Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: thapbut trong 27 Tháng Ba, 2010, 11:34:16 pm



Tiêu đề: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 27 Tháng Ba, 2010, 11:34:16 pm
http://hanoi.org.vn/planning/archives/81

Phong thuỷ và linh khí Thăng Long

Ngày xuân nói chuyện linh khí, phong thuỷ quốc gia để thêm hiểu, thêm yêu kinh thành 1.000 năm tuổi, với khí thế “rồng bay lên” mang lại thịnh vượng cho hơn 86 triệu dân Việt Nam…

Đường kinh mạch linh thiêng

Ở phương diện hẹp, phong thuỷ hài hoà, gia đình mới hạnh phúc. Nhìn rộng hơn, phong thuỷ quốc gia hanh thông, đất nước mới thịnh vượng. Chẳng phải ngẫu nhiên mà 1.000 năm trước, vua Lý Thái Tổ đã chọn thế “rồng cuộn, hổ chầu” của Thăng Long để ngày nay tiếng thơm ngàn năm. Nói vậy để nhớ lại rằng, từ xưa các cụ coi linh khí, long mạch đối với sự phát triển của đất nước là điều tối quan trọng.

Từ đỉnh Everest trên dãy Hymalaya cao 8.880 m so với mặt biển, có đường kinh mạch linh thiêng trông giống hình con Rồng lớn, đi từ nóc nhà thế giới là cao nguyên Tây Tạng dọc theo biên giới Ấn Độ, xéo qua cao nguyên Vân Nam, đến đỉnh Panxipang cao 3.143 m của dãy Hoàng Liên Sơn tỉnh Lao Cai, rồi toả ra trên Đồng bằng Bắc Bộ nước ta và chui xuống biển sâu ở Vịnh Hạ Long, cuối cùng đường kinh mạch kết thúc ở Vịnh Mindanao – Philippines ở đáy Đại dương sâu 10.800 m.

Đây là “con Rồng” lớn nhất thế giới. Những nhà nghiên cứu phong thuỷ đã phát hiện ra đường kinh mạch này và cho rằng, đây là đường kinh mạch quan trọng quyết định vận mệnh của quốc gia.

Thăng Long – tâm điểm của Đồng bằng Bắc Bộ và cả nước

Trên sơ đồ NÚI CHẦU SÔNG TỤ mà nhà nghiên cứu phong thuỷ Ngô Nguyên Phi đã mô tả, thì 8 dãy núi vòng cung xoáy theo hình rẻ quạt đi lần lượt từ dãy Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm theo hướng Đông Bắc Tây Nam, đến dãy Sông Đà và Ninh Bình từ phía Tây Nam hất ngược lên, cuối cùng là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Tam Đảo đi từ chính Bắc xuống… Tám dãy núi vòng cung quy tụ ở tâm điểm Thăng Long. Kèm theo hướng núi là hướng các con sông cũng đồng quy về trung tâm Thăng Long, đúng như 2 câu thơ vịnh của thầy Tả Ao:

“Thiên sơn vạn Thuỷ triều lai
Can Chi bát quái trong ngoài tôn nghinh”

Đó chính là thế quý hiểm độc nhất vô nhị của nước ta.



Trên bản đồ địa hình, trong thế đồng quy của 8 dãy núi xoáy lại, không rõ từ mạch ngầm nào mà ngọn núi Ba Vì sừng sững “mọc lên”, như thể tạo hoá đã cố công dụng nạp linh khí của “bốn phương tám hướng” về đây.

Đỉnh núi chỉ cao 1.226 m, nhưng là đỉnh cao nhất của khu vực Thăng Long, là nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh với bao nhiêu câu chuyện truyền thuyết, như chuyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh thời Hùng Vương; chuyện từng đoàn quạ đen sà xuống bên Hồ Tây uy hiếp giấc ngủ của Mã Viện, sau khi ông tướng già đó truy đuổi hai bà Trưng Trắc Trưng Nhị, khiến hai bà phải nhảy xuống sông tự vẫn ở thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên; đến câu chuyện thầy phong thuỷ Cao Biền bị Tản Viên Sơn Thánh phạt khi ông phù thuỷ này định dùng tà thuật để đùa giỡn với Thánh Nhân Đất Việt vào cuối thế kỷ thứ 9.

Hồ Tây – yếu huyệt của Thăng Long

Lịch sử 1.200 năm trước, khi quan đô hộ sứ kiêm thầy phong thuỷ Cao Biền phát hiện ra linh khí của vùng đất quý hiển này, nên quyết tâm xây dựng Thành Đại La có 30 km bờ đê bao quanh, để lập ra một Vương quốc cho riêng mình, thì ông ta đã chọn Hồ Tây là “Não Thuỷ”, tức là nơi “Hào kiệt thời nào cũng có”.

Sông Hồng, Sông Tô đối với yếu huyệt Hồ Tây cũng có mối liên hệ mật thiết, là Long Mạch chủ của yếu huyệt. Câu chuyện Tản Viên Sơn luôn luôn gắn liền với hiện tượng các dòng sông sau khi chúng “gặp nhau” ở Việt Trì và thực sự “hội tụ” ở Thăng Long, khi sông Hồng mở ra rất rộng, rồi nối với sông Đuống, sông Cầu ở bên Tả ngạn và rất nhiều sông con ở bên Hữu ngạn, tất cả đều liên thông với Hồ Tây qua Long mạch chủ là sông Tô Lịch.

Dân ta không bao giờ quên những câu thơ trữ tình nói về sông Tô:

“Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Ngập ngừng muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu”

Việc sông Tô Lịch bị lấp, xây nên các phố Chợ Gạo, Ngõ Gạch, Hàng Buồm, Hàng Lược, Quán Thánh, Phan Đình Phùng, Thuỵ Khuê, Hồ Khẩu, Chợ Bưởi… cắt đứt quan hệ với Hồ Tây và ngã ba tam hợp với sông Thiên Phù và sông Nhuệ thông với sông Hồng, đã tạo ra một dòng sông chết, khiến Sông Tô trong xanh ngày xưa thành nơi đổ nước thải.


Thăng Long – lịch sử và truyền thống

Chúng ta đang bước vào năm thứ 1.000 của Thăng Long – Hà Nội, nhưng muốn nói đến sự linh thiêng và huyền bí của vùng đất này, phải đi ngược lại 500 năm, trở lại thời Tiền Lý với cuộc khởi nghĩa của Lý Bí lập nên nước Vạn Xuân và nhân vật khai quốc công thần là Phạm Tu – Lý Phục Man. Cho đến khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, đã di đô về lại Đại La và lấy tên là Thăng Long thì đất nước mới thật thịnh trị thái bình.

Như vậy, Kinh đô Thăng Long xưa đã hình thành và phát triển trên khung cốt của Đại La thành, trong đó dòng sông Tô Lịch là Long mạch chủ và Hồ Tây là Đại Minh Đường hình bán nguyệt. Đây chính là hồn cốt của Thăng Long cần thiết phải được khôi phục.

Quãng sông Tô từ phường Hà Khẩu xưa, nay là phố Chợ Gạo đến Làng Hồ Khẩu và Chợ Bưởi, tổng cộng chiều dài 15 km, đã bị lấp ngót 200 năm, thì không thể khôi phục được nữa. Nhưng chúng ta có điều kiện khôi phục trọn vẹn vùng đất một thời rất thịnh vượng là vùng Chợ Bưởi – Nghĩa Đô đến Xuân La – Xuân Đỉnh.

Phương án hiện thực là nối lại các dòng sông, trong đó dấu tích sông Thiên Phù gần như đã mất hết, nhưng những làng xóm và cánh đồng đi từ cống Liên Mạc qua sông Nhuệ theo hướng Tây Bắc Đông Nam thì vẫn còn nguyên vẹn, giúp ta khai thông lại một hệ thống kênh đào phục vụ du lịch như một Venice của nước Ý ngay phía Tây Hồ Tây. Đặc biệt, khu vực phường Nghĩa Đô đến Xuân La cần được nhìn nhận là một nơi yếu huyệt của Thủ đô hiện nay để được thiết kế quy hoạch lại…

KTS cảnh quan Trần Thanh Vân



Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 22 Tháng Tư, 2010, 12:45:48 pm
Phong thủy trong quy hoạch Thủ đô: Thăng Long hay "Ẩn Long"?
Tác giả: KTS Trần Thanh Vân
Bài đã được xuất bản.: 22/04/2010 06:00 GMT+7

Đỉnh Ba Vì là nơi tỏa khí thì chân Ba Vì không thể là nơi thụ khí. Đó là "góc chết" của vòng tròn vận khí. Đặt Trung tâm hành chính Quốc gia ở chân núi Ba Vì là ta xây một "Ẩn Long", không còn là một Thăng Long nữa.

Cách đây không lâu, ngày 15/12/2009, lần đầu tiên tại Hà Nội, Hội thảo "Tính khoa học của phong thủy trong kiến trúc và xây dựng" do Trung tâm Lý học Đông phương thuộc Trung ương Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á tổ chức đã diễn ra sôi động; thu được kết quả rất đáng ghi nhận.

Muốn hạnh phúc ấm êm

Lần đầu tiên trước đông đảo người nghe, các chuyên gia đã phân tích mối quan hệ tương tác giữa con người với thiên nhiên, nêu rõ để có một cuộc sống gia đình hạnh phúc êm ấm, thì gia chủ phải biết chọn hướng nhà, mở ngõ, trổ cửa, phải biết đón ngọn gió lành, hứng dòng nước trong...

Cũng như xây dựng một đô thị, một vùng dân cư, các nhà quy hoạch phải biết xác định các địa điểm công năng hợp với thiên nhiên, khí hậu, địa hình địa chất và thủy văn, đảm bảo cho đô thị phát triển bền vững và trường tồn. Hội thảo đã được chuẩn bị công phu, tuy chưa bàn hết mọi điều cần thiết nhất, nhưng đã giúp ta hiểu về cấu trúc phong thủy tựa Núi nhìn Sôngvà Rồng cuộn Hổ chầu, một cơ sở khoa học mà Đức Lý Thái Tổ đã viết ra trong bản Thiên Đô Chiếu 1000 năm trước.

Sau 1000 năm, Thủ đô Hà Nội đã có rất nhiều thay đổi, ảnh hưởng không nhỏ tới cấu trúc phong thủy, trong đó thay đổi lớn nhất là là dân số đã phát triển lên gấp trên 10 lần năm 1010. Đất chật người đông là một vấn nạn rất lớn khiến chúng ta phải chật vật xoay xở khéo ăn thì no, khéo co thì ấm.

Thay đổi tiếp theo là hệ thống đê điều dài 1600 km đã ngăn sông Hồng đưa phù sa bồi đắp làm mầu mỡ đồng bằng Bắc Bộ sau mỗi mùa nước lên, khiến cho vựa lúa sông Hồng ngày nay trở nên nghèo kiệt, sụt lún, đáy con sông  mỗi năm một nâng cao, nên mùa mưa thì nước lũ như sắp tràn mặt đê và luôn luôn đe dọa vỡ đê, còn mùa khô thì dòng sông bị cạn kiệt, trơ đáy, nạn hạn hán đe dọa mùa màng, đời sống dân cư hàng ngày.

Phong là gió, thủy là nước. Dòng nước trong và ngọn gió lành là hai yếu tố thiên nhiên quan trọng mà con người muốn sống tốt, muốn phát triển tốt phải biết tôn trọng và gìn giữ. Đó là chưa nói đến vấn nạn lớn nhất mà cả nhân loại đang bị uy hiếp là biến đổi khí hậu sẽ đưa đến những tai họa đột ngột ngoài sự dự báo thông thường của con người như động đất, núi lửa,  sóng thần, lũ quét, mưa bụi mang khí độc hại dẫn tới hủy diệt...

Thủ đô hôm nay đã mở rộng tới 3344 km2 là một thuận lợi rất lớn và cũng đặt ra nhiều thử thách mà các nhà quy hoạch phải biết vận dụng sự hiểu biết rất tổng hợp để hoạch định bức tranh đô thị trong tương lai.

Thụ khí và tỏa khí

Năm 2000, Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương (1927-2003) đã hoàn thành công trình nghiên cứu đồ sộ dùng khoa học hiện đại phương Tây là Toán học và Vật lý lý thuyết, để lý giải triết học cổ Đông phương, trong đó ông đặc biệt coi trọng cơ sở Kinh dịch cổ và Lý thuyết Tập mờ của nhà toán học người Mỹ L.A.Zadeh mới xuất hiện năm 1965.

GS Hoàng Phương cũng là một tín đồ trung thành với lý thuyết tương đối của Albert Einstein. Một trong những đóng góp lớn của GS là ông đã dùng lý thuyết Y học Đông phương để "giải phẫu" một cơ thể người, khẳng định con người là một vũ trụ thu nhỏ. Trên cơ sở đó, ông lý giải một quốc gia, hay một đô thị, cũng giống như một cơ thể người. Cơ thể đó cần có một cái đầu chứa bộ não thông minh, một bộ khung xương vững vàng, các khớp xương linh hoạt, một hệ tuần hoàn lưu thông máu để nuôi mọi bộ phận trên cơ thể.

Trong suốt 700 năm của ba triều đại Lý, Trần, Lê, dân số rất ít nên Thăng Long gần như không thay đổi. Hoàng thành nhỏ hẹp ở phía Nam Hồ Tây, quân lính bảo vệ kinh thành đồn trú ở phường Nhật Chiêu phía Bắc Hồ Tây, án ngữ toàn bộ sông Hồng và ngã sông Đuống.

Nằm giữa hai bộ phận trên là "não thủy" Hồ Tây. Nơi đó cách đỉnh Ba Vì 26 km theo đường chim bay. Nếu đỉnh Ba Vì là nơi "tỏa khi", thì vùng này là nợi "thụ khí". Hồ Tây là nơi tạo nên niềm kiêu hãnh của văn hóa Thăng Long, nơi có huyệt đạo quốc gia, nơi lui tới của anh hùng hào kiệt, nơi tập trung các phường hội thủ công buôn bán.

Đặc biệt góc Tây Nam là Bến Hồng Tân (Chợ Bưởi ngày nay ) là Ngã ba Tam hợp, nơi sông Tô Lịch gặp sông Thiên Phù nối với Hồ Tây qua phường Hồ Khẩu, có thuyền buôn trong nước ngoài nước ra vào tấp nập. Các làng quanh Hồ Tây xưa đều được gọi là "phường" và sông Thiên Phù (Trời giúp) làng Bái Ân và Đình, Chùa Bái Ân (nơi Vua tôi xưa đến làm lễ tạ ơn trời đất)

Từ đầu thế kỷ 19, Kinh đô chuyển vào Huế, thành phố Hà Nội đô thị hành chính phục vụ Chính quyền bảo hộ xuất hiện. Sông Tô Lịch bị lấp, Ngã ba Tam hợp bị xóa, Trung tâm thương mại chuyển sang phía Đông Nam thành phố. Hồ Lục Thủy, nơi thủy binh tập trận thời Lê Trịnh trở thành Hồ Hoàn Kiếm, còn Hồ Tây và các phường hội quanh hồ trở thành làng xã của huyện ngoại thành Từ Liêm. Quy hoạch cũ của người Pháp có lúc vẽ Hồ Tây là một "Đại công viên", nhưng có lẽ vì thiếu ngân sách, ý tưởng đó mới chỉ dừng lại trên bản vẽ.

Từ khi Hà Nội là Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ công hòa (năm 1945) cho đến nay, Hà Nội xinh đẹp khi xưa bị phá nát từng ngày. Hà Nội - "thành phố trong sông" ngày càng chật chội, tù túng. Người Hà Nội sống khép mình, không dám nghĩ, không dám làm và không sao thoát ra khỏi tâm lý tự ty, mặc cảm. Từ ngày Quốc hội thông qua nghị quyết mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, các nhà quy hoạch, các nhà chiến lược bị ngợp trước cánh cửa đã mở rộng và không ý thức được bước đi của mình phải từ đâu đến đâu?

"Ẩn Long" hay Thăng Long?

Qua bốn lần báo cáo, bản vẽ ngày càng nhiều, thuyết minh ngày càng dài, Video clip hiện lên một đô thị lõi và 5 đô thị vệ tinh lộng lẫy rực rỡ ánh đèn, ở đâu cũng thấy nhà cao tầng, ở đâu cũng có đường giao thông trên cao bay lượn như những con Rồng khổng lồ. Xem xong, đọc xong những sản phẩm đó, người có ý thức không thể không đặt ra câu hỏi:

1- Hoàng thành Hà Nội ở đâu? Hoàng thành là nơi Vua ở, là bộ mặt của đất nước, là nơi phát ra "Lệnh Trời". Ngày nay không có Vua nhưng vẫn có những người cầm đầu đất nước. Ta gọi đó là trung tâm chính trị hay trung tâm hành chính quốc gia đều được. Nhưng phải là nơi thể hiện bộ mặt của Thủ đô, nơi linh thiêng, ổn định, trường tồn. Để đảm bảo vị thế của dân tộc với bên ngoài, lòng tin của nhân dân và biểu tượng trường tồn của đất nước, Thủ đô của quốc gia nào cũng cần phải có Hoàng thành xứng đáng.

Năm 1945 đến nay, Hoàng thành ở tạm tòa nhà Phủ toàn quyền Đông Dương và các nhà phụ kế bên. Đã đến lúc dứt khoát Thủ đô ta phải có một Hoàng thành hoàn chỉnh, thể hiện rõ tư thế, bộ mặt của đất nước.

Không thể tiếp tục tình trạng trước kia ở trong phố cũ là tạm, nay đưa một phần ra Mỹ Đình cũng tạm, để tương lai rất xa sau này sẽ chui vào chân núi Ba Vì? Đỉnh Ba Vì là nơi tỏa khí thì chân Ba Vì không thể là nơi thụ khí. Đó là "góc chết" của vòng tròn vận khí, đặt Trung tâm hành chính Quốc gia ở chân núi Ba Vì là ta xây một "Ẩn Long" không còn là một Thăng Long nữa.

Theo các chuyên gia về phong thủy kiến trúc, chọn đất xây dựng Hoàng thành cần xem xét một trong 2 khả năng:

- Chọn nơi thụ khí linh thiêng nhất là Tây Hồ Tây. Hồ Tây hiện nay chỉ còn Tây Hồ Tây thuộc phường Xuân La, nhưng Hà Nội đã duyệt chỗ đó cho khu đô thị mới 210 ha gồm trung tâm thương mại, tài chính, khách sạn, biệt thư do Hàn Quốc đầu tư. Đó là nơi duy nhất còn lại của "não thủy". Bởi vậy dù ai là chủ đầu tư cũng không bao giờ được biến nơi đây thành nơi buôn bán lừa lọc để kiếm lợi. Hơn nữa, về quy hoạch không nên là bàn cờ ô vuông như đã duyệt. Đất nước sẽ thịnh hay suy chính là việc nhìn nhận cho đúng vùng đất này.

- Chọn nơi ổn định địa tầng không bị sụt lún, đảm bảo trường tồn vĩnh cửu là vùng huyện Quốc Oai, bên bờ sông Đáy. Muốn vùng này có khả năng "thụ khí" tốt, dứt khoát phải cải tạo đập Phùng và khơi lại sông Đáy để đưa được nước sông Hồng vào sông Đáy và làm mát vùng đất này.

2 -Trục Thăng Long đi từ đâu đến đâu? Theo sơ đồ PPJ đưa ra thì Trục Thăng Long đi qua Phủ Tây Hồ, tức là trên đường 21 độ Vĩ Bắc, 3' cộng trừ 30''. Nhưng báo cáo lần 4 nói nhiều tới Trục Thăng Long kéo dài đường Hoàng Quốc Việt tới chân núi Ba Vì. Trục này sẽ có giao thông bộ, giao thông ngầm, giao thông trên cao và rất nhiều nội dung phong phú khác.

Dư luận đang xôn xao muốn biết đề xuất này xuất phát từ nhu cầu nào? Lưu lượng giao thông sẽ là bao nhiêu? Trục Thăng Long nối Ba Vì với trung tâm thành phố, vậy "trung tâm" sẽ là dốc Chợ Bưởi hay còn đi tiếp đến làng Yên Thái? Phải chăng ý đề xuất trên còn quá sơ sài và khiên cưỡng, nhưng lại được dự định bắt đầu khởi công từ năm 2011.

Đề xuất này có thể sẽ biến con đường rất tốn kém này thành "con đường chết" vì sẽ không ai có nhu cầu đi 30 km từ Ba Vì đến mua một bó hoa ở Chợ Bưởi và nhìn sông Tô Lịch bị chặt cụt ở đầu đường Hoàng Quốc Việt một lát rồi quay về.

Nếu các tác giả muốn có một đề xuất hoàn chỉnh nối sông Tô Lịch, sông Nhuệ với Hồ Tây, tái tạo một ngã ba Tam hợp đô hội sầm uất như khi xưa thì phải có một phương án nghiên cứu tổng hợp và khái quát sơ bộ. Còn hiện nay, bỗng dưng chúng ta bàn đến việc năm 2011 khởi công Trục Thăng Long để nối văn hóa Thăng Long với văn hóa Xứ Đoài, nghe ra hơi hấp tấp và khập khiễng.

Dư luận cũng cho rằng nếu các tác giả đồ án muốn coi đây là một "Trục tâm linh" thì cần xem xét lại, vì "Trục tâm linh" là trục không gian được nối bằng đường đi xoáy trôn ốc và phải dịch lên hướng Bắc 1 km nữa, vì đó mới là Đại Minh Đường. Khi nói đến tâm linh, người ta kiêng một đường thẳng tắp đi đến một địa điểm giống như một mũi tên xuyên thẳng vào tim, mà cần phải tạo nên đường chéo, đường xoáy trôn ốc hoặc dùng biện pháp "yếm cảnh" (trốn) và "chướng cảnh" (che chắn)

3-Bảo tồn đô thị lõi. Đô thị lõi của Hà Nội nên hiểu gồm 2 khu vực: Khu vực bên trong vành đai 1 là khu Hà Nội cũ của người Pháp để lại và khu vực mở rộng ra tới đường vành đai 3 là khu mới hình thành 30 năm qua.

Khu vực bên trong vành đai 1 sẽ "bảo tồn" ra sao nếu Hà Nội vẫn tiếp tục cho xóa kiến trúc thấp tầng để xây dựng trung tâm thương mại và khách sạn cao tầng? Để thu hút ngày càng nhiều người đến chen chúc kinh doanh buôn bán? Để diện mạo Hà Nội không ngừng thay đổi, càng thêm tắc nghẽn giao thông, càng thêm ngột ngạt? Hơn nữa, để hiểu đúng nghĩa "bảo tồn" thì không chỉ cần bảo tồn công trình kiến trúc mà còn rất cần bảo tồn giá trị văn hóa, bảo tồn "thần thái" của Hà Nội thanh lịch.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 25 Tháng Tư, 2010, 12:03:13 am
Lần trước TB lấy tiêu đề "Phong thủy và hạo khí Thăng Long", hôm nay mới thấy có bác nào sửa "hào khí". Nhưng HẠO mới đúng tầm: vì nó to nặng chứa cả hào khí trong đó.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 25 Tháng Tư, 2010, 12:08:38 am
Vào đền Bạch Mã thấy có nơi thờ "Xích Long thần". Nay có bài về sông Hồng
http://www.vtc.vn/394-241469/phong-su-kham-pha/dep-sung-sot-hinh-anh-song-hong-chup-tu-vu-tru.htm
có lẽ Xích Long cũng là thần của sông Hồng?


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: meolangthang trong 28 Tháng Tám, 2010, 02:03:14 am
Bác quản trị ơi,cung cấp cho bọn em tấm bản đồ chú thích các ngọn núi tạo nên thế rồng cuộn nhá!!!


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: ChimViet trong 29 Tháng Tám, 2010, 06:23:54 pm
Bác Tháp bút có đề tài hay quá, nhưng hơi cao siêu.
Mình rất quan tâm nhưng cũng chỉ là dân hóng chuyện, nhưng cứ nói vì cũng chẳng chết ai.
Tiếc là hiện nay chưa có chủ trương chính thống để nghe các nhà Phong thuỷ khi quy hoạch. Mà nhà nước cũng không có chức danh "Nhà phong thuỷ". Giá mà cụ Tả Ao sống lại thì khỏi phải bàn.
Nếu nói về Đường khí lớn từ Himalaya thì có nên xem xét hình chữ S của Việt Nam như một đồ hình bát quái hay không? Nếu có thì việc dòng Mêkông cạn dần sẽ làm Biển hồ cạn đi, ảnh hưởng đến cái "Âm trong dương", chưa kể phía Nam có thể cụt mất đuôi chữ S...
Hà Nội trước đây "trên bến dưới thuyền". Chưa cần xét phong thủy gì nhưng sông hồ bị lấp, nay Tô Lịch như "cống trong nhà", sao mà tốt được. Muốn đưa nước sông Hồng hay Đà vào làm sạch thì chỉ có ông nhà nước mới làm được. (Cũng có người có ý tưởng đấy nhưng chẳng ai nghe).
Còn chuyện Trấn Yểm thì lại quy ra việc Tâm linh, Thầy nào cao tay hơn. Khó quá. Bác Thanh Vân nói đến Hồ Tây thì ai cũng nhớ  lại việc đoàn Văn công "Tề tề cáp nhĩ" bị lốc lật thuyền ngày xưa. Rồi chuyện Thầy Thích Viên Thành gần đây ở Bưởi.
Còn chuyện định lấy Trung tâm Thủ đô ở Ba Vì (nay bỏ rồi), thì thực chất là "dời đô". Mà người ta bàn như xê dịch ngôi nhà ấy. Trước đây còn có vụ định "dời đô" lên Xuân Hòa nữa. Chắc các cụ Tiền nhân linh thiêng nên chẳng ai dời được.
Cá nhân tôi, qua những trải nghiệm cá nhân, vẫn tin vào bàn tay của thế giới Vô hình, thông qua các Nhà chức trách và các Thầy Phong thủy hiện hành. "Hồn thiêng sông núi" vẫn đang tác động vào các việc lớn như vậy.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: meolangthang trong 29 Tháng Tám, 2010, 07:06:06 pm
Vậy Hoàng Thành THĂNG LONG nằm ở vị trí như thế nào so với góc nhìn phong thủy của các cụ ngày xưa,???và trung tâm hành chính theo các bác nên đặt ở đâu mới là thịnh vượng cho nước ta???xin các bác giúp em mở mang tầm hiểu biết!!!


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 30 Tháng Tám, 2010, 10:04:18 am
Bác Tháp bút có đề tài hay quá, nhưng hơi cao siêu.
Mình rất quan tâm nhưng cũng chỉ là dân hóng chuyện, nhưng cứ nói vì cũng chẳng chết ai.
Tiếc là hiện nay chưa có chủ trương chính thống để nghe các nhà Phong thuỷ khi quy hoạch. Mà nhà nước cũng không có chức danh "Nhà phong thuỷ". Giá mà cụ Tả Ao sống lại thì khỏi phải bàn.
Nếu nói về Đường khí lớn từ Himalaya thì có nên xem xét hình chữ S của Việt Nam như một đồ hình bát quái hay không? Nếu có thì việc dòng Mêkông cạn dần sẽ làm Biển hồ cạn đi, ảnh hưởng đến cái "Âm trong dương", chưa kể phía Nam có thể cụt mất đuôi chữ S...
Hà Nội trước đây "trên bến dưới thuyền". Chưa cần xét phong thủy gì nhưng sông hồ bị lấp, nay Tô Lịch như "cống trong nhà", sao mà tốt được. Muốn đưa nước sông Hồng hay Đà vào làm sạch thì chỉ có ông nhà nước mới làm được. (Cũng có người có ý tưởng đấy nhưng chẳng ai nghe).
Còn chuyện Trấn Yểm thì lại quy ra việc Tâm linh, Thầy nào cao tay hơn. Khó quá. Bác Thanh Vân nói đến Hồ Tây thì ai cũng nhớ  lại việc đoàn Văn công "Tề tề cáp nhĩ" bị lốc lật thuyền ngày xưa. Rồi chuyện Thầy Thích Viên Thành gần đây ở Bưởi.
Còn chuyện định lấy Trung tâm Thủ đô ở Ba Vì (nay bỏ rồi), thì thực chất là "dời đô". Mà người ta bàn như xê dịch ngôi nhà ấy. Trước đây còn có vụ định "dời đô" lên Xuân Hòa nữa. Chắc các cụ Tiền nhân linh thiêng nên chẳng ai dời được.
Cá nhân tôi, qua những trải nghiệm cá nhân, vẫn tin vào bàn tay của thế giới Vô hình, thông qua các Nhà chức trách và các Thầy Phong thủy hiện hành. "Hồn thiêng sông núi" vẫn đang tác động vào các việc lớn như vậy.
Ngày xưa đánh giặc thắng lợi, cha ông thường đề cao nhờ "âm phù dương trợ". "Dương trợ" chính là sự đồng tình ủng hộ của toàn dân. Muốn thắng lợi phải hội tụ đầy đủ hai yêu tố này mới được dài lâu. Khi nào cũng vậy các việc hệ trọng của quốc gia cần cũng phải hợp lòng dân, thuận ý Tổ tiên mới thành sự nghiệp.
Thành nhà Hồ (Tây Đô) là một ví dụ cho việc dời đô không thuận, hay một triều đình Huế suy tàn. Đánh dấu bằng hai lần Dân tộc bị nô lệ nhà Minh và thực dân Pháp.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: meolangthang trong 30 Tháng Tám, 2010, 05:12:59 pm
    
Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2010, 06:23:54 pm »
   Trích dẫn và trả lờiTrích dẫn
Bác Tháp bút có đề tài hay quá, nhưng hơi cao siêu.
Mình rất quan tâm nhưng cũng chỉ là dân hóng chuyện, nhưng cứ nói vì cũng chẳng chết ai.
Tiếc là hiện nay chưa có chủ trương chính thống để nghe các nhà Phong thuỷ khi quy hoạch. Mà nhà nước cũng không có chức danh "Nhà phong thuỷ". Giá mà cụ Tả Ao sống lại thì khỏi phải bàn.
Nếu nói về Đường khí lớn từ Himalaya thì có nên xem xét hình chữ S của Việt Nam như một đồ hình bát quái hay không? Nếu có thì việc dòng Mêkông cạn dần sẽ làm Biển hồ cạn đi, ảnh hưởng đến cái "Âm trong dương", chưa kể phía Nam có thể cụt mất đuôi chữ S...
Hà Nội trước đây "trên bến dưới thuyền". Chưa cần xét phong thủy gì nhưng sông hồ bị lấp, nay Tô Lịch như "cống trong nhà", sao mà tốt được. Muốn đưa nước sông Hồng hay Đà vào làm sạch thì chỉ có ông nhà nước mới làm được. (Cũng có người có ý tưởng đấy nhưng chẳng ai nghe).
Còn chuyện Trấn Yểm thì lại quy ra việc Tâm linh, Thầy nào cao tay hơn. Khó quá. Bác Thanh Vân nói đến Hồ Tây thì ai cũng nhớ  lại việc đoàn Văn công "Tề tề cáp nhĩ" bị lốc lật thuyền ngày xưa. Rồi chuyện Thầy Thích Viên Thành gần đây ở Bưởi.
Còn chuyện định lấy Trung tâm Thủ đô ở Ba Vì (nay bỏ rồi), thì thực chất là "dời đô". Mà người ta bàn như xê dịch ngôi nhà ấy. Trước đây còn có vụ định "dời đô" lên Xuân Hòa nữa. Chắc các cụ Tiền nhân linh thiêng nên chẳng ai dời được.
Cá nhân tôi, qua những trải nghiệm cá nhân, vẫn tin vào bàn tay của thế giới Vô hình, thông qua các Nhà chức trách và các Thầy Phong thủy hiện hành. "Hồn thiêng sông núi" vẫn đang tác động vào các việc lớn như vậy.

chuyện thầy Thích Thanh Viên là thế nào hả bác,mong bác giải đáp cho em với!!!



Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: ChimViet trong 30 Tháng Tám, 2010, 09:54:05 pm
Anh "mèo lang thang" thân mến,
Chuyên Thầy Thích Viên Thành, rất tiếc tôi không dám nói gì chính thức, vì chỉ là đồn đại. Không thể nói chuyện đồn đại liên quan đến một Đại sư cao đạo và uy tín vào bậc nhất nước ta.
Riêng Việc đào kênh ở Bưởi thì có lên cả phóng sự trên TV (tất nhiên dưới dạng đả kích mê tín dị đoan), vì những người lái xe ủi, máy xúc đều bị ốm hay chết và họ không dám tiếp tục nữa. Đấy là chuyện thật. Còn Đại sư Thích Viên Thành ngã bệnh có phải do "phá trấn yểm " ở đó hay không thì không thể bàn được. Tôi có quen các thầy thân cận với Thầy Thành và chăm sóc thầy lúc sắp mất, họ cũng không đề cập đến việc này.
Có lẽ tôi phải xin lỗi vì đã nêu ra một việc chưa có căn cứ.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: meolangthang trong 31 Tháng Tám, 2010, 12:37:09 am
Chuyện của bác nếu nhìn từ khía cạnh khoa học thì có thể nói là chưa có căn cứ thật,nhưng nếu nhìn từ khía cạnh tâm linh thì cũng đáng quan tâm lắm đây.theo em cái vụ trấn yểm này là có thật,chúng ta cần quan tâm đến vấn đề này nhiều hơn,mặc dù nó chưa có cơ sở nào gọi là khoa học cả.dã tâm của bọn cướp nước TQ là muốn cho nước Nam ta không còn người tài mà,chúng muốn cai trị nước ta nên những việc làm này không thể không có.Và rất mong các bác giúp đỡ em hiểu rõ hơn về cái thế" rồng chầu " của thủ đô ta nhé!em chưa được tiếp cận với những tài liệu trên.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: lonesome trong 31 Tháng Tám, 2010, 08:00:52 pm
Chẹp, lại thêm vụ trấn yểm sông Tô Lịch nữa hả các bác? Em mời các bác sang khai quật mộ cổ với em:
- http://dev.ttvnol.com/f_533/621654

- http://dev.ttvnol.com/f_69/858131
(Còn 1 cái mộ nữa em tìm chưa ra, sẽ cập nhật sau vậy)


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: meolangthang trong 01 Tháng Chín, 2010, 02:08:50 am
cảm ơn sự giúp đỡ của bác!!!.còn thông tin nào nữa bác giúp em nốt luôn nhá ;D


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: ChimViet trong 10 Tháng Chín, 2010, 05:11:39 pm
Cái Link bác Lonesome cho tôi ko vào được ( server error)
Gần 1000 năm ThăngLong cũng nghe khối chuyện vui. Trên báo thì có chuyện "Khổng Minh" đoán 10 ngày sẽ mưa liền. Ngoài lề thì nghe nói có "cuộc chiến" tâm linh đấy.
Chắc chắn ít nhiều cũng phải có chuyện.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: minh91 trong 11 Tháng Chín, 2010, 02:21:08 pm
Chuyện thầy Thích Viên Thành thì mình được người em mình kể như sau: Hắn chính là phóng viên ở tòa báo in cái bài báo Thánh vật ấy (hình như là báo Pháp luật thủ đô thì phải). Tất cả các bài viết đấy (trừ bài cuối cùng) là do người khác viết bên tòa báo chỉ kiểm tra morat và thông tin trên báo rồi đăng thôi tiền trả cho mỗi bài cũng là khá lớn vào thời điểm ấy. Bên tòa báo trước khi đăng thì đều phải đi xác minh lại các thông tin mà báo mình đăng vì bài viết không phải do phóng viên nhà mình viết ra, nhỡ mà đăng bậy dễ ăn đòn lắm.
Chuyện về hòa thượng Thích Viên Thành thì bản thân bên ban VHTT có xuống làm việc là có việc thầy xuống đấy làm lễ hay không (ý là không có mà dám đăng bậy phải xử lý mấy chú này ..hehe), thì chính bọn hắn đã đi xác minh rồi và trưng ra băng ghi âm lời của bà thủ từ đền Đô. Bà này xác nhận là thầy Thích Viên Thành có đến đấy, gửi đồ ở chỗ bà ý và còn đọc vanh vách danh sách đồ mà thầy gửi chỗ bà ý. Tuy nhiên, bà này không xác nhận là thầy Thích Viên Thành có làm lễ hay không.
Về phong thủy Hà Nội mình cũng sưu tầm được bài viết hay hay post cho mọi người cùng xem:
ÐỊA THẾ PHONG-THỦY CỦA HÀ-NỘI, HUẾ, SÀI-GÒN VÀ VẬN MỆNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
Từ xưa đến nay, việc lựa chọn một khu vực thích hợp và thuận tiện làm thủ đô bao giờ cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng, có liên quan đến sự sống còn của một chế độ hay có khi của cả một dân tộc. Bởi thế nên từ hơn 3, 000 năm về trước, các vua chúa Trung Hoa đã biết dựa vào thuật Phong thủy để tìm kiếm những vùng đất tốt đẹp cho việc đóng đô lập quốc. Có lẽ điều nầy giải thích lý do tại sao các triều đại phong kiến Trung Hoa thường tồn tại rất lâu dài, bền bỉ. Và mặc dù cũng phải trải qua những giai đoạn suy tàn, ly loạn, nhưng sức mạnh và nền văn minh của họ vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển cho tới bây giờ, chứ không bị tàn lụi hẳn như những đế quốc cổ đại và trung đại khác như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, Ả Rập.....  Riêng đối với dân tộc Việt Nam của chúng ta, từ lúc sơ khai của thời kỳ Hùng Vương cho tới nay, thủ đô của đất nước đã được dời đi, đổi lại nhiều lần, và vận mệnh của dân tộc cũng vì thế biến đổi theo. Từ Phong Châu (kinh đô của các vua Hùng) đến Cổ Loa, Phiên Ngung, Hoa Lư, rồi tới Thăng Long (tức Hà Nội), Phú Xuân (tức Huế) và Sài Gòn. Tùy theo địa thế và vận khí riêng biệt của mỗi thành phố trên, đất nước ta đã từng trải qua biết bao nhiêu giai đoạn thăng trầm. Khi thì vươn lên với một nền văn minh rực rỡ của trống đồng Ngọc Lũ, Ðông Sơn; khi thì tàn tạ, yếu kém phải chịu đựng 1,000 năm Bắc thuộc. Rồi đến những lúc cường thịnh đủ sức phá Tàu, bình Chiêm Thành, Chân Lạp; lại có những lúc suy yếu phải chịu sự đô hộ, sai khiến của ngoại bang...

 Giờ đây, trong số những địa danh ấy, chỉ còn có Hà Nội, Huế và Sài Gòn là vẫn tiếp tục nắm giữ những vai trò quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và giao thương, mậu dịch của đất nước. Bởi thế hôm nay, người viết muốn được trình bày về địa thế Phong thủy của 3 thành phố nầy, với hy vọng sẽ giúp bạn đọc thấy được sự liên quan mật thiết giữa địa hình của thủ đô với vận số của dân tộc. Ðồng thời, dựa vào những quy luật biến hóa tự nhiên của vũ trụ để xác định nhũng giai đoạn hưng vượng hoặc suy vong của đất nước trong quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai sắp tới.  Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, người viết xin được đề cập sơ qua 2 chi tiết quan trọng của Phong thủy là Lạc Thư và Tam Nguyên- Cửu Vận. Những chi tiết nầy đã được trình bày tương đối đầy đủ trong bài " Phong thủy của vụ 9/11" trước đây (được đăng trên số xuân Nhâm Ngọ của báo Việt Tide và Chicago Việt báo), nên ở đây chỉ xin nói vắn tắt như sau:


* Tam Nguyên-Cửu Vận: là1 chu kỳ 180 năm, được lập đi, lập lại không ngừng. Mỗi một chu kỳ nầy được chia ra làm 3 (Tam) Nguyên, mỗi Nguyên là một giai đoạn dài 60 năm, và được đặt theo thứ tự là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên.
Mỗi Nguyên lại được chia làm 3 Vận: các Vận 1, 2, 3 thuộc về Thượng Nguyên; các Vận 4, 5, 6 thuộc về Trung Nguyên; và các Vận 7, 8, 9 thuộc về Hạ Nguyên.
Mỗi Vận như thế là 1 giai đoạn dài 20 năm.   
Ở đây, để tiện theo dõi những diễn biến lịch sử trong từng giai đoạn, người viết xin được giới thiệu với bạn đọc bảng Tam Nguyên-Cửu Vận của hơn 1,000 năm trở lại đây.  THƯỢNG NGUYÊN TRUNG NGUYÊN HẠ NGUYÊN 
Vận 1   Vận 2   Vận 3  Vận 4    Vận 5   Vận 6   Vận 7   Vận 8   Vận 9
964   984   1004   1024   1044   1064   1084   1104   1124
1144   1164   1184   1204   1224   1244   1264   1284   1304
1324   1344   1364   1384   1404   1424   1444   1464   1484
1504   1524   1544   1564   1584   1604   1624   1644   1664
1684   1704   1724   1744   1764   1784   1804   1824   1844
1864   1884   1904   1924   1944   1964   1984   2004   2024
2044   2064   2084   2104   2124   2144   2164   2184   2204
2224   2244   2264   2284   2304   2324   2344   2364   2384
2404   2424   2444   2464   2484   2504   2524   2544   2564
Những năm trong bảng đều là những năm khởi đầu của 1 vận. Ví dụ năm 964 là năm khởi đầu của vận 1, từ năm đó đến năm 983 đều nằm trong vận 1. Đến năm 984 mới bước vào vận 2.
Lạc thư:
                           B

                  6        1        8

            T    7        5        3     Đ

                  2        9        4

                            N
* Lạc Thư: là một đồ bàn hình vuông, bên trong có 9 số (còn được gọi là Cửu tinh), mỗi số tương ứng với mỗi Vận, đồng thời chiếm 1 vị trí và phương hướng nhất định như hình bên cạnh.
Như vậy, muốn biết được sự hưng, suy của một thành phố trong Vận nào, ta chỉ cần quan sát những khu vực tương ứng trong Lạc Thư là sẽ tìm ra được lời giải đáp.
Chẳng hạn như muốn biết khí số của Hà Nội trong Vận 7 như thế nào, trước hết ta cần nhìn vào Lạc Thư, sẽ thấy số 7 nằm ở phía Tây. Như vậy, chỉ cần quan sát địa thế sông, núi ở khu vực phía Tây Hà Nội, đồng thời đối chiếu với khu vực đối diện tức là phía Ðông thì sẽ tìm ra được kết quả chính xác.
 
Trên đây chỉ là chút khái niệm về Lạc Thư và Tam Nguyên-Cửu Vận, ngoài ra, bạn đọc cũng cần biết hai yếu tố căn bản để định quẻ là Nước và Núi qua ba điểm dưới đây:
a/ Phục Ngâm: là khu vực của chính Vận mà lại có Thủy, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, nên phía Tây được coi là khu vực của chính Vận, mà ở đó lại có Thủy (nước) tức là bị Phục Ngâm.


b/ Phản Ngâm: là khu vực đối diện với chính Vận mà lại có núi, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, mà phía Ðông lại có núi tức là bị Phản Ngâm.


c/ Chính Thủy: là Thủy nằm ở khu vực đối diện với chính Vận, như Vận 7, số 7 nằm ở hướng Tây, mà phía Ðông lại có Thủy tức là có Chính thủy.
Trong những cách kể trên, chỗ nào có Phục Ngâm, Phản Ngâm là có sát khí chiếu tới, nên sẽ mang nhiều tai ương, hoạn nạn đến cho thành phố. Còn chỗ nào có Chính thủy tức là được vượng khí chiếu tới, nên sẽ đem đến nhiều may mắn, thuận lợi.


Sau khi đã nắm được những diều cơ bản trên, mời bạn đọc hãy nhìn vào địa thế của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài Gòn, để tìm hiểu những nguyên nhân đã tạo ra những chặng đường vinh - nhục cho đất nước ta trong suốt gần 1,000 qua.


Bản Ðồ Hà Nội 1/ HÀ NỘI: là thành phố nằm gần như ngay tại trung tâm của đồng bằng Bắc Việt, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng ở phía Ðông và sông Tô Lịch ở phía Tây. Ðối với Phong thủy, dải đất nầy chính là chân long, là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông, núi ở chung quanh.
Nhờ vậy, Hà Nội sẽ luôn luôn nắm được những vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước, chẳng những thế, trong các thời kỳ hưng vượng còn sản sinh ra những lãnh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất.
 
Nếu nhìn lên bản đồ miền Bắc, ta sẽ thấy những con sông lớn như sông Cầu, sông Gầm, sông Lô ở phía Bắc; sông Ðà, ở phía Tây, sau khi chảy qua nhiều nơi cuối cùng đều nhập vào sông Nhị Hà chảy về Hà Nội.
Xa xa, dọc theo biên giới Việt-Hoa, những dãy núi trùng trùng, điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Ðông Bắc, tất cả cũng đều như muốn hướng về.
Ðây chính là thế "núi sông chầu phục" của Hà Nội, một địa thế Phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một thủ đô nào của các nước trong vùng Ðông Nam Á Châu, (kể cả thành Bắc Kinh của Trung Hoa) có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Ðông và Ðông Nam, Hà Nội còn được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái Bình Dương chiếu tới nên thần lực rất lớn, xứng đáng là thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.
 
Nếu đem địa thế núi, sông, biển cả vừa kể trên đối chiếu với Lạc Thư, ta sẽ thấy Vận 1 chỉ là giai đoạn trung bình của Hà Nội. Vì mặc dù khu vực phía Bắc có nhiều sông ngòi tức là phạm phải cách "Phục Ngâm", bị sát khí xâm phạm, nên sẽ đem đến nhiều tai ương, loạn lạc. Nhưng tại đây cũng có nhiều dãy núi đâm thẳng xuống đem theo nhiều vượng khí nên chưa đến nỗi, vẫn còn nhân tài có khả năng ổn định, xoay chuyển được thời cuộc.
Bước sang Vận 2, tình thế mỗi lúc một suy thoái hơn, vì khu vực phía Tây Nam của Hà Nội tuy chỉ có sông Mã tức là bị "Phục Ngâm" trong trường hợp nhẹ. Nhưng phía đối diện (Ðông Bắc) lại có núi đồi trùng điệp tức là bị "Phản Ngâm", sát khí từ nơi đó sẽ tràn tới, khiến cho đất nước ngày càng trở nên hỗn loạn. May mà tại đây (khu vực phía Ðông Bắc) cũng có nhiều sông ngòi chằng chịt tức là đắc "Chính thủy", vượng khí vẫn còn đến với Hà Nội nên chưa đến nỗi bị suy vong.
Qua các Vận 3, 4, đại thủy của vịnh Bắc bộ và Thái bình Dương nơi phía Ðông và Ðông Nam sẽ tạo ra cách "Phục Ngâm", sát khí quá nặng nề, nên sẽ đưa đất nước ta vào tình trạng yếu kém, tàn tạ hơn bao giờ hết.
Phải đến khi bước vào Vận 5, nhờ địa thế "núi sông chầu phục", vượng khí của Hà Nội mới bắt đầu bùng lên mãnh liệt, và cùng với nó là sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc.
Qua Vận 6, Hà Nội sẽ phải đương đầu với những cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt, do các sông lớn như Nhị Hà, sông Ðà đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc, nguồn nước lại rất lớn nên phạm phải cách "Phục Ngâm" rất nặng. May là cũng tại phía Tây Bắc lại có những mạch núi rất dài, rất cao tiến xuống, cuốn theo vượng khí ngút trời, đủ sức để trấn áp sát khí nên Hà Nội sẽ vượt qua được mọi thử thách để đi đến chiến thắng.
Nói chung là trong Vận 6, ngay cả những thế lực hùng mạnh bậc nhất trên thế giới mà đụng đến Hà Nội cũng đều sẽ rước lấy những thất bại thảm hại, ê chề.
Ðến Vận 7, những con sông Ðà, sông Mã ở phía Tây Hà Nội sẽ tạo ra nhiều sát khí (bị "Phục Ngâm"). Nhưng ngoài xa nơi phía Ðông lại có vượng khí của đại thủy mênh mông chiếu tới, lấn át được sát khí, nên tuy hay bị những biến động về chính trị, nhưng là một giai đoạn tương đối yên lành, sung túc.
Sang Vận 8, Hà Nội sẽ bước vào giai đoạn cực thịnh, sản sinh ra những lãnh tụ tài ba đem lại thanh bình và vinh quang cho đất nước.?
Trong giai đoạn nầy tuy cũng có chiến tranh xảy ra, do khu vực phiá Ðông Bắc có rất nhiều sông ngòi chằng chịt. Nhưng cảnh thái bình, thịnh trị, sẽ nhanh chóng được tái lập vì vượng khí của các dãy núi trong khu vực Ðông Triều-Cẩm Phả sẽ đem đến cho Hà Nội rất nhiều may mắn, thuận lợi. Sang tới Vận 9, thời kỳ hưng vượng vẫn tiếp tục được duy trì, cho tới khi bước sang Vận 1 thì những mầm mống loạn lạc mới bắt đầu tái diễn trở lại.
Nếu nhìn lại lịch sử thì ngay từ thời Bắc thuộc, một số tướng lãnh cai trị Trung Hoa có tầm hiểu biết sâu rộng về Phong thủy như Cao Biền đã bắt đầu để ý tới địa thế tốt đẹp của Hà Nội. Bởi thế nên ngay từ thời đó, họ đã cho xây thành ở khu vực nầy và đặt tên là thành Ðại La, nhưng ngôi thành nầy thường bị bỏ trống, ít khi được chú ý tới. Phải đến khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, ngài thấy Hoa Lư có địa thế quá nhỏ hẹp nên mới dời đô về đây và đổi tên là thành Thăng Long. Lúc đó là năm 1010, thuộc Vận 3 Thượng Nguyên, xét về vận khí thì đây chính là lúc suy vong của Hà Nội.
Nhưng cũng may cho nhà Lý là Hà Nội khi trước đã bị bỏ trống từ lâu, đến lúc đó mới được chọn làm đế đô nên vận khí chưa thể ảnh hưởng mạnh mẽ ngay đến cục diện của đất nước. Mặc dù vậy, trong suốt thời gian cai trị của Ngài (1010- 1028), giặc giã nổi lên khắp nơi, khiến cho nhà vua và các hoàng tử phải luân phiên nhau đi đánh dẹp mới giữ vững được quốc gia và bảo tồn được ngôi báu cho nhà Lý.
 
Khi vua Thái Tổ qua đời, Thái tử Phật Mã lên nối ngôi (1028), hiệu là Lý Thái Tông, lúc đó đang ở trong Vận 4 Trung Nguyên. Ngay lúc đó, Ngài đã phải lo đối phó với cuộc tranh dành ngôi báu của các hoàng tử khác, nhờ có danh tướng Lê phụng-Hiểu phò tá nên Ngài mới dẹp yên được cuộc nổi loạn đó.
 
Năm 1038, cũng trong Vận 4, Nùng tồn Phúc nổi loạn ở Lạng Sơn, tự xưng là Hoàng đế, thanh thế rất lớn, khiến vua Thái Tông phải thân đi chinh phạt mới dẹp yên được.
 
Năm 1044, bước sang Vận 5, vượng khí đã bắt đầu dến với Hà Nội, vua Thái Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành. Quân ta đại thắng, chiếm được kinh đô Phật Thệ của nước Chiêm.
 
Năm 1048, cũng trong Vận 5, Nùng trí Cao (con Nùng tồn Phúc) lại nổi loạn ở Lạng Sơn, âm mưu dựa vào nhà Tống bên Tàu để chống lại nhà Lý. Nhưng vì lúc đó nhà Tống đang suy yếu, chưa muốn sinh sự với Ðại Việt, nên âm mưu nầy bị thất bại. Sau đó, Nùng trí Cao bị nhà Lý đánh phải chạy sang Tàu cướp phá, rồi bị tướng nhà Tống là Ðịch Thanh dẹp tan.
 
Năm 1068, trong Vận 6 Trung Nguyên, biết được Chiêm Thành bí mật liên kết với nhà Tống, không chịu thần phục nước ta, vua Lý Thánh Tông cùng với Lý thường Kiệt bèn cất quân đi chinh phạt. Quân ta đại phá quân Chiêm, bắt được Chiêm vương là Chế Củ. Sau cuộc chiến nầy, Chiêm Thành không những bị bắt buộc phải thần phục nước ta, mà còn phải cắt 3 châu (hay 3 tỉnh) dâng nạp để tạ tội. ?
 
Vào cuối năm 1075, cũng trong Vận 6, thấy nhà Tống có ý muốn đánh nước ta, Lý thường Kiệt liền dẫn quân sang đánh chiếm Khâm châu, Ung châu và Liêm châu của nhà Tống, phá hủy mọi căn cứ và những kho tàng quân sự rồi rút về.
Ðầu năm sau, vẫn trong Vận 6, vua Tống cử Quách Quỳ làm đại tướng, ồ ạt dẫn quân sang đánh nước ta báo thù, nhưng bị Lý thường Kiệt chận đánh kịch liệt bên bờ sông Như Nguyệt, suốt mấy tháng trời không tiến binh nổi. Thấy lực lượng bị hao mòn nhiều và biết không thể thắng nổi nước ta, Quách Quỳ bèn chấp nhận giảng hòa rồi rút hết quân trở về.
 
Năm 1103, vào cuối Vận 7, Lý Giác khởi loạn ở vùng Nghệ An, rồi liên kết với cả Chiêm Thành, Lý thường Kiệt phải tự đem quân vào đánh mới dẹp yên được.
 
Trong suốt Vận 8 (1104 - 1123), nước ta sống trong cảnh thái bình thịnh trị.
 
Bước sang Vận 9, vào những năm 1128, 1132, 1135, Chân Lạp nhiều lần cho quân ra quấy phá Nghệ An, nhưng đều bị nhà Lý dẹp tan nên cuối cùng lại xin thần phục.
 
Năm 1138, vào cuối Vận 9, vua Lý anh Tông mới có 3 tuổi lên ngôi, nhưng nhờ có ông Tô hiến Thành là một trung thần tài ba phò tá nên trong suốt thời gian cai trị của ngài (1138 - 1175, tức là từ cuối Vận 9 qua tới giữa Vận 2), đất nước vẫn tương đối được ổn định. Ðến khi Tô hiến Thành qua đời (1179), nhà Lý bắt đầu bước vào thời kỳ suy vong.
Dưới thời vua Lý cao Tông (1176 - 1210, tức là từ giữa Vận 2 cho đến giai đoạn đầu của Vận 4), giặc giã nổi lên như ong, trong triều đình từ vua tới quan đều bất tài, không đối phó nổi với tình thế.
Năm 1208, Quách Bốc nổi loạn, rồi đem quân về đốt phá kinh thành, khiến vua Cao Tông phải dẫn Thái tử Sam bỏ chạy. Sau phải nhờ Trần Lý đem quân về dẹp loạn mới lấy lại được kinh đô, nhưng quyền bính lại lọt hết về tay họ Trần. Trong suốt thời gian còn lại của Vận 4 (1210 - 1223), vương quyền của nhà Lý mỗi lúc một suy yếu, tàn tạ.
Ðể rồi vào năm 1225, Trần thủ Ðộ diệt nhà Lý, đặt cháu là Trần Cảnh lên làm vua và lập ra nhà Trần.
 
Khi nhà Trần được sáng lập thì cũng là lúc mới bước vào Vận 5, vượng khí bắt đầu đến với Thăng Long (Hà Nội), nên đây là lúc mà sức mạnh của đất nước được bộc phát trở lại. Nhưng triều đình nhà Lý đã quá suy nhược, hèn yếu, do đó phải nhường chỗ cho một thế lực chính trị khác, có đầy đủ khả năng và nghị lực, để dẫn dắt dân tộc tiến lên.
Rồi ngay từ những ngày đầu, Trần thủ Ðộ đã tiến hành nhiều cuộc canh tân, cải cách, diệt trừ nội loạn (kể cả việc giết hại con cháu họ Lý).
Nhờ thế nên chẳng bao lâu, các nền chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội trên đất nước ta đều được khôi phục và phát triển trở lại. Nhưng trong lúc đó, xứ Mông Cổ cũng đang nổi lên thành một thế lực đế quốc hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử thế giới, đánh chiếm được hầu hết Á Châu rồi tràn sang đến tận vùng Ðông Âu. Sau khi đã chiếm được phần lớn đất đai của Trung Hoa, Mông Cổ bắt đầu dòm ngó tới Việt Nam.
 
Năm 1257, trong Vận 6 Trung Nguyên, chúa Mông Cổ là Hốt tất Liệt phái danh tướng Ngột-lương-hợp-Thai đem quân đánh chiếm nước Ðại Lý (Thuộc tỉnh Vân Nam bây giờ), rồi sau đó tiến xuống chiếm luôn Việt Nam. Ngột-lương-hợp-Thai tiến binh rất nhanh, chỉ trong 1 tháng đã diệt được nước Ðại Lý, rồi thừa thắng tiến vào nước ta.
Trước sức mạnh của quân địch, vua tôi nhà Trần phải bỏ Thăng Long rút về Hưng Yên, áp dụng chiến lược "vườn không nhà trống" để đối phó. Chẳng bao lâu sau, khi thấy quân Mông Cổ suy yếu vì không được tiếp tế lương thực, thuốc men đầy đủ, nhà Trần mở cuộc tổng phản công, đánh bại quân địch ở Ðông bộ Ðầu, khiến cho Ngột-lương-hợp-Thai phải rút quân tháo chạy về Vân Nam.
 
Sau chiến thắng nầy và cho đến hết năm 1283, tức là từ giữa Vận 6 cho đến hết Vận 7, nhà Trần phải trải qua cuộc đấu tranh đầy cam go và thử thách về ngoại giao với nhà Nguyên (tức đế quốc Mông Cổ).
 
Ðầu năm 1285, thuộc Vận 8 Hạ Nguyên, Hốt tất Liệt sai thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ hai. Ðây chính là lúc vận khí của Hà Nội đang trong giai đoạn cực thịnh, nên mặc dù quân Mông Cổ tinh nhuệ và đông đảo chưa từng có, nhưng chỉ sau 5 tháng giao tranh, bọn chúng đã bắt đầu nao núng. Trước tình hình đó, quân ta phản công, đại thắng quân địch trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp, giết Lý Hằng, chém Toa Ðô, còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy về Tàu.
Quá căm tức vì cuộc thất trận nầy, vào cuối năm 1287, cũng trong Vận 8, Hốt tất Liệt lại sai Thoát Hoan đem 30 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ ba. Nhưng lần nầy thì quân địch còn bị thảm bại nhanh chóng hơn, vì sau khi đoàn thuyền lương của chúng bị ta phá tan ở Vân Ðồn, Thoát Hoan đành phải chia quân thành 2 đường thủy-bộ rút lui. Ðạo thủy quân của địch bị ta chận đánh tan tành trên sông Bạch Ðằng, những danh tướng như Ô-mã-Nhi, Phàn Tiếp đều bị bắt sống. Còn đạo quân dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan theo đường bộ rút về cũng bị chận đánh kịch liệt, các đại tướng như A-bát-Xích, Trương Ngọc đều bị tử trận, Thoát Hoan phải vất vả lắm mới vượt qua được ải Nam Quan trốn thoát.
 Xét về 2 cuộc đại thắng quân Mông Cổ của nhà Trần sau nầy đều xảy ra trong Vận 8, giữa lúc vận khí của Hà Nội đang đi đến giai đoạn cực thịnh. Lúc nầy, nhờ những dãy núi dài hàng ngàn dặm ở phía Ðông Bắc hướng tới, thần lực của Hà Nội thật vô cùng mãnh liệt, nên không một thế lực hùng mạnh nào có thể lay chuyển được. Bởi thế nên chẳng những tinh thần quật cường, bất khuất của cả dân tộc ta lúc đó đang bùng lên đến mức tột độ, mà những anh hùng tài ba lỗi lạc cũng xuất hiện rất nhiều.
Từ những vị vua như Trần thái Tông, Trần Nhân Tông, đến những danh tướng như Trần quang Khải, Trần khánh Dư, Trần nhật Duật, Phạm ngũ Lão....và đặc biệt là vị đại anh hùng dân tộc Hưng đạo Vương Trần quốc Tuấn. Chính vì thế nên dù cho đế quốc Mông Cổ có hùng mạnh đến đâu, quân đội của chúng có đông đảo, thiện chiến, tinh nhuệ tới mức nào đi nữa, khi bước đến Việt Nam cũng không thể tránh được sự thảm bại.


 Sau 2 cuộc đại thắng nầy, nhà Trần hưởng cảnh thanh bình, thịnh vượng được hơn 40 năm (1288-1233), tức là từ những năm còn lại của Vận 8 (16 năm) qua hết Vận 9 vào đến giữa Vận 1. Duy chỉ có việc vua Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm, nhưng sau đó lại bắt về làm nảy sinh ra sự hiềm khích giữa 2 nước. Năm 1307, đầu Vận 9, Chiêm Thành đem quân sang quấy rối nước ta, nhưng bị nhà Trần đánh cho đại bại, Chiêm Vương Chế Chí bị bắt đem về giam ở Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Phong thủy và hào khí Thăng Long
Gửi bởi: lonesome trong 02 Tháng Mười, 2010, 11:42:22 pm
Cái Link bác Lonesome cho tôi ko vào được ( server error)
Gần 1000 năm ThăngLong cũng nghe khối chuyện vui. Trên báo thì có chuyện "Khổng Minh" đoán 10 ngày sẽ mưa liền. Ngoài lề thì nghe nói có "cuộc chiến" tâm linh đấy.
Chắc chắn ít nhiều cũng phải có chuyện.

Em mời bác:

- http://www.ttvnol.com/f_533/621654

- http://www.ttvnol.com/f_69/858131

- http://ttvnol.com/f_533/621654
@Bác minh91: bài của bác nó không mới bác ạ. Bác đợi em đào mộ 1 tý nhé.

Đât rồi bác ạ: "ÐỊA THẾ PHONG-THỦY CỦA HÀ-NỘI, HUẾ, SÀI-GÒN VÀ VẬN MỆNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM" http://ttvnol.com/hocthuat/598930