, còn chưa đủ để làm cho những người này mãi mãi không ngóc đầu lên được, sai lầm đường lối, có tính co dãn quá lớn, chỉ có cái vành kim cô phản bội, mới quét sạch thế lực của Lưu Thiếu Kỳ trong một mẻ lưới, đánh chìm chúng xuống 18 tầng địa ngục mãi mãi. Bộ phận Hông vệ binh nào thích hợp nhất đây? ông ta vắt óc suy nghĩ: “Ồ!” Ông ta chợt nghĩ ra: “Gần kề trước mắt mà!”. Ông ta đi đến bàn làm việc cầm lấy bút viết “soàn soạt” lên một tờ giấy, lập tức tờ giấy được đưa tới Nhiếp Nguyên Tử với tính chất của “một văn kiện khẩn”. Nhiếp Nguyên Tử nghe thấy người của Văn phòng Khang Sinh đưa thư, đâu dám chậm chễ, mở thư ra xem, đúng là nét bút của Khang Sinh: “Đội chiến đấu Vệ Đông Đại học Nam Khai, Thiên Tân đã tổ chức một đoàn điều tra Lưu Nhân v.v... Theo kết quả điều tra sơ bộ, thấy nội bộ Thành ủy Bắc Kinh cũ đã ẩn náu rất nhiều kẻ phản bội, tôi muốn Tân Bắc Đại (“Đại học Bắc Kinh mới”, đề từ của Mao Trạch Đông sau sự kiện Nhiếp Nguyên Tử v. v... dán đại tự báo - N.D) cũng nên tổ chức điều tra một cách hệ thống những tài liệu cụ thể về lũ phản động lén lút Bành Chân, Lưu Nhân…” Nhiếp Nguyên Tử cầm thư hỏa tốc làm thẻ lệnh, nhanh chóng họp hội nghị khẩn cấp, quyết định tổ chức đội chiến đấu thứ hai, lại gọi là “Binh đoàn bắt kẻ phản bội”, chuyên điều tra nghiên cứu vấn đề của những kẻ phản bội. Họ quy định kỷ luật nghiêm khắc, tất cả mọi hành động phải tuyệt đối bí mật. Sau đó, Nhiếp Nguyên Tử báo cáo kế hoạch hành động này lên Khang Sinh. Khang Sinh nhận được báo cáo rất vui mừng: “Các đồng chí làm tốt lắm!” Ông ta khen miệng: “Bây giờ sẽ phải điều động thiên binh vạn mã, nở hoa toàn diện, tám mặt xuất kích, làm cho chúng rơi vào trong vòng vây trùng điệp”. Được Khang Sinh biểu dương, tinh thần của đội chiến đấu càng lên. Họ bắt kẻ phản bội, bắt đến đỏ cả mắt, chỗ nào cũng là kẻ phản bội. Nhưng họ đã nắm được ý đồ của Khang Sinh, đối với vấn đề lịch sử của cán bộ nói chung và cán bộ trung cấp, họ không thèm để ý, quá nhỏ. Phương hướng chủ công của họ là Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh, còn có 300 chính trị phạm được cứu ra khỏi nhà tù sau khi Quốc Cộng hợp tác năm 1937. Trận đánh giải quyết tận gốc đã thắng, cái mũ cầm đầu tập đoàn phản bội tất nhiên là sẽ đội lên đầu Lưu Thiếu Kỳ. Từ đó, tập đoàn Lưu Thiếu Kỳ sụp đổ hoàn toàn, mãi mãi không thể ngóc đầu lên được. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:04:28 am 11. Lễ hậu biếu Lâm Bưu Trong cuộc nổi loạn cách mạng văn hóa này, Mao Trạch Đông, đã chơi ván bài cuối cùng với Lưu Thiếu Kỳ, tình hình cả nước căng thẳng khác thường, Khang Sinh ý thức được rằng thời cơ của “thần tiên đánh trận” đã đến, nhưng ông ta một “thằng nhãi” quyết không thể vì việc đó mà để gặp phải tai ương, cần phải nắm quyền từ loạn, ai mạnh thì theo người ấy, tục ngữ có câu “có sữa là có mẹ” mà. Khang Sinh thấy rõ quyền lực của Lâm Bưu trong quân đội đang lên, “Lưu Thiếu Kỳ sụp đổ, cái ghế thứ hai đến chín phần mười là thuộc về Lâm Bưu”, thế là ông ta đã nghĩ ra mưu kế có đi có lại, Lâm Bưu đã từng kích động Trung Quốc có người làm chính biến, Khang Sinh nắm chặt lấy cơ hội lập công này, bắt bóng bắt gió, một lòng giúp Lâm Bưu gạt bỏ Hạ Long “mối hoạ từ bên trong”. Từ tài liệu “Binh biến tháng Hai”, ông ta viết một loạt bài, sẩm tối ngày 27 tháng 7, tin đồn “Bành Chân mưu tính làm chính biến” truyền đến Đại học Sư phạm Bắc Kinh, lập tức tin này bùng nổ trong cả nước, phút chốc gươm giáo sáng loà, gió mây cuồn cuộn, cứ như là tòa nhà xã hội chủ nghĩa sắp sụp đổ đến nơi. Khang Sinh nắm chắc “sự thật” về “binh biến” thậm chí thời gian “binh biến”, địa điểm và việc bố trí cụ thể đều đã điều tra “hai năm rõ mười” làm cho bài nói “ngày 18 tháng 5” vừa ăn cướp vừa la làng, của Lâm Bưu đã đúng với thực tế. “Binh biến tháng Hai” trên giấy, biến thành cái cớ của Khang Sinh và qua sự kích động của ông ta, đã làm cho hàng ngàn hàng vạn người tin là thật. Trò này của ông ta đã làm cho Lâm Bưu vui lòng. “Người hiểu ta là Khang Sinh vậy”, Lâm Bưu ngầm vui trong dạ. Chiều hôm sau, sau khi nói chuyện ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh, sau khi nghỉ trưa, Khang Sinh vừa ngồi bên cạnh bàn làm việc xem văn kiện, thì chuông điện thoại reo, ông ta cầm ống nghe hỏi: “Ai?”, “Tôi là Diệp Quần”, đối phương đáp, “Ồ!” Giọng của Khang Sinh lập tức dịu ngay xuống, “có việc gì không?” “Anh Khang!” Diệp Quần cười: “Tối qua anh ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh đã làm sáng tỏ vấn đề “Binh biến tháng Hai”, và đã tuyên bố với quần chúng, Lâm Phó chủ tịch rất vui, anh ấy bảo tôi hỏi thăm anh”. “Đây cũng là làm theo chỉ thị của Lâm Phó chủ tịch” Khang Sinh khiêm tốn nói. Trên thực tế, sự kiện “Binh biến tháng Hai” ầm ĩ cả Bắc Kinh là do Khang Sinh đích thân tạo ra. Vụ án oan giật gân chấn động cả Trung Quốc là một âm mưu lớn đã được Khang Sinh suy tính chuẩn bị. Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn lần lượt bị đánh đổ, Hạ Long không một chút đề phòng cũng bị vu cáo hãm hại, trong tình hình không qua bất cứ thủ tục phê chuẩn nào, đường đường một ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Chủ nhiệm ủy ban Thể dục quốc gia mà bị bắt vào ngục, thân bị tù đày rơi vào cảnh tuyệt vọng kêu trời không thấu gọi đất không hay, nhanh chóng bị đày đọa đến chết trong tù. Lâm Bưu đã thanh trừ được trở lực trong quân đội, còn nhân vật bàn tay sắt khống chế cơ cấu quyền lực cao nhất tổ chuyên án Trung ương Khang Sinh đã cho “nổ trái bom nghìn bảng” trên người Hạ Long. Ông ta đã sớm thấy rõ ràng báo cáo chân tướng sự thật về việc mượn Đại học Bắc Kinh, Đại học Nhân dân làm nơi đóng quân của khu Vệ Thú Bắc Kinh đề ngày 29 tháng 7, nhưng lại ngang nhiên hãm hại và vu cáo cho đến khi Hạ Long lâm vào chỗ chết. Khang Sinh xứng đáng là tên đại gian đắc chí trong cách mạng văn hóa. Ông ta tùy tiện bịa đặt ra những án kiện lớn ly kỳ quái đản, gặp thời tiết thích hợp, ông ta liền đăng đàn làm mưa làm gió, ăn không nói có, dựng nên những cái án oan khủng khiếp. Sau khi Hạ Long hàm oan chết, Khang Sinh đầu tư thêm vào con người Lâm Bưu. Ông ta thấy quyền lực của Lâm Bưu ngày càng lớn, địa vị càng ngày càng cao, nên lại nghĩ ra chủ kiến lấy lòng Lâm Bưu. Ông ta dặn dò những người tâm phúc trong Trường Đảng Trung ương, in ra hàng mấy vạn cuốn “Lâm Bưu văn tập” bìa cứng in nhũ có quy cách cao, đồng thời cung kính mang sách mẫu đến tặng Lâm Bưu, cướp công đòi thưởng, khiến Lâm Bưu cảm thấy mình có một mưu sĩ tài ba túc trí đa mưu hiếm có. Nhưng xét cho cùng Khang Sinh là một thương nhân đầu cơ siêu đẳng trên chính trường, xảo quyệt tột đỉnh, văn tập đã in ra, nhưng không phát xuống dưới. Ông ta chuẩn bị cả hai tay, để lại đường rút lui cho mình, vì ông ta biết, cổ kim trong ngoài, người có uy quyền cái thế thường thường đều có kết cục là tấn bi kịch. Quả nhiên, sự suy tính kỹ càng của Khang Sinh đã ứng nghiệm. “Ngày 13 tháng 9” năm 1971, Lâm Bưu đánh cắp máy bay chạy trốn đã bị rơi xuống Ôn-đô-han (Ôn Đô Nhĩ Han) nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ chết mất mạng. Khang Sinh sợ toát mồ hôi, ông ta lập tức hạ lệnh đem mấy vạn quyển sách “Lâm Bưu văn tập” mà thần không hay quỷ không biết cho vào máy nghiền bột giấy, xóa hết dấu tích. Đủ thấy kẻ có âm mưu lớn Khang Sinh hoàn toàn là một tên can phạm quen đầu cơ, ông ta chỉ biết làm xằng làm bậy, giở âm mưu chính trị, đổi trắng thay đen, lẫn lộn phải trái, khi chân tướng bại lộ thì ông ta ngồi im, mai danh ẩn tích. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:05:40 am 12. “Đại ân nhân” của Giang Thanh Suốt cuộc đời đầu cơ chính trị của Khang Sinh, do âm mưu của ông ta biến đổi khôn lường nên chưa bao giờ có một bọn sống chết theo nhau, nếu đem so sánh thì thời gian hợp tác của ông ta với Giang Thanh là lâu nhất. Trước tiên là giới thiệu Giang Thanh vào “Long Môn”, tiếp đó là việc thẩm tra cán bộ trong phong trào chỉnh phong ở Diên An, đã bao che lịch sử bị bắt của Giang Thanh, bảo vệ xa giá cho Giang Thanh qua cửa ải. Về sau lại bày mưu tính kế để Hạ Tử Trân từ Liên Xô về lìa bỏ Mao Trạch Đông mãi mãi, một lần nữa lại bảo vệ được xa giá của Giang Thanh. Trong cách mạng văn hóa, sau khi đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ, Khang Sinh lại làm cho Giang Thanh chú ý đến Vương Quang Mỹ, người mà Giang Thanh cực kỳ ghen ghét, gán tội “đặc vụ” cho Vương Quang Mỹ, thay Giang Thanh bắn một “mũi tên phục thù”. Tất cả đều làm cho Giang Thanh rất vui lòng. Sự cảm kích của Giang Thanh chẳng phải nói, bà ta đã tôn xưng Khang Sinh là “người tài giỏi”, là “đại ân nhân”, thường xuyên thông báo tin tức cho Khang Sinh, hoặc đứng bên cạnh ca ngợi. Sau sự kiện “13 tháng 9” năm 1971, Tập đoàn Lâm Bưu sụp đổ hoàn toàn, Khang Sinh giống như một con bạc bị thua cháy túi. Sau khi ông ta bị một đòn đau như vậy nên đã bị ốm nặng. Bản thân không thể tự ra tay, đành phải đặt cọc cả vào Giang Thanh, đem hết sức lực bảo vệ “Nữ hoàng” cố làm hết chức trách “cố vấn”, tìm một chỗ dựa mới. Khang Sinh, một đời điêu toa, quỷ kế đa đoan, ông ta đánh bạc bao giờ cũng đặt hai nơi, hơn nữa còn đặt ở chỗ chắc ăn nhất. Năm 1967, Khang Sinh cho rằng “tay chân” ở địa phương của Lưu Thiếu Kỳ đã giải quyết tương đối rồi nên ông ta nghĩ ra một cách mới, lo lắng trong quân đội vẫn còn “cặn bã rác rười” của Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, thế là ông ta đưa trình Lâm Bưu một báo cáo “Bắt một nhóm người trong quân đội”. Mao Trạch Đông về đến Bắc Kinh, nghe được tin các nơi bao vây tấn công quân đội, cảm thấy tình thế nghiêm trọng “làm loạn quân đội có nghĩa là giải quyết tận gốc”. Ông tức giận mắng Lâm Bưu, Khang Sinh và đồng bọn làm loạn quân đội để cướp quyền. Lấy bút viết: “Đây là “cỏ độc”, “Trả lại ta Trường Thành”. Đây đúng như tiếng sét ngang tai, Khang Sinh sợ cuống cuồng, hồn xiêu phách lạc. Sau đó Khang Sinh lại nghĩ ra kế “Kim thiền thoát xác” tìm kẻ chết thay. Gạt bỏ tay chân đắc lực của họ không tiếc tay, hãm hại tay chân và những người tài giỏi, tống giam Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ. Sau đó, Khang Sinh lo sợ chuyện sau rèm bại lộ, lại bày mưu bức hại tàn khốc người bạn của Vương Lực và Quan Phong là Lý Quảng Văn, Chủ nhiệm Văn Phòng của tổ tuyên truyền thuộc Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Khang Sinh chỉnh người có thể không cần bất cứ một sự thật và chứng cứ nào. Khang Sinh bắt kẻ “phản bội” như là ma. Một hôm, có người nhắc ông ta: Khi Thịnh Thế Tài làm Thái thượng hoàng ở Tân Cương, vào năm 1942 đã bắt một loạt cán bộ của Đảng Cộng sản. Đầu năm 1967, Khang Sinh liền hạ lệnh nhất loạt thành lập tổ chuyên án điều tra đối với những nhân viên được phóng thích từ nhà tù Tân Cương năm 1946, đồng thời chỉ rõ: “Đây là một tập đoàn phản bội ẩn náu trong Đảng ta, hành vi phản bội theo địch của họ là rõ mồn một, nhưng họ lại giấu Đảng một cách có tổ chức có kế hoạch”. Tổ chuyên án theo lệnh của Khang Sinh, trong kiểm tra ngoài xét hỏi triển khai thẩm vấn ầm ĩ, nhưng họ đã vấp phải sự chống đối ngoan cường. Có người kiên trì nguyên tắc, hoàn toàn không thừa nhận mình là kẻ phản bội. Khang Sinh nổi giận với các nhân viên tổ chuyên án, gân xanh trên cổ chằng chịt: “Chẳng lẽ đối xử với bọn phản bội này như thế nào cũng phải đợi tôi dạy các anh à? Đầu óc các anh là bã đậu hay sao?” Nhân viên tổ chuyên án sợ chết khiếp như mơ như tỉnh, Khang Sinh nói vậy có nghĩa là ngầm bảo họ có thể dùng nhục hình. Thế là, trong 90 người, có 26 người bị đày đọa đến chết, có người may mắn sống sót thì phải ngồi tù 8 năm. Cho mãi đến năm 1975, án này được Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai hỏi đến mới được sửa lại kết luận sai. Năm 1968, đại cách mạng văn hóa tiến hành được hơn hai năm, nội chiến toàn diện, sục sôi hừng hực. Sử dụng gậy gộc đánh giáp lá cà “đã không thể giải được hận trong lòng”. Thế là Giang Thanh mời Khang Sinh người đa mưu túc kế đến, trực tiếp bàn vấn đề các ủy viên Trung ương khóa 8. Khang Sinh hiểu hết mọi ý, suốt đêm cân nhắc, đến ngày 21 tháng 7, đã đích thân sắp xếp một danh sách những ủy viên Trung ương chính thức và dự khuyết khoá 8 có “vấn đề chính trị”. Trong danh sách, ông ta xác định thành “phản bội”, “đặc vụ”, “thông đồng với nước ngoài” và “có vấn đề chính trị” chiếm 72% tổng số. Những cái mũ đáng sợ này, như vòng kim cô, chụp lên đầu những ủy viên Trung ương, ủy viên dự khuyết Trung ương, ủy viên ủy ban kiểm tra Trung ương, ủy viên thường vụ đại hội đại biểu nhân dân và Hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc, làm cho họ không cựa quậy gì được. Cái trò giải quyết tận gốc này, làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước tan nát, từ đó đã dọn sạch đường cho chúng thay đổi chế độ một cách triệt để. Sau khi Khang Sinh và Giang Thanh vét sạch trong một mẻ lưới những người trụ cột của đất nước và những người tài giỏi của dân tộc thì họ lại ra tay với quần chúng. Ngày 4 tháng 2 năm 1968, tại Đại lễ đường nhân dân, Khang Sinh và Giang Thanh sau khi nghe báo cáo của tổ cốt cán thuộc ủy ban cách mạng văn hóa Nội Mông đã chỉ thị: ““Đảng Nội nhân” (Đảng của người Nội Mông - N.D) đến nay vẫn còn hoạt động bí mật. Khi bắt đầu, diện bắt có thể rộng một chút. Không nên sợ, phải hạ quyết tâm tiếp tục lôi ra, phải bắt tới cùng không thể nương nhẹ!” “Đảng Nội nhân” là do Khang Sinh dựng nên. Theo gợi ý của Khang Sinh, một cơn gió đen bắt “Đảng Nội nhân” đã thổi dữ dội trên bầu trời thảo nguyên Nội Mông. Hàng ngàn hàng vạn người vô tội trở thành những người bị hại trong vụ án oan này. Trong vụ án “Đảng Nội nhân” do Khang Sinh bịa ra, đảng viên, cán bộ và quần chúng bị bức hại tới con số hàng ngàn hàng vạn người. Hàng ngàn người bị đánh tàn phế, có đến hơn 16.200 người bị đày đoạ đến chết. Khang Sinh như một tên quan toà trước mặt Diêm Vương, một tay cầm cuốn “sổ sinh tử”, bất luận là ai, chỉ cần có tên trong sổ thì đừng hòng thoát chết. Trong đại cách mạng văn hóa, bị ông ta trực tiếp chỉ đích danh có 839 người. Ông ta điểm tên ai thì không cần chứng cứ gì cả. Chỉ cần tình hình chính trị yêu cầu, ông ta có thể bắt bóng bắt gió, đẩy người ta vào chỗ chết. Vào lúc trước khi “cách mạng văn hóa” nổ ra, ông ta đã “phát hiện” ra “chỗ hiểm” của “Hải Thụy bãi quan” “tố cáo” “bí mật” của “Đề cương tháng Hai”, đồng thời “chỉ huy” việc nặn ra bài đại tự báo đầu tiên. Khang Sinh coi ba nước cờ của mình là ba tuyệt chiêu, đủ thấy tuyệt chiêu của ông ta trước hết là hại người, sau là đến đòi công, dựa vào ba tuyệt chiêu này, ông ta đã leo lên ngôi báu tày trời cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Trung ương một cách thuận lợi. Trong việc tạo ra vụ án oan đặc biệt lớn, vụ án bức hại Lưu Thiếu Kỳ trong lịch sử của Đảng, Khang Sinh cũng có vai trò đặc biệt. Để vu cáo hãm hại Lưu Thiếu Kỳ, Khang Sinh đã hư cấu ra cái gọi là “Đường lối phản động tư sản”, vu cáo Lưu Thiếu Kỳ đã “chống lại đường lối đúng đắn của Mao Chủ tịch”, gắn “vụ án tập đoàn phản bội 61 người” và “vụ án tập đoàn phản bội Tân Cương” với Lưu Thiếu Kỳ, chụp cho Lưu Thiếu Kỳ bốn cái mũ “phản bội”, “nội gian”, “công tặc” và “đặc vụ” v.v… Ông ta cùng Giang Thanh, Tạ Phú Trị chỉ huy “Tổ chuyên án Lưu Thiếu Kỳ Vương Quang Mỹ” thực hiện nhục hình bức cung, tạo ra chứng cứ giả, cố tình vu cáo Lưu Thiếu Kỳ, Vương Quang Mỹ là “phản cách mạng” v.v... Đã chà đạp về tinh thần, giày vò về thể xác một cách tàn nhẫn nhất, điên cuồng nhất đối với Lưu Thiếu Kỳ. Chúng khám xét nhà của Lưu Thiếu Kỳ, khi phê phán và đấu tố túm tóc Lưu Thiếu Kỳ, cưỡng bức ông ngẩng đầu để chụp ảnh. Giữa thanh thiên bạch nhật, đánh Chủ tịch nước đến mặt mày thâm tím sưng húp, lưng và tay thành tàn tật, cuối cùng đã áp giải Lưu Thiếu Kỳ trong khi có thể xảy ra chết đột ngột bất kỳ lúc nào về Khai Phong, đày đọa cho đến lúc chết. Khang Sinh với tư cách là một “quân sư quạt mo” của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, Giang Thanh đã phạm những tội ác trong cách mạng văn hóa khiến người ta phải sởn gai ốc. Mỗi một vụ án lịch sử quan trọng, mỗi một vụ vu cáo hãm hại và tấn công những nhà cách mạng cũ thì hầu như không vụ nào không có bàn tay của Khang Sinh, thậm chí ông ta là kẻ “chủ mưu” ở vị trí nòng cốt. Ngay lúc còn hơn hai tháng nữa thì chết, ông ta đã nhân cơ hội Đặng Tiểu Bình rời Bắc Kinh, đột ngột tiến công về tinh thần, đích thân xuất trận, ôm bệnh đến chỗ Mao Trạch Đông để gièm pha nói xấu Đặng Tiểu Bình, nói Đặng Tiểu Bình “muốn xử lại án đại cách mạng văn hóa” thật đúng là “chó đen giữ mực”. Sau đó, Giang Thanh và đồng bọn với sự bày mưu tính kế sau rèm của Khang Sinh đang như “ngọn nến trước gió”, nhanh chóng dấy lên làn sóng tội ác “Phê Đặng, chống lại xu hướng xử lại án hữu khuynh” lan tràn khắp đất nước. “Bọn bốn tên” “lập tức từ thế thủ chuyển sang thế công”. Trung quốc vừa mới có một chút sức sống lại rơi vào trong sự hỗn loạn cực độ. Khang Sinh nằm trên giường bệnh, sắp sửa về Tây Thiên, “Trải qua cuộc liều cái mạng già lần cuối cùng “bọn bốn tên” lại dần dần chiếm ưu thế, nhưng ông ta lại không thể tận mắt nhìn thấy, mối họa từ bên trong là Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình v.v... “sụp đổ”... Ngày 16 tháng 12 năm 1975, với tâm trạng nửa thỏa mãn, nửa hối tiếc không cam chịu ông ta vào cõi hoàng tuyền. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:33:06 pm 2 “Máy thăm dò” sau ba mươi năm cầm “Thượng phương bảo kiếm” Người nốí nghiệp được ghi vào Điều lệ Đảng chuyện chưa từng có xưa nay 1. Sau ba mươi năm đợi thời cơ trở lại Dựa vào “đại phê phán” để mở đường, dựa vào những “vở kịch mẫu” để làm vốn, Giang Thanh một tay nắm Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, một tay thao túng Tổ chuyên án Trung ương, trên vũ đài chính trị Trung Quốc đã lộ rõ mồn một, không còn bị mây mù che khuất nữa. Cái “máy thăm dò” Giang Thanh, thực sự cần phải “trở về để báo cáo”, Giang Thanh cầm “Thượng phương bảo kiếm” thì Giang Thanh không còn là một Giang Thanh đơn giản nữa. Cùng với việc Đào Chú bị đánh đổ vào tháng 1 năm 1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng rơi vào tình trạng tê liệt, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương lập tức thế chân. Tháng 2 năm 1967, cái gọi là “Dòng nước ngược tháng Hai” bị phê phán, Diệp Kiếm Anh, Trần Nghị, Đàm Chấn Lâm, Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn “đứng bên lề”, họ đều là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Bảy ủy viên Bộ Chính trị này “đứng bên lề”, Bộ Chính trị cũng rơi vào tình trạng tê liệt. Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cũng từng bước thay thế Bộ Chính trị! Vào thời kỳ đầu của cách mạng văn hóa, các văn kiện Trung ương phần lớn đều ký tên của Trung ương Đảng và Quốc vụ viện để đưa xuống cấp dưới. Ngày 11 tháng 1 năm 1967, Trung ương gửi điện mừng tới các đoàn thể tạo phản cách mạng ở thành phố Thượng Hải, là do “Trung ương Đảng, Quốc vụ viện, Quân ủy Trung ương, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cùng ký tên”. Thế là, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cũng được xếp ngang hàng với Trung ương Đảng, Quốc vụ viện và Quân ủy Trung ương. Từ đó về sau, rất nhiều văn kiện Trung ương đều ký tên theo cách ký ngang hàng cả bốn cơ quan lãnh đạo. Sự bành trướng quyền lực của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, có nghĩa là sự bành trướng quyền lực của Giang Thanh. Bà ta là Tổ phó Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Nhưng trên thực tế, trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, bà ta nói gì thì coi như là kết luận, Tổ trưởng Trần Bá Đạt cũng không thể không theo lệnh bà ta. Ngoài ra, cùng với những làn sóng cách mạng văn hóa liên tục tẩy rửa, các thành viên trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cũng bị “tẩy” đi không ít. Đến tháng 8 năm 1967, Vương Lực, Quan Phong bị đổ, đầu năm 1968, Thích Bản Vũ bị bắt, quyền lực của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương càng tập trung vào tay Giang Thanh. Tháng 10 năm 1968, vào khoảng trước và sau Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ 12 khóa 8, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương mở rộng thành “Cuộc hội ý của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương”. Cuộc hội ý này, ngoài năm thành viên của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương là Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên ra có Chu Ân Lai, Tạ Phú Trị, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Uông Đông Hưng, Ôn Ngọc Thành, gồm 12 người. Cuộc hội ý của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương do Chu Ân Lai chủ trì. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, ông làm việc trong sự bao vây của bọn theo phái “tả”. “Cuộc hội ý của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương”, trên thực tế là chủ trì công việc hằng ngày của Trung ương Đảng. Báo chí Trung Quốc rất chú trọng đến việc xếp thứ tự tên người. Đọc kỹ lại báo chí trong thời gian cách mạng văn hóa, từ thứ tự xếp tên trên các báo có thể vẽ lên một lịch trình từng bước thăng tiến về địa vị chính trị của Giang Thanh trong cách mạng văn hóa. Mới đầu, ngày 19 tháng 8 năm 1966 “Nhân dân nhật báo” đăng tin của (Tân Hoa xã) “Mao Chủ tịch cùng hàng triệu quần chúng chúc mừng đại cách mạng văn hóa” có thể thấy, vị trí của Giang Thanh sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa 8 vừa kết thúc xếp thứ 24. Bản tin ấy đã xếp thứ tự như sau: “Mao Chủ tịch, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Đào Chú, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Lý Phú Xuân, Trần Vân, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Hạ Long, Lý Tiên Niệm, Đàm Chấn Lâm, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh, Bạc Nhất Ba, Lý Tuyết Phong, Tạ Phú Trị, Lưu Ninh Nhất, Tiêu Hoa, Dương Thành Vũ, Giang Thanh...”. Nói thực ra, trong số bao nhiêu vị nguyên soái, bao nhiêu nhà cách mạng cũ, Giang Thanh chen được vào vị trí 24 đã có thể coi là không dễ dàng rồi. Hơn một năm sau, ngày 2 tháng 10 năm 1967, trong bản tin “Mao Chủ tịch cùng 50 vạn quân dân thủ đô chung vui ngày Quốc khánh” đăng trên “Nhân dân nhật báo”, vị trí của Giang Thanh đã tăng lên vị trí thứ 17. “Mao Chủ tịch, Lâm Phó Chủ tịch, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Chu Đức, Lý Phú Xuân, Trần Vân, Tống Khánh Linh, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Lý Tiên Niệm, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh, Tạ Phú Trị, Giang Thanh...”. Đến ngày 2 tháng 5 năm 1968, trong bản tin “Mao Chủ tịch, Lâm Phó Chủ tịch cùng 50 vạn quân dân thủ đô chung vui ngày Quốc tế Lao động 1-5” đăng trên “Nhân dân nhật báo”, Giang Thanh nhanh chóng leo lên vị trí thứ 9: “Mao Chủ tịch, Lâm Phó Chủ tịch, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Chu Đức, Lý Phú Xuân, Trần Vân, Giang Thanh...” Sau Giang Thanh là: Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Lý Tiên Niệm, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh...”. Điều này chứng tỏ rõ ràng rằng, các quý vị mới của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương đã vượt lên trên các vị tướng soái. Ngày 2 tháng 10 năm 1968, trong bản tin “Mao Chủ tịch cùng đại biểu công nhân cả nước và quân dân thủ đô mừng Quốc khánh” đăng trên “Nhân dân nhật báo”, địa vị của Giang Thanh nổi bật, nháy mắt nhảy lên vị trí thứ 5. Trên thông báo Hội nghị viết như thế này: Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng: Mao Trạch Đông, Lâm Bưu (Dưới đây sắp xếp thứ tự theo nét bút) Diệp Quần, Diệp Kiếm Anh, Lưu Bá Thừa, Giang Thanh, Chu Đức, Hứa Thế Hữu, Trần Bá Đạt, Trần Tích Liên, Lý Tiên Niệm, Lý Tác Bằng, Ngô Pháp Hiến, Trương Xuân Kiều, Khâu Hội Tác, Chu Ân Lai, Diêu Văn Nguyên, Khang Sinh, Hoàng Vĩnh Thắng, Đổng Tất Vũ, Tạ Phú Trị. Tuy theo “tính số nét bút để sắp xếp”, nhằm né tránh thứ tự đích thực của các ủy viên Bộ Chính trị, nhưng hai lần thông báo tin tức về “Đại hội khoá 9 của Đảng (vào ngày 14 và 29 tháng 4 năm 1969) đều ghi rõ vị trí thứ 6 của Giang Thanh. “Hôm nay Chủ tịch đoàn có: “Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên...” 5 người trên Giang Thanh là ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, tức Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh. Trên thực tế, Giang Thanh không phải là ủy viên Thường vụ bởi vì bà ta là vợ Mao Trạch Đông, nếu bà ta vào ủy viên Thường vụ, thì quá lộ liễu. Cuối cùng, Giang Thanh đã leo lên đỉnh cao quyền lực. Bà ta là một người đàn bà đầy tham vọng quyền lực, nay đã mãn nguyện. Điều ý vị sâu xa nhất là, tròn 30 năm trước khi bà ta thành nhân vật thứ 6 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 1939, bà ta đã chung sống với Mao Trạch Đông. Giấu tài, ung dung đi lên, một diễn viên hay ghen tuông, hiếu thắng, đến 30 năm sau bước vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, có thể nói Giang Thanh đã tính toán chi ly, dùng hết mưu kế. Trong Hội nghị lần thứ 1 khoá 9, năm thành viên của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương: Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên đều vào Bộ Chính trị. Sau đó, “cái gánh hát” có Tổ cách mạng văn hóa Trung ương này, cũng theo đó mà kết thúc. Tổ cách mạng văn hóa Trung ương là bậc thang để Giang Thanh và đồng bọn leo lên Bộ Chính trị. Đã trở thành ủy viên Bộ Chính trị thì cũng chẳng cần gì đến thang nữa. Sau này, các văn kiện truyền đạt xuống cấp dưới đều lấy danh nghĩa của Trung ương Đảng, không còn thấy cái Tổ cách mạng văn hóa Trung ương lăng nhăng lít nhít nữa, tuy cách mạng văn hóa vẫn đang tiến hành. Vào Bộ Chính trị, trở thành “nhân vật thứ 6” Giang Thanh đắc chí hí hửng. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:39:40 pm 2. Quan hệ “mờ ám” với người kế nghiệp chắc chắn như định đóng cột Một người khác đã có đủ lông đủ cánh là Lâm Bưu. Ông ta trở thành Phó Chủ tịch duy nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Khi Đại hội khóa 8 của Đảng, lập 4 Phó Chủ tịch là Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân. Tháng 5 năm 1958, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 8 của Đảng bầu thêm Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch, ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8, chức vụ Phó Chủ tịch của Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân không còn nhắc đến nữa. Ở Đại hội khóa 9, Giang Thanh đã từng đề nghị lập thêm mấy Phó chủ tịch, đồng thời khoe khoang là mình “có năng lực nắm được toàn bộ sự lãnh đạo đất nước, rất nhiều người không hiểu tôi”. Ý của Giang Thanh là bà ta có thể trở thành phó chủ tịch. Mao Trạch Đông chỉ thoáng đã biết dụng ý của bà ta, bèn nói: “Lập thêm mấy phó chủ tịch thì có thể, nhưng Giang Thanh không thể làm được”. Giang Thanh không làm được phó chủ tịch thì bà ta cũng phản đối người khác làm phó chủ tịch. Kết quả cuối cùng là chỉ có một phó chủ tịch, tức là Lâm Bưu. Lâm Bưu trở thành phó chủ tịch duy nhất, ở vào vị trí “dưới một người trên vạn người”, địa vị người kế nghiệp của ông ta đã “như đinh đóng cột”. Điều mà Lâm Bưu rất đắc ý là dưới tay ông ta có 5 “hổ tướng”: Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác, tất cả đều đã vào Bộ Chính trị. Kết quả “ê kíp Lâm gia” đã hình thành. Quan hệ của Lâm Bưu và Giang Thanh, trở nên rất tế nhị và phức tạp, thiên biến vạn hóa. Giang Thanh và Lâm Bưu đã lợi dụng lẫn nhau: Mới đầu Giang Thanh muốn lộ mặt trên vũ đài chính trị Trung Quốc, đã từng nhờ “đồng chí Lâm Bưu ủy thác”, triệu tập cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội và tạo ra được cuốn “Kỷ yếu”. Tháng 1 năm 1967, bổ nhiệm Giang Thanh làm cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Quân ủy Trung ương. Tháng 9 cùng năm, lại bổ nhiệm Giang Thanh làm cố vấn công tác văn hóa của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tháng 3 năm 1968, Giang Thanh muốn được đề bạt nhưng Chu Ân Lai không duyệt, ngay lập tức Lâm Bưu nâng cho bà ta từ bậc 9 lên bậc 5 hành chính. Ngày 24 tháng 3 năm 1968, trong một cuộc mít tinh tiếp kiến cán bộ bộ đội, Lâm Bưu đã “đánh giá cao” Giang Thanh: “Đồng chí Giang Thanh là một đồng chí rất xuất sắc trong số những đồng chí nữ của Đảng ta, cũng là một cán bộ rất xuất sắc trong số những cán bộ của Đảng ta, tư tưởng của đồng chí ấy rất cách mạng, đồng chí ấy có tình cảm cách mạng rất nhiệt thành, đồng thời, lại rất có tư tưởng, rất nhạy bén đối với sự vật, rất có khả năng xem xét vấn đề, có thể phát hiện vấn đề và sử dụng các biện pháp. Trước đây nhiều năm do sức khóc của đồng chí ấy không tốt, cho nên mọi người không hiểu đồng chí ấy, trong thời gian đại cách mạng văn hóa này đã có thể thấy được tác dụng vĩ đại của đồng chí ấy. Một mặt, đồng chí ấy trung thành chấp hành chỉ thị của Mao Chủ tịch, mặt khác đồng chí ấy có sáng tạo rất lớn, có thể nhìn thấy vấn đề, phát hiện vấn đề. Trong cách mạng văn hóa đã có rất nhiều công lao to lớn. Cố nhiên là do sự lãnh đạo sáng suốt của Mao Chủ tịch và sự cố gắng của đồng chí ấy trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, sự cố gắng của các đồng chí Trung ương đảng, nhưng đồng chí ấy có tác dụng đặc biệt của riêng mình, đồng chí ấy luôn luôn đứng trên tuyến đầu của phong trào này”. Lúc Lâm Bưu nói chuyện, Diệp Quần đã lãnh đạo mọi người hô: “Học tập đồng chí Giang Thanh! Gửi lời chào đồng chí Giang Thanh! Thà chết bảo vệ đồng chí Giang Thanh!”. Lâm Bưu coi trọng Giang Thanh như vậy thực ra là coi trọng cái địa vị và tác dụng của “đệ nhất phu nhân” của bà ta. Ông ta hiểu sâu sắc rằng, làm vui lòng Giang Thanh cũng tức là làm vui lòng Mao Trạch Đông. Đối với ông ta mà nói Mao Trạch Đông mới là người quan trọng nhất. Trong giờ phút then chốt, Giang Thanh cũng ủng hộ Lâm Bưu, đặc biệt là sau Hội nghị Lư Sơn. Cùng với chiêu bài công khai “Phê Trần chỉnh phong”. Những đám mây mù trên núi Lư Sơn coi như đã tan đi một phần. Nhưng mây mù không hoàn toàn tan hết. Lâm Bưu vẫn bị mây che sương lấp. Mao Trạch Đông đã từng nói ở Lư Sơn rằng: “Lần này bảo vệ Lâm Phó Chủ tịch”. Tuy nói ông biết rõ Lâm Bưu là quan thầy của Trần Bá Đạt nhưng vẫn giữ “thể diện” cho Lâm Bưu. Chiến lược từ xưa đến nay của Mao Trạch Đông là “tiêu diệt từng bộ phận”, cho nên trước tiên phải “tiêu diệt” Trần Bá Đạt, giữ lại Lâm Bưu. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:44:10 pm Mao Trạch Đông trong bài “Một chút ý kiến của tôi”, đã nêu việc phê phán Trần Bá Đạt là: “Tôi đã trao đổi ý kiến với đồng chí Lâm Bưu, chúng tôi nhất trí cho rằng: “Làm như vậy cũng là để lôi kéo Lâm Bưu”. Cũng chính vì vậy, trong Công báo của Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 9 công bố ngày 6 tháng 9 năm 1970, hình như ở Lư Sơn gió đã yên mây đã lặng, đã tuyên bố: “Mao Chủ tịch và bạn chiến đấu thân thiết của Người, Lâm Phó chủ tịch đã nói chuyện trong Hội nghị”. Công báo còn đưa ra khẩu hiệu vang dội: “Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Mao Chủ tịch và Lâm Phó Chủ tịch làm phó” “Đoàn kết lại, tranh thủ thắng lợi to lớn hơn!”. Mao Trạch Đông chú ý đến “có lý, có lợi, có tiết tấu”. Ở Hội nghị Lư Sơn vẫn chưa cãi nhau với Lâm Bưu, vì lúc này còn quá sớm. Đại hội Đảng khóa 9 kết thúc mới hơn một năm, một câu ghi trong điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lâm Bưu là người nối nghiệp còn chưa ráo mực. Nhưng đánh đổ Trần Bá Đạt, chứng tỏ một cách rõ ràng là địa vị của Lâm Bưu đã hết sức nguy ngập. Cùng với sự sụp đổ của Trần Bá Đạt, Khang Sinh dịch lên phía trước một bậc, trở thành nhân vật thứ 4 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Giang Thanh cũng dịch lên trước trở thành nhân vật thứ 5, tức là: Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Khang Sinh, Giang Thanh... Phong trào “Phê Trần chỉnh phong” từng bước đi sâu đã chạm đến 5 viên “đại tướng” bộ hạ của Lâm Bưu là Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác. Lâm Bưu ngầm mài dao. Từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 3 năm 1971, con trai Lâm Bưu là Lâm Lập Quả đã lập ra kế hoạch chính biến ở Thượng Hải, cũng tức là “Kỷ yếu công trình 571”. Cái gọi là “571” cũng đồng âm với “khởi nghĩa vũ trang”. Cục thế Trung Quốc là gươm súng đã sẵn sàng, một cuộc chính biến đang ở trạng thái sắp bùng nổ. Trong giờ phút cực kỳ không bình thường này đã xẩy ra một sự việc cũng cực kỳ không bình thường. Đó là ngày 31 tháng 7 năm 1971, “Nhân dân nhật báo” đăng một tin: “Tờ “Nhân dân nhất báo” số kép 7-8 và tờ “Giải phóng quân họa báo” số kép ra ngày 1-8, đã xuất bản”, nội dung tin như sau: Hai tờ họa báo đều in một mặt ảnh của Mao Chủ tịch. In ảnh bạn chiến đấu thân thiết của Mao Chủ tịch là Phó Chủ tịch Lâm Bưu học tập trước tác của Mao Chủ tịch, bức ảnh này đã thể hiện rõ trước mắt mọi người tình cảm vô sản nồng đậm sự trung thành vô hại của Phó Chủ tịch Lâm Bưu với Mao Chủ tịch, đã khích lệ và cổ vũ rất lớn đối với mọi người chúng ta. Bức ảnh “Phó Chủ tịch Lâm Bưu học tập trước tác của Mao Chủ tịch” là bức ảnh chưa từng có, vì Lâm Bưu thông thường đều đội mũ bộ đội, nhưng ở bức ảnh này lại không đội mũ, lộ rõ cái đầu hói nhẵn bóng. Điều này chứng tỏ nhà nhiếp ảnh này tuyệt nhiên không phải là nhà nhiếp ảnh bình thường, đã bảo được Lâm Bưu bỏ chiếc mũ mà bao nhiêu năm nay không rời khỏi đầu ông ta. Dưới tấm ảnh ghi “Cố gắng không biết mệt mỏi” tên nhà nhiếp ảnh rất lạ lẫm: “Tuấn Lĩnh”. “Tuấn Lĩnh” là ai nhỉ? Là Giang Thanh đấy! Bức ảnh này là tự tay Giang Thanh chụp cho Lâm Bưu khi bà ta đến nhà Lâm Bưu vào ngày 9 tháng 6 năm 1971. Bà ta yêu cầu Lâm Bưu nâng cuốn “Tuyển tập Mao Trạch Đông” cuốn sách bìa đỏ chữ vàng, biểu thị sự trung thành của ông ta đối với Mao Trạch Đông. Nhưng trên thực tế, Lâm Bưu đang ngấm ngầm mài dao chuẩn bị ám sát Mao Trạch Đông, còn lòng dạ đâu mà đọc “Tuyển tập Mao Trạch Đông” cơ chứ?! Cuối cùng, hơn một tháng sau khi tấm ảnh “kiệt tác” được công bố thì vào lúc 1 giờ 50 phút sáng ngày 13 tháng 9 năm 1971, Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả đã ngồi trên chiếc máy bay mang số hiệu 256 vượt qua biên giới Trung Quốc bay vào không phận của nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. 2 giờ 30 phút sáng thì chiếc máy bay rơi xuống Ôn-đu-han, 8 người đàn ông và 1 người đàn bà trên máy bay đều bị tử nạn. Đó chính là “Sự kiện 13 tháng 9”. Đến trước khi Lâm Bưu chạy trốn, từ Bắc Đới Hà, Diệp Quần còn gọi điện cho Giang Thanh: “Đồng chí Lâm Bưu hỏi thăm đồng chí Giang Thanh, mong đồng chí Giang Thanh hãy giữ gìn!”. Giang Thanh đáp lại trong điện thoại: “Xin Lâm Phó Chủ tịch yên tâm!”. Diệp Quần còn cho người đem biếu Giang Thanh mấy quả dưa hấu. Vào chiều ngày 12 tháng 9, Giang Thanh đã đem theo 4 quả dưa do Lâm Bưu tặng đi chơi Di Hòa Viên. Khi Giang Thanh cùng những người tùy tùng của bà ta ăn dưa hấu, bà ta còn trịnh trọng nói: “Những quả dưa hấu này là do Lâm Phó Chủ tịch tặng tôi, tôi lại tặng lại các anh các chị. Đây là sự quan tâm của Lâm Phó Chủ tịch đối với chúng ta, mọi người chúng ta cùng cảm ơn Lâm Phó Chủ tịch!”. Theo một bản thống kê ghi chép điện thoại tìm thấy tại nơi ở của Giang Thanh sau khi “bọn bốn tên” bị đập tan, chỉ trong 2 năm lẻ 9 tháng từ 1969 đến 1971, điện thoại qua lại giữa Giang Thanh với Lâm Bưu và Diệp Quần đã tới 470 lần, bình quân cách hơn 2 ngày gọi 1 lần. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:46:14 pm 3. Theo sát từng bước được ghi vào Điều lệ Đảng Trong Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8, theo đề nghị của Mao Trạch Đông, Lâm Bưu trở thành người nối nghiệp của Mao Trạch Đông. Sở dĩ Mao Trạch Đông nhằm vào Lâm Bưu, không phải vì ông ta là người ít tuổi nhất trong số ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng (Năm 1966, Lâm Bửu 60 tuổi, Đặng Tiểu Bình 62 tuổi) mà là vì ông ta ủng hộ và yêu mến Mao Trạch Đông trong một thời gian dài, “chính trị nổi bật”, còn Mao Trạch Đông phát động toàn diện đại cách mạng văn hóa lại cần sự ủng hộ của quân đội. Từ tháng 9 năm 1959, Lâm Bưu thay Bành Đức Hoài chủ trì công tác hằng ngày của Quân ủy Trung ương, nửa thật lòng nửa giả dối đón ý hùa theo ca ngợi Mao Trạch Đông. Khi Mao Trạch Đông và tuyến thứ nhất của Trung ương có sự bất đồng nghiêm trọng, ông ta kiên quyết đứng về phía Mao Trạch Đông. Ngày 1 tháng 8 năm 1959, trong Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị thảo luận vấn đề Bành Đức Hoài, đầu năm 1962 trong Hội nghị 7000 người có rất nhiều người hoài nghi “ba ngọn cờ hồng”, Lâm Bưu đã ủng hộ chủ trương của Mao Trạch Đông, lựa ý hùa theo Mao Trạch Đông. Trong xây dựng quân đội, ông ta xét đoán ý của Mao Trạch Đông, thực hiện đường lối “chính trị nổi bật”. Ông ta không những được Mao Trạch Đông coi là đúng đắn và trọng dụng mà còn có uy tín rất cao trong đông đảo cán bộ chỉ huy quân đội. Trong đại cách mạng văn hóa, Lâm Bưu càng ôm chặt lấy cái tôn chỉ “theo sát” Mao Trạch Đông. Nguyên tắc để ông ta xử lý khi đọc văn kiện của Trung ương là “Chủ tịch khuyên tròn thì tôi khuyên tròn”, cũng có nghĩa là “Mao Chủ tịch đồng ý thì tôi đồng ý” (bản thân Lâm Bưu không tự khuyên tròn mà là do thư ký làm thay). Trong bài nói chuyện, ông ta ra sức suy nghĩ tìm ra các loại ngôn từ “sinh động” để ca ngợi tâng bốc Mao Trạch Đông, không chỉ là giương cao”, “theo sát”, “nổi bật” mà là rất nhiều câu “dăn dạy”, đề từ của ông ta có: - Cách mạng nhân dân dưới sự dẫn dắt của tư tưởng Mao Trạch Đông là đầu tàu đẩy lịch sử tiến lên! - Mao Chủ tịch lãnh tụ vĩ đại, thống soái vĩ đại, người thây vĩ đại, người cầm lái vĩ đại muôn năm! muôn muôn năm! - Giương cao ngọn cờ đỏ vĩ đại của tư tưởng Mao Trạch Đông lập công mới trong cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản! - Đi trên biển lớn dựa vào người cầm lái, làm cách mạng dựa vào tư tưởng Mao Trạch Đông! Đại hội khóa 9, thông qua Điều lệ Đảng có rất nhiều nội dụng mới, trong đó, điều khiến người ta chú ý nhất là đã ghi Lâm Bưu là người nối nghiệp của Mao Trạch Đông vào cương lĩnh chung của Điều lệ Đảng: “Đồng chí Lâm Bưu luôn luôn giương cao ngọn cờ đỏ vĩ đại của tư tưởng Mao Trạch Đông, chấp hành và bảo vệ trung thành nhất, kiên quyết nhất đường lối cách mạng vô sản của đồng chí Mao Trạch Đông. Đồng chí Lâm Bưu là bạn chiến đấu thân thiết nhất, là người nối nghiệp của đồng chí Mao Trạch Đông”. Nhìn chung về lịch sử các Đảng Cộng sản thế giới thì chưa có đảng nào lại ghi tên người nối nghiệp vào Điều lệ Đảng của mình, thật là hoang đường tột độ. Báo cáo chính trị và Điều lệ Đảng đã thông qua, việc còn lại là bầu ủy viên Trung ương, đó là cao trào của Đại hội 9, Lâm Bưu và đồng bọn Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác; Giang Thanh và đồng bọn Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Tạ Phú Trị bắt đầu cuộc giao tranh căng thẳng. Đại cách mạng văn hóa đã gần ba năm, bây giờ đã đến lúc phân phối lại quyền lực, hai bên đều cố hết sức. Mới đầu các vị “tú tài” của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương khi chỉnh lý các ý kiến về việc sửa chữa Điều lệ Đảng, đã viết: “Rất nhiều đồng chí kiến nghị, Đại hội khóa 9 phải ra sức tuyên truyền Lâm Phó Chủ tịch là bạn chiến đấu thân thiết của Mao Chủ tịch, là người nối nghiệp của Mao Chủ tịch, đồng thời ghi vào Báo cáo và Nghị quyết của Đại hội 9, đề cao hơn nữa tiếng tăm cao cả của Lâm Phó Chủ tịch”. “Rất nhiều đồng chí” ở đây, vốn dĩ chỉ là một số “chiến sĩ phái tạo phản”. Họ cũng chỉ kiến nghị viết vào Báo cáo và Nghị quyết của Đại hội 9 rằng Lâm Bưu là người nối nghiệp của Mao Trạch Đông. Ngày 27 tháng 10 năm 1968, khi Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa 8 thảo luận về Điều lệ Đảng, Giang Thanh kiên trì đòi ghi điều Lâm Bưu với tư cách là người kế nghiệp của Mao Trạch Đông vào Điều lệ Đảng. Giang Thanh nói, Lâm bưu “rất có phong độ của nhà cách mạng vô sản, đồng chí ấy khiêm tốn, thì phải ghi vào điều lệ Đảng”. Tháng 4 năm 1969, trước ngày họp Đại hội 9 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong Hội nghị Trung ương thảo luận Điều lệ Đảng, Giang Thanh lại nói: “Tên của Phó Chủ tịch Lâm Bưu vẫn phải ghi vào, ghi vào rồi, có thể làm cho người khác không sinh lòng thèm muốn”. Trương Xuân Kiều phụ họa: tên của Lâm Bưu “được viết vào Điều lệ Đảng, như vậy là sẽ yên tâm”. Khang Sinh cũng giữ ý kiến này, hòa một giọng với Giang Thanh. Trong Hội nghị Trung ương 12 khóa 8, Khang Sinh đã nói: “Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8 đã xác định đồng chí Lâm Bưu là người kế nghiệp của Mao Chủ tịch, đây là kế lớn trăm năm, là việc lớn quan hệ đến vận mệnh từ nay về sau của Đảng và Nhà nước ta, quan hệ đến cách mạng nước ta và cách mạng thế giới. Đồng chí Lâm Bưu rất khiêm tốn, đồng chí đã yêu cầu lược bỏ đoạn nói tới đồng chí ấy trong Dự thảo Điều lệ Đảng. Ý kiến của chúng tôi là đoạn này cần phải giữ lại. Đồng chí Lâm Bưu là người kế nghiệp của Mao Chủ tịch, điều này đã được Hội nghị công nhận, đó là điều xứng đáng. Thế là trong hàng loạt tiếng tán thành của các “tú tài” của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, Lâm Bưu với tư cách là người nối nghiệp của Mao Trạch Đông được ghi vào Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:47:19 pm 4. Giang Thanh trở giáo đánh lại Sau Đại hội 9, giữa Lâm Bưu người đã cảm thấy đủ lông đủ cánh với Giang Thanh thỉnh thoảng cũng xảy ra mâu thuẫn, nhưng lại đầu mày cuối mắt, anh lợi dụng tôi, tôi lợi dụng anh... Vào năm 1970 và đầu năm 1971, quan hệ giữa Lâm Bưu và Giang Thanh giảm hẳn nhiệt độ, nhưng ở rất nhiều mặt họ vẫn giúp đỡ nhau, hơn nữa vẫn luôn luôn hợp tác chặt chẽ, nhằm chống lại “phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa” khơi lại đống tro tàn trong cách mạng văn hóa tiến hành uy hiếp “trả thù” đối với đám quần chúng ô hợp. Từ sau khi Lâm Bưu tan xác ở nước ngoài, bà ta liền “trở giáo đánh lại”: “Lâm Bưu không những muốn làm hoàng đế, mà còn tìm mọi thủ đoạn để bức hại bà ta! Ông ta đã bỏ thuốc độc vào thức ăn của bà ta, trong tất cả những người có âm mưu chống lại Mao Chủ tịch, trên thực tế Lâm Bưu là kẻ gian hiểm nhất, dã man nhất”. Mặc dù sau “Sự kiện 13 tháng 9”, Giang Thanh vội vã lựa gió chống thuyền đánh lại Lâm Bưu, mọi người cũng có nhiều ý kiến phê bình úp mở đối với Giang Thanh, giúp rất nhiều cho Giang Thanh, đó là bức thư Mao Trạch Đông viết cho bà ta vào ngày 8 tháng 7 năm 1966. Đây là một bức thư không bình thường. Tính chất quan trọng của nó không kém “Thông báo ngày 16 tháng 5”. Nó là một trước tác có nội hàm khá rộng lớn mà lại sâu sắc, là một tác phẩm quan trọng về cách mạng văn hóa. Nhưng nó lại không giống như những tác phẩm khác của ông dễ dàng làm cho người ta lý giải, đọc hiểu. Đại thể là vì nội dung có rất nhiều suy nghĩ còn chưa thể công khai với mọi người, thậm chí vẫn chưa thể nói rõ cho các ủy viên trong Bộ Chính trị, còn ông lại cho rằng kết quả của sự trầm tư trong suy nghĩ ở Động Trích Thủy cần phải ghi lại, bảo tồn lại. Suy nghĩ nhiều lần, thấy hình thức thích hợp nhất chính là hình thức viết thư cho vợ để bảy tỏ. Đây là một bức thư có tính chất “Di chúc chính trị”. Xét văn kiện này vô cùng quan trọng, lại rất ít thấy trên sách báo, nên xin chép lại toàn văn như sau: Giang Thanh em: Đã nhận được thư đề ngày 29 tháng 6, em cứ theo ý kiến của hai đồng chí Ngụy, Trần (chỉ Ngụy Văn Bá, Trần Phi Hiển - Người dẫn chú) ở lại đấy (chỉ Thượng Hải – Người dẫn chú) ít lâu sẽ tốt. Tháng này anh có hai cuộc tiếp khách nước ngoài (chỉ Thái tử Vương quốc Nê-pan và các đại biểu quan sát viên dự Hội nghị khẩn cấp Nhà văn Á Phi – Người dẫn chú), sau khi tiếp kiến, đi hay ở sẽ tin cho em biết sau. Từ ngày 15 tháng 6, sau khi rời Vũ Lâm (chỉ Hàng Châu – Người dẫn chú), sẽ ở trong một sơn động tại Tây Phương (chỉ Động Trích Thủy, Thiều Sơn ở phía Tây Hàng Châu nên gọi là “Tây Phương” – Người dẫn chú), thư từ về sẽ không được thuận tiện cho lắm. Ngày 28 đến Bạch Vân Hạc (chỉ Vũ Hán - Người dẫn chú), đã 10 ngày rồi. Ngày nào cũng xem tài liệu, đều rất thú vị. Thiên hạ đại loạn sẽ tới Thiên hạ đại trị. Qua bảy tám năm lại có một lần. Bọn đầu trâu mặt ngựa sẽ nhảy cả ra. Vì bản tính giai cấp của họ quyết định, không nhảy ra không được. Những lời phát biểu của bạn anh (Bài phát biểu dài trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ngày 18 tháng 5 của Lâm Bưu, ra sức niệm “Chính biến kinh”, nêu các loại chính biến cổ kim trong ngoài, lại ca ngợi “thiên tài” cá nhân của Mao Trạch Đông, nói rằng lời của Mao Trạch Đông “câu nào cũng là chân lý, một câu vượt quá một vạn câu của chúng ta” v.v… và v.v... – Người dẫn chú). Trung ương giục phải công bố, anh dự định đồng ý công bố, anh ta chuyên nói về vấn đề chính biến. Vấn đề này, cách trình bày của anh ta trước đây chưa từng có. Một số cách đặt vấn đề của anh ta, anh luôn cảm thấy không yên lòng. Xưa nay anh không tin, mấy cuốn sách nhỏ của anh (chỉ “Tuyển tập Mao Trạch Đông” - Người dẫn chú) lại có sự thần thông quảng đại đến thế. Bây giờ được anh ta thổi lên, toàn Đảng toàn quốc đều đã thổi lên rồi, thật đúng là bà già bán dưa, vừa bán vừa khen (mèo khen mèo dài đuôi). Anh đã bị họ bức lên Lương Sơn, xem ra không đồng ý với họ không xong. Trên những vấn đề trọng đại, phải làm trái với lòng mình để đồng ý với người khác, đây là lần đầu tiên trong đời anh. Thế gọi là không thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người. Nguyễn Tịch người thời Tấn chống Lưu Bang, ông ta đi từ Lạc Dương đến Thành Cao, than rằng: Trên đời không có anh hùng đã khiến đứa trẻ nhỏ thành danh. Lỗ Tấn cũng đã từng nói những lời như thế đối với tạp văn của mình, lòng anh và Lỗ Tấn tương thông với nhau. Anh thích sự thẳng thắn của ông ta. Ông ta nói, mổ xẻ mình thường phải nghiêm hơn mổ xẻ người khác. Sau khi vấp ngã mấy lần, anh vẫn thường như thế. Nhưng các đồng chí thường không tin. Anh tự tin nhưng lại hơi không tự tin. Lúc còn nhỏ anh đã từng nói: Người tự tin sống hai trăm năm, chịu được nước xối ba ngàn năm. Đủ thấy thần khí rất dồi dào. Nhưng lại không tự tin lắm, luôn cảm thấy trong rừng không có hổ, khỉ sẽ xưng đại vương và anh đã biến thành đại vương như thế. Nhưng cũng không phải là chiết trung chủ nghĩa, ở con người anh có một chút của con hổ, là chủ yếu, nhưng cũng có tính khỉ của con khỉ, nhưng là thứ yếu. Anh đã từng lấy Lý Cố người thời Hậu Hán, viết mấy câu trong thư gửi Hoàng Quỳnh, người kiêu căng để gặp trắc trở, người trong sáng dễ bị bôi bẩn. Với những tác phẩm cao xa, nhiều người khen sẽ bớt sự nhạt nhẽo, dưới sự nổi tiếng thực rất khó phù hợp. Hai câu sau, chính là chỉ anh. Anh đã từng đọc mấy câu này trong Hội nghị Thường vị Bộ Chính trị. Con người ta quý là ở sự sáng suốt tự biết mình. Trong Hội nghị Hàng Châu tháng 4 năm nay, anh đã bày tỏ ý kiến không đồng tình của mình về cách đặt vấn đề như thế của bạn bè. Nhưng nào có ích gì! Trong Hội nghị tháng 5 Bắc Kinh, anh ta vẫn cứ nói như thế (Hội nghị tháng 5 là chỉ Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng - Người dẫn chú). Trên báo chí càng nói rất dữ, cứ như là thần kỳ lắm. Như vậy thì anh chỉ có cách là lên Lương Sơn thôi. Anh đoán bản ý của họ là để trừ ma nên phải nhờ Chung Quỳ. Vậy là ở những năm 60 của thế kỷ 20 anh đã làm Chung Quỳ của Đảng Cộng sản. Sự vật rồi sẽ đi tới mặt đối lập, thổi lên càng cao, thì ngã sẽ càng đau, anh đang chuẩn bị để ngã một cú tan nát thịt xương. Điều ấy cũng chẳng có gì quan trọng, vật chất không mất đi, chẳng qua chỉ thành cát bụi mà thôi. Hơn một trăm Đảng trên toàn thế giới (chỉ các Đảng Cộng sản - Người dẫn chú), đại đa số Đảng không tin chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mác và Lê-nin cũng bị người ta đánh cho tan nát rồi, huống hồ chúng ta? Anh khuyên em nên chú ý đến vấn đề này, không nên để thắng lợi làm say mê lú lẫn, phải thường xuyên nghĩ đến nhược điểm, khuyết điểm và sai lầm của mình. Vấn đề này anh đã nói với em không biết bao nhiêu lần rồi, em còn nhớ chứ, tháng 4 ở Thượng Hải cũng vẫn nói. Những điều vừa nói ở trên, có phần khá bí mật, có một số phần tử chống Đảng, chẳng phải đã nói như thế hay sao? Nhưng họ muốn đánh đổ tất cả đảng ta và cả bản thân anh, anh chỉ nói về tác dụng mà anh đã tạo nên, cảm thấy có một số vấn đề nêu không được thỏa đáng, đó là điều khác biệt giữa anh và bọn phản động. Việc này bây giờ không thể công khai, tất cả phái tả và đông đảo quần chúng đều nói như vậy, nếu công khai sẽ dội gáo nước lạnh vào họ, giúp cho phái hữu, mà nhiệm vụ hiện nay là phải đánh đổ phái hữu trên cơ bản (không thể là toàn bộ) trong toàn đảng và toàn quốc, vả lại sau bảy tám năm nữa, lại phải có một phong trào để càn quét bọn đầu trâu mặt ngựa, rồi còn phải có nhiều lần càn quét nữa, cho nên tất cả những điều anh nói ở đây đều phải giữ kín, bây giờ không thể công khai, bao giờ công khai thì chưa biết được vì phái tả và đông đảo quần chúng không hoan nghênh anh nói như thế. Có lẽ vào một dịp nào đó sau khi anh chết, khi phái hữu nắm quyền, để họ đưa ra công khai. Họ sẽ lợi dụng những điều anh nói để mưu đồ giương cao ngọn cờ đen mãi mãi, nhưng làm như vậy thì họ sẽ không gặp may. Ở Trung Quốc, từ sau khi hoàng đế bị đánh đổ vào năm 1911 bọn cầm quyền phản động thường không thể tồn tại lâu dài. Lâu nhất bất quá chỉ hai mươi năm (Tưởng Giới Thạch), hễ nhân dân làm phản, nó sẽ đổ. Tưởng Giới Thạch lợi dụng sự tín nhiệm của Tôn Trung Sơn đối với hắn, đã mở ra một trường Hoàng Phố, thu nhận một loạt bọn phản động, từ đó mà lập nghiệp. Hắn chống cộng thì gần như toàn bộ giai cấp địa chủ tư sản ủng hộ hắn, lúc ấy đảng Cộng sản chưa có kinh nghiệm, nên hắn đã tạm thời vui mừng vì được thế. Nhưng trong hai mươi năm, nó chưa bao giờ thống nhất, cuộc chiến tranh giữa hai đảng Quốc, Cộng, cuộc chiến tranh giữa Quốc dân đảng và các phái quân phiệt, cuộc chiến tranh chống Nhật, cuốí cùng là cuộc nội chiến lớn trong vòng bốn năm, hắn đã phải cuốn gói cút ra mấy hòn đảo. Nếu Trung Quốc xảy ra cuộc chính biến phái hữu chống cộng, thì anh khẳng định là chúng cũng sẽ không được yên, rất có thể sẽ đoản mệnh, vì tất cả những người cách mạng đại diện cho lợi ích của hơn chín mươi phần trăm nhân dân sẽ không dung tha. Lúc ấy phái hữu có thể lợi dụng lời của anh mà đắc thế nhất thời, phái tả nhất định sẽ lợi dụng những lời nói khác của anh để tổ chức lại, đánh đổ phái hữu. Cuộc đại cách mạng văn hóa này chính là một cuộc diễn tập nghiêm chỉnh. Có một số nơi (ví dụ thành phố Bắc Kinh) đã thâm căn cố đế, sẽ sớm diệt vong. Một số cơ quan ví dụ Bắc Đại (Đại học Bắc Kinh - N.D), Thanh Hoa (Đại học Thanh Hoa - N.D) gốc rễ dọc ngang cành la xum xuê mà đã sụp đổ trong khoảnh khắc. Phàm những nơi phái hữu càng hung hăng thì thất bại của chúng càng thảm hại, phái tả càng mạnh mẽ. Đây là một cuộc diễn tập có tính chất toàn quốc, đều sẽ thu được những bài học riêng của mình. Kết luận: Tiền đồ là rất tươi sáng, nhưng đường đi sẽ quanh co khúc khuỷu, vẫn là hai câu cũ rích ấy. Lâu không viết thư, nên hễ viết là rất dài, lần sau sẽ nói tiếp nhé! Mao Trạch Đông Ngày 8 tháng 7 Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:53:17 pm 5. Khang Sinh làm cho Giang Thanh trở thành nhân vật thứ ba “Tam giác sắt” chính trị ở Bắc Kinh không còn tồn tại nữa, Mao Gia Loan của Lâm Bưu biến mất, chỉ còn lại Trung Nam Hải của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Điếu Ngư Đài của Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên. Đột nhiên, không thấy Khang Sinh ở Điếu Ngư Đài. Tuy vậy, nhà số 8 ở đấy vẫn giữ nguyên phòng ở của Khang Sinh, nhưng, ông ta đã dọn về nhà, nhà ông ta ở ngõ Tiểu Thạch Kiều, phía Tây đại lộ Cựu Cổ Lâu, Bắc Kinh. Vì sao Khang Sinh rời khỏi Điếu Ngư Đài? Con người này vốn vẫn được gọi là gian giảo xảo quyệt. Từ sự sụp đổ của Lâm Bưu, Trần Bá Đạt, ông ta đã nhìn thấy bóng dáng của mình. Ông ta đã là nhân vật thứ ba chỉ sau Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, nhưng lại tự biết “ở nơi cao không chịu nổi rét”, chưa biết chừng sẽ trở thành Lâm Bưu, Trần Bá Đạt, trong cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng lần sau. Huống hồ, Giang Thanh đang từng bước đi lên, sớm muộn gì cũng sẽ căm ghét ông ta làm vướng chân vướng tay. Khang Sinh, người đã từng trải qua bao cuộc đấu tranh trong Đảng, hiểu một cách sâu sắc sự huyền bí ở trong đó. Ông ta cáo bệnh ở nhà, quả là ông ta cũng có một số bệnh thật. Khang Sinh co lại, còn Giang Thanh thì tiến lên cùng với việc in ấn và truyền đạt bức thư mà Mao Trạch Đông gửi cho bà ta cảm thấy càng “tốt đẹp” thêm, huống hồ cá tính của bà ta vốn xưa nay là hiếu thắng thích hơn người. Do Khang Sinh cáo bệnh, trên thực tế bà ta đã bước lên vị trí của nhân vật thứ ba chỉ dưới Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai! Tin đồn ầm ĩ ở Bắc Kinh: “Giang Thanh sẽ làm Phó Chủ tịch!”. Giang Thanh đã tự tay “bồi dưỡng” Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên, lúc này đã trở thành lực lượng “chính” quan trọng nhất về chính trị của bà ta. Trong Trung ương Đảng, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên là “quý nhân mới của cách mạng văn hóa”. Họ nhờ cách mạng văn hóa mà phất lên, một bước tới trời, đã leo lên đỉnh cao quyền lực. Trương Xuân Kiều tự cảm thấy cũng rất “tốt đẹp”. Ở Lư Sơn, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 9, Trương Xuân Kiều trở thành mục tiêu tập trung công kích của Lâm Bưu và Trần Bá Đạt. Bây giờ bọn Lâm Bưu và Trần Bá Đạt đã trở thành tập đoàn phản cách mạng, Trương Xuân Kiều bị họ công kích trở thành cái vốn chính trị khó có thể được nhiều hơn. Trương Xuân Kiều thường đánh giá tiền đồ chính trị của mình rằng: Hoặc là trở thành Phó Chủ tịch Đảng, hoặc là thành Phó Thủ tướng Quốc vụ viện. Từ sau khi Trần Bá Đạt sụp đổ, Diêu Văn Nguyên đã thế chân, trở thành người “Tổng quản dư luận” của Trung Quốc. Vị “tú tài” bỗng chốc nổi danh bởi bài bình “Hải Thụy bãi quan”, đối với Giang Thanh thì bảo sao nghe vậy. Ông ta hiểu rõ sức mạnh của “đệ nhất phu nhân”. Năm xưa ông ta còn cưỡi chiếc xe đạp đến câu lạc bộ Cẩm Giang, được gặp vị “đệ nhất phu nhân” này nên mới được lên trời xanh như bây giờ. Ba vị “quý nhân mới của cách mạng văn hóa” đang rung đùi vuốt râu. Nhất là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã ngày một già yếu đi một cách rõ rệt, họ càng thêm vui mừng phấn khởi vì “ưu thế tuổi tác” của mình. Không nói cũng rõ, quyền hành trong tương lai của Trung Quốc nhất định sẽ rơi vào tay họ... Từ trước Đại hội Đảng khóa 9, Giang Thanh đã tuyên bố mình có năng lực nắm quyền lãnh đạo toàn bộ đất nước, “chỉ vì nhiều người chưa hiểu tôi”, lúc này Giang Thanh càng muốn “nắm quyền lãnh đạo toàn bộ đất nước”. Trước đây Giang Thanh chẳng thèm để ý đến lịch sử Trung Quốc, bây giờ bỗng nhiên trở thành một học sinh say sưa học tập Võ Tắc Thiên và tất cả lịch sử cuộc đời của những người đàn bà gần cận với ngôi báu vương quyền khác. Giang Thanh luôn nói với các quan chức trợ lý của mình rằng: “Đàn bà có thể làm hoàng đế, cho dù ở thời đại Cộng sản chủ nghĩa cũng có thể có một người thống trị là đàn bà”. Mới đầu với khẩu khí tán thưởng, bà ta nhắc đến một vị hoàng thái hậu trong lịch sử: Lã Trĩ. Bà ta rất hứng thú với quan niệm và mánh khoé của Từ Hy Thái hậu, nói trắng ra là Giang Thanh muốn làm “Nữ hoàng”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:55:39 pm 3 Thảm thương không nỡ nhìn “bốn đại kim cương” gia hình tàn khốc Giở đủ mọi trò tinh quái “bọn bốn tên” muốn được Mao yêu 1. Công lao của Diệp Quần Lâm Bưu vừa lên nắm chính quyền, liền tổ chức ngay ê kíp họ Lâm của mình. Năm hổ tướng dưới tay của ông ta được sắp xếp thành ê kíp họ Lâm. Năm người ấy, văn có Trần Bá Đạt, võ có “bốn đại kim cương”. Nói đến “bốn đại kim cương” thì phải bắt đầu từ một người đàn bà đó là Diệp Quần. Diệp Quần lá một người tliích hoạt động, thích ồn ào, thích hư vinh, không chịu nổi sự tĩnh mịch, hoàn toàn khác với Lâm Bưu. Lâm Bưu đối với bà ta tuy không vừa lòng cho lắm, ghét bà ta nói năng lộn xộn, lảm nhảm dài dòng, tức giận đối với việc bà ta thường lấy danh nghĩa của ông ta làm một số việc ở bên ngoài mà ông ta không biết, thậm chí có một lần bà ta bị ông ta đánh vì đã vượt quyền hành sự, nhưng vì sức khỏe của Lâm Bưu không tốt, rất nhiều việc cần Diệp Quần đứng ra làm, Lâm Bưu rất cần nghe được những tin tức từ Điếu Ngư Đài v.v... từ chỗ bà ta (những tin tức này không thể đọc trên báo chí và văn kiện) có lúc bà ta quanh quẩn với Giang Thanh, Trần Bá Đạt, Ngô Pháp Hiến... đối với Lâm Bưu cũng có rất nhiều điều bổ ích, cho nên Lâm Bưu không thể xa rời Diệp Quần. Còn bốn tướng võ, là cái nền chủ yếu của vương triều họ Lâm: “Một người thịnh vượng thì tất cả đều thịnh vượng, một người thiệt hại thì tất cả đều thiệt hại”, họ là chân tay đắc lực của Lâm Bưu. Trải qua Đại hội 9, Đại hội 10, “bốn đại kim cương” đã nắm được một phần thực quyền tương đối lớn trong Đảng, chính quyền, quân đội, chức vụ như sau: Hoàng Vĩnh Thắng, ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Tổ trưởng Văn phòng Quân ủy. Ngô Pháp Hiến, ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Không quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, thành viên Tổ văn phòng Quân ủy. Lý Tác Bằng, ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Chính ủy thứ nhất Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, thành viên Tổ văn phòng Quân ủy. Khâu Hội Tác, ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Nhưng, ai ngờ được rằng người dẫn dắt cho “bốn đại kim cương” bước lên thuyền giặc của Lâm Bưu chẳng phải ai khác đó chính là Diệp Quần. Ai biết được rằng, người chỉ huy tuyến trước chỉ huy “bốn đại kim cương” xung phong hãm trận cho vương triều họ Lâm cũng là Diệp Quần. Ai tin được rằng nhà mưu lược khống chế “bốn đại kim cương” ngoan ngoãn tuân theo, bảo sao nghe vậy vẫn là Diệp Quần. Diệp Quần và “bốn đại kim cương” kẻ buông câu, người lên thuyền, từ đó kết thành lịch sử bí mật của những kẻ sống chết có nhau, khiến cho những người không hiểu rõ chân tướng kinh hãi, khiến cho những tín đồ lương thiện trố mắt sững sờ không nói gì được, thậm chí làm cho đá cũng phải than thở. Đây là một màn kịch cực kỳ tuyệt vời trong vở kịch sống về âm mưu hiện đại, là sự bộc lộ không sót một tí gì về một linh hồn xấu xa nhơ bẩn. Trước hết bắt đầu từ việc lên thuyền giặc của Ngô Pháp Hiến. Sau khi cách mạng văn hóa bắt đầu, cuộc đấu tranh trong nội bộ Không quân gay gắt, một cuộc tố cáo phê phán Ngô Pháp Hiến nổi lên, kéo dài đến một tháng rưỡi, Tư lệnh Không quân Ngô Pháp Hiến cảm thấy địa vị của mình không chắc chắn, không biết làm thế nào cho phải, cuống cuồng như kiến bò miệng chảo nóng. Đặc biệt là Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu người chủ trì công tác hàng ngày của Quân ủy Trung ương trước sau vẫn giữ thái độ im lặng càng làm cho Ngô Pháp Hiến đứng ngồi không yên, đêm khó chợp mắt. Ngô Pháp Hiến được bổ nhiệm Tư lệnh Không quân là do Lâm Bưu đề nghị. Ngày 9 tháng 5 năm 1965, hai ngày sau khi nguyên Tư lệnh Không quân Lưu Á Lâu qua đời, Lâm Bưu gọi Ngô Pháp Hiến đến bảo: “Không quân là một miếng thịt mỡ, rất nhiều người muốn nhúng tay vào, tôi đề nghị anh đổi sang làm Tư lệnh Không quân. Anh không nên nói ra, vì vẫn chưa báo cáo Mao Chủ tịch phê chuẩn”. Ngô Pháp Hiến xúc động quá đáp: “Tôi nhất định sẽ không phụ sự kỳ vọng của Lâm Phó Chủ tịch đối với tôi”. Nhưng lúc ấy, Lâm Bưu và Diệp Quần đối với việc Ngô Pháp Hiến có tận trung hết mức hay không thì còn phải xem xét. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:56:32 pm Có một việc, đã làm cho Diệp Quần nhận ra Ngô Pháp Hiến là đối tượng có thể buông câu được. Sau khi Lưu Á Lâu qua đời khi thanh lý những di vật của ông, đã phát hiện một bức thư của Lâm Bưu gửi cho Lưu Á Lâu khi ông ta ở Hàng Châu năm 1953, có nội dung: “Đồng chí Á Lâu, những lời mà tôi bảo đồng chí chuyển tới đồng chí Cao Cương. Xin đừng nói lại với Cao Cương nữa...”. Đầu óc Ngô Pháp Hiến không được linh hoạt cho lắm, trong chốc lát còn chưa hiểu ý gì, liền gọi điện cho Diệp Quần: “Lưu Á Lâu đã giữ lại một bức thư như thế...”. Diệp Quần nghe thấy vậy, liền bảo Ngô Pháp Hiến đưa bức thư cho bà ta ngay hơn nữa còn dặn không được để lộ cho bất cứ ai. Ngô Pháp Hiến lập tức làm theo, đem thư dán kín gửi cho Diệp Quần. Sau khi Diệp Quần nhận được thư gọi điện cho Ngô Pháp Hiến: “Lâm Bưu rất cảm ơn đồng chí đã phát hiện bức thư này, Lâm Bưu nói đồng chí rất trung hậu”. Ở đây cần phải có một chút chú giải, vào năm 1953, vốn dĩ Lâm Bưu đã từng tham gia vào hoạt động của Cao Cương mật mưu cướp đoạt quyền lực cao nhất của Trung ương, bức thư này là một chứng cứ thép, nhưng sau này Lâm Bưu biết âm mưu của Cao Cương đã bị bại lộ nên lập tức ỉm đi. Hành vi “trung hậu” này của Ngô Pháp Hiến đã được đền đáp. Mùa xuân năm 1966, Diệp Quần lại thả ra một miếng mồi, gọi điện thoại thông báo cho Ngô Pháp Hiến” “Lâm Bưu đã quyết định nâng bậc cho anh từ bậc 6 lên bậc 5. Để nâng bậc cho anh Lâm Bưu cũng đã nâng bậc cho một đồng chí khác, đó là vì để cho anh không nổi trội”. Từ đó, Ngô Pháp Hiến mang ân mang huệ với Lâm Bưu và Diệp Quần và thề sẽ trung thành với họ. Nhưng trong cuộc đại cách mạng văn hóa này, xu thế rất mạnh và ác độc liệu Lâm Bưu có còn bảo vệ ông ta nữa hay không? Trong lòng Ngô Pháp Hiến hồi hộp thấp thỏm. Một buổi sáng đầu tháng 8 năm 1966, Ngô Pháp Hiến đang lo ngay ngáy thì đột nhiên nhận được điện thoại của Diệp Quần từ Đại Liên gọi đến, không biết lành hay dữ, bối rối đến mức cầm ngược máy điện thoại, nghe một lúc mới biết cầm ngược máy. Diệp Quần vẫn ôn tồn bình tĩnh: “Ngô Tư lệnh, tôi là Diệp Quần, Lâm Phó Chủ tịch hỏi thăm anh”. Ngô Pháp Hiến nghe được câu ấy như trút được gánh nặng, nước mắt trào ra quanh bờ mi. “Quyết tâm của Lâm Bưu là bảo vệ anh, nhưng vì sao không cho anh biết điều ấy? Đó là để cho những người phản đối anh biểu diễn cho hết, bộc lộ cho hết. Hiện nay Lâm Phó Chủ tịch đã chính thức tỏ thái độ, chỉ thị của anh ấy đã truyền đạt đến Quân chủng Không quân, tuyên bố anh là người giương cao ngọn cờ hồng vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông trong Không quân. Định là qua mấy hôm nữa, đợi sau khi chúng tôi về Bắc Kinh sẽ xử lý, nhưng sợ anh không trụ được, xảy ra vấn đề, cho nên ở Đại Liên chúng tôi đã tỏ thái độ, Lâm Phó Chủ tịch còn báo cáo với Quân ủy Trung ương”. Diệp Quần nói đến đây thì Ngô Pháp Hiến, một người đàn ông đã ngoài 50 tuổi đã khóc hu hu, rồi gào lên trong máy nói: “Chúc Lâm Phó Chủ tịch vạn thọ vô cương!”. Sau khi Lâm Bưu chết, Ngô Pháp Hiến vào tù, trong bản cung của viên Tư lệnh Không quân đã nói thật rằng: “Tất cả mọi thứ của tôi đều do Lâm Bưu đề bạt, cho nên, trong đầu tôi chỉ có một mình Lâm Bưu, Lâm Bưu bảo tôi làm thế nào tôi làm thế ấy”, “Tôi là một con chó săn của Lâm Bưu”. Sau khi con chó săn ấy lên thuyền giặc, đối với chủ bảo sao nghe vậy, ra sức tâng bốc, a dua làm theo, ông ta nói, Lâm Bưu là “thiên tài, thiên tài trời sinh”, “Thiên tài Mao Chủ tịch là do thiên tài Lâm Bưu phát hiện”, “Không có Lâm Bưu thì không có quân đội ta, sẽ không có đất nước này của chúng ta”. Có điều rất vô lý là đối với Lâm Lập Quả, con trai Lâm Bưu, Ngô Pháp Hiến cũng cúi đầu lắng nghe, quả thật là một con chó săn đích thực. Tháng 3 năm 1967, Lâm Lập Quả tròn 23 tuổi, Lâm Bưu và Diệp Quần giao Lập Quả cho Ngô Pháp Hiến, cài vào Không quân. Đây là đứa con trai của Lâm Bưu không phải đảng viên, nhưng lập tức được bổ nhiệm làm thư ký Văn phòng Đảng ủy Không quân. Mấy tháng sau, Ngô Pháp Hiến và Chu Vũ Trì (một tên thủ phạm chính trong tập đoàn Lâm Bưu, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân - Người dẫn chú) đã đám nhận giới thiệu Lâm Lập Quả vào Đảng. Lâm Lập Quả luôn luôn được Lâm Bưu coi là “con ngươi” của ông ta, Lâm Bưu đem “con ngươi” đặt vào Không quân chỗ giàu tính chất cơ động nhất là có ý đồ khác. Ngày 2 tháng 10 năm 1969, Lâm Bưu triệu kiến Ngô Pháp Hiến ở nhà mình tại Mao Gia Loan. Trong phòng bí mật, Lâm Bưu đã thổ lộ chân tình: Lâm Bưu: “Lập Quả, công tác ở chỗ anh tốt chứ!” Ngô Pháp Hiến: “Rất tốt, Lâm Lập Quả ở Không quân, nên chúng tôi có thể thường xuyên nghe được chỉ thị của đồng chí!” Lâm Bưu: “Trong đầu tôi luôn luôn nghĩ đến vấn đề Không quân, đặc biệt là vấn đề huấn luyện tác chiến của Không quân. Tôi dựa vào Lập Quả để tìm hiểu tình hình, báo cáo các vấn đề. Ý kiến của tôi là muốn Lập Qủa kiêm nhiệm Phó ban tác chiến Không quân. Anh cứ yên tâm, con trai tôi ở Không quân là để nâng đỡ anh, không đào móng tường anh đâu”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:57:37 pm Lâm Bưu cho con trai Lâm Lập Quả vào Không quân đương nhiên không phải là để đào “móng tường” của Ngô Pháp Hiến mà có mưu tính khác. Ngô Pháp Hiến hiểu rõ điều đó. Ông ta ra chỉ thị: “Tất cả Không quân đều báo cáo với đồng chí Lập Quả, tất cả Không quân đều có thể do đồng chí Lập Quả điều động và chỉ huy (gọi tắt là “hai tất cả”). Thế là, trong Không quân Ngô Pháp Hiến làm Tư lệnh, các việc quái gở xuất hiện liên tục. Các ủy viên chính trị trong Không quân gặp Lâm Lập Quả một cán bộ cấp dưới đều phải đứng nghiêm chào. Lâm Lập Quả đi chơi Trường Thành, Ngô Pháp Hiến cùng các lão tướng Không quân đã phải đỡ nách cho một thanh niên mới hơn hai mươi tuổi đi lên Bát Đạt Lĩnh... ( Khu du lịch Trường Thành - N.D). Một điều quái đản ly kỳ hơn là dưới sự chỉ huy của Ngô Pháp Hiến đã tuyên bố mở ra phong trào tâng bốc “thiên tài” xoay quanh Lâm Lập Quả. Một ngày vào hạ tuần tháng 6 năm 1970, Ngô Pháp Hiến bảo vợ ông ta kiêm chủ nhiệm Văn phòng Ngô Pháp Hiến Trần Tuy Kỳ gọi điện thoại bảo Vương Huy Cầu một mình đến khu Tây Sơn. Ngô Pháp Hiến, người cầm đầu Quân chủng Không quân này, muốn bàn việc gì với Chính ủy Không quân? Ai có thể ngờ được rằng, Ngô Pháp Hiến đã tự hạ thấp mình, một cán bộ bậc 5 đã từng tham gia trường chinh, đã thổi phồng tâng bốc Lâm Lập Quả mới vào bộ đội Không quân được hơn hai năm, rằng: Lâm Lập Quả không đơn giản... Lâm Lập Quả có thể chỉ huy tất cả Không quân, điều động tất cả Không quân. Một Tư lệnh như tôi, đồng chí có biết không? Không ra làm sao! Phải dựa vào Lâm Lập Quả. Lâm Lập Quả có thiên tài như vậy, sẽ phải dựa vào đồng chí ấy. Chúng ta phải nghe Lâm Lập Quả”. Ngày 6 tháng 7 năm 1970, trong Hội nghị Văn phòng Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Không quân, vợ Ngô Pháp Hiến là Trần Tuy Kỳ, gây dư luận đầu tiên “Phải học tập đồng chí Lâm Lập Quả, đồng chí Lâm Lập Quả sống bên cạnh Lâm Phó Chủ tịch, Chủ nhiệm Diệp (chỉ Diệp Quần - Người dẫn chú) lĩnh hội được chỉ thị của Lâm Phó Chủ tịch một cách sâu sắc, chủ yếu vẫn là thiên tài của đồng chí Lập Quả xét về các mặt đều là thầy của chúng ta”. Sau đấy, những lời a dua tâng bốc Lâm Lập Quả ngày một nhiều. Chẳng hạn: “Chỉ thị của đồng chí Lập Quả phải kịp thời truyền đạt, làm theo, kiên quyết làm theo”, “thái độ đối với đồng chí Lập Quả và thái độ đối với Mao Chủ tịch là nhất trí”. Luận điệu quái gở không thiếu điều gì. Đảng ủy Cục Chính trị Quân chủng Không quân do tay chân thân tín của Lâm Bưu nắm giữ đã thông qua nghị quyết tuyên bố để quán triệt “hai cái tất cả” cần “thường xuyên nghĩ tới”, “mọi việc phải xin ý kiến”, “mọi chỗ đều phải bảo vệ” Lâm Lập Quả, nào là “phải thành thật phục tùng sự điều động của đồng chí ấy”, nào là “phải ngoan ngoãn tuân theo sự chỉ huy của đồng chí ấy”, Lâm Lập Quả “yêu cầu cái gì thì làm cái đó” v.v... và v.v... Ngày 31 tháng 7 năm 1970, vai chính siêu “thiên tài” ra sân khấu. Trong cuộc mít tinh của cán bộ Bộ Tư lệnh Không quân, Lâm Lập Quả đã đọc một bản về cái gọi là “Báo cáo nói và dùng” với nội dung học một cách sống động dùng một cách sống động tư tưởng Mao Trạch Đông. Hôm ấy, Ngô Pháp Hiến và Trần Tuy Kỳ đều ở Tây Sơn, trước khi sắp bắt đầu cuộc “nói và dùng”, họ vẫn chưa ngủ dậy. Ngô Pháp Hiến vừa nghe thấy chuyện này, bảo ngay Trần Tuy Kỳ đích thân đến ngay hội trường. Lâm Lập Quả nói dòng dã một ngày đầy rẫy những lời vô bổ, lời nói suông và những lời nói dối. Thậm chí còn nịnh nọt xằng bậy rằng những người bị bệnh tâm thần và người bị điên, chỉ cần đọc những lời trích của Mao Chủ tịch, người bệnh liền “nước mắt rưng rưng”, đột nhiên bệnh khỏi hoàn toàn, v.v… và v.v... Những bùa chú hiện đại được giải thích là tràn đầy tư tưởng Mao Trạch Đông, tràn đầy “phép biện chứng duy vật”, đã “chỉ rõ phương hướng” cho Không quân. Còn Trần Tuy Kỳ sau khi Lâm Lập Quả kết thúc “Báo cáo nói và dùng” đã dẫn đầu giơ tay hô “Học tập đồng chí Lâm Lập Quả” không dưới mười mấy lần, đúng là con hát mẹ khen hay. Ngô Pháp Hiến cũng đích thân xuất trận, khoác lác rằng “Báo cáo nói và dùng” của Lâm Lập Quả là đã phóng “một vệ tinh chính trị”, Lâm Lập Quả là “toàn tài, chỉ huy tài, tài hơn người” là “lãnh tụ tốt nhất của quần chúng”, “nhà chính trị kiệt xuất”, “nhà quân sự ưu tú”, “nhà tư tưởng lỗi lạc”, “nhà lý luận thiên tài”, “nhà khoa học xuất sắc”, “ngọn đèn sáng trong đêm đen”, “ngôi sao lớn của vũ trụ”, “thủ lĩnh của giai cấp vô sản”, “mặt trời hồng của thập niên 70”, “người nối nghiệp thế hệ thứ ba”. “Báo cáo nói và dùng” của Lâm Lập Quả đã in ra tới hơn 700 ngàn bản, phân phát rộng rãi. Một nhân sĩ am hiểu tình hình nói với tác giả sách này rằng: “Mọi lời nói và việc làm sau khi lên đò theo giặc của Ngô Pháp Hiến, có thể dùng 6 chữ để khái quát đó là: đáng ghét, đáng cười, đáng nhục!”. Khâu Hội Tác lên đò theo giặc, trong những lần biểu diễn lại có một kiểu riêng. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:58:18 pm Tháng 10 năm 1965, Khâu Hội Tác với tư cách là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân chủng Không quân, vì gian dâm với một cô nhân viên phục vụ bị bại lộ, ở trong tình trạng rất cùng quẫn, có xu thế bị đổ. Khâu Hội Tác đành đến khóc lóc với Lâm Bưu và Diệp Quần. Diệp Quần đã nhìn thấy một cơ hội khống chế người tuyệt hảo đã đến. Bà ta liền triệu kiến Khâu Hội Tác và vợ ông ta là Hồ Mẫn: “Tôi đã bàn với Lâm Phó Chủ tịch, 101 (chỉ lâm Bưu - Người dẫn chú) nói: Anh sai lầm ở chi tiết nhỏ, đây là chuyện vì cái nhỏ mà mất cái lớn. Nhưng anh là người giương cao ngọn cờ hồng vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông, nổi bật chính trị, đã thay đổi được sai sót lớn nhất của Tổng cục Hậu cần trước đây chỉ thấy vật chất mà không thấy con người... Họ muốn họp phê bình anh thì anh cứ đi họp, anh tự mình đối phó với họ, nhưng phương châm do chúng ta nắm. Ít lâu sau, Lâm Bưu bèn ra một chỉ thị đặc biệt đối với công tác hậu cần trong Quân Giải phóng, khẳng định thành tích công tác của Tổng cục Hậu cần, bảo vệ cho Khâu Hội Tác vượt qua bước khó khăn. Tháng 1 năm 1967, phong trào đại cách mạng văn hóa của cơ quan Tổng cục Hậu cần đã ập xuống đầu Khâu Hội Tác. Ngày nào Khâu Hội Tác cũng bị đấu tố, cuộc sống khó có thể duy trì. Khâu Hội Tác bảo vợ ông ta gọi điện cầu cứu Diệp Quần. Diệp Quần thấy thời cơ đã đến, nếu cứ tiếp tục đốt thì Khâu Hội Tác sẽ cháy thui, liền trả lời: “Đang nghĩ cách, hãy cố kiên trì một chút”. Vào đêm khuya ngày 24 tháng 1, Diệp Quần mặc quân phục Quân Giải phóng, đi xe đến Tổng cục Hậu cần, đem lệnh viết tay do Lâm Bưu và Trần Bá Đạt ký ngày 24 tháng 1, trong đó ghi rõ ràng: “Lập lức thả Khâu Hội Tác, không được tự do giam giữ. Lâm Bưu, Trần Bá Đạt, 10 giờ ngày 24 tháng 1 năm 1967”. Lệnh viết tay của Phó Thống soái và Tổ trưởng Tổ cách mạng văn hóa Trung ương thì ai dám chống lại, Diệp Quần đón Khâu Hội Tác đã hết sức mệt mỏi, tinh thần uể oải lên xe của mình, đi thẳng đến Tây Sơn để bảo vệ. Ở Tây Sơn, Khâu Hội Tác trấn tĩnh lại, nghĩ lại tình cảnh bị phê phán đấu tố, bị đeo biển, “bị” ngồi kiểu “phản lực”, nhìn lệnh viết tay của Lâm Bưu, Trần Bá Đạt để trên bàn, cũng như những lời của Diệp Quần trước lúc đi: “Lâm Phó Chủ tịch tin anh, dựa vào anh”, liền viết một bài tỏ lòng trung thành với tựa đề: “Không giờ được cứu”. Không giờ được cứu 10 giờ 40 phút ngày 24 tháng 1 năm 1967, là lúc tôi mới sinh ra, là giờ phút mà suốt cả đời tôi, suốt cả đời vợ tôi, con trai con gái tôi không thể nào quên được. Tôi nghe nói “Văn phòng của Phó Chủ tịch Lâm cử người đến bảo anh đi”, thì tôi biết là mình đã được cứu, sụ cảm động không sao kìm nén được, như một trái bom nổ tung từ trái tim. Lúc ấy tim tôi đau nhói, sau khi tôi uống một viên thuốc, tôi cũng chẳng quản gì nó nữa. Nhưng tôi đã dùng sự nhẫn nại lớn nhất để không rơi nước mắt, vì tôi đã thề. Cuối cùng đồng chí ấy (chỉ Diệp Quần - Người dẫn chú) nói: “Anh Lâm ra lệnh cho tôi phải giải quyết việc này trong vòng 6 tiếng, nếu không anh Lâm sẽ đích thân đến cơ quan tìm gặp anh. Anh biết tính của anh ấy, đến giờ không thấy tôi về, anh ấy sẽ đi, thì gay go”. Anh Lâm đích thân ra tay, đồng thời cử phu nhân đi đón một người, theo tôi được biết đây là lần đầu tiên, viết đến đây không thể không cảm động, không thể không làm cho người ta phải rơi những giọt nước mắt ấm nóng. Khâu Hội Tác Ngày 25 tháng 1 Nguyên chú: Ngày 25 tháng 1 năm 1967, Lâm Phó Chủ tịch cử đồng chí Diệp Quần đến nhà cứu tôi. Từ 8 giờ đến 12 giờ, Lâm Phó Chủ tịch đã mấy lần gọi điện thoại đến hỏi thăm tình hình, xe hơi của đồng chí ấy đã nổ máy ba lần chuẩn bị đích thân đến chỗ tôi. Từ đó về sau, cứ mỗi lần đến ngày 24 tháng 1, Khâu Hội Tác đều viết thư cho Diệp Quần, bày tỏ lòng trung thành. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:59:24 pm Ngày 24 tháng 1, tròn một năm, Khâu Hội Tác đã viết thư bày tỏ lòng trung thành, áng kỳ văn ấy như sau: Đồng chí Diệp Quần: Hôm nay là ngày mà suối đời tôi không thể nào quên. Ngày này năm ngoái, là giờ phút tôi ở vào trong tình cảnh vô cùng nguy hiểm. Với sự quan tâm vô cùng thân thiết của Lâm Phó Chủ tịch, đồng chí đã dũng cảm đến cơ quan tôi, cứu tôi ra, đã cứu vãn được sinh mệnh của tôi. Ngày này đã qua được một năm, hồi tưởng lại tình cảnh lúc ấy, lòng tôi có bao điều muốn nói với đồng chí, nhưng dù có bao nhiêu lời... Đồng chí Diệp Quần, đồng chí là người học trò tốt nhất của Lâm Phó Chủ tịch. Từ xưa đến nay luôn quan tâm đến tôi, quan tâm đến sự tiến bộ về chính trị của tôi, quan tâm đến công tác của tôi, quan tâm đến sức khỏe của tôi, đặc biệt là trong giờ phút then chốt của cuộc vật lộn giai cấp trong đại cách mạng văn hóa vô sản, đồng chí càng thể hiện tình hữu ái giai cấp nồng nàn đối với tôi, tôi mãi mãi không bao giờ quên! Đồng chí là cô giáo hiền của tôi, tôi xin học tập đồng chí! Xin kính chào đồng chí! Tôi cũng sẽ giống như đồng chí suối đời theo Lâm Phó Chủ tịch làm cách mạng, dù cho sông cạn đá mòn cũng không thay lòng đổi dạ! Cả gia đình tôi với tấm lòng vô cùng cảm kích hồi tưởng lại ngày này năm ngoái, đó là ngày mà cả gia đình tôi mãi mãi không thể quên được! Cả gia đình tôi học tập đồng chí, Xin kính chào đồng chí! Xin gửi đến đồng chí lời cảm ơn chân thành. Khâu Hội Tác Ngày 24 tháng 1 năm 1968 Diệp Quần đọc bức thư tỏ lòng trung thành của Khâu Hội Tác, cười hiểu ý. Bà ta hiểu một cách chuẩn xác Khâu Hội Tác đã lên đò một cách thực lòng thực dạ. Diệp Quần lại đọc bức thư của Hồ Mẫn vợ của Khâu Hội Tác gửi cho bà ta. Trong thư nói: Đêm ngày 24 tháng 1 năm 1967 làm chúng tôi đời đời không sao quên được, đồng chí đã theo lệnh của Lâm Phó Chủ tịch, xông vào nơi nguy hiểm và khó khăn, cứu sống tính mạng của Khâu Hội Tác, cả nhà chúng tôi già trẻ đều cảm kích suốt đêm không ngủ, cảm kích đến trào nước mắt thấm ướt cả gối, nóng lòng mong có điều kiện để cả nhà cùng đến khấu đầu tạ ơn đồng chí và Lâm Phó Chủ tịch... Bệnh của Khâu Hội Tác đã được Chủ nhiệm Diệp chữa trị nhiều về chính trị, hiệu quả còn hơn các thứ thuốc hóa học... Khâu Hội Tác đã coi Lâm Bưu và Diệp Quần như cha mẹ sinh ra ông ta lần nữa thì có chuyện gì mà ông ta không làm. Bây giờ chỉ xin nêu một ví dụ nho nhỏ. Tháng 9 năm 1970, con trai Khâu Hội Tác tổ chức lễ cưới, vợ Khâu Hội Tác là Hồ Mẫn đã đưa con trai và con dâu đến Mao Gia Loan nơi ở của Lâm Bưu xin cầu kiến. Vừa thấy Lâm Bưu, Hồ Mẫn đã nói với con dâu: “Hãy nhanh cúi đầu chào bác Lâm đi!” Cô con dâu vội quỳ xuống cúi đầu lễ Lâm Bưu. Lâm Bưu kẻ hát to nhất bài “chấn hưng vô sản tiêu diệt tư sản” mặt mày tươi rói, rất thích thú với cái lễ tiết phong kiến này. Diệp Quần đứng bên vội nói: “Nhanh đứng dậy đi. Bây giờ không nên làm việc ấy”. Lâm Bưu lại đáp cái cúi lạy ấy bằng một lời “Chúc các cháu bách niên giai lão!”. Khâu Hội Tác không thể ngày nào cũng đến khấu đầu tạ ơn, vẫn luôn muốn biếu một lễ vật tinh xảo lịch sử gì đó để hằng ngày Lâm Bưu có thể nhìn thấy, chọn ngọc thạch, mã não, ngà voi, kính quang học nhưng chẳng có cái nào vừa ý, cuối cùng đích thân chọn được một chiếc ngà voi và một cái bình bằng thủy tỉnh hữu cơ biếu Lâm Bưu, nói là những lễ vật này có giá trị bảo tồn mãi mãi. Diệp Quần thấy Khâu Hội Tác trung thành rấl mực liền viết một bài thơ có tựa đề “Vịnh Cúc” để tặng Khâu Hội Tác. Khâu Hội Tác đón nhận bài thơ với niềm vui khôn tả, liền thuê người khắc bài thơ lên nghiên mực, rồi tặng lại Diệp Quần. Việc lên đò giặc của Hoàng Vĩnh Thắng, Lý Tác Bằng cũng đại đồng tiểu dị, cũng do một tay Diệp Quần sắp đặt. Dưới sự chỉ huy của Diệp Quần, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác “bốn đại kim cương” đã kết thành một bọn sống chết có nhau với Lâm Bưu. Họ thường xuyên tụ họp bí mật, mời ăn biếu lễ, thăm thú chơi bời du ngoạn, đề thơ tặng nhau, chụp ảnh lưu niệm. Thảo nào Diệp Quần đã từng dùng một câu: “Quan văn quan võ cùng nổi dậy bảo vệ ngọn cơ hồng” để bày tỏ sự phấn chấn khi tổ chức được cái bè đảng của Lâm Bưu này. Bà ta tự giải thích câu thơ này rằng: “Đây là một câu cảnh tỉnh, chúng ta có quan văn cũng có quan võ, văn võ đều có đủ. Quan văn là Trần Bá Đạt, quan võ là Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác. Bây giờ quan võ quan văn phải cùng nổi dậy bảo vệ ngọn cờ đỏ của Lâm Phó Chủ tịch”. Diệp Quần thường xuyên nói với bốn tướng võ Hoàng, Ngô, Lý, Khâu rằng: “Quyền lực của quân đội đã tập trung trong tay mấy người các anh, không nên giao quyền cho người khác”. Trên vách tại nơi ở của Hoàng Vĩnh Thắng đã treo một bức đại tự do tự tay Diệp Quần viết “Không tin ngày nay không có tôi hiền” để bộc bạch tấm lòng của viên võ tướng cam lòng làm tôi hiền của vương triều họ Lâm. Lý Tác Bằng cũng nhờ có công sức của Lâm Bưu và Diệp Quần bảo vệ mà một tay nắm được Hải quân. Cảm cái ân ấy, Lý Tác Bằng đã thề: “Cùng sống và làm việc với Lâm Phó Chủ tịch, sống cùng sống với Lâm Phó chủ tịch, chết cùng chết với Lâm Phó chủ tịch”. Chính vì vậy, Diệp quần rung đùi hả hê, đắc ý nói rằng: “Sáu người chúng tôi (chỉ Lâm, Diệp, Hoàng, Ngô, Lý, Khâu) có quan hệ mà bom nguyên tử cũng không phá nổi. Sự thực có phải như thế hay không, chỉ có Thượng đế mới biết. Sau khi “bốn đại kim cương” lên con đò của họ Lâm, nhe nanh múa vuốt trong cách mạng văn hóa, hãm hại vô số người trung thành, lương thiện, vô số những vị công thần, leo lên cái thang máu được xếp bằng những cái xác người thẳng tới nơi vàng đỏ nhọ lòng son, dốc túi đánh canh bạc cuối cùng mưu sát Mao Trạch Đông, nhưng đã thất bại. Từng tên đổ nhào trở thành những tên tội phạm dưới thềm. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:00:09 pm 2. Ngô Pháp Hiến bất chấp đạo trời phép nước Ngô Pháp Hiến đã bước lên con đò của Lâm Bưu thì không còn tự chủ được nữa. Để theo sát Lâm Bưu, leo lên trong đại cách mạng văn hóa, ông ta đi theo Lâm Bưu bức hại người vô tội, gạt bỏ những người không ăn cánh, gây nhiều tội ác. Ông ta không những trực tiếp tham gia vào việc vu cáo bức hại La Thụy Khanh, hơn nữa sau khi chân trái của La Thụy Khanh bị thương gãy xương đùi, ông ta đã cố ý kéo dài thời gian phẫu thuật, dẫn đến việc La Thụy Khanh bị tàn tật suốt đời. Ông ta tích cực tham gia hoạt động vu cáo, bức hại nguyên soái Hạ Long, đồng thời sau khi Hạ Long bị bức hại đến chết, lại ra lệnh dùng máy bay đưa phu nhân Hạ Long đến một nông trường hẻo lánh ở Quý Châu để giam giữ. Từ tháng 4 năm 1968, Ngô Pháp Hiến đã cùng Trần Bá Đạt, Tạ Phú Trị lợi dụng cái gọi là vụ án truyền đơn, “Ban chấp hành bất thường Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc” lấy danh nghĩa là truy tìm kẻ đứng đằng sau, âm mưu hãm hại những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chĩa mũi nhọn vào Đặng Tiểu Bình. Tháng 11 năm 1968, trong buổi nói chuyện tại cuộc mít tinh của cán bộ không quân đóng tại Bắc Kinh, Ngô Pháp Hiến đã tùy tiện công kích, mắng nhiếc Nguyên soái Chu Đức, vu cáo Chu Đức là “luôn luôn chống lại Mao Chủ tịch”, bảo “ủy viên trưởng (Chủ tịch quốc hội) Chu Đức là quân phiệt, mấy chục năm không cải tạo tốt”. Ngô Pháp Hiến còn tham gia vào “tổ chuyên án Lục Định Nhất”, dựa vào những tội trạng được bịa ra, vu cáo Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương Đảng là “đặc vụ”, là “kẻ phản bội”, đồng thời ra lệnh bắt Lục Định Nhất. Ngô Pháp Hiến còn đả kích bức hại hàng loạt cán bộ quần chúng trong quân chủng Không quân. Tháng 12 năm 1980, tại Tòa án đặc biệt xử tội ông ta, ông ta đã cung khai “Đánh đổ một loạt cán bộ và chinh phục một loạt cán bộ. Diệp Quần đã bảo tôi, đánh gục tất cả các cán bộ chống lại anh. Lâm Bưu cũng nói, anh không đánh đổ họ, thì cái chức Tư lệnh Không quân của anh sẽ không vững đâu. Vì thế, tôi đã làm trái với lương tâm vu cáo hãm hại Trương Đình Phát và một loạt cán bộ”. Trong một bản danh sách báo cáo lên trên về Bộ Tư lệnh Không quân do Ngô Pháp Hiến phê chuẩn vào tháng 3 năm 1969, có 64 người bị đặt vào mâu thuẫn địch ta, trong đó bao gồm những cán bộ cao cấp như Phó Tư lệnh Không quân Thành Quân, Lưu Chấn, Trương Đình Phát, Phó Tham mưu trưởng Hà Đình Nhất... Ngô Pháp Hiến còn trực tiếp chỉ huy vu cáo bức hại Cố Tiền Tham mưu trưởng Không quân Quân khu Nam Kinh và Lưu Thiện Bản Phó ban Giáo dục Học viện Không quân, đồng thời đích thân phê chuẩn việc phê phán đấu tố và bắt giam hai người này. Trong thời gian giam giữ, đã dùng các thủ đoạn tàn khốc đày đọa đến chết Cố Tiền và Lưu Thiện Bản. Lâm Bưu muốn mượn đại cách mạng văn hóa để trừ bỏ những người chống lại mình, nhưng lại trái với ý muốn của ông ta, trong quân đội có rất nhiều người bất mãn, để tăng cường việc khống chế quân đội, thanh trừ những người bất hợp tác, tháng 3 năm 1968, Lâm Bưu cấu kết với Giang Thanh tạo nên sự kiện Dương (Thành Vũ.), Dư (Lập Kim) và Phó (Sùng Bích). Ngô Pháp Hiến cũng tham dự vào âm mưu này. Sau La Thụy Khanh, Dương Thành Vũ đảm nhận chức Tổng Tham mưu trưởng, do có thái độ bảo vệ các vị tướng soái cũ trong quân đội, vì vậy Lâm Bưu từ lâu đã có ý đồ gạt bỏ Dương Thành Vũ. Dư Lập Kim là một trong ba người “Dương, Dư, Phó”, là chính ủy Quân chủng Không quân, vốn là người cộng sự của Phương diện quân thứ 2 của Hồng quân, có ý kiến khác trong việc thẩm tra Hạ Long, đồng thời đã từng cùng Dương Thành Vũ tháp tùng Mao Trạch Đông đi thị sát miền Nam, nhưng không thông báo tình hình với Lâm Bưu và Diệp Quần. Trong một số việc khác, cũng không làm việc theo ý chỉ của Lâm Bưu, nên Lâm Bưu không thể dung tha. Ngô Pháp Hiến thì vâng theo ý chỉ của Lâm Bưu và Diệp Quần, bắt đầu ra tay trước tiên trừ Dư Lập Kim, tìm cớ bắt thư ký của Dư Lập Kim. Sau khi Dương Thành Vũ biết việc này, đã yêu cầu Ngô Pháp Hiến tiến hành kiểm tra soát xét lại. Ngô Pháp Hiến không những không chấp hành, trái lại còn tố cáo với Lâm Bưu, vu cáo Dương Thành Vũ và Dư Lập Kim câu kết giành quyền ở Không quân. Lâm Bưu lập tức lấy cớ này, liền cùng Giang Thanh bày mưu tạo ra “Sự kiện Dương, Dư, Phó”. Tối ngày 22 tháng 3, Ngô Pháp Hiến gọi điện thoại cho Dư Lập Kim, thông báo cho Dư Lập Kim đến nhà Ngô Pháp Hiến họp. Dư Lập Kim vừa vào cửa lập tức bị bắt, đồng thời bị tra tấn. 1 giờ sáng ngày 23, Dương Thành Vũ cũng bị bắt tại nhà và đưa đi. Tối hôm ấy, Ngô Pháp Hiến dẫn Vương Phi, Chu Vũ Trì và một số người đến lục soát văn phòng của Dương Thành Vũ, đem những bản ghi chép, ảnh và thư từ viết tay tìm được nộp cho Giang Thanh và Diệp Quần. Ngô Pháp Hiến còn tâng công: “Tối nay, tôi chẳng kể nếp tẻ gì đã bắt ngay hai ba mươi người bọn họ!”. Cho đến sau khi tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu sụp đổ, Dương Thành Vũ và Dư Lập Kim mới được minh oan sửa sai. Sau “Sự kiện Dương, Dư, Phó”, Ngô Pháp Hiến được đề bạt làm Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tổ phó Văn phòng Quân ủy. Tháng 4 năm 1969, Đại hội khóa 9 của Đảng họp, Ngô Pháp Hiến với những “chiến tích” bức hại những người vô tội leo lên địa vị ủy viên Bộ Chính trị. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:00:49 pm 3. Chiếc thang máu của Hoàng Vĩnh Thắng Lúc Hoàng Vĩnh Thắng theo Lâm Bưu, cũng là lúc ông ta ra sức bức hại những người trung thành lương thiện. Ông ta đã dùng vô số thi thể và máu của những người vô tội rải lên con đường đi tới quyền lực của mình. Tháng 5 năm 1967, Lâm Bưu và đồng bọn nêu ra việc “Phải điều tra vấn đề Đảng bí mật ở Quảng Đông”, vu cáo tổ chức Đảng ở Quảng Đông không trong sạch. Thực tế là chĩa mũi dùi vào Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh là người đã từng lãnh đạo công tác Cục Phương Năm hồi ấy. Lúc này Hoàng Vĩnh Thắng chủ trì công việc ở Quảng Đông đã đích thân phê chuẩn phải thành lập cái gọi là tổ chuyên án truy xét Đảng bí mật ở Quảng Đông. Sau đó, thành lập Tổ chuyên án “Thẩm tra vấn đề Đảng bí mật ở Quảng Đông”. Tháng 3 năm 1968, Hoàng Vĩnh Thắng lại trực tiếp phụ trách việc này, ra tay tạo dựng vụ án oan Đảng bí mật ở Quảng Đông. Người lãnh đạo Đảng ở khu Hoa Nam hồi ấy là Phương Phương bị bức hại đến chết, nguyên Trưởng ban tuyên truyền tỉnh ủy Quảng Đông của Đảng bí mật, Trưởng ban Mặt trận thống nhất tỉnh ủy Việt Bắc (Bắc Quảng Đông) Nhiêu Chương Phong cũng bị bức hại thảm khốc và bị chết trong nhà tù. Mẹ, con trai, cháu, em trai của Bành Bái lãnh tụ của phong trào nông dân thời kỳ đầu của Đảng đều bị bức hại đày đoạ đến chết. Lâm Thương Vân, ủy viên thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc, nguyên Phó Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Đông, là đảng viên lão thành vào Đảng năm 1927, năm ấy đã 76 tuổi, bị gán cho tội danh “phản bội đầu hàng định”, bị tra tấn bức cung đến chết một cách bi thảm. Trong vụ án này có hơn 7100 người bị bắt giam phê phán, đấu tranh phi pháp, trong đó 12 người lãnh đạo cấp quân đoàn, cấp sư đoàn có đến mấy trăm người, bị liên lụy có gần 1 vạn người. Hoàng Vĩnh Thắng còn tích cực tham dự vào việc bức hại Hạ Long. Ông ta hạ lệnh giữ lại 8 bức thư khiếu nại minh oan do Hạ Long viết, đồng thời trong cuộc nói chuyện với các nhân viên trong tổ chuyên án đã tuyên bố: “Vụ án Hạ Long rất lớn, đó là tên đại thổ phỉ, đại quân phiệt, đại âm mưu. Vụ này rất lớn, diện rất rộng, có rất nhiều người. Phải trên cơ sở này mà tiếp tục cố gắng. Bản thân việc thụ lý án là một cuộc đấu tranh giai cấp, phải đào cho được quả bom nổ chậm chôn bên mình Mao Chủ tịch, phải đánh mạnh truy mạnh, phải đoàn kết nhất trí, cùng chống kẻ địch...”. Do sự bức hại, đày đọa, ngày 9 tháng 6 năm 1969, Nguyên soái Hạ Long đã phải hàm oan qua đời. Trong việc tổ chức các vụ âm mưu hãm hại các nhà cách mạng lão thành khác, Hoàng Vĩnh Thắng cũng đã sắm một vai quan trọng. Tháng 6 năm 1968, do Hoàng Vĩnh Thắng mớm lời, dựa vào thủ đoạn bức cung, dựng lên một tài liệu giả vu cáo Diệp Kiếm Anh, cùng Dương Thành Vũ, Tiêu Hoa v.v... đã “họp bàn bí mật”, bày mưu bí mật làm chính biến, để cướp quyền lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ngày 3 tháng 11 năm 1970, Hoàng Vĩnh Thắng còn đích thân phê chuẩn báo cáo “Hủy bỏ mọi chức vụ, khai trừ vĩnh viễn đảng tịch, xử tù vô thời hạn, tước mọi quyền lợi công dân của Bành Đức Hoài”, do Tổ chuyên án Bành Đức Hoài đề xuất. Nguyên soái Bành Đức Hoài công lao có một không hai, sau khi bị các hành vi đày đọa phi nhân tính, đã ôm hận qua đời năm 1974. Nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn, là thủ trưởng cũ của Hoàng Vĩnh Thắng. Từ năm 1933 đến năm 1944, ông ta đều làm việc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn. Nhưng trong một lần nói chuyện vào tháng 11 năm 1968, Hoàng Vĩnh Thắng đã tuyên bố: “Cả đời Nhiếp Vinh Trăn chưa làm được việc gì tốt”. Trong các cuộc họp báo cáo ở Bộ Tổng Tham mưu, sáu binh chủng và Học viện Chính trị, Hoàng Vĩnh Thắng đã công khai vu cáo, nói xấu những nhà cách mạng cũ như Nhiếp Vinh Trăn v.v...: “... Trong “Tin vắn” của các đồng chí có nói: “Công lớn, thanh danh lớn, địa vị cao”. Có một số người, họ có bao nhiêu công? Công phản cách mạng thì có đấy. Trần Nghị, Chu Đức, Nhiếp Vinh Trăn có công lao gì? Có một số kẻ phất cờ đỏ để chống lại cờ đỏ, như Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức v.v..., phải lột mặt nạ của chúng”. Sau khi Hoàng Vĩnh Thắng nhậm thức Tổng Tham mưu trưởng, lập tức tuyên bố: “Bộ Tổng Tham mưu đã có không ít kẻ xấu”, nên đã thanh trừng bức hại đông đảo cán bộ quần chúng trong Bộ Tổng Tham mưu. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lâm Bưu và Hoàng Vĩnh Thắng, Bộ Tổng Tham mưu có tới 792 án oan, án giả, án sai, có 839 người bị hại, trong đó cấp quân đoàn trở lên có 52 người. Trong đại cách mạng văn hóa, Bộ Tổng Tham mưu có 51 người bị bức hại đến chết. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:01:33 pm 4. Phương châm “ba mạnh” của Khâu Hội Tác Nếu nói Khâu Hội Tác xu phụ Lâm Bưu từng ly từng tý thì việc làm hại những người vô tội lại vô cùng độc ác. Trong những thành viên chủ yếu của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu thì Khâu Hội Tác trực tiếp tham gia gây nên những tội ác nhiều nhất và cũng khủng khiếp nhất. Thời kỳ đầu cách mạng văn hóa, Khâu Hội Tác cũng đã từng bị công kích, đã từng nếm nỗi khổ bất chấp đạo trời phép nước của phái tạo phản. Nhưng, sau khi được Lâm Bưu giúp đỡ vững chân rồi thì lại trả thù điên cuồng bất kể trời đất đối với những người phản đối. Ngày 27 tháng 2 năm 1968, Khâu Hội Tác đã tự tay viết bản quy định phương châm “ba mạnh” trong việc thụ lý các án ở Tổng cục Hậu cần: “… Chỉ nói lý thôi thì không đủ, cần phải chuyên chính với kẻ địch. Đối với những kẻ từ chối không thú nhận chẳng lẽ không có cách nào hay sao? Cần phải có biện pháp... Cần phải đấu tố mạnh (kiên quyết tấn công vào thái độ phản cách mạng của hắn), phải thẩm vấn mạnh (có thể tiến hành thẩm vấn nhiều ngày liền), phải chuyên chính mạnh (kẻ địch từ chối không thú nhận thì phải chỉnh hắn)”. Ngày 18 tháng 3 năm 1968, trong hội nghị chuyên án của Tổng cục Hậu cần, Khâu Hội Tác đã chỉ thị: “... phải tàn bạo, đối với kẻ thù phải tàn khốc, thủ đoạn đấu tranh là chuyên chính, đối với kẻ địch phải liên tục thẩm vấn, làm liền mấy ngày đêm, khi cần thiết thì cùm chân cùm tay... theo tôi đấu bốn, đấu năm, đấu sáu đều được, có chết không đấu hắn cũng chết; không chết thì có đấu hắn cũng không chết, 16 điều không có điều nào quy định phải đền mạng mà!”. Từ năm 1967 đến năm 1971, Khâu Hội Tác đã lập trại giam, tra tấn bức cung, trực tiếp bức hại 462 cán bộ quần chúng ở Tổng cục Hậu cần, trong đó có 8 người gồm Thanh Bình, Chu Trường Canh, Trương Thụ Sâm... bị bức hại đến chết. Theo phương châm “đấu tố mạnh, thẩm vấn mạnh, chuyên chính mạnh” của Khâu Hội Tác, đã đày đọa vô nhân đạo những người bị giam giữ, những hình phạt đày đọa thân xác đã có tới hơn 50 kiểu “xa luân chiến” (ngày đêm luân phiên thẩm vấn), từ ghế cao thấp, “đánh phản cốt” (dùng gậy đánh vào xương sau gáy, đánh vào mồm), “ăn Nguyên tiêu” (tập thể cùng đánh), dùng tẩu thuốc đốt mắt cá chân, bức tự đánh mình, úp bát vào đầu, dùng tẩu thuốc làm bỏng mồm, hạn chế uống nước, bức phải uống nước bẩn, thậm chí uống nước tiểu, đá hỏng bộ phận sinh dục của những người bị giam giữ, tra tấn bằng điện v.v... và v.v... vô nhân đạo đến mức không ai có thể tưởng tượng nổi. Lương Băng nguyên là Cục phó Cục Quân giới thuộc Tổng cục Hậu Cần vì phản đối Khâu Hội Tác nên đã bị giam giữ. Trong thời gian bị giam giữ, đã bị dùng tới 23 kiểu cực hình. Trong “xa luân chiến”, một lần liên tục thẩm vấn dài nhất là 17 ngày đêm, thậm chí còn bị bức ăn bánh bao có dính phân, bị đày đọa tàn khốc, làm cho thân thể Lương Băng bị suy kiệt, cuối cùng bị liệt nửa người. Nhìn những cảnh tàn ác bất nhân ấy không ai tin được là nó đã xảy ra tại Trung quốc vào những năm 60 của thế kỷ 20 này. Trong việc hãm hại đối với những người lãnh đạo quân đội cũ, Khâu Hội Tác cũng không chịu thua kém. Trước cách mạng văn hóa, Khâu Hội Tác đã tham dự vào việc hãm hại Đại tướng La Thụy Khanh. Đại cách mạng văn hóa bắt đầu, Khâu Hội Tác vẫn không tha La Thụy Khanh. Trong thời gian La Thụy Khanh bị thương ở đùi phải nằm viện, ông ta vẫn báo cáo lên trên yêu cầu đấu La Thụy Khanh. Tháng 1 năm 1967, đã tổ chức cuộc mít tinh 1 vạn người đấu tố Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn và một số cán bộ cấp cao khác. Lúc ấy xương đùi trái của La Thụy Khanh bị gãy, vết thương chưa lành, vẫn phải quấn băng trắng, cổ đeo một tấm biển rộng khoảng 1 mét vuông, rồi dùng một cái sọt lớn khiêng ông đến hội trường để đấu tố. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh là Phó Chủ tịch Quân ủy, cũng là cấp trên cũ của Khâu Hội Tác. Thời kỳ trường chinh, Khâu Hội Tác làm việc bên cạnh Diệp Kiếm Anh. Vào thập niên 50, khi Diệp Kiếm Anh đảm nhận Tư lệnh Quân khu Hoa Nam, Khâu Hội Tác làm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu. Lúc mới cách mạng văn hóa khi Khâu Hội Tác bị công kích, Diệp Kiếm Anh đã từng bảo vệ ông ta. Khi ông ta ẩn náu ở Tây Sơn, có hôm Diệp Kiếm Anh đến thăm ông ta tới 3 lần. Nhưng, để nương nhờ Lâm Bưu hơn nữa, Khâu Hội Tác đã bất chấp tín nghĩa, lương tâm, đã chĩa mũi nhọn vào Diệp Kiếm Anh. Tháng 3 năm 1968, Hoàng Vĩnh Thắng tổ chức chỉnh lý tài liệu về Diệp Kiếm Anh, đồng thời thành lập tổ tài liệu chuyên nghiệp, Khâu Hội Tác chịu trách nhiệm triệu tập cuộc họp Tổ tài liệu, trực tiếp phê chuẩn những tài liệu bí mật về Diệp Kiếm Anh do Tổ tư liệu chỉnh lý. Nhưng Khâu Hội Tác vẫn ngờ là chưa đủ, nên lại sai Trần Bàng, Vương Hy Khắc và một số người tổ chức một nhóm ở Tổng cục Hậu cần, chỉnh lý lại cái gọi là tội lỗi của Diệp Kiếm Anh, mưu đồ tìm cớ hãm hại Diệp Kiếm Anh. Tháng 10 năm 1967, Khâu Hội Tác lại sai thân tín của mình ở Tổng cục Hậu cần viết tài liệu tố cáo Hạ Long, đồng thời đưa tài liệu cho tổ chuyên án, để hãm hại Hạ Long. Trong Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa 8, Khâu Hội Tác đã trực diện công kích Nguyên soái Từ Hướng Tiền. Đối với Đại tướng Từ Hải Đông người có công lao to lớn lại bị ốm lâu ngày, Khâu Hội Tác cũng không tha, ông ta đã lợi dụng quyền hành có trong tay, đã bức hại Từ Hải Đông bằng cách không cho chữa chạy thuốc thang, làm cho bệnh của Từ Hải Đông ngày một nặng, và đã qua đời vào tháng 3 năm 1970. Tổng cục Chính trị Quân giải phóng là cơ quan lãnh đạo cao nhất về công tác chính trị tư tưởng của Quân đội. Đối với cách làm “tả” do Lâm Bưu thực hiện trong quân đội, lãnh đạo Tổng cục Chính trị luôn luôn tẩy chay, vì thế bị Lâm Bưu cho rằng đó là nơi không tuân theo ông ta. Ngày 25 tháng 7 năm 1967, Lâm Bưu hạ lệnh: “Các đồng chí phải chiến đấu, phải đột kích, phải đập tan hoàn toàn diện Diêm vương” ở Tổng cục Chính trị. Khâu Hội Tác, Hoàng Vĩnh Thắng nghe thấy thế vội vác giáo xông ra, bắt đầu những hành động đập nát Tổng cục Chính trị. Khâu Hội Tác sắp xếp việc thành lập “Tổ phê phán đấu tố cán bộ lãnh đạo Tổng cục Chính trị”, bắt bớ giam cầm những người lãnh đạo của Tổng cục Chính trị. Đồng thời, Khâu Hội Tác còn sai “Văn phòng cách mạng văn hóa” của Tổng cục Hậu cần biên soạn và in tài liệu dài tới 17 vạn chữ để vu cáo cán bộ Tổng cục Chính trị và phân phát khắp mọi nơi. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:02:59 pm 5. Dã tâm của Lý Tác Bằng Việc hãm hại Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng La Thụy Khanh do Lâm Bưu sắp xếp vào năm 1965, đã trở thành sự kiện mở đầu của cuộc câu kết Lâm Bưu, Lý Tác Bằng. Khoảng giữa hè thu năm 1965, Lâm Bưu bảo Diệp Quần gọi điện cho Lý Tác Bằng nói là La Thụy Khanh “có dã tâm muốn làm Bộ trưởng Quốc phòng, lôi kéo người tổ chức thành một ê kíp, vừa thăng cấp lại vừa thăng chức”, Lý Tác Bằng trả lời ngay: “Quyết không bao giờ làm việc gì không phải với Lâm phó Chủ tịch”. Ngày 27 tháng 11 năm 1965, Lâm Bưu khẩu truyền điện thoại, bảo thư ký nói với Lý Tác Bằng là Phó Tư lệnh Hải quân lúc ấy, trực tiếp gợi ý cho ông ta từ góc độ Hải quân tiến hành vu cáo La Thụy Khanh. Thậm chí Lâm Bưu còn dạy ông ta cụ thể từ bốn phương diện để viết rõ: “Biểu hiện của La Thụy Khanh trên từng vấn đề, ngoài những điều ấy ra còn vấn đề gì?” Lý Tác Bằng lập tức hợp mưu với Vương Hồng Khôn, Trương Tú Xuyên, nặn ra một tài liệu dài 7000 chữ, vu cho La Thụy Khanh là “mấy năm gần đây đối với vấn đề lãnh đạo Hải quân, đã tồn tại những sai làm nghiêm trọng, đồng thời có âm mưu lớn”, “muốn chiếm lĩnh trận địa Hải quân”. Việc hãm hại La Thụy Khanh trên thực tế là một “cuộc thi” đặc biệt để Lâm Bưu chọn thân tín, Lý Tác Bằng, Ngô Pháp Hiến, Khâu Hội Tác, Hoàng Vĩnh Thắng... đã lấy việc hãm hại La Thụy Khanh để bảy tỏ “lòng trung” của họ đối với Lâm Bưu, từ đó thông qua cuộc thi này, trở thành bè đảng của Lâm Bưu. Một âm mưu hội tụ một loạt kẻ có âm mưu. Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu bắt đầu hình thành như thế. Từ việc bảo vệ quyền lợi, tranh giành quyền lợi mà tìm chỗ dựa đến việc làm vui lòng chỗ dựa mà cam tâm làm tay sai, hãm hại người khác, cuối cùng kéo cánh âm mưu tiếm đoạt quyền lực cao nhất. Lý Tác Bằng đã bắt đầu đi vào con đường hủy diệt của một kẻ có dã tâm như thế. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:03:39 pm 6. Trương Xuân Kiều tiến quân vào Bắc Kinh “Bốn đại kim cương” bên này của Lâm Bưu ra sức lạm dụng uy quyền vẫn chưa gặt hái được gì, còn “bọn bốn tên” ở bên kia thì mài dao xoèn xoẹt, sát khí đằng đằng. Ngày 11 tháng 11 năm 1966, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cử Trương Xuân Kiều đáp chuyên cơ quân dụng trở về Thượng Hải, hội kiến với những người cầm đầu “Tổng hội công nhân”, lần này Trương Xuân Kiều đã quen Vương Hồng Văn. Vì làm “kịch mẫu cách mạng” mà Giang (Thanh), Trương (Xuân Kiều) bắt tay nhau; vì phê “Hải Thụy bãi quan” mà Giang, Trương, Diêu (Văn Nguyên) kết nghĩa, nay lại vì “sự kiện An Đình” mà thêm một đồng bọn Vương Hồng Văn. Trương Xuân Kiều muốn mượn Vương Hồng Văn để đánh tan Thành ủy Thượng Hải, vì thế ông ta rất thoải mái ủng hộ “Tổng hội công nhân”, lần hợp tác đầu tiên Trương, Vương rất thành công, Mao Trạch Đông lại không phản đối việc này, trong Hội nghị Bộ Chính trị ngày 16 ông nói: “Có thể tiền trảm hậu tấu, luôn luôn là thực tiễn có trước khái niệm có sau”. Trương Xuân Kiều nghe tin này, biết là mình “đã lập công lớn”. Trương Xuân Kiều có dã tâm rất lớn, ông ta cho rằng tranh giành địa vị ở Trung ương quan trọng hơn so với Thượng Hải, ông ta phải “tiến quân về Bắc Kinh”. Trương Xuân Kiều với đầy dã tâm, nắm được quyền Đảng và chính quyền ở Thượng Hải, ánh mắt của ông ta hướng về Bắc Kinh, mong muốn có được quyền hành về Đảng và chính quyền ở Trung ương. Ngày 18 tháng 2 năm 1967, Chu Ân Lai triệu tập cuộc hội ý Bộ Chính trị và Tổ cách mạng văn hóa Trung ương tại Hoài Nhân Đường, Đàm Chấn Lâm, Diệp Kiếm Anh, Trần Nghị v.v... cùng với Trương Xuân Kiều, Khang Sinh, Trần Bá Đạt v.v... đã triển khai một cuộc “luận chiến lớn”, Đàm Chấn Lâm phẫn nộ lên án bọn vô lại: “Mục đích của các người chính là đánh đổ những cán bộ cũ. Các người đánh đổ từng cán bộ cũ. Bao nhiêu cán bộ cách mạng đã 40 năm phải nhà tan cửa nát, vợ chồng con cái chia lìa...”. Diêu Văn Nguyên, Vương Lực ngồi bên cạnh Trương Xuân Kiều như những thư ký ghi lại từng viên “đạn pháo” từ phía đối diện bắn tới. Còn Trương Xuân Kiều thì mặt lạnh như băng, không nói một lời, ông ta cố hết sức ghi lại trong đầu từng câu nói của đối phương, ông ta không “đánh trả” ngay, sách lược xưa nay của ông ta là “áp đảo đối phương sau”. Lần này cũng vậy. Ngay đêm ấy, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Lực đối chiếu sổ ghi chép, Vương Lực chấp bút viết “Biên bản cuộc hội ý của Trung ương”, ngày hôm sau ông ta cầm biên bản đến chỗ Mao Trạch Đông kể tội các vị tướng soái. “Cuộc đối chọi tháng Hai” của các vị nguyên soái, tướng lĩnh và cán bộ cũ được bọn Trương Xuân Kiều nhào nặn thành “Dòng nước ngược tháng Hai”. Trương Xuân Kiều đắc ý, ngày 24 tháng 2, Diêu Văn Nguyên xuất hiện ở Thượng Hải. Trương Xuân Kiều lúc này gần như là “Khâm sai đại thần”, ông ta mượn uy danh của Mao Trạch Đông. Trong thời kỳ lịch sử đặc biệt ấy, Tổ cách mạng văn hoá Trung ương đã thay thế Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Quyền hành lớn của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương một thời nằm trong tay Trương Xuân Kiều. Tổ phó Tổ cách mạng văn hóa Trung ương là Trương Xuân Kiều dựa vào con át chủ bài trong cách mạng văn hóa để lập nghiệp. Nhưng rốt cuộc vị tổ phó của cái tiểu tổ này là một chức vụ ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng. Ông ta đứng vững ở Trung ương bắt đầu từ Đại hội 9. Nhảy một bước lên ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, trở thành nhân vật thứ bảy của Trung ương. Trong thông báo tin tức Hội nghị, tên của Trương Xuân Kiều đã xuất hiện: “Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh Trương Xuân Kiều. Diêu Văn Nguyên v.v...”. Trương Xuân Kiều không muốn yên vị ở chức ủy viên Bộ Chính trị, Lâm Bưu bị rơi máy bay chết, Trần Bá Đạt bị sụp đổ, làm cho Trương Xuân Kiều từ nhân vật thứ 7 nhảy lên nhân vật thứ 5. Ông ta nhăm nhe cái vị trí Phó Chủ tịch. Nhưng sự việc lại trái với ý muốn, ngày 30 tháng 8 năm 1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 1 khóa 10 đã công bố kết quả bầu trung ương khóa 10: Chủ tịch Đảng Mao Trạch Đông, Phó Chủ tịch Đảng Chu Ân Lai, Vương Hồng Văn, Khang Sinh, Diệp Kiếm Anh, Lý Đức Sinh. Còn Trương Xuân Kiều thì sao? Tâm trạng của ông ta vô cùng chán nản: chỉ trúng vào ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị. Điều làm cho ông ta càng tức giận hơn là sự sụp đổ của Lâm Bưu lại dẫn đến việc sửa lại án xử sai về “Dòng nước ngược tháng Hai”, các vị tướng soái lần lượt được khôi phục danh dự, tại Đại hội Đảng khóa 10, Đặng Tiểu Bình đã trở thành thành viên của Chủ tịch đoàn. Trương Xuân Kiều đã hiểu được rằng, một cuộc đấu tranh quyết liệt mới sẽ lại bắt đầu. Tháng 4 năm 1974, Thủ tướng Chu Ân Lai, bị bệnh ung thư, bệnh tình ngày một nặng, đành phải vào nằm tại Bệnh viện Bắc Kinh. Trương Xuân Kiều và Đặng Tiểu Bình cùng là Phó Thủ tướng ngang hàng, hai người như nước với lửa, đối lập nhau gay gắt. Đặng Tiểu Bình là chướng ngại lớn nhất ảnh hưởng đến giấc mộng làm thủ tướng của ông ta. Về sự từng trải, về năng lực, về trí tuệ, về kinh nghiệm, Trương Xuân Kiều có là cái gì đâu, chẳng qua chỉ là một con tốt đen dựa vào việc “đánh đổ phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa” mà làm nên, ông ta không phải là đối thủ của Đặng Tiểu Bình. Điều làm cho Trương Xuân Kiều không yên là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai ủng hộ Đặng Tiểu Bình. Đơn độc khó chống chọi, bốn người kết bè để cùng chống lại Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình, Vương (Hồng Văn), Trương (Xuân Kiều), Giang (Thanh), Diêu (Văn Nguyên) đã liên kết thành “Đồng minh thần thánh” – “Bọn bốn tên”. Trong “bọn bốn tên”, Trương Xuân Kiều là “quân sư”, Giang Thanh là “ngọn cờ”, Trương Xuân Kiều là “điểm”, Diêu Văn Nguyên là “cái gậy”, Vương Hồng Văn là cãi nhãn hiệu Phó Chủ tịch, họ là “tứ hợp nhất” kết thành bè đảng. Hạt nhân của “bọn bốn tên” là Trương Xuân Kiều. Sau khi hy vọng làm Phó Chủ tịch Đảng tan vỡ, hai mắt Trương Xuân Kiều cứ chằm chằm nhìn vào vị trí Thủ tướng. Hiển nhiên là chỉ cần Chu Ân Lai còn khỏe một ngày thì Chu Ân Lai sẽ là Thủ tướng, trước mắt cái mà Trương Xuân Kiều có thể tranh được là “Phó Thủ tướng thứ nhất”. Vì “Phó thủ tướng thứ nhất” có hai ý nghĩa: Thứ nhất, hiện nay Thủ tướng đang ốm nặng, “phó thủ tướng thứ nhất” có nghĩa là sẽ chủ trì công việc hằng ngày của Quốc vụ viện; Thứ hai, hễ Chu Ân Lai qua đời thì “phó thủ tướng thứ nhất” sẽ đương nhiên trở thành thủ tướng. Từ thư ký cơ yếu của Mao Trạch Đông đưa đến một tin: “Ai làm Phó thủ tướng thứ nhất? Đặng”. Điều đó đã làm cho Trương Xuân Kiều đứng ngồi không yên, ông ta cần phải tranh trước Đặng Tiểu Bình, ra sức thay đổi chủ ý của Mao Trạch Đông. Thế là ông ta nảy ra một ý, bảo Vương Hồng Văn đến Trường Sa kể tội Đặng Tiểu Bình. Nhưng, Trương Xuân Kiều là một “quân sư quạt mo” hoàn toàn tính sai, Mao Trạch Đông quyết định “Đề nghị bổ nhiệm Đặng Tiểu Bình làm Phó Chủ tịch Đảng, Phó Thủ tướng thứ nhất, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, kiêm Tổng Tham mưu trưởng”. Từ ngày 5 tháng 1 đến ngày 18 tháng 1 năm 1975, trong 13 ngày ngắn ngủi, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã giao quyền Đảng, Chính phủ, quân đội cho Đặng Tiểu Bình. Trương Xuân Kiều thất bại thảm hại, giấc mộng làm thủ tướng tan tành mây khói. Nhưng Trương Xuân Kiều không cam tâm, “mộng thủ tướng không hề tiêu tan”. Có người tố cáo tội của Đặng Tiểu Bình với Mao Trạch Đông rằng “Đặng Tiểu Bình phủ định đại cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình muốn xử lại án!” Trương Xuân Kiều rất vui mừng, “bọn bốn tên” từ trong khủng hoảng chính trị được giải thoát. Chính trong giờ phút then chốt này, người ủng hộ mạnh nhất Đặng Tiểu Bình là Chu Ân Lai lại qua đời ngày 8 tháng 1 năm 1976! Theo Trương Xuân Kiều, thủ tướng mới của Trung Quốc, không ai khác ngoài ông ta, Đặng Tiểu Bình vốn dĩ phải thay Chu Ân Lai trở thành thủ tướng, sắp bị cuộc phản kích xu hướng xử lại án hữu khuynh đẩy xuống vũ đài, “mộng Thủ tướng” của Trương Xuân Kiều có thể thực hiện. Nhưng Trương Xuân Kiều không ngờ được rằng, thủ tướng mới không phải là ông ta mà là Hoa Quốc Phong. Trương Xuân Kiều mất bao nhiêu tâm sức mới đánh đổ được Đặng Tiểu Bình, vậy mà Mao Trạch Đông lại đem quyền lực giao cho Hoa Quốc Phong. Trương Xuân Kiều chán nản và phẫn uất, ông ta phải trả thù! Ông ta lại bắt đầu mưu tính làm sao để hạ bệ được Hoa Quốc Phong. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:04:19 pm 7. Cây bút cùn đi đến đâu ở đấy nước mắt tràn trề, máu đỏ thấm đẫm Diêu Văn Nguyên bạn sống chết có nhau của Trương Xuân Kiều cũng là một tên đồ tể giết người không ghê tay. Mã Liên Lương diễn vai chính trong “Hải Thụy bãi quan” bị cây bút cùn đánh dẹp, chiêng trống của cách mạng văn hóa vừa gióng lên đã nuốt hận qua đời. “Hải Thụy dâng sớ” bị liên lụy. “Hải Thụy dâng sớ” và “Hải Thụy bãi quan” bị vu là một “chửi mắng” một “cách chức”, Nam hô Bắc ứng, diễn viên chính “Hải Thụy dâng sớ” là người sáng lập “Kỳ phái”, nhà biểu diễn Kinh kịch nổi tiếng, đảng viên Cộng sản Chu Tín Phương bị coi là phản cách mạng, bị lăng nhục phải chết oan trong đêm tối. Một “Mã” một “Kỳ” đều là tinh hoa của Kinh kịch Trung Quốc đều bị cây bút cùn Diêu Văn Nguyên sổ toẹt! Do phản bác lại luận điệu hoang đường của Diêu Văn Nguyên, nên ba học giả nổi tiếng của Thượng Hải là Lý Bình Tâm, Chu Cốc Thành, Chu Dư Đồng đều bị coi là “Thôn ba nhà của Thượng Hải”. Giáo sư Lý Bình Tâm nhà sử học nổi tiếng giảng dạy tại Khoa Sử Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải bị Diêu Văn Nguyên vu cho là “giáo viên phản diện tự nhảy ra”, là “chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội”. Năm 1966, ông bị bức hại đến chết lúc mới 53 tuổi. Trước khi qua đời, ông vẫn nối sang sảng: “Có mấy vấn đề trước khi sự việc xảy ra tôi không ngờ tới: thứ nhất, nhân vật lịch sử bị phủ định tất cả; Thứ hai, phủ định tất cả các quan lại thanh liêm, bất luận thế nào cũng không hợp lô-gic; Thứ ba, bây giờ đột nhiên từ thảo luận học thuật hoàn toàn chuyển sang đấu tranh chính trị. Vấn đề bây giờ rất khó nói, rất có thể người không có vấn đề hôm nay, ngày mai đã có vấn đề. (Ngô Hàm) sao lại có thể phất cờ đỏ để chống cờ đỏ được? Bây giờ dù thế nào cũng là một chiếc mũ chụp lên đầu…”. Nhà sử học Tiễn Bá Tán, Giáo sư Ông Độc Kiện, Tưởng Tinh Dục tác giả của “Nam Bao Công - Hải Thụy”, Hứa Ân Ngôn nhà biên kịch “Hải Thụy dâng sớ”… lần lượt bị đưa ra phê phán đấu tố. Sự liên lụy dẫn đến do Diêu Văn Nguyên phê phán “Hải Thụy bãi quan”, đã sáng tạo nên một “kỳ tích” trong lịch sử Trung Quốc, khiến người ta nhìn thấy phải rùng mình! Ngày 5 tháng 8 năm (1966,) Mao Trạch Đông viết “Nã pháo vào Bộ Tư lệnh - bài đại tự báo của tôi”, được coi là Bộ Tư lệnh Lưu, Đặng “người đứng sau bí mật” của “Bành, La, Lục, Dương” bị pháo kích, làm cho cách mạng văn hóa đạt tới cao trào thứ nhất. Giang Thanh náo nức khôn cùng, trong bài phát biểu có tựa đề “Vì nhân dân lập công mới”, bà ta đã đánh giá “công tích lịch sử” của Diêu Văn Nguyên phê phán “Hải Thụy bãi quan” như sau: “Sau khi bới ra được một Ngô Hàm là cả một đống!”. Từ chỗ bới ra được Ngô Hàm, tiến tới “bới” được “Thôn ba nhà”, “bới” được “Thành ủy Bắc Kinh”, “bới” được “Bành, La, Lục, Dương”, “bới” được “Bộ Tư lệnh Lưu Đặng”, Diêu Văn Nguyên đã lập “công đầu” trong cách mạng văn hóa. Một năm sau khi bài “Bình vở kịch lịch sử” mới biên soạn “Hải Thụy bãi quan” ở Thượng Hải đã xảy ra “Sự kiện An Đình” chấn động cả nước, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên bay về Thượng Hải để xử lý “Sự kiện An Đình”, Trương Xuân Kiều liên minh với “Tư lệnh” của “Bộ Tư lệnh tạo phản cách mạng công nhân Thượng Hải” Vương Hồng Văn, thế là “bọn ba tên” trở thành “bọn bốn tên”. Tháng 4 năm 1969, Đại hội Đảng khóa 9 họp, Diêu Văn Nguyên nhảy lên ủy viên Bộ Chính trị, trở thành một trong hai mươi bốn nhân vật hàng đầu của Trung Quốc trẻ tuổi nhất - mới 38 tuổi. Diêu Văn Nguyên khởi động bộ máy dư luận và trở thành Tổng giám đốc “Công ty mũ Trung Quốc” (là chụp mũ, gán tội - N.D) và “Công ty tin vịt Trung Quốc”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:05:07 pm 8. Thành viên quan trọng nòng cốt trong bốn người. Ngày 10 tháng 3 năm 1973, Chu Ân Lai căn cứ vào lời phê duyệt trong thư đối với Đặng Tiểu Bình của Mao Trạch Đông, đã chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị. Hội nghị đã ra “Quyết định về việc khôi phục sinh hoạt tổ chức Đảng, chức vụ Phó Thủ tướng Quốc vụ viện của đồng chí Đặng Tiểu Bình”. Quyết định này có nghĩa là Đặng Tiểu Bình chính thức xuất hiện trở lại. Ngày 12 tháng 4, trong Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thết tiệc nguyên thủ quốc gia Căm-pu-chia Hoàng thân Nô-rô-đôm Xi-ha-núc. Đặng Tiểu Bình đã xuất hiện! Đó là sau khi ông bị đánh đổ lần đầu tiên xuất hiện công khai với tư cách Phó Thủ tướng Quốc vụ viện. Tối hôm ấy tiệc chưa tan nhưng những người đổ xô ra cầu thang không phải là các quan chức ngoại giao mà là phóng viên báo chí các nước. Họ đi thẳng đến Tổng cục Bưu điện nơi gần nhất để đưa một tin quan trọng ra toàn thế giới: Đặng Tiểu Bình đã xuất hiện trở lại! Có điều trong bốn người Đặng Tiểu Bình, Vương Hồng Văn, Hoa Quốc Phong, Lý Đức Sinh mới đầu được Mao Trạch Đông chú ý nhất là vẫn là Vương Hồng Văn. Từ ngày 20 đến ngày 31 tháng 5 năm 1973, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị công tác tại Bắc Kinh, thảo luận các vấn đề có liên quan về việc triệu tập Đại hội Đảng khóa 10. Theo đè nghị của Mao Trạch Đông, quyết định ba người Vương Hồng Văn, Hoa Quốc Phong, Ngô Đức tham dự Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng và tham gia công tác của Bộ Chính trị. Theo đề nghị của Mao Trạch Đông, Hội nghị còn đưa ra một quyết định “giật gân”: thành lập ủy ban trù bị Đại hội khóa 10, do Vương Hồng Văn làm chủ nhiệm, Chu Ân Lai, Khang Sinh, Diệp Kiếm Anh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Lý Đức Sinh làm phó chủ nhiệm. Vương Hồng Văn phút chốc được đưa lên vị trí nổi bật như thế, có nghĩa là anh ta đã trở thành nối nghiệp, được Mao Trạch Đông tuyển chọn lần thứ ba! Địa vị trong Đảng của Giang Thanh thì thụt lùi, Diệp Kiếm Anh ngồi trước mặt bà ta. Từ ngày 24 đến ngày 28 tháng 8 năm 1973, Đại hội Đảng khóa 10 được triệu tập tại Bắc Kinh. Mao Trạch Đông là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch, Chu Ân Lai, Vương Hồng Văn, Khang Sinh, Diệp Kiếm Anh, Lý Đức Sinh là Phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch. Điều đó chứng tỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức một ê-kíp lãnh đạo mới. Trong Đại hội, Chu Ân Lai đọc Báo cáo chính trị, Vương Hồng Văn đọc Báo cáo sửa đổi Điều lệ Đảng. Giang Thanh vốn trước đây rất muốn trở thành nhân vật thứ ba, nhưng nay đã bị Vương Hồng Văn thay thế. Vậy là, địa vị của Giang Thanh đã tụt xuống rất nhiều! Bà ta vốn là nhân vật thứ 4 chỉ sau Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Khang Sinh, bây giờ chỉ là một trong hai mươi mốt ủy viên Bộ Chính trị. Có điều tuy Giang Thanh có bị “hạ chức”, nhưng Vương Hồng Văn lại được “nâng lên”. Vương Hồng Văn là người được Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên nâng đỡ, cũng giống như Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên được bà ta nâng đỡ vậy. Vương Hồng Văn trở thành cư dân mới của Điếu Ngư Đài, trở thành người bạn mới của Giang Thanh. Thế là, “ba người nòng cốt” Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên đã tăng thêm một thành viên quan trọng: Vương Hồng Văn. Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn đã kết thành một “liên minh”, đã hình thành nên một thế lực không nhỏ trong Bộ Chính trị. Mục tiêu công kích của Giang Thanh, chẳng nói cũng rõ, đó là Chu Ân Lai! Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 09:55:23 pm 4 Đoàn tàu hỏa ầm ầm một mạch hướng về Bắc Kinh chạy tới Vợ chồng Lâm Bưu không kịp khóc trong hai mươi bốn tiếng cuối cùng 1. “Hạm đội liên hợp” Trong Hội nghị Lư Sơn, đối với Lâm Bưu, Mao Trạch Đông công khai thì bảo vệ, nhưng ngầm ngầm thì đánh đổ, thế lực của Giang Thanh ngày càng mạnh, làm cho Lâm Bưu hốt hoảng không thể không chọn đường hành động trước. Trước khi Lâm Lập Quả đảm nhận Phó Chủ nhiệm Văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân kiêm Phó ban Tác chiến, đã được Ngô Pháp Hiến phê chuẩn thành lập “Tổ điều tra nghiên cứu” do Lâm Lập Quả làm tổ trưởng tại Văn phòng Bộ Tư lệnh, thành viên có Chu Vũ Trì, Vương Phi, Lưu Bái Phong, Lưu Thế Anh (nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân). Trên danh nghĩa, nhiệm vụ của “tổ điều tra nghiên cứu” là nêu vấn đề, đưa kiến nghị cho Đảng ủy Không quân; nhưng trên thực tế, nó đã trở thành công cụ thu thập tình báo, bí mật liên hệ v.v... tiến hành âm mưu hoạt động của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu. Đến mùa thu năm nay, Lâm Lập Quả sau khi xem hai bộ phim Nhật Bản “Sơn Bản 56” và “A, Hải quân” liền đặt tên cho tổ chức phản cách mạng này là “Hạm đội liên hợp”. Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu không những thành lập “Hạm đội liên hợp” ở cơ quan Không quân, mà còn xây dựng tổ chức phản cách mạng của chúng ở các nơi như Thượng Hải, Quảng Châu v.v... Giang Đằng Giao dựa vào gợi ý của Lâm Bưu và Diệp Quần, đã sai Vương Duy Quốc nguyên Chính ủy bộ đội 7341 thành lập một “tổ tìm người” thay Lâm Lập Quả tuyển chọn “phi tần”. Tháng 3 năm 1970, Lâm Lập Quả đến Thượng Hải, đổi “tổ tìm người” thành “tổ Thượng Hải” để hoạt động phản cách mạng. Ngày 3 tháng 4, Lâm Lập Quả phát súng cho các thành viên của “tiểu tổ”. Tất cả những điều đó chứng tỏ, Lâm Bưu và đồng bọn nguy hiểm đến thế nào, nhưng về bản chất thì lại yếu ớt. Họ sợ nhân dân, sợ quần chúng. Mặc dù trong nội bộ tổ chức phản cách mạng của chúng, cũng không thể không dùng những thủ đoạn lừa bịp và sự thống trị phát xít để khống chế những thanh niên dốt nát bị chúng lợi dụng do mắc lừa. Lưu Thiếu Kỳ đã bị đánh đổ, Lâm Bưu đã được Điều lệ Đảng ở Đại hội Đảng khóa 9 quy định rõ ràng là “người kế nghiệp”, muốn nhân dịp Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc họp lên làm “Chủ tịch nước”, vội vã mưu tính chiếm quyền lực cao nhất. Mao Trạch Đông ngày càng mất đi sự tín nhiệm đối với Lâm Bưu, đã nhìn rõ dã tâm lang sói của Lâm Bưu và đồng bọn, đã nhiều lần thẳng thừng nêu ra việc không lập Chủ tịch nước, đồng thời bắt đầu phòng bị từng bước một, hạn chế âm mưu tiếm quyền của Lâm Bưu. Tháng 8 năm 1970, âm mưu cướp quyền của Lâm Bưu và đồng bọn ở Lư Sơn bị bại lộ. Trần Bá Đạt một thành viên chủ yếu của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu và Giang Thanh bị tố giác, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác bị Mao Trạch Đông phê bình. Trung tuần tháng 10 năm 1970, Mao Trạch Đông lần lượt phê duyệt bản kiểm thảo của Ngô Pháp Hiến và Diệp Quần. Trung tuần tháng 11, Mao Trạch Đông phê phán nghiêm khắc Hoàng Vĩnh Thắng, toàn Đảng toàn quân triển khai phong trào “Phê Trần (Bá Đạt) chỉnh phong”. Ngày 20 tháng 12, Hội nghị Hoa Bắc bắt đầu. Ngày 24 tháng 1 năm 1971, Chu Ân Lai nói chuyện tại Hội nghị Hoa Bắc, đã vạch trần một cách hệ thống tội ác của Trần Bá Đạt… Một loạt tình hình xảy ra làm cho tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu hốt hoảng, một mặt họ thiêu hủy tài liệu, ký kết đồng minh tiến công và phòng thủ, giả vờ kiểm thảo, mưu đồ che giấu chân tướng sự thực nhằm thoát khỏi cơn nguy hiểm. Mặt khác, bắt đầu sắp xếp kế hoạch âm mưu hoạt động vũ trang chính biến phản cách mạng. Sau “sự kiện 13 tháng 9”, từ nơi ở của Lâm Lập Quả đã phát hiện bản ghi chép về những điểm chính của bài phát biểu sau Hội nghị Lư Sơn. Những điểm chính của bài nói chuyện này, phản ánh sự đánh giá của Lâm Bưu và đồng bọn đối với Hội nghị Lư Sơn, bộc lộ một cách trắng trợn dã tâm chính trị và âm mưu phản cách mạng của chúng. Nói với Tiêm 7, W,C Đây là một lần Tổng diễn tập của cuộc đấu tranh trong tương lai. Trận thế của hai bên đều đã rõ ràng, Trần là người anh hùng trong đấu tranh, Ngô là con gấu chó. Lần này, phía ta trên dưới đều tốt, nhưng ở giữa không ăn khớp, ba là không có một tham mưu trưởng tốt. Trình độ chính trị của những người này thấp, thường ngày không học tập, đến lúc cần thì trong đầu không có dự định gì, không có một ý niệm toàn diện, chỉ huy chiến dịch quân sự còn có thể nhưng chỉ huy chiến dịch chính trị thì không được. Nói cho rõ một chút là cuộc đấu tranh chính trị sau này không thể dựa vào họ để lãnh đạo, quyền lãnh đạo thực sự phải nắm trong tay chúng ta. (“Tiêm 7” là biệt hiệu của Giang Đằng Giao, “W” là biệt hiệu của Vương Duy Quốc, “C” là biệt hiệu của Trần Lệ Vân, nguyên ủy viên chính trị của bộ đội 7350, Trần là chỉ Trần Bá Đạt, Ngô là chỉ Ngô Pháp Hiến - Người dẫn chú). Chính trong tình hình này, Lâm Bưu đã đưa “Hạm đội liên hợp” phản cách mạng do Lâm Lập Quả cầm đầu bước vào tuyến thứ nhất, càng đẩy mạnh những âm mưu hoạt động phản cách mạng của chúng hơn nữa. Tháng 10 năm 1970, sau khi Lâm Lập Quả đặt tên cho tổ chức phản cách mạng của họ là “Hạm đội liên hợp”, đã quyết định mở rộng phạm vi điều tra và tăng thêm “nhân viên điều tra”. Tháng 11, Lâm Bưu nói với Lâm Lập Quả: “Phải gặp mặt các cán bộ cấp quân đoàn trở lên, không gặp mặt thì sẽ không có quyền chỉ huy”. Ngày 1 tháng 12, Lâm Lập Quả bố trí chỉnh đốn “đội ngũ cốt cán” của cơ quan Không quân. Lâm Lập Quả nói: “Người ta tiến hành làm trong sạch đội ngũ và chỉnh đốn Đảng còn chúng ta thì thanh lý đội ngũ cốt cán. Muốn làm trong sạch đội ngũ, phải tìm khâu yếu kém, có hay không có phái giả, nội gian. Không để cho kẻ xấu trà trộn vào”. Trong sổ ghi chép của Lưu Bái Phong ghi ngày 2 tháng 12 năm 1970 thu giữ được có chép những ý kiến bước đầu về “chỉnh đốn” đội ngũ cốt cán của cơ quan. Chiều ngày 8 tháng 2 năm 1971, “Hạm đội liên hợp” triệu tập “Hội nghị Hạm đội” bố trí thu thập tình báo, Chu Vũ Trì đã nói về tính chất quan trọng của tình báo trong hội nghị này; so sánh bên trên và bên dưới thì bên trên quan trọng hơn; so sánh tình hình chết và tình hình sống thì tình hình sống quan trọng; tình trạng chờ đợi và tình trạng chủ động thu thập tư liệu phải chủ động khai thác tình hình mới, đồng thời yêu cầu mỗi người mỗi thời kỳ phải liên tục nắm cho được một hai vấn đề. Ngày 12 tháng 2, Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả đã đến Tô Châu. Ngày 21, Lâm Bưu sai Lâm Lập Quả đến Hàng Châu, tiến hành xâu chuỗi phản cách mạng, Lâm Lập Quả và Vu Tân Dã nhiều lần bí mật bàn với Trần Lệ Vân nguyên ủy viên Chính trị đơn vị bộ đội 7350. Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả trải qua những hoạt động khẩn trương Lâm Lập Quả ra mặt, tập hợp những thành viên chủ yếu của “Hạm đội liên hợp” gồm Chu Vũ Trì... định ra kế hoạch vũ trang đảo chính phản cách mạng. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 09:57:33 pm 2. Kế hoạch tội ác “Kỷ yếu “công trình 571”” Giang Nam vào tháng 3, đúng vào mùa cây cỏ xanh tươi, ong bướm chim muông bay lượn. Nhưng tổ quốc của chúng ta lại đang phải chịu tai họa lớn do tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu và Giang Thanh gây nên. Một nhúm kẻ có dã tâm và âm mưu phản cách mạng đã sai lầm cho rằng: ý nguyện của nhân dân có thể đè nén lâu dài, chân tay họ có thể bị trói mãi mãi. Vì thế chúng đã dám đùa giỡn với vận mệnh của đất nước và dân tộc trên bàn tay mình. Ngày 18 tháng 3 năm 1971, Lâm Lập Quả đã đưa Vu Tân Dã và Hứa Tú Tự (nguyên Trưởng phòng Phòng kỹ thuật binh chủng ra-đa thuộc Bộ Tư lệnh Không quân và là thành viên “Hạm đội liên hợp”) từ Hàng Châu đến Thượng Hải. Tối hôm ấy, đồng thời thông báo cho Chu Vũ Trì đang ở Bắc Kinh đến ngay Thượng Hải và giao hẹn với người tiếp đón họ là Lý Vĩ Tín (nguyên là Phó Trưởng phòng Ban thư ký Cục Chính trị đơn vị bộ đội 7341 và là thành viên quan trọng của “Hạm đội liên hợp”). “Tử tước hiệu” (biệt danh của Diệp Quần) nói, “ở Thượng Hải cần phải ẩn nấp, an toàn”. Ngày 20 tháng 3, Chu Vũ Trì đến Thượng Hải. Ngày hôm sau, Lâm Lập Quả bèn triệu tập Chu Vũ Trì, Vu Tân Dã, Lý Vĩ Tín đến họp bàn bí mật, chúng “phân tích” tình hình. “Hiện nay thực lực và quyền thế của thủ trưởng (chỉ Lâm Bưu - dưới đây đều gọi như thế) đều chiếm ưu thế, nhưng hiện nay đang có thay đổi”. Chúng nghiên cứu vấn đề “nối nghiệp của Lâm Bưu”, cho rằng có thể có ba khả năng: Một là, Lâm Bưu “nối nghiệp một cách hòa bình”. Chu Vũ Trì nói, năm sáu năm nữa là chuyện thường, có thể sẽ ngắn hơn. Lâm Lập Quả nói, năm sáu năm nữa vẫn chưa chắc đã thay thế được, cho dù là năm sáu năm thì tình hình cũng sẽ thay đổi rất lớn, rất khó nói là địa vị của thủ trưởng có thể giữ được. Hai là, Lâm Bưu “bị người khác tranh chỗ”. Chu Vũ Trì cho rằng, ngay bây giờ thì không được. Lâm Lập Quả cho rằng, uy tín của Mao Trạch Đông cao, chỉ cần Mao Trạch Đông nói một câu là Lâm Bưu có thể bị đổ bất cứ lúc nào, do đó hắn điên cuồng đòi sắp xếp bố trí cuộc đảo chính vũ trang phản cách mạng. Ba là Lâm Bưu “cướp ghế trước”. Cũng có nghĩa là trực tiếp hãm hại Mao Trạch Đông. Nhưng chúng lại sợ làm không nổi vì Mao Trạch Đông có ảnh hưởng lớn, uy tín cao. Chu Vũ Trì tỏ ra hiểm ác hơn: “Tất nhiên, nhất định phải làm như thế thì cũng có thể nghĩ ra cách, như: giam lỏng Mao Trạch Đông để đàm phán, cũng có thể giết Mao Trạch Đông rồi đổ tội cho người khác”. Ông ta nói một cách thâm hiểm: “Dù thế nào thì lúc ấy thủ trưởng đã nắm quyền có thể do thủ trưởng đứng ra nói chuyện”. Cuối cùng chúng đi đến kết luận tranh thủ “quá độ hòa bình”, chuẩn bị tốt “khởi nghĩa vũ trang”. Chúng nghiên cứu những điểm quan trọng trong việc thực hiện cuộc đảo chính vũ trang phản cách mạng này, sắp xếp thành lập tổ chức vũ trang “đội hướng dẫn” v.v… Cuối cùng, Lâm Lập Quả dựa vào từ đồng âm của “Vũ trang khởi nghĩa”, đặt cho kế hoạch tội ác này là “Kỷ yếu “công trình 571””. Lâm Lập Quả nói với Vu Tân Dã. “Căn cứ vào tình hình trước mắt, thủ trưởng bảo trước tiên phải đặt kế hoạch. Theo tôi, kế hoạch này sẽ theo cái khung chung đã được bàn ở Hàng Châu, rồi anh sẽ viết. Tôi đã nói tình hình bàn bạc của chúng ta ở Hàng Châu cho Tử tước hiệu nghe rồi”. Từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 3, chúng đã viết xong kế hoạch. Sau “sự kiện 13 tháng 9”, từ một cứ điểm bí mật trong Học viện Không quân của chúng, đã tìm ra một bản “Kỷ yếu “công trình 571”” do Vu Tân Dã viết. Toàn văn chia làm 9 phần: (1) Tính khả năng; (2) Tính tất yếu; (3) Điều kiện cơ bản; (4) Thời cơ; (5) Lực lượng; (6) Khẩu hiệu và cương lĩnh; (7) Những điểm quan trọng trong thực thi; (8) Chính sách và sách lược; (9) Bảo mật và kỷ luật. “Kỷ yếu” đã vu cáo chính quyền chuyên chính vô sản của nước ta là vương triều phong kiến treo biển xã hội chủ nghĩa, lấy “Đánh đổ Tần Thủy Hoàng hiện đại B-52” (B-52 là cách gọi bêu xấu của họ đối với Mao Trạch Đông), “Lật đổ vương triều phong kiến treo chiêu bài xã hội chủ nghĩa” làm khẩu hiệu và cương lĩnh, nêu ra việc phải hành động trước để kiềm chế đối phương về quân sự”, âm mưu lợi dụng họp tầng lớp lãnh đạo để “vét gọn một mẻ lưới” hoặc dùng thủ đoạn đặc biệt “như ném bom, gây tai nạn xe cộ, ám sát, bắt, dùng các phân đội nhỏ du kích ở thành phố v.v... để phát động cuộc đảo chính vũ trang phản cách mạng, giết hại Mao Trạch Đông, nhằm “cướp chính quyền trong cả nước”, hoặc tạo nên “cục diện cát cứ”, xây dựng vương triều họ Lâm. “Kỷ yếu” còn nêu rất rõ chính sách và sách lược như sau: “Phất lá cờ B- 52 để đánh lực lượng của B-52”. Theo kế hoạch phản cách mạng này, Lâm Bưu lập tức hành động. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 09:59:34 pm 3. Đoàn tàu chạy suốt không dừng Đứng trước một hồ nước đục, Mao Trạch Đông đã chuẩn bị rải phèn chua. Mùa hè năm 1971 trôi qua. Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu khẩn trương chuẩn bị cuộc đảo chính vũ trang, mang trong lòng nỗi lo lắng không yên chờ đón mùa thu thứ hai sau Hội nghị Lư Sơn. Trung tuần tháng 8 năm 1971, Mao Trạch Đông rời Bắc Kinh đi miền Nam thị sát. Tại Vũ Hán, Trường Sa và Nam Xương, lần lượt nói chuyện nhiều lần với những người phụ trách Đảng, chính quyền, quân đội của các tỉnh và khu: Hồ Bắc, Hà Nam, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tây, Giang Tô, Phúc Kiến. Trong các buổi họp này, Mao Trạch Đông không chỉ phê bình Trần Bá Đạt, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác v.v... mà còn nhiều lần phê bình Lâm Bưu khi nói đến cuộc đấu tranh trong Hội nghị Lư Sơn, ông nói: “Có người vội muốn làm chủ tịch nước, muốn chia rẽ Đảng, vội cướp quyền”. “Sự việc ở Lư Sơn vẫn chưa xong, vẫn chưa giải quyết”. Đồng thời chỉ rõ: Lâm Bưu “tất nhiên phải chịu một phần trách nhiệm”. Mao Trạch Đông nói: “Tôi không tin là quân đội của chúng ta lại làm phản, tôi không tin Hoàng Vĩnh Thắng có thể chỉ huy giải phóng quân làm phản! Dưới quân đoàn còn có sư đoàn, trung đoàn, còn có các cơ quan cục, chính trị, hậu cần, anh điều động quân đội làm việc xấu liệu họ có nghe anh không?”. Mao Trạch Đông tuy không nói đến tên nhưng nói đến kẻ cầm đầu “Hạm đội liên hợp” là Lâm Lập Quả: “Một người mới hai mươi mấy tuổi đầu mà tâng bốc là “siêu thiên tài”, điều đó chẳng có lợi gì”. Trên đường đi, Mao Trạch Đông nhiều lần dẫn đầu những người được tiếp kiến hát “Quốc tế ca” và “Ba kỷ luật lớn và tám điều chú ý”, giảng giải ca từ của hai bài hát này. Mao Trạch Đông bảo: “Không những phải hát mà còn phải giải thích, còn phải theo đó mà làm”. Cuộc nói chuyện trên đường thị sát ở miền Nam của Mao Trạch Đông đã đẩy nhanh việc bố trí đảo chính của Lâm Bưu và Diệp Quần. “Kỷ yếu “công trình 571”” đã sớm có sự tính toán và đối sách: “Về chiến lược có hai thời cơ: Một là lúc chúng ta chuẩn bị xong có thể nuốt chửng họ. Hai là, lúc phát hiện thấy kẻ địch há miệng muốn nuốt chửng chúng ta. Khi chúng ta bị nguy hiểm nghiêm trọng thì lúc này dù đã chuẩn bị hay chưa chuẩn bị tốt, cũng phải “quyết làm đến cùng”. Lâm Bưu, Diệp Quần đã tính đến tình hình mới của việc Mao Trạch Đông đi thị sát miền Nam. Đã quyết tâm “làm đến cùng”. Ngày 7 tháng 9, Lâm Lập Quả ra lệnh bước vào chuẩn bị chiến đấu cấp 1 cho “Hạm đội liên hợp”. Buổi chiều cùng ngày, Chu Vũ Trì ở Bắc Đới Hà nhận chỉ thị của Lâm Bưu và Diệp Quần, đáp máy bay trực thăng về Bắc Kinh. Ông ta lập tức gặp Tổng chỉ huy đảo chính là Giang Đằng Giao. Cho ông ta xem bản ghi chép bài nói chuyện của Mao Trạch Đông nhằm vào Lâm Bưu khi đi thị sát miền Nam, sau đó buồn bã nói: “Bây giờ xem ra họ sẽ ra tay đối với bọn ta rồi. Theo tôi chúng ta phải ra tay trước thì hơn. Mao hiện đang ở Hàng Châu, sẽ rất nhanh chóng về Bắc Kinh để dự lễ Quốc khánh. Lúc đi qua Thượng Hải ta có thể bắt tay thực hiện”. Giang Đằng Giao trầm tư một lát, nói: “Vậy phải bảo Vương Duy Quốc”. Chu Vũ Trì nói ngay: “Không được, Vương Duy Quốc quá thô thiển”. Giang Đằng Giao không phụ sự chăm sóc của Lâm Bưu, đứng ra nói: “Vậy thì chỉ có tôi đi được thôi!”. Chu Vũ Trì sốt ruột: “Nếu đi thì đi nhanh lên” Giang Đằng Giao thong thả nói: “Hàng Châu bây giờ là lúc thời tiết đẹp nhất, Mao sẽ không thể về trước ngày 25 tháng 9 đâu”. 9 giờ 40 phút tối ngày 8 tháng 9, Lâm Lập Quả đáp chuyên cơ E-bớt từ Bắc Đới Hà xuống sân bay quân sự Tây Giao, Bắc Kinh. Hơn 10 giờ đêm hôm ấy, Lâm Lập Quả họp với Giang Đằng Giao, Lý Vĩ Tín ở “phòng chữ H”, một cứ điểm bí mật tại sân bay Tây Giao. Giang Đằng Giao vừa vào, Lâm Lập Quả đã nói: “Chính ủy, trước tiên hãy xem cái này đã”. Giang Đằng Giao chìa tay cầm tờ giấy, đó là tờ giấy khổ 19×27cm, có chữ do Lâm Bưu viết bằng bút chì đỏ: “Mong làm theo mệnh lệnh do Lập Quả và đồng chí Vũ Trì truyền đạt. Lâm Bưu, ngày 8 tháng 9” Lâm Lập Quả hỏi: “Thế nào?” Giang Đằng Giao đáp: “Làm thôi!” Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:00:38 pm Lâm Lập Quả đưa ra phương án: “Tình hình bây giờ rất khẩn cấp, quyết định ra tay ở Thượng Hải. Chúng ta đã nghiên cứu ba biện pháp. Một là dùng súng phun lửa, hỏa tiễn B.40 bắn vào xe lửa của B-52 (chỉ Mao Trạch Đông); Hai là, dùng pháo 100 ly cải trang thành pháo cao xạ bắn thẳng vào xe lửa; Ba là, để cho Vương Duy Quốc đem theo súng lục, sẽ bắn hạ khi B-52 tiếp kiến”. Lại nói với Giang Đằng Giao: “Anh sẽ đến Thượng Hải chỉ huy thống nhất! Chỉ có anh mới đảm nhiệm được. Đợi sau khi tiếng súng ở Thượng Hải nổ, thì ở Bắc Kinh, Vương Phi chỉ huy tiểu đoàn cảnh vệ trực thăng của Không quân sẽ tấn công Điếu Ngư Đài”. Để cướp công của người khác, Giang Đằng Giao lại đề ra một phương án: “Đốt kho xăng ở gần đó, lấy danh nghĩa là cứu hỏa, nhân lúc hỗn loạn để ra tay”. Ông ta vẽ ngay nơi đỗ của đoàn tàu chuyên dụng của Mao Trạch Đông và vị trí kho xăng, nói: “Làm cho tốt, dòng xăng sẽ chảy đến đoàn tàu hỏa, cả người lẫn xe đều đi tong”. Để động viên tinh thần, Lâm Lập Quả nói: lần này sẽ thưởng theo công lao. Thủ trưởng đã nói là ai hoàn thành nhiệm vụ này sẽ là người lập công dựng nước”. Chu Vũ Trì nói thêm với Giang Đằng Giao: “Nếu anh hoàn thành được nhiệm vụ thì chức Phó Thủ tướng và Ủy viên Bộ Chính trị do anh chọn”. Lâm Lập Quả lại hỏi: “Anh xem mấy biện pháp này có được không? Có chắc ăn không?” Giang Đằng Giao làm ra vẻ là Tổng Chỉ huy mặt trận: “Nếu dùng được cả thì có thể nắm chắc được sáu bảy phần”. Chu Vũ Trì đẩy bàn đứng dậy: “Nắm chắc được bảy phần thì làm. Đánh trận thì bảy phần chắc ăn và ba phần mạo hiểm”. Giang Đằng Giao nghĩ đến mật hiệu liên lạc liền nói: “Nếu B-52 đến Thượng Hải mà “nổ súng” thì gọi “Vương Duy Quốc ốm nặng”, “nếu đánh thành công” thì gọi là “Vương Duy Quốc đã khỏi bệnh”. “Đánh hỏng” thì gọi là “Vương Duy Quốc nguy kịch”. Đến sáng ngày 9 tháng 9, Lâm Lập Quả suốt đêm không ngủ, lại chạy đến Học viện Không quân, triệu tập các thành viên của “Hạm đội liên hợp” họp, gồm Lưu Bái Phong, Lưu Thế Anh, Lý Vĩ Tín, Trình Hồng Trân. Lâm Lập Quả bước vào phòng họp, vứt mũ và quân phục lên xa-lông, lộ ra khẩu súng lục giắt ở lưng, quát lên: “Đóng cửa sổ lại!”. Mọi người lặng im, chỉ nghe tiếng của Lâm Lập Quả: “Hiện nay có người chống lại Lâm Phó Chủ tịch. Chúng ta thề chết để bảo vệ? Nuôi quân ngàn ngày chỉ dùng trong một buổi. Chúng ta phải đem hết sức, một người phải bằng mấy người, mười mấy người”. Nói xong, lấy mệnh lệnh viết tay truyền cho mọi người xem. Lâm Lập Quả lại đưa ra thủ đoạn thưởng theo công trạng: “Trong cuộc khởi nghĩa vũ trang này, Giang Đằng Giao là Tổng Chỉ huy mặt trận. Thành công, Vương Phi sẽ là Tư lệnh Không quân, Lưu Thế Anh sẽ là Phó tư lệnh, Lý Vĩ Tín có thể làm Bộ trưởng Ngoại thương. Những người khác sẽ được trọng dụng, thành bại là ở lúc này”. Trịnh Hồng Trân nói xen vào: “Được làm vua thua làm giặc!”. Lâm Lập Quả nói thêm: “Thua cũng không phải là giặc. Thành công thì mọi việc sẽ tốt, thất bại thì sẽ đánh du kích”. “Tổng chỉ huy mặt trận” sau rèm thực sự là Diệp Quần ở Bắc Đới Hà. Bà ta đã tổng hợp quyết sách của Lâm Bưu và cơ mưu của bà ta để tạo nên những cuộc nói chuyện bằng điện thoại dài hết lần này đến lần khác. Theo điều lệ quy định, các cuộc nói chuyện bảo mật quân dụng, thì các cuộc nói chuyện giữa Diệp Quần và Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến và những người lãnh đạo cao cấp là cơ mật tuyệt đối, không ai được và cũng không có cách gì để nghe trộm. Chỉ một ngày 9 tháng 9, các cuộc nói chuyện giữa Diệp Quần và “bốn đại kim cương” ở Bắc Kinh bằng điện thoại đều là cơ mật cao cấp hầu như không có sự gián đoạn, đến nỗi trực ban tiếp dây tại Tổng đài ở trong tình trạng rất khó xoay xở. Vì hôm ấy Hoàng Vĩnh Thắng đã cầm máy nói chuyện với Diệp Quần liên tục một tiếng rưỡi đồng hồ, làm cho Ngô Pháp Hiến đợi đến mức không chịu nổi. Điều đảng tiếc là các cuộc nói chuyện này không được ghi âm, nên khó có thể kiểm tra, trở thành sự đáng tiếc trong lịch sử. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:27:17 pm Ngày 10 tháng 9, Diệp Quần đã nói chuyện bằng đường điện thoại bảo mật với Hoàng Vĩnh Thắng đến 5 lần, trong đó có một lần dài tới hai tiếng mười lăm phút. Ngày 11 tháng 9, Diệp Quần bắt đầu “ra roi” yêu cầu “Hạm đội liên hợp” phải hành động nhanh chóng. Sáng hôm ấy, Lâm Lập Quả gọi điện thoại cho Vương Phi: “Chủ nhiệm Diệp vừa gọi điện thoại thúc giục chúng ta, bà còn đích thân gọi điện thoại cho anh, thế hiện nay buộc phải hành động, không thể do dự được nữa. Biệt danh của anh là “A Phi”, biệt danh của Chu Vũ Trì là “Đồng Linh”. Điện thoại của Lâm Lập Quả vừa dứt thì điện thoại của Diệp Quần từ Bắc Đới Hà gọi tới. Vương Phi là nhân vật chỉ huy thực sự của Bộ Tư lệnh Không quân, Diệp Quần phải nắm chặt ông ta. Diệp Quần: Lâm Phó Chủ tịch rất tín nhiệm anh, việc giao cho anh làm cần khẩn trương nắm chắc. Tính mệnh của cả gia đình tôi đều trông cậy vào các anh. Nghe nói anh có nhiều lo ngại, luôn muốn “rút thang”. Sợ cái gì? Dù có chết cũng là liệt sĩ mà!”. Vương Phi vội vàng biện bạch: “Không phải là sợ. Khi tôi tham gia cách mạng cũng không nghĩ tới là mình có thể sống tới 50 tuổi! Chỉ sợ là làm không tốt, sẽ liên lụy đến anh chị”. Diệp Quần nghe được sự lo lắng từ đáy lòng của Vương Phi như “đi trên lớp băng mỏng”, như đứng trên bờ vực thẳm, bèn nói: “Lâm Phó Chủ tịch xưa nay nói thế nào là như thế nấy, không tính toán đến sự chín muồi thì không bao giờ bảo các anh làm. Làm xong sẽ không đối xử bạc với các anh. Vấn đề gì cũng sẽ dễ dàng. Tương lai các anh đều có chữ “thường” làm biệt hiệu”. Sau khi dụ dỗ là sự uy hiếp mập mờ: “Bây giờ không làm cũng không được nữa rồi. Người ta cũng sẽ không tha cho các anh. Các anh cũng không chạy được. Bây giờ một sợi dây đã buộc chặt vận mệnh của chúng ta vào với nhau rồi, muốn thoát ra cũng không được. Chỉ có cùng sống cùng chết, chung số phận!”. Giọng nói đượm một chút buồn, Vương Phi vội nói: “Đó là tôi nghĩ nhiều đến khó khăn thôi”. Diệp Quần tiếp lời: “Có khó khăn thì nghĩ cách khắc phục! Có việc nào không có khó khăn đâu? Ở chỗ Giang Đằng Giao là thời cơ tốt ngàn năm có một, ông ta (chỉ Mao Trạch Đông) đã đến căn cứ địa của chúng ta, không nên để lỡ thời cơ tốt, phải quyết đoán ngay”. Diệp Quần lại ra vẻ quan tâm săn sóc: “Gia đình anh có khó khăn gì không? Tiền có đủ chi không? Con cái anh nhiều, nếu không đưa đến được thì tôi sẽ giúp anh”. Sau khi Vương Phi bị Diệp Quần “ra roi”, liền đến sân bay Tây Giao, để bàn bạc với Lâm Lập Quả, Chu Vũ Trì và Giang Đằng Giao, quyết định bảo Quan Quang Liệt, Chính uỷ một sư đoàn ở Vũ Hán điều súng phun lửa đến Thượng Hải, để Giang Đăng Giao sử dụng. Buổi tối, họ gọi Lỗ Mân, Trưởng ban tác chiến Không quân đến, yêu cầu ông ta lái máy bay đến Thạch Phóng ở gần Thượng Hải để ném bom vào đoàn tàu chuyên dụng của Mao Trạch Đông. Lâm Lập Quả nói như mê như say: “Các anh đến Thượng Hải thực hiện thành công, tôi sẽ tổ chức cuộc mít tinh một trăm ngàn người hoan nghênh các anh, đến lúc ấy, các anh sẽ là trụ cột của đất nước, đều là những công thần. Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh, không phải là anh (Giang Đằng Giao) làm thì tôi không thể nào yên tâm được”. Giang Đằng Giao cũng hơi có chút bốc đồng: “Tôi làm Chính ủy, Lỗ Mân làm tư lệnh”. Theo họ, tất cả mọi chuyện đều như ý, hồ như chẳng có một chút sai sót nào. Nhưng họ đã gặp phải một đối thủ mà họ chưa từng gặp bao giờ. Đúng buổi tối mà họ hết sức phấn khởi, mua chuộc lẫn nhau bằng danh lợi, cũng tức là tối ngày 11 tháng 9, một tin ngắn được đưa từ Thượng Hải đến, làm sững sờ “Hạm đội liên hợp”. Đoàn tàu chuyên dụng của Mao Trạch Đông vừa dừng ở Thượng Hải, đã nhanh chóng rời đây đi về phía Bắc. Theo người mục kích ở biệt thự Liên Hoa Thạch tại Bắc Đới Hà kể lại, khi tin này truyền đến Bắc Đới Hà, Diệp Quần và Lâm Bưu đã ôm đầu khóc nức nở. Theo bản cung khai viết trong tù của Lý Vĩ Tín, người tham dự vụ này ở cứ điểm bí mật tại sân bay Tây Giao Bắc Kinh, sự miêu tả khó có được về thái độ và cử chỉ của Lâm Lập Quả và những người có mặt ở đó sau khi nghe tin này: “Tôi phát hiện thấy cửa phòng mà họ đang họp mở toang, đi đến cửa nhìn thì Lỗ Mân đã đi không biết từ lúc nào, bên trong chỉ còn bốn người: Lâm Lập Quả, Chu Vũ Trì, Lưu Bái Phong, Vu Tân Dã, không khí trong phòng khác thường, cái không khí ngạo mạn vừa xong đã bị vẻ mặt ngơ ngác thay thế, ánh mắt mọi người đờ đẫn, cúi đầu lặng im, té ra Mao Trạch Đông đã đi lên phía Bắc, trở về Bắc Kinh. Lâm Lập Quả rơi nước mắt, “nhiệm vụ mà thủ trưởng giao cho, tôi đã không hoàn thành. Thủ trưởng đã giao tính mạng cho tôi. Tôi biết lấy gì để đến gặp thủ trưởng”. Chu Vũ Trì, cũng điên cuồng nói: “Bây giờ buồn phỏng có ích gì, chỉ có đợi đến ngày Quốc khánh, Thủ trưởng lấy cớ bị ốm không đến, tôi sẽ lái máy bay trực thăng đâm vào Thiên An Môn!” Nói xong nhìn xung quanh nói tiếp: “Máy bay trực thăng cần hai người, trong các anh ai sẽ cùng đi với tôi?”. Lúc ấy, không có ai nói gì. Mưu kế thần tình của Mao Trạch Đông như vậy, là dựa vào tin tức nào mà không dừng lại lâu tại Thượng Hải, cũng chẳng có ai biết. Nhưng xem việc đi đứng của Mao Trạch Đông ở Hàng Châu và Thượng Hải thì khiến cho người ta thấy rất thích thú. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:31:35 pm Vào nửa đêm ngày 8 tháng 9, tại Hàng Châu các nhân viên công tác trên đoàn tàu chuyên dụng vừa ăn xong cơm, Mao Trạch Đông đột ngột ra lệnh, lập tức chuyển đoàn tàu chiến đang đỗ theo hướng đi sân bay Kiến Kiều, Hàng Châu sang hướng Thiệu Hưng ngay trong đêm. Khoảng 3 giờ chiều ngày 10, Mao Trạch Đông không thông báo trước, quyết định đoàn tàu chuyên dụng lập tức rời Hàng Châu: “Bây giờ điều xe quay lại, chúng ta sẽ đi ngay, không thông báo cho ai biết cả”. Trước khi đoàn tàu khởi động, Trần Lệ Vân nghe tin vội vàng chạy đến, trong tâm trạng bất an, ông ta không đi lên phía trước, như mọi khi bắt tay từ biệt Mao Trạch Đông. Sẩm tối ngày 10 tháng 9, đoàn tàu chuyên dụng đến Thượng Hải, dừng lại ở Vườn hoa Ngô Gia gần sân bay Hồng Kiệu. Mao Trạch Đông không xuống xe lửa, ông bảo thư ký riêng gọi điện thoại cho Nam Kinh, báo cho Hứa Thế Hữu đến Thượng Hải ngay lập tức. Hứa Thế Hữu đi máy bay đến Thượng Hải ngay, vừa xuống máy bay, đã lên xe đến thẳng đoàn tàu chuyên dụng của Mao Trạch Đông. Sáng ngày 11, Mao Trạch Đông tiếp kiến những người phụ trách ở Thượng Hải ngay trên toa xe lửa. Vương Duy Quốc, người phục trách ra tay hạ sát Mao Trạch Đông ở Thượng Hải bị ngăn lại ở ngoài, không được phép vào trong xe. Anh ta thở dài, rồi ngồi phịch xuống xa-lông trong phòng đợi tàu. Chiều hôm ấy, đoàn tàu chuyên dụng của Mao Trạch Đông đột ngột rời Thượng Hải, lao vun vút trên cánh đồng mênh mông ở miền Nam. Tối hôm ấy, đoàn tàu chuyên dụng bình yên vượt qua chiếc cầu đường sắt Thạch Phóng nơi mà Lâm Lập Quả và Giang Đằng Giao… âm mưu đánh sập. “Thưa Chủ tịch, phía trước là Bang Phụ, có dừng không ạ?” Một người ngồi bên cạnh Mao Trạch Đông hỏi. “Không dừng”. “Tế Nam sắp đến rồi; có dừng không ạ?” “Không dừng” “Sắp đến Thiên Tân rồi, có dừng không ạ?” “Không dừng”. Đoàn tàu chuyên dụng chạy với tốc độ cao, suốt dọc đường không dừng ở đâu cả, chạy thẳng tới Bắc Kinh. Sắp đến Phong Đài, Mao Trạch Đông đột ngột hạ lệnh dừng tàu lại Phong Đài, đồng thời triệu tập những người phụ trách cửa bộ đội Bắc Kinh và thành phố Bắc Kinh lên tàu nói chuyện hơn hai tiếng đồng hồ. Đoàn tàu chuyên dụng của Mao Trạch Đông cuối cùng dừng lại ở Ga Bắc Kinh vào lúc hoàng hôn ngày 12 tháng 9. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:33:03 pm 4. Ngày cuối cùng của Lâm Bưu Từ nửa đêm ngày 11 tháng 9 đến nửa đêm ngày 12 tháng 9 năm 1971, là 24 tiếng cuối cùng ở Bắc Đới Hà của Lâm Bưu và Diệp Quần, một ngày một đêm này cũng là giờ phút lâm chung trước khi bị sụp đổ của Vương triều họ Lâm. “Thượng đế muốn ai diệt vong thì trước tiên làm cho người ấy điên cuồng”. Câu ngạn ngữ ấy của phương Tây đã ứng nghiệm. 24 tiếng đồng hồ cuối cùng này, Lâm Bưu, Diệp Quần và Lâm Lập Quả thật giống như những kẻ điên cuồng. Nửa đêm ngày 11 tháng 9, đối với Lâm Bưu và Diệp Quần mà nói thì đó đúng là tiếng chuông báo tang. Đoàn tàu chuyên dụng của Mao Trạch Đông bình yên qua Thượng Hải chạy với tốc độ cao nhất về phía Bắc, tin này truyền đến ngôi biệt thự số 96 ở Liên Hoa Thạch tại Bắc Đới Hà, làm cho Diệp Quần tê dại ngã vật trên xa-lông, rất lâu không động đậy được gì. Diệp Quần ôm lấy Lâm Bưu nức nở khóc như ngày tận cùng của thế giới đã đến vậy. Diệp Quần khóc, nhưng không hề mất đi sức phán đoán. Bà ta đã dự đoán một cách dứt khoát rằng, thời gian không còn bao nhiêu nữa. Diệp Quần vội vàng thu dọn hành trang, hành trang của bà ta đặc biệt, khác với mọi người. Bà ta đặc biệt mang theo một cuốn “Từ điển Nga Hoa” và một cuốn “Từ điển Anh Hoa” và hai tập hội thoại Nga Hoa và Anh Hoa. Sự suy nghĩ chu đáo tỉ mỉ biết nhường nào. Nếu chạy đến Hương Cảng thì có thể dùng tiếng Anh, bà ta cũng đã học được mấy câu, dựa vào cuốn từ điển và hội thoại, có thể ứng phó được. Nếu chạy lên miền Bắc, đến thủ đô nước Nga, thì đây là trở lại chốn xưa, vào thập niên 50, bà ta đã cùng với Lâm Bưu đến Liên Xô dưỡng bệnh, cũng đã mời giáo viên người Nga dạy tiếng Nga, sau này cũng dịch được một số thứ, chưa biết chừng trong lúc khẩn cấp vẫn có thể tỏ rõ được tài năng ngôn ngữ của mình! Chạy lên phía Bắc theo Liên Xô, phải đi qua Mông Cổ. Ở quốc gia hoang mạc này, Diệp Quần không biết nhiều. Bà ta đã kiếm được tám bản đồ địa hình vẽ bản đồ hành chính của Mông Cổ. Bà ta dùng ngón tay run run lần điểm mấy thành phố lác đác trên bản đồ: U-lan-ba-to, Sa-in-san-đơ, Cô-bu-đô-xai... Bà ta gọi tham mưu đến, hỏi thăm: “Các quân khu của Liên Xô đóng ở đâu?” Diệp Quần là thành viên của Tổ văn phòng Quân ủy, lại là chủ nhiệm Văn phòng của Lâm Bưu, bà ta biết tình hình phòng thủ không phận của đất nước, nhưng lại không yên tâm, liền hạ lệnh đem bản đồ bố trí ra-đa ở các khu Đông Bắc, Hoa Bắc, Tây Bắc đến để bà ta sử dụng. Các bảng tần số của Đài phát thanh của các nước lân cận có thể dùng vào việc dẫn đường hàng không, Diệp Quần cũng yêu cầu đem đến để chuẩn bị dùng. Có lẽ muốn tập hợp một chính phủ ngụy nên Diệp Quần còn bảo thư ký đem tập danh sách cán bộ từ cấp phó quân đoàn trở lên trong toàn quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và bản đăng ký tình hình bố trí lực lượng đến. Sẩm tối ngày 12 tháng 9, Diệp Quần gọi Lâm Đậu Đậu đến, Lâm Đậu Đậu bước vào phòng của bà ta, thấy Diệp Quần đang chỉnh lý những tờ phiếu, thu dọn văn kiện. Lưu Bái Phong ngồi bên cạnh, hai mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm vào Lâm Đậu Đậu đang đi vào. Lâm Đậu Đậu gọi “mẹ”, Diệp Quần như từ trong cơn mê chợt tỉnh, ngẩng đầu, lạnh lùng nói: “Sáng sớm mai, bố và mẹ sẽ đưa các con đi Đại Liên. Con bảo Chương Khải Lâm thu dọn đi”. Lâm Đậu Đậu hỏi: “Sáng mai mấy giờ đi ạ?” Diệp Quần khó chịu: “Sao con lắm chuyện thế! Mẹ cũng không biết mấy giờ đi! Dù sao thì hôm nay các con cũng nên đi ngủ sớm. Ngày mai mẹ cho người đến gọi các con. Con đi đi!” Lâm Đậu Đậu bị đuổi đi. Cô cảm thấy rõ ràng một không khí khác thường. Đi qua hành lang, cô va phải Lâm Lập Quả đang chạy như một con ruồi mất đầu. Lâm Lập Quả hốt hoảng nói: “Ngày mai sẽ đi, đến Quảng Châu, quân phiệt cát cứ”. Nói xong liền chạy xộc vào phòng ngủ của Lâm Bưu. Không ngờ, lại một đợt sóng xung kích rất mạnh ập đến ngôi biệt thự số 96 ở Liên Hoa Thạch, đó là tin Thủ tướng Chu Ân Lai đang truy xét chiếc chuyên cơ E-bớt của Lâm Bưu. Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả đóng chặt cửa phòng, bàn bạc vội vã. Trong lòng họ hốt hoảng sợ rằng nếu chậm trễ, Bắc Kinh sẽ hạ lệnh bắt. Rõ ràng kế hoạch bay về phía Nam không thực hiện được, làm sao bây giờ? “Ngồi chờ chết, chi bằng đi một bước mạo hiểm”. Đó là tín điều xưa nay của Diệp Quần. Ba người trong gia đình họ Lâm hấp tấp quyết định: “Đổi hướng bay về hướng Nam bằng bay về hướng Bắc, sẽ bay ngay đến Iếc-cút-skơ ở Liên Xô”. Thời gian lúc này là đúng 11 giờ đêm ngày 12 tháng 9. Trong giờ phút cuối cùng này, để ngăn chặn khá năng bị truy đuổi, bà ta tự ra tay, dùng kế lừa dối trong tam thập lục kế. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:34:49 pm 11 giờ 22 phút đêm, Diệp Quần dùng điện thoại bảo mật gọi điện cho Chu Ân Lai ở Bắc Kinh. Diệp Quần cố nén tâm trạng rối bời, chậm rãi nói: “Báo cáo Thủ tướng, Lâm Phó Chủ tịch muốn di chuyển một chút”. “Di chuyển ở trên không hay di chuyển ở dưới đất?” Chu Ân Lai cũng bình tĩnh đáp, không tỏ vè gì khác thường. “Di chuyển trên không”, Diệp Quàn đáp. “Ở đấy có máy bay không?” Chu Ân Lai ướm hỏi. “Không có”. Vừa thử đã lộ rõ chân tướng, rõ ràng là chiếc chuyên cơ số 256 của Lâm Bưu đang đỗ tại sân bay Sơn Hải Quan, hơn nữa mấy hôm trước họ còn điều đến một máy bay IL-14, vì sao Diệp Quần vẫn nói dối là không có máy bay? Sân bay Sơn Hải quan lúc ấy thuộc Hải quân quản lý, Chu Ân Lai lập tức gọi điện cho Lý Tác Bằng: “Chiếc chuyên cơ số 256 đang đỗ ở Sơn Hải Quan không được bay. Nếu muốn bay phải có lệnh của bốn người là tôi, Hoàng Vĩnh Thắng Ngô Pháp Hiến và đồng chí cùng ký mới được cất cánh”. Nhưng Lý Tác Bằng truyền đạt mệnh lệnh đến sân bay Sơn Hải Quan của Hải quân lại cố ý thay đổi chỉ thị của Chu Ân Lai rằng một thủ trưởng trong bốn thủ trưởng chỉ thị cho bay mới được bay. Đêm hôm ấy, điện thoại báo cáo tình hình từ Bắc Đới Hà truyền về Bắc Kinh hết lần này đến lần khác. Tiếng chuông điện thoại ở Văn phòng ở Đại sảnh phía đông Đại lễ đường Nhân dân réo liên tục, Chu Ân Lai ra ra vào vào không biết bao nhiêu lượt, cuộc họp ở phòng Phúc Kiến trên thực tế ở trong tình trạng ngừng trệ. 11 giờ 40 phút đêm, Diệp Quần gọi thư ký Lý đến phòng khách của Lâm Bưu. Lâm Bưu ngồi trên xa-lông, làm ra vẻ: “Đêm nay làm thế nào cũng không ngủ được. Đồng chí chuẩn bị đồ đạc, đợi máy bay của Ngô Pháp Hiến đến sẽ đi”. Diệp Quần xem đồng hồ đeo tay, nói xen vào: “Chúng tôi đi trước, đến sân bay Sơn Hải Quan, đợi Ngô Pháp Hiến ở phòng chờ”. Thư ký Lý nói là sẽ đi điều động xe ô tô ngay, rồi đi ra khỏi phòng khách của Lâm Bưu. Diệp Quần theo sát ngay, nói khẽ với thư ký Lý: “Bảo ngay lái xe, thủ trưởng sẽ đi ngay”. Liếc nhìn chung quanh không có người, Diệp Quần bèn nắm cánh tay thư ký Lý lôi vào phòng rửa mặt, vội vã nói nhỏ: “Nhanh lên nhé! Khẩn cấp lắm rồi, không thể mang bất cứ đồ đạc gì, có người muốn đến bắt thủ trưởng, nếu chần chừ thì sẽ không đi được nữa! Anh đi điều xe nhanh lên”. Lâm Lập Quả đang gọi điện thoại cho Chu Vũ Trì ở Bắc Kinh trong phòng ngủ của Diệp Quần: “Thủ trưởng sẽ đi ngay, các anh càng nhanh càng tốt”. Đã không còn thời gian để nói thêm nửa câu nữa rồi. Thư ký Lý đem đến cho hai chiếc túi du lịch lớn để Lâm Bưu đựng đồ đạc, xe hơi của Lâm Bưu đã đến đỗ trước phòng khách của Lâm Bưu. Thư ký Lý hỏi lái xe riêng của Lâm Bưu tên là Dương: “Xe có trục trặc gì không?” Lái xe đáp: “Không. Đi đâu?”. Đang nói thì Lâm Bưu, đầu trọc để trần không đội mũ, không khoác áo dài, được Diệp Quần, Lâm Lập Quả và Lưu Bái Phong hộ vệ đi ra khỏi phòng khách, chui ngay vào xe. Thư ký Lý cũng lên xe. Vừa lên xe, Diệp Quần đã ra lệnh: “Đến sân bay Sơn Hải Quan”. Lại lấy lòng: “Anh Dương và thư ký Lý có tình cảm giai cấp sâu nặng với thủ trưởng” Xe hơi vừa chuyển động, Lâm Bưu hỏi con trai: “Đến Iếc-cút-skơ bao xa, thời gian bay là bao nhiêu?”. Lâm Lập Quả đáp: “Không xa, nhanh thôi”. Khi xe chạy đến trước ngôi nhà số 58, biệt thự Liên Hoa Thạch, Đại đội trưởng Thương thuộc bộ đội cảnh vệ đứng bên đường giơ tay, ra hiệu dừng xe. Diệp Quần nói một cách dữ dằn: “Bộ đội 8341 không trung thành với thủ trưởng, cứ xông lên!”. Xe hơi vượt qua nhà số 58 rất nhanh. Lúc này xảy ra một khúc nhạc nhỏ. Trong lòng thư ký Lý thấy hồi hộp thấp thỏm. Nếu bay đi Liên Xô, đối với anh quả là một việc lớn khó có thể tưởng tượng được, anh ta còn nghĩ đến vợ đến con. Đột nhiên, thư ký Lý quát lên: “Dừng xc!” Lái xe không biết xảy ra chuyện gì, liền đạp phanh gấp. Trong nháy mắt thư ký Lý mở cửa xe nhảy xuống đất. Diệp Quần tức tối quát: “Thư ký Lý, anh muốn làm gì?” Thư ký Lý đáp: “Làm kẻ phản bội, tôi không đi?” Lâm Lập Quả không chần chứ rút súng nhằm vào thư ký Lý bóp cò, cánh tay Lý bị trúng đạn máu cháy ròng ròng. Thư ký Lý cũng rút súng bắn lại, viên đạn đập vào tấm kính chắn đạn ở chỗ ngồi của Lâm Bưu. Chiếc xe Hồng Kỳ cao cấp của Lâm Bưu chạy như bay trong màn đêm dày đặc trên con đường ven biển Bắc Đới Hà. Mấy tiếng súng, phá tan bầu không khí yên tĩnh của khu nghỉ mát, làm kinh động các nhân viên công tác và các chiến sĩ cảnh vệ ở biệt thự Liên Hoa Thạch. Lâm Đậu Đậu nhìn chiếc xe hơi chạy xa dần, biết sự việc xấu nhất không thể tránh khỏi đã xảy ra. Trên xe, Làm Lập Quả bất ngờ quát: “Nhanh, Nhanh lên. Tốc độ xe Hồng Kỳ mỗi giờ là 80 - 100 cây số cơ mà”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:35:26 pm 0 giờ 20 phút ngày 13 tháng 9, xe hơi của Lâm Bưu xông vào sân bay Sơn Hải quan, nhanh chóng dừng lại bên cạnh máy bay. Máy bay số 256 vẫn chưa khởi động. Người phụ trách sân bay Sơn Hải Quan, gọi điện thoại xin ý kiến Lý Tác Bằng, máy bay bị ép buộc phải cất cánh thì làm thế nào? Lý Tác Bằng không dùng bất cứ biện pháp gì để ngăn cản máy bay cất cánh, mà lại thoái thác: “Có thể trực tiếp báo cáo với Thủ tướng”. 0 giờ 22 phút ngày 13, Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả, Lưu Bái Phong hấp tấp lên máy bay. Họ không những không kịp thông báo cho Trình Hồng Trân và “phi tử” Lệ Đế chỉ ở cách gang tấc trong sân bay. Đến nhân viên tổ lái cũng không đủ, đã ra lệnh cho máy bay khởi động ra đường băng. Lúc này, người phụ trách sân bay báo cáo với Lý Tác Bằng: “Máy bay đã bị ép buộc chạy ra đường băng”. Lý Tác Bằng hỏi: “Máy bay đến đâu rồi”. Đáp: “Sắp đến đường băng rồi”. Lý Tác Bằng nói: “Cứ như vậy”. Cứ như vậy, máy bay số 256, vọt lên bầu trời đen kịt bay đi. Chiếc máy bay E-bớt số 256 của Lâm Bưu sau khi cất cánh từ sân bay Sơn Hải quan, bay theo hướng Tây về miền Tây Nội Mông Cổ. “Lâm Bưu đáp máy bay chạy rồi!” Trưởng ban cảnh vệ Bắc Đới Hà báo cáo với Bắc Kinh. Đó là lúc 0 giờ 32 phút ngày 13 tháng 9. “Máy bay của Lâm Bưu bay về hướng Bắc!” Phòng chỉ huy điều độ Bộ Tư lệnh Không quân báo cáo với Chu Ân Lai. Chu Ân Lai quyết đoán ra lệnh: Mệnh lệnh: Lập tức đóng cửa các sân bay trong cả nước, tất cả các máy bay ngừng bay. Mở toàn bộ hệ thống ra đa giám sát bầu trời. Chu Ân Lai. Ra-đa của Phòng chỉ huy điều độ Bộ Tư lệnh Không quân theo dõi chặt chẽ dấu vết máy bay của Lâm Bưu thường xuyên báo cáo với Chu Ân Lai về phương vị và góc độ máy bay. “Dùng vô tuyến điện gọi máy bay 256, họ có nghe thấy không?” Chu Ân Lai hỏi. “Có thể nghe thấy”. Nhân viên điều độ đáp. “Tôi muốn nói chuyện với Phan Cảnh Dần (người lái máy bay). Đề nghị tiếp cho tôi”. Chu Ân Lai nói. “Anh ta lái máy bay, nhưng không trả lời”. “Vậy đề nghị đồng chí gọi cho máy bay 256, mong họ bay trở về, hạ cánh ở sân bay Đông Giao hay sân bay Tây Giao Bắc Kinh cũng được, tôi Chu Ân Lai sẽ đến sân bay đón”. Chu Ân Lai thực hiện những cố gắng cuối cùng. “Anh ta không trả lời”. Nhân viên điều độ báo cáo với Chu Ân Lai. Máy bay có một động tác rất quỷ quyệt, trên bầu trời phía Tây Nội Mông Cổ đột ngột đổi hướng bay thẳng về hướng Bắc. “Máy bay đã vượt biên giới, tiến vào Mông Cổ, và biến mất trên màn huỳnh quang”. Nhân viên điều độ báo cáo, đó là lúc 1 giờ 50 phút sáng ngày 13 tháng 9. Chu Ân Lai lập tức lên xe hơi đến nơi ở của Mao Trạch Đông ở Trung Nam Hải. “Bộ đội Không quân thỉnh thị là có chặn chuyên cơ của Lâm Bưu không?” Mao Trạch Đông đi lại trong phòng, chậm rãi nói: “Không thể ngăn chặn: Trời sắp mưa, cô dâu sắp cưới, chẳng có cách nào đâu”. 3 giờ 15 phút sáng, Phòng chỉ huy điều độ Bộ Tư lệnh Không quân báo cáo với Chu Ân Lai: “Ra-đa đã sục sạo, phát hiện thấy một máy bay trực thăng cất cánh từ ngoại ô phía tây Bắc Kinh!”. Chu Ân Lai lập tức hạ lệnh, cho máy bay chiến đấu chặn ở biên giới, không để cho chiếc máy bay này vượt biên giới! Thư ký của ông cầm điện thoại bảo mật, gọi cho Tư lệnh Không quân Bắc Kinh: “Tôi là thư ký của Bộ Chính trị, truyền đạt mệnh lệnh của Chu Thủ tướng cho đồng chí, một chiếc máy bay trực thăng cất cánh từ Sa Hà, Không quân Bắc Kinh nhất định phải chặn cho được chiếc máy bay này, không để cho nó chạy thoát. Có tình hình gì phải lập tức báo cáo ngay cho Trung ương”. Trong phút chốc, máy bay tiêm kích của Không quân Bắc Kinh đã cất cánh bay vút vào không trung, phong tỏa toàn bộ biên giới Trung Quốc - Mông Cổ, máy trực thăng có tốc độ chậm nhất định không thể nào chạy thoát được. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:35:56 pm Trên chiếc máy bay trực thăng này có ba người là thân tín của Lâm Bưu, Chu Vũ Trì, Vu Tân Dã và Lý Vĩ Tín. 1 giờ sáng ngày 13 tháng 9, Chu Vũ Trì nhận được thông báo Lâm Lập Quả đã hốt hoảng bỏ chạy, liền báo cho đồng bọn là Giang Đằng Giao, Vương Phi, Lỗ Mân... thiêu hủy ngay danh sách những người chạy về phía Nam và biên bản Hội nghị. Bản thân Giang đăng Giao cùng Vu Tân Dã và Lý Vĩ Tín lấy cớ là có nhiệm vụ đặc biệt, chui vào sân bay Sa Hà ở Bắc Kinh, cướp một chiếc máy bay trực thăng “Trực - 5” số 3685, đem theo rất nhiều văn kiện cơ mật và đô-la Mỹ mà Lâm Bưu và đồng bọn đánh cắp được, cất cánh bay về phía Bắc lúc 3 giờ 15 phút. Chu Vũ Trì chĩa súng vào người lái máy bay Trần Tu Văn cưỡng bức anh phải bay đến U-lan-ba-to. Trần Tu Văn phát hiện thấy âm mưu phản quốc chạy trốn của chúng, lợi dụng tình hình chúng hốt hoảng không hiểu địa hình, anh đã cho máy bay lượn vòng, cuối cùng lại cho máy bay bay về ngoại ô Bắc Kinh, đến 6 giờ 47 phút sáng, máy bay hạ cánh xuống địa phận huyện Hoài Nhu Bắc Kinh. Chu Vũ Trì cảm thấy ngày tàn đã đến liền rút súng giết hại Trần Tu Văn. Chu Vũ Trì, Vu Tân Dã và Lý Vĩ Tín trèo ra khỏi khoang máy bay, chẳng phân biệt đông tây tháo chạy bạt mạng. Các chiến sĩ giải phóng quân và dân quân, xã viên dồn chúng vào một mảnh ruộng. Chu Vũ Trì nói một cách tuyệt vọng: “Xem ra không thể đi được nữa rồi, hôm nay chúng ta sẽ chết ở đây thôi”. Anh ta nói với đồng bọn đã hết hồn hết vía: “Có hai cách chết, nếu các anh sợ, thì tôi sẽ bắn các anh chết trước, rồi tôi sẽ tự bắn mình. Nếu các anh không sợ, thì chúng ta cùng tự chết”. Về sau ba người bàn định, Chu Vũ Trì sẽ hô một tiếng rồi cùng tự sát. Thế là ba kẻ chạy trốn nằm xuống đất, tự cầm súng dí vào huyệt thái dương của mình. Chu Vũ Trì hô: “Một, hai, ba!” Pằng, pằng, hai tiếng súng nổ Chu Vũ Trì và Vu Tân Dã đã chết ngay. Lý Vĩ Tín sợ chết, ở phút chót miệng súng đã chếch lên trời nổ một tiếng. Anh ta bị bắt, cũng vì thế mà đã có thêm một nhân chứng sống. Ở Đại sảnh phía đông Đại lễ đường Nhân dân, Chu Ân Lai đã một ngày một đêm không nghỉ ngơi. Nhân viên phục vụ trực ban và thư ký khuyên ông tạm nghỉ một chút, Nhưng Chu Ân Lai nói: “Bây giờ làm sao mà nghỉ được?”. Ngày 13, ngay từ sáng sớm cho đến ba bốn giờ chiều, Chu Ân Lai đích thân gọi điện thoại đến từng người phụ trách chủ yếu ở các Đại quân khu và 29 tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trong cả nước thăm hỏi và bố trí nhiệm vụ và thường xuyên báo cáo tình hình với Mao Trạch Đông. Để đề phòng khả năng bất trắc, Chu Ân Lai khuyên Mao Trạch Đông rời Trung Nam Hải đến Đại lễ đường Nhân dân, Mao Trạch Đông không bằng lòng lắm, nhưng cuối cùng vẫn nghe lời khuyên của mọi người chuyển đến ở phòng Bắc Kinh trong Đại lễ đường Nhân dân. Sau khi Lâm Bưu đáp máy bay vượt qua biên giới đã xảy ra chuyện gì. Sẽ hạ cánh ở đâu. Đây là một dấu hỏi lớn bao hàm rất nhiều nhân tố chưa biết. Các ủy viên trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận được thông báo khẩn cấp, đã dồn dập đến Đại lễ đường Nhân dân dự họp. Chu Ân Lai chủ trì cuộc họp, đầu tiên ông tuyên bố Mao Trạch Đông đã về đến Bắc Kinh vào chiều ngày 12. Tiếp đó, ông kể lại sự biến đột ngột xảy ra trong đêm: Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả, đã đáp máy bay E-bớt hốt hoảng bỏ chạy, nay đã ra khỏi biên giới, bay về hướng Bắc. Ông cũng thông báo đã dùng một loạt biện pháp và chuẩn bị ứng biến để đảm bảo sự an toàn của đất nước. “Bốn đại kim cương” Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác bằng, Khâu Hội Tác nghe tin này như tiếng sét đánh trên đầu, mồ hôi vã ra như tắm, mặt cắt không một giọt máu. Chuyên cơ của Lâm Bưu đã hạ cánh ở đâu? Nào ai biết được. Trưa ngày 14 tháng 9, sau hơn 50 tiếng đồng hồ tập trung hết tinh lực để sắp xếp và xử lý các sự vụ của “sự kiện 13 tháng 9”, Chu Ân Lai mới được nằm nghỉ. “Chẳng kể sóng gió dữ dằn, mà vẫn như dạo bước an nhàn trong sân”. Chu Ân Lai, một con người túc trí đa mưu, trải qua biết bao nhiêu thử thách gay go mà lần nào cũng vượt qua được những bãi đá ngầm để đi tới bến bờ thắng lợi, lúc này mới được chợp mắt. 2 giờ chiều, tiếng chuông điện thoại lại reo “Tôi ở Bộ Ngoại giao, chúng tôi vừa nhận được một bức điện của Đại sứ quán Trung Quốc tại Mông Cổ, phải đưa đến Thủ tướng ngay”. Khi Bộ Ngoại giao đưa bức điện báo đến, thư ký trù trừ: “Khó khăn lắm Thủ tướng mới nghỉ được một lúc, sao nỡ nhẫn tâm gọi ông dậy được. Nếu không gọi thì có thể lỡ mất việc lớn”. Anh ta quanh quẩn bên giường Chu Ân Lai, cuối cùng anh ta đành nhẹ nhàng đến bên giường gọi ông. Chu Ân Lai nghe nói có điện báo của Đại sứ quán nước ta tại Mông Cổ gửi về, vội vàng ngồi dậy bảo thư ký đọc ngay cho ông nghe. Khi Chu Ân Lai nghe tin chiếc máy E-bớt số 256 của Lâm Bưu đã rơi xuống gần Ôn-đô-han thuộc tỉnh Chen-ty, nước Mông Cổ (cách U-lan-ba-to khoảng 300 km về phía đông - N.D), trên máy bay có 8 nam 1 nữ đều đã chết vào lúc 2 giờ 30, ông đã thốt lên mấy tiếng: “A! Ngã chết, ngã chết rồi!”. Chu Ân Lai cầm tờ điện báo, đến báo cáo với Mao Trạch Đông, đồng thời ra chỉ thị cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Mông Cổ. Phải kể rõ thêm về tình hình ở thủ đô và hiện trường Ôn-đô-han ở Mông Cổ. 8 giờ rưỡi ngày 14 tháng 9 năm 1971, Thứ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ hẹn gặp khẩn cấp Đại sứ Trung Quốc tại Mông Cổ. Thứ trưởng Ngoại giao Mông Cổ thông báo thẳng thừng cho phía Trung Quốc rằng: “Vào 2 giờ sáng ngày 13 tháng 9, cách phía Nam khu mỏ Bai-ha thuộc tỉnh Chen-ty khoảng 10 km, một chiếc máy bay phản lực của Trung Quốc đã bị rơi, có 9 người đi trên máy bay trong đó có một phụ nữ, tất cả đều đã chết”, đồng thời đưa ra kháng nghị miệng về việc máy bay Trung Quốc xâm nhập không phận của Mông Cổ. Ngày hôm sau, nhân viên Đại sứ quán 'Trung Quốc tại Mông Cổ đã đến hiện trường máy bay rơi. Giữa khe của hai ngọn núi nhỏ Nam Bắc, trên một mảnh đất bằng phẳng dài khoảng ba ngàn mét, một chiếc máy bay E-bớt rơi vỡ tan tành. Trên đuôi máy còn tương đối hoàn chỉnh có in quốc kỳ Trung Quốc và ba chữ đỏ 256, mặt Bắc của xác máy bay có 9 xác người được đặt thành hàng mặt ngửa lên trời, đầu bị cháy đen, mặt mũi nham nhở không còn rõ nét, quần áo cháy trụi. Một đôi giày cao gót, cùng với 6 khẩu súng lục K.59, một khẩu AK.47 cũng rơi tản mát chung quanh xác máy bay. Các nhân viên công tác của Đại sứ quán đã chụp ảnh toàn bộ những cánh này. Những người Trung Quốc, người Mông Cổ có mặt tại hiện trường và những người nước ngoài lúc đó không có mặt tại hiện trường, đã chú ý đến sự kiện máy bay bị rơi này đều không ngờ được rằng 9 cái xác này là những vai diễn chủ yếu của một sự kiện lớn trong lịch sử hiện đại Trung Quốc, là nhân vật lớn đã từng hiển hách một thời trên vũ đài chính trị Trung Quốc mà ai ai cũng biết. Bởi thế với đầy đủ tính tất yếu lịch sử, cần phải liệt kê danh sách những người này để cho hậu thế tra cứu. Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả, Lưu Bái Phong, Phan Cảnh Dần, Dương Chấn Cương, kỹ sư cơ giới máy bay, kỹ sư cơ giới hậu cần Không quân, kỹ sư cơ giới thiết bị đặc biệt. 11 giờ ngày 16 tháng 9, sau gần 80 tiếng đồng hồ, 9 cái xác nằm phơi ngoài nội cỏ, được mai táng qua loa ở phía đông đồi Vô Danh, cách nơi máy bay rơi chừng 1 cây số. Những người chết được lần lượt đặt vào những quan tài bằng gỗ xếp thành một hàng dưới một cái huyệt chung sâu chừng 1 mét rưỡi. Không có nhạc tang, không cố cuốn sách nhỏ bìa đỏ, không có bất cứ một thứ trang sức kỷ niệm nào. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:37:14 pm 5 Giang Thanh giương chiêu bài phê Lâm phê Khổng Chu Khắc Chu, lấy Chu này hạ gục Chu kia 1. Mao Trạch Đông nêu rõ: Không phải là ông ta vội vã mà là bà ta vội vã Đại hội Đảng khóa 10 vừa kết thúc, trong Bộ Chính trị mới, Giang Thanh bắt đầu công kích Chu Ân Lai, Đó là việc Quốc vụ khanh Hoa Kỳ kiêm cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ, Hen-ri Kít-sin-gơ lại đến thăm Trung Quốc từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 11 năm 1973. Chu Ân Lai tuy đã bị ốm, nhưng vẫn làm việc bình thường. Ông hội đàm với Kít-sin-gơ trong một thời gian dài. Tiến sĩ Kít-sin-gơ đeo chiếc kính gọng đen rất mẫn cảm, sau này trong cuốn sách “Những năm tháng biến động” đã hồi ức như thế này: “Thứ hai ngày 12 tháng 11 năm 1973, chúng tôi bắt đầu hiểu ra, trong lần thăm Trung Quốc này, người quy định đường lối quan phương của chính sách ngoại giao của Trung Quốc không phải là Chu Ân Lai. Sau buổi trưa khá muộn ngày hôm ấy, chúng tôi được mời đi gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông, mọi tình hình đều giống như những lần gặp gỡ trước cuộc triệu kiến này của ông mang hình thức mệnh lệnh, lúc nhận được lời mời là lúc chúng tôi đang tiến hành một cuộc họp thường lệ để nghiên cứu tình hình, Tôi và Chu Ân Lai cùng ngồi trên một chiếc xe con đi theo con đường mà nay đã quen, đến nơi ở giản dị của Mao Trạch Đông trong hoàng thành. Thư phòng gần cửa bày một chiếc bàn bóng bàn và vòng quanh tường kê những kệ bày đầy sách, ở giữa là bộ xa-lông được bày theo nửa vòng tròn, nơi mà chúng tôi đã khá quen thuộc. Nhưng, trước mặt một con người là hóa thân của sức mạnh ý chí có nụ cười mỉm, đặc biệt mang chút giễu cợt mà lại có chút làm cho người ta sờ sợ, mọi người mãi mãi không thể quen rồi cho là thường...” Kít-sin-gơ cảm thấy “người quy định đường lối quan phương về chính sách ngoại giao của Trung Quốc không phải là Chu Ân Lai” mà là Mao Trạch Đông. Vốn dĩ sự thực là như vậy, nhưng cảm giác này của Kít-sin-gơ có chỗ đặc biệt của nó. Sự việc là do phiên dịch của cuộc hội đàm giữa Chu Ân Lai và Kít-sin-gơ dẫn đến. Trước khi Mao Trạch Đông gặp Kít-sin-gơ, ông đã cho gọi người phiên dịch đến báo cáo tình hình hội đàm. Người phiên dịch khi báo cáo ý kiến của Chu Ân Lai đối với một số vấn đề đã không thỉnh thị không báo cáo Chủ tịch, ông ta đã bị bom nguyên tử của Mỹ làm cho mất mật. Mao Trạch Đông đã nghe theo một chiều ý kiến không đúng sự thực của người phiên dịch. Nên khi hội đàm với Kit-sin-gơ, ông đã có thái độ cứng rắn khác thường, cho nên đến Kít-sin-gơ cũng cảm thấy một cách rõ rệt người định ra chính sách ngoại giao của Trung quốc là Mao Trạch Đông chứ không phải Chu Ân Lai. Ngày 14 tháng 11, hai bên Trung Mỹ ra “Thông cáo chung”, Chu Ân Lai đưa tiễn Kít-sin-gơ về nước, Mao Trạch Đông liền yêu cầu họp Bộ Chính trị, phê bình Chu Ân Lai đã phạm “sai lầm hữu khuynh” trong hội đàm với Kít-sin-gơ. Lúc ấy, Mao Trạch Đông đã ít tham gia hội nghị Bộ Chính trị. Thông thường hội nghị do Chu Ân Lai chủ trì. Giang Thanh biết Mao Trạch Đông phê bình Chu Ân Lai nên mừng ra mặt. Trọng hội nghị Bộ Chính trị, Giang Thanh tỏ ra xúc động lạ thường, nói ra hết những điều bất mãn đối với Chu Ân Lai đã tích góp bấy lâu trong lòng. Giang Thanh nói một cách gay gắt: “Đây là cuộc đấu tranh đường lối lần thứ 11!”. “Đại tú tài” Diêu Văn nguyên lập tức phụ họa ngay cái kiến giải mới này của Giang Thanh. Cái gọi là cuộc đấu tranh đường lối lần thứ 11, đó là cách gọi lưu hành lúc bấy giờ. Trong Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có 10 cuộc đấu tranh đường lối, nhân vật tiêu biểu của các cuộc đấu tranh đó là: Trần Độc Tú, Cù Thu Bạch, Lý Lập Tam, La Chương Long, Vương Minh, Trương Quốc Đào, Cao Cương, Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu. Ý của Giang Thanh là, cuộc đấu tranh được tiến hành hiện nay là “cuộc đấu tranh đường lối lần thứ 11”, nhân vật tiêu biểu chính là Chu Ân Lai! Giang Thanh còn nói thẳng vào mặt Chu Ân Lai rằng, ông “vội vã muốn thay thế Mao Chủ tịch”! “Cái lưỡi như dao” của Giang Thanh quả thật là sắc! Chu Ân Lai một con người rất có khả năng kiềm chế tình cảm, ông ngồi lặng yên. Ông đã tiếp xúc với Giang Thanh bao nhiêu năm nay, ông hiểu rất sâu về con người này. Mao Trạch Đông nghe báo cáo về tình hình cuộc họp Bộ Chính trị, cảm thấy những điều Giang Thanh nói là quá đáng. Ngày 25 tháng 11, Mao Trạch Đông nhận được một bức thư ký tên “một đảng viên cộng sản bình thường”, trong thư phê bình Giang Thanh “tác phong dân chủ tương đối kém”, đã nhấn mạnh văn nghệ quá mức, trong công tác văn nghệ không chấp hành phương châm “song bách” (tức là “bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh”: Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng – N.D.) v.v... Bức thư cho rằng, khẩu hiệu tất cả nhường đường cho những vở kịch mẫu là không thỏa đáng. Gọi Giang Thanh là người cầm cờ anh dũng của Đại cách mạng văn hóa cũng không thỏa đáng. Giả sử bức thư này lọt vào tay Giang Thanh thì không thể không truy xét người đảng viên cộng sản bình thường ấy, không thể không coi là kẻ “phản cách mạng hiện hành”. Mao Trạch Đông lại phê một đoạn lên bức thư này: “In phát cho các đồng chí trong Bộ Chính trị. Có một số ý kiến hay, phải cho phép phê bình”. Trên thực tế, Mao Trạch Đông đã mượn bức thư của “một đảng viên cộng sản bình thường” để phê bình Giang Thanh. Sau nửa tháng, ngày 9 tháng 12, sau khi Mao Trạch Đông tiếp Quốc vương Nêpan Bi-ran-đơ-ra và hoàng hậu Ai-sơ-oa, đã bảo Chu Ân Lai, Vương Hồng Văn, cùng Vương Hải Dung và Đường Văn Sinh cùng tham gia tiếp kiến ở lại. Mao Trạch Đông vào những năm cuối đời hầu như không tham gia hội nghị, gặp ông rất khó. Sau khi tiếp kiến khách nước ngoài, bảo những người cùng tiếp kiến ngồi lại nói vài câu chuyện, trở thành cách gặp đặc biệt các nhà lãnh đạo chủ yếu trong Đảng của Mao Trạch Đông. Hôm ấy, Mao Trạch Đông nói trước: “Cuộc họp này họp tốt, rất tốt”. Cái “cuộc họp này” mà ông nói chính là cuộc họp Bộ Chính trị phê bình Chu Ân Lai. Mao Trạch Đông lại nói tiếp: “Chính là do có người nói hai câu không đúng. Một câu là cuộc đấu tranh đường lối lần thứ 11, không nên nói như vậy, trên thực tế cũng không phải. Một câu là Thủ tướng vội vã. Ông ta (chỉ Chu Ân Lai) không vội vã, mà bản thân bà ta (chỉ Giang Thanh.) mới vội vã”. Lời của Mao Trạch Đông đã làm thất bại cuộc công kích Chu Ân Lai do Giang Thanh gây ra. Mao Trạch Đông chỉ rõ, Giang Thanh “mới là người vội vã” muốn làm chủ tịch, có thể nói là đã nói đúng tim đen. Lớp sóng trước chưa tan, lớp sóng sau lại nổi lên. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:38:28 pm 2. “Đông Phương bạch” làm hại ông già Quách đã hơn 80 tuổi, nói xa nói gần chẳng qua là nhầm vào Chu Ân Lai Hiệp 1, Giang Thanh bị Mao Trạch Đông phê bình, nên không thắng được. Bà ta cố tình tấn công Chu Ân Lai một lần nữa. Bão táp chính trị thay đổi khôn lường. Hiệp này Quách Mạt Nhược tuổi đã 82, đã lặng tiếng nhiều năm (Quách Mạt Nhược nhiều hơn Mao Thạch Đông một tuổi) bỗng trở thành “nhân vật nóng” trên vũ đài chính trị Trung Quốc. Quách Mạt Nhược một nhân vật khổng lồ trên văn đàn Trung Quốc, ông là học giả, là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà tư tưởng, nhà hoạt động xã hội, vốn là nhân vật sôi nổi trong giới văn nghệ Trung Quốc, Cách mạng văn hóa vừa nổ ra, Quách Mạt Nhược đã bị một đòn. Sự phê phán một cách hoang đường trong những năm tháng hoang đường, ngày nay đã trở thành trò cười. Quách Mạt Nhược đã viết một bài từ “Mãn Giang hồng” (Đầy sông màu đỏ - N. D), trong đó có một câu “Nghe gà gáy khắp cả bầu trời, phương đông bừng sáng” (Thính hùng kê nhất xướng biến hoàn trung, Đông phương bạch), cái từ “Đông phương bạch” đã bị nhiều người trách cứ, lý do là mọi người đều hát: “Đông phương trồng, mặt trời lên, Trung Hoa chúng ta có Mao Trạch Đông” (Đông phương hồng, thái dương thăng, Trung Quốc xuất liễu cá Mao Trạch Đông), ở đây ông lại nói là “Đông phương bạch”, chẳng phải là đã trắng trợn “chống lại Mao Chủ tịch” ư?! “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm, nghe nói là “muốn xử lại án của Bành Đức Hoài”. Nhưng Quách Mạt Nhược lại từng viết rất nhiều luận văn xử lại án của Tào Tháo. Việc “xử lại án” chính là sự cấm kỵ lớn nhất trên chính trường Trung Quốc lúc bấy giờ, Quách Mạt Nhược bị chỉ trích là người đã “ra sức thổi cơn gió xử lại án”... Ngày 4 tháng 4 năm 1966, đứng trước sự truy hỏi chất vấn, Quách Mạt Nhược vì bị kích thích rất mạnh, nên đã nói: “Tất cả những bài viết của tôi trước đây, nghiêm khắc mà nói, nên đem đốt đi tất cả, nó chẳng có một chút giá trị gì!” Qua thông báo nội bộ, Khang Sinh đọc được “những lời khảng khái” của Quách Mạt Nhược, ngay lập tức ra lệnh cho “Quang minh nhật báo” số ra ngày 28 tháng 4, đăng công khai, đã làm cho Quách Mạt Nhược lúng túng khó xử! Rất may Quách Mạt Nhược có quan hệ rất thân thiết với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, nên được xếp vào danh sách những “người quan trọng được bảo vệ” trong cách mạng văn hóa, tránh được những cuộc phê phán và đấu tố “kiểu phản lực”. Quách Mạt Nhược lặng lẽ sống những ngày tháng cuối cùng. Ngày 25 tháng 1 năm 1975, Quách Mạt Nhược bỗng bị gọi đến cuộc mít tinh một vạn người “phê Lâm phê Khổng” (phê phán Lâm Bưu và Khổng tử), nhiều lần bị phê phán đích danh. Mỗi lần nhắc đến tên, có một tiếng quát: “Quách Mạt Nhược đứng lên!”, Quách Mạt Nhược đã ở tuổi 80 không thể không chậm chạp đứng lên. Trong cuộc mít tinh, Giang Thanh đã đọc “Báo cáo động viên”, bà ta nói: “Thái độ của Quách Mạt Nhược đối với Tần Thủy Hoàng đối với Khổng Tử như vậy, chẳng khác gì Lâm Bưu”. Ngay đêm ấy, Chu Ân Lai vội cho người đến nơi ở của Quách Mạt Nhược, truyền đạt chỉ thị của ông: “Quách Mạt Nhược đã già ngoại 80 tuổi, phải bảo vệ ông cho tốt, phải đảm bảo an toàn cho ông”. Chu Ân Lai còn đặt ra bốn quy định cụ thể: 1. Bên cạnh ông phải có người túc trực trong 24 giờ, phải sắp xếp ca trực ngày và đêm. 2. Chuyển phòng ngủ với diện tích hơn 10 m2 đến một phòng rộng hơn (lý do là phòng nhỏ, ít dưỡng khí không có lợi cho sức khỏe của người già). 3. Nơi sinh hoạt của Quách Mạt Nhược phải trải thảm len và thảm nhựa để tránh trơn ngã. 4. Công việc cụ thể do Vương Đình Phương tổ chức chấp hành, có vấn đề gì, anh ta phải chịu trách nhiệm. Nghe xong chỉ thị của Chu Ân Lai, Quách Mạt Nhược vội nói: “Cảm ơn Thủ tướng, cảm ơn Thủ tướng!”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:39:51 pm Nhưng, Quách Mạt Nhược đâu có được yên. Mấy hôm sau, Trương Xuân Kiều lại xông vào nhà ông. Trương Xuân Kiều buộc ông phải công khai thừa nhận những kịch bản và luận văn ông viết trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật là sản phẩm của đường lối Vương Minh, là chống Mao Trạch Đông. Trương Xuân Kiều còn muốn ông viết bài: “Chửi quan Tể tướng của Tần Thủy Hoàng”. Tất nhiên là Quách Mạt Nhược đã từ chối Trương Xuân Kiều. Chu Ân Lai biết được chuyện này, đã hai lần đến nơi ở của Quách Mạt Nhược thăm ông. Ngày 10 tháng 2, Giang Thanh đột ngột đến nhà Quách Mạt Nhược quấy rầy, ngồi ba tiếng đồng hồ buộc Quách Mạt Nhược dù thế nào cũng phải làm kiểm điểm. Ngay đêm ấy, Quách Mạt Nhược bị ốm, phải đưa vào bệnh viện. Việc này đã làm rầy đến Mao Trạch Đông, ông cử người đến bệnh viện hỏi thăm, còn Chu Ân Lai thì cho bác sĩ riêng đến khám bệnh cho Quách Mạt Nhược... Trong một thời gian, Quách Mạt Nhược ở vào tiêu điểm của cuộc đấu tranh chính trị, chuyện có nguyên do, bởi đó là trận công kích thứ hai của Giang Thanh vào Chu Ân Lai. Làn sóng của phong trào chính trị “Phê Lâm phê Khổng” “gắn” Lâm Bưu vào phê phán Khổng Tử, hình thành một phong trào “phê Lâm phê Khổng” cuốn hút toàn Trung quốc, làm cho mọi người rất khó hiểu. Nguyên nhân của sự việc, mới đầu là sau “sự kiện 13 tháng 9”, khám xét và thu được những bức đại tự ghi những câu cách ngôn của Khổng Tử và Mạnh Tử ở trong nhà Lâm Bưu và Diệp Quần tại Mao Gia Loan như “Khắc kỷ phục lễ” (Tự kiềm chế mình để khôi phục lại lễ), “Quân tử thản đãng đãng, tiểu nhân thường thích thích” (Quân tử thì trong sạch rộng rãi, tiểu nhân thì chỉ buồn lo) v.v... Thế là, khi phê phán Lâm Bưu bèn gọi ông ta là “tín đồ Khổng Mạnh”. Có điều chỉ dựa vào mấy bức đại tự ở nhà Lâm Bưu thì chưa thể có cách nào dấy lên một phong trào “phê Lâm phê Khổng” được. Ngày 4 tháng 7 năm 1973, Mao Trạch Đông triệu kiến Trương Xuân Kiều và Vương Hồng Văn vốn là để bàn về Báo cáo chính trị và sửa đổi Điều lệ Đảng của Đại hội Đảng khóa 10. Nhưng Mao Trạch Đông lại đột ngột nói đến bản thông báo tóm tắt gần đây của Bộ Ngoại giao. Ông không đồng ý với sự phân tích về quan hệ Xô Mỹ trong bản thông báo này. Mao Trạch Đông bảo: “Các anh còn ít tuổi, tốt nhất là nên học một chút ngoại giao, để tránh khỏi mắc lừa mấy ông ấy, bị họ lừa rồi có thể dẫn đến đi theo họ”. Mao Trạch Đông lại lại đến ý kiến của Bộ Ngoại giao: ““Ngọn đèn sáng” được viết dưới danh nghĩa của tôi, tôi không xem, phàm những loại văn kiện này, theo lệ tôi không xem. Bài nói chuyện của Thủ tướng cũng vậy, vì không thể nào xem hết” “Ngọn đèn sáng” mà Mao Trạch Đông nói đến là chỉ “Điện mừng Đại hội Đại biểu lần thứ 5 của Đảng Lao động An-ba-ni” được phát đi dưới danh nghĩa của Mao Trạch Đông vào ngày 25 tháng 10 năm 1966, trong đó có đoạn: “Nước An-ba-ni nhân dân anh hùng trở thành ngọn đèn sáng xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu”. Mao Trạch Đông còn phê bình Bộ Ngoại giao: “Bộ Ngoại giao là cái cơ quan gì vậy lại nói Ta-na-ca không thể lên cầm quyền mà có lên cầm quyền thì cũng không thể cải thiện quan hệ Trung - Nhật. Chó chê mèo lắm lông, cùng vứt vũ khí tháo chạy, mà kẻ chạy sau lại cười thằng chạy trước. Đó là nói về số lượng. Nếu nói về chất lượng, thì đều là lính đào ngũ, anh hãy giở sách “Mạnh Tử” mà xem”. Mao Trạch Đông dùng điển cố “Mạnh Tử” để phê bình Bộ Ngoại giao là “cơ quan gì” mà lại phân tích một cách sai lầm cục diện chính trị Nhật Bản và quan hệ Trung - Nhật như vậy. Từ đó ông nói đến chuyện đọc sách: “Cho nên tôi chính thức khuyên các đồng chí đọc một chút sách để tránh bị các phần tử trí thức lừa. Cuộc tranh luận loại như ông Quách, ông Phạm (chỉ Quách Mạt Nhược, Phạm Văn Lan - hai nhà sử học - N.D.), Nhiệm Kế Dũ, Dương Liễu Kiều. Ông Quách lại nói Khổng Tử là thánh nhân của chủ nghĩa nô lệ (ông Quách trong “Thập phê phán thư” tự xưng là chủ nghĩa nhân bản, tức chủ nghĩa nhân dân bản vị.). Khổng Phu Tử cũng là chủ nghĩa nhân bản giống như ông ta. Ông Quách không những tôn trọng Khổng Tử mà còn chống lại pháp chế. Quốc dân Đảng cũng như vậy! Và Lâm Bưu cũng thế! Tôi tán thành cách phân kỳ lịch sử của ông Quách, chế độ nô lệ lấy mốc là Xuân Thu Chiến Quốc. Nhưng không thể ra sức chửi Tần Thủy Hoàng”. Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn rất chăm chú lắng nghe những ý kiến này của Mao Trạch Đông, vì đoạn này không chỉ phê bình Quách Mạt Nhược mà còn liên hệ sự “tôn kính Khổng Tử” chống lại pháp chế với Lâm Bưu và Quốc dân Đảng. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:40:21 pm Mao Trạch Đông nói đến Tần Thủy Hoàng. “Sách giáo khoa quốc văn của Trung Quốc trước đây mấy chục năm đã nói tốt về Tần Thuỷ Hoàng, xa đồng quỹ sách đồng văn, thống nhất đo lường. Ngay Lý Bạch khi nói về Tần Thủy Hoàng, mở đầu đã có một đoạn dài cũng nói tới sự tài giỏi của ông ta. “Tần vương diệt sáu nước, thật xứng đáng anh hùng! Vung kiếm tan phù vân, Chư hầu phục trước sân”. Nhưng hai câu sau thì lại nói: “Nhưng nhìn dưới suối vàng, Quan tài chôn tro lạnh”, có nghĩa là nói ông ta vẫn phải chết. Còn Lý Bạch thì sao? Rất muốn làm quan! Rồi cuối cùng đến Quý Châu làm lính. Đi đến thành Bạch Đế, thì có lệnh miễn xá khắp nơi, thế là, lại từ giã Bạch Đế. Thực ra, ông ta rất muốn làm quan. Trong bài “Lương Phổ ngâm” có nói bây giờ không được, nhưng sau này sẽ có hy vọng. “Người chẳng thấy kẻ nghiện rượu ở Cao Dương đang khởi thảo”, “chỉ huy Sở Hán dễ như chơi”. Lúc ấy ông ta thật khí thế. Nhưng tôi muốn thêm vào mấy câu cho nó tương đối hoàn chỉnh: “Không ngờ Hàn Tín không nghe lời, đem mười vạn quân đến thành Lịch, Tề vương nổi nóng ngút tận trời, Tóm tên say rượu vứt vào vạc”, cuối cùng đã vứt ông ta vào vạc dầu”. Mao Trạch Đông rất thích thú, bàn chuyện xưa nói chuyện nay, cuối cùng lại nói đến cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng Cộng sản: “Ví dụ nói đường lối của Vương Minh, các căn cứ địa, các khu trắng, quyền lãnh đạo chủ yếu đều bỏ hết, chưa đầy bốn năm đã đi đời nhà ma!... Một cơn gió đến thế là lựa theo chiều gió. Nhiều đấy, không phải ít người đâu. Dám đương đầu chặn lại chỉ có số ít. May Đằng Đại Viễn vẫn chưa chết, ông ta có thể chứng minh cách thức đấu tranh như thế nào của đường lối Lý Lập Tam, chỉ còn lại một phiếu của kẻ hèn này. Chính là không sợ cô lập, vì sao lại phải phụ họa theo đuôi?”. Chuyện của Mao Trạch Đông cuối cùng lại quay về Bộ Ngoại giao: “Kết luận có 4 câu: Việc lớn không bàn bạc, Chuyện nhỏ luôn luôn đưa, Kiểu này không sửa chữa, Tất sẽ xét lại thôi. Sau này có chủ nghĩa xét lại thì đừng có trách tôi không nói trước”. Công tác ngoại giao lúc ấy, do Chu Ân Lai trực tiếp lãnh đạo. Lời của Mao Trạch Đông, ẩn chứa sự phê bình đối với Chu Ân Lai. Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn nói lại với Giang Thanh những điều mà Mao Trạch Đông đã nói. Giang Thanh như vớ được của quý. Dựa vào sức mạnh và uy tín của Mao Trạch Đông, vốn là “pháp bảo” của bà ta từ xưa đến nay. Mao Trạch Đông đã phê bình Chu Ân Lai, Quách Mạt Nhược, phê Khổng Tử và tôn thờ pháp luật, đó chính là dịp bà ta có thể dựa vào đó để viết bài. Bà ta ra lệnh cho “Tổ viết lách” dưới quyền của bà ta “viết bài ngay”. Ngày 5 tháng 8, Giang Thanh gặp Mao Trạch Đông, lại nhắc đến Quách Mạt Nhược. Mao Trạch Đông liền đọc cho bà ta nghe bài thơ có tựa đề “Đọc “Bàn về phong kiến - Gửi ông Quách””. Khuyên ông hãy bớt chửi Tần Thủy Hoàng; Việc đốt sách chôn nhà nho cần phải bàn lại; Con rồng thủy tổ tuy đã chết nhưng Tần vẫn còn; Học thuyết của Khổng Tử có danh vọng cao nhưng thực còn nhiều rác rưởi; Trăm ngàn đời sau đều thi hành chính pháp của nhà Tần; “Thập phê phán thư” không phải là một bài viết tốt; Hãy đọc cho thuộc “Bàn về phong kiến” của người Đường; chớ nên từ Tử Hậu mà quay lại với Văn Vương”. Mao Trạch Đông nói, “Thập phê phán thư” của ông Quách cần phải phê phán. Ông lại đọc một bài thơ khác của mình: “Ông Quách từ đã lùi sau ông Liễu; Nhưng lại không bằng Liễu Tông Nguyên; Mang danh là Đảng Cộng sản; Nhưng lại sùng bái Khổng nhị hiền”. Mao Trạch Đông nói với Giang Thanh: “Những chính trị gia các đời, có thành tựu, gây dựng được trước xã hội phong kiến đều là pháp gia. Những người này đều chủ trương pháp trị (cai trị bằng pháp luật - N.D), đã phạm pháp là phải chặt đầu, coi trọng cái hiện tại, coi nhẹ cái cổ xưa. Nhà nho luôn mồm nói nhân nghĩa đạo đức, nhưng trong bụng thì đầy rẫy “trai thì trộm cướp gái thì đĩ điếm”, đều chủ trương coi trọng cái cổ xưa coi nhẹ cái hiện tại. Giáo sư Dương Vinh Quốc, Khoa Lịch sử Trường Đại học Trung Sơn Quảng Đông giành “công đầu”, “Nhân dân nhật báo” số ra ngày 7 tháng 8 đã đăng bài nổi bật của ông ta với tựa đề “Khổng Tử - Nhà tư tưởng ngoan cố duy trì chế độ nô lệ”. Ngày hôm sau, trong Hội nghị Bộ Chính trị, Giang Thanh đã đề xuất phải ghi nội dung cuộc nói chuyện của Mao Trạch Đông về cuộc đấu tranh giữa Nho gia và Pháp gia trong lịch sử Trung quốc vào Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng khóa 10. Chu Ân Lai lấy lý do “cần có một thời gian để hiểu và tiêu hóa, đã khéo léo từ chối”, cho rằng không nên ghi vào Báo cáo chính trị. Ngày 23 tháng 11, khi Mao Trạch Đông tiếp Phó Tổng thống Ai Cập Sa-phi, lại nói đến Tần Thủy Hoàng: “Tần Thủy Hoàng là vị hoàng đế nổi tiếng đầu tiên của xã hội phong kiến Trung Quốc, tôi cũng là Tần Thủy Hoàng, Lâm Bưu chửi tôi là Tần Thủy Hoàng. Từ xưa đến nay Trung Quốc luôn chia làm hai phái, một phái nói Tần Thuỷ Hoàng tốt, một phái nói Tần Thủy Hoàng xấu. Tôi tán thành Tần Thủy Hoàng không tán thành Khổng Phu Tử. Những ý kiến này của Mao Trạch Đông lại trở thành đề mục hay để Giang Thanh “viết bài”. Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:40:58 pm 3. “Phê Lâm phê Khổng” là cuộc đại cách mạng văn hóa lần thứ hai. Thủ hạ của Giang Thanh, có một bọn “tú tài”, nói về viết bài thì tay nào cũng có nghề. Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên là hai “đại tú tài” dưới quyền, nắm quyền điều khiển dư luận. Do Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên trực tiếp khống chế có “bốn tổ” viết bài “bồi bút” lớn (còn gọi là “Tổ đại phê phán”). Một là, tổ đại phê phán Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa, bút danh là “Lương Hiệu” (từ đồng âm của “lưỡng hiệu” nghĩa là “hai trường”) nổi tiếng cả nước, một thời đã có tiếng đồn là “báo nhỏ xem báo to, báo to xem Lương Hiệu”, đủ thấy uy phong của “Lương Hiệu”. “Lương Hiệu” được thành lập vào tháng 10 năm 1973, mới đầu gọi là “Tiểu tổ nghiên cứu phê Lâm phê Khổng Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa”, do người phụ trách đội tuyên truyền quân đội của hai trường lúc ấy là Trì Quần và Tạ Tĩnh Nghi chủ trì. Họ chiếm lĩnh một ngôi lầu nhỏ yên tĩnh ở vườn Lãng Nhuận trong Đại học Bắc Kinh, tổ viên gồm hơn 30 người. Những “tú tái” này dựa vào chỉ thị của Điếu Ngư Đài đã nặn ra hơn hai trăm bài, trong đó có hơn 30 bài là “bài trọng điểm”, trở thành “văn kiện học tập” lúc ấy. Bài viết của họ, liên tục đăng trên tạp chí “Hồng kỳ” “Nhân dân nhật báo”, mang “tính quyền uy”. Ngoài bút danh “Lương Hiệu” thường dùng ra, còn dùng các bút danh: Bách Thanh, Cao Lộ, Cảnh Hoa, An Kiệt, Tần Hoài Văn, Quách Bình, Thi Quân, Kim Qua, Vạn Hồng Sơn, Chúc Tiểu Chương, Lương Tiểu Chương v.v... Hai là, tổ viết bài của Thành ủy Thượng Hải, lấy bút danh là “La Tư Đỉnh” nổi tiếng (lấy nghĩa từ danh ngôn của Lôi Phong “làm một chiếc đinh ốc không bao giờ gỉ”, (“La tư đỉnh” là đồng âm của “Loa ty đinh”), thành lập tháng 7 năm 1971, trực thuộc Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên. Ngoài bút danh thường dùng là La Tư Đỉnh ra, còn dùng Thạch Luân, Khang Lập, Địch Thanh, Tề Vĩnh Hồng, Thạch Nhất Ca, Sử Phong, Sử Thượng Huy, Tao Tư Phong, Lương Lăng Ích, Thích Thừa Lâu, Cận Qua, Phương Nham Lương v.v… Ba là, tổ viết bài của Trường Đảng Trung ương, bút danh là “Đường Hiểu Văn” (đồng âm của “Đảng hiệu văn”), thành lập tháng 9 năm 1973. Bốn là, tổ viết bài của Bộ Văn hóa, bút danh là “Sơ Lan”, lấy nghĩa từ “thanh xuất vu Lam” (nghĩ là màu xanh có từ màu lam) “Thanh” tức là Giang Thanh. Lam tức là Lam Bình, “Sơ Lan” là đồng âm của “xuất Lam”. Các tổ viết bài bồi bút thủ hạ của Giang Thanh, như một tràng pháo nổ đì đùng, bài viết được đăng trên các báo chí tạp chí lớn nhỏ của Trung Quốc, phê phán Khổng Tử, phê phán Nho gia. Một thời kỳ, các bài viết “đại phê phán” in hẳn cả một trang, tình hình như những năm nổi lên cuộc phê phán “Hải Thụy bãi quan”. Ngày 4 tháng 9, bài “Nho gia và tư tưởng phản động của Nho gia” của “Lương Hiệu” đăng trên “Bắc Kinh nhật báo”. Ngày 15 tháng 9, bài “Bàn về tôn Nho chống pháp trị” của “Thạch Luân” đăng trên “Học tập và phê phán” ở Thượng Hải, “Hồng kỳ”số 10 đăng lại toàn văn. Ngày 27 tháng 9, bài “Khổng Tử có phải là “Nhà giáo dục toàn dân” không?” đăng trên “Nhân dân nhật báo”. Tiếp đó là bài “Phân biệt “đốt sách và chôn nhà Nho”” “Cuộc đấu tranh phục hồi và chống phục hồi trong quá trình xây dựng vương triều Tần, kiêm bàn về cơ sở xã hội, của cuộc tranh luận Nho - Pháp”, “Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tư tưởng Khổng Tử”, “Giai cấp tư sản và cuộc đấu tranh Nho - Pháp”... một loạt bài viết do các tổ viết bài nặn ra. “Công trình trọng điểm” của Giang Thanh là ra lệnh cho Tổ đại phê phán của Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa viết cuốn “Con đường của Lâm Bưu và Khổng Manh”. Ngày 12 tháng 1 năm 1974, Vương Hồng Văn, Giang Thanh gửi thư cho Mao Trạch Đông gửi kèm sách “Con đường của Lâm Bưu và Khổng Mạnh”, kiến nghị lấy danh nghĩa của Trung ương Đảng để phát cho toàn Đảng, nhằm dấy lên phong trào “phê Lâm phê Khổng”. Mao Trạch Đông phê: “Đồng ý chuyển phát”. Thế là ngày 18 tháng 1 năm 1974, Trung ương Đảng chuyển giao phát hành sách “Con đường của Lâm Bưu và Khổng Mạnh” (Tài liệu 1) đồng thời ra “thông báo”. “Thông báo” viết “Tên có dã tâm tư sản, tên có âm mưu, tên hai mặt, tên phản bội, tên bán nước Lâm Bưu là một tín đồ của lão Khổng chính cống.. Hắn giống như bọn phản động của các thời đại sẽ bị diệt vong, tôn sùng Khổng Tử, chống lại pháp trị, công kích Tần Thủy Hoàng, lấy con đường của Khổng Mạnh làm vũ khí tư tưởng phản động âm mưu cướp quyền của Đảng, phục hồi chủ nghĩa tư bản”. “Con đường của Lâm Bưu và Khổng Mạnh” (tài liệu 1) chia làm 8 phần: 1. Làm theo Khổng Tử “Khắc kỷ phục lễ” mưu đồ khôi phục chủ nghĩa tư bản; 2. Tuyên truyền lý thuyết về thiên tài “sinh ra đã biết”, âm mưu cướp quyền của Đảng; 3. Truyền bá quan điểm lịch sử duy tâm “trên giỏi dưới ngu”, vu cáo một cách ác độc nhân dân lao động; 4. Truyền bá “đức”, “nhân nghĩa”, “trung thành”, “khoan dung”, công kích chuyên chính vô sản; 5. Buôn bán “con đường trung dung”, chống lại triết học đấu tranh của chủ nghĩa Mác; 6. Dùng triết học xử thế phản động của Khổng Mạnh kết bè kết đảng ra sức thực hiện âm mưu quỷ kế. 7. Tuyên truyền tư tưởng của giai cấp bóc lột: “Người lao tâm (lao động trí óc - N.D) thì cai trị người; người lao lực (lao động chân tay - N.D) thì bị người khác cai trị”, công kích đường lối “5-7” (Chỉ thị của Mao Trạch Đông đưa cán bộ xuống cơ sở lao động ngày 7 tháng 5 - N.D). 8. Dạy con tôn Khổng Tử, đọc kinh sách, mơ tưởng xây dựng vương triều thế tập họ Lâm. Giang Thanh dựa vào việc Trung ương Đảng đưa cuốn sách “Con đường của Lâm Bưu và Khổng Mạnh” ra toàn Đảng, đã ra sức dấy lên làn sóng “phê Lâm phê Khổng”. Ngày 24 tháng 1 năm 1974, tại Bắc Kinh, Giang Thanh và một số người đã tổ chức cuộc mít tinh “Phê Lâm phê Khổng” của bộ đội đóng ở Bắc Kinh. Ngày hôm sau, Giang Thanh và một số người đã tổ chức một cuộc mít tinh động viên các cơ quan trực thuộc Trung ương và cơ quan nhà nước tại Bắc Kinh để “phê Lâm phê Khổng” ở Cung thể dục Công nhân Bắc Kinh. Quách Mạt Nhược đã bị nêu tên trong cuộc mít tinh này, bị buộc phải đứng dậy trước hàng vạn cặp mắt... Tiêu đề: Re: Cách mạng văn hoá liệt truyện-Tập 2 Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Ba, 2010, 10:44:56 pm 4. Chu khắc Chu, lấy Chu này hạ gục Chu kia “Phê Lâm” cũng vậy mà “phê Khổng” cũng vậy, liên hệ “phê Lâm” với “phê Khổng” cũng thế thôi, dù sao thì Khổng Tử cũng đã chết từ bao nhiêu năm nay rồi còn Lâm Bưu thì đã vùi thây ở đất khách quê người. Vậy thì vì sao Giang Thanh lại bỏ ra nhiều sức lực đến thế để phê phán Khổng Tử và Lâm Bưu những người đã từ lâu không còn trên thế giới này nữa? Lời của Vương Hồng Văn đã tiết lộ “thiên cơ” của Giang Thanh: “Phong trào phê Lâm phê Khổng là đại cách mạng văn hóa lần thứ hai, cuộc đấu tranh đường lối lần thứ 11 đã bắt đầu!”. Tình thế ấy quả thật có chút giống việc phát động cuộc đại cách mạng văn hóa lần thứ hai. Vậy “cuộc đấu tranh đường lối lần thứ 11” sẽ đấu tranh với ai đây? Chỉ cần chú ý một chút đến một lô bài viết do “nhóm viết bài Giang ký” tung ra, là có thể thấy rõ qua các hàng chữ! Ngày 4 tháng 1 năm 1974, “Nhân dân nhật báo” đăng bài “Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão nói lên điều gì” của Đường Hiểu Văn, đã đặc biệt nêu rõ: “Khổng Khâu, đảm nhiệm chức tư khấu quản lý tư pháp và hình ngục của nước Lỗ, đồng thời còn thay chức vụ tể tướng”. Anh ta đã viết Khổng Tử là “Nho Tể tướng”. Những năm trước khi bọn Giang Thanh phê phán “Hải Thụy bãi quan” bảo Ngô Hàm là “mượn xưa để chế nhạo nay”. Vậy mà bây giờ bọn Giang Thanh lại chơi trò mượn xưa để chế nhạo nay thật! “Nho tể tướng” chỉ ai? Chẳng phải là ám chỉ Chu Ân Lai sao! Thủ tướng Quốc vụ viện, nghe nói là “tương đương” với “tể tướng” mà! Cái màn kịch chính trị mà bọn Giang Thanh giở ra, chính là “phê Lâm, phê Khổng phê “Chu Công” vậy”! Bài viết “Con người Khổng Khâu” ký tên “Tổ đại phê phán Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa” đăng trên tạp chí “Hồng kỳ” số 4 năm 1974. Có một đoạn miêu tả “hình tượng hóa” đối với Khổng Tử như sau: “71 tuổi, bệnh nặng nằm trên giường”, “vẫn cố giãy giụa bò dậy”, “lảo đảo” đi đến cầu kiến Lỗ quân, chẳng phải là đã ám chỉ một cách rõ ràng đối với Chu Ân Lai ư! Bài văn chửi bới Khổng Tử là “điên cuồng phục hồi chiếc xe đổ lịch sử”, “tên lừa đảo chính trị xảo quyệt giả dối”, “đại ác bá hung hãn tàn bạo”, “một ký sinh trùng dốt nát kém cỏi”, “con chó mất chủ đâu đâu cũng bị thất bại” thực chất đều là ám chỉ Chu Ân Lai. Ngày 17 tháng 5 năm 1974, “Bắc Kinh nhật báo” đăng bài “Từ thiên “Hương đảng” nhận rõ lão Khổng” của Bách Thanh, đặc biệt miêu tả Khổng Tử “nâng cánh tay”, càng ám chỉ rõ ràng Chu Ân Lai. Trong bài viết đã chửi bóng chửi gió đối với Chu Ân Lai: “Con người này cực kỳ gian trá giả dối, là một tên lừa đảo chính trị độc ác... Bạn đã thấy ông ta lừa dối để có được cái tiếng “chính nhân quân tử”, trước đông đảo bàn dân thiên hạ đã làm ra vẻ như thế nào”. “Ông ta vừa nghe thấy quốc quân (vua) triệu gọi, là vội đến chẳng kịp chuẩn bị xe, đã đi ngay... trước mặt quốc quân, không chút lơ là, cảm thấy hồi hộp không yên, cử chỉ khúm núm. Lão Khổng biểu diễn cái trò “vua vua tôi tôi”, quả là xấu xa cực độ, khiến người ta phải buồn nôn”. Với áp lực chính trị to lớn, nhất là khi biết MaoTrạch Đông viết hai bài thơ phê phán ông, Quách Mạt Nhược có phần nào không chịu đựng nổi, không biết làm thế nào, nhà văn cự phách, nhà sử học lừng danh đã không thể không viết một bài thơ bày tỏ lòng mình. Đây rõ ràng là một bài “thơ sám hối”! Quách Mạt Nhược đã so sánh phong trào “phê Lâm phê Khổng” với “Tiếng sấm mùa xuân kinh động đất trời”! Chu Ân Lai đang bị chứng bệnh ung thư, gánh vác công việc nặng nề, lại thêm gánh nặng “phê Lâm phê Khổng” “phê “Chu Công”, nên bệnh tình càng nặng thêm. Ngày 31 tháng 3 năm 1974, Chu Ân Lai bị bệnh nặng, phải nằm viện để kiểm tra bệnh tình, chiều ngày 15, bệnh tình có đỡ hơn, Chu Ân Lai liền ra viện. Ngay tối hôm đó về đến nhà ông đã phải phê duyệt cả một đống văn kiện để ở đầu giường, kéo dài đến 4 tiếng đồng hồ. Giang Thanh được tin Chu Ân Lai ốm, mừng lắm, vội xin gặp Mao Trạch Đông, muốn mời Mao Trạch Đông cho chỉ thị về phong trào “phê Lâm phê Khổng”, để làm cho tiếng tăm lớn hơn. Không ngờ ngày 20 tháng 3, Mao Trạch Đông gửi thư cho Giang Thanh từ chối không tiếp và đưa ra lời cảnh cáo nghiêm khắc, toàn văn bức thư như sau: Giang Thanh, Không gặp thì hay hơn. Nhiều năm trước tôi đã nói với cô, có một số điều cô không chấp hành, gặp nhiều phỏng có ích gì? Có sách Mác - Lê, có sách của tôi, nhưng cô không nghiên cứu. Tôi bị ốm nặng, đã 81 tuổi rồi, cũng không châm chước. Cô có đặc quyền, tôi chết rồi, xem cô làm thế nào? Cô cũng là người mà việc lớn không thảo luận, việc nhỏ ngày nào cũng đưa đến. Mong cỏ suy nghĩ. Mao Trạch Đông Ngày 20 tháng 3 năm 74 Mao Trạch Đông đã tỏ thái độ một cách rõ ràng, “phê Lâm phê Khổng” thì ông tán thành nhưng “phê Chu Công” thì ông phản đối, Giang Thanh vẫn làm theo ý mình, vì Chu Ân Lai là “trở ngại quyền lực” lớn nhất của bà ta, không đánh đổ không được. Bệnh tình của Chu Ân lai ngày càng nặng. Ngày 28 tháng 4, bị thiếu dưỡng khí. Ngày 19, 23, 25 tháng 5, liên tiếp ba lần bị chứng bệnh thiếu dưỡng khí. Nhưng, công việc của ông vẫn bận rộn như vậy. Trong 3 tháng ông đã phải đích thân tiếp và hội đàm với các khách nước ngoài: Tổng thống Tan-gia-ni-a, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Cam-pu-chia, Tổng thống Xê-nê-gan, Tổng thống Pa-kít-stan, Tổng thống Xa-prớt, Thủ tướng Anh, Thủ tướng Ma-lai-xia... Theo thống kê của nhân viên công tác bên cạnh Chu Ân Lai, từ tháng 1 đến ngày 1 tháng 6 năm 1974, ngoài những lần bị bệnh nặng phải nằm trên giường ra, ngày làm việc của ông đã đạt tới 139 ngày, có 9 ngày làm việc từ 12 đến 14 tiếng, có 74 ngày làm việc từ 14 đến 18 tiếng, có 38 ngày làm việc vượt quá 18 tiếng, có 5 ngày làm việc khoảng 24 tiếng, liên tục làm việc trong 30 tiếng có một lần! Chu Ân Lai bị bệnh nặng lại phải làm việc với cường độ lớn như vậy, lại còn bị Giang Thanh công kích hết lần này đến lần khác. Cuối cùng vào ngày, 1 tháng 6 năm 1974, sức khỏe Chu Ân Lai suy kiệt, phải vào Bệnh viện 305 Quân giải phóng ở Bắc Kinh. Từ đó Chu Ân Lai làm việc trên giường bệnh, sống những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời... Giang Thanh biết Chu Ân Lai phải nằm viện càng đắc ý. Ngày 22 tháng 6, Giang Thanh đến thôn Tiểu Cận ở Thiên Tân, khi nói chuyện với một người phụ nữ họ Chu, bà ta muốn người phụ nữ này đổi tên là “Chu Khắc Chu”. Giang Thanh bảo: “Chị lấy tên là Chu Khắc Chu đi, dùng cái “Chu” của chúng ta để đánh thắng cái “Chu” của ông ta!” Cái “Chu” của ông ta là ai? Là Chu Ân Lai! Hết tập 2! |