|
Tiêu đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: dongadoan trong 03 Tháng Tư, 2010, 07:34:30 pm Gần đây để đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, nâng cao sức mạnh cho HQNDVN chúng ta đã đặt hàng một số tàu ngầm diesel - điện lớp Kilo của Nga. Nhân đà này và tìm kiếm trên Google chưa thấy bài viết hay chủ đề ở diễn đàn nào trình bày đầy đủ về lớp tàu này nên tôi tranh thủ đưa lên một số thông tin để các bạn tham khảo. Bài viết này có tham khảo các nguồn: Jane's fighting ships, Naval technolog,... và một số nguồn khác.
Các bạn có hứng thú xin cùng tham gia tìm hiểu về loại "cá quả" này! ;D (http://homepage.tinet.ie/~steven/images/kilo-DNSC8703781.jpg) Tàu ngầm là một trong những loại tàu chiến vô cùng lợi hại của lực lượng hải quân các nước, có khả năng lặn và hoạt động bí mật thời gian dài dưới nước, dùng để tiêu diệt tàu nổi, mục tiêu mặt đất trong lãnh thổ đối phương và tiến hành nhiều nhiệm vụ tác chiến đặc biệt như trinh sát, đổ bộ, chống ngầm... Kể từ Chiến tranh thế giới 2 đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật, vai trò của tàu ngầm trong tác chiến biển ngày càng nổi bật, trở thành một trong những trang bị được ưu tiên phát triển của hải quân nhiều nước. Hầu hết những nước có biển coi phát triển tàu ngầm là một nhu cầu tất yếu trong phát triển vũ khí trang bị. Thế nhưng, ngoài các cường quốc quân sự đứng đầu thế giới, như Nga, Đức, Mỹ, Pháp, Trung Quốc và một số nước phương Tây có thực lực KHKT, có năng lực tự thiết kế và chế tạo tàu ngầm, còn phần lớn các nước đều phải bỏ ra số tiền rất lớn để mua của nước khác nhằm tăng cường sức mạnh HQ của mình. Trong vòng 30 năm trở lại đây, thành công lớn nhất trên thị trường tàu ngầm thế giới thuộc về các nhà sản xuất của Nga (Liên Xô trước đây). Họ đang sở hữu những chiếc tàu ngầm lớn nhất thế giới. Đồng thời họ cũng có những lớp tàu ngầm hiện đại, được nhiều nước lựa chọn đưa vào trang bị. Trong đó phải kể đến tàu ngầm lớp Kilo. Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về quá trình phát triển của lớp tàu ngầm này: Trong những năm 1970, phương tiện dò tìm thủy âm phát triển đến mức có thể tìm kiếm và phát hiện dễ dàng các tàu ngầm loại cũ theo trường âm thanh, buộc các cơ quan nghiên cứu và phát triển tàu ngầm của LX phải tìm ra biện pháp để làm giảm tiếng ồn cho tàu ngầm. Việc hiện đại hóa các tàu ngầm thế hệ cũ trước hết cần phải thay đổi hình dáng, cấu trúc thân vỏ, chế tạo các hệ thống thiết bị và động cơ mới. Mục tiêu hàng đầu đặt ra đối với tàu ngầm mới là phải chiến thắng trong mọi tình huống đối đầu tay đôi với bất kỳ loại tàu ngầm nào của đối thủ tiềm năng (Mỹ). Vì vậy, việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo tàu ngầm thế hệ ba lớp Kilo được tiến hành. Đây là lớp tàu ngầm quân sự chạy bằng động cơ diesel - điện, do Cục Thiết kế Hàng hải Trung ương Rubin, St Petersburg thiết kế và được đóng tại xưởng đóng tàu Admiralty ở St Petersburg. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/b/b1/Rubin_Design_Bureau_logo.png) Logo của Rubin Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 03 Tháng Tư, 2010, 07:43:23 pm Tàu ngầm lớp Kilo vốn được thiết kế để chống tàu ngầm và tàu mặt nước, rải thùy lôi, quét ngư lôi, làm nhiệm vụ tuần tra và trinh sát, bảo vệ các căn cứ hải quân, những tuyến đường biển... Tàu được thiết kế hình giọt nước với một cánh lái ở đuôi tàu hình chữ T và một trục chân vịt đơn lớn. Thân tàu gồm 8 khoang kín nước. Các khoang được ngăn cách bởi vách ngăn bên trong lớp vỏ kép có tác dụng điều hoà áp suất, tăng khả năng sống sót cho tàu lên rất nhiều, thậm chí với một khoang và hai két liền kề bị ngập nước, tàu vẫn có khà năng hoạt động bình thường. Hệ thống chì huy và hệ thống điều khiển hoả lực được bố trí trong phòng điều khiển chính, phòng này tách biệt với các khoang khác. Để giảm bớt dấu hiệu bộc lộ âm thanh, các cửa xả nước được bố trí cách xa phần thân tàu phía mũi và thân tàu được phủ một lớp bảo vệ bằng cao su để hấp thu sóng âm, làm giảm thiểu và chệch tín hiệu dội lại của thiết bị dò tìm đối phương. Lớp vỏ này cũng làm giảm tiếng ồn do tàu ngầm phát ra, do đó làm giảm khoảng cách bị phát hiện bởi sona thụ động của đối phương.
Tàu ngầm lớp Kilo được trang bị hệ thống chỉ huy và tác chiến đa năng rất hiệu quả. Trung tâm của hệ thống là một máy tính tốc độ cao có khả năng xừ lý các thông tin và hiển thị trên màn hình, xác định dữ liệu của mục tiêu bơi ngầm dưới nước và mục tiêu mặt nước, tính toán tham số bắn, tự động điều khiển hoả lực, cung cấp thông tin về hoạt động và triển khai vũ khí. (http://www.nti.org/db/submarines/russia/photos/kilo.jpg) Phòng điều khiển của Kilo Về khí tài điện tử, tàu ngầm lớp Kilo được trang bị hệ thống sona chủ động/thụ động Rubikon MGK-400 (Project 877) và MGK-400EM (Project 636), hệ thống thông tin vô tuyến, hệ thống thông tin điều khiển tác chiến, hệ thống hàng hải và hai kính tiềm vọng. Hệ thống sona có khả năng dò tìm mục tiêu tàu ngầm và tàu mặt nước bằng tín hiệu vô tuyến điện, thông tin thủy âm dùng cả hai chế độ báo và thoại ở các cự ly khác nhau, phát hiện dưới nước tín hiệu âm thanh và xác định tín hiệu sóng mang. Trên tàu còn được lắp một radar tìm kiếm mặt nước chủ động MRK-50 làm việc theo kiểu kính tiềm vọng và đối hải, cung cấp các thông tin về các tình huống dưới nước và trên không, làm nhiệm vụ an toàn hàng hải. Các thiết bị tác chiến điện tử gồm các thiết bị hỗ trợ điện tử (ESM), radar cảnh báo sớm và thiết bị dò hướng. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: huyphongssi trong 03 Tháng Tư, 2010, 07:47:18 pm Hẹ hẹ! Lâu lắm mới thấy thủ trưởng Đoàn xuất sơn ;D
Em cũng đang muốn tìm hiểu về đạo hàng tàu ngầm. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 03 Tháng Tư, 2010, 07:53:25 pm Vũ khí chính của tàu ngầm lớp Kilo là 6 ống phóng lôi cỡ 533mm ở phía trước mũi tàu, được bố trí thành dãy, 2 ở phía trên và 4 ở phía dưới. Tất cả các ống phóng này đều có thể phóng ngư lôi và rải thủy lôi. 2 ống phóng phía trên có thể được sử dụng để phóng tên lửa hành trình chống tàu 3M-54E. Tàu có thể mang theo 18 ngư lôi gồm 6 quả trong ống phóng và 12 quả đặt trên giá. Ngoài ra, ống phóng lôi có thể được sử dụng để rải thuỷ lôi với cơ số lên tới 24 quả (trường hợp tàu không mang ngư lôi). Ngư lôi chống tàu ngầm được điều khiển từ xa ký hiệu TEST-71MKE có hệ thống hồng ngoại sona chủ động và thiết bị dẫn truyền hình, khối lượng 1.820kg với đầu nổ 205kg. Ngư lôi chống các mục tiêu mặt nước là loại ngư lôi tự dẫn 53-65KE, khối lượng 2.200kg với đầu nổ 200kg, tầm bắn 40km và có thể tìm kiếm mục tiêu khi Kilo đang ở độ sâu 500m. Tàu được trang bị 8 quả tên lửa hải đối không Strela-3 hoặc lgla(1).
(http://static.flickr.com/64/212231243_58388dc492_o.jpg) TEST-71MKE torpedo Tàu ngầm lớp Kilo sử dụng động cơ diesel - điện gồm: một động cơ đẩy chính, một động cơ tiết kiệm nhiên liệu và một trục chân vịt đơn, hai động cơ dự phòng để chạy vùng nước nông và trong trường hợp khẩn cấp. Hai ắc qui 120 ngăn được đặt trong khoang thứ nhất và khoang thứ ba của tàu. Hệ thống máy chính được trang bị hệ thống điều khiển tự động. Với hệ thống động cơ như vậy, cho phép tàu có dự trữ hành trình tối đa lên tới 45 ngày. Tàu ngầm lớp Kilo, có ba phiên bản gồm: phiên bản gốc Project 877 Paltus, phiên bản cải tiến Project 636 Varshavyanka và phiên bản kế tiếp Project 677 La da, bắt đầu chạy thử trên biển năm 2005. ----------------------------- (1). Tên lửa Strela 3 do Cục Thiết kế Fakel, Kaliningrad sản xuất đầu đạn nặng 2kg, tầm bắn 6km. Tên lửa Igla có tầm bắn 5km, vận tốc 1,65M. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 03 Tháng Tư, 2010, 08:19:59 pm Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877 Paltus
Project 877 Paltus là phiên bản đầu tiên trong họ tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Tàu có chiều dài từ 70 đến 72,6m, đường kính 9,9m và cao 6,2 đến 6,5m, lượng choán nước khi nổi 2.300 - 2.325 tấn và lượng choán nước khi lặn với tải trọng đầy đủ 3.076 - 3.950 tấn, khả năng lặn sâu tối đa 300m, vận tốc khi nổi 10 - 12 hải lý/h và khi lặn 17 - 25 hải lý/h, dự trữ hành trình 45 ngày. Project 877 sử dụng động cơ diesel - điện gồm: hai máy phát diesel công suất 1.000 kw, một động cơ đẩy công suất 5.500 - 6.800hp, một chân vịt 7 cánh cố định. Tàu được trang bị 8 tên lửa Strela-3 hoặc 8 tên lửa lgla, 6 ống phóng ngư lôi 533mm với 18 ngư lôi VA-111 hoặc 24 thủy lôi, các thiết bị thông tin liên lạc vô tuyến điện, hệ thống thông tin điều khiển chiến đấu, hệ thống định vị, hệ thống radar bắt bám đa năng, sona chủ động/thụ động MGK-400 Rubikon. Chiếc tàu ngầm lớp Kilo Project 877 đầu tiên được hạ thủy vào năm 1979 và đưa vào trang bị cho Hải quân Liên Xô năm 1982 mang số hiệu B248. Các mẫu xuất khẩu của tàu ngầm lớp Kilo Projeet 877 là Project 877E và Project 877EKM. Tàu ngầm lớp Kilo Project 677 Lada Project 677 Lada là tàu ngầm thế hệ 4 của Nga, khác về nguyên lý với các tàu thế hệ ba Project 877. Tàu phát ra tiếng ồn rất thấp, hệ thống thủy âm loại mới, ắc qui kéo dài thời gian sú dụng, một động cơ điện nam châm vĩnh cửu duy nhất. Nếu như trên các tàu ngầm Project 877 có động cơ điện chính và động cơ điện tiết kiệm nhiên liệu, thì trên Project 677 Lada thế hệ bốn chì có một động cơ - vừa là động cơ chính vừa là động cơ tiết kiệm nhiên liệu. Trên tàu ngầm thế hệ bốn Project 677 Lada lắp đặt máy phát điện chạy bằng diesel tạo dòng điện xoay chiều và được biến đổi thành dòng một chiều; có một hệ thống điều khiển duy nhất cho tàu và các hệ thống vũ khí. Đó là hệ tích hợp có thể điều khiển được tất cả thiết bị trên tàu. Khoang trung tâm của tàu rộng rãi và thuận tiện hơn cho việc điều khiển tàu và các hệ thống chiến đấu. Khả năng ẩn nấp của Project 677 cao gấp 6 - 8 lần so với Project 877. Tàu có khà năng hoạt động ở khu vực gần bờ, cũng như ở các vùng biển xa. Tàu có chiều dài 67m, khối lượng 1.765 tấn, vận tốc 21 hải lý/h, sử dụng động cơ điện công suất 4.100hp và động cơ diesel - điện DEU. Về vũ khí, tàu được trang bị 6 ống phóng thủy lôi 533mm, tên lửa chống tàu Klub và 18 ngư lôi, radar điều khiển hoả lực hiện đại, cho phép tự động theo dõi mục tiêu và điều khiển thủy lôi, anten thu thanh dưới nước có khả năng bắt tín hiệu rất lớn. Đây là tàu ngầm thế hệ 4 đầu tiên trên thế giới lắp các hệ thống lọc khí cho tàu. Hiện mới chỉ có một chiếc Project 677 hoàn thành thừ nghiệm, 3 chiếc khác vẫn đang chế tạo. (http://lh5.ggpht.com/_cTaLGgz4Ru8/R1JxgGXGoDI/AAAAAAAADnI/jCinzEM7fo4/s512/lada-class.jpg) Project 677 Lada Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 03 Tháng Tư, 2010, 09:26:06 pm Tàu ngầm lớp Kilo Project 636 Varshauyanka
Tàu ngầm lớp Kilo Project 636 là sự kết hợp giữa kiểu thiết kế của Project 877 cơ bản với Project 677 mới. Hiện nay đã có hai biến thể là Project 636 và Project 636M. Tàu ngầm Kilo Project 636 được phát triển mạnh bởi nhu cầu của thị trường thế giới. Nhờ giữ nguyên các ưu điểm của Project 877, kết hợp với những đặc điểm kỹ thuật và công nghệ mới của Project 677, tàu ngầm lớp Kilo Project 636 có nhiều ưu thế: thân tàu rộng hơn, trang thiết bị hiện đại, phát ra ít tiếng ồn, trường âm thanh thấp hơn, phạm vi hoạt động lớn hơn cũng như có độ tin cậy cao hơn trong khai thác, sử dụng. Đặc biệt là công suất của động cơ diesel được tăng thêm, đồng thời vận tốc quay của chân vịt chính lại giảm hơn nên âm thanh do chân vịt tạo ra khi tàu cơ động được hạ thấp hơn khá nhiều so với Project 877. Điều này giúp cho tín hiệu thủy âm do Project 636 thu được trên sona thụ động của tàu đối phương giảm đáng kể. Khi tác chiến chống ngầm, giả sử trong tình huống đối đầu, cự ly phát hiện đối phương của Project 636 lớn hơn 2 lần so với Project 877, độ ồn của nó cũng nhỏ hơn 2 lần so với “tiền bối”. Nếu so sánh với các loại tàu ngầm diesel - điện cùng thế hệ của các nước, Project 636 có thể phát hiện đối phương ở khoảng cách xa tới 3, 4 lần so với khoảng cách mà đối phương có thể phát hiện ra nó. Ưu thế này bảo đảm cho Kilo Project 636 kịp thời phát hiện và tiến công đối phương trước khi địch thủ biết về sự có mặt của nó. (http://www.armybase.us/wp-content/uploads/2009/06/Project-636-Kilo-class-submarine-2.JPG) Cấu tạo Kilo Project 636 Tàu ngầm lớp Kilo Project 636 được lắp đặt các phương tiện hiện đại để giảm tiếng ồn. Hệ thống thông khí và điều hòa được tăng cao hiệu suất, bảo đảm khả năng hoạt động ở các môi trường biển khác nhau và tạo điều kiện sinh hoạt thuận tiện cho thủy thủ. Tàu được trang bị hệ thống C4ISR hiện đại nhất hiện nay của Nga với một máy tính tốc độ cao. Hệ thống này có thể tự động xác định các dữ liệu của những mục tiêu mặt nước, mục tiêu ngầm cũng như tính tóan tham số bắn cung cấp cho hệ thống điều khiển hỏa lực. Thiết bị trinh sát thủy âm của Project 636 hoạt động theo nguyên lý định vị âm thanh, đo khoảng cách theo nguyên lý “tiếng vọng”. Project có đường kính 9,9m, dài 72,6 – 73,8m , cao 6,3 - 6,9m. Lượng choán nước khi nổi 2.350 tấn, lượng choán nước đầy tải khi lặn 3.126 - 4.000 tấn. Tàu có thể lặn sâu tối đa 300m, vận tốc khoảng 22 km/h (11 hải lý/h) khi nổi và khoảng 40 km/h khi lặn (20 hài lý/h). Tầm hoạt động 12.000km (có ống thông hơi) và 640km khi lặn hoàn toàn, kíp thuỷ thủ 57 người, và có thể hoạt động liên tục 45 ngày trên biển. Ngoài những hệ vũ khí được trang bị trên tàu Project 877, tàu Project 636 còn được trang bị hệ thống tên lửa tự dẫn Club-S chống tàu nổi (Novator 3M- 54E/EI) với tầm bắn lớn nhất 220km. Hệ thống ngư lôi do máy tính điều khiển giúp việc nạp đạn nhanh hơn. Chỉ mất 2 phút là tàu có thể phóng loạt thứ nhất và sau 5 phút có thề phóng loạt thứ hai, có thể phóng được ngư lôi điều khiển từ xa với độ chính xác rất cao. Việc đưa vào trang bị tổ hợp tên lừa hành trình đối hạm mở rộng đáng kể khả năng chiến đấu của tàu ngầm lớp Kilo Project 636 và nâng cao khả năng cạnh tranh của chúng trên thị trường quốc tế trong thế kỷ 21. (http://4.bp.blogspot.com/_htvjsmtPrmc/SrGApalrguI/AAAAAAAADB8/RMMbYBmAnYI/s400/Club10.jpg) Tên lửa Club-S Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 03 Tháng Tư, 2010, 09:48:55 pm Tình hình trang bị tàu ngầm lớp Kilo Nga Chiếc tàu ngầm lớp Kilo đầu tiên của Nga Project 877 được hạ thủy năm 1979 và đưa vào trang bị cho Hải quân Liên Xô năm 1982. Hiện nay, Hải quân Nga đang sử dụng ba biến thể khác nhau của tàu ngầm lớp Kilo Project 877 gồm kiểu cơ bàn Project 877, Project 877K và Project 877M. Các tàu ngầm lớp Kilo được trang bị cho Hải quân Nga có số hiệu là B248, B260, B277, B871, B806, B800, B401, B402, B459... Cho tới nay, khoảng 30 tàu ngầm lớp Kilo đã được trang bị cho Hải quân Nga, một chiếc trong số này đã được bán cho lran. Tất cả 30 tàu này đều được gọi là Project 877, mặc dù 15 chiếc trong số này là phiên bản Project 877EKM, và 15 chiếc còn lại là các phiên bàn của Project 636. Năm 2008, Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Thụy Điển thông báo có tổng số 15 tàu ngầm lớp Kilo của Hải quân Nga đang hoạt động, và 4 chiếc dự trữ. Hai chiếc được triển khai ở vùng biển Baltic, một chiếc ở vùng biển Đen, 6 chiếc ở Thái Bình Dương và 6 chiếc được trang bị cho Hạm đội Biển Bắc. Những chiếc tàu ngầm lớp Kilo này được đóng với tốc độ khoáng 2 chiếc một năm từ 1982 đến 1984, và 4 chiếc cuối cùng đã được hoàn thành trong giai đoạn 1991 - 1993. Người ta cho rằng, với vòng đời hoạt động 30 năm, thì đến giai đoạn 2015, tất cả số tàu ngầm này sẽ được đưa ra khỏi trang bị, chúng không thể kéo dài hoạt động sau năm 2020. Trung Quốc Trung Quốc là nước mua nhiều tàu ngầm lớp Kilo nhất. Hải quân Trung Quốc đã mua tổng số 12 chiếc tàu ngầm lớp Kilo với các phiên bản khác nhau của Nga. Năm 1994, Hải quân Trung Quốc ký hợp đồng mua 4 chiếc tàu ngầm Project 877EKM và Project 636 trị giá 1 tỷ đô la Mỹ. 2 tàu Project 877EKM được chuyển giao năm 1995 và 2 tàu Project 636 được chuyển giao vào năm 1997 và 1998. Trung Quốc là khách hàng đầu tiên mua tàu ngầm lớp Kilo Project 636. Tất cả 4 tàu mua năm 1994 đều được triển khai ở căn cứ tàu ngầm thuộc Hạm đội Biển Đông tại Chu Sơn, Triết Giang gần eo biển Đài Loan. Theo kế hoạch, 4 chiếc tàu ngầm này sẽ được đưa trở lại Nga để tiến hành hiện đại hoá, có thể chúng sẽ được trang bị thêm hệ thống tên lửa tự dẫn Club. Mặc dù, gặp một số vấn đề về kỹ thuật trong việc bảo dưỡng, huấn luyện thủy thủ, các vấn đề về máy phát điện và ắc quy nhưng Trung Quốc vẫn có kế hoạch mua thêm tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Đầu tháng 7/2002, Trung Quốc đã ký một hợp đồng trị giá 1,6 tỷ đô la Mỹ với Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Rosobornoexport của Nga mua thêm 8 tàu ngầm lớp Kilo Project 636 và 636M được trang bị hệ thống tên lửa tự dẫn Club-S (SS-N- 27) và một số tên lửa hành trình chống tàu Novator 3M-54E. Chiếc đầu tiên trong 8 chiếc này được hạ thuỷ vào năm 2004, và chuyển giao cho Hải quân Trung Quốc vào năm 2005. Cho đến nay việc chuyển giao toàn bộ 8 chiếc Project 636 và 636M đã được hoàn tất. (http://i291.photobucket.com/albums/ll289/phiungvn/HQTQ/kilo_05large.jpg) Tàu ngầm lớp Kilo của HQTQ Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: ninjaVN2007 trong 03 Tháng Tư, 2010, 11:56:45 pm Nghe nói Kilo còn có the bắn tên lửa phòng không tầm ngắn, vậy bắn bằng cách nào, các bác biết không?
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 04 Tháng Tư, 2010, 11:22:01 am Ấn Độ
Ấn Độ là nước đầu tiên đặt mua tàu ngầm lớp Kilo của Nga, sau đó là Angiêri, Ba Lan, Rumani, lran, Trung Quốc, lnđônêxia, Venezuela, và Việt Nam. Ngay sau khi chiếc tàu ngầm lớp Kilo đầu tiên được hạ thuỷ, Ấn Độ đã đê nghị mua một chiếc. Năm 1983, Ấn Độ đã ký hợp đồng mua 6 chiếc, rồi tăng lên 10 chiếc, nhưng do vấn đề về tài chính, cuối cùng quyết đ!nh mua 8 chiếc. Chiếc tàu đầu tiên số hiệu S55 Sindhughosh được chuyển giao và đưa vào trang bị cho Hải quân Ấn Độ năm 1986 và chiếc cuối cùng được chuyển giao vào tháng 1 2/1 990. Tháng 5/1997, Ấn Độ tiếp tục ký hợp đồng đặt mua thêm 2 tàu Project 877. Cho tới nay, Ấn Độ đã mua tổng số 10 tàu ngầm lớp Kilo Project 877 của Nga. Số hiệu tàu ngầm lớp Kilo mà Ấn Độ mua của Nga từ S55 tới S64. Tàu ngầm Project 877EKM, số hiệu S64 Sindhushastra là tàu cuối cùng trong loạt 10 tàu ngầm lớp Kilo được chuyển giao và đưa vào trang bị cho Hải quân Ấn Độ tháng 7/2000. Tháng 8/2000, Nhà máy đóng tàu Zvezdochka, ở Severodvink (Nga) đã bắt đầu bảo dưỡng và hiện đại hoá tàu ngầm lớp Kilo Project 877EKM, Sinduratra. Năm 1999, Ấn Độ cũng đã tiến hành hiện đại hoá tàu ngầm lớp Kilo, Sinduvir đầu tiên ở nhà máy đóng tàu Zvezdochka, ở Severodvink này. Project 877EKM, Sinduratra là tàu ngầm lớp Kilo thứ hai của Ấn Độ sẽ được trang bị thêm 4 tên lửa ZM-54EI, một phần của tồ hợp tên lửa chống tàu Club-S mới nhất, tầm bắn 300km. (http://www.nti.org/db/submarines/india/photos/Kilo.jpg) Kilo của HQ India Iran Năm 1988, lran đã ký hợp đồng mua 3 tàu ngầm lớp Kilo Project 877EKM với Nga, chiếc đầu tiên đã được chuyền giao cho lran vào tháng 10/1992 và đưa vào trang bị ngày 21/11/1992; chiếc thứ 2 được hạ thủy vào năm 1992 và chuyển giao vào tháng 8/1993; chiếc cuối cùng được hoàn thành vào năm 1994, nhưng tháng 1/1997 mới được chuyển giao cho lran vì lý do tài chính. Tàu ngầm lớp Kilo Project 877EKM, lran mua của Nga có số hiệu là 901, 902 và 903. Năm 2005, nhà máy đóng tàu Zvezdochka, ở Severodvink, Nga đã đàm phán với Hài quân lran về hợp đồng đại tu và hiện đại hoá tàu ngầm lớp Kilo cho Hải quân lran. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 04 Tháng Tư, 2010, 11:41:07 am Một số nước khác
Năm 1986, Angieri đã ký hợp đồng mua 2 chiếc tàu ngầm lớp Kilo Project 877E của Nga. Số hiệu của 2 chiếc tàu này là 012 và 013 trong đó chiếc 012 được hạ thủy vào năm 1986 và chuyển giao vào tháng 10/1987, chiếc 013 được hạ thủy năm 1987 và chuyển giao tháng 1/1988. Cả hai chiếc đều đã được nâng cấp vào năm 1993, và hiện vẫn đang hoạt động tốt. Năm 2006, Nga đã đồng ý bán cho Angieri 2 tàu ngầm lớp Kilo Project 636, với hợp đồng trị giá gần 200 triệu đô la Mỹ. Hợp đồng là một phần trong chương trình hợp tác quân sự - kỹ thuật giữa Nga và Angieri với tổng giá trị khoảng 7 tỷ đô la. Hai chiếc tàu này sẽ được chuyển giao vào năm 2009 và 2010. Ba Lan cũng mua tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Ba Lan đã mua một chiếc Project 877EM, số hiệu 291 vào năm 1986. Rumani mua một chiếc tàu ngầm lớp Kilo Project 877E, Delfinul 521 và được chuyển giao vào tháng 12/1986 và Venezuela đã ký bản ghi nhớ mua 3 chiếc. Trong khu vực Đông Nam Á, lndonesia đã đặt mua hai chiếc Project 636 vào năm 2007 và có ý định mua thêm, Việt Nam đã ký hợp đồng mua 6 chiếc Project 636 vào năm 2009. Tàu ngầm lớp Kilo của Nga, được các chuyên gia quân sự nước ngoài đánh giá là loại tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel - điện êm nhất trên thế giới hiện nay. Trong những năm 1980, tàu ngầm lớp Kilo Project 877 được đưa vào trang bị cho Hải quân Nga và xuất khẩu ra nước ngoài với số lượng đáng kể. Giữa thập niên 1990 việc đóng tàu ngầm lớp Kilo Project 636, phiên bản cải tiến của Project 877, động cơ mạnh hơn, độ ồn thấp hơn, hệ thống điều khiển tích hợp điều khiển điện tử, vũ khí hoả lực mạnh, ... đã thu hút nhiều khách hàng nước ngoài. (http://i614.photobucket.com/albums/tt226/trandoan/kilo0001.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: whamy04 trong 04 Tháng Tư, 2010, 12:39:00 pm Bác dongadoan cho mình hỏi lớp Kilo như bài giới thiệu chỉ hầu như toàn ưu điểm. Vậy thì nhược điểm của nó là đâu?
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 04 Tháng Tư, 2010, 12:58:57 pm Vấn đề là ở chỗ bạn muốn so Kilo với cái gì?
- Với tàu ngầm nguyên tử chăng? Nếu vậy thì Kilo nhiều nhược điểm. - Với các loại diesel - điện khác chăng? Vậy thì nó quá ít nhược điểm. - Với chính nó chăng? Thì trong bài của tớ đã nhắc đến rồi: "một số vấn đề về kỹ thuật trong việc bảo dưỡng, huấn luyện thủy thủ, các vấn đề về máy phát điện và ắc quy". Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: black_cat1 trong 04 Tháng Tư, 2010, 01:38:38 pm Em kiến nghị bác Đoàn nếu có thể thì so sánh Kilo với các lớp tương đồng khác của Pháp,Đức, Mĩ, Trung... vì chúng cũng được các nước quanh ta sử dụng ;D
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: nguyen trong 04 Tháng Tư, 2010, 03:44:18 pm Trong bảng tính năng kỹ thuật của lớp Kilo, khi lặn với tốc độ 3 hải lý/h thì tầm hoạt động chỉ là 400 hải lý. Con số này chắc không chính xác?
Edit: Em tra lại trên wiki thì đúng thế thật. Lần sau em sẽ search thử trước khi hỏi lại. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: whamy04 trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:20:52 pm Em kiến nghị bác Đoàn nếu có thể thì so sánh Kilo với các lớp tương đồng khác của Pháp, Đức, ... vì chúng cũng được các nước quanh ta sử dụng ;D Đúng rồi đó bác dongadoan. Nếu được thì so sánh với các loại U, Scorpene, Agosta hay là Gotland...Nếu nó có quá ít nhược điểm sao với các lớp cùng loại của các nước khác thì như vậy có thể nói nó là vô địch??? Với lại mình không rõ hệ thống đẩy của 636 so với 877 thì có ưu điểm gì? Vì nếu nhìn vào vận tốc lặn thì 636 thua 877... Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:33:35 pm Với lại mình không rõ hệ thống đẩy của 636 so với 877 thì có ưu điểm gì? Vì nếu nhìn vào vận tốc lặn thì 636 thua 877...
-------------------------------------- Bạn không đọc rồi! Mục đích của những nhà thiết kế ở Rubin khi cải tiến 636 là làm cho nó "lặng lẽ" hơn 877 và họ giải quyết bằng cách tôi đã viết rồi đấy. Cũng vì thế tốc độ cơ động khi lặn của 636 thấp hơn 877. Cũng chả có gì đáng phàn nàn, nhỉ? Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: longtrec trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:39:01 pm Trong bảng tính năng kỹ thuật của lớp Kilo, khi lặn với tốc độ 3 hải lý/h thì tầm hoạt động chỉ là 400 hải lý. Con số này chắc không chính xác? TL đánh nhầm chăng?Đúng là vô lý đấy. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:44:42 pm Vô lý ở chỗ nào hả bác longtrec và bạn nguyen? Theo bác và bạn thì tàu ngầm khi lặn hoàn toàn sẽ có tầm hoạt động lớn hơn hoặc bằng khi nổi à? ;D
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: longtrec trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:51:43 pm Vô lý ở chỗ tốc độ ấy.Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20,Nga đã sx tầu ngầm khi lặn tốc độ đạt 9 hải lý/h rồi TL ạ!
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 04 Tháng Tư, 2010, 05:55:32 pm Hì, bác vui tính thật! Bác phân biệt hộ em hai khái niệm khác nhau nhé!
- Tốc độ tối đa. - Tốc độ hành trình (tiết kiệm nhiên liệu). Đây là tốc độ người ta dùng khi đánh giá cự ly hoạt động. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: longtrec trong 04 Tháng Tư, 2010, 06:13:06 pm TL ơi cứ xem lại đi,có mất nhiều thời gian đâu phải không?Tôi yêu tầu chiến,tầu ngầm và mơ là thuyền trưởng từ lúc nhỏ.2 bố con tôi sưu tập, tầu chiến Nga đã mấy năm rồi.Ngày nay Tôi có chút ít hiểu biết về tầu chiến,tầu ngầm do dịch bài.Tôi có thể nhầm,rất có thể như vậy!Nhưng thấy tốc độ di chuyển của tầu ngầm có 3 hải lý/1h,đây là tốc độ của người đi bộ lên nhờ TL xem lại thôi.
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: dongadoan trong 04 Tháng Tư, 2010, 06:18:22 pm Hì, em xem rồi thì mới post bài trả lời bác đấy! Bác nhìn lại trong bảng em post đi:
- Tốc độ tối đa khi lặn của Kilo: 17-25 hải lý/h với 877 và 20 hải lý/h với 636. - Tầm hoạt động là 400 hải lý nếu lặn ở tốc độ đều (hành trình) 3 hải lý/h. Em chả thấy có gì mâu thuẫn cả, bác thấy sai ở đâu thì chỉ hộ em cái! ;D Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: cutiua trong 04 Tháng Tư, 2010, 06:54:05 pm Hì, em xem rồi thì mới post bài trả lời bác đấy! Bác nhìn lại trong bảng em post đi: Tư lệnh viết quá chuẩn rồi ạ. Cái này em có thể lấy ví dụ như đối với tàu chiến đấu trên mặt nước người ta viết- Tốc độ tối đa khi lặn của Kilo: 17-25 hải lý/h với 877 và 20 hải lý/h với 636. - Tầm hoạt động là 400 hải lý nếu lặn ở tốc độ đều (hành trình) 3 hải lý/h. Em chả thấy có gì mâu thuẫn cả, bác thấy sai ở đâu thì chỉ hộ em cái! ;D -Tốc độc độ tối đa xx knot -Ở chế độ tiết kiệm xy knot. Mong chờ bài tiếp theo của Tư lệnh ;D Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: huyphongssi trong 04 Tháng Tư, 2010, 07:02:02 pm Hì, em xem rồi thì mới post bài trả lời bác đấy! Bác nhìn lại trong bảng em post đi: Tư lệnh viết quá chuẩn rồi ạ. Cái này em có thể lấy ví dụ như đối với tàu chiến đấu trên mặt nước người ta viết- Tốc độ tối đa khi lặn của Kilo: 17-25 hải lý/h với 877 và 20 hải lý/h với 636. - Tầm hoạt động là 400 hải lý nếu lặn ở tốc độ đều (hành trình) 3 hải lý/h. Em chả thấy có gì mâu thuẫn cả, bác thấy sai ở đâu thì chỉ hộ em cái! ;D -Tốc độc độ tối đa xx knot/h -Ở chế độ tiết kiệm xy knot/h. Mong chờ bài tiếp theo của Tư lệnh ;D Đã dùng knot thì không tính knot/h nữa anh giai nhé ;D Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: longtrec trong 04 Tháng Tư, 2010, 08:32:28 pm Hì hì,TL đúng rồi! Nhờ tranh luận với TL mà tôi đi tìm được bao nhiêu tài liệu về đề án 877 và 636 này .
Xin góp 1 tấm ảnh về quang cảnh nhà máy đóng tầu ngầm ,gọi là chuộc lỗi. (http://i573.photobucket.com/albums/ss180/longtrec/12-8.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: cutiua trong 04 Tháng Tư, 2010, 09:49:47 pm Đã dùng knot thì không tính knot/h nữa anh giai nhé ;D
---------------- Em nhầm tí, đã sửa và xin lỗi bác ;D. Mong tư lệnh tiếp tục ạ! --------------------------------------------------------------------------------------------------------- Những bài viết không liên quan đến Chủ đề nên trao đổi qua PM bạn nhé! Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: kakashivn87 trong 04 Tháng Tư, 2010, 11:41:05 pm Các bác cho em hỏi thêm về cái động cơ Diezel - điện của nó được không ạ?
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: anhkhoayy trong 05 Tháng Tư, 2010, 02:19:31 am Tư lệnh cho em hỏi?
+ Chân vịt của tàu ngầm nếu xảy ra 1 trong các trường hợp sau thì tàu ngầm sẽ thế nào ạ? 1)Ví dụ như chân vịt có thể vướng vào vật hay đại loại gì gì đó làm tàu ko thể di chuyển thì trong trường hợp này thế nào ạ? Cử người nhái ra xử lý tình huống này? 2)Trường hợp khác chân vịt va chạm và ko thể hoạt động (có thể gãy rời?) thì tàu ngầm sẽ hoạt động thế nào? Nổi lên hay sao ạ? Em xin cảm ơn tư lệnh ạ ;D Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: napster90 trong 05 Tháng Tư, 2010, 07:41:40 am Hì, em xem rồi thì mới post bài trả lời bác đấy! Bác nhìn lại trong bảng em post đi: Thế lúc mà cần co giò chạy bật máy lên 20 knots thì chạy được bao xa hả bác Đoàn ? - Tốc độ tối đa khi lặn của Kilo: 17-25 hải lý/h với 877 và 20 hải lý/h với 636. - Tầm hoạt động là 400 hải lý nếu lặn ở tốc độ đều (hành trình) 3 hải lý/h. Em chả thấy có gì mâu thuẫn cả, bác thấy sai ở đâu thì chỉ hộ em cái! ;D Mà tầm hoạt động ở 400 hải lý với tốc độ hành trình 3 hải lý/h là tầm hoạt động mà sau khi chạy hết 400 hải lý thì tầu sẽ hết điện cho động cơ điện và phải nổi lên hoặc chạy bằng ống thông hơi dùng động cơ diesel đúng không hả bác :) Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Tư, 2010, 11:17:43 am Tàu ngầm Thiết kế 877 và 636 trang bị động cơ diezen không phụ thuộc vào không khí và có bình ắc quy nạp điện trong trạng thái lặn mà.
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: napster90 trong 05 Tháng Tư, 2010, 11:54:32 am Tàu ngầm Thiết kế 877 và 636 trang bị động cơ diezen không phụ thuộc vào không khí và có bình ắc quy nạp điện trong trạng thái lặn mà. em không hiểu lắm bác Daibangden ạ? Kilo 636 có tầm 6000-7500 dặm với ống thông khí (snorkel) với tốc độ 7 hải lý/giờ trong khi khi lặn hoàn toàn chỉ có tầm 400 dặm ở tốc độ 3 hải lý/giờ. Theo như bác nói thì 636 có trang bị động cơ diezen ko phụ thuộc không khí, vậy thì tại sao tầm lặn khi có ống thông khí và không có ống thông khí lại chênh nhau nhiều như thế ạ? Mà theo như em nhớ thì đến Lada 677 mới có AIP tức là hệ thống đẩy hoạt động không phụ thuộc vào không khí chứ ạ ??? Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: SukhoiSu-47Berkut trong 05 Tháng Tư, 2010, 12:15:39 pm Tàu ngầm Thiết kế 877 và 636 trang bị động cơ diezen không phụ thuộc vào không khí và có bình ắc quy nạp điện trong trạng thái lặn mà. em không hiểu lắm bác Daibangden ạ? Kilo 636 có tầm 6000-7500 dặm với ống thông khí (snorkel) với tốc độ 7 hải lý/giờ trong khi khi lặn hoàn toàn chỉ có tầm 400 dặm ở tốc độ 3 hải lý/giờ. Theo như bác nói thì 636 có trang bị động cơ diezen ko phụ thuộc không khí, vậy thì tại sao tầm lặn khi có ống thông khí và không có ống thông khí lại chênh nhau nhiều như thế ạ? Mà theo như em nhớ thì đến Lada 677 mới có AIP tức là hệ thống đẩy hoạt động không phụ thuộc vào không khí chứ ạ ??? Chính xác đấy. Lada mới được trang bị động cơ không phụ thuộc không khí. Còn vụ 400km, mình hiểu là nếu di chuyển với tốc độ 3knot thì di chuyển trong trạng thái lặn liên tục được 400km thì...hết pin, phải nổi để chạy máy nạp lại. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: Hannoi trong 05 Tháng Tư, 2010, 01:25:42 pm Đúng rồi, chỉ có Project 677 Лада (Lada) năm 2005 mới được trang bị thêm hai động cơ phụ không phụ thuộc không khí - Air-independent propulsion (AIP).
Động cơ không phụ thuộc không khí là loại động cơ hoạt động mà tầu ngầm không cần phải nổi lên dùng ống thông khí như các động cơ Diesel thông thường khác. Động cơ không phụ thuộc không khí thường chỉ đóng vai trò phụ trợ. Hầu hết các động cơ không phụ thuộc không khí chỉ sử dụng để chạy máy phát điện hoặc nạp điện vào ắc quy. Sử dụng nhằm cung cấp điện sinh hoạt cho tầu như quạt thông gió, đèn chiếu sáng, hệ thống sưởi ấm mặc dụ điện sinh hoạt tiêu thụ nhỏ hơn rất nhiều so với điện dùng để chạy chân vịt. Động cơ không phụ thuộc không khí không thể thay thế động cơ Diesel quy ước được (Tầu vẫn phải nổi lên khi chạy). Nó chỉ giúp làm tầu lặn lâu hơn thôi hoặc dùng trong tình huống khẩn cấp. Một tầu ngầm diesel quy ước thường có động cơ công suất tối đa 3 Mêga oát, và động cơ không phụ thuộc không khí chỉ cung cấp được khoảng 10% công suất nói trên. Tầu ngầm chạy bằng năng lượng nguyên tử có công suất lớn hơn nhiều, thường là trên 20 Mêga oát. Sở dĩ nước Nga không còn đề cao tầu ngầm chạy bằng động cơ diesel vì họ đã có thể chế tạo được động cơ nguyên tử cỡ nhỏ cho tầu ngầm. http://en.wikipedia.org/wiki/Air-independent_propulsion Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: OldBuff trong 05 Tháng Tư, 2010, 01:49:04 pm Tàu ngầm Thiết kế 877 và 636 trang bị động cơ diezen không phụ thuộc vào không khí và có bình ắc quy nạp điện trong trạng thái lặn mà. em không hiểu lắm bác Daibangden ạ? Kilo 636 có tầm 6000-7500 dặm với ống thông khí (snorkel) với tốc độ 7 hải lý/giờ trong khi khi lặn hoàn toàn chỉ có tầm 400 dặm ở tốc độ 3 hải lý/giờ. Theo như bác nói thì 636 có trang bị động cơ diezen ko phụ thuộc không khí, vậy thì tại sao tầm lặn khi có ống thông khí và không có ống thông khí lại chênh nhau nhiều như thế ạ? Mà theo như em nhớ thì đến Lada 677 mới có AIP tức là hệ thống đẩy hoạt động không phụ thuộc vào không khí chứ ạ ??? Chính xác đấy. Lada mới được trang bị động cơ không phụ thuộc không khí. Còn vụ 400km, mình hiểu là nếu di chuyển với tốc độ 3knot thì di chuyển trong trạng thái lặn liên tục được 400km thì...hết pin, phải nổi để chạy máy nạp lại. Theo Rubin thì Hệ thống động lực không lệ thuộc vào không khí/Воздухонезависимая энергетическая установка (ВЭУ = AIP) được thiết kế cho tàu ngầm thuộc Đề án Amur 1650/950 (bản xuất khẩu của Đề án 677 Lada nội địa), nhưng cũng có thể trang bị cho các tàu ngầm thế hệ trước thuộc Đề án 877/636. Hệ thống VEU của Rubin sử dụng công nghệ pin nhiên liệu màng điện phân polimer tạo nguồn trực tiếp quay động cơ chân vịt và/hoặc nạp pin, giúp tăng gần gấp đôi cự ly hành trình đi ngầm hoặc tăng đáng kể thời gian nằm phục ngầm dưới đáy biển của tàu ngầm. Thế hệ tàu ngầm thuộc Đề án 877/636 muốn lắp hệ thống VEU thì phải điều chỉnh kết cấu các khoang để tạo chỗ chứa pin nhiên liệu và các chất phản ứng. Hiện chưa rõ công nghệ lưu giữ chất phản ứng có nguy cơ cháy nổ cao (hidrô) của Rubin được thực hiện theo phương án nào. Rất có thể số tàu đang được ta đặt mua có lắp hệ thống VEU. Các đồng chí và các bạn lưu ý VEU/AIP không phải là loại động cơ diesel không phụ thuộc vào không khí, mà nó có cơ chế tạo nguồn như pin với sản phẩm phụ là điện, nhiệt và "phế phẩm" là nước tinh khiết. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: napster90 trong 05 Tháng Tư, 2010, 02:27:00 pm Theo Rubin thì Hệ thống động lực không lệ thuộc vào không khí/Воздухонезависимая энергетическая установка (ВЭУ = AIP) được thiết kế cho tàu ngầm thuộc Đề án Amur 1650/950 (bản xuất khẩu của Đề án 677 Lada nội địa), nhưng cũng có thể trang bị cho các tàu ngầm thế hệ trước thuộc Đề án 877/636. Hệ thống VEU của Rubin sử dụng công nghệ pin nhiên liệu màng điện phân polimer tạo nguồn trực tiếp quay động cơ chân vịt và/hoặc nạp pin, giúp tăng gần gấp đôi cự ly hành trình đi ngầm hoặc tăng đáng kể thời gian nằm phục ngầm dưới đáy biển của tàu ngầm. Thế hệ tàu ngầm thuộc Đề án 877/636 muốn lắp hệ thống VEU thì phải điều chỉnh kết cấu các khoang để tạo chỗ chứa pin nhiên liệu và các chất phản ứng. Hiện chưa rõ công nghệ lưu giữ chất phản ứng có nguy cơ cháy nổ cao (hidrô) của Rubin được thực hiện theo phương án nào. Rất có thể số tàu đang được ta đặt mua có lắp hệ thống VEU. Cảm ơn bác OldbuffCác đồng chí và các bạn lưu ý VEU/AIP không phải là loại động cơ diesel không phụ thuộc vào không khí, mà nó có cơ chế tạo nguồn như pin với sản phẩm phụ là điện, nhiệt và "phế phẩm" là nước tinh khiết. Bác cho em hỏi luôn, loại pin màng điện phân polimer này có giống với pin điện cực platin trên tầu vũ trụ để vừa sản xuất điện vừa sản xuất được nước cho nhà du hành sử dụng đúng không ạ :) Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: OldBuff trong 05 Tháng Tư, 2010, 02:33:48 pm Chính là nó. VEU sử dụng điện cực bạch kim để tách i-on thẩm thấu qua màng điện phân và electron qua đầu tạo dòng phát điện.
Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: baokhanhnbk trong 06 Tháng Tư, 2010, 01:14:09 am Trích dẫn Các đồng chí và các bạn lưu ý VEU/AIP không phải là loại động cơ diesel không phụ thuộc vào không khí, mà nó có cơ chế tạo nguồn như pin với sản phẩm phụ là điện, nhiệt và "phế phẩm" là nước tinh khiết. Em hơi chậm hiểu bác OldBuff có thể viết một bài riêng thật kỹ về vấn đề này được không? Em tin rằng không chỉ riêng em còn lơ mơ về vấn đề này. Cảm ơn bác! Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: OldBuff trong 06 Tháng Tư, 2010, 10:55:57 am Trích dẫn Các đồng chí và các bạn lưu ý VEU/AIP không phải là loại động cơ diesel không phụ thuộc vào không khí, mà nó có cơ chế tạo nguồn như pin với sản phẩm phụ là điện, nhiệt và "phế phẩm" là nước tinh khiết. Em hơi chậm hiểu bác OldBuff có thể viết một bài riêng thật kỹ về vấn đề này được không? Em tin rằng không chỉ riêng em còn lơ mơ về vấn đề này. Cảm ơn bác! Bác Đoành sẽ trình bày một cách cặn kẽ phần này sau ;) Các đồng chí và các bạn cứ kiên nhẫn đợi chút nhé! Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: Hannoi trong 08 Tháng Tư, 2010, 12:46:42 pm Tranh thủ dịch một phần trong bài viết Động cơ không phụ thuộc không khí (AIP), một đe doạ ngầm dưới biển.
http://www.navy.mil/navydata/cno/n87/usw/issue_13/propulsion.htm Bài viết điểm qua quá trình phát triển của AIP và những hướng phát triển của AIP hiện nay như sau: Mặc dù những cường quốc hải quân như Mỹ, Anh, Nga đang chuyển nhanh qua phát triển tầu ngầm hạt nhân vì họ có thể làm được thì các nước nhỏ khác vẫn phải phụ thuộc vào tầu ngầm Diesel- Điện, chủ yếu là để phòng thủ bờ biển. Rất nhiều hãng sản xuất đang tích hợp những thành tựu khoa học mới vào hướng này. Dẫn đầu là các công ty của Đức. Họ đang nghiên cứu phát triển AIP cho những động cơ công suất lớn hơn và hành trình lâu hơn. Hướng phát triển AIP hiện nay bao gồm: • Động cơ Điesel chu trình kín • Động cơ tua bin khí chu trình kín • Động cơ trục khửu chu trình kín • Động cơ Hydro (Fuel Cells) Động cơ Điesel chu trình kín (CCD) Đặc điểm của loại động cơ này là việc vẫn sử dụng động cơ Điesel thông thường. Khi tầu chạy nổi vẫn sử dụng ống thông khí. Khi tầu lặn xuống, động cơ sẽ chạy bằng một hỗn hợp khí nhân tạo bao gồm ôxy hoá lỏng trộn với hỗn hợp khí trơ (thường là Ácgông) sau đó sử dụng lại Ácgông từ nguồn khí thải tạo ra một chu trình kín. Phần khí thải khác bao gồm các bon níc, hyđrô, hơi nước, sẽ được làm lạnh, lọc, tách và trộn với nươc biển thải ra ngoài. CCD đang được phát triển ở Đức, Anh, Hà Lan và một vài nước khác. Tuy nhiên ngoài việc trưng bày một động cơ CCD 300 sức ngựa của hải quân Đức ex-U1 năm 1993 thì cho đến nay chưa có thêm một động cơ điesel chu trình kín nào khác được trình diễn nữa. Động cơ tuốc bin khí chu trình kín (MESMA): Động cơ này được phát triển và giới thiệu ở Pháp. Đây là động cơ tua bin khí quy ước chạy bằng ethanol (rượu) và ôxy nén với áp suất 60 at. Bản chất của MESMA là việc hoán cải động cơ tua bin khí hơi nước chu trình kín chạy bằng năng lượng nguyên tử của Pháp. Hiện nay ba (3) tầu ngầm Agosta 90B đang được làm cho hải quân Pakistan có công suất 200 kilôoát. Tầu có thể chạy ngầm 10 ngày với tốc độ 4 knots. Động cơ trục khửu chu trình kín Nguyên tắc hoạt động giống động cơ đốt ngoài của xe lửa trước kia, nay chuyển qua đốt bằng lò kín tạo hơi nước. Hải quân Thuỵ Điển đang phát triển và sử dụng động cơ này với công suất 75 kilôoát, lắp cho tầu ngầm 1500 tấn, chạy ngầm 14 ngày, tốc độ 5 knots. Động cơ hyđrô (Bên này tôi gọi Fuel Cells là động cơ Hydro) Là động cơ chạy bằng khí hyđrô nén vào anode và ôxy vào cathode tạo ra dòng điện với chất xúc tác là Platinum, kết quả của phản ứng là 2H2 + O2 => 2H2O. Hiện nay công ty Đức Siemens đã lắp 34 động cơ này tạo công suất 300 Kw cho tầu ngầm 1840 tấn loại U-212. Tầu có thể chạy 14 ngày với tốc độ 8 knots. Các nước khác như Nga và Canada cũng đang ráo riết phát triển loại động cơ này. (http://www.navy.mil/navydata/cno/n87/usw/issue_13/USW%20fall%2002/fuel-cell.gif) Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: baokhanhnbk trong 09 Tháng Tư, 2010, 01:14:07 am Mình thì đọc bài về công nghệ AIP trên kỹ thuật-công nghệ quân sự nhưng thực sự thì bài viết chung chung quá thành ra vẫn còn lơ mơ
http://ktcnqs.blogspot.com/2009/05/aip.html Một trong những câu hỏi quan trọng nhất liên quan đến hợp đồng 1.8 tỷ dollar mua 6 tàu ngầm Kilo của hải quân VN là liệu chúng có được trang bị công nghệ AIP? Với mức giá 300 triệu dollar, và việc không có bất cứ thông tin nào xác nhận, có thể đoán rằng số tàu ngầm này sẽ không có loại công nghệ rất lợi hại này. Vậy thì AIP là gì? Nhược điểm chính của các tàu ngầm diesel điện là chúng phải thường xuyên trồi lên để chạy động cơ diesel và sạc lại điện. Thật sự thì chúng không cần thiết phải nổi lên hoàn toàn mà chỉ cần sử dụng các ống thông hơi để dẫn không khí vào chạy động cơ và thoát khí thải. Tuy vậy, việc nổi lên gần sát mặt nước cũng khiến chúng dễ bị phát hiện và khó trốn thoát hơn. Ngoài ra, radar từ máy bay và tàu chiến có thể phát hiện được các ống thông hơi trồi lên khỏi mặt nước, chưa kể là lượng nhiệt từ số khí thải thoát ra cũng có thể bị các cảm biến nhiệt phát hiện. Hơn nữa, khi phải sử dụng động cơ đốt trong, ưu thế về sự yên lặng của tàu ngầm cũng mất đi. AIP là công nghệ sức đẩy độc lập, không phụ thuộc vào nguồn khí từ bên ngoài. Công nghệ này không đòi hỏi tàu phải trồi lên và có thể lặn liên tục trong hàng tuần liền, trong khi những tàu chỉ chạy bằng diesl-điện chỉ có thể lặn trong 3-5 ngày (sử dụng pin) ở mức tốc độ thấp. Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, một kỹ sư Đức là Walter phát minh ra một công nghệ động cơ tàu ngầm sử dụng ôxy già (H2O2). Theo đó, oxy già được trữ trong tàu ngầm, và bằng một phản ứng hóa học, sẽ bị phân giải, tạo ra oxy nguyên chất và rất nhiều nhiệt. Diesel sẽ được bơm vào buồng phản ứng, trộn lẫn với oxy và dưới tác động của nhiệt sinh ra từ phản ứng tạo ra phản ứng nổ và làm chạy một turbin. Tuy vậy, công nghệ này có độ an toàn thấp và hầu như chỉ xuất hiện trong các mẫu thử nghiệm. Động cơ diesel chu trình kín (CCD) cũng là một hướng của AIP. Nó gồm 1 động cơ diesel thông thường. Nhưng khi tàu đang lặn, động cơ này chạy bằng một hỗn hợp khí từ oxy tinh khiết và một khí trơ, thường là argon. Khí thải, chủ yếu là CO2, nito, hơi nước, được làm lạnh, lọc và phân tách. Khí trơ được tái sử dụng, số còn lại trộn với nước và thải ra ngoài tàu. Nguồn oxy thường lấy tứ oxy lỏng trữ trữ trong tàu. Tuy rằng có nguyên lý khá đơn giản, công nghệ này cũng ít được sử dụng trong thực tế. Turbin khí chu trình kín. Trong công nghệ này, turbin được chạy bằng luồng hơi từ quá trình cháy nổ giữa ethanol và oxy ở áp suất 60 atmosphere. Bản thân áp suất của quá trình này là đủ để đẩy số khí thải ra ngoài tàu ở bất cứ độ sâu nào mà không cần bơm cao áp trợ lực. Công nghệ này tuy cung cấp công suất lớn, nhưng lại kém hiệu quả nhất, sử dụng rất nhiều oxy. Hiện chỉ có tàu ngầm Agosta của Pháp là sử dụng công nghệ này. Chu trình Stirling có lẽ là công nghệ AIP thành công nhất cho tới nay. Theo đó, quá trình đốt cháy, có thể là giữa diesel và oxy tinh khiết, sẽ sinh ra nhiệt. Nhiệt này được chuyển tới một chu trình kín chứa một khí trơ. Khí này sẽ đi qua một quá trình trao đổi nhiệt khép kín, từ việc giãn nở và chuyển tới khoang làm lạnh để sau đó được nén trở lại. Quá trình chuyển đổi giữa nhiệt và thể tích này sẽ biến thành năng lượng cơ học làm chạy động cơ. Lợi thế của nó là sự tách bạch giữa 2 quá trình: tạo nhiệt và biến đổi nhiệt thành cơ. Tuy nhiên, công nghệ AIP nhiều hứa hẹn nhất là công nghệ tế bào pin nhiên liệu. Nó được sử dụng rất thành công trong công nghệ không gian, và đang được ngành công nghiệp xe hơi chú ý phát triển. Điện được tạo ra từ phản ứng hóa học giữa oxy và hydro. Và nó chỉ thải ra nước tinh khiết. Nó là ngược của quá trình điện phân nước để tạo ra oxy và hydro. Lợi thế của nó là tạo ra điện năng từ phản ứng hóa học, không cần sử dụng bất cứ loại thiết bị cơ khí nào. Điện từ đó mới làm chạy động cơ điện. Do đó, độ ồn là cực thấp. Khó khăn lớn nhất là việc mang theo nhiêu liệu cho quá trình phản ứng. Việc trữ oxy lỏng thì khá đơn giản, nhưng hydro lỏng lại cực kỳ nguy hiểm. Một giải pháp là lấy hydro từ các hợp chất hydrua với các kim loại, hoặc từ các hydrocacbon như methanol, diesel, dầu hỏa… Trong tương lai gần, AIP vẫn chưa thể trở thành nguồn sức đẩy chính cho tàu ngầm, vì mức công suất quá thấp, chỉ khoảng 400 mã lực, trong khi nguồn diesel-điện cho khoảng 3000 mã lực, còn tàu ngầm hạt nhân có thể tới 20,000. Tuy vậy, nó vẫn giúp tăng tính hiệu quả của các tàu ngầm phi hạt nhân lên rất nhiều, đặc biệt là khả năng nằm ẩn mình trong một thời gian rất dài. Ngoài ra, trong tương lai xa, AIP hoàn toàn có thể trở thành sức đẩy chính và duy nhất cho tàu ngầm. Read more: Ky thuat - Cong nghe Quan su: AIP http://ktcnqs.blogspot.com/2009/05/aip.html#ixzz0kX9NBF3v Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: baokhanhnbk trong 09 Tháng Tư, 2010, 01:30:12 am Ở một bài khác mình đọc thì thấy thế này
Động cơ không dùng không khí (AIP – Air Independent Propulsion) Tàu ngầm ngày nay để tránh bị phát hiện và thực hiện các cuộc lặng dài ngày cần phải sử dụng các loại động cơ không cần không khí (AIP – Air Independent Propulsion) để lặn sâu và lâu hơn. Một trong những loại động cơ đó là động cơ sữ dụng pin nhiên liệu. (http://www.hiendaihoa.com/uploadimages/tindien/fuelcell020607.jpg) (http://www.fuelcells.org/fuelcells_files/how_diagram.jpg) Pin Nhiên Liệu (Fuel cells) Pin nhiên liệu hoạt động bằng phản ứng kết hợp oxy và hydro từ đó nước, điện và nhiệt. Loại pin nhiên liệu này có rất nhiều tiềm năng cho các ứng dụng trong lĩnh vực không gian cũng như các ngành công nghiệp tự động hoá khác. Có nhiều dạng pin năng lượng, nhưng loại thường được ứng dụng cho tàu ngầm được gọi là PEM (Polymer Electrolyte Membrane) - loại này hiện nay gây đươc nhiều sự chú ý do hoạt động ở nhiệt độ thấp (80oC) và ít hao nhiệt lượng. Trong thiết bị PEM, khí hydro áp lực cao được đưa vào anode của pin, nơi thanh platinum làm xúc tác sẽ phân ly mỗi cặp phân tử hydro thành 4 ion H+ and 4 điện tử. Các điện tử rời anode và một dòng điện được tạo ra. Đồng thời, tại cathode, mỗi phân tử oxy bị tách ra thành các nguyên tử. Các ion H+ từ anode sẽ di chuyển sang phía cathode và ở đó ion H+ kết hợp với oxy tạo thành nước. Tổng quát quá trình này được mô tả bằng công thức 2H2 + O2 => 2H2O, phần thải ra của pin nhiên liệu chỉ là nước. Mỗi pin nhiên liệu như trên tạo ra được 1 dòng điện 0.7volts DC, một số lượng lớn các pin nhiên liệu kết nối song song sẽ cho ra một dòng điện lớn hữu dụng. Hiện nay pin nhiên liệu đã chế tạo và sữ dụng thành công trong các chương trình klhông gian của Mỹ và đang được nghiên cứu tăng hiệu điện thế để trớ thành một trong những nguồn năng lượng chính của tàu ngầm. Thách thức lớn nhất của pin nhiên liệu là việc dự trữ các thành phần hydro và oxy - nhất là hydro vì dự trữ hydro ở dạng lỏng, áp suất cao rất nguy hiểm. Một trong những giải pháp là trữ hydro dưới dạng hydride kim loại ở áp suất thấp, nhiệt độ bằng nhiệt độ nước biển xung quanh và khi cần sữ dụng hydro, ta có thể trích ly hydro từ hỗn hợp bằng cách thay đổi nhiệt độ và áp suất. Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: twosoul trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 01:29:27 pm Đã lâu không thấy anh donga post bài mới,nhân tiện e tìm được chút thông tin về tàu ngầm,mọi người đọc tạm trong khi chờ anh donga. ;D
Tìm hiểu công nghệ AIP Khái niệm về AIP hình thành rất sớm từ thế kỷ 19, tuy nhiên rào cản kỹ thuật khiến công nghệ phát triển chậm chạp. Lịch sử hình thành AIP Air Independent Propulsion (động cơ đẩy sử dụng không khí độc lập), được đề xuất bởi kỹ sư nổi tiếng người Tây Ban Nha, ông Narcís Monturiol i Estarriol. Năm 1867, ông đã phát minh thành công một động cơ đẩy không khí độc lập dựa trên một phản ứng hóa học. Nhờ vậy, Estarriol được mệnh danh là cha đẻ của công nghệ AIP. Dù khái niệm về AIP được người Tây Ban Nha đưa ra đầu tiên nhưng Nga mới là nước áp dụng công nghệ này vào tàu ngầm. Năm 1908, Hải quân Đế quốc Nga phát triển thành công tàu ngầm chạy bằng động cơ xăng sử dụng khí nén. Oxy cho động cơ được cung cấp qua 45 chai khí nén, có thể tích tương đương 9,9 m3. Hệ thống khí nén này có thể giúp tàu hoạt động liên tục dưới nước với quãng đường 52km. Đến năm 1930, tiến sĩ Helmuth Walter, một kỹ sư xuất sắc của Đức đã phát triển một động cơ đẩy AIP mới sử dụng chất hydrogen peroxide (H2O2) tinh khiết làm chất oxy hóa để tạo không khí cho động cơ. Trong hệ thống mới của Walter, hydrogen peroxide được phân hủy bằng cách sử dụng chất xúc tác có tên là permanganat. Phản ứng hóa học này tạo ra hơi nước ở nhiệt độ cao và oxy tự do. Buồng phản ứng được bơm thêm nhiên liệu diesel, đốt cháy với oxy tạo ra một hỗn hợp hơi nước và khí nóng làm quay một tuốc bin với tốc độ cao. Khí thải và hơi nước được ngưng tụ lại trước khi được xả ra biển. Thiết kế của Walter nhằm tạo ra một động cơ đẩy tốc độ cao dưới nước chứ không phải là một động cơ độ bền cao. Mẫu tàu ngầm thử nghiệm V80 đạt tốc độ lên đến 28,1 hải lý/giờ ở trạng thái ngập nước, trong khi các tàu ngầm khác chỉ có tốc độ 10 hải lý/h khi lặn. (http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111129/qp_viet_Type-XVIIB-sub.jpg) Type-XVIIB tàu ngầm AIP đầu tiên của Đức. Dựa trên mẫu thử nghiệm V80, Đức đã phát triển thành công tàu ngầm lớp Type XVIIB, được trang bị hai động cơ tuốc bin công suất 2.500 mã lực. Tàu ngầm này có thể đạt tốc độ tới 20,25 hải lý/giờ. Tuy nhiên, nền công nghiệp của Đức thời đó không thể đảm bảo được số lượng hydrogen peroxide cần thiết. Một vấn đề nữa là hydrogen peroxide không ổn định trong môi trường khép kín, hệ thống đẩy này tồn tại quá nhiều vấn đề về kỹ thuật và an toàn, do đó, tàu ngầm Type XVIIB không bao giờ được tham chiến. Sau này, Liên Xô phát triển công nghệ AIP với khái niệm động cơ diesel chu kỳ khép kín, mô hình này tỏ ra khá hiệu quả bởi hệ thống đẩy sử dụng oxy lỏng và nhiên liệu diesel. Thiết kế tiêu biểu là tàu ngầm Project 615 (NATO định danh là lớp Quebec), được trang bị 2 động cơ diesel thông thường và một động cơ diesel chu kỳ khép kín khi ngập nước. (http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111129/qp_viet_quebec-sub.jpg) Tàu ngầm lớp Project 615 là tàu ngầm AIP đầu tiên của Hải quân Liên Xô. Đã có tới 30 chiếc tàu ngầm lớp Quebec được chế tạo trong giai đoạn 1953-1957, tuy nhiên loại tàu ngầm này không phù hợp để tham chiến. Hơn nữa nó không thực sự an toàn, hệ thống nhiên liệu oxy lỏng có thể phát nổ bất cứ lúc nào, các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô thường gọi những chiếc tàu ngầm này là “cái bật lửa hút thuốc”. Dù có khả năng hoạt động lâu hơn ở chế độ ngập nước, song vì lý do an toàn, những chiếc tàu ngầm lớp Quebec bị loại khỏi biên chế vào năm 1970. Năm 1952, Liên Xô đã cố gắng phát triểm tàu ngầm AIP dựa trên khái niệm của tiến sĩ Helmuth Walter và chế tạo tàu ngầm Project 617 đi vào phục vụ năm 1958, tuy nhiên, một vụ nổ lớn đã chấm dứt chương trình vào năm 1959. Từ đó đến nay, Liên Xô và Nga hiện nay tập trung vào phát triển các tàu ngầm động lực hạt nhân và chỉ phát triển các động cơ AIP ở quy mô nghiên cứu. Với Mỹ và Anh, sau chiến tranh thế giới thứ 2, hai nước cũng đã thử nghiệm phát triển các động cơ AIP theo khái niệm của tiến sĩ Walter, trong đó có mẫu thử nghiệm X1 của Mỹ. Tuy nhiên, vào năm 1950, Mỹ ngưng toàn bộ sự phát triển các động cơ AIP bởi hệ thống động lực hạt nhân đã được phát triển hoàn thiện. Hơn nữa, quan điểm tác chiến của Hải quân Mỹ là chỉ tập trung phát triển lực lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược và coi nhẹ tàu ngầm thông thường. Tại Anh, Hải quân Hoàng gia cũng đã tiến hành thử nghiệm một động cơ đẩy AIP trên tàu ngầm HMS Excalibur nhằm kiểm tra tính khả thi của dự án. Cuối cùng, Anh cũng từ bỏ chương trình phát triển công nghệ AIP để tập trung phát triển tàu ngầm hạt nhân chiến lược. Tựu chung lại, động cơ AIP mang lại khả năng hoạt động dưới nước lâu hơn, giảm được tiếng ồn khi hoạt động, tuy nhiên, tồn tại quá nhiều vấn đề về kỹ thuật và an toàn nên loại động cơ này không nhận được nhiều sự quan tâm. Nguyên tắc hoạt động Có khá nhiều khái niệm quanh công nghệ AIP nhưng có cùng một nguyên tắc là giúp động cơ tàu ngầm hoạt động dưới nước mà không cần đến ống thông hơi. Trong khi Đức phát triển khái niệm sử dụng hydrogen peroxide làm chất xúc tác cho phản ứng hóa học để tạo ra hơi nước và khí nóng làm quay tuabin thì Liên Xô phát triển động cơ diesel chu kỳ khép kín với oxy lỏng và nhiên liệu diesel. Pháp phát triển động cơ tuabin chu kỳ đóng MESMA, với quá trình đốt cháy ethanol và oxy, quá trình đốt cháy này tạo ra hơi nước làm quay tuabin. Trong đó, ethanol và oxy được lưu trữ ở áp lực gấp 60 lần áp lực khí quyển, áp lực này cho phép khí thải carbon dioxide thải xuống biển ở độ sâu bất kỳ mà không cần đến máy nén khí. Công nghệ này cho phép tàu ngầm hoạt động liên tục 21 ngày dưới nước, tùy thuộc vào tốc độ, áp suất nước biển… (http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111129/qp_viet_-AIPStirling-sub-di.jpg) Mô hình hoạt động của động cơ chu trình Stirling. Thụy Điển phát triển khái niệm động cơ chu trình Stirling, sử dụng oxy lỏng và nhiên liệu diesel để làm quay máy phát điện công suất 75kW sử dụng cho động cơ đẩy hoặc sạc pin cho tàu. Động cơ chu trình Stirling có khả năng hoạt động liên tục 14 ngày dưới nước với một tàu ngầm tải trọng 1.500 tấn ở tốc độ 5 hải lý/giờ. Hãng Siemens của Đức phát triển khái niệm tế bào nhiên liệu sử dụng cho các loại tàu ngầm Type-209/214. Theo đó, các tế bào này chuyển đổi hóa năng thành điện năng thông qua phản ứng hóa học với oxy và các khí hydrocarbon. Trong đó, hydrogen được sử dụng nhiều nhất, kế tới là ethanol hoặc methanol . Điện năng tạo ra từ phản ứng hóa học này sẽ được sử dụng cho động cơ của tàu hoặc sạc pin, ưu điểm của tế bào nhiên liệu là nhiệt độ hoạt động khá thấp khoảng 80 độ C, nhiệt thải tương đối ít. Đức cũng phát triển một khái niệm động cơ diesel chu kỳ khép kín CCD sử dụng không khí nhân tạo, gồm oxy lỏng, nhiên liệu diesel và khí argon. Khí oxy và argon kết hợp với nhau tạo ra khí nhân tạo cho động cơ diesel. Trong đó, argon là khí trơ, có khả năng tái sử dụng liên tục giúp tàu ngầm hoạt động lâu hơn. Những triển vọng trong tương lai Các loại tàu ngầm hạt nhân chiến lược không được phép xuất khẩu, trong khi đó thị trường tàu ngầm thông thường đang trở nên đắt hàng. Bên cạnh đó, các phương tiện trinh sát và chống ngầm hiện đại ngày càng trở nên tinh vi hơn, khiến tàu ngầm điện - diesel đang dần mất đi lợi thế. Do đó, hải quân các nước trên thế giới đòi hỏi phải có tàu ngầm, hoạt động êm và thời gian hoạt động dưới nước lâu hơn. Với những yêu cầu như vậy, ngoài tàu ngầm động lực hạt nhân chỉ có động cơ AIP mới có thể đáp ứng được. (http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111129/qp_viet_type-214.jpg) Trong các khái niệm phát triển của công nghệ AIP, giải pháp sử dụng tế bào nhiên liệu trên cơ sở ứng dụng công nghệ hydrogen được xem là khả thi và an toàn nhất. Trong ảnh, tàu ngầm Type-214 của Đức, tàu ngầm có hệ thống động cơ AIP hiện đại nhất thế giới Theo dự báo, thị trường tàu ngầm trong 10 năm tới sẽ đạt con số từ 100-150 chiếc, đủ hấp dẫn với các hãng chế tạo tàu ngầm thông thường trên thế giới. Một số chuyên gia quân sự nhận định rằng, Hải quân Mỹ có thể sẽ phải xem xét lại kế hoạch phát triển các tàu ngầm của mình, việc thiếu các tàu ngầm AIP là bất lợi chiến lược của Mỹ, nhất là ở các khu vực ven bờ. Các loại tàu ngầm đang được trang bị động cơ AIP trên thế giới gồm có: Tàu ngầm lớp Scorpene của Pháp, Type-209/212/214 của Đức, tàu ngầm lớp Lada, Amur của Nga, tàu ngầm lớp Asashio, Soryu của Nhật Bản, tàu ngầm lớp Gotland, Södermanland, Archer của Thụy Điển, tàu ngầm S-80 của Tây Ban Nha, tàu ngầm lớp Type-041 lớp Nguyên (Yuan) của Trung Quốc. ++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++ Nguồn:http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tim-hieu-cong-nghe-AIP/201111/180844.datviet (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tim-hieu-cong-nghe-AIP/201111/180844.datviet) Tiêu đề: Re: Tàu ngầm lớp Kilo - Project 877, 636. Gửi bởi: twosoul trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 01:50:52 pm Triển vọng tàu ngầm mini của Nga
Sự thiếu vắng của các tàu ngầm mini tàu ngầm mini trong biên chế Hải quân Nga gây tổn hại cho sự hợp tác kỹ thuật quân sự của Nga với các nước khác. Trả lời phỏng vấn hãng RIA Novosti, cựu Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tham mưu Hải quân Nga (1993-1999), Phó Đô đốc Viktor Patrushev cho rằng, các tàu ngầm diesel-điện cỡ nhỏ (tàu ngầm mini) là thích hợp nhất để bảo vệ lợi ích của Nga tại biển Baltic, biển Đen và biển Caspie. "Các đội tàu ngầm này có thể hoạt động cả ở khu vực quần đảo Kurils và bất kỳ khu vực nào cần có các phương tiện nhỏ mà hiệu quả để bảo đảm an ninh trong giai đoạn có nguy cơ”, ông Patrushev nhận định. Vị đô đốc mà với cương vị của mình trước đây hiểu rõ tình hình các vùng biển bao quanh nước Nga nói đến những loại tàu ngầm nào và vì sao lại ông lại bênh vực chúng? (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/piranhaT-1.jpg) Tàu ngầm mini Piranha-T có khả năng tấn công mục tiêu ở độ sâu nhỏ Cuối thập niên 198, tại hãng đóng tàu Admiralteiskye verfi, đã đóng cho Hải quân Liên Xô 2 tàu ngầm mini đặc nhiệm Projekt 865 Piranha do Viện SPMBM Malakhit thiết kế. Việc hoàn thiện các tàu ngầm này ở một đất nước đang trên đường sụp đổ là một việc phiền toái. Song kết quả lại cho ra những tàu nhỏ có lượng giãn nước chạy ngầm 319 tấn và thủy thủ đoàn 3 người với tính năng rất không tồi. Chúng có các trường vật lý ở mức thấp, khả năng cơ động tốt và độ sâu lặn khá lớn (200 m), đơn giản trong điều khiển. Các tàu này được trang bị 2 ngư lôi và thủy lôi trong container, chở được 6 người nhái. Những tàu ngầm này đã lưu lại ký ức hàng triệu người Nga nhờ bộ phim của Aleksandr Rogozhkin "Những đặc điểm của việc câu cá nước nhà”, trong đó các nhân vật đã dùng tàu ngầm Piranha "sơ tán” từ bờ vịnh Phần Lan những thùng rượu vodka bị bỏ quên ở đó. Đáng tiếc là vai "buôn lậu” lại là vai cuối cùng trong số phận của tàu ngầm mini Projekt 865. Năm 1999, cả 2 tàu ngầm này bị đưa đi cắt làm sắt vụn. Tuy vậy, các công trình sư của SPMBM Malakhit không từ bỏ chủ đề tàu ngầm mini. Họ đã đưa ra một loạt thiết kế tàu ngầm mini có lượng giãn nước từ 130 đến 1.000 tấn. Với kích thước nhỏ, các tàu ngầm này là phương tiện mang các loại vũ khí khác nhau, gồm các ngư lôi và thủy lôi, còn các tàu lớn hơn P-550, P-650E và P-750 có thể bố trí cả các tên lửa hành trình Kalibr-PL (Club-S) hay BrahMos loại tàu ngầm-đối-hạm và tàu ngầm-đối-đất. Nghĩa là trong những hoàn cảnh nhất định, chúng có thể thực hiện thậm chí các nhiệm vụ chiến lược. Trang thiết bị điện tử hiện đại cho phép chúng kịp thời phát hiện mục tiêu và tấn công phủ đầu đối phương. Mức ồn thấp và mức điện-từ thấp giúp tàu có độ bộc lộ cực nhỏ. (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/piranha865-1.jpg) Tàu ngầm mini Projekt 865 Piranha Tàu có khả năng cơ động cao nhờ sử dụng loại chân vịt ít ồn trong chụp quay và tổ hợp dẫn tiến dự phòng gồm 2 cơ cấu lái ngoài mạn. Nhờ đó, các tàu này có khả năng xoay tròn tại chỗ thực sự. Một đặc điểm cực kỳ quan trọng khác của các tàu ngầm mini là mức độ tự động hóa cao các quá trình điều khiển chiến đấu và khai thác tàu. Đó chẳng phải là ngẫu nhiên vì Malakhit là người dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực tự động hóa tổ hợp cho tàu ngầm. Tàu ngầm mini có thủy thủ đoàn chỉ từ 4-9 người và họ được tạo ra điều kiện sinh hoạt khá tiện nghi trên tàu. Ngoài đội thủy thủ biên chế, tàu còn chở được đến 6 người nhái chiến đấu trang bị đầy đủ. Tàu ngầm mini họ này có thể được trang bị các module lắp động cơ phụ trợ không cần không khí, chúng giúp tăng đáng kể cự ly hành trình chạy ngầm. Đây là vấn đề cần được đặc biệt nhấn mạnh. Cuối thập niên 1980 Viện thiết kế nồi hơi đặc biệt (SKBK) ở St. Petersburg đã chế tạo một loại động cơ không cần không khí Kristall-20 công suất 130 kW cho chính tàu ngầm minin Piranha. Động cơ không cần không khí này với các máy phát điện-hóa sử dụng hydro và oxy để tạo ra năng lượng. Quá trình hoạt động của động cơ thoạt nhìn thì đơn giản. Khí hydro tương tác với oxy thông qua các màng đặc biệt làm chức năng chất điện phân, tạo ra dòng điện và nước cất. Việc biến hóa năng thành điện năng diễn ra không có sự đốt cháy, không có sự tác động cơ học nào, điều này đặc biệt quan trọng đối với tàu ngầm, không có tiếng ồn. Hiệu suất của động cơ không cần không khí này với các máy phát điện-hóa đạt đến 70-75%. Năm 1991, sau khi thử nghiệm toàn diện, động cơ Kristall-20 đã được bên đặt hàng là Bộ Quốc phòng Liên Xô tiếp nhận. Nhưng Liên Xô sụp đổ ngay sau đó đã khiến cả loại động cơ tiên tiến cũng như các tàu ngầm trang bị động cơ này trở nên vô dụng. (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/p550-1.jpg) (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/p550-2.jpg) Tàu ngầm mini P-550 (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/p650e-1.jpg) Bằng cách ghép thêm module động cơ không cần không khí, tàu ngầm mini P-550 biến thành tàu ngầm mini P-650E Ngoài ra, theo tính toán của các chuyên gia Viện TsNII mang tên A.N Krylov, khả năng hoạt động ngầm dưới nước độc lập của tàu ngầm trang bị các máy phát điện-hóa cao hơn 450% so với các tàu ngầm diesel-điện thông thường. Còn ở vùng biển gàn, xét về tiêu chí "chi phí-hiệu quả” thì các tàu ngầm có động cơ không cần không khí có ưu thế hơn cả các tàu ngầm nguyên tử. Yếu tố cuối cùng này có một ý nghĩa nguyên tắc, bởi lẽ các khái niệm hải quân hiện đại trù định việc triển khai các tàu ngầm chủ yếu không phải trên các tuyến giao thông đại dương mà ở gần bờ biển của mình hoặc của nước khác. Không thể nói Nga bỏ quên động cơ không cần không khí. SKBK đã bỏ ra nhiều công sức và tiền bạc để phát triển động cơ không cần không khí thế hệ 2 Kristall-27 dùng cho tàu ngầm Projekt 677 Lada và biến thể xuất bản của nó là Amur. Các chuyên gia SKBK đã tìm ra một phương pháp độc đáo để cung cấp hydro cho tàu ngầm. Loại khí này được cất trữ không phải trong bình và không phải ở dạng hóa lỏng mà ở trong một hợp chất giữa các kim loại (hợp kim của kim loại có hàm lượng hydro cao), nên cho phép nâng an toàn sử dụng lên rất cao. Nhưng do không có kinh phí nên đã không thể hoàn thiện tiếp động cơ này. (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/p750-1.jpg) Tàu ngầm mini P-750 (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/p750-2.jpg) Trên tàu ngầm mini P-750 có các giếng phóng chứa tên lửa hành trình Năm 1998, Viện thiết kế hải quân TsKB MT Rubin cùng với tập đoàn tên lửa vũ trụ Energya đã bắt tay vào phát triển động cơ không cần không khí với các máy phát điện-hóa. Kết quả là ra đời model động cơ REU-99 mà họ dự định lắp vào khoang đặc biệt của tàu ngầm Lada hay Amur và bảo đảm cho tàu lặn ngầm liên tục đến 20 ngày đêm. Động cơ hứa hẹn đơn giản và kinh tế trong sử dụng. Nhưng có một yếu tố gây cản trở, đó là việc cất trữ các thành phần nhiên liệu kiểu hỗn hợp lạnh - oxy và hydro được để trong các bình ở trong cùng một khoang. Sau thảm họa của tàu ngầm nguyên tử Kursk do nổ nhiên liệu lỏng rò rỉ từ một quả ngư lôi hỏng, sự hào hứng đối với động cơ REU-99 giảm mạnh. Và dự án này thực tế đã bị đóng lại. Còn toàn bộ hướng nghiên cứu động cơ không cần không khí đã được giao cho Viện Nghiên cứu trung ương kỹ thuật điện và công nghệ tàu thủy, nơi mà do không có kinh phí nên các nghiên cứu động cơ không cần không khí chủ yếu mang tính lý thuyết. Trong khi đó, cả thế giới văn minh đã tiến rất xa về phía trước. Các tàu ngầm trang bị động cơ không cần không khí đang được đóng hàng loạt ở Đức, Pháp, Thụy Điển, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cả người Mỹ cũng đang để mắt đến chúng nên thường xuyên mới các tàu ngầm lắp động cơ không cần không khí của các hạm đội nước ngoài đến để "làm quen” hay tham gia diễn tập. Và để ứng dụng động cơ không cần không khí, họ sẽ không mất nhiều thời gian. Đơn giản là họ sẽ mua các công nghệ cần thiết, còn Nga thì sẽ khó có người bán các công nghệ ấy cho. Việc tái lập tập thể công trình sư và nhà sản xuất làm việc trong lĩnh vực động cơ không cần không khí là một vấn đề có tầm quan trọng nhà nước lớn. Việc phát triển một loại động cơ không cần không khí mới dựa trên các mẫu động cơ không cần không khí Kristall-20 và Kristall-27 là có thể thực hiện. Còn việc lắp các động cơ đó ở giai đoạn đầu cho các tàu ngầm mini hiển nhiên sẽ là cái mốc nổi bật trong sự phát triển của ngành đóng tàu ngầm Nga. Trở lại với tàu ngầm mini. "Môi trường sống” chủ yếu của các tàu này là các vùng biển ven bờ, vùng nước nông và vùng biển có đảo. Nhưng chúng là những thợ lặn không phải tồi. Độ sâu lặn của các tàu này dao động từ 200-300 m. Cự ly hành trình từ 2.000-3.000 hải lý, thời gian hoạt động độc lập 20-30 ngày đêm. Ví dụ, xin nêu tính năng kỹ-chiến thuật của loại lớn nhất của họ tàu ngầm mini Nga là P-750. Lượng giãn nước bình thường 960 tấn (1.060 tấn khi được lắp động cơ không cần không khí), chiều dài 66,8 m (70,4 m với AIP), đường kính thân 6,4 m, tốc độ chạy ngầm tối đa 17 hải lý/h, cự ly hành trình 3.000 hải lý, cự ly chạy ngầm liên tục 280 hải lý (1.200 hải lý với AIP), độ sâu lặn 300 m, thời gian hoạt động độc lập 30 ngày đêm, thủy thủ đoàn 9 người + 6 người nhái chiến đấu. Đặc biệt đáng chú ý là thành phần vũ khí trên tàu. P-750 được trang bị 4 ống phóng lôi 533 mm, có thể phóng cả ngư lôi lẫn tên lửa hành trình. Việc nạp đạn lại cho các ống phóng lôi không tiến hành trên biển. Song chúng lại thường xuyên sẵn sàng cho sử dụng tức thì để bắn từng quả hay bắn loạt. Tàu ngầm mini này còn có 8 ống phóng lôi 400 mm để phóng ngư lôi chống ngầm. P-750 có khả năng mang theo đến 24 thủy lôi đáy để trong các cơ cấu rải lôi ngoài mạn. Cuối cùng, trên tàu ngầm này có thể bố trí đến 4 bệ phóng thẳng đứng tên lửa hành trình, kể cả tên lửa 3М-14E của hệ thống Club-S dùng để tấn công các mục tiêu bờ ở cự ly đến 300 km. Tức là các tàu ngầm này có thể sử dụng không chỉ để ngăn chặn các cuộc tấn công từ biển mà bản thân chúng còn có thể đe dọa lãnh thổ đối phương. Nhìn chung, kho vũ khí của P-750 còn mạnh hơn trang bị vũ khí của nhiều loại tàu ngầm lớn hơn. Vì thế, liệt các tàu ngầm này vào phân nhóm tàu ngầm mini xem ra hơi gượng. Bởi vì, tàu ngầm hạng trung lớp Shchuka series III thời Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (Thế chiến II) chỉ có lượng giãn nước khi chạy ngầm là 705 tấn, độ sâu lặn tối đa 90 m, tốc độ chạy ngầm 2,8 hải lý/h, còn vũ khí chỉ có 10 ngư lôi và 1 khẩu pháo 45 mm. "Các tàu ngầm này (tức tàu ngầm mini) có thể trong vòng 2-3 năm tăng cường cho biên chế chiến đấu của các hạm đội Baltic, biển Đen, Caspie, 4-6 tàu ngầm như vậy có thể khống chế hoàn toàn các vùng biển kín hoặc nửa kín như biển Đen, biển Baltic và biển Caspie. Điều gây ngạc nhiên là đến nay, Bộ Quốc phòng Nga không để ý gì đến các tàu ngầm này, mặc dù những ưu điểm của chúng thì bất kỳ chuyên gia hải quân nào cũng thấy rõ”, Phó Đô đốc Viktor Patrushev nhấn mạnh. Thực tế, trong biên chế các hạm đội Baltic và biển Đen hầu như không còn tàu ngầm diesel-điện. Số lượng của chúng chỉ là vài chiếc, không đủ để làm thay đổi thời tiết trên chiến trường biển. Còn trên biển Caspie thì hoàn toàn không có tàu ngầm, mặc dù biển này nằm ở khu vực rất bất ổn và tình hình ở đó có thể thay đổi nhanh chóng. Ví dụ, Iran có thể dễ dàng chuyển đến đó bằng ô tô các tàu ngầm mini và tàu ngầm siêu nhỏ của họ từ biển Arập và vịnh Persique. (http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Quansunuocngoai/Nga/ula-1.jpg) Các tàu ngầm mini lớp Ula của Hải quân Nauy đang theo dõi sự di chuyển của các tàu ngầm nguyên tử Nga ở biển Barents và biển Nauy Tàu ngầm mini tại Thái Bình Dương và biển Barents có khả năng thực hiện các nhiệm vụ trinh sát các vùng biển bao quanh Nga, bí mật hộ tống các tàu ngầm nguyên tử đi trực chiến. Chúng hầu như không thể thay thế để xây dựng các tuyến phòng thủ chống tàu ngầm ở các vùng biển ven bờ. Ở đây, có thể vận dụng kinh nghiệm của NATO. Chính các tàu ngầm diesel-điện cỡ nhỏ lớp Ula của Hải quân Nauy tạo thành hàng rào tiền tiêu chống ngầm ở Đại Tây Dương. Chúng là phương tiện đầu tiên theo dõi sự di chuyển của các tàu ngầm nguyên tử Nga và truyền số liệu về chúng đến các sở chỉ huy và cơ quan liên quan của NATO. Ông Viktor Patrushev còn lưu ý đến bối cảnh tàu ngầm mini đang được hải quân hàng loạt quốc gia Cận Đông và Đông Nam Á tập trung chú ý tại Triển lãm Hải quân quốc tế ở St. Petersurg MVMS-2009. Ngay trước triển lãm này, Trưởng Phòng Hải quân của hãng xuất khẩu vũ khí Rosoboronoexport Oleg Azizov, khi trả lời câu hỏi của tạp chí Quốc phòng (Nga) (xem số 6.2009) về việc tại sao các tàu ngầm mini của Nga đến nay không "chạy được” ra thị trường thế giới, đã nói: "Theo tôi, nguyên nhân rất rõ ràng. Nga có kinh nghiệm phong phú trong việc thiết kế, đóng và sử dụng tàu ngầm mini. Một điều không phải là bí mật là hiện nay Hải quân Nga không có các tàu đó trong biên chế. Việc đóng hàng loạt các tàu này đã bị tạm ngừng”. Nghĩa là sự thiếu vắng tàu ngầm mini trong biên chế Hải quân Nga đang gây tổn hại cho sự hợp tác kỹ thuật quân sự của Nga với các nước khác. (http://i70.photobucket.com/albums/i90/Twosoul/sosanhtaungam.jpg) +++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++ http://quocphonganninh.edu.vn/PrintPreview.aspx?ID=1264 (http://quocphonganninh.edu.vn/PrintPreview.aspx?ID=1264) Bàn thêm:Như vậy qua bài này có thể thấy tầm quan trọng của tàu ngầm có lượng choán nước nhỏ.Ưu điểm của loại này là độ bộc lộ thấp,linh hoạt trong vùng biển nông,thiết kế hiện đại. Điều này lý giải tại sao lớp Lada của Nga lại được thiết kế với tải trọng nhỏ hơn so với kilo.Bằng cách thay đổi hệ thống động lực chủ yếu dựa vào thủy lực sang sử dụng pin nhiên liệu,số hóa hệ thống điều khiển...đã tiết kiệm được không gian đáng kể,nâng cao hiệu quả tác chiến như bớt ồn,hoạt động dài ngày dưới biển trong khi vẫn đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ. Hiện Mỹ cũng đang nghiên cứu tàu ngầm thế hệ tiếp theo lớp Tango Bravo nhằm thay thế lớp seawolf-đã không còn phù hợp nhiệm vụ,và lớp Virginia-chi phí quá cao trong bối cảnh cắt giảm ngân sách. Lớp Tango Bravo được thiết kế với tiêu chí “Tiêu ít tiền làm việc lớn”.Chương trình này muốn thiết kế một loại tàu ngầm hạt nhân đa năng mới, nó có tất cả các tính năng của tàu ngầm lớp Virginia hiện nay, nhưng kích thước và chi phí chế tạo chỉ bằng một nửa, thời gian biên chế được xác định sơ bộ là vào năm 2021. Nga tuy có kinh nghiệm trong nghiên cứu,thiết kế nhưng từ sau khi Liên Xô tan rã thì tiềm lực quốc phòng đã đi xuống nhanh chóng.Việc dừng các dự án nói trên khiến Nga đánh mất thị trường xuất khẩu tàu ngầm mini béo bở và chậm chân hơn các nước khác ở khu vực trong việc ra đời thế hệ tàu ngầm thông thường thứ 4. Gần đây có tin Nga hoãn việc trang bị tàu ngầm thông thường lớp Lada tới năm 2013 để chờ phiên bản nâng cấp.Nhiều khả năng lớp tàu Lada trang bị sau thời điểm trên sẽ được lắp đặt hệ thống AIP hoàn thiện. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười, 2012, 05:50:41 pm Đề án 56 – Lớp Kotlin (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_20_zps8d764cc0.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 27 Các biến thể + 56 (lớp Kotlin) – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1953) + 56-PLO (biến thể lớp Kotlin) – các tàu khu trục với vũ khí chống ngầm tăng cường (1960) + 56-L (lớp Kotlin SAM) – tàu khu trục “Bravưi” được đóng nốt với tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” (1956) + 56-A (lớp Kotlin SAM) – các tàu khu trục nâng cấp với tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” (1964) + 56-EM/-M (lớp Kildin) – đề án, trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu KSS trên cơ sở các tàu đề án 56 chưa được đóng hoàn chỉnh (1958) + Lớp Luda (đề án 951) – các tàu được đóng cho Trung Quốc trên cơ sở đề án Liên Xô (1971). Việc thiết kế tàu khu trục “đề án 41 nâng cấp” như theo ban đầu trong các tàu liệu là tàu đề án 56 bắt đầu vào mùa hè năm 1951. Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đưa ra cho nó vào ngày 2 tháng 6 năm 1951 (số 1867-891) về “… những thay đổi nhiệm vụ kỹ - chiến thuật đề án 41”. Mệnh lệnh được đưa ra rõ ràng theo sáng kiến của Stalin, đã nghiên cứu sau chiến tranh các đề án tàu lớp cơ bản vafkhoong đồng tình bởi lượng choán nước lớn của đề án 41, đã đưa ra chỉ thị giảm nó (lượng choán nước). Chỉ thị này được gây ra bởi kích thích (bùng nổ) từ bức thư A.L.Fisher mà trong đó chứa sự chỉ trích đề án 41. Trong bất kỳ trường hợp nào, khi xem xét theo các ghi chép không được công bố của kỹ sư – Phó đô đốc N.V.Isachenko, tình trạng này đã được thu xếp một cách rõ ràng. Các bằng chứng còn lại chỉ ra rằng tàu khu trục đề án 56 khi đó đã được thông qua khi mà “Neustrashimưi” (đề án 41) đã nằm trong giai đoạn đóng và về những ưu hoặc nhược điểm của tàu nay được đánh giá sớm hơn so với – đề án “nâng cấp”. Tiếp theo đó, nguyên nhân chính xuất hiện đề án 56 cho đến nay không được làm rõ hoàn toàn, mặc dù rõ ràng rằng nó được làm ra bởi ngành công nghiệp, chứ không phải bên đặt. Có thể nó đóng vai trò tình tiết (âm mưu) trong thiết kế do A.L.Fisher lãnh đạo thay cho V.A.Nikitin trong thiết kế tàu khu trục đề án 56. Giám sát viên chính từ Hải quân, cũng như trên đề án 41, giữ lại kỹ sư – thuyền trưởng cấp 2 M.A.Yanchevski. Trong Mệnh lệnh chỉ đạo của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã phê duyệt các thay đổi sau theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật theo so sánh với đề án 41: lượng choán nước hoàn toàn 3150 tấn, thay cho 3770 tấn; tốc độ tối đa 39 hải lý, thay cho 36 hải lý; tầm bơi xa ở tốc độ 14 hải lý là 4000 dặm, thay cho 5500 dặm; thời gian hoạt động 10 ngày, thay cho 20 ngày; 4 pháo 4 nòng tự động 45mm SM-20-ZiF không ổn định thay cho 4 pháo nòng đôi ổn định 45mm SM-16 với cơ số đạn ít hơn. Cũng mệnh lệnh này dã dự định đóng 100 tàu khu trục đề án 56 (tàu khu trục đề án 41 dự kiến đóng 110 tàu). Như từ những sự thay đổi đã được ghi lại, ban đầu “sự nâng cấp” tính toán làm yếu đi các yếu tố không phải thứ yếu như tầm bơi xa và thời gian hoạt động chiều (tỷ lệ thuật) sự giảm lượng loạn nước và tăng tốc độ tối đa. Các thiết kế nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng thu xếp được (làm được) lượng choán nước theo quy định đảm bảo tốc độ đã đề ra và tầm bơi xa là không có khả năng. Mặc dù vậy, mệnh lệnh mới của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (số 1648-592) mùng 4 tháng 4 năm 1954 đã phê duyệt các phần tử kỹ - chiến thuật của tàu khu trục với những sự chênh lệch không lớn: lượng choán nước hoàn toàn 3230 tấn và tốc độ tối đa 38,5 tấn. Theo các phần tử chính, sự khác biệt về nguyên tắc của đề án 56 so với đề án 41 không có. Sự thay đổi chính bao gồm, đầu tiên – trong bộ phận thiết kế. Hình dáng được tiếp nhận của thân tàu là tối ưu với quan điểm phân phối trong lượng choán nước cho phép của trang bị và máy móc, rất thành công theo sự cơ động trên biển và không đáp ứng hoàn toàn theo tốc độ. Để di chuyển giữa các khoang, trong thời gian neo đậu dự kiến có các buồng di chuyển hoặc cửa không thấm nước (trong đề án 41, sự di chuyển này được hạn chế theo boong dưới). Trên boong trên bố trí 3 thượng tầng cao (phát triển), bởi vì bộ phận các buồng và trạm được “nhô” lên trên. Với mục tiêu “công nghiệp” (tiết kiệm), khối lượng thượng tầng được chế tạo từ nhôm. Tuy nhiên, do không cho phép các các lỗi lớn và độ rung của chúng, trong quá trình thí nghiệm tàu đầu tiên, các thượng tầng đã 3 lần được cố định một cách căn bản. Kết quả là toàn bộ thiết kế này đã tăng khối lượng, nếu nó là thép hoàn toàn (!). Không có những sự chứng minh cần thiết rằng việc áp dụng các hợp kim nhẹ trong vai trò vật liệu thiết kế đã chỉ ra có hại và trong bộ phận đảm bảo sự sống, trước tiên là khả năng phòng cháy chữa cháy sơ bộ. Tàu khu trục đề án 56 được bọc thép chống lại mảnh đạn: buồng chiến đấu, vách ngăn trạm truyền động, các tường chắn thiết bị ngư lôi, vỏ nồi hơi, các miếng đệm các phát bắn đầu tiên được bọc thép 10mm, còn tháp pháo (chính) và thiết bị pháo phòng không cỡ nhỏ - 20-40mm. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười, 2012, 05:51:51 pm Các hình vẽ tàu ngầm đề án 56
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_19_zps82f26ab1.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_02_zpsb7185fe4.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_05_zps8d3a0398.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_04_zps1d01e23a.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười, 2012, 07:29:15 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_13_zps66f94e02.jpg) Vận chuyển mìn lên tàu khu trục đề án 56 (có thể là "Nesokrushimưi"). Nhìn rõ pháo tự động 4 nòng 45mm SM-20-Zif. Đầu những năm 1960. (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_14_zps2d1c5b39.jpg) Tiếp nhận mìn trên tàu khu trục đề án 56 (có thể là "Nesokrushimưi"). Đầu những năm 1960 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_23_zpsdb7bbea8.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_22_zps9644f1af.jpg) Tàu khu trục "Besslednưi" và các tàu khác đề án 56 trên ụ (đốc) khô Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười, 2012, 09:05:14 pm Công suất thiết bị năng lượng chính tăng từ 66 000 lên 72 000 sức ngựa. Tuy nhiên hệ số hoạt động hiệu quả (KDP) của các nồi hơi tàu khu trục đề án 56 được chỉ ra thấp hơn đề án 41 5% (74% và 79%) do đó, các kích thước bị nén chặt (giới hạn) của buồng nồi hơi không cho phép bó trí các nồi hơi với bộ phận tiết kiệm chất đốt lớn. Các sự kiện sau đó đã chỉ ra rằng, vấn đề gây khó chịu với sự không đảm bảo tốc độ trên tàu khu trục đề án 41 đã bị lặp lại, khi tàu đầu tiên trong đề án 61 “Spokoinưi” được đưa vào các thí nghiệm vận động. Khi giảm lượng choán nước xuống 400 tấn trong công suất lớn đáng kể (10 000 sức ngựa) của thiết bị năng lượng chính, “Spokoinưi” có thể bơi với tốc độ nhanh hơn 1 hải lý so với “Neystrashimưi”. Ủy ban chuyên môn đặc biệt đã được thành lập, trong đó có sự làm việc của người có uy tín lớn trong lĩnh vực lý thuyết đóng tàu kỹ sư – Chuẩn đô đốc V.G.Vlasov, đã nhận định rằng toàn bộ tổ hợp “mạn – chân vịt – bánh lái” được thiết kế không đúng như trên đề án 41 cũng như đề án 56. Sự sai lệch trong nguồn thủy động lực không cho phép đạt tốc độ lực đẩy cần thiết, và là nguyên nhân chính dẫn đến việc đạt được tốc độ không như trông đợi. Trên tàu “Spokoinưi” đã diễn ra việc cắt phần cuối tàu “không đúng”, được thay mới “đúng”. Cần bổ sung rằng khi so sánh thân ngắn và gần đủ sau khi sửa lại trong các thí nghiệm, tàu khu trục đề án 56 đã có tốc độ gần 39 hải lý. Theo sự xác nhận của những người tham gia thí nghiệm, trên một số tàu trong loạt đã có tốc độ vượt trội chỉ số này: ví dụ, tàu khu trục “Nastoichivưi” năm 1957 đã đạt tốc độ, như đã tính toán lại là hơn 41 hải lý, mặc dù là rất đáng mừng, nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng nó đã bị mất tốc độ nhanh chóng do sự tăng thêm thân tàu. Ngoài ra, công suất thiết bị trong chế độ tối đa rất nhạy cảm với sự tăng nhiệt độ nước ngoài mạn tàu. Cuối cùng, không có một tàu khu trục đề án 56 nào đạt được tầm bơi xa như nhiệm vụ đề ra, còn sự tiêu thụ nhiên liệu trong quãng đường đã qua khi di chuyển ở tốc độ tuần tra là lớn đáng kể so với đề án 30-bis (ở tốc độ tối đa là gấp 1,8 lần).
Tuy nhiên, về cơ bản, ủy ban tiếp nhận đã đánh giá chất lượng cơ động trên biển của tàu một cách tích cực, trong đó, đáng chú ý, ví dụ, rằng trong thời gian các thí nghiệm cuối cùng (biển cấp 5, sóng cấp 8 ), tàu khu trục đề án 56 đã đạt tốc độ tối đa, còn tàu bảo đảm của nó – tàu khu trục đề án 30-biss không đạt quá 14 hải lý. Toàn bộ trang bị pháo của tàu khu trục đề án 56 có thể sử dụng để đánh trả sự tấn công đường không do kết quả sử dụng pháo chính đa năng. Để điều khiển bắn sử dụng 2 đài ra đa định vị và trạm đo xa – ra đa định vị bố trí trên thượng tầng chính. Bốn pháo phòng không tự động 45mm được bố trí như sau, 3 trong số chúng thường xuyên có thể tấn công đồng thời vào 1 mục tiêu. Giữa các thượng tầng có 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng. Các tàu khu trục được trang bị các khí tài phát hiện ra đa định vị, nhận dạng và thông tin liên lạc, đòng thời đài thủy âm. Để giữ (cố định) các loại mìn neo, trên các tàu có máy giữ kiểu TsOK-2. Tháng 10-11 năm 1956, sau khi tiếp nhận vào biên chế, “Spokoinưi” được đưa tới các thí nghiệm bổ sung ở biển Barents, bởi vì nếu đối với biển Baltic, các đặc điểm sóng gió với sóng ngắn dựng đứng, còn đối với biển Bắc – sự gợn sóng với sóng gió có tính chất không giống với sự xếp chồng giảm dần sự gợn sóng trên đại dương. Các thí nghiệm kéo dài của tàu đầu tiên trong đề án 56 cho phép các tàu trong loạt được bàn giao cho Hải quân trước nó. Vào năm 1955, trong biên chế Hải quân đã có 6 tàu. Từ quan điểm hiện này, việc chuyển giao từ đề án 41 sang đề án 56 là không có căn cứ. Số lượng lớn các nhược điểm của nó có thể được khắc phục thậm chí trên các tàu “sống”, chưa nó đến sự hiệu chỉnh đề án cho dòng tàu. Đặc biệt bởi chất lượng có giá trí của đề án 41 theo so sánh với người thừa kế đề án 56 là sức sống lớn, thời gian hoạt động, tầm bơi xa và trữ lượng nâng cấp. Sự thiếu yếu tố sau cùng trên đề án 56 đặc biệt cảm nhận được một cách cần thiêt khi nâng cấp chúng theo đề án 56-K “Bravưi”, khi yêu cầu lắp đặt tải trọng dằn và hàng loạt các sự tinh chỉnh cho việc thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật. Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56 là dòng tàu pháo phóng ngư lôi cuối cùng trong Hải quân Liên Xô. Về cơ bản, chúng không phù hợp cho các khí tài mới và khả năng chiến tranh trên biển như hiện nay đã nhìn nhận rõ ràng, sự xuất hiện của nó đã chậm khoảng 10 năm. So sánh các phần tử chính của tàu khu trục đề án 56 với các tàu cùng dạng ở nước ngoài chỉ ra rằng hệ tư tưởng và các giải pháp kỹ thuật chính, trên cơ sở mà qua đó chế tạo các tàu này là giống nhau. Tuy nhiên, cơ sở chất lượng có sự khác nhau. Ví dụ, pháo bán tự động SM-21 của Liên Xô có đường kính đạn lớn hơn, nhưng pháo tự động 1 nòng 127mm MK.42 trên tàu khu trục “Forrest Serman” thuộc Hải quân Mỹ có sự hạn chế khả năng chiến đấu một cách đáng kể khi bắn mục tiêu trên không, về cơ bản, do các hệ thống điều khiển hỏa lực, tốc độ bắn thấp hơn đáng kể (1,75 lần), và kết quả là thua kém pháo Mỹ về sức mạnh chiến đấu 2 lần. Bằng cách này, theo hỏa lực pháo chính, “Forrest Serman” vượt trội “Spokoinưi” không ít hơn 3 lần. Điểm vượt trội của toàn bộ các tàu nước ngoài là không thể phủ nhận trong lĩnh vực trang bị vô tuyến điện. Ở nước ngoài, sự ưu tiên dồn vào vũ khí chống ngầm. Ví dụ, trên tàu khu trục “Syurcuff” trong Hải quân Pháp, một nữa số thiết bị ngư lôi chỉ sử dụng để bắn tàu ngầm, còn người Hà Lan hầu như từ bỏ vũ khí ngư lôi, ưa thích sử dụng các máy phóng bom phản lực uy lực lớn 375mm. ------------------------------------------------------------------------------ *Trong các thông số tốc độ của tàu chiến có 2 loại tốc độ là tốc độ tối đa và tốc độ tiết kiệm năng lượng. Trong phần 2, các phần thông số tốc độ tuần tra, các bác đọc là tốc độ tiết kiệm năng lượng (em sẽ sửa dần các thông tin không chính xác trong các bài viết). Xin lỗi cả nhà nhé. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười, 2012, 12:45:43 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_12_zps05c990a1.jpg) Sự tăng cường vũ khí chống ngầm yếu cho đề án 56 đã bắt đầu vào năm 1958. 12 tàu trong dòng đã trải qua nâng cấp trong những năm 1960-1979 theo đề án 56-PLO, trong quá trình đó đã tháo thiết bị ngư lôi và thiết bị phóng bom thứ 2, trang bị các trạm chống ngầm, lắp 2 RBU-2500 (trên tàu khu trục “Đoàn viên thanh niên cộng sản Moskva” có thêm 2 RBU-6000 ở mũi). Thiết bị ngư lôi còn lại có khả năng để bắn ngư lôi chống tàu cũng như chống ngầm. Ngoài ra, trên các tàu đã lắp bổ sung các pháo phòng không 25mm 2M-3. Ở phương Tây gọi các tàu này là “biến thể của lớp Kotlin”. Tàu khu trục “Bravưi” – tàu cuối cùng trong lớp – được đóng tiếp theo sự thay đổi căn bản của đề án 56-K. Trên tàu lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã lắp tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”, nơi chúng trải qua chương trình thí nghiệm. Thiết bị pháo mạn tàu và thiết bị pháo phòng không bị tháo, còn trên vị trí của chúng lắp thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không với kho đạn tên lửa. Trên cột buồm chính hình kim tự tháp bố trí đài dẫn bắn tên lửa “Yatagan”, còn trên cột buồm mũi – lắp đài ra đa định vị 3 tọa độ phát hiện mục tiêu trên không “Angara”. Đồng thời lắp 2 RBU-6000 và lắp 1 thiết bị ngư lôi. Sau khi tiếp nhập vào trang bị tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”, thêm 8 tàu trong lớp được nâng cấp theo đề án 56-A mà trên đó, trừ những sự thay đổi kể trên, thay cho 2 pháo tự động 45mm đã lắp 4 tổ hợp pháo phòng không AK-230 với 2 đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Rưs”. Trên một trong số các tàu đề án 56 – tàu khu trục “Svelưi” – được trang bị bãi đáp cất – hạ cánh ở mạn tàu mà với đó trong những năm 1950 đã xử lý các chuyến bay của trực thăng hạng nhẹ Ka-15. Các kết quả sau đó được áp dụng vào đề án 57-bis. Các tàu chưa được đóng xong – 4 tàu đề án 56 – được đóng tiếp theo đề án 56M/ME với tên lửa chống ngầm điều khiển KSS. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười, 2012, 01:07:33 am Chương trình đóng tàu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_08_zps143afdf1.jpg) Việc đóng các tàu khu trục đề án 56 được thực hiện trên 3 xưởng: xưởng phương Bắc (số 190 – 12 tàu); xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 445 – 8 tàu); xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin (số 199 – 7 tàu) từ năm 1953 đến 1957. Vào tháng 2 năm 1952, xưởng phương Bắc đã bắt đầu xử lý kim loại cho 2 tàu khu trục đầu tiên. Mùng 4 tháng 3 năm 1953 khi tình trạng chuẩn bị kỹ thuật 33% của tàu đầu tiên được khởi công chính thức, nó nhận tên gọi “Spokoinưi”, trong nhà triền đóng (kín). Ngày 28 tháng 11 năm 1953, “Spokoinưi” đã được hạ thủy, 26 tháng 4 năm 1954 đã bắt đầu các thí nghiệm neo đậu, còn 27 tháng 8 cùng năm, khi chưa hoàn thành, tàu khu trục đã được đưa vào các các thí nghiệm vận động và kéo dài tới tháng 8 năm sau, khi tàu được đưa tới ủy ban tiếp nhận Nhà nước. Như đã nhắc ở trên, ban đầu lên kế hoạch đóng 100 tàu đề án 56, nhưng khi bắt đầu tái trang bị kỹ thuật và quan điểm “đặc thù” của lãnh đạo đất nước khi đó trong tới vai trò và diện mạo Hải quân đã được phản chiếu trong số phận các tàu khu trục này. Loạt đóng bị hạn chế ở con số 27 tàu. Các tàu chưa được đóng xong còn có thêm 4 tàu được đóng tiếp theo đề án 56-M/EM. Vào cuối những năm 1960, các tài liệu về đề án 56 được bán cho Trung Quốc, nới với sự giúp đỡ của các kỹ sư Liên Xô đã bắt đầu đóng loạt các tàu này cho Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Tổng cộng đã đóng được 17 tàu, sau đó được trang bị lại bởi người Trung Quốc thành tàu khu trục phòng thủ tên lửa theo hướng trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu “Haiyng 2” (các tàu này theo tên gọi phương Tây là “lớp Lyuda”). Tình hình đến năm 2006 Trong thời gian những năm 1980, thực tế toàn bộ các tàu khu trục đề án 56 đã bị loại khỏi biên chế Hải quân. Tàu cuối cùng trong loạt (PKZ-7, trước đó là “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Viễn Đông”) đã bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1993. Trong thời gian hoạt động, các tàu khu trục đề an 56 có mặt ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Siry, Ai Cập, Angola. Tháng 11 năm 1970, trong thời gian phục vụ ở biển Bắc, tàu khu trục “Bravưi” cùng với các tàu Liên Xô khác đã giám sát các tàu NATO trong các cuộc tập trận “Northern Wedding”. Trong thời gian diễn tập, các tàu khu trục Liên Xô một vào lần đã ngăn cản hành trình tàu sân bay anh “Ark Royal” và kết quả đã xảy ra va chạm. “Bravưi” bị 1 cú đâm vào bộ phận mạn tàu, 7 thủy thủ Liên Xô bị văng khỏi thành tàu. Năm người được các xuồng máy của NATO vớt lên được, còn 2 người không có thông tin. Một tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56-A “Spravedlivưi” – được bán 25 tháng 6 năm 1970 cho Hải quân Ba Lan (đổi tên thành “Varsava”) và phục vụ đến năm 1986. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười, 2012, 01:24:13 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56_06_zpseb8ce2d3.jpg) Bố cục và mặt cắt dọc tàu khu trục phóng lôi đề án 56 1. Thiết bị pháo nòng đôi 130mm SM-2-1 2. Thiết bị pháo phòng không 45mm SM-30-ZIF 3. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-56 4. Ăng ten đài ra đa định vị “Fut-N” 5. La bàn chính 6. Ăng ten đài ra đa định vị “Zarya” 7. Ăng ten đài ra đa định vị “Neptun” 8. Ăng ten đài tìm phương vô tuyến 9. Trạm quan sát ổn định SVP-42-50 10. Trạm ăng ten đài ra đa định vị pháo MZA “Fut-B” 11. Khí tài rải bom BMB-2 12. Buồng bánh lái 13. Tháp dưới mạn tàu 14. Hầm đạn pháo 130mm 15. Buồng lò sưởi (phát nhiệt) 16. Thùng nước uống mạn tàu 17. Buồng máy – nồi hơi 18. Khoang bếp 19. Buồng hoa tiêu 20. Buồng chiến đấu 21. Buồng lái 22. Buồng sỹ quan 23. Buồng tổ hợp thiết bị pháo 130mm mũi tàu 24. Kho thực phẩm 25. Khoang xích 26. Khoang làm (giữ lạnh) 27. Khoang thủy âm 28. Trạm pháo trung tâm 29. Buồng máy – nồi hơi mũi tàu 30. Khoang khí tài nồi hơi hỗ trợ 31. Đài điện mạn tàu 32. Hầm đạn pháo 45mm 33. Khoang xưởng cơ khí 34. Khoang kho cơ khí Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười, 2012, 11:44:08 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Spokoinưi” (số hiệu xưởng 701); ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 8 năm 1952; khởi công 4 tháng 3 năm 1953 ở xưởng số 190; hạ thủy 28 tháng 11 năm 1953; gia nhập biên chế 27 tháng 6 năm 1956 và gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 9 tháng 10 năm 1957 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 7 năm 1964 chuyển tới căn cứ Hải quân ở Leningrad, niêm cất và neo đậu ở Kronshtadt; từ 5 tháng 7 năm 1971 đến 7 tháng 5 năm 1973 và từ 9 tháng 3 năm 1982 đến 3 tháng 8 năm 1983 đại tu ở Leningrad và Murmansk tương ứng; 25 tháng 3 năm 1984 bị loại khỏi biên chế chiến đấu lần thứ 2, niêm cất và neo đậu ở Murmansk; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1990 và sau đó tháo dỡ kim loại. + “Svetlưi” (số hiệu xưởng 702); ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 8 năm 1952; khởi công 4 tháng 3 năm 1953 ở xưởng số 190; hạ thủy 27 tháng 10 năm 1953; gia nhập biên chế 17 tháng 9 năm 1955; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 26 tháng 9 năm 1955; 24 tháng 12 năm 1955 chuyến tới Hạm đội Baltic; 18-22 tháng 10 năm 1962 tới thăm Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 8-12 tháng 5 năm 1964 – tới Copenhagen (Đan Mạch); 3-7 tháng 7 năm 1967 – tới Stocholm (Thụy Điển) và 21-26 tháng 6 năm 1976 – tới Bordeaux (Pháp); từ 28 tháng 2 năm 1970 đến 5 tháng 7 năm 1971 trải qua đại tu ở Liepai; 22 tháng 8 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1989; năm 1990 tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Liepai. + “Blestyasi” (số hiệu xưởng 1201); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 20 tháng 2 năm 1953 ở xưởng số 445; hạ thủy 27 tháng 11 năm 1953; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1955 (kéo cờ Hải quân 31 tháng 12 năm 1954); gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 8 tháng 10 năm 1955; 6 tháng 2 – 10 tháng 3 năm 1960 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-PLO; 8-10 tháng 10 năm 1957 tới thăm Split (Nam Tư); 10-12 tháng 10 năm 1957 – tới Dubrovnik (Nam Tư), 26 tháng 11 – 11 tháng 12 năm 1969 – tới Shianukvil (Campuchia); 26-30 tháng 1 năm 1970 – tới Hodeida (Bắc Yemen); 1-6 tháng 2 năm 1970 và 19-24 tháng 2 năm 1971 – tới Massaua (Etiopia) và 19-23 tháng 4 năm 1970 – tới Port-Lui (Mavriki); 20 tháng 9 năm 1960 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; từ 11 tháng 6 năm 1975 đến 6 tháng 9 năm 1978 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc; 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 30 tháng 7 năm 1987 và sau đó tháo kim loại. + “Speshnưi” (số hiệu xưởng 703); ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 8 năm 1952; khởi công 30 tháng 5 năm 1953 ở xưởng số 190; hạ thủy 7 tháng 8 năm 1954; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1955; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 19 tháng 12 năm 1955; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; từ 18 tháng 11 năm 1966 đến 6 tháng 1 năm 1969 và từ 8 tháng 12 năm 1972 đến 9 tháng 4 năm 1974 trải qua đại tu ở Kronshtadt và Liepai tương ứng; 17-23 tháng 7 năm 1970 nằm ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Siry; từ 30 tháng 10 – 25 tháng 11 năm 1978 và từ 29 tháng 12 năm 1978 đến 8 tháng 2 năm 1979 – quân đội Angola; 15 tháng 3 năm 1985 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi neo đậu; 14 tháng 3 năm 1985 tháo niêm cất và loại khỏi biên chế; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 12 năm 1989 và sau đó tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười, 2012, 12:16:18 pm + “Bưvalnưi” (số hiệu xưởng 1202); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 6 tháng 5 năm 1953 ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1954; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1955; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 4 tháng 1 năm 1956; 8-10 tháng 10 năm 1957 tới thăm Split (Nam Tư); 10-12 tháng 10 năm 1957 – tới Dubrovnik (Nam Tư) và 2-6 tháng 12 năm 1974 – tới Casablanca (Maroco); 24 tháng 6 năm 1959 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; từ 23 tháng 6 năm 1962 đến 28 tháng 10 năm 1956 nâng cấp ở Talin theo đề án 56-PLO; từ 7 tháng 8 năm 1969 đến 1 tháng 1 năm 1971 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; 17 tháng 7 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1988 và sau đó tháo kim loại.
+ “Skromnưi” (số hiệu xưởng 704); ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 8 năm 1952; khởi công 27 tháng 7 năm 1953 ở xưởng số 190; hạ thủy 26 tháng 10 năm 1954; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1955; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 11 tháng 1 năm 1956; 2 tháng 9 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; từ 12 tháng 11 năm 1958 đến 29 tháng 11 năm 1960 trải qua đại tu ở Leningrad; từ 7 tháng 7 năm 1956 đến 19 tháng 11 năm 1969 nâng cấp ở Kronshtadt theo đề án 56-A; 23-29 tháng 5 năm 1973 tới thăm Puent-Nuar (Congo-Brazavil); 22 tháng 2 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại. + “Svedusi” (số hiệu xưởng 705); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 7 tháng 12 năm 1953 ở xưởng số 190; hạ thủy 17 tháng 2 năm 1966; gia nhập biên chế 31 tháng 1 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 16 tháng 2 năm 1956; 10 tháng 10 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 5 tháng 10 năm 1963 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; từ 12 tháng 11 năm 1958 tới 29 tháng 10 năm 1960 trải qua đại tu ở Leningrad; từ 31 tháng 8 năm 1977 đến 19 tháng 6 năm 1979 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-PLO, sau đó loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 30 tháng 6 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 8 tháng 4 năm 1992 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 31 tháng 12 năm 1992 và tháo kim loại. + “Veski” (số hiệu xưởng 82); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 30 tháng 1 năm 1954 ở xưởng số 199; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1955; gia nhập biên chế 30 tháng 3 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 13 tháng 4 năm 1956; từ 24 tháng 1 năm 1964 đến 1 tháng 2 năm 1965; từ 30 tháng 8 năm 1969 đến 16 tháng 7 năm 1970 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Sevastopol; từ 6 tháng 12 năm 1977 đến 21 tháng 7 năm 1978 ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ quân đội Etiopia; 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1987 và sau đó tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười, 2012, 12:42:49 pm + “Vưzưvayusi” (số hiệu xưởng 811); ghi tên vào danh sách Hải quan 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 25 tháng 7 năm 1953 ở xưởng số 199; hạ thủy 20 tháng 5 năm 1955; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 20 tháng 4 năm 195; từ 25 tháng 3 năm 1970 đến 13 tháng 3 năm 1975 nâng cấp ở “Dalzavod” tại Vladivostoc theo đề án 56-PLO; 1 tháng 9 năm 1985 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thê 1 tháng 10 năm 1989 và sau đó tháo kim loại.
+ “Smưshlennưi” (số hiệu xưởng 706)l từ 29 tháng 10 năm 1985 là “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Moskva”; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 23 tháng 2 năm 1954 ở xưởng số 100; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1955; gia nhập biên chế 28 tháng 6 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 30 tháng 8 năm 1956; từ 12 tháng 11 năm 1958 đến 1 tháng 12 năm 1961 nâng cấp ở Leningrad theo đề án 56-PLO; từ 2 tháng 12 năm 1971 đến 2 tháng 6 năm 1977 trải qua đại tu; 20 tháng 3 năm 1966 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 21 tháng 10 năm 1968 quay trở lại Hạm đội Phương Bắc; 25-28 tháng 10 năm 1969 tới thăm Reicviavic (Ai xơ len) và 10-15 tháng 10 năm 1977 – tới Oslo (Na Uy); 22 tháng 7 năm 1986 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 27 tháng 2 năm 1987 và sau đó tháo kim loại. + “Skrưtnưi” (số hiệu xưởng 707); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 25 tháng 7 năm 1954 ở xưởng số 190; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1955; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 2 tháng 11 năm 1956; 12 tháng 2 năm 1960 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 20 tháng 9 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; từ 30 tháng 12 năm 1970 đến 30 tháng 1 năm 1972 nâng cấp ở “Dalzavod” tại Vladivostoc theo đề án 56-A; từ 11 tháng 2 năm 1977 đến 8 tháng 5 năm 1979 trải qua đại tu; 14-19 thnags 1 năm 1973 tới thăm Bombay (Ấn Độ); 16 tháng 9 năm 1985 một lần nữa được đưa đến đại tu ở Vladivostoc; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1989 và sau đó tháo kim loại. + “Besslednưi” (số hiệu xưởng 1205); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 1 tháng 4 năm 1954 ở xưởng số 445; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1955; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 6 tháng 11 năm 1956; 20 tháng 6 – 24 tháng 7 năm 1957 hoàn thành cuộc hành quân qua kênh đào Suez từ Sevastopl tới Vladivostoc và 1 tháng 8 năm 1957 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; từ 25 tháng 5 năm 1973 tới 8 tháng 5 năm 1976 nâng cấp ở “Dalzavod” ở Vladivostoc theo đề án 56-PLO; 17 tháng 5 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu, nhứng 13 tháng 3 năm 1979 tháo niêm cất và quay trở lại biên chế; 8 tháng 4 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 17 tháng 7 năm 1988 giải thể; tháng 1 năm 1990 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo dỡ, nhưng trong cùng tháng bị đắm khi kéo trong thời gian bão lớn ở eo biển Đài Loan. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười, 2012, 11:59:57 pm + “Vodkhnovennưi” (số hiệu xưởng 83); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 31 tháng 8 năm 1954 ở xưởng số 199; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1956; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 12 tháng 11 năm 1956; từ 22 tháng 1 năm 1960 đến 27 tháng 3 năm 1960 nâng cấp ở “Dalzavod” ở Vladivostoc theo đề án 56-PLO; 30 tháng 9 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu, nhưng 15 tháng 10 năm 1968 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 26 tháng 11 - 2 tháng 12 năm 1968 tới thăm Mombasa (Kenia); 2-7 tháng 1 năm 1969 – tới Aden (Nam Yemen) và 0-12 tháng 1 năm 1969 – tới Hodeida (Bắc Yemen); 5 tháng 3nawm 1987 – tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1987 và sau đó tháo kim loại.
+ “Soznatelnưi” (số hiệu xưởng 708); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 25 tháng 9 năm 1954 ở xưởng số 190; hạ thủy 15 tháng 1 năm 1956; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 17 tháng 11 năm 1956; 12 tháng 7 năm 1958 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 11 tháng 11 năm 1964 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 6 tháng 2 năm 1967 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 27 tháng 3 năm 1971 chuyển về Hạm đội Biển Đen; từ 1 tháng 12 năm 1968 đến 20 tháng 1 năm 1972 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-A; 1 tháng 9 – 30 tháng 11 năm 1972 trong khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Siry; 5-24 tháng 10 năm 1973 – cho quân đội Ai Cập; 9-13 tháng 8 năm 1974 tới thăm Varna (Bulgaria); từ 2 tháng 2 năm 1978 đến 11 tháng 12 năm 1980 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod”; 1 tháng 3 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 17 tháng 7 năm 1988 và sau đó bị tháo kim loại. + “Spavedlivưi” (số hiệu xưởng 709); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 25 tháng 12 năm 1954 ở xưởng số 190; hạ thủy 12 tháng 4 năm 1956; gia nhập biên chế 20 tháng 12 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 27 tháng 12 năm 1956; 8-12 tháng 5 năm 1964 tới thăm Copenhagen (Đan Mạch) và 18-22 tháng 10 năm 1962 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); năm 1968-1969 nâng cấp ở Leningrad theo đề án 56-A; 25 tháng 6 năm 1970 bàn giao ở Gdưna cho Hải quân Ba Lan và đổi tên thành “Varsava”’ 27 tháng 1 năm 1971 loại khỏi biên chế Hải quân; 1 tháng 1 năm 1986 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân Ba Lan và bán cho công ty Ba Lan tháo kim loại. + “Burlivưi” (số hiệu xưởng 1206); ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 9 năm 1953; khởi công 5 tháng 5 năm 1964 ở xưởng số 445; hạ thủy 28 tháng 1 năm 1956; gia nhập biên chế 28 tháng 1 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 7 tháng 1 năm 1957; 20 tháng 6 – 24 tháng 7 năm 1957 hoàn thành cuộc hành quân qua kênh đào Suez từ Sevastopol tới Vladivostoc và 1 tháng 8 năm 1957 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; từ 12 tháng 12 năm 1961 tới 25 tháng 3 năm 1963 nâng cấp ở “Dalzavod” theo đề án 56-PLO tại Vladivostoc, sau đó bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 31 tháng 8 năm 1956 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 5 tháng 2 năm 1973 lần thứ 2 trở lại danh sách dự bị và niêm cất; 25 tháng 5 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 1 năm 1989 và sau đó tháo dỡ kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười, 2012, 12:15:32 am + “Vozmusennưi” (số hiệu xưởng 84); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 30 tháng 12 năm 1954 ở xưởng số 199; hạ thủy 8 tháng 7 năm 1956; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 10 tháng 1 năm 1957; năm 1961-1962 nâng cấp ở “Dalzavod” tại Vladivostoc theo đề án 56-PLO; 3 tháng 5 năm 1968 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 5 tháng 3 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 30 tháng 7 năm 1987 và sau đó tháo kim loại.
+ “Blagorodnưi” (số hiệu xưởng 1207); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 5 tháng 3 năm 1955 ở xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 8 năm 1956; gia nhập biên chế 18 tháng 7 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 30 tháng 6 năm 1957; 5-30 tháng 6 năm 1967 nằm ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Siry; 14-18 tháng 12 năm 1971 tới thăm Latakia (Siry) và 26 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1980 – tới Tuynidi; từ 13 tháng 8 năm 1976 đến 7 tháng 9 năm 1977 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-PLO; 15 tháng 9 năm 1982 chuyển tới căn cứ Hải quân Leningrad; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó tháo kim loại. + “Nesokrushimưi” (số hiệu xưởng 710); ghi tên vào danh sách Hải quân 29 tháng 4 năm 1954; khởi công 15 tháng 6 năm 1955 ở xưởng số 190; hạ thủy 20 tháng 7 năm 1956; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 8 tháng 7 năm 1957; từ 7 tháng 12 năm 1960 đến 29 tháng 4 năm 1962 trải qua đại tu ở Kronshtadt; từ 11 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 12 năm 1970 nâng cấp ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev và “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-A; từ 20 tháng 1 năm 1965 đến 8 tháng 6 năm 1967 và từ 11 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 12 năm 1970 nằm trong biên chế Hạm đội Biển Đen, sau đó quay trở lại Hạm đội Phương Bắc; 5 tháng 2 năm 1973 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 27 tháng 6 năm 1979 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 30 tháng 2 năm 1987 tháo vũ khí; 27 tháng 7 năm 1991 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và sau đó tháo kim loại. + “Plamennưi” (số hiệu xưởng 1208); ghi tên vào danh sách Hải quân 29 tháng 4 năm 1954; khởi công ở xưởng số 445; hạ thủy 26 tháng 10 năm 1956; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 21 tháng 9 năm 1957; năm 1961-1962 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-PLO; 20-26 tháng 8 năm 1964 tới thăm Contanst (Rumani) và 14-18 tháng 1 năm 1966 – tới Massaua (Etiopia); 1-31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 8 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu yểm trợ quân đội Ai Cập; từ 30 tháng 7 năm 1975 đến 31 tháng 7 năm 1979 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod”, sau đó bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 24 tháng 6 năm 1991 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1991 và sau đó tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười, 2012, 12:49:07 am + “Nakhochivưi” (số hiệu xưởng 741); ghi tên vào danh sách Hải quân 29 tháng 4 năm 1954; khởi công 19 tháng 10 năm 1955 ở xưởng số 190; hạ thủy 30 tháng 10 năm 1956; gia nhập biên chế 18 tháng 9 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 26 tháng 9 năm 1957; từ 7 tháng 12 năm 1960 đến 29 tháng 4 năm 1962 trải qua đại tu ở Kronshtadt; từ 7 tháng 12 năm 1960 đến 29 tháng 4 năm 1962 nâng cấp ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev theo đề án 56-A; 1 tháng 1 – 31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 8 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 12 tháng 3 năm 1968 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 9-12 tháng 8 năm 1969 tới thăm Varna (Bulgaria); 3-7 tháng 8 năm 1973 – tới Constans (Rumani); 16-22 tháng 4 năm 1974 – tới Algieri và 21-26 tháng 8 năm 1975 – tới Tuynidi; 9 tháng 2 năm 1988 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1989 và tháo dỡ kim loại.
+ “Vozbuzhdennưi” (số hiệu xưởng 85); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 29 tháng 7 năm 1955 ở xưởng số 199; hạ thủy 10 tháng 5 năm 1957; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 14 tháng 11 năm 1957; 17-21 tháng 11 năm 1959 tới thăm Surabaia (Indonesia); 11-16 tháng 4nawm 1972 – tới Umm-Casr (Iraq); 5-10 thnags 11 năm 1979 – tới Hải Phòng (Việt Nam) và 26-31 tháng 5 năm 1981 – tới Aden (Nam Yemen); từ 24 tháng 8 năm 1969 đến 16 tháng 7 năm 1966 nâng cấp ở “Dalzavod” tại Vladivostoc theo đề án 56-A; từ 7 tháng 10 năm 1975 đến 2 tháng 3 năm 1978 trải qua đại tu ở “Dalzavod”; 8 tháng 3 năm 1982 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1989 và sau đó tháo kim loại. + “Naporistưi” (số hiệu xưởng 1209); ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 1 năm 1955; khởi công ở xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1956; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 22 tháng 11 năm 1957; năm 1961-1962 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-PLO; 2-13 tháng 8 năm 1964 tới thăm Varna (Bulgaria); 10-13 tháng 12 năm 1965 – tới Massaua (Etiopia); 15-20 tháng 10 năm 1966 – tới Tulon (Pháp) và 12-15 tháng 8 năm 1967 – tới Varna một lần nữa; 1 tháng 10 – 29 tháng 12 năm 1973 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Siry và Ai Cập; 10 tháng 2 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu ở Donuzlav; 15 tháng 9 năm 1979 tháo niêm cất và quay lại biên chế; 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1987 và sau đó tháo kim loại. + “Blyatelnưi” (số hiệu xưởng 86); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 29 tháng 10 năm 1955 ở xưởng số 199; hạ thủy 10 tháng 5 năm 1957; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 21 tháng 11 năm 1957; 27 tháng 3 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 17 tháng 7 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1988 và sau đó tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười, 2012, 01:22:17 am + “Nastoichivưi” (số hiệu xưởng 724); ghi tên vào danh sách Hải quân 29 tháng 4 năm 1954; khởi công ở xưởng số 190; hạ thủy 23 tháng 4 năm 1957; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 7 tháng 12 năm 1957; 7 tháng 5 năm 1958 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 8 tháng 6 năm 1967 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 17 tháng 7 năm 1970 chuyển tới Hạm đội Baltic; 17-21 tháng 10 năm 1964 tới thăm Tronheim (Na Uy); 10-15 tháng 8 năm 1972 và 14-18 tháng 6 năm 1979 – tới Helsinki (Phần Lan) và 14-19 tháng 6 năm 1978 – tới Sharbourg (Pháp); 10-15 tháng 8 năm 1976 – tới Copenhagen (Đan Mạch) và 14-19 tháng 6 năm 1978 – tới Amsterdam (Hà Lan); 1-30 tháng 6 năm 1967 ở khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Siry; còn từ 6 tháng 12 năm 1977 đến 13 tháng 1 năm 1978 – cho quân đội Angola; từ 5 tháng 6 năm 1967 đến 17 tháng 7 năm 1970 nâng cấp ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã theo đề án 56-A; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1989 và sau đó tháo kim loại.
+ “Vưderzhanưi” (số hiệu xưởng 87); từ 20 tháng 2 năm 1967 là “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Viễn Đông”; từ 1 tháng 12 năm 1992 là PKZ-7; ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 9 năm 1953; khởi công 30 tháng 6 năm 1956 ở xưởng số 199; hạ thủy 24 tháng 6 năm 1957; gia nhập biên chế 10 tháng 12 năm 1957; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 21 tháng 12 năm 1957; 17-21 tháng 11 năm 1959 tới thăm Surabaio (Indonesia); 8-14 tháng 10 năm 1973 – tới Colombo (Sri-Lanka); 20-24 tháng 12 năm 1973 – tới Umm-Casr (Iraq) và 13-19 tháng 2 năm 1974 – tới Massaua (Etiopia); từ 2 tháng 2 năm 1978 đến 1 tháng 10 năm 1983 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc, sau đó loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 25 tháng 4 năm 1992 tháo vũ khí và cải tạo thành doanh trại nổ; 29 tháng 6 năm 1993 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và sau đó tháo kim loại. + “Bravưi” (số hiệu xưởng 1203); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 25 tháng 7 năm 1953 ở xưởng số 445 theo đề án 56; đóng tiếp theo đề án 56-K; hạ thủy 28 tháng 2 năm 1955; gia nhập biên chế 9 tháng 1 năm 1956; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 28 tháng 1 năm 1956; 24-28 tháng 8 năm 1976 tới thăm Bisau (Ginea-Bisau); 9-12 tháng 11 năm 1976 – tới Luanda (Angola); 22-27 tháng 11 năm 1976 – tới Lagos (Nigeria) và 5-9 tháng 8 năm 1977 – tới Constants (Rumani); tháng 11 năm 1970 trong thời gian ở biển Bắc theo dõi các tàu NATO trong cuộc tập trận “Northern Wedding” và gặp nguy hiểm khi va chạm với tàu sân bay Anh “Ark Royal”, tàu khu trục bị thương nhẹ, 2 thủy thủy bị mất tích; từ 2 tháng 3 năm 1979 đến 6 tháng 5 năm 1985 trải qua đại tu tại “Sevmorezavod” tại Sevastopol; 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 6 tháng 8 năm 1987 và sau đó tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười, 2012, 11:52:06 am Các thông số kỹ - chiến thuật chính Đề án 56 Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 2667 + hoàn toàn: 3230 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 126,1 (118) + chiều rộng nhất: 12,7 (124) + lượng mớn nước trung bình: 4,2 Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 4 nồi hơi nước KV-76, 2 tổ hợp tuabin răng cưa TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500) + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- + các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x- 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 38 + tiết kiệm nhiên liệu: 14,7 Tầm bơi xa (ngày, tốc độ, hải lý): 3860 (14,7) Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 284 (19). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười, 2012, 12:00:42 pm Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 130mm SM-2-1: 2x2 + thiết bị pháo 45mm SM-20-Zif: 4x4 + thiết bị pháo phòng không 25mm 2M-3: - Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-56: 2x5 Chống ngầm + BMB-2: 6x1 + RBU-2500 “Smerch”: - + cơ số đạn RGB-25: - + thiết bị rải bom: 2 + bom chìm BPS/GB/BB: 48 Mìn + mìn KB-3/AMD-1000: 50/36 Trang bị vô tuyến điện (chung trên 2 đề án 56 và 56-PLO) Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-56” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 1x”Zarya” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Fut-N” (Knife Rest) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Neptun” Đài thủy âm: “Pegas-2” Các khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Yakor” hoặc “Yakor-M2” cho pháo chính + 2x”Fut-B (Hawk Screech) cho pháo chính và pháo phòng không Các trạm chỉ huy – đo xa: 1xSVP-42-50 (Egg Cup) Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại nói: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười, 2012, 12:03:34 pm Đề án 56-PLO Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 2700 + hoàn toàn: 3260 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 126,1 (118) + chiều rộng nhất: 12,7 (124) + lượng mớn nước trung bình: 4,2 Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 4 nồi hơi nước KV-76, 2 tổ hợp tuabin răng cưa TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500) + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- + các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x- 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 38 + tiết kiệm nhiên liệu: 14,7 Tầm bơi xa (ngày, tốc độ, hải lý): 3860 (14,7) Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 285 (19). Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 130mm SM-2-1: 2x2 + thiết bị pháo 45mm SM-20-Zif: 4x4 + thiết bị pháo phòng không 25mm 2M-3: 4x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-56: 1x5 Chống ngầm + BMB-2: - + RBU-2500 “Smerch”: 2x16 + cơ số đạn RGB-25: 128 + thiết bị rải bom: 2 + bom chìm BPS/GB/BB: - Mìn + mìn KB-3/AMD-1000: 50/36 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 12:31:46 am Đề án 56-EM/-M – Lớp Kildin (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56m_06_zps8901c79b.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 4 Các biến thể + 56-EM (lớp Kildin) – tàu khu trục thí nghiệm đầu tiên, trang bị tên lửa chống tàu KSS (1958) + 56-M (lớp Kildin) – lớp tàu khu trục được đống loạt với một số sự thay đổi, lắp hệ thống chống nguyên tử (PAZ) (năm 1958) + 56-U (biến thể lớp Kildin) – tàu khu trục nâng cấp, lắp tên lửa chống tàu P-15M, AK-726 và trang bị vô tuyến điện mới (1972). Các công việc chế tạo các tổ hợp tên lửa chống tàu ở Liên Xô đã được triển khai ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trữ lượng nền móng tốt cho việc này là các thiết kế vũ khí tên lửa chiến lợi phẩm của Đức và kinh nghiệm tiếp nhận sử dụng trong chiến đấu. Nguyên mẫu triển vọng nhất cho các công trình sư Liên Xô là các tên lửa có cánh của hang “Hansen” – HS-273 và HS-276, được người Đức sử dụng một cách thành công, đặc biệt là Không quân Đức trong việc chống tàu và tàu vận tải quân Đồng minh ở Địa Trung Hải là Đại Tây Dương. Năm 1948, các công việc nghiên cứu thiết kế và khoa học sản xuất chế tạo tổ hợp tên lửa chống tàu “Suka” (“Cá măng”) để trang bị cho Không quân Hải quân và các đại đội tên lửa bờ. Khi thiết kế tổ hợp, từ các mẫu còn nguyên của Đức đã được nhắc đến ở trên, đã mượn (lấy) bố ục khí động học, bộ điều khiển vô tuyến mệnh lệnh với sự quan sát tên lửa và mục tiêu qua thước ngắm quang học, bộ phận chiến đấu và một số các giải pháp kỹ thuật khác. Thiết bị động cơ là nội địa: thay cho việc tiếp nhận sử dụng động cơ tên lửa lỏng của Đức, các công trình sư Liên Xô đã chọn động cơ tuabin phản lực. Tuy nhiên, theo các nguyên nhân giá thành, việc thiết kế này đã bị dừng lại. Trữ lượng khoa học – kỹ thuật đã làm được đã trở thành cơ sở cho việc thiết kệ ở thời điểm đó tổ hợp tên lửa chống tàu và nhận tên gọi KSS (đạn chống tàu “Cá măng”). Mục đích sau cùng của thiết kế tổ hợp là đơn giản, rõ ràng và rất hấp dẫn – chế tạo vũ khí cho tàu lượng choán nước gần 3000 tấn cho việc chống lại các tàu pháo lớn của địch, nằm ngoài tầm hoạt động hiệu quả của pháo trên tàu địch. Tình hình khi đó của Hải quân Liên Xô và Hải quân đối thủ tiềm tàng là tiên đề: “Vượt lên, không đuổi kịp” là mục tiêu đặc biệt, ưu tiên và mang tính nguyên tắc, được củng cố (ở mức độ cao đáng kể) bởi các kết quả kỹ thuật thực tế và rõ ràng. Tới thời điểm hoàn thành các công việc thiết kế - thí nghiệm theo tổ hợp KSS, quan điểm kỹ thuật quân sự và chính trị của lãnh đạo Hải quân đã đạt được ở cấp độ rằng giữ lại quyết định một cách đối chiếu nhiệm vụ lựa chọn đơn giản cho vũ khí “phi thường” – mới tương ứng cho thiết bị mang. Trong sự khó khăn lớn này, đã không nảy sinh: cho dòng tàu duy nhất có lượng choán nước được chỉ định, thuận lợn, trong nguyên tắc, để bố trí KSS, có thể bắt đầu trên tàu khu trục đề án 56, hơn nữa, một cách dần dần (không xa sau đó) đã trở nên rõ ràng rằng sự đánh giá một cách thuần túy các tàu khu trục pháo – ngư lôi là tốt hay không tốt, nhưng công việc đã được thực hiện và thời gian của chúng đã qua. Bằng quyết định của Bộ Công nghiệp đóng tàu và Tư lệnh Hải quân ngày 25/26 tháng 7 năm 1955, Phòng thiết kế trung ương số 53 thuộc bộ Công nghiệp đóng tàu đã được giao thiết kế đề án tàu khu trục phóng ngư lôi, trang bị tên lửa KSS trên thân tàu khu trục đề án 56. Trong vai trò tàu thí nghiệm đã lựa chọn tàu khu trục “Bedovưi” đóng ở xưởng Nikolaev mang tên 61 chiến sĩ công xã theo đề án 56, đang nằm ở trong giai đoạn bắt đầu đóng. Đồng thời với đó, Phòng thiết kế trung ương số 53 đã thực hiện đề án kỹ thuật trang bị lại, nhận số hiệu 56-EM (thí nghiệm, biến thể). Các quyết định chung của Tư lệnh Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu ngày 16 tháng 4 năm 1956 đã nghiên cứu thiết kế đề án làm việc 56-M theo so sánh với đề án 56-EM đã có (áp dụng) những thay đổi sau: pháo phòng không 45mm SM-20-Zif được thay bằng các pháo 57mm ZiF-57; lắp vũ khí ngư lôi từ 2 thiết bị phóng ngư lôi 2 ống 533mm; lắp 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500; dự định hệ thống chống nguyên tử (PAZ); thực hiện các biện pháp tăng cường tính ổn định. Tổng công trình sư tàu đề án 56-EM(-M) là O.F.Yakob, nhóm quan sát viên từ phía Hải quân do kỹ sư – thuyền trưởng cấp 1 V.S.Avdeev. Để đẩy mạnh các công việc đóng tàu đề án 56-M, nhận tên gọi “Prozolivưi” đã tiếp nhận quyết định thực hiện thiết lập các bản vẽ làm việc mà không có sự thực hiện đề án kỹ thuật. Theo bộ phận đóng tàu đề án 56-M khác biết với đề án cơ sở đề án 56 “thuần túy” trong sự so sánh không nhiều. Việc lắp tên lửa chống tàu trong khung thân tàu không thay đổi yêu cầu bố cục lại thượng tầng mạn tàu, thay pháo 130mm và 45mm thành thiết bị phóng và trạm chuẩn bị tên lửa trước phóng, thay đổi buồng dưới tháp pháo với mục đích bố trí tên lửa chống tàu KSS thay cho hầm chứa đạn pháo 130mm và 45mm. Ở khu vực kho đạn KSS có bố trí “di động” 2 vách ngăn chính không thấm nước. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 01:24:57 am Pháo tự động 45mm SM-20-ZiF ở mạn tàu trên “Bedovưi” được “chuyển” tới mũi ở vị trí tháo pháo 130mm SM-2-1. Trên “Prozorlivưi” theo sơ đồ này bố trí các pháo tự động 57mm. Với mục đích tăng tầm xa phát hiện mục tiêu, đài ra đa định vị được lắp cao trên cột buồm, kéo theo sự thay đổi trong thiết kế của chúng. Các thiết bị ngư lôi (2 ống thay cho 5 ống) được bố trí theo thành. Ngoài những thay đổi này, trong sự bổ sung 2 bộ phận lắc xuất hiện ở các sống bên.
Kết quả những thay đổi đã chỉ ra ở trên là lượng choán nước tiêu chuẩn (trong khung thân tàu không thay thế) tăng lên theo so sánh với đề án cơ sở 56 hơn 100 tấn, còn hoàn toàn – hơn 85 tấn. Thế nhưng, nhờ sự thay đổi kiến trúc “điều chỉnh”, đã thành công một cách rõ rệt tăng độ ổn định trong gió của tàu, mặc dù diện tích hứng gió được tăng cường. Trong các mục tiêu chống lại vũ khí hủy diệt hàng loạt trong đề án 56-M, lần đầu tiên trên các tàu lớp này dự kiến làm kín thân tàu, thượng tầng, hệ thống nước và các khí tài phòng thủ tập thể khác. Tổ hợp tên lửa chống tàu KSS – vũ khí chính của tàu khu trục – gồm trực tiếp tên lửa chống tàu hoặc theo thuật ngữ khi đó – đạn máy bay, thiết bị khởi động, hệ thống điều khiển từ xa của đạn D-59-A, hệ thống bảo vệ và nạp đạn máy bay, các khí tài điều khiển bắn. Tên lửa chống tàu được trang bị đầu đạn tự dẫn bắn bằng ra đa định vị với tầm bám bắt mục tiêu gần 20km và tự động hoàn toàn trong khi bay. Sự tiếp nhận nó trong chiến đấu có khả năng vào mục tiêu trên bộ cũng như trên biển. Trong trường hợp đầu tiên, ở hành trình cuối của quỹ đạo, KSS lấy độ cao 800-1000 mét và thực hiện sự bổ nhào vào mục tiêu. Khi tấn công mục tiêu trên biển, tên lửa tiêu diệt mục tiêu từ bán cầu trên không hoặc tách bộ phận chiến đấu từ tàu lượn và bộ phận chiến đấu tấn công mục tiêu từ dưới nước. Thiết bị khởi động ổn định SM-59-1 giới thiệu là sự tương tự tháp pháo cổ điển, trang bị thay cho pháo bằng rãnh dẫn hướng. Nhiệm vụ của nó là dẫn bắn ngang cho tên lửa và ổn định theo góc tầm và góc nghiêng hướng (ngang) khi phóng. Thiết bị phóng được bọc thép. Toàn bộ trên các tàu được bố trí 8 tên lửa KSS, 7 trong số đó nằm trong hầm và 1 trên trạm chuẩn bị trước phóng. Trong hầm, các tên lửa được bảo quản ở tình trạng “khô”, cùng với các thùng nhiên liệu, được làm đầy bằng nitơ thay cho chất đốt. Do sự nạp nhiên liệu cho tên trước trước phóng, tốc độ bắn lý thuyết của 1 lần phóng tổng cộng là 8-10 phút, trên thực tế, thời gian này tăng lên đến 20 phút. Các khí tài điều khiển bắn “Kiparis-56M” bảo đảm sự thu nhập thông tin – các thông tin xuất phát điển cho việc bắn, xử lý thông tin và dẫn vào thiết bị khởi động và tới tên lửa. Cùng với thông tin nhận được từ nguồn thông tin của tàu, dự định sự nhận thông tin của nó từ các trạm trên biển và trên bờ, cần thiết khi bắn ngoài giới hạn chân trời của ra đa định vị. Trang bị pháo của tàu khu trục gồm 4 pháo tự động 4 nòng 57mm Zif-57 trên boong. Các thông tin bắn được xử lý từ 2 đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Fut-B”. Trong vai trò vũ khí chống ngầm chủ yếu, trên tàu lắp thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm mới. Các thiết bị này khác với trước đó được lắp trên đề án 56 không chỉ ở số lượng ống phóng, và còn tăng chiều dài và các đặc điểm thiết kế khác, cho phép sử dụng khi đó các ngư lôi chống ngầm mới. Bổ sung vũ khí chống ngầm còn có 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500. Lần đầu tiên trên các tàu lớp này đã bố trí các máy bảo vệ thủy âm tốc độ cao (BOKA) để chống lại các ngư lôi thủy âm và mìn. Việc sử dụng chúng dự kiến trong tốc độ 10...30 hải lý khi sóng biển cấp 7. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 02:10:42 am Trong vai trò các khí tài phát hiện và chỉ thị mục tiêu chính, loạt tàu đề án 56-M có đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi “Fut-N”, đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi và mục tiêu bay tầm thấp trên không “RiF-S”, đàu điều khiển bắn vũ khí tên lửa “Zalp-S (nhận sự chỉ thị mục tiêu từ đài ra đa định vị “Rif-S”). Điểm yếu chính của các khí tàu kỹ thuật vô tuyến được kể ra ở trên vào thời gian đó là khả năng kháng nhiễu thấp khỏi các loại nhiễu thụ động và chủ động. Sự chiếu thiết bị dưới nước và phát hiện mục tiêu đảm bảo bằng đài thủy âm “Hercules-2M”. Ăng ten đài thủy âm được bố trí (như trên đề án 56) và mũ chụp cơ động dưới sống tàu.
Quan sát sự liệt kê vũ khí trên các tàu đề án 56 chỉ ra rằng, theo thành phần trang bị vũ khí và khả năng chiến đấu, nó là sự khác biệt căn bản so với vũ khí tàu khu trục đề án 56 (không chỉ ở tổ hợp KSS). Trong lịch sử đóng tàu Liên Xô cũng như nước ngoài, đây là trường hợp hiếp, nếu không nói là trường hợp duy nhất chế tạo tàu một cách nguyên tắc với chất lượng tàu chiến mới không có những sự thay đổi căn bản thậm chí rõ ràng theo bộ phận cơ khí và đóng tàu từ đề án cơ sở. (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56m_04_zps92f90718.jpg) Trong quá trình thí nghiệm tổ hợp KSS đã thực hiện không chỉ một lần phóng tên lửa vào tàu quét mìn cố định, mô phỏng tàu tuần dương có sự hỗ trợ của các bộ phản xạ góc. Khoảng cách bắn là 33,5km thì việc bắn được thực hiện trong các điều kiện quan sát ra đa định vị trực tiếp và nhận được đánh giá “xuất sắc”. Việc kiểm tra chất lượng truyền động và các hoạt động của thiết bị năng lượng, tàu khu trục duy trì được là tốt. Tốc độ tối đa là 39 hải lý. Tàu khu trục “Prozorlivưi” có thể tính là tàu đầu tiên trong dòng thuộc đề án 56-M. Bên ngoài, so với tàu khu trục đề án 56-EM, tàu khu trục đề án 56-M khác biệt ở sự thay đổi đường bao ống khói (mỏng hơn), các cột trụ buồm vững chắc và cao hơn và không có trạm nhìn – đo xa ổn định SVP-42-50 mà trên đề án 56-EM giữ lại từ đề án 56 “thuần túy”. Ở phương Tây, các tàu này được biết đến dưới tên gọi lớp Kildin. Các tàu đề án 56-M là các tàu tên lửa Liên Xô đầu tiên trong thực tế chuyên ngành đóng tàu. Ở nước ngoài, các tàu đồng dạng với nó chỉ có thể tính là các tàu khu trục Thụy Điển “Halland” (2 tàu) được đóng trước đó 2 năm. Tuy nhiên, các tàu này ở mức độ cao hơn so với lớp tàu khu trục cổ điển, bởi tổ hợp tên lửa Rb.02 được lắp như sự bổ sung vũ khí chính và theo các khả năng chiến đấu, nó thua kém KSS. Trong sự tương ứng (phù hợp) với xu hướng mới, qua một thời gian không dài, các tàu khu trục này được phân bố thành lớp tàu mới “tàu tên lửa lớn”. Việc kiểm tra (trong thực tế) chiến đấu cho các tàu tên lửa mới không được thực hiện. Tuy nhiên, các tên lửa KSS trong quá trình thí nghiệm và huấn luyện chiến đấu, đã làm chìm xuống đáy biển không ít tàu và thuyền của Liên Xô đang trong thời gian hoạt động mà nhiều trong số chúng khi đó, là sự vinh quang và tự hào của Hải quân Liên Xô. Hoàn toàn có khả năng rằng sự tiếp nhận chiến đấu của các tàu đề án 56-M vào cuối những năm 1950 – đầu những năm 1960, nếu nó là, theo hiệu quả của chúng, có thể so sánh với sự xuất hiện của “pháo hạm”. Như khi đó, khi mà các tàu trang bị nhiều pháo đã chứng minh là không có khả năng chống lại “các hộp pho mát trên bè mảng” (коробки из-под сыра на плоту) không dễ bị tổn thương, ở vị trí này, có thể chỉ ra (gặp phải) các tàu khu trục và tuần dương trang bị pháo cho đến những tàu hạng nặng nhất của đối phương. Tuy nhiên, máy bay cường kích có hiệu quả lớn hơn trong việc chống lại các tàu khu trục tên lửa. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 12:19:28 pm Các biến thể Như đã nhấn mạnh ở trên, các tàu đề án 56-EM và 56-M khác nhau ở các giải pháp kiến trúc không đáng kể - trên các tàu đề án sau có ống khói mỏng hơn, cột buồm cao hơn, đồng thời không có trạm quan sát – đo xa SVP-42-50. Ngoài ra, các pháo phòng không tự động SM-20-ZiF được thay bằng pháo 57mm Zif-75, lắp hệ thống phòng thủ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Các điểm yếu của tên lửa KSS trở thành nguyên nhân nâng cấp 3 tàu theo đề án 56-U với việc lắp tổ hợp tên lửa có cánh chống tàu mới P-15M “Termit” theo thành ở mạn tàu và 2 thiết bị pháo 726. Đề án được thực hiện ở Phòng thiết kế thí nghiệm Phương Bắc vào cuối những năm 1960. Ngoài vũ khí chính đã nâng cấp trang bị kỹ thuật vô tuyến. Ở phương Tây, các tàu này được nhận tên gọi biến thể lớp Kildin. Chương trình đóng tàu Tàu khu trục đầu tiên được khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 445) mùng 1 tháng 12 năm 1953 theo đề án 56 và đóng tiếp như tàu thí nghiệm đề án 56-EM. Ngày 30 tháng 6 năm 1958, tàu gia nhập biên chế và sau đó 1 tháng, đã gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen. Tàu khu trục đầu tiên trong loạt “Prozorlivưi” đề án 56-M khởi công 1 tháng 9 năm 1956 ở xưởng đóng tàu mang tên 61 chiến sĩ công xã, hạ thủy 30 tháng 6 năm 1957, còn từ 25 tháng 9 đến 15 tháng 11 năm 1958, tàu trải qua các thí nghiệm cấp xưởng và vận động mà khi chưa được kết thúc hoàn toàn và sự dừng của chúng cùng với các thí nghiệm cấp nhà nước. Các thí nghiệm sau cùng (cấp nhà nước) đã diễn ra từ 16 tháng 11 đến 30 tháng 12 cùng năm ở biển Đen. Trong cùng năm 1958 đã hoàn thành việc đóng 2 tàu khu trục: “Neulovimưi” (ở Leningrad) và “Neuderzhimưi” (ở Komsomol-na-Amur). Thêm vào khi đó, khi tiếp nhận quyết định về trang bị tàu khu trục đề án 56 bằng tổ hợp KSS, đã ngay lập tức bố trí trên các tàu này 2 thiết bị phóng. Tuy nhiên, khi vào giai đoạn nghiên cứu bước đầu đã trở nên rõ ràng rằng, trong thân tàu không có sự thay đổi của đề án 56, việc này không thực hiện thành công. Vì thế, song song với việc đóng các tàu khu trục đề án 56-M đã thực hiện thiết kế tàu mới với 2 tổ hợp KSS dưới số hiệu 57. Bằng cách này, các tàu đề an 56 trở thành sự chuyển giao từ đề án 56 sang đề án 57 và vì thế số lượng của chúng bị hạn chế ở số 4 (gồm tàu thí nghiệm 56-EM). Tàu thứ 5 bị dừng đóng và không được khởi công. Tình hình đến năm 2007 Hai tàu khu trục đã gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen và theo 1 vào các Hạm đội Thái Bình Dương và Baltic (sau đó đồng thời chuyển sang Hạm đội Biển Đen). Từ 19 tháng 5 năm 1966, toàn bộ các tàu trong dòng được phân loại lại thành các tàu tên lửa lớn, sau đó (trong những năm 1970) – thành tàu chống ngầm lớn và năm 1977 – một lần nữa thành tàu khu trục phóng ngư lôi (trừ “Neuderzhimưi”). Trong thời gian ở khu vực chiến sự, các tàu đề án 56-M đã thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội các nước khác: “Bedovưi” – Ai Cập từ 7 tháng 10 năm 1970 đến 15 tháng 7 năm 1971; “Prozorlivưi” – Angola từ 1 tháng 11 đến 31 tháng 12 năm 1979. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 12:21:19 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56m_draw3_zpsd180670f.gif) Sự bố trí vũ khí trên tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56-M 1. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 2. Thiết bị pháo 4 nòng 57mm Zif-75 3. Các trạm ăng ten đài ra đa định vị “Fut-B” điều khiển bắn pháo 57mm 4. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N” 5. Đài điều khiển bắn tên lửa chống tàu KSS “Zalp-S” 6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Rif-S” 7. Các thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm 8. Trạm chuẩn bị trước phóng cho các tên lửa 9. Thiết bị phóng SM-59-1 10. Máy bảo vệ thủy âm cao tốc BOKA. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 12:30:32 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56m_draw2_zpsfca6964d.jpg) Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56-M 1. Thiết bị phóng SM-59-1 2. Trạm chuẩn bị trước phóng cho tên lửa 3. Thiết bị pháo ZiF-75 4. Trạm ăng ten đài ra đa định vị “Fut-N” 5. Ăng ten đài ra đa định vị “RiF-S” 6. Trạm ăng ten đài ra đa định vị thủy âm “Fut-B” 7. Buồng hoa tiêu 8. Buồng sỹ quan 9. Buồng chiến đấu 10. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500 11. Khoang tời 12. Kho chứa đạn 13. Thùng nhiên liệu 14. Trạm trung tâm 15. Buồng máy – nồi hơi ở mũi tàu 16. Khoang nồi hơi hỗ trợ 17. Buồng máy – nồi hơi ở mạn tàu 18. Thùng nước dự trữ 19. Buồng tay lái 20. Bè cứu nạn 21. Thuyền 6 tay chèo 22. Thiết bị ngư lôi D(P)TA-53-56M 23. Xuồng máy 24. Xuồng máy chỉ huy Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 12:36:49 pm Các bản vẽ thiết kế và bản vẽ màu tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 56
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56em_draw2_zps64f3bbce.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56m_draw1_zps9ba23467.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56em_02_zps3a34025b.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/56m_02_zps5232cd6b.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười, 2012, 12:47:24 pm Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Bedovưi” (số hiệu xưởng 1204); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 9 năm 1952; khởi công 1 tháng 12 năm 1953 ở xưởng số 445 tại Nikolaev theo đề án 56 và đóng tiếp theo đề án 56-EM; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1955; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 30 tháng 7 năm 1958; là tàu đầu tiên trong Hải quân Liên Xô trang bị vũ khí tên lửa chống tàu; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu khu trục phóng ngư lôi; 26 tháng 1 năm 1973 – tàu chống ngầm lớn; 28 tháng 6 năm 1977 – trở lại thành tàu khu trục phóng ngư lôi; 20-27 tháng 7 năm 1967 tới thăm Havana (Cuba) và 9-11 tháng 9 năm 1969 – tới Bridgeztaun (Barbaros); từ 7 tháng 10 năm 1970 đến 15 tháng 7 năm 1971 trong khu vực chiến tranh, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; từ 18 tháng 7 đến 25 tháng 1 năm 1974 nâng cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-U; từ 23 tháng 4 năm 1981 đến 14 tháng 5 năm 1986 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod”; 25 tháng 4 năm 1989 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 5 tháng 8 năm 1989 bán cho công ty tư nhân Thổ Nhĩ Kỳ để tháo kim loại; giải thể 1 tháng 10 năm 1989. + “Prozorlivưi” (số hiệu xưởng 1210); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 10 năm 1955; khởi công ở xưởng số 445 ở Nikolaev theo đề án 56, đóng tiếp theo đề án 56-M; hạ thủy 30 tháng 7 nawm1 957; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 8 tháng 3 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu khu trục tên lửa; 1 tháng 2 năm 1977 – tàu chống ngầm lớn; 3 tháng 8 năm 1977 – trở lại thành tàu khu trục ngư lôi; năm 1976-1977 trải qua nâng cấp ở “Sevmorezavod” theo đề án 56-U; 25 tháng 8 năm 1978 chuyển tới Hạm đội Baltic; 14-18 tháng 6 năm 1979 tới thăm Helsinki (Phần Lan); 1 tháng 11 - 31 tháng 12 năm 1979 ở khu vực chiến tranh, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Angola; 24 tháng 6 năm 1991 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1991 và sau đó tháo kim loại. + “Neulovimưi” (số hiệu xưởng 743/765); ghi tên vào danh sách Hải quân 29 tháng 4 năm 1954; khởi công 23 tháng 2 năm 1957 ở xưởng số 190 ở Leningrad theo đề án 56, đóng lại theo đề án 56-M; hạ thủy 27 tháng 2 năm 1958; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 8 tháng 3 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu khu trục tên lửa; 26 tháng 1 năm 1973 – tàu chống ngầm lớn; 3 tháng 8 năm 1977 – trở lại thành tàu khu trục phóng ngư lôi; 15-20 tháng 2 năm 1969 tới thăm Conacri (Ginea) và 5-10 tháng 3 năm 1969 – tới Lagos (Nigeria); 14 tháng 4 năm 1969 chuyến tới Hạm đội Biển Đen; từ 2 tháng 12 năm 1971 đến 4 tháng 10 năm 1972 nân cấp ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol theo đề án 56-U; 6 tháng 6 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa tới Sevastopol neo đậu; 18 tháng 3 năm 1982 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 11 tháng 2 năm 1991 và sau đó bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo kim loại. + “Heuderzhnưi” (số hiệu xưởng 88); từ 14 tháng 3 năm 1986 là tàu huấn luyện UTS-567; ghi tên vào danh sách Hải quân 19 tháng 1 năm 1955; khởi công 23 tháng 2 năm 1957 ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur theo đề án 56 và đóng tiếp theo đề án 56-M; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1958; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 8 tháng 3 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa; 3 tháng 8 năm 1977 – thành tàu chống ngầm lớn; 23 tháng 7 năm 1979 đưa tới “Dalzavod” ở Vladivostoc để đại tu; 8 tháng 12 năm 1985 tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu huấn luyện; 10 tháng 4 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó tháo kim loại. + “Neukrotimưi” (số hiệu xưởng 89); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 10 năm 1955, nhưng nhanh chóng dừng đóng ở xưởng số 199 và không được khởi công. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười, 2012, 12:25:49 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Đề án 56-EM Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 2890 + hoàn toàn: 3447 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 126,1 (118) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12,7 (12,4) + lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 4,3 Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 4 nồi hơi nước KV-76,2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500) + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 39 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý) + 2400 (18) + 3900 (14) Thời gian hoạt động, ngày: 10 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 270 (22). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười, 2012, 12:37:21 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng SM-59-1 cho tên lửa chống tàu có cánh KSS: 1x1 + tên lửa chống tàu có cánh KSS (SS-N-1 “Scrubber”): 7…8 Pháo + thiết bị pháo 45mm SM-20-ZiF: 4x4 + thiết bị pháo 57mm ZiF-75: - Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53-56M: 2x2 Chống ngầm + RBU-2500 “Smerch”: 2x16 + cơ số đạn RGB-25: 128 Trang bị vô tuyến điện (chung cho 2 đề án)Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-56M” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Fut-N” (Knife Rest) Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay thấp: 1x”Rif-S” Đài thủy âm: “Hercules-2M” Các khí tài tác chiến điện tử + “Bizan-4” + BOKA – bảo vệ thủy âm Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Yakor” cho pháo (chỉ trên “Vedovưi”) + 1x”Zalp-S” cho tên lửa chống tàu có cánh + 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo Các trạm chỉ huy – đo xa: 1xSVP-42-50 (Egg Cup) chỉ có trên “Vedovưi” Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại nói: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười, 2012, 12:39:04 am Đề án 56-M Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 2767 + hoàn toàn: 3315 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 126,1 (118) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12,7 (12,4) + lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 4,3 Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 4 nồi hơi nước KV-76,2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500) + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 39 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý) + 2400 (18) + 3900 (14) Thời gian hoạt động, ngày: 10 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 270 (22). Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng SM-59-1 cho tên lửa chống tàu có cánh KSS: 1x1 + tên lửa chống tàu có cánh KSS (SS-N-1 “Scrubber”): 7…8 Pháo + thiết bị pháo 45mm SM-20-ZiF: - + thiết bị pháo 57mm ZiF-75: 4x4 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53-56M: 2x2 Chống ngầm + RBU-2500 “Smerch”: 2x16 + cơ số đạn RGB-25: 128 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười, 2012, 04:14:36 pm Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 57-bis – Lớp Krupny (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/57bis_16_zpsce9040d1.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 8+1 Các biến thể + 57 – đề án kỹ thuật lúc đầu + 57-bis (lớp Krupny) – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu khu trục với vũ khí tên lửa (1960) + 57-A (lớp Kanin) – tàu khu trục nâng cấp không có tên lửa chống tàu có cánh KSS, lắp tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” và trang bị vô tuyến điện mới (1968). Khi tiếp nhận quyết định trang bị cho tàu khu trục đề án 56 tổ hợp tên lửa chống tàu KSS, đã có nhiệm vụ bố trí trên chúng ngay lập tức 2 thiết bị phóng, tuy nhiên, trong giai đoạn đầu quá trình nghiên cứu đã trở nên rõ ràng rằng trong thân tàu đề án 56 không có sự thay đổi, công việc này không nhận được kết quả. Vì thế, song song với việc đóng tàu khu trục đề án 56-M, tương ứng với quyết định của Bộ công nghiệp đóng tàu và Tư lệnh Hải quân từ 25/26 tháng 7 năm 1955 đã thực hiện thiết kế tàu mới với 2 tổ hợp KSS dưới số hiệu 57 trên thân tàu đề án 56. Ngày 23 tháng 1 năm 1965, Phòng thiết kế Trung ương số 53 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu đã đệ trình đề án kỹ thuật 57 với 2 thiết bị phóng SM-59 và 19 đạn phản lực (trong những năm đó là tên gọi của tên lửa chống tàu) KSS. Bởi vì khi nghiên cứu đề án này đã chỉ ra chất lượng cơ động trên biển của tàu khu trục đề án 57 không cao: tốc độ tối đa bị giảm và yêu cầu tiếp nhận 250 tấn tải trọng dằn để tạo độ ổn định, theo đó, có quyết định làm lại một cách căn bản đề án này thành đề án 57-bis. Công việc thiết kế cũng được thực hiện ở Phòng thiết kế trung ương số 53 dưới sự lãnh đạo của Tổng công trình sư O.F.Yakov, còn nhóm giám sát viên thực hiện dự án từ phía Hải quân do kỹ sư – đại tá A.T.Ilichev đứng đầu. Bởi vì ngay khi thiết kế đề án 56-M đã trở nên rõ ràng rằng sự bố trí 2 tổ hợp KSS yêu cầu thiết kế thân tàu mới, kích thước khác so với đề án 56, Viện Hải quân số 1 cùng Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên A.N.Krưlov đã tiến hành các nghiên cứu và thí nghiệm nhiều lần loạt mô hình trong bể nước. Kết quả là đường bao thân tàu và các phần tử bản vẽ lý thuyết đã chỉ ra, về chủ yếu là sự tăng cường lớn đề án 56. (Sau đó, đã một lần nữa chế tạo các tài liệu theo đề án 57-bis trong vai trò quan sát viên chính từ phía Hải quân do kỹ sư - thuyền trưởng cấp 1 M.A.Yanchevski ký – trong thời điểm đó là đại diện quân sự cao cấp ở Phòng thiết kế trung ương số 53 – tuy nhiên, công việc thiết kế chế tạo khi đó đã kết thúc. Thực tế này đã đã chỉ ra sự tồn tại trong thời gian dài: số lượng lớn các tàu liệu thiết kế của Phòng thiết kế trung ương số 53 trong những năm 1950-60 được ký bởi M.A.Yanchevski, mặc thù thực tế các giám giát viên chính là những sỹ quan khác. Bản thân Yanchevski chỉ tham gia trong các đề án 41 và 56). Đến 30 tháng 12 năm 1956, đề án kỹ thuật dưới số hiệu 57-bis đã hoàn thành việc thiết kế. Nhiệm vụ chính của tàu mới là “… tiêu diệt các tàu nổi của địch (tàu chủ lực, tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu vận tải lớn)”, nhiệm vụ bổ sung “… sử dụng tổ hợp vũ khí tên lửa KSS theo các mục tiêu phòng thủ bờ của địch”. Nguyên tắc phân bố các trạm chiến đấu, vũ khí, các thiết bị máy – nồi hơi, các buồng cho người ở và phục vụ, về cơ bản, giữ lại theo đề án 56 với những sự thay đổi không lớn, liên quan với sự bố trí vũ khí. Về cơ bản, việc này liên qua tới các thiết bị ngư lôi, cũng như trên đề án 56-M, từ mặt phẳng kính (xuyên tâm) chuyển tới các thành tàu. Thiết bị năng lượng chính của tàu đề án 57-bis được tiếp nhận theo đề án 56 với những sự thay đổi không lớn. Như trong các buồng máy – nồi hơi đã chế tạo các cabin kín với trạm điều khiển từ xa cố định. Hệ thống năng lượng điện lần đầu tiên được chế tạo với điện thế 380V, ngoài ra, công suất mỗi máy phát điện diesel tăng từ 200 lên 300 kW. Nhờ lượng choán nước tăng, trên đề án 57-bis, các điều kiện cho người ở của thủy thủ và hạ sỹ quan đã được cải thiện. Thượng tầng tàu được chế tạo từ thép, không phải từ nhôm như trên các đề án trước. Theo vũ khí trang bị, tàu khu trục đề án 57-bis, về cơ bản, lặp lại trên đề án 56-M với những sự thay đổi không đáng kể. Trong vai trò vũ khí chính trên tàu lắp tổ hợp tên lửa KSS với 2 thiết bị phóng SM-59-1A ở cuối mũi và mạn tàu với cơ số 12 đạn tên lửa chống tàu có cánh. Để bổ sung, trong mỗi thiết bị có thể tiếp nhận thêm 2 tên lửa. Sự điều khiển bắn được thực hiện bằng hệ thống điều khiển “Topol”. Hệ thống dự bị “Kedr” quyết định đơn giải hóa nhiệm vụ bắn chỉ vào các mục tiêu trên biển trong các điều kiện quan sát mục tiêu trực tiếp bằng ra đa định vị. Hệ thống điều khiển phóng chính đảm bảo bắn loạt bằng 2 thiết bị phóng vào 1 mục tiêu trên biển hoặc trên bờ, hoặc bắn riêng (độc lập) và 2 mục tiêu khác nhau. Tốc độ bắn giữa các lần phóng tên lửa là 5-15 giây. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười, 2012, 04:25:14 pm Các bản vẽ và hình vẽ tàu khu trục ngư lôi đề án 57-bis
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/57bis_draw3_zpsf844f46a.jpg) Tàu tên lửa lớn “Boiki”; thành phần vũ khí: tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh SM-59 (12-16 tên lửa KSS), 2 RBU-2500 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/57bis_02_zps27ef26ff.jpg) Tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 57-bis, năm 1961 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/57bis_draw2_zps7bf0c75c.jpg) Được khởi công như các tàu khu trục, 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn, còn sau khi nâng cấp – tàu chống ngầm lớn. Sư cần thiết nâng cấp đắt đỏ nhất là hiệu quả thấp của tên lửa chống tàu có cánh KSS. (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/57bis_03_zpsd75bcf3b.jpg) Hình vẽ màu đề án tàu khu trục 57-bis Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười, 2012, 05:45:46 pm Pháo của đề án 57-bis cũng như trên đề án 56-M – có 4 pháo tự động 4 nòng 57mm Zif-75 với 2 đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Fut-B”, tuy nhiên sự bố trí các pháo tự động, cũng như trên đề án 56, được khôi phục (lặp lại) theo sơ đồ hình thoi. Trong vai trò hệ thống điều khiển hỏa lực dự bị đã lắp trên thượng tầng mũi trạm chỉ huy – đo xa SVP-42-50 (không có đài ra đa định vị). Các kích thước lớn của tàu đề án 57-bis theo so sánh với đề án 56-M, cụ thể là chiều dài, cho phép tăng cường vũ khí ngư lôi do lắp các thiết bị ngư lôi 3 ống phóng thay cho 2. Vũ khí bom phản lực được giữ lại theo đề án 56-M – 2 RBU-2500. Tuy nhiên, các thiết bị phóng bom phản lực được bố trí theo thành và di chuyển tới vị trí mạn tàu và lấp vào chỗ thiết bị phóng SM-59-1A ở mũi tàu.
Trang bị vô tuyến điện của tàu, trừ đài ra đa định vị bắn được nhắc đến bao gồm đài ra đa định vị 2 tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Angara” (khí đó là mới). Trang bị thông ti liên lạc và thủy âm của tàu đề án 57-bis theo danh pháp thực tế không khác so với trang bị tương ứng của đề án 56-M. Để bảo vệ khỏi vũ khí mìn – ngư lôi, ngoài tiếp nhận như trên đề án 56-M là hệ thống bảo vệ thủy âm, trên đề án 57-bis còn lắp máy giữ xích TsOK-2-60 (bảo vệ khỏi các loại mìn neo tiếp xúc). Ở bộ phận mạn tàu bố trí và trang bị bãi cất – hạ cánh cho trực thăng Ka-15. Nhiên liệu dự trữ đảm bảo cho trực thăng cất cánh 5 lần. Ngoài ra, để đảm bảo cho đội kỹ thuật và đội bay có các buồng cho người sống tương ứng. Nhiệm vụ chiến đấu của trực thăng là rất đơn giản – giám sát bằng mắt thường bối cảnh trên mặt nước. Thực tế, việc sử dụng các trực thăng trên các tàu này là rất hiếm. Ngay trực thăng Ka-15 cũng tỏ ra không thành công và nhanh chóng bị rút khỏi trang bị. Mặc dù vậy, các tàu khu trục đề án 57-bis có thể tính toán là những tàu chiến Liên Xô đầu tiên đáng tin cậy với trang bị trực thăng. Ở phương Tây, các tàu khu trục mới của Liên Xô nhận tên gọi “lớp Krupny”. Xem xét ngắn gọn các phần tử kỹ - chiến thuật chính của tàu đề án 57-bis được phân loại lại, cũng như dòng tàu đề án 56 trước thành tàu tên lửa lớn, không đưa lại các cơ sở khẳng định rằng đây là bước mới về chất trong ngành đóng tàu Liên Xô. Nó đã kết thúc sự phát triển một cách tương đối lớp tàu khu trục đầu tiên sau chiến tranh của những năm 1950, bắt đầu bởi đề án số 41. Khi chuyển từ đề án 41 sang đề án 56, những sự thay đổi căn bản chỉ hướng vào thân tàu. Thực tế, thiết bị năng lượng và vũ khí thay đổi không lớn. Đề án 56-M đã giữ lại nhưng thay đổi không lớn ở thân tàu và thiết bị năng lượng. Trong sự chuyển đổi từ đề án 56-M tới đề án 57-bis, những sự thay đổi cơ bản là tỷ lệ kích thước thân tàu tăng trong thiết bị năng lượng và trang bị vũ khí không đổi. Sự bố trí chung và các giải pháp bố cục – kiến trúc được giữ lại không thay đổi trong sự phát triển kể trên. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng thậm chí những thiết kế tương tự trong Hải quân nước ngoài vào thời gian đó chưa có. Theo hướng các đề án 41, 56, 57, lần đầu tiên trong Hạm đội Liên Xô đã thể hiện hàng loạt các giải pháp kỹ thuật thực tế và mới căn bản: lần đầu tiên thực hiện cấu trúc thân có boong trơn trên tàu khu trục (đề án 41); lần đầu tiên áp dụng các tham số hơi nước tăng cường (đề án 41) và tăng hiệu điện thế hệ thống năng lượng (đề án 57-bis); lần đầu tiên áp dụng máy chống rung chủ động (đề án 56); lần đầu tiên lắp vũ khí tên lửa tấn công (chống tàu – đề án 56-M); lần đầu tiên lắp hệ thống chống nguyên tử và hóa học (đề án 56-M); lần đầu tiên lắp tên lửa phòng không điều khiển (đề án 56-K); lần đầu tiên bắt đấu bố trí vũ khí trực thăng thường trực (tàu khu trục “Svetlưi” đề án 56 và đề án 57-bis). Trong cùng thời gian thiết kế tàu đề án 57-bis đã chỉ ra rằng thế hệ các đề án 41, 56, 57 đã được tận dụng hoàn toàn các khả năng của chúng. Đối với các tàu thế hệ mới, yêu cầu các giải pháp kỹ thuật mới, mà phần lớn là hướng tiếp cận mới. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười, 2012, 12:02:28 am Các biến thể Sự phục vụ của các tàu khu trục (từ năm 1966 – các tàu tên lửa lớn) đề án 57-bis trong vai trò thiết bị mang tên lửa chống tàu có cánh được xem là không lâu. Hiệu quả và độ tin cậy rất thấp của các tên lửa KSS là nguyên nhân chính cho việc nâng cấp theo đề án 57-A. Toàn bộ các bộ phận thuộc tổ hợp tên lửa có cánh KSS bị tháo khỏi các tàu, lắp tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần “Volna”, các pháo tự động 30mm, các thiết bị phóng bom phản lực mới RBU và thiết bị ngư lôi 5 ống phóng. Bãi cất hạ cánh chi trực thăng ở mạn tàu đồng thời chịu những sự thay đổi đáng kể để làm căn cứ cho trực thăng hạng nặng hơn Ka-25. Trên vị trí cột buồm chính, bố trí trạm ăng ten của đài dẫn bắn tên lửa phòng không “Yatagan”, còn ở cột buồm mũi – đài ra đa định vị 3 tọa độ mới và các khí tài vô tuyến điện khác. Lượng choán nước hoàn toàn tăng thêm 300 tấn. Sau khi nâng cấp, các tàu đề án 57-A được phân loại thành tàu chống ngầm lớn. Ở phương Tây cũng gọi các tàu này dưới tên “lớp Krupny” – có thể là tính các tàu được đóng mới. Chương trình đóng tàu Việc đóng các tàu đề án 57-bis được triển khai ở 3 xưởng: xưởng đóng tàu mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (4 tàu); xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (3 tàu) và xưởng mang tên đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (1 tàu). Tương ứng với sự phân loại lúc đầu, chúng nhận tên gọi theo các tàu khu trục ngư lôi, mà tới thời điểm đó, nhiều tàu khu trục của Hải quân Liên Xô đã mang. Tàu khu trục đầu tiên – “Gnevnưi” – được khởi công tháng 11 năm 1957 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã và gia nhập biên chế tháng 1 năm 1960. Tàu cuối cùng trong lớp – “Gordưi” – được bàn giao cho Hải quân tháng 11 năm 1961. Thân tàu thứ 9, được đóng ở Komsomol-na-Amur và nhận tên gọi “Khrabrưi” đã bị dừng đóng và cải tạo lại thành tàu năng lượng (tàu tiếp tế) và sau đó bán, tháo kim loại. Tình hình đến năm 2009 Các tàu đề án 57-bis gia nhập biên chế các Hạm đội sau: 3 – Phương Bắc, 2 – Biển Đen (sau đó, 1 chuyển sang Thái Bình Dương, còn tàu còn lại – Phương Bắc), 1 – Baltic, 2 – Thái Bình Dương. Tàu khu trục “Gremyasi” cùng với tên gọi đã nhân được cờ Cận vệ Hải quân của tàu tiền nhiệm sau cùng – tàu khu trục nổi tiếng thuộc đề án 7 xuất sắc trong biên chế Hạm đội Phương Bắc trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Từ 19 tháng 5 năm 1966, toàn bộ các tàu khu trục đề án 57-bis được phân loại lại thành tàu tên lửa lớn. Nằm trong khu vực chiến tranh, thực hienj nhiệm vụ yểm trợ quân đội các nước: “Gnevnưi” – Ai Cập trong tháng 6 năm 1976 và từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1968. Siry – tháng 6 năm 1967; “Gremyasi” – Ai Cập năm 1971, “Zhguchi” – Ai Cập trong thời gian toàn bộ năm 1970. Sau khi nâng cấp trong những năm 1960-70 theo đề án 57-A, toàn bộ các tàu lớp “Gnevnưi” được phân loại thành tàu chống ngầm lớn. Trong vai trò này, chúng phục vụ đến cuối những năm 1980 - tới khi Liên Xô tan rã. Tàu khu trục cuối cùng thuộc đề án 57-A – “Zorki”, được phân loại lại thành tàu tuần tra tên lửa, nằm trong biên chế đến năm 1993. Các tàu còn lại cho đến khi bị loại khỏi biên chế được sử dụng trong vai trò tàu mục tiêu để thí nghiệm các tên lửa chống tàu hoặc làm doanh trại nổi. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười, 2012, 12:28:53 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Gnevnưi” (số hiệu xưởng 1401); khởi công 16 tháng 11 năm 1957 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 445); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 12 năm 1957; hạ thủy 30 tháng 11 năm 1958; gia nhập biên chế 10 tháng 1 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 22 tháng 8 năm 1960; 21-26 tháng 1 năm 1967 và 9-15 tháng 1 năm 1969 tới thăm Massaua (Etiopia); 15-20 tháng 10 năm 1968 và 20-25 tháng 4 năm 1972 – tới Casablanca (Maroc); 2-7 tháng 10 năm 1969 – tới Aden (Nam Yemen); 5-9 tháng 4 năm 1969 – tới Nairobi (Mavriki); 22-27 tháng 11 năm 1975 – tới Bombei (Ấn Độ) và 25-30 tháng 8 năm 1976 – tới Vancouver (Canada); 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; 1-31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 4 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; còn từ 5-30 tháng 6 năm 1967 – quân đội Siry’ 13 tháng 3 năm 1969 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn 1972 – 30 tháng 12 năm 1973 nâng cấp và đóng lại ở Nikolaev theo đề án 57-A và 7 tháng 3 năm 1974 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 8 tháng 5 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 17 tháng 7 năm 1988 và sau đó tháo kim loại. + “Gremyasi” (số hiệu xưởng 771); từ 25 tháng 8 năm 1988 là OS-135 ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 12 năm 1957; khởi công 25 tháng 2 năm 1958 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (số 190); hạ thủy 30 tháng 4 năm 1959; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 19 tháng 12 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 1966 - 29 tháng 12 năm 1968 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 20 tháng 1 năm 1969 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 14-27 tháng 5 năm 1970 tới thăm Havana và Senfuegos (Cuba); 10-15 tháng 9 năm 1971 – tới Oslo (Na Uy) và 2-26 tháng 9 năm 1971 – tới Rotterdam (Hà Lan); năm 1971 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 17 tháng 7 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí, phân loại lại thành tàu thí nghiệm; 2 tháng 10 năm 1991 loại khỏi danh sách tàu Hải quân; năm 1994 bán cho công ty tư nhân Italia để tháo kim loại. Trong giai đoạn phục vụ mang cờ Cận vệ Hải quân, thừa kế từ tàu khu trục cùng tên đề án số 7. + “Upornưi” (số hiệu xưởng 1402); từ 27 tháng 1 năm 1992 là PKZ-12; khởi công 9 tháng 4 năm 1958 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (số 445); hạ thủy 14 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế 3 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 20 tháng 12 năm 1960; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 26 tháng 12 năm 1967 – 22 tháng 3 năm 1968 trải qua đại tu ở “Dalzvod” tại Vladivostoc theo đề án 57-A và 3 tháng 8 năm 1977 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; năm 1969 phục vụ trực chiến ở Ấn Độ Dương và đã hoàn thành chuyến công tác, ghie qua Zanzibar (Tanzania), Male (quần đảo Maldives), Umm-Casr (Iraq), Bender-Abbas (Iran) và Berbera (Somali); 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và phân loại lại thành doanh trại nổi; 29 tháng 6 năm 1993 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và sau đó bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười, 2012, 12:47:31 am + “Zhguchi” (số hiệu xưởng 722); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1958; khởi công 23 tháng 6 năm 1958 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (số 100)’ hạ thủy 14 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 3 tháng 1 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 6 tháng 2 năm 1967 – 10 tháng 1 năm 1969 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 21 tháng 10 năm 1969 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1970 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 10-15 tháng 9 năm 1971 và 10-15 tháng 10 năm 1977 tới thăm Oslo (Na Uy); 21-16 tháng 9 năm 1971 – tới Rotterdam (Hà Lan); 12-17 tháng 5 năm 1975 – tới Boston (Mỹ) và 24-19 tháng 5 năm 1977 – tới Sharburg (Pháp); 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 6 tháng 8 năm 1987 và sau đó bán cho công ty tư nhân Italia để tháo kim loại.
+ “Gordưi” (số hiệu xưởng 90); ghi tên vào danh sách Hải quân 17 tháng 12 năm 1967; khởi công tháng 5 năm 1959 ở xưởng mang tên đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 24 tháng 5 năm 1960; gia nhập biên chế 6 tháng 2 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 15 tháng 11 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; 28-31 tháng 3 năm 1968 tới thăm Madras và 3-6 tháng 4 năm 1968 – tới Bombei (Ấn Độ); trong giai đoạn 1973-1975 nâng cấp và đóng lại ở “Dalzavod” tại Vladivostoc theo đề án 57-A và 20 tháng 6 năm 1975 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 30 tháng 7 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 9 tháng 8 năm 1987 và sau đó bị đánh chìm trên biển Bering gần bờ biển Camchatka trong vai trò tàu mục tiêu khi đảm bảo xử lý bắn tên lửa thật. + “Boiki” (số hiệu xưởng 1403); khởi công 2 tháng 4 năm 1959 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (số 445); ghi tên vào danh sách Hải quân 8 tháng 7 năm 1959; hạ thủy 15 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế 26 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 14 tháng 10 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; 6-11 tháng 8 năm 1966 tới thăm Alecsandria (Ai Cập); 15-20 tháng 2 năm 1969 – tới Conacri (Ginea); 5-10 tháng 3 năm 1969 – tới Lagos (Nigeria); trong giai đoạn 23 tháng 10 năm 1970 – 6 tháng 4 năm 1973 nâng cấp và đóng lại ở Nikolaev theo đề án 57-A và 2 tháng 11 năm 1972 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 8 tháng 6 năm 1970 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 12-17 tháng 11 năm 1974 tới thăm Oslo (Na Uy) và 12-17 tháng 5 năm 1975 – tới Boston (Mỹ); 9 tháng 2 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 17 tháng 7 năm 1988; năm 1989 bán cho công tuy tư nhân Tây Ban Nha để tháo kim loại, nhưng trong khi kéo từ vịnh Kolsk tới El-Ferolo đã gặp bão mạnh và bị vứt gần bãi đá trên bờ gần bờ biển Bắc Na Uy. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười, 2012, 01:08:56 am + “Zorki” (số hiệu xưởng 773); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1958; khởi công 17 thnags 4 năm 1959 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad (số 190); hạ thủy 30 tháng 4 năm 1960; gia nhập bien chế 30 tháng 9 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 14 tháng 10 năm 1961; 19 tháng 5 năm 1966 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 29 tháng 5 năm 1969 – 31 tháng 12 năm 1971 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 27 tháng 1 năm 1971 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 12-17 tháng 11 năm 1974 tới thăm Oslo (Na Uy) và 12-17 tháng 4 năm 1979 – tới Bisau (Ginea – Bisau); từ 10 tháng 2 năm 1984 đến 27 tháng 2 năm 1987 trải qua đại tu ở Murmansk; 1 tháng 6 năm 1992 phân loại lại thành tàu tên lửa tuần tra; 30 tháng 6 năm 1993 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 31 tháng 12 năm 1993 và sau đó tháo kim loại.
+ “Derzki” (số hiệu xưởng 774); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1958; khởi công 10 tháng 10 năm 1959 ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad (số 190); hạ thủy 4 tháng 2 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 12 tháng 1 năm 1962; 19 tháng 5 năm 1961 phân loại lại thành tàu tên lửa lớn; trong giai đoạn 20 tháng 11 năm 1967 – 22 tháng 4 năm 1972 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 57-A và 20 tháng 10 năm 1970 phân loại lại thành tàu chống ngầm lớn; 4-9 tháng 8 năm 1973 tới thăm Havana (Cuba); 7 tháng 8 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1990 trở thành tàu mục tiêu để đảm bảo thực hiện các bài tập chiến đấu. + “Khrabrưi” (số hiệu xưởng 91); từ 25 tháng 1 năm 1969 là ENS-73; ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 4 năm 1959; khởi công năm 1959 ở xưởng mang tên đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy năm 1961; 1 tháng 7 năm 1973 dừng đóng và niêm cất; 25 tháng 1 năm 1969 phân loại lại thành tàu năng lương; 11 tháng 3 năm 1982 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và bàn giao tới “Glavvtochermeta” để tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười, 2012, 01:16:00 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 3500 + hoàn toàn: 4192 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 139 (130) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 14,8 (13,9) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,47 Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 4 nồi hơi nước KV-76, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 800 (53 500) + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- + các máy phát điện – diesel, công suất, (kW): 2x300 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 34,5 + tiết kiệm năng lượng: 18 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3060 (18) Thời gian hoạt động: 10 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 290 (21) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười, 2012, 01:18:41 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng SM-59-1A thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh KSS: 2x1 + tên lửa chống tàu có cánh KSS (SS-N-1 “Scrubber”): 12…16 Pháo + thiết bị pháo 57mm ZiF-75: 4x4 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm TTA-57-bis: 2x3 Chống ngầm + RBU-2500: 2x16 + cơ số đạn RGB-25: 128 Vũ khí đường không + bãi đáp trực thăng Ka-15 (“Heh”): 1. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười, 2012, 01:24:51 am Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu + “Planshet-57” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp + 1xMR-300 “Angara” (Head Net A) Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp + 1x”Rif-S” Đài thủy âm + “Pegas-2” Các khí tài tác chiến điện tử + “Bizan-4” + “Krab-11, - 12” + BOKA bảo vệ thủy âm Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 2x”Kiparis-57” cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh + 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo Các trạm chỉ huy – đo xa + 1xSVP-42-50 (Egg Cup) Các khí tài thông tin liên lạc + tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại nói: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:01:50 am Đề án 956 “Sarưch” – Lớp “Sovremenny” (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/956_62_zps58b9236f.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 18+2 Các biến thể + 956 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1980) + 956-A – đề án sản xuất hàng loạt với các khí tài vô tuyến điện và đạo hàng mới (1991) + 956-E – đề án sản xuất hàng loạt xuất khẩu cho Hải quân Trung Quốc (1989) + 956-U – đề án với vũ khí tăng cường (không được đóng) + 956-EM – đề án nâng cấp cho Hải quân Trung Quốc với thành phần vũ khí mới (2005). Các tàu đề án 956 đánh dấu sự khôi phục lớp tàu khu trục ngư lôi sau 20 năm gián đoạn. Đây là các tàu khu trục duy nhất trong toàn bộ lịch sử Hải quân Liên Xô được tính (xếp) một cách chính thức vào các tàu cấp 1. Khi chuẩn bị các nhiệm vụ kỹ chiến thuật được đưa ra trong năm 1970, đề án lúc đầu dự định như tàu pháo – tên lửa có lượng choán nước gần 5000 tấn để đảm bảo đổ bộ cho Hải quân đánh bộ, nhưng sau đó đã làm cho nó trở nên đa năng hơn theo nhiệm vụ để tàu có thể hoạt động không chỉ trong biên chế cụm tàu, mà còn hoạt động độc lập. Đặc biệt, đối với đề án 956 đã bắt đầu chế tạo pháo 130mm. Việc thiết kế được thực hiện từ năm 1971 ở Leningrad bởi tập thể các giáo sư do V.Yukhin đứng đầu trong Phòng thiết kế thí nghiệm phương Bắc, Tổng công trình sư I.I.Rubis, giám sát viên chính từ Hải quân là thuyền trưởng cấp 1 I.M.Stetsyura, sau đó – thuyền trưởng cấp 2 V.G.Basov. Theo thiết kế thân, tàu có cấu trúc dạng nửa thùng với sự bố trí đối xứng pháo và tổ hợp tên lửa phòng không. Khi có vũ khí tấn công mạnh, tàu khu trục đề án 956 được trang bị các khí tài chống ngầm, chỉ đảm bảo bảo vệ tàu khỏi tàu ngầm. Khi tính toán các điểm này, đã tiếp nhận quyết định về chế tạo hệ thống từ 2 tàu. Tàu tên lửa và phòng không – đề án 956 và tàu chống ngầm chuyên dụng được chế tạo trong sự phát triển tàu chống ngầm lớn đề án 1135 và nhận số hiệu đề án 1155. Theo thực chất, việc chế tạo này nhằm sử dụng hoạt động phối hợp của đề án 956 và tàu chống ngầm lớn đề án 1155 trong biên chế cụm tàu chiến. Tàu trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu mới nhất “Moskit” với 2 thùng 4 ống phóng tên lửa thay cho tên lửa chống tàu P-15 dự kiến lúc đầu. Hệ thống điều khiển tên lửa chủ - thụ động “Mineral” được bố trí trong nắp chụp trên nóc thượng tầng mũi tàu. Pháo chính đa năng 130mm AK-130 được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu trên biển, trên không và trên bờ, đài MR-184 được sử dụng để điều khiển chúng. Một trong những điểm mới – đài định vị quang học, nằm ở bộ phận mũi giữa đài chỉ huy và thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không, và được kết hợp (tích hợp) trong đó máy đo xa laze và máy định vị để điều khiển bắn pháo và chỉ thị mục tiêu. Hệ thống phòng không ngoài thiết bị pháo đa năng nòng đôi 130mm tốc độ caovaf 2 cụm pháo 5 nòng 30mm thuộc tổ hợp AK-630 đã được tăng cường đáng kể do sự xuất hiện tổ hợp tên lửa phòng không tập thể M-22 “Uragan” với 2 thiết bị phóng dầm đơn (bệ) và hệ thống dẫn bắn đa kênh gồm 6 trạm ăng ten. Hang ga cho việc đỗ tạm thời của trược thăng chống ngầm Ka-27 được bố trí sau cột buồm chính cao hơn đáng kể so với boong chính, được chế tạo trong dạng xếp – mở được do sự thiếu không gian tự do. Vũ khí chống ngầm của tàu khu trục gồm có 2 thiết bị ngư lôi 533mm 2 ống phóng và 2 máy phóng bom phản lực 6 nòng RBU-1000 (đồng thời làm nhiệm vụ chống ngầm). Đài thủy âm định vị không lớn “Platina-S” được bố trí trong bộ phận hình cầu ở mũi, đồng thời có đài chuyên dụng MG-7 để phát hiện tàu ngầm biệt kích. Trên cột buồm mũi bố trí đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M” và các khí tài kỹ thuật vô tuyến điện khác. Cột buồm chính được chế tạo tinh vi và sử dụng chủ yếu để bố trí khí tài thong tin lien lạc và tác chiến điện tử. Các tàu khu trục đề án 956 là các tàu thế hệ thứ 3 duy nhất trên thế giới với thiết bị tuabin nồi hơi (ban đầu trong đề án dự kiến lắp thiết bị tuabin khí). Thiết bị năng lượng tuabin nồi hơi của tàu cho phép đạt tốc độ tối đa – hơn 30 hải lý. Các nồi hơi nước áp suất cao có khối lượng riệng thấp (theo so sánh với các mẫu trước) và hệ số hoạt động hiệu quả tăng trong tải trọng hoàn toàn. Tuy nhiên sau đó xuất hiện các nhược điểm: giảm hệ số hoạt động hiệu quả trong tải trọng thấp, trung bình và tuổi thọ thấp, đồng thời khai thác sử dụng phức tạp, yêu cầu nghiệp vụ cao. Sự hạn chế tài chính của Bộ Quốc phòng trong những năm 1990 đã dẫn tới rằng mọt bộ phận tàu cần sửa chữa rõ rang thiết bị năng lượng chính đã bị loại khỏi biên chế Hải quân. Để đảo bảo năng lượng điện, tàu khu trục có 2 máy phát điện tuabin và 4 máy phát điện diesel. Loạt bài khác về tàu khu trục đề án 956 "Sovremenny" http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,11920.msg303286.html#msg303286 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:07:37 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/956_44_zpsc6d5b5ee.jpg) Phóng tên lửa phòng không điều khiển 9M38 "Uragan" từ tàu khu trục "Besstrasnưi" (hiện nay là "Đô đốc Ushakov") (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/956_24_zpse7323515.jpg) Vận chuyển tên lửa chống tàu có cánh "Moskit" lên tàu khu trục đề án 956-A (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/956_45_zps364578bb.jpg) Sự khởi động tên lửa chống tàu có cánh "Moskit" từ tàu khu trục "Besstrasnưi" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/956_23_zps06ef8e3b.jpg) Thiết bị phóng ở mũi tàu của tổ hợp tên lửa phòng không M-22 "Uragan" trên tàu khu trục đề án 956-A Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:09:20 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/956_6_zps0559bc51.gif) Bố cục vũ khí trên các tàu khu trục đề án 956 1. Thiết bị pháo nòng đôi 130mm AK-130 2. Các thiết bị phóng 1 bệ của tổ hợp tên lửa phòng không M-22 “Uragan” 3. Khí tài nhìn – đo xa DBU-2 4. Các thiết bị phóng 4 ống của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit” 5. Thiết bị pháo 6 nòng 30mm thuộc tổ hợp pháo phòng không AK-630 6. Các trạm ăng ten đài ra đa định vị MR-700 điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan” 7. Các thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm 8. Đài ra đa định vị chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Mineral” 9. Đài ra đa định vị MR-184 “Lev” điều khiển bắn pháo 130mm 10. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Volga” 11. Đài ra đa định vị ba tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M” 12. Đài ra đa định vị MR-123 “Vưmpel” điều khiển bắn tổ hợp pháo phòng không 30mm 13. Hang ga di động cho trực thăng chống ngầm Ka-27 14. Bãi cất – hạ cánh trực thăng 15. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000 16. Rãnh dẫn hướng thả mìn 17. Các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-2. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:10:17 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/956_78_zps49f736ed.jpg) Trên các tàu thứ 4 và thứ 5 đã lắp đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M2” với lưới ăng ten mảng pha, đồng thời hiện đại hóa không đáng kể các khí tài khác. Bắt đầu từ tàu thứ 6 được lắp đài ra đa định vị MR-750 “Fregat-MA”. Bắt đầu từ tàu thứ 14, các tàu khu trục được trang bị khí tài vô tuyến điện và đạo hàng mới. Sau khi ký hợp đồng với Trung Quốc năm 1997, 2 tàu (số hiệu xưởng 878 và 879) đã được đóng tiếp theo đề án xuất khẩu 956-E, thiết kế ở Phòng thiết kế thí nghiệm phương Bắc cho Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chúng khác biệt chủ yếu so với các tàu trong Hải quân Nga ở sự sử dụng các hệ thống vũ khí: tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit-E”, tổ hợp tên lửa phòng không “Shitl”, đài ra đa định vị “Fregat-M2EM”… Hai tàu này đã gia nhập biên chế Hải quân Trung Quốc trong những năm 1999 và 2000. Tàu cuối cùng (số hiệu xưởng 880) được đóng theo đề án 956-U với vũ khí được tăng cường (tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit-M” với tầm bắn tăng cường), nhưng việc đóng nó bị dừng vào đầu những năm 1990. Các thí nghiệm tên lửa chống tàu “Moskit-M” vào tháng 7 năm 2004 được thực hiện trên tàu khu trục “Besstrashnưi” (hiện nay là “Đô đốc Ushakov”). Năm 2002, Nga đã ký hợp đồng mới với Trung Quốc mua them 2 tàu khu trục. Nhưng lần này các tàu được hiện đại hóa một cách đáng kể và nhận tên gọi 956-EM. Trên tàu, thành phần vũ khí được thay đổi (tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit-ME”, tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kashtan”….), kiến trúc thượng tầng được bố cục lại. Hai tàu được khởi công trên ụ xưởng “Phương Bắc” ở Saint Peterburg năm 2002. Chương trình đóng tàu Mười chính (19) tàu được đóng ở xưởng đóng tàu số 190 mang tên A.A.Zhdanov (xưởng phương Bắc) tại Leningrad từ năm 1976. Tới thời điểm này ở Sanit Peterburg, trên xưởng này vẫn còn một thân tàu (số 20) không được đóng. Ngoài ra, xưởng còn có các khối thân chưa được khởi công trên ụ của thêm 2 tàu nữa, nhưng vào năm 1994, chúng bị loại khỏi kế hoạch đóng, sau đó trở thành phế liệu. Tàu khu trục “Vnushitelnưi” được khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) tại Nikolaev, nhưng nhanh chóng dừng đóng và năm 1997 trở thành kho nổi trong xưởng. Hai tàu (số 18 – “Ekaterinburg” và 19 “Alecsandr Nevski”) sau thời gian dài trong xưởng đã được đóng tiếp theo đề án xuất khẩu 956-E cho Hải quân Trung Quốc. Hợp đồng bán được ký 19 tháng 11 năm 1997, còn năm 1999, tàu đầu tiên đã được bàn giao cho ủy ban và gia nhập biên chế Hải quân Trung Quốc (cả 2 tàu – Hạm đội Đông Hải). Khi đó, các tàu khu trục đã thực hiện cuộc di chuyển chưa từng có qua 13 biển và 3 đại dương mà không có bất kỳ sự hỗ trợ kỹ thuật nào. Trong thời gian những năm trước đã nghiên cứu đóng thêm cho Trung Quốc thêm 2 tàu vào đầu năm 2002. Cơ quan độc quyền thuộc nhà nước Liên bang “Rosoboronexport” đã ký hợp đồng với Bộ Quốc phòng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đóng 2 tàu khu trục mới đề án 956-EM. Các tàu được khởi công tháng 6 và tháng 11 năm 2002 ở xưởng đóng tàu “phương Bắc”. Theo các đánh giá sơ bộ, các tàu mới sẽ được bàn giao cho đối tác vào giữa năm 2006. Tổng giá trị hợp đồng ký với nước ngoài, theo các đánh giá khác từ 1 đến 1,4 tỷ USD. Tình hình năm 2005 Trong biên chế Hải quân Nga còn 11 tàu thuộc đề án này, trong đó 5 – Phương Bắc, 2 – Baltic và 4 – Thái Bình Dương. Các tàu khu trục bị loại khỏi biên chế có thể tiếp tục phục vụ, nhưng do không có tài chính nên kế hoạch sửa chữa đã không được thực hiện và bộ phận vật liệu của các tàu này nhanh chóng xuống cấp và không sử dụng được. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:10:56 am Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - còn trong biên chế)+ “Sovremennưi” (số hiệu xưởng 861); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 5 năm 1975; khởi công 3 tháng 3 năm 1976 ở xưởng số 190 (“xưởng phương Bắc”); hạ thủy 18 tháng 11 năm 1978; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1980; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 24 tháng 1 năm 1981; 6 tháng 12 năm 1989 mang đi đại tu ở Murmansk, do không đủ tài chính chỉ neo đậu và không sửa chữa trong gần 10 năm và tháng 11 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể. + “Otchayannưi” (số hiệu xưởng 862); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 5 năm 1975; khởi công 4 tháng 3 năm 1977 ở xưởng số 190; hạ thủy 29 tháng 3 năm 1980; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1992; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 24 tháng 11 năm 1982; 2-6 tháng 5 năm 1985 tới thăm Algieri; 26 tháng 6 năm 1992 đưa đi đại tu ở Murmansk nhưng sau đó đưa vào danh sách dự bị và sau đó loại khỏi biên chế Hải quân. + “Otlichnưi” (số 863); ghi tên vào danh sách Hải quân 14 tháng 4 năm 1978; khởi công 22 tháng 4 năm 1978 ở xưởng số 190; hạ thủy 21 tháng 3 năm 1981; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1983; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 15 tháng 12 năm 1983; 28 tháng 12 năm 1984 – 2 tháng 1 năm 1985 tới thăm Havana (Cuba); 21-25 tháng 7 năm 1989 – tới Norfolk (Mỹ); cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân. + “Osmotritelnưi” (số hiệu xưởng 864); ghi tên vào danh sách Hải quân 14 tháng 4 năm 1974; khởi công 27 tháng 10 năm 1978 ở xưởng số 190; hạ thủy 24 tháng 4 năm 1982; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1984; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 7 tháng 12 năm 1984; năm 1985 hoàn thành cuộc hành quân từ Baltic tới Vladivostoc, có ghé qua Luanda (Angola), Aden (Nam Yemen) và Cam Ranh (Việt Nam); trong những năm 1990 đưa đi neo đậu, nhưng việc sửa chữa không được thực hiện và sau đó loại khỏi biên chế, giải thể và tháo kim loại. + (*) “Bezuprechnưi” (số hiệu xưởng 865); ghi tên vào danh sách Hải quân 21 tháng 2 năm 1979; khởi công năm 1980 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 8 năm 1983; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1985; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 7 tháng 1 năm 1986; 2-5 tháng 6 năm 1984 tới thăm Tripoli (Libia); 9-13 tháng 7 năm 1990 – tới Portmouth (Anh); 20-24 tháng 2 năm 1991 – tới Alecsandria (Ai Cập); 3 tháng 11 năm 1993 neo đậu để đại tu ở vịnh Pala tại xưởng số 190. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:11:26 am + (*) “Boevoi” (số hiệu xưởng 866); ghi tên vào danh sách Hải quân 21 tháng 2 năm 1979; khởi công 26 tháng 3 năm 1982 ở xưởng số 190; hạ thủy 8 tháng 4 năm 1984; gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1986; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 5 tháng 11 năm 1986; 18-23 tháng 11 năm 1987 tới thăm Aden (Nam Yemen); 12-16 tháng 5 năm 1988 – tới Wonsan (Hàn Quốc); 31 tháng 7 – 4 tháng 8 năm 1990 – tới San Diego (Mỹ); 25 tháng 11 năm 1993 đưa đi đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc.
+ “Stoiki” (số hiệu xưởng 867); ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 8 năm 1981; khởi công 28 tháng 9 năm 1982 ở xưởng số 190; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1985; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1986; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 24 tháng 2 năm 1987; 22 tháng 10 năm 1993 đưa đi đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc, nhưng do không đủ tài chính phải đi neo đậu; đầu tháng 4 năm 1999 bị đánh đắm và sau đó giải thể, loại khỏi biên chế vào tháo kim loại. + “Okrưlennưi” (số hiệu xưởng 868); ghi tên vào danh sách Hải quân 5 tháng 11 năm 1982; khởi công 16 tháng 4 năm 1983 ở xưởng số 100; hạ thủy 31 tháng 5 năm 1986; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1987; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 19 tháng 12 năm 1988; cuối những năm 1990 đưa đi neo đậu. + (*) “Burnưi” (số hiệu xưởng 869); ghi tên vào danh sách Hải quân 11 tháng 4 năm 1983; khởi công năm 1984 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 2 năm 1987; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1988; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 9 tháng 11 năm 1988. + (*) “Vedusi” (số hiệu xưởng 870); từ 18 tháng 8 năm 1988 là “Gremyasi”; ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 10 năm 1984; khởi công 23 tháng 11 năm 1984 ở xưởng số 190; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1987; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1988; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 1 tháng 5 năm 1989; 25 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1990 tới thăm Havana (Cuba); 25 tháng 5 – 1 tháng 6 năm 1993 tham gia lễ kỷ niệm ở Liverpool (Anh) kỷ niệm 50 năm “trận đánh trên Đại Tây Dương”; từ 18 tháng 8 năm 1988 mang cơ Cận vệ Hải quân, thừa hưởng từ tàu khu trục cùng tên trong đề án số 7 thuộc Hạm đội Phương Bắc và tàu chống ngầm lớn đề án 57-A trong Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:11:40 am + (*) “Bưstrưi” (số hiệu xưởng 871); ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 10 năm 1984; khởi công 29 tháng 10 năm m1985 ở xưởng số 190; hạ thủy 28 tháng 11 năm 1987; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1989; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 31 tháng 10 năm 1989; 5-8 tháng 6 năm 1990 tới thăm Kil (Cộng hòa Liên bang Đức); 23-30 tháng 8 năm 1993 p tới Thanh Đảo (Trung Quốc); 31 tháng 8 – 4 tháng 9 năm 1993 – tới Pusan (Cộng hòa Triều Tiên).
+ (*) “Rastoropnưi” (số hiệu xưởng 872); ghi tên vào danh sách Hải quân 21 tháng 3 năm 1985; khởi công 15 tháng 8 năm 1986 ở xưởng số 190; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1988; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1989; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 28 tháng 2 năm 1990; 1-15 tháng 10 năm 1993 tới thăm Tulon (Pháp). + (*) “Bezboyazennưi” (số hiệu xưởng 873); ghi tên vào danh sách Hải quân 26 tháng 11 năm 1986; khởi công năm 1987 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 3 năm 1989; gia nhập biên chế 28 tháng 11 năm 1990; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 29 tháng 12 năm 1990; 15-19 tháng 6 năm 1991 tới thăm Antwerpen (Bỉ). + (*) “Bezuderzhnưi” (số hiệu xưởng 874); ghi tên vào danh sách Hải quân 26 tháng 11 năm 1986; khởi công năm 1987 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 6 năm 1990; gia nhập biên chế 25 tháng 6 năm 1991; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 11 tháng 7 năm 1991; 26-31 tháng 5 năm 1993, tham gia lễ kỷ niệm ở New York (Mỹ) kỷ niệm 50 năm trận đánh trên “Đại Tây Dương”. + (*) “Bespokoinưi” (số hiệu xưởng 875); ghi tên vào danh sách Hải quân 26 tháng 11 năm 1986; khởi công năm 1988 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 6 năm 1990; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1991; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 11 tháng 2 năm 1992. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:12:26 am + (*) “Đoàn viên thanh niên cộng sản Moskva” (số hiệu xưởng 876); từ 15 tháng 2 năm 1992 là “Nastoichivưi”; ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 12 năm 1987; khởi công năm 1989 ở xưởng số 190; hạ thủy tháng 6 năm 1991; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1992; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 5 tháng 2 năm 1993; 19-26 tháng 6 năm 1993 tới thăm Kil và 28 tháng 6 – 2 tháng 7 năm 1993 – tới Wilhemshafen (Cộng hòa liên bang Đức).
+ (*) “Besstrashnưi” (số hiệu xưởng 877); từ mùa hè năm 2004 là “Đô đốc Ushakov”; ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 12 năm 1987; khởi công 6 tháng 5 năm 1988 ở xưởng số 190; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1991; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1993; gia nhập biên chế 21 tháng 1 năm 1994 và 17 tháng 4 năm 1994 kéo cờ Thánh Anderi; 16 tháng 8 năm 1994 hoàn thành cuộc hành quyên xuyên Hạm đội từ Baltic tới biển Bắc; từ 5 tháng 5 năm 1995 đến 10 tháng 5 năm 1995 tới thăm chính thức Oslo (Na Uy); từ 21 tháng 12 anwm 1995 tới 3 tháng 4 năm 1996 làm nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải; 29 tháng 1 năm 1996 ghé vào Tartus (Siry); 17 tháng 2 năm 1996 thăm chính thức La-Waletta (Malta); tháng 10 năm 1997 thăm chính thức Portmourth (Anh); từ tháng 6 năm 2000 đến tháng 7 năm 2003 trải qua sửa chữa ở xưởng “Zvedochka” tại Severmorsk; từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2004 – trực chiến ở đông – bắc Đại Tây Dương. + “Vnushitelnưi” (số hiệu xưởng 2211); ghi tên vào danh sách Hải quân 11 tháng 4 năm 1983; khởi công 30 tháng 8 năm 1983 ở xưởng số 200; nhưng nhanh chóng bị dừng đóng; 17 tháng 10 năm 1987 và trở thành kho nổi trong xưởng, sau đó bị tháo kim loại. + (*) “Vazhnưi” (số hiệu xưởng 878); sau đó là “Ekaterinburg”; khởi công năm 1998 ở xưởng số 190; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1991, đóng tiếp theo đề án 956-E trong tình trạng nổi; gia nhập biên chế tháng 12 năm 1989 và bán cho Trung Quốc, nhận tên gọi “Hàng Châu” (số hiệu 136) và gia nhập biên chế Hạm đội Đông Hải. + (*) “Vdumchivưi” (số hiệu xưởng 879); từ 30 tháng 8 năm 1995 là “Alecsandr Nevski”; khởi công năm 1988 ở xưởng số 190; hạ thủy năm 1992; đóng tiếp theo đề án 956-A trong tình trạng nổi cho Trung Quốc; gia nhập biên chế tháng 12 năm 2000 và bán cho Trung Quốc, nhận tên “Phúc Châu” (số hiệu 137) và gia nhập biên chế Hạm đội Đông Hải. + Thân tàu số 20 (số hiệu xưởng 880); khởi công năm 1992 ở xưởng số 190; dừng đóng khi tình trạng sẵn sàng về kỹ thuật là 20%. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:13:26 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 6500 + hoàn toàn: 7940 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 156,37 (145) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 17,19 (16,8) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 7,79 (5,96) Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 4 nồi hơi nước KVN-98/64-11, 2 tuabin hơi nước tổng công suất, sức ngựa (kW): 99 500 (73 100) + các máy phát điện diesel, công suất, (kW): 4x600 + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x 1250 2 trục; 2 chân vịt; 2 bánh lái Tốc độ, hải lý + tối đa: 33,4 + tiết kiệm năng lượng: 18,4 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý) + 2400 (32) + 4500 (18,4) Thời gian hoạt động, ngày (30) Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 344 (31). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:13:48 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng KT-190 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Moskit”: 2x4 + tên lửa chống tàu có cánh 3M80 “Moskit” (SS-N-22 “Sunburn”): 8 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng MS-196 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-22 “Uragan”: 2x1 + tên lửa phòng không điều khiển 9M38M (SA-N-7 “Gadfly”): 48 Pháo + thiết bị pháo 130mm AK-130: 2x2 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 4x6 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53: 2x2 Chống ngầm + RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6 + RGB-10: 48 Mìn + có thể mang mìn trên boong trên: 40 Vũ khí đường không + trực thăng Ka-27 (“Helix-A”): 1. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:14:08 am Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu + “Sapfir-U” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp + 1x”Fregat-M” (Top Steer) trên tàu từ thứ 1 đến 3 hoặc + 1x”Fregat-M2” (Plate Steer) trên các tàu số 4-5 hoặc + 1x”MR-750 “Fregat-MA” (Top Plate) trên các tàu còn lại Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp + 3x”Volga” (Palm Frond) Đài ra đa định vị đạo hàng + 1x”Vaigach” (Don-II) trên đề án 956-A Đài thủy âm định vị + “Platina-S” (Bull Horn, Steer Hide) + MG-7 Các khí tài tác chiến điện tử + “Start-2” (4 Foot Ball; trên 1 số tàu 2 Bell Shroud và 2 Ball Squat) Các tổ hợp bắn nhiễu + 2x2 thiết bị phóng PK-2 + 8x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” Đài định vị quang học + 1xDVU-2 (Squeeze Box) Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Mineral” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit” + 6x”MR-700 (Front Dome) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan” + 1xMR-184 “Lev-218M” (Kite Screech) cho pháo 130mm + 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo 30mm Các khí tài đạo hàng vô tuyến + 2x(Light Buib) cho trực thăng Các khí tài thông tin liên lạc + tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại nói + (Salt Pot A và B; High Pole A và B; Long Head). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười, 2012, 12:01:52 am Tàu tuần tra biên phòng lớp “Yasreb” – Đề án 29K (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/29_01__zps5d912de9.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 6+8 Biến thể: không có. Đề án tàu tuần tra “Yastreb” được thiết kế vào thời điểm trước chiến tranh 1938-1939. Tới tháng 6 năm 1941, đã có 14 tàu được khởi công, tuy nhiên tới khi kết thúc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, trong biên chế chỉ còn lại 1 tàu. 5 tàu sau đó được đóng tiếp trong thời gian sau chiến tranh theo đề án 29-K được hiệu chỉnh. Trên tàu đã được tăng cường vũ khí phòng không, lắp đài ra đa định vị và đài thủy âm. Sau đó, theo chuẩn đề án 29-K đã nâng cấp tàu đầu tiên “Yastreb”. Mặc dù vậy, tới thời điểm gia nhập biên chế, tàu tuần tra lớp này đã trở nên lạc hậu một cách rõ ràng. Chương trình đóng tàu Các tàu được đóng từ năm 1939 ở xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad (khởi công 8 tàu), ở xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev (4) và xưởng số 199 ở Komsomol-na-Amur (2). Tàu tuần tra đầu tiên gia nhập biên chế 23 tháng 2 năm 1945, thêm 5 tàu nữa sau đó gia nhập biên chế. Tàu tuần tra “Bditelnưi” sau chiến tranh không được đóng xong và loại khỏi danh sách. Thêm 3 tàu khác được dừng đóng trong năm 1941. 4 tàu không được đóng xong trong tháng 8 năm 1941 đã bị quân Đức chiếm ở Nikolaev, sau đó tháo kim loại. Ngoài các tàu được liệt kê dưới đây, ghi nhận việc đóng theo đề án 29 các tàu tuần tra “Kondor” (số hiệu xưởng 563); “Kyguar” (369); “Pathera” (370), “Fregat” (6), “Orlan” (9), các đơn đặc mua với việc bắt đầu chiến tranh thế giới thứ hai đã bị bãi bỏ. Tình hình đến năm 2005 Tàu tuần tra “Korshun” trong những năm 1951-52 và “Zorki” trong những năm 1950-52 gia nhập biên chế lực lượng Biên phòng thuộc Bộ An ninh Liên Xô và phục vụ trong vai trò tàu tuần tra, sau đó được chuyển sang biên chế Hải quân. Ba tàu khi kết thúc thời gian phục vụ được cải tạo thành tàu huấn luyện, 1 – doanh trại nổi, 2 – tàu thí nghiệm và thêm 1 tàu – tàu mục tiêu (tàu đầu tiên “Yastreb”). Tàu cuối cùng bị loại khỏi biên chế Hải quân là tàu tuần tra “Zorki” sau khi được sửa thành tàu huấn luyện đến năm 1975. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười, 2012, 12:02:43 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Yastreb” (số hiệu xưởng 530); từ 31 tháng 8 năm 1956 là TsL-4; 16 tháng 5 nawm1 939 khởi công trên ụ xưởng số 100 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1942; gia nhập biên chế 23 tháng 2 năm 1945 và 29 tháng 9 năm 1945 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; từ 25 tháng 2 đến 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 17 tháng 2 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu tuần tra huấn luyện; 31 tháng 8 năm 1956 tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 12 tháng 9 năm 1959 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và mang đi tháo dỡ; 25 tháng 9 năm 1959 giải thể. + “Orel” (số hiệu xưởng 534); từ 18 tháng 4 năm 1958 là OS-27; từ 4 tháng 3 năm 1964 là PZK-17; 28 tháng 5 năm 1939 (theo các thông tin khác 16 tháng 5 năm 1939) khởi công trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 12 tháng 2 năm 1941; nhưng 22 tháng 12 năm 1941 dừng đóng và niêm cất, còn 12 tháng 11 năm 1946 chuyển sang xưởng số 820 ở Kenigsberg (Kaliningrad) để đóng tiếp; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1950; và 20 tháng 2 năm 1951 kéo cờ Hải quân, gia nhập biên chế lực lượng Hải quân bảo vệ pháo đài Kronshtadt; từ 23 tháng 12 năm 1953 trực thuộc Quân chủng Hải quân và sử dụng trong vai trò mục tiêu thí nghiệm; 18 tháng 4 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí, cải tạo thành tàu thí nghiệm và 31 tháng 1 năm 1964 – thành doanh trại nổi; 18 tháng 9 năm 1965 loại khỏi danh sách Hải quân và mang đi tháo dỡ sau đó ở Leningrad. + “Korshun” (số hiệu xưởng 535); từ 18 tháng 4 năm 1958 là OS-28; 25 tháng 10 năm 1939 khởi công trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 5 năm 1941, nhưng 22 tháng 12 năm 1941 dừng đóng và niêm cất, 12 tháng 11nawm 1946 chuyển tới xưởng số 820 ở Kalingrad để đóng tiếp; gia nhập biên chế 21 tháng 1 năm 1951 trong vai trò tàu tuần tra và gia nhập lực lượng biên phòng thuộc Bộ An ninh Nhà nước Liên Xô trong đội biên phòng Litov; 15 tháng 5 năm 1952 tiếp nhận từ KGB và 25 tháng 5 năm 1952 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8; từ 1 tháng 12 năm 1954 trở về trực thuộc Hải quân và sử dụng như tàu thí nghiệm; 18 tháng 4 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu thí nghiệm; 31 tháng 1 năm 1964 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và đưa đi tháo dỡ; 4 tháng 3 năm 1964 giải thể. + “Zorki” (số hiệu xưởng 536); từ 9 tháng 1 năm 1941 đến 10 tháng 10 năm 1945 là “Almaz”; từ 3 tháng 11 năm 1956 là UTS-9; 2 tháng 1 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu biên phòng thuộc Dân ủy Nội vụ (NKVD) đội biên phòng Leningrad và 23 tháng 5 năm 1940 khởi công theo chương trình đóng tàu thuộc NKVD trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad; hạ thủy 31 tháng 10 năm 1940; 8 tháng 8 năm 1942 dừng đóng và niêm cất; 10 tháng 10 năm 1945 ghi tên lần thứ hai vào danh sách tàu thuộc NKVD; 14 tháng 5 năm 1946 chuyển tới xưởng số 820 và kéo tới Kaliningrad để đóng tiếp; gia nhập biên chế 30 tháng 1 năm 1950 và 21 tháng 2 năm 1950 trong vai trò tàu tuần tra gia nhập lực lượng biên phòng thuộc Bộ An ninh trong đội tàu biên phòng Litov; tham gia bảo vệ biên giới và vùng công nghiệp Liên Xô ở phía đông nam biển Baltic; 1 tháng 6 năm 1952 bàn giao cho Hải quân và 7 tháng 6 năm 1952 trong vai trò tàu tuần tiễu ghi tên vào biên chế đơn vị Hải quân số 8; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 17 tháng 2 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu và 7 tháng 5 năm 1956 trở thành phân lớp tàu tuần tra thí nghiệm; 18 tháng 10 năm 1956 tháo vũ khí, trang bị và cải tạo lại thành tàu huấn luyện và đỗ ở Baltic; 4 tháng 11 năm 1975 loại khỏi danh sách tàu Hải quân và tháo dỡ; 15 tháng 3 năm 1976 giải thể và tháo kim loại ở Baltic. + “Bditelnưi” (số hiệu xưởng 537); từ 9 tháng 1 năm 1941 đến 10 tháng 10 năm 1945 là “Izumrud”; 2 tháng 1 năm 1940 ghi tên vào danh sách tàu Dân ủy Nội vụ trong đội tàu biên phòng Leningrad và 23 tháng 5 năm 1940 khởi công theo chương trình đóng tàu của NKVD trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad, nhưng bắt đầu Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại dừng đóng và neo đậu; 10 tháng 10 năm 1945 lần thứ hai ghi tên vào lực lượng NKVD, tuye nhiên không được đóng tiếp và nhanh chóng bị tháo kim loại. + “Berkut” (số hiệu xưởng 553); khởi công năm 1940 ở xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940; ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1941 dừng đóng và niêm cất, sau đó tháo kim loại. + “Sokol” (số hiệu xưởng 554); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1941 dừng đóng, niêm cất và sau đó tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười, 2012, 12:03:08 am + “Grif” (số hiệu xưởng 555); khởi công năm 1940 ở ụ xưởng số 190 mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1941 dừng đóng, niêm cất và sau đó tháo kim loại.
+ “Tigr” (số hiệu xưởng 365); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại. + “Leopard” (số hiệu xưởng 366); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại. + “Rưs” (số hiệu xưởng 367); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại. + “Yaguar” (số hiệu xưởng 368); khởi công năm 1940 trên ụ xưởng số 198 mang tên A.Marti ở Nikolaev và 6 tháng 6 năm 1941 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 8 năm 1941 ở lại ụ khi bộ phận Hồng Quân rút khỏi thành phố; bị địch chiếm và sau khi tháo kim loại được đưa tới Đức để đúc lại. + “Albatros” (số hiệu xưởng -); từ 24 tháng 3 năm 1958 là UTS-82; 4 tháng 12 năm 1939 khởi công ở nhà xưởng thuộc xưởng số 199 ở Komsomol-na-Amur và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1944; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1953 (theo các tài liệu khác là 7 tháng 10 năm 1945) và 11 tháng 2 năm 1946 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 12 tháng 2 năm 1947 đến 23 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5; 17 tháng 12 năm 1946 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu tuần tra huấn luyện; 11 tháng 3 năm 1958 tháo vũ khí và trở thành doanh trại nổi; 28 tháng 2 năm 1961 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo kim loại; 31 tháng 8 năm 1961 giải thể. + “Burevestnik” (số hiệu xưởng -); từ 7 tháng 5 năm 1957 là UTS-48; 4 tháng 12 năm 1939 khởi công ở nhà xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur và 25 tháng 9 năm 1940 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1946; gia nhập biên chế 15 tháng 7 năm 1947 (theo các tài liệu khác là 8 tháng 8 năm 1947) và 7 tháng 11 năm 1947 kéo cờ Hải quân; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5; từ 23 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 17 tháng 2 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu tuần tra huấn luyện; 8 tháng 4 năm 1957 tháo vũ khí và trở thành tàu huấn luyện; 28 tháng 1 năm 1958 loại khỏi danh sách Hải quân và đưa đi tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười, 2012, 12:03:44 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 916,7 + hoàn toàn: 1266,2 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 85,74 (-) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 8,4 (-) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 2,89 (-) Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 2 nồi hơi nước, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính, công suất, sức ngựa (kW): 26 000 (19 110) 2 trục; 2 chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 31,3 + tiết kiệm năng lượng: 15,5 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2160 (15,5) Thời gian hoạt động: - Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 174 (-). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười, 2012, 12:04:37 am Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 100mm B-34: 3x1 + thiết bị pháo 37mm 70-K: 4x1 + súng máy DShK 12,7mm: 3x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm: 1x3 Chống ngầm + bom chìm: - + máy rải bom: 2 Mìn + mìn neo trên boong: 24 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 1x”Rif-1” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao: 1x”Gyuis-1” Đài thủy âm định vị: “Tamir” Các khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x”Redan” cho pháo chính (không phải toàn bộ) Các trạm chỉ huy – đo xa + 1xSVP-29 hoặc SVP-29-RL + 1xRAS Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: - Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười, 2012, 12:15:12 am Đề án 42 – lớp Kola (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/42_09__zps1009090c.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 8 Biến thể: không có. Kinh nghiệm Chiến tranh Thế giới thứ hai cũng như Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, được phân tích bởi lãnh đạo Hải quân và đưa vào hiệu chỉnh trong việc thiết kế các tàu tuần tra đang có. Tuy nhiên nhiều đề án đã không được thực hiện. Nguyên nhân chính, trước hết là không có những xí nghiệp chuyên dụng đề đóng các tàu lớp này cho Hải quân Liên Xô. Trong các nước hàng đầu trên thế giới, phụ thuộc vào sự vận tải đường biển, tàu tuần tra được biến thể trong dạng tàu chống ngầm: các tàu khu trục, tàu chiến và tàu tuần tra ven biển (hải phòng). Rõ ràng, chúng đã đóng góp quan trong trong việc đánh bại lực lượng tàu ngầm các nước phe Trục và đảm bảo việc vận tải đường biển cho các nước Đồng minh. Vì thế, sự quan trọng và cần thiết của các tàu tương tự ở Mỹ, Anh và Pháp không mang lại những nghi ngờ. Tuy nhiên, kinh nghiệm này không thể phổ biến trong Hải quân Liên Xô. Khi đánh giá sự tham gia của các tàu nổi thuộc Hải quân trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, lãnh đạo Hải quân không có quan điểm rõ ràng về tàu tuần tra thuộc đề án 39 trước chiến tranh. Ở biển Đen, chúng được sử dụng cùng các tàu khu trục lớp “Novik” trong toàn bộ các chiến dịch, nhưng rất hiếm theo nhiệm vụ cơ bản, còn trên biển Baltic, việc sử dụng chúng nói chung bị hạn chế do sự nguy hiểm của các bãi mìn lớn. Ở biển Bắc, để bảo vệ các đoàn tàu vận tải nước ngoài cần thiết các tàu lớp khu trục hoặc cao hơn, bởi vì ngoài những mối đe dọa trên không và dưới nước thường xuyên phải đối mặt với sự đe dọa từ lực lượng tàu nổi của địch. Ngoài ra, mặt trận biển Bắc được xem là yêu cầu lớn nhất về khả năng cơ động trên biển mà tàu tuần tra khi đó, cụ thể là đề án 39, gần như không đáp ứng được. Ở vùng nước gần bờ, nơi các đoàn tàu hộ tống nội địa bị đe dọa bởi những bãi mìn lớn và cá tàu này đồng thời cũng như các tàu vận tải được đảm bảo bằng các tàu quét mìn. Kinh nghiệm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại đã chỉ ra rằng, để thực hiện nhiệm vụ tuần tra và vận tải của các đoàn tàu hộ tổng đã sử dụng hiệu quả các tàu quét mìn và săn ngầm. Mặc dù vậy, toàn bộ các dữ kiện này, rõ ràng rằng lực lượng truyền thống (có lớp tàu này trong Hải quân thì cần thiết đặt ra nhiệm vụ cho nó và tiếp tục việc đóng chúng) hoặc các nguyên nhân khác trong tháng 7 năm 1947, đã quyết định tiếp nhận quyết định về thiết kế tàu tuần tra đề án 42. Ngày 29 tháng 7 năm 1946, Tư lệnh Hải quân đã phê duyệt nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch để thiết kế tàu tuần tra. Trong tài liệu này đã xác định nhiệm vụ của tàu: bảo vệ đoàn tàu hộ tống; thực hiện nhiệm vụ tuần tra; tham gia trong các chiến dịch đổ bộ; rải bãi mìn chướng ngại vật. Đặc điểm quan trong của việc thiết kế tàu tuần tra này là lần đầu tiên sau năm 1917, cơ sở nhiệm vụ kỹ chiến thuật đã thực hiện trên cơ sở cuộc thi đua của 2 phòng thiết kế - Phòng thiết kế trung ương số 32 và Phòng thiết kế trung ương số 53. Việc thiết kế được thực hiện trong 2 phương án – với thiết bị động cơ diesel và tuabin nồi hơi. Sự thay đổi quan điểm về tàu tuần tra đã dẫn tới rằng trong nhiệm vụ kỹ chiến thuật, lượng choán nước cuối cùng được lắp đặt trong khối lượng 1300 tấn với tầm bơi xa 2000 dặm. Trong đó, giữ lại pháo cỡ 100mm truyền thống trên tàu tuần tra Liên Xô. Nhiệm vụ thiết kế đề án do Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ban hành ngày 21 tháng 6 năm 1947. Trong nhiệm vụ kỹ chiến thuật được triển khai, được phê duyệt bởi Tư lệnh Hải quân, đã chỉ dự kiến phương án tuabin hơi nước trong thiết bị năng lượng chính. Việc thiết kế tàu tuần tra được giao cho Phòng thiết kế trung ương số 32 (thành phố Kaliningrad). Đề án kỹ thuật được thực hiện ở Phòng thiết kế trung ương số 32 tháng 12 năm 1947. Sự không vững vàng trong quan điểm về nhiệm vụ đã xuất hiện trong đó rằng, trong quá trình thực hiện đề án kỹ thuật theo yêu cầu Hải quân đã nghiên cứu phương án bố trí trên tàu lưới quét mìn. Việc nghiên cứu trong Hải quân đề án kỹ thuật đã kéo dài tới tháng 4 năm 1948. Tư lệnh Hải quân đã tiếp nhận quyết định phê duyệt đề án kỹ thuật không có lưới quét mìn, với sự tăng đồng thời trữ lượng bom chìm cỡ lớn lên 48 đơn vị và với sự tăng số lượng máy phóng bom lên 4. Bằng cách này, ý tưởng phối hợp chức năng tàu tuần tra và tàu quét mìn đã xuất hiện theo kinh nghiệm sử dụng tàu trong Chiến tranh Vệ quốc vũ đại đã đồng thời bị loại trừ. Sau sự hiệu chỉnh kéo dài tương đối lâu và xử lý đề án kỹ thuật trong nửa sau năm 1948, việc chế tạo đề án hoạt động đã được bắt đầu ở xưởng “Yantar” thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu tại thành phố Kalininrad. Tổng công trình sư đề án 42 là D.D.Zhukovski, giám sát viên chính từ Hải quân – thuyền trưởng cấp 1 A.P.Sagoyan. Đề án thiết kế tàu tuần tra có mộ số những giải pháp mới mang tính nguyên tắc, lần đầu tiên được áp dụng trong ngành đóng tàu Liên xô sau năm 1917. Lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã thiết kế đề án tàu tuần tra với cấu trúc boong trơn (kiến trúc tương tự được áp dụng sớm hơn không nhiều trên tàu khu trục đề án 41, tuy nhiên tàu tuần tran đề án 42 gia nhập biên chế sớm hơn) với thân tàu được hàn hoàn toàn. Đồng thời lần đầu tiên các chân vịt và 2 bánh lái tàu lớp này được chế tạo không phải theo dạng bề mặt phẳng làm chủ yếu mà bằng cách đảm bảo việc bơi an toàn của tàu trên các bãi bồi và cửa sông. Sự xuất hiện 2 bánh lái cho phép đảm bảo độ quay cao. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười, 2012, 12:15:43 am Lần đầu tiên trên các tàu lớp này đã lắp pháo chính đa năng (pháo B-34USM 100mm) trong điều kiện sự đe dọa trên không tăng thường xuyên là rất cần thiết. Cuối cùng, trên các tàu đề án 42 lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu, trong việc sản xuất hàng loạt, đã áp dụng dòng điện xoay chiều 3 pha (50Hz, 220V), cho phép trong sự dẫn động điện sử dụng động cơ điện đồng bộ, rất tin cậy trong khai thác sử dụng, đồng thời dễ, rẻ và đơn giản hơn trong chế tạo so với động cơ điện một chiều.
Lượng choán nước tiêu chuẩn của tàu được xác định trong các thí nghiệm là 1339 tấn. Lượng mớn nước của tàu thậm chí trong lượng choán nước hoàn toàn là 3,36 mét cho phép nó không cần thực hiện chuẩn bị bộ phận dưới nước khi di chuyển theo đường thủy nội địa (nơi phục vụ sau cùng của các tàu tuần tra đề án 42 là biển Caspi). Các thiết kế thân tàu được thế tạo theo tiêu chuẩn độ vững chắc của năm 1944. Sự thiếu boong mũi đã mang tới khả năng sử dụng hợp lý hơn vật liệu thân tàu để đảm bảo độ vững chắc chung của nó. Chi tiết này có ý nghĩa quan trọng sau đó, cũng như trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại đã xuất hiện rằng toàn bộ các tàu nổi của Liên Xô đóng sau năm 1917 có thân yếu. Tốc độ nhận được trong các thí nghiệm là cao hơn tốc độ theo thiết kế ở tốc độ tối đa là 29,56 hải lý. Các thí nghiệm cơ động trên biển được diễn ra trong sóng biển cấp 6 và gió cấp 8…9 vào 28 tháng 3 năm 1951 ở vịnh Gdansk. Chúng đã chỉ ra rằng ở tốc độ gần 24 hải lý, khi mất tốc độ di chuyển 0,5 hải lý, độ rung bên thành giảm thấp hơn so với tàu khu trục đề án 30-bis. Sự làm tràn hoàn toàn không có, còn sự văng không lớn chỉ được quan sát trong sự ngẫu nhiên. Các phần tử (yếu tố) cơ động của tàu là rất tốt. Như đường kính vòng hồi chuyển (vòng quay) tổng cộng 4,7 chiều dài tàu. Việc này đạt được nhời sự xuất hiện 2 tay lái. Trong giai đoạn thí nghiệm xưởng và cấp nhà nước, do sự dụng trên phần cuối mạn tàu đã phát hiện các vết nứt trong khung và cách ngăn ở khung sườn số 168-179. Sự khắc phục các lỗi được thực hiện theo hương lắp cố định bổ sung ở khu vực khung 145-170, tương ứng với các bản vẽ được phối hợp với Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên A.A.Krưlo và 1 Viện nghiên cứu khoa học trung ương thuộc Bộ quốc phòng. Việc bố trí thiết bị cơ khí được thực hiện theo dạng tuyến với sự bố trí trong 4 khoang. Trong vai trò các động cơ chính sử dụng 2 tổ hợp tuabin răng cưa tổng công suất 28 000 sức ngựa trong cấu tạo 2 thân. Hai nồi hơi chính dạng tam giác KV-42 đảm bảo tổng lượng sản xuất hơi nước 146 tấn hơi nước trong áp suất làm việc 28kg/cm2 và nhiệt độ hơi nước quá nhiệt 370 độ. Sự thổi hơi – quạt vào buồng nồi hơi đóng. Tầm bơi xa ở tốc độ 13,7 hải lý khi nhiên liệu dự trữ đủ là 300 tấn là 2810 tấn, còn trong trữ lượng tiêu thụ lớn nhất trong 360 tấn là 3300 dặm. Trên tàu lắp 4 thiết bị pháo B-34USM 100mm đa năng và 4 pháo tự động 37mm trong 2 thiết bị (nòng pháo) kép V-11M. Khi bắn, các cơ chế các thiết bị pháo hoạt động đạt yêu cầu, tuy nhiên, có chỗ (điểm) chất kìm cháy không hoàn toàn, phần thừa rơi vào bộ phận hộp nòng pháo, do đó khi nạp đạn tiếp sau đó sẽ không tới được vị trí cho phép bắn. Để điều khiển hỏa lực hệ thống pháo chính và pháo (súng) tự động đã lắp hệ thống khí tàu điều khiển bắn “Zenit-42”. Trên tàu lắp tạm thời (do hệ thống SVP-42 chưa được phổ biến) trạm dẫn bắn pháo SVP-29-PLM, có nhiều nhược điểm (do tàu tuần tra này chỉ có trạm dẫn bắn với máy đo xa quang học, còn đài ra đa định vị chưa được lắp). Thiết bị ngư lôi 3 ống phóng được lắp trên tàu đảm bảo bắn các ngư lôi khí – hơi bắn thẳng kiểu 53-58U và 53-39 vào các mục tiêu nổi. Nếu trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các tàu khu trục Liên Xô thậm chí tổng cộng một vài lần vũ khí ngư lôi để chống các mục tiêu nổi thì giả thiết rằng, các tàu tuần tra sẽ có thể sử dụng chúng trong chiến tranh tương lai theo mọi cự ly là sai lầm. Trên tàu, lần đầu tiên trong giai đoạn thiết kế đã bố trí 2 máy phóng bom phản lực RBM. Chúng có góc nâng (tầm) coosd dịnh 45 độ và tầm bắn tổng cổng 260 mét. Liên quan đến việc này, ủy ban nhà nước đã tỏ ra lo ngại rằng do bán kính vòng (2 cabeltov) và tầm bắn gần của RBM (1,4 cabeltov) có khẳ năng tàu lọt vào khu vực nổ của loạt bom, nếu nó di chuyển tốc độ lớn. Ủy ban đã tính toán hoàn thiện hợp lý thiết bị phản lực, làm cho nó được bắn, ổn định theo hóc phóng và với sự thực hiện bắn theo các thông tin của đài thủy âm (GAS) – 11 cabeltov (20km). Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không “Gyuis-1M4” có tầm phát hiện mục tiêu trên không kiểu máy bay ném bom hạng nhẹ ở tầm cao 3000 mét – 25 cab (46km). Đài thủy âm “Tamir-5M” có những thông số đặc thù của nó, tầm phát hiện mục tiêu tàu ngầm ở tốc độ 16 hải lý là 16 cab, còn ở tốc độ 18 hải lý – 11,7 cab. Sự phê bình (khiển trách) nghiêm trọng duy nhất là tổ hợp nhận dạng (phân loại) “Fakel-M” – không được ủy ban tiếp nhận. Nguyên nhân là, các khí tài trả lời (đáp) của tổ hợp này hoạt động từ hoạt động của các đài trực thuộc nó và phát ra mã tín hiệu trong không khí mà không có sự hỏi từ bên ngoài! Toàn bộ vũ khí và trang bị có thể được sử dụng không hạn chế khi sóng biển cấp 4 và với sự hạn chế không lớn ở sóng biển cấp 6. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười, 2012, 12:17:06 am Trong kết luận cuối cùng, ủy ban Nghiệm thu nhà nước cho tàu đầu tiên thuộc đề án 42 đã nhấn mạnh: tàu hoàn toàn đáp ứng nhiệm vũ chiến dịch – chiến thuật; không có sự tiêu phí trữ lượng choán nước khi xuất hiện trữ lượng ổn định có thể đảm bảo khi cần thiết lắp trên tàu thiết bị V-11M bổ sung thứ 3; tàu tuần tra đề án 42 hoàn toàn đáp ứng khả năng cơ động trên biển, di chuyển và điều khiển tốt trên sóng; dòng thời có tầm bơi xa lớn, có thể sử dụng thành công trên các mặt trận biển Bắc và Viễn Đông. Tuy nhiên, 3 tàu cuối cùng trong số chúng đã kết thúc sự phục vụ ở biển Caspi vào những năm 1990.
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/42_06__zps55b9a6d8.jpg) Mặc dù toàn bộ các kết quả tích cực nhận được trong các thí nghiệm, tàu tuần tra đề án 42 đã được đóng loạt hạn chế trên một xưởng. Nguyên nhân của việc không đóng số lượng lớn các tàu này có thể tìm được đủ nhiều, và trước hết là quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô I.V.Stalin. Quyết định này có nhiều lý do. Một số tài liệu không tìm được và chỉ còn lại là những đoạn hồi ức rời rạc của lãnh đạo trong những năm đó. Trước hết là sự phát triển quan điểm về lớp tàu này từ phía các lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao đang được tiếp tục. Một lần nữa, xuất hiện câu hỏi mà không có câu trả lời rõ ràng trong giai đoạn này: “các tàu này sẽ bảo vệ những đoàn vận tải nào?”. Toàn bộ sự phát triển công nghiệp Liên Xô trong những năm sau chiến tranh một lần nữa được định hướng “tuyến phòng ngự vòng tròn của đế quốc và sự tự chủ hoàn toàn của nhà nước”. Còn đối với việc tuần tra và bảo vệ các đoàn tàu không lớn hoạt động gần bờ têu cầu các tàu kích thước nhỏ hơn. Cuối cùng, trong sự liên qua đến kỹ thuật, các tàu này hầu như không hoàn thiện do thiết bị năng lượng chính cũ với sự thổi vào nồi hơi và vũ khí chống ngầm tương đối yếu. Trong trường hợp này, theo mệnh lệnh cá nhân I.V.Stalin đã bắt đầu thiết kế nhiệm vụ kỹ chiến thuật cho tàu tuần tra mới với lượng choán nước hoàn toàn 1200 tấn – đề án 50. Chương trình đóng tàu Tàu tuần tra đầu tiên được khởi công ở xưởng “Yantar” thuộc Bộ Công nghiệp đóng tàu (số 820) 17 tháng 8 năm 1949, hạ thủy 11 tháng 9 năm 1950, gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1951. Năm 1953 cũng trong xưởng này đã đóng giới hạn toàn bộ loạt 8 tàu. Tình hình đến năm 2005 Tàu tuần tra “Grif” và “Krechet” ban đầu – năm 1952-53 gia nhập biên chế lực lượng biên phòng Bộ An ninh Liên xô và phục vụ trên biển Barents trong vai trò tàu tuần tra chống ngấm. Hai tàu đến khi loại khỏi biên chế trong những năm 1970 được sử dụng ở biển Caspi trong vai trò huấn luyện. Ba tàu tuần tra chuyển thành tàu huấn luyện, 1 – doanh trại nổi. Tàu đầu tiên trong đề án – “Sokol” còn nằm trong biên chế đến năm 1986, các tàu còn lại bị loại trong những năm 1960-70. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười, 2012, 12:18:17 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Sokol”; số hiệu xưởng 100; từ 17 tháng 9 năm 1971 là UTS-256; 26 tháng 3 năm 1949 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 17 tháng 8 năm 1949 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kalinigrad; hạ thủy 11 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế 4 tháng 12 năm 1952; và 27 tháng 12 năm 1952 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và cùng trong mùa hè này đã đi theo đường thủy nội bộ từ Baltic tới biển Trắng; 17 tháng 2 năm 1961 loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất ở vịnh Dolgo-Zapad (cảng Granit) trong dạng neo đậu; 30 tháng 5 năm 1967 tháo niêm cất và quay trở lại biên chế; 18 tháng 8 năm 1971 lần thứ 2 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí, cải tạo thành tàu huấn luyện và neo ở vịnh Ura (càng Vidiaevo); 20 tháng 6 năm 1986 loại khỏi danh sách Hải quân và mang đi tháo dỡ, 1 tháng 10 năm 1988 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + “Berkut”; số hiệu xưởng 101; từ 27 tháng 8 năm 1965 là UTS-7; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân và 25 tháng 4 năm 1950 khởi công ở ụ trong xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 2 tháng 4 năm 1951; gia nhập biên chế 10 tháng 5 năm 1952 và 11 tháng 6 năm 1952 gia nhập đơn vị Hải quân số 4; mùa hè năm 1955 di chuyển theo tuyến đường thủy trong nước từ biển Baltic tới Barents và 19 tháng 9 năm 1955 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc; 2 tháng 8 năm 1965 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu huấn luyện, đưa đi neo đậu ở Severodvinsk; 26 tháng 10 năm 1965 loại khỏi danh sách Hải quân và đưa đi tháo dỡ; năm 1966-1967 tháo kim loại ở Murmansk. + “Kondor”; số hiệu xưởng 102; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân và 28 tháng 6 năm 1950 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 5 năm 1951; gia nhập biên chế 10 tháng 5 năm 1952; 11 tháng 6 năm 1952 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; mùa hè năm 1955 di chuyển theo đường thủy trong nước từ Baltic tới Barents; 19 tháng 9 năm 1955 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 26 tháng 1 năm 1970 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí và tháo dỡ; 30 tháng 1 năm 1969 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + “Grif”; số hiệu xưởng 103; từ 29 tháng 9 năm 1965 là “Soviet Azerbaizan”; từ 21 tháng 12 năm 1977 là PKZ-26; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân; 18 tháng 9 năm 1950 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1951;13 tháng 10 năm 1952 chuyển vào biên chế lực lượng biên phòng thuộc Bộ An ninh để sử dụng trong vai trò tàu tuần tra chống ngầm, gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1952 và gia nhập biên chế lực lượng biên phòng Litov, tháng 6 năm 1953 di chuyển tới Leningrad tới Kubishinskaia Salma (vịnh Kolsk) và chuyển vào biên chế vào lực lượng tàu tuần tra biên phòng thuộc Bộ An ninh ở Karelia; tham gia bảo vệ biên giới và nghề cá gần bờ bán đảo Kolsk trên biển Barents; 23 tháng 12 năm 1953 loại khỏi danh sách tàu biên phòng thuộc Bộ An ninh và 24 tháng 12 năm 1953 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 10 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Dolgo-Zapad ở dạng neo đậu; 31 tháng 8 năm 1964 tháo niêm cất và trở lại biên chế; mùa hè-thu năm 1965 di chuyển theo đường thủy nội bộ từ biển Trắng tới biển Caspi và 27 tháng 11 năm 1965 chuyển sang biên chế Hạm đội Kaspi; từ 25 tháng 2 năm 1970 ở trong Trường đại học Hải quân Kaspi mang tên S.M.Kirov và sử dụng như tàu huấn luyện; 2 tháng 12 năm 1977 lần thứ 2 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành doanh trại nổi; 21 tháng 5 năm 1981 loại khỏi danh sách Hải quân và đưa đi tháo dỡ; 1 tháng 7 năm 1977 bị giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười, 2012, 12:41:36 am + “Orlan”; số hiệu xưởng 105; từ 15 tháng 12 năm 1966 là “Soviet Turmenistan”; 8 tháng 12 năm 1948 ghi tên vào danh sách Hải quân; 30 tháng 4 năm 1951 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 9 tháng 5 năm 1952; gia nhập biên chế 17 tháng 3 năm 1953 và 23 tháng 3 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa hè năm 1955 chuyển theo đường biển từ Baltic tới biển Trắng; 31 tháng 12 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 31 tháng 10 năm 1965 tháo niêm cất và trở lại biên chế; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Severodvinsk tới Bacu và 31 tháng 8 năm 1966 chuyển vào biên chế Hạm đội Caspi; từ 25 tháng 2 năm 1970 nằm trong trường đại học Hải quân mang tên S.M.Kirov và sử dụng trong vài trò tàu huấn luyện; 22 tháng 11 năm 1976 loại khỏi biên chế Hải quân và tháo vũ khí, tháo dỡ kim loại; 10 tháng 2 năm 1977 giải thể.
+ “Lev”; số hiệu xưởng 106; từ 17 tháng 9 năm 1971 là UTS-257; 13 tháng 1 năm 1950 ghi tên vào danh sách Hải quân và 30 tháng 4 năm 1951 khởi công ở ụ trong xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1952; gia nhập biên chế 17 tháng 3 năm 1953; 23 tháng 3 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc và theo hệ thống đường thủy từ Baltic tới biển Trắng mùa hè năm 1955; 27 tháng 1 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 4 năm 1964 tháo niêm cất và trở lại biên chế; từ 30 tháng 7 năm 1969 đến 15 tháng 7 năm 1971 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) trải qua đại tu, sau đó ghi tên vào Hạm đội Baltic; 18 tháng 8 năm 1971 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí, cải tạo thành tàu huấn luyện và đưa đi neo đậu ở Baltic. + “Tirg”; số hiệu xưởng 107; 13 tháng 1 năm 1950 ghi tên vào danh sách Hải quân và 1 tháng 7 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 25 tháng 4 năm 1953; 29 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 tháng 6 năm 1955 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa hè năm 1955 di chuyển theo đường thủy từ Baltic tới biển Trắng; 1 tháng 3 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 15 tháng 10 năm 1970 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 18 tháng 9 năm 1974 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí, tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1974 giải thể và tháo kim loại ở Murmansk. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười, 2012, 08:15:43 pm Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 1339 + hoàn toàn: 1679 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 96,1 (90) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 11 (10,3) + lượng mớn nước tối đa (trung bình): 3,96 (3,14) Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 2 nồi hơi nước KV-42, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính, tổng công suất, sức ngựa (kW): 27 820 (20 450) + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- + các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x- 2 trục; 2 chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 29,6 + tiết kiệm năng lượng: 13,7 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3300 (13,7) Thời gian hoạt động, ngày: 10 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 211 (14). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười, 2012, 08:22:33 pm Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 100mm B-34USM: 4x1 + thiết bị pháo 37mm V-11M: 2x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm TTA-533-42: 1x3 Chống ngầm + RBM: 2x4 + BMB: 4x1 + bom chìm RBM/BPS: - + máy rải bom: 2 Mìn + mìn trên boong trên: - Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Zveno-42” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 1x”Rif-1” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao: 1x”Gyuis-1” Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x- Đài thủy âm: “Tamir-5N” Các khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x cho pháo chính (trong thành phần trạm dẫn bắn) Các trạm chỉ huy – đo xa + 1xSVP-29-RLM hoặc + 1xSVP-42 + 1xRAS-U Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: “Fakel-M”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười, 2012, 12:03:22 am Tàu tuần tra kiểu “Gornostai” – Đề án 50 – Lớp Riga (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_10__zpsa3772967.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 68 Các biến thể + 50 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1954) + 50-PLO – các tàu nâng cấp tăng cường vũ khí chống ngầm (1959-60) Mặc dù có các kết quả tích cực nhận được trong các thí nghiệm, dòng tàu tuần tra đầu tiên sau chiến tranh – đề án 42 đã được đóng số lượng hạn chế, còn theo chỉ thị cá nhân của I.V.Stalin, đã bắt đầu thiết kế nhiệm vụ kỹ chiến thuật của tàu tuần tra mới với lượng choán nước hoàn toàn 1200 tấn – đề án 50. Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ép Bộ công nghiệp đóng tàu và Bộ Hải quân thiết kế đề án 50 của tàu tuần tra mới và đóng tàu đầu tiên trong các thời gian sau: + kết thúc thiết kế đề án phác thảo (phác họa) vào tháng 9 và trình Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô vào tháng 10 năm 1950. + kết thúc thiết kế đề án kỹ thuật trong tháng 2 và trình Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô vào tháng 3 năm 1951. + bắt đầu đóng tàu đầu tiên vào quý II năm 1951 và đưa nó vào các thí nghiệm cấp nhầ nước trong quý III năm 1952. Toàn bộ các công việc được giao cho Phòng thiết kế trung ương số 820. Trong tháng 7-8 năm 1950 đã thực hiện sự phối hợp các câu hỏi kỹ thuật khác nhau, cho phép đảm bảo nhận được lượng choán nước đã đề ra và chất lượng tàu cần thiết. Tuy nhiên, trong các kích thước được giao đã không thành công hoàn toàn khi thực hiện các yêu cầu theo độ ổn định trong gió. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi bố trí theo tuyến thẳng của thiết bị năng lượng chính có thể đảm bảo lượng choán nước ở mức độ đã đề ra. Trong quá trình nghiên cứu đã tính toán kết hợp sơ đồ từ 2 thiết bị máy – nồi hơi. Đối với nó, các nồi hơi đã được chế tạo ở phòng thiết kế nồi hơi được biệt với sự thổi vào các buồng đốt kiểu KVG-57/28. Các nồi hơi với sự tuần hoàn tự nhiên, thẳng với bề mặt tản nhiệt rộng, ống dẫn khói một chiều, thiết bị tăng nhiệt hai mặt. Nhiệt độ hơi nước quá nhiệt được tiếp nhận ở mức độ vừa phải (370 độ), còn áp suất làm việc – 28kg lực/cm2. Sơ đồ (hệ thống) cấu trúc nồi hơi trên tàu mới được đặt trong cơ sở chế tạo nồi hơi kích thước nhỏ công suất cao cho mọi lớp tàu nổi đóng sau chiến tranh. Nhiệm vụ quan trong nhất sau đó nhằm tăng công suất buồng đốt với sự tăng sự tải nhiệt lên 3 lần đã được giải quyết. Sau nhiều lần tranh cãi, đã quyết định tiếp nhận sự bố trí theo tuyến dọc thiết bị năng lượng chính. Các phương án vũ khí khác biệt lớn so với đề án 42 đã được nghiên cứu. Như dự định thay 2 thiết bị pháo B-34USM ở mũi bằng 1 thiết bị pháo nòng đôi dạng đóng (kín) cùng cỡ nòng 100mm như B-34USM. Việc thiết kế thiết bị này được thực hiện khi đó ở Phòng thiết kế số 172. Đồng thời làm các thí nghiệm thay thể MBY-200 thành MBU-600 và pháo tự động 37mm thành 25mm. Toàn bộ vũ khí của tàu chỉ khác với đề án 42 ở sự giảm số lượng thiết bị pháo B-34USM từ 4 xuống 3., số lượng ống phóng thiết bị ngư lôi từ 3 xuống 2 và giảm cơ số đạn pháo 15%. Đề án phác họa được thực hiện ở phân nhánh Phòng thiết kế Trung ương số 820 đúng thời hạn. Trong quá trình nghiên cứu, Bộ trưởng Hải quân – Đô đốc A.G.Golovko dã phê duyệt đề xuất thay 4BMB-1 thành 4 BMB-2. Lượng choán nước tiêu chuẩn, nhận được trong đề án phác thảo là 1059 tấn. Trong đề án kỹ thuật, khối lượng lượng choán nước tiêu chuẩn tăng lên 1068 tấn. Trong quá trình nghiên cứu đề án kỹ thuật, đã xuất hiện vấn đề rằng tàu không thể đảm bảo duy trì và sử dụng cơ số đạn pháo trong sự tương ứng chính xác với thiết kế ban đầu. Do khối lượng bổ sung mà tàu nhận được, thậm chí trong lượng choán nước tiêu chuẩn đang có, đã xuất hiện khả năng tiếp nhận gần gấp 2 lần nhiên liệu (trong lượng choán nước lớn nhất) và đạt được tầm bơi xa gần 2000 dặm. Sự chỉ trích chỉ nhắm vào sự xuất hiện thiết bị ngư lôi 2 ống thay cho 3 ống như truyền thống. Cuối cùng, khi phê duyệt đè án kỹ thuật đã tiếp nhận quyết định bắt buộc Phòng thiết kế 700 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu theo đơn đặt của Viện ngư lôi Hải quân thuộc Bộ Hải quân thiết kế trong năm 1951 đề án kỹ thuật thiết bị ngư lôi 3 ống phóng một cách phù hợp với tàu đề án 50. Tổng công trình sư tàu tuần tra đề án 50 lúc đầu là D.D.Zhucovski, sau đó là V.I.Neganov và trong giai đoạn cuối cùng từ cuối năm 1953 là B.I.Kupenski, giám sát viên từ phía Hải quân là thuyền trưởng cấp 1 V.S.Avdeev. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười, 2012, 01:01:18 am Tàu đề án 50 đồng thời như tàu tuần tra đề án 42 có boong trơn với chiều cao mạn tàu dọc, 1 ống khói với 1 cột buồm và 2 thượng tầng. Sự hình thành các bộ phận cứng mũi tàu so với đề án tàu tuần tra 42 được mài sắc đáng kể, theo quan điểm các chuyên gia, sẽ giảm đáng kể sự biến dạng. Bộ phận cứng này được sử dụng bởi tổng công trình sư cuối cùng trong các đề án của mình sau đó. Theo toàn bộ các buồng và trạm chiến đấu, ngoại trừ kho bom số 6, buồng chuẩn úy và buồng lái được đảm bảo bằng đường giao thông kín, không thường xuyên đối với các tàu không lớn này. Giáp chống mảnh đạn dày 7-8mm được bọc quanh các buồng thiết bị năng lượng chính, khoang truyền động và lá chắn thiết bị pháo. Toàn bộ thân tàu – được hàn điện ngoài trừ sự liên kết của boong trên với các tấm tháo rời. Theo các kết quá thí nghiệm, độ cứng cục bộ và toàn diện được đánh giá đạt yêu cầu. Độ rung phần sau mạn tàu trong toàn bộ quá trình di chuyển được đánh giá thấp hơn so với tàu khu trục đề án 30 và đảm bảo tiêu chuẩn tạm thời.
Trong các thí nghiệm vận động, tàu trong lượng choán nước tiêu chuẩn 1134 tấn đạt tốc độ trung bình 29,5 hải lý khi chân vịt quay 386 vòng/phút. Tàu đồng thời như tàu tiền nhiệm, có 2 bánh lái, nhưng chân vịt do đường kính lớn (số vòng quay giảm), hiện tại kém do tuyến chính. Điểm này làm giảm điều kiện di chuyển của tàu theo hệ thống nước nội địa và làm cho tàu nguy hiểm khi bơi ở bãi bồi và cửa sông. Kết quả thực hiện các thí nghiệm cơ động trên biển trong tình trạng sóng biển cấp 4, 5 và 6 đã đưa đến kết luận rằng khi sóng biển cấp 4, tốc độ của tàu và sự sử dụng bất kỳ khí tài kỹ thuật và chiến đầu nào đều không bị hạn chế. Khi sóng biển lớn, tốc độ tàu giảm còn 23 hải lý (cấp 6). Trong tình trạng biển cấp 6, pháo chính chỉ có thể sử dụng ở tốc độ 16 hải lý, sử dụng vũ khí ngư lôi, chống ngầm và bom chìm – không thể. Đánh giá chung về chất lượng cơ động và khả năng đi biển của tàu là đạt yêu cầu. Khả năng đi biển của tàu theo việc sử dụng vũ khí được đánh giá cao ở cấp 4, mặc dù khi sóng biển cấp 6 vẫn có thể sử dụng pháo chính. Tổ hợp tuabin răng cưa của tàu TV-9 được giới thiệu là tuabin một (thuận) dòng phản lực – chủ động 1 thân công suất 10 000 sức ngựa. TV-9 có thể khởi động trong tình trạng nguội. Trong giai đoạn thực hiện các thí nghiệm cấp nhà nước của loạt tàu, đã phát hiện sự gãy cánh làm việc. Ủy ban đặc biệt dưới sự chỉ đạo của giáo sư M.I.Grinberg đã giải thích rằng sự gãy trên do giao động cộng hưởng trong chuyển động (tiến và lùi). Xưởng – nhà sản xuất và phòng thiết kế tuabin đã tiếp nhận điện thế tăng cường so với các tuabin cho tàu biển trước đó không đảm bảo về thiết kế, chất lượng công nghệ trong chế tạo. Tháng 4 và 9 năm 1954, đã tiếp nhận mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, trong việc khắc phục các lỗi tuabin TB-9. Liên quan với đó đã áp dụng sự hạn chế tạm thời tốc độ tối đa ở 25 hải lý. Sự hạn chế này được bỏ năm 1955. Tuy nhiên sau đó không tiến hành sửa chữa với các tuabin này. Trên tàu lắp 3 pháo 100mm B-34USMA.Việc dẫn bắn pháo được thực hiện tự động với sự hỗ trợ điều khiển từ xa hoặc bằng tay. Đây là lần đầu tiên, pháo đa năng của Liên Xô có sự dẫn bắn tự động từ xa từ trạm đo xa (PUS “Sfera-50”). Những điểm đặc biệt của thiết bị pháo không có, nhưng cũng như trên đề án 42, rãnh dẫn hướng trong quá trình khai thác sử dụng bị cong (võng, oằn xuống), còn máy đẩy vỏ đạn không thường xuyên đảm bảo đẩy vỏ đạn. Để điều khiển bắn pháo 100mm đã lắp trạm quan sát ổn định (SVP) SVP-42-50 phối hợp với ăng ten đài ra đa định vị “Yakor”. Tầm bắn của pháo theo mục tiêu trên biển là 180 cabetov, còn vào mục tiêu trên không là 165 cabeltov. Thiết bị ngư lôi 2 ống phóng được lắp trên tàu được sử dụng để bắn thẳng ngư lôi khí kiểu 53-38, 53-39, 53-ZEU, 53-51. Điểm mới trong trang bị vô tuyến điện của tàu theo so sánh với đề án 42 là sự tiếp nhận đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi kiểu “Lin”, có thể phát hiện máy bay tầm thấp và đài thủy âm “Pegas-2”. Khi tốc độ của tàu gần 20 hải lý, đài thủy âm có khả năng phát hiện tàu ngầm ở độ sâu tiềm vọng trên tầm xa 14 cabeltov, còn mìn neo – 7 cabeltov (theo các điều kiện kỹ thuật đề ra là 3 cabeltov). Mặc dù còn nhiều nhược điểm, xuất hiện trong thiết bị năng lượng chính TV-9 do nứt, gãy, việc đóng các tàu đề án 50 đã được thông qua nhanh chóng. Cuối năm 1958 đã đóng xong tổng cộng loạt 68 tàu. So sánh tàu tuần tra đề án 50 những dòng đầu tiên với các tàu cùng lớp ở nước ngoài đã chỉ ra rằng nếu theo chất lượng di chuyển, các tàu Liên Xô vượt trội nhưng thua kém đáng kể về tầm bơi xa. Việc này được giải thích rằng do các tàu Liên Xô không được sử dụng để hộ tống các đoàn tàu vận tải trên đại dương. Đánh giá toàn phần vũ khí chỉ ra răng tàu tuần tra đề án 50 nằm trong câp độ tàu tuần tra “Battler” đóng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai và thua kém tàu tuần tra lớp “Daily” đóng trong những năm 50 (đều của Mỹ). Theo vũ khí pháo, nếu chỉ xét về tầm bắn tối đa và thời gian bắn loạt theo phút, thì tàu đề án 50 thua kém không nhiều tàu nước ngoài, tuy nhiên, thiết bị tháp pháo của chúng cho phép sử dụng pháo trong các điều kiện rung lắc và sóng biển mạnh hơn. Cuối cùng, các pháo tự động 76mm trên tàu lớp “Daily” hiệu quả cao hơn đáng kể các thiết bị pháo B-34USMA khi bắn mục tiêu trên biển. Theo vũ khí chống ngầm, sự vượt trội của “Daily” là đáng kể. Như thiết bị ngư lôi của nó dược sử dụng để bắn các ngư lôi tự dẫn bắn, bom phản lực Mk108 có tầm bắn hiệu quả 4,5 cabeltov và tốc độ bắn 12 phát/phút, còn đài thủy âm lắm trên tàu có tầm phát hiện tàu ngầm hơn 30 cabeltov. Chỉ có các tàu được nâng cấp theo đề án 50-PLO, vũ khí chống ngầm và các khí tài đảm bảo mới ít nhiều đáp ứng được yêu cầu thời gian đó, nhưng ở các cường quốc Hải quân đã xuất hiện các tàu khác với khả năng chống ngầm còn lớn hơn. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười, 2012, 01:19:24 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_16__zpsfc47a3fd.jpg) Thực tế toàn bộ các tàu tuần tra đề án 50 thuộc Hải quân Liên Xô trong những năm 1959-60 được nâng cấp theo đề án 50-PLO. Trên các tàu này tăng cường vũ khí chống ngầm: máy phóng bom MBU-200 được thay bằng RBU-2500, thiết bị ngư lôi 2 ống phóng thay bằng thiết bị ngư lôi TTA-53-50 3 ông phóng để bắn các ngư lôi chống ngầm tự dẫn bắn; đài thủy âm “Pegas-2” – thành “Pegas-3”. Các tàu loạt trước có đài ra đa định vị “Gyuis-1M4” – sau đó thay bằng đài ra đa định vị “Fut-N”. Đài ra đa định vị điều khiển bắn “Yakor” trong thành phần trạm quan sát ổn định SVP-42-50 đã được thay bằng đài ra đa định vị “Yakor-M2”, đài ra đa định vị “Lin” – đài ra đa định vị “Neptun-N”. Liên quan với sự thay vũ khí đã thay đổi tải trọng hiện tại. Để tăng cường độ vững chắc theo chuẩn phương tây, trên các tàu tuần tra loạt sau cùng đã nâng cấp – bố trí tải trọng dằn rắn. Tàu tuần tra “Đoàn viên thanh niên cộng sản Archangel” trong năm 1973-74 đã trải qua sửa chữa với sự nâng cấp và tháo thiết bị ngư lôi. Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên trong đề án 50 được khởi công trên ụ xưởng số 445 (hiện nay là xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev 20 tháng 12 năm 1951 và nhận tên gọi “Gornostai”; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1952. Tiếp nhận vào biên chế Hải quân sau thí nghiệm kéo dài chỉ vào 30 tháng 7 năm 1954. Tổng cộng đến năm 1958 đã đóng 68 tàu: xưởng số 445 (61 chiến sĩ công xã) ở Nikolaev – 20 tàu, trên xưởng số 820 (“Yantar”) ở Kalininrad – 41, xưởng số 199 (mang tên Lenkom – đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin) ở Komsomol-na-Amur – 7. Đây là chương trình đóng tàu tuần tra lớn đầu tiên trong Hải quân Liên Xô, sau tàu khu trục 30-bis – dòng tàu thứ 2 trong Hải quân Liên Xô theo tính toán các tàu có lượng choán nước hơn 1000 tấn. Ngoài ra, 4 tàu theo các tài liệu Liên Xô đã bán cho Trung Quốc. 17 tàu trong biên chế Hải quân Liên Xô đã bán cho các nước: Bulgaria, Indonesia, Phần Lan. Ngoài các tàu này, theo giấy phép của Liên Xô, đã đóng thêm 5 tàu ở Trung Quốc, được người Trung Quốc trang bị lại thành tàu tên lửa. Tình hình đến năm 2005 Các tàu cuối cùng trong lớp bị loại trong những năm 1990-91. Trong thời gian phục vụ, một số tàu đã có mặt trong khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ hỗ trợ các lực lượng vũ trang Ai Cập và Siry. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười, 2012, 01:23:34 am Các bản vẽ tàu tuần tra đề án 50
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_2_zpscd0f0ca7.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_5_zps3634e607.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_3_zpsf96dba4c.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười, 2012, 01:25:13 am Bản vẽ màu và hình vẽ tàu tuần tra đề án 50
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_03_zps9f8d0f41.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_28_zpsf3f6dc41.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_06__zps75d184ef.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_05__zps1ab4cba4.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười, 2012, 01:29:53 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/50_4_zpsdaf6ff59.gif) Phân bố vũ khí trên các tàu tuần dương đè án 50 (trên) và đề án 50-PLO (dưới) 1. Thiết bị pháo đa năng 100mm B-34USM 2. Máy phóng bom phản lực MBU-200 3. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500 4. Trạm quan sát ổn định SVP-42-50 với đài ra đa định vị “Yakor” 5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N” 6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Gyuis-1M4” 7. Thiết bị ngư lôi 533mm 3 ống phóng TTA-53-50 để bắn ngư lôi chống ngầm 8. Thiết bị ngư lôi 533mm 2 ống phóng DTA-53-50 để bắn ngư lôi chống tàu 9. Thiết bị pháo phòng không 37mm V-11 10. Rãnh dẫn hướng cho mìn 11. Các thiết bị bảo vệ thủy âm lai Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười, 2012, 12:01:51 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Yaguar” (số hiệu xưởng 1123); từ 25 tháng 10 năm 1968 là “Đoàn viên thanh niên Gruzia”; từ 31 tháng 8 năm 1977 là OS-188; 7 tháng 12 năm 1951 ghi tên vào danh sách Hải quân và 23 tháng 7 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 14 tháng 2 năm 1953; gia nhập biên chế 24 tháng 4 năm 1954 và 30 tháng 4 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen;1-30 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 11 năm 1970 – 31 tháng 3 năm 1971 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ ở Địa Trung Hải, hỗ trợ quân đội Ai Cập; 28 tháng 6 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu huấn luyện; 13 tháng 8 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + “Rosomakha” (số hiệu xưởng 110); 1 tháng 2 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân và 19 tháng 6 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 16 tháng 8 năm 1953; gia nhập biên chế 30 tháng 4 năm 1954 và 17 tháng 5 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; mùa thu năm 1954 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Baltic tới Barents và 30 tháng 12 năm 1954 ghi tên vào Hạm đội Phương Bắc; 30 tháng 11 năm 1973 chuyến tới căn cứ Hải quân Leningrad; từ 20 tháng 8 năm 1958 đến 20 tháng 11 năm 1959 nâng cấp ở xưởng số 820; từ 11 tháng 6 năm 1971 đến 30 tháng 11 năm 1973 và từ 7 tháng 8 năm 1979 đến 1 tháng 2 năm 1980 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Leningrad. + “Leopard” (số hiệu xưởng 108); 13 tháng 11 năm 1951 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 12 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng sô 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1953; gia nhập biên chế 30 tháng 4 năm 1954 và 10 tháng 5 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; mùa thu năm 1954 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Barents; 30 tháng 12 năm 1954 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 10 tháng 11 năm 1959 đến 16 tháng 12 năm 1960 nâng cấp và trung tu ở xưởng số 820; 10 tháng 12 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Pala (Polyarnưi); 18 tháng 9 năm 1965 ở vịnh Dolgo-Zapad; 3 tháng 9 năm 1981 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1981 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + “Panter” (số hiệu xưởng 1121); từ 7 tháng 7 năm 1977 là “Soviet Turkmenistan”; 5 tháng 12 năm 1951 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 21 tháng 12 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1952; gia nhập biên chế 21 tháng 5 năm 1954; 31 tháng 5 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen;; 6-11 tháng 8 năm 1966 tới thăm Alecsandria (Ai Cập); 5 tháng 8 – 15 tháng 12 năm 1970 ở trong khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 21 tháng 6 năm 1977 chuyển sang Hạm đội Caspi và mùa hè năm 1977 di chuyển theo kênh Volgo-Don từ biển Azov tới Caspi; 25 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười, 2012, 12:02:18 am + “Rưs” (số hiệu xưởng 1122); 7 tháng 12 năm 1951 ghi tên vào danh sách Hải quân; 22 tháng 4 năm 1952 khởi công ở xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev; hạ thủy 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên ché 21 tháng 5 năm 1954; 31 tháng 4 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 12 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 31 tháng 1 năm 1975 – Donuzaliv; 29 tháng 11 năm 1976 – tới Poti neo đậu; 18 tháng 1 năm 1982 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.
+ “Zubr” (số hiệu xưởng 41); 13 tháng 5 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 29 tháng 8 năm 1952 khởi công ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy (đưa xuống ụ) 9 tháng 7 năm 1953; gia nhập biên chế 31 tháng 5 năm 1954; 14 tháng 6 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 24 tháng 4 năm 1965 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Hải quân Indoniesia, đổi tên “Hang Tuan”; 1 tháng 11 năm 1965 giải thể; năm 1971 tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia tháo kim loại. + “Gornostai” (số hiệu xưởng 1120); 7 tháng 12 năm 1951 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 12 năm 1951 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1952; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1954; 25 tháng 2 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; là tàu đầu tiên trong lớp; 1 tháng 12 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Sevastopol; 10 tháng 9 năm 1968 - ở Ochakovo; 22 tháng 5 năm 1972 – tới Donuzaliv; 15 tháng 2 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; từ 20 thnags 3 năm 1981 đến 12 tháng 11 năm 1986 đại tu ở xưởng chữa tàu Poti; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và mùa xuân năm 1992 tháo kim loại ở Sevastopol. + “Bizon” (số hiệu xưởng 42); 13 tháng 5 năm 1992 ghi tên vào danh sách Hải quân; 4 tháng 10 năm 1952 khởi công ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy (xuống ụ) 9 tháng 7 năm 1953; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1954; 9 tháng 7 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 24 tháng 4 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Indoneisa, đổi tên”Kaki Ali”; 1 tháng 11 năm 1965 giải thể và năm 1971 tháo vũ khí, bán cho công ty Indonesia để tháo kim loại. + “Bars” (số hiệu xưởng 109); 7 tháng 12 năm 1951 ghi tên vào danh sách Hải quân; 25 tháng 4 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 25 tháng 7 năm 1953; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1954; 8 tháng 7 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 9 thnags 6 năm 1955 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa hè năm 1955 theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Barents; từ 20 tháng 8 năm 1958 đến 20 tháng 11 năm 1959 ở xưởng số 820 trải qua trung tu; từ 29 tháng 11 năm 1967 đến 1 tháng 10 năm 1981, ở xưởng sửa chữa tàu tại Kronshtadt, từ 9 tháng 4 đến 17 tháng 6 năm 1971, từ 3 tháng 9 năm 1974 đến 1 tháng 9 năm 1975 và từ 1 tháng 2 năm 1980 đến 1 tháng 10 năm 1981 ở xưởng số 7 tại Tallin, từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 11 tháng 11 năm 1987 ở xưởng “xưởng rèn Đỏ” ở Archangel một lần nữa trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí, tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1990 giải thể và neo đậu ở vịnh Kolsk, sau đó bị đánh đắm do bộ phận đáy – thành tàu xuống cấp nặng. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười, 2012, 12:02:34 am + “Aist” (số hiệu xưởng 43); 5 tháng 7 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 25 tháng 12 năm 1952 khởi công ở phân xưởng trong xưởng số 199 ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy (đưa xuống ụ) 25 tháng 8 năm 1953; gia nhập biên chế 27 tháng 8 năm 1954; 7 tháng 9 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 25 tháng 4 năm 1965 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Indonesia, đổi tên là “Larnbung Mangkurat”; 1 tháng 11 năm 1965 giải thể, năm 1971 tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia tháo dỡ.
+ “Puma” (số hiệu xưởng 1125); 19 tháng 5 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 25 tháng 11 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1953; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1954 và 14 tháng 9 năm 1954 ghi tên vào biên chế Ham đội Biển Đen; 5 tháng 4 năm 1962 trong biên chế đội tàu rời Sevastopol; 5 tháng 8 năm 1962 đi qua kênh đào Suez tới Surabai; 24 tháng 1 năm 1963 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Indonesia, đổi tên “Slamet Rijari”; 29 tháng 1 năm 1963 giải thể; năm 1975 tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia để tháo dỡ. + “Kuguar” (số hiệu xưởng 113); 5 tháng 7 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 3 năm 1953 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 31 tháng 12 năm 1953; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1954; 14 tháng 9 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 3 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1958 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Barents, 4 tháng 3 năm 1988 sau cuộc di chuyển liên Hạm đội quanh Scandinavia từ biển Bắc tới Baltic đã quay lại biên chế Hạm đội Baltic; từ 10 tháng 11 năm 1959 đến 16 tháng 12 anwm 1960 ở xưởng số 820 trải qua trung tu; từ 2 tháng 10 năm 1963 đến 18 tháng 1 năm 1964; từ 19 tháng 10 năm 1964 đến 12 tháng 2 năm 1965 ở xưởng Kronshtadt; từ 24 tháng 10 đến 21 tháng 12 năm 1972 ở xưởng “lò rèn Đỏ” ở Archangel; từ 13 tháng 10 năm 1978 đến 28 tháng 9 năm 1979 và từ 19 tháng 1 năm 1983 đến 19 tháng 5 năm 1986 ở xưởng số 7 tại Tallin một lần nữa trải qua đại tu và trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí và tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; năm 1992 bị đắm ở cảng Baltic khi tháo máy do các bộ phận ở đáy – thành tàu đã xuống cấp nặng. + “Barsuk” (số hiệu xưởng 112); 19 tháng 5 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 2 tháng 12 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 2 năm 1954; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1954 và 24 tháng 9 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1972 tới thăm Stocholm (Thụy Điển); 28 tháng 5 năm 1980 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí, tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 7 năm 1981 giải thể. + “Sarưch” (số hiệu xưởng 1124); 9 tháng 2 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 24 tháng 9 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1953; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1954; 8 tháng 10 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 5 tháng 4 năm 1962 trong biên chế đội tàu tời Sevastopol; 5 tháng 8 năm 1962 tới Surabaia qua kênh đào Suez; 24 tháng 1 năm 1963 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Indonesia, đổi tên “Jons Sudarso”; 29 tháng 1 năm 1963 giải thể; năm 1974 tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia để tháo dỡ. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười, 2012, 12:02:54 am + “Sobol” (số hiệu xưởng 111); 1 tháng 2 năm 1952 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 27 tháng 9 năm 1952 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 5 tháng 11 năm 1953 hạ thủy; gia nhập biên chế 13 tháng 10 năm 1954; 22 tháng 10 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 10 năm 1959 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Hải quân Cộng hòa dân chủ Đức, đổi tên “Karl Marx”; 31 tháng 12 năm 1959 giải thể; giữa những năm 1970 tháo vũ khí và bán cho công ty Đông Đức tháo kim loại.
+ “Giena” (số hiệu xưởng 44); từ 18 tháng 2 năm 1953 là “Laska”; 5 tháng 7 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân và 5 tháng 3 năm 1953 khởi công trên ụ xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy (đưa xuống ụ) 18 tháng 5 năm 1954; gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1954; 20 tháng 11 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 8 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Nobik; 19 tháng 6 năm 1981 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo vũ khí, tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1981 giải thể. + “Volk” (số hiệu xưởng 1126); 19 tháng 5 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 2 năm 1953 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 23 tháng 7 năm 1953; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1954; 10 tháng 11 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 11 năm 1970 – 1 tháng 3 năm 1971 trong khu vực chiến sự, phục vụ trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; từ 5 tháng 7 năm 1982 đến 19 tháng 1 năm 1983 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastopl trải qua đại tu; 4 tháng 10 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và câu lạc bộ yêu nước – quân sự “Những người bạn trẻ Hải quân” ở Poti; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể; mùa xuân năm 1991 tháo kim loại ở Sevastopol. + “Enot” (số hiệu xưởng 114); 5 tháng 7 năm 1952 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 17 tháng 10 năm 1953 khởi công trên ụ số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 9 tháng 4 năm 1954; gia nhập biên chế 30 tháng 10 năm 1954; 10 tháng 11 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 10 năm 1959 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Cộng hòa dân chủ Đức, đổi tên “Friedrich Engels”; 31 tháng 12 năm 1959 giải thể; năm 1971 tháo vũ khí và bán cho công ty Đông Đức để tháo dỡ. + “Pelikan” (số hiệu xưởng 45); 14 tháng 3 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 1 tháng 8 năm 1953 khởi công ở ụ trên xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy (đưa xuống ụ) 18 tháng 4 năm 1954; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1954; 15 tháng 12 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 28 tháng 2 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Indonesia, đổi tên “Nuku” và 1 tháng 11 năm 1964 giải thể, năm 1973 tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia tháo kim loại. + “Filin” (số hiệu xưởng 115); 5 tháng 7 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 8 năm 1953 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 6 tháng 6nawm 1954; gia nhập biên chế 9 tháng 12 năm 1954; 21 tháng 12 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 8 tháng 6 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Phần Lan, đổi tên “Uusimaa”, phân loại lại thành tàu chiến và 1 tháng 8 năm 1964 giải thể; năm 1971 nâng cấp và trang bị lại thành tàu rải mìn bởi Phần Lan; giữa những năm 1980 tháo vũ khí và bán cho công ty Phần Lan tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười, 2012, 12:03:09 am + “Kynitsa” (số hiệu xưởng 1127); 19 tháng 5 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 5 năm 1953 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 30 tháng 11 năm 1953; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1954; 31 tháng 12 năm 1954 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1-31 tháng 6 năm 1967 và 5-24 tháng 10 năm 1973 nằm ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 1 tháng 5 – 31 tháng 12 năm 1968 – quân đội Siry; từ 28 tháng 7 năm 1983 đến 23 tháng 1 năm 1984 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastpol trải qua trung tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.
+ “Lun” (số hiệu xưởng 116); 5 tháng 7 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 10 năm 1953 khởi công trên ụ xướng ố 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 5 tháng 8 năm 1954; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1954; 31 tháng 12 năm 1954 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 7 tháng 2 năm 1956 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1956 di chuyển theo hệ thống đường thủy nội địa từ Baltic tới biển Trắng; 22 tháng 10 năm 1955 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1956 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Petropavlov-Camchatka đã chuyển vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân và tháo vũ khí, tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. + “Korsak” (số hiệu xưởng 1128); 5 tháng 7 năm 1952 ghi tên vào danh sách Hải quân; 1 tháng 8 năm 1953 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1954; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1954; 6 tháng 1 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 5 tháng 4 năm 1962 trong biên chế đội tàu đã rời Sevastopol; 5 tháng 8 năm 1962 tới Surabaia qua kênh đào Suez; 24 tháng 1 năm 1963 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Indonesia; đổi tên “Ngurah Rai”; 29 tháng 1 năm 1963 giải thể; năm 1973 tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia tháo kim loại. + “Pingvin” (số hiệu xưởng 46); 14 tháng 3 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 9 năm 1953 khởi công ở phân xưởng thuộc xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy (đưa xuống ụ) 13 tháng 8 năm 1954; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1954; 15 tháng 1 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 19 tháng 12 năm 1979 đến 14 tháng 4 năm 1980; từ 15 tháng 1 năm 1984 đến 12 tháng 10 năm 1987 ở xưởng trên vịnh Okocha trải qua trung tu và đại tu; 25 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể. + “Gepard” (số hiệu xưởng 47); 1 tháng 6 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 12 năm 1953 khởi công ở phân xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy (đưa xuống ụ) 13 tháng 8 năm 1954; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1954; 15 tháng 1 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 13 tháng 12 năm 1968 đến 26 tháng 7 năm 1970 ở xưởng phía Bắc tại cửa biển Soviet; từ 21 tháng 12 năm 1979 đến 15 tháng 12 năm 1980 ở xưởng trên vịnh Okocha trải qua trung tu; 31 tháng 5 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đi tháo dỡ, tháo phế liệu; 1 tháng 5 năm 1985 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười, 2012, 12:03:26 am + “Norka” (số hiệu xưởng 1129); 14 tháng 3 năm 1953; ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 1 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1954; gia nhập biên chế 30 tháng 4 năm 1955; 13 tháng 5 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 18 tháng 7 năm 1960 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Sevastopol đã ghi tên vào Hạm đội Phương Bắc; từ 21 tháng 12 năm 1970 đến 1 tháng 10 năm 1971 ở xưởng tại Kronshtadt trải qua trung tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Archangel.
+ “Kobchik” (số hiệu xưởng 117); 14 tháng 3 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 12 năm 1953 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 2 tháng 11 năm 1954; gia nhập biên chế 31 tháng 5 năm 1955; 9 tháng 6 năm 1955 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1972 tới thăm Stocholm (Thụy Điển) và 24-28 tháng 8 năm 1973 – tới Copenhagen (Đan Mạch); từ 29 tháng 4 năm 1982 đến 3 tháng 11 năm 1983 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu; tháng 11 năm 1985 bán cho Bulgaria và đổi tên “Bodri”; 20 tháng 12 năm 1985 giải thể và 14 tháng 2 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; giữa những năm 1990 tháo vũ khí và bán cho công ty Bulgaria để tháo kim loại. + “Tur” (số hiệu xưởng 118); 14 tháng 3 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 24 tháng 3 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 16 tháng 12 năm 1954; gia nhập biên chế 31 tháng 5 năm 1955; 9 tháng 6 năm 1955 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 27 tháng 2 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc; 20 tháng 3 năm 1956 quay trở lại biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 1 năm 1957 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Cộng hòa dân chủ Đức, đổi tên “Karl Liebknecht”; 1 tháng 3 năm 1957 giải thể, năm 1971 tháo vũ khí và bán cho công ty Đông Đức tháo kim loại. + “Voron” (số hiệu xưởng 1130); 7 tháng 10 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 3 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 11 tháng 11 năm 1954; gia nhập biên chế 18 tháng 6 năm 1955; 28 tháng 6 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1-20 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; trong giai đoạn từ 25 tháng 9 năm 1979 đến 1 tháng 2 năm 1980 và từ 3 tháng 2 đến 14 tháng 5 năm 1986 tới xưởng “Quân khí Hạm đội” ở Varna (Bulgaria) trải qua trung tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + “Grizon” (số hiệu xưởng 1131); 17 tháng 10 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 4 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev; hạ thủy 29 tháng 11 năm 1954; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1955; 12 tháng 7 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 5 tháng 4 năm 1962 trong biên chế độ tàu rời Sevastopol và 5 tháng 8 năm 1962 tới Surabaia qua kênh đào Suez; 24 tháng 1 năm 1963 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Indonesia, đổi tên Mongin Sidi”; 29 tháng 1 năm 1963 giải thể; năm 1970 tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười, 2012, 12:06:14 am + “Los” (số hiệu xưởng 119); 7 tháng 10 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 5 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalingrad; hạ thủy 29 tháng 3 năm 1955; gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1955; 10 tháng 8 năm 1955 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 7 tháng 2 năm 1956 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1956 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Barents; 22 tháng 10 năm 1956 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1956 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Petropavlovsk-Camchatca chuyển tới biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 8 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Bắc (cảng Soviet); 1 tháng 2 năm 1985 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ, tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể.
+ “Olen” (số hiệu xưởng 120); 7 tháng 11 năm 1953 ghi tên vào danh sách Hải quân; 2 tháng 8 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalingrad; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1955; gia nhập biên chế 27 tháng 8 năm 1955; 6 tháng 9 năm 1955 gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4; từ 4 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 27 tháng 2 năm 1956 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 20 tháng 3 năm 1966 trở lại Hạm đội Baltic; 14 tháng 7 năm 1956 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Cộng hòa dân chủ Đức, đổi tên “Ernst Thalmann”; giữa những năm 1970 tháo vũ khí và bán cho công ty Đông Đức tháo kim loại. + SKR-51 (số hiệu xưởng 1132); 20 tháng 2 năm 1954 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 25 tháng 6 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 26 tháng 2 năm 1955; gia nhập biên chế 26 tháng 9 năm 1955; 8 tháng 10 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 31 tháng 12 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Sevastopol; 10 tháng 9 năm 1968 ở Ochakovo; 30 tháng 1 năm 1975 ở Donuzaliv; từ 12 tháng 7 năm 1985 đến 13 tháng 6 năm 1988 ở xưởng Poti trải qua đại tu; 15 tháng 2 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-52 (số hiệu xưởng 1133); từ 8 tháng 8 năm 1961 là “Tuman”; 4 tháng 5 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 1 tháng 9 năm 1954 khởi công ở ụ thuộc xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1955; gia nhập biên chế 26 tháng 11 năm 1955; 6 tháng 12 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 18 tháng 7 năm 1960 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa hè năm 1960 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Sevastopol tới biển Bắc; 18 tháng 1 năm 1964 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh Skandinavia từ biển Bắc tới Liepai chuyển sang biên chế Hạm đội Baltic; từ 20 tháng 8 năm 1976 đến 26 tháng 11 năm 1976 và từ 8 tháng 7 năm 1983 đến 28 tháng 2 năm 1986 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu và đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Liepai. + SKR-53 (số hiệu xưởng 1134); 3 tháng 6 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 11 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1955; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1955; 10 thnags 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 15 tháng 10 năm 1958 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Bulgaria, đổi tên “Smeli”; cuối những năm 1980 tháo vũ khí và bán cho công ty Bulgaria tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 12:04:37 am + SKR-54 (số hiệu xưởng 131); 1 tháng 7 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 12 năm 1954; khởi công trên ụ xưởng 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 31 tháng 8 năm 1955; gia nhập biên chế 31 tháng 12 anwm 1955; 10 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 22 tháng 10 năm 1956; sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1956 quanh Skandinavia từ Baltic tới biển Bắc; sau đó theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Petropavlovsk-Camchatca, ghi tên vào biên chế phân hạm đội Camchatca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 20 thnags 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, mang đi tháo vũ khí và tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và nhanh chóng đưa vào bãi cạn gần bờ ở vịnh Rakovưi.
+ SKR-55 (số hiệu xưởng 160); 1 tháng 7 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 18 tháng 2 năm 1955 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1955; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1955; 1 tháng 10 năm 1956 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; 22 tháng 10 năm 1956 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1956 quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc, sau đó theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Petropavlovsk-Camchatca ghi tên vào biên chế phân hạm đội Camchatca (Thái Bình Dương); 15 tháng 12 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở vịnh Novik; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ, tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể. + SKR-50 (số hiệu xưởng 194); 4 tháng 5 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 10 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 16 tháng 8 năm 1955; gia nhập biên chế 3 tháng 1 năm 1956; 4 tháng 1 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 22 tháng 10 năm 1956; sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1956 quanh Scandinavia ghi tên vào phân hạm đội Camchatca; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí, tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và nhan chóng đưa vào bãi bồi gần bờ vịnh Racovưi. + SKR-57 (số hiệu xưởng 1135); 6 tháng 10 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 23 tháng 12 năm 1954 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 21 tháng 7 năm 1955; gia nhập biên chế 28 tháng 2 năm 1956; 16 tháng 3 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 8 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Sevastopol; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 10 tháng 7 năm 1980 đến 20 tháng 3 năm 1981 ở xưởng “quân khí Hải quân” tại Varna (Bulgaria) trải qua trung tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân; 12 tháng 7 năm 1989 đưa tới Kiev để sử dụng như tàu huấn luyện; 10 tháng 10 năm 1989 giải thể. + SKR-58 (số hiệu xưởng 1136); 6 tháng 10 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 3 năm 1955 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev; hạ thủy 12 tháng 7 năm 1955; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 9 năm 1957 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Âu từ Sevastopol tới biển Bắc ghi tên vào Hạm đội Phương Bắc; 30 tháng 12 năm 160 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu lúc đầu ở vịnh Dolgo-Zapad; 4 tháng 3 năm 1970 ở vịnh Said; 1 tháng 3 năm 1984 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 1 tháng 6 năm 1985 trở lại vịnh Said để niêm cất; 19 thnags 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo phế liệu; 1 tháng 6 năm 1990 giải thể và sau đó bị tháo kim loại ở Murmansk. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 12:04:55 am + SKR-56 (số hiệu xưởng 173); từ 15 tháng 12 năm 1977 là “Soviet Azerbaijan”; 16 tháng 7 năm 1954 ghi tên vào danh sách Hải quân; 16 tháng 4 năm 1955 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 6 tháng 1 năm 1956; gia nhập biên chế 21 tháng 5 năm 1956; 31 tháng 5 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 10 tháng 10 năm 1956 ghi tên vào biên chế hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1956 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 2 tháng 10 năm 1963 chuyển sang biên chế căn cứ quân sự tại Leningrad; 18 tháng 9 năm 1965 – trong biên chế Hạm đội Baltic; 27 tháng 11 năm 1977 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Leningrad tới Bacu – vào biên chế phân hạm đội Caspi; từ 20 tháng 8 năm 1958 đến 7 tháng 9 năm 1959 trải qua trung tu và nâng cấp ở xưởng số 820; 15 tháng 12 năm 1965 loại khỏi biên chế chiến đấu và néo đậu ở khu vực niêm cất tại Tallin; từ 18 thấng 6 năm 1968 - ở Liepai; 10 tháng 2 năm 1977 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.
+ SKR-59 (số hiệu xưởng 147); 15 tháng 4 năm 1955 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 6 năm 1955 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 2 tháng 2 năm 1965; gia nhập biên chế 25 tháng 6 năm 1956; 31 tháng 5 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 2 năm 1957 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 7 năm 1957 sau cuộc hành quân liên hạm đội mùa hè năm 1957 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Petropavlov-Camchatca đã chuyển sang biên chế phân hạm đội Camchatca; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và nhanh chóng được mang tới bãi bồi gần bờ ở vịnh Rakovưi. + SKR-63 (số hiệu xưởng 1137); từ 11 tháng 11 năm 1987 là “SM-141”; 5 tháng 5 năm 1955 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã; 17 tháng 10 năm 1955 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 10 năm 1955; gia nhập biên chế 30 tháng 5 năm 1956; 12 tháng 6 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 9 năm 1957 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Sevastopol tới biển Bắc chuyến sang biên chế Hạm đội Phương Bắc; 31 tháng 12 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Dolgo-Zapad; 30 tháng 4 năm 1985 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 20 tháng 6 năm 1987 tháo vũ khí, cải tạo thành tàu mục tiêu để đảm bảo thực hiện bắn và bố trí lại ở vịnh Said. + SKR-60 (số hiệu xưởng 149); 17 tháng 10 năm 1955 ghi tên vào danh sách Hải quân; 8 tháng 12 năm 1955 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 13 tháng 4 năm 1956; gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1956; 10 tháng 7 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 10 tháng 10 năm 1956 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 25 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 9 năm 1988 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + SKR-61 (số hiệu xưởng 151); 17 tháng 10 năm 1955 ghi tên vào danh sách Hải quân và trong cùng ngày khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1956; gia nhập biên chế 23 tháng 8 năm 1956; 12 tháng 9 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 2 năm 1957 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa thu năm 1957 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 10 năm 1957 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1957 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, gia nhập Hạm đội Thái Bình Dương; 15 tháng 2 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Nobik; 26 tháng 3 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; trong giai đoạn từ 5 tháng 7 năm 1982 đến 10 tháng 2 năm 1984 ở xưởng tại vịnh Okocha để đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 12:05:17 am + SKR-62 (số hiệu xưởng 155); từ 27 tháng 10 năm 1969 là “đoàn viên thanh niên cộng sản Irkut”; 20 tháng 12 năm 1955 ghi tên vào danh sách Hải quân; khởi công 21 tháng 12 năm 1955 trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 6 năm 1955; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1956; 5 tháng 10 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 2 năm 1957 ghi tên vào Hạm đội Phương Bắc, nhanh chóng kết thúc cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 10 năm 1957 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu theo biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, chuyển sang biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 4 tháng 6 năm 1963 tới 12 tháng 10 năm 1964 ở “Dalzavod” tại Vladivostoc trải qua đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở cảng Soviet.
+ SKR-66 (số hiệu xưởng 1138); 9 tháng 2 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 2 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev;hạ thủy 20 tháng 5 năm 1956; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1966; 6 tháng 10 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 15 tháng 5 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất vào neo đậu ở Sevastopol; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 15 tháng 12 năm 1963 lần thứ 2 trở lại Sevastopol; từ 10 tháng 9 năm 1968 ở Ochakovo; từ 21 tháng 1 năm 1975 ở Donuzaliv trong dạng niêm cất; 5 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân và tháo vũ khí, mang đi tháo phế liệu; sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-64 (số hiệu xưởng 156); 12 tháng 10 năm 1962 là “đoàn viên thanh niên cộng sản Litva”; 20 tháng 12 năm 1955 ghi tên vào danh sách Hải quân; 8 tháng 2 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 1 tháng 8 năm 1956; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1956; 12 tháng 11 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 17-21 tháng 8 năm 1967 tới thăm Helsinki (Phần Lan); trong giai đoạn 26 tháng 12 năm 1977 đến 24 tháng 12 năm 1979 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua đại tu; 1 tháng 8 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và đưa đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Liepai. + SKR-65 (số hiệu xưởng 161); 9 tháng 2 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 28 tháng 3 năm 1956 khởi công trên ụ xướng ố 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 4 tháng 9 năm 1956; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1956; 1 tháng 7 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4-7 tháng 8 năm 1961 tới thăm Helsinki (Phần Lan); 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và tháo kim loại ở Liepai. + SKR-67 (số hiệu xưởng 1139); 9 tháng 2 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 1 tháng 3 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 445 mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev; hạ thủy 10 tháng 7 năm 1956; gia nhập biên chế 22 tháng 12 năm 1956; 10 tháng 1 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 12 tháng 4 năm 1957 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Bulgaria, đổi tên “Diarzki”; 13 tháng 7 năm 1957 giải thể; năm 1985 tháo vũ khí và bán cho công ty Bulgaria để tháo dỡ. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 12:05:35 am + SKR-68 (số hiệu xưởng 167); 1 tháng 3 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 5 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 10 năm 1956; gia nhập biên chế 23 tháng 3 năm 1957; 2 tháng 4 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 30 tháng 11 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu lúc đầu ở Tallin; 18 tháng 6 năm 1968 neo đậu ở Liepai; 1 tháng 10 năm 1972 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 22 tháng 5 năm 1972 ghi tên vào biên chế căn cứ hải quân Leningrad; trong giai đoạn từ 28 tháng 11 năm 1977 đến 1 tháng 2 năm 1980 và từ 30 tháng 1 năm 1985 đến 6 tháng 8 năm 1987 ở Kronshtadt trải qua đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Leningrad.
+ SKR-69 (số hiệu xưởng); 25 tháng 4 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 29 tháng 7 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalingrad; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1956; gia nhập biên chế 30 tháng 5 năm 1957; 12 tháng 6 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4-7 tháng 8 năm 1961 tới thăm Helsinki (Phần Lan); 8 tháng 6 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bán cho Phần Lan, đổi tên “Hameenmaa”; 1 tháng 8 năm 1964 giải thể; năm 1971 nâng cấp và năm 1979 Phần Lan cải tạo thành tàu quét mìn; cuối những năm 1980 tháo vũ khí và bán cho công ty Phần Lan tháo dỡ. + SKR-70 (số hiệu xưởng 126); 9 tháng 6 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 13 tháng 8 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 19 tháng 2 năm 1957; gia nhập biên chế 20 tháng 6 năm 1957; 30 tháng 6 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 29 tháng 10 năm 1963 chuyển tới Hạm đội Baltic; 21 tháng 12 năm 1965 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 27 tháng 10 năm 1988 đến 27 tháng 1 năm 1989 ở xưởng “lò rèn Đỏ” tại Archangelsk trải qua trung tu; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991. + SKR-71 (số hiệu xưởng 127); 18 tháng 7 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 9 năm 1956 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 3 tháng 4 năm 1957; gia nhập biên chế 13 tháng 7 năm 1957; 6 tháng 8 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 29 tháng 10 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; 21 tháng 12 năm 1965 quay trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 19 tháng 11 năm 1969 đến 20 tháng 12 năm 1969 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu; 20 tháng 12 năm 1969 loại khỏi biên chế chiến đấu, neo đậu lúc đầu ở vịnh Dolgo-Zapad; 4 tháng 3 năm 1970 ở vịnh Said; 1 tháng 5 năm 1987 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu tuần tra huấn luyện; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và neo đậu ở vịnh Tyuva, sau đó bị đắm do bộ phận đáy – thân xuống cấp nặng. + SKR-72 (số hiệu xưởng 128); từ 20 tháng 4 năm 1992 là OT-28; 30 tháng 7 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 1 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalingrad; hạ thủy 16 tháng 5 năm 1957; gia nhập biên chế 26 tháng 9 năm 1957; 5 tháng 10 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu và neo đậu ở vịnh Pala; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 17 tháng 10 năm 1966 ghi tên vào biên chế căn cứ Hải quân Leningrad; 23 tháng 11 năm 1967 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 19 tháng 7 năm 1972 đến 19 tháng 12 năm 1974 ở “lò rèn Đỏ” tại Archangelsk trải qua đại tu; 24 tháng 6 năm 1991 lần thứ 2 bị loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu, neo đậu ở vịnh Gremmikha; 1 tháng 9 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân và tháo dỡ, nhưng nhanh chóng bị đắm ở bến đỗ tàu Iokangsk do các bộ phận đáy – thành bị xuống cấp nặng. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 12:05:54 am + SKR-73 (số hiệu xuowngr129); 12 tháng 11 năm 1956 ghi tên vào danh sách Hải quân; 24 tháng 12 năm 1956 khởi công ở xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1957; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1957; 18 tháng 10 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Saida trong dạng neo đậu; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 17 tháng 10 năm 1966 đến 18 tháng 1 năm 1968; từ 11 tháng 6 năm 1971 đến 24 tháng 4 năm 1973 ở xưởng số 7 ở Tallin và từ 26 tháng 12 năm 1977 đến 13 tháng 10 năm 1978 ở xưởng “lò rèn Đỏ” tại Archangelsk trải qua đại tu và trung tu; mùa hè năm 1984 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Trắng đến biển Caspi; 15 tháng 11 năm 1984 chuyển sang phân hạm đội Caspi; 11 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo phế liệu; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể.
+ SKR-74 (số hiệu xưởng 130); 4 tháng 2 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 7 tháng 2 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1957; gia nhập biên chế 26 tháng 11 năm 1957; 7 tháng 12 năm 1957 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 12 tháng 2 năm 1958 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1959 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông chuyển sang biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 8 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Bắc; 31 tháng 8 năm 1966 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 25 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. + SKR-75 (số hiệu xưởng 132); 7 tháng 2 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 14 tháng 3 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1957; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1957; 6 tháng 1 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 12 tháng 2 năm 1958 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên Hạm đội quanh Scanidnavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên Hạm đội hè thu năm 1959 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, chuyển biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 12 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở vịnh Vladimir; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 25 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể. + SKR-76 (số hiệu xưởng 123); từ 25 tháng 10 năm 1968 là “đoàn viên thanh niên cộng sản Archangelsk”; 12 tháng 4 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 29 tháng 4 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 16 tháng 12 năm 1957; gia nhập biên chế 15 tháng 6 năm 1958; 28 tháng 6 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 25 tháng 12 năm 1965 ghi tên vào Hạm đội Baltic; 24 tháng 6 năm 1967 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 18 tháng 10 năm 1973 đến 14 tháng 10 năm 1974 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu và nâng cấp, tháo thiết bị ngư lôi; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 31 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Archangelsk. + SKR-77 (số hiệu xưởng 134); từ 19 tháng 4 năm 1979 là “Soviet Dagestan”; 12 tháng 4 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 6 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 20 tháng 1 năm 1958; gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1958; 9 tháng 7 năm 1958; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Pala (thành phố Polyarnưi); 14 tháng 7 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 5 năm 1965 đến 5 tháng 10 năm 1968 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua đại tu; 28 tháng 2 năm 1969 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ vịnh Kolsk tới Sevastopol; 7 tháng 8 năm 1979 sau khi di chuyển theo kênh Volga-Don từ biển Azov tới Caspi và chuyển vào biên chế phân hạm đội Caspi; 5-24 tháng 10 năm 1973 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ ủng hộ quân đội Ai Cập và Siry; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân; 12 tháng 7 năm 1989 bán cho câu lạc bộ Hải quân “Arga” ở Makhachkala để sử dụng làm tàu huấn luyện; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 12:26:09 am + SKR-80 (số hiệu xưởng 136); 31 tháng 7 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 9 năm 1957 khởi công ở xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 13 tháng 3 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1958; 12 tháng 8 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 1 tháng 10 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; tháng 2 năm 1959 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 9 tháng 3 năm 1978 đến 9 tháng 1 năm 1980 ở xưởng “lò rèn Đỏ” trải qua đại tu ở Archangelsk; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo dỡ kim loại ở Murmansk.
+ SKR-81 (số hiệu xưởng 138); 9 tháng 8 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 10 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1958; 19 tháng 9 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic đến biển Bắc; từ 4 tháng 1 năm 1966 đến 6 tháng 7 năm 1967 ở xưởng số 7 tại Tallin trải qua trung tu; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1988 giải thể. + SKR-4 (số hiệu xưởng 140); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 22 tháng 1 năm 1958 khởi công ở ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1958; gia nhập biên chế 13 tháng 12 năm 1958; 23 tháng 12 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 3 năm 1959 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic đến biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu năm 1959 theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, ghi tên vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 15 tháng 12 năm 1965 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Bắc; 31 tháng 8 năm 1966 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. + SKR-5 (số hiệu xưởng 141); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 3 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalinigrad; hạ thủy 1 tháng 9 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1958; 17 tháng 1 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 30 tháng 6 năm 1953; loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic; 14 tháng 6 năm 1968 ở Liepai; 1 tháng 7 năm 1981 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 02:16:59 am + SKR-8 (số hiệu xưởng 142); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 24 tháng 4 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 18 tháng 10 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1958; 17 tháng 1 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 31 tháng 3 năm 1963 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic; 18 tháng 6 năm 1968 ở Liepai; 1 tháng 6 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; 1 tháng 6 năm 1994 khi quân Nga rời khỏi Latvia, bị để lại trong tình trạng nửa đắm ở gần cảng quân sự Liepai; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Latvi để tháo kim loại.
+ SKR-10 (số hiệu xưởng 139); 26 tháng 1 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 11 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1958; gia nhập biên chế 21 tháng 10 năm 1958; 31 tháng 10 năm 1958 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 3 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc và nhanh chóng hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 14 tháng 9 năm 1959 sau cuộc hành quân liên hạm đội hè thu theo đường biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Viễn Đông, chuyển biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 1 năm 1964 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Bắc trong tình trạng neo đậu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; sau đó tháo kim loại ở cảng Soviet. +SKR-14 (số hiệu xưởng 143); 29 tháng 5 nă 1958 khởi công trên ụ xướng ố 820 tại Kaliningrad; 3 tháng 7 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 9 tháng 1 năm 1959; gia nhập biên chế đầu tháng 9 năm 1959; 19 tháng 9 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 31 tháng 8 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở Tallin trong dạng neo đậu; 26 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; từ 27 tháng 7 năm 1977 đến 31 tháng 7 năm 1978 và từ 6 tháng 12 năm 1984 đến 28 tháng 2 năm 1986 ở xưởng số 7 trải qua trung tu và đại tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Tallin. + SKR-15 (số hiệu xưởng 144); 3 tháng 7 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 7 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 2 năm 1959; gia nhập biên chế 1 tháng 10 năm 1959; 13 tháng 10 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 31 tháng 9 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Tallin; 18 tháng 6 năm 1968 ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí và tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và 1 tháng 6 năm 1994 khi quân Nga rút khỏi Latvia bị để lại trong tình trạng nửa đắm gần cảng quân sự Liepai; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 02:21:27 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, mét + tiêu chuẩn: 1054 + hoàn toàn: 1186 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 96,6 (86) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 10,2 (9,6) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 2,9 (2,8) Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi + 2 nồi hơi nước KVG-57/28, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-9, tổng công suất, sức ngựa (kW): 20 030 (14 720) + các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x- + các máy phát điện diesel, công suất (kW): 1x- 2 trục; 2 chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 29,5 + tiết kiệm năng lượng: 15,1 Tầm bơi xa, đặm (tốc độ, hải lý): 1950 (15,1) hoặc 2200 (14,5) Thời gian hoạt động, ngày: 5 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 168 (11). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Mười, 2012, 02:27:40 am Vũ khí + thiết bị pháo 100mm B-34USMA: 3x1 + thiết bị pháo 37mm V-11 hoặc V-11M: 2x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53-50 hoặc TTA-53-50: 1x2 hoặc 1x3 Chống ngầm + MBU-200: 1x24 + BMB-2: 4x1 + bom chìm RBM/BPS: - + máy rải bom: 2 Mìn + mìn neo trên boong: 26 Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-50” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp + 1x”Gyuis-1M4” hoặc + 1x”Fut-N” Đài ra đa định vị đạo hàng + 1x”Lin” hoặc + 1x”Neptun-M” Đài thủy âm: “Pegas-2” hoặc “Pegas-3M” Các khí tài tác chiến điện tử + “Bizan-4” + các máy bảo vệ thủy âm BOKA-DU Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Yakor” hoặc + 1x”Yakor-M2” cho pháo chính (trong thành phần trạm quan sát ổn định) Các trạm chỉ huy – đo xa: 1xSVP-42-50 Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 12:01:21 am Tàu tuần tra kiểu SKR-1 – Đề án 159 – Lớp Petya (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/159_03_zpse1bb438c.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 19 Các biến thể + 159 (lớp Petya-I) – đề án tàu chống ngầm cơ sở sản xuất hàng loạt với thiết bị tuabin khí – diesel (1961) + 159-A (lớp Petya-II) – các tàu loạt thứ hai với các thiết bị ngư lôi bổ sung và các thiết bị phóng bom phản lực mới (1966) + 159-M (biến thể lớp Petya-I) – tàu tuần tra nâng cấp với đài thủy âm lai “Vega” (1973) + 159-AE (lớp Petya-III) – biến thể tàu tuần tra xuất khẩu với thiết bị ngư lôi 533mm (những năm 1970). Trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai, ở các vùng nước gần bờ, để dẫn các đoàn tàu hộ tống trong nước đã sử dụng rộng rãi các tàu săn ngầm các đề án khác nhau. Việc đóng tàu ăn ngầm lớn theo đề án 122-bis được bắt đầu từ trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, được tiếp tục và trong chương trình đóng tàu chiến 10 năm đầu tiên sau chiến tranh 1945-1955. Đề án thành công hạn chế này có hàng loạt các nhược điểm: tốc độ tối đa thấp, khả năng phòng không thấp trong những năm 1950. Vì thế, tới cùng giai đoạn này đã thực hiện một cách thường xuyên việc nghiên cứu theo thiết kế tàu săn ngầm mới hơn, nhận số hiệu đề án 159.. Tuy nhiên, sự phát triển liên tục các yêu cầu khả năng chiến đấu dẫn tới sự tăng đáng kể lượng choán nước và tìm thiết bị năng lượng chính nhẹ, mạnh để nhận được tốc độ cao, cần thiết để đối phó các tàu ngầm nguyên tử. Cuối cùng, thiết bị năng lượng chính đã được nghiên cứu trong dạng thiết bị tuabin khí – diesel. Nhiệm vũ kỹ chiến thuật trong thiết kế tàu đề án 159 đã kết thúc bằng thiết kế trong 1955. Việc thiết kế được giao cho Phòng thiết kế Zelzenodlsk, tổng công trình sư của tàu là A.V.Kunakhovich, còn giám sát viên chính – thuyền trưởng cấp 2 N.D.Kondratenko. Nhiệm vụ chính của tàu – chống các tàu ngầm. Các công việc kết thúc đã kết thúc năm 1956. Tới thời điểm kết thúc thiết kế, lượng choán nước của tàu tăng lên 900 tấn, mang tới cơ sở phân loại nó không phải tàu săn ngầm lớn, mà như tàu tuần tra. Trong quá trình thiết kế, lần đầu tiên trên thế giới và trong Hải quân Liên xô đã thiết kế ở xưởng tuabin phương Nam động cơ tuabin khí tăng lực M-2 công suất 15 000 sức ngựa. Thiết bị năng lượng chính của tàu tuần tra được tiếp nhận hoàn toàn ở dạng 3 trục. Trục giữa với động cơ diesel và chân vịt bước điều chỉnh, và các trục bên với các động cơ tuabin khí và chân vịt bước cố định. Ở tốc độ tối đa, toàn bộ các trục hoạt động, còn ở tốc độ tiết kiệm năng lượng chỉ có trục giữa hoạt động khi các trục bên quay tự do. Do thiết bị hành trình là 1 trục, để tăng cường khả năng cơ động trong hạm vi hẹp và khi cập bến đã tiếp nhận giải pháp về lắp thiết bị lái. Trên các tàu đầu tiên đã lắp các khí tài lái của công ty Đức “Pleiger”. Sau đó chỉ lắp các thiết bị do nội địa sản xuất. Đáng chú ý rằng việc chế tạo chân vịt bước điều chỉnh cho các tàu này lớp VR-159 có công suất 6000 sức ngựa dưới sự chỉ đạo của A.L.Luchanski cũng đã là thành công lớn trong ngành chế tạo máy nội địa. Trong vai trò vũ khí chống ngầm chính trên tàu tuần tra đề án 159 đã quyết định sử dụng 2 pháo tự động 2 nòng 76,2mm AK-726 với đài ra đa định vị điều khiển “Fut-B”. Cơ sở vũ khí chống ngầm trên tàu mới, lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã lắp các ngư lôi chống ngầm loại nhỏ (1 thiết bị ngư lôi 5 ống 400mm, lắp trên bề mặt phẳng) và RBU-2500 ( theo 2 thiết bị ở mũi và mạn tàu). Trang bị kỹ thuật vô tuyến chính trên tàu là đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung “Fut-N” và 2 đài thủy âm – “Titan” và “Vưchegda”. Ăng ten của đài thủy âm được bố trí trong mũ chụp cố định “dạng ngư lôi” bố trí dưới sống tàu. Nắp chụp được chế tạo từ titan. Đây là kinh nghiệm đầu tiên tiếp nhận titan trong ngành đóng tàu. Bố cục chung của tàu có đặc điểm rất hợp lý và được cân nhắc rất kỹ. Như ví dụ, buồng cho người ở có đặc điểm tiện nghi theo so sánh với các buồng tương tự trên các tàu khác. Các chuyên gia phương Tây đã xếp các tàu đề án 159 (ban đầu gọi là tàu chống ngầm trong Hải quân Liên Xô) vào lớp tàu chiến và gọi tên chúng là lớp Petya. Mặc dù kích thước khiêm tốn, các tàu tuần tra đề án 159 có khả năng cơ động tốt (có thể sử dụng vũ khí khi sóng biển cấp 4). Để giảm các biên độ lắc trên tàu đã bố trí bộ giảm lắc. Tuy nhiên, thành công chính – tầm bơi xa lớn ở tốc độ tiết kiệm năng lượng (hơn 2200 dặm). Tàu dễ dàng đạt tốc độ tối đa trong các thí nghiệm khi sử dụng động cơ tuabin tăng lực hơn 33 hải lý. Thí nghiệm khai thác sử dụng đầu tiên của tàu tuần tra đã chỉ ra sự không thuận lợi được xác định trong việc sử dụng thiết bị năng lượng chính ba trục, đặc biệt trong chế độ tiết kiệm năng lượng hoặc khi dò tìm tàu ngầm, khi chân vịt lớn của trục bên tạo ra sức cản đáng kể và giảm mạnh tính tiết kiệm của toàn bộ thiết bị. Với mũ chụp đài thủy âm của các tàu đề án 159 đã gây ra những sự khó chịu khác. Một số tàu đã bị hỏng (bị thương) các mũ chụp khi đỗ trên các bãi cạn. Trong thời gian xung đột Liên Xô – Trung Quốc những năm 1960, để bảo vệ khu vực sông Amur, Tư lệnh Hải quân đã ra lệnh nhanh chóng đưa đến sống một số tàu tuầ tra đề án 159. Tuy nhiên, đây là mệnh lệnh không được thực hiện, bởi vì lượng mớn nước tối đa của tàu với mũ chụp là lớn hơn so với tàu khu trục đề án 56. Như việc bơi của tàu này trên các bãi nông và cửa sông là không thể. Cùng với đó, các tàu đề án 159 (như ddeefans 35 tương tự nó) không có tàu tương tự của nước ngoài so sánh bằng, bởi vì tới thời điểm đó, chúng vượt trội bất kỳ tàu tuần tra lượng choán nước từ 1000 đến 2000 tấn trong Hải quân nước ngoài. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 12:01:59 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/159_11_zps1a8ec71e.jpg) Trong bộ phận các tàu đề án 159, trong quá trình sửa chữa và nâng cấp, thay cho các đài cũ “Fut-B” đã lắp đài ra đa định vị điều khiển “Turel”. Tàu đầu tiên SKR-1 – trong những năm 1977-79 đã trang bị lại thành tàu thí nghiệm (OS) để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống ngầm đầu tiên “Vikhr” (RPK-1). Toàn bộ vũ khí bố trí ở mũi tàu được tháo, thay vào đó lắp thiết bị phóng dẫn bắn 2 bệ MS-18 và hệ thống nạp đạn 8 tên lửa. Sự điều khiển tổ hợp chống ngầm được thực hiện bằng hệ thống đặc biệt “Sprut”, nhận sự chỉ thị mục tiêu từ đài thủy âm trên tàu hoặc từ các nguồn ngoài. Tên lửa chống ngầm 82-R khối lượng 1800kg trang bị đầu đạn đặc biện có tầm bắn xa 10 đến 24km trong bán kính tiêu diệt mục tiêu 1,5km (độ sâu 500 mét). Sau đó, tổ hợp này được lắp trên tàu chở máy bay đề án 1123 và đề án 1134. Cũng trong quá trình đóng tàu tuần tra đề án 159 đã tiếp nhận quyết định đóng các tàu loạt thứ 2, nhưng với thành phần vũ khí như trên đề án 35. Các tàu này nhận số hiệu đề án 159-A, được đóng từ năm 1966 đến 1972 trong số lượng 23 tàu. Ở phương Tây, chúng nhận tên gọi lớp Petya-II. Tàu tuần tra đề án 159-A đã được xuất khẩu sang các nước khác (7 tàu), ngoài ra còn có đề án dành cho xuất khẩu 159-AE (lớp Petya-III) được xuất khẩu tới Ấn Độ, Siry và Việt Nam. Trong mục đích tăng cường các khả năng tàu tuần tra đề án 159 theo phát hiện các mục tiêu nổi đã quyết định nâng cấp chúng. Đề án nâng cấp 159-M – được chế tạo ở Phòng thiết kế Zelenodolsk năm 1969-71. Chúng dự kiến trang bị đài thủy âm lai “Vega” thay cho tổ hợp vũ khí ở mạn tàu. Tổng cộng trong giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1980 đã nâng cấp 9 tàu biến thể lớp Petya-I). Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên đề án 159 nhận số SKR-1 được đóng năm 1961 ở xưởng đóng tàu “Yantar” (số 820) tại Kaliningrad. Năm 1965 đã đóng loạt tàu đầu tiên – 19 tàu mang số hiệu SKR. Việc đóng tàu thực hiện ở hai xưởng: “Yantar” ở Kaliningrad và xưởng đóng tàu Khabarovsk (số 368). Việc đóng tàu sau đó vẫn được thực hiện, nhưng theo đề án thay đổi 159-A. Tình trạng đến năm 2007 Các tàu tuần tra đề án 159 được sử dụng tích cực trong Hải quân Liên Xô. Đến tháng 5 năm 1966, chúng được phân loại như tàu chống ngầm và chỉ thành tàu tuần tra sau đó. Các tàu cuối cùng trong dòng bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1994. SKR-27 trong Hạm đội Biển Đen đã ở khu vực chiến sự, hoạt động trên biển Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập tháng 6 năm 1967 trong toàn bộ năm 1968. SKR-23 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương trong thời gian chiến sự, hoạt động ở biển Arav và biển Đỏ, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Etiopia năm 1977-78. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 12:03:00 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/159draw_3_zpsd7256c9e.jpg) Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 159 1. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726 2. Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-2500 3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Fut-B” 4. Đài ra đa định vị đạo hàng “Neptun” 5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N” 6. Mũ chụp đài thủy âm dưới sống tàu “Titan” 7. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng PTA-40-159 400mm 8. Rãnh rải mìn 9. Đài bảo vệ thủy âm lai 10. Các máy rải bom dưới boong Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 12:03:22 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + SKR-38 (số hiệu xưởng 150); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-4; 31 tháng 10 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kalinigrad; 17 tháng 2 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 4 năm 190; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 30 tháng 8 năm 1984 đến 5 tháng 2 năm 1987 nâng cấp ở xưởng tại Riga theo đề án 159-M; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; năm 1991-1992 đắm khi tháo máy và hệ thống ở cảng Baltic do các bộ phận đáy – thân xuống cấp quá nặng. + SKR-47 (số hiệu xưởng 151); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-5; 31 tháng 12 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 17 tháng 2 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 7 năm 1960; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 6 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; cuối năm 1962 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 8 tháng 12 năm 1962 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; đến 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 28 tháng 5 năm 1963 tới 25 tháng 11 năm 1964 tới xưởng “Yantar” tại Pribaltic tại Kaliningrad nâng cấp theo đề án 159-M; từ 1 tháng 11 năm 1987 đến 16 tháng 12 năm 1988 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và tháo kim loại ở Archangelsk. + SKR-26 (số hiệu xưởng 153); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-14; 6 tháng 3 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 21 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 6 năm 1960; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hải quân; cuối năm 1962 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 8 tháng 12 năm 1962 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc; 22 tháng 1 năm 1965 trở lại biên chế Hạm đội Baltic; 7 tháng 7 năm 1965 trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 28 tháng 5 năm 1963 đến 22 tháng 1 năm 1965 ở xưởng số 820 trải qua nâng cấp và đại tu; đến 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 21 tháng 12 năm 1970 đến 11 tháng 2 năm 1977 trên xưởng số 35 ở Murmansk; từ 28 tháng 11 năm 1979 đến 14 tháng 7 năm 1981 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic đã trải qua đại tu và trung tu; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ lấy phế liệu; 1 tháng 11 năm 1993 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 12:03:47 am + SKR-1 (số hiệu xưởng 601); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-1; từ 30 tháng 5 năm 1978 là OS-332; 26 tháng 1 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 31 tháng 8 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 31 tháng 8 năm 1959; mùa xuân năm 1960 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1961; 19 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; là tàu đầu tiên trong đề án; 9 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 25 tháng 2 năm 1974 đến 29 tháng 7 năm 1974 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze tại Sevastopol trải qua trung tu; từ 12 tháng 10 năm 1977 đến năm 1979 nâng cấp ở đó và đóng lại theo mẫu thí nghiệm; 30 tháng 3 năm 1978 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu thí nghiệm; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 2 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.
+ SKR-17 (số hiệu xưởng 154); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-17; từ 19 tháng 8 năm 1982 là OS-34; 24 tháng 4 năm 959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 21 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 5 tháng 8 năm 1960; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 15 tháng 3 năm 1965 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1965 đã hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 27 tháng 5 năm 1980 sau cuộc hành quân mùa xuân năm 1980 theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Bắc tới biển Azov, từ đó tới biển Đen và ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 8-13 tháng 5 năm 1970 tới thăm cảng Algieri; từ 7 tháng 10 năm 1975 đến 28 tháng 11 năm 1977 tới xưởng “Yantar” ở Pribaltic (Kaliningrad) để đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 19 tháng 8 năm 1982 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu thí nghiệm; 28 tháng 9 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-9 (số hiệu xưởng 157); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-9; 18 tháng 7 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 14 tháng 10 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1962; 24 tháng 7 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; cuối năm 1963 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 13 tháng 12 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn 7 tháng 10 năm 1975 đến 10 tháng 6 năm 1977 ở xưởng số 35 tại Murmansk và từ 3 tháng 12 năm 1982 đến 18 tháng 7 năm 1984 ở xưởng số 82 ở càng Roslyankovo trải quan đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + SKR-22 (số hiệu xưởng 158); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-22; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 9 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 25 tháng 1 năm 1961; gia nhập biên chế 14 tháng 11 năm 1962; 19 tháng 2 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; cuối năm 1963 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bawcsl 17 tháng 12 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28 tháng 11 năm 1977 đến 26 tháng 4 năm 1979 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) và từ 10 tháng 8 năm 1985 đến 25 tháng 8 năm 1987 ở xưởng số 82 cảng Roslyankovo trải qua đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 12:57:30 am + SKR-33 (số hiệu xưởng 159); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-25; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 12 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 7 tháng 4 năm 1961; gia nhập biên chế 14 tháng 11 năm 1962; 19 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; cuối năm 1963 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 17 tháng 12 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1 tháng 10 năm 1973 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu; 30 tháng 7 năm 19789 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 11 năm 1978 đến 27 tháng 5 năm 1980 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) nâng cấp theo đề án 159-M; từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 1 tháng 11 năm 1988 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua đại tu; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 9 năm 1995 giải thể.
+ SKR-18 (số hiệu xưởng 18); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-15; 28 tháng 8 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov ở Khabarovsk; 29 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế 12 tháng 12 năm 1962; 30 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; đến 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 5 tháng 7 năm 1973 đến 25 tháng 1 năm 1974 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên bang Xô viết tại Vladivostoc trải qua đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 18-23 tháng 11 năm 1976 tới thăm Barsa (Iraq); từ 2 tháng 3 năm 1979 gia nhập biên chế phân Hạm đội Camchatca va từ 23 tháng 4 năm 1981 gia nhập biên chế phân hạm đội Sakhalin Hạm đội Thái Bình Dương; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989. + SKR-27 (số hiệu xưởng 162); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-27; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 8 tháng 4 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 29 tháng 5 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 6 tháng 2 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1963 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Baltic tới biển Azov, từ đó tới biển Đen; 1-31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 9-12 tháng 8 năm 1969 tới thăm Varna (Bulgaria); từ 19 tháng 2 năm 1987 đến năm 1989 ở xưởng “quân khí Hải quân” tại Varna trải qua đại tu; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1992 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-30 (số hiệu xưởng 163); từ 19 tháng 5 năm 1966 là PLK; từ 30 tháng 5 năm 1978 là OS-333; 12 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân;; 15 tháng 6 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kalingrad; hạ thủy 24 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 6 tháng 2 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa thu anwm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov; từ đó tới biển Đen; 23 tháng 12 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; từ 25 tháng 1 đến 14 tháng 8 năm 1968 tới Kronshtadt; từ 27 tháng 6 năm 1974 đến 30 tháng 10 năm 1974 và từ 31 tháng 10 năm 1985 đến 10 tháng 9 năm 1987 tới “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua trung tu và đại tu; 30 tháng 3 năm 1978 loại khỏi biên chế Hải quân và cải tạo thành tàu thí nghiệm; 28 tháng 9 năm 1990 loại khỏi biên Hải quân, tháo vũ khí và cải tạo cho các mục đích công tác – hỗ trợ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 01:27:59 am + SKR-41 (số hiệu xưởng 29); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-41; 27 tháng 2 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 21 tháng 9 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 7 năm 1962; gia nhập biên chế 21 tháng 3 năm 1963; 23 tháng 11 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 3 tháng 3 năm 1976 đến 21 tháng 12 năm 1978 ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn vùng Primorsk trải qua đại tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 8 năm 1987.
+ SKR-34 (số hiệu xưởng 165); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-34; 28 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 7 năm 1960 khởi công trên ụ xướng ố 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 8 năm 1961; gia nhập biên chế 4 tháng 10 năm 1963; 23 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa thu năm 1966 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc và 5 tháng 10 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 7 tháng 10 năm 1975 đến 16 tháng 12 năm 1976 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic và từ 1 tháng 10 năm 1981 đến 6 tháng 10 năm 1983 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + SKR-11 (số hiệu xưởng 30); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-11; 20 tháng 12 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 4 năm 1963; gia nhập biên chế 14 tháng 12 năm 1963; 23 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 3 tháng 3 năm 1976 đến 1 tháng 1 năm 1978 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc trải qua đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 31 tháng 12 năm 1989 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Novik; 1 tháng 10 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 15 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể. + SKR-43 (số hiệu xưởng 31); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-43; 16 tháng 6 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 8 năm 1963; gia nhập biên chế 29 tháng 4 năm 1964; 23 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phần lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 27 tháng 5 năm 1974 đến 2 tháng 4 năm 1975 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc trải qua trung tu; từ 10 tháng 2 năm 1981 đến 10 tháng 11 năm 1981 cũng nâng cấp ở đó theo đề án 159-M; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 01:49:00 am + SKR-40 (số hiệu xưởng 166); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-37; 28 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 28 tháng 10 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 18 tháng 11 năm 1961; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1964; 23 tháng 11 năm 1964 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới Biển Đen, gia nhập Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 13 tháng 8 năm 1976 đến 2 tháng 3 năm 1978; từ 18 tháng 7 năm 1984 đến 10 tháng 6 năm 1985 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze tại Sevastopol và 3 tháng 2 – 12 tháng 11 năm 1986 ở xưởng “quân khí Hải quân” tại Varna (Bulgaria) trải qua đại tu và trung tu; 25 tháng 1 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể.
+ SKR-3 (số hiệu xưởng 32); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-3; 10 tháng 1 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 5 năm 1964; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 14 tháng 12 năm 1967 đến 27 tháng 2 năm 1969 và từ 1 tháng 2 năm 1980 đến 19 tháng 1 năm 1983 trải qua đại tu ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc; sau đó loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Novic; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể. + SKR-46 (số hiệu xưởng 33); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL046; 19 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 29 tháng 1 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 24 tháng 4 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 21 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 17 tháng 7 năm 1971 đến 29 tháng 7 năm 1974 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc nâng cấp theo đề án 159-M; từ 11 tháng 12 năm 1980 đến 10 tháng 11 năm 1981 ở xưởng Khabarovsk mang tên S.M.Kirov trải qua đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể; từ 26 tháng 11 năm 1971 đến 17 tháng 11 năm 1973, V.I.Kuroedov (từ 7 tháng 11 năm 1997 – Tư lệnh Hải quân Liên bang Nga) đã chỉ huy tàu. + SKR-23 (số hiệu xưởng 34); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-23; 23 tháng 12 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 368 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1965; 11 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 6 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 4 tháng 2 – 9 tháng 9 năm 1970 và 3 tháng 9 năm 1974 – 17 tháng 5 năm 1977 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc trải qua trung tu và đại tu; từ 9 tháng 9 năm 1970 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 6 tháng 12 năm 1977 – 7 tháng 7 năm 1978 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên biển Arav và biển Đỏ, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Etiopia; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và đưa tới bãi bồi gần bờ ở vịnh Rakovưi (thành phố Petropavlovsk-Camchatca). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 01:53:41 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 938 + hoàn toàn: 1077 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 81,8 (78) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 9,2 (8,9) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 5,8 (2,85) Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí – diesel M-2 + 2 tuabin khí tăng lực M-2B, tổng công suất, sức ngựa (kW): 30 000 (22 050) + 1 động cơ diesel 61B, công suất, sức ngựa (kW): 6000 (4410) 3 trục; 2 chân vịt bước cố định; 1 chân vịt bước điều chỉnh; 2 khí tài lái Tốc độ, hải lý + tối đa: 33 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2000 (14) Thời gian hoạt động: 10 ngày Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 108 (9). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười, 2012, 01:59:28 am Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 400mm PTA-40-159: 1x5 Chống ngầm + RBU-2500 “Smerch”: 4x16 + các bom chìm RGB-25: 256 + các máy rải bom: 2 + các bom chìm BPS/GB/BB: - Mìn + mìn trên boong trên: 20… 30. Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-59” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Fut-N” (Slim Net) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Neptun” hoặc “Don-2” (Don II) Đài thủy âm + “Titan” (Buil Horn) + “Vưchegda” Các khí tài tác chiến điện tử + “Bizan-4B” (Watch Dog) + các máy bảo vệ thủy âm Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Fut-B” (Hawk Screech) hoặc + 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho pháo chính Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhrom” (High Pole B), 2xSquare Head. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 12:22:08 am Tàu tuần tra kiểu SKR-7 – Đề án 35 – Lớp Mirka (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/35_005_zpseb1c50ba.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 18 Các biến thể + 35 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1964) + 35-M – các tàu nâng cấp năm 1973-78 với sự tăng cường vũ khí chống ngầm. Năm 1957 ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã hoàn thành công việc dừng thiết kế đề án kỹ thuật phương án mới tàu tuần tra đề án 159 nhận số hiệu mới – đề án 35. Tổng công trình sư N.Kh.Zelyazkov phụ trách chương trình nâng cấp đề án 159 đã lựa chọn sơ đồ thiết bị năng lượng mới đã được áp dụng trên tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204 với động cơ tuabin nước khác thường. Vấn đề ở chỗ rằng kinh nghiệm khai thác sử dụng tàu tuần tra đề án 159 đầu tiên đã chỉ ra những sự cố được xác định trong sử dụng thiết bị năng lượng 3 trục, đặc biệt trong chế độ tốc độ tiết kiệm năng lượng hoặc khi dò, kiếm tàu ngầm, khi các chân vịt lớn của các trục bên đã tạo ra trở lực đáng kể và ảnh hưởng lớn tới việc tiết kiệm năng lượng của toàn bộ thiết bị. Việc này đã rõ ràng ngay trong giai đoạn thiết kế tàu tuần tra đề án 159 và vì thế, Phòng thiết kế đã từ thời điểm đó thực hiện việc tìm kiếm phương án sơ đồ thiết bị năng lượng chính, khắc phục các nhược điểm đã được chỉ ra. Việc chế tạo thiết bị 2 trục với động cơ tuabin hành trình và động cơ tuabin tăng lực trên mỗi trục với việc sử dụng bộ truyền động là giải pháp đơn giản nhất. Tuy nhiên, việc này đã chỉ ra là không thể, bởi vì ở Liên Xô, nơi mà trong mỗi công việc là công việc riêng (độc quyền), tìm người chịu trách nhiệm do việc thiết kế bộ truyền động này là không thực tế cho đến khi Liên Xô tan rã năm 1991: các nhà chế tạo động cơ diesel đã làm bộ truyền động của mình, còn các nhà chế tạo tuabin – làm riêng. Thiết bị năng lượng chính đề án 35 được lựa chọn cho tàu tuần tra đề án 35 gồm 2 động cơ diesel, quay các bánh lái trên các vòi phun dạng (lắp trong) đường hầm, sự giống nhau ngoài ở động cơ phụt nước và 2 máy nén khí tuabin khí để cung cấp không khí và vòi phun đường hầm trên các chân vịt khi ở tốc độ tối đa. Các thí nghiệm và tính toán đã chỉ ra rằng có thể đạt được sự tăng cường tốc độ lên 2 lần. Trên vòng quay hoàn toàn của các động cơ diesel, tàu đạt tốc độ tối đa 20 hải lý, còn khi mở các tuabin – 34 hải lý. Tuy nhiên đồng thời cũng như trên tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204, thiết bị năng lượng chính này trong tính toán cuối cùng không đáp ứng được sự tin cậy – được đặt lên động cơ: công suất tiêu thụ đủ cho việc di chuyển với tốc độ lớn trong sơ đồ thường của hệ thống năng lượng chính, ngoài ra, thiết bị đã được chỉ ra có tiếng ồn rất lớn, phức tạp trong khai thác sử dụng và không hiệu quả. Mặc dù kích thước khiêm tốn như dòng tàu tiền nhiệm, các tàu tuần tra đề án 35 có khả năng cơ động tốt (sử dụng vũ khí có thể khi sóng biển cấp 4). Để giảm biên độ lắc trên tàu đã lắp các máy giảm rung. Thành quả chính trên tàu đề án 159 được giữ lại – tầm bơi xa lớn trên tốc độ tiết kiệm năng lượng – 2000 dặm. Các thí nghiệm thực hiện trong năm 1964, mặc dù các tính toán của các công trình sư đã xác nhận nhận được tốc độ cao (hơn 34 hải lý), tuy nhiên trong sự tăng công suất chung của thiết bị năng lượng theo so sánh với đề án 159 gần 12 000 sức ngựa có thể trông đợi là lớn. Các tính toán đã chỉ ra rằng, trong thiết bị năng lượng chính thường với các chân vịt, tốc độ tối đa có thể lên tới 40 hải lý. Khi giữ lại các kích thước chính đề án 159, tàu tuần tra đề án 35 theo kiến trúc và bố cục được giới thiệu như trên tàu chống ngầm nhỏ đề án 204 với vũ khí gần các tàu đề án 159-A: 2 thiết bị pháo nòng đôi 76mm AK-726 với đài ra đa định vị điều khiển “Turel”, 4 RBU-2500 thay cho thiết bị ngư lôi 5 ống 400mm và 2 thiết bị RBU-6000 mới hơn. Thay cho đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N” đã lắp đài ra đa định vị “Rubka”, đài thủy âm được giữ lại như các tàu trước: “Titan” và “Vưchegda”. Ở phương Tây, các tàu này nhận tên gọi lớp Mirka. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 12:22:55 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/35_004_zps69b2a099.jpg) Năm 1970, Phòng thí nghiệm Zelenodolsk đã được giao cho phương án nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế đề án nâng cấp tàu tuần tra đề án 35 với mục tiêu tăng cường vũ khí chống ngầm. Theo đề án này đã dự kiến: tháo thiết bị ngư lôi 400mm ở mạn tàu, bố trí bổ sung 2 RBU-6000 (mạn), còn đài thủy âm “Titan” với “Vưchegda” được thay mới: “Platina-MS” dưới mạn tàu và “Ros-K” lai. Trong giai đoạn từ 1973 đến năm 1978 đã nâng cấp 8 tàu. Các tàu trải qua nâng cấp nhận số hiệu đề án 35-M (phương tây – lớp Mirka-II). Giá thành của các công việc này là rất cao theo tính toán lớn, không tương ứng với hiệu quả đã nhận được. Việc tiếp nhận đài thủy âm lai chỉ mang lại hiệu quả trên khu vực nước sâu lớn mà thực tế là ở các khu vực nước gần bờ biển Liên Xô là không thể. Trên các khu vực biển lớn và xa, nơi đảm bảo độ sâu hoạt động, các kích thước nhỏ của tàu không mang tới khả năng hiệu quả sử dụng đài thủy âm định vị lai do sóng trên các khu vực này. Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên đề án 35 nhận số hiệu sKR-7 được khởi công 26 tháng 1 năm 1964 ở xưởng đóng tàu “Yantar” tại Kaliningrad. Tàu hạ thủy 23 tháng 3 năm 1962, gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1964. Toàn bộ loạt 18 tàu được đóng ở xưởng này, tàu cuối cùng được bàn giao cho Hải quân năm 1967. Tình hình năm 2005 Trong Hải quân Liên Xô, các tàu đề án 35 lúc đầu được phân loại như tàu săn ngầm lớn, sau đó là tàu chống ngầm nhỏ, tiếp sau – tàu tuần tra. 13 tàu gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 5 tàu còn lại hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội – tới Hạm đội Biển Đen. Các tàu SKR-48/6/13/17 trong thời gian chiến sự đã hoạt động trên biển Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập. Các tàu cuối cùng trong dòng bị loại khỏi biên chế trong những năm 1990 – 1991. Các tàu phục vụ lâu nhất là SKR-12/19/84 – chúng bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1992. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 12:23:44 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/35_draw_3_zps8bf9314e.jpg) Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 35 1. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726 2. Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Rurel” 4. Đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach” 5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N” 6. Mũ chụp đài thủy âm dưới sống tàu “Titan” 7. Các thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 400mm PTA-40-159 để bắn các ngư lôi chống ngầm 8. Các vị trí dự phòng cho các thiết bị RBU-6000 bổ sung 9. Đài bảo vệ thủy âm lai Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 12:24:09 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + SKR-39 (số hiệu xưởng 170); 19 tháng 5 anwm 1966 là PLK-39; 26 tháng 5 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalinigrad; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 23 tháng 6 năm 1962; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1 tháng 10 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic; 30 tháng 1 năm 1984 - ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; năm 1991 bị đắm khi đang tháo máy móc và hệ thống ở gần cảng quân sự Liepai do các bộ phận thân đáy bị xuống cấp nặng;; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại. + SKR-20 (số hiệu xưởng 168); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-20; 26 tháng 1 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 23 tháng 3 năm 1962; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 10-15 tháng 8 năm 1976 tới thăm Copenhagen (Đan Mạch); 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể. + SKR-7 (số hiệu xưởng 164); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-7; tháng 1 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; 1 tháng 7 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 12 năm 1961; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1-6 tháng 9 năm 1978 thăm Copenhagen (Đan Mạch); 1 tháng 8 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và năm 1988-1989 ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Baltic tháo kim loại. + SKR-32 (số hiệu xưởng 169) đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-32; 21 tháng 3 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; 1 tháng 7 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm ; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 12 năm 1989 giải thể và năm 1990 bán cho công ty Thụy Điển tháo kim loại. + SKR-86 (số hiệu xưởng 171); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-44; 10 tháng 8 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; 28 tháng 8 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 31 tháng 8 năm 1962; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 24-19 tháng 6 năm 1974 tới thăm Turla (Phần Lan); 20-24 tháng 7 năm 1978 – tới Gdania (Ba Lan); 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; năm 1991 bị đắm khi tháo máy và hệ thống ở gần cảng biển Baltic do các bộ phận đáy – thân bị xuống cấp nặng. + SKR-49 (số hiệu xưởng 172); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-49; từ 2 tháng 8 năm 1968 là “Ivan Sladkov”; 17 tháng 10 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 15 tháng 6 năm 1962; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 25 tháng 6 năm 1956; 15 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 5-10 tháng 6 năm 1974 tới thăm Goeteborg (Thụy Điển); 1 tháng 10 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic, sau đó, từ 30 tháng 1 năm 1985 ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; năm 1991 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống gần cảng Baltic do các bộ phận đáy – thân bị xuống cấp nặng. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 12:24:29 am + SKR-53 (số hiệu xưởng 174); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-53; 30 tháng 11 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 12 năm 1962; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1965; 29 tháng 9 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Baltic tới biển Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 17 tháng 12 năm 1982 đến 12 tháng 8 năm 1983 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và năm 1991 tháo kim loại ở Sevastopol.
+ SKR-24 (số hiệu xưởng 175); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-8; 14 tháng 3 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 2 năm 1963; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 2 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 5-10 tháng 6 năm 1974 tới thăm Goetenbog (Thụy Điển); 1 tháng 10 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic và 30 tháng 1 năm 1985 ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ kim loại; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; năm 1991 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống gần cảng hải quân Liepai do các bộ phận thân đáy bị xuống cấp nặng; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Lativa tháo kim loại. + SKR-83 (số hiệu xưởng 181); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-55; từ 9 tháng 6 năm 1980 là “60 năm Đoàn viên thanh niên cộng sản Belarus”; 20 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 12 năm 1963; 21 tháng 5 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 3 tháng 9 năm 1966; 17 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28-29 tháng 19 năm 1967 tới thăm Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 20-24 tháng 7 năm 1978 – tới Gdưnia (Ba Lan); từ 6 tháng 1 đến 7 tháng 3 năm 1975 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) trải qua trung tu; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thẻ; năm 1992 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống gần cảng biển Baltic do các bộ phận đáy thân bị xuống cấp nặng. + SKR-84 (số hiệu xưởng 176); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-51; 17 tháng 5 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 4 năm 1963; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1965; 25 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa hè năm 1966 thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Baltic tới Sevastopol; 31 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; từ 2 tháng 2 năm 1978 đến 12 tháng 4 năm 1979 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol và từ 17 tháng 12 năm 1985 đến 5 tháng 5 năm 1989 ở xưởng “quân khí Hải quân” tại Varna (Bulgaria) trải qua trung tu; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-48 (số hiệu xưởng 177); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-48; 28 tháng 6 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1963; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; 25 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa hè năm 1966 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Âu từ Baltic tới Sevastopol; 31 tháng 8 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; từ 1 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 1 năm 1970 ở khu vực chiến đấu, làm nhiệm vụ trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; từ 31 tháng 1 năm 1975 đến 30 tháng 1 năm 1978 và từ 17 tháng 1 năm 1984 đến 22 tháng 5 nawm1 986 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu và trung tu; 26-30 tháng 5 năm 1982 tới thăm Turnis (Tuynidi); 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 8 năm 1990 giải thể và tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-12 (số hiệu xưởng 178); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-12; 12 tháng 9 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 18 tháng 5 năm 1963; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 5 năm 1966; 16 tháng 6 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 29 tháng 7 – 2 tháng 8 năm 1969 tới thăm Helsinki; 24-29 tháng 6 năm 1974 – tới Turka (Phần Lan); từ 6 tháng 4 năm 1973 đến 25 tháng 10 năm 1974 ở xưởng tại Kronshtadt trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1989 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở Liepai; 1 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể; 1 tháng 6 năm 1994 khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Latvia đã ở trong tình trạng nửa đắm gần cảng Liepai; sau đó được công ty Latvia tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 11:52:48 am + SKR-19 (số hiệu xưởng 179); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-19; 25 tháng 2 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1964; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1966; 29 tháng 7 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1-6 tháng 9 năm 1978 tới thăm Copenhagen (Đan Mạch); từ 24 tháng 5 năm 1974 đến 7 tháng 4 năm 1976 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) trải qua đại tu; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể.
+ SKR-35 (số hiệu xưởng 180); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-35; từ 25 tháng 7 năm 1967 là “Gangutets”; 19 tháng 12 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1963; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 8 năm 1966; 9 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28-29 tháng 10 năm 1967 tới thăm Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; cuối năm 1990 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống do các bộ phận đáy thân bị xuống cấp nặng. + SKR-6 (số hiệu xưởng 182); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-6; 10 tháng 4 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 6 tháng 2 năm 1964; 12 tháng 3 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1966; 12 tháng 12 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28 tháng 7 năm 1967 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen, mùa hè năm 1967 và 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 nằm ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; từ 19 tháng 7 năm 1976 đến 2 tháng 3 năm 1978 và từ 23 tháng 1 năm 1984 đến 8 tháng 4 năm 1986 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol đã trải qua đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 8 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-13 (số hiệu xưởng 183); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-13; 31 tháng 5 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 13 tháng 10 năm 1964; 12 tháng 3 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1966; 7 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28 tháng 7 năm 1967 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 1-31 tháng 6 năm 1967 và từ 1 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 1 năm 1970 nằm ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; trong giai đoạn từ 7 tháng 2 năm 1977 đến 21 tháng 9 năm 1978 và từ 17 tháng 12 năm 1982 đến 9 tháng 4 năm 1984 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopok trải qua trung tu và đại tu; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + SKR-90 (sô hiệu xưởng 184); 10 tháng 2 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 11 năm 1964; 24 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 5 năm 1967; 10 tháng 7 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; từ 31 tháng 7 năm 1978 đến 12 tháng 4 năm 1979 trên xưởng “Yantar” ở Pribaltic trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể. + SKR-117 (số hiệu xưởng 185); 15 tháng 10 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 (xưởng “Yantar”) tại Kaliningrad; hạ thủy 25 tháng 2 năm 1965; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên ché 29 tháng 6 năm 1967; 29 tháng 7 năm 1967 gia nhâp biên chế Hạm đội Biển Đen, mùa hè năm 1967 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Baltic tới Sevastopol; 1-31 tháng 6 năm 1967; 1 tháng 8 – 31 tháng 12 năm 1968 và từ 1 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 1 năm 1970 nằm trong khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 9-12 tháng 8 năm 1969 tới thăm Varna (Bulgaria); từ 25 tháng 2 năm 1974 đến 7 tháng 2 năm 1977 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol; từ 14 tháng 8 năm 1980 đến 24 tháng 8 năm 1981 trên xưởng ở Kerchi trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 12:00:53 pm Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 960 + hoàn toàn: 1132 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 82,4 (78) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 9,2 (8,9) + lượng mớn nước tối đa (trung bình): 5,84 (3,02) Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí – diesel GTK-DZ + 2 máy nén khí tuabin khí D-3E, tổng công suất, sức ngựa (kW): 36 000 (26 400) + 2 động cơ diesel, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820) 2 trục; 2 bánh lái chân vịt lắp trong hầm Tốc độ, hải lý + tối đa: 34 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2000 (14) Thời gian hoạt động: 10 ngày Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 96…103 (9). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười, 2012, 12:08:04 pm Vũ khí + thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 400mm PTA-40-159: 2x5 Chống ngầm + RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12 + bom chìm RGB-60: 120 Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshte-59” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp + 1x”Fut-N” (Slim Net) hoặc + 1xMR-302 “Rubka” (Strut Curve) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Vaigach” (Don II) Đài thủy âm + “Titan” (Bull Horn) + “Vưchegda” Các khí tài tác chiến điện tử + “Bizan-4B” (Watch Don) + các máy bảo vệ thủy âm Đài ra đa định điều khiển hỏa lực + 1x”Fut-4B” (Hawk Screech) hoặc + 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho pháo Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: High Pole B, 2xSquare Head. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:00:05 am Tàu tuần tra kiểu “Bditelnưi” – Đề án 1135 “Burevestnik” – Lớp Krivak (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_13_zps68d28eef.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 21 Các biến thể + 1135 (lớp Krivak-I) – đề án cơ sở tàu tuần tra trên đại dương với tuabin khí (1970) + 1135-M (lớp Krivak-II) – thay thiết bị AK-726 đã lắp thiết bị pháo 100mm AK-100, đài thủy âm mới “Titan-2T” (1975) + 11351 (lớp Krivak-III) – tàu tuần tra biên phòng với thành phần vũ khí mới + 11352 (biến thể lớp Krivak-I) – thay RBU bằng tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Uragan”, cải tiến các khí tài các chiến điện tử (những năm 1980) + 11353 (biến thể lớp Krivak-I) – tàu tuần tra nâng cấp với tổ hợp thủy âm mới “Zvezda-MG” (1984). Khi phát triển hàng loạt các tàu ngầm, tàu hoạt động trên đại dương và tàu lớn các đề án 1134-A và 1134-B, lãnh đạo Hải quân đã quyết định bắt đầu thiết kế tàu chống ngầm loại lớn kích thước nhỉ để đảm bảo phòng thủ chống ngầm và phòng không trong cụm tàu và tìm kieemstauf ngầm trên khu vực biển mở (rộng), nơi mà hiệu quả hoạt động của các tàu tuần tra đề án 159 và đề án 35 là không đảm bảo. Năm 1964, nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế tàu chống ngầm lớn cấp II đã được giao cho Phòng thiết kế Phương Bắc – đề án 1135 dưới số hiệu “Burevestnik”. Chế tạo đề án tàu có lượng choán nước tương đối không lớn, có khả năng giải quyết phạm vi rộng các nhiệm vụ dẫn đoàn tàu vận tải trong khu vực xung đột vũ trang cục bộ và bảo vệ lãnh hải đã được giao cho tập thể giáo sư V.Yukhin, Tổng công trình sư là N.P.Sobolev, giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 I.M.Stetsyur. Việc thiết kế tàu đã kết thúc năm 1966. Khi so sánh lượng choán nước tiêu chuẩn bị hạn chế trong 2800 tấn, tàu có vũ khí chống ngầm đủ mạnh gồm thiết bị phóng 4 ống tên lửa chống ngầm “Metel”, 2 thiết bị ngư lôi 4 ống phóng 533mm và 2 RBU-6000. Tàu chống ngầm lớn có trang bị thủy âm tương tự như tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B: đài thủy âm “Titan-2” trong mũ chụp hình cầu và đài thủy âm lai “Vega”. Ngoài ra, có 2 đài phát hiện tàu ngầm theo vết rẽ nước. Vũ khí phòng không gồm có: 2 tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” (tổng cơ số đạn 40 tên lửa) và 2 thiết bị pháo đa năng nòng đôi 76,2mm AK-726 với 1 đài ra đa định vị điều khiển “Turel”. Trong vai trò đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp, trên tàu sử dụng đài ra đa định vị “Angara”. Tàu đề án 1135 không có vũ khí tên lửa tấn công và chỉ có thể tiêu diệt các mục tiêu nổi bằng pháo (rất yếu) và ngư lôi. Cuối cùng, tầm phát hiện tàu ngầm bằng thủy âm thấp hơn rất nhiều so với tầm bắn của tên lửa chống ngầm. Nếu trên các đề án 1134-A và 1134-B để dò tìm tàu ngầm trên tầm xa lớn có trực thăng Ka-25, thì trên tàu này không có. “Các nhà lý luận” khi đó tính toán việc sử dụng tàu hoạt động theo các cặp: 1 tàu dò tìm, còn tàu thứ hai tấn công và theo cách đó sẽ tận dụng được toàn bộ tầm bắn của ngư lôi chống ngầm. Để chứng minh lý thuyết đặc sắc này cần viết hết một quyển luận văn khoa học. Ý kiến chế tạo chuyên môn hóa theo các nhiệm vụ của tàu trong trường hợp này đã đi tới vô nghĩa, trong kết quả chế tạo tàu chuyên dụng theo chiến thuật tiếp nhận chiến đấu. Rõ ràng khi biết việc này, Tư lệnh Hải quân đã bày tỏ quan điểm rằng các tàu này… “sẽ có nhiệm vụ hoạt động cùng với không quân chống ngầm, cụ thể, với các trực thăng chống ngầm đóng căn cứ trên bờ”. Chỉ sau khi tiếp nhận vào trang bị tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Rastrub-B” (thay cho “Metel”), có khả năng tiêu diệt mục tiêu nổi, hệ thống vũ khí trên tàu mới nhận được sự cân bằng hơn. Tàu tuần tra (như nó được phân loại từ năm 1977) đề án 1135 có cấu trúc nửa thùng với thành nổi tương đối cao, cho phép nó hoạt động (chống chịu) trên biển tốt khi có sóng lớn. Tuy nhiên, sự bố trí pháo và vũ khí không được xem là thành công. Nó ở trong cấp đội gợi lại sự bố trí trên tàu tuần dương tên lửa đề án 58: ở bộ phận mũi bố trí thiết bị phóng dẫn bắn tên lửa chống tàu điều khiển “Metel” (1x4), còn cuối mạn tàu – 2 thiết bị pháo (như đề án 58). Tổ hợp tên lửa phòng không được bố trí thành công hơn – theo 1 tổ hợp ở mũi và mạn tàu. Trong vai trò thiết bị năng lượng chính đã tiếp nhận thiết bị tuabin khí – khí M-7 tương tự M-5 được lắp trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B, nhưng chỉ với 1 tuabin khí tăng lực trên mỗi trục. Nhờ thiết bị đặc biệt của bộ truyền động đã đảm bảo hoạt động của một động cơ hành trình trên 2 trục. Đồng thời như thiết bị năng lượng chính của đề án 1134-B, các tuabin khí có bộ (sự) đảo chiều khí, cho phép nhận được tầm bơi xa hơn 4000 dặm trong tốc độ tiết kiệm năng lượng. Trong tổng thể, tàu tuần tra đề án 1135 đã nhận được và có các chất lượng cơ động trên biển tốt. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, khả năng cơ động trên biển của “Burevesnik” theo sự dụng vũ khí cho phép ở sóng cấp 5, còn đài thủy âm lai có thể sử dụng khi sóng cấp 4. Ở phương Tây, tàu này nhận tên gọi “lớp Krivak-I”. Nếu so sánh tàu tuần tra đề án 1135 và các biến thể của nó với tàu tương tự của nước ngoài, thì có thể nhấn mạnh rằng chúng nếu thua kém về khả năng chống ngầm thì không nhiều (các tàu chiến Mỹ lớp “Nosk có đài thủy âm tốt hơn, nhưng tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển tầm xa kém hơn), còn khả năng phòng không của các tàu Liên Xô thậm chí còn cao hơn (chỉ có 6 tàu chiến Mỹ lớp “Bruc” mạnh hơn). Tuy nhiên, thiếu vũ khí phòng không và pháo yếu (đặc biệt trên đề án 1135) đã giảm đáng kể khả năng chiến đấu của tàu Liên Xô. Việc nâng cấp được thực hiện trong những năm 1970 và trang bị thêm của nhiều tàu chiến Mỹ và Anh bằng tổ hợp tên lửa phòng không lớp “Sea Sparow”, tên lửa chống tàu có cánh “Harpoon” và “Excocet”, các trực thăng đa năng đã dẫn tới sự thua thiệt rất lớn cho các tàu tuần tra đề án 1135. Cuối cùng, việc đóng ở Mỹ dòng tàu lớn (theo kế hoạch 86 tàu) chiến phòng không đa năng lớp “Oliver H.Perri” đã dẫn tới sự tụt hậu lớn về chất lượng của các tàu tuần tra Liên Xô. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:02:19 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_05_zps515cf045.jpg) Hình vẽ tàu tuần tra "Đoàn viên thanh niên Leningrad" Trong quá trình đóng các tàu tuần tra đề án 1135 đã quyết định tăng cường trang bị pháo của chúng theo tính toán lắp thiết bị pháo 100mm AK-100 với đài ra đa định vị điều khiển “Lev”, còn sau đó lắp đài thủy âm hiện đại hơn “Titan-2T”. Những sự tăng cường này đã dẫn tới sự tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên gần 140 tấn. Tàu tuần tra được nâng cấp đề án 1135-M được đóng song song với loạt cơ sở từ năm 1975 (ở phương Tây chúng nhận tên gọi “lớp Krivak-II). Trên một số tàu tuần tra đề án 1135 trong thời gian sửa chữa ở xưởng, trên nóc buộc tời của đài thủy âm lai đã xây bãi đáp để tiếp nhận hàng hóa từ trực thăng hoặc cho nó hạ cánh trong các trường hợp khẩn cấp. Như đã nhấn mạnh trước đó, tàu rõ ràng không đủ vũ khí cho trực thăng. Các chất lượng cơ động trên biển tốt của các tàu này đã thu hút sự quan tâm của lực lượng biên phòng khi lựa chọn tàu biên phòng để kiểm tra khu vực kinh tế trên Thái Bình Dương vào đầu những năm 1970. Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, từ Ủy ban An ninh quốc gia (KGB) tới Phòng thiết kế Phương Bắc, đã thực hiện đề án tàu tuần tra 11351. Trên tàu, thay cho tổ hợp tên lửa chống ngầm bị tháo đã bố trí 1 thiết bị pháo 100mm AK-100, thay cho toàn bộ tổ hợp vũ khí ở mạn tàu, đã bố trí bãi đáp cất hạ cánh với hang ga cho trực thăng và các pháo tự động 30mm AK-630 với đài ra đa định vị điều khiển “Vưmpel”. Đồng thời cũng bố trí đài thủy âm dưới sống mới “Platina-S” và đì thủy âm lai “Bronza”. Theo đề án này đã đóng 8 tàu (lớp Krivak-III). Những năm 1983-1984, tàu tuần tra “Zharki” được nâng cấp theo đề án 11353 trên xưởng mang tên A.A.Zhdanov với sự bố trí tổ hợp thủy âm mới “Zvezad-MG” bù. Khi đó, lượng choán nước tiêu chuẩn của tàu tăng hơn 350 tấn. Năm 1983 đã thiết kế đề án 11352 với sự bố trí trên tàu tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Uran”. Tuy nhiên việc thực hiện nó do đổ vỡ thời gian hình thành chiến thuật cho tên lửa chống tàu thế hệ mới đã kéo dài đến đầu những năm 1990. Tới khi Liên Xô tan rã, Hải quân chỉ thực hiện nâng cấp thành công 2 tàu: “Đoàn viên thanh niên cộng sản Leningrad” và “Pưlki”. Trên các vị trí tháo RBU-6000 đã lắp 2 thiết bị 4 ống phóng tên lửa chống tàu “Uran”, thay cho đài ra đa định vị “Angara” đã lắp “Fregat-MA”, thay cho đài thủy âm “Titan-2” – “Titan-2T”. Sự thật là các tàu đã qua nâng cấp đã bơi mà không có tên lửa chống tàu do chúng chưa sẵn sàng (ở phương Tây, chúng được gọi là “biến thể lớp Krivak-I”). Giữa những năm 1980, trên cơ sở đề án 11351 ở Phòng thiết kế Phương Bắc đã nghiên cứu đề án xuất khẩu – đề án 11356. Trên tàu dự kiến bố trí thiết bị phóng tên lửa chống tàu “Uran”, tổ hợp tên lửa phòng không mới… Do đó, khi phát triển đề án 11351 có thể chế tạo tàu đa năng, nhưng lãnh đạo Hải quân không chú ý đến hướng phát triển này. Lịch sử được lặp lại với đề án 61-ME, khi phiên bản xuất khẩu tốt hơn phiên bản cơ sở và đã chỉ ra cách khả năng chế tạo như trông đợi là các tàu đã năng trong lượng choán nước giới hạn. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:03:00 am Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên đề án 1135 nhận tên gọi “Bditelnưi” được đóng năm 1970 ở xưởng “Yantar” (số 820) tại Kaliningrad. Việc đóng các tàu này còn được triển khai trên 2 xưởng khác: mang tên A.A.Zhdanov (số 190) ở Leningrad và “Zaliv” (số 532) ở Kerch. Tổng cộng theo đề án này đến năm 1981 đã đóng 21 tàu và thêm một tàu đã được lên kế hoạch nhưng không khởi công. Từ năm 1975, song song với đề án cơ sở đã đóng các tàu theo đề án nâng cấp 1135-M (đã đóng 11 tàu). (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_wllppr1_zps4420da75.jpg) Tình hình đến năm 2007 Các tàu đề án 1135 được sử dụng rộng rãi trên toàn bộ các hạm đội trong vai trò tàu chiến chủ lực khu vực biển. Chúng được phân chia theo các hạm đội như sau: 7 – Baltic; 5 – Phương Bắc; 4 – Thái Bình Dương; 5 – Biển Đen (1 tàu sau đó chuyển sang Hạm đội Baltic). 28 tháng 6 năm 1977, các tàu này được phân loại từ tàu chống ngầm lớn loại II thành các tàu tuần tra. 8 tháng 11 năm 1975 đã xảy ra sự kiện khác thường (chưa từng thấy) trong Hải quân Liên Xô – trên tàu tuần tra “Storozhevoi” đã xảy ra binh biến, được tổ chức bởi chỉ huy phó chính trị của tàu – Sablin nhằm gây sự chú ý đối với các đoàn thể về nguy cơ chính trị của đất nước được lãnh đạo Liên Xô thực hiện. Để chiếm lại tàu binh biến, máy bay ném bom tiền duyên Su-24 được đưa đến đã bắn loạt pháo cảnh cáo. Sau đó, đội (các) thủy thủ đã đầu hàng chính quyền, còn Sablin sau đó đã bị xử bắn như kẻ phản bội Tổ quốc. Tàu chống ngầm lớn “Bditelnưi” mùa hè năm 1972 ở khu vực chiến sự đã hoạt động trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập và Siry. Sau khi tách Hạm đội Biển Đen, 2 tàu tuần tra – “Bezukorizennưi” và “Bezzavetnưi” năm 1997 đã gia nhập biên chế Hải quân Ucraina (đổi tên tương ứng thành U133 “Mikolaiv” và U134 “Dnipropetrovsk”). Tàu cuối cùng bị loại khỏi biên chế Hải quân là tàu tuần tra “Zadornưi” thuộc Hạm đội Phương Bắc. Tới thời điểm này, trong biên chế Hải quân Nga chỉ còn lại 2 tàu đề án 1135: “Pưlki” (Baltic) và “Ladnưi” (Biển Đen). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:04:03 am Các hình vẽ và bản vẽ tàu tuần tra đề án 1135
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_draw2_zps05e81c69.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_draw3_zpscdd6116e.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_draw4_zps48e48031.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_33_zps059c81da.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:09:31 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_18_zps2672f511.jpg) Buồng điều khiển (kiểm soát) chiến đấu cho tổ hợp tên lửa phòng không trên tàu tuần tra "Druzhnưi" đề án 1135 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_16_zps728474a0.jpg) Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không "Osa-M" ở mũi tàu trên tàu tuần tra "Druzhnưi" trong tư thế chiến đấu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_10_zps6de3a65b.jpg) Thiết bị ngư lôi 4 ống phóng 533mm trên tàu tuần tra đề án 1135 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_31_zps9910f035.jpg) Thượng tầng tàu tuần tra "Ladnưi" đề án 1135 trong Hạm đội Biển Đen năm 1995 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:13:04 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_11_zps7b2e7c4c.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_12_zpsdbd1f79f.jpg) Bộ phận mũi tàu tuần tra đề án 1135 trong Hạm đội Biển Đen (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_04_zps16a38922.jpg) Tàu tuần tra đề án 1135 thực hiện phóng tên lửa chống ngầm điều khiển "Metel" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_06_zps9fc0973f.jpg) Tàu tuần tra "Zadornưi" đề án 1135 Hạm đội Phương Bắc thực hiện bắn từ thiết bị RBU-6000. Biển Bắc, 25 tháng 7 năm 1999 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:15:46 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_draw5_zps620ae6e1.gif) Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 1135 1. Mũ chụp ăng ten đài thủy âm “Titan-2” 2. Thiết bị phóng 4 ống tổ hợp tên lửa chống ngầm RPK-3 “Metel” 3. Ổ lắp khí tàu nạp đạn tên lửa chống ngầm 4. Thiết bị phóng cơ động 2 thùng của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” 5. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 6. Trạm ăng ten hệ thống điều khiển tên lửa phòng không “Osa-M” 7. Các khí tài quan sát quang điện MT-45 8. Các trạm ăng ten hệ thống “Musson” điều khiển tổ hợp tên lửa chống tàu “Metel” 9. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Vaigach” 10. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp MR-310 “Angara-A” 11. Các thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm 12. Đài ra đa định vị MR-105 “Turel” điều khiển bắn pháo 76,2mm 13. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726 14. Các rãnh rải mìn 15. Buồng đài thủy âm lai “Vega” 16. Các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-16 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười, 2012, 12:16:08 am Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - các tàu còn trong biên chế)+ “Bditelnưi”; số hiệu xưởng 151; 21 tháng 7 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kalinigrad); 20 tháng 12 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 3 năm 1970; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1970; 20 tháng 2 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 6 – 20 tháng 7 năm 1972 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập và Siri; 5-9 tháng 10 năm 1973 và 20-24 tháng 7 năm 1974 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 4-9 tháng 1 năm 1979 và 5-9 tháng 10 năm 1989 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 19-27 tháng 7 năm 1980 – tới Sentsin (Ba Lan); 15-21 tháng 4 năm 1981 – tới Havana (Cuba); 15-20 tháng 6 năm 1991 – tới Amsterdam (Hà Lan); năm 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân và huấn luyện chống ngầm; năm 1988 – giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không; tháng 6 năm 1993 tham gia cuộc diễn tập của các nước NATO “Baltops-93” trên biển Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng có thánh Andrei; 31 tháng 7 năm 1996 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 7 năm 1997 giải thể và cuối năm 1997 bán cho công ty quần đảo Virgin tháo kim loại. + “Bodrưi”; số hiệu xưởng 152; 20 tháng 12 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 1 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad); hạ thủy 28 tháng 4 năm 1971; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 14 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14 tháng 6 – 29 tháng 7 năm 1972 ở khu vực chiến sự, làm nhiệm vụ trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập và Siri; 31 tháng 10 năm 1974 nhận giải thưởng của Bộ quốc phòng Liên Xô “vì sự dũng cảm và quả cảm của người lính”; 27 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1975 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 7-10 tháng 8 năm 1981 – tới Helsinki (Phần Lan); 12-18 tháng 6 năm 1982 – tới Luanda (Angola); 25 tháng 6 – 2 tháng 7 năm 1982 – tới Lagos (Nigeria); 5-8 tháng 10 năm 1984 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); năm 1988 nhận giải thưởng Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 17 tháng 7 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1997 giải thể. + “Dostoinưi”; số hiệu xưởng 11; 11 tháng 8 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 5 năm 1971; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 28 tháng 4 năm 1972 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Sevastopol tới biển Bắc và gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1993 giải thể. + “Svirepưi”; số hiệu xưởng 153; 15 tháng 6 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribltic (Kaliningrad); 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 1 năm 1971; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 20-24 tháng 7 năm 1974 và 19-23 tháng 7 năm 1983 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 22-27 tháng 8 năm 1976 và 15-21 tháng 4 năm 1981 – tới Havana (Cuba); 5-10 tháng 10 năm 1978 tới Rostoc (Đông Đức); 26-30 tháng 5 năm 1983 – tới cảng Tunis (Tuynidi); 11-15 tháng 6 năm 1984 – tới Helsinki (Phần Lan); năm 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; năm 1988 – giải thưởng về huấn luyện phòng không; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 31 tháng 12 năm 1993 giải thẻ và năm 1994 bán cho công ty Anh để tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười, 2012, 12:27:36 am + “Sinưi”; số hiệu xưởng 154; 20 tháng 10 năm 1970; ghi tên vào danh sách Hải quân; 15 tháng 3 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kalinigrad); hạ thủy 29 tháng 8 năm 1972; gia nhập 30 tháng 6 năm 1973; 16 tháng 7 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 5-9 tháng 10 năm 1973; 27 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1975 tới thăm Gdưnia (Ba Lan); 22-27 tháng 8 năm 1976; 11-15 tháng 10 năm 1985 – tới Havana (Cuba); 10-14 tháng 10 năm 1988 – tới Praia (Cabo-Verde); 5-9 tháng 10 năm 1989 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); năm 1978 và năm 1983 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 28 tháng 3 – 4 tháng 4 năm 1984 tham gia chiến dịch diễn tập Hải quân “Atlantic-84”; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 12 tháng 3 năm 1990 ở xưởng tại Pribaltic trải qua đại tu; 30 tháng 6 năm 1994 do không đủ tài chính bị loại khỏi Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể và năm 1994-1995 ở xưởng “Yantar” bị tháo kim loại.
+ “Doblestnưi”; số hiệu xưởng 12; 30 tháng 11 năm 1970; khởi công trên xưởng “Zaliv” ở Kerch; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 2 năm 1973; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1973; 17 tháng 2 năm 1974 sau cuộc hành quân xuyên hạm đội từ Sevastopol tới biển Bắc gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1979 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; từ 19 tháng 6 năm 1991 nằm ở xưởng số 35 ở Murnamsk để đại tu; 3 tháng 7 năm 1992 do không có tài chính nên bị loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1993 giải thể; 18 tháng 7 năm 1995 bán cho công ty trung gian của Mỹ để tháo kim loại. + “Strozhevoi”; số hiệu xưởng 155; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 7 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad); hạ thủy 21 tháng 3 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1973; 7 tháng 12 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 8 tháng 11 năm 1975 trên tàu chống ngầm lớn xảy ra binh biên của một bộ phận thủy thủ chống lại chính quyền với mục đích gây chú ý trên thế giới nhưng đã bị dập tắt; 10 tháng 11 năm 1975 ghi tên vào biên chế phân hạm đội Camchatca; đầu năm 1976 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Phi từ Baltic tới Petropavlovsk-Camchatca; 5-9 tháng 10 năm 1974 tới thăm Rostoc (Đông Đức); 10-15 tháng 9 năm 1980 thực hiện chuyến công tác tới Massaua (Etiopia); năm 1981, 1982 và 1983 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; từ 21 tháng 4 năm 1987 đến 14 tháng 11 năm 1994 ở “Dalzavod” tại Vladivostoc trải qua đại tu; cuối những năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể. + “Razumnưi”; số hiệu xưởng 156; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 6 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Yantar”ở Pribaltic tại Kaliningrad; hạ thủy 20 tháng 7 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1974; 15 tháng 11 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1975 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Baltic tới Petropavlovsk-Camchatca; 11 tháng 6 năm 1975 ghi tên vào biên chế hải đoàn Camchatca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 15-24 tháng 8 năm 1978 tới thăm Aden (Nam Yemen); năm 1981, 1983 và 1986 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 16 tháng 3 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể và neo đậu ở vịnh Zavoiko. + “Razyzshi”; số hiệu xưởng 157; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; 28 tháng 9 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic ở Kaliningrad; hạ thủy 22 tháng 7 năm 1974; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1974; 14 tháng 2 năm 1975 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Baltic tới Bladivostoc gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 10-17 tháng 11 năm 1976 tới thăm Port-Lui (Mavriki); 10-14 tháng 10 năm 1981 – tới Đà Nẵng (Việt Nam); từ tháng 11 năm 1981 ddeens tháng 4 năm 1983 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô ở Vladivostoc trải qua trung tu; 17 tháng 11 năm 1983 khi đang trực chiến ở phía Bắc biển Arav va chạm với tàu khu trục Mỹ “Faif”, kết quả là thân tàu bị hư hại không lớn; năm 1984 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và 6 tháng 10 năm 1994 bán cho công ty Hàn Quốc tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười, 2012, 12:27:53 am + “Druzhnưi”; số hiệu xưởng 158; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 10 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic ở Kaliningrad; hạ thủy 22 tháng 1 năm 1975 gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1975; 25 tháng 10 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 25-30 tháng 8 năm 1978 tới thăm Goeteborg (Thụy Điển); 4-9 tháng 10 năm 1979; 9-14 tháng 8 năm 1982 – tới Rostoc (Đông Đức); 7-10 tháng 8 năm 1981 – tới Helsinki (Phần Lan); 26-30 tháng 5 năm 1983 tới cảng Tunis (Tuynidi); 1-5 tháng 6 năm 1993 – tới Cadis (Tây Ban Nha); năm 1981 và 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không; năm 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 28 tháng 3 – 4 tháng 4 năm 1984 tham gia chiến dịch “Atlantic-84” của Hải quân; từ 1 tháng 7 năm 1988 đến 21 tháng 1 năm 1992 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic trải qua đại tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; tháng 9-10 năm 1994 tham gia cuộc tập trận cùng các nước NATO “Cooperative-94”; cuối năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.
+ “Deyatelnưi”; số hiệu xưởng 13; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách; 21 tháng 6 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; hạ thủy 5 tháng 4 năm 1975; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1975; 19 tháng 2 năm 1976 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 6 – 4 tháng 7 năm 1977 tới thăm cảng Tunis; 25-30 tháng 7 năm 1981 – tới Tripoli (Libia); 11-15 tháng 8 năm 1989 – tới Varna (Bulgaria); năm 1978 và 1988 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân vầ huấn luyện chống ngầm; từ năm 1991 nằm ở xưởng số 91 (Sevastopol) để đại tu; 10 tháng 7 năm 1995 do không có tài chính nên bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1995 giải thể; 6 tháng 4 năm 1997 kéo tới “Gryadusi” ở Thổ Nhĩ Kỳ để tháo kim loại. + “Zharki”; số hiệu xưởng 711; 6 tháng 10 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 16 tháng 4 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 3 tháng 11 năm 1975; gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1976; 11 tháng 8 năm 1976 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới biển Bắc gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 12 tháng 7 năm 1983 khi đang trải qua đại tu ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov tại Leningrad bị cháy nặng do đám cháy xuất hiện trong kết quả cháy nhiên liệu và giẻ trong buống máy mạn tàu; năm 1984 sửa chữa và trang bị lại theo đề án 11353; 5-22 tháng 6 năm 1991 tham gia chiến dịch tìm kiếm – chống ngầm của Hạm đội Biển Bắc ở Đông Bắc Đại Tây Dương và biển Na Uy; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô thành cờ thành Andrei; từ 25 thagns 5 năm 1993 dến 1996 ở xưởng số 35 ở Murmansk để trung tu; năm 1996 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; cuối những năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể. + “Retivưi”; số hiệu xưởng 712; 6 tháng 10 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 6 năm 1976 khởi công trên ụ xướng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 14 tháng 8 năm 1976; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Baltic tới Petropavlov-Camchatca gia nhập biên chế phân hạm đội Camcahtca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 30 tháng 10 năm 1978 tham gia tìm kiếm máy bay Mỹ “Orion” và phi hành đoàn bị rơi gần bờ biển Camchatca; năm 1980, 1986 và 1992 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1995 giải thể; 7 tháng 9 năm 1996 bán cho công ty Hàn Quốc để tháo kim loại. + “Đoàn viên thanh niên cộng sản Leningrad”; từ 15 tháng 2 năm 1992 là “Legki”; số hiệu xưởng 713; 22 tháng 4 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; 8 tháng 8 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 4 năm 1977; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1977; 29 tháng 11 năm 1977 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới biển Bắc, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1979, 1994, 1995, 1996 và 1997 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; từ 27 tháng 10 năm 1988 đến 22 tháng 1 năm 1991 ở xưởng số 35 tại Murmansk trải qua nâng cấp theo đề án 11352 và đại tu; 23-26 tháng 3 năm 1994 tham gia cuộc diễn tập phối hợp với các tàu Hải quân Na Uy và Anh “Pormor-94” ở biển Na Uy; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 12-16 tháng 7 năm 1993 thăm Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ) với Tư lệnh Hải quân trên tàu; 24-25 tháng 10 năm 1994 – tới Kirkenes (Na Uy). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười, 2012, 12:28:14 am + “Bezzavetnưi”; số hiệu xưởng 14; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 28 tháng 5 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1977; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 ghi nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 10-13 tháng 8 năm 1979 tới thăm Varna (Bulgaria); 26-31 tháng 3 năm 1987 – tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 12 tháng 2 năm 1988 đẩy lùi sự xâm nhập vào khu vực lãnh hải Liên Xô gần bờ biển Krưm của tàu tuần dương tên lửa Mỹ “Yorktown”; năm 1988 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ucraina và đổi tên thành U134 “Dnipropetropavlovsk”; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga.
+ “Letuchsi”; số hiệu xưởng 714; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 9 tháng 3 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 19 tháng 3 năm 1978; gia nhập biên chế 10 tháng 8 năm 1978; 20 tháng 9 năm 1978 sau cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi đã tới Petropavlov-Camchatca, gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 13-17 tháng 12 năm 1981 tới thăm Maputa (Mozambic) và tháng 12 năm 1981 ghé vào Victoria (quần đảo Seisel); trong giai đoạn từ tháng 5 năm 1987 đến tháng 10 năm 1991 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1992 và 1999 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm. +(*) “Pưlki”; số hiệu xưởng 715; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 6 tháng 5 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1978; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1978; 24 tháng 1 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới Sevastopol, ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 10-14 tháng 10 năm 1983 tới thăm Pirei (Hy Lạp); 18-23 tháng 7 năm 1986 – tới Zeebrugg (Bỉ); từ 19 tháng 12 năm 1987 đến 9 tháng 7 năm 1993 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic nâng cấp theo đề án 11352, sau đó quay trở lại biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm. + “Zadornưi”; số hiệu xưởng 716; 16 tháng 5 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 11 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; hạ thủy 25 tháng 3 năm 1979; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1979; 13 tháng 9 năm 1979 sau cuộc hành quân liên hạm đội từ Baltic tới biển Bắc, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 28 tháng 12 năm 1984 – 2 tháng 1 năm 1985 và 3-7 tháng 11 năm 1988 tới thăm Havana (Cuba); 2-6 tháng 5 năm 1984 – tới cảng Algie (Algieri); trong giai đoạn 11 tháng 6 năm 1990 đến 23 tháng 5 năm 1996 ở xưởng “Phương Bắc” tại Leiningrad trải qua đại tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1997 và 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; tháng 5 năm 1997 tham gia cuộc diễn tập phối hợp với tàu chiến Hariq uân Anh “Iron Duke” trên biển Barents; loại khỏi biên chế Hải quân Nga và giải thể. + “Bezukoriznennưi”; số hiệu xưởng 15; 16 tháng 5 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 7 năm 1978 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” tại Kerch; hạ thủy 3 tháng 6 năm 1979; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1979; 3 tháng 3 năm 1987 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 27 tháng 9 – 2 tháng 10 năm 1981 tới thăm Dzhezair (Algieri); 26-31 tháng 3 năm 1987 – tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 15-19 tháng 8 năm 1991 – tới Constants (Rumani); năm 1994 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện pháo; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ucraina và đổi tên thành U133 “Mokolaiv”; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười, 2012, 12:28:28 am +(*) “Ladnưi”; số hiệu xưởng 16; 17 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; 25 tháng 5 năm 1979 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” ở Kerch; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1980; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1980; 25 tháng 2 năm 1981 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 7-10 tháng 8 năm 1981 tới thăm Varna (Bulgaria); 18-22 tháng 6 năm 1996 – tới Pirei (Hy Lạp); năm 1991 và 1993 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện pháo; năm 1994 tham gia cuộc diễn tập hỗn hợp với các tàu hải quân NATO “Breeze-94”; 8 tháng 5 năm 1995 – tham gia cuộc duyệt binh Hải quân quốc tế ở Saint Peterburg kỷ niệm 50 năm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei.
+ “Pưtlivưi”; sô hiệu xưởng 717; 17 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 2 năm 1979 dừng đóng trên xưởng mang tên A.A.Zhdanov ở Leningrad; không được khởi công. + “Porưvistưi”; số hiệu xưởng 17; 21 tháng 5 năm 1980 khởi công trên xưởng “Zaliv” ở Kerch; 28 tháng 5 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hairq uân; hạ thủy 16 tháng 5 năm 1981; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1981; 9 tháng 2 năm 1982 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 18 tháng 9 năm 1983 đến 27 thagns 2 năm 1984 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc; ghé vào Luanda (Angola) từ 12 đến 20 tháng 11 năm 1983; 8-13 tháng 12 năm 1983 – tới Victoria (quần đảo Seisel); 5-10 tháng 4 năm 1987 tới thăm Madras (Ấn Độ); từ 21 tháng 9 năm 1983 đến 27 tháng 2 năm 1984 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 13-17 tháng 8 năm 1985 và 14-18 tháng 8 năm 1990 tới thăm Wonsan (Cộng hòa nhân dân Triều Tiên); 5-10 tháng 4 năm 1987 – tới Colombo (Sri Lanca); 25-30 tháng 11 năm 1987 – tới Aden (Nam Yemen); năm 1984 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện phòng không và chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 8 tháng 5 năm 1992 loại khỏi biên chế chiến đấu thành tàu dự bị loại 2 và neo đậu ở Vladivostoc; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 25 tháng 11 năm 1994 bán cho câu lạc bộ Hải quân “Vostoc” để sử dụng cho mục đích huấn luyện; 15 tháng 12 năm 1994 giải thể; 20 tháng 3 năm 1997 bị cháy lớn khi đỗ gần tường xưởng số 178 ở vịnh Sừng Vàng (Vladivostoc). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười, 2012, 12:28:48 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 2810 + hoàn toàn: 3200 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 123 (113) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 14,2 (13,2) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 7 (4,48) Các thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – khí M07 + 2 tuabin khí hành trình M-62, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820) + 2 tuabin khí tăng lực M-8K, tổng công suất, sức ngựa (kW): 36 000 (26 460) 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 32 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý) + 4000 (14) + 1600 (31) Thời gian hoạt động, ngày: 10 Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 192 (22) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười, 2012, 12:29:17 am Vũ khí Tên lửa chống ngầm + thiết bị phóng tên lửa chống ngầm điều khiển RPK-3 “Metel” hoặc YRK-5 “Rastrub-B”: 1x4 + tên lửa chống ngầm điều khiển 85-P hoặc 85-RU (SS-N-14 “Silex”): 4 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 2x2 + tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 40 Pháo + thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm ChTa-53-1135: 2x4 Chống ngầm + RBU-6000 “Smerch: 1x12 + RGB-60: 96 Mìn + có thể mang theo mìn ở boong trên: 16…20. Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-35” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C) Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 1x”Volga” (Palm Frond) hoặc “Vaigach” (Don Key hoặc Don 2) hoặc (Spin Trough) Đài thủy âm + MG-332 “Titan-2” (Bull Nose) + MG-325 “Vega” (Mare Tail) – lai hoặc + Tổ hợp thủy âm “Zvezda-MG” chỉ có trên “Zharki” Các khí tài tác chiến điện tử + “Start” (2 Bell Shroud”; 2 Bell Squat) + BAT-1 đài bảo vệ thủy âm Các tổ hợp bắn nhiễu: 4x16 thiết bị phóng PK-16 hoặc 8x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” trên 1 tàu Đài phát hiện vết rẽ nước: 2xSOKS Các khí tài quang điện: 2xMT-45 (Tee Plinth) Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 2x”Musson” (Eye Bowl) cho tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” + 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” + 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo 76,2mm Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikel”/”Khrom” (High Pole B). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:33:30 am Tàu tuần tra “Delfin” – Đề án 1159/1159-T – Lớp Koni (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1159_03_zps3779923d.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 6/6 Các biến thể + 1159 (lớp Koni-I) – đề án cơ sở sản xuất loạt của tàu tuần tra xuất khẩu (1975) + 1159 (lớp Koni-II) – phiên bản sử dụng ở khu vực nhiệt đới (1980) + 1159-TR (lớp Koni-II) – phiên bản biến thể cho Hải quân Libia trang bị tên lửa chống tàu (1985). Sau những năm 1960, việc xuất khẩu các tàu tuần tra có lượng choán nước thấp của Liên Xô được mở rộng đáng kể - đã quyết định bắt đầu thiết kế tàu tuần tra chuyên dành cho xuất khẩu. Năm 1968 ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã bắt đầu chế tạo tàu, nhận số hiệu đề án 1159 theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật được Hải quân đưa ra.Tổng công trình sư của đề án là Yu.A.Nikolski, giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 A.P.Demeshkevich. Khi thiết kế trong cấp độ đáng kể đã tận dụng kinh nghiệm chế tạo tàu tuần tra đề án 159 và tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Thiết bị năng lượng chính là 3 trục và thực tế là lặp lại hoàn toàn hệ thống của đề án 1124, nhưng với sự thay động cơ diesel tốc độ cao trên các trục bên cùng số (công suất) vòng quay thấp hơn. Trên trục giữa là động cơ tuabin khí tăng lực M8B công suất 18 000 sức ngựa. Tốc độ hoàn toàn (tối đa) của tàu tuần tra là 29 hải lý, tốc độ tìm kiếm nằm trong giới hạn 20-24 hải lý. Tầm bơi xa ở tốc độ 14 hải lý là 2000 dặm, khả năng cơ động trên biển theo các điều kiện bơi an toàn – sóng cấp 8-9, còn khi sử dụng vũ khí – sóng cấp 5. Vũ khí chính gồm tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ 8E10 (phiên bản xuất khẩu của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”, thiết bị phóng 2 bệ với sơ số đạn 20 tên lửa phòng không điều khiển), 2 pháo tổng hợp 2 nòng 76,2mm AK-726 (theo 1 ở mũi và 1 ở mạn tàu), số lượng tương tự pháo phòng không tự động 30mm AK-230 và 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 (cơ số đạn 12 bom chìm phản lực RGB-60). Ngoài ra, có các máy rải bom và rãnh để tiếp nhận rải mìn. Lượng choán nước hoàn toàn – 1760 tấn, thủy thủy đoàn – 110 người, thời gian hoạt động theo trữ lượng thực phẩm là 10 ngày. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:34:29 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1159_04_zps8e1f2ad9.jpg) Ngoài đề án cơ sở, ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã chế tạo tàu tuần tra đề án 1159-T sử dụng ở khu vực nhiệt đới. Sáu tàu này đã được đóng cho Algieri và Cuba (ở phương Tây chúng nhận tên gọi lớp Koni-II). Trong đó, các tàu được quân đội Nam Tư (đề án 1159) và Algieri (đề án 1159-T) sử dụng đã được trang bị bổ sung 4 thiết bị phóng 1 thùng cho tên lửa chống tàu P-20 – lắp ở mạn tàu. Một số tàu nhận vũ khí – 2 thiết bị 4 ống phóng MT-4US để phóng tên lửa phòng không điều khiển kiểu “Strela-3”. Thêm 2 tàu được đóng cho Libia theo đề án 1159-T được thiết kế lại đáng kể (lớp Koni-III). Chúng khác biệt ở lượng choán nước tăng, thay đổi thiết kế thượng tầng và xuất hiên 2 thiết bị phóng đôi cho tên lửa chống tàu P-20M, bố trí theo thành tàu gần thượng tầng mũi. Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên trong đề án 1159 nhận tên gọi “Delfin” được đóng năm 1975 trên xưởng mang tên Gorki ở Zelenodolsk (số 340). Tổng công từ năm 1975 đến năm 1987 đã đóng 6 tàu đề án 1159 (phương Tây gọi là lớp Koni), và cùng số lượng tàu theo đề án 1159-T và 2 theo đề án 1159-TR. Tình hình đến năm 2008 Ban đầu toàn bộ các tàu tuần tra đề án 1159 đồng thời gian nhập biên chế Hải quân Liên Xô và chỉ sau đó mới được mang đi xuất khẩu. Hai tàu đề án 1159 được bán cho Cộng hòa dân chủ Đức trong những năm 1978-78 (nhận tên gọi “Rostoc” và “Berlin”) và thêm một tàu vào năm 1985 (“Halle”); 2 – Nam Tư trong những năm 1980-82 (“Split”, “Kopar”)’ 1 theo đề án 1159-T – Algieri năm 1980 (“Mourad Rais”) và 2 vào năm 1982-85 (“Rais Kellich”, “Rais Korfou”); 2 – Cuba năm 1981-84 (“Mariel”, tàu số 356) và 1 vào năm 1988 (“Monkada”). Hai tàu đề án 1159-T được bán cho Libia năm 1986-87 (“Al Hani” và “Al Qirdabiyan”). Sau khi thống nhất nước Đức trong năm 1990, toàn bộ 3 tàu tuần tra đề án 1159 trong Hải quân Đông Đức bị loại khỏi biên chế và tháo dỡ. Hai trong số 3 tàu của Cuba trong đề án 1159-T bị loại khỏi biên chế năm 1996-97. Từ năm 1993, các tàu tuần tra của Nam Tư “Split” và “Kopar” dược đổi tên thành VPB-31 “Beograd” và VPN-32 “Podgorica” (cả 2 đều còn trong biên chế). Năm 1997, tàu chiến Algieri đề án 1159-TR “Rais Korfou” đã được đưa tới cảng tại Kronshtadt để sửa chữa và nâng cấp – đã hoàn thành trong năm 2000. Tàu đầu tiên trong đề án 1159 – “Delfin” – được sử dụng trong Hải quân Liên Xô chỉ trong vai trò tàu huấn luyện các thủy thủ đoàn nước ngoài và chuyên gia (chuyên viên). Sau khi kết thúc chương trình xuất khẩ, tàu này được bán cho Hải quân Bulgari năm 1991 và đổi tên thành “Smeli”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:35:32 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1135_draw5_zps620ae6e1.gif) Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 1159 1. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726 2. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Turel” 4. Đài ra đa định vị đạo hàng 5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Rubka” 6. Đài tác chiến điện tử “Bizan-4” 7. Pháo phòng không tự động nòng đôi 30mm AK-230 8. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Vưmpel” 9. Đài dẫn bắn tên lửa phòng không 10. Thiết bị phóng không cố định của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ 11. Các rãnh rải mìn 12. Máy bảo vệ thủy âm lai 13. Các máy rải bom 14. Mũ chụp đài thủy âm dưới sống tàu. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:35:54 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Delfin”; số hiệu xưởng 201; 25 tháng 5 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; 21 tháng 4 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng “công nhân kim khí Đỏ” ở Zelenodolsk thuộc nước cộng hòa Xô viết tự trị Tartastan; hạ thủy 19 tháng 7 năm 1975 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1975; 12 tháng 3 năm 1976 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen để huấn luyện các thủy thủ đoàn cho các tàu xuất khẩu; từ 19 tháng 6 năm 1979 đến 7 tháng 8 năm 1979 và từ 13 tháng 6 năm 1988 đến 12 tháng 3 năm 1990 trải qua trung tu ở “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 11 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Hải quân Bulgaria và đổi tên “Smeli”; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể. + “Nerpa”; số hiệu xưởng 202; 2 tháng 10 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; 22 tháng 10 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1977 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1977 và đồng thời gian nhập biên chế Hạm đội Baltic; 25 tháng 7 năm 1978 bán cho Hải quân Đông Đức, đổi tên “Rostoc” (số hiệu 141); 10 tháng 7 năm 1978 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 3 tháng 10 năm 1990 chuyển sang phục vụ Hải quân Cộng hòa liên bang Đức nhưng không gia nhập biên chế mà sau đó bị tháo kim loại. + “Kerchet”; số hiệu xưởng 203; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 19 tháng 1 năm 1977; khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; hạ thủy 3 tháng 7 năm 1978 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1978 và đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 10 tháng 5 năm 1979 bán cho Hải quân Đông Đức, đổi tên “Berlin” (142); 31 tháng 5 năm 1979 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 15 tháng 8 năm 1979 giải thể; 3 tháng 10 năm 1990 phục vụ dưới cờ Hải quân Cộng hòa liên bang Đức nhưng không gia nhập biên chế và sau đó tháo kim loại. + “Sokol”; số hiệu xưởng 204; 14 tháng 4 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; tháng 1 năm 1978 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; hạ thủy 21 tháng 4 năm 1979 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1979 và đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 2 năm 1980 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Hải quân Nam Tư và đổi tên “Split” (VPB-31); 1 tháng 6 năm 1980 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:36:08 am + SKR-481; số hiệu xưởng 205; 25 tháng 12 năm 1979 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk; 21 tháng 5 năm 1981 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 24 tháng 12 năm 1981; mùa xuân năm 1982 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1982 và đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 10 tháng 2 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 1 tháng 12 năm 1982 giải thể; 5 tháng 12 năm 1982 bán cho Hải quân Nam Tư, đổi tên “Kopar” (VPB-32).
+ SKR-149; số hiệu xưởng 206; 29 tháng 2 năm 1984 ghi tên vào danh sách Hải quân; 8 tháng 4 năm 1983 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí” ở Zelenodolsk; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1984; nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 25 tháng 6 năm 1985, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 23 tháng 11 năm 1985 bán cho Hải quân Đông Đức và đổi tên “Halle”; 14 tháng 3 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 1 tháng 5 năm 1986 giải thể; 3 tháng 10 năm 1990 chuyển sang quân đội Cộng hòa liên bang Đức nhưng không gia nhập biên chế và sau đó bị tháo kim loại. + SKR-482; số hiệu xưởng 250; 22 tháng 1 năm 1979 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 6 năm 1978 khởi công trên ụ xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk theo đề án 1159-T; hạ thủy 12 tháng 1 năm 1980; mùa xuân năm 1980 di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1980, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 11 tháng 12 năm 1980 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, 20 tháng 12 năm 1980 bán cho Hải quân Algieri, đổi tên “Mourad Rais” (190); 1 tháng 8 năm 1981 giải thể. + SKR-28; số hiệu xưởng 251; 17 tháng 7 năm 1979 khởi công trên xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” ở Zelenodolsk theo đề án 1159-T; 19 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1980, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 9 năm 1981 bán cho Hải quân Cuba, đổi tên “Mariel” (350); 29 tháng 4 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 30 tháng 6 năm 1982 giải thể; năm 1997 tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:36:27 am + SKR-35; số hiệu xưởng 252; 19 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân; 11 tháng 6 năm 1980 khởi công ở xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” tại Zelenodolsk theo đề án 1159-T; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1981 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1981, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 3 năm 1982 bán cho Hải quân Algieri và đổi tên “Rais Kellich” (902); 29 tháng 4 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 30 tháng 6 năm 1982 giải thể.
+ SKR-471; số hiệu xưởng 253; 24 tháng 4 năm 1981 khởi công trên xưởng “công nhân kim khí Đỏ” ở Zelenodolsk theo đề án 1159-T; 8 tháng 2 năm 1982 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1982 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 17 tháng 8 năm 1983, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 8 tháng 2 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; tháng 2 năm 1984 bán cho Hải quân Cuba và nhận số 356; 1 tháng 5 năm 1984 giải thể; giữa những năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân Cuba; tháng 8 năm 1996 bán cho công ty tư nhân và bị đắm gần bờ biển quần đảo Caiman; hiện nay được sử dụng như mục đích tham quan của những người thích chèo thuyền. + SKRR-129; số hiệu xưởng 254; 7 tháng 7 năm 1982 khởi công ở xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” tại Zelenodolsk theo đề án 1159-T; 19 tháng 1 năm 1983 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 11 năm 1983, mùa xuân năm 1984 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Baltic để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 8 năm 1984, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; tháng 1 năm 1985 bán cho Hải quân Algieri, đổi tên “Rais Korfou” (903); 8 tháng 1 năm 1985 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể; trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2000 trải qua sửa chữa và nâng cấp ở Kronshtadt. + SKR-451; số hiệu xưởng 257; 11 tháng 4 năm 1986 ghi tên vào danh sách Hải quân; 6 tháng 5 năm 1986 khởi công ở xưởng “công nhân cơ khí Đỏ” tại Zelenodolsk theo đề án 1159-T; hạ thủy 3 tháng 5 năm 1987 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1987, đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 9 tháng 2 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô, bán cho Hải quân Cuba và đổi tên “Monkada” (353); 1 tháng 7 năm 1988 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:36:46 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 1515 + hoàn toàn: 1670 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 96,51 (-) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12,56 (-) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,06 (-) Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí – diesel + 1 tuabin khí tăng lực M-8B, công suất, sức ngựa (kW): 18 000 (13 230) + 2 động cơ diesel tốc độ quay trung bình, tổng công suất, sức ngựa (kW): 18 000 (14 230) 3 trục; 3 chân vịt bánh lái Tốc độ, hải lý + lớn nhất: 29,5 + tiết kiệm năng lượng: 14…14,5 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2000 (14) Thời gian hoạt động: 10 ngày Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 96…110 (9…10). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:37:08 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu P-20 (chỉ có trên 5 tàu): 4x1 + tên lửa chống tàu P-20 (SS-N-2S “Styx”): 4 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng Zif-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 8E10: 1x2 + tên lửa phòng không điều khiển 9M33 (SA-N-4 “Gecko”): 20 + thiết bị phóng MT-4US của tổ hợp tên lửa phòng không “Strela-3” (trên 1 số tàu): 2x4 + tên lửa phòng không điều khiển 9M32M (SA-N-5 “Grail”): 16 Pháo + thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2 + thiết bị pháo phòng không 30mm AK-230: 2x2 Chống ngầm + RBU-6000: 2x12 + cơ số đạ RGB-60: 120 + máy rải bom: 2 + bom chìm BB-1: 12 Mìn + mìn mang theo trên boong trên: 14. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 12:37:26 am Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: - Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-302 “Rubka” (Strut Curve) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Don-2” (Don II) Đài thủy âm: - (dưới sống) Các khí tài tác chiến điện tử + “Bizan-4” (Watch Dog) + các máy bảo vệ thủy âm Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x(Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” + 1xMR-105 “Turel” (Owl Schreech) cho pháo + 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo phòng không Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 11:58:24 pm Tàu tuần tra kiểu “Neustrashimưi” – Đề án 11540 “Yastreb” – Lớp Neustrashimy (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_20_zps5824026c.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 2+1 Các biến thể + 11540 “Yastreb” – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1990) + 11541 “Korsar” – đề án tàu tuần tra xuất khẩu với những thay đổi không đáng kể. Khi tính toán rằng các tàu tuần tra Liên Xô trên khu vực biển đã thua kém một cách đáng kể so với các tàu cùng lớp của phương Tây về các khả năng chiến đấu (không có vũ khí đường không và tên lửa chống tàu, pháo yếu hơn), ở Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng vào giữa những năm 1970 đã bắt đầu nghiên cứu các hướng chế tài tàu tuần đa năng tương lai. Nhóm các chuyên gia, đứng đầu là thuyền trưởng cấp 3 V.P.Kyzin đã thành công khi chứng minh cho lãnh đạo viện rằng đã đến lúc thực hiện các kết quả khoa học đã nhận được. Tới thời điểm này, ở Phòng thiết kế Zelenodolsk dưới sự chỉ đạo của L.F.Fedoseev đã thực hiện các công việc thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu khoa học theo tàu chống ngầm nhỏ đề án 1154 “Yastreb”. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật của Hải quân, đưa ra năm 1972, đã nghiên cứu chế tạo tàu có lượng choán nước hoàn toàn gần 800 tấn và tốc độ tối đa 35 hải lý, được giới thiệu là sự phát triển tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Tổng công trình sư của tàu là N.A.Yakovlevski đã ủng hộ (tán thành) đề xuất của Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng về thiết kế lại đề án trong hướng chế tạo tàu tuần tra đa năng, mà theo các khả năng chiến đấu không thua các tàu nước ngoài tốt nhất lớp tàu chiến (“Oliver H.Perry” – Mỹ, “Bremen” – Đức và “Maestrale” – Italia). Trong quá trình thiết kế, phạm vi nhiệm vụ của tàu được mở rộng thường xuyên, vũ khí được tăng cường do kết quả tiếp nhận toàn bộ các mẫu khí tài kỹ thuật hiện đại nhất và tăng các danh pháp của chúng, đi kèm với sự tăng lượng choán nước. Như, trong đề án phác họa được phê duyệt năm 1975, lượng choán nước hoàn toàn tăng lên 1500 tấn, còn tàu được phân loại thành tàu tuần tra chống ngầm, trong đề án kỹ thuật (năm 1976) – 1700 tấn, trong đề án kỹ thuật được hiệu chỉnh (năm 1979) – gần 2000 tấn, còn trong phiên bản với trực thăng – 2500 tấn. Tốc độ tối đa khi đó giảm xuống còn 27-28 hải lý. Khi bắt đầu từ giai đoạn này, các công việc được thực hiện dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư N.A.Yakovlevski. Bằng cách này, trong kết quả công việc 7 năm, tàu đề án 1154 gần theo lượng choán nước của tàu tuần tra đề án 1135. Năm 1981, nhiệm vụ kỹ chiến thuật mới đã được đặt ra cho Phòng thiết kế Zelenodolsk đề án 11540 – vẫn giữ số hiệu “Yastreb”. Năm 1982, đã có quyết định của Bộ Công nghiệp đóng tàu và Hải quân về việc nghiên cứu theo nhiệm vụ kỹ chiến thuật mới trong dạng tàu tuần tra đề án 1135 và 11351 do kết quả tiếp nhận các khí tài phòng không – chống ngầm mới, vô tuyến điện, thủy âm định vị, đồng thời tăng cường (bổ sung) các khả năng chống lại tàu nổi (tàu tuần tra đa năng, có nhiệm vụ chống ngầm, phòng không và chống tàu trong cụm tàu chiến, bảo vệ tàu vận tải và các đơn vị đổ bộ). Tháng 10 năm 1981, tương ứng với mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân liên qua đến sự thay đổi thành phần vũ khí (bổ sung tổ hợp tên lửa chống tàu “Uragan”), lượng choán nước của tàu được thiết kế được quyết định tăng lên 3500 tấn. Tổng công trình sư vẫn giữ lại như trước – N.A.Yakovlevski, giám sát viên chính từ Hải quân lúc đầu – thuyền trưởng hạng 2 V.Ya.Korsukov, sau đó – thuyền trưởng hạng 2 O.K.Korobkov. Việc thiết kế đề án 11540 yêu cầu thực hiện hàng loạt các công việc thiết kế thí nghiệm và nghiên cứu khoa học, trong số đó theo sự giảm tiếng ồn dưới nước, đảm bảo chất lượng cơ động trên biển và khả năng điều khiển tốt. Lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu Liên Xô trong giai đoạn nghiên cứu nhiệm vụ kỹ chiến thuật và kèm theo nghiên cứu khoa học bởi tổng công trình sư N.A.Yakovlevski và giám sát viên chính – thuyền trưởng cấp 2 V.Ya.Korsukov đã sử dụng các kết quả nghiên cứu kinh tế quan sự nhận được trong hệ thống thiết kế tự động hóa (SAPR) “Chertezh” của cộng tác viên khoa học lâu cao cấp – thuyền trưởng cấp 3 V.I.Nikolski. Trong quá trình thiết kế đã thay đổi bố cục tàu: như tổ hợp tên lửa phòng không từ mạn được chuyển tới mũi, ăng ten đài thủy âm từ mũ chụp dưới sống được chuyển vào mũ chụp hình cầu ở mũi. Thành phần vũ khí đồng thời thay đổi từ thiết kế này tới thiết kế khác. Ban đầu trên tàu dự định lắp tổ hợp chống ngầm RPK-5 “Liven” (RBU-10000), hiệu quả của nó bị nhiều chuyên gia nghi ngờ. Nhưng cuối cùng, việc thiết kế tổ hợp đã dừng lại, còn “Yastreb” đã nhạn được thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 hiệu quả trong Hải quân (rõ ràng vì thể, thiết bị này trên tàu chỉ có một). Các sỹ quan Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng đã “chiến đấu” vì việc lắp trên tàu pháo 100mm AK-100. “Các nhà vũ trang” đã “cân nhắc” một cách kiên định (đặc biệt là các chuyên gia Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov). Tư lệnh Hải quân đã đặt dấu chấm cuối cùng cho cuộc tranh cãi. Đương nhiên là “một trăm”! Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2012, 11:59:12 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_12_zps6b4bb1da.jpg) Viện Hải quân số 1 đã kiên trì việc lắp trên tàu tuần tra mới thiết bị tuabin khí – diesel. Một cách công bằng, khi cho rằng giải pháp này – tối ưu nhất và “kéo” sau đó dạng thiết bị này trên các tàu mới khác. Tuy nhiên, trong phương án cuối cùng đã diễn ra sự tiếp nhận sơ đồ tuabin khí – khí theo hệ thống đề án 1135 với các động cơ hành trình và tăng lực. Việc này thực tế là khi đó không một nhà sản xuất động cơ diesel hay tuabi khí nào muốn thiết kế bộ truyền động và thiết bị trong tổ hợp. Dần dần, lượng choán nước của tàu đạt 3200 tấn. Việc này được đánh giá là tiêu cực trong khả năng đóng loạt tàu số lượng rất lớn. Tàu đề án 11540 có kiến trúc nửa thùng với thượng tầng dày và thành nổi ở phần sau mũi tàu tương đối cao (có độ cao tương đối lớn). Toàn bộ thiết kế thân tàu được chế tạo bằng thép – lần đầu tiên sau 30 năm (tàu cuối cùng có thường tầng thép là tàu khu trục đề án 57-bis). Sự tăng cường khả năng cơ động trên biển được thực hiện nhờ các máy chống rung với bánh lái không cố định, đồng thời các sống má tàu. Các thiết bị hàng hóa khô và đảm bảo sự sống để tiếp nhận trên biển từ các tàu hỗ trợ cũng đã được tính toán. Vũ khí tên lửa của tàu dự kiến tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” trong thành phần thiết bị 4 ống phóng, bố trí ngang trạm đo xa ở giữa tàu, tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh tự vệ “Kinzhal” với trạm quan sát ổn định ở mũi, 2 modul chiến đấu tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” trên thượng tầng mũi, tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vodopad-NK” và 1 RBU-6000 “Zapad” để tiêu diệt tàu ngầm. Trong đó, các tên lửa tổ hợp “Vodopad-NK” được bắn từ các thiêt sbij phóng tổng hợp cố định (để bắn tên lửa chống ngầm và ngư lôi), lắp 3 thiết bị theo mỗi thành tàu. Sự mở rộng khả năng chống ngầm được tăng cường nhớ sự xuất hiện trên thành trực thăng Ka-27 đóng căn cứ thường xuyên – có hang ga để bố trí. Pháo gồm có thiết bị pháo 100mm AK-100 với đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực MR-145 “Lev”. Các khí tài phát hiện mục tiêu được giới thiệu là đài ra đa định vị ba tọa độ “Fregat-MA” với ra đa chủ động mảng pha và tổ hợp thủy âm “Zvezda-1” với ăng ten trong mũ chụp hình cầu ở mũi tàu và ăng ten lai bố trí ở mạn tàu. Sự không (kịp) chuẩn bị tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” để cung cấp cho tàu đầu tiên đã dẫn tới việc rằng tàu tuần tra sẽ bơi mà không có tên lửa chống tàu, mặc dù trên vị trí thiết bị phóng có bệ chuẩn bị sẵn, còn trong chính tàu tuần tra – các vị trí dự trữ cho các trạm chiến đấu và khí tài. Từ khi bắt đầu xuất hiện, tàu tuần tra “Yastreb” đã nhận được số lượng lớn những yếu tố không thiện cảm như giữa các đại diện ngành công nghiệp, như Hải quân và các tổ chức thiết kế khác nhau. Việc này dẫn đến việc thiết kế tàu và sự chế tạo nó bằng kim loại bị trì hoãn (“đóng băng”) rất lớn. Thêm vào đó, 10 năm trước, đối với toàn bộ các chuyên gia đã giữ lại câu đố tại sao chương trình đóng tàu đề án 11540 mới nhất đã bắt đầu được triển khai, và mặc dù trong sự hạn chế tài chính, đã bắt đầu đóng tàu tuần tra đề án mới. Sự hợp tác cũ của các xưởng đã bị đổ vỡ, thiếu các nỗ lực chế tạo làm mới và toàn bộ trong tình trạng, khi các khả năng nâng cấp lớn của đề án 11540 hoàn toàn không đòi hỏi. Hiện nay, nhiều quan điểm nghiêng về trước hết là sự quảng bá hoặc các giải pháp khác trong việc chấp nhận thiệt hại của Hải quân khi chiều theo nghành công nghiệp: đề án càng lớn, khả năng nuôi sống thiết kế càng lớn. Ngoài ra, “Yastreb”, cũng như việc “chạy theo giá thành” cho các tàu lớn hơn, việc đóng tàu càng thuận lợi hơn cho ngành công nghiệp. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:08:26 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_27_zps151356a1.jpg) Hình dáng thượng tầng tàu tuần tran "Neushtrashimưi" từ thành bên trái (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_28_zps5921149b.jpg) Modul bắn tổ hợp "Kortik" trên tàu tuần tra "Neushtrashimưi" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_29_zps6eaed50e.jpg) Thượng tầng mạn tàu tuần tra "Neushtrashimưi". Nhìn thấy rõ nắp các thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu đa năng "Vodopad-NK" và tổ hợp pháo - tên lửa phòng không "Kortik" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_08_zpsbab06106.jpg) Hình dáng trên trạm ăng ten tàu tuần tra "Neustrashimưi". Hàng trước - đài ra đa định vị điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không "Kinzhal", đằng sau đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp và đài các khí tài tác chiến điện tử Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:14:00 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_09_zpsec79e1b2.jpg) Thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không "Kinzhal" trên mũi tàu tuần tra "Neustrashimưi" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_10_zps34bc482a.jpg) Thiết bị pháo 100mm AK-100 ở mũi tàu tuần tra "Neustrshimưi" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_11_zpsc823d663.jpg) Tàu tuần tra "Neustrshimưi" bắn bom phản lực từ RBU-6000 "Zapad" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_24_zps9c99fd14.jpg) Các thiết bị phóng đa năng của tổ hợp tên lửa chống ngầm "Vodopad-NK", sử dụng để bắn các tên lửa chống ngầm và ngư lôi 533mm Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:15:44 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_12_zps6b4bb1da.jpg) Sau đó, trong những năm 1990, Phòng thiết kế Zelenodolsk đã thiết kế phiên bản xuất khẩu của tàu tuần tra, nhận số hiệu 11541 và mã số “Korsar”. Trên đó dự định giữ lại một cách tối đa thiết kế cơ sở của tàu với những thay đổi sau: lắp các mẫu trang bị vô tuyến điện với hơn dành cho xuất khẩu (trong đó: hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Sigma-E”, đài ra đa định vị 3 tọa độ “Fregat-MAE”, hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa chống tàu “Monument-E”, tổ hợp thủy âm “Zarya-ME”, các khí tài tác chiến điện tử MP-407E hoạc TK-25E, các tổ hợp thông tin liên lạc “Buran-6E” và “Musson”, hệ thống hội thoại 67-R, tổ hợp đạo hàng MK-54IS với bản đồ được số hóa), thay thiết bị pháo AK-100 bằng thiết bị pháo 100mm nhẹ hơn A-190 “Universal”, thay tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” bằng “Yakhont” (tầm bắn 300km) hoặc tổ hợp khác theo yêu cầu khách hàng, lắp tổ hợp chống ngầm RPK-8E và “Kalibr”, lắp tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Kashtan” hoặc “Palma”, lắp các súng phóng lựu chống biệt kích DP-65, trực thăng thường trực Ka-28 hoặc Ka-31, đồng thời tăng cường điều kiện sống. Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên trong đề án 11540 – “Neustrashimưi” (nỗ lực đặt tên cho nó là “Novik” không thành công), được khởi công trên xưởng số 820 “Yantar” tại Pribaltic năm 1985, hạ thủy tháng 5 nặm 1988 và gia nhập biên chế năm 1991. Tổng cộng theo kế hoạch lúc đầu sẽ đóng không dưới 70 tàu trên 7 xưởng của đất nước. Sau đó, do sự sụp đổ của Liên Xô, đã bị rút xuống không dưới một lần tới một số tàu. Đến năm 1993, đã khởi công thành công thêm 2 tàu nữa, khi đó, tàu đầu tiên trong dạng chưa được đóng xong đã không nhận được những quyết định tích cực vè tài chính, còn tàu thứ hai nhanh chóng bị dừng đóng. Mặc dù vậy, từ năm 2007, trên tàu thứ 2 trong loạt – “Yaroslav Mudrưi” – các công việc khôi phục và nó được lên kế hoạch gia nhập biên chế năm 2009. Rõ ràng, tàu sẽ có thành phần vũ khí khác, tốt hơn so với phiên bản cơ sở. Tình hình đến năm 2008 Trong biên chế Hải quân Nga hiện tại có 1 tàu duy nhất trong lớp – “Neustrashimưi” trong biên chế Hạm đội Baltic. Năm 2007 đã có quyết định về đóng tiếp tàu thứ hai trong đề án 11540 mà toàn bộ thời gian đã nằm trong dạng nổi trên xưởng trong tình trạng chuẩn bị 79% về kỹ thuật (năm 2003). Theo kế hoạch, năm 2008 nó sẽ gia nhập biên chế Hải quân Nga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:16:33 am Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - còn trong biên chế)(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_13_zps1b430b4f.jpg) + (*) “Neustrashimưi”; số hiệu xưởng 401; 3 tháng 2 năm 1987 ghi tên vào danh sách Hải quân; 25 tháng 3 năm 1987 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic ở Kaliningrad; hạ thủy 25 tháng 5 năm 1989; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1990; 14 tháng 3 năm 1991 ghi nhập biên chế Hạm đội Baltic; tháng 9-10 năm 1994 tham gia cuộc diễn tập phối hợp với Hải quân NATO “Cooperativ Venture”; tháng 6 năm 1995 tới thăm chính thức Kil (Đức) ở đó đã tham gia nghi lễ 100 năm kênh Kil; năm 1994 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; năm 1996, 1997 và 1998 – các giải thưởng về huấn luyện phòng không; năm 1997, 1998 và 1999 – giải thưởng về huấn luyện pháo. + “Nepristupnưi”; số hiệu xưởng 402; từ 40 tháng 8 năm 1995 là “Yaroslav Mudrưi”; 11 tháng 9 năm 1987 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 5 năm 1988 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic ở Kaliningrad; hạ thủy năm 1990 (theo các thông tin khác – tháng 5 năm 1991) dừng đóng do không đủ tài chính. + “Tuman”; số hiệu xưởng 403; 15 tháng 9 năm 1992 ghi tên vào danh sách Hải quân; năm 1993 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic ở Kaliningrad; nhưng nhanh chings bị dừng đóng do không có kinh phí và tháo kim loại trên xưởng Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:18:06 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11540_26_zpsa166bbaa.jpg) Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 11540 1. Ăng ten đài thủy âm dưới sống tàu “Zvezda-1” 2. Thiết bị pháo đa năng 100mm AK-100 3. Thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” 4. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 5. Ăng ten đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-145 “Lev” 6. Ăng ten đài ra đa định vị điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” 7. Bãi dự bị dành cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” 8. Đài ra đa định vị ba tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp MR-750 “Fregat-M2” 9. Thiết bị phóng ngư lôi – tên lửa cho tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vodopad-NK” 10. Tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” 11. Đài ra đa định vị “Pozitiv” để chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” 12. Trực thăng chống ngầm Ka-27 13. Bãi đáp cất hạ cánh 14. Buồng ăng ten lai của đài thủy âm “Zvezda-1” Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:18:33 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 3590 + hoàn toàn: 4250 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 129,8 (117,2) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 15,6 (14,2) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 8,35 (4,76) Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – khí + 4 tuabin khí: 2 tuabin hành trình M-70, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8800); 2 tuabin tăng lực M-8KF, tổng công suất, sức ngựa (kW): 46 000 (33 800) + các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x800; 3x600 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 29…31 + tiết kiệm năng lượng: 18 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2900 (18) Thời gian hoạt động, ngày: 30 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 210 (35). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:19:00 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng KT-184 của tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” (vị trí dự kiến): 4x4 + tên lửa chống tàu 3M24 “Uran” (SS-N-25): 16 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng đứng SM-9 của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: 4x8 + tên lửa phòng không điều khiển 9M330-2 (SA-N-9 “Gauntlet”: 32 Pháo – tên lửa phòng không + tổ hợp pháo tên lửa phòng không 3M87 “Kortik” (CADS-N-1): 2 Trên mỗi tàu + thiết bị phóng tên lửa phòng không 9M331 (SA-N-11 “Grison” (cơ số đạn): 2x4 (64) + pháo tự động 30mm AO-18 (cơ số đạn): 2x6 (1500) Tên lửa chống ngầm + thiết bị phóng tên lửa chống ngầm “Vodopad-NK”: 6x1 + tên lửa chống ngầm 91-R (SS-N-15): 6 Pháo + thiết bị pháo 100mm AK-100: 1x1 + pháo hiệu 45mm 21-KM: 1x1 Ngư lôi + ngư lôi 533mm (thay cho bộ phận tên lửa chống ngầm): 6 Chống ngầm + RBU-6000 “Smerch-2”/”Zapad”: 1x12 + RGB-60/”Zapad”: 60 Mìn + mang theo mìn trên boong trên: 20 Vũ khí đường không + trực thăng Ka-27 (“Helix-A”): 1 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười, 2012, 12:19:17 am Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Tron-Diplomat” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-750 “Fregat-M2” (Top Plate) Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp: 2x”Volga” (Palm Frond) Đài thủy âm: “Zvezda-1” (Bull Nose, Steer Hide) Các khí tài tác chiến điện tử: “Vưmpel-P2” (2 Bell Crown; 2 Foot Ball; 2 Half Hat; 3 Cage Flask) Các tổ hợp bắn nhiễu: 6x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x3R95 (Cross Swrod) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” + 1x”Pozitiv” (Cross Dome) cho tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Kortik” + 1xMR-145 “Lev-214” (Kite Screech) cho pháo 100mm Các khí tài đạo hàng vô tuyến: 1 cho trực thăng Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp “Buran-B” Đài ra đa định vị hội thoại: 2x(Salt Pot). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười, 2012, 12:02:28 am Tàu tuần tra kiểu “Tartastan” – Đề án 11661 “Gepard” – Lớp Gepard (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/GEPARD-39.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 1+2 Các biến thể + 11660 “Gepard” – đề án cơ sở tàu tuần tra chống ngầm (năm 1988 – không thực hiện) + 11661 “Gepard” – tàu tuần tra xuất khẩu với sự thay đổi thành phần trang bị vũ khí (gia nhập biên chế từ năm 2002) + “Gepard-1” – đề án tàu tuần tra xuất khẩu, thay đài thủy âm hình cầu – sàn đáp trực thăng (cuối những năm 1990) + “Gepard-2” – đề áu tàu tuần tra xuất khẩu, đảm bảo sự đóng thường xuyên của trực thăng (cuối những năm 1990) + “Gepard-3” – đề án tàu tuần tra xuất khẩu, thay tổ hợp tên lửa và tổ hợp pháo phòng không – tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” (cuối những năm 1990) + “Gepard-4” – đề án tàu tuần tra xuất khẩu, tàu – sàn/bệ lắp vũ khí của bên mua (đối tác - cuối những năm 1990) + “Gepard-5” – đề án tàu tuần tra xuất khẩu, thay đổi thành phần trang bị vũ khí (cuối những năm 1990). Đầu những năm 1990 ở Liên Xô, yêu cầu chế tạo tàu tuần tra mới ở khu vực gần bờ đã là câu hỏi mởi, bởi vì khi đó tàu tuần tra được thiết kế đề án 11540 được sử dụng trong phiên bản cuối cùng đã không phục vụ cho nhiệm vụ gần bờ mà ở khu vực biển lớn (đại dương) và thực tế là để thay thế các tàu đề án 1135. Liên quan với đó, một lần nữa, các công việc chế tạo tàu tuần tra không lớn đã được bắt đầu, như là sự phát triển tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Việc thiết kế tàu đã được thực hiện ở Phòng thiết kế Zelenodolsk kéo dài trong toàn bộ những năm 1980. Đề án đã nhận số hiệu 11660, mã số “Gepard”, Tổng công trình sư của tàu ban đầu là Yu.A.Nikolsky, sau đó là V.N.Kashkin. Những yêu cầu của Hải quân theo sự bố trí đài thủy âm mạnh đã dẫn tới lượng choán nước của tàu là 2000 tấn. Vũ khí gồm có tổ hợp tên lửa chống tàu “Ural” và tổ hợp tên lửa chống ngầm “Medvedka” thế hệ mới, thiết bị pháo 76,2mm AK-176, 2 tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” và RBU-6000. Mặc dù tàu có toàn bộ các danh pháp vũ khí “tiêu chuẩn”, “hướng” chống ngầm của tàu là thấp hơn yêu cầu. Ngoài ra, đã xuất hiện sự cạnh tranh từ đề án có tính chất mạo hiểm 12441 của Phòng thiết kế “Almaz” với tên lửa chống tàu và trực thăng mạnh hơn. Sau đó đã xuất hiện vấn đề rằng đề án này có lượng choán nước lớn hơn đáng kể so với yêu cầu đặt ra và nó bắt đầu “chống lại” tàu tuần tra trên biển đề án 11540. Cuộc tranh cãi (đấu tranh) mang tính chất chính trị thuần túy giữa các nhà đóng tàu của 3 đề án này đã được mở ra. Cuối cùng, tàu tuần tra đầu tiên thuộc đề án 11660 đã được khởi công ở Zelenodolsk vào cuối năm 1988, tuy nhiên, sau thời gian không dài đã bất ngờ bị dừng đóng và tháo dỡ. Khi cảm thấy (cảm nhận) được sự đóng băng (lạnh nhạt) đối với đề án 11660 của lãnh đạo Hải quân, Phòng thiết kế Zelenodolsk đã thiết kế một số phiên bản nâng cấp tàu. Như đã chế tạo phương án xuất khẩu – đề án 11661 “Gepard” – có sự khác biệt nhỏ so với phiên bản cuối cùng được trình lên Hải quân. Thay cho 2 modul tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” đã bố trí tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” và 2 pháo tự động 30mm AK-630 với đài ra đa định vị điều khiển “Vưmpel”. Ngoài các vũ khí trên, tàu còn có RBU-6000 và 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm, bố trí thay cho tổ hợp tên lửa chống ngầm. Trong vai trò khí tài phát hiện (mục tiêu), trên tàu lắp: đài ra đa định vị “Pozitiv” trong mũ chụp vô tuyến trong suốt, đài ra đa định vị đạo hàng “Volga”, đài ra đa định vị chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Harpoon-Bal”, tổ hợp thủy âm “Zarnitsa” với các ăng ten lai và dưới sống tàu. Tàu có cấu trúc boong trơn truyền thống của tàu chống ngầm loại nhỏ. Thân tàu được chia thành 10 ngăn nước. Các thượng tầng được chế tạo từ hợp kim nhôm – magie. Thiết bị năng lượng chính của tàu – tuabin khí-diezel hai trục. Một động cơ diesel tốc độ quay trung bình qua bộ truyền động phức hợp đảm bảo toàn bộ các chế độ hành trình, còn 2 tuabin khí (trên 1 trên mỗi trục) đảm bảo tốc độ tối đa 28 hải lý. Theo đề án này, đã bắt đầu đóng các tàu trên xưởng mang tên M.Gorki ở Zelenodolsk. Chương trình đóng tàu Tàu tuần tra đề án 11660 được khởi công trên xưởng Zelenodolsk vào cuối năm 1988, nhưng nhanh chóng bị dừng đóng và tháo dỡ lấy kim loại. Tàu thứ 2 – SKR-200, được đóng theo đề án xuất khẩu có sự thay đổi 11661, đã được khởi công ở đó chỉ vào năm 1993. Ban đầu, dự kiến đóng toàn bộ loạt các tàu tuần tra này cho Hải quân Ấn Độ, nhưng hợp đồng đã bị hủy, việc đóng tàu bị đóng băng. Sau đó, việc đóng tiếp tàu được thực hiện nhờ sự đỡ đầu của nước Cộng hòa Tartastan và nó đã gia nhập biên chế năm 2002 dưới tên gọi “Tartastan”. Tàu thứ ba – SKR-201 – tới thời điểm này đang nằm trên xưởng trong tình trạng chưa hoàn thiện. Tình hình đến năm 2005 Tàu duy nhất thuộc đề án 11661 – tàu tuần tra “Tartastan” – gia nhập biên chế phân hạm đội Caspi, ở đó nó làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực bờ biển Nga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười, 2012, 12:08:10 am Bản vẽ thiết kế tàu tuần tra "Tartastan" đề án 11661
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11660_4.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11660_3.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11660_2.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11660_0.jpg) Tàu trang bị thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu Ural - 2x2; thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống ngầm "Medvedka" - 2x4; tổ hợp pháo tên lửa phòng không "Kortik" - 2; thiết bị pháo 76,2mm AK-176; RBU-6000 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười, 2012, 12:10:46 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11660_09.jpg) Thiết bị pháo 76,2mm ở mũi tàu tuần tra "Tartastan" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11660_10.jpg) Thiết bị 4 ống phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu "Ural" Tóm tắt lịch sử phục vụ + thân tàu số 1; số hiệu xưởng 950; khởi công trên xưởng mang tên Gorki (Zelenodolsk) cuối năm 1988, nhanh chóng dừng đóng và tháo kim loại. + SKR-200; số hiệu xưởng 951; từ 3 tháng 10 năm 1996 là “Tartastan”; 15 tháng 9 năm 1992 ghi tên vào danh sách Hải quân; năm 1993 khởi công trên ụ xưởng “Zelenodolsk” ở Tartastan; năm 1994 dừng đóng nhưng sau nỗ lực lớn, từ năm 1996 đã tiếp tục đóng; 12 tháng 7 năm 2002 gia nhập biên chế phân hạm đội Caspi; tháng 8 năm 2002 tiếp nhận tham gia các cuộc diễn tập đánh trả sự tấn công từ các phần tử khủng bố (chống khủng bố). + SKR-201; số hiệu xưởng 952; 20 tháng 5 năm 1993 ghi tên vào danh sách Hải quân và năm 1994 khởi công trên ụ xưởng “Zelenodolsk” ở thành phố Zelenodolsk (cộng hòa tự trị Tartastan). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười, 2012, 01:32:44 am Các thông số kỹ thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 1500 + hoàn toàn: 1930 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 102,1 (93,5) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 13,76 (13,1) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,4 (3,3) Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí-diezel + 2 tuabin khí tốc độ tối đa (hoàn toàn), tổng công suất, sức ngựa (kW): 26 000 (19 100) + 1 động cơ diesel tốc độ quay trung bình, công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820) + các máy phát điện – diesel, công suất (kW): 3x600 Tốc độ, hải lý + tối đa: 28 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3500 (14) Thời gian hoạt động, ngày: 15 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 109 (21). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười, 2012, 01:38:06 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng KT-184 cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran”: 2x4 + tên lửa chống tàu 3M24 “Uran” (SS-N-25): 8 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 1x2 + tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 20 Pháo + thiết bị pháo 76,2mm AK-176: 1x1 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 2x6 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm DTA-533: 2x2 Chống ngầm + RBU-6000: 1x12 + RBG-60: - Mìn + có thể mang theo mìn ở boong trên: 20. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười, 2012, 01:41:52 am Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: - Đài ra đa phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Pozitiv” (Cross Dome) Đài ra đa đạo hàng: 1x”Volga” (Palm Frond) Đài thủy âm: “Zarnitsa” Các khí tài tác chiến điện tử: - Các tổ hợp bắn nhiễu: 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” Đài ra đa điều khiển hỏa lực + 1x”Harpoon-Bal” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” + 1x2R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” + 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo và tổ hợp pháo phòng không Các khí tài thông tin liên lạc: - Đài ra đa hội thoại: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười, 2012, 12:06:06 am Tàu tuần tra “Novik” – Đề án 12441 “Grom” (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/12441.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 1 Các biến thể + 12440 “Grom” – đề án kỹ thuật cơ sở tàu tuần tra đa năng (1991) + 12441 “Grom” – đề án sản xuất loạt tàu tuần tra đa năng (1997) + 12441-U – đề án tàu huấn luyện được thiết kế lại (2008) Những năm 1980, ở Liên Xô đã thiết kế tàu tuần tra đề án 11540, được sử dụng để hoạt động trên biển và thực tế để thay cho các tàu đề án 1135. Khi đó, câu hỏi chế tạo tàu tuần tra mới hoạt động ở khu vực gần bờ đã trở nên mở. Liên quan với đó, ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã bắt đầu các công việc chế tạo tàu tuần tra loại vừa, như sự phát triển đề án 1124, được thiết kế dưới số hiệu 11660 và mã số “Gepard”. Mặc dù tàu này có toàn bộ các danh pháp vũ khí “tiêu chuẩn”, nhưng khả năng chống ngầm của nó thấp hơn so với yêu cầu. Cũng trong khoảng thời gian này (giữa những năm 1980) đã xuất hiện đề án mang tính cạnh tranh số 12440 (mã số “Grom”) của Phòng thiết kế “Almaz” với tên lửa chống tàu và trực thăng mạnh hơn. Tổng công trình sư của tàu là L.V.Elski, sau đó – V.Borisov. Ban đầu, đề án 11240 sẽ là sự phát triển của tàu tuần tra đề án 11660 được đóng cho Hải quân Ấn Độ, thân tàu và thượng tầng được chế tạo với sự sử dụng vật liệu công nghệ “Stels”. Trong sự tương ứng với các yêu cầu nhiệm vụ kỹ chiến thuật, tàu có lượng choán nước tương đối lớn (gần 2900 tấn), bắt buộc trang bị chỉ theo một hàng trục và tập trung vũ khí trong 2 nhóm: ở phần cuối mũi tàu trước thượng tầng và ở khu vực hang ga trực thăng. Bố cục tương tự, từ quan điểm sức chiến đấu, không được thừa nhận là thành công, mặc dù, khi có vũ khí mạnh như tổ hợp tên lửa chống tàu, đồng thời tên lửa chống ngầm và trực thăng, theo hàng loạt các tham só, nó có thể cạnh trạnh với các lớp tàu tương tự của nước ngoài. Đề án kỹ thuật 12440 được phê duyệt năm 1991 và năm 1994 đã hoàn thành hiệu chỉnh và nó nhận số hiệu mới 12441. Việc thiết kế đã kéo dài, nguyên nhân là tình hình khủng hoảng ở Nga, bắt đầu sau khi Liên Xô tan rã. Nhiều thiết bị và tổ hợp đã được làm từ “số không”, bởi vì phần lớn những nơi cung cấp tới thời điểm đó đều gần nước láng giềng. Sau đó, xuất hiện rằng đề án này có lượng choán nước lớn đáng kể so với yêu cầu và nó bắt đầu “chống lại” tàu tuần tra khu vực biển đề án 11540, việc đóng loạt đã được thực hiện (sự thật là trong kết quả cuối cùng, gia nhập biên chế chỉ có một tàu). Cuộc tranh cãi giữa các tác giả 3 đề án này đã diễn ra và thuần túy mang tính chính trị, và cuối cùng, đã khởi công 2 tàu giống nhau theo một lớp, nhưng khác nhau theo đề án: đề án 11661 “Zelenodolsk” và đề án 12441 “Zalmaz”. Thêm vào đó, đề án sau theo lượng choán nước lớn hơn “Gepard” đáng kể và trở thành lớp tàu lớn tương đối duy nhất được khởi công ở Nga trong những năm 1990 sau khi Liên Xô tan rã. Tàu tuần tra đề án 12441 được sử dụng để tuần tra dài ngày với mục tiêu dò tìm tàu ngầm địch, bảo vệ thuyền và tàu khi hành quân trên biển, đồng thời bảo vệ bờ biển. Vũ khí của tàu tuần tra gồm có: 6 thiết bị phóng thẳng đứng cho tên lửa chống tàu “Oniks” bố trí trên thượng tầng theo cách thành hang ga trực thăng; 4 thiết bị phóng thẳng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Poliment”; 2 thiết bị phóng 4 thùng cho tổ hợp chống ngầm “Medvedka”; thiết bị pháo đa năng đơn giản hóa 100mm A-190 (bộ phận pháo 100mm trên tháp pháo AK-176); tổ hợp pháo phòng không 30mm “Roi” với 2 khối quay 6 nòng. Để tìm tàu ngầm có hang ga để trực thăng chống ngầm Ka-27 đóng thường xuyên. Trang bị vô tuyến điện được giới thiệu là đài ra đa định vị ba tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M2”, đài “Redut” với 4 lưới ăng ten mảng pha để điều khiển bắn tổ hợp tên lửa phòng không, tổ hợp thủy âm “Zvezda-1” với các ăng ten trong mũ chụp hình cầu và ăng ten lai, đồng thời các khí tài điều khiển hỏa lực, tác chiến điện tử, thông tin liên lạc và nhận dạng. Tàu có thân dạng boong trơn với thượng tầng, kéo dài (chiếm) toàn bộ chiều rộng. Các tường thẳng của thường tầng được làm nghiêng và có hình dáng đặc biệt để giảm sự phát hiện bằng ra đa định vị. Thiết bị năng lượng chính – tuabin khí với 2 tuabin khí hành trình và 2 thiết bị tuabin khí tăng lực. Nó cho phép đạt tốc độ tối đa 31 hải lý, trong tốc độ tiết kiệm năng lượng, nó đảm bảo tầm bơi xa 4800 dặm. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười, 2012, 12:07:45 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/novik-2003.jpg) Sau nhiều năm đóng với tốc độ chậm chạp tàu đầu tiên đề án 12441, toàn bộ các công việc trên tàu bị dừng, sau đó, hầu như chấm dứt. Việc này được giải thích là sự không phù hợp của nó khi tiếp nhận vào cuối những năm 1990 của tập đoàn đóng tàu. Tàu có kích thược rất nhỏ đối với tàu tuần tra trên khu vực đại dương, cùng với đó, lại quá lớn và đắt đối với tàu tuần tra gần bờ. Sau khi khởi công tàu đầu tiên thế hệ mới đề án 22350 (tàu chiến ”Đô đốc Hải quân Liên Xô Sergei Gorshkov”) và đề án 20380 (tàu “Steregusi”, việc đóng tàu “Novik” đã chính thức dừng lại. Tuy nhiên, tới năm 2001, tình hình đất nước đã thay đổi đáng kể, trong đó, nhờ việc tăng vọt của giá dầu, khí và nguyên liệu xuất khẩu khác của Nga. Số phận của tàu đã được xem xét lại – quyết định đóng tiếp như tàu huấn luyện để huấn luyện sĩ quan và đồng thời như tàu thí nghiệm, trên đó sẽ xử lý các mẫu vũ khí và khí tài kỹ thuật mới của Hải quân. Đề án thay đổi 12441-U được thiết kế gấp rút. Khi đó, tên gọi mang tính truyền thuyết được thay bằng “Borodino”. Tàu huấn luyện đề án 12441-U giữ lại thân tàu và thiết bị năng lượng của tàu tuần tra đề án 12441, nhưng mất đáng kể bộ phận vũ khí tên lửa và vô tuyến điện. Các buồng trong tàu được làm lại để bố trí các học viên Hải quân thuộc các cơ quan huấn luyện. Trong cùng thời gian đó sẽ giữ lại các buồng và các bệ để thí nghiệm các mẫu vũ khí mới. Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên và duy nhất thuộc đề án tàu tuần tra 12441, nhận tên gọi theo truyền thuyết “Novik” được khởi công ở xưởng “Yantar” tại Kaliningrad 26 tháng 7 năm 1997. Việc đóng tàu diễn ra chậm chạp do tình hình tài chính tồi và hầu như là dừng đóng. Trong kết quả cuối cùng, đã tiếp nhận quyết định chấm dứt đóng (đến năm 2000, “Novik” đã đóng được 20% về mặt kỹ thuật) trong dạng đề án không có triển vọng, còn tàu không được đóng sẽ bị tháo kim loại. Theo kế hoạch đóng, sẽ có thêm 2 tàu – “Ryurik” và “Peresvet” nhưng đơn đặt mua đã bị hủy. Năm 2001, tình hình đã thay đổi đáng kể và tàu đã đã được quyết định đóng tiếp, nhưng theo đề án thay đổi 12441-U trong vai trò tàu huấn luyện với dự kiến gia nhập biên chế năm 2008 dưới tên gọi mới “Borodino”. Tình hình đến năm 2008 Không có thông tin về tiến độ đóng tàu. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười, 2012, 12:19:53 am Hình vẽ và bản vẽ tàu tuần tra đề án 12441
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/12441_04.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/12441_05.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/12441_draw2.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/12441_02.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười, 2012, 12:21:34 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/12441_draw3.jpg) Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 12441 1. Ăng ten đài thủy âm dưới sống tàu 2. Thiết bị pháo đa năng 100mm A-190 3. Các thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không “Poliment” 4. Tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M1-2 “Roi” 5. Thiết bị 4 ống phóng của tổ hợp tên lửa chống ngầm “Medvedka” 6. Ăng ten đài ra đa định vị điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa chống tàu 7. Ăng ten đài ra đa định vị điều khiển bắn pháo và tổ hợp pháo phòng không 8. Đài ra đa định vị 3 tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp MR-750 “Fregat-M2” 9. Ăng ten đài ra đa định vị điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa chống ngầm 10. Các thiết bị phóng thẳng của tổ hợp tên lửa chống tàu “Oniks” 11. Bãi cất hạ cánh cho trực thăng chống ngầm Ka-27 Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Novik”; từ năm 2001 là “Borodino”; số hiệu xưởng 1900; 16 tháng 7 năm 1997 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 7 năm 1997 khởi công trên ụ xưởng “Yantar” tại Pribaltic tại Kaliningrad; nhanh chóng dừng đóng và năm 2000 đã chuẩn bị tình trạng kỹ thuật 20%; năm 2007 tiếp nhận quyết định đóng tiếp theo đề án 12441-U trong vai trò tàu huấn luyện. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười, 2012, 12:28:19 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 2560 + hoàn toàn: 2900 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 121 (116) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 14,1 (-) + lượng mớn nước cao nhất (trung bình): 9,3 (-) Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí + 2 tuabin khí hành trình M-62M, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820) + 2 tuabin khí tăng lực M-90, tổng công suất, sức ngựa (kW): 37 000 (27 200) + 1 máy phát điện diesel DG-800, công suất, kW: 800 + 3 máy phát điện diesel DG-600, công suất, kW: 3x600 1 trục; 1 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 31 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 4800 (12)/2500(20) Thời gian hoạt động, ngày: 30 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 210 (35). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười, 2012, 12:29:37 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng thẳng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Oniks”:6x3 + tên lửa chống tàu 3M55 “Oniks” (SS-N-28 “Switchblade”): 18 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng thẳng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Poliment”: 4x8 + tên lửa phòng không “Poliment”: 32 Tên lửa chống ngầm + thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống ngầm: 2x4 + tên lửa chống ngầm K77R “Medvedka”: 8 Pháo + thiết bị pháo đa năng 100mm A-190: 1x1 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M1-2 “Roi” 1x12 Vũ khí đường không + trực thăng chống ngầm Ka-27 (“Helix-A”):1. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười, 2012, 12:29:58 am Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Tron-Diplomat” Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-750 “Fregat-MA” (Top Plate) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Vaigach” Đài thủy âm: MGK-335MS “Zvezda-1” Các khí tài tác chiến điện tử: “Vưmpel-R2” Các tổ hợp bắn nhiễu + 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” + 2x2 thiết bị phóng PK-2 Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Harpoon” cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Oniks” và pháo 100mm + 1x”Redut” cho tổ hợp tên lửa phòng không “Poliment” + 2x – cho tổ hợp tên lửa chống ngầm “Medvedka” + 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo và tổ hợp pháo phòng không Tổ hợp đạo hàng: “Beisur-M” Các khí tài thông tin liên lạc: - Đài ra đa định vị hội thoại: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 12:45:02 am Tàu tuần tra đa năng “Steregusi” – Đề án 20380 – Lớp “Steregushchy” (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_14.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 1+4 Các biến thể + 20380 – đề án cơ sở tàu tuần tra đa năng khu vực biển gần bờ (corvet – năm 2007) + 20382 “Tigr” – phiên bản xuất khẩu của đề án 20380 với sự đơn giản hóa (giản tiện, rút gọn) thành phần vũ khí (đề án). Tàu tuần tra đa chức năng mới của Nga, hoạt động ở khu vực biển gần bờ đề án 20380 được thiết kế cho Hải quân trong nước ở Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz” – thành phố Sanit Peterburg. Việc chế tạo nó gặp những khó khăn xác định, liên quan với việc thực hiện đề án tàu tuần tra tương tự trước đó thuộc đề án 12441, bởi vì tàu đầu tiên “Novik”, đã được khởi công năm 1997 trên xưởng “Yantar” tới thời điểm đó không được đóng xong. Liên quan với đó, sau khi thực hiện cuộc thi đua mà trong đó Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz” đã chiến thắng rõ ràng, chỉ huy Hải quân Nga đã ra quyết định bắt đầu đóng các tàu đơn giản và rẻ hơn thuộc đề án 20380 – được phân loại thành tàu tuần tra khu vực biển gần bờ (corvet – tàu tuần duyên – trước đó, trong Hải quân Liên Xô không có lớp tàu này, còn các tàu cùng loại được phân loại như tàu tuần tra). Sự phối hợp khoa học quân sự trực tiếp trong việc chế tạo tàu này được thực hiện bởi Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ quốc phòng Nga. Còn tổng cộng, trong chế tạo tàu hải phòng đề án 20380 đã tham gia hơn 70 xí nghiệp công nghiệp, thiết kế và nghiên cứu – khoa học (trong đó có “Avrora”, xưởng Kalomen, xưởng đóng tàu Credne-Neva (trung Neva)….). Tàu tuần duyên đa năng đề án 20380 được sử dụng để hoạt động ở khu vực biển gần bờ thuộc Nga và làm nhiệm vụ chống lại các tàu nổi và tàu ngầm địch, đồng thời yểm trợ hỏa lực pháo cho Hải quân đánh bộ trong các chiến dịch đổ bộ đường biển qua sự tấn công bằng pháo – tên lửa vào các tàu và thuyền trên biển vào các căn cứ, khu vực tuần tra tương ứng với mục tiêu bị bao vây. Tàu có thân boong trơn bằng thép và thường tầng kéo dài toàn bộ chiều ngang thành tàu từ vật liệu composite nhiều lớp (thủy tinh dẻo nhiều lớp chống cháy và các vật liệu thiết ké trên cơ sở sợi cacbon), được chế tạo với tính toán các yêu cầu của công nghệ “stesl”. Thân tàu đề án 20380 là sự sử dụng thiết kế mới về mặt nguyên tắc và khác với sự tiếp nhận chung, là một trong số các điểm đặc biệt. Các hình dáng mới phần dưới nước của thân tàu cho phép giảm sức cản của nước khi tàu di chuyển ở tốc độ gần 30 hải lý khoảng 25%, đồng thời, công suất yêu cầu của thiết bị năng lượng chính. Kết quả là đã xuất hiện khả năng sử dụng thiết bị năng lượng công suất thấp và nhẹ hơn, dẫn tới việc giải phóng 15-18% lượng choán nước, có thể sử dụng để tăng cường tải trọng chiến đấu. Khi giữ nguyên khối lượng vũ khí và thiết bị năng lượng chính do tính toán giảm sức cản di chuyển, tốc độ tối đa của tàu đã tăng 1,5-2 hải lý. Khả năng cơ động trên biển được tăng cường của tàu đề án 20380, theo so sánh với khả năng cơ động của các tàu cùng lượng choán nước, trong những giới hạn tương tự theo độ lắc dọc cho phép tiếp nhận sử dụng vũ khí của tàu trong sóng biển mạnh cấp 5 (cao hơn 1,5-2 cấp (bal) so với các tàu cùng lớp), đặc biệt quan trọng cho trực thăng đóng trên tàu. Ở bộ phận mạn tàu hải phòng, lần đầu tiên đối với các tàu nội địa có lượng choán nước này, hang ga với bãi cất hạn cánh cho trực thăng chống ngầm Ka-27 được bố trí cùng trữ lượng nhiên liệu lớn đáng kể (gần 20 tấn). Sự chú ý đặc biệt tập trung vào bảo vệ và tăng cường khả năng sống còn của tàu. Những thành tựu mới nhất đã được thực hiện nhằm giảm sự bị phát trong phạm vi hoạt động của ra đa định vị và hồng ngoại trên cơ sở đặc điểm cấu trúc trong sự phối hợp che phủ đặc biệt, được lắp trên thân vũ khí tên lửa và các trạm ăng ten, bằng cách sử dụng các vật liệu với các tính chất hấp thụ (sóng) ra đa cao, bảo vệ cục bộ các phần riêng của thân tàu, vũ khí và các khí tài kỹ thuật – các yếu tố quyết định xuất hiện sự tạo thành trường vật lý trên bán cầu trên của tàu. Bề mặt khuyếch tán hiệu quả (EPR) vòng tròn trung bình của tàu tuần duyên giảm xuống theo so sánh với các tàu cùng lớp khoảng 3 lần, giảm xác suất tấn công công vào tàu của các tên lửa chống tàu có cánh từ 0,5 đến 1 lần. Ngoài ra, trên các tàu đề án 20380 tính toán sử dụng tổ hợp các phương pháp đảm bảo sự sống còn trong chiến đấu và khai thác sử dụng, trong đó có phòng chống cháy nổ, bảo vệ thiết kế khỏi (tác động) vũ khí địch và các biện pháp khác. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 12:48:00 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_02.jpg) Tàu đề án 20380 trang bị hệ thống kỹ thuật vũ khí phức hợp trong thành phần tổ hợp tấn công, phòng không và vũ khí chống ngầm, điều khiển chiến đấu, phát hiện, chỉ thị mục tiêu, thông tin liên lạc và phòng thủ. Vũ khí cơ bản là tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran”, trong đó có 2 thiết bị 4 ống phóng (có số đạn – 8 tên lửa Kh-35, tầm bắn 130km), bố trí ngang ở giữa thân (tương tự tàu tuần tra đề án 11540). Để phòng không, tàu trang bị modul chiến đấu của tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik-M” (ở mũi), tổ hợp tên lửa phòng không mang vác “Igla” (để phóng từ vai) và 2 thiết bị pháo 30mm AK-630M (mạn tàu). Trong đó, phiên bản nâng cấp của modul chiến đấu “Kortik” được giảm khối lượng 2 tấn và tăng tầm bắn của tên lửa lên 10km. Pháo chính của tàu được giới thiệu là thiết bị pháo đa năng 100mm A-190 với cơ số đạn 332 viên (tốc độ bắn tối đa 80 viên/phút, tầm bắn 21,3km, tầm cao – 15km). Việc điều khiển hỏa lực pháo 100mm và 30mm được thực hiện bằng hệ thống mới nhất 5P-10 “Puma”, trạm ăng ten được bố trí trên thượng tầng mũi. Hệ thống chống ngầm đồng nhất “Paket-NK” được giới thiệu là 2 thiết bị 4 ống phóng 330mm bố trí theo thành. Các ngư lôi của nó có thể được sử dụng để trực tiếp chống lại các ngư lôi bắn từ tàu địch, cũng như chống lại tàu ngầm. Đồng thời, để phát hiện và tiêu diệt các tàu ngầm có thể sử dụng trực thăng chống ngầm Ka-27 thường trực trên tàu. Trang bị vô tuyến điện của tàu, ngoài hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Sigma”, gồm có đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Furkuz-2”, đài ra đa định vị chỉ thị mục tiêu cho tên lửa “Monument-A” trong mũ chụp vô tuyến trong suốt bố trí trên cột buồm mũi, 2 đài ra đa định vị đạo hàng, tổ hợp thủy âm “Zarya-2” với ăng ten hình cầu, đài thủy âm “Minotavr-M” với ăng ten lai kéo dài, đài thủy âm phát hiện tàu ngầm “Anapa-M”, tổ hợp thông tin liên lạc tự động hóa “Ruberoid”, các khí tài tác chiến điện tử và đạo hàng. Để tự vệ khỏi các khí tài phát hiện mục tiêu của địch và các tên lửa chống ngầm, tàu trang bị 4 thiết bị phóng PK-10 của tổ hợp bắn nhiễu “Smelưi”. Để tự vệ và chống lại cướp biển hoặc người nhái, trên đề án 20380 có 2 thiết bị súng máy 14,5mm và 2 súng phóng lựu DP-64. Việc sử dụng vũ khí có thể khi sóng biển mạnh cấp 5. Để đảm bảo sự dẫn đường vô tuyến của trực thăng chống ngầm, trên nóc hang ga lắp các trạm ăng ten đài OSPV-20380. Nguyên tắc modul cấu trúc các tàu đè án này cho phép khi đóng với và nâng cấp các hệ thống và tổ hợp đang có, có thể lắp trên đó các hệ thống vũ khí và trang bị vô tuyến điện mới. Việc này giảm sự tiêu phí sản xuất và đảm bảo tiềm năng nâng cấp trong chu kỳ 30 năm của tàu. Thiết bị năng lượng chính của tàu hải phòng đề án 20380 được giới thiệu là là thiết bị diesel 2 trục, tạo thành từ 2 cặp động cơ kiểu 16D49, hoạt động qua các bộ truyền động đảo chiều tổng hợp trên 2 chân vịt bước cố định. Bốn máy phát điện diesel 22-26DG công suất 630kW mỗi máy, đảm báo yêu cầu công suất nguồn điện 380V (50Hz). Do kết quả giảm tiếng ồn máy trong thiết bị năng lượng chính, đã giảm khả năng phát hiện tàu bằng thủy âm – lần đầu tiên trong thực tế tàu nổi ở Nga đã tiếp nhận các công nghệ, được xử lý trước đó trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ cuối cùng. Về tổng thể, hiện nay vũ khí chống ngầm của tàu hải phòng đề án 20380 khác biệt ở sự đa năng, gọn, khó bị phát hiện, cấp độ tự động hóa cao. Ở tốc độ tiết kiệm năng lượng 14 hải lý (tối đa 27 hải lý), tầm bơi xa của tàu đạt 4000 dặm biển. Thủy thủ đoàn với nhóm nhân viên phục vụ trực thăng – 99 người. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 12:49:20 am Các biến thể Ngoài loạt tàu đề án 20380 cho Hải quân Nga, Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz” đã thiết kế song song phiên bản xuất khẩu của nó, nhận số hiệu đề án 20382 và mã số “Tigr”. Tàu này khác so với phiên bản cơ sở bởi sự xuất hiện vũ khí được đơn giản hóa sử dụng cho xuất khẩu và xuất hiện khả năng thay thế các hệ thống cần thiết bằng khí tài tương tự của phương Tây phụ thuộc vào yêu cầu của đối tác. Dự kiến rằng, bắt đầu từ tàu lớp “Steregusi” thứ 5, trong đề án sẽ áp dụng một số thay đổi, cụ thể, có vẻ như hướng vào vũ khí chống tàu và phòng khong. Chắc chắn rằng tổ hợp “Kortik-M” sẽ được thay bằng tổ hợp tên lửa phòng không tàm trung mới với việc lắp các thiết bị phóng thẳng (ví dị “Poliment”), còn tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” – bằng “Oniks” hoặc “Krab” cũng với thiết bị phóng thẳng. Chương trình đóng tàu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_24.jpg) Ngày 21 tháng 12 năm 2001owr xưởng đóng tàu “phương Bắc” đã khởi công tàu đàu tiên “Steregusi”. Môt thời gian sau đã khởi công thêm hai tàu trong lớp – 20 tháng 5 năm 2003 - “Soobrazitelnưi” và sau đó 2 năm - 27 tháng 7 năm 2005 - “Boiki”. Tổng cộng theo kế hoạch sẽ đóng 20 tàu đa năng đề án 20380 (theo 5 tàu cho mỗi hạm đội), trong đó, 4 trong số chúng sẽ được bàn giao cho Hải quân năm 2015. Tình hình đến năm 2005 Các tàu tuần duyên mới sẽ trở thành chủ lực của Hải quân Nga ở khu vực biển gần bờ. Hai tàu tuần duyên đầu tiên sẽ gia nhập biên chế các Hạm đội Phương Bắc và Baltic. Chúng sẽ được sử dụng để tuần tra khu vực gần bờ, các chiến dịch chống ngầm và vận tải. Tàu đầu tiên trong loạt “Steregusi” – lần đầu tiên được giới thiệu công khai từ 27 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 2007 ở Saint Peterburg trong triển lãm Hải quân lần thứ 3 dưới tên gọi xuất khẩu “Tigr”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 12:53:34 am Bản vẽ và hình vẽ tàu tuần duyên đề án 20380
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_13.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_05.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_15.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_draw_01.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 12:56:08 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_12.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_17.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_11.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_10.jpg) Tàu tuần duyên "Steregusi" đề án 20380 trong thời gian đóng. Nhìn rõ phần dưới nước và nhóm bánh lái chân vịt Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 01:03:22 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_21.jpg) Modul chiến đấu của tổ hợp "Kortik-M" ở mũi tàu tuần duyên đề án 20380 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_22.jpg) Thiết bị pháo 100mm A-190-1 ở mũi tàu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_25.jpg) Trạm ăng ten hệ thống điều khiển hỏa lực pháo 5P-10 "Puma-02" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_19.jpg) Cột buồm mũi tàu tuần duyên "Steregusi" với các ăng ten khí tài kỹ thuật vô tuyến (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_20.jpg) Cột buồm giữa với các ăng ten thông tin liên lạc Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 02:49:48 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_draw_02.jpg) Bố cục vũ khí tàu tuần duyên đề án 20380 1. Thiết bị pháo đa năng 100mm A-190 2. Modul chiến đấu của tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik-M” 3. Thiết bị 4 ống phóng của tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” 4. Các pháo phòng không tự động 6 nòng 30mm AK-630M 5. Cửa thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống ngư lôi “Paket-NK” 6. Các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-10 7. Ăng ten dưới sống tàu của đài thủy âm “Zarya-2” 8. Đài thủy âm chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp chống ngư lôi “Paket-A” 9. Đài ra đa định vị đạo hàng “Pal-N” 10. Đài ra đa định vị đạo hàng MR-231-2 11. Tổ hợp quan sát vô tuyến đa năng MTK-201M2.2 12. Ăng ten đài ra đa định vị 5P-10 “Puma” điều khiển bắn pháo và tổ hợp pháo phòng không 13. Ăng ten đài ra đa định vị “Monument-A” điều khiển bắn tổ hợp tên lửa chống tàu trong vỏ bọc vô tuyến trong suốt 14. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Furkuz-2” 15. Buồng đài thủy âm phát hiện tàu ngầm 16. Đài tác chiến điện tử tổ hợp TK-25-2 17. Hang ga cho trực thăng chống ngầm Ka-27 18. Bãi cất hạ cánh 19. Nắp buồng đài thủy âm lai dài “Minotavr-M”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 03:49:39 pm Tóm tắt lịch sử phục vụ (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/20380_24.jpg) + “Steregusi”; số hiệu xưởng 1001; 21 tháng 12 khởi công trên ụ xưởng “Phương Bắc” thuộc liên hiệp “Sudoctroitelnưi” (Đóng tàu) ở Saint Peterburg;14 tháng 5 năm 2006 hạ thủy; năm 2007 trải qua các thí nghiệm vận động trên biển Baltic; 27 tháng 6 – 1 tháng 6 năm 2007 được giới thiệu trong triển lãm Hải quân lần thứ III ở Saint Peterburg; 27 tháng 2 năm 2008 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc. + “Soobrazitelnưi”; số hiệu xưởng 1002; 20 tháng 5 năm 2003 khởi công trên ụ xưởng “Phương Bắc” ở Saint Peterburg; năm 2006 hạ thủy. + “Boiki”; số hiệu xưởng 1003; 27 tháng 7 năm 2005 khởi công trên ụ xưởng “Phương Bắc” ở Saint Peterburg. + “Stoiki”; số hiệu xưởng 1004; 27 tháng 7 năm 2005 khởi công trên ụ xưởng “Phương Bắc” ở Saint Peterburg. + “Sovershennưi”; số hiệu xưởng -; 30 tháng 6 năm 2006 (tài liệu khác là 1 tháng 7 năm 2006), khởi công trên ụ xưởng đóng tàu Amur ở Komsomol-na-Amur. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười, 2012, 11:59:39 pm Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 1800 + hoàn toàn: 2220 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 104,5 (-) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 13 + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 7,95 (-) Thiết bị năng lượng chính: diesel + 4 động cơ diesel 16D49, tổng công suất, sức ngựa (kW): 23 320 (17 140) + 4 máy phát điện diesel 22-26DG, công suất (kW): 4x630 2 trục; 2 bánh lái chân vịt 5 cánh Tốc độ, hải lý + tối đa: 27 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): gần 4000 (14) Thời gian hoạt động: 15 ngày Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 99 (-). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười, 2012, 12:00:08 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng KT-184 của tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran: 2x4 + tên lửa chống tàu 3M24 “Uran” (SS-N-25): 8 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không mang vác 9K38 “Igla” (SA-16 “Gimlet”): 8 Pháo – tên lửa phòng không (cơ số đạn) + tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Kortik-M” (CADS-N-1B): 2 trong đó + thiết bị phóng tên lửa phòng không điều khiển 9M311M (SA-N-11 “Grison”): 2x4 (32) + pháo tự động 30mm AO-18: 2x6 (3000 viên) Pháo (cơ số đạn) + thiết bị pháo 100mm A-190-01 “Universal”: 1x1 (332) + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 2x6 (3000 viên) + súng máy 14,5mm MTPU: 2x1 (-) Ngư lôi (cơ số đạn) + thiết bị ngư lôi 330mm PTZ “Paket-NK”: 2x4 (8) Chống người nhái + súng phóng lựu DP-64: 2 (240 đạn) Vũ khí đường không + trực thăng Ka-27 (“Helix-A”): 1. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười, 2012, 12:00:45 am Trang bị vô tuyến điện Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Sigma-20380” Đài ra đa phát hiện mục tiêu tổng hợp + 1x”Furkuz-2” + 1x”Monument-A” đồng thời để chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu Đài ra đa đạo hàng + 1x”Pal-N” + 2xMR-231 Đài thủy âm + “Zarya-2” dưới sống + “Minotavr-M” – lai – kéo dài + “Anapa-M” + “Paket-A” chỉ thị mục tiêu phòng thủ ngư lôi Các khí tài tác chiến điện tử: TK-25-2 Các tổ hợp bắn nhiễu: 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” Các khí tài quang điên: 4xMTK-201M2.2 Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Monument-A” cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” + 2x”Sandal-V” tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ ngoài + 1x5P-10 “Puma” cho pháo 100mm và pháo phòng không + 1xMR-123-02 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo phòng không Tổ hợp dẫn đường (đạo hàng) + “Chardash 20380” + “Syuzhet-KM” + SN-3101 dẫn đường vệ tinh + OSPV-20380 dẫn đường vô tuyến cho trực thăng Tổ hợp thông tin liên lạc + “Ruberoid” + “Brigantina” Đài ra đa hội thoại: 3x”Patrol”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười, 2012, 03:51:55 pm Tàu tuần tra loại lớn đề án 22350 http://army.lv/ru/proekt-22350/713/736 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/proekt-2235031862.jpg) Các tàu đề án 22350 được sử dụng để thực hiện các hoạt động quân sự ở khu vực biển gần và xa bờ, đồng thời giải quyết các nhiệm vụ trên đại dương. Tàu có kiến trúc nửa thùng, vũ khí tên lửa lắp chìm trong thân tàu, với thượng tầng dày, được chế tạo với việc sử dụng vật liệu composite (trên cơ sở polivinilclorid và sợi các bon) đảm bảo hấp thu và khuyếch tán sóng vô tuyến, giảm độ trường ra đa định vị cấp 2 của tàu. Phần cuối mạn tàu – sống đuôi, các đường bao thân tàu và sống mũi tàu nhọn đảm bảo cho tàu có chất lượng đi biển tốt, đáy đôi từ khoang mũi với cơ số đạn và tới buồng máy và khu vực (quan sát) mạn tàu. Trên tàu lắp các bộ giảm rung mới với các bánh lái không gập, đây là giải pháp cho phép giảm thể tích bị chiếm bởi máy móc. Khả năng đi biển của tàu đảm bảo tiếp nhận vũ khí và khí tài kỹ thuật không hạn chế khi các máy chống rung lắc làm việc ở sóng biển cấp độ 4-5. Lượng choán nước của tàu – gần 4500 tấn, chiều dài – 130 mét, chiều rộng – 16 mét, lượng mớn nước – 4,5 mét, tầm bơi xa – hơn 4000 dặm, khả năng đi biển không hạn chế. Thủy thủ đoàn – 210 người. Vũ khí (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/proekt-2235031853.jpg) Vũ khí tấn công chính của tàu tuần tra mới là tổ hợp bắn 3R-14UKSK trong 2 modul tiêu chuẩn kiểu 3S-14U1 theo 8 thùng phóng (toàn bộ cơ số đạn – 16 tên lửa) bố trí ở phần mũi trước thượng tầng. Tổ hợp có thể sử dụng đồng thời một số kiểu tên lửa phóng thẳng – tên lửa chống tàu Oniks (PJ-10 Brahmos), 3M54, 3M14, 91RTE2 (các tên lửa tổ hợp “Kalibr-NK”). Vũ khí phòng không, dự kiến, sẽ lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Poliment-Redut” và 2 modul tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Palash”. Vũ khí pháo của tàu là thiết bị pháo 130mm đơn giản hóa A-192 trong thành phần tổ hợp pháo A-192-5P010 với hệ thống điều khiển bắn 5P-10 “Puma”. Tầm bắn – 22km, tốc độ bắn – 30 viên/phút. Hệ thống có góc bắn 170/80 độ và danh pháp (khả năng sử dụng) các loại đạn rộng, cho phép nó tiêu diệt các mục tiêu trên bờ, trên biển và trên không. Hệ thống ra đa định vị điều khienr 5P-10 “Puma” có khả năng dẫn bắn đa kênh theo các mục tiêu. Vũ khí chống ngầm được giới thiệu là 2 thiết bị phóng “Medvedka-2” với mỗi thiết bị có 4 ống phóng với sự bố trí theo thành ở phần giữa thượng tầng, sau các cửa phóng. Ở mạn tàu bố trí hang ga và bãi đáp cho trực thăng để bố trí 1 trực thăng Ka-27. Thiết bị năng lượng (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/proekt-2235031851.jpg) Trên tàu tuần duyên theo kế hoạch lắp tổ hợp tuabin khí – diesel kiểu CODAG, đảm bảo hoạt động phối hợp (đồng thời) các động cơ tuabin khí và diesel trong tổ hợp tuabin khí – diesel DGTA-M55MR. Giải pháp này cho phép nhận được công suất tổng lớn và kinh tế trên tốc độ thấp bằng động cơ diesel. Bố cục các phần thử thiết bị tuabin khí – diesel sẽ nhanh chóng được bố trí trong hai khoang, các động cơ tuabin khí ở khoang mũi và động cơ diesel ở buồng máy mạn tàu, cho phép tách buồng máy thành 2 khoang không thấm nước. Trong vai trò thiết bị hành trình sẽ lắp 2 động cơ diesel ở xưởng Kolomen 10D49 theo 3825kW (5200 sức ngựa) với sự điều khiển tự động hóa, mỗi động cơ có bộ truyền động 2 tốc độ, đảm bảo hoạt động phối hợp hoặc độc lập của các động cơ diesel và tuabin với khớp composite cách âm, và hệ thống điều khiển nội (cục) bộ. Thiết bị tăng tốc sẽ được giới thiệu là 2 động cơ M90FR công suất mỗi động cơ 27 500 sức ngựa. Bằng cách này, trên 2 động cơ hành trình, tàu sẽ có công suất 10 400 sức ngựa, tương ứng với 15-16 hải lý ở tốc độ tiết kiệm năng lượng, còn ở tốc độ tối đa, khi động cơ diesel và tuabin cùng hoạt động là 64 800 sức ngựa, đảm bảo tốc độ 29 hải lý. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười, 2012, 05:11:03 pm Thông tin lịch sử Năm 1977, ở Mỹ đã triển khai đóng loạt số lượng lớn các tàu tên lửa đa năng lớp O.H.Perri, tàu đầu tiên có thiết kế modul được đóng năm 1977, mở ra thế hệ mới các tàu chiến đa năng. Sự xuất hiện của các tàu này đã dẫn tới sự thua kém rất lớn về chất của các tàu tuần tra Liên Xô và chỉ ra sự cần thiết thiết kế tàu đa chức năng mới về nguyên tắc. Ở Liên Xô, những nghiên cứu đầu tiên về hình dạng tàu tuần tra đa năng đã được thực hiện từ giữa những năm 70, đến năm 1981 ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã được giao nhiệm vụ thiết kế tàu tuần tra đề án 11540 và được phê duyệt năm 1983. Theo các nguyên nhân chính trị và kinh tế, tàu không được đóng loạt, sau khi đóng tàu đầu tiên, Liên Xô và nền quốc phòng tan rã, tàu thứ hai “Nepristupnưi” đã nổi tiếng như một trong số các tàu đắt nhất đang trong quá trình đóng gần 20 năm, nó chỉ được bàn giao cho Hải quân năm 2009 với tên gọi mới “Yaroslav Mudrưi”, tàu tuần tra thứ ba “Tuman” cũng không được đóng xong, còn tàu tuần tra thứ tư “Neuderzhimưi” bị dừng đóng trước khi khởi công. Cần nói rằng, Hải quân đã không nhận được tàu cần thiết cho họ, không một đề án nào hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của Hải quân, toàn bộ các nỗ lực chế tạo tàu đa năng trong lượng choán nước hạn chế đã dựa vào sự cần thiết chế tạo vũ khí mới trong các kích thước cơ sở - các modul với sự đồng nhất tối đa theo thiết bị phóng với các hệ thống chỉ thị mục tiêu duy nhất và bao gồm toàn bộ các hệ thống phòng không trong một chu vi thống nhất. Song song với việc thiết kế đề án 11540, các công việc tại Phòng thiết kế Zelenodolsk, ở nơi thiết kế chính các tàu tuần tra lớn của Liên Xô – Phòng thiết kế Phương Bắc cũng diễn ra công việc này. Sự khác biệt so với ở Zelenodolsk, ở Phương Bắc đã tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở thân tàu có số lượng lớn trong biên chế - đề án thành công số 1135 nâng cấp và đã lắp trên đó vũ khí hiện đại hơn. Năm 1958, Phòng thiết kế Phương Bắc nhận nhiệm vụ thiết kế tàu huấn luyện thí nghiệm dạng modul đề án 13040 có lượng choán nước 6000 tấn, Tổng công trình sư là V.I.Mutikhin. Năm 1986, đề án phác thảo đã chuẩn bị mà trên cơ sở đó, Mutikhin thiết kế đề án tàu đa năng, trang bị vũ khí dạng modul, các thiết bị phóng thẳng đa năng. Đồng thời, để đơn giản việc lắp và nâng cấp, trong bố cục modul dự kiến sẽ làm toàn bộ các hệ thống đài ra đa định vị và toàn bộ danh pháp vũ khí của tàu đa năng. Theo đề án, tàu sẽ có lượng choán nước hoàn toàn 6000 tấn, thiết bị phóng thẳng cho tên lửa chống tàu, 4x2 tên lửa chống ngầm, thiết bị phóng thẳng cho tổ hợp tên lửa tầm trung và gần, một thiết bị pháo 1 nòng 130mm, 3 tổ hợp tên pháo – tên lửa phòng không, 1 trực thăng, tổ hợp thủy âm tầm trung. Đề án đã không được chế tạo bằng kim loại, nhưng nhiều ý tưởng của nó trở thành cơ sở của đề án mới. Tới đầu những năm 90, các Viện nghiên cứu khoa học hàng đầu và lãnh đạo Hải quân đã thành lập các yêu cầu kỹ chiến thuật cho tàu đa năng tương lai thế hệ mới. Đáng tiếc, sau khi Liên Xô tan rã, nhiều công việc chế tạo các mẫu vũ khí tương lai đã chấm dứt do tài chính của Bộ quốc phòng, và nằm lại phòng thiết kế. Việc này dẫn đến sự kéo dài rất lâu các công việc theo tàu đa năng tương lai và đẩy lùi việc thực hiện đề án trong thời hạn không xác định. Đầu những năm 90, Phòng thiết kế “Almaz” đã thành công khi thực hiện và khẳng định sự liều lĩnh, nhưng có vũ khí tốt – đề án tàu tuần tra 12441 “Grom”, phát triển từ tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1244 tới tàu tuần tra đa năng, từ đó đặt một điểm mới trong sự phát triển tàu tên lửa loại nhỏ. Dưới những khẩu hiệu lớn về khôi phục Hải quân, tàu được khởi công trên xưởng đóng tàu “Yantar”, được đặt tên là “Novik”. Việc đóng tàu trong thời đại thiếu tài chính mãn tính bị sa lầy trong các công việc thiết kế thí nghiệm và nghiên cứu khoa học không được hoàn thành và đến năm 2002, xưởng chỉ thành công trong việc hình thành thân tàu không có thượng tầng, sau đó, tàu không được đóng hoàn chỉnh được quyết định chuyển loại thành tàu tuần duyên và sau đó là tàu huấn luyện “Borodino”. Như vậy hay nói cách khác, nhưng vào năm 2008, thân tàu không được đóng xong của nó, ở trên ụ nổi tiếng trước kia “Burevestnhik” đã bổ sung và bộ sưu tập những sản phẩm đóng lâu dài của xưởng. Mặc dù vậy, ở thời gian đó, yêu cầu cải tiến tàu tuần tra trở nên cấp bách và tháng 6 năm 2003, Hải quân đã phê duyệt đề án phác thảo tàu tuần tra đa năng mới, được thực hiện bởi Phòng thiết kế Phương Bắc theo đề án 22350. Đầu năm 2005, đề án được phê duyệt như tàu chiến đa năng (theo phân loại của Liên Xô là tàu tuần tra loại lớn) và 28 tháng 2 năm 2005 đã tuyên bố đấu thầu đóng tàu. Ngày 21 tháng 10 năm 2005 sau khi tuyên bố kết quả đấu thầu, đã kí hợp động với Liên hiệp xưởng đóng tàu “Phương Bắc” để đóng tàu tiên đề án 22350, mùng 1 tháng 2 năm 2006, tàu được khởi công dưới số hiệu xưởng 921, nhiệm vụ phụ trách được giao cho Dmitri Silantiev. Bằng mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân – Đô đốc Vladimir Masorin, tàu chiến được mang tên Đô đốc Hải quân Liên Xô Sergei Gorshkov”. Hạ thủy tàu được thực hiện ngày 29 tháng 10 năm 2010. Thời gia bàn giao tàu đầu tiên theo kế hoạch – năm 2011. Việc khởi công tàu thứ hai được thực hiện 26 tháng 9 năm 2009. Tổng cộng trong các kế hoạch của Hải quân sẽ đóng 20 tàu lớp này. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười, 2012, 12:59:25 am Tàu tên lửa loại nhỏ “Burya” – Đề án 1234 “Ovod” – Lớp Nanuchka-I (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234_24.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 18 Các biến thể + 1234 (Lớp Nanuchka-I) – đề án cơ sở tàu tên lửa loại nhỏ (1970) + 12341 (Lớp Nanuchka-III) – tăng cường vũ khí pháo + 1234-E (Lớp Nanuchka-II) – phiên bản xuất khẩu với thành phần vũ khí thay đổi (1980) + 12347 (Lớp Nanuchka-4) – tàu tên lửa loại nhỏ thí nghiệm để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Oniks” (1987). Tốc độ đóng lớn ở Liên Xô các tàu tên lửa loại nhỏ đề án 184-R và đề án 205, đồng thời sự tiếp tiếp nhận trực tiếp vào trang bị toàn bộ các tên lửa chống tàu hiện đại nhất đã dẫn tới việc vào giữa những năm 1960, Tư lệnh Hải quân đã xem các tàu tên lửa nhỏ này lạc hậu nhanh chóng. Vì thế, ông yêu cầu nghiên cứu thiết kế đề án tàu tên lửa loại nhỏ mới với sự tăng cường vũ khí tên lửa tấn công (do tính toán bố trí khi đó 6 tên lửa chống tàu mới P-120 “Malakhit”) và phòng không (dự kiến bố trí tên lửa phòng không tự vệ và pháo lớn hơn). Năm 1965, nhiệm vụ kỹ chiến thuật của tàu tên lửa mới được giao cho Phòng thiết kế Hải quân Trung ương “Almaz”. Tổng công trình sư của tàu, nhận mã số “Ovod” và số hiệu đề án 1234 là I.P.Pegov, còn giám sát viên chính từ phía Hải quân – Thuyền trưởng cấp 1 V.V.Dmitriev. Việc thiết kế tàu tên lửa loại nhỏ mới đã diễn ra trong bối cảnh rất phức tạp. Sự bố trí 6 tên lửa chống tàu kiểu “Malakhit” (tầm bắn 110…115km) với tổ hợp ra đa định vị mới cung cấp chỉ thị mục tiêu “Titanit”, 1 tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” và thiết bị pháo nòng đôi 57mm AK-725 với đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Bars” đã dẫn tới sự tăng mạnh lượng choán nước lên 600 tấn. Đáng chú ý sau đó rằng lần đầu tiên đối với các tàu lớp này đa dự kiến bố trí các khí tài tác chiến điện tử. Để bắn tổ hợp tên lửa chống tàu ở tầm xa tối đa, dự kiến lắp hệ thống chỉ thị mục tiêu ngoài từ các tàu và máy bay. Trong vai trò khí tài phòng thủ tích cực, trên tàu tên lửa loại nhỏ lắp các tổ hợp bắn nhiễu – 2… 6 thiết bị phóng. Để đảm bảo tốc đô như trong nhiệm vụ kỹ chiến thuật, rõ ràng cần sử dụng không chỉ động cơ diesel mà còn thiết bị năng lượng tuabin khí. Tuy nhiên, xuất hiện trong thời điểm dds là động cơ tuabin dạng M3 có kích thước rất lớn, và kết quả đương nhiên là một lần nữa lại dẫn đến sự tương lượng choán nước của tàu, đương nhiên là không thể chấp nhận được. Các tính toán đã chỉ ra rằng, thậm chí để đảm bảo tốc độ 35 hải lý yêu cầu công suất – có thể đạt đươc nhờ sự đảm bảo của ít nhất 6 động cơ diesel kiểu M-504, đồng thời cũng không thực hiện được. Thời gian đưa ra cho việc thiết kế thiết bị năng lượng chính là hạn chế và thiết kế động cơ mới (diesel hay tuabin) là không thể. Vì thế đã tiếp nhận giải pháp sử dụng trong thiết bị năng lượng 3 trục với sự hoạt động trên mỗi trục 2 động cơ M-504. Tuy nhiên, cách lắp này là miễn cưỡng chỉ trong trường hợp không có bộ truyền động phức hợp. Vì thế, xưởng “Zvezda” trong thời gian gấp vào cuối những năm 1960 đã chế tạo động cơ có khớp nối M-507 (gồm có 2 động cơ M-504, trục được liên kết qua các bộ truyền động) có 12 xilanh (!) và công suất 10 000 sức ngựa. Có thể giả thiết rằng nếu đầu những năm 1960, trước các công trình sư đã đặt ra nhiệm vị chế tạo động cơ này trong bối cảnh không gấp, nó đã được chế tạo bằng biện pháp phát triển động cơ M-504 mà không cần tăng số lượng xilanh (ví dụ bằng phương pháp tăng thể tích buồng đốt, thay đổi kích thước…). Theo các kết quả nghiên cứu đề án bởi Tư lệnh Hải quân, đã tiếp nhận quyết định về chuyển ”Ovod” từ lớp tàu nhỏ (ca nô, xuồng máy) mang tên lửa thành lớp tàu tên lửa loại nhỏ. Một cách công bằng khi nói rằng theo tiêu chuẩn “giá thành – hiệu quả” hơn “thuận lợi” theo đề án tàu tên lửa 205 trước đó. Để khắc phục sự không thuận lợi tương tự, đã tiếp nhận giải pháp gốc, mặc dù đề án 1234 khó khăn tưởng tượng được là “xuồng máy”. Đáng chú ý sau đó rằng tới giai đoạn đí, không có phương tiện nào xét về khả năng chiến đấu của nước ngoài có thể so sánh được với các tàu tên lửa loại nhỏ này. Bởi vì đề án 1234 khác biệt ở tầm bơi xa lớn, khả năng đi biển tốt và có hiệu quả điều khiển vũ khí tên lửa cao hơn. Ở phương Tây, các tàu này được gọi dưới tên “lớp Nanuchka”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười, 2012, 01:01:15 am Hình vẽ và bản vẽ tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234draw03.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234draw02.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234draw04.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234_08.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/mrk1234.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Mười, 2012, 01:05:18 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234_14.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234_07.jpg) Các tổ hợp tên lửa "Malakhit" với đài ra đa định vị "Titanit" và "Osa-M" trên tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234_05.jpg) Tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234 ra khơi trong cuộc huấn luyện tấn công Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:01:36 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234_18.jpg) Tiếp đó, đối với các đối tác nước ngoài, đã chế tạo phiên bản xuất khẩu tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234-E. Sự khác biệt cơ bản của nó so với đề án cơ sở 1234 là thay tên lửa chống tàu “Malakhit” bằng 4 tên lửa chống tàu P-20 (biến thể xuất khẩu P-15M). Từ năm 1974 đã thiết kế và hạ thủy loạn đề án 12341 (tàu đầu tiên gia nhập biên chế năm 1977) với sự tăng cường vũ khí pháo: thay AK-725 lắp pháo 76,2mm AK-176 và pháo tự động 30mm AK-630 với sự điều khiển chung từ đài ra đa định vị “Vưmpel”. Ngoài ra, 1 tàu – “Nakat”, được đóng theo đề án 12347 để thí nghiệm tên lửa chống tàu mới “Oniks”. Chương trình đóng tàu Tàu tên lửa loại nhỏ đầu tiên, nhận tên gọi “Burya”, được đóng năm 1970 ở xuongr Primorks ở Leningrad. Việc đóng các tàu nào còn được triển khai thêm ở xưởng đóng tàu Khabarovsk. Tổng cộng đến năm 1981, theo đề án này đã đóng 18 tàu tên lửa loại nhỏ (16 ở Leningrad, 2 ở Khabarovsk). Việc đóng biến thể xuất khẩu đề án 1234-E được thực hiện song song (xưởng “Vuwmpel ở Ruwbinsk, 10 tàu) và đề án nâng cấp 12341 (18 tàu) cho đến năm 1991. Tình hình đến năm 2007 Tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234 gia nhập biên chế toàn bộ 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô và được tiếp nhận tham gia tích cực trong các cuộc diễn tập, huấn luyện và bắn các tổ hợp chính. Trong thời gian một trong số các cuộc diễn tập 16 tháng 4 năm 1987, tàu tên lửa loại nhỏ “Musson” đã bị chìm trên biển Nhật Bản do trúng tên lửa chống tàu huấn luyện (39 trong số 76 người hy sinh). Cho đến thời điểm gần đây nhất, trong Hạm đội Phương Bắc còn lại tàu duy nhất trong lớp – tàu tên lửa loại nhỏ “Aisberg” (số hiệu xưởng 535), các tàu còn lại đã bị loại khỏi biên chế trước năm 2000. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:02:43 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1234draw05.jpg) Phân bố vũ khí trên tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234 1. Thiết bị phóng di động của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” 2. Đài dẫn bắn tên lửa 4R55 của tổ hợp “Osa-M” 3. Các thiết bị phóng tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit” 4. Mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp và chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Titanit” 5. Ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp 6. Đài nhận chỉ thị mục tiêu ngoài cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Malakhit” 7. Các ăng ten đài ra đa định vị hội thoại 8. Các ăng ten khí tài tác chiến điện tử 9. Thiết bị bắn nhiễu 16 ống (nòng) PK-16 10. Thiết bị bắn nhiễu 10 ống PK-10 11. Đài ra đa định vị (điều khiển) bắn “Bars” 12. Thiết bị pháo nòng đôi 57mm AK-725 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:03 am Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - tàu còn trong biên chế)+ MRK-3; từ 25 tháng 4 năm 1970 là “Burya”; số hiệu xưởng 51; 13 tháng 1 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng Primorks ở Leningrad; 24 tháng 6 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 18 tháng 10 năm 1968; năm 1969 di chuyển từ Leningrad theo hệ thống đường thủy trong nước tới Sevastopol để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 20 tháng 9 năm 1970; 24 tháng 11 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 11 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo dỡ; 24 tháng 6 năm 1991 giải thể và tháo kim loại ở Sevastopol. + MRK-7; từ 25 tháng 4 năm 1970 là “Briz”; số hiệu xưởng 52; 5 tháng 11 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 15 tháng 6 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 10 năm 1969; mùa xuân năm 1970 di chuyển từ Leningrad theo hệ thống đường thủy trong nước tới Sevastopol để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1970; 9 tháng 2 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; đầu năm 1984 di chuyển trong dạng kéo (lai dắt) từ Sevastopol qua eo biển Gibralta quanh Châu Phi tới cảng Cam Ranh (Việt Nam); 10 tháng 5 năm 1984 ghi tên vào biên chế đội tàu chiến dịch; 1 tháng 8 năm 1986 tới Vladivostoc – vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; năm 1981 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 1 tháng 8 năm 1986 đến 4 tháng 7 năm 1987 ở “Dalzavod” trải qua trung tu, khi kết thúc gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, mang đi tháo vũ khí và tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể; năm 1998 ở xưởng số 49 tại vịnh Seldevaia (thành phố Vilyuchinsk) tháo kim loại. + “Vikhr”; số hiệu xưởng 53; 21 tháng 8 năm 1967 khởi công treenuj xưởng Primorsk tại Leningrad; 25 tháng 4 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 7 năm 1970, nhanh chóng di chuyển từ Leningrad theo hệ thống đường thủy trong nước tới Sevastopol để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1971 và 1 tháng 11 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1977 di chuyển trong dạng lai dắt từ Sevastopol qua eo biển Gibralta quanh Châu Phi tới Vladivostoc; 31 tháng 8 năm 1977 ghi tên vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương, từ 4 tháng 7 năm 1987 gia nhập phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể. + “Volna”; số hiệu xưởng 54; 27 tháng 9 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 25 tháng 4 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 20 tháng 7 năm 1971; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 4 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 4 năm 1974 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; mùa xuân năm 1974 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Bắc; trong giai đoạn từ 10 tháng 8 năm 1988 đến 1 tháng 10 năm 1989 ở xưởng 177 tại Ust-Dvinsk (Daugavriva) trải qua trung tu, sau đó bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Saida dưới dạng neo đậu (thành phố Gadzhievo); 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 25 tháng 1 năm 1994 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:24 am + “Grad”; số hiệu xưởng 55; 29 tháng 11 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1972; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1972; 31 tháng 10 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983, 1985 và 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 1 tháng 11 năm 1989 đến 7 tháng 2 năm 1990 ở xưởng số 177 ở Ust-Dvinsk trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 2 năm 1994 giải thể.
+ “Groza”; số hiệu xưởng 56; 9 tháng 1 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 7 nam 1972; 31 tháng 1 năm 1973 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1973 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới biển Đen; 4 tháng 9 năm 1973 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1982 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở vịnh Karantinnaia tại Sevastopol; năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1993 tháo kim loại ở Sevastopol. + “Grom”; số hiệu xưởng 57; 1 tháng 10 năm 1969 khởi công trên ụ Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 10 năm 1972; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1973 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới biển Đen; 4 tháng 9 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1988 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất trong dạng neo đậu ở Karantinnaia tại Sevastopol; 1 tháng 6 năm 1991 tháo niêm cất và trở lại biên chế; năm 1978 và 1992 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 24 tháng 5 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1995 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Sevastopol. + “Zarnitsa”; số hiệu xưởng 58; 27 tháng 7 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 4 năm 1973; gia nhập biên chế 18 tháng 9 năm 1973; 26 tháng 10 năm 1973 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới biển Đen và gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1978, 1981, 1984, 1993, 1994 và 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; sau năm 1999 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể. + “Molnia”; số hiệu xưởng 59; 30 tháng 9 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 8 năm 1973; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1973; 7 tháng 2 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983 và 1985 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 21 tháng 10 năm 1987 đến 4 tháng 3 năm 1988 ở xưởng số 179 tại Ust-Dvinsk trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; sau năm 1999 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:42 am + “Shkval”; số hiệu xưởng 60; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 5 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế 14 tháng 6 năm 1974; 16 tháng 7 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1978 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 26 tháng 9 năm 1978 đến 22 tháng 2 năm 1980 và từ 12 tháng 12 năm 1980 đến 18 tháng 7 năm 1985 ở xưởng số 179 ở Ust-Dvinsk trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1988 loại khỏi biên ché chiến đấu, niêm cất trong dạng neo đậu lúc đầu ở Liepai, năm 1992 ở Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; sau năm 1999 loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.
+ “Zarya”; số hiệu xưởng 61; 18 tháng 10 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 18 tháng 5 năm 1974; gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1974; sau cuộc di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1982 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 11 tháng 9 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; từ 10 tháng 8 năm 1988 neo đậu ở vịnh Saida; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dowxl 1 tháng 9 năm 1944 giải thể. + “Metel”; số hiệu xưởng 62; 19 tháng 2 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad;; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 8 năm 1974 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 8 tháng 12 năm 1974; 23 tháng 10 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; năm 1982 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 28 tháng 9 năm 1990 đến 27 tháng 8 năm 1992 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyask trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 16 tháng 3 năm 1998 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể. + “Shtorm”; số hiệu xưởng 63; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 10 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 3 tháng 3 năm 1975; gia nhập biên chế 15 tháng 6 năm 1975; 21 tháng 7 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983, 1985 và 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; từ 3 tháng 3 năm 1993 ở xưởng số 33 ở Baltic để đại tu; 16 tháng 3 năm 1998 do không có tài chính đã bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể và sau đó tháo kim loại ở xưởng “Litan”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:54 am + “Raduga”; số hiệu xưởng 64; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 16 tháng 1 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 20 tháng 6 năm 1975; gia nhập biên chế 1 tháng 12 năm 1975; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983, 1985 và 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; trong giai đoạn từ 11 tháng 10 năm 1991 đến 1 tháng 10 năm 1993 ở xưởng số 33 tại Baltic trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 12 năm 1994 giải thể.
+ “Tsiklon”; số hiệu xưởng 1001; 4 tháng 6 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; 22 tháng 9 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng tại Vladivostoc; hạ thủy 24 tháng 5 năm 1977; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 4 tháng 7 năm 1987 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 17 tháng 1 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể và neo đậu ở hồ Bogorodskoe (Petropavlocv-Camchatca), ở đó bị chìm do các bộ phân thân đáy bị xuống cấp nặng; năm 1998 được trục vớt và sau đó tháo kim loại ở xưởng số 49. + “Veter”; số hiệu xưởng 69; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 2 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy 21 tháng 4 năm 1978; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1978; 23 tháng 11 năm 1978 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng, gia nhập Hạm đội Phương Bắc; năm 1980 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 9 tháng 10 năm 1986 tới 27 tháng 2 năm 1987 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyask trải qua trung tu; 1 tháng 12 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất trong dạng neo đậu lúc đầu ở vịnh Dolgo-Zapad; từ 10 tháng 8 năm 1988 ở vịnh Saida; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1995 giải thể. + (*) “Aisberg”’ số hiệu xưởng 71; 14 tháng 4 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; 11 tháng 11 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; hajthuyr 20 tháng 4 năm 1979; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1979; 1 tháng 12 năm 1979 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Trắng, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 20 tháng 9 năm 1989 đến 14 tháng 11 năm 1990 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyask trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. + “Musson”; số hiệu xưởng số 1003; 14 tháng 7 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Vladivostoc; 14 tháng 4 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 7 năm 1981; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1981; 9 tháng 2 năm 1982 gia nhập biên chế hạm đội Thái Bình Dương; 16 tháng 4 năm 1987 bị đắm ở biển Nhật Bản do trúng tên lửa chống tàu huấn luyện khi xử lý nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu (39 người hy sinh); 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:04:17 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 610 + hoàn toàn: 700 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 59,3 (54) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 11,8 (8,86) + lượng mớn nước lớn nhất: 3,02 Thiết bị năng lượng chính: diesel + 3 động cơ diesel M-507, tổng công suất, sức ngựa (kW): 30 000 (22 050) 3 trục; 3 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 35 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 4000 (12) Thời gian hoạt động: 10 ngày Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 60 (9). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Mười, 2012, 12:04:46 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng KT-120-1234 cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit”: 2x3 + tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit” (SS-N-9 “Siren”): 6 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng ZiF-123 cho tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 1x2 + tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 20 Pháo + pháo 57mm AK-725: 1x2 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp + 1x”Titanit” (Band Stand) đồng thời để chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu + 1x(Peel Pair) Các khí tài tác chiến điện tử: “Zaliv” (4 Bell Tap) Các tổ hợp bắn nhiễu + 2x16 thiết bị phóng PK-16 +4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” – không phải trên toàn bộ Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Titanit” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Malakhit” + 2x(Fish Bowl) chỉ thị mục tiêu ngoài cho tổ hợp tên lửa chống tàu + 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” + 1xMR-103 “Bars” (Muff Cob) cho pháo 57mm Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: (High Pole; Square Head; Spar Stump). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:52:05 pm Tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm MRK-5 – Đề án 1240 “Uragan” – Lớp Sarancha (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240_08-1.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 1 Biến thể: không có. Cuối những năm 1950 – đầu 1960, ở Liên Xô, nhiều chuyên gia có uy tín đã say mê một cách quá đáng các tàu với các nguyên tắc giữ vững động lực học (KDPP) khi tính toán rằng với sự hỗ trợ của nguyên tắc giữ vững động lực học sẽ thành công trong chế tạo các tàu với các tính năng chiến đấu mới một cách nguyên tắc. Sự thôi miên về tốc độ lớn là mạnh, rằng công thức sinh ra trong Chiến tranh Thế giới thứ hai đã bị lãng quên: “không thể chạy thoát khỏi máy bay”. Họ cho rằng, để giải quyết các nhiệm vụ đổ bộ, chống ngầm và tấn công, tốc độ cao đạt được bởi sự giữ vững nguyên tắc động lực sẽ mang tới hiệu quả đáng kể và ở thời điểm đó, ít người nghi ngờ về điều này. Phù hợp với đó, các công việc về tàu tên lửa nhỏ và xuồng máy tên lửa đã được thực hiện theo ba hướng chính: các tàu cánh ngầm (KPK); các tàu trên đệm không khí (KVP); các tàu – thủy phi cơ (KEP). Các công việc theo toàn bộ các hướng này thực tế đã được bắt đầu một cách đồng thời từ cuối những năm 50. Các kết quả nhận được nhanh chóng hơn cả là theo tàu cánh ngầm, bởi vì các tàu này ở một số nước đã được sản xuất. Các cánh ngầm được tiếp nhận trên chúng có thể phân chia thành ba loại chính: + bề mặt nước giao chéo, có sự tự ổn định do tính toán thay đổi lực nâng khi thay đổi diện tích ngập nước của chúng + (bề mặt) ngập nước thấp (nông), có sự tự ổn định do tính toán thay đổi lực nâng khỏi ảnh hưởng (tác động) bề mặt nước + (bề mặt) ngập nước sâu với sự ổn định bắt buộc (cưỡng bức) do tính toán tiếp nhận hệ thống điều khiển lực nâng của chúng (AUPK). Hai mẫu thiết bị cánh đầu tiên được tiếp nhận rộng rãi trong ngành đóng tàu quân sự và thế giới trong những năm 1960 và 1970, tuy nhiên, các tàu cánh ngầm này không có khả năng đi biển đảm bảo yêu cầu và cùng với đó, không nhận được sự phổ biến tiếp theo. Sự tiếp nhận chính của tàu cánh ngầm với bề mặt ngập nước thấp và bề mặt nước bắt chéo bằng cánh trong hàng hải dân sự được sử dụng trên các tuyến giao thông trên sông, hồ và biển gần bờ: đây là các tàu dân sư Liên Xô lớp “Raketa” và “Kometa”, xuồng máy Thụy Điển “Supramar”, xuồng máy quân sự, đã được đóng ở Đức từ trong giai đoan Chiến tranh Thế giới thứ hai (VS-6, VS-7, TS-6, VS-8), các xuồng máy biên phòng Liên Xô đề án 125-A… Sự quan tâm lớn hơn cả của các chuyên gia quân sự nhờ khả năng duy trì tốc độ cao khi song biển lớn đáng kể là các tàu trên hệ thống điều khiển cánh đồng tự động. Trong những năm 1960 – 1970, ở nước ngoài, chủ yếu là Mỹ, đã bắt đầu thực hiện các nghiên cứu rộng rãi về xử lý di chuyển trên các cánh ngầm ngập nước sâu với sự tiếp nhận hệ thống điều khiển tự động. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:52:38 pm Tháng 7 năm 1963, theo sáng của Phòng thiết kế số 5 (hiện nay là Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz”) với sự tham gia của các chuyên gia Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ quốc phòng, Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov, Viện khí động lực trung ương, Viện hàng không Moskva và Viện nghiên cứu khoa học “Elektropribor” đã cùng tiến hành cuộc hội thảo khoa học, làm việc về các vấn đề hệ thống điều khiển cánh ngầm tự động. Trong cuộc hội thảo này đã xác định danh sách và mức độ tham gia của các tổ chức khác nhau trong các cuộc thí nghiệm, liên quan với chế tạo tàu chiến với hệ thống điều khiển cánh ngầm tự động. Sau cuộc hội thảo, bằng kết quả nhận được, tương ứng với Quyết định của Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu, tháng 2 năm 1964, Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz” đã được giao nhiệm vụ thiết kế tàu thí nghiệm trên hệ thống điều khiển cánh ngầm tự động dưới mã số “Uragan”. Tổng công trình sư của đề án là V.M.Burlakov, giám sát viên chính từ Hải quân – A.A.Ostashko (theo các tài liệu khác – Thuyền trưởng cấp 1 A.I.Kosorukov). Ban đầu, đề án được thiết kế như phiên bản tàu tên lửa loại nhỏ “Ovod” (đề án 1234) và mang số hiệu 1234-AUPK. Tuy nhiên, tháng 11 năm 1966, liên quan với sự khác biệt đáng kể về nhiệm vụ kỹ chiến thuật chính so với đề án 1234, nhó nhận số hiệu mới 1240.
Đề án rất phức tạp và số lượng lớn các vấn đề lần đầu phải giải quyết. Cũng trong năm 1964, đã tiếp nhận quyết định của Bộ Công nghiệp đóng tàu về thiết kế tàu thí nghiệm của Hải quân phiên bản dân sự trên hệ thống điều khiển cánh ngầm tự đọng “Typhoon” (đề án 1233). Bởi vì nhà thiết kế thuyền “Typhoon” cũng được giao cho Phòng thiết kế “Almaz”, thời gian thiết kế nó nhanh hơn so với “Uragan”, ban đầu dự kiến xử lý các câu hỏi khí động lực của các cánh ngầm, hình dáng than, nguyên tắc truyền động công suất từ động cơ tới động cơ, xử lý hệ thống điều khiển tự động cánh ngầm trên “Typhoon”, khi tính toán mô hình bán thiên tàu cánh ngầm “Urgan”. Trong mức độ cao nhất, việc này không làm được thành công, tuy nhiên bộ phận các câu hỏi được xử lý trong đề án 1233, như hệ thống điều khiển tự động cánh ngầm, các bộ truyền động góc công suất từ động cơ tới bánh lái chân vịt, hệ thống thủy lưc…. đã chỉ ra có ích đối với thiết kế tàu cánh ngầm Uragan. Do đề án 1240 là tàu chiến, trên tàu, theo nhiệm vụ kỹ thuật được giao cho Viện nghiên cứu khoa học trung ương thuộc Bộ quốc phòng, cần thiết bị trí các loại vũ khí pháo, tên lửa (chống tàu và phòng không) hiện đại (vào thời kỳ đó), đồng thời trang bị vô tuyến điện. Vũ khí gồm có 2 thiết bị phóng đôi tên lửa chống tàu “Malakhit”, với tổ hợp chỉ thị mục tiêu “Dubrava”. Tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” và pháo tự động 6 nòng 30mm AK-630M với đài ra đa định vị điều khiển “Vưmpel”. Toàn bộ hàng loạt với các yêu cầu tầm bơi xa, tốc độ di chuyển và khả năng cơ động trên biển đã dẫn tới rằng lượng choán nước hoàn toàn theo thiết kế của tàu đã hơn 400 tấn. Các tàu với sự tự động điều khiển cánh ngầm có lượng choán nước như vậy trong lịch sử ngành đóng tàu thế giới thực tế còn chưa có. Các tính toán đã chỉ ra rằng để đảm bảo mở chế độ hoạt động trên cánh ngầm yêu cầu công suất động cơ lớn đáng kể, không thể thực hiện (không thể chấp nhận) được đối với bộ truyền động góc thường tương tự của tàu cánh ngầm “Typhoon”. Vì thế đối với tàu tương đối không lớn này, lần đầu tiên đã thiết kế và tiếp nhận các động cơ tuabin khí M-10 (trên cơ sở động cơ hàng không NK-12) công suất 18 000 sức ngựa, còn để đảm bảo truyền động công suất – truyền động góc khác thường với sự chia đôi công suất trên các chân vịt kéo và đẩy bố trí trên một khoang. Trong mục đích đơn giản hóa tối đa khả năng của tàu, Phòng thiết kế Hải quân trung ương đã thực hiện tiếp nhận hàng loạt các giải pháp phi truyền thống và các thiết kế mới. Như, trong vai trò vật liệu than mới đã sử dụng vật liệu mới theo thời gian đó – hợp kim magie-nhôm có độ cứng cao AMg-62T1, không yêu cầu nhiệt luyện sau khi hàn, từ đó đặc biệt đối với tàu này đã chế tạo các tấm ép theo công nghệ hàng không. Thiết bị cánh được chế tạo từ hợp kim titan 48OTZV (các cánh titan trên tàu cánh ngầm nước ngoài không được tiếp nhận). Các hệ thống tàu và ống xả nước được chế tạo từ hợp kim titan, ống dẫn nước ngọt và ống quạt – từ AMg. Để giảm khối lượng các dây cáp và thiết bị điện, trên tàu lần đầu tiên tiếp nhận mạng điện mang theo với dòng điện ba pha 380V và tần số 400Hz. Đặc biệt đối với tàu đã thiết kế nguồn năng lượng điện được đơn giản hóa (làm nhẹ) – các máy phát điện tuabin khí GTG-100. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:53:38 pm Đặc biệt đáng chú ý, tổ hợp lớn các công việc theo lựa chọn, xử lý và bố trí trên tàu các thiết bị cánh và hệ thống điều khiển cánh ngầm. Đã tiếp nhận hệ thống thiết bị cánh mũi mới, có ngoài các cánh có độ ngập nước sâu và các bộ phận cắt chéo bề mặt nước, cho phép “bảo hiểm” hệ thống tự động và giảm xác suất các tình huống tai nạn khi hệ thống gặp sự cố bất ngờ trong thời gian tàu di chuyển bằng cánh ngầm. Tới thời điểm đó, các tính toán đã chỉ ra rằng đối với sự ổn định khi di chuyển cho tàu có lượng choán nước này trên sóng là không đủ lực từ các cánh tà. Vì thế đã tiếp nhận giải pháp thiết kế khác thường – tiếp nhận hoàn toàn các cánh ngầm quay, cho phép tăng một số lần lực sử dụng để ổn định khi di chuyển.
Để kiểm tra các hệ thống thiết kế mới này, đồng thời nâng cấp hoàn toàn hệ thống khí động lực của tàu tương lai đã xây dựng mô hình tự hành LK-12, các thí nghiệm của nó đã chứng minh tính chính xác của các giải pháp đã lựa chọn. Nhưng các vấn đề mà với nó, đã diễn ra sự va chạm cho nhà thiết kế khi thiết kế thiết bị cánh, có vẻ như không chỉ các câu hỏi về hệ thống khí động lực. Lượng mớn nước của tàu cùng với cánh ngầm là hơn 8 mét, vì thế, với mục tiêu tăng cường sự định chuẩn, đảm bảo khả năng di chuyển của tàu tới bến đỗ ở các khu vực nước nông nhất, đồng thời cho khả năng xem xét và sửa chữa các thiết bị cánh mà không phải đưa tàu lên ụ, cần thiết giải quyết vấn đề nâng chúng – như cánh ngầm mũi cũng như mạn tàu, có khối lượng tương ứng 17 và 23 tấn. Khi đó, cần thiết các cánh ngầm mạn tàu thực hiện hoạt động trên các bánh lái của tuyến trục, không xâm phạm tuyến hệ thống thủy lực, dầu, nước xả từ thân tàu tới các cánh. Bởi vì khi nâng các thiết bị cánh, tàu cần thiết di chuyển, ngoài ra, với sự tăng đáng kể khi nâng cánh bằng bộ hứng gió (buồm) đã tính toán thiết bị năng lượng hỗ trợ, gồm 2 tổ hợp DRA-211 công suất mỗi tổ hợp 1100 sức ngựa và 2 động cơ phụt nước. Bằng thiết bị này, tàu có thể di chuyển như nâng cũng như hạ các thiết bị cánh với tốc độ 8 hải lý và thực hiện cơ động trong các điều kiện khó khăn. Khi tính toán rằng bằng các bộ dẫn động của hệ thống và thiết bị nhiều số trên tàu đề án 1240 đã tiếp nhận các xi lanh thủy lực, trên đó sử dụng hệ thống thủy lực rất lớn, ngoài ra, để đảm bảo cần thiết hoạt động nhanh của các cánh ngầm và cánh tà, áp suất trong các hệ thống thủy lực lần đầu tiên lên đến 200 atm. Đồng thời lần đầu tiên đối với tàu có lượng choán nước này, liên quan với độ bão hòa năng lượng cao và cần thiết tiếp nhận các giải pháp linh hoạt khi tốc độ di chuyển cao, đã thiết kế hệ thống điều khiển tự động hòa thiết bị năng lượng chính và hỗ trợ với sự kiểm soát tập trung và bằng tài liệu chỉnh lý các tham số kỹ thuật chính (hệ thống “Dvina”). Sự phức tạp và bão hòa của tàu bằng các mẫu vũ khí và khí tài kỹ thuật mới nhất, đồng thời hướng tới (trong mục đích giảm khối lượng) giảm tối đa số lượng thủy thủ đoàn đã ảnh hưởng tới nguyên tắc thành lập thủy thủ đoàn. Yêu cầu cao, theo so sánh với các tàu có lượng choán nước tương tự, trình độ cá nhân, liên quan với đó, đã thực hiện tăng cường tỷ lệ sỹ quan và quân nhân nghĩa vụ cao cấp. Ngoài ra, trong mục đích thực hiện hiệu quả các công việc xem xét, sửa chữa và thao tác sau khi hoạt động đã dẫn tới thành lập đội bảo đảm kỹ thuật trên bờ, đóng trên ụ nổi được xây đặc biệt dành cho “Uragan”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:54:12 pm Chương trình đóng tàu Việc đóng tàu, thực hiện thí nghiệm và bàn giao tàu tên lửa loại nhỏ thí nghiệm đề án 1240 “Uragan” được thực hiện ở xưởng Hải quân Neva thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu, tới năm 1970, gia nhập xưởng Primorsk tại Leningrad. Để thực hiện việc đóng tàu trên xưởng đã hoàn thành tái cấu trúc hàng loạt các bộ phận khác, như đóng nhà triền mới, đồng thời thực hiện hàng loạt các công việc trang bị công nghệ, trong đó có xây dựng thiết bị hạ thủy tàu. Tàu duy nhất thuộc đề án 1240, nhận tên gọi chiến thuật MRK-5, được khởi công, sau đó hạ thủy năm 1973. Việc đóng tiếp diễn ra khó khăn và lâu dài, chỉ tới năm 1976, nó mới được đưa tới các thí nghiệm, còn gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977. Ở phương Tây, tàu tên lửa loại nhỏ này nhận tên gọi lớp Sarancha. Tình hình đến năm 2008 Tàu tên lửa loại nhỏ “Uragan” được đóng năm 1976, và sau khi gia nhập biên chế năm 1977, hoàn thành chương trình thí nghiệm đã di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đẹn, ở đó, trong thời gian vài năm đã trải qua khai thác sử dụng thí nghiệm. Dự kiến sử dụng tàu như tàu thí nghiệm và chỉ theo các kết quả thí nghiệm sẽ tiếp nhận việc chế tạo hàng loạt tàu cánh ngầm. Tàu ên lửa loại nhỏ đã chứng tỏ khả năng cơ động trên biển tốt và tốc độ cao – 60 hải lý. Việc chế tạo tàu này là thành công lớn của Liên Xô trong lĩnh vực đóng tàu với nguyên tắc hoạt động mới. Tuy nhiên khối lượng lớn các vấn đề phức tạp tập trung trên 1 con tàu không thể không ảnh hưởng tới số phận của nó. Sự phức tạp trong bảo dưỡng kỹ thuật, việc xử lý không đảm bảo các mẫu khí tài kỹ thuật riêng đã hạn chế sử dụng nó trong biên chế chiến đấu của Hải quân. Hệ thống cánh với sự điều khiển tự động hóa đã chỉ ra rất cồng kềnh vào không đáng tin cậy. Năm 1990, tàu bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị tháo kim loại. Các tàu lớp này sau đó ở Liên Xô không nhận được sự phát triển tiếp. Tóm tắt lịch sử phục vụ + MRK-5; số hiệu xưởng -; khởi công năm 1973 ở xưởng Primorsk tại Leningrad; hạ thủy năm 1973; đưa vào thí nghiệm năm 1976; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977; sau khi kết thúc chương trình thí nghiệm đã di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đen; 24 tháng 11 năm 1979 tới Sevastopol và gia nhập biên chế tiểu đoàn 116 tàu tên lửa thuộc lữ đoàn độc lập số 41 thuộc Hạm đội Biển Đen; năm 1990 bị loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; năm 1992 bị đắm sau đám cháy ở vịnh Strelets; sau đó được trục vớt và tháo kim loại ở Sevastopol. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười Một, 2012, 11:59:14 pm Bản vẽ thiết kế tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm đề án 1240
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240draw_02-1.jpg) Bố cục các khoang tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm đề án 1240 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:21 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240_03.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240_04.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240_05.jpg) Tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm MRK-5 đề án 1240 gần bến đỗ ở Sevastopol; 6 tháng 9 năm 1990 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Một, 2012, 12:04:21 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240_13.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240_17.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240_15.jpg) MRK-5 với các cánh ngầm được nâng lên gần bến đỗ ở vịnh Troitsk ở Sevastopol năm 1990 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:04 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1240draw_03.jpg) Bố trí vũ khí trên tàu tên lửa loại nhỏ cánh ngầm đề án 1240 1. Thiết bị phóng di động của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” 2. Đài dẫn bắn tên lửa 4R33 của tổ hợp “Osa-M” 3. Thiết bị phóng đôi cho tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit” 4. Mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp và chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Dubrava” 5. Mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp 6. Mũ chụp đài ra đa định vị đạo hàng 7. Ăng ten đài ra đa định vị hội thoại “Nikhrom” 8. Cột quan sát “VK” để điều khiển tổ hợp pháo phòng không bằng tay 9. Đài ra đa định vị dẫn bắn MR-123 “Vưmpel” 10. Tổ hợp pháo phòng không 30mm 6 nòng AK-630-M Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:27 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + rỗng: 299 + tiêu chuẩn: 342 + hoàn toàn: 426 Các kích thước chính, mét + chiều dài không có cột bánh lái (theo vạch mớn nước thiết kế): 49,8 (43) + chiều dài với cột bánh lái: 56,5 + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 10,17 (9) + chiều rộng theo các cánh: 21,14 + lượng mớn nước khi di chuyển với cánh ngầm/với cánh ngầm nâng/với cánh ngầm hạ: 2,2… 2,35/2,8/8,2 Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – diesel + 2 tuabin khí M-10, tổng công suất, sức ngựa (kW): 36 000 (26 500) + 2 động cơ diesel tốc độ thấp M-401 (DRA-211), tổng công suất, sức ngựa (kW): 2200 (1620) + các máy phát điện tuabin khí GTG-100, công suất, kW: 3x100 + các máy phát điện – diesel DG-100, công suất, kW: 2x100 4 bánh lái chân vịt trong 2 cột; 2 động cơ phụt nước tốc độ thấp Tốc độ, hải lý + tối đa: 57…60 + kéo dài trên cánh ngầm: 45…50 + tiết kiệm năng lượng trên cánh ngầm: 36 + kéo dài ở tốc độ thấp: 8,5 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 702 (60)/1250 (36)/1500 (8,5) Thời gian hoạt động: 5 ngày Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 34 (7). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:53 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit”: 2x2 + tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit” (SS-N-9 “Siren”): 4 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng ZiF-122 cho tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 1x2 + tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 20 Pháo + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 1x6 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: + 1x “Dubrava” (Band Stand) đòng thời chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu + 1x- Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x- Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Dubrava” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Malakhit” + 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Osa-M” + 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho tổ hợp pháo phòng không Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhrom”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:10 am Tàu tên lửa trên đệm không khí kiểu “Bora” – Đề án 1239 “Sivuch” – Lớp Dergach (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_18.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 2 Biến thể: không có. Năm 1974, ở Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz” đã được giao nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế tàu tên lửa loại nhỏ mới một cách nguyên tắc với sự ổn định nguyên tắc động lực – tàu trên đệm không khí kiểu đề án 1239 (mã số “Sivuch”). Tổng công trình sư là L.V.Elski, giám sát viên chính từ Hải quân lúc đầu là Thuyền trưởng cấp 1 V.A.Litvienko, sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 Yu.N.Bogmolov. Tàu tên lửa trên đệm không khí đề án 1239 được chế tạo như sự phát triển đã có trong Hải quân Liên Xô – các tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234 và 12341. Kinh nghiệm tiếp nhận các tàu này trong phục vụ chiến đấu ở Địa Trung Hải đã chỉ ra rằng, các tàu với cách kích thước và thân tàu thiết kế truyền thống bị hạn chế trong việc bố trí vũ khí. Vì vậy, đề án 1239 đã được chế tạo trong dạng bộ giảm chấn với boong lớn, cho phép giải quyết vấn đề khó khăn và đảm bảo bố trí đầy đủ trang bị vũ khí mạnh, còn thủy thủ đoàn – bằng các điều kiện sinh hoạt thuận tiện hơn. Cùng với đó, tàu có thiết kế này phải có khả năng cơ động trên biển tốt. Khi chế tạo “Sivuch”, Phòng thiết kế Hải quân trung ương “Almaz” đã tiếp nhận rộng rãi kinh nghiệp ngành công nghiệp đóng tàu Liên Xô, có được khi đóng loạt tàu đổ bộ đệm không khí đề án 1232 (“Dzheiran”), đề án 12322 (“Zurb”)… Thân tàu tên lửa mới được chế tạo từ hợp kim nhôm. Thiết kế được giới thiệu là hai thân hẹp, được đậy lại bằng bệ (đáy) có các kích thước 64x18 mét, không khí được bơm vào giữa chúng, còn đằng trước là màn chắn đàn hồi đặc biệt. Bằng cách này, tàu đề án 1239 sử dụng bệ (đáy) khí động lực trong dạng bộ giảm chất với đệm khí tĩnh học (tên gọi các của thiết kế này – tàu với hang/hốc/tổ ong không khí). Thiết bị năng lượng chính được chế tạo hỗn hợp: 2 động cơ diesel M-504 công suất 3300 sức ngựa, mỗi động cơ được sử dụng để tạo thành đệm không khí, thêm 2 động cơ diesel M-511A theo 10 000 sức ngựa, được sử dụng cho tốc độ tối đa. Sự di chuyển được đảm bảo bằng bánh lái chân vịt tiếp đôi, được bố trí trên hai cột hạ thấp và 2 bánh lái chân vịt trên các trục ở bộ phận thân mạn tàu. Nhờ thiết kế khác thường của thân tàu trong sự kết hợp với tổ hợp di chuyển, tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1239 có chất lượng đóng tàu rất hiếm có (độc nhất). Đáng chú ý đầu tiên là liên quan tới sự biến đổi bệ khí động lực và khả năng sử dụng thiết bị động cơ – di chuyển trong 36 phương án. Một mặt, tàu đề án 1239 – bộ giảm chấn này với phạm vi tốc độ 20 hải lý, mặt khác – tàu tốc độ cao trên đệm không khí có tốc độ hơn 50 hải lý. Trong cả hai trường hợp, thiết bị năng lượng diesel-tuabin khí và hệ thống di chuyển hỗn hợp, đồng thời hệ thống biến đổi tường ngăn dẻo cho phép tàu có phạm vi chế độ hoạt động lớn lúc thường cũng như trong trường hợp khẩn cấp. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:02:13 am Vũ khí của tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1239 gồm có tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit” (2 thiết bị phóng 4 thùng bố trí theo thành tàu) với tổ hợp chỉ thị mục tiêu “Dubrava”, tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” (thiết bị phóng cơ động lắp ở mạn tàu) thiết bị pháo 76,2mm AK-176 ở mũi và 2 pháo tự động 30mm 6 nòng AK-630M. Đối với việc phát hiện mục tiêu chung, trên tàu tên lửa sử dụng đài ra đa định vị “Pozitiv”, lắp trên cột buồm trong mũ chụp vô tuyến trong suốt. Tàu đồng thời trang bị các khí tài thông tin liên lạc, đạo hàng, tác chiến điện tử và các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-10 và PK-16.
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_17.jpg) Trong các thí nghiệm, tàu đầu tiên của đề án 1239 đã đạt tốc độ hơn 50 hải lý, đã xác nhận các tính năng thiết kế và khởi công tàu các giải pháp kỹ thuật trong thiết kế. Tàu hoạt động được trên sóng cấp 8, còn khi sóng biển cấp 5-6, tàu có thể sử dụng vũ khí của mình. Thực tế, tàu tên lửa loại nhỏ này là lớn trong phân lớp của mình trong thực tế ngành đống tàu chiến đấu cao tốc trong nước (Liên Xô/Nga) và thế giới. Có hai thiết bị động cơ – di chuyển riêng tốc độ tối đa và tốc độ hành trình, có khả năng làm việc một cách riêng biệt và đồng thời, tàu đề án 1239 có thể hoạt động trong ba chế độ chính, đảm bảo thực tế 100% tốc độ trong trường hợp bất kỳ (như trong toàn bộ những năm khai thác sử dụng của tàu tên lửa loại nhỏ đầu tiên “Bora” không xảy ra trường hợp tàu quay trở về căn cứ trong dạng bị kéo). Hơn nữa, đã thực hiện được khả năng di chuyển với các động cơ tắt hoàn toàn: khi hoạt động chỉ bằng động cơ – máy tăng áp, tàu có khả năng di chuyển do tính toán thoát không khí từ đệm không khí tới mạn tàu chống lại gió (7m/s) với tốc độ 3 hải lý. Mặc dù đề án 1239 đã được duyệt đưa vào sản xuất hàng loạt, nhưng đối với Hải quân, nó không được như dự định. Để đạt tốc độ 53 hải lý, phải trả giá rất đắt: nếu so sánh với đề án 1234, thì nhận được rằng, thành phần vũ khí gần nhau và lượng choán nước lớn hơn, thiết bị năng lượng của “Sivuch” lớn hơn công suất của “Ovod” 2,2 lần. Theo đó, giá thành và sự phức tạp trong đóng tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1239 vượt trội nhiều lần tàu cùng lớp, đang có trong biên chế Hải quân. Mặc dù mặt khác, tàu mang vũ khí tên lửa tấn công tương tự như tàu khu trục đề án 956 có lượng choán nước gần 8 tấn. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:33 am Chương trình đóng tàu (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_14.jpg) Tàu đầu tiên trong đề án 1239 được đóng năm 1987 ở xưởng đóng tàu tại Zelenodolsk và mang tên “Bora”. Năm 1989, tàu được tiếp nhận vào khai thác sử dụng thí nghiệm trên biển Đen. Sau khi Liên Xô tan rã, tháng 2 năm 1993, cũng trên xưởng này đã đóng tàu tên lửa loại nhỏ thứ hai trong đề án - “Samum” – mà do sự phức tạp trong khai thác sử dụng và khối lượng tinh chế đã chỉ chính thức được tiếp nhận vào biên chế năm 2000. Tàu này đã trở thành tàu cuối cùng trong loạt. Tình hình đến năm 2008 Tới thời điểm này, trong biên chế Hải quân Nga (Hạm đội Biển Đen) có cả 2 tàu tên lửa đề án 1239: 1 để thí nghiệm, ban đầu đưa đến Baltic, sau đó trở lại Sevastopol, tàu thứ hai được giữ lại ở biển Đen từ lúc được tiếp nhận vào biên chế. Cả hai đều ra khơi thường xuyên, tham gia vào các cuộc huấn luyện và tập trận. Mặc dù lúc đầu, đề án 1239 được thiết kế như tàu tên lửa nhỏ thường và cả 2 tàu khi đóng thậm chí đã nhận số hiệu chiến thuật với các chữ số, sau đó (do các kích thước và lượng choán nước lớn đối với tàu tên lửa loại nhỏ), chúng được phân loại thành các tàu hạng 2. Đề án này gần với lớp tàu tên lửa trên đệm không khí hạng 2. Ở phương Tây, các tàu đề án 1239 nhận tên gọi lạ lùng – Lớp Dergach. Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Bora”; 18 tháng 3 năm 1992 là MRK-27; số hiệu xưởng 208; khởi công trên xưởng “Công nhân cơ khí Đỏ” ở thành phố Zelenodolsk; hạ thủy năm 1987; tiếp nhận vào khai thác sử dụng 30 tháng 12 năm 1989; năm 1990 theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đen; đầu năm 1992 trải qua sửa chữa ở Kerch; 12 tháng 5 năm 1997 chính thức gia nhập biên chế; từ năm 1997 nằm trong biên chế Lữ đoàn xuống máy tên lửa độc lập số 41 thuộc Hạm đội Biển Đen. + “Samum”; 18 tháng 2 năm 1992 là MRK-17; số hiệu xưởng 502; khởi công trên ụ xưởng “Công nhân cơ khí Đỏ” ở thành phố Zelenodolsk tháng 9 năm 1991; hạ thủy 12 tháng 10 năm 1992; tiếp nhận khai thác sử dụng thí nghiệm tháng 3 năm 1992; di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Đen; tháng 11 năm 1992 tới Kerch; tháng 3 năm 1993 tới Sevastopol; sau đó một lần nữa được đưa lại xưởng đóng; tháng 10 năm 1993 tới Zelenodolsk; tháng 9 năm 1994 trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước ở Baltic; chính thức gia nhập biên chế 26 tháng 2 năm 2000; gia nhập biên chế Lữ đoàn xuồng tên lửa số 36 thuộc Hạm đội Baltic; năm 2002 di chuyển từ Baltic về biển Đen và gia nhập Lữ đoàn xuồng máy tên lửa độc lập số 41 thuộc Hạm đội Biển Đen. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:11 am Bản vẽ và hình vẽ màu tàu tên lửa trên đệm không khí đề án 1239
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_05.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_04.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_01.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:13 am (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_10.jpg) Thiết bị pháo 76,2mm AK-176 ở mũi tàu đệm không khí "Bora" đề án 1239 (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_12.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_11.jpg) Pháo phòng không 30mm AK-630M trên tàu tên lửa đề án 1239 (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_13.jpg) Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không "Osa-M" của tàu tên lửa đệm không khí đề án 1239 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:13:21 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1239_draw_02.jpg) Bố trí vũ khí trên tàu tên lửa đệm không khí đề án 1239 1. Thiết bị pháo tổng hợp 76mm AK-176 2. Pháo phòng không tự động 30mm 6 nòng AK-630M 3. Các thiết bị 4 thùng phóng của tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit” 4. Mũ chụp đài ra đa định vị đạo hàng 5. Mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Dubrava” 6. Cột quan sát ở mũi và mạn tàu “VK” để điều khiển bằng tay pháo tự động AK-630M 7. Mũ chụp ăng ten thu chỉ thị mục tiêu từ ngoài cho tổ hợp tên lửa chống tàu 8. Đài ra đa định vị bắn MR-123 “Vưmpel” 9. Mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Pozitiv” 10. Ăng ten tổ hợp khí tài tác chiến điện tử “Vưmpel-R2” 11. Đài dẫn bắn tên lửa 4R33 của tổ hợp “Osa-M” 12. Thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-16 13. Thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-10 14. Thiết bị phóng di động của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:16:12 am Tàu tên lửa đệm không khí “Samum” (trước đó là MRK-17) đề án 1239
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1239_09.jpg) 1. Thiết bị pháo đa năng 76mm AK-176 2. Thiết bị pháo phòng không 6 nòng 30mm AK-630M 3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-123 4. Các cột quan sát hệ thống điều khiển hỏa lực pháo 30mm 5. Thiết bị phóng tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Strela-3” 6. Ăng ten đài ra đa định vị “Topaz-2B” 7. Ăng ten đài ra đa định vị đạo hàng 8. Các trạm điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” 9. Thiết bị phóng bom chống ngầm phản lực RBU-6000 10. Các thiết bị phóng tên lửa phòng không “Osa-M” 11. Các thiết bị phóng hệ thống nhiễu vô tuyến thụ động 12. Ăng ten hệ thống chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit” 13. Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit” 14. Thiết bị ngư lôi chống ngầm 533mm 15. Trạm ăng ten hệ thống điều khiển của tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit” 16. Ăng ten đài ra đa định vị “Pozitiv” 17. Các ăng ten hệ thống tách chiến điện tử Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:16:30 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán (dãn) nước, tấn + tiêu chuẩn: 850 + hoàn toàn: 1050 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 63,9 (-) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 17,2 (-) + lượng mớn nước hoạt động trên đệm không khí: >1 + lượng mớn nước hoạt động trên chế độ dãn nước: 3,3 Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – diesel + 2 tuabin khí M-10-1, tổng công suất, sức ngựa (kW): 36 000 (26 500) + 2 động cơ diesel M-511A cho chế độ choán nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 20 000 (14 700) + 2 động cơ diesel M-504 cho máy tăng áp (quạt gió), tổng công suất, sức ngựa (kW): 6600 (4850) + các máy phát điện tuabin khí, công suất, kW: - 4 bánh lái tiếp đôi trong hai cột; 2 bánh lái chân vịt trên các trục Tốc độ, hải lý + tối đa: 53 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2500 (12)/800 (45) Thời gian hoạt động, ngày: 10 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 68 (9). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:16:58 am Vũ khí Vũ khí tên lửa + thiết bị phóng KT-190 cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit”: 2x4 + tên lửa chống tàu 3M80 “Moskit” (SS-N-22 “Surnburn”): 8 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 1x2 + tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 20 Pháo + thiết bị pháo 76mm AK-176: 1x1 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 2x6 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp + 1x”Pozitiv” (Cross Dome) + 1x”Dubrava” (Band Stand) đồng thời chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x- Các khí tài tác chiến điện tử: “Vưmpel-P2” (2 Foot Ball A) Các tổ hợp bắn nhiễu + 2x16 thiết bị phóng PK-16 + 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Dubrava” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit” + 2x(Light Bulb) thu sự chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không “Moskit” + 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” + 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo chính và tổ hợp pháo phòng không Các khí tài thông tin liên lạc: “Buran-7” – tổ hợp Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhrom” (Square Head; Salt Pot). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:45 am Tàu tên lửa kiểu R-36 – Đề án 205/205-U “Moskit” – Lớp Osa-I/Osa-II (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/205_051.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 140/32 Các biến thể + 205 (lớp Osa-I) – tàu nhỏ trang bị tên lửa (tàu nhỏ tên lửa) với 4 tên lửa chống tàu P-15 (1960) + 205-U (lớp Osa-II) – tàu nhỏ tên lửa với các tên lửa mới P-15U (!965) + 205-M – tàu nhỏ nâng cấp với các tên lửa chống tàu P-15M “Termit” (1970) + 205-Ts – tàu nhỏ - mục tiêu để bảo đảm bắn tên lửa và pháo (1980) + 205-ER- tàu nhỏ thí nghiệm với tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” (1990). Kinh nghiệm, được tích lũy bởi các nhà đóng tàu khi đóng tàu nhỏ trang bị tên lửa đề án 183-P, cho phép chuyển tới thiết kế tàu nhỏ tên lửa mới được đóng đặc biệt với thành phần vũ khí tên lửa mạnh, tăng cường khả năng cơ động trên biển và tăng cường chất lượng các phần tử kỹ chiến thuật. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế đề án 205 mới nhận mã số “Moskit”, được giao cho Phòng thiết kế “Almaz” năm 1956. Tổng công trình sư, cũng như trong đề án 183-R, là E.I.Yukhin, còn giám sát viên chính từ Hải quân được giao cho Thuyền trưởng cấp 1 V.V.Dmitriev. Đề án kỹ thuật hoàn thành năm 1957. Thân tàu và thiết bị năng lượng của tàu nhỏ tên lửa đề án 205 được chế tạo với sự tính toán khả năng tiếp nhận chúng cho tàu nhỏ tên lửa mới đề án 206 (tới thời điểm đó đã quyết nhận giải pháp thiết kế các tàu này trong một thân duy nhất với thiết bị năng lượng giống nhau), đồng thời các biến thể có thể. Thân tàu nhỏ được chế tạo bằng thép từ thép SKhL-45 và có những hình dáng đặc biệt: gò tròn ở phần mũi và gò sắc (nhọn) ở mạn tàu. Như thực tế đã chỉ ra rằng, điều này có khả năng tăng cường tính cơ động trên biển của chúng, đồng thời đảm bảo khả năng sử dụng tên lửa chống tàu khi sóng cấp 4 không hạn chế tốc độ và tới cấp 5 khi tốc độ 30 hải lý. Cơ sở của thiết bị năng lượng ba trục là 3 động cơ diesel tốc độ cao mới nhất của xưởng “Zvezda” kiểu M-503 và M-504 với các bộ truyền động lắp chìm và mỗi động cơ hoạt động trên mỗi trục. Các động cơ diesel này theo các các thông số cơ bản không có động cơ tương tự ở trong nước cũng như nước ngoài so sánh được (ít nhất, đến cuối thế kỷ XX). Các động cơ diesel 42 hoặc 56 xilanh hình sao 7 khối được chế tạo trên cơ sở M-50, đã được dự định trước không chỉ có các kích thước và khối lượng rất nhỏ mà còn tuổi thọ không cao. Để vượt qua (khắc phục) nhược điểm này, cần thiết tiến hành sửa chửa tổ hợp các động cơ diesel này chỉ trong xưởng sản xuất, khi thực hiện ở các căn cứ hoặc trên xí nghiệp sửa chữa tàu chỉ thay mới các động cơ diesel đã quá tuổi thọ hoạt động. Công nghệ cao, sử dụng khi còn chế tạo động cơ diesel M-50, trong nguyên tắc đã loại trừ (không tính toán) khả năng theo sửa chữa địnhkỳ các động cơ diesel này “ngoài xưởng sản xuất”. Còn trong hệ thống khai thác sử dụng và căn cứ các tàu nổi cùng tàu nhỏ thuộc Hải quân Liên Xô có ưu thế về “chỗ dựa các lực lượng riêng”. Trong các điều kiên này, các câu hỏi về tuổi thọ động cơ đã bị loại khỏi ưu tiên hàng đầu, còn các chuyên gia Hải quân đã có thành kiến với các động cơ này. Sự phát triển sau đó của các động cơ này đã không được Hải quân chú ý do tới giai đoạn này, toàn bộ sự chú ý tập trung vào phát triển các tuabin khí. Mặt khác, chính các nhà thiết kế các động cơ diesel này đã rất thụ động. Như vào đầu những năm 1960, sự phát triển các động cơ diesel tốc độ cao trong nước thực tế đã xác định số phận của nó. Chúng không được quan tâm theo từng thời điểm, mặc dù các khả năng đối với sự phát triển của chúng vẫn còn (chưa cạn kiệt đến mức cuối cùng), cũng như trong các cầu hỏi tăng cường công suất cũng như tuổi thọ của chúng. Ở Đức (nước đi đầu về động cơ này), việc chế tạo các động cơ diesel cao tốc đã bắt đầu trong những năm 1930, gần như dành ngay cho Hải quân. Vì thể, các động cơ diesel của nó có trong những năm 1960 có tuổi thọ tương đối lớn hơn, nhưng các chỉ số khối lượng – kích thước lớn. Khoảng cuối những năm 1960, đã tồn tại sự cân bằng khoa học kỹ thuật được xác định trong các câu hỏi phát triển các động cơ diesel cao tốc ở Liên Xô và Đông Đức, mà sau đó nhanh chóng bị đánh mất. Vũ khí của tàu nhỏ tên lửa đề án 205 gồm có 4 thiết bị phóng tên lửa chống tàu P-15 dạng hang ga (theo mỗi thành tàu – 2), đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho vũ khí tên lửa “Rangout”, 2 thiết bị pháo phòng không tự động nòng đôi AK-230 (theo 1 ở mũi và 1 ở mạn tàu) với đài ra đa định vị điều khiển “Rưs”. Các tên lửa có tầm bắn 35… 40km, tốc độ hành trình 320m/s, khối lượng bộ phận chiến đấu 480kg, việc tự dẫn bắn được thực hiện với sự hỗ trợ của đầu đạn ra đa định vị loại chủ động. Sự chuẩn bị bắn được thực hiện bằng hệ thống khí tài điều khiển bắn “Klen”. Trong vai trò các khí tài dự bị điều khiển bắn pháo (chế độ bằng tay) sử dụng cột quan sát kiểu “VK”. Các tàu nhỏ tên lửa đề án 205 là giai đoạn phát triển trong Hải quân Liên Xô không chỉ tàu và thiết bị năng lượng và còn cả vũ khí. Lần đầu tiên trong ngành đóng tàu trong nước, trên tàu đã lắp vũ khí pháo điều khiển từ xa. Khi chế tạo các pháo tự động 30mm AK-230 đã sử dụng đồng thời chế tạo cho Không quân (pháo 30mm được chế tạo cho máy bay, còn sự điều khiển từ xa các pháo tương tự được tiếp nhận từ cuối những năm 1940 trong vũ khí tự vệ của các máy bay ném bom). Dòng tàu nhỏ tên lửa đề án 205 có lượng choán nước tiêu chuẩn 173 tấn và hoàn toàn – 216 tấn, tốc độ tối đa được đảm bảo ở 38 hải lý, tầm bơi xa khi tốc độ 30 hải lý – 800 dặm, còn trong trữ lượng nhiên liệu tối đa và tốc độ 14 hải lý – 2000 dặm, thời gian hoạt động với trữ lượng thực phẩn và nước ngọt là 5 ngày. Ở phương Tây, các tàu Liên Xô nhận tên gọi lớp Osa. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:01 am Các biến thể Năm 1965, trong trang bị Hải quân Liên Xô đã gia nhập tên lửa chống tàu nâng cấp P-15U. Nó được trang bị máy đo cao ra đa định vị (thay cho khí áp kế), cho phép giảm độ bay cao và quan sát chính xác góc vòng theo độ cao, còn mục đích chính – tên lửa chống tàu đã nhận được cánh gấp mà kết quả đó đã xuất hiện khả năng trang bị cho tàu các thùng phóng thuận lợi hơn thay cho dạng hang ga. Vì thể ngay từ đầu những năm 1960, ở Phòng thiết kế “Almaz” dưới sự chỉ đạo của cùng tổng công trình sư (giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng hạng 2 Yu.M.Osipov) đã chế tạo đề án tàu nhỏ mang tên lửa 205-U. Sự khác biết cơ sở của nó là thiết bị phóng dạng thùng xilanh KT-97M cho tên lửa chống tàu P-15U mà không chỉ mang lại thành công về kích thước (chiều dài 1 mét, chiều rộng 0,8 mét), nhưng bảo đảm vi khí hậu cần thiết do tính toán độ kín. Tàu nhỏ tên lửa đề án 205-U có lượng choán nước tiêu chuẩn 184 tấn và hoàn toàn – 226 tấn, tốc độ tối đa – 41 hải lý do kết quả lắp động cơ diesel M-504, các thông số còn lại vẫn giữ như trước. Tàu nhỏ tên lửa đầu tiên – R-173 – gia nhập biên chế năm 1965, ở phương Tây, các tàu nhỏ tên lửa này nhận tên gọi lớp Osa-II. Trong những năm 1980, 16 tàu nhỏ tên lửa sau khi bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân đã được trang bị lại để đảm bảo huấn luyện bắn tên lửa. Bộ phận của chúng được sử dụng để điều khiển với sự hỗ trợ của đài ra đa định vị sau khi phóng tên lửa chống tàu, còn các tàu khác trở thành tàu – mục tiêu và trang bị các máy phát bức xạ hồng ngoại và máy (thiết bị) phản xạ góc (đề án 205-Ts). Cuối những năm 1990, 1 tàu nhỏ - R-370 (trước đó là Thanh niên cộng sản Tatarin”) – là tàu thí nghiệm, trang bị 2 thiết bị phóng 4 thùng cho tổ hợp tên lửa chống tàu mới “Uran” để thí nghiệm. Đề án nhận số hiệu 205-ER. Bổ trung trên tàu – lắp đài ra đa định vị “Harpun”, các khí tài tác chiến điện tử và các tổ hợp bắn nhiễu. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:23 am Chương trình đóng tàu Tàu nhỏ tên lửa đầu tiên đề án 205 – R-36 – được khởi công ở xưởng đóng tàu Primorsk ở Leningrad năm 1957 và gia nhập biên chế Hải quân Liên Xô năm 1960, hạ thủy tổng cộng 1 năm sau khi tiếp nhận vào biên chế tàu nhỏ tên lửa đề án 183-R đầu tiên. Việc đóng tàu nhỏ tên lửa đề án 205, sau đó là đề án 205-U và kéo dài tới năm 1973, còn trong xuất khẩu – tới đầu năm 1980. Việc đóng chúng được triển khai trong 3 xưởng: Primorsk ở Leningrad, Dalzavod ở Vladivostoc và ở Rưbinsk. Riêng đối với Hải quân Liên Xô đã đóng tổng cộng 140 tàu đề án 205 và 32 theo đề án 205-U, thêm vài chục tàu đóng cho nước ngoài. Các tàu đã bán (hoặc chuyển giao) thuộc đề án 205 cho các nước sau: Algieri-3; Bulgaria-3; Cuba-5; Ai Cập-12; Đông Đức-15; Ấn Độ-8; Iraq-4; Triều Tiên-8; Ba Lan-14; Rumani-6; Siry-6; Nam Tư-10. đồng thời đề án 205-U: Algieri-9; Angola-6; Bulgaria-3; Cuba-13; Etiopia-4; Phần Lan-4; Ấn Độ-8; Iraq-8; Libia-12’ Somali-2; Siry-10; Bắc Yemen-2 (sau đó quay trở lại); Nam Yemen-8; Việt Nam-8. Ngoài ra, các tàu nhỏ tên lửa này được đóng theo dây chuyền sản xuất ở Trung Quốc (lớp “Hoàng Phố” - ?, đóng 104 tàu) và Triều Tiên với những sự thay đổi không đáng kể. Các tàu nhỏ tên lửa xuất khẩu trang bị tên lửa P-20 (xuất khẩu của phiên bản P-15). Ít nhất 1 tàu đề án 205-U của Phần Lan được cải tạo thành tàu quét mìn: từ tàu tháo các thùng phóng tên lửa P-20, lắp trang bị để rải mìn trang bị kho chứa mìn, đòng thời bổ sung sung máy và trang bị vô tuyến điện. Tình hình đến năm 2008 Các tàu nhỏ tên lửa đề án 205 và 205-U gia nhập biên chế tổng cộng 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô. Đến năm 1980, chúng đã bị lạc hậu rất mạnh và kết quả là giai đoạn từ 1988 đến 1992 đã loại 51 tàu khỏi biên chế. Sau sự tan vỡ của Liên Xô, các các tàu nhỏ này bị loại khỏi biên chế mạnh hơn (ví dụ năm 1994, trong biên chế Hải quân Nga, còn tổng cộng 14 tàu) và tới thời điểm này, những tàu nhỏ tên lửa này không còn trong biên chế. Trong Hải quân Ấn Độ đã tiếp nhận các tàu nhỏ tên lửa theo đề án 205 và 205-U. Đến tháng 5 năm 2005, toàn bộ các tàu đã bị loại khỏi biên chế. Ngoài ra các tàu này vẫn còn trong biên chế Hải quân Ba Lan và Libia. Ở Trung Quốc, tới thời điểm này còn hơn 50 tàu nhỏ tên lửa lớp “Hoàng Phố” đóng ở Thượng Hải. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:07:32 am Bản vẽ tàu nhỏ tên lửa đề án 250
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/205_draw2.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/205_draw5.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/205_draw4.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:08:49 am Hình vẽ màu tàu tên lửa lớp Osa
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/205_55.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/205_17.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:20 am (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/205_draw7-1.gif) Bố trí vũ khí trên tàu tên nhỏ tên lửa đề án 205 (trên) và 205-U (dưới) 1. Thiết bị pháo nòng đôi 30mm AK-230 2. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-104 “Rưs” 3. Các thiết bị phóng dạng hang ga KT-97 cho tên lửa chống tàu P-15 4. Thiết bị phóng dạng thùng KT-97M cho tên lửa chống tàu P-15U 5. Khí tài điều khiển bắn “Kolonka” (VK) 6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu và chỉ thị mục tiêu cho tên lửa “Ranguot” 7. Các ăng ten siêu cao tần thông tin liên lạc Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 07:49:13 pm Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 173 (205)/184 (205-U) + hoàn toàn: 216 (205)/226 (205-U) Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 38,6 (37,5) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 7,6 (5,9) + lượng mớn nước lớn nhất: 1,73 (205)/2,01 (205-U) Thiết bị năng lượng chính: diesel + 3 động cơ diesel kiểu M-503, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 800 (8820 - 205) + 3 động cơ diesel kiểu M-504, tổng công suất, sức ngựa (kW): 15 000 (11 030 – 205-U) 3 trục; 3 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 39 (205)/41 (205-U) + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, hải lý (tốc độ, dặm): 2000 (14)/800 (30) Thời gian hoạt động: 5 ngày Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 26 (4 – 205)/29 (4-205-U). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Mười Một, 2012, 07:59:11 pm Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng KT-97 cho tổ hợp tên lửa phòng không P-15: 4x1 (205) + tên lửa chống tàu P-15 (SS-N-2A “Styx”): 4 + thiết bị phóng KT-97M cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-15U: 4x1 (205-U) + tên lửa chống tàu P-15U (SS-N-2B “Styx”): 4 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng MT-4 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Strela-3M” (trên 1 số): 1x2 hoặc 1x4 (205-U) + tên lửa phòng không 9M32M (SA-N-5 “Grail”): 4… 8 Pháo + pháo nòng đôi 30mm AK-230: 2x2 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Rangout” (Square Tie) đồng thời điều khiển tên lửa phòng không Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x(Plank Shave) Đài thủy âm: không có Khí tài tác chiến điện tử: không có Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x”Ranguot” (Square Tie) cho tổ hợp tên lửa phòng không + 1xMR-104 “Rưs” (Drum Tilt) cho pháo Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: “Khrom” (Square Head; High Pole A hoặc B). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Một, 2012, 12:13:17 am Đề án tàu tên lửa loại nhỏ 21631 “Buyan-M” Nhiệm vụ của các tàu tên lửa loại nhỏ đề án 21631 lớp “sông – biển” – bảo vệ và phòng thủ các khu vực kinh tế quốc gia. Trong sự khác biệt với nguyên mẫu – tàu pháo loại nhỏ đề án 21630 – tàu tên lửa loại nhỏ có lượng choán nước lớn hơn gấp 1,5 lần (949 tấn) và trang bị thiết bị phóng của tổ hợp 3R-14UKSK với 8 tên lửa chống tàu, cho phép thực hiện tấn công bằng các tên lửa có cánh tốc độ vào vào các mục tiêu trên biển cũng như trên bộ. Vũ khí pháo của tàu được giới thiệu là thiết bị pháo 100mm A-190M, 1 pháo 6 nòng 30mm AK-630M1-2 “Duet”. Đồng thời, tàu tên lửa loại nhỏ được trang bị 2 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không cầm tay 3M47 “Gibka”, 2 súng máy 14,5mm và 3 súng máy 7,62mm. Thông tin lịch sử Đề án 21631 – đây là phiên bản tàu pháo loại nhỏ đề án 21630. Đề án 21631 (mã số “Buyan-M”) được thiết kế bởi xí nghiệp “Phòng thiết kế Zelenodolsk” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư Ya.E.Kushir, sự giám sát khoa học kỹ thuật thiết kế và đóng tàu cho Hải quân được thực hiện bởi Viện nghiên cứu trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng. Tàu này được thiết kế bởi Phòng thiết kế thí nghiệm Zelenodolsk với sự tính toán đặc biệt của biển Caspi và châu thổ Volga, trong đó các yêu cầu cơ bản là khả năng đi biển cao và khả năng di chuyển của tàu trong khu vực phía bắc có độ sâu không lớn của biển Caspi và châu thổ sông Volga, được đảm bảo bằng sử dụng các động cơ phụt nước. Theo các yêu cầu nhiệm vụ kỹ chiến thuật đã được đưa ra cùng tầm bơi xa, để tàu có khả năng hoạt động trên toàn bộ chiều dài sông Volga và biển Kaspi. Nơi nhận được hợp đồng đóng các tàu đề án 21631 là xưởng đóng tàu Zelenodolsk mang tên A.M.Gorki ngày 17 tháng 5 năm 2010, còn 28 tháng 5, đã ký hợp đồng đóng tàu trong loạt này. Tàu đầu tiên của đề án “Grad Sviyazsk” được khởi công 27 tháng 8 năm 2010. Việc bàn giao tàu được thực hiện năm 2013. Tàu thứ 2 của đề án 21631 sẽ bổ sung cho Hạm đội Biển Đen. Việc khởi công dự kiên vào cuối năm 2010. Tổng cộng, theo kế hoạch sẽ đóng 5 tàu đề án 21631. Các thông số kỹ thuật Lượng choán nước, tấn: 949 Chiều dài: 74,1 mét Chiều rộng: 11 mét Chiều cao tới mặt cắt ngang: 6,57 mét Lượng choán nước: 2,6 mét Tốc độ tối đa: 25 hải lý Vũ khí Tấn công: 3R-14UKSK Pháo: A-190M, AK-630M1-2 Phòng không: 3M47 “Gibka”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Một, 2012, 12:14:02 am Đề án 21632 – các tàu tuần tra gần bờ “Tornado” Bệ (nền) thống nhất của các tàu “Tornardo” có lượng choán nước hoàn toàn 560 tấn, chiều dài – 61,54 mét, chiều rộng – 9,6 mét. Các động cơ diesel MTU 16V4000M90 hoạt động theo hệ thống CODAD, cho phép tốc độ tối đa 26 hải lý, còn các động cơ phụt nước đảm bảo khả năng cơ động cao và di chuyển trên các khu vực nước có độ sâu thấp (nước nông), giảm tiếng ồn và rung lắc khi di chuyển. Trên các tàu đã sử dụng rộng rãi công nghệ stealth. Như bề mặt phẳng nghiêng của thượng tầng và tháp pháo, các thành giả có khả năng tán xạ (khuyếch tán) sóng phản xạ của các đài ra đa định vị và giảm cường độ của chúng, trong đó có trường ra đa định vị thứ hai của tàu. Bố cục các buồng và hành lang có khả năng di chuyển tự do của thủy thủ đoàn theo tàu mà không cần ra boong trên. Mắt xích chính trong trang bị vô tuyến điện là hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Sigma-E”, đảm bảo điều khiển chiến đấu trên tàu trên cơ sở liên kết trang bị vô tuyến điện trong một tổ hợp thống (duy) nhất và tự động hóa các quá trình xử lý và tiếp nhận các giải pháp theo sử dụng vũ khí chiến đấu của tàu. Hình thành khả năng thành lập thông tin về bối cảnh chiến thuật đối với tàu cũng như với cụm bất kỳ gồm các tàu “Tornado” có thể đóng vai trò tàu điều khiển. Nhờ áp dụng rộng rãi các khí tài tự động hóa, số lượng thành vien thủy thủ đoàn phụ thuộc vào các biến thể gồm từ 29 đến 36 người. Dòng “Tornardo” có một số phiên bản Phiên bản thứ nhất: tàu pháo – tên lửa. Vũ khí chính – pháo tự động 100mm A-190 “Universal”, được sử dụng để tiêu diệt các mcuj tiêu trên không, trên bộ và trên biển. Việc điều khiển bắn được thực hiện bằng hệ thống 5P-10-03E “Laska-M” với các kênh ra đa định vị và quang điện. Tốc độ bắn của A-190 – 80 viên/phút. Pháo nạp đạn khối lượng 16,5kg, tầm bắn 20km. Khối lượng riêng của thiết bị - dưới 15 tấn. Ở mạn tàu có thiết bị phóng MS-73 của tổ hợp A-215 “Grad-M” sử dụng để bắn diện rộng các mục tiêu trên bờ. Vũ khí phòng thủ chính – thiết bị giá chuyển hướng 3M47 “Gibka” hoặc tổ hợp tên lửa phòng không “Komar”. Trong tổ hợp “Gibka” sử dụng tên lửa phòng không điều khiển Igla. Các khí tài phòng không bổ sung gồm 2 pháo tự động 6 nòng 30mm AK-306 và cặp sung máy 14,5mm lắp theo thành tàu, trên thượng tầng sau buồng truyền động. Chúng đồng thời được sử dụng để bắn các mục tiêu nổi và trên bờ. Ở mạn và mũi có các bệ cho 3 súng máy cỡ 7,62mm. Ở mạn tàu “Tornado”, sau thượng tầng, theo thành tàu bố trí 2 thiết bị bắn nhiễu PK-10. Ngoài ra, trong sự ghép bộ, dự định bố trí đài thủy âm “Anapa-ME” để phát hiện biệt kích và sung phóng lựu DP-64 để tiêu diệt chúng. Trên bề mặt nghiêng được che bằng đường dốc trượt ở mạn tàu có xuồng máy cao tốc kiểu bơm hơi cứng với đáy bằng hợp kim nhôm. Nó được sử dụng để cứu nạn trên mặt nước, kiểm tra, đổ các nhóm trinh sát và đặc nhiệm lên bờ. Tầm bơi xa của “Tornado” trong phiên bản tàu pháo nhỏ - 1500 dặm, thời gian hoạt động – 10 ngày. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Mười Một, 2012, 12:14:12 am Biến thể thứ hai của “Tornado” – tàu tên lửa loại nhỏ - khác với phiên bản đầu tiên ở sự xuất hiện tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran-E” (2x4 thiết bị phóng) và không có hệ thống phản lực bắn loạt của tổ hợp A-215. Các thiết bị phóng tên lửa chống tàu được bố trí ở phần giữa thân tàu, còn thiết bị giá đỡ 3M47 “Gibka” được bố trí ở mạn. Tầm bắn của tên lửa Kh-35E của tổ hợp “Uran-E” – 130km.
Tầm bơi xa của biến thể “Tornado” này trong tốc độ tiết kiệm năng lượng – 2300 dặm. Biến thể thứ 3 – vũ khí tấn công là các tên lửa chống tàu tổ hợp “Yakhont” (2x2 thiết bị phóng) với tầm bắn 300km. Hai thiết bị phóng của các tên lửa chống tàu này “nấp” sau vỏ chắn ở mạn tàu. Phần còn lại của biến thể này tương tự với “Tornado” phiên bản 2. Biến thể thứ 4 – tàu tuần tra trên biển rộng (biển mở). Các kích thước của nó đều tăng (một chút). Chiều dài – 64,8 mét, lượng mớn nước – 2,2 mét, lượng dãn nước hoàn toàn 2,2 tấn, tầm bơi xa ở tốc độ 12 hải lý – 2500 dặm. Tốc độ - gần 25 hải lý. Trong sự tương ứng với mục đích sử dụng thành phần vũ khí có thay đổi. Nó gồm 1 pháo 6 nòng 30mm AK-630M hoặc AK-306, 2 súng máy loại lớn 14,5mm và 2 súng máy 7,62mm. Bộ phận phòng không được tăng cường 8 tổ hợp tên lửa phòng không xách tay “Igla”. Sự khác biệt chính của tàu này là sự xuất hiện của bãi đáp trực thăng. Nó trải rộng từ mui đến giữa mạn tàu. Trên đó có thể cất hạ cánh các trực thăng Ka-226 hoặc các mẫu trực thăng khối lượng 4 tấn. Thông tin lịch sử Các tàu hoạt động gần bờ đề án 21632 “Tornado” là phiên bản xuất khẩu các tàu tên lửa loại nhỏ đề án 21630 “Buyan”. Đề án được thiết kế bởi Phòng thiết kế thí nghiệm Zelenodolsk. Thực tế, chúng – các tàu – ca nô hiện đại, có khả năng tấn công bằng hỏa lực mạnh vào các tàu của địch và trên bờ. Khả năng quan trọng của các tàu “Tornado” là chúng có thể hoạt động độc lập (đơn độc) ở khu vực nước nông (lượng mớn nước tối đa của chúng không quá 2 mét) – trên các sông cạn, các cửa sông, các quần đảo và khu mặt nước “hẹp”, đồng thời trên biển lớn. Việc này được giải thích do tàu tên lửa loại nhỏ đề án 21630 được thiết kế để hoạt động ở khu vực nước nông trên biển Caspi, được biết đến là hay có những trận bão mạnh. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Một, 2012, 12:45:57 pm Các thông số kỹ thuật Phiên bản 1 Lượng choán nước, tấn: 560 Chiều dài, mét: 61,45 Chiều rộng, mét: 9,6 Lượng mớn nước: 2 Tốc độ, hải lý + tối đa: 26 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa với tốc độ tiết kiệm năng lượng: 1500 Vũ khí Tên lửa tấn công: - Pháo: A-190, A-215 Phòng không: 3M47 “Gibka”, 2xAK-306. Phiên bản 2 Lượng choán nước, tấn: 560 Chiều dài, mét: 61,45 Chiều rộng, mét: 9,6 Lượng mớn nước: 2 Tốc độ, hải lý + tối đa: 26 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa với tốc độ tiết kiệm năng lượng: 2300 Vũ khí Tên lửa tấn công: “Uran-E” Pháo: A-190 Phòng không: 3M47 “Gibka”, 2xAK-306. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Một, 2012, 12:50:08 pm Phiên bản 3 Lượng choán nước, tấn: 560 Chiều dài, mét: 61,45 Chiều rộng, mét: 9,6 Lượng mớn nước: 2 Tốc độ, hải lý + tối đa: 26 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa với tốc độ tiết kiệm năng lượng: 2300 Vũ khí Tên lửa tấn công: “Yakhont” Pháo: A-190 Phòng không: 3M47 “Gibka”, 2xAK-306. Phiên bản 4 Lượng choán nước, tấn: 600 Chiều dài, mét: 64,8 Chiều rộng, mét: 9,6 Lượng mớn nước: 2,2 Tốc độ, hải lý + tối đa: 26 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa với tốc độ tiết kiệm năng lượng: 2500 Vũ khí Tên lửa tấn công: - Pháo: AK-630 hoặc AK-306 Phòng không: tổ hợp tên lửa phòng không xách tay “Igla”.. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Một, 2012, 12:51:39 pm Các tàu chống ngầm loại nhỏ lớp “Crostadt” (“Kronshtadt”) – Đề án 122-A/122-bis (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/122_02.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 275 Các biến thể + 122 – đề án cơ sở đóng tiếp của tàu săn ngầm lớn (năm 1940) + 122-A – đề án đóng loạt sau chiến tranh được hiện đại hóa của tàu săn ngầm lớn trên cơ sở đề án 122 (1946) + 122-bis – biến thể tàu săn ngầm lớn đề án 122-A với các động cơ nội địa (1950) “Người thừa kế” các tàu nhỏ nổi tiếng lớp MO-4 (săn ngầm nhỏ) trong giai đoạn sau chiến tranh là các tàu săn ngầm lớn (BO) và nhỏ (MO) thuộc các đề án mới. Nhiệm vụ chính của các tàu này – bảo vệ khu vực mặt nước (thường là toàn bộ khu vực các căn cứ Hải quân). Cương trình đóng tàu đầu tiên sau chiến tranh của ngành đóng tàu quân sự 1946-1955 là dự kiến đóng vào trăm tàu săn ngầm các loại lớn và nhỏ. Trước hết, đối với Hải quân Liên Xô đã đóng 270 tàu săn ngầm lớn đề án 122-A và đề án 122-bis. Chính đề án 122 đã được thiết kế ngay từ trước Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, còn việc thiết kế biến thể sau cùng của nó – đề án 122-bis – được bắt đầu năm 1944 ở Phòng thiết kế trung ương số 51. Tổng công trình sư của tàu là H.G.Losinski, sau đó – H.Kh.Zelyaekov, còn sau năm 1948 – A.V.Kunakhovich. Tàu có cấu trúc boong trơn với thượng tầng ở giữa. Các tàu được đóng trong 2 dòng. Dòng đầu tiên (đề án 122-A) được đóng với các động cơ Mỹ “General Motors”, còn dòng thứ hai (đề án 122-bis) với các động cơ nội địa công suất thấp hơn. Kết quả sự thay thế động cơ diesel bằng nội địa, lượng dãn nước của tàu tăng 4%, còn tốc độ giảm xuống từ 20 còn 19 hải lý. Đối với các tàu lớp này, tốc độ trong các giới hạn 20 hải lý đã là thấp. Các tàu săn ngầm lớn đề án 122-A trang bị thiết bị pháo tổng hợp 85mm 90-K (ở mũi) và 2 pháo phòng không tự động 37mm 70-K (mạn tàu). Vũ khí chống ngầm gồm có 2 máy rải bom ở mạn tàu với cơ số đạn bom chìm và các máy phóng bom BMB-1. Trên các tàu đầu tiên đề án 122-bis, lắp các thiết bị phóng bom phản lực RBM, còn trên các tàu sau cùng – 2 RBU-1200 với các thiết bị phóng dẫn bắn theo hai góc tầm – hướng (2 mặt phẳng). Bổ sung cho các tàu là 3 súng máy 12,7mm DShK. Để chiếu sáng (làm rõ, nhận định) bối cánh trên mặt nước, sử dụng đài ra đa định vị “Gyius”, để dò ngầm – đài thủy âm định vị “Tamir-10”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Một, 2012, 01:00:57 pm Chương trình đóng tàu (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/vmf_4007.jpg) Việc đóng các tàu săn ngầm lớn đề án 122-A (bis) được thực hiện bằng phương pháp dây truyền. Việc này cho phép, ví dụ, xưởng mang tên Gorki ở Zelenodolsk, mỗi năm bàn giao cho Hải quân theo 25-30 tàu. Ngoài xưởng này, việc đóng tàu còn được thực hiện ở xưởng tại Leningrad và ở Komsomol-na-Amur. Việc đóng toàn bộ loạt 270 tàu kết thúc năm 1955. Các tàu này cũng được bán (chuyển) số lượng lớn cho các nước đồng minh. MPK-160 và MPK-162 được chuyển cho Bulgaria; Ba Lan – thuê 5 năm trong 1957 4 tàu (nhận các tên gọi DS-45, DS-46, DS-47 và DS-48), còn sau đó chuyển thêm 6 tàu nữa; Rumania được chuyển 3 tàu, Albania-4, Trung Quốc – 6; Cuba – 6; Indonesia-14. Tình hình đến năm 2007 Các tàu đề án 122-A và đề án 122-bis đã bắt đầu phục vụ như những tàu săn ngầm lớn, còn sau đó được phân loại lại thành các tàu săn ngầm nhỏ và nhận các số hiệu chiến thuật tương ứng với chữ viết tắt MPK. Như đã nhấn mạnh ở trên, đây là đề án rất thành công có tốc độ tối đa thấp. Theo nguyên nhân này, các tàu săn ngầm nhỏ đề án 122 được sử dụng trong toàn bộ những năm 1960 để làm nhiệm vụ phục vụ tuần tra trên các bến đỗ tàu. Tới thời điểm này, toàn bộ các tàu trong đề án đã bị loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Một, 2012, 01:05:47 pm Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 289 + hoàn toàn: 325 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 51,7 (49,5) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,6 (6,2) + lượng mớn nước lớn nhất: 2,19 Thiết bị năng lượng chính: diesel + 3 động cơ diesel M-500F, tổng công suất, sức ngựa (kW): 3600 (2650) + hoặc 3 GM, tổng công suất, sức ngựa: 4000 (2940) 3 trục; 3 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 19…20 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3000 (12) Thời gian hoạt động, ngày: 10 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 54 (5). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Mười Một, 2012, 01:15:39 pm Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 85mm 90-K: 1x1 + thiết bị pháo 37mm 70-K: 2x1 + súng máy 12,7mm DShK: 3x1 Chống ngầm + RBM hoặc RBU-1200 “Smerch”: 1x4 hoặc 2x5 + BMB-1: 2 + các máy phóng bom: 2 + đạn GB/RGB: 24/40 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung: 1x”Gyuis-1M” Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x- Đài thủy âm: “Tamir-10” Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:08:58 am Các tàu chống ngầm nhỏ lớp MPK-15 – Đề án 204 – Lớp Poti (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/204_10.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 64 Các biến thể + 204 – đề án cơ sở tàu chống ngầm loại nhỏ + 204-E – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Rumani với RBU-2500 (1967) Sự phát triển tiếp theo của tàu nhỏ chống ngầm đề án 201 là sự chế tạo tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế nó được đưa ra vào năm 1956 cho Phòng thiết kế Zelenodolsk. Tổng công trình sư của đề án này là A.V.Kunakhovich, còn giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 N.D.Kondratenko. Theo so sánh, đề án này với đề án 201 lớn hơn về lượng choán nước tiêu chuẩn – 440 tấn, vũ khí của tàu chống ngầm loại nhỏ được tăng cường đáng kể. Tàu có thiết bị năng lượng khác thường – bánh lái chân vịt, quay bằng các động cơ diesel M-504 chứa các ống với vòi phun, không khí được thổi vào đó bằng 2 máy nén tuabin khí độc lập D-2K công suất 15 000 sức ngựa, tạo thành lực kéo bổ sung. Chỉ dưới (bằng) các động cơ diesel, tốc độ là 17,5 hải lý, còn khi mở các máy nén tuabin khí, tốc độ tăng lên gấp đôi – 35 hải lý. Các động cơ kiểu tương tự được áp dụng trên tàu tuần tra đề án 35. Nhưng, như các chuyên gia đã nhấn mạnh, công suất tiêu thụ đủ cho hoạt động với tốc độ lớn với sơ đồ thiết bị năng lượng chính thường. Ngoài ra, thiết bị này đã chỉ ra là có tiếng ồn và độ phức tạp lớn trong khai thác sử dụng và không tin cậy. Mặc dù vậy, tàu đã được đóng với loạt lớn (hơn 60 tàu), còn các nhà chế tạo nó được tặng giải thưởng Lenin. Ban đầu, nhiều ý kiến cho rằng B.K.Ilinski là nhà sáng chế thiết bị năng lượng khác thường – máy nén tuabin khí GTK-D2, tuy nhiên, trong những năm 1990 đã xuất hiện các nhà sáng chế chính thức của thiết bị năng lượng đặc biệt này. Việc chế tạo nó đã được bắt đầu từ năm 1946 sau một trong số các cuộc họp với Stalin, nơi các câu hỏi về Hải quân đã được thảo luận và cụ thể là câu hỏi về tốc độ không đạt yêu cầu (không đủ) của các tàu săn ngầm lớn và nhỏ của Liên Xô. Câu hỏi này đặc biệt thích hợp trong thông tin tình báo nhận được về các hoạt động của Mỹ trên tàu ngầm với thiết bị năng lượng hạt nhân. Cần phải tìm ra giải pháp mới nào đó. Sự hỗ trợ trong việc tìm kiếm giải pháp này để tăng cường hiệu quả có sự tham gia của cơ quan quyền lực tối cao NKVD (Dân ủy Nội vụ). Rõ rang, các cộng tác viên của họ đã nhanh chóng tìm trên Khoa vật lý Viện Hàng không Moskva được lãnh đạo bởi K.A.Putilov nhóm đứng đầu với A.V.Volkov làm việc chế tạo các động cơ phản lực cho tàu. Trong khoảng 10 ngày đã tổ chức phòng thí nghiệm với sự đứng đầu của giáo sư K.A.Putilov. Tuy nhiên, không đạt được kết quả nhanh chóng. Chỉ vào đầu những năm 1950, đã thực hiện những thí nghiệm ngoài trời đầu tiên và xuất hiện khả năng bắt đầu các công việc trên thiết bị năng lượng cho tàu chống ngầm nhỏ đề án 204. Năm 1951, Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Krưlov, như tổ chức đầu tiên (hàng đầu) thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu trong các câu hỏi đảm bảo khoa học của ngành đóng tàu, thành công trong giai đoạn kết thúc các công việc được thực hiện bởi một trong số những người lãnh đạo hàng đầu mà đại diện là B.K.Ilinski – trở thành người tiếp nhận sau khi K.A.Putilov mất và nắm bắt toàn bộ các thành quả của người tiền nhiệm. Vũ khí chống ngầm của tàu chống ngầm nhỏ đề án 204 gồm có 4 thiết bị ngư lôi 1 ống phóng 400mm để bắn các ngư lôi chống ngầm SET-40 và 2 thiết bị RBU-6000 (trên 2 tàu đầu tiên lắp RBU-2500 cũ). Pháo gồm có 1 thiết bị pháo nòng đôi tự động 57mm AK-725 lắp trên tháp pháo, bố trí giữa tàu (tren 2 tàu đầu tiên – thiết bị mở ZiF-31) với đài ra đa định vị điều khiển “Bars”. Sơ đồ bố trí pháo không thành công này được cho rằng ở mũi tàu, vị trí đã bị tận dụng cho RBU-6000, còn ở mạn tàu – các thiết bị tiếp nhận không khí của thiết bị năng lượng chính. Việc chiếu sáng (làm rõ) bối cánh trên mặt nước được thực hiện với sự hỗ trợ của ra đa định vị “Rubka”, còn dưới nước – với sự hỗ trợ của đài thủy âm “Hercules-2M”. Đồng thời có tổ hợp tác chiến điện tử “Bizan-4B”. Ở phương Tây, các tàu chống ngầm nhỏ số lượng lớn của Liên Xô được gọi là “Lớp Poti”. Nhưng đã nhận ra rằng, các tàu đề án 204 được bàn giao cho Hải quân trong giai đoạn phát triển nhanh các khả năng chiến đấu của tàu ngầm và không quân và trong quá trình đóng, các tàu này đã lạc hậu rất mạnh. Vì thế, Tư lệnh Hải quân đã đưa ra mệnh lệnh bắt đầu thiết kế tàu chống ngầm mới với các khả năng chống ngầm được tăng cường (quyết định bố trí tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ) và đài thủy âm mạnh hơn đáng kể. Theo quan điểm của ông, việc này là “con ngựa làm việc của Hải quân” – tàu chống ngầm chính hoạt động ở khu vực biển gần và gần bờ, như sự phát triển và thay thế tàu chống ngầm nhỏ đề án 204. Tàu mới nhận số hiệu đề án 1124. Các biến thể Ba tàu trong lớp này được đóng trong những năm 1966-67 theo đề án xuất khẩu 204-E. Trên tàu lắp các thiết bị RBU-2500 cũ, còn một số hệ thống chiến đấu được lắp trong dạng giản tiện. Năm 1970, các tàu này được chuyển cho Hải quân Rumani. Chương trình đóng tàu Toàn bộ trên ba xưởng từ năm 1960 đến 1968 đã đóng 64 tàu đề án 204 (31 – xưởng mang tên Gorki ở Zelenodolsk; 25 – “Zaliv” ở Kerch; 11 ở xưởng Khabarovsk). Trong biên chế Hải quân, 3 tàu chống ngầm nhỏ năm 1975 được chuyển cho Hải quân Bulgaria, còn 3 tàu chống ngầm nhỏ được đóng trong năm 1966-67, theo đề án xuất khẩu 204-E năm 1970, được chuyển cho Rumani. Tình hình đến năm 2007 Các tàu đề án 204 đã phục vụ trong toàn bộ 4 Hạm đội Liên Xô: Biển Đen – 17; Thái Bình Dương – 11; Baltic – 22; Phương Bắc – 11. Giữa những năm 1980 – đầu 1990, toàn bộ chúng bị loại khỏi biên chế, 1 số trở thành tàu thí nghiệm, 1 số - tàu huấn luyện. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:09:57 am (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/204_draw_4.jpg) Bố trí vũ khí trên tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204 1. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 2. Mũ chụp di động của đài thủy âm “Hercules-2M” 3. Ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung “Rubka” 4. Ăng ten đài ra đa định vị đạo hàng 5. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo “Bars” 6. Thiết bị pháo 2 nòng 57mm AK-725 7. Các thiết bị ngư lôi 1 ống phóng 400mm để bắn các ngư lôi chống ngầm SET-40 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:08 am Bản vẽ, hình vẽ màu tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/204_draw_2.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/204_draw_3.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/204_03.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:42 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + MPK-15; số hiệu xưởng 801; 15 tháng 10 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 11 năm 1958 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; hạ thủy 30 tháng 3 năm 1960; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1960; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; là tàu đầu tiên trong đề án; 5 tháng 6 năm 1979 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu chống ngầm loại nhỏ huấn luyện; 31 tháng 5 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1984 giải thể. + MPK-16; số hiệu xưởng 802; 15 tháng 10 năm 1958 ghi tên vào danh sách Hải quân; 17 tháng 1 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1960 gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1960; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 21 tháng 5 năm 1981 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1981 giải thể. + MPK-72; số hiệu xưởng 803; 12 tháng 8 năm 1959 khởi công trên xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 11 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1971 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + MPK-75; số hiệu xưởng 804; 18 tháng 10 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 11 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1961; gia nhập biên chế 26 tháng 10 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 23 tháng 1 năm 1984 đến 22 tháng 5 năm 1986 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordozhonikidze tại Sevastopol trải qua đại tu; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân; 4 tháng 10 năm 1988 chuyển tới trường Hải quân Sevastopol để sử dụng trong mục đích huấn luyện. + MPK-88; số hiệu xưởng 805; 22 tháng 3 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 8 năm 1961; gia nhập biên chế 19 tháng 11 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, neo đậu ở Ochakovo; 1 tháng 8 năm 1971 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 25 tháng 6 năm 1985 loại khỏi biên chế Hải quân; 4 tháng 7 năm 1985 chuyển cho trưởng Hải quân Sevastopol để sử dụng trong các mục đích huấn luyện; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:57 am + MPK-148; số hiệu xưởng 806; 22 tháng 7 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; hạ thủy 18 tháng 1 năm 1962; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1971 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 26 tháng 5 năm 1983 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho nước ngoài.
+ MPK-58; số hiệu xưởng 807; 10 tháng 2 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1962; gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 21 tháng 9 năm 1978 đến 22 tháng 5 năm 1986 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordonikidze ở Sevastopol trải qua đại tu; 1 tháng 10 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 thagns 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + MPK-77; số hiệu xưởng 808; 3 tháng 5 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 13 tháng 10 năm 1962; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 17 tháng 12 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Hải quân Bulgaria. + MPK-85; số hiệu xưởng 809; 7 tháng 7 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 4 năm 1963; gia nhập biên chế 29 tháng 2 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới Baltic, gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể. + MPK-4; số hiệu xưởng 810; 3 tháng 10 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1963; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1963’ 18 tháng 6 năm 1964 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy từ biển Đen tới Baltic, gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; trong giai đoạn từ 21 tháng 12 năm 1967 đến 15 tháng 2 năm 1968 ở xưởng số 29 “Tosmare” ở Liepai trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1972 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk (Daugavriva); 1 tháng 8 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Riga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:12:13 am + MPK-10; số hiệu xưởng 811; 23 tháng 2 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng 532 mang tên Butoma ở Kerch; 1 tháng 7 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 1 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1964; 8 tháng 7 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.
+ MPK-62; từ 1 tháng 8 năm 1986 là OS-573; số hiệu xưởng 812; 29 tháng 1 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; 19 tháng 2 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 20 tháng 10 năm 1964; 26 tháng 10 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 8 tháng 4 năm 1983 đến 7 tháng 3 năm 1986 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua đại tu; sau đó, 10 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu thí nghiệm; 12 tháng 7 năm 1989 loại khỏi danh sách Hải quân và bán cho câu lạc bộ thủy thủ trẻ ở Dnepropetropavlov để sử dụng trong các mục đích huấn luyện. + MPK-68; số hiệu xưởng 813; 8 tháng 8 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 23 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + MPK-38; số hiệu xưởng 814; 29 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên B.E.Butoma ở Kerch; 12 tháng 8 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 5 năm 1965; 24 tháng 6 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 4 tháng 6 năm 1982 đến 1 tháng 1 năm 1985 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu, sau đó bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó bị xẻ kim loại ở Sevastopol. + MPK-19; số hiệu xưởng 815; 31 tháng 12 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân, hạ thủy 23 tháng 7 năm 1965; gia nhập biên ché 28 tháng 12 năm 1965; 15 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 10 tháng 2 đến 17 tháng 6 năm 1981 và 17 tháng 2 năm 1985 đến 1 tháng 8 năm 1986 ở “Sevmorezavod” trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:12:35 am + MPK-59; số hiệu xưởng 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; 12 tháng 3 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế 28 tháng 3 năm 1966; 18 tháng 4 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 14 tháng 10 năm 1975 loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Hải quân Bulgaria.
+ MPK-100 số hiệu xưởng 817; 9 tháng 7 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 12 tháng 3 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 4 năm 1966; gia nhập biên chế 5 tháng 9 năm 1966; 15 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 31 tháng 1 năm 1975 đến 26 tháng 6 năm 1976 trên xưởng ở Kerch và từ 16 tháng 12 năm 1983 đến 22 tháng 5 năm 1986 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể. + MPK-109; số hiệu xưởng 818; 4 tháng 11 năm 1965 khởi công trên xưởng số 532 mang tên Butoma ở Kerch; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1966; 7 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1973 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; trong giai đoạn từ 24 tháng 8 năm 1981 đến 15 tháng 9 năm 1982 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu, sau đó bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Hải quân Bulgaria. + MPK-106; số hiệu xưởng 819; 30 tháng 8 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng số 532 tại Butoma tại Kerch theo đề án 204-E; hạ thủy 21 tháng 3 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1967; bán cho hải quân Rumani. + MPK-125; số hiệu xưởng 820; 28 tháng 2 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” mang tên Butoma ở Kerch theo đề án 204-E; hạ thủy 29 tháng 6 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1967; bán cho Hải quân Rumani. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 12:12:58 am + MPK-128; số hiệu xưởng 821; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; 18 tháng 9 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” mang tên Butoma ở Kerch; hạ thủy 10 tháng 1 năm 1968; gia nhập biên chế 30 tháng 4 năm 1968; 23 tháng 5 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 14 tháng 11 năm 1975 đến 1 tháng 10 năm 1979 ở xưởng “Công nhân cơ khí đỏ” mang tên Gorki tại Zelenodolsk trải qua đại tu; sau đó bị loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở Ochakovo; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ.
+ MPK-?; số hiệu xưởng 822; khởi công trên ụ xưởng “Zaliv” mang tên Butoma ở Kerch theo đề án 204-E năm 1967; gia nhập biên chế năm 1967; bán cho Hải quân Rumani. + MPK-169; số hiệu xưởng 501; 15 tháng 4 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 10 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 27 tháng 6 năm 1974 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka thuộc Hạm đội Thái Bình Dương; 28 tháng 5 năm 1980 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1980 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Rakovaia. + MPK-103; số hiệu xưởng 502; 3 tháng 3 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1962 gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 27 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 5 tháng 7 năm 1982 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1982 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Rakovaia. + MPK-107; từ 12 tháng 8 năm 1983 là SM-450; số hiệu xưởng 503; 31 tháng 7 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 5 năm 1963; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 6 năm 1983 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí, cải tạo thành tàu mục tiêu để bảo đảm thực hiện bắn ở vịnh Razboinik trong dạng neo đậu; 19 tháng 8 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ; 30 tháng 11 năm 1988 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:05 am + MPK-1; số hiệu xưởng 504; 15 tháng 12 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 7 năm 1963; gia nhập biên chế 27 tháng 10 năm 1964; 20 tháng 11 anwm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 31 tháng 5 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1984 giải thể.
+ MPK-17; số hiệu xưởng 505; 8 tháng 10 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 8 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1964; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1965; 21 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 6 tháng 11 năm 1967 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 25 tháng 6 năm 1985 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể. + MPK-20; từ 12 tháng 8 năm 1983 là SM-448; số hiệu xưởng 506; 20 tháng 11 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; 15 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 1 tháng 7 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Ussuri; 20 tháng 6 năm 1983 tháo niêm cất, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu để đảm bảo huấn luyện bắn; 19 tháng 8 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ; 30 tháng 11 năm 1988 giải thể và neo đậu ở vịnh Razboinik. + MPK-111; số hiệu xưởng 507; 30 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov tại Khabarovsk; 26 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 4 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1966; 17 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; từ 16 tháng 5 năm 1968 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1988 giải thể và nhanh chóng đưa tới khu vực bãi cạn ở vịnh Rakovaia. + MPK-112; số hiệu xưởng 508; 24 tháng 9 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 7 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1966; 14 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 17 tháng 8 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1984 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Rakovaia. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:25 am + MPK-114; số hiệu xưởng 509; 25 tháng 9 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 4 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1967; 13 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể.
+ MPK-134; số hiệu xưởng 510; 25 tháng 1 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 7 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1967; 26 tháng 12 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 1 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể. + MPK-136; số hiệu xưởng 511; 25 tháng 8 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng ở Khabarovsk số 638 mang tên Kirov; hạ thủy 12 tháng 10 năm 1967; 12 tháng 1 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1987; 11 tháng 9 năm 1968 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatka; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và nhanh chóng đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Racovaia. + MPK-56; số hiệu xưởng 101; 22 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 23 tháng 10 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; hạ thủy 7 tháng 4 năm 1961; mùa hè năm 1961 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 7 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 18 tháng 10 năm 1973 đến 24 tháng 4 năm 1974 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakov trải qua trung tu; 5 tháng 6 năm 1979 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1979 giải thể và tháo kim loại ở Murmansk. + MPK-79; số hiệu xưởng 102; 13 tháng 2 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 19 tháng 8 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 340 “Công nhân cơ khí đỏ” mang tên Gorki tại Zelenodolsk thuộc Cộng hòa Xô viết Tartastan; hạ thủy 7 tháng 6 năm 1961 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 3 tháng 9 năm 1974 đến 6 tháng 1 năm 1975 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyankovo trải qua trung tu; 31 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:46 am + MPK-84; từ 10 tháng 7 năm 1980 là SM-261; số hiệu xưởng 103; 13 tháng 2 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 8 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; hạ thủy 23 tháng 8 năm 1961 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 22 tháng 9 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 28 tháng 5 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chiến đấu; 10 tháng 9 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ, sau đó tháo kim loại ở Murmansk.
+ MPK-150; số hiệu xưởng 104; 22 tháng 7 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk thuộc nước Cộng hòa Xô viết Tartastan; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 6 tháng 9 năm 1961, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 20 tháng 6 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể. + MPK-166; số hiệu xưởng 105; 21 tháng 3 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 4 tháng 12 năm 1961; mùa xuân năm 1962 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 20 tháng 6 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 8 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ, sau đó tháo kim loại ở Riga. + MPK-156; số hiệu 106; 12 tháng 6 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 4 năm 1962; mùa hè năm 1962 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 31 tháng 5 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1984 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Murmansk. + MPK-13; số hiệu xưởng 107; 30 tháng 8 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 4 tháng 7 năm 1962 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodivinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 23 tháng 7 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 25 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm 1976 và từ 23 tháng 4 năm 1981 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu và đại tu; 25 tháng 6 năm 1985 do không có tài chính để tiếp tục sửa chữa, bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:04:04 am + MPK-45; số hiệu xưởng 108; 18 tháng 11 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 6 tháng 8 năm 1962, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1972 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 8 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; từ 1 tháng 3 năm 1989 ở xưởng số 33 tại Baltic trải qua đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 do không có kinh phí, bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Baltic.
+ MPK-50; số hiệu xưởng 109; 9 tháng 11 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 9 tháng 11 năm 1962; mùa hè năm 1963 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 8 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 10 tháng 10 năm 1990 giải thể và neo đậu ở Ust-Dvinsk, nơi sau đó bị đắm do các thiết bị đáy và thân xuống cấp nặng; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại. + MPK-55; số hiệu xưởng 110; 18 tháng 2 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 6 tháng 4 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 10 năm 1962; mùa hè năm 1963 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1964; 18 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 11 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 6 năm 1986 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga. + MPK-70; số hiệu xưởng 111; tháng 3 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 1 tháng 7 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy cuối năm 1963, mùa xuân năm 1964 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế mùa thu năm 1964; 26 tháng 10 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1972 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể, bị đắm do các thiết bị đáy – thân xuống cấp nặng khi đang đậu ở Ust-Dvinsk; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại. + MPK-63; số hiệu xưởng 112; 11 tháng 4 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 6 tháng 4 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 8 năm 1963, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 8 năm 1964; 15 tháng 9 năm 1964 tạm thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa thu năm 1964 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk; 11 tháng 11 năm 1964 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 24 tháng 10 năm 1972 đến 24 tháng 4 năm 1974 ở xưởng số 82 ở cảng Poslyakovo trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1981 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 6 năm 1984 tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, khi neo đậu ở vịnh “hồ Chervian” đã bị đắm do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Mười Một, 2012, 05:42:54 pm + MPK-21; số hiệu xưởng 113; 8 tháng 6 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodosk; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 12 tháng 6 năm 1963, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen. Mùa hè năm 1965, di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Sevastopo tới biển Trắng; 24 tháng 6 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 18 tháng 10 năm 1973 đến 27 tháng 5 năm 1974 ở xưởng số 82 trên cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.
+ MPK-23; số hiệu xưởng 114; 15 tháng 10 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 23 tháng 7 năm 1963 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1975 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 4 tháng 8 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó bị đắm ở Ust-Dvinsk khi đang neo đậu do đáy và thành tàu xuống cấp nặng; sau đó phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia tháo kim loại. + MPK-27; số hiệu xưởng 115; 22 tháng 2 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1963; mùa hè năm 1964 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1965; 15 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và tháo kim loại ở Riga. + MPK-25; số hiệu xưởng 116; 23 tháng 2 năm 1965 khởi công trên xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 7 tháng 7 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1964, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1965; 2 tháng 10 năm 195 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:13:50 am + MPK-29; số hiệu xưởng 117; 16 tháng 5 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 7 tháng 7 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 3 tháng 6 năm 1964, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 21 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Sevastopol tới Leningrad; 20 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.
+ MPK-18; số hiệu xưởng 118; 27 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 9 năm 1964, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1965; 11 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1966 di chuyển từ Leningrad tới biển Trắng; 20 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 3 tháng 11 năm 1983 tới 15 tháng 11 năm 1984 ở xưởng số 82, tại cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể, năm 1998 bị đắm ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị đáy, thân bị xuống cấp nặng. + MPK-54; số hiệu xưởng 119; 6 tháng 11 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 17 tháng 11 năm 1964; tháng 5 năm 1965 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1965; 11 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Sevastopol tới biển Trắng; 20 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 7 tháng 10 năm 1975 đến 10 tháng 6 năm 1977 và từ 26 tháng 3 đến 12 tháng 7 năm 1985 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua đại tu và trung tu; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1988 giải thể và nhanh chóng bị đắm ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị thân, đáy xuống cấp nặng. + MPK-74; số hiệu xưởng 120; 13 tháng 1 năm 1964; khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1965, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1966; 18 tháng 7 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 11 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 6 năm 1986 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga. + MPK-80; số hiệu xưởng 121; 23 tháng 3 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 5 tháng 7 năm 1965, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 10 tháng 8 năm 1966; 6 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 3 năm 1970 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc; mùa xuân năm 1970 di chuyển từ Baltic tới biển Trắng; 28 tháng 2 năm 1986 trở lại biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và tháo kim loại ở Riga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:14:31 am + MPK-86; số hiệu xưởng 122; 15 tháng 6 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; hạ thủy 19 tháng 7 năm 1965; 6 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 27 tháng 9 năm 1967; 8 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 13 tháng 2 năm 1968 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; trong giai đoạn từ 10 tháng 6 năm 1977 tới 27 tháng 11 năm 1985 ở xưởng số 82 tại Roslyakovo trải qua đại tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và tháo kim loại ở Murmansk.
+ MPK-90; số hiệu xưởng 123; 21 tháng 9 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; hạ thủy 18 tháng 11 năm 1965; 6 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 26 tháng 11 năm 1966; 12 tháng 12 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 10 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể, sau đó bị đắm khi đang neo đậu ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị đáy, thân xuống cấp nặng. + MPK-92; số hiệu xưởng 124; 8 tháng 7 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 6 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân, hạ thủy 24 tháng 5 năm 1966, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1966; 7 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1975 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ, sau đó bị đắm khi đang đậu ở Ust-Dvinsk do các thiết bị đáy, thân xuống cấp nặng; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia tháo kim loại. + MPK-95; số hiệu xưởng 125; mùa thu năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; hạ thủy đầu năm 1966; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên ché 29 tháng 6 năm 1967; 20 tháng 7 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1988 giải thể, sau đó bị đắm ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị đáy, thân bị xuống cấp nặng. + MPK-97; số hiệu xưởng 126; 1 tháng 3 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1966; mùa xuân năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1967; 14 tháng 9 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và nhanh chóng tháo dỡ kim loại ở Riga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:14:49 am + MPK-83; số hiệu xưởng 127; 5 tháng 5 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 2 tháng 11 năm 1986; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa xuân năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 9 nắm 1967; 13 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa thu năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Azov tới Baltic; 14 tháng 12 năm 1967 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; 10 tháng 7 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1991 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga.
+ MPK-94; số hiệu xưởng 128; 12 tháng 7 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 1 năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1967; 26 tháng 12 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 8 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; sau đó bị đắm ở Ust-Dvinsk do các thiết bị đáy thân bị xuống cấp nặng; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia tháo kim loại. + MPK-98; số hiệu 129; 21 tháng 9 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 6 tháng 5 năm 1967; mùa hè năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1967; 11 tháng 1 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 15 tháng 7 năm 1968 chuyển biên chế sang Hạm đội Baltic, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới Baltic; 20 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể. + MPK-102; số hiệu xưởng 130; 11 tháng 11 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1967, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1968; 25 tháng 7 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể. + MPK-119; số hiệu xưởng 131; 20 tháng 3 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1967; 12 tháng 1 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1968; 21 tháng 10 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa xuân năm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới Baltic; 23 tháng 12 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể, sau đó bị đắm khi đang neo đậu ở Ust-Dvinsk do các thiết bị đáy, thân xuống cấp nặng; sau đó được Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:15:07 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + tiêu chuẩn: 439 + hoàn toàn: 555 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 58,3 (56) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 8,17 (7,85) + lượng mớn nước lớn nhất: 3,09 Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – diesel, tổ hợp tuabin khí D2 + 2 máy nén tuabin khí D-2K, tổng công suất, sức ngựa (kW): 30 000 (22 050) + 2 động cơ diesel M-504, tổng công suất, sức ngựa (kW): 6 600 (4850) 2 trục; 2 bánh lái chân vịt trong các ống trong với sự tăng áp Tốc độ, hải lý + tối đa: 35 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2500 (14) Thời gian hoạt động, ngày: 7 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 54 (5). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:23:02 am Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 57mm AK-725 hoặc ZiF-31B (trên 2 tàu đầu tiên): 1x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 400mm OTA-40-204: 4x1 + đạn ngư lôi SET-40: 4 Chống ngầm + RBU-6000 “Smerch-2” (trên 2 tàu đầu tiên – RBU-2500): 2x12 + đạn RGB-60: - Mìn + có thể mang theo mìn trên boong trên: 18 (thay cho bom chìm). Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-302 “Rubka” (Strut Curve) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Vaigach” (Don-2 hoặc Spin Trough) Đài thủy âm: “Hercules-2M” Các khí tài tác chiến điện tử: “Bizan-4B” (2 Watch Dog) Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1xMR-103 “Bars” (Muff Cob) cho pháo 57mm Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: (High Pole B). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:36 am Các tàu chống ngầm kiểu MPK-17 – Đề án 1124 “Albatros” – Lớp Grisha (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_24.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 43 Các biến thể + 1124 (lớp Grisha-I) – đề án tàu chống ngầm loại nhỏ cơ sở (1970) + 1124 (lớp Grisha-III) – lắp bổ sung tổ hợp pháo phòng không AK-630 (1970) + 1124-P (lớp Grisha-II) – tàu tuần duyên biên phòng với pháo 57mm thay cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” (1973) + 1124-K (lớp Grisha-IV) – tàu chống ngầm loại nhỏ thí nghiệm để thí nghiệm tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” + 1124-M (lớp Grisha-V) – tàu chống ngầm loại nhỏ nâng cấp với trang bị pháo và đài ra đa định vị mới (1982) Năm 1963, ở Phòng thiết kế trung ương số 340 tại Zelenodolsk đã có các thí nghiệm chế tạo tàu tuần duyên chống ngầm (PLO) thế hệ thứ nhất và thứ hai, nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 (mã số “Albatros”) đã được đưa ra, được sử dụng để bảo vệ các căn cứ Hải quân, vị trí (địa điểm) đóng quân, bến đỗ tàu, đồng thời để bảo đảm chống ngầm bảo vệ các tàu và tàu vận tải khi hoạt động trên biển. Tháng 6 năm 1964, Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu Liên Xô đã nghiên cứu đề án sơ bộ tàu chống ngầm loại nhỏ “Albatros”. Khi thiết kế đề án mới, tập thể dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư Yu.A.Nikolski, bằng kinh nghiệm thiết kế đã trang bị cho tàu chống ngầm loại nhỏ và lượng choán nước trung bình rất khác thường. Trong trường hợp này, khi “sự đơn giải đối với trí tưởng tượng” của những người thiết kế đã bị hạn chế rất nhiều bởi nhiệm vị kỹ chiến thuật cụ thể, được xác định không chỉ ở thành phần vũ khí (đài thủy âm nhìn vòng “Argun” với ăng ten trong mũ chụp dưới sống tàu, đài thủy âm hạ “Shelon”, 2 thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm, 2 thiết bị phóng bom phản lực, thiết bị pháo 57mm để tự vệ), đồng thời ước định trước kiểu thiết bị năng lượng chính và hạn chế lượng choán nước của tàu trong khối lượng 800 tấn. Sự giám sát thiết kế từ Hải quân là cộng tác viên Viện nghiên cứu khoa học trung ương đóng tàu quân sự - thuyền trưởng cấp 2 I.V.Kozlovski, đồng thời tham gia trong việc nghiên cứu nhiệm vụ kỹ chiến thuật. Sự cần thiết hỗ trợ dài trong tốc độ tìm kiếm không cao và các khả năng trong trường hợp cần thiết đạt tốc độ tối đa gần 35 hải lý được xác định cho tàu chống ngầm loại nhỏ là thiết bị động cơ diesel-tuabin khí 3 trục tối ưu của thiết bị năng lượng chính. Vấn đề được đặt ra cho mẫu tiếp nhận chiến đấu của tàu: nghe trong khi di chuyển, “trinh sát thủy âm” “khi dừng” khi có sự hỗ trợ của đài thủy âm thả (hạ), phát hiện mục tiêu ngầm và bước “nhảy” nhanh một cách tối đa tới khu vực xác định có mục tiêu phỏng đoán để thực hiện cuộc tấn công sau. Các trục bên sẽ quay bằng 2 động cơ diesel M-507A công suất mỗi động cơ 10 000 sức ngựa, còn trục giữa – GTU-8 công suất 18 000 sức ngựa. Cũng như dưới (bằng) động cơ tuabin khí, cũng như bằng 2 động cơ diesel, tàu đạt tốc độ 20 hải lý. Trong chế độ hoạt động bằng động cơ diesel, tầm bơi xa ở tốc độ 18 hải lý không thấp hơn 2500 dặm, còn ở tốc độ tối đa khi cả 3 động cơ cùng hoạt động – 35. Hệ thống năng lượng điện của tàu có tổng công suất 1000 kW được tạo ra từ 3 máy phát điện – diesel công suất 200, 300 và 500 kW. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:53 am Sự chú ý chính của các nhà thiết kế tập trung vào tối ưu hóa tốc độ và khả năng đi biển của tàu, được cung cấp bởi mũ chụp dưới sống tàu chính lớn của đài thủy âm. Mũ chụp này do các kích thước của nó đã chỉ ra sự định tâm và chất lượng di chuyển “của thân chính” có chiều dài theo vạch mớn nước thiết kế 66 mét và rộng 9,3 mét. Cac chuyên gia Phòng thiết kế trung ương số 340 đã thiết kế hình dáng khác thường đối với phần dưới thân tàu, có lợi cho ưu thế phối hợp của thân tàu sắc và tròn, còn cho thành nổi, để giảm ngập và văng đã thiết kế hình dáng phức tạp với “vành” dọc được làm bằng – các gờ. Trong bể thí nghiệm của Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ Krưlov đã thực hiện một số loạt thí nghiệm lai dắt, khẳng định chất lượng tốc độ của các đường bao thiết kế. Tình trạng của tàu trên song liên tục và không liên tục, đồng thời sự ngập và văng đã được nghiên cứu trên mô hình động. Thượng tầng liền, kéo dài trong sự kết hợp với thiết kế phi truyền thống được tiếp nhận để tăng cường thành tàu nổi, nhưng không ảnh hưởng đến chiều cao thành tàu, nhờ đó không chỉ tăng khả năng cơ động trên biển, mà còn cho phép nhận được thể tích bổ sung bên trong thân tàu. Đây là việc rất có lợi, khi sau nghiên cứu đề án sơ bộ, bằng quyết định chung của Hải quân và Bộ công nghiệp đóng tàu, Phòng thiết kế trung ương số 340 đã nhận được bố trí trên tàu tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ (tầm gần) “Osa-M” với cơ số 20 đạn tên lửa 9M33. Ban đầu, thiết bị phóng ZiF-122 được tháo, dự định lắp ở mạn tàu, di chuyển tới mũi pháo tự động nòng đội 57mm AK-725 (giải pháp này được cho là cần thiết một cách cứng rắn bởi nhà thiết kế “Osa-M” gần với thiết bị phóng bên cạnh với “đài bắn” của tổ hợp 4K33).
Kết quả trong đề án kỹ thuật được thực hiện năm 1965 đã thành công trong việc thực hiện toàn bộ các yêu cầu kỹ chiến thuật của Hải quân, đã chế tạo theo thời gian đó vũ khí không tồi, tàu chuyên dụng tốc độ cao và khả năng cơ động tốt (như đã chỉ ra) để tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm gần bờ và “nằm” trong lượng choán nước hoàn toàn 900 tấn. Tìm kiếm, phát hiện và phân loại các mục tiêu ngầm, cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho hệ thống chỉ huy – điều khiển “Drakon-1124” được thực hiện bởi đài thủy âm “Argun” và đài thủy âm thả “Shelon” (đài thủy âm “Argun” được giới thiệu là “phiên bản thấp” của đài thủy âm “Titan” được chế tạo cho các tàu chống ngầm lớn lớp “Berkut” đề án 1134-A và tàu tuần duyên cấp 2 “Burevestnik” đề án 1135). Tấn công tàu ngầm bị phát hiện có thể được thực hiện bằng các ngư lôi tự dẫn bắn “Enot-2” (hoặc SET-65) từ các thiết bị ngư lôi 2 ống phóng không cố định DTA-53-1124 cũng như bằng các bom phản lực RGB-60, bắn từ 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000, 2 thiết bị phóng 12 nòng được bố trí theo thành tàu ở phần mũi của thượng tầng, còn bố trí dưới trúng là 96 bom phản lực RGB-60. Để bảo vệ tàu khỏi tàu loại nhỏ và xuồng máy của địch, đồng thời tiêu diệt các mục tiêu trên không, sử dụng tổ hợp pháo AK-725 trong thành phần thiết bị pháo tự động 57mm, bố trí ở mạn tàu, và hệ thống ra đa định vị điều khiển bắn “Bars” MR-103. Nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu đơn lẻ đồng thời được giải quyết bằng tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”, mà trong thành phần của nó gồm có hệ thống điều khiển 4R33, thiết bị phóng 2 thùng ZiF-122 (bố trí trong tư thế không hoạt động dưới boong là thùng trong “cốc” thiết bị phóng) với hệ thống cung cấp và nạp đạn 20 tên lửa điều khiển 9M33. Việc phát hiện các mục tiêu trên không và nổi, đồng thời chỉ thịch mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không được thực hiện bằng đài ra đa định vị MR-302 “Rubka”. Việc đống loạt tàu chống ngầm loại nhỏ lớp “Albatros” phê duyệt bởi mệnh lệnh từ Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô số 680-280 mùng 10 tháng 8 năm 1964, tuy nhiên đề án kỹ thuật thỏa hiệp 1124, được hiệu chỉnh theo các kết quả các thí nghiệm đầu năm 1970 của tàu đầu tiên, chỉ được hình thành trong năm 1972. Lượng choán nước hoàn toàn của tàu chống ngầm loại nhỏ là 940 tấn. Từ thành nổi “vành” phác họa, dư thừa trong thiết kế thân phức tạp và công nghệ chế tạo chúng đã được chỉ ra khi nghiên cứu tài liệu làm việc, một vào sự đơn giản hóa được áp dụng trên bộ phận thân tàu. Sự sản xuất loạt tàu chống ngầm loại nhỏ đã đáp ứng hoàn toàn các câu hỏi nhiệm vụ đặt ra cho nó. Tốc độ tối đa của tàu khi hoạt động trên động cơ diesel và tuabin khí là 35 hải lý. Bằng cách này, khi ở công suất gần như giống công suất thiết bị năng lượng chính với đề án 204, tàu chống ngầm loại nhỏ có cùng tốc độ này với lượng choán nước lớn hơn đáng kể. Các tàu mới được sử dụng tốt trong các Hạm đội, nơi chúng trở thành lực lương bảo vệ khu vực mặt nước chính. Các chuyên gia NATO gọi chúng dưới tên “lớp Grisha”. Mặc dù có nhiệm vụ hạn chế ban đầu, các tàu chống ngầm loại nhỏ “Albatros” thuộc Hạm đội Biển Đen được sử dụng hoạt động phục vụ chiến đấu trên biển Địa Trung Hải. Sự kiện này nói về việc chất lượng chiến đấu của chúng không hề tồi. Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng các tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 đã xuất hiện các nhược điểm của chúng mà rõ ràng, không có trên bất kỳ đề án nào khác. Nhược điểm chính là khả năng đi biển không đạt yêu cầu, đặc biệt là ở biển Bắc, trước hết là ở đáy, là kết quả của nguồn gốc “tàu loại nhỏ” các đường bao thân tàu và sự xuất hiện ăng ten thủy âm dưới sống tàu quá lớn. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:06 am Các biến thể (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_22.jpg) Trong quá trình đóng tàu đề án 1124 đã trang bị bổ sung tổ hợp pháo 30mm AK-630/MR-123, trong đó có đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Vưmpel” và các pháo 57mm và 30mm. Ở phương Tây, tàu chống ngầm loại nhỏ với những thay đổi mang tên “lớp Grisha-III”. Nói chung, ban đầu các tàu này được cho là thành công và với các biến thế khác nhau, việc đóng chúng được tiếp tục cho tới khi Liên Xô tan rã và thậm chí sau đó. Trên MPK-5, từ năm 1982, đã thí nghiệm tổ hợp chống ngầm thí nghiệm mới RPK-5 “Liven” (RBU-10000) lắp trên mũi thay ch RBU-6000. Tuy nhiên sau các thí nghiệm này, tổ hợp không được tiếp nhận vào trang bị do hiệu quả chống ngầm thấp trên tầm xa lớn. Đầu những năm 1970, theo mệnh lệnh của KGB (Ủy ban an ninh quốc gia) Liên Xô cho các đơn vị biên phòng trên biển, trên cơ sở tàu chống ngầm loại nhỏ đã chế tạo tàu tuần duyên biên phòng đề án 1124-P với sự đơn giản hóa thành phần vũ khí: thay cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” – thiết bị pháo AK-725 thứ hai. Theo đề án này, các xưởng đã đóng 17 tàu tuần duyên biên phòng, số lượng lớn trong số đó, trong sự khác biệt với tàu chống ngầm loại nhỏ của Hải quân, không nhận số hiệu, mà là tên của một cá nhân đặc biệt (ngoài ra, lực lượng tuần duyên biên phòng được bàn giao một số tàu cơ sở thuộc đề án 1124). Các chuyên gia phương Tây gọi chúng bằng tên “lớp Grisha-III”. Năm 1976, Phòng thiết kế trung ương Zelenodolsk đã nghiên cứu đề án kỹ thuật rút gọn 1124-M, có những sự khác biệt so với đề án cơ sở: đài thủy âm dưới sống tàu mới “Platina”, thiết bị pháo 57mm thay bằng pháo 76mm AK-176, tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” bằng “Osa-MA”. Ngoài ra, dưới sống đuôi của tàu đã quyết định lắp tổ hợp bánh lái – di chuyển hỗ trợ. Kết quả là lượng dãn nước tăng lên 30 tấn, tốc độ giảm xuống 3 hải lý. Tổng cộng đã đóng 20 tàu đề án 1124-M (lớp “Grisha-V”), trong đó, tàu cuối cùng được lắp đài ra đa định vị “Fregat-MA”. Vì thế, việc sản xuất đài ra đa định vị “Rubka” đã dừng lại, chưa kịp thiết kế mới. Sự phát triển tiếp theo của đề án 1124 theo hướng thay vũ khí hiện đại hơn đã bị cản trở do thiếu (không có) nguồn nâng cấp. Việc này rõ ràng đã xuất hiện trong quá trình thiết kế, đóng và khai thác sử dụng tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124-K, được chế tạo đặc biệt cho các thí nghiệm trên biển của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ đa kênh “Kinzhal” mới. Việc lắp thiết bị phóng thẳng của tổ hợp tên lửa mới, gồm có 3 mặt trống 8 thùng phóng được bố trí ở mũi tàu MPK-104, còn trạm ăng ten hệ thống điều khiển - ở mạn, thay cho thiết bị pháo 76mm. Ở phương Tây, các tàu này được gọi là “lớp Grisha-IV”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:00 am Chương trình đóng tàu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_17.jpg) Tàu đầu tiên trong đề án 1124 – MPK-17 được khởi công trên ụ xưởng mang tên Gorki ở thành phố Zelenodolsk năm 1967, hạ thủy 13 tháng 10 năm 1968 và và bàn giao cho Hải quân tháng 10 năm 1970. Tổng cộng đến năm 1986 theo đề án này đã đóng 38 tàu, trong số đó – 19 ở xưởng tại Zelenodolsk, 14- xưởng Khabarovsk và 5 – xưởng “Lò rèn Lenin” (Kiev). Ngoài ra, ở xưởng Vladivostoc từ năm 1981 đến năm 1983 đã đóng 5 tàu đề án 1124, gia nhập biên chế lực lượng biên phòng trên biển thuộc KGB (hiện nay là Cục biên phòng Nga – FPS RF). Từ năm 1980, ở Zelenodolsk, Khabarovsk và Kiev đã đóng song song các tàu theo đề án nâng cấp 1124-M. Tình hình đến năm 2007 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_22.jpg) Sau khi đóng loạt tàu chống ngầm loại nhỏ “Albatros”, các tàu này được biên chế vào cả 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô. Hiện nay, trong biên chế Hải quân Nga còn 5 tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Các tàu còn lại bị loại khỏi biên chế trong những năm 1990 hoặc bán cho các nước láng giềng: 2 – năm 1993 cho Litva; thêm 2 tàu năm 1997 gia nhập biên chế Hải quân Ucraina. Thêm ba tàu nữa trong lớp này thuộc về biên chế Cục biên phòng Nga và phục vụ bảo vệ biên giới biển trên Thái Bình Dương. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:31 am Bản vẽ tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_27.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_28.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124draw_01.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124draw_03.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:09:24 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_21.jpg) Thiết bị pháo 57mm trên mạn tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_25.jpg) Mạn tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 đóng những năm 1980. Trên tàu lắp bổ sung tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630 và đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực mới MR-123 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1124_09.jpg) Hình vẽ tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:46:32 am Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - đang phục vụ trong biên chế)+ MPK-147; số hiệu xưởng 701; 26 tháng 12 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng “Công nhân cơ khí Đỏ” mang tên Gorki tại Zelenodolsk thuộc nước Cộng hòa Xô viết Tartastan; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 12 năm 1967; mùa xuân năm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1970; 25 tháng 9 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1985, 1985 và 1991 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 19 tháng 9 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1994 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Sevastopol. + MPK-5; số hiệu xưởng 702; 30 tháng 12 năm 1967 khởi công trên ụ tại xưởng ở Zelenodolsk; 15 tháng 6 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 16 tháng 10 năm 1968, mùa hè năm 1969 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1970; 24 tháng 11 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn 19 tháng 6 đến 7 tháng 8 năm 1979 ở xưởng tại Feodosia, từ 25 tháng 5 năm 1983 đến 17 tháng 12 năm 1985 và từ 19 tháng 10 năm 1988 đến 12 tháng 3 năm 1990 ở “Sevmorezavldo” mang Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua sửa chữa định kỳ và trung tu; 24 tháng 8 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1993 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + MPK-131; số hiệu xưởng 703; 25 tháng 5 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 29 tháng 1 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 4 tháng 7 năm 1969, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1970; 9 tháng 2 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 5 năm 1978 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 7 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 31 tháng 1 năm 1991 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1991 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + MPK-133; số hiệu xưởng 704; 4 tháng 10 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; 29 tháng 1 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 17 tháng 12 năm 1969; mùa hè năm 1970 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1971; 27 tháng 10 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 26 tháng 3 đến 27 tháng 11 năm 1985 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay ở Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 11 tháng 2 năm 1994 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + MPK-33; số hiệu xưởng 704; 23 tháng 5 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; 25 tháng 4 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1970, mùa hè năm 1970 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1971; 27 tháng 1 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 6 tháng 11 năm 1975 đến 28 tháng 3 năm 1980 và từ 7 tháng 7 năm 1989 đến 23 tháng 1 năm 1990 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua đại tu và trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 7 tháng 2 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể, sau đó đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Nezametnaia. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:46:59 am + MPK-47; số hiệu xưởng 706; 5 tháng 9 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 17 tháng 7 năm 1970; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân, mùa hè năm 1971 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1971; 27 tháng 1 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 11 tháng 11 năm 1987 đến 9 tháng 6 năm 1988 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 20 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và năm 1997 khi đang đậu ở cảng Vladimir trong tình trạng nửa đắm do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng.
+ MPK-52; số hiệu xưởng 100; 30 tháng 10 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk;9 tháng 4 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1971, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 8 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ucraina, đổi tên thành U210 “Herson” và phân loại thành tàu tuần duyên; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga. + MPK-36; số hiệu xưởng 10; 9 tháng 2 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; năm 1970-1972 đóng ở xưởng Khabarvosk mang tên Kirov; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1972; 8 tháng 2 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1993 giải thể. + MPK-65; số hiệu xưởng 707; 10 tháng 7 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 2 năm 1971, mùa hè năm 1971 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1972; 31 tháng 10 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 10 năm 1978 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 6 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + MPK-3; số hiệu xưởng 708; 12 tháng 10 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 9 tháng 7 năm 1971; 11 tháng 2 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân, mùa hè năm 1972 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1972 để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 20 tháng 4 năm 1992 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1992 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:47:20 am + MPK-41; số hiệu xưởng 11; 12 tháng 4 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 4 tháng 4 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 8 năm 1972, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1972; 8 tháng 2 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 8 tháng 9 năm 1988 khi đang hoạt động trên biển Nhật Bản trong cuộc hành quân huấn luyện của Hạm đội Thái Bình Dương đã va chạm với tàu tuần duyên của lực lượng Biên phòng KGB và bị thương, sau đó được sửa chữa; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1993 giải thể.
+ MPK-8; số hiệu xưởng 709; 3 tháng 3 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 30 tháng 1 năm 1972; 4 tháng 4 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân, mùa hè năm 1972 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1973; 26 tháng 10 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 29 tháng 10 năm 1985 sau khi rời khỏi ụ khô Phương Bắc tới Sevastopol khi đang kéo, do các trục ổ đỡ hoạt động bị tràn nước biển và với độ nghiêng lớn về thành bên trái, mạn tàu bị chìm xuống nước, nhưng vẫn giữ được độ nổi và phải trở lại ụ để khắc phục sự cố; 1 tháng 12 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Donuzlav; 1 tháng 6 năm 1990 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 12 năm 1992 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol. + MPK-31; số hiệu xưởng 101; 30 tháng 9 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 5 tháng 2 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 4 năm 1973, mùa hè năm 1973 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1973; 26 tháng 10 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 5 tháng 7 năm 1974 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; mùa hè năm 1974 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; trong giai đoạn từ 3 tháng 11 năm 1983 tới 8 tháng 1 năm 1985 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo, từ 21 tháng 6 năm 1990 đến 30 tháng 8 năm 1991 ở xưởng số 35 “Sevmorput” ở Murmansk trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 7 tháng 2 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk. + MPK-117; số hiệu xưởng 12; 19 tháng 4 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 5 tháng 2 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 9 năm 1973; gia nhập biên chế 31 tháng 12 anwm 1973; 13 tháng 3 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 28 tháng 2 năm 1992 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1992 giải thể, năm 1998 khi đang đỗ ở vịnh Uliss lớn gần Vladivostoc bị đắm do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng. + MPK-43; từ 5 thangs4 năm 1983 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên cộng sản Odesa”; số hiệu xưởng 172; 1 tháng 8 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; 28 tháng 5 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1973, mùa hè năm 1973 theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1974; 23 tháng 1 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1989 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ukraina, đổi tên thành U-209 “Sumi” và phân loại thành tàu tuần duyên; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:47:36 am + MPK-81; số hiệu xưởng 13; 26 tháng 3 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 3 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 8 năm 1974; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1974; 7 tháng 3 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 11 tháng 2 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1994 giải thể.
+ MPK-40; số hiệu xưởng 715; 28 tháng 4 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; hạ thủy 23 tháng 5 năm 1974; 27 tháng 5 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1974 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để thực hiện các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1975; 25 tháng 10 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 28 tháng 3 – 4 tháng 4 năm 1984. + MPK-122; số hiệu xưởng 14; 27 tháng 5 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 14 tháng 3 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 23 tháng 8 năm 1975; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1975; 12 tháng 3 năm 1976 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể. +* MPK-127; từ 26 tháng 8 năm 1990 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên Gruzia”; số hiệu xưởng 102; 16 tháng 9 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng “Lò rèn Lenin” ở Kiev; 25 tháng 9 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 7 năm 1976; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1989 và 1991 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 27 tháng 7 năm 1997 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. + MPK-143; số hiệu xưởng 15; 25 tháng 2 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 22 tháng 3 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 3 tháng 7 năm 1976; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1976; 11 tháng 4 năm 1977 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1986 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 17 tháng 7 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1997 giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:48:01 am + MPK-138; số hiệu xưởng 716; 26 tháng 3 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 25 tháng 9 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 5 năm 1976; mùa hè năm 1976 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 3 tháng 11 năm 1983 đến 15 tháng 11 năm 1984 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể; năm 1998 khi đang đỗ tại cảng Linkhamari đã bị đắm một nửa do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng.
+ MPK-141; số hiệu xưởng 717; 15 tháng 3 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; 3 tháng 7 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 16 tháng 4 năm 1977, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1977; 29 tháng 11 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1978 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; 21 tháng 1 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 27 tháng 10 năm 1988 đến 25 tháng 5 năm 1989 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể; năm 1998 khi đang neo đậu ở vịnh Nezametnaia bị bão mạnh đánh lên bãi cạn gần bờ. + MPK-145; số hiệu xưởng 16; 29 tháng 10 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Khabarovsk mang tên Kirov; 22 tháng 3 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 6 năm 1977; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1992 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1995 giải thể; năm 1998 ở xưởng số 49 bị tháo dỡ thành kim loại. + MPK-152; số hiệu xưởng 718; 1 tháng 7 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; 18 tháng 11 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 18 tháng 6 năm 1977, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen, mùa hè năm 1978 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; 21 tháng 9 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 27 tháng 1 năm 1989 ở xưởng số 82 tại Roslyakovo và từ 3 tháng 11 năm 1993 đến 7 tháng 7 năm 1994 ở xưởng số 10 tại vịnh Pala đã trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể; năm 1998 khi đang neo đậu ở cảng Nezametnaia bị đánh lên bãi cạn gần bờ do bão mạnh. + MPK-170; số hiệu xưởng 17; 31 tháng 5 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 7 tháng 2 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1977; gia nhập biên chế 14 tháng 10 năm 1978; 23 tháng 11 năm 1978 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; năm 1978 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng bờ thánh Andrei; 31 tháng 7 năm 1996 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1996 giải thể, nhưng nhanh chóng ở trong tình trạng nửa đắm khi đỗ ở vịnh Rakovaia do các thiết bị đáy thân bị xuống cấp nặng. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:48:15 am + MPK-6; số hiệu xưởng 103; 15 tháng 7 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 13 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 3 tháng 6 năm 1978; mùa hè năm 1978 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 12 tháng 12 năm 1978; 24 tháng 1 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1979 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Donuzaliv; 1 tháng 8 năm 1982 tháo niêm cất và trở lại biên chế; năm 1985 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 27 tháng 7 năm 1997 (26 tháng 7 năm 1992 -?) thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 16 tháng 3 năm 1998 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.
+ MPK-161; số hiệu xưởng 719; 31 tháng 8 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; 1 tháng 10 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 6 tháng 5 năm 1978, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn gia, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1978; 24 tháng 1 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1984 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ 13 tháng 6 năm 1988 đến 28 tháng 4 năm 1993 ở xưởng tại Riga trải qua đại tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 31 tháng 7 năm 1996 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1996 giải thể. + MPK-4; số hiệu xưởng 18; 27 tháng 11 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 10 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 5 năm 1978; gia nhập biên chế 27 tháng 7 năm 1979; 13 tháng 9 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Anderi; 17 tháng 7 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1997 giải thể và năm 1998 ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn bị tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:26 am + MPK-2; số hiệu xưởng 720; 28 tháng 1 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; 10 tháng 2 năm 1978 khởi công trên ụ ở xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 24 tháng 3 năm 1979, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 28 tháng 11 năm 1979; 23 tháng 1 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; trong giai đoạn từ 5 tháng 2 đến 20 tháng 3 năm 1987 ở xưởng tại Riga trải qua sửa chữa định kỳ; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 17 tháng 7 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1997 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Baltic.
+ MPK-101; từ 3 tháng 11 năm 1989 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên Zaporozhski”; số hiệu xưởng 19; 31 tháng 5 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 22 tháng 1 năm 1979 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 3 tháng 10 năm 1978; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1979; 23 tháng 1 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 16 tháng 3 năm 1998 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể. + MPK-155; số hiệu xưởng 20; 20 tháng 12 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov tại Khabarovsk; hạ thủy 29 tháng 5 năm 1979; 31 tháng 7 năm 1979 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1980; 6 tháng 11 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; năm 1998 ở xưởng “Zvezda” tại cảng Đá Lớn tháo kim loại. + MPK-44; từ 30 tháng 9 năm 1983 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên Latvia”; số hiệu xưởng 104; 18 tháng 7 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 19 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân, hạ thủy 29 tháng 3 năm 1980, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1980; 6 tháng 11 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1984 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 28 tháng 3 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, bán cho Hải quân Litva và đổi tên thành F-11 “Zemaitis”; 1 tháng 6 năm 1993 giải thể. + MPK-37; số hiệu xưởng 21; 31 tháng 5 năm 1978 khởi công trên ụ xưởng ở Khabarovsk mang tên Kirvo; hạ thủy 20 tháng 10 năm 1979; 19 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 19 tháng 12 năm 1980; 31 tháng 12 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1995 giải thể; năm 1998 ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:41 am + MPK-108; số hiệu xưởng 722; 14 tháng 5 năm 1979 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 18 tháng 9 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân, hạ thủy 6 tháng 2 năm 1981, mùa xuân năm 1981 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1981; 9 tháng 2 năm 1982 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 28 tháng 4 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, bán cho Hải quân Litva, đổi tên thành F-12 “Aukstaitis”; 1 tháng 6 năm 1993 giải thể.
+(*) MPK-49; số hiệu xưởng 723; 23 tháng 3 năm 1980 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 27 tháng 10 năm 1980 ghi tên vào danh sách Hải quân, hạ thủy 14 tháng 2 năm 1982, mùa xuân năm 1982 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1982; 24 tháng 11 năm 1982 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 8 tháng 8 năm 1984 chuyển sang biên chế Hạm đội Biển Đen; tháng 9 năm 1984 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Azov, từ đó tới biển Đen; trong giai đoạn từ 1 tháng 3 năm 1989 đến 17 tháng 10 năm 1990 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua trung tu; 27 tháng 7 năm 1997 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. +(*) MPK-178; số hiệu xưởng 27; 30 tháng 11 năm 1982 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 29 tháng 2 năm 1984 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 5 năm 1984, gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1984; 15 tháng 1 năm 1985 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; năm 1986 và 1988 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. +(*) MPK-191; số hiệu xưởng 28; 31 tháng 11 năm 1982 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov tại Khabarovsk; 29 tháng 2 năm 1984 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1985; gia nhập biên chế 21 tháng 11 năm 1985; 7 tháng 1 năm 1986 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 24-28 tháng 12 năm 1987 tới thăm Hải Phòng (Việt Nam); 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. +(*) MPK-199; từ 18 tháng 12 năm 1985 tới 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên Armenia”; số hiệu xưởng 005; 20 tháng 2 năm 1984 khởi công trên ụ xưởng “Lò rèn Lenin” ở Kiev; 12 tháng 6 năm 1985 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 7 tháng 12 năm 1985, gia nhập biên chế 7 tháng 10 năm 1986; 5 tháng 11 năm 1986 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 27 tháng 7 năm 1997 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:57 am + “Bditelnưi”; số hiệu xưởng 40; năm 1979 khởi công trên ụ xưởng tại Vladivostoc; 18 tháng 3 năm 1981 ghi tên vào danh sách lực lượng biên phòng KGB, hạ thủy mùa xuân năm 1981, gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1981 và gia nhập biên chế lực lượng tuần duyên biên phòng Thái Bình Dương Camchatca; tham gia bảo vệ biên giới, vùng kinh tế của Liên Xô và Nga gần bờ biển Camchatca trên biển Bering và Okhot; 26 tháng 5 năm 1998 bán cho Cục biên phòng Nga để tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 13 tháng 6 năm 1998 loại khỏi biên chế Cục biên phòng Nga.
+(*) “Bezuprechnưi”; số hiệu xưởng 41; năm 1979 khởi công trên ụ xưởng Vladivostoc; 18 tháng 3 năm 1981 ghi tên vào danh sách lực lượng biên phòng KGB; hạ thủy mùa hè năm 1981; gia nhập biên chế 19 tháng 12 năm 1981; gia nhập biên chế lực lượng Cục biên phòng Camchatca ở Thái Bình Dương; tham gia bảo vệ biên giới, vùng kinh tên Nga gần bờ biển Camchatca trên biển Bering và Okhot. +(*) “Zorki”; số hiệu xưởng 42; 15 tháng 2 năm 1980 khởi công trên xưởng ở Vladivostoc; 18 tháng 3 năm 1981 ghi tên vào danh sách lực lượng biên phòng thuộc KGB; hạ thủy 2 tháng 11 năm 1981, gia nhập biên chế 29 tháng 10 năm 1982; gia nhập biên chế lực lượng biên phòng Camchatca trên Thái Bình Dương; tham gia bảo vệ biên giới, khu vực kinh tế Nga gần bờ biển Camchatca trên biển Bering và Okhot. + “Reshitelnưi”; số hiệu xưởng 43; 28 tháng 10 năm 1980 khởi công trên ụ xưởng tại Vladivostoc; 18 tháng 3 năm 1981 ghi tên vào danh sách tàu thuộc lực lượng biên phòng KGB; hạ thủy 18 tháng 9 năm 1982; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1983, gia nhập biên chế lực lượng biên phòng Camchatca trên Thái Bình Dương; tham gia bảo vệ biên giới, khu vực kinh tên Liên Xô và Nga gần bờ biển Camchatca trên biển Bering và Okhot; 26 tháng 5 năm 1998 tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 13 tháng 6 năm 1998 loại khỏi biên chế Cục biên phòng. +(*) “Smelưi”; số hiệu xưởng 44; 18 tháng 3 năm 1981 ghi tên vào danh sách tàu biên phòng KGB; 27 tháng 5 năm 1981 khởi công trên ụ xưởng tại Vladivostoc; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1984; gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1983; gia nhập biên chế lực lượng biên phòng Camchatka trên Thái Bình Dương; tham gia bảo vệ biên giới, vùng kinh tế Nga gần bờ Camchatca trên biển Bering và Okhot. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:16 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng dãn nước, tấn + tiêu chuẩn: 800 + hoàn toàn: 930 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 71,1 (66) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 10,3 (9,3) + lượng mớn nước lơn nhất (trung bình): 3,72 (3,3) Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – diesel M-8M + 1 tuabin khí GTU-8, công suất, sức ngựa (kW): 18 000 (13 230) + 2 động cơ diesel M-507A; tổng công suất, sức ngựa (kW): 2000 (14 700) + 3 máy phát điện diezel: DG-500; DG-300; DG-200, tổng công suất, sức ngựa, kW: 1000 3 trục; 3 bánh lái chân vịt bốn cánh Tốc độ, hải lý + tối đa: 35 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2700 (14) Tầm bơi xa, ngày: 9 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 83 (9). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 12:11:43 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng ZiF-122 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 1x2 + tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 20 Pháo + thiết bị pháo 57mm AK-725: 1x2 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 1x6 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm DTA-53-1124: 2x2 + các ngư lôi SET-65 hoặc “Enot-2”: 4 Chống ngầm + RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12 + cơ số đạn RGB-60: 96 + các máy phóng bom: 2 + bom chìm: 12 Mìn + có thể mang theo mìn trên boong trên: 18 (thay bom chìm) Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-302 “Rubka” (Strut Curve) Đài ra đa định vị đạo hang: 1x”Vaigach” (Don 2) Đài thủy âm + MG-322 “Argun” dưới sống + “Shelon” đài thủy âm hạ Các khí tài tác chiến điện tử: “Bizan-4B” (2 Watch Dog) Các tổ hợp bắn nhiễu: 2x16 thiết bị PK-16 Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực + 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” + 1xMR-103 “Bars” (Muff Cob) chỉ trên các tàu không có tổ hợp pháo AK-630 + 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) chỉ trên các tàu lắp tổ hợp AK-630 Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: (High Pole A và B; Square Head; Salt Pot). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 04:20:15 pm Tàu chống ngầm loại nhỏ đề án MPK-67 – Đề án 1331-M – Lớp Rarchim-II (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1331M_02.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 12 Biến thể: không có. Trong những năm 1970, trên cơ sở tàu chống ngầm nhỏ “Albatros” đề án 1124, ở Cộng hòa dân chủ Đức trước đây với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô đã thiết kế đề án 133. Dự kiến rằng, việc này sẽ mang lại khả năng cho người Đức các kinh nghiệm tự thiết kệ và đóng các tàu chiến cho Hải quân Nhân dân Đông Đức, cũng như cho các nước khác thuộc khối Hiệp ước Varsaw. Việc đóng các tàu này được thực hiện ở thành phố Wolgast, tàu đầu tiên – tàu tuần duyên “Parchim”. Theo các đặc điểm chính trị và kinh tế (trong vai trò “phân chia tài chính” do khoản nợ của Đông Đức trước Liên Xô), 12 tàu được đóng theo đề án nâng cấp 1331-M đã được tiếp nhận vào biên chế Hạm đội Baltic, mặc dù chúng so với các tàu lớp “Albatros” yếu hơn về vũ khí. Giám sát viên chính từ Hải quân Liên Xô theo đề án này là Thuyền trưởng cấp 2 O.K.Korobkov. Ở phương Tây, các tàu chống ngầm loại nhỏ Liên Xô được gọi dưới tên “lớp Parchim”. Tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1331-M, cũng như nguyên mẫu của nó, có cấu trúc boong trơn, nhưng với sự phát triển thượng tầng mũi thấp hơn, đồng thời chiếm toàn bộ chiều rộng boong. Vũ khí chống ngầm gồm có 2 thiết bị ngư lôi 533mm hai ống phóng để bắn các ngư lôi chống ngầm và 2 RBU-6000, đồng thời 2 máy rải bom. Sự chỉ thị mục tiêu được thực hiện bằng 2 đài thủy âm: dưới sống “Platina” và thả “Ros-K” (dạng trực thăng). Vũ khí pháo gồm có thiết bị pháo 76mm AK-176 (mạn tàu) và tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630 (ở mũi) với hệ thống điều khiển chung “Vưmpel”. Trong vai trò tổ hợp tên lửa phòng không trên tàu bố trí ở giữa tàu theo thành, bố trí 2 thiết bị thùng phóng MTU-4US cho các tổ hợp mang vác “Strela-3” hoặc “Igla-1” (theo 2 cơ số đạn cho mỗi thiết bị phóng). Khí tài cơ sở phát hiện mục tiêu là đài ra đa định vị “Pozitiv”bố tró trong mũ chụp vô tuyến trong suốt. Thiết bị năng lượng chính của tàu chống ngầm loại nhỏ là 3 trục, nhưng khi đó đã không sử dụng tuabin khí, còn trên mỗi trục là 1 động cơ diezel kiểu M-504A. Tốc độ tối đa khi đó là 24,5 hải lý. Đáng chú ý rằng, các tàu của Đức khác biệt bởi chất lượng đóng, độ bền và độ tin cậy kỹ thuật tốt. Chương trình đóng tàu Tàu chống ngầm nhỏ đều tiên trong đề án 1331-M gia nhập biên chế Hải quân Liên Xô tháng 12 năm 1986. Tổng cộng từ năm 1986 đến năm 1990, ở Liên Xô đã đóng và bàn giao 12 tàu, đóng căn cứ ở Baltic. Năm 1992, toàn bộ các tàu này thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. Tình hình đến năm 2005 Trong biên chế Hạm đội Baltic hiện này còn toàn bộ 12 tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1331-M. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 04:22:00 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1331m_3.jpg) Bố trí vũ khí trên tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1331-M 1. Thiết bị pháo phòng không 30mm AK-630M 2. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 3. Ăng ten đài ra đa định vị đạo hang 4. Đài ra đa định vị mũ chụp vô tuyến trong suốt “Pozitiv” 5. Thiết bị phóng bắn nhiễu PK-16 6. Khí tài điều khiển bắn “Kolonka” 7. Thiết bị 4 ống phóng để bắn tổ hợp tên lửa phòng không mang vác “Igla” 8. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-123 “Vưmpel” 9. Thiết bị ngư lôi 533mm 2 ống phóng DTA-533 10. Thiết bị pháo 76,2mm AK-176 11. Buồng đài thủy âm thả “Ros-K” 12. Rãnh dẫn hướng cho mìn. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 04:22:27 pm Tóm tắt lịch sử phục vụ + MPK-192; số hiệu xưởng 373; 26 tháng 2 năm 1985 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” ở Wolgaste (Đông Đức) theo sự đặt mua của Liên Xô; hạ thủy 29 tháng 8 năm 1985; 7 tháng 3 năm 1986 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 19 tháng 12 năm 1986; 24 tháng 3 năm 1987 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. + MPK-205; số hiệu xưởng 374; từ 10 tháng 2 năm 1998 là “Kazanets”; 4 tháng 1 năm 1985 khởi công trên xưởng “Peene-Werft” ở Wolgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; hạ thủy 28 tháng 12 năm 1985; 11 tháng 4 năm 1986 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 28 tháng 4 năm 1987; 2 tháng 10 năm 1987 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. + MPK-67; số hiệu xưởng 375; 28 tháng 3 năm 1985 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” ở Wolgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; 10 tháng 3 năm 1987 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 19 tháng 4 năm 1986; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1987; 2 tháng 10 năm 1987 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. + MPK-99; số hiệu xưởng 376; 25 tháng 6 năm 1985 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” ở Wolsgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; 10 tháng 3 năm 1987 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 12 tháng 8 năm 1986; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1987; 31 tháng 1 năm 1988 kéo cờ Hải quân; 19 tháng 5 năm 1988 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 30 tháng 10 năm 1989 đến 5 tháng 11 năm 1989 tham gia huấn luyện chống ngầm, nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân, thực hiện bắn chống ngầm đạt “xuất sắc”; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; tháng 5-9 năm 1991 trải qua sửa chửa bảo trì ở Wolgaste; 15 tháng 11 năm 1990 – 15 tháng 1 nawm1991 và 22 tháng 11 năm 1991 – 22 tháng 1 năm 1992 thực hiện nhiệm vụ ở khu vực trước eo biển Baltic; theo các kết quả năm 1991, theo mệnh lệnh chỉ huy Hạm đội Baltic là tàu chống ngầm giỏi trong Hải quân; năm 1994 di chuyển từ Liepai tới Cronshtadt; theo các kết quả năm 1994, là tàu chống ngầm giỏi ở căn cứ Hải quân Leningrad; tháng 6-8 năm 1995 trải qua sửa chữa ở Rostoc. + MPK-105; số hiệu xưởng 377; 30 tháng 12 năm 1985 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” tại Wolgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; 10 tháng 3 năm 1987 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 20 tháng 11 năm 1986; gia nhập biên chế 16 tháng 3 năm 1988; 19 tháng 5 năm 1988 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1990, 1992 và 1993 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm. + MPK-213; số hiệu xưởng 378; 8 tháng 4 năm 1986 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” tại Wolgaste theo sự đặt mua từ Liên Xô; hạ thủy 28 tháng 2 năm 1987; 4 tháng 3 năm 1988 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 29 tháng 7 năm 1988; 9 tháng 11 năm 1988 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1990 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về chống ngầm. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 04:22:52 pm + MPK-216; số hiệu xưởng 379; 22 tháng 6 năm 1986 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” ở Wolgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; hạ thủy 25 tháng 6 năm 1987; 4 tháng 3 năm 1988 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1988; 9 tháng 1 năm 1988 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei.
+ MPK-219; số hiệu xưởng 380; 7 tháng 11 năm 1986 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” ở Wolgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1987; 4 tháng 3 năm 1988 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1988; 1 tháng 3 năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1992 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm. + MPK-224; số hiệu xưởng 391; 28 tháng 2 năm 1987 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” tại Wolsgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; 4 tháng 3 năm 1988 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 3 năm 1988; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1989; 21 tháng 4 năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1990 và 1993 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm. + MPK-227; số hiệu xưởng 282; 2 tháng 9 năm 1987 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” theo sự đặt mua của Liên Xô; hạ thủy 16 tháng 8 năm 1988; 20 tháng 2 năm 1989 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 29 tháng 6 năm 1989; 31 tháng 10 năm 19898 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei. + MPK-228; số hiệu xưởng 383; từ 2 tháng 9 năm 1999 là “Bashkortostan”; 20 tháng 11 năm 1987 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” ở Wolgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; hạ thủy 31 tháng 10 năm 1988; 20 tháng 2 năm 1989 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 26 tháng 9 năm 1989; 31 tháng 10 năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Anderi. + MPK-229; số hiệu xưởng 384; từ 19 tháng 4 năm 1996 là “Kalmưkia”; 23 tháng 2 năm 1988 khởi công trên ụ xưởng “Peene-Werft” ở Wolgaste theo sự đặt mua của Liên Xô; hạ thủy 30 tháng 1 năm 1989; 20 tháng 2 năm 1989 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 6 tháng 4 năm 1990; 29 tháng 12 năm 1990 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1992, 1993 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 04:27:03 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1331M_2.jpg) Bản vẽ đề án 1331-M (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1331M_04.jpg) Bắn pháo AK-630M ở mũi tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1331-M (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1331M_05.jpg) Thiết bị pháo 76mm AK-176 ở mạn tàu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1331m_18.jpg) Tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1331-M bắn biểu diễn đạn từ thiết bị RBU-6000 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 04:27:26 pm Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng dãn nước, tấn + tiêu chuẩn: 865 + hoàn toàn: 935 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 75,2 (69) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 9,78 (8,5) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 2,8 (-) Thiết bị năng lượng chính: diezel + 3 động cơ diezel M-504A, tổng công suất, sức ngựa (kW): 14 250 (10 470) + các máy phát điện diezel, công suất (kW): 3x300 3 trục; 3 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa: 24,5 + tiết kiệm năng lượng: 12 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2200 (12) Thời gian hoạt động, ngày: - Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 80 (9). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 04:27:52 pm Vũ khí Tên lửa phòng không + thiết bị phóng MT-4US thuộc tổ hợp tên lửa phòng không “Strela-3” hoặc “Igla-1”: 2x4 + tên lửa phòng không điều khiển 9M32M hoặc 9M313 (SA-N-5 “Grail”): 16 Pháo + thiết bị pháo 76mm AK-176: 1x1 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 1x6 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm DTA-533: 2x2 Chống ngầm + RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12 + RGB-60: 96 + thiết bị rải bom: 2 Mìn + có thể mang theo mìn trên boong trên: - Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Pozitiv” (Cross Dome) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1xTSR-333 Đài thủy âm + “Platina” (Bull Horn, Steer Hide) + “Ros-K” Các khí tài tác chiến điện tử: “Vưmpel-P2” (2 Watch Dog) Các tổ hợp bắn nhiễu: 2x16 thiết bị phóng PK-16 Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo và pháo phòng không Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Một, 2012, 12:17:56 am Tàu ngư lôi lớp “Bolsevich” – Đề án 183 – Lớp P-6 (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/183_08.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 420 Các biến thể + 183 (lớp P-6) – tàu nhỏ ngư lôi đóng loạt (1949) + 183-A – tàu ngư lôi với lớp vỏ bọc ngoài từ arktilit + 183-T (lớp P-8) – tàu ngư lôi thí nghiệm với động cơ tuabin khí (1951) + 183-TK (lớp P-10) – loạt tàu ngư lôi với động cơ tuabin khí bổ sung (1955) + 183-U – tàu ngư lôi thí nghiệm với 4 thiết bị ngư lôi và thiết bị năng lượng chính mới (1958) + 183-TU – đề án tàu nhỏ với 4 thiết bị ngư lôi và thiết bị tuabin khí + 183-T2 – đề án tàu ngư lôi đề án 183-TU hiện đại hóa với thiết bị năng lượng mới và 3 thiết bị pháo phòng không + 183-Ts - tàu mục tiêu điều khiển vô tuyến (1953) + 183-Sh – phiên bản tàu tham mưu + 183-E – tàu nhỏ tên lửa thí nghiệm với 2 tên lửa chống tàu P-15 (1957) + 183-P (lớp Komar) – dòng tàu nhỏ tên lửa nội địa đầu tiên (1959) + 199 – tàu săn ngầm nhỏ đóng loạt (1955) + 183-Ya2, 183-Ya3 – các đề án tàu nhỏ với các động cơ diesel kiểu M503. Các tàu ngư lôi loại lớn đề án 183 trong nhiều năm là kiểu tàu ngư lôi cơ sở của Liên Xô, được chế tạo vào cuối những năm 40 của thế kỷ trước. Việc thiết kế tàu ngư lôi này được giao cho tập thể Phòng thiết kế đặc biệt (OKB-5) thuộc NKVD (Dân ủy Nội vụ Liên Xô) – trong những năm đầu sau chiến tranh được bố trí ở khu vực xưởng đóng tàu số 5, đồng thời cho các chuyên gia phòng thiết kế thuộc cơ quan (xí nghiệp này). Tổng công trình sư của đề án được giao cho P.G.Goinkis. Đề án tàu mới được lựa chọn trong sự kết hợp đồng thời kinh nghiệm chế tạo và sử dụng chiến đấu trong giai đoạn Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại các tàu ngư lôi Mỹ lớp “Wosper”, “Elko” và “Higgins” được viện trợ khi đó theo Hiệp ước Lend-Lizơ. Các tàu này đã thể hiện tốt trong các điều kiện chiến đấu, ngoài ra, chúng có không ít các giải pháp kỹ thuật tốt. Trong sự tương ứng với đề án kỹ thuật, các tàu này là “lớn, không có đáy lướt (безреданная, nửa tàu trượt (полуглиссирующая), với đường bao gò nhọn”. Vật liệu thân tàu là gỗ. Tàu được trang bị mui và đài chỉ huy bọc thép dàu 7mm. Lượng dãn nước 66,5 tấn. Thiết bị năng lượng diesel 4 trục (các động cơ nội địa M-50F), tổng công suất 4800 sức ngựa, đảm bảo đạt tốc độ tối đa 43…44 hải lý. Tốc độ tuần tra – 33 hải lý với tầm bơi xa 600 dặm (trữ lượng nhiên liệu – 10,3 tấn), còn ở tốc độ 14 hải lý, tầm bơi xa – 1000 dặm. Vũ khí của tàu gồm có 2 thiết bị ngư lôi 1 ống phóng trên boong, bố trí theo thành tàu dưới góc 3 độ theo mặt phẳng boong; 2 pháo phòng không tự động 25mm 2M-3 (cơ số đạn 2000 viên). Ngoài ra, tàu có thể mang theo các bom chìm BB-1 (8 ) hoặc các mìn chống tàu KB-3 (6), mìn đáy (AMD-500 – 8 ) hoặc 18 mìn đáy AMD-500 thay cho ngư lôi. Trong thành phần trang bị vô tuyến điện gồm có đài ra đa định vị “Zarnitsa”, đài nhận dạng “Fakel-M” và 2 đài vô tuyến điện. Ngoài ra, có thiết bị (phun) khói DA-7 và 4 (khối) đạn khói MDSh. Trong trang bị hoa tiêu gồm có các khí tài “Girya”, la bàn GKMK-4 (hoặc DKGMK-3), “Reis-44” và máy lái tự động “Zubatka”. Đề đơn giản hóa việc di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước, cột buồm của tàu được chế tạo theo dạng nghiêng, giảm đáng kể kích thước chiều cao. Mặc dù có hang loạt ý kiến nhận xét tiêu cực xuất hiện trong quá trình thí nghiệm cấp nhà nước, tàu ngư lôi đề án 183 với một số sự bổ sung và đóng với số lượng lớn từ năm 1952 đến 1960. Còn theo ý kiến các thủy thủ, tàu được đánh giá là thành công và vì thế trở thành “cơ sở” không chỉ khi chế tạo hang loạt các biến thể, mà còn khi thiết kế đề án tàu tên nhỏ lửa đầu tiên trên thế giới (đề án 183-R). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Một, 2012, 12:18:45 am Các biến thể Như đã nhắc ở trên, trên cơ sở tàu ngư lôi đề án 183 đã thiết kế đề án tàu tên lửa nội địa đầu tiên – đề án 183-R (trước đó, các tên lửa được thí nghiệm trên tàu thí nghiệm đề án 183-E). Ngoài ra, chính các tàu tên lửa này có số lượng lớn các biến thể. Như, trên tàu ngư lôi đề án 183-T (đóng năm 1951), lần đầu tiên đã diễn ra thí nghiệm động cơ tuabin khí công suất 4000 sức ngựa (lắp them cạnh động cơ diesel thường), được sử dụng trong vai trò động cơ tăng lực, cho phép đạt tốc độ 50 hải lý. Sau khi tu sửa trong những năm 1955-1957 ở Leningrad theo đề án hiệu chỉnh 183-K đã đóng 25 tàu, trang bị thiết bị động cơ tuabin khí-diezel thường. Năm 1958 đã đóng tàu ngư lôi thí nghiệm đề án 183-U, trang bị 4 thiết bị ngư lôi. Trong thành phần thiết bị năng lương sử dụng các động cơ diesel tốc độ cao. Lượng dãn nước hoàn toàn – 92 tấn. Sự phát triển tiếp theo của đề án này không nhận được, mặc dù đã nghiên cứu các phương án (phiên bản) hiện đại hóa – đề án 183-TU (với động cơ tuabin khí tăng tốc) và đề án 183-T2 (với thiết bị tuabin khí hành trình và bổ sung các pháo phòng không 25mm). Đồng thời có phiên bản tàu tham mưu đề án 183-Sh. Một trong số các tàu trong loạt được đóng theo đề án 183-A với vỏ bọc ngoài chế tạo từ arktilit (tương tự gỗ dán bakelit hóa với kim loại ép). Năm 1953, trên cơ sở tàu ngư lôi đã thiết kế đề án tàu săn ngầm nhỏ đề án 199, đồng thời được sử dụng cho lực lượng biên phòng trên biển. Tổng cộng có 52 tàu loại này được đóng. Đồng thời trên cơ sở đề án 183 đã đóng 60 tàu mục tiêu nổi tốc độ cao điều khiển vô tuyến đề án 183-Ts để thực hiện bắn huấn luyện. Ngoài tổng số này, ở Phòng thiết kế trung ương số 5 đã thiết kế các đề án thí nghiệm tàu ngư lôi với các thông số được tăng cường, nhưng không được chế tạo bằng kim loại. Ví dụ, (ngoài các đề án 183-TU và 183-T2 ở trên) đã thực hiện các công việc trên đề án 183-Ya2 và 183-Ya3, dự kiến lắp các động cơ M503 nhẹ hơn (tương ứng 2 và 3 động cơ diesel). Lượng dãn nước của các tàu này tương ứng 80 và 110 tấn. Khi đó, vũ khí của chúng tương tự với đề án 183-U – gồm có 4 thiết bị ngư lôi. Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên trong đề án 183 được bàn giao cho Hải quân năm 1949. Việc đóng tàu được thực hiện từ năm 1949 đến 1960 trên các xưởng: số 5 ở Leningrad, số 460 ở Sosnovk và số 602 ở Vladivostoc. Tổng cộng theo đề án 183 và các biến theercuar nó đã đóng 420 tàu cho Hải quân Liên Xô. Tình hình đến năm 2008 Các tàu ngư lôi đề án 183 được bố trí số lượng lớn trong Hải quân Liên Xô. Trong thời gian phục vụ trong biên chế, chúng tham gia tích cực trong huấn luyện chiến đấu và thể hiện tốt. Cuối những năm 1980, thực tế toàn bộ các tàu này (trừ các tàu riêng lẻ trong một số biến thể) đã bị loại khỏi biên chế. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Một, 2012, 12:20:26 am Các bản vẽ thiết kế và bản vẽ màu tàu ngư lôi đề án 183
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/draw_183_2.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/draw_183_3.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/draw_183_4.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/183_02.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Một, 2012, 12:22:48 am (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/draw_183_5.jpg) Bản vẽ lý thuyết thân tàu ngư lôi đề án 183 (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/183_15.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/183_16.jpg) Tàu ngư lôi đề án 183 sau khi tháo vũ khí, được sử dụng trong vai trò tàu đảm bảo các thí nghiệm - các mô hình (mẫu) lai (kéo, dắt) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Một, 2012, 12:23:16 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng dãn nước, tấn + tiêu chuẩn: 56 + thường: 61,5 + tối đa: 66,5… 67 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 25,5 (25) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,18 (5,2) + chiều cao trên mặt cắt ngang giữa: 3,02 + lượng mớn nước trung bình: 1,24… 1,3 Thiết bị năng lượng chính: diesel + 4 động cơ diesel M-50F hoặc M-50F-1 hoặc M-50FTK, tổng công suất, sức ngựa (kW): 4800 (3530) + máy phát điện tự hành (tự trị), công suất, kW: 12,5 + các máy phát điện treo, công suất, kW: 4x1 4 trục; 4 bánh lái chân vịt 3 cánh Tốc độ, hải lý + tối đa: 43… 44 + tuần tra: 33 + tiết kiệm năng lượng: 14 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 600 (33)/1000 (14) Thời gian hoạt động, ngày: 5 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 14 (2). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Mười Một, 2012, 12:23:46 am Vũ khí Pháo + thiết bị pháo 25mm 2M-3: 2x2 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm TTKA-53M: 2x1 Chống ngầm + bom chìm BB-1: 8 (mang theo) Mìn + mìn chống tàu KB-3: 6 (mang theo) + hoặc mình đáy AMD-500: 8 (mang theo)/18 (thay ngư lôi) Trang bị vô tuyến điện + đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung: 1x”Zarnitsa” Các khí tài thông tin liên lạc: đài vô tuyến R-607, R-609 Đài ra đa định vị hội thoại: “Fakel” hoặc “Fakel-M”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:11 am Các tàu tuần tra biên phòng đề án 1400 “Grif” – Lớp Zhuk (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1400_03.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 300 Các biến thể + 1400 – loạt tàu tuần tra biên phòng cho bộ phận biên phòng trên biển thuộc KGB Liên Xô (1968) + 1400-A – phiên bản thuộc về chính phủ (?) không có vũ khí và tăng cường điều kiện sống (1972) + 1400-E – phiên bản xuất khẩu cho các nước với khí hậu nóng và nhiệt đới (1974) + 1400-M – phiên bản nâng cấp với than hàn và động cơ diesel mới (1976) + 1400-ME – phiên bản xuất khẩu (1976). Từ giữa những năm 1960, đã bắt đầu thiết kế tàu biên phòng một cách chuyên dụng dành cho lực lượng biên phòng trên biển thuộc KGB Liên Xô. Tàu tuần tra biên phòng đề án 1400, được chế tạo ở Phòng thiết kế trung ương “Almaz” năm 1967 (tổng công trình sư – B.M.Byrlakov, giám sát viên chính từ Hải quân – thuyền trưởng cấp 2 V.I.Litovski) và nhận mã số “Grif”, được sử dụng để bảo vệ biên giới biển quốc gia trên khu vực gần bờ, eo biển trên các cảng đỗ tàu lớn (mở), trên các khu vực song và hồ, đồng thời để đảm bảo kiểm tra tàu… Tàu đồng thời được giao nhiệm vụ bổ sung: các chiến dịch tìm kiếm cứu nạn, trang bị các khí tài đạo hàng, kiểm tra sinh thái và phục vụ mục đích hoa tiêu. Tàu đề án 1400 có các kích thước, cho phép vận chuyển nó theo đường sắt. Trong vai trò vũ khí chính, sử dụng sung máy 2 nòng 2M-7 14,5mm (ở mạn tàu). Thiết bị năng lượng hai trục gồm có 2 động cơ diesel dạng chữ V M-401A công suất 1000 sức ngựa. Thân tàu tuần tra biên phòng được thiết kế dạng tán từ hợp kim nhôm mác V48-4T1. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:31 am Các biến thể Khi tính toán yêu cầu các đối tác nước ngoài, năm 1974, Phòng thiết kế trung ương “Almaz” đã thiết kế đề án 1400-E được sử dụng được biệt cho xuất khẩu tới các nước khí hậu nóng và nhiệt đớt. Các tàu tuần tra biên phòng xuất khẩu khác biệt ở sự xuất hiện thiết bị tháp súng máy bổ sung (14,5 hoặc 12,7mm), lắp trên thùng, hệ thống điều hòa không khí, bổ sung máy phát điện – diesel DG-40. Thân tàu – tán từ hợp kim nhôm V48-4T1 – như trên đề án cơ sở 1400. Sau đó, do yêu cầu cáo, trên các tàu lớp “Grif”, đề án được thực hiện hiệu chỉnh đáng kể. Thần tàu đề án biến thể 1400-M được thiết kế bằng cách hàn từ hợp kim AMg-61, cho phép tiếp nhận phương pháp đóng khối. Sự đồng nhất tối đa các thiết bị và bộ phận được tiếp nhận với hai đề án trước. Các động cơ diezelM-401A được thay bằng các động cơ hiện đại hơn M-401BT, lắp hệ thống điều khiển (kiểm soát) động cơ “Orion-3M”, các máy phát điện-diezel DGKN-40 và DG-40. Khí tài hoa tiêu của tàu gồm có hệ thống “Gradus-2M” và máy tự lái “Samshit-V221”. Có thiết bị BTM-110, đài ra đa định vị đạo hàng “Lotsia”, ngoài ra, theo yêu cầu có thể lắp máy đáp hội thoại “Khrom-K”. Trong vai trò vũ khí chúng sử dụng thiết bị tháp súng máy mới “Utes-M” (12,7mm). Phiên bản xuất khẩu – đề án 1400-ME – về thực tế, một cách nguyên tắc không khác so với phiên bản của Liên Xô. Phụ thuộc vào yêu cầu của đối tác, trên tàu có thể lắp: + 1 thiết bị “Utes-M” (2M-5) ở mũi và đèn pha MSP-45K ở mạn (đề án 1400-M) + 2 thiết bị “Utes-M” (2M-5 hoặc 2M-1) ở mũi và mạn tàu (đề án 1400ME) + 1 thiết bị “Utes-M” (2M-5 hoặc 2M-1) ở mũi hoặc mạn (đề án 1400-M, 1400-ME). Trên cơ sở “Grif” đã chế tạo tàu tuần tra đề án 14670 “Gruzuf”, đóng với số lượng 10 tàu và tàu cho chính phủ đề án 1400-A, không có vũ khí, nhưng có tính toán cho thể tích thượng tầng lớn hơn, có các buồng tiện nghi hơn. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:51 am Chương trình đóng tàu Tàu đầu tiên thuộc đề án 1400 được đóng ở xí nghiệp đóng tàu “Almaz” năm 1968. Ở đây đồng thời đóng them ba tàu trong loạt, còn việc đóng số lượng lớn cho lực lượng biên phòng được triển khai năm 1969 ở xí nghiệp đóng tàu “More” ở Feodoisk (tổng cộng gần 30 tàu tuần tra biên phòng đề án 1400 và đề án 1400-E). Năm 1971, 2 tàu dòng loạt đầu tiên được bàn giao cho Cuba và Giene Xích đạo. Ở phương Tây, các tàu này nhận tên gọi lớp Zhuk. Từ năm 1974 đã đóng các tàu xuất khẩu đề án 1400-E, còn từ năm 1976 – đề án 1400-M và đề án 1400-ME. Tổng cộng từ năm 1969 đén 1991, ở xí nghiệp đóng tàu “Almaz” và “More” và xưởng Batumi đã đóng tổng cộng 300 tàu tuần tra biên phòng “Grif” – trong số chúng - hơn 100 tàu được xuất khẩu cho 23 (?) nước. Ở Ukraina, việc đóng tàu được tiếp tục trong những năm 1990. Các nước sau đã nhận được tàu xuất khẩu hoặc bàn giao: Algier-1; Angla-2; Benin-4; Bulgaria-10; Việt Nam-14; Ginea-2; Iraq-5; Campuchia-2; Cameroon-3; Cabo-Verd-3; Congo-3; Cuba-40; Mavriki-2; Mozambic-5; Nicaragoa-8; quần đảo Seishel-2; Somali-1; Siri-8; Bắc Yemen-5; Nam Yemen-2; Ginea Xích đạo-3; Etiopia-4. Thêm 2 tàu được Estonia nhận được sau khi Liên Xô tan rã (năm 1992) và vài chục tàu được đóng tiếp ở Ukraina sau khi phân chia Hạm đội Biển Đen (1 được bán cho Gruzia). Tình hình đến năm 2008 Tới thời điểm hiện tại, thực tế toàn bộ các tàu đề án 1400-M đã bị loại kohir biên chế, trong trong biên chế lực lượng biển thuộc Cục biên phòng Nga có không quá 20 tàu. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:38 am (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1400draw_04.gif) Bố trí vũ khí trên tàu tuần tra biên phòng đề án 1400-M 1. thiết bị súng máy 2 nòng 14,5mm 2M-7 2. đài ra đa định vị đạo hang “Lotsia” 3. ăng ten đài hội thoại (nói) “Khrom-K”. (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1400_14.jpg) Tàu tuần tra đề án 1400-M đang chạy tốc độ tối đa Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2012, 12:07:29 am Bản vẽ và hình vẽ thiết kế tàu tuần tra đề án 1400-M
(http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1400draw_05.jpg) (http://s1302.beta.photobucket.com/user/Armata2013/media/1400draw_03.jpg.html) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1400draw_02.jpg) (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/1400_13.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2012, 12:07:56 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng dãn nước, tấn + tiêu chuẩn: 36,5 + thường: 38,2 + hoàn toàn: 40 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 23,8 (21,7) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 5 (-) + lượng mớn nước trung bình: 1 Thiết bị năng lượng chính: diesel + 2 động cơ diesel M-401BT hoặc M-401A, tổng công suất, sức ngựa (kW): 2000 (1470) + các máy phát điện diesel DG-40, công suất, kW: - 2 trục; 2 bánh lái chân vịt 3 cánh Tốc độ, hải lý + tối đa: 29 + tiết kiệm năng lượng: 8 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 450 (13) Thời gian hoạt động, ngày: 5 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 9 (1). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2012, 12:08:32 am Vũ khí Pháo + thiết bị súng máy “Utes-M” 12,7mm hoặc 14,5mm 2M-7 hoặc 2M-5: 1x2 hoặc 2x2 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị đạo hang: 1x”Lotsia” (Spin Trough) Các khí tài đạo hàng + “Gradus-2M” + KI-13 la bàn từ Các khí tài thông tin liên lạc: đài vô tuyến R-617 (KV), R-619-2 (UKV) Đài ra đa định vị hội thoại: “Khrom-K”. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:19 am Tàu pháo loại nhỏ lớp “Astrakhan” – Đề án 21630 “Buyan” (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_07.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 1+? Biến thể: không có. Tháng 3 năm 2002, trên biển Caspi, Nga đã thực hiện cuộc diễn tập quy mô lớn với sự tham gia của hơn 10 Bộ và Cơ quan ngang bộ khác nhau. Trong cuộc diễn tập đồng thời có mặt Tổng thống Nga V.V.Putin. Sau khi kết thúc cuộc diễn tập tháng 8 năm 2002, trong sự tương ứng với chương trình quốc gia tối ưu hóa lực lượng tàu chiến, Chính phủ Nga đã tiếp nhận chương trình đóng tàu (đồng thời, là lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại Nga) mà trong đó bao gồm cả đóng loạt các tàu trên sông đề án mới một cách chuyên dụng cho biển Caspi. Đề án tàu pháo trên sông thế hệ mới, nhận số hiệu 21630 và mã số “Buyan” được thiết kế bởi xí nghiệp “Phòng thiết kế Zelenodolsk” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư Ya.E.Kushnir, sự giám sát khoa học-kỹ thuật thiết kế và đóng tàu được phía Hải quân thực hiện với giám sát viên chính là Thuyền trưởng cấp 1 V.I.Denisov (Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 1 thuộc Bộ Quốc phòng). Tàu pháo loại nhỏ (MAK) đề án 21630 là tàu lớp “sông-biển” và sử dụng để tăng cường lực lượng tàu nổi phân hạm đội Caspi ở khu vực biển gần bờ cũng như trên các khu vực sông. Nó được thiết kế một cách đặc biệt với sự tính toán các đặc điểm của biển Caspi và châu thổ sông Volga, còn các yêu cầu chính khi chế tạo nó – khả năng đi biển cao và khả năng di chuyển của tàu trên các khu vực nước sâu phía bắc biển Caspi và sông Volga. Một trong những các yêu cầu của nhiệm vụ kỹ chiến thuật đồng thời là tầm bơi xa, để tàu có khả năng thực hiện di chuyển theo toàn bộ chiều dài sông Volga và biển Caspi. Hình dáng cấu trúc của tàu mới được chế tạo trong sự tương ứng với các yêu cầu giảm khả năng bị phát hiện bằng ra đa định vị (bề mặt phẳng nghiêng của thượng tầng, xuất hiện thành tàu giả, giảm đáng kể các phụ kiện, che phủ cửa và nắp hầm trên bề mặt thượng tầng và boong) và giảm cấp độ các khu vực khác (công nghệ “Stealth”). Khi thiết kế đề án 21630 đã tiếp nhận các thành tựu tiên tiến trong ngành đóng tàu quân sự. Trong đó, sử dụng vũ khí và trang bị ghép bộ do Nga sản xuất và trên cơ sở phần tử, yếu tố trong nước (nội địa). Bởi vì tàu lớp này được sử dụng để cảnh giới và bảo vệ khu vực kinh tế 200 dặm (đặc quyền kinh tế) của Nga, trong sự tương ứng với đề án, chúng được trang bị vũ khí pháo mạnh, gồm có thiết bị pháo 10mm A-190 ở mũi, 2 pháo tự động 6 nòng 30mm AK-306 (theo thành tàu) và thiết bị pháo phản lực bắn loạt 122mm 40 nòng “Grad-M” (để tiêu diệt mục tiêu diện rộng trên bờ). Việc điều khiển hỏa lực được thực hiện với sự hỗ trợ của đài ra đa định vị kiểu “Vưmpel”. Vũ khí tên lửa phòng không là một thiết bị phòng 3M-47 “Gibka” ở mạn tàu cho 4 tên lửa phòng không kiểu “Igla” hoặc “Igla-1M” trong các thùng phóng tổ hợp tên lửa phòng không mang vác (cầm, xách tay). Thiết bị này đảm bảo tiêu diệt ở tầm siêu thấp các mục tiêu bay tốc độ thấp, cũng như máy bay và trực thăng tầm thấp. Việc điều khiển thiết bị phóng được thực hiện từ xa. Vũ khí bổ sung trên tàu có 2 thiết bị giá súng máy 14,5mm để tiêu diệt mục tiêu điểm trên bờ, trên biển và trên không. Nói chung, tàu khác biệt với các lớp tàu cùng loại trong nước cũng như nước ngoài ở độ bão hòa cao vũ khí và trang thiết bị hiện đại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:39 am Để làm rõ bối cảnh trên mặt nước (nổi) và cung cấp chỉ thị mục tiêu có đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Pozitiv” (trong mũ chụp vô tuyến trong suốt) và đài ra đa định vị đạo hang MR-231. Ngoài ra, trên tàu đề án 21630 dự kiến lắp đài thủy âm phát hiện biệt kích ngầm và súng phóng lựu để tiêu diệt chúng. Tổ hợp đạo hàng hiện đại và các khí tài đảm bảo khí tượng cho phép tàu giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu được giao và đảm bảo an toàn dẫn đường khi bơi. Các khí tài thông tin liên lạc đảm bảo sự thông tin liên lạc với các trạm trên bờ và tàu chỉ huy cùng các lực lượng phối hợp, bao gồm cả các thiết bị bay trong mạng hệ thống thông tin liên lạc trên biển toàn cầu khi tai nạn và đảm bảo an toàn. Để bắn nhiễu trong tầm (miền) quang học và ra đa định vị, tàu được trang bị các tổ hợp bắn nhiễu kiểu PK-10.
Thiết bị năng lượng hai trục gồm có động cơ diesel. Tàu được trang bị các động cơ phụt nước đồng nhất do xí nghiệp “Almaz” sản xuất. Tàu pháo nhỏ đề án 21630 theo thực tế, được tính là tàu thế kỷ XXI, bởi vì giải pháp về sự cần thiết chế tạo nó được tiếp nhận trong thế kỷ mới. Chương trình đóng tàu Xí nghiệp “xưởng đóng tàu “Almaz”” trở thành người chiến thắng trong cuộc thi đóng tàu lớp này, được thực hiện bởi Hải quân Nga mùa xuân năm 2003. Tàu đầu tiên trong đề án 21630 được khởi công 30 tháng 1 năm 2004 ở Saint Peterburg ở xưởng đóng tàu thuộc xí nghiệp “Almaz” và nhận tên gọi “Astrakhan” (số hiệu xưởng 701). Tỉnh trưởng Astrakhan Anatoli Guzhvin và Tư lệnh phân hạm đội Caspi – phó đô đốc Yuri Startsev là những người đề xuất cho tàu mang tên thành phố. Mùng 7 tháng 10 năm 2005, tàu được hạ thủy, năm 2006 gia nhập biên chế. Đến năm 2010, trên xưởng “Almaz” lên kế hoạch đóng 7 tàu loạt “Buyan” (theo các thông tin khác – 10 tàu đến 2015). Tình hình đến năm 2008 Tới thời điểm này, trong biên chế phân hạm đội Caspi đang có 1 tàu đề án 21630 “Astrakhan”, và có thể, một vài tàu đang được khởi công trên các ụ. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:13:15 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_draw_03-1.gif) Bố trí vũ khí trên tàu pháo loại nhỏ đề án 21630 1. thiết bị pháo đa năng 100mm A-190 2. đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-123 “Vưmpel” 3. khí tài quan sát quang điện 4. pháo tự động 6 nòng 30mm AK-306 5. thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Gibka” 6. thiết bị phóng cho pháo phản lực bắn loạt “Grad-M” 7. thiết bị phóng bắn nhiễu PK-10 8. rãnh rải mìn 9. buồng đài thủy âm thả 10. súng máy 14,5mm 11. nắp chụp vô tuyến trong suốt đài ra đa định vị “Pozitiv” 12. đài ra đa định vị đạo hàng MR-231 13. ăng ten thông tin liên lạc sóng siêu ngắn Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:15:07 am Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Astrakhan”; số hiệu xưởng 710; 13 tháng 1 năm 2004 khởi công trên ụ xưởng “Almaz” ở Saint Peterburg; hạ thủy 7 tháng 10 năm 2005; gia nhập biên chế năm 2006; gia nhập biên chế phân hạm đội Caspi. Bản vẽ thiết kế tàu pháo nhỏ đề án 21630 (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_draw_02.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_16.jpg) Các thiết bị bắn nhiễu thuộc tổ hợp PK-10 ở mạn tàu Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:17:04 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_10.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_09.jpg) (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_12.jpg) Các phần tử tổ hợp tên lửa phòng không "Gibka" Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:20:33 am (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_13.jpg) Thiết bị pháo 100mm A-190 ở mũi tàu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_08.jpg) Các thiết bị pháo phòng không AK-306 và tên lửa phòng không "Gibka" ở mạn tàu (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_11.jpg) Tổ hợp tên lửa phòng không "Gibka" với 4 tên lửa phòng không "Igla" (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/21630_14.jpg) Cột buồm với đài ra đa định vị "Potkat" Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:21:00 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng dãn nước, tấn + hoàn toàn: gần 500 Các kích thước, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 62(-) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 9,6(-) + lượng mớn nước lớn nhất: 2 Thiết bị năng lượng chính: diesel + 2 hoặc 4 động cơ diesel (?): - 2 trục, 2 động cơ phụt nước Tốc độ, hải lý + tối đa: 28 + tiết kiệm năng lượng: - Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 1500 (-) Thời gian hoạt động, ngày: 10 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Mười Một, 2012, 12:21:25 am Vũ khí Pháo + thiết bị phóng 3M-47 “Gibka”: 1x4 + tên lửa phòng không “Igla” hoặc “Igla-M” (SA-N-7 “Gremlin”): - Pháo + thiết bị pháo 100mm A-109 “Universal”: 1x1 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-306: 2x6 + thiết bị pháo phản lực bắn loạt 122mm A-215 “Grad-M”: 1x40 + súng máy 14,5mm: 2x1 Chống biệt kích + súng phóng lựu: - Mìn + có thể mang theo mìn ở boong trên: - Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung: 1x”Pozitiv” (Cross Dome) Đài ra đa định vị đạo hàng: 1xMR-231 Đài thủy âm: - Các khí tài tác chiến điện tử: - Các tổ hợp bắn nhiễu: 2x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi” Các khí tài quang điện: 1x- Ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo và pháo phòng không Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:37 am Tàu tuần tra cao tốc đề án 12150 “Mangust” Đề án 12150 “Mangust” nằm trong lớp tàu nhỏ (ca nô) cao tốc. Tàu được sử dụng để hoạt động trên các vùng hải phận; kiểm tra giám sát các tàu hoạt động theo chế độ bơi được ấn định ở trong và ngoài các bến đỗ tàu thuộc cảng và cửa biển và trong các khu vực giáp biển gần bờ; thực hiện các nhiệm vụ của cảnh sát biển, hải quan, giám sát nghề cá ở các khu vực biển gần bờ. Thân tàu được chế tạo với hình dáng bên ngoài trong dạng “chữ V sâu”. Vật liệu – hợp kim nhôm-magiê. Thân tàu được chia bằng các vách ngăn thành 6 khoang và giữ nổi khi đắm khoang bất kỳ trong số chúng. Sự phòng ngừa phần chìm của tàu khỏi bị ăn mòn được đảm bảo bằng lớp bảo vệ điện hóa và lớp phủ sơn chống rỉ. Khả năng cơ động trên biển của “Mangusta” được đảm bảo khi hoạt động trong sóng biển cấp 2, trong sức tải tối đa của các đông cơ, khả năng bơi an toàn trên tốc độ thấp khi sóng biển cấp 4. Thiết bị năng lượng gồm có 2 động cơ chính – các động cơ diesel 4 kỳ 10 xilanh 10V2000 M93 của hãng “MTU” – hoạt động trên bộ truyền động Arnesona ASD-14 với các chân vịt bước cố định hoặc các động cơ phụt nước “KaMeWa A-45” (Rolls-Royce). Các động cơ được trang bị: hệ thống ắc quy cung cấp nhiên liệu Common Rail; hệ thống điều tiết máy quạt tuabin; ống phun khí làm mát. Có tính toán khả năng tự động ngừng hoạt động bộ phận các xi lanh khi tải thấp. Tổng công suất tối đa các động cơ – 2240kW (3000 sức ngựa) với tốc độ quay 2450 vòng/phút. Các kích thước: 2255x1130x1230mm. Khối lượng khô – 2900kg. Thiết bị năng lượng hỗ trợ: máy phát điện-diezel 26kW. Tốc độ tối đa – 50 hải lý. Tầm bơi xa với trữ lượng nhiên liệu tối đa ở tốc độ tiết kiệm năng lượng 36 hải lý – gần 410 dặm. Để đảm bảo lưới điện mang theo và các thiết bị tiêu thụ, tàu được trang bị máy phát điện-diezel công suất 16kW để xử lý dòng điện xoay chiều 3 pha hiệu điện thế 220V tần số 50Hz và pin 12/24V. Tàu được trang bị tổ hợp thông tin liên lạc – đạo hàng, trong đó bao gồm: đài ra đa định vị, lớp đệm điện, các la bàn con quay và từ (KM-69M2), hệ thống vệ tinh, hành trình kế, máy đo độ sâu bằng tiếng vọng, đài vô tuyến bước sóng tầm trung và tần ngắn, máy thu NAVTEX, máy đáp ra đa định vị, phao tiêu khẩn cấp KOSPAS-SARSAT, 3 đài vô tuyến sóng siêu ngắn. Sự điều khiển toàn bộ các khí tài kỹ thuật của tàu – thiết bị năng lượng chính, hệ thống năng lượng điện, các hệ thống chung trên tàu và các động cơ – được thực hiện từ xa với các bảng điều khiển trong buồng lái. Vũ khí chính của tàu là súng máy 14,5mm KPVT trong thành phần giá súng máy thuộc Hải quân, bố trí trên mạn tàu. Thiết bị được sử dụng đẻ chống lại các mục tiêu bọc thép hạng nhẹ trên không, trên bờ và mục tiêu nổi. Tầm tiêu diệt các mục tiêu trên bờ và trên bộ ở tầm xa 2000 mét trên độ cao 1500 mét. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Một, 2012, 12:09:55 am Theo yêu cầu của đối tác, tàu có thể lắp bổ sung
+ súng máy PKMB (1-2 tổ hợp) + súng phóng lựu tự động AGS-17 + súng phóng lựu chống biệt kích cầm tay DP-64 + tổ hợp tên lửa phòng không mang vác “Igla” (1-2 tổ hợp). Tàu có thể trang bị trang thiết bị hạng nhẹ dành cho thợ lặn. Trên tàu có thuyền bơm hơi với than cứng và động cơ treo và cần cẩu tải tải trọng 140kg. Khối lượng và các thiết bị của tàu cho phép thực hiện việc đưa tàu tới khu vực khai thác sử dụng bằng các phương tiện vận tải đường không, đường nhựa (xe vận tải), đường sắt và đường thủy. Thủy thủ đoàn – 6 người Để đảm bảo tiện nghi của thủy thủ đoàn, tàu được trang bị 2 buồng 1 chỗ và 1 buồng 4 chỗ. Thông tin lịch sử Tàu tuần tra đề án 12150 được thiết kế bởi Phòng thiết kế Hải quân Trung ương “Almaz” (thành phố Saint Peterburg) theo đơn đặt mua của Vụ bảo vệ biển thuộc Cục biên phòng Nga. Việc sản xuất được khởi công ở xưởng đóng tàu “Vưmpel” (thành phố Rưbinsk). Các biến thể + 12150M - tàu tìm kiếm cứu nạn + 12150M/L - tàu phục vụ thí nghiệm + 12150V "Mangust-V" - tàu tên lửa siêu nhỏ, trang bị tổ hợp pháo tên lửa "Vikhr-K" trong đó có tên lửa điều khiển "Vikhr", thiết bị pháo AK-306 và hệ thống hồng ngoại điều khiển hỏa lực với sự bám bắt mục tiêu tự động Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:12 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng dãn nước, tấn: 27,2 Chiều dài, mét: 19,45 Chiều rộng, mét: 4,4 Chiều cao thành tàu trên mặt cắt ngang, mét: 2,2 Lượng mớn nước ở lượng dãn nước hoàn toàn: 1,16 Tốc độ, hải lý + tối đa: 50 + tiết kiệm năng lượng: 36 Tầm bơi xa ở tốc độ tiết kiệm năng lượng, dặm: 410 Thời gian hoạt động, ngày: 2 Thủy thủ đoàn, người: 6. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 12:36:00 am Các tàu đổ bộ đa năng lớp “Mistral” Các tàu đổ bộ đa năng lớp “Mistral được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ của tàu đổ bộ trực thăng, vận chuyển quân đội, bệnh viện quân y nổi và tàu điều khiển. Tải trọng chung các phương tiện kỹ thuật thiết giáp là 1000 tấn (trong điều kiện thiết trực thăng ở hang ga dưới boong và các tàu nhỏ trên ụ): 40 tăng chủ lực hoặc 59 xe thiết giáp chiến đấu (gồm 13 tăng chủ lực). Diện tích hang ga vận tải: 2650km2. Khả năng mang theo lính đổ bộ: 450 quân nhân với trang bị vũ khí cá nhân đầy đủ trong thời gian dài, thời gian ngắn – 900. Đổ bộ có thể thực hiện ở bến đỗ hoặc trên biển khi sử dụng các tàu nhỏ, ca nô: các tàu được trang bị trên ụ trong, tổng diện tích 885km2, bố trí 2 tàu đổ bộ đệm khí 95 tấn lớp LCAC hoặc 4 tàu đổ bộ kiểu LCM. Bố trí trực tiếp ngay sau ụ - khoang là hang ga hai bậc (tầng) cho xe hơi và xe bọc thép – boong dưới bố trí toàn bộ ụ, còn boong trên bố trí trực tiếp dưới boong trực thăng. Lối vào nằm trên ụ, các khí tài kỹ thuật di chuyển bằng đường riêng. Trên chiều dài toàn bộ boong trên, trừ thượng tầng, là boong bay diện tích 6400km2 với 6 bãi cất hạ cánh. Năm bãi được tính toán tiếp nhận trực thăng lớp “EH101 Merlin” (khối lượng tối đa gần 16 tấn), một bãi (số 1) được tính toán tiếp nhận trực thăng khối lượng 35 tấn. Dưới nó (bãi đáp) ở mạn tàu có hang ga trực thăng diện tích có ích (hữu dụng) 1800km2, trong đó bố trí 16 trực thăng. Để vận chuyển trực thăng tới boong bay từ hang ga và ngược lại, sử dụng 2 tháng nâng: 1 – sau thượng tầng theo thành bên trái (18,5x6,5 mét, tải trọng 17 tấn), còn thang khác - ở mạn tàu (15x15 mét, tải trọng – 13 tấn). Trên thành “Mistral” trang bị trung tâm chỉ huy diện tích 850km2, trong đó có 150 người làm việc. Nó cho phép sử dụng “Mistral” để điều khiển tàu khác nhau và số lượng lớn cụm nhiều loại (lực lượng) tàu, trong đó có thể thực hiện trong chế độ tự trị; hoạt động các tàu khu trục, phân hạm đội hoặc hạm đội. Ngoài ra, trên tàu có viện quân y với 69 giường bệnh (số lượng của chúng có thể tăng lên, nhưng không đáng kể, 2 buồng phẫu thuật và phòng soi X-quang. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 12:36:20 am Thiết bị năng lượng chính của tàu được đóng trong sự sử dụng nguyên tắc di chuyển điện, toàn bộ năng lượng điện được xử lý bằng 4 tổ hợp động cơ diesel công suất mỗi động cơ 5,2MW. Chúng đảm bảo toàn bộ các thiết bị năng lượng điện trên tàu, trong đó – hoạt động của 2 động cơ điện chân vịt tổng công suất 15MW. Sự kiểm soát thiết bị năng lượng chính được thực hiện khi có sự hỗ trợ đặc biệt của hệ thống làm việc tự động hóa PCMS. Điểm đặc biệt xuất sắc của thiết bị động cơ là không có trục bánh lái lớn, bởi vì 2 bánh lái chân vịt được bố trí trên bệ quay – phạm vi quay 360 độ. Thiết kế này của các động cơ chính làm tàu cơ động hơn, đặc biệt khi hoạt động gần bờ hoặc trên khu vực hẹp. Bổ sung ở phần trước than tàu lắp 2 thiết bị lái, còn để giảm độ lắc, ở phần giữa thân tàu có bộ phận ổn định dạng cánh (các bộ chống rung).
Tốc độ tối đa – 18,8 hải lý. Tầm bơi xa: tốc độ 18 hải lý – 5800 dặm, tốc độ 15 hải lý – 10 700 dặm. Đối với “Mistral” đã thiết kế hệ thống lái kiểm soát đặc biệt tàu, cũng như cụm máy bay và cấp độ tự động hóa cao toàn bộ các quá trình hoạt động cho phép giảm đáng kể số lượng thủy thủ đoàn. Hệ thống trao đổi thông tin trên “Mistral” là đa năng và toàn diện, nó có khả năng liên kết các hệ thống đồng dạng, đang có trong trang bị các lực lượng vũ trang các nước khác nhau. Thêm 1 đặc điểm xuất sắc của “Mistral” – tiếp nhận rộng rãi trong quá trình thiết kế các tiêu chuẩn đóng tàu dân sự. Ví dụ, toàn bộ các hệ thống trên tàu đều trải qua chứng nhận liên quan tới “tính sinh thái” của chúng: trên “Mistral” lắp hệ thống thu, trữ và xử lý nước thải và các chất thải sinh hoạt khác trong quá trình hoạt động. Thủy thủ đoàn – 160 người. Các tàu được Nga đặt mua sẽ nhận được sự tăng cường thân tàu để hoạt động trong điều kiện biển đóng băn, còn hang ga sẽ cao hơn so với tàu cùng lớp của Pháp để bố trí trên boong hang ga các trực thăng Kamov cao hơn so với trực thăng Châu Âu. Thông tin lịch sử Lần đầu tiên, việc chính thức mua “Mistral” được tuyên bố đầu năm 2009. Mùa thu năm 2010, Bộ quốc phòng Nga đã chính thức tuyên bố đấu thầu về tàu đổ bộ đa năng. Ngày 14 tháng 12, “Mistral” được tuyên bố là người chiến thắng. Theo kế hoạch, khi sản xuất một tàu đổ bộ đa năng ở Pháp và với sự hỗ trợ kỹ thuật của Pháp sẽ đóng them 3 tàu lớp này trên các ụ của Pháp theo giấy phép sản xuất. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười Một, 2012, 12:18:27 am Tàu đổ bộ loại lớn đề án 11711 Các tàu đổ bộ lớn đề án 11711 được sử dụng để đổ bộ, vận chuyển khí tài kỹ thuật và trang thiết bị quân sự. Khí tài kỹ thuật chiến đấu trên tàu đổ bộ lớn trên boong chở tăng. Nó có thể mang các xe tăng chủ lực 60 tấn (13 xe), cũng như các xe vận tải bọc thép hoặc xe chiến đấu bộ binh (36 xe), hoặc 300 quân đổ bộ. Việc vận tải khí tài kỹ thuật trên tàu được thực hiện bằng 2 khả năng: tự vận động theo phương pháp sử dụng đường dốc hoặc khí có sự hỗ trợ của các cần cẩu chân đế hoặc cần cẩu trên boong qua cửa vận chuyển (cửa vào) ở boong trên. Các cửa này cho phép, đồng thời thông gió không gian dưới boong, khi trực tiếp trước cửa ra, các động cơ máy hoạt động trên vòng quay không tải và làm đầy buồng đổ bộ bằng khí thải. Để thực hiện việc bốc dỡ hàng ở khu vực của vận tải có cần cầu tải trọng 16 tấn và 2 cần cẩu loại nhỏ để trên tàu để hoạt động với các thuyền và thuyền máy. Cần thiết phòng thủ cho tàu và đảm bảo hỏa lực yểm trợ đổ bộ, tàu được lắp 1 thiết bị pháo AK-176 và 2 pháo tự động AK-630M (toàn bộ - trên thượng tầng nhiều tầng), còn trên boong trước dự kiến lắp 2 hệ thống phản lực bắn loạt. Tồng thời có kế hoạch triển khai trên tàu đổ bộ lớn trực thăng Ka-29. Thủy thủ đoàn – 100 người. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười Một, 2012, 12:18:44 am Thông tin lịch sử Tàu đổ bộ đề án 11711 là sự hiện đại hóa tiếp theo của tàu đổ bộ lớn đề án 1171 “Tapir”. Đề án 11711 được thiết kế bở Phòng thiết kế Neva. Trên cơ sở lấy thần tàu đổ bộ loại lớn tiền nhiệm, đã thể hiện tốt trong khoảng thời gian 10 năm. Bộ phận lớn các thiết kế của tàu chịu những thay đổi đáng kể. Cụ thể là thượng tầng và các buồng trong tàu. Khi đó, trong quá trình làm việc trên đề án đã sử dụng rộng rãi các công nghệ mới, sự chú ý lớn tập trung vào áp dụng các vật liệu kỹ thuạt mới được chế tạo trong những năm gần đây nhất. Đã áp dụng thành công việc làm giảm khả năng tàu bị phát hiện theo các trường vật lý khác nhau. Các nhà thiết kế, khi làm việc trên tàu đổ bộ, sự chú ý đáng kể hướng vào các điều kiện sinh hoạt cá nhân cho thủy thủ đoàn và lính đổ bộ. Điều kiện nghỉ ngơi cho thủy thủ đoàn được tổ chức không tồi, để huấn luyện, có phòng huấn luyện chuyên dụng. Điểm đặc biệt của tàu vận tải đổ bộ là mới, khả năng đổ bộ “không tiếp xúc” – bổ sung cho phương pháp đổ bộ truyền thống của Hải quân Liên Xô – khả năng đưa xuống nước và tiếp nhận các xe chiến đấu bộ binh và xe bọc thép vận tải lội nước theo đường mũi khi sóng biển cấp 3. Thông thường, trên các tàu đổ bộ Liên Xô, để vận chuyển khí tài kỹ thuật trên bờ, sử dụng đường dốc. Khả năng này có thể thực hiện được khi góc nghiêng của bờ là 2,5-3 độ. Khi góc nghiêng giảm, khí tài kỹ thuật không vận tải được bằng cách này, nó chỉ có thể đổ bộ bằng cách bơi. Nhưng việc này chỉ thực hiện được với khí tài kỹ thuật lội nước hạng nhẹ, còn nặng hơn - ở lại trên tàu. Khả năng không tiếp xúc mới trong vận chuyển khí tài tính toán sử dụng các loại phà công binh, thường được sử dụng cho Lục quân khi vượt các chướng ngại vật nước. Từ một số phà sẽ tạo thành cầu nổi mà theo đó, khí tài kỹ thuật hạng nặng và hạng nhẹ có thể di chuyển và đổ bộ lên bờ. Tính năng bổ sung đáng kể của tàu đề án 11711 là khả năng vận chuyển giữa các cảng các thùng (container) 20 found với loại hàng hóa bất kỳ đạt tiêu chuẩn quốc tế. Thiết kế tàu có khả năng vận tải hàng lên bờ mà không bằng sức của các tàu vận tải thường. Tổng khối lượng tải trọng hàng hóa có thể đạt 1500 tấn. Tàu đổ bộ đầu tiên được khởi công 23 tháng 12 năm 2004 trên ụ xưởng đóng tàu “Yantar” ở Kaliningrad, nhận tên gọi “Ivan Gren”. Việc gia nhập biên chế theo kế hoạch năm 2012. Mùa thu năm 2010, xưởng “Yantar” đã nhận được hợp đồng đóng thêm một tàu đổ bộ loại lớn đề án 11711. Hải quân Nga dự kiến sẽ nhận được 5 tàu loại này. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Mười Một, 2012, 12:18:59 am Các thông số kỹ thuật Lượng dãn nước, tấn: 5000 Chiều dài, mét: 120 Chiều rộng, mét: 16,5 Lượng mớn nước trung bình, mét: 3,6 Tốc độ tối đa, hải lý: 18 Thiết bị năng lượng chính: diesel 10D49 Tầm bơi xa ở tốc độ 16 hải lý, dặm: 3500. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Một, 2012, 12:04:44 am Đề án 11437 – tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Ulianovsk” Các công việc thiết kế trên tàu chở máy bay đa năng đầu tiên với thiết bị động lực hạt nhân được bắt đầu năm 1973 bằng việc nghiên cứu tàu sân bay đề án 1153 – dự định bố trí các máy bay khởi động (cất cánh) với sự hỗ trợ của máy phóng – các máy bay tiêm kích Mig-23K và máy bay cường kích Su-25K. Lượng dãn nước của tàu là 80 000 tấn và số lượng cụm các máy bay – 70. Cái chết của Bộ trưởng Quốc phòng – Nguyên soái Grechko, úng hộ đề án này và sau đó, tiếp nhận vị trí này là Nguyên soái Ustinov, người không ủng hộ nó đã dẫn tới việc dừng và hủy bỏ việc thực hiện đề án năm 1983. Việc thiết kế tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đề án 1143.7 “Ulianovsk” được bắt đầu ở Phòng thiết kế Neva năm 1984 dưới sự chỉ đạo của L.V.Belov (sau đó thay bằng Yu.M.Varfolomeev). Khi thiết kế đã tính toán kinh nghiệm thiết kế tàu sân bay đề án 1160. Dự định đóng 4 tàu. Mùng 4 tháng 10 năm 1988, tàu đầu tiên “Ulianosk” (số hiệu xưởng 107) được đưa vào danh sách tàu Hải quân và 25 tháng 11 khởi công trên xưởng đóng tàu biển Đen số 444 ở Nikolaev. Theo kế hoạch, tàu sẽ gia nhập biên chế năm 1995. So với các tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay khác, “Ulianovsk” khác biệt ở thiết bị động lực hạt nhân, tăng các kích thước boong bay, bàn lấy đà (góc dốc 14 độ) và 2 máy phóng hơi nước (chiều dài 90 mét). Tàu có thân thành cao, chế tạo từ théo theo hệ thống ghép bộ dọc. Thân tàu được chia thành 20 khoang kín nước. Thượng tầng (“quần đảo”) được bố trí theo thành bên phải. Hệ thống bọc thép gồm có sự bảo vệ (phòng thủ) dạng hình hộp các kho đạn và phòng thủ chống ngư lôi. Thiết bị năng lượng gồm 4 tuabin và 4 lò phản ứng nhiệt công suất 305MW. Dự kiến có lắp các nồi hơi hỗ trợ (phụ), có khả năng hãm các lò phản ứng, đảm bảo tốc độ tàu 10 hải lý. Nguồn năng lượng điện được cung cấp từ máy phát điện công suất 27 000kW. Trên boong tàu có thể triển khai tới 70 máy bay và trực thăng: 20 Mig-29K, 25 Su-33, 8 Yak-44, Ka-27PL, 2 Ka-27PS. Để bảo vệ các khí tài bay dưới boong có hang ga kích thước 175x32x7,9. Trên boong bay, chúng được nâng lên khi có sự hỗ trợ của 3 thang nâng tải trọng 50 tấn (2 theo thành bên phải, 1 theo thành bên trái). Ở phần mạn tàu bố trí hệ thống hạ cánh bằng quang điện “Luna”. Vũ khí của tàu gồm có 16 thiết bị phóng tên lửa chống tàu “Granit”, 4 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không SM-9, 8 thiết bị phóng “Kortik” (sau đó là “Palash”), 2 thiết bị phóng bom phản lực RUB-12000, 8 thiết bị pháo 6 nòng 30mm AK-630M. Trong thành phần trang thiết bị điện tử gồm có: Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Tron-Diplomant”, tổ hợp đa năng “Mars-Passat”, đài ra đa định vị ba tọa độ “Podberezovik”, đài ra đa định vị phát hiện các mục tiêu tầm thấp “Potkat-M”, tổ hợp đạo hàng “Adromeda”, hệ thống liên lạc vũ trụ “Tsentavr”, đài ra đa định vị điều khiển bay “Rezistor” và hệ thống dẫn bắn cho máy bay tiêm kích “Gazon”, đài tác chiến điện tử “Sozvezdie-BR”, đài thủy âm “Zvezda-M1”. Với sự xuất hiện của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Ulianosvk”, ngành đóng tàu Liên Xô đã đạt tới trình độ thế giới. Theo hiệu quả chiến đấu, tàu có thể ngang với các tàu sân bay Mỹ lớp “Nimitz” và vượt trội đáng kể tàu sân bay Pháp “Charles De Gaulle”. Thân tàu đã được đóng gần xong hoàn toàn, nhưng sau khi ngừng cung cấp tài chính mùng 1 tháng 11 năm 1991 đã dừng đóng (20% về kỹ thuật) và loại khỏi danh sách tàu Hải quân. Mùng 5 tháng 2 năm 1992, theo mệnh lệnh của Tổng thống Ukraina Kravchuc đã bắt đầu theo thân tàu của nó thành kim loại trên ụ (hoàn thành 29 tháng 10). Tàu thứ hai cũng được nấu chảy và tháo kim loại. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:16 am Các thông số kỹ chiến thuật Lượng choán nước, tấn: 85 000 Theo các thông tin khác + tiêu chuẩn, tấn: 60 000 + hoàn toàn, tấn: 79 758 Chiều dài, mét: 323,7 – theo rãnh mớn nước: 302,6 mét Chiều rộng, mét: 39,5 Lượng mớn nước, mét: gần 10,7 Chiều dài boong bay, mét: 323,7 Chiều rộng boong bay, mét: 75,5 Thiết bị năng lượng Kiểu: thiết bị năng lượng hạt nhân (4 lò phản ứng, 4 tuabin hơi nước) Số lượng trục: 4 Công suất: gần 240 000 sức ngựa Tốc độ, tầm bơi xa Tốc độ: 30 hải lý Tầm bơi xa: - Thời gian hoạt động: -. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:41 am Vũ khí Gần 80 (theo các thông tin khác 60-85) Các máy bay và trực thăng: Su-27, Su-25, Ka-32, Yak-44 cảnh báo sớm Thiết bị phóng tên lửa chống tàu “Granit”: 16 Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không SM-9: 4x6 (192 tên lửa) Thiết bị pháo 6 nòng 30mm AK-630M” 8 Tổ hợp “Kortik”: 8 (mỗi tổ hợp gồm 2 pháo 30mm và tên lửa phòng không 3M-88, cơ số đạn 256 tên lửa; 48 000 đạn) Thiết bị phóng tổ hợp chống ngầm và ngư lôi RPK-5/Udav-1: 2 (60 tên lửa) Máy phóng: 2 Thông tin khác Thủy thủ đoàn + sỹ quan và thủy thủ: gần 2300 + phi công và nhân viên kỹ thuật phục vụ: gần 1500. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:02:54 am Tàu chở vũ khí lớp “Aleksandr Brưkin” – Đề án 11570 – lớp Brykin (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/11570_02.jpg) Tổng số tàu đã đóng: 1 Biến thể: không có. Đầu những năm 1980, để vận chuyển các loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa của các tàu tuần ngầm tuần dương nguyên tử mang tên lửa chiến lược thế hệ thứ 3, ở Phòng thiết kế “Korall” tại Sevastopol đã thiết kế tàu vận tải tên lửa mới đề án 11570. Yêu cầu trên các tàu mới của lớp này là rất lớn, bởi vì các tàu vận tải được đóng trước đó thuộc các đề án 323, 771-B và 1150 đã khong đảm bảo hoạt động với các tên lửa đạn đạo liên lục địa hạng năng mới, gia nhập trang bị các tàu ngầm Liên Xô. Tàu vận tải đề án 11570 có thể đồng thời vận chuyển 16 tên lửa đạn đạo của tàu ngầm cho tới tên lửa nhiên liệu rắn lớn R-39, nằm trong trang bị của tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo đề án 941 (“Taifun” – “Typhoon”). Để vận chuyển tên lửa, nó được trang bị cần cẩu 125 tấn (bố trí ở giữa tàu) và 2 cần cẩu phụ - tải trọng tương ứng 12 và 9 tấn. Trên cần cẩu lắp thiết bị tự động hóa đặc biệt (tương đồng với thiết bị lắp trên tàu vận tải đề án 1791), đảm bảo vận tải không bị va chạm các tên lửa khi tác động của sóng làm rung rắc (tròng trành) tàu ngầm và tàu vận tải. Trong vai trò vũ khí phòng thủ tự vệ trên tàu bố trí 2 thiết bị giá phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không mang vác kiểu “Strela-3” (hoặc “Igla-1”), đồng thời 4 pháo tự động 30mm AK-630 với 2 trạm điều khiển ra đa định vị. Trong vai trò phòng thủ thụ động có các tổ hợp bắn nhiễu PK-2 và PK-10. Đáng chú ý rằng, các tàu vận tải vũ khí Liên Xô được giới thiệu là tốt chỉ khi tiếp nhận trong các trạm căn cứ phân tán và trên các bến đỗ tàu trong vai trò phương tiện vận tải đạn hoặc trong dạng các trạm (căn cứ) chứa đạn nổi. Ngoài ra, mục đích chính của tàu vận tải vũ khí – đảm bảo cho tàu ngầm hạt nhân tuần dương mang tên lửa đạn đạo. Chúng khác biệt một cách nguyên tắc theo các nhiệm vụ này với các tàu cùng lớp thuộc Hải quân Mỹ, nơi nhiệm vụ của chúng, về cơ bản để đảm bảo cho các tàu nổi và ngoài ra, còn khả năng cung cấp đạn khi hoạt động trên biển. Việc thiết kế tàu vận tải tương tự cho Hải quân Liên Xô được thực hiện trong những năm 1980, nhưng do Liên Xô tan rã, việc đóng không được tiếp tục. Chương trình đóng tàu Theo đề án 11570, vào năm 1986 ở xí nghiệp đóng tàu Admiraltei tại Leningrad đã chỉ đóng được 1 tàu vận tải vũ khí, nhận tên gọi “Aleksandr Brưkin” – ngoài ra, tới khi Liên Xô tan rã không kịp đóng thêm. Ở phương Tây, tàu nhận tên gọi – lớp Aleksandr Brykin. Tình hình đến năm 2009 Sau khi đóng và thí nghiệm, tàu vận tải vũ khí “Aleksandr Brưkin” năm 1987 được bàn giao cho Hạm đội Phương Bắc, nơi đảm bảo vận tải tên lửa cho các tàu ngầm đề án 941. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:13 am Các thông số kỹ chiến thuật chính Lượng dãn nước, tấn + tiêu chuẩn: 8235 + hoàn toàn: 11 440 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 159,1 (-) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 23 (-) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 5,5 Thiết bị năng lượng chính: diesel + 2 động cơ diesel, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820) + các máy phát điện – diesel, công suất, kW: 3x- 2 trục, 2 bánh lái chân vịt, thiết bị lái ở mũi Tốc độ, hải lý + tối đa: 16,5 + tiết kiệm năng lượng: 15 Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 6000 (15) Thời gian hoạt động, ngày: 30 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 148 (-) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:40 am Tải trọng (khối lượng tải) và các thiết bị vận tải + tải trọng nâng, tấn: - + số lượng và lớp (loại) đạn: 16 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa + Các thiết bị nâng: cần cẩu: 1-125 tấn/1-12 tấn/1-9 tấn Vũ khí Tên lửa phòng không + thiết bị phóng MT-4US thuộc tổ hợp tên lửa phòng không “Strela-3” hoặc “Igla-1”: 2x4 + tên lửa phòng không điều khiển 9M32M hoặc 9M313 (SA-N-5 “Grail”): 16 Pháo + pháo tự động 6 nòng 30mm AK-630: 4x6 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung: 1xMR-750 “Fregat-MA” (Half Plate Alpha) Đài ra đa định vị đạo hàng: 2x”Nayada” (Nayada) Các khí tài tác chiến điện tử: “Start” (2 Bell Shroud; 2 Bell Squat) Các tổ hợp bắn nhiễu + 2x 2 thiết bị phóng PK-2 (ZiF-121) + 4x 10 thiết bị phóng PK-10 Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo 30mm Các khí tái thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại: (Salt Pot; Long Head). Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:30:12 am Đề án 904 “Orlenok” (đại bàng nhỏ) – tàu đệm khí động vận tải đổ bộ (http://i1302.photobucket.com/albums/ag123/Armata2013/orlyonok.jpg) Lần đầu tiên trên thế giới, các tàu đệm khí động đóng loạt được đóng ở Liên Xô và gọi tên là “Orlenok”. Ngoài Liên Xô, loại vũ khí này đã và tới thời điểm này không có ở một nước nào trên thế giới. Tàu đệm khí động duy nhất này được chế tạo bởi công trình sư thiên tài của Liên Xô Rotislav Evgenievich Alekseev. “Đại bàng nhỏ” được thiết kế và đóng như khí tài vận tải đổ bộ để vận chuyển nhanh chóng các khí tài kỹ thuật bánh hơi, bánh xích và bộ đội tới các khu vực chiến sự, đồng thời làm nhiệm vụ đổ bộ. Đây là tàu bay thực sự có khả năng bay và hạ cánh trên sóng biển, và cả trên bờ biển không được chuẩn bị sẵn. Nó là bước tiến khổng lồ - mang tính cách mạng trong ngành Hải quân. Tốc độ cao đảm bảo nhanh chóng vận chuyển các đơn vị bộ đội và tấn công bất ngờ mà các tàu đổ bộ thường không đạt tới (không thực hiện) được. Các bãi chướng ngại vật chống ngầm và bãi mìn không cản trở được “Orlenok” (nó bay qua chúng), và để đánh chiếm căn cứ quân sự của địch được bảo vệ tốt trên bờ, nó không thay thế được một cách đơn giản. “Orlenok” không sợ bão, không sợ băng – nó bay trên chúng, còn khi cần thiết có thể thực hiện việc hạ cánh trên chúng, đảm bảo khả năng khai thác sử dụng quanh năm. Nó không bị gây trở ngại bởi các cửa sông hay bãi đá gần bờ cũng như các bãi nông, mà ở đó có thể làm vỡ các tàu thường. Việc đổ bộ có thể thực hiện khắp nơi – từ vùng Sừng Châu Phi tới các rặng san hô tới hai bờ biển Bắc Mỹ. Theo ý kiến các phi công quân sự, một trong số các ưu điểm chính của tàu đệm khí động là khả năng sống còn – sân bay thường ở dưới máy. Trên các thí nghiệm, tàu đệm khí động đã hạ cánh thậm chí trên đá, nhưng nó cất cánh và tới căn cứ mà không xảy ra tai nạn. Các đặc điểm này: thoát khỏi mặt nước khi ở tốc độ thấp (do kết quả thổi), lưỡng cư (đất liền, nước, không khí) không lắc khi bị tác động của sóng và nhiễu động khí quyển, giảm sự tiêu tốn nhiên liệu so với máy bay, trực thăng hoặc tàu trên đệm không khí; đồng thời khả năng bị phát hiện thấp bởi ra đa định vị và khả năng bay trên tốc độ của máy bay làm cho thiết bị này trở thành duy nhất theo các khả năng này. Theo nguyên nhân này, trong các cuộc diễn tập, toàn bộ trung đoàn máy bay tiêm kích Mig-23 không thể tiêu diệt các tàu đệm khí động bay tầm thấp bằng các tên lửa. Các tàu đệm khí động được đảm bảo an toàn một cách tối đa thậm chí khi hỏng các động cơ, thiết bị năng lượng và hệ thống; không có độ cao rơi và sự xuất hiện “đệm màn” không cho phép chạm (tiếp xúc) bề mặt (đất) tới khi đạt được tốc độ thấp nhất. Trong cùng thời gian đó, chúng có thể dễ dàng vượt qua các chướng ngại vật bên cạnh cũng như ở trên, khi thực hiện bay trên đất bằng hoặc khu vực ngập nước. Các tàu đệm khí động – những lãnh chúa (vị chúa, chúa tể) thực sự của không gian rộng lớn: sông, hồ, sa mạc, đài nguyên – nơi chúng tự do hoàn toàn. Tàu đệm khí động vận tải đổ bộ “Orlenok” được đóng theo sơ đồ máy bay. Đây là ba động cơ máy bay cánh đơn với cánh đuôi dạng chữ T và thân – tàu. Thân được sử dụng để bố trí trên đó tải trọng hữu ích, phi hành đoàn, vũ khí, các động cơ khởi động và các hệ thống trên tàu. Thân có chiều dài 58 mét, chiều cao 16 mét, khối lượng 120 tấn và sải cánh 31 mét. “Orlenok” có tốc độ tối đa 400km/h và ví dụ tổng cộng trong khoảng 1 tiếng có thể vượt qua biển Caspi, có khả năng cất cánh từ sóng cao 1,5 mét, khi sóng biển cấp 4. Tải trọng có ích được bố trí trong khoang vận tải – chiều dài 28 mét, rộng 3,4 mét và cao 4,5 mét. Tải trọng – 20 tấn, tương đương với 1 đại đội Hải quân đánh bộ (150-170 người) với trang bị đầy đủ hoặc 2 xe bọc théo (BTR, BMP, BMD, BRDM) với kíp xe. Lính đổ bộ có thể ở trên thành trong thời gian tính bằng phút và trên tốc độ tối đa đạt được tầm xa 2500km. “Orlenok” chạy đã trong nửa phút và đạt chiều cao tối ưu. Khi cần thiết, khí tài có khả năng bay như máy bay, trên độ cao 6km. Nó có đặc điểm tính cơ động cao so với các tàu đệm không khí, không tính máy bay – bán kính quay 90 độ - trên “Orlenok” tổng cộng 50 mét. Việc tiếp nhận và đổ bộ của “Orlenok” có thể thực hiện trực tiếp trên bờ - di chuyển lên bờ và khi chạy ngược ra biển trên đáy được cố định dưới gầm. Sau khi tàu đệm khí động rời khỏi bờ, mở các khóa đặc biệt và bộ phận mũi mở và quay góc 92 độ về bên phải – quanh các bản lề thân. Sau đó, qua cửa được hình thành, thang được hạ xuống – theo đó các phương tiện vũ khí kỹ thuật từ buồng vận tải được đổ ra. Trong bộ phận quay của thân bố trí cabin phi hành đoàn và thiết bị súng máy. Việc ra vào của phi hành đoàn được thực hiện qua các cửa, bố trí theo thành trên cánh. Lối thoát khẩn cấp – qua cửa trên nóc cabin phi công. Phi hành đoàn gồm chỉ huy, phi công số 2, thợ máy, hoa tiêu, nhân viên vô tuyến và xạ thủ súng máy. Khi vận chuyển lính đổ bộ, trong thành phần phi hành đoàn bổ sung thêm 2 nhân viên kỹ thuật. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:37:30 am Thiết bị động lực của “Orlenok” gồm 2 động cơ 2 kỳ tuabin phản lực cất cánh NK-8-4K (lực kéo tĩnh lực tối đa của mỗi động cơ trong điều kiện tiêu chuẩn – 10,5 tấn) và động cơ tuabin cánh quạt hành trình NK-12MK (lực kéo tĩnh lực tối đa trong điều kiện tiêu chuẩn – 15,5 tấn). Toàn bộ 3 động cơ được giới thiêu là biến thể cho tàu biển các động cơ hàng không được sản xuất hàng loạt. Trên thành đồng thời có thiết bị động lực hỗ trợ (phụ) TA-6A. Để giảm chạy đà trong thời gian khởi động tiếp nhận sự thổi các luồng phản lực từ các động cơ ở mũi (khởi động, cất cánh), bố trí dưới cánh tàu đệm khí động. Sau khi thoát khỏi bề mặt (nước, đất), các động cơ cất cánh tắt và “Orlenok” tiếp tục bay trên động cơ hành trình ở đằng sau, làm quay 2 động cơ cánh quạt đồng trục đường kính 6 mét. Khi cần thiết tăng lực kéo trong khi bay (trong chế độ bay tuần tra), các động cơ khởi động được mở và với sự hỗ trợ của các vòi phun quay, các luồng phản lực hướng lên trên cánh. Để bảo vệ khỏi muối biển – nhanh chóng phủ toàn bộ các bộ phận của động cơ và làm giảm hệ số hoạt động hiệu quả, các động cơ khởi động cùng với các bộ gom không khí được thiết kế “giấu” trực tiếp trong thân, ở bộ phận mũi (quay) của tàu đệm khí động. Các động cơ được lắp theo thành, còn các bộ gom không khí được bố trí đặc biệt trước đèn cabin phi công để ngăn bụi nước và bụi vào trong động cơ, trong thời gian hoạt động trên biển hoặc trên bộ. Động cơ hành trình được nâng cao tối đa so với mặt nước và bố trí trên cánh đuôi thẳng, giải quyết tối ưu vấn đề với muối biển. Đồng thời, động cơ tuabin cánh quạt siêu mạnh NK-12 với các cánh quạt đồng trục được tiếp nhận trên các máy bay ném bom chiến lược và máy bay vận tải hạng nặng.
Tàu lượn được chế tạo từ hợp kim AMg-61. Trong các thiết bị và tổ hợp riêng, tiếp nhận thép. Sơ đồ bố cục chung của tàu đệm khí động được hình thánh với sự tính toán các chế độ di chuyển chuyên môn hóa – tự dốc và rời lên bờ, chế độ: bơi, lướt, nảy theo bánh lái sóng và bay ổn định. Sóng lớn tạo thành tải trọng va đập lớn lên thành thủy phi cơ. Vì thế, khi thiết kế “Orlenok” đã tăng cường đáy bằng các biện pháp tương ứng. Nó được tạo thành bởi hệ thống đáy lướt dọc và ngang. Ngoài ra, để giảm tải lắp thiết bị trượt – giảm chấn (giảm sóc). Ở phần trước thân là thiết bị trượt – giảm sóc mở mũi, còn khu vực trung tâm khối lượng là thiết bị trượt – giảm sóc chủ yếu (chính). Thiết bị trượt – giảm sóc được giới thiệu là đáy lướt giảm sóc và nghiêng của thân lướt. Nó được chế tạo trong dạng tấm phẳng, được cố định bằng các bản lề sườn trước vào đáy thân và với cột chống – bộ giảm sóc theo chiều dài tấm phẳng. Chiều dài, góc nghiêng và sự giảm sóc của thiết bị trượt – giảm sóc được tính toán một cách tỷ lệ hợp lý bằng cách tính chiều cao sóng khi tàu đệm khí động cất hạ cánh. Các thiết bị trượt – giảm sóc có thể được sử dụng để khởi động tàu đệm khí động từ băng đá – tuyết. Việc lắp thiết bị trượt – giảm sóc tốt thay thế toàn bộ khả năng tạo thành hệ thống khí động học và các chế độ di chuyển của tàu đệm khí động. Các lực thủy lực tạo ra bởi thiết bị trượt – giảm sóc có tính chất tổng hợp (động lực) với các lực khí động học của cánh, cho phép liên kết toàn bộ các phần tử khí động lực của tàu đệm khí động trong một tổ hợp thống nhất để cùng tạo thành lực nâng và điều khiển di chuyển. Bàn trượt phẳng, nối tiếp tới đường bao thân, tạo thành bề mặt dựa giảm sóc. Do kết quả tăng góc trược của thiết bị trượt – giảm sóc, sự nổi lên của thân và nâng tiếp theo trên mặt nước phù hợp khoảng 20-40% so với tốc độ bắt đầu bay, tương ứng, thân trên tốc độ cao được bảo vệ khỏi tác động (các cú đập) của sóng. Sự giảm sóc của thiết bị trượt – giảm sóc mang tới khả năng theo dõi sự biến động của sóng trên tốc độ cao, giảm tải trọng và tạo ra khả năng chuyển chế độ bơi sang chế độ bay. Thiết bị trượt – giảm sóc cho phép trong khi bay tiếp xúc với bề mặt nước một cách an toàn – tàu đệm khí động có thể “cắt” ngọn sóng một cách đúng nghĩa. Khả năng chuyển an toàn trong khi bay tới chế độ lướt dẫn tới giảm bán kính quay vòng 2-3 lần, so với sự quay, rẽ trong chế độ bay. Trong chế độ trượt, có thể thực hiện sự quay bằng với sự trượt, an toàn hơn khi so sánh với sự quay trong chế độ bay với độ nghiêng. Các tính năng lưỡng cư bổ sung được đảm bảo bằng gầm bánh hơi, bố trí trên thiết bị trượt – giảm sóc. Nó cho phép tàu đệm khí động thực hiện khả năng di chuyển ra khu vực nước, trong đó từ trên bờ không được chuẩn bị sẵn và di chuyển theo đường bộ. Gầm gồm có các giá hai bánh hơi ở mũi và trụ chính 10 bánh hơi. Bánh xe – không hãm, bánh mũi – quay, hệ thống treo độc lập. Sự thu bánh mũi được thực hiện bằng cách thu vào thân, còn các bánh chính với sự hỗ trợ của các xi lanh thủy lực nghiêng vào thiết bị trượt – giảm sóc chính. Các cánh cửa gấp không có, thiết bị trượt – giảm sóc ở vị trí thu gọn phủ từng phần đáy gầm. Gầm cùng với thiết bị trượt – giảm sóc (ở mũi và chính) và bằng phương pháp thổi đảm bảo khả năng di chuyển trên mọi loại nền đất. Cánh có bố cục khí động học được tối ưu hóa. Ở cuối các bánh có lắp phao, đóng vai trò vòng đĩa đệm khí động lực và lướt. Dọc mép sau bố trí các cánh đuôi – cánh phụ 5 khối. Dọc mép trước bố trí trên bề mặt cánh dưới (gần cuối) là các lá chắn khởi động đặc biệt. Trục quay của lá chắn đi qua theo các mép trước của chúng. Các góc nghiêng: cánh đuôi – cánh phụ - từ -10 đến 42 độ, lá chắn khởi động – 70 độ. Sự cơ động cánh được sử dụng khi khởi động để tạo thành đệm khí – không khí, nâng tàu đệm khí động khỏi mặt nước. Khi bơi, mép sau của cánh nằm trên nước. Để cất cánh, các động cơ khởi động ở mũi mở ra, các luồng phản lực từ đó hướng về dưới cánh. Phi công hạ các cánh đuôi và lá chắn, chặn khí làm thủng các mép trước và sau. Áp suất khí tăng dưới cánh và nâng tàu đệm khí động lên khỏi mặt nước. Thiết kế cánh gồm có cánh giữa và 2 đế, dạng cấu trúc lõm. Trong phần cuối cánh bố trí các thùng nhiên liệu. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:37:45 am Cánh đuôi dạng chữ T được tiếp nhận với mục đích giảm ảnh hưởng của máy bay tới các tính năng bền vững và điều khiển tàu đệm khí động. Các kích thước tương đối lớn của hệ thống ổn định được giải thích bằng sự cần thiết đảm bảo độ ổn định bay trên các độ cao khác nhau. Các bánh lái cao – 4 khối, bánh dẫn hướng – 2 khối. Cánh đuôi đứng được giới thiệu là khối duy nhất với thân. Trên cánh đuối được cố định động cơ hành trình, lắp các đèn dẫn đường và các ăng ten hệ thống kỹ thuật vô tuyến.
Các hệ thống của tàu đệm khí động được giới thiệu là sự hỗn hợp của trang thiết bị tàu biển và máy bay. Trên tàu đệm khí động có tổ hợp đạo hàng của tàu biển “Ekran” với đài ra đa định vị quan sát. Hệ thống điều khiển – thủy lực. Hệ thống tự động kiểm soát di chuyển được sử dụng trong thiết bị tự lái. Với sự hỗ trợ của nó, việc lái có thể thực hiên bằng tay cũng như trong chế độ tự động. Ở cuối mũi trên thân lắp ăng ten đài ra đa định vị đạo hàng cảnh báo va chạm – “Ekran-4” với khả năng giải quyết cao. Ăng ten nhìn của đài ra đa định vị được bố trí trên bộ phận trên thân, sau thiết bị súng máy. Hệ thống thủy lực đảm bảo chức năng các bề mặt lái, sự cơ động cánh, thu/thả gầm và thiết bị trượt – giảm sóc, quay bộ phận mũi thân trên các khớp bản lề. Hệ thống điện đảm bảo cho các thiết bị lái – dẫn đường, thông tin liên lạc vô tuyến, trang bị kỹ thuật điện, đồng thời hệ thống điều khiển. Tàu đệm khí động được trang bị tổ hợp hoàn toàn các đèn dẫn đường của tàu biển. Trong bộ phận quay của thân trên khoang mũi bố trí thiết bị mỏ neo – lai dắt, cho phép thực hiện các hoạt động cứu nạn trực tiếp trên mặt nước. Mỏ neo được thu vào trong lỗ. Trên thành tàu đệm khí động có các bè bơm hơi cứu nạn và các thuyền máy bơm hơi. Vũ khí gồm có thiết bị súng máy phòng thủ “Utes-M”. Các mũ chụp vô tuyến trong suốt của các ăng ten được chế tạo từ các vật liệu composite. Sự bảo vệ tàu bay khỏi sự ăn mòn được đảm bảo bởi lớp phủ điện hóa. Phận dưới nước được sơn bằng sơn đặc biệt, ngăn chặn các sinh vật biển bám vào đáy. Màu sơn: bộ phận nổi của thân, gồm có cánh đuôi – xám; phần chìm của thân tàu – xanh lá cây – sẫm; các mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị - xám sang; vạch mớn nước, số hiệu chiến thuật – trắng; cánh chân vịt, nòng súng máy, máy nhìn, vòi phun động cơ, hốc các vòi phun động cơ mũi – đen; đầu mút vòng đệm – đỏ; phần cuối các cánh chân vịt – làng. Hai bên thành, trên cánh đuôi đứng có sơn cờ Hải quân Liên Xô/Nga. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:40:07 am Các biến thể Tàu đệm khí động dân sự “Orlenok” “Orlenok” – không chỉ là vũ khí uy lực mạnh mà còn là phương tiện vận tải siêu kinh tế. Tổng cộng, nó có thể chở được 150 hành khác, tương đương với máy bay 4 động cơ Tu-144, khi bay chỉ sử dụng 1 (?) động cơ so với Tu-144. Nó có thể hoạt động trên các tuyến giao thông liên tục, vận chuyển hành khác hoặc được sử dụng như tàu vận tải – chở khách tốc độ cao, vận chuyển hàng hóa và các ê kíp để cho các thiết bị khoan nổi, tàu đánh cá và các trạm vùng cực (hạ cánh trên các tảng băng trôi). Tàu đệm khí động thăm dò địa chất biển Bắc Cực Biến thể của “Orlenok” – Tàu đệm khí động nghiên cứu khoa học thăm dò địa chất Bắc Cực được thiết kế một cách tích cực. Ngoài những thay đổi trong thiết kế thông thường để chuyển từ quân sự sang phiên bản dân sự (tháo vũ khí và trang bị dành cho đổ bộ), ở mạn tàu lắp động cơ tốc độ thấp – chân vịt trên bộ đệm – với bộ dẫn động từ động cơ diesel. Ở phần cuối mạn tàu có các cửa mở và bố trí các trang bị chuyên dụng; thủy phi cơ có thể lấy các mẫu ở đáy biển, thực hiện thăm dò âm thanh địa chấn, thăm dò từ trường và phân tích trọng lượng. Tàu đệm khí động chống ngầm Hiện nay còn lại đề án tàu đệm khí động chống ngầm không được thừa nhận, trang bị hệ thống thủy âm mạnh (hiện nay, mẫu vũ khí duy nhất này chỉ có thể nhìn thấy ở bảo tang của Phòng thiết kế trung ương theo tàu cánh ngầm). Hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên không – trên biển Liên hiệp khoa học sản xuất (NPO) “Phòng thiết kế trung ương về tàu cánh ngầm mang tên R.E.Alekseev” cùng với tổ hợp khoa học kỹ thuật hàng không (ANTK) mang tên Antonov đã thiết kế đề án hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên không – trên biển (AMPSS) duy nhất. Trên “lưng” máy bay – người khổng lồ An-225 lắp phiên bản cứu nạn “Orlenok”, có bán kính hoạt động được tăng cường và trang bị toàn bộ những thiết bị cần thiết để hỗ trợ người trên biển (phòng cấp cứu, giường bệnh…). Máy bay – thiết bị mang chở tàu đệm khí động tới chỗ tai nạn với tốc độ 700km/h. Sau đó, “Orlenok” khởi động các động cơ của nó, khởi động từ An-225, hạ thấp và hạ xuống nước gần tàu cấp cứu ở khu vực tai nạn. Nhờ thiết kế có độ vững chắc lớn, tàu đệm khí động có thể trụ được trên sóng mạnh, có hại đối với các loại thủy phi cơ, còn trữ lượng nhiên liệu cho phép nó hoạt động thực tế ở địa điểm bất kỳ trên đại dương thế giới (toàn bộ nhiên liệu chỉ bị tiêu thụ khi trở về cảng gần nhất). Hệ thống này cho phép hoạt động trên các vùng cực – tàu đệm khí động có khả năng hạ cánh trên băng. Hệ thống này có thể chở hàng khẩn cấp cho người thám hiểm ở vùng cực. Nhưng vào cuối những năm 80, nguồn tài chính để thực hiện đề án này ở Liên Xô không tìm được. Nếu hệ thống này xuất hiện, thì phần lớn thủy thủ đoàn tàu “Komsomolets” đã được cứu, bởi vì phần lớn trong số họ đã hy sinh do quá lạnh ở vùng nước lạnh của biển Bắc. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Năm, 2013, 12:49:10 am Tàu tuần dương tên lửa lớp “Kirov” (http://atrinaflot.narod.ru/2_mainclassships/02_rkr_1144/1144-1_15.jpg) Đề án 1144 “Orlan” Tổng số tàu đã đóng: 1, + 3 tàu theo đề án 11442 Các biến thể + 1144 – đề án cơ sở tàu tuần dương tên lửa năng lượng nguyên tử + 11442 – các tàu thứ 2, 3 và 4 trong lớp với thành phần vũ khí mới (1984/88/95). Sự phát triển các tàu tuần dương tên lửa chiếm giai đoạn không lớn. Như đã chỉ ra, quan điểm có phần kỳ lạ trong Hải quân Liên Xô cũng như Mỹ, các tàu này mặc dù có tiểu sử khá phong phú trong các lớp tàu tuần dương, “trưởng thành” từ các tàu khu trục hộ vệ và đã có hướng phát triển riêng hiện nay trong ngành đóng tàu quân sự thế giới. Điểm đặc trực của các tàu tuần dương này – thực tế hoàn toàn không thiết kế phòng thủ để làm cho chúng trở thành các tàu “một trận đánh” hoặc “tấn công một lần”. Nguyên nhân của việc này là chúng được chế tạo trước hết để cho chiến tranh tên lửa – hạt nhân và vì thế được tính toàn rằng hệ thống phòng thủ truyền thống không cần thiết. Các quan điểm tương tự đã xuất hiện và chiếm ưu thế ở Liên Xô và Mỹ cho tới gần cuối những năm 1970. Vị trí đặc biệt trong phát triển các tàu tuần dương là phân lớp tàu tuần dương nguyên tử. Năm 1959, Liên Xô đã hoàn thành việc đóng tàu nổi đầu tiên trên thế giới với động cơ năng lượng hạt nhân – tàu phá băng “Lenin”. Còn năm 1961, trong biên chế Hải quân Mỹ đã gia nhập tàu nổi năng lượng nguyên tử đầu tiên – tàu tuần dương trang bị vũ khí tên lửa điều khiển “Long Beach”. Hiện nay, rất khó để nói rằng có rõ ràng hay không rằng đây là động lực chế tạo tàu chiến hạt nhân của Liên Xô hay là sự phát triển bắt buộc theo tự nhiên của kỹ thuật hải quân. Các chi tiết khác nhanh chóng khẳng định ý nghĩa của mình. Tuy nhiên sự kiện còn lại chỉ ra rằng những nghiên cứu để xác định hình dáng tàu chiến nguyên tử đầu tiên chỉ bắt đầu năm 1964 và trước hết, đã đặt Liên Xô vào tư thế người đi sau. Nguyên nhân không nhỏ nằm ở quan điểm cá nhân của N.Khrutsev trong việc phát triển Hải quân mà cụ thể là các tàu nổi (đặc biệt là các tàu lớn). Yếu tố chính trong cơ sở các nghiên cứu là nguyện vọng có tàu hoạt động trên đại dương với thời gian không hạn chế, có khả năng hoạt động độc lập ở các đại dương xa xôi, là các tàu tập kích (корабль-рейдер), khác với các tàu tiền nhiệm trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ hai ở khả năng truy lùng và tiêu diệt không chỉ các tàu hàng (tàu vận tải) và còn các tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa. Các nghiên cứu đã được hoàn thành bằng việc đề ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật và thiết kế đề án tàu chống ngầm lớn với thiết bị năng lượng hạt nhân có lượng dãn nước 8000 tấn ở Phòng thiết kế trung ương. Việc nghiên cứu đề án được giao cho tập thể Phòng thiết kế đề án Phương Bắc ở Leningrad với Tổng công trình sư và lãnh đạo các đề án là B.I.Kupensky - ở thời điểm đó là Tổng công trình sư các tàu khu trục (chống ngầm lớn) đề án 61 động cơ tuabin khí đầu tiên ở Liên Xô. Giám sát viên chính của Hải quân trong thiết kế và đóng tàu từ đầu cho đến khi tàu được bàn giao cho Hải quân là Thuyền trưởng cấp 1 A.A.Savin. Cần phải nhấn mạnh rằng. Kupensky và Savin đã tỏ ra là đối tác tin cậy. Một cách không công bằng khi không nhắc đến một lãnh đạo nữa của đề án – Tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov – người luôn chấp nhận chịu trách nhiệm các vấn đề xây dựng Hải quân mà cụ thể là thiết kế tàu. “Orlan” – tên gọi này của đề án tàu nguyên tử mới – xuất phát từ tên người con đẻ của Tư lệnh Hải quân mà trong việc chế tạo tàu – không nói quá – ông đã tham gia trực tiếp. “Orlan” nhận số hiệu đề án 1144. Việc thiết kế “Orlan” là quá trình phức tạp và chậm chạp. Từ những giai đoạn đầu tiên – lượng giãn nước – bắt buộc phải tìm toàn bộ các phương án mới cho động cơ chính, trước hết là thiết bị sinh hơi nước cho động cơ. Thiết bị này trên tàu phá băng và tàu thương không được chấp nhận: không đủ công suất yêu cầu, đã xuất hiện những vấn đề nghiêm trọng trong bố cục, không đạt yêu cầu. Cuối cùng, đã quyết định tiếp nhận giải pháp chế tạo thiết bị sinh hơi nước đặc biệt. Từ các phương án 1 hoặc 2 lò phản ứng đã giữ lại phương án thứ hai. Bản thân Tư lệnh Hải quân đã yêu cầu bố trí động cơ dự bị với năng lượng thường. Sự lo lắng của ông có thể hiểu được: kính nghiệm ở Liên Xô trong khai thác sử dụng tàu nguyên tử không nhiều, tàu chiến – không phải tàu phá băng. Giữa những năm 1950, sau khi bắn tên lửa vào các khoang bọc thép không được đóng xong của tàu tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 “Stalingrad” đã có nhận định rằng không loại giáp nào có thể “chống lại” tên lửa. Giáp các tàu nổi được cho là vô ích, việc bọc thép, công nghệ dần trở thành lịch sử. Đặc biệt, trong những năm này, việc bọc thép không có gì đặc biệt, các tàu nổi mới về cầu tạo, không phụ thuộc vào phân loại, kích thước và lượng dãn nước, vẫn giữ nguyên trên tàu phóng ngư lôi. Ngoài ra, phần lượng dãn nước, trước hết tập trung vào bộ phận bọc thép (như trên tàu chủ lực – 40%, trên các tàu tuần dương – 25%) một cách mạnh mẽ đã hạn chế việc mở rộng danh pháp vũ khí và pháo cũng như việc tăng cường diện tích, thể tích bố trí chúng cũng như yêu cầu nguồn năng lượng và nhu cầu tăng cường tiện nghi khu vực sinh hoạt của thủy thủ đoàn, đặc biệt là trên tàu có thời gian hoạt động độc lập lâu. Vấn đề tranh cãi chính về giáp với đạn cũng như sử dụng đạn đã không được giải quyết (đáng chú ý là cho đến bây giờ) trong khi bên ủng hộ (bảo vệ) cho rằng để tăng cường khả năng sống còn cho tàu. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này cần bắt đầu thực tế từ “số 0”. Công việc về hệ thống phòng thủ tàu nổi cho phép thành lập tổ hợp các giải pháp kỹ thuật được tổng hợp trong thời điểm đó dựa trên các thành tựu về công nghệ, áp dụng vật liệu và thiết kế với những đề xuất thực tế về tính nặng công phá của các loại đạn có thể bắn vào tàu. Cuối cùng, sau thời gian gián đoạn, trên tàu đề án 1144 đã xuất hiện hệ thống phòng thủ. Đương nhiên, nó không lặp lại hệ thống cũ chỉ sử dụng để bảo vệ các công trình quan trọng nhất khỏi ảnh hưởng của vũ khí tên lửa. Hệ thống phòng thủ này gọi là “cục (nội) bộ”, khác với hệ thống phòng thủ “thành lũy” sử dụng trên các tàu chủ lực, tàu sân bay và tàu pháo trước đó. Vì mục tiêu này, phần lớn vũ khí của tàu tuần dương được “giấu” dưới boong. Ngay từ đầu, đã chỉ ra rằng, nhiệm vụ chính của tàu chỉ là tham gia các trận đánh lớn. Chắc chắn rằng, đối thủ chính của nó sẽ là không quân mạnh của đối phương. Vì thế, trong quá trình thiết kế đã từng bước nghiên cứu việc bố trí thành tuyến theo nguyên tắc, kích cỡ (đạn) và danh pháp các khí tài phòng không. Các tên lửa chống tàu xuất hiện trên “Orlan” là hết quả của việc muốn tăng cường các nhiệm vụ của tàu – tấn công vào cụm tàu sân bay địch và sau cùng – tìm và diệt các tàu ngầm tên lửa của địch, không cho phép chúng di chuyển một cách tự do trên đại dương. Bằng cách này, dần dần, không phải ngay lập tức, thỉnh thoảng có những lúc gián đoạn và kết quả đã tìm được bộ mặt cụ thể hơn của tàu tuần dương nguyên tử Liên Xô đầu tiên là tàu đa năng và có thể, lượng dãn nước cũng như kích thước của nó không giống với quan điểm “tàu chống ngầm”, thậm chí là “tàu chống ngầm rất lớn”. Vì thế, ở một trong những giai đoạn thiết kế, “Orlan” đã nhận được phân loại sau cùng là tàu tuần dương nguyên tử mang tên lửa và sau đó, cùng một số đặc điểm nữa, nó đạt được mốc – “hạng nặng”. Đáng chú ý rằng, một lần nữa, đay là tàu tuần dương hạng nặng đầu tiên của Liên Xô đã được đóng nếu như không tính đây là phân lớp các tàu tuần dương bọc thép và tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Năm, 2013, 12:52:00 am Năm 1972, đề án kỹ thuật của tàu đã hoàn thành. Năm 1974, tàu được khởi đóng ở xưởng đóng tàu Baltic tại Leningrad. Tàu tuần dương đầu tiên mang tên gọi “Kirov” – vinh danh nhà lãnh đạo Đảng cũng như tên tàu tuần dương hạng nhẹ đầu tiên của Liên Xô, người đặt nền móng đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô. Tàu tàu tuần dương hạng nhẹ tiền nhiệm, “Kirov” mới được thừa kế lá Cờ đỏ ở mạn tàu và các danh hiệu kèm theo. Việc tàu tàu lớn như vậy chưa từng có ở phương Tây, nơi nó nhận tên gọi “Balcom-I (Baltica – Combatan), còn sau khi gia nhập biên chế - “Lớp Kirov”.
Các tàu tuần dương tên lửa đề án 1144 không có loại tương tự ở nước ngoài: các tàu tuần dương nguyên tử mang tên lửa lớp “Virginia” có lượng dãn nước thấp hơn 2,5 lần, các tàu tuần dương “Long Beach” cũng thấp hơn 1,5 lần. Lượng dãn nước hoàn toàn của tùa Liên Xô – gần 26 000 tấn. Trên tàu đề án 114 lắp động cơ hai trục trong thành phần có thiết bị sinh hơi nước hai lò phản ứng tổng công suất 600mW, 2 tuabin hơi nước công suất mỗi tuabin 70 000 sức ngựa. Thiết bị sinh hơi nước gồm có hai khoang độc lập và trong mỗi khoang có lò phản ứng nước với toàn bộ các hệ thống và thiết bị phục vụ được bố trí trong khoang lò phản ứng. Động cơ tuabin khí chia thành hai bộ phận độc lập (như trên tàu phá băng “Lenin”), bố trí ở mũi và đằng sau thiết bị sinh hơi nước. Mỗi đồng cơ tuabin khí hoạt động trên trục riêng. Trong phương án dự phòng, các tuabin nhận được hơi nước từ hai lò hơi nước tự động hóa trong nhiên liệu thường có công suất sinh hơn 115 tấn/giờ. Mạng phân chia các đường ống cho phép cung cấp hơi nước và nước ngưng tới bất kỳ bộ phận nào của động cơ. Để trong trường hợp xuất hiện lỗi các máy phát điện hơi nước không kín, loại trừ được sự rò rỉ phóng xạ vào hơi nước đã sử dụng các hệ thống tổng hợp cần thiết trên tàu (buồng tắm, vòi tắm, quạt thông gió…) để tạo ra sự trao đổi nhiệt (các máy phát điện hơi nước thấp áp) bằng hơi nước cho mạch thứ cấp. Với động cơ năng lượng hạt nhân, tàu tuần dương có thể đạt tốc độ tối đa 30 hải lý. Các nồi hơi dự bị bảo đảm tốc độ 17 hải lý và tầm bơi xa 1000 dặm khi các lò phản ứng không hoạt động. Hệ thống năng lượng điện của tàu gồm có 4 máy phát điện tuabin công suất 3000kW và 4 máy phát điện tuabin khí công suất mỗi máy 1500 sức ngựa bố trí trong 3 khoang. (http://atrinaflot.narod.ru/2_mainclassships/02_rkr_1144/1144-1_14.jpg) Vũ khí chính của tàu – tổ hợp tên lửa chống ngầm “Granit”. 20 tên lửa chống tàu P-700 bố trí trong các thiết bị phóng dưới boong với góc nâng 47 độ hướng về mũi tàu. Các nguyên tắc bố trí và nguồn chỉ thị mục tiêu trong tổ hợp “Granit” tương tự như tổ hợp “Bazalt” – từ vệ tinh trinh sát vô tuyến (2 đài “Korall-BN”), các máy bay và trực thăng trinh sát – chỉ thị mục tiêu, các khí tài chủ động và thụ động chiếu sáng (làm rõ) bối cảnh. Tuy nhiên, tên lửa chống tàu “Granit” hoàn toàn tự động khi bay, có sự lập trình tấn công mục tiêu phức tạp (một tên lửa trong loạt sẽ bay cao hơn các tên lửa còn lại và thực hiện việc điều khiển và phân phối mục tiêu. Trước khi tiếp cận mục tiêu sẽ thực hiện cơ động phức hợp tránh hệ thống phòng không của địch), tăng cường khả năng chống nhiễu và tầm bắn 600 kilomet. Vũ khí tên lửa phòng không trên tàu tuần dương “Kirov” cũng như trên tàu tuần dương “Slava” đề án 1164, ngoại trừ, trên đề án 1144 lắp 2 tổ hợp tên lửa phòng không “Fort” với tổng số 96 đạn tên lửa phòng không. Các thiết bị phóng đứng bố trí ở mũi thiết bị phóng tổ hợp “Granit”, còn đài dẫn bắn tên lửa - ở nóc các thượng tầng mũi và mạn tàu. Các tổ hợp tự vệ “Osa-M” với các thiết bị phóng cơ động hai bệ bố trí theo thành từ thượng tầng mũi. Pháo của tàu được giới thiệu là 2 thiết bị pháo tự động 1 nòng 100mm AK-100 với hệ thống điều khiển bằng ra đa vô tuyến “Lev” bố trí ở mạn tàu theo sơ đồ tuyến – bậc thang (mặc dù theo dự án lúc đầu đã tính toán lắp 1 pháo 2 nòng 130mm AK-130. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nó chưa sẵn sàng). Trên hai tàu đề án 1144 đầu tiên cũng như trên đề án 1164, trong vai trò vũ khí tự vệ tầm gần có 2 hệ thống pháo tự động 6 nòng 30mm AK-630 với hệ thống điều khiển “Vưmpel” – tổng cộng có 4 ụ. Trên mỗi ụ lắp 2 hệ thống pháo tự động và một hệ thống điều khiển. Vũ khí chống ngầm của tàu tuần dương thứ nhất là tổ hợp thủy âm tự động hóa mạnh “Polinom” với thiết bị ăng ten chính trong mũ chụp hình cầu ở mũi và thiết bị ăng ten lai tăng cường ở mạn tàu để đảm bảo việc sử dụng tên lửa chống ngầm điều khiển, vũ khí ngư lôi và thiết bị phóng bom phản lực. Trên “Kirov” lắp tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” – trong thành phần có thiết bị phóng hai thùng trong 2 mặt phẳng, cơ số đạn 10 ngư lôi – tên lửa trong hai mặt trống nằm ngang dưới boong. Hai thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm bố trí trong thân tàu, cũng như trên “Salva”. Việc bắn đạn chống ngầm được thực hiện theo các hốc bên thành tàu – trong tư thế hành quân được đóng kín bằng các cánh cửa thép. Tổ hợp các khí tài chống ngầm được bổ sung 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000 (72 bom chìm) và 1 RBU-6000 (108 bom) có nhiệm vụ chính là tiêu diệt các tàu ngầm ngư lôi. Ngoài ra, trong cơ số đạn RBU-6000 còn có 12 bom định hướng “Magnetit”. Trên tàu có đội trực thăng gồm 3 chiếc: trinh sát và chỉ thị mục tiêu, chống ngầm và tìm kiểm cứu nạn. Ban đầu, các trực thăng này và Ka-25, trên các tàu sau – Ka-27. Để đóng căn cứ, trên tàu xây dựng hang ga dưới boong, kho đạn, thang nâng, bãi cất – hạ cánh. Đối với các đội bay trực thăng và thợ máy, có các buồng riêng. Để dẫn đường tầm gần cho các trực thăng, sử dụng hệ thống ra đa vô tuyến “Privod-V” với hai trạm ăng ten trên cột buồm. Tàu tuần dương được trang bị khí tài ra đa mới nhất với các đài ra đa vô tuyến có nhiệm vụ khác nhau. Trong đó có tổ hợp ra đa vô tuyến “Flag” (các đài ra đa “Voskhod” và “Fregat-M”, các đài ra đa dẫn đường. Nhiều khí tài tác chiến điện tử như các hệ thống “Koltso”, “Gurzuf” và “Ograda”, cũng như các tổ hợp bắn nhiễu PK-2 (400 đạn). Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến “Typhoon-2” kết hợp trong nó các khí tài thông tin liên lạc bước sóng khác nhau, trong đó có hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh “Tsunami-BM”. Việc điều khiển toàn bộ các khí tài sục sạo và hệ thống vũ khí được thực hiện với hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Aleeya-2M”. Ngoài ra, tàu trang bị các hệ thống để đóng vai trò chức năng tàu chỉ huy trong cụm tàu. Kích thước lớn của tàu cho phép đảm bảo tiện nghi cho thủy thủ đoàn cao. Thủy thủ đoàn có rạp chiếu phim, bể bơi, nhà tắm xông hơi, phòng thể thao và các tiện nghi khác. Các thủy thủ và hạ sỹ quan hải quân được bảo đảm bằng các buồng nhỏ - còn sỹ quan và chuẩn úy hải quân – các phòng riêng. Tàu tuần dương nguyên tử đa năng đề án 1144 trên thực tế được trang bị toàn bộ các loại vũ khí và khí tài kỹ thuật được chế tạo cho tàu nổi của Liên Xô. Việc đóng tàu, do nhiều lý do, trong đó có sự phức tạp lớn, nhân công và hàng loạt các yếu tố chủ quan, đã tiến hành chậm chạp: việc gia nhập biên chế Hải quân bị kéo dài hơn 10 năm so với dự kiến. Mặc dù vậy, có thể thấy rằng trong quá trình đóng hàng loạt mẫu vũ khí đã được thay thế hiện đại hơn (nhưng cũng có mặt tiêu cực – đẩy mạnh sự không đồng bộ). Cần hay không cần tàu nguyên tử mới – đây là vấn đề đặc biệt mà không có câu trả lời thống nhất. Ví dụ cho vấn đề này – việc dừng đóng ở Mỹ các tàu tuần dương mang vũ khí tên lửa điều khiển (URO) đã diễn ra 10 năm trước và không có chương trình đóng tàu chiến loại này trong tương lai gần. Nhưng mặt khác, không có nghĩa là các tàu nổi năng lượng hạt nhân gần như không có tương lai. Ví dụ, sử dụng năng lượng nguyên tử trên các tàu sân bay, trong các trường hợp cụ thể hoàn toàn hợp lý và có triển vọng. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Năm, 2013, 12:52:37 am Các biến thể Bắt đầu từ tàu thứ hai, thành phần vũ khí các tàu tuần dương – có số hiệu đề án 11442 – đã được thay thế. Về cơ bản, tập trung vào vũ khí chưa sẵn sàng khi đóng tàu đầu tiên (tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Vodopad”, pháo 130mm AK-130, tổ hợp ngư lôi chống ngầm “Udav-1”, tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”). Sự thay đổi còn nhằm vào trang bị ra đa vô tuyến. Như bắt đầu từ tàu thứ hai, trên các tàu đã lắp hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub”, tổ hợp tác chiến điện tử “Gurfuz” thay cho “Kantata-M”, tổ hợp thông tin liên lạc vũ trụ “Tsunami-BM” – “Kristall-BK”… Việc này kéo theo những thay đổi trong thiết kế thượng tầng và cột buồm, còn lượng dãn nước tiêu chuẩn của tàu có tăng lên. Theo đó, toàn bộ bốn tàu trong lớp có sự khác biệt đáng kể với nhau. Chương trình đóng tàu Năm 1974, tàu tuần dương đầu tiên – “Kirov” – đã được khởi đóng trên ụ xưởng đóng tàu Baltic tại Leningrad (xưởng số 189). Việc đóng đề án 1144 diễn ra một cách rất không đều và hay bị gián đoạn hoặc không kịp. Cũng phải nhắc lại rằng phong cách đóng tàu chiến ở các xưởng đã được giải phóng khỏi thời kỳ “tan băng” của Khrusev. Mặc dù đã không được đóng trong khoảng 20 năm, các tàu tuần dương đề án 68-bis gần như sắp đóng xong đã bị cắt kim loại. Và như chúng ta hay nói, để giữ lại làm kỷ niệm cho con cháu. Tàu tuần dương “Kirov” được hạ thủy vào cuối năm 1977 và cuối cùng, vào năm 1980, nó bắt đầu các thí nghiệm và gia nhập Hải quân. Khi Liên Xô tan rã, ở xưởng này mới chỉ kịp đóng thêm 2 tàu theo đề án 11442 mang tên ”Funze” và “Kalinin”. Tàu cuối cùng, lúc đầu mang tên “Andropov” được đóng tiếp ở Nga dưới tên gọi “Pie Đại Đế”. Vào mùa thu năm 1995, nó đã gia nhập biên chế một cách trang trọng và đóng ở Kronshtadt để chuẩn bị đưa vào các thí nghiệm cấp nhà nước. Tàu thứ năm theo kế hoạch đã không được khởi đóng. Tình hình ở năm 2007 Tàu tuần dương tên lửa năng lượng hạt nhân “Kirov” và “Kalinin” đã gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc, còn “Frunze” – Hạm đội Thái Bình Dương. Sau khi Liên Xô tan vỡ, năm 1992, toàn bộ các tàu tuần dương này đều đổi tên: “Kirov” thành “Đô đốc Ushakov”, “Frunze” – thành “Đô đốc Lazarev”, “Kalinin” – “Đô đốc Nakhimov” và “Andropov” – “Pie Đại Đế” (tất nhiên các tên mới ấn tượng (“oai”) hơn và có liên quan tới biển, nhưng tên gọi tàu tuần dương đầu tiên của Liên Xô trong Chiến tranh Vệ quốc – “Kirov” – cũng có những truyền thống vẻ vang). Liên quan với sự thiếu hụt tài chính của Hải quân, không một tàu nào trong số các tàu đề án 1144 và 11442 được đại tu. Vì thế, năm 1994, trên thực tế, chỉ còn tàu tuần dương “Đô đốc Nakhimov” hoạt động trong Hạm đội Phương Bác, còn việc đóng nốt tàu thứ 4 diễn ra chậm chạp. Chỉ vào mùa thu năm 1995, “Pie Đại Đế” mới được bàn giao một cách trọng thể vào biên chế và sau đó chuyển tới Kronshtadt để chuẩn bị tham gia thí nghiệm cấp nhà nước và thực sự gia nhập Hải quân vào tháng 4 năm 1998. “Đô đốc Ushakov” mặc dù vẫn nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc trên danh nghĩa và thậm chí đã tổ chức đơn vị cùng trang thiết bị cho việc sửa chữa nhưng đã không được thực hiện. “Đô đốc Lazarev” trong Hạm đội Thái Bình Dương vào cuối những năm 1990 cần khởi động lại khu vực phóng xạ của lò phản ứng, nhưng liên qua với việc rằng ở Viễn Đông, phương pháp này không thực hiện được (xưởng “Zvezda” không đủ công suất cần thiết), tàu tuần dương bị đưa vào lực lượng dự bị và có thể nhanh chóng bị loại biên. Năm 1999, “Đô đốc Nakhimov” được sửa ở “Sevmash” nơi nó đang nằm trên ụ cho đến bây giờ. Vào lúc này, chỉ có “Pie Đại Đế” đang hoạt động tích cức trong nhiệm vụ trực chiến của Hạm đội Phương Bắc và thường xuyên tham gia trong các cuộc diễn tập. Tóm tắt lịch sử phục vụ + “Kirov” (số xưởng 800); từ 27 tháng 5 năm 1992 là “Đô đốc Ushakov”; ghi tên vào danh sách Hải quân 6 tháng 10 năm 1973; khởi đóng ở xưởng đóng tàu Baltic số 189 tại Leningrad; hạ thủy 27 tháng 12 năm 1977 (25 tháng 7 năm 1977 được tặng Cờ đỏ Hải quân, kế thừa từ tàu tuần dượng đề án 26 Hạm đội Cờ đỏ Baltic); gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1980; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 6 tháng 3 năm 1981; 4 tháng 12 năm 1984 được tặng Giải thưởng Bộ quốc phòng Liên Xô; từ năm 1990 nằm trong lực lượng dự bị sau tai nạn; sau đó bị loại biên và giải thể. Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Năm, 2013, 12:00:55 am (http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/1144_weapon_zpsca393c16.gif) Bố trí vũ khí trên tàu tuần dương nguyên tử đề án 1144 1.Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 2.Các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-2 3.Thiết bị phóng hai ống cho tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Metel” 4.Hầm/kho đạn chứa tên lửa chống ngầm điều khiển 85-R 5.Các thiết bị phóng đứng 8 thùng phóng của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort” 6.Thiết bị phóng đứng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit” 7.Tổ hợp pháo phòng không tự động 30mm AK-630M 8.Đài ra đa vô tuyến MR-123 “Vưmpel” điều khiển bắn tổ hợp AK-630M 9.Các trạm ăng ten hệ thống “Musson” điều khiển tên lửa chống ngầm điều khiển 10.Các thiết bị phóng không cố định của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” 11.Các trạm ăng ten đài ra đa 4R33 điều khiển bắn tổ hợp “Osa-M” 12.Các trạm ăng ten tổ hợp thông tin liên lạc vũ trụ 13.Ra đa đạo hàng “Vaigach” 14.Các trạm ăng ten đài ra đa vô tuyến “Volga” điều khiển bắn tổ hợp phòng không “Fort” 15. Các ăng ten thu chỉ thị mục tiêu “Korall-BN” cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit” 16.Ăng ten thuộc đài ra đa đạo hàng tầm gần “Privod-B” cho trực thăng 17.Đài ra đa ba tọa độ phát hiện mục tiêu trên không “Voskhod” và “Kliver” thuộc tổ hợp ra đa vô tuyến “Flag” 18.Đài ra đa vô tuyến ba tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M” 19.Các ăng ten đài tác chiến điện tử “Gurfuz” 20.Pháo đa năng 100mm AK-100 21.Trạm ăng ten đài ra đa vô tuyến “Lev” điều khiển bắn cho pháo 22.Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000 23.Cửa bắn ngư lôi của thiết bị ngư lôi 533mm 5 ống phóng 24.Thang nâng trực thăng 25.Bãi cất-hạ cánh 26.Nắp ăng ten lai trong tổ hợp thủy âm “Polinom” Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Năm, 2013, 12:03:15 am Hình vẽ thiết kế và hình vẽ màu đề án 1144 "Orlan"
(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/1144-1_4_zpsd5fb8a71.jpg) (http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/1144-1_3_zpsd2388963.jpg) (http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/1144-1_2_zps3611703a.jpg) (http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/1144-1_02_zps0806dc09.jpg) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Năm, 2013, 12:22:55 am (http://atrinaflot.narod.ru/2_mainclassships/02_rkr_1144/1144-1_24.jpg) Tổ hợp pháo phòng không tự động 6 nòng 30mm AK-630M (thành bên phải) (http://atrinaflot.narod.ru/2_mainclassships/02_rkr_1144/1144-1_23.jpg) Đài dẫn bắn cho tên lửa phòng không thuộc tổ hợp "Fort" ở mạn tàu trên tàu tuần dương "Đô đốc Ushakov". Trên nó là ăng ten đài điều khiển hỏa lực pháo "Lev" cho pháo AK-100 (http://atrinaflot.narod.ru/2_mainclassships/02_rkr_1144/1144-1_08.jpg) Các nắp thiết bị phóng tên lửa có cánh "Granit" (bên phải) và tổ hợp phòng không "Fort" (bên trái) ở mũi tàu tuần dương "Kirov". Đằng trước - thiết bị vận tải, đằng xa - pháo tự động AK-630M Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Năm, 2013, 12:24:37 am Các thông số kỹ thuật chính Lượng dãn nước, tấn + tiêu chuẩn: 24 100 + hoàn toàn: 26 190 Các kích thước chính, mét (theo vạch mớn nước thiết kế) + chiều dài nhất: 251 (228) + chiều rộng nhất: 28,5 (24) + lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 10,33 (-) Động cơ chính: nguyên tử + 2 lò phản ứng nước – nước, tổng công suất, mW: 600 + 2 thiết bị sinh hơi nước KN-3, 2 thiết bị tuabin khí + 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 140 000 (102 900) + 4 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 4x3000 + 4 máy phát điện tuabin khí, công suất, sức nựa: 4x1500 + 2 nồi hơi dự trữ, tổng công suất, kW: - 2 trục; 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + tối đa với lò phản ứng: 31 + tối đa với nồi hơi: 17 Tầm bơi xa bằng nồi hơi, dặm (tốc độ, hải lý): 1000 (17) Thời gian hoạt động, ngày: 60 Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 710 (82) Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Năm, 2013, 12:25:04 am Vũ khí Tên lửa tấn công + thiết bị phóng đứng SM-233 cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-700 “Granit”: 20x1 + tên lửa chống tàu P-700 (SS-N-19 “Shipwrechk”): 20 Tên lửa phòng không + thiết bị phóng đứng B-203A cho tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”: 12x8 + tên lửa phòng không 5V55RM (SA-N-6 “Grumble”: 96 + thiết bị phóng ZiF-122 cho tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 2x2 + tên lửa phòng không 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 40 Tên lửa chống ngầm + thiết bị phóng cho tên lửa chống ngầm điều khiển URPK-3 “Metel”: 1x2 + tên lửa chống ngầm điều khiển 85R (SS-N-14 “Silex”: 10 Pháo + thiết bị pháo 100mm AK-100: 2x1 + tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 8x6 Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1144 Chống ngầm/chống ngư lôi + RBU-6000 “Smerch-2”: 1x12 + RGB-60: 108 + RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6 + RGB-10: 72 Vũ khí đường không + trực thăng Ka-25RTs và Ka-27PL (“Hormone B, “Helix A”): 3 Tiêu đề: Re: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3 Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Năm, 2013, 12:25:26 am Khí tài vô tuyến Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Alleya-2M” Đài ra đa vô tuyến phát hiện mục tiêu tổng hợp + tổ hợp ra đa “Flag” (Top Pair) + 1xMR-600 “Voskhod” (Top Sail) + 1xMR-500 “Kliver” (Big Net) + 1xMR-700 “Fregat-M” (Top Steer) Đài ra đa vô tuyến phát hiện mục tiêu tầm thấp + 3x”Vaigach” (Don Kay) Hệ thống thủy âm + tổ hợp thủy âm “Polinom” với các ăng ten hình cầu (Horse Jaw) và lai (Horse Tail) Các khí tài tác chiến điện tử + “Gufuz-A/B” (8 Side Globe) + MP-152 “Ograda” (4 Rum Tub) + MRP-3 “Koltso” (8 Bell Bash, Bell Nip) + Bom chìm định hướng “Magnetit” (12) Các tổ hợp bắn nhiễu + 2x12 thiết bị phóng PK-2 (ZiF-121) Các khí tài quang điện + 4x- Đài ra đa điều khiển hỏa lực + 2x”Korall-BN” (Punch Bowl) thu sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp “Granit” + 2x”Musson” (Eye Bowl) cho tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” + 2x”Volna” (Top Dome) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Fort” + 2x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” + MR-145 “Lev-214” (Kite Screech) cho pháo 100mm + MR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho tổ hợp pháo phòng không 30mm Khí tài thông tin liên lạc + “Typhoon-2” + “Tsunami-BM” (4 Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh Đài ra đa hội thoại + Satl Pot A/B |