Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:35:38 pm



Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:35:38 pm
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979
Trương Tiểu Minh
Air War College
Montgomery, Alabama, Mỹ

Nguyên tác: Xiaoming Zhang, “China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment”
The China Quarterly, bộ 184, tháng 12 năm 2005, trang 851-874

Lời người dịch: Thấm thoát đã hơn 30 năm từ ngày cuộc chiến Việt-Trung nổ ra năm 1979, và mặc dù cả hai nước đều cho là mình đã thắng, số lượng tài liệu được Trung Quốc và Việt Nam công bố về cuộc chiến tranh này vẫn còn rất ít. Bài viết dưới đây của một học giả gốc người Trung Quốc (hiện giảng dạy tại trường Cao Đẳng Không Chiến (Air War College) thuộc Bộ Không Quân Mỹ) được đăng vào năm 2005 trên tờ China Quarterly, một tạp chí quốc tế có uy tín xuất bản tại Anh, là một công trình học thuật đáng chú ý về cuộc chiến tranh này. Để giữ sự trung thực so với nguyên bản, người dịch đã cố gắng truyền đạt cách diễn tả của tác giả. Khi đọc bài này, nhiều độc giả Việt Nam có thể sẽ cho rằng một số nhận xét của tác giả là rất chủ quan và nhiều vấn đề là khá nhạy cảm. Tuy nhiên bài viết này, ở mức độ nào đó, cung cấp nhiều thông tin đã được kiểm chứng và có giá trị sử liệu. Hy vọng bài viết này cũng tạo nên một sự thôi thúc để Trung Quốc, và đặc biệt là chính quyền Việt Nam, cung cấp thêm nhiều thông tin và bằng chứng để các nhà sử học cũng như thế hệ tương lai có một cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn về cuộc chiến tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu này.
Bản dịch của một cộng tác viên, riêng cho tạp chí Thời Đại Mới.

© Thời Đại Mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN
Số 18  - Tháng 3/2010
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai18/201018_TruongTieuMinh.htm


Mục đích của bài báo này là nhằm trình bày về cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam vào năm 1979. Bài báo nhắc lại những mối quan hệ lịch sử giữa Trung Quốc với Việt Nam và ảnh hưởng của những mối quan hệ này lên những toan tính chiến tranh của Bắc Kinh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình, chiến lược quân sự và sự chuẩn bị của Trung Quốc cho cuộc tấn công. Bài báo cũng chỉ ra cách thức tiến hành chiến tranh của Bắc Kinh mang màu sắc đặc thù Trung Quốc như thế nào: tính toán khi nào và sử dụng ra sao sức mạnh quân sự, mục tiêu quan trọng trong chiến tranh, và cơ sở trong việc nhận định về thắng lợi. Bài báo cũng điểm lại những hậu quả của cuộc xung đột ở cả hai lĩnh vực chính trị và quân sự, những bài học đã được rút tỉa dưới con mắt của chính người Trung Quốc.

Đầu năm 1979 Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam, theo cách nói của lãnh đạo Trung Quốc là để “dạy cho Việt Nam một bài học” nhớ đời. Mặc dầu Bắc Kinh tự cho là đã thắng lợi nhưng nói chung trong giới học giả vẫn tồn tại nhiều tranh cãi cho rằng cuộc chiến tranh đã không diễn ra như Trung Quốc mong đợi vì trong cuộc xung đột này Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (QGPND) đã tác chiến hết sức tồi tệ. Chính Trung Quốc chứ không phải Việt Nam đã rút ra một bài học từ cuộc chiến này. Các tài liệu của Trung Quốc về cuộc chiến tranh này vẫn được niêm phong rất cẩn mật do đó các thông tin về cuộc chiến không chỉ chắp vá chủ quan mà còn đáng ngờ về tính xác thực. Mặc dù đã có một ít tài liệu bằng tiếng Anh, nhưng phần nhiều chỉ là đồn đoán và không chính xác, lưu truyền không chính thức ở Hồng Kông và Đài Loan. Gần đây do việc kiểm soát thông tin của Bắc Kinh có phần lỏng lẻo hơn nên nhiều tài liệu lưu hành nội bộ về khả năng và kinh nghiệm của QGPND trong chiến tranh 1979 đã thấy xuất hiện rải rác trong các thư viện tại Mỹ và có thể truy cập trên Internet. Thêm vào đó, hồi ký của một số sĩ quan cao cấp Trung Quốc cũng đã cho thấy nhiều thông tin giá trị.

Dựa trên các tư liệu nghiên cứu của một số học giả hàng đầu, bài viết này cố gắng trình bày cái nhìn của người Trung Quốc đối với cuộc chiến Việt-Trung năm 1979. Đầu tiên là thảo luận về các mối quan hệ lịch sử giữa Trung Quốc và Việt Nam và ảnh hưởng của các mối quan hệ này trên quyết định tấn công Việt Nam của Bắc Kinh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình. Kế đến là xét lại vai trò của QGPND bao gồm chiến thuật, chiến lược của Trung Quốc cho cuộc xâm lăng và những quan điểm riêng của QGPND về vận hành bộ máy quân sự. Cuối cùng là điểm lại những tác động của cuộc xung đột, trên cả hai lĩnh vực chính trị cũng như quân sự, và những bài học rút ra bởi chính người Trung Quốc. Bài báo cũng đưa ra những dẫn chứng về cách thức tiến hành chiến tranh của Bắc Kinh, chỉ ra tính đặc thù kiểu Trung Quốc trong tác chiến: không ngần ngại sử dụng sức mạnh quân sự sau khi tính toán một cách cẩn thận khi nào và sử dụng ra sao; mục tiêu quan trọng của QGPND là giành và giữ thế chủ động trong tác chiến, và nền tảng cơ bản mà người Trung Quốc đã dựa vào đó để đánh giá thành công về mặt quân sự, đó là lợi thế địa chính trị hơn là hiệu suất tác chiến. Mặc dù đã bị người Việt Nam làm khốn đốn nhưng QGPND đã hoàn thành được mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh, buộc Việt Nam phải chia lửa cho phòng tuyến ở biên giới phía bắc, và buộc quốc gia này phải giảm phiêu lưu quân sự ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, QGPND vẫn chưa rút ra được bài học từ cuộc chiến tranh này, đó là truyền thống và triết lý quân sự của Trung Quốc đã quá lỗi thời, điều này có thể cản trở công cuộc hiện đại hóa thay đổi bộ mặt của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Yếu tố văn hóa lịch sử

Bắc Kinh và Hà Nội đã từng là đồng minh thân thiết kể từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào những năm đầu thập niên 1950. Thế thì tại sao sau đó nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa lại đi đến quyết định tiến hành chiến tranh với nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào cuối năm 1978? Theo lý lẽ của Bắc Kinh thì dường như nguyên nhân là do “giấc mộng xưng bá” của Hà Nội ở khu vực Đông Nam Á; gây hấn ở biên giới với Trung Quốc và xâm phạm vào lãnh thổ của Trung Quốc; ngược đãi người Hoa ở Việt Nam; đi theo Liên Xô trong lúc nước này đang muốn mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Các nhà quan sát vào thời điểm đó và nhiều nghiên cứu sau này cho rằng mục tiêu hàng đầu của Bắc Kinh là làm giảm bớt áp lực quân sự lên Campuchia, buộc quân đội Việt Nam phải chia lửa ở mặt trận thứ hai. Robert Ross (học giả người Mỹ, hiện là giáo sư ở Boston College - ND) thì cho rằng việc Trung Quốc sử dụng quân đội chống lại Việt Nam không phải là phản ứng trước sự bành trướng của Hà Nội ở Đông Dương mà là phản ứng trước sự về hùa của Việt Nam với Liên Xô nhằm bao vây Trung Quốc từ Đông Nam Á. Những nghiên cứu khác lại cho rằng Trung Quốc hành động như thế để làm mất thể diện của Liên Xô, nước đang đóng vai trò như một đồng minh tin cậy của Hà Nội trong trường hợp xảy ra khủng hoảng.

Trong một nghiên cứu về mối quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội trước chiến thắng 1975, Trại Cường (Zhai Qiang) tác giả cuốn China and the Vietnam Wars, 1950-1975 -- ND) đã cho rằng “chính sách thực dụng không chỉ là lời nói suông” được phát đi từ các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đề cập đến các mối quan hệ quốc tế. Mặc dầu họ tuyên bố chính họ là những môn đồ của chủ nghĩa quốc tế Mác-Lênin song họ lại kế thừa hoàn toàn cái di sản lịch sử của Trung Hoa: quan niệm Đại Hán theo đó Trung Quốc là cái nôi của thế giới. Các quốc gia nhỏ bé khác bên ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam, là man di và phải là những chư hầu trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Mặt khác, “niềm kiêu hãnh lịch sử và độ nhạy cảm văn hóa” là nhân tố chính có ảnh hưởng đến thái độ của người Việt Nam đối với Trung Quốc. Suốt chiều dài lịch sử của mình, người Việt Nam đã thích thú khi vay mượn và bắt chước nền văn minh cũng như thể chế Trung Quốc để làm nên bản sắc riêng, nhưng họ lại rất sắt đá trong việc bảo tồn di sản văn hóa và nền độc lập của họ. Họ yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ khi gặp khó khăn nội bộ, nhưng khi họ giành được tự do và thống nhất đất nước thì họ lại quay ra thù địch với Trung Quốc. Những hình ảnh được khắc ghi trong lòng các lãnh tụ và nhân dân hai nước về tình hữu nghị giữa hai quốc gia dường như đã đóng một vai trò đáng kể trong quyết định của Bắc Kinh khi tiến hành cuộc tấn công trừng phạt chống lại Việt Nam.

Từ đầu những năm 1950, Trung Quốc đã là người hậu thuẫn mạnh mẽ của Hà Nội trên cả hai lĩnh vực quân sự lẫn chính trị. Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng chống lại Pháp và đánh đuổi xâm lược Mỹ. Những nghiên cứu ngày nay đã chỉ ra rằng chính sách của Trung Quốc dành cho Hà Nội trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương đầu tiên là xuất phát từ việc cân nhắc nhiều mặt từ truyền thống lịch sử đến ý thức hệ cách mạng và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, thái độ bề trên của Bắc Kinh vẫn thống trị tư tưởng của họ trong quan hệ với Việt Nam. Mặc dầu các lãnh tụ Trung Quốc lặp đi lặp lại tuyên bố rằng Việt Nam sẽ được đối xử “bình đẳng” nhưng Trần Kiên (Chen Jian) lại thấy rằng chính những phát biểu hùng biện đó đã phản ảnh niềm tin mạnh mẽ rằng “họ đã nắm được vị thế để có thể chi phối mọi quan hệ với các nước láng giềng”. Bắc Kinh luôn nói rằng họ không bao giờ gây sức ép về chính trị và kinh tế thông qua viện trợ vật chất và quân sự khổng lồ cho Hà Nội, nhưng họ lại muốn Hà Nội phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Trung Quốc đối với phong trào giải phóng dân tộc trong khu vực và trên thế giới. Thái độ này của Trung Quốc đã khiến Việt Nam, một quốc gia rất nhạy cảm với quá khứ đầy rẫy những rắc rối với Trung Hoa, trở nên tức giận. Mặc dầu có lúc Bắc Kinh và Hà Nội gọi nhau là “những người đồng chí anh em” nhưng sự thật thì mối ác cảm của người Việt Nam đối với Trung Quốc đã được Bắc Kinh nhận thức một cách rõ ràng

Một tài liệu của Trung Quốc đề cập đến chiến tranh 1979 đã ghi lại những hoạt động được coi là thù nghịch của Việt Nam từ sau năm 1975 đã làm tổn thương mạnh đến quan niệm bề trên của người Trung Quốc. Bộ Chính Trị Việt Nam đã thông qua một chính sách coi đế quốc Mỹ là kẻ thù lâu dài nhưng lại coi Trung Quốc là “kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp nhất”, và là “kẻ thù tiềm năng mới” mà Việt Nam phải chuẩn bị để chiến đấu. Trong một phản ứng với Trung Quốc, Chủ nhiệm tổng cục chính trị của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã nhấn mạnh rằng các lực lượng vũ trang Việt Nam sẽ phải tiến hành một cuộc tổng tiến công quân Trung Quốc, chủ động tấn công và phản công đánh đuổi kẻ thù bên trong và thậm chí cả bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, và biến cả miền biên giới thành mặt trận chống Tàu. Thái độ coi thường của Việt Nam đối với QGPND và sự cả tin vào sức mạnh quân sự của mình đã là chất xúc tác thúc đẩy quân đội Trung Quốc tiến hành chiến tranh. Lực lượng chiến đấu đã được tôi luyện của QĐND Việt Nam đã tham gia tác chiến hầu như liên tục trong nhiều thập kỷ và đã chiến thắng được hai cường quốc lớn phương Tây. Trong khi đó các chuyên gia Việt Nam cho rằng khả năng và tinh thần chiến đấu của QGPND là thấp kém và hạn chế. QĐND Việt Nam rất tự hào với vũ khí của Nga và các trang thiết bị quân sự thu hồi của Mỹ. Theo các hãng truyền thông của Việt Nam các vũ khí đó hơn hẳn với bất kỳ trang bị nào của QGPND.

Trong hơn hai mươi năm Trung Quốc đã viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỷ đô la Mỹ, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Khi Việt Nam bắt đầu ép buộc người Hoa ở miền bắc hồi cư và gia tăng bạo lực trên biên giới với Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc đã cho rằng Hà Nội vong ơn bội nghĩa trước những giúp đỡ và hy sinh của Trung Quốc. Những người Trung Quốc đã từng giúp đỡ những người cộng sản Việt Nam trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ đã cảm thấy như bị phản bội và đã hăm hở để “dạy cho Việt Nam bài học”. Trong số đó có Đặng Tiểu Bình, phó thủ tướng và là tổng tham mưu trưởng QGPND. Họ Đặng đã tỏ ra bực mình với thái độ khiếm nhã của Việt Nam đối với những giúp đỡ của Trung Quốc đã được sử sách ghi chép từ giữa những năm 1960. Sự thù nghịch giữa hai nước đã tăng mạnh vào cuối những năm 1970, và ngày càng trở nên nhạy cảm, thậm chí đã có lúc Việt Nam được Trung Quốc gọi là đồ khốn nạn (wangbadan) trước một nhà lãnh đạo nước ngoài. Các nhà lý luận quân sự nói chung đều nhất trí rằng tình trạng “thù nghịch ở cả hai phía, giận dữ và căm thù đã hình thành và ngày càng sôi sục”. Sự láo xược của Việt Nam thể hiện qua những va chạm dọc biên giới mỗi ngày một tăng và sự ra đi ồ ạt của Hoa kiều đã tác động mạnh lên quyết định dùng vũ lực của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự.


Tiêu đề: Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:38:13 pm
Động thái của Trung Quốc trước cuộc tấn công

Vẫn chưa có những tài liệu chắc chắn nào cho thấy lúc nào và như thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định tiến hành chiến tranh chống Việt Nam. Nayan Chanda, phóng viên Đông Nam Á kỳ cựu của Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông đã chỉ đưa ra được vài chi tiết cho rằng cấp lãnh đạo Trung Quốc đã ra quyết định “dạy cho Việt Nam bài học” vì thái độ “vô ơn và ngạo mạn” trong một cuộc họp Bộ Chính Trị hàng tuần vào đầu tháng Bảy năm 1978. Tuy nhiên ông ta lại cho rằng trong cuộc họp đó cấp lãnh đạo Trung Quốc, khi thông qua quyết định tấn công Việt Nam, có vẻ như họ đã được thuyết phục rằng việc này chỉ để nhằm “làm suy yếu vị thế của Xô-viết trong thế giới thứ ba”. Các nguồn tin mới đây từ Trung Quốc thì lại giả thiết rằng sự tính toán đến các phản ứng quân sự đối với cuộc khủng hoảng giữa Việt Nam và Trung Quốc là một quá trình hết sức chậm chạp vì khá lâu sau đó cũng không có một quyết định nào được thông qua. Hơn nữa, cuộc chiến khởi đầu được coi như là một xung đột cục bộ giữa hai nước chứ không phải là một phần của chiến lược chống bá quyền toàn cầu của Trung Quốc. Trong những năm đầu của thời kỳ hậu Mao, Bắc Kinh áp dụng chính sách lãnh đạo thừa kế. Chính sách lãnh đạo thừa kế này liên quan đến việc gia hạn năm công tác với chức năng tư vấn không chính thức cho các lãnh tụ cao cấp và các cấp thấp hơn như các viên chức chính phủ và sĩ quan quân đội để họ đảm nhận các vấn đề trước khi có quyết định cuối cùng.

Châu Đức Lễ (Zhou Deli), tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu, kể lại rằng vào tháng Chín năm 1978 đã có một cuộc họp được tổ chức trong bộ tổng tham mưu QGPND bàn về vấn đề “làm sao đối phó với nạn xâm chiếm lãnh thổ của quân đội Việt Nam”. Mối quan tâm ban đầu là vấn đề xung đột biên giới. Vấn đề này lúc đó đã được coi như nguyên nhân chính dẫn đến căng thẳng ngày càng gia tăng giữa hai nước từ năm 1976.  

Một đề xuất sơ bộ đề nghị tiến hành một chiến dịch quy mô nhỏ nhằm vào một trung đoàn bộ đội địa phương thuộc huyện Trùng Khánh của Việt Nam nằm sát đường biên giới với tỉnh Quảng Tây. Tuy nhiên, sau khi một báo cáo của tình báo cho biết cuộc xâm lăng Campuchia của Việt Nam sắp xảy ra thì đa số người tham gia đều đồng ý rằng bất kỳ một hành động quân sự nào được tiến hành cũng đều phải gây được ảnh hưởng đáng kể với Hà Nội và tình hình ở Đông Nam Á. Mọi người đều khuyến cáo phải tiến công vào các đơn vị quân đội chính quy của Việt Nam trên một địa hình rộng lớn. Mặc dầu cuộc họp kết thúc mà không đưa ra bất cứ quyết định cụ thể nào nhưng nó đã cho thấy hình hài của một kế hoạch chiến tranh có thể xảy ra của Trung Quốc nhằm vào Hà Nội và có thể nó là những bằng chứng đầu tiên có liên quan đến những hoạt động quân sự của Trung Quốc trên biên giới phía bắc của Việt Nam nhằm tạo áp lực lên thái độ được coi là hiếu chiến của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á.

Tuy nhiên, một chiến dịch quân sự quy mô lớn có thể làm xấu đi hình ảnh của Trung Quốc trên trường quốc tế trong khu vực lẫn thế giới. Họ Đặng đã lập kế hoạch thăm chính thức Thái Lan, Mã Lai và Sinh-ga-po vào đầu tháng 11 năm 1978 nhằm dò xét và tìm sự hậu thuẫn của các nước này đối với chính sách của Trung Quốc lên Việt Nam. Trong chuyến thăm viếng, Đặng đã thuyết phục các nước chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực chống lại sự xâm lược của Việt Nam nếu nước này tấn công Campuchia. Trong nước, các phương tiện truyền thông đều đăng xã luận và bình luận về việc trừng phạt sự xâm lăng của Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc và cảnh báo về một sự trả đũa có thể xảy ra.

Ngày 23 tháng 11 năm 1978, Bộ Tổng Tham Mưu Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp khác. Tại đây một kịch bản mới về chiến tranh đã được bàn bạc kỹ lưỡng. Sau khi cân nhắc các khuyến cáo trước đó, Bộ Tổng Tham Mưu đã quyết định mở rộng quy mô và thời gian của chiến dịch. Các kế hoạch đã nhằm vào các vị trí quân sự chính của Việt Nam và các thành phố bên kia biên giới của Vân Nam và Quảng Tây như các mục tiêu cần tấn công, ngăn chặn nhằm làm nhụt ý chí xâm lược của Việt Nam. Có một số ý kiến cho rằng các chiến dịch như thế không đủ rộng lớn vì mới chỉ đến các vùng hẻo lánh và không đủ sức răn đe tức thời Hà Nội. Tuy nhiên cuối cùng không có sự phản đối vì họ cho rằng ban lãnh đạo Trung ương đã cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề. Cuộc họp chỉ định hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh sẽ thực hiện chiến dịch này. Ngoài ra cuộc họp cũng khuyến cáo về việc chuyển giao một lực lượng dự bị chiến lược QGPND bao gồm 4 quân đoàn và 1 sư đoàn lấy từ quân khu Vũ Hán và Thành Đô để củng cố cho mặt trận Quảng Tây và Vân Nam.

 Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp, kéo dài khoảng 4 đến 5 giờ và quyết định phát động một cuộc chiến tranh hạn chế trên tuyến biên giới phía nam Trung Quốc để “giáng trả” Việt Nam. Ngày kế tiếp là việc chỉ thị cho hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch quân sự này với các đơn vị đã sẵn sàng chiến đấu từ ngày 10 tháng Giêng năm 1979. Chỉ thị này nêu rõ cuộc chiến tranh được hạn chế nghiêm ngặt trong vòng bán kính 50km từ đường biên giới và kéo dài trong 2 tuần. Binh pháp truyền thống của QGPND đã được nhấn mạnh đó là việc dùng hai đội quân nhằm “Tập trung biển người để bao vây quân địch từ hai bên sườn nhằm tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng những trận đánh hủy diệt theo phương thức đánh nhanh rút gọn”. Tuy thời điểm cho mệnh lệnh này được hiểu là Trung Quốc phản ứng lại với sự xâm lăng Campuchia sắp xảy ra của Việt Nam, nhưng bằng cách dựng lên một chiến dịch quân sự lớn thậm chí trước khi quân đội Việt Nam vượt sông Mê-kông cũng đã thể hiện sự giận dữ từ nhiều năm do thái độ vô ơn của Việt Nam gây nên.


Tiêu đề: Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:39:26 pm
Đặng Tiểu Bình ra quyết định

Mặc dầu cỗ máy chiến tranh của Trung Quốc đã được khởi động từ đầu tháng 12 năm 1978, nhưng ngày tấn công chính xác vẫn chưa được ấn định. Những nghiên cứu ban đầu đã suy diễn rằng quyết định tấn công của Bắc Kinh đã xuất hiện từ Hội Nghị Công Tác Trung Ương vào khoảng 10 tháng 11 đến 15 tháng 12 năm 1978. Thực tế, cuộc họp này đã kêu gọi xem xét một nghị trình cải cách kinh tế trong vòng 10 năm, chấm dứt việc đề cập đến những di sản của Cách Mạng Văn Hóa. Đến nay vẫn chưa được biết là đã có cuộc thảo luận quan trọng về tình hình Đông Dương hay không. Tuy thế, cuộc họp đã củng cố vị trí của họ Đặng trong ban lãnh đạo, cho phép ông ta, dù chỉ là một trong năm phó chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nhưng kiêm chức Tổng tham mưu trưởng quân đội, trở thành người ra quyết định về vấn đề Việt Nam.

Trong cuộc họp Quân ủy Trung ương vào trước đầu năm Dương lịch, họ Đặng đã chính thức đề xuất một cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam. Tất cả những người tham gia cuộc họp bao gồm cả chủ tịch ĐCSTQ Hoa Quốc Phong, theo như báo chí đã đưa tin, cũng ủng hộ đề xuất này. Cũng tại cuộc họp này Đặng đã chỉ định Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou) làm chỉ huy chiến dịch ở đông Quảng Tây và Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), tư lệnh quân khu Vũ Hán, chỉ huy ở miền tây Vân Nam, không dùng Vương Tất Thành (Wang Bicheng), tư lệnh quân khu Côn Minh. Để đáp ứng với việc thay đổi các cấp chỉ huy chiến trường, Đặng đã cử hai phó tổng tham mưu trưởng của ông ta đến Côn Minh để giám sát việc chuyển giao quyền lực và chuẩn bị chiến tranh. Không có một bộ tư lệnh trung tâm, hai quân khu sẽ tiến hành chiến đấu một cách độc lập không có phối hợp hoặc hiệp đồng. Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc tấn công phải được tiến hành chớp nhoáng và tất cả các đơn vị phải rút về sau khi đạt được mục tiêu của chiến dịch.

Các tài liệu hiện nay đều đưa ra giả thiết là có một vài lãnh tụ Trung Quốc đã phản đối việc tấn công Việt Nam, nhưng các tài liệu đó đã không thống nhất được là những lãnh tụ nào đã phản đối và phản đối theo hình thức nào. Khi Đặng đã là kiến trúc sư trưởng của kịch bản thì khó có ai dám thách thức được quyết định của ông ta, một con người đầy uy tín cũng như thâm niên trong đảng. Kiểm soát được Bộ Tổng Tham Mưu Đặng đã có được các phương tiện thuận lợi nhất để thúc cỗ máy chiến tranh của Trung Quốc vận hành trước khi ban lãnh đạo Trung ương đưa ra một quyết định chính thức. Hành động giống như Mao, Đặng đã tham khảo ý kiến của các đồng sự tin cậy trong chỗ riêng tư trước khi ra quyết định và sau đó chỉ thực hiện quyết định khi đã có sự tán thành của Bộ Chính Trị. Một trong những đồng sự gần gũi nhất của Đặng là Trần Vân (Chen Yun), một phó chủ tịch khác của ĐCSTQ và cán bộ trung kiên của đảng, đã có những đóng góp quan trọng cho quyết định tấn công Việt Nam.

Có một số quan tâm hàng đầu trong Bộ Chính Trị: liệu Liên Xô có phản ứng bằng cách tấn công từ phía bắc khiến quân đội Trung Quốc phải chiến đấu trên hai mặt trận; liệu Liên Xô có nhân cơ hội để trục lợi từ tình hình chăng? Thế giới sẽ phản ứng lại thế nào? Và liệu chiến tranh với Việt Nam có làm trở ngại đến nghị trình mới của Trung Quốc là hiện đại hóa nền kinh tế? Mối lo lớn nhất là phản ứng của Liên Xô. Theo các phân tích tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu, Matx-cơ-va có thể sẽ tung ra 3 chiến dịch quân sự nhằm đáp trả cuộc xâm lăng của Trung Quốc và Việt Nam: một cuộc đột kích quân sự lớn bao gồm cả tấn công trực diện vào thủ đô Bắc Kinh; xúi giục các phần tử dân tộc thiểu số có vũ trang đang lưu vong ở Liên Xô quay về tấn công vào các tiền đồn Trung Quốc ở Tân Cương (Xinjiang) và Nội Mông (Inner Mongolia); hoặc sử dụng các cuộc giao tranh nhỏ gây ra sự căng thẳng biên giới giữa hai nước. Tuy nhiên, khi mà Liên Xô chưa có lực lượng đầy đủ để tiến hành bất cứ các hoạt động quân sự lớn nào chống lại Trung Quốc một cách ngay lập tức thì các lãnh tụ đảng, đặc biệt là Đặng, đã tin rằng một cuộc chiến tranh vào Việt Nam chớp nhoáng, có giới hạn, và mang tính tự vệ sẽ không kích thích đủ sự can thiệp của Matx-cơ-va hay một làn sóng phản đối quốc tế nào. Hai cuộc xung đột biên giới trước đó với Ấn Độ (1962) và Liên Xô (1969) đã minh chứng cho lập luận này. Ý định về một cuộc chiến tranh nhanh gọn cũng đã thuyết phục được một số phản đối trong nội bộ và biện hộ cho sự lựa chọn chính sách của Bắc Kinh. Tuy nhiên các lãnh tụ Trung Quốc cũng không dám lơ là cảnh giác bằng cách đồng thời ra lệnh cho các đơn vị quân đội ở các quân khu miền bắc và tây bắc luôn ở vào tư thế sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp Liên Xô tấn công.

Cuộc họp vào ngày lễ Giáng Sinh đã quyết định hoãn lại thời điểm tấn công Việt Nam. Các nhà phân tích phương Tây đã cho rằng lý do Bắc Kinh vẫn còn đắn đo là vì lo sợ phản ứng quốc tế. Chuyến công du nằm trong kế hoạch của Đặng đến Mỹ và Nhật đã được thu xếp để “thăm dò phản ứng dư luận”. Tuy nhiên những đồng sự thân cận của Đặng đã cho rằng ngay cả những sự chống đối của quốc tế, nếu có, cũng không ngăn cản được ông ta vì Đặng chưa bao giờ nhân nhượng bất cứ điều gì một khi ông ta đã quyết. Các lãnh tụ Trung Quốc cũng rất lo lắng vì không biết lực lượng của họ có đủ thời gian để chuẩn bị đầy đủ cho cuộc chiến tranh hay không. Binh lính Trung Quốc chưa tham gia vào bất cứ cuộc chiến tranh lâu dài nào, trong khi nhiều người trong quân đội không thể hiểu được vì sao cuộc chiến sắp xảy ra lại nhằm vào một đồng minh truyền thống và là một quốc gia láng giềng nhỏ bé. Không lâu sau cuộc họp lễ Giáng Sinh, Đặng đã cử Dương Dũng (Yang Yong), tổng tham mưu phó, và Trương Chấn (Zhang Zhen), chủ nhiệm tổng cục hậu cần lần lượt đến Vân Nam và Quảng Tây để thị sát điều kiện chiến đấu của bộ đội. Lo sợ binh lính chưa sẵn sàng chiến đấu, Trương đã lập tức đề nghị hoãn cuộc chiến lại một tháng. Sau này ông ta có kể lại rằng Quân ủy Trung ương đã đồng ý để lùi thời gian tấn công lại đến giữa tháng Hai. Dương đã làm một báo cáo trong đó có những đề xuất về kế hoạch cho chiến tranh, để trình bày ngày 22 tháng Giêng tại tư gia của họ Đặng trước sự hiện diện của các lãnh tụ chủ chốt của Quân ủy Trung ương. Có thể trong cuộc họp này các lãnh tụ Trung Quốc đã tái khẳng định quyết định tấn công của họ và định ra một khung thời gian cho “ngày N”. Ngày tiếp theo, Bộ Tổng Tham Mưu lại tổ chức một cuộc họp khác, tại đây kế hoạch chiến tranh được thông qua lần cuối và quân đội được lệnh sẵn sàng khởi sự vào ngày 12 tháng Hai. Để đề phòng tình hình có thể vượt ngoài tầm kiểm soát, ban lãnh đạo Trung ương đã yêu cầu Hứa Thế Hữu phải dừng ngay các chiến dịch quân sự và rút lui ngay khi quân đội của ông ta chiếm được Lạng Sơn và Cao Bằng là hai thành phố chính của Việt Nam nằm gần biên giới.

Ngày 11 tháng Hai 1979, hai ngày sau khi Đặng trở về Bắc Kinh từ chuyến đi Mỹ và Nhật, cuộc họp Bộ Chính Trị mở rộng đã được triệu tập. Đặng trình bày rõ ràng lý do căn bản để đánh Việt Nam, và sau đó mệnh lệnh phát động cuộc tấn công Việt Nam vào ngày 17 tháng Hai năm 1979 đã được gửi tới các tư lệnh quân khu Quảng Tây và Vân Nam. Đây là ngày họp mà các thành phần không phải chủ chốt được tham dự lâu trong đó một số lý lẽ được đưa đẩy rằng thời điểm tấn công có thể liên quan mật thiết đến yếu tố thời tiết: vào mùa mưa, thường từ tháng Tư trở đi, nó có thể bất lợi cho việc tiến hành các chiến dịch quân sự, hoặc nếu tấn công sớm quá thì quân đội Liên Xô có thể dễ dàng vượt qua những con sông dọc biên giới Trung-Xô khi đó đang còn đóng băng. Đặng và các lãnh tụ khác đã tính toán một cách cẩn thận tất cả các khả năng có thể có một khi quân đội của họ đã vượt qua biên giới Việt Nam. Họ đã giới hạn phạm vi, thời gian, và không gian cho một cuộc chiến tranh đã được gắn cái tên là “cuộc phản công tự vệ” để cố gắng giảm thiểu những phản ứng tiêu cực từ trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, khi chiến tranh đã nổ ra, Đặng vẫn theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến xảy ra, vẫn ban hành những chỉ thị và mệnh lệnh đặc biệt (điều này khác hẳn với phong cách lãnh tụ của Mao).

Gerald Segal (tác giả cuốn Trung Hoa tự vệ-ND) cho rằng động cơ đầu tiên của Trung Quốc khi tấn công Việt Nam là nhằm ngăn chặn tham vọng và ý đồ xâm lăng Đông Nam Á cùng với mối đe dọa của Việt Nam đang nhằm vào an ninh của Trung Quốc, lật tẩy sự nhu nhược của Liên Xô. Nhưng tính toán chính trị sai lầm đã cho thấy rằng các lãnh tụ Trung Quốc đã đặt chính họ vào thế khó khăn khi xây dựng một chiến lược trừng phạt Việt Nam mà không bao giờ có cơ hội thành công. Ý đồ đã được tuyên bố của Trung Quốc là “dạy cho Việt Nam bài học” đã biến mục tiêu hàng đầu của cuộc chiến tranh thành một “hành động trả thù”. Từ đầu, Bắc Kinh đã giới hạn mục đích và chỉ đạo để cuộc chiến không vượt quá giới hạn của một cuộc xung đột biên giới tay đôi. Bộ chỉ huy quân sự ở Quảng Châu và Côn Minh được yêu cầu phải xây dựng các chiến lược tác chiến sao cho không chỉ hoàn thành mục tiêu là trừng phạt mà còn phải giới hạn chiến sự về thời gian lẫn không gian.

Câu hỏi thực tế cho những người lập kế hoạch quân sự Trung Quốc địa phương là đến chừng mực nào thì mục tiêu dạy cho Việt Nam bài học mới đạt được và đo lường được. Phương thức tác chiến thông thường của QGPND luôn luôn tạo nên một áp lực đặc biệt trong vấn đề tiêu diệt sinh lực địch (yousheng liliang). Một trong những truyền thống tác chiến của QGPND là chiến thuật biển người để đảm bảo thắng lợi. Khoảng giữa tháng Giêng 1979 hơn một phần tư quân đội thường trực của QGPND đã được đưa đến biên giới Trung-Việt, tổng cộng khoảng hơn 320.000. Theo kinh nghiệm chiến đấu của mình và dựa trên các bài bản chiến thuật của QGPND trong quá khứ, Hứa Thế Hữu đã trả lời những yêu cầu chiến tranh của ban lãnh đạo Trung ương bằng một chiến thuật gọi là niudao shaji (ngưu đao sát kê - dùng dao mổ trâu để cắt tiết con gà). Nguyên tắc chủ đạo khi giao chiến gồm ba điểm: tập trung tấn công vào vị trí quan trọng nhưng không phải điểm mạnh của quân địch; sử dụng lực lượng và hỏa lực áp đảo (tiền pháo hậu xung) để đập tan hàng phòng ngự của địch tại những những điểm mấu chốt; các đơn vị xung kích phải hết sức nhanh chóng thọc sâu và tấn công tất cả các con đường dẫn đến sào huyệt kẻ thù. Theo cách này Hứa tin rằng quân đội của ông ta có thể cắt nhỏ hệ thống phòng thủ của Việt Nam thành từng mảnh, đập tan mọi sự kháng cự, và sau đó tiêu diệt hết quân địch.

Theo tinh thần và chiến thuật đó, các quân khu Quảng Châu và Côn Minh đã xây dựng những kế hoạch tác chiến riêng của họ trong đó nhấn mạnh đến việc tiêu diệt các sư đoàn quân chính quy của Việt Nam dọc biên giới Trung-Việt. Chiến tranh có thể chia thành hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, hai mũi nhọn tấn công và Cao Bằng và Lào Cai nhằm bao vây và tiêu diệt các sư đoàn của quân đội Việt Nam tại đó đồng thời phát động các cuộc tấn công ở Đồng Đăng để ly gián Hà Nội về mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc. Sau đó lực lượng QGPND ở Quảng Tây sẽ tập trung tấn công vào Lạng Sơn trong khi các cánh quân bạn ở Vân Nam sẽ giao chiến với sư đoàn quân Việt Nam ở Sa Pa. Tổng cộng 8 quân đoàn QGPND sẽ đồng thời tham gia tác chiến, một quân đoàn được giữ lại làm lực lượng trừ bị.

Bắc Kinh cũng tính đến khả năng tham chiến của không quân. Không quân của QGPND sẽ cam kết dùng 18 trung đoàn và 6 phi đội tăng phái để chuẩn bị hỗ trợ cho các chiến dịch mặt đất. Để tránh leo thang xung đột, Quân ủy Trung ương ra lệnh không lực chỉ trợ chiến bên trong lãnh thổ Trung Quốc, trong khi đó lại ra lệnh các đơn vị không quân sẵn sàng yểm hộ cho các chiến dịch dưới đất “nếu cần”, mặc dầu không đưa ra định nghĩa chính thức tình hình thế nào và bao giờ được coi là “cần”. Mệnh lệnh đã quy định rằng bất cứ chiến dịch nào bên ngoài không phận Trung Quốc đều phải được phép của Quân ủy Trung ương. Dựa trên những nguyên tắc này, một chiến lược yêu cầu các đơn vị không quân sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ vùng trời và yểm trợ cho mặt đất. Khi chiến dịch dưới đất bắt đầu, cùng lúc không quân được lệnh xuất kích với tần suất cao trên không phận biên giới nhằm ngăn chặn không quân Việt Nam tham chiến. Nhân viên kiểm soát và điều hành hàng không cũng như các nhóm chỉ huy tác chiến đã được cử đến sở chỉ huy tiền phương của hai quân khu ở Quảng Châu và Côn Minh, các chỉ huy của các đơn vị không quân và một vài đơn vị phục vụ mặt đất cũng sẽ tham gia vào nhiệm vụ tấn công chính

Từ cuối tháng 12 năm 1978 đến hết tháng Giêng năm 1979 binh lính Trung Quốc bị cuốn hút vào các hoạt động huấn luyện chiến đấu và diễn tập. Vì trước đó hầu hết quân đội Trung Quốc chỉ tham gia vào sản xuất nông nghiệp trong một thời gian dài, những nỗ lực điên rồ vào giờ phút cận kề như vậy, dù là có ích, chắc chắn cũng không thể đủ được. Huấn luyện quân sự được tập trung nhiều vào những kỹ năng cơ bản của người lính như bắn, ném lựu đạn. Chỉ một vài đơn vị có khả năng tiến hành các cuộc huấn luyện có ý nghĩa về chiến thuật hoặc diễn tập cấp trung đoàn hoặc sư đoàn. Nhiều sĩ quan báo cáo rằng họ không thể đảm bảo các binh sĩ của họ có khả năng tác chiến. Việc các đơn vị bộ đội của QGPND chỉ được huấn luyện một cách sơ sài và không đầy đủ cho một cuộc chiến tranh hiện đại nhằm vào quân đội Việt Nam, những người đã có 25 năm kinh nghiệm chiến đấu trước khi có cuộc chiến tranh này dường như không được giới lãnh đạo Trung Quốc quan tâm.

Mặc dầu nhu cầu huấn luyện là cấp bách, nhưng QGPND vẫn tiếp tục với truyền thống quân sự của mình là sử dụng học thuyết chính trị để nâng cao tinh thần và để cải thiện hiệu năng chiến đấu. Cỗ máy tuyên truyền đã được thiết lập để thuyết phục binh lính rằng quyết định của ban lãnh đạo Trung ương là cần thiết và đúng đắn. Việt Nam đã thay đổi một cách xấu xa trở thành “Cuba ở phương đông”, tên “côn đồ ở châu Á” và “chó săn của Liên Xô”, đang cố theo đuổi tham vọng bành trướng. Chủ thuyết chính trị của Mác, mặc dầu được cả hai nước suy tụng cũng không ngăn cản được việc Trung Quốc phát động một cuộc “chiến tranh tự vệ” chống lại quốc gia làng giềng nhỏ bé một khi quyền lợi dân tộc tối cao bị đe dọa. Các bài giảng, các cuộc họp quy tội Việt Nam với các bằng chứng, hiện vật, cũng như tranh ảnh được trưng bày nhằm gia tăng chủ nghĩa yêu nước và lòng căm thù kẻ địch. Ít nhất người ta cũng đã đưa ra một cách giải thích nghe có vẻ có lý cho những người lính bình thường, ít học về lý do tại sao lại cần phát động cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam, một đất nước từ lâu đã là anh em, đồng chí.


Tiêu đề: Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:42:10 pm
Chiến dịch quân sự
(http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai18/TruongTieuMinh.jpg)
Cuộc tấn công được gọi là tự vệ của QGPND được tiến hành trong 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu từ 17 đến 25 tháng Hai. Trong thời gian đó quân đội Trung Quốc theo dự tính sẽ đập tan tuyến phòng ngự đầu tiên của Việt Nam và đánh chiếm các thị xã Cao Bằng và Lào Cai, các thị trấn biên giới quan trọng là Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ ra vào Lạng Sơn. Giai đoạn hai từ 26 tháng Hai đến 5 tháng Ba là chiến dịch đánh Lạng Sơn và các vùng phụ cận phía tây, vùng Tây Bắc Sa Pa, và Phong Thổ. Giai đoạn cuối là nỗ lực bổ sung để dẹp yên các lực lượng địch còn sót lại trong quá trình phá hủy hệ thống quân sự tại khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi hoàn thành việc rút quân vào ngày 16 tháng Ba. Các chiến dịch quân sự đã được thực hiện bên trong lãnh thổ Việt Nam dọc theo biên giới kéo dài đến 900 km từ đông sang tây. Trong 30 ngày, quân Trung Quốc đã tiến hành những trận đánh đẫm máu nhất kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Cuộc tấn công của Trung Quốc đã khiến Hà Nội bất ngờ. Tình báo Việt Nam dường như thất bại trong việc giúp ban lãnh đạo Hà Nội chuẩn bị trước cho cuộc xâm lược của Trung Quốc. Mặc dầu màn giễu võ dương oai (saber-rattling) của Bắc Kinh đã có từ trước đó vài tháng, nhưng lãnh đạo Việt Nam cũng không thể tin nổi “một nước Xã hội Chủ nghĩa anh em” lại có thể đi xâm lược mình. Khi một số lượng lớn quân Trung Quốc đã vượt qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Văn Tiến Dũng còn đang ở Phnom Pênh. Mức độ dàn trải của chiến dịch của QGPND cũng đã đánh lừa được Bộ Tư Lệnh tối cao của quân đội Việt Nam trong việc nhận dạng các mũi nhọn và mục tiêu thực của cuộc tấn công. Trong lúc yêu cầu cấp bách Matx-cơ-va thực thi nghĩa vụ theo hiệp ước hữu nghị và hợp tác mới ký giữa hai nước, phản ứng tức thời của Hà Nội là “để đáp trả ngay lập tức, sử dụng bất cứ sự kháng cự nào nhằm làm giảm ưu thế của quân Trung Quốc” Các trận đánh quan trọng đã xảy ra xung quanh các thị trấn biên giới như Sóc Giàng, Đồng Hệ, Đồng Đăng, Cao Bằng, Lào Cai và Cam Đường, qua việc tranh giành từng ngọn đồi từng căn hầm. Cả hai bên đều thể hiện ý chí quyết liệt tiến công và phản công mặc cho thương vong nặng nề. Vào ngày 20 tháng Hai, cố vấn Liên Xô đã kết luận rằng lực lượng phòng thủ dân quân tự vệ của Việt Nam sẽ không thể ngăn chặn được bước tiến của quân Trung Quốc. Đã có một khuyến cáo thiết lập cầu hàng không để chuyên chở ngay lập tức 30 000 quân từ Campuchia về để tăng cường cho tuyến phòng thủ Lạng Sơn và Hà Nội. Theo tài liệu của Xô Viết các cố vấn của họ đã có những nỗ lực phi thường để tìm và thuyết phục các lãnh tụ Việt Nam có những biện pháp đối phó cấp bách với tình hình. Không hiểu mục tiêu chiến tranh của Bắc Kinh, Hà Nội đã có những phản ứng hết sức chậm chạp đối với những diễn biến nhanh chóng trên chiến trường.

Mặc dầu QGPND đã chọc thủng phòng tuyến ngay từ đầu nhưng địa hình, đặc biệt là thiếu đường sá, cộng với sự kháng cự quyết liệt của quân chính quy, các đơn vị biên phòng, bộ đội địa phương Việt Nam nên quân Trung Quốc đã bị rơi vào thế bị động. Chính tình trạng này đã bộc lộ những điểm yếu và thiếu khả năng của quân Trung Quốc trong chỉ huy tác chiến, liên lạc và hậu cần bắt nguồn từ truyền thống binh pháp của QGPND. Trong một vài trường hợp, các chỉ huy mặt trận Trung Quốc đã thúc giục sự yểm trợ của không quân khi các giao tranh dưới mặt đất gặp sự kháng cự quyết liệt của quân đội Việt Nam. Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã không cho phép, thay vào đó là mệnh lệnh cho hải dựa vào sự hỗ trợ hỏa lực của pháo binh. QGPND cùng với những tướng lĩnh của nó được sinh trong một thể chế truyền thống, chỉ quen với tiền pháo hậu xung và biển người. Khẩu hiệu “Tinh thần của lưỡi lê” (The spirit of the bayonet) lại tiếp tục được đề cao. Kết quả cho thấy cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979 là một cuộc chiến tranh đẫm máu và tàn bạo.

Thành công của cuộc chiến tranh trừng phạt của QGPND phụ thuộc vào các chiến thuật xâm nhập, tấn công sườn và bao vây Cao Bằng. Tuy nhiên, hai sư đoàn đột kích thọc sâu đã không hoàn thành được dự định trong vòng 24 giờ. Địa hình núi non, với những cánh rừng rậm rạp lại không có đường và bị bộ đội địa phương và dân quân du kích Việt Nam phục kích đã khiến cho quân Trung Quốc gặp khó khăn không ngờ. Vì sự chậm trễ này mà Hứa Thế Hữu đã quyết định quay lại lập tức tấn công Cao Bằng, mặc dầu một quân đoàn của phó tư lệnh Ngô Trung (Wu Zhong) đã áp sát thành phố từ phía đông và phía nam. Tuy nhiên, do một cuộc điều tra về lý lịch chính trị trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa đang tiến hành, Vũ đã bị cách chức chỉ huy vào khoảng thời gian giữa chiến dịch. Qua đường dây nói, ngày 20 tháng 2, 1979, Hứa đã khẳng định lại việc bổ nhiệm trước đó rằng chiến dịch vẫn sẽ tiếp tục dưới sự chỉ huy của một cấp phó khác của ông thay vì dưới quyền chỉ huy của họ Ngô, thậm chí sau đó và quân đoàn ông ta vẫn chiến đấu theo đường của họ để tới Cao Bằng từ phía bắc. Ba ngày sau khi đến nơi, Hứa và các sĩ quan tham mưu của ông ta vẫn không nhận ra rằng chỉ có một số rất ít bộ đội Việt Nam đã chiến đấu để bảo vệ để cơ quan đầu não và chính quyền tỉnh rút lui. Sau đó ông đã ra lệnh tấn công vào thành phố. Chỉ sau vài giờ chiến đấu, quân Trung Quốc đã chiếm được thành phố.

Việc chậm trễ tiếp quản Cao Bằng đã làm đảo lộn kế hoạch ban đầu của QGPND. Kế hoạch này được thiết kế nhằm tìm kiếm những trận giao chiến nhanh chóng và quyết định. Quân đội Việt Nam phân tán thành những toán nhỏ và các đơn vị cỡ trung đội, ẩn trên núi non, rừng rậm và hang động, và tiếp tục phát động các cuộc phản công. Sự kháng cự không hề nao núng của bộ đội và dân quân Việt Nam buộc Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật hoạt động của họ bằng cách chia quân thành những đơn vị cỡ tiểu đoàn để tham gia vào các hoạt động tìm kiếm và tiêu diệt tại Cao Bằng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh và các khu vực Quảng Hòa. Các chiến thuật mới bao gồm khóa đường, lùng sục các ngọn đồi, tìm kiếm những hang động, săm soi mặt đất và cho nổ các hầm hào. Giao chiến dữ dội liên tục khiến hàng trăm chiến sĩ Việt Nam và dân thường bị giết. Cho đến ngày 06 Tháng Ba, theo các tài liệu tiếng Việt thu được đã cho thấy, thì dường như sư đoàn QĐND Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ Cao Bằng vẫn chưa bị tiêu diệt. Không tính đến việc chưa hoàn toàn kiểm soát được Cao Bằng, những tổn thất nặng nề của QGPND trong giai đoạn đầu đã cho thấy rằng chiến dịch gặt hái rất ít thành công.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo lắng về tiến triển của cuộc chiến nên hối thúc tư lệnh chiến trường ở Quảng Tây khởi sự càng nhanh càng tốt trận đánh quyết định vào Lạng Sơn, một cửa ngõ làm lá chắn cho Hà Nội từ phía bắc. Dường như không hài lòng với những gì đã xảy ra tại Cao Bằng, họ Hứa đã tổ chức lại kế hoạch tác chiến và kêu gọi binh lính tăng thêm sức chiến đấu trong trận đánh Lạng Sơn. Sáu sư đoàn quân Trung Quốc tham gia vào trận đánh quyết định này, bắt đầu vào ngày 27 tháng hai, được mở màn bằng một trận pháo kích dữ dội. Sau các trận chiến ác liệt, quân Trung Quốc lần đầu tiên kiểm soát chắc chắn được các điểm cao xung quanh và sau đó đánh chiếm phần phía bắc của thành phố vào ngày 02 Tháng Ba, ngày mà theo lịch trình sẽ ngưng các hoạt động quân sự. Do bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại của họ ở Lạng Sơn, Hứa đã quyết định tiếp tục đánh, thúc quân của ông ta vượt sông Kỳ Cùng, là ranh giới phân chia thành phố Lạng Sơn thành các huyện phía Bắc và phía Nam, để đánh chiếm toàn bộ thành phố, và sau đó phát triển xa về phía nam để đe dọa Hà Nội. Mặc dù quyết định của Hứa đã được Bắc Kinh thông qua, nhưng nó đã bị hủy bỏ vào ngày 05 tháng 3, ngay sau khi quân đội Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn, với lý do được tuyên bố là họ đã đạt được các mục tiêu chiến tranh ban đầu.


Tiêu đề: Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:42:59 pm
Đánh giá cuộc chiến tranh của Trung Quốc với Việt Nam

Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 là một hoạt động quân sự lớn nhất mà QGPND đã đề xướng kể từ sau chiến tranh Triều Tiên. Dựa trên chiến lược của Mao là “trong mỗi trận đánh, tập trung một lực lượng tuyệt đối vượt trội so với kẻ thù”, Bắc Kinh đã triển khai chín quân đoàn chính quy cùng với các đơn vị đặc biệt và địa phương, tạo nên một đội quân hơn 300.000, tiến hành cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam trong một tháng. Các đơn vị không quân chiến đấu đã xuất kích 8.500 phi vụ tuần tra vùng trời, trong khi đó các đơn vị vận tải và trực thăng đã xuất kích 228 lần làm nhiệm vụ không vận; Hải quân cử một lực lượng đặc nhiệm (bao gồm hai tàu khu trục tên lửa và ba hải đội tàu trang bị tên lửa và ngư lôi tấn công nhanh) ra đảo Hoàng Sa (Xisha) nhằm đối phó với sự can thiệp của hải quân Liên Xô nếu có. Ngoài ra, Các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam còn huy động hàng chục ngàn dân quân và dân công để hỗ trợ các chiến dịch quân sự. Trong thời gian chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm ba thị xã của Việt Nam và hơn một chục thành phố nhỏ và thị trấn dọc biên giới, họ tuyên bố đã giết và làm bị thương 57.000 bộ đội Việt Nam, đánh thiệt hại nặng bốn sư đoàn quân chính quy và mười trung đoàn trực thuộc khác, cùng với việc chiếm một lượng lớn vũ khí. Bắc Kinh khẳng định rằng cuộc chiến chống Việt Nam 1979 đã kết thúc với thắng lợi thuộc về Trung Quốc.

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu ngày nay đều thừa nhận rằng quân Việt Nam “đã trên tay” quân Trung Quốc trên chiến trường vì khả năng tác chiến yếu kém của QGPND và thương vong quá nặng như đã được báo cáo chính thức. Hà Nội cho rằng chỉ có dân quân và các lực lượng địa phương đã tham gia vào cuộc xung đột, và không áp dụng một chiến thuật phòng thủ nào nhưng đã tấn công liên tục chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Họ chỉ chịu mất Lạng Sơn và một số thành phố khác sau khi đã gây thương vong và thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc. Đài Hà Nội vào thời gian đó đã thông báo rằng Việt Nam đã tiêu diệt và làm bị thương 42.000 quân Trung Quốc. Chỉ có một vài tài liệu chính thức của Việt Nam có giá trị cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về hiệu suất chiến đấu và thất bại của họ trong cuộc xung đột, trong khi đó các thông tin được đăng tải bởi các cá nhân trên mạng khi nói về con số tham gia thực tế và thương vong nặng nề của quân chính quy Việt Nam thì trái ngược hoàn toàn. Mặc dù đánh giá lại cuộc chiến Việt Trung năm 1979 mà chỉ dựa trên nguồn thông tin từ Trung Quốc là phiến diện nhưng dầu sao điều này cũng có thể soi sáng một số vấn đề.

Một phương pháp đánh giá cái được cái mất của Trung Quốc là tập trung vào thương vong. Lúc đầu Bắc Kinh thừa nhận là có 20.000 binh sĩ Trung Quốc bị chết hoặc bị thương trong cuộc xung đột biên giới với Việt Nam. Một xu hướng mang tính học thuật hiện nay nghiêng về con số ước tính khoảng 25.000 QGPND thiệt mạng trong khi làm nhiệm vụ và 37.000 người khác bị thương. Gần đây có nguồn từ Trung Quốc đã phân loại thiệt hại của QGPND là 6.900 người chết và 15.000 người bị thương, tổng cộng thương vong là 21.900 thương vong trong một cuộc chiến với hơn 300.000 lính tham chiến. Trong bất cứ trường hợp nào thì thương vong của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh ngắn như vậy là quá cao, điều đó cho thấy một trong những đặc tính cố hữu trong chiến thuật và chiến dịch của QGPND là: sẵn sàng thí quân cho chiến thắng. Lãnh đạo Trung Quốc xem xét thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng khi đánh giá thành công trong quân sự miễn sao họ tin rằng tình hình chiến lược tổng thể nằm trong tầm kiểm soát của họ.

Theo quan điểm của Trung Quốc, cuộc chiến 1979 với Việt Nam là một biện pháp quân sự có tính toán nhằm trả đũa chính sách thù nghịch với Trung Quốc và sự bành trướng của Việt Nam tại Đông Nam Á cũng như tham vọng toàn cầu của Liên Xô. Mặc dù chiến dịch này bộc lộ nhiều điểm yếu của QGPND trong học thuyết quân sự hiện đại và chiến thuật, từ khởi đầu đến kết thúc, nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng nắm giữ thế chủ động và nhịp độ của cuộc xung đột. Bắc Kinh đã gây bất ngờ cho Hà Nội không chỉ vì quy mô của chiến dịch, mà còn ở việc rút lui nhanh chóng và không bị sa lầy ở Việt Nam. Trung Quốc cũng đã thành công trong việc tiên liệu đúng phản ứng của Liên Xô qua việc bất lực và thiếu thiện chí đối với Việt Nam. Sự trông cậy vào Liên Xô trong hiệp ước hữu nghị về an ninh rõ ràng là một bài học chua xót cho Việt Nam. Điều quan trọng hơn cả cuộc chiến Việt-Trung 1979 là khởi đầu cho một chính sách của Bắc Kinh làm “chảy máu” Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của Hà Nội ra Đông Nam Á. Việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia sau cuộc tấn công của Trung Quốc là điều lãnh đạo của Trung Quốc mong mỏi nhưng họ không tiên liệu được rằng cuộc triệt thoái đã không diễn ra ngay lập tức mặc cho Trung Quốc tấn công Việt Nam ở phía bắc. Sau này Trung Quốc vẫn thi hành một lựa chọn chiến lược là duy trì áp lực quân sự lên Việt Nam kể cả sự đe dọa liên tục bằng lời nói về một cuộc tấn công thứ hai, và đôi khi tăng cường pháo binh bắn phá và những trận đánh lớn ở biên giới trong hầu hết thập kỷ 1980. Một nghiên cứu đầu thập niên 1990 đã kết luận: “Cuộc chiến tranh đã đạt được thành công nhất định khi nó được xem như một chiến thuật trong chiến lược chiến tranh tiêu hao kéo dài của Trung Quốc”.

Tương tự như thế, cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979 đã không để lại hậu quả đáng kể cho Trung Quốc trên trường quốc tế mặc dù việc sử dụng vũ lực quân sự chống lại Việt Nam cũng đã dấy lên những nghi ngờ của Indonesia và Malaysia, những nước luôn cảnh giác với ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Sự chiếm đóng của Việt Nam ở Campuchia đã đe dọa Thái Lan, khiến làn sóng chống đối Việt Nam của các nước ASEAN tiếp tục gia tăng. Về mối quan hệ Trung-Mỹ, cuộc xâm lược trừng phạt Việt Nam của Trung Quốc thể hiện thành công phần nào khi khi Washington vừa công khai lên án cả cuộc xâm lược của Việt Nam vào Campuchia và cả cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam lại vừa chia sẻ mối quan tâm của Trung Quốc trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam Á. Ý chí sẵn sàng sử dụng vũ lực của Bắc Kinh, bất chấp gánh chịu thương vong, đã biến Trung Quốc thành “một bức tường ngăn chặn có giá trị” chủ nghĩa bành trướng Xô-Việt; Washington vào thời điểm đó đã tiếp tục tìm kiếm một mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc để cân bằng cán cân với Liên Xô.

Giới lãnh đạo Việt Nam dường như không bao giờ hiểu hết các động thái chiến lược và mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc, nhưng lại khăng khăng quan điểm cho rằng cuộc xâm lược năm 1979 đã trở thành màn mở đầu của một kế hoạch xâm lược dài hạn của Bắc Kinh vào chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam. Sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân ngày 5 tháng 3, Hà Nội kêu gọi tổng động viên toàn quốc cho chiến tranh, thúc đẩy việc xây dựng các vị trí phòng thủ trong và xung quanh Hà Nội. Mặc dù đến cuối tháng 5, quân đội Trung Quốc đã trở lại trạng thái bình thường, Việt Nam vẫn tiếp tục đề phòng, duy trì số lượng lớn của quân đội dọc theo biên giới phía Bắc đối diện với Trung Quốc vào thời điểm mà nền kinh tế của Việt Nam đang “ở trong một tình trạng tồi tệ hơn lúc nào hết kể từ sau năm 1975”. Kết quả là, Hà Nội phải dồn hết nỗ lực cho hai cuộc chiến tranh cùng một lúc, một ở Campuchia và một ở biên giới phía Bắc, dẫn đến một chi phí rất lớn của xã hội và kinh tế quốc gia, thu hút mọi nỗ lực của Hà Nội cần có cho việc hiện đại hóa nền kinh tế, và, quan trọng hơn, làm giảm tham vọng về địa chính trị của họ. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Việt Nam không hề nhận ra tính chất nghiêm trọng của tình hình, tiếp tục phụ thuộc vào Liên bang Xô viết cho đến khi nó sụp đổ vào năm 1991. Nếu có bất kỳ bài học mà người Việt Nam cần rút ra từ cuộc chiến 1979 với Trung Quốc, thì đó là Việt Nam, như một vị tướng Việt Nam sau này đã nhận xét, “phải học cách sống chung với anh hàng xóm to lớn”.

Nhắc đến vấn đề tại sao Trung Quốc phải nóng lòng khi sử dụng một lực lượng đã được chuẩn bị sẵn để chống lại Việt Nam vào năm 1979, các phân tích ở đây cũng phù hợp với khẳng định của các nghiên cứu khác là mối lo ngại về tính toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Bắc Kinh, đủ để thúc đẩy QGPND không chỉ trong trách nhiệm bảo vệ mà còn phải tấn công nếu cần. Tranh chấp lãnh thổ và căng thẳng biên giới có vẻ như là yếu tố kích thích để thúc đẩy Bắc Kinh xem xét đến việc sử dụng vũ lực chống lại láng giềng phía nam của họ. Hơn thế nữa, cùng với sự cuồng phát của chủ nghĩa dân tộc đầy cảm tính đã hướng tới việc củng cố thêm tinh thần Đại Hán, theo đó cần phải có một sự trừng phạt nào đó với một đồng minh cũ đã dám phản bội và quay lưng lại với Trung Quốc. Tâm lý này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại một sự đồng thuận rộng rãi giữa các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của Trung Quốc để hỗ trợ Đặng, kẻ đóng vai trò trung tâm trong việc đưa ra các quyết định triển khai quân sự chống lại Việt Nam. Về các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, điều luôn luôn làm nảy sinh những phản ứng thái quá của người Trung Quốc, quan điểm quân sự dường như đã trở thành yếu tố kiên quyết trong các quyết định để khởi đầu cho mọi thù địch hiện nay. Hội nghị cán bộ tháng Chín năm 1978, từ việc cung cấp các khuyến cáo cho ban lãnh đạo trung ương để đối phó với tình hình quan hệ xấu đi giữa Trung Quốc và Việt Nam, đã là điểm khởi đầu cho một hoạt động quân sự lớn. Các phân tích quân sự về phản ứng có của Liên Xô cũng giúp làm sáng tỏ những lo ngại về rủi ro nếu có. Tuy nhiên, quân đội đã phải hy sinh chính họ cho tham vọng của ban lãnh đạo trung ương. Một khi quyết định đã được đưa ra để thực hiện cuộc xâm lăng trừng phạt Việt Nam, các tướng lĩnh đã hăm hở thực hiện nhiệm vụ của mình với sự thích thú triển khai tối đa lực lượng.


Tiêu đề: Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 01:48:43 pm
Những bài học được rút tỉa

Bất kể thành công về chiến lược của Trung Quốc như thế nào, một số vấn đề quan trọng vẫn cần được bàn lại. Ví dụ QGPND đã nhận thức thế nào về hiệu năng chiến đấu của họ ở Việt Nam, bài học nào đã rút ra từ chiến dịch, kinh nghiệm này đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của QGPND về tương lai của họ đến mức nào. Là một phần trong truyền thống của QGPND, tất cả các binh sĩ tham gia vào cuộc xung đột đã được lệnh phải viết tóm lược kinh nghiệm chiến đấu của họ. Nhìn lại cuộc chiến, bộ chỉ huy QGPND cũng thấy những mâu thuẫn nội tại. Trong khi tuyên bố rằng Trung Quốc đã giành chiến thắng, họ cũng phải thừa nhận cái giá quá cao mà QGPND đã phải trả. Trong quan điểm của bộ chỉ huy QGPND, ở một chừng mực nào đó cần có đánh giá phần nào khách quan về những yếu kém của QGPND. Tuy nhiên, họ lại e ngại khuynh hướng đánh giá quá cao khả năng và hiệu năng chiến đấu của quân đội Việt Nam. Cùng chiều hướng đó, nên niềm tự hào dân tộc và định kiến văn hóa của họ chắc chắn sẽ ngăn cản họ đưa ra những kết luận thẳng thắn về kinh nghiệm của QGPND trong chiến tranh. Những kinh nghiệm đó có thể được tổng hợp thành sáu chủ đề sau:

Một trong những châm ngôn truyền thống của QGPND là “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”. Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cho thấy QGPND quan tâm rất ít đến binh pháp và chiến thuật của QĐND Việt Nam trước khi họ tấn công Việt Nam. Kết quả là, quân đội Trung Quốc đánh giá thấp khả năng chiến đấu của các đối thủ của mình. Có thể từ chỗ lo sợ vì đã tung hô quá nhiều danh tiếng của quân đội Việt Nam, nên tài liệu quân đội QGPND đã kết luận rằng lực lượng chính quy của kẻ địch thiếu kiên trì trong tiến công và phòng ngự và có rất ít các chiến dịch hiệp đồng, nhưng lại thừa nhận rằng chiến thuật kiểu du kích, công binh và dân quân tự vệ của Việt Nam đã thành công đáng kinh ngạc trong việc kìm chân quân Trung Quốc giảm thế cân bằng khi họ lo tìm kiếm những trận đánh quyết định với quân chính quy của QĐND Việt Nam trong một cuộc chiến hạn chế. Một sĩ quan Mỹ khi tổng kết kinh nghiệm của người Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đã ghi nhận rằng không thể “để xâm nhập, vòng sườn, hoặc bao vây” vị trí cố thủ của quân đội Việt Nam “mà không bị thương vong rất nặng”. Chiến thuật của QGPND, thúc thật nhiều bộ binh tấn công xáp lá cà vào vị trí đối phương bất chấp tử vong cao, đã giải thích tại sao Trung Quốc dám khẳng định rằng quân đội Việt Nam không có khả năng trong phòng thủ bảo vệ vị trí của họ.

Những khó khăn bất ngờ trong tác chiến đã khiến người Trung Quốc rút ra bài học thứ hai từ cuộc xung đột liên quan đến tình báo và lập kế hoạch. Thiếu thốn thông tin từ lâu về một đồng minh truyền thống đã là một thách thức lớn cho việc lập kế hoạch chiến tranh và kế hoạch tác chiến của Trung Quốc. Các đánh giá về địa lý và địa hình của miền Bắc Việt Nam của QGPND thường dựa trên các bản đồ và thông tin địa lý đã lỗi thời, trong khi khả năng trinh sát chiến trường lại bị hạn chế. Một trong những sai lầm lớn của quân đội Trung Quốc là đánh giá sai số lượng lực lượng dân quân rất lớn trong dự đoán về sức mạnh quân sự Việt Nam. Kinh nghiệm của QGPND cho thấy, dân quân Việt thể hiện sức đề kháng không hề nao núng và thực hiện các cuộc tấn công bất ngờ hơn vào các quân xâm lược hơn cả bộ đội chính quy QĐND Việt Nam. Lúc đầu các nhà kế hoạch quân sự của QGPND tin rằng họ đã tập hợp được một lực lượng vũ trang vượt trội với tỷ lệ 8:1 để tấn công quân Việt Nam. Nhưng chỉ tính riêng tại khu vực Cao Bằng đã có 40.000 cho đến 50.000 dân quân khiến tỷ lệ lực lượng Trung Quốc chỉ còn hơn Việt Nam là 2:1. Trong suốt chiến dịch, QGPND không bao giờ cho thấy khả năng đè bẹp đối phương bằng mức vượt trội về quân số. Cuộc chiến tranh này còn cho thấy sự khó khăn như thế nào khi thực hiện các chiến dịch quân sự ở nước ngoài nếu dân chúng địa phương được huy động vào việc kháng cự.

Bài học thứ ba là về khả năng chiến đấu của QGPND vì đây là lần đầu tiên Trung Quốc áp dụng tác chiến phối hợp với nhiều binh chủng gồm xe tăng, đại bác, bộ binh cùng với một lực lượng không quân và hải quân yểm trợ. Lạc hậu trong binh pháp và chiến thuật khiến quân đội Trung Quốc không thể phối hợp một cách bài bản trong tác chiến. Trong khi đó ở Bắc Kinh, sự ràng buộc chính trị và tư duy quân sự lạc hậu đã bác bỏ phương án yểm trợ tác chiến của không quân. Các lực lượng mặt đất cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa bộ binh, xe tăng và các đơn vị pháo binh để có thể triển khai việc phối hợp tác chiến sao cho hiệu quả. Một ví dụ rõ ràng là bộ binh đã không bao giờ được huấn luyện kiến thức đầy đủ về phương án tấn công phối hợp với các đơn vị xe tăng. Lính bộ binh, những người bị buộc bằng dây thừng vào tháp pháo xe tăng để khỏi ngã khi hành quân đã bị mắc kẹt khi bị quân địch bắn hạ. Mặt khác, các đơn vị xe tăng thường phải chiến đấu không có bộ binh tháp tùng và thiếu liên lạc trực tiếp giữa hai bên nên đã phải chịu nhiều thiệt hại và tổn thất khôn lường. Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh 1979 đã dạy cho QGPND bài học giá trị về kỹ năng phối hợp tác chiến đa binh chủng.

Bài học thứ tư là về hiệu năng chỉ huy và điều khiển mà phần lớn bắt nguồn từ truyền thống và văn hóa của QGPND. Mối quan hệ cá nhân giữa sĩ quan chỉ huy và chiến sĩ, vốn đã được vun trồng trong quá khứ, vẫn tạo nhiều rắc rối trong hàng ngũ QGPND. Khi mà mối quan hệ giữa các cá nhân trở nên quan trọng hơn cả điều lệnh thì chẳng ngạc nhiên khi biết rằng các chỉ huy của Quân Khu Quảng Châu sau này thừa nhận rằng họ cảm thấy khó chịu khi chỉ huy quân sĩ được chuyển từ Quân khu Vũ Hán và Thành Đô đến trong thời gian phục vụ chiến dịch. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng nghe nhiều cấp dưới phàn nàn về phong cách chỉ huy của họ Hứa (Hứa Thế Hữu - ND) vì trước đó ông ta chưa từng chỉ huy họ. QGPND còn gặp khó khăn do nhiều sĩ quan chưa có kinh nghiệm trận mạc. Mặc dù nhiều sĩ quan có cấp bậc cao hơn và có thâm niên chiến đấu đã được cử đến để chỉ huy các đơn vị cấp thấp hơn để giúp đỡ chấp hành mệnh lệnh, nhưng khả năng tác chiến của QGPND vẫn thất bại vì các sĩ quan cấp thấp vẫn còn thiếu khả năng quyết đoán độc lập và phối hợp tác chiến trong những thời điểm quyết định. Tuy nhiên, cuộc chiến 1979 với Việt Nam đã khai sinh ra một thế hệ mới các cán bộ quân đội Trung Quốc có kinh nghiệm chiến trường, và nhiều người trong số họ hiện nay đang phục vụ tại các vị trí cao cấp của QGPND

QGPND thiếu một hệ thống và cơ cấu cung cấp hậu cần hiện đại, để hỗ trợ cho những chiến dịch quân sự đòi hỏi di chuyển nhanh và ở vùng xa xôi. Các số liệu thống kê cho thấy trung bình mỗi ngày tiêu thụ đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn cho mỗi loại. Hoạt động hậu cần là một lĩnh vực lớn để QGPND rút ra bài học. Vì không có đầy đủ dự trữ và phương tiện giao thông vận tải, khiến cả Quân khu Quảng Châu và Côn Minh đã phải đặt dưới cùng một hệ thống cung cấp, mà hệ thống đó chẳng bao giờ hoạt động thông suốt và hiệu quả. Một số lượng đáng kể các nguồn cung cấp bị mất hoặc là do quản lý kém hay bị Việt Nam phá hoại. Khi lực lượng của họ tiến sâu hơn vào lãnh thổ Việt Nam, để bảo vệ mình, các sĩ quan hậu cần đã phải rất khó khăn để giữ liên lạc không bị trệch hướng với đại quân. QGPND đã kết luận rằng cần thiết phải tạo ra bộ chỉ huy về giao thông vận tải để đối phó với các vấn đề mà bộ đội của họ đã phải đối mặt trong chiến dịch. Kinh nghiệm này có vẻ vẫn còn giá trị cho Trung Quốc đến tận hôm nay khi cựu phó chỉ huy của Đại học Quốc phòng QGPND Trung Quốc phát biểu tại một hội nghị chuyên đề về “kiểm soát truyền thông” vào năm 2002.

Bài học cuối cùng là làm thế nào để có thể diễn giải một học thuyết cũ về chiến tranh nhân dân vào các cuộc xung đột diễn ra bên ngoài biên giới Trung Quốc. Một trong những nguyên tắc của học thuyết chiến tranh nhân dân của Trung Quốc là việc huy động dân thường để hỗ trợ cho chiến tranh. Những kinh nghiệm chiến tranh 1979 đã chỉ ra rằng hầu như không thể đưa một lực lượng khổng lồ QGPND hoạt động ở nước ngoài mà không có sự ủng hộ chiến tranh của nhân dân trong nước. Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã đánh thức lòng yêu nước của công chúng và lòng tự hào về người lính Trung Quốc. Biểu hiện mạnh mẽ của lòng yêu nước đã giúp QGPND nhận được hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động từ người dân sống tại hai tỉnh biên giới. Tại riêng tỉnh Quảng Tây, hơn 215.000 cư dân địa phương đã được huy động để làm người vận chuyển, nhân viên bảo vệ và khuân vác để hỗ trợ tiền tuyến; và hơn 26.000 dân quân từ khu vực biên giới đã thực sự tham gia vào các hoạt động chiến đấu trực tiếp. QGPND vào thời điểm đó chỉ có một hệ thống cung cấp vá víu đòi hỏi các đơn vị phải tự túc hệ thống cung cấp trên chiến trường theo kiểu “hậu cần bán lẻ”. Chính quyền địa phương đã làm mọi việc dễ dàng cho binh lính bằng cách đơn giản hoá thủ tục, giúp họ nhận được đầy đủ vật chất và thực phẩm tươi trong thời gian ngắn nhất có thể. Kinh nghiệm này đã thuyết phục bộ chỉ huy QGPND rằng huy động chính quyền địa phương và dân chúng để hỗ trợ cho một cuộc chiến tranh vẫn là chìa khóa cho chiến thắng.

Những bài học mà Trung Quốc đã rút tỉa được từ cuộc chiến 1979 với Việt Nam có thể không được liền lạc, thiếu toàn diện và khó mà khách quan vì QGPND không đánh giá sự thành công về chiến dịch quân sự của họ trên cơ sở kết quả tác chiến mà là trên cơ sở các tác động của cuộc xung đột đến tình hình chung. Chịu ảnh hưởng sâu sắc lời dạy của Mao là chiến tranh về cơ bản là một vụ kinh doanh chính trị, miễn là Trung Quốc cho là họ đã thành công trong việc đạt được mục tiêu quân sự và chiến lược đề ra, còn các vấn đề gây ra từ thất bại của chiến thuật chỉ là thứ yếu. Đây cũng là lý do tại sao các bài học đó đã có những khác biệt đáng kể so với các nghiên cứu của phương Tây nơi mà nhiều thông tin tương đối khả tín, mặc dầu đôi khi vẫn thấy xuất hiện đây đó một chút thái quá do lạm dụng các nguồn tin hạn chế để kết luận về một vấn đề cực kỳ phức tạp. Các nghiên cứu của QGPND nhìn nhận rằng cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976) đã tạo bất lợi và hủy hoại những truyền thống tốt đẹp của QGPND, và kết quả là, các lực lượng của Trung Quốc thực hành tác chiến tồi tệ trong chiến tranh. Những bài học rút ra của QGPND đã tập trung nhiều vào cấp độ chiến thuật của chiến tranh với sự nhấn mạnh vào chỉ huy và kiểm soát, phối hợp tác chiến giữa các đơn vị, cơ cấu lực lượng và vũ khí hơn là chiến lược và triết lý mang tính học thuyết. Trong quá trình đánh giá kinh nghiệm chiến tranh 1979, QGPND có vẻ như không tìm cách che đậy hoặc bỏ qua thiếu sót về các hạn chế của họ vào thời điểm đó; tuy nhiên họ đã mắc sai lầm khi không đề cập đến những khiếm khuyết trong tư duy quân sự và binh pháp truyền thống.

Các nghiên cứu của phương Tây đã so sánh những bài học mà QGPND đã rút ra từ cuộc chiến Việt-Trung 1979 với việc đánh giá lại vào năm 1985 của ban lãnh đạo Trung Quốc về bản chất của chiến tranh hiện đại và các mối đe dọa đang rình rập Trung Quốc cộng với những nỗ lực tiếp theo để cải tiến và chuyên nghiệp hóa QGPND trong suốt những năm 1980. Bài học Việt Nam đối với QGPND và những cuộc giao tranh vẫn liên tục xảy ra trên biên giới Trung-Việt trong những năm 1980 đã giúp cho cho ban lãnh đạo Trung Quốc phải thực hiện những cuộc chuyển đổi chiến lược từ việc nhấn mạnh đến sự chuẩn bị cho chiến tranh tổng hợp đến việc chuẩn bị cho chiến tranh cục bộ và chiến tranh hạn chế theo xu hướng của thời gian. Trong quá trình chuyển đổi QGPND thành một lực lượng hiện đại vào những năm 1980, có rất ít những nỗ lực được thực hiện nhằm sửa chữa thiếu sót về tư duy quân sự, đó là thái độ luôn luôn coi nhẹ vai trò của của không quân. Kết quả là, nếu có điều gì còn chưa trung thực trong việc rút kinh nghiệm của QGPND thì đó chính là bài học về ưu thế trên không hoặc yểm trợ không quân. Tài liệu của QGPND vẫn cho rằng việc hạn chế khả năng của lực lượng không quân Trung Quốc là lý do chính khiến không quân Việt Nam không tham gia vào xung đột. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) thậm chí còn nhận xét một cách lố bịch rằng hoạt động giả vờ của không quân Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại Việt Nam là một “đòn nghi binh khéo léo trong tác chiến không quân”. Nhận xét đó rõ ràng cho thấy vẫn còn sai lầm trong giới lãnh đạo Trung Quốc khi họ tiếp tục đánh giá chưa cao vai trò quan trọng của không quân trong chiến tranh hiện đại.

Tuy nhiên, tổng kết các kinh nghiệm của QGPND trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam đã cung cấp một cái nhìn hữu ích về việc giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc tiếp cận vấn đề chiến tranh và chiến lược như thế nào. Cái nhìn này cũng phù hợp với những phát hiện nằm trong các công trình nghiên cứu gần đây. Trước tiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thảo luận và tính toán thời điểm và như thế nào khi sử dụng sức mạnh quân sự, nhưng đã không ngần ngại quyết định khởi chiến khi họ cho rằng lợi ích quốc gia của Trung Quốc đang bị hăm doạ hoặc lâm nguy. Thứ hai, QGPND thể hiện quyết tâm giành và giữ thế chủ động tác chiến bằng việc triển khai quân số vượt trội (chiến thuật biển người). Thứ ba, ý thức về chiến thắng quân sự của Trung Quốc đặt nhiều hơn vào việc đánh giá kết quả địa chính trị khi đem so với phê phán về hiệu năng tác chiến trên chiến trường. Kể từ sau cuộc chiến 1979 với Việt Nam, QGPND đã tiến hành sửa đổi sâu rộng trong học thuyết quốc phòng, chỉ huy và điều khiển, chiến thuật tác chiến, và cơ cấu lực lượng, trong khi các hoạt động quân sự thế giới cũng đã chuyển đổi đáng kể từ khi cuộc chiến năm 1979. Ngày nay, không ai nghĩ rằng các lực lượng vũ trang của Trung Quốc sẽ lặp lại những gì họ đã làm trong chiến tranh biên giới với Việt Nam. Từ góc độ lịch sử, những nét đặc thù của người Trung Quốc đã bộc lộ trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam có thể vẫn còn có giá trị trong các giáo trình của học viện quân sự của Trung Quốc cũng như đối với những người hằng quan tâm đến phương pháp sử dụng sức mạnh quân sự của người Trung Quốc, không chỉ trong quá khứ mà cả với hiện tại và trong tương lai.

Bản dịch của một cộng tác viên, riêng cho tạp chí Thời Đại Mới.

© Thời Đại Mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN
Số 18  - Tháng 3/2010


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 10:36:43 pm
Chiến tranh Việt Nam và kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc trước Cách mạng Văn  hóa 1964-1966*
 
  Lorenz Lüthi
  Đại học McGill, Canada
 
 Sự leo thang của Mỹ tại chiến tranh Việt Nam trong năm 1964 và 1965 là mối đe dọa lớn cho   an ninh của Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc phản ứng lại bằng một chính sách   ba hướng. Thứ nhất, tăng viện trợ quân sự và kinh tế cho miền Bắc Việt Nam ngay trong mùa hè năm 1964, đối phó với sự leo thang của Mỹ vào tháng 8.1 Thứ hai, khi  lính thủy đánh bộ của  Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam ngày 8-3-1965, chính quyền Trung Quốc tỏ thái độ cho Washington biết rằng họ muốn giới hạn chiến tranh Việt Nam chỉ trong Đông Dương, nhưng vẫn chuẩn bị và sẵn sàng tham chiến nếu bị Mỹ tấn công.2 Cuối cùng, nhà chức trách Trung Quốc đã đề ra và thực hiện ngay một chiến lược đầy tham vọng  vào  mùa hè năm 1964 nhằm bố trí lại, thậm chí  tân tạo  những thành phố và xí nghiệp kinh tế quan trọng nằm sâu trong đại lục, kế hoạch Phòng Tuyến Ba.  Sau cuộc đổ bộ của lính thủy đánh bộ Mỹ vào Việt Nam tháng 3-1965, Trung Quốc cũng nhanh chóng bắt tay vào công cuộc tổng phòng. Kế hoạch Phòng Tuyến Ba trong giai đoạn 1964-1966 cùng kế hoạch phòng ngự    liên hệ   sẽ là trọng tâm của bài viết này.

 Ngoại trừ bài báo của Barry J. Naughton hai thập kỷ trước,  công cuộc Phòng Tuyến Ba đã không nhận được nhiều quan tâm của giới nghiên cứu nước ngoài. Naughton đi sâu vào khái niệm và những đặc trưng cơ bản của kế hoạch Phòng Tuyến Ba  vào những năm 1960–1970, làm nổi bật hai giai đoạn khác nhau của kế hoạch. Chiến tranh Việt Nam leo thang là chất xúc tác cho giai đoạn đầu tiên, từ năm 1964 đến Cách mạng  Văn hóa năm 1966. Mối đe dọa của Liên Xô đối với Trung Quốc sau những tranh chấp biên giới vào tháng 3-1969 thúc đẩy giai đoạn thứ hai, từ năm 1969 đến năm 1971.3 Mặc dù  vạch  ra được nguyên nhân của kế hoạch Phòng Tuyến Ba là mối đe dọa đối với an ninh  Trung Quốc, nhưng Naughton  đã  không có  được  những tài liệu được đăng báo và xuất bản rất nhiều  vào những năm gần đây, và ông cũng không đề cập đến kế hoạch    tổng   phòng ngự năm 1965 trong mối quan hệ chặt chẽ với kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Chứng cứ mới đây về Trung Quốc mở ra một bức tranh sinh động và chi tiết hơn về giai đoạn đầu của Phòng Tuyến Ba, cùng kế hoạch phòng ngự năm 1965, và mối liên hệ mật thiết giữa chúng với an ninh Trung Quốc.

 Nhìn chung, đề xướng Phòng Tuyến Ba tương đồng với nhiều đề xướng trước và sau đó   ở các tỉnh phía Tây, nhưng khác nhau  về mục đích. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957) và nguồn đầu tư của Liên Xô những năm 1950 tập trung phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp quốc phòng ở Thiểm Tây, Ninh Hạ, Cam Túc, và Thanh Hải.4 Khác với đề xướng mở mang phía Tây vào cuối thập niên 1990, được cho là phát triển đất nước đồng đều hơn, Phòng Tuyến Ba trong thập niên 1960 và đầu 1970 chỉ tập trung vào các tỉnh phía Tây với mục đích chiến lược và quân sự.5 Chính vị trí địa lý cách trở và lợi thế phòng thủ của những tỉnh này, chứ không phải nền kinh tế lạc hậu,  là yếu tố  quyết định chính sách của Bắc Kinh.

 Mục đích chủ yếu đằng sau công cuộc Phòng Tuyến Ba là việc tái bố trí từ những tỉnh phòng tuyến một (duyên hải và giáp biên) sang những thành phố mới xây dựng và những xí nghiệp công nghiệp nằm sâu trong đại lục, tức khu vực Phòng Tuyến Ba. Các tỉnh còn lại của Trung Quốc hình thành phòng tuyến hai.6 Khi lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Việt Nam vào mùa xuân năm 1965, kế hoạch Phòng Tuyến Ba được mở rộng với “Phòng Tuyến Ba cấp tỉnh” và   các   kế hoạch phòng ngự theo đòi hỏi đặc biệt. Tuy nhiên những kế hoạch đó bị hoãn lại khi Cách mạng Văn hóa nổ ra (1966-1976), và bài viết này cũng dừng lại khi đề cập đến thời điểm đó. Sự trở lại kế hoạch Phòng Tuyến Ba sau xung đột biên giới Trung-Xô năm 1969 lại là vấn đề khác; do đó, không được nhắc đến trong bài viết này.
(http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/Luthi_1.jpg)
 Những vùng "Phòng Tuyến Ba" ở Trung Quốc, 1964-1966
---------
*"The Vietnam War and China’s Third-Line Defense Planning before the Cultural Revolution, 1964–1966" http://viet-studies.info/kinhte/VN_War_China_Third_Line_Defense.pdf
 Journal of Cold War Studies
 Vol. 10, No. 1, Winter 2008, pp. 26–51
© 2008 by the President and Fellows of Harvard College and the Massachusetts Institute of Technology
Trần Quốc Tân dịch © Thời Đại Mới http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_LorenzLuthi.htm

 Chú thích của tác giả
 1. See Lorenz Lüthi, The Sino-Soviet Split, 1956–1966 (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), chs. 9–10.
 2. James G. Hershberg and Chen Jian, “Reading and Warning the Likely Enemy: China’s Signals to the United States about Vietnam in 1965,” International History Review, Vol. 27, No. 1 (February 2005), pp. 47–84, esp. 56–57.
3. Barry J. Naughton, “The Third Front: Defense Industrialization in the Chinese Interior,”  China Quarterly,   No.115 (September 1988), pp. 351–386.
 4. Dong Zhikai and Wu Jiang, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao” [“China’s Third Development of the West—An Overview and Reºections”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu, Vol. 7, No. 4 (July 2000), p. 82; Chen Dongling, “Zhongguo Gongchangdang sanxian lingdao jiti de xibu kaifa sixiang yu shijian” [“The Theory and Practice of Developing China’s West under Three Generations of the Party’s Collective Leadership”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu, Vol. 8, No. 4 (July 2001), p. 77; and Yang Huolin and Yang Yinjian, “Cong jihua pingheng dao da kaifa” [“From Planned Development to Great Development”], Zhonggong dangshi yanjiu, No. 4 (2000), p. 12.
 5. Barry J. Naughton, “The Western Development Program,” in Barry J. Naughton and Yang Dali, eds., Holding China Together: Diversity and National Integration in the Post-Deng Era (New York: Cambridge University Press, 2004), pp. 253–295.
 6. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi” [An Analysis of the Factor Correlated with the 3rd-Front Construction Policy-Making”], Shandong Daxue Xuebao, No. 1 (2001), p. 89.


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 10:44:59 pm
Những đặc điểm chung của kế hoạch Phòng Tuyến Ba

 Kế hoạch Phòng Tuyến Ba được đề ra năm 1964 và 1965 nhằm đáp lại mối đe dọa trước mắt ngày một lớn từ phía Mỹ đã tái bố trí những khu công nghiệp và thành phố chiến lược dễ bị tấn công trong khu vực cách bờ biển Trung Quốc 700 km và cách biên giới phía Tây 1000 km (xem bản đồ). Kế hoạch này cũng bao gồm việc xây mới những thành phố và nhà máy ở đây. Bao phủ khoảng 30% diện tích quốc gia, kế hoạch Phòng Tuyến Ba trải dài từ Tứ Xuyên tới Vân Nam và Quý Châu ở phía Tây Nam, tới Cam Túc, Thanh Hải, Ninh Hạ ở Tây Bắc, và tới Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Sơn Tây và Thiểm Tây ở phía đông của trung tâm Trung Quốc. Riêng Vân Nam, nhiều khu vực thuộc cả phòng tuyến một và ba. Những người đề ra kế hoạch khuyến khích mười một tỉnh này xây dựng công trình ở vùng cao nguyên và thung lũng có núi bao quanh, như cao nguyên Vân Nam-Quý Châu, núi Đại Biệt (Hồ Bắc), núi Thái Hàng (Hà Nam-Sơn Tây-Hà Bắc), núi Ô Tiếu (Cam Túc), núi Lữ Lương và khu vực phía nam Đại Đồng (đều thuộc Sơn Tây).7 Tuy nhiên, khi thực hiện, Phòng Tuyến Ba chỉ được phát triển ở Tây Nam và Tây Bắc.8
  
Bảng 1: Tổng vốn đầu tư trên cả nước, vốn đầu tư cho kế hoạch Phòng Tuyến Ba, và tỉ trọng của đầu tư cho kế hoạch Phòng Tuyến Ba so với tổng vốn trên cả nước.
Giai đoạn Tổng vốn đầu tư trên cả nước (Tỉ NDT) Vốn đầu tư cho kế hoạch (Tỉ NDT) Tỉ trọng (%)
   1965   17,000   7,813   45,96
   1966-1970 (Kế hoạch 5 năm lần I)   97,603   48,243   49,43
   1971-1975 (Kế hoạch 5 năm lần II)   176,395   59,200   33,56
   1976-1980 (Kế hoạch 5 năm lần III)   246,786   69,100   28,00
    Tổng cộng   537,784   184,356   34,28
Nguồn: Li Cunshe, “Woguo sanxian shengchan buju de jibe texheng” [“The Basic Features of the Overall Arrangement of Production for Our Country’s Three-line Defense”]. Zhongguo gongye jingji yanjiu 1992/ 1993, p. 48. See also Zhonggong zhongyang wenxian yanjiushi bian [CCP, Central Documents Research Ofªce], Zhou Enlai nianpu, 1949–1976 [A Chronicle of Zhou Enlai’s Life: 1949–1976], 2 vols. (Beijing: Zhongyang, 1997), Vol. 2, 725.
 

Chi phí cho chiến lược tái bố trí này rất lớn, mặc dù thống kê từ nhiều nguồn có khác nhau. Một vài nguồn cho rằng trong mười một năm trước khi lãnh tụ Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Trung Quốc đã bỏ ra hơn 200 tỉ NDT vào công   trình Phòng Tuyến Ba.9 Một nguồn khác chỉ ra chi tiết hơn nhưng với số liệu khác (xem bảng). Số liệu này cho thấy mặc dù mức đầu tư vào kế hoạch Phòng Tuyến Ba tăng lên trong giai đoạn 1965-1980, nhưng lại giảm tỉ trọng so với tổng mức đầu tư trên cả nước. Việc giảm dần mức ưu tiên đối với kế hoạch Phòng Tuyến Ba báo trước việc chấm dứt chính thức, khi Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh tụ Trung Quốc cuối những năm 1970. Mặc dù từng là một trong những lãnh đạo đầu tiên của kế hoạch Phòng Tuyến Ba vào giữa thập niên 1960, Đặng bãi bỏ kế hoạch này vào tháng 1-1979 và gộp vào kế hoạch cải cách kinh tế chung trên cả nước vào năm 1983.10

 Chỉ trong cuối năm 1964 đến năm 1965, 300 xí nghiệp quy mô vừa và lớn đã được khởi công hoặc xây dựng xong trong khu vực Phòng Tuyến Ba, cùng 49 nhà máy khác được dời đến từ những tỉnh phòng tuyến một.11 Nhìn chung, từ năm 1965 đến 1979, 125 xí nghiệp quy mô lớn (sản xuất ô tô, cơ khí hạng nặng và hạng nhẹ, trang bị máy móc, sản xuất thép…) được xây dựng xong. Một tài liệu cho rằng trong năm 1979 sản lượng của những xí nghiệp mới xây dựng bằng tổng sản lượng của các xí nghiệp quy mô lớn trong năm 1965. Vốn đầu tư cũng dành cho việc phát triển ngành năng lượng (than, dầu mỏ, khí thiên nhiên, thủy điện và nhiệt điện) nhằm cung cấp năng lượng cho những xí nghiệp mới ra đời và những thành phố lân cận.12 Hơn nữa, 8.000 km đường sắt và 250.000 km đường bộ được xây dựng phục vụ cho việc thiết lập và duy trì Phòng Tuyến Ba.13

 Mặc dù đạt được nhiều thành tựu dài hạn trong phát triển nội tại, cuộc Cách mạng Văn hóa vẫn tác động xấu đến kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Hệ thống chính trị các cấp chia phe phái, sự thanh trừng những lãnh đạo có kinh nghiệm, thâm hụt ngân sách, phong tỏa đường sắt, hỗn loạn nội bộ tạo nên tình thế khó khăn cho việc tái bố trí các thành phố và xí nghiệp.   Theo các báo cáo,  chính phủ trung ương đã thâm hụt một lượng lớn tiền đầu tư   do  phân bổ sai và lãng phí trong những năm đầu của Cách mạng  Văn hóa.14 Tranh chấp Trung-Xô vào tháng 3-1969 và Đại hội IX của Đảng vào tháng 4-1969 khiến tình hình bớt hỗn loạn, dẫn đến giai đoạn thực hiện thứ hai của Phòng Tuyến Ba, kéo dài đến cuối những năm 1970.15 Theo một tài liệu, đỉnh cao của việc xây dựng Phòng Tuyến Ba là giai đoạn 1969-1971, khi đe dọa từ Liên Xô nguy cấp hơn lúc nào hết.16
---------
7. Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe” [“On the Three-Line Construction during the Period of the Culture Revolution”], Jiangxi jiaoyue xueyuan xuebao, Vol. 26, No. 5 (October 2005), p. 111; and Li Yin, “Sanxian yuanqi” [“Origins of the Third-Line Defense”], Dangde Zongheng,   No. 4 (2005), p. 55.
 8. Chao Lihua, ”Yunnan sanxian jianshe yu xibu da kaifa” [“Third-Line Construction in Yunnan and the Great Development of the Western Parts”], Kunming daxue xuebao, No. 1 (2006), p. 32.
 9. Estimates of the precise amount vary from source to source, but usually stay within a margin of 2.5 percent. See Gu Zhenhua, “Dui sanxian jianshe de lishi fenxi” [“A Historical Analysis of Third-Line Construction”], Junshi jingji shi, No. 6 (2006), p. 78; Xu Tianchun, “Sanxian jianshe—Xin Zhongguo xibu da kaifa de xianxing,” [“Third-Line Construction—The Predecessor of New China’s Western Great Development”], Xinan minzu xueyuan xuebao, Vol. 23, No. 10 (October 2002), p. 6; and Chen Lixu, “Mao Zedong yu woguo sanxian jianshe” [“Mao Zedong and Our Country’s Third-Line Construction”],  Tansuo, No. 6 (2003), p. 12.
 10. Han Honghong, “Deng Xiaoping yu sanxian jianshe” [“Deng Xiaoping and the Third-Line   Construction”], Dangde Wenxian, No. 4 (2005), p. 100; and Li Caihua, “Sanxian jianshe tiaozheng gaizao de lishi kaocha” [“Historical Observations of the Restructuring and Reform of Third-Line Construction”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu, Vol. 9, No. 3 (May 2005), pp. 44–45.
 11. Xu Tianchun, “Sanxian jianshe,” pp. 4–5; and Yang Gang, “Xibu diqu sanci jingji da kaifa jiqi tedian fenxi” [“The Three-fold Great Development of the Western Parts and Its Special Characteristics”],   Jingji shi,   No. 11 (2003), p. 109.
 12. Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” p. 112.
 13. Xu Tianchun, “Sanxian jianshe,” p. 6.
 14. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55; and Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” pp. 111–112.
 15. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55;Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” p. 112; and Chen Lixu, “Mao Zedong yu woguo sanxian jianshe,” p. 10.
 16. Li Caihua, “Sanxian jianshe tiaozheng gaizao de lishi kaocha,” p. 43.


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 11:08:39 pm
Căn nguyên của chiến lược Phòng Tuyến Ba

 Giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc ủng hộ kế hoạch tái bố trí chiến lược bởi nhiều lý do. Lâm Bưu, người kế thừa Mao Trạch Đông, đã đề xuất ý tưởng ngay từ tháng 1-1962,   lấy lý do lo ngại   cuộc tấn công   của Quốc Dân Đảng   từ Đài Loan và các đảo trong eo biển Đài Loan vào đại lục của Quốc   Dân   Đảng với sự hậu thuẫn của hải quân Mỹ. Lâm lo ngại rằng sự yếu đuối của đất nước sau thảm họa Đại   Nhảy   Vọt có thể dẫn đến bị tấn công.17 Mối quan hệ Trung-Xô xấu dần đi sau Hiệp ước Chống thử nghiệm hạt nhân    giữa   Mỹ-Liên Xô-Anh vào tháng 8-1963, đã tác động đến an ninh Trung Quốc đến mức họ quyết định “củng cố sức phòng ngự phía Bắc”.18 Tuy nhiên các nhà máy công nghiệp do Nhật Bản và Liên Xô xây dựng ở Mãn Châu vẫn bị đe dọa bởi Liên Xô. Dấu hiệu cho thấy viện trợ quân sự tăng cao của Mỹ cho Nam Việt Nam sau cuộc lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963 buộc Trung Quốc quan tâm đến sự   bất   ổn đang gia tăng ở biên giới phía nam. Ngay từ tháng 6-1964 - trước sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào tháng 8-1964 dẫn đến sự leo thang của Washington bằng không chiến - Bắc Kinh đã thông báo tăng cường viện trợ quân sự và kinh tế cho Hà Nội.19 Đầu tháng 9-1964, Thủ tướng Chu Ân Lai cảnh báo, “nếu Mỹ muốn mở rộng chiến tranh chống phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tức Bắc Việt) hoặc đưa thêm quân, tức là gây chiến ở ngay cạnh Trung Quốc, chúng ta sẽ không đơn giản ngồi yên.”20 Mối đe dọa cho an ninh Trung Quốc đến từ Liên Xô và Mỹ    mà giới lãnh đạo Trung Quốc cảm nhận hiện rõ ngay chính lúc họ bắt đầu xác định ưu tiên trong các kế hoạch dân sự và quân sự trong Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, bắt đầu từ năm 1966.21

 Mặc dù viện trợ cho Hà Nội, giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn lo ngại trước những yếu huyệt của đất nước. Mùa xuân 1964, Mao bày tỏ lo ngại về khả năng xảy ra cuộc chiến quy mô lớn ở Đông Á và khả năng duy trì sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Một báo cáo từ Cơ quan hoạch định chiến tranh của Tổng tham mưu Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc ngày 25-4 chỉ ra những vấn đề trong cơ cấu phòng ngự - việc tập trung dân cư và trung tâm công nghiệp quá mức vào những tỉnh biên giới và duyên hải dễ bị tấn công - và đề nghị di dời những thành phố và công trình công nghiệp và quân sự quan trọng có tính chiến lược vào sâu trong đại lục.22 Những năm 1950, 85% sản lượng thép được sản xuất ở Mãn Châu và những tỉnh duyên hải.23 Theo báo cáo của Chu Ân Lai tháng 3-1965, 87% sản lượng công nghiệp và 90% hệ thống tài chính nằm ở khu vực phòng tuyến một và hai.24 Đưa ra sự thiếu cân đối trong các công trình kinh tế, tài chính, và quốc phòng, tại Hội nghị trung ương Đảng về Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1966-1970) từ 15-5 đến 17-6-1964, Mao kiên quyết tán thành đề nghị ngày 25-4, rằng “trong thời đại hạt nhân, không thế có chuyện Trung Quốc không có hậu tuyến.”25

 Lối tư duy chiến lược đó cũng ảnh hưởng tới lời khuyên của Trung Quốc cho Bắc Việt ngay cả trước khi chiến tranh leo thang vào đầu tháng 8-1964. Ngày 1-7, Chu Ân Lai đã nói với Nguyễn Kim, phó chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, về việc cần thiết phải xây dựng một “phòng tuyến thứ hai và thứ ba” ở Việt Nam, “không chỉ ở nơi đất bằng, mà còn ở vùng đồi núi.” Tóm lược các chủ trương đã được Mao ủng hộ, Chu cho rằng “nền kinh tế quá tập trung sẽ không thích hợp trong thời chiến, [bởi vậy] nó cần được trải đều.” Tuy nhiên, Chu kết luận rằng “điều lưu ý trước tiên” là không được gián đoạn nền sản xuất nông nghiệp, vì đó là cơ sở cho cả nền kinh tế.26

  Kế hoạch sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, tháng 8-1964 đến tháng 2-1965

 Sự leo thang của Mỹ trong chiến tranh trên không đối với Bắc Việt Nam lúc bấy giờ tiếp sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2-8, và nghị quyết của Quốc hội Mỹ năm ngày sau đó cho phép Tổng thổng Lyndon B. Johnson mở rộng cuộc chiến, càng làm cho chiến lược Phòng Tuyến Ba cần thiết hơn bao giờ hết. Ngay ngày 10-8-1964, Mao chỉ thị cho tham mưu trưởng quân đội La Thụy Khanh và phó tham mưu Dương Thành Vũ “thi hành từng bước một” bản báo cáo 25-4.27 Mặc dù cố làm dịu đi lo ngại của Tổng bí thư Việt Nam Lê Duẩn (lúc đó còn là Bí thư thứ nhất - FDDinh) ngày 13-8 khi khẳng định rằng    không ai, kể cả Washington, Bắc Kinh, hay Hà Nội, muốn kéo dài tranh chấp, nhưng vài ngày sau đó Mao lại cảnh báo trong hội nghị Ban bí thư trung ương Đảng rằng “chúng ta phải chuẩn bị cho khả năng đế quốc Mỹ sẽ tiến hành chiến tranh tổng lực” ở Việt Nam.28

 Tuần lễ sau đó, các nhà kinh tế Lý Phú Xuân và Bạc Nhất Ba, cùng với La Thụy Khanh, cung cấp cho Mao bản báo cáo gồm một số điểm cơ bản liên quan đến các biện pháp   đối với đề án   Phòng Tuyến Ba. Trước hết, họ đề nghị Hội đồng nhà nước thành lập ủy ban đặc biệt với Lý là chủ tịch, Bạc và La là phó nhằm giám sát việc tái bố trí và xây dựng kinh tế. Họ cũng đề nghị chính quyền trung ương huy động   đủ loại nhân lực và hệ thống tổ chức   nhằm nghiên cứu chi tiết về việc hoàn thành các công trình đang xây dựng và hoãn các dự án kinh tế trước mắt ở 15 thành phố có dân số trên một triệu ở phòng tuyến một, chuyển dịch toàn bộ hoặc một phần các xí nghiệp công nghiệp quân sự và cơ khí từ phòng tuyến một đến Phòng Tuyến Ba, tạm ngưng xây dựng các công trình hồ   chứa nước   nhân tạo   vừa và lớn, đưa các viện và chuyên viên nghiên cứu đến Phòng Tuyến Ba, xây mới các xí nghiệp và thành phố ở Phòng Tuyến Ba cách xa nhau và ở những nơi có đồi núi che khuất, thiết lập các ủy ban dân quân phòng không. Lý, Bạc và La dự kiến bước đầu của kế hoạch Phòng Tuyến Ba sẽ kéo dài đến cuối năm.

 Sau đó, bản báo cáo của Lý-Bạc-La   khuyến nghị   Bộ Công An thi hành các biện pháp dân phòng, như   tiếp tục   lại   việc xây hệ thống   tàu điện ngầm Bắc Kinh, vừa tăng sức chứa vừa chống ném bom. Cuối cùng bản báo cáo đề nghị phải có chỉ thị gửi đến các tỉnh nhằm thi hành những biện pháp nói trên.29

 Ngày 5 tháng 9 Ban bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành chỉ thị đầu tiên đến các tỉnh về việc thành lập Phòng Tuyến Ba, bao gồm điều chỉnh lại các dự án đã có ở phòng tuyến một  nhằm đáp ứng   những đòi hỏi chiến lược mới của đất nước, tập trung vào các công trình công nghiệp và thành thị ở Phòng Tuyến Ba, phát triển các xí nghiệp ở Phòng Tuyến Ba   ngang bằng   với các xí nghiệp   đang có ở phòng tuyến một nhằm duy trì sản xuất.30 Lý Phú Xuân ước tính việc thực hiện sẽ mất bảy đến mười năm.31

 Ngày 30-10, Ban bí thư Trung ương Đảng phê duyệt kế hoạch kinh tế sơ bộ năm 1965 nhằm thực hiện các yêu cầu mới của kế hoạch Phòng Tuyến Ba.32 Trong   chỉ thị gửi tới các tỉnh và vùng tự trị, Thủ tướng Chu và Tổng tham mưu quân đội La   đòi hỏi họ   gửi các quy hoạch xây dựng cơ bản   cho ba năm tới đến Bắc Kinh trước tháng 12 và hạn chế bớt vốn đầu tư trong khu vực phòng tuyến một và hai. Tuy nhiên, các dự án xây dựng cơ bản đang thi công được phép tiếp tục đến hoàn thành.33

 Ngay cả khi các biện pháp   này đang   được thực hiện, Mao vẫn bày tỏ lo lắng về khả năng xung đột với Mỹ và Liên Xô. Nguy cơ Mỹ truy kích máy bay Bắc Việt vào lãnh thổ Trung Quốc để tạo cái cớ mà Washington gọi là “nương náu hợp pháp”,34 dường như gia tăng khả năng leo thang tới chiến tranh hạt nhân, như Mao đã lo ngại vào tháng 10-1965.35 Tuy nhiên, không chỉ nguy cơ gây hấn của Mỹ làm Mao lo ngại, mà cả nguy cơ bị Liên Xô tấn công: “Nếu Liên Xô tấn công chúng ta, Tây An sẽ là tiền tuyến, và bên trên là Tân Cương, Hắc Long Giang, Nội Mông Cổ… Chúng ta cần phải chuẩn bị.”36 Dù   sau đó   mối quan hệ Trung-Xô   trở nên   xấu đi, hầu hết tính toán   kế hoạch   đều hướng về phía Mỹ, theo như    những sự kiện xảy ra những tháng sau đó chứng tỏ.37

 Cuối tháng 11-1964, Mao phê chuẩn bản báo cáo của Lý Phú Xuân và Trình Tử Hoa, một thành viên trong ủy ban đặc biệt được thành lập bởi Hội đồng Nhà nước về việc tái bố trí các công trình, về việc   phối hợp    các dự án công nghiệp và năng lượng ở Tây Nam.38 Sau đó nhà chức trách Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch chi tiết cho việc xây dựng Phòng Tuyến Ba ở vùng này. Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình đã dành nhiều thời gian từ ngày 2-12-1964 đến 13-1-1965 để đến quê mình ở Tây Nam trong chuyến thanh tra để chọn địa điểm. Chuyến đi thường là hành trình cuốc bộ đến những vùng chưa kịp xây dựng đường sá. Nhiệm vụ của Đặng trở nên khó khăn hơn sau khi ông bị thương ở chân do vấp ngã nên thỉnh thoảng phải chống gậy.39

 Ngày 5-2-1965, Trung ương Đảng và Hội đồng Nhà nước chính thức phê chuẩn việc thành lập Ủy ban kế hoạch Phòng Tuyến Ba ở Tây Nam Trung Quốc.40 Trong thời gian đó, Chu trình cho Mao kế hoạch quốc gia về việc tái bố trí   công nghiệp quân sự, nhưng có thi hành hay không thì chưa rõ.41 Trong suốt tháng hai, Mao thay phiên Lưu Thiếu Kỳ điều khiển một số hội nghị trung ương về việc thi hành chiến lược Phòng Tuyến Ba.42

Ngày 20-2, La Thụy Khanh báo cáo về việc xây dựng gấp các nhà máy quân đội của kế hoạch Phòng Tuyến Ba trong một số lĩnh vực chuyên biệt, bao gồm vũ khí không quân, vũ khí mặt đất, đóng tàu và điện tử.43 Cuối cùng, ngày 26-2 Trung ương Đảng đưa ra chỉ thị đầu tiên, sau nhiều tháng lập kế hoạch, cho Ủy ban kế hoạch Phòng Tuyến Ba ở vùng Tây Nam bắt đầu làm việc.44 Trong phần lớn tháng 3 và một phần tháng 4-1965, Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo trung ương khác phải ở vùng Tây Nam và Tây Bắc để thăm dò thêm.45 Vùng Tây Bắc được quan tâm chỉ sau khi Chu Ân Lai đề nghị mở rộng kế hoạch ra những vùng khác.46
    -------------
17. Naughton, “The Third Front,” p. 352.
 18. Li Danhui, “ZhongSu guanxi yu Zhongguo de yuanYue kangMei” [“Sino-Soviet Relations during China’s Resist-America-Aid-Vietnam War”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu,  No. 3 (1998), pp. 115–116. See also Lüthi, The Sino-Soviet Split,  chs. 8–9.
 19. Chen Jian, Mao’s China and the Cold War  (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001), p. 209.
 20. Zhonggong zhongyang wenxian yanjiushi bian [CCP, Central Documents Research Ofªce], Zhou Enlai nianpu, 1949–1976   [A Chronicle of Zhou Enlai’s Life: 1949–1976], Vol. 2 (Beijing: Zhongyang, 1997), p. 655 (hereinafter referred to as ZELNP2).
 21. Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” p. 111.
 22. “Report of the War Planning Ofªce of the [PLA] Headquarters,” 25 April 1964, in Dangde   wenxian,    No. 3 (1995), pp. 34–35.
 23. Nong Zhiyi, “Lun sanxian jianshe yu Sichuan jingji kuayue shi fazhan” [“Discussing the development patterns of the Third-Line Construction and the Sichuan economy”],  Zhonggong dangshi yanjiu,   No. 4 (2000), p. 21.
 24. Zhou Enlai, “Outline of a Report to the Central Committee Secretariat (Extracts),” 12 March 1965, Dangde wenxian,  No. 3 (1995), p. 37.
 25. Li Chen, ed., Zhonghua Renmin Gongheguo shilu  [Records of the People’s Republic of China], Vol. 2, No. 2 (Changchun: Jilin renmin, 1994), p. 953.
 26. ZELNP2, p. 654.
 27. “Report of the War Planning Ofªce of the [PLA] Headquarters,” p. 33n.
 28. Sun Dongshen, “Woguo jingji jianshe zhanlüe buju de da zhuanbian,” Dangde wenxian, No. 3 (1995), p. 45.
 29. Li Fuchun, Bo Yibo, and Luo Ruiqing, “Report on the Governmental Economic Construction and on the Question How to Prevent the Enemy from a Surprise Attack,” 19 August 1964,  Dangde wenxian,   No. 3 (1995), pp. 33–35. See also “Report on How Our Country’s Economic Construction Should Prepare Itself Against an Enemy Surprise Attack,” 19 August 1964, reproduced as Document No. 3 in Qiang Zhai, “Beijing and the Vietnam Conºict, 1964–1965: New Chinese Evidence,” Cold War International History Project Bulletin,   Issue No. 6–7 (Winter 1995), p. 243.
 30. Han Honghong, “Deng Xiaoping yu sanxian jianshe,” p. 98.
 31. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 91.
 32. Sun Dongshen, “Woguo jingji jianshe zhanlüe buju de da zhuanbian” [“The Great Transformation of Strategic Distribution of Our Country’s Economic Construction”], Dangde wenxian, No. 3 (1995), pp. 45–46.
 33. CCP CC, “Instruction with Regard to the Construction of the First and Second Rear Line Defense and the Preparations for War,” 29 October 1964, Dangde wenxian, No. 3 (1995), pp. 35–37.
 34. “U.S. Said to Allow Pursuit to China,” The New York Times, 27 September 1964, p. 1.
 35. Zhang Xiaoming, “The Vietnam War, 1964–1969,”  Journal of Military History, Vol. 60, No. 4 (October 1996), p. 742.
 36. Li Danhui, “ZhongSu guanxi yu Zhongguo de yuanYue kangMei,” p. 115.
 37. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, ch. 9.
 38. Nong Zhiyi, “Lun sanxian jianshe yu Sichuan jingji kuayue shi fazhan,” p. 21.
 39. Zhong Baohua, “Wenhua da geming qijan sanxian jianshe de wuzi baozhang” [“The Material Safeguards of Third-Line Construction in the Period of the Cultural Revolution”],  Dangdai Zhongguo shi yanjiu,   Vol. 10, No. 4 (July 2003), pp. 69–70.
 40. Nong Zhiyi, “Lun sanxian jianshe yu Sichuan jingji kuayue shi fazhan,” p. 21.
 41. ZELNP2, p. 705.
 42. Ibid.
 43. Zhang Yu and Cai Guangang, “Luo Ruiqing yu guofang gongye” [“Luo Ruiqing and National Defense Industry”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu, No. 6 (1996), p. 56.
 44. ZELNP2, p. 715.
 45. Chen Donling, “Zhongguo Gongchangdang sanxian lingdao jiti de xibu kaifa sixiang yu shijian,” p. 81.
 46. ZELNP2, p. 700. Zhou Enlai in fact had urged construction in Henan, Hubei, Hunan, and Shanxi.


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 11:24:27 pm
  Ảnh hưởng việc leo thang chiến tranh Việt Nam, tháng 3-1965

  Kế hoạch Phòng Tuyến Ba tiến triển đều đặn vào đầu năm 1965, nhưng tình hình an ninh của Trung Quốc vẫn tiếp tục xấu đi. Sau thời gian tạm lắng của chiến dịch ném bom Bắc Việt   Nam   do bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11-1964, Mỹ quay trở lại    bỏ bom Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau những đợt đột kích của du kích Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam vào sân bay trực thăng của Mỹ ở Plâyku đầu tháng 2-1965.47 Chính quyền Johnson thông báo về việc đưa lính thủy đánh bộ Mỹ vào miền Nam Việt Nam ngày 1-3, và 3.500 quân Mỹ đổ bộ vào vịnh Đà Nẵng chỉ bảy ngày sau đó.48 Trong 3 tuần kế tiếp, thêm 35.000 lính và vào mùa hè là 45.000 đến 50.000 lính.49

 Bốn ngày sau cuộc đổ bộ 8-3 của   lính   thủy   đánh bộ Mỹ, Chu quay lại kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Ông nhận thấy kế hoạch tiến triển chưa đủ nhanh để chuẩn bị cho chiến tranh ngay cả ở mức độ nhỏ nhất. Trong báo cáo trước Ban bí thư trung ương Đảng, Chu miêu tả việc thực hiện Phòng Tuyến Ba như cuộc “chạy đua với thời gian” nhằm    đặt   đất nước   vào tình trạnh   sẵn sàng cho chiến tranh. Ông nhấn mạnh rằng phải tăng tốc xây dựng Phòng Tuyến Ba (đặc biệt là trong công nghiệp quốc phòng), phát triển nông nghiệp   nhằm   cân đối xuất nhập khẩu gạo trong (từ 1961, Trung Quốc đã phải nhập khẩu gạo do hậu quả tàn khốc của cuộc Đại nhảy vọt), và phát triển công nghiệp nặng để có thể hỗ trợ các xí nghiệp quốc phòng ở Phòng Tuyến Ba và nền nông nghiệp của   cả nước. Chu ra lệnh đưa các công trình nhà máy thép ở phòng tuyến một và hai trở lại hoạt động như biện pháp tạm thời nhằm chúng có thể tham gia vào   sản xuất trong ba đến bốn năm. Chu ra lệnh phải di dời nhanh chóng các nhà máy luyện kim, cơ khí, hóa chất, dầu mỏ và quốc phòng đến các thành phố nằm gần nguồn nhiên liệu (than và nhiệt điện) ở Phòng Tuyến Ba để không nơi nào thiếu hụt sản xuất. Nhấn mạnh việc các nhà máy Phòng Tuyến Ba phải được xây dựng gần đồi núi, Chu cho rằng vùng Tây Nam có nhiều ưu thế bởi địa hình đồi núi và thủy điện dồi dào. Nhằm ổn định các thị trấn mới xây dựng nằm trong dự án, Chu ra lệnh dự trữ lương thực và gia tăng bón phân hóa học trong nông nghiệp. Ông cũng đề nghị xây dựng nhà máy hóa chất ở Tứ Xuyên nhằm khai thác những mỏ khí thiên nhiên sẵn có.50

 Ngày hôm sau, 13-3, Chu mở rộng ý tưởng Phòng Tuyến Ba   ở tầm quốc gia xuống tầm địa phương, và trong cuộc cuộc họp với   các lãnh đạo tỉnh   ra lệnh cho họ   xây dựng “tiểu Phòng Tuyến Ba” ở địa phương họ. Ông hứa hẹn Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1966-1970) sẽ bổ sung nguồn ngân sách thích hợp, thậm chí ông còn đưa ra kế hoạch 15 năm cho việc thi hành các “tiểu Phòng Tuyến Ba” (1966-1980). Tuy nhiên Chu   cảnh cáo không được có   bất kì thay đổi nào   về nông nghiệp   có   liên quan   đến kế hoạch “tiểu Phòng Tuyến Ba”. Thay vào đó, trọng tâm đề ra là duy trì sản lượng cao và ổn định trên từng sào ruộng.51 Ngày 14-3 Cơ quan công tác Bộ quốc phòng của Hội đồng Nhà nước gửi chỉ thị tương ứng cho các tỉnh về việc   tổ chức các đề án liên quan đến các “tiểu Phòng Tuyến Ba”.52

 Tuy nhiên một tuần sau, Đặng Tiểu Bình chủ trì cuộc họp của Ban bí thư Trung ương Đảng với mục đích chống lạm phát có thể sẽ xảy ra, hậu quả của chi phí gia tăng trong công cuộc “tiểu Phòng Tuyến Ba” ở các tỉnh phòng tuyến một và hai.53 Còn các tỉnh thành xem việc thực hiện “tiểu Phòng Tuyến Ba” là cái cớ để xin thêm ngân sách. Ngày 11-4, các nhà hoạch định kinh tế Lý Tiên Niệm,  Dư Thu Lý, và Cốc Mục    quyết tổng vốn đầu tư toàn Trung Quốc trong năm 1965   không quá 17 tỉ NDT,   khuyến nghị hủy bỏ những dự án không cần thiết trong cả nước, kể cả hoãn một số kế hoạch Phòng Tuyến Ba cốt yếu. Tuy nhiên các nhà máy quốc phòng có vẻ được ưu tiên.54 Ngày 21-3 Trung ương Đảng quyết định phê chuẩn đề nghị của La Thụy Khanh trong báo cáo ngày 20-2 về việc xây dựng một số nhà máy quốc phòng chuyên trách ở Phòng Tuyến Ba.55
----------
47. Fredrik Logevall, Choosing War: The Lost Chance for Peace and the Escalation of War in Vietnam   (Berkeley: University of California Press, 1999), pp. 326–332.
 48. “More Marines Due for Vietnam Duty,” The New York Times, 2 March 1965, p. 1; and “Force ‘Strictly Defensive’—Arrival is Protested by Hanoi and Peking,” The New York Times, 8 March 1965, p. 1.
 49. Hershberg and Chen, “Reading and Warning the Likely Enemy,” pp. 56–57.
 50. Zhou Enlai, “Outline of a Report,” 12 March 1965,  Dangde wenxian, No. 3 (1995), pp. 37–38. For a more detailed instruction on grain stockpiling that was sent out on 1 June 1965, see “Comments by the State Council on the Revision by the Grain Department and the General Logistics Department of ‘The Temporary Ideas to Manage Grain, Oil, and Grass for Horses for Military Use,’” 1 June 1965,    Jiangsu Sheng Dang’anguan   [Jiangsu Provincial Archives, hereinafter referred to as JSSDAG], 3072, zhang 1860, pp. 3–6.
 51. ZELNP2, pp. 716–717; and Sun Dongshen, “Woguo jingji jianshe zhanlüe buju de da   zhuanbian,” p. 46.
 52. PRC, State Council, Ofªce of Defense Industry Works, “Focal Points on the Construction of the 1st and 2nd Rear [Defense] Line of Each Province,” 14 March 1965, Dangde wenxian, No. 3 (1995), p. 38.
 53. ZELNP2, p. 719.
 54. ZELNP2, 725. According to a Chinese statistical yearbook, capital investment in 1965 in fact was 17,089,000,000 yuan. PRC, State Statistical Bureau, Statistical Yearbook of China 1981 (Hong Kong: Economic Information and Statistical Agency, 1982), p. 299.
 55. Zhang Yu, “Luo Ruiqing yu guofang gongye,” p. 56.


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 11:26:23 pm
  Kế hoạch phòng ngự trung tâm, tháng 4 đến tháng 5-1965

 Một khi Chu xác định hướng phát triển chung cho Phòng Tuyến Ba và “tiểu Phòng Tuyến Ba”   vừa cho trước mắt   vừa cho tương lai   xa, ông và những nhà lãnh đạo khác chuyển sang việc lên kế hoạch phòng ngự chi tiết   theo đà xung đột gia tăng ở Đông Dương.   Ngày 8-4 Cơ quan Thương mại của Hội đồng Nhà nước đệ trình báo cáo đề ra những biện pháp khẩn cấp về hậu cần nhằm tăng cường khả năng chiến đấu của Trung Quốc. Báo cáo này cảnh báo rằng 467 trong số 847 kho chứa dầu của Trung Quốc, chiếm một nửa trữ lượng dầu của đất nước (1,07 triệu trong số 2,13 triệu mét khối) nằm ở các tỉnh phòng tuyến một, cùng 284 kho chứa dầu (0,72 triệu mét khối, hay 34%) ở phòng tuyến hai, và chỉ có 96 (0,34 triệu mét khối, hay 16%) đặt ở Phòng Tuyến Ba.

 Báo cáo khẳng định rằng mức tập trung các kho chứa dầu dày đặc ở phòng tuyến một, những kho trên mặt đất dễ bị tấn công, và việc thiếu đầu tư vào hạ tầng kho chứa dầu đã khiến dự trữ dầu của Trung Quốc lâm vào “tình trạng đáng lo ngại” nếu phải phục vụ cho phòng không và hậu cần trong thời chiến. Những tác giả của báo cáo đề xuất việc nhanh chóng thành lập đơn vị phòng không ở những kho chứa của phòng tuyến một, nhanh chóng di dời dầu vào dự trữ ở những cơ sở ngầm ở vùng đồi núi ngay khi xây dựng xong, đồng thời tăng khả năng trữ dầu ở Phòng Tuyến Ba. Việc tái bố trí thành phố nếu các kho chứa dầu không thể di dời hoặc nếu phải xây dựng trong vùng thành phố vì không có giải pháp thay thế thì chỉ được phép ở Vân Nam, Quảng Tây, Quý Châu, những nơi dầu dự trữ có thể dễ dàng cung cấp cho Bắc Việt hay làm nhiên liệu cho phương tiện vận chuyển chi viện quân sự trợ giúp Bắc Việt.

 Trong cuộc họp mật ngày 10-4 với các lãnh đạo đảng và chính phủ không được nêu rõ tên, Chu Ân Lai tóm lược tình hình an ninh của Trung Quốc. Mặc dù ông đã giải tỏa mối lo về khả năng một cuộc chiến toàn cầu mới, ông cho rằng khả năng đối đầu quân sự Trung-Mỹ   là cao   và sức cầm cự của Trung Quốc với cuộc chiến cũng đáng lo ngại.57   Trong bối cảnh phẫn nộ vừa xảy ra đối với điều họ tưởng là có  toan tính của   Liên Xô   nhằm môi giới đưa đến thỏa hiệp về Đông Dương   với    Mỹ   thông qua    tổng thống Pháp Charles de Gaulle,58 Chu tiên đoán rằng Mỹ và Liên Xô cũng đang thông đồng trong cuộc chiến Việt Nam để đưa Trung Quốc trở lại thời kì 20 đến 30 năm về trước. Nhưng ông nhấn mạnh rằng thông đồng giữa Liên Xô và Mỹ cũng có giới hạn. Nếu Mỹ muốn   bỏ bom chương trình hạt nhân của   Trung Quốc, ông khẳng định, dư luận quốc tế sẽ quay lưng với Mỹ và ủng hộ Trung Quốc. Chu kết thúc bằng việc nhắc đến tiến độ hoàn thành nhanh chóng của công cuộc Phòng Tuyến Ba để    Trung Quốc có thể   dựa   vào ba phòng tuyến khi xảy ra chiến tranh.59

 Trong cuộc họp mở rộng của Bộ chính trị ngày 12-4, lãnh đạo trung ương đã thông báo cho các lãnh đạo tỉnh và vùng tự trị về tình hình an ninh và giải thích đường lối “phòng ngự từ xa” vừa được soạn thảo.60 Đặng Tiểu Bình mở đầu cuộc họp bằng cách nhắc lại lịch sử; theo đó, Trung Quốc không được bị động như Liên Xô khi bị Đức tấn công vào tháng 6-1941: “Chúng ta không muốn mắc phải sai lầm đó.”61 Ông trích dẫn lời của Mao năm ngoái tại lăng mộ nhà Minh: “Stalin thiếu ba thứ khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ hai: hầm trú bom, việc di dời các nhà máy [về tuyến sau], và lực lượng dân quân.”62

 Đặng không ngừng chỉ trích những tỉnh đã lãng phí thời gian sau thông báo của Chu một tháng trước, nhấn mạnh việc cần thiết phải xây dựng “tiểu Phòng Tuyến Ba”. Đồng ý với phê bình của Mao về việc thi hành Phòng Tuyến Ba quá trì trệ và hầu hết các tỉnh chỉ biết đòi thêm ngân sách trong khi không sẵn sàng tập trung binh lính, Đặng kêu gọi việc xây dựng các đơn vị dân quân cũng như tăng tốc thi hành kế hoạch Phòng Tuyến Ba trên cả nước và “tiểu Phòng Tuyến Ba” ở các tỉnh. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng nền công nghiệp quốc phòng trong từng “tiểu Phòng Tuyến Ba” phải có thể hoạt động độc lập trong trường hợp Mỹ nhảy vào.63

 Chuyển sang tình hình Việt Nam, Đặng nói đến khả năng chiến tranh. Nhắc đến sự gia tăng ném bom của Mỹ vào các mục tiêu giao thông liên lạc và sản xuất ngày càng gần Hà Nội và Hải Phòng cũng như các máy bay tầm cao của Mỹ trên bầu trời Hải Nam, ông cho là quá sớm để nói đến khả năng tham chiến của Trung Quốc - và nếu có, thì ở mức độ nào. Ông thiên về khả năng chiến tranh chỉ giới hạn ở Việt Nam, nhưng cũng cảnh báo rằng Mỹ có thể mở rộng công kích sang Triều Tiên, trường hợp xấu nhất này khẳng định cuộc đối đầu Mỹ Trung trên đất Trung Quốc. Đặng bác bỏ khả năng Liên Xô sẽ trung thành với Hiệp ước đồng minh kí năm 1950 và hỗ trợ Trung Quốc.64 Ông tuyên bố, “chúng ta phải chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất.”65

 Sau khi tóm lược mức độ việc trợ hiện tại cho Bắc Việt, Đặng đề cập đến nhiệm vụ cấp bách nhất trong nước. Ông kêu gọi động viên quần chúng nhân và quân đội chính quy, thành lập các đơn vị phòng không ở các xí nghiệp công nghiệp và các mắt xích liên lạc, tuyên truyền giáo dục quốc phòng và thành lập các ủy ban phòng không các cấp. Mặc dù Đặng kêu gọi các nhà máy không huy động quá nhiều tài nguyên cho việc chuẩn bị nhằm dự trữ tài nguyên quý hiếm cho sản xuất, ông cũng yêu cầu việc rèn luyện tâm lý cho công nhân để họ có thái độ sẵn sàng khi Mỹ ném bom có hệ thống vào các cơ sở công nghiệp.66

 Chu Ân Lai tiếp tục nhắc nhở tăng cường sức phòng vệ của đất nước và đẩy cao tuyên truyền đến các nước khác. Theo ông, vì các lý do chính trị nên quan hệ ngoại giao cần được cải thiện. Mặc dù chuẩn bị cho quốc phòng, nền sản xuất cần tiếp tục duy trì để nguồn thu nhập   ngoại tệ   chủ yếu từ xuất khẩu các sản phẩm chất lượng cao   có thể được dùng để viện trợ nước ngoài, tập trung vào   Bắc Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Albania. Về đối nội, Trung Quốc cần tăng tốc “từng tháng một” các biện pháp Phòng Tuyến Ba và tổ chức những đơn vị phòng không và dân quân, nhưng tránh không gây hoang mang cho dân chúng.67

 Cuối cùng, Lưu Thiếu Kỳ nói về trách nhiệm viện trợ cho Bắc Việt, mặc dù ông miêu tả tình thế hiện nay ở Đông Dương giống như nước cờ bí. Nhắc lại phần lớn lời của Đặng và Chu, ông yêu cầu một hành động   biểu trưng, như bắn rơi máy bay hay đánh chìm tàu chiến Mỹ, nhằm thôi thúc tinh thần nhân dân Trung Quốc.68 Lưu nói thêm việc tàu sân bay của Mỹ bị   nhận chìm ở eo biển Đài Loan gây tổn thất nặng nề cho quân đội Mỹ. Ông đề cập đến khả năng tấn công hạt nhân của Mỹ vào Trung Quốc, và không cho rằng hầm trú bom thông thường có thể chống được bom hạt nhân.69 Tuy nhiên, rõ ràng vẫn chưa có một kế hoạch phòng ngự đặc biệt nào nhằm đối phó với chiến tranh hạt nhân.

 Trong   bài diễn văn tổng kết, Chu Ân Lai tóm lược lại những vấn đề chính. Ông yêu cầu tăng tốc xây dựng cơ bản trên cả nước đồng thời nhấn mạnh rằng công nghiệp quốc phòng, kế hoạch Phòng Tuyến Ba và viện trợ nước ngoài là những chính sách liên quan mật thiết đến tranh chấp đang gia tăng   ở   Đông Dương. Chu thông báo về kế hoạch “phòng ngự từ xa” trước mắt và kế hoạch Phòng Tuyến Ba trong lâu dài. Trong trường hợp   có mâu thuẫn giữa hai kế hoạch, “phòng ngự từ xa” sẽ được ưu tiên hơn. Chu cảnh báo rằng dù chính phủ tiếp tục tăng,   “thuốc súng”   hiện tại vẫn không đủ nếu có chiến tranh trên diện rộng. Bởi vậy, nền sản xuất quốc phòng phải được hết sức quan tâm. Đối với kế hoạch Phòng Tuyến Ba, ông cho rằng việc hoàn thành đường sắt Côn Minh là dự án quan trọng nhất   bởi vì nó có   vai trò di dời các nhà máy sang những vùng Phòng Tuyến Ba được chỉ định và vận chuyển hàng hóa xuống Bắc Việt. Đối với công cuộc “tiểu Phòng Tuyến Ba”, ông ưu tiên hàng đầu cho những tỉnh phía nam và duyên hải.70 Bốn ngày sau, 14-4, Trung ương Đảng phê chuẩn những chỉ thị chi tiết về “phòng ngự từ xa”.71 

 Ngày 20-4 Hội đồng Nhà nước yêu cầu thi hành theo như bản báo cáo ngày 8-4 về việc tái bố trí và [trong một số trường hợp] xây mới các kho chứa dầu và hệ thống pháo phòng không để bảo vệ.72 Một ngày sau, Hội đồng Nhà nước gửi thông tư cho các tỉnh yêu cầu tái thành lập các đơn vị dân quân phòng không, vốn đã bị giải thể sau sự kiện Đại nhảy vọt, và chuẩn bị các kế hoạch khẩn cấp nhằm đối phó với Mỹ.73

 Tuy nhiên, các lãnh đão Trung Quốc tin rằng việc tái bố trí quân   sự và các kế hoạch cấp tỉnh là không đủ để ngăn chặn Mỹ trong dài hạn. Giữa tháng 5, Đặng   đặt   ưu tiên cho   việc di chuyển tới   những vùng Phòng Tuyến Ba hay xây mới  ở đó   các xí nghiệp quân sự có kế hoạch hạt nhân hay tên lửa   so với các công nghiệp quốc phòng khác: “Chúng ta phải đề phòng trường hợp kẻ thù dùng vũ khí hạt nhân để tấn công những thành phố duyên hải; vì vậy, nên đặt việc xây dựng chương trình hạt nhân và tên lửa ở vùng khác. Chúng ta sẽ đổ tiền vào những nơi đó.”74

 Chu thông báo đề cương chung cho kế hoạch phòng ngự từ xa của chính phủ trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 11-5.75 Bốn điểm trong kế hoạch yêu cầu việc đảm bảo phòng ngự, viện trợ nước ngoài, thi hành Phòng Tuyến Ba và sản xuất quốc phòng trong điều kiện ngân sách eo hẹp với 17 tỉ NDT.76 Tuy nhiên, Chu cảnh báo về nguy cơ hoàn thành một cách “hỗn loạn” các mục tiêu đầy tham vọng như trong cuộc Đại nhảy vọt năm 1959, 1960. Cùng với khả năng bị Mỹ tấn công, nhiều hiểm họa cũng xuất hiện trong năm 1965 hơn là trong một nửa thập kỉ trước.77

 Theo như phát hiện gần đây   của   hai nhà sử học James Hershberg và Chính Đạo, trong khi tăng tốc kế hoạch “phòng ngự từ xa” để đề phòng cuộc chiến với Mỹ, lãnh đạo Trung Quốc   đã gửi tín hiệu cho   Washington biết rằng họ muốn chiến tranh Việt Nam giới hạn trong Đông Dương. Ngay từ 25-3, truyền thông Trung Quốc đã công khai thông báo viện trợ cho Việt Nam với mục đích đánh bại   xâm lược   Mỹ. Trong chuyến thăm Pakistan ngày 2-4, Chu hy vọng Tổng thống Mohammed Ayub Khan, có kế hoạch thăm Washington   ngay sau đó, sẽ chuyển lời tới Washington   cam kết của Trung Quốc không   gây   cuộc đối đầu trực tiếp với Mỹ, nhưng đồng thời Bắc Kinh sẵn sàng tham chiến nếu bị Mỹ tấn công. Lời cảnh cáo của Chu đã không thể đến được thủ đô nước Mỹ vì chuyến thăm của Ayub Khan sau đó bị hủy bỏ.

Cuối tháng 4 và tháng 5-1965, Chu nhắc lại thông điệp trên cho những nguyên thủ nước ngoài đến Trung Quốc. Lo ngại   những thông điệp   trên chưa   đến được Washington, Chu chuyển lời qua Tòa công sứ Anh ở Bắc Kinh ngày 31-5. Bảy ngày sau, tòa công sứ thông báo cho Bộ ngoại giao Trung Quốc rằng thông điệp đã được chuyển đến Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Dean Rusk.78
------------
 55. Zhang Yu, “Luo Ruiqing yu guofang gongye,” p. 56.
 56. “Report by Commercial Department on Strengthening the Air Defense and War Preparation Measures of the Oil Depots of the Commercial System,” 8 April 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1864, pp. 5–10.
 57. “Report by Premier Zhou Enlai on the War Preparations,” 10 April 1965, Fujian Sheng Dang’anguan   [Fujian Provincial Archives, hereinafter referred to as FJSDAG], 101-4-384, pp. 16–24.
 58. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, ch. 10.
 59. “Report by Premier Zhou Enlai on the War Preparations,” pp. 16–24.
 60. Two slightly differing transcripts of this meeting have surfaced in two provincial archives. See “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965,” FJSDAG, 101-4-384, pp. 71–77; and “Comrade Wang Wei Communicates the Speeches of Some Responsible Comrades Discussing    the ‘War Preparedness Instructions’ in the Politburo,” 12 April 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1162, pp. 43–49. A short speech by Zhou Enlai from this meeting has been published in China. See Zhou Enlai, “Some Problems with Regard to Capital Construction,” 12 April 1965, Dangde wenxian, No. 3 (1995), p. 39.
 61. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
 62. “ComradeWangWei Communicates the Speeches of Some Responsible Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the Politburo,” p. 43.
 63. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
 64. “ComradeWangWei Communicates the Speeches of Some Responsible Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the Politburo,” p. 44.
 65. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
 66. Ibid.; and “Comrade Wang Wei Communicates the Speeches of Some Responsible Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the Politburo,” p. 45.
 67. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, April 12, 1965”; and “Comrade Wang Wei Communicates the Speeches of Some Responsible Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the Politburo,” pp. 45–47.
 68. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
 69. “ComradeWangWei Communicates the Speeches of Some Responsible Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the Politburo,” p. 48.
 70. Zhou Enlai, “Some Problems with Regard to Capital Construction,” p. 39.
 71. Sun Dongshen, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao,” p. 46.
 72. “Comments by the State Council on the Report by Commercial Department on Strengthening the Air Defense and War Preparation Measures of the Oil Depots of the Commercial System,” 20 April 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1864, p. 5.
 73. The order is mentioned in “Circular on Participating in the Work of the People’s Anti-Air Defense,” 6 May 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1879, pp. 9–10.
 74. Han Honghong, “Deng Xiaoping,” 98. Liu gave a similar speech on 19 May. See “Liu Shaoqi’s Speech to the Central Military Commission War Planning Meeting on 19 May 1965,”  Dangde Wenxian,   No. 3 (1995), p. 40.
 75. The date of the Politburo meeting is not certain. One source lists 11 May. See ZELNP2, p. 729. The other lists 12 May. See “Parts of Comrade [Chen] Yun Transmitting Two Politburo Meetings (Draft Notes from May 15),” JSSDAG, 3011, zhang 1162, p. 53.
 76. ZELNP2, pp. 729–730.
 77. “Parts of Comrade [Chen] Yun Transmitting Two PolitburoMeetings (draft notes fromMay 15),” pp. 53–60.
 78. Hershberg and Jian, “Reading and Warning the Likely Enemy,” pp. 65–78.


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 11:34:01 pm
  Kế hoạch phòng ngự cấp tỉnh, tháng 4 đến tháng 5-1965

 Tư liệu về kế hoạch phòng ngự cấp tỉnh trong năm 1965 vẫn còn rải rác. Nhiều sử liệu chính thức thậm chí không đề cập đến, mặc dù   chúng đã đề cập rộng đến các vấn đề quân sự khác    những năm 1960.79   Thông tin nhỏ giọt trong những tài liệu   trên   cho thấy Quảng Tây đã thành lập các ủy ban dân quân phòng không vào ngày 5-5,80 sau đó là Giang Tô ngày 6-5,81 Vân Nam ngày 12-5,82 Phúc Kiến ngày 13-583 và Triết Giang ngày 14-5.84 Những bằng chứng có được cho thấy những tỉnh trên, đều thuộc phòng tuyến một, chú trọng đến công tác dân phòng nhưng lại không triển khai nhanh chóng. Một số tỉnh phòng tuyến một tổ chức các hội nghị về kế hoạch phòng ngự hoặc hỏi ý kiến Bắc Kinh về kế hoạch cụ thể trong năm 1965 và đầu 1966.85 Việc các sử liệu không nhắc đến kế hoạch phòng ngự các tỉnh khác, đặc biệt là phòng tuyến hai và ba, cho thấy chính các tỉnh phòng tuyến một lại quan tâm đến công tác dân phòng.

  Một số ít tài liệu từ phòng lưu trữ   tại   tỉnh Giang Tô cho biết thêm về kế hoạch dân phòng cấp tỉnh. Mệnh lệnh trung ương ngày 21-4 về việc tái tổ chức các đơn vị dân quân phòng không cấp tỉnh khởi động cho kế hoạch “phòng ngự từ xa” ở Giang Tô. Ngày 6-5, Ủy ban nhân dân tỉnh Giang Tô ban hành chỉ thị sơ bộ đến Ủy ban nhân dân các địa khu Nam Kinh, Vô Tích, Từ Châu, Thường Châu, Tô Châu, Nam Thông, Liên Vân Cảng và Trấn Giang về việc thành lập các ủy ban phòng không trong các cơ quan an ninh công cộng. Nhiệm vụ của các ban mới này, theo như chỉ thị, gồm hai phần: một là tuyên huấn về phòng không cho dân chúng và tổ chức phòng ngự. Hai là, thực hiện các biện pháp phòng không cùng kế hoạch kinh tế và thực hiện việc kiểm soát phù hợp với những yêu cầu của phòng không tác chiến.86

 Ngày 17-5, Ủy ban dân quân phòng không tỉnh Giang Tô đệ trình một báo cáo đến Đảng ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh với đề xuất chi tiết về nhiệm vụ của Ủy ban dân quân phòng không các địa khu. Do Giang Tô là tỉnh duyên hải, Ủy ban phòng không cấp tỉnh phải tính đến phòng ngự dài hạn đối phó với chiến lược ném bom gây bất ngờ của Mỹ, đồng thời đối phó với sự lan rộng của tư tưởng chủ bại trong dân chúng khi có chiến tranh. Ủy ban muốn các biện pháp tuyên truyền được thực hiện bởi những đảng viên   cấp hạng   mười bảy hoặc cao hơn nhằm khích lệ tinh thần quần chúng. Ngoài ra, Ủy ban đề nghị nghiên cứu việc   xử lý hàng hóa nguy hiểm, đề ra kế hoạch phân tán và bảo vệ các cán bộ nòng cốt, và tái bố trí các đơn vị công nhân, trường học về nông thôn trên các “tiểu Phòng Tuyến Ba”. Cuối cùng, báo cáo đề xuất các biện pháp nếu xảy ra chiến tranh, như việc cung cấp nước và điện liên tục, cứu hộ, chữa cháy và duy trì an ninh công cộng. Bản báo cáo được phê chuẩn và gửi đến Ủy ban nhân dân các địa khu ngày 26-5.87 Còn việc các tỉnh thực hiện đến đâu trong những tháng sau đó thì vẫn chưa được biết.
 
  Đánh giá của trung ương về phòng ngự sơ bộ, tháng 6 đến tháng 7-1965

 Mặc dù nhận tin từ Tòa công sứ Anh ngày 7-6  rằng lời cảnh báo đến Washington đã đến tay Bộ trưởng Ngoại giao Rusk, nhưng chính quyền Trung Quốc vẫn   chờ đợi việc Mỹ tấn công vào mùa hè năm 1965, khi La Thụy Khanh nói rõ trong bài nói chuyện “tối mật” với các lãnh đạo tỉnh ngày 23-6. Tham mưu trưởng quân đội La cảnh báo về khả năng tấn công hạt nhân của Mỹ vào các tỉnh duyên hải.88 Bản thân Mao ba ngày sau đó cũng tỏ ra quan   ngại đến các biện pháp Phòng Tuyến Ba, đặc biệt là do khó khăn trong việc di dời các xí nghiệp quy mô lớn từ vùng nguy hiểm vào sâu trong nội địa.89

 Trong hoàn cảnh đó Bắc Kinh đã gửi một nhóm tám chuyên viên Bộ Quốc phòng sang Việt Nam trong 40 ngày nhằm học tập kinh nghiệm phòng không của Bắc Việt.90 Đây là đề xuất của Bộ Chính trị ngày 14-5 nhằm học tập kinh nghiệm dân quân phòng không của Bắc Việt và cách Bắc Hàn che giấu những thành phố và xí nghiệp trong vùng đồi núi.91 Tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy phái đoàn của Trung Quốc đã sang Bắc Hàn.

 Báo cáo về phái đoàn ở Bắc Việt, trình ngày 29-8, cung cấp nhiều thông tin bổ ích. Hầm tránh bom loại nhỏ rất hiệu quả trừ khi bị trúng bom trực tiếp. Việc đào hào giao thông cũng cần thiết để bảo vệ   người   thông tin liên lạc khi Mỹ liên tục ném bom. Kế sách tốt nhất để bảo vệ dân là di tản về nông thôn. Báo cáo đề cập đến việc các thành phố nhỏ ở Bắc Việt thường bị bỏ trống vào ban ngày để tránh thương vong do bom Mỹ, nhưng cũng thừa nhận rằng không thể làm vậy với những thành phố lớn. Báo cáo nhấn mạnh cách phòng ngự tốt nhất là chiến đấu lại; muốn như vậy, phải   có sự   cộng tác chặt chẽ giữa các đơn vị pháo binh và dân quân phòng không. Số liệu từ Bắc Việt, theo như báo cáo này, cho thấy 53 trong 430 máy bay địch bị bắn hạ. Cuối cùng, các tác giả của báo cáo đề cao vai trò tuyên truyền nhằm duy trì tinh thần của quần chúng và ngăn chặn tư tưởng chủ bại.92

 Đánh giá cuối cùng   trong bản báo cáo tới   hơi trễ   cho nên không   ngăn ngừa   được   tâm lý không tốt đang lan rộng ở miền Nam Trung Quốc.   Một mặt, báo cáo ngày 23-7 về các biện pháp dân quân phòng không ở Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam không chỉ đưa ra những thành công trong công tác dân quân phòng không, mà còn nêu tác động tiêu cực của “tư tưởng chủ hòa” làm “giảm cảnh giác trong quần chúng”.   Mặt khác, báo cáo lưu ý tới kiều dân Quảng Châu, đến đại lục từ 1949, đang   đòi hỏi rời   đất nước để tránh chiến tranh.93 Ở Vân Nam, nơi hầu hết người dân lo ngại   ở mức độ khác nhau   cuộc tấn công của Mỹ, “60% kỹ sư và cán bộ lành nghề” đều hết sức lo ngại việc xảy ra chiến tranh. Rõ ràng, công tác tuyên truyền nhằm cổ vũ tinh thần là chưa đủ.
  ----------
79. For example, Beijing Shi difangzhi bianzuan weiyuanhui [City of Beijing Gazetteer Compilation Committee], ed.,  Beijing zhi [Annals of Beijing], Vol. 30, Junshi zhi [Military Annals] (Beijing: Beijing chubanshe, 2002); Guangdong sheng difang shizhi bianzuan weiyuanhui [Province of Guangdong Historical Gazetteer Compilation Committee], ed., Guangdong sheng zhi [Annals of Guangdong Province], Vol. 22, Junshi zhi [Military Annals] (Guangzhou: Guangdong renmin, 1999); and Yunnan sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Yunnan Gazetteer Compilation Committee], ed., Yunnan sheng zhi [Annals of Yunnan Province], Vol. 49, Junshi zhi [Military Annals] (Kunming: Yunnan renmin, 1997).
 80. Guangxi Zhuangzu Zizhiqu difang zhi bianzuan weiyuanhui [Ethnic Minority Autonomous Region of Guangxi Gazetteer Compilation Committee], ed., Guangxi tongzhi [Gazetteer of Guangxi], Vol. 59, Junshi zhi [Military Annals] (Nanning: Guangxi renmin, 1994), p. 488.
 81. “Circular on Participating in the Work of the People’s Anti-Air Defense,” 5 May 1965, JSSDAG,   3072, zhang 1879, pp. 9–10.
 82. “Yunnan sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui,”  Yunnan sheng zhi, Vol. 49, Junshi zhi, p. 30.
 83. Fujian sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Fujian Gazetteer Compilation Committee], ed., Fujian sheng zhi  [Annals of Fujian Province], Junshi zhi [Military Annals], Vol. 9 (Beijing: Xinhua chubanshe, 1995), p. 534.
 84. Zhejiang sheng junshizhi bianzuan weiyuanhui [Province of Zhejiang Military Gazetteer Compilation Committee], ed.,  Zhejiang sheng jun shi zhi [Military Annals of Zhejiang Province] (Beijing: Fangzhi chubanshe, 1999), p. 516.
 85. Guangxi Zhuangzu Zizhiqu difang zhi bianzuan weiyuanhui, Guangxi tongzhi, Vol. 59, Junshi zhi, pp. 492, 493, 497; Jiangsu sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Jiangsu Gazetteer Compilation Committee], ed., Jiangsu sheng zhi  [Annals of Jiangsu Province], Junshi zhi [Military Annals], Vol. 64 (Beijing: Junshi kexue, 2000), pp. 672, 705. A report found in the Jiangsu provincial archives speciªcally mentions Guangdong, Guangxi, and Yunnan. See “Report on the Inspections of the People’s Air Defense Work in Guangdong, Guangxi, and Yunnan,” 23 July 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1879, pp. 10–15.
 86. “Circular on Participating in the Work of the People’s Anti-Air Defense,” 5 May 1965, JSSDAG,   3072, zhang 1879, pp. 9–10.
 87. “Ideas on Participating in People’s Militia Air Defense Work,” 17 May 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1879, 1a–7. See also Jiangsu sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Jiangsu Gazetteer Compilation Committee], ed., Jiangsu sheng zhi [Annals of Jiangsu Province], Junshi zhi [Military Annals], Vol. 64 (Beijing: Junshi kexue, 2000), pp. 669, 686.
 88. “Notes of Comrade Luo Ruiqing’s Speech,” 23 June 1965, JSSDG, 3011, long 1162, pp. 66–71. The fact that this speech was found in a provincial archive indicates that the audience consisted of provincial leaders.
 89. Mao Zedong, “With Regard to the Question of Fighting War We Shall Have Two Strings to One Bow,” 26 June 1965, Dangde wenxian, No. 3 (1995), p. 41.
 90. See “Report on Studying and Inspecting the Experience of the Vietnam People’s Air Defense Work,” 29 August 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1234, 15a. No precise date is mentioned for the delegation’s 40-day mission to North Vietnam.
 91. “Parts of Comrade [Chen] Yun Transmitting Two PolitburoMeetings (draft notes from 15   May),”    JSSDAG,   3011, zhang 1162, p. 60.
 92. “Report on Studying and Inspecting the Experience of the Vietnam People’s Air Defense Work,” 29 August 1965, JSSDAG,  3011, zhang 1234, 15a–21.
 93. “Report on the Inspections of the People’s Air Defense Work in Guangdong, Guangxi, and Yunnan,” pp. 10–15.


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 11:43:37 pm
  Những quyết định trong Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, tháng 7 đến tháng 10-1965

 Bắt đầu từ giữa tháng 5, một hội nghị Trung ương Đảng ở Bắc Kinh thảo luận chi tiết về Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1966-1970), trong đó có đề cập   đến cấp ngân sách cho công cuộc Phòng Tuyến Ba. Mở đầu, Mao than phiền rằng hoạch định kinh tế “bị sa vào phòng tuyến hai, và không chú trọng đủ vào Phòng Tuyến Ba; bây giờ, những thiếu sót phải được bù đắp.”94 Kết quả là ngày 21-7, Ủy ban kế hoạch nhà nước gửi cho Chu Ân Lai một báo cáo kiến nghị điều chỉnh và xét duyệt lại đề cương sơ bộ của Kế hoạch 5 năm lần ba. Dự báo cuộc tấn công quy mô của Mỹ đang đến gần, báo cáo yêu cầu phải “chạy đua với thời gian” và ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng nhà máy quốc phòng và phòng ngự từ xa.95 Mao cũng nhấn mạnh những ưu tiên đó trong cuộc họp Ban bí thư trung ương Đảng vào tháng 8: “Chúng ta không được để vuột cơ hội mà cần bù lại thời gian đã mất. Nếu xây dựng   nội địa   không tốt, chúng ta sẽ không thể ngủ yên một ngày nào.” Ông nhắc lại với mọi người trong cuộc họp về bài học thất bại của Iosif Stalin đã không chuẩn bị công sự và di dời các nhà máy về hậu tuyến trước khi Đức   tấn công năm 1941.96

 Theo đó, ngày 21-8-1965 Ủy ban kế hoạch nhà nước tính đến việc di dời quy mô lớn của các nhà máy trong kế hoạch tái điều chỉnh kinh tế quốc gia. Cơ quan này đệ trình đề cương sơ bộ cho Kế hoạch 5 năm lần thứ ba vào ngày 2-9 chú trọng bốn nhiệm vụ cốt lõi trong giai đoạn 1966-1970 theo thứ tự: kích hoạt phòng ngự sơ bộ, xây dựng nhà máy quốc phòng, tăng tốc   xây dựng Phòng Tuyến Ba, chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu công nghiệp trên cả nước.97 Theo đó, Hội đồng kế hoạch nhà nước phân bổ 48,243 tỉ NDT (49,43% trong 97,603 tỉ NDT dành riêng cho vốn đầu tư trên cả nước) cho công cuộc Phòng Tuyến Ba trong 5 năm tới.98

 Hội nghị Trung ương Đảng ở Bắc Kinh, bao gồm lãnh đạo các tỉnh, các bộ ngành, và   chỉ huy của tất cả các đơn vị quân đội chủ lực, được triệu tập từ ngày 18-9 đến 12-10 nhằm đưa ra đề cương chung, trao đổi ý kiến, và cuối cùng là đưa ra đề cương chi tiết Kế hoạch 5 năm lần thứ ba. Nhắc đến những hạn chế về tài nguyên trong nước, Hội nghị kết luận rằng những đòi hỏi tuyên bố trước đó của Kế hoạch 5 năm lần thứ ba phải chuyển trọng tâm kinh tế từ sản xuất lương thực và hàng hóa tiêu dùng sang sản xuất phục vụ quốc phòng.99 Sự thay đổi quan điểm này chính thức chấm dứt của giai đoạn củng cố kinh tế từ năm 1961 nhằm phục hồi nền kinh tế Trung Quốc sau thảm họa Đại nhảy vọt.
 
  Sự sụp đổ của kế hoạch Phòng Tuyến Ba và “Phòng ngự từ xa”, tháng 9-1965 đến tháng 6-1966

 Cùng với công cuộc Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, hầu hết lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đều chuyển sang những công việc khác   trước khi   Cách mạng văn hóa   xảy ra   nhưng Đặng Tiểu Bình, một trong những nhà kiến thiết chủ yếu của công cuộc Phòng Tuyến Ba, vẫn   tiếp tục công việc thực hiện nó. Trong chuyến thanh tra với Bạc Nhất Ba và những đảng viên trung ương khác   ở Tứ Xuyên, Quý Châu, và Vân Nam, ông lại được cam đoan rằng trữ lượng phong phú của than, dầu mỏ, quặng sắt và các tài nguyên thiên nhiên khác ở vùng này rất phù hợp làm trọng điểm phát triển Phòng Tuyến Ba, nhất là khi tuyến đường sắt Côn Minh được hoàn thành.100 Khai thác từ “bài học Stalin”,101 Đặng công du cùng hơn hai mươi đảng viên trung ương trong chuyến đi khác vào tháng 3-1966 đến các tỉnh Phòng Tuyến Ba vùng Tây Bắc như Sơn Tây, Cam Túc, Ninh Hạ và Thanh Hải để thanh tra vũ khí trang bị, không quân và các nhà máy công nghiệp nặng đồng thời phê chuẩn việc mở rộng của các nhà máy này.102 Đó là những hành động cuối cùng đối với kế hoạch Phòng Tuyến Ba trước khi Cách mạng Văn hóa nổ ra.

 Có nhiều lý do dễ thấy khiến lãnh đạo trung ương không còn quan tâm đến Phòng Tuyến Ba và “phòng ngự từ xa”. Với những quyết định cơ bản trong định hướng Kế hoạch 5 năm lần ba vào mùa thu năm 1965, những tranh luận thực ra đã kết thúc. Ngoài ra, nguy cơ từ phía Mỹ đã tạm lắng. Buổi nói chuyện của Chu Ân Lai vào ngày 15-10 nhận định hoàn cảnh quốc tế không còn đáng ngại như nhận định của những lãnh đạo trung ương hồi đầu năm.103 Trong buổi nói chuyện với đoàn đại biểu Phúc Kiến ngày 25-11, Bộ trưởng ngoại giao Trần Nghị thậm chí còn quả quyết “Mỹ đã giảm sút sức mạnh” và “quyết tâm” để tấn công Trung Quốc.104 Sự quả quyết này là có cơ sở. Cuộc chiến giữa Mỹ và Bắc Việt Nam ở thung lũng Ia Drang từ 13 đến 19-11 cho thấy Việt Cộng đã thâm nhập mạnh mẽ vào miền Nam khiến quân Mỹ nản lòng. Sau trận đánh đó, chính quyền Johnson tỏ ra muốn điều đình với Bắc Việt bằng ngoại giao để tạm dừng cuộc chiến.105 

 Cuối cùng, mùa thu năm 1965 đánh dấu bước   phát triển chính trị quan trọng trước khi nổ ra cuộc Cách mạng Văn hóa vào năm sau đó. Tháng 11, Mao chuyển nơi làm việc từ Bắc Kinh sang Thượng Hải, chuẩn bị những bước đi kế tiếp đối phó lại những người đối lập ở Bắc Kinh. Mao không quay trở lại Bắc Kinh cho đến giữa năm 1966, vào lúc Cách mạng  Văn hóa mà ông châm ngòi từ xa đang diễn ra chống lại các đồng chí của ông.106

 Mặc dù   việc quá khích hóa về mặt ý thức hệ trong nội bộ    chính trị đã manh nha trong nước từ cuối mùa hè năm 1962, kế hoạch Phòng Tuyến Ba vẫn không bị ảnh hưởng cho đến mùa thu năm 1965. Trong nhiều năm, Mao đã chỉ rõ chủ nghĩa xét lại là sự lệch lạc về tư tưởng từ chỗ chủ nghĩa Mác-Lê Nin đúng đắn biến thành chủ nghĩa kinh nghiệm, một tư tưởng sai lầm mà ông chỉ ra rằng những lãnh đạo Liên Xô và đồng chí của ông đang mắc phải.107 Ngày 10-10-1965, tại cuối Hội nghị Trung ương Đảng nói trên, Mao cảnh báo với những bí thư tỉnh ủy rằng bộ phận trung ương Đảng đang bị lung lay bởi chủ nghĩa xét lại chống Đảng. Ông khẳng định vai trò của các tỉnh về việc xây dựng các tiểu Phòng Tuyến Ba độc lập về kinh tế và quân sự để sau này đánh bại phe xét lại.108 Trong thời gian đó, Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu, trước đó không tham gia kế hoạch Phòng Tuyến Ba, bắt đầu khai thác kế hoạch “phòng ngự từ xa” cho mục đích riêng. Ngày 12-9, ông ban hành thông tư đề nghị các lực lượng   dân phòng nhân dân loại bỏ những   cán bộ chính trị không tốt.109

 Vì vậy, khi nổ ra Cách mạng văn hóa, việc thi hành các biện pháp Phòng Tuyến Ba được phê chuẩn trước đó tiến triển chậm lại và sau đó ngừng hoàn toàn.110 Việc Lâm Bưu buộc tội La Thụy Khanh  cuối năm 1965 khiến công cuộc Phòng Tuyến Ba mất đi người đứng đầu quân đội.111 Hai bản lưu trữ cấp tỉnh nói rõ mốc kết thúc của kế hoạch quốc phòng và tiểu Phòng Tuyến Ba là tháng 5-1966.112 Việc Đặng Tiểu Bình bị “thất sủng” vào tháng 8-1966 khiến kế hoạch này mất đi người   cổ võ tích cực   nhất.113 Mãi đến khi bất ổn xảy ra đầu năm 1969 ở biên giới Trung-Xô các biện pháp Phòng Tuyến Ba mới hồi phục lại đầy đủ.114
----------
94. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
 95. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 90.
 96. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
 97. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 91; and Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
 98. Li Cunshe, “Woguo sanxian shengchan buju de jibe texheng,” p. 48.
 99. ZELNP2, p. 7561; and Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
 100. Han Honghong, “Deng Xiaoping yu sanxian jianshe,” p. 99.
 101. From a speech to the National Industry and Communication Work Conference on 26 February 1966. See Han Honghong, “Deng Xiaoping yu sanxian jianshe,” p. 98.
 102. Ibid., p. 99.
 103. “Statement by Zhou Enlai: Informal Meeting on 15 October [1965],” JSSDAG, 3011, zhang 1162, pp. 96–100.
 104. “Chen Yi’s Report on the Current International Situation, Given on 25 November to a Cadre Meeting of the Fujian Provincial Delegation,” FJSDAG, 101–12–101, p. 16.
 105. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, ch. 10.
 106. Roderick MacFarquhar, The Origins of the Cultural Revolution, Vol. 3: The Coming of the Cataclysm, 1961–1966   (New York: Columbia University Press, 1997), pp. 443–445; Clive Ansley, The Heresy of Wu Han: His Play ‘Hai Jui’s Dismissal’ and Its Role in China’s Cultural Revolution   (Toronto: University of Toronto Press, 1971), pp. 89–90; Li Zhisui, with Anne F. Thurston, The Private Life of Chairman Mao   (New York: Random, 1994), pp. 440–442; Wu Lengxi,  Yi Mao zhuxi: Wo qinshen jingli de ruogan zhongda lishi shijian pianduan   [Remembering Chairman Mao: Part of a Series of Important Historical Events I Personally Experienced] (Beijing: Xinhua, 1995), pp. 149–151; and Roderick MacFarquhar and Michael Schoenhals, Mao’s Last Revolution (Cambridge, MA: Belknap Press of Harvard University Press, 2006), pp. 15–17.
 107. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, chs. 7, 9.
 108. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 92.
 109. “Summary Notes of the Work Conference of the General Staff Headquarters and General Political Department on the People’sMilitia,” 12 September 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1155, pp. 27–32.
 110. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
 111. Huang Yao and Zhang Mingzhe,Luo Ruiqing zhuan  [A Biography of Luo Ruiqing] (Beijing: Dangdai Zhongguo, 1996), pp. 512–536.
 112. Jiangsu sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui,  Jiangsu sheng zhi, Vol. 64, Junshi zhi, p. 659; and Zhejiang sheng junshizhi bianzuan weiyuanhui, Zhejiang sheng jun shi zhi,  p. 519.
 113. MacFarquhar, The Origins of the Cultural Revolution, pp. 462–463.
 114. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55; Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” p. 112; and Chen Lixu, “Mao Zedong yu woguo sanxian jianshe,” p. 10.


Tiêu đề: Kế hoạch Phòng Tuyến Ba của Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Ba, 2010, 11:52:38 pm
  Kết luận

 Chiến tranh Việt Nam leo thang buộc Trung Quốc thực hiện chương trình kinh tế chủ chốt Phòng Tuyến Ba   kéo dài thêm nhiều năm sau khi   xung đột ở Đông Dương chấm dứt. Dù mối quan hệ đang xấu dần đi với Liên Xô có thể làm kế hoạch   loại   này ra đời trễ hơn, với quy mô nhỏ hơn, động lực chính của nó vẫn là nguy cơ bị tấn công từ phía Mỹ. Mao Trạch Đông thổi phồng quá mức mối đe dọa của Liên Xô chỉ nhằm đối phó với những kẻ thù chính trị trong nước;115 trong khi, công cuộc Phòng Tuyến Ba về cơ bản nhắm đến nguy cơ tức thời và dễ thấy từ phía Mỹ. Những cuộc thảo luận nội bộ của giới lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề Mỹ khá nghiêm túc, không bị cường điệu hay có những lệch lạc   ý thức hệ   như trong những cuộc tranh luận về mối quan hệ với Liên Xô.116 Tuy nhiên, sự cô lập của Trung Quốc với thế giới và   quá khích về ý thức hệ của Mao vốn được biết đến từ năm 1962 đã tô đậm thêm suy nghĩ ảm đạm và phản ứng mẫn cảm của Trung Quốc đối với sự đe dọa từ Mỹ.

 Ngay khi đề xướng Phòng Tuyến Ba ra đời năm 1964, nó đã trở thành tâm điểm trong việc hoạch định chính sách năm 1965 và sau đó lại đột ngột sụp đổ ngay trước khi nổ ra Cách mạng văn hóa. Chỉ từ mùa thu năm 1965 khi nguy cơ từ Mỹ đã lùi xa và Mao Trạch Đông bắt đầu những động thái cho Cách mạng văn hóa thì những xung đột tư tưởng giữa các lãnh đạo trung ương mới trở nên gay gắt, diễn ra ngay cả trong kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Mặc dù Bắc Kinh tiếp tục thực hiện Phòng Tuyến Ba trong Cách mạng văn hóa, những cố gắng vẫn bị cản trở bởi tư tưởng   chính trị quá khích. Chỉ một năm sau khi thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, hai nhà lãnh đạo quan trọng nhất của Phòng Tuyến Ba, La Thụy Khanh và Đặng Tiểu Bình đã bị “thất sủng”. Khi Phòng Tuyến Ba được khởi động lại vào năm 1969, kế hoạch này có tác động lớn đến cấu trúc nền kinh tế Trung Quốc cho đến khi kết thúc hoàn toàn vào năm 1979.

 Mặc dù bề ngoài, những dấu hiệu tự cung tự cấp của Phòng Tuyến Ba có vẻ giống với ý tưởng công xã của cuộc Đại nhảy vọt,   rất dễ nhận ra   những khác biệt chủ yếu. Cuộc Đại nhảy vọt nhằm thiết lập một xã hội tiền Cộng sản với những tổ chức tự quản về chính trị, kinh tế và quân sự (công xã nhân dân),117 trong khi Phòng Tuyến Ba hoàn toàn với mục đích chiến lược quân sự. Phân tán địa lý và tự túc kinh tế không phải là kết quả từ các ý tưởng xây dựng xã hội lý tưởng của Mao mà là hệ quả những gì Mao và những đồng chí của mình xem là cần thiết về quân sự. Hơn nữa, không giống viễn cảnh về một tương lai tốt hơn như trong Đại nhảy vọt, thế yếu về quân sự là mấu chốt của Phòng Tuyến Ba, khi Chu Ân Lai bày tỏ với người nghe vào tháng 4 năm 1965. Khi tình trạng cô lập của Trung Quốc chấm dứt vào cuối những năm 1970 và đất nước bắt đầu nhìn ra bên ngoài, tâm lý đề phòng quân sự của Phòng Tuyến Ba mới chấm dứt.

 Nhìn rộng hơn về lịch sử, đề xướng Phòng Tuyến Ba giống với kế hoạch phát triển của Stalin ở Xi-bê-ri. Những người Cộng sản Trung Quốc quả quyết rằng Liên Xô đã không được chuẩn bị khi Đức tấn công năm 1941, nhưng thật ra Stalin đã phát triển những trung tâm công nghiệp phía Đông dãy Ural ít nhất là từ cuối những năm 1920.118 Tuy nhiên, do sai lầm trong chiến lược quân sự và chính sách đối ngoại-chứ không phải sai lầm như phía Trung Quốc chỉ ra- đã buộc Liên Xô phải di dời một lượng lớn các xí nghiệp từ phần đất thuộc châu Âu sang Xi-bê-ri trong một thời gian ngắn để tránh sự tiến quân của Đức năm 1941.119 Nhưng dù những lãnh đạo Trung Quốc có hiểu sai những nguyên nhân cơ bản trong chính sách của Stalin năm 1941, họ vẫn rút ra những bài học đúng đắn.

 Khái quát hơn, kế hoạch Phòng Tuyến Ba thể hiện một trong những mô hình phát triển của Trung Quốc cho những tỉnh phía tây đất nước, mặc dù phát triển kinh tế không phải mục đích chính. Trong những năm đầu thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mao đã tiếp nhận những quan điểm   mới nhất kiểu  Stalin về phát triển kinh tế.120 Với sự hỗ trợ kinh tế của Liên Xô, Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957) đặt trọng tâm phát triển sâu trong đại lục.121 Trong số 694 dự án công nghiệp của Kế hoạch 5 năm, 472 (68%) dự án được đặt ở những tỉnh mà sau này là 11 tỉnh Phòng Tuyến Ba. Trong số 150 dự án Liên Xô hỗ trợ, 83 (55%) được đặt ở đó, bao gồm 35 trong 43 dự án phòng thủ Liên Xô (81,4%) và 48 trong 107 dự án công nghiệp dân dụng (44,9%).122 Mô hình phát triển thứ hai là cuộc Đại nhảy vọt (1958-1960). Mục tiêu không tưởng của công cuộc này không chỉ là mâu thuẫn với những kinh nghiệm kinh tế trước đó mà còn với lối tư duy chiến lược trong nền kinh tế kế hoạch kiểu Liên Xô và ngay cả trong chương trình Phòng Tuyến Ba sau đó vào những năm 1960. Với Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh đạo tối cao sau 1978, Trung Quốc chứng kiến sự phục hồi của miền duyên hải với nền sản xuất xuất khẩu và sự giải phóng của nông dân khỏi những bó buộc còn lại của công cuộc cộng sản hóa, đưa Trung Quốc vào giai đoạn phát triển kinh tế đáng kinh ngạc.123 Chỉ đến năm 1999 Bắc Kinh mới bắt tay lại vào một chiến lược ở miền tây, quan tâm đến vùng trung tâm và phía Tây Trung Quốc.124
---------
115. See Luthi, Sino-Soviet Split, chs. 9–10.
 116. Ibid., ch. 10.
 117. Ibid., ch. 4.
 118. W. Bruce Lincoln, The Conquest of a Continent: Siberia and the Russians (New York: Random House, 1994), pp. 318–357; Stephen Kotkin, Magnetic Mountain: Stalinism as Civilization (Berkeley: University of California Press, 1995), pp. 29–71; and Benson Bobrick, East of the Sun: The Epic Conquest and Tragic History of Siberia   (New York: Poseidon, 1992), pp. 415–453.
 119. Lincoln, The Conquest of a Continent, pp. 358–363.
 120. Hua-yu Li, Mao and the Economic Stalinization of China, 1948–1953 (Lanham, MD: Rowman & Littleªeld, 2006).
 121. Dong Zhikai and Wu Jiang, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao,” p. 82.
 122. Chen Dongling, “Zhongguo Gongchangdang sanxian lingdao jiti de xibu kaifa sixiang yu   shijian,” p. 77; and Yang Huolin and Yang Yinjian, “Cong jihua pingheng dao da kaifa,” p. 12.
 123. Daniel R. Kelliher, Peasant Power in China: The Era of Rural Reform, 1979–1989 (New Haven: Yale University Press, 1992); David Zweig, Internationalizing China: Domestic Interests and Global Linkages   (Ithaca: Cornell University Press, 2002); and  Freeing China’s Farmers: Rural Restructuring in the Reform Era   (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1997).
 124. Dong Zhikai and Wu Jiang, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao,” p. 85.
 
 ©  Thời Đại Mới


Tiêu đề: Xấu xa hơn cả bọn ăn thịt người
Gửi bởi: fddinh trong 30 Tháng Ba, 2010, 06:12:03 pm
Xấu xa hơn cả bọn ăn thịt người
Harry Kreisler phỏng vấn Daniel Ellsberg
 
Nguyên tác:
Worse than Cannibals
Guernica, tháng 1-2010

Lời giới thiệu của người dịch: Trong một phần tư thế kỉ Mĩ can thiệp ở Việt Nam (1950-1975), nhất là trong những năm quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham gia chiến trận (1965-1973) với hơn 3 triệu binh lính, hàng triệu người Mĩ đã lên tiếng chống lại chính sách chiến tranh, bằng những hình thức và mức độ khác nhau. Họ là những trí thức, sinh viên, thanh niên, mục sư, linh mục, nghệ sĩ… Họ là những người có tên tuổi do sự nghiệp, chức vị, như Martin Luther King, Noam Chomsky, Benjamin Spock, Jane Fonda… hoặc là những người mà dư luận chỉ biết tên qua hành động chống chiến tranh dũng cảm như Angela Davis, hai linh mục anh em Daniel và Philip Berrigan (vào tù vì chống chiến tranh), Norman Morrison (tín đồ Quaker, tự thiêu trước Lầu năm góc)… Đằng sau họ, chung quanh họ là hàng triệu người “vô danh” đã “biểu tình ngồi”, “biểu tình đứng”, “biểu tình đi vòng quanh”, đốt thẻ quân dịch, chấp nhận án tù hay lưu đầy để không tham gia cuộc chiến tranh phi nghĩa.

 Trong những con người ấy, Daniell Ellsberg giữ một vị trí đặc biệt. Anh thuộc thế hệ và loại người mà nhà báo Mĩ David Halberstam gọi là “The Best and the Brightest” (những con người ưu tú và xuất sắc nhất), những cá nhân giỏi giang được tuyển mộ vào chính quyền Mĩ, trở thành những cộng sự viên đắc lực nhất của tổng thống Hoa Kì. Sinh năm 1931, Daniel Ellsberg là một điển hình của mẫu người “văn võ toàn tài” kiểu Mĩ: tiến sĩ kinh tế học (Trường đại học Harvard, 1962), tốt nghiệp thủ khoa khoá đào tạo 1.100 thiếu uý Thuỷ quân lục chiến (Marine Corps Basic School, Quantico, Virginia). Sau hai năm phục vụ trong quân chủng “sừng sỏ” này, Ellsberg vào làm “phân tích viên” của tập đoàn RAND. Từ đó cho đến mùa hè năm 1969, với tư cách là nhân viên của “think tank” này, hay với tư cách là viên chức của chính quyền, ở Lầu năm góc, Việt Nam hay Nhà Trắng, Ellsberg đã làm việc với những cánh tay mặt của các tổng thống (Kennedy, Johnson, Nixon) như Robert McNamara (bộ trưởng quốc phòng của Kennedy và Johnson), Edward Lansdale (CIA, cha đỡ đầu của chế độ Việt Nam cộng hoà), Henry Kissinger (cố vấn an ninh của Nixon).
Là một trong vài ba người đã được đọc toàn bộ 7000 trang tài liệu “mật” mang tên “Hồ sơ Lầu năm góc” (Pentagon Papers) và đã chứng kiến từ bên trong chính sách “nói một đàng làm một nẻo” ở Việt Nam của “5 đời tổng thống” (từ Harry Truman đến Richard Nixon), Ellsberg bắt đầu tham gia những cuộc biểu tình chống chiến tranh, gặp những người sẵn sàng vào tù để lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa và vô vọng. Cuối cùng là quyết định công bố Pentagon Papers, như ông kể lại trong cuộc phỏng vấn này.

Điều mà bài phỏng vấn không đề cập là những gì diễn ra trước và sau khi công bố. Xin nhắc lại vài mốc chính:

* trong suốt năm 1970, D. Ellsberg tìm cách thuyết phục những thượng nghị sĩ phản đối chiến tranh – như J. William Fulbright, chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Thượng viện, George McGovern, người sẽ ra tranh cử với Nixon năm 1972 – hãy công bố Hồ sơ Lầu năm góc ngay tại hội trường Thượng viện, nhưng không người nào dám làm việc này.

* D. Ellsberg đành cung cấp bộ tài liệu mật cho kí giả Neil Sheehan: ngày chủ nhật 13.6.1971, báo The New York Times công bố phần đầu trong 9 phần trích đoạn 7.000 trang hồ sơ. Toà án, theo yêu cầu của chính quyền Nixon, ra lệnh cho New York Times phải ngừng công bố. Ellsberg trao hồ sơ cho The Washington Post và 17 nhật báo khác trước khi “rút vào vòng bí mật” vì, tuy The New York Times không tiết lộ danh tính, ông tin rằng chính quyền sẽ biết chính ông là nguồn gốc của sự “rò rỉ” này.

* Ngày 29.6.1971, thượng nghị sĩ Mike Gravel (bang Alaska) cho đăng 4.100 trang Hồ sơ Lầu năm góc vào ấn bản của một tiểu ban Thượng viện. Tài liệu này sau đó được nhà xuất vản Beacon Press phát hành dưới tên gọi “ấn bản Gravel”. (trước đó một ngày, Ellsberg ra trình diện trước công lý, đến tháng 1.1973 mới bị xử -- xem dưới).

* Cuối cùng, Toà án Tối cao xử The New York Times thắng kiện chính quyền liên bang. Nhà Trắng trả thù bằng cách bôi nhọ Ellsberg. John Erlichman, trợ lý nội vụ của tổng thống Nixon, thành lập nhóm “Thợ hàn của Nhà Trắng” (White House Plumbers, hàm ý nhiệm vụ của nhóm này là “bịt kín” những “rò rỉ” hồ sơ mật). Nhóm này đột nhập phòng khám bệnh của Lewis Fielding, bác sĩ tâm thần học của Ellsberg, nhưng không tìm thấy “hồ sơ bệnh lí” của Ellsberg. Từ đó, nhóm “Thợ hàn” tiếp tục được  Nhà Trắng sử dụng để bới móc đời tư của các chính khách đối lập như Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, và cuối cùng bị bắt quả tang đột nhập trụ sở Uỷ ban tranh cử của Đảng dân chủ tại toà nhà Watergate. Vụ “ bê bối Watergate ” đã dẫn tới việc Nixon phải từ chức năm 1974 để tránh bị truy tố và cách chức.

* Vụ ăn trộm văn phòng của bác sĩ Fielding, mãi đến ngày 3.1.1973 mới được công bố trong phiên toà xử Daniel Ellsberg vì vi phạm “Luật gián điệp 1917”, tại Los Angeles. Cùng với việc này, nhiều hành động phạm pháp khác của Nhà Trắng (nghe trộm các cuộc điện đàm, mua chuộc quan toà…) đã được đưa ra ánh sáng, nêu rõ trách nhiệm của những người thân cận tổng thống (Haldeman, tổng thư kí Nhà Trắng, Mitchell, bộ trưởng bộ tư pháp..) và của chính tổng thống Nixon. Cuối cùng, ngày 11.5.1973, toà án Los Angeles đã bác bỏ tất cả các tội trạng của Daniel Ellsberg và bạn ông là Anthony Russo. Một năm sau, Richard M. Nixon phải từ chức.

Nguyễn Ngọc Giao
 
 Giới thiệu của Tạp chí Guernica: “Phần tử quấy rối” trứ danh nhất của nước Mĩ kể lại chuyện ông chuẩn bị vào tù, chuyện tổng thống dối trá tràn lan, và tại sao chiến tranh kéo dài.


Sang năm 2011 sẽ là 40 năm kể từ ngày Daniel Ellsberg tiết lộ Hồ sơ Lầu năm góc cho nhật báo New York Times. Sự kiện này đã vạch trần sự dối trá của chính quyền trong việc thông tin về chiến tranh Việt Nam và góp phần thúc đẩy việc tổng thống Nixon từ chức. Năm mới cũng có thể chứng kiến việc cuốn phim tài liệu The Most Dangerous Man in America: Daniel Ellsberg and the Pentagon Papers (Người đàn ông nguy hiểm nhất của nước Mĩ: Daniel Ellsberg và Hồ sơ Lầu năm góc (http://www.amazon.com/Most-Dangerous-Man-America-Ellsberg/dp/B00329PYGQ/ref=sr_1_1?ie=UTF8&s=dvd&qid=1269356312&sr=8-1)) được vào chung kết giải Oscar (nó đã được vào vòng đầu hồi tháng 11.2009). Cuốn phim nói về “ phần tử quấy rối ” có lẽ nổi tiếng nhất nước Mĩ, đồng thời cũng là biểu tượng cho lòng dũng cảm và tinh thần trách nhiệm của phong trào phản chiến ngày nay. Ở thời điểm mà đất nước của ông đang dính líu vào hai cuộc chiến tranh gây ra tranh cãi, lời nói của Daniel Ellsberg, năm xưa và bây giờ, vẫn gây tiếng vang lớn.

Tháng giêng năm nay, Hoa Kì bắt đầu triển khai thêm gần ba chục ngàn binh sĩ trong cuộc chiến ở Afghanistan, thì khi Daniel Ellsberg nói về quá trình quyết định của tổng thống, về cách thức mà chính quyền trình bày các quyết định ấy với công chúng, nhất là trong tình huống các cuộc chiến tranh trở thành thứ tâm bệnh di truyền thừa hưởng từ quá khứ, sự mô tả của ông âm hao như một lời tiên tri. Trong cuộc phỏng vấn công bố dưới đây, ông nói: “ Điều mà tôi rút ra từ năm 1969 và từ Hồ sơ Lầu năm góc, là Nixon, người thứ năm trong chuỗi những tổng thống Mĩ (dính líu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam), đã quyết định kéo dài cuộc chiến tranh vì ông ta hi vọng hão huyền rằng mình có thể đạt được một kết cuộc tốt đẹp hơn là nếu ông ta chấp nhận thương lượng cách nào rút ra êm thấm, và cơ bản có nghĩa là chấp nhận thất bại. Ông ta hy vọng đạt kết quả tốt hơn thế nhiều” (bài phỏng vấn sẽ được công bố trong cuốn Political Awakening: Conversations with History (http://www.amazon.com/Political-Awakenings-Conversations-Harry-Kreisler/dp/1595583408/ref=sr_1_1?ie=UTF8&s=books&qid=1269356432&sr=8-1-catcorr), nhà xuất bản New Press sẽ ấn hành vào tháng 3.2010).  

Cuộc đời của Daniel Ellsberg (năm nay 78 tuổi) là cả một hành trình khác thường. Sinh trưởng ở thành phố Detroit, ông đỗ tiến sĩ kinh tế học ở Harvard trước khi đầu quân vào Thuỷ quân lục chiến. Sau đó vào làm việc cho Rand Corporation. Với cương vị chuyên gia về Việt Nam của công ti này, Ellsberg được Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara yêu cầu tham gia vào một nhóm tuyệt mật có nhiệm vụ nghiên cứu các tài liệu mật về quá trình tiến hành chiến tranh Việt Nam, sau này sẽ được gọi chung là Hồ sơ Lầu năm góc. Hiếm ai có trải nghiệm (và dũng cảm) để có thể khẳng định một cách có thẩm quyền về những tổng thống Mĩ như Ellsberg trong cuộc phỏng vấn dưới đây khi ông nói: “Thật sự là họ chẳng mấy khi ngại nói dối về các vấn đề đó. Trình bày sự việc cho công chúng theo một đường hướng không tương ứng gì với thực tại, đối với họ là “thuận tiện” và có lợi về chính trị”.

Cho nên khi tổng thống Obama nói với sinh quân Học viện West Point (và qua đó, với thế giới) rằng quyết định của ông là do ông “tin tưởng rằng nền an ninh của chúng ta được định đoạt ở Afghanistan và Pakistan”, Ellsberg nhảy chồm lên thì cũng không có gì lạ. Những lí do được nêu ra để giải thích rằng an ninh của Hoa Kì bị đe doạ ở Afghanistan – một chính phủ thối nát, phi nghĩa đối với nhân dân Afghanistan, bầu cử thì gian lận, dân chúng ủng hộ các lực lượng chống đối không phải vì ưa thích đám này, mà vì họ muốn người ngoại quốc (nhất là lính Mĩ) cuốn gói đi – “nghe hệt như chuyện Việt Nam trước đây”, Ellsberg nói.

(http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai18/ellsberg.jpg)
Daniel Ellsberg

Mời theo link dưới xem:
 Bản dịch của Nguyễn Ngọc Giao
© Thời Đại Mới (http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai18/201018_DanielEllsberg.htm)


Tiêu đề: War Crimes in Indochina and Our Troubled National Soul
Gửi bởi: fddinh trong 30 Tháng Ba, 2010, 10:49:53 pm
Tội phạm chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương
 và nhiệm vụ nói lên sự thật của chúng ta
Fred Branfman

 Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khái niệm sự thật chẳng còn mang ý nghĩa thực tế, và khó mà phân biệt được đâu là thực tế và đâu là và huyền thoại.  Chúng ta cũng khó mà phân biệt được chính khách với giáo sĩ, hay lực sĩ, hay thương gia.  Thành ra, có lẽ chúng ta cũng chẳng nên để ý đến những lời tuyên bố thiếu thành thật từ những người có dính dáng ít nhiều đến cuộc tranh cử tổng thống Mĩ hiện nay.  
 
Nhưng có một vài dối trá chẳng những vô lí, mà còn gớm guốc và bệnh hoạn.  Và chúng ta cần phải sửa lại cho đúng với sự thật.  Một trong những lừa dối trắng trợn nhất hiện nay là bài quảng cáo trên tivi Mĩ về vụ "Swift Boat Veterans", mà trong đó một vài cựu chiến binh Mĩ tố cáo John Kerry đã nói dối khi ông ta tuyên bố rằng chính sách của chính phủ Mĩ và hành động tàn ác của một số lính Mĩ tại Đông Dương có thể xem là tội phạm chiến tranh (war crimes).  Quốc gia này chưa có một thất bại nào to lớn hơn là sự suy đồi đạo đức của chúng ta, không dám nhận trách nhiệm trước cái chết của hàng trăm ngàn nông dân Đông Dương bị chúng ta sát hại trong quá trình vi phạm những luật lệ chiến tranh.  Những người cầm tay lái dư luận trong giới truyền thông của xứ sở này cũng chẳng màn nghiên cứu sự thật lịch sử để giáo dục cho con em chúng ta về những tội phạm chiến tranh của Mĩ tại Đông Dương.  

 Sự vi phạm các qui tắc chiến tranh rõ ràng nhất của Mĩ là những đợt pháo kích vào các làng xã gây thương vong cho thường dân tại Đông Dương.  Hành động này vi phạm Điều mục số 25 của Qui ước Hague 1907 mà Mĩ là một trong những nước phê chuẩn.  Điều mục này viết: “Cấm tất cả các tấn công hay bỏ bom, hay bất cứ phương tiện nào, vào các thị trấn, làng xã, nơi cư trú, hay bin-đinh không có sự bảo vệ.”

 Trong cuốn sách cổ điển The Village of Ben Suc, tác giả Jonathan Schell mô tả máy bay bay qua những cánh đồng mênh mông, những vùng được các giới chức quân sự Mĩ tuyên bố là “tự do bắn phá” và tha hồ thả bom xuống các làng xã bất kể có hay không có dân phía dưới.  Cuốn sách này gây một ảnh hưởng lớn đến John Kerry trong thời chiến.  

 Tôi đã trực tiếp phỏng vấn hơn 2.000 nông dân chạy trốn những trận bom của Mĩ ở Lào.  Mỗi người nông dân chất phác cho tôi biết làng xã của họ đều bị bom đạn của Mĩ san bằng thành bình địa, và bằng chứng này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay nếu ai đó chịu khó ghé thăm Đồng bằng Jars ở miền Bắc nước Lào.  Phần lớn những trận dội bom nhắm vào các vùng nông thôn không phòng vệ, bởi vì du kích Pathet Lào và bộ đội Bắc Việt Nam di chuyển trong rừng núi và máy bay không thể nào phát hiện từ trên không.  

 Tại Cambodia, các quan chức Mĩ tuyên bố rằng họ sẽ không dội bom xuống một làng nào nếu không có lệnh từ “Quan bom” ("Bombing Officer") từ Căn cứ không quân Nakhorn Phanom ở Thailand.  Nhưng đây là một sự nói láo trắng trợn.  Tôi đã từng thu băng các cuộc đối thoại, thảo luận giữa các phi công và sĩ quan không lưu khi họ dội bom.  Các cuộc đối thoại này cho thấy các phi công Mĩ chẳng bao giờ hỏi “Quan bom” có nên thả bom hay không; họ tự hành động theo ý họ.  Sự thật này cũng từng được Sidney Schanberg đề cập đến trên tờ New York Times vào tháng 5 năm 1973.  Sau này tôi còn có dịp phỏng vấn một Quan bom tại Căn cứ Không quân Nakhorn Phanom, và ông ta cho biết công việc duy nhất của ông ta là làm sao bảo vệ an toàn cho các tình báo viên CIA tại những nơi bị dội bom.    

 Mĩ đã dội xuống Đông Dương 6.727.084 tấn bom, hơn 3 lần số bom dội xuống Âu châu và Thái Bình dương trong thế chiến thứ II.  Chúng ta sẽ không bao giờ biết được có bao nhiêu người Đông Dương vô tội đã chết vì những trận dội bom phi pháp, nhưng theo ước đoán của cựu Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara thì khoảng 3,4 triệu người Việt Nam, Lào và Cam-bốt đã chết tromg chiến tranh.  Bởi vì phần lớn những cái chết này do bom đạn của Mĩ gây ra, con số thường dân vô tội bị chết phải lên đến vài trăm ngàn người.

 Phát biểu trong chương trình “Meet The Press” vào tháng Tư năm 1971, John Kerry cho biết, “Tôi đã từng dính dáng đến những vụ tàn sát và liên lụy đến những tội ác mà hàng ngàn binh lính khác phạm phải; tôi cũng bắn phá vào những vùng được xem là bắn phá thoải mái; tôi đã từng dùng súng để uy hiếp người dân, để đánh phá đường giao thông, từng tham dự vào những đợt truy lùng và tiêu diệt, từng đốt cháy làng xã.  Tất cả những hành động này đi ngược lại với những luật lệ về chiến tranh trong Qui ước Geneva, và tất cả đều do cấp trên ra lệnh trên giấy trắng mực đen, và chính những người ra lệnh này cũng là những tên tội phạm chiến tranh.”  

 Đây là những sự thật, những gì đã xảy ra trên thực tế ở Đông Dương, và John Kerry xứng đáng được khen ngợi khi ông can đảm dám nói và nói lớn tiếng.  Những cựu chiến binh điều trần trước phiên tòa “Winter Soldier” tại Detroit về tội phạm chiến tranh đã gây một ảnh hưởng lớn đến John Kerry, và là động cơ cho ông nói lên sự thật trên chương trình Meet the Press.  Ấy thế mà những người quảng cáo Swift Boat dám sỉ nhục đến những cựu chiến binh can đảm này, dám nói rằng họ đã nói dối!    
 Gần đây, tờ Toledo Blade đã được trao giải thưởng Pulitzer vì những bài báo làm chấn động dư luận quốc tế về một nhóm lính biệt kích Mĩ đã phạm phải tội phạm chiến tranh tại Việt Nam.  Chẳng những thế, tờ Toledo Blade còn cho biết nhiều quan chức cao cấp nhất như Donald Rumsfeld (nay là Bộ trưởng Quốc phòng) từng biết rõ những tội phạm này nhưng cố tình làm ngơ để cho lính Mĩ thẳng tay giết người Việt Nam.  

 Vì công lí là công lí của kẻ mạnh, cho nên chẳng có một quan chức cao cấp nào trong bộ máy chiến tranh của Mĩ bị trừng phạt, hay bị kỉ luật, bởi vì những tội phạm mà chín họ ra lệnh.  Chúng ta không dạy cho con em chúng ta rằng quốc gia này có khả năng vi phạm những qui ước chiến tranh, rằng quốc gia này đã từng gây nên những tội phạm chiến tranh.  

 Điều này chẳng những là một sỉ nhục đến những người vô tội đã nằm xuống mà còn là một sỉ nhục đến lịch sử.  Nó làm tổn hại đến quyền lợi quốc gia của chúng ta.  Nếu những quan chức cao cấp bị trừng trị vì những tội phạm chiến tranh của họ tại Đông Dương, thì có lẽ chúng ta sẽ không phạm phải những xì-căng-đan trong nhà tù Abu Ghraib ngày nay.  Nếu những quan chức cao cấp bị trừng trị vì những tội ác của họ trong thời chiến thì có lẽ chúng ta sẽ không kinh qua những hận thù của khối Hồi giáo đối với chúng ta.  

 Nhưng ở đây vấn đề còn có một ý nghĩa lớn hơn.  Trong tương lai khả năng mà nước Mĩ gây ảnh hưởng tích cực đến thế giới – và duy trì lòng trung thành của giới trẻ –  tùy thuộc vào uy tín đạo đức của chúng ta, vào khả năng ghi nhận rằng không chỉ Mĩ mà còn có nhiều người khác trên hành tinh này cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc như chúng ta.  Nước Đức thời hậu chiến ghi nhận trách nhiệm về tội ác của Đức trong thế chiến thứ II, không chỉ vì nạn nhân của chiến tranh, mà còn vì tương lai nước Đức.  Người Đức hiểu rằng một quốc gia không dám nhìn nhận cái sai trái của mình trước con em mình và trước thế giới thì không thể nào khôi phục trung tâm đạo đức được.  

 Trịnh Công Sơn, một thi nhạc sĩ hát rong (poet-troubadour) của Việt Nam từng viết những câu sau đây:

“Xác người nằm trôi sông
phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố
 trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ
dưới mái hiên chùa
 Trong giáo đường thành phố
 trên thềm nhà hoang vu.  
Mùa xuân ơi, xác nuôi thơm cho đất ruộng cày
Việt Nam ơi, xác thêm hơi cho đất ngày mai
Đường đi tới
dù chông gai
Thì quanh đây đã có người.”

 Nước Mĩ sẽ không thể nào khôi phục vị thế đạo đức trên trường quốc tế hay quên được nỗi ám ảnh cuộc chiến Đông Dương, nếu chúng ta không dạy cho con em chúng ta rằng chúng ta là tác giả tạo nên những xác người này, và chúng ta đã vi phạm các qui tắc chiến tranh.  Nếu Mĩ muốn trở thành một quốc gia được xây dựng trên nền tảng sự thật, chúng ta hãy bắt đầu với một trong những chân lí quan trọng nhất: đó là chúng ta phải nhận lãnh trách nhiệm về những cái chết của thường dân mà chúng ta gây nên trong cuộc chiến Đông Dương.  
 
Nguyễn Văn dịch

Fred Branfman, từng là Giám đốc Dự án Chiến tranh trên không (Project Air War) vạch trần những trận dội bom của Mĩ vào các làng xã ở Đông Dương.  Ông hiện về hưu và tập trung vào việc viết sách.  Ông hiện sống tại Santa Barbara, bang California.

War Crimes in Indochina and Our Troubled National Soul (http://www.wagingpeace.org/articles/2004/08/00_branfman_us-warcrimes-indochina.htm). Nuclear Age Peace Foundation, 1998


Tiêu đề: Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai - Merle L. Pribbenow
Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Năm, 2010, 03:10:29 am
Xin giới thiệu một bài viết của cựu nhân viên CIA về tương quan lực lượng giữa VNDCCH - VNCH và chiến lược của đôi bên trong năm 1975, bài viết hoàn toàn bác bỏ luận điệu rằng VNCH thiếu thốn đủ thứ khi người viết cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa “không hề là hổ giấy” cho đến khi đầu hàng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Bài viết này do Đoan Trang lược dịch và chú thích, có lẽ do cô không rành về quân sự nên thuật ngữ cô dịch không được chính xác, xong chỉ là một chút sạn nhỏ, sau đây là lời giới thiệu và bản dịch của Đoan Trang:

Vào mùa xuân năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đối diện với vấn nạn thiếu đạn dược nghiêm trọng, trong khi Quân đội Việt Nam Cộng hòa của chính quyền Sài Gòn “không hề là hổ giấy”. Merle L. Pribbenow, cựu nhân viên CIA về Đông Dương, nhận định như vậy về tình hình hai bên trong một bài nghiên cứu chi tiết có tựa đề: “Tổng tiến công Mùa Xuân 1975: Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai”.

(http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/cf37b77d8e7a4517a034625aa05bfa8a-14-Sach.jpg/14-Sach.jpg)
Merle L. Pribbenow tốt nghiệp Đại học Washington năm 1968, chuyên ngành khoa học chính trị. Ông là nhân viên Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) ở Đông Dương, có 27 năm kinh nghiệm nghiên cứu về Việt Nam, trong đó có năm năm làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn tính đến ngày 29-4-1975. Kể từ khi về hưu (năm 1995), ông đã viết ba bài nghiên cứu lịch sử chiến tranh ở Việt Nam và dịch một cuốn sách của Bộ Quốc phòng Việt Nam sang tiếng Anh, xuất bản tháng 5-2002 tại Mỹ.

Gần một phần tư thế kỷ trước, một đất nước thuộc thế giới thứ ba đã giành thắng lợi trong trận đánh cuối cùng của một cuộc chiến tranh gian khổ kéo dài, nhờ áp dụng một chiến lược tấn công hiện đại, dứt khoát và bất ngờ. Ngày nay, bài học rút ra từ chiến thắng này vẫn thật đáng nhớ, khi chúng ta đang sống trong một thời đại có khuynh hướng cậy vào công nghệ hơn là vào tư duy chiến lược và mặc định rằng các kỹ năng chiến lược của đối phương cũng lạc hậu như nền kinh tế, cấu trúc xã hội và nền tảng công nghệ của họ.

Vào ngày mồng 4 tháng 3 năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam (miền Bắc) tiến hành chiến dịch cuối cùng trong cuộc chiến 30 năm của họ bằng một loạt đợt tấn công vào các vị trí của miền Nam ở đèo Măng Giang, Tây Nguyên. Chiến dịch của họ - kết thúc thắng lợi hoàn toàn không đầy hai tháng sau đó - không giống như bất kỳ trận đánh nào trong lịch sử kéo dài của cuộc chiến tranh.

Khác biệt là ở chỗ, lần đầu tiên, nghệ thuật làm chiến dịch của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) không đặt cơ sở vào ý chí sẵn sàng hy sinh nhiều hơn đối thủ. Ngoài ra, họ cũng chỉ nhắc một cách chiếu lệ tới học thuyết cũ về một cuộc toàn dân nổi dậy. Thay vì tất cả những cái đó, chiến dịch của QĐNDVN dựa vào các kỹ năng đánh lừa, nghi binh (vu hồi), gây bất ngờ, tiếp cận gián tiếp , đánh lần lượt từng cụm căn cứ - nói tóm lại, một chiến dịch rất trí tuệ. QĐNDVN cuối cùng đã vươn tới một chiến dịch xứng tầm với một lực lượng quân đội chuyên nghiệp, hiện đại, thứ mà các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã nỗ lực rất lâu để xây dựng.

Nhiều sử gia vẫn cho rằng trong bối cảnh viện trợ quân sự của Mỹ cho miền Nam giảm toàn diện sau năm 1973, bất kỳ một cuộc tấn công lớn nào của cộng sản cũng sẽ thắng lợi. Tuy vậy, lực lượng đương đầu với QĐNDVN hồi đầu năm 1975 - Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) - không hề là hổ giấy. Khi QĐVNCH gặp phải những vấn đề nghiêm trọng về hậu cần và tinh thần chiến đấu, phần lớn lãnh đạo của họ kém năng lực, thì những người lính trong QĐVNCH, vốn dày dạn trận mạc, lại vẫn duy trì được một lượng đạn dược và trang thiết bị khổng lồ (như đã thể hiện qua số lượng cực lớn các phương tiện chiến tranh mà quân Bắc Việt thu được khi chiến tranh kết thúc). Cứ cho rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam là không thể tránh khỏi, nhưng kết cục có lẽ đã đẫm máu và kéo dài hơn nhiều nếu những người cộng sản chọn một kế hoạch tấn công khác, theo kiểu truyền thống hơn . Đòn tiêu diệt mạnh nhất của toàn bộ chiến dịch tổng tiến công thực ra chính là đòn tâm lý choáng váng mà chiến lược tài ba và đầy bất ngờ của họ đã nện vào tổng tư lệnh Việt Nam Cộng hòa.

Kế hoạch ban đầu

Những hạt mầm của chiến dịch Tổng Tiến công 1975 của miền Bắc Việt Nam đã được gieo từ hai hội nghị quân sự cấp cao tổ chức tại Hà Nội vào tháng ba và tháng tư năm 1974 để đánh giá tình hình chiến sự. Hai hội nghị này đi đến kết luận rằng QĐNDVN đã giành lại được thế chủ động ở miền Nam, lần đầu tiên kể từ chiến dịch Quảng Trị 1972. Sau Hiệp định ngừng bắn ký tại Paris tháng giêng năm 1973, QĐNDVN đã mở rộng đáng kể tuyến đường huyết mạch chuyên chở hậu cần của họ tới miền Nam - Đường Hồ Chí Minh. Do con đường không còn chịu sự tấn công của không quân Mỹ, miền Bắc Việt Nam nay đã có thể vận chuyển khối lượng khổng lồ trang thiết bị và hàng tiếp tế vào Nam: chỉ riêng trong năm 1973, đã có 80.000 tấn hàng quân sự được cung cấp, trong đó có 27.000 tấn vũ khí, 6.000 tấn chế phẩm xăng dầu, và 40.000 tấn gạo. 100.000 quân nhân mới của QĐNDVN đã hành quân dọc Đường Hồ Chí Minh vào Nam trong suốt năm 1973, và 80.000 người khác lên đường Nam tiến trong nửa đầu năm 1974. Sức mạnh quân đội của QĐNDVN ở chiến trường miền Nam, vốn bị mất đi một phần trong chiến dịch Quảng Trị 1972, giờ đây ở mức hùng hậu nhất trong lịch sử cuộc chiến tranh: 400.000 lính chính quy. QĐNDVN đã có thể thấy ánh sáng cuối đường hầm. Vấn đề họ đang đối diện là làm thế nào để đi tới đoạn cuối đó.

(http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/00d07225a2214524bca0c365e8bc125d-14-chot.jpg/14-chot.jpg)
Bản đồ Nam Việt Nam trước 1975.

Sau hai hội nghị tháng ba và tháng tư, vào tháng năm, Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội hoàn thành dự thảo, “Đề cương sơ bộ về một kế hoạch giành chiến thắng trong chiến tranh ở miền Nam”. Nghiên cứu này được gửi tới Tổng Tư lệnh của QĐNDVN, đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, để ông duyệt. Ngày 18-1-1974, sau khi đánh giá cẩn thận đề cương này, Tướng Giáp gọi người phó của ông, Tướng Hoàng Văn Thái, và ra lệnh chuẩn bị cho một kế hoạch chiến dịch chính thức nhằm vào việc giành thắng lợi hoàn toàn ở miền Nam muộn nhất trong năm 1976. Quan điểm chung của ông Giáp là một cuộc tấn công hai giai đoạn, bao gồm một đợt công kích lớn của quân chủ lực vào Tây Nguyên, sau đó là một cuộc tấn công dốc toàn lực nhằm vào lực lượng bảo vệ Sài Gòn. (Nhiều sử gia – những người khẳng định Tướng Giáp ít hoặc không đóng vai trò nào trong Tổng Tiến công 1975 - cho rằng tới lúc đó ông đã bị hạn chế đến mức chỉ còn vị thế bung xung, do sức khỏe kém và do thất bại của ông trong hai chiến dịch 1968 và 1972. Tuy nhiên, những tư liệu của chính quyền cộng sản lại mô tả Giáp với tư cách một người tham gia rất nhiều vào việc lập kế hoạch và chỉ huy tổng thể chiến dịch từ lúc hình thành ý tưởng cho tới thắng lợi cuối cùng). Ngày 26-8-1974, sau khi xem lại một số bản dự thảo trước đó, Bộ Tổng Tham mưu hoàn tất “Kế hoạch chiến lược 1975-76" và ban hành trong ban lãnh đạo cấp cao của Đảng cũng như chuyển cho các chỉ huy quân sự cấp cao để xin ý kiến. Kế hoạch hoàn chỉnh cuối cùng được trình các lãnh đạo Đảng duyệt tại một phiên họp kéo dài của Bộ Chính trị vào tháng 10 năm 1974.

Mặc dù QĐNDVN biết họ đã giành được thế chủ động chiến lược ở miền Nam Việt Nam, kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu vẫn khá thận trọng, bởi họ vẫn đang phải đương đầu với một số vấn đề nghiêm trọng. Các nỗ lực của cộng sản nhằm xây dựng lại căn cứ du kích ở vùng nông thôn Việt Nam đã thất bại trên diện rộng, chỉ đạt 30% trong tổng số mục tiêu sức mạnh quân sự trong kế hoạch 1973-74 của các lực lượng vũ trang địa phương ở miền Nam. Thêm vào đó, cơ sở chính trị ở nội đô cũng rất yếu, và quan trọng nhất là, các lực lượng chính quy của QĐNDVN đối diện với tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng về vũ khí hạng nặng và đạn dược. Thêm nữa, mặc dù giới lãnh đạo của Bắc Việt tin rằng họ có một cửa cơ hội vài năm có một để giành chiến thắng trước khi Mỹ phục hồi trở lại sau những bê bối chính trị trong nước, QĐNDVN tin rằng họ vẫn phải cảnh giác với sự can thiệp có thể có từ nước ngoài. Trong các chỉ thị ban đầu của Tướng Giáp, có yêu cầu các lực lượng quân đội của miền Bắc phải chuẩn bị cho khả năng cuộc tổng tiến công có thể khiêu khích Mỹ ném bom trở lại vào miền Bắc hoặc thậm chí đổ bộ vào vịnh Bắc Bộ. Bộ Tổng Tham mưu quyết định rằng, xét các vấn đề này, QĐNDVN không thể đi tới một chiến dịch “tổng tấn công và nổi dậy toàn quốc” kiểu Tết Mậu Thân 1968, huy động lượng lớn du kích ở nông thôn và thành thị (mà họ không hề có), cũng như không có các nguồn lực để tiến hành một cuộc tấn công ồ ạt, trên toàn tuyến, theo kiểu truyền thống như chiến dịch Quảng Trị 1972.


Tiêu đề: Re: Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai - Merle L. Pribbenow
Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Năm, 2010, 03:11:47 am
Sự thiếu hụt về tăng thiết giáp và trọng pháo - điều kiện cần để tấn công vào các căn cứ ở cấp sư đoàn và trung đoàn vốn được trang bị rất đầy đủ của VNCH - đè nặng lên tâm trí những nhà hoạch định chiến lược của Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN, những người đã lập nên bản kế hoạch để trình Bộ Chính trị vào tháng 10 năm 1974. Sau này, người ta chủ yếu tìm hiểu xem tình trạng thiếu đạn trong quân đội VNCH tác động như thế nào đến sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, mà không biết rằng chính QĐNDVN mới chịu thiếu hụt nghiêm trọng. Viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt ở danh mục “vũ khí tấn công” (xe tăng và pháo), đã giảm đáng kể từ sau Hiệp định Paris 1973. Những thiệt hại lớn của QĐNDVN trong chiến dịch Quảng Trị 1972 càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu hụt do sự suy giảm viện trợ này gây ra. Ngoài ra, phần lớn xe tăng và pháo của QĐNDVN ở trong tình trạng rất tồi tệ, phụ tùng thì thiếu. Nhiều đơn vị pháo binh của QĐNDVN, nhất là ở miền Nam, vẫn chỉ được trang bị súng cối hạng nhẹ, súng trường không giật (DKZ), hoặc ống phóng hỏa tiễn vác vai (B40).

Ở địa bàn hoạt động của Văn phòng Trung ương cục Miền Nam, tức là nửa phía nam của đất nước, bảy sư đoàn bộ binh (số 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9) và khung quân đoàn 4 chỉ được yểm trợ bởi năm tiểu đoàn pháo (hai trong số đó có trang bị pháo lấy được của Mỹ nhưng còn rất ít đạn) và ba tiểu đoàn tăng thiết giáp thiếu bộ đội. Khi Quân đoàn 2 của QĐNDVN chiếm Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975, họ cũng chỉ có tổng cộng 89 xe tăng và thiết giáp chở quân, 87 cỗ pháo.

Tuy nhiên, vấn đề gay go nhất là nạn thiếu nghiêm trọng đạn cho xe tăng và trọng pháo (tức là pháo dã chiến và cối 85mm trở lên). Hồi chiến dịch Quảng Trị 1972, quân đội miền Bắc đã bắn hơn 220.000 viên đạn xe tăng và trọng pháo, trong đó 150.000 viên đã được sử dụng chỉ riêng tại mặt trận Quảng Trị. Cho đến năm 1974, toàn bộ kho đạn pháo và đạn tăng của QĐNDVN, bao gồm tất cả đạn dược của cả các đơn vị chiến đấu ở chiến trường lẫn của các kho dự trữ chiến lược, tổng cộng chỉ được 100.000 viên. Tình hình đạn dược nghiêm trọng tới mức các chỉ huy pháo binh phải thay pháo lớn ở một số đơn vị bằng các khẩu pháo đã lỗi thời 76,2mm và 57mm, lấy từ kho ra.

Vì những vấn đề này, Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN ban hành sắc lệnh rằng tất cả các vũ khí hạng nặng và đạn dược còn lại phải được sử dụng thật tiết kiệm, để dành cho một đòn quyết định, chỉ tiến hành khi trận cuối cùng diễn ra. Kế hoạch 1975-76 chỉ cho phép dùng hơn 10% kho đạn tăng-pháo còn lại của QĐNDVN trong cả chiến dịch 1975. 45% được phân phối cho chiến dịch 1976, phần còn lại để dự trữ.

Ngày 26-8-1974, Bộ Tổng Tham mưu hoàn tất “Kế hoạch chiến lược 1975-1976”. Tháng 10-1974, Bộ Chính trị họp thông qua bản kế hoạch hoàn chỉnh.

Nếu theo đúng kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu, cuộc tổng tiến công sẽ phải kéo dài hết năm 1975, sang năm 1976. Sở dĩ phải thận trọng như thế bởi QĐNDVN lúc đó đối diện với rất nhiều khó khăn mà nổi bật lên là vấn nạn thiếu đạn và nguy cơ can thiệp từ nước ngoài.

Vì các lý do trên, Bộ Tổng Tham mưu nhận định rằng không thể tiến hành một chiến dịch “tổng tấn công và nổi dậy toàn quốc” kiểu tết Mậu Thân 1968, huy động lượng lớn du kích ở nông thôn và thành thị (mà họ không hề có), cũng như không đủ lực để tiến hành một cuộc tấn công ồ ạt trên toàn tuyến theo kiểu chiến tranh quy ước như ở Quảng Trị hồi 1972.

“Thời cơ chiến lược”

Kế hoạch tháng 10 thận trọng song cũng rất đề cao yếu tố thời cơ. Mục tiêu tổng quát của kế hoạch là bằng bất cứ cách nào khả dĩ, tạo ra cái mà QĐNDVN gọi là “thời cơ chiến lược”. Thời cơ chiến lược này có thể là một cuộc binh biến ở Sài Gòn, một cuộc đảo chính dẫn tới sự sụp đổ của chính quyền Miền Nam Việt Nam, hoặc một chiến thắng quân sự quyết định của các đơn vị quân chủ lực QĐNDVN. Kế hoạch lệnh cho tất cả các lực lượng cộng sản hành động ngay lập tức và quyết liệt, bất cứ khi nào thời cơ chiến lược xuất hiện, để khai thác thời cơ ấy bằng cách tổ chức tấn công toàn diện, nhằm giành thắng lợi hoàn toàn trong thời gian ngắn nhất có thể trước khi các nước “có xu hướng can thiệp”, chủ yếu ám chỉ Mỹ và Trung Quốc, kịp phản ứng.

Kế hoạch tấn công năm 1975 được chia thành ba giai đoạn và sẽ được tiếp nối vào năm 1976 bởi một cuộc “tổng tiến công và nổi dậy” để “giải phóng” hoàn toàn miền Nam. Giai đoạn đầu của kế hoạch 1975 là một cuộc tấn công có giới hạn trong địa bàn tác chiến của Văn phòng Trung ương Cục Miền Nam, kéo dài từ tháng 12 năm 1974 tới tháng 2 năm 1975. Giai đoạn hai, trung tâm của Tổng Tiến công 1975, sẽ bắt đầu từ tháng 3 năm 1975 với cuộc tấn công tầm cỡ quân đoàn vào tiền đồn gần biên giới Đức Lập trên Đường 14 tại phần cực phía nam của Tây Nguyên. Trận Đức Lập sẽ được hỗ trợ bởi các hoạt động phụ có tính chất nghi binh ở miền Đông Nam Bộ (toàn khu vực từ Sài Gòn tới rìa Tây Nguyên), vùng hạ du ở miền Trung Việt Nam, và khu vực Trị Thiên (phía bắc vùng hoạt động của Quân đoàn I VNCH). Giai đoạn ba, từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1975, kết hợp các cuộc tấn công truy đuổi ở phần phía bắc của miền Trung, củng cố lực lượng QĐNDVN trên phần còn lại của miền Nam, và chuẩn bị “kế hoạch bất ngờ” khi cần. Các mục tiêu kế hoạch cho năm 1975 là tiêu hao một phần đáng kể tổng lực của VNCH; làm thất bại chương trình “bình định”; mở rộng mạng lưới hậu cần tiếp tế của QĐNDVN xuống Đường 14 tới tận Đồng bằng Sông Cửu Long; chặt đứt đường liên lạc của đối phương; phá hoại nền kinh tế miền Nam Việt Nam; và kích động chống đối chính trị nhằm vào chính quyền miền Nam. Tất cả các mục tiêu khác nhau này đều hướng tới mục đích tối hậu: làm hao mòn sức kháng cự của miền Nam Việt Nam và tạo điều kiện cho sự xuất hiện “thời cơ chiến lược”.

Mặc dù Bộ Chính trị phê chuẩn kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu trong phiên họp tháng 10, nhưng họ không hoàn toàn thỏa mãn và quyết định gặp lần nữa vào tháng 12 để xem lại các bước tiến triển và duyệt lại kế hoạch nếu thấy cần thiết. Mọi sự cố xảy ra lúc này đều có thể làm thay đổi đáng kể kế hoạch của QĐNDVN. Tại phiên họp toàn thể hồi tháng 10, Bộ Chính trị đã nhận định rằng căn cứ tình hình nội bộ nước Mỹ (hậu quả chính trị của vụ Nixon từ chức), Mỹ sẽ không can thiệp trở lại vào cuộc chiến tranh một cách đáng kể. Điều này dẹp bỏ mối lo ngại chính yếu của các nhà hoạch định chiến lược miền Bắc, cho phép họ tự do cân nhắc khả năng tấn công mạnh hơn. Thêm vào đó, trong một cuộc giao tranh kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1974, Sư đoàn 304 của QĐNDVN đã phá được căn cứ Thượng Đức ở khu vực miền núi phía tây Đà Nẵng, và đánh bại một loạt cuộc phản công quyết liệt của hai sư đoàn VNCH - Sư đoàn số 3 và Sư đoàn Kỵ binh bay. Chiến thắng Thượng Đức thuyết phục các nhà lãnh đạo QĐNDVN rằng quân đội của họ giờ đây đã có thể đánh bại ngay cả những đạo quân tinh nhuệ nhất mà VNCH có thể xây dựng được.

Tuy nhiên, hai yếu tố tối hậu trong sự hình thành và phát triển chiến dịch cuối cùng của QĐNDVN, là hai điều mà các nhà hoạch định chiến lược ở bất kỳ nơi đâu đều cần đến: thời (thời cơ) và nhân (con người). Yếu tố con người trong trường hợp này là một vị tướng đầy tham vọng, Trần Văn Trà. Ông là tư lệnh quân đội của Trung ương Cục Miền Nam, một vị trí mà ông đã nắm giữ rồi thôi, rồi lại tiếp tục, suốt từ năm 1964 đến lúc đó. Tướng Trà bị nhiều ý kiến chê trách là người đã chịu trách nhiệm hoạch định cuộc tấn công thảm họa Tết Mậu Thân 1968 vào Sài Gòn, và hậu quả là sự nghiệp của ông bị chững lại từ hồi đó. Giờ đây, ông đã nhìn thấy một cơ hội để chuộc lỗi.

Như chúng ta đã biết, điểm chính trong kế hoạch tổng thể của Bộ Tổng Tham mưu là yêu cầu toàn quân phải chuẩn bị để khai thác ngay lập tức bất kỳ thời cơ chiến lược nào nảy sinh. Khi Tướng Trà nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu Trung ương Cục Miền Nam phải dự kiến các tình huống cho một cuộc tấn công thần tốc vào Sài Gòn trong trường hợp xảy ra một “sự biến chính trị - quân sự” (đảo chính), ông biến cái “dự kiến” này thành nền tảng kế hoạch của toàn Trung ương Cục Miền Nam cho năm 1975. Tướng Trà đặt việc chiếm Sài Gòn trong năm 1975, không kéo dài sang năm 1976, là mục tiêu cao nhất trong kế hoạch của Trung ương Cục Miền Nam. Ông yêu cầu Hà Nội ngay lập tức gửi cho mình 3-4 sư đoàn để triển khai kế hoạch này, và ông thay đổi giai đoạn một – giai đoạn tấn công của Trung ương Cục Miền Nam theo lời kêu gọi của Bộ Tổng Tham mưu - thành một chiến dịch lớn nhằm vào việc tạo cơ sở cho cuộc tấn công vào Sài Gòn, bằng cách chiếm quyền kiểm soát toàn tỉnh Phước Long. Bộ Tổng Tham mưu không đáp lại yêu cầu này, Tướng Trà bèn quay về Hà Nội để thuyết phục từng cá nhân.

Trở về Hà Nội vào cuối tháng 11 năm 1974, Trần Văn Trà được biết rằng Bộ Tổng Tham mưu đã bác phần lớn kế hoạch tấn công Phước Long của ông và không tán thành việc Trung ương Cục Miền Nam sử dụng trước bất kỳ xe tăng và trọng pháo nào trong các cuộc tấn công có quy mô nhỏ. Trần Văn Trà bắt đầu vận động các đồng chí cũ trong ban lãnh đạo Đảng, đặc biệt là Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, ngõ hầu lật ngược quyết định của Bộ Tổng Tham mưu. Sau nhiều nỗ lực, may mắn cuối cùng đã mỉm cười với Tướng Trà. Suốt những cuộc tấn công đầu tiên, quân của Tướng Trà cả phá các đồn nhỏ của VNCH ở Bù Đăng và Bù Na trên Đường 14. Tổng Tư lệnh Quân đội Trung ương Cục Miền Nam báo cáo về Hà Nội vào ngày 20 tháng 12 rằng trong đợt phá hai đồn này, các lực lượng QĐNDVN đã thu được nguyên vẹn 4 khẩu lựu pháo 105 mm và 7.000 viên đạn pháo. Kho báu ngoài dự tính này làm các nhà lãnh đạo ở Hà Nội choáng váng. 7.000 viên đạn pháo là hơn nửa số đạn Bộ Tổng Tham mưu có kế hoạch sử dụng trên toàn quốc trong suốt chiến dịch 1975. Tướng Trà bây giờ đã có thể lập luận rằng ông có thể sử dụng kho báu này cho cuộc tấn công vào thủ phủ của tỉnh Phước Long theo kế hoạch ông đã lên mà thậm chí không cần động tới số dự trữ đạn dược hiện tại. Trên thực tế, QĐNDVN có thể kỳ vọng sẽ chiếm được thậm chí còn nhiều đạn được hơn ở các căn cứ lớn hơn. Đó là một lập luận mà các nhà lãnh đạo không thể bác được. Tướng Trà được phép triển khai kế hoạch ban đầu của ông.

Vào ngày 6 tháng 1, Sư đoàn số 3 và số 7 của QĐNDVN hoàn tất việc chiếm tỉnh Phước Long bằng cách chiếm thủ phủ của tỉnh và thu được thêm 10.000 viên đạn pháo. Miền Nam thậm chí không có nổi một nỗ lực động tác giả để lấy lại Phước Long, và tuy Mỹ đe dọa hành động bằng cách cho tàu sân bay Enterprise chuyển hải trình về phía Miền Nam Việt Nam, nhưng Enterprise đã sớm quay lưng và mối đe dọa từ Mỹ tan thành mây khói.


Tiêu đề: Re: Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai - Merle L. Pribbenow
Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Năm, 2010, 03:13:58 am
Chiến thắng bất ngờ ở Phước Long cuối cùng đã thuyết phục các nhà lãnh đạo cộng sản rằng kế hoạch ban đầu của họ là quá thận trọng.

Đánh giá của Bộ Chính trị rằng Mỹ sẽ không tái can thiệp vào chiến cuộc đã tỏ ra là đúng đắn, những điểm yếu trong hàng phòng thủ của VNCH đã bị bộc lộ, và, cũng quan trọng chẳng kém, là cuối cùng đã có giải pháp cho vấn nạn thiếu đạn dược nghiêm trọng: đánh và chiếm các kho đạn dược của VNCH. Thêm vào đó, trận chiến ở Phước Long chứng tỏ cho Bộ Chính trị thấy rằng kế hoạch cho cuộc tấn công chính của QĐNDVN vào năm 1975, cuộc tấn công tháng ba vào Đức Lập bởi ba sư đoàn QĐNDVN, bây giờ đã lỗi thời và cần phải thay đổi. Kế hoạch được phê duyệt vào tháng 10 đặt ra hai mục tiêu chính cho trận Đức Lập: thứ nhất, đánh thông Đường 14 để sử dụng làm đường vận tải chiến lược cho cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn; thứ hai, kéo quân vào tiêu diệt một phần đáng kể binh lính VNCH khi họ cố gắng lấy lại các vùng lãnh thổ đã mất. Căn cứ vào các kinh nghiệm thu được từ Phước Long, bây giờ đã rõ ràng rằng nếu Đức Lập bị tấn công thì mục tiêu thứ hai sẽ không đạt được. Chiến thắng Phước Long chứng tỏ rằng VHCN vốn đã có ý định bỏ các khu vực ở xa và không quan trọng về mặt chiến lược như Đức Lập. Nếu VNCH không cố gắng chiếm lại Đức Lập, thì toàn bộ ba sư đoàn của QĐNDVN sẽ bị bỏ lại ở nơi không có ai để đánh, và như thế, yếu tố bất ngờ đã bị mất. Trần Văn Trà cho rằng chính ông là người đầu tiên đề nghị thay đổi mục tiêu tấn công sang Buôn Mê Thuột. Dù Tướng Trà có phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng đó hay không, thì các nhà lãnh đạo cộng sản cũng đã giang rộng vòng tay ôm lấy cơ hội chiếm Buôn Mê Thuột.

Buôn Mê Thuột là một thành phố có hơn 100.000 dân, “thủ phủ” của người dân tộc ở Tây Nguyên. Nơi đây có cơ quan đầu não và hậu cứ của Sư đoàn 23 VNCH, trong đó có khu căn cứ hậu cần Mai Hắc Đế đầy cám dỗ với những kho đạn pháo lớn. Thành phố nằm trên một giao điểm quan trọng sống còn, là nơi Đường 14 - chạy từ Kontum xuống phía nam tới cửa ngõ phía bắc của Sài Gòn - gặp Đường 21 - chạy theo hướng đông tới thành phố duyên hải Nha Trang. Nếu chiếm được Buôn Mê Thuột, các lực lượng QĐNDVN có thể di chuyển nhanh chóng bằng đường bộ lên phía bắc để chiếm Pleiku ở hậu phương, sang phía đông để cắt Việt Nam làm đôi, hoặc xuống phía nam để tấn công Sài Gòn. VNCH không thể để mất một vị trí chiến lược như vậy và sẽ bị buộc phải tổ chức phản công. Điều này càng đúng hơn bởi vì các gia đình của những quân nhân trong Sư đoàn 23 lại đều sinh sống ở Buôn Mê Thuột – quân đội VNCH chỉ đơn giản là không thể bỏ mặc vợ con mà tháo chạy, không chiến đấu. Trước đó 10 năm, thôn Bình Giã nhỏ xíu ở phía đông Sài Gòn đã được chọn làm mục tiêu của chiến dịch hợp đồng tác chiến liên trung đoàn đầu tiên của quân đội miền Bắc trong chiến tranh (tháng 12 năm 1964) chủ yếu vì lẽ, gia đình của nhiều lính thủy đánh bộ VNCH sinh sống ở Bình Giã. Các chỉ huy của QĐNDVN đã biết từ trước rằng VNCH sẽ buộc phải tấn công để chiếm lại thôn này, cứu người thân, nên họ đã giăng bẫy và tiêu diệt lực lượng viện binh của VNCH. Giờ đây, QĐNDVN lặp lại mẹo đó trên một quy mô rộng lớn hơn. Bởi vì Buôn Mê Thuột được bảo vệ rất mỏng (chỉ bởi Trung đoàn Bộ binh số 53 thiếu quân số, một tiểu đoàn xe tăng và pháo, và vài tiểu đoàn lính địa phương), một cuộc tấn công mạnh và bất ngờ vào thành phố sẽ nhanh chóng chế ngự những người bảo vệ nó. Một khi thành phố đã mất, các lực lượng QĐNDVN có thể triển khai phong tỏa và bẻ gãy các cuộc phản công của VNCH, trong khi đó viện binh của VNCH bị kẹt ở nơi đồng không mông quạnh, không kịp đào công sự bảo vệ.

Vào ngày 7-1-1975, theo nghị quyết của phiên họp Bộ Chính trị phê duyệt kế hoạch mới, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đặt ra các mục tiêu của cuộc tấn công: Ở Quân khu 5 và Tây Nguyên, sử dụng ba sư đoàn chủ lực tấn công Tây Nguyên, mở ra một hành lang nối kết phần phía nam của Tây Nguyên với phía đông của Nam Bộ, và tạo điều kiện cho quân chủ lực di chuyển nhanh vào đông Nam Bộ, hợp tác với quân chủ lực của Trung ương Cục Miền Nam tấn công Sài Gòn. Các trận giao tranh mở màn sẽ nhằm chiếm Buôn Mê Thuột, đánh thông sang Tuy Hòa và Phú Yên, cắt đôi vùng hạ du ở Quân khu 5 (và miền Nam Việt Nam), và tạo ra một hướng khác để từ đó mau chóng tiến về phía nam, uy hiếp Sài Gòn.

Các triển vọng đầy hứa hẹn đến mức Bộ Chính trị, theo một đề xuất của Tướng Giáp, đã ra lệnh cho Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị kế hoạch mới để chiếm toàn bộ Miền Nam Việt Nam trong năm 1975.

Hai ngày sau, Quân ủy Trung ương họp và đặt ra các mục tiêu cụ thể cho chiến dịch Tây Nguyên 1975:

- Tiêu diệt từ 4 đến 5 sư đoàn bộ binh địch, 1 đến 2 chiến đoàn thiết giáp, gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị thuộc Quân đoàn 2 VNCH.
- Giải phóng các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức, đặt thành phố Buôn Mê Thuột làm mục tiêu chính.
- Nếu thời cơ phát sinh, mở rộng cuộc tấn công lên phía bắc để giải phóng Pleiku và Kontum, hoặc sang phía đông để chiếm Phú Yên, Khánh Hòa.

Để thể hiện tầm quan trọng mà các nhà lãnh đạo đánh giá đối với chiến dịch, Tổng Tham mưu trưởng, Thượng tướng Văn Tiến Dũng nhận lệnh vào Buôn Mê Thuột ngay lập tức với tư cách phái viên của Bộ Chính trị và Bộ Tổng Tham mưu trong Chiến dịch Tây Nguyên.

Kế hoạch mới này của QĐNDVN đầy táo bạo và sáng tạo. Sau này, khi Sài Gòn đã sụp đổ, một vị tướng cao cấp của Miền Nam Việt Nam phát biểu rằng ông đã nhìn thấy ở chiến lược của QĐNDVN sự phản ánh thuật “tiếp cận gián tiếp” của B.H. Liddell Hart. Đòn đánh quyết định của QĐNDVN sẽ không nhằm vào quân đội chính của kẻ thù, mà vào những điểm chiến lược được phòng thủ yếu nhất mà đối phương lại không thể để mất được. Kế hoạch nhấn mạnh vào các nguyên tắc: tập trung binh lực, tốc độ, bất ngờ, nghi binh. Cuối cùng, việc chiếm Buôn Mê Thuột sẽ cho phép QĐNDVN lựa chọn bất kỳ nơi nào trong nhiều phương án để làm mục tiêu tấn công tiếp theo, do đó buộc VNCH vốn đã bị dàn mỏng phải vắt óc cố đoán xem QĐNDVN sẽ tấn công ở đâu tiếp theo. Việc triển khai kế hoạch này sẽ đặt Miền Nam Việt Nam vào một tình thế mà Liddell Hart rất thích bẫy kẻ thù của mình vào: “Lưỡng nan giữa muôn trùng gai”. Nó buộc các chỉ huy của VNCH phải phạm sai lầm và đảm bảo cho QĐNDVN chuẩn bị khai thác mọi thời cơ có thể.

Từ đây, mọi sự bắt đầu diễn tiến nhanh. Các đơn vị tham gia cuộc tấn công (gồm Sư đoàn số 10 và 320 của Mặt trận Tây Nguyên; Sư đoàn 968 từ Lào; Sư đoàn 316 tiến từ miền Bắc xuống phía nam; bốn trung đoàn bộ binh độc lập; các đơn vị tăng, pháo, và kỹ thuật; và 8.000 quân nhân tuyển mộ từ miền Bắc Việt Nam) bắt đầu tiến về điểm hẹn của họ. Mạng lưới tình báo tuyệt vời cho những người cộng sản biết rằng Miền Nam Việt Nam không hề hay biết gì về dự định thật của họ, cũng như họ đã giữ bí mật tuyệt đối lượng cung cấp hậu cần khổng lồ. Được đảm bảo như vậy, quân đội miền Bắc đã thực hiện một chiến dịch nghi binh vô cùng tinh xảo nhằm trực tiếp vào điểm mạnh nhất trong hệ thống tình báo của đối phương: hệ thống thiết bị điện tử và thám không của miền Nam Việt Nam và đồng minh Hoa Kỳ. Tại tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch Tổng Tiến công, sóng vô tuyến đều im lặng tuyệt đối. Nhân viên tình báo của QĐNDVN gửi đi hàng trăm tín hiệu vô tuyến giả, tổ chức những đoàn xe tải di chuyển lộ liễu, và tiến hành các hoạt động làm đường – những con đường ma – tất cả đều nhằm làm Miền Nam Việt Nam tin rằng Sư đoàn số 10 và 320 của QĐNDVN đang tập trung về Pleiku và Kontum và hai thành phố ở phía bắc Tây Nguyên này là mục tiêu thật sự của Việt Cộng. Chiến dịch nghi binh hiệu quả đến nỗi các chỉ huy quân đội Miền Nam Việt Nam đã bỏ qua một số báo cáo từ các điệp viên và bản khai của tù binh cho thấy QĐNDVN thật ra đang sắp tấn công Buôn Mê Thuột.

Đến cuối tháng 2, tất cả các đơn vị QĐNDVN đều đã sẵn sàng. Ngày 1 tháng 3, Sư đoàn 968 tấn công vài đồn nhỏ ở phía tây Pleiku, thu hút sự chú ý của VNCH vào mối đe dọa đối với thành phố Pleiku. Ngày 4/3, chiến dịch của QĐNDVN bắt đầu với một cuộc tấn công của Sư đoàn 95A, phá tan vài đồn nhỏ của VNCH canh Đường 19 trên Đèo Mang Yang, do đó cắt đứt đường tiếp tế chính cho các lực lượng VNCH ở Tây Nguyên. Xa hơn ở phía đông, trên Đường 19, Sư đoàn số 3 QĐNDVN tổ chức tấn công cắt đứt tuyến đường huyết mạch này và uy hiếp Sư đoàn số 22 VNCH. Ngày tiếp theo, Trung đoàn số 25 của QĐNDVN cắt Đường 21 - con đường duy nhất còn lại nối từ bờ biển vào Tây Nguyên, nối Buôn Mê Thuột và Nha Trang. Các lực lượng VNCH ở Tây Nguyên giờ đây bị cô lập và hoàn toàn phụ thuộc vào tiếp tế từ trên không. Tuy nhiên, phương tiện vận tải hàng không nghèo nàn của không quân VNCH hoàn toàn không thích ứng với việc tiếp tế khẩn cấp ở quy mô này. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Chỉ huy của ông nhận ra rằng nếu Đường 19 và 21 không được mở lại sớm, các lực lượng VNCH ở Tây Nguyên sẽ nhanh chóng cạn kiệt lương thực, hết nhiên liệu và đạn dược. Ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 320 của QĐNDVN tràn ngập một huyện lỵ trên Đường 14 ở phía bắc Buôn Mê Thuột, cắt đường đi Pleiku và hoàn tất việc cô lập Buôn Mê Thuột. Sân khấu đã sẵn sàng cho cuộc tấn công cuối cùng của QĐNDVN, mà VNCH thì vẫn không đoán được Buôn Mê Thuột là mục tiêu.


Tiêu đề: Re: Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai - Merle L. Pribbenow
Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Năm, 2010, 03:15:06 am
Theo dõi các diễn biến từ Sài Gòn, Tổng thống Thiệu và Bộ Chỉ huy của ông không thể nào biết được đòn tiếp theo của cộng sản sẽ đánh vào đâu. Tiếp tục chiến dịch nghi binh của QĐNDVN và nhằm ngăn chặn lực lượng dự trữ của VNCH được chuyển lên để củng cố Tây Nguyên, trong những ngày trước khi đánh Buôn Mê Thuột, QĐNDVN tổ chức một đợt sóng các cuộc tấn công trên toàn Miền Nam Việt Nam. Ở phía bắc, vào ngày 5 tháng 3, công binh và du kích tấn công vùng hạ du Quảng Trị và Thừa Thiên, và ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 324 của QĐNDVN đánh mạnh vào tuyến phòng thủ chính của VNCH ở tây nam Huế. Về phía nam, ngày 7 tháng 3, quân đội cộng sản tiến hành một loạt vụ tấn công vào khu vực Sài Gòn và Đồng bằng Sông Cửu Long, mà đỉnh cao là chiếm một huyện lỵ chính ở phía tây bắc Sài Gòn. Tổng thống Thiệu và các tướng nghĩ nát óc. Rõ ràng là một cuộc tổng tiến công tổng lực của phe cộng sản diễn ra đến nơi rồi, nhưng đâu là mục tiêu chính? Đâu là nơi nguy hiểm nhất? Với Thiệu và các tướng, câu trả lời đã hiển nhiên: thủ đô Sài Gòn. Kế hoạch nghi binh của QĐNDVN đã diễn ra một cách hoàn hảo.

Ngày 9 tháng 3, Sư đoàn 10 của QĐNDVN, với hai trung đoàn bộ binh (số 26 và 66) và được yểm trợ chỉ với hai khẩu lựu pháo 105mm, 50 viên đạn, tấn công và đánh chiếm Đức Lập cùng toàn bộ các vị trí phòng thủ ở đó trong vòng 24 tiếng. VNCH mất ở đây tổng cộng ba tiểu đoàn, 14 khẩu pháo và 20 xe tăng. Sau khi củng cố chiến thắng, Sư đoàn 10 tiến theo hướng bắc, lên Buôn Mê Thuột.

(http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/05337394b2a84cf0aa29f25d7f18588e-14-box.jpg/14-box.jpg)
Xe tăng của ta tiến vào Ban Mê Thuột.

Rạng sáng 10 tháng 3, 12 trung đoàn QĐNDVN tổ chức tiến công bất ngờ mãnh liệt vào Buôn Mê Thuột. Sư đoàn công binh 198 và hai tiểu đoàn bộ binh đã bí mật lọt vào thành phố từ trước, sau đó tấn công hai sân bay của Buôn Mê Thuột, kho chứa hàng tiếp tế Mai Hắc Đế, và đầu não của Sư đoàn số 23 VNCH. 5 trung đoàn bộ binh (ba từ Sư đoàn 316, Trung đoàn số 24 thuộc Sư đoàn 10, và các chiến binh lão luyện của Trung đoàn 95B thuộc Sư đoàn 325) tiến vào thành phố từ ba hướng, dẫn đường là xe tăng và xe chở thiết giáp của Trung đoàn Thiết giáp số 273, và dưới một lưới lửa tạo bởi 78 súng hạng nặng của Trung đoàn pháo số 40 và 675. Trung đoàn chống máy bay 232 và 234 đi kèm các mũi tấn công, tạo ra một chiếc ô hỏa lực chắn máy bay rát đến mức các đợt tấn công bằng bom của không quân VNCH hầu như đều vô hiệu và gây hại cho chính quân đội họ ngang với cho đối phương. Sau 32 giờ giao tranh, các lực lượng QĐNDVN phá tan đầu não của Sư đoàn 23, bắt sống Phó tư lệnh Sư đoàn. Tướng Dũng báo về Hà Nội rằng quân của ông đã thu được 12 khẩu pháo và 100 tấn đạn pháo ở Buôn Mê Thuột. Điều này đảm bảo với Bộ Tổng Tham mưu rằng chiến dịch sẽ tiến triển mà không bị cản trở bởi nỗi lo thiếu đạn. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt ngay lập tức nhận ra tầm quan trọng của chiến thắng này. Trong suốt cuộc họp Bộ Chính trị vào 11/3, Lê Duẩn thảo luận về khả năng thời cơ chiến lược - thời điểm để tiến hành cuộc tổng tiến công cuối cùng - sắp đến. Chiến thắng trong chiến tranh sẽ đến với bên nào sẵn sàng đón lấy nó. Miền Bắc Việt Nam đã sẵn sàng.

(http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/2f28478b3eac4cfdb08ef4cd5dbff19a-14-chot-1.jpg/14-chot-1.jpg)
Giải phóng Ban Mê Thuột.

Hồi trống trận tiến công lúc đầu dường như nhằm vào Pleiku, sau là vào Sài Gòn và Huế, và bây giờ, thật bất ngờ, lại là cuộc tấn công Buôn Mê Thuột. Đó là những đòn tâm lý làm choáng váng các nhà lãnh đạo phía VNCH. Bối rối, tuyệt vọng, và hẳn là trong trạng thái sốc thực sự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra hai quyết định trọng yếu vào ngày 10 và 11 tháng 3, đánh dấu chấm hết cho số phận của Miền Nam Việt Nam. Việc đầu tiên là Thiệu ra lệnh rút lập tức Sư đoàn Kỵ binh bay VNCH, vốn là nền tảng phòng thủ của Quân đoàn 1, để về chống đỡ cho Sài Gòn. Khi các chỉ huy của VNCH cố gắng rút những đơn vị này về và tái triển khai để lấp đầy lỗ hổng để lại sau khi Sư đoàn Kỵ binh bay đã rút đi, hệ thống phòng thủ của Quân đoàn 2 bắt đầu nghiêng ngả như một căn nhà xây bằng các lá bài.

Tiếp theo, đúng như Miền Bắc Việt Nam đã đoán trước, Thiệu ra lệnh phản công lập tức để chiếm lại Buôn Mê Thuột “bằng mọi giá”. Do đường lên Buôn Mê Thuột đã bị cắt, viên chỉ huy Quân đoàn II của VNCH, Tướng Phạm Văn Phú, buộc phải dùng trực thăng đưa hai trung đoàn còn lại trong Sư đoàn 23 của ông lên trận địa, thả 5 tiểu đoàn vào một khu đất ở phía đông Buôn Mê Thuột trong thời gian từ ngày 12 tới 14 tháng 3 mà không có xe tăng và chỉ có sự trợ lực giới hạn của pháo binh. Trung đoàn đã hạ cánh vào chính giữa “vùng chết” (quyết chiến điểm) mà QĐNDVN giăng ra. Sư đoàn 10 của QĐNDVN, vừa trở về từ Đức Lập, có xe tăng và pháo binh hùng mạnh yểm trợ, đã chờ sẵn. Trong một cuộc tấn công chớp choáng bốn ngày, Sư đoàn 10 tràn lên và đánh tan hoang phần còn lại của Sư đoàn 23 và Chiến đoàn Biệt động quân số 21. Trong lúc đó thì với những kẻ hấp hối trong đội quân một thời hùng mạnh của VNCH ở Tây Nguyên, khi đường tiếp viện đã bị cắt và không còn hy vọng được cung ứng thêm hay cứu trợ, số phận của họ đã được định đoạt. Mệnh lệnh ngày 14 tháng 3 của Thiệu rút các lực lượng khỏi Pleiku xuống theo Đường 7B ra biển là một hành động tuyệt vọng nhằm cứu vãn những gì còn lại của lực lượng VNCH ở Tây Nguyên. Mệnh lệnh ngu xuẩn, thực hiện thì dốt nát, nhưng trong tình hình ấy thì đó là điều có thể hiểu được.

(http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/ab51eb7644ae4c8ebb1c18d1b5aa85c1-14-box1.jpg/14-box1.jpg)
Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh.

Khi các đoàn quân của Tướng Dũng hoàn tất việc tiêu diệt mũi rút lui của VNCH khỏi Pleiku, Tướng Giáp ra lệnh cho các lực lượng của ông xung quanh Huế đi vòng qua tuyến phòng thủ của VNCH – những dãy núi đã cản trở các cuộc tấn công trước kia của QĐNDVN. Ông Giáp ra lệnh cho Quân đoàn 2 QĐNDVN phái Sư đoàn 324 và 325 đánh trực tiếp vào vùng hạ du ở duyên hải, cắt đứt Đường 1 - đường rút lui chính của VNCH - và phá tan các đoàn quân tháo chạy trước khi họ có thể tập hợp và củng cố lại. Bị kẹt giữa đồng không mông quạnh, bị cô lập và cắt mọi đường tiếp tế, các đơn vị VNCH trên đường rút lui trong hoảng loạn đã bị quét sạch. Tới ngày 29 tháng 4, Huế, Đà Nẵng, và toàn bộ Quân đoàn 1 của VNCH đã nằm trong tay những người cộng sản.

Hồi kết

Trong khi đó, trong một phiên họp lịch sử của Bộ Chính trị vào ngày 18 tháng 3, Tướng Giáp đã đóng nhát búa cuối cùng vào cỗ quan tài của chế độ Miền Nam Việt Nam với một quyết định chiến lược lớn cuối cùng trong sự nghiệp quân sự chói sáng của ông. Tướng Giáp tuyên bố rằng cơ hội chiến lược chờ đợi từ bao lâu nay đã đến. Ông lệnh cho QĐNDVN ngay lập tức tổ chức một cuộc tổng tiến công trên toàn chiến trường để kiểm soát hoàn toàn Miền Nam Việt Nam ngay trong năm 1975. Lực lượng dự bị chiến lược cuối cùng của Miền Bắc Việt Nam - Quân đoàn số 1 tinh hoa - bây giờ đã đến lúc xung trận. Bộ Chính trị tức tốc phê chuẩn đề nghị của Tướng Giáp và ra lệnh tổng tiến công Sài Gòn từ mọi hướng.

Với quyết định này, kết cục của cuộc chiến không còn gì phải nghi ngờ nữa. Giấy báo tử coi 30 tháng 4 năm 1975 là ngày giỗ, nhưng phát súng hạ gục VNCH đã được bắn từ ngày 18 tháng 3 bởi Tướng Võ Nguyên Giáp. Chiến thắng cuối cùng này của Tướng Giáp đồng thời cũng là chiến thắng ít đổ máu nhất.

--------------------------------------------------------------------------------

(*) Liddell Hart (1895-1970), nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng người Anh, đưa ra khái niệm chiến lược “tiếp cận gián tiếp”, nghĩa là thay vì tấn công trực tiếp thì đánh vào chỗ đối phương không ngờ tới (ví dụ tập hậu, tạt sườn…).

Nguồn chúngta.com (http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Nhan-Thuc/Nghe_thuat_chien_tranh_VN_tien_cong_mua_xuan_1975)


Tiêu đề: Re: Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai - Merle L. Pribbenow
Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Năm, 2010, 03:17:21 am
Bác xem lại giúp em đoạn này :

…Tới ngày 29 tháng 4, Huế, Đà Nẵng, và toàn bộ Quân đoàn 1 của VNCH đã nằm trong tay những người cộng sản…

Lỗi đó của trang web gốc bác ạ, em không sửa, mà đính chính lại ở đây:

…Tới ngày 29 tháng 3, Huế, Đà Nẵng, và toàn bộ Quân đoàn 1 của VNCH đã nằm trong tay những người cộng sản…


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: Bodoibucket trong 05 Tháng Năm, 2010, 06:57:32 am
(thiếu mất 1 phần quan trọng mà lời giới thiệu nhắc đến)


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Năm, 2010, 11:50:31 am
(thiếu mất 1 phần quan trọng mà lời giới thiệu nhắc đến)

Đã bổ xung bác ạ, chẳng hiểu sao lúc soát bài nó cứ nhảy nhảy trong cái ô soạn bài khi dịch con trỏ xuống quá đoạn văn bản hiển thị trong khung soạn nên lúc pót không để ý.


Tiêu đề: Đồng chí B nói về âm mưu chống Việt Nam của bè lũ phản động Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 28 Tháng Mười, 2010, 03:13:47 pm
Nói chung, sau khi ta đã thắng Mỹ thì không còn tên đế quốc nào dám đánh ta nữa. Chỉ có những kẻ nghĩ rằng, họ có thể đánh và dám đánh chúng ta, là bọn phản động Trung Quốc. Nhưng nhân dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn như vậy. Tôi không rõ bọn phản động Trung Quốc này còn tồn tại bao lâu nữa. Dẫu sao, chừng nào bọn chúng còn đó thì chúng sẽ tấn công ta như chúng vừa làm gần đây [vào đầu năm 1979].

Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc thì các tỉnh [Bắc Trung bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành căn cứ cho cả nước. Đó là những căn cứ vững chắc nhất, tốt nhất và mạnh nhất không gì so sánh được. Vì nếu như vùng đồng bằng [Bắc bộ] vẫn liên tục căng thẳng như vậy thì tình hình sẽ hết sức phức tạp. Hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Nếu không có nhân dân Việt Nam thì sẽ chẳng có ai dám đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam đang đánh Mỹ thì cả thế giới còn lại sợ Mỹ…(25)

Mặc dầu Trung Quốc đã giúp [Bắc] Triều Tiên, nhưng đó chỉ vì mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ mà thôi. Sau khi chiến tranh chấm dứt [ở Triều Tiên] và áp lực chuyển sang Việt Nam, ông ta [có lẽ ám chỉ Chu Ân Lai như những đoạn tiếp theo sẽ gợi ý] nói rằng, nếu như Việt Nam tiếp tục chiến đấu thì họ sẽ phải tự lo liệu lấy. Ông ta sẽ không giúp nữa và đã gây sức ép buộc chúng ta phải ngừng đấu tranh.

Khi ta ký Hiệp định Giơ ne vơ, chính Chu Ân Lai là người đã chia cắt nước ta ra làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Bắc và Nam như vậy, cũng chính ông ấy lại ép chúng ta không được đụng chạm gì đến miền Nam. Họ cấm ta vùng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa được Mỹ ủng hộ]. [Nhưng] họ đã không làm chúng ta sờn lòng. Khi tôi vẫn còn đang ở trong Nam và đã chuẩn bị phát động chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Giơ ne vơ, Mao Trạch Đông đã nói với Đảng ta rằng, chúng ta cần ép các đồng chí Lào chuyển giao ngay hai tỉnh đã giải phóng cho chính phủ Viên Chăn (26). Nếu không Mỹ sẽ tiêu diệt họ, một tình huống hết sức nguy hiểm [theo quan điểm Trung Quốc]. Việt Nam lại phải làm việc ngay lập tức với phía Mỹ [về vấn đề này]. Mao đã bắt ta phải làm như vậy và chúng ta cũng đành phải làm như vậy (27).

Rồi sau khi hai tỉnh giải phóng của Lào đã được bàn giao cho Viên Chăn, bọn phản động Lào ngay lập tức bắt Hoàng thân Su-pha-nu-vông. Phía các đồng chí Lào có hai tiểu đoàn lúc ấy đang bị bao vây. Hơn nữa họ chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó một tiểu đoàn đã vượt thoát [khỏi vòng vây]. Khi đó tôi đưa ra ý kiến là phải chấp nhận cho các bạn Lào phát động chiến tranh du kích. Tôi mời phía Trung Quốc đến để thảo luận việc này với ta. Tôi nói: “Các đồng chí, nếu các anh tiếp tục gây sức ép với Lào như thế thì lực lượng của họ sẽ tan rã hoàn toàn. Bây giờ họ phải được phép tiến hành đánh du kích”.

Trương Văn Thiên (28), người trước kia đã từng là Tổng Bí thư [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và có bí danh là Lạc Phủ, đã trả lời: “Vâng, thưa các đồng chí, điều các đồng chí nói là đúng. Chúng ta hãy cho phép Tiểu đoàn Lào ấy được đánh du kích”.

Tôi hỏi Trương Văn Thiên ngay lập tức: “Các đồng chí, nếu các đồng chí đã cho phép Lào tiến hành chiến tranh du kích, thì đâu có gì đáng sợ nếu phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều gì đã làm cho các đồng chí phải sợ hãi đến nỗi các đồng chí lại ngăn cản chúng tôi?”

Ông ấy [Trương Văn Thiên] trả lời: “Không có gì phải sợ cả!”

Đó là điều Trương Văn Thiên đã nói. Tuy nhiên Hà Vĩ, đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam khi ấy, [và] có mặt lúc đó cũng nghe thấy những điều vừa nói.

Ông ta đã đánh điện về Trung Quốc [báo cáo những gì đã trao đổi giữa Lê Duẩn và Trương Văn Thiên]. Mao trả lời ngay lập tức: “Việt Nam không thể làm như vậy được [phát động chiến tranh du kích ở miền Nam]. Việt Nam nhất định phải trường kỳ mai phục!” Chúng ta quá nghèo. Làm sao ta có thể đánh Mỹ nếu như chúng ta không có Trung Quốc là hậu phương vững chắc? [Do đó], chúng ta đành nghe theo họ, có phải không? (29)

Dẫu sao thì chúng ta vẫn không nhất trí. Ta bí mật tiến hành phát triển lực lượng của ta. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém đi khắp các tỉnh miền Nam, ta đã ra lệnh tổ chức lực lượng quần chúng để chống chế độ này và giành lại chính quyền [từ tay chính phủ Diệm]. Chúng ta không cần để ý đến họ [Trung Quốc]. Khi cuộc đồng khởi giành chính quyền đã bắt đầu, chúng tôi sang Trung Quốc gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình nói với tôi: “Các đồng chí, bây giờ sai lầm của các anh thành việc đã rồi, các anh chỉ nên đánh ở mức độ trung đội trở xuống.” Đấy là một kiểu ràng buộc mà họ muốn áp đặt lên ta.

Tôi nói [với Trung Quốc]: “Vâng, vâng! Tôi sẽ thực hiện như vậy. Tôi sẽ chỉ đánh ở mức trung đội trở xuống”. Sau khi chúng ta đánh và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta đã chiến đấu có hiệu quả, Mao đột ngột có đường lối mới. Ông ta nói rằng trong khi Mỹ đánh nhau với ta, ông ấy sẽ mang quân đội [Trung Quốc] vào giúp ta làm đường. Mục đích chính của ông ấy là tìm hiểu tình hình Việt Nam để sau này có thể đánh ta và từ đó bành trướng xuống Đông Nam Á. Không còn lý do nào khác. Chúng ta biết vậy nhưng phải chấp nhận [việc đưa quân Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam]. Chuyện này thì cũng được. Họ quyết định đưa quân vào. Tôi chỉ yêu cầu là họ đưa người không thôi, nhưng quân đội họ vào mang cả súng ống, đạn dược. Tôi lại đành phải đồng ý.

Sau đó ông ấy [Mao Trạch Đông] bắt ta tiếp nhận hai vạn quân, đến để làm đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam. Tôi từ chối. Họ vẫn liên tục yêu cầu nhưng tôi không thay đổi ý kiến. Họ bắt tôi phải cho họ vào nhưng tôi không chấp nhận. Họ tiếp tục gây áp lực nhưng tôi vẫn không đồng ý. Các đồng chí, tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy được âm mưu lâu dài của họ là muốn cướp nước ta, và âm mưu của họ xấu xa tới chừng nào.

Sau khi Mỹ đưa vài trăm ngàn quân vào miền Nam, chúng ta đã tiến hành Tổng tiến công Mậu Thân 1968, buộc chúng phải xuống thang. Để đánh bại đế quốc Mỹ ta phải biết cách kéo địch xuống thang dần dần. Đó là chiến lược của ta. Chúng ta chiến đấu chống lại một kẻ địch lớn, có dân số hơn hai trăm triệu người và họ từng thống trị thế giới. Nếu ta không thể bắt họ xuống thang dần từng bước, thì ta sẽ lúng túng và không thể tiêu diệt kẻ thù được. Ta phải đánh cho chúng tê liệt ý chí để buộc chúng đến bàn đàm phán và không cho phép chúng đưa thêm quân vào.

Khi đã đến lúc họ muốn đàm phán với chúng ta, Hà Vĩ viết thư cho ta nói: “Các anh không thể ngồi xuống đàm phán với Mỹ được. Các anh phải kéo quân Mỹ vào miền Bắc mà đánh chúng”. Ông ta đã gây sức ép bằng cách đó, khiến chúng ta hết sức bối rối. Đó hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Thật là mệt mỏi mỗi khi những tình huống tương tự [với Trung Quốc] lại xảy ra.

Chúng ta đã quyết định rằng không thể làm theo cách đó được [về ý kiến của Hà Vĩ không nên đàm phán với Mỹ]. Ta đã ngồi xuống ở Paris. Ta đã kéo Mỹ xuống thang để đánh bại chúng. Trong khi đó Trung Quốc lại tuyên bố [với Mỹ]: “Nếu người không đụng đến ta thì ta cũng không đụng đến người. Muốn mang bao nhiêu quân vào Việt Nam, điều đó tùy theo các anh”. Trung Quốc, theo ý của họ, đã làm như vậy và ép ta làm theo.

Họ đã tích cực đổi chác với Mỹ và dùng ta làm con bài để mặc cả như thế đấy. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua, ngay lập tức họ sử dụng Trung Quốc để xúc tiến việc rút quân ở miền Nam sao cho thuận lợi. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận việc này.

25. Những dấu tỉnh lược (…) như vậy là nguyên văn trong bản gốc; những dấu tỉnh lược và nhận xét của dịch giả được đặt trong dấu ngoặc vuông: […].

26. Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 đã cho Pathet Lao, đồng minh gần gũi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một khu vực tập kết tạm thời ở hai tỉnh (Bắc Lào) Phong xa lỳ và Sầm Nưa. Không có một nhượng địa tương tự cho Khơ me It xa la, đồng minh của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

27. Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua cho biết cuộc hội đàm cấp cao về Lào diễn ra vào tháng 8 – 1961 (La vérité sur les relations vietnamo- chinoises durant les trente dernière années, trang 34).

28. Trương Văn Thiên là một trong những thành viên của Đoàn đại biểu Trung Quốc, người đã có mặt khi Lê Duẩn phát biểu những nhận xét này. Ông còn là Thứ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là Ủy viên lâu năm trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những năm 1950 ông ta là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị giữ trách nhiệm về liên lạc đối ngoại với các nước Xã hội chủ nghĩa.

29. Sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua đã miêu tả cuộc gặp gỡ như sau: “Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người lãnh đạo Việt Nam, Ủy viên trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở miền Nam Việt Nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt Nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân. The Truth…, trang 40. (La vérité…, trang 31.)

***
Người dịch Bùi Xuân Bách (http://vietinfo.eu/viet-nam/ve-am-muu-chong-pha-viet-nam-cua-be-lu-phan-dong-trung-quoc.html)


Tiêu đề: Đồng chí B nói về âm mưu chống Việt Nam của bè lũ phản động Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 28 Tháng Mười, 2010, 03:32:38 pm
Trước khi Nixon đến Trung Quốc, [mục tiêu chuyến đi này của ông ta] nhằm giải quyết vấn đề Việt Nam theo chiều hướng có lợi cho Mỹ và giảm thiểu đến tối đa sự thất bại của họ, đồng thời cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc gần hơn về phía Mỹ, Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu nói với tôi: “Vào lúc này, Nixon sắp đến gặp tôi, chủ yếu là để thảo luận vấn đề Việt Nam, do đó tôi nhất định phải đến gặp đồng chí để bàn bạc.”

Tôi trả lời: “Thưa đồng chí, đồng chí có thể nói bất kỳ điều gì đồng chí muốn, nhưng tôi vẫn không hiểu. Đồng chí là người Trung Quốc; tôi là người Việt Nam. Việt Nam là đất nước của [chúng] tôi, hoàn toàn không phải là của các đồng chí. Đồng chí không có quyền phát biểu [về công việc của Việt Nam], và đồng chí không có quyền thảo luận [những chuyện đó với Mỹ] (30). Hôm nay, thưa đồng chí, tôi nói riêng với đồng chí một điều, mà thậm chí tôi chưa từng nói với Bộ Chính trị của chúng tôi, rằng các đồng chí đã đặt ra một vấn đề nghiêm trọng và vì vậy tôi cần phải nói:

Năm 1954, khi Việt Nam chiến thắng ở Điện Biên Phủ, tôi đang ở Hậu Nghĩa. Bác Hồ đánh điện cho tôi, nói rằng tôi cần phải đi Nam để tổ chức lại [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về việc này] (31). Tôi đi xe thổ mộ xuôi Nam. Dọc đường đồng bào đổ ra chào đón tôi vì họ nghĩ chúng tôi đã chiến thắng. Thật đau lòng xiết bao! Nhìn đồng bào miền Nam tôi đã khóc. Bởi vì sau đó Mỹ sẽ nhảy vào miền Nam và tàn sát đồng bào tôi một cách dã man.

Vào tới nơi, tôi lập tức đánh điện cho bác Hồ yêu cầu được ở lại và không tập kết ra Bắc, để có thể tiếp tục chiến đấu mười năm nữa hoặc lâu hơn. [Tôi nói với Chu Ân Lai]: “Thưa đồng chí, đồng chí đã gây ra những khó khăn cho chúng tôi như vậy đấy [muốn nói đến vai trò của ông ta trong việc chia cắt Việt Nam tại hội nghị Giơ ne vơ năm 1954]. Đồng chí có biết thế không?”

Chu Ân Lai đáp: “Tôi xin lỗi các đồng chí. Tôi đã sai. Tôi đã sai trong chuyện này [ám chỉ việc chia cắt Việt Nam tại Giơ ne vơ] (32). Sau khi Nixon đã đi thăm Trung Quốc, ông ta [Chu] lại sang Việt Nam một lần nữa để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến đấu trong Nam.

Tuy nhiên tôi cũng nói ngay với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí. Chẳng bao lâu nữa họ [Mỹ] sẽ tấn công chúng tôi mạnh hơn”. Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai bên [Mỹ và Trung Quốc] đã thỏa thuận với nhau nhằm đánh ta mạnh hơn. Ông ấy [Chu] đã không phản đối quan điểm này là không có cơ sở, và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng ống đạn dược cho các đồng chí”. Rồi ông ta nói [về sự e ngại một âm mưu bí mật giữa Mỹ và Trung Quốc]: “Không có chuyện đó đâu”. Dẫu sao họ cũng đã thảo luận đánh ta mạnh hơn như thế nào, kể cả ném bom bằng B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Vấn đề rõ ràng là như vậy.

Nếu Liên Xô và Trung Quốc không bất đồng với nhau thì Mỹ không thể đánh chúng ta một cách tàn bạo như chúng đã làm. Chừng nào hai nước [Trung Quốc và Liên Xô] còn xung đột thì người Mỹ sẽ không bị ngăn trở [vì sự phản đối của khối Xã hội chủ nghĩa thống nhất]. Mặc dầu Việt Nam đã có thể đoàn kết với cả hai nước Trung Quốc và Liên Xô, nhưng để làm việc này là hết sức khó khăn vì lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc rất nhiều. Thời gian đó Trung Quốc hàng năm viện trợ cho ta nửa triệu tấn lương thực, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa nói đến cả đô la nữa. Liên Xô cũng giúp ta tương tự như vậy. Nếu chúng ta không làm được điều đó [giữ gìn sự thống nhất và đoàn kết với họ] thì mọi chuyện có thể hết sức nguy hiểm. Hàng năm tôi phải sang Trung Quốc hai lần để trình bày với họ [ban lãnh đạo Trung Quốc] về các diễn biến ở trong Nam. Còn với Liên Xô, tôi không cần phải nói gì cả [về tình hình miền Nam]. Tôi chỉ nói chung chung. Khi làm việc với phía Trung Quốc, tôi phải nói rằng cả hai chúng ta đang cùng đánh Mỹ. Tôi đã đi (sang đấy) một mình. Tôi phải tham dự vào những chuyện đó. Tôi phải sang Trung Quốc và bàn bạc với họ nhiều lần như vậy với mục đích chính là thắt chặt quan hệ song phương [Trung Quốc và Việt Nam]. Chính vào lúc đó Trung Quốc ép chúng ta phải tách xa khỏi Liên Xô, cấm ta không được đi cùng với Liên Xô nữa (33).

Họ làm rất căng thẳng chuyện này. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh (34), đến nói với tôi: “Đồng chí, chúng tôi sẽ giúp các anh vài tỷ (Nhân dân tệ) một năm. Các anh không được nhận gì từ Liên Xô nữa.”

Tôi không chấp nhận như vậy. Tôi nói: “Không, chúng tôi nhất định phải đoàn kết và thống nhất với toàn phe Xã hội chủ nghĩa.” (35)

Năm 1963, khi Nikita Khơrútxốp có sai lầm, Trung Quốc lập tức ra Cương lĩnh 25 điểm và mời Đảng ta đến và góp ý kiến. Anh Trường Chinh và tôi cùng đi với một số anh em khác. Trong khi bàn bạc, họ [Trung Quốc] lắng nghe ta chừng mười điểm gì đó, nhưng khi tới ý kiến “không xa rời phe Xã hội chủ nghĩa” (37) thì họ không nghe nữa… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về văn bản của chính tôi. Tôi xin ý kiến các đồng chí nhưng tôi không chấp nhận điểm này của các đồng chí.”

Trước khi đoàn ta về nước, Mao có tiếp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi trò chuyện cùng chúng tôi và đến cuối câu chuyện ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn các đồng chí biết việc này. Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á.” (38) Đặng Tiểu Bình cũng ngồi đó và nói thêm: “Đó chủ yếu là vì bần nông của chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn!”

Khi chúng tôi đã ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch.” Họ dám ngang nhiên tuyên bố như vậy. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Rõ ràng là không một phút nào họ không nghĩ tới việc đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói thêm để các đồng chí có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng quân sự của việc này. Mao hỏi tôi:

- Lào có bao nhiêu cây số vuông?

Tôi trả lời:

- Khoảng 200 nghìn [cây số vuông].

- Dân số của họ là bao nhiêu? [Mao hỏi]

- [Tôi đáp:] Gần ba triệu.

- [Mao nói:] Thế thì cũng không nhiều lắm! Tôi sẽ mang người của chúng tôi xuống đấy!

- [Mao hỏi:] Thái Lan thì có bao nhiêu cây số vuông?

- [Tôi trả lời:] Khoảng 500 nghìn.

- Và có bao nhiêu người? [Mao hỏi]

- Gần 40 triệu! [Tôi đáp]

- Trời ơi! [Mao nói], tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500 nghìn cây số vuông mà có tới 90 triệu dân. Tôi sẽ lấy thêm một ít người của chúng tôi đi xuống đấy nữa [Thái Lan]!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói thẳng về việc di dân như vậy. Tuy nhiên, ông ta [Mao] nói với tôi: “Các đồng chí, có thật người Việt Nam đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên không?” Tôi nói: “Đúng.” “Thế có thật là các anh cũng đánh bại cả quân Thanh nữa phải không?” Tôi đáp: “Đúng.” Ông ta lại hỏi: “Và cả quân Minh nữa, đúng không?” Tôi trả lời: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi sẽ đánh bại cả các ông. (39) Ông có biết thế không?” Tôi đã nói với Mao như vậy đó. Ông ấy nói: “Đúng! Đúng!” Mao muốn chiếm Lào, cả nước Thái Lan… cũng như muốn chiếm toàn vùng Đông Nam Á. Mang người đến ở đó. Thật là phức tạp.

Trong những năm trước [về các vấn đề có thể nảy sinh từ mối đe dọa của Trung Quốc trong những thời kỳ đó], chúng ta đã có sự chuẩn bị tích cực chứ không phải chúng ta không chuẩn bị gì. Nếu chúng ta không chuẩn bị thì tình hình vừa qua đã có thể rất nguy. Đó không phải là chuyện đơn giản. Mười năm trước tôi đã có mời anh em bên quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ đang có mâu thuẫn với nhau. Còn Trung Quốc, họ lại bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng như vậy các anh phải lập tức nghiên cứu vấn đề này. Tôi sợ bên quân đội anh em chưa hiểu nên tôi nói thêm rằng không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ phát biểu rằng chuyện này rất khó hiểu. Đúng là không dễ dàng chút nào. Nhưng tôi không thể nói cách khác được. Và tôi cũng không cho phép ai căn vặn mình. (40)

Khi tôi đi Liên Xô, họ cũng rất cứng rắn với tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một hội nghị 80 đảng [Cộng sản] để ủng hộ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [hội nghị] không chỉ nhằm giúp đỡ Việt Nam mà còn dự định lên án Trung Quốc. Do đó Việt Nam đã không đi. Phía Liên Xô hỏi: “Các anh đã từ bỏ chủ nghĩa quốc tế rồi hay sao? Tại sao các anh lại làm như vậy?” Tôi đáp: “Tôi hoàn toàn không từ bỏ chủ nghĩa quốc tế. Tôi chưa hề làm như vậy. Tuy nhiên, muốn là người theo chủ nghĩa quốc tế thì trước hết phải đánh bại đế quốc Mỹ. Và nếu người ta muốn đánh Mỹ thì phải thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đi dự hội nghị này thì Trung Quốc sẽ gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho chúng tôi. Xin các đồng chí hiểu cho.”


30. Xem Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 60. (La vérité…, trang 47.)

31. Lê Duẩn muốn nói đến nhiệm vụ giải thích việc tập kết cán bộ miền Nam ra Bắc. Lê Duẩn cũng cố tình lảng tránh không đề cập đến việc Trung Quốc đã giúp Việt Nam chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954.

32. Xem Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua trang 60, đoạn phía Việt Nam đã nói với Trung Quốc tháng 11-1972: “Việt Nam là của chúng tôi; các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam. Các đồng chí đã nhận sai lầm năm 1954 rồi, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa”. (La vérité…, trang 47.)

33. Một trong những thư ký của Lê Duẩn, Trần Quỳnh, gần đây đã cho lưu hành ở Việt Nam cuốn Hồi ức của ông ta, trong đó có nhiều chi tiết lý thú về đường lối của Lê Duẩn đối với sự phân liệt Trung Xô và sự chia rẽ trong (hàng ngũ cán bộ cao cấp của) Đảng Lao động Việt Nam về vấn đề này trong những năm 1960. Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn, không in ngày tháng, tự xuất bản, dịch giả hiện có một bản.

34. Khang Sinh (1903-1975), một trong những chuyên viên hàng đầu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về an ninh quốc gia. Ông ta được Bộ Nội vụ (NKVD) Liên Xô đào tạo trong những năm 1930, và trở thành cố vấn thân cận nhất cho Mao trong việc cắt nghĩa những chính sách của Liên Xô. Khang Sinh cũng từng là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1962, và Ủy viên Bộ Chính trị từ 1969; giữa 1973 và 1975 ông ta là Ủy viên Ban thường vụ Bộ Chính trị.

35. Xem Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua trang 43, trong đó Việt Nam tuyên bố là Đặng Tiểu Bình đã hứa sẽ coi Việt Nam là ưu tiên số một trong vấn đề viện trợ cho nước ngoài để đổi lấy việc Việt Nam sẽ khước từ mọi viện trợ của Liên Xô. (La vérité…, trang 33.)

36. Xem “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” trang 43. (La vérité…, trang 33) và cả Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

37. Tháng 11-1966, Liên Xô lên án Trung Quốc đã từ bỏ đường lối Cộng sản thế giới đã được thông qua tại các Hội nghị Mascơva 1957 và 1960. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

38. Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua cho biết Mao đã phát biểu như vậy với đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963. Trong sách đã trích dẫn lời Mao nói: “Tôi sẽ làm Chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á.” (La vérité…, trang 9).

39. Đoạn này có thể dịch (sang tiếng Anh) là “và tôi sẽ đánh bại cả các anh nữa” hoặc “tôi có thể đánh bại cả các anh”.

40. Đối với dịch giả (Christopher E. Goscha), chỗ này không được rõ là Lê Duẩn muốn nói tới ai khi dùng chữ “quân sự”. (Ngược lại, đối với người dịch ra tiếng Việt thì rõ ràng trong ngôn cảnh này ông nói là tôi mời một số anh em bên quân đội…, một cách nói thân mật, thường dùng thời đó nhưng tất nhiên hàm chỉ một số tướng tá cao cấp).

***
Người dịch Bùi Xuân Bách (http://vietinfo.eu/viet-nam/ve-am-muu-chong-pha-viet-nam-cua-be-lu-phan-dong-trung-quoc.html)


Tiêu đề: Đồng chí B nói về âm mưu chống Việt Nam của bè lũ phản động Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 28 Tháng Mười, 2010, 03:41:25 pm
Ở Trung Quốc có rất nhiều ý kiến khác nhau và đang tranh cãi. Chu Ân Lai đồng ý xây dựng cùng Liên Xô một mặt trận chống Mỹ. Một lần tôi đến Liên Xô dự lễ Quốc khánh, tôi có được đọc một bức điện của Trung Quốc gửi Liên Xô nói rằng “nếu Liên Xô bị tấn công thì Trung Quốc sẽ kề vai sát cánh cùng Liên bang Xô viết.”(41) Đó là nhờ Hiệp ước hữu nghị Xô – Trung được ký kết trước đây [tháng 2-1950].

Ngồi cạnh Chu Ân Lai tôi hỏi ông ấy: “Trong bức điện mới đây gửi Liên Xô, các đồng chí đã đồng ý cùng với Liên Xô thành lập một mặt trận, nhưng tại sao các đồng chí lại không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai đáp: “Chúng tôi có thể. Tôi đồng tình với quan điểm của đồng chí. Tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [về Việt Nam]. Bành Chân (42) cũng đang ngồi đó, nói thêm: “Ý kiến này cực kỳ đúng đắn!” Nhưng khi vấn đề được đưa ra thảo luận ở Thượng Hải, Mao nói rằng không thể được và gạt bỏ ý kiến này. Các đồng chí đã thấy vấn đề phức tạp ra sao.

Mặc dầu Chu Ân Lai có bảo lưu một số ý kiến, dẫu sao ông cũng đã đồng ý thành lập một mặt trận và đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều. Chính nhờ ông mà tôi hiểu [nhiều chuyện đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì có thể rất nguy hiểm. Có lần ông ấy nói với tôi: “Tôi phải làm hết sức mình để sống sót ở đây, dùng Lý Cường (43) để tích lũy và cung cấp viện trợ cho các đồng chí.” Và thế đấy [ám chỉ Chu đã có thể dùng Lý Cường vào việc giúp đỡ Việt Nam]. Tôi hiểu rằng nếu không có Chu Ân Lai thì không thể có được sự viện trợ như vậy. Tôi thật biết ơn ông ta.

Tuy nhiên cũng không đúng, nếu nói rằng những người khác trong ban lãnh đạo Trung Quốc có cùng quan điểm với Chu Ân Lai. Họ khác nhau trên nhiều phương diện. Nhưng có thể nói rằng người kiên trì nhất, người có đầu óc đại Hán và người muốn chiếm cả vùng Đông Nam Á, chính là Mao. Tất cả mọi chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay Mao.

Cũng có thể nói như vậy về các nhà lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc. Chúng ta không biết trong tương lai mọi chuyện sẽ ra sao, nhưng dẫu sao [sự thực là] họ đã tấn công ta. Trước đây Đặng Tiểu Bình đã từng làm hai việc mà giờ đây lại lật ngược hẳn lại. Đó là, khi ta thắng lợi ở miền Nam, nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên Đặng Tiểu Bình cũng vẫn cứ chúc mừng ta. Kết quả là ông ta lập tức bị những người khác coi là phần tử xét lại.

Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối cùng (44), tôi là trưởng đoàn, và tôi đã gặp đoàn đại biểu Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình dẫn đầu. Khi nói tới vấn đề lãnh thổ, gồm cả thảo luận về một số hòn đảo, tôi có nói: “Hai nước chúng ta nằm cạnh nhau. Có một số khu vực trên lãnh thổ chúng tôi chưa được phân định rõ ràng. Cả hai phía chúng ta cần phải thành lập một ủy ban để xem xét vấn đề này. Thưa các đồng chí, xin hãy nhất trí với tôi [về chuyện này]. Ông ấy [Đặng] đã đồng ý, nhưng vì vậy mà sau đó ông ta lại bị các nhóm lãnh đạo khác chụp mũ xét lại tức thời.

Nhưng bây giờ thì ông ấy [Đặng] điên thật rồi. Bởi vì ông ta muốn tỏ ra mình không phải là xét lại nên ông ta đã đánh Việt Nam mạnh hơn. Ông ta đã bật đèn xanh cho họ tấn công Việt Nam.

Sau khi đánh bại đế quốc Mỹ, chúng ta vẫn giữ một đạo quân hơn một triệu người. Một số lãnh đạo Liên Xô đã hỏi ta: “Các đồng chí còn định đánh nhau với ai nữa mà lại vẫn duy trì một đội quân [thường trực] lớn như vậy?” Tôi đáp: “Sau này các đồng chí sẽ hiểu.” Lý do duy nhất khiến chúng ta giữ một đạo quân thường trực như vậy chính là vì [mối đe dọa của] Trung Quốc [đối với Việt Nam]. Nếu như không có [sự đe dọa đó] thì đội quân [thường trực lớn] này sẽ không còn cần thiết nữa. Đã bị tấn công gần đây trên cả hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rõ rằng] sẽ rất nguy hiểm nếu chúng ta không duy trì một đội quân lớn.

(B) [Ý nghĩa của chữ B này trong bản gốc không được rõ] – Từ cuối Đại chiến thế giới thứ hai, tất cả đều cho rằng đế quốc Mỹ chính là tên sen đầm quốc tế. Chúng có thể xâm chiếm và đe dọa các nước khác trên thế giới. Mọi người, kể cả các cường quốc, đều sợ Mỹ. Duy chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ mà thôi.

Tôi hiểu được điều này nhờ cuộc đời hoạt động của mình đã dạy tôi như vậy. Người đầu tiên sợ [Mỹ] chính là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, cả Việt Nam và Lào, rằng: “Các anh phải lập tức chuyển giao ngay hai tỉnh giải phóng của Lào cho chính quyền Viên Chăn. Nếu không thì Mỹ sẽ lấy cớ để tấn công. Thế thì hết sức nguy hiểm.” Về phía Việt Nam, chúng ta nói: “Chúng tôi sẽ đánh Mỹ để giải phóng miền Nam.” Ông ta [Mao] nói: “Các anh không được làm như vậy. Miền Nam Việt Nam cần phải trường kỳ mai phục, có thể một đời người, năm đến mười đời, thậm chí hai mươi đời nữa. Các anh không thể đánh Mỹ. Đánh nhau với Mỹ là một việc nguy hiểm.” Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến như vậy…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiến lên và chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam sẽ không được giải phóng. Một nước chưa được giải phóng thì vẫn cứ là một nước phụ thuộc. Không có nước nào được độc lập nếu chỉ có một nửa nước được tự do. Đó là tình hình cho đến năm 1975, khi đất nước ta cuối cùng đã giành được hoàn toàn độc lập. Có độc lập thì sẽ có tự do. Tự do phải là thứ tự do cho cả nước Việt Nam…

Ăng ghen đã từng nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó Liên Xô, rồi Trung Quốc và cả ta nữa cũng nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước khác nhau rất nhiều về nội dung [của chiến tranh nhân dân]. Sẽ là không đúng nếu chỉ vì anh có hàng triệu người mà anh muốn làm gì thì làm. Trung Quốc cũng nói về chiến tranh nhân dân nhưng [họ chủ trương] “địch tiến ta lùi”. Nói cách khác, phòng ngự là chủ yếu, và chiến tranh chia làm ba giai đoạn, lấy nông thôn bao vây thành thị, trong khi [chủ lực] vẫn lẩn trốn trong vùng rừng núi… Trung Quốc đã thiên về phòng ngự và rất yếu [trong Đại chiến Thế giới thứ hai]. Thậm chí, với 400 triệu dân chống lại quân đội Nhật chỉ có khoảng 300 đến 400 ngàn người, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại Nhật. (45)

Tôi phải nhắc lại như vậy vì trước kia Trung Quốc đã gửi cố vấn sang ta nên một số anh em [ta] không hiểu. Họ nghĩ rằng Trung Quốc rất là tài giỏi. Nhưng họ cũng không tài giỏi lắm đâu, và vì thế ta cũng không làm theo [sự cố vấn của Trung Quốc]. (46)

Năm 1952 tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc chữa bệnh. Đấy là lần đầu tiên tôi ra nước ngoài. (47) Tôi đã đánh dấu hỏi về họ [Trung Quốc] và thấy rất nhiều chuyện lạ. Những vùng [đã từng] bị quân Nhật chiếm đóng có dân cư là 50 triệu người, nhưng không có thậm chí một người du kích…

Khi tôi từ Trung Quốc về, tôi gặp bác [Hồ]. Bác hỏi:

- Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài có phải không?

- Vâng, tôi ra nước ngoài lần đầu tiên.

- Chú thấy những gì?

- Tôi thấy hai chuyện: Việt Nam rất dũng cảm và họ [Trung Quốc] hoàn toàn không.

Tôi hiểu điều đó từ bấy giờ. Chúng ta [người Việt Nam] khác hẳn họ. Lòng dũng cảm là đặc tính cố hữu trong từng con người Việt Nam, và do vậy chúng ta chưa từng có chiến lược thiên về phòng ngự. Mỗi người dân là một chiến sĩ.


41. Đây có lẽ dựa vào lời Đại sứ Trung Quốc tại Máscơva chuyển cho phía Liên Xô nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày ký kết Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ Trung-Xô. Đại sứ Trung Quốc Phan Tự lực đã nói với Liên Xô: “Nếu bọn đế quốc dám tấn công Liên Xô, nhân dân Trung Quốc không hề ngần ngại, sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước và cùng với nhân dân Liên Xô vĩ đại… sẽ kề vai sát cánh chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng.” Trích từ Donald S. Zagoria, Mạc tư khoa, Bắc Kinh, Hà nội (New York: Pegasus, 1967), trang 139-140.

42. Bành Chân là Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc từ 1951 đến 1969.

43. Lý Cường là Phó Chủ tịch Ủy ban liên lạc kinh tế đối ngoại của Quốc vụ viện từ 1965 đến 1967. Giữa 1968 và 1973, ông là Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, và từ 1973 là Bộ trưởng Ngoại thương Trung Quốc.

44. Đây muốn nói tới chuyến đi của Lê Duẩn vào tháng 11-1977.

45. Lê Duẩn quên rằng cho đến tháng 3-1945, thậm chí chỉ với số người ít hơn, Pháp đã có thể cai trị Việt Nam mà không gặp quá nhiều khó khăn.

46. Về cố vấn Trung Quốc, xin xem Qiang Zhai, Trung Quốc và chiến tranh Việt Nam, 1950-1975 (Chapel Hill: Nhà xuất bản Viện đại học North Carolina, 2000), và Christopher E. Goscha, “Bối cảnh châu Á của cuộc chiến Pháp-Việt” luận án trình bày tại Trường Cao đẳng thực hành, thuộc Viện Đại học Sorbonne, Paris, 2000, phần Trung Quốc.

***
Người dịch Bùi Xuân Bách (http://vietinfo.eu/viet-nam/ve-am-muu-chong-pha-viet-nam-cua-be-lu-phan-dong-trung-quoc.html)


Tiêu đề: Đồng chí B nói về âm mưu chống Việt Nam của bè lũ phản động Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 28 Tháng Mười, 2010, 03:54:40 pm
Gần đây, họ [Trung Quốc] đem vài trăm ngàn quân xâm lấn nước ta. Trên phần lớn mặt trận, ta mới sử dụng dân quân du kích và bộ đội địa phương để đánh trả. Chúng ta không thiên về phòng ngự, và do vậy họ đã thất bại. Họ không thể tiêu diệt gọn một trung đội nào của Việt Nam, còn ta diệt gọn vài trung đoàn và vài chục tiểu đoàn của họ. Đạt được điều đó vì ta có chiến lược nghiêng về tấn công.

Đế quốc Mỹ đã đánh nhau với ta trong một cuộc chiến dài lâu. Họ hết sức mạnh mà vẫn thua. Nhưng ở đây có một yếu tố đặc biệt, đó là sự mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì thế], họ đã đánh ta ác liệt như vậy.

Việt Nam chống Mỹ và đánh chúng quyết liệt, nhưng chúng ta cũng biết rằng Mỹ là một nước rất lớn, có khả năng huy động một đội quân mười triệu người và dùng tất cả những vũ khí tối tân nhất để đánh ta. Vì vậy chúng ta phải chiến đấu một thời gian dài để kéo chúng xuống thang. Chúng ta là người có thể làm được như vậy; Trung Quốc thì không. Khi quân Mỹ tấn công Quảng Trị, Bộ Chính trị đã ra lệnh đưa bộ đội vào ứng chiến ngay lập tức. Chúng ta không sợ. Sau đó tôi có sang Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Nó [cuộc chiến đấu ở Quảng Trị] có lẽ là độc nhất vô nhị, chưa từng có. Đời người chỉ có một [cơ hội], không hai. Không ai dám làm việc mà các đồng chí đã làm”.

… Chu Ân Lai đã từng là Tổng Tham mưu trưởng. Ông dám nói và ông cũng thẳng thắn hơn. Ông nói với tôi: “Nếu tôi được biết trước cách đánh mà các đồng chí đã sử dụng thì có lẽ chúng tôi không cần đến cuộc Trường chinh.” Vạn lý Trường chinh để làm gì? Vào lúc bắt đầu cuộc Trường chinh họ có một đội quân 300 nghìn người; và khi kết thúc họ chỉ còn lại có 30 nghìn. 270 nghìn đã bị tiêu hao. Đó quả thật là ngu ngốc nếu làm theo cách ấy… [Tôi] nói như vậy để các đồng chí hiểu, chúng ta đã tiến xa hơn bao nhiêu. Sắp tới, nếu ta lại phải chiến đấu chống Trung Quốc, chúng ta nhất định thắng lợi… Dẫu sao, một sự thực là nếu như một nước khác [không phải Việt Nam] phải đánh nhau với Trung Quốc, thì chưa chắc họ có thể thắng như vậy [giống Việt Nam] được.

… Nếu Trung Quốc và Liên Xô nhất trí với nhau, thì cũng chưa chắc là Mỹ sẽ dám đánh ta. Nếu như hai nước đoàn kết và cùng giúp ta, thì cũng chưa chắc rằng Mỹ sẽ dám đánh ta theo cách như chúng đã làm. Họ có thể chùn bước ngay từ đầu. Họ có thể bỏ cuộc như trong thời Tổng thống Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô tất cả cùng giúp Lào và Mỹ tức thời ký hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân sang Lào, họ chấp nhận cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia vào chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] có mâu thuẫn với nhau, phía Mỹ lại được [Trung Quốc] thông báo rằng họ có thể tiếp tục đánh Việt Nam mà không sợ gì cả. Đừng sợ [Trung Quốc trả đũa]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông nói với Mỹ: “Nếu người không đụng đến ta thì ta sẽ không đụng đến người. Các anh có thể đưa bao nhiêu quân vào miền Nam Việt Nam cũng được. Điều đó tùy theo các anh.” (48)

… Chúng ta [hiện nay] tiếp giáp với một quốc gia lớn, một nước có những ý đồ bành trướng, mà nếu được thực hiện thì sẽ bắt đầu với cuộc xâm lăng Việt Nam. Như vậy, ta phải gánh vác một vai trò lịch sử nữa, khác trước. Dẫu sao, chúng ta không bao giờ thoái thác nhiệm vụ lịch sử của mình. Trước đây, Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình và lần này Việt Nam quyết tâm không cho chúng bành trướng. Việt Nam bảo vệ nền độc lập của chính mình và đồng thời cũng là bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam quyết không để cho Trung Quốc thực hiện mưu đồ bành trướng của họ. Cuộc chiến gần đây [với Trung Quốc] mới chỉ là một hiệp. Hiện nay họ vẫn đang ráo riết chuẩn bị trên nhiều chiến trường. Dù sao đi nữa, mặc họ chuẩn bị đến mức nào, Việt Nam cũng vẫn sẽ thắng…

Tiến hành chiến tranh không phải là một cuộc dạo chơi trong rừng. Dùng một triệu quân để tiến hành chiến tranh chống nước khác kéo theo vô vàn khó khăn. Chỉ mới đây thôi, họ đem 500 đến 600 ngàn quân đánh chúng ta, mà họ không có đủ phương tiện vận tải để chuyên chở lương thực cho quân đội họ. Trung Quốc hiện nay có một đội quân ba triệu rưỡi người, nhưng họ phải để lại một nửa trên biên giới [Trung-Xô] nhằm phòng ngừa Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ có mang một hoặc hai triệu quân sang đánh ta, chúng ta cũng không hề sợ hãi gì cả. Chúng ta chỉ có 600 ngàn quân ứng chiến và nếu sắp tới chúng ta phải đánh với hai triệu quân, thì cũng không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.

Chúng ta không sợ vì chúng ta đã biết cách chiến đấu. Nếu họ mang vào một triệu quân thì họ cũng chỉ đặt được chân ở phía Bắc. Càng đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng châu thổ, và vào Hà Nội hoặc thậm chí vào sâu hơn nữa thì sẽ càng khó khăn. Các đồng chí, các đồng chí đã biết, bè lũ Hitler đã tấn công ác liệt như thế nào, mà khi tiến đến Leningrad chúng cũng không thể nào vào nổi. (Phải đối mặt) với những (làng mạc,) thành phố, nhân dân và công tác phòng ngự, không ai có thể thực hiện một cuộc tấn công hiệu quả chống lại từng người cư dân. Thậm chí có đánh nhau hai, ba hoặc bốn năm chúng cũng không thể nào tiến vào được. Mỗi làng xóm của chúng ta [trên biên giới phía Bắc] là như vậy. Chủ trương của ta là: Mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và chúng sẽ không thể nào xâm nhập được.

Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu chỉ nói đến đánh giặc ngoài tiền tuyến. Ngưới ta cũng cần phải có một đội quân hậu tập trực tiếp, hùng mạnh. Sau khi cuộc chiến vừa qua chấm dứt, chúng ta đã nhận định rằng, sắp tới, ta cần đưa thêm vài triệu người lên (các tỉnh) mặt trận phía Bắc. Nếu giặc đến từ phương Bắc, hậu phương trực tiếp của cả nước sẽ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… Hậu phương trực tiếp để bảo vệ Thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Ta sẽ đánh bằng nhiều cách… Ta có thể dùng hai hoặc ba quân đoàn giáng cho địch một đòn quyết liệt khiến chúng choáng váng, trong khi tiếp tục bảo vệ lãnh thổ của ta. Để làm được như vậy, mỗi người lính phải là một người lính thực sự, mỗi tiểu đội phải là một tiểu đội thực sự.

Vừa trải qua một trận chiến, chúng ta không được chủ quan. Chủ quan khinh địch là không đúng, nhưng thiếu tự tin thì cũng sai. Ta không chủ quan khinh địch nhưng ta cũng đồng thời tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của chúng ta. Ta cần phải có cả hai yếu tố đó.

Trung Quốc hiện đang có âm mưu tấn công ta nhằm bành trướng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay người ta không thể làm gì mà che đậy giấu giếm được. Trung Quốc vừa mới gây hấn với Việt Nam có vài ngày, cả thế giới đã đồng thanh hô lớn: “Không được đụng đến Việt Nam!” Thời nay không còn giống như thời xưa nữa. Ngày xưa chỉ có ta (đối mặt) với họ [Trung Quốc]. Ngày nay cả thế giới sát cánh chặt chẽ bên nhau. Nhân loại hoàn toàn chưa bước vào giai đoạn Xã hội chủ nghĩa; thay vì thế bây giờ lại là thời mà mọi người đều mong muốn độc lập và tự do. [Thậm chí] trên những hòn đảo nhỏ, nhân dân ở đó cũng mong muốn độc lập tự do. Cả loài người hiện nay là như vậy. Điều đó rất khác với thời xưa. Khi ấy mọi người còn chưa biết rõ về những khái niệm này. Lời bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” là tư tưởng của thời đại ngày nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm đến độc lập tự do… Việt Nam là quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.


47. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp Lê Duẩn thường xuyên ra miền Bắc, nhưng ông thường được cho là vẫn ở lại miền Nam thời kỳ này trong cương vị Bí thư Xứ ủy Nam kỳ, mà sau này đổi thành Trung ương cục miền Nam vào đầu năm 1950. Dịch giả cũng hoài nghi việc Lê Duẩn đi Trung Quốc năm 1952. Hồ Chí Minh thì có, nhưng Lê Duẩn thì không.

48. Về chi tiết này, xin xem chương 6 của cuốn sách này.

49. Điều này khẳng định Đồng chí B cũng chính là “Anh Ba”. Ta biết rằng Anh Ba là bí danh của Lê Duẩn, từ đó suy ra Đồng chí B cũng là Lê Duẩn. Từ những sự kiện được nói đến trong văn bản thì điều này là chắc chắn, và cuốn Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn, cũng khẳng định điều này.

***
Người dịch Bùi Xuân Bách (http://vietinfo.eu/viet-nam/ve-am-muu-chong-pha-viet-nam-cua-be-lu-phan-dong-trung-quoc.html)


Tiêu đề: Đồng chí B nói về âm mưu chống Việt Nam của bè lũ phản động Trung Quốc
Gửi bởi: fddinh trong 28 Tháng Mười, 2010, 04:01:45 pm
Khi bàn đánh Mỹ, anh em ta trong Bộ Chính trị đã cùng thảo luận chuyện này để cân nhắc xem ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã biểu thị quyết tâm của mình: Để đánh Mỹ chúng ta nhất định phải không sợ Mỹ. Tất cả đã đồng lòng. Trong khi tất cả đều nhất trí đánh Mỹ, để không sợ Mỹ chúng ta cũng phải không sợ Liên Xô. Mọi người đều đồng ý. Chúng ta cũng cần không sợ Trung Quốc. Mọi người đều tán thành. Nếu chúng ta không sợ ba cái (nước lớn) đó, ta có thể đánh Mỹ. Đấy là chúng tôi đã làm việc như thế nào ở Bộ Chính trị trong thời gian đó.

Mặc dầu Bộ Chính trị đã họp và thảo luận như vậy và mọi người đều nhất trí đồng lòng, sau đó lại có người đã nói lại với một đồng chí những điều tôi nói. Người đồng chí đó lại chất vấn Bộ Chính trị, hỏi rằng tại sao anh Ba (49) lại nói rằng nếu chúng ta muốn đánh Mỹ thì chúng ta phải không sợ cả Trung Quốc? Tại sao anh ấy lại đặt vấn đề như vậy? (50)

Lúc đó anh Nguyễn Chí Thanh, một người thường được cho rằng là có cảm tình với Trung Quốc, đứng dậy nói: “Thưa các đồng chí trong Bộ Chính trị và bác Hồ kính mến, lời phát biểu của anh Ba là đúng. Cần phải nói như vậy [về việc cần phải không sợ Trung Quốc], bởi vì họ [Trung Quốc] đã gây khó khăn cho chúng ta trong nhiều vấn đề. Họ ngăn cản chúng ta ở đây, rồi trói tay ta ở kia. Họ không cho ta đánh…” (51)

Trong khi ta đang chiến đấu trong Nam, Đặng Tiểu Bình đã quy định rằng tôi chỉ nên đánh từ mức trung đội trở xuống, và không được đánh ở mức độ lớn hơn. Ông ta [Đặng] nói: “Ở miền Nam, do các anh đã phạm sai lầm là đã phát động cuộc chiến, các anh chỉ được đánh từ cấp trung đội trở xuống, chứ không được đánh lớn hơn”. Đó là họ đã ép ta như thế nào.

Chúng ta không sợ ai cả. Ta không sợ bởi vì ta có chính nghĩa. Chúng ta không sợ thậm chí các nước đàn anh. Ta cũng không sợ bạn bè ta. (52) Tất nhiên, chúng ta không sợ quân thù. Ta đã đánh chúng. Chúng ta là những con người; chúng ta không phải sợ bất kỳ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết rằng ta độc lập.

Chúng ta phải có một quân đội mạnh, bởi vì nước ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt… Không thể nào khác được. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm vì ta là một nước nghèo.

Ta có một đội quân mạnh, nhưng việc đó không làm chúng ta yếu đi chút nào. Đối với ta Trung Quốc có một số chủ trương: Xâm lược và chiếm đóng nước ta; làm ta suy yếu về kinh tế và làm cho đời sống của nhân dân ta khó khăn hơn. Vì những lý do đó, để chống Trung Quốc chúng ta phải, trước hết, không chỉ chiến đấu, mà còn phải tự làm cho mình mạnh lên. Để đạt được điều đó, theo quan điểm của tôi, quân đội ta không thể là một đội quân chỉ dựa vào nguồn cung cấp của nhà nước, mà còn phải là một đội quân sản xuất giỏi. Khi giặc đến họ sẽ cầm chắc tay súng. Khi không có giặc họ sẽ sản xuất mạnh mẽ. Họ sẽ là biểu tượng cao nhất và tốt nhất trong sản xuất, sẽ làm ra nhiều (của cải vật chất) hơn bất cứ ai. Tất nhiên, đấy không phải là chuyện mới lạ. (53)

Hiện nay, quân đội ta đang gánh vác một sứ mệnh lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của đất nước, đồng thời bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản cách mạng Trung Quốc không thể thực hiện được thì đó chính là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm được. Việt Nam đã có năm chục triệu người. Việt Nam có Lào và Căm bốt là bạn và có địa thế hiểm trở. Việt Nam có cả phe (Xã hội chủ nghĩa) ta và cả nhân loại đứng về phiá mình. Rõ ràng là chúng ta có thể làm được việc đó.

… Các đồng chí có thấy ai ở trong Đảng ta, trong nhân dân ta mà hoài nghi rằng ta sẽ thua Trung Quốc không? Không có ai, tất nhiên rồi. Nhưng chúng ta phải duy trì những quan hệ thân hữu của mình. Chúng ta không muốn sự hằn thù dân tộc. Tôi nhắc lại: Tôi nói như vậy vì không bao giờ tôi mang lòng hận thù đối với Trung Quốc. Tôi không có thứ tình cảm như vậy, dù chính họ là người đã đánh ta. Hôm nay tôi muốn các đồng chí biết rằng trên đời này người đã từng bảo vệ Trung Quốc lại chính là tôi! Đúng như vậy đó. Tại sao thế? Bởi vì trong hội nghị ở Bucharest tháng 6 năm 1960, sáu mươi đảng đã phản đối Trung Quốc nhưng chỉ có mình tôi là người đã bênh vực Trung Quốc. (54) Nhân dân Việt Nam ta là như vậy. Tôi sẽ tiếp tục nhắc lại rằng: Dù họ có đối xử tồi tệ đến đâu chăng nữa, chúng ta biết rằng nhân dân Trung Quốc là bạn ta. Về phía chúng ta, ta không mang những mặc cảm xấu xa đối với Trung Quốc. Còn về ý đồ của một số lãnh đạo [Trung Quốc] thì là chuyện khác. Chúng ta nhắc tới họ chỉ như một bè lũ mà thôi. Chúng ta không ám chỉ cả nước họ. Ta không nói nhân dân Trung Quốc xấu với ta. Ta nói rằng chỉ có bè lũ phản cách mạng Bắc Kinh là như thế. Tôi nhắc lại lần nữa ta phải tuân thủ nghiêm nhặt như vậy.

Tóm lại, hãy giữ cho tình hình trong vòng kiểm soát chặt chẽ, sẵn sàng chiến đấu và không bao giờ lơi là cảnh giác. Đối với Trung Quốc ta cũng làm như vậy. Tôi tin chắc rằng trong vòng năm mươi năm nữa, hoặc thậm chí có thể một trăm năm, chủ nghĩa xã hội sẽ thành công; và khi đó thì ta sẽ không còn vấn đề gì nữa. Nhưng nó đòi hỏi thời gian. Bởi vậy chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Bây giờ không ai còn hoài nghi gì nữa. Nhưng 5 năm trước tôi biết chắc rằng không có đồng chí nào lại nghĩ là Trung Quốc có thể đánh ta. Vậy mà có đấy. Đó là trường hợp vì các đồng chí ấy không có hiểu biết đầy đủ về vấn đề này. (55) Nhưng đó không phải là trường hợp xảy ra với chúng ta [Lê Duẩn và ban lãnh đạo]. (56) Chúng ta biết rằng họ sẽ đánh ta trong khoảng mười năm hoặc hơn. Do đó chúng ta không bị bất ngờ [vì cuộc tấn công tháng giêng 1979 của Trung Quốc].


50. Ở đây có thể ám chỉ Hoàng Văn Hoan. (Để có cái nhìn toàn cảnh hơn) về một quan điểm cần tranh luận, xin tham khảo thêm cuốn Giọt nước trong biển cả (Hồi ức về một cuộc cách mạng) (Bắc Kinh: Nhà xuất bản Tin Việt Nam, 1986).

51. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

52. Đây có lẽ muốn nói bóng gió tới Liên Xô (và khối Đông Âu).

53. Hình thức chiến tranh này đã từng có ở Trung Quốc và những nơi khác trong hoàn cảnh chiến tranh du kích.

54. Điều này đã diễn ra vào tháng 6-1960. Để biết thêm về lập trường của Lê Duẩn trong vấn đề này xin xem Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn. Sau đại hội Đảng Cộng sản Ru ma ni tháng 6-1960, Liên Xô đã tổ chức một cuộc họp tại chỗ các trưởng đoàn đại biểu những nước có mặt. Trong buổi họp đó Khơ rút xốp đã phê phán Trung Quốc nặng nề, đặc biệt là Mao, người mà ông ta cho là “giáo điều” vì những quan điểm của Mao về vấn đề chung sống hòa bình. Xem Adam B. Ulam, The Communists: The Story of Power and Lost Illusions 1948-1991 (New York: Macmillan, 1992), trang 211.

55. Dường như đây là một cái tát vào mặt Hoàng Văn Hoan mà không phải ai khác.

56. Đây có lẽ muốn nói tới những nhà lãnh đạo khác đang có mặt nghe Lê Duẩn nói chuyện, và có thể là một chỉ hiệu rằng người đồng chí thân Trung Quốc đã nói ở trên không có mặt trong buổi nói chuyện này. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

Nguồn: Thư viện Quân đội, Hà Nội. Tài liệu do Christopher E. Goscha phát hiện và dịch sang tiếng Anh, Nhóm nghiên cứu Việt Nam đương đại, Trường Khoa học Chính trị, Paris.

***
Người dịch Bùi Xuân Bách (http://vietinfo.eu/viet-nam/ve-am-muu-chong-pha-viet-nam-cua-be-lu-phan-dong-trung-quoc.html)


Tiêu đề: Người trẻ Trung Quốc nghĩ gì về Việt Nam? (VIT)
Gửi bởi: fddinh trong 16 Tháng Hai, 2011, 08:40:21 am
(http://vitinfo.vn/upload/Anh/Anhtieude/2011/2/4/LA84941_11_31_53.jpg)VIT (http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/LA84941/default.html)

- Vương Cẩm Tư người Cát Lâm, nay ở Bắc Kinh. Tốt nghiệp nghiên cứu sinh Đại học Bắc Kinh ngành truyền thông điện ảnh, từng làm nhà báo, ca sĩ. Nay hoạt động tự do. Hội viên Hội Lịch sử Thế chiến II TQ, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế. Sau đây chúng tôi xin trích dịch bài viết suy nghĩ tìm hiểu về cuộc chiến tranh 1979 của Vương Cẩm Tư khi du lịch sang Việt Nam. Nội dung bài viết chỉ mang tính tham khảo, nó phản ánh quan điểm của một nguời dân Trung Quốc thuộc thế hệ trẻ.

Khác với tư duy quen thuộc của người Trung Quốc, trong mắt người Việt Nam, chiến tranh Trung-Việt không chỉ là cuộc chiến “Trung Quốc tự vệ đánh trả Việt Nam” kéo dài nhiều năm sau năm 1979 như dưới góc nhìn của người Trung Quốc, mà còn gồm cả cái gọi là sự “xâm chiếm” Việt Nam do các vương triều Trung Quốc trước đây tiến hành kéo dài tới hai nghìn năm kể từ thời Đông Hán.

Thượng tuần tháng 9 năm 2010, tác giả Vương Cẩm Tư xuất phát từ Bắc Kinh cùng mấy người bạn đến Việt Nam xem tình hình thị trường gỗ hồng mộc. Lúc rảnh rỗi, chúng tôi đã tìm hiểu về cuộc chiến “Trung Quốc tự vệ đánh trả Việt Nam”.

Đối với một người lớn lên ở vùng Đức Huệ tỉnh Cát Lâm như tôi, Việt Nam là nơi rất xa xôi, hầu như tôi không có quan hệ gì với quốc gia này. Thế nhưng mối liên hệ [với Việt Nam] lại từng gần gũi đến thế, bởi lẽ hồi ở tuổi thiếu niên tôi nhận được sự giáo dục chủ nghĩa yêu nước chính tông và lây nhiễm chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quen thuộc “Phong thái nhuốm máu” và “Vòng hoa dưới núi cao” [bài hát và tiểu thuyết Trung Quốc viết về chiến tranh 1979], từng cùng thày trò toàn trường nghe các anh hùng Lão Sơn [một ngọn núi ở Hà Giang, nơi Trung Quốc tấn công lấn chiếm đất Việt Nam] báo cáo chuyên đề tại Cung Văn hoá công nhân Đức Huệ, tôi lại còn hăng máu đòi ra tiền tuyến Việt Nam liều mạng với quốc gia này mà không ngại hy sinh, cho dù sức mình còn chưa xách nổi ngọn giáo có tua hồng.

Để tìm hiểu cuộc chiến “Trung Quốc tự vệ đánh trả Việt Nam”, tôi có chủ ý đi thăm Bảo tàng Quân đội Việt Nam tại Hà Nội. Thật may là Bảo tàng này ở ngay chếch phía trước Đại sứ quán Trung Quốc, cách chưa đầy 100 mét, nhà Bảo tàng không lớn.

Tác giả từng thăm Bảo tàng Quân sự cách mạng Trung Quốc tại Bắc Kinh, cảm thấy cực ký hùng vĩ, oách hơn Bảo tàng Việt Nam nhiều. Quy mô và phong thái hai nhà bảo tàng quân sự của hai nước nên là sự thể hiện và hình ảnh thu nhỏ các mặt sức mạnh kinh tế, diện tích lãnh thổ và sức mạnh quân sự của hai nước.

Nhưng vào xem thì căn bản chẳng có trưng bày nội dung về cuộc chiến “Trung Quốc tự vệ đánh trả Việt Nam”, chỉ có các tư liệu Trung Quốc giúp Việt Nam chống Mỹ. Máy ảnh tôi mang theo thế là vô dụng, tôi cảm thấy có chút hẫng hụt.

Thỉnh thoảng có du khách Trung Quốc vào xem Bảo tàng, họ đến Việt Nam theo các đoàn du lịch. Khi nhập cảnh họ được [các nhân viên hải quan Trung Quốc] nhắc nhở chớ nói chuyện với người Việt Nam về cuộc chiến tranh này nhằm tránh tổn thương tình cảm của đối phương. Nhưng tôi thì bất chấp cái tình cảm gì gì ấy, xông thẳng tới hai nhân viên đứng ngoài sân Bảo tàng Quân đội Việt Nam hỏi cho ra nhẽ. Họ cũng mặc quân phục, một nam một nữ. Vì không hiểu tiếng Trung Quốc tôi nói nên họ lập tức đi gọi một hướng dẫn viên du lịch Việt Nam đến. Anh này chừng 30 tuổi, nói tiếng Trung rất thạo.

Nghe tôi hỏi đoạn lịch sử ấy, nụ cười của anh trở nên nghiêm trang: “Tôi biết Trung Quốc các ông tuyên truyền đây là cuộc chiến phản kích tự vệ, nhưng ông hãy thử nghĩ xem, có thể như thế được không? Việt Nam chúng tôi một nước nhỏ thế này mà có thể xâm lược nước các ông được sao? Hồi ấy cuộc Cách mạng Văn hoá của các ông vừa mới chấm dứt, rất nhiều mâu thuẫn và nguy cơ chưa giải quyết được, các ông bèn xâm lược Việt Nam để đổ vấy nguy cơ. Dĩ nhiên nguyên nhân không chỉ có vậy.”

Tôi nói, vì Việt Nam quấy nhiễu biên giới và xua đuổi Hoa kiều nên Trung Quốc mới phản kích tự vệ. Anh ta nói, chúng ta hãy tạm chưa tranh cãi ai sai ai đúng. Ai ngờ hướng dẫn viên du lịch Việt Nam này nhắc đến cả chuyện Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng Trung Quốc đi váo vùng biển đảo Điếu Ngư [Nhật gọi là Senkaku]. “Tôi thấy nhiều thành phố Trung Quốc bắt đầu [biểu tình chống Nhật], thực ra đó là kết quả việc chính phủ và giới truyền thông Trung Quốc kích động. Người Trung Quốc các ông quá thù hận. Người Việt Nam chúng tôi xưa nay không bao giờ thù hận nước khác, chúng tôi là một dân tộc hoà bình.” – anh nói.

Điều khiến tôi kinh ngạc không phải ở chỗ anh ta nói có đúng hay không mà là tôi không nghĩ anh hiểu Trung Quốc nhiều như vậy. Bên cạnh còn có một người Việt Nam biết tiếng Trung nói xen vào: Trung Quốc các ông một mặt nói thù hận là không hợp trào lưu của loài người, một mặt lại hết mức thù hằn Nhật Bản và các nước khác. Như thế chẳng phải là tự mâu thuẫn với mình, rất giả dối đó sao? Kinh tế các ông có thành công nữa cũng không được người ta tôn trọng.

Tôi bảo, Nhật Bản có sai, họ cũng từng xâm lược Việt Nam, Trung Quốc căm thù là bình thường, nhưng nhà nước chúng tôi không kích động, người Trung Quốc chúng tôi không căm thù Việt Nam.

Tôi kể, khi lính Trung Quốc gánh nước cho phụ nữ Việt Nam thì bị người phụ nữ ấy bắn lén từ sau lưng mà hy sinh, cả đến trẻ con Việt Nam 11, 12 tuổi cũng bắn giết Giải phóng quân, thật là lấy oán trả ơn. Tôi hỏi hướng dẫn viên du lịch thấy chuyện ấy như thế nào, anh bảo: “Các ông xâm lược vào đây, có thể nào không đánh các ông hay sao?”

Tôi cảm thấy đây là chuyện làm người Trung Quốc chúng ta xấu hổ khó xử. Sau này hướng dẫn viên du lịch ấy có gửi E-mail cho tôi, trình bày quan điểm của Việt Nam đối với cuộc chiến tranh này, viết bằng Trung văn.

Cho dù nhà Bảo tàng Quân đội Việt Nam không có nội dung cuộc chiến “Trung Quốc tự vệ đánh trả Việt Nam” nhưng khi tôi đến Bảo tàng Quốc gia Việt Nam thì lại nhìn thấy cái gọi là ghi chép về việc các vương triều Trung Quốc trước đây xâm lược Việt Nam; tại đây người ta có phân phát các tài liệu tiếng Trung Quốc giới thiệu lịch sử chuyện đó. Lại còn có trưng bày cái gọi là “Trung Quốc chiếm Việt Nam lâu tới 1000 năm”.

[Tài liệu của] Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc viết bằng Trung văn giới thiệu thế này: “Nhân dân Việt Nam từng nhiều lần bị nước ngoài xâm lược, gồm các vương triều Trung Quốc trước đây như triều Tống (thế kỷ 11), triều Nguyên (thế kỷ 13), triều Minh (thế kỷ 15) và triều Thanh (thế kỷ 18).” Người Việt Nam tự hào vì đã đánh bại quân Trung Quốc từ phương Bắc đến, lưu lại nhiều cái gọi là sự tích anh hùng “Chống Nguyên”, “Chống Minh” và “Chống Trung Quốc”. Trong thời gian đó liên tiếp xảy ra các cuộc khởi nghĩa anh hùng do Hai Bà Trưng (đời Hán), Triệu Trinh Nương (đời Tam Quốc), Mai Thúc Loan (đời Đường), Dương Đình Nghệ (đời Ngũ đại thập quốc) lãnh đạo chống lại sự thống trị tàn bạo của Trung Quốc, nhưng đều bị đàn áp.” Những nhân vật ấy được người Việt Nam coi là thần minh phù hộ bình yên và mưa thuận gió hòa để thờ cúng.

(http://vitinfo.vn/upload/Anh/Anhnoidung/2011/2/4/LA84941_11_3_53.jpg)
Chữ trên ảnh: Thành phố Hải Phòng Việt Nam dựng tượng Lê Chân, người được gọi là “nữ anh hùng” chống lại sự thống trị của nhà Đông Hán Trung Quốc.
Vương Cẩm Tư chụp. Ngày 10/9/2010 tại Hải Phòng.

Tác giả Vương Cẩm Tư còn thấy tại trung tâm Hải Phòng, một thành phố ở miền Bắc Việt Nam, có dựng một bức tượng đồng cao hơn ba chục mét, theo giới thiệu là “bà Lê Chân nữ anh hùng Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược thời kỳ Đông Hán”.

Tương truyền Lê Chân xinh đẹp, tính tình hiền thục, quan lại Trung Quốc thèm khát muốn lấy làm vợ. Cả gia đình Lê Chân phản đối, kết quả quan Trung Quốc giết người nhà Lê Chân. Quyết tâm trả thù cho gia đình mình, bà Lê Chân vô cùng đau buồn căm phẫn về quê triệu tập binh sĩ tình nguyện chiến đấu anh dũng, cuối cùng bà hy sinh vẻ vang.

Tại Việt Nam, các nơi đều có nhiều nghĩa trang quân nhân, chủ yếu là kết quả chiến tranh với Mỹ, tiếp sau là các binh sĩ Việt Nam chết trong tác chiến với quân đội Trung Quốc; có thể thấy người Việt Nam vẫn rất tôn trọng họ. Nghe nói có phụ nữ trung niên Việt Nam không bán hàng cho người Trung Quốc, nguyên nhân do chồng bà bị quân đội Trung Quốc bắn chết trong cuộc chiến tranh Trung-Việt hồi trước.

“Hiện nay việc hoạch định biên giới trên bộ giữa hai nước Trung-Việt đã được giải quyết. Theo nguồn tin tin cậy, nước ta có một anh hùng chiến đấu năm xưa từng cố thủ trận địa, coi thường cái chết, có thành tích nổi bật, nhưng cuối cùng khi phân chia biên giới thì trận địa đó lại thuộc về Việt Nam; mới đầu tư tưởng người anh hùng ấy rất không thông, về sau anh đã nghĩ thông suốt, lợi ích quốc gia trên hết.”

Nói tới chuyện cách nhìn nhận người Trung Quốc, nhiều người Việt Nam đánh giá còn được, cũng có người nói thẳng: “Thường thôi”, “Không tốt, không bằng Nhật”. Lý do là Trung Quốc còn đe dọa họ, phẩm chất người Trung Quốc không tốt, bịp bợm lừa đảo; chất lượng hàng Trung Quốc không tốt, xe máy dùng 1-2 năm là hỏng; xe máy Nhật cấp cao hơn, dùng lâu bền. Quả vậy, tại Việt Nam tôi thấy xe máy hàng đàn mà hầu như rất ít xe Trung Quốc, tuyệt đại đa số là xe Nhật.

Lần này tôi sang Việt Nam đúng vào dịp đại lễ 1000 năm thủ đô Hà Nội Việt Nam, tại nhiều nơi có thể cảm nhận thấy ảnh hưởng lớn của lịch sử, văn hoá Trung Quốc.

Phụ nữ Việt Nam dung nhan xinh đẹp, thân hình nhỏ nhắn, dáng đi uyển chuyển.

Như có người nói, trong lịch sử mấy nghìn năm của mình, Việt Nam chiến tranh nhiều, hoà bình ít, xáo động nhiều, yên ổn ít, [ngườì Việt Nam] không suy tính quá nhiều những ân oán trong lịch sử và quý trọng hoà bình không dễ đến với mình.

Năm 2010 là dịp kỷ niệm 60 năm Trung Quốc-Việt Nam lập quan hệ ngoại giao, hai nước tận hưởng hoà bình, người buôn bán đi lại ngày càng thân mật, Hữu Nghị Quan thực sự hưởng tình hữu nghị chứ không phải là tranh chấp và khói súng. Phần lớn người Việt Nam rất nhiệt tình với Trung Quốc. Trên đoàn tàu hỏa cũ nát từ Hải Phòng đi thủ đô Hà Nội, tôi trò chuyện với các cô gái Việt Nam bằng thứ tiếng Anh đơn giản. Có một anh chàng chỉ biết nhõn một câu tiếng Trung nói oang oang với tôi trước mặt mọi người trên toa tàu: “Tôi yêu bạn!” Chúng tôi đều cười.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch

Các ghi chú trong dấu [ ] là của người dịch

Bối cảnh cuộc chiến tranh 1979.

Năm 1975, Việt Nam thống nhất đất nước, bước ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài 30 năm giành độc lập dân tộc. Nền kinh tế của Việt Nam bị phá hủy hoàn toàn, cuộc sống của người dân vô cùng khó khăn. Thêm vào đó, chế độ diệt chủng PônPốt phát động cuộc chiến gây hấn ở biên giới phía nam của Việt Nam. Lợi dụng tình huống này "người bạn lớn" Trung Quốc, dùng chiến lược biển người, xua quân xâm lấn lãnh thổ Việt Nam ở phần biên giới phía bắc, và sau đó  mở cuộc chiến tuyên truyền nhằm cố tình thay đổi lịch sử.


(http://vitinfo.vn/upload/Anh/Anhnoidung/2011/2/4/LA84941_12_44_8.jpg)

Dọc theo suốt chiều dài biên giới phía bắc của tổ quốc, những tấm bia tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ anh dũng hy sinh  trong các cuộc chiến  chống sự xâm lăng của Trung  Quốc, vẫn trang nghiêm đứng đó, tạo nên một biên giới tâm linh vĩnh cửu bảo vệ tổ quốc. Trên tất cả các tâm bia này đều ghi rõ tên tuổi của các liệt sĩ, họ đều đã ngã xuống ở tuổi 20. 



Nguồn
- http://military.china.com/history4/62/20101216/16297986.html
- http://history.stnn.cc/war/201012/t20101216_1476515.html
- http://blog.sina.com.cn/wangjinsi918


Tiêu đề: Bí Mật Ngũ Giác Đài
Gửi bởi: fddinh trong 24 Tháng Mười Một, 2011, 10:37:00 am
“Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I: Hoa Kỳ và Việt Nam 1940 - 1950” (Kỳ 1) (Nguyễn Quốc Vĩ dịch) (http://ethongluan.org/component/content/article/905.html)

Thư của người dịch

Tôi vừa dịch vừa đánh vật với tài liệu 270 trang “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” (Pentagon Papers Part I) suốt mấy tháng với sự giúp sức của ông Google và đã hoàn tất, khiêm tốn nhưng đủ cho tôi trả lời cho tôi về một giai đoạn của lịch sử đau thương của Dân Tộc. Suốt mấy mươi năm, sinh ra chiến tranh đã có, lớn lên vác súng đánh nhau như bao thế hệ khác mà vẫn không thể hiểu tại sao cho tường tận. “Tại sao lại có Việt Nam Quốc Gia, Việt Nam Cộng Sản và họ đã đánh nhau suốt hơn hai mươi năm, hàng triệu người chết, hàng chục ngàn gia đình ly tán?” một câu hỏi mà suốt mấy mươi năm với tôi vẫn chưa bao giờ có một lời giải thỏa đáng, dù là bé tí. Hai mươi bảy ngàn trang tài liệu được viết trong khoảng từ tháng 7/1967 đến tháng 2/1969 nghĩa là lúc chiến tranh ở miền Nam với sự tham dự của người Mỹ đang diễn ra sôi động… “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” chỉ là phần đầu.

Kết luận mà tôi rút ra cho tôi là đau khổ của Dân Tộc Việt Nam từ Thế Chiến II là do chủ nghĩa Thực Dân ăn sâu vào trong đầu dân Pháp sau hơn 80 năm đô hộ và bóc lột Việt Nam, vào thời điểm đó, kẻ thực dân đại diện là De Gaulle. Dù ông này là anh hùng của dân Pháp cũng không ngăn tôi gọi ông ta là tên thực dân đầu têu đã làm cho dân tộc tôi đau khổ bao nhiêu năm và sẽ còn tiếp tục đau khổ vì đưa đẩy của lịch sử đã tròng lên đầu các lãnh đạo hiện nay chiếc vòng Kim Cô chưa sao thoát đươc. Một kết luận nữa cho riêng tôi là, ít nhất những qua gì ghi lại trong “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” ông Hồ Chí Minh rất xứng đáng được coi là một lãnh tụ tuy cộng sản nhưng cực kỳ dân tộc chủ nghĩa, dành mọi tâm trí, thủ đoạn và ưu tiên cho Độc Lập của Việt Nam. Chỉ rất tiếc và rất đau, chính vì sự ngoan cố của Thực Dân chỉ muốn tiếp tục vai trò chủ nhân ông của Đất Nước cộng thêm với thế chính trị của Mỹ sau Thế Chiến là ưu tiên cho đồng minh của mình dù đồng minh ấy là thứ chủ nghĩa thực dân mà chính Mỹ cũng không muốn. Không ít hơn tám lần Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã liên lạc với Tổng Thống Mỹ Roosevelt và sau đó là Truman sẳn sàng hợp tác toàn diện với Mỹ và chỉ mong một điều mà Dân Tộc ta đã qua bao nhiêu lần vùng dậy mà không đạt được: Độc Lập. Mười ba liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị chém đầu, hai vì Vua yêu nước bị đi đày… nỗi đau dân tộc quá lớn, khát khao Độc Lập quá lớn. Ông Hồ Chí Minh, với kinh nghiệm sống, đã sống và chứng nghiệm thực tiển cuộc sống ở các quốc gia hàng đầu của Tư Bản lẫn Cộng Sản chắc chắn đã thấy Cộng Sản không thể nào thích hợp cho Việt Nam. Mọi bước đi chính trị của ông đều theo hướng đó: Việt Nam Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp hay ít nhất là được hưởng chế độ giám hộ (ủy trị) do Mỹ chịu trách nhiệm như trường hợp của Phi Luật Tân. Nhưng than ôi, thực dân nào chịu nhả thuộc địa béo bở của mình, Mỹ lấn cấn thế đồng minh với Pháp, ưu tiên ngăn làn sóng đỏ ở Âu Châu đành cho cuộc đời đưa đẩy theo bước chân của Pháp… Vừa lúc Trung Hoa Cộng Sản đánh bại Trung Hoa Quốc Gia năm 1949, ông Hồ đành phải ngã vào vòng tay của người anh em cộng sản Tàu và Liên sô, chủ yếu là Tàu Mao để nhận vũ khí đạn dược và các phương tiện chiến tranh làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng chấm dứt chế độ Thực Dân ở Đông dương và kích động cuộc khởi nghĩa vũ trang chống thực dân Pháp ở Algerie… Vì nhận nên phải mang nợ, mang nợ nên phải “nghe lời”, nghe lời rồi rập khuông từ chính sách đến quần áo, điệu nhảy, lời hát; nghe lời nên đã sinh ra 6 đợt Cải Cách Ruộng Đất Kinh Hoàng mà dư chấn đầu tiên là cả triệu người bỏ quê hương mồ mã tổ tiên để đi vào Nam. Rồi đến khi “hết nghe lời”, mười năm biên giới chiến chinh làm bài tập xương máu để trả bài học cho “người anh” cộng sản.

Phải chi, “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” cũng đã nhiều lần “phải chi”, ngay sau khi Thế Chiến II chấm dứt, người Pháp chấp nhận đề nghị của Hồ Chí Minh là Việt Nam Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp như người Anh đã trả Độc Lập cho Ấn Độ và giữ họ trong Khối Thịnh Vượng Chung, thì có lẽ, nếu có chiến tranh xảy ra là một thứ chiến tranh giữa quốc gia với quốc gia (Tàu Cộng với Đồng Minh hay Liên Hiệp Pháp trong đó có Việt Nam). Người Mỹ đã biết rất rõ Hồ Chí Minh và Việt Minh là ai và họ cũng đã tính nếu Việt Nam thành cộng sản thì cũng là thứ Cộng Sản yêu nước dân tộc chủ nghĩa độc lập với đàn anh Tàu Cộng tương tự như Tito của Nam Tư cộng sản đối với đàn anh Liên sô … Và họ sẳn sàng chấp nhận như thế vì cái mà họ muốn là ngăn chận làn sóng cộng sản từ Tàu tràn xuống phía Nam. Ngày nay họ vẫn tiếp tục chính sách ngăn chận, lần này không phải cộng sản mà Tàu là chính …

Không trách được vì sao nên cớ sự (Ông Hồ ngả về khối Cộng Sản), vì cớ sự khởi đầu là do Thực Dân không muốn cho ta Độc Lập, nhưng rồi cũng vỡ đầu bêu trán ở Điện Biên Phủ chạy đi, nhưng để lại cái thế Quốc, Cộng làm dân tôi thêm hai mươi năm nội chiến từng ngày, chịu bao nhiêu là đau khổ mất mát …

Qua “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” tôi còn được thấy thêm phe người Việt “quốc gia” với cái muốn thật to nhưng cái tài không lớn. Cái này người Mỹ nói chứ không phải tôi.

Khi bỏ công dịch, tôi mong ba chuyện:

Một, cho tôi cái nhìn khách quan qua các chứng cớ lịch sử mà “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” là một “thứ thiệt” không chịu mấy màn che của hỉ nộ ái ố, của kẻ mù rờ chân voi.

Hai, để đồng bào tôi thấy sự thực là dân tộc ta, nhược tiểu yếu kém về mọi phương diện trừ tình yêu Tổ Quốc vĩ đại, phải chịu thân phận con chốt cho các cường quốc trong bàn cờ chia chác tài nguyên, thị trường.

Ba, lãnh đạo Việt Nam đọc để thấy chuyện đời là một màn chơi với những quy luật và thế trận của nó, tiếp tục lấy Tổ Quốc làm trọng vì đó là cái tinh túy nhất của những người làm và đi theo cách mạng chỉ mưu cầu cho độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc. Họ cần phải thấy “không ai mãi mãi là bạn, không ai mãi mãi là thù”, phải thấy nước nào cũng xem quyền lợi của nước họ là tối thượng mà bỏ qua trong trong tâm trí mấy chữ “anh em” và càng cảnh giác hơn nữa với những danh từ hoa mỹ.

Sau khi dịch và hiểu “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I”, tôi sẳn sàng gọi ông Hồ Chí Minh là Bác với tất cả kính trọng và thương mến, ít nhất là trong khung thời gian mà “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” 1940-1950 đã đề cập đến.

“Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần II” nói về chiến tranh Việt Pháp 1950-54 là cố gắng sắp đến của tôi

Ghi chú thêm: trong tài liệu chữ “nationalist” được dùng rất nhiều nhưng chưa có nghĩa Quốc Gia trong nghĩa Quốc Gia đánh nhau với Cộng Sản như trong chiến tranh ở Miền Nam sau này. Như phong trào Việt Minh là “quốc gia” gồm cả phe Cộng Sản lẫn quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt v.v… chữ “nationalist” ở đây được hiểu là “dân tộc chủ nghĩa”. Cho nên xin quí vị độc giả lưu ý chỗ này.

Paris, tháng Mười, đầu Thu 2011
Nguyễn Quốc Vĩ


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:01:02 am
   
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979
« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2010, 01:42:10 PM »
Trích dẫn
Chiến dịch quân sự
 

Cuộc tấn công của Trung Quốc đã khiến Hà Nội bất ngờ. Tình báo Việt Nam dường như thất bại trong việc giúp ban lãnh đạo Hà Nội chuẩn bị trước cho cuộc xâm lược của Trung Quốc. Mặc dầu màn giễu võ dương oai (saber-rattling) của Bắc Kinh đã có từ trước đó vài tháng, nhưng lãnh đạo Việt Nam cũng không thể tin nổi “một nước Xã hội Chủ nghĩa anh em” lại có thể đi xâm lược mình. Khi một số lượng lớn quân Trung Quốc đã vượt qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Văn Tiến Dũng còn đang ở Phnom Pênh. Mức độ dàn trải của chiến dịch của QGPND cũng đã đánh lừa được Bộ Tư Lệnh tối cao của quân đội Việt Nam trong việc nhận dạng các mũi nhọn và mục tiêu thực của cuộc tấn công. Trong lúc yêu cầu cấp bách Matx-cơ-va thực thi nghĩa vụ theo hiệp ước hữu nghị và hợp tác mới ký giữa hai nước, phản ứng tức thời của Hà Nội là “để đáp trả ngay lập tức, sử dụng bất cứ sự kháng cự nào nhằm làm giảm ưu thế của quân Trung Quốc” Các trận đánh quan trọng đã xảy ra xung quanh các thị trấn biên giới như Sóc Giàng,....



Mới sưu tầm được 1 văn bản , nghe nói là kế hoạch tấn công việt nam, bác nào giỏi tiếng trung , dịch hộ anh em để hiểu thêm vì sao Tình báo Việt Nam (cục 2-bộ tổng tham mưu và cục 5- bộ nội vụ )dường như thất bại trong việc giúp ban lãnh đạo Hà Nội chuẩn bị trước cho cuộc xâm lược của Trung Quốc. Mặc dầu màn giễu võ dương oai (saber-rattling) của Bắc Kinh đã có từ trước đó vài tháng :

在南疆自卫还击战广西战区指挥部
                                                         周德礼
      1979年,在边境自卫还击战之时,我作为广州军区参谋长,从战前的准备、战中的组织指挥、战后的总结等一系列事项,我都参加了。作为许世友司令员的助手,在边境地区(广西段),在广州军区前进指挥所,在各个参战部队之中,共度过了7个多月时间。在此期间,我曾三次去北京总参谋部开会、接受指示,学习和领会中央军委的意图。
       1979年1月23日接总参通知,要我们去接受中央军委首长的指示。我奉许司令员、向政委的命令、带着作战部迟云秀副部长、作战部一科孙戈卿科长,连夜乘飞机赶到总参作战部。这是我第三次到北京接受指示(前两次分别是1978年9月和11月22日)。当天夜里听了副总长杨勇、王尚荣、总政治部主任韦国清传达军委邓主席的指示。军委首长决心,要把选定的两处敌人彻底歼灭。要求我们不管付出多大的代价和牺牲,也要完成这次作战任务,首战必胜,全歼敌人。要时间上,要速战速回;战前准备可以长一点,可以延长到2 月15日前准备就绪。争取多搞一些战前训练,准备充分一些。部队一定轻装,可少带武器多带弹药,压缩干粮带三天够了,不一定带生食。并确定这次作战行动为“边境自卫还击战”。
     上述就是军委首长指示的主要精神。听了这些指示后,觉得军委首长决心坚决,作战方针明确,广州军区的任务具体,对我们的要求严格合理。我表示坚决完成军委交给的任务。
       接受命令后,我们乘飞机于24日中午返回南宁。坐在飞机上,心中回味着军委首长的指示,觉得这次作战的规模比较大,能够起到惩罚敌军的作用,维护边境地区的安宁与和平,心中佩服这些指示。下午,将中央军委和总部首长的指示,向许司令员、向政委及江、欧、吴三位副司令员进行了传达。许司令员向政委决定立即向下传达,由三位副司令员亲自分别到单位完成这项任务。于是,我让作战部给三位副司令员各抄了一份指示全文。分别带到参战单位传达。
会后,我根据党中央、军委首长的指示精神,组织作战有关人员和军兵种有关人员在前指司令部拟制作战计划。这是一项十分重要的工作,要求周密而细致,不得有丝毫的错漏。在司令部的部长、科长和参谋们的共同努力下经过一周的时间完成了初稿。
     军区前进指挥所于1979年1月5日在南宁市西园一号楼大会议室召开第二次作战会议,讨论战役计划。参加会议的有司令员许世友、政委向仲华、副司令员江燮元、欧致富、吴忠、副政委杨树根、单印章,司令部是我和焦玉山,郑波副参谋长、政治部王淳主任、宋焕文副主任。还有广西自治区党委书记乔晓光、广州军区空军司令员王海、南海舰队副参谋长柳条。下边来参加会议的有北集团张、刘首长,南集团杨、陈首长,东集团朱、郭首长,机动集团诸、赵首长。还有各单位的作训处长。
     与会人员基本同意司令部草拟的战役计划,同时也发表了很多补充意见。根据这次会议的意见,司令部又作了一些修改补充,使作战计划趋于完善。
2月5日,军区在南宁市西园召开了第三次作战会议。首先由江、吴、欧三位副司令员汇报到各单位传达军委首长指示精神的情况,也反映了各单位存在的问题和提出的建议,着重讲了各单位作战准备情况,而后进一步研究了军区的战役计划。在讨论时,向政委、三位副司令员、我和王主任都主张,在打高平的同时打下同登,对全战役有利。许司令员同意大家的意见,并指出打同登时,首先使用猛烈的炮火袭击。根据这个精神。又把战役计划作了一些必要的修补。
      一星期后,2月12日下午在南宁西园召开了军区第四次作战会议。参加会议的有:许司令、向政委、江燮元、欧致富、吴忠、欧致富副司令员、杨树根、单印章副政委,司令部是我和焦玉山副参谋长、,政治部王淳主任和宋焕文副主任,后勤部是赵遵康部长、赵力宽政委、常凤举副部长、广州军区空军王海司令员、施副参谋长,南海舰队段璋政委、柳条副参谋长,参战各大单位的首长、主管作战的处长和参谋人员。军区各兵种领导人,各机关部、局长也参加了会议。
       会议结束时,许世友司令员提出要求说;“希望大家把这仗打好,要不惜一切代价把这一打好仗。”并当场宣布:“攻击发起时间为2月17日拂晓。”
       经过三上三下的反复研究,经过这次作战会议,边境自卫还击的作战计划送审稿就定了下来。许司令员和向政委同意按这次作战会议的意见,上报中央军委和总参谋部。
      司令部对作战计划又连夜进行了再修改,于第二天呈送中央军委总参谋部审批。很快批准了。自此,边境自卫还击作战按照计划打响了。*

                    转载军旅情(55军将士传)此书,广州军区周德礼参谋长的自述全文






Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:16:43 am
TÀI LIỆU VỀ HẢI CHIẾN HOÀNG SA 1974- DO TRUNG QUỐC  CÔNG BÔ


 西沙海战是几十年前我国与南越为争夺西沙群岛而发生的海战,现又见到了一些所谓关于西沙揭密的帖子,一点也没有“揭密”只是按照公开的文章重贴而已,故把自己收集的资料贴出来,希望各位大虾指教。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客
 

第一章 战场回顾

        新华社1974年1月19日讯:1974年1月11日以来,我外交部多次声明和警告,南越并未收敛其侵略行径,反而出动海空军入侵我西沙群岛中的永乐群岛。我忍无可忍,进行了英勇的自卫还击,给予来犯之敌以应有的惩罚。

        南越:“中共海军出动配备冥河导弹的科马尔级驱逐舰。战斗空前激烈……”http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

        美国:活动在北部湾的美国海军第七舰队拒绝了南越海军要求其干预的吁请,甚至拒绝派出舰艇前去援救落水官兵。

        ◎垂死前的赌博

        永乐群岛是西沙群岛的一部分,该群岛由珊瑚、甘泉、金银、琛航、晋卿及广金等岛礁组成,自古是我国固有领土,但从19世纪起,部分岛屿被殖民东南亚的法国占领,1954年法国势力被逐出,被其占据的珊瑚岛落入南越之手。1973年1月,美国从越南撤军,并将大量舰艇移交南越,从1973年8月起,南越频频派出军舰,侵犯我领海。次年1月11日,更明目张胆地公布地图,把西沙划归它的版图。当时我国内忧外患不绝,国内处于“文化大革命”的混乱中,且中苏关系紧张,无力南顾。因此南越的行动愈演愈烈,1月15日,南越海军的“李常杰”号(HQ-16)首先入侵,对我在甘泉岛附近生产作业的402、407两艘渔轮开炮威胁,17 日上午,敌在金银岛登陆,下午又强占甘泉岛。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

        ◎海上对峙

        面对入侵,南海舰队奉命派出由榆林基地第38002部队副司令员魏鸣森和王克强大队长率领的第73猎潜艇大队271、274两艇组成271编队,实施护渔及为驻岛军民输送补给的任务。编队于18日晚上赶到永乐群岛,将海南军区4个武装民兵排送上晋卿、琛航、广金三岛。

        18日上午,南越军舰“陈庆瑜”号和“李常杰”号驶近407号渔轮,以击沉恫吓,迫其离开。407号船长杨贵毫不屈服,“陈庆瑜”号猛然转舵,撞坏了渔船的左舷。正当渔民们拿起鱼叉,决心以死相拼之际,我271,274号飞驰而到,发出警告。看到我海军到来,越舰挂上了“本舰操舵失灵”的旗号,匆匆离开现场。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

        当晚,敌何文锷大校乘“陈平重”号(HQ一5)由“怒涛”号(HQ一10)伴随抵达当地。尽管双方的舰艇的数量为4对4,但无论从吨位还是火力来说,越军都占有压倒性的优势。我方4艘艇的总吨位,还不及越军的1艘!而且越方普遍装备火控系统,我方舰艇则基本上还是人力操作,双方实力对比之悬殊是显而易见的。

        19日一早,越方发现我方只有4条小艇,便认为可利用兵力优势消灭我军,越舰重新布阵,兵分两路占据有利的外线,展开战斗队形,“陈平重”号率领“陈庆瑜”号由金银岛、羚羊礁以南的外海向琛航、广金两岛接近;“怒涛”号和“李常杰”号由广金岛西北向我舰艇接近。同时,南越海军总部向何文锷大校下达开火的命令。

        ◎外海激战

        按照广州军区的部署,396编队进至广金岛西北面拦截南越“李常杰”号、“怒涛”号271编队进至广金岛东南海面,监视“陈庆瑜”号、“陈平重”号。严阵以待的我方炮手发现敌舰的炮口里火光一闪,立即脚踏击发,我们的炮弹也出膛了。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

        这个时刻是1974年1月19日上午10点25分。

        整场海战基本上是2对2的较量。在广金岛东南方的271编队与“陈庆瑜”号、“陈平重”号是双方的主力,所以不约而同地采用了“擒贼先擒王”的战法。可是双方都出现判断错误。据越方近年来公布的档案,由于18日何文锷的到达,越军将旗舰由“陈庆瑜”号改为“陈平重”号,我方不知,所有火力都集中在“陈庆瑜”号上;而越方则认为我方殿后的274为指挥舰,因此第一排炮火正是朝着其指挥台扫了过来,政委冯松柏不幸中弹牺牲。然而敌方犯了严重的战术错误:对于无装甲的猎潜艇,他们使用了穿甲弹,这样炮弹即使命中也往往贯穿艇身,落入海里,甚至还有很多臭弹;如果使用高爆弹,那么胜负就难说了。而我方的两舰,则充分利用目标小,航速快的特点,敢于打接近战。我方的小型速射炮不停地向敌舰倾泻弹雨,没有装甲的“陈庆瑜”号很快就烈火熊熊,双方射击距离从1000米打到300米,此时,274号的电舵突然发生故障,眼看着失去控制的小艇径直往“陈庆瑜”号和“陈平重”号交叉火网中冲。在千钧一发之机,艇长李福祥镇定地下令转用人力舵,并纵从指挥台跃到甲板上,站在机舱口大声命令主机班全速倒车,用口令和手势顽强指挥作战。同时,主炮班长王俊民指挥火炮向迎面扑来的敌“陈庆瑜”号猛烈开火,敌舰支持不住,扭头就逃。274艇又转过炮口,向赶来支援的“陈平重”号连续轰击。装填手李如意一口气接连装填了180多发炮弹,打哑了“陈平重”号的后主炮。

        ◎礁湖死斗

        礁湖内侧的厮杀更为壮烈,在布满珊瑚礁的狭窄范围内作战,没有机动作战的余地,狭路相逢勇者胜,于是396、389两舰集中火力攻击“李常杰”号。在此,南越军在编制上吃了亏,“怒涛”号原是一艘扫雷舰,最高航速只有14节,难与“李常杰”号保持协同。所以,双方一交火,“怒涛”号只能暂时先对广金岛炮击,徒然看着“李常杰”号被我军集中攻击而无法进行支援。当时,越方最大侧舷火力是1门127毫米炮、3门40毫米炮、1门20毫米炮和2挺重机枪,而我方可用的是l门85毫米、6门37毫米、4门25毫米和4挺重机枪,只要充分接近敌舰,不使这门127毫米炮发挥威力,在此局部战场上,我方仍可取得相当的火力优势。396,389两舰一边逼近,一边将炮弹如暴雨般倾泻在“李常杰”号上。这时,l发127毫米炮弹从水面下击中了“李常杰”号,直贯轮机舱,但是没有爆炸。原来是因为战斗双方相距太近,“陈平重”号为支援姊妹舰发射的炮弹误伤了自己人。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

        此时,“怒涛”号赶了上来,并从背后向我编队射击。局势瞬间变化,遭到敌方两面夹攻的389艇多处中弹起火。尽管中弹累累,389号还是紧逼敌舰,战士们情急之下抄起火箭筒,端起冲锋枪,甩起手榴弹就是一阵猛打——来了场海战史上罕见的“海上拼刺刀”,好一场惊心动魄的接舷战! “怒涛”号的舰长魏少校就在这海上白刃战中丧了命。

        这时,“李常杰”号返回礁湖,准备营救“怒涛”号。389号炮弹打光了,肖德万舰长下令装填深水炸弹,决心与敌舰同归于尽。而“怒涛”号上接替指挥的阮上尉想拼足力气撞击389号的尾部。就在这危急时刻,396号转舵迎上前去,奋力敌住“李常杰”号,掩护389号脱离险境。“李常杰”号刚有所恢复,不料再遭痛击,只得朝西北方撤离。 http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

        ◎胜利及其意义

        11时49分,我方生力军猎潜艇第74大队投入战场。南越舰队以为是大部队(在“陈庆瑜”号舰长武中校的回忆里,竟认为中国出动42艘军舰和2艘潜艇),在12时掉头撤离。“怒涛”号本身航速慢,加上受创,无法跟上逃离的同伴。12时12分,刚刚到达的第74大队接到了攻击命令,281艇便全速上前,向“怒涛”号猛烈射击,于14时52分在羚羊礁以南将其击沉。 在我军付出18人阵亡,67人负伤的代价后,西沙海战以我方胜利而告终。之后我军乘胜出击,完全收复西沙。这场胜利使我方认识到在这广袤的“蓝水”南海里还有着不容侵犯的主权和利益;正由于这场海战,建立我海军在远离大陆作战的信心,逐步调整部署,战后榆林基地马上得到2艘护卫舰的增援。可以说,从那时起,南海才映入我海军战略发展的视野里来。所以,从这个意义上来讲,西沙海战正是我国海军迈向“蓝海”的第一步。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

 




         图为南越海军准备侵犯西沙水域的舰艇在岘港检修,并排停靠在量外侧的即为南越海军参战旗舰“陈平重”号(舷号为“5”)。

 http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客


                                              1974年1月19日西沙海战作战示意图

 http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客



  西沙海战胜利后,我军乘势收复所有被南越侵占的西沙岛屿,俘获包括一名美国顾问官在内的40多名南越官兵。
 


Biên đội trên biển, bộ đội tàu chống ngầm của hải quân ta
(http://ng9.upanh.com/b1.s25.d2/65eb1dbb312b02be1a389309ff24506d_38915609.hoangsa1974.jpg) (http://www.upanh.com/upanh_hoangsa1974/v/7nsf8o4n2xp.htm)




Trong trận chiến, tàu tham chiến của quân ta đã cố sức áp dụng thủ pháp cận chiến, cự ly bắn giữa hai bên từ 1.000 m đến 300 m, pháo bắn nhanh khẩu độ nhỏ của quân ta liên tục rót đạn về phía tàu địch, buộc địch không còn dám ở lại trên tầng cao của tàu quân sự.
(http://ng5.upanh.com/b3.s25.d1/0363c69c6ec07f6d8b53d314d45053b9_38915655.hs2.jpg) (http://www.upanh.com/upanh_hs2/v/0nsb2o0n2zh.htm)




Trong ảnh là tàu của hải quân Nam Việt chuẩn bị xâm phạm vùng biển Tây Sa đang được kiểm tra sửa chữa ở cảng Đà Nẵng, đồng thời đậu ở bên ngoài là kỳ hạm tham chiến của hai quân Nam Việt, phiên hiệu “Trần Bình Trọng” (số ghi bên mạn tàu là “5″).
(http://ng6.upanh.com/b4.s22.d3/39ea4d2a9bb3a3b0b10c2767bb05ca73_38915696.hs3.jpg) (http://www.upanh.com/upanh_hs3/v/0ns52obneou.htm)



Bản đồ hiển thị tác chiến của trận hải chiến Tây Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974.
(http://ng6.upanh.com/b1.s22.d3/9309a73c5a9f2f78c5e06dbe20d5b1b9_38915736.bando.jpg) (http://www.upanh.com/upanh_bando/v/ens27o7ncgf.htm)


Sau thắng lợi của trận hải chiến Tây Sa, quân ta thừa thế thu hồi lại tất cả những hòn đảo đã bị Nam Việt xâm chiếm, bắt sống hơn 40 sĩ quan binh lính Nam Việt, trong đó có cả 1 cố vấn Mỹ.
(http://ng2.upanh.com/b6.s25.d1/3a88606496c1702c50d71bfd16c2ac20_38915742.hstubinh.jpg) (http://www.upanh.com/upanh_hstubinh/v/3ns31o0nfgk.htm)


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:17:59 am
第二章 国际背景

    西沙自卫反击战虽然是一场小规模的战斗,但是其背景相当宏大、复杂。牵涉到了当时中、美、苏三个大国的全球战略,还有越南、中国台湾地区。要说西沙自卫反击战,还得先从尼克松访华打开中美关系的大门开始。

    七十年代初,中苏关系急剧恶化,苏联在中国北部边境陈兵百万。特别是六九年珍宝岛自卫反击战后,中国受到了到来自苏联的巨大战争威胁,因此中国那时在全球号召的反称霸就是针对的苏联。美国与苏联在冷战中的对抗中,也显得非常被动。六十年代末,苏联战略力量与美国趋平,美国面临苏联战略威胁严重上升需要联合中国共同遏制苏联。与此同时,美国政府急于从越南撤军,也需要中国的战略配合。就是在这种情况下,毛泽东和尼克松从战略高度的眼光,打开了中美关系大门。西沙的收复可以说是这一战略决策的附属产物。

    越战期间,西沙的很多岛屿是被美国支持的南越占领的,而不是共产党的北越。美国知道自己撤出之后,南越将很快被北越消灭。美国不希望撤军时西沙的这些岛屿被北越占领,因为把西沙交给北越就等于是交给了苏联。这有一个重要的例证:美军在越战中的重要军事基地——金兰湾,越战后苏联很快就租借金兰湾作为自己的军事基地,一直至今。(2004年到期)所以我们可以这样分析,中国在收复西沙问题上,美国海军第七舰队拒绝了南越海军要求其干预的吁请,甚至拒绝派出舰艇前去援救落水官兵,说明中国是与美国有默契的。这并不是出于美国对中国有多么友好,更不是恩赐,完全是出于美国自身利益。正是在这种大背景下,在这个关键时刻,中国抓住时机收复了西沙。

    中国收复西沙时,南海舰队的兵力不够,需要从东海舰队支援。台湾岛处于南海和东海之间,以往舰队的调动都是从台湾岛以东的外海绕远航行,避免走台湾海峡的敏感航道。这一次舰队行动时间紧迫,规模又很大,能从台湾海峡通过吗?尼克松访华,对台湾蒋介石政府的打击可以说灾难性的。这个时候大规模的舰队调动通过台湾海峡,蒋介石会有什么反?映?中共的高层通过秘密渠道与蒋介石取得了联系,蒋介石出于民族大义的考虑,让舰队顺利地通过了台湾海峡,赢得了战机。台湾在中国大陆海战中多次放行中国大陆海军,无不与美国在背后的指使有密切关系。

    西沙自卫反击战,并不算是大规模的海战。战斗结束后,共产党的越南北方立刻发表声明,“感谢中国政府帮助他们从南越手中解放西沙”。这等于是向中国提出了西沙的领土要求。中国政府对此没有理睬,中国将战斗称为“自卫反击战”,强调西沙自古就是中国的领土。中国是从美国支持的“南越伪军”手中,收复自己的领土。正是这妙到豪颠的一招好棋,使得中国在南海问题上赢得了未来的主动。而也正是这一点,在越南南北统一之后,也成为越南投奔苏联,敌视中国的一个重要原因之一。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

 

第三章 战时背景
 

   西沙海战的由来,是在于当时南北越签订了停战协议后,南越政府趁着陆战局势的稳定,积极展开在南海抢占战略要点的活动。从73年8月份开始,南越军舰在西沙海域不断地驱赶、冲撞和抓捕中国渔民,占领岛屿,企图将中方挤出该地区,进而独占西沙群岛(当时的西沙中方和南越各占有一些岛屿,类似今天的南沙群岛)。公平而论,南越政府的这一手确实很有战略眼光,不排除背后有美国人在出谋划策。

    反观当时的中国,正陷在文革的泥沼之中。中央和军委的视线都集中于和苏联接壤的三北地区。当时苏联在其整个东方共集结了四十几个机械化,摩托化师。再加上配属航空部队及战略预备部队,总计兵力近一百万!在最危急的珍宝岛战斗中,虽然双方投入的兵力不超过营级规模,但在双方的背后摆的是集团军规模兵力!在这危急时刻,苏方还在我们眼皮底下组织大规模的军事演习(十几个师的规模)。我方的反应是在短短的一个月里引爆了两颗原子弹!且在新闻里一字未提。后来北疆的巡逻小分队事件使中央下决心迅速改善同美国的关系来减轻苏联对我们的压力。在北面同苏联的军事对峙一刻也不敢懈怠。国防资源大都被牵扯在那边,对于南海地区一般采取息事宁人的态度,多一事不如少一事,而南越政府的挑衅则越来越强。

    到了74年1月,南越政府宣布要在西沙地区勘探石油,逼得中国外交部不得不发表声明,重申对西、南沙的主权。但是南越海军的行动紧接着就升级,四天之后其战斗军舰编队就开到了西沙海域,以武力向中国挑战。当时中方根本就没有打仗的准备,紧急之中匆忙派遣了二艘扫雷艇(396,389号)、二艘猎潜艇(271,274号),于1月17日开赴西沙。其中的389号扫雷艇是刚从船厂里修理出来,连航试都没做就出发就直奔战区。可见当时中方的狼狈。一天多后中方又急派二艘猎潜艇(281,282号),赶赴西沙增援。事后证明:就是这两艘艇,保证了西沙之战中方的最后胜利。

    明眼人一看就知道,这些舰艇都不是做正面海战用途的。说明中方当时根本就没想打,只是要证明一下自己在西沙海域的武力存在,要南越海军适可而止,以平息事态。谁想在西沙的南越海军,看到中方派来的这几艘小艇,反而鼓起了勇气,动起杀机,这恐怕也是出乎当时中方军事决策者的意料之外。

    1月18日,中国舰艇赶到西沙海域,遇到早已在那里的南越海军舰队,共有一艘驱逐舰(舷号04)、二艘护卫舰(舷号05,16)和一艘巡防舰(舷号10)。南越海军的四艘舰,总重6000多吨,火炮50多门,且装备了当时最先进的电子自动火控系统;而我方四艘舰艇加起来才1700多吨,火炮16门,最大的舰吨位还不如越军的最小的舰吨位。对阵双方的实力相差如此悬殊,在世界海军战史上也属罕见。因此南越海军判定中国的战机由于航程太远而无法支援西沙,觉得对中国这支小海军编队还是可以一战。也就是在这一天早上,南越舰队指挥官接到了其总统可以对中国船舰开火的授权。

    但当时的中国海军,尽管装备和作战准备不如越军,其勇敢和士气却是一流,是所谓毛泽东思想武装的军队,面对占压倒优势的南越海军丝毫不怵。而南越海军遇到突然赶来的中国舰艇编队,虽然不放在眼里,却也因不知中方底细而未敢轻举妄动,双方对峙到天黑,各自收兵。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

    第二天,1月19日,南越舰队看到我方并无增援,只有这四艘小艇,于是胆子大了起来。其05号护卫舰仗着吨位大马力足首先撞开我方396、389两扫雷艇的拦截(我396扫雷艇被轻度撞坏),用几只冲锋舟输送一个排左右的陆战队士兵登上已被我方控制的琛航、广金两岛,(该两岛驻有我一个民兵连)与岛上的中国民兵对峙。我方的舰艇用火炮瞄着登岛的越军,协助岛上的民兵,而南越大军舰因离岛靠得太近,其大口径主炮处于死角状态,帮不上什么忙。在警告无效的情况下,中国民兵首先开火,毙敌一名,伤其三名,迫使南越军向后狼狈撤退。

    看到争岛占不了什么便宜,南越军舰收回了登岛的士兵,开向外海兜了个圈子(使我方舰艇处于其大口径火炮的射击范围之内),展开了战斗队形。中国舰艇编队非但不退,反而开足马力也以战斗队形向南越军舰迎上去。(因为如被其拉开距离,我方只有挨打的份)此时对阵的双方,炮口相向、剑拔弩张,距离不断地缩小,紧张万分。终于南越舰队熬不住了,各舰向中方一起开炮,就在其炮口火焰一闪的霎间,我方炮手也按下了电钮,西沙海战正式打响!

 

第四章 资料揭密

    在关于谁先开炮的问题上,有一种观点,认为当时南越军舰开火是在其后退以拉开距离,让其大口径火炮进入有利位置,中方舰艇追击以缩短距离时发生的,其实是不对的。首先如果那样,南越舰队肯定是尾炮而非主炮面对中方,不是很好的战位;第二当时对峙时,双方的舰艇距离很近,用南越人员的说法是“在步枪的射击距离内”,我方舰艇又比南越军舰快(中方25节,南越20节),没必要等南越军舰走远了再去追;其三中方的正式文件也说当时是两军对开,越军先发炮。所以当时的情况应为双方正面相向接近的时候,对越方而言,中方再接近就会进入南越舰队大口径主炮的低位死角,对其不利,故他们要首先开火。

    南越军舰的第一炮瞄准的是我方舰艇的指挥台,由于其瞄准了很长时间,所以炮弹打的很准。一轮排炮下来,我方的几个舰长与政委当时就有伤亡。但是我方舰艇继续全速近敌,发挥小口径速射炮的近距离优势,压制南越军舰。而南越军舰此时由于其大口径火炮发射速度慢,又兼我方舰艇小、舷高只有两米、距离太近进入其死角调整困难,发挥不了火力优势,被中方舰艇狂轰猛打。为了摆脱被动,南越军舰试图拉开距离,我方舰艇则穷追不舍,紧紧贴着敌舰。集中火力攻击南越04号驱逐舰、16号护卫舰。我方猛攻南越4号驱逐舰与16号护卫舰,认为它们分别是处于两地的南越军舰中的指挥舰。而一直到海战之后,中方都认为04号驱逐舰是整个南越舰队的旗舰。实际上中方的情报还是很准确的,直到18日 ,4号驱逐舰都是南越的旗舰,但19日早上由于南越舰队指挥官的变更,05号护卫舰变成了旗舰,这是中方所没有想到的。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

    


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:18:30 am
我方271、274猎舰艇的火力,专朝南越04号驱逐舰的主炮、火控、通讯与指挥系统倾泻。尽管有05号护卫舰的救援,该舰还是被打得通讯中断、指挥失灵,舰上冒起了浓烟。与此同时南越军舰也拼命开火向中方射击,大口径炮打不了近的中国舰艇就打远处的中国舰艇,以支援同伴。由于我方舰艇和敌人近距离缠斗,不少越军火力都打到自己的军舰上,南越各舰都挨了自己人的炮弹。

    南越海军的10号巡防舰为了解救正被我方396、389两扫雷艇围攻的16号护卫舰,向我389扫雷艇冲来并猛烈射击。被敌两面夹攻的我389扫雷艇多处中弹,6名官兵阵亡,艇上燃起大火,但仍英勇战斗,与396扫雷艇一道调转炮口,勇猛地向10号巡防舰还击,并调头向该舰冲去。南越海军的10号巡防舰被击中弹药舱,爆炸起火。我389扫雷艇此时炮弹也已用完,仍然奋力前进,直冲到与10号舰几十米处,中国水兵抄起火箭筒、冲锋枪,向10号舰甲板舱面一通猛射(该批武器本来是运给我方驻岛民兵的,由于18日夜里风浪太大,没能送上岛)。战斗中南越10号巡防舰舰长被击毙。

    南越16号护卫舰想要前来搭救10号巡防舰,却被我方396扫雷艇拦截攻击。南越16号护卫舰先前发动机舱水线下中了自己人5号护卫舰一发炮弹(幸亏该炮弹没有爆炸,否则越军首先将自己的舰打沉一艘),后来又受到我方两艇夹攻,此时其通讯、控制和供电系统都已完全失灵,舰体倾斜20度(当它后来回到南越军港时已倾斜到了40度,只乘一部主机还能工作),无法继续作战,于是转头逃向外海。

    见到16号舰退出战斗,就在这个时候,我方281、282两艘猎潜艇赶到了战斗海域。(这两艘艇为了早一点到达指定地点,在18日夜间冒着狂风大浪,以高于舰艇设计最高限的速度急驰,终于为中方及时送来了生力军,使西沙海战的胜利天平最终倒向中方。)南越04号驱逐舰,05号护卫舰也无心再战,丢下被打残的10号舰,也转头奔向外海逃窜。从越舰开炮到其舰队被击溃,中间只有短短的十几分钟。据战后据南越海军检验,除去后被我击沉的10号巡防舰外,16号护卫舰中弹820发,其余两舰中弹都在千发以上,可见当时战况的激烈和中国海军作战的英勇。

    尽管南越舰队被击溃,我方舰艇此时自己的状况也很不妙:389艇大火未熄,艇身严重倾斜,不得不在我方鱼轮的协助下冲滩搁浅,以免沉没。其余三艇也都带伤,并且弹药不多,竟然拿南越已无自卫能力的10号巡防舰都没有办法。最后由我方的281、282两艘猎潜艇把敌10号巡防舰送入海底。

    西沙海战及其结果,使中国和南越政府同感震惊与意外。对自己劣势的海军在西沙取得大胜毫无准备的中国,立即开始战争动员,以图扩大战果,一举解决西沙问题。中方紧急征调了500名陆军与民兵,于20日晨搭乘军舰和渔船赶赴战区,除了派出南海舰队的舰艇紧急驰援西沙外,东海舰队的两艘导弹驱逐舰也从台湾海峡南下增援。空军方面,据说当时出动了刚研制成的歼七(性能等同于米格-25)战机,尽管这种战机在西沙海域的滞空时间不到十分钟,它的出现仍然起了极大的震摄。1月20日,中国新锐部队到达西沙,在舰炮火力支援下,一举攻克自1956年起就被南越海军占领的三个岛屿,俘敌48名,包括一名美军联络官。

    虽然北越正同南越打仗,但我们在西沙惩戒了南越,北越心里未必开心。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

    西沙海战南越海军本来是有备而来,志在必得,不料却吃了当头一棒,顿时惊慌失措。其海战指挥官面见南越总统汇报时,不敢告之海战已经失败,只是一味责备空军没有支援。直到1月20日下午,南越才派出搭载了一个陆战营的麒麟号军舰,试图增援其西沙守军(半途而回),另外还集结了海空部队,摆出再战的架式。但是面对我方大举增援后、早已严阵以待的西沙海军部队,始终没有敢轻举妄动,最后还是缩了回去。

    西沙之战,南越方面军舰被击沉、重伤、轻伤各一艘,士兵阵亡100余人,被俘48人,负伤人数不祥。中方舰艇重伤一艘,轻伤三艘,士兵阵亡18人,负伤67人。尽管中方事前对南越开战的决心估计不足,派出的兵力十分薄弱,但参战的中国海军官兵英勇战斗,战术运用也十分成功,终于取得了胜利。考虑到双方力量对比的悬殊,这样的战果在世界海军史上也是罕见的。而西沙之战的真正意义,在于消灭了自1956年起就盘踞在那里的南越军队,将越南势力彻底赶了出去。否则再等一年多,越南统一后接管了那几个岛屿,中方的麻烦就大了。
        
        1)参战舰艇数目
        
        我方参战舰数目的真实数目和型号:一共六艘:猎潜艇2,扫雷艇2,高速护卫艇2;其中先开战的是前4艘,后来赶到的2艘,而正是后面赶到的2艘让南越海军以为还有大批增援舰艇赶到,吓跑越军,在最后关头让胜利的天平倾向了我方。
        
        2)谁先开第一炮?      

        其实现在也说不清谁先开第一炮。据参战人员说,当时我方肯定没有下达开炮的命令,但在开打前越方以小口径炮向我方发射了一发炮弹,(当然没有命中)由于越方舰艇的主要火炮均是由雷达自动控制,故这发炮弹我方判断为是射击前的火控系统校正,同时越方舰艇后退以图拉开距离(这在战术上大舰和小艇开战时必须的),所以我方指挥命令两个编队紧紧咬上,同时警告所以炮位:注意,敌人要开炮了!这个时候,海战爆发了。我方人员发现敌方炮位上火光一闪,立即脚踏击发!所以,几乎在敌方开炮的同时,我方的炮弹也出膛了!但由于我方是小炮,初速高,这样,后击发的我方首群炮弹反而先落在南越海军的头上(有点搞笑哈)。这时我方指挥确实没有下达开火的命令,反击完全是战士们自觉的反映(这个自主反映相当关键,如果等军官下令再还击,可能西沙战事的历史要重写了)。写到这里,谁先开火大家可以清楚了。
        
        3)海战拼开了手榴弹?
        
        并不是我方在海战中有拼手榴弹的战法,而是当时的一艘舰由于受伤,舵机失灵,速度过快,直接冲入了越方两艘舰艇之间,受到交叉火力的攻击,起火燃烧,损失惨重,后面我方舰艇看不清楚(当时以为是自己施放的烟幕)怕误伤己舰,又不能支援,结果,这艘舰眼看驾烟带火直接撞向敌10号舰,艇长红了眼:装火箭深弹!准备和敌人同归一尽。可是10舰一转舵,和我舰擦身而过,险到了极点。这时双方的火炮都用不上,艇长临机一动:仍手榴弹!当时我方根本没有准备打海战,这艘舰上了好几箱给守岛民兵送的手榴弹,这时候倒派上了用场。于是,大家七手八脚的把手榴弹扔上了南越的10号舰,有人抄起步兵的反坦克火箭筒也向越南舰艇发射!这就是后来南越向新闻界通报的共军使用了导弹的出处),趁敌人晕头转向时,全速倒车,退出了越军的夹击,然后就是冲礁自救去了。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客
        
        4)海战战术的得失
        
        海战的结果大家已经知道:越方最小的一艘护卫舰(怒涛号,650T)沉没,其余3艘驱逐舰受伤(甚轻)。我方:扫雷舰一艘几乎沉没(抢滩成功,当然,如果抢滩不及时肯定沉没),重伤一艘,其余2艘也受伤不清,但后来加入的两艘几乎没有任何损失。
        
        (a)开战时双方均本着擒贼先擒王的想法,攻击对方的指挥舰,但均判断失误:我方两个编队中,冲在最前面的一艘是指挥舰,而敌方攻击的是我方两个编队的后两艘舰艇,判断失误(如果敌人当时看看国内的报纸就不会失误了)。我方判断敌人怕死,所以指挥官应该躲在后面,所以也攻击后面的两艘舰,同样判断失误!战后查明,敌人的指挥舰是第二编队中的首舰!
        
        (b)战术运用上越方失误:南越海军认为,我舰大炮大,用穿甲弹把你穿几个孔,你小艇马上就沉,所以交火中越方使用的是穿甲弹(当然,不能说不对,但是,如果一艘用穿甲弹一艘用爆破弹,可能我方的结果就惨了,毕竟我们的艇太小了)我方认为,尽管你是自动化火力,但你总得来人操作吧?我把你人全打趴下,你自动化也没有人揿按钮啊!故我方采用的是爆破弹(笔者认为这是当时没有办法提出的战术)交战时的情况:双方一交火,南越军舰甲板上的水兵全都钻甲板下去了,而自动化的火炮也因为火控雷达天线被我重点攻击而失灵,由人操炮当然打不过我们啦。我方受穿甲弹攻击后,水线下穿出一个个大洞,而我们准备的最大的堵漏塞也不够大,辛亏战士舍命堵漏,才保住了战舰。曾有战士以身体堵漏而牺牲的报道(可是,现在的兵就差远了,回头笔者给大家谈谈赤瓜礁海战就知道了)。
        
        后话:话说中国收复西沙后,当时与我们同志加兄弟的北越给中国政府发来感谢电:感谢中国兄弟替我们从南越走狗手中收回西沙群岛!中国政府拒绝了这封"感谢信",这也是越南对我国南沙主权从承认到反悔的开始。

        在中国军民誓死保卫西沙群岛的壮烈海战中,处于劣势装备的中国海军,共击沉南越海军护航舰一艘,击伤驱逐舰3艘,毙伤其“怒涛”号舰长及以下官兵100余人;在收复甘泉岛和珊瑚岛及金银岛3岛登陆作战中,中国部队和民兵俘虏南越军队范文鸿少校以下官兵48人,美国驻南越岘港领事馆联络官科什也当了中国军民的阶下囚。http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

        当然,在保卫西沙群岛的战斗中,中国军民也付出了一定的代价。中国海军274号艇政委冯松柏等18名官兵英勇牺牲,67名参战人员受伤,我389舰被击伤。

 

 

 


                                          我海军猎潜艇部队海上编队http://canglang.blog.hexun.com/苍狼向月博客

 


  战斗中,我方参战舰艇尽可能采取近战手段,双方射击距禹从1000-到300米,我方的小口径速射炮不停地向敌舰倾泻弹雨,迫使敌不敢在军舰上层建筑内停留。

 


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:20:44 am
TẠM DỊCH: bác nào giỏi tiếng trung sửa đổi , bổ xung giúp.

Tái hiện tin mật về xung đột Trung – Việt trong trận hải chiến Tây Sa năm 1974

07-11-2011

Quốc Trung dịch

Hải chiến Tây Sa là trận hải chiến xảy ra giữa nước ta với Nam Việt trong tranh chấp quần đảo Tây Sa cách nay đã mấy chục năm, hiện có một số bài viết đưa lên gọi là giải mật về Tây Sa, chẳng thấy có chút gì là “giải mật” mà chỉ là đăng lại, dựa theo những bài viết công khai mà thôi, vì thế khi cho đăng tư liệu mình thu thập được, hy vọng xin được sự chỉ giáo từ chư vị.

Chương I: Ôn lại trận chiến

Tân Hoa Xã ngày 19 tháng 1 năm 1974 đưa tin, từ 11 tháng 1 năm 1974 đến nay, Bộ Ngoại giao nước ta đã nhiều lần ra tuyên bố và cảnh cáo, nhưng Nam Việt vẫn chưa hề rút lại hành vi xâm lược của mình, mà trái lại còn đưa hải quân và không quân xâm nhập quần đảo Vĩnh Lạc trong quần đảo Tây Sa của ta. Chúng ta không thể chịu đựng thêm được nữa, đã tiến hành đánh trả tự vệ anh dũng, đem lại sự trừng phạt cần có cho quân xâm lược.

Nam Việt:  “Hải quân Trung cộng đã điều tàu loại Komar, có trang bị tên lửa Styx. Trận chiến ác liệt chưa từng có…”

Mỹ:  Đệ thất Hạm đội Hải quân Mỹ hoạt động tại vịnh Bắc Bộ đã từ chối các cuộc gọi của hải quân Nam Việt, yêu cầu sự can thiệp của Mỹ, thậm chí còn từ chối cả việc cử tàu đến cứu những người bị chết đuối.

•  Canh bạc lúc tàn hơi

Quần đảo Vĩnh Lạc là một bộ phận của quần đảo Tây Sa, quần đảo này được tạo thành từ các đảo san hô là: San Hô, Cam Tuyền, Kim Ngân, Thâm Hàng, Tấn Khanh và Quảng Kim…, từ xa xưa là lãnh thổ của nước ta, nhưng từ thế kỷ 19, một phần các đảo bị nước Pháp là thực dân Đông Nam Á chiếm giữ. Năm 1954, Pháp bị đuổi đi, đảo San Hô bị Pháp chiếm giữ rơi vào tay Nam Việt. Tháng 1 năm 1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, đồng thời giao một lượng lớn tàu chiến cho Nam Việt. Từ tháng 8 năm 1973, Nam Việt liên tiếp đưa tàu quân sự xâm phạm lãnh hải của nước ta. Ngày 11 tháng 1 năm sau, lại càng trắng trợn hơn khi cho công bố bản đồ, quy Tây Sa vào bản đồ của họ. Khi ấy nước ta liên tục nảy sinh các vấn đề nội bộ và bên ngoài, trong nước rơi vào trạng thái hỗn loạn của cuộc “Đại cách mạng văn hóa”, rồi quan hệ Trung-Xô căng thẳng, không còn sức để ngó ngàng đến phía nam. Vì thế hành động của Nam Việt mỗi lúc một mạnh, ngày 15 tháng 1, phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” (HQ-16) của hải quân Nam Việt xâm nhập đầu tiên, nổ súng uy hiếp vào hai tàu cá 402 và 407 đang tác nghiệp ở gần đảo Cam Tuyền. Trưa ngày 17, quân địch đổ bộ lên đảo Kim Ngân, đến chiều còn cưỡng chiếm cả đảo Cam Tuyền.

•  Cuộc đối đầu trên biển

Đối mặt trước sự xâm nhập ấy, hạm đội Nam Hải đã theo lệnh đưa hai con tàu 271 và 274 thuộc Đại đội tàu Chống ngầm 73 ở căn cứ Du Lâm, do Ngụy Minh Sâm, Phó Tư lệnh Quân 38002 và Đại Đội trưởng Vương Khắc Cường chỉ huy, hợp thành Biên đội 271, thực thi nhiệm vụ bảo vệ cá và vận chuyển cung cấp cho quân dân trên đảo. Biên đội này tới quần đảo Vĩnh Lạc vào đêm ngày 18, đưa 4 trung đội dân binh có vũ trang thuộc Quân khu Nam Hải đến 3 đảo Tấn Khanh, Thâm Hàng, Quảng Kim.

Trưa ngày 18, các tàu quân sự Nam Việt phiên hiệu “Trần Khánh Dư” và phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” tiến đến gần tàu cá số 407, nhấn chìm, hăm dọa để buộc phải dời đi. Thuyền trưởng tàu 407, Dương Quý Hào không chịu khuất phục, tàu “Lý Thường Kiệt” đột ngột chuyển bánh lái, đâm thủng mạn trái tàu cá. Chính giữa lúc các ngư dân đang cầm xỉa cá giơ lên quyết tử chiến, thì các tàu 271 và 274 của ta lao đến, phát tín hiệu cảnh báo. Khi thấy hải quân ta tới, tàu Việt đã treo cờ tín hiệu “Tàu mất lái”, rồi vội vàng rời khỏi hiện trường.

Tối hôm đó, đại tá quân địch Hà Văn Ngạc đã đưa tàu phiên hiệu “Trần Bình Trọng” (HQ-5) cùng tàu phiên hiệu “Sóng Dữ” (1) (HQ-10) đi kèm tới tận nơi. Dù số lượng tàu của hai bên là 4-4, song xét cả về trọng tải lẫn hỏa lực, quân Việt đều chiếm ưu thế áp đảo. Tổng trọng tải các tàu bên quân ta còn chưa bằng một tàu của bên quân Việt! Hơn nữa, tàu bên quân Việt đều được trang bị hệ thống điều khiển tự động, còn tàu bên quân ta về cơ bản vẫn là thao tác bằng sức người, sự chênh lệch về tương quan thực lực giữa hai bên là quá rõ ràng.

Sáng sớm ngày 19, bên quân Việt phát hiện thấy bên quân ta chỉ có 4 con tàu nhỏ, liền cho rằng có thể tận dụng ưu thế binh lực để tiêu diệt quân ta, tàu Việt bố trận lại từ đầu, chia làm hai cánh chiếm đường ngoài lợi thế, triển khai đội hình chiến đấu, tàu phiên hiệu “Trần Bình Trọng” dẫn tàu phiên hiệu “Trần Khánh Dư” từ ngoài khơi phía nam đảo Kim Ngân, rạn san hô Linh Dương tiếp cận hai đảo Thâm Hàng, Quảng Kim, các tàu phiên hiệu “Sóng Dữ” và phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” từ tây bắc đảo Quảng Kim tiếp cận chiến hạm của ta. Đồng thời, Tổng bộ hải quân Nam Việt hạ lệnh cho đại tá Hà Văn Ngạc nổ súng.

•  Kịch chiến trên biển

Theo sự dàn trận của Quân khu Quảng Châu, biên đội 396 tiến vào phía tây bắc đảo Kim Quảng để đánh chặn các tàu phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” và tàu phiên hiệu “Sóng Dữ”, biên đội 271 tiến vào mặt biển đông nam đảo Kim Quảng để giám sát các tàu phiên hiệu “Trần Khánh Dư”, phiên hiệu “Trần Bình Trọng”. Các pháp thủ bên quân ta bám chặt trận địa chờ đợi khi vừa phát hiện  thấy nòng pháp bên tàu địch lóe lên, là liền lập tức đạp cò, đạn pháo của chúng ta cũng ra khỏi nòng. Thời khắc ấy là 10 giờ 25 phút trưa ngày 19 tháng 1 năm 1974.

Toàn bộ trận hải chiến là tương quan 2-2. Biên đội 271 và các tàu phiên hiệu “Lý Thường Kiệt”, “Trần Khánh Dư” ở phía đông nam đảo Quảng Kim là chủ lực của hai bên, cho nên không hẹn mà cùng đều áp dụng chiến thuật “Đánh rắn phải đánh giập đầu”. Thế nhưng cả hai bên đều xuất hiện phán đoán sai lầm. Theo hồ sơ được phía Việt Nam công bố mấy năm gần đây, do khi Hà Văn Ngạc tới, quân Việt đổi tàu đô đốc từ phiên hiệu “Trần Khánh Dư” thành phiên hiệu “Trần Bình Trọng”, bên ta không biết, tất cả hỏa lực đều dồn vào tàu “Trần Khánh Dư; còn bên Việt thì cho rằng tàu 274 đi sau phía ta là tàu chỉ huy, vì thế hỏa pháo của trung đội 1 đã nhằm vào đài chỉ huy trên đó để quét, Chính ủy Phùng Tùng Bá chẳng may trúng đạn hy sinh. Tuy nhiên, bên địch đã phạm phải một sai lầm chiến lược nghiêm trọng: Chúng đã sử dụng đạn xuyên thép với tàu chống ngầm không bọc thép, như vậy ngay cả đạn pháo có bắn trúng thì cũng thường xuyên qua thân tàu mà rơi xuống biển, thậm chí còn có rất nhiều đạn xịt; nếu sử dụng đạn nổ mạnh thì thắng thua là điều khó nói. Còn hai tàu bên quân ta thì đã tận dụng các đặc điểm mục tiêu nhỏ, chạy nhanh để dũng cảm đánh tiếp cận. Pháo bắn nhanh cỡ nhỏ bên quân ta liên tục nhả đạn về phía tàu địch, tàu “Trần Khánh Dư” không bọc thép bị bốc cháy rất nhanh, cự li bắn giữa hai bên từ 1.000m rút lại còn 300m. Lúc này, bánh lái điện của tàu 274 bất ngờ phát sinh sự cố, tận mắt nhìn thấy con tàu nhỏ mất lái đâm vào lưới lửa chằng chịt của tàu “Trần Khánh Dư” và tàu “Trần Bình Trọng”. Trong thế ngàn cân treo sợi tóc, thuyền trưởng tàu Lý Phúc Tường bình tĩnh ra lệnh chuyển sang người lái, đồng thời từ đài chỉ huy nhảy lên sàn tàu, đứng ở cửa cabin lớn tiếng ra lệnh quay đầu thật nhanh, rồi dùng khẩu lệnh và tay chỉ huy tác chiến. Đồng thời, tiểu đội trưởng chủ pháo Vương Tuấn Dân đã chỉ huy hỏa pháo bắn dữ dội về phía tàu “Trần Khánh Dư” đang lao tới trước mặt, tàu địch chống đỡ không nổi, quay đầu tháo chạy. Tàu 274 lại quay pháo bắn liên tiếp vào tàu “Trần Bình Trọng” đang chạy tới chi viện. Người nạp đạn Lý Như Ý nạp bắn một lèo tới hơn 180 quả đạn pháo, làm câm bặt chủ pháo ở sau tàu “Trần Bình Trọng”.


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:21:33 am
• Tử chiến ở hồ đá ngầm

Trận chém giết lẫn nhau bên trong hồ đá ngầm lại còn oanh liệt hơn, tác chiến trong một phạm vi nhỏ hẹp đầy những rạn san hô, không có khoảng chừa cho tác chiến cơ động, ai là kẻ dũng cảm sẽ chiến thắng, thế là hai tàu 396 và 389 dồn hỏa lực công kích vào tàu “Lý Thường Kiệt”. Tại đó, quân Nam Việt ở vào thế bất lợi, tàu “Sóng Dữ” nguyên là một chiếc tàu dò mìn, tốc độ cao nhất cũng chỉ có 14, có lòng mà giữ được hiệp đồng với tàu “Lý Thường Kiệt”. Cho nên, hai bên vừa bắn nhau, tàu “Sóng Dữ” chỉ có thể tạm thời bắn trước về phía đảo Quảng Kim, rồi chỉ còn cách đứng nhìn  tàu “Lý Thường Kiệt” bị quân ta tập trung công kích mà chẳng có cách gì đi vào chi viện. Khi ấy, hỏa lực mạn bên lớn nhất của quân Việt là 1 khẩu pháo 127 ly, 3 khẩu pháo 40 ly, một khẩu pháo 20 ly và 2 khẩu súng máy, còn bên quân ta thì vũ khí dùng được là 1 khẩu pháo 85 ly, 6 khẩu pháo 37 ly, 4 khẩu pháo 25 ly và 4 khẩu súng máy.  Chỉ cần tiếp cận được hoàn toàn vào tàu địch, không để cho khẩu pháo 127 ly này phát huy uy lực, thì ở chiến trường cục bộ này, bên quân ta vẫn có thể giành được ưu thế hỏa lực tương đối.

Hai tàu 396 và 389 một bên ép sát, một bên nhả đạn pháo lên tàu “Lý Thường Kiệt”. Lúc này, 1 phát đạn pháo 127 ly từ dưới nước vọt trúng tàu “Lý Thường Kiệt”, xuyên thủng khoang máy, nhưng không nổ. Thì ra vì cự ly chiến đấu giữa hai bên quá gần, nên đạn pháo chi viện cho tàu bạn từ tàu “Trần Bình Trọng” đã bắn nhầm phải người mình. Khi đó, tàu “Sóng Dữ” lao tới, bắn thọc đằng sau lưng biên đội của ta. Thế cục thay đổi trong nháy mắt, khiến cho tàu 389 bị quân địch tấn công từ hai phía bốc cháy nhiều chỗ. Mặc dù đã trúng đạn đầy mình, nhưng tàu 389 vẫn ép sát tàu địch, các chiến sĩ trong tình thế nguy cấp đã ôm luôn cả bệ phóng rocket, xách luôn cả súng tiểu liên, tay cầm lựu đạn, đúng là một trận đánh dũng mãnh, đã xảy ra một trận “đấu lưỡi lê trên biển” hiếm thấy trong lịch sử các cuộc hải chiến, quả là một trận xáp mạn tàu khiếp vía kinh hồn! Thuyền trưởng tàu “Sóng Dữ”, thiếu tá họ Ngụy [Văn Thà] đã mất mạng trong trận chiến trần trụi bằng lưỡi lê trên biển này.

Lúc này, tàu “Lý Thường Kiệt” quay về hồ đá ngầm, chuẩn bị cầu cứu tàu “Sóng dữ”. Đạn pháo trên tàu 389 đã bắn hết sạch, thuyền trưởng tàu Tiêu Đức Vạn hạ lệnh nạp bom chống tàu ngầm, quyết cùng chết với tàu địch. Còn thượng úy (2) họ Nguyễn (tức Nguyễn Thành Trí: BTV) chỉ huy thay thế tàu “Sóng dữ” thì muốn cố sức đâm chí mạng vào tàu 389. Chính trong thời khắc nguy cấp ấy, tàu 396 đã chuyển hướng đón chặn trước mặt tàu “Lý Thường Kiệt”, yểm trợ cho tàu 389 thoát hiểm. Tàu “Lý Thường Kiệt” vừa kịp hoàn hồn, không ngờ lại bị một đòn đau, chỉ còn cách rút lui về hướng tây bắc.

 • Thắng lợi và ý nghĩa của nó

11 giờ 49 phút, đại đội 74 tàu chống ngầm sinh lực quân của bên ta lao vào chiến trường. Hạm đội Nam Việt cho là đại quân (trong Hồi ký của trung tá họ Vũ [Hữu San], hạm trưởng tàu “Trần Khánh Dư” cho rằng Trung Quốc đã điều 42 tàu quân sự và 2 tàu ngầm) đã quay đầu rút lui vào lúc 12 giờ. Bản thân tàu “Sóng dữ” tốc độ chậm, lại bị thương tích, nên đã không thể đuổi theo kịp đồng bọn đang tháo chạy. 12 giờ 12 phút, đại đội 74 vừa tới nơi đã tiếp nhận mệnh lệnh tấn công, tàu 281 lao lên hết tốc lực, bắn dữ dội vào tàu “Sóng dữ”, làm nó bị đánh chìm ở phía nam bãi đá ngầm Linh Dương vào lúc 14 giờ 52 phút.

Sau khi quân ta đã phải trả giá với 18 người tử trận, 67 người bị thương, trận hải chiến Tây Sa đã kết thúc bằng thắng lợi về phía quân ta. Sau đó quân ta thừa thắng xuất kích, thu hồi hoàn toàn Tây Sa. Chiến thắng này làm cho quân ta hiểu được rằng ở nơi Nam Hải “nước xanh” mênh mông rộng lớn này còn có được chủ quyền và lợi ích không dễ gì xâm phạm chính bởi trận hải chiến này, mà việc thiết lập lòng tin về sự tác chiến của hải quân ta ở nơi cách xa đại lục đã dần dần được điều chỉnh, sau cuộc chiến ấy, căn cứ Du Lâm lập tức được tăng viện 2 tàu hộ tống. Có thể nói, kể từ khi ấy, Nam Hải mới đi vào tầm ngắm của sự phát triển chiến lược của hải quân ta. Cho nên, xét từ ý nghĩa này, trận hải chiến Tây Sa chính là bước khởi đầu cho hải quân ta tiến ra “biển xanh”.

Chương II: Bối cảnh quốc tế

Trận phản kích tự vệ Tây Sa tuy là một trận chiến quy mô nhỏ, nhưng bối cảnh của nó lại rộng lớn, phức tạp. Liên quan đến chiến lược toàn cầu của 3 nước lớn Trung Quốc, Mỹ và Liên Xô khi ấy còn có cả Việt Nam và khu vực Đài Loan. Muốn nói về trận phản kích tự vệ Tây Sa, còn phải được bắt đầu bằng việc Nixon dến thăm Trung Quốc mở cửa cho quan hệ Trung-Mỹ.

Vào đầu thập niên 70, mối quan hệ Trung-Xô xấu đi nhanh chóng, Liên Xô cho bố trí hàng trăm vạn quân ở biên giới phía bắc Trung Quốc. Đặc biệt là sau trận phản kích tự vệ ở đảo Trân Bảo vào năm 1969, trung Quốc đã phải chịu sự uy hiếp chiến tranh to lớn từ Liên Xô. Mỹ và Liên Xô trong cuộc đối đầu chiến tranh lạnh cũng trở nên hết sức bị động. Vào cuối thập niên 60, lực lượng chiến lược Liên Xô có xu hướng hòa hoãn với Mỹ, nước Mỹ khi phải đối mặt với sự uy hiếp chiến lược của Liên Xô đang leo thang nghiêm trọng, đã yêu cầu được liên hợp với Trung Quốc để cùng nhau áp chế Liên Xô. Đồng thời, chính phủ Mỹ vội vã rút quân khỏi Việt Nam, cũng yêu cầu có sự phối hợp chiến lược của Trung Quốc. Chính trong tình hình ấy, Mao Trạch Đông và Nixon, xuất phát từ con mắt chiến lược sâu rộng, đã mở cửa cho mối quan hệ Trung-Mỹ. Việc thu hồi Tây Sa có thể nói là một sản phẩm ăn theo của quyết sách chiến lược này.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, rất nhiều hòn đảo của Tây Sa đã bị Nam Việt chiếm giữ dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chứ không phải Bắc Việt **. Những hòn đảo này của Tây Sa đã bị Bắc Việt chiếm giữ khi nước Mỹ không muốn rút quân, bởi vì giao Tây Sa cho Bắc Việt thì chẳng khác nào giao cho Liên Xô. Chuyện này có một dẫn chứng quan trọng: Căn cứ quân sự trọng yếu của quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam là vịnh Cam Ranh, sau Chiến tranh Việt Nam, Liên Xô nhanh chóng thuê lại vịnh Cam Ranh làm căn cứ quân sự cho họ, cho đến tận bây giờ (năm 2004 hết hạn) (3). Cho nên, chúng ta có thể phân tích thế này, về vấn đề Trung Quốc thu hồi Tây Sa, Đệ thất Hạm đội hải quân Mỹ đã từ chối lời yêu cầu hải quân Mỹ can thiệp, thậm chí còn từ chối cả việc đưa tàu tới ứng cứu những người bị chết đuối, chứng tỏ Trung Quốc đã có thỏa thuận ngầm với Mỹ. Điều này không hề xuất phát từ chuyện Mỹ tốt với Trung Quốc đến đâu, lại càng không phải là ban ơn, mà hoàn toàn là xuất phát từ lợi ích tự thân của nước Mỹ. Chính trong bối cảnh toàn cục ấy, trong thời khắc then chốt ấy, Trung Quốc đã chớp lấy thời cơ để thu hồi Tây Sa.

Khi Trung Quốc thu hồi Tây Sa, binh lực của Hạm đội Nam Hải rất thiếu, đòi hỏi phải có sự chi viện từ Hạm đội Đông Hải. Đảo Đài Loan nằm ở giữa Nam Hải và Đông Hải, việc điều động hạm đội trước đây đều đi vòng từ ngoài khơi đảo Đài Loan, để tránh đi vào đường nhạy cảm trong eo biển Đài Loan. Thời gian hành động của hạm đội lần này quá gấp gáp, quy mô lại hết sức lớn, liệu có thể đi qua eo biển Đài Loan nổi không? Nixon đến thăm Trung Quốc, đụng chạm vào chính phủ Tưởng Giới Thạch có thể nói là thảm họa. Điều động hạm đội quy mô lớn đi qua eo biển Đài Loan vào lúc này, Tưởng Giới Thạch sẽ có phản ứng gì? Lãnh dạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã liên hệ được với Tưởng Giới Thạch thông qua kênh bí mật, Tưởng Giới Thạch cân nhắc từ đại nghĩa dân tộc, đã để cho hạm đội được đi qua eo biển Đài Loan một cách suôn sẻ, giành được thời cơ cho cuộc chiến. Đài Loan từng nhiều lần thả hải quân Trung Quốc đại lục trong trận hải chiến với Trung Quốc đại lục, chưa hề có mối quan hệ mật thiết nào dưới sự chỉ đạo đằng sau của Mỹ.

Trận phản kích tự vệ Tây Sa không hề được coi là trận hải chiến quy mô lớn. Khi trận chiến kết thúc, Bắc Việt ** lập tức ra tuyên bố, “cảm ơn chính phủ Trung Quốc đã giúp đỡ họ giải phóng Tây Sa từ tay Nam Việt”. Điều này đồng nghĩa với việc đề xuất với Trung Quốc yêu cầu về lãnh thổ Tây Sa. Chính phủ Trung Quốc không đếm xỉa gì đến chuyện này, gọi trận chiến đó là “trận phản kích tự vệ”, nhấn mạnh Tây Sa từ xa xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Quốc thu hồi lại lãnh thổ của mình từ tay “ngụy quân Nam Việt” từ sự hỗ trợ của Mỹ. Chính nước cờ hay tuyệt diệu này đã khiến cho Trung Quốc giành được thế chủ động trong tương lai về vấn đề Nam Hải. Và cũng chính điểm này, sau khi Nam – Bắc Việt Nam thống nhất, đã trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến Việt Nam dựa vào Liên Xô, thù địch với Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:22:58 am
Chương III  Bối cảnh khi xảy ra trận chiến

Nguyên nhân xảy ra trận hải chiến Tây Sa là do sau khi Bắc Việt ký Hiệp định đình chiến, chính phủ Nam Việt đã nhân cơ hội đó để ổn định lại cục diện chiến đấu trên bộ, tích cực triển khai hoạt động trên các yếu điểm chiến lược Nam Việt đã chiếm đoạt. Bắt đầu từ tháng 8 năm 1973, tàu quân sự Nam Việt liên tục xua đuổi và bắt giữ ngư dân Trung Quốc trong vùng biển Tây Sa, chiếm giữ đảo, mưu đồ đẩy Trung Quốc ra khỏi khu vực này, tiến vào độc chiếm quần đảo Tây Sa, khi ấy Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên chiếm giữ một vài hòn đảo, tương tự như với quần đảo Nam Sa. Công bằng mà nói, động thái này của chính phủ Nam Việt quả thực rất có tầm nhìn chiến lược, đồng thời không loại trừ có người Mỹ đứng đằng sau khi trù mưu tính kế.

Trung Quốc khi ấy lại đang sa vào vũng lầy của cuộc Đại Cách mạng Văn hóa. Tầm nhìn của Trung ương và Quân ủy đều tập trung vào 3 khu vực phía bắc tiếp giáp với Liên Xô. Khi ấy Liên Xô đang tập kết tới bốn mươi mấy sư đoàn đã được cơ giới hóa ở toàn bộ phía Đông, cộng thêm quân đội hàng không và quân đội dự bị chiến lược, tổng binh lực lên tới gần 1 triệu quân! Trận chiến trên đảo Trân Bảo nguy cấp nhất, tuy binh lực của cả hai bên không vượt quá quy mô tiểu đoàn, song bày trận ở đằng sau mỗi bên là binh lực với quy mô tập đoàn quân! Trong thời khắc nguy cấp ấy, phía Liên Xô còn tổ chức diễn tập quân sự quy mô lớn (với quy mô mười mấy sư đoàn) ngay trước mắt chúng ta. Phản ứng của phía ta là chỉ trong vòng 2 tháng đã cho nổ 2 quả bom hạt nhân! Không hề đưa một chữ nào trong phần tin tức. Sự kiện một phân đội đi tuần tra biên giới phía bắc sau đó đã khiến cho Trung ương hạ quyết tâm nhanh chóng cải thiện mối quan hệ với Mỹ nhằm giảm bớt áp lực của Liên Xô đối với chúng ta. Không thể lơ lỏng dù chỉ một khắc cuộc đối đầu quân sự với Liên Xô ở phía bắc. Đại bản doanh nguồn lực quốc phòng đã bị liên lụy về phía ấy, còn với khu vực Nam Hải thì nói chung là áp dụng thái độ bỏ mặc, trong khi sự khiêu khích của chính phủ Nam Việt thì lại càng ngày càng mạnh.

Đến tháng 1 năm 1974, chính phủ Nam Việt tuyên bố phải khai thác dầu ở khu vực Tây Sa, buộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc phải ra tuyên bố, nhắc lại chủ quyền của mình đối với Tây Sa và Nam Sa. Nhưng hành động của hải quân Nam Việt lại leo thang ngay tiếp sau đó, 4 ngày sau, biên đội chiến hạm chiến đấu của họ tiến đến vùng biển Tây sa, khiêu chiến với Trung Quốc bằng vũ lực. Phía Trung Quốc khi ấy về cơ bản chưa chuẩn bị cho việc đánh, trong lúc nguy cấp đã vội vã điều 2 tàu dò mìn (phiên hiệu 396 và 389), 2 tàu chống ngầm (phiên hiệu 271 và 274) đến Tây Sa vào ngày 17 tháng 1. Tàu dò mìn 389 trong số đó vừa được xuất xưởng sửa chữa, chưa hề lái thử, đã phải xuất phát đến vùng chiến địa. Có thể thấy được sự thảm hại của phía quân Trung Quốc khi ấy. Hơn 1 ngày sau, phía quân Trung Quốc lại vội điều 2 tàu chống ngầm (phiên hiệu 281 và 282) đến tăng viện cho Tây Sa. Sau này đã thấy: Chính 2 chiếc tàu này đã bảo đảm cho sự thắng lợi cuối cùng của quân Trung Quốc trong trận Tây Sa.

Những người am hiểu sẽ nhìn ra được những chiếc tàu này không phải được dùng cho các trận hải chiến đích thực. Chứng tỏ phía Trung Quốc khi ấy cơ bản là không muốn đánh, mà chỉ muốn chứng minh sự tồn tại vũ lực của mình ở vùng biển Tây Sa, nhìn mấy chiến tàu nhỏ bên quân Trung Quốc điều đến mà đã tạo nên dũng khí để làm nên chuyện, thì e rằng cũng đã nằm ngoài dự liệu của các nhà quyết sách quân sự khi ấy.

Ngày 18 tháng 1, tàu Trung Quốc đến vùng biển Tây Sa, gặp phải tàu của hải quân Nam Việt ở đó, tổng cộng có 1 tàu khu trục (số ghi ở thân tàu là 04), 2 tàu hộ tống (số ghi ở thân tàu là 05 và 16) và 1 tàu tuần tra (số ghi ở thân tàu là 10). Bốn tàu của hải quân Nam Việt, với tổng trọng tải hơn 6.000 tấn, hơn 50 khẩu hỏa pháo, lại được trang bị hệ thống điều khiển bắn tự động điện tử tiên tiến nhất hồi bấy giờ; còn 4 chiếc tàu bên quân ta gộp lại tổng cộng mới được hơn 1.700 tấn, 16 khẩu hỏa pháo, trọng tải tàu tối đa không bằng trọng tải con tàu nhỏ nhất của quân Nam Việt. Tương quan thực lực giữa hai bên đối trận chênh nhau như vậy cũng là điều hiếm gặp trong lịch sử các trận chiến hải quân trên thế giới. Vì thế, hải quân Nam Việt phán đoán máy bay chiến đấu của Trung Quốc do hành trình xa nên không thể tới chi viện cho Tây Sa được, cảm thấy vẫn có thể đánh được biên đội hải quân nhỏ ấy của Trung Quốc. Cũng có nghĩa là vào sớm ngày hôm đó, sĩ quan chỉ huy tàu Nam Việt khi đã liên lạc được với tổng thống của họ là có thể được trao quyền khai hỏa vào tàu Trung Quốc.

Song hải quân Trung Quốc khi ấy, mặc dù về mặt trang bị và sẵn sàng tác chiến không bằng được Việt Nam, nhưng lòng quả cảm và sĩ khí thì lại ở hàng đầu, là quân đội được trang bị bằng tư tưởng Mao Trạch Đông, đã không hề run sợ trước hải quân Nam Việt với ưu thế áp đảo. Còn hải quân Việt Nam khi gặp phải biên đội tàu Trung Quốc tiến tới bất ngờ, tuy coi thường, nhưng vì cũng không biết được nội tình bên quân Trung Quốc nên cũng không dám manh động, hai bên lại đối đầu trong đêm tối, thế là cả hai bên cùng thu quân. Ngày hôm sau, 19 tháng 1, tàu Nam Việt nhìn thấy bên quân ta không hề có tăng viện, chỉ vẻn vẹn có 4 chiếc tàu nhỏ, thế là can đảm hẳn lên. Tàu hộ tống 5 cậy mình thừa đủ trọng tải mã lực đã va vào trước đánh chặn 2 tàu dò mìn 396 và 389 của bên quân ta, tàu dò mìn 396 của ta bị hư hỏng nhẹ, dùng mấy chiếc xuồng máy đưa khoảng 1 trung đội lính đánh bộ lên 2 hòn đảo Trân Hàng, Quảng Kim, đã bị bên quân ta khống chế (2 hòn đảo này có 1 đại đội dân binh của ta đóng trên đó), đối đầu với dân binh Trung Quốc trên đảo. Tàu bên quân ta nhằm hỏa pháo vào quân Nam Việt đang đổ bộ lên đảo, hiệp trợ dân binh trên đảo, còn tàu quân sự lớn của Nam Việt do ở quá gần đảo, nên chủ pháo ** đã bị rơi vào góc chết, chẳng trợ giúp gì được. Trong tình huống có cảnh cáo cũng vô hiệu ấy, dân binh Trung Quốc đã nổ súng trước, giết chết 1 tên địch, làm bị thương 3 tên, buộc quân Nam Việt phải quay đầu rút chạy thảm hại.

Khi thấy không dễ gì chiếm được đảo, tàu quân sự Nam Việt đã thu hồi quân đổ bộ lên đảo, lượn một vòng ra ngoài khơi (khiến cho tàu bên quân ta bị nằm vào tầm bắn của hỏa pháo ** bên họ), triển khai đội hình chiến đấu. Biên đội tàu Trung Quốc không những không lui về, mà còn dốc hết mã lực cũng triển khai đội hình chiến đấu để đón đầu tàu quân sự Nam Việt (bởi nếu như bị chúng giãn cách cự ly, thì bên quân ta chỉ còn cách chịu đòn). Hai bên đối trận lúc này, pháo chĩa vào nhau, lưỡi lê đã tuốt, khoảng cách ngày một thu hẹp, căng thẳng tột độ. Cuối cùng tàu quân sự Nam Việt không nén nổi, các tàu cùng nổ súng về phía quân Trung Quốc, ngay chính trong khoảnh khắc lửa pháo lóe lên, pháo thủ bên quân ta cũng ấn nút điện, trận hải chiến Tây Sa chính thức bắt đầu!



Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:23:51 am
Chương IV: Giải mật tư liệu

Về chuyện ai nổ súng trước, có một loạt quan điểm cho rằng, tàu quân Nam Việt lúc ấy nổ súng trước là khi lui về phía sau để giãn cách cự li, cho hỏa pháo ** ở vào vị trí lợi thế, thì tàu quân Trung Quốc đã truy kích để thu hẹp cự ly, thực ra không phải như vậy. Trước hết, nếu đúng là như vậy, thì tàu quân Nam Việt chắc chắn đã đối mặt với quân Trung Quốc bằng pháo đuôi chứ không phải bằng chủ pháo, không phải ở vị trí đắc địa; thứ hai, khi đối đầu, tàu của hai bên ở cách nhau rất gần, dùng theo cách nói của người Nam Việt là “trong tầm cự ly bắn của **”, thì tàu bên quân ta lại chạy nhanh hơn tàu quân Nam Việt (bên Trung Quốc tốc độ 25, bên Nam Việt tốc độ 20), nên chẳng cần phải đợi đến khi tàu quân Nam Việt chạy xa rồi mới đuổi theo; thứ ba, các văn bản chính thức của phía Trung Quốc cũng nói khi ấy hai bên chĩa súng vào nhau, quân Nam Việt nổ súng trước. Cho nên, tình huống khi ấy nên hiểu là khi hai bên tiếp cận chính diện với nhau, đối với quân Nam Việt, nếu quân Trung Quốc tiến gần vào nữa là sẽ bị rơi vào góc chết của chủ pháo ** hạm đội Nam Việt, sẽ bất lợi cho họ, nên họ phải nổ súng trước.

Khẩu pháo ** số 1 của tàu quân Nam Việt là đài chỉ huy của tàu bên quân ta, do ** rất lâu, nên đạn pháo đã bắn rất chuẩn. Một loạt đạn pháo bắn ra, mấy thuyền trưởng và chính ủy bên quân ta khi ấy đã có thương vong. Nhưng tàu bên quân ta tiếp tục áp sát địch hết tốc lực, phát huy ưu thế cự ly gần  của pháo bắn tốc độ **, nên đã áp chế được tàu quân Nam Việt. Còn tàu quân Nam Việt lúc này do tốc độ bắn của hỏa pháo ** chậm, tàu của bên quân ta lại nhỏ, chiều cao chỉ có 2 m, cự ly lại quá gần, rơi vào góc chết của pháo rất khó điều chỉnh, không phát huy được ưu thế hỏa lực, nên đã bị tàu Trung Quốc bắn trả điên cuồng. Để thoát khỏi thế bị động, tàu quân Nam Việt có ý đồ giãn cách cự ly, còn tàu bên quân ta thì truy đuổi đến cùng, áp sát tàu quân địch. Tập trung hỏa lực bắn vào các tàu khu trục 04, tàu hộ tống 16. Quân ta dũng mãnh tấn công tàu khu trục 4 và tàu hộ tống 16 của Nam Việt, vì những con tàu ấy lần lượt ở vào vị trí tàu chỉ huy trong các tàu quân sự Nam Việt. Còn cho đến sau trận hải chiến ấy, phía Trung Quốc đều cho rằng tàu khu trục 04 là kỳ hạm của cả hạm đội Nam Việt. Thực tế, tin của tình báo Trung Quốc rất chuẩn xác, cho đến ngày 18, tàu khu trục 04 luôn là kỳ hạm của Nam Việt, nhưng vào sớm ngày 19, do sự thay đổi về chỉ huy hạm đội Nam Việt, tàu hộ tống 05 đã biến thành kỳ hạm, đây là điều bên quân Trung Quốc không ngờ tới. Hỏa lực từ các tàu chống ngầm 271 và 274 của bên quân ta đã chuyển hướng bắn về phía chủ pháo cùng hệ thống điều khiển bắn, thông tin và chỉ huy của tàu hộ tống 04 Nam Việt.

Mặc dù có sự cứu viện của tàu hộ tống 05, tàu này vẫn bị đánh tới mức làm gián đoạn thông tin, chỉ huy vô hiệu lực, tàu bị cháy khói um lên. Cùng lúc ấy, các tàu quân sự của Nam Việt cũng cố sức bắn trả về phía quân Trung Quốc, pháo ** bắn tàu Trung Quốc ở gần không được liền bắn tới tàu Trung Quốc ở xa, để chi viện cho đồng đội. Do tàu quân ta và quân địch đánh nhau ở cự ly gần, nên không ít ** lực của Nam Việt đã bị đánh gục trên tàu của mình, các tàu của Nam Việt đều bị xơi phải đạn pháo của người mình.

Tàu tuần tiễu số 10 của hải quân Nam Việt đã lao tới và nhả đạn điên cuồng vào tàu dò mìn 389 của ta, để tìm hiểu cứu vãn tàu hộ tống 16 đang bị 2 tàu dò mìn 396 và 389 của quân ta vây đánh. Tàu dò mìn 389 của ta đang chịu tấn công từ hai phía đã bị trúng đạn nhiều chỗ, 6 sĩ quan và lính tử trận, trên tàu bốc cháy, nhưng vẫn dũng cảm chiến đấu, cùng với tàu 396 quay họng pháo bắn trả xối xả về phía tàu tuần tiễu số 10 của đối phương, rồi quay đầu lao tới tàu này. Tàu tuần tiễu số 10 của hải quân Nam Việt bị bắn trúng phải kho đạn đã phát nổ bốc cháy. Tàu dò mìn 389 của ta lúc này đạn pháo cũng đã hết sạch, nhưng vẫn dũng cảm lao lên, xông thẳng tới chỗ cách tàu số 10 mấy chục mét, hải quân Trung Quốc xách cả bệ phóng rocket, súng tiểu liên, bắn xối xả về sàn tàu số 10 (số vũ khí này vốn là vận chuyển cho dân binh của ta đóng trên đảo, nhưng do đêm 18 [tháng 1-1974] sóng quá lớn, nên không thể đưa lên đảo được). Thuyền trưởng tàu tuần tiễu số 10 của Nam Việt đã bị bắn chết trong trận chiến (4).

Tàu hộ tống số 16 của Nam Việt muốn tiến tới cứu tàu tuần tiễu số 10, nhưng đã bị tàu dò mìn 396 của ta đánh chặn. Tàu hộ tống số 16 của Nam Việt đã bị trúng phải một phát đạn pháo từ tàu hộ tống số 5 của họ (may mà quả đạn pháo này không nổ, nếu không thì quân Nam Việt đã đánh đắm mất con tàu của họ trước), sau đó lại bị 2 tàu của quân ta tấn công, lúc này các hệ thống thông tin, điều khiển và cung cấp điện đều bị mất hiệu lực hoàn toàn, tàu bị nghiêng 20º (khi về đến cảng quân sự Nam Việt bị nghiêng tới 40º, chỉ còn lại phần máy chính là còn có thể vận hành), không thể tiếp tục tác chiến, thế là quay đầu tháo chạy ra ngoài khơi.

Nhìn thấy tàu số 16 rút chạy, chính ngay lúc đó,  2 tàu chống ngầm 281 và 282 của quân ta đã đuổi đến vùng biển chiến trận (hai con tàu này đã đến địa điểm được chỉ định sớm hơn một chút, đêm 18 gặp phải sóng lớn, đã vội chạy với tốc độ tối đa cao hơn so với thiết kế của tàu, cuối cùng được phía Trung Quốc kịp thời đưa về sinh lực quân, khiến cho cán cân chiến thắng của trận hải chiến Tây Sa cuối cùng đã nghiêng về phía Trung Quốc). Tàu tuần tiễu 04, tàu hộ tống 05 của Nam Việt không còn lòng dạ nào để chiến đấu tiếp, bỏ lại tàu số 10 đã bị đánh cho tơi tả, cũng quay đầu tháo chạy ra ngoài khơi. Kể từ lúc tàu Nam Việt nổ súng cho đến khi tàu của chúng bị đánh cho tơi tả, chỉ vẻn vẹn trong vòng có mười mấy phút. Theo kiểm nghiệm của hải quân Nam Việt sau trận chiến, ngoại trừ tàu tuần tiễu số 10 bị ta đánh chìm ra, 16 chiếc tàu hộ tống đã bị trúng 820 phát đạn, 2 chiếc tàu còn lại đều bị trúng trên cả ngàn phát đạn, có thể thấy được độ ác liệt của trận chiến và sự anh dũng trong tác chiến của hải quân Trung Quốc.

Mặc dù hạm đội của Nam Việt đã bị đánh tơi bời, tàu bên quân ta lúc này cũng ở trong tình trạng không hay: Tàu  389 cháy mãi không tắt, thân tàu bị nghiêng lệch nặng, buộc phải đưa vào bãi cạn với sự hiệp trợ của các tàu bên ta để khỏi bị chìm. Ba tàu còn lại cũng bị thương tổn, đạn dược lại còn ít, nên chẳng biết làm gì với tầu tuần tiễu số 10 đã không còn đủ năng lực tự vệ của Nam Việt. Cuối cùng phải để cho 2 tàu chống ngầm 281 và 282 của quân ta đưa tàu tuần tiễu số 10 của bên quân địch nhấn chìm xuống biển.

Trận hải chiến Tây Sa cùng hậu quả của nó đã khiến cho Trung Quốc và chính phủ Nam Việt cùng cảm thấy kinh hoàng và bất ngờ. Trung Quốc là bên yếu thế về hải quân đã giành được thắng lợi không hề có sự chuẩn bị ở Tây Sa đã lập tức bắt đầu tổng động viên chiến tranh, với ý đồ mở rộng chiến quả, ra tay giải quyết luôn vấn đề Tây Sa. Phía Trung Quốc khẩn cấp trưng dụng 500 lính đánh bộ và dân binh, đưa các tàu quân sự và tàu cá ra vùng chiến địa vào ngày 20, ngoài việc điều các tàu của hạm đội Nam Hải khẩn cấp ra chi viện Tây Sa, 2 tàu khu trục đạn đạo của hạm đội Đông Hải cũng từ phía nam eo biển Đài Loan tới tăng viện. Về không quân, nghe nói khi ấy đã điều máy bảy chiến đấu F-7 vừa mới được nghiên cứu chế tạo (có tính năng ngang với Mic-25), mặc dù thời gian đậu lại giữa không gian trên vùng biển Tây Sa của loại máy bay chiến đấu này chưa đầy 10 phút, nhưng sự xuất hiện của nó vẫn gây sự phấn chấn lớn lao. Ngày 20 tháng 1, bộ đội tinh nhuệ của Trung Quốc đã đến Tây Sa, dưới sự yểm trợ của hỏa lực pháo hạm, đã chiếm gọn cả 3 hòn đảo từng bị hải quân Nam Việt chiếm giữ từ năm 1956, bắt sống 48 tên địch, trong đó có 1 sĩ quan liên lạc Mỹ.

Tuy Bắc Việt đang đánh nhau với Nam Việt, nhưng khi chúng ta trừng phạt Nam Việt, trong lòng Bắc Việt chưa hẳn đã hài lòng. Với trận hải chiến Tây Sa, hải quân Nam Việt vốn đã có sự chuẩn bị, với ý chí quyết giành bằng được, không ngờ lại bị ăn một đòn trời giáng, đột nhiên trở nên hoảng loạn. Khi viên chỉ huy trận hải chiến đến gặp Tổng thống Nam Việt để báo cáo, không dám nói là trận hải chiến đã bị thất bại, mà chỉ một mực trách không quân không đến chi viện. Đến chiều ngày 20 tháng 1, Nam Việt mới đưa tàu quân sự Kỳ lân chở 1 tiểu đoàn lính đánh bộ, với ý đồ tăng viện cho quân đóng ở Tây Sa (nửa đường đã quay về), ngoài ra còn cho tập kết lính hải, không quân rải khắp làm khung sườn tái chiếm, nhưng sau khi đối mặt với sự tăng viện lớn của bên quân ta, lính hải quân Tây Sa bám trận địa chờ thời từ trước, đã không hề dám manh động, cuối cùng phải rút về.

Trong trận chiến ở Tây Sa, các tàu quân sự của phía Nam Việt đã bị đánh chìm, bị đánh trọng thương, bị thương nhẹ mỗi loại 1 chiếc, lính tử trận hơn 100 người, bị bắt sống 18 người, số bị thương không rõ. Các tàu phía Trung Quốc bị đánh trọng thương 1 chiếc, bị thương nhẹ 3 chiếc, lính tử trận 18 người, bị thương 67 người. Mặc dù phía Trung Quốc đã không lường trước được hết quyết tâm khai chiến của Nam Việt, binh lực điều động hết sức yếu ớt, nhưng sĩ quan binh lính hải quân Trung Quốc tham gia chiến trận đã chiến đấu dũng cảm, chiến thuật vận dụng cũng hết sức thành công, nên cuối cùng đã giành được thắng lợi. Khi xem xét đến sự chênh lệch về tương quan lực lượng giữa hai bên, sẽ thấy chiến quả như vậy là hiếm gặp trong lịch sử hải quân thế giới. Còn ý nghĩa thực sự của trận chiến ở Tây Sa, nằm ở chỗ đã tiêu diệt được quân đội Nam Việt chiếm cứ ở đó từ năm 1956, là đã đánh đuổi sạch thế lực Nam Việt. Nếu không, đợi đến hơn một năm nữa thôi, Việt Nam sau khi thống nhất sẽ tiếp quản luôn cả mấy hòn đảo ở đó, thì nỗi rầy rà của phía Trung Quốc sẽ còn lớn hơn.


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: vietkieu_cuuquocquan trong 05 Tháng Giêng, 2012, 09:24:23 am
1)  Số lượng tàu tham chiến

Con số thực và loại hình tàu tham chiến của phía Trung Quốc: 2 tàu chống ngầm, 2 tàu dò mìn, 2 tàu hộ tống cao tốc; trong đó có 4 tàu khai chiến trước, 2 tàu đuổi theo sau, và chính 2 chiếc tàu đuổi theo sau này đã khiến hải quân Nam Việt cho là còn có một loạt tàu tăng viện nữa đang đuổi tới, gây khiếp đảm, làm quân Nam Việt phải bỏ chạy, ở bước ngoặt quyết định cuối cùng đã làm cho cán cân thắng lợi nghiêng về phía quân ta.

2)  Ai là người nổ phát súng đầu tiên?

Thật tình là hiện giờ cũng không thể nói rõ được ai là người nổ phát súng đầu tiên. Theo những người tham chiến nói, khi ấy bên quân ta chắc chắn không ra lệnh nổ súng, nhưng trước khi nổ súng, bên quân Nam Việt đã bắn 1 phát đạn pháo về phía quân ta bằng pháo **, (đương nhiên là không có trong lệnh), do hỏa pháo chủ yếu của các tàu bên quân Nam Việt đều được điều khiển tự động bằng rađa, cho nên phát đạn pháo này bên quân ta phán đoán là để hiệu chỉnh hệ thống điều khiển bắn tự động, đồng thời sau khi tàu bên quân Nam Việt lui lại với ý đồ giãn cách cự ly (điều này buộc phải làm về mặt chiến thuật khi tàu lớn khai chiến với tàu nhỏ), chỉ huy bên quân ta phải ra lệnh cho 2 biên đội bám sát, đồng thời cảnh báo: Chú ý, quân địch sắp nổ súng! Vào lúc ấy, trận hải chiến đã nổ ra. Khi người bên quân ta phát hiện thấy nòng pháo bên quân địch tóe lửa một cái là liền lập tức đạp cò! Cho nên gần như cùng lúc với bên quân địch nổ súng, đạn pháo bên quân ta cũng nhả luôn! Nhưng do phía quân ta pháo nhỏ, vận tốc cao, thế nên loạt dạn pháo đầu tiên của bên quân ta đạp cò sau, nhưng lại rơi xuống đầu hải quân Nam Việt trước (quả có chút nực cười). Lúc này, chỉ huy bên quân ta quả thực không ra lệnh nổ súng, bắn trả hoàn toàn là sự phản ứng tự động của các chiến sĩ (sự phản ứng tự động này tương đối quan trọng, nếu như đợi đến khi chỉ huy ra lệnh mới bắn trả, thì rất có thể lịch sử về trận hải chiến Tây Sa sẽ phải viết lại). Viết đến đây, đã có thể rõ được ai là người nổ súng trước rồi.

3)  Trận hải chiến đã liều ném luôn cả lựu đạn?

Không phải là bên quân ta đã có chiến pháp liều ném lựu đạn trong trận hải chiến, mà là một chiếc tàu khi ấy do bị thương, mất lái, tốc độ chạy quá nhanh, đâm thẳng vào giữa 2 chiếc tàu bên quân Nam Việt, nên đã bị tấn công bằng hỏa lực chằng chịt rồi bốc cháy, tổn hại nghiêm trọng, chiếc tàu phía sau của quân ta nhìn không rõ (khi ấy cho là khói do tự mình tuôn ra) sợ đánh bị thương nhầm tàu mình, lại không thể chi viện được, nên kết quả là chiếc tàu này lái luôn cả khói lửa đâm thẳng vào tàu số 10 của địch, thuyền trưởng hoa mắt:  Lắp tên lửa chống tàu ngầm! Chuẩn bị sống chết với quân địch. Thế là tàu số 10 quay lái sạt qua tàu của ta, nguy hiểm tới cực điểm. Lúc này hỏa pháo của hai bên đều không thể dùng được, thuyền trưởng gặp nguy ứng biến: Ném lựu đạn! Khi ấy bên quân ta cơ bản chưa chuẩn bị đánh trận hải chiến, trên tàu này có mấy hòm lựu đạn chuyển cho dân binh đóng trên đảo, vào lúc này đã được điều dùng cho trận chiến. Thế là mọi người tranh nhau vớ lấy lựu đạn ném sang tàu số 10 của Nam Việt, có người còn ôm luôn cả bệ phóng tên lửa chống tăng của bộ binh bắn về phía tàu Nam Việt! Đây chính là xuất xứ của chuyện quân Trung cộng đã sử dụng lựu đạn mà Nam Việt đã thông tin cho giới truyền thông sau này, nhân lúc quân địch hoảng loạn chuyển hướng, quân ta đã ngoặt tàu chạy hết tốc độ, đẩy lui được cuộc tấn công của Nam Việt, sau đó lao tới tự cứu lại được bãi đá ngầm.

4)  Được mất về chiến thuật của trận hải chiến

Về kết quả của trận hải chiến mọi người đều đã rõ: Bên quân Nam Việt: 1 chiếc tàu hộ tống nhỏ nhất (phiên hiệu “Sóng dữ”, 650T) bị chìm, 3 chiếc tàu khu trục còn lại bị thương (rất nhẹ). Bên quân ta: 1 chiếc tàu dò mìn gần như bị chìm (đưa lên bãi cạn thành công, tất nhiên, nếu đưa lên bãi cạn không kịp thì chắc chắn sẽ chìm), bị thương 1 chiếc, 2 chiếc còn lại cũng bị thương nhẹ, nhưng 2 chiếc thêm vào sau đó lại không hề bị sứt mẻ gì.

a)  Khi khai chiến, cả hai bên đều theo quan điểm đã đánh phải đánh cho giập đầu, tấn công vào tàu chỉ huy của đối phương, song đều phán đoán nhầm: Trong số 2 biên đội bên quân ta, 1 chiếc tàu xông lên trước nhất là tàu chỉ huy, mà bên quân địch tấn công lại là 2 chiếc tàu ở đằng sau 2 biên đội bên quân ta, phán đoán sai (nếu như quân địch khi ấy đọc được báo chí Trung Quốc thì sẽ không bị sai). Bên quân ta phán đoán quân địch sợ chết, cho nên viên chỉ huy sẽ nấp ở đằng sau, vì thế cũng tấn công 2 tàu ở đằng sau, và cũng phán đoán sai! Xác minh sau trận chiến cho thấy, tàu chỉ huy bên quân địch là tàu đầu ở biên đội số 2!

b)  Bên quân Nam Việt đã sai lầm về vận dụng chiến thuật:  Hải quân Nam Việt cho rằng tàu của ta đại pháo lớn, dùng đạn xuyên thép làm thủng cho mấy lỗ là tàu nhỏ của mày chìm ngay, cho nên trong lúc bắn nhau bên quân Nam Việt đã sử dụng đạn xuyên thép (tất nhiên, không thể nói là không đúng, nhưng nếu như một tàu dùng đạn xuyên thép, một tàu dùng đạn bộc phá thì rất có thể bên quân ta sẽ phải chịu kết cục thảm hại, bởi dẫu sao thì tàu của ta cũng quá nhỏ).

Bên quân ta cho rằng, mặc dù mày là hỏa lực tự động, nhưng có phải lúc nào cũng có người đến thao tác đâu? Tao đánh cho mày bò lê bò càng hết cả ra, thì mày có tự động hóa thì cũng chẳng có ai đến ấn nút được cả! Cho nên tình hình bên quân ta sử dụng đạn bộc phá (người viết cho rằng đây là chiến thuật khi ấy không có biện pháp để đề xuất) trong giao chiến là:  Hai bên vừa bắn nhau, toàn bộ hải quân trên tàu quân sự Nam Việt đều chui hết cả xuống dưới boong tàu, còn hỏa pháo tự động hóa cũng bị mất hiệu lực khi bị quân ta tấn công trọng điểm vào hệ thống điều khiển tự động bằng rađa, người điều khiển pháo đương nhiên là không bắn được chúng ta nữa rồi. Sau khi bên quân ta bị bắn đạn xuyên thép, phần tàu chìm dưới nước bị thủng mấy lỗ lớn, mà những miếng nút chúng ta chuẩn bị sẵn thì lại không đủ, may mà có các chiến sĩ xả thân bịt lại thì mới bảo vệ được tàu. Từng có tin là có chiến sĩ đã hi sinh vì dùng thân mình bịt tàu, thế nhưng quân lính hiện giờ đã được điều đi xa rồi, lát nữa người viết kể cho mọi người nghe về trận hải chiến Xích Qua Tiêu (tức Bãi đá Gạc Ma – ND) thì sẽ biết.

Lời cuối:  Nghe nói sau khi Trung Quốc thu hồi Tây Sa, Bắc Việt là đồng chí và anh em với chúng ta khi ấy, đã gửi điện cảm ơn chính phủ Trung Quốc: Cảm ơn anh em Trung Quốc đã thay chúng tôi thu hồi lại được quần đảo Tây Sa từ tay quân tay sai Nam Việt! Chính phủ Trung Quốc đã từ chối bức “Điện cảm ơn” này, đây cũng là sự khởi đầu cho việc từ chỗ thừa nhận đến chỗ trở mặt về chủ quyền đối với Nam Sa của Trung Quốc từ phía Việt Nam.

Trong trận hải chiến oai hùng thề chết bảo vệ quần đảo Tây Sa của quân dân Trung Quốc, hải quân Trung Quân ở vào thế yếu về trang bị, tổng cộng đã bắn chìm một tàu hộ tống,  bắn bị thương ba tàu khu trục, tiêu diệt thuyền trưởng tàu “Sóng dữ” cùng hơn 100 quân dưới quyền bên quân Nam Việt; trong khi đổ bộ thu hồi ba hòn đảo Cam Tuyền, đảo San Hô và đảo Kim Ngân, bộ đội và dân binh Trung Quốc  đã bắt sống được thiếu tá Phạm Văn Hồng cùng 48 quân dưới quyền bên quân Nam Việt, viên sĩ quan liên lạc Kirsch thuộc Lãnh sự quán Mỹ thường trú tại Đà Nẵng cũng đã thành tù nhân của quân dân Trung Quốc. Tất nhiên, trong trận chiến đấu bảo vệ quần đảo Tây Sa, quân dân Trung Quốc cũng đã phải trả những cái giá nhất định. Chính ủy tàu 274 của hải quân Trung Quốc, Phùng Tùng Bá cùng 18 sĩ quan binh lính khác đã anh dũng hy sinh, 67 chiến sĩ tham chiến bị thương, tàu 389 của ta bị bắn hỏng.


Tiêu đề: Причины нападения США на Вьетнам
Gửi bởi: fddinh trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 11:29:01 pm
Những nguyên nhân Hoa Kỳ tấn công Việt Nam


(http://topwar.ru/uploads/posts/2012-09/thumbs/1348108342_vietnam_sm03.jpg)

“Tôi đơn giản lo lắng cho đất nước của mình khi nghĩ rằng thượng đế công bằng”, - tổng thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson.

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Sự gia tăng ý thức độc lập quốc gia sau Chiến tranh thế giới thứ I  dẫn đến vào năm 1941 tại Trung Quốc thành lập Liên minh vì độc lập của Việt Nam hay Việt Minh – tổ chức chính trị-quân sự hợp nhất tất cả những người chống đối chính quyền Pháp.

Những người ủng hộ các quan điểm cộng sản dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh giữ các chức vụ chủ chốt. Trong thời kỳ Chiến tranh thế giớ thứ II, ông tích cực hợp tác với Hoa Kỳ giúp Việt Minh vũ khí và đạn dược để đấu tranh chống Nhật Bản. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Hồ Chí Minh chiếm Hà Nội và các thành phố lớn khác của đát nước và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập. Tuy nhiên Pháp không đồng ý với việc này và đưa đội quân viễn chinh vào Đông Dương, vào tháng mười hai 1946 bắt đầu cuộc chiến tranh thực dân. Đơn độc, quân đội Pháp đã không thể chiến đấu với những người du kích, và từ năm 1950 Hoa Kỳ đã bắt tay giúp đỡ Pháp. Nguyên nhân chính của việc Hoa Kỳ can thiệp là giá trị chiến lược của khu vực bảo vệ các đảo Nhật Bản và Philippines từ Tây-Nam. Người Mỹ cho rằng sẽ không đơn giản kiểm soát những vùng lãnh thổ này nếu họ không là đồng minh của Pháp.

(http://topwar.ru/uploads/posts/2012-09/thumbs/1348108337_vietnam_sm01.jpg)

Chiến tranh đã diễn ra bốn năm và đến 1954 sau khi người Pháp thất bại trong trận đánh ở Điện Biên Phủ, tình hình trở nên thực tế là vô vọng. Hoa Kỳ vào thời gian đó đã gánh hơn 80% các chi phí của chiến tranh. Phó tổng thống Richard Nixon đã đề xuất ném mom hạt nhân chiến thuật. Nhưng vào tháng bảy năm 1954 đã ký kết hiệp định Geneve, theo đó lãnh thổ Việt Nam tạm thời chia theo vĩ tuyến 17 (nơi khu phi quân sự) thành Bắc Việt Nam (dưới sự kiểm soát của Việt Minh) và Nam Việt Nam (dưới chính quyền người Pháp và sau đó công nhận độc lập của nó).

Vào năm  1960, John Kennedy và Richard Nixon tham gia cuộc tranh giành Nhà Trắng. Trong thời gian này, cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cộng sản được xem là phong thái tốt, và bởi vì rằng ứng cử viên nào có chương trình chống “mối đe dọa đỏ” quyết liệt hơn, người đó chiến thắng. Sau khi chấp nhận chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc, chính phủ Hoa Kỳ xem bất kỳ sự kiện nào ở Việt Nam như một phần của sự bành trướng cộng sản. Và điều này không thể chấp nhận được, và bởi vậy sau Hiệp định Geneve, Hoa Kỳ quyết định hoàn toàn thay thế Pháp ở Việt Nam. Ủng hộ người Mỷ, thủ tướng Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố mình là tổng thống Cộng hòa Việt Nam. Sự cai trị của ông là sự thống trị ở một trong những hình thái tồi tệ nhất. Chỉ những người thân tín mà những người này bị nhân dân căm ghét còn hơn cả chính bản thân tổng thống đã được bổ nhiệm vào những chức vụ nhà nước. Những người chống chế độ đã bị tống vào tù ngục, tự do ngôn luận bị ngăn cấm. Chắc gì điều này phù hợp với Mỹ, nhưng vì đồng minh duy nhất ở Việt Nam không thể nhắm mắt là ngơ với điều này.

(http://topwar.ru/uploads/posts/2012-09/thumbs/1348108420_vietnam_sm07.jpg)

Như một nhà ngoại giao Mỹ nói: “Ngô Đình Diệm, dĩ nhiên, đồ chó đẻ, nhưng nó là đồ chó đẻ CỦA CHÚNG TA!”

Sự xuất hiện trên lãnh thổ Nam Việt Nam các đơn vị kháng chiến bí mật, thậm chí không được sự hỗ trợ từ phía Bắc, cũng là vấn đề của thời gian. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chỉ nhìn thấy những quỷ kế của những người cộng sản trong tất cả. Việc tăng cường các biện pháp khốc liệt nhất tiếp theo chỉ dẫn đến vào tháng mười hai năm 1960 tất cả các nhóm hoạt động bí mật ở Nam Việt Mam thống nhất thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, ở phương Tây gọi là Việt Cộng. Bấy giờ Bắc Việt Nam bắt đầu ủng hộ quân du kích. Đáp lại Hoa Kỳ tăng cường sự giúp đỡ quân sự cho Diệm. Vào tháng mười hai năm 1961, các đơn vị thường trực đầu tiên của Quân đội Hoa Kỳ đến đất nước -  hai đại đội máy bay trực thăng nhằm nâng cao khả năng di động của quân đội chính phủ. Các cố vấn Mỹ đào tạo và huấn luyện các binh sĩ và xây dựng các kế hoạch tác chiến. Chính quyền John Kennedy muốn chứng tỏ cho Khrushev thấy quyết tâm của mình tiêu diệt “căn bệnh truyền nhiễm cộng sản” và sẳn sàng bảo vệ các đồng minh của mình. Xung đột tăng lên và ngay sau đó đã trở thành một trong những lò lửa “nóng” nhất của cuộc chiến tranh lạnh của hai cường quốc. Đối với Hoa Kỳ, mất Nam Việt Nam dẫn đến mất Laos, Thailand và Campuchia và đe dọa Australia. Khi biết rõ rằng Diệm không có khả năng đấu tranh chống du kích một cách hiệu quả, các cơ quan tình báo Mỹ bằng bàn tay của các tướng lĩnh Nam Việt Nam, đã tổ chức đảo chính. Ngày 2 tháng mười một năm 1963 Ngô Đình Diệm cùng người anh của mình bị sát hại. Trong suốt hai năm tiếp theo, do kết quả của cuộc đấu tranh giành quyền lực cứ vài tháng một lần xảy ra các cuộc đảo chính và điều này cho phép quân du kích mở rộng các vùng lãnh thổ chiếm đóng được. Vào thời gian này tổng thống Hoa Kỳ John Kennedy bị sát hại, và nhiều người yêu thích “học thuyết lật đổ” nhìn thấy trong điều này mong muốn của ông kết thúc chiến tranh ở Việt Nam bằng con đường hòa bình và điều đó làm ai đó rất không thích. Giả thiết này là đúng sự thật, xét theo quan điểm của văn kiện đầu tiên do Lyndon Johnson ký ở chức vụ tân tổng thống, là việc bổ sung binh lính đến Việt Nam. Mặc dù trước cuộc bầu cử tổng thống, ông được đề cử như “ứng cử viên hòa bình” và điều này đã ảnh hưởng đến chiến thắng chắc chắn của ông. Số lượng binh sĩ Mỹ ở Nam Việt Nam tăng  từ 769 vào năm 1959 lên đến 23 300 vào năm 1964.

Ngày 2 tháng tám năm 1964, tại vịnh Bắc Bộ hai tàu khu trục Mỹ, Maddox và Turner Joy, đã bị các lực lượng Bắc Việt Nam tấn công. Vài ngày sau đó, vào lúc đỉnh điểm của sự can thiệp trong bộ chỉ huy “Janky”, khu trục hạm Maddox thông báo bị bắn lần hai. Và mặc dù ngay sau đó, e kíp con tàu bác bỏ thông tin, tình báo nói về việc bắt được những thông tin mà trong đó những người Bắc Việt Nam thừa nhận đã tấn công. Quốc hội Hoa Kỳ đã bỏ phiếu với 466 “đồng ý” và không một phiếu nào “chống”, đã thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ cho phép tổng thống đáp lại cuộc tấn công bằng bất kỳ phương tiện nào. Điều này đặt bước đầu cho cuộc chiến tranh. Lyndon Johnson đã ra lệnh tấn công bằng không quân vào các căn cứ hải quân của Bắc Việt Nam (chiến dịch “Pierce Arrow”). Điều ngạc nhiên là quyết định xâm lược của Hoa Kỳ vào Việt Nam được phê chuẩn chỉ bởi ban lãnh đạo dân sự: Quốc hội, tổng thống, bộ trưởng quốc phòng Robert Macnamara và ngoại trưởng Dean Rusk. Pentagon đã phản ứng quyết định “giải quyết xung đột” ở Đông-Nam Á thiếu nhiệt tình.

Colin Powell, vào những năm đó là sĩ quan trẻ, nói : “Binh lính của chúng ta sợ nói với ban lãnh đạo dân sự rằng một phương pháp chiến tranh như thế sẽ dẫn đến sự thất bại được đảm bảo trước”. Nhà phân tích Mỹ Micheal Desch đã viết: “Việc phục tùng vô điều kiện của giới quân nhân đối với các nhà lãnh đạo dân sự dẫn đến, thứ nhất, tổn thất uy tín của họ, thứ hai, để cho Washington tự do tiến hành các cuộc phiêu lưu tiếp theo tương tự như Việt Nam”.

Cách đây không lâu ở Hoa Kỳ đã công bố tuyên bố của nhà nghiên cứu độc lập Matthew Ada, chuyên gia về lịch sử của Cơ quan an ninh quốc gia (cục tình báo và phản tình báo điện tử của Hoa Kỳ) về vấn đề rằng các thông tin chính yếu về sự cố ở Vịnh Bắc Bộ năm 1964 là giả mạo. Cơ sở của nó là báo cáo của nhà sử học NSA Robert Neynoka soạn thảo vào năm 2001 và được giải mã trên cơ sở Luật tự do thông tin (được Quốc hội thông qua vào năm 1966). Từ báo cáo đó thấy rằng các sĩ quan NSA đã phạm sai lầm không tiên liệu trước khi dịch thông tin nhận được từ radio. Các sĩ quan trưởng, thực tế ngay lập tức thấy rõ sai lầm, đã quyết định che giấu nó, và chỉnh sửa tất cả các văn bản cần thiết sao cho chúng chỉ ra cuộc tấn công Mỹ là hiện thực. Các quan chức cao cấp nhiều lần viện vào những thông tin ảo này trong các phát biểu của mình.

Robert Macnamara, nói: “Tôi xem việc nghĩ Johnson muốn chiến tranh là không đúng. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng ở chúng ta có chứng cứ rằng Bắc Việt Nam gây căng thẳng cuộc xung đột”.

Và đây không phải là sự giả mạo cuối cùng của những thông tin do thám được bởi ban lãnh đạo NSA. Cơ sở của cuộc chiến  tranh ở Iraq cũng là thông tin chưa được kiểm chứng về “hồ sơ Uranium”. Tuy nhiên nhiều nhà sử học cho rằng thậm chí cứ cho là không xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Hoa Kỳ thế nào cũng tìm thấy nguyên nhân bắt đầu các hoạt động quân sự. Lyndon Johnson cho rằng Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ danh dự của mình, áp đặt cho đất nước của chúng ta vòng xoáy chạy đua vũ trang, đoàn kết dân tộc, làm cho các công dân của minh xao lãng những vấn đề nội bộ.

Khi vào năm 1969 ở Hoa Kỳ diễn ra các cuộc bầu cử mới, Richard Nixon tuyên bố rằng chính sách đối ngoại của Hợp chủng quốc sẽ thay đổi mạnh mẽ. Hoa Kỳ sẽ không tham vọng vào vài trò giám sát nhiều hơn và muốn giải quyết các vấn đề khắp mọi nơi trên thế giới. Ông thông báo về kế hoạch bí mật kết thúc chiến tranh ở Việt Nam. Điều này đã được xã hội Mỹ chấp nhận một cách tốt đẹp vì mệt mỏi bởi chiến tranh, và Nixon đã chiến thắng trong các cuộc bầu cử. Tuy vậy trên thực tế kế hoạch bí mật là ở chỗ áp dụng không quân và hải quân ồ ạt. Chỉ trong năm 1970, máy bay ném bom của Mỹ đã ném số lượng bom ở Việt Nam hơn cả năm năm trước cộng lại.

Và ở đây cần nhắc lại thêm một phía liên quan trong chiến tranh – các tập đoàn Hoa Kỳ chế tạo vũ khí và đạn dược. Trong chiến tranh Việt Nam đã sử dụng hơn 14 triệu tấn bom đạn và nhiều lần lớn hơn số bom đạn sử dụng trên tất cả các chiến trường trong Chiến tranh thế giới lần thứ II. Những quả bom, trong đó có "bom высокотоннажные (từ tiếng Nga này Kichbu không dịch được, có lẽ là bom bi, hay bom chùm - fddinh, bom napal - Đại Bàng Đen)", hiện bị cấm, đã san phẳng khỏi mặt đất hàng loạt các thôn xóm, làng mạc, còn ngọn lửa bom napalm và fosfor thiêu đốt hàng hectar rừng. Chất dioxin, là chất độc nhất, một thời được con người chế tạo ra, đã rải khắp lãnh thổ Việt Nam với số lượng hơn 400 kg. Các nhà hóa học cho rằng 80 gr đưa vào hệ thống cung cấp nước của New York, hoàn toàn đủ để biến nó thành thành phố chết. Vũ khí này bốn mươi năm đã tiếp tục hủy diệt, tác động vào thế hệ người Việt Nam hiện nay. Lợi nhuận của các tập đoàn quân sự Hoa Kỳ thu được là hàng tỷ dollars. Và họ không quan tâm đến chiến thắng nhanh chóng của quân đội Mỹ. Và không ngẫu nhiên quốc gia phát triển nhất thế giới, sử dụng những công nghệ tiên tiến nhất, số lượng binh sĩ lớn, chiến thắng trong mọi cuộc chiến tranh, dù thế nào cũng không thể thắng trận.

Ứng cử viên tổng thống từ đảng Cộng hòa Ron Pol nói như sau: “Chúng ta đi đến chủ nghĩa phát xít không phải kiểu Hitle, mà nói nhẹ nhàng hơn, thể hiện trong mất mát các quyền tự do của công dân khi các tập đoàn chi phối tất cả và chính phủ cùng nằm trên một chiếc giường với doanh nghiệp lớn”.

(http://topwar.ru/uploads/posts/2012-09/thumbs/1348108436_vietnam_sm10.jpg)

Vào năm 1967 Tòa án quốc tế về điều tra các tội ác chiến tranh đã tiến hành hai hội nghị, ở đó đã nghe các chứng cứ về việc tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Theo Lời tuyên án (verdict), Hợp chủng quốc phải chịu hoàn toàn trách nhiệm việc sử dụng vũ lực và tội ác chống hòa bình, vi phạm các nguyên tắc của công ước quốc tế đã được xác định.

“Trước những túp lều, - một cựu binh Hoa Kỳ nhớ lại, - những cụ ông, cụ bà đứng hoặc ngồi chồm hổm trong mưa bụi bên ngưởng cửa. Cuộc sống của họ mộc mạc như thế, toàn bộ đời họ trôi qua trong ngôi làng này và những cánh đồng bao phủ xung quanh nó. Họ nghĩ gì về những người nước ngoài xông vào làng xóm của họ? Họ hiểu thế nào về hoạt động thường xuyên của những máy bay trực thăng xé nát bầu trời xanh của họ; những chiếc xe tăng và xe xích, các đội tuần tiễu vũ trang dày xéo trên những cánh đồng lúa nơi họ cày cấy?”.

(http://topwar.ru/uploads/posts/2012-09/thumbs/1348108407_vietnam_sm17.jpg)

---

Kichbu (http://kichbu.multiply.com/) dịch từ http://topwar.ru/19069-prichiny-napadeniya-ssha-na-vetnam.html và http://www.newsland.ru/news/detail/id/1040170/ Bản dịch chưa được hiệu đính


Tiêu đề: Trích đoạn CHIẾN DỊCH NĂM 1979: CUỘC TẤN CÔNG VÀO QUẢNG NINH
Gửi bởi: fddinh trong 06 Tháng Hai, 2013, 01:14:26 pm
Edward C. O’Dowd
Marine Corps University, Quantico
Ngô Bắc dịch
09.04.2012

(http://3.bp.blogspot.com/-vU_tPpBudq8/URHuYJRWstI/AAAAAAAACXo/3k8EmNEcuL0/s400/kh%E1%BB%B1a.jpg) Hình bên: Dân binh Trung Quốc trong các đội tải thương. Ước tính có khoảng 4.000 lính Trung Quốc tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến

Trung Quốc đã tập trung cuộc tấn kích của nó vào ba tỉnh lỵ của Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn, nhưng nó cũng thực hiện nhiều cuộc tấn công vào các thị trấn nhỏ khác thuộc các tỉnh miền bắc Việt Nam (xem Bản Đồ 2). Các sự tường thuật cho thấy rằng QĐGPNDTQ đã tấn công ít nhất ở cấp đại đội đánh vào ba mươi chín địa điểm dọc theo biên giới dài 1,281 cây số.79 Nhưng nếu các cuộc tấn công lớn nhất trong các cuộc đột kích này, các cuộc tấn công của QĐGPNDTQ vào các tỉnh lỵ, đã diễn ra một cách tệ hại, các cuộc tấn công nhỏ hơn được đánh giá ra sao?

Các cuộc tấn công của QĐGPNDTQ vào Quảng Ninh tiêu biểu cho các cuộc tấn công nhỏ hơn này. Quảng Ninh nằm ở bờ phía đông của biên giới Việt Nam với Trung Quốc và, với dân cư thưa thớt, là tỉnh nhỏ nhất mà Trung Quốc đã tấn công.

Một tỉnh dài, hẹp, trải dài đại cương theo trục đông bắc xuống tây nam, Quảng Ninh bao gồm chính yếu một khối lớn các ngọn đồi và núi thấp cùng một bình nguyên ven biển nhỏ hẹp. Nó chỉ có hai thị trấn quan trọng: tỉnh lỵ, Hồng Gai, ven Vịnh Hạ Long, và Móng Cái, địa điểm biên giới để tiến vào tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ở Đông Hưng (Dongxing). Ba huyện của Quảng Ninh giáp ranh với Trung Quốc, từ đông sang tây, là các huyện Hải Ninh, Quảng Hà, và Bình Liêu. Mạng lưới đường bộ trong tỉnh thì yếu kém. Quốc Lộ 4B chạy từ Móng Cái đến Lạng Sơn, nhưng mãi tới 1998, nó còn nhỏ hẹp, lầy lội, và khó để đi qua ngay cả với xe lái bốn bánh. Xa Lộ 18, một con đường khác của Quảng Ninh, chạy theo hướng bắc dọc bình nguyên duyên hải chật hẹp từ Hải Phòng để nối liền với Xa Lộ 4B. Các công nghiệp chính của tỉnh là ngư nghiệp, canh nông và hầm mỏ.

Ngoại trừ là một con đường phụ để đến Lạng Sơn hay một điểm khởi hành cho một mũi tấn kích dài để chọc thủng Hà Nội, thực sự không có gì ở Quảng Ninh lại sẽ có tầm quan trọng chiến lược đối với Trung Quốc(80).  Nỗ lực mà QĐGPNDTQ đặt vào việc tấn công các quận huyện biên giới của Quảng Ninh vì thế có vẻ là sai lầm và phí phạm. Nhiều phần nó chỉ là một toan tính làm rối trí Việt Nam. Trung Quốc đã tấn công thị trấn biên giới Móng Cái, nhưng cuộc tấn công đã thất bại trong việc thu hút các lực lượng tăng viện của Việt Nam đến khu vực này. QĐNDVN đã cố thủ những gì nó có thể giữ và tái chiếm những gì nó đã mất. Cuộc tấn công là một sự thất bại hoàn toàn.

Cuộc tấn công vào Quảng Ninh đi trước các cuộc xâm nhập chính của Trung Quốc xa hơn về phía tây, khởi sự vào khoảng sau 23:00 giờ ngày 16 Tháng Hai với việc pháo kích và cuộc đột kích của bộ binh vào địa điểm biên giới ở Hoành Mô trong huyện Bình Liêu(81). Cuộc tấn công khiến ta nghĩ rằng chủ định khả hữu của Trung Quốc là để tấn công xuống con đường Hoành Mô – Bình Liêu hầu cắt Xa Lộ 4B tại Tiên Yên. Con đường duy nhất để tái tiếp tế hay tăng viện cho Móng Cái do đó sẽ phải là đường biển. Vào ngày 17 Tháng Hai, phía Trung Quốc pháo kích Móng Cái và nông trại quốc doanh Xuân Hoa ở phía tây của thị trấn. Sau đó trong cùng ngày, bộ binh Trung Quốc đã tấn công dọc theo một mặt trận dài sáu cây số tại vùng phụ cận Móng Cái, và một lực lượng Trung Quốc thứ nhì đã tấn công huyện Quảng Hà gần Po Hen [?](82).  Quân Trung Quốc đã tấn công một lần nữa vào Móng Cái các hôm 20 và 21 Tháng Hai, từ các khu vực tập hợp tại Đông Hưng.

Ở thời điểm này, các cuộc tấn kích đã ngừng lại(83).  Mặc dù giao tranh tiếp tục dọc biên giới, cuộc tấn công kế tiếp của Trung Quốc trên quy mô lớn đã xảy ra hôm 2 Tháng Ba, khi một lực lượng Trung Quốc tấn công Đồi 781 trong huyện Bình Liêu; một ngày sau đó, phía Trung Quốc tấn công Đồi 1050. Cả hai cuộc tấn công đã thất bại, với sự tổn thất, theo phía Việt Nam, là 750 người(84).

Trung Quốc tiếp tục pháo kích các vị trị của Việt Nam ít nhất cho tới ngày 10 Tháng Ba, cùng thực hiện các cuộc tấn công hạn chế. Vào ngày 10 Tháng Ba, QĐGPNDTQ đã pháo khoảng 3,000 viên đạn vào Móng Cái và các địa điểm biên giới khác của Việt Nam(85).

Một câu chuyện tiêu biểu cho các vấn đề mà phía Trung Quốc gặp phải tại Quảng Ninh. Vào một lúc trong khi giao tranh, một trung đội Việt Nam được giao phó phòng thủ một ngọn núi có tên là Cao Ba Lanh [?]. Ngọn núi có tầm quan trọng từ một cái nhìn quân sự bởi nó trông xuống từ một điểm cách khoảng chín cây số ải vượt qua biên giới tại Hoành Mô. Bên kiểm soát được Cao Ba Lanh có thể hạn chế sự sử dụng điểm băng ngang biên giới của đối phương. Trung đội Việt Nam đã đào các vị trí phòng thủ và gài mìn và đặt bẫy mìn dọc theo các lối tiếp cận nhiều xác xuất nhất(86).  Cuộc tấn công đầu tiên của Trung Quốc liên can đến hai trung đội và bị đánh bật trở lại. Sau đó trong cùng ngày, toàn thể một đại đội đã tấn công, và lần này lại bị đánh bật trở về, với mười lăm binh sĩ Trung Quốc thiệt mạng. Ngày kế tiếp, hai tiểu đoàn Trung Quốc đã tấn công ồ ạt. Sau khi tổn thất bốn mươi bẩy mạng vì mìn và đạn súng trường, họ đã rút lui. Cuộc tấn công kế tiếp của Trung Quốc, được thực hiện sau một hàng rào pháo kích dữ dội, bao gồm ba tiểu đoàn – nguyên một trung đoàn quân Trung Quốc. Cuộc đột kích này nhắm vào trung đội Việt Nam diễn ra từ ba hướng nhưng lại vẫn thất bại, mìn và bẫy của Việt Nam đã gây ra một sự tổn thất khủng khiếp của bộ binh tấn công. Ba tiểu đoàn được tập hợp lại và sau một hàng rào pháo kích nữa, đã cố gắng chiếm cứ Cao Ba Lanh. Vào lúc cuối của năm tiếng đồng hồ tấn công, và với tổn thất 360 nhân mạng, trung đoàn Trung Quốc đã chiếm đoạt được ngọn núi(87).

Tiểu truyện này minh họa các vấn đề mà QĐGPNDTQ đã gặp phải dọc theo chiều dài biên giới của Quảng Ninh. Các mưu tính để phân tán nỗ lực của Việt Nam bị thất bại bởi các đơn vị nhỏ của Việt Nam thường đã cầm chân các lực lượng Trung Quốc lớn hơn nhiều. Trong trường hợp Cao Ba Lanh, các thành phần tấn công của QĐGPNDTQ đã thiếu các kỹ năng quân sự để chiếm đoạt mục tiêu của chúng, và hậu quả, đã thất bại như dự trù nhằm lôi kéo đến với chúng các lực lượng tăng viện của Việt Nam. Bị đánh bật lại nhiều lần, các chỉ huy Trung Quốc không biết gì khác hơn là nhờ cậy đến các cuộc tấn công ngày càng đông hơn, và các sự cổ vũ chính trị của các chính ủy và các đảng viên chỉ mang lại nhiều cuộc tấn kích “biển người” tai họa. Phía Trung Quốc đã thừa nhận rằng các cuộc tấn công của họ vào Quảng Ninh là một sự thất bại. Khi Bắc Kinh loan báo “đại chiến thăng’ của nó trên Việt Nam, nó có đề cập đến mọi thị trấn nơi mà các lực lượng của nó đã chiến đâu với sự thành công. Nhưng Trung Quốc không bao giờ nhắc đến bất kỳ thị trấn nào trong tỉnh Quảng Ninh(88).

_____
CHÚ THÍCH


79. Hãng Thông Tấn Akahata News Agency, “Các Sự Dàn Binh của CHNDTQ, 17-23 Tháng Hai”, trong FBIS Southeast Asia, March 2, 1979, trang K-14. Phía Trung Quốc đã thực hiện các cuộc tấn công cấp trung đoàn hay tiểu đoàn, và ba cuộc tấn công cấp sư đoàn.

80. Các mỏ than Cẩm Phả duyên hải của tỉnh Quảng Ninh, vào khoảng bẩy mươi cây số phía nam biên giới, sản xuất một tỷ lệ lớn than đá của Việt Nam và có thể được xem là một nguồn tài nguyên chiến lược. Các cuộc tấn công của Trung Quốc đã không đe dọa đến các mỏ, cũng như Trung Quốc đã không thực hiện các cuộc tấn kích bằng hải quân, không quân hay thủy quân lục chiến đánh vào các khu mỏ.

81. Tác giả King C. Chen, viện dẫn các nguồn tin Đài Loan, nói rằng các cuộc tấn công dọc theo biên giới tỉnh Quảng Ninh là công việc của Sư Đoàn 165 thuộc Quân Đoàn 55 (trong quyển China’s War with Vietnam, 1979, trang 106). Cả Harlan Jencks, trong nhiều bài nghiên cứu của ông về chiến dịch 1979, lẫn Li Man Kin đã không thảo luận về sự giao tranh trong khu vực này. Tôi không tin rằng Sư Đoàn 165 Trung Quốc chịu trách nhiệm cho các cuộc tấn công dọc theo biên giới tỉnh Quảng Ninh. Lịch sử các đơn vị Việt Nam và các báo cáo của cán bộ Trung Quốc đều đặt các Trung Đoàn 494 và 493 của Sư Đoàn 165 tại khu vực Lạng Sơn, loại trừ chúng ra khỏi sự giao chiến này. Không nguồn tin nào trong số kể trên nói rõ là liệu Trung Đoàn 495 của Sư Đoàn 165 có tham dự giao tranh tại Lạng Sơn hay không, như thế có thể rằng trung đoàn này đã thực hiện các cuộc tấn công vào các địa điểm biên giới Quảng Ninh; tuy nhiên cũng có thể rằng các lực lượng địa phương đảm trách việc này. Cũng khó khăn không kém để xác định các lực lượng Việt Nam trong khu vực, nhưng các lực lượng này có thể là các thành phần của các Sư Đoàn Bộ Binh 328 và 323. Vào ngày 9 Tháng Ba, 1979, Bộ Quốc Phòng Việt Nam đã thiết lập một tổng hành dinh để kiểm soát các hoạt động tại khu vực Quảng Ninh, và hai sư đoàn này được giao phó cho tổng hành dinh (Viện Quân Sử Việt Nam, 55 Năm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, các trang 405-6). Sự thành lập bộ phận này vào nhật kỳ chậm trễ này không nhất thiết có nghĩa rằng các đơn vị hợp thành của nó đã không hoạt động tại tỉnh Quảng Ninh trước khi quân đoàn được thành lập. Phía Việt Nam thường thành lập các quân đoàn của họ bằng cách tập hợp các đơn vị trong khu vực vào các đơn vị lớn hơn.

82. FBIS, Southeast Asia, 21 Tháng Hai, 1979, trang K-7.

83. FBIS, Southeast Asia, 27 Tháng Hai, 1979, trang K-10.

84. FBIS, Southeast Asia, 5 Tháng Ba, 1979, trang K-27. Không có ngọn đồi nào trong các đồi này xuất hiện trên bản đồ quân sự Việt Nam, tỷ lệ 1:250,000, của khu vực. Xem, Phòng Bản Đồ, Bộ Tổng Tham Mưu, QĐNDVN, “Mong Cai, NF-48-12”, Xếp Loại: “Mật”, 1990.

85. FBIS, Southeast Asia, 12 Tháng Ba, 1979, trang K-13.

86. Cao Ba Lanh [?] tọa lạc ngay phía đông thôn Dong vang [?]. Nó là một bộ phận của huyện Bình Liêu [?].

87. FBIS, Southeast Asia, 13 Tháng Ba, 1979, trang K-16.

88. FBIS, China, 19 Tháng Ba, 1979, trang E-1.

___

Nguồn: Edward C. O’Dowd, Chinese Military Strategy In The Third Indochina War, The Last Maoist War, Routledge: New York, 2007, Chapter 4: The 1979 Campaign, các trang 45-73; Chapter 5: The Battle of Lang Son, February – March 1979, các trang 74-88; Chapter 0: Conclusion: the legacy of an “incredible, shrinking war”, các trang 159-166.

Ngô Bắc dịch và phụ chú


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: CongDanTuDo trong 27 Tháng Sáu, 2013, 05:00:48 am
bài này mô tả những phút cuối cùng của bộ đội CSBV tại cổ thành Quảng Trị 1972  ;D


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: Quocngoaicu trong 27 Tháng Sáu, 2013, 08:55:53 am
bài này mô tả những phút cuối cùng của bộ đội CSBV tại cổ thành Quảng Trị 1972  ;D
Thưa bạn, có thể bạn quen dùng chữ bộ đội CSBV trong giao tiếp ở bên nước ngoài hoặc những chỗ khác ... chứ ở đây không chấp nhận chuyện đó theo nội qui của diễn đàn (điều số bao nhiêu thì bạn cứ đọc là biết).

Mặt khác trong bài báo bạn đăng không hề có chữ nào là Bộ đội CSBV nhé!  ;D


Tiêu đề: Re: Tài liệu nghiên cứu nước ngoài về chiến tranh Việt Nam sau WWII
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Sáu, 2013, 09:29:56 am
Đúng vậy, nên bạn CongDanTuDo đi nghỉ mát vài hôm nhé, khi đi nghỉ chịu khó xem kỹ Nội quy!


Tiêu đề: Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng mọi giá
Gửi bởi: fddinh trong 09 Tháng Tám, 2013, 12:03:05 am
'Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng mọi giá' là cuốn biên khảo về cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua tầm nhìn, tri nhận của nhà sử học Cecil B. Currey.

Giáo sư Cecil B. Currey từng giảng dạy lịch sử tại Đại học Nam Florida, Mỹ. Ông được đánh giá là một trong những sử gia xuất sắc về lịch sử chiến tranh và đã viết ba cuốn sách về Việt Nam. Cuốn “Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng mọi giá” ra đời sau chuyến thăm Việt Nam năm 1997, khi đó Cecil B. Currey đã được chính Đại tướng Võ Nguyễn Giáp tiếp tại nhà riêng.

Trích dẫn
Nửa thế kỷ qua rồi, ông Bùi Diễm không bao giờ quên đ­ược ph­ương pháp sư­ phạm của Giáp: 'Sự miêu tả chi tiết về sự tàn tạ của v­ương triều cũng như­ đồi bại của Marie Antoinette đã đư­a học trò đến một nhận định không chút nghi ngờ về số phận dành cho nền quân chủ Pháp. Như­ bị hút hồn về cuộc cách mạng Pháp và những nhân vật nổi bật của thời đó như Danton Robespierre, ông giáo sư­ họ Võ sôi nổi hào hứng kể lại những việc làm của Uỷ ban cứu quốc, của công xã Paris để trừng trị bọn phản cách mạng, bảo vệ lợi ích của quần chúng'. Ông Bùi Diễm nhớ lại: 'Giáp không phải chỉ là nhà sử học đơn thuần, ông còn là một trạng sư­ say mê, bênh vực chính nghĩa của lịch sử. Đi đi, lại lại một cách mạnh mẽ trong lớp, Giáp kể lại từng hành động cho thấy rõ chiến thuật và chiến lư­ợc của Napoléon'.
(http://l.f9.img.vnexpress.net/2013/07/29/tuong-Giap-1375094199_500x0.jpg) Bìa cuốn sách của Cecil B. Currey.

Tác giả dựa vào nhiều nguồn tư liệu của Việt Nam và của tình báo nước ngoài, qua tiếp xúc với nhiều cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội. Cuốn sách tái hiện cuộc đời một trong những nhà quân sự đặc biệt nhất của thế kỷ XX. Trong đó, Cecil B. Currey nhận định, mặc dù không hề qua trường lớp đào tạo về quân sự ngoài thực tiễn chiến trường và nghiên cứu sách vở, Võ Nguyên Giáp đã ghi những chiến công huy hoàng. Thắng lợi của Đại tướng không chỉ đơn thuần về mặt quân sự mà còn là những trận toàn thắng về chính trị. Tướng Giáp và người Việt Nam đã nhấn mạnh sự kết hợp đấu tranh giữa nông thôn và thành thị. Ông cũng là người xuất sắc ở khả năng động viên và tổ chức quần chúng.

Sách đã được dịch và xuất bản ở Anh, Trung Quốc, Brazil và một nhà xuất bản địa phương của Pháp. Đây được coi là cuốn biên khảo đầy đủ nhất của một tác giả nước ngoài về nhà lãnh đạo quân sự tài ba của Việt Nam.
“Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng mọi giá” do Nguyễn Văn Sự dịch, NXB Thế giới và Công ty Cổ phần Sách Thái Hà phối hợp ấn hành.

Trích đoạn “Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng mọi giá”
Trích dẫn
... Một ng­ười khác, tr­ước đây là học sinh của ông di cư­ vào Nam năm 1954 đã nói, ông nổi tiếng trong đám học sinh là diễn giảng rất giỏi về các đề tài lịch sử, đặc biệt là lịch sử quân sự. Nhiều học sinh cũ của ông nhớ về ông như­ một chiến binh cuồng tín, không mấy khi mỉm c­ười và không để ai thuyết phục được ông trong bất cứ lĩnh vực nào. Ngư­ời ta còn nói thêm Giáp có thể vẽ trên bảng đen đến cả chi tiết những trận đánh của Napoléon. Ông Bùi Diễm - cựu đại sứ của Ngô Đình Diệm tại Mỹ - thời đó là một cậu bé 13 tuổi, đ­ược hỏi về Giáp đã gợi lên hình ảnh một con ngư­ời bị quỷ thần ám ảnh về cách mạng và các trận chiến. Giáp lên lớp giảng về lịch sử nư­ớc Pháp những năm 89 giữa thế kỷ. Ngay từ đầu ông đã trình bày vấn đề theo cách riêng của ông. Ông đứng thẳng tr­ước lớp, nhìn thẳng vào đám học trò dõng dạc nói: 'Khá nhiều sách nói về lịch sử nước Pháp thời kỳ này rồi. Nếu muốn các em có thể tham khảo. Tôi sẽ chỉ nói với các em về hai chủ đề: cuộc cách mạng và Napoléon'.

Nửa thế kỷ qua rồi, ông Bùi Diễm không bao giờ quên đ­ược ph­ương pháp sư­ phạm của Giáp: 'Sự miêu tả chi tiết về sự tàn tạ của v­ương triều cũng như­ đồi bại của Marie Antoinette đã đư­a học trò đến một nhận định không chút nghi ngờ về số phận dành cho nền quân chủ Pháp. Như­ bị hút hồn về cuộc cách mạng Pháp và những nhân vật nổi bật của thời đó như Danton Robespierre, ông giáo sư­ họ Võ sôi nổi hào hứng kể lại những việc làm của Uỷ ban cứu quốc, của công xã Paris để trừng trị bọn phản cách mạng, bảo vệ lợi ích của quần chúng'. Ông Bùi Diễm nhớ lại: 'Giáp không phải chỉ là nhà sử học đơn thuần, ông còn là một trạng sư­ say mê, bênh vực chính nghĩa của lịch sử. Đi đi, lại lại một cách mạnh mẽ trong lớp, Giáp kể lại từng hành động cho thấy rõ chiến thuật và chiến lư­ợc của Napoléon'.

Từng trận đánh của Napoléon dẫn quân lính xông thẳng vào đội hình quân đội các nư­ớc châu Âu thời đó liên minh lại với nhau để mong đè bẹp cuộc cách mạng Pháp. Ngay cả những trận đụng độ nhỏ cũng được miêu tả chi tiết, Giáp ghi nhớ tất. Ông muốn học trò của ông hiểu tại sao một đội long kỵ binh (kỵ binh cận vệ của nhà vua) lại đ­ược bố trí ở vị trí chính xác như­ thế hay đội cận vệ của Napoléon đã nổ súng đúng lúc nh­ư thế nào để giành chiến thắng. Lớp học im phăng phắc, đám học trò thiếu niên đang ở tuổi hiếu động bị cuốn hút về những câu chuyện kể hết sức hấp dẫn như­ sống lại đến từng chi tiết võ công hiển hách của Napoléon. Giáp nói rằng ông giảng giải kỹ về các trận đánh của Napoléon đơn giản vì ông có trách nhiệm phải giảng về cách mạng Pháp. Vì vậy ông phải nghiên cứu kỹ chiến l­ược và chiến thuật của Napoléon.

Có một thời gian ngắn, ngư­ời ta hay giễu cợt cho ông cái biệt danh 'ông tư­ớng cầm quân', 'Napoléon' vì ông say s­ưa giảng về chủ đề quân sự trong cách mạng Pháp (56 năm sau, đư­ợc hỏi về các biệt danh đó, vị 't­ướng về hư­' đã lâu chỉ phá lên c­ười).

Theo lời đồn đại, dáng đi và cách nói của Giáp giống hệt Napoléon, nói những câu ngắn gọn, đầu hơi cúi, ngón tay cái thọc vào túi áo vét. Theo miêu tả của các bạn đồng nghiệp, ông là một con ng­ười có vẻ mặt điềm tĩnh, lạnh lùng như­ một ngư­ời chơi poker đang suy nghĩ nên hạ con bài nào, nh­ưng lại hay giận dữ giữa những phút im lặng như­ hòn đá. Ngư­ời ta kể lại, một hôm một giáo sư­ hỏi ông: 'Không chơi kiểu Napoléon à?'. Giáp trả lời : 'Mình sẽ là một Napoléon!'. Có thể ông đã nghĩ đến điều đó, vì khá lâu sau, trong những cuộc trả lời phỏng vấn ông hay có điệu bộ như­ hoàng đế Napoléon đang độc thoại tr­ước các nhà báo.
Song Ngư/vnexpress.net


Tiêu đề: LIÊN XÔ 1979: CHẶN BÀN TAY XÂM LƯỢC VIỆT NAM
Gửi bởi: fddinh trong 01 Tháng Bảy, 2014, 05:47:25 pm
(http://vanhoanghean.com.vn/media/k2/items/cache/5019343805896fd4256b4d3c274b3a10_L.jpg) Xe tăng Liên Xô tập trung ở biên giới Xô - Trung năm 1979

35 năm trước, Liên Xô đã biết cách tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng để “khôi phục hòa bình và công lý”, báo ‘Phòng thủ đường không và vũ trụ’ của Nga viết.

Đầu 1979, tại biên giới Trung quốc - Việt Nam hình thành mặt trận gồm 15 sư đoàn thê đội 1, 6 sư đoàn dã chiến quân thê đội 2, và 3 sư đoàn dự bị. Tổng quân số cụm quân được động viên để tham chiến chống Việt Nam lên tới 29 sư đoàn…
3h 30 ngày 17/2/1979 trên một số hướng, sau 30 -35 phút pháo hỏa chuẩn bị, quân Trung quốc đã đột nhập qua 20 đoạn biên giới Trung - Việt vào lãnh thổ Việt Nam.

… Kế hoạch (dùng xung đột quân sự) của ban lãnh đạo Bắc Kinh nhanh chóng đập tan sự kháng cự của quân đội Việt Nam và buộc Việt Nam phải từ bỏ đường lối đối ngoại không lệ thuộc vào Trung quốc, trước khi Liên Xô kịp can thiệp, đã bất thành. Ý đồ của Bắc Kinh đảo ngược tình hình ở Campuchia cũng không đạt được.

Diễn tập biểu dương lực lượng

Trong thời gian từ 12 đến 26/3/1979 kiên quyết tạo áp lực quân sự lên Trung quốc  (nước đang tiến hành cuộc xâm lược chống Việt Nam), theo chỉ thị của  BCH TƯ Liên Xô, các Quân khu biên giới phía Đông (các vùng đất tiếp giáp với Trung quốc của Liên Bang xô viết), tại lãnh thổ Mông Cổ, và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tiến hành các cuộc tập trận của Quân đội và Hải quân Liên Xô.

(http://vanhoanghean.com.vn/images/Khong%20quan%20Nga.jpg) Năm 1979, các trung đoàn tiêm kích từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia được điều động sang các sân bay Mông Cổ.

 Trong các cuộc diễn tập, tổng cộng đã có 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân tham gia, với tổng quân số lên tới hơn 200 ngàn sĩ quan và chiến sĩ, hơn 2 ngàn 600 xe tăng, gần 900 máy bay, 80 tàu chiến các loại.

Diễn tập bắt đầu bằng lệnh động viên, và chuyển các đơn vị quân đội và hải quân vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Đã động viên 52 ngàn quân nhân dự bị, huy động hơn 5 ngàn xe máy của nông nghiệp sang phục vụ yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.

Các cuộc diễn tập quy mô lớn nhất diễn ra trên lãnh thổ Mông Cổ, huy động tới 6 sư đoàn bộ binh cơ giới và sư đoàn tăng, trong đó có 3 sư đoàn được điều động tới Mông Cổ từ Sibir và Zabaikal. Trong khuôn khổ cuộc diễn tập này còn góp mặt gần ba sư đoàn không quân, hai lữ đoàn độc lập và một số liên binh đoàn và đơn vị tăng cường.

Cùng kỳ, tại các cuộc diễn tập ở Viễn Đông và Đông Kazakhstan (có đường biên giới với Trung quốc), ngoài các đơn vị cấp sư đoàn trở lên bộ đội hiệp đồng binh chủng, còn có các đơn vị bộ đội biên phòng Liên Xô tham gia.
Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.

Trong tiến trình các cuộc diễn tập đã thực hiện các hoạt động phối hợp hỏa lực của các binh quân chủng. Cuộc hành binh từ Sibir sang Mông Cổ được thực hiện với các quy mô đội hình khác nhau, đội hình đơn vị từ cấp sư đoàn trở lên, và từ cấp trung đoàn trở xuống cấp phân đội. Đã thực hành tập kết đội hình đến cả bằng đường sắt, cả bằng đổ bộ đường không.
Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.

Từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia, các trung đoàn không quân chiến đấu đã sang triển khai lực lượng tại các sân bay của Mông Cổ.

Đồng thời với các cuộc diễn tập, đã điều động các trung đoàn không quân ra phía đông (phía khu vực tiếp giáp hai lục địa Á – Âu) không chỉ từ các quân khu lân cận, mà cả từ vùng Prikarpatia, nằm cách xa các quân khu của Liên Xô có biên giới với Trung quốc tới 7000 km, chỉ nội trong hai đêm.
(http://www.vko.ru/sites/default/files/images/pictures/archive/0606/18-01.jpg)
Đơn cử, chỉ trong hai đêm đã di chuyển từ Tula toàn sư đoàn không vận từ Tula đến tập kết tại Chita (Chỉ huy sở Quân khu Sibir) qua khoảng cách tới 5,5 ngàn km, chỉ bằng một chuyến bay.

Các cuộc chuyển quân trên của không quân xô viết không chỉ liên quan đến đội hình chiến đấu cấp trung đoàn, với các phi công được huấn luyện tốt nhất, mà là cuộc di chuyển của toàn trung đoàn, kể cả các đơn vị và phân đội bảo dưỡng kỹ thuật trên không và mặt đất. 5 quân khu đã tham gia tiếp dầu cho cuộc diễn tập này.
(http://www.vko.ru/sites/default/files/images/pictures/archive/0606/19-01.jpg)
Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian trong không trung có tới mười trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5000 giờ, đã sử dụng tới 1000 trái bom và tên lửa (trong diễn tập bắn đạn thật).

Tại biển Đông, và biển Hoa Đông gần 50 chiến hạm của Hạm đội Thái Bình dương, trong số đó có 6 tàu ngầm đã trực chiến sẵn sàng chiến đấu, và tiến hành tập trận đánh tiêu diệt hải quân đối phương. Tại vùng Primorie (ven biển Viễn Đông) đã thực hiện các cuộc đổ bộ của thủy quân lục chiến Liên xô.

Trợ chiến

Không quân xô viết còn cử các đơn vị của mình sang công tác tại Việt Nam để giải quyết vấn để trinh sát đường không chống quân xâm lược trên lãnh thổ Việt Nam. Các đơn vị thuộc không quân vận tải Liên Xô (các phi đội AN – 12, AN – 26, MI – 8…) làm nhiệm vụ vận chuyển đường không trong lãnh thổ Việt Nam.

Rất có kết quả, và có thể nói là khó hình dung nổi với thực lực trang bị lúc đó của Không quân chiến thuật Liên Xô (ý nói còn hạn chế), đã vận hành Cầu hàng không giữa Liên Xô và Việt Nam. Trong khuôn khổ diễn tập tại Liên Xô và chuyên chở vũ khí, trang thiết bị cho Việt Nam, đã vận chuyển tổng cộng 20 ngàn quân, hơn 1000 đơn vị trang bị xe máy, 20 máy bay và trực thăng, 3 ngàn tấn quân dụng, đạn dược.

Viện trợ

Riêng về mặt quân sự, viện trợ cho Việt Nam là một nhiệm vụ trọng đại, nhằm mục tiêu gia tốc gấp tiềm lực quân sự cho Việt Nam, nhờ các cuộc chuyển giao khẩn trương thiết bị và vũ khí. Chỉ trong giai đoạn từ khi cuộc xung đột bắt đầu (giữa tháng 2) đến cuối tháng ba, bằng đường thủy đã đưa sang Việt Nam được hơn 400 xe tăng và xe bọc thép, xe chở quân; 400 cỗ pháo và súng phóng lựu, 50 dàn phóng đạn phản lực 40 nòng, cỡ 122 mm “Grad”, hơn 100 cỗ pháo cao xạ, 400 đồng bộ cao xạ di động cùng hàng ngàn tên lửa đi theo, 800 súng chống tăng của bộ binh, 20 máy bay tiêm kích. Dù việc chuyển giao là gấp rút, các vũ khí và trang bị này đã qua thẩm định về chất lượng sẵn sàng chiến đấu bởi một ủy ban gồm các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm sử dụng các trang bị này của quân đội xô viết.

Đòn cân não

Thái độ kiên quyết ủng hộ Việt Nam của Liên Xô; phản ứng của công luận thế giới; kháng cự kiên cường của quân đội Việt Nam buộc địch phải chịu tổn thất to lớn; tổ hợp hành động quân sự - chính trị của Liên Xô được thực hiện dưới dạng bước chuẩn bị cho hành động tiến quân vào lãnh thổ Trung quốc; mâu thuẫn trong giới cẩm quyền Trung quốc, các khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo và trong tác chiến của quân Trung quốc… đã đem lại kết quả mong đợi, bài báo kết luận. 5/3/1979 Bắc Kinh đã phải ra quyết định rút quân, và 20/3/1979 phải thực hiện rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhưng quân Trung quốc vẫn ngoan cố đóng tại một số phần đất (sâu 1km vào lãnh thổ và rộng 2 km), mà trước đó Trung quốc gán ghép là “đất tranh chấp” , ở vùng biên giới hai nước, bài báo nhấn mạnh.
Bài báo cũng chỉ ra Liên Xô đã chơi rắn đến cùng như vậy, vì Trung quốc xâm lược vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam khơi dậy nguy cơ chiến tranh lớn trên “hai mặt trận” (tức là gây chiến với Nga), do vừa ký kết Hiệp định hợp tác toàn diện Việt – Xô.

Phương châm trong chiến tranh “Phòng ngự tốt nhất là tiến công”, cũng được áp dụng trong còn điều kiện Liên Xô còn hòa bình, nhưng thế lực bành trướng, bá quyền trong khu vực đang tìm cách khơi lò lửa chiến tranh.

Nhìn lại, tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên thủ trưởng kỳ cựu của ngành đối ngoại quân sự vào năm 2009 chia sẻ, ông vẫn vô cùng ấn tượng về cách Liên Xô đã chọn đầu 1979, bằng ý chí và hành động, cảnh báo “không được đụng đến Việt Nam”.
Năm 1979, Liên Xô đã tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng, kiên quyết khôi phục hòa bình và công lý, không để địch thủ mơ tưởng “được đằng chân lân đằng đầu”.  
                                                                            
LÊ ĐỖ HUY (LƯỢC THUẬT)
Địa chỉ bài viết tiếng Nga
 http://www.vko.ru/strategiya/naglyadnaya-demonstraciya-voennoy-moshchi
 
 http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nhin-ra-the-gioi41/lien-xo-1979-chan-ban-tay-xam-luoc-viet-nam

Khoằm thêm ảnh.