|
Tiêu đề: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 12:47:41 am Theo yêu cầu của bác chiangshan, em mở topic này và chuyển bài từ "Suy nghĩ của một người con - Phần 2" về đây, tạm thời mới có được một số tư liệu ít ỏi, kính mong các bác cùng chung tay góp sức!
Những bản nhạc VNCH thuổng của VNDCCH (ngày nay gọi là đạo nhạc): Bài "Tiếng Gọi Thanh Niên" của nhạc Lưu Hữu Phước (Huỳnh Minh Siêng) lời : Hoàng - Mai - Lựu (Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiễng, Lưu Hữu Phước). Ra đời khoảng năm 1939 - 1941 bị sửa thành "Tiếng gọi công dân" quốc ca của VNCH. Bài "Tiếng gọi công dân" đã bỏ hết các hình ảnh "Bắc Nam kết đoàn", "cờ nghĩa phất phới vàng pha máu". Chỉ giữ lại những câu kêu gọi công dân "mau hiến thân dưới cờ". Trong bài Tiếng Gọi Thanh Niên ý nghĩa chống giặc Pháp cướp nước thì bị sửa thành CS Tiếng gọi Thanh niên Này thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi Đồng lòng cùng đi đi đi mở đường khai lối Vì non sông nước xưa truyền muôn năm chớ quên Nào anh em Bắc Nam cùng nhau ta kết đoàn Hồn thanh xuân như gương trong sáng Đừng tiếc máu nóng tài xin ráng Thời khó thế khó khó làm yếu ta Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá Đường mới kiếp phóng mắt nhìn xa bốn phương Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường Điệp khúc: Thanh niên ơi! Ta quyết đi đến cùng Thanh niên ơi! Ta nguyền đem hết lòng Tiến lên, đồng tiến, vẻ vang đời sống Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng Năm 1956, qua bàn tay gọt dũa tài tình của Cục Tuyên Truyền Tâm Lý Chiến Sài Gòn thành: Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống. Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên, Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền. Dù cho thây phơi trên gươm giáo, Thù nước, lấy máu đào đem báo. Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy, Người Công Dân luôn vững bền tâm trí. Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời! Điệp khúc: Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ! Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống Xứng danh nghìn năm dòng giống Lạc Hồng! Nguồn gốc Nguyên thủy bài này là bài La Marche des Étudiants ra đời cuối năm 1939, do Lưu Hữu Phước sáng tác nhạc, Mai Văn Bộ đặt lời tiếng Pháp để làm bài hát chính thức của Câu lạc bộ Học sinh (Scholar Club) trường trung học Petrus Ký. Bài hát nhanh chóng trở thành bài hát chính thức của học sinh miền Nam thời bấy giờ. La Marche des Étudiants Étudiants! Du sol l'appel tenace Pressant et fort, retentit dans l'espace. Des côtes d'Annam aux ruines d'Angkor, À travers les monts, du sud jusqu'au nord, Une voix monte ravie: Servir la chère Patrie! Toujours sans reproche et sans peur Pour rendre l'avenir meilleur. La joie, la ferveur, la jeunesse Sont pleines de fermes promesses. Điệp khúc: Te servir, chère Indochine, Avec cœur et discipline, C'est notre but, c'est notre loi Et rien n'ébranle notre foi! Năm 1941, Tổng hội Sinh viên Đông Dương đã chọn bài hát này làm bài hát chính thức và Lưu Hữu Phước đã viết lại lời tiếng Việt với tên gọi Sinh viên hành khúc, chia thành 3 phần. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là phần 1 của bài hát. Sinh viên Hành khúc I. Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi! Đồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên, Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn! Hồn thanh xuân như gương trong sáng, Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng! Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta, Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương, Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường Điệp khúc: Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng! Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng! Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống! Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng! II. Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xoá! Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá! Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn, Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn Hồ Tây tranh phong oai son phấn, Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam, Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên, Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền (Điệp khúc) III. Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng, Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng! Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông, Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng Là sinh viên vun cây văn hoá, Từ trước sẵn có nhiều hoa lá Đời mới kiến thiết đáp lòng những ai Hằng mong ta ra vững cầm tay lái Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời! (Điệp khúc) Năm 1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong được thành lập, lấy hiệu kỳ là cờ vàng sao đỏ. Bài hát cũng được thay đổi một chút và trở thành bài hát chính thức của tổ chức Thanh niên Tiền phong với tên gọi Tiếng gọi thanh niên hay Thanh niên hành khúc. Có rất nhiều tổ chức yêu nước khác ở miền Nam cũng lấy bài này sửa lại để làm ca khúc chính thức nên bài hát có rất nhiều dị bản. Tháng 2 năm 1965, Lưu Hữu Phước được cử vào Nam, giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng, sau đó Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá của Chính phủ Cách Mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn này, ông đã sáng tác các bài hát nổi tiếng như Bài hát Giải phóng quân, Giờ hành động, Hành khúc giải phóng, Xuống đường, Tiến về Sài Gòn, đặc biệt là Giải phóng miền Nam, được xem là bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, ông trở về làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc (1978-1989), được phong học hàm Giáo sư và Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc Quốc gia, Thành viên Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, ngoài ra còn là Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Ông mất năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh. http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0...6%B0%E1%BB%9Bc Tiêu đề: Bài Sơn Nữ Ca của Trần Hoàn Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 12:52:18 am - Bài Sơn Nữ Ca của Trần Hoàn nói về các mối tình thơ mộng giữa sơn nữ và du kích Việt Minh thì bị ăn cắp rồi sửa chữ "du kích" thành "lữ khách". Bài này do nhạc sĩ Trần Hoàn sáng tác dựa trên chính trải nghiệm thật của mình.
Ngoài mấy chữ "du kích" đều bị đổi hết thành "lữ khách" còn có câu "Thời cơ đến rồi, đợi ngày ra tay" bị đổi lại thành: "Hoàng hôn xuống dần đợi chờ ai đây." Thế là một bài nhạc cách mạng, nói về tình yêu trong sáng giữa cô thôn nữ và anh du kích và cổ động cho "Thời cơ đến rồi, đợi ngày ra tay" giải phóng đất nước đã bị bọn lưu manh văn hóa tuyên truyền thành như là một bài nhạc vàng. Đây là lời nguyên bản: Một đêm trong rừng vắng Ánh trăng chếnh chếch đầu ghềnh thấp thoáng bóng cô Sơn nữ miệng cười xinh xinh Một đêm trong rừng núi Có anh du kích nhìn trời xa xa, ngắm trăng say đắm một mình bâng khuâng Một đêm trong rừng vắng Có cô Sơn nữ miệng cười khúc khích Ngắm anh du kích nhìn trời xa xa Biết đâu Sơn nữ nhìn mình đăm đăm. Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây Sơn nữ ơi! Đừng làm thắc mắc cho lòng khô cạn từ lâu nước mắt đầy vơi Sơn nữ ơi! Thời gian lôi cuốn bao lần bên rừng đầy hương bát ngát trời thu Sơn nữ ơi! Đành lòng sống với bên rừng thơ mộng cùng với hoa với lá ngàn hương Hãy nhìn trăng lên Rồi lu mờ dần Hãy nhìn mây bay Thiết tha về ngàn chờ đợi tay người Sơn nữ Khi nhìn chim bay bay đi tìm đàn Khi nhìn gió cuốn Lá thu rời cành cuộn bay lên người Sơn nữ. Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ Sơn nữ ơi! Thời cơ đến rồi đợi ngày ra tay. Lời bị sửa thành: Một đêm trong rừng vắng Ánh trăng chênh chếch đầu ghềnh thấp thoáng bóng cô sơn nữ miệng cười xinh xinh. Một đêm trong rừng núi Có anh lữ khách nhìn trời xa xa ngắm trăng say đắm một mình bâng khuâng. Một đêm trong rừng vắng Có cô sơn nữ miệng cười khúc khích ngắm anh lữ khách rồi lòng bâng khuâng. Một đêm trong rừng núi Có anh lữ khách nhìn trời xa xa biết đâu sơn nữ nhìn mình đăm đăm. Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạc thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ ơi! Đừng làm thắc mắc cho lòng khô cạn từ nay nước mắt đầy vơi. Sơn nữ ơi! Thời gian lôi cuốn bao lần bên rừng đầy hương bát ngát trời thu Sơn nữ ơi! Đành lòng sống với bên rừng thơ mộng cùng hoa với lá ngàn hương. Hãy nhìn trăng lên, rồi lu mờ dần. Hãy nhìn mây bay, thiết tha về ngàn chờ đợi tay người sơn nữ. Khi nhìn chim bay, bay đi tìm đàn Khi nhìn gió cuốn lá thu rời cành cuộn bay lên người sơn nữ. Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ Sơn nữ ơi! Hoàng hôn xuống dần ... đợi chờ ai đây??? Có ý kiến khác cho rằng nhằm thổi luồng gió văn hóa lành mạnh của cách mạng vào miền Nam, cũng như sẻ chia những văn hóa phẩm của miền Bắc vào cho đồng bào miền Nam. Bạn của nhạc sĩ Trần Hoàn là ông Nguyễn Hữu Thuyết cùng với một số bằng hữu, đồng chí khác của Trần Hoàn đã phổ biến bài Sơn Nữ Ca vào trong Nam. Nhằm tránh bị VNCH trù dập bắt bớ đàn áp như họ đã làm với nhiều người bất đồng chính kiến khác, nhóm ông Thuyết và bạn bè của Trần Hoàn đã sửa lời bài hát, biến một bài hát trữ tình cách mạng thành một bài hát thuần túy về tình yêu nam nữ. Biến thôn nữ với du kích thành thôn nữ với "lữ khách". Câu "thời cơ đến rồi đợi ngày ra tay" biến thành "hoàng hôn xuống dần đợi chờ ai đây". (câu này mà giữ thì chắc cả đám ông Thuyết xuống địa ngục trần gian Côn Đảo mà hát hò) Tiêu đề: Bài thơ Nhà tôi của nhà thơ Yên Thao Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 01:13:45 am Từ bài thơ Nhà tôi đến nhạc phẩm Chuyện Giàn Thiên Lý 1&2
NHÀ TÔI Tôi đứng bên này sông. Bên kia vùng địch đóng. Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng. Tre cau gầy rủ tóc ướt mưa sương. Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường. Nếp đình xưa người hởi đau gì không? Tôi là người lính chiến Rời quê hương từ thuở mới khỏi dòng. Buông tay gàu vui lại thuở bình Mông. Ghì nấc súng nhớ ôi ngày đắc thắng. Chân chưa vẹt trên nẽo đường vạn dậm. Áo nào phai chẳng xót chút màu xưa. Đêm hôm nay tôi về lành lạnh. Sông sâu mừng lấp lánh ánh sao thưa. Ngày xưa tôi có người vợ đẹp như thơ. Tuổi mới đôi mươi. Cưới buổi dâng cờ. Màu da trắng thơm thơm mùa lúa chín. Ai bước đi không từng bịn rịn. Rời yêu đương nào có mấy ai vui. Em lặng hồn nhìn với lúc chia phôi. Tôi lặng bước mà khóc thầm em ơi. Tôi còn người Mẹ. Tóc ngã màu bông. Tuổi già non thế kỹ. Lưng còng uốn nặng kiếp long đong. Nắng mưa từ độ tang chồng. Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon. Ôi xa rồi Mẹ tôi. Lệ nhoà mi mắt. Mong con phương trời. Có cùng chợt tỉnh đêm vơi. Nghe rền tiếng súng nhớ lời chia ly. Mẹ ơi con Mẹ tìm đi. Bao giờ chiến thắng con về Mẹ vui. Đêm hôm nay tôi về lành lạnh. Sông sâu mừng lấp lánh ánh sao thưa? Áo ngày xưa đã vá mộng giang hồ. Còn chi nữa những vui buồn thương nhớ. Tôi là anh lính chiến. Theo quân về gìn giữ quê hương. Mái đầu xanh đầy bụi viễn phương. Bứơc chân đạp xiêu đồn luỹ địch. Này anh đồng đội người bạn pháo binh. Đã đến giờ chưa nhỉ mà tôi nghe như trại giặc tan tành. Anh rót cho khéo kẻo nhầm nhà tôi. Nhà tôi ở cuối thôn đồi. Có giàn hoa lý có người tôi thương. 1949 Yên Thao NXB Giáo dục, 2005 Trích "Nói chuyện với Yên Thao, tác giả bài thơ "Nhà Tôi" - phỏng vấn của Bích Huyền với Nhà thơ Yên Thao - thực hiện 1998 *Bích Huyền (BH): Thưa thi sĩ Yên Thao, bài thơ Nhà Tôi của thi sĩ cũng như Đôi Bờ, như Đôi Mắt Người Sơn Tây, như Màu Tím Hoa Sim...BH đã hơn một lần nhắc tới trong chương trình Thơ Nhạc do BH phụ trách trên Đài VOA. Những bài thơ nổi tiếng ấy đã theo làn sóng người di cư từ Bắc vào Nam năm 1954... *Nhà thơ Yên Thao (YT): Cảm ơn chị Huyền. Cảm ơn về sự ưu ái của chị về bài thơ Nhà Tôi. Đây không phải là lời nói xã giao mà là xúc động thật sự của người làm thơ đã có được một bài thơ qua gần nửa thế kỷ rồi. Còn một năm nữa là đúng một nửa thế kỷ mà vẫn còn người nhớ, nhất là người đó lại ở phương trời xa như chị Huyền. *BH : Không phải chỉ có một mình BH nhớ bài thơ ấy đâu ạ, mà còn rất nhiều người yêu thơ ở trong miền Nam nữa. BH xin cảm ơn thi sĩ cũng như cảm ơn những người chủ trương Giai Phẩm Mùa Thu Hà Nội. BH đã chép bài thơ Nhà Tôi trong tờ Giai phẩm này, phát hành năm 1964 tại Saigon. Hình như thế, năm đó...nếu BH nhớ không lầm! *YT: Không biết có phải từ tập san đó hay sau này sao chép qua lại nên sau 1975, tôi có được đọc bài thơ Nhà Tôi, người ta có in sai nhiều từ, chị Huyền ạ ! *BH:Thật là một điều đáng tiếc. Thế nhưng chắc thi sĩ cũng thông cảm, vì đây chỉ là một bài thơ được truyền miệng, được ghi nhớ trong trí tưởng...cho nên sự sai lạc hẳn là phải có. Thưa thi sĩ YT, những từ ngữ dùng sai đó là những chữ nào ạ? *YT: Trong đoạn đầu có câu:" Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường " Màu trăng" chứ không phải "Màu trắng". Vâng, đây là màu của ánh trăng trải trên những khung tường. Và từ "mùa" trong câu "Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín". Trong miền Nam có sách in là "mùi lúa chín". *BH : Cảm ơn thi sĩ.Vâng, màu trắng và mùi lúa có vẻ rõ ràng và cụ thể quá ,phải không ạ? Từ ngữ "Màu trăng" và "Mùa lúa chín" mà thi sĩ dùng để diễn tả ý thơ, theo BH đây là những từ ngữ rất thơ. Bát ngát một trời thơ. Rất đẹp. Thưa thi sĩ, BH còn thấy có nơi dùng sai một chữ nữa trong câu cuối bài thơ "Nhà tôi ở cuối thôn Đoài ..." "Đoài " viết hoa như một danh từ riêng ạ. Đúng ra là "thôn đồi": Nhà tôi ở cuối thôn đồi Có giàn thiên lý có người tôi thương ... *YT:Xin chị BH nếu có dịp một lần nữa phổ biến bài thơ Nhà Tôi trên đài VOA, hoặc trên báo chí ở nước ngoài, lưu ý hộ tôi những từ sai ấy. *BH:Dạ vâng. Bây giờ thì xin thi sĩ cho biết một chút về..."lý lịch" của mình cũng như về xuất xứ của bài thơ Nhà Tôi? *YT: Tên cúng cơm của tôi là Nguyễn Bảo Thịnh, sinh ngày 21-1-1927 quê Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nhà tôi tên Đỗ Thị Phú (chứ không phải là Hà) sinh 17-1-1929, quê Đại Gia, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.Chúng tôi gặp nhau trong kháng chiến chống Pháp, cưới nhau ở Phú Thọ ngày 1-11-1953. Tôi và Phú đều là học sinh thoát ly gia đình đi kháng chiến. Bài thơ "Nhà Tôi" không phải là viết về chúng tôi. Chuyện thế này: Năm 1949, tôi công tác văn nghệ tại Quân đội liên khu 3, theo một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp đồn trú cạnh sông ở một làng đồi. Trong lúc đợi chờ giờ nổ súng, tôi trò chuyện với anh em và được biết ở đơn vị này có một cậu quê ở ngay làng đồi đó. Phía bên ấy đang còn mẹ và vợ. Cậu ta lấy vợ được chừng tháng thì chiến tranh bùng nổ. Chàng trai lên đường đi kháng chiến, chia tay người vợ trẻ. Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới giàn thiên lý của nhà mình. Tôi rất thích câu chuyện và viết nên bài thơ "Nhà Tôi". Có lẽ người viết đã hoà nhập được với người kể nên bài thơ được đông đảo anh em lính thuộc và nhanh chóng được phổ biến cả vào các chiến trường Nam Bộ. Không chỉ lính xuất thân từ nông thôn, cả những lính thành phố cũng tìm thấy thấp thoáng trong bài thơ những nét hợp với mình. Rất nhiều người nghĩ đó là tôi viết về tôi, Bà xã tôi cũng nghĩ thế. Không biết khi đã rõ sự thật này, những người yêu thơ có giảm đi sự mến mộ đói với bài thơ không? Hết trích Bài thơ Nhà Tôi đã được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc ra hai bài Chuyện Giàn Thiên Lý 1 và Chuyện Giàn Thiên Lý 2 Chuyện Giàn Thiên Lý 1 nhạc sĩ: Anh Bằng Ý thơ : Yên Thao - Nhà tôi Tôi đứng bên này sông Bên kia vùng lửa khói Làng tôi đây bao năm dài chinh chiến Từng lũy tre muộn phiền Tôi có người vợ ngoan Đẹp như trăng mười sáu Cưới rồi đành xa nhau Nhớ đôi môi nàng hiền Xinh xinh màu nắng Má nàng hồng Thơm mùi thơm lúa non Ai ra đi mà không từng bịn rịn Xa người yêu mà dễ mấy ai vui Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ Này anh lính chiến, người bạn pháo binh Mẹ tôi tóc sương từng đêm nghe đạn pháo rơi thật buồn Anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi Nhà tôi ở cuối chân đồi Có giàn thiên lý có người tôi thương Chuyện Giàn Thiên Lý 2 nhạc sĩ: Anh Bằng Ý thơ : Yên Thao - Nhà tôi Đã nhiều năm qua rồi Tôi là người lính chiến Quên thân mình giữ làng quê Những chiều rừng hành quân Thương về người em gái Chờ mãi tôi chưa lần về Nàng yêu loài hoa tên là Thiên Lý Nên lấy phải chồng đi xa Nhớ trước hiên nhà tranh Có giàn hoa màu trắng Em cười nói xinh xinh Đêm nay bước chân tôi trở lại làng xưa Sao lấp lánh trên sông lành lạnh về khuya Nhìn phiá bên kia bờ Đó làng tôi mờ mờ tựa như cánh đồng hoang Sau bao nhớ nhung mong gặp lại người thương Nhưng khói súng bay bay mịt mù quê hương Chẳng biết em bây giờ có còn ôm mẹ già Ủi an như ngày xưa Chiến trường ôi điêu tàn Ngôi đền thờ rách nát Thôi không còn những hồi chuông Mái nhà nghèo tôi thương Bên một giàn Thiên Lý Buồn lắm biết đâu mà tìm Người yêu còn không Hay là đã chết trong khói lửa ngập quê hương Thức trắng đêm hỏa châu Khiến lòng thêm sầu nhớ Ôi giàn Thiên Lý đâu? Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH thuổng của VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 01:28:59 am - Bài Lời Người Ra Đi của nhạc sĩ cách mạng Trần Hoàn tặng cho người vợ khi ông ra đi đánh Tây theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch đã bị sửa lời và phát hành trong Nam để cổ vũ binh lính lên đường ra "tiền tuyến" làm bia thịt chết thay cho quân đội viễn chinh Mỹ.
- Bài Tình Đồng Chí thì bị sửa cả tựa đề thành "Tình Nước" (nước nào?) và sửa lại nhiều câu từ trong bài hát. Tất cả những từ "đồng chí" đều bị xóa sạch. - Bài Tiến Về Hà Nội của nhạc sĩ cách mạng Văn Cao, cây đại thụ của âm nhạc cách mạng VN nói về các bộ đội cụ Hồ về giải phóng Thủ Đô sau trận đại thắng ĐBP thì bị sửa lời rồi đem về hát cổ động cho ý đồ Bắc Tiến, hăm he đe dọa sẽ tiến ra "giải phóng Hà Nội". - Bài Hồn Tử Sĩ của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước từ thời kháng Pháp đã được nhà nước VN dùng làm bài hát nghi thức trong các lễ tang chính thức. VNCH không tìm ra được bài nào khác, không nghĩ ra được bài nào khác, không sáng tác nổi bài nào hay hơn, nên đành ăn cắp luôn. Lỡ ăn cắp cái "quốc ca" rồi thì chôm luôn nhạc nghi lễ cũng đâu có sao! Nhiều bài hát khác của Văn Cao như bài Thiên Thai cũng bị ăn cắp đem về hát đầy ở Sài Gòn trước 1975 và sau này trong các băng đĩa Paris By Night, Asia tác phẩm của các nhạc sĩ cách mạng như Trần Tiến, Minh Châu, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Trần Hoàn, Nguyễn Văn Tý, Thanh Sơn v.v. đem ra hát đầy bên hải ngoại một cách trơ trơ như là của mình. Thậm chí còn sửa lời bài hát, sửa tựa đề bài hát, có bài không thèm đề tên nhạc sĩ tác giả, thậm chí không hỏi tác giả hoặc người thân của tác giả đến 1 tiếng, không xin phép tác giả đến 1 lời, vi phạm bản quyền trắng trợn. Tiêu đề: Bài thơ Màu Tím Hoa Sim của nhà thơ Hữu Loan Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 02:14:54 am Bài thơ cách mạng "Màu tím hoa sim" trong đó có câu "nàng có 3 người anh đi bộ đội", bị sửa lại thành "nàng có 3 người anh đi quân đội",
Đoạn: Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Bị sửa thành: Tôi người biệt động quân Xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái ... rồi coi như là của mình, đem hát đến mãi tận sau này trên PBN, Asia, các kênh truyền thông hải ngoại. Màu tím hoa sim được Nguyễn Bính đăng trọn vẹn lần đầu tiên trên báoTrăm hoa vào năm 1956. Các nhạc sĩ: Dzũng Chinh (Những đồi hoa sim), Phạm Duy (Áo anh sứt chỉ đường tà - Bài này cũng được cộng đồng chấp nhận, xem như có giá trị rất cao, với những phần BIẾN TẤU đặc sắc, chuyển từ 2/4 sang 3/4 v.v.... Tuy vậy, theo thiển ý, với những đoạn "QUÂN HÀNH" ở đầu và đặc biệt là ở cuối bài hát, cái hồn của bài thơ vẫn chưa được diễn tả đúng !!! Một bài thơ "THƯƠNG XÓT VỢ HIỀN ĐÃ MẤT" mà kết thúc bằng nhịp quân hành thì e rằng có gì đó chưa ổn thật!), Anh Bằng (Chuyện hoa sim), Duy Khánh (Màu tím hoa sim - bài hát có lời theo sát nguyên bản nhất - nhưng sau này có một sự cố, gây LỖI NGHIÊM TRỌNG, khó chấp nhận được: Trong bài thơ là hình ảnh anh VỆ QUỐC QUÂN (Bộ đội), còn trong bài hát lại bị biến đổi thành anh lính CỘNG HÒA (biệt động quân) !!! Đây là lỗi nặng, khiến bài hát dù hay đến mấy cũng trở thành VÔ GIA TRỊ! Vì phản lại tinh thần của bài thơ, có lẽ do ai đó đã sửa lại lời hát như nói trên, không còn nguyên bản như khi ca nhạc sỹ Duy Khánh phổ nhạc.)... là những người đã phổ nhạc dựa trên ý thơ của bài. Riêng bài "Những đồi hoa sim" của Dzũng Chinh và "Áo anh sứt chỉ đường tà" của Phạm Duy, một bi ca, một hùng ca, cho đến nay vẫn là những tác phẩm nổi tiếng nhất dựa trên bài thơ Mầu tím hoa sim. Ngoài ra bài thơ này còn là đề tài gợi hứng cho các nhạc sĩ soạn các bài như: "Tím cả chiều hoang" (Nguyễn Đặng Mừng), "Tím cả rừng chiều" (Thu Hồ), "Chuyện người con gái hái sim"... Trong số đó bài "Tình thiên thu" (Trần Thiện Thanh) mang âm hưởng lạ với ý cảnh của câu chuyện giống như thế nhưng miêu tả tính cảm của đôi trai gái rất đặc sắc, và trong bài không hề có chữ 'tím' nào.. Cũng cần nói thêm là bài thơ này "nàng có 3 người anh đi bộ đội" thì 3 người anh đó là Đỗ Lê Khôi - tiểu đoàn trưởng hy sinh trên đồi Him Lam, Đỗ Lê Nguyên nay là Trung tướng Phạm Hồng Cư và Đỗ Lê Khang - nguyên Thường vụ Trung ương Đoàn. Những thông tin này ở miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại tới gần đây vẫn hoàn toàn bị bưng bít, trong hơn 200 tờ báo ở hải ngoại, không 1 tờ nào nhắc tới. Chỉ khi Internet trở nên phổ biến trong nước thì bên ngoài mới có một số người biết đến bài thơ và tác giả gốc cùng hoàn cảnh ra đời của bài thơ. Cũng vì thế mà lời hát sau này của các bài bị sửa đã được đổi lại nhằm xóa dấu vết lời hát trước năm 1975. Màu tím hoa sim là một bài thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Hữu Loan, được sáng tác năm 1949 tại Thanh Hoá, sau khi người vợ đầu tiên, bà Lê Đỗ Thị Ninh, qua đời chỉ hơn 3 tháng sau đán cưới. Màu Tím Hoa Sim Hữu Loan Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến binh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê... Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói không được trông nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa... Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường đông bắc Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí Chiều hành quân Qua những đồi hoa sim Những đồi hoa sim những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu (1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh) Phần viết tiếp bài thơ của nhà thơ Hữu Loan 50 năm sau... ...Ai hát vô tình hay ác ý với nhau Chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tím tím thêm màu da diết. .. nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa: "Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm. ..!" Màu tím hoa sim tím Tình tang lệ rớm. .. Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím... Tôi ví vọng về đâu Tôi với vọng về đâu? - Áo anh nát chỉ dù. .. lâu! Màu Tím Hoa Sim Nhạc: Duy Khánh Nàng có ba người anh Đi quân đội Những em nàng còn chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh. Tôi người chiến binh (sửa lại theo bản gốc so bác yta262 cung cấp, tuy nhiên có một số ca sỹ hát thành "biệt động quân") Xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới, Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân, Nàng cười xinh xinh Bên anh chồng độc đáo. Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi! Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến chinh Mấy người đi trở lại Lỡ khi mình không về Thì thương người vợ chờ Bé bỏng chiều quê ... Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con Đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới Thành bình hương Tàn lạnh vây quanh ... Tóc nàng xanh xanh Ngắn chưa đầy búi Em ơi! Giây phút cuối Không được nghe nhau nói Không được trông thấy nhau một lần. Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa... Một chiều rừng mưa Ba người anh Trên chiến trường Đông Bắc, Biết tin em gái mất Trước tin em lấy chồng. Gió sớm thu về Rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió thu về Cỏ vàng chân mộ chí. Chiều hành quân Qua những đồi sim .. Những đồi hoa sim ..., Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim Tím cả chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai Tôi hát trong màu hoa. Áo tôi sứt chỉ đường tà, Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà Nhạc: Phạm Duy Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi Nàng có đôi người em có em chưa biết nói Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh... Tôi là người chiến binh xa gia đình đi chinh chiến Tôi yêu nàng như yêu người em gái tôi yêu Người con gái tôi yêu, người em gái tôi yêu. Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân Bùn đồng quê bết đôi giầy chiến sĩ Tôi mới từ xa nơi đơn vị về Tôi mới từ xa nơi đơn vị về Nàng cười vui bên anh chồng kỳ khôi Thời loạn ly có ai cần áo cưới Cưới vừa xong là tôi đi. Cưới vừa xong là tôi đi. Từ chốn xa xôi nhớ về ái ngại Lấy chồng chiến binh mấy người trở lại Mà nhỡ khi mình không về Thì thương người vợ, bé bỏng chiều quê. Nhưng không chết người trai chiến sĩ Mà chết người gái nhỏ miền xuôi Nhưng không chết người trai chiến sĩ Mà chết người gái nhỏ miền xuôi Nhưng không chết người trai chiến sĩ Mà chết người gái nhỏ miền xuôi Hỡi ôi ! Hỡi ôi ! Tôi về không gặp nàng Má ngồi bên mộ vàng Chiếc bình hoa ngày cưới Đã thành chiếc bình hương Nhớ xưa em hiền hoà Áo anh em viền tà Nhớ người yêu mầu tím Nhớ người yêu mầu sim. Giờ phút lìa đời Chẳng được nói một lời Chẳng được ngó mặt người... Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi Nàng có đôi người em, những em thơ sẽ lớn Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh Ôi một chiều mưa rừng trên chiến trường Đông Bắc Ba người anh được tin người em gái thương đau Và tin dữ đi mau, rồi tin cưới đi sau. Chiều hành quân qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim Tím cả chiều hoang biền biệt Rồi mùa Thu trên những dòng sông Những dòng sông, những dòng sông làn gió Thu sang Gió rờn rợn trên mộ vàng Chiều hành quân qua những đồi sim Những đoàn quân, những đoàn quân và tiếng quân ca Có lời nào ru ời ời : À ơi ! À ơi ! Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim Đồi tím hoa sim, đồi tím hoa sim Đồi tím hoa sim, đồi tím hoa sim Đồi tím hoa sim... Chuyện Hoa Sim Nhạc: Anh Bằng Rừng hoang đẹp nhất hoa màu tím Chuyện tình thương nhất chuyện hoa sim Có người con gái xuân vời vợi Tóc còn ngăn ngắn chưa đầy búi Ngày xưa nàng vẫn yêu màu tím Chiều chiều lên những đồi hoa sim Đứng nhìn sim tím hoang biền biệt Nhớ chồng chinh chiến miền xa xăm ĐK: Ôi lấy chồng chiến binh Lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi trở lại Sợ khi mình đi mãi, sợ khi mình không về Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người em nhỏ hậu phương Mà chết người em gái tôi thương Đời tôi là chiến binh rừng núi Thường ngày qua những đồi hoa sim Thấy cành sim chín thương vô bờ Tiếc người em gái không còn nữa Tại sao nàng vẫn yêu màu tím Màu buồn tan tác phải không em Để chiều sim tím hoang biền biệt Để mình tôi khóc chuyện hoa sim. NHỮNG ĐỒI HOA SIM Nhạc: Dzũng Chinh Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai! Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến Ai hẹn được ngày về rồi một chiều mây bay Từ nơi chiến trường đông bắc đó lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi Những chiều hành quân ôi những chiều hành quân tím chiều hoang biền biệt Một chiều rừng mưa được tin em gái mất chiếc thuyền như vỡ đôi! Phút cuối không nghe được em nói không nhìn được một lần dù một lần đơn sơ Để không chết người trai khói lửa mà chết người em nhỏ hậu phương tuổi xuân thì Ôi ngày trở lại nhìn đồi sim nay vắng người em thơ ôi đồi sim tím chạy xa tít tan dần theo bóng tối Xưa xưa nói gì bên em . . . Một người đi chưa về mà đành lỡ ước tơ duyên Nói nói gì cho mây gió Một rừng đầy hoa sim nên để chiều đi không hết Tím cả chiều hoang nay tím cả chiều hoang đến ngồi bên mộ nàng Từ dạo hợp hôn nàng không may áo cưới thoáng buồn trên nét mi Khói buốt bên hương tàn nghi ngút Trên mộ đầy cỏ vàng Mà đường về thênh thang Đồi sim vẫn còn trong lối cũ Giờ thiếu người xưa ấy đồi hoang mới tiêu điều! Đến nay, "Màu tím hoa sim" được xem là một trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỷ 20 và là bài thơ đầu tiên được mua bản quyền bởi một doanh nghiệp với giá 100 triệu đồng. Nhạc phẩm đầu tiên trong loạt nhạc phẩm ăn theo này em nghe là NHỮNG ĐỒI HOA SIM qua giọng ca Tuấn Vũ, sau đó đến Chuyện Hoa Sim với Như Quỳnh rồi Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà bởi giọng ca Ngọc Hạ và cuối cùng là Màu Tím Hoa Sim của Duy Khánh. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH thuổng của VNDCCH Gửi bởi: yta262 trong 29 Tháng Ba, 2010, 03:21:30 am Duy Khánh (Màu tím hoa sim - bài hát có lời theo sát nguyên bản nhất - nhưng có một LỖI NGHIÊM TRỌNG, khó chấp nhận được: Trong bài thơ là hình ảnh anh VỆ QUỐC QUÂN (Bộ đội), còn trong bài hát lại bị biến đổi thành anh lính CỘNG HÒA (biệt động quân) !!! Đây là lỗi nặng, khiến bài hát dù hay đến mấy cũng trở thành VÔ GIA TRỊ! Vì phản lại tinh thần của bài thơ.)...
--------- Cho yta đính chính dùm cố nhạc sỹ Duy Khánh, nhạc gốc phát hành ngoài thị trường vào thời VNCH của bác Duy Khánh không hề có chữ "biệt động quân" mà chỉ sửa lại là "người chiến binh" thôi ạ. Bác Duy Khánh và các nhạc sỹ miền Nam đều có ghi: phỏng thơ của Hữu Loan. Yta xin kèm theo dẫn chứng bản gốc của bác Duy Khánh, phát hành 25/11/1964. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH thuổng của VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 12:38:54 pm Cho yta đính chính dùm cố nhạc sỹ Duy Khánh, nhạc gốc phát hành ngoài thị trường vào thời VNCH của bác Duy Khánh không hề có chữ "biệt động quân" mà chỉ sửa lại là "người chiến binh" thôi ạ. Bác Duy Khánh và các nhạc sỹ miền Nam đều có ghi: phỏng thơ của Hữu Loan. Yta xin kèm theo dẫn chứng bản gốc của bác Duy Khánh, phát hành 25/11/1964. Cảm ơn bác yta262 đã đính chính dùm cố ca nhạc sỹ Duy Khánh!Vâng, bản in gốc của cố ca nhạc sỹ Duy Khánh em không có và chưa từng nghe. Tuy nhiên sau đó bản nhạc đã từng bị sửa lời với những từ ngữ đã đề cập, em đã từng nghe bản sửa lời, không phải do cố ca nhạc sỹ Duy Khánh trình bày, và bác Hai Ruộng cũng có cho biết như sau: http://www.quansuvn.net/index.php?topic=10044.msg212474#msg212474 Hôm nay em mới biết được chị Hà có quen với nhà thơ Hữu Loan . Lúc còn học sinh trung học , tụi em sống ở Miền Nam chỉ được nghe bài hát " Màu Tím Hoa Sim " đã được họ cải biên lại một vài đoạn , trong đó có đoạn " Tôi người biệt động quân (một sắc lính nguy) yêu nàng như tình yêu em gái ... Mãi đến lớp 11 , mới có ông thầy dạy văn , đọc cho cã lớp em nghe bài thơ màu tím hoa sim của Hữu Loan , Thầy đọc nguyên văn , nhưng bọn em hỏi tác giả hiện sống ở đâu thì thầy không nói , thấy bài thơ quá hay bọn em chép lại nhưng cũng không được hoàn chỉnh như bây giờ vì yêu cầu thầy đọc cho chép , thầy chỉ đọc có một lần thôi , thầy cũng đọc bài thơ " Nhà tôi " của Yên Thao . Bài nầy em không có chép , nhưng em nhớ là chế độ Sài Gòn cũng có bài hát do ai đó phổ nhạc từ bài thơ nầy , cũng sửa lời một vài đoạn . Thầy còn đọc bài thơ " Ly rượu thọ " , bọn em thấy bài thơ hay quá hỏi thầy tác giả là ai , thầy không nói . Sau giải phóng bọn em mới biết bài thơ nầy của Tố Hữu và cũng biết luôn thầy em hoạt động cho Cách Mạng . Thầy còn đọc cho bọn em nghe bài " Đồng Chí " của Chính Hữu . Bọn em cứ hỏi tới hoài , cuối cùng thầy bảo :" tự tìm hiểu , thầy nói một hồi cảnh sát bắt thầy bỏ tù , em nào đi nuôi thầy ? " . Như vậy ta có thể khẳng định bản nhạc đầu tiên cố ca nhạc sỹ Duy Khánh phát hành không có chữ "biệt động quân", nhưng chưa biết và có thể chẳng bao giờ biết được ai là người sửa thành "biệt động quân", mong các bác bổ xung thêm chuyện này, nhất là các bác cùng thời với bác Hai Ruộng, bác yta262! Có thể thấy trong các bản nhạc tương tự, chữ "kháng chiến" thường được sửa thành "chinh chiến". "bộ đội" sửa thành "quân đội". Và do mục đích cổ động, tuyên truyền, nhiều khi ý nghĩa của bài thơ gốc bị đảo ngược lại trong bản phổ nhạc. Cảm ơn bác yta262! Tác giả Đào Bích Nguyên trong bài "Nguyễn Sơn và Hữu Loan" đã kể: Một chiều Đà Lạt, tôi đang thơ thẩn trên Đồi Cù thì chợt trông thấy một toán người, trong đó có một ông già, râu tóc bạc phơ đi tới. Tôi kinh hoàng nhận ra người đó là ai, vội ào chạy đến: - Chú vào đây à? Thật là chú vào đây à? Ông ngẩn người nhìn tôi một lát, rồi cũng thốt lên: - Mày à? Chính mày à? Cha cha, trời đất dun dủi thế nào... Hay quá, tao đang sợ buồn... Có mày thì hay quá! Xong rồi! Tôi chẳng biết ông bảo xong rồi là xong cái gì, nhưng nhìn gương mặt hớn hở của ông, tôi thấy yên tâm. Tôi đang cô đơn giữa cái cao nguyên xa lạ này, gặp được Hữu Loan, thật như được gặp bố mình. Tôi cũng nghĩ, xong rồi! Đêm đó, tôi bỏ khách sạn của mình, dời sang nhà nghỉ của ông, ngồi với anh chị em văn nghệ Lâm Đồng. Một đống lửa được đốt lên, và rượu, và thịt heo rừng nướng. Có cô gái ngồi ti tỉ hát bài Màu tím hoa sim với chiếc ghi ta gỗ bập bùng. Ông bỗng ghé tai tôi nói nhỏ: - Hát thế, không phải là tao! Tôi gật đầu, cảm thông. Bài hát với nét nhạc ấy phổ biến bao nhiêu năm ở các thành phố phương nam này đã xuyên tạc ông, đã làm khổ ông như thế nào, tôi biết. Ông bảo tôi: - Hay là, mày đọc Đèo Cả đi! Và tôi đã đọc Đèo Cả trong cái đêm lạnh Đà Lạt ấy. Tôi cảm thấy mọi người nhìn ông với những ánh mắt đầy khâm phục. Nhất là khi những câu thơ cuối vang lên: Sau mỗi lần thắng Những người trấn Đèo Cả Về bên suối đánh cờ Người hái cam rừng ăn nheo mắt Người vá áo thiếu kim mài sắt Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu... Suối mang bóng người soi những về đâu?... Mọi người lặng đi giây lát, rồi đồng loạt vỗ tay. Ông vỗ vai tôi, nói với mọi người: - Thằng này là đồng hương của tôi! Thật là kiêu hãnh khi được là đồng hương của ông, nhà thơ Hữu Loan! Nhìn ông ngồi lặng im bên đống lửa, tôi chợt nhớ ngày xưa. Ngày ấy, tôi còn bé lắm, mới học lớp bảy trường phổ thông Nga Bạch. Các thầy giáo của tôi, toàn những người tốt và thông thái, đã có lần phạt tôi hạnh kiểm 4 vì tôi đọc bài Màu tím hoa sim trong một chiều chúng tôi đi đào kênh Hưng Long. Tôi cũng biết, tác giả bài thơ ấy đang đào đá, thồ đá ở núi Vân Hoàn, cách trường tôi không xa lắm. Tôi âm thầm chuẩn bị một kế hoạch để được nhìn thấy ông. Và một buổi chiều, tôi rủ hai người bạn chí thân, đó là Lã Hoan và Đào Trọng Phán chạy bộ lên núi Vân Hoàn để mong nhìn thấy ông. Chúng tôi đứng từ xa, nhìn ông bốc những tảng đá lên xa cút kít, rồi gò lưng đẩy đi... Sau đó, tôi buồn suốt một tuần, bởi không thể lý giải được tại sao một nhà thơ như ông phải đi bốc đá. Phải nhiều năm sau, khi trưởng thành, tôi mới âm thầm tự hiểu. Mùa hè năm nay, tôi có việc nhà, về thăm quê và lên thăm ông. Chiều chạng vạng, chúng tôi mới tới được nhà ông, đứng ngoài cánh cổng bằng tre gài sơ sài, tôi réo gọi tên ông thật to. Lát sau, ông lững thững đi ra, áo may ô ba lỗ màu cháo lòng, quần đùi lửng, tay cầm chiếc quạt mo. Ông nhìn lom khom vào mặt tôi, rồi chợt nhận ra, có vẻ rất vui, cười sảng khoái. Ông bảo, trừ tôi ra, không ai được réo gọi tên ông oang oang như vậy. Rồi ông nói thêm: - Nghe nói cậu ốm, bỏ cả rượu, chỉ lo cậu chết thì phí quá! Ông mời chúng tôi ngồi bên cái chõng, dưới gốc cây khế ngoài vườn, rồi lặng lẽ rót rượu ra các chén. Mái tóc bạc trắng, để dài xõa xuống ngang vai, trước trán găm một cái "bờm" bằng nhựa màu huyết dụ, chắc là của đứa cháu gái nào đem cho, trông rất ngộ. Bước sang tuổi 84 rồi mà mắt ông vẫn còn tinh anh, giọng ông còn vang khỏe, chỉ có điều, trông ông hơi hốc hác, những gân cổ và xương quai xanh nổi gồ cả lên, như đắp bằng thạch cao, như vạc bằng rìu. Nhìn ông, tôi lại chợt nhớ những câu thơ của ông: Ăn với nhau bữa heo rừng công thui chấm muối Trên sạp cây rừng ngủ chung nửa tối Biệt nhau đèo heo canh gà... Chỉ có con người ấy, tâm tính ấy, tài năng ấy mới có thể viết những câu thơ hào sảng đến như vậy vào cái thời gian khổ nhưng rất đỗi oai hùng đó. trích bài NHÀ THƠ HỮU LOAN - MỘT TÍNH CÁCH XỨ THANH trong tập Lý luận-Phê bình: Đi dọc cánh đồng thơ Tập 1 tác giả Trịnh Thanh Sơn. Không phải chỉ trong Nam, Màu Tím Hoa Sim mới phổ biến nhiều, ở ngoài Bắc, dù tác giả gặp nhiều khó khăn nhưng bài thơ vẫn theo hành tranh những người lính Cụ Hồ đi đánh Mỹ, xin trích bài báo "Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu tương ngộ thi sỹ Hữu Loan" của Xuân Ba đăng trên báo Tiến Phong tháng 1/2010: TP - Bữa theo nhóm cựu binh nhân 22 - 12 tại nhà sàn Trần Đình Bá mạn Lương Sơn, chuyện gần chuyện xa rồi tự dưng rộ lên câu chuyện về nhà thơ Hữu Loan. Nhân một người hé ra cái tin dạo này thi sĩ đã yếu lắm, cựu binh thành cổ Quảng Trị nay là Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu quyết định đánh độp rằng thứ bảy tuần tới vào Thanh thăm thi sĩ... Nhân một người hé ra cái tin dạo này thi sĩ đã yếu lắm, cựu binh thành cổ Quảng Trị nay là Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu quyết định đánh độp rằng thứ bảy tuần tới vào Thanh thăm thi sĩ... ... Thấy ánh mắt thi sĩ như dò hỏi, tôi định nói mấy câu nhưng chất giọng oang oang của ông Bộ trưởng đã cất trước: Thưa bác, 38 năm trước trong hành trang của chúng cháu vào chiến đấu ở chiến trường Thành cổ Quảng Trị, ngoài súng đạn lương khô còn có bài thơ cháu chép tay để trong túi áo ngực. Đó là bài “Màu tím hoa sim”. Trong rất nhiều ca khúc người lính vẫn hát như bài “Vì nhân dân quên mình”, “Giải phóng miền Nam” có mấy bài “Màu tím hoa sim” mà các nhạc sĩ đã phổ nhạc. Những bài hát ấy đã động viên chúng cháu vượt qua gian khó rất nhiều. Rất nhiều những người lính nằm lại chiến trường đã đọc bài thơ và đã hát bài Màu tím hoa sim của bác... Hình như tất thảy đều thở phào, hóa ra chúng tôi chỉ lo hão! Ông Bộ trưởng có cách nói của ông ấy. Bất đồ, tôi thấy đuôi mắt của thi sĩ ươn ướt... Từ cặp môi khô nẻ âm thanh lào phào... Lặng phắc đi một lúc, chúng tôi mới nghe thủng rằng anh đang làm gì? Ông Nguyễn Quốc Triệu đáp rõ ràng: Thưa bác, cháu làm Bộ trưởng Bộ Y tế... Ông Triệu nối ngay cái mạch vừa khơi: Xin phép bác cháu đọc bài thơ “Màu tím hoa sim”. Ngó ông cụng cựa, tôi tưởng ông đang rút ra bài thơ chép tay ngày nào nhưng ngài thượng thư cúi sát hơn xuống gương mặt thi sỹ mà lứa hậu sinh sau chúng tôi, chắc hẵng còn đắm đuối? Chất giọng ông Triệu vang mạnh, có lẽ ở chỗ khác thì hơi chuế nhưng trong khung cảnh này tự dưng thấy ổn. Nàng có ba người anh đi bộ đội... Chất giọng đọc theo trí nhớ ấy thi thoảng, lúc đầu thì thi sĩ phẩy tay hơi nhẹ, sau đó dường như không đủ sức, ông lắc nhẹ cái đầu... Rồi chúng tôi cũng hiểu ra được rằng, động thái ấy ông muốn chỉnh sửa những từ ông Bộ trưởng đọc nhầm! Cứ mỗi lần nhác thoáng như thế, ông Triệu biết ý cúi sát nữa xuống để nghe ông thầm thì chỉnh sửa lại. Khi ông Triệu đọc câu khi gió sớm thu về gờn gợn nước sông thi sĩ thầm thì nhưng nghe khá rõ khi gió sớm thu về rờn rờn nước sông. Rờn rờn chứ không phải gờn gợn! Nhớ chưa? Dạ cháu nhớ... Ông Triệu cười. ... Chót năm dương lịch 2009 Xuân Ba P/S: Em cảm ơn mod nào đó move bài lạc đề của em sang đây http://www.quansuvn.net/index.php?topic=13896.20;topicseen bài ấy là để đang bên ttvn cơ, nhưng move sang đó thì em đựoc thêm 1 bài viết, cũng tốt. Xin cảm ơn! Tiêu đề: Gửi người em gái miền Nam - Đoàn Chuẩn - Từ Linh Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 04:42:56 pm Trong 10 tình khúc nổi tiếng của Đoàn Chuẩn, thì có 9 tình khúc mùa thu. Duy nhất chỉ có Gửi người em gái là tình khúc mùa xuân. Gửi người em gái được biết vào mùa xuân Bính Thân (1956) và có lẽ đó là tình khúc cuối cùng mà Đoàn Chuẩn dành tặng cho một mối tình mê đắm nhất. Tình khúc viết xong đã được tài tử Ngọc Bảo thu thanh rồi phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh thống nhất. Sau khi xuất hiện, do đã được một số nhà phê bình " chăm sóc" khá chu đáo, nên tình khúc này chìm vào im lặng mấy chục năm ở miền Bắc.
Vào mùa xuân năm 1956 ấy, vết thương chia cách đất nước chưa trở thành một nỗi đau phân lìa bởi vẫn còn nhiều hy vọng trong một cuộc trùng phùng. Những người yêu nhau vẫn chỉ coi sông bến Hải như một giới tuyến tạm thời chứ chẳng ai dám ngờ nó là nỗi đau chia lìa 2 miền đất nước trong suốt 20 năm. Gửi người em gái miền Nam Sáng tác: Đoàn Chuẩn - Từ Linh Thể hiện: Ngọc Bảo http://nhacvietplus.vietnamnet.vn/vn/phainghe/7955/index.aspx Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng Rừng đào phong kín cánh mong manh hé hoa lòng Hà Nội chờ đón tết, hoa chen người đi, liễu rũ... mà chi Đêm tân xuân, hồ Gươm như say mê Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi Ngàn phía đến lễ đền Chạnh lòng tôi nhớ đến... người em Tôi có người em gái, tuổi chớm dâng hương, mắt nồng rộn ý yêu thương, Đôi mắt em nói nhiều, tha thiết như dáng kiều Ôi, tình yêu! Nhưng... một sớm mùa thu, khép giữa trời, tím ngắt Nàng đi... gót hài xanh Người đi trong dạ sao đành Đường xưa lối cũ ân tình... nghĩa xưa Rồi từ ngày sống xa anh nơi kim tiền Ngục trần gian hãm tấm thân xinh, đôi mắt hiền Đời nghèo không lối thoát, em đành thôi, cúi đầu... mà đi. Xuân đêm nay, đường đêm Ca-Ti-Na Hoa mai rơi, rủ nhau nơi phương xa Dần trắng xóa mặt đường Một người em gái nhớ người thương Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh khôn ai ngừng Cầu chia giới tuyến đến mai đây san đất bằng Nụ cười trong gió sớm, anh đến chờ em... giữa cầu Hiền Lương Em tôi đi, màu son lên đôi môi Khăn san bay, lả lơi bên hai vai ai Trời thắm gió trăng hiền Hà Nội thêm bóng dáng nàng tiên Em! Tháp Rùa yêu dấu Còn đó trơ trơ, lớp người đổi mới khác xưa, Thu đã qua những chiều, song ý thơ rất nhiều, Cả ... tình yêu ! Em... nhẹ bước mà đi, giữa khung trời bát ngát Tình ta hết dở dang Đường xưa lối ngập lá vàng Đường nay thong thả bao nàng đón xuân Lòng anh như giấy trắng, thanh tao ép hoa tàn Thời gian vẫn giữ nét yêu đương nơi hoa vàng Dịu lòng đàn dẫn phím, ý thơ trào dâng, viết gửi về em! Đêm hôm nao, ngồi nghe qua không gian Em tôi mơ, miền xưa qua hương lan Đường phố lóa ánh đèn Một người trên đất Bắc chờ em! Xuân vẫn trở về với đời sống, với lòng người. Hồ Gươm vẫn lung linh, Ngọc Sơn vẫn uy nghi, chuông vẫn reo ngân trong giờ khắc giao thừa, chỉ có lòng người: “Nhìn xác pháo bên thềm chạnh lòng tôi nhớ tới người em”. Có lẽ mọi người đều nghĩ rằng qua tình khúc này, Đoàn Chuẩn muốn gửi tới người tình đã biệt xa miền Bắc vào Nam, bởi vậy, nó mới có cái tên ban đầu nguyên vẹn là Gửi người em gái miền Nam. Khi Khánh Ly hát tình khúc này ở Sài Gòn thì mới đặt lại là Gửi người em gái với những ca từ không phải của Đoàn Chuẩn. Gửi người em gái Sáng tác: Đoàn Chuẩn - Từ Linh Thể hiện: Khánh Ly Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng lượm đào phong kín cánh mong manh tấm hoa lòng Hà Nội chờ đón tết vắng bóng người đi liễu rũ mà chi đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh Hoa mai rơi rủ nhau nơi phương xa đường phố vắng bóng đèn chạnh lòng tôi nhớ tới người em Tôi có người em gái, tuổi chớm dâng hương mắt nồng rộn ý yêu thương Đôi mắt em nói nhiều tha thiết như dáng kiều ôi tình yêu Nhưng một sớm mùa thu giữa chân trời xanh ngát Nàng đi gót hài xanh nàng đi cho dạ sao đành đừng quên lối cũ ân tình nghĩa xưa Rồi từ ngày ấy nước sông ngăn cách đôi lòng Chuyện tình vỡ lỡ bến cô đơn không ai ngờ Tình nghèo xa cách mãi em tôi đành ôm mối sầu mà đi Em tôi đi màu son lên đôi môi Khăn soan bay lả lơi trên hai vai Nhìn xác pháo bên thềm gợi lòng tôi nhớ tới người em http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Gui-Nguoi-Em-Gai-Khanh-Ly.IWZDFUDU.html Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH thuổng của VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 29 Tháng Ba, 2010, 10:20:47 pm Theo yêu cầu của bác chiangshan, em mở topic này và chuyển bài từ "Suy nghĩ của một người con - Phần 2" về đây, tạm thời mới có được một số tư liệu ít ỏi, kính mong các bác cùng chung tay góp sức! Những bản nhạc VNCH thuổng của VNDCCH (ngày nay gọi là đạo nhạc) Rất cảm ơn bác fddinh đã mở Topic này, rất bổ ích và thú vị, nhưng theo em nếu bác lấy tên là "thuổng" hay "đạo nhạc" thì chưa chuẩn lắm thì phải? ??? Vì theo em nếu gọi là "đạo nhạc" thì có nghĩa là "ăn cắp" và vi phạm quyền tác giả, còn theo như những bài của bác thì chưa hẳn như vậy. Những bài bác đưa ra đều rất đúng (những bài hát này em đều rất hay hát nên cũng nhận thấy có nhiều lời cùng được sử dụng đồng thời). Và những bài hát này họ vẫn lấy tên của tác giả mà. Ví dụ như bài Sơn Nữ ca, tác giả là Nhạc sỹ Trần Hoàn, sau này Ông còn là Bộ trưởng Bộ Văn hóa, nếu là "đạo nhạc" của Ông thì chắc chắn đã có vụ kiện về bản quyền rồi.... Có thể sử dụng là "phỏng theo" được không ạ? hoặc bác Yta262 có sử dụng một từ rất chuẩn cho việc này, nhưng bác ấy lại sửa đi mất rồi, bác Yta262 làm ơn nói lại từ bác đã dùng cho Nhạc sỹ Duy Khách về bài "Màu tím hoa sim" không ạ? (ngay cả bài này thì Nhạc sỹ Duy Khánh vẫn ghi là Thơ của Hữu Loan) vậy thì làm sao gọi là đạo lời hay đạo nhạc được? ??? Đây chỉ là sự thảo luận của em về cách lấy tên cho Topic thôi ạ. Rất cảm ơn bác fddinh, Topic của bác rất bổ ích! ;D Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH thuổng của VNDCCH Gửi bởi: yta262 trong 29 Tháng Ba, 2010, 11:08:37 pm Theo yêu cầu của bác chiangshan, em mở topic này và chuyển bài từ "Suy nghĩ của một người con - Phần 2" về đây, tạm thời mới có được một số tư liệu ít ỏi, kính mong các bác cùng chung tay góp sức! Những bản nhạc VNCH thuổng của VNDCCH (ngày nay gọi là đạo nhạc) Rất cảm ơn bác fddinh đã mở Topic này, rất bổ ích và thú vị, nhưng theo em nếu bác lấy tên là "thuổng" hay "đạo nhạc" thì chưa chuẩn lắm thì phải? ??? Vì theo em nếu gọi là "đạo nhạc" thì có nghĩa là "ăn cắp" và vi phạm quyền tác giả, còn theo như những bài của bác thì chưa hẳn như vậy. Những bài bác đưa ra đều rất đúng (những bài hát này em đều rất hay hát nên cũng nhận thấy có nhiều lời cùng được sử dụng đồng thời). Và những bài hát này họ vẫn lấy tên của tác giả mà. Ví dụ như bài Sơn Nữ ca, tác giả là Nhạc sỹ Trần Hoàn, sau này Ông còn là Bộ trưởng Bộ Văn hóa, nếu là "đạo nhạc" của Ông thì chắc chắn đã có vụ kiện về bản quyền rồi.... Có thể sử dụng là "phỏng theo" được không ạ? hoặc bác Yta262 có sử dụng một từ rất chuẩn cho việc này, nhưng bác ấy lại sửa đi mất rồi, bác Yta262 làm ơn nói lại từ bác đã dùng cho Nhạc sỹ Duy Khách về bài "Màu tím hoa sim" không ạ? (ngay cả bài này thì Nhạc sỹ Duy Khánh vẫn ghi là Thơ của Hữu Loan) vậy thì làm sao gọi là đạo lời hay đạo nhạc được? ??? Đây chỉ là sự thảo luận của em về cách lấy tên cho Topic thôi ạ. Rất cảm ơn bác fddinh, Topic của bác rất bổ ích! ;D Yta hoan hô Simon và fddinh về việc sửa lại tên topic. Hôm qua yta định góp ý rồi, nhưng chưa kịp thì Simon lên tiếng. Dưới thời VNCH thì đương nhiên phải tránh dùng những chữ thuộc phe đối nghịch VNDCCH, các nhạc sỹ muốn phát hành nhạc thì phải tránh mấy chữ "phạm húy" như vậy mới bán được nhạc của mình mà khỏi phải ngồi tù chứ ;D. Ai cũng biết Trần Hoàn, Lưu Hữu Phước, Hữu Loan, Xuân Diệu, Tố Hữu ... là các nghệ sỹ miền Bắc, học sinh miền Nam vẫn học, thầy cô dạy Văn chỉ giảng thơ thôi, tránh không bình luận nhiều về tác giả và các bài thơ kháng chiến hay ca ngợi XHCN của tác giả miền Bắc. Tiêu đề: Bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 11:13:02 pm Tiếp thu ý kiến bác Simon, và đính chính của bác yta262 em đã sửa tên topic, may là vẫn chưa phải nhờ đến mod.
Bây giờ xin trình bày kết quả khảo cứu về bài thơ “Đồng chí”. “Đồng chí” là một bài thơ rất quen thuộc với chúng ta (vì nó nằm trong chương trình văn học ở bậc trung học phổ thông). Chính Hữu viết bài này vào đầu năm 1947, khi đó anh còn là một chính trị viên ở một đại đội tham gia chiến dịch Việt Bắc nên thấy rõ đời sống gian khổ của người lính: bộ đội chưa có dép, những con sốt rét dữ dội, trời đầy sương muối.... nên có những câu thơ: “.....Áo anh rách vai quần tôi có hai miếng vá miệng cười buốt giá chân không giầy thương nhau tay nắm lấy bàn tay....” Nói đến thơ trước hết là nói đến cảm xúc và sự chân thành. Không có cảm xúc, thơ sẽ không thể có sức lay động hồn người, không có sự chân thành chút hồn của thơ cũng chìm vào quên lãng. Một chút chân thành, một chút lãng mạn, một chút âm vang mà Chính Hữu đã gieo vào lòng người những cảm xúc khó quên. Bài thơ " Đồng chí" với nhịp điệu trầm lắng mà như ấm áp, tươi vui; với ngôn ngữ bình dị dường như đã trở thành những vần thơ của niềm tin yêu, sự hy vọng, lòng cảm thông sâu sắc của một nhà thơ cách mạng. Chính Hữu tên là Trần Đình Đắc quê ở Can Lộc- Nghệ Tĩnh. Ông sáng tác ít nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. Bất kể ai trong chúng ta đều rất quen thuộc với những vần thơ mộc mạc giản dị ở bài “Đồng chí”. Vào quân đội, ông làm chính trị viên đại đội, đơn vị toàn là dân Hà Nội, học sinh sinh viên thành thị, mãi tới khi lên Việt Bắc mới thực sự tiếp xúc với nông dân, lắng nghe tâm sự của họ và dần dần ông đã tìm cho mình một cách nhìn khác trung thực hơn. Đó là cơ sở để ông có thể cất lên những vần thơ mộc mạc về những con người nơi “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá”. Chính Hữu trực tiếp tham gia chiến dịch ở Thái Nguyên. Đơn vị của ông có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến bám sát địch không cho chúng tiến sâu vào căn cứ của ta. Vì truy kích địch thường phải cắt rừng đi tắt nên cấp dưỡng theo không kịp, nhiều khi phải nhịn đói, ăn quả, củ rừng. Ông bị sốt rét ác tính nhưng không có thuốc men gì cả. Đơn vị vẫn hành quân và để lại một đồng chí chăm sóc. Sự ân cần của đồng chí đó khiến ông nhớ đến những lần đau ốm được mẹ được chị chăm sóc. Đấy là những gợi ý đầu tiên cho bài thơ “Đồng chí”. Tất cả những gian khổ thiếu thốn mà người lính phải chịu đựng trong bài đều xuất phát từ chính cuộc đời thực. Phải chăng, chất lính đã thấm dần vào chất thơ, sự mộc mạc đã hòa dần vào cái thi vị của thơ ca tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng và đầy cảm xúc? ĐỒNG CHÍ Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ Đồng chí! Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. (2-1948) Vào những năm 1949 tờ Sự thật có đăng bài thơ này, tình cờ đến tay một chính trị viên trung đoàn 82 Bình Thuận (khu 6 cũ). Minh Quốc không phải là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, nhưng là người lính nên đồng cảm với bài thơ và phổ nhạc. Bản nhạc soạn khá nhanh trong một đêm trăng đến hôm sau là xong. Bài hát TÌNH ĐỒNG CHÍ lan đi rất nhanh vào cả vùng tạm chiến, đi sâu xuống các vùng Nam bộ. Ca sỹ Quốc Hương là người từng hát nhiều nhất bài này và những người yêu thích bài hát cũng không rõ ai là tác giả. TÌNH ĐỒNG CHÍ Nhạc: Minh Quốc Thơ: Chính Hữu Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ, tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng, đầu nép bên đầu Đêm tối chung chăn thành đôi tri kỷ Đồng chí! Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người trai làng ra lính Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người, vừng trán đổ mồ hôi Áo anh rách vai, quần tôi có hai mảnh vá Miệng còn cười buốt giá chân không giày Thương nhau ta nắm lấy bàn tay Đêm nay rừng hoang sương muối Nằm kề bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Có lẽ trong sự nghiệp sáng tác của Minh Quốc chỉ có bài Tình Đồng Chí là còn đọng mãi trong lòng ngươi nghe theo năm tháng, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua không ai có thể quên được, nó đã ghi lại một thời hào hùng của lịch sử, thể hiện tình đồng đội, đồng chí rất cảm động trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ gian khổ của dân tộc. Mãi đến năm 1985, Minh Quốc và Chính Hữu mới có dịp gặp nhau tại Hà Nội. Khi bài hát ra đời cả hai cùng lứa tuổi đôi mươi, nay gặp lại nhau hai mái đầu đã bạc. Chính Hữu nói: “Nhờ anh mà bài thơ tôi được chắp cánh....” Minh Quốc nói: “Nếu không có bài thơ của anh thì làm sao có bài hát của tôi được?”. Đúng là văn chương tri kỷ, bằng hữu tri âm. Có điều mọi người không ngờ rằng Minh Quốc được quần chúng phong tặng danh hiệu nhạc sỹ từ mấy chục năm nay, nhưng ông chưa phải là hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam. Sau Hiệp định Giơ ne vơ (hi hi, cảm ơn bác mig21 phát hiện ra em nhầm) , đất nước tạm ngăn đôi với 2 chế dộ khác nhau, tại miền Nam, như trên đã nói: "Bài hát TÌNH ĐỒNG CHÍ lan đi rất nhanh vào cả vùng tạm chiến, đi sâu xuống các vùng Nam bộ", bài hát bị sửa lại nhiều câu từ trong bài hát. Tất cả những từ "đồng chí" đều bị xóa sạch, tựa đề sửa thành "Tình Nước". Cố ca nhạc sỹ Duy Khánh là người thể hiện rất thành công bài hát bị sửa đổi này. Tình Nước Nhạc và lời: Vũ Hòa Thanh - Chung Quân Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cầy lên sỏi đá Anh với tôi, hai người xa lạ Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau Lúc nguy biến tình xiết chặt tình Đêm tối chung chăn thành đôi tri kỷ Vì nước ruộng nương anh bỏ bạn thân (để vợ anh cầy) Gian nhà tranh mặc kệ gió lung lay Giếng nước dốc đá có (gốc đa nhớ) chàng trai làng ra lính Tôi với anh đã từng cơn ấm lạnh Rét run người vầng trán toát mồ hôi Áo anh rách vai, quần tôi có hai mảnh vá Miệng mỉm cười buốt giá chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Đêm nay đồng hoang sương xuống Mình ngồi (Nằm kề) bên nhau chờ trăng lên Lòng thấy nao nao Lần đầu tiên khi nghe cố ca nhạc sỹ Duy Khánh thể hiện bài này, thời đó nghe bằng đĩa nhựa, sau rồi tới băng cát-xét, em ngạc nhiên sao không giống với bài thơ, lúc đó nghĩ chắc nhạc sỹ phải làm thế cho hợp vần điệu. Tiêu đề: Bản tiếng Anh của bài Màu Tím Hoa Sim. Gửi bởi: altus trong 29 Tháng Ba, 2010, 11:22:12 pm Tôi tình cờ có đọc được bản dịch Màu Tím Hoa Sim sang tiếng Anh. Hình như chưa có bản nào khác. Các bác xem chơi.
The Blues of Blueberry With three older brothers in the Army, Younger siblings, one a babbling infant, Herself she wore the hair of pubescent. A National Guardsman away from home I fell in love with her, a sister young. The wedding day she asked for no new dress. In military outfit and hobnailed shoes, I was covered in fighting grime and mud She smiled graceful beside her special groom. I left my unit long enough to wed my bride Heading right back after the marriage rite. On far frontline deeply concerned I felt For my new bride who lived in times of war. How many men have not returned? What if I should never come back Then I'd feel pain of just leaving Behind a frail war bride in vain waiting? Yet not perished the man at war But did pass on in peaceful rear The bride that should find safety near. When I came back she had long gone. My Mom still by the dark tombstone The flower vase for the wedding Now censer cold on evening.. Her short young hair couldn't form a bun. My love, why 's it on your last breath We couldn't even hear just our voice, Or look into each other's eyes? You used to love blueberry blooms The purple dress of blueberry. Those days long gone you were so lone A small shadow by midnight lamp. You used to mend my shirts those long gone days. One rainy day in the jungle Her three brothers from Northeast front Learned of her death Before they knew of her wedding. As dawn fall breeze rippled the river's face The young sibling now grown older Puzzled at the photo of her older sister. When the fall breeze blew on grassy headstones The fight till dark raged through the berry hills The blueberry stretching endlessly still. O blues of blueberry! Blending with dusk until eternity. My shirt's shoulder was torn I sang amidst colors of blooms, "My old shirt's hem has come undone, My wife deceased, old Mom has yet to mend." Translated by Thomas D. Le 20 November 2004 Tiêu đề: Cảm ơn bác yta262 và các bác khác đã có lòng ủng hộ topic này! Gửi bởi: fddinh trong 29 Tháng Ba, 2010, 11:27:46 pm Simon hay quá, vâng, yta có dùng chữ "phóng tác" thơ Hữu Loan theo như bài "Những đồi hoa sim" của Dzũng Chinh, nhưng chữ này không phải ai cũng thích dùng. "Phóng tác" là chữ Hán Việt, nên yta sửa lại "phỏng thơ" cho nó giống chữ VN của mình. Người minh xài chữ của mình cho dễ hiểu, phải không Simon nhỉ ;D. Cố nhà thơ Hữu Loan, trong thời gian đất nước còn chia cắt đã chịu khổ không ít, phần nhiều do ảnh hưởng từ bài đầu tiên phổ nhạc thơ ông, bài "Những đồi hoa sim" của Dzũng Chinh. Thật ra khi bác yta262 đính chính dùm cố ca nhạc sỹ Duy Khánh em đã suy nghĩ về tên của topic, thấy nó hơi nặng nề, gặp bác Simon góp ý nữa nên em đã đổi lại, bằng chữ "nguồn gốc" mà em thấy có ý nghĩa nhất. Cảm ơn bác yta262 và các bác khác đã có lòng ủng hộ topic này! Mong các bác tiếp tục đóng góp! Tiêu đề: Lời Người Ra Đi Gửi bởi: fddinh trong 30 Tháng Ba, 2010, 12:18:36 am Vào một ngày mùa đông năm 1995, có người thiếu phụ Huế xinh đẹp bỡ ngỡ bước xuống sân bay Nội Bài. Chị vừa từ Mỹ trở về sau bao nhiêu năm xa cách quê hương. Đã bước sang tuổi lục tuần, chị vẫn giữ nguyên vẻ đẹp quý phái, thông minh, nhanh nhẹn của cô học sinh Quốc học Huế ngày nào.
Sơn nữ ca Cô bạn học cùng trường Quốc học Huế ngày xưa của nhạc sĩ Trần Hoàn đã trở thành giáo sư dạy piano ở Mỹ. Chị trở về nước với ước mơ mở lớp dạy nhạc cho thanh thiếu niên Việt Nam theo lời mời của Bộ trưởng Văn hoá Trần Hoàn. Rất ít người biết được tình cảm thơ mộng học trò của chị ngày nào với nhạc sĩ đã tạo niềm cảm hứng để anh học sinh Trần Hoàn 17 tuổi sáng tác bài hát đầu tiên “Học sinh vui tươi” năm 1945. Chị chơi đàn piano theo bài hát anh sáng tác. Bài hát này đã được nhà trường trao giải. Có lẽ chính bài hát này cùng với giải thưởng đã quyết định sự dấn thân của Trần Hoàn trên con đường âm nhạc. Cách mạng Tháng Tám, rồi chiến tranh, họ xa nhau từ thuở ấy. Cuộc gặp gỡ tình cờ của nhạc sĩ Trần Hoàn với những cô nữ sinh trường Phan Bội Châu ở chiến khu Quảng Bình đã gợi nhớ những kỷ niệm của một thời học sinh. Và bản nhạc “Sơn nữ ca” với giai điệu tănggô tha thiết đã ra đời. Nhạc sĩ Trần Hoàn được làng nhạc biết đến với bài “Sơn nữ ca” nổi tiếng khi anh mới tròn 20 tuổi. Rất ít nhạc sĩ nào gắn chặt với cuộc đời sáng tác âm nhạc với cuộc đời hoạt động chính trị như nhạc sĩ Trần Hoàn. Anh đến với cách mạng, với âm nhạc bằng cả niềm đam mê hăng hái của người học sinh Quốc học Huế. Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều Phiêu bạt thời gian, vun vút trời mây... Nhạc sĩ Trần Hoàn gặp người vợ tương lai của mình ở một làng quê trung du Nghệ An. Chị là cô huyện uỷ viên 19 tuổi. Anh phụ trách thông tin tuyên truyền của tỉnh. Tình cờ, trong một lần đi công tác, anh gặp chị. “Đang mải vui cờ tướng reo hò ầm ĩ thì bà Thiệng (mẹ chị Hồng - TG) đã từ ngoài đi vào. Theo sau là một cô gái, quang gánh trên vai đi thẳng vào phía nhà ngang. Cô gái khá sắc sảo trong chiếc áo sơ mi màu nâu, tóc buông xoã ngang vai, đôi mắt bạo dạn miệng cười duyên dáng. Ba và các chú ngừng chơi cờ... Và các con biết không, từ đấy người con gái ấy đã từ từ đi vào đời ba, và đọng lại trong tim ba lúc nào không biết” (Nhạc sĩ Trần Hoàn – Những kỷ niệm khó quên). Anh Trần Hoàn đánh liều viết những hàng chữ nắn nót đằng sau mảnh giấy thông cáo của Sở Thông tin: “Hồng, em có nhận lời làm vợ anh không?” Chị Hồng lúng túng đỏ mặt. Trong lần gặp đầu tiên, chị đã để ý người con trai thành phố đẹp trai, vui tính. Nhưng với chị, anh là cả một thế giới xa vời, khó hiểu. Chị ngập ngừng: “Không, anh ạ”. “Vì sao?” “Vì anh là nghệ sĩ”. Mình là nghệ sĩ ư? – Anh Trần Hoàn phân vân tự nghĩ – phải nói mình là cán bộ chính trị có nhiều tính nghệ sĩ thì đúng hơn. Anh quê Quảng Trị, con trai một công chức nhỏ thời Pháp thuộc, có năng khiếu âm nhạc, biết hát tuồng, ca Huế. Mẹ anh hát dân ca miền Trung, hát ví dặm rất hay. Thời gian học trường Quốc học Huế, anh hoạt động trong các phong trào yêu nước của học sinh. Người giác ngộ cách mạng cho anh là các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu. Không khí đấu tranh sôi nổi của những ngày đầu cách mạng Tháng Tám in đậm dấu ấn trong các tác phẩm của anh. Những bài hát như Học sinh vui tươi, Trên đường về, Hồn nước ra đời vào những năm tháng ấy. Trong một cuộc thi âm nhạc, anh được giải với bài “Hồn nước”. Và cái tên Trần Hoàn đã xuất hiện (tên thật của anh là Nguyễn Tăng Hích). Mê bài hát Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao, anh đã lấy từ “trần hoàn” trong câu “Đào nguyên xưa Lưu Nguyễn quên trần hoàn” của ca khúc ấy làm bút danh. Lời Người Ra Đi Sau Cách mạng, anh Trần Hoàn tham gia Đoàn tuyên truyền văn nghệ Trung bộ và Liên khu IV. Anh được kết nạp Đảng và công tác ở vùng địch hậu Bình Trị Thiên. Chị Hồng, cô huyện uỷ viên xứ Nghệ ngày nào anh tỏ tình đã đồng ý cưới. Sau lễ cưới một tuần, anh phải ra Bắc nhận công tác ở Hội Văn nghệ Liên khu III và Hà Nội. Anh phụ trách hoạt động văn nghệ trong lòng địch vùng tả ngạn sông Hồng. Chia tay nhau sau một tuần trăng mật ngắn ngủi, nỗi nhớ vợ thật da diết. Bài hát “Lời Người ra đi” anh tặng chị thành lời chia tay của người yêu với người yêu cho cả một thế hệ thanh niên thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Một chiều anh bước đi em tiễn đưa ra tận cuối đồi nghe dặn lời rằng kháng chiến còn trường kỳ rằng kháng chiến còn trường kỳ và còn gian khổ Máu còn rơi xương còn rơi bao lớp người tiền tuyến tuôn ra ngăn quân thù dày xéo dân ta cho cuộc đời mới Một ngày vui sẽ tới phơi phới Như dòng sông ra đại dương qua bao ghềnh và đá cheo leo Đấu tranh này còn dài em ơi mới đến ngày chiến thắng Và xa xôi, em nhớ lời dù kháng chiến còn trường kỳ dù kháng chiến còn trường kỳ và còn gian khổ Và dù nơi chốn xa cho gió mưa có rơi dầm dề em nhủ mình rằng muốn có một ngày về thì chiến đầu đừng sờn lòng đừng lề gian khổ Súng còn vang dân lầm than đây chiến trường thề quyết xông pha ánh dương bầu trời Việt Nam ta mong hoà bình tới để toàn dân vui sống lo ấm Trên đồng xanh em cùng anh Lấy sức người vượt sức thiên nhiên Sống vui cùng đồng lúa nương khoai Cho một mùa gió thắm Và dâng lên bao tâm hồn đầy sức sống hoà tình đời tình phơi phới mừng ngày về tràn đầy tin tưởng. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương trêu Trần Hoàn: - Hôn tạm biệt đi chớ. Chị Hồng e thẹn, đỏ mặt. Anh Thương cười: - Thôi hôn trán cũng được! Từ ngày cưới đến hết chiến tranh, anh chị ít được ở gần nhau. Anh thường phải đi công tác xa: chiến khu III, chiến trường Bình Trị Thiên- Huế... Sau này, bài ca ấy vẫn được các thế hệ thanh niên yêu thích. Trích "Chuyện tình của Bộ trưởng, nhạc sĩ Trần Hoàn" ( báo Tiền Phong ) Ở Miền Nam, bản nhạc được phổ biến rộng rãi nhưng tinh thần kháng chiến của bài hát đã bị biến đổi. Dưới đây là lời hát được lấy trong cuốn "Những ca khúc một thời vang bóng" do NS Văn Giảng chủ biên, Saigon, 1971. Lời Người Ra Đi Nhạc và lời: Trần Hoàn Thể loại: Nhạc Tiền Chiến Nhịp 4/4 Hợp âm Rê thứ (chậm) 1. Một chiều anh bước đi Em tiễn chân anh tận cuối đồi Nghe dặn lời Rằng chiến đấu đừng sờn lòng Rằng sóng gió đừng sờn lòng Đừng nề gian khổ ! (nhanh, cương quyết) Máu còn rơi xương còn rơi Bao lớp người tiền tuyến tuôn ra Ngăn quân thù giày xéo dân ta Cho một ngày mới Một nguồn vui tới Xuân phơi phới Như giòng sông Qua đại dương Qua bao gềnh và đá cheo leo Đấu tranh này bền lòng em ơi Mới tới ngày nắng ấm Và xa xôi em nhớ lời Rằng muốn có một ngày về Thì chiến đấu Đừng sờn lòng đừng nề gian khổ ... 2. (chậm trở lại) Ngày nào nghe tiếng chim Ca líu lo trên cành hoa đào Em nhủ thầm Rằng bóng dáng người tình về Về đến bến đò đầu làng Là giờ anh về! (nhanh, cương quyết) Lá vàng rơi, mưa buồn rơi Bao tháng ngày hình bóng xa xôi Nay anh về mừng lắm anh ơi! Ta xây đời . . . mới Một nguồn vui . . . tới Ý phơi phới Như giòng sông qua đại dương Qua bao ghềnh và đá cheo leo Gió mưa đừng sờn lòng em ơi Mới đến ngày nắng ấm Và xa xôi em nhớ lời Rằng muốn có một ngày về Thì chiến đấu Đừng sờn lòng đừng nề gian khổ . . . 3. (chậm trở lại) Và dù nơi chốn quê Hay ở xa nơi tận cuối đồi Em nhủ mình Rằng muốn có một ngày về Thề chiến đấu đừng sờn lòng Đừng nề gian khổ! (nhanh, cương quyết) Súng còn vang, dân lầm than Đây chiến trường thề quyết xông pha Ánh dương bầu trời Việt thân yêu Mong hòa bình . . . tới Để toàn dân . . . mới Sống ấm no Trong ngày xanh em cùng anh Lấy sức người gặt sức thiên nhiên Sống chan hòa đồng lúa nương khoai Cho một mùa gió thắm Và dâng lên bao tâm hồn Đầy sức sống hòa tình đời Tình phơi phới mừng ngày về Tràn đầy tin tưởng . . . Tiêu đề: Re: Cảm ơn bác yta262 và các bác khác đã có lòng ủng hộ topic này! Gửi bởi: Simon trong 30 Tháng Ba, 2010, 07:57:13 pm Simon hay quá, vâng, yta có dùng chữ "phóng tác" thơ Hữu Loan theo như bài "Những đồi hoa sim" của Dzũng Chinh, nhưng chữ này không phải ai cũng thích dùng. "Phóng tác" là chữ Hán Việt, nên yta sửa lại "phỏng thơ" cho nó giống chữ VN của mình. Người minh xài chữ của mình cho dễ hiểu, phải không Simon nhỉ ;D. Thật ra khi bác yta262 đính chính dùm cố ca nhạc sỹ Duy Khánh em đã suy nghĩ về tên của topic, thấy nó hơi nặng nề, gặp bác Simon góp ý nữa nên em đã đổi lại, bằng chữ "nguồn gốc" mà em thấy có ý nghĩa nhất. Cảm ơn bác yta262 và các bác khác đã có lòng ủng hộ topic này! Mong các bác tiếp tục đóng góp! Tên của Topic nghe có vẻ ổn rồi bác fddinh ạ, nhưng em vẫn băn khoăn vì tên như vậy có bị "bó" lắm không? Nếu bác mở rộng thêm những bài về Tiền chiến thì hay hơn đấy bác nhỉ! ??? ;D Cảm ơn bác Yta, tiếng Việt của bác còn rất tốt! :D Còn em, chán thật! :( Tiếng Việt của em bây giờ quả là có "vấn đề"! :'( :'( :'( Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Ba, 2010, 09:03:30 pm Quan trọng là chất lượng các bài viết trong Topic. Nếu cần thiết bác chủ topic có thể PM cho em, em sẽ sửa tiêu đề của Topic.
Topic rất hay, mong các bác đừng làm loãng. Tiêu đề: Re: Bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu Gửi bởi: mig21-58 trong 31 Tháng Ba, 2010, 07:52:52 am Sau Hiệp định Paris, đất nước tạm ngăn đôi với 2 chế dộ khác nhau, tại miền Nam, như trên đã nói: "Bài hát TÌNH ĐỒNG CHÍ lan đi rất nhanh vào cả vùng tạm chiến, đi sâu xuống các vùng Nam bộ", bài hát bị sửa lại nhiều câu từ trong bài hát. Tất cả những từ "đồng chí" đều bị xóa sạch, tựa đề sửa thành "Tình Nước". Tiêu đề: Re: Cảm ơn bác yta262 và các bác khác đã có lòng ủng hộ topic này! Gửi bởi: fddinh trong 31 Tháng Ba, 2010, 12:50:41 pm Tên của Topic nghe có vẻ ổn rồi bác fddinh ạ, nhưng em vẫn băn khoăn vì tên như vậy có bị "bó" lắm không? Nếu bác mở rộng thêm những bài về Tiền chiến thì hay hơn đấy bác nhỉ! ??? ;D Em vốn chỉ muốn trình bày về vấn đề như tên topic thôi bác Simon à. Tên topic thế là hay rồi bác! Hoan nghên bác thêm vào, miễn là nội dung theo hướng thơ hay nhạc vốn là kêu gọi đánh đuổi ngoại xâm, tôn vinh lòng yêu nước mà rồi sau này bị sửa đổi với hàm ý ngược lại, như trường hợp bàn "Tiếng Gọi Thanh Niên" là được bác Simon ạ. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 01 Tháng Tư, 2010, 06:22:29 pm Nhân tiện có bác Phonglan mới post bài thơ dưới đây của Nguyễn Bính, bài này đã được VNCH phổ nhạc, nhưng em không nhớ chính xác tên bài hát có lấy vậy không? Bác fddinh và bác Yta nếu biết bài này làm ơn cho em cái link của bài hát nhé! ;) Cảm ơn hai bác nhiều! ;D HÔN NHAU LẦN CUỐI Cầm tay anh khẽ nói: Khóc lóc mà làm chi? Hôn nhau một lần cuối Em về đi, anh đi … Rồi một hai ba năm, Danh thành anh trở lại, Với em anh chăn tằm, Với em anh dệt vải. Ta sẽ là vợ chồng, Sẽ yêu nhau mãi mãi. Sẽ se sợi chỉ hồng, Sẽ hát câu ân ái. Anh và em sẽ sống Trong một mái nhà tranh. Lấy trúc thưa làm cổng, Lấy tơ liễu làm mành. Nghe lời anh em hỡi! Khóc lóc mà làm chi? Hôn nhau một lần cuối, Em về đi, anh đi … Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 01 Tháng Tư, 2010, 06:46:26 pm HÔN NHAU LẦN CUỐI
Album: Elvis Phương - Khánh Ly 2 http://music.vuilen.com/play.php?albumid=241&songid=2812 Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 01 Tháng Tư, 2010, 07:15:05 pm HÔN NHAU LẦN CUỐI Album: Elvis Phương - Khánh Ly 2 http://music.vuilen.com/play.php?albumid=241&songid=2812 Vâng, đúng là bài này đấy bác ạ! ;) Nhưng lúc trước em nghe không phải Elvis Phương hát, một ca sĩ nào đó hát hay hơn anh này. ;D Cảm ơn bác fddinh nhiều nhá! ;D Tiêu đề: TÂY TIẾN - Quang Dũng Gửi bởi: fddinh trong 02 Tháng Tư, 2010, 09:57:47 pm Nhân đây xin có đôi lời về "Nhạc Tiền Chiến", theo cách hiểu của miền Bắc, "Nhạc Tiền Chiến" chỉ những bản nhạc được sáng tác từ thời kỳ 1930 cho tới trước khi thành lập nước VNDCCH, với VNCH, họ cho rằng "Nhạc Tiền Chiến" là nhạc được sáng tác từ thời kỳ 1930 cho tới sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, vì vậy những bản nhạc, bài thơ thời 9 năm VNCH điềm nhiên gọi là "Nhạc Tiền Chiến", những bài thơ của Quang Dũng cũng được liệt vào hành "Tiền Chiến".
Thi sĩ Quang Dũng (1921-1988) tên thật là Bùi Ðình Diệm, sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng tỉnh Sơn Tây (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Sau khi học Trường sư phạm tại Hà Nội, Quang Dũng làm nhạc công gánh hát rong và làm gia sư tại Hà Nội. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ông chiến đấu trên hai mặt trận: vừa là người cầm bút nhưng cũng vừa là người cầm súng chiến đấu. Năm 1947 ông từng là đại đội trưởng của Trung đoàn Thủ Đô. Ông cũng hoạt động văn nghệ ở Liên Khu III thời kháng chiến, từng là trưởng phòng văn nghệ Liên khu. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các họa sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học. Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Thơ của ông bị phê bình trên báo chí miền Bắc lúc đó là mang hơi hướng "tiểu tư sản", thiếu tính chiến đấu, còn ở miền Nam thì được xuất bản và phổ biến rộng rãi. Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ Ở (Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương ... Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội. TÂY TIẾN Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Phù Lưu Chanh, 1948 Tây Tiến: Tên một đơn vị của Việt Minh được thành lập vào đầu năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Lào - Việt và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và hỗ trợ cho những vùng khác trên đất Lào. Các chiến sĩ của Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội. Ðịa bàn hoạt động của Tây Tiến khá rộng (từ Mai Châu, Châu Mộc, sang Sầm Nứa rồi vòng qua miền tây Thanh Hóa). TÂY TIẾN Nhạc: Phạm Duy Lời thơ: Quang Dũng Sông Mã xa rồi xa, xa rồi xa, xa rồi xa, xa mãi.. Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu, lên khúc khuỷu Dốc thăm thẳm sâu thăm thẳm sâu Heo hút tầng mây súng ngửi trời Heo hút tầng mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Hỡi ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Tây tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành ôi khúc độc hành Khúc độc hành ôi khúc độc hành Tây Tiến, Tây tiến người đi không hẹn ước, người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa không về xuôi. Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa không về xuôi. Tây Tiến, Tây Tiến, Tây Tiến... Tây tiến (Phạm Duy - Quang Dũng) - Anh Dũng & Phạm Duy http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=pbyrtEFgXb Tiêu đề: Đôi mắt người Sơn Tây - Quang Dũng Gửi bởi: fddinh trong 02 Tháng Tư, 2010, 10:26:08 pm Về chuyện Người con gái Sơn Tây, theo nhạc sỹ Phạm Duy (Bạn học của Quang Dũng ở trường Thăng Long Hà Nội - Quang Dũng ngồi sau Phạm Duy hai hàng ghế, người to con nhưng rất hiền) kể lại: Lúc Quang Dũng còn là đại đội trưởng trung đoàn Tây Tiến đóng quân ở Hoà Bình. Vừa được nghỉ phép, về thăm gia đình ở Phùng thuộc tỉnh Sơn Tây ,anh tạt qua nơi có tên là Kinh Đào ở gần chợ Đại, thăm người yêu cũ tên là Nhật, còn có một mỹ danh nữa là Akimi, nàng có hàng cà phê trong vùng cách mạng mà ông thường hay ghé uống. Nàng chính là người đẹp Sơn Tây, nguồn cảm hứng dạt dào cho Quang Dũng viết bài Đôi mắt người Sơn Tây, ông đã tặng nàng bài thơ có câu :
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em đã bao ngày em nhớ thương Akimi Nhật sống cùng mẹ, trong cái quán nước đơn sơ này, nhà thơ thường hay lui tới, có lần Quang Dũng sáng tác ngay một bài thơ ca ngợi nàng và dán ngay lên vách nứa: Tóc như mây cuốn, mắt như thuyền Khuấy nước kênh đào sóng nổi lên Ý nhị mẹ cười sau nếp áo Non sông cùng đắm giấc mơ tiên… (Đây là bài thơ mới phát hiện sau này do chính bà Nhật - định cư ở Hoa Kì cung cấp). Qua thơ, người thưởng thức vẫn thấy một bóng hình đẹp, lãng mạn của người con gái, tuy rằng không thấy mặt…?. Có lần Phạm Duy cùng Quang Dũng đi xe đạp về chợ Neo, hai người chạy song song trên đường làng. Thi sĩ kể về mối tình của mình với người đẹp Akimi và đọc lên bài thơ tặng nàng: Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai Sông kia từng lớp lớp mưa dài Mắt kia em có sầu cô quạnh Khi gió heo về một sớm mai Sau này, chiến tranh lan rộng, Akimi theo mẹ về thành bỏ lại người xưa, tan vỡ một mối tình. Tới 1954, nàng di cư vào Nam, sống ở Sài Gòn, một thời là kiều nữ của nhà hàng Tự Do, đến 1975 sang Mỹ định cư. Nàng đi để lại cho Quang Dũng một nỗi nhớ ơ hờ chỉ biết. Bên nầy đất nước nhớ thương nhau Em đi áo mỏng buông hờn tủi Dòng lệ thơ ngây có dạt dào… Bài thơ Càng nổi tiếng như cồn ở Miền Nam, khi nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc trở thành phổ biến trong quần chúng qua giọng hát truyền cảm của nam danh ca Duy Trác. Có người ngạc nhiên khi thấy ông phổ một lượt tới hai bài thơ trong đó: đoạn đầu lấy Đôi Bờ, phần sau là phần chính, phổ từ bài Đôi mắt người Sơn Tây, rất độc đáo, rất hiếm trong âm nhạc. Ðôi bờ Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai? Sông xa từng lớp lớp mưa dài Mắt kia em có sầu cô quạnh Khi chớm heo về một sớm mai? Rét mướt mùa sau từng xuất ngự Kinh thành em có nhớ ta chăng Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến Hiu hắt chiều sông lạnh bến Tề Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa Ðêm đêm sông Ðáy lạnh đôi bờ Thoáng hiện em về trong đáy cốc Nói cười như chuyện một đêm mơ Xa quá rồi em người mỗi ngả Bên này đất nước nhớ thương nhau Em đi áo mỏng buông hờn tủi Dòng lệ thơ ngây có dạt dào? Đôi mắt người Sơn Tây Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì Vầng trán em mang trời quê hương Mắt em dìu dịu buồn Tây phương Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em đã bao ngày em nhớ thương? Mẹ tôi, em có gặp đâu không Bao xác già nua ngập cánh đồng Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông! Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn! Đất đá ong khô nhiều suối lệ Em đã bao ngày lệ chứa chan? Đôi mắt người Sơn Tây U ẩn chiều lưu lạc Buồn viễn xứ khôn khuây Tôi gửi niềm nhớ thương Em mang giùm tôi nhé Ngày trở lại quê hương Khúc hoàn ca rớm lệ Bao giờ trở lại đồn Bương Cấn Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng Bao giờ tôi gặp em lần nữa Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ Còn có bao giờ em nhớ ta? Nhạc phẩm "Ðôi Mắt Người Sơn Tây" do chính tác giả Hoài Bắc Phạm Ðình Chương trình bày. http://www.freewebtown.com/mylinh/DoiMatNguoiST_HoaiBac.wma Đôi Mắt Người Sơn Tây Phạm Đình Chương Thơ: Quang Dũng Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai Sông xa từng lớp lớp mưa dài Mắt em ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai Đôi mắt Người Sơn Tây U uẩn chiều luân lạc Buồn viễn xứ khôn khuây, Buồn viễn xứ khôn khuây Em hãy cùng ta mơ Mơ một ngày đất mẹ Ngày bóng dáng quê hương Đường hoa khô ráo lệ Tôi từ chinh chiến đã ra đi Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì Sông Đáy chậm nguồn qua Phú Quốc Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay Em vì chinh chiến thiếu quê hương Sài Sơn , Bương Cấn mãi u buồn Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em có bao giờ, Em có bao giờ, Em thương nhớ thương Đôi mắt Người Sơn Tây U uẩn chiều luân lạc Buồn viễn xứ khôn khuây buồn viễn xứ khôn khuây Em hãy cùng ta mơ Mơ một ngày đất mẹ Ngày bóng dáng quê hương Đường hoa khô ráo lệ Đôi mắt Người Sơn Tây Đôi mắt Người Sơn Tây Buồn viễn xứ khôn khuây ... Nhạc phẩm "Ðôi Mắt Người Sơn Tây" qua giọng hát của danh ca Thái Thanh http://www.youtube.com/watch?v=VYf9Lr9ynVs&feature=player_embedded Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 02 Tháng Tư, 2010, 11:07:24 pm Cảm ơn bác fddinh đã cung cấp về lịch sử bài "Đôi mắt người Sơn Tây" - là một trong những bài hát mà SM hay nghe và rất thích, đặc biệt là mỗi khi nghe bài này thì lại nhớ đến một người bạn..... vì thời điểm hay nghe bài này thì biết người bạn đó....và cái đĩa này lúc nào cũng để trên xe để nghe! ;)
Mai Hoa (vợ của nhạc sỹ Trọng Đài) hát bài này rất hay và da diết, theo SM có lẽ Mai Hoa là người hát đạt nhất! ;D Mình rất thích lời của bài hát này và nhạc cũng rất đặc biệt! ;) Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 02 Tháng Tư, 2010, 11:16:24 pm Ôi, không ngờ em lại chọn toàn bài hát mà bác Simon thích, bởi vì em cũng thích.
Sưu tầm những bài theo ý nghĩa của topic thật khó, vì những lời hát hiện nay có trên mạng thường được sửa lại, ít còn nguyên bản của thời trước 1975, em sẽ bổ xung thêm thông tin về những nhạc sỹ VNCH phổ nhạc cho thơ VNDCCH. Cũng mong mỏi các bác lớn tuổi từng lớn lên ở miền Nam góp sức! Xin cảm ơn! Và sau đây là 2 bản nhạc phổ từ bài thơ "Bao giờ trở lại" của Nhà thơ Hoàng Trung Thông. “Các anh đi/ Ngày ấy đã lâu rồi/Xóm làng tôi còn nhớ mãi”… …“Các anh về mái ấm nhà vui/Tiếng hát câu cười/Rộn ràng xóm nhỏ/ Các anh về tưng bừng trước ngõ/ Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau/ Mẹ già bịn rịn áo nâu/ Vui đàn con ở rừng sâu mới về”… Đó là những câu thơ trong bài thơ “Bao giờ trở lại” của Hoàng Trung Thông (1925-1993) và ấy cũng là câu hát trong ca khúc “Bộ đội về làng” của Lê Yên. Bài thơ được Hoàng Trung Thông viết sau ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Sức thu hút và lan tỏa của bài thơ thật sâu rộng. Nhà thơ Hoàng Trung Thông còn có những bút danh khác như Đặc Công, Bút Châm, quê quán xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nguyên là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Viện trưởng Viện Văn học (Việt Nam). Nhà thơ Hoàng Trung Thông tham gia cách mạng từ trước 1945 trong phong trào Việt Minh, từng đảm nhiệm các chức trách: cán bộ văn nghệ của khu ủy Liên khu IV, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Nghệ An, ủy viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương; thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam; tổng biên tập báo Văn nghệ, báo Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam; Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương; Viện trưởng Viện Văn học (1976-1985). Năm 1952, nhạc sĩ Lê Yên đã hình thành bản hợp xướng hoành tráng, nổi tiếng “Bộ đội về làng”. Nhạc sĩ Phạm Duy, Văn Phụng… cũng đã phổ nhạc bài thơ này của Hoàng Trung Thông. Có thể nói, đây là bài thơ hay nhất của Hoàng Trung Thông và là ca khúc thành công nhất của Lê Yên. Nói đến bộ đội Cụ Hồ là chúng ta nghe vang rền giai điệu hành quân. Ấy là “Hành quân xa” (Đỗ Nhuận), “Hành khúc ngày và đêm” (Phan Huỳnh Điểu), “Hành quân đêm” (Xuân Hồng-Trí Thanh), “Đường ra trận mùa xuân” (Cẩm La), “Cùng anh tiến quân trên đường dài” (Huy Du-Xuân Sách), “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục), “Hát mãi khúc quân hành” (Diệp Minh Tuyền)… Nhưng với Hoàng Trung Thông, anh chọn khoảnh khắc “Bộ đội về làng” trong nỗi chờ mong “Bao giờ trở lại”. Rõ ràng, để có “nỗi chờ mong” ấy, các anh bộ đội Cụ Hồ trước đó đã để lại ấn tượng rất đẹp đối với người dân. Bài thơ đầm ấm tình quân dân, ân tình chuyện hậu phương tiền tuyến mà mỗi làng quê Việt Nam là “quê hương anh bộ đội”. Thông thường khi chọn thơ để phổ nhạc, các nhạc sĩ chọn tư tưởng chủ đề của thơ trước yêu cầu của thời đại và hợp điệu với tâm hồn nhạc sĩ. Bên cạnh đó, thể thơ cũng có yêu cầu của công việc phổ nhạc. Hoàng Trung Thông viết “Bao giờ trở lại” theo thể thơ tự do. Ấy là một thử thách đối với nhạc sĩ phổ nhạc. Vốn là nhạc sĩ có tài và đậm chất dân ca truyền thống, Lê Yên đã thành công khi sáng tác “Bao giờ trở lại” thành hợp xướng “Bộ đội về làng”. Bao giờ trở lại? Các anh đi Ngày ấy đã lâu rồi Xóm làng tôi còn nhớ mãi Các anh đi Bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong Làng tôi nghèo Nho nhỏ bên sông Gió bắc lạnh lùng Thổi vào mái rạ Làng tôi nghèo Gió mưa tơi tả Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi Các anh về mái ấm nhà vui Tiếng hát câu cười Rộn ràng xóm nhỏ Các anh về tưng bừng trước ngõ Lớp đàn em hớn hở theo sau Mẹ già bịn rịn áo nâu Vui đàn con nhỏ rừng sâu mới về Từ lưng đèo Dốc núi mù che Các anh về Xôn xao làng tôi bé nhỏ Nhà lá đơn sơ Nhưng tấm lòng rộng mở Nồi cơm nấu dở Bát nước chè xanh Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau Anh giờ đánh giặc nơi đâu Chiềng Vàng, Vụ Bản, hay vào Trị Thiên Làng tôi thắng lợi vụ chiêm Lúa thêm xanh ngọn, khoai lên thắm vồng Giảm tô hai vụ vừa xong Đêm đêm ánh đuốc dân công rực đường Dẫu rằng núi gió đèo sương So anh máu nhuộn chiến trường thấm chi Bấm tay tính buổi anh đi Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về? Lúa xanh xanh ngắt chân đê Anh đi là để giữ quê quán mình Cây đa, bến nước, sân đình Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường Hoa cau thơm ngát đầu nương Anh đi là giữ tình thương dạt dào Các anh đi Khi nào trở lại Xóm làng tôi Trai gái vẫn chờ mong Chờ mong chiến dịch thành công Xác thù chất núi bên sông đỏ cờ Anh đi chín đợi mười chờ Tin thường thắng trận, bao giờ về anh? Bộ đội về làng Lê Yên - Hoàng Trung Thông Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi xóm làng tôi còn nhớ mãi Ước mong sao đến khi trở lại . Đón mừng anh vui chiến thắng về qua Các anh về mái ấm nhà vui A tiếng hát câu cười rộn ràng trong xóm nhỏ ( ơ .. ơ ) Các anh về tưng bừng trước ngõ Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau mẹ già bịn rịn áo nâu vui đàn con ở rừng sâu mới về Từ lưng đèo dốc đá mù che Các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ ( ơ ) Nhà lá đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở ( ơ ơ ơ ơ ơ ) Nồi cơm nấu dở , bát nước chè xanh ngồi vui ( ơ ơ ) ta kể chuyện tâm tình bên ( ơ ) nhau Nhớ lời xưa xóm cũ dân nghèo Sống thầm đêm dài tăm tối Mấy năm qua , ấm no mừng cuộc đời Cấy hái tốt tươi , vườn đất nhà vun xới. Hơ ơ! Các anh về đây quê minh nay hớn hở Ruộng đất quê ta như sóng dềnh biển cả ( ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ) Giờ đây phấn khởi cuốc bẫm cày sâu niềm tin thiết tha Ơn cụ Hồ muôn đời bao la (ư ..... la la ) http://www.youtube.com/watch?v=SIKVqk05s_I&feature=player_embedded Nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh năm 1930 tại Hà Nội, trong một gia đình có 8 người con mà ông là thứ hai. Thuở ấy, phong trào âm nhạc cải cách (tân nhạc) mới du nhập vào Việt Nam và được giới trẻ nhiệt tình hưởng ứng. Văn Phụng đặc biệt có năng khiếu về tân nhạc nên được các giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng dìu dắt rất tận tình. 15 tuổi, ông đã nổi đình đám khi đoạt giải nhất độc tấu dương cầm với bản La Pirière d'une Viege tại Nhà hát Lớn Hà Nội, 16 tuổi ông đã thi đậu tú tài. Ngặt nỗi ông bố (vốn là thông phán) lại quá nghiêm khắc, ông cấm không cho cậu con trai đi theo phường "xướng ca vô loài" mà chỉ muốn con mình làm... bác sĩ, nhưng Văn Phụng theo học ngành y chỉ được một năm rồi bỏ học đi theo tiếng gọi của âm nhạc. Năm 1948, Văn Phụng cho ra đời tác phẩm đầu tay Ô mê ly với tiết tấu sôi động, phấn chấn yêu đời Ô mê ly đời sống với cây đàn tình tình tang... Ô mê ly, mê ly đời ta. Ông thường cùng các bạn bè nam, nữ tụ tập đàn hát với nhau. Nếu như trong đám bạn trai, Văn Phụng như là một "chủ súy" bởi ngón đàn tài hoa thì trong đám bạn nữ vút lên một giọng hát rất đỗi "liêu trai" của Châu Hà, người thiếu nữ Hà Nội có mái tóc dài vẫn thường thả lỏng như một dòng suối. "Trai tài, gái sắc" cứ quấn quýt bên nhau, thế nhưng ông thông phán lại rất ác cảm với nghề xướng ca vô loài nên tìm đủ cách để ly gián tình yêu của con trai mình. Biết rằng gia đình Văn Phụng không chấp nhận mình, Châu Hà phẫn uất đi lấy chồng và theo chồng vào Sài Gòn để xa hẳn một quá khứ đẹp mà... buồn. Châu Hà đi rồi, một thời gian sau Văn Phụng cũng được bố mẹ cưới vợ. Ông chấp nhận như là để khỏa lấp những trống vắng mà Châu Hà đã để lại cho mình. Vợ ông cũng là người Hà Nội nổi tiếng "đẹp người, đẹp nết" rất được bố mẹ chồng thương quý. Đến khoảng đầu thập niên 1950, vợ chồng Văn Phụng đã có 2 người con gái. Những tưởng mọi sự đã an bài, nhưng tình xưa đâu dễ quên... Tất cả những nỗi nhớ thương đều được ông đưa vào các ca khúc của mình Tìm đâu thấy liễu xanh xanh lả lơi. Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai. Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai. Tôi thấy em một đêm thu êm ái... Người em gái đứng im trong hồi lâu. Tôi ngập ngừng lòng muốn nói đôi câu. Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau. Như chúng ta đôi đời hàn gắn thương yêu... (Suối tóc - 1954). Rồi không ngăn được tiếng gọi của con tim, Văn Phụng vào Nam. Châu Hà lúc này đã trở thành ca sĩ chuyên hát ở đài phát thanh và các phòng trà cùng thời với những Mộc Lan, Linh Sơn, Ánh Tuyết... Văn Phụng cũng mau chóng hòa nhập vào làng ca nhạc miền Nam. Không chỉ sáng tác ca khúc, ông còn thành lập ban tam ca nam đầu tiên ở Việt Nam với Văn Phụng - Anh Ngọc - Nhật Bằng (1953-1954). "Tình cũ không rủ cũng tới" nhưng... không phải dễ dàng gì bởi còn đó những trói buộc gia đình, còn những lời đàm tiếu, dị nghị chung quanh. Chính những lúc buồn nản nhất, Văn Phụng đã viết Tôi đi giữa hoàng hôn (1962) với điệu slow rock: Tôi đi giữa hoàng hôn, khi ánh chiều buông, khi nắng còn vương. Một mình tôi ngắm cánh chim lạc loài mà lòng thấy u hoài... Tôi thương nhớ ngày qua, trên bến Hoàng Hoa, trên những đường xa, thường thường hai đứa nắm tay nhau tươi cười, như thầm hẹn nhau mùa sau.... Ở Tôi đi giữa hoàng hôn không hề có sự yếm thế, bi thảm mà là một nỗi buồn lâng lâng, siêu thoát. nhẹ nhàng và trầm ấm đầy chất phương Đông: ...Dù cho mưa gió bên mái tranh nghèo. Dù cho nắng, dù cho sương khói mịt mờ, niềm tin yêu hằng xin mãi mãi không hề phai. Nhớ... Nhớ... Nhớ đêm nao trên bến Hoàng Hoa, hai đứa nhìn nhau, không nói một câu... Chính tình yêu đó, cuối cùng, vượt qua mọi trở ngại, "Kim - Kiều" đã lại tái hợp, tạo nên một đôi uyên ương nổi tiếng trong làng ca nhạc Sài Gòn một thời. Văn Phụng - Châu Hà có với nhau 2 người con gái (với người vợ trước ông có 5 gái, 1 trai). Sau 1975, Văn Phụng định cư tại Mỹ, ở đường Baclick, Springfield, Virginia . Văn Phụng mất ngày 17/12/1999, để lại khoảng 60 ca khúc. Các Anh Đi Văn Phụng Khuyết Danh Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi Các anh đi, đến bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông Làng tôi nghèo nho nhỏ ven sông Gió bấc lạnh lùng thổi vào mái rạ Làng tôi nghèo gió mưa tơi tả Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi Các anh đi, mái ấm nhà êm Câu hát tiếng cười rộn ràng trong xóm nhỏ Các anh về, tưng bừng trước ngõ Lớp lớp đàn em hớn hở theo sau Mẹ già bịn rịn áo nâu Vui đàn con ở rừng sâu mới về Làng tôi nghèo xóm nhà tre Các anh về không chê làng tôi bé nhỏ Nhà lá đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở Nồi cơm nấu đỗ Bát nước chè xanh Ngồi vui kể chuyện tâm tình xa xôi Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi Xóm làng tôi còn nhớ mãi Hỡi đoàn người trai trẻ đấu tranh Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi Các anh đi, đến bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông Tài liệu tham khảo: Tình Yêu & Quê Hương - Nhạc Tuyển 2 (Văn Phụng - Đan Thọ - Nhật Bằng - Nguyễn Túc / Virginia 1996) Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 03 Tháng Tư, 2010, 01:39:39 am Cảm ơn bác fddinh đã cung cấp về lịch sử bài "Đôi mắt người Sơn Tây" - là một trong những bài hát mà SM hay nghe và rất thích, đặc biệt là mỗi khi nghe bài này thì lại nhớ đến một người bạn..... vì thời điểm hay nghe bài này thì biết người bạn đó....và cái đĩa này lúc nào cũng để trên xe để nghe! ;) Mai Hoa (vợ của nhạc sỹ Trọng Đài) hát bài này rất hay và da diết, theo SM có lẽ Mai Hoa là người hát đạt nhất! ;D Mình rất thích lời của bài hát này và nhạc cũng rất đặc biệt! ;) Ca khúc: Đôi mắt người Sơn Tây Trình bày:Mai Hoa Tác giả:Phạm Đình Chương, thơ Quang Dũng http://nghenhac.info/Nhac-Viet-Nam/Nhac-tien-chien/120496/Doi-mat-nguoi-Son-Tay-Mai-Hoa.html Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 03 Tháng Tư, 2010, 10:28:36 pm SM rất thích những bản nhạc tiền chiến, mình biết cũng tuơng đối nhiều, thường thì những bài về tiền chiến thì mình cũng biết ít nhiều về lịch sử của nó vì có nghe ba mẹ mình kể lại (các cụ cũng rất thích loại nhạc này) nhưng bài "Đôi mắt người Sơn Tây" mình mới biết và hay nghe khoảng gần nửa năm nay, mình cứ thắc mắc về "đôi mắt" mà lại của "người Sơn Tây"? ??? Chắc người phụ nữ này phải đặc biệt lắm.... như lời của bài hát:
Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai Sông xa từng lớp lớp mưa dài Mắt em ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai Đôi mắt Người Sơn Tây U uẩn chiều luân lạc Buồn viễn xứ khôn khuây Em hãy cùng ta mơ Mơ một ngày đất mẹ Ngày bóng dáng quê hương Đường hoa khô ráo lệ Càng nghe càng thấy lời thơ rất hay! Một lần nữa rất cảm ơn bác fddinh về "cội nguồn" của bài hát này? Nhân tiện đây bác fddinh có biết bài "Ôi giấc mơ xưa"? nhạc và lời của Hoàng Dương cũng do Mai Hoa hát, cũng rất hay! ;D http://nghenhac.info/Nhac-Viet-Nam/Nhac-tien-chien/120495/Oi-giac-mo-xua-Mai-Hoa.html Tiêu đề: Hướng Về Hà Nội - Hoàng Dương Gửi bởi: fddinh trong 03 Tháng Tư, 2010, 11:16:02 pm Hướng Về Hà Nội
Hà Nội ơi ! Hướng về thành phố xa xôi Ánh đèn giăng mắc muôn nơi Áo màu tung gió chơi vơi Hà Nội ơi ! Phố phường giãi ánh trăng mơ Liễu mềm nhủ gió ngây thơ Thấu chăng lòng khách bơ vơ Hà Nội ơi! Những ngày vui đã ra đi Biết người còn nhớ nhung chi Hết rồi giây phút phân ly Hà Nội ơi! Dáng huyền tha thướt đê mê, Tóc thề thả gió lê thê Biết đâu ngày ấy anh về Một ngày mùa chinh chiến ấy Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay Một ngày tả tơi hoa lá, Ngóng trông về xa Luyến thương hình bóng qua Hà Nội ơi! Nước hồ là ánh gương soi, Nắng hè tô thắm lên môi Thanh bình tiếng guốc reo vui Hà Nội ơi! Kiếp đời muôn hướng buông trôi Nhớ về người những đêm rơi Nhắn theo ngàn cánh chim trời II Hà Nội ơi! Hướng về thành phố xa xưa, Mắt buồn dâng những đêm mưa, Não nùng mây gió đong đưa Hà Nội ơi! Nỗi lòng gởi gấm cho nhau, Nhớ hoài chỉ biết thương đau, Đắm say chờ những kiếp sau. Hà Nội ơi! những ngày thơ ấu trôi qua, Mái trường phượng vĩ dâng hoa Dáng chiều ủ bóng tiên nga. Hà Nội ơi! Mắt huyền ngây ngất đê mê, Tóc thề thả gió lê thê, Cứ tin ngày ấy anh về Một ngày tàn hương chinh chiến, Lửa khói lắng chìm Tìm về nơi bờ bến Một ngày hồng tươi hoa lá Hát câu tình ca Nói lên lời thiết tha Hà Nội ơi! Biết người còn có trông mong, Hướng về ai nữa hay không Những ngày xa vắng bên sông. Hà Nội ơi! Những chiều sương gió dâng khơi Có người lặng ngắm mây trôi, Biết bao là nhớ tơi bời ... Trên đây là một sáng tác của Hoàng Dương, do Duy Trác hát trên Đài Phát Thanh, dựa theo ấn bản lần đầu tiên, năm 1954, trong thời kỳ thiên hạ ùn ùn từ Bắc “theo Chúa” vào Nam! Ở trong đó, bản nhạc giấy do Tinh Hoa Miền Nam xuất bản do Duy Liêm vẽ, sắc nâu, chỗ đậm chỗ nhạt, với hình vẽ một thiếu nữ có chít khăn mỏ quạ! Bên trong bài hát, phía trên cùng có câu: "Riêng tặng Hoàng Trọng, bạn thân yêu, gửi đây niềm thương nhớ một mùa chia phôi...". Phó giáo sư, nhà giáo ưu tú Ngô Hoàng Dương là một nghệ sĩ đàn cello, ông là người có công đầu xây dựng bộ môn cello và khoa đàn dây Nhạc viện Hà Nội, đào tạo nhiều thế hệ nghệ sĩ đàn cello. Tên khai sinh của ông là Ngô Hoàng Dương, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1933, quê ở Từ Liêm, Hà Nội. Công tác tại Nhạc Viện Hà Nội, cư trú tại Hà Nội. Là Phí Giáo sư. Đã được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Ông viết nhiều tác phẩm khí nhạc như Hát ru, Mơ về trái núi Thiên Thai (cello và piano), Vũ khúc mùa xuân, Tây Nguyên tươi đẹp (accordeon), sonatine Bài thơ Hạ Long, Giai điệu quê hương,tổ khúc Tiếng hát sông hương (cello và dàn nhạc). Ngay từ năm 1954, ông đã có ca khúc Hướng về Hà Nội rất nổi tiếng, mươi năm nay bên cạnh công việc nghiên cứu, ông có đam mê sáng tác ca khúc, trong đó có nhiều bài là phổ thơ. Nghe Lê Dung, một trong những ca sĩ tài hoa của Hà Nội, được đào tạo tại Hà Nội, trình bầy bài hát "Hướng Về Hà Nội", người ta thấy một Hà Nội khác, không phải cái Hà Nội trong bài hát do Duy Trác hát. Khác chứ không phải hay, dở. Bởi vì nó tạo ra một vẻ đẹp khác.Khác vì, chẳng hạn như câu “Thanh bình tiếng ‘guốc’ reo vui” thường lại được đổi thành “Thanh bình tiếng ‘hát’ reo vui”, có lẽ vì Hà Nội ít ai đi guốc mộc nữa, người ta không còn nghe tiếng guốc mộc trên đường phố Hà Nội, cũng như khăn mỏ quạ, còn mấy ai chít nữa! Ôi Giấc Mơ Xưa Gặp nhau năm trước với ai ta hẹn hò Kề vai cùng nói những câu thề ước Đắm đuối đôi lòng chung hòa muôn tiếng tơ Ta sẽ say đời với mộng và với thơ Rồi đây gắn bó mối tơ duyên mặn nồng Bao lời thề nguyện hòa theo mây với gió Làn hương ngất ngây ru hồn ta đắm say Ríu rít đàn chim ca vang giữa ngàn cây Nhưng thôi còn đâu Vì ai đã nỡ quên tình cũ Mi ướt đêm thâu Khóc thầm kiếp đời lắm buồn đau Ôi duyên tình xưa Còn đâu giây phút êm đềm ấy Ôi giấc mơ xưa Đã tàn phai rồi dưới chiều mưa Đây đó đôi chim đang bay lượn cánh nhịp nhàng Xây dệt mộng vàng Còn riêng ra phiêu linh cuốn theo làn gió vi vút bay về đâu Tim se lòng đau Người ơi có biết ta còn nhớ Muôn kiếp khôn nguôi Vẫn chờ ai về với tình tôi. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 04 Tháng Tư, 2010, 08:04:02 am Rất cảm ơn bác Fddinh! ;D Bác rất chịu khó nghiên cứu về âm nhạc và rất hiểu biết về lĩnh vực này, chắc công việc của bác có liên quan đến nghệ thuật? ??? ;D
Bài Hướng về Hà Nội thì quá nổi tiếng rồi, bài này Hồng Nhung hat rất hay. Cảm ơn bác về lời của bài "Ôi giấc mơ xưa " nhá. ;D Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: toan_jon trong 04 Tháng Tư, 2010, 02:38:03 pm Bài Hướng về Hà nội,theo cảm nghĩ của em ngoài Duy Trác, thì chỉ có ca sĩ Lệ thu hát là thành công,giọng ca thể hiện được cái hồn của bài hát này.
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: bouzou trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:22:52 pm Bạn fddinh thân mến! Bạn là thằng cha khá được đấy! Không biết nịnh hót, chẳng cần xu thời...
Khi đã đứng ra làm trương của một topic "nhạy cảm" thế này, Thì đừng bó hẹp phạm vi topic! Mình có nhiều điều muốn góp vaò topic của bạn... viết "hợi bị" khó khăn...nhưng nếu thích thì tôi cũng lần lần sẽ viết... Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:57:52 pm Rất cảm ơn bác Fddinh! ;D Bác rất chịu khó nghiên cứu về âm nhạc và rất hiểu biết về lĩnh vực này, chắc công việc của bác có liên quan đến nghệ thuật? ??? ;D Không bác ạ, âm nhạc với em chỉ đơn giản là niềm vui, nỗi buồn, là thứ để trốn vào, để tâm hồn mình chơi vơi. Bài Hướng về Hà Nội thì quá nổi tiếng rồi, bài này Hồng Nhung hat rất hay. Cảm ơn bác về lời của bài "Ôi giấc mơ xưa " nhá. ;D Công việc của em thiên hạ cho là khô khan, như gói gạch gói vậy, không có liên quan gì đến nghệ thuật, em chỉ được cái hay hát thôi, hồi còn trẻ vừa học vừa hát, vừa làm vừa hát, hát thì có người bao hay hay, có người bảo "hát như chó cắn mèo kêu, hát khiến ông lão trong lều chui ra". Kể cũng tài, mọi người bảo em khô khan tình cảm, người thân, cha me, anh em, cả bà xã cũng bảo thế, thế mà em lại thích thơ và nhạc. Bạn fddinh thân mến! Bạn là thằng cha khá được đấy! Không biết nịnh hót, chẳng cần xu thời... Khi đã đứng ra làm trương của một topic "nhạy cảm" thế này, Thì đừng bó hẹp phạm vi topic! Mình có nhiều điều muốn góp vaò topic của bạn... viết "hợi bị" khó khăn...nhưng nếu thích thì tôi cũng lần lần sẽ viết... Bạn bouzou, véo cằm bạn tham gia topic, mong đợi bài của bạn! Bạn nhận xét có phần đúng về tôi đấy, chẳng hay bạn có nghiên cứu tâm lý học hay gì đó tương tự? Trang trước tôi có lời rồi, ai có gì góp nấy, cho vui mà, các bác góp phần thì không giới hạn gì cả! Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: bouzou trong 04 Tháng Tư, 2010, 07:30:21 pm "Nụ cười sơn cước" của Trần Hoàn hay "Quay tơ " của Tử Phác thì bạn có ý kiến gì không ?
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 04 Tháng Tư, 2010, 09:53:18 pm [/quote] Nghĩa là bác để tâm hồn "treo ngược cành cây" chứ gì? ??? ;D ;D ;D Nói đùa cho vui! cảm ơn bác nhiều nhá! Chúc bác có thêm thật nhiều bài hay. ;D Văn Cao có rất nhiều bài hay nhưng có hai bài SM thấy cũng rất ấn tượng đó là bài "Ngày mùa" và "Mùa xuân đầu tiên"! Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 04 Tháng Tư, 2010, 09:59:58 pm Bài Hướng về Hà nội,theo cảm nghĩ của em ngoài Duy Trác, thì chỉ có ca sĩ Lệ thu hát là thành công,giọng ca thể hiện được cái hồn của bài hát này. Lệ Thu là một ca sỹ mà em thích nhất, giọng Lệ Thu rất đặc biệt và tình cảm. Nhưng không hiểu sao, bài Hướng về Hà Nội, em lại thấy Hồng Nhung hát rất được (bình thường là em không thích giọng Hồng Nhung lắm). Có một số bài về Hà Nội như "Hà Nội ngày trở về" thì em thích nhất giọng của Kasim Hoàng Vũ; "Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa" thì chỉ có Cẩm Vân và bài "Chị tôi" thì chỉ có Bằng Kiều là hát hay! ;D Tiêu đề: Nụ Cười Sơn Cước Gửi bởi: fddinh trong 04 Tháng Tư, 2010, 11:40:41 pm "Nụ cười sơn cước" của Trần Hoàn hay "Quay tơ " của Tử Phác thì bạn có ý kiến gì không ? Nụ Cười Sơn Cước Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi mây mờ buông xuống núi đồi và trong lòng mưa hơn cả ngoài trời. Cỏ cây hoa lá, thương nhớ mãi người đi và dâng sầu lên mi mắt người về . Thơ thẩn đàn chim ngừng tiếng hót, và mưa Xuân đang tưới luống u sầu buồn cho dòng nước mờ xoá bóng chim uyên và gió chiều còn khóc thương mãi mối tình còn vấn vương. Ai về sau dãy núi Kim - Bôi, nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh. Nàng ơi, tôi đã rút tơ lòng, dệt mấy cung yêu thương gởi lòng trong trắng, của mấy bông hoa rừng đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi. Nụ Cười Sơn Cước qua phần trình bày của Sỹ Phú, xin mời mọi người thưởng thức: http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=WpXTw9vhAJ Lời hát trên, cũng giống như số phận các ca khúc trong kháng chiến, bị gán cho chữ "tiền chiến", đến tên tác giả cũng có sự nhầm lẫn, ngày xưa Trung Tâm Thanh Lan (không phải Thanh Lan xinh xinh đóng phim Ván Bài Lật Ngửa) phát hành cuốn băng do ca sĩ Huyền Châu hát, đề tác giả là Trần Hoàn. Khánh Ly cũng hát bài hát này và cuốn băng cũng đề tác giả là Trần Hoàn. Tuy nhiên, tác giả Sơn Nữ Ca lại không phải tác giả Nụ Cười Sơn Cước, người đã "dệt lên mấy cung yêu thương" này là người mà gần đây nổi danh trong giới blog cả trắng lẫn đen với biệt hiệu "thằng hèn". Vâng, tác giả Nụ Cười Sơn Cước là nhạc sỹ Tô Hải, một cây đa cây đề trong giới văn nghệ sỹ kháng chiến, và mới đây, không biết có phải "người già tính trẻ" hay vì lý do nào khác mà ở tuổi 80 ông phóng ra "Hồi Ký Của Một Thằng Hèn". Ông viết: "Nhà văn quân đội - Đại Tá Nguyễn Khải, trước khi qua đời đã tuyên bố: ”Miền Bắc đã cho tôi Độc Lập, miền Nam đã cho tôi Tự do…” Còn tớ, vẫn còn sống nhăn răng đây, tuyên bố: ”Miền Nam đã cho tớ cả Độc Lập, cả Tự Do và cả Hạnh phúc nữa”. Độc lập về tư duy, Tự do về viết lách và… không viết lách. Còn Hạnh Phúc thì … ”độc lập và tự do tìm kiếm hạnh phúc cho mình"… Tuy nhiên để có được ba điều thiêng liêng đó, tớ đã phải vứt bỏ biết bao điều mà trước kia, có cho… kẹo cũng chẳng dám nghĩ, dám làm ..." Nhạc sỹ Tô Hải (tức Tô Đình Hải), một đảng viên Đảng Cộng sản sinh tại Hà Nội, quê ở Tiền Hải - Thái Bình, hiện sống tại quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Là chủ nhân của nhiều tác phẩm nhạc mà nổi tiếng là bản Nụ Cười Sơn Cước mà trước 1975 ca sỹ Sĩ Phú hay hát ở miền Nam và bản Đại hợp xướng Tiếng Hát Biên Thùy tại miền Bắc. Về các sáng tác của mình, ông chỉ nhận có ca khúc “Nụ cười sơn cước" là “nghệ thuật” còn lại là “vất đi”. Hãy xem ông viết về đứa con tinh thần “nghệ thuật” của ông: Lại cái chuyện "Nụ cười sơn cước" May 30, '09 1:07 PM for everyone LẠI CÁI CHUYỆN NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC Hôm nay,ngồi vào computer thấy mất tiêu đâu bài hát này,phục hồi lại để người nghe bản chính gốc thì lại mất tiêu đâu môt phần chính của bản thuyết minh.Đành viết lại có bổ xung thêm một số đau khổ mới khi vào Google gõ cái tên tớ và tên bài hát đó...vì những bài tán láo về nó. Rằng thì là: 1-Tớ cầm ghi ta hát lên (chứ không phải "viết lên"như cô bé Kim -rap-pơ tuyên bố viết (?)nhạc rap trên Tinhvi đâu?)Cái ngày đông rét mướt năm đó Tây nó đánh dữ dội lắm...Bô Tư Lệnh III mà tớ làm "lính kiểng"lúc đó phải rút vào tận Kim Bôi(Hòa Bình).Tớ đóng quân trong nhà một cô con gái có tên Đinh thị Phẩm,24 tuổi đời.Thích thì có thích nhưng chưa biết "tán gái" mà chỉ biết làm thơ,làmvài câu thơ rồi ngâm nó lên theo kiểu riêng của tớ gọi là ca khúc( như các cụ ngày xưa khi hát "Chèo lên trên núi thiên thai..."ấy mà.)Thế là,trước khi rời rừng núi về học Lục Quân Trần Quốc Tuấn tớ muốn nói lên mối "tình câm" của mình bằng ...vài câu thơ có giai điệu ...Thế thôi!,Như tớ đã viết trong bài "Khai lý lịch thật thà" trên blog,tớ là một kẻ đã bị tiêm nhiễm tư bé bởi những bài ca ở trường sơ,trường giòng,rồi sau này,làm "sói con("louveteau),"hướng đạo"(scout)bị các thứ âm nhạc đủ loại nó ăn sâu vào đầu óc,vào trái tim.Tớ hát và thuộc lòng đủ thứ, từ a capella nhà thờ "Gloria in excelsis đê..ê,ề...ồ",, đến "Laissez moi vous aimer","Oh!Rose Marie I love you!""But where are you?"rồi đến dến cả "Maréchal nous voilà"(thời chính phủ Vichy) sau đó là Aikoku","Shina no yoru"(thời Nhật lật Pháp)Nghĩa là tớ hát tất cả,thích đủ thứ âm nhạc chứ chẳng bao giờ chú ý đến cái "nhời"nó nói cái quái gì.Tóm lại tớ là một thanh niên yêu nước,ghét Tây,mê âm nhạc(mélomane)"...không có định hướng!Cho nên,sau này,đi lính,bí bài hát cho bộ đội nghe,tớ cứ "bịa"ra đủ thứ ca khúc ,rập khuôn theo các bài hát đã hát để tự hát ,tự xuất bản bằng mồm.Sáng tác của tớ đều ảnh hưởng của Nhà thờ,của Tây,của Nhật và đặc biệt của Mỹ với Bing Crosby,Bop Hope,..với các nhịp điệu,tiết tấu của swing,blues...rất thịnh hành những năm 40.Tớ với Ngọc Bích là "vua swing"ở sư đoàn 304 và Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn...Chẳng có biết dân tộc ,hiên đại là cái quái gi!Ấy vậy mà bài nào mới "bịa"ra cũng được "quân chung"hoan nghênh ra phết!Những lần xúc cảm về chuyện gì tớ đều "bịa"ra những "câu thơ có giai điệu",nhưng theo một khuôn khổ,hình thức nhất định mà tớ nhặt nhạnh được trong quá trình hát lên cho mình,cho bạn bè,đồng đội nghe...cho vui.Thế thôi!Nào ngờ..."Nụ cười sơn cước"lại được hoan nghênh đến thế và Ngọc Bích,Canh Thân ,Hoàng Thi Thơ..khi trút áo "lính cụ Hồ" ,thôi làm "đồng chí",đã mang nó vô thành (dân gian gọi là "dinh-tê") phổ biến khắp nơi.Để cho nó được chấp nhận bởi các cơ quan kiểm duyệt,họ xếp tớ vào loại tác giả tiền chiến!Và tư đó "Nụ cười sơn cứoc",một trong những "tình ca thời kháng chiến" của bọn tớ sống nhờ cái mác nhạc tiền chiến đến ngày nay ! Lại còn cái chuyện "địch" thu đĩa 78 vòng(chung với "Dư âm"của Nguyễn văn Tý)nữa chứ! .Tớ bị "đánh hội đồng" khắp nơi,nhất là tiền bản quyền thu đĩa (đúng một chỉ vàng)được gửi từ trong thành ra lại rơi vào đúng tay một CUV cùng chi bộ, "đông chí"(nhưng không đồng hướng)đã nhận được từ tay bà chị hắn chuyên làm kinh tài cho khu ủy Liên khu III,ra vào Thành như đi chợ!Tớ không mang tội "liên hệ với địch"là nhờ có hàng trăm "bức tranh cổ động bằng âm thanh" động viên lính chiến đấu trường kỳ có hiệu quả!Từ đó một loạt bài "thiếu tính chiến đấu"của tớ (sau này có được thu thanh trong cuốn băng cát-xét "Nửa trái tim tôi"mà tớ đã chuyển sang CD nhưng chưa biết cách làm thế nào để các friends nghe thử???)đều bị cấm bằng mồm,mặc dầu các tướng, tá lớn,bé trong Quân Đội vẫn nhớ tớ với những bài hát đã làm các vị ấy xúc động một thời.(Tháng 5/007 vừa qua,có một ông tướng mê nhạc của tớ ,trước lúc qua đời,có thu thanh 3 bài của tớ trong một đĩa VCD ,và dằn lại rằng "Thôi Nụ cười..."vì cần giưới thiệu những cái "cấm"khác hơn-Ông tướng này chỉ lên có đến Thiếu thôi ,có lẽ vì cái "lập trường văn nghệ" của ông ta thiếu ...vững vàng chăng?(VCD này tớ đang giữ nhưng cũng "ngu lâu"về computer nên chả biết làm sao để các friends nghe và xem đươc!Có ai đến giúp được tớ không?)Trở lại với "Nụ cười sơn cước"Nó ra đời như thế đó.Tình thì có,nhưng mà là tình câm,tình nhát(vì sợ kỷ luật)đã có gì đâu mà nhiều người viết về bài hát này cứ thêu dệt ra lắm chuyện,thậm chí còn đặt cả những cái tên Lò thị nọ, Nông Thị kia ra rồi thay cả địa điểm,nơi sinh,ngày sinh của nó nữa mới khổ tớ chứ!Làm bà xã cứ trách tớ":"Có thế mà anh cứ giấu em!"Tớ định kiện báo vì "vi phạm luật báo chí "xâm phạm đến đời tư không được phép"của tớ mấy lần.Nhưng đọc đi,đọc lại thì thấy:họ đều xuất phát từ tình yêu đối với một sáng tác của tớ đã bao năm tưởng chết nay lại hồi sinh,từ tình yêu đối với tớ.Đặc biệt có nhiều đồng đội cũ,nay về già ,nghĩ về quá khứ tươi đẹp đã qua,đã viết về "Nụ cười sơn cước"như để tranh thủ viết về một thời một thanh xuân đẹp nhất của chúng tớ .mà thôi.Vì vậy tớ lại lặng im..(trừ một lần tớ lên tiếng phản đối và được xin lỗi và cải chính trên báo An Ninh Thế Giới do quá nhiều điều bịa đặt không có lợi cho gia đình (cũ và mới)của tớ mà thôi).Tuy nhiên cái "sự tam sao thất bản" thì kiện ai?Hội Nhạc Sỹ VN,Rất nhiều Nhà Xuất Bản đã công bố bản chinh thức của tớ trên các "Tuyển tập ca khúc trữ tinh"..."Ca khúc vượt thời gian"...đăng đi,đăng lại trên báo chí...Vậy mà,các ca sỹ thời nay vẫn không chịu hát theo bản nhạc của tác giả!Trừ 2 người là Lê Dung và Đông Đào .Còn trên Tivi,trong các tiệm cà phê-ca nhạc,họ tha hồ "phiêu"bất tử,ngắt câu,ngắt đoạn tùy thích,nhất là bôi mỡ,đânh bóng các nốt nhạc nghe đến rợn người( Ánh Tuyết) Ngay trong câu "Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời..."của tớ,bà Lê Dung vẫn còn "nhịu"ra "mơ" (?)hơn ở ngoài trời".. nữa là!Huống hồ những vị ca sỹ không biết xướng âm thì làm sao sửa được những gì đã trót hát sai qua bản...truyền khẩu.Tớ chán quá nhưng lại nghĩ:Ôi dào!thời buổi này họ nhắc đến tên mấy ông nhạc sỹ già đã là may lắm rồi!Cứ kênh kiệu mãi chúng nó cho cả tác phẩm lẫn người vào sọt rác lịch sử như đã từng cho cả hàng ngàn bài ca ra đời cái thời "Tiếng hát át tiếng bom"cho biết mặt!Thua!Thua!Xin chào thua! Tiện đây xin post lên bài báo của Thanh Niên tương đối chính xác vì có sự thông qua của "khổ chủ" Nhạc sĩ Tô Hải với hồi ức buồn Nụ cười sơn cước 22:21:38, 28/05/2007 Hà Đình Nguyên Nhân dịp đến dự lễ trao tặng xe lăn các tướng lĩnh và cán bộ có công do Báo Quân Đội Nhân Dân tổ chức, tôi thật sự xúc động khi thấy một ông già quân phục chỉnh tề, huân chương đỏ ngực, chống gậy lập cập lên nhận xe. Đó chính là nhạc sĩ Tô Hải, tác giả ca khúc nổi tiếng một thời" Nụ cười sơn cước"... Sau buổi đó, tôi đã đến gặp ông tại nhà riêng. Nhà của ông là căn hộ tập thể tận tầng lầu thứ 11 của chung cư Miếu Nổi (Q.Bình Thạnh - TP.HCM). 81 tuổi, đi đứng khó khăn do từng bị hoại tử khớp xương hông phải thay xương chậu, xương đùi bằng chất liệu titan do Pháp chữa trị... vì những lý do đó nên nhạc sĩ Tô Hải rất ít xuất hiện nơi này, nơi nọ. Thế nhưng, dù không đi đâu ông lại biết rất nhiều những sự kiện đang diễn ra trên toàn cầu. Với khả năng thông thạo 3 ngoại ngữ, mỗi ngày ông dành từ 10 đến 12 tiếng để đọc tin tức trên internet. Cô Lâm Ái, vợ ông, khoe: "Chỉ một mình anh ấy đọc nhưng sau bữa cơm trưa hoặc tối là tôi và con gái Tô Lâm Phượng (sinh năm 1993) đều biết hết mọi chuyện xảy ra trên thế giới...". *Thế ông không còn cảm hứng để viết nhạc? - Đã hơn 20 năm nay tôi không còn làm âm nhạc, vì âm nhạc của lứa chúng tôi không còn đất sống. Thời buổi bây giờ chẳng ai sử dụng ca khúc của lớp già chúng tôi: Chu Minh, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Hồ Bắc, Doãn Nho... trừ những ngày lễ lạc gì đó họ mới hát lại! Bọn chúng tôi trở nên lạc lõng, hỏi tên chẳng ai biết. Thôi thì, tự an ủi là bọn tôi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với một thời kỳ lịch sử. * Ông đến với âm nhạc từ lúc nào? - Thời tiểu học, tôi học hát và tham gia ban đồng ca Saint Joseph, từng đoạt giải thưởng âm nhạc Chim Sơn Ca của Hướng đạo sinh toàn Đông Dương. Đang học dở tú tài 2 thì tôi nhập ngũ ngày 19.8.1945. Tôi viết ca khúc đầu tay Trở về đô thành (1946) rồi Nụ cười sơn cước (1947) đều do bản năng và mê nhạc mà thành. Tôi luôn tự cho mình là một người lính làm nhạc cho mình, cho đồng đội mình hát. Chỉ đến năm 1951, khi về Đoàn văn công Khu 4, tôi có dịp gặp nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Được ông động viên khuyến khích, tôi thấy tự tin hơn để chuyên tâm vào sự nghiệp âm nhạc. Khi hòa bình lập lại, tôi được tham dự lớp sáng tác 18 tháng đầu tiên của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (1957-1958) do các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên dạy. Cùng lớp với tôi có các nhạc sĩ: Trọng Loan, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Lưu Cầu, Vũ Trọng Hối, Lương Ngọc Trác, Văn Chung, Nguyên Nhung, Vân Đông... Năm 1958, tôi là người đầu tiên viết bản giao hưởng đại hợp xướng gồm 4 phần (thể loại cantale) Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy. Dạo ấy, ở nước mình làm gì có trống định âm (Timpani), hạc cầm... nhưng tôi vẫn cứ viết. Bản giao hưởng này được biểu diễn năm 1959 và được hàng loạt giải thưởng. Có lẽ vì thế mà trong Bách khoa từ điển của Pháp (Encyclopédie de la Musique) xuất bản năm 1960 có tên tôi, họ ghi là "nhà soạn nhạc" (compositeur) cùng với 11 người viết ca khúc (chansonnier) thời ấy... * Ca khúc Nụ cười sơn cước đã được ông sáng tác trong hoàn cảnh nào? Và "Ai về sau dãy núi Kim Bôi..." là ở đâu vậy? - Kim Bôi là một dãy núi thuộc tỉnh Hòa Bình. Dạo đó đơn vị tôi ở nhờ một làng dân tộc Mường. Tôi được ở trong một gia đình có cô con gái rất đẹp, nàng tên là Phẩm. Cũng chỉ là "để ý" thầm vậy thôi! Khi đơn vị tôi chuyển quân, với tình cảm lưu luyến hết sức chân thành tôi đã: "hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh !" và chuyển những tình cảm này thành ca khúc, ca ngợi chung những bông hoa rừng mà tôi đã từng gặp. * Sau này có bao giờ ông gặp lại nàng "sơn nữ" này? - Có, và đó là nỗi ân hận của tôi. Năm 1973 hay 1974 gì đó tôi có lên Hòa Bình tìm lại "người xưa" dù biết rằng cô ấy đã có chồng con. Sau dãy núi Kim Bôi đã biến thành vùng công nghiệp khai thác suối nước nóng, đường sá mở rộng, người miền xuôi lên ở nhiều. Cô Phẩm ngày xưa giờ đã là một thiếu phụ luống tuổi, ăn mặc theo kiểu người Kinh và... chẳng biết tôi là ai cả ! Nhắc lại chỉ thêm buồn... Biết vậy, cứ hãy sống với kỷ niệm xưa. * Đã ở bên kia ngưỡng tuổi 80. Nhìn lại hơn 60 năm hoạt động nghệ thuật, ông có điều gì muốn tâm sự? - Phương châm sống của tôi hiện nay là hãy quên đi quá khứ (để khỏi tiếc nuối, kể công với lịch sử), hãy sống với hiện tại (để luôn vui với những gì mình đang có) và đừng nghĩ đến tương lai (để khỏi thấy mình quá già, sắp chết). Tôi có một valy tác phẩm chưa hề sử dụng. Tôi dặn vợ: khi tôi chết hãy vẫn cứ để chiếc valy ở đấy cho đến khi nó có "duyên" tìm được tri kỷ hoặc có ai cần nghiên cứu về cái thời đẹp nhất đã xa xưa của lũ nhạc sĩ già chúng tôi thì cho mượn... Nhược bằng chẳng ai rỗi hơi "tìm về quá khứ" thì con gái tôi (Tô Lâm Phượng - chơi piano tàm tạm) sau này có điều kiện sẽ dựng lại... cho cháu chắt tôi nghe vậy ! Hà Đình Nguyên P/S: xin để nguyên chữ của ông, chấm câu, phẩy đoạn. Nụ cười sơn cước trình bày: Lê Dung http://mp3.xalo.vn/nghebaihat/112829862473/Nu-cuoi-son-cuoc-Le-Dung.html Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: toan_jon trong 05 Tháng Tư, 2010, 07:47:33 am Bài Hướng về Hà nội,theo cảm nghĩ của em ngoài Duy Trác, thì chỉ có ca sĩ Lệ thu hát là thành công,giọng ca thể hiện được cái hồn của bài hát này. Lệ Thu là một ca sỹ mà em thích nhất, giọng Lệ Thu rất đặc biệt và tình cảm. Nhưng không hiểu sao, bài Hướng về Hà Nội, em lại thấy Hồng Nhung hát rất được (bình thường là em không thích giọng Hồng Nhung lắm). Có một số bài về Hà Nội như "Hà Nội ngày trở về" thì em thích nhất giọng của Kasim Hoàng Vũ; "Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa" thì chỉ có Cẩm Vân và bài "Chị tôi" thì chỉ có Bằng Kiều là hát hay! ;D Bài hát Chị Tôi mà Bằng Kiều hát hay,có phải là bài CHỊ TÔI của Trần Tiến không chị Simon? Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 05 Tháng Tư, 2010, 07:53:34 am Bài hát Chị Tôi mà Bằng Kiều hát hay,có phải là bài CHỊ TÔI của Trần Tiến không chị Simon? Đúng rồi đấy bạn ạ! ;D, Mặc dù Quang Linh hát cũng hát rất đạt nhưng không thể hay bằng Bằng Kiều được. Giống như bài "Quê nhà" của Trần Tiến? ??? thì không có ai hát hay bằng Tùng Dương! ;) và http://music.yeucahat.com/song/Vietnamese/6355-Que-Nha~Tung-Duong.html "Lá Đổ muôn chiều" của Đoàn Chuẩn -Từ Linh thì không ai hát hay bằng Ánh Tuyết. ;) http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=VqQKvYTAlV Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 05 Tháng Tư, 2010, 07:57:30 am Cảm ơn bác fddinh về lịch sử của bài Nụ cười sơn cước, bài này Sỹ Phú hát hay Lê Dung nhỉ? ??? Theo SM Lê Dung chỉ hợp với giọng Opera thôi! ;)
Sỹ Phú cũng là một trong những giọng nam mà SM rất thích, và đặc biệt là SM thích Sỹ Phú hát bài "Cô láng giềng". http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Y24IaGYawu Ngoài ra SM còn thích giọng của Thái Châu với bài "Ông lái đò" và "Hàn Mặc Tử". ;D Tiêu đề: TIẾNG HÁT QUAY TƠ Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Tư, 2010, 10:35:04 pm "Nụ cười sơn cước" của Trần Hoàn hay "Quay tơ " của Tử Phác thì bạn có ý kiến gì không ? TIẾNG HÁT QUAY TƠ(Tử Phác) Khoan Thai, nhẹ nhàng 3/4 Chiều không hương, buông mây lắng xuống đồng quê Trời mênh mông, tím ngắt, thoi thóp pha hồng Hàng nước mắt, lá rơi bên thềm Vun vút bóng câu khắp trời, bát ngát khói hương Thì thào lá biếc, có thương lá vàng Tre ngà đưa võng, heo may hòa đàn Ngập ngừng xe (xa) quay, run run in bóng dáng người Người chiến sĩ ầm gió rít mưa bay, Dấn mình trong khói súng, Chiến trường áo mong manh, Căm thù nuôi ấm thân, Quyết gắng sức nâng cao sắc cờ (Quyết lấy máu pha tươi sắc cờ) Chàng ra đi giữ miếng vườn này, giữ mái tranh này Em về xa vắng thầm lo cho cánh chim bay Chiều nghe vang lá siết em run ngỡ tiếng, ngỡ tiếng bước ai về Quay quay, thương nhớ quyến vào tơ Quay quay, se áo rét dâng chàng Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sỹ yêu Quay quay, thương nhớ quyến vào tơ Quay quay, chăn ấm cuốn thân chàng Mỗi một đường tơ là mối giây tình Trong lòng em dâng người hiên ngang [Nhịp xe quay vang trong tiếng gió đìu hiu Mình tơ êm óng chuốt như nắng hanh vàng Mùa lá trút sắp qua nhớ chàng, quay gấp bánh xe Tơ vàng chắn lối gió đông Cho người chiến sỹ đêm không lạnh lùng] Ơn lòng trai cứu nước Gửi cùng áo ấm muôn vàn nhớ thương Bản nhạc giấy: Tiếng Hát Quay Tơ, Lời và Nhạc Tử Phác, Tinh Hoa Huế xuất bản 1953. những chữ trong ngoặc tròn là theo bản được trình bày bởi tài tử Ngọc Bảo http://mp3.xalo.vn/nghebaihat/287699222253/Tieng-hat-quay-to-Ngoc-Bao.html đoạn trong ngoặc vuông có ở bản in của Tinh Hoa Huế không có trong bản tài tử Ngọc Bảo trình bày. Nhạc của Từ Phác được biết rất ít. Theo tìm hiểu, ông chỉ viết bản "Tiếng hát quay tơ" và viết chung với Lương Ngọc Châu bản "Tiếng hát lênh đênh". Tử Phác tên thật là Nguyễn Văn Kim khi viết văn thường ký bí danh Nguyễn Anh Chấn còn viết thơ và nhạc dùng bút hiệu Tử Phác. Ông sinh năm năm 1932 nhà ở phố Hàng Giấy Hà Nội khu chợ Đồng Xuân gần chân cầu sông Cái bắc qua sông Hồng. Thuộc nhiều thơ và say mê âm nhạc, nhưng ông cụ thân sinh cấm ngặt không cho các con học đàn hát. Tử Phác năn nỉ bà mẹ xin tiền mua giấu một cây vĩ cầm gửi ở nhà nhạc sĩ Lương Hàm Châu, thỉnh thoảng tạt qua tập dượt. Gia đình nhạc sĩ Châu có đàn dương cầm. Hai người cùng nhau soạn nhiều bản nhạc thường Lương Hàm Châu làm nhạc còn Tử Phác viết lời. Vào thời đó, Tử Phác hay dạy các trẻ trong gia đình và ngoài khu phố những bài hát rước đèn Trung Thu tự mình sáng tác. Sau nầy khi lập gia đình ở ngoài chiến khu, Tử Phác cưới vợ là em gái của Lương Hàm Châụ Gia đình họ Lương thuộc dòng dõi của cụ Lương Văn Can trong Đông Kinh Nghĩa Thục. Còn bút hiệu Tử Phác có nghĩa người con của Phác, vì mẹ tên Trương Tần Phác, một hậu duệ của người hùng Gò Công Trương Công Định. Mồ côi mẹ lúc 16 tuổi và cha ba năm sau, theo kháng chiến chống Pháp rất sớm năm 1945, vì viết nhạc viết văn làm thơ nên được giao công tác văn công quân đội. Từ đó, Tử Phác di chuyển chỗ nầy chỗ khác khắp miền Bắc, chính trong thời gian nầy Tử Phác đã viết lời và nhạc bài "Tiếng Hát Quay Tơ" vào năm 1948. Ngay từ những buổi trình diễn đầu tiên bài hát "Tiếng Hát Quay Tơ" đã được hoan nghênh nhiệt liệt: Chiều không hương buông mây lắng xuống đồng quê Trời mênh mông tím ngát, thoi thóp pha hồng Hàng nước mắt, lá rơi bên thềm, vun vút bóng cau Khắp trời bát ngát khói sương Thì thào lá biếc có thương lá vàng Tre ngà đưa võng heo may hòa đàn... Ngập ngừng xe quay rung rinh in bóng dáng người Ầm ầm... gió rét... mưa bay... Chàng ra đi... Em về xa vắng thầm lo cho cánh chim bay Chiều nghe vang lá xiết em run Ngỡ tiếng ngỡ tiếng bước ai về Quay quay thương nhớ quyến vào tơ Quay quay se áo rét dâng chàng... Quay quay thương nhớ quyến vào tơ Quay quay chăn ấm quấn thân chàng Mỗi một đường tơ là mỗi dây tình Trong lòng em dâng người hiên ngang Nhịp xe quay vang trong tiếng gió đìu hiu Mình tơ êm óng chuốt như nắng hanh vàng Mùa lá trút sắp qua nhớ chàng quay gấp bánh xe Tơ vàng chắn lối gió đông chọ..đêm không lạnh lùng Gửi cùng áo ấm Muôn vàn nhớ nhung... Tử Phác, 1948 Khi nói về bài "Tiếng Hát Quay Tơ" nhà văn kiêm thi sĩ Hoàng Cầm đã viết: "Cả đoàn Việt Bắc đều thích hát cả ngày ca khúc Quay Tơ, có anh còn nhảy "valse"theo nhạc Quay Tơ nữa, nghe thật sang trọng hào hoa cuốn hút thắm thiết... " Tử Phác nổi tiếng từ đó, nhưng cũng từ đó Tử Phác không còn thường sáng tác thơ nhạc vì đầu năm 49 được điều động vào Ban Chấp hành Chi hội Văn nghệ Liên khu III. Năm 1950 lên Trung Ương giữ chức Trưởng Phòng Văn Nghệ thuộc Tổng Cục Chính Trị và năm 1952 làm Tổng Phụ Trách Văn Công Quân Đội cùng với Chính Hữu, Trần Dần và Hoàng Cầm trong Ban Chỉ Huy Tổng Đoàn. Khi Trung Quốc tung ra phong trào "Trăm Hoa Đua Nở" Việt Nam cũng hùa theo và một số văn nghệ sĩ cùng nhau làm tờ báo "Nhân Dân Giai Phẩm" vào những năm 1957-1958. Tử Phác là Thư Ký Toà Soạn của báo Nhân Dân Giai Phẩm. Lương Ngọc Trác trong bài "Lời nói và việc làm của Tử Phác" đăng trên Văn nghệ Quân đội, số 5 (tháng 5-1958), tr. 53-57 viết: "Bí danh là Tử Phác tức Nguyễn Anh Chấn, tên thật là Trần Kim. Xuất thân từ một gia đình phong kiến quan lại, đời ông làm quan to ra đầu hàng Pháp. Bố sang Tây du học về Hà Nội làm Tham tá lục lộ. Mẹ con quan, có vốn buôn tơ lụa, vàng bạc. Nhà có của, bố mẹ lại mất sớm nên Tử Phác tha hồ ăn chơi và sớm trụy lạc, rượu chè, thuốc phiện, dần dần bế tắc về tư tưởng, nghiên cứu triết học Nietzsche và các thứ tôn giáo. Làn sóng cách mạng đến gỡ Tử Phác ra khỏi cuộc sống bế tắc đó, lôi cuốn Tử Phác vào cuộc sống mới, con đường hoạt động cách mạng. Trong những năm đầu cuộc kháng chiến, Tử Phác được kết nạp vào Đảng và phụ trách tờ báo Thủ đô của khu II. Sau một thời gian công tác Tử Phác mắc khuyết điểm: bao biện, độc đoán, làm báo theo lối tư sản, v.v… tờ báo bị đình bản. Đầu năm 49 được vào Ban Chấp hành Chi hội Văn nghệ Liên khu III, công tác một ít lâu Tử Phác lại mắc khuyết điểm: bao biện, độc đoán, quan niệm công tác kiểu tư sản, v.v… và một lô khuyết điểm nữa như: tham ô, lãng phí, hủ hoá, v.v… cứ thế tiếp tục, Tử Phác còn thuyên chuyển qua nhiều cơ quan khác: báo Sự thật, báo Sức trẻ, cơ quan Trung ương Thanh niên, cơ quan tuyên huấn quân đội, phụ trách Đoàn văn công quân đội, v.v… Tới đâu Tử Phác cũng cố gắng được một thời gian rồi lại phạm vào những tật xấu đã quen mắc: bao biện, độc đoán, quan liêu, tham ô, lãng phí, hủ hoá, v.v… " Năm 1959-1960 khi vụ Nhân Văn Giai Phẩm xảy ra ông bị đưa đi cải tạo tại Hòa Bình. Sau khi cải tạo về Tử Phác không tìm được một việc làm nào. "Không có sinh kế, vợ con nheo nhóc, sống vất vưởng nhờ tiền trợ giúp của gia đình nội ngoại ở Pháp, đồ đạc trong nhà bán dần dần đến cả chiếc dương cầm, cái hương án... " (Vài Kỷ Niệm Về Nhà Thơ Và Nhạc Sĩ Tử Phác-Vân Uyên, 12/5/2002). Năm 1982, Tử Phác mất trong cảnh cô đơn, nghèo đói, đau đớn vì bệnh ung thư. Bài văn tế của Trần Dần có những câu như sau: Ngày xửa, ngày xưa... có một chàng trai... trong ầm ầm... gió rét... mưa bay... động tâm vì những người chiến trường áo mong manh... liều lấy cả tuổi xanh mình... tim thật mình... quay tơ... may áo... ai ai đều nhớ... mỗi một đường tơ là mỗi dây tình... dâng người hiên ngang... thế là khúc tâm ca thành áo ấm trữ tình cho hơn một thế hệ những người áo mong manh chiến trường những người hồi ấy hiên ngang kháng chiến... Sự tích chàng trai chỉ cần có thế: Tử Phác... Le Fier... Từ đầu... Rồi khổ ải... khổ ải... 30... Hơn 30 năm sau... anh nằm đây... Vẫn anh... Tử Phác... Le Fier... Anh đã sống- đã đau-anh đã thác Yêu nghệ thuật-yêu thơ-yêu nhạc Một đời anh thác chỉ vì... yêu ...... Anh để lại cho chúng tôi một thái độ Chúng tôi ở lại... anh đi... Âm dương không cách trở... Trần Dần, 12-05-1982 Đạo diễn Bạch Diệp trong bộc bạch trên báo Tiếp Thị Gia Đình về tình yêu nhiều xa cách với nhạc sĩ Tử Phác: "Trong những năm kháng chiến chống Pháp, tôi tiếp tục tham gia Ban chấp hành Hội phụ nữ khu ba và thường vụ liên khu ba. Năm 19 tuổi, tôi gặp anh Tử Phác. Anh được biết đến với bài hát Quay tơ và là một trong ba người viết nhạc nổi tiếng lúc đó (cùng với nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Phạm Duy). Hôm ấy, trời mưa tầm tã, ai nấy đều vào hiên trú mưa. Tôi mặc chiếc áo len, khoác ba lô, thản nhiên rảo bước dưới mưa. Đường vắng tanh, tôi nhìn thấy một người đàn ông đi ngược đường, cũng để đầu trần, ra dáng phong sương. Tôi nhận ra đó là anh Tử Phác. Anh hỏi đi đâu thế. Tôi bảo đi công tác. Cùng nhau đi đến bến đò Yên Lệnh, anh mời tôi ăn trưa. Anh chẳng ăn mà cứ ngồi nhìn tôi đắm đuối. Sau vài tuần lễ, tôi nhận được thư anh gửi. Anh sáng tác bài Mưa bay, cho người liên lạc đuổi theo tặng tôi. Trong thư, anh hẹn ngày về Thái Bình dự một buổi hòa nhạc và anh sẽ hát bài Mưa bay tặng riêng tôi. Việc không thành vì liên lạc viên không tìm được tôi... Ngày ấy, tôi chẳng có khái niệm về văn nghệ sĩ. Gặp anh ở bến đò quê, tôi cảm mến rồi yêu. Nhiều người khuyên can rằng yêu văn nghệ sĩ chỉ "ba bảy hai mốt ngày" chứ không bao giờ nên vợ nên chồng. Ý nghĩ ấy gieo vào tôi nỗi lo sợ mơ hồ nên tôi từ chối tình cảm của anh." Trên Thể Thao - Văn Hóa: Nhưng mối tình đầu đó đã có một kết thúc buồn. Nhạc sĩ Tử Phác lập gia đình, nhưng hai người vẫn nhớ đến nhau. Nhạc sĩ đặt tên con theo tên của bà. Bà nói: "Sau này về Hà Nội chúng tôi gặp lại nhau, nhưng không có gì. Dù sao anh vẫn là người để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc". Cố nhạc sĩ Tử Phác rất nổi tiếng với ca khúc Tiếng hát quay tơ, giai điệu mượt mà, lời ca chau chuốt này được lưu truyền rộng rãi. Ông còn sáng tác một loạt các ca khúc như Tiếng hát lênh đênh, Gió Hồ Tây, Vượt sông Đà, Chiến thắng Điện Biên, Thả thuyền giấy, Đường Lên Tây Bắc... Nhạc sĩ Tử Phác tên thật là Nguyễn Văn Kim, quê ở Hà Nội, từng tham gia làm báo, sau phụ trách tập san Âm Nhạc, tiền thân của tạp chí Âm Nhạc, Hội Nhạc sĩ VN. Ngoài sáng tác, ông còn dịch thuật về lịch sử âm nhạc thế giới. Nghệ sĩ Bạch Diệp nói: "Tôi giờ cũng già rồi, nhưng từ giờ đến khi ra đi, tôi mong ước là mình sẽ có nhiều tiền để có thể tổ chức một đêm nhạc Tử Phác. Gia đình anh ấy cũng ủng hộ tôi, nhưng giờ chưa có điều kiện. Nếu không làm được điều đó, tôi rất không yên lòng". Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 05 Tháng Tư, 2010, 10:40:58 pm Cảm ơn bác fddinh về lịch sử của bài Nụ cười sơn cước, bài này Sỹ Phú hát hay Lê Dung nhỉ? ??? Theo SM Lê Dung chỉ hợp với giọng Opera thôi! ;) Sỹ Phú cũng là một trong những giọng nam mà SM rất thích, và đặc biệt là SM thích Sỹ Phú hát bài "Cô láng giềng". http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Y24IaGYawu Ngoài ra SM còn thích giọng của Thái Châu với bài "Ông lái đò" và "Hàn Mặc Tử". ;D Bài đó cả 2 đều có hát bác ạ, trong pót trước em có để link bài Sỹ Phú hát. Em cũng thích Sỹ Phú, đặc biệt là bài "Niệm Khúc Cuối" của Ngô Thụy Miên. Cũng giống như bác với bài Nụ cười sơn cước, hì hì :) ;) Em cũng dang kiếm thông tin về "Ông lái đò". Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: toan_jon trong 06 Tháng Tư, 2010, 09:10:55 am Riêng em thích Tuấn Ngọc hát 'Niệm khúc cuối' hơn Sĩ Phú. Em rất mê giọng hát của Tuấn Ngọc, những nhạc phẩm anh thể hiện rất thành công như Riêng một góc trời của Ngô thụy Miên ,Phôi phai, Chiếc lá thu phai của TCS, hay Hoài cảm của Cung Tiến.
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 06 Tháng Tư, 2010, 11:46:09 pm Riêng em thích Tuấn Ngọc hát 'Niệm khúc cuối' hơn Sĩ Phú. Em rất mê giọng hát của Tuấn Ngọc, những nhạc phẩm anh thể hiện rất thành công như Riêng một góc trời của Ngô thụy Miên ,Phôi phai, Chiếc lá thu phai của TCS, hay Hoài cảm của Cung Tiến. Mình cũng thích Tuấn NGọc với Riêng Một Góc Mùng. Nói chung mỗi người mỗi thích mà, ví dụ mình không thể tiêu hóa nổi những ca sỹ và nhạc thị trường bây giờ. Có bác nào có hứng thú với nhạc hài hước không ạ? Tiêu đề: Ông Lái Ðò của nhạc sỹ Hiếu Nghĩa Gửi bởi: fddinh trong 07 Tháng Tư, 2010, 01:41:24 am Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở miền Nam có (ít nhất) một nhạc sỹ đã hy sinh, nhạc sỹ Hiếu Nghĩa.
Tới bây giờ chưa có thống kê nào về nhạc sỹ Hiếu Nghĩa, không rõ ông để lại bao nhiêu bài. Vì trong thời kháng chiến, có những bài được phổ biến tại hậu phương, người trong thành (các vùng tề) không biết và ngay tại các vùng hậu phương không phải nơi nào cũng biết, vì nhiều lý do. Giao thông khó khăn, thành phần giai cấp tác giả, tác giả đã bỏ về thành rồi, trường hợp Phạm Duy chẳng hạn, đều là những lý do hạn chế sự phổ biến các tác phẩm, hoặc giả nếu là những tác phẩm đã được phổ biến rồi, người ta sẽ tìm cách thu hẹp lại bằng biện pháp cấm lưu trữ, trình diễn... Đến nay, nhạc sỹ Hiếu Nghĩa chỉ có hai bài thực sự được nhiều người biết là “Chàng Ði Theo Nước” Chiều xuân ấy chàng bước chân đi Theo hồn nước duyên tình nhớ chi Bao lời nói lòng em vẫn ghi Xuân về mai nở vàng ngoài sân mới về Lòng em say vì nhớ đến chàng Ðang hiên ngang tung hoành trong khói súng Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng Vang vang lời chiến thắng muôn thu Danh chàng lừng lẫy núi sông Rồi Xuân đến dưới gốc mai xưa Nơi lệ thắm khăn hồng tiễn đưa Em chào đón chàng về vinh quang Bên chàng say đắm một trời Xuân thanh bình Và “Ông Lái Ðò” (tên khác “Hình Ảnh Hai Cuộc Ðời”). Bài “Ông Lái Ðò” là một trong những bài được coi là đánh dấu cho những sáng tác thời kháng chiến, còn được gọi là nhạc lãng mạn cách mạng (sau năm 1954 ở trong Nam người ta bắt đầu gọi bằng cái tên "tiền chiến", một cái sai mà tơi tận bây giờ, không riêng ở hải ngoại, trong nước cũng gọi nhạc lãng mạn cách mạng là "nhạc tiền chiến"). Về hình thức “Ông Lái Ðò” hoàn toàn mới lạ vì trước đó chưa có một ca khúc nào được viết như thế, không hoàn toàn là một bài thơ phổ nhạc, như một truyện kể, một vở kịch nhỏ, có đủ những nút thắt mở, được viết để trình diễn xen kẽ giữa “ngâm” (hoặc “kể”) và “hát”. “Ông Lái Ðò” thích hợp để biểu diễn ở các sân khấu bất chợt: một sân đình, một góc chợ, một trường học, một nơi nghỉ chân trên dọc đường hành quân chẳng hạn. Người trình diễn có thể mở đầu bằng cách ngâm hay đọc đoạn thơ này: Chậm, kể lể [2/4 Dm] (nói theo giọng thơ mới trong cung "Rê unir" thật êm) Tôi đã gặp một chiều trên bến nước Ông lái đò ngồi đợi khách sang sông Gió đưa nhẹ đôi hàng lau lả lướt Ông lái buồn đưa mắt mỏi mòn trông (bắt đầu vào nhạc và hát) Một dĩ vãng tự nghìn xưa chiếu dội Mỗi chiều về sống lại giữa hồn ông Ông chỉ muốn cuộc đời xưa đen tối Xóa nhòa đi trong cùng tận đáy lòng Mới ngày nào trên bến sông vắng lạnh Ðời buồn tênh như lỡ một cung đàn Thuyền đò ông mang nặng sầu cô quạnh Lặng lờ đưa bao khách lạ sang sông Khách qua đò ngày xưa hờ hững quá Trả công ông để lại một vài xu Họ với ông hai cảnh đời xa lạ Sang sông rồi không tiếng phân ưu Ngâm (hoặc đọc theo giọng thơ mới trong cung "Rê unir") Và cứ thế dòng đời trôi lặng lẽ Bến ngày xưa tưởng ngủ muôn đời Ông lái đò trong tuổi già bóng xế Còn mong gì thấy lại ánh hồng tươi Nhưng một hôm ánh hồng lên rực rỡ Non sông rền một điệu nhạc oai hùng Dòng sông xưa chuyển mình lên hăm hở Muôn hoa tươi căng thẳng nhựa sống hùng (hát theo nhạc trở lại) Ông lái đò giờ đây già yếu lắm Cũng thấy lòng sống lại tuổi đôi mươi Hồn run mạnh trước cảnh đời tươi thắm Nỗi mừng vui không thốt được nên lời Từ hôm đó bến đò ông sống dậy Bao nhiêu chiều đã đón khách sang sông Những người khách không giống ngày xưa ấy Họ về đây hồn nặng trĩu bên lòng Ngâm (nói theo giọng thơ mới trong cung "Rê unir" thật êm) Họ về đây bụi vương mình trên nếp áo Ðường xa xăm tóc lộng gió tơi bời Họ đi rồi ông thấy buồn ảo não Vì họ qua bến ấy một lần thôi (hát theo nhạc trở lại) Và từ đó bên hàng lau lả lướt Khách ngày xưa không trở lại sang sông Nên mỗi chiều thả thuyền theo bến nước Ông lái buồn đưa mắt mỏi mòn trông... Nhạc sỹ Hiếu Nghĩa là người chiến tranh đã mang tới cho âm nhạc Việt Nam, ông sáng tác nhạc vào cuối thập niên 1940, rồi chiến tranh cũng mang ông đi mất. Trình bày: Duy Khánh http://mp3.ipvnn.com/nhac-tru-tinh/ong-lai-do-duy-khanh/ Trình bày: Hùng Cường http://www.youtube.com/watch?v=vBzEgyWFIDs Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 07 Tháng Tư, 2010, 07:41:08 am toan_jon@ mình cũng giống bạn và fddinh chỉ thích Tuấn Ngọc với bài "Riêng một góc trời" thôi! ;D
Rất cảm ơn bác fddinh đã phân tích bài Ông Lái Đò rất hay, có hai câu trong bài này mà SM vẫn chưa hiểu hết nghĩa? ??? :P :-[ Ông chỉ muốn cuộc đời xưa đen tối Xóa nhòa đi trong cùng tận đáy lòng Ngày trước SM có băng mà Thái Châu hát bài này, thế mà vào mạng kiếm mãi không ra.... Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: toan_jon trong 07 Tháng Tư, 2010, 08:18:11 am Bác fddinh ơi! có phải nhạc sĩ Hoàng Việt trước khi tập kết ra miền bắc, có bài hát rất hay là bài 'Tiếng còi trong sương đêm' với bút danh là Lê Trực, đúng không hả bác?
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 07 Tháng Tư, 2010, 01:00:17 pm toan_jon@ mình cũng giống bạn và fddinh chỉ thích Tuấn Ngọc với bài "Riêng một góc trời" thôi! ;D Bác Simon à, những bản nhạc này là nhạc cách mạng mà, lãng mạng cách mạng, vì thế "cuộc đời xưa" là cuộc đời trước Cách mạng, cuộc đời nô lệ Pháp thuộc, hẳn nhiên con người ta muốn "xóa nhòa" đi trong ký ức của mình rồi. Không chỉ ông lái đò mà mỗi con dân nước Việt, hướng lòng theo Kháng chiến chống giặc ngoại xâm đều thế cả.Rất cảm ơn bác fddinh đã phân tích bài Ông Lái Đò rất hay, có hai câu trong bài này mà SM vẫn chưa hiểu hết nghĩa? ??? :P :-[ Ông chỉ muốn cuộc đời xưa đen tối Xóa nhòa đi trong cùng tận đáy lòng Ngày trước SM có băng mà Thái Châu hát bài này, thế mà vào mạng kiếm mãi không ra.... Tiêu đề: Tiếng Còi Trong Sương Đêm Gửi bởi: fddinh trong 07 Tháng Tư, 2010, 01:28:02 pm Bác fddinh ơi! có phải nhạc sĩ Hoàng Việt trước khi tập kết ra miền bắc, có bài hát rất hay là bài 'Tiếng còi trong sương đêm' với bút danh là Lê Trực, đúng không hả bác? Vâng, Tiếng Còi Trong Sương Đêm ký danh Lê Trực một bút danh của nhạc sỹ Hoàng Việt.Quê nội ở huyện Phước Lễ, Bà Rịa - Vũng Tàu, miền “hào khí” Đồng Nai. Quê ngoại ở Tiền Giang nhưng Lê Trí Lực (tên thật của nhạc sỹ Hoàng Việt) sinh ra ở Chợ Lớn- đó là năm 1928. Ông có năng khiếu và đam mê âm nhạc nên sáng tác từ khi còn ít tuổi, năm 1944 đến 1945, ông đã có các ca khúc Chị cả, Biệt đô thành. Trong những ngày Nam Bộ kháng chiến, ông mang theo một số bài hát trong đó có Tiếng còi trong sương đêm với bút danh Lê Trực từ Sài Gòn ra chiến khu, song bị nghi là "phản động" nên bị bắt giam và đưa đi lao động cải tạo 3 tháng. Nhờ có người bảo lãnh nên sau đó ông được tha, về làm việc tại tổ quân nhạc. Đó cũng là thời gian ông lấy bút danh Hoàng Việt Hận để sáng tác. Sau này ông mới bỏ chữ "Hận", thành bút danh Hoàng Việt. Những tác phẩm của nhạc sỹ Hoàng Việt đã góp vào một giọng điệu không trộn lẫn với bức tranh âm nhạc Nam Bộ kháng chiến. Những ca khúc của Hoàng Việt trong sáng mà đậm đà, sâu lắng, mang tính chiến đấu sắc bén nhưng không căng cứng, lên gân. Bao trùm lên tất cả là tình yêu chan chứa, nghị lực và niềm tin, lạc quan hy vọng Ca khúc của Hoàng Việt mang đậm hơi thở của cuộc sống và chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ trong những ngày kháng chiến chống Pháp: Tiếng Còi Trong Sương Đêm Sáng tác: Lê Trực Bến nước gió rét đò thưa khách sang Lau xanh ven sông mờ run bóng trăng Đêm nay không gian chìm trong giá băng Con đò sang ngang... Kể lúc vắng bóng người chinh sĩ xưa Đã cắm giữa gió mùa thu thổi đưa Đêm nay đông sang mà tin vẫn chưa ... đưa đò ...về ... xưa Mà đoàn hùng binh âm thầm xông lướt trong sương Hồi còi còn vang như hòa lẫn theo người lái đò ru: Tiếng còi trong sương đêm Tiếng còi trong sương đêm theo gió đưa ôi buồn, nghe vi vu oán than Thôi toán quân đi rồi, thôi toán quân đi rồi ... Hơ hờ hơ ...hơ hơ hơ đi rồi ... Con ơi lòng mẹ ủ ê thương cho chồng mấy dặm sơn khê Khi ra đi có hứa thu nay về Mà hôm nay lá thu đã rơi tràn, Rồi mùa đông sang qua luôn mòn mỏi trong đau buồn Hò hơ hớ ... Hò hơ hớ ... Tiếng còi trong sương đêm Tiếng còi trong sương đêm theo gió đưa ôi buồn Nghe vi vu oán than Thôi khóc chi đau lòng, con cứ an giấc nồng Hơ hờ hơ ...hơ hơ hơ bên lòng ... Hơ hờ hơ ...hơ hơ hơ ... 1944-1945 Sau đó ông làm việc tại Đoàn Văn công Trung Nam Bộ (khu 8 - hi hi, viết số tám với đóng ngoặc đơn thì thành 8) ) đóng ở Đồng Tháp Mười. Năm 1951, Hoàng Việt được cử về Đoàn Văn công phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Vừa chiến đấu, Hoàng Việt vừa viết hàng chục bài hát, như Sở Thương Giang (1945), Lá Xanh (1950), Ai nghe chiến dịch mùa xuân (1950), Tin tưởng (1951), Mùa lúa chín (1952), Đêm mưa dầm (1951), Lửa sáng (1951), Nhạc rừng (1952), Lên ngàn (1953)... Trong số những bài hát ấy, nổi bật nhất và có giá trị lâu bền nhất là các bài hát Lá xanh, Nhạc rừng, Lên ngàn. Bài Lá xanh gợi lên một không khí hào hùng, sôi nổi của tuổi trẻ Nam Bộ hăng hái đầu quân giết giặc những năm đầu và giữa cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài Nhạc rừng lấy cảm hứng từ cuộc sống chiến đấu hết sức gian khổ mà phơi phới, hồn nhiên của chiến sĩ miền Đông Nam Bộ. Có thể ít nhiều, tác giả đã thi vị hóa cuộc sống ấy nhưng làm sao khác được khi mà giữa trăm ngàn thiếu thốn nơi rừng sâu, người chiến sĩ vẫn thật sự rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, với tiếng chim "cúc cu", với dòng suối róc rách, với tiếng lá lao xao, để rồi tự hào được làm người lính bảo vệ những cái đó. Lên ngàn là tác phẩm được viết ra trong một hoàn cảnh đặc biệt: Bão lụt miền Đông năm 1953, cây rừng gục đổ ngổn ngang, bộ đội hành quân lên Châu Thành để giúp đồng bào khắc phục hậu quả, gay go, khốc liệt, cùng một lúc diễn ra ở cả trận tuyến và hậu phương. Nhưng bài ca ấy vút lên những âm thanh trong trẻo: "... Em đi mót lúa trên ngàn còn anh chiến đấu sa trường Kháng chiến nhất quyết thành công mai ngày kháng chiến thành công anh về, em thỏa lòng ước mong!" Và quả như lời tiên đoán ấy, chỉ một năm sau tin vui truyền đi khắp nước: Giặc Pháp đã thất bại đau đớn ở Điện Biên Phủ, Chính phủ Pháp đành phải ký với ta Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, nửa đất nước phía Bắc đã được giải phóng... mở ra một trang sử mới. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc và học Trường Âm nhạc Việt Nam khóa đầu tiên (sau này là Nhạc viện Hà Nội). Nền tân nhạc Việt Nam khai sinh khoảng cuối thập kỷ 30, bằng ca khúc, và từ đó tồn tại suốt già một phần tư thế kỷ cũng chỉ bằng những thể loại thuộc thanh nhạc như: ca khúc, hợp xướng hoặc ca cảnh. Cho đến năm 1965, các nhạc sĩ - kể cả những bậc tiền bối - chưa ai kịp viết giao hưởng thì có một nhạc sĩ, tuổi đời mới 37 đã viết bản giao hưởng đầu tiên của VN, mang tựa đề Quê hương. Đó chính là nhạc sĩ Hoàng Việt. Năm 1958, Hoàng Việt sang học tập tại Nhạc viện Sofia (Bungari). Chính trong thời gian này, ông bắt đầu viết những tác phẩm khí nhạc, đặc biệt là bản giao hưởng Quê hương và tốt nghiệp hạng ưu với bản giao hưởng Quê hương. Sau khi ông trở về nước, bản giao hưởng "Quê hương" được trình diễn lần đầu tiên ở Việt nam năm 1965 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Năm 1966, Hoàng Việt tự nguyện vào chiến trường miền Nam ác liệt cùng một số văn nghệ sỹ (trong đó có Lưu Hữu Phước, Nguyễn Quang Sáng...) và làm việc tại Đoàn Văn công Quân giải phóng miền Nam. Trong bom đạn, ông viết càng hăng. Dưới bút danh Lê Quỳnh, ông đã hoàn chỉnh nốt bản tráng khúc Giết giặc Mỹ cứu nước khởi thảo từ năm 1965 và viết tiếp Bài ca thanh niên thành đồng 1966. Ông còn viết giao hưởng Cửu Long (bản giao hưởng thứ hai còn dang dở của ông) và cùng với Nguyễn Vũ, Huỳnh Minh Siêng (tức Lưu Hữu Phước) viết chung vở nhạc kịch Bông Sen. Tháng 12/1967, Hoàng Việt dự định vượt đường 4 trở về bên sông Cửu Long để lấy thêm chất liệu cho việc hoàn thành bản giao hưởng số hai,bản giao hưởng Cửu Long ông đang viết thì bị rocket của máy bay Mỹ quật ngã trong một trận quần đảo của máy bay HU-1B, ngày 31/12/1967, Hoàng Việt đã vĩnh viễn nằm lại trên đất ở làng Mỹ Thiện, Cái Bè - Tiền Giang, quê ngoại giữa tuổi 39 với rất nhiều dự định sáng tác và khi tài năng đang độ chín. Cố nhạc sỹ Hoàng Việt được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996 Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 10 Tháng Tư, 2010, 01:38:54 am Ngày trước SM có băng mà Thái Châu hát bài này, thế mà vào mạng kiếm mãi không ra.... Tìm mãi mới thấy Thái Châu cho bác đây: http://music.forvn.com/get/?id=music-452350-57904&ticket=c8aa9e65b3430f99ed0da88a1d77463dBài này ở trong cuốn Mười năm tình cũ của Thái Châu. Em cũng thích một số bài do Thái Châu hát. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 10 Tháng Tư, 2010, 09:56:41 am . Tìm mãi mới thấy Thái Châu cho bác đây: http://music.forvn.com/get/?id=music-452350-57904&ticket=c8aa9e65b3430f99ed0da88a1d77463dBài này ở trong cuốn Mười năm tình cũ của Thái Châu. Em cũng thích một số bài do Thái Châu hát. Cảm ơn bac fddinh nhiêu nghe! ;D Một món quà tặng rất đúng lúc! :P ;D Trời KL hôm nay thật là u ám, trời mưa, nên nghe bài này rất hợp! Và thấy thương Ông lái đò quá! :'( (à nhưng mà chất lượng thu bài này hình như hơi kém bác fddinh nhỉ? Nhạc to hơn nghe lời) Khách qua đò ngày xưa hờ hững quá Trả công ông để lại một vài xu Họ với ông hai cảnh đời xa lạ Sang sông rồi không tiếng phân ưu Thôi để bớt ảo não, xin tặng lại bác fddinh và các bác bài "Hoài cảm" của Cung Tiến và " Đêm thấy ta là thác đổ" của Trịnh Công Sơn" và bài " Một dại khờ, một tôi" của Phú Quang do Quang Dũng hát, trong Album "Anh sẽ đến"! ;) (trong Album này nhiều bài hay phết! 8)) http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-album/Anh-Se-Den-Quang-Dung.384135.0.html Tiêu đề: Về Nhạc sỹ Anh Bằng với Chuyện Hoa Sim và thành công của Như Quỳnh Gửi bởi: fddinh trong 15 Tháng Tư, 2010, 04:05:35 am Nhạc sỹ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1927 tại Ninh Bình. Có người anh là Ðại úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Linh mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu - Phát Diệm. Sau Hiệp Ðịnh Genève, Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Lúc đó ông đã hai mươi tám tuổi, nhưng ông coi như mới có 18, để viết ca khúc "Nỗi lòng người đi"
Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng Nay khóc tơ duyên lìa tan Giờ đây biết ngày nào gặp nhau Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi trong bùi ngùi Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi Vào Nam, Anh Bằng phục vụ quân lực VNCH, ngành Công binh từ 1957, ở Quy Nhơn, là trưởng phòng 5 Liên Đoàn Công Binh. Sau đó được chuyển về Tiểu Ðoàn Chiến Tranh Tâm Lý nhờ sáng tác các vở kịch đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Giải ngũ năm 1962, khi đang được trọng dụng nhờ tài năng văn nghệ trong Tiểu Ðoàn Chiến Tranh Tâm Lý, Anh Bằng cùng vợ con về sống tại Bà Chiểu. Trong khoảng thời gian 1956-1958, Anh Bằng soạn vở kịch thơ dài khoảng 3 giờ “Ðứa Con Nuôi” đoạt giải thưởng hạng nhất của giải thưởng văn học nghệ thuật và kịch nghệ của Tổng thống VNCH. Liên tiếp những năm sau đó, Anh Bằng soạn thêm những vở kịch nổi danh thời ấy như: Hoa Tàn Trên Ðất Ðịch, Lẽ Sống và Nát Tan... Những vở kịch này đã được các đài phát thanh diễn lại nhiều lần. Nhờ tài năng diễn xuất, được trọng dụng trong quân lực VNCH, là tác giả không ai ngờ được của các khẩu hiệu tuyên truyền, các bài viết chiến dịch cho “Binh Méo-Cai Tròn”, “Huynh Ðệ Chi Binh” thường được ban hài hước nổi tiếng nhất thời ấy là nhạc AVT trình bày, với mục đích nêu cao tâm tình của người lính VNCH, thế nhưng Anh Bằng lại phát triển hơn trong lãnh vực sản xuất âm nhạc, phát thanh, liên tiếp có nhiều tác phẩm best seller và lập nhiều cơ sở kinh doanh liên hệ đến ca nhạc, như 3 quán ca nhạc Làng Văn, Anh Bằng phát đạt vào hàng triệu phú thời đó. Nếu Vắng Anh là ca khúc đầu tiên của Anh Bằng được in trên bản nhạc giấy với số lượng bán rất cao và cùng thời trên đĩa Sóng Nhạc - Asia qua tiếng hát Lệ Thanh. Ca khúc thứ nhì do Thanh Thúy trình bày mang tên: Giấc Ngủ Cô Ðơn, và kế đến là tác phẩm thứ ba mang tên: Ðôi Bóng với Phương Dung rồi sau đó đến Lẻ Bóng một lần nữa lại được Thanh Thúy trình bày. Nhưng trước khi cho ra mắt 4 tác phẩm được các ca sĩ thượng thặng thời đó trình bày, Anh Bằng còn có Tiếc Thầm, một ca khúc cổ võ cho cao trào đi quân dịch, ít người nghĩ đến tên tác giả, đã do ban AVT trình bày lần đầu được phát nhiều lần trên màn ảnh truyền hình mới ra đời được chiếu lớn trên toàn miền Nam cho đợt thử nghiệm truyền hình đen trắng, chưa hết lại còn những bài hài hước dựa trên ý thơ Hồ Xuân Hương, khiến ai cũng nhớ, cũng cười thoải mái với Em Tập Vespa, hoặc Ðánh Cờ... Mỗi lần có một chiến dịch do chính phủ VNCH đề ra, như "Người cày có ruộng", "Kêu gọi nhập ngũ", "Tố Cộng", "Chiêu hồi", là Anh Bằng có ngay bài hát thuộc loại chiến dịch, tuyên truyền. Chẳng hạn những bài viết cho chiến dịch chiêu hồi như Bóng đêm (Em chắp hai tay quỳ gối nguyện cầu, Cầu cho hai đứa mình sống bên nhau...), Đôi bóng (Tình thương gửi theo gió chiều, nhờ trao đến cho người yêu - Rừng sâu suốt đêm thâu, người đi đã bao lâu mà không biết tương lai về đâu..."), Nếu hai đứa mình (Nếu hai đứa mình không về cùng chung lối đường, Thì dù trăng sáng cũng là màu trắng khăn tang...), Nhật ký của hai đứa mình (Thức trắng đêm nay viết lại nhật ký của hai đứa mình...), Nếu ai có hỏi (Nếu ai có hỏi bao giờ chúng mình gần nhau), Giấc ngủ cô đơn (Nửa đêm nhớ anh, nằm nghe mưa khóc bên mành)... toàn là những bài viết cho chiến dịch chiêu hồi, lời nhắn gửi tha thiết của người vợ hiền, của người yêu nhỏ gửi những người trai lầm đường, lạc lối hãy quay về với yêu thương, về với người vợ hiền, với đàn con dại, với người yêu bé bỏng, v.v.v Sau cuộc đảo chính giết chết Tổng thống Ngô Đình Điệm năm 1963, liên tiếp trong nhiều năm sau, tình hình chính trị miền Nam vô cùng rối ren. Nay đảo chính, mai chỉnh lý và nhất là vào giai đoạn cuối, Tổng thống và Thủ tướng, đều là người của quân lực, đã không đoàn kết với nhau mà lại còn hục hặc nhau luôn, Anh Bằng viết ca khúc Huynh Ðệ Chi Binh, một đề tài phẩm bình về sự chia rẽ trong quân lực VNCH, kêu gọi đoàn kết giữa hàng tướng lãnh để chống Cộng “Huynh đệ chi binh là gì đó anh ơi ... Là từ đơ dem cùi bắp và rồi đi lên thượng cấp đều là huynh đệ chi binh. Tiến thối có nhau là huynh đệ chi binh. Sướng khó có nhau là huynh đệ chi binh...”. Chế độ VNCH lúc ấy chẳng phải là không chặt chẽ trong chủ trương kiểm duyệt ca nhạc: Các ca khúc trước khi được in, được phát trên các đài phát thanh, hoặc trước khi được thu dĩa, đều trải qua những con mắt kiểm duyệt gắt gao. Theo Anh Bằng “thậm chí có những sáng tác khi cho phát thanh, thu dĩa tạm gọi là “đầu Ngô mình Sở”, vì các con mắt kiểm duyệt, các sếp kiểm duyệt, mỗi viên chức, mỗi nhạc sĩ, thêm câu này, thay chữ kia, bớt, cắt chữ nọ, để thích hợp với chính sách... nâng cao tinh thần cùng chiến đấu. Thế nhưng nói riêng về mặt tuyên truyền thì chúng ta làm sao mà cản nổi khi cứ 3 ca khúc phản chiến, kêu gọi buông súng thì chúng ta mới có kịp một sáng tác nỗ lực chiến đấu như của Anh Bằng, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh, 1 sáng tác chống tàn ác, bảo vệ tự do thì có ngay 3 ca khúc phản chiến kêu gọi buông súng hòa bình mọi giá!! khiến cán cân lực lượng tuyên truyền chúng ta bị xâm lấn bởi phe phản chiến, làm lợi cho đối phương..." Chẳng hạn, khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mô tả cảnh “các bà mẹ chết vì chiến tranh vì bom đạn” để phản chiến, thì nhạc sĩ Anh Bằng vội vã soạn ngay cho ra đời ca khúc có những hình ảnh tương tự, nhưng dưới con mắt của một "chiến sĩ đấu tranh có chính nghĩa cho tự do": “Một bà mẹ ôm con chết trong tay mình nhưng cảm thông sự hy sinh chiến đấu của đất nước” là vì giặc phá hoại, và người dân Miền Nam, yêu chuộng tự do, nỗ lực “tự vệ”..., hoặc nói lên nỗi khổ chiến tranh qua ca khúc “Nó”, hoặc Ðêm Nguyện Cầu... Phải chăng trong vai trò Tâm Lý Chiến, tác giả Anh Bằng đối kháng với Trịnh Công Sơn, mỗi người một lý tưởng. Theo lời ông Trần Minh: “Nhạc Sĩ Anh Bằng muốn dùng nhạc của mình góp phần làm suy thoái tinh thần sát máu của các chiến binh sinh Bắc tử Nam, với ước mong miền Nam được yên bình, giặc từ Bắc không thể xâm lấn vô Nam... Những kẻ phản chiến, hình như, đã góp phần làm mất miền Nam, là nỗi đau đớn suốt trong quá trình những sáng tác phản chiến đó ra rả tại nhiều nơi trong và ngoài thành phố.” Thời gian này bộ ba: Lê Dinh, viên chức trọng yếu phụ trách Tân Nhạc của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, nhạc sỹ Minh Kỳ và nhạc sỹ Anh Bằng, được biết đến với tên ghép ba người: Lê-Minh-Bằng góp sức rất lớn cho nhạc phản - phản chiến. Ca khúc "Người thợ săn và đàn chim nhỏ" của nhóm Lê Minh Bằng, ký tên Vương Đức Long, lời ca do Anh Bằng viết, ông Lê Dinh kể: "nhằm nói lên việc đối xử không mấy tốt đẹp - đôi khi hơi tàn bạo - của một vài cảnh sát viên, tuy nói là bạn dân, nhưng thường hay có thái độ hằn học, không đẹp với dân chúng, đặc biệt là người xử dụng công lộ và nhất là những phụ nữ mua gánh bán bưng... Trong óc tưởng tuợng của anh - người cảnh sát không phải là bạn dân - khi có cây súng trên tay, như người thợ săn và hà hiếp dân chúng mà anh so sánh như đàn chim, để rồi anh viết lời ca: Một người thợ săn âm thầm mang súng lang thang vào rừng Còn một bầy chim vô tình vẫn hót líu lo đùa chơi Nào ngờ thợ săn đang cầm cây súng bắn lên cành cây Chim chết chim lạc bầy..." Sau năm 1975, ra hải ngoại, Anh Bằng khởi nghiệp ban đầu với người cháu là nhà tổ chức ca nhạc Trần Thăng, chung sức lập ra Trung Tâm Dạ Lan khoảng năm 1984. Ông vốn sẵn có tài, có sáng tạo và người cháu có tài chánh, nhiệt huyết và sáng kiến; nên những năm đầu tiên rất thành công đáng kể. Trong dịp này, con gái ông là Thy Vân cũng xuất hiện trên một số bìa băng cassett nhạc khi hát một vài ca khúc, nhưng sau đó Thy Vân tiến dần vào lãnh vực tổ chức. Cô có ý muốn phát triển lớn rộng hơn, và Asia ra đời từ đó. Khi rời Dạ Lan cũng là lúc Thy Vân không còn hát và bắt đầu điều hành, phát triển Asia dưới sự hướng dẫn và công sức của thân phụ. Anh Bằng đã giới hạn nhạc tình của mình để hướng vào góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp qua những ca khúc ca ngợi công cuộc chiến đấu chống Cộng mà ông theo đuổi. Theo lời cháu ông, Trần Thăng, giám đốc sáng lập Hollywood Night/Dạ Lan: những người như ông “không ngại chống lại một chủ nghĩa sai lầm (tức CS), với tiếng nói và tấm lòng chân thật.” Anh Bằng cũng có thổ lộ đôi lần: “Tương lai, một đất nước Việt Nam, rồi sẽ không còn CS, nhưng không hẳn chúng ta chỉ ngồi chờ đợi sự sụp đổ, ta phải góp phần tích cực thì ngày ấy sẽ đến”... Trước 1975, Anh Bằng đã sáng tác “Chuyện Tình Lan và Ðiệp”, qua Hoa Kỳ Anh Bằng lại tiếp tục sáng tác Khúc thụy du (thơ Du Tử Lê), Cõi buồn, Mất nhau mùa Đông, Tango dĩ vãng, phổ thơ Chuyện giàn thiên lý, Hồi chuông xóm đạo, Bướm trắng (thơ của thi sĩ Nguyễn Bính), Chuyện hoa sim (phổ thơ Hữu Loan)... Những năm đầu khi chưa thành Trung Tâm Ca nhạc tại Hoa Kỳ, Anh Bằng đã có những ca khúc như: Huế Xưa, Cõi Buồn. Chuyện Hoa Sim là kỷ niệm vào nghề của Như Quỳnh, khi cô mới tới Hoa Kỳ. Như Quỳnh tên thật là Lê Lâm Quỳnh Như, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1970 tại Đông Hà. Quảng Trị. Do sự khuyến khích của mẹ cô và bạn bè, Như Quỳnh ghi tên tham dự cuộc thi Tiếng Hát Truyền Hình được tổ chức lần đầu tiên tại TP. HCM năm 1991. Như Quỳnh đã đoạt giải Đặc biệt (Theo sửa lưng của bác Xồm, thật ra vụ đoạt giải này em còn lăn tăn về giải nên để giải nhất, các nguồn hải ngoại nói không có giải nhất mà chỉ có giải đặc biệt). Tháng 4 năm 1993, theo bảo lãnh của bố thuộc diện HO - là một thiếu tá ngành an ninh quân đội QL VNCH - cùng với mẹ và các em định cư tại Hoa Kỳ. Khoảng giữa năm 1994, những người điều hành Asia là Trúc Hồ và Thy Vân mời Như Quỳnh sang California thử giọng. Sau lần thử giọng và nhất là nét mặt xinh xắn đầy vẻ hồn nhiên của cô đã chiếm được ngay cảm tình của ban giám đốc Asia. Như Quỳnh được mời ký giao kèo và ngay sau đó đã thu hình nhạc phẩm đầu tiên, Chuyện Hoa Sim trong chương trình Tác Giả Và Tác Phẩm. Thành công đã đến với Như Quỳnh và Như Quỳnh nổi lên cùng với dòng nhạc lãng mạn tình tứ của nhạc sỹ Anh Bằng. Tổng hợp từ các websites hải ngoại. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: officeworks trong 15 Tháng Tư, 2010, 04:15:04 pm Hơ, bác copy + paste thế này không sợ nâng quan điểm à ? Mất chức mod, leo cột điện như chơi :o
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 15 Tháng Tư, 2010, 04:30:49 pm Hơ, bác copy + paste thế này không sợ nâng quan điểm à ? Mất chức mod, leo cột điện như chơi :o Làm gì có chức mà mất.Đã lọc đi nhiều, chủ yếu mô tả sơ qua về tác giả và nói rõ hơn nhạc phẩm Chuyện Hoa Sim và 1 số nhạc phẩm nữa là phổ nhạc mới, sau khi VNCH sụp đổ chứ không phải là từ thời VNCH. Nâng quan điểm? Mình sợ gì chứ? Khi mở topic này là mình muốn nói cho rõ thôi mà. Mình cũng ghi rõ "Tổng hợp từ các websites hải ngoại" rồi mà. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: lonesome trong 16 Tháng Tư, 2010, 11:28:33 am Lê Lâm Quỳnh Như đoạt giải Đặc biệt của THTH chứ không phải giải nhất. Giải nhất là Đông Đào. LLQN là trường hợp đặc biệt của giải thưởng này: Đêm CK, cô đoạt điểm tuyệt đối 20/20 nên được đặc cách lãnh giải phát sinh. Đông Đào hát hay nhưng xui bị LLQN hay hơn nên đành lãnh giải Nhất theo điều lệ giải.
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: toan_jon trong 17 Tháng Tư, 2010, 04:57:27 pm Hơ, bác copy + paste thế này không sợ nâng quan điểm à ? Mất chức mod, leo cột điện như chơi :o Chỉ là tài liệu tham khảo, có gì đâu mà sợ mất quan điểm cơ chứ. các bác có công nhận với em là các bài hát của miền nam trước năm 75, bây giờ được nhiều người thích nghe và hát, hơn là những bái hát sáng tác cùng thời ở miền bắc đúng không. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: lonesome trong 17 Tháng Tư, 2010, 11:08:23 pm Hơ, bác copy + paste thế này không sợ nâng quan điểm à ? Mất chức mod, leo cột điện như chơi :o Chỉ là tài liệu tham khảo, có gì đâu mà sợ mất quan điểm cơ chứ. các bác có công nhận với em là các bài hát của miền nam trước năm 75, bây giờ được nhiều người thích nghe và hát, hơn là những bái hát sáng tác cùng thời ở miền bắc đúng không. Ông chú tớ ở HN biết tớ sành về giàn 5.1 nên nằng nặc bắt tớ ngồi nghe ông ấy chỉnh nhạc. Tưởng gì, ông ấy lôi 1 đĩa Tuấn Vũ và Thanh Tuyền ra bắt tớ nghe. Trong Nam nhạc đấy giờ ít người nghe lắm mà ngoài Bắc thì hình như vẫn còn là thời thượng??? Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 17 Tháng Tư, 2010, 11:13:53 pm Ông chú tớ ở HN biết tớ sành về giàn 5.1 nên nằng nặc bắt tớ ngồi nghe ông ấy chỉnh nhạc. Tưởng gì, ông ấy lôi 1 đĩa Tuấn Vũ và Thanh Tuyền ra bắt tớ nghe. Trong Nam nhạc đấy giờ ít người nghe lắm mà ngoài Bắc thì hình như vẫn còn là thời thượng??? Khổ thân bác Xồm, nói thật là hết thời thượng rồi bác ơi, một số vị nhiều tuổi thì thích Quang Lê hơn.Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: altus trong 18 Tháng Tư, 2010, 01:07:09 am các bài hát của miền nam trước năm 75, bây giờ được nhiều người thích nghe và hát, hơn là những bái hát sáng tác cùng thời ở miền bắc đúng không. Chắc khoảng năm 1985-2000(?) thì có thể đúng đoạn "nghe", chắc không đúng đoạn "hát", bây giờ thì cả hai chắc thôi rồi. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: rongxanh trong 18 Tháng Tư, 2010, 06:05:37 pm các bài hát của miền nam trước năm 75, bây giờ được nhiều người thích nghe và hát, hơn là những bái hát sáng tác cùng thời ở miền bắc đúng không. Chắc khoảng năm 1985-2000(?) thì có thể đúng đoạn "nghe", chắc không đúng đoạn "hát", bây giờ thì cả hai chắc thôi rồi. Khoảng đầu những năm 9x thôi bác. Sau đó, nhất là từ cuối những năm 9x, đầu 0x thì chết hẳn. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: lonesome trong 18 Tháng Tư, 2010, 10:31:43 pm Ông chú tớ ở HN biết tớ sành về giàn 5.1 nên nằng nặc bắt tớ ngồi nghe ông ấy chỉnh nhạc. Tưởng gì, ông ấy lôi 1 đĩa Tuấn Vũ và Thanh Tuyền ra bắt tớ nghe. Trong Nam nhạc đấy giờ ít người nghe lắm mà ngoài Bắc thì hình như vẫn còn là thời thượng??? Khổ thân bác Xồm, nói thật là hết thời thượng rồi bác ơi, một số vị nhiều tuổi thì thích Quang Lê hơn.Ui, hồi 2004-2005 trên TTVNOL còn 1 cuộc vận động thành lập Box Nhac Vàng , thành viên vào ca ngợi nhạc vàng, nhạc Phạm Duy, nhạc lính Cộng hòa ầm ầm ... Mà cậu nói thì tớ cũng để ý lại, đúng là Tết rồi tớ không phải nghe thể loại nhạc đấy nữa... Tiêu đề: Re: Về Nhạc sỹ Anh Bằng với Chuyện Hoa Sim và thành công của Như Quỳnh Gửi bởi: Simon trong 22 Tháng Tư, 2010, 06:04:01 pm Nhạc sỹ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1927 tại Ninh Bình. Có người anh là Ðại úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Linh mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu - Phát Diệm. Sau Hiệp Ðịnh Genève, Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Lúc đó ông đã hai mươi tám tuổi, nhưng ông coi như mới có 18, để viết ca khúc "Nỗi lòng người đi" Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng Nay khóc tơ duyên lìa tan Giờ đây biết ngày nào gặp nhau Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi trong bùi ngùi Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi Một người thợ săn âm thầm mang súng lang thang vào rừng Còn một bầy chim vô tình vẫn hót líu lo đùa chơi Nào ngờ thợ săn đang cầm cây súng bắn lên cành cây Chim chết chim lạc bầy..." Cảm ơn bạn fddinh, bây giờ mình mới được biết chính tác giả của Nỗi lòng người đi lại là tác giả của Chuyện tình Lan và Điệp, cảm ơn bạn nhiều nhá! ;D Sao lại để Trang trống trải thế này, mình xin tặng mọi người bài hát Nỗi lòng người đi vậy. http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Noi-Long-Nguoi-Di-Si-Phu.IW6IIC7C.html Có bài Hà Nội những ngày tháng cũ cũng hay lắm, bạn fddinh có biết nguồn gốc của nó không vậy? ??? ;D http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Ha-Noi-Ngay-Thang-Cu-Si-Phu.IWZAD0DA.html Trong bài này có một câu mà mình muốn sửa lại là " Nhớ Hàng Bạc, nhớ qua Hàng Buồm..."! ;D :P Tiêu đề: Hà Nội Ngày Tháng Cũ… Gửi bởi: fddinh trong 25 Tháng Tư, 2010, 12:42:29 am Có bài Hà Nội những ngày tháng cũ cũng hay lắm, bạn fddinh có biết nguồn gốc của nó không vậy? ??? ;D http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Ha-Noi-Ngay-Thang-Cu-Si-Phu.IWZAD0DA.html Trong bài này có một câu mà mình muốn sửa lại là " Nhớ Hàng Bạc, nhớ qua Hàng Buồm..."! ;D :P Hà Nội Ngày Tháng Cũ… được sáng tác trên đất Mỹ, bởi tác giả của ca khúc từng góp phần mang lại tên tuổi của ca sỹ Khánh Ly khi cô còn ở Đà Lạt, tác giả đã sáng tác ca khúc có mấy lời dạo đầu: Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt Thành phố này xin trả lại cho Em… trong thời gian ông thụ huấn lớp sỹ quan cao cấp tại Đà Lạt khoảng cuối những năm 1957 đầu 1960. Tôi đã định có vài lời về Hà Nội Ngày Tháng Cũ và tác giả, tuy nhiên ông và nhạc của ông không đúng với tiêu chí ban đầu của topic nên còn lưỡng lự, nay có bác Simon yêu cầu nên đáp ứng. Tác giả Hà Nội Ngày Tháng Cũ sinh năm 1943 ở Long Xuyên, An Giang, tên Nguyễn Ngọc Thương, bút hiệu SONG NGỌC, HÀN SINH, NGUYÊN HÀ, HOÀNG NGỌC ANH, ANH TUYẾN. Song Ngọc viết nhạc từ năm 1957 và những sáng tác tiêu biểu cùng thời kỳ với nhạc sỹ Anh Bằng trong những chiến dịch TLC do chính phủ VNCH đề ra, như: Mưa Chiều, Bừng Sáng (do ban Hợp Ca Thăng Long trình bày), Tiễn Đưa, Chúng Mình Ba Đứa, Một Chuyến Bay Đêm, Họp Mặt Lần Cuối, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân, Thư Cho Vợ Hiền, Nó Và Tôi, Chuyện Tình Bé Nhỏ, Tình Yêu Như Bóng Mây..v..v… Cả nhạc tình hài hước như Giờ Tý canh ba. Khi ấy ông trông coi ban văn nghệ, trong QL VNCH. Hiện ông định cư tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Năm 18 tuổi, Song Ngọc lúc bấy giờ đánh trống trong ban nhạc Dân Nam, đã phổ bài thơ của Nguyên Sa, có những lời ca: Người về chiều nay hay đêm mai Người sắp đi hay đã đi rồi Muôn vì hành tinh rung rung Lung linh trên thềm ga vắng… và như ông kể trong một chương trình của TN - PBN về chuyện ông sáng tác và mang bài hát Tiễn Đưa thơ Nguyên Sa tới đài phát thanh và chờ đợi nghe nhạc phẩm của mình trên sóng, Tiễn Đưa đã thành bệ phóng cho thành công của Song Ngọc, trong khoảng từ 1960 đến 1975, Song Ngọc đã sáng tác trên 150 bài hát, Song Ngọc viết tình khúc rất hay, như đã nói trên, thời gian học tập sỹ quan ở xứ lạnh trên Tây Nguyên ông đã có ca khúc vô cùng thơ mộng về thành phố sương mù, một tình yêu nhẹ nhàng như sương khói, long lanh như nước trên hồ Xuân Hương, một trong những ca khúc viết về Đà Lạt thật hay, thật buồn, nhẹ nhàng và thắm thiết, đó là Tình Như Bóng Mây mà tôi đã trích lời trên đầu bài. Sau năm 1975, sang Mỹ, Song Ngọc làm đủ mọi nghề kiếm sống. Khởi đầu làm chuyên viên môi giới kinh doanh nhà đất, rồi đầu tư, làm chủ hơn 10 tiệm Chạp Phô Mỹ rồi mở chợ, nhà hàng, làm chủ quán trọ Bear Creek Inn với trên 100 phòng. Làm bầu show ca nhạc. Song Ngọc từng tâm sự với bạn bè rằng ban ngày phải đi cày lo kiếm sống, chỉ còn lại buổi chiều và ban đêm làm nhạc, viết xong 1 bản nhạc, phải gởi đi cho các ca sỹ, nên cũng mất một thời gian, có khi lâu lắm mới được nghe tác phẩm của mình. Song Ngọc cho biết những sáng tác ở nước ngoài, tiêu biểu là tại nước Mỹ, nhất là các nhạc sỹ trẻ tuổi thường hay thiếu vắng chất liệu Quê Hương, ngoài ra đời sống xứ người gò bó, thời gian chật hẹp. Người nhạc sỹ không đủ thời gian, nguồn cảm hứng quá nhiều chi phối bởi đời sống áo cơm, do vậy sự rung động trong tác phẩm có phần lạc điệu. Sau mấy mươi năm miệt mài vì đời sống trên đất Mỹ, Song Ngọc sáng tác được trên trăm bài hát, có nhiều bài khi nghe thấy, nếu chưa được giới thiệu tên tác giả, thì không ai có thể nhận ra được người viết là Song Ngọc, vì mỗi bài đều có nhịp điệu, thể điệu, âm điệu khác hẳn nhau như: Đàn Bà, Người Đàn Bà Năm 2000, Tiền. Song Ngọc cho biết ông thích một số ca khúc Việt Nam sáng tác trong nước sau 75, những ca khúc ca ngợi tình tự quê hương, vì lẽ đó là chất liệu mà người nhạc sỹ tại quên nhà đang được thừa hưởng. cùng với Hương Đồng Cỏ Nội (thơ của thi sỹ Nguyễn Bính), Hà Nội Ngày Tháng Cũ là những ca khúc mang âm hưởng, chất liệu tình tự quê hương, mà Song Ngọc đã sáng tác trên đất Hoa Kỳ. Đây là một trong những bài hát hay nhất về Hà Nội, cực kỳ lãng mạn, da diết và tình cảm, Hà Nội Ngày Tháng Cũ với âm hưởng rất lãng mạn và cổ kính của Hà Nội những năm 1950. Bài hát này, những người yêu Hà Nội đang ở xa quê hương, chắc chắn không ai không rung động khi nghe, tuy nhiên, Song Ngọc lại không phải người Hà Nội, và có lẽ Song Ngọc cũng chưa tới Hà Nội. Có 2 ca sỹ mà tôi thích nghe trình bày Hà Nội Ngày Tháng Cũ nhất, nam là Sỹ Phú, nữ là Ngọc Hạ http://www.video4viet.com/watchvideo.html?id=_xW8WTQ4vi0&title=H%C3%A0+N%E1%BB%99i+Ng%C3%A0y+Th%C3%A1ng+C%C5%A9+-+Song+Ng%E1%BB%8Dc+-+Ti%E1%BA%BFng+H%C3%A1t+Ng%E1%BB%8Dc+H%E1%BA%A1 điều duy nhất tôi thấy ca khúc có vẻ mất đi một chút ý nghĩa là những ca từ "chơ vơ", "vật vờ", "mù tối", có lẽ vậy mà hình như ca khúc chưa được cấp phép biểu diễn trong nước chăng? Hà Nội Ngày Tháng Cũ Hà Nội ngày tháng cũ Có bóng trăng thơ in trên mặt hồ Hà Nội ngày tháng cũ Có tiếng oanh ca bên bờ tường vi Hà Nội ngày tháng cũ Có dáng em tôi áo trắng nghiêng nghiêng đường chiều Tiếng guốc lưa thưa lao xao khua trên vỉa hè Mùa thu nghe gió heo may Hà Nội người có nhớ Tháp Bút chơ vơ liễu xanh vật vờ Hà Nội người có nhớ Hương lan vương vương bên hồ Thuyền Quang Hà Nội người có nhớ Chiếc áo xanh lam thơ ngây cô em học trò Áo trắng Tây Sơn Trưng Vương em tan trường về Đường qua nẻo phố hẹn hò Ai ra đi mà không nhớ về Trường Thi ngày ấy ta bên nhau Ai ra đi mà không nhớ về Hồ Gươm mù tối gương xưa Nhớ hàng Bạc, nhớ qua hàng Đào Nhớ cơn mưa phùn chạy ngang thành phố Bên em cùng đội mưa mà đi Đội mưa mà đi ... mà đi Hà Nội ngày tháng cũ Mãi mãi theo tôi trôi trên biển đời Hà Nội ngày tháng cũ Như mây như mưa trong cuộc tình tôi Hà Nội còn sống mãi Chiếc áo xanh lam áo trắng nghiêng trên mặt hồ Chiếc lá cô đơn lang thang trôi trên vỉa hè Giờ đây chợt vắng ... ai chờ (Giờ đâu xa vắng ... mây chiều). Rue de la Soie – tên gọi chính thức bằng tiếng Pháp trong bản đồ hành chính thành phố Hà Nội – thời Pháp thuộc, đủ để giải thích tên gọi Hàng Đào. Đây chính là phố bán các loại vải vóc, tơ lụa mà có lẽ là loại vải màu điều (đào/đỏ). Vì đâu mà bác Simon lại muốn thay thành Hàng Buồm? Tiêu đề: Re: Hà Nội Ngày Tháng Cũ… Gửi bởi: Simon trong 26 Tháng Tư, 2010, 10:35:55 pm Có bài Hà Nội những ngày tháng cũ cũng hay lắm, bạn fddinh có biết nguồn gốc của nó không vậy? ??? ;D http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Ha-Noi-Ngay-Thang-Cu-Si-Phu.IWZAD0DA.html Trong bài này có một câu mà mình muốn sửa lại là " Nhớ Hàng Bạc, nhớ qua Hàng Buồm..."! ;D :P Tôi đã định có vài lời về Hà Nội Ngày Tháng Cũ và tác giả, tuy nhiên ông và nhạc của ông không đúng với tiêu chí ban đầu của topic nên còn lưỡng lự, nay có bác Simon yêu câu nên đáp ứng. Có 2 ca sỹ mà tôi thích nghe trình bày Hà Nội Ngày Tháng Cũ nhất, nam là Sỹ Phú, nữ là Ngọc Hạ http://www.video4viet.com/watchvideo.html?id=_xW8WTQ4vi0&title=H%C3%A0+N%E1%BB%99i+Ng%C3%A0y+Th%C3%A1ng+C%C5%A9+-+Song+Ng%E1%BB%8Dc+-+Ti%E1%BA%BFng+H%C3%A1t+Ng%E1%BB%8Dc+H%E1%BA%A1 điều duy nhất tôi thấy ca khúc có vẻ mất đi một chút ý nghĩa là những ca từ "chơ vơ", "vật vờ", "mù tối", có lẽ vậy mà hình như ca khúc chưa được cấp phép biểu diễn trong nước chăng? Ai ra đi mà không nhớ về Trường Thi ngày ấy ta bên nhau Ai ra đi mà không nhớ về Hồ Gươm mù tối gương xưa Nhớ hàng Bạc, nhớ qua hàng Đào Nhớ cơn mưa phùn chạy ngang thành phố Bên em cùng đội mưa mà đi Đội mưa mà đi ... mà đi Rue de la Soie – tên gọi chính thức bằng tiếng Pháp trong bản đồ hành chính thành phố Hà Nội – thời Pháp thuộc, đủ để giải thích tên gọi Hàng Đào. Đây chính là phố bán các loại vải vóc, tơ lụa mà có lẽ là loại vải màu điều (đào/đỏ). Vì đâu mà bác Simon lại muốn thay thành Hàng Buồm? Mình vừa đi nghỉ ở Phuket -Thailand về, đang còn rất mệt thế mà thấy bài của fddinh, mình phải viết để cảm ơn bạn đây. Cảm ơn bạn vô cùng! ;D Thật là không công bằng, mình thì đi chơi, còn bạn thì cặm cụi viết, mình cảm động lắm đấy bạn fddinh ạ. Thực ra mình cũng mới biết bài này và khi mới nghe là mình thích ngay. Và có một điều rất đặc biệt là bạn với mình gần như có sự cảm nhận và yêu thích các ca sỹ giống nhau, đúng như fddinh nhận xét với giọng nữ thì mình cũng rất thích Ngọc Hạ hát bài này! ;). Còn lý do tại sao mình thích đổi từ Hàng Đào sang Hàng Buồm hả? Rất đơn giản vì mình sinh ra ở Phố Nguyễn Siêu và lớn lên ở phố Hàng Buồm cho đến năm 1997! ;D Trước đây ông bà ngoại mình ở Phố Yết Kiêu (Bove cũ thì phải?). Với mình Hàng Buồm có biết bao nhiêu kỷ niệm, phải mất một thời gian dài mới mới đủ can đảm để rời đi nơi khác đấy! Nhà mình cũng chưa bán mà vẫn giữ làm kỷ niệm. Trong các bài hát không thấy nói về hàng Buồm của mình bao giờ mà nào là Hàng Bạc, Hàng Giầy, Hàng Đào, Hàng Vải, nên mình mới nói vui là muốn đổi lại như vậy thôi bạn fddinh ạ! ;D ;D ;D :P Tiêu đề: Re: Hà Nội Ngày Tháng Cũ… Gửi bởi: fddinh trong 26 Tháng Tư, 2010, 11:11:48 pm Còn lý do tại sao mình thích đổi từ Hàng Đào sang Hàng Buồm hả? Rất đơn giản vì mình sinh ra ở Phố Nguyễn Siêu và lớn lên ở phố Hàng Buồm cho đến năm 1997! ;D Quả nhiên mình đoán không sai, chỉ bằng những ý kiến của bác Simon trong topic này, mình đã nghĩ như thế nên mới hỏi bác thế. Giờ này, Sỹ Phú đang "Bên em cùng đội mưa mà đi Đội mưa mà đi ... mà đi" bên tai mình. Bác đi chơi hẳn vui vẻ nên về rất mệt ;) ::) Như mình đã viết, mình muốn có vài dòng về Song Ngọc và sẽ nhắc tới bài này, tuy nhiên dữ liệu về Song Ngọc không nhiều và mình chưa tìm được gì đúng với ý của mình, và vì mình từng "Bên em cùng đội mưa mà đi ... mà đi" trên phố Lò Đúc, Hàng Đào, quanh Hồ Gươm nên "Ai ra đi mà không nhớ về Kim Liên ngày ấy ta bên nhau", cũng gần giống bác vậy! :) Nên có bài viết trên tặng (các) bác! Tiêu đề: Re: Hà Nội Ngày Tháng Cũ… Gửi bởi: Simon trong 27 Tháng Tư, 2010, 12:01:11 pm v
Còn lý do tại sao mình thích đổi từ Hàng Đào sang Hàng Buồm hả? Rất đơn giản vì mình sinh ra ở Phố Nguyễn Siêu và lớn lên ở phố Hàng Buồm cho đến năm 1997! ;D Quả nhiên mình đoán không sai, chỉ bằng những ý kiến của bác Simon trong topic này, mình đã nghĩ như thế nên mới hỏi bác thế. Giờ này, Sỹ Phú đang "Bên em cùng đội mưa mà đi Đội mưa mà đi ... mà đi" bên tai mình. Bác đi chơi hẳn vui vẻ nên về rất mệt ;) ::) Như mình đã viết, mình muốn có vài dòng về Song Ngọc và sẽ nhắc tới bài này, tuy nhiên dữ liệu về Song Ngọc không nhiều và mình chưa tìm được gì đúng với ý của mình, và vì mình từng "Bên em cùng đội mưa mà đi ... mà đi" trên phố Lò Đúc, Hàng Đào, quanh Hồ Gươm nên "Ai ra đi mà không nhớ về Kim Liên ngày ấy ta bên nhau", cũng gần giống bác vậy! :) Nên có bài viết trên tặng (các) bác! Cảm ơn bạn fđinh nhiều, hóa ra bạn cũng là Hà Nội, bây giờ bạn chuyển vào trong Nam à? ??? Bạn cũng thích " đội mưa mà đi" hả bạn? ??? ;D Cho SM hỏi thêm tý nhá, SM nghe nói Sỹ Phũ bị ung thư và đã qua đời rồi phải không nhỉ? SM buồn mãi khi nghe tin đó! :'( :'( :'( SM còn thích anh này hát bài "Rừng xưa đã khép"! ;) Tiêu đề: Re: Hà Nội Ngày Tháng Cũ… Gửi bởi: fddinh trong 27 Tháng Tư, 2010, 12:23:56 pm Không bác Simon à, mình không ở Hà Nội, không sinh ra tại đó, chỉ có chút kỷ niệm "đội mưa mà đi" thôi.
Sỹ Phú đúng là đã mất ngày 19 tháng 7 năm 2000 tại bệnh viện UCI, nam California do ung thư phổi. Trước đó ba tuần, Sĩ Phú đã cho ra mắt CD cuối cùng của mình là Còn Chút Gì Để Nhớ tại vũ trường Majestic, ở nam California. Ông là một sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, từng mang tới cấp hàm thiếu tá không quân. ..... Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: Simon trong 27 Tháng Tư, 2010, 05:01:25 pm Cảm ơn bác fddinh nhiều nhá! ;D
Tiêu đề: Nhạc sỹ Phạm Duy và ca nhạc sỹ Duy Khánh Gửi bởi: fddinh trong 28 Tháng Tư, 2010, 12:57:13 am Nói đến Thơ - Nhạc Việt Nam, không thể không nói tới nhạc sỹ Phạm Duy, dù đã nhắc đến ông rải rác trong các bài viết, tuy nhiên ông có quá nhiều tiếng tăm, thành tích trong đủ loại lĩnh vực, vả lại kiến thức bản thân còn mỏng nên tôi ngần ngừ mãi chưa viết về ông, dù biết thế nào cũng có bác đang thắc mắc sao chưa nhắc đến ông! Tôi rất muốn viết về ông nhưng lại ngại viết ít thì không đủ ý, viết nhiều thì sợ thành dông dài và sự non tay của bản thân sẽ làm phiền mắt các bạn, dầu vậy, cũng xin múa phím ít dòng, có gì thưa thớt mong các bác lượng thứ!
Cũng xin nói thêm, trong bài có nhắc đến một ca nhạc sỹ mà bác yta262 có lời đính chính dùm ở trang 2, coi như một lời tạ lỗi với cố ca nhạc sỹ Duy Khánh! Bây giờ xin bắt đầu, tuổi nhỏ với tôi thật vui, tôi đắm chìm trong lời hát, tiếng thơ của bà ngoại mỗi khi có dịp về chơi với bà. Dù bà chỉ tốt nghiệp Bình dân Học vụ nhưng bà thuộc rất nhiều thơ, bài hát, có những bài hát mà cho đến tận gần đây, 20 năm trở lại đây tôi mới được nghe, xong chúng đã thân thuộc với tôi từ nhỏ qua giọng hát mộc mạc của bà ngoại, trong những bài hát ấy, không ít bài sau này tôi mới biết là sáng tác của Phạm Duy. Trong những bài bà hát, có bài với những câu: Từ ngày chinh chiến mùa Thu Từ ngày, từ ngày chinh chiến mùa Thu Có chàng ra lính biên khu ai ơi tung hoành .... Chàng về nay đã cụt chân Chàng về, chàng về nay đã cụt chân Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù Từ ngày chinh chiến mùa Thụ Hẳn các bác thấy có gì đó không đúng trong đoạn trên, đây quả là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, vì tôi tìm được một giai thoại về cố ca nhạc sỹ Duy Khánh, tên thật là Nguyễn Văn Diệp sinh quán tại Quảng Trị, ông đã từng hát giống như bà ngoại tôi hát đoạn trên hồi năm 1952, nhân dịp về quê nghỉ hè, Duy Khánh đã tổ chức nhạc hội tại chùa Tỉnh Hội, ông diễn và hát bài Nhớ Người Thương Binh của Phạm Duy, trong đó có câu: "Chàng về nay đã cụt tay." Duy Khánh sửa lại: "Chàng về nay đã cụt chân", và nhảy cò cò trên sân khấu. http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Nho-Nguoi-Thuong-Binh-Duy-Khanh.IWZAB9U9.html Bà tôi cũng có khiếu sửa lời bài hát, bây giờ gọi là xuyên tạc, cái khiếu ấy ngấm vào máu mẹ tôi và truyền đến tôi, có một đoạn thế này: Bà cụ già, ra trước sân Nắm áo cụ ông, quăng ngay xuống sông Ối giời ơi, ông nhà tôi đôi mắt đã lòa vì quá là già Cũng sau này mới biết đó là nhạc của Phạm Duy. Nhạc sỹ Phạm Duy, chơi thân với nhạc sỹ Văn Cao, ông tả về Văn Cao trong hồi ký của mình: "Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà xổ chữ nho. Nhưng Văn Cao bản tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngă vào tay tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng." Ngoài việc cùng nhau ra vào chốn ăn chơi, ông và Văn Cao còn giúp nhau trong phương diện sáng tác, cùng nhau tham gia kháng chiến. Những nhạc phẩm đầu tay của ông có nhiều hùng ca: Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu... Bên cạnh đó còn có nhạc tình lãng mạn, trong đó có nhiều bài giúp ông trở nên nổi tiếng: Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya... Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu sáng tác nhạc âm hưởng dân ca với mong muốn xâm nhập sâu vào chốn thôn quê hơn, từ đó cho ra đời nhiều bài mà ông gọi là "Dân ca mới", rất được đông đảo quần chúng yêu thích: Nhớ người thương binh (1947), Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều. Nhớ Người Thương Binh Chiều về, chiều về trên cánh đồng xanh Có nàng gánh lúa cho anh ra đi giết thù (u u ù) Từ ngày chinh chiến mùa Thu Từ ngày, từ ngày chinh chiến mùa Thu Có chàng ra lính biên khu ai ơi tung hoành (ư ư ừ) Chiều về trên cánh đồng xanh. Chiều quê hằng nhớ người trai Và em nhìn tháng ngày trôi Nhớ người xa, xa vời Người vì non nước xa xôị Một chiều, một chiều trên quãng đường xa Bóng người anh dũng năm xưa ra đi chốn này (ư ư ừ) Chàng về nay đã cụt tay Chàng về, chàng về nay đã cụt tay Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù (u u ù) Từ ngày chinh chiến mùa Thụ Người quê còn nhớ người chăng Vì vào chốn tử sinh Chiến trường quên, quên mình Người về có nhớ thương binh. Người về, người về có nhớ thương binh. Tôi về tôi nhớ chiều xanh ra nơi sa trường (ư ư ừ) Và ngày tôi đã bị thương Và ngày, và ngày tôi đă bị thương Thân tàn nay sống hậu phương ai ơi bên người (ư ư ừ) Chiều về thương nhớ đầy vơi Người xa gửi đến quà xa Ngồi đây tưởng đến lệ rơi Hỡi người xa, xa vời Đẹp lòng tôi lắm ai ơi ! Vĩnh Yên 1947 Từ năm 1948, bên cạnh những bài có sắc thái tươi vui như: Gánh lúa, Đường ra biên ải... Ông có sáng tác thêm một thể loại mới: nói về sự đau khổ của những người sống trong chiến tranh. Những bài như: Bao giờ anh lấy được đồn Tây (sau đổi thành Quê nghèo), Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Mười hai lời ru... đều có hình ảnh làng quê và người dân quê nghèo khổ, đồng thời nói lên sự căm giận của người dân quê đối với quân giặc cướp nước, phá làng. Những bài hát này tuy được quần chúng yêu thích và phổ biến rất rộng rãi, nhưng do nói về sự bi, sự khổ mà Phạm Duy bắt đầu bị sự chỉ trích của cấp trên thời kháng chiến. Đến năm 1949, Phạm Duy rời bỏ kháng chiến dinh tê về thành, cùng năm ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng. Lúc này Duy Khánh đỗ tiểu học, và cũng như các con nhà giàu quyền thế trong tỉnh, cha ông là Nguyễn Văn Triển, từng dạy học trước khi làm Trưởng phòng Hành chánh tỉnh Quảng Trị, thường được biết đến với tên ông Trợ Triển là Hội trưởng hội Phật giáo tại tỉnh nhà, từng là dân biểu thời đệ nhị VNCH, có nhiều uy tín lớn trong tỉnh đã được cha mẹ cho vào Huế để học chương trình Trung học vì lúc bấy giờ, tại Quảng trị chưa có trường Trung học. Tại đất cố đô trầm mặc, Duy Khánh đã tìm cho mình con đường tiến thân đúng với khả năng thiên phú của mình, và hè năm 1952 ông đã hát và diễn nhạc Phạm Duy như đã kể bên trên, ông lấy biệt hiệu là Tăng Hồng, từng vào Sài Gòn tham gia các chương trình phụ diễn tân nhạc trong các rạp chiếu bóng. Ông hát song ca với nữ ca sĩ Tuyết Mai những bài ca rất đậm tình quê hương. Một thời gian sau đó, nhạc của Phạm Duy bắt đầu bị cấm ở vùng tự do kháng chiến. Ban đầu còn có những cuộc bàn cãi về việc cho hay không cho hát nhạc Phạm Duy, nhưng về sau thì cấm tiệt. Từ đó, nhạc Phạm Duy bị liệt vào hạng phản động, tên tuổi của ông được đem ra phê phán. Theo hồi ký của Phạm Duy thì lệnh cấm nhạc của ông bắt đầu từ bài Bên cầu biên giới, ra đời năm 1952, bài này bị chỉ trích là có thứ tình cảm bỉ mị buồn bã, làm nản lòng người. Sau khi được Nguyễn Xuân Khoát thông báo lệnh cấm, Phạm Duy bèn đem gia đình vào miền Nam rồi năm 1953, đi Pháp du học, ở đó ông bắt đầu quen biết giáo sư Trần Văn Khê. Trở lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long. Nhạc Phạm Duy phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam. Trong khoảng thời gian này, ca nhạc sỹ Duy Khánh tham gia một chương trình phụ diễn tại rạp Thanh Bình, trên đường Phạm Ngũ Lão, cạnh chợ Hoà Bình, ông đã lần đầu tiên tiếp xúc với nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1955, ông đoạt giải nhất cuộc tuyển lựa ca sĩ của đài Pháp Á tại Huế qua bài hát Trăng Thanh Bình. Sau đó ông chuyển hẳn vào Sài Gòn để theo đuổi nghề ca hát với nghệ danh Hoàng Thanh rồi sau này là Duy Khánh, lấy từ tên một người bạn rất thân. Duy Khánh bắt đầu ghi âm đĩa nhựa và đi diễn khắp nơi, dần nổi tiếng với tên Hoàng Thanh. Ông trở thành một trong ba giọng nam được yêu thích nhất, cùng với Duy Trác, Anh Ngọc. Thời kỳ này tên tuổi của ông gắn liền với những bài có âm hưởng dân ca và "Dân ca mới" của Phạm Duy: Vợ chồng quê, Ngày trở về http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=W8iG_5Bor1 , Nhớ người thương binh, Tình nghèo, Quê nghèo, Về miền trung... Ngày trở về Ngày trở về, anh bước lê Trên quãng đường đê đến bên lũy tre Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về Mẹ lần mò, ra trước ao Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ Tiếc rẵng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ Ngày trở về, trong bếp vui Anh nói chuyện nghe: chuyện đời chiến sĩ Sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê Chiều lặn tà, anh bước ra Vườn khuya sáng mờ, ruộng đất hoang vu Luống nghẹn ngào, hẹn sớm tinh mơ anh về đồng lúa. Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cầy bừa Vì thương yêu anh nên ngày trở về Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về Có anh thương binh sống đời hoà bình. Ngày trở về, những đoá hoa Thấm thoát mười năm nhớ anh vắng xa Có nhiều khi đời hoa chóng già vì thiếu mặn mà Đàn trẻ đùa bên lũ trâu Tiếng hát bình minh thoáng trên bãi dâu Gió về đâu, còn thương tiếc người giọng hát rầu rầu. Người kể rằng : Ai hỡi ai Ai nhớ chuyện ai, chuyện người con gái Chiến binh ơi, vì sao nát tan gia đình yên vui Đừng giận hờn, thôi tiếc thương Vì Xuân đã về trên khắp quê hương Chớ thẹn thuồng vì nếu tôi quen em ngoài đồng vắng. Ngày trở về, có anh thương binh lấy vợ hiền lành Người đẹp bên anh, ta cùng học hành Những khi tan công, hết việc, xếp gánh Ngày lại ngày có em vui tươi xách gạo bếp nước Có nắm cơm ngon, ôi trời lạnh lùng Có đôi uyên ương sống đời mặn nồng. Năm 1965, Duy Khánh cùng với nữ danh ca Thái Thanh thu thanh bản trường ca Con đường cái quan của Phạm Duy. Sau đó cùng hai người hát trường ca Mẹ Việt Nam. Cho đến nay, hai bản trường ca này vẫn gắn liền với giọng hát Thái Thanh, Duy Khánh. Ông bắt đầu viết nhạc từ năm 1959, nhạc ông thường nói về tình yêu quê hương, mang hơi dân ca xứ Huế và được đón nhận nồng nhiệt, ngay từ hai sáng tác đầu tay: Ai ra xứ huế, Thương về miền trung. Tiếp đó là các nhạc phẩm Xin anh giữ trọn tình quê, Lối về đất mẹ, Huế đẹp Huế thơ, Tình ca quê hương, Biết trả lời sao, Bao giờ em quên. Cùng lúc, Phạm Duy cho ra đời nhạc mà ông gọi là Vỉa hè ca: Sức mấy mà buồn, Nghèo mà không ham, Ô kê Sa Lem, Ô kê nước mắm... Sau ngày thống nhất đất nước, Học giả Trần Văn Khê từ Pháp có về hỏi Tố Hữu về vụ Phạm Duy, Tố Hữu nói: "Bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi", nghĩa là vẫn nên phổ biến sau khi bỏ hết những bài sáng tác thời Phạm Duy bỏ kháng chiến vào Nam. Phạm Duy đã sáng tác những bài hát cuối cùng trên đất nước: Trên đồi xuân, Mừng xuân, Tình hờ, Yêu là chết trong lòng, Ta yêu em lầm lỡ, Nửa đoạn tình buồn, Những cuộc tình tan vỡ, Yêu tinh tình nữ, Chỉ chừng đó thôi, Con chim nhỏ trên cành yêu đương... rồi ông vượt biên. Việc ông vượt biên đã khiến nhạc Phạm Duy bị cấm trên cả nước, ngoài ra bàn luận về Phạm Duy cũng bị cấm. Ông cùng với Hoàng Thi Thơ là hai nhạc sĩ đặc biệt nhất bị cấm toàn bộ về nhân thân trên toàn nước Việt Nam từ sau 1975. Đến Mỹ, ông và gia đình cư ngụ tại Midway (Quận Cam), California, nơi mà ông gọi là chốn "gió tanh mưa máu". Còn ca nhạc sỹ Duy Khánh, sau 30 tháng 4 năm 1975, ông bị cấm hát một thời gian dài, sau đó thành lập đoàn nhạc Quê Hương, quy tụ các nhạc sĩ Châu Kỳ, Nhật Ngân, các ca sĩ Ngọc Minh, Nhã Phương, Bảo Yến... Sau khi sang Mỹ vào năm 1988, ông hát độc quyền cho trung tâm Làng Văn, sau đó tách ra, thành lập trung tâm Trường Sơn tiếp tục ca hát và dạy nhạc cho đến cuối đời. Ông mất ngày 2 tháng 2 năm 2003 tại Hoa Kỳ. Tiêu đề: Re: Nhạc sỹ Phạm Duy và ca nhạc sỹ Duy Khánh Gửi bởi: fddinh trong 28 Tháng Tư, 2010, 01:00:55 am Với Phạm Duy, năm 1994, nhà văn Lưu Trọng Văn, con trai nhà thơ Lưu Trọng Lư, gửi lên tờ Tuổi trẻ chủ nhật bài thơ "Về thôi" có đề "Tặng P.D." bên cạnh. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đă phổ nhạc bài này. Rồi sau đó chính Phạm Duy cũng phổ nhạc với tên "Trăm năm bến cũ". Theo Phạm Duy, đây là bài thơ làm ông nghĩ nhiều tới việc về thăm Việt Nam, mà năm 2001 ông đă về lần đầu tiên.
Trăm Năm Bến Cũ Thơ Lưu Trọng Văn À a a á a à à À a a á a à hò... Trăm năm dầu lỗi hẹn hò Chứ cây da bến cũ Con đò khác đưa... Thôn nữ CHỊ, đã qua cầu, thóc lép Thôn nữ EM, như trăng tuột khỏi chồi tay Thôn nữ ÚT, đã lên đòng, nào ai biết Khúc tình xưa, xưa ấy đã xưa rồi Con chuồn chuồn không lùng nhùng trong mạng nhện Con bướm vàng nằm xoài dưới chân anh Một vùng trăng cỏ non như níu áo Ngọn tre xanh đủng đỉnh muộn màng. Á a á a a, A á ạ à, Á à à a, Á à à a Á a á a a, A á ạ à, Á à à a, À ạ à a Nào đâu có trăm năm, đâu có trăm năm Mà chờ mà đợi ? Mà chờ đợi ? Nào đâu có kiếp sau, đâu có kiếp sau, mà đợi mà chờ ? Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang sông Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang sông... Trăm năm bến cũ, có còn đó không ? Còn đó không ? Cây da bến cũ còn lưa, bến cũ còn lưa O đò năm trước đi mô không về Hương Lan thể hiện http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=JuzQXbBBUj Ngoài những tác phẩm lớn khiến ông có một địa vị chắc chắn trong nền tân nhạc Việt Nam như những trường ca: Con đường cái quan, Mẹ Việt Nam, Hàn Mạc Tử, sau này là Minh họa Kiều, bản trường ca dài nhất và thời gian sáng tác lâu nhất của ông, minh họa lại Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, Minh họa Kiều 1: Rằng năm Gia tĩnh triều Minh, Ngày xuân con én đưa thoi, Thanh minh trong tiết thang ba, Ngổn ngang gò đống kéo lên, Sè sè nắm đất bên đường, Đau đớn thay phận đàn bà, Một vùng cỏ ấy ác tà, Dễ hay tình lại gặp tình, Gốc cây lại vạch một bài cỏ thi, Dùng dẳng nửa ở nửa về, Chàng Vân quen mặt ra chào, Tình trong như đã mặt ngoài còn e, Minh họa Kiều 2: Người đâu gặp gỡ, Lơ thơ tơ liễu, Cách tường một buổi, Biết đâu hợp phố, Đá biết tuổi vàng, Hán Sở tranh hùng, Tư mã phượng cầu, Này khúc kê khang, Chiêu Quân, Càng tỏ hương nồng, Trăng thề còn đó, Minh họa Kiều 3: Cơn Gia Biến, Tấm Lòng Kiều, Đã Bén Tay Phàm, Tú Bà (Vào Thanh Lâu), Trước Lầu Ngưng Bích, Minh họa Kiều 4: Kiều gặp Từ Hải, là những sáng tác tình ca, hương ca, đạo ca, v.v đồ sộ, nhạc sỹ Phạm Duy còn được xem là một trong số ít nhạc sĩ Việt Nam giỏi về nghệ thuật phổ nhạc vào thơ và đặt lời cho nhạc nước ngoài, nhạc bán cổ điển. Những tác phẩm thơ phổ nhạc thành công nhất của ông có thể kể đến "Ngậm ngùi" (thơ Huy Cận - nhà thơ Huy Cận từng gửi lời cám ơn ông về việc giúp bài thơ này nổi tiếng); "Ngày xưa Hoàng Thị" (thơ Phạm Thiên Thư); "Áo anh sứt chỉ đường tà" (thơ Hữu Loan); "Tiễn em" (thơ Cung Trầm Tưởng); "Tỳ bà" (thơ Bích Khê); "Vần thơ sầu rụng", "Tiếng thu" (thơ Lưu Trọng Lư); "Tình cầm" (thơ Hoàng Cầm); "Em hiền như Masoeur", "Thà như giọt mưa", "Hai năm tình lận đận" (thơ Nguyễn Tất Nhiên)... Nhiều ca khúc nước ngoài nhờ ông đặt lời Việt mà trở nên phổ biến ở Việt Nam, như "Em đẹp nhất đêm nay" (La plus belle pour aller danser), "Khi xưa ta bé" (Bang bang), "Tình cho không biếu không" (L'amour c'est pour rien), "Tuyết Rơi" (Tombe la neige), "Tiếng Cười Trong Đêm" (La nuit), "Những Mùa Nắng Đẹp" (Seasons in The Sun), "Chuyện tình" (Love Story của Francis Lai),... Ngoài ra ông còn đặt lời cho dân ca của nhiều nước trên thế giới. Những tác phẩm nhạc bán cổ điển, vốn là loại nhạc khó hoà nhập, thì ông cùng với tiếng hát Thái Thanh đã dễ dàng đưa đến số đông dân chúng: "Dạ khúc" (Nächtliches Ständchen của Franz Schubert), "Dòng sông xanh" (An der schönen blauen Donau op. 314 của Johann Strauss http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=-fyfYuGGh7 - trong một chương trình tuyển lựa ca sỹ của trung tâm Thúy Nga, nghệ sỹ hài Hoài Linh đã hát nhái giọng Thái Thanh bài hát này khiến Thái Thanh ngồi ghế giám khảo cười nghêng ngả vì giọng lên cao quá khiến Hoài Linh hụt hơi, cũng trong chương trình này, Hoài Linh còn nhái ca nhạc sỹ Duy Khánh từ dáng điệu, giọng nói đến lời ca bản Xin anh giữ trọn tình quê), "Mối tình xa xưa" (Célèbre Valse, hay bài số 15 trong "16 bài valse cho piano", của Johannes Brahms)... Sau nhiều lần về thăm quê hương, ngày 17/5/2005 Phạm Duy chính thức trở về định cư tại Việt Nam, mua nhà sống tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các con trai ca sĩ Duy Quang , Duy Cường. Công ty Phương Nam đã đứng ra mua bản quyền toàn bộ nhạc phẩm của Phạm Duy trong vòng 10 năm với giá hơn 400 nghìn đôla. Năm 2006, Phạm Duy tổ chức đêm nhạc mang tên "Ngày trở về" tại nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh, đêm nhạc tổ chức quy mô hoành tráng, được công chúng đón nhận nhiệt liệt. Một thiểu số nhân vật đã phản đối sự đón nhận này. Nhiều đêm nhạc Phạm Duy khác với quy mô lớn tiếp tục diễn ra: Con đường tình ta đi, Ngày trở về tại nhiều tỉnh miền Trung, những đêm giới thiệu Minh họa Kiều tại miền Bắc.. Tháng 3 năm 2009, đêm "Ngày trở về" đã tổ chức thành công ở nhà hát lớn, Hà Nội, nơi ông sinh ra, "Xong buổi diễn, tôi mới thực sự là người về hưu" - ông phát biểu. Tổng hợp từ nhiều nguồn. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: trantrung trong 03 Tháng Năm, 2010, 02:03:04 pm Mình xin đóng góp thêm một bài hát nữa , đó chính là bài hát Không quân Việt Nam của cố nhạc sĩ Văn Cao . Bài hát này được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác đầu thập niên 40, khoảng năm 1945, lúc binh chủng này còn chưa được thành lập tại Việt Nam. Cùng lúc, Văn Cao còn viết những ca khúc khác như Hải quân Việt Nam, Chiến sĩ Việt Nam...cho các binh chủng tương lai, trước khi ông lên Việt Bắc theo kháng chiến chống Pháp. Thời kỳ này cũng là thời kỳ Văn cao vừa chứng kiến sự bi thương của người dân chạy loạn tại hà Nội đang ăn chơi (Ông viết bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc năm 1946) vừa chứng kiến không khí hào hùng trước khởi nghĩa. Sau khi Văn Cao bị chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ca khúc này không được phổ biến tại miền Bắc nhưng đã được sử dụng làm bài hát chính thức của Không lực Việt Nam Cộng hòa .
Lời ca khúc Giờ đoàn người từng vượt qua biên giới quyết chiến đấu Ðã chiếm chiến công ngang trời Giờ đoàn người còn vượt qua biên giới quyết chiến đấu Ði không lo gì xác rơi Lúc đất nước muốn bao người con thân yêu ra đi Hối tiếc tấm thân làm chi Giờ thề một lòng vượt trên lưng gió quyết chiến thắng Nhớ lấy phút giây từ ly Ta là đàn chim bay trên cao xanh Khi nhìn qua khói những kinh thành xa Ðôi cánh tung hoành vượt trên mây xanh Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng Ðây đó hồn nước ơi! Không quân Việt Nam vút trên ngàn mây gió U..u… u… u… u… u … Ôi phi công danh tiếng muôn đời Nhìn xa phi trường Việt Nam Không quân ra đi cánh bay rợp trời U..u… u… u… u… u … Xa giang sơn ngắm nhìn về khắp nơi Bầy chim dù bay ngàn phương cũng về Ðể rồi ngày ngày sống hòa nhịp đời Cùng ngàn kiếp chim Bầy ta càng đi càng xa Quyết khi về đem lại đây chiến công Dù thân mồ quên lấp chìm Nhận xét của Trần Quang Hải : Văn Cao, con người mơ mộng ấy thả hồn mình bay xa thực tại khi làm bài hát: Hải quân Việt Nam, Không quân Việt Nam vào năm ấy. Cái tình của ông đối với quân đội, với cách mạng, khát vọng của ông đã làm ông đi trước thực tế đến vài chục năm. Rồi kháng chiến toàn quốc, Văn Cao lên Việt Bắc, ở đó có Làng tôi, Ngày mai... những ca khúc thắm đượm tình yêu thương đối với làng quê rơm rạ, làng quê du kích... Trái tim lãng mạn xưa đã mở ra cùng một thế giới cảm xúc, nó khác với Bến xuân và Suối mơ của giấc mơ huyền ảo xưa. Bây giờ là chiến tranh, là chiến trận, là hy sinh mất mát, là tình cảm của nhân dân. Nhạc của ông giờ đây ngát đầy hương lúa mới, những cánh đồng quê trong máu lửa, nó là bản "giao hưởng đồng nội" trong tâm hồn nhạc sĩ . Giá mà trước đấy Đảng và Quân Đội ta chịu giữ lại bài hát này thì bây giờ Không Quân Nhân Dân Việt nam đã sở hữu được một bài hát rất hay và ý nghĩa chứ không đến mức để phía VNCH lấy . Không hiểu sao đến bây giờ bài hát này cũng chưa thấy ai sử dụng ở Việt Nam , thiết nghĩ các cấp các ngành văn hóa nên quan tâm đến bài hát này bởi dù sao thì chúng ta cũng đã sử dụng bài Hồn Tử Sĩ và bài Tiếng Gọi Thanh Niên mặc dù trước đó VNCH cũng đã sử dụng 2 bài bài này thì sao chúng ta không sử dụng lại bài hát Không Quân Việt Nam một lần nữa . Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: lonesome trong 03 Tháng Năm, 2010, 02:10:33 pm Bài KQVN vẫn được lưu hành đấy chứ bạn TranTrung
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: chiangshan trong 03 Tháng Năm, 2010, 02:11:09 pm Phi đội ta xuất kích gần như là bài hát truyền thống của KQNDVN rồi.
Còn tại sao ngày nay không dùng thì cũng nên tính đến yếu tố lịch sử. Bài KQVN của VC sáng tác với kiểu nhạc, lời, từ, ngữ của thập niên 40-50, không phải cái nào cũng còn phù hợp với ngày nay. Rất nhiều bài hát nổi tiếng thời KCCP đến ngay KCCM thôi đã không còn được ưa chuộng, phổ biến, mặc dù nó chả có vấn đề gì. Hê hê, nhưng mà khoái cái ý tưởng KQ vượt biên giới oánh vào đất địch của cụ VC ;D Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Năm, 2010, 02:41:11 pm Giá mà trước đấy Đảng và Quân Đội ta chịu giữ lại bài hát này thì bây giờ Không Quân Nhân Dân Việt nam đã sở hữu được một bài hát rất hay và ý nghĩa chứ không đến mức để phía VNCH lấy . Không hiểu sao đến bây giờ bài hát này cũng chưa thấy ai sử dụng ở Việt Nam , thiết nghĩ các cấp các ngành văn hóa nên quan tâm đến bài hát này bởi dù sao thì chúng ta cũng đã sử dụng bài Hồn Tử Sĩ và bài Tiếng Gọi Thanh Niên mặc dù trước đó VNCH cũng đã sử dụng 2 bài bài này thì sao chúng ta không sử dụng lại bài hát Không Quân Việt Nam một lần nữa . Hai bài trên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: trantrung trong 03 Tháng Năm, 2010, 03:27:47 pm Thì mình có nói 2 bài này là của Văn Cao đâu . Quân đội 2 phía Nam và Bắc Việt nam đều có những bài hát cho Không Quân và Hải Quân . Phía VNCH có 2 bài là Hoa Biển dành cho Hải quân , Tuyết Trắng cho Không quân của chung tác giả Trần Thiện Thanh . Còn phía QDNDVN ta có bài Chút Thơ Tình Người Lính Biển Sáng tác: Hoàng Hiệp phổ thơ của Trần Đăng Khoa và bài Phi Đội Ta Xuất Kích vừa mới nói trên . Nếu nhận xét công bằng không mang tính chính trị thì các cậu thấy bài nào hay hơn .
Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: toan_jon trong 03 Tháng Năm, 2010, 04:45:26 pm Thì mình có nói 2 bài này là của Văn Cao đâu . Quân đội 2 phía Nam và Bắc Việt nam đều có những bài hát cho Không Quân và Hải Quân . Phía VNCH có 2 bài là Hoa Biển dành cho Hải quân , Tuyết Trắng cho Không quân của chung tác giả Trần Thiện Thanh . Còn phía QDNDVN ta có bài Chút Thơ Tình Người Lính Biển Sáng tác: Hoàng Hiệp phổ thơ của Trần Đăng Khoa và bài Phi Đội Ta Xuất Kích vừa mới nói trên . Nếu nhận xét công bằng không mang tính chính trị thì các cậu thấy bài nào hay hơn . Em thích 2 bài của Trần thiện Thanh.Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 03 Tháng Năm, 2010, 05:14:49 pm Không quân Việt Nam của cố nhạc sĩ Văn Cao Hồn Tử Sĩ và bài Tiếng Gọi Thanh Niên Mình viết một bài dài về ba bài trên, bị bà xã đá nhằm ổ cắm điện, mấtb toi cả, chán quá, mình luôn khuyên người khác soạn văn bản trong word chẳng hạn, và luôn save tránh mất, còn mình thì.... Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: altus trong 03 Tháng Năm, 2010, 05:57:50 pm Mình viết một bài dài về ba bài trên, bị bà xã đá nhằm ổ cắm điện, mấtb toi cả, chán quá, mình luôn khuyên người khác soạn văn bản trong word chẳng hạn, và luôn save tránh mất, còn mình thì.... Tôi khuyên bạn lúc nào cũng chuẩn bị một bà xã backup.... Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Năm, 2010, 06:12:45 pm Thì mình có nói 2 bài này là của Văn Cao đâu . Quân đội 2 phía Nam và Bắc Việt nam đều có những bài hát cho Không Quân và Hải Quân . Phía VNCH có 2 bài là Hoa Biển dành cho Hải quân , Tuyết Trắng cho Không quân của chung tác giả Trần Thiện Thanh . Còn phía QDNDVN ta có bài Chút Thơ Tình Người Lính Biển Sáng tác: Hoàng Hiệp phổ thơ của Trần Đăng Khoa và bài Phi Đội Ta Xuất Kích vừa mới nói trên . Nếu nhận xét công bằng không mang tính chính trị thì các cậu thấy bài nào hay hơn . Bài hát được coi là truyền thống của Hải quân Nhân dân Việt Nam là "Lướt sóng ra khơi".Đánh giá bài hát dựa trên các tiêu chí nào mới được chứ? Phải có một tiêu chuẩn xác định mới đánh giá được. Chứ ông nói gà, bà nói vịt thì tranh luận cả ngày không hểt đâu. Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: fddinh trong 03 Tháng Năm, 2010, 07:17:32 pm Tôi khuyên bạn lúc nào cũng chuẩn bị một bà xã backup.... ;) ;) ;)Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: toan_jon trong 03 Tháng Năm, 2010, 07:40:21 pm Thì mình có nói 2 bài này là của Văn Cao đâu . Quân đội 2 phía Nam và Bắc Việt nam đều có những bài hát cho Không Quân và Hải Quân . Phía VNCH có 2 bài là Hoa Biển dành cho Hải quân , Tuyết Trắng cho Không quân của chung tác giả Trần Thiện Thanh . Còn phía QDNDVN ta có bài Chút Thơ Tình Người Lính Biển Sáng tác: Hoàng Hiệp phổ thơ của Trần Đăng Khoa và bài Phi Đội Ta Xuất Kích vừa mới nói trên . Nếu nhận xét công bằng không mang tính chính trị thì các cậu thấy bài nào hay hơn . Bài hát được coi là truyền thống của Hải quân Nhân dân Việt Nam là "Lướt sóng ra khơi".Đánh giá bài hát dựa trên các tiêu chí nào mới được chứ? Phải có một tiêu chuẩn xác định mới đánh giá được. Chứ ông nói gà, bà nói vịt thì tranh luận cả ngày không hểt đâu. Một bài hát hay hoặc không hay la do cảm nhận của từng người, chứ khó có một tiêu chuẩn xác định cụ thể bác ạ! Tiêu đề: Re: Thơ - nhạc VNCH nguồn gốc từ VNDCCH Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Năm, 2010, 12:00:53 am Một bài hát hay hoặc không hay la do cảm nhận của từng người, chứ khó có một tiêu chuẩn xác định cụ thể bác ạ! Một cuộc thi hay một cuộc bình chọn mà không có tiêu chuẩn xác định cụ thể, chỉ dựa vào cảm tính cá nhân sẽ không bao giờ có hồi kết và trở nên vô bổ.Chấm dứt các cuộc bình chọn như vậy ở Topic này nhé! Tiêu đề: Phạm Duy và Bà mẹ Gio Linh Gửi bởi: fddinh trong 04 Tháng Năm, 2010, 03:06:19 am Để bù lại cho việc bà xã đá mất bài, mời các bác đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về sự trở về của ông nhạc sĩ tài hoa này cực hay:
Sách Yếu Lược Đông Pháp ngày xưa có nói đến một kẻ lãng du mãi đi tới trước mặt mình, tự nhiên đứng chân, đi ra khỏi cổng làng, băng qua những núi non, những đại dương, băng qua những quốc gia, những nền văn hóa, vẫn tiếp tục bước tới, tới nữa, tới mãi... Đến một lúc gần như "hết đất" để đi tới, người lữ khách dừng chân, nhìn lại, và ô kìa...! Chỗ đứng chân đầu tiên lại xuất hiện trước mắt anh. Người lữ hành là người luôn luôn quay lại trên vết chân của mình. Một cõi đi về mà! Mặc dù "Nhạc của tôi đi vào lòng người thì dễ, nhưng đi vào lòng ông Đỗ Mười sao khó thế!" - Phạm Duy phát biểu tại Đại học Berkeley 11.1995 Ca khúc Bà mẹ Gio Linh là một tác phẩm bất hủ của ông. Nhưng ít ai biết được câu chuyện đằng sau bài ca đó. Bài của Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ hé lộ câu chuyện này. Về thăm lại Bà mẹ Gio Linh (http://www2.thanhnien.com.vn/Uploaded/huynhthang/Nam_2008/Xuan_2008/22dgspa.jpg) Bố con nhạc sĩ Phạm Duy với các em nhỏ trong làng trước nhà bà mẹ Gio Linh (Ảnh: Gia đình nhạc sĩ cung cấp) Đối với tôi, cái tin Phạm Duy trở về nước sống là một tin đầy xúc động. Hồi gặp anh vội vã ở Paris (Pháp), tôi đã được nghe anh tiết lộ về cái khả năng "hứng bất tử" này, và không quan tâm mấy vì nó hoàn toàn viển vông. Nhưng bây giờ, anh đã lặng lẽ làm việc với các "cửa ải thủ tục" để được phép trở về nước. Trở về làng Phượng Dục để xây lại cổng làng và hoàn chỉnh gia phả sau thế hệ nhà văn Phạm Duy Tốn. Ấy mới biết, dù lạc loài đến mấy thì điều làm cho người ta suy nghĩ đến đầu tiên, chính là hai chữ "nguồn cội". Hồi ấy, nghe tin tôi làm việc ở Quảng Trị, anh có hẹn sẽ đi với tôi về Gio Linh. Tôi đã nhất trí như vậy, nhưng hoàn cảnh nay đã khác. Tôi báo anh, qua máy: “Anh cứ tìm đến tòa soạn Tạp chí Cửa Việt ở thị xã Đông Hà, rồi nhờ một phóng viên đưa anh về Gio Linh. Anh cứ yên tâm, bà con trong làng sẽ rất vui mừng được đón tiếp tác giả Bà mẹ Gio Linh”. Thật bất ngờ, vào một buổi sáng đẹp trời, một người đàn ông dáng cao to, tóc trắng như cước xuất hiện trước cửa phòng tôi và đó chính là nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi nhìn lướt qua anh, thấy anh chẳng thay đổi gì so với mấy chục năm trước sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm, thuở anh về hát Tình ca cùng với một người đàn bà Mỹ nói tiếng Việt khá sành sõi và dĩ nhiên là khá đẹp. Và giữa hai chúng tôi đã có một cuộc chiến làm rung chuyển thế giới. Tôi không nhấc chân đi được, chỉ biết ngồi trên xe lăn nhìn anh. Tôi rất yên tâm khi nhờ người phóng viên đã rành rẽ mọi nơi, mọi chuyện khắp địa bàn tỉnh Quảng Trị đưa anh đi. Người phóng viên lên xe dẫn đường cho anh Phạm Duy về làng Mai Xá. Giữa đường, anh Phạm Duy giải thích về huyền thoại Bà mẹ Gio Linh cho người dẫn đường nghe. Hồi ấy, nhân một chuyến đi thực tế nông thôn ở Quảng Trị, anh có về công tác ở làng Mai Xá và sáng tác bài hát Bà mẹ Gio Linh trong một đêm, lúc nằm trên giường tre ở chiến khu. "Tôi làm xong tôi khóc. Tôi nhớ hoài, tôi khóc như một đứa con nít". Tiếng khóc ấy như một tiếng nấc uất nghẹn quanh quẩn trong lòng Phạm Duy trong những năm anh sống ở hải ngoại. Dù ăn món gì, dù đang uống ly rượu gì, chợt nghĩ đến Bà mẹ Gio Linh là anh thấy mất vui. "Người ta hay nói đến chữ ăn năn. Riêng mình, tôi thấy ái ngại sao ấy. Bởi vì nó dễ quá. Chỉ mong sao được về đến tận nơi các anh đã hy sinh, được đốt ba nén nhang và nghiêng mình trước mộ hai anh. Đó là việc mình phải làm sau cùng trong lần hồi hương này, để cuộc trở về này có ý nghĩa". Xe vẫn chạy bon bon trên đường ra Mai Xá. Người bạn vẫn ngồi yên bên cạnh Phạm Duy, lần lượt kể cho anh nghe về ngôi làng huyền thoại. Ai cũng biết Cửa Tùng là địa điểm của vua Duy Tân ra bàn với ông khóa Bảo về việc dấy nghĩa Cần Vương; vì thế địa bàn Gio Linh đây, có thể xem như cái nôi của Cần Vương. Sau chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, tiến sĩ Nguyễn Tự Đồng (dân hay gọi là ông Đốc Đồng) đánh trống tụ nghĩa tại làng Hà Thượng. Tục truyền rằng khoảng năm 1925, Quảng Trị nổi danh với những vườn đào tụ nghĩa. Đó là vườn đào của ông Nguyễn Khoa Bảo ở Cam Lộ, vườn đào Linh Yên, Triệu Phong của cụ đề đốc Nguyễn Thành Đốc, về sau bị giặc Pháp xử trảm ở bãi bồi làng Nhan Biều; vườn đào Bồ Bản của cụ Ấm Muộn, vườn đào Bích Khê của cụ hoàng giáp Hoàng Hữu Bính và vườn đào Mai Xá, Gio Linh của tú tài Trương Quang Cung. Những vườn đào rậm rạp, lá cây che mắt giặc Pháp nên được các môn đệ phong trào Cần Vương lấy làm chỗ họp mặt bàn việc khởi nghĩa. Thuở ấy ở các vườn làng Mai Xá, có hàng loạt cây mai mùa xuân nở hoa vàng rực rỡ, từ đó có phong trào "mai vàng tụ nghĩa". Ấy là không khí náo nức chung của huyện Gio Linh trước ngày khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, đến nỗi Tỉnh ủy Quảng Trị năm 1949 có quyết định phong tặng Gio Linh danh hiệu "Huyện kháng chiến kiểu mẫu". "Đấy là bối cảnh lịch sử để bài hát Bà mẹ Gio Linh ra đời. Bây giờ nói cụ thể về các liệt sĩ của bài hát, bác có muốn nghe không?" - người phóng viên hỏi. Dĩ nhiên là anh Phạm Duy rất muốn biết, không phải như đầu đuôi một câu chuyện đã trở thành huyền thoại, mà như một mảnh đất nước ở "phía bên kia", mà từ lâu đã mờ khuất trước mắt anh, giống như một hình bóng của làng quê chìm đắm dưới làn khói mù của lửa đạn. "Nhờ chú cho tôi nghe kỹ đầu đuôi câu chuyện Bà mẹ Gio Linh" - nhạc sĩ Phạm Duy nói với người dẫn đường. Nguyên khu vực này có hai làng cùng một gốc, là làng Mai Xá Chánh và Mai Xá Thị. Anh Nguyễn Đức Kỳ (xã đội trưởng) quê ở Mai Xá Thị; còn anh Nguyễn Phi (cán bộ bình dân học vụ xã) ở làng Mai Xá Chánh. Lính Pháp ở đồn Nhĩ Hạ bắt được hai anh ở ngoài đồng, đem hành quyết rồi cắt đầu găm vào đòn xóc, đem bêu ở bên đường, lấy dầu bi-dăng-tin bôi cho óng mượt, giả dạng đi phố. Trong khi đó, từ phía đình làng Mai Xá, tấp nập những bóng dáng của các bà mẹ Gio Linh cắp thúng mủng giả vờ đi chợ, nhưng thực ra là đi lấy đầu liệt sĩ làng Mai Xá. Ngày giặc Pháp chặt đầu hai liệt sĩ là 16.8.1948. Hồi ấy ở Quảng Trị, giặc Pháp có tục giết người rồi đem đi bêu đầu ở giữa chợ. Có một cậu phóng viên nhân một chuyến đi thực tế ở đồng bằng Triệu Phong muốn điều tra thực hư bài hát Bà mẹ Gio Linh. Kết quả thật bất ngờ, có đến hơn một trăm bà mẹ quê đều tự nhận mình là bản gốc của Bà mẹ Gio Linh. Hồi đó, chị tôi đi buôn ở chợ Chùa, có bữa chị như lạc giọng, đốt mấy nén nhang và một nải chuối, lâm râm cúng lạy ở ngoài hiên. Chị bảo tôi rằng làm thế để cúng vong hồn những người chết oan và bị Tây chặt đầu cắm ở bên đường. Đó là dấu vết của bài hát Bà mẹ Gio Linh theo như tôi được biết, bài hát quả nhiên đầy sức sống: Cái chết đau thương của hai liệt sĩ không làm cho làng Mai Xá ngã quỵ mà nhân thành hàng trăm con người tự nguyện đứng lên bảo vệ làng quê dù phải phơi thây ở bên đường. Các nhà thơ dân gian mọc lên như hoa, ca ngợi cái hùng khí của "mai vàng tụ nghĩa": "Con mang theo dòng máu anh hùng Sống chiến đấu, chết toàn danh tiết Con ra đi hình hài tuấn kiệt Con trở về có chiếc đầu thôi". Các bà mẹ mang thúng đi lấy đầu con, đó là mẹ Lê Thị Cháu (còn gọi là Diêu Cháu) và bà Khương Thị Mén, thím của liệt sĩ Nguyễn Đức Kỳ; mẹ Hoàng Thị Sáng và bà Bùi Thị Con, thím của liệt sĩ Nguyễn Phi. Lấy được đầu về, các mẹ đã giấu ở trên tra, gần nóc nhà để tránh Tây lùng sục. Sau đó, đem chôn vào hai cái hộp vuông phù hợp với chiếc đầu. Lần đầu tiên người Việt Nam đem chôn người thân bằng một chiếc hộp vuông. Đầu anh Kỳ được chôn tại vùng Đôộng, Mai Xá Thị, đầu anh Phi được chôn tại nghĩa địa Cồn Dài. Nhạc sĩ Phạm Duy bùi ngùi nghe lại đoạn băng ghi âm của gia đình ghi lại cuộc phỏng vấn anh và ca sĩ Thái Thanh của đài Pháp RFI thực hiện năm 2001. Thống thiết nhất là giọng của Thái Thanh: "Một bà mẹ bình thường, con cái đã là một gánh nặng lớn của mẹ rồi, huống chi lại phải mất con trong thời chiến tranh nữa. Cái bi kịch này nó ghê gớm quá. Lần nào hát Bà mẹ Gio Linh tôi cũng khóc". Riêng với Phạm Duy, bi kịch Bà mẹ Gio Linh ngay từ đầu đã trở thành một ám ảnh nghệ thuật đeo bám lấy tâm hồn anh, nhất định "không buông tha" để tâm hồn anh đỡ bị giày vò. Chợt nhớ lại một đêm năm 1951, lúc bước chân qua Phát Diệm, Phạm Duy thấy mình mãi khóc bằng một giọt nước mắt lạ lùng, có khi giọt nước mắt ấy rơm rớm trong khóe mắt; hoặc tuôn dào dạt như muốn lấp đầy khoảng trống trong lồng ngực, không phải là người ngoài cuộc mà chỉ người trong cuộc mới biết. Đó là một khoảnh khắc vàng của một đời nghệ sĩ trong cuộc sống phong trần của anh. Sự quay trở về lần này của Phạm Duy chính là hành động để anh tạ tội với Mẹ Việt Nam, để xin người cho "đi lại từ đầu". Ôi, Mẹ Việt Nam luôn bao dung và nghiêm nghị sẽ nhìn xuống mỉm cười trên mái tóc bạc trắng như cước của đứa con tài hoa, phung phá và nay biết hối lỗi, Mẹ Việt Nam sẽ chứng giám cho thành tâm của anh. Sách Yếu Lược Đông Pháp ngày xưa có nói đến một kẻ lãng du mãi đi tới trước mặt mình, tự nhiên đứng chân, đi ra khỏi cổng làng, băng qua những núi non, những đại dương, băng qua những quốc gia, những nền văn hóa, vẫn tiếp tục bước tới, tới nữa, tới mãi... Đến một lúc gần như "hết đất" để đi tới, người lữ khách dừng chân, nhìn lại, và ô kìa...! Chỗ đứng chân đầu tiên lại xuất hiện trước mắt anh. Người lữ hành là người luôn luôn quay lại trên vết chân của mình. Với Phạm Duy, vết chân đầu tiên để anh bước vào lịch sử chính là ngôi làng Mai Xá huyền thoại này và như vậy, anh là một Người Trở Về, vâng Come back Sorriento, "và sẽ thấy kiếp xưa bước nhẹ về"... "đi lại từ đầu". Như lời anh đã viết trong ca khúc Kỷ niệm mới đây. Nãy giờ ham nói chuyện, người phóng viên mới để ý rằng mình đang đưa anh Phạm Duy đi băng qua ngõ làng Mai Xá, hướng đến một nền nhà cũ. Đó là nền nhà thời thơ ấu của anh Nguyễn Đức Kỳ, căn nhà đã biến mất từ lâu, nền nhà đã bị cày vỡ dùng để trồng trọt, con đường rộng lên ngã tư Sòng cũng băng qua đó. Nhạc sĩ Phạm Duy đứng yên, đốt mấy cây hương cắm lên nền nhà lẩm bẩm: "Đến rồi!" và lấy giọng hát bài Bà mẹ Gio Linh. Anh hát nghẹn ngào, giọng vang như mọi lần nhưng trầm hơn. Bà mẹ đứng cạnh anh úp nón trước ngực, cất tiếng thở dài. Đó là mẹ Diêu Cháu của anh Kỳ. Bài hát này in ở Huế, lời của nó được tác giả sửa lại nhưng thanh niên trong làng vẫn thuộc y nguyên lời đầu tiên: ...Nghẹn ngào không nói một câu Mang khăn gói đi lấy đầu Đường về thôn xóm buồn teo Xa xa tiếng chuông chùa reo… Bà mẹ Gio Linh tức mẹ Diêu Cháu, đứng bên cạnh Phạm Duy, nét mặt xúc động tràn trề, Phạm Duy ngoảnh mặt lại, cúi xuống nhìn mẹ, rồi bỗng nhiên buột miệng: - Mẹ đẹp như một vị thánh. Mẹ Diêu Cháu mắt hấp háy, da mặt hồng hào như thời con gái, dáng hơi bối rối. Nhạc sĩ Phạm Duy hát xong bài Bà mẹ Gio Linh, đứng nghiêm thẳng người, cây đàn guitar cũ chống ở trước bụng, trong tư thế của người chiến sĩ đứng chống gươm, mặc niệm trước đồng đội đã khuất. 16.11.2007 Hoàng Phủ Ngọc Tường Bà mẹ Gio Linh Trình bày: Thái Thanh Mẹ già cuốc đất trồng khoai Nuôi con đánh giặc đêm ngày Cho dù áo rách sờn vai Cơm ăn bát vơi bát đầy Hò ơi ơi ới hò ! Hò ơi ơi ới hò ! Nhà thì nó đốt còn đây Khuyên nhau báo thù phen này Mẹ mừng con đánh giặc hay (bản gốc là: giết nhiều Tây) Ra công sới vun cầy cấy Hò ơi ơi ới hò ! Hò ơi ơi ới hò ! Con vui ra đi (bản gốc: Con đi dân quân), sớm tối vác súng về Mẹ già một con yêu nước có kém chi Đêm nghe xa xa có tiếng súng lắng về (bản gốc: nghe tiếng súng oán hề) Mẹ nguyện cầu cho con sống rất say mê. Mẹ già tưới nước trồng rau Nghe tin xóm làng kêu gào Quân thù đã bắt được con Đem ra giữa chợ cắt đầu Hò ơi ơi ới hò ! Hò ơi ơi ới hò ! Nghẹn ngào không nói một câu Mang khăn gói đi lấy đầu Đường về thôn xóm buồn teo Xa xa tiếng chuông chùa gieo (chuông chùa réo) Hò ơi ơi ới hò ! Hò ơi ơi ới hò ! Tay nâng nâng lên, rưng rức nước mắt đầy Mẹ nhìn đầu con, tóc trắng phất phơ bay Ta yêu con ta, môi thắm bết máu cờ Nụ cười hồn nhiên, đôi mắt ngó trông ta. Mẹ già nấu nước chờ ai Đêm đêm súng nổ vang trời Giật mình em bé mồ côi Hò ơi ơi ới hò ! Hò ơi ơi ới hò ! Đoàn người kéo đến nhà chơi (bản gốc: Bộ đội đã ghé về chơi) Khơi vui bếp lửa tơi bời Mẹ già đi lấy nồi khoai (đi nấu nồi khoai) Bưng lên khói hương mờ bay Hò ơi ơi ới hò ! Hò ơi ơi ới hò ! Khi trông con nuôi xúm xít dưới túp nhà Mẹ nhìn đàn con thương nhớ đứa con xưa Con, con con ơi ! Uống hết bát nước đầy Ngày một ngày hai, con nhớ ghé chơi đây... Ngày một ngày hai, con nhớ ghé chơi đây. Bài về nhạc sỹ Văn Cao và các bản hùng ca cùng với nhạc sỹ Lưu Hữu Phước và Hồn Tử Sỹ xin khất các bác lại sau. Tiêu đề: Nhạc sỹ Hoàng Giác và nhạc hiệu chương trình phát thanh Chiêu hồi Gửi bởi: fddinh trong 09 Tháng Ba, 2013, 05:17:40 pm Hẳn nhiều người từng đắm chìm với giọng ca của Tài tử Ngọc Bảo, say mê qua những lời hát: http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/ngay-ve-hoang-giac-ngoc-bao.CD_2z4wc1q.html
Những người lớn tuổi hẳn còn nhớ bài hát nhưng có lẽ ít người còn nhớ được tình cảnh của bài hát này. Hoàng Giác, sinh năm 1924, gốc làng Chèm (xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội). Năm 1945, ông tốt nghiệp Trường Bưởi, bản nhạc đầu tay trong cuộc đời sáng tác của ông là để tặng cho một thiếu nữ trong Hà Đông, bài Mơ hoa. Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ, Hoàng Giác hăng hái tham gia. Trong Tuần lễ vàng ở Hà Nội, Hoàng Giác đăng đàn diễn thuyết. Tài ăn nói của ông đã thu về nhiều thắng lợi cho ngân sách của chính phủ non trẻ. Trong đám đông đứng nghe, có một giai nhân ở đường Quán Thánh, cô lặng lẽ tháo tất cả vòng, xuyến bỏ vào thùng ủng hộ cách mạng. (http://files.myopera.com/diemxuacafe/albums/621130/thumbs/Nh%E1%BA%A1c%20s%C4%A9%20Ho%C3%A0ng%20Gi%C3%A1c,%20gi%E1%BB%AFa%20th%E1%BA%BF%20k%E1%BB%B7%20tr%C6%B0%E1%BB%9Bc..jpg_thumb.jpg) Đến khi toàn quốc kháng chiến, Hoàng Giác tham gia Đoàn Tuyên truyền xung phong và một tuyệt phẩm nữa được ra đời vào năm 1947, ca khúc Ngày về được ông làm trên đường công tác được về thăm nhà: Tung cánh chim tìm về tổ ấm nơi sống bao ngày giờ đằm thắm nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi luyến tiếc bao ngày xanh. Tha thiết mong tìm về bạn cũ nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây mờ khuất xa xôi nghìn phương Trên đường tha hương, vui gió sương riêng lòng ta mang mối nhớ thương âm thầm thương tiếc cho ngày về tìm lại đường tơ nay đã dứt Nghe tiếng chim chiều về gọi gió như tiếng tơ lòng người bạc phước nhắp chén men say còn vương bóng quê hương dừng bước tha hương lòng đau. Lời 2: Trong bốn phương mờ hàng lệ thắm mơ đến em một ngày đầm ấm nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương tìm đến em nay còn đâu. Năm tháng phai mờ lời hẹn ước trong gió sương hình người tình mến oán trách ai quên lời thề lúc ra đi thôi ước mơ chi ngày mai Phong trần tha hương bao nhớ thương tim buồn ta mơ đôi bóng uyên lưng trời âu yếm bay tìm đàn lòng nguyện giờ đây quên quên hết Ta sống không một lời trìu mến như bóng con đò lạc bến lờ lững trôi qua cùng ngày tháng phôi pha duyên kiếp sau ta chờ mong. Năm 1951, song thân của Hoàng Giác cậy nhờ mai mối đi hỏi cô Kim Châu “giai nhân đường Quán Thánh” cho con trai họ. Cả Hà Nội xôn xao. Bao nhiêu chàng trai thất vọng. Cũng có người can ngăn bố mẹ nàng không nên gả con gái cho “thằng nghệ sĩ nghèo rớt mồng tơi”. Thế nhưng có ai biết được ước mơ của nàng, và nàng đã hân hoan chấp nhận lời cầu hôn. Thế là người đẹp Kim Châu trở thành “bà Hoàng Giác” năm 19 tuổi. (http://2.bp.blogspot.com/--dBEatKA5iE/T0G60k85NFI/AAAAAAAAAy0/RaKGbMPZcvQ/s400/kim-chau.jpg) Sau đó hoạt động âm nhạc của ông chủ yếu là dạy nhạc tư, hoạt động nghệ thuật như một nhạc sĩ và cũng là một ca sĩ được Hà thành hâm mộ, ông dạy guitare nhiều năm ở Trường Âm nhạc dân lập và dạy hai khóa đầu tiên của Trường Sư phạm Nhạc Họa. Cuộc sống êm đềm của đôi vợ chồng Hoàng Giác - Kim Châu chỉ kéo dài được khoảng hơn 15 năm thì tai họa ập xuống, khi chính quyền Sài Gòn thời ấy “cắc cớ” (sự cắc cớ này hẳn đã được tính toán kỹ lưỡng) chọn bài "Ngày về" làm nhạc hiệu cho chương trình “Tiếng chim gọi đàn” (tên một bài hát của nhạc sĩ Hoàng Quý) - một chương trình “chiêu hồi”. Dạo ấy, chính quyền miền Nam đã sử dụng khá nhiều ca khúc của “phía bên kia” như bài "Tiếng gọi thanh niên" của Lưu Hữu Phước trở thành quốc ca, rồi "Sơn nữ ca", "Lời người ra đi" của Trần Hoàn, "Thiên thai", "Bến xuân" của Văn Cao... nhưng "Ngày về" lại rơi vào trường hợp “nhạy cảm” nhất cho nên không chỉ tác giả mà cả gia đình của ông cũng chịu nhiều hệ lụy. Tai họa này đã biến bà Kim Châu từ một người vợ yếu đuối đã tự gắng gượng và trở thành “lao động chính”, một mình bà phải chạy vạy, lo toan chuyện cơm áo để nuôi sống chồng con. Đằng đẵng suốt bao nhiêu năm trời bà cặm cụi may vá, đan len thuê kể cả phết hồ dán bao bì. Bà không từ chối bất cứ việc gì, cho dù là nhỏ nhặt hoặc lao nhọc, miễn sao đem lại cho bà chút tiền để khả dĩ mua được thức ăn nuôi sống gia đình. Báo Công an Nhân dân trong bài viết “Nhạc sĩ Hoàng Giác: Mãi giấc mơ hoa (http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/nhanvat/2010/5/53648.cand)” có đoạn đề cập đến bản nhạc "Ngày về": “Sau khi được một số ca sĩ hát ở ngoài Bắc, vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, rất ngẫu nhiên, giai điệu của "Ngày về" được chính phủ Việt Nam Cộng hòa chọn làm nhạc hiệu cho chương trình Chiêu hồi. Vì tình huống nhạy cảm này mà mãi đến sau 1975, bài "Ngày về" mới được hát trở lại ở ngoài Bắc với nhiều giọng ca nổi tiếng như tài tử Ngọc Bảo, Cao Minh, Lê Dung, Ngọc Tân…” Cũng giống như một số nhạc sĩ cùng thời, Hoàng Giác sáng tác không nhiều, chỉ khoảng 20 ca khúc, trong số đó có những bài hát nổi tiếng, vượt thời gian như Mơ hoa, Ngày về, Hương lúa đồng quê. Ông hiện sống ở Hà Nội và có người con trai là nhà thơ khá nổi tiếng Hoàng Nhuận Cầm. Ông đã được tặng thưởng Huy chương Vì sự nghiệp Âm nhạc năm 2003. Bài hát Ngày về của Hoàng Giác do ca sĩ Thanh Long Bass trình bày http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/ngay-ve-hoang-giac-thanh-long-bass.UrQbGYy0l2.html Tiêu đề: Nguyễn Mỹ Ca, Hiếu Nghĩa và Võ Hòa Khanh Gửi bởi: fddinh trong 25 Tháng Sáu, 2014, 11:26:22 am Chúng ta có mấy nhạc sĩ xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (miền Nam) và đều đã hy sinh trong cuộc kháng chiến ấy, đó là: Nguyễn Mỹ Ca, Hiếu Nghĩa và Võ Hòa Khanh (miềnTrung?).
Về nhạc sỹ Hiếu Nghĩa đã có bài về bản “Ông Lái Ðò” ở đây: Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở miền Nam có (ít nhất) một nhạc sỹ đã hy sinh, nhạc sỹ Hiếu Nghĩa. Nhạc sỹ Nguyễn Mỹ Ca để lại hai ca khúc “Dạ Khúc” (lời Hoàng Mai Lưu), "Đến trường" và “Tiếng Dân Cày”, có lẽ “Dạ Khúc” đã được Nguyễn Mỹ Ca viết trước khi xảy ra cuộc Kháng chiến, nên đầy chất “lãng mạn tiểu tư sản thành thị” như cách nói người ta thường nghe thấy lúc bấy giờ, phần lớn những bài Dạ Khúc (Seranade) thường được viết trên nhịp 3/4 như Dạ Khúc của Schubert, của Torcelli... Trừ Dạ Khúc của Nguyễn Văn Quỳ viết trên nhịp 4/4 và điệp khúc chuyển đổi qua nhịp 3/4 dồn dập và có hơi hướng gipsy, Nguyễn Mỹ Ca lại khác ông soạn bài hát theo nhịp 3/4, trên âm giai Đô trưởng, uyển chuyển và trong sáng, điệu Boston chầm chậm. Tân nhạc Việt Nam từ trước tới nay đã có không ít nhạc sĩ chọn đề tài về đêm để viết, chỉ tính riêng thế hệ nhạc sĩ thứ nhất, thứ hai đã thấy có Nguyễn Mỹ Ca, Phạm Duy, Nguyễn Văn Quỳ với ca khúc mang tựa đề Dạ khúc. Dạ khúc của Phạm Duy được viết lời từ tác phẩm Serenade của Schubert năm 1948, của Nguyễn Văn Quỳ sáng tác trong thập niên 1950, cả hai đều mang giai điệu phảng phất buồn, nhưng để lại một nỗi u sầu ám ảnh thì phải kể đến Dạ khúc của Nguyễn Mỹ Ca sáng tác 1945. Bài hát mở đầu như một nỗi bâng khuâng: Gió gây hương nhớ, Nâng tiếng đàn xa đưa, sầu vương vấn Gây mơ khóc trên dây tơ... Câu hát gợi nhớ tiếng vĩ cầm réo rắt, tiếng tơ chạm nhẹ như gió lướt qua. Đoạn mở chỉ dài 18 trường canh, để chuyển qua điệp khúc: Đàn ai lên cung oán tang tình, gieo hờn Đàn ai lên cung oán xế xang, gieo buồn Bồn chồn trong đêm tối, lần dò chân theo lối mấp mô... Rồi ông tài tình chuyển đoạn, từ trưởng qua thứ, và thứ qua trưởng, mỗi câu lại đi xuống từng nửa cung, như tiếng lòng gửi gấm trong tiếng đàn, thê thiết, đê mê đến đổ lệ. Và câu nhạc vút lên sau cùng như tâm hồn cũng muốn vút bay lên vầng trăng xa... Ôi cung đàn réo, vang đêm trường Giây tơ gào gió, đê mê lòng. Lệ tràn vì đâu, bao tình tê tái Nương làn gió, bay tìm ánh trăng sao... Chúng ta hãy đặt lòng mình vào thời điểm của thập niên 1940, thời kỳ phôi thai của tân nhạc, khi các tác giả còn dùng nhạc Tây để hát thành bài Ta... hay là viết ca khúc trên cung Rê thứ ảm đạm, nhàm chán. Thời ấy, chỉ hay là nhờ lời ca mà thôi, chứ nhạc thuật thường còn non nớt. Nhớ lại như vậy, chúng ta mới thấy Nguyễn Mỹ Ca vô cùng uyên bác và vững vàng về nhạc thuật. Cũng như nhiều nhạc sĩ đương thời, Nguyễn Mỹ Ca cũng bị tiếng đàn ám ảnh. Dẫu tiếng đàn hay tiếng lòng thì nó cũng chỉ diễn tả một nỗi niềm nhung nhớ… Ôi cung đàn réo vang đêm trường Giây tơ gào gió đê mê lòng Lệ tràn vì đâu? Bao tình tê tái Nương làn gió bay tìm ánh trăng sao. Có lẽ khi nghe Duy Trác hát, người ta mới thấy hết nỗi buồn thấm đọng trên từng câu chữ, từng lời ca… Tác phẩm này một thời rất được ưa chuộng ở Hà Nội. http://www.youtube.com/watch?v=TBPGBxpu_ns Ông sinh năm 1917 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Là anh họ của giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê (theo Trần Quang Hải, con trai Trần Văn Khê), ông có học trường Petrus Ký tại Sài Gòn, sau ông tham gia nhóm nhạc sĩ sinh viên vào thập niên 1940 cùng Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Trần Văn Khê. Cũng như phần lớn các thanh niên trí thức, theo kháng chiến, Nguyễn Mỹ Ca cũng muốn tự nguyện hòa mình với “cuộc sống mới”, nên đã viết “Tiếng Dân Cày”, nhưng “Tiếng Dân Cày” không phải là một bài dân ca, Nguyễn Mỹ Ca mất vào năm 1946 lúc vừa 29 tuổi, liệt sĩ Nguyễn Mỹ Ca trước lúc hy sinh còn để lại “Khúc khải hoàn” (viết cùng Lưu Hữu Phước). Rất nhiều ca sĩ trình bày Dạ Khúc - Nguyễn Mỹ Ca, từ Mộc Lan, Châu Hà đến Thái Thanh, Mai Hương, từ Anh Ngọc, Ngọc Long đến Duy Trác, Sĩ Phú... nhưng theo ý riêng không ai hát bài này thấm thía và tình cảm bằng nghệ sĩ Trần Văn Trạch. Dạ Khúc Nhạc Nguyễn Mỹ Ca (1917-1946) Lời Hoàng Mai Lưu Gió gây hương nhớ Nâng tiếng đàn xa đưa Sầu vương vấn Gây mơ khóc trên dây tơ Trong sầu nhớ bóng ai thoáng về cô phòng Nào đâu thấy tình xưa mơ mòng Đàn ai lên cung oán (tang tình) gieo hờn Đàn ai ngân theo gió (xế xang) gieo buồn Bồn chồn trong đêm tối Lần dò chơn theo lối mấp mô Ôi cung đàn réo vang đêm trường Giây tơ gào gío đê mê lòng Lệ tràn vì đâu ? Bao tình tê tái Nương làn gío bay tìm ánh trăng sao . Đàn ai lên cung oán (tang tình) gieo hờn Đàn ai ngân theo gió (xế xang) gieo buồn Bồn chồn trong đêm tối Lần dò chơn theo lối mấp mô Khi trình bày Dạ Khúc, cũng như nhiều bài khác, Trần Văn Trạch hát rặt giọng Nam ông không bao giờ bắt chước giọng Bắc để hát như đa số ca sĩ phải làm vào thời ấy, vì thế mà ngoài giọng hát có âm lượng đặc biệt, cách trình bày mới gợi cảm làm sao... ông phải là “gió gây hương nhớ”, mà là “gió gây hương nhớ”, nghe nó nhẹ hơn, êm hơn và duyên dáng hơn nhiều. http://cuongde.org/index.php/component/muscol/T/51-tran-van-trach/108-tran-van-trach-voi-tinh-ca/3890-da-khuc-nguyen-my-ca Phải chăng vì Nguyễn Mỹ Ca là người miền Nam, nên cách trình bày đặc biệt Nam kỳ của Trần Văn Trạch mới “tới” như thế? Giống như hiếm thấy ai hát “Hướng Về Hà Nội” hơn Duy Trác vì chất Bắc của giọng ca vừa kể. Cũng như phải là người Huế như Hà Thanh thì hát “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục mới là tuyệt! Tài Liệu Tham Khảo: Dạ Khúc, nhạc Nguyễn Mỹ Ca (1917-1946) - lời Hoàng Mai Lưu, Tinh Hoa Huế ấn hành 1953. Võ Hòa Khanh không biết có bao nhiêu bài, nhưng phần lớn các thính giả chỉ biết có bài “Tình Nước”, đây là một bài thơ được Võ Hòa Khanh phổ nhạc, còn có một cái tên khác là “Trăng Treo Ðầu Súng”. Khi bài hát này được ấn hành tại Sài Gòn (nhà xuất bản Tinh Hoa hay An Phú?) tác giả bài thơ chỉ được ghi là “khuyết danh”. Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Tôi với anh đôi người xa lạ Từ phương trời chẳng hề quen nhau Lúc nguy khốn tình thắt chặt tình Ðêm tối chung chăn thành đôi tri kỷ Vì nước ruộng nương anh bỏ bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ chàng trai làng ra lính Tôi với anh đã từng cơn ấm lạnh Rét run người vầng trán đẫm mồ hôi Áo anh rách vai quần tôi có hai miếng vá Miệng còn cười buốt giá chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay... Liệu Võ Hòa Khanh có phải là Vũ Hòa Thanh? Bản Tình Nước của ông trong tập nhạc An Phú ghi tên là Vũ Hòa Khanh, trong tập nhạc Tinh Hoa thì ghi là Vũ Hòa Thanh. Cố ca nhạc sỹ Duy Khánh là người thể hiện rất thành công bài hát bị sửa đổi này http://amnhac.fm/index.php/nhac/T/505-truong-son/790-truong-son-2-que-huong-va-tuoi-tre/9803-tinh-nuoc-vo-hoa-khanh-duy-khanh Tình Nước Nhạc và lời: Vũ Hòa Thanh - Chung Quân Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cầy lên sỏi đá Anh với tôi, hai người xa lạ Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau Lúc nguy biến tình xiết chặt tình Đêm tối chung chăn thành đôi tri kỷ Vì nước ruộng nương anh bỏ bạn thân (để vợ anh cầy) Gian nhà tranh mặc kệ gió lung lay Giếng nước dốc đá có (gốc đa nhớ) chàng trai làng ra lính Tôi với anh đã từng cơn ấm lạnh Rét run người vầng trán toát mồ hôi Áo anh rách vai, quần tôi có hai mảnh vá Miệng mỉm cười buốt giá chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Đêm nay đồng hoang sương xuống Mình ngồi (Nằm kề) bên nhau chờ trăng lên Lòng thấy nao nao Lần đầu tiên khi nghe cố ca nhạc sỹ Duy Khánh thể hiện bài này, thời đó nghe bằng đĩa nhựa, sau rồi tới băng cát-xét, em ngạc nhiên sao không giống với bài thơ, lúc đó nghĩ chắc nhạc sỹ phải làm thế cho hợp vần điệu. Hiếu Nghĩa, Võ Hòa Khanh, Nguyễn Mỹ Ca là những người chiến tranh đã mang tới cho âm nhạc Việt Nam rồi chiến tranh cũng mang họ đi mất. Tiêu đề: Ai là tác giả ‘Nỗi lòng người đi'? Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Mười, 2014, 08:54:51 pm Nhạc sỹ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1927 tại Ninh Bình. Có người anh là Ðại úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Linh mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu - Phát Diệm. Sau Hiệp Ðịnh Genève, Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Lúc đó ông đã hai mươi tám tuổi, nhưng ông coi như mới có 18, để viết ca khúc "Nỗi lòng người đi" Tác giả thật của Nỗi lòng người đi? (http://suckhoedoisong.vn/van-hoa-the-thao/tac-gia-that-cua-noi-long-nguoi-di-20130224030541615.htm)Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng Nay khóc tơ duyên lìa tan Giờ đây biết ngày nào gặp nhau Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi trong bùi ngùi Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi Tổng hợp từ các websites hải ngoại. NGÀY 24 THÁNG 2, 2013 | 08:00 (http://skds2.vcmedia.vn/zoom/655_361/9ukLn8yrOFc3MNDifFmRg38p1VxM/Image/2013/02/bao-giay/0BD4CDDB7692AB6E39732C404F093A2A-copy-34fa0.jpg) Những ca từ và giai điệu đẹp lãng mạn, bao người say, bao người hát và vẫn được biết đến là nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Nguyễn Bính. Nhưng với bài viết dưới đây của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha, Nỗi lòng người đi lại có một cái tên khác, một nhạc sĩ khác...” Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong vơi đầy Bạn lòng ai! thuở ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng... Những ca từ và giai điệu đẹp lãng mạn, bao người say, bao người hát và vẫn được biết đến là nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Nguyễn Bính. Nhưng với bài viết dưới đây của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha, Nỗi lòng người đi lại có một cái tên khác, một nhạc sĩ khác...” Một buổi sáng cuối thu Hà Nội, có một người nhỏ thó đến tìm gặp tôi. Đó là ông Khúc Ngọc Chân, từng chơi cello ở Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ông nói rằng ông có bài thơ về tổ tiên được khắc trên bia đá tại đền thờ họ Khúc ở quê. Dần dà, ông bắt đầu kể cho tôi nghe về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Nỗi lòng người đi mà chính ông là tác giả với cái tên đầu tiên là Tôi xa Hà Nội. Khúc Ngọc Chân sinh năm 1936 tại phố Tô Tịch – Hà Nội. Khi ông Chân vào tuổi thanh xuân cũng là khi cuộc chiến đấu chống Pháp sắp vào hồi kết. Bởi vậy, các thanh niên Hà Nội nơm nớp bị bắt lính, đưa ra các chiến trường. Để thoát khỏi cảnh cưỡng ép này, gia đình đã nhờ người thân xin cho ông vào làm nghề sửa chữa máy vô tuyến điện trong thành Hà Nội. Làm ở đây, vừa không bị bắt đi lính, lại chỉ phải làm có nửa ngày. Vốn yêu âm nhạc, ông Chân tìm đến học đàn thầy Wiliam Chấn ở gần hồ Tây. Qua học thầy mà ông Chân quen với một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng kém ông 2 tuổi. Rồi tình yêu nhen lửa. Họ đã có những ngày đầu yêu thương thật thơ mộng bên bờ hồ Gươm. Tác giả thật của Nỗi lòng người đi? (http://skds3.vcmedia.vn/9ukLn8yrOFc3MNDifFmRg38p1VxM/Image/2013/02/bao-giay/Nhac-si-Anh-Bang-34fa0.jpg) Nhạc sĩ Anh Bằng. Sau giải phóng Thủ đô, ông Chân phải theo gia đình về quê. Khi trở về Hà Nội, ông Chân mới biết gia đình người yêu đã xuống Hải Phòng, chờ di cư vào Nam. Ông tìm xuống Hải Phòng chờ tiễn nàng xuống tàu. Những ngày đó, với cây guitar luôn mang theo bên mình, Khúc Ngọc Chân viết Tôi xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng, viết lại những gì đã bâng khuâng trong suốt những ngày tháng xa nhau. Những ngày ngắn ngủi bên nhau ở Hải Phòng, họ đã yêu nhau và hẹn nàng cứ vào trước, chàng sẽ vào sau, tìm nàng ở Sài Gòn. Ông Chân kể rằng, khi viết “Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi” là viết rất thực về những ngày luồn lủi, nơm nớp sợ bắt lính, sống không yên chút nào trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm. Đến khi ông viết “Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời” cũng là tưởng tượng về cánh tay giơ cao của Nữ thần Tự do. Ông viết trong một thầm ước mong manh cho ngày gặp lại không biết đến khi nào... Ca khúc được viết xong, Khúc Ngọc Chân đã tập cho nàng hát, khi ấy đã là cuối tháng 11/1954. Ngày tiễn nàng và gia đình xuống tàu há mồm di cư vào Nam, chàng và nàng cùng xuống một chiếc thuyền con ở bến Bính để đi ra nơi tàu đậu ngoài cửa biển. Thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe. Nàng vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền. Một cảnh tượng chia tay thật lãng mạn như trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Con tàu đã rời xa đất liền, trôi mãi vào biển cả mênh mang, mang theo nàng và mối tình đầu day dứt cùng giai điệu đượm buồn kia. Chàng trở lại Hà Nội, nhưng nỗi nhớ nàng thì cứ thắp sáng trong những đêm trường cô đơn. Còn nàng, khi vào Sài Gòn, với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar. Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng đã được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ. Hát để nhớ chàng, hát để chia sẻ với bao người khác có tâm trạng nhớ nhung như nàng. Và đương nhiên, ca khúc hay như thế đã lọt vào thẩm âm của nhiều nhạc sĩ lúc đó khi xa Hà Nội, chắc chắn trong đó có nhạc sĩ Anh Bằng. Ca khúc đã có một số phận khác khi được nhạc sĩ nhận thức và tìm cách xử lý. Ở lại Hà Nội, năm 1956, ông Chân vào học đàn cello ở Trường Âm nhạc Việt Nam; Khi tốt nghiệp thì về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ngày thống nhất đất nước, khi Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, ông Chân đi tìm người yêu thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo năm 1969, khi mới vào tuổi tam thập nhị lập. Chính vì người yêu đã mất nên ông không sao hiểu nổi bằng cách gì mà ca khúc Tôi xa Hà Nội của ông lại lọt vào tay nhạc sĩ Anh Bằng, được ông sửa thành nhịp 4/4 theo điệu slow và phổ biến “quá trời” tại Sài Gòn. Ông Chân nói rằng đó là điều may mắn. Khi ấy, nếu ca khúc loang ra mà lại ghi tên ông là tác giả, chắc ông khó mà ngồi yên ở Dàn nhạc Giao hưởng cho đến khi về hưu. Nhưng vì ca khúc ghi là của tác giả Anh Bằng nên những ca từ rất thực của ông diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm lại trở thành một vệt đen mang đậm nỗi ấm ức của bao người di cư ở bên kia chiến tuyến. Lại nữa, vì Anh Bằng đổi tên ca khúc thành Nỗi lòng người đi nên vệt đen kia hóa thành có thực khi đất nước bị chia cắt. Cũng chính vì thế mà cho đến nay, Nỗi lòng người đi (vốn là Tôi xa Hà Nội) vẫn chưa được cho phép hát lại. Tác giả thật của Nỗi lòng người đi? (http://skds3.vcmedia.vn/9ukLn8yrOFc3MNDifFmRg38p1VxM/Image/2013/02/bao-giay/0BD4CDDB7692AB6E39732C404F093A2A-copy-34fa0.jpg) Tìm hiểu về nhạc sĩ Anh Bằng qua nhiều luồng thông tin thì thấy rằng điều ông Chân thổ lộ rất có cơ sở. Nhạc sĩ Anh Bằng tên khai sinh là Trần An Bường. Ông sinh năm 1925 tại thị trấn Bỉm Sơn thuộc Ninh Bình. Ông học trung học tại Hà Nội trước khi di cư vào Nam. Sau ngày 30/4/1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas. Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn trung tâm Asia Entertainment tại Houston. Ngày ấy, khi nghe được ca khúc Tôi xa Hà Nội do một thiếu nữ làm ở quán bar hát mà lại không biết xuất xứ, với khả năng âm nhạc của mình, Anh Bằng đã thuộc được giai điệu này. Ông thấy rất hợp tâm trạng của những thanh niên vừa phải xa Hà Nội di cư vào Sài Gòn. Vậy là để hợp thời thế, Anh Bằng đã chuyển nhịp 3/8 gốc của ca khúc Tôi xa Hà Nội thành nhịp 4/4, dùng tiết điệu slow. Còn về ca từ, Anh Bằng đã khéo léo gắn vào đó tên của một nhà thơ tình nổi tiếng là Nguyễn Bính. Nhưng rất tiếc, sau hiệp định Geneve, ông đã ra tập kết ở miền Bắc. Có lẽ thông tin này Anh Bằng không biết nên ông đã tự “vu” cho Nguyễn Bính chịu trách nhiệm ca từ này. Trong ca từ, Anh Bằng có sửa vài chỗ. Chỗ thì cho lãng mạn hơn theo ý của ông. Đấy là câu “Khua nước chơi như ngày xưa” thành “Khua nước trong như ngày xưa”. Hồ Gươm còn được gọi là hồ Lục Thủy, tức là hồ nước xanh tự ngàn xưa nên chữ “trong” không đúng với hiện thực mà là tưởng tượng ra thôi. Còn nữa, nếu Khúc Ngọc Chân viết: “Mộng với tay cao hơn trời/ Ai nhắn thay tôi đôi lời” thì Anh Bằng sửa là “Tôi hái hoa tiên cho đời” thì đúng là ca ngợi cuộc sống Sài Gòn lúc đó, để cho người miền Nam thấy đang hưởng một cuộc sống “phồn hoa” tuy “giả tạo”. Cuối cùng, Anh Bằng đã đổi tên ca khúc Tôi xa Hà Nội thành Nỗi lòng người đi, rất phù hợp với tâm trạng những người xa Hà Nội khi ấy ở Sài Gòn. Và nhờ Nỗi lòng người đi, Anh Bằng đã chính thức bước vào làng nhạc để rồi tạo ra trung tâm âm nhạc “Lê – Minh – Bằng”, tức là trung tâm do 3 nhạc sĩ: Lê Dinh - Minh Kỳ - Anh Bằng khởi xướng, chuyên làm đĩa nhạc và dạy âm nhạc ở Sài Gòn từ 1966 - 1975. Có một điều muôn thuở là “cái gì của Ceza thì trả lại cho Ceza”. Bài viết này tuy đã muộn nhưng vẫn còn kịp kể vì nhạc sĩ Anh Bằng có thể có một lời nào đó với nhân gian về câu chuyện này. Nguyễn Thụy Kha Tiêu đề: Re: Ai là tác giả ‘Nỗi lòng người đi'? Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Mười, 2014, 08:55:31 pm Nhạc sỹ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1927 tại Ninh Bình. Có người anh là Ðại úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Linh mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu - Phát Diệm. Sau Hiệp Ðịnh Genève, Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Lúc đó ông đã hai mươi tám tuổi, nhưng ông coi như mới có 18, để viết ca khúc "Nỗi lòng người đi" Tác giả thật của Nỗi lòng người đi? (http://suckhoedoisong.vn/van-hoa-the-thao/tac-gia-that-cua-noi-long-nguoi-di-20130224030541615.htm)Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng Nay khóc tơ duyên lìa tan Giờ đây biết ngày nào gặp nhau Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi trong bùi ngùi Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi Tổng hợp từ các websites hải ngoại. NGÀY 24 THÁNG 2, 2013 | 08:00 (http://skds2.vcmedia.vn/zoom/655_361/9ukLn8yrOFc3MNDifFmRg38p1VxM/Image/2013/02/bao-giay/0BD4CDDB7692AB6E39732C404F093A2A-copy-34fa0.jpg) Những ca từ và giai điệu đẹp lãng mạn, bao người say, bao người hát và vẫn được biết đến là nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Nguyễn Bính. Nhưng với bài viết dưới đây của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha, Nỗi lòng người đi lại có một cái tên khác, một nhạc sĩ khác...” Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong vơi đầy Bạn lòng ai! thuở ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng... Những ca từ và giai điệu đẹp lãng mạn, bao người say, bao người hát và vẫn được biết đến là nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Nguyễn Bính. Nhưng với bài viết dưới đây của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha, Nỗi lòng người đi lại có một cái tên khác, một nhạc sĩ khác...” Ai là tác giả ‘Nỗi lòng người đi' trong Giai điệu tự hào? (http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/ai-la-tac-gia-noi-long-nguoi-di-trong-giai-dieu-tu-hao-n20141015135945444.htm) Thứ Tư, 15/10/2014 16:04 (Thethaovanhoa.vn) – Ca khúc Nỗi lòng người đi - của nhạc sĩ hải ngoại Anh Bằng sẽ lên sóng VTV1 trong chương trình Giai điệu tự hào mang chủ đề Người Hà Nội lúc 20h ngày 24/10 tới. Tuy nhiên, cách đây 2 năm có một người đứng ra nhận mình là tác giả bài hát này. Ông là Khúc Ngọc Chân - nguyên nhạc công cello Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Theo nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha - người công bố những nghi vấn tác giả của Nỗi lòng người đi thì "bài hát vốn được mang tên thật là Tôi xa Hà Nội với vài lời ca khác Nỗi lòng người đi". Thethaovanhoa.vn đã cùng nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha gặp Khúc Ngọc Chân tìm hiểu rõ hơn về sự thật này. (http://media2.thethaovanhoa.vn/2014/10/15/14/32/IMG4632_w_480.JPG) Tác giả Khúc Ngọc Chân trong trường quay Giai điệu tự hào * Tại sao đến tận bận bây giờ ông mới nhận Nỗi lòng người đi là của mình. Ông có bằng chứng gì thuyết phục rằng đó chính thức là ca khúc của mình không? Ông đã sáng tác ca khúc đó trong hoàn cảnh nào và liệu ông có còn nhạc bản ngày xưa hay không? - Bản nhạc ngày xưa sao mà giữ được. Ca khúc của tôi sáng tác hồi đó chính ra chỉ có 2 người biết với nhau là tôi và cô người yêu thôi. Tôi sinh năm 1936 tại phố Tô Tịch, Hà Nội. Năm 1954 tôi tròn 18 tuổi, cuộc kháng chiến chống Pháp của chúng ta sắp vào hồi kết. Bởi vậy, tôi cũng như các thanh niên Hà Nội nơm nớp sợ bị bắt lính, tống ra các chiến trường và gia đình xin tôi làm sửa chữa máy vô tuyến điện trong thành Hà Nội. Vốn yêu âm nhạc, tôi tìm đến học đàn với thầy Wiliam Chấn ở gần Hồ Tây và quen một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng, kém 2 tuổi. Chúng tôi đã có những ngày đầu yêu thương bên bờ Hồ Gươm thơ mộng. Tuy nhiên, vài tháng sau, gia đình người yêu bất ngờ xuống Hải Phòng chờ di cư vào Nam. Lúc đó, tôi tìm xuống Hải Phòng tiễn người yêu. Với cây đàn guitar luôn mang theo bên mình, tôi đã viết Tôi xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng diễn tả những ngày tháng xa Hà Nội, ước hẹn cùng nhau, mong người yêu hãy gắng chờ đợi, tôi sẽ tìm nàng ở Sài Gòn, bởi lúc đó nàng mới 16 tuổi, chúng tôi chưa thể cưới nhau được. Toàn bộ ca khúc Tôi xa Hà Nội như sau: Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói bay theo mây chiều Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ Ai đứng trông ai ven hồ Khua nước chơi như ngày xưa Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy Bạn lòng ơi, thuở ấy tôi mang cây đàn Quen sống ca vui bên nàng Nàng khóc tơ duyên lìa xa… Giờ đây biết ngày nào gặp nhau Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui Nhưng riêng một người tâm tư sầu não đi trong bùi ngùi Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi Ngay sau khi viết xong Tôi xa Hà Nội, tôi tập cho người yêu hát thuộc lòng. Khi ấy đã là cuối tháng 11/1954. Sau ngày tiễn người yêu xuống tàu há mồm di cư vào Nam tôi trở về Hà Nội. Năm 1956, tôi vào trường nhạc (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam hiện nay) học đàn cello, rồi tốt nghiệp và công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Còn nàng, vào Sài Gòn mưu sinh và đầu quân cho một quán bar. Và ca khúc của tôi thường được người yêu hát trong những đêm thương nhớ. Những năm 1960, vì gia đình thúc ép, tôi buộc lòng phải lấy vợ nhưng không đăng ký kết hôn (và chỉ đăng ký khi đã 74 tuổi). Ngày đất nước thống nhất, khi cùng Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, tôi đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo khi mới vào tuổi 30. Tuy nhiên, khi vào đây tôi mới thấy bài hát chính thức của tôi được đổi tên thành Nỗi lòng người đi nhạc Anh Bằng, đề là phổ thơ Nguyễn Bính... (http://media2.thethaovanhoa.vn/2014/10/15/14/52/Toi-xa-Ha-Noi_w_480.jpg) Nhạc bản Tôi xa Hà Nội do Khúc Ngọc Chân cung cấp * Sau này rồi có ai biết có bài nào nhác nhác như thế của ông Nguyễn Bính không? - Không có. Gia đình Nguyễn Bính ở Nam Định cũng không còn ai, con cháu đi hết rồi. Tất cả các tuyển tập thơ Nguyễn Bính không có bài nào như thế. May cho tôi là khi kể chuyện này với nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha và một số người bạn, có người lên mạng đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác đề rằng Nỗi lòng người đi, nhạc Anh Bằng, thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, sau bài viết đầu tiên của Nguyễn Thụy Kha được đưa lên mạng thì đến ngay cả Thụy Kha đi tìm bản đề thơ Nguyễn Bính cũng không có nữa mà chỉ đề là tác giả Anh Bằng thôi, bỏ phần thơ đi. Nếu mà sự thực phổ thơ Nguyễn Bính thì vẫn để nguyên chứ. Giả dụ là thơ của Nguyễn Bính thật thì không sao, không thì tôi phải là Nguyễn Bính chứ không phải Anh Bằng, bởi Anh Bằng chỉ phổ nhạc thôi mà. * Ông nói rằng Nỗi lòng người đi không phải của Anh Bằng, vậy chỉ cần ông đưa ra bằng chứng xác đáng đó là của ông và nếu thực sự là của ông thì dù cho nhiều người chưa biết thì sẽ biết đến ca khúc này là của ông? - Người yêu của tôi đã mất, do vậy tôi không tranh chấp quyền tác giả. Tôi chỉ muốn nói về một số phận khác khi ca khúc được một nhạc sĩ nhận thức và xử lý và đã thành một ca khúc hay, đó là điều may mắn. Khi xưa, lúc tôi biết Anh Bằng phổ nhạc, tôi cũng không dám nói ra, bởi Tôi xa Hà Nội với những ca từ rất thực diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm của tôi lại trở thành một vệt đen thì sao? Bây giờ, tôi mong muốn Tôi xa Hà Nội của tôi trở về đúng lời, đúng giai điệu đẹp, đúng nội dung tâm tình của tôi bởi phải Người Hà Nội với nếp sống Hà Nội, địa dư Hà Nội, gốc tích Hà Nội mới hiểu được câu Ai đứng trông ai ven hồ/Khua nước chơi như ngày xưa. Anh Bằng sữa chữ chơi thành trong là sai, vì nước hồ Gươm hay còn gọi Lục Thủy không có khái niệm “trong” mà là nước “xanh” hẳn hoi. Còn ngồi khua nước bao giờ, ở chỗ nào? Hỏi nhiều người bây giờ khó mà tìm thấy. Xin thưa, đó là đằng sau đền Ngọc Sơn, chỗ có cây si rễ sà xuống mặt nước. Chúng tôi ngồi chơi rồi, té nước vào nhau. Những từ như thế này ngay cả Nguyễn Bính cũng không có, phải là từ của tôi, người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Khi tôi viết Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi là viết rất thực về những ngày luồn lủi, nơm nớp sợ bắt lính, sống không yên chút nào trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm. Hay câu Sài Gòn ơi mộng với tay cao hơn trời tôi viết để miêu tả dáng dấp của tượng nữ thần Tự Do, đồng thời cũng thể hiện mộng ước xa vời gặp lại người yêu. Còn câu cuối Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi là lời bài hát của Anh Bằng. Lời của tôi là Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi. Tôi cũng không đồng tình với chữ tan trong câu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều mà phải là bay, vì hai người vẫn hẹn ước gặp lại nhau, chứ không phải đoạn tuyệt. Tương tự: Nàng khóc tơ duyên lìa xa, chứ không phải lìa tan. Bài của Anh Bằng nhịp slow 4/4, bản của tôi lả lướt hơn theo nhịp 3/8, bởi tôi viết nhịp đó theo luật của lời thơ. * Khi nhận Nỗi lòng người đi hay Tôi xa Hà Nội là của mình, ông khẳng định không có ý tranh chấp tác quyền. Vậy ông mong muốn điều gì? - Đúng vậy. Tôi đã không công bố Tôi xa Hà Nội cũng như các bản tình ca khác của mình vì thời đó ở Hà Nội, những bài hát kiểu này được coi là không phù hợp. Với tôi bây giờ, tên ai không thành vấn đề, vì giai điệu của tôi được hát chỗ này chỗ kia là thích rồi. Bài này của tôi bình thường, tôi còn nhiều bài hay hơn, tiếc là chưa bài nào được vang lên! * Xin cảm ơn ông! Hương Thương (thực hiện) Tiêu đề: Re: Ai là tác giả ‘Nỗi lòng người đi'? Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Mười, 2014, 09:00:02 pm Nhạc sỹ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1927 tại Ninh Bình. Có người anh là Ðại úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Linh mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu - Phát Diệm. Sau Hiệp Ðịnh Genève, Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Tác giả thật của Nỗi lòng người đi? (http://suckhoedoisong.vn/van-hoa-the-thao/tac-gia-that-cua-noi-long-nguoi-di-20130224030541615.htm)Tổng hợp từ các websites hải ngoại. NGÀY 24 THÁNG 2, 2013 | 08:00 (http://skds2.vcmedia.vn/zoom/655_361/9ukLn8yrOFc3MNDifFmRg38p1VxM/Image/2013/02/bao-giay/0BD4CDDB7692AB6E39732C404F093A2A-copy-34fa0.jpg) Những ca từ và giai điệu đẹp lãng mạn, bao người say, bao người hát và vẫn được biết đến là nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Nguyễn Bính. Nhưng với bài viết dưới đây của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha, Nỗi lòng người đi lại có một cái tên khác, một nhạc sĩ khác...” Ai là tác giả ‘Nỗi lòng người đi' trong Giai điệu tự hào? (http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/ai-la-tac-gia-noi-long-nguoi-di-trong-giai-dieu-tu-hao-n20141015135945444.htm) Thứ Tư, 15/10/2014 16:04 (Thethaovanhoa.vn) – Ca khúc Nỗi lòng người đi - của nhạc sĩ hải ngoại Anh Bằng sẽ lên sóng VTV1 trong chương trình Giai điệu tự hào mang chủ đề Người Hà Nội lúc 20h ngày 24/10 tới. Tuy nhiên, cách đây 2 năm có một người đứng ra nhận mình là tác giả bài hát này. Ông là Khúc Ngọc Chân - nguyên nhạc công cello Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Theo nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha - người công bố những nghi vấn tác giả của Nỗi lòng người đi thì "bài hát vốn được mang tên thật là Tôi xa Hà Nội với vài lời ca khác Nỗi lòng người đi". Thethaovanhoa.vn đã cùng nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha gặp Khúc Ngọc Chân tìm hiểu rõ hơn về sự thật này. (http://media2.thethaovanhoa.vn/2014/10/15/14/32/IMG4632_w_480.JPG) Tác giả Khúc Ngọc Chân trong trường quay Giai điệu tự hào Gặp tác giả thật ca khúc “Nỗi lòng người đi” (http://www.viethaingoai.net/gap-tac-gia-that-ca-khuc-noi-long-nguoi-di-.1.html) Thứ năm, 16/10/2014 08:10 GMT+7 Một buổi sáng cuối thu Hà Nội, có một người nhỏ thó đến văn phòng tôi làm việc ở 59 Tràng Thi – Hà Nội. Ông tự giới thiệu là Khúc Ngọc Chân. Gặp tác giả thật ca khúc “Nỗi lòng người đi” (http://www.giaidieuxanh.vn/Image/16/ns-anhbang.jpg) NS Anh Bằng Tôi nhìn mãi mới nhận ra ông đã từng là nghệ sĩ đàn cello ngồi ở Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam từ những năm mới thành lập. Các anh em của ông là Khúc Phác và Khúc Ka Hoàng cũng đều là dân nhạc nổi tiếng từ lâu. Ông Chân họ Khúc, đích thị là con cháu Khúc Thừa Dụ ở Ninh Giang – Hải Dương rồi. Ông nói rằng ông có bài thơ về tổ tiên được khắc trên bia đá tại đền thờ họ Khúc ở quê. Dần dà, ông bắt đầu kể cho tôi nghe về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Nỗi lòng người đi mà chính ông là tác giả với cái tên đầu tiên là Tôi xa Hà Nội. Khúc Ngọc Chân sinh năm 1936 tại phố Tô Tịch – Hà Nội. Ở Hà Nội, khi ông Chân vào thanh xuân cũng là khi cuộc chiến đấu chống Pháp của chúng ta sắp vào hồi kết. Bởi vậy, các thanh niên Hà Nội nơm nớp sợ bị bắt lính, tống ra các chiến trường. Để thoát khỏi cảnh cưỡng ép này, gia đình đã nhờ người thân xin cho ông vào làm nghề sửa chữa máy vô tuyến điện trong thành Hà Nội. Làm ở đây, vừa không bị bắt đi lính, lại chỉ phải làm có nửa ngày, nửa ngày tự do có thể làm gì tùy thích. Vốn yêu âm nhạc, ông Chân tìm đến học đàn với thầy Wiliam Chấn ở gần Hồ Tây. Lúc ấy, cả nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Tạ Tấn cũng đều đến học thầy Chấn nổi tiếng. Qua học thầy mà ông Chân quen với một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng, kém ông hai tuổi. Rồi tình yêu nhen lửa. Họ đã có những ngày đầu yêu thương thật thơ mộng bên bờ Hồ Gươm. Không thể quên những chiều ngồi bên bờ hồ té nước đùa vui với nhau. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký hiệp định Genève. Ông Chân phải theo gia đình về quê. Nỗi nhớ nhung người yêu khiến cho ông cảm xúc bâng khuâng. Khi trở về Hà Nội, ông Chân mới biết gia đình người yêu đã xuống Hải Phòng, ở khách sạn Cầu Đất chờ di cư vào Nam. Ông tìm xuống Hải Phòng để sống cùng người yêu, chờ tiễn nàng xuống tàu. Những ngày đó, với cây guitar luôn mang theo bên mình, Khúc Ngọc Chân viết Tôi xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng, viết lại những gì đã bâng khuâng trong suốt những ngày tháng qua, những ngày tháng xa Hà Nội: Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói bay theo mây chiều Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ Ai đứng trông ai bên hồ Khua nước chơi như ngày xưa Chàng tròn 18 tuổi. Nàng tròn 16 tuổi. Khi ấy, tuổi ấy yêu đương là bình thường. Nếu nỗi nhớ thương người yêu ngày đó đã khiến cho Hoàng Dương viết ra Hướng về Hà Nội nổi tiếng, thì Khúc Ngọc Chân cũng viết Tôi xa Hà Nội nổi tiếng không kém. Chàng lại tiếp tục dào dạt trở lại cái cảm xúc ấy, cái giai điệu ấy nhịp 3/8 hát chậm và tình cảm (Lento - Espressivo): Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy Bạn lòng ơi! Thuở ấy tôi mang cây đàn Quen sống ca vui bên nàng Nàng khóc tơ duyên lìa xa… Không biết trong những ngày ngắn ngủi bên nhau ở Hải Phòng, nàng đã khóc bên chàng bao lần. Chỉ biết rằng họ vẫn an ủi nhau, nàng cứ vào trước, chàng hứa hẹn rằng sẽ vào sau, sẽ tìm nàng ở Sài Gòn. Nàng hãy gắng chờ đợi giữa đô hội phồn hoa: Giờ đây biết ngày nào gặp nhau Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ Ông Chân kể rằng khi viết Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi là viết rất thực về những ngày luồn lủi, nơm nớp sợ bắt lính, sống không yên chút nào trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm. Đến khi ông viết Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời cũng là tưởng tượng về cánh tay giơ cao của Nữ thần Tự do. Ông viết trong một thầm ước mong manh cho ngày gặp lại không biết đến khi nào. Viết vì thương nàng cô đơn giữa Sài Gòn hoa lệ: Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui Nhưng riêng một người tâm tư sầu não đi trong bùi ngùi Ca khúc được viết xong, Khúc Ngọc Chân đã tập cho nàng hát thuộc lòng, hát đi hát lại đến chan chứa cảm xúc. Khi ấy đã là cuối tháng 11.1954. Ngày đưa tiễn nàng và gia đình xuống tàu há mồm di cư vào Nam, chàng và nàng cùng xuống một chiếc thuyền con ở bến Bính để đi ra nơi tàu đậu ngoài cửa biển. Thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe. Nàng thì vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền. Một cảnh tượng chia tay thật lãng mạn như trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Và rồi con tàu đã rời xa đất liền, trôi mãi vào biển cả mênh mang, mang theo nàng và mối tình đầu day dứt cùng giai điệu đượm buồn kia. Còn chàng thì quay về, rồi trở lại Hà Nội. Nhưng nỗi nhớ nàng thì cứ thắp sáng trong những đêm trường cô đơn. Nỗi nhớ buộc chàng phải thốt lên thành thơ, khi nhớ lại cảnh tiễn đưa nàng: Đưa tiễn em đi mưa bụi bay Tâm tư dằng xé lệ dâng đầy Em đi gói ghém niềm chua chát Anh ở ôm ghì nỗi đắng cay Chiến họa trường kỳ đến thảm khốc Tình đau vô hạn khó phôi pha Một thời bức xúc triệu đôi lứa Vật đổi sao dời nhớ khó khuây. Còn nàng, khi vào Sài Gòn, vì mưu sinh, với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar. Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng đã được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ. Hát để nhớ chàng, hát để chia sẻ với bao người khác có tâm trạng nhớ nhung như nàng. Và đương nhiên, một ca khúc hay như thế đã lọt vào thẩm âm của nhiều nhạc sĩ lúc đó cũng đã lìa xa Hà Nội. Chắc chắn trong đó có nhạc sĩ Anh Bằng. Ca khúc đã có một số phận khác khi được nhạc sĩ nhận thức và tìm cách xử lý. Còn ở Hà Nội, Khúc Ngọc Chân đâu ngờ gia đình ông bao đời không chịu làm cho Tây đã không theo dòng người di cư mà ở lại Hà Nội vừa giải phóng. Vậy là lời hứa với nàng đành lỡ dở theo thời gian. Ở lại Hà Nội, năm 1956, ông Chân vào học đàn cello ở Trường Âm nhạc Việt Nam. Khi tốt nghiệp thì về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ngày thống nhất đất nước, khi Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, ông Chân đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo năm 1969, khi mới vào tuổi “tam thập nhi lập”. Theo người thân của người yêu, ông đã tìm đến mộ nàng và thắp hương, thầm khóc cho cuộc tình chia phôi bất hạnh. Chính vì người yêu đã mất, nên ông không sao hiểu nổi bằng cách gì mà ca khúc Tôi xa Hà Nội của ông lại lọt vào tay nhạc sĩ Anh Bằng, được ông sửa thành nhịp 4/4 theo điệu Slow và phổ biến “quá trời” tại Sài Gòn. Ông Chân nói rằng đó là điều may mắn. Khi ấy, nếu ca khúc lan ra mà lại ghi tên ông là tác giả, chắc ông khó mà ngồi yên ở Dàn nhạc Giao hưởng cho đến khi về hưu. Nhưng vì ca khúc ghi là của tác giả Anh Bằng, nên những ca từ rất thực của ông diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm lại trở thành một vệt đen mang đậm nỗi ấm ức của bao người di cư ở bên kia chiến tuyến. Lại nữa, vì Anh Bằng đổi tên ca khúc thành Nỗi lòng người đi nên vệt đen kia hóa thành có thực khi đất nước bị chia cắt. Cũng chính vì thế mà cho đến nay Nỗi lòng người đi (vốn là Tôi xa Hà Nội) vẫn chưa được cho phép hát lại. Tìm hiểu về nhạc sĩ Anh Bằng qua nhiều luồng thông tin, qua trang mạng Google thì thấy rằng điều ông Chân thổ lộ rất có cơ sở. Nhạc sĩ Anh Bằng tên khai sinh là Trần An Bường. Ông sinh năm 1925 tại thị trấn Bỉm Sơn thuộc Ninh Bình. Ông học trung học tại Hà Nội trước khi di cư vào Nam. Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas. Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn Trung tâm Asia Entertainment tại Houston. Ngày ấy, khi vào Sài Gòn, theo thiển nghĩ của tôi, Anh Bằng chưa được biết đến như Chung Quân, Cung Tiến. Nghe được ca khúc Tôi xa Hà Nội do một thiếu nữ làm ở quán bar hát những khi chia sẻ mà lại không biết xuất xứ. Với khả năng âm nhạc của mình, Anh Bằng đã thuộc được giai điệu này. Ông thấy rất hợp tâm trạng của ít nhất là những thanh niên vừa phải xa Hà Nội di cư vào Sài Gòn. Vậy là cuộc sử dụng một giai điệu mang tâm trạng của thanh niên xa Hà Nội, nhưng để hợp thời thế, Anh Bằng đã chuyển nhịp 3/8 gốc của ca khúc Tôi xa Hà Nội thành nhịp 4/4 dùng tiết điệu Slow. Còn về ca từ, Anh Bằng đã khéo léo gắn vào đó tên của một nhà thơ tình nổi tiếng là Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là nhà thơ đã từng tham gia chiến tranh tại Nam bộ và có bài thơ Tiểu đoàn 307 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc rất hoành tráng. Nhưng sau Hiệp định Genève, ông đã ra tập kết ở miền Bắc. Có lẽ thông tin này, Anh Bằng không biết, nên ông đã tự “vu” cho Nguyễn Bính chịu trách nhiệm ca từ này. Trong ca từ, Anh Bằng có sửa vài chỗ. Chỗ thì cho lãng mạn hơn theo ý của ông. Đấy là câu “Khua nước chơi như ngày xưa” thành “Khua nước trong như ngày xưa”. Hồ Gươm đã được gọi là Hồ Lục Thủy, tức là hồ nước xanh tự ngàn xưa, nên chữ “trong” không đúng với hiện thực mà là tưởng tượng ra thôi. Còn nữa, nếu Khúc Ngọc Chân viết: “Mộng với tay cao hơn trời - Ai nhắn thay tôi đôi lời” thì Anh Bằng sửa là “tôi hái hoa tiên cho đời” thì đúng là ca ngợi cuộc sống Sài Gòn lúc đó, để cho người miền Nam thấy đang hưởng một cuộc sống “phồn hoa” tuy “giả tạo”. Cuối cùng, Anh Bằng đã đổi tên ca khúc Tôi xa Hà Nội thành Nỗi lòng người đi, rất phù hợp với tâm trạng những người xa Hà Nội khi ấy ở Sài Gòn. Và nhờ Nỗi lòng người đi, Anh Bằng đã chính thức bước vào làng nhạc để rồi tạo ra trung tâm âm nhạc “Lê - Minh - Bằng” tức là trung tâm do 3 nhạc sĩ: Lê Dinh - Minh Kỳ - Anh Bằng khởi xướng, chuyên làm đĩa nhạc và dạy âm nhạc ở Sài Gòn từ 1966 đến 1975. Ông Chân kể lại câu chuyện này với tôi không hề có ý đòi hỏi gì về bản quyền và tranh chấp với Anh Bằng. Ông chỉ muốn kể ra một sự thực của một ca khúc do ông viết ra. Sau ngày thống nhất, sau khi đã đến thắp hương cho bà Hằng, và xót xa cảnh ngộ của bà khi vào Sài Gòn phải làm “gái bar”, rồi phải giữ mình để mất đi cô đơn trong bạo bệnh, cũng phải sau 20 năm nữa, không quên được mối tình đầu đẹp đẽ và lãng mạn, ông Chân lại viết ra những vần thơ thương nhớ người yêu, cũng như sau Tôi xa Hà Nội, ông còn viết Biển và em, Thu Hà Nội vẫn với “air nhạc” như Tôi xa Hà Nội để nhớ bà. Ông đã rơm rớm khi đọc bài tưởng nhớ bà mang tên “Tình thoảng gió”: Tình thoảng gió như tình đời trong bụi Đời mà nhơ thì bụi vẫn còn nhơ Ai yêu đương thoang thoảng vào giấc mơ Còn giữ lại trong đời khi thoảng gió Chỉ giây phút rồi liền sau đó Tình bay đi và gió cũng bay đi Bao nâng niu âu yếm hỏi làm gì Người còn đó để tình bay theo gió Có những phút nhìn đời không màu đỏ Bởi thiên tình mà ai có biết không Lụi tàn ngọn lửa đêm đông Ngẫm tình thoảng giá nhìn không thấy đời Sống chơi vơi mà chết cũng chơi vơi Tuổi xuân ngày ấy buồn ơi là buồn Có lẽ nước mắt trong bài thơ này cũng đủ để nói hết nỗi lòng của chàng và nàng chia ly thuở đó. Bà Nguyễn Thu Hằng thì đã ra đi ôm theo mối tình đầu trong tâm trạng cô đơn. Ông Chân vì không có bà Hằng cũng đành phải lập gia đình khác, nhưng đâu có hạnh phúc trọn vẹn. Người vợ đầu của ông bây giờ đã cùng cô con gái sang Phần Lan. Năm 1974, ông Chân mới “đi bước nữa” cùng một bác sĩ là giáo sư Đại học Y khoa. Bà tuy không làm nghệ thuật nhưng rất yêu nghệ thuật. Nghe câu chuyện mối tình đầu của ông Chân, bà đồng ý để ông Chân kể ra câu chuyện sáng tác ca khúc Tôi xa Hà Nội với cuộc đời. Người thay ông Chân nhận làm tác giả ca khúc và đổi tên là Nỗi lòng người đi, là nhạc sĩ Anh Bằng thì đã nhờ những giai điệu này mà nổi tiếng, có cuộc sống tốt từ đó đến nay. Việc nhận thay vô thức này đã tặng cho ông Chân một cuộc sống bình an trên đất Bắc từ 1954 đến nay. Cũng chả cần gì phải nói thêm về sự chia sẻ, tranh chấp hồ đồ. Chỉ có một điều muôn thuở là “cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar”. Bài viết này tuy đã muộn nhưng vẫn còn chưa muộn vì nhạc sĩ Anh Bằng vẫn còn có thể có một lời nào đó với nhân gian về câu chuyện này. Và hơn nữa, vì lý do cấp phép ca khúc được lưu hành sẽ lĩnh hội và cho phép Tôi xa Hà Nội của Khúc Ngọc Chân được lưu hành như một ca khúc hay về Hà Nội thời kỳ đó. Nguyễn Thụy Kha (http://images.tienphong.vn/Uploaded/chien/2014_10_09/KNChan_NTKha_1__VUZX.gif.ashx?width=800) Ông Khúc Ngọc Chân (trái) và nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Kha. Ảnh: N.M.Hà Tiêu đề: Re: Ai là tác giả ‘Nỗi lòng người đi'? Gửi bởi: fddinh trong 19 Tháng Mười, 2014, 09:06:44 pm Nhạc sỹ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1927 tại Ninh Bình. Có người anh là Ðại úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Linh mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu - Phát Diệm. Sau Hiệp Ðịnh Genève, Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Tác giả thật của Nỗi lòng người đi? (http://suckhoedoisong.vn/van-hoa-the-thao/tac-gia-that-cua-noi-long-nguoi-di-20130224030541615.htm)Tổng hợp từ các websites hải ngoại. NGÀY 24 THÁNG 2, 2013 | 08:00 (http://skds2.vcmedia.vn/zoom/655_361/9ukLn8yrOFc3MNDifFmRg38p1VxM/Image/2013/02/bao-giay/0BD4CDDB7692AB6E39732C404F093A2A-copy-34fa0.jpg) Những ca từ và giai điệu đẹp lãng mạn, bao người say, bao người hát và vẫn được biết đến là nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Nguyễn Bính. Nhưng với bài viết dưới đây của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha, Nỗi lòng người đi lại có một cái tên khác, một nhạc sĩ khác...” Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong vơi đầy Bạn lòng ai! thuở ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng... Những ca từ và giai điệu đẹp lãng mạn, bao người say, bao người hát và vẫn được biết đến là nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Nguyễn Bính. Nhưng với bài viết dưới đây của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha, Nỗi lòng người đi lại có một cái tên khác, một nhạc sĩ khác...” Ai là tác giả ‘Nỗi lòng người đi' trong Giai điệu tự hào? (http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/ai-la-tac-gia-noi-long-nguoi-di-trong-giai-dieu-tu-hao-n20141015135945444.htm) Thứ Tư, 15/10/2014 16:04 (Thethaovanhoa.vn) – Ca khúc Nỗi lòng người đi - của nhạc sĩ hải ngoại Anh Bằng sẽ lên sóng VTV1 trong chương trình Giai điệu tự hào mang chủ đề Người Hà Nội lúc 20h ngày 24/10 tới. Tuy nhiên, cách đây 2 năm có một người đứng ra nhận mình là tác giả bài hát này. Ông là Khúc Ngọc Chân - nguyên nhạc công cello Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Theo nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha - người công bố những nghi vấn tác giả của Nỗi lòng người đi thì "bài hát vốn được mang tên thật là Tôi xa Hà Nội với vài lời ca khác Nỗi lòng người đi". Thethaovanhoa.vn đã cùng nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha gặp Khúc Ngọc Chân tìm hiểu rõ hơn về sự thật này. (http://media2.thethaovanhoa.vn/2014/10/15/14/32/IMG4632_w_480.JPG) Tác giả Khúc Ngọc Chân trong trường quay Giai điệu tự hào Nguyễn Thụy Kha (http://images.tienphong.vn/Uploaded/chien/2014_10_09/KNChan_NTKha_1__VUZX.gif.ashx?width=800) Ông Khúc Ngọc Chân (trái) và nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Kha. Ảnh: N.M.Hà Ý kiến phía hải ngoại (Khoằm lược bỏ vài chi tiết mang yếu tố chính trị, cực đoan và vẫn để link bài gốc cho ai có nhu cầu tham khảo): AI Ở VIỆT NAM MUỐN ĐÁNH CẮP "NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI" CỦA Nhạc Sĩ ANH BẰNG ? (https://farm6.staticflickr.com/5598/15382127287_43d3580d88_b.jpg) (http://www.congdonghoalan.com/vietnamese/pages/gallery/gallery/Anh-Bang.jpg) Nhà báo Phạm Trần nhận xét và phê bình về vấn đề này trong chương trình SBTN “Những vấn đề của chúng ta” phát hình vào ngày 17-10-2014: http://www.youtube.com/watch?v=cPlFMF1by7Y (https://farm4.staticflickr.com/3938/15382127437_b9ce628ef6_b.jpg) (http://cothommagazine.com/nhac1/LeDinh/NSLeDinh2.jpg) (https://farm4.staticflickr.com/3949/15381984618_00f49e969f_b.jpg) [ur=http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1445:cam-nghi-sau-khi-doc-bai-qtoi-xa-ha-noiq&catid=90:phe-binh-van-hoc&Itemid=339l]CẢM NGHĨ SAU KHI ĐỌC BÀI VIẾT VỀ “NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI”[/url] (http://old.dididi.vn/vnt_upload/news/03_2013/Dem_Nhac_Anh_Bang.jpg)Nhạc sỹ Anh Bằng. Từ khi Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ được thành lập, chúng tôi (Ngọc Bích và tôi) có may mắn được gặp gỡ thường xuyên với Nhạc sĩ Anh Bằng vì ngoài vai trò là người đồng sáng lập, ông là một trong các vị Cố vấn luôn quan tâm và góp ý kiến cho chúng tôi, từ những việc nhỏ như vấn đề may áo đồng phục cho Ban Hợp Ca, đến những việc khác như khuyến khích các ca nhạc sĩ trong nhóm tiếp tục sáng tác những bản nhạc đấu tranh cho dân chủ quê hương đất nước, v.v. Chúng tôi rất cảm phục trước tấm lòng nhiệt tình đấu tranh không mệt mỏi cho quê hương đất nước sớm có ngày được tự do, dân chủ dù với tuổi đời đã cao và sức khoẻ không được tốt của ông. Gần đây, khi trên các trang mạng tung ra bài viết của tác giả Nguyễn Thụy Kha với ý đồ vu khống và hạ uy tín của Nhạc sĩ Anh Bằng qua bài viết “Tôi Xa Hà Nội” mà ông Nguyễn Thụy Kha cho biết viết theo lời kể của “nhạc sĩ” Khúc Ngọc Chân”. Đọc qua bài viết này của ông Nguyễn Thụy Kha, chúng tôi nghĩ đa số mọi người đều thấy ngay nhiều điểm kịch tính, gán ghép, mâu thuẫn trong bài viết với mục đích là cố tình bôi xấu và hạ uy tín của Nhạc sĩ Anh Bằng. Chúng tôi đã liên lạc với Nhạc sĩ Anh Bằng vì e rằng bài viết vu khống có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của ông. Tuy nhiên, chúng tôi rất vui khi được biết rằng tinh thần của ông vẫn cao và không hề nao núng trước sự đánh phá, xuyên tạc qua bài viết này. Ông cho biết cá nhân ông không muốn trả lời cho những người tự cho là mình là những người văn nghệ sĩ, nhưng thật ra họ đã mất đi nhân tính khi cố tình viết lên những điều trái với sự thật như vậy. Mặc dầu Nhạc sĩ Anh Bằng không muốn lên tiếng về việc này, nhưng qua những điều tìm hiểu được sau khi đọc bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha, chúng tôi thấy cần phải lên tiếng thêm về một vài chi tiết ngoài những điều mà chúng ta đã đọc của nhiều tác giả viết những bài phản bác lại bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha trong những ngày vừa qua. Điểm đầu tiên chúng tôi muốn đề cập đến là chi tiết khi ông Nguyễn Thụy Kha viết rằng ông Khúc Ngọc Chân và người yêu “đã cùng xuống một con thuyền con ở bến Bính để đi ra tàu đậu ngoài của biển”. Chỉ một chi tiết này thôi, chúng ta cũng thấy sự thêu dệt của cả 2 ông Nguyễn Thụy Kha và Khúc Ngọc Chân khi họ cố tình bóp méo những chi tiết có tính cách lịch sử với nhiều nhân chứng và hình ảnh còn ghi lại. Những người di cư vào Nam vào thời điểm năm 1954 chắc ai cũng biết là những chiếc tàu lớn (tàu há mồm) chở người dân miền Bắc di cư vào Nam tìm tự do không hề “đậu ngoài cửa biển”, mà đậu ngay ở bến tàu để những xe nhỏ hay đồng bào di cư đi lên thẳng trên tàu (xin xem theo những hình ảnh lịch sử đính kèm). Cá nhân chúng tôi chưa ra đời vào những năm tháng đó, tuy nhiên những chi tiết lịch sử này chúng tôi được biết qua một số lời kể và những hình ảnh lịch sử được ghi lại. Với những chứng cứ này, chúng ta có thấy ngay là hình ảnh “thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát “Tôi Xa Hà Nội” cho nàng nghe” được dựng lên hoàn toàn không thực và được đưa vào bài viết một cách hết sức gượng ép. Tác giả của bài viết đã xem thường những chi tiết thật của lịch sử. Một chi tiết khác mà chúng tôi được biết là Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác bài “Nỗi Lòng Người Đi” từ năm 1954 và phải hơn 10 năm sau, sau những lần sửa đổi cho bài hát được hoàn chỉnh, ông mới mang ra giới thiệu với công chúng. Một tác phẩm mất khoảng thời gian 10 năm để cho ra đời, nhưng theo bài viết thì “nhạc sĩ” Khúc Ngọc Chân chỉ viết trong một thời gian ngắn giữa cảnh di tản hỗn loạn của đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Nếu như thế thì đúng là “nhạc sĩ” Khúc Ngọc Chân” quả là một thiên tài nhưng “thiên tài” này từ ngày đó đến nay, cũng như nhiều người đã nhận xét và tra cứu trên các trang mạng, ông Khúc Ngọc Chân không có một nhạc phẩm nào được biết đến trong kho tàng âm nhạc Việt Nam so với hàng trăm bản nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng mà trong số đó, không ít những bản nhạc đã trở thành bất tử. Nói thêm về sự thêu dệt và bịa đặt trong bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha, theo như ông Khúc Ngọc Chân cho biết, ông đã không biết tin gì về người yêu của mình, tức bà Nguyễn Thu Hằng cho đến khi ông Chân vào Nam vào năm 1975 và cất công đi tìm và biết rằng người yêu đã qua đời vào năm 1969. Trong khi đó thì ông Nguyễn Thụy Kha lại biết rõ về bà Thu Hằng qua đoạn viết: “Còn nàng, khi vào Sài Gòn với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar.Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ.” Trí tưởng tượng của tác giả Nguyễn Thụy Kha quả thật là phi thường! Môt chi tiết khác khi ông Nguyễn Thụy Kha viết là Nhạc sĩ Anh Bằng đã sửa lời của bài hát, ví dụ như ở câu: “Còn nữa, nếu Khúc Ngọc Chân viết “Mộng với tay cao hơn trời/Ai nhắn thay tôi đôi lời” thì Anh Bằng sửa là “Tôi hái hoa tiên cho đời…”. Có nhiều người đã nêu ra điểm buồn cười và ngây ngô của đoạn này khi ông Khúc Ngọc Chân cho là mình đã dùng hình ảnh “với tay cao hơn trời” để “tưởng tượng về cánh tay giơ cao của Nữ Thần Tự Do”, một điều ngoài sức tưởng tượng của nhiều người vào thời điểm đó, vì có mấy ai nghĩ đến Hoa Kỳ, có chăng là chỉ nghĩ đến nước Pháp và những hình ảnh về nước Pháp vào thời điểm đó mà thôi! Có lẽ hai ông này không biết một chi tiết là Nhạc sĩ Anh Bằng khi sáng tác bài hát này, ông đã dùng hình ảnh “Tôi hái hoa tiên” dựa theo truyền thuyết là có một bông hoa thần ở trên trời và nếu người nào hái được hoa ấy để tặng cho người mình yêu, sẽ được hạnh phúc mãi mãi. Một hình ảnh đẹp như vậy trong bài hát mà lại bị hai ông Nguyễn Thụy Kha và Khúc Ngọc Chân gán ghép sửa đổi để càng lộ thêm sự thiếu kiến thức về lịch sử và văn chương của họ. Nói đến khía cạnh văn thơ trong lời ca, ngay như trong câu “Khua nước trong như ngày xưa” của nhạc phẩm “Nỗi Lòng Người Đi” mà theo như ông Nguyễn Thụy Kha viết, ông Khúc Ngọc Chân đã từng viết câu “Khua nước chơi như ngày xưa”. Nếu một thi sĩ khi ngâm câu này hay một ca sĩ khi hát chữ “chơi” thay cho chữ “trong”, sẽ thấy ngay sự trái tai trong cách dùng từ ở chỗ này. Khi ông Khúc Ngọc Chân và ông Nguyễn Thụy Kha đưa ra chi tiết này, họ không ngờ rằng chỉ gây thêm sự phản tác dụng và bộc lộ kiến thức kém cõi về thi văn và âm nhạc của họ. Còn nhiều chi tiết khác trong một bài viết đầy dụng ý vu khống và bôi nhọ uy tín của Nhạc sĩ Anh Bằng như về việc gán ghép bản nhạc được phổ từ thơ của Thi sĩ Nguyễn Bính, hay nêu ra những chi tiết không đúng với sự thật về nơi sinh quán cũng như nơi cư ngụ của Nhạc sĩ Anh Bằng khi đến định cư tại Hoa Kỳ, hay ngay cả cái tựa đề “Tôi Xa Hà Nội” cũng không thích hợp với hoàn cảnh của câu chuyện kể của ông Khúc Ngọc Chân mà một vài tác giả đã có nhắc tới nên chúng tôi không nhắc lại và bàn thêm nơi đây, nhưng đó cũng là những chi tiết cho thấy sư coi thường độc giả của ông Nguyễn Thụy Kha và càng làm cho mọi người thấy ngay giá trị của bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha ra sao! Những lời thăm hỏi và khuyến khích của Nhạc sĩ Anh Bằng thường tiếp cho chúng tôi thêm nhiệt huyết để dấn thân trên bước đường đấu tranh cho quê hương đất nước để không phụ lòng tin yêu của những người đi trước như Nhạc sĩ Anh Bằng, người nhạc sĩ tài hoa và luôn thiết tha yêu quê hương đất nước. Cao Minh Hưng Xác nhận : Nhạc sĩ Anh Bằng chính là tác giả của bài hát “NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI”. Vào cuối tháng Tư năm 2014, nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân có gởi tới Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả Việt Nam (VCPMC) ở Hà Nội ca khúc “Tôi Xa Hà Nội” để nhờ cơ quan này chứng nhận ông là tác giả bài hát nêu trên. Tuy nhiên cơ quan này (tức là: Vietnam Center for Protection of Music Copyright (VCPMC) 66 Nguyen Van Huyen Str, Cau Giay District., Hanoi, Vietnam Phone: +844 3762 4718 (ext: 268) / Fax: +844 37624717 Office hour: 8am - 5pm GMT+7, Mon-Fri http://www.vcpmc.org) đã phát hiện có sự “song trùng” với ca khúc Nỗi lòng người đi của Nhạc sĩ Anh Bằng, nên cơ quan VCPMC đã yêu cầu 2 bên cung cấp chứng cứ bằng văn bản, nhưng ông Khúc Ngọc Chân không có, vì vậy VCPMC đã quyết định ngừng bảo vệ, quản lý và khai thác ca khúc Tôi xa Hà Nội. (xem văn bản đính kèm bên dưới). Điều đó có nghĩa VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ Anh Bằng. Xin trả lại César cái gì của César. Nhạc phẩm Nỗi Lòng Người Đi đã được chính thức công nhận là của nhạc sĩ Anh Bằng với bằng chứng là bản nhạc nguyên thủy in năm 1967 ở Sài Gòn như các hình chụp dưới đây: (https://farm4.staticflickr.com/3944/14928902543_4244412c6b_b.jpg) (https://farm4.staticflickr.com/3938/15525369136_05bdec312b_b.jpg) (https://farm4.staticflickr.com/3929/14928321414_6705267d41_b.jpg) (https://farm6.staticflickr.com/5598/15362454689_f23b0a0421_b.jpg) VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ Anh Bằng. (https://farm4.staticflickr.com/3947/15362943138_c63ede104f_b.jpg) Xin tham khảo thêm một số bài viết khác về nhạc sĩ Anh Bằng và các sáng tác khác của Anh Bằng ở Liên kết sau đây: http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=777&Itemid=48 Tiêu đề: Áo anh sút chỉ đường tà (Phạm Duy – Hữu Loan) Gửi bởi: fddinh trong 22 Tháng Tư, 2015, 11:50:45 am Trong dòng thi ca Việt Nam, có lẽ bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan là bài thơ được phổ nhạc nhiều nhất. Theo ý kiến cá nhân của chúng tôi, thành công nhất và cũng giữ được tính bi tráng của bài thơ nhiều nhất là bản “Áo anh sút chỉ đường tà” của nhạc sỹ Phạm Duy. http://www.youtube.com/watch?v=Z5NXZNt2b-g
Áo anh sút chỉ đường tà (Phạm Duy – Hữu Loan) Ảnh: hcmutrans.edu.vn (http://dongnhacxua.com/non-wp/bia-nhac/ao-anh-sut-chi-duong-ta=0=pham-duy--huu-loan=hcmutrans.edu.vn=dongnhacxua.com.jpg) (http://dongnhacxua.com/non-wp/bia-nhac/ao-anh-sut-chi-duong-ta=1=pham-duy--huu-loan=hcmutrans.edu.vn=dongnhacxua.com.jpg) (http://dongnhacxua.com/non-wp/bia-nhac/ao-anh-sut-chi-duong-ta=2=pham-duy--huu-loan=hcmutrans.edu.vn=dongnhacxua.com.jpg) (http://dongnhacxua.com/non-wp/bia-nhac/ao-anh-sut-chi-duong-ta=3=pham-duy--huu-loan=hcmutrans.edu.vn=dongnhacxua.com.jpg) TAO NGỘ HOA SIM http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121231/ky-1-tao-ngo-hoa-sim.aspx http://www.youtube.com/watch?v=SARzuKoXAyY |